Những nỗi chia lìa

hung-viet.org
Huy Phương
02 Tháng Mười Một 2015

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Làm nghề truyền thông, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được điện thư của những người không quen biết ở nhiều nơi. Ngoài những chuyện trao đổi ý kiến, khen ngợi hay chê trách, nhiều lúc tôi lâm vào tình trạng khó xử về những lá thư nhờ tôi một vài việc nhỏ, mà tôi không làm được hay chần chờ không biết giải quyết, trả lời ra sao?
Những bức thư này mang những hoàn cảnh khá giống nhau: “Tìm cha.” Không phải như những đứa con lai Mỹ được chính phủ Hoa Kỳ mang về quê cha, nhưng không biết cha là ai, tác giả những bức thư mà tôi nhận được biết rất rõ về cha mình, qua lời kể của mẹ. Ngày chiến tranh chấm dứt, các em còn quá nhỏ, bây giờ 40 năm trôi qua, các em đã trưởng thành, có gia đình, nhưng có mẹ mà không có cha, các em có nhu cầu đi tìm lại người cha của mình với những lời gọi buồn thảm:

  • “Cha ơi! Bây giờ cha ở đâu?”
  • “Ba cháu tên là Nguyễn Văn Ba, cấp bậc trung úy thuộc Tiểu Khu Long An. Tháng Tư, 1975, trong cơn hỗn loạn, ba cháu xuống tàu đi Mỹ, từ ấy đến nay không có tin tức gì về với gia đình. Mẹ cháu đem con về nương náu bên ngoại, nhẫn nhục nuôi con, mong chờ tin cha, nhưng tin cha biền biệt. Nghe nói cha cháu hiện ở California, mong bác rộng lòng nhắn tin, tìm giúp ba cháu. Cháu và gia đình không quên ơn bác.” (Nguyễn Thị Hoài) *
  • “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, cháu đang còn ở trong bụng mẹ. Ba cháu là lính không quân, di tản trước khi Sài Gòn mất. Từ đó đến nay, mẹ cháu nói không có tin tức gì của ba cháu. Bà ẩn nhẫn sinh và nuôi con, lập gia đình với một người đàn ông khác và sinh ra những đứa con khác cha với cháu. Ông dượng sau này rất yêu thương cháu và rất thông cảm với hoàn cảnh của mẹ con cháu. Cháu lớn lên, hiện nay đã có gia đình và sinh hai con.
    Cháu biết chuyện xưa qua lời kể của bà ngoại lúc cháu sắp đi lấy chồng. Mẹ cháu không bao giờ nhắc chuyện cũ, nhưng trong thâm tâm, cháu vẫn tha thiết muốn biết cha cháu là ai, không phải để nhờ cậy gì nhưng, ít ra cho lòng cháu khỏi ray rứt.” (Phan Thị Hoàng Oanh) *
    Bức thư kèm theo chi tiết, tên tuổi, trú quán ngày trước của người đàn bà mang thai ở lại và tên của của người cha không bao giờ biết mặt của người con gái gửi thư.
    Trong cơn hỗn loạn của Sài Gòn vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi nghe Cộng Quân sắp vào, phản ứng bình thường là ai cũng mong tìm đường ra đi lánh nạn, và không ai nghĩ đến ngày một, ngày hai mình sẽ trở về, không ai có thể hứa hẹn với những người thân yêu ngày tái ngộ là bao lâu. Họ để tất cả dĩ vãng lại sau lưng, tất bật làm lại cuộc đời trên quê hương mới, học hành hay làm lụng vất vả để sống còn. Ngày tháng trôi qua, những bản tin từ quê nhà mỗi ngày mỗi xấu đi, và nỗi sum họp hay trở về hầu như tan biến. Có những người chung thủy, sắt son nhưng cũng có những người yếu đuối, buông xuôi trong dòng đời xô đẩy, và thời gian không dừng lại để chờ đợi ai. Những người bạn của tôi đã có công ăn việc làm, lập gia đình mới, sinh con đẻ cháu, những đứa con ra đời nơi đây đã thành đạt, dưới một mái nhà hạnh phúc.
    Tôi nghĩ là họ không bao giờ quên chuyện cũ, nhưng đã không một lần nói ra thì không bao giờ có cơ hội nói lại. Nếu đây hẳn không là một điều tội lỗi thì họ cũng có những giấc ngủ không yên, một nỗi lo sợ ám ảnh trong suốt cuộc đời còn lại, một thứ hạnh phúc mong manh, không an toàn.
    Ở trường hợp này, có thể nào tôi đi tìm họ, người sĩ quan hay người lính không quân đã bỏ lại những đứa con hay cái bào thai trong bụng người yêu, để nói với những người này những sự thật mà không bao giờ họ muốn nghe hay sợ hãi nếu phải nghe.
    Tôi không sống qua những khoảnh khắc của đời họ, với những định mệnh bất ngờ và lo toan của riêng mỗi người. Tôi cũng không muốn đem lại một thảm họa cho những người bạn này, mà hạnh phúc họ đã vun xới trong vài chục năm qua, bỗng nhiên đổ vỡ.
    Nếu bạn là họ, giờ đây bạn phải cư xử như thế nào.
    Nếu bạn là người phụ trách phân xử trong hội đồng gia tộc, trong họ hàng hay đang là người phụ trách “Gỡ Rối Tơ Lòng,” “Giải Đáp Tâm Tình,” cho một đại nhật báo có uy tín nhất, hay bạn là bà Tùng Long ngày xưa, hay là quý bà Phillips của Dear Abby để cho tôi xin một lời khuyên, một lời khuyên tốt đẹp của đôi bề, không làm tổn thương hạnh phúc của một ai.
    Tôi sẽ nói gì với những đứa con đi tìm cha đã viết thư cho tôi.
    Cứ xem như cha cháu không còn nữa. Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều gia đình hy vọng hay tưởng chồng mình đã lên được một con tàu nào đó để ra đi và mỗi ngày họ hy vọng có một tin tức hay một lá thư trở về. Nhưng sự thật, trên con đường vượt thoát, trong bom đạn, họ đã nằm lại trên một mảnh đất quê hương hay một bờ biển nào đó. Đó là trường hợp một quân nhân của Sư Đoàn 1, gia đình tưởng đã lên một con tàu nào đó ở Thuận An để ra đi, nhưng cuối cùng, 30 năm sau, người ta tìm thấy xương cốt của ông trên bãi biển An Dương cùng với đồng đội của mình.
    Hay là tôi sẽ nói sự thật, là cha cháu còn sống, nhưng ông đã có một mái ấm gia đình khác, giàu có, thành đạt nhưng có thể không hạnh phúc, nếu mỗi khi ông nghĩ đến mối tình xưa và giọt máu của mình không biết giờ này ra sao, sống chết, phiêu bạt nơi nào? Nếu nói đến một người đang ray rứt khổ đau, thì người đó chính là ông, người cha mà con đang tìm kiếm, chứ không phải đó là mẹ của con hay chính là con.
    Rồi ra, khi lớn lên, va chạm với những nghịch cảnh của cuộc đời, thấu hiểu số mệnh, con sẽ hiểu.
    Chúng ta lên án ai bây giờ? Một người đàn ông phụ bạc hay là một người đàn bà không có lòng rộng lượng.
    Chúng ta lên án chiến tranh, có hàng triệu nạn nhân, trong đó có mẹ, có cha cháu, và hiện nay là cháu.
    Ở những đất nước bình an trên thế giới, không bao giờ nghe tiếng đạn bom, ít xảy ra những cuộc đổ vỡ, chia lìa, chết chóc như quê hương của chúng ta. Mang số phận Việt Nam, ở đó, đã có bao nhiêu nấm mồ chôn vội, bao nhiêu vành khăn tang, bao nhiêu nạng chống, bao nhiêu đứa trẻ không cha, và những người quả phụ, mất chồng khi chưa qua tuổi đôi mươi.
    Nếu đêm nay cháu không ngủ, thao thức nghĩ đến một người cha không bao giờ biết, không bao giờ gặp, thì người cha ấy chắc cũng không tròn giấc, có khi lòng như lửa đốt, trên chăn êm, nệm ấm mà nghĩ như trên gai nhọn hằng đêm.
    Có thể câu chuyện mà cháu nhờ đến tôi, tôi không bao giờ giúp cháu được.
    Dù xót xa, tôi nghĩ rồi ra cháu sẽ hiểu, sẽ tha thứ và sẽ quên.

Huy Phương
Nguồn Người Việt

(*) Tên, tuổi, thông tin của những người trong cuộc đã được thay đổi.

Bối 3

Hồi ký Chim Việt

TiVi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

_Ông củng đi buôn trên Cầu Ông Lãnh mới gặp họ hay gặp họ ở đâu?
_Sau chuyến đi làm ăn với họ ngoài Bà Rịa tiền bạc có dư dã nhiều đâu còn đi buôn chi cho cực nhọc có lổ có lời. Tao bắt đầu lo tới tương lai nghĩa là muốn cải tả quy chánh. Đem tiền về cho than nhân ruột thị mua vườn, mua cây ván cất nhà đặng giải nghệ cưới vợ sống cuộc đời lương thiện làm ăn. Chuyến đi đó tao mướn hai thằng bạn thằng thì ở bên Châu Bình quận Bảo Lộc bên Bến Tre thằng đó khá có tiền thì lo cưới vợ, chỉ có dư được chuyến đi với tao ngoài ra tiền bán mỗi chuyến là 6 đồng tao tặng thêm cho nó 100 đồng. Tao dấu nó nói là chuyến đó đánh bài với mấy lái dưa trên đảo Long Sơn nhờ có đám điếm ở Sài Gòn ra nó vẫn tin như vậy. Còn thằng kia thì nó ở bên Giao Long có tiền lo đi sắm đồ đạc và đánh me của sòng me Hương Quản B bên đó. Luôn mấy cái từ dưới Bình Đại, Lộc Thuận lên trên rạch Miễu xuống cái nào củng đổ, tay em vùng này ai củng trúng làm cho phách cái về tay không, vậy mà thằng đi bán cho tao nó không ăn như người ta, nó thua. Vùng này từ nhỏ tới lớn ai củng biết mặt nó là thằng chuyên làm ruộng và đi bạn mướn. Sao tự nhiên lại có tiền sắm quần áo, lại có tiền để đi đánh me? Như vậy số tiền của nó đâu phải làm ăn lương thiện, không ăn trộm thì củng đi ăn cướp, cho nên lúc đó mà cở nhỏ như mày mà cầm tờ giấy 20 đồng thì sẽ bị lính kín bắt liền.

Cho nên một bửa cái bên chợ An Hoá qua củng bị đổ luôn tay em, ai củng trúng mà thằng bạn tao lại thua nửa nên khi móc tiền ra đât nó nói lầm thầm: “đụ mẹ tiền ngoài Bà Rịa xui quá… tiếng chửi thề và nói tiền ngoài Bà Rịa xui quá lọt qua tai lính kín của quận Năm. Rồi thằng bạn tao sau mấy ngày liền bị bắt giam trong khám An Hoá.
Hay tin nó bị bắt giam ở An Hoá, sợ nó khai lung tung làm nguy hiểm cả chum liên hệ với nó tao mới lên Sài Gòn mặc đồ theo dân anh chị vùng Cầu Muối. Tao mặc áo Bành Tô thả luôn 6 nút. Thật quả như vậy khi tao vô tiệm cà phê ngồi kêu ly Phế nại chưa uống hết ly thì có người lại hỏi đại ca hay nhị ca?
_Đại ca hay nhị ca củng được khẩn cấp lắm huynh.
Tao với anh này lên xe kéo chạy môt hồi tới đường La Pheo. Chổ này tao có đi vài lần dân lục tỉnh lên buôn bán thì thằng nào củng phải lại đây với đám em út có phấn son theo Châu thành. Anh này dắt tao vô ngồi trên bộ salon hút thuốc chờ đợi gặp nhị ca. Hút hết phân nửa điếu thuốc thơm thì có người mời đưa tao vô phòng. Bước vô tao thấy giữa bộ ván gõ có mâm hút á phiện và có mấy người mặc áo thun lá đang nằm hút á phiện. Thấy tao vô họ ngồi dậy hỏi liền:
_Bạn ở vùng nào?
_Dạ em ở vùng Ba Cụm
_Chuyện gì nói mau cho rõ ràng.
_Thằng đi bạn với tôi nó bị lính kín ở quận Năm An Hoá bắt.
_Bắt đã mấy ngày, hiện giam tại dâu, còn bên An Hoá hay bị giải Mỹ Tho?
_Hôm qua em hỏi thăm thì nó còn bị giam tại An Hoá nên em đi liền
_Tối nay anh nghỉ đâu, có chổ nghỉ hay không?
_Dạ em ra ga xe lửa Mỹ mướn phòng ngủ rồi sáng về sớm.
_Em cầm 5 đồng về xe, để vụ đó trên này lo, em yên chí và kể như bị bể, em nên tìm chổ lánh mặt một thời gian lâu chừng nào tốt chừng đó nghe không?
Khi về tới nhà lo chuẩn bị đi lánh mặt nhưng chờ cho thằng bạn của tao được thả rồi tao mới đi. Vài ngày sau nghe tin nó được thả về, hú hồn!
_Anh đó được thả rồi ông tính đi đâu lánh mặt?
_Từ khi mắt thấy đám này có tổ chức đàng hoàng và tử tế đúngnhư lời họ hứa (nếu ai bị bắt thì họ hối lộ cho thả ra) thiệt quả như vậy. Nghề võ thì tao đã biết nhiều nhưng dân du côn phải là có gồng, nên tao tính đi qua Trà Vinh học gồng.
Hằng năm tới ngày 16/6 âm lịch là ngày lễ Kỳ Yên làng Thái Thuận. Trong đoàn đi nghinh sắc thần theo cổ lệ trang nghiêm và trật tự chỉ có hình ảnh ông Từ là oai nghi hơn hết. Đi đầu là viên chức vác cây Đại kỳ nền đỏ có 4 chữ: Phong Đều Vũ Thuận chung quanh viền màu đen, kế đó ông Từ đầu đội nón gổ, mặc võ

phục triều đình mang gươm chân vấn xà cạp chân mang giày ba ta. Tay cầm trống lệnh, cái trống tròn bằng cái đĩa bàn, có cái cán, ông đánh tong tong tong… kế đến 3 tiếng chiên rồi đến 3 tiếng trống chầu thùng thùng thùng…Sau đó là đến 4 kép, 4 đào trang điểm như khi ra sân khấu kế đến là 3 cặp trò lễ, đầu đội mão Tú Tài áo thụng màu vân củng mang hia. Đến 4 viên chức khiêng long đỉnh sơn son phết vàng sắc thần trên đó, đến chánh bái, phó bái và Quận trưởng cai tổng Hoà Thịnh cùng các hội tề tân cựu cùng đi với than hào nhân sĩ trong làng.

Mỗi năm chỉ có một lần mà ông Từ vẫn đi rập rang theo tiếng Bác Câu. Hình ảnh người lính tiền phương tiền hô, hậu ủng. Ông Từ đốt nhang cho đình thần, làng xã họ cấp lương cho ông. Ông củng đốt nhang cho làng Ông Nam Hải, toàn ấp Thới An này chuyên sống về nghề Hạ Bạc, nghề này họ tôn ông Nam Hải làm thần hộ mạng cho nên mỗi gia đình luân phiên nhau đem tôm cá, bất kể giờ giấc biếu cho ông bà ăn lấy thảo.
Thôn quê mỗi làng đều chọn nơi thanh tịnh khu biệt lập làm Đình Thần. Đình Thần làng Thới Thuận nằm cạnh hương lộ, một đám cây dước mịt mù mới tới mấy hàng cây dương và mấy cây me cổ thụ. Ngoài là bìa rừng rậm về đêm le lói ánh đèn, có tiếng đọc thơ, đọc truyện, đó là giờ giải trí của gia đình ông Từ, môt người mà tôi chỉ biết có phân nửa cuộc đời, khi ông còn tham gia một thời với đám Bối Ba Cụm. Không biết vì hoàn cảnh nào mà ông ở đây, nhận chức ông Từ cho đình thần. Môt cuộc đời đây ngang dọc từng theo đám đầu trộm đuôi cướp mà trong cuốn Việt Nam tự điển của ông Lê Văn Đức quyển Thượng trang 129…Bối làm ăn theo rạch Ba Cụm…?

Bối 2

Hồi ký Chim Việt

Tivi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Rồi ông chịu hợp tác làm ăn với họ không ông Từ?
_Chịu chớ sao không, vì trong bụng tao hồ nghi đám này là đám anh hùng Hiệp Liệt trong bộ tiểu thuyết “Châu về Hiệp Phố” quá.
_Mày có coi bộ tiểu thuyết đó không?
_Dạ cháu nghe nói bộ tiểu thuyết đó hay lắm, nhưng ở nhà cấm không cho coi tiểu thuyết. Chỉ cho đọc truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Phong Thần, Ngũ Hồ Bình Tây, Tiết Nhân Quí Chính Đông, truyện Tây Du, thơ Phạm Công Cúc Hoa, thơ Sáu Trọng, thơ Cậu Hai Miêng.
_Mày coi mấy thứ đó nói toàn là chuyện đánh Nam dẹp Bắc, đứa nịnh hại đứa trung, người tôi trung bị hoạn nạn đã đời rồi thì đâu vô đó. Ân báo ân, oán báo oán, chuyện nào củng như vậy hết nhất là bộ truyện Phong Thần. Còn mày coi bộ truyện Tam Quốc Chí người anh hùng như Tào Tháo thì bị khi dễ, còn như Quan Công là tay điếm đàng thì lại cho hiển thánh!
_Trời ơi, ở đây họ thờ ông Quan Công nhiều lắm.
_Bởi vì họ dốt nên thấy mấy người Các chú họ thờ nên mình củng bắt chước họ mà thờ, mình người An Nam không thờ anh hùng người An Nam mà đi thờ người bên Tàu!
_Mày có đọc truyện Tam Quốc mày biết tại sao trong đời chiến Tam Quốc chỉ có một cây Thanh Long Đao?
_Dạ ông thợ rèn Lữ gì đó rèn cho ông Quan Công mới có một cây rồi vì đứng gần coi ông Quan Công múa thử nên bị tai nạn rủi ro là ông Quan Công vớt một phát đứt đầu, cho nên chỉ có một cây Thanh Long Đao mà thôi.
_Mày nhớ giỏi, sự thật thì không phải bị tai nạn rủi ro mà là có ý vì Quan Công múa thử cây đao thật vừa tay quá, nếu để cho anh thợ rèn này còn sống thì trong đời Tam Quốc y rèn cho biết bao nhiêu cây đao như vậy thì hết giá trị cây đao này, chi bằng giết anh ta chết thì đâu còn ai mà rèn được cây đao thứ nhì. Rồi Quan Công chết về tay ai giết?

