This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Viết tặng vua săn bàn Luân Hoán, thủ quân đội Cầu Vồng- Đà Nẵng.
Canada đứng ra đăng cai tổ chức cuộc tranh tài “FIFA Women’s World Cup 2015”, diễn ra từ ngày 6 tháng 6 đến ngày 5 tháng 7 luân lưu trên các sân cỏ của 6 thành phố xứ lá phong – Commonwealth Stadium ở Edmonton, Lansdowne Stadium ở Ottawa, Investors Group Field ở Winnipeg, Moncton Stadium ở Moncton, Olympic Stadium ở Montreal và BC Place Stadium ở Vancouver.
Ngoài chủ nhà, thế giới tinh tuyển ra 23 đội bóng tròn nữ đến dự từ những lục địa khác nhau. Ở phương đông lộ mặt những bông hoa cũ mới: Nhật Bản, Nam Hàn, Trung Quốc và Thái Lan. Trên ngực áo của các nàng Phù tang, ngoài logo đội tuyển có thêu một ngôi sao, điều ấy chuyển ngầm một thông điệp: Chúng tôi đã có lần vô địch thế giới. 24 đội được chia đều cho 6 bảng và Canada may mắn xếp vào bảng A, mà theo những chuyên gia bình luận, bảng ấy tương đối dễ thở so với bảng B với hai đối thủ nặng ký: Norway và Germany.
Khai mạc trận đấu đầu tiên diễn ra trên sân ở Edmonton, đội chủ nhà thăm hỏi giò cẳng (không ngâm tẩm hoá chất) tuyển China. Cầu trường với sức chứa 56.000 chỗ gần như nêm chặt, điều này nhằm nói tới một chuyện hệ trọng: Ngày nay người ta đã thay đổi cách nhìn về bộ môn túc cầu, không như những năm trước thênh thang bao hàng ghế ghẻ lạnh bỏ trống, nhất là ở Canada, xứ sở đã lỡ điên cuồng xem Hockey là một thứ gần như tôn giáo.
Chủ nhà như muốn thu cất ngón nghề, đấu pháp đưa ra tuồng chưa đạt hoả hầu khi trực diện với 11 cao thủ của phái Nga My, Côn Luân. Lãnh Nguyệt bảo đao cũng như Ỷ Thiên kiếm tha hồ thi triển nhưng chưa đánh đúng yếu huyệt. Người theo dõi ngờ vực, lẽ nào tư bản dẫy chết, lẽ nào cộng sản trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi sẽ về ta? Gần cuối giờ, may thay số phận mỉm cười với Canada. Thủ quân Christine Sinclair áo số 12 trực tiếp đá quả phạt đền, và ơn Chúa, banh xém đi ra ngoài cột dọc của khung thành. Bao nhiêu tấc lòng được cởi, bao nhiêu gánh nặng được trút bỏ và bấy giờ cầu trường mới rộ lên bao tiếng rộn của lòng vui. Trận ra quân của chủ nhà nếu để China, một đội chẳng có tiếng tăm cầm hoà hoặc chiến thắng, điều đó rõ là bất lợi nếu chẳng muốn nói tới sự sỉ nhục. Thắng kẻ nuôi mộng bành trướng kể cả lãnh vực bóng đá là nhiệm vụ mà 11 bóng hồng Canada buộc phải dứt điểm. Những môi cười hân hoan, những bồng bế nhau vui hưởng thành quả, những cầu thủ ngồi ghế dự bị chạy túa ra sân cỏ khản tiếng gọi nhau chia sẻ hạnh phúc sau tiếng còi viên mãn của 90 phút đầm đìa mồ hôi thấm đẫm màu cờ sắc áo. Nhưng thú thật, niềm vui kia đánh đổi với lắm gian nan. Canada đã không chứng minh cho giới thưởng ngoạn thấy được điều gì ấn tượng cả. Họ đá mờ nhạt như thể trận đấu này chỉ khoanh vùng trong một cuộc chơi hữu nghị, chơi với tính cách xã giao. Đường tới chung cuộc còn dài, nhưng ngay phút giây này bạn chẳng thể ra sân mà trong lòng không thắp sáng ngọn lửa quyết thắng.
Fair game là tiên chỉ mà FIFA khẳng định. Công bình ở chỗ, bạn thắng tôi do bởi bạn có thực tài hơn tôi. Bạn thể lực hơn, bạn biết thay đổi đấu pháp, bạn hiểu đâu là lúc mang quân về phòng ngự và thời điểm nào dâng lên tấn công. Và quan trọng hơn hết, lệ thuộc vào yếu tố tâm lý, thứ sức mạnh tinh thần. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Tuyển Canada có đủ ba món “vũ khí” ấy. Thử nhìn lại chặng đường gian nan Canada vừa vượt qua: Thắng China 1-0. Huề New Zealand 0-0. Huề Netherlands 1-1. Thắng Switzerland 1-0. Bốn trận: 2 thắng 2 hoà, đứng đầu bảng A với 8 điểm và đương nhiên đi lọt vào tứ kết.
Bên kia, đường ra trận của Lionesse tuyển England lẫy lừng hơn: Thua 1 thắng 3, đứng đầu bảng F (thua France 0-1. Thắng Mexico 2-1. Thắng Colombia 2-1. Thắng Norway 2-1). Đây là trận đấu sinh tử mà Canada buộc phải dốc toàn bộ thực lực của mình ra phô diễn. England có tiền đạo Jodie Taylor áo số 19, nhanh lẹ, thông minh quyết đoán và là một chân sút cực tốt. Có hậu vệ Lucy Bronze áo số 12, có thủ quân Steph Houghton áo số 5, người từng được đề cử là khuôn mặt sáng sau mỗi trận. Và phải nên nhắc đến tên thủ môn Bardsley, bắt giữ hoặc phá hỏng bao lần bóng vào góc chết của khung thành. 11 đoá huệ trắng ra sân không dấu được vẻ mặt căng thẳng, bởi họ bị áp lực nặng nề: Chìa khoá dẫn tới thành công là, ngoài cách kiểm soát bóng tốt họ phải kềm lòng không bị phân tâm bởi tiếng reo hò cỗ vũ của đám cảm tình viên chủ nhà luôn ngồi kín khán đài. 11 đoá hồng đỏ thắm ra sân tự tin hơn, bằng mọi giá họ phải buộc thế giới nhớ tới chữ Canada khi nhắc tới football mà không là Hockey như đã từng.
BC Place Stadium ở Vancouver chật chội 54.000 khán giả. Hôm ấy nắng ráo, gió nhẹ. 25 độ C với độ ẩm là 57 %. Và rồi bóng lăn, England ra quân với đội hình 4-3-3, thường phát bóng dài ở khu trung tuyến. Phút thứ 11 do hậu vệ Canada không chận giữ được bóng trong chân, tiền đạo Jodie Taylor băng xuống, dẫn banh đi qua hai hậu vệ khác, để ngoài vùng cấm địa, số 19 với tài nghệ làm bàn đã đá bóng căng vào khung thành. Khách làm chủ trận đấu ngay ở những giờ quá sớm sủa. Chủ chưa lại hồn, bốn phút sau, khách hưởng quả phạt gián tiếp từ giữa sân. Bóng đi cầu vồng như đạn pháo rót xuống để rồi lưới nhà phải rung lên nhờ vào cú đánh đầu đẹp mắt của Lucy Bronze áo số 12. Cô ấy là hậu vệ, đã bỏ vị trí của mình để tham gia tấn công và đạt hiệu quả.
Cầu trường gần như câm lặng. Họ hiểu, chỉ có điều nhiệm mầu xẩy ra mới giúp 11 niềm hy vọng đang mệt nhoài kia gây nên đột biến. Canada thay đổi đấu pháp, họ chiếm ngự kiểm soát thế trận tới 58% trong khi England chỉ đạt 42%. Trung phong 27 tuổi Sophie Schmidt áo số 13 rất cật lực châm banh từ cánh trái vào trước cầu môn nhưng Canada thiếu vắng một chân làm bàn hiệu quả.
Thủ quân Christine Sinclair áo số 12, với số tuổi là 32 đã bắt đầu biểu lộ sự sa sút, người ta kỳ vọng vào cô nhiều quá, người ta lăng-xê cô dữ quá, hoá hỏng. Cô đã có ít nhất ba bốn cơ hội nhưng cô đã không chu toàn khi xử lý. Đáp trả sự mong mỏi, Sinclair đã ghi được vỏn vẹn một bàn thắng cho Canada, gọi là bàn danh dự. Thủ môn ôm không chặt, bóng vuột ra và Sinclair đã ùa tới lập công trong cận kề cặp găng của người thủ thành muốn với lấy.
Những gì muốn thể hiện, muốn thi thố đã tới cuối đường với áo đẫm mồ hôi. Vở kịch chấm dứt luôn để lại hai hình ảnh: Kẻ hân hoan và người gạt lệ. Những bóng áo trắng chạy nhảy và những màu áo đỏ lần lượt buông đổ thân mình xuống cỏ. Lệ chảy ra, chẳng kềm hãm. Họ che mặt lại, họ gục đầu và họ thổn thức. Ở trên cao, lá cờ Canada vẫn reo vui cùng gió. Hãy gượng đứng dậy, hãy lau khô nước mắt, hãy xem đây chỉ duy là bài học mà đã khoác áo đội tuyển, bạn còn lắm bài học khác buộc phải hoàn thiện trong tương lai.
Ở Canada nên tôi, có lẽ do tinh thần địa phương, đã buồn lòng không ít khi đội tuyển nhà buộc phải dừng chân. Tôi coi báo và nhặt ra một phân tích của người nào đó phù hợp với cảm nhận của tôi. Tiền đạo của Canada cần phải có một người tương tự như chân sút Carli Lloyd, áo số 10 của tuyển USA. Đó là người có khả năng ghi bàn trong những trường hợp nan giải nhất, khó khăn nhất. Và sau hết, thủ môn chính của Canada là một cô gái hơi nóng nảy. Trám được hai lỗ hổng đó, Canada sẽ khiến những đối thủ phải chùn chân. Kiếm chưa ra, đành gạt lệ thua buồn.
Về phần England, kỳ lạ thay, bốn trận thắng cùng chung một tỉ số giống nhau: 2-1. Huấn luyện viên Mark Sampson chẳng dấu mừng vui, ông thổ lộ: Tên của các cầu thủ đáng yêu này sẽ viết xuống cho lịch sử football nước nhà một trang mới, có điều tôi luôn nhắc nhở họ, hạn chế những lầm lẫn khi mà mùa giải vẫn chưa thực sự kết thúc.
Sáu sân cỏ trên toàn cõi Canada lần lượt ngấm rút nước mắt. Những giọt lệ long lanh yêu kiều của tuyển New Zealand, tấm tức rơi của Netherlands, sụt sùi của Switzeland và đau đớn của Canada. Họ khóc lặng lẽ, dẫu vô tâm ta cũng dễ chạnh lòng hiểu thấu niềm đau họ đang mang. Tôi ở Canada nhưng gốc là người Việt, và thú thật tôi đã phát cười khi nhìn thấy “cổ động viên và cầu thủ U-23 Việt-nam khóc như mưa sau thất bại”. Thua Myanmar 1-2. Khóc, sao dễ dãi thế? Khóc khi đưa đón “siêu sao” Hàn quốc. Khóc vì chẳng được tạo dáng kề cận diễn viên xứ người. Họ hoàn toàn không hiểu nước mắt là thứ vô giá. Phải biết tiết kiệm và đổ nó ra khỏi hố mắt khi ở tình huống chẳng đặng đừng. Người Việt sao có lắm kẻ trẻ con hơn những gì tôi tưởng tượng? Nói không cùng bao sự cố nằm trên địa hình chữ S kia!
Yêu FIFA Women’s World Cup Canada 2015 là yêu những giọt lệ của những cầu thủ tranh thắng hết sức mình nhưng lỡ gây thất vọng cho hậu phương, không đem niềm hãnh diện của xứ sở mình phô bày cho thế giới thấy. Họ lần lượt lên máy bay về lại chốn xuất phát, không biết rằng họ đã vô tình để lại chuỗi hình ảnh, gây thiện cảm cho công dân Canada, một kẻ yêu chuộng môn đá banh là tôi. Hoan hô những cầu thủ điện nước đầy đủ!
Hẹn tái ngộ dẫu nhan sắc về chiều. Cám ơn Canada.
Khi viết xong đoạn trên, cuộc phong ba còn sót lại 4 đội. Mỹ sẽ đối đầu Đức. Nhật sẽ đương cự Anh. Tôi chẳng dám hàm hồ nhưng mạo muội đưa ra lời phỏng đoán: Đức vô địch, Mỹ đứng nhì, Nhật đứng ba và hồng nhan England bay về cố quận gậm nhắm nỗi buồn. Nếu sai sót, tôi sẽ bưng mặt khóc cho tật làm tài khôn. Khóc vì ăn năn. Rẻ hay đắt?
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 19 Sep 2024
Photo edit by Sơn râu
Trương Duy Hy
ĐỐI THOẠI VỚI CỘNG QUÂN VÀ KHẢ NĂNG PHÁO BINH ĐỊCH
Vào Đài Tác Xạ với Lân và Kim, bỗng tôi nghe tiếng Việt cộng hỗn láo đối đáp với Trung Tá Thạch qua tần số Bộ Binh của PRC-25 đang trực… Tò mò, tôi đưa máy vào hầm riêng để theo dõi, còn máy trực tác xạ với các Tiền Sát Viên vẫn liên tục làm việc tại Đài.
Giọng nói bên kia máy là giọng nói của người miền Bắc, có lẽ hắn ta là người Hà Nội.
– Bọn Ngụy chúng mày không sớm rút về, chúng ông sẽ tiêu diệt bằng Trận Địa Pháo chết hết. Hãy cút đi các con!… Không thì nát thây tan xác các con ạ!!…
Trung Tá Thạch đáp lại một thôi dài với lời lẽ ôn hòa hơn:
– Chúng tôi mà có đến đây, thì là cũng vì các anh. Các anh lấy đất đai Hạ Lào này làm mật khu. Cái Mặt Trận Giải Phóng của các anh đã sát hại hàng ngàn, hàng vạn đồng bào vô tội tại miền Nam, đến bà già con nít cũng không chừa. Vĩ tuyến 17 đã chia đôi, các anh không lo kiến thiết ngoài đó lại xâm lăng miền Nam, gây tang tóc cho đồng bào miền Nam rồi lại rêu rao là giải phóng! Nói thật cho các anh biết, tôi đã từng tham dự hầu hết các cuộc hành quân trên miền Bắc. Chỗ nào tôi cũng đã bước chân đến, từ Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn… đến Điện Biên Phủ tôi đều có mặt. Tôi nhận thấy giới lãnh đạo miền Bắc đã lừa bịp các anh rất nhiều, đem nướng các anh trong chiến thuật biển người của chúng mà chính các anh không biết.
Còn dọa rằng các anh dùng Trận Địa Pháo để tiêu diệt chúng tôi? Khó lắm! Chúng tôi thách các anh! Hầm chúng tôi rất kiên cố với hàng chục lớp bao cát… Tôi xin mách các anh một kinh nghiệm làm hầm là: khi nào có đốn cây thì nhớ lấy đất trét lên gốc cây kẻo phi cơ quan sát khám phá được, gọi B52 đến dội bom… B52 mà dội thì chắc chắn các anh không thể toàn mạng để mong có ngày về với gia đình nhìn vợ con đâu!
Đối với chúng tôi, dầu có chết ở chiến trường cũng không sao vì vợ con chúng tôi được hưởng 12 tháng lương, con chúng tôi được chính phủ chu cấp cho đi học đến tuổi trưởng thành. Chúng tôi, mọi cấp trong Quân Đội đều có chính phủ lo chứ không phải như các anh, chết xong bất quá được chính quyền miền Bắc dùng vài lời rao tuyên truyền rồi thôi.
Vì vậy, các anh nên đi về miền Bắc gấp là hơn, để khỏi chết một cách điên rồ, vô lý!
– Các con ơi, đừng tuyên truyền với chúng ông nữa! Cái chết của các con đã gần kề rồi. Hãy nghe lời ông mà cút đi, đừng bợ đít thằng Mỹ mà không có ngày về với vợ con!!…
– Hãy ăn nói đàng hoàng! Các anh cứ suy nghĩ lại, chúng tôi đã bắt được Thượng Sĩ Thanh và một số binh sĩ thuộc hạ của các anh, mỗi người mang AK chỉ có 3 băng đạn! Với số lượng đạn được hạn định tối thiểu như thế làm sao các anh đương đầu nổi với hỏa lực hùng hậu của chúng tôi! Mỗi binh sĩ chúng tôi có hàng ngàn viên đạn, bắn các anh suốt ngày không hết. Thiếu đâu nhận tiếp tế đấy. Còn các anh thì chỉ có một dúm hỏa lực không đủ tự vệ, còn đâu mà đánh với đá. Chỉ nội việc cấp phát đạn dược cho các anh chiến đấu đủ thấy dã tâm của cấp chỉ huy các anh như thế nào rồi! Thôi, chi bằng các anh vứt mẹ súng rồi chuồng về miền Bắc để giữ mạng sống. Đó là hành động sáng suốt nhất… Hãy thực hiện đi…
Photo edit by Sơn râu
Lải nhải với giọng vô giáo dục, có lẽ do giới lãnh đạo miền Bắc nhồi sọ từ lâu, chúng không tranh luận mà chỉ nói hỗn với lời lẽ hạ cấp, bỗng dưng tôi có cảm tưởng: hắn quả là kẻ vai u thịt bắp, đã bị khích động bởi những lời tuyên truyền bịp bợm yêu nước thương nòi của guồng máy tuyên truyền miền Bắc! Có điều chắc chắn, lời nói của Trung Tá Thạch bấy giờ đã cho bọn chúng tối thiểu 5, 7 đứa ngồi quanh máy nghe và biết được tinh thần binh sĩ ta và ít ra, đó cũng là dịp Trung Tá Thạch phản tuyên truyền vậy.
Chiều lại, khoảng 17g00 mặt trời hướng Tây còn ở trên cao, ánh nắng vẫn còn gay gắt. Từ bên kia tiền đồn hướng Đông, vài binh sĩ Dù đang dẫn một quân nhân tiến qua bãi đáp, đưa về BCH/TĐ 2 Dù. Lúc đến gần, chúng tôi mới nhận ra đó là một binh sĩ Biệt Động Quân.
Sau khi trình diện BCH/TĐ 2 Dù, anh ta tìm nước tắm. Tôi gọi lại hỏi và được biết: anh ta là Hạ Sĩ Phạm-Văn-Đăng thuộc Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân do Thiếu Tá Vũ Đình Khang làm Tiểu Đoàn Trưởng. Đăng nhỏ người, khoảng 20, 21 tuổi, nói tiếng Huế, đầu đội nón sắt, chiếc áo giáp còn khoát trên mình. Áo quần, mặt mày, tay chân đều phủ tro than và bụi đất đen kịt như người Phi Châu.
Photo edit by Sơn râu
Đăng thuật lại:
– Sau ngày toàn thắng 19-2-71, Tiểu Đoàn 39 BĐQ của anh thu trên 500 súng đủ loại, phá nát các kho chứa hàng ven đường mòn Hồ Chí Minh, giết trọn 1 Tiểu Đoàn Việt cộng, xác nằm la liệt tại trận chiến.
Sau đó, bọn chúng phản công mãnh liệt. Đại Đội anh đã chiến đấu đến hết viên đạn cuối cùng mới rút đi. Khi rút, anh cùng chạy với 3 người bạn. Lạc đường, lạc hướng, anh có nghe tiếng « départ » của đại bác, anh định bụng: có lẽ vị trí pháo binh của ta đây rồi! Anh cùng bạn bè bò dần đến nơi xuất phát tiếng « départ ». Anh ngạc nhiên thấy súng ngụy trang, nhìn kỹ, tất cả pháo thủ đều đội nón cối và không một ai có áo giáp.
Anh hoảng hốt thốt lên: Việt cộng rồi bây ơi!
Anh khẽ bảo các bạn như thế. Rồi mỗi người một hướng tìm cách bò ra khỏi vị trí pháo địch. Anh và các bạn lạc nhau từ đấy.
Đêm xuống, anh tìm cây cao leo lên dựa lưng ngồi chờ sáng, không một hột cơm, không một giọt nước. Sáng hôm sau, anh nhắm hướng Nam bò lên sườn núi để cố gắng đi trên đỉnh hầu dễ quan sát.
Ngày đi và bò, đêm thì thức chờ sáng. Đói khát đe dọa triền miên, nhưng anh nhứt quyết thà chết chứ không để lọt vào tay địch.
Mãi đến nay, sau 3 ngày gian khổ cùng cực, anh lên được đỉnh núi cao ở hướng Đông Bắc căn cứ Hỏa Lực 30 và cách căn cứ khoảng 2 cây số. Đỉnh núi này trống trãi vì bị Pháo Đội tôi phát quang bằng đạn khói làm cháy rụi tất cả lau lách, cây cối. Tại đấy, anh nhìn rõ vị trí chúng tôi, có đồn lũy, đại bác… Anh mừng thầm, không đến nỗi bỏ xác ngoài rừng nữa.
Men theo triền núi, anh tiến dần xuống tiền đồn chúng tôi. Lúc đầu, binh sĩ Dù ngỡ anh là quân do thám của Việt cộng, bố trí sẵn sàng nổ súng. Nhưng khi anh càng tiến gần lại, binh sĩ Dù nhìn rõ được quân phục anh đang mang trên người, nhất là không thấy anh có súng, nên lên tiếng hỏi. Nhờ đó, một lần nữa anh thoát chết vì ngộ nhận!
Là Pháo binh, thật tâm tôi chỉ ước muốn Đăng cho tôi biết rõ về pháo binh địch hơn là các chi tiết khác. Những bực dọc vì phản pháo không có hiệu quả cứ ám ảnh tôi mãi… Tôi hỏi Đăng:
– Anh thấy đại bác Việt cộng có nhiều không? Nó để ở đâu bắn? Anh có nhớ hướng đặt súng của chúng không?
– Bọn chúng có 3 khẩu. Sau mỗi lần bắn chúng đẩy vào hầm. Hầm làm ở sườn bên kia núi, đục sâu vào núi và vì tôi ở xéo vị trí chúng nên không biết đường hầm vào bên trong có lối rẽ ngang dọc hay không? Nhưng khi nào bắn thì tôi thấy chúng đẩy ra. May cho tôi, khi thấy và biết chắc bọn chúng là Việt cộng, tôi liền nghĩ phải tìm chỗ nấp trước đã — và tôi lủi ngay vào bụi rậm gần đấy tức khắc. Nhờ đó mà tôi quan sát được hoạt động của chúng, và cũng nhờ đó mà tôi không bị bắt… Mấy thằng bạn tôi, có đứa bị nó bắt được sau đó nhưng anh em không khai gì cả nên chúng hoàn toàn không biết chỗ nấp của tôi.
– Bây giờ anh có thể định hướng chỗ bọn chúng đặt súng không?
– Dạ được! Hướng súng chúng đặt ở chỗ này… (vừa nói, Đăng vừa trỏ tay chỉ đúng vào hướng mà chúng tôi đã từng phản pháo, nhưng khoảng cách thì Đăng cũng chỉ ước lượng thôi).
Đăng tiếp:
– Nếu Đại Úy có Quan Sát Viên ở trên đỉnh núi kia (hướng Đông Bắc) thì có thể rõ chỗ đặt súng của chúng.
Tôi bảo nhân viên đưa bản đồ và hỏi Đăng. Đăng biết xử dụng, nhưng vị trí pháo địch do Đăng chỉ cũng không khác với tọa độ chúng tôi đã chấm trên xạ bảng để phản pháo.
