Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 11)

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Post by Sơn râu 21 Sep 2024

PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31 

Khoảng 16g00 đợt tấn công thứ nhì tái phát mạnh hơn trước, hàng chục chiến xa địch nối tiếp nhau bao vây căn cứ Hỏa Lực 31 mang cả biển người theo sau và hai bên hông xe.

Ngồi tại Đài Tác Xạ, tôi chú tâm theo dõi từng giây phút với sự hồi hộp cực độ. Những tràng AK, những tiếng nổ chát chúa của M79 cùng lựu đạn hòa lẫn, vang dội trong ống nói mỗi lần Bạch Phú và Huyền Phú liên lạc với nhau. Không khí tại Đài Tác Xạ chúng tôi thật là nặng nề khó thở!

Súng nổ vài phút, Đại Úy Đương báo cáo khẩn cấp:

– Bạch Phú!… Bạch Phú!… đây Huyền Phú… Việt cộng tràn lên bãi trực thăng đông quá! 5 con gà của tôi bị hỏng hoàn toàn! Còn 1 con thôi! Tôi ra trực xạ đây!

Không ngờ, đó là lời nói cuối cùng của Đại Úy Nguyễn-Văn-Đương người bạn Tiền Sát Viên khả ái của tôi — và cũng là người hùng của căn cứ Hỏa Lực 31 — mà từ nay không bao giờ, sẽ không bao giờ tôi được hân hạnh bắt tay anh nữa!

Từ căn cứ Hỏa Lực 30, dùng ống nhòm nhìn về căn cứ Hỏa Lực 31, tôi thấy rõ những cột lửa, khói bốc cao, hậu quả của cuộc chiến đấu đẫm máu, quyết liệt làm cho lòng tôi se lại, âu lo!…

Chắc chắn bây giờ các bạn tôi đang bối rối trong chiến đấu đơn độc một mất một còn với Cộng quân.

Đến 16g15 tôi bắt được tiếng nói cuối cùng, nghẹn ngào và ngắt quãng của Đại Úy Hà-Minh-Phương, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù:

– Thành thật cho chúng tôi cám ơn các bạn… đã tác xạ… hết mình cho chúng tôi… Nhưng bây giờ… không còn cách nào… cứu vãn được nữa… Vĩnh biệt các bạn!… Vĩnh biệt các bạn!…

Bỗng dưng một cái gì ớn lạnh chạy dài xuống dọc tủy sống, xông lên ót tôi, hai bên thái dương ê như kim châm, chẳng khác một tia điện thoáng nhanh trong phút chốc lan khắp cơ thể tôi. Tôi sững sờ buông tiếng:

– Trời ơi!… thôi hết rồi!… Hết rồi căn cứ 31!…

Không khí im lặng vô cùng nặng nề, phút chốc tràn ngập nhanh đè nặng tâm tư của mọi nhân viên hiện diện tại Đài Tác Xạ. Không ai bảo ai, mỗi người đều đồng một thái độ: kéo dài phút im lặng… hồi tưởng lại những tiếng nói quen thuộc xin tác xạ của Bạch Phú trước đây… Hầu như tâm tư mỗi người đang theo đuổi một suy tư riêng trước tình hình đen tối của căn cứ Hỏa Lực 31!

Một lần nữa, tôi như người mất hồn, như sống trong mộng!… thực hay mơ đây! Căn cứ Hỏa Lực 31 với toàn Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù và BCH/TĐ 3 PB Dù lại có thể bị địch tràn ngập ư?

…Mặt trời hôm nay lặn chậm thế? Màn đêm ngập ngừng buông xuống đó đây… nặng trĩu… nặng trĩu… chẳng khác nỗi ưu tư đang đè lên tâm hồn tôi!…

Bên ngoài, địch pháo kích đều đều!

Bữa cơm tối, mãi đến 21g00 tôi vẫn không buồn nhìn! Miệng tôi trở nên đắng khó chịu. Ngồi trong hầm các sĩ quan mỗi người theo đuổi một ý tưởng riêng… Tiếng rên rỉ xin nước uống của Thiện ở hầm bên cạnh vọng lại làm cho lòng tôi thêm se thắt.

– Đại Bàng ơi! Đại Bàng… có thương thằng em thì cho thằng em một hớp nước! Khát quá! Khát quá… Trời ơi!… Ôi! nhức quá trời ơi!…

Tiếng « trời ơi » thống thiết của Thiện cứ nối nhau thoát ra miệng hầm dội vào tai tôi! Tôi không dám ra mặt, tôi không đủ can đảm bước sang hầm Thiện nữa! Bác sĩ bắt buộc tôi phải cấm ngặt không cho Thiện và các pháo thủ bị thương uống nước, ông dặn đi dặn lại khi chiều:

– Đại Úy phải cấm, đừng cho anh em bị thương uống nước, nhất là Thiện, Trợ, Đề. Hễ Đại Úy cho uống nước thì không cách gì cầm máu được mà máu ra nhiều thì chết đấy!

Nơi Thiện nằm lại sát với Đài Tác Xạ. Những lời bàn tán về tình hình căn cứ Hỏa Lực 31 của các nhân viên tác xạ hẳn đã lọt vào tai Thiện, điều mà tôi lo ngại nhất! Vì e rằng Thiện sợ hãi sẽ nguy hiểm đến tính mạng, bởi vết thương khá nặng đang hành hạ nó!

Tôi ra lệnh cho HS Cang, y tá Pháo đội túc trực bên ghế bố Thiện đang nằm để săn sóc. Trong hầm không có một tí ánh sáng, chỉ có tiếng rên rỉ của Thiện nổi bật trong đêm tối!

Cầm lòng chẳng được, tôi gọi Cang đi lấy cho Thiện một cốc nước. Cang «dạ» thật to, nhưng lại bước vội qua hầm tôi, kề tai tôi nói nhỏ:

– Thưa Đại Úy, chứ Đại Úy không nhớ lời dặn của Bác Sĩ Quân Y khi chiều sao? Hễ cho Thiếu Úy uống nhiều nước thì máu ra không cầm nổi đâu!… Tôi lo quá! Thiếu Úy ổng nằm sắp máu bên hông cứ trồi lên chảy thấm cả ghế bố!…

– Tôi hiểu! Nhưng nó rên quá, tôi xót ruột lắm! Thôi anh đem một miếng bông qua đây nhúng vào ly nước của tôi, đưa cho Thiện nó ngậm đỡ!

Lân ngồi trước tôi với vẻ mặt buồn bã, lo âu không thốt một lời!… Bình thường Lân ít nói, lúc bấy giờ Lân lại ít nói hơn nữa. Có lẽ Lân sống bằng nội tâm nhiều hơn tôi. Giữa hai đứa tôi thật có khác nhau, khá xa về lối giao tế. Lân điềm đạm hay cân nhắc từng ý kiến khi trình bày bất cứ một vấn đề gì. Tôi thì trái lại, mọi việc tôi giải quyết bô bô. Tính tôi thường bộc lộ như chính tôi muốn moi cả tim ruột cho mọi người thấy lòng chân thật của mình — dù điều ấy có là tốt hay xấu! Giận ai tôi không bao giờ để bụng, thương ai tôi cũng không biểu lộ tình thương bằng lời nói hoặc cụ thể bằng hành động cử chỉ.

Tôi bảo Lân:

– Khổ quá! Bây giờ tính làm sao đây? Khi chiều tôi đã xin và được Đại Úy Hạnh can thiệp ngay với Bộ Tư Lệnh Dù cấp trực thăng tải thương, để đưa mấy anh em bị thương về Quân Y Viện cho nhẹ gánh. Nhưng chưa có kết quả nào! Rủi đêm nay bọn chúng tấn công vào đây và trường hợp bắt buộc phải rút bằng đường bộ thì làm sao cứu Thiện với các binh sĩ của mình?

Im lặng một chút, Lân tiếp:

– Vạn nhất có trường hợp không may như thế xảy đến, lúc đó phải cõng đi chứ biết làm sao! Đại Úy cứ bình tĩnh để anh em khỏi xao động. Tôi sẽ họp các Khẩu Trưởng rồi phân công cho từng Khẩu lo.

Nhìn qua Ngân, anh ta ngồi im không góp ý.

Cang cho Thiện ngậm miếng bông tẩm nước xong, bước trở lại hầm tôi, kề tai tôi nói nhỏ:

– Thưa Đại Úy, Thiếu Úy Thiện dỗ tôi tìm đưa cho ổng khẩu Colt… Tôi sợ ổng muốn tự sát quá!

Cùng lúc đó, có lẽ Thiện không hy vọng gì Cang nghe lời đi tìm súng, nên Thiện hét lớn với giọng Huế giận dữ, uất ức:

– Nhức quá!… Trời ơi!… Nhức quá!… Đại Bàng có thương tôi thì bắn cho tôi một phát… một phát thôi!… Ôi! Nhức quá trời ơi!… Tôi chịu không nổi nữa Đại Bàng ơi!…

Hơn bao giờ hết, ruột tôi như ai đem chặt ra từng khúc. Tôi đau xót như chính Thiện đau xót. Tôi khóc! Lần đầu tiên chỉ huy tại trận chiến, tôi đã khóc vì Thiện! Một sĩ quan đa năng, bất chấp mọi khó khăn vất vả, góp phần đắc lực trong việc tổ chức Pháo Đội, là đứa em tôi thương mến đặc biệt, là một sĩ quan cộng sự trung thành của tôi trong 6 tháng qua, giờ đây lại khẩn cầu tôi ban ân huệ: Một phát súng!

Lời nói ấy tạo cho tôi một ý niệm quá rõ rệt về cảm giác đau đớn tột độ của Thiện cơ hồ xác thịt không còn chịu đựng nổi!

Lân khuyên tôi:

– Đại Úy đừng khóc, vẫn biết Đại Úy thương Thiện đấy, nhưng còn bao nhiêu binh sĩ nữa! Đại Úy cần giữ bình tĩnh để chỉ huy anh em, nhất là trong lúc này.

Nghe lời Lân, nhưng tiếng rên rỉ của Thiện tôi không thể xua đuổi ra ngoài tai tôi! Tôi khổ sở hơn bao giờ hết!

Cùng lúc, máy PRC-25 có tiếng gọi của Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Tự, Tiểu Đoàn Trưởng của tôi, tôi mừng như bắt được vàng. Tôi cố gắng liên lạc qua giọng nói nghẹn ngào:

– Tôi xin Phượng Hoàng, với bất cứ giá nào, phải can thiệp cho được một phi vụ tải thương để đưa các anh em bị thương về cứu chữa. Phần tôi, tôi chấp nhận mọi nguy hiểm dù có hy sinh, tôi không tiếc. Nhưng tôi không thể nghe tiếng rên xiết đau đớn của Thiếu Úy Thiện. Tội nó quá, Phượng Hoàng cố gắng lo cho nó gấp đi.

Giọng khàn khàn ở đầu máy bên kia, kết quả của những đêm Thiếu Tá Tự không ngủ vì lo lắng và la hét đôn đốc nhân viên thực hiện công tác tiếp tế kịp thời cho Pháo Đội tôi cùng Pháo Đội Đại Úy Vẹn.

– Anh yên trí! Tôi biết tình cảnh của anh rõ lắm. Tôi đang lo đây, sáng mai, thế nào cũng có phi vụ tải thương lên cho anh…

Một cuộc họp khẩn cấp Thường Vụ và Khẩu Trưởng được triệu tập tại hầm tôi. Tôi thuật qua tình hình trầm trọng đã xảy ra cho căn cứ Hỏa Lực 31, xong, tôi chỉ thị kế hoạch đối phó khi địch tấn công vị trí, phân công trực xạ cho các Khẩu, mỗi Khẩu phụ trách khiêng hoặc dìu một thương binh, nhân viên truyền tin, tác xạ cũng thế.

Trung Sĩ Thìn báo cáo:

– Khẩu tôi mất Hạ sĩ I Đới! Không biết ảnh đi đâu từ trưa tới giờ không thấy về ăn cơm!

Thế rồi người bàn ý này, kẻ góp ý nọ, nghi ngờ anh ta bu theo trục thăng trở về Khe Sanh trước bữa cơm trưa. Nhưng sự thật, không ai biết anh ta ở đâu cả!

Tôi bảo HSI Bách khẩn liên lạc với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, nhờ xác nhận có HSI Đới ở đấy không. Lát sau, được nhân viên Tiểu Đoàn 44 PB trả lời: Suốt ngày hôm nay không có một binh sĩ nào của Pháo Đội C chúng tôi về Khe Sanh!

Tôi đâm nghi ngờ và nghĩ đến những chuyện rủi ro có thể xảy ra cho HSI Đới trong những đợt pháo kích khủng khiếp vào vị trí từ sau 12g00 trưa đến chạng vạng tối. Nhưng tôi không dám bày tỏ ý nghĩ ấy cho anh em biết — chẳng qua đó chỉ là một nghi vấn.

Sau đấy, mọi người rời khỏi hầm. Trong hầm chỉ còn tôi, Lân và Ngân. Tôi cho nhân viên đi mời Trung Úy Kim (D.L.O của BĐQ).

…Gặp tôi, Kim vội hỏi:

– Thầy gọi tôi có việc gì cần không?

– Không có gì cần cả. Tại sao khi trưa em không theo Tiểu Đoàn 21 BĐQ về cho rảnh. Bây giờ BĐQ rút hết, em còn nhiệm vụ gì nữa mà ở lại đây cho nguy hiểm?

– Tôi chưa được lệnh gì cả. Tôi có hỏi Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn tôi, nhưng chưa có lệnh lạc gì mới. Thiếu Tá Hàng bảo tôi cứ chờ!… chờ!… thành ra tôi không dám về.

Kim tiếp:

– Thôi thì ở lại với thầy cho vui vậy.

– Trong lúc đợi lệnh mới, em qua đây ngủ với tôi cho bảo đảm.

– Hầm tôi đằng kia cũng chắc chắn lắm. Mấy tấm PSP của thầy cho, tôi cho gác lên trên và sắp bao cát dày lắm. Ở đó, tôi còn có hai thằng “tà lọt” nữa.

– Nhưng qua đây cho tiện, dầu sao với hai máy PRC-25, mình có thể liên lạc và nghe ngóng tình hình được nhiều nơi, thuận lợi hơn.

Nghe tôi nói có lý, Kim về gọi “tà lọt” mang các sắc và máy qua tá túc với tôi. Kim ngã lưng chung với Lân — vì là bạn đồng khóa của Lân — còn Ngân thì trải bản đồ, nằm ngay dưới đất.

Khoảng 22g00, Kim ra khỏi hầm nhìn vớ vẩn, bỗng thấy một đoàn Molotova địch pha đèn di chuyển, cách căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi non 4 cây số ở hướng Bắc-Tây Bắc. Kim gọi bọn tôi ra xem.

Trên “xa lộ” Hồ Chí Minh từng chiếc vượt qua một cái eo thẳng hướng vào căn cứ chúng tôi để lộ đôi đèn pha chọc thủng màn đêm — Đó là những đoàn xe vận tải nặng, di chuyển tiếp liệu phẩm chiến tranh của Cộng quân. Đoàn xe khá dài. Bọn chúng tôi có thể đếm được từng chiếc…

Tôi gọi máy xin Trung Tá Thạch và được chấp thuận cho chúng tôi tác xạ vào đấy. Đồng thời tôi cũng gọi điện thoại báo cho Trung Úy Nguyễn-Bá-Trí ra quan sát.

Lúc bấy giờ, cả Trí và tôi nhận sự chỉ huy của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù. Pháo Đội tôi cải danh hiệu là 93.

Khẩu 3 và khẩu 4 thi hành tác xạ ngay. Khi đạn nổ, tại mục tiêu những ánh đèn pha tắt rụi… nhưng sau đó, ánh sáng lại vẫn tiếp tục soi đường di chuyển.

Ban ngày địch pháo kích khủng khiếp bao nhiêu thì ban đêm, trái lại, yên tĩnh bấy nhiêu. Địch sợ lộ mục tiêu chăng? Hay đang thi hành kế hoạch tiến quân bám sát vòng đai phòng thủ căn cứ? Thật khó hiểu!

Trở lại hầm, chúng tôi ngồi bàn luận đủ chuyện. Ngân táy máy rà tần số làm việc của Bạch Phú, bỗng nghe tiếng nói rất khẽ của Trung Tá Bùi-Văn-Châu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù từ căn cứ Hỏa Lực 31 gọi cho Tiền Sát Viên của các Đại Đội Tiền Đồn kế cận (những Đại Đội này chưa bị địch tràn ngập):

– Tôi đang bịt kẹt… trong góc… hầm chỉ huy… làm thế nào… cứu tôi với… Việt cộng trên đầu tôi nhiều lắm…

Giọng nói thật nhỏ như hơi gió! Có lẽ Trung Tá Châu rõ hơn ai hết những nguy hiểm của một tiếng động do Trung Tá tạo ra sẽ tai hại cho sinh mệnh Trung Tá tức khắc.

Lúc sẩm tối, tôi được Trí báo cho tôi về việc sống sót hi hữu của Trung Tá Châu… nhưng liên tiếp tôi phải giải quyết nhiều vấn đề của Pháo Đội nên không thể theo dõi được.

Bây giờ, chính tai tôi và các Sĩ quan có mặt tại hầm nghe lời kêu cứu của Trung Tá, bỗng dưng chúng tôi im lặng nhìn nhau ngơ ngác, lại sợ cả tiếng động phá tan lời kêu cứu của Trung Tá! Cuộc đối thoại của Tiền Sát Viên, của các thẩm quyền thuộc các Đại Đội tiền đồn và Trung Tá Châu cho chúng tôi nhiều tưởng tượng về khung cảnh nguy hiểm mà Trung Tá đang sống.

Khoảng giữa khuya, có tiếng liên lạc… có lẽ từ phi cơ gọi xuống, đại khái, trên phi cơ ban hành một lệnh khẩn cấp…!

– Lệnh của Bạch Long (1)… Đại Đội… phải tìm cách đột kích vào cứu Trung Tá Châu ngay trong đêm nay…

[(1) Bạch Long: Danh hiệu của Trung Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, xử dụng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719]

Bạch Long là danh hiệu của Trung Tướng Dư-Quốc-Đống, người anh cả khả kính của Binh Chủng Dù đã luôn luôn theo sát bước chân của đàn em trong những giờ phút quyết liệt tại trận chiến với những lo âu chân thật của một vị tướng giàu tình thương binh sĩ thuộc hạ. Sau lệnh ấy, Đại Đội Tiền đồn liên lạc thường xuyên với Trung Tá Châu, đồng thời tìm cách tiến dần về căn cứ Hỏa Lực 31… Đến 2g00 ngày 26-2-1971, tiếng nói của Trung Tá Châu tắt hẳn! Tôi nghe rõ câu hỏi qua giọng nói nghẹn ngào đứt quãng của Đại Đội này:

– Đích thân!… Đích thân!… Đích thân còn ở đầu máy không?… Nếu còn xin Đích thân thổi vào máy một hơi! Hãy thổi vào máy một hơi để chúng tôi biết chừng!… Chúng tôi đang cố vào với Đích thân đây.

Im lặng một chút, vẫn không có tiếng trả lời, dù chỉ là một hơi thổi vào ống nói! – Đích thân!… Đích thân!… (giọng nói run rẩy ở đầu máy)… chết tôi mất!… Làm sao thi hành lệnh của Bạch Long… làm sao báo cáo cho Bạch Long đây!… (giọng run rẩy đến lúc này đã trở thành tiếng thổn thức)… Đích thân!… Đích thân!… nếu chưa lọt vào tay địch, xin đích thân ráng thổi vào ống nói cho chúng tôi một hơi! Trời ơi!… chết tôi mất!… Tình đồng đội từ một vị tướng lãnh cho đến một binh nhì của binh chủng thể hiện tha thiết trong mưu đồ giải cứu Trung Tá Châu hơn bất cứ lúc nào!Tất cả chúng tôi lặng người! Trân tráo nhìn nhau thở dài, thương xót cho số phận mong manh của Trung Tá Châu!

Trung Tá Châu đã đền nợ nước hay bị địch quân khám phá, bắt được tại góc hầm chỉ huy đưa đi làm tù binh? Tôi chắc chắn không ai dám quả quyết, nếu không phải cùng cảnh ngộ với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù.…Lác đác, tiếng súng AK quanh căn cứ Hỏa Lực 30 bắt đầu khuấy rối vòng đai phòng thủ. Một trận mưa B52 cách vị trí chúng tôi khoảng hơn 1 cây số ở hướng Bắc, trải dài từ Đông sang Tây, làm thành một bức màn lửa, nối tiếp với những tràng tiếng nổ kinh khủng, chớp nhanh, sáng rực cả một vùng. Tiếng động làm lay chuyển tất cả hầm hố tại vị trí…Phi cơ soi sáng tiếp tục thi hành nhiệm vụ trên không phận chúng tôi mãi đến 6g30 sáng.

7g00 ngày 26-2-1971, anh em Dù đi kiểm soát lại hệ thống mìn ven bãi trực thăng, bỗng phát giác thi hài của HSI Đới nhờ cái huy hiệu mang ở cánh tay trái.TSI Bình cùng một số nhân viên ra lượm chân và gói xác Đới vào một cái poncho. Đới chết vì địch pháo kích trong lúc anh đang đi tiêu. Đạn rơi ngay vào chỗ ngồi của anh, phía dưới hầm đạn chính của Pháo Đội. Anh bị đứt lìa cả nửa người. Có lẽ anh đã chết ngay sau tiếng nổ.Tổng kết lại, đến bây giờ tôi đã thiệt một binh sĩ và bị thương 7, hoàn toàn vì đạn pháo kích của địch.

Suốt buổi sáng, nhân viên các Khẩu lẩn quẩn trong hầm hoặc cộng sự — vì bây giờ địch pháo kích đủ loại kể cả súng bắn thẳng. Đến 10g00 trực thăng tải thương sà thấp để đáp xuống bãi… cùng lúc, đạn pháo kích rơi ngay bãi đáp! Bắt buộc trực thăng phải bốc lên, không kịp nhận thương binh nữa.Gần 1 giờ sau, bãi đáp số 2 được thiết lập khẩn cấp ở phía Nam, ngay bên ngoài vòng rào phòng thủ vị trí Pháo Đội, khuất sau một đám cây dày và thấp ở hướng Đông. Nhờ vậy, chúng tôi chuyển được tất cả anh em bị thương về hậu cứ — kể cả xác của HSI Đới. Khổ sở nhất là việc tải thương cho Thiện! Mảnh đạn lớn ăn sâu vào hai mông, chân, làm Thiện không thể nằm ngửa được để khiêng bằng băng ca. Cửa hầm ngủ lại quá hẹp, bên ngoài địch pháo không dứt…Cuối cùng, TS Đức tình nguyện cõng Thiện chạy xuống bãi đáp mới.

Lúc trở về, mặt Đức tái xanh vì mệt ngất, mồ hôi nhể nhại khắp cả đầu, cổ, mình mẩy. Nhìn Đức, tôi cảm động quá, tôi ôm đầu nó vào ngực vừa mừng, vừa tủi. Đức tuy nhỏ người, trẻ, nhưng can đảm và dạn dĩ như kẻ đã từng trải chiến trận.Bình thường, lúc Pháo Đội còn đồn trú tại Quảng Nam, Đức có tiếng là lười và hay “dù” đi chơi lắm. Thế nhưng, từ lúc qua Lào, có lẽ bí đường “du hí” hắn ta lại hăng say làm việc hơn bất cứ một Hạ sĩ quan tác xạ nào, lại nêu cao tình đồng đội trong việc giúp đỡ bạn bè làm công tác, không nề hà vất vả.

Hoàn tất việc tải thương, tôi thở phào nhẹ nhõm vì đỡ được một nỗi lo. Giờ đây, tất cả chúng tôi rảnh tay để đối phó với tình hình mới.

