Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Đây là lần thứ nhất tôi ăn Tết ở nhà quê, sau… không biết sau bao nhiêu năm rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn. Ðiểm lại hành trình cuộc đời, chắc nhiều bạn ở nước ngoài cũng như tôi, đón Tết ở nhiều nơi quá, không nhớ hết. Cái “thế hệ thứ nhất” tức là gồm những người đã có tuổi, nay còn ở nước ngoài, không thể nào không trải qua những ngày tháng “lênh đênh” ở một vùng nào đó xa quê hương. Còn những người thuộc “thế hệ thứ hai, thứ ba” có lẽ đỡ long đong hơn, nhưng cũng không tránh khỏi cuộc sống nay nơi này mai nơi khác ở những tiểu bang, những tỉnh, những thành phố khác nhau.

Cảm giác đón Tết “tha hương” hầu như ai cũng có, chẳng ít thì nhiều, nhưng mỗi nơi mỗi khác. Song để nhớ lại những ngày thơ ấu sống trong không khí ấm cúng cùng với gia đình vẫn mang đến cảm giác ngậm ngùi, bâng khuâng hơn cả.

Tìm lại chút không khí Tết xưa không dễ dàng chút nào bởi phong tục tập quán mỗi nơi mỗi khác. Mỗi vùng, có khi chỉ từ làng này sang làng khác, đã có những tục lệ khác nhau. Mỗi tục lệ có những nét đặc trưng riêng và chính nó làm thành sợi dây vô hình gắn kết tâm hồn của những người đồng hương với nhau hơn. Vì thế nên ở đâu cũng có đoàn, có hội ái hữu của tỉnh này tỉnh kia.

Tuy vậy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những tập tục chung, ở bất kỳ nơi nào cũng như nhau. Cái linh hồn của Ðêm Giao Thừa ở đâu và bao giờ cũng mang ý nghĩa thiêng liêng, trang trọng và gợi lên tình cảm của sự đoàn tụ, của tình quê hương dân tộc. Bởi thế nên có những người lam lũ vất vả quanh năm, đến gần ngày 30 Tết vẫn bằng mọi cách, tìm về với gia đình. Bà con Việt kiều ở nước ngoài cũng nhân dịp này trở lại thăm quê hương. Có người phải thu xếp vài ba năm mới trở lại VN được. Họ không chỉ ở thành phố mà hầu hết tìm về quê nội, quê ngoại để được hưởng cái Tết ở chính nơi mình đã sinh ra với những kỷ niệm cũ và để cho cái “thế hệ thứ hai thứ ba” biết thế nào mới đúng là cái Tết Việt Nam.

Cái phong bao lì xì nhỏ nhắn, đỏ chót, đã ăn sâu vào ký ức không thể nào quên. Và những giây phút sung sướng được cầm phong bao ấy sao mà sảng khoái đến thế. Dù bao nhiêu năm rồi mà vẫn muốn được sống lại với những giây phút thần tiên ấy. Người Việt Nam chúng ta ở đâu cũng vậy. Chẳng có gì khác, chẳng có gì thay đổi được. Chỉ vài nét đơn sơ thế thôi đủ nói lên tất cả.

Cho nên ngày Tết đối với chúng ta, cho dù trải qua trăm ngàn thăng trầm, vẫn là những ngày quan trọng trong cuộc sống.

Về Quê Ăn Tết

Năm nay tôi mới có điều kiện để tìm về ăn Tết ở nhà quê. Tôi cho rằng đó là một sự may mắn lắm. Những năm trước, có muốn về quê cũng chẳng được vì có chỗ nào đâu mà về? Cứ ro ró trong cái căn phòng chung cư rộng không quá 4m, dài không quá 8m. Ðêm 30 và ngày Mùng Một cúng ông bà gia tiên, không thể bỏ đi được, rồi còn họ hàng, bà con, anh em đến chúc Tết, ba ngày Tết cứ như sống trong cái rọ.

