Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Bài 2
Trên đồi Tăng Nhơn Phú

Mười chín tuổi, tôi quyết định đăng lính. Mặc dầu có băng Tú tài II, đủ điều kiện để thi vào Hải Quân hoặc Võ Bị Đà Lạt, nhưng tôi không chọn hai nơi này bởi vì tôi nghe bạn bè kháo nhau rằng, chương trình học toán của sĩ quan Hải Quân tương đương với toán của Đại học Khoa học. Chẳng hạn môn Thiên văn học hay cái môn học gì đó, giữa trùng dương bao la bát ngát, nhìn sao trên trời rồi dùng toán học để tìm ra điểm đứng của con tàu, đối với tôi đây quả là chuyện không tưởng. Thi vô Trường Võ Bị Đà Lạt còn mệt hơn nữa, bốn năm trong trường, ngoài chuyện học về quân sự phải học thêm về văn hóa, mà phần văn hóa xem ra còn nặng hơn quân sự, sau bốn năm khi ra trường phải lấy cho được cái bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng. Đã là lính rồi mà còn phải học thêm về văn hóa quả là phiền phức quá sức, tôi đã ngu lại còn lười biếng, khó khăn là tôi né. Tôi chọn sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Khóa của tôi có khoảng hai ngàn sinh viên sĩ quan, sau hai tháng học giai đoạn một ở Quang Trung, chúng tôi được chia ra làm hai, một nửa chuyển lên Trường Bộ Binh Thủ Đức, còn nửa kia đáp tàu ra Nha Trang, học ở Đồng Đế.
Khi đoàn xe GMC chở chúng tôi tới Thủ Đức, tôi nhìn cái cổng trường mà phát chán. Ai đời một quân trường danh tiếng, mấy chục năm rồi đã đào tạo không biết bao nhiêu sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại có cái cổng cũ kỹ, xấu xí đến mức không tưởng tượng nỗi. Hai cột xi măng vuông vức, mỗi cạnh đâu tám, chín tấc gì đó quét vôi trắng cao nghệu, thêm hai cái cửa tò vò hai bên, trên đó một tấm bảng cong cong gác ngang với mấy chữ Trường Bộ Binh, chỉ có thế thôi. Sao nó lại đơn sơ quá vậy trời.
Xe qua khỏi cổng, chạy thêm một đoạn khá xa rồi ngừng lại bên một cái sân hình chữ nhật rộng mênh mông, sau này tôi mới biết đó là Vũ Đình Trường. Chúng tôi đang ngơ ngác, không biết phải làm gì khi nhìn thấy một nhóm huynh trưởng chia nhau niềm nở chào đón chúng tôi. Các huynh trưởng ân cần, tận tình đứng ngay sau xe nhắc nhở chúng tôi xuống xe sao cho an toàn. Ôi! Cái tình huynh đệ chi binh sao mà nó thắm thiết quá chừng làm tôi cảm động hết sức. Chúng tôi, cứ mấy chục thằng được xếp ngồi chung trên một chiếc GMC mui trần, chạy từ Quang Trung lên đến đây, bộ đồ trận màu cứt ngựa xấu xí, bụi bặm bám đầy người, mặt mũi lem luốt, nhìn lại mấy ông huynh trưởng với bộ đồ vàng mới tinh, mũ nhựa màu nâu đen láng bóng, thêm hai con cá vàng trên nền nhung đen nổi bật nơi cầu vai, đôi giày bốt đờ sô được đánh xi bóng loáng, tưởng chừng soi mặt được. Thoạt nhìn tôi đã mê mẩn, hình ảnh của huynh trưởng trông oai quá chừng. Tôi nghĩ thầm, mai mốt tôi cũng sẽ được như vậy. Cho đến khi đứng sát mặt, nhìn kỹ mấy ông huynh trưởng tôi mới hết hồn, mặt ông nào ông nấy như có cô hồn, đằng đằng sát khí cứ như là sắp xung phong giết giặc không bằng. Có ông huynh trưởng nào biết nói đâu, mở miệng ra chỉ toàn nạt nộ, la hét như điên rồi phạt túi bụi mù trời, không cần nguyên nhân, không cần lý do. Chúng tôi, hơn một ngàn Tân khóa sinh bị tách ra từng toán nhỏ. Mỗi huynh trưởng chịu trách nhiệm trông coi một toán khoảng hai mươi Tân khóa sinh, họ thay nhau phạt chúng tôi tơi tả như cái mền rách. Hình như, mấy ông huynh trưởng phạt chỉ với mục đích là dằn mặt, áp đảo tinh thần, muốn tất cả Tân khóa sinh phải khiếp sợ, thi hành mọi mệnh lệnh như một cái máy, cấm có suy nghĩ, không được suy luận và chống đối. Tôi biết là mình bị dằn mặt, nhưng sợ vẫn cứ sợ. Trước mặt, bên trái, bên phải luôn cả sau lưng tôi, tất cả mọi người đều đang thi hành lệnh phạt. Bên này mấy chục ông Tân khóa sinh la to thiếu điều đứng xa cả cây số cũng nghe rõ “Nhảy xổm vào thế”. Bên kia lại thêm vài chục ông Tân khóa sinh khác rống lên “Hít đất vào thế”. Tôi cũng đang bận rộn túi bụi khi đang thi hành lệnh phạt hai mươi cái hít đất, vừa xong hít đất lại lãnh thêm hai mươi cái nhảy xổm, rồi hai mươi cái bơm dầu. Sau cùng, khi mà mọi người đều mệt đứ đừ, lúc bấy giờ mới đến cái màn chào mừng quân trường, giọng nói của huynh trưởng vang lên như sấm động:
-Tất cả Tân khóa sinh, mười vòng Vũ ĐìnhTrường, đàng trước, chạy.

Hai tháng trường dầm mưa dãi nắng ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi cứ tưởng cơ thể của mình đã quen với nhọc nhằn gian khố, thế nhưng khi nhìn thấy cái sân Vũ Đình Trường Thủ Đức rộng mênh mông, trong lòng bỗng dưng ngao ngán, rồi sợ hãi. Chạy một vòng cũng đủ giập mật, huống chi chạy mười vòng.
Khi đám Tân khóa sinh chúng tôi chạy được ba vòng, một người, hai người, rồi cả chục người thi nhau rụng dần dần, nằm bò lê bò lết nơi Vũ Đình Trường. Tôi cũng đã thấm mệt, nắng ở đồi Tăng Nhơn Phú coi bộ không khá chút nào, mồ hôi ướt dầm bộ đồ trận. Tôi chạy chậm lại, đưa mắt liếc nhìn vị huynh trưởng đang kè kè bên tôi. Tôi chờ cho đến khi vị huynh trưởng này nhìn thấy mình rồi giả vờ như bị đuối sức, nhấc chân lên không nổi té lăn quay xuống đất. Tôi nói với mình, phải gồng mình chịu đau, té cho ngon lành mới giống như mình bị xỉu.
Vị huynh trưởng đâu có dễ dàng chịu thua, anh ta kê sát miệng vào tai của tôi, rồi hét thật to:
-Ông giả bộ xỉu phải không? Đừng có qua mặt huynh trưởng, cái trò này huynh trưởng đã làm từ lúc ông còn ở truồng tắm mưa. Ông chạy yếu như vậy, mai mốt ra trường bị Việt Cộng rượt làm sao chạy cho nổi.
Tôi nằm đó, nhắm mắt cười thầm cho cái lý luận lẩm cẩm của huynh trưởng. Huynh trưởng ơi! Ông ăn nói gì kỳ vậy, mình rượt Việt Cộng chứ đâu có để tụi nó rượt mình được (chuyện này, phải đợi cho đến tháng ba năm 1975, tôi mới thấy huynh trưởng của tôi nói đúng).Thấy tôi nằm yên, huynh trưởng tiếp tục hét bên tai:
-Đứng dậy, chạy cho đủ mười vòng đi ông. Huynh trưởng sẽ chờ cho đến khi nào ông tỉnh lại, chờ đến mai cũng chờ.
Tôi nhắm nghiền mắt lại, văng vẳng bên tai tiếng của hàng ngàn bước chân chạy rầm rập, đều đều xen lẫn tiếng gào của mấy chục ông huynh trưởng. Tôi nằm im, đã trót đóng kịch phải làm cho tới nơi tới chốn, đừng có dại nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của huynh trưởng mà tỉnh lại. Mấy cục đá ở sân Vũ Đình Trường nhọn hoắc, xóc vô lưng, cắm vô đầu đau muốn gần chết, mặc kệ, tôi nhắm mắt lòng đầy khoan khoái vì thấy mình đã sáng suốt, khôn lanh khi quyết định chọn Trường Bộ Binh Thủ Đức, chỉ phải chịu đụng khổ cực, đày đọa tấm thân vài tháng là tốt nghiệp. Chọn Võ Bị Đà Lạt, bốn năm bị hành hạ thân xác như thế này, khi ra trường có mang lon đại úy tôi cũng không thèm. Cuối cùng, mọi chuyện đều qua đi, chạy ba vòng hay mười vòng cũng như nhau, tất cả được tập họp để phân chia đại đội. Một ngàn Tân khóa sinh được chia ra làm năm đại đội, bắt đầu từ Đại đội 61 cho tới Đại đội 65.
Nguyên tám tuần lễ đầu tiên huấn nhục ở Thủ Đức, Tân khóa sinh ngoài giờ học thì giờ còn lại là thi hành lệnh phạt.
Tôi không biết trong Trường Bộ Binh Thủ Đức chuyện huynh trưởng phạt khóa đàn em, phạt Tân khóa sinh đã có từ bao giờ. Cho đến khi tôi vào Thủ Đức năm 1968, chế độ huynh trưởng đã đến giai đoạn gần như là hoàn hảo. Sĩ quan cán bộ có đó chỉ để làm vì, bao nhiêu chuyện hướng dẫn, huấn luyện Tân khóa sinh đều do huynh trưởng đảm nhận.
Tổ chức sinh hoạt của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức lấy đơn vị đại đội làm căn bản. Một đại đội có trên hai trăm Tân khóa sinh được chia làm bốn trung đội, tất cả được đặt dưới sự chỉ dẫn, kiểm soát của một Huynh trưởng Đại đội trưởng và bốn Huynh trưởng Trung đội trưởng. Nhiệm kỳ của huynh trưởng là năm ngày, sau năm ngày sẽ có nhóm huynh trưởng mới đến thay thế. Huynh trưởng nắm toàn quyền sinh sát trong tay, kêu mưa phải có mưa, gọi bão phải có bão, do đó thân phận của Tân khóa sinh giống như con cá nằm trên thớt.

Trong giai đoạn huấn nhục, Tân khóa sinh khi di chuyển đến bất cứ nơi nào trong phạm vi của trường, chẳng hạn như đến phòng học hay nhà ăn đều phải di chuyển theo đội hình. Đội hình của trung đội là bốn hàng ngang, Tân khóa sinh cao nhất đứng ở hàng đầu rồi thấp dần cho đến người thấp nhất ở hàng cuối. Tất cả vừa đi vừa đếm nhịp hoặc hát những bài hùng ca, huynh trưởng đi bên hông của trung đội theo dõi và kiểm soát. Chỉ cần một Tân khóa sinh bước trật nhịp hoặc đi không thẳng hàng sẽ lãnh hậu quả không lường, cả trung đội sẽ bị phạt chứ không phải chỉ một mình anh Tân khóa sinh đó.
Tôi nhớ lại, vào một buổi sáng sớm, cả bầu trời mù mờ như có sương, khi trung đội của tôi đi đều bước đến phòng học, còn sớm hơn mười phút. Huynh trưởng đứng trước hàng quân, cất giọng:
-Cái ông đứng ở cuối hàng đó, trình diện huynh trưởng đi ông. Ông chớ còn ai nữa mà nhìn quanh.
Một Tân khóa sinh đứng ở hàng chót, chạy đến trước mặt huynh trưởng, đứng nghiêm đưa tay chào:
-Tân khóa sinh.. .Trình diện huynh trưởng.
Huynh trưởng lên giọng:
-Ông chạy mười vòng, quanh trung đội đi ông.
Khi anh Tân khóa sinh chạy đủ mười vòng, đến trình diện huynh trưởng. Huynh trưởng nói như hét:
-Anh có biết là anh phạm lỗi gì không?
Không đợi Tân khóa sinh trả lời, huynh trưởng nói tiếp:
-Tân khóa sinh mà dám cao hơn huynh trưởng.
Anh Tân khóa sinh đứng ở hàng chót, là người thấp nhất trong trung đội của tôi, vừa nghe như vậy vội vàng rụt cổ, rùn chân cho người thấp xuống. Thấy vậy, tôi suýt cười thành tiếng, đưa tay lên bịt miệng của mình lại.
Đôi mắt của huynh trưởng lẹ như sao xẹt, anh ta chỉ tôi.
-Cái ông cười trong hàng quân đó, trình diện huynh trưởng đi ông.
Tôi biết mình đã phạm lỗi tày trời, nên lẹ làng chạy đến trình diện huynh trưởng.
Giọng nói của huynh trưởng nghe cứ như là mai mỉa.
-Thấy huynh trưởng lùn, cho nên ông cười khi dễ huynh trưởng phải không? Hai chục cái nhảy xổm đi ông. Tối nay, lúc tám giờ ông mặc đồ tiểu lễ trình diện huynh trưởng tại sân đá banh của trường, ông nghe rõ không?
Tôi la to mà trong lòng đầy lo lắng.
-Rõ, huynh trưởng.
Quay nhìn về phía trung đội, huynh trưởng nói:
-Tối nay, đúng tám giờ cả trung đội trình diện tôi tại sân banh, quân phục số bốn, ba lô súng đạn đầy đủ, tất cả nghe rõ không?
Mấy chục Tân khóa sinh đồng thanh la to:
-Rõ.

Sau vài giây chần chờ, huynh trưởng nói tiếp:
-Tôi cho các anh một đặc ân, trong trung đội này, ai đứng thấp hơn tôi sẽ được miễn thi hành lệnh phạt.
Dĩ nhiên, không một ai được miễn trừ.
Vừa đúng tám giờ tối, huynh trưởng tập họp trung đội tại sân đá banh, sau khi nghe báo cáo quân số, huynh trưởng chia trung đội gồm có năm mươi sáu Tân khóa sinh ra làm hai đội, mỗi đội có khoảng hai mươi tám người. Hai đội banh sẽ đấu với nhau, đội nào thắng sẽ được ra về nghỉ. Đội thua sẽ chia ra làm hai đội, đá với nhau một lần nữa, đội thắng sẽ được về nghỉ. Cứ như vậy cho đến khi hết người. Quay sang tôi, đang đứng riêng một mình với bộ đồ tiểu lễ, dây biểu chương trên vai nón kết trên đầu, huynh trưởng nói:
-Mọi người đều mặc đồ số bốn, tại sao ông lại mặc tiểu lễ, ông muốn chơi trội phải không?
Bắt tôi mặc đồ tiểu lễ là huynh trưởng, không cho tôi mặc đồ tiểu lễ cũng là huynh trưởng. Trong lòng tôi ấm ức quá sức, nhung mà, quân đội là quân đội. Tôi đứng yên chờ đợi lệnh phạt.
Huynh trưởng rút trong túi cái còi đưa cho tôi.
-Được rồi, ông muốn chơi nổi, tôi cho ông nổi luôn. Ông sẽ làm trọng tài, từ trận đầu tiên cho đến trận cuối cùng. Huynh trưởng sẽ ngồi ở khán đài theo dõi. Ông nghe rõ không?
Tôi nghe huynh trưởng nói mà đứng chết trân, không nói nên lời, coi như tôi phải chạy bao sân tất cả mọi trận đấu. Chuyện làm trọng tài coi bộ khổ hơn là chạy mười vòng Vũ Đình Trường, bởi vì chạy mười vòng Vũ Đình Trường mình còn giả bộ xỉu được.
Khi hai đội banh đã đứng về hai phía của sân vận động, đội bên trái cởi trần, để phân biệt với đội bên phải có quần áo đầy đủ. Huynh trưởng đưa cho tôi cái nón sắt rồi nói:
-Đây là trái banh, ông điều khiển trận đấu cho tôi.
Trận đấu diễn ra thật là sôi nổi, vì mọi người đều hăng say quyết thắng để còn về nghỉ sớm. Chỉ có một cái nón sắt, hàng trăm bàn chân tranh nhau đá túi bụi, phải hơn nửa giờ lăn khắp sân, cái nón sắt mới lọt lưới. Đội cởi trần thong thả ra về, đội áo quần đầy đủ chia làm hai, riêng tôi mệt muốn đứt hơi, lại phải cầm còi thổi cho trận kế tiếp.
Cho đến trận đấu cuối cùng, hình như đã khuya lắm rồi, mỗi bên chỉ còn một người và tôi vẫn là trọng tài. Tôi nhìn lên khán đài, chỉ thấy một cái bóng mờ chìm trong làn sương mỏng, không biết đó có phải là huynh trưởng hay không. Tôi nói với hai thằng bạn của tôi:
-Tụi mày có biết, đá banh mà bán độ là gì không?
Một trong hai thằng nói:
-Biết.
Chưa đầy năm phút sau, cái nón sắt lọt lưới, trận đấu kết thúc, tôi chấm dứt đêm phạt dã chiến của mình bằng cách ôm cái nón sắt méo mó, lết về phòng ngủ sinh viên với bộ đồ tiểu lễ bê bết bụi đất.
Tôi nằm ngủ mà nhớ lại những giờ học Việt văn của mấy năm về trước, thầy giáo giảng bài: Mẹ già một nắng hai sương, thức giấc khi còn sương mai, về nhà khi sương khuya đã xuống, làm việc đồng áng cực nhọc, buôn bán khổ cực nuôi con. Hôm nay, Sinh viên sĩ quan Thủ Đức cũng một nắng hai sương, nhưng từ lúc tờ mờ sáng cho tới tối mịt, chỉ biết học và thi hành lệnh phạt. Phạt liên miên bất kể giờ giấc, sáng phạt, trưa phạt, chiều phạt, tối phạt, lên gường ngủ vẫn bị lôi đầu dậy thi hành lệnh phạt.

Suốt thời gian huấn nhục ở Thủ Đức, tôi còn bị phạt dài dài, càng bị phạt tôi càng ghét cay ghét đắng huynh trưởng. Mãi cho đến sau này, khi trải bao dâu bể, đổi thay, tôi mới biết rằng: Quân đội muốn thay đổi con người của chúng tôi trong một khoảng thời gian ngắn thật ngắn. Chỉ với vài tháng thôi, làm sao biến chúng tôi từ một người học trò yếu đuối, ngày ngày chỉ biết cắp sách đến trường sống bám vào cha mẹ, trở thành một người mạnh khỏe về thể chất, cứng rắn về tinh thần để khi ra trường tạm thời có thể chỉ huy ít nhất là một trung đội bộ binh. Phương pháp tốt nhất để đạt được mục đích này là, tám tuần lễ huấn nhục. Huynh trưởng của tôi, chỉ nhập ngũ trước tôi hai tháng mà ông ấy đã dẫn dắt trung đội Tân khóa sinh một cách tài tình. Như vậy, chuyện tôi diện bộ tiểu lễ, tay cầm còi, làm trọng tài cho những trận đá nón sắt đêm ấy, xem ra chẳng có gì oan ức.
Thời còn là Tân khóa sinh, chỉ lo thi hành lệnh phạt nên mọi người lúc nào cũng buồn ngủ, trong giờ học ngủ gục, sau giờ học được nghỉ mười phút là lăn ra ngủ, thậm chí đang di chuyển trong hàng quân cũng ngủ. Ôi giấc ngủ sao mà đã đời đến thế.
Tuần đầu khi đi gác tuyến, chưa tới phiên gác, tôi đã ôm cây súng Garant nằm dưới giao thông hào ngủ ngon lành. Ở quân trường cây súng Garant là vật bất ly thân, là người tình trong mộng của sinh viên, hớ hênh quờ quạng bị sĩ quan cán bộ chôm mất kể như tàn đời, bị phạt dã chiến suốt đêm là cái chắc. Vì lý do đó, khi đi gác tuyến, sinh viên sĩ quan phải ôm cây súng Garant mà ngủ. Tôi đang say sưa trong giấc mộng bình thường, không thấy mình hóa bướm như Trang Chu, chợt có ai đó chạm nhẹ vào vai của tôi.
-Quân, Quân, thức dậy tao có chuyện nói với mày.
Tôi hãy còn nửa mê, nửa tỉnh.
-Tới phiên gác của tao phải không?
-Không, tao là Long, nằm kế giường của mày.
-Tao là Biên, nằm giường trên của mày.
Tôi biết rồi, đây là hai thằng quỷ dân Sài Gòn, chung phòng lẽ dĩ nhiên cùng chung một trung đội với tôi.
-Tụi mày cần gì, nói mau lên để tao còn ngủ.
-Mày có tiền không? Cho tụi tao mượn mấy trăm.
Giọng nói của nó nghe mà phát ghét, mấy trăm đối với tôi là cả một gia tài, trong khi hắn nói mấy trăm cứ nhẹ như mấy đồng bạc lẻ. Nghĩ như vậy nhưng tôi vẫn lục túi.
-Tao chỉ có sáu trăm, đây là tất cả số tiền ông già tao cho, trước khi lên Thủ Đức. Tao cho tụi mày mượn năm trăm, tao phải giữ lại một trăm để phòng thân.
Hai thằng quỷ giựt năm trăm trên tay tôi rồi dọt lẹ. Tôi nói vọng theo:
-Tụi mày đi đâu vậy?
-Trốn vô Khu Thiết Giáp. Nhậu.
Khi tụi nó đi xa rồi, tôi mới giật mình tự trách sao mà mình ngu như vậy, cho tụi nó mượn tiền biết tụi nó có trả hay không? Tôi ôm cây súng Garant chìm vào giấc ngủ. Mơ mơ màng màng, tôi phân vân không biết mình cho hai thằng đó mượn tiền, hay mình mượn tiền của tụi nó.

Tụi tôi quen thân với nhau bắt đầu như vậy. Biên và Long đặt cho tôi cái tên là Quân bắp cải khi biết quê hương xứ sở của tôi là Đà Lạt. Lúc đầu, tôi phản đối dữ dội.
-Tao tên Quân, tại sao tụi mày gọi tao là bắp cải.
Long tỉnh queo nói:
-Bắp cải ở Sài Gòn bán có giá lắm đó mày.
Biên góp ý:
– Nhìn mày, giống như hình thằng bé in trên hộp sữa Babylac, hay là tụi tao goi mày là Quân sữa được không?
Cả hai cái biệt danh nghe đều xấu xí, mai mốt bận đồ tiểu lễ đi phép mà bị gọi là Quân sữa làm sao tán gái cho được, tôi đành chọn cái tên ít xấu hơn. Từ đó trở đi cả đại đội đều gọi tôi là Quân bắp cải.
Biên hơn tôi bốn tuổi, học Đại học Khoa Học, đẹp trai, cao ráo. Nhìn bức ảnh ngày xưa nó chụp với áo quần gọn gàng, bảnh bao, tóc dài quá mang tai, ôm cây đàn guitar điện, đứng trước một bộ trống, tôi đoán hắn phải là thành viên của một ban nhạc trẻ nào đó không được nổi tiếng cho lắm ở Sài Gòn. Sở dĩ, tôi dám mạnh miệng nói như vậy, bởi vì tôi không thấy tên của ban nhạc trên mặt trống. Biên thi rớt năm thứ ba nên bị gọi nhập ngũ, nhà hắn ở đường Nguyễn Minh Chiếu Phú Nhuận, gần nhà hàng Bò bảy món Ánh Hồng, có cô em gái tên Dung. Ba hắn là nhân viên cao cấp của cơ quan USAID. Những lúc nhàn rỗi, tôi tò mò hỏi về đời tư của hắn.
-Học đại học có khó không Biên?
Sở dĩ tôi hỏi Biên như vậy, bởi vì đây là chuyện mà tôi muốn biết, nếu tôi không đăng lính và tiếp tục học đại học.
Biên ngẫm nghĩ một chút rồi trả lời tôi:
-Chẳng có mẹ gì khó hết, đến trường đầy đủ, chịu khó ghi cua, học chút đỉnh là đậu.
-Vậy sao mày lại thi rớt?
Biên xổ cái giọng du côn của dân Sài Gòn:
-Đù má, mày nói cái giọng móc họng, tao quýnh thí mẹ mày bây giờ. Tao thi rớt chỉ vì ham chơi, tối ngày cứ lo chuyện đàn địch ở mấy cái phòng trà, có học hành gì đâu mà đậu, rớt là phải. Còn mày, học hành tới đâu? Con nít hỉ mũi chưa sạch như mày, tại sao lại phải vô đây?
-Chuyện dài dòng, khi nào rảnh rỗi tao kể cho mày nghe.
Tôi không muốn nói với nó là mình không được thông minh cho lắm, nên không muốn tiếp tục học.
Long công tử, tên sao người vậy, tuy mặc bộ đồ lính xấu xí, thô kệch, nhưng nhìn hắn người ta vẫn thấy rõ nét hào hoa phong nhã, phảng phất đâu đó. Đang học năm cuối Văn khoa, hắn bỏ học đăng lính. Nhà nó giàu có hạng, nhưng đừng nên so sánh nó với Hắc công tử hay Bạch công tử ở Bạc Liêu thời xưa. Thời Pháp thuộc, tài sản của công tử Bạc Liêu với ruộng lúa hàng chục ngàn mẫu, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi. Nội tiền thu Tô hàng năm của hàng chục ngàn mẫu ruộng, dư sức cho Hắc, Bạch công tử đốt cháy Sài Gòn. Ba của Long công tử nghèo hơn, ông ấy chỉ có vài căn biệt thự ở Sài Gòn, thêm một cái đồn điền ở Ban Mê Thuột. Thời đệ nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho dân khai thác đồn điền ở cao nguyên nhưng không được quá một trăm mẫu, cho nên cái đồn điền trồng cà phê ở Ban Mê Thuột của gia đình Long công tử chỉ có chín mươi chín mẫu mà thôi. Tới mùa thu hoạch cà phê, ngoài số lượng cà phê của nhà, ba nó còn thu mua tất cả cà phê của Ban Mê Thuột rồi đóng bao xuất khẩu. Với hàng trăm công nhân làm việc tất bật suốt ngày, đến kỳ phát lương, ba của Long công tử phải đem mấy cái bao bố tới nhà băng chở tiền. Sau này, khi đã quen thân với Long, nhân một lúc vui miệng, tôi hỏi hắn với ý thắc mắc nghi ngờ:
-Nhà của mày giàu như vậy, sao hôm trước mày với thằng Biên phải mượn tiền tao đi nhậu.

Long nhìn tôi không có gì bối rối:
-Hôm vô Thủ Đức, tao có đem theo hơn chục ngàn, đem nhiều chỉ tổ nặng túi. Tao nghĩ, ở đây có gì đâu mà tiêu với xài. Chiều hôm đó, khi đi tắm ngoài hồ nước của đại đội, tao treo quần áo của tao ngay đó chứ đâu. Tắm xong mát mẻ khỏe khoắn, tao bận cái quần cụt đi về phòng quên mẹ nó bộ đồ. Nửa giờ sau mới nhớ, tao trở lại bộ đồ không cánh đã bay mất tiêu, dĩ nhiên tiền bạc trong đó cũng bay theo luôn. Tao không còn tiền đi nhậu nên mới phải mượn mày.
Mất cả chục ngàn mà hắn coi như không có gì, tôi nghĩ thầm thằng này xứng với tên Long công tử.
Ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian thoải mái nhất là đi ứng chiến, gác tuyến phòng thủ của trường. Lệ thường, sau khi cơm nước xong xuôi, khoảng sáu giờ chiều cả đại đội súng ống đạn dược đầy đủ kéo nhau ra tuyến gác. Từ sáu giờ chiều đến năm giờ sáng, ngoài việc gác ca của mình một tiếng, thì giờ còn lại tự do, đa số sinh viên đánh một giấc để lấy sức ngày mai còn đi học tiếp. Riêng tôi, tôi thích trốn ra Khu sinh hoạt ngồi nhâm nhi ly cà phê đá ở quán cô Loan, cô bé có gương mặt tươi như hoa, đôi môi mọng đỏ trông phát ghét và nhất là nụ cười hớp hồn của cô. Cả chục anh sinh viên sĩ quan đang ngồi uống cà phê, anh nào cũng nghĩ rằng cô ta đang kín đáo tặng riêng nụ cười cho mình. Tôi thích ngồi uống cà phê ở Khu sinh hoạt, biết đâu có một ngày đẹp trời nào đó cô Loan thực lòng tặng riêng cho tôi một nụ cười? Tình yêu mấy ai biết được, hôm nay mưa ngày mai có thế nắng.
Long công tử khác hẳn, hắn chỉ thích bia 33 nên bò qua Khu Thiết Giáp, ở đây có quyền nhậu chết bỏ miễn là đừng quên đường về. Bị phạt khi còn là sinh viên, rớt ra trung sĩ như không, chả ai dám nhậu quắt cần câu để phải mang cái “cánh gà chiên bơ” khi ra trường.
Tôi không biết uống rượu nhưng lại thích bạn, nên đành lòng quên cô Loan theo bạn bè qua Khu Thiết Giáp. Ba đứa tôi nhậu nhưng luôn luôn đề cao cảnh giác, thực sự chỉ có hai thằng bạn của tôi nhậu thôi. Tôi ngồi đó, uống nước ngọt phá mồi, năm thì mười họa mới hớp một ngụm bia. Một hôm khi cuộc rượu nửa chừng, rượu vô lời ra, đủ chuyện được đem ra bàn tán, Long công tử gắp miếng thịt gà, mở đầu:
-Tụi mày nhớ bài học địa hình hôm qua không?
Tôi đáp:
-Nhớ chớ.
-Bài học đó huynh trưởng gọi là địa hình sương sâm.
Biên hỏi:
-Tại sao gọi là địa hình sương sâm.
Long ôn tồn giải thích:
-Ở trên bục huấn luyện viên nói gì, giảng gì mặc kệ ông ấy, nào là vòng cao độ, núi non, sông ngòi, đường sá rồi cách dùng địa bàn, bản đồ. Mình nghe được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, nhưng khi thực hành cầm trên tay cái bản đồ và địa bàn, làm ơn nhớ liếc mắt nhìn mấy cô bán sương sâm để mà điều chỉnh hướng đi của mình. Bởi vì đến trưa, khi các cô đặt gánh sương sâm ở đâu, mục tiêu của mình gần chỗ đó. Các cô gái này là con, cháu của quân nhân trong trại gia binh của trường, họ đi đến các mục tiêu này hàng trăm lần rồi, độ chính xác gần như là tuyệt đối. Hãy tưởng tượng, trời Thủ Đức nóng như thiêu, sinh viên sĩ quan sau khi di hành hàng chục cây số, được ngồi dưới bóng mát của một gốc cây, thưởng thức ly sương sâm mát rượi, ngọt lịm bên cạnh các cô gái duyên dáng, dễ thương, còn chuyện xinh đẹp hay không tùy người đối diện. Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy, gánh rơm sương sâm gặp hàng trăm ngọn lửa Cư An Tư Nguy cháy là cái chắc.
Long công tử ngưng nói, quay nhìn tôi:

-Mày có biết bốn chữ Cư An Tư Nguy in trên phù hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức, có nghĩa là gì không?
Tôi trả lời Long công tử:
-Thật tình, tao không hiểu rõ lắm.
Long công tử giải thích:
-Đại khái, sống yên ổn phải nghĩ đến lúc nguy khốn.
-Vậy thì có gì hay ho đâu mà phải nói, tao chỉ muốn biết lửa gần rơm cháy như thế nào thôi.
-Đám cưới chứ còn như thế nào nữa, con của một binh sĩ trong trại gia binh mà vớ được ông chuẩn úy mới toanh, kể ra cũng tốt lắm rồi.
Đang nói chuyện ngon lành, Long công tử đặt ly bia xuống bàn, hắn mồi một điếu thuốc, nhìn quanh rồi mới nói tiếp:
-Tụi mày có biết cô Giang không? Cô bé đẹp như hoa hậu thế giới ở trại gia binh, nơi cổng số Chín?
Tôi đáp:
-Không biết.
-Mày chỉ biết bắp cải chứ biết cái mẹ gì. Cổ sắp lấy chồng, chôm được ông huynh trưởng của tụi mình, đợi ra trường làm đám cưới.
-Sao mày rành vậy.
-Chuyện cô Giang hoa hậu đã là đóa hoa có chủ, tất cả sinh viên trong trường đều biết, trừ mày.
Tôi hỏi Long:
-Thằng tốt số đó tên gì? Tướng tá ra sao?
-Mày đừng có nằm mơ, thằng huynh trưởng đó ngon hơn mày là cái chắc.
Từ nãy giờ Biên vừa hút thuốc vừa tì tì uống bia, bất chợt hắn lên tiếng:
-Tao có chuyện muốn nói với hai đứa mày. Thằng Long, mày vừa nói trong mấy ngàn sinh viên sĩ quan của Trường Thủ Đức này cô Giang chọn được một?
-Đúng vậy.
-Tao có con em gái tên Dung, đang học đệ nhất Nguyễn Bá Tòng. Tao sẽ tìm cách nói tốt về tụi mày với em gái tao, xúi nó chọn một trong hai đứa mày.
Long công tử nói, câu nói chẳng dính dáng gì đên chuyện em gái của Biên.
-Tao thường ngồi trước nhà thờ Huyện Sĩ hóng gió.
Tôi bực cái thằng Long công tử quá sức vì câu chuyện chưa đi tới đâu. Tôi nói với Long công tử.
-Mày ngồi trước nhà thờ Huyện Sĩ mặc kệ mày, nói ra đây làm gì.

Biên lên tiếng.
-Cái thằng bắp cải, mày không biết gì về Sài Gòn làm ơn ngồi yên. Nhà thờ Huyện Sĩ nằm gần Trường Nguyễn Bá Tòng, thằng Long ngồi đó để ngắm nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tan học.
Biết mình bị hớ, tôi ngồi yên nghe tụi nó nói chuyện.
Tay chơi Long công tử nói:
-Tao chẳng có dại, trường Nguyễn Bá Tòng có vài ngàn nữ sinh, không lẽ tất cả đều đẹp như tiên nữ hay sao? Phải có người xấu chứ. Biết đâu em mày lại nằm trong thành phần xấu? Chắc em mày có gì trục trặc mày mới đem gán cho tụi tao, chưa kể trường hợp em mày đã có bạn trai rồi?
Nhìn gương mặt tối sầm của Biên với đôi môi mím chặt, tôi biết hắn giận lắm, được một lát sau hắn mới nói:
-Ê, Long công tử, mày có lý hoàn toàn, nhưng hãy cho tao nói. Tao là người Quốc Gia cực đoan. Tao vốn ghét đám sinh viên ở mấy cái Viện đại học quanh Sài Gòn, thằng nào thằng nấy ốm như con cò ma, đầu tóc bờm xờm, quần áo chim cò sặc sỡ, chưa kể mấy cái thằng phản chiến, ăn cơm Quốc Gia mà mở miệng là chửi Quốc Gia không tiếc lời. Nếu có chút quyền hành, tao sẽ cột đầu mấy thằng phản chiến, thả dù tụi nó xuống miền Bắc, hoặc dẫn đến cầu Hiền Lương đá đít cho bọn nó về bên kia. Cho tụi nó ăn cơm Cộng Sản, sau đó đợi coi thử tụi nó có dám mở miệng chửi Cộng Sản hay không? Đụng đến bác Hồ, Cộng Sản nó cắt lưỡi ngay lập tức, sau đó nhốt vào tù hoặc cho đi mò tôm, làm gì có cơ hội mà chửi. Tao không muốn em gái tao phải chọn chồng trong cái đám đó. Mai mốt hai thằng mày ra trường, gắn cái quai chảo trên vai, nó chọn một trong hai đứa mày có lý hơn.
Biên ngừng nói, nó nhìn hai đứa tôi như dò xét động tĩnh rồi mới nói tiếp:
-Tụi mày đừng có tưởng bở, con em tao nó khó lắm, lại kiêu căng, gò được nó không phải dễ đâu. Tụi mày đã học chiến thuật rồi, đơn thân độc mã chẳng làm nên cái trò trống gì, nhưng nếu áp dụng chiến thuật nội công, ngoại kích sẽ chắc ăn. Tao làm nội tuyến cho.
Long công tử lên tiếng:
-Mày là anh mà nói cái giọng cứ như là ba má không bằng.
Biên nói với Long.
-Mày có biết câu mưa dầm thấm đất hay không? Tao nói hoài, em tao phải xiêu lòng thôi.
Biên nâng chai bia 33, ực một hơi rồi nói tiếp:
-Thằng bắp cải ở trên núi, còn mày ở dưới biển. Thời buổi này, làm gì còn chuyện cổ tích Sơn Tinh với Thủy Tinh tranh giành nhau công chúa Mỵ Nương. Hai thằng mày, thằng nào gọi tao là anh ngay bây giờ, tao sẽ giúp thằng đó.
Biên vừa dứt lời, tôi lên tiếng ngay lập tức:
-Tao xung phong làm em mày.
Biên nhìn Long công tử:
-Còn mày thì sao?
-Tao cần nghĩ lại, chẳng có gì mà phải vội vã, cẩn thận nhìn trước dòm sau, cá tham mồi mắc phải lưỡi câu dễ như chơi.
Tôi tưởng chuyện Dung em gái Biên, chỉ là chuyện trà dư tửu hậu, nói cho vui trong lúc rượu vào lời ra, ngờ đâu tuần lễ đầu tiên sau lễ gắn Alpha, ba thằng tôi dẫn nhau đi phép hai mươi bốn giờ.

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Bài 1
Giã từ sách vở

Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẫm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu, cũng hai mùa mưa nắng nhưng mưa và nắng, là mưa nắng của miền ôn đới. Tôi có thể nói mà không sợ mình nói quá lời “sương mù, với rừng thông là biểu tượng của thành phố nơi tôi sống. Và đó là thành phố ôn đới trong một nước nhiệt đới”.
Thành phố Đà Lạt được hình thành nhờ dân tứ xứ đến đây lập nghiệp. Ba tôi không nằm ngoài thành phần đó, ông từ Quảng Nam, di dân đến đây vào giữa thập niên bốn mươi, thập niên mà người Pháp đang muốn mở rộng thành phố Đà Lạt thành trung tâm nghỉ mát của người Pháp ở Đông Dương. Hơn một ngàn căn biệt thự to lớn nguy nga, bề thế, kiến trúc theo kiểu Pháp được xây dựng trong giai đoạn này.
Ba tôi là thợ mộc, ông đến Đà Lạt đúng vào lúc thành phố đang phát triển, nhu cầu về công nhân xây cất rất cao cho nên ông tìm được việc làm dễ dàng. Được vài năm khi có chút tiền dư, ông mua một miếng đất gần tiệm tạp hóa Đông Á ở đầu dốc Trại Hầm, dựng căn nhà gỗ để có chỗ cư trú. Trại Hầm là một xóm nhỏ, nằm cách Đà Lạt chừng năm cây số, thời niên thiếu tôi sống với cha mẹ trong căn nhà này. Lúc nhỏ khi phải đi học quá xa trường, tôi thường phàn nàn với ba tôi, tại sao không mua nhà ở phố để việc học hành của tôi được thuận tiện hơn. Ba tôi nhìn tôi, thở dài:
-Con à, có cái nhà để ở là may mắn lắm rồi, tiền đâu mà mua nhà ở phố, đừng đòi hỏi nhiều quá. Ở ngoài xứ của mình, cái chòi tranh để che mưa tránh nắng cũng không có, nói gì đến nhà cửa như ở đây.
Tôi lớn lên giữa thành phố thơ mộng, đầy sương mù giá buốt với tình thương bao la vô tận của người cha hiền lành, chất phác. Những ngày cuối tuần khi rảnh rỗi, ba tôi thường dẫn tôi đi chơi đây đó, hai cha con đi bộ cùng khắp mọi nơi. Khi đi ngang qua những căn biệt thự ở đường Trần Hưng Đạo, ông chỉ vào đó rồi vui vẻ nói với tôi rằng, ông làm trần nhà cho căn biệt thự này, còn căn kia chính ông ghép ván lại làm cái sàn nhà, căn bên trái do ông làm mấy cái cửa sổ. Ba tôi có vẻ hãnh diện về những việc làm của ông. Sau mỗi lần đi chơi, cuối cùng ông thường nói với tôi:

Đà Lạt thành phố sương mù

-Cố gắng học hành nghe con, đó là con đường tiến thân duy nhất, đừng có để thất học như ba, phải làm việc chân tay nặng nhọc đế kiếm sống lại còn bị người ta coi thường, thời nào cũng vậy, lúc nào cũng vậy, bằng cấp luôn luôn là cái thước đo giá trị con người. Ngày ấy, tôi đi học vì nghe lời của ba tôi, chứ thật tâm tôi chẳng biết học để làm gì. Việc tôi đi học cũng giống như cây thông mọc tự nhiên giữa rừng, tự nó lớn lên. Tôi đi học mà không được sự dẫn dắt của người lớn, bài vở thầy cô giảng ở trường hấp thụ được bao nhiêu nhờ bấy nhiêu, do đó tôi học hành không giỏi giang gì cho lắm chỉ làng nhàng, bám theo lũ bạn trong lớp đã mệt đứt hơi nói gì đến chuyện xếp hạng cao trong lớp. Suốt bảy năm trời ở trường trung học Trần Hưng Đạo, năm nào tôi cũng chỉ lù đù, lẹt đẹt hơn được mươi đứa cuối lớp, vậy mà, khi thi cử mọi chuyện đều êm xuôi trót lọt.
Ngày tôi thi đậu Tú tài I, khi coi bảng thấy tên mình trên bảng vàng, tôi lịm người đi vì sung sướng. Bạn bè trong lớp đều nhìn tôi với con mắt đầy ngạc nhiên, vì có rất nhiều thằng học giỏi hơn tôi lại rớt lộp bộp như sung rụng. Mấy thằng thi rớt giận cá chém thớt, không biết trách cứ ai bèn đem tôi ra làm đề tài tranh luận, chê bai, cuối cùng chúng nó nói với nhau, câu nói xưa như trái đất:
-Mẹ nó, các cụ mình nói cấm có sai bao giờ “Học tài thi phận” chúng mày ạ. Cứ coi cái thằng Quân thì biết, học hành như con củ cải, vậy mà lại thi đậu.
Quân là tên của tôi, nghe có đáng buồn không? Không, tôi không phiền hà vì những lời chê trách của lũ bạn, bởi vì tôi đang bận lo chạy về nhà báo tin mừng cho ba tôi.
Khi biết được tôi đã đậu cái Tú tài I, ba tôi nhìn tôi với khuôn mặt rạng rỡ, thêm nụ cười hớn hở trên môi. Lần đầu tiên trong đời, tôi bắt gặp nụ cười tràn đầy hạnh phúc trên gương mặt già nua, khắc khổ của ông. Một niềm thương cảm vô biên tràn ngập trong lòng, ba tôi là một người thợ mộc, học được dăm ba chữ quốc ngữ ở trường làng, chữ nghĩa chẳng được bao nhiêu, nuôi thằng con học xong cái Tú tài ông vui mừng cũng phải. Bấy lâu nay, ba tôi tự đặt minh vào cái hạng cùng đinh trong xã hội, đem sức lao động ra làm việc đế kiếm tiền nuôi vợ con. Cuộc đời ông kể như bỏ đi, chỉ mong sao cho tôi học nên người để cho ông nở mặt nở mày với bà con làng xóm. Tôi đã làm ông toại nguyện.
Chiều hôm ấy khi ra khỏi nhà, tôi hơi mắc cỡ bởi vì từ đầu làng đến cuối xóm mọi người gặp tôi đều nói “Chào cậu Tú”. Tôi biết ai là người đã loan cái tin tôi thi đậu, ngoài ba tôi ra còn ai vào đây nữa.
Năm sau, tôi lại cõng thêm cái bằng Tú tài II. Ôm hai mảnh bằng trong tay mà tôi ngỡ là mình nằm mơ, không biết mấy người rọc phách có ráp lộn bài của tôi với người khác hay không?
Dưới con mắt của ba tôi, tôi là người thông minh tuyệt đỉnh, đã làm được những chuyện kinh thiên động địa. Ông nói với tôi: “Từ xưa đến giờ họ hàng nhà mình chỉ biết làm ruộng, lao động chân tay, đầu tắt mặt tối cũng chỉ đủ nuôi thân nói gì đến chữ nghĩa với học hành. Nay con là người duy nhất trong dòng họ đậu được hai cái bằng Tú tài, con phải học thêm nữa ở bậc đại học”. Tôi nói với ba tôi rằng, tôi không muốn hàng tháng phải ngửa tay xin tiền ba tôi để mua sắm áo quần, sách vở, giấy viết, bằng những đồng tiền ông kiếm được do lao động, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được. Tôi muốn ông dùng số tiền đó cho lũ em của tôi. Tôi biết quá rõ về mình, học tiếp đại học để lấy cái bằng Cử nhân, Cao học, làm gì có chuyện may mắn như ở trung học. Chó ngáp phải ruồi cũng một hai lần thôi, may mắn như vậy tạm đủ rồi, người ta học đến mờ mắt còn chưa ra gì huống chi lù đù như tôi. Tôi biết là mình không đủ thông minh để tiếp tục việc học ở bậc đại học, nên tình nguyện đăng lính cho chắc ăn, khỏi phải lo học hành, thi cử, đậu rớt gì tuốt. Hơn nữa, với lệnh tổng động viên, sinh viên mà thi rớt bất cứ năm nào đều phải lên đường tòng quân. Vậy thì, tại sao tôi phải ghi danh vào Đại học để làm cái chuyện đội đá vá trời cho mệt thân.

Trai mà chi, gái mà chi!

baotreonline.com
Huy Phương
Post 8 Jan 2019

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

“Trai mà chi, gái mà chi;
Sinh ra có ngãi có nghì thì hơn!”
Ca Dao

Câu chuyện bắt đầu bằng bức thư tuyệt mệnh của một bà mẹ Trung Quốc được đăng tải trên People’s Daily làm nhiều người rơi nước mắt, khóc cho hoàn cảnh của bà. Bà cụ năm nay đã 80 tuổi, sinh được 4 đứa con trai, không có con gái, và đã trải qua thời gian nuôi thêm 8 đứa cháu. Khi chồng qua đời, không có đứa con trai nào muốn đưa bà về nhà sống chung với chúng, và chúng chẳng hề nấu cho bà được một bữa cơm. Bà đếm đủ 1 năm 9 tháng, khoảng 630 ngày, bà được các con trai săn sóc, rồi sau đó chúng đến không có một lời chào, và đi cũng chẳng có một câu giã từ. Chúng như những người đang bước vào một khách sạn, lướt mắt qua một bà già xa lạ đang ngồi đó.
Bà cho biết bà chưa ăn của các con một bữa nào, không mặc quần áo của con, thậm chí không tiêu một xu của chúng, nhưng các con bà làm cho bà cảm thấy bà là một món nợ đối với chúng. Ngay cả khi bà trở nên lú lẫn, các con bà vẫn lặng lẽ bỏ về mỗi tối, không ai trở lại, để lại cho bà một sự cô đơn, trống vắng đáng sợ.
Cuối thư bà cụ viết rằng: “Tôi bị đau tim. Tôi hiểu rằng ngày ấy đang đến, vì vậy tôi đã viết lá thư này. Tóc tôi bạc hết rồi, tôi thề với mái tóc trắng của tôi rằng, tôi thực sự đánh giá cao những gì các anh làm. Nhưng ngoài câu này, tôi còn có một điều nữa để nói: Tôi rất hối hận khi đẻ ra các anh, nếu có kiếp sau, tôi không muốn nhìn thấy các anh nữa!”
Người phụ nữ này đã qua đời lặng lẽ, trong tay còn cầm bức ảnh duy nhất của bà và chồng. Ðẻ ra toàn con trai, thiệt thòi đến nỗi một người mẹ phải thốt ra lời hối hận như thế hay sao?
Ngay ở Việt Nam thời phong kiến, chúng ta cũng đã nghe câu nói: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô! (một con trai gọi là có, nhưng mười con gái vẫn là không) thể hiện tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” trong Nho giáo. Theo đó, các gia đình hay dòng họ từ xưa (và thậm chí cả ngày nay) vẫn có tư tưởng coi trọng việc sinh con trai. Nếu không có con, cháu trai nối dõi vẫn bị xem là tuyệt tự, vì khi bố mẹ hoặc ông bà chết đi sẽ không có người thờ cúng. Trong trường hợp này, người chồng có quyền ly dị hoặc lấy thêm vợ.
Truyền thống trọng nam khinh nữ và chính sách một con ở Trung Quốc đã gây ra sự mất cân bằng giới tính trầm trọng. Các nhà nghiên cứu cho biết “nguy cơ nam giới trưởng thành độc thân” ở Trung Quốc đã xảy ra, và cho đến năm 2020, số “nam thặng dư” ở Trung Quốc đại lục sẽ lên đến con số 2.4 triệu người. Một trong những nguyên nhân gây hệ quả đáng ngại này là do nhiều cặp vợ chồng ở Trung Quốc đã hủy bỏ những bào thai nữ, hay dìm chết chúng khi mới sinh ra đời.
Việt Nam cũng không tránh khỏi chuyện trọng nam khinh nữ; nếu chẳng may một người đàn bà không sinh được một đứa con trai sẽ bị chồng và gia đình chồng hất hủi, ghẻ lạnh, và dư luận sẵn sàng bỏ qua cho người đàn ông nếu anh ta lăng nhăng hay lấy thêm vợ, với mục đích là để kiếm cho được một thằng con trai nối dõi.
Tôi có một bà chị họ, lấy chồng, mấy năm sinh liên tiếp một loạt ba đứa con gái, coi bộ nhà chồng đã lạnh nhạt ra mặt. Nghe vợ sinh đến đứa con gái thứ ba ông chồng ở xa cũng chẳng buồn về thăm vợ. Ðến lúc sinh lần thứ tư, bà Mụ loan báo lần này là con trai. Bà chị yêu cầu dở tã cho bà sờ đúng là con chim, mới mỉm cười, hai hàng nước mắt chảy dài vì sung sướng.
Chuộng con trai đến như vậy, sao thời nay, cha mẹ già cuối đời sống với con gái được xem là thuận hơn là sống với con trai. Phải chăng đàn bà – mẹ chồng, nàng dâu – hay đụng nhau trong nhà bếp, còn ông rể thì vô tâm, bộc trực, ít quan tâm đến những chuyện nhỏ nhặt. Nhiều người cho rằng con gái thường quan tâm đến bố mẹ hơn là những cậu con trai. Mặt khác, đàn ông thường nghe và nể vợ, nể vợ rồi thì nể luôn cha mẹ vợ. Trái lại gặp con dâu lạnh nhạt với cha mẹ chồng, thì ở với con trai cũng khó. Ở Việt Nam ngày trước, phụ nữ thường thuần phục và lép vế hơn chồng, sang Mỹ đàn bà được coi trọng, ngang ngửa với chồng, nên đôi khi có phần lấn lướt.
Cái câu “dâu là con, rể là khách” ngày nay không còn đúng nữa! Tôi có người bạn, vợ qua đời, sau khi bán xong cái mobile home chia cho các con mỗi đứa một ít. Cậu con trai ngỏ ý mời cha về ở chung nhà, nhưng cô dâu coi bộ chẳng mặn mà, không hợp ý với cha chồng. Có lần 6 giờ sáng, cô dâu trở dậy, lấy cớ mắng mỏ con: “Mày không muốn ở đây, thì cút xéo đi đâu thì đi cho sớm, cho rảnh mắt tao!”
Ông cha tủi thân, lặng lẽ thu xếp chút quần áo, ra xe đò đi tiểu bang khác, về ở nhà con gái. Cô này đang gặp cảnh ở nhà thuê, nhưng bạn tôi thà kéo một cái màn trong phòng cháu trai, kê một cái ghế bố còn hơn ở với con trai trong một ngôi nhà mới có đến 4 phòng ngủ. Một cô dâu khác, đổi nhà từ 4 phòng xuống 3 phòng, lấy lý do con lớn cần phòng, mời cha mẹ chồng vui lòng kiếm chỗ khác ở.
Bà cụ trong câu chuyện trên báo People’s Daily ở Trung Quốc đã “xui rủi” có đến bốn đứa con trai!
Ngày nay, người ta bắt đầu biết có con gái là quý. Trước tình trạng dân số già, mất cân bằng giới tính, ở Hậu Giang Việt Nam thưởng cho những gia đình sinh hai con gái từ 390,000 đến 1.3 triệu đồng. Từ đầu năm 2019, tỉnh Hậu Giang sẽ thực hiện việc hỗ trợ chính sách dân số trên địa bàn. Theo đó, chính quyền các cấp sẽ khen thưởng, biểu dương những cặp vợ chồng sinh 2 con đều là gái.
Cụ thể, mức thưởng kèm bằng khen của chủ tịch tỉnh cho gia đình hai con bằng một lần mức lương cơ sở là 1.3 triệu đồng. UBND huyện cũng thưởng kèm theo giấy khen bằng 0.3 lần mức lương cơ sở là 390,000 đồng.
Nếu không có những ngoại lệ trên đời này, thì một ông bạn tôi ở Fort Worth Dallas là người may mắn nhất trong chuyện con trai, con gái ở Mỹ. Ðó là ông bạn Ðinh Tiến Dũng, thân phụ của ca sĩ Diễm Liên, có đến “Ngũ Long Công Chúa” mà không có mụn con trai nào!
HP
Orange County, CA

Tìm bạn tri âm

hoiquantramhuong.org
Huy Phương
Post on 24 October 2015

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

Ngày 21 tháng 6 vừa qua, truyền thông Mỹ vừa loan tin cô nữ sinh Katherine Lester, 16 tuổi, “tìm bạn tri âm” qua website đã phải lòng anh chàng người Palestine Abdulad Jinzawi, 20 tuổi. Cô định lên máy bay sang Jesuralem, nhưng đã bị nhà chức trách Hoa Kỳ giữ lại vì lý do an ninh. Nguồn tin cho biết có 87 triệu người vào trang Myspace.com để tìm bạn, trong đó có tới 20 triệu là tuổi choai choai như cô nữ sinh người Mỹ kể trên.
Tại Úc đã có 4,5 triệu người độc thân đã tìm đến việc hẹn hò qua internet. Match.com và RSVP, mỗi website có hơn hai triệu thành viên, và những thành viên này, ngày nay đã có đôi thành vợ thành chồng. Giám đốc điều hành những website này đã cho biết số người tìm bạn tăng rất nhanh trong vòng ba năm trở lại đây. Tuổi kết hôn của một người bình thường là từ 27 đến 29 tuổi, nhưng trong tuổi này, người ta lại quá bận rộn với những công việc sinh kế hằng ngày, ngoài thương trường hay trong công sở, nên ít có cơ hội giao tiếp với người khác phái để tìm hiểu và dẫn nhau tới hôn nhân. Vì vậy internet là cơ hội dễ dàng để những người này vào, trao đổi, tìm hiểu và cuối cùng đồng ý một chỗ hẹn hò. Trong nhiều năm qua, nhiều tội ác đã xẩy ra vì trao đổi trên internet, nhưng đó chỉ là con số nhỏ, nhu cầu trao đổi tìm bạn, tìm người để đi đến hôn nhân trên internet vẫn cần thiết.
Phụ nữ thường ở thế thụ động, nhưng internet chính là nơi để cho quý bà quýù cô chủ động khi đưa hồ sơ mình lên net và sẵn sàng liên lạc với đối tượng nào mà họ thấy thích.
Ngày xưa, cách đây nửa thế kỷ, lúc chưa có internet, và ngay cả bây giờ tại trong và ngoài nước, đối với một số đông còn ít xử dụng tới internet, thì những dòng chữ trên báo vẫn còn quý giá để người ta có cơ hội trao đổi, tìm hiểu và chọn một người tri kỷ hay là một người tình. Kết quả đi đến hôn nhân, đương nhiên cũng có thể có, nhưng với bản tính người Á Ðông, không ai muốn tiết lộ rằng mình lấy chồng hay lấy vợ là do mục “tìm bạn tri âm” trên báo chí.
Tôi nghĩ tờ Thẩm Mỹ là tờ báo đầu tiên ở Saigon, cũng có thể là ở Việt Nam mở ra mục Tìm Bạn Tri Âm, để làm nhịp cầu cho người ta tìm đến nhau bằng thư từ gởi theo lối cổ điển là qua bưu điện. Cho đến nửa thế kỷ sau, ở quê nhà hay ở hải ngoại, tìm bạn vẫn là một nhu cầu cần thiết cho những tâm hồn cô đơn, mặc dầu tiết mục đã đổi qua nhiều tên khác nhau: “Tìm Bạn Tri Kỷ”, “Tìm Nhau Qua Lá Thư Hồng”, “Kết Bạn Thư Tín”…
Ngày trước, không biết có bao nhiêu người trưởng thành phải cần đến mục Tìm Bạn Tri Âm để kiếm cho được một người tri kỷ trong cái quãng đời trống vắng của họ, nhưng cái bọn học sinh trung học chúng tôi thời ấy thằng nào cũng sung sướng có được một vài lá thư xanh xanh từ Saigon, Nha Trang hay từ Vạn Tượng, Nam Vang hồi âm. Vài tuần trước đó, bọn chúng tôi đã cố nắn nót viết một bức thư trên giấy pelure xanh để gởi tới địa chỉ một cô nàng nào đó trên báo Thẩm Mỹ, rồi ngày ngày ngóng chờ người phát thư đi qua nhà gọi tên. Lẽ cố nhiên không bao giờ dám để cho ông bố nghiêm khắc của mình biết chuyện, vì không lo học mà “tìm bạn tri âm”, cũng như không dám khoe với bạn bè. Về phía con gái thì những cô thiếu nữ con nhà giàu, đẹp đẽ, nết na, đã không thiếu những anh chàng đeo đuổi, có khi chưa học xong trung học, đã có người đưa xe hoa tới rước, cần gì phải mất công đi tìm người trong mộng qua tờ báo. Về phía con trai, thì những anh chàng có “3 chữ gi..” thời ấy là những chàng “học… giỏi, nhà… giàu, đẹp…giai” thì đâu cần đi tìm những người chưa biết mặt biết tên, như những chàng trai mơ mộng khác:“Chưa biết tên nàng, biết tuổi nàng,
mà sầu trong dạ đã mang mang”…(Huy Cận)
Ðất nước chúng ta, qua chiến tranh, ly biệt, đổi đời, con người gặp phải những hoàn cảnh đổ vỡ, ngang trái, nhiều người phải chịu cảnh cô đơn, nên trên mặt báo những mục tìm bạn tri âm, tri kỷ lúc nào cũng đông khách. Cũng có những trường hợp nam tìm nam, nữ tìm nữ, những thiếu phụ một lần đổ vỡ, những gái lỡ thời “chưa một lần kết hôn”, muốn tìm bạn trai “để sống nốt cuộc đời còn lại bên nhau”.
Năm 1975, sau khi bỏ nước ra đi, thi sĩ Cao Tần đã chán nản, đau xót kêu lên: “ta làm gì cho hết nửa đời sau?”. Thì đây là câu giải đáp trong mục “Tìm Bạn…”của một nam nhân 52 tuổi “thích dạo biển, dạo sông lúc hoàng hôn”: “ta dìu nhau đi cho hết 1/3 cuộc đời còn lại”, hay là của một single mom 50 tuổi :“nửa cuộc đời còn lại trao hết cho anh!”(nửa cuộc đời còn lại này chúng ta phải hiểu tính từ 50 đến chẵn 100 tuổi, vậy ai là người có lòng, xin đừng ngần ngại nữa!)
Không chỉ những thanh niên, thiếu nữ trung niên, dang dở cuộc đời, chính tuổi già đơn lẻ cũng cần tìm nơi nương tựa cuối đời. Không thiếu những ông cụ lục tuần, hay sắp sửa bước tới tuổi “cổ lai hy”, cũng có những lời nhắn tha thiết “tìm một bạn gái khoảng 50 tuổi nhưng vẫn còn say yêu.”!
Trên những dòng rao người ta tìm thấy một nền văn chương rất là mùi mẫn, ai oán làm xúc động lòng người, như bài thơ sau đây, vần điệu rất vững vàng:- “Sáu mươi xuân lẻ, vẫn đơn côi
Khuya sớm cày thuê trả nợ đời.
Ðất khách tào khang đà gẫy đổ
Quê nhà đơn độc, lệ đầy vơi.
Trần gian, nhi nữ ai tri kỷ
Chắp nối tơ duyên, trọn kiếp người”.
Khó mà tìm được trên các tờ báo tây hay trên internet, một dòng tìm bạn sang cả, đầy tính văn học như vậy, vì mỗi người Việt Nam là một thi sĩ. Ðiều đó thật không ngoa.
Bây giờ không phải chỉ ở hải ngoại tìm nhau, mà thấy nhiều cô gái ở Việt Nam, dư bằng cấp nhưng nuôi giấc mơ “đi lấy chồng xa”, mơ đi Mỹ, hèn chi con gái danh giá của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lấy Việt kiều Mỹ cũng phải. Qua lời rao chúng ta thấy: Ðại Học Ngoại Thương, Cử nhân Ðại Học Tổng Hợp, Cao Ðẳng Nha Khoa, Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Học, đang học Tiến sĩ, giáo sư Ðại Học Saigon- đăng báo ở đây để tìm chồng như lời rao sau đây:-“Tốt nghiệp đại học Anh Văn, ngoan hiền, mơ Mỹ Quốc. Thư đầu nhờ người bác ở Quận Cam chuyển”, -“Cao Ðẳng Nha Khoa Saigon, hiền ngoan, muốn làm quen với các anh có quốc tịch Mỹ, thật lòng muốn về Việt Nam cưới vợ”.
Các cô gái tại quốc nội tìm chồng, không phải trường hợp từng người, mà có những lời rao từng “chùm”, như “chùm thơ”, “chùm tư tưởng” theo ngôn ngữ trong nước: “Sáu cô gái, người miền trung, đang đi học tại Nha Trang, Saigon. Cha mẹ đang ở tỉnh X. Muốn tìm bạn trai, bên này, hợp ý, sẽ tiến tới hôn nhân…”
Ðang đi học xa nhà, mà đã muốn tìm chồng, đề nghị cha mẹ gọi về … đét đít.
Cũng có người ở hải ngoại đăng báo tìm chồng cho “một chùm” con cháu như sau: “Mình mới về Việt Nam thăm nhà, có ba đứa cháu tuổi từ 18 đến 22, hiền ngoan, thùy mị, đang học đại học muốn tìm bạn trai ở Mỹ, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, tuổi tác, miễn là có quốc tịch.”
Năm 1975, nhà nước Cộng Sản đã để cho chảy máu chất xám. Trí thức khoa bảng ùn ùn xuống tàu vượt biển vì không ưa chế độ Cộng Sản, bây giờ vì mơ Mỹ, nhiều cô tốt ghiệp đại học tại Việt Nam lại muốn bỏ nước ra đi theo con đường …tìm chồng. Không khéo lại xẩy ra một cuộc thất thoát chất xám thứ hai.
Ởû Mỹ này người ta bắt đầu sợ mập, nên trong lời rao cô nào cũng cẩn thận ghi hai tiếng “không mập”, còn đàn ông thì lại sợ bị chê lùn, nên anh nào cũng không quên nhắc hai tiếng “cao ráo”. Một anh chàng lại ghi trong lời rao: “Nam, mong tìm được một nàng không ngoài 54, dáng gầy gầy…”.
Những lời rao trên các trang tìm bạn, hay cả trên internet chưa chắc đã là những lời nói thật, có lẽ mọi người đều giảm cái xấu của mình đi một tí và tăng cái tốt của mình thêm lên. Chuyện xưa kể rằng, có một cô gái chẳng may bị vá môi, khi chụp ảnh gởi cho bạn, cô ngậm một đoá hoa hồng, trông “romantic” hết ý! Phía chàng trai, trời bắt có cái lưng gù, chàng gởi cho nàng một bức ảnh đang ngồi trên lưng ngựa đang phi, trông hùng dũng biết bao! Thế mà trên một mục rao tìm bạn, một cô nàng đã dám ghi rõ “dữ và xấu, nên bị chồng bỏ, muốn tìm người thích bị ăn hiếp…”
Có lẽ vì vậy, mà nhiều lời nhắn nhe đã vừa cảnh cáo, vừa năn nỉ : “xin đừng đùa giỡn mà tội nghiệp!”
Khi người đời còn có nhu cầu, thì những mục tìm bạn trên báo chí hay qua mạng vẫn còn cần thiết. Nhiều người lúc nhỏ đi học, ra trường đi làm, chạy theo nghề nghiệp hay có người còn phải lo bổn phận cho gia đình, như nhân vật “Người Anh Cả” trong tác phẩm của Lê Văn Trương, chưa bao giờ nghĩ tới hạnh phúc của cá nhân mình. Lúc nhìn lại, thì ngày tháng quá quạnh hiu mà tình cảnh quá cô độc. Mỗi người mỗi cảnh, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay!” Phải chăng hình phạt dành cho một người tù là sự cô độc, vậy xin những ai đang còn cô đơn khuya sớm một mình, nếu không chịu nỗi sự trống vắng, quạnh hiu xin đừng ngần ngại, vì “lời nhắn không quá 45 chữ, thư làm quen xin dán sẵn tem, kèm theo chi phiếu $5.00, xin gởi về…”
Xin các bạn yên tâm: “sẽ hồi âm, dù thư đến trễ…”
Tiếng Chim Buổi Sớm
Ngày bị đày ra tận Hoàng Liên Sơn, “lán” tù tôi ở bên một dòng suối nhỏ, đầu “lán” có một cây rừng, đến mùa hè hoa nở đỏ. Buổi sáng, tôi thường thức giấc sớm, nghe có con chim lạ đến hót những tiếng líu lo ở trên cành. Tôi nằm yên, quên hết phiền muộn, tận hưởng những âm thanh tuyệt diệu, âm thanh đầu tiên của một ngày. Để sau đó, không bao lâu, là tiếng kẻng tù gắt gỏng nổi lên giữa buổi sớm mai, bắt đầu một ngày lưu đày khốn khổ.
Ai cũng cho rằng khi nằm trên giường thì bắp thịt ta được nghỉ ngơi, nhịp tim đều đặn, hơi thở nhẹ nhàng, giác quan tinh tế hơn, và ta có thể tập trung tinh thần vào những cảm giác hay những ý tưởng của mình một cách tuyệt đối. Ông Lý Lạp Minh, một nhà văn Trung Quốc khuyên ta buổi sáng nên nằm giường mà nghe chim hót, là điều thú vị nhất. Tôi cũng đã hưởng được những giây ấy, mặc dù là ngắn ngủi. Ở thành phố hay thôn quê, đâu cũng có chim, chẳng qua là vì cuộc sống tất bật, chúng ta không để ý đó thôi.
Tôi còn nhớ Saigon, buổi sớm mai, những quãng đường như Hồng Thập Tự với những hàng cây cao đầy bóng mát, luôn luôn ríu rít tiếng chim kêu. Ngày ấy đời còn vui, chim còn đậu đất lành, tiếng động cơ của xe cộ hay tiếng xích lô máy nổ dòn dã cũng không đuổi hết đàn chim phải bay rời xa tổ. Ngày đất nước rã rời, phải lên tàu Sông Hương ra Bắc, những hôm phải vác một con dao lên những đồi tre, qua những cánh rừng, chặt chục cây mương hay kiếm mớ củi, cô đơn lầm lũi giữa làn cây, nghe tiếng chim kêu mới thấy nỗi sầu trong dạ.
Có những tiếng chim chiêm chiếp như tiếng gà con, bồi hồi nhớ đến đàn con còn bé dại ở quê nhà. Có tiếng chim cu gáy xa xa, đáp lại ở đâu đó tiếng đồng loại hoà điệu, nghĩ lại tấm thân cô đơn với nỗi buồn nơi xứ lạ. Rồi tiếng chim rừng khắc khoải “bắt cô trói cột” vẫn thường nghe mỗi trưa nơi rừng Việt Bắc, tiếng kêu kéo dài cho đến lúc nắng quái buổi chiều. Tiếng kêu đanh lại, nghe như gằn từng tiếng, theo đầu óc tưởng tượng của mỗi người với những hoàn cảnh riêng, như lời kêu thống thiết, oán thán, trách móc não nuột. Tiếng chim “bắt cô trói cột” nghe thành “hết cơm tới bột” còn chút khôi hài, đói rã họng “đói cơm đứt ruột” còn nghe lời động viên “khó khăn khắc phục” lập đi lập lại nghe tới nhàm chán. Nghĩ theo lời chim, mường tượng như nỗi than khóc “nhớ con đứt ruột”.
Rồi con chim “cuốc” lầm lũi đâu đó trong khóm lúa, bụi cây, vào cuối xuân hay đầu mùa hè, không hề biết hót mà kêu lên những tiếng khắc khoải, từng tiếng từng tiếng một, nghe ra não nùng, hờn oán của người “mất nước” phải khoanh tay, để “nhớ nước đau lòng con quốc quốc” (Bà Huyện Thanh Quan). Con chim này được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa, là hoá thân của Vua Thục Đế, mất nước khóc đến chảy máu mắt, chết đi hoá thành con chim, cất lên những tiếng kêu não nùng. Tiếng chim “cuốc” nghe xót xa phù hợp tâm trạng người “mất nước” phải xuống tàu đày đi biệt xứ. Nhớ lại câu thơ của Chu Mạnh Trinh:
“Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.”
Cung miếu triều xưa nay vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải “cuốc” kêu thâu.
(Tiên Đàm dịch)
Hay của tướng trung liệt Phan Thanh Giản:
“Ải Bắc ngày chờ tin nhạn vắng,
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu!”
Còn loài “chim quyên” khác ta thường thấy là một loài chim nhỏ, có bộ lông óng ánh, nâu pha đốt đỏ, có tiếng hót rất hay, thường vào ban trưa ở trong bụi hay đầu hồi nhà. Nhưng không hiểu tại sao người ta lại đánh giá cao để ví chim quyên cao như người quân tử, quân tử sao mà sa cơ, như “chim quyên xuống đất ăn trùn, anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than”.
Gà là loại cầm, nó không biết hót, nhưng con gà trống có tiếng gáy vào buổi ban trưa làm cho người ta nhớ đến bao nhiêu điều: “hiu hắt gà trưa gáy não nùng”. (Lưu Trong Lư)
Nhà văn Lâm Ngữ Đường thích nghe tiếng kêu của một loại “gà nô” (tiếng Tàu còn gọi là “giá cô”). Nói là giống gà nhưng nó hót như chim. Tiếng hót có bốn âm do, re, mi … âm mi kéo dài hai ba nốt, ngưng hẳn một tí, rồi tiếp theo bằng một nốt thấp hơn. Giống chim này có nhiều ở phía Nam Trung Quốc, hót trễ vì đây là một giống chim dạn dĩ, không sợ giàng thun bọn trẻ, trái lại hầu hết loại chim khác đều hót sớm vì sợ loài người ác độc. Có khi chúng bặt tiếng luôn vì lưới bẫy giăng khắp nơi, ví lưới chim đem ra chợ bán là một nghề mới kiếm cơm.
Tiếng hót của giống gà nô này có ba âm và âm cuối kéo dài, có người nghe là “chè, xôi, chuối … thịt”, âm thịt kéo dài ra, thấp xuống rồi ngưng bặt (theo Nguyễn Hiến Lê). Nghe giống như ý nghĩ mấy ông xôi thịt làng xã ngày trước và ngay cả hôm nay. Giống chim này ở Việt Nam cũng có, thời Tây thuộc tôi có nghe người ta nhại tiếng chim là “père, mère, frère … tout est perdu” (cha mẹ anh em mất cả rồi). Nghe ra ngậm ngùi làm sao, như sau một trận hồng thủy, chiến tranh… như một câu oán than: “cha mẹ già đã khuất núi, quê hương đã thất lạc, mộng ước đã tàn phai …” (Bùi Bích Hà).
Tôi có người bạn già vẫn bị người ta chê là đã vì tự do mà bỏ xứ, sao bây giờ lại giam cầm bao nhiêu loại chim trong khu vườn nhỏ, gây nên cảnh “chim lồng cá chậu”, khuya sớm lo quạt nồng, ấp lạnh, vất vả tấm thân già. Nhưng bù lại, bạn tôi hưởng được cái thú ở đời là mỗi buổi mai thức giấc nằm nướng trên giường nghe tiếng chim khướu hót ngoài hiên. Những buổi sáng đầu mùa hè, tiếng chim sơn ca (chiền chiện) trong ánh sáng mờ mờ của buổi rạng đông đã bắt đầu cất tiếng hót. Những lúc sung sức, ăn uống đầy đủ giọng sơn ca “luyến láy” tuyệt vời, nói theo danh từ làng ca kỹ. Ban trưa, khi trời nắng ấm là lúc những con chim khoen (gọi là vành khuyên vì trên mắt chim có hai vòng khoen trắng) rộn ràng tiếng hót. Buổi tối nếu trong nhà còn đèn sáng, sơn ca vẫn còn cất tiếng, khi có tiếng nhạc ồn ào, thì giống chim khuyên cũng líu lo tưng bừng. Ban trưa nắng, trời ấm nghe tiếng chim cu gù. Những đêm trăng, chúng ta còn nghe tiếng chim “mocking bird” kêu, một loại chim có rất nhiều trên đất Mỹ. Dù là giống chim trời của bốn phương, nhưng giống chim cùng loại đậu ở đâu cũng hót tiếng như nhau, nên người chơi chim còn nghe được chút âm thanh quê hương đâu đó. Hoạ Mi, khướu và những giống chim Á Đông đã theo những người nuôi chim bằng nhiều con đường khác nhau, sang đến miền đất này, để khuya sớm chuyện trò với gia chủ bên tách trà buổi sớm.
Trời đất yêu loài chim nên tạo ra rừng cây, loài người yêu chim thì phát minh ra cái lồng. Ông Trịnh Bản Kiều bên Tàu, ngày xưa khuyên em ông đừng bao giờ nhốt chim trong lồng, vì chúng ta nên dung hoà với thiên nhiên và vui với vạn vật. Ông cho rằng không phải vì không yêu chim mà ông khuyên em đừng nhốt chim trong lồng, nhưng vì có cái đạo yêu chim và nuôi chim. Muốn nuôi chim thì trồng vài trăm cây chung quanh vườn nhà để chim tìm tới làm tổ. Buổi sáng tỉnh giấc, còn trăn trở trên giường mà nghe tiếng chim hót thì còn gì thần tiên bằng. Lúc đã xuống giường, mặc áo, đánh răng súc miệng, uống trà, còn thấy chim vỗ cánh rực rỡ, bay qua bay lại thì cái vui nhìn chim trong lồng đâu có so sánh được.
Ở trên đời này ai cũng ghét giọng con chim cú, nhất là chim cú kêu nửa đêm, để người ta miệt thị là “cú giòm nhà” hay “cú kêu nhà bệnh”. Cũng là loài chim, nhưng chúng lại không có tiếng hót của trời cho, mà chỉ có tiếng kêu như giống ngan ngỗng tầm thường. Một loài chim khác chỉ biết kêu hay nói, là giống vẹt. Chúng mang màu sắc sặc sỡ như xiêm áo của bà đồng cốt, tiếng kêu chát chúa chói tai mà nhiều người vẫn thích do cái tài bắt chước ngọng nghịu tiếng nói của loài người, đó là “nói như vẹt”. Đến thăm nhà nuôi vẹt, nghe tiếng vẹt nói ngộ nghĩnh, chúng ta thường cất tiếng cười hỉ hả, nhưng giống vẹt lại cho đó là tiếng tán thưởng vì giọng nói ngô nghê, sao chép vô nghĩa của nó. Ta có bao nhiêu giọng nói quen thuộc, chúng ta chưa đến nỗi thiếu giọng người, thế mà cũng có người thích giọng vẹt-người.
Những ngày mới đến Mỹ, tôi có nhận thấy ở Mỹ có nhiều bầy quạ đen. Chúng kêu loét choét sau vườn, nhiều khi sà cả bầy xuống sân cỏ. Tôi cho đây là loại chim vô tích sự. Người đời quý màu sắc, mà loài quạ chỉ mỗi màu đen. Người ta thích tiếng hót mà loài quạ chỉ biết kêu. Ai cũng thích sự hiếm quý, mà loài quạ bay đến từng đàn, đuổi đi không hết. Vậy mà nhà thơ Trương Kế của Trung Hoa ngày xưa, nửa đêm nghe tiếng quạ kêu cũng sinh tình làm bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” bất hủ. (Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên…)
Trong khi trái đất này còn quá nhiều loại quạ, vẹt, cú, kên kên… mà chúng ta còn nghe được có tiếng chim hót, hạnh phúc biết bao! Nếu bạn ở trong một vùng vắng tiếng xe, một buổi sớm mai nào đó, thức giấc, nằm yên trên giường, xin im lặng, thử tìm nghe có tiếng con chim nào đến hót trên cành cây ở đầu nhà không?

Huy Phương

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

  1. Tàn cơn Binh Lửa-Chương cuối

“Buông tay súng, mà máu trào thành lệ,
Lệ tuôn trào, lệ biển cả mênh mông
Lính dù Lê Lộ Đức
*

  1. Khối Chiến tranh Chính Trị.
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù có nhiều khả năng tác chiến, đa hiệu, thường áp dụng ba chiến thuật, tuy có khác nhau về nhiệm vụ, quân số, vũ khí… nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Ba chiến thuật đó là: Thám Sát, phản Du kích và Trận Địa chiến.
  2. Thám sát.
    Nhiệm vụ thám sát địch, tìm hiểu về hoạt động địch, lực lượng, đơn vị, căn cứ địa, kho tàng, vũ khí, khí tài, kế hoạch, mưu đồ, v.v…. Để có thể thâu lượm mọi tin tức nầy, các Toán Thám Sát đã được thả xuống hoạt động sâu trong lòng địch, thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch, trên “đường mòn Hồ Chí Minh”, vùng Tam Biên (Việt Miên Lào), hay dọc theo biên giới Việt Miên Lào, khi cần có thể vượt qua biên giới… không cần hạ sát địch quân, cần bắt sống để khai thác tin tức.
    Mỗi Toán Thám Sát gồm 6 người, được huấn luyện thuần thục võ nghệ, chuyên môn để có khả năng tác chiến, đặc biệt về do thám, quan sát, theo dõi, liên lạc, cứu thương và phá hoại, bao gồm cả nhiệm vụ tiền sát viên pháo binh, điều chỉnh phi pháo, bắt sống tù binh và mưu sinh thoát hiểm.. v.v…
    Như Độc Giả thấy trong các bài tường thuật ở phần trước, những hoạt động có chính Tác Giả tham gia, chỉ huy, đã gặt hái được một số thành quả, thâu lượm nhiều tin tức chính xác, cấp thời cho các cấp Chỉ Huy Sư Đoàn, Quân Đoàn, Bộ Tổng Tham Mưu, để các nơi nầy có biện pháp, kế hoạch, kịp thời đối đầu, chận đứng hay tấn công tiêu diệt địch quân.
    Biệt Cách Nhảy Dù, tùy từng thời điểm, và cũng tùy theo nhu cầu, sự điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, để đưa các Toán Thám Sát của các Biệt Đội tăng cường hoạt động đặc biệt ở các Quân Khu I, II, III. Số lượng tin tức thu hoạch được, đã cung cấp cho các Phòng 2 của các Sư Đoàn, Quân Đoàn và các vị Tư Lệnh các Quân Khu, các Vùng Chiến Thuật không phải là ít.
  3. Phản Du Kích Chiến.
    Chiến thuật du kích của Việt cộng là rập khuôn theo chiến thuật của Mao. Yếu tố chính trị, tuyên truyền là quan trọng, mục đích lôi kéo dân chúng về phía của chúng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Về quân sự, Mao chủ trương rút lui để bảo toàn lực lượng khi bị ta tấn công, quấy phá khi ta dừng quân, tấn công khi ta mệt mỏi, và truy kích khi ta rút lui.
    Kinh nghiệm chiến đấu, sự trui rèn, tôi luyện trong máu lửa, đã cho cấp chỉ huy Biệt Cách Dù những bài học hay. Do đó, chiến thuật của Biệt Cách Dù là “Gậy ông đập lưng ông”, có nghĩa là dùng chiến thuật du kích để đánh du kích, cùng lúc áp dụng các phương cách bảo vệ dân, giúp đỡ và tuyên truyền dân chúng đứng về phe chúng ta, ủng hộ chúng ta.
    Độc giả từng thấy ở các phần trước, tại mặt trận Tha La, Trảng Bàng, dân chúng đã cung cấp những tin tức về các hoạt động của địch, hay tại Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, Gia Định trong Tết Mậu Thân, hay tại Bến Thế, Bình Dương, đồng bào đã đứng hai bên đường đón chào, hoan hô các chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, cũng như tặng trái cây, quà bánh, như một biểu lộ bày tỏ lòng tri ơn sâu xa…
    Để đánh đuổi bọn địch ra khỏi vùng chúng chiếm đóng hoặc đóng chốt, Biệt Cách Nhảy Dù dùng chiến thuật du kích phản du kích, có nghĩa là lấy chiến thuật của địch để đánh lại địch, tạo sự bất ngờ, gây hoang mang, hoảng loạn cho bọn chúng và nhờ vậy mà đã đạt nhiều chiến thắng bất ngờ, làm cho các đơn vị bạn phải nể phục. Đó là kết quả của các trận đánh ở Bến Thế, Xóm Đạo Tha La, Ngã ba Tân Phú Trung và Mật Khu Mây Tào.. v.v…
    Căn bản của “Chiến tranh giải phóng” (chữ của cộng sản) là lấy Nông Thôn để bao vây Thành Thị, và áp dụng “chiến tranh du kích”. Về phía Quân Đội Việt Nam, trách nhiệm giữ đất khá nặng nề, mất tính cách di động, thường đóng Đồn, Bót. Chiến thuật nầy chỉ năng động về ban ngày, ban đêm rút vô phòng thủ trong Đồn Bót nên không bảo vệ được dân. Chiến thuật của Biệt Cách Nhảy Dù thì ngược lại. Thay vì đánh địch vào ban ngày, Biệt Cách Nhảy Dù lại dùng chiến thuật đánh đêm. Đánh đêm là gây yếu tố bất ngờ cho địch, kèm theo là chiến thuật phản du kích là bất ngờ thứ hai, vào tận sào huyệt Việt cộng để đánh chúng là bất ngờ thứ ba.
    Chính vì lối đánh thần tốc, gan dạ và đầy bí hiểm nầy, nên Biệt Cách Nhảy Dù đánh đâu thắng đó, giải tỏa áp lực nhanh, nếu không muốn nói là địch thua dài, chạy dài…
  4. Trận địa chiến.
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù được thành lập và phát triển về sau này quân số lên tới ba ngàn Chiến Sĩ, được chia thành ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật có bốn Biệt Đội, mỗi Biệt Đội có hai trăm chiến sĩ.
    Nhiệm vụ chính yếu của Liên Đoàn là thả Toán Thám Sát vào các căn cứ địa, an toàn khu của địch, ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, cách biệt hoàn toàn với các Quân Binh chủng bạn, để thu lượm tin tức, bắt cóc tù binh, chứ không phải để đánh các trận địa lớn như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân.
    Tuy vậy, trong một vài tình huống khẩn cấp, cần thanh toán dứt điểm những nơi dầu sôi lửa bỏng, Bộ Tổng Tham Mưu vẫn phải tung Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù lâm trận, để giải quyết chiến trường như: Mậu Thân đợt 1 và 2 +n-ăm 1968, Bình Long (An Lộc), Quảng Trị (Cổ Thành) năm 1972, Tha La (Trảng Bàng) năm 1973 và Tân Phú Trung (Củ Chi) năm 1974, Phước Long năm 1975. Và Liên Đoàn đã lập nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, cho dù không thuộc sở trường tác chiến của Đơn vị.
    Cũng có đôi lần, khi các Toán phát hiện các căn cứ địa, kho tàng, hậu trạm địch, có quân số đông cấp Đại Đội, Liên Đoàn có khả năng đưa các Biệt Đội vào thanh toán địch ngay tại địa điểm địch đóng quân hay chiến trường do Biệt Cách Nhảy Dù chọn lựa.
    Đó là trường hợp Biệt Cách Nhảy Dù đã phục kích, tấn công Việt cộng tại thung lũng Ashau năm 1968, Đồng Xoài năm 1968 và Tam Biên năm 1971, sau khi các Toán Thám Sát phát hiện bọn chúng.
    Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, còn có nhiều Toán Thám Sát của Lôi Hổ, Nha Kỹ Thuật, Sở Liên Lạc, Sở Công Tác, Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu v.v… cũng đảm nhận nhiệm vụ xâm nhập, hoạt động trong lòng địch như của Biệt Cách Nhảy Dù.
    Tuy nhiên, các Toán Thám Sát nầy chỉ thu thập tin tức, ghi nhận “địch tình” rồi cung cấp lên các cấp Chỉ Huy mà họ tăng phái. Họ không có lực lượng, đơn vị có khả năng khai thác mục tiêu, tấn công địch. Biệt Cách Nhảy Dù thì hơn hẳn, khi cần mở trận địa tiêu diệt địch có quân số lớn, Biệt Cách Nhảy Dù sử dụng ngay các Biệt Đội xung kích.
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù sau khi nhảy vào An Lộc, sau gần ba tháng chiến đấu dũng cảm, góp công truy quét tiêu diệt giặc thù cộng sản, lấy lại các phần đất đã bị giặc lấn chiếm, thì được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu, triệt thoái trở về Hậu cứ Liên Đoàn tại Ngã Tư An Sương, Hốc Môn, để bổ sung quân số, trang bị vũ khí đạn dược, nhằm tăng viện cho chiến trường Quảng Trị, ở địa đầu giới tuyến, vùng I chiến thuật.
    Trong thời gian này, Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã được Đại Tướng Cao Văn Viên gọi đến trình diện tại Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Trong cuộc diện kiến, Đại Tướng đã hết lòng khen ngợi về ba hiệu năng và sở trường chiến đấu của Liên Đoàn mà chưa có một Đơn vị, Binh chủng nào trong Quân Lực VNCH có được như: – Thả Toán thâm nhập vào hậu tuyến của địch trong các mật khu bất khả xâm phạm – Kỹ thuật và khả năng tác chiến, đột kích đêm – Tham dự “trận địa chiến” cùng các đơn vị bạn trong các mặt trận lớn nóng bỏng và đầy cam go. Đại Tướng còn cho biết sẽ có kế hoạch nghiên cứu để gia tăng, bành trướng Liên Đoàn lớn hơn nữa.
    (Nếu kế hoạch này mà được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận, Liên Đoàn dự trù trong tương lai sẽ có thêm khoảng 16 Biệt Đội, 04 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Và song song với sự gia tăng và phát triển cấp số, thay đổi tính danh, thì các Ban cũng sẽ được nâng cao thành Phòng, riêng Khối Chiến Tranh Chính Trị vẫn giữ nguyên như cũ. Có thể Liên Đoàn sẽ được nâng lên cấp Lữ Đoàn, Chỉ Huy Trưởng sẽ là Tư Lệnh với cấp bậc Chuẩn Tướng.)
    Trong chiều hướng phát triển nầy, trong khoảng giữa tháng 2 năm 1975, Đại Tá Phan Văn Huấn đã bổ nhiệm tôi vào chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị thay thế Thiếu Tá Phạm Châu Tài, vừa được đề cử nhiệm vụ mới là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Chiến Thuật.
    Lý do thứ hai mà tôi được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng chọn làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, theo tôi nghĩ có thể phát xuất từ những Bài Thơ đề cao tinh thần chiến đấu uy dũng của các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, mà tôi đã gửi đăng trên các báo của Quân Đội VNCH như: Tiền Phong, Chiến Sĩ Cộng Hòa, và một bài trên tờ Bích Báo của Biệt Đội 814, trong đó tôi đã đề cập về tâm sự của một Thương Binh Biệt Cách Dù, đã xả thân chiến đấu, để rồi bị trọng thương, phải nằm điều trị tại các Quân Y Viện, và trong suốt thời gian dài, Liên Đoàn miệt mài quân hành, nên không một ai trong đơn vị đến thăm viếng, ủi an, ủy lạo. Nỗi buồn cô đơn, sớm bị lãng quên, làm họ uất nghẹn và đau đớn tột cùng. Bài báo rất được anh em Binh Sĩ trong đơn vị hoan nghênh và Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Chỉ Huy Phó Liên Đoàn lưu tâm…lưu ý..
    Lý do thứ ba là ngay tại Doanh Trại Biệt Đội 814 tại Căn Cứ Hành Quân Suối Máu, hay bất cứ nơi đâu, tôi đều tổ chức các phương tiện ẩm thực, vui chơi cho Binh Sĩ trong Biệt Đội như Bún Bò, Phở, Hủ Tiếu, Bò Kho, các bàn “Bi-Da”, “Ping-Pong”, phòng đọc sách báo.v.v.. để anh em Binh Sĩ ăn uống, giải trí trong những ngày dưỡng quân. Họ có thể được “ghi sổ”, lãnh lương sẽ trả lại sau. Nhờ những phương tiện nầy, Binh Sĩ cảm thấy thoải mái, không còn buồn nản khi được nghỉ ngơi, không đi lang thang ra ngoài doanh trại, vừa tốn tiền, lại có thể gặp những việc không hay xảy ra trong thời buổi chiến tranh loạn lạc này.
    Ngoài ra, tại vị trí đóng quân, tôi cho dựng Cổng Biệt Đội, thường xuyên cắt cử lính gát, làm hàng rào bao quanh, trồng hoa, cây cảnh trước mỗi dãy nhà của các Trung Đội và cả trong khu vực Doanh Trại. Binh Sĩ những lúc rảnh rỗi, có thể dạo chơi, ngồi hóng mát trò chuyện để vơi đi nỗi nhớ về Cha Mẹ, Vợ con….
    Nhờ vậy, mà Doanh Trại Biệt Đội 814 đã trở thành mẫu mực. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn đã nhắc nhở các Biệt Đội khác nên làm theo. Trong một dịp Nhà Báo Minh Đức Hoài Trinh đến Căn Cứ Hành Quân để làm phóng sự, đích thân Đại Tá Phan Văn Huấn đã hướng dẫn Bà đến thăm Doanh Trại Biệt Đội 814 của tôi như là một lời ban thưởng.
    Lý do thứ tư cũng có thể do từ một cuộc phỏng vấn của Báo Chí, Truyền Thanh, Truyền Hình, khi tôi được chọn là Chiến Sĩ Xuất Sắc về tham dự buổi tiếp tân tại Phủ Tổng Thống, đã được phổ biến rộng rãi khắp cả nước, tôi đã trả lời như sau:
    “Suốt những tháng năm lăn lộn trên khắp các chiến trường, trận địa, trên ba vùng chiến thuật, sống chết như sợi chỉ treo mành, cũng chẳng làm tôi nao núng, nhụt chí. Bốn lần bị thương tích, 16 lần được tuyên dương công trạng, phải chăng đó là một ít công lao nhỏ nhoi, mà chính bản thân tôi đã đóng góp cho Tổ Quốc Việt Nam? Biết bao Đồng Đội, Chiến Sĩ của tôi đã ngã gục, hy sinh để tôi được sinh tồn. Và cũng chính nhờ vào những xác thân, xương máu của họ đã tạo lập nên nhiều chiến công, mà hôm nay tôi mới được vinh hạnh trở thành một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù để về đây tham dự Ngày Đại Lễ Quân Lực 19/ 6.
    Hôm nay, đứng trước làn sóng của Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình, tôi xin kính cẩn cúi đầu tưởng niệm và bày tỏ lòng tri ơn sâu xa đến các Anh Hùng Tử Sĩ, các Thương Binh, các Chiến sĩ Biệt Cách Dù, đã chung vai sát cánh cùng tôi chiến đấu tiêu diệt giặc thù, bảo vệ Tổ Quốc, Đồng Bào cho đến hơi thở cuối cùng…Tôi xin muôn đời đội ơn !!!”
    Sau khi đảm nhận chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị của Liên Đoàn, tôi thực hiện ngay những điều tôi đã đề cập và ấp ủ bấy lâu: Thường xuyên thăm viếng, ủy lạo, tặng quà cho Thương Phế Binh tại các Quân Y Viện hay tại nhà riêng. Chăm sóc và giúp đỡ các Cô Nhi, Qủa Phụ trong đời sống, trong học hành. Củng cố và phát triển Trường Tiểu Học Biệt Cách Nhảy Dù. Can thiệp cho các em nhập học các Trường Văn Hóa Quân Đội và Quốc Gia Nghĩa Tử. Xin việc làm cho các cựu quân nhân tại Tổng Công Ty Thực Phẩm và cùng Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Thành Châu tổ chức gây Quỹ cứu trợ cho Thương Phế Binh của Liên Đoàn.
    Cùng song hành với nhiệm vụ trên, để kịp thời bổ sung quân số cho đơn vị trước đà phát triển, theo lệnh của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng, tôi đã đến các Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế, Quang Trung, nơi các khóa Hạ Sĩ Quan và Tân Binh sắp mãn khóa để thuyết trình, tác động họ tình nguyện về phục vụ Liên Đoàn. Cứ sau mỗi lần chuyện trò cùng các khóa sinh chấm dứt, số xung phong gia nhập Biệt Cách Nhảy Dù vượt quá chỉ tiêu đã đề ra.
    Sau khi tiếp nhận các Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ về đơn vi, Liên Đoàn tiếp tục huấn luyện họ về các khả năng tác chiến đặc biệt của một Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, ngoài ra Khối Chiến Tranh Chính Trị còn tổ chức các chương trình huấn luyện về chính trị, về thái độ, tác phong đối với dân chúng, không những chung quanh đơn vị đồn trú mà đặc biệt ở các nơi hành quân, hầu lôi kéo người dân về phía Quốc Gia, không để dân chúng bị Việt cộng lợi dụng, tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc…
    Từ giữa tháng 2 năm 1975, sau khi đảm nhận chức vụ mới, tôi say sưa với công việc, suốt ngày chăm chú tìm tòi, học hỏi, để công tác Chiến Tranh Chính Trị trở nên thực tế hơn, hữu ích hơn, và dễ đi vào đời sống từng người lính trong đơn vị, cũng như với dân chúng, ở những nơi mà các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù phải tiếp xúc với họ.
  5. Tàn cơn Binh lửa.
    Là một Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn cộng sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Định Paris năm 1973.
    Trước chủ trương “thay đổi màu da trên xác chết”, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa càng ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn về tình hình chiến đấu và tiếp liệu. Việc “một đổi một” không được thi hành vì theo lệnh của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho VNCH. Tình hình chính trị kể từ đầu năm 1975 càng xáo trộn hơn, nhiều phong trào nảy sinh nhằm hạ uy tín của không những cá nhân Tổng Thống mà toàn bộ Chính Quyền Miền Nam. Đó là mục đích của Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Ký Giả Đi Ăn Mày và Phong Trào Chống Tham Nhũng. Phong Trào nầy được tổ chức toàn cõi VNCH. Dĩ nhiên, tình hình xáo trộn nầy ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ VNCH, khiến họ phải suy nghĩ về việc làm của họ. Không lý họ chiến đấu cho một chính quyền tham nhũng, đang bóc lột người dân mà họ đang bảo vệ.
    Quan trọng hơn nữa, viện trợ ảnh hưởng đến khả năng tác chiến của Binh Sĩ. Đạn dược, xăng nhớt thiếu, nên khả năng vận chuyển Binh Lính bị hạn chế. Tình trạng nầy ảnh hưởng trực tiếp đến các đơn vị Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh hơn là ở các lực lượng Tổng Trừ Bị, trong đó có Biệt Cách Nhảy Dù. Trong giai đoạn nầy, câu binh thư “Thực túc binh cường” ám ảnh trí óc tôi không ít. Binh Sĩ của Liên Đoàn còn đủ “thực túc”, nhưng gia đình họ gặp khó khăn không ít trong đời sống hằng ngày.
  6. Rút khỏi Căn Cứ Hành Quân, Biên Hòa.
    Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân cộng sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3 cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là cộng sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột.
    Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Đại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại Căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Đội 813 do Trung Úy Lại Đình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Điều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Đội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.
    Riêng tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các Biệt Đội còn lại lên tới 2,000 Binh Sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc Phi Trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các Toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.
    Trưa ngày 28 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III họp tất cả Đơn Vị Trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Đại Hàn, Thủ Đức, để bảo vệ Thủ Đô Saigon. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ Cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ Binh Sĩ rút qua khỏi cầu nầy được an toàn.
    Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho Trực Thăng đến đón các cấp Chỉ Huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Đại Tá Huấn thì Ông đã từng tuyên bố khẳng định: “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại Gia Đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn Chiến Sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế nầy được.”.
    Và Đại Tá Huấn đã ở lại với Binh Sĩ của Ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
    Ngay trong đêm 28 tháng 4, Đại Tá Phan Văn Huấn ra lệnh Biệt Đội 812 đến canh giử cầu Biên Hòa, để ngăn cản đường tiến quân của giặc cộng, không cho bọn chúng phá sập. Sáng sớm hôm sau, khi Liên Đoàn rời khỏi Căn cứ Hành quân Suối Máu, khi đoàn quân vừa rút qua khỏi Cầu, thì cũng vào lúc đó qua làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn, đã nghe được lệnh của Tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, người vừa lên thay thế cho Ông Trần Thiện Khiêm đã đào thoát sang Đài Loan, yêu cầu toàn thể người Mỹ phải cấp tốc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ. Tin tức này đã gây hoang mang không ít đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ.
    Đoàn quân Biệt Cách Nhảy Dù, theo thứ tự được phân định từ từ di chuyển trên Quốc Lộ 1, hướng về Sài Gòn. Đến gần xế chiều, khi cánh quân vừa đến Tân Vạn, thì trời sập tối. Mặc dù, đang đứng trước tình hình bi đát, Đại Tá Phan Văn Huấn vẫn liên tục dùng máy truyền tin liên lạc nhiều nơi, từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới Bộ Tổng Tham Mưu, cũng như các đơn vị bạn ở địa phương, nhưng hoàn toàn im lặng vô tuyến, không một ai phản hồi. Như “rắn mất đầu”, Đại Tá Huấn ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy và tất cả các Biệt Đội rút vào đóng quân qua đêm trong rừng Cù Mi, chờ lệnh thượng cấp. Nhưng suốt đêm lặng lẽ trôi qua, vẫn chẳng có một tín hiệu liên lạc nào cả.
    Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 4. Đại Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Đội VNCH buông súng đầu hàng. Đại Tá Huấn liền cho đơn vị rời khỏi Rừng Cù Mi, băng rừng, vượt đồi, tiếp tục cặp theo Quốc Lộ 1, di hành theo hướng Nam đến Quân Lỵ Thủ Đức. Trên trục đường nầy, Liên Đoàn đã phát hiện, từ hướng Sài Gòn về Biên Hòa rất nhiều toán thanh niên chỉ mặc áo lót, quần “xà lỏn”, tay cầm giấy tờ tùy thân, chạy chân đất hớt ha hớt hải. Chận một vài người lại hỏi mới biết họ là lính Bộ Binh và Địa Phương Quân, bị Việt cộng bắt tước vũ khí, cởi bỏ quân phục, mủ nón, giày vớ, mới thả cho về nhà. Sự kiện này có thể làm cho tinh thần binh sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù dao động! Tuy nhiên, đây là một đơn vị Quân Đội thiện chiến và kỹ luật. Tất cả vẫn giữ nguyên đội ngũ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đến các Biệt Đội, bốn hàng dọc ngay hàng thẳng lối chậm rãi bước đi. Từng đoàn xe Molotova, chở đầy bộ đội Việt cộng chạy song hành, chúng nhìn các Chiến Binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù với những ánh mắt đầy kinh ngạc, sững sốt, lạ lùng.

Chiến Xa địch bị các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù bắn cháy ở Lăng Cha Cả trong ngày 30.4.1975

Là một cấp chỉ huy gương mẫu, giữ kỹ luật nghiêm minh, Đại Tá Phan Văn Huấn chấp hành lệnh của Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi đã họp tất cả các cấp Chỉ huy Liên Đoàn, để cùng đi đến một quyết định chung.
Đoàn quân 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn hiên ngang tiếp bước trên Xa Lộ Đại Hàn. Đến gần trưa, khi qua khỏi Lăng Chú Hỏa chừng 100 mét, trong khi dừng lại nghỉ ngơi gần ngã tư Thủ Đức và Xa Lộ Đại Hàn, thì một đơn vị bộ đội Việt cộng đã đến gặp Đại Tá Phan Văn Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại Tá Huấn đã nói với họ: “Chúng tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi sẽ bàn giao vũ khí, nhưng mong các Ông không bắt buộc chúng tôi phải cởi bỏ Quân Phục như một số Quân Nhân các đơn vị bạn đang chạy qua đây…”.
Họ chấp nhận yêu cầu. Thế là từng Chiến Binh một tự tước bỏ vũ khí, đạn dược, nón sắt vào điểm chỉ định. Sau đó, họ ôm choàng nhau, siết chặt nhau, nhiều người đã bật khóc, để rồi lẳng lặng, ngậm ngùi, chia tay mỗi người mỗi ngả.
Trước một Đơn vị Quân Đội hơn một ngàn người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cộng sản không thể không tỏ lòng kính trọng và nể phục. Một cấp chỉ huy của họ đến gặp Đại Tá Huấn, đề nghị để họ cho xe đưa các Sĩ Quan của đơn vị về Saigon. Không muốn để cho các Sĩ Quan của mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và đầy rủi ro, Đại Tá đã đồng ý nhận lời.
Vài ba chiếc xe Molotova được điều đến, tất cả các Sĩ Quan cùng một số Binh Sĩ lên xe. Đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại Tá Huấn nghĩ lại, không thể để Sĩ Quan của mình vào Saigòn bằng xe Molotova của địch. Việc ấy có thể gây hiểu lầm và cũng không vẻ vang gì cho kẻ đầu hàng. Do đó, Ông yêu cầu dừng lại, các Sĩ Quan, Binh Sĩ rời khỏi xe, cùng ôm chặt lấy nhau lần cuối, rồi tự động tản hàng, với nỗi đớn đau ê chề bất tận.
Vậy là chấm dứt hai mươi năm quân ngũ, một đời chiến đấu vì Dân vì Nước của Ông Thầy tôi. Tôi không thể không nói đôi lời, tỏ bày lòng cảm mến của tôi đối với Ông Thầy:
Đại Tá Phan Văn Huấn, xuất thân Khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, là một Sĩ Quan kỷ luật, tài ba, gặt hái nhiều chiến công trong cuộc đời 20 năm cầm súng chiến đấu. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đánh giặc giỏi, áp dụng nhiều chiến thuật thích ứng với chiến trường Việt Nam, bách chiến bách thắng, đến tới đâu đồng bào hoan hô, ngưỡng phục tới đó, cũng là nhờ ở Đại Tá. Không có Đại Tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù không chắc đạt được các chiến thắng vang dội ấy trên khắp mọi chiến trường, ở Thành Phố cũng như trong các mật khu của địch.
Điều đáng nói hơn nữa là tấm lòng của Đại Tá đối với Anh em Binh Sĩ. Đại Tá quí trọng mạng sống của họ như của chính ông. Một đơn vị dù lớn hay nhỏ hành quân thất lạc trong rừng bao nhiêu ngày đêm, là bấy nhiêu đêm ngày Đại Tá trằn trọc không ngủ yên.
Đại Tá là một Sĩ Quan liêm khiết, trong sạch, tôn trọng quyền lợi của Binh Sĩ. Đại Tá quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng người lính, luôn luôn nghĩ đến họ, làm cách nào để họ có một đời sống vui tươi, nghỉ ngơi sau những ngày hành quân mệt nhọc mà vẫn văn ôn vũ luyện. Những ngày dưỡng quân là những ngày nghỉ ngơi nhưng cũng là những ngày tái huấn luyện cho thuần thục các khả năng tác chiến đặc biệt của người lính Biệt Cách Nhảy Dù.
Cái giá mà Đại Tá Phan Văn Huấn phải trả cho hai mươi năm chiến đấu cho Dân Tộc và Đất Nước là 13 năm tù cải tạo khổ sai ở Việt Bắc.
Đời sống Ông Thầy tôi và gia đình sau những năm tù trở về khá đạm bạc, nếu không nói là quá thiếu thốn, cơ cực bên cạnh một đàn con 8 đứa, bởi vì Ông không có gì để lại cho vợ con khi Ông bước chân vào vòng lao lý.
Hễ mỗi lần đến thăm Ông, nhìn tấm thân tiều tụy, đau đớn vì bị những vết thương chiến trận đang hành hạ, mà điển hình vào một dịp đến thăm, trong lúc trò chuyện thì cơn đau của Ông bộc phát dữ dội, thì chính tôi và Bác Sĩ Trắc, cựu Y Sĩ Liên Đoàn, đã cấp tốc nâng bồng Ông từ trong nhà ra xe hơi của Bác sĩ Trắc, để cùng đưa Ông đi cấp cứu ở Bệnh Viện Chợ Rẫy, lòng yêu kính Ông trong tim tôi như dâng trào. Tôi không khóc, nhưng có cái gì đó đã đè nặng trong thâm sâu đáy lòng, chỉ chực chờ là bộc phát.
Tôi cảm thấy hãnh diện vì Ông: Đại Tá Phan Văn Huấn, là cấp Chỉ Huy mà tôi đã được phục vụ, trong suốt quãng đời Binh Nghiệp, trong một đơn vị kiêu hùng, thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đó là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

  1. Tại Hậu Cứ An Sương.
    Là một cấp chỉ huy tác chiến, đã từng đầu tên mũi đạn, sau khi bàn giao Biệt Đội để trở về hậu cứ trong trách vụ mới, với một thời gian còn quá ngắn, tôi khó mà quên được việc “điều binh khiển tướng” giữa các chiến trường phong ba bảo táp thuở nào. Vì thế, đứng trước tình hình rối ren, quá ư bi dát đang diễn tiến từng giờ, từng ngày một của Đất Nước, tôi đã dành hết tâm sức, khả năng, kinh nghiệm để hợp sức cùng Thiếu Tá Trần Quang Huế, Chỉ Huy Hậu cứ lo tổ chức phòng thủ Doanh Trại, tung các Toán tiền đồn, lập các công sự tại Ngã tư An Sương chờ giặc đến, ngăn chận và tiêu diệt chúng, không để cho chúng tiến công vào Sài Gòn một cách ngang nhiên.
    Bên cạnh các vị trí phòng thủ đã có sẵn của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Ngã ba Trung Chánh, dọc theo Quốc Lộ 1 và trên Xa Lộ vòng đai Đại Hàn, Biệt Cách Nhảy Dù đặt thêm các Tổ Đại Liên 60, M.72, Đại Bác và Súng Cối. Trong khi chúng tôi đang tổ chức phòng thủ, Binh Sĩ của Sư Đoàn 25, Binh Sĩ cũng như khóa sinh của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rút chạy về đây thiếu trật tự, không cấp chỉ huy. Một số họ dừng lại đây, tự động cùng tổ chức phòng thủ bên cạnh chúng tôi. Lòng yêu nước và tự ái của người lính VNCH không cho họ rút về xa hơn nữa.
    Ngày 29 tháng 4, sáu xe tăng T-54 Việt cộng từ hướng Củ Chi hàng một trên Quốc Lộ 1 tiến đến, nghênh ngang như chỗ không người. Khi đến gần Ngã tư An Sương, từ phòng tuyến của Hậu cứ Liên Đoàn, hai hỏa tiễn M.72 bay vụt tới, bắn đứt xích chiếc đi đầu, chiếc xe tăng bị quay nằm ngang. Quân cộng sản từ các xe tăng phía sau nhảy xuống xe bố trí hai bên đường. Bọn chúng bắn ầm ĩ, loạn xạ, vừa trung liên, B.40, B.41 và AK.47 vào các công sự, các ổ kháng cự nằm trải dài hai bên đường, và vào cả Khu Gia Binh của Biệt Cách Dù, nằm ngay hai góc của ngã tư An Sương. Các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù và lực lượng bạn vẫn cố thủ, Đại Liên, M.79, không ngớt bắn vào đám địch quân đang cố tìm cách mở đường cho chiến xa của chúng tiến lên, xác địch rơi rớt trên Quốc Lộ 1 không phải là ít, các xạ thủ M.72 bắn cháy thêm một T.54 ngay Ngã tư đường Xa lộ Đại Hàn và Quốc Lộ 1, những quả kế tiếp chẳng mang lại kết quả, nhưng dẫu sao cũng chận đứng được phần nào bước tiến quân của địch trên đường tiến vào Thủ Đô Sài Gòn.
    Một số công sự chiến đấu bị đại bác xe tăng địch tác xạ tiêu hủy, nhiều xác chết của quân bạn bị văng ra nằm ngổn ngang bên vệ đường. Xe tăng của địch tiến lên, càn lên các công sự, Binh Sĩ bạn rút chạy hoảng loạn, địch càng lúc càng bắn phá dữ dội bất kể là nhà dân chúng. Hỏa lực đại bác trên các chiến xa của địch quá mạnh, và địch quân mỗi lúc mỗi đông, buộc lòng chúng tôi phải rời bỏ vị trí chiến đấu bên ngoài, để vào cố thủ trong Doanh Trại Liên Đoàn. Trong khi đó, một xe Jeep chở một vài Quân Nhân, từ trong Hậu cứ Liên Đoàn phóng ra, vừa quẹo trái hướng về Saigon, một xe tăng của địch quay nòng đại bác bắn theo, chiếc xe Jeep trúng đạn, bay tung lên, hai ba binh sĩ trên xe đều tử trận.
    Sáng hôm sau 30 tháng 4, xe tăng, bộ đội địch và du kích địa phương đã dốc toàn lực, đánh vào các ổ kháng cự còn lại trong và ngoài Hậu cứ Liên Đoàn. Trên Xa Lộ Đại Hàn, quân trang, quân dụng của tân binh quân dịch Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân tháo chạy đã bỏ lại đầy rẫy trên mặt đường. Đứng trước tình thế tồi tệ này, tôi dẫn số Binh Sĩ còn lại, phá rào đằng sau, rút về hướng Saigon. Vượt qua Cầu Tham Lương, đến Hãng Dệt Vinatexco, gặp một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đang bố trí tại đây, tôi ra lệnh cho Binh Sĩ dừng lại, hợp tác phòng thủ cùng với họ. Nhưng không lâu sau đó, nghe lệnh Đại Tướng Dương Văn Minh kêu gọi, toàn thể Quân Nhân buông súng đầu hàng. Tất cả đều rụng rời, nhìn nhau trong nghẹn ngào, uất hận, xong tự động tan rã.
    Trên đường về nơi tạm trú của một người bà con ở Quận Tư, Khánh Hội, nghĩ tới 9 năm đời Quân Ngũ, vào sinh ra tử bao nhiêu lần, chưa bao giờ tôi chùn bước, khuất phục trước quân thù. Vậy mà giờ nầy…
  2. Món nợ còn lại.
    Ngày 30 tháng Tư, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn còn các Toán Thám Sát đang hoạt động trong Chiến Khu D. Tất cả các phương tiện liên lạc, truyền tin cũng như Trực Thăng đều không còn. Tuy nhiên, các Toán Thám Sát vẫn tiếp tục sứ mệnh của mình.
    Lần hồi, lương thực hết, thời hạn hoạt động của các Toán cũng đã chấm dứt, lại thêm mọi sự liên lạc với Bộ Chỉ Huy đã bị cắt đứt, các Toán Thám Sát tự động triệt xuất khỏi mật khu, theo phương cách mưu sinh thoát hiểm.
    Ngày 5 tháng 5 năm 1975, hai Toán Thám Sát lần ra đến Ấp Thái Hưng, Xã Đại An, Quận Tân Uyên để tìm hiểu tình hình, họ được quần chúng cho biết Quân Đội Miền Nam đã buông súng đầu hàng, vậy là họ cùng ra đầu hàng. Nhưng bọn Việt cộng đã ra tay tàn sát hết tất cả rồi mang xác thả trôi sông.
    Cho dù họ đã hy sinh, nhưng khí tiết, tinh thần chiến đấu bất khuất, kiêu hùng của họ, vẫn mãi sáng ngời trong Trang Sử 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

Ngày tàn cuộc chiến

Về sau này, vào năm 1995, Liên Đoàn đã đưa người về lại Ấp Thái Hưng, Xã Đại An để tìm cách di dời mộ phần các Tử Sĩ, nhưng không thực hiện được, trong dịp này, qua trò chuyện tìm hiểu vói các cư dân nơi đây thì được biết bọn giặc cộng đã bắn chết 12 người, một số đem thả trôi trên sông Bé, số còn lại bọn chúng mang chôn trong một cái giếng đã bỏ hoang lâu năm.
Ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Phương, Biệt Đội 815 và Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Nguyễn Minh (hiện đang định cư tại Dorchester. MA), rút ra khỏi Chiến Khu D, đã lần ra Ấp Thái Hưng, nhưng may mắn, hai Toán đã được dân chúng vào rừng làm nương rẫy, báo tin chính quyền VNCH không còn nữa, Đại Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng đầu hàng, nên sau khi hai Toán đã giao nạp vũ khí, bọn Việt cộng có lẽ sau khi tàn sát hai Toán Thám Sát trước, đã bị đồng bào địa phương bàn tán xôn xao, nên với hai Toán này, bọn chúng chỉ bắt đưa vào trại tù gọi là “cải tạo”.
Ngày 9 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát cuối cùng của Chuẩn Úy Lê Xuân Hiền, Biệt Đội 812 (hiện đang định cư tại Annaheim, CA), rút ra khỏi Chiến Khu D, khi gần đến Ấp Thái Hưng, Toán này cũng nhờ qua thông tin của người dân trong vùng, nên thấu đáo tình hình, họ cải trang thường dân để bôn đào, nhưng bị bọn dân quân du kích tại đây phát hiện, bắt giải giao cho chính quyền Việt cộng, rốt cuộc Toán cũng bị bọn địch bắt đưa đi tù khổ sai ở trong Trại tù Bình Sơn, nơi rừng sâu nước độc cùng với hai Toán Thám Sát trên.
Âu đó cũng là số phận chung của toàn thể Quân Cán Chính VNCH sau ngày mất nước.
“TÀN CƠN BINH LỬA”. Sau khi quân thù giặc cộng đã cưỡng chiếm Miền Nam, vẫn còn những người Lính Biệt Cách Dù hoạt động trong lòng địch, họ chiến đấu cô đơn, âm thầm, để hoàn thành sứ mạng Thượng Cấp giao phó, dù Thượng Cấp đã không còn ai và cũng không ai còn để cho họ được nhắc lại lần cuối cùng câu tâm niệm: “TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM”.
Không ít người đã hy sinh vào giờ thứ 25.
Đó là món nợ những người còn sống phải trả cho họ.
Cho dù sau hơn 38 năm cuộc chiến đã trôi qua và cũng đang dần dần chìm vào quên lãng theo với dòng chảy của thời gian. Nhưng, đối với những Chiến Binh cầm súng chiến đấu để tiêu diệt quân thù, bảo vệ Tổ Quốc, những Chiến Sĩ Biệt Cách Dù đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường, mật khu, căn cứ địa của địch, thì đó là một vết thương nặng, sẽ mãi mãi âm ỉ cháy bất tận trong đáy lòng họ. Bởi vì, có biết bao Đồng Đội, Chiến Hữu của họ đã hy sinh, đã trở thành phế binh, đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn cùng và tủi nhục. Bởi vì, chính họ đã dâng hiến tuổi trẻ, xương máu, mạng sống, để bảo vệ tiền đồ Tổ Quốc, nhưng cuối cùng, họ phải đành buông súng đầu hàng, trở thành kẻ chiến bại trước một bọn người vong bản, vô thần và vô nhân tính.
Trong cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê người, cứ mỗi lần tình cờ, coi lại những tấm ảnh cũ trong Đời Binh Nghiệp, với Bộ Áo Hoa Rừng ngụy trang, với Chiếc Nón Xanh huyền thoại, với bảng Phù Hiệu Con Đại Bàng khạc lửa, sải rộng cánh, bung móng vuốt tung hoành, tôi cảm thấy tự hào, hãnh diện vì mình đã từng được chiến đấu trong một đơn vi thiện chiến, hào hùng: “Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”. Nhưng rồi, kèm theo đó, một niềm xúc cảm lạnh buốt, từ từ lan rộng khắp cùng trong cơ thể tôi, trước mắt tôi hình ảnh những vị Anh Hùng Tử Sĩ như: “ Lê Như Tú, Nguyễn Văn Tùng, Từ Bá Thọ, Hoàng Xuân Cường, Đặng Thiện Chẩn, Trần Phụng Tiển, Lương Hữu Yên, Lưu Huyên, Nguyễn Ích Đoan, Mã Thế Kiệt, Phan Ngọc Trường, Trịnh Văn Hùynh, Nguyễn Quang Khánh, Phạm Văn Cứ, Khưu Công Qúi, Nguyễn Phiêu, Nguyễn văn Thủy, Mai Xuân Hùng, Nguyễn Văn Dục, Nguyễn Kim Long, K.Tông, Đỗ Nguyên Sanh, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Viết Khải, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Xuân Ánh, Trần Ngọc Bửu, Vũ Huy Cần, Trương Cự Chính, Nguyễn Văn Chuyên, Phạm Văn Chuyên, Trần Thanh Đồng, Nguyễn Văn Giỏng… ”, còn còn nữa, làm sao kể hết, cứ lần lượt hiện về. Họ nhìn tôi trong nỗi buồn cảm thông, nhưng không thiếu sự trách móc, khi tôi vẫn còn sống sót mà không bảo vệ được Tổ Quốc, mà không trả được món nợ máu mà quân thù đã mang đến cho họ: những đồng đội, chiến hữu của tôi.
…” Tôi cũng biết…
Dù các Anh đã chết …
Nhưng nỗi căm hờn còn mãi ở tâm linh,
Xin một mai khi Đất Mẹ thanh bình,
Tôi sẽ lấy máu quân thù tô vào nơi mộ chí.!!!”
Và…đó cũng chính là món nợ mà tôi, một Chiến Binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù còn sống đang và sẽ phải tiếp tục trả cho họ.
Hy vọng đứa con đầu lòng, được viết bằng tất cả sự thật, từ thuở thiếu thời, đấu tranh và binh nghiệp, qua từng giai đoạn, từng trận chiến mà tôi đã trải qua, đã tham dự hay trực tiếp chỉ huy, sẽ được Đồng Đội, Chiến Hữu, Bạn Hữu đón nhận nồng nhiệt, thân tình và đầy vị tha.
“Là người lính Biệt Cách Dù,
Chưa bao giờ sợ mình cô đơn trong chiến đấu.
Nhưng tại sao bây giờ,
Lại sợ mình che dấu nỗi niềm riêng!
Sợ phải cưu mang bao nỗi muộn phiền!!!
Sợ phải sống trong triền miên khiếp sợ????

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

Tiêu diệt quân thù

17.Phước Long “Chứng tích kẻ chạy làng”

Ngày đầu năm 1975, đang hành quân ở Tây Ninh, Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận được lệnh của Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III, phải gấp rút đưa đơn vị về Biên Hòa, nhận nhiệm vụ mới, chỉ để lại một Biệt Đội tăng cường, phòng thủ tại Phi trường Quân sự Trảng Lớn.
Nhiệm vụ mới, không nói mà cả Liên Đoàn ai cũng nhận biết được, đó là chiến trường Phước Long, một chiến trường “dầu sôi lửa bỏng, thập tử nhất sinh” cần khẩn cấp tiếp cứu.
Mặt trận Phước Long bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1974, kéo dài cũng đã gần một tháng. Áp lực địch càng ngày càng mạnh. Bốn Quận của Phước Long đã bị Việt cộng đánh chiếm cả. Năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, với quân số còn lại, rút về phòng thủ quanh Thị Xã, ngoài ra còn được tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, ba Đại Đội Trinh Sát của các Sư Đoàn 5, 18 và 25 Bộ Binh. Nếu cộng thêm với lực lượng ít ỏi của các đơn vị của Tiểu Khu, kể cả Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát và Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, không hy vọng chống trả lại được với lực lượng đầy đủ và sung mãn tinh thần “điên khùng” của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 Bắc Việt xâm lược, cộng với một Tiểu Đoàn Đặc công, và hai Chi Đoàn Chiến xa T-54.
Vào thời điểm đó, quân cộng sản có nhiều thuận lợi về nguồn tiếp tế. Hướng Đông Bắc là căn cứ Bùi Gia Mập, hướng Tây Bắc là căn cứ Bù Đốp, cả hai nơi đều đã bị địch chiếm cứ và trở thành mật khu của chúng. Chắc chắn hậu cần và quân tiếp ứng, nếu cần, sẽ từ hướng nầy tuôn xuống một cách dồi dào. Phía Đông là hai Thị Trấn Gia Nghĩa và Bảo Lộc, không giúp đỡ gì được cho quân trú phòng. Quận Chơn Thành và Đồng Xoài ở phía Nam cũng đã bị địch chiếm mất rồi. Phía Tây Tỉnh Bình Long, cũng chưa hoàn toàn hồi sức từ sau trận chiến Mùa Hè 1972.
Tình hình quân sự đã căng như thế, trong khi Sài Gòn nhiều phong trào đang biểu tình dữ dội: “Phụ nữ đòi quyền sống, Ký giả đi ăn mày và Chống tham nhũng”. Tình hình chính trị như thế chỉ có lợi cho địch quân mà không chắc ở Sài Gòn có người nào nghĩ đến những người lính ở Phước Long đang lâm vào cảnh “thập tử nhất sinh”.

    Chuẩn bị vào Chiến Trường

    Về tới căn cứ, nắm biết được tình hình như thế, thêm vào đó trong lòng mang nỗi chán nản vì hành động vi phạm Hiệp Định Paris một cách trắng trợn của bọn Việt cộng. Biết là Biệt Đội cũng sắp sửa nhảy vào Phước Long, tôi vừa xúc động vừa buồn, không như ba năm trước đây, tại chiến trường Bình Long, An Lộc. Lúc đó, tôi cũng mang đầy lo lắng, nhưng nôn nóng, sôi sục muốn nhảy vào chiến trường, sớm chừng nào hay chừng đó, để chia xẻ và gánh vác gian nguy cùng Đồng Đội, Chiến Hữu.
    Rạng sáng ngày 3 tháng 1 năm 1975, Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật do Trung Tá Vũ Xuân Thông chỉ huy, đã cùng Biệt Đội 811 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là Đại Úy Trương Việt Lâm và Biệt Đội 814 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là tôi, được chuyển vận tới Sân bay Quân Sự tại Căn cứ Long Bình. Đoàn Quân Biệt Cách Nhảy Dù, nằm trải dài trên bãi chờ Trực Thăng, được lót trải bằng những tấm vỉ sắt kết nối nhau, trong một khoảng thời gian dài, từ sáng cho đến quá trưa. Mãi tới 2 giờ chiều, một Phi Đội Trực Thăng do Phi Đội Trưởng Thiếu Tá Đào Vũ Anh Hùng chỉ huy, mới đáp xuống. Đến 2 giờ 30, các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Đội 814 đã sẵn sàng lâm trận.
    Từng chiếc UH.1B cất cánh, rồi nối đuôi theo sau chiếc C&C của Đại Tá Phan Văn Huấn trực chỉ về hướng Bắc. Khoảng cách từ Căn cứ Long Bình lên Phước Long theo đường chim bay trên 100 cây số. Khi đoàn Trực Thăng vừa đến vùng trời Phước Long, cao xạ 12.7 ly và 37 ly của bọn giặc cộng thay nhau bắn lên xối xả, dưới đất thì khói bụi mịt mù bay lên che khuất một vùng trời, các phi tuần A.37 oanh kích triệt hạ phòng không địch trên núi Bà Rá chẳng thấy xuất hiện. Đoàn Trực Thăng bay lượn hai vòng trên trời cao, họ có thể đã ước tính, không còn đủ nhiên liệu và thời gian để đáp thả Biệt Đội 814, rồi quay trở về bốc thả tiếp Biệt Đội 811 và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật còn lại, thì trời đã quá chiều tối, nên đã đồng loạt bay về hướng Nam, đáp khẩn xuống ở Tiểu Khu Định Quán để tiếp tế nhiên liệu, rồi bay đáp trở lại ở Phi Trường Long Bình.
    Thêm một đêm nằm ngủ giữa trời sao trôi qua nhanh. Từ sáng sớm ngày 4 tháng 1 năm 1975, hai Biệt Đội đã túc trực chuẩn bị hành trang lên đường. Vào khoảng 9 giờ, đoàn Trực Thăng chở Biệt Đội 814 cùng Trung Tá Vũ Xuân Thông và BCH 1 Chiến Thuật cất cánh, bay cặp theo dòng Sông Bé về hướng Bắc, vừa qua khỏi Thị Xã Phước Long, đoàn Trực Thăng quay vòng trở lại hướng Nam, bay qua Sông Dak- Lung thì lần lượt đáp xuống lơ lửng trên một ngọn đồi, cây cối bị pháo địch bắn cháy, còn ngổn ngang gốc cành, nằm rãi rác khắp cả khu đồi, cách Thị Xã chừng 500 mét về hướng Bắc. Từ độ cao cách mặt đất khoảng 2 mét, các Trung Đội nhanh chóng nhảy xuống tìm nơi ẩn núp và phòng thủ, nhất là để tránh địch có thể trực xạ đại bác 75 ly từ đỉnh núi Bà Rá. Tôi đã được cấp trên cảnh giác về tình huống nầy. Bà Rá đã bị Việt cộng chiếm ngay ngày đầu năm Dương Lịch.
    Bà Rá, Bà Đen và cả Mây Tào, là những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn. Bà Rá có độ cao 7 trăm 36 mét, là con mắt và lỗ tai của Thị Xã Phước Long. Với vị trí chiến lược này, ngay từ đầu, Quân Đội VNCH đã đặt căn cứ trên đỉnh Bà Rá. Từ trên đó, chúng ta có thể quan sát khắp vùng, điều chỉnh và yểm trợ phi pháo cho các đơn vị Quân Đội, khóa họng súng của địch mỗi khi chúng pháo kích vào Thành Phố. Tại căn cứ nầy cũng có các Đài Truyền tin, phát tuyến, nối tiếp làn sóng với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa và giữa các đơn vị trong và ngoài khu vực Thị Xã Phước Long.
    Tình hình căn cứ Bà Rá bây giờ ở thế ngược. Sau khi chiếm được đỉnh núi nầy, địch được ba cái lợi: Bố trí phòng không 12.7 ly trên núi và 37 ly dưới chân núi, Việt cộng gây khó khăn cho các hoạt động của Không Quân ta. Cũng từ đây, địch có thể trực xạ đại bác 75 ly vào vị trí của chúng ta, và cũng từ đây, địch dễ dàng quan sát cả Thị Xã, các hướng tiến quân của ta để điều chỉnh pháo binh đang bố trí chung quanh Phước Long mà tác xạ chính xác, hiệu quả.
    Trong khi Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật đang trên đường tiến quân, thì Biệt Đội 811 và Thiếu Tá Nguyễn Sơn Chỉ Huy Phó, cũng đang đổ bộ xuống một bãi trống, nằm chếch về hướng Tây Bắc của Thị Xã Phước Long, để từ đó cánh quân này sẽ tiến vào bắt tay phối hợp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, với Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 và năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, đang phòng thủ trong Thị Xã và Tòa Hành Chánh Tỉnh.
    Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật tiếp tục băng qua các cánh đồng khô, các khu nhà, các dãy phố hoang tàn đổ nát, một vài nơi đã biến thành bình địa, không một tiếng súng, nhưng thỉnh thoảng đạn pháo địch vẫn nổ rải rác vài nơi trong trung tâm Thị Xã, mọi hiểm nguy vẫn chờ chực cận kề, thì ngay lúc này xuất hiện một chiếc xe jeep của BCH/ Tỉnh đến đón một mình Trung Tá Thông rời khỏi đội ngũ.

    Tiếp tục theo như lệnh đã được ban hành tại Căn cứ Hành Quân ở Suối Máu. Biệt Đội 814 tiến sát hơn vào bên trong Thị Xã, đơn vị trú phòng mà Biệt Đội 814 tiếp cận đầu tiên để cùng phối hợp tác chiến là Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nằm ngay góc một ngã tư đường lộ chính, dẫn vào Trung tâm Thị Xã. Nơi đây tôi được tiếp xúc cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và qua Ông tôi nắm biết phần nào về lực lượng địch, cùng hệ thống bố phòng của các đơn vị bạn trên trục tiến quân của Biệt Đội 814. Dĩ nhiên Ông ta và các chiến hữu của Ông hết sức mừng rỡ khi có Biệt Cách Nhảy Dù đến tiếp ứng.
    Vượt qua Ty Cảnh Sát, là Doanh Trại của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, cũng nằm ngay góc ngã tư đường kế tiếp, mặt trước là cổng chính ngó vô Thành Phố, mặt hông phải, bên kia đường là khu nhà dân, nhà cửa hầu hết tan hoang không còn nguyên vẹn, vài nơi vẫn còn lửa cháy âm ỉ, khói bốc lên lan tỏa mờ nhòa tầm quan sát cả một khu vực, không có đơn vị nào còn phòng ngự ở đây, kể cả trong phòng tuyến của Trại Cảnh Sát Dã Chiến, họ đã rút về bố phòng tại các giao thông hào của Ty Cảnh Sát.
    Vừa lúc đó, thì đạn pháo của địch không biết xuất phát từ đâu đã rơi xuống nổ khắp nơi. Tôi tức tốc cho lệnh các Trung Đội lao xuống bố trí tại các hầm hố, giao thông hào bao quanh ba mặt trong Trại Cảnh Sát Dã Chiến, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến, đề phòng địch mở đợt tấn công. Bỗng đâu một tiếng súng nổ chát chúa, phá thủng một “cô-nét” gần bờ rào chính diện gây tử thương cho Hạ Sĩ I Sơn, một hiệu thính viên của Biệt Đội, hai trái đạn kế tiếp nổ ngay trên đường, sát bờ rào Ty Cảnh Sát. Đây là những viên đạn Đại bác 75 ly do địch trực xạ từ trên đỉnh Núi Bà Rá. Pháo Binh của ta đã hoàn toàn tê liệt, không còn có khả năng phản pháo.
    Đạn pháo vừa ngưng, tiếng gầm rú của các xe tăng của địch lại từ từ tiến lên, không có bộ đội tùng thiết, xe tăng vừa chạy vừa quay nòng đại bác tác xạ như để áp đảo tinh thần đối phương, nhưng bọn chúng đã không ngờ đang đụng phải khắc tinh của chúng.
    Từ bên trong các công sự chiến đấu, những hỏa tiễn M.72 của các xạ thủ Biệt Đội 814 đã dương cao sẵn sàng chờ đợi. Ầm. ầm ầm, Hạ Sĩ I Ẩn và Hạ Sĩ Sáng, Trung Đội 2, đã tác xạ chính xác chiếc T.54 chạy đầu tiên, lửa đang rực cháy thiêu rụi toàn bộ đám địch quân. Hai T.54 kế tiếp vẫn trườn lên, ầm..ầm..ầm, chiếc trước đứng sững lại một chốc, xong tiếp tục chạy trườn tới tông sập đổ cột trụ đèn, rồi chạy thẳng ra bìa rừng hướng Tây Bắc, chiếc còn lại quay đầu, leo lấn lên lề đường, Thiếu Úy Nguyễn Tấn Mẫn, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, không chần chờ bắn ngay một quả M.72, đạn trúng bên hông trái, phía đàng sau đuôi, chiến xa địch hầu như chẳng hề hấn gì, vẫn cứ chạy trên đường lộ, về hướng Tây rồi mất hút trong màn đêm đang đổ xuống toàn Thị Xã Phước Long.
    Đêm hôm đó, thời gian đang chầm chậm trôi đi trong yên tĩnh. Nhưng rất bất ngờ, Đại Úy Thứ gọi điện thọai thông báo: Trung Tá Thông ra lệnh cho các Biệt Đội Biệt Cách Dù sửa soạn rút quân, theo hai hướng khác nhau, BCH 1 Chiến Thuật, Đặc Huấn và Ban Quân Y sẽ rút về một hướng (?), còn Biệt Đội 811 và 814 sẽ rút lui theo một hướng khác (?).
    Tôi thật qúa đổi ngạc nhiên, khó khăn lắm mới vào được đây để tiếp cứu, vừa chân ướt chân ráo, chưa được một ngày một đêm, và cũng chỉ mới đụng độ sơ khởi với địch, chẳng có tổn thất gì lớn lao, trầm trọng, mà sao Trung Tá Thông lại cho lệnh rút quân.
    Tôi suy đoán, chắc có điều gì không ổn chăng? Hay cấp trên đã nhận thấy kế hoạch thả hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào Phước Long, trong biển lửa này như những con thiêu thân, như đem muối bỏ biển, như đem con bỏ chợ, chỉ là làm vật hy sinh tế thần, nên đã cho lệnh triệt thối khẩn cấp?.
    Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 1 năm 1975, Biệt Đội liên lạc với BCH 1 Chiến Thuật để am tường rỏ ràng về kế hoạch rút quân, nhưng chẳng có động tỉnh hay lệnh lạc gì khác cả. Và nếu như theo đúng diễn tiến hành quân từ trước, thì Biệt Đội 814 sẽ tiến lên hướng Công viên Lệ Thủy, gần khoảng giữa Trung tâm Thị Xã, để bắt tay cùng các Đại Đội Trinh Sát, sau đó sẽ mở đường, giải tỏa áp lực địch để tiến vào Tòa Hành Chánh Tỉnh. Chưa kịp hành động, thì đạn pháo của địch bắt đầu tác xạ và nổ ầm ỉ khắp nơi. Trước hỏa lực pháo tới tấp này, với kinh nghiệm chiến đấu cùng giặc cộng ở mặt trận An Lộc, Quảng Trị, tôi biết chắc chắn trước sau gì địch cũng sẽ tấn công, nên cho Biệt Đội nằm yên tại các giao thông hào, chờ đợi nghênh chiến với lủ giặc cộng. Đúng y như tôi dự đoán, Việt cộng mở cuộc tấn công ào ạt, lực lượng chính của nó vẫn là xe tăng.
    Bốn chiếc xe tăng T-54, không phải từ phía ngoài bìa rừng, hướng Tây, hướng Bắc hay hướng Đông, mà từ hướng Nam trong Thành Phố, tiến thẳng về phía phòng tuyến Cảnh Sát Dã Chiến mà Biệt Đội 814 đang trấn giữ. Hai bên mỗi xe tăng, là năm sáu tên bộ đội tùng thiết, cầm AK, CKC, B.40 và B.41 lom khom chạy theo. Tới ngã tư giao lộ, chúng chạy tản ra hai phía, như để bao vây, rồi xoay pháo tháp nổ súng bắn thẳng vào bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến.
    Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, với M.72 trên vai, nhắm ngay chiếc T.54 đang rẽ hướng về phải, ngay trước tuyến phòng ngự. Lửa từ chiếc xe tăng bùng lên, bọn bộ đội tùng thiết hoảng loạn, chạy dạt vào một bên vệ đường, nhưng không còn kịp, Đại Liên 60, Phóng Lựu M.79, Lựu Đạn của Trung Đội 3 đã tiêu diệt chúng, không còn một tên sống sót. Chiếc T.54 kế tiếp vẫn liều lĩnh chạy tới, càn qua hàng rào kẽm gai, để tiến vào bên trong, nhưng đã bị các vòng dây kẽm gai cuộn, dính chặt trong các mắt xích, xe đứng khựng lại, ngay tức thì, Hạ Sĩ Dữ, một xạ thủ XM. 202 của Trung Đội 2 đứng lên tác xạ, quả đầu tiên bị trượt, quả thứ 2, thứ 3, thứ 4 đều trúng vào thành xe tăng, nhưng không kết quả gì, xe tăng vẫn gầm rú, nhưng chỉ nhúc nhích một hai thước. Không chần chờ, Thượng sĩ Hùng, Trung Đội Phó, cùng Trung sĩ Sơn, Tiểu Đội Trưởng, đã nhanh nhẹn bò lên, mở nắp pháo tháp, tung vào bên trong hai quả lựu đạn. Chiếc T.54 giờ đây đã hoàn toàn bất động. Dĩ nhiên, không có tên nào trong và ngoài xe có thể sống sót, không có “phép lạ” đến với chúng cả, dù là phép lạ của ông Lenin, ông Mác, ông Mao hay ông Hồ. Có một điều kỳ lạ, là đã hai ba lần sử dụng M.72 và XM.202 tác xạ diệt tăng, nhưng đều không hiệu quả, chẳng lẽ hai loại hỏa tiễn nầy chưa thích ứng hoặc vô hiệu với chiến thuật diệt xe tăng hay Việt cộng rút kinh nghiệm, có thể chúng che chắn thêm cho xe tăng bằng một thứ vật liệu gì đó, khiến trái hỏa tiễn không thể xuyên thủng được.
    Hai chiếc T.54 chạy về hướng cổng chính của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến và Ty Cảnh Sát cũng đã bị Trung Đội 3 và 4 dưới sự chỉ huy của Chuẩn Úy Chuyển và Chuẩn Úy Lân, đã chận đứng và tiêu diệt hai đợt xung phong của đám bộ đội tùng thiết, và sau khi sử dụng M.72 bắn nhưng không chận đứng được chiếc T.54 đang húc đổ cổng trại Cảnh Sát Dã Chiến, Tổ vũ khí nặng, dưới sự điều động của Trung Úy Qúi, Biệt Đội Phó, đã mang Đại bác 90 ly không giựt tác xạ phá hủy, lửa bốc cháy hừng hực, đã làm cho chiếc T.54 theo sau quay bánh xích, gầm rú tháo chạy mất dần về hướng cũ, sau những khu nhà đổ nát, mờ mịt bụi khói mù trời.
    Trời tối, đêm dần dần trôi qua trong lo lắng.

    Sơ Đồ Mặt Trận Phước Long
    Tờ mờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975, Việt cộng cố dứt điểm trận chiến Phước Long. Sau nhiều đợt pháo kích dữ dội bằng đại pháo, không riêng gì ở Núi Bà Rá, mà tất cả các phía chung quanh, nã vào cái Tỉnh Lỵ nhỏ bé mỗi bề chưa tới nửa cây số, như rải cát trên đầu chúng tôi vậy. Không nơi nào không bị đạn pháo cày xới tơi tả. Quân địch dốc toàn bộ 2 Tiểu Đoàn Xe Tăng và các Trung Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 tràn ngập các cứ điểm còn lại của Quân Đội ta đang trú phòng.
    Từ dưới phố, từ bìa rừng hướng Tây Tây Nam, xe tăng địch ào ạt chạy lên đông vô số kể. Thật ra, không phải đông vô số kể, nhưng ít ra cũng phải đếm bằng con số chục, không phải bằng con số lẻ. Tình hình nầy thì “căng lắm đây”, tôi thầm nghĩ! Biệt Đội 814 không có đủ Hỏa tiễn M-72, lại không có loại mìn tự chế của Đại Tá Huấn như ở trận Bình Long, hai cấp số đạn dược mang theo cũng đã tiêu tán trong hơn một ngày qua, trong khi tình trạng tiếp tế rất khó khăn. Ở cứ điểm núi Bà Rá, với nhiều loại vũ khí phòng không, hầu như địch quân đã khống chế bầu trời Phước Long. Máy bay yểm trợ của Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, không bay thấp được, dù là máy bay tiếp tế hay oanh tạc cơ, còn trên đường bộ thì xe tăng của chúng đang đầy rẫy khắp các ngỏ ngách, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công qui mô.
    Trong khi tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, Biệt Đội đang tả xông hữu đột, vật vả chống trả các đợt tấn công của bộ binh địch và xe tăng ở hướng bên hông và hướng trước mặt thành phố, thì bất ngờ, một đơn vị Việt cộng khác, từ phía Ty Cảnh Sát, đã vượt rào cản, tràn lên đánh ập vào hậu tuyến Biệt Đội, nhưng bọn chúng gặp phải sức kháng cự của Ban Chỉ Huy Biệt Đội, đã sử dụng lựu đạn và M.79 tiêu diệt hơn 10 tên địch quân. Lúc bấy giờ, tôi mới biết là Ty Cảnh Sát đã hoàn toàn bỏ trống, toàn bộ nhân viên trong Ty và Cảnh Sát Dã Chiến đã di tản, tháo chạy từ trong đêm hôm qua.
    Ngay trong thời điểm đang phải chiến đấu cam go, nóng bỏng, hiểm nguy như thế này, thì Âm thọai viên Biệt Đội cho tin: “Đại Úy Thứ vừa gọi máy, thông báo lệnh của Trung Tá Thông, toàn bộ đơn vị sẳn sàng rút quân. Lại rút quân !!!”.
    Nghe tin, chưa kịp định thần, thì ba bốn chiến xa T.54 của địch đã cán sập tường rào, lù lù càn tới, bất kể sự phản công mãnh liệt của Biệt Đội. Đại bác 75, XM.202, M.72 hết hiệu quả tác xạ trong tầm quá ngắn, chỉ còn Đại Liên, XM.16, M.79 và lựu đạn là còn xử dụng, để tiêu diệt đám cộng quân tùng thiết, đang la hét khủng hoảng tinh thần đối phương và chận đứng các xe tăng địch, đang nặng nề xoay chuyển trong Doanh Trại Cảnh Sát Dã Chiến, với đầy dẫy kẽm gai và công sự.
    Đã quá trưa, tình hình chiến sự trong toàn khu vực vẫn còn sôi động, cộng quân không ngừng pháo và tấn công khắp nơi. Tôi vẫn bình tĩnh chỉ huy Biệt Đôi. Một mặt vẫn giử liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để nhận chỉ thị, một mặt biết chắc không thể tiếp tục đối đầu cùng địch, trước những đàn chiến xa mỗi lúc mỗi gia tăng. Tuân hành theo lệnh rút quân đã được ban hành từ Trung Tá Thông, mà cũng nhằm để bảo toàn lực lượng, tôi quyết định rút Biệt Đội ra khỏi Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, di chuyển khoảng 1 cây số, về hướng Đông Bắc, chiếm lĩnh lợi thế trên một đồi rừng non, đâu lưng với sông Dak-Lung chừng 500 mét. Các Trung Đội dàn trải đội hình bao quanh đỉnh đồi, đào hầm hố, bố trí sẵn sàng nghênh chiến. Và, y như rằng, không đợi lâu, bọn Việt cộng đã đuổi theo truy kích, chúng lố nhố, vừa leo đồi vừa nổ súng bắn tới tấp, bất chấp sự phản công ác liệt của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù Biệt Đội 814 từ trên cao điểm. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ giao tranh, mặc dù Biệt Đội tiêu diệt được nhiều địch quân, chận đứng kịp thời các đợt xung phong, tiến chiếm đỉnh đồi của địch, nhưng Biệt Đội đã phải hy sinh Thượng Sĩ Thủy Trung Đội Phó và B.1 Tài khinh binh, riêng Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc thì bị trọng thương, máu chảy lênh láng, Trung sĩ Đức Y Tá Biệt Đội phải sử dụng nhiều lượng thuốc cầm máu, rửa sạch vết thương, nẹp cây hai bên cánh tay để băng bó mới dứt hẳn được.
    Ngay trong lúc này, hai công việc tôi phải làm: Việc trước tiên là tiếp tục liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và được biết BCH đã rút ra khỏi Tòa Hành Chánh Tỉnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long hầu như đã bị Việt cộng chiếm cứ mất rồi. Giờ này chắc Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn, đang trên đường bôn tập, không biết có được an toàn? Nếu có nhanh chân tẩu thoát được, thì đang ẩn núp, lẩn trốn đâu đó. Việc thứ hai, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, dưới tầm pháo địch, Biệt Đội cũng phải đào hố chôn cất thi hài Thượng Sĩ Thủy và Binh I Tài, những chiến binh đã Anh Dũng Hy Sinh đền nợ Nước.
    Trời chiều xuống dần, cả một không gian mờ nhạt bao trùm Tỉnh Lỵ Phước Long, trong giờ phút này đã hoàn toàn rơi vào tay giặc cộng. Thấp thoáng từ xa, một vài đám cháy rãi rác trong Thị Xã, thỉnh thoảng bùng sáng lên, rồi lại lụn tắt dần cùng với ánh chiều tà.
    Phước Long thật sự đã mất, mất theo với Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng Tỉnh Phước Long, với Trung Tá Quận Trưởng Quận Châu Thành, với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và còn nhiều nhiều Quân Dân Cán Chính khác nữa, làm sao kể xiết.
    Liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để báo cáo tình hình và kế hoạch rút quân, nhưng đường vô tuyến bị nhiễu loạn. Không thể chậm trể, chiến trường đã phó mặc cho tôi chỉ huy chiến đấu sống còn, thì tự tôi phải biết định đoạt vận mạng cho các Chiến sĩ và bản thân. Chỉ cần một đợt pháo hỏa tập của địch, cùng với sự hợp đồng tác xạ đại bác 75 ly từ đỉnh Núi Bà Rá, thì Biệt Đội 814, tất cả đều sẽ trở thành cát bụi.

    Núi Bà Rá
    Không còn chần chờ, mạng sống của trên 150 Binh sĩ Biệt Đội 814 đều nằm trong giải pháp dứt khoát của tôi. Lợi dụng màn đêm buông xuống, tôi ra lệnh cho các Trung Đội cấp tốc, lặng lẽ rút xuống đồi, di chuyển về hướng Đông Bắc tiếp cận bờ sông Dak-Lung, nơi đây bằng mọi giá, ngay trong đêm, phải tìm cách vượt sông Dak-Lung. Qua bên kia sông, Biệt Đội sẽ được an toàn hơn.
    Dòng sông Dak-Lung nước chảy xiết, rất mạnh. Hai bờ sông cách nhau khá xa, ít nhất là 50 mét. Một số Binh sĩ không biết bơi, với vũ khí đạn dược còn lại trên người, sẽ không an toàn tính mạng. Sau một thoáng suy nghĩ, tôi quyết định cho một Toán Tiền Sát dưới sự chỉ huy của Trung Úy Biệt Đội Phó Nguyễn Văn Quí, đi ngược bờ sông hy vọng sẽ tìm thấy một khúc sông hẹp hơn.
    Cũng trong lúc này, đức tin của một Phật Tử trổi dậy trong lòng, tôi chắp tay ngưỡng mặt lên trời với vô số vì sao, thầm cầu nguyện đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hầu mong Đấng Từ Bi gia hộ phù trì cho tôi tìm ra sinh lộ, đưa Biệt Đội thoát cơn nguy biến. Và như linh ứng hay là một trùng hợp thiêng liêng, chỉ sau một quãng thời gian ngắn, Trung Úy Qúi báo về, đã tìm thấy được mấy cái bè tre của người Thượng Stieng cư ngụ vùng nầy bỏ lại, đang neo đậu bên một lùm cây cổ thụ.
    Nhờ vào khả năng bơi lội của người vùng biển Nha Trang, Trung Úy Qúi đã đưa một Tiểu Đội qua sông, và trong sáng kiến chung, những sợi dây rừng, dây ba chạc, dây dù “mưu sinh thoát hiểm” được nhanh chóng kết nối, nhờ vậy mà cả Biệt Đội lần lượt vượt sông nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, trong im ắng nhưng cũng đầy bất trắc có thể xảy ra.
    Trong ngày qua, hôm nay và ngay thời điểm này, rất đông đồng bào Tỉnh Lỵ Phước Long, đã liều chết băng qua cây Cầu Thác Mơ, nằm về hướng Đông Thị Xã, bắc ngang sông Dak-Lung. Việt cộng tuy không ra đón đường ngăn chặn đồng bào, nhưng từ nhiều phía, chúng đã rót pháo vào đoàn người chạy giặc, nhiều thường dân không nhanh chân, đã bị chết hay bị thương, không người cấp cứu, nằm lăn lóc trên bờ đường, phía bên này và bên kia cầu. Cũng như ở Quảng Trị, cũng như ở Bình Long năm 1972, Việt cộng đã gây nên ở đây, một “Đại Lộ kinh hoàng” giữa rừng hoang, đem lại thảm khốc cho người dân lành vô tội.
    Lẫn lộn trong đám người chạy loạn đó, có một số Quân Nhân, Cán Bộ, Cảnh sát… trong giờ phút này không thể phân biệt được. Họ đã nhập đàn, lũ lượt cùng với Biệt Đội 814, để vạch lá băng rừng chạy thoát giặc cộng.
    Suốt đêm, Biệt Đội cứ theo La Bàn nhắm về hướng Đông Đông Bắc mà đi, đi mãi, không ai nghỉ ngơi hay chợp mắt ngủ. Tôi tránh không đi lên hướng Đông Bắc, phía có mật khu Bùi Gia Mập. Đó là phía cộng quân di chuyển, tiếp tế hoặc tăng viện cho chiến trường Phước Long.
    Theo hướng Đông Đông Bắc, đường đi Gia Nghĩa, Bảo Lộc, dẫu sao cũng an toàn, bất ngờ hơn, dù rừng rậm, rất hiểm trở, nhưng hy vọng không phải đụng độ với địch quân. Đồng Bào đang đi theo sau Biệt Đội, nếu có chạm địch, chắc chắn cộng quân sẽ không ngần ngại khi bắn vào dân chúng, thiệt hại không nhỏ.
    Khi mặt trời lố dạng, nhìn vào tấm Bản Đồ thì Biệt Đội đã vượt xa hơn 10 cây số.
    Biệt Đội 814 vào trận ngày 4 tháng 1. Phước Long thất thủ hôm qua, ngày 6 tháng 1. Đã một đêm, một ngày trôi qua, tầng số máy PRC.25 truyền tin cứ bị giao thoa, nhiễu sóng, chẳng liên lạc được ai và chẳng ai liên lạc được. Di chuyển suốt cả ngày, chỉ ăn qua loa, cầm chừng bằng gạo sấy, không có nước sôi, không một phút nghỉ ngơi, chợp mắt. Với tình trạng này, đêm nay không cho Biệt Đội lấy lại sức, lỡ bất ngờ tao ngộ chiến, Biệt Đội không còn một chút hơi tàn nào để cầm cự.
    Sáng hôm sau, Biệt Đội tiếp tục lên đường. Nhìn lại đoạn đường Biệt Đội đã đi qua, thì Phước Long bấy giờ đã quá mịt mù, xa lắc xa lơ. Rừng núi từ đây tương đối thấp dễ đi, thỉnh thoảng có nhiều con suối nước trong và chảy xiết. Khoảng gần trưa, Biệt Đội vừa băng qua một trảng trống, thì Hạ Sĩ Huệ, truyền tin Biệt Đội, với bộ mặt mừng rỡ, trao ống bồ đàm cho tôi và nói:
    – “Đại Úy, Thái Dương đang gọi Đại Úy”.
    Đây là lần đầu tiên liên lạc được với cấp Chỉ Huy cao nhất của Liên Đoàn: Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, sau gần một tuần lễ chiến đấu và bôn tập. Tiếng nói từ Đại Tá đã xoa dịu được phần nào nỗi trầm uất của một đội quân chiến bại, đang trên đường cao bay xa chạy.
    Suốt ngày nay, vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn không ăn không ngủ. Thất lạc những đứa con: Biệt Đội 811 và 814 cùng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, Đại Tá Huấn lo lắng, bồn chồn như ngồi trên đống lửa.
    Ông liên tục theo Phi cơ Quan Sát L.19, bay miết trên vòm trời cao của Phước Long, để tìm kiếm cho ra những chiến binh của mình. Hỏa tiễn Việt cộng bắn lên dữ dội, khiến Ông phải dùng L.19 cho được an toàn. Có khi Ông muốn dùng trực thăng, bay thấp hơn, để dễ tìm thấy, nhưng cao xạ phòng không của địch vẫn là mối đe dọa, không thể liều lĩnh được.
    Vậy là sau hai đêm, hai ngày, Đại Tá Huấn tìm ra được Biệt Đội 814.
    Sau khi chấm tọa độ chính xác vị trí của Biệt Đội đang dừng quân. Theo hướng dẫn của Đại Tá từ trên Phi cơ L.19, Biệt Đội rẽ về hướng chính Đông, lội qua một con suối, đi chừng khoảng nửa cây số thì dừng quân bố trí tại một trảng tranh rộng nằm lọt giữa một khu rừng tre dày đặc.
    Không đầy một giờ đồng hồ sau, một đoàn Trực Thăng UH.1B tuần tự đáp xuống, bốc Biệt Đội 814 đưa về Căn cứ Hành Quân tại Suối Máu, Biên Hòa. Tiếp theo sau là số Quân Dân chạy loạn. Tất cả cũng đều được Đại Tá Huấn đưa về Biên Hòa, chuyển giao cho Quân Đoàn III, Phòng Xã Hội chăm sóc.
    Khi tôi vừa từ Trực Thăng phóng ra là đã thấy một số đông phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đứng đầy trên bãi. Phước Long mất đã hai ngày nay rồi. Dân chúng Saigon dao động, lo lắng. Bóng ma cộng sản gần kề hơn!!!
    Đang bắt tay cùng các chiến hữu, với nét mặt vui tươi, mừng rỡ, chào đón Biệt Đội tôi sống sót trở về từ cỏi chết, thì một cô gái người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong bộ trang phục quần Tây dài, áo bốn túi, màu xanh nhạt, bước đến bên tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu tên là: “Thục Viên, phóng viên Nhật Báo Sóng Thần, muốn phỏng vấn…”
    Tôi chưa kịp nói gì cả, cảm thấy chân tay như rã rời, chỉ thèm được uống một ly cà phê đá, hay một ly soda chanh cho đã cái khát chất chứa trong suốt mấy ngày qua. Nhưng, miễn cưỡng, tôi nghĩ cũng khó mà từ chối trước lời đề nghị nhiệt thành và đầy thân thiện của cô ta. Thế là một hai câu hỏi và trả lời bắt đầu và trôi qua.
    Về sau, tình cờ tôi đọc được bài phỏng vấn này trên Nhật Báo Sóng Thần, với lời mở đầu đầy hài tính, nhưng phản ảnh trung thực về cá tính của con người tôi:
    “Sau khi Phước Long thất thủ, các đơn vị tham chiến tại đây, trong đó có Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù đã phải tìm đường thoát nạn. Sau hai ngày hai đêm băng rừng, vượt núi, đơn vị đầu tiên được Đại Tá Phan Văn Huấn tìm thấy và đưa trở về lại căn cứ hành quân trú đóng tại Biên Hòa, đó là Biệt Đội 814 do Đại Úy Lê Đắc Lực chỉ huy.
    Đại Úy Lê Đắc Lực, người cao to, có để bộ râu mép đậm dài, tướng đi bệ vệ trông chẳng khác gì một con gấu. Nhưng khi tôi tiếp xúc phỏng vấn thì thấy Đại Úy Lực rất hiền lành, trả lời câu hỏi từ tồn, nhã nhặn, chân tình, nhìn Đại Úy Lực lúc này thì lại giống như một con nai, phản ảnh trái ngược hoàn toàn với tướng dáng con người của Đại Úy Lê Đắc Lực……”
    Ngay chiều hôm đó và qua sáng ngày hôm sau, Đại Tá Phan Văn Huấn đã tìm và đưa được Biệt Đội 811, Đại Úy Trương Việt Lâm, cùng Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn và một số Quân nhân của Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật trở về. Nhưng Liên Đoàn và riêng Đại Tá Phan Văn Huấn, vẫn mang nặng nỗi đau buồn lớn lao khi đã để lại tại chiến trường Phước Long một số xác thân của các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã hy sinh, và còn nhiều quân nhân khác vẫn chưa tìm thấy, mà sau này được biết đã bị Việt cộng bắt làm tù binh bao gồm: Trung Úy Đức, Chuẩn Úy Cấp, Chuẩn Úy Phước (BCH.I / CT), Thiếu Úy Long, Chuẩn Úy Bảo, Chuẩn Úy Lịch, Chuẩn Úy Linh (BĐ.811). Mãi cho đến ngày Miền Nam sụp đổ họ mới được trở về, để rồi sau đó không lâu lại phải đi tù “cải tạo” khổ sai.
    Trên bãi Trực Thăng dã chiến, tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, một Nghi Lễ được tổ chức để tưởng thưởng Huy Chương, Cấp Bậc cho hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật “bại trận trở về”.
    Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đứng trước mặt tôi, cầm chiếc Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, dí hai mũi kim vào trên nắp túi áo trái ấn mạnh, kim chạm vào ngực làm hơi buốt nhói, tôi cảm nhận máu đang ứa rỉ bên trong, nhưng đó chỉ là những bụi máu nhỏ so với muôn ngàn dòng máu thắm mà Đồng Đội tôi, Chiến Hữu tôi của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chảy đổ ra để hiến dâng cho Tổ Quốc, trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh Quốc cộng. Tôi bắt chặt tay Trung Tướng Tư Lệnh, rồi kính cẩn chào trong nỗi xót xa, đau đớn tận cùng.
    Và tôi đã khóc, vì tôi cảm thấy chưa hoàn thành sứ mạng: “Bảo Quốc An Dân”.

    Sống chết bên nhau

    Tiếng chim buổi sớm

    hoiquantramhuong.org
    Huy Phương
    Post on 25 Jul 2013

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Ngày bị đày ra tận Hoàng Liên Sơn, “lán” tù tôi ở bên một dòng suối nhỏ, đầu “lán” có một cây rừng, đến mùa hè hoa nở đỏ. Buổi sáng, tôi thường thức giấc sớm, nghe có con chim lạ đến hót những tiếng líu lo ở trên cành. Tôi nằm yên, quên hết phiền muộn, tận hưởng những âm thanh tuyệt diệu, âm thanh đầu tiên của một ngày. Để sau đó, không bao lâu, là tiếng kẻng tù gắt gỏng nổi lên giữa buổi sớm mai, bắt đầu một ngày lưu đày khốn khổ.
    Ai cũng cho rằng khi nằm trên giường thì bắp thịt ta được nghỉ ngơi, nhịp tim đều đặn, hơi thở nhẹ nhàng, giác quan tinh tế hơn, và ta có thể tập trung tinh thần vào những cảm giác hay những ý tưởng của mình một cách tuyệt đối. Ông Lý Lạp Minh, một nhà văn Trung Quốc khuyên ta buổi sáng nên nằm giường mà nghe chim hót, là điều thú vị nhất. Tôi cũng đã hưởng được những giây ấy, mặc dù là ngắn ngủi. Ở thành phố hay thôn quê, đâu cũng có chim, chẳng qua là vì cuộc sống tất bật, chúng ta không để ý đó thôi.
    Tôi còn nhớ Saigon, buổi sớm mai, những quãng đường như Hồng Thập Tự với những hàng cây cao đầy bóng mát, luôn luôn ríu rít tiếng chim kêu. Ngày ấy đời còn vui, chim còn đậu đất lành, tiếng động cơ của xe cộ hay tiếng xích lô máy nổ dòn dã cũng không đuổi hết đàn chim phải bay rời xa tổ. Ngày đất nước rã rời, phải lên tàu Sông Hương ra Bắc, những hôm phải vác một con dao lên những đồi tre, qua những cánh rừng, chặt chục cây mương hay kiếm mớ củi, cô đơn lầm lũi giữa làn cây, nghe tiếng chim kêu mới thấy nỗi sầu trong dạ.
    Có những tiếng chim chiêm chiếp như tiếng gà con, bồi hồi nhớ đến đàn con còn bé dại ở quê nhà. Có tiếng chim cu gáy xa xa, đáp lại ở đâu đó tiếng đồng loại hoà điệu, nghĩ lại tấm thân cô đơn với nỗi buồn nơi xứ lạ. Rồi tiếng chim rừng khắc khoải “bắt cô trói cột” vẫn thường nghe mỗi trưa nơi rừng Việt Bắc, tiếng kêu kéo dài cho đến lúc nắng quái buổi chiều. Tiếng kêu đanh lại, nghe như gằn từng tiếng, theo đầu óc tưởng tượng của mỗi người với những hoàn cảnh riêng, như lời kêu thống thiết, oán thán, trách móc não nuột. Tiếng chim “bắt cô trói cột” nghe thành “hết cơm tới bột” còn chút khôi hài, đói rã họng “đói cơm đứt ruột” còn nghe lời động viên “khó khăn khắc phục” lập đi lập lại nghe tới nhàm chán. Nghĩ theo lời chim, mường tượng như nỗi than khóc “nhớ con đứt ruột”.
    Rồi con chim “cuốc” lầm lũi đâu đó trong khóm lúa, bụi cây, vào cuối xuân hay đầu mùa hè, không hề biết hót mà kêu lên những tiếng khắc khoải, từng tiếng từng tiếng một, nghe ra não nùng, hờn oán của người “mất nước” phải khoanh tay, để “nhớ nước đau lòng con quốc quốc” (Bà Huyện Thanh Quan). Con chim này được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa, là hoá thân của Vua Thục Đế, mất nước khóc đến chảy máu mắt, chết đi hoá thành con chim, cất lên những tiếng kêu não nùng. Tiếng chim “cuốc” nghe xót xa phù hợp tâm trạng người “mất nước” phải xuống tàu đày đi biệt xứ. Nhớ lại câu thơ của Chu Mạnh Trinh:
    “Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu
    Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.”
    Cung miếu triều xưa nay vắng ngắt,
    Trăng mờ khắc khoải “cuốc” kêu thâu.
    (Tiên Đàm dịch)
    Hay của tướng trung liệt Phan Thanh Giản:
    “Ải Bắc ngày chờ tin nhạn vắng,
    Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu!”
    Còn loài “chim quyên” khác ta thường thấy là một loài chim nhỏ, có bộ lông óng ánh, nâu pha đốt đỏ, có tiếng hót rất hay, thường vào ban trưa ở trong bụi hay đầu hồi nhà. Nhưng không hiểu tại sao người ta lại đánh giá cao để ví chim quyên cao như người quân tử, quân tử sao mà sa cơ, như “chim quyên xuống đất ăn trùn, anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than”.
    Gà là loại cầm, nó không biết hót, nhưng con gà trống có tiếng gáy vào buổi ban trưa làm cho người ta nhớ đến bao nhiêu điều: “hiu hắt gà trưa gáy não nùng”. (Lưu Trong Lư)
    Nhà văn Lâm Ngữ Đường thích nghe tiếng kêu của một loại “gà nô” ( tiếng Tàu còn gọi là “giá cô”). Nói là giống gà nhưng nó hót như chim. Tiếng hót có bốn âm do, re, mi … âm mi kéo dài hai ba nốt, ngưng hẳn một tí, rồi tiếp theo bằng một nốt thấp hơn. Giống chim này có nhiều ở phía Nam Trung Quốc, hót trễ vì đây là một giống chim dạn dĩ, không sợ giàng thun bọn trẻ, trái lại hầu hết loại chim khác đều hót sớm vì sợ loài người ác độc. Có khi chúng bặt tiếng luôn vì lưới bẫy giăng khắp nơi, ví lưới chim đem ra chợ bán là một nghề mới kiếm cơm.
    Tiếng hót của giống gà nô này có ba âm và âm cuối kéo dài, có người nghe là “chè, xôi, chuối … thịt”, âm thịt kéo dài ra, thấp xuống rồi ngưng bặt (theo Nguyễn Hiến Lê). Nghe giống như ý nghĩ mấy ông xôi thịt làng xã ngày trước và ngay cả hôm nay. Giống chim này ở Việt Nam cũng có, thời Tây thuộc tôi có nghe người ta nhại tiếng chim là “père, mère, frère … tout est perdu” (cha mẹ anh em mất cả rồi). Nghe ra ngậm ngùi làm sao, như sau một trận hồng thủy, chiến tranh… như một câu oán than: “cha mẹ già đã khuất núi, quê hương đã thất lạc, mộng ước đã tàn phai …” (Bùi Bích Hà).
    Tôi có người bạn già vẫn bị người ta chê là đã vì tự do mà bỏ xứ, sao bây giờ lại giam cầm bao nhiêu loại chim trong khu vườn nhỏ, gây nên cảnh “chim lồng cá chậu”, khuya sớm lo quạt nồng, ấp lạnh, vất vả tấm thân già. Nhưng bù lại, bạn tôi hưởng được cái thú ở đời là mỗi buổi mai thức giấc nằm nướng trên giường nghe tiếng chim khướu hót ngoài hiên. Những buổi sáng đầu mùa hè, tiếng chim sơn ca (chiền chiện) trong ánh sáng mờ mờ của buổi rạng đông đã bắt đầu cất tiếng hót. Những lúc sung sức, ăn uống đầy đủ giọng sơn ca “luyến láy” tuyệt vời, nói theo danh từ làng ca kỹ. Ban trưa, khi trời nắng ấm là lúc những con chim khoen (gọi là vành khuyên vì trên mắt chim có hai vòng khoen trắng) rộn ràng tiếng hót. Buổi tối nếu trong nhà còn đèn sáng, sơn ca vẫn còn cất tiếng, khi có tiếng nhạc ồn ào, thì giống chim khuyên cũng líu lo tưng bừng. Ban trưa nắng, trời ấm nghe tiếng chim cu gù. Những đêm trăng, chúng ta còn nghe tiếng chim “mocking bird” kêu, một loại chim có rất nhiều trên đất Mỹ. Dù là giống chim trời của bốn phương, nhưng giống chim cùng loại đậu ở đâu cũng hót tiếng như nhau, nên người chơi chim còn nghe được chút âm thanh quê hương đâu đó. Hoạ Mi, khướu và những giống chim Á Đông đã theo những người nuôi chim bằng nhiều con đường khác nhau, sang đến miền đất này, để khuya sớm chuyện trò với gia chủ bên tách trà buổi sớm.
    Trời đất yêu loài chim nên tạo ra rừng cây, loài người yêu chim thì phát minh ra cái lồng. Ông Trịnh Bản Kiều bên Tàu, ngày xưa khuyên em ông đừng bao giờ nhốt chim trong lồng, vì chúng ta nên dung hoà với thiên nhiên và vui với vạn vật. Ông cho rằng không phải vì không yêu chim mà ông khuyên em đừng nhốt chim trong lồng, nhưng vì có cái đạo yêu chim và nuôi chim. Muốn nuôi chim thì trồng vài trăm cây chung quanh vườn nhà để chim tìm tới làm tổ. Buổi sáng tỉnh giấc, còn trăn trở trên giường mà nghe tiếng chim hót thì còn gì thần tiên bằng. Lúc đã xuống giường, mặc áo, đánh răng súc miệng, uống trà, còn thấy chim vỗ cánh rực rỡ, bay qua bay lại thì cái vui nhìn chim trong lồng đâu có so sánh được.
    Ở trên đời này ai cũng ghét giọng con chim cú, nhất là chim cú kêu nửa đêm, để người ta miệt thị là “cú giòm nhà” hay “cú kêu nhà bệnh”. Cũng là loài chim, nhưng chúng lại không có tiếng hót của trời cho, mà chỉ có tiếng kêu như giống ngan ngỗng tầm thường. Một loài chim khác chỉ biết kêu hay nói, là giống vẹt. Chúng mang màu sắc sặc sỡ như xiêm áo của bà đồng cốt, tiếng kêu chát chúa chói tai mà nhiều người vẫn thích do cái tài bắt chước ngọng nghịu tiếng nói của loài người, đó là “nói như vẹt”. Đến thăm nhà nuôi vẹt, nghe tiếng vẹt nói ngộ nghĩnh, chúng ta thường cất tiếng cười hỉ hả, nhưng giống vẹt lại cho đó là tiếng tán thưởng vì giọng nói ngô nghê, sao chép vô nghĩa của nó. Ta có bao nhiêu giọng nói quen thuộc, chúng ta chưa đến nỗi thiếu giọng người, thế mà cũng có người thích giọng vẹt-người.
    Những ngày mới đến Mỹ, tôi có nhận thấy ở Mỹ có nhiều bầy quạ đen. Chúng kêu loét choét sau vườn, nhiều khi sà cả bầy xuống sân cỏ. Tôi cho đây là loại chim vô tích sự. Người đời quý màu sắc, mà loài quạ chỉ mỗi màu đen. Người ta thích tiếng hót mà loài quạ chỉ biết kêu. Ai cũng thích sự hiếm quý, mà loài quạ bay đến từng đàn, đuổi đi không hết. Vậy mà nhà thơ Trương Kế của Trung Hoa ngày xưa, nửa đêm nghe tiếng quạ kêu cũng sinh tình làm bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” bất hủ. (Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên…)
    Trong khi trái đất này còn quá nhiều loại quạ, vẹt, cú, kên kên… mà chúng ta còn nghe được có tiếng chim hót, hạnh phúc biết bao! Nếu bạn ở trong một vùng vắng tiếng xe, một buổi sớm mai nào đó, thức giấc, nằm yên trên giường, xin im lặng, thử tìm nghe có tiếng con chim nào đến hót trên cành cây ở đầu nhà không?

    Huy Phương

    Thép có, mà cá cũng có!

    hung-viet.org
    Huy Phương
    29 Tháng Tám 2016

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Nhà máy thép Formosa ở Hà Tĩnh. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

    Chưa lúc nào đất nước Việt Nam lại chịu nhục như trong trường hợp này, để một thằng “khách” đến thuê đất làm ăn ở nhà mình mà hỗn xược nói thẳng vào mặt chủ nhà: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được…” Thủ tướng thì không chắc làm được, nhưng ông Trần Hồng Hà, bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, đã nhanh nhẩu “cứu giá,” tuyên bố, vào ngày 22 Tháng Tám mới đây: “Người dân miền Trung sẽ có cả thép, cả cá và cả một môi trường biển sạch, đẹp, an toàn.” “Sẽ” là bao giờ, tương lai gần hay xa?
    Nói đến tiểu sử ông này là nói đến những thứ lổn cổn, lảng cảng toàn là những thứ của đảng: “Ủy viên Trung Ương Đảng, ủy viên Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương, ủy viên Ban Cán Sự Đảng, bí thư đảng ủy, thủ trưởng cơ quan bộ, thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường…” Đúng là “miệng người sang có gang (mà thêm) có thép!” Dân ráng tin đảng đi, chết thì dân chịu!
    Bằng mọi giá phải cứu Hà Tĩnh. Hà Tĩnh là tỉnh có nhiều ủy viên trung ương nhiều nhất, 16 người, trong đó có ông Trần Hồng Hà và ông Nguyễn Chí Dũng, bộ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư. Cứu Hà Tĩnh là cứu Formosa và cứu túi tiền, tư lợi của đảng.
    Trước khi ông Trần Hồng Hà tuyên bố chúng ta có cả thép lẫn cá, đoàn kiểm tra của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã kiểm tra và phát hiện thiếu sót 58 hạng mục trong bảo vệ môi trường (phân thành ba loại: 23 hạng mục về hoàn thành và quản lý công trình bảo vệ môi trường, 23 hạng mục cải thiện khu vực lưu trữ chất thải, và 12 hạng mục phối hợp thông tin quan trắc bảo vệ môi trường).
    Đến nay, công ty chỉ mới hoàn thành 32 hạng mục; dự kiến đến 30 Tháng Mười Hai hoàn thành tiếp 22 hạng mục; 30 Tháng Mười Hai, 2017 tiếp tục hoàn thiện hai mục thuộc hạng mục kết nối giám sát ống khói; Tháng Sáu, 2018, hoàn thành hai mục thuộc hạng mục lắp đặt thêm bể sự cố nước thải của xưởng xử lý nước thải.
    Những hạng mục chưa thể hoàn thành chủ yếu là các hạng mục phải cải thiện lâu dài gồm hệ thống xả nước thải và xả khí thải; hiện đã sắp xếp thời gian cải thiện, có thể hoàn thành trong ba năm.
    Trong lĩnh vực quản lý xả thải, nhằm bảo đảm phù hợp với tiêu chuẩn quản chế nước xả thải, Formosa sẽ lắp đặt thêm thiết bị quan trắc tự động chất lượng nước và bể sự cố nước thải, ba hạng mục cải thiện đối với xưởng xử lý nước thải.
    Với lĩnh vực quản lý hệ thống khí thải, kết nối đường truyền thiết bị quan trắc tự động của 20 ống khói xưởng luyện thép. Cùng đó, công ty Formosa đang khởi động đánh giá kỹ thuật và tác nghiệp công trình xây dựng, dự kiến, đến Tháng Ba, 2019, hệ thống dập cốc khô sẽ đi vào sử dụng.
    Vậy mà giới chức đảng đã coi thường sinh mạng dân, tuyên bố bừa bãi.
    Vào ngày 5 Tháng Tám, Viện Kiểm Nghiệm An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Quốc Gia lấy chín mẫu hải sản tại huyện Kỳ Anh và huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, để thử nghiệm. Theo báo cáo văn bản số 752/VKNQG-QLCL, kết quả tìm thấy: Trong mẫu cá trạng chuồn có hàm lượng cadimi là 0.079mg/kg, vượt quá giới hạn cho phép. Phát hiện lượng hóa chất độc hại cyanua trong 5 mẫu cá – gồm: Cá đuối (0.8mg/kg); ghẹ 3 mắt (0.8mg/kg); cá nhồng (0.6mg/kg); cá man (0.5mg/kg) và cá mỏ neo (3.9 mg/kg). Ngoài ra, xét nghiệm cũng phát hiện hàm lượng phenol trong ba mẫu cá (gồm: Cá đuối (14mg/kg); ghẹ ba mắt (10mg/kg) và cá man (8.3mg/kg), theo trang blog Danlambao.
    Trong khi đó, chất thải công nghiệp được nước ngoài, các công ty đã chọn Việt Nam làm bãi rác để tống khứ, vì đất nước dễ hối lộ, không có dân quyền, chính phủ chỉ lo tiền mà không lo cho sinh mạng của dân chúng. Chất thải của công ty Formosa Hà Tĩnh hiện đã đổ thải trái phép ngay trong trang trại của ông Lê Quang Hòa, giám đốc công ty môi trường đô thị thị xã Kỳ Anh. Chất thải này cũng được chia phần cho Phú Thọ. Công ty Ánh Dương ở Đà Nẵng cũng bị phát hiện đã chôn lấp hơn 35 tấn rác thải. Nhiều bao bì để lại chứng minh những loại chất thải này cũng đến từ Formosa.
    Sự thật đang xẩy ra trên đất nước khác hẳn với những lời khoa trương của các cấp lãnh đạo. Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì một hội nghị “trực tuyến” toàn quốc về bảo vệ môi trường, hùng hậu vì có sự hiện diện của hai ông phó thủ tướng khác.
    Ông thủ tướng cũng công nhận rằng, trong thời gian qua, các vi phạm pháp luật về môi trường bùng phát, xảy ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống người dân, gây bất ổn xã hội. Ông này cũng hứa: “Kiên quyết không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường, cuộc sống bình yên của người dân.”
    Ông Trần Hồng Hà cũng phê bình: “Một số ngành, địa phương chỉ chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt nên dễ dãi trong việc thẩm định, xét duyệt dự án; hiệu lực, hiệu quả trong việc phòng ngừa, kiểm soát các nguồn ô nhiễm của nhà nước chưa cao.”
    Hai ông phó thủ tướng cũng lên án: “Vừa qua, việc đánh giá các dự án có tác động môi trường còn dễ dãi” (ông Trịnh Đình Dũng).” Và “yêu cầu các địa phương phải có kế hoạch cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, lâu nay chỉ nói nhiều, hành động ít” (ông Vũ Đức Đam).
    Thủ tướng, phó thủ tướng, và bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường hiện nay là những nhân vật cao cấp, quyền hạn nhất trong vụ Formosa, nhưng nhân vật nào nói cũng nhiều, phần lớn đổ cho cấp dưới, những thứ gọi là ngành, địa phương, và toàn là kiên quyết, yêu cầu, ra lệnh.
    Ai cho phép Formosa, một thứ độc dược đã bị ngay quê hương của nó xua đuổi, đến đây để đầu độc dân mình, chẳng nghe ai đấm ngực nhận tội cả. Đảng lãnh đạo, đảng dẫn đường, đảng chỉ huy. Tòa án, quốc hội, chính phủ đều nằm trong tay đảng, thì “ai trồng khoai đất này?”
    Không nghe nói đến số tiền bồi thường $500 triệu, cũng không nghe nói đến vụ “xử lý” Formosa, dân bốn tỉnh miền Trung vẫn còn gác thuyền lên bãi, di cư đi bán vé số, làm thuê… để chờ biển sạch, hay chờ ngày không còn… đảng.
    Cũng với cung cách và tư duy mị dân hạ đẳng, “những con sâu béo tròn béo trục!”(chữ của Nguyễn Đức Lập) gồm Bộ Trưởng Trần Hồng Hà và đảng uỷ bốn tỉnh miền Trung kéo nhau đi tắm biển và ăn tôm mực tại chỗ để cho dân vững lòng tin ở đảng! Kết quả biển đã sạch chưa, tôm cá đã hết nhiễm độc chưa, lấy lại niềm tin của dân, phải chứng minh bằng khoa học, chứ không phải bằng lối nếm nước biển hay ngửi tôm cá để hô lên là biển đã sạch.
    Nguyên chủ tịch nước thì sau khi lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của ngư dân đã có những “chia sẻ, động viên ngư dân bám biển, vươn khơi!” Nghĩa là sao? Biển độc, cá chết, cũng bám biển, vươn khơi …để làm gì? Đúng là một nhóm phục vụ nhân dân bằng “đầu môi, chót lưỡi” và phát ngôn những lời rất là vô nghĩa.

    Thật là “phước đức” cho dân tộc Việt Nam, nhờ có đảng dẫn đường, ngày nay Việt Nam không những đã có cá mà còn thêm thép nữa, hạnh phúc trong vòng 70 năm, thời gian đủ cho chất độc ngấm vào đất, vào nước, vào thực phẩm, vào máu dân Việt. Cứ tin tôi đi, việc đuổi Formosa, $500 triệu bồi thường, chất độc trong cá trong biển, sẽ được đảng giải quyết theo lối “cứt trâu để lâu hóa bùn,” chỉ có những ông chủ của đất nước sẽ đói từ từ và chết cũng từ từ.
    Sợ đến lúc đó, “còn đảng” mà không “còn mình!”
    Vậy muốn “còn mình” thì đất nước này phải không “còn đảng!”

    Huy Phương

    Những đoản văn của một thời

    baotreonline.com
    Tim Nguyễn
    Post on April 13th, 2023

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Tháng Ba rồi tháng Tư… Bao nhiêu hình ảnh hiện về trong trí óc anh em. Xin cùng nhau nhớ lại để xót thương và mơ mộng.
    Người đi về hướng gió…
    Người đi đi mãi về hướng gió
    Cứ nghĩ về một đốm lửa
    Ai nhóm hắt hiu
    Những câu thơ rất hay của Phạm Chi Lan (ôi Lan ra đi mới đó mà đã mười mấy năm rồi) được đọc lại trong buổi sáng đầy gió trời, đã gợi hứng cho mình viết bài văn ngắn này. Người đi đi mãi về hướng gió… Ði đâu vậy cà? Ði về phía đền thờ hay về phía hoàng hôn trên đại vực Grand Canyon? Hay đi về phía vịnh Tây Tử nơi có những đống lửa cháy trong đêm, sưởi ấm những mối tình đồng tính.
    Như một đêm bên ánh lửa vùng nhiệt đới
    Người mê đắm một vùng ngực trần
    Quyện mùi chocolate và tiếng reo của khát vọng
    Như thế đó những chuyến đi về hướng gió mùa. Hãy nghe
    cũng một đêm nào như đêm nay
    khi những chiếc trực thăng di tản thương binh về hậu cứ
    trong quán cà phê. không đốm lửa
    em gục đầu trên vai anh
    nhủ thầm. bình minh. bình minh
    anh khóc với bình minh
    Một cuộc chia tay thời chiến. Khi bình minh lên ở chân trời cũng là lúc xa nhau, anh lên đường về hướng gió, và có thể bị một viên đạn ầu ơ bắn vỡ toang lồng ngực.
    Có những chuyến lên đường về hướng gió như thế đó. Và trên đường đi đôi khi ta gặp một nỗi buồn lớn. Như năm nào đã xa, thật xa, trong chiến tranh Việt Nam, tôi đi trên đường biên giới, “chợt nhớ bài thơ yêu em ngày nào đã viết / lúc còn phố vui. mái ngói. và lũ chim…” Còn nữa… Sau chiến tranh, cũng một đêm trời nổi gió, và mưa, những chiếc xe molotova bít bùng chở tù về hướng Tân Cảng. Khi xe chạy ngang cầu Sài Gòn, nhìn qua khu Thanh Ða, ủ ê những chấm đèn, lòng nhớ vợ con và mái nhà xưa rưng rưng nước mắt… Thế đó, người đi đi mãi về hướng gió… Thật sự, cũng có đôi lúc đi trong chiều thanh thản. Như Hồ Dzếnh, “ngỡ hồn mình là rừng / ngỡ hồn mình là mây / nhớ nhà châm điếu thuốc / khói xanh bay lên cây”… Hay như Lê Văn Ngăn, “đốt điếu thuốc nghiêng nghiêng chiều lửa đỏ / ngày trên cao reo mấy ngọn bạc hà…”
    Và bạn ơi, người đi mãi trên con đường của gió mùa, đi qua cuộc tử sinh. Về chưa… Về chưa… “Cháy trong vườn lãng quên / chiều hoe. đốm lửa / người tù xa lâu năm trở về / bên mái nhà và bờ ao / mùa thu tàn ố / khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên / nấm mộ đá ong / dế khóc…
    Và em ơi, tôi viết những dòng này đặc biệt gởi về em. Bởi lẽ, cuộc za-zu qua trần thế đầy bụi, máu, mồ hôi và nước mắt, rồi cuối cùng cũng tới nơi một điểm hẹn. Ấy là Talahassee.
    vẫn chiếc áo sờn cổ
    đôi giày của gã lãng du
    tôi đi. với mảnh trăng mùa đông
    này bạn văn xưa
    còn không những nét dao trên đá
    về số phận. của một người. một đời
    và đốm lửa
    tôi nghe thơ anh cùng tiếng chuông ngân
    giã từ
    giã từ
    những mùa của quỷ
    Có phải không, đi mãi về hướng gió, nghĩ về những đốm lửa hắt hiu là như thế. Cảm ơn nhà thơ và những câu thơ để kẻ này có dịp nhìn lại cuộc hành trình của đời mình, của bạn bè. Và lịch sử.

    …Và những cánh chim lạc loài
    Chiều nay run rẩy tha đôi cánh
    Một bóng sơn ca đến lạc loài
    Một lần nữa, Nguyễn xin được trở lại với câu thơ của Văn Cao và những thân phận những di dân trong thế kỷ vừa qua và những năm mở đầu thiên niên kỷ này.
    Gió đã lên. Gió đã lên. Những cánh chim trời phiêu lãng vẫn mịt mù trên những miền đất lạ. Vừa qua, về lại New Orleans, mình tìm lại lối trăng moonwalk, nghe sóng dậy ven bờ và tiếng còi tàu chợt hụ chợt nín trên dòng Mississippi. Ðể nhìn lại bức tượng Di Dân với bao cảm xúc ùa về. Vẫn hai vợ chồng với một con gái còn bế trên tay và cậu trai đã lớn đi bên cạnh tay cầm tay bố.
    Ngắm nhìn pho tượng trong đêm, nghe lại bài thơ lưu lãng trên sông Mississippi – bài thơ với đôi mắt “xanh như đêm dài” và những cuộc đời nổi nênh mãi mãi vẫn chưa viết xong. Và rồi, một đoạn phim truyền hình vừa xem chợt hiện lên trước mắt với hình ảnh một anh da đen gầy ốm, không áo mặc, trên mình chỉ có chiếc quần xà lỏn, vừa đi vừa nói năng nhảy múa trên một con phố nào đó của xứ Somalia hay Sudan. Anh đang đi, mắt nhìn vu vơ, bỗng một người chĩa súng vào bụng anh và bóp cò. Màn hình lúc ấy chợt im sững trong một giây, và mắt anh da đen mở lớn, rồi anh từ từ khuỵu xuống.

    Tờ Dallas Morning News số ra ngày nào đã lâu, nói về những di dân Mễ Tây Cơ trở về cố quận rồi lại dứt áo ra đi lần nữa. Như cô Yolanda Arzola. Không chịu đựng nổi cách đối xử của chính quyền nước Mỹ đối với những người nhập cư bất hợp pháp (như cô), Arzola đã mang các con (sinh đẻ ở Mỹ) về lại Mexico. Cô về và tính ở lại luôn. “Giây phút vừa mới đặt chân trở về, nỗi xúc động dâng lên ngập lòng cho đến nỗi bạn nghĩ rằng mọi sự đều dễ dàng, có thể thực hiện được.” Arzola phát biểu trong căn nhà thời thơ ấu chỉ có hai cái giường, khi em gái cô đang giặt quần áo dưới suối, dùng một hòn đá để chà chiếc áo sơ mi. “Và rồi thực tế làm bạn thức tỉnh, và tự hỏi chính mình, hỏi đất nước Mexico, rằng tương lai ở nơi đâu.” Do đó, Arzola quyết định một lần nữa từ giã người bà 97 tuổi, từ giã anh chị em và quay trở lại Texas, sau đó đi Florida.
    Arzola là một trong hàng trăm ngàn trường hợp. Khắp vùng thôn dã Guanajuato và những vùng lân cận, bản serenade cuối cùng cho những người di dân trở về cố quận đã vang lên và lịm tắt trong đêm. Thế rồi những ngày nghỉ lễ qua đi, đồng tiền dành dụm tiêu hết, vả lại không có việc gì làm, những người trở về lại thấy lòng dạ bồn chồn, nghĩ đến những chân trời khác. Arzola nói trước khi lên đường về lại Texas: “Có cái gì đó trong ngụm nước uống ở Mỹ. Mỗi khi bạn đã nếm thử vị của nó là bạn nhớ nó mãi. Nhớ mãi không rời xa được.”
    Nguyễn đã hiểu vì đâu trong thế kỷ vừa qua người ta bỏ xứ ra đi và hiện tại cũng vậy. Không, không phải chỉ bởi đói nghèo vô vọng mà còn vì bị khủng bố, ngược đãi, truy bức. Hình ảnh anh da đen trong clip phim vừa kể đã nói lên với chúng ta rất nhiều, trả lời cho câu hỏi ray rứt qua nhiều thập niên: Vì đâu anh không ở, tôi không ở, gã Alex trong truyện “Những Người Tử Tế” của Phan không ở. Vì đâu triệu triệu người dứt áo ra đi, nuốt lệ ra đi làm những cánh chim trời bạt gió. Vì đâu? Và như lời nói bất hủ của nghệ sĩ quá cố Trần Văn Trạch, đến cái cột đèn kia nếu biết đi nó cũng sẽ bỏ xứ ra đi?
    Thế mới thấy rằng trái đất này còn nhiều bóng tối và nhiều người chưa hưởng được cuộc sống yên vui ngay chính trên quê hương mình. Và trong bầu trời chứa nhiều bão tố vẫn còn những cánh chim phiêu bạt. Cho nên câu thơ Văn Cao vẫn còn gợi những cảm xúc bồi hồi.
    Chiều nay run rẩy tha đôi cánh
    Một bóng sơn ca đến lạc loài
    TN

    Ngàn năm cây Sequoia

    baotreonline.com
    Tim Nguyễn
    Post on October 13th, 2022

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Nguyễn đã nhiều lần viết về cây. Cây bàng ở Vương Phủ. Rồi cây cam của Thảo Mi ở Tallahassee. Cây mận của Thái Kim Lan ở Munchen. Cây cô đơn có tên là Ténéré trên vùng sa mạc Châu Phi. “Cây giày” trên đường đi tới Las Vegas. Cây thụ cầm ở Hoàng Liên Sơn. Và cây sồi… Hôm nay xin nói về cây Sequoia.
    Nhưng trước hết xin được nói về cái tình của người và cây. Cây và người trong nhiều trường hợp có sự gắn bó rất là thân thiết. Như bạn bè. Như tình yêu. Có khi người nhập vào cây làm một. Chẳng hạn, như trong một truyện ngắn của Hải Miên mà Nguyễn đã có lần nói tới. Hải Miên đã viết về những đời người và những cái cây thật là cảm động, “Ông nội tôi thở hơi cuối cùng khi mẹ đang hối hả đào hố trồng xuống sau vườn một cây ăn trái lâu năm. Ðây là tục lệ của riêng người trong thung. Khi trong nhà có một người lớn tuổi về với đất thì người đàn bà của gia đình đó phải trồng xuống một loại cây lâu năm kịp trước khi người kia im hơi tắt tiếng. Linh hồn của người chết sẽ nhập vào thân cây ấy trong vườn nhà. Với những người trẻ, linh hồn sẽ bay đi nương vào một cây trên rừng. Hằng năm vào ngày mồng một Tết, chúng tôi có lễ thăm cây. Trước hết là thăm cây trong vườn nhà và sau đó tỏa lên rừng. Giờ ông nội đã trú ẩn trong cây mít trước ngõ, bố tôi ở cây xoài sau nhà và mẹ tôi ở cây xoan cạnh bờ mương. Mỗi khi buồn, chị Nụ hay ra tựa lưng vào gốc cây xoan, một chốc lại lẳng lặng quay vào, không muốn để ai nhìn thấy. Nhưng tôi biết bí mật của chị. Tôi còn biết từ dạo nhà có chị dâu, chị rất hay lén ra dựa gốc xoan…”
    Thật là cảm động và cũng đầy tình người, phải không bạn? Bây giờ xin nói tới cây sequoia. Ở đây ta cũng sẽ gặp cái tình thắm thiết của người và cây. Xin bắt đầu với câu chuyện kể về một bạn trẻ lúc còn học lớp 7 lớp 8, nhìn thấy trong sách vạn vật có hình những cây khổng lồ gọi là Sequoia tại công viên quốc gia Hoa Kỳ Sequoia National Park. Từ đó bạn ao ước sẽ có ngày đến được vùng đất có những cây gỗ đỏ khổng lồ này. Và tháng 4 năm 2009 bạn đã thỏa nguyện.
    Sequoia National Park là công viên quốc gia của nước Mỹ nằm về phía nam vùng Sierra Nevada và phía đông của Visalia, California. Công viên được xây dựng ngày 25 tháng 9 năm 1890, nổi tiếng nhờ những cây sequoia khổng lồ, trong đó có cây General Sherman là loại cây lớn nhất trên mặt đất này.
    Loại sequoia này được giới thực vật học Hoa Kỳ đặt tên là General Sherman (Tướng quân Sherman), dựa theo tên viên tướng huyền thoại trong cuộc Nội chiến Bắc – Nam (1861-1865). Cây nặng 2,000 tấn. Số gỗ của nó xẻ ra đủ làm 40 ngôi nhà 5 gian rộng rãi.
    Tên gọi loài sequoia là từ tộc người Cherokee – một trong những bộ lạc da đỏ văn minh nhất. Sequoia chính là tên của người đã sáng lập ra thứ văn tự của họ: thứ tự dạng có 86 hình, mỗi hình tương tự một âm ngữ. Nhờ sequoia mà thổ dân Cherokee đọc và viết được.
    Cây Sequoia khổng lồ có chiều cao từ 70-120m cùng bán kính dày tới 9m, sống đến 3,000 – 4,000 năm tuổi. Quê hương của chúng là các sườn núi phía tây vùng Sierra Nevada, trên bình độ từ 1,400-2,700m so với mực nước biển. Tán lá của cây sequoia dày đến nỗi trong những ngày oi ả nhất của vùng nhiệt đới California, vẫn tạo được độ ẩm tối cần thiết cho thân cành, tạo điều kiện thích hợp với cuộc sống trường sinh cùng màu lá đỏ thẫm vĩnh cửu.
    Cây Sequoia được khoa học hiện đại phát hiện vào năm 1885 bởi nhà thực vật học lỗi lạc người Anh William Lobe trong khu rừng nguyên sinh khổng lồ ở Vera Cruz thuộc tiểu bang California. Từ 90 cây hồi đó, bây giờ chỉ độ 30 cây còn sống. Cây “trưởng họ” cao tới 140m cùng đường kính 35m (đã bị bão quật đổ). Tại Công viên quốc gia ở California có chỗ người ta còn làm đường lộ xuyên qua một gốc sequoia nữa.

    Tại sao loài sequoia đạt được sức sống kỷ lục cao như vậy? Ðiều bí mật nằm trong bộ rễ khổng lồ cùng cấu tạo thân cành của chúng. Do chứa nhiều lượng kháng thể nên sequoia có khả năng chống lại sự hủy hoại khắc nghiệt của thiên nhiên lẫn thời gian, với bộ rễ sâu cứng bảo đảm cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào, khiến thân không bị nấm mốc. Các nhánh rễ của sequoia dày 30cm, ngay cả loài thú đói cũng không dám gặm, đó cũng là một nguyên nhân làm cây tăng tuổi thọ.

    Các nhân viên cứu hỏa tại Vườn quốc gia Sequoia đã sử dụng vật liệu đặc biệt giống lá nhôm để bảo vệ General Sherman, một trong những cây lớn nhất thế giới, khỏi ngọn lửa xâm lấn của đám cháy rừng. nguồn National Park Service
    Thậm chí, cây General Sherman tuy đang hỏng nặng sau 4,000 năm tuổi, vẫn phát triển sung sức: cứ sau hai năm lại rụng thêm một đợt hạt mới – với kích thước bằng đồng xu nhỏ – để duy trì nòi giống.
    Nhà văn Phạm Quốc Bảo trong truyện ngắn có tựa đề Ði Tua kể lại chuyến đi tua của một số du khách tới khu Wawona Mariposa vùng phía nam của công viên quốc gia Yosemite, để được chiêm ngưỡng rừng cây sequoia, một thứ đại cổ thụ sống hàng ngàn năm nổi tiếng thế giới, nằm về phía đông và Bắc California.
    Theo ghi nhận của Phạm Quốc Bảo, cây sequoia có hiện tượng lạ là khi sống tới độ tuổi từ ngoài một ngàn năm trở lên, tự nhiên ruột cây có thể bị cháy đen từ gốc ngược lên dần dần cho đến khi cây chết đổ sụp xuống, như một hình thức tự hủy. Cây có thể đâm nhiều nhánh cành to bằng thân chính. Lỗ hổng của thân cây cháy mục đủ để làm thành một con đường xuyên qua rộng từ hai đến bốn mét.
    Ðọc tới đây, tự nhiên trong lòng gã làm thơ này chợt dâng lên một niềm ngưỡng mộ trước cái chết của cây sequoia hơn ngàn tuổi kia. Một cái chết thật hùng vĩ, thật đẹp. Rồi Nguyễn nghĩ tới cái chết của một vĩ nhân khi tới cuối đời. Văn hào Leo Tolstoy của nước Nga, lúc cuối đời đã bỏ nhà ra đi. Ông để lại đàng sau điền trang Yasnaya Polyana, vợ con và toàn bộ sự nghiệp, đi tới nhà ga Astapovo và chết trong cô đơn. Cũng như cây sequoia kia vậy.
    Và … Câu chuyện kể kết thúc bằng cảnh các du khách xúm lại quanh một cây sequoia đổ, đất bám quanh cụm rễ còn đỏ tươi, mấy người lính gác rừng (rangers) đang chỉ trỏ bàn luận.
    Riêng một ranger khác đứng sát bên thân cây đổ, nước mắt tuôn trên má và óng ánh quanh bộ râu xồm màu vàng hoe của ông.
    Phạm Quốc Bảo viết:
    “Ông ranger kia khóc tận tình, khóc lớn và dai một cách tự nhiên. Và tay ông luôn vuốt ve lớp vỏ sần sùi của thân cây đổ, miệng ông lẩm bẩm. Ðến gần mới nghe loáng thoáng giọng ông nghẹn ngào, đứt quãng. Tại sao?… Sao mày quá yếu vậy? Gió đêm qua có mạnh lắm đâu… Gió trốc sao?… Trời ơi, mày còn quá trẻ. Gốc còn mạnh thế này. Chưa có một vết nám cháy nào. Dù sao tao cũng có lỗi với mày. Ông tao đã trồng nên mày. Cha tao đã cả đời chăm sóc cho mày. Còn tao thì… Tại sao?.. Tại sao?”
    Ta đã thấy người gác rừng khóc một cái cây bị gió làm trốc gốc. Ta hiểu được những giọt nước mắt ấy. Bởi đã ba đời gần gụi chăm sóc cái cây mà nay nó chết hỏi sao không thương, không khóc.”
    Ôi, cái tình của người và cây thật là thắm thiết. Cho nên mãi mãi Nguyễn vẫn yêu cây và muốn viết về cây.
    TN