Photo edit by Sơn râu
Sau khi nghỉ mệt, tôi cho Đăng một cặp đồ trận, 2 ống nước và xà phòng để « tẩy uế », và 1 phần lương khô. Trông Đăng ăn mà đâm ra thương hại. Những thèm khát vì thiếu ăn, giờ được thỏa mãn, Đăng hết lời cảm ơn tôi dù tôi không nhận và cho đó là bổn phận, là ràng buộc của tình đồng đội mà bất cứ quân nhân nào cũng phải có.
Trong lúc chờ trực thăng đưa Đăng về trình diện Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân tại Phú Lộc, Đăng đã tá túc tại vị trí chúng tôi cùng với các pháo thủ. Nhân cơ hội này, anh em chúng tôi được Đăng tường thuật lại những phút oai hùng nhất của Tiểu Đoàn 30 BĐQ, và cũng kinh khủng nhất trong những pha giằng co quyết tử để bảo vệ màu cờ binh chủng. Chính Đăng đã đạp trên xác địch thoát thân trong lúc đơn vị anh phân tán mỏng để khỏi bị tiêu diệt tập thể bằng hàng loạt, hàng loạt đợt tấn công biển người của Cộng quân. Dưới mắt anh, quả thật Cộng quân hy sinh nhân mạng một cách điên cuồng, khủng khiếp nhất — mà, chính anh, theo lời anh nói — chưa hề thấy trên hàng chục trận anh đã đụng độ tại quốc nội.
Với nụ cười kiêu hùng, anh trọ trẹ tiếng Huế với tôi:
– Thưa Đại Úy, em tiếc quá! Phải chi có trực thăng triệt thoái hết số vũ khí mà bọn em tịch thu hôm 17, 18 tháng 2 đem về Khe Sanh thì tốt biết mấy, đằng này vì trời mù — em nghe Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn em có xin trực thăng triệt thoái súng, nhưng mấy bay không đến được… Uổng quá!…
Rồi Đăng lập luận:
– Đành rằng vì không có máy bay bốc chiến lợi phẩm, bọn em cũng nhờ súng đạn của chúng đánh lại chúng. Nhưng dầu sao cũng tiếc một điều là, nếu có trực thăng đến đưa chiến lợi phẩm về hậu cứ, thì bọn em đương nhiên nhận thêm đạn dược trong những chuyến trực thăng đến với chúng em — và như thế, hẳn chúng em không đến nổi khan đạn… Nhưng dầu sao em vẫn thấy Tiểu Đoàn em thắng hẳn bọn chúng, nếu đếm thật kỹ số xác để tại trận của chúng… (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: TRONG NHỮNG NGÀY TỬ THỦ
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 19 Sep 2024
Google photo edit by Sơn râu
Trương Duy Hy
KỶ LUẬT CỦA TIỂU ĐOÀN 2 DÙ
Ngày 18-2-71, từ 9g00 chúng tôi đã xếp hàng khẩu 2 và móc dây vào súng. 9g30 Sky-Crane đến bốc về Đông Hà.
Ngay sau đó, Cộng quân pháo kích lai rai bằng đại bác, tuy vậy cũng chưa có quả nào rơi vào giữa căn cứ.
Thiếu Úy Thiện kiểm kê xong số đạn còn tồn kho, vào báo cáo:
– Trình Đại Bàng, tôi để ý từ hai hôm nay có mất một số đạn chiếu sáng, hôm qua 4 quả, hôm nay 7 quả nữa! Mới có hai ngày mà mất 11 quả! Tôi trình với Đại Bàng để Đại Bàng quyết định biện pháp canh gác… chứ nếu không thì e rằng với cái đà này đạn chiếu sáng thất thoát nữa.
– Lính nào ăn cắp anh có biết không?
– Tôi không biết, vừa rồi tôi có dò hỏi nhưng chịu!
– Có lẽ pháo thủ của mình ăn cắp (?) vì chỉ có pháo binh mới biết cách tháo đạn lấy dù chứ lính thường làm gì biết tháo?
– Chưa chắc đâu Đại Bàng ơi! Tiểu Đoàn 2 Dù cũng có một số binh sĩ trước kia ở Pháo Binh. Đại Bàng cho điều tra thử.
Tôi gọi TSI Bình, Thường Vụ Pháo Đội vào và chỉ thị điều tra vụ mất đạn.
Sau một hồi dò hỏi, TSI Bình vào cho tôi biết:
– Thưa Đại Úy, có 11 quả đạn chiếu sáng vứt ở mé Nam bãi đáp trực thăng, bên trong quả đạn đã rỗng ruột. Có dấu ai đã gỡ lấy dù ra rồi. Tôi có điều tra và lính mình thì không ai lấy cả vì biết Đại Úy cấm ngặt từ hồi ở Đồi 37 Đai Lộc nên không đứa nào dám liều mạng để bị đập.
Photo edit by Sơn râu
Tôi bực mình hết sức và đi ngay qua BCH/TĐ2 Dù trình với Trung Tá Thạch:
– Thưa Trung Tá, đáng lẽ tôi không muốn trình với Trung Tá, nhưng tôi sợ có thể xảy ra tai nạn, nên xin Trung Tá lưu ý các binh sĩ đừng tháo dù ở đạn chiếu sáng 155 ly.
– Sao anh biết lính tôi tháo dù?
– Thưa Trung Tá, hôm qua chúng tôi mất 4 quả, hôm nay mất 7 quả, chỉ có 2 ngày mà mất 11 quả! Bây giờ 11 cái vỏ còn vất ở mé đồi. Sự thật tôi chỉ sợ nguy hiểm thôi. Lỡ lúc tháo dù bị thương, bị chết… xin máy bay triệt thoái không phải là dễ.
– Cái này chắc lính pháo binh các anh gỡ chứ chẳng ai vào đó. Bọn lính tôi làm gì biết mà tháo dù.
– Tôi cũng nghĩ như Trung Tá, nhưng xin Trung Tá thử cho điều tra xem, có thể vài tên trước kia ở Pháo Binh chăng?
Trung Tá có vẻ bực mình lắm. Ông cho gọi Trung Úy Ban 2 đến và chỉ thị điều tra ngay.
Tôi trở về Đài Tác Xạ mà thật tâm chẳng yên lòng tí nào.
30 phút sau, một binh sĩ Dù đến gọi tôi qua gặp Trung Tá.
Đến nơi, tôi thấy một binh sĩ Dù (anh ta vẫn thường giữ nhiệm vụ đánh dấu bãi đáp và ra thủ hiệu cho các loại trực thăng lên xuống căn cứ) ngồi trên ghế — cạnh anh một binh sĩ khác đang dùng tondeuse ủi trọc cả đầu và ủi sạch luôn hai hàng lông mày của anh!…
Vừa gặp tôi, Trung Tá Thạch phì cười — vừa trỏ về phía anh trọc đầu bảo tôi:
– Thủ phạm! Đích thị hắn là thủ phạm đã tháo đạn chiếu sáng của anh để lấy dù! Tôi mới đập một trận nên thân và cho cạo trụi lũi hết! Dại quá là dại… Tháo một cây dù có lợi gì đâu… nhở nó nổ một phát thấy mẹ…! Nhưng nó khai ông TSI Thường Vụ của anh cho?
Tôi giận run cả người! TSI Bình của tôi lại cả gan đến thế ư? Tôi liền cho gọi TSI Bình qua đối chứng. TSI Bình quả quyết không cho, vì sợ tôi phạt, nhưng thấy anh ta hay giúp đỡ Pháo Đội trong những lần tiếp nhận tiếp tế nên có bảo rằng anh muốn lấy dù thì hãy vào xin Đại Úy tôi.
Một đằng vì tình cảm, một đằng vì nghĩ đến công giúp đỡ của chính mình nên đã tự hiểu ngầm với nhau… đưa đến kết quả tự tiện phá đạn lấy dù. Tuy nhiên, anh ta chỉ chịu lỗi tháo hai quả đạn thôi, số còn lại do người khác tháo chứ không phải anh.
Chỉ trong phút chốc, 6 cây dù được mang trả lại Pháo Đội! Với sự điều tra nhanh chóng của Ban 2 TĐ 2 Dù như thế, đã làm cho anh em chúng tôi khâm phục vô cùng.
Thấy các binh sĩ Dù bị Trung Tá phạt nặng quá, tôi đâm thương hại, ngỏ lời xin:
– Thưa Trung Tá, dầu sao việc đã dĩ lỡ, xin Trung Tá tha cho các anh ấy để hòa khí giữa các pháo thủ và binh sĩ của Trung Tá vui vẻ hơn. Các anh ấy đã nhận lỗi, Trung Tá la là đủ cho các anh ấy sợ rồi.
– Ồ! Nói như anh hỏng mất, kỷ luật là kỷ luật. Tiểu Đoàn tôi phạt như thế này là nhẹ nhất đấy, ở trỏng (ý Trung Tá muốn nói lúc ở trại Phi Long trong Sài Gòn) tôi còn đập bằng cây sắt chứ thế này thấm gì!
Sau đấy tôi vào hầm Đại Úy Hạnh… Lúc nào gặp Đại Úy cũng thấy Đại Úy bận rộn, hết bóc máy này liên lạc với các Đại Đội tiền đồn đến bóc máy kia liên lạc về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù. Dường như Đại Úy là tượng trưng cho một điều hợp hoạt động của toàn bộ Tiểu Đoàn 2 Dù.
Thấy tôi bước vào hầm, Đại Úy Hạnh trở vào chiếc ghế bên cạnh mời tôi ngồi và đưa thuốc cho tôi hút…
Lát sau gài ống liên hợp vào máy xong, Đại Úy quay sang tiếp tôi. Nhân tiện tôi ngỏ ý e ngại những việc không hay vừa xảy ra giữa các binh sĩ Dù và Pháo Đội tôi… từ việc không cho nước uống đến việc tháo gỡ đạn chiếu sáng…
– Anh đừng ngại gì cả. Tiểu Đoàn chúng tôi có truyền thống kỷ luật từ khuya rồi. Chúng nó biết lỗi khi phạm lỗi thì chịu kỷ luật, không kêu ca than oán gì cả. Cái hay là ở chỗ đó. Tôi sống với binh chủng này đã lâu, tôi biết, nó không dám hỗn với các anh đâu mà ngại.
– Thật ra, tôi chỉ e hòa khí giữa pháo thủ tôi và binh sĩ Dù bên này không còn đẹp nữa — Vì thấy Trung Tá làm dữ quá!
– Ông Già bên này nghiêm lắm… không có sao đâu.
Kế đó, Đại Úy hỏi thăm tin tức gia đình tôi, thuật lại việc làm bận rộn của Ban 3 Tiểu Đoàn 2 Dù từ lúc đặt chân đến căn cứ này… kể lại vài mẫu chuyện chiến đấu với những kinh nghiệm rút tỉa được tại đất Chùa Tháp. Thôi thì đủ chuyện hàn huyên… nhờ đó mà tôi hiểu được Đại Úy Hạnh nhiều hơn và tôi thầm cảm mến, khâm phục bởi các chiến tích mà Đại Úy đã gặt hái…
Rời Đại Úy Hạnh, tôi trở về Đài Tác Xạ vừa lúc Trung Úy Kim túc trực bên máy vô tuyến, xin bắn tối đa cho Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân.
YỂM TRỢ CỨU NGUY TIỂU ĐOÀN 39 BIỆT ĐỘNG QUÂN
Photo edit by Sơn râu
Bấy giờ, tại mặt Đông Bắc, Tiểu Đoàn 39 BĐQ càng lúc càng chạm súng mạnh với địch. Pháo Đội tôi xử dụng hai khẩu 4 và 3 liên tục yểm trợ.
Song song với tác xạ này, 3 khẩu đại bác còn lại hướng thẳng về căn cứ Hỏa Lực 31 bắn suốt ngày. Pháo Đội C 3 Dù, vài khẩu hướng về tiền đồn Đông Nam yểm trợ cho các Đại Đội của Tiểu Đoàn 2 Dù, số còn lại cũng dốc hẳn cho căn cứ Hỏa Lực 31. Có thể nói, hôm nay số đạn tiêu thụ cao nhất — mặc dầu với 5 khẩu, chúng tôi đã bắn từ 6g30 đến 19g00. 1000 quả đạn kịp thời gởi đến bổ sung với một móc hậu nước.
Chưa bao giờ Pháo Đội chúng tôi vất vả bằng ngày hôm nay! Trời lại không trăng, chúng tôi vừa tác xạ, vừa dọn bãi đáp, vác đạn và xếp nạp vào hầm đến 21g00 mới xong.
Ngày 19-2-71, vòm trời Hạ Lào vẫn trong sáng, nhưng tại Khe Sanh thì sa mù xuống thấp, dày đặc, đứng cách nhau 5 thước không nhìn thấy nhau. Các phi vụ tiếp tế đều bị hủy bỏ. Chỉ có vài trực thăng và phản lực jet hoạt động rời rạc yểm trợ cho các cánh quân bạn xa căn cứ chúng tôi. Lúc bấy giờ Pháo Đội chúng tôi mới thấy giá trị lời tiên đoán thời tiết do Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng báo động hôm trước.
Nhờ đã tích trữ sẵn nước, chúng tôi không phải vất vả xuôi ngược tìm nước! Đồng thời, mức độ tác xạ không thể vì thiếu tiếp tế mà đình chỉ.
Tờ mờ sáng, chúng tôi đã tác xạ yểm trợ cho Tiểu Đoàn 39 BĐQ mãi đến ngày 20-2-71, không còn nhận điện văn xin yểm trợ của Tiền Sát Viên của Tiểu Đoàn này nữa, chúng tôi mới chấm dứt nhiệm vụ.
Tin tức Tiểu Đoàn 39 BĐQ anh dũng chiến đấu với địch đến viên đạn cuối cùng rồi phân tán mỏng chứ không một ai đầu hàng địch, phút chốc đã bay khắp nơi.
Vì không có nhiệm vụ trực tiếp yểm trợ cho Tiểu Đoàn này nên chúng tôi không rõ tình hình chi tiết — ngoài hai hôm nay, đặc biệt Pháo Đội tôi có tác xạ tăng cường cho Tiểu Đoàn 64 PB nên qua máy PCR-25 của Trung Úy Kim, chúng tôi được biết: về sau, một số binh sĩ Tiểu Đoàn 39 BĐQ nhập chung với Tiểu Đoàn 21 BĐQ do Thiếu Tá Hiệp chỉ huy cách đó không xa.
Sáng ngày 20-2-71, một trực thăng bị phòng không địch bắn trúng máy, sà thấp… lướt đến bãi đáp. Nhân viên phi hành thoát vội ra ngoài, không ai bị thương tích.
Chiều lại, thêm một trực thăng khác ngộ nạn, cố gắng đáp xuống căn cứ chúng tôi. Một nhân viên phi hành bị thương nhẹ.
Hầu hết các nhân viên phi hành đều là quân nhân Hoa Kỳ, họ được di tản về Khe Sanh không quá 10 phút sau khi đáp xuống căn cứ chúng tôi.
Hôm nay chúng tôi tiếp nhận trên 1000 quả đạn, ngay lúc mực độ đạn còn lại của Pháo Đội xuống dưới mức an toàn tối thiểu. Chúng tôi còn được nhận thêm nhiều đầu nổ cao cần thiết dùng yểm trợ cho những đơn vị bạn bị tràn ngập — nếu có lời xin, cũng như xử dụng cho những mục tiêu đòi hỏi đạn nổ cao.
Đêm đến, bắt đầu từ 19g00 hỏa châu được thắp sáng cả bầu trời. Bốn hỏa châu liên tục… liên tục… soi rõ chiến trường hướng Bắc, nơi Tiểu Đoàn 21 BĐQ đang cầm cự với địch.
Rạng ngày 21-1-71, các tiền đồn căn cứ Hỏa Lực 31 đều bị địch quấy phá. Sĩ quan liên lạc của Đại Đội 330 liên tiếp gởi điện văn xin tác xạ nới rộng vòng đai an ninh cho các tiền đồn này. Sau đó, 330 báo về cho chúng tôi biết nhờ vào các tác xạ của chúng tôi, lại thêm một kho đạn địch phát nổ ở Tây Bắc căn cứ.
Suốt ngày, Đài Tác Xạ làm việc không nghỉ. Hết bắn cho căn cứ Hỏa Lực 31 đến tác xạ cho Tiểu Đoàn 21 BĐQ và tiền đồn của Tiểu Đoàn 2 Dù. Tại khẩu, nhân viên vất vả không kém. Nhiều khi phải quay càng súng để hỏa lực không tập trung, nâng cao hiệu quả.
Cùng lúc, tại căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi, Cộng quân bắt đầu gia tăng pháo kích bằng súng cối 82 ly, tăng cường thêm cho các khẩu đại bác của chúng — Có lẽ vì hiệu quả đại bác của chúng hầu như vô hiệu đối với vị trí “thuận lợi” của chúng tôi.
Ở bãi đáp, mấy chiếc trực thăng ngộ nạn được triệt thoái về Khe Sanh để lại một khoảng đất rộng rãi, sẵn sàng đón nhận tất cả tiếp liệu phẩm tái tiếp tế trong kỳ tới.
Photo edit by Sơn râu
Khi trời nhá nhem tối, đang lúc nhân viên Khẩu Đội tháo gỡ các kiện đạn, nạp, mang di chuyển vào kho, một trực thăng từ xa lảo đảo lao đến và may mắn, vừa tới bãi đáp thì cánh quạt ngưng quay… trên cao khoảng hơn 1 thước, trực thăng rơi xuống, lắc lư trên đất qua hai càng mỏng manh dọc theo thân trực thăng, rồi nằm yên bất động! Phi hành đoàn thoát vội ra hai bên hông, khom người chạy nhanh tìm chỗ nấp, làm cho nhân viên Pháo Đội một phen hoảng hốt nhảy xuống các hầm ven bãi đáp.
Ngày 22-2-71, khoảng 9g00 hơn, chúng tôi bó gọn khẩu 5 triệt thoái về Đông Hà và tiếp nhận khẩu 2 đã sửa chữa xong đặt vào vị trí cũ.
Hôm nay, Cộng quân lai rai pháo kích suốt buổi sáng, nhưng vẫn chưa có quả đạn nào lọt vào giữa vị trí.
Tiếng « départ » đại bác 105 ly của địch nghe rõ mồn một ở hướng Bắc căn cứ, khoảng cách ước lượng từ 3500 đến 4000 thước, khuất sau hai ngọn núi thấp — mà từ căn cứ Hỏa Lực 30 chỉ nhìn thấy đỉnh thôi. Có lẽ chúng đặt súng bên kia triền núi thứ hai (?). Pháo Đội chúng tôi và PĐC 3 Dù liên tục phản pháo, song chẳng có hiệu quả gì.
Tôi bảo Kim liên lạc với Tiền Sát Viên Tiểu Đoàn 21 BĐQ hỏi xem bên đó có quan sát được hướng « départ » của đại bác địch không?
Kim dùng vô tuyến gọi và được bên kia đáp:
– Chúng tôi cũng nghe tiếng « départ » gần nhưng không thấy dấu hiệu mục tiêu, vì ở đây bị cây rừng che lấp…
Việc xác nhận vị trí của địch thật là khó khăn. Vả lại Tiền Sát Viên của Tiểu Đoàn 21 BĐQ lại ở dưới hố, tiếng vang của núi rừng không thể cho anh ta một suy đoán chắn chắn về hướng và tầm xa chính xác. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn nhận được mục tiêu với sự cố gắng ước lượng của Tiền Sát Viên này gởi về. Phối hợp với nhận xét của tôi và Trí, chúng tôi tính yếu tố phản pháo ngay.
Kết quả, chúng tôi vẫn không làm câm họng được đại bác địch. Tôi có cảm tưởng như thằng mù quờ cây gậy đập lưng kẻ thù. Nhưng nghĩ cho cùng có đập như vậy còn hơn không, và ít ra, cũng có tiếng gọi là đáp lễ. (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: ĐỐI THOẠI VỚI CỘNG QUÂN VÀ KHẢ NĂNG PHÁO BINH ĐỊCH
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Hai tay chắp sau mông, bác sĩ Hai đếm bước trên gạch, giữa hai hàng sập trong một “phòng chung” của dưỡng đường Chợ Rẫy.
Bác sĩ lớn người, mập và trắng. Hai cánh tay to, nặng những thịt bệu, thò ra khỏi chiếc “bờ lu” ngắn tay, chừng như mỏi vì đặt mãi sau lưng, được đem ra phía trước, khoanh lại trên ngực.
Người bịnh ở phòng thì cứ ăn cơm, coi như là không có bác sĩ nơi đó, vì họ đã quen với sự đi dạo của bác sĩ giờ nầy trong phòng, y như là ngày hôm qua, hôm kia, những hôm trước nữa. Có một người bịnh mới vô, ái ngại, lén nhìn bác sĩ, rồi không thấy ông ta rầy la gì ai, lại an lòng cúi xuống ăn tiếp.
Bác sĩ không có phận sự xem xét bữa ăn của bịnh nhơn, cũng không có tánh tò mò muốn quan sát cảnh thân mật của người nghèo. Trong dưỡng đường Chợ Rẫy có tục lệ thăm bịnh sớm lắm – sớm đến nỗi muốn cho “đâu đó xong xuôi đàng hoàng” những người quét dọn, mới năm giờ sáng đã lôi tốc người bịnh dậy để vén mùng, lau gạch, đổ ống phóng và những “thầy khán hộ học trò” mới năm giờ rưỡi sáng đã lo đi lấy nhiệt độ, gây nên sự chộn rộn, phá giấc ngủ đang ngon của người bịnh mới lành hay của người bịnh nặng trằn trọc suốt đêm, mới chợp mắt được một đôi giờ – Vì vậy bác sĩ được rảnh rất lâu trước giờ tan buổi làm, và không biết làm gì trong lòng giấy, nên vào phòng bịnh giữa những bữa ăn – cũng lại rất sớm, dầu người bịnh chưa nghe đói – để cho người giúp việc “xong mọi việc” trước khi hết giờ làm.
Bác sĩ không thích đọc sách, cũng không có một đời sống bên trong phong phú. Ông tìm đến chỗ đông người đặng trốn sự trống rỗng và, không cần nói chuyện với họ, hay nhìn họ, nghe tiếng chén đũa khua, nghe họ râm ri là đủ cho bác sĩ thấy đỡ chán hơn là ở nơi văn phòng tịch mịch của ông.
Người bịnh thì ăn cơm ngay trên sập của mình. Phần đông ăn riêng. Có vài người chung đậu đồ ăn lại. Đó là những người thảo ăn cứ mời mọc nhau mãi như là đãi khách. Có người đem phần ăn lại ngồi chung một sập với người khác, mà vẫn ăn riêng. Đó là những người “thống nhất mà phân trị” vậy.
Không hiểu sao hôm đó bác sĩ lại dừng bước trước sạp của hai người “phân trị”. Có phải chăng vì hai chiếc áo màu dà của hai anh “cu li cao su” nầy đã buông một tiếng đàn lạc điệu vào bản nhạc y phục đen tối của phòng thi nầy? Không biết. Nhưng một cảnh tượng khiến bác sĩ không tiến bước được nữa.
Một anh “cu li” thừa lúc bạn đồng sàn ngó lơ, gắp bớt giá xào tóp mỡ của bạn bỏ vào dĩa mình. Nửa phút sau đó, nạn nhơn thấy bạn nhìn bác sĩ, cũng lại gắp giá xào tóp mỡ của bạn, rồi chôn dưới cơm. Người sau nầy có lẽ cũng tham ăn, chớ không phải trả miếng – nói cho đúng là lấy lại miếng – vì anh ta thật không hay hành vi của bạn hồi nãy.
Bác sĩ bật cười. Bịnh nhơn ngơ ngác buông đũa nhìn. Bác sĩ nhớ lại một chuyện đời xưa nói anh em nhà kia đêm đến lén lén ra đồng vác lúa cho nhau. Bác sĩ ngạc nhiên không hiểu sao người mình tham ăn đến thế và tham ăn cả những món không ngon đến thế. Ông nhớ lại ở làng, hễ nhà ai có động dao, động thớt là tức thì có người bu đến, cà rà, tìm công việc để làm, nói là giúp, nhưng thâm tâm họ quyết chờ những miếng thịt của con heo người ta đang thọc huyết bên hè.