Khoảng 12g00, một quả đạn pháo kích rơi vào bên trong miệng hầm khẩu 2. Tất cả pháo thủ nhào ra bằng một ngách nhỏ, nhảy vội sang hầm khẩu 4. Hai nhân viên chạy sau cùng bị cháy áo giáp, vừa lủi vừa cởi bỏ, nhưng may mắn chưa bị thương.

Cứ thế, các pháo thủ xử dụng hầm này đến hầm khác, nếu hầm trước bị sụp hoặc bị cháy.

Bên vị trí Pháo Đội C3 Dù, càng lúc đạn pháo kích địch rơi càng chính xác vào các ụ súng. Sự thiệt hại về sinh mạng lúc bấy giờ chưa đáng kể, nhưng các hầm làm bằng dư liệu tác xạ như thùng gỗ, ống giấy… đã bắt đầu tác hại vì dễ bắt lửa.

Về chiều, mực độ pháo kích gia tăng, chúng vẫn xử dụng súng cối 82 ly, các loại đại bác 57 ly và 75 ly bắn thẳng vào vị trí. Các vị trí súng cối bộ binh của chúng mỗi lúc một di chuyển đến gần căn cứ hơn.

Tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Dù, Đại Úy Trần-Công-Hạnh khẩn đánh công điện xin các phi vụ B52 giải tỏa áp lực.

Trong những lúc ngớt pháo kích, khoảng vài ba phút, pháo đội lại ra sức tác xạ yểm trợ cho các cánh quân tái chiếm căn cứ Hỏa Lực 31. Tuy nhiên, công tác yểm trợ này gặp quá khó khăn nên Pháo Đội dẫu cố gắng tối đa vẫn không thể thi hành liên tục. Vì, sau vài quả đạn bắn đi, địch nghe tiếng “départ” của Pháo Đội, lại tiếp tục pháo kích, bắt buộc nhân viên phân tán vào hầm nấp.

Dây dưa như vậy cho đến tối chúng mới ngưng pháo kích. Phi cơ soi sáng trở lại với căn cứ chúng tôi từ 19g30 liên tục thả hỏa châu, soi sáng chiến trường. (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.  

(**) Là đại úy Nguyễn Văn Đương mà Nhật Trường viết trong phim kịch Trên Đỉnh Mùa Đông, các ca khúc Anh Không Chết Đâu Em, Người Chết Trở Về.

Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Ký Thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 21 Sep 2024

Google photo

4. Ba sao giữa giời

Bữa trưa nào xuống trạm ô-tô-buýt ở xóm Máy Đá, tôi 1 cũng thấy anh Hùng đứng sẵn bên bờ cỏ mà đợi tôi. Trời nắng chang chang, vậy mà hễ thấy dạng tôi, là mặt anh sung sướng và tươi như nhìn thấy trăng lên. 
Nếu tôi không kể rõ những điều sau đây, thì khó hiểu sự si mê tôi của anh Hùng lắm. 
Chúng tôi cùng học trường thuốc, và thường ngày vào xóm Máy Đá là nơi có viện cơ thể học, để mổ thây ma, những xác người vô chủ. 
Tôi học năm thứ nhì, còn Hùng thì mới qua khỏi năm chuẩn bị và kể như là đi vào học năm đầu. 
Trong kỳ đệ nhất tam cá nguyệt của năm đầu ấy, sinh viên, tuy chưa được mổ xẻ gì cả, nhưng được đưa vào buồng xác để xem mấy anh lớn làm nghề “đồ tể”, xin lỗi, danh từ nầy tôi dịch ngay ở một tiểu thuyết Pháp ra. 
Đây là giai đoạn thử thách sinh viên. Đoàn cá mới, sẽ vượt Vũ Môn được hay không là do ở đây. 
Nhiều anh mới qua khỏi cửa buồng, nhìn thấy xác một bà cụ móm xọm, bỗng đâm hoảng, nhảy nai, chạy mất và không bao giờ dám trở lại nữa. 
Có anh lấy giấy bọc tay lại, trước khi rờ thây ma, anh khác lại nôn ọe ầm lên khi bụng một xác người mở bung ra dưới một nhát dao mổ, và một thứ nước xanh xanh, vàng vàng từ trong đó chảy linh láng ra, trên bàn đá trắng. 
Hùng thuộc vào hạng chỉ dám đứng lấp ló nơi cửa cho đến giờ về. Tôi là bạn cũ của anh, nên hôm đó trông thấy mặt anh tái lét đứng dòm vô, tôi chạy ra kéo xển anh ta vào. 
Mấy anh lớn ác lắm. Muốn tập cho em út dạn thây ma, họ có những lối đùa nghịch đáng giận. Năm ngoái, chúng tôi cũng sợ sệt như vậy, lúc mới vào. Họ lấy kẹo cho chúng tôi ăn, lấy thuốc cho chúng tôi hút, cho khỏi buồn nôn. Chúng tôi vô tình, mắt nhìn họ làm việc, tay mở kẹo đút vào miệng, thì trời ơi đứa nào cũng mút phải một lóng tay người lạnh ngắt, mà mấy ảnh đã gói lại bằng giấy bóng nhiều màu. 
Được cái là bị một vố như thế, là hết sợ ngay, hết nhờm ngay. Năm nay, chúng tôi tới phiên làm anh hai (tức là người anh học năm thứ hai), nên cũng tái bản những trò đùa nghịch ấy. Hùng giận họ lắm, chỉ mến một mình tôi thôi, vì tôi không nỡ làm anh hoảng. 
Trong tiểu thuyết “Những Người áo Trắng” của Pháp, thấy nói sinh viên trường thuốc ở Ba Lê đánh giặc với nhau bằng quả tim, buồng phổi, bàn tay, trái tai của thây ma. Sinh viên Việt Nam tôi đứng đắn hơn, trọng xác chết hơn, nhưng không khỏi đùa chút ít, bỏ vào túi quần mấy anh mới vào một bàn tay cùi ngón, để cho họ nhảy lăng ba xem chơi. 
Hùng chỉ quanh quẩn theo tôi để được che chở, và chỉ yên lòng, khi vào viện một lượt với tôi, mặc dầu không phải vào đó là mổ liền. Còn phải nghe giảng nữa chớ. Nhưng biết đâu, những anh rắn mắt lại không đón anh ta ngay ngoài sân để dí vào mũi anh một cái đầu lâu? 
Cái anh chàng tên Hùng ấy, xem tướng thì cũng hùng dũng lắm đó, nhưng lại sợ ma số dách, và sợ vi trùng còn hơn nữa. Anh thú thật với tôi, đêm nào anh cũng chiêm bao thấy toàn đầu lâu và những xác người thiếu tay chân nhảy múa quanh anh. Anh không thể tin được rằng, chất fót-môn dùng ướp xác có đủ khả năng sát hết vi trùng trên các xác trong viện cơ thể học. Anh phải dùng mu-soa riêng để cầm lấy những khúc xương đã mòn lẳn trong tay sinh viên từ năm này qua năm khác. Khăn ấy, sau buổi học, được bỏ vào một chiếc túi có quai xách, và về nhà là anh nấu tất cả các thứ ấy. 
Để cắt nghĩa có một việc đón bạn, mà tôi kể lể dài dòng thế là vì…, thôi, rồi các bạn sẽ hiểu. 

Tôi lại phải nói vòng vo tam quốc về vụ này nữa. 
Hùng và tôi là bạn đồng lớp hồi Trung Học. Bây giờ anh thua tôi một năm, vì anh đã rớt Tú Tài toàn phần một niên khóa. Anh rớt vì anh bận yêu. Anh đã yêu một cô gái con nhà giàu, con của một nhà doanh nghiệp ở Sài gòn. 
Anh thi rớt xong, là cô gái bị gả cho con một ông nhà giàu khác. Ấy, cha mẹ cô không hay cuộc tình duyên thầm lén của cô, chớ không phải phụ chú rể hỏng thi đâu. 
Mà cô nọ cũng tệ, ngoan ngoãn đi lấy chồng như không có chuyện gì xảy ra cả. 
Hùng tức lắm, nhưng không làm gì được cô ta, anh trả thù bằng cách cho tôi biết, cô ấy, trên lưng có ba nốt ruồi, mà anh hay nói đùa với cô rằng đó là “ba sao giờ giời”. Tiếng “giời”, Hùng nói theo giọng Bắc, cho có vẻ Kiều. Hình như cuộc phát giác bí mật thầm kín của cô gái ấy, hơn một người được nghe. Tôi phải mắng Hùng, anh ta mới chịu nín. 
Nhưng sau đó, không rõ vì một lẽ bí mật gì, mà Hùng đau tương tư thật sự. 
Anh không thích nghề Y, nhưng vào đó học, cốt để quên. Sinh viên trường thuốc khổ nhọc hơn ai cả, có ngày vừa học, vừa hành đến mười tiếng đồng hồ, đó là nói sinh viên thường thôi. Nói gì đến bọn nội trú, ngoại trú thì họ làm việc đến cháy nhà bên cạnh cũng không hay. Làm việc như thế, còn trí óc đâu nữa để sầu tình. Hùng quả đã khôn ngoan lắm. 
Hôm ấy, hai đứa tôi cầm tay nhau vào viện cơ thể học. 
Tôi nói: 
– Lão giảng viên cao giò bên anh hôm nay có việc nên nghỉ giảng. Chắc các anh qua bên buồng xác ngay. 
Nghe nói thế, Hùng muốn trở ra về, nhưng không được nữa: tôi đã nắm chặt tay anh. 
Hôm ấy, mười mấy chiếc bàn đá trắng đều có người choán. Đó là những kẻ chết đường, không người thừa nhận, nên được đưa vào để…”giúp sự hiểu biết cho nhơn loại”, tôi nói lớn lối theo kiểu anh Toàn, nhà đạo đức năm thứ nhì. 
Mười mấy cái xác bị chất fót-môn làm tím đen ra và khô đét lại. Họ nằm đó như hình gỗ, người thì mặt mày bình thản như ngủ, kẻ nhăn ra một cách xấu xí quá chừng. 
Anh Toàn bước vào một lượt với chúng tôi, rồi hét to: 
– Nhơn danh thuần phong mỹ tục, xin bà con lật úp mấy xác phụ nữ lại. 
Anh Tố cũng hét: 
– Nhơn danh thuần phong mỹ tục và thay mặt nữ sinh viên, xin bà con lật úp mấy xác đờn ông lại. 
Đó là họ đùa chơi cho đỡ buồn
– nhìn thây ma mãi lại không buồn à?
– chớ vào đó là không ai còn nghĩ gì quấy quá nữa cả. 
Trong khi các bạn khác xúm nhau mổ sọ, để học bộ óc, thì Toàn chạy lại bàn chúng tôi, lật sấp cái xác dành cho chúng tôi lại. Lật xong, anh nhìn Hùng mà rằng: 
– Anh phải làm được như vậy mới đủ bản lãnh của một sinh viên trường thuốc, bằng không, về nhà chích dạo cho xong. 
Hùng còn hôi mùi trường trung học, nên rất bất bình trước cử chỉ đó. Thấy vậy, Toàn làm tới, để trêu tức anh. Hắn đấm lên lưng cái xác và nói: 
– Cụ ạ, để cháu tẩm quất cho cụ nhé! 
Xác người phụ nữ ấy, cũng như các xác khác, không mang tuổi tác nào cả, không rõ được đó là xác người già hay người trẻ. Chất fót-môn biến gương mặt họ giống nhau về năm, tháng. Nhưng người nầy tóc quăn, thì chắc cũng ở vào thế hệ sau nầy, mà đờn bà bắt đầu phi-dê. 
Bỗng Hùng kêu rú lên một tiếng. Toàn day lại hỏi: 
– Đã hoảng rồi à? 
Lạ kỳ thay, anh chàng sợ ma và sợ vi trùng nầy, không lùi mà tiến lại gần thây ma, cúi nhìn xuống lưng người chết. 

Tôi bỗng chợt hiểu, nên cũng bước sấn tới, nhìn xuống với anh. Tôi không thấy gì cả. Lớp da người chết đen sạm, khó phân biệt được những dấu vết ngày xưa kia có lẽ là rõ rệt. 
Hùng lấy ngón tay trỏ đè lên miếng da dưới xương bả vai, không phải chỉ để cho tôi thấy gì, mà như để chắc ý. Quả thế, bây giờ tôi thấy dạng ba nốt ruồi, đậm hơn màu da một chút xíu. 
Hùng lật ngửa xác chết, nhìn sát vào mặt nó. Không, đó là một cái mặt khô, móm và hóp, không thể nhận ra là ai được cả, dầu người đó là kẻ thân yêu. 
Anh Toàn không hiểu, ngước lên hét, vừa hét, vừa bỏ đi: 
– Bồ của tao đã giác ngộ rồi, tụi bây ơi! Sắp đắc đạo rồi đó! 
Hùng đứng đó rờ rẫm mặt người chết rất lâu, xỏ tay vào tóc rối của thây ma, như không bao giờ biết nhờm cả. 
Tôi nghĩ bụng: “Thôi, thế nầy, thì anh sinh viên trường Thuốc hóa thành thi sĩ mất. Làm sao khỏi ngậm ngùi khi bắt gặp xác người yêu trong một trường hợp như vậy”. 
Nhưng lạ lắm. Mặt Hùng không buồn, mà chỉ suy nghĩ triền miên, rồi anh bỏ đó, bước mau qua bàn khác, vác lên vai một cái đùi người, tìm Toàn mà hỏi: 
– Cái lị mô giò chó quảy hôn? 
Toàn cười ha hả và hét, ấy, anh ta không nói, chỉ hét thôi: 
– Hoan hô tinh thần tranh đấu bản thân sợ ma. 
Riêng tôi, tôi lại đâm lo: “À, nó không hóa thi sĩ, mà hành động như vậy, thì đích là hóa điên rồi. Nhảy đột ngột từ cái hoảng sợ qua cái lì, phải chăng là phát điên thình lình?” 
Bán giò chó quảy không ai mua, Hùng ra về. Tôi không ngăn nữa. 
Hùng “cúp cua” đến bốn hôm, mặc dầu có lịnh rất nghiêm là anh nào bỏ thực hành, sẽ bị phạt nặng. Chúa nhựt, tôi tìm anh ta. Thấy va bình tĩnh như thường, tôi an lòng, hỏi: 
– Quên rồi chớ ? 
– Không, anh lầm. Tôi có buồn đâu mà cho là tôi quên. Hay nói đúng ra, tôi chỉ buồn có một phút thôi. Tôi đã rờ rẫm cái xác cho thật nhờm ra, để mà ghê tởm, đặng quên. Nhưng rờ được nó, tôi hết ghê tởm nó nữa. Không ghê tởm được thì vẫn đau khổ, vẫn nhớ. Nhưng qua giây phút kia, tôi không còn đau khổ vì cái chết vất vả của người tôi yêu nữa, mà đau một niềm đau khác, anh à. Tôi đau cho cái nghĩa của đời con người, liền sau khi chết. Cái xác ấy, rồi sẽ biến thành trăm, ngàn mảnh dưới các lưỡi dao, không còn dấu vết gì trên đời nầy. Mà cả những xác được chôn cất rất rình rang cũng thế. 
Sao lại có sự rỗng không như vậy được? Phút trước đây, mạng anh quí biết bao nhiêu, mà phút sau nầy, xác anh lại là đồ bỏ. Ra cái quí chính là sự sống, chớ không phải thân thể nữa. Có đau hay không cho thân thể của con người! 
Đang tha thiết yêu đương, giận ghét, mừng vui rồi suỵt một cái, là u u, minh minh, là không có gì nữa. Tôi sẽ làm cho sự sống còn hoài, không những đánh bại bịnh tật, mà cả sự già mòn nữa. 
Lúc bấy giờ, nhìn Hùng, tôi thấy anh ngây thơ lạ. Hùng là hiện thân của tất cả phấn khởi của tuổi trẻ, cả quyết sẽ làm những việc tày trời và tin chắc sẽ làm được. Nhưng tôi không cười, cố lập nghiêm mà nói: 
– Đó là mộng của y sĩ muôn đời. 
– Mộng suông không được. Phải biến nó thành sự thật kìa. 
– Hay lắm. Chúc anh thành công trong việc phản lão hoàn đồng, việc trường sanh bất tử. Có một điều tôi không hiểu, là tại sao cô ấy lại chết đường? 
– Ấy, hai họ đều là tay chợ đen. Giàu lẹ mà sụp cũng lẹ. Có lẽ cả hai họ đều mạt lụn hết rồi, nên không còn ai tìm xác cô ta nữa. 
– Tại sao không xin xác về chôn? 
– Vô ích, tôi đã nói cái quí chính là sự sống kia mà. Hôm mới vào đây học, tôi công phẫn hết sức, về việc dùng xác người như các Y Khoa Đại Học trên thế giới đã làm. Nhưng… 
Hùng nhìn thẳng vào mắt tôi, hỏi: 
– Học Thuốc, anh có lý tưởng gì không? 
– Làm giảm bớt những đau đớn của loài người, chỉ có thế thôi. Còn những mộng to, tôi chưa có, vì ít lắm phải ba sao giữa giời mới gây nổi những mộng như vậy. 
Tôi nói giọng giễu cợt, nhưng Hùng không thèm đếm xỉa. Anh trề môi rất dài: 
– Xoàng, anh xoàng lắm! 
Hùng không nói nhiều nữa, để thuyết giáo như hồi nãy. Anh tỏ ra khinh bỉ tôi, một ông lang vườn tương lai. 
Tôi không giận, mà lại trái lại thương cái mộng tuổi trẻ kia, và ngậm ngùi nhớ lại bao nhiêu mộng khác của mình thuở nhỏ không bao giờ thực hành được. Tôi siết tay bạn: 
– Chúc anh thành công và yêu cầu anh giao mộng ấy lại cho các thế hệ sau, nếu chính anh không toại nguyện.

——————————–

1Người kể chuyện cho tác giả nghe.

Ký Thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 21 Sep 2024

3. Ba con Cáo *

* Câu truyện sảy ra năm 1954.

Truyện Ba Con Cáo đã được dịch ra Anh văn do nhà văn Lê Văn Hoàn ở San Francisco dịch để dự thi Truyện Ngắn Quốc Tế ở Manila và đã được giải nhất.


Mặc dầu là tay “bán trời không mời thiên lôi”, Sáu Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nhìn ra ngoài.
Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai.
Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đàn bà đội khăn tang trắng, đứng nhìn đám mồ trước mặt bà ta.
Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than vãn bên hàng nghìn mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có tiếng người rên rỉ đâu đây.
Từ một ngôi mả cũ đằng xa, một ánh lửa lóe lên, nhỏ bằng ngón tay, từ từ bay lên cao rồi đi bơ vơ qua các hàng thánh giá. Lửa ma trơi hay là đèn của một người đi soi ếch nào đó?
Mưa dầm tháng tám rơi trên nước ao tù khiến anh Sáu có cảm giác rằng mình đang ngủ trên một chiếc thuyền, giữa dòng nước.
Lạnh quá, lạnh ngoài da, mà lạnh cả đến trong lòng.
Người sống, một khi xâm nhập vào địa hạt của người chết, mới nhận được rằng cuộc đời bên ngoài dầu đau khổ bao nhiêu cũng còn ấm chán.

Tại phố Phát Diệm, khúc phía trên này, họ Cầu Kho có một đất thánh mà từ vài năm nay nhà thờ không cho chôn trong đó nữa.
Dân số nghĩa địa cứ mỗi ngày một tăng lên, mà không có một ai chết lần thứ nhì cả để cho số sanh và số tử bù trừ nhau hầu đất đai trống bớt chỗ.
Ngoài thành phố, người ta đẻ con, nhưng người ta lại chôn ông, nhà cửa thành thử không chật thêm được. Ở đây mồ mả sanh ra rồi già cỗi dưới rêu xanh của sương gió, nhưng vẫn nằm lì đó đến muôn thu.
Vì vậy nghĩa địa phải chịu nạn nhơn mãn. Nhà thờ không cho chôn xác thêm vào đó, rồi cũng chểnh mảng việc trông nom đất thánh nên người sống đang thiếu đất, bèn ùa đến mà lấn người chết.
Nghĩa địa không có vách thành. Ban đầu vài người mạo hiểm cất nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không ai nói gì, một số người khác lách qua khỏi mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà xây cất.
Họ cất vây tứ phía ngôi đất thánh và vòng vây cứ càng ngày càng siết chặt lại, người chết không còn lối nào để thoát ra được nữa cả.
Khi vòng vây siết đến lằn mức chót, nghĩa là những ngôi mộ ở bìa, thì cuộc xô lấn bắt đầu diễn ra một cách đau thương.
Người sống cũng biết đau lòng khi phải dẫm lên những gò mả còn mới rành rành (nhiều mô. bia, thánh giá, đề năm chôn là 1951) nhưng họ, ác thay, lại cũng biết lạnh. Cho nên họ cứ cất nhà trên những nấm đất ấy, xin người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ núp mưa thì thôi.
Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đã chết rồi, ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có lấy một vuông nhỏ để mà cắm cây cột gỗ; vậy ông thứ lỗi nhé! Rồi ngày sau tôi cũng hoàn lại đất như ông vậy mà; trần gian nầy chỉ là cõi tạm thôi, tranh nhau làm gì!
Cuộc xâm lăng lặng lẽ để tranh sống với người chết, gây ra một tai hại lạ kỳ.
Vùng đất ấy ngày xưa tuy cũng thấp mà vẫn khô ráo, nhờ con rạch Bần tháo nước ra sông Ông Lãnh. Nhưng từ khi đô thành cho đắp đại lộ Trần Hưng Đạo, cách đây mấy mươi năm, thì ngọn rạch Bần bị lấp, và nước mưa trên nầy bị bỏ tù lại đến chung thân khổ sai, vì khu ấy đất trũng mà!
Đất thánh không phải ở giữa rún đất nên không đọng nước. Nhưng vòng vây tai hại kia lại biến thành con đê ngăn nước đất thánh đô? xuống chỗ trũng hơn.
Thành thử phần nhiều ngôi mộ đã biến thành cù lao, có cù lao rời rạc, có mớ họp thành quần đảo, không còn làm sao ra đó được nữa. Nước tù mang một màu khó tả và một mùi cũng khôn tả. Đáy ao biến thành bùn non, đi thì lún đến ống quyển.
Lau, sậy, đế tha hồ mà mọc như ở bưng miền xa.
Giữa đất thánh còn sót lại một ngôi mộ cổ kiến trúc theo bên lương mà có lẽ nhà thờ không nỡ phá đi lúc lập ra đất thánh cho giáo dân nầy.
Ngôi mộ ấy đồ sộ nhứt nghĩa địa, xây bằng vôi và ô đước, xanh đặc những rêu phủ. Lối kiến trúc rất rắc rối như một lâu đài, đầy rẫy ngăn nắp với nào là đường vào lối ra quanh co và hóc hiểm.
Hôm ấy những người của vòng vây đều ngạc nhiên mà thấy một mái nhà lá dựng ngay trên ngôi mộ cổ ấy.
Nhà dựng đâu từ sớm mai đến trưa là xong cả. Họ cứ tự hỏi, và hỏi nhau làm thế nào mà chủ nếp nhà ấy lội sình để ra ngoài đó được. Đi tay không đã không được rồi, mà làm sao hắn ta lại mang cả gỗ, tre và lá ra đó để cất nhà?
Hỏi nhau không ai đáp được, mà cũng chẳng mong phỏng vấn thằng cha dị hợm kia, họ đành thôi. Thét rồi mắt họ quen đi, nếp nhà ăn vào chân trời quen thuộc của họ, họ nhận cho nó ơ? đó mà không bàn tới bàn lui gì nữa cả.