Rồi chạy đi chạy lại, chúc qua chúc lại, từ Sài Gòn nhẩy xuống Gò Vấp, từ Gò Vấp nhảy tuốt vào Chợ Lớn, cứ như con thoi. Ðường sá chen chúc, mồ hôi nhễ nhại, cơm chẳng buồn ăn. Người ta nói “đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, nhưng thực ra ba ngày Tết ăn gì cũng chẳng thấy ngon. Chỉ có mỗi cái thú làm mọi “thủ tục” cho nhanh rồi ngồi vào một bàn mạt chược xoa với bạn bè cho hết Tết. Hầu như trong dịp Tết, kể cả những ông bà không có máu cờ bạc cũng ngồi vào một bàn bài “lấy hên đầu năm” chung vui với lũ trẻ. Cũng chính bởi “thông lệ” này lâu ngày biến thành các sòng cờ bạc giữa đường phố, không phải từ ngày Tết mà từ những ngày trước Tết và còn kéo dài cho hết tháng giêng, tháng hai.

Tháng Giêng Là Tháng Ăn Chơi, Tháng Hai Cờ Bạc, Tháng Ba Rượu Chè…

Các cụ đã “dạy” thế nên vào dịp đó mấy thầy cảnh sát cũng dễ dãi, nhắm mắt bỏ qua cho bà con vui chơi. Méo mặt, cháy túi cũng vì cờ bạc ngày Tết, nó là một cái cớ để các ông lăn lộn trong những sòng bài.

Nếu là người thành phố, chắc hẳn ai cũng có dịp chứng kiến những sòng bài ở đầu đường, trong những xó kẹt building, gầm cầu thang chung cư… những người lao động nghèo khó túm tụm đánh bài. Nhìn họ say sưa sát phạt, không ai không động lòng thương hại, có đồng nào chui hết vào sòng bài bạc, rồi vợ con họ sẽ lấy gì mà sống? Biết bao gia đình nheo nhóc đói khổ, lủng củng, thậm chí tan vỡ sau những ngày Tết như thế.

Từ nhiều năm nay tục lệ đốt pháo không còn nữa.

Nó làm mất đi một nét truyền thống nhưng quả thật là một điều đáng mừng.

Tôi nhớ những năm 1987-1990 khi còn ở chung cư, mỗi lần giao thừa đến là mỗi lần tưởng có thể chết ngộp vì khói. Khói và mùi thuốc pháo đặc kín, những ông già phải nhanh chân chạy ra đứng thở ở công viên cho đến hết giao thừa mới dám mò về. Nó cũng gây ra nhiều tai nạn. Tôi rất tiếc không còn được nghe tiếng pháo Tết, nhưng đó là một việc đáng làm.

Nhưng dù thế nào thì đó vẫn là những hình ảnh thật nhất, sống động nhất của những ngày Tết ở thành phố.

Năm nay, tôi rời Sài Gòn vào trưa ngày 28 Tết để trở lại vùng quê mà tôi đã chọn. Vào ngày này, tôi cứ nghĩ xe đò sẽ chật cứng, nhưng trái lại nó lại rộng rãi, thừa khá nhiều chỗ. Lúc này tôi mới biết vào những ngày giáp Tết, người dân ở đây không còn đi lên thành phố buôn bán gì nữa. Chỉ còn lại lác đác một số người về quê ăn Tết. Có lẽ đây là sự khác biệt giữa miền Tây và miền Ðông của Nam bộ. Nhưng trên quốc lộ 13 thì xe cộ đông hơn ngày thường. Cái tất bật của ngày Tết như đã bắt đầu từ đây.

Người… “Trăm Năm Cũ” Bây Giờ Là Đây

Chiều 29 Tết, một người làm vườn cho nhà hàng xóm, cạnh nhà tôi, hấp tấp dắt chiếc xe ra cổng. Có điều lạ là chiếc xe gắn máy tuy cũ mèm song tất nhiên là còn đi được như bao nhiêu chiếc xe từ đời “tam quốc” nào đó mà tôi nhìn thấy ở vùng này, vẫn phom phom trên mọi nẻo đường, vậy mà anh ta lại dắt xe leo lên con dốc cổng.

Thì ra xe anh bị xẹp lốp. Mà từ đây phải đi gần một cây số ra đến cái chợ chồm hổm đầu đường quốc lộ mới có người vá xe. Anh ta nhìn tôi lắc đầu:

– Sửa được cái máy cho nó nổ thì bây giờ đến cái lốp.

Cái này thì chịu.

Nhìn anh mồ hôi nhễ nhại, tôi mời anh vào nhà uống nước. Anh dựng xe trước cổng, vui vẻ vào nhà. Anh nhìn mấy bức ảnh treo trên tường rồi bất ngờ hỏi:

– Hồi này cụ Mạnh Ðan còn khỏe không, ông?