Bác sĩ trề môi, khinh bỉ hai người bịnh, hay bọn nhà quê mà bác sĩ nhớ đến? Rồi không suy nghĩ thêm nữa cho niệt trí, bác sĩ lại đếm bước trên gạch.
Câu chuyện trên đây đã xảy ra mười lăm năm nay rồi. Nhưng cũng cần nhắc lại.
Bác sĩ đương ở nơi đâu, tại nhà ai, nhà ra sao, ông không rõ. Ông chỉ biết mình đang đứng trước chảo cơn chiên. Ông vừa với tay lấy chén để xúc cơm thì một thằng nào đâu không biết, xờn xợt chạy đến đá đổ chảo cơm. Sự tức giậu toan bùng ra bằng ít lắm là một cái bạt tai thì bác sĩ giựt mình thức dậy.
Bác sĩ còn đang tiếc bữa ăn hụt, mặc dầu biết rằng đó chỉ là bữa ăn trong mơ, thì bỗng nghe vang dậy tiếng chào cờ đằng trụ sở bên cạnh nhà ông ở đậu:
… Non sông ơi, cờ theo gió bay càng cao…
Cùng với nắng sớm, tiếng hát reo tươi trên lá xanh, khiến bác sĩ nghe thèn thẹn, nhận thấy tật ngủ trễ của mình có cái gì chọi với đám người trẻ không yên kia, đã dậy cùng với mặt trời. Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ lẩn lút thôi. Vụ hụt ăn lại trở về ám ảnh bác sĩ. Ông nhớ thuở nhỏ thường chiêm bao thấy ăn kẹo, bánh trái. Nhưng không lần nào được ăn thiệt. Luôn luôn có một thằng, một con gì, hay lột tiếng động đến rất đúng cái giây phút sắp đưa đồ ăn vào miệng như là có ai quyết tâm cản trở ông ăn trong mơ.
Mấy bà cụ quả quyết rằng “ai” đó là ông thần hộ mạng của mỗi người. Quỷ sứ nó dụ mình ăn. Ăn là chịu theo nó. Bác sĩ bực tức cằn nhằn thầm:
– Mà ai cần hộ mạng chớ. Chết bỏ, miễn là được ăn thôi. Ăn giả, phải. Nhưng cần gì giả hay thiệt. Mình có đói đâu mà cần no. Mình chỉ thèm và cần thỏa cái thèm.
Phải bác sĩ thèm, thèm thịt, hay ít ra cũng món gì chiên xào bằng mỡ, hay tệ lắm là mỡ nước chan cơm ăn, chắc cũng ngon trong lúc thèm nầy.
Một tháng nay, bác sĩ nghe lời “mấy đứa nhỏ” con ông, tản cư vào vùng quê. Trong buổi hỗn độn ban đầu, việc tiếp tế lương thực cho dân chúng thật là bết lết. Ai có cái gì cũng muốn giấu để ăn, vì không biết thời cuộc kéo dài đến bao giờ. Và không ai dám đi đâu để mua cái gì về bán hết.
Sau một bữa ăn kia, trong tuần lễ đầu đi tản cư, bác sĩ nghe thiêu thiếu cái gì. À, một món tráng miệng. Ban đầu ông tính dẹp cái thói quen phiền phức ở thành ấy lại (vì ông cũng biết tự thích nghi với tình thế chớ không quá câu nệ lắm). Nhưng nỗi nhớ mọi người “la sét” lần lần biến thành sự thèm cái gì ngọt, cục đường thẻ cũng được, thứ đường đỏ sẫm lộn rác và bụi mà trước kia không bao giờ ông mó đến. Cái thèm gào hăng quá, bác sĩ thấy nó là sự đòi hỏi về sanh lý hơn là sự nhắc nhở của thói quen. Bác sĩ lẩn thẩn tưởng tượng những biến thể, những trao đổi, những điều hòa bí mật của sanh lý trong các bộ máy của thân ông; ông cử động, máy phải quay; ông muốn quay, nó cần phải có chất đốt; chất đốt đó là đường. Rồi ông đâm hoảng. Sau những suy tính của một nhà khoa học, sự thèm ngọt đã biến thành nỗi lo âu về thiếu chất cần cho cơ thể. Và con người rất thương thân thể của mình nầy bươn bả đi kiếm đường.
Lạ, sao cái món ăn rất thường ấy ở nhà, giờ nào cũng có, tiệm nào cũng bán. Thường quá rồi, có khi người ta quên rằng có nó trong đời nầy. Và không ai gọi nó là món ăn bao giờ. Còn bây giờ ở đây sao lục lạo mãi không ra. Giá nào ông cũng dám mua kia mà. Bác sĩ Hai tính lầm thầm:
– Nếu mua được thứ bánh ít (ích) bột khoai báng, lền xơ khoai, mình cũng sướng chán.
Rồi ông đâm tiếc những trái chuối nẫu (thúi, nát) ruột mà trước kia ông chê. “Chuối? ờ, cái gì cũng được. Miễn ngọt thì thôi chớ. Người ta đồn bên xóm Bà Miệng, mía nhiều, mình qua đó thử coi”.
Bác sĩ Hai đạp rạp rạ khô, đi dưới nắng tháng chạp. Gió đồng dán vào lưng ông vạt sau của chiếc áo bà ba vải đen mà ông phải mặc như những người khác. Vải gặp mồ hôi dính sát vào da. Trong ánh nắng rung rinh, hơi trên lớp vải bốc lên nghi ngút. Bác sĩ bây giờ tóc đã hoa râm, bụng lớn lên và phệ ra. Ông rất phiền phải lặn lội cực khổ vì một món không ra gì. Rồi ông oán “sấp nhỏ” đã xui dại ông. Nào ông có tính tản cư làm chi cho khổ thân. Nhưng “sấp nhỏ” nó cứ nhát: “Tụi con, ba đứa đều làm việc hết. Ba không đi nó sẽ bắn Ba, bỏ tù Ba”. Thế là ông hoảng, gởi bà và đứa con nhỏ về Sàigòn, còn mình thì chạy đến làng nầy, và bây giờ phải khổ đủ thứ!
Khi bác sĩ đi ngang qua nhà kia, ông nghe tiếng một người trai trẻ hỏi lớn:
– Mầy làm gì mà hè lụi trong buồng vậy a Lịch?
– Tao làm “công tác đào đường”.
– Thằng nói lạ, đào đường gì mà đào trong buồng?
Lạ thật, bác sĩ đứng lại chờ nghe tiếp. Một phút sau nghe tiếng người trai trẻ hồi nãy rùm lên:
– Tụi bây ơi, vô mà coi. Nó đào đường thiệt chớ. Mà đều thứ đường khạp làm ở Biên Hòa.
Bác sĩ quên lễ độ, cười lớn lên với những người trai trẻ trong nhà. Nhờ trận cười ấy mà bác sĩ làm quen được với họ và khỏi phải đi xa. Và từ đó biết chỗ mua đường.
“Ai mà cần ai hộ mạng chớ”, bác sĩ tức tối cằn nhằn với mình; bác sĩ đã bị thịt, bị mỡ ám ảnh. Từ ngày bị cướp ở làng bên cạnh, bác sĩ hết tiền, trôi dạt qua đây, nhờ một người bà con cho mượn chút ít, bác sĩ phải ăn hà tiện cho đỡ tốn. Không đến đỗi chết đói, nhưng cũng không no lắm. Nhứt là mấy ngày sau đây số tiền đã cạn mà người bà con lại bị Tây bắt mất. Không biết ai đó ở đâu, và hồi nào vì sự tình cờ hay nhờ tìm tòi, mà đã phát minh ra rằng ăn cơn với mắm ruốc cùng đường ngon tuyệt. Rồi như một dây thuốc pháo bị cháy lan, nghệ thuật ăn của phái “mắm ruốc đương” được phổ cập khắp các làng. Vả không hoan nghinh mắm ruốc cũng không có gì khác mà ăn, vì người nào cũng hết tiền, còn thịt heo thì mắc như vàng.
Một và cơm, một quệt mắm, một miếng đường tán nhỏ, cái thành phần kỳ dị của những miếng ăn ấy đối với bác sĩ chỉ “ngon tuyệt” bữa đầu thôi. Mấy bữa sau ông nghe xót ruột như đã uống át-pi-rin không ngâm tan trong nước. Ông thề nguyền khi trở về, không bao giờ dám chê ngán những đĩa ra-gu, những miếng sườn ram nữa.
Bác sĩ triết lý:
– Thèm ngọt không nằm chiêm bao. Thèm thịt thì nằm. Vậy cơ thể đòi thịt hơn là đòi đường.
Ông nhớ lại cái chết tội nghiệp trong nhà thương của những người bịnh thương hàn mới khỏi. Nhiều người rất biết nỗi nguy nếu ăn khi mới vừa khỏi, nhưng vẫn ăn bừa chỉ vì thèm, đói quá. Ăn rồi lăn đùng ra khóc không phải vì đau đớn, mà vì hối hận, hoảng sợ cái chết đến nơi trong vài giờ.
“Thịt kho tàu, khổ qua hầm, cũng ngon chớ – không hiểu vì một ý bắc cầu nào mà bác sĩ nhảy từ người bịnh thương hàn chết oan đến vụ thịt kho – mà sao cho bằng “cay xôi cấy”, “hà khàu”, “phù dùn hại”. Cá hấp tương với đồ Tàu cũng ngon. Nữa mình về, mình sẽ đi ăn hai ngày đồ Tây, hai ngày đồ Tàu, ba bốn ngày mì chả giò, hủ tiếu xào, xíu mại, bánh bao”.
Bác sĩ thở dài, rầu lòng nhớ lại ý muốn trốn về thành mà không được của ông. Chung quanh ông toàn là thanh niên vác tầm vông canh gác. Một con chó cũng không lọt qua. Còn cái làng gì ở biên giới thành ấy, nghe họ nói gác dày mịch như màn sắt mà ghê. “Nghĩ mà tiếc của cải mấy mươi năm gây dựng, không biết nữa còn chút ít gì không. Còn ba đứa lớn, thằng Minh, thằng Công, con Hà, chúng nó sẽ học dở dang, thua sút đám con ông huyện Cần”.
Bỗng bác sĩ Hai ngồi tốc dậy sần sượng với ai:
– Mà ai cầu ai hộ mạng chớ?
Bác sĩ lững thững lại tiệm cà phê. Tiệm cà phê đây là một chòi tranh mà chủ nhà, một dân quê có óc con buôn nhìn thấy bao nhiêu người lạ mặt tựu về, người nào cũng ghiền cà phê, bèn chụp ngay cơ hội tốt, mở tiệm. Mặc dầu vợt làm bằng vải áo cũ, và cà phê có mùi cơm cháy, khách vẫn đông, nhứt là những ông đằng đình, cái đình làng dùng làm trụ sở.
– Bà chiên gì mà thơm dữ vậy? Bác sĩ hỏi chủ quán.
– Tôi ram thịt để bán.
– Thịt ram ăn với gì?
– Cuốn bánh tráng.
– Trời! sớm mai, ai mà ăn bánh tráng cuốn thịt ram.
Nói vậy nhưng bác sĩ vẫn hỉnh mũi hít mùi thịt chiên. Ông cố hít nhẹ cho bà chủ quán không nghe thấy và hít dài để tận hưởng.
Bác sĩ mò tay vào túi, rồi nét mặt ông xịu xuống, không phải vì thất vọng, mà vì rầu. Ông men lại chảo thịt chiên. Đây là một mớ thịt phay, mỡ chiếm tám phần mười trong mỗi lát thịt. Thịt đã ram vàng, mỡ thịt thắng ra lênh láng.
– Tôi nghe như là thịt hôi, phải không bà?
– Hôi gì mà hôi. Thịt chiều hôm qua đó.
– Tức quá! Tôi thử coi.
Nói đoạn bác sĩ lấy đũa gắp một miếng, đưa lên mũi. Ông làm bộ như chưa đánh hơi ra mùi thật của nó, thổi sơ vào miếng thịt rồi cắn một miếng.
Mùi thịt ram mơn trớn mũi ông Hai, chọc những hạch nước miếng hai bên hàm dưới ông. Và ông lắng nghe nơi bao tử, một thứ nước gì tiết ra.
– Hay là mình ăn chịu? Không được. Họ không tín đám người lạ mặt cứ lưu động mãi nầy. Không lẽ ăn bừa rồi tới đâu sẽ hay. Chậc! Cũng không còn cái đồng hồ để cầm đỡ. Bây giờ làm thế nào ăn được món thịt ram cuốn bánh tráng? Thật là cả một bài toán đố khó giải lý.
Chợt có người bước vào, bác sĩ Hai rất mừng khi nhận thấy người còn trẻ ấy là người quen cũ ở thành.
– Anh giúp ban tuyên truyền?
– Thưa phải. Hổm nay hai anh Minh, Công và chị Hà có về thăm bác không?
– Sấp nhỏ nó đi đâu mất, tôi lo quá.
Dạ thưa còn bác có giúp đâu chưa?
– Ôi tôi già rồi…
Người con trai tên là Tương nầy kêu bánh tráng cuốn thịt ram.
– Dạ thưa bác, món nầy, hồi ở nhà có mấy thuở mình ăn, nhứt là sớm mai. Mà sao giờ ăn ngon lạ.
Bác sĩ Hai mỉm cười một cách cố thản nhiên. Ông theo dõi từng cử chỉ của Tương. Hai hàm răng bén của người trẻ cắn đứt ngon cuốn thịt, đôi môi khép lại, che giấu cái bã đồ ăn đang nhai.
– Cháu vô phép quá. Xin lỗi, bác đã điểm tâm rồi?
Bác sĩ còn một chỗ nước miếng trong họng, vội nuốt để trả lời. Nhưng bác sĩ giựt mình e thẹn nghe tiếng nuốt nước miếng của mình lớn quá. Lại mớ nước miếng nữa dồn đến. Nuốt đánh ực nữa thì sợ Tương nó nghe biết, nó cười thầm. Còn để vậy thì nghẹt họng, đừng nói chi trả lời, nội cái việc thở mà còn không thông, bác sĩ bưng tách cà phê lên, làm bộ uống nốt những giọt đã cạn tử hồi nào, nuốt trôi được mớ nước miếng và rất bằng lòng thấy sao mình lanh trí được như vậy.
Thấy rằng nếu làm bộ chê món thịt cuốn thì thất sách, bác sĩ ấp úng:
– Tôi vừa ăn xong cũng món độc nhứt đó.
Nhưng bác sĩ hối bận ngay. Ờ, mình đã ăn rồi thì còn ma nào nó mời nữa.
Tương không mắc cỡ miệng, mặc dầu bác sĩ nhìn anh trừng trừng. Sau những cái nuốt, anh thè lưỡi biếm môi mỡ và đánh lưỡi một cái “chách” lên đốc giọng. Bỗng một miếng mỡ rơi xuống đất. Bác sĩ nhìn theo vừa tiếc hùi hụi thì một con chó vện chực sẵn đâu dưới ấy hồi nào không biết, táp phập ngay lấy.
Nhìn sự chụp giựt của con chó đói nhà quê, nhìn lại mình, một niềm tủi nhục mênh mông bỗng dâng trào lên, vặn thắt trái tim không bao giờ biết thổn thức của bác sĩ lại.
Bác sĩ cúi gầm mặt xuống chiếc bàn cũ. Trong giây phút những hình ảnh xưa ở đâu hiện về, chớp nhoáng; hai người bịnh nghèo ăn cắp giá xào lẫn nhau, mười lăm năm về trước, những người nhà quê bu quanh một cái hòm, ăn nhậu; những miếng thịt heo đút lò cả chồng mỡ, trong đình làng…
Bị kích thích mạnh, óc bác sĩ Hai làm việc chóng và nhiều hơn bao giờ hết.
– Tại sao họ tham ăn, tại sao mình thèm ăn quá như vậy?
Câu trả lời đến ngay trong trí bác sĩ.
Sự thật nảy ra như tia lửa trong một buổi sáng thèm thịt làm ông ta lảo đảo. Ông nghe cả một sự sụp đổ trong người ông. Sự sụp đổ của nhơn sinh quan sẵn có của ông.
Sự thật đầu tiên, đến tóc bạc hoa râm ông mới tìm thấy.
Rồi ba chơn, bốn cẳng, ông chạy ù về nhà, miệng lẩm bẩm:
– Thôi không thèm trốn về nữa. Mình phải đi xin một việc làm mới được. Phải mà, người mình không tham ăn sao được!
Đạt gầm đầu trên tờ giấy có vẽ những hình vuông, hình tròn về những bài toán hình học anh đang làm.
Bỗng sau lưng anh, anh nghe ai ngâm “
Trăm năm tính cuộc vuông tròn…
Đạt giựt mình, ngước lên nhưng không ngó lại.
Người ngâm Kiều cười ha hả rồi nói:
– Anh giựt mình mà vẫn ngồi trơ, nghĩa là anh hết hồn về chuyện khác, chớ không phải vì có tiếng thình lình.
Giọng nói là giọng của người lớn tuổi. Mặc dầu thế, Đạt cũng đùa:
– Trinh thám lắm, nhưng tôi hết hồn vì chuyện gì?
– Vì câu Kiều tôi ngâm. Câu ấy để trêu những anh học sanh như anh, ngày nầy qua tháng khác cứ học mãi những hình vuông hình tròn. Có gì đâu anh phải sợ. Nhưng anh sợ vì nó nói đúng tim đen anh trong giờ phút nầy. Tôi đoán chắc là anh đang lo ra. Anh ngó hình mà chỉ thấy con Chi.
Đạt tái mặt, rồi bẽn lẽn cắn móng tay, không nói gì nữa, cũng chẳng dám day lại dòm người đối thoại với anh.
Người nầy sợ anh mắc cỡ tội nghiệp, cười một xâu dài rất dòn rồi kể:
– Hôm qua tôi lại đằng chị tôi. Thằng cháu nó mượn thầy về dạy thêm toán. Thấy hai thầy trò đang làm bài toán số học viết lên bảng đen đầy những chữ A chữ B chữ C. Chị tôi hỏi ông thầy : “Ông à, con tôi nó mười tám tuổi, học trên mười năm rồi, sao cứ còn phải học A, B, C hoài vậy ?”.
Đạt và người nọ đồng cười xòa.
Bấy giờ người ngâm Kiều mới bước hẳn vào buồng nhỏ của Đạt. Đó là thầy bảy Tân, chủ nhà nơi Đạt ăn cơm tháng đi học.
Thầy bảy Tân đặt nhẹ tay lên vai Đạt mà rằng:
– Anh đừng sợ gì hết. Con Chi là cháu tôi, phải. Nhưng anh có tội gì đâu. Tôi chỉ khuyên anh yêu nó vừa vừa thôi. Yêu chơi chơi vậy thôi, chớ đừng yêu thiệt tình…
Đạt ngạc nhiên đến cực điểm và tự hỏi: “Sao thầy ta lại xúi dại thế, bảo đừng yêu thiệt”. Như hiểu ý người bạn trẻ, Tân nói:
– Anh ngạc nhiên vì anh không hiểu rõ hai tiếng “chơi chơi” của tôi. Nầy, để tôi kể anh nghe một câu chuyện tình của học sinh, một cậu học sinh mười chín như anh vậy.
Tân kéo ghế ngồi sát Đạt, vói lấy một quyển sách đậy những hình vuông, hình tròn lại, rồi bắt đầu:
“Một buổi chiều xuân êm đềm ấm áp. Trên phố hàng Bồ, cậu ấm Nguyễn Khắc Hiếu vừa đi vừa ngước mặt lên nhìn trời trong, miệng ngâm nga nho nhỏ: “Hoa cù hồng phấn nữ, tranh kháng lục y lang”.
Đó là hai câu thơ trong quyển Ấu học ngụ ngôn thi mà cậu ấm đã học thuộc lòng cách đây mười bốn năm, năm cậu lên năm tuổi.
Người thanh niên ấy với bản chất đa cảm đa tình lại bị giáo dục hơi lơi (ai đời con nít lên năm lại bắt học thơ tình) nên trước cái xuân tạo vật, bất giác đọc lên bài thơ năm cũ, vì lòng đang rạo rực yêu đương.
Đời đẹp lắm, chiều hôm ấy. Trời, mây, chim chóc, cây cỏ, con người, phố xá, xe cộ, cái gì cũng dễ yêu hết.
Từ phố Gia Ngư nơi mà cậu ấm theo học trường qui thức, về nhà trọ ở phố hàng Nón, mỗi ngày cậu ấm qua đây bốn lượt, thế mà mãi đến chiều hôm nay cậu ta mới thấy vẻ đẹp con đường.
Đây, Hà-Nội Đinh-Mùi 1, một Hà-Nội mà gương mặt còn nặng vẻ Thăng-Long cũ với những ngôi nhà mái cong cong, cất không ngay hàng thẳng lối. Đây đó vài tấm biển hàng treo đứng như bên Tàu.
Hà- Nội ấy nhắc nhở đến rất nhiều cái “Thành Tây” năm cũ với những Bích Câu Thôn, những cầu con trên sông Tô-Lịch có người bán tranh tiên.
Đi trên con đường hàng Bồ, nhìn những song sa trên gác con con, cậu ấm mơ đến những cuộc thả lá của tiên để mời tao nhơn mặc khách đi uống rượu làm thơ.
Lá có rơi thật đó, nhưng xem xét kỹ mãi mà không thấy đề thơ. Mà ồ kia, có phải là tiên nữ chăng, một người con gái yếm trắng ngồi trước một căn nhà bên dãy phố lẻ.
Cô gái ngồi trước hiệu tạp hóa, bên cạnh một cái quả sơn son đựng đầy dẫy miếng song thần 2. Sau lưng cô là những bó hương xanh đỏ, những gói chè giấy vàng vàng.
Bấy giờ một chiếc ô-tô cao cẳng, ốm tong teo hổn hển chạy đến trong một vầng bụi hồng, còi bóp te te liên hồi. Cậu ấm hoảng hốt nhảy trái lên vỉa hè trước hàng tạp hóa, đánh rơi xuống đường hết một chiếc giày Gia Định.
Cô hàng tạp hóa trông thấy vẻ sợ sệt của người con trai, bèn nở một nụ cười rực rỡ bằng cả một mùa xuân năm đó.
Cậu ấm quên lượm giày, đứng trân trân mà nhìn những chiếc răng huyền bóng như hạt mãng cầu.
Trời đôi mắt bồ câu sao mà sáng hực trên gương mặt trái soan mà da hồng hồng như cô gái làng Lim thế?
Bỗng có người đi đến đông đảo, cậu ấm bẽn lẽn quay mặt ra đường. Cậu ta không nhát gái, nhưng cả một nền luân lý Khổng Mạnh mà cậu ta thuộc làu làu kêu lên rằng cử chỉ ấy xấu lắm, nên cậu ta hổ thẹn thật tình.
Cậu ấm do dự vài giây rồi cúi xuống lượm giày, sau lưng cậu, cậu nghe tiếng cười khúc khích.
Suốt buổi chiều hôm đó, cậu ấm như kẻ mất hồn. Cầm chén cơm thì y như gương mặt giai nhân hiện lên trên đó. Tiếng đũa chạm chén, cậu ấm nghe sao mà giống tiếng cười khúc khích phát ra từ hiệu tạp hóa, tiếng cười đáng giận nhưng dễ yêu biết bao?
Đầu hôm, hễ:
Giở sách ra, lụy sa ướt sách,
Quên câu chữ đầu bài, vì nhớ em.
Giấc mộng hồ ly của pho truyện Liêu Trai mà cậu ấm nằm lòng, lẽo đẽo theo hoài cậu ta suốt đêm đó. “Người con gái ấy có phải là hồ ly không, và nếu phải đi nữa cũng chẳng sợ gì cả, ta lại thiết tha mong nàng là hồ ly, ta sẽ chết vì nàng cũng không ân hận”.