Sáu Sửu ngày trước có ở xóm Phát Diệm. Năm ấy có người treo cổ trong nhà mồ ở bìa đất thánh. Anh đã vào đó với nhiều kẻ hiếu kỳ khác để xem kẻ chết treo, nên được dịp biết rõ nghĩa địa.
Hôm tháng rồi anh bị truy nã ráo riết nên cố tìm một chỗ ẩn nấp thật kín. Nhớ lại xóm cũ với cái nghĩa địa kia, anh về qua đó và rất hài lòng mà gặp hòn đảo nầy.
Không một viên cảnh sát nào đủ can đảm lội sình nhứt là dầm chơn trong một thứ nước nhơn nhớt để ra ngoài đảo Lỗ Bình Sơn của anh.
Nếu có cuộc bố ráp đại qui mô như hồi còn Tây thì bất quá họ cũng đứng ngoài mà nhìn vào, hú bậy vài tiếng như hú đò bên kia sông, rồi đò không qua thì thôi. Họ nghĩ sót một con cá cũng chưa chết ai, mà biết đâu cá đó lại không phải cá hiền, một tên ăn mày nào đó chớ gì.

Từ vòng vây ở ngoài, leo lét vài ngọn đèn dầu của những kẻ lấn đất người chết. Xa thật xa ngoài kia, ánh sáng đô thành làm nổi bật lên, đen thui, những ngôi nhà lầu, những ngọn cây cao. Các thứ nầy giống hệt những hình bằng giấy đen, người ta cắt rồi dán lên nền trời.
Bỗng anh Sáu nghe rục rịch dưới sàn ván. Hôm cất nhà xong, anh lót ván lên mộ, vừa để làm nền nhà, vừa để làm giường ngủ. Dưới ván rầm ấy, lau sậy bị đè đầu xuống, và sẽ chết lần mòn vì thiếu ánh sáng.
Anh Sáu quên, một thứ khác, cũng giống như lau sậy, mà biết cục cựa nữa kia. Vì thế đêm nay trời có trăng, anh ngồi ngó một ra đám rừng thánh giá trắng thì anh phải một phen hết hồn trước sự hiện ra của một chú chồn to bằng con chó ta.
Chồn khua lau sậy sột soạt, rồi chui ra khỏi mộ, ngoái cổ lại dòm cái nhà mà đêm hôm qua đây chưa có. Suốt ngày hôm ấy nó nằm trong hang, không dám ló ra nên không biết ngoài này loài người làm gì mà lục đục mãi.
Đôi mắt nó lóng lánh dưới ánh trăng, ngạc nhiên giây lát rồi bỏ đi. Nó đã quen với con người rồi nên không có vẻ gì sợ sệt cả.
Nhưng anh Sáu lại sợ. Anh có đọc truyện Phong Thần nói chuyện mả Huỳnh Đế có một bầy hồ ly mà một con đã nổi danh trong lịch sử, là cái con đã biến thành nàng Tô Đắc Kỷ; đến nay thấy chồn trong mộ chui ra, anh liên tưởng ngay đến tích cũ rồi rợn người lên.
Nhưng anh trấn tĩnh lại được. Trong dân chúng người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng tóc người chết hóa thành con lươn, rồi con lươn hóa thành con chồn. Con chồn mà anh thấy, có lẽ chỉ là thối thân của tóc người nằm dưới nhà mồ, chớ không phải yêu quái gì đâu.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, anh Sáu thấy chồn về, mõm ngậm một con vịt.
– A ha, đồng đạo đây mà! Anh Sáu cười mà nói thầm như vậy rồi cảm tình ngày với con thú nầy.
Cái đạo mà anh nói đó là đạo … chích; trước kia, trước khi lường gạt và cướp giựt, anh cũng đã đi ăn cắp gà như chú chồn nầy vậy.
Ngày nay anh thôi ăn cắp, nhưng lại biến thành con cáo già chuyên môn gạt gẫm thiên hạ.
– Mầy cáo thì tao đây cũng cáo, vậy thì là bồ rồi.
Từ đó, hai con cáo chung đụng với nhau mà không xích mích bao giờ cả.

Nghe động dưới sàn, anh Sáu mỉm cười lẩm bẩm:
– Đồng nghiệp xuất quân đó đa!
Anh Sáu nhờ cậy con chồn nầy lắm. Có nó ở dưới ấy thì không còn lo rắn rít nữa. Anh mong có dịp trả ơn nó, nhưng nó có đói bao giờ đâu để anh ra tay hào phóng mua cho nó một con gà. Xóm lao động vây quanh nghĩa địa, người ta nuôi gà vịt cả bầy, nó ăn đến già cũng chưa hết.
Bỗng anh Sáu nghe có tiếng chó sủa vang dậy lên. Tiếng sủa to lắm và oai vệ lắm, có lẽ đó là tiếng chó bẹc-giê.
Rồi lại nghe nước khua lũm chũm, với tiếng chó càng lúc càng đến gần anh. Anh Sáu bước ra dòm thì thấy bạn của anh đang chạy bán sống bán chết trước một con chó to thấy mà bắt ớn.
Anh Sáu thò tay vào trong rút cây chĩa ba ra, cây chĩa anh sắm để chĩa ếch dưới nước, rồi lẹ như chớp, anh chìa mũi chĩa đón đầu chó cho chồn đủ ngày giờ chui vào mả.
Chó bẹc-giê chạy quá đà, bị mũi chĩa đâm vào mõm đau điếng, rống lên vài tiếng rồi trở bước, vừa đi vừa day lại, sủa om như chửi thề.
Anh Sáu cười ha hả rồi cúi xuống sàn mà nói:
– Đêm nay tổ trác rồi đó phải không em! Anh đây cũng bị rượt thường lắm, nhưng đều thoát khỏi cả. Bây giờ thì đố ai mà dám theo anh vào chốn nầy. Chỗ ở tụi mình kín số dách.

Sáng hôm ấy, anh Sáu đi uống cà-phê, về tới nhà thì ngạc nhiên hết sức. Trên một ngôi mô. cận mộ anh, một chòi lá đã dựng lên rồi.
Ngộ quá, nhà cửa sao mà mọc mau lẹ như nấm mối. Uống xong tách cà-phê, đọc xong trang nhứt một tờ nhựt báo là một túp lều cũng vừa dựng xong. Phải mà, chỉ có bốn cây cột thôi thì chậm sao được!
Anh Sáu ngạc nhiên mà thấy có một người thứ nhì lại biết con đường bí mật đưa vào đó! Anh lại tức vì túp lều ấy chặn ngay đầu đường bí mật của anh.
Số là anh Sáu biết lợi dụng mấy ngôi mộ chung quanh nên mới vào đây được. Anh phải đi quanh co nhiều nơi, nhảy từ ngôi mộ nầy qua ngôi mộ khác, ra cửa nhà thì đi hướng đông, nhưng ra khỏi nghĩa địa lại ra hướng tây, nghĩa là anh phải đánh một cái vòng rất lớn và rất cong quẹo.
Túp lều tranh ấy cất ngay trên ngôi mộ anh dùng làm đầu cầu cuối cùng để nhảy vào nhà anh, thì anh còn làm sao mà về nhà được, nếu hắn không cho anh nhảy ngang qua nhà hắn?
Anh tức giận lắm toan vào lều mần thằng cha nầy một mách cho nó phải giải tỏa hiểm đạo của anh, anh mới nghe cho.
Anh Sáu vỗ đùi nhảy một cái như bay đi và rơi xuống phiến mộ bia đặt nằm theo lối Châu Âu, trên có khắc mấy giòng chữ như sau:

Ci-git: 
Alphonse Thomas Nguyễn-Văn-Nở
décédé en sa 78è année
Priez pour lui
 1

Phiến đá lớn bằng bộ ván hai, và thằng cha chủ nhà nầy dùng phiến đá ấy để làm bộ ván luôn, nên không thấy nó lót gì trên ấy cả mà lại để lên đó nào là va-ly, dép … à … mà sao lại dép đàn bà?
Túp lều che có phân nửa tấm bia thôi; cửa lều là một bức màn bằng vải bông cũ. Anh Sáu bước tới vén màn lên thì ô nầy lạ, chủ nhơn bà (chớ không phải chủ nhơn ông) là một thiếu phụ tóc quăn.
Chủ nhơn bà bình tĩnh chào anh Sáu bằng một mỉm cười yên lặng.
Có lẽ chồng chị ta đi làm rồi chăng? Nhưng vẫn lạ là chị không có vẻ lao động chút xíu nào hết. Móng tay chị đỏ choét và nhọn hoắt, nước da mặt của chị bị phấn ăn, chỗ thì mét chằng, chỗ thì thâm đen sì, mắt chị mệt đừ và sâu hóm như mắt cô đào hát bội.
Y phục của chị cũng không phải y phục của những kẻ đầu tắt mặt tối: lai quần gắn ren, áo cổ bà lai thêu rằn rịt xanh đỏ, tóc thì kẹp thành đuôi ngựa, cột bằng ruy-băng màu.
Chị ngồi trên chiếc rương thiếc nhỏ, món đồ từ khí độc nhứt trong chòi, mỉm cười rồi giây lát hất hàm hỏi anh:
– Có tiền mãi lộ không? Nếu không, mỗ không cho đi ngang qua đây. Mỗ đóng đồn ở đây rồi, ai bước qua phải đóng thuế.
Anh Sáu thọc tay vào túi quần tây cũ của anh đứng thẳng lên coi oai vệ như một tướng cướp trong xi-nê-ma, cười gằn rồi ngạo nghễ đáp:
– Hỡi cô nữ tướng mã thượng giang hồ, nữ tướng không có lâu la thì đòi tiền mã lộ ai được. Nữ tướng có giỏi thì bước ra ngoài đánh với ta vài mươi hiệp cho rõ tài cao thấp.
Nữ tướng cười xòa vì nghe giọng điệu thì biết đã gặp tay đồng điệu. Tuy bắt nạt hắn không được nhưng bắt bồ với hắn có thể có lợi.
Anh Sáu xem qua thì biết nữ tướng thuộc vào hạng người nào trong xã hội rồi. Đây cũng là một kẻ trốn chui như anh, như con cáo dưới giường anh. Cả ba đều là chồn, nhưng con chồn cái này đã tu luyện nhiều năm nên mang được hình người. Đây là một thứ hồ ly không hớp hồn nho sĩ mà chỉ hốt bạc cắc của mấy anh lao động thôi.
Đầu anh Sáu đụng nóc chòi, anh khó chịu quá nên ngồi xuống:
– Ở đây không sợ mang tội à? Anh hỏi đùa.
– Chớ còn anh?
– Tôi thì khác. Ngôi mả của tôi cũ lắm rồi.
Đó là một cái nhà của một người chết đã đi đầu thai kiếp khác rồi.
Con chồn cái bỗng bỏ cái cười, buồn nét mặt lại rồi chỉ ra ngôi giáo đường trước nghĩa địa.
Tiểu giáo đường tuy chỉ để làm lễ mỗi khi đám xác nào tới đây thôi, nhưng cũng đồ sộ bằng một nhà thờ ở thôn quê. Tuy ngói đã bị tốc nhiều nơi, gạch, đá trên tường nhiều viên đã rã và rớt xuống, cửa sổ gỗ đã bung hết, cửa kính màu đã bể nát, nhưng toàn thể công trình kiến trúc gô-tích ấy vẫn còn mang cái phong độ vĩ đại của thời Trung Cổ Châu Âu.
– Anh thấy không? Chị ta nói. Nếu mình dám vào trong đó mà ở thì đâu có phạm tội như vầy.
Anh Sáu thở dài rồi không thèm chào hỏi gì cả vỗ đùi nhảy bay qua nhà anh.
Từ đó bộ ba chịu đựng nhau để sống chung nhau.
Họ khác nhau ý tứ, phong tục, thói quen, lối sống, nhưng cả ba con cáo đều có một nỗi băn khoăn chung là cả ba đều sợ: Con cáo chánh hiệu con … cáo thì sợ chó bẹc-giê, con cáo già sợ Công An, còn con hồ ly cáo cái thì sợ lính kiểm tục.
Trong cảnh khổ giống nhau, tuy họ không tương đắc với nhau được và vẫn phải tương thân để bảo vệ nhau, khi cần. Mà nhứt là để an ủi lẫn nhau.
Anh Sáu không thích đờn bà lắm. Hay nói cho đúng ra, anh đã chán chê đờn bà, nhứt là chán những hạng đờn bà như con hồ ly không bao giờ chịu xưng tên nầy.
Nhưng mà những đêm mưa dầm buồn quá, nằm giữa cánh đồng ma mà được có người để trò chuyện với nó thì ấm biết bao!
Những đêm mưa như vậy, con hồ ly không đi kiếm ăn được, mà cũng không đủ sức mạnh để nhảy qua nhà anh Sáu vì hòn đảo của anh ở xa mãi ngoài giữa dòng nước, nên hồ ly ta thắp lên một ngọn nến rồi ngồi bó gối mà ca trật lất bản nhạc “Đêm đông”.
“Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng”.

Gió đâm sầm vào tiểu giáo đường đằng trước kia, tung hoàng giữa gian phòng trống mênh mông rồi vừa hú vừa chui ra khỏi các cửa sổ nghe bắt lạnh mình.
Mấy cây thùy liễu hiếm hoi đã kháng cự được với lau sậy để sống sót, đứng cúi đầu khóc sướt mướt dưới trận mưa dầm, trong ánh trăng mờ.
Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi 2.
Đây là chốn mà mộng đời bị cắt đứt nửa chừng, kẻ chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xã hội loài người.
Anh Sáu nhảy bay qua nhà hồ ly, như một tay kiếm khách phi dạ hành, rồi hai kẻ ở ngoài vòng pháp luật ấy mới cùng nhau tâm sự.
Không phải kể chuyện cho khách nghe, hồ ly khỏi phải thi vị hóa buổi thiếu thời của mình, không cần lòe ai, con cáo già cũng khỏi anh hùng hóa bước giang hồ của hắn. Họ đánh bài, mà hạ bài cho nhau thấy. Bao nhiêu thúi tha nhơ nhớp trong đời họ, họ phơi cả ra như sau đêm mưa, họ phơi gối trên mồ cho nó bớt âm ẩm khó chịu.
Trời mưa cuối mùa cứ dai dẳng từ ngày nầy qua ngày khác. Con hồ ly ban đầu ăn xôi, ăn bánh mì chả lụa trừ cơm. Mãi rồi nó cũng không còn tiền để mua xôi nữa. Đất Sài Gòn, những ngày cuối tháng mà mưa dầm, thì tiền bạc nó cũng sợ lạnh, không hề dám ló ra ngoài. Nó có ló ra, con hồ ly mới ăn nem nướng được, còn nó mà trùm chăn thì chồn cái cũng đành trùm mền mà nhịn đói.
Anh Sáu cũng chẳng thấy đi uống cà-phê sáng cho ấm bụng. Cũng chẳng thấy khói thuốc bay ra khỏi mái lều của anh như mọi ngày, và lâu lâu cũng không còn nghe mẩu thuốc vứt xuống ao, tắt kêu xèo một cái.
Cả hai, vì tự ái hão, đều giả đau để nằm nhà. Anh Sáu yên thân hơn, còn dám ngồi dậy lết ra lết vô. Còn con hồ ly thì sợ anh Sáu đi ngang qua đó biết mình giả đò chăng, nên cứ trùm chiếu mãi từ sáng đến chiều.
Khó chịu quá, ngộp quá, mà anh Sáu không đi ngang qua lần nào để thấy là nàng ta đang đau ốm thì có tức hay không chớ?
Hết mưa rồi nắng. Anh Sáu ra đi. Ngang qua nhà hồ ly, anh lấy chơn lật chiếu ra thì thấy hồ ly nằm xụi lơ. Nàng đau ốm thật đó, đau một chứng bịnh cổ điển của loài người, là bịnh … đói.
Anh Sáu mau bước nhảy như con khỉ từ ngôi mộ nầy đến ngôi mộ khác và rốt cuộc ra tới đầu ngõ hẻm trổ ra phố.
Thiên hạ cứ mỗi ngày một khôn ra, cho nên, mặc dầu là cáo già, anh Sáu không còn gạt gẫm ai được nữa.
Anh buồn hiu trở lại đào viên mà ba người bạn đã mặc lặng kết nghĩa với nhau hôm mấy tháng trước.
– Chị đỡ bớt hay chưa? Anh hỏi bậy cho có chuyện.
– Có uống mẹ gì đâu mà đỡ bớt.
– Chị nghe trong mình làm sao?
– Không biết. Nhưng nếu ăn được một chén cháo thì khỏe.
Anh Sáu hiểu ngay. Anh lại thở ra, ngồi bó gối bên cạnh một người mà anh sẽ chịu đồng cảnh vài ngày nữa đây. Sở dĩ anh còn đi đứng được là nhờ anh mạnh sức, lây lất nổi thêm vài ngày.
Chiều xuống sớm và mây kéo đen nghịt trời. Ngoài kia vịt vào chuồng kêu cạp cạp. Nghe tiếng vịt kêu, anh Sáu nhớ lại người bạn thứ ba.
– Hừ, nó coi vậy mà nó đó.
Bỗng một ý nghĩ nảy ra. Anh vừa mừng thì lại nghe như ai xát ớt trong ruột anh.
Nhưng biết làm sao: Đi ăn trộm vịt, không đáng gì cả, mà rủi ro thì khổ. Trong lúc mình đang trốn mà dại gì làm những chuyện xằng nho nhỏ.
Anh Sáu đứng lên nhảy bay qua nhà anh, rồi ngồi nhìn mưa bắt đầu rơi lũm chũm trên mặt ao tù.
Một con nhái hay con gì không rõ, nhảy xuống nước lội róc rách đi về đâu không biết. Gió hú trong tiểu giáo đường, gió than vãn ở các nhà mồ. Xa xa tiếng động cơ xe nổ lên, nhắc nhở rằng cuộc sống ở bãi tha ma nầy thầm lặng quá!
Anh Sáu rút cây chĩa ba, lết ra tới trước mả mà ngồi. Anh cúi mặt xuống miếng đất đọng nước, mắt lom lom rình.
Bỗng có tiếng sột soạt do con chồn khua lau sậy, nay đã chết khô rồi. Anh Sáu hồi hộp nghe tim anh đập thình thình trong lồng ngực anh. Lạ! Anh đã giết người, mà nhớ ra là anh đã không nghe mảy may sợ hãi. Cớ sao đêm nay …
Kìa một cục đen đen thò ra khỏi sàn ván. Anh Sáu cầm chĩa ba mà nhắm rồi sực một cái, mũi chĩa đâm chúi xuống trúng ngay cổ con chồn. Chồn thét lên một tiếng kêu đau, kinh sợ, rồi thôi. Trong bãi tha ma hoang vắng, không một tiếng vang lặp lại tiếng kêu thương của con vật vừa bị bạn phản bội nầy.

Dân lưu manh vẫn thế. Họ cũng biết xúc cảm, nhưng chỉ xúc cảm vậy vậy thôi. Họ nhỏ trên máu con chồn vài giọt nước mắt rồi thịt nó liền mà không nghe nhờm răng.
Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no.
Họ chỉ ân hận một vài giây thôi, vì dầu sao, người bạn xấu số ấy cũng chỉ là một con chồn. Ai dư nước mắt mà khóc thú vật cho lâu!
Trời cứ mưa, mưa như cầm chĩnh mà đổ, mưa như một oanh tạc cơ định về căn cứ, đổ rốc hết bao nhiêu bom còn sót lại trên tàu, mưa cho hết ráo nước để rồi khô hạn được trong sáu tháng dài, mưa đêm chưa phỉ lại mưa ngày, mưa cho đến xương kẻ dưới mồ chắc cũng lạnh thấu tủy khô.
Ăn được bữa cháo chồn, hồ ly nghe khỏe như chị đã đoán. Sáng hôm ấy chị ra đi, căn dặn anh Sáu ở nhà, chị sẽ có tiền, một món tiền khá to, đâu như năm trăm, do một anh tình nhơn hứa biếu và hẹn hôm ấy trao cho vì hôm trước là ngày lương.
Anh Sáu thích quá, muốn ôm lấy hồ ly mà hôn một cái. Nhưng hồ ly dơ thấy mà bắt nôn, nên anh thôi.
Độ lối chín giờ sáng, anh Sáu đang nằm ca sáu câu mùi mẫn:
Cảnh vị nhân sầu, xơ xác ngọn vi lau, nước triều mênh mông chảy …
thì bỗng nghe tiếng tu hít thổi hoen hoét ở cùng tứ phía, quanh nghĩa địa rồi giây lát sau hồ ly nhảy như khỉ qua các nấm mồ, theo sau chị là hai người đàn ông còn trẻ.
– Trời ơi, anh Sáu kêu, mình đã dại, kể cho nó nghe duyên cớ trốn tránh của mình; nó bán mình mà ăn đây! Chồn ơi, hồn mi có thiêng chăng, về mà xem kẻ phản bội mi sắp bị trừng phạt đây.
Anh Sáu bó tay không chống cự. Anh nhìn hồ ly, không oán giận mà chỉ tội nghiệp thôi. Hồ ly trốn cái nhìn của anh, ngồi day mặt vô vách lá mà đếm tiền.

Đêm nay, gió sao mà hú ghê rợn hơn đêm nào cả. Hồ ly giật nẩy mình, dáo dác nghe ngóng. Gì mà như anh Sáu ho bên ấy! Chị đánh diêm lên để thắp nến. Trời ơi, mới hôm qua đây, anh Sáu còn nằm bên đèn kể lại những bước phiêu lưu của anh! Hơi thở của anh, chị còn nghe như văng vẳng. Cái mặt xương của anh đậm nét lên dưới ánh đèn, như là còn ẩn hiện mơ hồ trên tấm mộ bia!
Trời ơi! Kéo cuộc đời nhơ nhớp nầy biết đến bao giờ mới thôi? Đã nhơ nhớp lại đê hèn, bước từ phản bội này qua phản bội khác cho đến một khi kia thì mình chỉ còn phản bội được chính mình.
Hồ ly rùn mình một cái, không phải vì lạnh, cũng không phải vì sợ ma, mà vì chị bỗng sợ hãi chính mình, sợ hãi con người đã vơi cạn hết chất người.
Chị ôm mặt khóc òa, rồi lẩm bẩm van vái lầm thầm:
– Trời Phật ơi, Chúa ơi, tha tội cho tôi, ngày mai tôi sẽ ra khỏi chốn nầy và ra khỏi vực đen của đời tôi nữa!
——————————–

1Nơi đây yên nghỉ: Ông An-Phông Tô Ma Nguyễn Văn Nở, thất lộc năm 78 tuổi. Hãy cầu nguyện cho ông.
2Ý nầy của P.S. và X.V

Chuyện Ma Nhà Thương Mỹ: Âm Dương

vvnm.vietbao.com

Trân Nguyên

03/11/2006

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

Trân Nguyen là tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2006. Cô sinh năm 1970, cư dân Monterey Park, Nam California, nghề nghiệp:  y tá, siêu âm.  Bài mới lần này là chuyện ma tại một bệnh viện Mỹ ở Los Angeles.

Bước vào thế kỷ 21 rồi, khi mà thế giới khoa học kỹ thuật tân tiến đến độ hầu như giải thích được tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên vũ trụ này… mà còn ngồi kể chuyện ma quỉ thì thật là khôi hài! Nhưng nói gì thì nói, trên đời vẫn có những chuyện không ai cắt nghĩa được.

Đó là một tòa building 4 tầng cũ kỹ nằm ngạo nghễ giữa đất trời East Los Angeles tính đến nay đã hơn 100 năm. Vùng đất đó ban đầu đa phần là người Mễ đến lập nghiệp, họ lam lũ và sống bằng nghề tay chân. Một ngày kia có một bác sĩ người Đức đã đến đây,  lập ra bệnh viện này, cứu biết bao nhiêu là người và cùng họ vượt qua bao phen nhọc nhằn, khốn khó.

