Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương
Post by Sơn râu 13 Feb 2025

Bài 5
Hai ngày trong đời của một sĩ quan trực
Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt.

Ngày thứ nhất: Đời sống quân ngũ, “An Lộc trong bão lửa”

Sáu giờ sáng, tôi thức dậy, vệ sinh cá nhân, tắm rửa. Sáu giờ rưỡi, hôm nay thứ Hai đầu tuần, tôi mặc bộ đồ làm việc mùa đông để đi làm, bộ đồ này giống như bộ tiểu lễ mùa đông chỉ khác là không mang dây biểu chương, khi mùa nóng đến, trường sẽ có thông báo thay quân phục mùa hè. Tôi đang ở cư xá sĩ quan độc thân Thủy Tiên II của Trường Võ Bị Đà Lạt. Cư xá nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ ngay trung tâm thành phố, cách khu phố Hòa Bình chừng mười phút đi bộ.Bảy giờ kém, tôi đi bộ ra trước rạp ciné Hòa Bình, xe bus của trường đã đậu sẵn ở đó để chở nhân viên dân chính và quân nhân đi làm. Sáng mùa đông, trời Đà Lạt lạnh buốt, tôi thường đi làm bằng xe bus của trường vì trên xe bus đông người, cửa đóng kín cho nên bầu không khí trong xe ấm hơn. Nếu không thích đi xe bus, tôi có thể dùng chiếc xe Honda hai bánh cũ rích, tróc sơn, mòn vỏ của mình để đi làm.
Tám giờ kém mười, xe bus đổ tại tòa nhà Bộ chỉ huy.
Tám giờ, tôi vào Trung tâm hành quân, nhận bàn giao phiên trực với trung úy Hàn, sĩ quan hạ phiên. Lệ thường, Trung tâm hành quân của một đơn vị phải được đặt ở nơi an toàn tối đa, chìm sâu dưới mặt đất với nhiều lớp bao cát bao phủ ở bên trên. Chỉ riêng Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt hơi khác thường, đó là một căn phòng rộng khoảng ba chục thước vuông, trang trí gọn gàng sạch sẽ năm ở tầng hai của tòa nhà Bộ chỉ huy, chung quanh là cửa kính sáng loáng bao bọc nhìn ra Vũ Đình Trường Lê Lợi. Ở đây, người ta có thể quan sát rõ ràng, tất cả những diễn tiến của lễ mãn khóa được tổ chức thường xuyên hàng năm. Đó là lý do tại sao Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt được đặt ở một nơi hớ hênh như vậy. Gặp khi chiến trận xảy ra, chỉ cần một trái đạn pháo 82 ly của Việt Cộng rơi vào là Trung tâm hành quân sẽ bị tê liệt, bị phá hủy hoàn toàn. Nơi góc phòng của Trung tâm hành quân có hai giường nệm, một dành cho sĩ quan trực và một dành cho hạ sĩ quan. Trong phòng còn có hai bàn làm việc, với hơn chục cái điện thoại đủ loại, từ điện thoại liên lạc nội bộ, điện thoại liên lạc trong tỉnh cho đến điện thoại viễn liên có thể liên lạc khắp miền nam Việt Nam. Một bản đồ trường Võ Bị và một bản đồ thị xã Đà Lạt gắn trên tường.
Tám giờ đến mười một giờ sáng, tất cả giấy tờ liên hệ đến Trung tâm hành quân đã có hạ sĩ quan trực lo liệu. Tôi ngồi vào bàn làm việc của mình, chép lại bài học của ngày hôm trước. Những bài học này, tôi mượn của người bạn gái học chung lớp ở Viện đại học Đà Lạt. Thiếu tá trưởng phòng không thắc mắc gì về chuyện tôi học bài trong giờ làm việc. Ông chỉ cần biết là tôi đã chu toàn bổn phận được giao phó.

Mười một giờ, tôi thả bộ qua Câu lạc bộ sĩ quan cách đó vài trăm thước ăn cơm trưa, đi bộ cho giãn gân giãn cốt sau mấy giờ ngồi một chỗ. Nếu lười biếng tôi có thể nhấc điện thoại lên, bữa cơm trưa từ Câu lạc bộ sẽ được đem tới phòng làm việc của tôi, lẽ dĩ nhiên ăn cơm Câu lạc bộ thì phải trả tiền. Mười hai giờ tới một giờ, tòa nhà chỉ huy ngưng hoạt động, mọi phòng ban đều đóng cửa nghỉ trưa. Tất cả những cú điện thoại từ bên ngoài gọi vào trường đều đi qua Trung tâm hành quân. Tôi là người trả lời điện thoại.
Một giờ chiều, tôi lấy chiếc xe Jeep của phòng đi qua Quân Trấn họp. Trung tâm hành quân lúc ấy chỉ còn người hạ sĩ quan trực. Giải quyết mọi vấn đề trong thời gian này là thiếu tá trưởng phòng, ông ấy có phòng riêng ở bên cạnh Trung tâm hành quân.
Thông thường, khi sử dụng quân xa, tài xế sẽ lái xe còn sĩ quan ngồi ở ghế trưởng xa bên tay phải, đó là luật thế nhưng hầu hết những ông sĩ quan cấp úy tuổi trẻ, háo thắng thường làm ngược lại. Sĩ quan lái xe, tài xế ngồi ghế trưởng xa hóng mát. Tôi còn ngon hơn nhiều, cho tài xế ở nhà ngủ trưa luôn cho khỏe, bởi vì anh tài xế thường hay cằn nhằn, khi tôi sang số xe không được êm cho lắm, và nhất là đã mấy lần suýt lọt xuống hố khi qua một khúc cua gắt. Không có tài xế ngồi một bên, tôi cảm thấy thoải mái hơn. Một mình tôi lái xe, muốn đi đâu cũng được, ghé chỗ nào cũng xong, lỡ có rớt xuống hố cũng chỉ một mình tôi chịu.
Trên đường qua Quân Trấn, lợi dụng thời cơ gọi là đi họp, tôi ghé cà phê Thủy Tạ, uống ly cà phê, hút vài điếu thuốc, ngắm hồ Xuân Hương trong nắng hanh vàng của mùa đông, luôn tiện khoe với mọi người là tôi biết lái xe hơi mặc dầu mình không có bằng lái. Nếu không thích ngắm cảnh, tôi có thể ghé quán Hạnh Tâm gần vòi phun nước ở chợ Đà Lạt, uống ly cà phê nghe vài bản nhạc tình, nhìn cô thu ngân tên Huệ với vẻ đẹp
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn.
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa.

Tôi, trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt, độc thân, bốn năm qua sống lao đao lận đận với mối tình đầu, một đôi lúc cảm thấy buồn đến não ruột. Có một lần, nhân lúc trả tiền ly cà phê khi đứng gần cô Huệ, tôi buông lời chọc ghẹo để rồi nhận được cái liếc mắt sắc như lưỡi dao. Cô không nói gì, chỉ cố ý đưa bàn tay cho tôi thấy chiếc nhẫn nơi ngón tay áp út. Cô Huệ từ tốn thối lại cho tôi một mớ bạc lẻ, rồi dịu dàng nói:
-Ba đồng một mớ trầu cay.
Tôi giật mình đánh thót, cô nàng này bên ngoài coi bộ yểu điệu, dịu hiền nhưng không ngờ cũng lãng mạn dữ.
Cô Huệ trông chỉ chừng hai mươi tuổi, đã mang nhẫn cưới trên tay. Mối tình đầu của tôi, bốn năm qua rồi giờ đây chắc cũng đã tay bồng tay bế. Từ đó về sau, tôi ghé cà phê Hạnh Tâm chỉ ngồi yên một góc nhâm nhi ly cà phê đen, nghe nhạc, nhìn người đẹp trong tiếc nuối muộn màng.
Có những ngày, mặc dù lệnh cấm trại một trăm phần trăm, trên đường đi qua Quân Trấn tôi cũng ghé cà phê Hạnh Tâm. Đang cấm quân mà có một ông trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt ung dung, thoải mái ngồi uống cà phê quả là chuyện lạ, Quân Cảnh đời nào mà tha cho một con mồi béo bở như vậy. Hai ông Quân Cảnh liền vào tận nơi, lịch sự mời tôi ra ngoài để xét giấy tờ. Khi nhìn thấy sự vụ lệnh đi họp Quân Trấn, vũ khí mang theo là cây súng colt 45 với con dấu nổi của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị ký, mấy ông Quân Cảnh lật đật xin lỗi rồi dông mất.
Ba giờ chiều, tôi tới Quân Trấn, họp với sĩ quan trực, lấy mật khẩu, mật hiệu phòng thủ trong đêm đựng trong một phong bì niêm kín. Sau đó, tôi quành xe ra chợ mua một phần cơm sườn cho buổi ăn tối, cơm ở Câu lạc bộ sĩ quan trong Trường Võ Bị làm sao có thể sánh với cơm sườn nướng ở chợ Đà Lạt. Mọi chuyện coi như đã xong xuôi, tôi lái xe về trường.
Năm giờ chiều, tôi về đến trường. Kể từ giờ phút này mọi hoạt động của tất cả các phòng ban trong trường đều chấm dứt. Thiếu tá trưởng phòng của tôi cũng sửa soạn ra về. Tôi chính thức lo tất cả mọi chuyện phòng thủ ban đêm của trường. Ngoài vòng đai xa của trường đã có binh sĩ của Tiểu khu Tuyên Đức; bên ngoài hàng rào phòng thủ của trường, đã có Tiểu đoàn An Ninh canh giữ cũng như phân bố mấy chục điểm kích; phía Đồi Bắc có Đại đội Thao Diễn trấn giữ. Tất cả tọa độ của những điểm kích này đều được ghi rõ trên phóng đồ hành quân chuyển cho pháo binh và những đơn vị bạn. Mọi cổng ra vào của trường, từ cổng Thái Phiên, cổng Nam Quan cho tới cổng Lý Thường Kiệt đều đã nhận mật khẩu, mật hiệu trong đêm.
Khoảng sáu giờ tới bảy giờ tối, các toán kích canh giữ những điểm trọng yếu trong trường do sinh viên sĩ quan đảm nhận, sinh viên trưởng toán đến Trung tâm hành quân lấy mật khẩu. Đây là mật khẩu nội bộ, khác với mật khẩu bên Quân Trấn.
Bảy giờ tối, công việc phòng thủ trường hoàn tất, tôi nhấc điện thoại báo cáo với đại úy trực Phòng hành quân tại tư dinh của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng. Tuy ở ngoài tư dinh, nhưng Thiếu tướng Chỉ huy trưởng vẫn nắm vững tình hình an ninh trong trường, qua Phòng hành quân bỏ túi tại tư dinh của ông.
Xong xuôi mọi việc, tôi bắt đầu bữa ăn tối, vừa ăn cơm tôi vừa lấy bài vở ở trường ra ôn lại. Nếu cần tham khảo tài liệu, tôi có thể ghé thư viện của trường để mượn.
Mười giờ tối, tôi lên giường.
Chiều nay, lúc vừa từ Quân Trấn về, tôi thấy một bức thư do bưu tín viên đem đến để trên bàn làm việc của tôi. Tên người gửi là Trung úy Nguyễn Đức. Tên người nhận là tôi, Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, KBC 4027.
Tôi tắt đèn neon trên trần rồi mở ngọn đèn đọc sách ở đầu giường.