Ngày đến với ánh sáng ràng ràng; mộng nên thơ bao nhiêu cũng phải thấp lại, là là mặt đất.
Trên mặt đất, chỉ có trai thật và gái thật. Hễ yêu thì phải đi đến chỗ yêu nhau.
Kể từ ngày đó cậu ấm Hiếu sống giữa Hà – Nội mà chỉ biết có phố hàng Bồ, và đi trên phố hàng Bồ mà chỉ thấy có mỗi ngôi hàng tạp hóa ấy mà thôi.
Cậu ấm ghé hiệu mua hương, mua hương và mua hương mãi. Mỗi lần như thế là cô bé cắn chặt một cọng miến để ngậm cười người con trai mà cô đã thấu rõ nỗi lòng, mua hương mãi không biết để làm gì.
Cả một truyền thống Á Đông còn chảy trong huyết mạch cậu ấm Hiếu nên cậu ta không thể quan niệm một cuộc yêu đương ngoài hôn nhơn được.
Nhưng cái nghiệp đa-tình, dầu sao cũng phải nói một lời gì với người mơ ước, chỉ một lời thôi, chỉ một cái nhìn xa thôi cũng đủ như là một giai đoạn ái ân thầm lén, thú vị biết bao trước khi cậy mai dong đến dạm hỏi.
Cho nên một hôm vào hỏi mua hương, cậu ấm nghẹn ngào nuốt nước bọt đến mấy mươi lần mới hỏi được một câu rất vô duyên:
– Nầy cô em, cô em nghĩ sao nếu tôi cậy mai đến hỏi cô em?
Cô bé cắn đứt ngon lành cọng miến, lần nầy không phải cắn để ngậm cười, mà cắn vì hoảng hốt trước câu hỏi bất ngờ ấy.
Giây lâu cô đáp:
– Cậu cứ vậy đi rồi hẵng hay!
Ồ thì ra đó là một lời xúi biểu, thì ra, từ lâu cô bé chắc cũng đã cảm tình với mình!
Cậu ấm lòng mở rộng thênh thang để đón cả cuộc đời như đang ùn chạy vào đó.
– Cám ơn em nhé!
Cậu ấm nói thế cố ý quên tiếng cô, rồi vội vã ra về.
Nhưng về nhà, khi thưa với người anh thế phụ việc hôn nhơn đó, người anh suy nghĩ giây lâu rồi thở ra nói:
– Nhà mình nghèo như thế, lấy đâu được song mã mà cưới!
Thật là trời long đất lở. Cái khó chiếm là lòng người. Mà lòng người thì đã về tay cậu ấm chắc chắn rồi. Vậy mà một món khó hơn đây!
Cậu ấm rúc vào buồng, ngã vật lên giường, lòng nát ngướu như tương.
Thấy em bỏ ăn suốt hai ba hôm, ông anh kêu cậu lại, ôn tồn bảo:
– Tiền đồ khoa cử có quan hệ với tình duyên. Chú cứ lo học đi, thi đỗ là việc gì cũng xong cả. Cứ theo lời chú thì cô ấy vốn cũng có cảm tình với chú, thì cố nhiên là cô ta đợi chú, đến mấy năm cũng chả nản lòng.
Không hiểu vận động thế nào mà ông anh đang tu thư ở Hà – Nội lại được bổ về làm giáo thụ ở phủ Vĩnh – Tường. Ý hẳn để cho người em trai xa cô hàng tạp hóa rồi quên cô ta chăng?
Quên thì không bao giờ cậu ấm quên cả. Sở dĩ cậu vùi đầu học, chỉ để nên danh phận hầu “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau” mà thôi.
Ngày chia tay cô bé không nói gì, chỉ cắn cọng miến, cắn để nuốt những tiếng nấc chực vang lên.
Không bao giờ cậu Hiếu quên được đôi mắt huyền long lanh lệ ứa đó cả.
Năm ngoái đây người ta đã đày đức Thành – Thái đi hải ngoại. Nỗi đau đớn của cậu ấm bấy giờ tuy to, nhưng ngẫm không bằng cuộc tự đày cậu lên phủ Vĩnh Tường bây giờ.
Thi hương năm Nhâm Tý 3. Cậu ấm thi hỏng và sáu tháng sau về Hà – Nội.
Công việc đầu tiên của cậu là đến phố hàng Bồ. Phố bây giờ nhà cửa đông đúc hơn xưa, cuộc buôn bán cũng tấp nập thập bội.
Ngôi hàng tạp hóa vẫn y nguyên như cũ với những quả miến, những đống bấc, những bao chè. Nhưng sau mớ hàng tạp nhạp ấy là một bà cụ đầu đã nhuốm sương.
Hỏi ra mới hay là cô nàng tạp hóa năm xưa đã đi lấy chồng.
Trời ơi,
Đời đáng chán hay không đáng chán?
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm.
Cậu ấm ngậm ngùi lủi thủi ra đi, lang thang trên các vỉa hè Hà – Nội, nghe như cả vũ trụ đều sụp đổ quanh mình.
Cậu giận cho thói đời đen bạc, phi công danh bất luận vợ chồng. Trong cơn căm tức, thốt ra mấy vần thơ khinh bạc mà trong đó người đàn bà bị mai mĩa nặng lời:
Thối om sọt phẩn nhiều cô gánh,
Tanh ngắt hơi đồng lắm cậu yêu.
Quần tía đùi non anh chiệc vỗ,
Rừng xuân cây quế chú mường leo.
Cậu ấm lùi về một cái ấp ở thôn quê rồi quyết định tịch cốc để từ trần.
Nhưng nhịn ăn mà không chết, lại sầu thêm, vì tinh thần suy quá, cậu ấm lại uống rượu thật say cốt “mượn tửu bôi giải phá thành sầu”.
Rượu thấm vào một cơ thể đang đói, gây nhiều phản động hóa học trong đó. Cậu ấm nghe thân mình nhẹ lâng lâng, không biết vui, không biết buồn, tai như thoáng nghe nhạc tiên giữa cảnh bồng lai.
Cậu đâm ra làm thơ, thơ đầy cốt cách thần tiên.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ.
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi
Một hôm có người bạn Hà – Nội lên chơi cho biết rằng cô bé hàng tạp hóa lấy chồng trước năm cậu hỏng thi.
Người khách ấy thêm:
– Bác không nhớ ta đang sống vào thời buổi Tây – Tà. Cái gì cũng nhanh như cắt. Nếu ở cảnh tiên của bác một ngày dài bằng mười năm thì ở Hà – Nôi sáu năm cũng dài được như một thế kỷ. Vào thời xưa thơ mộng của bác, cô gái nào đợi đến một thế kỷ chăng ? Bác quên cái nhịp sống hiện tại rồi trách người ta tội nghiệp, chớ cô ấy quả thật yêu bác lắm đó. Cô đi lấy chồng như Chiêu – Quân bị đưa đi cống hồ.
Sự thật ấy bóp thắt lòng thi sĩ lại (vâng, bây giờ người ta đã gọi cậu là thi sĩ Tản Đà rồi đó).
Thi – sĩ biết buồn trở lại như bất kỳ kẻ phàm tục nào. Đó là một nỗi ngậm ngùi tê tái như nỗi nhớ nhà, nhớ cây da cũ, bến đò xưa, mà con đò đã đâu rồi, con đò nên thương vì nó cũng có công đợi khách cũ nhiều năm, xuất giá vì nhịp sống quay cuồng của thời đại chớ không vì phụ kẻ hỏng thi.
Ôi,
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay,
Tuyệt mù bể nước non mây,
Bụi hồng trông thẳm như ngày chưa xa.
– Anh nghĩ thế nào sau câu chuyện nầy? Thầy bảy nhìn ngay vào mắt người học sinh ở trọ mà hỏi như vậy.
– Tôi thấy cho dẫu thất vọng vì tình, cũng có lợi, như cậu ấm Hiếu được biến thành thi hào Tản – Đà, và bên kia trời Đức – quốc xa xôi, ngày xưa cậu Henri Heine được biến thành thi hào Henri Heine.
– Anh lầm, chỉ có hai người ấy là thành thi hào, mà chắc đâu đã vì tình. Còn ra thì hàng vạn cậu học sinh khác hỏng cả cuộc đời, có cậu còn xằng bậy như cậu Tân-Trụ nữa là khác.
– Vậy thầy bảo bạn trẻ chúng tôi phải khô khan không được yêu đương gì hết hay sao?
– Không, tới đây anh mới hiểu hai chữ “chơi chơi” của tôi. Các anh nên yêu chơi chơi vậy thôi, đùa nhè nhẹ với tình yêu mà không yêu say ngây như anh vậy. Anh chưa đủ điều kiện cưới vợ, anh yêu thiệt con Chi, tội nghiệp nó. Còn như yêu không được, có phải anh phá hoại tương lai của anh không?
“Nhịp sống ngày nay còn quay cuồng bằng vạn cái thuở cậu ấm Hiếu thi hỏng. Trên đời nầy không có con Chi nào bền gan đợi cậu được cho đến ngày cậu thôi học, kiếm tiền được để nuôi thân và cưới vợ. À, con Chi nào cũng thề là đợi các anh được đó. Mà những con Chi ấy quả đã thành thật thề như vậy. Nhưng rồi chúng nó sẽ thấy một năm là lâu lắm mà sắc đẹp của chúng thì mong manh quá, dễ phai màu quá, nên chúng nó vội vàng lấy chồng. Cũng chánh đáng chớ ! Nhưng bọn các anh lại dại dột, không hiểu sự chánh đáng đó, rồi đâm ra làm thơ, mà làm thơ dở, chớ không phải hay như Tản – Đà, các anh làm thơ khóc trăng, khóc hoa, rồi hỏng thi, rồi lu bù, chuyện ba-lang-nhang khác, khổ lắm.
– Nhưng yêu chơi chơi làm sao yêu được?
– Dễ lắm. Tối tối anh đi một vòng với tôi, yêu tất cả cô bé nào gặp anh, yêu một phút thôi, rồi quên ngay đi. Lát sau, anh về, học bài thì mau thuộc như vọng cổ vậy mà.
– Tôi sẽ thí nghiệm. Nhưng…
– Mặc con Chi. Nó không tự tử đâu mà anh lo. Rồi nó sẽ đi lấy chồng đó chớ.
Lão phù thủy Phya Latek đang nhìn mặt trời vừa lên khỏi đầu giải Hoàng Sơn, để luyện phép, thì bỗng nghe tiếng sột soạt khua lá cây khô trên sân, trước chiếc thảo lư của ông ta.
Ông tức giận lắm vì sự lo ra đã làm hỏng một buổi tập trung thần lực mà trong đó ông phải dồn hết tâm linh và tư tưởng vào một định ý mới mong có kết quả đôi chút. Ông day lại, mặt hầm hầm. Nhưng ông bỗng đổi sắc khi nhìn thấy người khách đến không hợp lúc ấy. Nộ khí của ông biến thành vẻ kinh ngạc, ông chỉ biết há hốc nhìn.
– Em đây anh à! Người khách nói.
Giây lâu lão phù thủy mới hỏi được:
– Mầy lên đây làm gì, nhà có việc gì biến không?
– Không, nhưng em có việc cần gặp anh lắm.
– Thôi, vào đây
Hai anh em leo thang tre mà lên một chiếc nhà sàng cao vọi. Nhà lão phù thủy Phya Latek, cũng như nhà của những người Lào khác, cất cao cẳng. Lối kiến trúc nầy được lão ta làm quá lố thêm vì lão ở biệt tịch dưới chơi giãi Hoành Sơn, phía sườn núi hướng Tây, ngó ra lãnh thổ Lào trung.
Khi Kha Nhay, người em dưới làng mới đến, đã ngồi xong trên chiếc chiếu tre, lão phù thủy Phya Latek hối thằng tiểu đồng dọn cơm nếp nấu với sầu riêng để cả hai cùng ăn sáng.
Phya Lakek, từ mấy năm nay, bỏ làng vào núi để hái thuốc và luyện phép, sống gần như cô độc với một đứa học trò nhỏ trạc mười hai tuổi.
Cầm một cục xôi thoa múi vừng bỏ vào miệng, Phya Latek hỏi Kha Nhay:
– Chú mấy nói có việc cần là việc gì đó?
– Cần lắm, vì vậy tôi bất kể đêm ngày, lặn lội tìm anh. Tôi tới đây hồi khuya, nhưng sợ anh có bủa giăng bùa phép nên không dám vào, ngủ đỡ ngoài rừng đợi sáng.
– Thì việc gì mầy cứ nói ngay đi coi.
– Số là hai năm liền vì một lẽ rất kỳ bí, tôi làm ăn cứ thua lỗ mãi…
– À, mầy vẫn còn là tù trưởng ở Khum Keng Phao chớ
– Còn.
– Và cũng cứ cầm đầu đoàn người đi bán bò dưới nước Nam Kỳ 2 chớ?
– Cũng còn.
– Mà vẫn lỗ mãi?
– Phải.
– Lẽ gì mà kỳ bí dữ vậy?
– Lạ quá anh à. Trước kia thì không có, nhưng từ hai năm nay thật là khó hiểu. Bò của chúng tôi băng rừng, lướt bụi xuống tới xứ Nam Kỳ thì bò tơ hóa bò già, bò mập hóa bò ốm hết thảy, bán chẳng ma nào thèm mua hết.
– Thì tại bây đi không nghỉ, bò nó đuối sức nên mới hư chớ có gì lạ đâu.
– Không phải vậy. Tụi tôi đêm đi, ngày nghỉ, mà đi thiệt chậm, vả lại dọc đường còn phải chờ bò của các làng khác kia mà. Và xuống tới núi Bà Rá, bò còn mập tốt như thường kia mà! Nhưng hôm sau, tới Phú Riềng là nó hư ngay.
Phya Latek trầm tư mặc tưởng rất lâu, rồi mới hỏi em:
– Bây giờ mầy muốn gì?
– Tụi tôi bàn với nhau, chắc tại ma rừng của người An Nam hại bò, nên mới ra nông nỗi ấy. Người An Nam họ không biết gì hết, không thèm cúng quải nên ma rừng nó giận, nó lộng hành. Tụi tôi muốn rước anh đi theo đoàn để làm phép ếm cho ma nó sợ.
– Tao đi làm sao được. Tao đã nguyện không dính dáng đến việc đời rồi mà!
– Anh tu dưỡng luyện phép làm gì mà em của anh có việc một chút anh lại không cứu!
– Hay là tao về làng làm phép cho bò mầy và bò miệt trên thôi.
– Không được, như vậy bò miệt dưới vẫn bị hại. Năm ngoái lỗ quá họ không tính đi nữa, tôi phải cam đoan với họ là tôi đối phó được. Nếu năm nay để họ bị hại nữa, thì còn gì danh tiếng của tôi và của anh?
Phya Latek thở ra, không buồn ăn nữa.
Kha Nhay chép môi vừa khen vừa hỏi:
– Sầu riêng nầy ngon. Ở đâu anh có đây?
– Ở dưới làng họ đem lên biếu.
– Năm ngoái, sau mùa bò, cha mẹ và tôi, cả nhà đều ăn khoai, chớ tiền còn đâu mà mua nếp với sầu riêng. Tội nghiệp mẹ đã già yếu mà ăn cực khổ mãi…
Phya Latek rưng rưng nước mắt, gạt ngang:
– Thôi mầy đừng nói nữa, để tao đi.
Điểm khởi hành là chợ Sang Phóc, cách Thạt Khẹt năm mươi cây số về hướng tây.
Từ mươi hôm rồi, bò miệt trên và các làng lân cận lũ lượt tụ về đó, ở rải rác khắp khu rừng quanh chợ. Và sau đêm ngã trâu ăn khao là đàn bò lên đường trong cát bụi mịt trời.
Đàn bò to ước độ ba ngàn con, và bọn người buôn bò sắp đặt làm sao cho loài bò nó chọn lựa tướng soái tự nhiên lấy, và luôn luôn con đầu đàn là con bò xứng địa vị nhứt. Chừng ấy, con người mới ra mặt để dẫn đầu lại con bò đầu đàn kia. Như thế họ chỉ tốn công điều khiển có mỗi một con mà cả ba ngàn con đều ép mình vào trật tự. Người Lào thật thà thế, mà khiếu dẫn đạo của họ không kém các tay xâm lược danh tiếng của thế giới bao nhiêu.
Ba ngàn con bò ấy chà mòn thêm những đường mòn có sẵn trong rừng, đùa gãy những nhánh cây thấp ngang lưng chúng và quậy nát những bãi cỏ, những trãng tranh mỗi lần chúng đồn dinh hạ trại.
Gió cuốn bụi mù, nhánh cây gãy răn rắc và lá khô bị vò nát tạo nên tiếng rầm rì không ngớt như mưa rừng. Và mỗi lần đàn bò dài hằng ba bốn cây số ấy vượt qua một man khê, một suối dại, thì bờ suối nát nhừ và lòng suối nơi đó bỗng rộng ra như lòng một con sông.
Những nơi có quan lộ thì họ đi ban đêm, ban ngày vào rừng nghỉ mát và thả bò ăn lá cây. Những nơi chỉ toàn đường mòn thì họ đi ban ngày, lợi dụng bóng mát của cây giao nhành trên lối nhỏ ấy cho bò đỡ mệt, và ban đêm thì lại nghỉ, để dễ bảo vệ bò tránh thú dữ.
Thường thường họ dồn bò vào những đồng cỏ lớn, đốt lửa quanh đám bò và thức đêm nhìn vào ven rừng mà gõ mõ tre để nhát cọp.
Tuy thế, cũng không tránh khỏi sự hao hớt dọc đường. Làm thế nào cọp cũng rình xơi được vài con, nhứt là vào giữa ban ngày khi chúng len lỏi trong rừng để ăn lá. Cũng có một số bò yếu đuối nên chết, hoặc què rồi bị họ ăn thịt.
Bù vào đó, những con bê đẻ dọc đường đứng lên trám những chỗ trống cho đạo binh viễn chinh bò ấy, trám cho đủ số thôi, chớ bò con thì bán có bao nhiêu tiền đâu.
Đàn bò giống hệt như một con sông lớn chảy xuôi dòng. Thỉnh thoảng nhiều con rạch con đổ vào để tăng đại con sông đó. Đó là những đàn bò địa phương, nhập đoàn dọc đường để cùng đi một chuyến.
Mỗi lân có bò mới nhập bọn là đoàn người dừng bước để thầy phù thủy Phya Latek làm phép ếm ma và vẽ bùa trên đầu bò.
Chủ bò thì ngoài gạo, nếp lại mang theo nào là ngà voi, trầm, sà-rông nhiều màu sắc sặc sở để bán cho “An Nam”.
Đi một tháng ròng rã họ mới vào địa phận Cao Miên, và phải một tháng nữa mới đến biên giới phía bắc của “nước Nam Kỳ”.
Tuy đường xa vạn dặm thế mà bò vẫn béo tốt, vì chúng như vẫn ở trong địa hạt của chúng, vẫn tiếp tục sống giữa thiên nhiên như hồi ở nhà.
Qua khỏi Snoul, tiến về biên giới Nam Kỳ thì bò nghe như lạc hướng và rất khó chịu.
Từ nơi đó, rừng đã biến thành những sở cao-su mênh mông bát ngát, không được phép vào đó nữa, nên phải đi trên quan lộ. Mà quan lộ ở đây thì ối chào, nắng như thiêu đốt, và hơi nóng từ đường nhựa bốc lên nghe hừng hực như lửa lò. Xe hơi thì dập dìu, bò trông thấy xe tưởng xe là những con quái vật kỳ khôi từ đàng xa âm sầm đâm đầu lại; quái vật nầy vừa hét vang rền, vừa hầm hừ, vừa xịt hơi ra mũi mà mũi lại ở phía đằng sau đít mới lạ cho chớ!
Đàn bò khó chịu nhứt là vì con đường nhựa. Đường trải đá thì thỉnh thoảng còn để lòi đất, chúng rất sung sướng mà đạp được cái chất quen thuộc ấy. Ở đây chất hắc ín đã đậy kín đất mẹ, cái đất mà chúng ưa mùi và rút sinh khí từ trong đó ra.
Bò lại sợ nhứt những tiếng rồn rột như mưa rào trên ngói tạo nên bởi móng của chúng nện trên chất nhựa hắc ín cứng ngắt trong sương đêm.
Cũng may là chỉ phải chịu khổ vài ngày thôi. Khi chúng qua khỏi Phú Riềng, Phước Hòa tới Mỹ Đức là có rừng rậm nghỉ ngơi, lại khỏi phải đi nữa vì đó là chợ bò của “nước Nam Kỳ” đó.
Tháng giêng năm ấy, cũng như các năm khác, chợ Tân Uyên rất vui. Sau khi “ăn Tết ở nhà” và “cờ bạc”, họ được dịp tốt làm ăn, vì chợ bò Mỹ Đức chính là chợ bò Tân Uyên vậy.
Tân Uyên là chợ quận ven rừng, ngã ba của sự thương mãi với hậu phương rừng sâu, còn Mỹ Đức chỉ là một làng tiền tuyến dùng làm trại bò vĩ đại thôi.
Lái bò các nơi đều tề tựu về đó. Người bản xứ thì ai đồ tể, lo chuẩn bị mua thịt; ai đầu cơ, lo mang muối, hộp diêm, gương con, hột cườm ngũ sắc lên đó bán cho người Lào với một giá cắt cổ, ai muốn làm giàu to thì mang vốn lên mua ngà voi rẻ mạt đem về rồi mặc sức mà phát tài.
Vì thế tin bò Lèo 3 về là một tin vui như người ven bể nghe thuyền đánh cá vào bờ.
Chánh phủ “Nam Kỳ” chỉ tiếp đón bò Lèo để bảo vệ họ khỏi bị gạt gẫm, cướp bóc thôi, còn thương mãi các thứ vẫn để tự do.
Đàn bò đến rừng Mỹ Đức là hạ trại. Mỗi con bò đều có đeo lục lạc bằng gỗ nên chủ bò vững tâm thả chúng vào rừng cho sống tự do để đợi khách. Muốn tìm bò, họ cứ lắng tai nghe tiếng lục lạc lốc cốc mà theo dấu. Còn ma rừng thì năm nay đừng hòng mò đến bò. Đã có thầy Phya Latek ếm rồi, mó vào có mà chết.
Người Lào ngay thẳng lắm. Bò họ để chung, chẳng thèm là con nào của ai cả. Bán được bao nhiêu (con nào cũng bán một giá) họ chia nhau tùy số mỗi người có. Mà số này thì ai có bao nhiêu, khai bấy nhiêu chẳng ai ăn gian ai cả. Vì vậy đàn bò giống đàn bò chung của một chủ.
Bò nghỉ được hai ngày đêm thì khách hàng được phép đến nơi.
Ai bán cứ ở ngoài lộ mà bán, ai mua, theo người dìu dắt vào rừng. Mua xong, họ sẽ gom bò ra đường lộ cho ta.
Mà trời ơi, các tay dìu dắt đều rụng rời khi họ dẫn khách hàng vào đến chỗ mà đàn bò đi ăn rải rác bên trong. Trời ơi, sự tình cũng y như hai năm rồi: bao nhiêu bò tơ mập mạp, sởn sơ đều hóa thành bò già ủ rũ, ốm bày sườn.
Thế nầy thì có chết hay không! Ma gì mà dữ quá, bất kể bùa phép của thầy Phya Latek là một tay phù thủy khét tiếng từ thuở đến giờ.
Các tay dìu dắt ôm đầu chạy thoát ra trong khi những khách hàng “An Nam” ngơ ngác không hiểu làm cách nào mà người Lào đưa được những con bò ho lao ấy từ xứ xa tít đến đây, liên liếp trong ba mùa bò liền.
Thầy Phya Latek đang ngồi lựa cườm màu bỗng thấy các tay dìu dắt khách hàng hơ hải vừa chạy đến vừa la:
– Chết rồi thầy ơi, chúng nó lại bắt bò nữa, y như các năm trước.