– Cụ khỏe lắm, tôi không nhớ chính xác tuổi cụ nhưng chắc chắn là trên 80.

Và tôi nhìn người đàn ông có vẻ phong trần này, ướm lời:

– Ông cũng biết cụ Mạnh Ðan sao? Người đàn ông thoáng một nụ cười:

– Tôi cũng là dân “Sài Gòn cũ” mà. Ba mươi năm trước, thỉnh thoảng tôi cũng gặp cụ.

Gặp dân Sài Gòn cũ, tôi mừng rơn:

– Hồi ở Sài Gòn anh làm gì?

– Em làm thợ sắp chữ. Tôi càng thú vị hơn:

– Té ra mình cùng một nghề với nhau đấy.

– Em cũng có nghe nói anh trước kia anh là nhà báo? Em không biết anh tên gì, nhưng quả là thấy quen quen.

– Tên tuổi chẳng có gì quan trọng. Anh làm thợ sắp chữ ở nhà in nào?

– Em thường xuyên sắp chữ cho báo Màn Ảnh của ông Mai Châu. Rồi có sắp chữ thêm cho mấy tờ báo Trắng Ðen, Sóng Thần, Chính Luận nữa. Ông Mai Châu thế nào rồi?

– Tôi chỉ nghe tin ông ấy mất lâu rồi, còn bà ấy tôi cũng không gặp.

Người đàn ông kể một loạt những cái tên con ông Mai Châu, cậu Tuấn, cô Phượng… và một loạt ông bà chủ báo và những người “sếp typo”. Dường như ông muốn chứng minh rằng ông là người Sài Gòn cũ thật hoặc lâu không được nhắc đến tên những người ấy. Ở nơi này thì kể với ai ở đây, được dịp, ông kể ra cho hả.

Sau đó ông nói về những đường phố, nơi có các tòa báo hàng ngày và hàng tuần trước năm 75. Ðường Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện, Võ Tánh… Ông hỏi:

– Bây giờ nó thế nào?

– Bây giờ khác hết rồi. Con đường trước kia nhiều tòa báo, bây giờ là Phố Tây Ba Lô, toàn khách sạn, nhà ngủ, dịch vụ du lịch và đủ thứ dịch vụ miễn là kiếm được đô-la của bất cứ khách du lịch nào dù là dân du lịch rách.

Người đàn ông thở dài:

– Ba mươi năm rồi, em chưa có dịp trở lại Sài Gòn. Hồi làm thợ sắp chữ, em mới 18 tuổi. Ðược làm thợ sắp chữ, khỏi đi lính, mấy ông chủ báo bảo lãnh hết. Thế nên cả 3 anh em nhà em đều làm thợ sắp chữ. Sau này “giải phóng”, tụi em cũng được… giải phóng luôn khỏi cái nghề sắp chữ, đâm ra thất nghiệp.

Anh ta cười, nụ cười… méo mó:

– Nhưng nhà nước nuôi.

Tôi tròn mắt, song chợt nhớ ra hoàn cảnh của mình nên hỏi ngay:

– Nhà nước nuôi nghĩa là anh cũng bị đi “cải tạo”? Anh ta xua tay:

– Chết, ông đừng đùa chứ. Em ngán cái thứ đó lắm. Nghe hết cả hồn. Hồi mới, tụi em chưa hiểu nghĩa “cải tạo” là gì, sau này mấy ông ở ngoài Bắc vào giảng nghĩa cho, tụi em cứ nghe đến hai chữ đó là hồn vía lên mây.

– Thế nhà nước nuôi anh theo kiểu nào?

– Là đi vùng kinh tế mới. Phát cho gạo ăn 6 tháng và một số tiền, rồi lên vùng rừng núi làm “kinh tế” gia đình. Ðược phát cái nhà, không có vách, chỉ có 6 tấm tôn.

Anh bật người ra và cười:

– Hồi đó em chẳng biết làm gì với cái cảnh rừng rú, đất đỏ hoang vu này. Ðẻ ra đã là dân thành phố, không biết cầm cái cuốc. Nên sau 6 tháng, lại thất nghiệp, mà lần này thất nghiệp nặng hơn, ở một vùng xa lạ chẳng biết nương nhờ vào ai. Từ lúc đó bắt đầu cuộc đời làm mướn cho đến bây giờ.