Dạ ông bị phục kích chết vì không chịu đi về tiểu lộ có tin cho hay đi đại lộ về thì sẽ bị phục kích, mà người phục kích đó là Lữ Mông. _Mày biết Lữ Mông là con ai không? _Dạ cháu quên không biết là con ai. Lữ Mông là con anh thợ rèn người rèn cây Thanh Long Đao, khi Quan Công phục chết anh thợ rèn thì vợ anh ta đang có bầu. Sauk hi mẹ nó sanh ra, nuôi nó lớn khôn và cho nó biết người đã giết cha nó là Quan Công, nên nó quyết báo thù cho cha nó.
_Còn đoạn quá ngũ quan trãm lục tướng?
_Dạ ông Quan Công hay tin anh muốn đi thăm mà mấy lần vô xin phép ông Tào Tháo đều lánh mặt nên ông phò nhị tẩu trốn đi. Vì không có lịnh tiển nên các cửa ải không cho ông ra khỏi ải vì bị cản trở nên ông đi qua 5 ải giết chết hết 6 tướng giữ ải của Tào Tháo.
_Mày coi trong truyện gì đó, có hai ông Bá Di và Thúc Tề giận không ở vào nhà Châu, lên núi Thú Dương ở không thèm ăn gạo của nhà Châu, nghĩ thẹn nên nhịn đói mà chết như vậy mới ngon. Còn Quan Công khi phò nhị tẩu, tạm trú nơi núi Thổ Sơn, thiếu thốn cực khổ quá nên mới đua điều kiện, mà về ở với Tào Tháo. Gặp tay Tào Tháo là người mến tài, tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến, người ta đối đãi như vậy mà khi ra đi lại còn giết hết 6 tướng?
_Rồi trận Huê Dung Đạo?
_Trận đó Tào Tháo thất trận chạy tới ngõ hẹp Huê Dung, thì bị ông Quan Công đón bắt được.
_Rồi sao nữa?
_Dạ rồi bị Tào Tháo khóc kể lể, nên bây giờ hể ai năn nỉ kể lể, thì họ nói sao thằng này lại kể lể như Tào Tháo. Cho nên ông Quan Công thấy vậy thương tha cho Tào Tháo chạy về nhà.
-Đó mày thấy không bị mang nặng án kẻ thù nên vì lẽ đó mà dám bắt giặc, tha giặc theo luật nhà binh thì bị tội tử hình. Đừng nói chi khi ra đi còn có làm tờ cam kết với Khổng Minh. Nội mày thấy bao nhiêu đó, thì cái lý lịch của Quan Công toàn là mâu thuẫn với hai câu thơ liễng thờ:
Trung đồng nhật nguyệt nghĩa đồng thiêng.

Mày có học chữ Nho, mày thấy có trung chổ nào mà nghĩa chổ nào? Nói ra thì mất lòng sự tự do tín ngưỡng, nên ai muốn thờ ai thì thờ. Ông nói người An Nam thờ anh hùng người An Nam là ai?
Thằng có ăn học mà sao ngu quá, hiện giờ tao với mày nói chuyện ở đâu đây? _Dạ ở hậu đình chớ đâu. Đình là để thờ thần, ông thần này là anh hùng người An Nam, mày thấy tới lễ cúng cầu an cho bá tánh cúng con heo tuyền, tiền vãng con heo tuyền sắc 100 kg cái đầu heo đó đem kiến người thừa hưởng tiền Hiền, còn cái nọng thì đem kiến cho người thừa hưởng hậu Hiền.Người thừa hưởng tiền hậu Hiền là chú Bảy Nhỏ trong ấp Thới Lợi họ Ngô. Người thừa hưởng tiền Hiền là thân nhân họ có công lặn lội từ đây ra tới Đế kinh thỉnh được sắc thần do nơi vua ban đem về tại làng Thới Thuận. Hàng năm tới ngày giỗ là ngày 16/6 âm lịch cũng là ngày cầu an cho bá tánh. Ngày giỗ của vị anh hùng có công phò vua giúp nước đã tử trận. Mày không nghe có câu: “Sống làm tướng chí bền ngọc thạch, chết làm thần danh tạc đá vàng” là vậy đó. Còn người được hưởng Hậu Tiền là người thợ mộc chánh, đứng ra chỉ huy cất cái đình này. Mày thấy cái đình này có hơn trăm năm, mà mấy ông thợ mộc đời nay còn phải phục từ miệng kèo, miệng cột.
_Sao cháu thấy nghinh Sắc thần vô đình mà không có cúng ông thần trước mà lại cúng ông Tiền Vãng trước?
_Tiền Vãng là chết trước, những người chết trước trong ban Du Nghệ như ông cố mày, ông ngoại mày, ba mày hay ai là người trong ban khánh tiết hay hương chức hội tề. Trước sau củng vậy luôn luôn đám Hậu Tân phải nhớ ơn họ và khi có những lễ cúng tuy là người khuất mặt mà vẫn nhớ tới như họ vẫn luôn có mặt tại đây với người còn sanh tiền.
_Vậy cháu biết rồi giờ ông nói tới vụ bọn cướp Hiệp Liệt đi.

_Khi họ nghe tao chịu hợp tác làm ăn với họ, thì họ mời tao ở lại đêm, ăn cơm và đi coi hát cải lương. Họ đua cho tao một bộ đồ tây mặc vô đi coi hát. Bây giờ nhớ lại cái xe của bọn cướp là kiểu điếu xì gà màu đỏ mà hiệu Đờ La Hay. Ăn cơm xong họ chở tao ra chợ Bến Thành đường gì đó rạp gì có tên như là Modern (đường D’Espagne). Họ với tao là ba người, một người lại mua giấy thấy giá thượng hạng $1.20 hạng nhất $1.00.00 hạng nhì. $0.60 hạng ba, hạng cá kèo $0.30 đứng. Tao với người đi chung đứng ngoài, chỉ có một người lại chổ bán giấy. Anh ta đứng đó xin tấm gờ-ram coi, trong khi đó thì gần tới giờ mở màn nên khán giả chen lại mua giấy. Anh ta đứng coi một hồi thì chỉ cho họ ghi 3 cái giấy thượng hạng là $3.60. Khi người bán giấy đưa ra thì người đó biểu thối lại tiền. Người bán giấy nói:
_Thầy chưa đưa tiền mà đòi thối à?
_Tôi đưa cho anh tấm giấy con công anh coi lại trong tủ anh coi có hay không?
Người bán giấy thấy người đó mặc đồ Tây Tussoir, mang kiếng gọng vàng coi bộ dân sang quá nên đành thối lại $1.40. Tao được chứng kiến từ đầu tới cuối, đi coi hát ba vé thượng hạng đã không mất tiền mà còn thêm được $1.40 bỏ túi, tao bái phục bọn này!

Ngồi
trong rạp hát thấy chung quanh toàn là người ăn mặc bảnh bao, phụ nữ thì dồi phấn thoa son, xức dầu thơm nực nồng. Thanh niên thì ăn mặc đồ Tây lịch sự, ai nấy vui vẽ chuyện trò so sánh lại thấy mình thua họ xa quá!! Vì vậy trên sân khấu đào kép ca hát còn tao ngồi suy nghĩ lung tung nên không thưởng thức được đêm hát cho trọn. Coi có hai màn thì họ kêu nhỏ ra ngoài chơi và họ đưa tao ra ngoài Lăng Tô hứng gió, xe đâu môt chổ thanh vắng, bây giờ họ mới thảo kế hoạch với tao: họ đưa cho tao $100.00 với số tiền này tới ngày đó tháng đó, giờ đó phải có mặt tại núi Nứa thuộc tỉnh Bà Rịa giả làm lái buôn.
Trong ghe toàn là người trong đảng, tuyệt đối giữ bí mật không cho tụi bạn biết gì hết. Họ đưa cho tao 4 tấm giấy quánh ($20) 4 tấm giấy con công ($5) đưa tiền lẽ xài không ai nghi ngờ. Khi ra tới chợ Bà Rịa, thì đậu ở đó lên mua cá thịt tất cả thực phẩm, rượu trà bánh đều đủ rồi chèo ra núi Nứa. Ra đó coi đám dưa hấu nào đỏ rồi gánh lần lần xuống ghe, ghe đậu gần đường đi lại chợ Long Sơn. Họ căn dặn thật kỹ rồi đưa tiền và chở tao về ghe Cầu Ông Lãnh.
Lấy tiền rồi ông có đi ra chổ nào đó ông Từ? Đi chớ sao không, đi cho biết đá biết vàng. Chuyến đi buôn đó vốn lời không tới $50 mà họ dám đưa tao tới $100 mà không sợ mất thì đúng là dân anh hùng rồi còn gì nửa? Khi nhận tiền tao hứa là bằng cách nào miễn sao ghe tao ra tới núi Nứa đậu ở đó đúng ngày là được. Vì từ kinh nước Mặn, tao lên quận Cần Giuộc lên tới ngả ba cây Khò ra Phú Xuân (Nhà Bè) ngang Bình Khánh ra ngã Đường Tranh vô tới Vũng Vàng đi ngang qua quận Long Điền lên đó đi chợ mua thực phẩm xuống ghe ăn rồi đi ra Hộ Bài, đi ngang qua Rừng Sát, chèo trong mấy rạch nhỏ ra núi Nứa đâu đó cho đúng ngày giờ đã hẹn. Họ không cho tao đi lung tung trong rừng như vậy vì ngày đó họ có cho người canh tại chợ Bà Rịa coi tao nhận tiền mà có ra đó không? thành ra ghe tao đi vòng vo mới tới cầu sắt chợ Bà Rịa (sau chợ Bà Rịa dời vô ngã ba đường đi Long Thành) Khi đúng lời hẹn ghe tao đâu tại chợ Bà Rịa mua nào cá, nào thịt, nào rượu trà xong mới chèo ra núi Nứa.
Tỉnh Bà Rịa có đủ Cửu Long và Thập Phước. Cửu Long là 9 chổ có địa danh mang chữ Long: Long Hải, Long Điền, Long Kiên, Long Thành, Long Hoà, Long Hậu, Long Phú, Long Quới, Long Sơn (núi Nứa).
Thập Phước là 10 chổ có địa danh mang tên đầu là Phước: Phước Lễ, Phước Tỉnh, Phước Lý, Phước Tuy, Phước Hoà, Phước Hưng, Phước Lợi, Phước Bình, Phước Lâm và Phước Bửu (Cù My). Tại chân núi Nứa là đảo Long Sơn có một cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu đạo này kêu là ông Đạo Trần.

_Dạ có tiếng tù và thổi ở xóm ngoài.
_Tiếng tù và của anh Lái Chiến mà lại có 3 cái thổi lên một lượt.
_Vậy là bửa nay ghe đáy của ông Quản Hộ trúng cá Mùa?
_Tao phải lấy cá về cúng Lệnh Ông Nam Hải, mày về bửa nào nói thêm.
_Xứ tôi, làng Thới Thuận một tục lệ được duy trì qua nhiều thế hệ của ngư dân chuyên đóng đáy hàng khơi (đáy rạo). Hàng đáy nào mà trong vùng biển đó đóng được con cá Mùa loại cá như cá Thu mà không phải là cá Thu. Loại cá này theo truyền thuyết của các bậc tiền bối ngư phủ là loại cá mà ông Nam Hải thích nhất. Nếu chỉ được vài con thì lái và bạn cúng ngoài biển cho cá lạc bầy. Còn như đóng được cả bầy lối vài chục con thì ghe phải về sớm hơn ông lái lên nhà cho chủ hay, chiều biển này mình trúng được cá Mùa.
Chủ nhà bày hương án ra giữa trời để 10 con cá Mùa lên mâm, khi nhang đèn đốt lên kế đó là thổi tù và lối xóm nghe có 3 giọng tù và khác nhau là biết ghe biển đó trúng cá Mùa, nếu trúng ít thì chỉ thổi một cái mà thôi. Cho nên ông Từ giữ phần hương khói cho làng ông Nam Hải thay mặt cho vạn lạch làng Thới Thuận khi nghe có tiếng tù và vào nửa đêm phải thân hành ra chổ trúng cá Mùa nhận 3 con đem về làng để sống như vậy cúng. Còn phần chủ ghe đáy khi cúng xong lâp tức cho gia nhân đem những con cá quý đó đi biếu những thân nhân gần nhất như sui gia chẳng hạn. Thành ra tôi chỉ nghe tới loại cá quý đó mà chưa bao giờ được ăn cả.

Tại chân núi Nứa là làng Long Sơn có môt cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu mối đạo này mà họ kêu là ông Trần. Người thì cho là ông họ Trần, người thì nói ông chỉ ở trần quanh năm không bận áo. Toàn đảo Long Sơn này đều theo đạo ông Trần, đàn ông củng để tóc và bới đầu như đàn bà ở xa thấy họ mặc quần lãnh đen áo túi trắng bới đầu tóc thì đàn ông lẫn đàn bà đều giống nhau. Mỗi năm tới kỳ đại lễ Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 âm lịch khách thập phương đi tới cúng tấp nập, gần chợ Long Sơn có cất cái tổ đình thật lớn để cho khách thập phương tới ở tạm nơi đó. Còn dân địa phương gần tới ngày lễ lớn thì họ tự động gánh củi đem rau cải và những thức ăn chay đem tới chùa.
Các đệ tử ông đạo Trần phần nhiều là dân Sài Gòn, toàn là dân giàu có, phu nhân các bác sĩ, kỹ sư, thương gia… không biết khi họ nghe ông đạo Trần thuyết pháp như thế nào mà các đệ tử của ông đem tới dâng hiện kim hơn hiện vật?
Đúng ngày giờ hẹn họ xuống ghe đưa cho tao gói quần áo biểu mặc vô đi theo họ, đó là bộ đồ khăn đen và áo dài. Tao đi theo họ lên chùa cúng Ngọ.
Giờ này là giờ Tịnh của ông đạo Trần không ai được phép lai vãng chổ cấm phòng, trong đó chỉ có mình ông ngồi tịnh. Tao đi theo người đàn bà này tới bàn này đốt nhang, đi tới bàn kia đốt nhang lạy. Khi đi tới cánh cửa phòng cấm là phòng riêng ông đạo Trần họ gõ 4 tiếng. Cửa mở thì có hai người bạn cùng trong phòng đi ra trao cho tao môt bao và một bó nhang đốt cháy- đỡ bao đó lên vai tao vác đi, tay cầm bó nhang. Cả bọn đồng đi ra khỏi chùa, đi xuống ghe tao đậu kế đường đi, họ ra lịnh chèo mau theo hướng họ chỉ. Ghe chèo đi lẩn quẩn trong những đám cây Đước, cây Mắm cho tới khi có chiếc ca nô đậu thì họ và tao leo qua ca nô chạy đi một nơi cách đó thật xa và lủi vô bụi rậm. bấy giờ thì họ mới đổ bao đồ ra thì toàn là giấy bạc… Họ đếm thật kỹ và chia ra làm 5 phần, tao hỏi sao có 4 mà chia tới 5?
Họ nói chia dư ra làm 1 phần cho họ giữ phòng khi trong bọn có bị lính bắt thì họ lấy số tiền đó lo đi hối lộ cho mình khỏi bị ở tù. Chia phần của tao thì có bỏ chung vô cái gói căn dặn trong đó có bảng chỉ dẫn bằng chữ quốc ngữ, không được cho ai biết tới gói đồ đó. Họ đưa tao lại ghe, còn họ thì lên chiếc ca nô, họ nói nhỏ với tao là vừa rồi mình ăn cướp tiền của ông đạo Trần. Phải hơn 5 tiếng đồng hồ nửa thì các đệ tử của ông mới hay, hiện ông bị trói miệng và củng bị bịt kín ngồi trong phòng riêng của ông, khi đám đệ tử của ông hay được thì họ lùng kiếm chung quanh đây mà giờ đó thì mình đã có mặt tại Sài Gòn.
_Họ chia cho ông một phần bao nhiêu vậy ông Từ?
_Một phần của tao được một ngàn sáu trăm đồng… ghê chưa? tao cho hai đứa bạn giả đó mỗi đứa một trăm nó mừng gần chết vì tụi nó chỉ thấy bạc lẽ, chưa bao giờ thấy bạc trăm.
_Còn cái gói họ đưa cho ông là cái gì mà bí mật dữ vậy?

Khi về tới nhà được an toàn chôn cất số tiền ra nhiều chổ bí mật xong xuôi cả tháng tao mới hoàn hồn vì những thủ đoạn tổ chức đi ăn hàng của đám đó làm cho tao sống lại với bọn cướp Hiệp Liệt. Lần đầu họ diễn trước mặt tao vụ đi coi hát cải lương, mua giấy đã không trả tiền mà còn biểu thối lại. Sau này tao mới nhớ lại là khi người đó đứng gần chổ bán giấy, xin tấm “program” coi. Sự thật là đứng chờ có người mua giấy đưa vô tấm giấy 5 đồng hay là 20 đồng để trong hộc tủ. Nhưng phải ăn bận cho thật sang và tự nhiên như lúc đánh phé vậy. Cái gói đồ là họ chấp nhận tao vô môt đảng với họ, gồm có cái áo Bành Tô, cái nón tây Singapore, sợi dây nịt da bản lớn, một quần lãnh đen lưng vận, một áo thung tơ hiệu 3 tiền điếu một đôi giày Tàu và cái ống điếu bằng ngà. Bản chỉ dẫn bằng chữ Quốc ngữ như sau: Kiểu ăn mặc như đám du côn Cầu Muối dưới mang đôi giày tàu, mặc quần lãnh đen lưng vận mà không vận vì có sợi dây nịt da lớn bản nên lưng quần phải thả lỏng bàn. Trên mặc áo thung tơ, ngoài bận áo Bành Tô nút chuối. Công dụng của cái nón Singapore là bên trong có chất cao su thật cứng, không phải như loại nón Tây làm ở Sài Gòn bằng cây mốp mềm xèo. Cho nên dân du côn thường đội nón đó khi bị dao chém. trên đầu không bị thương nặng. Sợi dây nịt da thứ lớn củng thật cứng khi bị đâm củng không tới lòi ruột. Và điểm đặc biệt này là tối quan trọng của một đảng cần biết ám hiệu. Vô sự thảnh thơi đi chơi thì mặc áo Bành Tô gài đủ 3 nút dưới. Muốn gặp mặt đại ca và nhị ca thì chỉ gài một nút vô mấy tiệm cà phê sẽ có người liên lạc cho gặp mặt đại ca muốn bàn tính việc gì. Còn cầu cứu cấp tốc thì thả luôn 6 nút như báo động vậy. Củng ăn mặc đồng phục như vậy đó mà thấy người nào hớt tóc kiểu Bum-bê vén qua hai mép tai thì mình phải chào, không chắp tay thưa mà chỉ gật đầu hay nháy mắt là đủ. Vì trong giới anh chị du côn người nào để tóc theo kiểu như Nguyễn An Ninh là thuộc về thứ dữ nên lưu ý tới kiểu hớt tóc dài vén qua hai mép tai. Áo Bành Tô là kiểu áo ra sao?