Tất cả những người Lào có mặt tại chợ ngà voi, chợ muối hột, đều đứng lên một lượt như có lò xo bật, rồi ba chân bốn cẳng chạy riết vô rừng.
Quả thật thế, trước mắt họ bày ra một cảnh tượng vô cùng tuyệt vọng : bò con nào con nấy bụng cũng móm xom, còn xương nó thì như đang cố xoi thủng da để lòi ra ngoài.
Họ hỡi ơi, tiếc công một năm dài chăn nuôi và mấy tháng trường băng rừng vượt suối để đến đây.
Thầy Phía Latek nói:
– Bọn ma nầy có giỏi lắm là mà con mắt ta để ta thấy bò tệ như vậy, chớ làm gì mà chúng rút bớt thịt bò được. Để tôi giải phép xem thử.
Nói xong, ông nắm tay lại, trăm gì lia lịa một hơi dài, rồi búng những ngón tay ốm nhom vào hướng những con bò không muốn cựa quậy ấy. Nhưng ông đã mỏi mồm đọc thần chú ; đã hụt hơi phà khí trừ tà vào hướng bò, những con vật nầy vẫn nhất định gầy khô và run rẩy vì già liệt.
Dưới đây là bức điện văn của ông tỉnh trưởng Biên Hoà gửi cho Thống Đốc Nam Kỳ:
“Chợ bò Tân Uyên hoàn toàn thất bại như hai năm trước. Stop
Người Lào thề quyết bớt chăn nuôi và không đến chợ nầy nữa Stop.
Họ bảo rừng có ma hại bò. Stop.
Theo tôi, có lẽ một bệnh mới mà mầm bệnh ở rừng Mỹ Đức. Stop.Yêu cầu phái gấp nhiều thú y lỗi lạc đón bò mua rẻ dang đổ về các tỉnh khác để khám. Stop.
Cần hành dộng gắp để tránh sự nguy ngập kinh tế cho hai xứ lào và Nam Kỳ. Stop”
Ông Thống đốc Nam Kỳ đọc xong bức điện văn này, trầm ngâm giây lâu rồi trao mảnh giấy cho viên đổng lý văn phòng xem.
– Người Lào nghĩ cũng tội nghiệp, ông thống đốc nói, mà viên tỉnh trưởng này mới thật là thiếu tưởng tượng chớ. Được, tôi sẽ hành động, nhưng chậm chạp thôi, để bắt ma của người Lào, và bắt vi trùng của ông tỉnh trưởng. Ông nhớ nhé, năm tới một tháng trước khi họp chợ bò Lào, ông nhớ nhắc tôi hành động.
– Vâng.
Và dưới đây là bức điện văn của thống đốc Nam Kỳ gửi cho khâm sứ Ai Lao sau Tết tây kế đó.
”Đã thi hành dủ biện pháp để bảo vệ bò Lào. Stop.
Yêu cầu khuyến khích ngườì chăn nuôi đem bò xuống như mọi năm. Stop.
Bảo đảm an ninh về ma quỉ”.
Đồng thời Thống đốc Nam Kỳ lại gởi lên Biên Hòa đại đội vệ binh địa phương hầu vây bắt…ma quỉ hay vi trùng gì đó.
Giữa hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một, tại ngay ranh giới tỉnh, có một lâm thôn tên là A.M. Làng ấy thuộc về tỉnh Thủ, nhưng dân trong làng lại liên lạc mật thiết với tỉnh Biên Hòa, nên thét rồi họ không còn biết họ là dân tỉnh nào nữa.
Dân làng sống về nghề buôn “hàng đen”. Hai tiếng “hàng đen” ấy đã có rất lâu đời và người miền đông ai cũng hiểu nghĩa của nó là những con trâu con bò trộm được, đem đi bán.
(Về sau ta có danh từ chợ đen để chỉ một thứ thị trường kia, nhưng thử nghĩ danh từ hàng đen mà ám chỉ vào thứ hàng hóa trong chợ đen ấy cũng vẫn là đúng).
Trong làng từ ông hương cả đến anh dân trắng (bạch đinh), ai cũng buôn hàng đen cả, nên nghề ấy thành công khai vì chính người có quyền cũng làm kia mà. Và họ coi công việc đó rất thường, không còn nghe lương tâm nói ra nói vào gì cả.
Địa thế hàng rất lợi. Đó là một làng rừng như đã nói, nghĩa là biệt tịch trong thâm sơn cùng cốc. Và vì ở biên giới nên đang đứng ở đây, bước qua một bước là đến tỉnh khác. Bên nây mà có cuộc hành binh cảnh sát là họ ùn ùn dắt trâu bò đi vài thước thì qua tới bên kia, đang êm rơ.
Trong các tỉnh miền đông, trâu bò trộm được đều tập trung về chợ đó để rồi phân phát trở ra cũng trong các tỉnh miền Đông.
Tất cả các tay trộm trong vùng đều coi làng đó là thánh địa của nghề và luôn luôn đi, về không ngớt. Đó là những cuộc hành hương ban đêm mà cả thảy tín đồ đều có một lương tâm nặng trĩu tội ác và những hành lý bốn chơn.
Làng lại tổ chức châu đáo để đánh thối lui những bọn người “theo bò” hầu giúp các tên trộm nó là kẻ tiếp tế đắc lực cho cái chợ kỳ dị ấy.
Phải nói rõ các bạn mới biết “theo bò” thế nào. Các tay trộm bò, trâu thật là tài tình. Trâu bò ngủ trong chuồng mà cổng làm bằng những khúc gỗ to hơn bắp vế. Thế mà chúng dắt trâu bò ra dễ dàng như…Trương Dực Đức lấy đầu viên thượng tướng địch.
Mãi đến mấy giờ sau khổ chủ mới hay. Thế là họ động viên cả làng, đang đêm đốt đuốc, vác dao, mác, men theo dấu trâu bò mà rượt theo trộm.
Người theo dấu cũng giỏi. Bọn trộm có “long” bò trâu ngang qua sông, qua rạch họ cũng tìm được. Nhiều khi chúng bó cẳng bò bằng rơm, họ cũng không mất dấu.
Họ theo như thế nhiều khi tới ổ, nghĩa là tới làng A. M. Là chuyên nghiệp thì phải tổ chức châu đáo. Vì thế mà làng A. M. có cả một đạo binh dáo, mác để phản công đánh lui bọn “theo bò”.
Bọn nầy luôn luôn thua trận vì binh xa mới đến, mệt môi, vì ít người hơn lại không được huấn luyện hẳn hòi.
Thế mà họ không thưa kiện gì cả, mặc dầu biết sào huyệt kẻ gian, vì bọn nầy lại có nơi bí mật riêng trong rừng để nhốt trâu bò, nhà chuyên trách có đến làng khám cũng chẳng tìm thấy gì.
Trong làng có ông hương cả Nghiệm là tay hàng đen chúa tể. Vốn ông rất lớn nên hàng năm ông mua ra bán vô hàng vạn trâu bò. Ông ta có đến sáu vợ, mà bà nào cũng nhà cột gỗ gõ, nền đúc hẳn hoi. Sống giữa rừng mà ông luôn luôn trong nhà có nước đá, la-ve, bánh hộp, nho tươi, bom, xá-lị vân…vân…Người trong vùng gọi ông ta là vua hàng đen.
Nhưng ông ta vua không phải ở chỗ lớn vốn và ăn tiêu sang trọng. Phàm hễ vua là được người đầu lụy, ngự trị trên tất cả. Ông hương cả Nghiệm ngự trị trên hết thảy các tay hàng đen khác.
Vì sao? Hàng đen, trữ xong, phải bán. Muốn bán phải có giấy tờ, vì con bò con trâu nào trong nước đều phải có thẻ căn cước như người ta cả.
Chỉ có một mình hương cả Nghiệm là có đủ giấy tờ cho hàng vạn con vật ấy. Những tay lái khác, dầu nhỏ, dầu to đều phải đến cầu khẩn ông để lấy thẻ cho bò.
– Bác muốn lấy bài chỉ cho một con bò mốc, tám xoáy, độ bốn tuổi à? Được, hai đồng một thẻ, đây nầy thẻ cũ, có lằn xếp hẳn hoi, có mang dấu vết mắc mưa, té ruộng, lội sình đây, chớ không phải giấy giả mới làm đâu. Con dấu tỉnh trưởng, chữ ký của phó tỉnh trưởng, chữ ký thật đấy.
Ông cả phát thẻ bò như vậy gần hai mươi năm, người tò mò tìm mãi mới khám phá ra mánh lới của ông ta. Ông ta thông đồng với các lò thịt cắc chú, đặt tiền trước khắp các lò để lấy độc quyền mua lại thẻ căn cước của những con vật bị thịt mỗi ngày.
Nhà ông cả Nghiệm tấp nập khách khứa tứ phương đến đó mua bò và chuộc bò.
Ông ở cách đó năm mươi cây số và tuần rồi ông có mất trộm một cặp bò phèn ư? Cứ tìm đến ông cả Nghiệm, ông sẽ cho người nhà đưa ôngvào rừng nhìn bò. Ôi, bò vô số kể, lển nghển trong ấy như rệp ở các tiệm hút. Ông nhìn được bò ông là may mắn lắm và cứ mặc cả mà chuộc bò lại, đừng mong thưa gởi gì hết. Ông Cả có đủ trăm phương ngàn kế để phi tang hoặc ám hại ông nếu ông giở ngón.
Vả lại người ta “làm ăn” mà, cũng như bao nhiêu cuộc làm ăn khác, ai nỡ lật lọng với người ta. Cho đến cái anh trộm kia, cũng là “làm ăn”. Câu chuyện lỗ vốn sau đây, mới nghe thì buồn cười nhưng khi biết rõ cuộc thương mãi nầy mới thật là chánh đáng.
Một nông già kia ở Tây Ninh có mất trộm đôi bò thật tốt. Ông ta biết thủ phạm là ai, nên tìm đến nhà hắn xin chuộc.
Tên trộm ra giá tám mươi đồng.
– Thôi mà, năm chục là vừa phải mà?
– Không được đâu, năm chục thì lỗ tôi quá.
Ai đời của người ta, mình lấy không, người ta nạp tiền để xin lại, mà mình còn than lỗ vốn cái nỗi gì chớ.
Nhưng lỗ vốn thật đó. Hắn đã mang bò tận A. M. bán rẻ cho ông Cả. Bây giờ lội rừng mang về, phải tốn bao nhiêu là công khó, không lỗ vốn, lỗ công sao được.
Vả lại bọn trộm rất trung thành với ông Cả, nên cứ muốn nạn nhơn đi ngay lại ông mà chuộc. Sở dĩ có sự trung thành nầy là vì ông Cả rất hào hiệp, rủi em út đứa nào bị tù, ông nuôi vợ con họ tử tế và gửi quà bánh vào khám không ngớt.
Phàm hễ vua là có kẻ muốn soán ngôi tiếm vị. Ông Cả giàu sang quá nên gây nhiều đố kỵ và một hôm ông bị đồng nghiệp phản bội dắt lính đến vây tóm trọn ổ bò trong rừng trên hai ngàn con.
Kỳ ấy ông lỗ quá sá, nhưng may không rơi vào vòng pháp luật vì không có bằng cớ ổ bò ấy là của ông.
Ông ngán ngẩm thế sự, mở đại yến khoản đãi tất cả khách hàng, em út gần xa và đồng nghiệp cùng làng, trong đó có cả người ám hại ông, và khi tiệc tàn, ông long trọng tuyên bố giải nghệ.
Ông cả là tay mưu thần chước quỉ, nên không ai tin lời tuyên bố ấy hết, và tiếp tục theo dõi hành động của ông coi ông còn lôi cái trò gì ra từ cái túi trăm ngàn kế của ông.
Nhưng ông Cả quả giải nghệ thật, ông đọc truyện Tàu, chơi cây cảnh, non bộ, hoặc ngao du các tỉnh thành, phú mặc cho bạn bè tranh đua lợi quyền mối men.
Ông dưỡng già như vậy đúng một năm thì lại mở đại yến khoản đãi tất cả các người quen biết và rồi cũng tuyên bố. Ông tuyên bố trở về vào nghề. Tin sét đánh nầy khiến cho những đồng nghiệp của ông rụng rời khủng khiếp như một quốc gia thình lình hay tin một cường quốc lân cận chuẩn bị xâm lăng để cướp nền thạnh vượng của nó.
Đọc suốt được trong thâm tâm bạn, ông Cả nói rõ để ho yên lòng:
– Không, tôi sẽ làm lái bò như xưa, nhưng không buôn hàng đen nữa, mà chỉ buôn hàng trắng thôi.
– Thế nào là hàng trắng?
– Là những con bò nuôi lương thiện buôn bán trong vòng hợp pháp.
Người người đều mỉm cười trước lời giải thích của con cáo già nầy.
Mấy hôm sau đó, ông Cả rao ai có bò già, bò ốm, bò què đem bán rẻ cho ông đặng ông nuôi. Tuy nói là bán rẻ, nhưng họ bán cũng rất là “được tiền”, cao giá hơn cho bọn đồ tể cắc chú nhiều. Nên chi bò lại đi về A. M. đông đảo. Cùng với những bò tốt do của trộm, năm ấy bò về “hưu” đổ vào vùng A. M. tấp nập. A.M. như thu hút tất cả những phần tử bạc nhược trong nước, vì nhà nông nào cũng có một hay vài con bò hết xài, để mất công chăn, bán thì rẻ quá, và cũng không nỡ bán cho lò thịt một người bạn cày sâu cuốc bẫm với họ trong nhiều năm.
Chỉ trong vòng hai tháng là ông Cả mua được già hai nghìn con bò ốm, và cho tất cả vào sào huyệt riêng của ông trong rừng như các tay hàng đen khác. Bò hàng trắng không cần giấu ai, ừ, nhưng đem vào rừng có cỏ, có lá nhiều, có lắm bóng mát, suối trong, chúng mới mập chớ.
Ông Cả khoe chắc là đến ra giêng bò ấy sẽ cải lão hoàn đồng. Tết năm ấy ông ăn Tết to hơn bao giờ cả.
Ăn rằm tháng giêng xong, ông Cả ra đi với vài tên người nhà thân tín. Vì cái lần bị bắt ấy, ông đã đổi sào huyệt và dấu kín không cho bạn đồng nghiệp nào biết nơi chốn hết. Họ hết sức dò la cũng không tìm được ổ bò của ông.
Và mười hôm sau vào đầu tháng hai, ông lùa bò về làng. Hàng trắng bán công khai mà, tội gì còn phải giấu trong rừng.
Ồ, những con bò tốt đẹp làm sao. Con nào con nấy ú nu, ú núc, sởn sơ như thanh niên mười tám hai mươi, thơm mùi rừng, thơm hoa dại, thơm cỏ non, chớ không hôi mùi phân chuồng như những con bò khác.
Làng xóm rộn rịp lên. Khắp hang cùng ngõ hẻm, ruộng khô, đồng vắng, đâu đâu cũng lúc nhúc bò của ông Cả.
Trông những con bò mới thèm làm sao! Người đồ tể đoán thấy những bắp thịt mềm dưới làn da non của chúng. Nông gia cứ trầm trồ những cẳng bò gân guốc, thịt săn mà gân lại dẻo, móng lại kiên cố như có đóng đế sắt rồi.
Bò về làng vài ngày là bọn lái tứ phương mang đi sạch hết.
Ông Cả lại giàu hơn bao giờ. Bò già nua vẫn rẻ hơn bò của trộm mà bò hoàn đồng, bán lại được tiền hơn bò gian.
Đồng nghiệp của ông Cả đều le lưỡi. Nếu họ biết cách nuội thần thánh của ông thì tội gì họ còn phải đeo đuổi theo cái nghề bất lương và rất có thể vào tù nầy làm chi nữa.
Nhưng cách nuôi thần tình và tốc hành ấy, dân làng rình mò mãi mà không khám phá ra được. Họ mua chuộc người nhà của ông, nhưng mấy thằng nầy đã được trả công phủ phê nên vẫn ngậm câm như hến!
Một năm hai kỳ,vào cuối mùa mưa trước vào giữa mùa nắng sau, ông Cả mua bò, chăn nuôi và bán bò. Ông cưới thêm ba cô vợ nữa và hăm sắm xe hơi, mua sở cao-su.
Dân trong vùng đồn trong ông Cả đã chuộc bùa trên Cao Miên về bỏ cho bò ham ăn, và mau khỏe lại.
Có người lại quả quyết ông Cả vốn giao du rộng nên biết một món thuốc tây rất hiệu nghiệm do một ông thú y cho.
Nhưng sự thật là sao, họ vẫn hoang mang không chắc.
Bấy giờ ông Cả thật là hương cả, vị tiên chỉ trong làng.
Trước kia, làm nghề xấu, những người tai mắt ở xa không ai thèm giao thiệp với ông. Bây giờ quan chức trong tỉnh tới lui nườm nợp, ai cũng khen ông biết cải tà qui chánh và nhứt là thành công trong nghề khó khăn, nghề chăn nuôi. Có lần vị tỉnh trưởng tỉnh nầy hứa xin cho ông một khuê bài “xứng đáng về nông nghiệp” (Mérite agricole).
Ông thành công như vậy trong hai năm liền, và một hôm, đùng một cái có tin sét đánh là ông Cả Nghiệm bị bắt, khiến cho dân cả miền Đông đều kinh ngạc.
Tin rõ ràng ông Nghiệm bị bắt giữa rừng Mỹ Đức cùng với mấ’y tên người nhà, tất cả đang lùa bò tơ của người Lào, lùa vào rừng sâu để tìm đường đi vòng về A.M.
Thế là hồi ông Cả mua hàng đen, bị cảnh sát địa phương bố. Nhưng lân nầy cải tà qui chánh, buôn hàng trắng lại bị cả thống đốc Nam Kỳ “đặc biệt chú ý”.
Dầu sao ai cũng khen ông Cả là người thâm.
– Phải, trộm bò của người Lào thì dại. Chúng sẽ buồn mà không mang bò đến nữa. Và vụ trộm to ấy thế nào cũng kêu gọi một phản động lực cấp tốc của nhà nước và phương tiện thanh trừng sẽ lớn lao, khó mà thoát được.
Còn đánh tráo bò thì êm rơ. Người Lào vốn lười biếng, một khi thả bò vào rừng là không thèm dòm đến chúng nữa. Họ lại mê tín, thấy bò ốm, bò già, ngỡ bò tốt của họ bị ma làm, nên chỉ run sợ mà không rình rập để khám phá ra quỉ kế.
(1) Chương 4, trang 35- Khi qua định cư tại Califomia, Hoa Kỳ, Tác giả đã gặp lại Giáo sư Nguyễn Vũ Khương, người bạn cùng khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức 1966. Ông cho biết Linh mục Nguyễn văn Vàng, ngay sau tháng 4/1975, là Chủ tịch Hội Đồng Liên Tôn, do Gs Khuơng làm Tổng thư ký kiêm Giám đốc Sở chính trị của Mặt Trận Kháng Cộng Thống Nhất Việt Nam”. Tổ chức này mượn nhà thờ Vinh Sơn, Sài Gòn, làm nơi in bạc giả trước khi chuyển máy móc về Đồng Nai, và mới in được 20.000 đồng tiền nhà nước CSVN thì cơ sở bị bại lộ xảy ra cuộc tử chiến. Bên phục quốc hy sinh 2 tại chỗ, những người khác bị bắt, một số bị xử bắn. Riêng Linh mục Nguyễn văn Vàng, bạo quyền Cộng Sản bỏ đói chết trong lao tù Z20 Phú Khánh. Tuy không lớn, nhưng tiếng súng Vinh Sơn đã rực lên ngọn đuốc quyết tâm phục quốc những tháng năm đầu đất nước rơi vào tay giặc Bắc. Tác giả gọi biến cố ấy là “Vinh Sơn Chiến Sử” để tỏ lòng ngưỡng mộ Mặt Trận Kháng Cộng.
(2) Chương 4, trang 40 – Huỳnh Bá Thành con của Huỳnh Bá Giỏi, người Hòa Long, một trong năm xã kế Ngũ Hành Sơn, thuộc quận Hòa Vang, Quảng Nam, theo Cộng Sản lúc còn nhỏ. Từ khi vào Đệ thất Phan Chu Trinh Đà Nẵng rồi lên đại học ở Sài Gòn, Huỳnh Bá Thành, cũng là họa sĩ, bút hiệu Ớt, hoạt động trong giới sinh viên học sinh và báo chí. Tháng 4/1975, Thành xuất đầu lộ diện, mang quân hàm trung tá công an T/p Hồ Chí Minh. Những năm giữa thập niên 80, lạm dụng quyền hành, Thành tổ chức đường dây US tours, để cùng người cháu tên là Huỳnh Bá Tâm ở Bắc Califomia, móc nối đồng hương về thăm quê nhà. Chằng bao lâu, vì tranh giành quyền lợi, nội bộ đã đập chết Huỳnh Bá Thành. Lúc ấy Huỳnh Bá Tâm đang còn ở Việt Nam cũng bị thanh toán. Chúng cho chó cắn ngay sau ót HB Tâm, được thân nhân đưa trở lại Mỹ.
Trong tộc Huỳnh Bá này chỉ có Thành phản nghịch, theo Cộng Sản. Mấy ông chú, bác của Thành đều là đảng viên VNQDĐ, làm việc cho Quốc Gia, như HBĐ, HBT, HBL… Trước năm 1975, chung quanh khu núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn) gồm có 5 xã: Hòa Long, Hòa Lân, Hòa Qui (sau đổi là Hòa Quí), Hòa Phụng và Hòa Hải đều do 4 anh em ruột cùng một người cháu của tộc Huỳnh Bá này làm chủ tịch. Cả 5 ông đã bao phen chết hụt, là do thằng cháu bất nhân Huỳnh Bá Thành chỉ thị cho K-20 ném lựu đạn vào nhà. K-20, bí số của một cơ sở Việt Cộng nằm vùng, tầm hoạt động cặp mé biển, từ bán đảo Tiên Sa (Sơn Chà) trải dài vô khỏi Non Nước đến Cửa Đợi (cửa con sông dẫn lên phố cổ Hội An, Quảng Nam). Nhiệm vụ chính của K-20: chuyên ám sát, thủ tiêu như chôn sống nạn nhân dưới các nổng cát, hay dùng xẻng, cuốc bổ vào đầu, ném xuống sông Hàn. Sở trường giết người Quốc Gia không gớm tay đó là do chỉ thị của Huỳnh Bá Thành, nên nghiệp báo, chính hắn cũng bị đồng bọn công an đập chết bằng ma trắc, bá súng giữa thập niên 1980, vì tranh giành quyền lợi từ các dịch vụ cho vay, chuyển tiền, đưa người ở hải ngoại về thăm quê hương.
(3) Chưong 4, trang 40- Lê Độ: Vào thời gian năm năm cuối của thập niên 1950, từ khi lên đệ thất, tức lớp 6 ngày nay, tôi chẳng được học yên một ngôi trường nào cả. Cứ mỗi năm có sự thay đổi, khi ở Đà Nẵng, lúc Qui Nhơn, rồi lại ra Huế… Vì gia đình công chức, dưỡng phụ tôi là một tài công ngành quan thuế, thường hay bị điều động đến các ty sở vừa được phát triển, để lái những chiếc tàu nhỏ, loại cận duyên. Mỗi lần thuyên chuyển qua tỉnh khác, cha phải đem tôi theo, mục đích kèm hãm tôi chăm chỉ học hành, khỏi lêu lổng. Do đó mà thời tuổi ngọc tung tăng đến trường, tôi càng có nhiều bạn bè với giọng nói tứ xứ.
Tôi cũng như mọi người, rất quý, trung thành với bạn, ngay cả mấy đứa quen từ nhỏ còn mặc quần sọt dây treo, chia nhau từng cây kẹo, cái bánh, lắm khi cùng bị chung một ngọn roi, cái bạt tai bẹo má, vì cù rũ trốn học đi bắn chim đá dế. Nhưng tôi lại thiếu may mắn, có hai người chí cốt thuở đầu đời đều chết trẻ, đứa thì vừa tròn 20 đạp mìn, thằng thì bị xử bắn tuổi mới 15, còn tôi, thọ lâu hơn tụi nó một chút, cụt hai chân năm 30 tuổi trong cơn bão lửa chiến trường miền Trung sắp tàn.