Tôi biết khá rõ về những người làm mướn cho những nhà vườn ở đây. Nhân công thật rẻ, làm từ sáng đến tối, chỉ có 30 ngàn một ngày, phải mang cơm đi ăn, nếu chủ nuôi cơm thì chỉ còn 25 ngàn hoặc có khi không có việc thì 20 ngàn cũng phải làm. Làm bất cứ việc gì chủ vườn cần. Vét mương, đào giếng, cuốc đất, trồng cây… hầm bà làng, đủ thứ việc. Ngoại trừ một số thợ có chút nghề chuyên môn như làm nhà, làm điện, có “cánh” có “nhóm” thì đồng lương cao hơn chút đỉnh.

Anh lắc đầu:

– Hồi xưa làm thợ sắp chữ thì đồng lương nuôi cả nhà. Mỗi ngày 5 ngàn thôi, lãnh lương hàng tuần, mọi thứ đều rẻ. Bây giờ làm không đủ nuôi vợ con, nhà có bao nhiêu người đến tuổi động đậy được chân tay là phải làm hết. Ðứa con lên 10 là lao động rồi. Vợ cũng phải làm, thế mà gặp lúc ít việc cũng túng thiếu mờ mịt.

Ngày Xưa Thức Dậy

Nói chuyện lan man, anh kể về cuộc đời mình:

– Hồi ở Sài Gòn, em cũng có vợ rồi đấy chứ. Vợ em là thợ sắp giấy, em là thợ sắp chữ, đẹp đôi lắm. Cô ấy xinh xắn, đẹp người đẹp nết, anh nào cũng muốn tòm tem, nhưng cô ấy lại chịu em. Thế là chúng em lấy nhau, nhà bố mẹ em ở bên bến Phạm Thế Hiển, bên kia cầu chữ Y. Sáng sáng đèo nhau trên chiếc xe gắn máy đi làm, chiều dắt nhau về tổ ấm, tình lắm. Nhưng đến khi lên vùng kinh tế mới thì cô ấy chịu không nổi. Không có việc làm, lại còn sinh bệnh tật, cô ấy trở lại Sài Gòn rồi không bao giờ lên nữa.

– Thế lúc đó đã có cháu nào chưa?

– Rất may là chưa. Nếu có một đứa con thì may ra giữ chân cô ấy lại chốn này được.

Ðôi mắt người đàn ông mờ đi dưới ánh đèn. Rồi anh ta tặc lưỡi, buồn rầu:

– Nhưng như thế cũng may cho cô ấy. Chứ ở đây chịu cái cảnh này với em suốt 30 năm nay thì tội nghiệp cho cô ấy quá. Chẳng biết hồi sau này cô ấy thế nào.

Nhìn anh thoáng một chút mơ mộng, tôi nghĩ anh còn nặng tình với người vợ cũ lắm. Nếu không có cái vụ “kinh tế mới” chắc vợ chồng anh còn sống với nhau cho đến bây giờ. Anh lại trầm ngâm:

– Ðôi lúc em cũng muốn ghé về Sài Gòn hỏi thăm tin tức xem sao, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, để cho nhau yên có lẽ tốt hơn. Vả lại cũng chẳng có tiền mà về. Ăn ở vào đâu? Thế nên ba mươi năm, em cứ ở chỗ này. Còn anh, sao anh lại về đây?

– Tôi kiếm một chỗ yên tĩnh dưỡng già.

Lúc này chúng tôi đã có vẻ thân mật hơn nên xưng hô bằng anh em cho gần.

Anh lại chợt nhớ ra một người nào đó trong số những người làm báo trước kia, anh hỏi về các ông Mai Thảo, Thanh Nam, Hoài Ðiệp Tử, Ngọc Hoài Phương, bà Trùng Dương, ông Thanh Thương Hoàng… rồi nhảy sang mấy ông chủ nhà in, ông Hợi, cô… gì làm thư ký cho nhà in bên cạnh báo Tiếng Vang của ông Tổng Cóc, có cậu con trai đeo kính cận hay ra tòa báo ngồi với mẹ… Chẳng hiểu các ông ấy bây giờ ra sao?