_Mày thấy khi ông Quận An Hoá xuống thăm làng với thầy thông dây thép, ông Chủ Sự Kiểm Lâm, mấy ông đó mặc đồ Ô Hoe, trước ngực bật ra có thắt “cà ra quách”. Còn áo Bành Tô là kiểu áo của mấy ông lính đồn, có cổ cao lên trước gài một hàng nút, kiểu đó người Pháp kêu là “fermée”, mà không biết sao mình phổ thông kêu là áo Bành Tô, tao củng không hiểu nửa.
_Mày thấy cách tổ chức của người có ăn học nó khác xa với dân nhà quê như tụi tao, mãn đời đi rình mò chờ cho người ta ngủ mới ăn cắp đồ mà đáng giá có bao nhiêu tiền, mà khi bị bắt củng bị ở tù.
-Sau này có lần nào ông gặp lại mấy người mà ông cho là đám cướp Hiệp Liệt lần nào hay không?
_Tao có gặp họ hai lần.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 7 Nov 2014

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

  1. Phần 8
    Mật khu An Lão
    (Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 BCD chờ máy bay ở Phi Trường Nha Trang để đi Hành Quân ở mật khu An Lão)

“Tiếng già nhưng núi vẫn là non”
(Chơi núi An Lão Nguyễn Khuyến)

Khoảng tháng 9 năm 1969, các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân Delta được đưa từ Nha Trang ra Phi Trường Đệ Đức. Đây là Phi Trường dã chiến của Quân Đội Hoa Kỳ. Đang mang các trang bị cá nhân vào lều bạt thì tôi đã nghe Thiếu Úy Thạch Thon, Trưởng Toán 6 Thám Sát rỉ tai: “kỳ nầy sẽ hoạt động vùng Mật Khu An Lão, theo nhu cầu của Quân Đoàn II”.
Mật khu An Lão là chỗ nào?
Nhớ mang máng hồi còn học Trung Học, Ông Thầy dạy Việt Văn có giảng bài “Chơi Núi An Lão” của Nguyễn Khuyến, bọn học sinh chúng tôi gọi đùa tác giả là Ông già gân, bởi vì câu cuối bài thơ là: “Dẫu già mà đã hơn ta chửa? Chống gậy lên non bước chẳng chồn”. An Lão của Nguyễn Khuyến ở đâu ngoài Bắc, còn An Lão ở đây là An Lão Bình Định. Dĩ nhiên, Ông Lão còn chịu chơi, huống chi bọn tôi còn trẻ, sá chi cái An Lão nầy.
Nhưng trước sau gì cũng phải xem lại Bản Đồ một chút cho chắc ăn. Thói quen của những người Chỉ Huy là ưa xem Bản Đồ, mà phải xem kỹ Bản Đồ Quân Sự. Binh thư dạy rồi: “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa”. Xem Bản Đồ để biết địa lợi, khai thác địa lợi là điều cần thiết của cấp Chỉ Huy.
Hôm sau, vào Trung Tâm Hành Quân, nhìn vào tấm Bản Đồ trải rộng trên cái giá gỗ, tôi quan sát thấy mật khu An Lão nằm về hướng Tây của Thị Trấn An Lão, Hưng Long và Xuân Phong, cách ngăn bởi một con suối chạy từ hướng Bắc đổ ra biển ở miệt Xã Hoài Hương, thuộc Quận An Nhơn. Đây là các Thị Trấn nhỏ miền thượng du Tỉnh Bình Định. Đường bộ vào đây nối liền từ Quốc Lộ 1 bằng Tỉnh Lộ 629 tại Thị Xã Bồng Sơn. Địch thường đưa quân từ mật khu An Lão để bao vây tấn công vào các Thị Trấn nầy rất gắt gao, có lẽ chúng muốn nhổ sạch hết toàn bộ mà không nhổ được.
Hướng Tây Bắc mật khu An Lão là Quận Ba Tơ, nơi đây cũng có một Trại Ba Tơ của Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt đồn trú. Quận Ba Tơ nằm về hướng Tây Tây Nam Thị Trấn Đức Phổ thuộc Tỉnh Quảng Ngãi. Về hướng Tây Tây Nam An Lão là Tỉnh Kontum. Hướng chính Nam là Quốc Lộ 19, con đường nối liền Qui Nhơn – Pleiku, có Đèo An Khê là nơi từ cuộc chiến tranh trước, Việt Minh đánh Tây nhiều trận xiểng liểng. Trong thời điểm này tại An Khê, Việt cộng chưa làm được gì suy suyển phe ta. Hướng Đông Nam là Quận Hoài Nhơn có hai Thị Trấn Bồng Sơn và Tam Quan nằm trên Quốc Lộ 1. Tam Quan gần Sa Huỳnh thuộc Tỉnh Quảng Ngãi.
Về hướng Tây Tây Bắc Kontum, tôi thấy địa danh Attapeu một cao nguyên của Nam Lào, và vùng Tam Biên: Việt Miên Lào. Đích thị là chúng nó đây rồi. Đường mòn Hồ Chí Minh đưa Việt cọng đến cao nguyên nầy của Xứ Lèo. Từ đó chúng đổ xuống hướng Đông là vào mật khu Đỗ Xá, phía Tây Quảng Ngãi và hướng Đông Nam vào Tân Cảnh, Dakto. Hồi học lớp Đệ Tứ tôi có nghe Ông Thầy dạy Địa Lý nói tới Mọi Đá Vách ở vùng nầy, được Ông Quan Nguyễn Thân cho ăn đường phèn mà tưởng là đá, nên xin hàng. Mấy năm nay không nghe nói gì tới tình hình chiến sự ở Đỗ Xá. Về phía Nam Đỗ Xá là mật khu An Lão.
Căn cứ trên Bản Đồ cho thấy, mật khu An Lão là một vị trí chiến lược quan trọng.

Chúng có thể rút về phía Tam Biên, nếu bị tấn công dữ dội. Chúng có thể uy hiếp Kontum hay Quốc Lộ 14 nối Kontum và Pleiku, uy hiếp An Khê, gây áp lực trên Quốc Lộ 19, hoặc tấn công Sa Huỳnh, cắt đứt Quốc Lộ 1. Quân Đoàn II quan tâm vào vùng nầy là chí lý, chí lý vô cùng.
Tôi rời khỏi Trung Tâm Hành Quân, ngẫm nghĩ càng thấy cái vô cùng chí lý của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.
Và rồi, một cuộc hành trình vào mật khu Việt cộng khá hào hứng, và cũng không thiếu nguy hiểm, đổi mạng như chơi. Nghĩ tới đó, tôi không sợ mà lại tự cười thầm tự tin.
Theo đúng thủ tục thường lệ, sau khi Toán nhận lệnh, tôi cầm tấm Bản Đồ đã được khoanh vùng hoạt động, leo lên Trực Thăng đi bay để quan sát khu vực và tìm chọn bãi đáp cho Toán. Hôm sau, mọi chuẩn bị lương khô, súng đạn, thuốc men đã hoàn tất đầy đủ, trước khi lên đường Toán đã đến Trung Tâm Hành Quân để trình bày kế hoạch trước Chỉ Huy Trưởng và các Trưởng Ban 2, Ban 3. Dĩ nhiên, ngoài bốn chinh nhân da vàng mũi tẹt còn có hai bạn đồng minh chổng mỏ ngồi nghe, bên cạnh có Thông Dịch Viên cùng ngồi với họ.
Một số Toán Thám Sát Delta của Thiếu Úy Cao Kỳ Sơn, Trần Bá Lễ, Phan Anh đã vào trận mấy hôm nay rồi. Toán tôi đang chuẩn bị tiếp nối.
Trực Thăng đưa Toán thâm nhập vào mạn Nam, trong vùng trách nhiệm ở mật khu An Lão vào khoảng xế chiều Toán di chuyển về hướng Tây Bắc chừng tiếng đồng hồ thì dừng lại bố trí nghỉ qua đêm. Địa thế ở đây thật hiểm trở, rừng rậm xen lẫn vách đá cheo leo cao nghệu. Di chuyển phải hết sức thận trọng, dò dẫm từng bước, lần theo các bậc đá, vịn vào các thân cây non hay kéo đẩy giúp nhau mới đi được. Một ngày, hai ngày chầm chậm, lặng lẽ trôi qua, Toán chưa tìm thấy hay phát hiện được gì cả về mọi họat động của địch..
Rạng sáng hai hôm sau, Toán tiếp tục di chuyển theo hướng Tây Bắc, cũng đi thật chậm, chú ý quan sát kỹ các dấu vết trên lộ trình, qua từng đồi cây, con suối.
Có một điều Toán tin chắc là Quân Đội VNCH chưa từng vào mật khu nầy hành quân, thành ra Việt cọng thường huyên hoang, tự phụ, cho rằng mật khu An Lão là vùng bất khả xâm phạm và cũng chính vì thế mà tình báo của ta không nắm rõ tình hình quân số, đơn vị địch hoạt động trong mật khu này. Do vậy mà hôm nay mới có sự hiện diện của các Toán Thám Sát Delta.
Gần cuối ngày, khi Toán đang đi lần xuống một trũng rừng thì Toán đã phát hiện hai con đường mòn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Những con đường mòn còn tươi rói, có nghĩa là địch đang sử dụng. Toán men theo một trong hai con đường mòn, sau đó không lâu, thì lại thấy một con đường lớn, có dấu vết chạy của xe Molotova.
Tôi suy nghĩ không ít về những con đường xe nầy. Xe về tới đây là coi như đã tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, nó đâu còn chỉ di chuyển trên vùng biên giới Việt – Lào. Từ chỗ có đường xe nầy tính ra tới bờ biển chưa tới 25 dặm. Bọn chúng lộng hành đến thế hay sao?
Sau khi báo cáo cấp tốc mọi chi tiết về Trung Tâm Hành Quân, Toán được lệnh dừng chân qua đêm, chọn chỗ an toàn, kín đáo, trong tầm quan sát để theo dõi mọi hoạt động địch.
Có lẽ Trung Tâm Hành Quân đã thu thập một số tin tức do các Toán Thám Sát Delta hoạt động trong các khu vực kế cận gởi về, phối kiểm và đúc kết đã xác định được lực lượng địch quân ở đây không phải là ít. Vì vậy, rạng sáng hôm sau, Toán nhận được công điện phải bám sát đường mòn, tìm chỗ thuận lợi tổ chức phục kích bắt sống tù binh để khai thác tin tức, nhất là danh tánh, quân số và các kho tàng, căn cứ địa của bọn chúng…
Nhận lệnh xong, xem Bản Đồ, đối chiếu thực địa, tôi bàn thảo sơ lược kế hoạch phục kích cùng hai bạn Đồng Minh. Có ba điểm căn bản: – Phải là con đường địch đang xử dụng. – Vị trí phục kích thuận lợi, có hiệu quả, dễ dàng bắt sống được địch. – Cuối cùng, khi nổ súng rồi là coi như Toán đã bị lộ, phải rút nhanh. Cần biết rõ con đường rút và bãi triệt xuất, nơi trực thăng sẽ đón Toán.
Khu nầy là rừng già, phục kích trong rừng già thì tốt, nhưng khi nổ súng rồi, phải triệt thoái nhanh tới chỗ khoảng trống, bãi tranh để trực thăng có thể đáp xuống bốc về dễ dàng.
Toán chọn lựa địa điểm phục kích gần một con suối. Bên kia con suối, hướng chính Đông, cách khoảng 200 đến 300 mét, tính theo đường chim bay có một hai khoảng trống, có thể là đồi tranh hay rẫy bỏ hoang của người Thượng. Các bộ lạc ở đây thuộc giống người H’rê, sống đời sống du canh, phá rừng làm rẫy, một vài mùa lại bỏ đi nơi khác. Đoạn đường di chuyển từ nơi phục kích đến đó không xa lắm, kịp cho Toán bôn tập tới đó. Nắm chắc địa thế, lập xong kế hoạch phục kích, và rút lui, tôi báo cáo tất cả cho Trung Tâm Hành Quân để theo dõi và yểm trợ khi cần.
Toán nằm trải dài chừng 50 mét, dọc theo đường mòn, núp sau các tảng đá, gò mối, gốc cây rừng, cách khoảng năm mét, đạn đã lên nòng, tất cả hướng mắt về trước mặt, đúng tầm sát thương của vũ khí.
Chờ địch chừng 2 giờ đồng hồ thì chúng xuất hiện, ngang nhiên đi trên con đường mòn. Đi đầu là một Toán khoảng mười tên, cứ mỗi hai tên gồng gánh một bao gì đó gói trong tấm bạt dầu, chúng tôi
không rõ là hàng gì, có thể lương thực hay vũ khí, đạn dược? Gánh hàng không nặng lắm vì chúng vừa đi vừa nói chuyện. Có thể chúng rất chủ quan, coi như đây là vùng đất thánh của chúng, như chưa từng bị tấn công, phục kích bao giờ.
Khi chúng vừa tới ngay tầm xạ kích của Toán thì bỗng dừng lại. Tôi nghĩ thầm: “Ồ! không lý mình hên vậy?” Và, chỉ mới dự định cho nổ súng thì thấy có một tên phía sau đang khó nhọc đi tới. Tôi cười thầm trong trí: “một con vịt đẹt”, tiếng gọi đùa như khi tôi còn sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử hay Hướng Đạo, mỗi khi đi Cắm Trại, thường gọi những người đi chậm, lẹt đẹt phía sau. Vậy thì không phải chúng nghỉ mệt mà chỉ dừng lại chờ tên đi sau.
Chờ con vịt đẹt tới gần bọn chúng, Toán bắt đầu khai hỏa. Bốn cây XM.16, hai cây XM.18 nổ ran. Bốn tên gục tại chỗ, mấy tên khác vừa nổ súng phản công vừa lủi vô rừng chạy mất. Con vịt đẹt quay đầu tháo lui, nhưng không kịp rồi! Hai ông bạn đồng minh đã nhanh chóng xông ra, vật cổ, đè “con vịt đẹt” xuống, còng tay, kéo nó đứng lên chạy lẩn vào rừng để cùng theo Toán rút lui về hướng đã định.
Khoảng nửa giờ sau, khi Toán đi quá nửa con đường đến bãi triệt xuất, thì nghe có nhiều tiếng súng nổ ở chỗ Toán đã phục kích. Tôi yên tâm. Bấy giờ phía trên đầu Toán, chiếc L.19 hướng dẫn chúng tôi tới Bãi, và 4 chiếc Trực Thăng UH.1B đang vần vũ. Thông lệ thì luôn có một chiếc CNC của Chỉ Huy Trưởng, hai chiếc Gunship bao vùng, yểm trợ, sẵn sàng xạ kích bằng Hỏa tiễn, Đại liên để an toàn bãi và một chiếc có nhiệm vụ bốc Toán.
Toán đến bãi an toàn, không phải chờ đợi, một chiếc Trực Thăng sà xuống đón Toán trở về.
Đẩy tên tù binh đang bị trói nằm xuống sàn, chúng tôi ngồi dựa lưng vào nhau, muốn cười mà không cười nỗi. Mệt quá!
Về đến căn cứ Hành Quân, giao xong tù binh cho Ban 2 để tạm thời khai thác, trước khi chuyển đến Trung Tâm Thẩm Vấn Tù Binh của Quân Đoàn II, tôi đi thẳng xuống căn lều Câu Lạc Bộ để kiếm món gì ăn và uống một lon RootBeer cho đã thèm, vì mấy ngày nay chỉ dùng toàn lương khô, nước lạnh. Chán chết được.
Ngày hôm sau, Trung Tâm Hành Quân Ban 2 cho biết tên tù binh do Toán bắt được là Bí Thư Huyện Ủy Huyện Xuân Phong, vừa đi B trên đường trở về. Y khai, hiện có 2 Tiểu Đoàn của Công Trường 7 đang ẩn trú tại mật khu An Lão, và trong tương lai Công Trường 9 từ Dakto, Tân Cảnh cũng sẽ di chuyển về đây để lập mặt trận tấn công các Thị Trấn Tam Quan, Bồng Sơn, Đức Phổ.
Dĩ nhiên, trước mọi tin tức nóng hổi đã được cung cấp thì đã có cấp trên lo liệu. Còn tôi sau khi hoàn thành “mission imposible” ngày ngày đón xe Lam ra Quán tranh, ở đầu Thị Trấn Bồng Sơn trên Quốc Lộ 1 để uống cà phê, nghe nhạc. Cà phê ở đây uống cũng tạm, còn nhạc thì máy móc ở các Quán quê nầy chỉ nghe cho nó vui vui, đỡ buồn, đâu có thể đòi hỏi âm thanh phải như ở Nha Trang, Saigon.
Nếu không có nhu cầu Toán 3 nhảy vào một khu vực khác thêm lần nữa, thì chờ khoảng hơn tuần lễ, khi các Toán Thám Sát Delta, hiện đang hoạt động ở những vùng kế cận, rút ra hết, thì Trung Tâm Hành Quân Delta sẽ cuốn gói trở về lại Nha Trang, chấm dứt những ngày thâm nhập, phục kích, bắt sống địch, triệt xuất đem về khai thác tin tức… như trong phim ciné…