Trải qua bao nhiêu vật đổi sao dời…bệnh viện STMT vẫn ngất ngưởng hiên ngang giữa trời cao đất rộng. Tuy bề ngoài trông rất là cũ kỹ, nhưng  đó chính là một di sản văn hóa vô cùng quí, ngày nay bên trong hoàn toàn đã được trùng tu với tất cả những thiết bị y khoa tân tiến nhất để đáp ứng nhu cầu mới của con người thời đại…Thế nhưng những câu chuyện hoang đường cổ xưa vẫn mỗi ngày khơi dậy óc tò mò của cư dân vùng này, nhất là với người Việt Nam vốn thích nghe chuyện ma.

Năm đó ra trường tôi về làm việc ở đây, nửa hoang mang nửa hiếu kỳ khi nghe người ta rĩ tai nhau: Bệnh viện này…ma dzữ lắm!! Tôi  làm ca từ 3h chiều đến 11 rưỡi khuya, cái thời khắc mà tòa nhà cứ như lạnh hơn, rợn hơn khi người bệnh đắp chăn đi vào giấc ngủ và cất tiếng thở đều. Chiếc đồng hồ trên tường cứ nghe rõ mồn một tích tắc, tắc tính và vạn vật cứ âm u dưới cái thứ ánh sáng lờ mờ của nhà thương, ai nấy đều gượng nhẹ, lặng lẽ đến đáng sợ…..

Nhà thương này đã cũ kỹ rồi, lại còn lọt tỏm giữa bốn bề nghĩa địa.  Ai đi qua East Los Angeles khoảng giao điểm của freeway 60 và710, từ trên freeway nhìn xuống là thấy ngay những mộ phần của người trung cổ được dựng cao sừng sững. Đó là nơi an nghỉ của những đại gia tộc giàu có ngày xưa, người ta đã cất giữ tro cốt trong một tòa “lâu đài” nho nhỏ, công phu và đầy bí tích. Còn thường dân thì nằm đều đặn, cao thấp, lớn nhỏ rải rác khắp nơi với những tấm bia chống đứng thẳng tắp, khác với lối chôn cất của đa phần người ở đây là tấm bia được đặt dọc trên lối đi,…nên nhìn vào người ta chỉ thấy những quả đồi thơ mộng, rực rỡ hoa hồng dưới ánh nắng mặt trời không hề thấy âm khí của một nghĩa trang. Tôi vốn tính nhát gan, lại làm chung với một bà “thỏ đế” là cô Anh người Việt Nam bên khoa hô hấp. Mới vô làm đã nghe bả bỏ nhỏ:

– Ma dữ lắm Gigi ơi, mà ngay giữa ban ngày ban mặt luôn kìa, con mới vào nên không biết đó thôi, cô làm ở đây hơn 10 năm nên rành quá rồi.

Tui tò mò:

– Mà cô có thấy chưa”

Cổ trợn mắt:

– Thấy chớ sao không thấy. Biết Dr Bansal Ấn Độ không” Buổi trưa “taking a nap” trên giường đàng hoàng, nửa tiếng sau thức dậy “hạ thổ” hồi  nào không biết.

Tôi cắt ngang:

– Chắc ổng trực gác dữ quá, tâm thần suy  nhược nên lẫn lộn đó thôi cô ơi. Bên Mỹ này làm gì có ma.

Cổ chưa chịu thua:

– Không tin hở” Ông Dr Marshak dê sồm kìa, cũng đang ngủ gà ngủ gật nửa đêm trong phòng cấp cứu, bị con Mễ tóc vàng ngồi lên đùi…rồi…sao đó…bị nó hất lăn kềnh xuống đất, mắt kiếng văng ra mấy thước. Ổng la ú ớ “girl, girl lượm giùm cái mắt kiếng,” mà người ta chẳng nhìn thấy ai xung quanh hết cả.

Hai cô cháu đang xầm xì, thì thằng Henry người Phi từ đằng sau “bò”  tới…. Hù một phát thất kinh, biết hai người đang nói chuyện gì. Nó tinh nghịch hỏi:

– Annie (cô Anh) chừng nào tới phiên bà”

Cô Anh chửi:

– Tới phiên mày trước thì có…

Nó phùng mang, trợn má:

– Bộ tui chưa kể với you guys hả” Mới tuần rồi trực đêm nè, gần sáng không có người bệnh, tui tri mền leo lên bàn ngũ. Hai tiếng sau phòng cấp cứu gọi, tui mở mắt thấy mình đang nằm dưới đất, chăn vẫn được đắp cẩn thận, còn cái phone thì cũng được đem xuống đặt cạnh một bên, công nhận con ma này….chu đáo thiệt…nó biết mình đang trực mà, chuyện lạ là tui rờ “lại mình mẩy” chẳng thấy chỗ nào bầm đau hay trầy trụa gì ráo trọi, mới biết mình được “ẳm” xuống nhẹ nhàng lắm, con ma này chắc…con gái!

Nó cười ranh mãnh, thằng Henry này nổi tiếng quỷ quái  mà, nó mà nói thì không biết có mấy phần là thiệt đây (“) chỉ biết là bọn con trai ở nhà thương này biết con gái nhát gan, nên cứ dọa ma suốt ngày, tụi nó còn nói:

– Ma ” Mỹ” có gì đâu mà sợ…đâu có mặc đồ đen xõa tóc, cũng đâu có khóc lóc tỉ tê… chỉ mặc T-shirt, nhe răng cười, rung đùi ngồi ăn hambuger, tụi này gặp hoài …ở trên lầu 2. (“)

Tụi này quái quỉ thiệt, nhưng cũng nhờ tụi nó mà… những đêm trực phòng cấp cứu không còn dật dờ khó qua nữa, nhờ những câu chuyện ma 1001 đêm, kể hoài không chán. Đêm càng thanh vắng, câu chuyện càng ly kỳ, hấp dẫn… Đêm đó, phòng cấp cứu tiếp nhận một ca trợt chân bể đầu vào lúc 3h sáng, bà cụ 80, có lẽ vào phòng vệ sinh lúc nửa đêm. Bà Mỹ đen tay chân, nhỏ thó, co quắp đau đớn, thiệt là tội nghiệp… bác sĩ đề nghị chụp hình chụp hình cast. Scan sọ não. Anh chàng Danilo người Đại Hàn một cây “lí lắc” đứng làm ca đó, tụi tui đứng quanh trợ giúp. Nó nâng đầu bà cụ lên gượng nhẹ, tháo khăn quàng cổ….đưa vào máy scan, luôn miệng xuýt xoa:

– Chịu khó một chút honey, God bless you, God bless me.

Liệu trình hoàn tất, bác sĩ Bansal nhíu mày:

– Không ổn rồi, chấn thương sọ não phải đưa ngay về USC chuẩn bị “đại” giải phẫu (nơi tôi làm không có phương tiện phẫu thuật phức tạp này).

Ambulance hụ còi…Thủ tuc chuyển viện hoàn tất thì đã gần 4h sáng, mọi người mệt lả, Danilo nằm gục trên bàn lơ mơ, thì…..bà cụ quay lại đòi chiếc khăn quàng cổ, mà Danilo đã cởi ra cho bà lúc làm cast scan, vì “ngoài trời lạnh quá!” Anh chàng lật đật ngồi dậy liền…nhưng bà già đã bỏ đi đâu mất.. nó chụp vội cái khăn chạy ào ra cửa tìm nhưng hành lang vắng tanh không một bóng người qua lại. Mệt mỏi, nó lững thững quay vào ngủ tiếp. Tới chừng sáng thức dậy mới hay được, người bệnh đã từ trần trên đường đi….lúc đó…4h thiếu 10 sáng, ngay đúng giờ khắc bà cụ trở về đòi lại chiếc khăn (!”).

Danilo mặt mày tái mét không còn giọt máu, nhưng ai mà biết nó sợ quá hay đêm rồi nó thiếu ngủ. Tên này cũng là tổ sư nói phéc và hay kể chuyện tiếu lâm. Nên ai cũng bán tính bán nghi câu chuyện nó kê.

Trong khoa chỉ có ông xếp người Phi tên Ademin là nghiêm nghị nhất. Ít bao giờ thấy ông bông đùa, nói giỡn nhưng ông rất tốt bụng, hiền hòa và hay làm từ thiện. Một hôm, ông giúp đỡ nhà thờ phát động  chương trình “vì tương lai của những cô nhi hiếu học”  ở bên Philipine, tài liệu hình ảnh, chương trình được soạn thảo rất công phu, nhưng kết quả hoàn toàn ngược lại…. cả ngày trời gặp gỡ, chào hỏi, rao giảng đến phờ cả người, cũng không mấy ai quan tâm, thậm chí họ còn xua đuổi ông. Mệt mỏi ông ngồi phệch xuống ghế đá, băn khoăn suy tính làm sao để đạt được kết quả khả quan nhất… thì có một người bệnh đi đến ngồi xuống bên ông, gương mặt đầy vẻ nhân từ: ông Sarmiento, Steven. Hai người cười với nhau chào hỏi, họ trao đổi với nhau bằng tiếng tagalog và cùng nhau thảo luận về đề tài học vấn của trẻ em Phi  ra chiều tâm đắc lắm. Cuối giờ, ông Sarmiento từ giã trở về phòng, không quên căn dặn ông xếp “Chủ Nhật nhớ đến đúng địa chỉ này ở thành phố San Dimas, sẽ có nhiều người Phi tụ họp ở đó, họ sẽ giúp ông hoàn thành ý nguyện.”

Trời đã tối, ông sếp cũng hấp tấp đi về mà quên hỏi số phòng của người bạn già khả ái kia.

Chủ Nhật, sau khi hát lễ nhà thờ xong, ông hăng hái chở vợ tìm đến địa chỉ kia, quả thật có nhiều người Phi đang tụ họp ở đó, gương mặt ai cũng đầy vẻ thánh thiện và trang nghiêm… Ông đậu xe bên đường chạy lại thăm hỏi đồng hương và trình bày về chương trình cứu trợ cô nhi ở đất nước ông. Kết quả bất ngờ, họ ủng hộ nhiệt liệt ông, họ xiết chặt tay  thân ái cám ơn việc làm tốt của ông, làm ông rất khích lệ đến không cầm được nước mắt.

Trước khi ra về, mọi người tha thiết mời ông sếp và vợ ở lại dùng bữa. Hôm nay người ta “cúng thất” cho một người thầy kính mến vừa mới qua đời tên… Sarmiento.  Đứng trước di ảnh của người quá cố ông sững cả người đến không nói được thành lời, đó chính là người ông vừa gặp tuần trước ở sân bệnh viện và đã mách bảo với ông về địa chỉ này. Và ngày giờ ông gặp cũng đúng vào lúc ông cụ từ giã cõi đời.

*

Chao ôi, người đã đi rồi vẫn còn quyến luyến và lo nghĩ cho nỗi khổ thế gian, cố nấn ná lại làm thêm chút việc cho người, cho đời… thân thể đã buốt lạnh nhưng con tim vẫn con ấm nóng. Vậy thì sao người còn lại ở đời có thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những cảnh thương tâm, những con người khốn khó, những cô nhi tội nghiệp”

Ông Sarmiento ra đi chẳng để lại tài sản gì và mai này chúng ta ra đi cũng chẳng mang theo được những gì. Tất cả sẽ trở về với cát bụi cả thôi. Chỉ có linh hồn cao quí là trường tồn mãi mãi.

 Giờ này chắc ông Sarmiento đang khẳng khái, mạnh dạn bước vào nước thiên đàng, bởi những việc làm khi còn sinh thời đã khiến ông thanh thản, không còn vướng mắc gì. Đừng sợ người chết và hãy yêu hơn những người còn sống quanh ta. Vì họ cho ta được những khám phá về thực tại và về chân lý, cho ta mỗi ngày vun trồng đức nhẫn nại, lòng bao dung và niềm hy vọng….

Chợ Trời Ở Mỹ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on September 17, 2024 by dongsongcu

Trần Đông Thành

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

Tác giả Trần Đông Thành hiện sống ở Bắc California. Trước làm nghề Income Tax nay về hưu. Ông đã nhận giải Danh dự Viết Về Nước Mỹ năm 2017. Bài viết dưới đây phác họa vài nét cảnh chợ trời ở Mỹ.

*

Tôi có thói quen thích đi chợ trời. Mỗi cuối tuần ấn định hai ngày thứ Bảy và Chúa Nhật, chưa kể ngày lễ, tôi rất háo hức mong trời mau sáng để đi chợ trời.

Một người bạn ở Mỹ lâu năm chê:

– Tao không biết chợ trời có gì hấp dẫn mà lôi cuốn mày đến đó u mê như một tên nghiện?

– Ậy, điều sung sướng mày sao biết được, “Flea market-Chợ trời” mua được nhiều đồ vật lạ, các đồ cổ mày không thể nào mày thấy trong cửa hàng. Không đi mày làm sao cảm hứng thú vị được như tao.

*

Bạn có thể coi bản đồ hoặc học lịch sử biết được màu sắc, màu cờ các dân tộc nhưng có nhiều sắc dân bạn chưa hề gặp mặt. Thì đây, khu vực Chợ Trời sẽ giúp mình quen biết nhận diện hình dáng, khuôn mặt và bạn có thể trực diện trò chuyện với dân tộc năm châu. Tứ hải giai huynh đệ.

Sáng sớm bãi đậu xe thứ tự xe đậu đầy, miễn phí. Người ở khắp nơi đến đó sắp hàng dài mua vé vô cửa. Có nơi 95 cent, nơi 1$ tùy địa phương. Khu sầm uất nơi vài mẫu, nơi vài sào đất.

Xã hội Chợ Trời đặc thù là khu thương mãi tự do. Ai đến đó bán buôn cũng được. Giá cả trên trời dưới đất. Hàng hóa tự do. Trả giá thoải mái. Vì vậy, người mua có thể mua được hàng rẻ nhưng cũng có thể mua lầm giá cao tới nóc.

Nơi đây quy tụ nhiều dân tộc thế giới như Mexico, France, India, Cambochia… Khách hàng chen chúc, người bán chỉ một cái bàn nhỏ phủ tờ nilon hay giấy báo sơ sài họ bày biện hổn độn, đủ thứ vật dụng nào bông tai, thuốc men, kềm búa, radio, bông hoa, hộp sơn, máy sưởi ấm, computer…

Chỗ này một chị quần áo tây phương gọn ghẻ, môi phấn đỏ tươi mặt sáng như trăng rằm, cầm tay một món hàng hỏi giá theo ngôn ngữ chợ trời, nói sao hiểu thì được. Dân tứ xứ mà!

– How much is this? Man! (Giá bao nhiêu vậy ông?)

Chủ sạp, vo môi, ca tụng hàng của mình:

– My flowers all are beautiful! Fresh! You can pay 10 dollars. Really. You cannot find them anywhere! You are lucky! (Bông hoa của tôi đẹp lắm. Rất tươi. Bà có thể trả 10 đồng. Đúng vậy. Bà không thể tìm mua chúng ở nơi khác. Bà rất may đó.)

Rồi bắt tay khách hàng lấy lòng khách.

– Cheap! Cheap! Hi… hi. (Rẻ! Rẻ lắm!)

Khách hàng hàng mặc cả:

– Two dollars. OK? (Hai đồng được không?)

Hắn quéo môi chử O méo xẹo:

– Tomorrow! (Ngày mai)

Đó là cách từ chối khéo như câu chuyện ngụ ngôn “Mai ăn khỏi trả tiền” của người Việt mình vậy.

Trải tấm nhựa láng giản dị quảng cáo hàng bán rẻ “Everything must go! Cheap! Cheap! Tomorow don’t have it. Guarantee!” (Mọi thứ phải bán hết! Rẻ! Rẻ! Ngày mai không còn nữa. Bảo đảm!)

Nơi đây bố trí như một thành phố thương mại. Kiến trúc đường xá bằng những hàng dọc. Ngôn ngữ Việt, Tàu, Miên, Lào… kêu loa ầm ĩ!

Ngập người qua lại, ở xa trông như các tầng lớp sóng biển ùa tới, khi động, lúc thì vơi. Thật là một đô thị ồn ào và náo nhiệt. Thanh thiên bạch nhật. Nắng không mái che. Mưa không chỗ đục.

Cười nói rao hàng nghe điếc tai. Ông già bà cả đi xe đẩy, trẻ con cười toe toét, cô cậu lựa hàng trả giá ỏm tỏi để mua được hàng rẻ hoặc chủ buôn nói giá cao để được lợi. Đầy đủ ngôn ngữ Tàu, Phi, Miên, Anh, Pháp…Người mặc ríp (váy), kẻ quần áo Tây, áo thun quần đùi; người mình trần trùi trụi.    

Các gian hàng san sát nhau. Hàng bán khác nhau, mới cũ lẫn lộn. Khu quần áo triển lãm đủ kiểu, đủ hạng, đủ giá.

Từ khi có mặt người tỵ nạn, họ ra bán trên các sạp rau cải, bày hoa quả như cà pháo, dấp cá, ổi, táo, nho, thơm, xoài, dưa hấu, mít..

Đặc biệt hàng bán nón treo lủng lẳng các dây nón thòng xuống đất, từng xâu Beret đủ màu, mũ lưởi trai, nón phi công, nón cao bồi và đặc trưng nón lá Việt Nam từng xấp một.

Quầy sang trọng bán nữ trang trưng bày “cả rổ” toàn đồ giả, rẻ sìn. Son phấn lòe loẹt. Viết chì vẽ chân mày bay bướm. Người bày ra bàn ghế, xe máy, dao kéo, giường ván, nệm cũ có cái lốm đốm tì dấu đen đúa rất là dơ bẩn, vậy mà cũng có người mua.

Tại đây bạn có thể mua được hàng mà không thể mua trong tiệm. Cũng có món hàng bạn mua 5 hay 10 đồng mà giá ở tiệm lên đến 100, 200. May rủi!

Có hạng người buôn bán vì sinh kế. Có người rất sang trọng, giàu có, ra bán là để mua vui, giết thì giờ. Kẻ đi chợ trời như đi du lịch. Giải trí chớ không mục đich sắm đồ. Cần gì thì cứ tới đây “lục lạo” bạn sẽ được như ý muốn.

Đang đi thì có tiếng còi tu-huýt của security rượt theo một thanh niên chạy bán sống bán chết.

Người đi đường nói:

– Cướp giựt đồ!

Bạn tôi nhăn mặt bất mãn.

– Xứ Mỹ văn minh mà cũng có nạn cướp! Gớm!

Trần Đông Thành

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 10)

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Trương Duy Hy

Trần Vũ post December 1st, 2020

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31

Tại Khẩu Đội, nhân viên vừa bắn vừa vác đạn không kịp thở. Nhưng không một Pháo Thủ nào lộ vẻ uể oải.

Với ý thức trách nhiệm cao độ và tình đồng đội ràng buộc chặt chẽ, Pháo Đội chúng tôi liên kết mật thiết với Pháo Đội C3 Dù của Trí, hết mình yểm trợ với cố gắng đẩy lui các đợt tấn công quyết liệt đang đe dọa sinh mạng Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù cùng Pháo Đội của Đại Úy Đương ở mặt Bắc và Đông căn cứ.

…Về phía Tây Nam căn cứ Hỏa Lực 31 Pháo Đội 155 ly và Pháo Đội 105 ly Dù ở căn cứ A Lưới cũng dốc hết hỏa lực tác xạ vào mặt Tây và mặt Nam, kề cận vòng đai phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù.

Hỏa lực yểm trợ của chúng tôi càng lúc càng thu gần đến ngay trên rào phòng thủ theo sự điều chỉnh của đích thân Đại Úy Phương Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3 PB Dù. Mặc dù vậy vẫn không hề xảy ra một tai nạn nào đáng tiếc. Nhờ sự điều chỉnh hiệu quả đầy kinh nghiệm này, nhiều lần kim ghi điểm dường như cắm sát bên trong đường chỉ kẽ giới hạn căn cứ Hỏa Lực 31. Tôi lo lắng và hồi hộp… lắng nghe kết quả từng tràng đạn sau khi thoát ra khỏi nòng.

Tôi điện đàm với Trí qua điện thoại:

– Nguy hiểm quá anh! Sao Bạch Phú xin bắn sát thế! Có lúc kim ghi tọa độ của tôi lọt hẳn vào trong vị trí?!

– Đại Úy không nghe đó sao, tình hình ở trển nặng lắm! Ông Phó của tôi phải đích thân vào máy đấy. Đại Úy cố gắng giúp cho kẻo bị xài xể!

– Vâng, tôi biết bổn phận của tôi lắm. Anh yên trí, tôi đích thân đốc thúc từ Đài Tác Xạ đến Khẩu Đội. Với tôi, việc tác xạ như thế này là nhanh nhất đấy. Mỗi viên đạn của tôi ra khỏi nòng phải tốn 4, 5 động tác, làm không kịp thở!

…Ầm…ầm…! cùng lúc 2 quả đạn cối 82 ly từ hướng Đông nhẻo ngay vào bên ngoài bia súng khẩu 4. Tôi vội đặt điện thoại xuống giá, nhảy lên khỏi Đài Tác Xạ. Khói và bụi đất còn vẩn vơ trôi theo gió là là trên mặt đất. May, nhân viên không ai bị thương.

Bây giờ đúng 11g15.

Tiếp theo, Cộng quân liên tục điều chỉnh vào vị trí tôi, cứ vài phút 1 quả. Thỉnh thoảng tiếng hú rợn người của đại bác địch bay vèo qua đầu từ Bắc xuống Nam, nổ ầm ầm sát rào căn cứ.

Tôi gọi Bạch Phú:

– Bạch Phú…! Bạch Phú! đây 83… Hiện chỗ tôi có mưa rơi lác đác (ý tôi báo động cùng Bạch Phú rằng chúng tôi đang bị địch pháo kích).

– 83!… đây Bạch Phú, hãy cố gắng giúp tôi. Các bạn bắn đẹp lắm, hiệu quả lắm. Nhưng chúng đông quá, có cả chiến xa trợ chiến. Xin các bạn làm liên tục cho chúng tôi…

– Tôi sẽ cố gắng hết mình. Thẩm quyền hãy yên trí. Lúc nào còn tác xạ được, chúng tôi không nề hà gì cả. Tôi lo cho thẩm quyền nhiều lắm!

Trong lúc bối rối giải quyết áp lực địch tại căn cứ Hỏa Lực 31, tiền đồn hướng Đông Nam chúng tôi khám phá được mục tiêu địch đặt súng cối và yêu cầu chúng tôi khẩn cấp tác xạ tiêu hủy.

Tôi vội vàng ra lệnh khẩu 6 trực xạ. Bốn khẩu còn lại vẫn tiếp tục yểm trợ căn cứ Hỏa Lực 31.

…Ầm!… một tiếng nổ kinh khủng với hàng trăm mảnh vụn của một quả đạn pháo binh địch tung tóe ngay giữa lòng khẩu 5 — là khẩu mà tôi đã gởi về Đông Hà sửa chữa, đặt sát khẩu 6 — làm 2 pháo thủ khẩu 6 của TS Đợi bị thương, 1 nặng và 1 nhẹ. Thật là may cho nhân viên khẩu 5, vì nếu quân cụ sửa chữa xong gởi trả lại cho Pháo Đội thì lúc bấy giờ chắc chắn toàn thể nhân viên khẩu 5 hứng hết từng ấy mảnh đạn.

Tôi đến quan sát điểm nổ, mặt đất bị lõm xuống khoảng 3 tấc và đường kính cỡ 8 tấc. Sỏi sạn nám đen, hàng ống nạp bằng sắt chứa đất làm ụ súng bị xô ngã và hơn 5, 6 ống bị cắt vụn tung tóe!

15 phút sau, mực độ pháo kích của địch gia tăng dần. Đến 12g00 đạn địch rơi ngay vào giữa các càng súng.

Cùng lúc đó, căn cứ Hỏa Lực 31 ơi ới gọi về:

– Chúng đông quá, đang tấn công quyết liệt: chiến xa chúng tràn gần đến vị trí rồi… Thanh Phu (là danh hiệu của Pháo Đội C 3 Dù)! Thanh Phu!… 83! 83!.. hãy bắn đầu nổ cao, C.V.T cho chúng tôi.