Anh cũng có nhắc đến tên tôi và vẫn không hề biết người đang ngồi với anh là ai, tôi cứ mặc cho anh kể. Ở những chốn xa xôi này, chẳng mấy khi người ta được kể về những người quen biết xưa kia. Ðó cũng là một thứ nhu cầu thầm lặng, chỉ khi nào nó đến mới biết là nó thú vị như thế nào. Có lẽ nó cũng thấm và say như men rượu. Tôi càng xúc động hơn khi người đó lại là một người nghèo khổ, nay đã có tuổi nhưng hầu như chưa bao giờ quên cái “ngày xưa” của mình, mọi thứ như đã trôi vào tiềm thức, nó đột ngột thức dậy với tất cả tình yêu thương lâu ngày đã chìm lấp kín vì khổ cực, gian nan. Càng nhìn kỹ, càng thấy người đàn ông có cái bề ngoài rất tiều tụy, song khuôn mặt vẫn mang chút hình ảnh nào đó của một người con trai thành thị.

Tôi hỏi tiếp:

– Còn chị ấy bây giờ anh gặp hồi nào? Là dân ở đây à?

– Bà ấy cũng là dân “kinh tế mới.” Nghèo nàn cực khổ cùng nhau nên dễ thông cảm và hiểu nhau hơn. Chúng em có 3 đứa con rồi đấy. Nhưng cũng như bố thôi, đi làm công, làm mướn cho người ta kiếm ăn.

– Tết này các con anh về sum họp với anh chị đông đủ không?

Anh lắc đầu:

– Chẳng bao giờ có Tết cả anh ạ. Tết lại là những ngày chúng em sợ nhất. Chẳng ai mướn làm việc gì. Ai cũng nghỉ Tết, họ chỉ quên một điều là chúng em nghỉ Tết thì cũng nghỉ ăn luôn. Phải dành dụm từ cả tháng trước.

Tôi không thể nào ngờ 30 năm rồi mà cuộc sống của anh vẫn chẳng thay đổi được gì. Tôi mời anh ở lại dùng bữa cơm với chúng tôi, nhưng anh từ chối:

– Em phải về kẻo bà xã em mong. Từ bao năm nay, em đi đâu giờ này cũng phải về. No đói có nhau.

Từ giã tôi ra về, anh cặm cụi dắt chiếc xe gắn máy cũ rích ra cổng. Bóng anh đổ xuống dưới ánh đèn cùng với những bóng lá dừa trải dài bên con đường vắng tanh, lạnh ngắt. Tôi hỏi tên và hỏi nhà, hứa sẽ đến thăm anh vào những ngày Tết sắp đến.

Lửng Lơ Ngày Ba Mươi

Buổi sáng ba mươi, tôi tà tà đi chiếc xe gắn máy leo lên dốc đi thăm cái chợ Tết của thị trấn Lộc Ninh nhỏ bé này. Khu chợ nằm dưới con dốc dài, như thu gọn trong một thung lũng khá sâu.

Ngay từ đầu dốc là bến xe ôm và cũng là chợ hoa của thị trấn. Hàng hoa cúc, hoa mai cùng với vài chậu quất bày rải rác theo lối đi. Giá hoa ở đây rất rẻ và những cây hoa Tết cũng chỉ là loại tầm thường, không thể kiếm được một chậu hoa quý. Mặc dầu ở đây toàn là những nhà vườn song chưa ai trồng hoa quý để bán. Họ trồng hoa ở nhà nên thường không cần mua. Chỉ có vài nhà có cửa hiệu buôn ngoài phố mới cần đến những loại hoa chợ này. Vài ba chục một cây mai hoặc một chậu cúc đại đóa vàng rực, tươi tắn. Vậy mà cũng vắng khách. Vài chiếc xe đạp chở những chiếc bong bóng ăn dỗ tiền trẻ con, bay lơ lửng trên bầu trời đầy nắng coi cũng vui mắt và cũng đủ làm thành không khí Tết ở cái chốn quê mùa được bao bọc bởi những con dốc và những vườn cây này. Cuộc sống của những người dân ở đây cũng đang lửng lơ như những chiếc bong bóng. Kể từ khi cây tiêu không mang lại lợi tức nữa, có nhiều nhà đã phá vườn tiêu, mỗi nhà chừng vài ba mẫu, song chưa biết trồng gì. Một số nhà khác lại chưa dám phá tiêu, cứ phải để đó chờ thời mà chẳng biết bao giờ cái “thời” ấy mới đến. Họ lúng túng xoay xở mà chẳng biết đi đường nào. Cũng chẳng ai khuyên họ phải làm cái gì, trồng cái gì, cứ mạnh ai nấy đợi, mạnh ai nấy sống. Những khu vườn đất đỏ trù phú cứ như sống tạm với đủ những loại cây ăn trái, những loài hoa mà chẳng có mục đích gì rõ rệt cho kinh doanh. Bởi vậy những nhà vườn cứ như đang đi lang thang trên khu vườn của chính mình.