Cho dù khoảng đời còn lại quen biết nhiều, tôi vẫn thương nhớ tụi nó, nhất là Lê Độ. Năm 1955, vừa xong tiểu học, cùng xóm có ba đứa được tiếp tục đến trường: Nguyễn văn Đi, Lê Độ và tôi. Chẳng bao lâu chỉ còn tôi với Độ, hằng ngày cặp kè bên nhau, qua lại sông Hàn trên một chuyến đò, nên càng thân thiết. Một hôm, theo thường lệ, tôi ghé nhà thì bà ngoại Độ cho hay Độ đã về thăm quê nội. Nghe nói, tôi vừa buồn vừa giận, chuyện quan trọng như vậy mà Độ giấu tôi. Rồi một tháng, hai tháng… Độ vẫn biệt tăm biệt tích. Nhiều lần tôi gặng hỏi, bà ngoại, sống trơ trọi một mình, cứ lắc đầu, và rươm rướm nước mắt: “Cháu đi đi, đừng chờ nó!”. Vẫn con đường cũ, nay thiếu bạn, sao nó dài lê thê, ngút ngàn dưới mưa phùn gió bấc của một mùa đông.
Bỗng một ngày nọ có tin đồn chính phủ sắp đem xử tử một ông Việt Cộng tại sân vận động Chi Lăng giữa thành phố Đà Nẵng. Cái tin kinh hồn ấy làm chấn động cả giới học trò. Hồi nhỏ, tôi chưa biết Việt Cộng là cái giống gì, nhưng lại sợ, vì tôi nghe người lớn kể ngày xưa Việt Minh có cái đuôi rất dài, sau vào rừng sinh con đặt tên là Việt Cộng, nhờ đuôi nó ngắn bớt, mặc quần không cộm lắm. Chắc thân hình khác lạ thế nào đó, mà dân làm nghề chài lưới trong xóm tôi tôn lên hàng “ông”.
Tôi nằng nặc đòi anh Ba Chua, con bà cô, dẫn đi coi “ông” sắp bị tử hình. Đến nơi hai anh em chẳng dám chun vô giữa, chỉ thoáng thấy ông bị bịt mắt bằng vải đen, hai tay trói quặp vào cây trụ, kế chồng bao cát như vách tường dày. Đồng bào xem rất đông, ai cũng chen lấn lên phía trước, đẩy lùi dần tôi ra sau làm tôi không nghe rõ tiếng đọc bản án, tiếng khóc của tội nhân. Đang lúc tôi lăng xăng tìm một chỗ trống để chui tới thì nghe mấy phát súng liên tục, tiếp theo là những lời xì xào:
– Ông chết hẳn rồi, cái đầu đã gục xuống.
Có người cãi lại:
– Ông gì? Tên Lê Độ này tuổi còn nhỏ, học trò!
– Học trò mà đi làm Việt Cộng à?…
Tôi giật mình và xây xẩm mặt mày, tướng chừng như bị ai đập vào đầu, tôi vừa bật khóc vừa luồn ra khỏi đám đông, kêu to: “Anh Ba ơi! Anh Ba Chua ơi Thằng Độ, bạn em, lính bắn chết rồi, anh Ba ơi!”. Tôi khóc la inh ỏi. Không thấy anh đâu, tôi quýnh quáng lủi thẳng xuống bến đò về An Hải báo gấp cái tin khiếp đởm này cho ngoại của Độ biết. Vừa hay chuyện bà nằm lăn giữa nhà giãy giụa khóc sướt mướt.
Sau, mỗi lần tôi ghé qua thăm, bà cứ tướng tôi là Độ, bảo:
– Xuống lấy cơm ăn đi, ngoại để phần ở nhà dưới kìa!…
Tôi không còn nhớ rõ sau ngày Lê Độ chết là bao lâu, cuối năm 1958 dưỡng phụ tôi thuyên chuyển ra lái chiếc tàu TG-5 của Quan Thuế Huế. Ông cụ cũng đem tôi theo, để ăn ở ngay trong Ty, cạnh bờ sông Hương, và học lại đệ tứ trường Bồ Đề, chi nhánh bên hữu ngạn, gần sân vận động Tự Do. Năm đó, gặp dịp chiếc TG-5 chở Tổng Thống Ngô Đình Diệm với mấy viên chức cao cấp Việt lẫn Mỹ chạy vòng vòng ngoài cửa biển Thuận An chơi, tôi cùng thằng bạn học tên Lê văn Hoàng, con Thuyền trưởng Lê văn Qui, được hân hạnh “tháp tùng”. Nhưng, suốt cuộc hải trình đi và về, hai đứa bị nhốt cứng dưới khoang máy, chẳng cho lên boong. Bác Lê văn Qui, thuyền trướng sợ tụi tôi lấc xấc, chạy tới chạy lui, vô lễ trước mặt Tổng Thống, coi như vua của miền Nam. Để bù lại, tôi và Hoàng, mỗi đứa có một phần ăn trưa, đĩa cơm chiên với miếng thịt gà rất ngon, giống người lớn.
Bị nhất, tuy nói là khoang máy chứ chiếc TG-5 cũng có đủ tiện nghi, nào bếp núc, nơi ăn chốn ngủ, nào các vật dụng tân kỳ hấp dẫn tay chân phải rờ mó. Mỗi bên hông căn hầm có ba khung cửa kiếng tròn, đường kính bằng trái banh, ngoài kia là màu xanh của biển, sóng nước nhấp nhô bọt trắng.
Được đâu một lát tôi thấy quá tù túng, nóng nực, bực bội. Trong lúc Hoàng còn trầm ngâm bất động, tôi ngả lưng xuống giường và đột nhiên tôi nhớ lại cái chết thằng Độ ngày nào. Hình ảnh đôi mắt nó bị bịt cứng, tiếng súng nổ, lẫn tiếng người xì xào…Tôi hình dung những viên đạn đồng vút tới đâm vào đầu, bể óc ra, vào ngực nát bấy trái tim thằng bạn 15 tuổi, tôi vụt gầm gừ lên thành tiếng như con thú dữ trúng thương, rồi tôi vỗ vai Hoàng:
– Mày ở đó, tao lên boong.
Hoàng nheo mắt:
– Hả, mày muốn chết? Coi chừng, ông Tổng Thống bỏ tù!
Tôi chần chừ, suy nghĩ, cuối cùng vẫn giữ ý định đến trước ca-bin “yết kiến” Tổng Thống. Lúc sáng tôi thấy ông ngồi bên tay lái, kế dưỡng phụ tôi. Tôi sẽ đặt vấn đề, van xin thì đúng hơn, vụ xử tử oan ức một thằng bạn tuổi còn ham chơi đá dế, bắn chim với tôi.
Tôi lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong đầu cho nhuần từng lời nói để thưa là Độ bị Việt Cộng dụ dỗ đặt chất nổ mà chưa nổ, chứ Độ cũng như con, có biết gì mấy ông “đuôi ngắn đuôi dài”. Xin ông tha. Biết đâu chừng Ngô Tổng Thống cảm động, lỡ giết rồi thì cho tiền bà ngoại già sống qua ngày.
Xong, tôi bèn thực hiện ý định. Thừa cơ cha tôi đang bận cầm volant điều khiển con tàu lướt sóng, lúc đó đã ra khơi, tôi lẻn chun lên, nhưng vừa khỏi đầu bậc thang thì chẳng may gặp bác Thuyền trướng Lê văn Qui, như đã rình sẵn sau lái, liền trợn mắt, đưa tay nắm cứng dái tai của tôi kéo ngược vô hầm tàu, xô ngã ngửa trên giường, kèm theo lời hăm dọa:
– Dám cả gan! Ngồi tại chỗ, còn lộn xộn tao ném đầu tụi bay xuống nước hết, nghe chưa?
Dứt lời, bác Qui trở lên đứng thẳng người nơi vị trí cũ. Hoàng thấy tôi bị ba nó túm cổ, bụm miệng cười, tôi thì nổi quạu.
Khi tàu về cặp bến, các nhân viên TG-5 bận đứng nghiêm, để các ông lớn lên bờ, tôi cùng Lê văn Hoàng thoải mái chun ra khỏi khoang. Tổng Thống Diệm lên trước, chân vừa chấm đầu cầu bằng gỗ ông quay lui, vừa mỉm cười vừa nhìn mấy người bước theo, thì bắt gặp hai thằng nhóc con đang nằm mọp trên boong đưa tay vẫy vẫy chào lén tiễn biệt ông về dinh cậu Cẩn.
* Sau 75, CSVN truy tặng Lê Độ là “Anh Hùng, Liệt Sĩ’ và đổi tên một trường trung học tại quận 3 Đà Nẵng thành trường Trung Học Lê Độ.
(4) Chương 6, trang 80- “Giặc Ngoài Loạn Trong”. Cuối năm 2000, tôi gởi biếu quyển Tiếng Hờn Chân Mây đến hai vị cựu Thượng nghị sĩ VNCH, Luật sư Nguyễn văn Chức và Bác sĩ Tôn Thất Niệm. Bất ngờ được đọc, như nghe lại những lời phát biểu của chính mình cách đây 26 năm về trước, trong một phiên họp khoáng đại thượng viện 1974.
Bs Niệm, có phòng mạch trên đường Bolsa, Nam Califomia, nói với Tác giả: “Lâu quá tôi quên, không nhớ những lời phát biểu của tôi”. Còn Luật sư Nguyễn văn Chức, từ Texas điện thoại qua, thì tỏ nỗi ngạc nhiên và xúc động: “Đúng là bài tham luận của tôi đã thất lạc. Ở đâu mà Vân có vậy?” Bỗng giọng ông như muốn khóc: “Tôi bị oan, Vân ơi? Tôi bị oan?”. Lời kêu oan ấy cũng làm tôi nao núng dù tôi không hiểu “bị oan” chuyện gì. Tôi nghĩ, ngày xưa ông là một vị thẩm phán nổi tiếng cương trực, sao lại bị buộc vào một tội nào đó. Hay ông cựu nghị sĩ buồn vì đọc thấy câu nói của ông Sáu: “Đấy, NS Tâm còn nương tay, đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó, bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi, miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư ‘Tr. 73).
Tôi nhớ năm ấy ông gọi tôi vào một chiều mùa đông, khác với quê nhà, nơi xứ lưu vong này trời lạnh căm căm, tôi càng thêm bùi ngùi sau khi ông vừa dứt lời.
(5) Chương 10, trang 140– Đỗ Đức Chiến, cựu thiếu tá, xuất thân khóa 20 VBQG Đà Lạt. Sau 2 năm Đại đội trưởng Đại đội 2/21 Biệt Động Quân, Đại úy Đỗ Đức Chiến chuyển qua làm Tiểu đoàn phó 39 BĐQ, thời Thiếu tá Vũ Đình Khang Tiểu đoàn trưởng. Đầu tháng 2/71, toàn bộ Liên đoàn I BĐQ dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào.
Như đã diễn ra, ngày 8-2-1971, Tiểu đoàn 21 BĐQ khởi đầu cho trận đánh lớn nhất chiến trường Việt Nam, tiên phong từ biên giới nhảy vào Lào khoảng 10 cây số, tiến chiếm một ngọn đồi cao 300 thước, dưới chân là con đường mòn Hồ Chí Minh tại mốc số DC 1 6. Căn cứ này được gọi là Ranger South.
Kế tiếp, 11-2-71, trực thăng đổ Tiểu đoàn 39 BĐQ xuống một đỉnh núi phía đông bắc, cách TĐ21BĐQ hai cây số, Ranger North. Địch liền đẩy một trung đoàn tới tấn công liên tục. Sau mấy ngày kháng cự, thương vong quá cao, đạn dược sắp hết, địch quân càng vây hãm mà hỏa lực không yểm lại yếu, Tiểu đoàn 39 tuyệt vọng, thì có một trực thăng Hoa Kỳ đáp để tải thương, rồi cũng như mấy chiếc trước, bị bắn cháy, còn sống sót một người lủi ra giữa căn cứ. Gặp cơ hội Đại úy Đỗ Đức Chiến vội tới kéo anh ta xuống hầm Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn, và được biết đó là viên y tá Lữ đoàn 44 Quân Y Hoa Kỳ, tên Dennis Fujii. Tuy vậy, Đại úy Chiến vẫn sử dụng vào việc cứu nguy tình huống thập tử nhất sinh cho đơn vị là bảo Dennis Fujii gọi thẳng các giới chức Hoa Kỳ ở Khe Sanh khẩn cấp cho máy bay đến ném bom chặn địch sắp tràn ngập Ranger North.
Quả thật, vừa nghe tiếng người Mỹ (Fujii) gọi cứu, lập tức không những phản lực Phantom kịp vào yểm trợ, bắn quanh phòng tuyến Tiểu đoàn 39, mà còn có các Cobra hộ tống một trực thăng UH-IB đáp bốc Fujii của họ, và tiện thể tải luôn Đại úy Đỗ Đức Chiến lại vừa trúng đạn ngã trước mắt Dennis Fujii.
Như có đề cập trong Anh Hùng Bạt Mạng và nhắc lại nơi quyển THCM này, Đại úy Chiến đã được tôi cứu sống hai lần: chiếc trực thăng vừa nói trên, bị phòng không bắn gãy đuôi, sà đầu trên căn cứ 21 BĐQ rồi bốc cháy, Chiến được viên xạ thủ Mỹ lôi ra nằm ở sườn đồi giữa cơn pháo, tôi và hai người lính vội xông tới kéo ông xuống hầm BCH của Đại đội 2/21. Ngay đêm đó, tôi rút súng ngăn chặn kịp lúc Đại đội trưởng Trần Quang Giảng dí khẩu Colt45 vào đầu toan bắn Chiến, chỉ vì máu me từ các vết thương thấm ướt bầy nhầy và tiếng rên la của Đại úy Chiến làm Giảng mất ngủ.
Ba ngày nằm dưới hầm BCH/ĐĐ2/21 chờ trực thăng vào tải về Việt Nam, Chiến kể tôi nghe việc ông sử dụng Dennis Fujii. Sau này ở Mỹ liên lạc được nhau, Chiến có yêu cầu tôi không nên viết lại chuyện ông nhờ Fujii. Hiểu ý Chiến ngại rằng nhờ mà như là cưỡng bách Fujii. Tôi nói: Cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã bể nát rồi trơ ra cái khốn nạn “đem con bỏ chợ”. Lúc đó, tháng 2 năm 71, các tướng lãnh Việt Mỹ đã chê trách nhau như mổ bò ở Khe Sanh. Chính Đ/u Chiến đã biến Fujii thành anh hùng, dù đó là anh hùng bất đắc dĩ trên chiến trường Hạ Lào năm xưa.
(6) Chương 11, trang 148-Tiền CSVN phát hành. Đợt đổi tiền đầu tiên vào mùa Thu 1975, sau mấy tháng quân Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam. Một đồng bằng 500 đồng cũ VNCH trước đó. Sự đổi bạc vội vã như vậy là mục đích của Hà Nội nhằm làm dân miền Nam vừa nghèo đói, giới tư sản phải trắng tay, vừa để cướp của và dễ cai trị.
(7) Chương 13, trang 171- Thi sĩ Xuân Diệu, tên thật Ngô Xuân Diệu, sinh năm 1917 tại Vạn Gò Bồi, quận Tuy Phước, Bình Định (quê mẹ), mẹ là bà Nguyễn thị Hiệp, vợ thứ hai của cụ Ngô Xuân Hiếu, làm thầy thuốc Bắc một dạo ở Qui Nhơn. Cuối năm 1937, xong ban thành chung, Xuân Diệu theo cha về quê nội Thanh Hóa, rồi ra Hà Nội học thi tú tài. Theo ông Hồ Cũ, người đồng tính luyến ái với Xuân Diệu, thì Xuân Diệu sớm nổi tiếng qua những bài thơ trữ tình, lãng mạn, trước khi in thành tập, như Thơ Thơ và Gởi Hương Cho Gió… mà thuở niên thiếu chúng ta hay đọc.
Khi Cộng Sản lên nắm quyền miền Bắc, người Thi sĩ ấy đã phải miễn cưỡng theo giáo điều thần thánh hóa “Bác và Đảng” quá lố lăng, nên các tác phẩm mới của ông không sáng giá mấy, cả quyển sách in sau 1976, chỉ có tính cách tạp ghi, kể lại chuyến vào Nam thăm gia đình dượng mẹ tôi ở xã Phú Hội, Đức Trọng, Lâm Đồng, nêu dẫn một số ít bài thơ như bài “Bắp”, “Thác Gu-ga”… và nói về một bà chị của ông ở Buôn Mê Thuột…
Dù không được Cộng Sản trọng dụng, thơ Xuân Diệu vẫn được dịch sang nhiều thứ tiếng. Ông có đi thăm các nước Nga, Hungary, Bulgaria… Vì tâm bệnh, ông thiếu may mắn trên trường tình, sống độc thân và háo hức “đồng tính luyến ái” cho đến ngày từ giã cuộc đời 1985, thọ 69 tuổi.
Lúc đó tôi đã ở Mỹ, nhận tin từ các chú em báo Xuân Diệu chết, tôi bàng hoàng và thư về hỏi dượng mẹ tôi nguyên nhân ông chết. Nhưng thư hồi âm không nói rõ. Tướng nên nhắc, trước lúc Xuân Diệu qua đời, tôi có đăng trên tuần báo “Tay Phải”, của Du Tử Lê, số 119, phát hành 7-2-1985 tại Nam Califomia, bài: “Xuân Diệu, Nhà Thơ Tâm Bệnh Hay Đồng Tính Luyến ái, Homosexual” mà nội dung như ở trang 171 Tiếng Hờn Chân Mây này, kèm theo bản gốc thủ bút bài thơ “Biển” với lời đề tặng tôi của Xuân Diệu. Bản thủ bút đó Du Tử Lê vẫn còn giữ, không trả lui lại tôi.
Việc tiết lộ “mối tình tay ba chồng chéo” đồng tính luyến ái, đã được sự chấp thuận của những người trong cuộc: Xuân Diệu, ông Hồ Cũ và thân mẫu tôi. Điều lạ, cả ba đều để lòng mình tuôn trào thành lời, lúc tôi ngồi đối diện Xuân Diệu, còn dượng mẹ tôi thay nhau kể lại câu chuyện cho tôi ghi chép. Chỗ nào không rõ, tôi xin được bổ túc, như hỏi tên bài thơ dượng Hồ Cũ đọc: “Có lúc tưởng chi để rơi tàn lửa, Tay vô tình gieo một đám cháy to…” thì chính tác giả Xuân Diệu cũng quên, ông gật gù đáp: “Cứ thế, không thi đề”.
Nhờ cuộc gặp gỡ này, tôi đã khai quật được bài thơ “Không Thi Đề”, tuyệt vời ngót 40 năm bị chôn chặt dưới nấm mồ quá khứ, với mối tình lạ đời của Xuân Diệu, một thi sĩ tài hoa và lãng mạn nhất trong nền văn học Việt Nam giữa thế kỷ 20.
Chắc bạn không thể nhận biết người trong ảnh này là ai? Nếu bạn từng thấy qua hình chụp cô mặc áo thun đen có in hàng chữ: “Free Đieu Cay Ta Phong Tan AnhBaSaiGon” trước ngực, vào năm ngoái, hẳn bạn sẽ ngờ vực như mình đã ngờ vực: Phải Nguyễn Hoàng Vi đó không? Nhân vật mà mình từng ví có nụ cười đẹp hơn cả tranh Mona Lisa.
Nhà nước Việt Nam đã mạnh tay tàn phá mọi thứ, kể cả việc chẳng ngần ngại khi muốn hủy diệt nhan sắc một người con gái. Mình không thể nhẫn tâm chưng lên cho bạn xem những tấm ảnh “xấu xa” khác, bởi mình tôn trọng Nguyễn Hoàng Vi. Em gái cô, Nguyễn Thảo Chi, bị công an đánh gãy mất nhiều răng, môi sưng, máu chảy đẫm ngực áo. Mẹ cô thì bị chúng dụi điếu thuốc đang hút vào mặt, cháy bỏng…
Mình đã ngờ vực, và mình đang buồn đau. Một nhà làm phim chắc sẽ loại bỏ kịch bản có những màn tra tấn tương tự. Chỉ trùm khăn vào đầu rồi đổ nước cho ngạt thở khi muốn lấy khẩu cung bọn khủng bố, họ cũng phải trả một giá đắt cho hành động ấy. Bạn là người hay thú vật? Câu hỏi đó được gióng lên trên những vùng đất còn biết đến tình người, họ e dè, đắn đo, run tay, dằn vặt, tự vấn lương tâm… nghĩa là những thứ tủn mủn vụn vặt đó không hề có trên đất nước mang tên Việt Nam. Khi công an nói lớn trước pháp đình: “Tự do cái con cặt!” thì điều ấy đồng nghĩa với sinh mạng mong manh của người dân sẽ bị chúng chà đạp không hôm nay thì ngày mai. Lo âu, thấp thỏm trên từng cây số một kiếp nhân sinh vốn ngắn ngủi.
Câu chuyện bắt đầu ra sao? Chắc có bạn không theo dõi, để biết. Thì chúng bắt Nguyễn Hoàng Vi về đồn, như đã từng trói ké cô ấy trước đây (phường Phú Thạnh, quận Tân Phú là chốn rừng thiêng nước độc khỉ ho cò gáy nào? Ở ngay trung tâm Sài Gòn sao?) Bắt, lục soát và tịch thu tất cả những gì cô mang trên người. Cô được thả về lúc hai ba giờ sáng, đợi hoảng loạn tạm lắng dịu, đợi mặt trời mọc, đợi ánh dương quang chan hòa, cô cùng gia đình (mẹ và em gái) trở lại đồn bót để đòi lại những thứ bị thu giữ. Và hậu quả là phía chân yếu tay mềm bị đổ máu, bị đánh hội đồng không khoan nhượng (ôi xương tan máu rơi lòng hận thù ngất trời- lời bài hát khát máu Giải phóng miền Nam dạo nào).
Bạn mình có lắm người viết văn làm thơ, họ sẽ nói gì nếu giả thử bị đón nghe câu hỏi: Em gái của anh bị bắt bớ đánh đập bầm dập như vậy thì anh sẽ có phản ứng nào, trong nhất thời? Mình tin những vị “kỹ sư tâm hồn” kia chắc cúi mặt xuống, thở dài; hoặc họ sẽ cầm lòng không đậu: Đéo mẹ, nói làm đếch gì cái bọn khốn nạn ấy!
Trong lúc này đây, bạn hiểu cho, người ta chẳng thể dối lòng để làm khác đi. Sự thơ mộng, cái ướt át lãng mạn thường hằng của thơ văn dường như buộc phải trốn vào góc tối. Người ta thổn thức trước những tin buồn vọng ra từ quê cũ và người ta ý thức sự bất lực của chữ viết, đôi lúc không chửi thề e không xong. Tiếc chẳng được như người xưa: Ngửa mặt vào cao xanh cười lên ba tiếng, gầm đầu xuống đất mà khóc rơi ba giọt lệ.
Bạn mình có thằng sắp đi Việt Nam. Hỏi: “Ông có gửi quà không? Tôi mang hộ”. Mình mua ít áo quần, hàng hiệu, khá đắt, xong giao cho nó cả túi lớn nylon. Nó cười như người lên cơn suyển: “Xời, mất mặt thế, sao toàn cả đồ Made in Vietnam? Mang về thì chúng cười cho thúi đầu”. Mình làm thinh, chửi thề trong bụng. Một cái bao tử luôn nhức nhối bởi cả triệu điều chẳng tài nào tiêu hóa nổi.