Tôi điện đàm với Trí ngay:

– Coi bộ nguy hiểm lắm rồi! Anh có C.V.T không? Tôi chỉ còn đầu nổ cao thôi! Anh nghĩ sao? Có nên bắn các loại hỏa pháo đó không?

– Khổ quá, tôi chẳng biết tính sao đây!

Tiếng hối thúc vọng từ chiếc máy PRC-25 càng lúc càng cấp bách:

– Bắn ngay CVT, VT và đầu nổ cao cho chúng tôi (1). Chúng sắp tràn vào vị trí. Cứ bắn ngay trên đầu chúng đi! Nhanh lên! Nhanh lên!

[(1) Đầu nổ cao, VT, CVT là những loại đầu nổ có thể điều chỉnh để quả đạn nổ trên mục tiêu khoảng 18, 20 thước. Với sự điều chỉnh chính xác, cao độ điểm nổ này sẽ sát hại địch tối đa ngoài trời. CVT: Controlled Variable Time. Viết đến đây, tuy đã xa chiến trận đến hai tháng mà tôi còn cảm thấy ớn lạnh cả người. Hình ảnh khủng khiếp ấy hiện rõ, quá rõ trong trí tôi!.]

Cùng một tần số làm việc, tôi nghĩ rằng các đơn vị phải yểm trợ cho căn cứ Hỏa Lực 31, lúc bấy giờ hẳn cũng quýnh lên chẳng khác gì tôi. Bắn ư? Với hiệu quả đầu nổ cao, VT, CVT hẳn là tiêu diệt được nhiều địch đang vây quanh và sắp tràn vào vị trí, bãi đáp trực thăng trống trải của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù, nhưng binh sĩ của ta thì sao? Tôi lo quá!

– Đ…m… tôi bảo các anh bắn — Các anh có bắn không? Bắn gấp! Bắn gấp cho tôi! Nhanh lên!… Nhanh lên!…

Tiếng Đại Úy Phương Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù như là một nghiêm lệnh khẩn cấp!

Biết nguy hiểm, lo cho hậu quả của chính lực lượng mình tại căn cứ Hỏa Lực 31, nhưng tôi không thể làm gì hơn, phải ra khẩu thi hành tức khắc.

Bên Pháo Đội tôi hàng chục hỏa pháo nổ cao đã ghi sẵn thời nổ 38.5 giây, liên tục nạp vào nòng giật cò. Bên Pháo Đội Trí, CVT cũng được khẩn cấp chuyển đến mục tiêu.

Tôi khựng cả người vì nghĩ đến hậu quả của từng quả đạn! Im lặng nghe kết quả với lòng hồi hộp cực độ!…

– Tốt đấy, các anh tiếp tục nhiều cho tôi. Bọn chúng chết như rạ.

– Vâng, tôi tiếp tục.

Tôi có cảm tưởng kẻ vô hình nào đó đã nới tay ra, không bóp lấy khí quản của tôi nữa! Tôi thở phào nhẹ nhỏm, như chính mình vừa vượt qua một bãi cát nóng bỏng, trên vai quảy một gánh nặng ngàn cân, may gặp bóng râm mát của cây đa đầu làng!

Tôi ra lệnh cho các khẩu giữ yếu tố về hướng, về tầm, cùng thời nổ tác xạ nhanh hơn nữa.

10 phút sau, khoảng 12g10, bỗng khẩu bìa của Trí có một quả đạn nổ bất thường trong nòng súng. Kết quả gây cho 1 Khẩu Trưởng thiệt mạng và vài pháo thủ khác bị thương!

Tai nạn này xảy ra ngay trước khẩu 3 và khẩu 2 của Pháo Đội chúng tôi.

Đồng thời địch gây áp lực pháo kích bằng cả 57 ly bắn thẳng vào vị trí… Kế tiếp, có cả 75 ly không giựt cùng súng cối, pháo binh… uy hiếp nặng nề vị trí chúng tôi và vị trí PĐC 3 Dù.

12g20, khẩu 2 bị địch trực xạ trúng các cung răng chiều cao về hướng, nhưng may mắn cho các pháo thủ không bị thương — nhưng khóa chặt khẩu này không còn cách gì quay nòng súng được nữa.

Tôi bảo Bạch Phú:

– Bạch Phú!…Bạch Phú!… đây 83! Tôi trình với thẩm quyền hiện mưa rơi quá nhiều vào chúng tôi! Hầu hết mấy con gà của tôi bị ướt cánh!

– 83! 83!… Đây Bạch Phú! Chúng tôi thông cảm các anh lắm. Hễ ngớt mưa, xin anh cho anh em ra yểm trợ cho chúng tôi. Nhờ các anh cố gắng giúp đỡ chúng tôi với! Bây giờ chỉ còn nhờ vào sự hổ tương của các anh thôi… Phi yểm chưa có…

Thế rồi các pháo thủ của tôi và Trí đành phải tạm thời nấp vào các hầm. Lừa lúc Cộng quân ngớt pháo kích, các pháo thủ nhào ra « thụt » vài quả — xong, vội vàng nhào vào hầm… cứ thế, vừa bắn… vừa nghe ngóng… vừa bắn…

Tin tai nạn tác xạ, cùng những khó khăn vì « mưa rơi » tại căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi được Bạch Phú ghi nhận.

Sau đó không lâu, qua máy truyền tin PRC-25, tôi nghe Đại Úy Vẹn Pháo Đội Trưởng Pháo Đội B/TĐ44 PB tại A Lưới cũng báo cáo địch làm mưa khắp vị trí bằng hỏa tiễn 122 ly và cối 82 ly để khóa súng!

Đang loay hoay ở Đài Tác Xạ B1, Huân và HS Bình đã dọn sẵn bữa ăn tại hầm cho tôi. Tôi gọi các Sĩ quan vào ăn. Trong lúc vừa ăn, tôi bảo Thiếu Úy Toại:

– Anh chuẩn bị sẵn sàng để về Khe Sanh lo tiếp tế đạn cho Pháo Đội. Đó là lệnh của Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng mới điện cho tôi. Đồ đoàn của anh có nhiều không?

– Tôi chỉ có một ghế bố, sac marin và một cái ba lô.

– Tình hình bây giờ mỗi lúc một khẩn cấp, bãi đáp cứ bị pháo kích hoài. Tiện nhất, khi xin được trực thăng, anh nên đi về với cái ba lô thôi… còn đồ đoàn tôi cho bỏ vào móc hậu nước gởi về sau cũng được. Các anh thấy trực thăng di tản Tiểu Đoàn 21 BĐQ sáng nay thì biết! Nó chỉ sà gần mặt đất rồi cất bổng lên ngay.

Lân, Thiện đều có gởi thư nhờ Toại mang về.

Ăn xong, tôi đứng ở ngạch thông với Đài Tác Xạ uống nước. Vừa lúc đó, một Đại Úy Hoa Kỳ đi nhanh từ Bộ Chỉ Huy TĐ2 Dù ra bãi đáp. Tôi chào và xin cho Toại tháp tùng. Vị sĩ quan đẹp trai và khả ái này vui vẻ nhận lời ngay. Sau khi bắt tay từ giã, ông ta vội vả đi ra hướng bãi đáp. Đồng thời, tôi quay vào hầm bảo Toại:

– Toại ra mau, tôi xin được trực thăng rồi. Ra gấp đi kẻo trực thăng không thể đợi lâu được.

Từ bàn ăn, Toại tuôn chạy về hầm của anh ta cách chỗ ngồi ăn một vách đất. Thiện chạy theo cùng Binh nhì Trợ. Cả hai, mỗi người xách một món đồ cho Toại. Tôi bực mình hết sức khi thấy Thiện chạy với đầu trần không đội nón sắt, không mặc áo giáp… vác cái sac thật nặng cho Toại. Còn Trợ thì vác cái ghế bố trong lúc Toại đang loay hoay mặc áo giáp, vừa vác cái ba lô… Tôi gọi giật ngược Thiện:

– Thiện!… Thiện!… đừng ra ngoài ấy! Nón sắt, áo giáp đâu mà chạy thí mạng thế?

Nhưng Thiện không nghe!

Chiếc trực thăng vẫn quay đều chong chóng… cố gắng đợi…

Bỗng… ầm… một tiếng nổ chát tại ngay chân trực thăng do 1 quả pháo kích của Cộng quân phát nổ. Đúng ngay lúc Thiện, Toại, Trợ đến bên hông trực thăng. Khói bốc lên và cánh quạt quay chậm… chậm… dần rồi đứng nguyên bất động. Đồng thời, tất cả mọi người tại chỗ nhào vội trên đất bò lê bò càng vào tuyến thứ hai, cố tránh xa trực thăng.

Vị Đại Úy khả ái cùng viên phi công chết ngay tại chỗ! Thiện, Toại, Trợ bị thương nặng.

Tất cả những cảnh tượng trên hiện ra trước mắt tôi không quá 75 thước làm cho tôi bàng hoàng như sống trong mơ. Thiện nằm sóng sượt trên bãi đáp rên rỉ.

Tôi giận quá! Phải chi tôi không dặn trước cách đó 3 phút thì những việc kể trên không đáng làm cho tôi bực tức, hoặc giả tôi không gọi Thiện để Thiện vô tình bị nạn oan, tôi đâu có ân hận! Tất cả… tất cả chỉ vì anh em không nghe lời tôi mà hậu quả mang lại trong phút chốc 2 sĩ quan và 1 pháo thủ của tôi bị loại ra khỏi vòng chiến.

Tiếp đó 4 pháo thủ khác tiến ra bãi đáp cõng anh em vào. Lại… ầm… thêm một quả đạn pháo kích của địch! Quả này cách điểm nổ quả trước non 10 thước, sâu vào hướng Thiện, Toại, Trợ đang nằm, làm cho 4 pháo thủ đi tải thương nằm liệt ngay tại chỗ!

Từ đó, tôi phải cho anh em bò sát đất ra tải thương nhưng lần này phải tải đến 6 nhân viên bị thương! Kết quả chỉ có Thiện bị thương nặng ở mông, chân và tay. Toại bị thương ở gót chân, Trợ bị thương khắp mình. Riêng 4 pháo thủ bị thương đợt sau nhẹ hơn, có thể đi lại được.

Khi chuyển tất cả anh em bị thương qua hầm bệnh xá của BCH/TĐ 2 Dù, tôi đích thân đến tận nơi khẩn thiết xin bác sĩ cố gắng cứu chữa cho Thiện, Trợ. Đồng thời nhờ Đại Úy Trần-Công-Hạnh can thiệp xin trực thăng tải thương. Đại Úy Hạnh nhận lời, gọi thẳng về Bộ Tư Lệnh Dù xin phương tiện.

Hầm cứu thương quá chật, ngoài binh sĩ Tiểu Đoàn 2 Dù, pháo thủ PĐC 3 Dù bị pháo kích, còn có các pháo thủ của tôi và vài binh sĩ BĐQ. Tất cả đều được khiêng vào đây nên buộc lòng tôi phải đưa thương binh của Pháo Đội trở lại vị trí, sau khi băng bó xong.

Tôi quay lại Đài Tác Xạ, được biết tình hình căn cứ Hỏa Lực 31 quá nguy ngập, Cộng quân tràn lên bãi đáp — là con đường duy nhất tiến vào Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù và BCH/TĐ 3 Pháo Binh Dù.

Tôi điện đàm với Trí:

– Tình hình sao nguy hiểm đến thế mà chẳng nghe có kế hoạch gì mới cho Bạch Phú hả anh?

– Như tơ vò ở trển rồi Đại Úy! Tôi ráng cho binh sĩ ra tác xạ mà ra không nổi, nó pháo ngay chốc. Tôi bị 7 con bất khiển dụng rồi…

– Từ sáng tới giờ, chưa gì mà tôi đã bị 9 con rồi. Nhưng chỉ một nặng. Bên tôi có lẽ chúng dễ quan sát nên chúng bắn 57 ly dính ngay vào đại bác. Khẩu 2 của tôi xem như tê liệt hoàn toàn, các cung răng bị cắt, làm kẹt cứng tay quay chiều cao và hướng. Khẩu 3 và khẩu 6 xẹp cả 2 lớp. Nhưng 2 khẩu này không ảnh hưởng gì đến tác xạ vì súng tôi xử dụng kít. Tôi còn bị vỡ 2 máy nhắm nữa! Tai hại quá!

Bây giờ là 14g15.

Tiếng « check fire », « check fire »  vang trong máy từ căn cứ Hỏa Lực 31 gởi đi các nơi, sau đó 2 phản lực cơ bay đến oanh kích dữ dội.

Quanh căn cứ, địch tiến như vũ bão, cố xé một khoảng trống cho bộ binh ùa vào vị trí… Rủi ro, một trong hai phản lực cơ bị lâm nạn, phi công thoát ra khỏi phi cơ với 2 cây dù đỏ treo lơ lửng trên không, chiếc jet phản lực còn lại bỏ nhiệm vụ yểm trợ, vần vũ bảo vệ mạng viên phi công ngộ nạn. Sau đó có 2 Cobra và 1 trực thăng tải thương tiếp đến, nhưng lại cũng với nhiệm vụ cố gắng cứu phi công mà thôi.

Cùng lúc, hầu hết các căn cứ Hỏa Lực Pháo Binh có nhiệm vụ tác xạ giải tỏa áp lực địch tại căn cứ Hỏa Lực 31, đều bị pháo kích khủng khiếp, địch cố tình làm giảm khả năng yểm trợ hổ tương của chúng tôi, Dù vậy, Trí và tôi vẫn cố gắng, cùng với PĐB/ TĐ44 PB, PĐAI/Dù ở A Lưới cho nhân viên ra khẩu tác xạ… Sau mỗi lần giật cò, lại vội nhảy xuống hố cá nhân nấp, nghe ngóng động tĩnh xem có tiếng « départ » pháo kích địch không, xong lại lao lên nạp đạn… giật cò… Cứ thế, các pháo thủ tác xạ lai rai cho Bạch Phú.

Cuối cùng, căn cứ Hỏa Lực 31 đành phải xử dụng hỏa lực cơ hữu chống trả.

Lúc bấy giờ, Pháo Đội Đại Úy Nguyễn Văn Đương vẫn còn xử dụng danh hiệu Huyền Phú — và chỉ có hỏa lực của Huyền Phú trực xạ chống chiến xa hữu hiệu hơn cả.

Đại Úy Đương xử dụng PRC-25 liên lạc với Bạch Phú:

– Bạch Phú!… Bạch Phú!… đây Huyền Phú!… tôi đã bắn hạ 3 chiến xa địch tại bãi đáp rồi. Bọn chúng không dám tiến vào nữa!

– Phải cẩn thận kẻo tốp sau chúng nhào lên đấy.

– Chúng tôi đang bắt sống mấy tên Việt cộng còn sót trên bãi trực thăng. Chúng chết nhiều lắm!

Im lặng một chốc, Đại Úy Đương báo cáo:

– Một trong ba chiến xa địch đứt xích nằm tại chỗ. Bọn tôi leo lên nhưng mở bửng không ra. Chúng khóa kỹ và bên trong chỉ còn một vài tên thôi.

– Nếu bắt sống không được, cho anh em dang ra, nấp dưới hầm cá nhân « thụt » M72 cho chúng chết đi chứ.

– Vâng, tôi sẽ thi hành.

Chiến trường bỗng nhiên lắng dịu, nhưng là cái lắng dịu trong sự hãi hùng nghiêm trọng! (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31 (Tiếp theo)

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

 (**) Là đại úy Nguyễn Văn Đương mà Trần Thiện Thanh viết trong ca khúc Anh Không Chết Đâu Em.

Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 9)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post Decmeber 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 19 Sep 2024


Biệt Động Quân trong Hành quân Lam Sơn 719

Cánh quân án ngữ mặt Bắc do Liên Đoàn 1 BĐQ và Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh thuộc Quân Đoàn 1 đảm trách. Liên Đoàn 1 BĐQ gồm 3 Tiểu Đoàn 21, 37 và 39. Toán quân này có nhiệm vụ thiết lập những vị trí tiền đồn ở vùng cực Bắc của khu vực hành quân để phát hiện và ngăn chận lực lượng tăng viện của Cộng quân từ vùng phi quân sự kéo xuống.

Liên Đoàn 1 BĐQ do Đại Tá Nguyễn Văn Hiệp xuất thân Khóa 8 Võ Bị Đà Lạt chỉ huy. Liên Đoàn Phó là Trung Tá Lê Bảo Toàn. Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 1 BĐQ đóng tại căn cứ Phú Lộc gần Tà Bạt, trong phần đất VNCH cùng với Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh.

Các Tiểu Đoàn BĐQ tham chiến gồm:

– Tiểu Đoàn 21 BĐQ đóng tại căn cứ Ranger South do Thiếu tá Nguyễn Hiệp chỉ huy, Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Quách Thưởng.

– Tiểu Đoàn 39 BĐQ đóng tại căn cứ Ranger North do Thiếu Tá Vũ Đình Khang chỉ huy với Đại Úy Đỗ Đức Chiến làm Tiểu Đoàn Phó.

– Tiểu Đoàn 37 BĐQ đóng tại căn cứ Phú Lộc để làm trừ bị và bảo vệ bộ chỉ huy Liên đoàn, do Thiếu Tá Trần Văn Nghênh chỉ huy với Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Lại Thế Thiết.

[Hải quân Thiếu tá Trần Đỗ Cẩm, Những Trận Đánh Của Biệt Động Quân tại Hạ Lào]

TRONG NHỮNG NGÀY TỬ THỦ

Ngày 23-2-1971, tin từ căn cứ Hỏa Lực 31, nơi Đại Tá Thọ cùng Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù cùng Pháo Đội B (105 ly) của Đại Úy Nguyễn-Văn-Đương trú đóng bị Cộng quân pháo kích dữ dội, chiến xa địch xuất hiện… và uy hiếp các Đại Đội Tiền đồn.

Trung Tá Bùi-Văn-Châu, Đại Úy Hà-Minh-Phương, Đại Úy Đào-Văn-Thương gọi máy xin tác xạ yểm trợ tối đa, đặt hết tin tưởng vào sự giải cứu của các đơn vị pháo binh đặt tại căn cứ Hỏa Lực 30, căn cứ A Lưới.

5 khẩu đại bác 155 ly của tôi cùng 6 khẩu 105 ly của PĐC 3 Dù thi nhau phun hàng loạt, hàng loạt đạn ngay trên các chuyến tiếp liệu… nơi Việt cộng đang rải quân tấn công vào vị trí. Mãi đến 14g30, nhờ không yểm tăng cường mới đẩy lui được chúng.

Chỉ riêng yểm trợ cho căn cứ Hỏa Lực 31 từ 9g00 đến 14g00, Pháo Đội tôi đã tiêu thụ 625 quả đạn 155 ly.

Sau khi ngưng tác xạ cho căn cứ này, một đoàn Chinook tái tiếp tế đạn và lương khô, thả trên bãi đáp hàng chục lưới hàng.

Tức khắc, chúng tôi huy động toàn lực nhân viên Pháo Đội, chỉ trừ một nhân viên trực máy và Thiếu Úy Ngân trực Đài Tác Xạ ở lại vị trí, còn bao nhiêu đều ra bãi trực thăng chuyển vận đạn, nạp vào khẩu, vào hầm.

Nhờ động viên toàn lực và kịp thời, chúng tôi hoàn tất công tác lúc 16g30. Nhưng ngay khi đó, Sĩ quan liên lạc Tiểu Đoàn 2 Dù xin tác xạ yểm trợ cho Đại Đội 321. Chúng tôi thêm một lần vất vả nữa. Ì à, ì ạch quay 3 khẩu về hướng Đông Nam, mệt ngất đến không còn buồn nhìn bữa cơm gạo sấy khô khan với mấy miếng thịt ba lát « đáng ghét » vì quá ngấy.

Đạn đại bác chúng tôi giòn giã thúc vào sườn núi, tiếng vang vọng lại rầm rầm. Tôi ao ước tiêu diệt hẳn các khẩu súng cối của chúng để Đại Đội tiền đồn yên ổn và chúng tôi đở nhọc hơn… Điều ước muốn đó được đáp ứng ngay!… Sau vài loạt đạn đầu, Tiền Sát Viên Đại Đội này cho biết đã hủy diệt được một khẩu 82 ly của chúng.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhìn Lân, Thiện bảo:

– Thế mới không bỏ công bọn mình chứ!

Bọn chúng tôi lập tức loan tin chiến thắng đó cho các khẩu. Niềm hân hoan hiện rõ trên nét mặt mọi người. Chính súng cối ác ôn kia đã nhiều lần góp phần vào việc pháo kích vị trí chúng tôi.

Đến 22g00, Cộng quân tái tấn công căn cứ Hỏa Lực 31. Cũng với giọng Đại Úy Thương, Trưởng Ban 3 TĐ3/PB Dù gọi trực tiếp xin gặp tôi ở đầu máy. Thương thuật cho tôi rõ tình hình nặng nề của căn cứ Hỏa Lực 31 và khẩn thiết xin tôi hãy cố gắng tác xạ càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Giờ thì địch bám sát lắm rồi.

Tôi trả lời cho Thương biết, cứ yên trí, tôi sẽ thỏa mãn 100%… Thế rồi, 3 khẩu khẩn cấp quay càng lần nữa. Chẳng mấy chốc, chúng tôi có tất cả 5 khẩu 155 ly và 6 khẩu 105 ly của Dù thi nhau khạc đạn, đồng loạt phá tan mục tiêu do Thương chỉ định.

Từ căn cứ Hỏa Lực 31, Thương trực tiếp điều chỉnh tác xạ. Có những lúc trên xạ bảng của tôi, nhân viên tác xạ ghi điểm nổ sát vòng rào căn cứ 31 không quá vài chục thước. Tôi lo lắng quá, nhưng Đại Úy Thương vẫn bình tỉnh. Ở đâu bên kia, Thương cho biết binh sĩ ta đều ở trong các công sự chiến đấu có nắp che vững chắc.

Theo dõi qua PRC-25, ngoài 6 khẩu 105 ly của Trí, 5 khẩu 155 ly của tôi, còn có Pháo Đội B/TĐ44 Pháo Binh với 6 khẩu 155 ly, Pháo Đội A1 với 6 khẩu 105 ly ở A Lưới cùng tác xạ với chúng tôi, đồng nỗ lực tạo nên một vòng rào lửa bảo vệ hữu hiệu cho căn cứ này.

Việc điều chỉnh cùng lúc cho tất cả 11 đại bác 155 ly và 12 đại bác 105 ly ở hai nơi khác nhau để tiêu diệt và giải tỏa áp lực nặng nề của địch đang lúc giao tranh mãnh liệt sát vòng đai phòng thủ căn cứ Hỏa Lực 31, đã chứng tỏ được khả năng « chuyên nghiệp » của Đại Úy Thương là đáng kể.

Trên xạ bảng trong Đài Tác Xạ, các tuyến cận phòng cho căn cứ Hỏa Lực 31 cơ hồ nhân viên ghim kim ghi điểm nối tiếp đến rách từng đoạn 2cm, 3cm.

Chúng tôi bắn thục mạng, bắn mãi đến khoảng 23g15 mới tạm ngưng, nhường cho không yểm xạ kích.

Trên không, hỏa châu soi sáng cả một vùng rộng lớn — và mặc dầu ở căn cứ Hỏa Lực 30 với khoảng cách 8 cây số đường chim bay, chúng tôi cũng có thể nhìn thấy lờ mờ cảnh vật chung quanh.

Quá 1g00 sáng ngày 24-2-1971, Cộng quân cảm thấy không thắng nổi đành phải rút, để lại vô số xác chết quanh căn cứ.

Tôi chợp mắt được vài giờ thì trời sáng. Từ căn cứ Hỏa Lực 31, Đại Úy Phương Tiểu Đoàn Phó TĐ3/PB Dù lại vào máy gặp tôi xin tác xạ khẩn cấp! Tình hình tại đấy bỗng dưng sôi động từng phút. Các cuộc ác chiến nảy lửa xảy ra khắp các tiền đồn quanh căn cứ.