Những cậu con trai và những cô con gái đến tuổi lớn khôn, thường phải đi kiếm việc ở thành phố. Giờ này họ mới lác đác từ những chuyến xe đò trở về ăn Tết. Người nào cũng chỉ có một chiếc ba lô mang chút quà rất nhỏ cho gia đình. Thị trấn không phát triển được cũng vì thế.

Nỗi ước ao của họ chỉ giản dị là có một khu công nghiệp nào đó ở gần thị trấn này hoặc ở Bình Long cũng được, để có nơi chốn làm việc cho con em mình, đời sống sung túc hơn, từ đó thị trấn sẽ có cơ hội phát triển mạnh chứ không èo uột như hiện nay.

Ngày hôm sau, Mùng Một Tết, đi trên đường phố vắng vẻ hơn ngày thường, nó mang một vẻ ngơ ngác kỳ lạ. Tuy vậy, một vài người đi chúc Tết sớm, cũng quần áo chỉnh tề, những cái áo còn thấy rõ nguyên nếp gấp, đôi khi còn nguyên nếp nhăn, dường như họ cũng chẳng cần chú ý đến sự là ủi, chỉ cần có bộ cánh tươm tất là đủ rồi. Trên thị trấn cũng có một vài cặp nam nữ thanh niên ăn diện theo lối tỉnh thành đi trên vài chiếc xe kiểu cách, cũng “tóc vàng, tóc đỏ hoe hoe” nhởn nhơ, lượn đi lượn lại cho ra vẻ ngày xuân. Vài cửa hàng dăng hàng chữ “Chúc Mừng Năm Mới”, thứ băng-rôn năm nào cũng có thể mang ra xài lại được. Các bà chủ xênh xang áo quần hàng “hiệu”, nhưng chỉ quanh quẩn trước cửa hàng. Các ông chủ rủ nhau đi chúc Tết thành từng đoàn chứ không đi lẻ tẻ như ở thành phố, nhưng tìm mãi cũng không ra một bộ complet. Làm như ở đây người ta “cấm mặc complet” và cũng chẳng có một chiếc cravate. Năm thì mười họa mới thấy một ông đi “giày Tây”. Dép vẫn là thứ “ngôn ngữ đi bộ” thông dụng nhất mọi lúc mọi nơi. Nắng bắt đầu lên cao cũng là lúc thị trấn vui vẻ nhất. Vài hàng cà phê vẫn mở cửa song chỉ lèo tèo vài đám khách.

Người Đồng Hương.

Trở lại xóm tôi, con đường nhựa cong queo vẫn vắng vẻ như chẳng có gì đổi khác. Các hội đoàn cũng đi chúc Tết thành từng nhóm, mỗi nhóm năm ba người. Nhóm của cựu chiến binh, nhóm của hội phụ nữ, nhóm của hội phụ lão. Nói cười râm ran.

Ðó là không khí của ngày Tết đường làng.

Về đến nhà, tôi đã thấy ngay một ông ngồi chờ sẵn. Ông tự giới thiệu là người cùng quê với tôi, dân Thái Bình. Quả là dân ở đây nhanh nhạy thật, không hiểu sao họ biết tôi là dân “Thái lọ”, nhưng không biết huyện.

Tôi nói là dân huyện Quỳnh Côi, nhưng ông ta “đính chính” ngay: bây giờ là huyện Quỳnh Phụ – tức là hai huyện Quỳnh Côi – Phụ Dực xưa ghép lại làm một.