Rồi nó hồ hởi ra phi trường. Một ngàn rưỡi vé khứ hồi, bay suốt Montréal-Paris-Saigon. Mình chúc nó đừng gặp cảnh bị không tặc, an lành để đáp xuống Tân-sơn-nhất. Mình chúc nó sẽ bị chặt chém ở hải quan, chúc nó ra đường bị xe đụng, chúc nó bị dân anh chị có số má trấn lột, chúc nó bị công an sờ gáy, kết tội là đảng phục quốc và cầu trời cho nó bị đánh toe tua trong ngục tù. Đù má, mày tưởng Việt kiều là ngon hả? Việt kiều thì ông uýnh theo kiểu Việt kiều.
Nguyễn Hoàng Vi ạ, bọn chúng đánh người bạn của mình, cho tha hồ tẩm quất mình chẳng xót. Sao nghe Vi bị chúng hành hung mình lại xốn ruột lộn gan? Dù đôi ta chưa hề một lần gặp gỡ, trò chuyện hoặc có với nhau chút giây mơ rễ má nào cả. Mình có viết lách và đôi khi bình tâm để nhìn nhận điều này: Số phận của Vi bị dồn tới cái mà người ta gọi là bi kịch. Và bi kịch ấy, bọn cầm bút khó mà chia sẻ, với tới, đặt để vào trong tiểu thuyết.
Người ta thường có khuynh hướng khi dễ những thứ made in Vietnam, nhưng một thiếu nữ Việt Nam (đương đại) như Nguyễn Hoàng Vi thì mình cực lòng chẳng biết dụng chữ nào khác, ngoài hai chữ ngưỡng mộ, hai chữ đáng quý, hai chữ nhớ thương. Đã đủ 6 chữ vàng chưa, hở Vi cách biệt?
Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây. Những người lính Mỹ, trong đó có con em người Việt chúng ta, thế hệ thứ hai, đã và đang còn chiến đấu cho chúng ta được sống và làm việc an bình trên vùng đất lành này. Không ít những người lính đó đã để lại một phần thân thể nơi những vùng đất xa lạ, có người trở về với những vết thương trên thân mình, lại có người trở về với những vết sẹo khó lành ở trong tâm hồn, với những đêm mất ngủ khi ác mộng kéo về. Trong chiến tranh Việt Nam, vào thập niên 70, người Mỹ mới nghe nói nhiều về căn bệnh “hậu chấn thương tâm lý” hay còn được gọi là Post Traumatic Stress Disorder (PTSD), mà nhiều cựu chiến binh mắc phải khi trở về từ chiến trường. Căn bệnh này ảnh hưởng đến hệ thần kinh làm người bệnh khủng hoảng tinh thần, cảm giác bất an, tội lỗi, tự dằn vặt, hoặc bị khó thở, đau đầu kinh niên, ứng xử cộc cằn, và bị ác mộng về đêm vì họ đã phải trải qua, chứng kiến những thảm cảnh chết chóc, hãi hùng vượt quá bản chất của con người trong chiến tranh. Những cựu binh Mỹ khi trở về, đã không được chào đón, mà còn bị kỳ thị với ánh mắt khinh bỉ của dân chúng vì những phong trào phản chiến, những thành phần khuynh tả cực đoan. Khi những người cựu quân nhân này đi xin việc, đa số bị từ chối vì ác cảm. Điều này cũng làm trầm trọng thêm căn bệnh PTSD và khiến nhiều người phải tìm quên trong men rượu hoặc chất kích thích như cần sa hay bạch phiến mong quên đi quá khứ kinh hoàng và hiện tại đau thương. Nếu gia đình và cộng đồng hiểu và nâng đỡ, họ sẽ vượt qua được chấn thương tâm lý này, còn không, một số trong bọn họ sẽ trở thành kẻ không nhà, tội phạm, nghiện ngập, lang thang khắp các đường phố mà không còn thiết đến ngày mai. Giờ đây những cuộc chiến ác liệt ở vùng Trung Đông vẫn còn dai dẳng đến ngày nay như Iraq, Syria, và Lybia v…v…. Riêng mặt trận Afghanistan đã kéo dài hơn 18 năm nay, tốn biết bao nhiêu tiền bạc và xương máu của người Mỹ. Những cuộc chiến này mục đích là cố gắng quét sạch tận gốc những tổ chức khủng bố từ trong trứng nước, ngay từ những quốc gia nuôi dưỡng khủng bố và cực đoan. Tôi có dịp làm việc và đi công tác ra nước ngoài nhiều lần cùng với anh JF, một đồng nghiệp cùng sở, trạc hơn 40 tuổi, ít nói, hay trầm tư. Anh là chuyên viên về avionics (điện máy bay) và software (phần mềm), trực tiếp hỗ trợ chúng tôi khi cần thiết. Vì tính khí anh bất thường nên không mấy ai thân mật với anh ta, ngoài những lúc công việc đòi hỏi mà thôi. Phải mất một thời gian dài tôi mới để ý anh ta hay có những cử chỉ đôi khi rất kích động pha lẫn lo âu, chán chường, hay rơi vào trạng thái cô độc, trầm tư một mình và xử sự rất khác người. Có những ngày anh ta không muốn ăn uống gì cả, chỉ qua loa cho xong bữa mà thôi. Trong 1 chuyến công tác xa nhà bên Châu Phi, chúng tôi 5 người, ngủ chung trong 1 căn phòng nhỏ, một đêm bị thức giấc giữa đêm vì tiếng ú ớ, la hét hoảng sợ của JF. Anh bật dậy, ngơ ngác, rồi ngồi thu lu một mình trong bóng đêm với hai tay ôm chặt hai bên thái dương, rồi nằm xuống trăn qua trở lại chờ trời sáng. Hôm sau, anh xin ván ép và tự đóng cho mình 1 cái hộp vừa đủ bao quanh giường mình, không muốn làm phiền những người kế bên. Một phòng thật nhỏ bên trong một phòng ngủ cũng nhỏ.
Sau này khi thân nhau hơn một chút, anh thường hay hỏi tôi kể về chiến tranh Việt Nam và thái độ của người Việt Nam đối với lính Mỹ ra sao. Tôi thật thà kể anh nghe về những điều tuổi thơ tôi trải qua trong chiến tranh, những chết chóc, tang thương trong tết Mậu Thân 1968 và những xác người la liệt trong rừng, trên con đường tử lộ 7B, mà tôi là 1 cậu thiếu niên trên trong đoàn người di tản đó, con đường dẫn về Tuy Hòa khi quân đoàn II rút khỏi Pleiku tháng 3, năm 1975. Tôi cũng không quên trận pháo kích vào trường tiểu học học Cai Lậy giết chết các em học sinh vô tội. Những lúc đó, anh ngồi thừ người ra, im lặng, vẻ suy tư mông lung lắm. Mấy ngày sau đó, anh cũng không muốn nói chuyện với ai, kể cả tôi.
Hình minh họa căn bệnh PTSD (Post Traumatic Stress Disorder).
Một ngày, khi đang lan man chuyện trò, anh chợt hỏi món ăn Việt Nam nào ông thích nhất? Tôi trả lời, phát âm kiểu Mỹ: – Pho. Anh nói không phải “pho” mà là “phở”. Lối phát âm hệt như người Việt chính cống làm tôi ngạc nhiên. Anh giải thích vợ cũ của anh gốc Việt, mẹ vợ là người Việt Nam. Bà theo chồng là lính Mỹ gốc Phi về nước sau khi quân đội rút khỏi Việt Nam. Anh và vợ có một con trai khoảng 10 tuổi, khi ly dị, đứa con ở với vợ. Rồi dần dần chúng tôi thân nhau hơn, hay ngồi ăn cùng bàn, càng ngày tôi càng hiểu anh ta nhiều hơn. Sau 20 năm trong quân đội, anh giải ngũ vì nhiều triệu chứng trầm cảm và thần kinh. Bác sĩ cho hay anh bị hội chứng PTSD, đến 70%. Trở về đời sống dân sự, anh có thể không cần đi làm mà vẫn sống đủ với tiền lương hưu và thương tật từ quân đội, nhưng anh đi làm để khuây khỏa và quên đi quá khứ vẫn còn đeo bám anh. Hiện anh đang có cô bạn gái gốc Mễ, đã một đời chồng và có 1 đứa con gái riêng. Cô là y tá trong bệnh viện cựu chiến binh, cả hai hứa hẹn sẽ nên duyên vợ chồng trong một vài năm nữa. Anh hay khoe nàng có làn da nâu, một mái tóc huyền rất dài, và đôi má lúm đồng tiền thật sâu hai bên má mỗi khi nàng cười. Những lúc này, khuôn mặt anh rạng rỡ và hạnh phúc. Sau đây là lời tâm sự của JF, xen lẫn với lời kể của tôi:
JF: Tôi đăng vào lục quân khi vừa xong bậc trung học để thoát khỏi kiếp không nhà, ăn nhờ ở đậu trong một nhà kho chứa nhạc cụ của trường. Cha tôi bỏ bê gia đình đi theo một mối tình mới. Mẹ tôi, một nách 3 đứa con, không nghề nghiệp gì, cũng đi theo một người đàn ông khác. Ba anh em mỗi đứa một nơi. Người chị lớn bỏ đi sống chung với bạn trai năm 17 tuổi, người anh kế kết bè đảng đi ăn cướp, rồi bị tống vào tù. Riêng tôi còn hai năm nữa mới xong trung học. Nhờ chăm chỉ và sáng dạ nên một ông thày thương tình đem tôi về ở trong nhà kho chứa nhạc cụ của trường để ăn ngủ tạm ở đó cho đến khi xong trung học. Ngày tốt nghiệp cũng là ngày tôi từ giã bạn bè và người thày tốt bụng lên đường vào quân ngũ. Lễ tốt nghiệp trung học cũng là ngày trọng đại nhất trong cuộc đời tôi vì vừa đủ tuổi đi lính, đủ khôn ngoan để có thể đứng vững trên đôi chân mình không phải nhờ vả ai, và nhất là để có thể tự quyết định lấy cuộc đời mình. Tôi mơ ước khi vào lính, tôi sẽ gia nhập lực lượng đặc biệt, lính thứ dữ để trở thành một “door-kicker”, một người hùng luôn đi đầu trong mọi chiến dịch. Sau khi trải qua mấy tháng quân trường như mọi người lính khác, tôi tình nguyện gia nhập lực lượng đặc biệt ARSOF (Army Special Operation Forces) làm người lính chiến trực tiếp cho National Security Agency thuộc bộ quốc phòng. NSA chuyên về công tác tình báo tuyệt mật, đột nhập, do thám, đánh chiếm cứu con tin, hay vào tận sào huyệt bắt sống những kẻ thù còn được gọi là HTV (High Target Value) để đem về điều tra. Tôi bắt đầu khóa huấn luyện đặc biệt kéo dài 1 năm, chuyên về kỹ thuật cao cấp để bẻ khóa (hacking), mã hóa (cryptology) về điện toán, kiến thức khoa học, khả năng chuyên môn biết xử dụng trang thiết bị lấy dấu vết và phân tích vân tay cho đến khuôn mặt con người. Sau cùng là khóa huấn luyện kỹ năng sống còn, mưu sinh thoát hiểm, cấp độ C (C-level) có tên là: S.E.R.E. (phát âm là “XIA”), viết tắt (acronym) của 4 chữ: tạm dịch như sau: Survival: Sống sót. Evasion: Tránh né. Resistance: Chống cự. Escape: Thoát hiểm.
Tôi: Mỗi lần đi công tác nước ngoài (oversea deployment), trước khi được gởi đến những vùng chiến sự, tôi cũng phải qua khóa này trong một thời gian 7 ngày, nhưng ở mức độ A (A-level), cấp độ vỡ lòng, không khó khăn lắm cho nhân viên dân sự. Phần lý thuyết bao gồm cách sống còn khi lạc trong rừng, làm cách nào không bị đói, khát, cách giữ ấm, cách đánh dấu, liên lạc với phe ta, và kiếm đồ ăn cho tới khi được cứu. Nếu bị bắt thì ứng xử ra sao, tránh để bị mua chuộc làm hại bạn đồng tù. Cách hành xử và tránh né khi bị điều tra ép cung. Cuối cùng là nếu bị bắt, phải cố gắng để lại dấu vết cho biết nơi mình bị bắt. Trong tù, phải biết cách gõ trên tường, liên lạc với nhau bằng Morse code. Nếu có cơ hội, dù với nhiều bạn tù hay một mình, thì vượt ngục cách nào. Dù không phải chiến binh, chúng tôi vẫn có quyền yêu cầu được đối xử theo diện tù nhân chiến tranh chiếu theo luật quốc tế Geneva Convention. Quan trọng nhất là phải giữ niềm tin tuyệt đối rằng nước Mỹ, tổ quốc sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn. Nếu ai đã coi phim “Saving private Ryan”, cứu binh nhì James Ryan thì biết. Phim này dựa trên cốt truyện có thật của một gia đình có 4 con trai đều đi lính trong thế chiến thứ II. Ba người anh lớn đều hy sinh ở chiến trường. Cấp chỉ huy quyết định sai đại úy John Miller (Tom Hanks thủ vai) dẫn một tiểu đội đi ra tiền tuyến trên đất Pháp, bằng mọi giá phải đem người con út trở về cho người mẹ góa đang cạn nước mắt vì mất con. Nhiệm vụ thành công, nhưng giá phải trả là nhiều chiến sĩ trong nhóm hy sinh tính mạng chỉ để cứu chỉ một anh binh nhì (1). Trong cuộc chiến Việt Nam, tháng 11, 1970, một nhóm 56 biệt kích Mỹ nhảy toán vào đất địch bằng trực thăng để cứu 61 tù binh Mỹ trong một trại tù Sơn Tây miền Bắc (2). Sứ mệnh này thất bại vì tin tình báo sai. Quân cộng sản NVA (North Vietnam Army) đã kịp dời tù binh về Hỏa Lò, Hà Nội. Tuy nhiên, hành động này có tác dụng rất tốt khích lệ tinh thần binh sĩ. Mới đây, trong trận chiến dịch Desert Storm ở Iraq năm 2003, lực lượng đặc biệt Mỹ đã bất ngờ đột kích vào tận trong một bệnh viện địch, chỉ để cứu 1 người nữ chiến binh quân nhu tên Jessica Lynch (3). Còn nhiều nhiệm vụ giải cứu khác nữa được ghi trong quân sử, đủ nói lên tinh thần không bỏ đồng đội lại phía sau của quân đội Mỹ. Sau phần khám sức khỏe rất gắt gao (physical test), nhiều người rớt, phải về nhà. Ai mang bệnh “3 cao” khó mà vượt qua nếu không có giấy chứng nhận (waiver) của bác sĩ. Phải có hình X-ray của răng để lỡ có “sa cơ trên chiến trường thọ tiễn”, hình hài không nguyên vẹn thì còn có thể nhận ra nhờ hàm răng. Mắt nếu đeo kiếng thì phải đem theo ít nhất 2 cặp. Tai phải nghe thật rõ và trình ra giấy khám hearing test mới nhất. Giấy chích ngừa phải đầy đủ theo sự yêu cầu của nước mà chúng tôi sắp đến. Đến phần lý thuyết, phải qua kỳ thi online bằng computer, nếu đủ điểm, sẽ đến phần thực tập như bắn bia, tự thoát hiểm. Nói về bắn bia, tôi không biết tôi thuộc loại khác thường hay bất thường: Vào cuối tuần, bạn bè hay rủ nhau vào rừng bắn bia. Tôi luôn là chủ đề cười của cả nhóm vì nếu để 2 cái chai, tôi nhắm cái bên phải thì thế nào cũng trúng cái bên trái và ngược lại. Nói nôm na là tôi nhắm người này thì sẽ trúng người kia. Vậy mà khi huấn luyện, tôi bắn trúng 24/25 phát, trật có 1 viên. Chắc tôi thuộc loại bất thường. Tôi được trang bị đầy đủ “gear” như quần áo, giầy, mặt nạ chống hơi độc, chống phóng xạ; kể cả áo giáp, nón bảo vệ đầu loại LWH làm bằng vật liệu nhẹ kevlar chống đạn. Tất cả cân nặng khoảng gần 50 pounds trong 1 túi dết lớn có quai đeo vai (xắc Marin). Riêng áo giáp, chúng tôi được phát loại cũ dùng trong chiến tranh Việt Nam, cân nặng khoảng 30 pounds, cái nón nặng 3 pounds, trong khi những người lính được trang bị áo giáp loại 16 pounds, nhẹ hơn vì họ còn phải mang súng ống, đạn dược.
Tôi và 3 người nữa bước lên xe Humvee và cài dây an toàn (seatbelt). Phần này được tập luyện trong nhà (indoor facility) trang bị với hệ thống thủy lực (hydraulic system) để nâng xe và các xe cơ giới to lớn khác. Chiếc xe được cho lật úp, 4 bánh đưa lên trời, tất cả bị treo ngược đầu xuống đất. Mọi người trên xe phải tuân theo người trưởng toán, lần lượt từng người một, tự tháo dây an toàn và thoát hiểm sao cho không bị thương tích trong một thời gian nhanh nhất có thể. Nghe giải thích tưởng dễ, nhưng khi “đụng trận” mới biết đá biết vàng. Tôi không còn trẻ như các đồng nghiệp khác, khi khoác lên mình cái áo giáp nặng chịch, thêm cái nón bảo vệ. Khi xe lật úp, đầu tôi dộng xuống trần xe bằng thép tưởng có thể quẹo cổ. Thêm dây an toàn xiết chặt vào bụng và ngực làm tôi nghẹt thở và máu dồn xuống mặt. Cái khó là làm sao, trong khi ở tư thế đầu lộn ngược, mà vẫn có thể bình tĩnh ấn nút nhả khóa dây an toàn và cả thân hình rớt xuống với hai tay chống để không bị gãy cổ. Nếu tôi không điều chỉnh nón an toàn vừa khít và chặt chẽ đủ, khi lộn ngược, nón sẽ văng ra và cái đầu sẽ đụng trần xe. Một là gãy cổ, hai là bị thương nơi đỉnh đầu vì cú va chạm. Cái nón lúc này thực là cứu tinh cho cái đầu trọc của tôi. Đọc và hiểu cặn kẽ những bài học lý thuyết là rất cần thiết cho phần thực hành. Nhiều người đồng nghiệp “thi rớt”, bị mời về, không được đóng dấu “passed” cho đi công tác. Hầu hết những người nặng ký, mập, hoặc vì huyết áp cao, hay chóng mặt đều không qua nổi giai đoạn này.
JF: Những người lính đặc nhiệm như tôi thì bắt buộc phải được huấn luyện khóa S.E.R.E (4) ở cấp độ khó khăn hơn nhiều so với những người lính bình thường. Khóa học này kéo dài 19 ngày. Nhiều lần tôi tưởng phải bỏ cuộc vì phải trải qua những đau đớn về thể xác và căng thẳng về tinh thần của khóa huấn luyện kinh hoàng này. Chúng tôi học cách sống còn trong rừng rậm, trên sa mạc, cách làm bếp (Dakota hole) nấu nướng không có khói, cách tìm và làm chỗ ẩn nấp an toàn. Tất cả đều được huấn luyện trên thực địa của sa mạc nóng bỏng, bị rượt đuổi ngày đêm; nhiều lúc kiệt sức tưởng chừng có thể chết được. Một vài đồng đội té xỉu và nôn mửa đến mật xanh. Một đêm cuối tuần được xả trại đi chơi ở Las Vegas, đêm khuya lắm, chúng tôi trở về căn cứ huấn luyện ở Indian Springs, Nevada. Đoạn đường này vắng vẻ, chiếc xe van chở cả nhóm bất ngờ bị chặn đường bởi hai chiếc xe không biển số. Một toán người bịt mặt, võ trang với súng ống lăm lăm bao vây chúng tôi. Mọi người bị dí súng và trùm đầu bằng bao tải, bị đánh, bị quăng xuống đất, tay bị trói bằng dây nhựa (zip-locks) quặt ra sau lưng, và bị đưa đến một nơi không ai biết là đâu, và cũng không biết bọn bắt cóc này thuộc nhóm khủng bố nào. Chúng tôi được dẫn xuống một nơi ẩm ướt, lội nước bì bõm đến gần đầu gối mà tôi đoán là một đường hầm. Sau đó chúng tội bị lột trần truồng, bị chế nhạo, bị chửi rủa bằng thứ tiếng Mỹ nặng âm sắc của người Ả Rập, bị làm nhục, bị dội nước lạnh, răng va vào nhau nghe lộp cộp, xen lẫn với những tiếng la hét, cười cợt bằng những ngôn ngữ rất lạ tai. Hành hạ chán chê, chúng tách riêng từng người, nhốt chúng tôi vào những xà lim tối tăm mà khẩu phần ăn chỉ vừa đủ để không phải chết đói. Có người bị đem đi trấn nước (water boarding), người thì bị mua chuộc, hứa hẹn khai ra bạn mình thì sẽ được chấm dứt cực hình ngay lập tức. Tôi nghĩ phen này chắc mình sẽ chết vì bọn khủng bố này. Qua hai ngày bị thẩm vấn, ép cung, lẫn mua chuộc, thỉnh thoảng còn bị đấm đá, phải chịu đựng đói khát trong đêm đen, không biết ngày hay đêm. Một mình tôi một xà lim, thân thể suy nhược vì lạnh, thiếu ngủ, và bị khủng bố tinh thần, tôi không còn tỉnh táo, chỉ muốn khai hết cho được yên thân, thậm chí muốn chết đi cho khỏi phải chịu đựng cực hình. Nhưng nghĩ đến những bài học mới đây không bao lâu, tôi lại tự động viên và tự nhủ phải ráng lên, rồi sẽ được cứu vì mình đang còn ở trên đất Mỹ mà. Trong sự tuyệt vọng ghê gớm đó, tiếng loảng xoảng của xích sắt xen lẫn tiếng bản lề rỉ sét của cánh cửa phòng giam mở ra, tôi bị bịt mắt và dẫn đi để tiếp tục bị tra khảo và lấy cung. Một bàn tay to lớn đè vai tôi ngồi xuống ghế, hai tay lại bị trói quặt sau lưng. Giọng nói quen thuộc nhưng dữ dằn cho tôi hay nếu không chịu khai, họ sẽ đem tôi đi bắn. Tôi hoảng sợ cực độ, trong một thoáng thật nhanh tôi tự nhủ không lẽ đời mình đến đây là hết? Tôi nghĩ đến người mẹ bạc lòng của tôi, người chị, và người anh mà bao năm nay tôi không hề thương nhớ, mấy thằng bạn vừa quen trong quân trường. Nhiều hình ảnh đến và đi trong lòng tôi như ánh chớp, lòng tôi chợt trống rỗng và nhẹ tênh. Tôi tự an ủi chết là cùng, mình chẳng còn ai thân thiết để yêu thương, chết đi tôi sẽ không còn biết khổ đau nữa. Đột nhiên một cảm giác rất bình an xâm chiếm tâm hồn tôi, tôi không thiết sống hay sợ hãi nữa. Tôi nhất định giữ im lặng. Tiếng lên đạn của một khẩu súng nghe sắc và lạnh, đồng thời giọng nói cất lên “đem nó đi”. Sắp đến lúc mình được giải thoát rồi, tôi thầm nghĩ, tuy trong lòng lẫn lộn một cảm xúc khó tả. Bàn tay thô bạo lại kéo lê tôi đi ngoằn ngoèo một lúc lâu rồi dừng lại. Cũng bàn tay thô nhám đó đưa lên cởi khăn bịt mắt cho tôi. Trong bóng tối mờ ảo, tôi chưa kịp định thần mình đang ở đâu, thì một giọng nói vang lên bằng tiếng Mỹ rất chuẩn: “Congratulations, you’ve made it”, chúc mừng bạn vừa thành công. Đèn trong phòng bật sáng, viên trung sĩ huấn luyện ngồi ở bàn giấy, tiến tới vừa bắt tay tôi thật chặt vừa nói: “You’re one of us. Welcome aboard”, bạn là người của chúng tôi, chào mừng gia nhập nhóm. Rồi nhiều tiếng vỗ tay vang lên, nhìn quanh, tôi thấy vài huấn luyên viên khác và vài người bạn cùng nhóm bị bắt với tôi, họ đã ngồi ở đó tự bao giờ và đang tủm tỉm cười nhìn tôi với ly cà phê còn bốc khói trên tay. Tôi như không tin vào mắt mình vì quá đột ngột, xúc động lẫn vui mừng. Giờ đây tôi đương nhiên vinh dự đứng vào hàng ngũ của những chiến sỹ hào hùng của lực lượng đặc biệt. Thì ra cuộc bắt cóc này được dàn dựng như thật, không ai trong chúng tôi được báo trước, ai cũng tưởng mình bị bắt cóc bởi một nhóm khủng bố thật sự. Họ theo dõi chúng tôi qua những máy quay phim dấu kín trên tường phòng giam. Mọi cử động của chúng tôi đều được họ ghi hình và phân tích, đề phòng trường hợp ai đó quá tuyệt vọng đưa đến tự sát. Lần lượt mọi người đều gặp nhau trong căn phòng giờ này đang đầy ắp tiếng cười, khói thuốc lá, và bánh trái ê hề. Ngay hôm đó, một chuyên viên tâm lý đặc biệt phỏng vấn tất cả những người được chọn và cho chúng tôi một cơ hội chót là vẫn chưa muộn để có thể xin rút ra khỏi đơn vị và trở lại làm một người lính bình thường. Đương nhiên, không một ai trong chúng tôi xin rút lui vì đoạn đường chúng tôi đã đi quá xa để trở lại điểm đầu tiên. Kể lại chuyện này, tôi vẫn nghĩ, nếu phải làm lại từ đầu, tôi sẽ không bao giờ muốn điều này lập lại lần thứ hai.
Tôi: Sau 1 tuần lễ huấn luyện khá dễ dàng, chúng tôi được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện để vào “vùng lửa khói”. Chứng chỉ này chỉ hiệu lực trong vòng 1 năm. Năm sau, nếu đi nữa thì lại phải học và thi lại như học sinh mới. Tuy nhiên ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm khi cầm được tờ giấy “ra trường”. Ngày mai chúng tôi sẽ đáp chuyến bay Mil-Air (Military Airlines) qua Châu Âu, dừng ở Đức lấy nhiên liệu xong, tiếp tục bay qua một căn cứ quân sự ở Trung Đông. Từ đó đổi qua các chuyến bay ngắn đến nơi làm việc bằng máy bay vận tải cơ C-17 hay C-5 Galaxy. Chúng tôi, những nhân viên dân sự, ăn và ở cùng với những người lính để chia xẻ gian khổ với họ. Chúng tôi ở trong lều, nằm ngủ trên những ghế bố, ăn chung mâm với họ, đôi khi lương thực chưa đến kip, phải nhai lương khô là những bịch MRE (Meals-Ready-to-Eat). Nói chung, chúng tôi đồng cam cộng khổ với người lính để có thể hiểu được những ưu tư, cảm thông nỗi buồn xa vắng gia đình của họ. Đôi khi may mắn hơn, chúng tôi được ở trong những căn nhà tiền chế (pre-manufactured houses), hoặc ngủ trong những containers, thùng chứa hàng có gắn máy lạnh, nhưng không phải là “thùng nhân”. Chuyến công tác đầu tiên, tôi suy nghĩ đơn giản lắm, tôi tự nhủ hồi ở Việt Nam, ngủ rừng, ngủ bụi, ngủ trên ghe, thuyền đâu có sao, mấy cái này nhằm nhòi chi. Những đêm đầu tiên, tôi không thể nào ngủ được vì cái nệm cứng quá, đau lưng không chịu nổi. Tôi quên rằng bao năm quen giường êm, nệm ấm ở Mỹ, tôi đã trở thành người Mỹ lúc nào không hay. Còn nhớ những ngày chặt củi Đước vùng duyên hải rừng Sác, tôi mới 18 tuổi. Ngày ăn cơm nguội với cá khô, mắm ruốc, làm việc như trâu bò; đêm ngủ trên chiếc ghe tròng chành, lắc lư. Một đêm, khi con nước lớn, tôi buộc mũi ghe vào một gốc cây Bần to lớn với cành lá xum xuê, và cắm cây sào tre vào phần lái để ghe khỏi bị xoay chiều, đoạn mắc giây mùng trên những cành cây. Xong việc giăng mùng, tôi “bắn” một bi thuốc lào thật say, chui vô mùng, ngả mình xuống sàn ghe ngủ như chết, không còn biết trời trăng mây nước gì cả. Trong giấc ngủ say, tôi vẫn biết tay tôi cứ đập muỗi và gãi liên tục; tôi mặc kệ, cố ngủ lấy sức mai còn vác củi. Gãi riết rồi chịu không nổi, phải bò dậy coi tại sao. Khốn khổ, cái mùng biến đâu mất. Nhìn lên trời, sao đêm lấp lánh, cái mùng treo lơ lửng tuốt trên cành cao. Hotel ngàn sao, trời ạ! Thì ra, khi nước ròng (nước xuống), chiếc ghe cũng hạ thấp theo chiều nước xuống. Đàn muỗi đói rừng Sác nổi tiếng không thua muỗi Cà Mau, tha hồ sơi tái mấy cái thân xác gầy gò của chúng tôi. Sáng hôm sau, mình mẩy đầy vết muỗi cắn, vậy mà đâu có bệnh hoạn gì, vẫn mạnh trùi trụi. Chỉ sau này, khi bị sốt rét rừng hành hạ thừa sống thiếu chết, tôi mới hay thiên đường xã hội chủ nghĩa là đây. Chưa hết, thuở đó lòng sông Soài Rạp, có những sáng thức giấc, nước ròng sát, tôi giật mình thấy những con cá sấu nằm hai bên bờ đang lim dim đôi mắt và ung dung tắm nắng mà nổi da gà. Chúng không muốn ai làm phiền và cũng không muốn làm phiền chúng tôi. Thế mới biết “lâu rồi, đời mình cũng quen”, không còn sợ hãi nữa. Trong những nhân viên dân sự, có một nghề tôi không thấy các sắc dân khác làm, ngoại trừ những người gốc Ả Rập nói được tiếng Farsi, nghề thông dịch viên. Đa số họ đến từ Anh (Britain), vài người từ Phi Châu, nhưng tôi chưa gặp một người Mỹ gốc Ả Rập nào làm nghề này. Tôi quen vài người trong bọn họ. Những người này hầu hết là thày giáo, hoặc kỹ sư tốt nghiệp các đại học ở Anh quốc. Người tôi quen thân là một kiến trúc sư gốc Afghanistan, đến Anh tỵ nạn khi còn trẻ. Anh cho biết anh xung phong làm thông dịch viên chiến trường vì nghề này được trả rất nhiều tiền. Sau khi đi vài năm, vợ con ở nhà, có thể mua nhà một cách dễ dàng. Nếu đi cỡ 10 năm, anh có thể về hưu non và không cần làm gì cả mà vẫn sống khỏe re vì nhà cửa trả xong, bảo hiểm sức khỏe ở Anh không tốn tiền. Vợ chồng, 4 đứa con có thể sống với welfare một cách thoải mái. Nghề thông dịch rất nguy hiểm, không như chúng tôi luôn ở trong trại, họ phải đi sát theo quân đội ra trận, đi tuần tiễu, hoặc theo các toán biệt kích trong những chiến dịch gian khổ và nguy hiểm. Họ không mang súng, nhưng được trang bị tận răng như lính chiến thực thụ với áo giáp loại đặc biệt nhẹ. Họ khổ hơn chúng tôi nhiều. Một số trong bọn họ bị bắn tỉa và không bao giờ trở về nhà. Thỉnh thoảng tôi lại gặp họ ở những căn cứ khác nhau, hỏi thăm về người bạn cũ, họ cho biết nó chết rồi, ở mặt trận…Nghe sao mà buồn quá!
JF: Đời lính chiến vào sinh ra tử, tôi được gởi đi đến nhiều vùng đất xa lạ, đi đến bất cứ nơi nào khi có lệnh trên, với những nhiệm vụ mà không ai có thể biết trước mình sẽ đi đâu và làm gì trước giờ hành động chỉ một thời gian ngắn. Những chiến dịch đã đi qua, như COIN (Counter Insurgency), tôi rất thích thú và hào hứng với những cuộc phiêu lưu cảm giác mạnh khi được xông pha, đột nhập vào những hang ổ bí mật (safe houses) để giải cứu con tin, bắt những tên thủ lãnh trói gô lại, vất lên máy bay. Càng tham gia nhiều chiến dịch, tôi càng say mê với những pha vào sinh ra tử nhưng vui vì chiến công ngày càng nhiều. Rồi biến cố tháp đôi World Trade Center, ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra khi tôi đang còn mãi bôn ba khắp mọi miền đất xa xôi ở Trung Đông. Lòng yêu nước lẫn căm thù những tên khủng bố hèn hạ đã thắp lên trong lòng tôi một ngọn lửa mới, thúc dục tôi chiến đấu thêm hăng say. Chúng tôi được triệu tập khẩn cấp và nhận nhiều nhiệm vụ hơn. Với một nhóm khoảng 10-12 người và chó quân khuyển, chúng tôi được không vận đến gần địa điểm bằng trực thăng đặc biệt bay rất sát mặt đất để tránh radar. Nhảy khỏi trực thăng, rồi di hành im lặng trong đêm đen, bao vây sào huyệt của bọn giặc, bất ngờ phá cửa vào để bắt trọn những tên có trong danh sách đen (HTV) trong ngôi nhà đó, nếu có chống trả, thì tiêu diệt. Tấn công bất ngờ, hành động gọn gàng, rút lui nhanh chóng. Đó là châm ngôn của chúng tôi. Trước khi rút lui ra địa điểm tập hợp an toàn để trực thăng bốc ra khỏi vùng nguy hiểm, chúng tôi cài lại những con bọ điện tử và những cameras nhỏ xíu trong nhà mà mắt thường không thể nhận ra, trước khi kẻ thù trở lại với nhiều đồng bọn và vũ khí. Nhiệm vụ ngày càng nhiều hơn khiến tôi như trôi đi với những ngày đêm hành quân miệt mài. Mỗi lần xong một nhiệm vụ, tôi thấy hài lòng hơn với những gì mình đang đóng góp cho tổ quốc; đồng thời tôi cũng bắt đầu cảm thấy những thay đổi, suy tư trái ngược trong tôi. Nhiều chuyện làm tôi hoang mang, chùn tay, và nó bắt đầu ám ảnh tôi thời gian sau này. Nhiều năm trôi qua, nhiều chiến dịch nguy hiểm với cái chết cận kề, tôi chưa bao giờ biết sợ. Lòng yêu nước và những hình ảnh nạn nhân tòa tháp đôi vẫn còn đậm nét trong tôi, là động lực giúp tôi thêm can đảm. Nhưng đôi lần, sau những trận đột kích chớp nhoáng, chứng kiến những cảnh tượng đau lòng, tôi bắt đầu tự hỏi tôi đang làm gì? Và tại sao cần thiết phải làm như vậy? Có chính nghĩa hay không khi phải giết tất cả những người có mặt trong những sào huyệt đó? Một hôm, trong một chuyến công tác, chúng tôi cố hoàn thành công việc thật nhanh rồi rút lui, nhưng không kịp nữa rồi. Trên con đường rút lui độc đạo, một bên là vách núi, một bên là giòng suối. Chúng tôi rơi vào bẫy phục kích của địch. Cả ngôi làng bên kia bờ nước, chúng tấn công chúng tôi bằng hàng loạt đạn nổ vang rền. Một đồng đội ngã xuống vì bị bắn tỉa. Chúng tôi nằm rạp xuống sau những tảng đá ven bờ suối chống trả kịch liệt trong khi xin tiếp viện. Chúng tôi nằm chịu trận, không ngóc đầu lên nổi, và chờ vòng vây ngày càng xiết chặt. Thêm vài đồng đội bị thương nặng khi cố gắng mở đường máu. Bất chợt, chúng tôi nghe rõ tiếng nhiều chiếc trực thăng Apache và Black Hawks bay đến cứu viện. Những tiếng nổ và cột lửa bốc lên cao. Cả ngôi làng chìm trong biển lửa. Chúng tôi mở đường chạy đến địa điểm an toàn, mang theo những đồng đội tử thương. Cuối cùng chúng tôi cũng về đến căn cứ trong bộ đồ chiến dơ bẩn dính đầy bụi và máu của bạn bè và của chính chúng tôi.
Tôi: Tôi im lặng nghe JF kể chi tiết về những vụ đột kích, lùng kiếm và tiêu diệt địch trong những sào huyệt (strongholds), đôi khi phải phá hủy toàn bộ ngôi nhà mà không cần biết những ai đang ở trong đó, vì không giết thì mình sẽ bị giết khi chúng bắn trả; về những việc phải làm để xác nhận ID (identity) của tên khủng bố cần bắt sống, nhưng không thể đem xác chết của hắn theo khi rút lui. Tôi không dám kể hết ra đây vì nó quá sức tưởng tượng của tôi và của bạn, và vì nó tàn nhẫn quá. Ai cũng nghĩ là lính thì hiếu chiến, khi ra trận bắn giết không đắn đo, không suy nghĩ; thực ra người lính là những người luôn mong muốn hòa bình. Họ là những người hay cầu nguyện nhiều hơn ai hết. Họ cầu nguyện vì họ biết họ sắp sửa đi vào chỗ chết. Họ là những người đi vào cuộc chiến, cả tinh thần lẫn thể xác. Bản thân tôi, trước khi đi, tôi cũng thường cầu nguyện cho được trở về an toàn. Bọn chúng vẫn hay bắn và pháo kích vào nơi chúng tôi ở, có khi vài lần trong 1 tuần. Có những đêm nằm dưới gầm giường tránh đạn, tôi nhớ đến Khánh Ly với bài hát “đại bác đêm đêm dội về thành phố…” của những năm xa xưa lắm trên quê hương tôi. Tôi hay nói với JF chúng ta có thể thắng cuộc chiến, nhưng thua mất sự bình an trong tâm hồn, (we may have won the war, but lost the peace); nếu mình muốn hòa bình, thì phải chuẩn bị chiến tranh thôi (Si vis pacem, para bellum= If you want peace, prepare for war). Chiến thắng nào cũng có cái giá phải trả của nó. Tôi hy vọng điều này giúp anh ta đỡ ray rức, bớt tự dằn vặt và cũng là tự an ủi chính tôi.
JK:
Một buổi lễ truy điệu những đồng đội hy sinh trong sứ mệnh vừa qua trong căn cứ chúng tôi đóng quân. Giữa sân trại, một lá cờ tổ quốc được giăng tạm phía sau chiếc Humvee. Hai bên là những bao cát nhỏ với đôi giày trận, cây súng chống ngược xuống, trên đó là cái nón sắt (helmet) và 1 giây thẻ bài (dog tag) với số quân và nhóm máu. Viên chỉ huy nói vài lời vinh danh và vĩnh biệt những đứa con yêu của tổ quốc. Người tuyên úy quân đội cầu nguyện và cử hành nghi lễ. Chúng tôi, từng người, tiến lên thì thầm lời chia tay với bạn mình. Không khí nghiêm trang, thinh lặng, buồn thảm mà uy nghi. Thằng bạn tôi, mới hôm qua còn vui đùa với tôi mà nay đã không còn nữa. Chúng tôi khiêng nó lên được trực thăng medivac (cứu thương) để trở lại căn cứ. Trong hơi thở thều thào, nó hỏi tôi sao ngón tay tao lạnh quá. Một hồi sau, nó lại nói ngón chân và bàn chân tao sao lạnh quá, rồi nó chìm trong hôn mê chỉ trong vòng 20 phút sau đó và không bao giờ thức dậy nữa vì vết thương TBI (traumatic brain injury) quá nặng ở đầu. Nước mắt tôi thầm lặng rơi. Cái chết của nó để lại một dấu ấn không quên trong lòng tôi.
Tôi: Tôi cũng hay tự hỏi rằng những người chiến đấu ngoài mặt trận phải trực diện với cái sống và cái chết; còn những người chiến đấu không trực tiếp như người lính điều khiển máy bay không người lái, mang hỏa tiễn đi tiêu diệt những mục tiêu đã được quan sát và theo dõi kỹ lưỡng thì sao? Ngoài mặt trận, người lính trực tiếp lẩy cò súng; người điều khiển UAV, sau khi ấn nút, qua màn hình chỉ thấy những bóng người mờ mờ bị tung lên cao, lương tâm của ai đỡ cắn rứt hơn ai? Vẫn biết chiến tranh lúc nào cũng đi đôi với chết chóc và tàn phá, nhưng trong tôi, trong tận cùng trái tim của JF, vẫn còn những thổn thức của một con người. Trong những sào huyệt, những căn nhà mà trong đó có cả gia đình của những tên khủng bố nguy hiểm, còn có đàn bà và trẻ em. Tôi kể JF nghe về trận thảm sát ở Mỹ Lai (6) trong cuộc chiến Việt Nam để anh ta có thể so sánh với những gì xảy ra trong cuộc chiến hiện nay. Mỗi lần đọc lại biến cố này, tôi vẫn còn khóc cho quê hương tôi. Cả hai, cộng sản và khủng bố giống nhau, họ nghiên cứu kỹ càng và xử dụng thường dân vô tội làm bia đỡ đạn cho chúng. Tôi luôn tự hỏi tất cả chúng ta, những con người không phân biệt chính kiến, đôi khi làm điều tệ hại vì những lý do cao cả hơn? (we are sometimes doing bad things for good reasons). Trong phi trường chúng tôi ở và đóng quân, vẫn còn một chiếc vận tải cơ Antonov của Nga Sô còn bay được, những tòa nhà của bọn Taliban đóng quân, vẫn còn y nguyên những dấu tích, những chữ viết trên tường của bọn chúng. Tôi bước vào một ngôi nhà thờ Coptic Orthodox Church bị tàn phá bởi bọn cuồng tín này. Chúng bắn vỡ những tượng thánh, đào mả những linh mục, thậm chí dùng đục để phá đi những giòng chữ tạc vào cây thập tự giá được viết bằng ngôn ngữ Aramaic (7) là thứ ngôn ngữ mà Chúa Giê Su từng dùng để giảng dạy ngày xưa. Bọn này ẩn nấp trong những nhà thờ, nhà thường dân vì chúng biết khi quân đồng minh tấn công, họ sẽ không dám bắn vào những nơi thờ tự cho đến khi chắn chắn là không có thường dân hoặc tu sĩ trong đó (luật chiến đấu “rules of engagement”). Nhưng trong chiến tranh, vẫn có sự nhầm lẫn dẫn đến chết chóc cho thường dân. Vì thế, trực tiếp hay không trực tiếp cầm súng bắn vào mục tiêu vẫn là câu hỏi của lương tâm và câu trả lời rất là gây tranh cãi tùy theo tâm trạng và hoàn cảnh của người lính. JF: Ngày tôi trở về nhà, tâm thần tôi bất ổn. Cuộc sống không còn được như ngày trước khi tôi lên đường. Vợ con xa lánh tôi. Vợ tôi không chịu nổi tánh khí bất thường của tôi, nàng không hiểu tôi và bỏ đi lấy chồng khác. Tôi không buồn nhưng cũng không trách gì cô ấy. Tôi bị xâu xé ra từng mảnh bởi những cảm giác tương phản nhau, khi thì cảm thấy tội lỗi, khi thì tự hào, rồi tôi buông xuôi. Tôi uống rượu nhiều, hút cần sa, và không muốn giao tiếp với bất kỳ ai. Tôi đóng cửa tâm hồn tôi thật chặt. Họ bắt buộc tôi phải tham gia những lớp học cố vấn tâm lý, làm cách nào hội nhập với đời sống dân sự. Họ luôn hỏi tôi những câu làm tôi bực mình như: “Anh có ý định tự hành hạ bản thân anh không?”. “Anh có ý làm thương tổn người khác không?”. “Tại sao anh không thể sống bình thường như trước?” v…v… Quá nhiều câu hỏi làm tôi mệt nhoài và bực tức. Tôi muốn hét lên tại tụi bay không từng đi qua những đoạn đường tao đã qua, nên tụi bay không thể hiểu nổi đâu. Tôi phải uống cả một nắm thuốc mỗi ngày, thân xác tôi bồng bềnh, linh hồn tôi phiêu du, tôi chẳng màng đến bất cứ một điều gì, tôi càng tự cô lập tôi ra khỏi xã hội. Tuy nhiên, tôi chỉ chọn thái độ im lặng, nhẫn nhục cho đến khi tôi gặp nàng. Nàng là nữ y tá trong bệnh viện VA của cựu chiến binh (Veteran Affairs) và làm việc trong khu counseling (cố vấn tâm lý). Nàng đến với tôi dịu dàng như một thiên thần với mái tóc huyền dài chấm lưng và một nụ cười tươi mát với đôi má lúm đồng tiền thật sâu. Nàng kiên nhẫn nghe tôi kể chuyện và trút nỗi lòng. Nàng không bao giờ hỏi tôi những câu hỏi bài bản nghề nghiệp vẫn thường làm tôi nổi nóng. Nàng khéo léo, nhẹ nhàng, và dần dần đưa tôi trở lại với chính tôi của những ngày trước. Tôi bớt uống rượu và bỏ hẳn hút sách. Tôi dần lấy lại niềm tin, và bước ra khỏi vỏ bọc của sự trầm cảm. Nàng là tất cả đối với tôi, tôi đã yêu nàng từ những phút đầu khi vừa thấy nàng với chiếc áo blouson trắng.
Tôi: Sau chuyến công tác, JF và tôi về lại Mỹ cùng ngày trên chuyến bay Philippine Airlines đáp xuống phi trường Narita, Nhật Bản. Sau khi qua hải quan và lấy hành lý xong, chúng tôi còn đang ngó quanh, thì một phụ nữ trẻ người Nam Mỹ, với làn da nâu và mái tóc dài đen nhánh bước vội về hướng chúng tôi, vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc. Tôi chợt thấy trên khuôn mặt không quen đó, một nụ cười tươi với đôi má lúm đồng tiền thật sâu mà anh bạn đồng hành đã kể trước đây. Họ lao vào nhau, quấn quýt với nụ hôn tưởng như không muốn dứt. Anh bạn tôi đã mua vé cho nàng bay từ Mỹ đến Narita để gặp nhau. Hai người sẽ cùng bay qua Bali, Indonesia để cùng nhau tận hưởng những giây phút bên nhau sau một thời gian dài xa vắng. Sau đó, đôi uyên ương sẽ bay về Mỹ, nơi căn nhà nhỏ xinh đẹp đang chờ đợi họ. Chúng tôi cùng đón taxi về khách sạn. Ngày hôm sau tôi bay về Mỹ, họ còn ở lại Narita vài hôm, rồi sẽ bay qua Jakarta, Indonesia. Người lính chiến đấu không phải vì tiền tuyến phía trước mà vì hậu phương phía sau anh ta, vì sự thanh bình yên vui cho những người thân yêu và cho tổ quốc của mình. Chỉ có tình yêu thương, sự thông cảm sâu sắc từ người mình yêu, gia đình, bạn bè, hàng xóm, đất nước, và con người mà người lính đã chiến đấu cho họ và vì họ, mới có thể dìu dắt một tâm hồn tan nát, đầy vết thương của người lính trở lại cuộc sống bình thường. “There is no greater love than this – That a man should lay down his life for his friends” (John 15:13) Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người chết cho những người mình yêu. Xin mọi người đừng nhìn người lính với những tia nhìn nghi ngại và kỳ thị, mà hãy giang rộng vòng tay đón họ trở về trong yêu thương và an ủi, vì trên thân thể anh là những vết thương có thể lành được, nhưng hơn hết là những vết thương trong lòng cần có thời gian để khép miệng lại trong vòng tay của mọi người.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.