Cộng quân dùng cả đến thiết giáp trợ chiến!

Với danh hiệu Bạch Phú, liên tiếp các sĩ quan tham mưu Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù vào máy điều chỉnh tác xạ. 5 đại bác của tôi bắn không kịp vác đạn. Bọn chúng tôi chỉ « check fire » trong lúc có không yểm xạ kích, ngớt không yểm chúng tôi lại tiếp tục tác xạ. Lợi dụng những lúc ngưng tác xạ ấy, pháo thủ hè nhau đi vác đạn và nạp bổ sung cho đầy hầm khẩu, thông nòng, lau buồng đạn… mỗi người một việc làm như cái máy không suy tính.

Tôi bàn với Lân, có lẽ tình hình biến chuyển khác thường nên lệnh tách đôi Pháo Đội chúng tôi không thi hành nữa. Nhất là từ sau ngày 18-2, những đụng độ nảy lửa của Biệt Động Quân, những áp lực nặng nề đổ vào căn cứ Hỏa Lực 31 — chắc chắn đã phần nào ảnh hưởng đến kế hoạch đưa chúng tôi đến thiết lập căn cứ Hỏa Lực 32, làm đầu cầu yểm trợ cho các đơn vị tiến chiếm Tchépone. Lân cũng có những suy nghĩ như tôi. Thế rồi chúng tôi không còn nhắc gì đến việc phân công kẻ ở vị trí cũ, người đi vị trí mới…

Quá 12g00 trưa, theo dõi vô tuyến, tôi được biết một Đại Đội tiền đồn phải dời về một tiền đồn kế cận cố thủ, gần căn cứ Hỏa Lực 31, vì không thể đương cự với áp lực quá nặng nề của Cộng quân.

Mặc dầu vậy, sĩ quan liên lạc Pháo Binh Đại Đội 330 vẫn gọi máy về cám ơn Pháo Đội chúng tôi đã thực hiện vòng đai lửa chính xác, hữu hiệu. Nhất là chúng tôi bắn cháy và làm tê liệt 2 chiến xa địch ngay tại các tuyến phòng thủ tiền đồn.

…Đạn vừa xuống dưới mức an toàn, chúng tôi nhận được tiếp tế ngay.

Khoảng 15g00, Chinook mang đến cho chúng tôi 14 « sorties » trên 1000 quả đầy đủ cả nạp, hỏa pháo và hỏa tiêu tương ứng.

Đây cũng là chuyến tiếp tế hiệu quả cuối cùng gắn liền nhiệm vụ tác xạ của Pháo Đội C 44 Pháo Binh chúng tôi với căn cứ Hỏa Lực 30, cho đến ngày chúng tôi rút khỏi căn cứ!

Tôi cho lệnh nhân viên khẩu 2, 4, 5 lo đạn, khẩu 1, 3, 6 trực tác xạ.

Thấy chúng tôi nhận tiếp tế, Cộng quân ở ven các đồi thấp chung quanh phụ họa với đại bác của chúng thi nhau pháo kích vào bãi đáp! Dầu vậy, Thiếu Úy Thiện, Toại và nhân viên của Pháo Đội vẫn trân người dọn sạch bãi đáp trong một thời gian kỷ lục. Các « sorties » 105 ly của Trí được khẩn cấp chuyển vận bằng một xe dodge đưa vào vị trí.

Cứ nhìn vào tinh thần phục vụ của các sĩ quan và nhân viên Pháo Đội trước cảnh vô cùng nguy hiểm dưới cơn mưa pháo, lại không nề vất vả, tôi tin tưởng rằng chúng tôi có thể khắc phục được bất cứ trở ngại nào khác sẽ đến với chúng tôi.

Tôi gọi Lân ra xem anh em làm việc, những phản ứng nhanh nhẹn của binh sĩ nhảy xuống hố cá nhân ven bãi đáp khi nghe tiếng « depart » và những tràn cười ròn rả sau tiếng nổ quanh triền núi của các pháo thủ dội lại tiếp đấy — xong, anh em chạy nhanh tới các lưới đạn, nạp, chặt các niềng thép, xô cho đạn, nạp rời ra từng quả, từng ống, vác vội mỗi người 1 quả lao về hầm đạn vứt xuống. Nhiều khi thóp cả ruột và lo đến toát mồ hôi. Tôi lo, vì nghĩ dại rằng, lỡ có một binh sĩ nào chết hoặc bị thương, việc xin tải thương là cả một vấn đề.

Song song với việc tiếp nhận đạn, khẩu 1, 3, 6 tiếp tục tác xạ khi nhiệm vụ không yểm tạm ngưng. Thiếu Úy Ngân cùng các Hạ Sĩ Quan tác xạ tính yếu tố, kiểm soát yếu tố và đọc yếu tố cho các khẩu không dứt.

Hai toán đều cộng tác một cách tích cực, nên nhiệm vụ tác xạ của chúng tôi không hề bị gián đoạn, chắc chắn đã làm đẹp lòng Bạch Phú qua những lời cám ơn nồng nhiệt từ căn cứ Hỏa Lực 31 gởi đến.

Đêm nay, hướng Bắc hỏa châu soi sáng liên tục do các phi vụ C-47 biến cải thi hành. Ánh sáng tỏa rộng khắp nơi để yểm trợ cho Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Hiệp đang cầm cự với địch.

Tại căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi cách Tiểu Đoàn 21 BĐQ không quá 4 cây số, các pháo thủ ra ngồi hóng mát trên các nắp hầm, nhìn hỏa châu tán chuyện gẫu. Họ cũng lắm chuyện để tâm sự, nào chuyện nhà cửa, vợ con, chuyện tình nhân, bạn bè… chuyện hành quân của những năm trước khi đóng đồn tại căn cứ Carol, khi trực thăng vận xuống Fuller… và mỗi người đều có những viễn tượng đẹp đẽ kiêu hùng nghĩ đến ngày trở về Việt Nam với vòng hoa chiến thắng do em gái hậu phương quàng vào cổ, với những tấm huy chương vàng đỏ trên ngực, với những ngày phép dài bù đắp cho những lúc vất vả gian nan trên đất Lào.

Ngày 25-2-1971, trời chưa sáng hẳn, Bạch Phú đã yêu cầu tác xạ.

Đến 9g00, kế hoạch « Du-Lu 1 » được áp dụng cho Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân. Tôi chia 3 khẩu tác xạ cho Bạch Phú và 2 khẩu tác xạ liên tục với nhịp bắn tối đa cho Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân, dưới sự điều chỉnh trung gian của Trung Úy Kim.

Đài Tác Xạ Pháo Đội bận rộn hơn bao giờ hết — vì hai nơi đều đòi hỏi tác xạ yểm trợ thật nhanh và thật nhiều. Tuy nhiên, nhờ ở sự điều hành có thứ tự và nhân viên Đài Tác Xạ đầy đủ khả năng, thiện chí, nhân viên khẩu đội cẩn thận, bình tĩnh, không e ngại cực nhọc, tôi đã chu toàn một cách viên mãn nhiệm vụ tác xạ cùng lúc cho 2 nơi ấy.

Một vài loạt đạn pháo kích rời rạc lọt vào ven vị trí, không làm nao núng tinh thần của các Pháo Thủ.

Bây giờ Pháo Đội hoàn tất thêm một cái hầm riêng kề cận Đài Tác Xạ, thông nhau bằng một ngách nhỏ, trên hầm có 6, 7 lớp bao cát, trong hầm có cây chống đường kính cỡ 3 tấc. Hầm vừa đủ kê 2 ghế bố để tôi và Lân nghỉ ngơi, rất vững chắc. Từ phút này về sau, chính nơi đây đã tạo cho tôi một sự bình tĩnh đáng kể chỉ huy phản pháo, trực xạ, làm nhiệm vụ một Sĩ quan Tiền Sát Viên điều chỉnh các tác xạ hổ tương với các Pháo Đội A1/Dù, B/TĐ44 PB và Pháo Đội A/TĐ64 PB.

…Khoảng 10g00 một đoàn trực thăng khẩn cấp sà đến bốc Tiểu Đoàn 21 BĐQ thả xuống căn cứ Hỏa Lực 30. Số trực thăng này được hộ tống bởi 4 chiếc Cobra (trực thăng võ trang).

Đứng trên nóc Đài Tác Xạ, chúng tôi nhìn rõ những « hoa đạn » nổ trên không trung, tạo nên những đóm bông trắng đục quanh trực thăng. Đó là hệ thống phòng không của địch đang hoạt động ráo riết, cố tạo cho đoàn phi cơ có nhiệm vụ triệt thoái này chùn bước. Nhưng không, điều đó chẳng những đã không chặn đứng được kế hoạch của ta, mà còn tạo nên những pha đẹp mắt trước mọi người, gương can đảm của Phi hành đoàn… Hầu hết các cao xạ địch nhắm vào Cobra hộ tống, do đó, dần dần chỉ có những trực thăng này đương cự với các ổ phòng không địch. Lúc thì rà sát trên ngọn cây xối rocket, lúc thì vụt cao để quan sát. Có những đốm nổ không xa trực thăng mấy, nhưng may mắn trong cuộc triệt thoái này không một trực thăng nào bị hạ.

Chốc chốc… khuất lấp sau những chòm cây rậm dưới tầm mắt chúng tôi… một trực thăng vượt lên mang theo một số chiến sĩ can trường của Tiểu Đoàn 21 BĐQ, sau cả tuần cầm cự với địch quân tại thung lũng phía Bắc căn cứ chúng tôi… Rồi lần lượt hết chiếc này đến chiếc khác nối nhau khoảng vài phút… mang đến căn cứ chúng tôi trọn vẹn Tiểu Đoàn 21 BĐQ cùng một số quân nhân thuộc Tiểu Đoàn 39 BĐQ. Có vài binh sĩ ngồi hoặc bu trên chân trực thăng, làm tôi nghĩ rằng cuộc triệt thoái hẳn là cấp bách.

Từ bãi đáp, Thiếu Tá Nguyễn-Hiệp Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 21 BĐQ cùng vài sĩ quan phụ tá hối hả nhảy xuống chạy vội vào Đài Tác Xạ. Lân ra tiếp và hỏi Thiếu Tá:

– Tình hình ra sao mà triệt thoái gấp thế?

Tôi nghe rõ từng hơi thở nhanh, gấp của Thiếu Tá Hiệp qua giọng nói ngắt quảng:

– Nặng lắm, nặng lắm, chúng tôi rút kịp thật là may.

Thiếu Tá Hiệp đưa bản đồ ra và thuật lại sơ lược tình hình tại vị trí của Thiếu Tá, trước và trong lúc triệt thoái cho Lân nghe.

Lân tiếp:

– Thiếu Tá cần liên lạc về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn thì có máy sẵn ở Đài Tác Xạ… Mời Thiếu Tá xuống nói chuyện.

Cùng lúc, một nhân viên truyền tin của Thiếu Tá Hiệp kịp thời mang PRC-25 đến để Thiếu Tá liên lạc.

Vài Sĩ quan cùng khóa với Thiện nghỉ mệt trên nóc hầm, thuật lại những vụ chạm súng nẩy lửa giữa Tiểu Đoàn 21 BĐQ và Cộng quân từ mấy ngày qua.

Trên nét mặt mọi người đều tỏ vẻ hân hoan được rút kịp thời khỏi vùng tử địa.

Nhưng dù sao, cuộc triệt thoái này đã một phần nào làm cho binh sĩ tại căn cứ Hỏa Lực 30 thêm hoang mang lo âu, nhứt là sự kiện đang xảy ra nối tiếp với tin Tiểu Đoàn 39 BĐQ tan hàng không quá một tuần lễ!

Sau khi toàn bộ Tiểu Đoàn 21 BĐQ tạm thời đưa về vị trí chúng tôi và kiểm điểm lại quân số, lúc 10g30 một số trực thăng khác đến di chuyển đơn vị này về Phú Lộc.

Không biết có phải vì trực thăng bị giới hạn phi xuất chăng (?), sau đấy còn Đại Đội 1 của Tiểu Đoàn này không có trực thăng triệt thoái, phải tạm thời ở lại căn cứ Hỏa Lực 30. Trong số anh em đó, có Thiếu Úy Đẩu, người Huế — cũng là một chứng nhân nhìn được cảnh chiến đấu tử thủ căn cứ Hỏa Lực 30 của chiến binh Dù và Pháo Thủ.

Hoàn tất kế hoạch « Du-Lu 1 », tôi cho lệnh quay súng về căn cứ Hỏa Lực 31.

Pháo Đội tiếp tục tác xạ yểm trợ bằng 5 khẩu với nhịp bắn gấp rút. 6 khẩu 105 ly của Trí cũng gầm gừ liên tục. Tình hình căn cứ Hỏa Lực 31 khẩn trương hơn bao giờ hết. Địch bám sát… bám sát… càng lúc càng đông. (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Ký Thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

Google photo

2. Hạ bệ

Ông Ích Thành đang thắt cà-vạt thì thấy Hùng, người con trai độc nhứt của ông cũng sửa soạn để đi đâu đó. 
– Con cũng đi nữa sao? 
Ông Ích Thành hỏi con mà mắt nhìn mãi vào cái nơ trong gương. 
– Con đi học tối ba à… 
– Vậy à, đêm nay có buổi học tối à? 
– Dạ thưa có. 
Ông Ích Thành hơi bực mình, nhưng ông chỉ nhăn mặt một cái rồi bình tĩnh lại mà nói: 
– Thôi được. Nhưng sau buổi học, đừng đi chơi đâu hết, phải về cho sớm đặng coi chừng nhà. Má mầy, hôm về dưới bà ngoại, có dặn kỹ lắm đó, nói hai đứa ở mới nầy không tin cậy được đâu. Tao thì đến khuya, tao mới về được. 
– Dạ. 
Cậu Hùng, một thiếu niên mười bảy, nhìn cha ăn mặc, đôi mắt cậu như nói lên tất cả thán phục của cậu. Ông Ích Thành, mặc dầu con buôn, nhưng học rộng, cái gì cũng biết rành mạch. Ông lại sành ăn mặc lắm, đó là một chi tiết dễ tăng uy tín của ông nơi con mắt bọn thiếu niên. 
Hai cha con ra ngoài cùng một lượt với nhau. ông cha vừa lái xe ra khỏi cửa ngõ thì cậu con cũng vừa thót lên một chiếc tắc xi. Nhưng cậu Hùng không đi học đêm, mà đi đến hai ba nơi để rủ thêm bạn, rồi mới bảo xe chạy lại một nhà khiêu vũ to kia. Bọn trẻ vào vũ trường giữa lúc đèn mờ, và bận chọn bàn nên chưa thấy gì hết. 
Họ ngồi sát bìa sân gỗ. Đó là những người con trai sơ-mi bỏ ngoài, áo hở cổ, khác hẳn với những ông đứng tuổi ăn mặc đàng hoàng và có vẻ đi dự tiệc trong bộ lể phục hơn là đi phiếm du tiêu khiển như họ. 
Ngoài sân, khách khiêu vũ giống như những bóng hình trên mặt đèn kéo quân, lũ lượt lướt qua trước mặt họ không biết bao nhiêu lần. 
Hùng chỉ ngó chăm chỉ xuống sân, nhưng chập chập cậu lại điểm tên: Hồng, Liên, Yến, Vui, Cúc… Ấy cậu ta đã thuộc lòng những bàn chân của vũ nữ, thấy là biết của ai ngay, không cần nhìn cao hơn nữa. Cùng một lúc với cuộc điểm bàn chân, cậu thưởng thức bước đi của khách cũng ở nơi đó: có những bước chân bông gòn, và trái lại có những bước chân treo chì, cả hai thứ bước đều hay, bước nhẹ làm chàng sảng khoái, bước nặng giúp chàng vui cười. 
Hùng quả nhiên bật cười lên, làm cho một hột đậu rang trong miệng cậu bi bắn vọt ra ngoài. 
– Gì mà vui dữ vậy? Quí hỏi. 
Tao vừa nghĩ ra một điều thật ngộ nghĩnh, là những cô có tên xấu, như tên Vui chẳng hạn, là những cô mang tên thật, còn những cô có tên thơ mộng, toàn mang tên giả cả. 
– Ấy thế mà tên Hà Đình của em là tên thật đó, cô vũ nữ quen, người miền Bắc, đang ngồi cùng bàn với họ đính chánh như vậy. 
– Tôi không nói cô, cô là trường hợp đặc biệt mà… 
Bỗng Hùng nín lặng. Cả bọn đều ngạc nhiên nhìn anh chàng lắm lời này. Vẻ mặt kinh hãi của anh ta khiến họ đoán thấy anh ta đang tái mặt trong bóng mờ. Họ nhìn theo hướng ngó của anh ta thì tầm mắt họ chạm phải một đôi giầy không có gì đặc sắc nhưng phủ trên giày ấy, một miệng ống quần màu hơi quen. 
Mắt họ leo ống quần, thấy nó to lần lần và ở phía trên nó to quá cho họ biết rằng người mặc quần ấy là một ông bụng bự. Họ chợt hiểu và ngước nhìn lên thì thấy quả đó là ông Ích Thành. 
Ông Ích Thành cũng vừa thấy bọn trẻ, cũng ngạc nhiên và kinh sợ, và vội đưa mắt đi nơi khác. 
Xuân, Quí và Nhạc vụt cười lên. 
– Gì thế các anh? Cô Hà Đình hỏi. 
– Bố con đụng đầu nhau kêu cái cộp. 
– Thế à? ông cụ là ông nào? 
– Cái ông cà vạt con trai và giày chó vá kìa. 
Hùng nhìn sững cha cậu bấy giờ đã đi xa qua đầu sân bên kia với vũ nữ. Ông cụ nghẽo đầu, làm mùi một cách vô duyên trông buồn cười muốn chết. 
Hùng thấy cha cậu già quá, già hơn ngày thường nhiều, giữa đám vũ nữ trẻ trung ấy, và cậu có cảm giác đang đọc một bài thất ngôn bát cú in xen vào một tập thơ tự do. Mà đó là một bài đường luật rất xoàng. Đó không phải là một người cao niên vốn sành ăn chơi, cố vui vớt vát, mà là một ông cụ thật thà, lập tành son trẻ. Nhưng dầu thuộc hạng già nào, ông cụ cũng chẳng coi được, khi vào đây. 
Khi ông Ích Thành và vũ nữ trôi trở lại, Hùng thấy ông thở hổn hển mà quay, cậu trông chừng như nghe hơi thở ồ ồ của cha, một ông cha lỗi lạc mà trước kia cậu thấy làm cái gì cũng trôi chảy, dễ như chơi. 
Hồi nãy cậu ta hoảng sợ khi bị cha bắt chợt giữa chốn ăn chơi. Nhưng bây giờ, chẳng những cậu không còn sợ hãi nữa, mà còn có bụng khinh thường ông cụ là khác. 
Con người đứng đắn nghiêm trang thế kia, lại cũng chui đầu vào đây à! Nào đâu những lời gia huấn khắt khe, nào đâu những lời khen ngợi của bạn hữu ông cụ và chính của bà cụ nữa, bà cụ luôn luôn tự hào với bạn hữu rằng bà có một ông chồng đứng đắn số một trên đời. 
Và từ thuở giờ, cậu quen thấy ông cụ ngồi trên một cái bệ cao nghêu, oai phong lẫm liệt, làm gì cũng thật tài, từ việc lớn cho chí việc thắt cà-vạt. Hôm nay cái vụng về của ông cụ khiến cậu cảm tưởng như ông cụ bỗng dưng ngã xuống khỏi bệ một cai rầm. 
Năm ngoái vào đây lần đầu, cậu cũng đã vụng về. Nhưng con trai vụng thì xem vẫn được. Đến như cuộc lập sự trái mùa của một bậc cao niên thì nghe nó tủi tủi làm sao! 
Một ý nghĩ bỗng làm Hùng đau xót vô cùng. Cậu nhớ đến những chú chết già, cả đời cần cù tiện tặn, ăn hàm-yũu và ngủ trên một cái thùng gỗ, đến lúc sáu mươi chợt thấy mình gom được nhiều tiền lắm rồi, nên nghĩ đến hưởng thụ. Nhưng nào có biết đời có gì để hưởng, thôi thì cưới vợ bé vậy, mà cưới một cô thật trẻ. Làm như cái trẻ thơ ấy bù được tất ả nhưng cái mà chú ta không được hưởng. 
Hùng đau xót vì nhớ lại cha cậu cũng đã cần cù, tiện cặn để tổng sự nghiệp. Ông cụ không dám hưởng gì cả và bây giờ chừng như giật mình tiếc rẻ nên vội vàng chạy lượm mót của trời chăng? Thương lắm ôi! 
Hùng lại đau xót mà thấy mình đâm ra xem thường cha, muốn không, cũng không được nữa. 
Cậu có muốn hạ bệ ông cụ đâu? Tự dưng, ông cụ ngã, có muốn đỡ, đỡ cũng chẳng kịp, có muốn lờ đi cũng đã trót chứng kiến rồi. 
Đèn sáng lên. Người nữ ca sĩ Trung Hoa họ Mạc bắt đầu trổi giọng và sân gỗ giống như hồ tắm sắp đóng cửa, khách tắm vội len hết trên bờ. 
Hùng liếc nhìn cha thì thấy ông cụ từ giã bạn rồi đi vòng để ra cửa, tránh xóm cậu đang ngồi. 