Tôi biết ngay ông là người từ đâu tới và vào Nam từ năm nào. Ông ta còn khá trẻ, trẻ hơn tôi chừng chục tuổi. Ông là hàng xóm phía sau nhà tôi, cách một con suối, mùa này nước cạn nên ông lội qua suối sang thăm. Ông theo bố vào Nam ngay từ đầu những năm 80, làm việc ở đây một thời gian rồi ở luôn chứ không về Bắc.

Ông thành thật tâm sự với người đồng hương:

– “Ðất lành chim đậu”, ở đây dễ làm ăn hơn chứ về Bắc làm sao có được một mẫu vườn như ở đây được.

Hàng ngày tôi vẫn nhìn sang vườn nhà ông, mùa này ông trồng cải, vừa để ăn, vừa bán. Nhưng công việc chính của ông lại ở trong rẫy, trồng đủ thứ kiếm ra tiền kể cả tỏi, ớt, cà tím, cà chua.

Sau khi ông ra về, mấy ông bà hàng xóm lân bang “tả hữu” cũng lại đến thăm. Họ thân thiện nhưng săm soi xem nhà cửa, vườn tược của tôi như thế nào. Họ chỉ dẫn cho tôi đủ cách tưới nước làm vườn. Mỗi nơi có một “bí quyết” riêng, tùy theo thổ nhưỡng và tình hình thời tiết. Họ cũng cho tôi biết thêm về phong tục tập quán ở đây.

Những ông hàng xóm thường bao giờ cũng có cái tên là ông Hai hoặc ông Ba, ông Tư. Ông Hai Thạnh, ông ba Xê, ông Tư Hoàn, bà năm Bình bán thịt heo… Tôi chưa có tên nên người ta gọi nhà tôi là nhà bà Hai Ngân. Và cái xóm tôi cũng được người ta gọi là xóm Hai Sơn. Cứ gọi thế ai cũng biết, kể cả người ở thị trấn. Ðấy là cái địa chỉ nếu có ai muốn kiếm nhà tôi ở nơi này.

Buổi tối có cái Hội Hoa Xuân ở công viên được gọi là công viên Văn Hóa huyện, lối đi vào thị trấn. Nó cũng chiếm một khoảng đất rất rộng và “hùng vĩ” lắm. Nhưng có những khoảng sân gạch lớn, có lẽ người ta sử dụng nó cho những buổi mít tinh biểu tình nhiều hơn những mục đích văn hóa khác. Ở hầu hết các vùng thôn quê, cái gì nghèo thì được chứ những công viên, trụ sở ủy ban thì phải “hoành tráng” cho ra vẻ bề thế. Ít ra là cái bề ngoài.

Hội hoa xuân chính là nơi tập hợp của mọi lớp người, nhưng nó chỉ mở cửa vào buổi tối. Trong cái không khí se lạnh của vùng rừng núi nhấp nhô, “trai thanh gái lịch” đều tụ về đây vui chơi. Những trò chơi nửa dân gian, nửa giải trí, có vài chục gian hàng bán vài thứ đồ giải khát, bánh mứt lơ mơ. Vài tay chụp hình dạo khá đắt khách. Có những gia đình đứng dưới những cây hoa đồ sộ và có cả những cặp “tình nhân nhà vườn” đỏ mặt đứng bên nhau chụp tấm hình dưới gốc anh đào cho tình tứ ướt át. Những tấm pa nô quảng cáo tối mùng 5 Tết sẽ có “văn nghệ” giúp vui, có cả những “danh ca” từ Sài Gòn về “biểu diễn”.

Quả nhiên, tối mùng 5 Tết, tôi ghé qua hội chợ, chiếc loa phóng thanh oang oang giới thiệu tên những danh ca như Cao Sơn, Ưng Hoàng Phúc, TVT hay TTV gì đó và “đặc biệt có danh ca hải ngoại Giao Linh”. Trời đất! Tôi không ngờ ở nơi hoang dã này lại được hân hạnh đón “danh ca hải ngọại” về biểu diễn. Bộ Cali và Sài Gòn hết chỗ kiếm “cát sê” rồi sao? Giá vé chỉ có 40 ngàn nhưng đã hơn 7 giờ tối mà trước rạp còn vắng ngơ vắng ngác. Chỉ có trò đu quay cho mấy đứa con nít là đông.

Ký Ức Vàng Son Của Người Thợ Sắp Chữ

Ngày mùng 2 Tết chúng tôi đến thăm nhà anh bạn sắp chữ như đã hẹn trước. Anh là Lê Văn Một ở xã Lộc Hưng, cách nơi tôi ở chừng ba cây số.