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 6 Nov 2014

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

  1. Phần 7
    Đức Cơ. “Đường đi chưa dứt”

“…Trời thấp thật buồn,
Anh khách lạ. Đi lên đi xuống…”
“Còn chút gì để nhớ”
Hướng Đông Đông Bắc Đức Cơ là Pleiku, khoảng cách chừng 60 cây số, tính theo đường chim bay. Hướng Bắc Đức Cơ khoảng 30 cây số là Trại Lực Lượng Đặc Biệt Plei-Djereng.
Toán 3 Thám Sát của tôi nhận nhiệm vụ xâm nhập hoạt động trong vùng dọc theo biên giới Miên Việt này. Đây là khu vực Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II quan tâm, và có nhu cầu nắm vững tình hình địch trong vùng lãnh thổ của Quân Đoàn.
Sau các trận đánh năm Mậu Thân, quân Cọng sản bị thương vong quá lớn, gần 60 ngàn, gồm binh lính, cán bộ. Bây giờ, mùa Hè năm 1969, quân Cọng sản đang bổ sung, tái trang bị, chuẩn bị cho một chiến dịch mới, có thể là Thu Đông 1969 – 1970.
Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta cùng Toán B.52 cố vấn Lực Lượng Đặc Biệt và Phi Đội 281 Trực Thăng Hoa Kỳ, được đưa tới Pleiku. Bộ Chỉ Huy đóng bên ngoài khu vực phi trường Pleiku, trên một bãi đổ Trực Thăng, cách Biển Hồ về hướng Bắc 9 cây số.
Bây giờ không có thì giờ để đi thăm cái thành phố nhỏ, dù chỉ “đi dăm phút đã về chốn cũ”. Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng, cùng các Trưởng Ban 2, Ban 3 đã đi bay tìm hiểu thực địa. Ngày hôm sau, các Toán Trưởng Delta được gọi lên Trung Tâm Hành Quân, để nghe thuyết trình về tình hình địch, bạn và nhận lãnh sứ mệnh, tức là nhận vùng trách nhiệm của mình.
Khu vực Toán 3 nằm sát cạnh biên giới, có thể “vượt biên” nếu cần, dù bất hợp pháp vì vi phạm lãnh thổ nước bạn. Việc ấy không cần quan tâm. Chính Phủ Miên dung dưỡng Việt cọng, để địch dùng lãnh thổ Miên xâm nhập Miền Nam Việt Nam thì sao?
Cũng như thông lệ, sau khi nhận lệnh và phóng đồ Hành Quân xong, tôi lên trực thăng đi quan sát vùng hoạt động. Vùng nầy, việc đổ quân không khó, không phải vì thiên nhiên mà nhờ nhân tạo. Rất nhiều hố bom B-52, bom Napan và rãi rác các vùng cây trơ trụi vì thuốc khai quang, nên việc chọn bãi xâm nhập và triệt xuất chẳng mấy khó khăn…
Buổi chiều, cả Toán 3 lên Trung Tâm Hành Quân trình bày kế hoạch, nhận thêm các chỉ thị, hiệu lệnh và đặc lệnh truyền tin. Đặc lệnh thay đổi mỗi ngày nhằm bảo mật và dự phòng các trở ngại, bất trắc, nếu có v.v…
Trời tuy đã về chiều, nhưng ánh tà dương vẫn còn tỏ sáng, chiếc trực thăng UH-1B chở Toán hạ thấp trên mép bãi hố bom B.52 giữa rừng già. Nhanh như những con sóc, từ hai bên cửa, hai ông bạn Mỹ và bốn chúng tôi nhảy xuống lẩn khuất vào rừng. Máy bay lên cao, không một dấu vết còn lại, địch không thể ngờ.
Nhìn trên bản đồ, từ bãi đổ quân đến biên giới Việt Miên khoảng 2 cây số. Toán đi về hướng Tây. Núi rừng cao nguyên giống nhau, khe suối sâu, sườn núi dựng đứng. Toán cứ phải len lỏi giữa cây rừng mà đi. Đêm đó, Toán dừng chân nghỉ đêm trong một hốc núi đá, bên phần đất Nước ta.
Tờ mờ sáng, Toán thức dậy sớm, tiếp tục di chuyển về hướng Tây. Chưa được bao lâu là vào lãnh thổ Ông Hoàng Xứ Chùa Tháp.
Đi thêm một quãng, lội qua con suối cạn, Toán dừng lại lót dạ, hai bạn đồng minh trèo vượt qua mấy rừng cây, dốc núi coi bộ đã thấm mệt, ngồi bệt xuống đám lá khô, tựa lưng vào các gốc cây, mở bình đông uống nước ừng ực, mặt mũi dầm dề mồ hôi.
Đã hai ngày trôi qua, Toán đi dọc theo biên giới về hướng Bắc 360 độ, đúng theo lộ trình qui định suốt cả ngày, vượt qua hơn 2 cây số đường rừng, không phát hiện được gì. Trời càng về chiều, trong rừng càng tối om, Toán tìm chỗ kín đáo, đóng quân, một đêm nữa lại trôi đi…
Qua ngày mai, theo lệnh truyền đạt của Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Toán đi về hướng Đông, trở lại phần đất của nước ta. Vùng trên này, núi cao, rừng rậm hơn, lại gặp phải cơn mưa dông đổ xuống dài giờ, nên đường dốc, ướt, đã khó trèo lại càng khó hơn, thêm phần bị đám vắt tung hoành, cứ đeo bám lên tay, đầu, cổ, phải lấy thuốc bôi để trừ khử bọn chúng, nên quãng đường đi cũng chỉ mới vượt qua biên giới chừng trên một cây số thì trời đã tối, Toán rẽ vào một đám rừng âm u, bố trí dừng quân qua đêm.
Sáng kế tiếp, trên lãnh thổ nước ta. Toán vẫn di chuyển theo hướng Đông. Chừng hai giờ sau, vừa đổ xuống một trũng rừng, lội qua một con suối, nước chảy róc rách, Toán đi xuôi theo dòng nước khoảng 200 mét, thì trông thấy một căn cứ địch, nằm gọn lỏn trong một rừng cây cao, cũng không cách xa bờ suối.
Căn cứ là mấy ngôi nhà dài, bọn Việt cọng thường gọi là “lán trại”. Nhà lợp lá, dưới những tàng cây lớn và cao, máy bay trinh sát khó phát hiện. Tiến đến gần hơn, quan sát kỹ địch tình như thế nào?
Té ra, căn cứ đã bị bỏ hoang!
Tại sao địch bỏ hoang?
Tôi tự hỏi.
Bị ta phát hiện hay nhu cầu không còn nữa. Tết Mậu Thân, chết biết bao nhiêu mạng, lán trại cho ai ở nữa? Nhìn qua phía trái, tôi chợt thấy có mấy ngôi mộ, chôn cất sơ sài trên con đường từ căn cứ đi xuống hướng suối.
Chuyện mồ mả trong rừng không lạ gì với tôi. Nhưng mấy trận đụng độ gần đây, bắt một số tù binh địch, chúng tôi thấy lính tráng Cọng sản còn con nít quá, nghĩa là chúng chưa tới 18 tuổi. Tuổi chúng 15, 16 là nhiều. Nghe lời khai của chúng tôi thấy tội nghiệp hơn là tức giận.
Hao hụt quá lớn ở chiến trường Miền Nam, Cọng sản phải tăng quân nhưng hạ tuổi. Trước Mậu Thân, thanh niên miền Bắc đủ 18 tuổi mới bị bắt thi hành cái gọi là “nghĩa vụ quân sự”. Gọi là nghĩa vụ nhưng lại bắt buộc thi hành. Sau Tết Mậu Thân, để đủ quân số chi viện cho Miền Nam, “đảng và nhà nước” Cọng sản Hà Nội phải “vay tuổi thanh niên”. Vay 2 tuổi, (tức 16 tuổi là đủ để thi hành “nghĩa vụ”), có nơi vay 3 tuổi (tức là mới 15 tuổi).
Đã vay thì phải trả. Đảng và Nhà Nước vay thì bao giờ trả? Hay vay mà không trả! Trả bằng gì? Chữ nghĩa Cộng sản hay thật. Nói càng hay thì lường gạt càng dễ.
Trên đường rút lui xa căn cứ, tôi cứ vẩn vơ suy nghĩ về mấy tên lính con nít cọng sản xâm nhập nầy. Biết đâu những ngôi mộ kia là nơi bỏ xác của những thằng lính con nít ấy.
“Mẹ già lên núi, tìm xương con mình!” Đúng là Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn chẳng biết gì cả, ngồi ở thành phố mà nói mò. Đây là Vùng Tam Biên, Mẹ già lên tới Pleiku, Kontum thì Mẹ không còn hơi mà đi nữa, làm sao tới được chỗ hùm beo nầy. Con của Mẹ chết ở đó thì nằm lại đó, nơi khỉ ho cò gáy này muôn đời đó Mẹ ơi!!!
Toán vẫn hướng Đông thẳng tiến! Chưa tới một cây số, lại gặp đường mòn, không phải một đường mòn từ Đông sang Tây mà còn có một con đường mòn khác, bắt đầu từ con đường mòn nầy đi lên hướng Bắc, hướng Trại Lực Lượng Đặc Biệt Plei-Djereng.
Tới quá trưa, đang mò ra quan sát đường mòn, thì súng nổ. Địch bên kia đường trông thấy chúng tôi nên chúng nổ súng. May mắn không ai bị thương tích gì, Toán nhanh chóng rút vào sâu trong rừng ẩn núp nghe ngóng. Một lúc lâu, không thấy động tỉnh gì, Toán đi chếch lên hướng Bắc một khoảng xa, xong lần ra lại con đường mòn thì rõ mồn một, các dấu vết xe hơi, dấu chân người di chuyển còn hằn rõ nét trên mặt đường. Toán cấp báo về Trung Tâm Hành Quân và nhận được lệnh tiếp tục theo dõi.
Đêm ấy lại ngủ trong rừng già.
Con đường mòn chạy từ Nam lên Bắc, Toán lần theo hướng Bắc mà đi. Mới vừa cho Toán dừng lại, mở tấm bản đồ để xác định tọa độ điểm đứng, thì bất thần tao ngộ chiến một lần nữa. Địch từ trên dốc cao đang đi xuống, không ngờ lại đi ngay vào chỗ Toán dừng quân. Không chần chờ, hai ông Mỹ theo phản ứng tự nhiên hô to:
“Beaucoup vi-xi” và bắn xối xả, một hai tên địch ngã xuống, đám còn lại tản ra núp vào các gốc cây, gò mối, chống trả lại.
Quân số địch phỏng chừng một Trung Đội. Phía chúng tôi có sáu người, Hạ Sĩ Bông Toán viên vừa bị trúng thương ở cổ tay, nhưng vẫn còn chiến đấu được.
Địch không ngưng tiếng súng, vừa bắn, vừa hô bằng giọng Bắc kỳ: “Hàng sống, chống chết. Hàng sống chống chết”. Tôi nghĩ thầm: “Đ. mẹ! chống chết, hàng cũng chết”.
Trước tình thế này, Toán theo ám lệnh của tôi, tuần tự tháo lui, leo lên một đồi thấp kế cận bố trí ẩn núp, án binh bất động, đồng thời cùng hai bạn Mỹ, liên lạc về BCH/ Hành Quân để báo cáo sự tình và xin không yểm. Trên bầu trời, không bao lâu sau đó, đã thấy hai trực thăng UH.1B vần vũ. Trung Tâm Hành Quân nắm rõ được tình hình. Qua máy truyền tin, Trung Tá Phan Văn Huấn, lệnh cho Toán chiếu kính và pano để xác định vị trí, rồi hướng dẫn Toán phải nhanh chóng triệt thối về hướng Đông Đông Bắc, khoảng 200 mét, ở đó có một bãi tranh, nằm yên đó, chờ để triệt xuất.

(Triệt xuất các Toán Thám Sát Delta)
Toán đi được một chặng đường thì thấy hai chiếc Trực Thăng Gunship bay đến, đảo vòng vòng rồi thay nhau xả súng liên tục, dữ dội từng tràng đạn đại liên xuống vị trí Toán chạm địch vừa qua.
Gunship vừa đi thì một phi tuần Skyraider lại xà xuống oanh kích, từng khối lửa bùng lên, sáng rực cả trời chiều. Chắc hẳn là chẳng còn một mống vẹm nào có thể sống sót được.
Chiếc Trực Thăng UH.1B tròng trành đôi ba lần, rồi đáp xuống bãi tranh. Toán ùa ra, lao nhanh lên phi cơ. Chiếc trực thăng cất cánh bay vút lên trời cao, xa dần, xa dần hướng mặt trời lặn, còn le lói vài tia sáng yếu ớt, đang từ từ mờ nhạt trong buổi chiều tà.
Trên đường về, đúng là vui như Tết. Hai lần “tao ngộ” mà chúng tôi vẫn bình an!
Cảm ơn Trời Phật!


Bối 1

Hồi ký của Chim Việt
Tivi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Nghe vẽ nghe ve
Nghe vè đi bối
Trời chưa kịp tối
Núp dựa bóng bần
Coi ghe nào gần
Lấy lá cây che phủ
Chờ cho họ ngủ
Bối lại lấy đồ
Thức dậy mà hò
Xô ra mà chạy
Bớ làng xóm. Bối…bớ làng xóm…Bối
Nếu trên bờ thì nghề đó kêu là ăn trộm hay dân đạo tặc (bần cùng sinh đạo tặc) lại củng có có tên là đạo chích (chó người đạo chích sủa vua Nghiêu) còn dưới sông ăn trộm thì kêu là Bối. Bửu bối là vật quý của thầy tặng cho các trò tu tiên là phép khi hạ san để phòng thân ra phò vua giúp nước, đâu có cho kẻ gian trong giới giang hồ. Vậy mà trong đám thảo khấu sông hồ này lại có tên hoa mỹ như vậy?

Các ghe thương hồ thưở xưa tất cả xuôi ngược đều chèo suốt ngày có khi suốt đêm, mái chèo khuấy nước làm động cơ. Vì vậy mà khi mái chèo được gát lên be ghe, tất cả trong ghe đều mỏi mệt chìm đắm trong giấc ngủ đó là giờ thuận tiện cho đám Bối làm ăn.
Chúng sẽ lén bò qua ghe lấy đồ và vật, nhưng không c1o gì đáng đồng tiền thì họ lấy chèo, bánh lái. Ghe nếu không có hai thứ này thì như bị chết máy giữa đường sẽ làm trễ nải công việc bán buôn sở hụi hàng ngày bị kéo dài ra… rồi sẽ có người bơi xuồng tới họ làm môi giới cho chủ ghe đi chuộc lại vì họ thấy mấy món đồ đó nó trôi giữa sông nên họ vớt lên đem về nơi nào đó!
Khắp vùng Tiền Giang chổ nào củng có Bối, nhưng tiến tăm nhất chỉ có đám Bối Ba Cụm. Sào huyệt đám Bối ba Cụm này nằm trong rạch tên Ba Cụm. Rạch này lối gần ngã ba Giao Hoà đầu con kinh An Hoà phía dưới làng Phú An Hoà trên con sông Cửu Long thuộc tỉnh Mỹ Tho. Nhưng các chi nhánh đặt nhiều nơi từ Vàm Bà Rãi xuống tới cù lao Ngũ Hiệp, cù lao Thới Sơn, cù lao Rồng là vùng trên. Còn vùng phía dưới từ vùng Bình Đại lên Lộc Thuận, Vang Quới, Phú Thuận, Long Phụng vàm Giao Hoà thuộc về tụ điểm Ba Cụm.
Từ đầu con kinh Kỳ Hôn vô ngã ba Ông Văn, kinh Chợ Gạo, Bình Phục Nhất, Bình Phục Nhì tới đầu kinh Nước Mặn và chợ Dinh lại thuộc về tụ điểm ngã ba Ông Văn. (chợ Dinh làng Đồng Sơn quận Cần Giuộc Chợ Lớn). Dân đi Bối có nhiều hình thức để nghi trang: xuồng đi bám vàm, xuồng đi câu tôm cá, xuồng bơi đi chợ…trong đó chỉ có xuồng đi bám vàm là nguy hiểm nhất. Đêm khuya canh vắng, một giọng hò huê tình:
Hò ơ… đèn cầu tàu ngọn xanh ngọn đỏ, đèn chợ Mỹ ngọn tỏ ngọn lu.. anh về học lấy chữ Nhu (Nho).. chín trăng em đợi..hò ơi.. mười thu em củng chờ..
Hò..ơ..Mỹ Tho nước ngọt gió hiền…tàu xuôi Nam Hải ngược miền Nam Vang…thương hồ chiếc dọc chiếc ngang ..tiếng rao lãnh lót..hò..ơ..nhịp nhàng chèo khua, cháo gà, cháo vịt, cà phê, nước ngọt, nhậu lai rai đây.

Tiếng cô thiếu nữ rao nghe thanh tao, Bối cặp theo ghe thương hồ đậu nghỉ củng không phải chỉ đi bám vàm còn chuyên nghề đấm bóp và xa hơn nửa nếu chịu xong giá cả đôi bên thoả thuận. Khi anh lái buôn tỉnh giấc Vu Sơn người bạn một đêm đâu mất và cả tiền bạc cùng những đồ đạc quý củng mất luôn! Có khi người bạn một đêm vẫn còn nằm bên cạnh mà đồ vẫn bị mất như thường, vì khi mỏi mệt cùng người đẹp trong giấc mộng chung tình chính tay người đẹp đó sẽ lén chuyển đồ vật cho đồng bọn Bối xuống gần ghe hay là bỏ đại những quần áo xuống dưới mặt nước, nước trôi xuống có người chờ đợi vớt lên về xài.
Vì ghe thương hồ nội trong mui là phòng khách, phòng ăn và luôn cả phòng ngủ của chủ ghe. Tất cả bạn trạo phu ban đêm thì ngủ ngoài rồi tự do ai muốn bắt cặp thì bỏ tiền ra bắt cặp. Mỗi xuồng vàm từ hai cô cho tới ba cô, cặp mối xong thì bò qua ghe, vì vậy mà luôn bị thế nội ứng, ngoại hiệp! Thật tụi nó tài tình như có bửu bối? Có lẽ vì vậy mà họ bỏ chữ Bửu chỉ xài một tiếng Bối để đặt tên?

Mấy anh lái buôn hảo ngọt bị mấy em đoạt mất hồ bao đều có một sách khi về tới nhà báo cáo cho vợ con, chuyến này bị Bối xông thuốc mê tụi nó bơi xuồng ngang qua ghe mình nghe tiếng ngủ ngáy đều đều thì tụi nó xông thuốc mê trong ghe không ai hay hết.
Lệ cúng Kỳ Yên làng Thới Thuận ngày 16 tháng 6 âm lịch. Đi coi hát đình tụi tôi ngán nhất ông Từ ngồi gần sân khấu còn lấn qua lấn lại dành chổ làm cho đào kép trên sân khấu hát không được, mà phía dưới khan giả coi củng không được. Vậy mà khi nghe tiếng nói ông Từ tới đó thì tất cả đám nhỏ đều ngồi xuống lặng thinh. Ông cầm cây roi tre dài, áo dài đen đội khăn đống đàng hoàng, hai vạt áo dài cột lại cho gọn, ông đi tuần tra cho nam ra nam nữ ra nữ không cho hai phái đụng gần nhau. Mấy đứa con nít con hương chức hội tề, ông có quyền bổ roi tre trên đầu nếu không chịu ngồi xuống, còn đánh lộn thì ông xách hai tay hai đứa đuổi ra khỏi đình giữ trật tự cho chầu hát.
Ngày mùng 1 đầu tháng, ngày rằm nửa tháng sau khi dứt ba hồi trống nhóm tại công sở Thới Thuận, các hương chức hội tề lần lượt vô công sở nhóm đặng bàn về việc quan, việc làng. Ông Từ củng áo dài khăn đen vô công sở lãnh nhang đèn về đình. Bà Từ mỗi buổi sáng đầu đội cái sàng hai tay bưng hai thúng đựng trầu cau vô chợ bán. Nếp sống trầm lặng của ông bà Từ trái hẳn với nếp sống đua chen của dân ngoài xóm đình này. Làng cất cho ông bà căn nhà nhỏ giữa khoản đất trong đình với làng. Ông bà chết được làng chôn cất và bài vị người tiên vãng sau hậu đình. Như vậy làng này ông bà không có ai là thân nhân hết. Khi về nhà thấy trên lư hương bàn thờ có miếng giấy màu đỏ đó là của ban khánh tiết gởi tới báo tin cho các nhạc sanh và lễ sanh tới kỳ ra tập dượt lễ nhạc ngoài đình.
Ăn cơm chiều xong đám con cháu trong ban du nghệ lần lượt ra đình dưới sự chứng kiến của Hương Lễ, Hương Nhạc, hai bô môn này phải cho hiệp nhất, phải cho ăn rập và nghiêm trang khi tế thần. Sau giờ tập xong các đám tập sanh lễ nhạc lần lượt ra về. Thường thường tôi ở lại trò chuyện với ông Từ:
_Ở đây ông có bà con với ai không ông Từ?
_Tao ở xứ lạ lại đây không có bà con với ai hết.
_Xứ ông ở đâu vậy ông Từ?
_Củng ở chung một quận An Hoà trên kia.
_Trên kia là trên nào vậy ông Từ?
_Thằng này thiệt tò mò, tao ở trên Ba Cụm.
_Phải ở chổ đó họ kêu là Bối Ba Cụm không ông Từ?
_Thì vậy chớ sao mày?
_Cái đó là cái gì mà họ kêu là Bối Ba Cụm?
_Bối là ban đêm đi ăn cắp đồ dưới ghe, củng như ăn trộm ăn cắp đồ trên bờ vậy.
_Sao không kêu ăn trộm cho dễ hiểu mà bày đặt kêu Bối?
_Thằng này hỏi riết làm tao không biết đường mà trả lời, ông cười.
_Hồi ở trên ông có đi Bối không ông Từ?
_Có chớ sao không mày, tao là dân chuyên môn mà.
_Dân chuyên môn mà sao ông lại xuống đây làm ông Từ đốt nhang cho thần?
_Thôi để bữa nào rãnh tao nói cho mày nghe, bây giờ khuya rồi.
Rồi một đêm, một già một trẻ dưới ngọn đèn leo lét, ông Từ mới bắt đầu tâm sự với tôi. Ông kể lại một thời lừng danh tại tổng hành dinh của bọn thảo khấu sông hồ Ba Cụm. Năm đó tao đi bán bí rợ trên Cầu Ông Lãnh khi buôn bán xong chờ chủ vựa trả tiền, mấy đứa bạn thì đi coi Sở thú, đứa thì vô coi Chợ Lớn Mới Bình Tây. Tao củng thả lần ra chợ Thầy Gòn coi họ buôn bán. Tao đi dài theo con đường gì đó bỗng có người trong nhà hàng ra mời tao vô nhà hàng uống cà phê chơi. Thầy đó bận đồ tây mà lạ hoắc, tao không biết là ai, nhưng tao cũng vô nhà hàng theo thầy đó. Trong nhà hàng củng có hai thầy bận đồ tây bắt tay tao và mời tao ngồi.

_Anh còn nhớ tôi không?
_Tao hết hồn tưởng đâu là gặp lính kín.
_Dạ tôi không nhớ gặp thầy ở đâu và hồi nào.
_Năm ngoái tôi gặp anh trong ngã ba Ông Văn chợ Gạo, ghe tôi đậu ngủ tại Binh Phục Nhì bị đám đệ tử anh lấy mất bánh lái, tôi đi chuộc lại đó.
_Xin lỗi, vì nhiều người quá nên tôi không nhớ hết.
_Khi ghe anh lên bán bí rợ thì đám em út của tôi ở Cầu Muối có cho hay tụi tôi đợi cho anh buôn bán xong mới đón anh làm quen và mời anh lại nhà tụi tôi chơi và bàn nhiều công chuyện làm ăn với anh.
Ai củng bận đồ tây chỉ có mình tao bận đồ bà ba xập xệ, ngôi chung trên xe chạy vòng vo tam quốc. Họ chỉ chổ này họ chỉ chổ kia tao đâu có nhớ cho hết vì mình ở dưới nhà quê lên Thầy Gòn. Xe tới nhà họ thì có mấy người đàn bà chạy ra mừng, nhà họ coi sang trọng lắm, đem rượu tây ra uống nói chuyện chơi. Khởi đầu họ nói, trên này tụi tôi danh tiếng là Bối Ba Cụm nên phục tài mấy đệ tử của anh, vậy bây giờ anh đừng sợ và nghi ngờ gì hết nhé. Tụi tôi đây củng đồng nghiệp với anh. Tao nghe họ nói tao hết hồn, mình nghèo mới đi ăn trộm, còn họ sao giàu như vậy mà củng đi ăn trộm như mình? Họ mời tao vô phòng kín cho thấy nào là mặt nạ, dao găm, củ chì thung lại có súng nửa. Như vậy là chánh ăn cướp chớ đâu phải là Bối như tao. Bây giờ họ mới nói thiệt với tao, họ muốn cùng tao hiệp lại làm ăn một chuyến lớn, kết quả còn hơn tao đi Bối ba năm. Nếu như tao bằng lòng thì họ thảo luôn kế hoạch tại đây, còn như dụ dự thì họ đưa tao về ghe dưới Cầu Ông Lãnh.

Ba Cụm

Chim Việt
Tivi Tuần San Úc châu

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Sau năm đình chiến năm 1954 hiệp định Geneve, tình hình an ninh lập lại, nhân dân miền Nam được hưởng lại cảnh hoà bình. Tình cờ tôi gặp lại người bạn đồng hương anh Bảy Lâu, người bạn học trò khi còn ngồi lớp đồng ấu (Enfantaire) cho tới cùng nhau thi đậu bẳng cấp Tiểu học lớp Sơ Đẳng (Elementaire).
Anh Bảy Lâu là đứa con út trong một gia đình có tới 5 chị gái, nên khi sanh tới anh là trai ba má anh cho anh xấu háy? nên trên đầu anh có chừa ba vá, đặc biệt là sau ót anh, vì để vá nên có cái đuôi rùa dài xuống sau lưng. Thời kỳ lên tới lớp Dự Bị (Preparatoire) tuổi học trò cỡ đó lớn hơn lớp nhỏ Đồng Ấu, nhưng lại nhỏ hơn lớp Sơ Đẳng. Đầu hớt trọc (Carre) áo thung quần xà lỏn lớp mà người ta cho là nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.
Cách phía sau công sở Thới Thuận một cái sân rộng lớn, chung quanh có trồng cây cao bóng mát, trường học trên một nền cao gần bìa rừng. Lúc chạy dỡn trước sân trường khi cao hứng đồng ca bài Mạnh Lệ Quân, bắt chước trong dĩa hát của thầy Năm Tú tại Mỹ Tho dĩa Pathe, Phono nghe chơi…Buổi sớm mơi con ra kinh thành dạo chơi…Con mới tới nơi, ông liền đánh con…Nhờ con chạy mới còn đây mẹ…Ca xong câu này thì cùng nhau rượt bắt Lý Đạo Tông (anh Bảy lâu) khi bắt được Lý Đạo Tông rồi, thì hai đứa ôm chặt hai tay, rồi mỗi đứa trong bọn vuốt sau đuôi rùa anh cái nhẹ … rồi cười…anh củng cười theo…
Trong truyện Thuyết Đường có ông Lý Đạo Tông đi dạo ngoài thành, có đám con cháu dòng họ Tiết, đè ông xuống đứa nhổ râu, đứa nhổ tóc, sau đám này bị bắt về tội toàn gia chu lục. Nhưng khi tới tôi vuốt đám tóc đuôi rùa đó, tôi không nói vuốt tóc Lý Đạo Tông mà tôi nói giựt chóp mao con Hồ Lôi Báo (củng trong truyện Thuyết Đường, có ông tướng Thượng Sư Đồ có con ngựa thần trên đầu có chòm lông, khi giữa trận tiền gặp nguy Thượng Sư Đồ nắm chóp mao con Hồ Lôi Báo giựt mạnh tức thời nó hét lên một tiếng tất cả con ngựa bên địch đều quỵ xuống. Nhưng đời của con ngựa này chỉ hét có 3 lần. Cho nên anh Bảy Lâu thấy tôi vuốt đuôi rùa của anh mà nói Hồ Lôi Báo thì anh không hét lên như ngựa thần mà anh về thưa thầy. Cho nên thay vì đám ngựa bị cóng giò thì đám học trò bị quỳ mỏi gối…
Những truyện vui thưở học trò tụi tôi còn nhiều thứ nửa. Khi cùng thi đậu bằng Tiểu học, anh có đủ phương tiện lên học trường Mỹ Tho, còn tôi không đủ phương tiện đi học xa nhà nên ở nhà làm công tử!
Đám học trò đó lớn lên kẻ ngược xuôi, người ngang dọc lập thân. Hôm nay tình cờ gặp lại tiệm cà phê Nam Sơn một tiệc này không đủ cho đôi bạn đồng hương bấy lâu xa cách hàn huyên cho phỉ dạ. Bảy Lâu nhất định mời tôi lên nhà anh ở chơi vài ngày. Nhà anh trên vùng Xoài Hột, không biết anh định cư lập nghiệp đây hồi nào, nhà 3 căn lợp ngói trong một khu vườn đầy cây ăn trái nằm cạnh con rạch Xoài Hột. Trong nhà đầy đủ tiện nghi, tủ cẩn, salon, đi văng gõ, dưới nhà cầu mé rạch có hai chiếc ghe chở trái cây đi bán.
Anh kêu vợ con ra giới thiệu tôi là bạn đồng hương, dân tài tử, giờ là thợ may đồ Tây, trước kia là dân công tử tại làng. Hôm nay nhà anh Bảy Lâu dưới bếp lăng xăng phụ nữ nấu ăn, trên nhà thì trai tráng lo dọn dẹp bàn ghế mượn.
_Bữa nay nhà anh có đám cúng gì mà lối xóm lại phụ giúp đông đảo vậy?
_Nay là ngày lễ Thanh Minh, củng là tới phiên tôi tổ chức.Mỗi năm tại đây đều luân phiên tổ chức lễ cúng Thanh Minh tập thể. Ban khánh tiết vùng này mỗi năm có tổ chức lễ Thanh Minh, năm nay tới phiên tôi được tổ chức, nên gặp anh là một dịp may, mời anh lên chung vui quen biết được một lễ Thanh Minh duy nhất tại vùng này.

Khi con heo quay về tới nhà tất cả lối xóm ăn mặc chỉnh tề đồng đi ra ngoài mé sông Cửu Long cạnh đường lội xe đi Rạch Gầm. Khi đoàn đi tới một nghĩa trang nằm phía ngoài bờ sông Cửu Long tất cả đều vô đó… và tiệc cúng bằng con heo quay, che xôi, hoa quả, bày ra giữa đám mả trong nghĩa trang, nơi đây được dọn dẹp sạch sẽ cỏ cây, đường xá ngay thẳng từng hàng. Khi khởi sự cúng anh Bảy Lâu đưa cho tôi một bó nhang đã đốt anh nhờ tôi là người khách lạ mới tới dự lễ này, mỗi cái mả cắm một cây nhang. Mỗi cái mả đều có làm dấu một cây thánh giá sơn trắng. Nhưng có một điều làm tôi ngạc nhiên tại sao cả mấy chục cái mả mà tôi đi cắm nhang, trên cây thánh giá lại không ghi tên người nằm dưới mộ? sau đám cúng Thanh Minh, về nhà anh Bảy Lâu bày ra làm tiệc chung cùng nhau ăn uống chuyện trò thân mật. Giờ đây tôi mới biệt được cái tiểu sử nghĩa trang mới làm lễ cúng Thanh Minh, nó được mang nhiều cái duy nhất.
*Một nghĩa trang duy nhất tại xứ Nam kỳ
*Duy nhất… có cắm bia mà không có tên người nằm dưới mộ
*Duy nhất…không có thân nhân tảo mộ hằng năm.
*Duy nhất, già trẻ, trai gái, giàu nghèo đều cùng chết một đêm.
*Duy nhất được dân vùng Xoài Hột luân phiên cúng Thanh Minh tập thể.
Cái nghĩa trang mang nhiều duy nhất đó là nạn nhân của chiếc tàu đò đưa khách trên con đường Sài Gòn-Trà Vinh chiếc tàu đò đưa khách đó có tên là Đồng Sanh! Mỉa may thay nó mang tên Đồng Sanh .. mà lại là Đồng Tử? Chiếc tàu đò này nó bị chìm khi từ trên Vàm Kỳ Hôn chạy xuống gần tới Vàm Giao Hoà nhằm con nước lớn có nhiều ngọn sóng thần từ cửa Tiểu và cửa Đại tạo nên giới thương hồ gọi là ngã ba Tam Điền.
Trước đó không lâu củng có chiếc tàu hiệu Quay Lợi (Hoai Lợi) củng chạy con đường này nhưng chiếc tàu này khi bị sóng đánh gần chìm nhờ tài công tỉnh trí, cho tàu chạy đại vô bờ vì vậy mà không bị thiệt hại về nhân mạng bao nhiêu. Tối lại khi lối xóm dọn dẹp xong ra về, anh Bảy Lâu cùng tôi ra sau phía vườn có cất cái nhà để chứa trái cây mới hái từ chung quanh vườn đem vô đây mới lựa tuyển thứ tốt vô bội chở đi. Hơn mười mấy năm hai đứa trong ban tài tử bỏ túi Thới Thuận mới gặp lại đàn ca, anh cây Guitar, tôi cây Kìm, cố ôn lại những bài bản trước kia rồi thâu lượm nhưng bài bản ngày nay.
Giờ phút này tôi vẫn còn bị cái nghĩa địa Đồng Sanh ám ảnh, sau khi chiếc tàu đò chạy đường Sài Gòn – Trà Vinh chìm. Thời gian sau vùng cù lao An Hoà, có một bài ca vọng cổ Tàu Đồng Sanh chìm vào Giao Hoà. Bài ca này tôi không có học vì nó buồn quá. Nhưng có nhiều người họ ca nên tôi củng thuộc được nửa bài vọng cổ đó. Bảy Lâu đờn, tôi ca:
_Ôi cuộc đời thật là tang thương biến đổi.
_Kiếp nhân sinh dường như trong giấc mộng hoàng lương.
_Từ Sài Gòn ra Kỳ Hơn tới Giao Hoà tôi vẫn vui cười có ngờ đâu là
_Tới sông Cửu Long giang chổ người ta gọi là Tam Điền
_Thình lình phong ba dội thổi, phần bọn học trò chạy qua lại, làm cho tàu nọ phải nghiêng.
_Than ôi ngọn sóng thần nó vừa chụp qua ngọn thứ nhì
_Lần lần tàu kia riễu hạ tiếng cha khóc con kêu bên tai nghe thảm thiết bi ai.
_May sao tôi tỉnh mới cởi giày lột áo phóng đại ra ngoài
_Tôi ôm được cái phao mà phú cho ngọn song thuỷ triều
_Khi tỉnh lại thấy chung quanh mình tôi lao nhau lố nhố kẻ lo hơ lửa người lại cho uống nước gừng. Theo như nạn nhân còn sống sót nạn tàu chìm này. Nguyên vì cuối năm học trò các nơi như Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh về nghỉ Tết Nguyên Đán. Những chuyến tàu gần Tết củng nhận chở hàng hoá về bán Tết cho nhiều cùng với đám học trò mất bình tĩnh khi thấy ngọn sóng thần đánh vô thân tàu rồi sợ nên chạy qua chạy lại vì tàu chở hàng hoá quá khẳm nên chìm luôn.
Giữa đêm khuya sóng lớn mênh mông, không biết bên nào là bờ cho nên trọn đám hành khách tàu Đồng Sanh chết chìm gần hết. Nhà cầm quyền thời đó mới vớt những thây ma trên song Cửu Long từ Vàm Giao Hoà tới Thị xã Mỹ Tho đem lên chôn chung trên Vàm Xoài Hột rồi xác tàu Đồng Sanh củng kéo bỏ gần Vàm Xoài Hột. Thân nhân nạn nhân đâu biết tin tức gì về vụ tàu chìm, vì thời đó hệ thống thông tin không đủ, như báo chí và đài phát thanh trong dân chúng hằng ngày như ngày nay. Khi thấy đã tết mà không thấy họ về tới nhà mới biệt đã bị tai nạn đó. Sự cố gắng của chính quyền thời đó nội lo chôn cất gần cả trăm thây ma là cả vấn đề khó khăn rồi. Nhưng lý lịch nạn nhân nếu có thì củng bị ngâm nước mấy ngày, giấy mực thời đó mà bị mấy ngày ngâm nước củng không sao coi được cho rõ ràng. Cho nên những nấm mộ vô danh tại nghĩa trang Đồng Sanh đó, không có tên họ là gì hết, chỉ chôn riêng một bên nam, một bên nữ.
Cho tới ngày nay ghe thương hồ đi dưới sông củng thấy mà trên đường lộ đá khỏi cầu sắt Xoài Hột đi ngang qua củng thấy, một nghĩa trang duy nhất của xứ Nam kỳ. Trong khi đó trên Sài Gòn trước kia kêu đất thánh Tây hay đất thánh Mayer vì nó toạ lạc ở góc đường Paul-Blanchy-Mayer, sau này kêu là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, có lẽ nghĩa trang đó có hơn cả trăm năm nay. Nay thì nó không còn, nó bị bọn VC sang bằng làm vườn trẻ!!
Đêm khuya giữa khu vườn thanh tịnh, tôi nghe tiếng đờn Guitar của anh Bảy Lâu thật điêu luyện còn tiếng đờn của tôi thì từ hôi nào cho tới giờ vẫn vậy. Tôi mới biết, từ khi lập gia đình mà anh Bảy Lâu vẫn có thời giờ vô chợ Vĩnh Kim học thêm nhiều bài bản cổ nhạc với các danh sư trong đó. Giờ thì nghỉ đờn, để hai đứa bắt đầu tâm sự cuộc đời mấy năm qua. Tôi mới tâm sự đời của tôi trước cho anh nghe:

Sau khi thi đậu với anh, anh thì lên đây học thêm, còn tôi thì ở lại cùng nếp sống lêu lỏng vui chơi như ngày nào. Nhưng biến cố lớn là tôi đã nặng lời nguyền với một thôn nữ, cái cô đi học mà có mang theo gói cơm, tan học mấy cô cùng chung lại ăn cơm phía sau nhà công sở đó, nhưng cô ấy chỉ học tới lớp dự bị thì thôi. Gia đình cô và gia đình tôi cùng chung một nghề: buôn bán tôm khô. Khi đi tới hôn nhân thì bị trở ngại là không hợp tuổi, kẻ Dần, người Hợi. Rồi bị cái vụ đờn ca tài tử này, ông Mười Thao điền chủ ở quận An Hoá là bà con với gia đình tôi, nhân dịp con gái ông thi đậu bằng cấp gì đó nên ông ăn mừng, tổ chức tiệc vui, có tổ chức đàn ca tài tử trên làng Song Phước xuống, ban tài tử dưới Thới Thuận lên.
Đó là tiệc mừng chị V. thi đậu mà sau đó ông Mười sẽ cho đi Pháp học (Sau này là nữ luật sư Nguyễn Thị V. con ông Mười An Hoá). Đám tài tử trên Song Phước là nơi quê hương nghệ sĩ Tư Chơi tức Huỳnh Thu Trung. Trong đêm hoà đờn giao nghĩa hai làng chung một quận An Hoá, củng là đêm tôi bị gia đình bí mật giới thiệu với gia đình một thiếu nữ ở làng Song Phước. Thiếu nữ đó biết mặt tôi, mà tôi không biết cô đó, mà lại là người vợ tương lai. Cho tới khi bên gái theo lời mời của gia đình tôi xuống Thới Thuận thăm xã giao đặng chot ôi biết mặt vì tôi không chịu đi coi vợ! Công chuyện nhà tôi, tôi không biết gì hết vậy mà nàng lại biết. Rồi một đêm dài hò hẹn nhau lần chót để giã từ ai đi đường nấy. Chớ chi đêm đó nàng khóc lóc thở than cho duyên nợ thì không đến nổi. Đằng này nàng lại an ủi khuyên tôi nên nghe theo gia đình mà kết duyên với người từ trên Song Phước, mặt hoa da phấn mới xứng đôi với tôi. Nàng chấp nhận hy sinh mối tình đầu, kể như có một đời chồng rồi. Lại còn tặng tôi một kỷ vật nếu cần thì bán xài vì biết tôi là thuộc hạng tiền phát gạo đong! Tôi gây tội lỗi với nàng quá đỗi nàng chưa về làm dâu mà tôi đã làm rễ, củng vì bên trong cạnh tranh thương mại, một áp lực đầy quyền lực, chúng tôi đành ân hận mà chia tay nhau. Sẳn có chất nghệ sĩ lãng mạn trong tâm hồn, tôi sống trong hạnh phúc với duyên mới, mà thấy nàng đau khổ vì tôi, tuổi trẻ bồng bột rồi một đêm tôi trốn gia đình đi tìm người dì có tiệm masy tận trong tỉnh Sóc Trăng và ở đó hoc thi công thành thợ may ngày nay như anh biết.
Giờ tới phiên anh Bảy Lâu tâm sự, sau khi thi đậu cùng khoá với anh tôi được người cô bà con vùng này nuôi cho ăn đi học, hoc tiếp bằng sơ học. Cô tôi là bà Hương Sư Tồn, cô có hai người con gái có chồng trong Thục Nhiêu và Nhị Quý. Ông Hương Sư chết, cô tôi mươn cặp vợ chồng nông dân ở năm, chồng làm vườn, vợ lo cơm nước cho cô tôi, phía cuối vườn cất cái nhà cho cặp vợ chồng này ở, đặng ban đêm canh chừng những kẻ phá phách vô phá cây trái.
Từ khi ông Hương Sư Tồn chết, cô tôi tu tại gia, mỗi đêm có tụng một thời kinh tới khuya. Bổn phận tôi thì lo nấu nước pha trà khi có khách, khi cô buồn tôi đọc thơ, đọc chuyện cho cô nghe. Mỗi sáng đi học tôi xách theo một gà mên cơm, khi xuống đến chợ thì tôi gởi xe đạp và cơm cho hãng cà rem cây, tôi lãnh một thùng cà rem cây đem vô trường chờ giờ ra chơi đặng bán, tan học lại hãng cà rem cây ăn cơm và tới giờ củng đem theo một thùng cà rem cây vô trường bán buổi chiều.
Ngày thứ Năm và Chủ Nhật, tôi lãnh sổ sách đàng công sở đem về làm phụ với ông Biện làng. Tôi kiếm được một chút tiền nhờ hai công việc này, vì ngồi ở lớp Court Superieu, tôi cần một số tiền để mua sách và sắm quần áo đồng phục theo nhà trường. Gia đình cô tôi khá giả, nhưng cô nuôi tôi là một điều quý, gia đình tôi đâu có khả năng cho tôi lên Mỹ tho học thêm, lấy bằng cấp Sơ Học đặng làm thầy?
Anh có nhớ năm mình đi thi có mười bốn trò, có bốn trò gái mà chỉ rớt hai trò trai, vậy mà trong tám trò đậu bằng Tiểu Học mà chỉ có mình tôi được lên Mỹ Tho vô học trường College, còn lại có lẽ lo cưới vợ rồi làm Làng. Trong trường tới giờ moral, thầy thường đem tôi ra làm đề tài để khuyến khích các bạn đồng lớp và thường ví với Trần Minh khố chuối. Vì vậy trong lớp tôi tuy là một đứa học trò nghèo nhưng vẫn được các bạn trai gái con nhà giàu kết bạn, có những cuộc lễ họ mời tôi về nhà chơi.
Rồi với một vốn liếng có sẳn về cổ nhạc trước ở dưới mình, nay lên đây mỗi khi có đám tiệc, có hoạ đờn ca cổ nhạc họ mời tôi tới dự. Trong Tứ Hữu: Cầm, Kỳ, Thi Hoạ không có môn nào xã giao bén nhậy bằng Cầm và Kỳ…Một chiều mưa gió có hai nhà sư ghé nhà bà Hương Sư xin nghỉ một đêm vì lỡ đường đi xuống chùa Vình Tràng, lúc đó chỉ đi xe ngựa, mà ngựa khi chiều cho ăn, thì có bao xe bao nhiêu chủ xe củng không đi được vì sợ bị đứt ruột.
Bà Hương Sư vội vã dọn cơm chay đãi khách lỡ đường mà lại là Sư. Tối lại, như thường lệ tôi nấu nước pha trà cho bà cô tôi tụng kinh. Một điều tôi thấy lạ.. Tại sao nhà sư lại nhà một tín nữ có tu, đáng lẽ khi tín nữ chủ gia tụng kinh thì hai nhà sư đó củng phải ra quỳ ngay bàn thờ Phật, hay là cùng chủ nhà thay phiên tụng kinh?
Sự tò mò tôi mới lần tới kẻ vách dòm lén vô phòng riêng, thấy hai ông sư không nằm nghỉ mà hình như đang bàn tán, rầm rì bí mật. Tới khi họ soạn gói đồ ra, tôi thấy không phải là kinh sách gì trong đó. Tôi mới bắt đầu đau bụng tôi la lớn lên, vợ chồng người làm vườn nghe tôi la mới chạy lên phụ với cô tôi cạo gió thoa dầu, nhưng khi đụng tới mình tôi thì tôi la làng… tôi lăn lộn như người gần chết tới, lối xóm nghe nhà bà Hương Sư có tiếng ồn ào, họ thắp đuốc lại củng không ai dám đụng tới mình tôi… tôi vẫn la làng…
Nghe thấy động tỉnh ông Chánh Hương Quản mới đem tuần lại nhà bà cô tôi , tới khi thầy được mặt ông Hương Quản M. Ông lại gần hỏi thăm , tôi mới ôm ông kéo xuống sát mặt tôi, nói nhỏ… ông vô trong phòng khách … bắt mấy ông thầy chùa…
Thiên hạ lối xóm tới đông nghẹt như vậy mà hai ông sư vẫn ở trong phòng , khi ông Hương Quản M. xô cửa bước vô cùng đám tuần bắt khoá tay…chừng đó tôi mới chạy vô biểu dân tuần xét gói hành lý của hai ông thầy chùa, thì thấy có con dao găm và một xâu chìa khoá đủ thứ để mở tủ sắt… Hai tên đầu trộm đôi cướp liền bị giải xuống Mỹ Tho. Kể từ ngày đó về sau, địa vị tôi đối với gia đình cô tôi đổi khác và củng đổi khác với làng này, chưa có đứa nào cỡ tuổi tôi mà khôn như người lớn?
Nhưng tôi củng không tiếp tục học đặng thi bằng Sơ Học, vì một phần phải lo công chuyện nhà cho cô tôi, và một phần lớn là tôi chỉ thích đi học đờn ca tài tử mà thôi! Rồi cô tôi lo vợ cho, gia đình bên vợ là hai anh em song sinh, ông già vợ tôi là vai em lại là dân cờ bạc, chuyên về đá gà nòi. Anh củng biết là bộ sách tướng về gà nòi của ông Lê Văn Duyệt là phát xuất ở đây, vì vùng này là quê hương ông.

Còn người bác vợ thì mê về võ nghệ, bắn cung. Thừa hưởng phụ ân không biết được bao nhiêu, nhưng người bác vợ đi làm ăn xa đem về cho ông già vợ tôi một số tiền lớn tạo thêm gia sản có ba mẫu vườn. Nhưng ông già vợ tôi lập tại đây một trường gà thật lớn, tới mùa các nơi quy tụ về đây kêu là trường gà Xoài Hột. Sau khi uỷ quyền cho người em, ông bác vợ lên đường phiêu lưu với một người con gái có hai giòng máu, mà người ta thường kêu là Xẩm Lai. Khi lập trường đá gà nòi tại đây, ba vợ anh ta đã bán hết hai mẫu vườn, nay chỉ còn lại một mẫu mà vợ chồng anh hưởng phần hương hoả. Năm độc lập 1945 ba vợ anh bị việt Minh xử tử về tội cờ bạc, má vợ anh rầu buồn củng chết theo chồng. Nay tuy là thừa hưởng của này của người bác vợ mà anh chưa từng thấy mặt người hào hiệp đó lần nào!.
**
Từ khi chiếc tàu Đồng Sanh chìm, một thời gian sau có một người triệu phú tỉnh Trà Vinh là ông Nguyễn Văn Kiệu mở lại chạy con đường này bằng loại tàu chạy bằng dầu Mazout, tàu lớn máy vững vàng không như loại tàu chạy bằng củi trước kia, chiếc khởi hành từ Sài Gòn, chiếc khởi hành từ Trà Vinh. Bến tàu Nguyễn Văn Kiệu nằm ngoài sông Sài Gòn, ngoài cột cờ Thủ Ngữ. Ông Nguyễn Văn Kiệu là anh ông Nguyễn Văn Hảo (rạp Nguyễn Văn Hảo). Tại bến Sài Gòn khởi hành vào lối 7 giờ tối, hồi đó vào giờ này ra bến tàu khi súp lê 3, tàu mở đõi, trên cầu người đua tiển người đi… dưới tàu vẫy tay, vẫy khăn, kẻ ở lại châu thành, người về lục tỉnh.
Tàu Nguyễn Văn Kiệu chạy xuống chun qua cầu Tân Thuận, chạy vô bến đò Long Kiên, chạy ngang qua sở rác đô thành. Khi tàu chạy qua đây hành khách bị một nùi khó thở, vì ngoài mé sông có mấy cái bồn lớn chứa toàn là phân người trong đô thành đem đổ vô đây, rồi từ đây họ đem qua khỏi cầu Rạch Ông mới đổ ra nền xi măng phơi từng miếng cho thật khô gói kín để bán cho nhà vườn.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Post on 5 Nov 2014

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

  1. Phần 6
    Chiến khu “Ba Lòng”
    (Xâm nhập)

“Đường đi khó, không khó…”
Bài học mạo hiểm ấy ám ảnh tôi không ít kể từ khi Ông Thầy dạy Việt Văn giảng bài học đó năm tôi học lớp Đệ Tứ, tại trường Bồ Đề, Huế.
Thật vậy, ra trường tôi đã chọn Nhảy Dù. Vậy mà thấy ông Đại Úy Lực Lượng Đặc Biệt trông ngon lành quá, tôi lại chọn đơn vị ấy. Từ ngày về Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, cùng phối hợp hành quân với các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân Delta, tôi lại muốn chuyển qua Delta. Là người tháo vát, năng động, mà lại còn ưa thích mạo hiểm, tôi nghĩ ý định này thật quá phù hợp.
Hành quân với Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, thông thường mỗi cánh quân là cấp Đại Đội. Khi tấn công vào các mục tiêu, Đại Đội mới phân ra cấp Trung Đội để đảm trách vùng trách nhiệm nào đó. Không mấy khi hành quân cấp Tiểu Đội. Ngoại trừ trong biến cố Tết Mậu Thân, tại mặt trận Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị.
Nhảy Toán Delta thì khác, mà lại khác hẳn.
Mỗi Toán Delta chỉ có sáu “ngoe”, tiếng tôi thường nói đùa. Đó cũng là hình ảnh ngo ngoe mấy cái cẳng chân của con cua hay con kiến, con nhện. Sáu người trong Toán, hoạt động hổ tương cùng với nhau: thâm nhập, di chuyển, yểm trợ, cứu cấp khi có biến cố hữu sự, canh gác, đóng quân, phục kích và triệt xuất v.v… nhưng mỗi cá nhân là một sở trường chuyên môn, đã được huấn luyện thuần thục, để dễ dàng thực hiện mọi công tác, nhiệm vụ được giao phó.…
Tất cả là một sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, hoàn chỉnh. Không có một sự phối hợp nào hoàn hảo hơn, chẳng qua là vì tính mạng. Tính mạng của mỗi người dính chặt với tính mạng của cả sáu người, kể cả 2 anh chàng Mẽo kềnh càng. Mỗi Toán 6 người, Toán nào cũng có 2 chàng là “Biệt Cách Mỹ” (Special Force).
Tôi làm Trưởng Toán 3 Delta. Lệnh lạc trong Toán phải thi hành nghiêm chỉnh, kể cả 2 anh bạn Đồng Minh. Tôi ra lệnh sao, họ làm y vậy.
Hành quân có 2 anh bạn Mỹ có nhiều cái lợi, nhất là mặt yểm trợ, cần thiết để tải thương, rút lui, oanh tạc địch, phá hủy mục tiêu: kho tàng, căn cứ địa..v..v… Họ gọi máy bay tới là có ngay. Nhưng anh nào cũng to lớn dềnh dàng, nên di chuyển trong rừng khó khăn, khó che dấu, dễ bị địch phát hiện. Khi nổ súng họ hay la to, bất lợi. Âm thanh có thể làm cho địch dễ suy đoán “phe ta” đông hay ít. Thỉnh thoảng tôi lưu ý về cá tính nầy, mấy “ổng” nói “OK! OK!” rồi nhe bộ răng trắng ra cười trừ, nhất là mấy anh đen, mặt thì đen mà răng lại trắng nhởn. Tuy nhiên về cá tính tinh thần họ không thua kém gì đồng đội đồng bào của tôi. Không những nhiệt tình mà tận tình với mọi người trong Toán.
Toán 3 Thám Sát của tôi nhận lệnh hành quân, địa điểm nhảy Toán là Mật khu Ba Lòng.
Mật khu Ba Lòng nằm về hướng Tây Nam của Tỉnh Quảng Trị. Hình như tôi nhớ không lầm Ba Lòng, nằm thu gọn giữa hai con sông Thạch Hãn và Đa-Krong, giao nhau ở hướng Tây Tây Nam của Xã Bông-Kho, hướng Tây Tây Bắc là Quốc Lộ số 9. Mật khu Ba Lòng trải dài từ hướng Tây Bắc xuống hướng Đông Nam. Ba Lòng! Sông cạn sâu như thế nào mà gọi là Ba Lòng, một tên gọi nôm na cụ thể hay có ý nghĩa gì khác?
Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Ba Lòng là một Quận thuộc Tỉnh Quảng Trị. Sau năm 1960, thực hiện ý đồ “chiếu cố miền Nam”, tức là đưa quân xâm lược Miền Nam Việt Nam, Ba Lòng trở thành một trở ngại chiến lược trên con đường xâm nhập vào Nam của Cọng sản Bắc Việt. Vì vậy, Việt cọng cố nhổ cho được khúc xương Ba Lòng nầy. Bấy giờ, sau khi chế độ Đệ Nhất Cọng Hòa sụp đổ, tình hình chính trị tại Saigon bất ổn, lợi dụng cơ hội đó, Việt cọng tấn công dữ dội vào Quận Ba Lòng, khiến Quận phải di tản, rồi xóa sổ, xem như giao Quận miền núi nầy cho Cộng sản tự do hoạt động. Phía Chính Quyền Miền Nam, chỉ còn giữ được Quận Hương Hóa, nhờ Quận nằm hai bên Quốc Lộ 9, con đường chiến lược, chúng ta không thể bỏ đi được.
Toàn bộ Trung Tâm Hành Quân Delta được bốc từ Nha Trang ra Phi Trường Ái Tử (Đông Hà). Từ đó, di chuyển lên Quận Hương Hóa ở phía Cùa, hay còn gọi là Tân Sở, căn cứ kháng chiến của Vua Hàm Nghi ngày trước, khi Nhà Vua chuẩn bị chống nhau với Pháp, mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài…
Tin tức từ Phòng 2 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cho biết có nhiều dấu hiệu hoạt động của Việt cộng trong khu vực mật khu Ba Lòng, Khe Sanh, Lao Bảo. Quân Đoàn cần biết đích xác đơn vị, quân số, mục đích của địch ở các vùng này. Đây là những khu vực chuyển quân, khí tài, lương thực của địch cho chiến trường miền Nam của chúng. Dĩ nhiên là trên đường mòn Hồ Chí Minh. Con đường nầy gặp khó khăn khi chúng phải vượt qua Quốc Lộ 9, là con đường nối từ Đông Hà, qua Cam Lộ, Khe Sanh, Lao Bảo, Pha-Lan, Chépone và chấm dứt ở Savanakhet.
Địch không có cách nào khác, dù sinh tử, Việt cọng phải cố sống cố chết vượt qua đường số 9 để vào chiến trường Miền Nam.
Nhận lệnh từ Trung Tâm Hành Quân xong, cầm trong tay tấm bản đồ, tôi lên trực thăng bay một vòng, quan sát để chọn bãi xâm nhập và triệt xuất trong khu vực Ba Lòng, nơi Toán sẽ hoạt động.
Chiều hôm sau, Toán 3 tôi trở lại Trung Tâm Hành Quân, trong một cái nhà tăng bằng vải dầu, dựng trên một khu đồi trọc, trong phạm vi Chi Khu Hương Hóa. Trước mặt là Trung Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, Trưởng phòng 2, Trưởng phòng 3, và các Toán viên, tôi trình bày kế hoạch hành quân với đầy đủ các chi tiết diễn tiến, thâm nhập, lộ trình, đối phó, mật lệnh, liên lạc, triệt xuất v.v… theo đúng chỉ thị đã được đề ra trong Lệnh Hành Quân và từ Đơn Vị Trưởng. Để thi hành nhiệm vụ, sau khi Toán được Trực Thăng UH.1B thả xuống bãi ở phía Nam vùng hành quân, Toán di chuyển thám sát về hướng Bắc, xong chuyển hướng Tây Bắc, trong chu vi 5 x 10 cây số mỗi bề của vùng mà Toán 3 đảm nhận.
Chỉ Huy Trưởng, các Trưởng Phòng đặt cho tôi một số câu hỏi, để nắm chắc mọi tình huống xảy ra mà Toán 3 có thể ứng phó được v.v…
Buổi trình bày kế hoạch chấm dứt, Toán 3 trở về nghỉ ngơi, kiểm soát lại lương thực, vũ khí, đạn dược để chuẩn bị lên đường ngay chiều tối hôm nay.
Nhu cầu thám sát trong rừng phía Tây của Tỉnh Quảng Trị, không chỉ một mình Toán của tôi đảm nhiệm. Khu vực núi non trùng điệp bên nầy Trường Sơn, bên kia là lãnh thổ Lào, sẽ có các Toán Thám Sát Delta khác nữa, hoạt động ở một số khu vực như: Lao Bảo, Làng Vây, Khe Sanh, với những nhiệm vụ nguy hiểm và hấp dẫn hơn, đó là phục kích bắt sống các cán bộ Việt cọng, không được gây thương vong, để mang về khai thác tin tức. Chúng sẽ cho những tin tức nóng hổi và hấp dẫn về tình hình địch hiện tại, hay địch sẽ thực hiện trong thời gian tới.
Những Toán Thám Sát Delta được giao nhiệm vụ bắt sống địch quân, sau khi phục kích tóm được một tên Việt cọng nào, thì ngay tức khắc, Toán sẽ được trực thăng nhanh chóng vào vùng bốc đưa trở về căn cứ hành quân. Thời gian hoạt động các Toán Thám Sát, vẫn luôn là 7 ngày, nhưng có thể kéo dài hơn hay thu ngắn, tất cả tùy thuộc vào tình hình trận địa, chạm địch, thương vong hay bắt được tù binh.
Với đầy đủ súng đạn, khí tài cần thiết và 7 ngày lương khô, ngay trong chiều nay, Toán tôi được đổ xuống bãi đáp mà tôi đã chọn. Thời điểm đổ quân phải là lúc chiều tàn, khi sương lên nhiều và màn đêm đang từ từ phủ xuống, thời gian đó địch khó quan sát, và theo dõi. Bên cạnh đó, lại có mấy Trực Thăng khác đáp nghi trang thêm một vài nơi, khiến địch, dù có nghi ngờ, cũng không thể phát hiện được nơi chúng tôi đổ bãi.
Đổ bộ xuống bãi, Toán cấp tốc di chuyển theo phương hướng, lộ trình đã được trình bày kế hoạch. Toán tuyệt đối không bao giờ di chuyển trên các con đường mòn, vì để lại nhiều dấu vết, rất dễ bị phục kích và gặp phải nhiều mìn, bẫy. Rừng nhiệt đới, cây rừng to cao, tàng che kín trời. Mặt đất rậm rạp, cây nhỏ, cây mây, cây cọ, cây nứa, che kín, mịt mùng rất khó di chuyển. Toán len lỏi, chậm rãi, vạch lá, men theo sườn rừng, từng bước, từng bước để tránh gây tiếng động.
Sau khi rời xa vị trí xâm nhập, Toán dừng lại tìm chỗ nghỉ quân bên một gốc cổ thụ. Toán bố trí thành một vòng tròn, đầu hướng vào gốc cây, phòng khi đêm tối, bị địch bất ngờ tấn công, thì Toán sẽ phản ứng nhanh chóng về phía trước mà không tác xạ lầm nhau.
Tờ mờ sáng hôm sau, Toán tiếp tục vạch rừng theo hướng đã định mà đi. Cũng chẳng phát hiện được gì. Gần xế chiều, khi đổ xuống một triền núi, thì Toán gặp một con đường mòn chạy từ Tây sang Đông. Dấu tích để lại trên đường cho thấy địch đã có xử dụng. Men theo con đường mòn về hướng Đông, dĩ nhiên vẫn phải đi trong rừng, thêm một đoạn khá dài nữa, Toán lại gặp một con đường mòn lớn rộng khoảng 2 mét, chạy từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam cặp theo sông Đa-Krông. Trên đường cũng thấy dấu tích cũ của xe hơi, hình như đã lâu bọn địch không còn đi trên con đường nầy. Vậy thì chúng xử dụng đường nào? Đường nầy sát biên giới Lào Việt. Hay chúng vạch một đường mới bên phía Lào, khi thấy con đường bên phía nầy đã bị lộ, bị máy bay oanh kích nhiều lần?
Báo cáo mọi phát hiện về Bộ Chỉ Huy, Toán được lệnh tiếp tục di chuyển theo hướng đường mòn nhỏ đi về hướng Đông Đông Bắc. Khu vực hoạt động của Toán, trên phóng đồ hành quân là ở mạn Nam Ba Lòng. Chuyển theo hướng mới, nhìn trên tọa độ bản dồ, Toán tiến gần đến thượng nguồn sông Thạch Hãn và xa hơn là các Thôn Hải Lệ, Tân Lệ và Như Lệ.
Đêm đó, Toán dừng trú quân giữa rừng, lại quay vòng tròn, chia nhau ngủ và canh chờ địch. Sáng dậy, không thấy mặt trời, nhưng hướng Đông trời sáng hơn, chúng tôi lại đi theo hướng cũ . Khoảng trưa, Toán nghe tiếng người nói lao xao, nhưng không rõ âm thanh từng tiếng để biết họ nói gì. Tuy vậy, chúng tôi cũng đoán được đó là tiếng Bắc. Vậy là rõ, Bộ đội Cọng sản miền Bắc xâm lược. Toán dừng lại, núp kín trong rừng, im lặng tuyệt đối, nghe ngóng và quan sát. Không thấy được địch, chỉ nghe tiếng nói của nhiều người, phỏng chừng ít nhất là cấp Trung Đội đến Đại Đội. Tôi vội chuyển công điện báo cáo về Trung Tâm Hành Quân. Lệnh truyền cho Toán bám sát theo dõi địch quân.
Toán lại lên đường, di chuyển theo hướng đi của bọn chúng, đến gần chiều, nắng chưa tắt hẳn, thì Toán thấy địch đang đóng quân giữa rừng. Bọn chúng đang chuẩn bị ăn uống, tôi ngửi được mùi củi cháy. Quan sát kỹ hơn nữa qua ống nhòm, họ có làm bếp. Bếp của họ, có lò nấu đắp kín đất, có ba bốn ống khói mở ra như hình nan quạt. Đầu mỗi nan quạt, khói đang bay lên, nhẹ và loảng. Cách làm bếp như thế nầy là chia khói ra nhiều ngã, làm cho khói loảng đi, tan trong sương, trong không khí, Máy Bay Trinh Sát của ta khó phát hiện được. Đây đúng là một căn cứ tập trung quân của địch.
Tôi khẩn cấp báo cáo tình hình và tọa độ chính xác của địch về Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Ngay sau đó, chúng tôi được lệnh rút xa ra khỏi vị trí địch ít nhất là 1/2 cây số. Trực Thăng và Chiến Đấu Cơ sẽ tới oanh kích địch.
Nửa giờ sau, Toán tôi nghe rõ từng loạt đạn rocket bắn ra từ các trực thăng võ trang, rồi tiếp sau không lâu là những tiếng nổ kinh hoàng do các oanh tạc cơ Skyraider thả bom xuống đầu giặc. Trước bom rơi đạn nổ như vậy, tôi nghĩ khó hy vọng còn một tên Việt cọng nào sống sót. Và đúng như tiên đoán, sáng ngày hôm sau Toán tôi được lệnh trở vào vùng địch đóng quân để quan sát và báo cáo kết quả.
Thật là thảm khốc, cả một khoảng rừng trở thành bình địa, một vài nơi lửa còn bốc cháy âm ỉ, xác địch đếm được khoảng 15 tên, nằm chết ngổn ngang bên những bếp lửa, dưới những gốc cây hay rãi rác trong những hố sâu do bom cày xới. Có thể một số đã chạy thoát vì các dấu vết và các vật dụng rơi rớt của chúng đã để lại trên các lối mòn dẫn vào các hốc núi hay đổ xuống các bờ suối ven rừng.
Trưa hôm đó, Toán được phi cơ quan sát L.19 bay lên vùng liên lạc, Toán đã sử dụng pano, kính chiếu để phi cơ xác định tọa độ và hướng dẫn đi đến bãi triệt xuất.
Theo hướng máy bay chỉ điểm, Toán đến một bãi tranh trống nằm trên sườn núi, chung quanh dày đặc rừng cây bao phủ. Toán bố trí đội hình và chờ đợi. Và chỉ một khoảng thời gian ngắn sau, một trực thăng UH.1B được sự yểm trợ của hai trực thăng võ trang khác đáp xuống chính xác giữa khoảng trống bãi tranh để bốc Toán đưa trở về lại Căn Cứ Hành Quân, chấm dứt 7 ngày hoạt động trong rừng sâu của Mật khu Ba Lòng.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 4 Nov 2014

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

  1. Phần 5
    Đồng Xoài

“Em hỏi anh bao giờ trở lại.
Xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về…
có thể bằng chiến thắng Pleime
hay Đức Cơ, Đồng Xoài – Bình Giả”
(Linh Phương)
Trận Đồng Xoài xảy ra vào tháng 6 năm 1965, với rất nhiều thương vong cho cả hai bên hay chỉ về phía Quân Đội VNCH mà thôi, tôi không biết rõ. Tôi cũng không quan tâm về việc người ta phê phán các ông Tướng lo họp hành đảo chánh, làm chính trị, không phản ứng kịp nên trận Đồng Xoài mới có kết quả đau thương như thế.

Vào khoảng trung tuần tháng 5 năm 1968, theo nhu cầu của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù, được điều động đến Thị Xã Đồng Xoài để tổ chức hành quân truy tìm, phát hiện mọi hoạt động của các đơn vị địch vùng ngoại vi của Thị Xã Đồng Xoài. Tên địa danh này thì tôi đã nghe, nhưng Đồng Xoài nằm ở đâu? Dấu hỏi đó không rời trí tôi.
Nhìn vào bản đồ, từ Thành Phố Bình Dương, Thủ Dầu Một theo Quốc Lộ 13 đi về hướng Bắc, khi gần đến thị trấn Chơn Thành sẽ là chỗ gặp nhau của Quốc Lộ 13 và 14. Quốc Lộ 13, tiếp tục theo hướng Bắc, ngang qua Thị Trấn Chơn Thành, rồi đến Thị Xã Bình Long và xa nữa là Lộc Ninh. Quốc Lộ 14 đi về hướng Đông Đông Bắc, qua Cầu Suối Ngang, rồi đến Thị Xã Đồng Xoài. Từ Thị Xã Đồng Xoài về hướng Tây Bắc là Thị Xã Bình Long, hướng Đông Bắc là Thị Xã Phước Long. Hai bên Quốc Lộ là những khu rừng dày đặc bao phủ. Bao nhiêu xương máu đổ ra nơi nầy? Thế hệ sau, người đời sau có ai khi đi qua nơi nầy sẽ thấy “Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương! ”
Tôi không thể quên Bình Long, nơi tôi đã tham dự một trận đánh “long trời lở đất”, nhưng điều tôi vẫn nhớ hoài là Nghĩa Trang 81 Biệt Cách Dù, nơi tôi đã góp công xây dựng, chiến hữu của tôi vẫn còn nằm lại đó.
Nhìn chung, trong cả hai trận chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), và lần thứ hai (1960-75), miền Đông Nam phần là một chiến trường đẫm máu vì vùng nầy bao gồm: Bình Long, Phước Long, Phước Thành (một tỉnh đã bãi bỏ) có một vị trí chiến lược quan trọng. Vùng nầy cách Sài Gòn không xa, khoảng 100 cây số, tiếp cận với biên giới Việt Miên là con đường xâm nhập bộ đội và vũ khí của cộng sản từ xứ Chùa Tháp qua Việt Nam. Ngay sát trên biên giới nầy là mật khu Bùi Gia Mập.
Vì tính cách chiến lược đó, khoảng đầu năm 1965, một Căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt: Trại Đồng Xoài được thiết lập ở đây. Đây là một nút chặn quan trọng, có nhiệm vụ phát hiện hoạt động của cọng quân. Từ Đồng Xoài, chúng sẽ tấn công Bình Long? Sẽ tấn công Phước Long? Sẽ tiến xuống Trị An? Từ nơi nầy, chúng vượt qua Rừng Lá. Ngay phía Đông Rừng Lá là mật khu Mây Tàu, vùng Xuân Lộc, Long Giao, Phước Tuy, Đất Đỏ, có yên được không?
Quân Đoàn III, với ba Sư Đoàn 5, 18 và 25, không đủ sức “bao giàn” một vùng đất rộng lớn nầy, rừng núi trùng điệp bao phủ. Đằng sau nó, là vùng tiếp vận của ông Hoàng Xứ Miên.

Mặc dù, ngay từ đầu, Việt cộng phá rối, pháo kích, tấn công, cố nhổ cho được Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Xoài, nhưng căn cứ này vẫn đứng vững. Đồng Xoài đóng một vai trò quan trọng trong trận chiến giải tỏa An Lộc, tồn tại đến tháng 4/ 1975.
Việt cộng thường chuyển quân, xuất phát từ Cambodia theo Tỉnh Lộ 748 ngang qua Bù Đốp và Tỉnh Lộ 741 ngang qua Bùi Gia Mập để vào lập căn cứ địa trong Khu Tam Giác của ba Thị Xã: Phước Long, Bình Long và Đồng Xoài. Bọn chúng thường tránh đụng độ với bất cứ đơn vị Quân Đội VNCH nào hoạt động ở đây. Về mặt chiến thuật, không lợi ích cho chúng, dù có thắng lợi chăng nữa. Bọn chúng dùng nơi đây để tăng gia sản xuất, ém quân, điều nghiên chiến trường và đắp mô trên các trục lộ để khủng bố, sát hại đồng bào, cùng ngăn chận sự chuyển vận binh sĩ của các đơn vị trú đóng tại địa phương.
Bốn Đại Đội 1, 2, 3 và 4 của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Hành Quân Delta được C.130 của Quân Đội Hoa Kỳ chuyển vận đến Đồng Xoài. Từ căn cứ hành quân đóng cạnh một bìa rừng bên trái Quốc Lộ 13 và Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Xoài, các Toán Thám Sát Delta được Trực Thăng UH.1B bốc thả vào hoạt động trong khu vực nằm giữa ba Thị Xã này.
Khi các Toán Thám Sát Delta phát hiện các khu vực trồng sắn, bắp ở dưới các trũng đồi chạy dọc theo các con suối, và một khu nhà ở, nhà kho, thì Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã đưa Đại Đội 1 và 2 nhảy vào khai thác mục tiêu. Ở đây, Việt cộng đã dựng lên những ngôi nhà dưỡng quân, nuôi quân để chuẩn bị cho chiến trường ở Bình Long, Lộc Ninh hay Phước Long v.v… Bên cạnh các trại dưỡng quân là các nhà kho chứa ngô, khoai, sắn và phần nhiều là gạo. Gạo của Tàu cộng. Và dọc theo vài đường mòn lớn, cứ khoảng vài ba cây số đường rừng thì có một ụ muối, tựa như những gò mối, được lợp và bao phủ chung quanh bằng một loại lá giống như lá cây cọ, gọi là “Lá Trống Quân” để ngụy trang và che mưa rất kín đáo.
Quân Việt cộng ở đây là thành phần thương binh, có nhiệm vụ dưỡng thương và tăng gia sản xuất, cùng một số liên lạc viên trên đường đi đã dừng lại nghỉ quân, bọn chúng cố gắng phản công, bảo vệ kho tàng, nhưng làm sao có thể chống trả lại Biệt Cách Dù?
Ngoài một số tên bỏ mạng bị thương và bị bắt, số còn lại rút về hướng Tây trong vùng rừng núi Long Tân, Phú Riềng.

(Delta Lê Đắc Lực & Phan Anh)

Nhìn những “tên lính sữa” mới thôi bú mẹ, tôi thấy xúc động. Hỡi các Bà Mẹ phía Bắc vĩ tuyến 17, các Mẹ có đau lòng chăng khi những đứa con chưa đủ lớn, đã bị bọn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ đưa vào miền Nam làm bia đỡ đạn. Không ít những tên bị bắt là thương binh loại nhẹ. Còn những tên bất khiển dụng thì ở đâu? Chỉ một viên đạn AK, bọn lãnh đạo cọng sản bớt đi những vướng bận chiến trường. Tàn bạo như thế là cùng!!!.
Khoảng hai tuần sau đó, Đại Đội 3 và 4 đổ quân xuống mạn Bắc Thị Xã Đồng Xoài, kế cận khu Lương Võ, cũng phát hiện một căn cứ địa có hầm trú ẩn và trạm xá. Tấn công vào đây, sát hại 10 tên địch, và hướng dẫn phi cơ oanh kích, hủy diệt toàn bộ căn cứ này.
Trong thời gian hành quân tại Thị Xã Đồng Xoài, sau lần cùng Đại Đội 4 nhảy vào khai thác mục tiêu, tôi tình nguyện về Trung Tâm Hành Quân Delta do Thiếu Tá Phan Văn Huấn là Chỉ Huy Trưởng. Tại nơi đây, tôi nhảy “thử gió” cùng Toán 1 Thám Sát Delta, Toán Trưởng là Thiếu Úy Phạm Phan Anh, bạn cùng Khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với tôi.
Nhảy thử gió là chuyến thâm nhập Toán lần đầu tiên khi về phục vụ Trung Tâm Hành Quân Delta. Sĩ Quan mới về đơn vị sẽ đi theo thực tập (học nghề) với một cựu Toán Trưởng từng trải. Toán gồm 6 người, 02 là quân nhân Hoa Kỳ và 04 là Việt Nam. Thời gian hoạt động là 7 ngày, nhưng cũng tùy theo nhu cầu, nhiệm vụ, thời gian hoạt động cũng có thể rút ngắn hay gia tăng.
Thông thường chuyến thâm nhập thử gió may ít rủi nhiều, nên trước khi Toán lên đường xâm nhập, thường được các đồng đội tiễn ra tận trực thăng, xiết chặt tay cùng với lời nhắn nhủ rất kinh dị mà chân tình: “Đi nhớ trở về nghe mày!” và tiếp nối là những vẫy tay từ giã, hoặc cũng có thể là vĩnh biệt, cho đến khi trực thăng mất hút trong không gian mờ nhạt của trời chiều.
Sau lần thử gió, tôi đảm nhận Trưởng Toán 3 Thám Sát Delta, và cũng từ đó, trên bước đường quân hành vạn nẽo qua các chức vụ, tôi đã thâm nhập vào các Mật Khu của giặc cọng khắp 03 Vùng Chiến Thuật I, II, III như: Khe Sanh, Ba Lòng, Ashau, Khâm Đức, Ba Tơ, An Lão, Dakto, Tam Biên, Đồng Bò, Tô Hạp, Mõm Chó (Krek), Mây Tào, Đồng Xoài và Chiến Khu D, và cũng đã lập được ít nhiều chiến tích cho Đơn Vị.
Về sau, khi trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù (Ngày 01 Tháng 8 Năm 1970), sau khi Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, như là một truyền thống cố hữu, bất cứ một Sĩ Quan trong Liên Đoàn, được Đại Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, cất nhắc đảm nhận chức vụ Biệt Đội Trưởng, ngoài các chiến công, thì phải, đã, từng đảm nhận các chức vụ Trưởng Toán Thám Sát, Trung Đội Trưởng, Đại Đội Phó, Biệt Đội Phó các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù. Và cũng xuất phát từ truyền thống này mà hiệu năng tác chiến của Liên Đoàn được nâng cao, mang lại nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng, tạo nên uy danh cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong Quân Sử Quân Lực VNCH và lưu truyền cho hậu thế.

31 phút – tiểu thuyết trường thiên – trích đoạn tập 3 (1970-1975)

damau.org
Lê Thị Thấm Vân
Post on 5.08.2024

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Việt Cộng, hai chữ mà GI Mỹ ở Việt Nam nghe là khiếp sợ. Vi xi là Việt cộng. Việt cộng là vc. Vc là Victor Charlie. Người miền Nam gọi ai theo cộng sản là Việt Cộng. Người Mỹ gọi ai theo cộng sản là Charlie cho gọn, chẳng cần phân biệt Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng hay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chi cho rườm rà. Ai không theo Việt Nam Cộng Hoà là đội cho cái mũ Việt Cộng, vi xi. Quốc gia – cộng sản phải luôn phân biệt rạch ròi. Không ai được đứng chàng hảng, hàng hai, hoặc chân Nam chân Bắc. Vào đầu năm sáu mươi, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập với mục đích che mắt quốc tế. Phất cao lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, giữa có ngôi sao vàng năm cánh công khai kêu gọi các lực lượng nhân dân miền Nam tập hợp để tổ chức hoạt động đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao để hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ. Đảng kêu gọi toàn dân và toàn quân thực hiện bằng mọi giá phải giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ và đưa lại sự thống nhất đất nước. Dân miền nam từ trí thức giáo sư đại học, dân biểu trong chính quyền đến ông xích lô đầu ngõ mù chữ, đàn bà bụng mang dạ chửa, bầy con nheo nhóc trong nhà không đủ gạo cho bữa cơm chiều cũng được kêu gọi tham gia vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Nó là một tổ chức thân cộng trá hình, có liên hệ mật thiết với nhà nước Cộng sản miền Bắc, tìm mọi cách cấu kết, thu hút các nhà hoạt động, các thành phần miền Nam theo cánh tả, chống đối đế quốc Mỹ xâm lăng, chống đối chính sách Diệm, chống đối chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Tất cả được gom vào cái rọ của Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Dân chúng gọi quân đội miền Bắc là lính Bắc Việt hoặc lính Cộng Sản chính quy, còn quân đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là lính Việt Cộng.
Từ ngày anh về làm cho xếp lớn Mỹ, thỉnh thoảng anh đọc tin hay dịch các tài liệu, biết được nhiều chuyện bí mật, thâm cung bí sử thì tối về anh thường kể lại cho tôi nghe. Có những câu chuyện nghe xong tôi chỉ khẽ mỉm cười chua chát, nhưng cũng có những câu chuyện nghe xong toàn thân tôi tê cứng lại. Như câu chuyện bà má miền quê, thuộc gia đình Việt Cộng nằm vùng với nhiều năm trung kiên hoạt động bí mật với cách mạng. Nhà bà thường nuôi giấu hàng chục cán bộ cách mạng miền Bắc và cán bộ du kích ẩn náu, ăn ở dưới căn hầm đào trong sân vườn. Trong nhà bà quanh năm chứa gạo, dầu lửa, muối đường để tiếp tế cho bộ đội ở trên núi. Ngay lúc này đây, lính Mỹ và lính Cộng Hoà đang lùng sục những người theo cộng sản để thực hiện biện pháp tiêu diệt. Nhưng người dân nơi đây, điển hình là bà, vẫn một lòng yêu tổ quốc. Một tấc không đi, một ly không dời để củng cố và xây dựng cái làng cách mạng nổi tiếng kháng chiến chống Mỹ. Bà (buộc) phải bóp mũi giết đứa con mười tám tháng tuổi của bà để cứu năm mạng người của cách mạng thuộc đảng Cộng Sản Việt Nam, của xã hội chủ nghĩa. Một cán bộ cao cấp và bốn cán bộ du kích hiện đang có mặt trong căn hầm trốn bom đạn ở sau vườn nhà bà. Một là đứa bé chết hai là tất cả mọi người đều chết! Tên cán bộ cao cấp lên tiếng, giọng đanh thép. Bà bóp mũi thằng bé hay để chúng tôi cắt thanh quản thằng bé. Một cán bộ du kích lên tiếng tiếp. Giọng cán bộ cao cấp mang âm hưởng miền Bắc. Giọng cán bộ du kích mang âm hưởng miền Nam. Thằng con mười tám tháng tuổi của bà đang bị nóng sốt vì mọc răng, đi tiêu chảy nên nó cứ giãy giụa gào thét. Nướu của thằng bé bị phồng rộp, lở loét. Nó vừa đau vừa đói khát. Nếu để tiếng gào thét của đứa bé từ trong căn hầm vọng ra thì tính mạng của cán bộ cao cấp và mấy tên du kích sẽ bị lính Mỹ, lính Cộng Hoà đang đi tuần trong xóm, rình phục trong sân vườn biết được sẽ quăng trái lựu đạn, cả bọn tan xương nát thịt trong tích tắc. Tay cán bộ cao cấp ra lệnh phải giết thằng bé trước khi tiếng gào thét đớn đau của nó làm lộ căn hầm. Rất có thể địch quân sẽ xông vào phá hầm, bắt sống cả bọn, sau đó chắc chắn tay cán bộ cao cấp và bốn tên du kích sẽ bị tra tấn nhục hình, ở tù mọt gông. Tay cán bộ cao cấp ra lệnh bà phải thể hiện lòng yêu nước bằng cách đành hy sinh thằng con mười tám tháng tuổi của bà để bảo toàn tính mạng cho sáu người, gồm cả bà. Bà phải chọn. Con của bà hay tổ quốc ta? Một câu hỏi dành cho bà nặng hơn quả địa cầu.
Bà cố lờ đi như không nghe mệnh lệnh từ ông cán bộ cao cấp. Bà chần chừ bằng cách cố nhét đầu vú bà vào miệng thằng con. Ban đầu nó nhai, nghiến, đau mấy bà cũng cắn răng chịu đựng. Núm vú bà tươm máu vì răng của thằng con. Nhưng chỉ lát sau thằng bé lại nhả đầu vú bà ra rồi lại gào khóc. Bà vội nhét ngón tay trỏ vào họng thằng bé cho nó nhai, cắn, nghiến, nghiền. Nhưng cũng chỉ được một lát nó lại nhả ra, gào thét, giãy giụa. Không thể được. Không đời nào. Thằng bé là con của bà. Bà đã banh da xẻ thịt đẻ ra nó. Cách mạng có đẻ nó ra đâu! Cắt thanh quản thì nó sẽ bị chết hoặc bị câm suốt đời còn lại. Không được. Nó không thể là thằng bé câm. Một đứa con tật nguyền. Nó không khóc được. Không cười được. Không nói được. Không ăn được… Nó sẽ bị coi như cái thây người sống. Bà đã đẻ ra nó. Nó là bà và bà là nó. Nó chết là bà chết. Nó sống là bà sống. Cách mạng là ai, là gì. Mả cha bọn cách mạng tụi bay! Con cặc, đụ má tụi bay! Để má con tao được yên. Cách mạng tụi bay đi chỗ khác! Bà phải ẵm thằng con bà ra khỏi cái hầm này ngay tức khắc. Ngay bây giờ. Cả hai má con mình cùng sống cùng chết con hén. Nhưng làm sao ra khỏi được cái hầm này đây. Bà phải bước qua mấy cái thân người vững chắc như đồng đúc của cách mạng tay đang lăm lăm cầm súng đứng chặn ở cánh cửa hầm. Bọn chúng muốn bà là bà má anh hùng cách mạng. Cách mạng muốn bà chết để cách mạng được sống. Cách mạng sống thì dân tộc trường tồn, tổ quốc quang vinh. Kệ xác chúng bay. Tao đéo cần cách mạng, dân tộc, tổ quốc nữa. Tụi bay không bằng cái lồn què của tao trong giờ khắc sinh tử này. Chỉ có thằng con tao là cuộc sống đích thực của tao. Nó nhập vào bà thành một. Má và con là một phải vậy không con? Má con mình cùng một nhịp thở cùng dòng máu luân lưu. Một tên du kích lấy báng súng đánh khẽ vào vai bà, lay thức bà tỉnh dậy. Hắn nhắc nhở bà là má của cách mạng. Bà phải nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ lực lượng cách mạng. Hàng chữ nổi bật in sâu trong tâm trí bà lâu nay bỗng dưng rực sáng: không gì quý hơn độc lập – tự do. Vì tổ quốc, vì đảng bà phải hy sinh đứa con để khỏi tiếp tục nghe tiếng nó gào khóc. Bọn Mỹ hoặc địch quân ném lựu đạn xuống hầm thì cả bảy mạng người tan xương nát thịt. Bà như người mất trí, mất chính mình do mọi ánh mắt thôi miên của cả đám cách mạng ngồi trước mặt điều khiển. Làm sao bà và con bà bước qua khỏi từng con người đằng đằng sát khi tầm cao cách mạng đó được. Bà hoàn toàn bất lực. Nhưng, không được, tình mẫu tử trong bà bùng cháy dữ dội, đốt sạch dòng chữ không gì quý hơn độc lập – tự do. Bà phải bảo vệ mạng sống con bà như bà từng quyết định sinh nó ra với cuộc đời này, trong đất nước khốn nạn này. Con bà có tội tình gì đâu. Ừ, chính bà. Bà đã đẻ nó ra. Nó gọi bà là má. Má ơi … má à… bà cúi xuống mặt con nhỏ giọng ầu ơ… lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào… Bà phải có trách nhiệm cứu mạng sống nó. Bà phải đưa thân gánh cái khổ nạn cho thằng con. Nó hoàn toàn vô tội. Chính bà là kẻ có tội. Tâm trí bà lại bấn loạn. Giết nó cũng là một cách giải thoát cho nó, để khỏi bị kẻ khác ra tay giết nó hoặc nếu nó sống sót thì sẽ bị người đời gọi nó là thằng câm, tha hồ hà hiếp nó. Con chết là coi như má chết theo con. Cả hai má con mình cùng được giải thoát, con há! Mấy báng súng dựng đứng của bốn tên du kích cùng ánh mắt diều hâu điều khiển ra lệnh của tên cán bộ cao cấp càng làm tâm trí bà bấn loạn, không còn biết mình là ai, phải làm gì ngay trong giây phút này, trong căn hầm chính bà từng cố công dốc lòng phụ cha bà đào bới. Bỗng trong tích tắc, bà đưa tay lên mũi thằng con mà ngỡ là mũi của tên cán bộ cao cấp, lấy hết sức bình sinh, bà bóp chặt mũi thằng con cho nó tắt thở. Có phải bà đành hy sinh con mình để cứu cán bộ cao cấp và du kích trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc? Bà là một người đàn bà bình thường như bao người đàn bà khác trong làng, trong đất nước chiến tranh này, nhưng giờ bà phải có một quyết định phi thường vì bà là bà má của cách mạng, vì tổ quốc Việt Nam. Bà sinh ra trong gia đình có sẵn tinh thần ‘quyết tử để tổ quốc quyết sinh’, kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất chống ngoại xâm, luôn sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân vì đại cuộc. Gia đình bà, nhiều người đã trở thành liệt sĩ. Ông nội bị địch phục kích giờ vẫn chưa tìm được hài cốt. Cha bà đã bị địch bắt, tra khảo nhiều lần vì tiếp tay cho cách mạng. Chồng bà và anh trai bà cũng đã lên núi tham gia cách mạng. Sự hy sinh của những người thân ruột thịt không làm bà nhụt chí. Trái lại, hun đúc tinh thần quả cảm kiên trung với cách mạng, với đảng. Giờ thì đứa con trai mười tám tháng tuổi của bà phải hy sinh vì cách mạng, vì đảng. Đứa bé bị chính má nó, người đẻ ra nó bóp mũi cho tắt thở, với mệnh lệnh của cán bộ cao cấp qua ánh mắt và giọng nói thôi miên, buộc bà phải thi hành, không cho bà sự chọn lựa. Bà được sự trợ giúp của mấy cánh tay du kích hiện đang có mặt. Kẻ nắm chặt tay thằng bé, kẻ nắm chặt chân thằng bé cho má của nó thi hành nhiệm vụ.
Thằng bé ra sức giãy giụa trong tám cánh tay của bốn tên du kích. Kẻ nắm tay người giữ chân thằng bé. Cuối cùng thằng bé gục ngã ngay trước mắt tên cán bộ cao cấp. Thằng con tắt thở. Thằng con mười tám tháng tuổi đã hy sinh vì cách mạng. Và chỉ trong tích tắc, bà thấy rõ tuần tự từng khuôn mặt. Đầu tiên ông nội, rồi cha bà, chồng bà và anh trai bà. Từng khuôn mặt đang bị đốt cháy bởi ngọn lửa bi phẫn, uất hận. Cuối cùng còn lại là khuôn mặt hư ảo của ai đó với nụ cười mãn nguyện trên đôi môi. Đôi môi đã từng hô hào kháng chiến chống Mỹ. Đọc tuyên ngôn không có gì quý hơn độc lập, tự do. Bà ngã vật xuống và ngất đi trên ngực thằng con mười tám tháng tuổi đang còn nóng hổi nhưng tim đã ngưng đập. Tay cán bộ cao cấp nhìn bà rồi khẽ nói, giọng không còn đanh thép, giờ đây thay mặt đảng và nhà nước, tôi gọi bà là Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Bà có công lớn với cách mạng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng và nhà nước sẽ ghi công bà đã tiếp tay cho Cộng Sản để giải phóng miền Nam. Sự hy sinh của bà dành cho tổ quốc thật là vô bờ bến.
Tôi quay sang hỏi anh, tại sao tay cán bộ cao cấp không ra lệnh cho một trong bốn tên chiến sĩ du kích dùng vũ lực trói bà mẹ lại, sau đó tay cán bộ tự tay giết chết đứa nhỏ. Cán bộ muốn đứa bé chết mình sống thì phải gánh phần nặng nề nhất cho nhân dân chứ? Tại sao ra lệnh bà mẹ giết đứa con của mình. Cán bộ dám theo đảng, theo cộng sản, theo chế độ, quyết đưa dân tộc tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa thì phải thực hành chức năng của của một đảng viên chứ. Dám làm dám chơi nhưng không dám chịu là sao hả anh?
Động vào cái bản năng sinh tồn thì chẳng ai quan tâm đến mạng sống người khác, huống chi kẻ tự đeo trên mình cái chủ nghĩa anh hùng dân tộc. Anh nói. Buộc giết con của mình để người khác sống có lẽ chỉ xảy ra trong chiến tranh. Mà khốn nạn là chiến tranh lại đang xảy ra trên đất nước này. Ờ. Tôi tiếp lời anh. Trên cái đất nước mà em đã đẻ con bé mun của chúng mình ra với thế gian này.