* * 

Bữa cơm trưa hôm đó, đáng lý thì vui vẻ lắm. Bà cụ đi xa mới về ông cụ lại vừa trúng một vụ có lời to. 
Nhưng bà cụ ngạc nhiên lắm mà thấy chồng con như là bỡ ngỡ với nhau. Thằng Hùng hôm nay sao mà có vẻ tự tôn thế? Đó là một thứ mặc cảm mà nó luôn luôn có và không dấu ai được, mỗi lần nó đắc thắng về học hành hay về thể thao. Tự tôn nhưng lại trốn mắt cha, trong khi ông Ích Thành cứ rình xem cử chỉ của nó, mà lo lắng thì lộ rõ trên mặt ông. Bà Ích Thành đoán biết có chuyện gì xảy ra ở nhà nầy lúc bà về quê, và chuyện đó rất là khó nói ra. 
Ông Ích Thành rình con rồi nghĩ bụng: “Nó đã bắt chợt mình sống vội, vớt vát mật mỡ ở đời, chắc nó không khỏi triết lý rằng con trẻ phải chơi cho chán chê ra, kẻo già phải hối hận. Như thế thì nguy to, nó mà lấy cái triết lý rẻ tiền ấy làm phương châm thì hỏng. Vậy mình phải cố cứu vãn tình thế mới được.” Để đánh tan không khí lạnh lẽo, bà Ích Thành hỏi chồng: 
– Ông biết bên Vĩnh Xương không? 
– Phía bên chồng sắp cưới của con ông Hao hử? 
– Ừ, bên đó làm sao, theo ý ông? 
– Nghe nói thằng ấy ăn chơi bạt mạng, không ra gì đâu. 
Hùng mỉm cười ngạo nghễ, bụng cậu nói thầm câu sau đây, nhưng ông Ích Thành lại nghe rõ mồm một: “Thôi đi ông, ông cũng đi nhảy như ai, thì ông, thằng đó, và tôi đều chung một xuồng với nhau chớ lạ gì mà chê bai người ta, ông lại còn tệ hơn bọn tôi là ông trễ xuồng, cố nhảy nai theo người ta, trông lố bịch quá đi mất!” 
Ăn cơm xong, ông Ích Thành nói với con bằng tiếng ngoại quốc: 
– Qua bên bàn giấy, ba có chuyện cần nói riêng với con. 
Hùng đoán ông cụ định hối lộ cậu một số tiền, để cậu khỏi mét thót với mẹ sự chùng lén của ông. 
Cậu suy nghĩ để lập thái độ. Cậu có thể khai thác bí mật ấy mãi mãi để tống tiền ông cụ, và ông cụ sẽ là mỏ vàng không bao giờ cạn. Làm thế cậu lại có lợi về tinh thần: cậu được bạn, được ngời tùng đảng trong cuộc truy hoan, khỏi lo bị quở mắng nếu thi hỏng. 
Nhưng cậu không phải là một thiếu niên tệ đến thế, nên cậu định sẽ long trọng hứa bưng kín miệng bình cho cha an lòng, và quyết đinh từ chối tiền hối lộ. 
Ông Ích Thành mời con ngồi trước bàn giấy như là tiếp khách làm ăn. Ông cúi đầu nhìn tờ giấy chậm lót bàn màu hường lợt rất lâu đoạn đột ngột hỏi: 
– Năm nay con bao lớn? 
Hùng ngạc nhiên hết sức. Sao ông cụ lại to gan thế? Ông cụ hỏi tuổi cậu để cậu phải khai ra rằng cậu chỉ mới muời bảy thôi, để rồi ông cụ chụp lời thú nhận còn trẻ măng ấy mà mắng cậu là còn trẻ mà đã hư thân à? 
Hùng quyết chí đương đầu với cha và đáp hơi thách đố: 
– Con mười bảy, thưa ba. 
– Vậy hà! Thì ra con đã gần thành nhơn rồi. 
Ông cụ hỏi thật tình và thật tình ngạc nhiên trước lời khai tuổi tác của con. Ông cứ ngỡ con ông còn bé bỏng như ngày nào và không thấy được rằng nó dùng dao bào của ông mà cạo râu mép từ mấy tháng nay rồi. 
– Nè con, ông Ích Thành nói sau mấy lần do dự. Con đã lớn, nên ba kêu con vô đây để cho con biết một việc quan trọng. Ba xem con như một người bạn. 
Hùng cụt hứng. Cậu giống như một con dê mới mọc sừng đang dang hai chân trước, gầm đầu xuống, sừng chĩa tới trong một giáng điệu sẵn sàng chờ đợi địch thủ. Nhưng địch thủ lại không tấn công, khiến cậu ta tiu nghỉu. 
Câu hỏi mỉa mai của cậu làm cho ông Ích Thành phải bối rối thêm một lần nữa: 
– Thưa ba, ba mới nhận ra là con đã lớn từ lúc con vào đây. Vậy sao ba lại quyết nói chuyện quan trọng với con từ hồi ăn cơm vừa xong? 
Ông Ích Thành bậm môi vì tức giận, nhưng buồn cười cho mình và cho cái cứng đầu của cậu con trai, nó là hình ảnh trung thành của tánh bướng bỉnh của ông thuở ông còn niên thiếu. 
Không đáp lời con, giây lát sau ông nói: 
– Ba cho con hay rằng lúc này ba viết báo. 
– Vậy hả? Ba viết báo làm chi. Công việc làm ăn không đủ choán hết thì giờ của ba sao? 
– Ba bận lắm. Nhưng bây giờ ba có tiền, ba lại đâm ra háo danh. 
Hùng cười mà nói thay cha: 
– Nên không có dịp tranh cử hội đồng thì ba viết báo vậy. 
Ông Ích Thành cũng cười rồi tiếp: 
– Quan trọng không phải là ở chỗ viết báo mà ở chỗ viết báo thì dễ bị nguy. Ba viết phóng sự, hay phanh phủi chuyện người ta, có thể bị hạ lắm. Ba cần báo cho con biết để… 
– Ba sợ lắm thì viết làm chi cho mất công lo. 
– Không, ba không sợ lắm, ba chỉ báo cho con biết vậy thôi. Nếu rủi ba có bề gì thì ít ra gia đình cũng rõ ai ám hại ba… 
Hai cha con làm thinh giây lâu rồi ông Ích Thành tiếp: 
– Độ này ba viết về các tiệm nhảy, nên ba hay la cà ở các nơi đó để thu thập tài liệu. 
Nghe câu đó, Hùng bỗng chợt hiểu; cậu buồn cười quá, không cầm được, nên bật cười to lên. 
– Sao con lại cười? Ông Ích Thành ngạc nhiên hỏi. 
– Thưa ba, Hùng đáp sau cơn cười. Ba không cần gì cố cắt nghĩa sự có mặt của ba trong “Móng Trời” đêm đó. Con đã lớn thì con phải hiểu biết rằng ai cũng có quyền sống riêng cả! Không, con không dám khinh ba đâu, con không đạo đức lắm đâu. Nhưng con thú thật với ba rằng con bớt kính phục ba hơn khi trước. Hết kính phục nhưng thương hơn vì thấy ba trễ đò và yêu hơn vì thấy ba là bạn của con. Sao con lại bớt kính phục ba thì ba đã biết. Và ba không làm gì được để gây uy tín lại cả. Nếu ai xô ba xuống khỏi bệ, thì ba có thể leo trở lên và người thân của ba sẽ giúp ba trong công việc ấy! Nhưng khi mà chính ba tự hạ bệ, và con đã trót thấy thì không làm sao… 
Ông Ích Thành giận tím mặt, đấm xuống bàn một cái rầm rồi hét: 
– À, mầy lại dạy đời tao hả? 
– Thưa ba, con đâu dám. Nhưng ba đã xem con là bạn thì… Thôi con xin phép ba. 
Hùng đứng lên, đi ra cửa một nước. Ông Ích Thành cắn môi dưới, lòng đau cái niềm đau ê chề khi ta bị người thân yêu hất hủi. 
Thế là hỏng cả! Ông than thầm giây lát sau đó. Nó sẽ đi chơi bạt mạng, không sợ ai nữa mà cũng không sợ lương tâm nó vì lương tâm nó sẽ im đi khi nó đưa cái triết lý tai hại “hái lấy ngày qua” ra. 
Ông Ích Thành chống tay trên bàn viết, ôm đầu mà tuyệt vọng. 
Thế là hỏng cả! Mình đã tự hạ bệ! Hột kim cương giả, khi đến lúc tự mờ nước chiếu, không trời đất gì làm cho nó chói sáng lại được hết. 
Bỗng ông cha vừa mất uy tín, hạ tay xuống, ngước mắt lên. Mặt ông bấy giờ sao lại hớn hở như tình thế thình lình biến chuyển có lợi cho ông. Ông mỉm cười rồi lẩm bẩm một mình: “Hỏng, nhưng chưa hoàn toàn xụp đổ. Nó đã biết nói sự thật ấy thì chắc không bao giờ nó tự hạ bệ trong đời nó. Hà… hà… Ít ra cuộc gặp gỡ không may cũng cho nó được một bài học hay: tự hạ bệ là chết”.

Ký Thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Bến Nghé xuất bản 1960

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

  1. Rừng Mắm

Truyện RỪNG MẮM đã được dịch ra Pháp văn do Nghiêm Xuân Việt, đăng ở tập san Pen Club.
Bản dịch ra Anh văn do nhà văn J. Banerian ở San Diego, đã xuất bản trong tập Vietnamese Short Stories.

Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ nãy đến giờ, chờ đợi cái phút nầy đây.
Thật là huyền diệu, sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.
Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rơi xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá nhỏ.
Cộc ngửa mặt lên trời để theo dõi ông câu kỳ dị và tài tình ấy nữa, nhưng mắt nó bị ngọn dừa nước bên kia bờ rạch níu lại.
Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá.
Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cả, từ ông nội nó cho đến những con sinh vật nhỏ mọn qui tụ quanh các ngọn nước.
Màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão cò sầu não là ngang vai thôi, cái bền chí nhìn rất dễ mê, nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng chài trông thấy con mồi.
Thằng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là vì đầu cò chởm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép võ hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng.
Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với.
Nhưng không hiểu sao một hôm tía nó bán chiếc chòi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa bé mười tuổi, kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con. Rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng nầy đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người nầy mà ông nội nó đặt tên là xóm Ô-Heo.
Nghĩ đến những năm cũ, thằng Cộc bỗng nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm.
Những người di cư năm nọ trên chiếc xuồng cui vẫn còn sống đủ cả. Những chiều nghi ngút sương mù từ đất lầy bốc lên, và những đêm mưa gào gió hú, những người ấy kể chuyện cho Cộc nghe, những chuyện ma rởn óc như ăn phải trái bần chua. Nhưng dầu sao, Cộc cũng thích người khác hơn, cũng như nó thích vườn tược sầm uất hơn cảnh rừng tràm tối mịt hoặc cảnh đồng không bát ngát ở đây. Ở đây, cho đến tiếng chó sủa, tiếng gà gáy nó cũng không nghe từ lâu. Con chó săn và mấy con gà giống mang theo, đã ngã lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới. Thằng Cộc ngạc nhiên mà thấy sao người vẫn không chết trong khí hậu tàn ác nầy: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy.
Chưa bao giờ mong mỏi của Cộc được thỏa mãn mau lẹ như hôm nay. Nó vừa thèm người thì tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng tràm, rồi tiếp theo đó là tiếng chèo khua nước:
Hò ơ… tháng ba cơm gói ra hòn,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang mai.

Mũi xuồng cui ló ra khỏi khúc quanh của con rạch, và trên xuồng, chồng chèo lái, vợ ngồi không trước mũi mà hò. Cặp vợ chồng nầy, Cộc quen mặt mấy năm nay, nhưng không biết họ từ đâu đến. Nó chỉ biết họ ra biển để bắt cua và bắt ba khía, một năm mấy kỳ. Nghe tiếng người lạ nói, nhứt là tiếng hát, Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về.
Thà là không được ăn, chớ còn ăn một chút xíu thì cái vị của món ăn còn chọc thèm hơn bao giờ cả. Nên chi Cộc nhìn xuồng chèo khuất dạng rồi thì xây lưng tức khắc để chạy lên Ô-Heo.
Trọn vùng nầy, ông nội nó đặt tên là Ô-Heo. Nhưng riêng trong trong riêng gia quyến nó thì Ô-Heo chánh hiệu là một cái gò xa ở trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú. Số là hồi trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đã gặp nơi đó một ổ heo rừng. Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và việc canh tác của gia quyến nó về sau nầy đã đuổi thú dữ đi xa.
Tuy nhiên, đề phòng chúng trở lại, ông nội nó đã cấm nó lên Ô-Heo một mình. Thằng Cộc lại thích lên đó, ban đầu chỉ vì Ô-Heo có sức quyến rũ của một trái cấm, nhưng về sau, nó gặp người nơi đó.
Ðó là vài người đàn ông và đàn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông. Ðàn ông thì đến để gác quốc, gác nhan sen, còn đàn bà thì để nhổ bồn-bồn về làm dưa bán.
Ðó là những người bạn bí mật của nó, nó giữ kín không cho nhà nó biết. Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại tất cả sanh hoạt của làng mạc mà từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như nhớ những kỷ niệm xa xôi. 
Cộc chạy qua khỏi ruộng nhà và đứng lại nghỉ mệt. Nó mệt lắm vì nó chạy dưới nước và dưới bùn, mặc dầu lúa đã đến mùa gặt.
Năm xưa, gia quyến nó đến đây vào cuối tháng giêng, sau khi cúng ông vải xong ở quê cũ. Ông nội nó với tía nó đốt rừng tràm từ ngoài bờ rạch. Gió thổi vô rừng, và lửa, như con vật khổng lồ, đã táp một cái vào khối thịt xanh um của biển rừng tràm nầy. Thành ra ruộng nhà nó mang một hình tròn kì dị, không tròn đều đặn vì không ai chỉ huy được sự cháy rất là rắn mắt của ngọn lửa.
Cộc nhìn ruộng mình một hồi rồi cười khan lên. Ðám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu tóc trẻ con được mẹ cạo, nhưng mới cạo có một mảng thì có chuyện gấp, bỏ dở công việc; đứa bé bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp.
Lúc ruộng chín, cây lúa cao quá, ngã rạp xuống, để lòi trăm ngàn gốc tràm lên, trông như ai đóng cọc để cất nhà sàn; năm xưa đốt rừng nhưng không đủ sức đánh những gốc tràm tươi rói không cháy được nầy, tía thằng cộc đành cấy lúa giữa những gốc ấy, mãi cho đến ngày nay mà gốc vẫn chưa mục. Tía nó nói mười năm nữa, tràm chết cũng vẫn còn đưa cẳng lên như vầy.
Sau lưng Cộc là những rặng tràm bị cháy sém dưới trận lửa khai hoang, không chết ngay, nhưng “chết nhát”, cứ mỗi năm chết lần mòn thêm vài mươi cây. Mấy hàng tràm đầu nám đen và trụi nhánh như cột nhà cháy, câm hận nhìn chiếc chòi lá xa tít mù dưới mé rạch đang chứa chấp kẻ thù đã lấn đất của chúng, đã sát hại chúng.
Sau đó, rừng dày mịt, chằn chịt những dây bòng bong, dây choại, bò từ thân cây nầy qua thân cây khác.
Thằng Cộc lắng tai nhưng không nghe tiếng động nào cả. Nó đánh bạo chen qua những cây bình-bát, cây ráng, mọc xen với tràm, để đi tới đích.
Một ổ chồn cộc bỗng chạy qua trước mặt nó, khua lên một cái roạch, làm nó giựt mình, nhưng tiếng người trên Ô-Heo cách đó chững hai hàng cây, giúp cho nó vững dạ.
Tiếng đàn bà hỏi:
– Anh hổng sợ thằng Mùi hay sao?
Tiếng đàn ông đáp:
– Thằng Mùi thì qua cho một loi là nhào hớt.
Cộc vẹt cỏ lá, đi mau đến đó và khi nó chun ra khỏi khối xanh thì hai người có mặt trên gò Ô-Heo sợ hãi ngồi dang ra. Người đàn ông gác quốc là người quen, người đàn bà nhổ bồn-bồn thì lạ hoắc. Chị nầy trẻ đẹp hơn tất cả những chị mà nó quen biết từ lâu.
Người đàn ông tự trấn tỉnh lại ngay, ngoắt nó lại mà hỏi:
– Muốn về trển hay không Cộc? Muốn thì đi theo chị hai mầy đây, chỉ có một đứa em gái ngộ lắm.
Trong khi thằng Cộc mắc cở tía tai thì chị đàn bà hỏi anh kia:
– Ở miệt nầy có người sao anh?
– Chỉ có một nhà thôi. Mới tới đây chừng năm năm.
– Quen hay lạ?
– Lạ. Họ ở trên Sa-Ðéc lận.
Chị đàn bà an lòng, vui lại được và nói với Cộc để mua lòng kẻ đã bắt chợt việc thầm lén của chị:
– Em của chị không bao giờ chịu về làm dâu ở một chổ như vầy. Em có muốn thì phải ở rể thôi.
Rồi hai người lớn cười ngặt nghẹo với nhau.
Thằng Cộc mới mười lăm, nhưng cao lớn gần bằng người đàn ông kia. Mình trần của nó nổi u, nổi nần những bắp thịt rắn như nắn bằng đất sét gắn vào đó rồi nung cho đen và cứng.
Sự nẩy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong của nó. Năm nay nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà. Nhưng sống cô đơn ở đây, nó không biết chuyện trai gái như vầy là xấu đến mức nào và nó phải có thái độ làm sao nên bối rối lắm.
Chị đàn bà nắm tay nó, rị nó ngồi xuống bên cạnh chị, vỗ lên đầu nó rồi dỗ ngọt:
– Chị không ăn thịt em rể chị đâu mà sợ. Mầy mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa. Làm rể có công, ba năm thì má chị gả con Thôi cho mầy liền. Nói thiệt đó mà.
– Nó muốn trốn theo qua dữ lắm, người đàn ông nói, nhưng nó còn ngại.
– Ngại gì?
– Thì lo sợ cái việc xa xôi đất lạ đó mà.
– Em nè, chị đàn bà lại hỏi, nhà có mấy người?
– Bốn người?
– Ai với ai?
– Ông nội tui, tía tui, má tui với tui.
– Làm mấy công đất?
– Hồi đó bốn công, bây giờ mười công.
– Gặt được bao nhiêu giạ mỗi mùa?
– Tám giạ.
Chị đàn bà cười ngất một hồi rồi day lại hỏi nhơn tình:
– Trời ơi, ruộng gì mà mười công đất, chỉ gặt được có tám giạ thôi?
Người đàn ông không cười, đáp:
– Ðất nước mặn nào mới khai hoang cũng như vậy hết.
– Rồi lấy gì mà ăn em nhỏ?
– Tía tôi đi đổi lúa thêm, ở đâu không biết, xa lắm.
– Ðổi bằng gì?
– Bằng cá khô. Với lại cũng chẳng cần ăn cơm. Nhiều khi ăn rùa, ăn rắn trừ cơm. Ở đây, rùa nhiều như kiến. Ðốt rừng rồi đón trên đầu gió một lát là chúng nó lạch cạch chạy trốn lửa, bắt không kịp lận.
Chị đàn bà tỏ vẻ ái ngại một hồi rồi nói:
– Nãy giờ chị nói chơi đó. Nhưng biết được tình cảnh của em, chị thật bụng thấy là em cần đi theo chị hoặc là anh đây cũng được.
Chị ta vói tay sau lưng, lấy bầu nước ngọt, mở nút ra rồi ngước mặt lên trời, rót nước vào miệng. Chị uống ừng ực vài cái rồi lại nói:
– Em có được ăn chè lần nào không?
– Không, từ năm năm nay rồi. Cách đây một ngày đường nước, không có nhà cửa ai cả, không có quán tiệm gì hết. Với lại cũng không có tiền.
– Ở Sa-Ðéc sao lại không vô Tháp Mười mà nhè xuống U-Minh nầy? 
– Tui cũng không biết tại sao. Nhưng ở Tháp Mười dễ chịu hơn hả?
– Chị cũng không biết. Chỉ biết đất hoang ở Tháp Mười gần quê cũ của em hơn. Quê em ở gần Cao Lãnh phải không?
– Gần.
– Em có nhớ xoài Cao Lãnh hôn?
– Tui lạy chị, đừng có nhắc chè, nhắc xoài nữa, tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không có biết món ngọt là gì. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo vì đất còn mặn quá. Năm nay một cây trổ buồng, chắc tôi được ăn ngọt đây. Úi chà! Trưa rồi, chắc tới bữa cơm, thôi tui về nha, anh, chị?
– Ừ về, mai mốt lại lên đây nữa nha?
– Xuồng anh chị ở đâu?
– Dưới kia. Nhổ bồn-bồn ở dưới ấy, nhưng lên đây cho khô ráo để ăn cơm trưa é mà. Em Cộc nè, em của chị ngộ lắm, trắng lắm nghe không? 
Chuỗi cười của hai người nhơn tình ấy đuổi theo sau lưng Cộc khiến cho nó, trong giây phút, không muốn về nhà nữa.
Ra khỏi rừng tràm râm mát, mắt Cộc bỗng dưng như đổ hào quang trước ánh nắng tháng mười. Không khí bị đốt cháy, đang rung rinh như nước xao, và nó tưởng chừng như mái lá nhà nó, đen thui dưới kia, sắp cháy đến nơi.
Thằng Cộc về tới nhà thì cơm trưa đã dọn xong.
– Mầy đi đâu mà tới đứng bóng mới về?
– Tui đi lượm lông chim Long ô.
– Lông đâu?
– Mà kiếm hoài hổng có.
– Mồ tổ cha mầy, nhiều chuyện. Chim Long ô đời xưa mới có chớ đời nay đâu còn nữa. Mai gặt nghe không? Ăn cơm khuya rồi xuống đồng cho sớm, đừng đi đâu hết.
Cả nhà lặng lẽ ngồi quanh mâm cơm, Không ai nói với ai lời nào. Những người nầy, sống biệt tịch ở đây lâu ngày rồi, đã biến thành á khẩu vì thói quen.
Riêng thằng Cộc, sự cần nói của tuổi thơ đang lên mạnh lắm như cần chạy nhảy, cần ăn uống vậy. Câu chuyện hồi nãy trên gò Ô-Heo khiến nó càng bắt mùi nói thêm, nên nín không được, nó hỏi ông nội nó: 
– Nội nè, hồi mới tới, giữa mùa nắng, mình uống nước gì, tui quên rồi? 
Nó hỏi như vậy vì nó vừa nhìn ra cái giếng bên hè và nhớ ra là giếng đã ngọt nước hôm mùa nắng trước, mặc dầu đã được đào từ năm năm rồi.
– Uống nước đọng trên lung, trên rừng, chớ uống nước gì.
– Sao mình tới đây ông nội?
– Ðã nói cho mầy biết rồi. Trên xứ, mình không có ruộng, làm công khổ cả đời.
– Ở đây, mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời.
Ông nội thằng Cộc lặng thinh. Nó nhìn ông nội nó rồi chợt nhận ra rằng năm nay ông cụ già quá. Tóc râu của ông cụ đã trắng bông. Nhớ ra ông cụ thường than mình nhớ mồ, nhớ mả ông bà quá, nó bùi ngùi thương ông nên dòm ra sân để quên.
Bấy giờ bóng của bốn cái nồi rau đã tròn vành, chỉ rằng thật đúng ngọ. Bốn cái nồi bể ấy, hèn là thế mà rất là công dụng đối với nhà nó.
Ðể tránh nước mặn tràn bờ ngập sân, tía nó đã đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá, đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất mà tía nó mang từ xa về. Ðất ở đây mặn chát dùng không được. Hành, ớt, rau răm, rau mồ om, được trồng trong mấy cái vườn cao cẳng đó. Ðó là bốn thứ tối cần, đất mặn bao nhiêu cũng phải lập thế mà trồng cho được, không thôi không có món gia vị nào để ăn cá nữa.
Bốn miếng vườn cao cẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà nầy vào mùa khô. Cứ bằng vào bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay, và khi bóng nồi tròn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon. 
Nhìn ra sân một hơi, nhai nuốt hết cơm, nó day vô và hỏi tía nó:
– Năm nay mình gặt cỡ được bao nhiêu tía?
– Nhờ ông bà, đất nước, ít lắm cũng được hăm lăm giạ.
– Cũng chưa đủ ăn.
– Ðủ gì mà đủ, má nó nói, nhà mình phải ăn trăm rưỡi là số chót.
– Với lại, tía thằng Cộc trở vào câu chuyện, tại lúa nàng Cụm thất gạo lắm. Năm tới ta gieo giống Tầm Vuột chắc được gạo hơn nhiều. Năm nay hễ chuối trổ buồng thì năm tới tao trồng sả, trồng ổi được rồi đó.
Cả nhà đều hớn hở trước dự định tương lai tốt đẹp kia. Nhưng thằng Cộc chưa thấy gì là xán lạn cả. Trồng ổi thì cũng phải khá lâu mới có trái, trong khi đó nó tiếp tục thèm chè, thèm xưng xa, nhớ đám cúng đình, nhớ hát bội và bị một hình ảnh mới quyến rũ, hình ảnh của con Thôi, chắc là giống hệt chị nhổ bồn-bồn, tức là có duyên lắm.
Con trai làng thấy con gái rất thường, thế mà họ còn thầm lén rủ nhau đi một ngày đường nước để ra đây gặp nhau, huống hồ gì nó chưa được nói chuyện với con gái lớn lần nào hết. Những đứa con gái bạn của nó cách đây năm năm, nó nhớ lại thì không có gì quyến rũ cả. Ðứa nào cũng cạo trọc chừa bánh bèo phía sau và giữa chiếc bánh bèo, mọc ra một chòm đuôi dài trông đến buồn cười.
Nhưng mà con gái lớn phải khác. Cộc chưa thấy con gái lớn, nhưng tin chắc như vậy. Có một linh cảm gì, ở đâu từ kiếp tiền thân của nó bay lại và giúp cho nó biết như vậy. Những cô con gái lớn chưa thấy hình ấy, mà đã có tiếng kêu được, chúng âm thầm gọi Cộc, tiếng gọi như văng vẳng đâu trong không trung.
Thẩn thờ, thằng Cộc nói lại câu hồi nãy, và giận giỗi, thêm một đoạn khiến ông nội nó giựt mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng:
– Ở đây mình có ruộng nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn ở đó có làng xóm, có người ta.

Thằng Cộc thích mấy cây nọc nạng lắm. Bó lúa nào gác lên đó cũng nằm yên cả chớ không chực rớt xuống nước ruộng như những bó lúa gác trên đầu nọc thường.
Ðó là những gốc tràm mà cháng hai chẻ ra rất thấp. Khi đốn tràm cháy, tía thằng Cộc đã trù xa, đốn ở trên cháng hai ấy độ một gang rưỡi nên bây giờ họ mới có nọc nạng rất tiện mà dùng gác lúa.
Ông nội thằng Cộc chống xuồng trên ruộng, len lỏi qua mấy gốc tràm. Ông ghé từng gốc để cho lúa xuống xuồng.
Ðủ thứ là cò, cò ma, cò lông bông, cò quắm, cò hương, thân mật nhìn gia đình bốn người gặt lúa nhà. Ðây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng nầy; ban đầu chúng sợ hãi họ, nhưng về sau, thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ đã được bốn thế hệ cò rồi.
Má thằng Cộc lội sình tới đầu gối, và lội nước gần tới háng nhưng vui vẻ hơn ngày nào hết. Bà ta tằng hắng rồi cất tiếng hò:
Hò… ơ… tiếng anh ăn học làu thông,
Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường.

Hò xong câu đố ấy, bà lắng đợi chồng bà hò đáp. Nhưng tía thằng Cộc cứ làm thinh mà gặt, khiến bà đâm ngượng nên cười rồi cự chồng cho đỡ mắc cỡ:
– Tía nó sao câm cái miệng lại, không bắt vậy?
– Hứ, nhiều chuyện nà ! Già rồi mà còn hò với hát, bắt với ghẹo. Bộ còn trai gái gì đó sao?
Vì vui kết quả của cần cù nên má thằng Cộc quên rằng bà ta đã quá mùa hò rồi. Tía nó nhắc lại bà ta mới chợt nhận ra. Tuy nhiên bà vẫn ngậm ngùi nhớ cái thú vui ấy thuở bà còn con gái và ngay bây giờ đây, tóc đã nhuốm hoa râm rồi, bà cũng hưởng được nếu còn ở làng, hưởng bằng cách khuyến khích bọn trai trẻ hò đối đáp với nhau.
Thằng Cộc thì xôn xao trong lòng, nhớ lại lời chị nhổ bồn-bồn bảo rằng nó mà về làng làm ruộng thì ai cũng ưa. Ừ, nó sẽ hò đối đáp với con Thôi. Chậc! Mà nó phải nhờ má nó dạy hò mới được. Nó có nghe hò lần nào đâu để mà thuộc giọng và biết câu.
Ðến chiều thì xong xuôi cả. Ông nội thằng Cộc chống xuồng lúa để ra bờ rạch, còn tía nó, má nó và nó thì lội nước sình mà về bộ.
Ðập lúa và phơi phong mất hết mười ngày. Trong những ngày buồn tẻ, phẳng lì giữa cảnh bùn lầy nước đọng ấy, thằng Cộc càng nao nức muốn về làng.
Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường?
Câu hò của má nó ám ảnh nó từ hôm gặt đến nay. Nếu con Thôi mà hỏi đố nó câu ấy chắc nó phải ngậm câm, cho dẫu được phép trả lời bằng văn xuôi.
Khăn lông là vật dụng mà nó đã quên rồi thì còn biết là mấy đường để còn đáp cho thông. Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Ðêm nó nhờ nóp che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da.
Những món đồ cần dùng của thế giới văn minh ấy cũng thuộc vào những thứ gợi thèm như bánh trôi nước, bánh ít trần và mái tóc của con Thôi. 
Hôm ấy, dùng bồ cho con cháu đổ lúa vào, ông nội thằng Cộc long trọng nói:
– Ngày mai ra biển.
Không ai hỏi ra biển để làm gì hết. Thằng Cộc cũng làm thinh, trái với mọi ngày mà nó hỏi không kịp đáp.
Con rạch Ô-Heo trước nhà, nếu có đi trên ấy thì phải về ngọn, nó nghĩ như vậy, đi về ngọn để rẽ qua những kinh rạch khác mà tìm làng mạc sầm uất, chớ xuôi dòng ra biển thì còn nghĩa lý gì nữa chớ? 
Nó chưa được ra biển lần nào cả và mấy năm trước đây nó muốn theo ghe của bọn bắt cua để đi một chuyến lắm, mà không được phép đi.
Chuyến đi đầu đến một chơn trời xa lạ mà ông nội nó vừa cho biết, không làm cho nó phấn khởi chút nào cả.
Ông nội nó tiếp, dặn mẹ nó:
– Con mẹ Trùm, ngày mai phải dậy khuya nấu cơm. Tao đi với thằng Trùm và thằng Cộc, đi thật sớm để gặp con nước lớn ngay tại cửa mà về cho tiện.

Rạch Ô Heo nhỏ xíu cho nên tràm mọc ở hai bên bờ giao nhành với nhau được và phủ kín cả mặt nước.
Rạch tối om, đi như đi trong hang. Bây giờ thằng Cộc mới thấu nghĩa hai tiếng “hang mai” trong câu hát của bọn đi bắt ba-khía.
Những nơi ánh nắng lọt vào được thì hai bên bờ, ô-rô và cóc kèn mọc đầy.
Nước ròng chảy xiết, xuồng trôi bon bon. Tuy vậy, ông nội và tía cũng chèo cẩn thận để mau tới nơi, hầu về kịp nội buổi chiều ngày đó.
Gần tới trưa, xuồng không đi mau nữa.
– Nước đứng rồi, ông nội nói, tức ta gần tới cửa rồi.
Họ thôi chèo, để cho xuồng trôi linh đinh, không tiến cũng không lùi, rồi lấy cơm dỡ trong mo nang ra mà ăn.
Không đi thì thôi, đã trót đi, và lúc gần tới đích, thằng Cộc nghe thích thấy biển coi ra sao. Nó và cơm hối hả rồi hỏi:
– Ra đó làm gì ông nội?
– Rồi mầy sẽ biết.
Họ ăn cơm xong thì nước bắt đầu lớn. Họ chèo ngược nước cho đến quá đứng bóng thì đến một nơi kia mà ông nội tuyên bố rằng đó là biển.
Thằng Cộc ngạc nhiên lắm mà chẳng thấy biển đâu cả. Con rạch tiếp tục đi xa ra ngoài kia, hai hàng rào cây như đứt khúc, đâm vào một vách tường xanh như da trời.
– Biển ở đâu, ông nội? Cộc hỏi.
– Ðàng xa kia, xanh xanh đó.
– Sao không ra ngoài, ông nội?
– Không cần.
Tía thằng Cộc chèo mũi, rút sào cặm xuống bùn, theo lịnh của ông nội nó.
Ông nội gọi Cộc hỏi:
– Con có thấy gì khác lạ không?
– Không, ông nội à.
– Không thấy ? Cây ở đây không khác cây sau lưng mình à?
– À… phải rồi.
Cộc nhìn lại thì quả như lời ông nội nó nói. Nơi đây, đất đã hết, mà chỉ còn bùn. Tràm mọc tới mé đất cuối cùng thì dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi bìa lảnh thổ mình.
Hết tràm thì có một khoảng trống, nửa bùn, nửa đất, trên ấy cỏ ống rậm ri và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ.
Tràm đứng trước bãi cỏ mà nhìn dân láng giềng mọc trên bùn đen. Ðó là những cây ốm nhom chen nhau mà vượt cao lên, cây nầy cách cây kia không đầy bốn gang tay.
Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh xuống núi, tuôn hãm thành hầu lập công.
– Nhìn xuống gốc cây, ông nội bảo.
Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm cánh, hai màu đen trắng đối chọi nhau trông rất đẹp.
– Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc?
– Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây nầy là cây mắm. Ðây là rừng mắm đây.
– Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây mắm bao giờ?
– Con không nghe nói vì cây mắm không dùng được để làm gì hết, cho đến làm củi chụm cũng không được.
– Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy?
– Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.
Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
– Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.
Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng.
Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi? Vả lại con không thích hi-sinh chút ít cho con cháu của con hưởng hay sao?
Thằng Cộc nhìn lại ông nội nó và nghe thương không biết bao nhiêu ông già đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì-hục năm năm trong đồng chua, nước mặn ở Ô-Heo.
Phải, cứ theo dự đoán của gia đình thì nó sắp được hưởng, tuy không nhiều, mà rồi sẽ nhiều. Nó nắm chặt tay ông nội nó và nó thấy ông nội nó giỏi quá. Ông có biết chữ nho kia mà.
– Ông ơi, nó than, nhưng tràm buồn quá.
– Tràm sẽ khỏi buồn nữa. Năm tới, đất thuần rồi thì ta làm ba mươi công và sẽ gọi dân cấy gặt ở xa tới phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước ta, tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu. Tràm hết buồn vì sẽ đẻ ra cau, dừa, xoài, quít, đầy nhà, nước sẽ ngọt một khi đất thuần…
– Và sẽ có chè ăn?
Ông nội cười ha hả mà rằng:
– Gì chứ chè thì sẽ có lu bù.
– Mà ông nội nè, cưới vợ làm sao được, ai thèm tới Ô-Heo?
– Hai năm nữa người ta sẽ đồn rằng đất Ô-Heo thuần. Những kẻ nghèo khó như ta chỉ mong được tới đây. Ông nói điều nầy, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận của cây mắm hết, từ xứ Ðồng Nai nước ngọt cho tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả.
Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc nầy để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối, lội qua tô nước rọng hủ đường để làm cầu cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phuông đã ngã gục như rừng mắm. Rồi thì ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn…
– Tía. 
Thằng Cộc lo lắng không biết tía nó sẽ làm tràm như nó được hay không nên kêu tía nó bằng một giọng thương yêu trìu mến hết sức.
– Thôi, nhổ sào để đi về cho kịp con nước, ông nội ra lịnh.
Ông nội vui vẻ quá, vì ông bỗng sực nhớ lại những câu hò của thế hệ người tiên phuông đi khai thác đất hoang ở miền Nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng khàn khàn lên:
Hò… ơ… Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Ðồng Nai.
Nước sông trong sao cứ chảy hoài,
Thương người xa xứ lạc loài đến đây.

Một nửa

sangtao.org

Posted: 17/04/2012

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

Revenge – Zoeyy

Tôi mang chiếc ghế nhựa ra ngồi ngoài cửa. Không một ai. Tôi hài lòng bởi nỗi vắng lặng đang chiếm ngự khoảng trống. Bình thường nó chẳng được vậy. Nhặng xị, ồn ào. Những thứ tiếng khiến người ta điên đầu đã trốn đi. Hôm nay mồng Một, mọi cánh cửa đều đóng kín nơi hành lang dãy nhà trọ, những đứa thuê ngụ trong đó đã về quê ăn Tết; chúng sẽ làm ồn, khuấy động khi gặp lại gia đình, sẽ tận hưởng sự ấm cúng, no đủ cho bỏ những ngày cơ cực.

Tôi đốt thắp một điếu thuốc và ngó thấy cái thau nhôm móp méo đặt ở giữa sân. Hôm qua bà chủ nhà trọ đứng cúng vái ở đó, có thể bà đã đốt vàng bạc áo xống điện thoại di động tư trang vật dụng cho ai kia khuất mặt và cái thau nhôm giờ này hứng đầy tro. Tôi bước lại gần, ném điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn vĩ đại. Tôi moi ví da đựng giấy tờ tùy thân sau túi quần ra. Mỏng manh, nó ít khi được chứa nhiều tiền. Một tờ giấy xanh gấp làm tám được mở rộng, tôi đọc chậm rãi, bình tĩnh, từ đầu tới cuối nội dung của bức thư không ghi ngày tháng. Tôi đặt để mắt nhìn có hơi lâu vào hai chữ cuối: Sương Sa. Cô ấy thực sự đã ở một chỗ quá xa, khuất lấp. Có thể do linh tính, cô đã gửi thêm cho tôi một tấm ảnh. Tôi xem lá thư cả ngàn lần, điều này cũng đồng nghĩa là tôi ngắm tấm ảnh này 1001 lần. Ảnh trầy trụa, ngắm hư hao. Tôi thuộc nằm lòng mọi hàng chữ mà Sương Sa đã viết xuống trang thư. Không cần nhìn bề trái tấm ảnh tôi cũng đọc ra hàng chữ: “Chụp hôm sinh nhật tuổi 17”. Màu mực xanh bị nhòe khi vẽ hình một trái tim bé xíu bên dưới. Một trái tim biến dạng, hoen mờ.

Tôi moi bọc áo ra chiếc bật quẹt, đốt cháy lá thư trước, bỏng tay mới đốt tấm ảnh sau. Chúng co quắp nhăn nhíu lại trước khi biến mất. Rồi gió sẽ thổi ngang, tàn tro bay có làm cho mắt ai cay? Tôi đứng cúi đầu, y như khi bà chủ nhà trọ hoàn tất mọi nghi thức cúng kiếng. Bà ấy có vẻ thành tâm, đứng trầm ngâm tựa đang mặc niệm, hoặc hồi tưởng vụn vặt những kỉ niệm từng có với kẻ vắn số.

Tôi bước vào phòng, rửa mặt, lựa bộ đồ màu đen để thay. Tôi tránh nhìn mặt mình trong gương soi, dắt xe gắn máy 125 phân khối ra sân, khởi động. Vặn tay ga, tiếng máy nổ như biết đập cùng nhịp với trái tim. Rầm rộ gào lên từng hồi, và chính nó, đã trấn an tôi. Đội mũ bảo vệ vào đầu bù xù rồi phóng xe ra khỏi lối đi hẹp, nhiểu rác rưởi. Tôi chạy qua, lần lượt những con đường quen thuộc. Chỗ này tôi từng có thời theo toán thợ lắp ráp dây điện, đặt để camera thu hình ở mỗi góc. Chỗ nọ tôi từng mặc đồng phục cứng ngắt, ưỡn ngực làm nhân viên bảo vệ, ca đêm… Nói chung tôi là một công nhân viên siêng năng và giỏi chịu đựng. Tôi thích hợp nhanh cho từng công việc, ngành nghề khác nhau. Và quan trọng nhất, tôi chưa hề lãng phí của công. Nói theo phương ngữ xa xưa, tôi là thằng người biết làm chủ tập thể. Do đó, lạ lùng thay, tôi chẳng bao giờ có được cơ hội thăng tiến. Tôi chậm lụt. Tôi không biết “văn hóa phong bì” là thứ gì. Đồng nghiệp có đứa từng chửi thẳng vào mặt tôi: “Đù má mày, muốn máy chạy đều an toàn xa lộ thì phải biết châm nhớt chớ. Có ngày mày sẽ phải chết khô đó con!” Những nhà tiên tri tóc xanh mái đầu ấy đã phán đúng. Tôi chết. Tôi chết. Và tôi chết. Tôi nói tôi giỏi chịu đựng và tôi cứ luôn thay đổi công việc là vì vậy.

Như một giã từ thầm lặng, sau rốt tôi đổi hướng, chạy về bãi trống của bến xe đò liên tỉnh. Một vòng, hai vòng, cuối cùng tôi lựa chọn được một cửa tiệm vắng khách. Tắt máy, dựng chống xe bên bờ lề loang màu ngũ sắc của dầu mỡ. Cởi nón kẹp bên hông, tôi nói với người đàn ông đen đúa đứng án trước cửa: Ông muốn mua chiếc xe này không?

Sau lưng ông thắp sáng ngọn néon xanh lét. Ông ta to lớn dềnh dàng một cách chẳng được bình thường. Áo quần ông mặc vào người không phải là thứ mà người ta ưa chưng diện trong ba ngày tết. Đó là hạng người lao động cần cù và lễ lạc là thứ xa xỉ ông chẳng màng quan tâm. Nhưng nghe câu hỏi của tôi ông tỏ ra có hứng thú. Từ bỏ thái độ lơ là, ông bước lại gần tôi, dáng vẻ linh hoạt. Cần tiền tiêu tết hả chú em? Cây tăm tre cắn giữa hai hàm răng không vì thế mà rơi rụng đi. Hai mươi bốn giờ qua tôi chưa ăn gì cả, ông ta thì tuồng như vừa điểm tâm xong. Cuộc mua bán diễn ra khá nhanh, bởi tôi chẳng phải kẹt tiền tiêu tết. Có lâu lắc chăng là tôi phải để cho ông ta chạy thử một vòng thăm dò tình trạng chiếc xe như lời ông nói. Xong, phải trình thẻ chứng minh nhân dân cho ông xem. Những ngón tay to, u nần ấy soạn viết tươm tất một tờ giấy sang nhượng chủ quyền “cho đúng thủ tục”- chữ ông dùng. Sau cùng, ông bảo, như phát mệnh lệnh: Chú em ký tên ở đây là xong. Ông mời tôi một điếu thuốc Craven A, tự ông bật lửa, đưa tới với hai tay khum. Khuôn mặt giãn nở khi ông thở khói thuốc, như nghệ sĩ vừa hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật đầy ưng ý. Rồi niềm nở bắt tay tôi, ân cần, ấm áp. Chưa bao giờ tôi đón nhận được từ kẻ lạ sự thân thiện gần mức thâm tình đến vậy. Nếu đôi tay không lấm lem dầu mỡ hẳn ông sẽ ôm lấy tôi. Hệt như tôi về làng ăn tết và tôi đang mặc áo gấm. Ông quay đầu, hét vào cái hình khối xanh mét ánh điện để lát sau có người đàn bà xuất hiện ở ngạch cửa. Một bó tiền, tôi ngó ông đếm những tờ bạc mà chẳng nghi ngờ cái số thành khi ông hô to: Đủ. Chú em kiểm lại cho khỏi lôi thôi. Lôi thôi, tôi nhét bó tiền vào lưng quần mà không buồn kiểm. Tôi quay lưng sau khi nói, một cách khó nhọc: Năm mới phát tài. Ông cười toe, cả người đàn bà cũng thế: Ừ, năm mới thắng lợi mới. Được ba bước, giọng người đàn bà đuổi theo: Thế còn cái mũ bảo hiểm thì tính sao? Tôi dừng chân, biểu diễn thứ động tác của cầu thủ bóng rỗ, ném chuẩn xác chiếc nón giá gần nửa triệu vào đôi tay ông ta. Cám ơn chú em lì xì quà tết. Chúc sức khỏe và tai qua nạn khỏi nhé.

Tôi lẳng lặng cắm đầu đi tới quầy bán vé xe. Người ngợm sắp hàng rồng rắn nhộn nhạo. Tôi mua cái vé chợ đen, giá đắt gấp bốn lần mức quy định và tôi dỗ giấc ngủ khi đã yên chỗ trên chiếc xe cồng kềnh hôi chua có ai nôn mữa trước đó. Tôi nhẫm đọc bức thư của Sương Sa đã khắc ghi vào ký ức. Tôi mường tượng lại khuôn mặt ngây thơ nơi tấm ảnh co rúm biến dạng khi bị đốt cháy. Và rồi thì xe chạy, hục hặc về miền Trung.

Tôi ăn một bữa cơm thịnh soạn nhất đời. Làm buổi giỗ, cúng kỵ ông bà cha mẹ sơn hào hải vị bày sắp trước bàn thờ cũng không thể xôm tụ hơn. Cùng chung mâm với tôi là cô tiếp viên nhà hàng ăn vận rất thông thoáng. Cô luôn cười, cơ bắp từ khóe miệng ảnh hưởng xuống tới đôi vú. Áo rung động và hàng vải mỏng tuyệt chẳng có nội y. Cô rót bia, đưa tận miệng. Cô dùng thìa, tom góp thức ăn rồi đút vào mồm tôi, chật cứng. Cô muốn thế và nếu thực khách chẳng phải là kẻ tàn phế, đôi tay thừa thải của hắn sẽ dùng vào việc gì? Tôi không muốn bóp vú cô, tôi chẳng thích lùa sâu bàn tay vào cái váy ngắn cô đang ngồi với tư thế gợi mở bày hàng.

– Này anh giai, có thích chơi em không, hở?

– Không.

– Sao anh lại nỡ lòng nào nói thế? Em có gì không tốt chứ?

– Trời đánh còn phải tránh bữa ăn.

– Thế thì ăn xong anh tính sao? Nhà nghỉ chỉ nằm bên kia đường.

– Chúng ta tìm một trò chơi khác, được không?

Tôi gạt chén bát sang, đặt xuống khoảng trống mặt bàn một xấp tiền.

– Tìm hộ tôi một người, số tiền đó tôi dành trả công.

– Khó khăn nhỉ? Anh giai cần phải dài lời hơn. Ma cô, móc túi, gái bán dâm… Đại loại thế.

– Không, thuộc diện cán bộ. Ông ta tên X. làm ở ngân hàng…

– Hú hồn. Cứ ngỡ là ngăn sông cách núi, sóng lớn bể rộng. Ông ấy thi thoảng vẫn lui tới đây, nhẵn mặt.

– Tìm đúng nhà có dễ không?

– Em có thể biết lý do?

– Tết nhất, có người cậy việc nhờ chuyển giao một phong bì lì xì.

– Số một linh tám ở phố Sơn La. Tiền này dành riêng cho em đấy hở?

Tôi nốc hết chai bia cuối cùng vào lúc ba giờ sáng. Khi chạng vạng, tôi đã vẽ được một lối vào căn biệt thự ấy. Trèo cột điện, phóng mình qua một cành cây, nhảy xuống cỏ, đập vỡ cửa kính, thò tay vào xoay nắm cửa, ngồi yên cho mắt quen bóng tối. Bước lên lầu, tôi tìm ra nơi lão X. ngủ chẳng mấy khó. Tôi bật sáng ngọn đèn bắt trên đầu nằm. Lão ngủ cùng người đàn bà, có lẽ là vợ. Cả hai đều béo tốt, mập mạp. Và cả hai cùng tỉnh thức, giã biệt mộng lành. Tôi ngó vẻ mặt hốt hoảng của họ, nỗi sợ hãi làm người họ co quắp. Tôi đã nhập tâm khuôn mặt lão X, có biến dạng tôi vẫn nhận diện được. Tôi vung dao lên, chất xúc tác của bia đã không làm tay tôi run. Máu bắt đầu loang đỏ trên chăn nệm, vấy cả lên mặt người đàn bà. Thủy chung bà ta chẳng la lên được một tiếng cầu cứu. Bà chỉ ú ớ, răng cắn siết vào một góc chăn.

– Bà có đọc báo không? Một tháng trước ông này dùng uy lực cưỡng hiếp cô gái vị thành niên, phá trinh xong lại còn man khai nạn nhân chủ động bán dâm. Luật pháp đã để ông này thong dong tại ngoại trong lúc cô gái xấu số kia bị nhốt vào tù. Cô ta là một nửa của tôi.

Tôi gói con dao vào tờ nhật báo. Tôi bước ra đường nhựa rút thuốc châm lửa thở khói. Bình minh nhú lên vài cọng sáng mỏng manh cuối tầm nhìn. Sương sớm mai ẩm lạnh phả xuống nguời. Tôi đi bộ hết hai dãy phố đang cựa mình thức giấc, điếu thuốc cháy cụt thì gặp phải đồn công an. Tôi bước vào đầu thú với một cánh tay đầy máu đang khô. Có tiếng người la lên: Coi chừng, nó có hung khí. Tôi bị đạp từ sau lưng, hai gã công an vật tôi xuống, bẻ gập đôi tay nhừ mỏi. Mặt tôi va vào nền xi măng ẩm lạnh, mắt hoa lên. Hình ảnh cuối, tôi thấy con kiến tha hột cơm trên lưng, bò nhọc mệt vào sau những chấn song.

Hồ Đình Nghiêm