Theo đường anh đã chỉ dẫn, chúng tôi phải mò mẫm mãi mới hỏi thăm được đường đến nhà anh. Từ quốc lộ rẽ vào một con đường bờ ruộng rộng không quá 1 mét, chỉ đủ đi được chiếc xe gắn máy. Gặp chiếc xe đạp đi ngược đường cũng khó tránh.

Nhà cửa thưa thớt, cái xóm này bày ra một khung cảnh nghèo nàn, không thể tìm ra cái Tết nào trong những gian nhà này ngoài các lá cờ treo lủng lẳng trước gió. Ðến ngay cả gió cũng lười, chẳng buồn rung cây.

Vòng vèo qua mấy con đường mòn với những cành cây vươn dài ra giữa đường mới thấy vài căn nhà lụp sụp, mấy đứa trẻ đứng tròn mắt nhìn khách lạ. Chúng cũng nhem nhuốc như ngày thường, chẳng biết gì là Tết. Có lẽ cả đời chúng cũng chưa bao giờ được biết đến cái phong bao “lì xì” đỏ hay xanh.

Nhà anh Một đứng chơ vơ giữa một khu đất hẹp. Nó được dựng lên từ bao giờ, không ai đoán được số tuổi, và được “lắp ghép” bằng đủ mọi thứ: gỗ cũ, gỗ mới, tôn, ni lông, giấy bồi, bao xi măng… Kiếm được cái gì che chỗ nào được thì cứ che. Gần Tết anh mua được vài thước ni-lông xanh, “trang hoàng” lại mấy cái cửa chính, cửa sổ cho ra vẻ mùa xuân. Vợ anh và mấy đứa con vẫn cặm cụi ngoài vườn, lo cho con bò mới đẻ được một con bê hơn là lo cho Tết. Ðó là tất cả gia tài nhà anh sau 30 năm đi vùng kinh tế mới. Anh cho biết:

– Ðất này chẳng trồng được bất cứ thứ gì. Sỏi đá khô cằn suốt bốn mùa, mưa thì lầy lội, nắng thì khô cạn, trồng gì chết nấy. Cho nên chúng tôi cứ thất bại từ mùa này sang mùa khác. Bây giờ chỉ còn biết đi làm mướn, mượn tiền của quỹ xóa đói giảm nghèo, mua được con bò làm vốn từ mấy năm nay. Ðợt trước nó đẻ được con bê thì phải mang bán lấy tiền sửa nhà, chữa bệnh cho con. Ðợt này con bê chắc cũng sắp phải bán lấy tiền ăn, tiền thuốc suốt mùa mưa sắp tới. Mùa nắng còn có người mướn đào giếng làm vườn, chứ đầu mùa mưa, họ chỉ mướn xịt thuốc diệt cỏ rồi thôi. Mà đi xịt thuốc diệt cỏ hại người lắm, xịt xong nhà chủ “bồi dưỡng” cho thêm hộp sữa vài ngàn đồng. Biết rằng có hại nhưng vẫn cứ phải làm. Bao giờ ốm thì lại bỏ tiền nhà ra mà chữa bệnh. Nhà anh không đủ chỗ cho hai người ngồi, chúng tôi ngồi ngay ngoài trái nhà đầu hiên, nắng chiều dọi vào chói chang. Anh thợ sắp chữ lại tiếp tục nói về cái thời xa xưa của mình, lại tiếp tục thăm hỏi về những “ông nhà văn nhà báo” mà anh chỉ biết chứ không hề quen, những ông bà chủ, cô chủ nhà in. Những con đường “tòa báo”, những thay đổi của Sài Gòn mà 30 năm chưa thể quay trở lại một lần.

Nhân dịp đầu xuân, tôi xin chuyển lời thăm hỏi này của anh Một đến các bạn và cho tất cả những “người Sài Gòn cũ của anh Một.” Nếu các bạn có viết thư thăm hỏi cũng khó mà đến được. Tuy vậy vẫn có thể gửi “cầu may” cho ông Lê Văn Một, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Mùa xuân đầu tiên của tôi ở vùng quê năm nay, đó là điều khiến tôi xúc động hơn cả.

(Sài Gòn 14-2-2005)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment