Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 8 Feb 2025

  1. Phần 16
    Mật Khu Mây Tào

Núi Mây Tào

“Cuối dãy Trường Sơn”
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh lòng thương.
Phận trai già ruổi chiến trường.
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.”
“Chinh Phụ Ngâm Khúc”
(Đoàn Thị Điểm)

Rặng Trường Sơn chạy dài từ Bắc xuống Nam, như cái xương sống của nước Việt Nam. Núi Mây Tào và các ngọn núi nhỏ hơn quanh đó, là những ngọn núi cuối cùng của rặng núi nầy. Từ đó đi tuốt về phía Nam, không còn ngọn núi cao nào nữa.
Về Thu Đông, đỉnh Mây Tào thường có mây bao phủ. Nên nó mới có tên là “Mây” chăng? Tuy nhiên, đối với vùng Miền Đông Nam Phần, Mây Tào có một vị trí chiến lược quan trọng. Người Sĩ Quan, cấp càng cao, càng có nhãn quan đặc biệt về vùng đất chiến lược nầy.
Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, miền Đông Nam phần là vùng Việt Minh hoạt động mạnh, tạo ra những trận đánh lớn. Không chỉ riêng gì mật khu Mây Tào của núi Mây Tào, mà ngay vùng Long Đất, Đất Đỏ, cũng được coi như An Toàn Khu (ATK) của bọn chúng
Khu vực Mây Tào liền với khu Rừng Lá trên Quốc Lộ 1, vùng thung lũng Võ Đắt – Võ Xu về hướng Bắc, vùng Định Quán, Trị An, chiến khu D hướng Tây Bắc, và nối dài lên tận Đồng Xoài, Bình Long, Phước Long qua tới biên giới Việt Miên. Vùng Bình Giả, Xuyên Mộc hướng Tây Nam.
Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, Quân Đội VNCH từng đụng độ lớn với quân cộng sản ở Bình Giả, do đó mà cái tên Bình Giả đi vào lịch sử quân sự chống cộng của quân dân Miền Nam, và trong một câu hát của cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Quốc Lộ 20, đoạn từ ngã ba Dầu Giây trở lên Định Quán, là vùng định cư của đồng bào Miền Bắc di cư 1954, nhờ đó, quân cộng sản không thể thực hiện được một chiến thắng nào ở Định Quán, như trong cuộc chiến tranh trước.
Những nhà chiến lược quân sự của Việt Nam Cộng Hòa thấy rõ tính chiến lược của vùng núi non cuối dãy Trường Sơn. Để hạn chế hoạt động quân sự của phe địch ở đây, một số Quận được nâng lên cấp Tỉnh. Quận Xuân Lộc nâng lên thành Tỉnh Lỵ của Tỉnh mới là Long Khánh. Hàm Tân thành Tỉnh Lỵ Tỉnh Bình Tuy, Bà Rịa thành Tỉnh Lỵ Tỉnh Phước Tuy.
Ba Tỉnh mới nầy nằm ở chung quanh Núi Mây Tào.
Cộng sản biết như thế, không những biết mà biết rất rõ, nhưng nếu muốn hoạt động quân sự ở Miền Đông Nam Phần, miền đất sinh tử để có thể giữ cho công cuộc xâm lăng Miền Nam của cộng sản Bắc Việt được tồn tại và phát triển, bọn chúng phải cố sống cố chết thành lập và xây dựng mật khu Mây Tào.
Khi quân Mỹ và Đồng Minh tham chiến ở Việt Nam, quân cộng sản yếu thế, không quấy phá được ba Tỉnh mới nói trên, và cũng không dám xâm phạm Quốc Lộ 1 ở đoạn Rừng Lá. Cũng trong đoạn Rừng Lá nầy, phía Quân Đội Đồng Minh và VNCH thành lập hai vị trí quân sự quan trọng: “Căn cứ 4 và Căn cứ 5”. Hai căn cứ có bố trí súng đại bác, để yểm trợ hỏa lực cho Quân Đội ta, hoạt động ở các khu vực chung quanh.
Rừng Lá, nơi Quốc Lộ 1 chạy ngang qua, là vùng Việt cộng dễ xâm nhập và phá hoại. Khúc đường có chỗ cong gần như 90 độ, hai bên đường, nhất là phía Núi Mây Tào, toàn loại Cây Cọ, có tàng lá lớn, che kín mọc đầy dẫy, quân Việt cộng thường ẩn núp, di chuyển bên dưới rất an toàn và khó bị phát hiện. Mặt đất tương đối bằng phẳng, chỉ có tre và các cây chồi hoang mọc xen lẫn, nên một số đồng bào đã vào đây khai phá để trồng lúa. Gần tới núi Mây Tào, rừng rậm, cây cao, nhiều dốc đồi, vách đá, khe nước, nên di chuyển khó khăn hơn.
Sau Hiệp Định Paris 1973, lợi dụng tình hình ngưng bắn, Việt cộng gia tăng hoạt động trong toàn khu vực các Tỉnh Miền Đông Nam Phần.
Khoảng đầu tháng 5 năm 1974, Việt cộng tung quân chiếm cứ đồn điền cao su nằm gần ngã ba Dầu Dây, đắp mô trên đường đèo lên Thị Trấn Bảo Lộc, cắt đứt giao thông Quốc Lộ 20. Bọn chúng chiếm đóng trên đỉnh Đèo Mẹ Bồng Con, tấn công vào các Căn cứ Hỏa lực 4 và 5, đắp mô, giựt mìn phá hoại ngay trên trục lộ giao thông ở khu vực Rừng Lá, cắt đứt thông thương Quốc Lộ 1. Tất cả mọi xe cộ, nguồn cung cấp thực phẩm, rau quả, hải sản, từ Đà Lạt, Lâm Đồng, từ Bình Thuận, Phan Thiết đều bị tắc nghẽn, ứ đọng, nằm trải dài hơn hai ba cây số trên Quốc Lộ 1 trong suốt 20 ngày liền.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Mạch Văn Trường, nguyên Trung Đoàn Trường Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, từng bị trọng thương tại chiến trường An Lộc, vừa mới đáo nhậm chức Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, đã điều động các lực lượng tăng phái, bao gồm: một Tiểu Đoàn của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân đến tấn công, tiêu diệt và bắt sống hầu hết địch quân, chiếm lại toàn bộ các khu vực trên. Riêng tại Rừng Lá, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân cơ hữu của Tiểu Khu, suốt mấy ngày liền đã mở các cuộc hành quân giải tỏa, thông đường cho xe cộ vận chuyển qua lại được, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, đến chiều tối, thì đâu lại vào đấy. Địch quân từ mật khu Mây Tào, đưa quân tràn ra đánh chiếm và đắp mô trở lại. Tiểu Đoàn Địa Phương Quân phải rút về phòng thủ, án ngữ tại mặt Bắc Căn cứ Hỏa lực 4.
Trước tình hình thực tại này, không thể để Quốc Lộ 1, con đường huyết mạch bị bế tắt kéo dài thêm. Bây giờ, như đã từng xảy ra, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cuối cùng cũng phải giao phó cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận lãnh trách vụ giải tỏa, truy lùng, tiêu diệt đám giặc cộng đã và đang hoành hành tại khu Rừng Lá, mật khu Mây Tào này.
Lực lượng giải tỏa gồm Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật và hai Biệt Đội 811, 814 Biệt Cách Nhảy Dù. Tôi là Biệt Đội Trưởng Biệt Đội 814, Trung Úy Trương Việt Lâm, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội 811. Toàn bộ từ Biên Hòa, di chuyển bằng xe GMC, đến đóng phía ngoài Phi Trường Quân Sự dã chiến Long Khánh, sát bên hông Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, đồng thời là Tòa Hành Chánh Tỉnh Long Khánh, chuẩn bị vào chiến trường.
Buổi sáng ngày hôm sau, Trung Tá Vũ Xuân Thông, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật, và hai Biệt Đội Trưởng đến họp tại Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Long Khánh cùng với Đại Tá Mạch Văn Trường, Tiểu Khu Trưởng và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.
Biết chắc mật khu Mây Tào là căn cứ địa của Việt cộng, nhưng không nắm rõ quân số của chúng. Trên Quốc Lộ 1, sau khi đánh chiếm Căn cứ Hỏa lực 4 và 5, bọn chúng chiếm giữ đoạn đường nầy, đắp ụ, đóng chốt hai bên Quốc Lộ, giao thông hoàn toàn ngưng trệ bấy lâu nay.
Sau buổi họp, Biệt Đội 814 được lệnh xuất phát. Trực Thăng thả Biệt Đội 814 xuống một vùng đất trống ở Sông Ray, Xã Xuân Tâm, cách Quốc Lộ 1 chừng 500 mét về hướng Đông Bắc. Từ đó, Biệt Đội men theo địa thế, vượt qua các đồng ruộng, ẩn mình dưới những rừng cây cọ, tiến lên phía trước, dọc hai bên Quốc Lộ 1, với một khoảng cách khá xa. Giữa trưa, gần đến vị trí địch đắp mô, thì bất ngờ, Biệt Đội bị địch pháo kích bằng súng cối, một Tiểu Đội phó tử thương và hai khinh binh của Biệt Đội bị trọng thương.
Đơn vị súng cối của địch không đặt ở trên Quốc Lộ 1, mà nằm sâu bên trong Núi Mây Tào. Bọn chúng có thể đã chuẩn bị vị trí đặt súng, canh sẵn tọa độ, mục tiêu, tầm bắn dọc hai bên Quốc Lộ 1, nơi mà chúng dự đoán Quân Đội ta sẽ di chuyển, và nhất là chúng đặt được cái “đài quan sát” trên những ngọn cây cao. Với những lợi thế đó chúng tác xạ tương đối chính xác.
Biệt Đội tạm thời rút lui khoảng hơn nửa cây số, ra khỏi vị trí “trận địa pháo” đã có hỏa tập tiên liệu của địch, dừng quân, đào hầm phòng thủ, nghỉ qua đêm.
Sáng hôm sau, Trung Tá Vũ Xuân Thông cùng hai Biệt Đội Trưởng lên Trực Thăng để bay quan sát địa thế và mục tiêu. Khi Trực Thăng bay vòng trên khu vực Núi Mây Tào, địch từ dưới bắn lên bằng súng phòng không 12.7 ly. Đây là loại vũ khí quân Việt cộng mới trang bị thêm cho lực lượng địch hoạt động tại nơi này. Trực Thăng phải bay lên cao, tránh phòng không, hướng thẳng ra Phan Thiết, rồi từ đó quay ngược trở lại tiếp tục quan sát. Mục tiêu nằm trên trục lộ chính. Máy bay có thể oanh kích tiêu diệt dễ dàng, nhưng sẽ làm hư hại nặng nề Quốc Lộ 1.
Hai bên đường tuy là rừng lá, nhưng đoạn giữa hai Căn cứ 4 và Căn cứ 5, phía bên phải từ hướng Phan Thiết kể vào, có nhà dân chúng, có vườn tược. Bên phía trái cũng tương tự, nhưng thưa thớt hơn, rừng chồi và cây cọ dày đặc hơn.
Với địa thế đó, rất tốt đế cho tiến quân đêm, tạo sự bất ngờ, thiếu cảnh giác của địch. Vậy là, ngay tối hôm đó, Biệt Đội tôi tiến lên. Đi đầu là Toán khinh binh tiền sát, kế tiếp đó, như chiến thuật từng áp dụng là lực lượng cấp Trung Đội, yểm trợ cho các Toán tiền sát.
Song song, cũng trong thời điểm này, Biệt Đội 811 đưa các Toán Thám Sát, thâm nhập vào mật khu Mây Tào, bằng đường bộ, riêng các Trung Đội sẽ tiến sâu đến gần bìa rừng, lục soát, truy lùng địch, đồng thời cũng phục kích bắt sống bọn chúng.
Tới gần sáng, Toán tiền sát đến gần các mô đất địch đắp trên lộ, báo cáo không thấy chốt, mà cũng chẳng thấy địch đâu cả. Biết chắc ban đêm bọn chúng rút về hầm trú ẩn gần đâu đây, nên Biệt Đội lợi dụng cơ hội, phục kích đón ngược chúng. Nếu ban ngày, chúng quay trở lại để đóng chốt, thế nào chúng cũng lọt vào ổ phục kích.
Kế hoạch xử dụng phục kích để chống phục kích của Biệt Đội đạt kết quả tốt. Bọn chúng hoảng loạn bỏ chạy, không kịp mang theo xác chết.
Tiếp tục đà chiến thắng, Biệt Đội tiến lên tấn công chốt chặn kế tiếp. Đã phòng bị trước, địch nổ súng phản công, nhưng cuối cùng cũng phải buông súng đầu hàng.
Lần nầy, khác với hôm qua, bọn Việt cộng không được súng cối 61 và 82 ly của đồng bọn bắn yểm trợ. Do đó, kết quả thảm bại chua cay, phải bỏ xác, tháo chạy và qui hàng.
Tại sao chúng không được súng cối yểm trợ như ngày hôm qua, một chiến thuật mà chúng đẩy lùi được đơn vị đã tấn công chúng trước chúng tôi?
Bởi vì cuộc hành quân của Biệt Đội 811.
Khi Biệt Đội 814 chúng tôi đang phá chốt trên Quốc Lộ 1, thì các Toán Thám Sát Biệt Đội 811 khám phá một căn cứ của địch nằm khuất bên trong rặng Núi Mây Tào. Các phi tuần F.5E đã được gọi đến để ném bom phá hủy. Đồng thời, Biệt Đội 811, trong lúc truy lùng địch dọc theo mặt Bắc chân núi Mây Tào đã tấn công tiêu diệt hai tổ súng cối yểm trợ hỏa lực của Việt cộng, phát hiện tịch thu một hầm vũ khí và lương thực cùng các rẫy canh tác trồng trọt, đặc biệt địch trồng rất nhiều lúa và ngô trong khu vực này.
Đó là lý do tại sao Biệt Đội 814 đã đánh bại các chốt địch trên Quốc Lộ 1 quá dễ dàng.
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đã gây nhiều bất ngờ cho địch quân. Chưa khi nào Việt cộng bị tấn công đêm hay bị phục kích ngược trở lại. Bọn địch cũng không bao giờ ngờ, các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù dám thâm nhập vào sâu trong mật khu an toàn của chúng, để khám phá kho tàng, căn cứ, địa đạo, hay mở các cuộc hành quân truy lùng, tấn công vào các đơn vị hỏa lực yểm trợ của chúng đóng ẩn dấu, che khuất dưới những tàng cây, hốc đá, sát tận chân núi, để bọn chúng cuối cùng cũng phải “bỏ của chạy lấy người.”
Việt cộng chắc chắn phải thấy một điều: Mật khu Mây Tào không còn là vùng “Bất Khả Xâm Phạm” đối với Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
*
“Chiến Sĩ Xuất Sắc”
Trong quãng đường binh nghiệp mà tôi đã đi qua, là một chiến sĩ 81.BCD, tôi chỉ biết xông pha ngoài mặt trận, trên các chiến trường lửa đạn hay trong các mật khu của giặc cộng với đầy rẩy mọi bất trắc hiểm nguy chực chờ. Thế nhưng, tôi vẫn không sờn lòng nản chí. Tôi chiến đấu cùng đồng đội để tiêu diệt giặc thù cộng sản, để bảo vệ Tổ Quốc, Quê Hương và Đồng Bào, đó là một bổn phận, một sứ mệnh thiêng liêng, cao cả mà tôi phải hiến dâng và tuân hành.
Từ những mật khu bất khả xâm phạm của địch, đến các trận địa chiến khốc liệt, tang thương, đã cướp đi qúa nhiều đồng đội, chiến hữu của tôi, họ đã can trường chiến đấu, hy sinh cả tuổi trẻ và mạng sống để Tổ Quốc được tồn vong, để ghi vào lịch sử những chiến tích lẫy lừng cho đơn vị.

Chiến Sĩ xuất sắc

Xác thân và công lao của họ đã cho tôi được nhận lảnh vinh hạnh lớn lao hôm nay, ngay tại mặt trận Rừng Lá – Mật khu Mây Tào, tôi đã được Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng đề cử là một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, để về Thủ Đô Sài Gòn tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6 năm 1974. Sau đó tháp tùng cùng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng IV Chiến Thuật, du hành thăm viếng Nước Trung Hoa Dân Quốc (Đảo Đài Loan) trong một tuần lễ. Cũng trong Ngày Đại Lễ này, tôi đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ban thưởng Ưu Dũng Bội Tinh, một Huy Chương cao quí, chỉ dành cho các Chiến Sĩ Xuất Sắc, các Anh Hùng diệt cộng của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Buổi ân thưởng huy chương danh dự này, đã được cử hành trọng thể ngay tại Phòng Khánh Tiết Dinh Độc Lập.
Đó là niềm hãnh diện và là một vinh dự lớn lao, ghi đậm dấu ấn trong suốt đời Binh Nghiệp của tôi.

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 8 Feb 2025

  1. Phần 15
    Chiến Khu D

Trực thăng vận vào mật khu địch

“Bất khả xâm phạm”
Nếu tính theo đường thẳng thì Chiến khu D cách Sài Gòn khoảng 60 cây số, ngó xuống Biên Hòa khoảng 30 cây số, thì phi trường Biên Hòa là mục tiêu pháo kích của Việt cộng hằng đêm.
Hiệp định hòa bình Paris ký kết đã được một năm, nhưng hai tiếng “hòa bình” trong hiệp định chỉ là cái bình phong để Việt cộng gây… chiến tranh. Do đó, mức độ Việt cộng pháo kích phi trường Biên Hòa càng lúc càng gia tăng, khiến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III trở nên “nóng máy”. Không thể để bọn chúng quá tự tung tự tác, đám Việt cộng này phải đánh nó tới tận cùng sào huyệt, phải nắm thế chủ động trên chiến trường, nghĩa là Biệt Cách Nh ảy Dù phải vào Chiến khu D “nắm đầu bọn ngoan cố”.
Áp lực của địch vào Biên Hòa, Sài Gòn là từ Chiến Khu D. Nó không ở đâu xa mà ngay bên cạnh Trị An. Phía Đông là Định Quán trên Quốc Lộ 20, đường đi Đà Lạt, kế là Võ Xu. Phía Nam là Quốc Lộ 1, đoạn Biên Hòa – Long Khánh. Phía Tây Bắc là Đồng Xoài, kéo dài lên tới Bình Long, Phước Long qua tới biên giới Xứ Chùa Tháp, có Snoul là nơi từng diễn ra trận đánh lớn khi Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tràn qua Miên năm 1970. Phía Tây là Dầu Tiếng, Tỉnh Bình Dương, có Quốc Lộ 22 đường đi Tây Ninh…
Căn cứ Hành Quân của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đóng ở Suối Máu, sát nách phi trường Biên Hòa, đã mấy lần nếm trải những trận pháo 122 ly xuất phát từ trong vùng chiến khu này. Đại Úy Lưu Huyên, Đại Đội Trưởng Đại Đội Thám Sát, đã vĩnh viễn giã từ vũ khí do bởi những quả đạn pháo của bọn chúng, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vô cùng thương tiếc vì đã mất đi một Chiến Sĩ diệt cộng tài ba. Nếu không đi tìm diệt chúng, biết đâu sẽ còn nhiều Chiến Hữu của đơn vị cũng sẽ hy sinh.
Thế là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không thể chần chờ.
Hai Biệt Đội 811 và 812, được chuyển vận đến Chi Khu Công Thanh, từ đó vượt qua sông Đồng Nai vào Xã Thái Hưng, Quận Tân Uyên, đây là khu định cư của người Miền Bắc di cư, họ là thành trì chống cộng một mất một còn. Nơi này có ngọn núi Bà Cẩm, cao khoảng 200 mét, được dùng để đặt các trạm thông tin, liên lạc. Xã Thái Hưng nằm về hướng Nam của Chiến khu D, bọn Việt cộng cũng thường về đây phá rối, nên Tiểu Khu Biên Hòa đã điều một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến an ninh phòng thủ.
Từ xuất phát này, Biệt Đội 811 và 812 đã mở các cuộc hành quân lục soát, truy lùng về hướng Bắc, dọc theo con Sông Bé, phát hiện các dàn phóng hỏa tiễn làm bằng cây rừng, một vài căn cứ trú phòng bỏ hoang của chúng, đồng thời tổ chức phục kích bắt sống được một số cán bộ địch quân mang về khai thác.
Cũng trong thời gian này, Bộ Chỉ Huy Hành Quân đã thả các toán Thám Sát vào hoạt động sâu trong chiến khu D, ở hướng chính Bắc Thị Xã Định Quán.
Đã mấy ngày trôi qua, các Toán Thám Sát di chuyển theo lộ trình từ mạn Bắc xuôi về Tây Nam, hay từ Đông sang Tây, cũng chỉ phát hiện các hầm hố, địa đạo, các khu canh tác đã bị bỏ hoang. Có thể Việt cộng đã di dời quân về hướng Tây Bắc Thị xã Phước Long, hay Đông Bắc Thị Xã Ban Mê Thuộc? Thế nhưng, quả thật là bất ngờ, vào sáng ngày thứ tư, Chuẩn Úy Vinh, Trưởng Toán 6 Thám Sát, chuyển công điện, báo cáo về Trung Tâm Hành Quân, là Toán đã khám phá ra một kho vũ khí của Việt cộng.
Tôi không rõ kế hoạch hành quân của Toán Chuẩn Úy Vinh như thế nào, chỉ biết đây là một trong hai Toán có nhiệm vụ nhảy vào lòng địch ngay tại chiến khu D. Nhưng khi Toán của Chuẩn Úy Vinh, tình cờ phát hiện ra kho vũ khí địch, thì trong Biệt Đội Thám Sát, nỗi lên một giai thoại khá kỳ thú về Chuẩn Úy Vinh, Trưởng Toán 6 Thám Sát này.
Khi Toán Chuẩn Úy Vinh nhận lệnh hành quân, thâm nhập vào chiến khu D, đây cũng là sào huyệt “bất khả xâm phạm” của Việt cộng. Các Toán Trưởng khác đã cười thầm: “Thằng nầy bị đì!”. Thật ra, Chuẩn Úy Vinh chẳng có “quậy phá” gì đâu, ngoài việc, cũng như các Toán Trưởng khác vậy thôi. Khi “vô sự” thì rủ nhau ra Biên Hòa đánh bi-da, xem chiếu bóng hay nhậu nhẹt chơi. Khổ cho anh chàng Chuẩn úy Vinh trẻ tuổi, có một “em gái hậu phương” nào đó ở Hố Nai, hễ mỗi lần anh đứng lên từ giã, thì cô nàng mè nheo, thút thít…khóc: “Anh đi em buồn lắm!” vân vân và vân vân… Thế rồi, trước sau gì anh chàng Vinh cũng phải “giã từ em yêu” nhưng hơi trễ. Tuy không bị phạt, nhưng mỗi lần trễ, không lý cấp chỉ huy không “xài xể” vài ba câu. Việc anh ta lần nầy có bị “đì” vì cái tội trễ phép hay không, chỉ là câu nói bông đùa.
Không như trước kia, mỗi Toán có 2 “người bạn đồng minh”, bây giờ thì chỉ 6 người, toàn là người Việt. Toán Chuẩn Úy Vinh, trong một chiều khuất nắng, được Trực Thăng thả xuống ở một bãi trống trong rặng núi Tà Lài, về hướng Đông của Chiến Khu D.
Ba ngày đi từ Đông sang Tây, chẳng thấy động tỉnh gì. Chiều lại, Toán leo lên một ngọn đồi, cây rừng rậm rạp, địa thế thuận lợi để đóng quân qua đêm. Sáng hôm sau, thức dậy sớm, lợi dụng trời còn mờ hơi sương, Toán chuẩn bị ăn sáng. Lương thực Toán mang theo thường là cá, thịt hộp và gạo sấy. Phải có chút nước sôi để đổ vào gạo sấy hay hâm nóng hộp cá, thịt. Lửa, thì sử dụng loại “xăng đặc”, một cục to bằng nửa hộp quẹt, bọc hàn kín bởi một loại bao giấy bạc không thấm nước. Xé bao nylon, mở gói giấy bạc và châm lửa. Nhưng đâu có đơn giản, dễ dàng vậy.
Ngọn lửa xăng đặc màu xanh lè, địch dễ nhận biết. Phải đào một cái hố nhỏ, để cục xăng đặc vào đáy hố, đốt lửa, để lon thiếc lên ngọn lửa. Khi lửa vừa tắt thì nước sôi, thịt cá cũng nóng. Xong, tất cả “rác rưởi” cho xuống hố, lấp đất, phủ lá khô lên trên, tránh không cho địch phát hiện.
Trước khi lên đường, để thanh toán ba cái thứ thừa thải đang chất chứa trong người, Chuẩn Úy Vinh đi lần theo đỉnh đồi, chừng ba bốn thước, đến cạnh một bụi cây hoang mọc sát một hốc đá, vừa ngồi xuống, dùng dao đào hố, thì Chuẩn Úy Vinh bất ngờ nhìn thấy bên trái hốc đá là một cửa hang, tò mò bước vào, Chuẩn Úy Vinh vô cùng bàng hoàng, sửng sốt, miệng há hốc khi nhìn thấy bên trong chứa đầy dẫy, ngổn ngang các loại vũ khí. Vinh tức tốc quay trở lại Toán và báo cáo khẩn cấp về Trung Tâm Hành Quân.
Đại Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, với kinh nghiệm dày dặn, từng trải trên khắp các chiến trường trận địa, không tin chỉ có một căn hầm, mà còn nhiều căn hầm khác nữa. Đây phải là nơi chúng chôn dấu vũ khí, hỏa tiễn để pháo kích Phi Trường Biên Hòa. Đại Tá chỉ thị Toán 6 mở rộng vòng đai, lục soát chung quanh đỉnh đồi. Và đúng như tiên đoán của Đại Tá Phan văn Huấn, Toán đã tìm thấy thêm một cửa hầm khác, rồi lại thêm hai ba cửa hầm khác nữa. Vừa phát hiện thêm, Chuẩn Úy Vinh vừa vui mừng báo cáo về cho Trung tâm Hành Quân: “Cả một đồi toàn hầm vũ khí”, đến nỗi bao gạo sấy của Vinh, vẫn còn nguyên trong túi quần bên hông. Anh đã quên… ăn sáng mất rồi.
Hai Phi Đội Trực Thăng UH.1B được cấp tốc tăng cường. Hai Biệt Đội 813 do Đại Úy Nguyễn văn Hải chỉ huy và Biệt Đội 814 do tôi chỉ huy, được lệnh lên đường khai thác mục tiêu.
Bãi đổ quân hai Biệt Đội 813 và 814 là một trảng trống nằm về hướng Tây, cách ngọn đồi của Chuẩn Úy Vinh khoảng chừng nửa cây số. Theo lệnh hành quân, hai Biệt Đội chia làm hai cánh cùng băng rừng tiến về hướng đồi có kho vũ khí. Biệt Đội 813 lên đến đỉnh đồi sẽ dàn quân trải rộng phòng thủ mặt Tây Nam và Tây Bắc. Biệt Đội 814, sau khi bắt tay với Toán 6 của Chuẩn Úy Vinh, sẽ bố trí ba Trung Đội giữ mặt Đông Bắc và Đông Nam, còn một Trung Đội phối hợp với Toán để kiểm định lại tất cả các hầm vũ khí.
Toàn bộ ngọn đồi là những hầm vũ khí, đạn dược. Mỗi hầm sâu cỡ 2 mét, rộng 3 hoặc 4 mét, trên phủ một lớp nylon và cây lá khá kỹ để che dấu ngụy trang. Nếu không biết đây là nơi địch chôn dấu vũ khí và quyết tâm đi tìm, chắc cũng khó mà phát hiện ra các hầm nầy.
Trong thời gian phòng thủ, chờ đợi các Phi Đội Trực Thăng đến để chuyển vận Chiến lợi phẩm. Khoảng quá trưa, một tiếng nổ kinh hoàng long trời lở đất vang lên, một tiếng nổ lớn tôi chưa từng bao giờ nghe đến như vậy, chấn động, vang dội cả khu rừng. Đất đá, cây cối bay tung lên trời và rơi rớt lã chã khắp khu đồi, một cánh tay và một vài mảnh thịt rớt xuống nằm ngay bên cạnh hố phòng thủ của tôi… Phản ứng cố hữu của một đơn vị trưởng tác chiến, tôi truyền lệnh cho các Trung Đội trong tư thế sẵn sàng đối phó, đề phòng địch sẽ tiếp tục pháo kích và tấn công. Sau nửa giờ trôi qua, chẳng có biến cố gì tiếp diễn, trong lòng tôi hơi hoảng hốt đôi chút, nhưng định thần lại được ngay. Tôi đi về hướng đã phát ra tiếng nổ, một khoảnh đất rộng bằng nửa sân bóng chuyền bày ra giữa khu rừng, bên trong la liệt xen lẫn cành cây, thùng ống và những mảnh thịt tươi dính đầy đất máu. Vào lúc đó Đại Úy Hải cũng xuất hiện để xem xét hiện trường. Cuối cùng Đại Úy Hải và tôi cùng có chung một kết luận: nguyên do vụ nổ là do sự vô ý. Một vài Quân Nhân trong đó có Trung Sĩ Khưu Công Qúi Trung Đội Phó, Hạ Sĩ I Phiêu âm thoại viên, thuộc Biệt Đội 814, Thượng sĩ Khẩn, Ban 2, và hai Binh Sĩ thuộc Biệt Đội 813, trong niềm phấn chấn cao độ, đã đến các căn hầm chụp hình lưu giữ tư liệu, họ đã vô tình, trèo lên đứng trên các thùng chứa chất nổ, khiến chúng bị kích nhiệt, gây nổ tung cả căn hầm. Tất cả họ đã bị thiệt mạng, xác thân bị tan tành từng mảnh, thật vô cùng thương tâm và oan uổng.
Trước sự kiện thảm khốc này. Lo ngại Việt cộng khi biết được kho vũ khí đã bị khám phá sẽ tập trung binh lực để tấn công các Biệt Đội. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã trực tiếp bay lên vùng, để điều động hai Biệt Đội vừa phòng thủ vừa chuyển tải gấp rút tất cả chiến lợi phẩm này ra bãi để trực thăng, bốc về Căn cứ Hành Quân. Không thể nào chuyển hết số lượng vũ khí nầy bằng trực thăng UH.1B. Số vũ khí tìm thấy là những loại vũ khí nặng bao gồm: súng Phòng Không 12 ly 7, Đại Liên, Trung Liên, vô số vũ khí cá nhân B-40, B-41, AK, CKC, mìn bẫy, đạn dược, khí tài v.v…Đại Tá Huấn phải nhu cầu Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, điều động thêm các Phi Đội Trực Thăng Shinook đến tăng cường, và mãi cho đến tối trời mới chuyển về hết được tất cả.
Khi chiếc Shinook cuối cùng cất cánh an toàn. Lệnh của Đại Tá Huấn là hai Biệt Đội phải cấp tốc triệt thoái về Định Quán, nằm ở hướng Đông Nam khoảng trên 10 cây số. Toàn khu đồi giờ này đã tối hẳn. Con đường rừng mịt mù âm u, ngửa bàn tay cũng không còn thấy rõ. Bấy giờ, phải di chuyển giữa rừng già trong đêm tăm tối, điều tôi lo lắng nhứt là sợ có anh em binh sĩ không theo kịp, sẽ đi lạc phương hướng. Kinh nghiệm đi rừng trong suốt hai năm là Toán Trưởng Thám Sát Delta, cho tôi một sáng kiến: các cành cây khô mục, rơi rụng trong rừng lâu ngày, thường tỏa ra ánh sáng lân tinh vào ban đêm, vậy đây là một giải pháp quá tuyệt vời, đem áp dụng vào lúc này thì thật đúng là “ăn mày mà gặp chiếu manh”. Tôi ban lệnh cho toàn Binh Sĩ, bốc lấy những cây mục ấy, bỏ lên trên nắp ba lô của mình. Người đi sau cứ theo ánh sáng ấy của người đi trước mà nối đuôi nhau, để tránh khỏi bị lạc đường. Nhờ cách đó, Biệt Đội di hành trong rừng rậm hiểm hóc, leo đồi, vượt suối suốt đêm, trong khoảng hơn ba giờ đồng hồ, quân số Biệt Đội vẫn đầy đủ, không một ai thất lạc cả. Ra khỏi rừng, Biệt Đội phải lội qua một vùng đầm lầy, nước lấp xấp tới bụng, lau sậy mọc chằng chịt, phải vạch lối mà đi. Không xem Bản Đồ kịp và cũng không cần thiết, tôi đoán chừng đây là vùng Thác Trị An. Tiếp tục di chuyển, khi trời hừng sáng, Biệt Đội ra tới các khu đồi trồng chuối, đu đủ cách Quốc Lộ 20 chừng 500 mét. Đây là khu vực canh tác của đồng bào Định Quán, lẫn lộn giữa dân cư địa phương và người Bắc di cư. Tôi cho lệnh dừng quân quanh một đồi trồng chuối. Cũng không bao lâu sau đó, Biệt Đội 813 của Đại Úy Nguyễn Văn Hải cũng vừa đến và bố trí trong một ngọn đồi trồng đu đủ kế cận. Cả hai Biệt Đội đều được lệnh chờ đoàn xe GMC của đơn vị đến đón trở về lại căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa.
Hai ba ngày sau, cũng ngay tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III, cùng một phái đoàn Sĩ Quan cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu đã đến chủ tọa và tham dự Lễ gắn huy chương và đặc cách cấp bậc cho các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ hữu công của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, trong dịp này Đại Úy Hải và tôi cũng được tuyên dương công trạng trước Quân Đoàn, đích thân Trung Tướng Tư Lệnh gắn Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng lên trên ngực áo chúng tôi. Sau đó Trung Tướng Tư Lệnh và Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã cắt băng khai mạc khu triển lãm hàng ngàn vũ khí chiến lợi phẩm đủ loại của Việt cộng do Liên Đoàn tịch thu được, lớn nhất từ trước tới nay. Đài Truyền Hình số 9, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, các Phóng viên Báo chí của Tuần, Nhật Báo Diều Hâu, Tiền Tuyến, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Sóng Thần, Tia Sáng, Trắng Đen, đã đến quan sát, quay phim, chụp hình, phỏng vấn Chuẩn Úy Vinh, các Toán Viên Toán 6 Thám Sát, Đại Tá Phan Văn Huấn, Đại Úy Hải và tôi.
Cuộc triển lãm Chiến lợi phẩm kéo dài trong suốt một Tuần Lễ. Các đơn vị bạn thuộc các Quân Binh chủng trú đóng tại Biệt Khu Thủ Đô, tại Quân Đoàn III, Quân Khu III đều đến tham dự và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, trước khám phá kho vũ khí của giặc cộng có một không hai này.
Dù thế nào chăng nữa chiến công nầy của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, dù không bẻ gảy ý đồ của địch cũng sẽ làm chậm trễ mưu đồ của chúng.

Mời em vào quán thời gian*…

baotreonline.com
Tim Nguyễn
Post on December 29th, 2022

Post by Sơn râu 7 Feb 2025

Tranh Bảo Huân

Hôm nay… Một ngày đầu năm Dương Lịch. Ngồi một mình với ly cà phê phin đậm đặc, pha sữa Ông Thọ. Hồn lâng lâng như lạc vào thời gian vô định. Chợt nhớ tới Quán Thời Gian của Đỗ Trung Quân trong một đoản văn. Vậy là… Mời Em Vào Quán Thời Gian
Mỗi sớm mai thức dậy thế giới sẽ uống gì? Câu trả lời quá dễ: Cà phê!
Thức uống gì không chỉ để uống? Câu trả lời cũng quá dễ: Cà phê!
Thức uống gì dễ gây … mùi nhớ nhất? Tôi không nghĩ câu trả lời là của riêng tôi, gã trai Sài Gòn tóc đã muối tiêu: cà phê sữa đá Sài Gòn chính hiệu!
Ðúng thế, cà phê không chỉ để uống, mà còn để thưởng thức. Ðể thưởng thức lại có trăm loại cà phê nhằm tìm một vị đậm ngon, một mùi thơm ngậy cho sở thích riêng, để đạt đến mức cuối cùng: chất tinh tế trong “sự uống” cà phê.

Khuấy ly ký ức…
Sự tinh tế chạm ngưỡng sẽ biến thành văn hóa. Cà phê là một thức uống có dấu ấn văn hóa đi cùng.
Người Pháp sáng chế ra cái filter và người Việt khi biết uống cà phê phin pha phin kiểu Việt, bèn nâng tầm lên thành văn hóa Việt chói lọi: thêm sữa đặc thành món cà phê sữa bất hủ đến tận hôm nay.
Có kẻ nhờ “cái nồi ngồi trên cái cốc…” mà phát hiện rằng khi cái phin bị nghẹt, cà phê không chảy. Ðừng mở ra, đừng dùng đuôi muỗng cà phê mà “khơi dòng” nó. Hãy dùng lưng thìa chấm chút đường xoa nhẹ vào đáy phin; đường sẽ hút cà phê xuống ly nhanh và… điệu nghệ! Dân chơi uống cà phê phải có ngón nghề vậy mới thứ thiệt dân chơi!
Thì vậy, dân Sài Gòn trẻ già đều mê một món riêng cho cả hai mùa mưa nắng phương Nam: Cà phê sữa đá. Và từ đó cất cánh văn hóa lên một nét riêng của chất Sài Gòn trong ly cà phê sữa đá. Bọn thi sĩ ‘giời’ đày như chúng tôi ở Sài Gòn có thể suốt ngày lang thang cà phê sữa đá, nhất là loại cà phê nguyên chất Buôn Mê Thuột thơm thuần túy cà phê cao nguyên Việt, lấy nước cốt đặc, rồi nêm thêm sữa ông Thọ chẳng hạn. Vị thơm ngon đúng chất vừa giữ nguyên vị cà phê gốc, vừa hòa trộn cả vị đắng đót, nhung nhớ ngọt bùi, hệt như hương vị một cuộc tình đã xa không thể nào quên…
Cứ thế, chúng tôi chuyện trò nở như cơm gạo vàng, thổ lộ, trưng trổ cái văn hóa riêng biệt Sài Gòn uống cà phê sữa đá. Anh bạn Hà Nội ngồi uống với tôi một chiều Sài Gòn cả giờ, đã thốt lên thán phục: Cà phê sữa đá của ông mời tôi thật… chất lừ! Anh chàng nhà báo ấy đã dùng tiếng lóng Hà Nội để chỉ sự đậm ngon của sữa trong cà phê và cà phê hòa cùng sữa cứ tan trong ly chứa đầy đá bào trắng lạnh, chỉ uống tại Sài Gòn, cạnh thi sĩ bạn hiền họ Ðỗ là tôi, mới thú đến thế! Kể ra thì cũng chả quá lời, người ta uống cà phê sữa đá Sài Gòn có khi là uống cả một Sài Gòn nắng gió phương Nam chứ bộ?

Cà phê…ký ức…không gian
Cà phê và những “quán thời gian” ở Sài Gòn có liên quan gì đến thời đại internet? Có đấy, theo cách ít ai ngờ. Một ngày nào đó, khi ta đang yên vị tại gia, thư thái bên ly cà phê sữa đã tự pha, mở Facebook của mình, bỗng nhận được một tin nhắn “còn nhớ em, người ngày xưa từng ngồi cùng anh ở cái ghế mây hoa tím ấy? nó còn không? anh có thường ngồi đấy? anh còn nhớ tên em không?”.
Thế là ly ký ức được khuấy lên, thời gian lùi lại như cuộn phim đen trắng trở ngược rất nhanh. Ghế mây hoa tím của ngày xưa, một gương mặt hiện ra với tách cà phê nâu trong trẻo…Khung cảnh hoa tím xưa còn, nỗi bâng khuâng khẽ trở về, niềm xúc động quay lại rưng rưng…và dòng trả lời dịu dàng hệt như xưa “em đấy phải không? anh còn nhớ chứ, sao không…”
Ðã từng có ly cà phê sữa đá Sài Gòn làm chứng cho nỗi bồi hồi vụng dại một thời, làm sao không nhớ!
Tôi nghĩ hôm nay người trẻ Sài Gòn yêu nhau đâu khác ngày xưa. Giữa đôi mái đầu xanh là hai ly cà phê sữa đá Sài Gòn chất lừ, nghĩa là được giữ nguyên hương vị căn cơ của cà phê phin tình cũ của tôi, hòa tan trong vị ngọt ngào của sữa đặc, thành ly cà phê sữa đá, khuấy lên từ chất cà phê thứ thiệt. Sài Gòn cà phê sữa đá, béo ngọt, đắng nhẹ, đá lanh canh, từng ngụm mát lạnh, rôm rả chuyện trò quên nắng nóng…
Mời em vào quán thời gian…
Gọi một ly cà phê, (đúng chất Sài Gòn cà phê sữa đá) – uống một chỗ ngồi
Và… khuấy ly ký ức – uống làn hương xưa…
Hay chứ nhỉ!
ĐTQ
[*] Tên một bài thơ của Trương Nam Hương

Khu vực ngã tư Bảy Hiền

baotreonline.com
Tim Nguyễn
Post on July 14th, 2022

Post by Sơn râu 7 Feb 2025

Ngã tư Bảy Hiền không có tên trong bản đồ hành chánh nhưng từ xưa, nó đã xuất hiện trong đời sống của người Sài Gòn-Gia Định. Tương truyền, Bảy Hiền là một điền chủ, thường hay cứu giúp những người nghèo khó, nên được người đời lấy tên, định thành địa danh.

Ngã tư Bảy Hiền năm 1966 đường Nguyễn Văn Thoại chưa mở rộng, góc bên kia đường là mảnh đất còn trống sau này xây dựng Bệnh viện Vì Dân (Nguồn: Manhhaiflick)
Không rõ từ khi nào, Ngã tư Bảy Hiền được dùng gọi cho khu vực giao lộ hiện nay là Cách Mạng Tháng 8 và Lý Thường Kiệt – Hoàng Văn Thụ, trước kia là Lê Văn Duyệt (Verdun), Nguyễn Văn Thoại (Maréchal Fox)- Trương Minh Ký (Lacaut) sau đó là Võ Tánh. Nhưng trước tiên, tôi xin đính chính, có một thời gian đường Lê Văn Duyệt trước 1975 phía quận 3 kết thúc ở đoạn nghĩa địa Ðô Thành, phần còn lại kéo dài qua Ngã tư Bảy Hiền đến Ngã ba Bà Quẹo là Phạm Hồng Thái.
Ðó là những tên đường còn lại trong ký ức của tôi sau hơn nửa thế kỷ. Lần đầu, một thằng cháu chắt đưa tang bà cố, đứng trước cổng nghĩa địa Ðô Thành nhìn sang mấy bảng hiệu bán giày dép của người Bắc di cư bên kia đường ghi địa chỉ là đường Phạm Hồng Thái. Thật ra con đường Lê Văn Duyệt nối dài Phạm Hồng Thái đến Ngã ba Ông Tạ hay lên Ngã tư Bảy Hiền, tôi nhiều lần có dịp đi qua. Những lần đó đi theo thằng bạn bán bong bóng, ghé lò Thanh Dung mua hàng hoặc đi theo mấy thằng bạn ham chơi lên tới Ngã tư Bảy Hiền đi tìm nắp phén (nắp chai nước ngọt, bia chai) ở mấy tiệm giải khát nằm ngoài mặt lộ phía bên nghĩa địa lính Tây mang về đập phẳng để làm đồ chơi.
Nói đúng ra, khu vực từ nghĩa địa Ðô Thành ngược ra hướng Bà Quẹo và xa hơn nữa thuộc quận Tân Bình (quận Tân Bình thành lập từ năm 1957 bao gồm Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì, Bình Trị Ðông (bao gồm quận Tân Bình, Tân Phú và huyện Bình Chánh hiện nay). Tôi nhớ thuở còn bé, bảy tám tuổi gì đó, khu vực Ngã tư Bảy Hiền còn thưa vắng nhà cửa. Phía bên này ngã tư chưa có Bệnh viện Vì Dân; bên kia đường là trại lính Ðại Hàn (Nam Hàn) chung quanh rào dây thép gai. Phía bên kia ngã tư là nhà cửa của những người dân xứ Quảng di dân vào đây lập nghiệp từ giữa thập niên 1960, sống bằng nghề dệt vải, máy dệt chạy rầm rầm suốt ngày; còn phía bên đây người dân cất những ngôi nhà gạch mái tôn bao quanh góc ngã tư bít lối vào nghĩa địa Tây có từ trăm năm trước. Những nhà dọc theo mặt tiền đường thường mở tiệm giải khát, hủ tiếu mì phục vụ cho lính Hàn đóng quân bên kia đường.
Vậy tên gọi Ngã tư Bảy Hiền hình thành lúc nào? Có người cho rằng vào khoảng thập niên 1940 khi quân Nhật vào Sài Gòn. Một tài liệu báo chí cho biết, ông Trần Văn Ðức sinh ra và sống ngay Ngã tư Bảy Hiền từ xưa đến nay là cháu đời thứ 3 của ông Trần Văn Hiền tức ông Bảy Hiền. Bài báo xác nhận: “Ông Hiền trước đây là điền chủ nổi tiếng giàu có và thương người. Ông ở trong một biệt thự lớn ở ngay góc ngã tư sát Trung tâm văn hóa quận Tân Bình bây giờ. Khi đó, con đường ở ngã tư này rất nhỏ, nhà ông ngăn cách với đường bằng hàng rào cây kiểng được cắt bằng rất đẹp. Nhà có đất rộng và thuê nhiều người làm. Ðất dọc theo đường Hoàng Văn Thụ hướng lên đường Cộng Hòa và ngang theo đường Hoàng Hoa Thám bây giờ đều là ruộng lúa, hoa màu của ổng.
Nổi tiếng là người giàu có nhưng ông Hiền rất thương người. Khi xưa, vào ngày rằm hàng tháng, ông đăng báo thông tin thí bạc giúp đỡ người nghèo. Những đồng bạc xu điếu đựng đầy hai thúng được người nhà để trước cổng và phân phát. Tuy nhiên vào một hôm mọi người tập trung chen lấn đông quá khiến hai đứa trẻ đi theo chết ngạt. Sự việc diễn ra, ổng rất đau buồn và kể từ đó không đăng báo phát tiền nữa mà hễ ai có khó khăn thì đến ngã tư vào nhà trình bày hoàn cảnh khó khăn ông sẽ giúp đỡ.
Sở dĩ ngã tư có tên như ngày nay là vì ông bác tui tên Hiền, sinh thứ bảy gọi là Bảy Hiền. Khi mất thì ngã tư này cũng được người đời nhớ ơn và đặt theo tên ổng. Khi ổng mất, được chôn ở khu vực Lăng Cha Cả.”

Ngã tư Bảy Hiền góc xéo bên kia là nghĩa địa lính Tây (Nguồn: Manhhaiflick)
Sau năm 1975, khu vực Lăng Cha Cả được giải tỏa, người cháu nội của ông khai quật mộ lên và đem hài cốt vào chùa thờ. Ruộng đất để lại, con cháu cũng dần bán đi và vào sống ở trung tâm thành phố. Nghe đâu người cháu nội nay đã ngoài 80 tuổi vẫn còn sống ở khu vực Chợ Lớn.
Còn theo nhà văn Sơn Nam, Bảy Hiền là tên một ông chủ giàu có chuyên bán cỏ cho ngựa kéo xe ở ngã tư vào khoảng năm 1930 và chưa rõ lai lịch. Ngoài ra không có một tài liệu chi tiết nào nữa.
Lần theo tài liệu xưa qua bản đồ Trần Văn Học vẽ năm 1818, con đường Thuận Kiều (đường Lê Văn Duyệt sau này) đã hình thành khi xây dựng thành Gia Ðịnh. Con đường này kéo dài đến khu vực An Sương ngày nay. Việc hình thành con đường Thuận Kiều nằm trong chiến lược bố trí phòng tuyến Luỹ Bán Bích, bao quanh đại đồn Kỳ Hoà nhằm bảo vệ thành Gia Ðịnh. Con đường giao nhau ngay ngã tư (ngã tư Bảy Hiền ngày nay) cũng đã hình thành khi đó là những con đường đất nhỏ hẹp kết nối với đồn thượng và đồn hạ của thành Kỳ Hoà.
Sau khi chiếm Sài Gòn, quân Pháp chuẩn bị đánh đồn Kỳ Hoà. Sáng ngày 24/2/1861, thuỷ binh Pháp tấn công đồn Kỳ Hoà từ hai tuyến, phía các con kinh ở Chợ Lớn và rạch Nhiêu Lộc (khi xưa rạch Nhiêu Lộc ăn thông đến khu vực Bàu Cát – khu Bảy Hiền ngày nay) và hạ thành sau một ngày bắn phá bằng đại bác. Cuộc chiến trong một ngày nhưng quân Pháp cũng bị thiệt hại khá nhiều do tinh thần chiến đấu dũng cảm của binh sĩ dưới trướng tướng Nguyễn Tri Phương. Sau trận chiến, một số lính Tây được chôn cất tại góc ngã tư sau này dựng nên mồ mả và gọi là nghĩa địa lính Tây. Còn binh sĩ thành Kỳ Hoà được đem chôn tập thể nhiều nơi ở quanh đại đồn.
Nhìn tấm ảnh chụp mộ của một số ít sĩ quan và binh lính Pháp được chôn ở nghĩa địa lính Tây thấy còn rất trống vắng, chung quanh con đường đất không có bóng cây, um tùm toàn cỏ dại. Ðến đây ta có thể hình dung Ngã tư Bảy Hiền khi đó rất hoang vu, chung quanh đồng không mông quạnh. Ðến đầu thế kỷ 20, người Pháp mới thí điểm ươm trồng cây cao su ở Vườn Bách Thảo (Sở Thú) và mang trồng thí nghiệm ở nhiều vùng đất trống xen kẽ nhiều khu nghĩa địa quanh tỉnh Gia Ðịnh giáp với Sài Gòn.
Sau hàng chục năm tạo lập vườn cao su ở vùng ngoại vi thành phố, người Pháp phải dần dần cho đốn bỏ. Một phần do thổ nhưỡng không thích hợp nên hiệu quả khai thác mủ cao su không cao, phần khác do tốc độ đô thị hoá quá nhanh, người dân di cư khắp nước đổ dồn về Sài Gòn-Gia Ðịnh định cư, cần phải mở rộng diện tích thành phố và vùng phụ cận.
Vào thời quân Nhật vào Sài Gòn hồi Thế chiến thứ Hai, vườn cao su tại khu vực gần Ngã tư Bảy Hiền vẫn còn lốm đốm da beo. Mãi sau năm 1954, rừng cao su quanh khu vực Bảy Hiền mới được dọn sạch, hình thành quận Tân Bình thuộc tỉnh Gia Ðịnh như nói ở trên.
Vào giữa thập niên 1960 khi lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam, có nhiều căn cứ lính Mỹ và các nước đồng minh đóng quanh vùng giáp ranh Sài Gòn. Con đường Nguyễn Văn Thoại mọc lên các chung cư dành cho quân đội Mỹ, lính Hàn đóng quân và cư ngụ tại mảnh đất lớn sau này xây lên trường trung học Tân Bình, đến năm 1973 đổi tên thành Nguyễn Thượng Hiền. Bệnh viện Vì Dân xây dựng vào năm 1970 trên diện tích đất rộng ba mẫu nguyên trước kia là một đồn phòng thủ. Khi đào làm móng, người ta phát hiện nhiều khúc xương ố vàng trong mồ chôn tập thể (binh sĩ đại đồn Kỳ Hoà).
Các con đường Nguyễn Văn Thoại, Phạm Hồng Thái (Lê Văn Duyệt), Trương Minh Ký được mở rộng tráng nhựa trở thành con đường huyết mạch nối liền Sài Gòn – Gia Ðịnh ở phía tây đô thành.

Ngã tư Bảy Hiền năm 1970 đang xây dựng Bệnh viện Vì Dân (Ảnh: Internet)
TN

Thêm một sản phẩm ‘Made in China!’

hung-viet.org
04 Tháng Hai 2020
Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Feb 2025

“Tàu hắt hơi thì Việt cũng sổ mũi!”

Hai du khách đeo khẩu trang khi đang ngồi nghỉ chân bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, hôm 30 Tháng Giêng, 2020. (Hình: Getty Images)

Nguồn tin mới nhất khi chúng tôi kết thúc bài báo này vào ngày 2 Tháng Hai, 2020, là đã có hơn 14,300 người mắc bệnh và 305 người chết ở Trung Quốc, trong đó có một người Hoa ở Philippines vì virus Corona!
Điều nguy hiểm là 5 triệu cư dân, gần một nửa dân số của thành phố 11 triệu dân, đã rời thành phố Vũ Hán trước khi có quyết định phong tỏa, một trong các biện pháp khẩn cấp cố gắng ngăn chặn sự lây lan của bệnh dịch này.
Thị Trưởng Vũ Hán Chu Tiên Vượng đã không giấu giếm chuyện này trong cuộc họp báo ngày 26 Tháng Giêng, 2020.
Trả lời phỏng vấn đài truyền hình trung ương (CCTV) về lý do không thông báo kịp thời cho công chúng trong giai đoạn virus gây viêm phổi mới bùng phát, Thị Trưởng Chu Tiên Vượng thú nhận đã phải giấu nhẹm nguồn tin vì phải xin ý kiến thượng cấp trước khi công bố dịch viêm phổi đã bùng phát.
Đó là lề thói làm việc trong các chế độ độc tài mà mọi việc, nhất nhất đều phải chờ lệnh của cấp trên đồng ý phê chuẩn trước khi có văn bản công bố cho dân chúng.
Ông Chu thừa nhận không có thẩm quyền đưa ra thông tin về dịch viêm phổi trước khi có lệnh của Bắc kinh. Phóng viên báo chí địa phương Qingqing Chen cho biết đợt bùng phát dịch đầu tiên đã xảy ra vào giữa Tháng Mười Hai, nhưng người dân ở Vũ Hán đến cuối Tháng Giêng, 2020, vẫn không ý thức được đây là một đại họa cho cộng đồng.
Năm triệu dân Vũ Hán đã mang dịch bệnh nguy hại này đi đâu? Ngoài các thành phố khác của Trung Quốc, dịch bệnh hiện đã xuất hiện tại 26 quốc gia.
Theo các chuyên gia Việt Nam và ngoại quốc, Việt Nam có thể sẽ là quốc gia bị “lãnh đạn” dịch bệnh nặng nhất, cố nhiên là sau Trung Quốc.
Việt Nam cũng là một quốc gia “ăn tạp” không kém gì người Trung Quốc. Virus Corona có thể lan truyền từ súc vật sang con người tương tự như cúm SARS hay dịch Ebola, và sau đó, sẽ truyền từ người sang người. Trong trường hợp của cúm SARS, bắt nguồn từ loài dơi, sau đó được truyền từ loại cầy hương (civet cat), sang người. Bệnh này phát xuất từ Trung Quốc vào năm 2003, đã lan ra 37 quốc gia khác, làm cho 774 người chết, trong đó có 5 người Việt Nam. Năm 2013 đến 2016, dịch Ebola phát xuất từ Tây Phi, giết khoảng 11,000 người, bệnh dịch này cũng được các nhà khoa học cho là phát xuất từ loài dơi.
Đất nước Hoa Kỳ cách xa Trung Quốc một biển Thái Bình Dương, hôm Thứ Sáu, 31 Tháng Giêng, 2020, đã tuyên bố tình trạng khẩn trương y tế, và sẽ có biện pháp giới hạn người nhập cảnh do đe dọa của virus Corona đang hoành hành ở Trung Quốc và lan ra các quốc gia khác trên thế giới.
Trong khi đó, ở sát nách Trung Quốc, Thứ Trưởng Y Tế Nguyễn Thanh Long của Việt Nam chủ quan quá đáng, cho biết chưa công bố tình trạng khẩn cấp do virus nCoV “nhưng triển khai phòng chống mạnh cả hơn khuyến cáo của WHO!”
Về tình trạng người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam, tính đến ngày Mùng Hai Tết Canh Tý “đã có 6,700 du khách Trung Cộng đã đến Quảng Ninh. Giám Đốc Sở Du lịch Quảng Ninh Phạm Ngọc Thủy đã cho biết, ngày 30 Tết Nguyên Đán có 3,000 khách Trung Quốc nhập cảnh theo đường bộ, hàng không và đường biển. Ngày mùng 1 Tết có khoảng 1,900 khách và hôm mùng 2 Tết có 1,800 khách từ Trung Quốc nhập cảnh vào Quảng Ninh. Ngày 22 Tháng Giêng vừa qua, một chuyến bay từ Vũ Hán chở theo 218 du khách đã đáp xuống Đà Nẵng. Theo cơ quan y tế địa phương, do những du khách này ‘không có những triệu chứng nhiễm bệnh,’ cho nên họ đã có thể tiếp tục đi du lịch đến Khánh Hòa.”
Lạ một điều là Tổng Cục Du Lịch không yêu cầu ngăn các du khách Trung Quốc tới Việt Nam từ các vùng có nguy cơ dịch viêm phổi Vũ Hán, nhưng lại yêu cầu các tổ chức du lịch “không tổ chức tour du lịch cho khách đến các khu vực có nguy cơ lây lan dịch Corona theo khuyến cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Bộ Y Tế.”
Phải chăng CSVN đang mang não trạng sợ Trung Quốc và còn tham lợi nhuận, muốn tổng kết ngành du lịch bằng những con số du khách và số đô la, không ngại chúng đang mang hơi hám của tử thần.
Chính vì điều này mà bà Trương Thị Hồng Hạnh, giám đốc Sở Du Lịch Đà Nẵng đã yêu cầu khách sạn Danang Riverside gỡ bỏ thông báo không tiếp khách Trung Cộng tân vì sợ bị lây nhiễm virus Corona. Như vậy các viên chức CSVN sợ mất lòng đàn anh hay tham lợi hơn là lo lắng cho sự an toàn của cộng đồng.
Cũng vì sợ những nguồn tin có thể ảnh hưởng đến ngành du lịch của tỉnh như Bà Rịa-Vũng Tàu, “với 464 hợp đồng du lịch và kế hoạch dự trù có khoảng 12,000 du khách đến đây bị hủy bỏ, Phòng An Ninh Chính Trị Nội Bộ (PA03) thuộc Công An tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã triệu tập và xử phạt hành chính 30 triệu đồng ($1,294) đối với anh Trần Văn Tùng, 22 tuổi, Vũng Tàu, với tội “đăng thông tin sai sự thật trên facebook!”
Sự thật thì như Phó Thủ Tướng Kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao CSVN Phạm Bình Minh đã nói hôm 30 Tháng Giêng, 2020: “Việt Nam và Trung Quốc có ký kết hiệp ước, nếu liên quan an ninh và dịch bệnh thì có thể đóng cửa nhưng phải có thỏa thuận giữa hai bên chứ Việt Nam không thể đơn phương!” Và hôm nay, Việt Nam ngừng bay với Trung Quốc nhưng xe lửa vẫn chạy do “chưa thống nhất với Bắc Kinh!”
Vậy thì chủ quyền quốc gia ở đâu, thưa quý ông?
Có lẽ đây là câu nói đúng nhất với tâm trạng mâu thuẫn của nền du lịch Việt Nam: “Với dịch viêm phổi đang hoành hành tại Trung Cộng, người ta ý thức được rằng du khách Trung Cộng quá đông có thể trở thành một cơn ác mộng, nhưng vắng khách Trung Quốc tai họa có lẽ còn lớn hơn!”
Việt Nam đã từng ca tụng mối giao hảo Trung-Việt là “núi liền núi, sông liền sông,” và “bên này biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là anh em,” cho nên hôm nay “Tàu hắt hơi, thì Việt cũng sổ mũi,” thì cũng không lấy gì làm lạ!
Trong khi Trung Quốc đang “tang gia bối rối” như thế thì Thủ Tướng “Ma-de“của CSVN, gửi một điện văn rất ư là vô duyên và nịnh bợ đến Bắc Kinh, “lời thăm hỏi chân thành và lời chia buồn sâu sắc đối với thân nhân những người đã mất do dịch bệnh. Nhân dân Việt Nam rất quan tâm, thông cảm và chia sẻ trước những khó khăn nhân dân Trung Quốc trong lúc này!”
Chi vậy? Lửa cháy nhà hàng xóm sắp bén vào nhà mình, không lo phòng bị lại rỗi việc, chạy sang rối rít khen nhà thiên hạ, với những câu rất vô liêm sỉ, trong khi nhà hàng xóm cũng đang “bấn xúc xích” lo âu không biết số phận mình ra sao! Phúc: “đánh giá cao sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo đảng và chính phủ Trung Quốc, những nỗ lực to lớn của chính quyền địa phương và nhân dân Trung Quốc thời gian qua trong việc chống dịch bệnh, kiểm soát tình hình!”
Thế giới thường chê và không muốn mua những sản phẩm kém chất lượng, độc hại làm từ China, nhưng lần này thế giới, là láng giềng gần gũi nhất là Việt Nam, sẽ phải nhận món hàng khuyến mãi, cho không, là dịch bệnh Corona.

Vì lệ thuộc chính trị, sợ hãi, thờ ơ, vô trách nhiệm, Việt Nam đã nới lỏng các biện pháp ngăn chận loại virus này từ Trung Cộng. Trước tình hình nay, hai câu thơ cuối trong bài “Tôn phu nhân quy Thục” của Tôn Thọ Tường xin được đổi lại là: “Ai về nhắn với phường vô cảm, Thà mất lòng Dân, được bụng Tàu!”

Huy Phương

Tháng Giêng, nhớ Đảo!

hung-viet.org
Huy Phương
23 Tháng Giêng 2017

Post by Sơn râu 7 Feb 2025

“Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc… thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa.”
(Bình Ngô Đại Cáo)
Tôi cho rằng một nghìn lời kêu gọi hòa hợp hòa giải, dù dối trá hay thành thật, cũng như xác định ai là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, không có gì ý nghĩa bằng một buổi họp mặt của những người lính Hải Quân của hai chế độ, Nam Việt Nam trước năm 1975 và Bắc Việt Nam sau 1975 vào ngày 9 Tháng Giêng, 2017 tại Sài Gòn.
Đó là những người lính của hai chế độ, Cộng Sản hay chống Cộng Sản, đều có nỗ lực chung, chống trả một cuộc xâm lăng của Trung Cộng phương Bắc vì lòng yêu nước. VNCH trong trận hải chiến để bảo vệ Hoàng Sa, và cũng với tư thế ấy, các chiến binh miền Bắc đã xả thân cứu đảo Gạc Ma của Trường Sa.
Trong trận chiến Hoàng Sa ngày 19 Tháng Giêng, 1974, Việt Nam Cộng Hòa có 75 binh sĩ tử vong, gồm có các chiến sĩ Hải Quân và Người Nhái. Hạm trưởng hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10, Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà và Hạm Phó Nguyễn Thành Trí đều tử trận cùng đồng đội. Trung Cộng chiếm toàn bộ Hoàng Sa, sau đó VNCH có kế hoạch đánh trả nhưng không thực hiện được.
14 năm sau, ngày 14 Tháng Ba, 1988, để giữ Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa, 64 chiến binh trên tàu HQ 604 đã hy sinh. Từ năm 1988 đến nay, Trung Quốc đã xâm chiếm hẳn Gạc Ma, và Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn thuần phục dưới tay Trung Cộng.
Chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa do các nhà báo có uy tín trong cũng như ngoài nước khởi xướng từ Tháng Giêng, 2014, chỉ có mục đích “Tri ân gia đình những người lính đã tham gia, đã ngã xuống trên các trận tuyến chống quân Trung Quốc xâm lược, đặc biệt là hai trận hải chiến Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma 1988.” Và lẽ có nhiên trong hoàn cảnh một Việt Nam, trong thế “hở môi răng lạnh” với Trung Cộng, khi nước này còn cho Việt Nam là một loại nghịch tử, và các nhà lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn lo sợ cho tình hữu hảo Việt Trung có thể sứt mẻ vì sự chống đối của nhân dân Việt Nam, “Nhịp Cầu Hoàng Sa”cuối cùng chỉ là một tổ chức có tính cách tương trợ.

tuongniemhoangsataihanoi19012017
Trong ý nghĩa nhận diện kẻ thù, nhà hàng hải Đỗ Thái Bình đã nói rõ: “Hoàng Sa là chiến trường duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam, nơi mà trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, người Việt không bắn vào người Việt. Hoàng Sa là một địa danh nhắc nhở chúng ta, mỗi khi người Việt kề vai sát cánh bên nhau sẽ nhận rõ ai mới thực sự là kẻ thù chung, ai mới là kẻ có dã tâm xâm lược. Hoàng Sa, vì thế, còn là một nhịp cầu, cần “bắc” để nối những tấm lòng.”
Có lẽ có cơ hội gặp nhau, họ mới nhận ra rằng có sự khác biệt giữ hai người lính đối đầu. Người lính miền Nam biết bảo vệ Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm, người lính miền Bắc trung với đảng, hiếu với dân, vì đảng cấm bắn lại “người nhà” nên họ trở thành những tấm bia đỡ đạn.
Trận chiến Hoàng Sa năm 1974 là một biến cố lịch sử đã được viết bằng máu để cho người đời sau biết, ai là thù, ai là bạn, ai là người yêu nước, ai là đứa phản quốc. CSVN sợ hãi đến nỗi không dám nhắc đến tên những trận hải chiến giữa Việt Nam và giặc phương Bắc trong quá khứ. Thay vì hải quân VNCH đặt tên những chiến hạm là Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa, Tụy Động, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng thì CSVN tránh “va chạm” chỉ dám đặt tên cho các tàu chiến của họ những cái tên “vô tội” như Hải Phòng, Khánh Hòa, Cam Ranh, Đà Nẵng… hay tên các vị Vua phong kiến như Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, chỉ thiếu tên Lê Chiêu Thống nữa là an toàn!
Từ nhiều năm nay, cứ đến mỗi Tháng Giêng, nhân dân cả hai miền Nam Bắc lại cử hành những buổi lễ tưởng niệm nhớ Đảo, nhớ những anh hùng liệt sĩ thực sự đã chết cho tổ quốc, và lúc nào cũng bị công an đàn áp, xua đuổi. Khu tưởng niệm “nghĩa sĩ” Hoàng Sa (Cộng Sản không dùng chữ liệt sĩ) sẽ được xây dựng ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), mà theo báo Thanh Niên, chính quyền cho hay sẽ không đưa danh sách 74 người lính Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống ở Hoàng Sa vào khu tưởng niệm.
Cho đến bây giờ, quân đội Trung Cộng đã xây dựng đảo nhân tạo, phi trường và căn cứ tại biển Đông, tổ chức diễn tập bắn đạn thật trên quy mô lớn tại đảo Hải Nam, phạm vi tập trận kéo dài đến tận quần đảo Hoàng Sa. Đồng thời Trung Cộng cũng đang có kế hoạch mở rộng bất hợp pháp cơ sở ở quần đảo Trường Sa thành một hòn đảo nhân tạo với cả đường băng và hải cảng, nhằm tăng cường sức mạnh quân sự ở Biển Đông.
Trong khi The Washington Times đã đăng bài viết khẳng định chính quyền của Tân Tổng thống Hoa Kỳ sẽ có hành động mạnh mẽ hơn đối với các hoạt động vi phạm của Trung Cộng tại biển Đông, thì Việt Nam vẫn coi thường máu thịt của mình, đất biển của cha ông, một mặt tuyên bố khẳng định chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng một mặt lại “duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở khu vực…”
Trong khi đó, Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường kêu gọi Việt Nam “trân trọng sự phát triển quan hệ song phương đạt được bằng các nỗ lực lớn lao và cùng với Trung Quốc đảm bảo hòa bình và ổn định ở Biển Đông.”
Một bên bị lấn chiếm thì tuyên bố cứ “duy trì hòa bình,” bên xâm lược thì kêu gọi “trân trọng sự phát triển quan hệ song phương,” rồi cũng “bảo đảm hòa bình và ổn định…” trong khi biển đã thành đảo, máy bay, chiến hạm, vũ khí đã đem đến sát bên mình.
“Tiền nhân” mà khiếp nhược kiểu này thì con cháu đời sau nhận những hậu quả khó lường, khó lòng cất đầu lên nổi!

Huy Phương
Nguồn Người Việt

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 7 Feb 2025

  1. Phần 14
    Tân Phú Trung – Hóc Môn

    “trận đánh ven đô” Vào khoảng cuối tháng 1 năm 1974, Việt cộng đưa một đơn vị thuộc Tiểu Đoàn 9, Trung Đoàn 173, Sư Đoàn 7, đánh chiếm và đóng chốt trên Quốc Lộ 1, cách ngã ba Tân Phú Trung và Hương Lộ 2 chừng 500 mét, kéo dài gần tới khu vực định cư của đồng bào Việt từ Campuchia chạy về lại Miền Nam, sau vụ Lonol “cáp duồn” ở Xứ Chùa Tháp.
    Suốt một tuần qua, giao thông bế tắc, xe hơi từ Saigon đi Tây Ninh, hay ngược lại, đã không qua lại được, vì Việt cộng đóng chốt. Việt cộng lùng sục, bắt giết các Viên Chức Xã Ấp, tước khí giới Nhân dân Tự vệ, quấy phá cuộc sống yên lành của người dân quê ở khu vực nầy.
    Địch đóng chốt trải dài hai bên Quốc Lộ 1. Về phía tay phải, hướng từ Saigon lên, nơi đây có nhiều nhà cửa, vườn tược, chúng chỉ đặt một vài chốt. Phía đối diện, dân cư thưa thớt, địa thế lại trống vắng, khó khăn cho địch trà trộn, ẩn núp và di chuyển thì chúng đào công sự, rải chốt dọc theo Quốc Lộ. Cách dàn quân bố trí ngụy trang có kế hoạch bài bản để đánh lừa chúng ta, làm cho phía ta lầm tưởng nghĩ rằng, địch từ hướng Đông Bắc, tức hướng sông Saigon. Củ Chi, địch thường huênh hoang là “đất thép thành đồng” là nơi chúng ẩn náu. Từ vùng đất thép nầy, chúng có thể vượt sông Saigon, bên kia sông ăn thông với vùng Rạch Bắp, Bến Cát, xa hơn là Dầu Tiếng của Tỉnh Bình Dương, đó là những căn cứ địa, mật khu của chúng, nơi trong ngôn ngữ chiến tranh, gọi là vùng “Tam Giác sắt” của giặc cộng. Nhưng thật sự trái ngược.
    Đơn vị Việt cộng bố trí chốt hầu hết bên trái Quốc Lộ 1, trang bị nhiều loại vũ khí nặng, bao gồm Đại Liên, Trung Liên, có hầm tác xạ súng cối 82 ly, đồng thời thiết lập một mạng lưới liên lạc bằng điện thoại chằng chịt khắp nơi, giữa các chốt, đang đóng bao quanh toàn Xã Tân Phú Trung. Bọn chúng dương Đông kích Tây, tập trung hỏa lực về hướng trái trục lộ, và đồng loạt sử dụng các loại vũ khí nầy, để chống trả lại các cuộc tấn công của Quân Đội VNCH. Điều nầy đã cho thấy, địch đang hoạt động nơi đây, thuộc Bộ Đội chính qui cộng sản Bắc Việt xâm lược, không phải là Dân Quân địa phương.
    Vùng nầy, thuộc trách nhiệm của Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân Quận Củ Chi, dù am tường, thông thuộc địa thế, cũng không làm gì được chúng. Tiếp sau đó Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã đưa thêm hai Đại Đội đến giải tỏa, cũng chịu bó tay.
    Chiến thuật đóng chốt của Việt cộng, gây rất nhiều khó khăn cho ta. Nhổ một chốt chỉ có vài ba tên địch, không bao giờ là việc dễ dàng, nếu Binh Sĩ của ta không can trường, mưu trí hay đã từng được tôi luyện trên các trận địa.
    Các đơn vị không được cái tiếng là thiện chiến nếu không sử dụng Pháo Binh, không yểm để tác xạ, oanh kích, thì khó mà thành công khi tấn công vào các chốt của địch. Mọi hỏa lực yểm trợ bằng phi pháo, không thể xử dụng ở đây, khu vực dân cư đang sinh sống. Cấp Chỉ Huy tuyệt đối tránh gây thương vong và thiệt hại về nhân mạng, nhà cửa, tài sản của dân chúng.
    Nếu cứ để tình trạng giao thông bị trì trệ lâu dài trên Quốc Lộ 1, chỉ cách Sài Gòn chừng 16 cây số, sẽ tạo nên tâm lý bất an chung cho quần chúng tại Thủ Đô. Hơn nữa đây cũng là trục lộ xuyên Á chính, thông thương với các nước láng giềng Cambodia, Thailand, Myanma, không thể để bọn Việt cộng tự tung tự tác, cắt đứt, chận đứng con đường huyết mạch này một cách công khai, trắng trợn như thế.
    Vậy là, cuối cùng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III phải điều Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, đơn vị khắc tinh của Việt cộng vào trận.
    Biệt Đội 813 do Đại Úy Nguyễn Văn Hải chỉ huy, Biệt Đội 814 do tôi chỉ huy cùng Biệt Đội Thám Sát do Đại Úy Lưu Huyên chỉ huy, được quân xa vận chuyển từ Biên Hòa, đến đổ quân ngay trên Quốc Lộ 1, cách ngã ba Tân Phú Trung chừng 300 mét, và cách chổ địch đóng chốt trên 2 cây số. Bộ Chỉ Huy Hành Quân đặt ngay trong một khu nhà vườn kiên cố, bên cạnh Quốc Lộ 1. Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng, đích thân chỉ huy trận đánh, sau khi đã bay bao vùng quan sát trận địa.
    Khi trời bắt đầu sập tối. Đại Tá cho lệnh Biệt Đội 813 tiến lên bên cánh trái, trải quân ém rộng sâu vào mặt sau Khu Dân cư, xa Quốc Lộ chừng 500 mét, bố trí phòng thủ, chờ lệnh. Biệt Đội 814 tiến lên bên phía phải, khoảng giữa Quốc Lộ 1 và Hương Lộ 2, cũng mở rộng tuyến phòng thủ vào các khu vườn, nhà ở của dân chúng, ém quân chờ lệnh.
    Đến nửa đêm, theo đúng kế hoạch, Biệt Đội Thám Sát, lợi dụng bóng tối, đưa các Toán, men theo nương rẫy, vườn, nhà ở của dân để tiến lên tiếp cận các vị trí chốt, nhất cử nhất động, tránh bị để địch phát hiện, xong tìm chỗ ngụy trang, ẩn núp kín đáo qua đêm, chờ quan sát và phát hiện vị trí của địch.
    Qua hôm sau, Biệt Đội 813 và 814 được lệnh song hành nghi binh giả tấn công địch. Súng bắt đầu đồng loạt khai hỏa, nổ ran, nhưng Binh Sĩ đều nằm im tại chỗ, không xung phong vào vị trí địch. Địch tưởng đang đứng trước nguy cơ bị tấn công, đã trồi đầu lên khỏi hầm hố, bắn trả dữ dội, nhưng chẳng kết quả gì cả. Đây chỉ là một mưu lược chiến thuật có tính cách để đánh lừa địch quân.
    Suốt ngày này, hai Biệt Đội, tổ chức nhiều đợt tấn công giả vào vị trí của địch quân, làm cho chúng phải đặt trong tình trạng đối phó, không ngơi nghỉ.
    Và, mỗi khi địch phản công, tức là chúng lạy ông con ở bụi nầy, các Toán Thám Sát ẩn núp trong đêm, dễ dàng phát hiện và xác địch các chốt của địch. Có nghĩa là địch đã hoàn toàn bất lợi vì đã để lộ vị trí.
    Thế là, gần nửa đêm, các Toán Thám Sát nhổ chốt bắt đầu chuẩn bị khởi sự hành động, và hai Biệt Đội sẽ theo sau yểm trợ và bao vây chận đứng đường rút chạy của địch. Chiến thuật nhổ chốt có tính toán này là sáng kiến độc đáo của Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng.
    Bất cứ ở một trận chiến nào, hễ mỗi khi tác xạ yểm trợ bằng Súng Cối 60 ly, 81 ly, hay Pháo Binh, thì dù địch hay ta, nghe tiếng depart (tiếng nổ đạn đi), đều phải ẩn núp xuống hầm hố, giao thông hào, chờ cho dứt tiếng đạn đi và phát nổ ở một vài nơi nào đó, mới trồi đầu lên, sẵn sàng nghênh chiến trước mọi cuộc tấn công của đối phương. Đây là mấu chốt để phát kiến sở năng diệt chốt của các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù.
    Nếu không tính toán, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ trong việc sử dụng pháo cối để lừa địch, có khi lại trở thành nguy hiểm cho Binh Sĩ của ta mà không nhổ được chốt địch.
    Đây là một sự hiệp đồng chuẩn xác, thuần thục giữa các Tổ Súng Cối và các Toán Thám Sát nhổ chốt.
    Mỗi lần, Tổ Súng Cối cho bắn 10 quả, giả định như thế, chỉ có quả thứ nhứt đến quả thứ bảy là có đạn nổ. Từ quả thứ 8 đến quả thứ 10 là đạn lép, chỉ có bắn đi mà không có đạn nổ.
    Các Toán Thám Sát phá chốt, chờ đến hết quả thứ bảy, thì nhanh chân tiến lên gần các vị trí chốt của địch. Trong khi đó, địch vẫn chưa trồi đầu lên khỏi miệng hố vì còn nghe tiếng đạn đi. Ngay khi địch đang chờ đạn nổ thì Toán phá chốt đã đến tận nơi, tông lựu đạn vào công sự. Địch ở bên trong khó toàn tính mạng.
    Cứ như thế, các Toán Thám Sát diệt chốt, sau khi thanh toán xong một chốt, Toán phá chốt và Tổ Súng Cối lại tiếp tục hiệp đồng để diệt chốt kế tiếp. Đến khi trời vừa hừng đông thì các chốt của địch dọc hai bên Quốc Lộ 1 cũng vừa diệt xong. Quân ta bắt sống được 2 tù binh, một là Y sĩ và một khai là Giáo Viên, quê ở Bắc Việt, những tên còn lại may mắn sống sót, thì bán sống bán chết, chạy về hướng đất thép, sâu vào phía trong khu vực Củ Chi, bọn chúng gặp phải các Trung Đội của Biệt Đội 814 án ngữ, chờ sẵn tiêu diệt, số đông còn lại rút chạy bán mạng về vùng Đức Hòa, Hậu Nghĩa, thì chúng rước lấy thảm họa chua cay vì đã lọt vào trận địa của một Thiết Đoàn M.113 đang bố trí mai phục, và gần cả một Tiểu Đoàn địch quân đã bị Thiết Giáp xóa sổ, tịch thu rất nhiều chiến lợi phẩm.
    Tuy vậy, không phải thành công nào cũng được suông sẽ, thuận lợi mọi điều. Trong các lần đột kích phá chốt kế tiếp, địch đã liên lạc báo động cho đồng bọn, nên đã chống trả và đã gây thương tích cho Thiếu Úy Nguyễn Văn Xuân, Toán Trưởng Biệt Đội Thám Sát, Trung sĩ Châu Can, Hạ sĩ Hoàng Biệt Đội 814 và 13 Binh sĩ cả hai Biệt Đội Thám Sát và Biệt Đội 813.
    Ngay buổi sáng hôm đó, Quốc Lộ 1, đoạn đường từ ngã ba Tân Phú Trung đến Củ Chi đã được khai thông. Hàng loạt xe cộ từ hai hướng bị tắt nghẽn bấy lâu đã chạy qua chạy lại, bóp còi inh ỏi như thay lời chào mừng. Thỉnh thoảng vài xe đò, dân chúng ngồi bên trong đưa tay vẫy vẫy, hoan hô chúng tôi, có người thò tay ra ngoài, cho ngón cái chỉ lên trời như biểu hiện một lời khen tặng các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù là “Number One” đấy.
    Cũng trong ngày, Chính Quyền Xã Tân Phú Trung và Quận Củ Chi, cùng một số Dân chúng đã đến thăm viếng, ủy lạo các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù.
    • “Đã một tuần qua, nay mới thấy nhẹ nhõm cả người..” có người dân vui mừng nói với chúng tôi như thế.
      Áp dụng chiến thuật du kích chiến với phương cách lấy gậy ông đập lưng ông, cuộc hành quân phá chốt mở đường tại Tân Phú Trung do hai Biệt Đội 813 và 814 và Liên Toán Thám Sát, đã hoàn tất chỉ trong vòng có một ngày hai đêm. Chiến thắng này càng làm giặc cộng gia tăng thêm nỗi khiếp sợ với Lính Biệt Cách Dù mà bọn chúng thường truyền khẩu, như một lời nhật tụng là: “bất cứ lính ngụy nào cũng đánh, nhưng phải tránh Biệt Cách Dù”.
      Tuy giao thông trên Quốc Lộ 1 đã được vãn hồi, nhưng để truy lùng, triệt hạ tận gốc bọn địch còn lẩn khuất, ẩn trốn, có thể quay trở lại phá rối trị an trong khu vực này, thêm vào đó theo tin tình báo, trong vùng nầy có một số người thiên cộng, làm giao liên tiếp tế cho chúng. Vì thế Biệt Đội 814 được lệnh ở lại đây, một mặt là kiện toàn an ninh cho dân chúng, trước khi trao lại cho Chính Quyền Quân Sự Địa Phương, mặt khác phát hiện và tiêu diệt hạ tầng cơ sở của địch.
      Với hai nhiệm vụ trên, hàng ngày tôi đưa các Trung Đội bố trí rải rác trên các con đường từ khu vực gia cư, dẫn đến các vùng canh tác để theo dõi, kiểm soát chặt chẽ về lương thực mang theo, về số lượng đi và trở về của cư dân. Nhờ đó mà khám phá ra được những thành phần nối giáo, tiếp tay cho giặc.
      Căn cứ vào những phát hiện nêu trên, tôi cho lệnh các Trung Đội, vào mỗi đêm đưa các Tiểu Đội đến mai phục tại vườn sau những ngôi nhà khả nghi. Quả nhiên, đến nửa khuya, một hai bóng đen xuất hiện, phía sau của một trong những căn nhà trên. Hạ sĩ I Cư, Tiểu đội Trưởng hô to ra lệnh các bóng đen đứng lại. Bọn chúng liều lĩnh bỏ chạy. Tiểu Đội không nổ súng vì sợ đạn trúng dân, và làm khuấy động giấc ngủ, mà chỉ đuổi theo. Đến cuối vườn, hai bóng đen mất biến tăm dạng.
      Đợi đến trời sáng, tôi lệnh cho Thiếu Úy Lại Đình Hợi, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1 và Thiếu Úy Nguyễn Tấn Mẫn, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, đưa quân đến bao vây khu vườn để lục soát. Khu vườn rộng khoảng nửa mẫu, chỉ trồng khoai lang, từng vồng khoai lớn song song và dài chừng 10 mét. Đưa tay vạch các dây khoai lang tìm kiếm, chẳng thấy tung tích gì, nhưng ngoài khu vườn này, hai tên địch không thể chạy thoát đâu xa được. Chắc hẳn phải có hầm hố, địa đạo ở quanh đâu đây mà thôi. Tôi tin là như thế nên lưu ý hai Sĩ Quan Trung Đội Trưởng cho rà soát kỹ lưỡng lại, cần thiết phải sử dụng cuốc xẻng, lưỡi lê, gắn vào đầu súng để đào bới, xăm xỉa sâu trên các vồng khoai, rãnh luống.
      Khoảng nửa giờ sau, Trung Sĩ Nhàn, Trung Đội Phó Trung Đội 2, sau khi thọc lưỡi lê sâu vào trong vồng khoai, ở gần cuối luống, thì lưỡi lê ghim cứng vật gì đó, phải dùng hết sức với sự hỗ trợ của Hạ Sĩ Toàn, thì cả hai mới kéo lên cả một chùm rau lang, phủ trùm trên một tấm gỗ vuông vức và ở bên dưới để lộ một cái hố sâu hơn một mét, thì ra đây là một cửa hầm bí mật. Vậy là không chạy đâu nữa, hai tên Việt cộng đang ở dưới này. Giọng Thiếu Úy Mẫn chắc nịch vang lên: “Đầu hàng đi, không tôi cho lựu đạn xuống ngay bây giờ”. Không đầy một phút sau, một tên Việt cộng ló đầu ra khỏi miệng hầm, mặt trắng bệt, hai tay đưa lên trời, tên thứ hai cũng chui đầu lên, với vẻ mặt như còn ngái ngũ. Cả hai được kéo ra khỏi miệng hầm, tuổi chừng 16, 17, ngồi co ro giữa hai vồng rau. Điều tra tạm thời, với giọng Miền Bắc Trung bộ, bọn chúng khai đơn vị là Tiểu Đoàn 9, Trung Đoàn 173, Sư Đoàn 7 cộng sản Bắc Việt, thâm nhập từ Miền Bắc vào Nam mới chỉ 6 tháng.
      Nhìn hai tên Việt cộng, tự dưng trong lòng tôi tràn lên niềm thương xót và tội nghiệp. Với số tuổi này, chỉ có Việt cộng mới cướp mất đi tuổi thơ của chúng và biến chúng trở thành một công cụ để thực hiện cái mưu đồ mà Việt cộng rêu rao là “giải phóng miền Nam”.

Sẵn sàng lâm trận

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực
Posted on 20 Nov 2014

Post by Sơn râu 7 Feb 2025

  1. Phần 13
    Xóm Đạo Tha La

    “Trảng Bàng – Tây Ninh” …“Tha La vắng vì Tha La đã biết,
    Thương giống nòi, đau đất nước lầm than.”
    (Vũ Anh Khanh)
    Từ khi còn trẻ, tôi bị ám ảnh không ít về bài thơ “Hận Tha La” và mấy bài hát viết về Xóm Đạo nầy, một Xóm Đạo mà tôi, cũng như nhiều người chưa một lần đến đó.
    Xóm Đạo đó phải là rất dễ thương, như Vũ Anh Khanh diễn tả trong Bài Thơ vậy không? Ở Miền Nam thân yêu nầy, trái ngọt cây lành đâu chẳng có. Cũng không ít lần, các Mẹ, các Dì, các Chị đem đến biếu tặng những người lính xông pha trận mạc như chúng tôi, đánh đuổi giặc cộng, đem thanh bình an vui đến cho họ.
    Cái trách nhiệm của một công dân đối với Đất Nước là điều người dân Tha La Xóm Đạo đã làm, khiến tôi phải ngưỡng mộ họ:
    … “Quì cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy
    Lạy Đức Thánh Cha,
    Lạy Đức Thánh Mẹ,
    Lạy Đức Thánh Thần.
    Chúng con xin về cõi tục làm dân”….
    Chỉ làm dân, nhưng là người dân yêu nước. Đơn giản chỉ có vậy, như chúng tôi đang hành quân, tìm giặc, đánh đuổi chúng, đem lại an vui cho người dân vậy. Giữa chúng tôi và người dân Tha La Xóm Đạo có một sự đồng cảm, yêu Quê Hương mình, chiến đấu cho Quê Hương mình. Và… tôi hẹn với lòng sẽ làm một viễn khách “…về thăm một dạo, giữa mùa nắng vàng hanh”, để xem “Nắng hạ vàng, ngàn hoa gạo rưng rưng” và“..nghe mùa đổi gió, nhớ quanh quanh”.
    Và rồi tôi đến thật, nhưng với súng đạn đeo bên mình.
    Cuối tháng 3 năm 1973, Hiệp Định Paris chưa ráo mực, Việt cộng đã vi phạm giành dân lấn đất khắp nơi, trên toàn Lãnh Thổ Miền Nam Việt Nam. Điển hình là khu vực Xóm Đạo Tha La, Quận Trảng Bàng.
    Quận Trảng Bàng nằm về hướng Tây Bắc Sài Gòn vào khoảng 40 kilômét. Xóm Đạo Tha La, thuộc Xã An Hòa, cách Chi Khu Trảng Bàng chừng 4 kilômét về hướng Tây.
    Từ mật khu Ba Thu, Việt cộng vượt sông Vàm Cỏ, tiến vào bao vây Xóm Đạo Tha La, chiếm cứ Nhà Thờ, giết Cha Xứ và một số giáo dân. Bọn chúng trù tính, sẽ dùng Tha La làm bàn đạp, tung quân đánh vào Chi Khu Trảng Bàng, cắt đứt Quốc Lộ 1, nối liền Sài Gòn với Tỉnh Tây Ninh.
    Tiểu Khu Trưởng Hậu Nghĩa, Đại Tá Mã Sanh Nhơn, đã đưa một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến tăng cường, giải tỏa áp lực địch nhưng bất thành. Địch mỗi ngày mỗi tung hoành, gây nhiều thiệt hại về nhân mạng, tài sản cho họ Đạo nói riêng và cho quần chúng trong khu vực nói chung.
    Trước tình hình mỗi ngày mỗi leo thang của Việt cộng, trước ngoan cố không tuân phục lệnh ngưng bắn của bọn chúng, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đã phải điều động Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, đến thanh toán dứt điểm đám cộng quân này.
    Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Sĩ Quan Phụ Tá Chỉ Huy Trưởng, chỉ huy ba Đại Đội: Đại Đội Thám Sát của Đại Úy Lưu Huyên, Đại Đội 2 của Trung Úy Nguyễn Ngọc Ánh và Đại Đội 4 của tôi, đã khẩn cấp lên đường, trực chỉ Quận Trảng Bàng.
    Tại Trung tâm Hành Quân Chi Khu Quận Trảng Bàng. Trung Tá Ngô, Quận Trưởng đã thuyết trình đầy đủ, chi tiết về tình hình địch, bạn trong phạm vi trách nhiệm của Quận, và đặc biệt riêng tại địa phận Xóm Đạo Tha La.
    Địch áp dụng đóng chốt trong nhà dân. Đánh chốt đã là căng, lại là chốt trong Nhà Thờ, trong nhà dân, lại căng hơn. Rồi cũng nhổ chốt được, dễ thôi. Tôi tin tưởng ở tôi, ở cấp Chỉ Huy và Binh Sĩ của tôi.
    Trung Tá Lân, đã họp chúng tôi để bàn thảo kế hoạch, phân chia nhiệm vụ và vùng trách nhiệm cho ba Đại Đội. Và tất nhiên, để đối phó với kiền chốt của giặc cộng, Trung Tá Lân cũng đã chỉ thị cho chúng tôi phải triệt để áp dụng chiến thuật du kích đánh đêm sở trường. Và đúng giờ “G” trong đêm nay xuất phát.
    Đại Đội Thám Sát sẽ từ hướng Chợ Trảng Bàng, di chuyển theo hướng Tây, cặp theo Hương Lộ để truy diệt các chốt địch ở Chợ Xã An Hòa, ở Ấp Lò Rèn, sau đó sẽ tiếp tục thanh toán các chốt của Việt cộng ở mặt sau Nhà Thờ, rồi bố trí quân phòng thủ, án ngữ, bọc hậu tại hướng Tây Nam sông Vàm Cỏ, để chận đứng đường tăng viện hay tháo chạy của giặc cộng, đồng thời phối hợp cùng Đại Đội 4 để tấn công giải tỏa Nhà Thờ Tha La.
    Đại Đội 2 là lực lượng trừ bị, sẽ đóng quân rải theo Quốc Lộ 1 và phòng thủ cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Đại Đội 4 do tôi chỉ huy, sẽ di chuyển về hướng đi Tây Ninh khoảng 3 kilômét, gần Xã Gia Bình, từ vị trí này Đại Đội 4 sẽ tiến quân từ Bắc xuống Nam, theo con đường đất, chạy trên một đám ruộng khô, rộng hơn một mẫu, để tiến vào địa phận Tha La.
    Vượt khỏi đám ruộng khô, gặp một ngã ba đường mòn nằm ở mé trái, chạy dọc theo đường mòn có một số nhà dân ở rải rác, thông với nhau bằng nhiều đường mòn nhỏ, dẫn từ nhà nầy qua nhà khác.
    Qua ngã ba, con đường đất nở rộng hơn, xe hơi có thể di chuyển dễ dàng. Đường được trải bằng một lớp đất đỏ pha với sỏi cát, những bụi tre tầm vông được trồng san sát nhau hai bên đường. Con đường nầy là lối đi vào Xóm Đạo Tha La, khoảng cách độ chừng trên 3 cây số. Dân chúng trong vùng vẫn sinh hoạt bình thường, có lẽ địch chưa chiếm đến nơi đây. Đại Đội dừng lại đóng quân, chờ đêm xuống sẽ hành động theo đúng kế hoạch.
    Sau khi Binh Sĩ bố trí phòng thủ xong, tôi vào thăm một nhà dân, nằm thụt sâu bên trong ngã ba đường. Ngôi nhà tuy cũ, nhưng kiểu nhà xưa kiên cố, cột gỗ, mái ngói. Bây giờ không biết sao, nhưng có lẽ trước đây, khi chưa có giặc, gia đình nầy cũng thuộc vào thành phần khá giả. Trong chuyện trò trao đổi, mới biết đây là nhà họ “Ngô Đình…”. Tò mò, tôi hỏi:
    – “Bác có bà con gì với Tổng Thống Ngô Đình Diệm quê ở ngoài Huế không?”

Nhà Thờ Tha La
Ông già cười:
– “Không có. Tổng Thống là người có Đạo còn Tôi người Lương”.
Bất chợt, tôi nhìn vào gian giữa nhà. Trên Bàn Thờ đang thắp đèn và đốt nhang.
Ông cụ có con trai trưởng đã đi lính Cộng Hòa, người con gái út tên Sơn, đang là Giáo Viên của Trường Tiểu Học Trảng Bàng, vẫn đi dạy hàng ngày. Cô thứ hai, đã lập gia đình có 4 người con, ở ngôi nhà bên cạnh. Chồng Chị, Anh Ba Tài, có chiếc xe Daihatsu chở khách, chạy đường Trảng Bàng – Tây Ninh.
Ông cụ còn cho biết, sau khi đánh chiếm địa phận và Nhà Thờ Tha La, bọn Việt cộng thường hoạt động về đêm, chúng phối hợp cùng bọn du kích địa phương để chống trả lại quân ta. Tiểu Khu, Chi Khu đã đưa quân vào đánh mấy lần, nhưng không diệt được. Nếu không có chiến tranh, xóm nhà nầy yên vui, thanh bình lắm.
Sáng hôm sau, tôi họp các Trung Đội Trưởng, tổng kết lại tình hình một đêm qua và đưa ra kế hoạch sắp tới. Tôi ra lệnh mỗi Trung Đội, cho tung một hai lính giả trang thường dân, đi vào khu vực nhà dân trong Xóm Đạo, tìm hiểu, quan sát những con đường xóm, nhà dân, vườn tược v.v… Sau trưa, chúng tôi lại họp, bàn định phương thức hành động, ưu tiên phải tiêu diệt các tổ trinh sát Việt cộng, bọn dân quân du kích, nằm bên ngoài Nhà Thờ, trong địa phận Giáo Xứ.
Đêm đó, Đại Đội kín đáo tiến sâu vào Xóm Đạo Tha La thêm một cây số, mở rộng vòng đai đóng quân phòng thủ, rồi cho lệnh các Trung Đội tổ chức phục kích trên các đường mòn, các điểm tình nghi, bắt sống tù binh, để khai thác tin tức, nắm vững địch tình.
Kết quả 2 tên Việt cộng đã bị bắt sống. Chúng từ hướng Nhà Thờ đi ra, Trung Sĩ Bự và Hạ sĩ Ân thuộc Trung Đội 3 của Chuẩn Úy Tuyền, đã nhảy ra, và bằng với một thế võ Vovinam đã quật ngã, bắt trói chúng một cách mau lẹ. Khai thác tại chỗ, bọn chúng cho biết hiện có một Đại Đội đang chiếm giữ Xóm Đạo Tha La, chúng bố trí hai Trung Đội ở hai gian nhà ở sân sau Nhà Thờ, một Trung Đội lưu động, còn một Trung Đội thì phòng thủ ngay trong Nhà Thờ, chúng đặt một cây Trung Liên nồi, hướng về con đường đất, không có bọn nào ẩn núp trong nhà dân, ngoài trừ đám du kích địa phương.
Con đường xâm nhập của chúng ở phía sông Vàm Cỏ, từ mật khu Ba Thu. Con đường nầy nếu kéo ra thì dài lắm. Mật khu Ba Thu tiếp nối với vùng Mõ Vẹt, bên kia biên giới Việt Miên. Về phía Đông, chúng có thể tiến về vùng Lương Hòa, Tỉnh Long An. Trong trận đánh Tết Mậu Thân, từ mật khu Ba Thu, Việt cộng xâm nhập Phú Lâm, phía Nam Saigon.
Nắm vững các thông tin do địch cung cấp, ngay trong đêm, tôi điều động Thiếu Úy Lại Đình Hợi, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, Chuẩn Úy Nguyễn Ngọc Lân, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 và Chuẩn Úy Thanh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, đưa quân đến bố trí trên những con đường Xóm, hướng ra bờ ruộng phía sông Vàm Cỏ, trong các Xóm Ấp để phục kích tiêu diệt đám cộng quân còn lại.
Địch trúng kế chúng tôi. Chúng lọt ngay vào các vị trí phục kích, 4 tên du kích bị bắn hạ, thêm 2 tên bị thương, số còn lại khoảng bốn năm tên, bán sống bán chết, chạy thục mạng, ngược ra hướng Rạch Vàm Trảng.
Về hướng tiến quân Đại Đội Thám Sát, sau khi thanh toán các chốt chặn của Việt cộng nằm về hướng Tây Bắc Chợ An Hòa, Đại Đội tiêp tục tấn công vào Ấp Lò Rèn, trong lần đọ trận này Đại Úy Đại Đội Trưởng Lưu Huyên, Thiếu Úy Hoàng, Trưởng Toán Thám Sát và 6 Binh sĩ đã bị trọng thương bởi đạn B.40, về phía bọn địch, chúng để lại 10 xác chết tại hiện trường, tịch thu được 5 súng AK, 2 cây B.40 và 1 trung liên nồi.
Trung Tá Lân đã điều Đại Đội 2 lên thay Đại Đội Thám Sát, Đại Đội 2 đã rải quân phòng thủ ở mặt hông sau của Nhà Thờ Tha La. Tại đây Đại Đội 2 cũng áp dụng chiến thuật phục kích đêm, hạ sát tại chỗ 2 tên cán binh cộng sản, bắt sống được 2 tên, số còn lại cũng đã tháo chạy về hướng Sông Vàm Cỏ Đông.
Chặt đứt xong xuôi các dây mơ rễ má. Bây giờ là đến số phận những tên “sanh bắc tử nam” đang chiếm cứ trong Nhà Thờ. Hai Đại Đội cùng hợp đồng tác chiến. Đại Đội 2 là lực lượng yểm trợ và tiếp ứng, rải quân bao quanh mặt sau địa phận Nhà Thờ. Đại Đội 4 là lực lượng tấn công, sẽ lợi dụng đêm tối, đưa các Toán Thám Sát, men theo các lùm cây, bụi tre, tiến sát đến chân tường Nhà Thờ, ẩn núp quan sát, chờ lệnh. Các Trung Đội chia làm hai cánh, từ từ tiến lên trong các khu vườn nhà dân, để đến nằm án ngữ ở con đường ngay trước mặt Nhà Thờ. Đúng 2 giờ sáng, các Trung Đội bắt đầu khai hỏa, Việt cộng từ trong Nhà Thờ, từ hai gian nhà sau nổ súng bắn trả. Các Toán Thám sát phát hiện vị trí địch, đã bò đến tung lựu đạn triệt hạ. Sau hơn nửa giờ giao tranh. hơn một chục tên trong Nhà Thờ và hai gian nhà sau không còn cựa quậy, 8 tên bị thương xin đầu hàng, một số rút lui về phía nhà dân, sau lưng Nhà Thờ, nhưng cũng đã bị Đại Đội 2 án ngữ ở đó hạ sát và bắt sống.
Chúng tôi đem lại thanh bình cho Xóm Đạo. Tôi nhớ lại bài thơ của Vũ Anh Khanh:
“Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm Xóm Đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh …”
Giờ đây, hết giặc, Khách không về thăm mà lại ra đi. Ngày chia tay, vị Linh Mục và Giáo dân Tha La Xóm Đạo đã phối hợp cùng Trường Tiểu Học Trảng Bàng, với Cô Giáo Tươi và Cô Giáo Sơn, con Ông Cụ nhà họ Ngô Đình phụ trách tổ chức ủy lạo, tặng qùa cùng văn nghệ ca múa, do chính hai Cô và các học trò đồng trình diễn.
&
Một năm sau, trên chiến trường Miền Đông Nam Phần, tại rừng Tân Uyên, vào một buổi chiều mưa, dừng quân bên bờ Sông Bé, cạnh con đường mòn dẫn vào Chiến Khu D, tôi bỗng nhớ về Cô Giáo Tươi của Trường Tiểu Học Trảng Bàng ngày ấy. Trong ba lô, tôi vẫn còn giữ kín những lá thư Cô đã viết cho tôi.
Bao tháng năm lăn lộn trên chiến trường, thư đã cũ, giấy đã ngã sang màu vàng. Tôi bâng khuâng hồi nhớ những ngày ở Tha La Xóm Đạo, tôi lấy thư ra xem và rồi mấy câu thơ tôi từng yêu thích mấy năm trước lại hiện về:
“Đường mòn trơn ướt đất hành quân.
Nhưng không ướt những trang thư,
Của người em gởi người anh chiến sĩ.
Trong đêm dải chiến địa,
Buồn trong những chiều mưa.
Những chiều mưa đau tủi giận hờn….”
Đau tủi, giận hờn….?
Tươi ơi! Cho tôi gởi một lời tạ lỗi và xin hãy quên tôi!!


“Tha La Xóm Đạo”
Đây “Tha La xóm đạo”
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
– Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi
– Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh.
Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
Đang đón mây xa khách bỗng ngại ngần,
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
– “Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
Rung lành lạnh ngân trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ.
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ,
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay.
Giờ khách đi Tha La nhắn câu này…
Khi hết giặc khách hãy về đây nhé!!
Hãy về thăm xóm đạo,
Có trái ngọt cây lành,
Tha La dâng ngàn hoa gạo.
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên hiền thương áo trắng,
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh.

Vũ Anh Khanh

Thảm kịch chiến tranh – Người về trên chiếc thẻ bài

baotreonline.com
Huy Phương
Post on March 14th, 2020

Post by Sơn râu 5 Feb 2025

Một quả phụ Việt Nam Cộng Hòa, biệt tin chồng trong suốt 35 năm từ những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, nay, nhận được tin tức từ nước ngoài truyền về, người quả phụ ấy tìm lại được mộ chồng, chỉ cách căn nhà đang ở có … 15 km.

Câu chuyện bắt đầu từ tin tức về việc người dân An Dương, quận Phú Vang, Huế, gần đây cải táng 132 hài cốt tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tháng 3, 1975…. 35 năm trước
Sáng ngày 21 tháng 3, 1975, trong cơn hỗn loạn của thành phố Huế, khi quân đội rút về phía Nam và dân chúng gánh gồng chạy loạn, bà Lê Thị Tịnh đem các con chạy vào Ðà Nẵng. Ngang qua Dạ Lê, bà ghé thăm người chồng, Thượng Sĩ Ðinh Văn Kiếm, trưởng Tổng Ðài Siêu Tần Số, thuộc Tiểu Ðoàn I Truyền Tin, Sư Ðoàn I Bộ Binh (SÐ 1 BB). Tại đây, Thượng Sĩ Kiếm nói với vợ, hãy “yên tâm đem các con đi trước, anh sẽ theo đơn vị đi sau.” Họ chia tay, không biết rằng, đó là lần cuối cùng gặp mặt…
Sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhiều người chạy giặc vào Sài Gòn đã bắt đầu trở về. Bà Tịnh vẫn biệt tin chồng. Qua nghe ngóng tin tức, bà biết “nhiều anh em Sư Ðoàn 1 BB bỏ xác tại bãi biển Thuận An trong lúc chờ tàu vào cứu nạn.” Nghe theo lời khuyên, bà Tịnh nhiều lần cố tìm về bãi biển này để dò la tin tức. Mấy ngày đầu, đường sá bị phong tỏa. Thời gian sau, dấu vết nhạt dần, rồi không còn nữa. Không ai dám hé môi tiết lộ một lời.
Lòng bà Tịnh nhen nhúm chỉ một niềm hy vọng: “Biết đâu anh lại có cơ hội lên tàu di tản sang Mỹ.”

Trong khu đất mới, 132 mộ phần được chia làm 4 khu, ở giữa là bia thờ.

Bà Tịnh chờ đợi! Một năm, rồi 2 năm, rồi 5 năm trôi qua, tin chồng vẫn biệt mù. Bà Tịnh, như hầu hết những người vợ lính cam phận, tần tảo nuôi bốn đứa con trai và một con gái khôn lớn. Nỗi buồn nguôi ngoai cùng ngày tháng. Người con trai đầu của bà Tịnh, tên Khuê, năm 1980, mới 12 tuổi, đã ra đời vất vả kiếm cơm, với một chiếc bình nhôm và cái ca nhựa, bán nước trà theo những chuyến xe lửa Bắc-Nam mỗi ngày ghé qua ga Huế hay bên chợ Ðông Ba.
Một buổi tối, bà Tịnh không thấy con về. Hai ngày sau, bà lên ga Huế, ra chợ Ðông Ba, hỏi thăm đám bạn bè của con. Không một tin tức. “Thằng Khuê” mất biệt như cha nó 5 năm về trước, không một dấu vết. Bà Tịnh không biết trình báo với ai, cũng chẳng biết phải đi đâu để tìm con. “Thằng Khuê,” còn sống hay đã chết, mất xác nơi đâu?
Bỗng đâu tin tức tràn về. Ba mươi lăm năm sau cuộc chiến là 35 năm bà Tịnh sống trong chờ đợi, niềm chờ đợi tuyệt vọng về tin tức của chồng và đứa con trai đầu lòng. Các con bà Tịnh nay đã có gia đình. Bà Tịnh – người mẹ ngày xưa – nay là bà nội, bà ngoại của một đàn cháu đông đúc. Mỗi lần thắp nén hương trên bàn thờ chồng là mỗi lần bà thầm nghĩ: “Không biết anh chết ở đâu, xác bỏ nơi nào.” Bà đâu có ngờ, chồng bà vẫn ở bên bà đấy thôi. “Anh nằm gần chị đây thôi, trên bãi biển Thuận An, cách nhà chỉ 15 cây số.” Chỉ 15 cây số, nhưng bà không hề hay biết, trong quãng thời gian dài hơn nửa đời bà, 35 năm!
Một hôm, người em của chồng bà, là Ðinh Văn Xuyên, một cựu quân nhân thuộc Thiết Ðoàn 10 Kỵ Binh, hiện cư ngụ tại Texas, Hoa Kỳ, gọi về, loan tin rằng, qua báo chí, người ta tìm thấy dấu tích của ông Kiếm tại bãi biển Thuận An trong một lần bốc mộ, nhờ tấm thẻ bài mang tên người xấu số.
Di hài Thượng Sĩ Kiếm được dân làng An Dương cải táng vào trung tuần tháng 12 vừa rồi. Tin tức từ trong nước ra được hải ngoại, nay lại bay về quê hương. Hai vợ chồng “ở rất gần nhau,” mà tin lại loan đi hàng vạn dặm mới về đến người cô phụ.
Ngay lập tức, Bà Tịnh cùng các con và người em gái của ông Ðinh Văn Kiếm, đem lễ vật về lạy trước nấm mộ tập thể, trong đó có chồng mình, cha mình, anh mình. Trong tấm mồ tập thể ấy, Thượng Sĩ Ðinh Văn Kiếm đã yên nghỉ cùng anh em đồng đội và đồng bào của ông trong những ngày cuối của cuộc chiến.
Gia đình ông Kiếm, gồm các em của ông, hiện đang sống tại hải ngoại, nói sẽ giúp phương tiện để đưa ông về nằm chung với phần mộ của gia đình. Còn tạm thời, ông vẫn nằm bên cạnh bạn bè, chiến hữu – những người đã 35 năm chung một nấm mồ xiêu lạc, oan khuất trên đường chạy loạn.

Cả chục chiếc thiết vận xa M/13 làm đầu cầu nối ra biển để lên tàu. Sau đó có nhiều chiếc bị chìm xuống biển Mỹ Khê

Một trường hợp khác.
Cũng nhờ tên tuổi trên một chiếc thẻ bài còn lại, ông Trịnh Quốc Thuận, ở Maryland, Hoa Kỳ, nhận ra người bà con cô cậu ruột của mình, là ông Trần Văn Ðược, sinh năm 1954, thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Gia đình đã được báo tin ông Thuận bỏ mình tại bãi biển Thuận An hồi tháng 3, 1975, nhưng không tìm ra hài cốt. Chuyện kể rằng, hồi tháng 4, 1975, khi Sài Gòn chưa thất thủ, một chiến hữu cùng trung đội với ông sống sót về được Sài Gòn, ghé qua báo tin cho gia đình đồng đội, rằng ông Ðược đã chết trên bãi biển Thuận An. Trên đường rút lui, trước khi lên tàu, Trần Văn Ðược chết vì trúng mảnh đạn pháo kích của địch quân.
Anh Ðược có một người em song sinh hiện sinh sống tại Sài Gòn. Gia đình thường gọi Ðược là Ðen, và người em, Trần Tự Lập là Trắng. Năm 18 tuổi, anh Ðược tình nguyện vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và thường xa nhà, nên gia đình không biết anh thuộc đơn vị nào, trú đóng ở đâu.
Song thân anh Trần Văn Ðược ngày nay đều đã không còn, ông bà, cũng như nhiều bậc cha mẹ khác trong chiến tranh, cho mãi đến khi nằm xuống, thương xót, nhưng không được biết một tí gì về tin tức, không tìm ra dấu vết những người con đã chết trong chiến trận.
Người lính Thủy Quân Lục Chiến Trần Văn Ðược ngã xuống lúc mới 21 tuổi, hãy còn quá trẻ, chưa hề lập gia đình. Mong anh yên nghỉ. Ðời người lính biển, tác chiến trên bộ, theo định mệnh đã chết trên một bãi biển, và giờ đây lại được chôn cất trên bãi biển, dưới những hàng dương mùa Ðông gào khóc theo cơn gió giật.
Nơi đây, mảnh đất miền Trung cằn cỗi mà anh đã đem hết đời lính để bảo vệ, giữ gìn, nay giữ lấy anh, đưa về cát bụi. Tiếng sóng vỗ vào bờ cát mỗi đêm ngày đã ru anh, người lính trẻ xa nhà, ngủ giấc nghìn thu.
HP
Orange County, CA

Thủy Táng

saimonthidan.com
Trần Bang Thạch
Posted on 17 May 2024

Post by Sơn râu 5 Feb 2025

Tác giả Trần Bang Thạch

Gà chưa gáy sáng thì ghe đã rời bến. Nhờ nước xuôi nên ông Giáo nhẹ đẩy hai mái chèo chiếc ghe cũng đi ngọt sớt. Bà Giáo ngồi trước mũi ghe, vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa cột những chiếc bánh ú thành chùm. Ông bà Giáo ép thằng Nhứt nằm trong mui ghe tam bản ngủ thêm một chút để dưỡng sức. Thằng cháu nội này sẽ phải dùng sức trai chèo mấy chặn nước ngược trước khi tới nơi thấy mặt ba nó.
Ra khỏi sông Vàm Ngo thì trời vừa đứng bóng. Thằng Nhứt đã thức dậy từ lâu, đã lót bụng bằng mấy cục xôi vò và mấy trái chuối nấu cọng thêm một bụng nước sông nên trông tươi tỉnh.
Nó bò ra phía sau chèo thay ông nội. Tội nghiệp thằng nhỏ, từ lúc mới đẻ cho tới bây giờ là 14 tuổi nó nào có biết chèo chống gì đâu, bơi lội thì cũng bì bõm, vừa đủ để bắt cá, giăng câu cho ra vẻ con nhà đồng áng.
Nghe nói phải đi thăm ba bằng chiếc ghe tam bản mượn của bác Năm, hôm qua thằng Nhứt quyết lòng tập chèo từ trưa cho tới tối mò để chuẩn bị cho chuyến đi ngày hôm nay.
Quanh năm suốt tháng, ngay từ hồi còn trong bụng mẹ nó đã theo cha ở hết hậu cứ này đến hậu cứ khác.
Ngay sau ngày giải phóng, ba nó đưa mẹ con nó về sống nhờ ông bà nội.

Non một tháng sau nó nghe nói ba nó đi học tập cải tạo vì là sĩ quan ngụy.
Sau mấy tháng sống cơ cực ở quê chồng, má nó gởi nó cho ông bà nội, nói là đi tìm chồng rồi dông mất tiêu.
Hai hôm trước, sau cả năm không tin tức, ông bà nội nó mới biết chỗ ba nó đang học tập. Những chữ như học tập, cải tạo, giải phóng, ngụy… thằng Nhứt chỉ mới nghe người lớn nói, nó cũng bắt chước nói theo mà chẳng biết ý nghĩa gì. Thằng Nhứt tuy nhỏ tuổi nhưng nhờ ăn nhiều mau lớn nên tay chèo khá mạnh. Ông Giáo cầm dầm ra trước mũi ghe bơi tiếp thằng cháu.
Ngồi trong mui nhìn ra sau lái, bà Giáo thấy tự nhiên sao hôm nay thằng cháu lớn xộn, chắc tại trong lòng nó đang vui. Tay chèo của nó khá vững nhờ đôi tay dài. Cái điệu bỏ chưn mặt ra đằng sau rồi nhún mình một chút, hất mặt lên một chút mỗi khi đẩy hai mái chèo tới trước coi sao mà giống thằng cha nó quá.
Tội nghiệp thằng con trai của bà, vợ chồng nó đặt tên con trai đầu lòng là Nhứt để mong tiếp tục với con Nhì, thằng Ba… Rốt lại cũng giống như vợ chồng bà: một cây sanh vỏn vẹn một trái. Bây giờ thì coi như hết rồi.
Khi bắt đầu đi vào sông Yên, thằng Nhứt đẩy mạnh mái chèo tay mặt, lơi mái chèo tay trái để đưa chiếc ghe cập theo cái voi rộng trồng lát. Dễ chừng có tới cả công lát xanh mịt. Mũi ghe lần lần đi vào sông Yên. Nước bắt đầu ngược. May mà chiếc ghe nhỏ nên cũng nhẹ chèo. Sông thì rộng mà nhà cửa hai bên thì chẳng có bao nhiêu, thưa thớt như đồng hoang.
Ngồi trước mũi ghe, ông Giáo đẩy mạnh thêm cây dầm. Có lúc thằng Nhứt dở cả hai cây chèo khỏi mặt nước để tránh mấy dề lục bình đang trôi ngược thì chiếc ghe gần như đứng lại. Bà Giáo ngồi trong mui ghe, hai tay vịn chặt be ghe như ngầm tiếp sức đẩy ghe về phía trước.
Trước khi đi tới một nơi hoàn toàn xa lạ này, ông bà Giáo đã nghe ngóng, hỏi han đường đi nước bước. Họ biết trước là sẽ phải đi nước ngược trên sông Yên. Rồi đi nước ngược trên sông Thượng, sông Đối, trước khi đến Khu Trại Ngọc Trai nằm trong vùng U Minh Hạ. Trại Ngọc Trai, không phải chỉ ông bà Giáo mới nghe lần đầu, mà cả những người lối xóm như ông bà Chín Nâu, ông Hai Cảnh là những người từng ở vùng U Minh Hạ cũng chưa nghe tới bao giờ.
Họ chỉ nghe mang máng là trại Ngọc Trai mới có sau ngày giải phóng. Ông Hai Cảnh nói nếu muốn đi nước xuôi thì ngay sau khi ra khỏi sông Vàm Ngo, đậu ghe lại năm bảy tiếng, chờ nước lớn thì đi dễ hơn, đỡ vất vả.
Lúc đầu ông bà Giáo vì tay chân già yếu chỉ muốn đi đường bộ, nhưng người ta nói đi đến đó chỉ có xuồng ghe là phương tiện tiện lợi nhứt, lại chở được nhiều đồ tiếp tế.
Vùng đó dẫy đầy sông rạch, ít cầu, nhiều nơi nước nổi, có khi dễ gặp mìn bẫy vì ở đó nghe nói trước kia là vùng trái độn, mặc bên nào nấy chôn mìn, bẫy, lựu đạn. Khi nghe người ta nói đã có nhiều người học tập bị đạp mìn, chết không còn miếng thịt, ông bà Giáo càng lo hơn.
Thật sự thì ông bà Giáo đã mất ăn mất ngủ từ cả năm nay, từ ngày thằng con trai giã từ gia đình, nói là chỉ đi học tập một tháng rồi về. Một tháng, rồi hai, ba tháng vẫn không thấy về; chỗ ở cũng không biết. Hỏi đầu làng cuối xóm cũng không ai biết; hỏi xã, hỏi huyện thì cũng chẳng ai cho tin.
Có đứa học trò cũ nay đang làm Chủ Tịch Huyện, hỏi nó, nó nói để nó dọ hỏi giùm. Nó còn khuyên ông thầy đừng nóng, để ảnh học tập tốt, lao động tốt rồi cũng sớm về. Cả năm rồi có nghe nó cho tin tức gì đâu. Tới cơ quan tìm nó thì lần nào cũng cho hay là bận họp hành. Tới nhà thì nói nó đi vắng.

Ông Giáo nhớ ngày xưa nó là thằng trốn học có tiếng trong cái lớp Tư của ông dạy; lên các lớp trên nó cũng đi học bữa đực bữa cái.
Cuối năm lớp Nhứt, thi rớt vào lớp Đệ Thất trường tỉnh, nó bỏ học đi bưng. Phải nó siêng hơn một chút, chắc bây giờ là thủ tướng!
Nhưng ông bà Giáo cũng có cái số may. Hai hôm trước, ông Giáo đang ngồi uống cà phê ngoài vàm, tình cờ có người khách lạ cho biết chỗ ở của thằng con.
Nghe tin con, ông bà Giáo vui hơn đào được hũ vàng, vội vã cơm gạo đi thăm và tiếp tế. Ông bà Giáo dư biết là con trai họ đang đói khổ vì làm người tù sau ngày mất nước, chớ chẳng phải giải phóng giải phiết hay học tập cải tạo cải tiết gì hết.
Lòng già thương con càng nghĩ càng đau. Đi tới trời, ông bà cũng đi tới nói chi mấy khúc sông con.
Ghe càng đi vào sông Yên thì gặp thêm gió ngược thổi mạnh. Sóng lớn. Ghe nhỏ lại chở đồ nhiều nên chòng chành. Nóng lòng gặp con, ông bà Giáo quyết đi không nghỉ ngơi gì hết. Thằng Nhứt cũng nóng lòng gặp ba nên chèo hoài không biết mệt. Nước ngược cũng đi. Sóng gió cũng đi. Hơn một năm chờ đợi, lâu quá rồi. Ông Giáo đã nghe nói nhiều về con sông Yên. Tên là Yên nhưng nhiều sóng gió. Sông Yên là con sông cái nối những con sông nhỏ, đưa nước ra biển qua ngả Bảy Giá. Ngày xưa người địa phương nặng mê tín, và cũng vì lòng ước ao nên đặt là sông Yên để hy vọng sông sẽ trở thành yên lặng, bình yên, không sóng to gió lớn; cũng như người dân quê nghèo rớt mồng tơi, sanh con đặt tên là Giàu, là Đủ, là Dư…Người ta chỉ đoán sông Yên rộng chừng hơn trăm thước, dài chỉ non cây số, nhưng là con sông dữ, có nhiều ghe xuồng bị chìm, nhứt là ghe xuồng của người từ xa mới tới lần đầu.
Có lời đồn đãi là người ta đã vài lần thấy cá mập từ Bãi Giá lội vào.
Thời chiến tranh bốn lăm năm mươi, sông Yên là nơi tập hợp các thằng chõng chết trôi, những xác người cụt đầu, cụt chưn, cụt tay trôi về từ các nhánh sông con. Có ngày nhiều quá chôn không kịp, người ta đẩy xác luôn ra biển.
Thủy táng.
Bây giờ thì ông bà Giáo và thằng cháu nội thấy thế nào là con sông dữ khi chiếc ghe tam bản đến gần chỗ giao lưu của sông Yên với ba con sông nhỏ là sông Thượng, sông Hạ và sông Giữa. Nước từ ba con sông nhỏ đổ vào sông Yên tạo thành vùng nước xoáy mạnh.
Chỗ này lòng sông rộng hơn và gió thì thêm mạnh. Ra khỏi vùng nước xoáy, nước chảy xiết. Trời đã xế chiều mà chiếc ghe vẫn còn trong vùng nước xoáy, vài phút đồng hồ mới đi được một xãy tay. Thằng Nhứt giữ vững tay chèo, cốt sao cho ghe đỡ chồng chành và không bị lật úp. Thằng nhỏ chưa quen chèo nhưng nhờ mạnh tay nên giữ được ghe đi gần bờ. Ông Giáo cũng ráng hết sức giữ cho mũi ghe không quay vòng. Bà Giáo thì ngồi yên, lâm râm niệm Phật.
Trong tiếng cầu kinh, trong tiếng gió vù vù và tiếng nước xoáy, cả ba người trên chiếc ghe tam bản bên này bờ sông bỗng thấy phía bên trái, chỗ vàm sông Hạ, thấp thoáng trong màu chiều, một bè rồi hai, rồi ba, bốn, năm… chiếc bè gỗ trôi ra từ sông Hạ, nhập vào sông Yên rồi dừng lại ở đầu voi. Ông Giáo nhớ ngay lời người ta nói về những người tù và những chiếc bè tràm từ thượng nguồn sông Hạ theo con nước ròng đổ vào sông Yên. Tại chỗ nước xoáy này, khi vừa tới voi, những bè tràm sẽ cắm sào dừng lại, đợi khi nước lớn sẽ theo sông Thượng bè tiếp về trại tù Ngọc Trai ở thượng nguồn sông Đối. Khi thêm một chiếc bè vừa ra khỏi vàm sông Hạ, lúc ráng chiều nhuộm đỏ khúc sông, thằng Nhứt dụi mắt hai ba lần, nó thấy người đàn ông ngồi trên bè hơi quen. Nó lớn tiếng kêu ông bà nội cùng nhìn người đàn ông. Có phải đây là sự nhiệm mầu, hay là vì thần giao cách cảm, để linh tính cho người tù trên bè tràm và ba người trên ghe tam bản biết rằng họ là những người máu mủ ruột thịt. Họ đã cùng cất tiếng gọi nhau. Ba. Má. Con. Ba. Con. Con. Ba. Má…
Những tiếng gọi lẩn vào nhau, chồng chất lên nhau. Gọi nhiều lần. Tiếng gọi bay trong gió, vang trong chiều tà. Có một tíc tắc, thằng Nhứt đã quên tay chèo, cúi khum người, hai tay nó bụm miệng kêu lớn ba, ba. Thiếu người cầm lái, chiếc ghe xoay vòng, ngã nghiêng như chiếc lá trong phong ba. Ông Giáo ngồi phía trước dồn hết sức lực trên đôi tay già, cầm chắc cây dầm giữ cho ghe thăng bằng. Khi bà Giáo thấy đầu hai cây chèo đập vào sau ót thằng Nhứt, máu phun thành vòi thì thằng Nhứt đã lọt tũm xuống sông. Ngay lúc đó người tù cũng bỏ bè tràm, phóng mình về phía chiếc ghe. Nước xoáy. Gió mạnh. Bà Giáo la một tiếng thất thanh, bà thấy một vùng tối mênh mông trước mặt mình. Ông Giáo thì thấy một màu đỏ ối nhuộm hết khúc sông, nhuộm hết bầu trời.
Những con sóng như những bàn tay máu vung cao. Nước xoay vòng bè tràm như cây tăm trong ly nước khuấy. Chiếc ghe cũng xoay vòng rồi trôi theo dòng nước. Bè tràm như ngựa không cương, trôi nhanh về phía hạ lưu. Người tù cũng trôi đâu mất, không thấy trồi lên mặt nước. Những bạn tù chưa kịp lặn tìm xác bạn thì bị nòng súng chĩa sau lưng. Có một người tù nhanh trí vội vã lấy hai cây tràm làm thành hình thập tự giá cắm ngay tại vàm sông Hạ, chỗ đất bồi.
Ba ngày sau, xác người tù tấp vào một tay đáy ở Bãi Giá, bụng sình chương, hai hốc mắt trống hoác. Xác thằng Nhứt thì không ai thấy; có lẽ trôi tuốt ra biển. Bà Giáo chết đi sống lại nhiều lần trước cái xác tròn như trái banh lông và trước cửa biển mênh mông trời nước, không một bóng người. Ông Giáo thì cứ ngậm hoài trên đôi môi điếu thuốc rê không cháy.
Từ đó ông bà Giáo cúng hết vườn đất cho chùa, dọn nhà về vùng sông Yên. Căn nhà sàn nhỏ dựng ngay dưới bến sông, chỗ ngả ba nước xoáy, nơi có cắm cây tràm thập tự giá. Mỗi buổi chiều, khi ráng đỏ nhuộm một gốc trời ông bà Giáo bắt ghế ngồi ngoài hàng hiên, mỗi người một góc. Nước vỗ như lời than khóc dưới chân. Nhiều khi nước phát ra những tiếng Ba. Má. Nội. Ba. Má. Nội… thành những tràng dài như tiếng hú rớt xuống từ cõi xa xăm mộng tưởng. Có khi dưới chân, nước là những con bạch tuột có hàng trăm vòi. Là máu. Là cái bụng sình chương. Là đôi con mắt thiếu tròng. Là giọt máu phun ra từ cái đầu xanh non như lá cỏ. Sóng nước ở một bãi bờ xa lạ trong một đất nước bỗng nhiên xa lạ đã thủy táng hai người thân yêu nhứt của ông bà giáo già.
Nhưng mà, lạ chưa, bây giờ ông bà cũng muốn sống hết đời ngay trên những lớp phong ba của một dòng sông dữ! Ôi! Cũng là một cách thủy táng đau thương! Ông bà ngồi đây mà tâm hồn thì đang bập bềnh trên sóng nước. Muôn đời oan hồn người con trai duy nhứt và đứa cháu nội duy nhứt đang trôi nổi bồng bềnh đâu đây trong khói, trong sương, trong màu chiều đỏ như máu và trong màn đêm đen như mực.
Trời nước mênh mông, phong ba cuồng nộ đã chôn sống hai người thân yêu nhứt của họ, cũng đang chôn sống thể xác họ, nhưng không chôn hết được nỗi buồn của người bỗng khánh tận lúc cuối đời.

Từ đó và mãi cho đến bây giờ, sau gần bốn mươi năm, người địa phương gọi khúc sông nầy là Sông Oan.