Tháng 11, 1972.
Quân,
Tao là Trung úy Đức, Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh, bạn học cùng lớp với mày ở trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt, không biết mày còn nhớ tao không? Nếu mày không nhớ để tao nhắc cho. Hồi đó tụi mày đặt cho tao cái biệt danh là Đứt thắng rồi thi nhau chọc ghẹo tao “Ở Đà Lạt, đi xe xuống dốc mà Đứt thắng chỉ có tàn đời thôi em ơi” Mày nhớ tao chưa? Nếu đã nhớ rồi hãy đọc tiếp, tao sẽ kể cho mày nghe về những gì mà tao được biết đã xảy ra ở An Lộc trong mùa hè vừa qua.
Chuyện như thế nàv, nếu tao nhớ không lầm, ngày 11 tháng 4 năm 1972 Trung đoàn 8 của tụi tao được trực thăng vận từ Dầu Tiếng vào An Lộc trấn giữ mặt Bắc của thị trấn. Ba mặt khác do Nhảy Dù, Biệt Động Quản, Trung đoàn 7 và Địa Phương Quân của Tiểu khu Bình Long trấn giữ. Năm ngày sau, Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù cũng được trực thăng vận đến phía Đông nam của thị xã, sau đó họ di chuyển lên tuyến đầu ở phía bắc phối hợp với Trung đoàn 8 của tụi tao để tử thủ An Lộc. Nói là phối hợp chứ thật ra mỗi đơn vị chịu trách nhiệm một khu vực. Biệt Kích 81 có lối đánh giặc riêng của họ, lối đánh đặc biệt của từng toán nhỏ, di chuyển trong im lặng, xuất hiện rồi biến mất như những bóng ma, phòng thủ đối với Biệt Kích 81 có nghĩa là tấn công. Từ khi có Biệt Kích 81 phối hợp, tinh thần binh sĩ của tụi tao lên cao thấy rõ. Tao biết địa chỉ của mày là nhờ thẳng Đạt học cùng lớp với tụi mình, nó là trung úy Biệt Kích 81. Tụi tao gặp nhau thật bất ngờ, khi tao đang chạy vắt giò lên cổ trong một trận mưa pháo của địch.
Trung đoàn 8 của tao với quân số khoảng một ngàn rưỡi người, cùng với sáu ngàn quân nhân của các binh chủng khác đã tử thủ trong An Lộc, chống lại hơn bốn chục ngàn quân Cộng Sản. Bốn chục ngàn quân Cộng Sản, với hàng trăm chiếc xe tăng T54 tụi tao không sợ, chỉ ngán cái giàn pháo của tụi nó. Hàng ngày ở đây tụi tao lãnh hơn một ngàn trái đạn pháo đủ loại là chuyện thường tình, từ cái thứ đạn pháo tép riu của súng cối 82 ly, cho đến đại bác hạng nặng 130 ly. Vài trăm trái đạn pháo một ngày, tụi tao gọi là pháo quấy rối. Trên hai ngàn cho đến tám ngàn trái mới coi đó là pháo thật sự, khi pháo kích lơi dần là lúc Việt Cộng bắt đầu tấn công. Trước tiên, bọn chúng dùng xe tăng T54 tràn qua mọi chướng ngại vật đi vào trong thị xã An Lộc. Mấy chục chiếc xe tăng này như là vật tế thần, sau khỉ lãnh đủ hàng trăm trái đạn M72 của Biệt Kích 81, của tụi tao và những đơn vị bạn khác, chiếc cháy đen thui, chiếc đứt xích nằm ngổn ngang trong thị xã. Sau mỗi lần tấn công của Cộng Sản, tao lại dùng lưỡi lê khắc một gạch trên báng súng, cuối tháng Tư, sau gần hai mươi ngày tử thủ, tao đếm được bốn cái gạch trên cây súng M16 của tao. Mỗi một gạch là một trận đánh khốc liệt, tàn bạo, đẫm máu.

Ngày 11 tháng 5, tám ngàn trái đạn pháo chụp xuống An Lộc, địch pháo liên tục tưởng như không bao giờ dứt. Suốt đêm cả bầu trời được soi sáng bằng những tia chớp của đạn pháo, khi nhịp pháo thưa dần cũng là lúc Cộng Sản bắt đầu tấn công. Tụi tao ở hố cá nhân với súng M16, đại liên M60, súng phóng lựu M79, cuối cùng là lựu đạn ném tay chống trả hết đợt xung phong này đến đợt xung phong khác. Nhờ những trái lựu đạn này, đã cản được nhiều đợt xung phong của Việt Cộng, cho đến khi trời hừng sáng bọn Cộng Sản mới chịu rút lui, trả lại an lành cho An Lộc. Khi trận đánh kết thúc hàng trăm xác chết của Việt Cộng, của lính mình, của thường dân nằm la liệt, những người còn sống, lợi dụng lúc im tiếng súng vội vàng kéo nhau đi chôn xác chết, bất kể ta hay địch. Xác chết nhiều đến nỗi không có thì giờ đào huyệt, người ta phải dùng xe ủi đất đào một đuờng rãnh dài vài chục mét, sâu độ ba mét, sau đó hàng trăm xác người không phân biệt Việt Cộng hay thường dân, già trẻ lớn bé được xếp chồng lên nhau rồi lấp đất lại. Cảnh chôn người giống hệt như trong ciné thời Đệ nhị thế chiến, khi Đức Quốc Xã chôn dân Do Thái ở những trại tập trung.
Bảy giờ sáng, tao đánh răng bằng một nắp bi đông nước, rồi đổ nước vào bao gạo sấy làm bữa ăn sáng, sau đó là chuyện tu bổ hầm hố, coi lại súng ống, đạn dược chuẩn bị cho trận đánh kế tiếp.
Có một chuyện khá khôi hài, sau nàv mỗi lần nhớ lại tao vẫn không hiểu tại sao hơn sáu mươi ngàv tử thủ trong An Lộc, tao không biết tắm là gì. Hình như, tắm không phải là nhu cầu sống chết như cơm để ăn, nước để uống. Cũng có thể, vì lúc nào cũng tựa lưng vào cái chết nên quên tắm, cuối cùng đành phải vin vào cái cớ nước không đủ uống lấy đâu mà tắm.
Nước uống được lấy từ những cái giếng cạn trong thị trấn. Mày thử nghĩ coi, với hàng ngàn xác chết vừa chôn được vài tuần, nguồn nước giếng ở đây có còn trong sạch hay không? Dù nước giếng có ô nhiễm vẫn phải uống, nếu không muốn chết khát.
Xong phần nước uống, đến phần nhận tiếp tế thực phấm và đạn dược. Chuyện tiếp tế là cả một vấn đề nhiêu khê phức tạp, vì máy bay phải bay thấp để tránh cao xạ cũng như hỏa tiễn phòng không của Việt Cộng. Khi những kiện hàng tiếp tế từ phi cơ C123 thả xuống An Lộc, những gì rớt vào bên trong vòng đai phòng thủ đó là phần của mình, nếu rớt ngoài vòng đai là của Việt Cộng. Thường thì những kiện hàng tiếp tế rớt vào trong vòng đai, ít hơn những kiện hàng rớt ngoài vòng đai, có nghĩa là tiếp tế cho phe mình nhưng Việt Cộng lãnh gần hết. Phần thực phẩm mình nhận được phải chia bớt cho dân để cùng nhau chịu đựng pháo kích, sống tiếp những ngày gian nan, đói khổ, đầy chết chóc. Có một lần, tình cờ tao chứng kiến một chiếc vận tải cơ C123 của Không Quân Việt Nam bay vào An Lộc mà như là thách đố với tử thần. Chiếc phi cơ bay thấp thật thấp, thấp đến độ tao có thể thấy được lá cờ vàng ba sọc đỏ sơn ở nơi đuôi. Khi đã vào đúng vị trí để thả dù, mấy kiện hàng tiếp tế từ đuôi tuôn ra. Chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, năm cánh hoa dù tròn xoe bọc gió trôi lững lờ giữa không trung. Thay vì nhìn những kiện hàng có rơi vào trong An Lộc hay không, tao dõi mắt nhìn theo phi cơ đang bay lảo đảo, trồi lên rồi hụp xuống giữa những lằn đạn phòng không dày như đan lưới của Việt Cộng. Chiếc phi cơ bay chậm và thấp, phơi cái bụng phệ dùng để chứa hàng tiếp liệu rõ mồn một. Tao nghĩ thầm, chỉ cần dùng mấy khẩu đại liên M60 của đại đội, tao bắn cũng trúng huống chi cả Trung đoàn súng phòng không của Việt Cộng, thi nhau nhả đạn tới tấp. Tao nín thở nhìn theo chiếc phi cơ, cho đến khi hình dáng của nó nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút nơi cuối chân trời, lúc bấy giờ tao mới thở phào nhẹ nhõm, mừng cho phi hành đoàn của chiếc C123 ngày hôm đó đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tao chùi hai bàn tay đẫm mồ hôi của mình vào vạt áo rồi nhìn những giọt mồ hôi chảy dài trên trán của người lính ngồi bên cạnh. Tao hỏi anh ta:
-Sợ hả bạn?
-Dạ, sợ quá đến nỗi toát mồ hôi cục mà không biết đó thiếu úy.
Té ra, đâu có phải chỉ một mình tao lo sợ cho mạng sống phi hành đoàn của chiếc phi cơ C123.
Đưa tay quẹt những giọt mồ hôi trên trán, người lính hỏi tao:
-Thiếu úy nè, mình đánh nhau với Việt Cộng, đem sinh mạng ra đánh cuộc với sống chết mà không biết sợ. Tại sao, khi nhìn chiếc máy bay chao đảo giữa những lằn đạn mình lại thấy sợ?

Tao trả lời với người lính, không biết câu trả lời có đúng hay không.
-Bởi vì mình là khán giả, rảnh rỗi ngồi xem mấy ông phi công Việt Nam Cộng Hòa đem mạng sống của họ thách đố với tử thần, với mục đích là thả cho được những kiện hàng tiếp tế vào bên trong An Lộc. Phi cơ có thể nổ tan xác như một quả cầu lửa vì trúng hỏa tiễn phòng không SA 7, cũng có thể đâm chúi đầu xuống đất tan nát thành muôn ngàn mảnh vụn vì trúng cao xạ phòng không của Việt Cộng. Những cái chết khủng khiếp như vậy có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Không sợ sao được.
Người lính nhìn tao gật đầu như đồng ý.
Chuyện rảnh rỗi ngồi khơi khơi trên mặt đất xem phi cơ C123 thả hàng tiếp tế, chỉ là chuyên ngàn năm mới có một lần. Thực ra, ở đây lúc nào bọn tao cũng sống dưới hầm, dưới hố cá nhân có nắp đậy để tránh pháo kích. Một đôi lần, tao ngồi dưới hố cá nhân nghe tiếng nổ của bom B52 cách xa một vài cây số dội lại mà cứ tưởng như sấm động trên đầu. Nhiều khi tao nghĩ dại, nếu vì một lý do nào đó như trục trặc kỹ thuật chẳng hạn, một loạt bom B52 lọt vào bên trong An Lộc, khoảng tám ngàn lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và dân An Lộc sẽ chết không còn một mống.
Chuyện sống chết của phi hành đoàn chiếc phi cơ C123, và những chấn động khủng khiếp khi B52 trải thảm tuy vậy nó không ám ảnh tao bằng chuyện hai anh em thẳng bé bị thất lạc cha mẹ.
Ngay chỗ tụi tao trấn giữ, cứ lúc im tiếng súng, tao lại thấy mấy đứa nhỏ đến gần lính mình xin gạo sấy và thịt hộp. Trong đám trẻ con ấy, tao chú ý đến một đứa bé trai đâu chừng mười tuối, lúc nào nó cũng địu đứa em nhỏ trên lưng, thằng bé mặt mày lem luốc, thân hình ốm đói với bộ quần áo không thể dơ hơn được nữa rụt rè ngửa bàn tay xương xẩu, đen đúa xin nhúm gạo sấy. Thoạt nhìn tao đã mềm lòng, muốn chảy nước mắt, con cái nhà ai chạy loạn để rồi lạc loài tới đây. Tao không dám hỏi ba má nó ở đâu, bởi vì tao sợ câu trả lời của nó. Lính có khẩu phần lương khô của lính, còn dân chúng ai tiếp tế thực phẩm cho họ đây? Dĩ nhiên tao vui vẻ chia làm hai phần gạo mình đang có cho thằng bé, ăn để sống cầm hơi chờ đợi tiếp tế. Cũng có một đôi lần tao nhịn phần trái cây hộp của mình đem cho anh em thằng bé, mặc dầu cơ thể của tao rất cần chút chất ngọt của hộp trái cây. Có một điều khiến tao mềm lòng, là bất cứ khi nào xin được thức ăn, thằng bé cũng đút cho em nó ăn trước. Cho đến khi đứa em của nó lắc đầu, thằng bé mới chịu ăn. Mấy ngày sau đó, khi không thấy thằng bẻ đến xin gạo sấy; tao hỏi lũ nhỏ về anh em thằng bé mới biết rằng cả hai đứa đều bị chết vì đạn pháo của Việt Cộng. Tội nghiệp, một đứa bé mười tuổi làm sao biết cách đào hố cá nhân để ẩn núp khi bị Việt Cộng pháo kích. Mạng sống của tao giống như chỉ mành treo chuông, chuyện không có gì phải nói vì tao là lính, nhưng sinh mạng của hai đứa bé cùng với hàng ngàn người dân An Lộc vừa chết trong mấy ngày qua thì sao? Chẳng lẽ cũng phải chịu chung số phận như lính? Năm 1968 trong chiến dịch Tổng công kích của Việt Cộng, năm, bảy ngàn thường dân bị họ chôn sống trong Tết Mậu Thân ở Huế. Bốn năm sau, thảm họa lại tái diễn tại An Lộc, lần này là cảnh người dân An Lộc bị chôn tập thể, bằng hàng chục ngàn trái đạn pháo đủ loại của Việt Cộng. Có quốc gia nào trên thế giới đứng ra tố cáo, hay phản đối chuyện Việt Cộng pháo kích giết hại dân lành không? Câu trả lời, hoàn toàn không có. Tự dưng tao cảm thấy thương cho cái địa ngục An Lộc này quá chừng.

Khi màn đêm buông xuống, An Lộc chìm vào bóng tối mênh mông, một vài trái đạn pháo lẻ loi xé toạc màn đêm, âm thanh vang dội khắp núi rừng như nhắc nhở rằng chiến trường chỉ tạm thời yên tĩnh. Dưới ánh sáng của một trái hỏa châu không biết do đơn vị nào bắn lên, tao thấy vài con chó đói, đang chúi đầu bươi mấy cái xác chết vừa được chôn sơ sài, vội vàng lúc ban ngày. An Lộc đổ nát, hoang tàn như một bãi tha ma. Một ngày tử thủ An Lộc vừa trôi qua.
Đại đội của tao, quân số lúc mới vào An Lộc trên một trăm người, ngày về còn chưa tới bảy chục. Trung úv đại đội trưởng và ba ông chuẩn úy trung đội trưởng của tao lần lượt rủ nhau giã từ vũ khí, tao là thằng thiếu úy duy nhất trong đại đội còn sống sót. Tao lên nắm đại đội trưởng, trông coi mấy chục người lính còn lại của đại đội. Từ khi trở về từ cõi chết, tao nghiệm ra một điều, sống hay chết không phải do mình lựa chọn mà do ở số trời định đoạt. Tao tin như vậy.
Mày có biết tại sao tao viết thư cho mày không? Tao đang nằm tái khám ở Tổng y viện Cộng Hòa. Tao nhớ lại, ngày xưa trước đêm lễ gắn Alpha, truyền thống của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt là phải chinh phục đỉnh Lâm Viên, vì nó là đỉnh núi cao nhất của cao nguyên Lâm Viên, chinh phục được ngọn núi này, chứng tỏ người Sinh viên sĩ quan đã Tự Thắng được mình. Tao biết, dấu chân của tao hãy còn hằn sâu trên đỉnh núi mờ sương đó. Vậy mà, khi tao vào An Lộc rồi trở ra, không có vết chân của tao để lại trong cái hỏa ngục hừng hực lửa đỏ đó, bởi vì hai chân của tao đã bỏ lại ở An Lộc.Hôm nay chiến trường đã im tiếng súng, An Lộc hiên ngang, oai hùng đi vào lịch sử. Riêng tao, một con chim gãy cánh, lạc bầy, mất bạn, nước mắt rưng rưng khi nhớ về trường mẹ. Tao tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt, mày đang làm việc ở đó.
Lá thư chấm dứt ngang xương, không một lời tạm biệt cũng chẳng có lấy một câu hẹn tái ngộ, tôi nhắm mắt chìm vào giấc ngủ, trái tim của tôi vẫn đập bình thường, trong khi những giọt nước mắt nóng hổi của mình tưởng có thể cuốn trôi cả một thị trấn An Lộc ở tận biên giới Việt Miên xa xôi ngàn dặm. Trường Võ Bị Đà Lạt vẫn an bình, yên ổn không một tiếng súng.
Ngày thứ hai: Đời sống dân sự, “Cổ thành nhuộm máu”.
Sáu giờ sáng, tôi thức dậy. Sau khi làm vệ sinh cá nhân, tôi ngồi vào bàn làm việc, điền vào tờ báo cáo tình hình trong đêm. Cuối tờ trình, bên tay phải, tôi viết thêm hàng chữ:
Sĩ quan trực Trung tâm hành quân.
Trung úy Nguyễn Trọng Quân ký tên.
Tôi đem tờ trình qua phòng làm việc của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, nằm đối diện với Trung tâm hành quân, đặt tờ tường trình vào chỗ công văn đến.
Tám giờ sáng, tôi bàn giao phiên trực cho Trung úy Hàn, sĩ quan thượng phiên rồi trở về cư xá sĩ quan. Sau khi tắm rửa xong xuôi, tôi thay bộ đồ dân sự lên xe Honda chạy đến nhà Vân, cô bạn gái học cùng lớp với tôi ở Viện đại học Đà Lạt. Vân thua tôi hai tuổi, học giỏi, gia đình Vân có tiệm tạp hóa nho nhỏ ở chợ Đà Lạt. Tôi là tài xế không công của Vân với nhiệm vụ đưa đón nàng đi học, bù lại, Vân cho tôi mượn sách vở để ghi chép bài. Đó là mối giao tình mà đôi bên cùng có lợi, quan hệ giữa chúng tôi chỉ là tình bạn thuần túy, tin hay không còn tùy vào sự suy luận của mỗi người. Bạn bè trong lớp đương nhiên nghi ngờ về cái tình bạn thiêng liêng cao quý ấy, có người hỏi Vân, cô nàng làm ra vẻ bí mật trả lời: “Hỏi anh ấy”. Hỏi tôi, câu trả lời là : “Tôi đã có người yêu và chúng tôi sắp làm đám cưới, Vân chỉ là bạn của tôi”. Sở dĩ tôi nói như vậy bởi vì từ mấy năm qua khi gặp bất cứ một cô gái nào, điều đầu tiên là tôi so sánh cô gái ấy với Dung. Sau đó trái tim tôi sẽ nói với tôi rằng, cho dù tôi đi tới chân trời góc biển cũng chẳng bao giờ tìm được ai hơn Dung. Trái tim của tôi đã ngủ quên, chỉ biết có một mình Dung kể từ ngày đầu tiên tôi gặp Dung tại nhà nàng, ngôi nhà có hai cây vú sữa.
Vừa gặp mặt Vân, tôi chưa kịp chào hỏi Vân đã lẹ miệng nói:

-Anh Quân, tụi mình có nên ăn tô phở trước khi đi học hay không?
Vì muốn tiết kiệm tiền, tôi hơi lưỡng lự một chút không biết nên chọn khúc bánh mì hay tô phở? Cuối cùng tôi trả lời theo ý của Vân:
-Nên lắm chứ.
Chúng tôi ghé tiệm phở Tùng ở đường Hàm Nghi. Tôi vừa ăn phở vừa ngắm Vân, rồi thầm nghĩ phải chi mình thương được cô Vân này thì khỏe biết mấy. Vân đâu có xấu, nhan sắc trên trung bình lại ăn nói có duyên, thiên hạ bu theo Vân cũng lắm nhưng tại sao mình không một mảy may rung động. Hình như Vân cũng có một trái tim bằng sắt, Vân coi tôi như là bạn gái của cô ta, mặc dầu hai đứa thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc. Tôi ngẫm nghĩ hoài vẫn không tìm ra câu trả lời. Hai năm rồi bạn vẫn là bạn, không có gì thay đổi.
Tụi tôi đến giảng đường Minh Thành trễ ba mươi phút, hai đứa lén vào chỗ ngồi. Vân hỏi người bạn:
-Thầy có điểm danh không?
-Không.
Lớp học kéo dài đến mười hai giờ trưa, hết giờ học, tôi chở Vân đến quán cơm sinh viên ở đường Võ Tánh cách Viện đại học khoảng hơn một cây số. Chúng tôi thường ăn cơm trưa tại đây bởi vì thuận đường, rẻ và ngon.
Cơm nước xong xuôi tôi chở Vân trở lại trường, mới hơn một giờ, hãy còn sớm chúng tôi lên Trung tâm sinh viên, mỗi đứa làm một ly cà phê, chuẩn bị bài vở cho lớp học sắp tới. Hôm nay thứ Ba, từ hai giờ đến sáu giờ chiều tụi tôi có lớp ở giảng đường Thượng Chí, bốn tiếng đồng hồ dài đăng đẳng, nghe giảng ghi chép rồi cũng qua đi.
Tan học thay vì chở Vân về nhà, tôi ghé cà phê Hạnh Tâm. Vân hỏi:
-Mình uống cà phê nữa hả anh?
Trong lòng nhẹ nhàng, khoan khoái, tôi trả lời Vân:
-Uống mừng đã học xong một ngày.
Tôi là một thằng ba phải, khi ăn uống, tôi thường so đo, tính toán nhung khi vô quán cà phê, tôi lại dễ dãi với mình, không đắn đo, không suy nghĩ.
Đang chăm chú nhìn những giọt cà phê đen quánh rơi chầm chậm xuống cái ly thủy tinh trong vắt, đột nhiên tôi cảm được bàn chân của Vân đang đạp nhẹ lên chân tôi.
Vân nói nhỏ với tôi:
-Anh Quân, có ông lính ngồi bên kia cứ nhìn anh đăm đăm.

Tôi nói:
-Kệ nó, cho nó nhìn. Nó nhìn em chứ không phải nhìn anh đâu. Ai biểu đẹp làm chi, phải ráng mà chịu.
Đâu chừng một phút sau, Vân lại nói:
-Hình như ông ta muốn nói gì đó.
Tôi quay đầu lại, khi nhìn thấy người lính tôi giật mình như chạm phải một luồng điện.
-Mày đó hả?
-Ừ, tao đây. Nhân đầu bạc đây.
Tôi vẫy tay:
-Qua đây ngồi cho vui.
Nhân đầu bạc tay bưng ly cà phê, tay cầm gói thuốc lá đi qua bàn của tôi. Tôi bắt tay Nhân rồi giới thiệu:
-Đây là Vân, bạn học cùng lớp với tao ở Viện đại học Đà Lạt.
Nhân đầu bạc khẽ gật đầu:
-Hân hạnh được biết Vân.
Quay qua Vân, tôi giới thiệu tiếp:
-Còn đây là Nhân, bạn cùng lớp với anh thời trung học.
-Dạ chào anh.
Tôi nhìn bộ quân phục Thủỵ Quân Lục Chiến với cặp lon đeo trên vai của Nhân rồi nói:
-Hơn năm năm rồi bây giờ mới gặp lại nhau, mày là trung úy Thủy Quân Lục Chiến?
Nhân trả lời:
-Đúng.
Hắn hỏi tiếp:
-Mày vẫn đi học sao Quân? Nhìn bộ đồ dân sự mày bận mà tao phát thèm.
Tôi nói:
-Đừng có thèm, tao cũng là lính như mày thôi. Tao hiện là trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt.
Nhân đầu bạc trố mắt nhìn tôi:
-Mày đi Võ Bị Đà Lạt? Ngon dữ há!
-Tao tốt nghiệp Thủ Đức, ra trường được chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt, làm việc ở Trung tâm hành quân. Ở đó làm việc một ngày nghỉ một ngày, lợi dụng ngày nghỉ tao đi học thêm ở Viện đại học Đà Lạt.
Nhân đầu bạc nhíu mày, với giọng nói tựa như nghi ngờ.
-Làm một ngày rồi nghỉ một ngày?

Tôi đáp:
-Đúng.
Nhân lắc mạnh đầu:
-Mẹ nó, tao đi lính năm năm rồi, dù có nằm mơ tao cũng không tin được chuyện có thứ lính kỳ lạ như mày. Bọn tao bắn nhau với Việt Cộng trong rừng sâu núi thẳm, từ ngày này qua tháng nọ, hết năm này tới năm khác vùi đầu trong chiến trận, hôm nay sống ngày mai có thể chết. Một năm được mươi ngày phép, mừng thấy mẹ, đã vậy khi đưa giấy phép cho mình, tiểu đoàn trưởng còn chần chừ như tiếc rẻ không muốn đưa. Mày biết không, sếp đưa tờ giấy phép cho mình mà tay không muốn rời tờ giấy, cứ như là Thúc Sinh bịn rịn không nỡ chia tay Thúy Kiều. Nhờ biết gia đình mày từ trước, nếu không tao sẽ nghĩ chỗ mày làm việc chỉ dành cho con ông cháu cha.
Tôi nói với Nhân đầu bạc:
-Tao biết, mày cũng tốt nghiệp Thủ Đức như tao nhưng mặc bộ đồ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến như mày, tao làm không được. Thực lòng mà nói, lúc nào tao cũng ngưỡng mộ những thằng như mày.
Nhân đầu bạc chậm rãi mồi thuốc, hắn trả lời tôi với giọng trầm trầm.
-Mày bơm tao cũng vừa thôi.
-Mày muốn nghĩ sao cũng được. Có chuyện này tao muốn hỏi, mày đang đi phép phải không?
Nhân đầu bạc gật đầu, hắn kéo cái ống quần rằn ri lên cao, chỉ vào vết thương trên bắp chân hãy còn quấn băng trắng.
– Cổ thành Quảng Trị.
Vân bất ngờ nói chen vào:
-Có đau không anh?
Nhân bật cười nhìn Vân:
-Lẽ ra thì hết đau rồi, nhưng khi nghe Vân hỏi tôi lại thấy đau đau.
Vân xua tay đính chính:
-Vân không có đụng chạm gì tới vết thương của anh, tại sao anh lại thấy đau?
-Vết thương nơi thằng Quân, cô Vân mới lo phải không?
-Cũng không luôn, em với anh Quân chỉ là bạn.
Tôi xen vô.
-Có nặng không?
-Bác sĩ nói chuyện nhỏ, tuần tới tao có thể trở lại đơn vị.

Gương mặt Nhân lộ vẻ đăm chiêu khi nhắc đến hai chữ đơn vị, khiến mái tóc muối tiêu của hắn vốn đã bạc, trông càng bạc hơn, hắn nói:
-Không biết giờ này đại đội của tao còn được bao nhiêu người, có còn đang ở nơi Cổ thành hay đã di chuyển đến một mặt trận mới?
Vân hỏi:
-Cổ thành với đơn vị của anh có gì hấp dẫn, khiến anh đang nghỉ dưỡng thương vẫn nhớ hoài tới nó. Nói cho Vân nghe chút xíu về Cổ thành Quảng Trị, được không?
-Được quá đi chứ, cô Vân hỏi ai mà dám chối từ.
Nhân đầu bạc nhíu mày, vừng trán cao và rộng của hắn hơi nhăn lại.
-Đâu khoảng, à..à…ngày hai mươi bảy tháng bảy, Thủy Quân Lục Chiến của tụi tôi được lệnh thay thế Nhảy Dù, tiếp tục tấn công Việt Cộng đang cố thủ trong thị xã và Cổ thành Đinh Công Tráng.
Vân thắc mắc:
-Tại sao không dùng cả Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, cùng tấn công vào Cổ thành.
-Cô Vân nè, đừng có hỏi tại sao. Một thằng sĩ quan cấp nhỏ như tôi làm sao biết được, mới gặp thiếu tá tiểu đoàn trưởng tôi đã run huống gì hỏi chuyện này nọ với ông ta. Lính chỉ biết thi hành lệnh của cấp trên giao phó. Hình như trong ngôn ngữ của lính, không có cái chữ “hỏi”. Để trả lời câu hỏi của Vân, theo sự suy nghĩ của tôi, sau một tháng trường đánh nhau, giành giựt từng tấc đất với Việt Cộng quanh Cổ thành, lực lượng Nhảy Dù hao hụt cũng bộn cần phải được thay thế để nghỉ ngơi, bổ sung quân số. Vào lúc đó, Thủy Quân Lục Chiến bọn tôi, quân số, đạn dược vẫn còn đầy đủ.
Nhân đầu bạc ngừng nói, hắn mồi thêm một điếu thuốc nữa, thả khói bay đầy phòng.
-Vân đã thấy Cổ thành Quảng Trị bao giờ chưa?
Vân trả lời:
-Chưa anh ạ.
Quay qua nhìn tôi, Nhân đầu bạc hỏi:
-Còn mày?
-Cũng chưa.
-Đó là một cái thành cổ hình vuông, xây bằng gạch, hình như là được trùng tu lại vào cái thời vua Minh Mạng thì phải. Mỗi cạnh của Cổ thành dài khoảng nửa cây số, tường thành cao khoảng năm mét, bề rộng trên mặt thành dư sức cho xe hơi chạy. Chung quanh thành có hào sâu, nước lên tới cổ, bề rộng của cái hào này rộng chừng mười mét. Bốn góc thành có bốn cái pháo đài.

Nhân đầu bạc nhìn Vân.
-Cô Vân đã hình dung được Cổ thành Quảng Trị như thế nào chưa?
-Dạ được.
-Lực lượng của địch bên trong Cổ thành, được trang bị đầy đủ vũ khí và đạn dược với hệ thống phòng thủ kiên cố, vững chắc, đang cố thủ trong đó.
Nhân hỏi tôi:
-Mày nghĩ gì về trận chiến tử thủ An Lộc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mấy tháng trước đây.
Tôi ngần ngừ.
-Khoảng bốn chục ngàn quân Cộng Sản, vây tám ngàn quân Việt Nam Cộng Hòa trong An Lộc.
-Mày nói đúng, như vậy quân bao vây phải bằng năm lần quân cố thủ.
Tôi nói:
-Đúng vậy.
Nhân lắc đầu,
– Cổ thành Quảng Trị không phải như An Lộc mà nó ngược lại. Lực lượng của địch gồm có Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320 của Việt Cộng, một tiểu đoàn của Sư đoàn 325, một tiểu đoàn địa phương, tất cả nằm tử thủ bên trong Cổ thành. Chỉ có một Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của tụi tao, vừa phải đương đầu với Việt Cộng ở Quảng Trị, vừa phải chia quân với mục đích cuối cùng là phải tái chiếm Cổ thành bằng mọi giá. Để đánh vào đó, chuyện trước tiên là hàng trăm khẩu pháo của mình bắn tập trung vào trong Cổ thành. Khi Pháo binh chấm dứt, Không quân Việt, Mỹ lại tiếp tục dội bom liên tục hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Bọn Việt Cộng cũng lì lợm không kém, tụi nó chống trả mãnh liệt, nhờ vào những công sự phòng thủ chắc chắn bên trong thành. Thủy Quân Lục Chiến bao quanh Cổ thành nhưng không làm sao tiến vào được bên trong.
Nhân ngưng nói, hắn nhìn tôi rồi quay sang Vân.
-Quý vị có biết tại sao không?
Tôi nói:
-Vân là học sinh, tao là lính văn phòng, làm sao tụi tao biết được. Có thể lính Việt Cộng thiện chiến, quen với trận mạc, cấp chỉ huy giỏi.
Nhân đầu bạc cười:
-Không phải như vậy đâu, lính Cộng Sản giống như là âm binh vì ban ngày họ trốn biệt, đêm đến mới xuất hiện đánh phá, còn cấp chỉ huy, lãnh đạo của họ là phù thủy, bởi vì chỉ có phù thủy mới trị được cái lũ âm binh. Đánh nhau với một đạo quân vô Tổ Quốc, cuồng tín, chỉ biết sống chết cho Bác cho Đảng như vậy,

Thủy Quân Lục Chiến bọn tao không què tay cũng gãy gọng, đại đội của tao từ một trăm tám chục tay súng, còn lại khoảng một trăm. Sáu sĩ quan của đại đội chết hết ba, chỉ còn lại tao và hai chuẩn úy. Có đêm dưới nhũng tia chớp của đạn pháo xé trời, tao nhìn dòng nước đen ngòm của cái hào sâu bao quanh Cổ thành, mà cứ tưởng rằng đó là máu của lính Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Mày nói cho tao biết, những kẻ sống sót có phải là hột gạo trên sàng hay không?
Nhớ đến bức thư của Đức mà tôi mới đọc tối hôm qua, thay vì trả lời câu hỏi của Nhân đầu bạc, tôi hỏi lại hắn:
-Mày nhớ thằng Đức, học chung lớp với tụi mình không?
-Đức nào? Lớp mình có tới hai thằng Đức.
-Thằng Đứt thắng.
Nhân đầu bạc cười, nụ cười của thời tụi tôi còn học ở trung học.
-Tao nhớ rồi, xuống dốc mà đứt thắng kể như tàn đời em ơi. Mà tại sao mày lại nhắc đến nó.
-Nó tử thủ An Lộc, đại đội của nó có năm sĩ quan chết hết bốn, nó là thằng sĩ quan duy nhất trong đại đội còn sống sót. Tải thương về Tổng y viện Cộng Hòa, khi vào An Lộc nó là thiếu úy, khi ra khỏi An Lộc nó là trung úy nhưng hai chân của nó đã bỏ lại tại An Lộc.
Nhân đầu bạc nói với tôi:
-Lần này về Sài Gòn, tao sẽ tới Tổng y viện Cộng Hòa thăm nó, sẽ kể cho nó nghe chuyện gặp mày ở đây. Mày có nhắn gì với nó không?
-Nói với nó, khóa 29 Võ Bị Đà Lạt sắp nhập trường.
Nhân đầu bạc nhìn ra ngoài trời, hớp một ngụm cà phê rồi nói:
-Bọn tao sau hơn năm mươi ngày đánh nhau chí chết với Việt Cộng, cho đến khi lá cờ Quốc Gia màu vàng, ba sọc đỏ tung bay phất phới trên Cổ thành Quảng Trị, hơn ba ngàn năm trăm binh sĩ và sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh, thêm hàng ngàn người bị thương khi tái chiếm Cổ thành. Đó là con số thương vong của Thủy Quân Lục Chiến mà thôi, còn Nhảy Dù và những đơn vị khác tao không biết được.
Tôi hỏi Nhân đầu bạc:
-Còn mày, bị thương vào lúc nào?
-Tao hả? Trong trận đánh dứt điểm vào Cổ thành, tao và Hạ sĩ Trung, người mang máy truyền tin cho tao, mỗi thằng lãnh một viên AK. Tao bị ở chân còn Hạ sĩ Trung ở ngực, đạn AK phá vỡ lồng ngực làm sao mà sống được. Tội nghiệp, trước khi chết Hạ sĩ Trung còn gắng gượng nói với tao : “Nhờ trung úy nhắn giùm vợ em, là em đã mua cho con của em đôi giày, nhưng chưa kịp gởi về”.
Tôi hỏi Nhân đầu bạc:
– Mày đã gặp vợ của người lính truyền tin tử trận chưa?
Nhân đầu bạc trả lời với giọng nói buồn buồn.

-Nhận lời ủy thác của người sắp chết, làm sao tao quên được, nhất là người đó lại là người lính đã từng vào sinh ra tử với mình suốt mấy năm liền, từng chia xẻ với nhau vài nắm cơm khi đói, dăm vốc nước khi khát. Ngày bước chân ra khỏi quân y viện, tao tìm đến nhà của Hạ sĩ Trung. Sau đó, phải dò hỏi suốt cả buối, tao mới tìm được ngôi trường tiểu học, nơi mà vợ của Hạ sĩ Trung với gánh xôi bắp đang bán cho học trò. Thằng bé con của Hạ sĩ Trung, ngồi trong một cái thúng bên cạnh gánh xôi. Khi thấy tao trong bộ đồ Thủy Quân Lục Chiến, thằng bé hỏi mẹ nó “Khi nào ba về hả má?”. Người đàn bà, với hai bàn tay đang gói xôi nhanh thoăn thoắt bỗng dưng ngừng lại, bà ta đưa cái ống tay áo lên thấm những giọt nước mắt lăn dài trên má rồi nói, giọng nói nghe như cam chịu mọi khổ đau bất hạnh: “ Ba con không về nữa đâu, ba đi theo ông nội rồi”. Tao nhìn cánh tay áo bạc màu với mấy miếng vá nơi cùi chỏ không che được bàn tay gầy ốm, sạm đen của người đàn bà mà lòng xót xa như kim châm, muối xát. Không có thì giờ suy nghĩ, chỉ hành động theo phản xạ tự nhiên, tao lén móc bóp bỏ thêm một ngàn đồng vào cái bị giấy mà tao đang xách trên tay. Tao đưa cái bị cho vợ của Hạ sĩ Trung rồi nói “Của anh Trung gửi về cho cháu”. Nói xong, tao quay người bước đi thật lẹ, không nói cho người đàn bà biết tao là ai. Tao đã làm tròn lời hứa với người đã chết, nhưng trong lòng vẫn còn áy náy, bởi vì tao không dám nói với bà ấy, đôi giày mà tao đưa cho bà là đôi giày tao vừa mới mua ngoài chợ. Còn cái đôi giày của Hạ sĩ Trung gởi cho con mình với tất cả tình thương yêu gói trọn vào trong ấy, tao không biết nó ở đâu.
Phố đã lên đèn từ lâu, tôi bắt tay từ biệt Nhân.
Vân ôm Nhân đầu bạc với đôi mắt đỏ hoe.
-Mau bình phục nghe anh.
Quen với Vân hai năm rồi, đây là lần đầu tiên tôi thấy một cô bé nhút nhát như Vân lại có hành động bạo dạn như vậy khi thể hiện tình thương với người bạn trai mới quen. Tôi tin rằng Nhân đầu bạc là mẫu người lý tưởng của Vân, mẫu người trai thời loạn, mẫu người đã từng:
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

Cùng là trung úy, nhưng trung úy văn phòng như tôi, nói ra chỉ thêm mắc cỡ. Tôi hiểu, tại sao giữa tôi và Vân chỉ có tình bạn thuần túy suốt mấy năm trời. Tôi đứng bên lề đường, trong sương mù giá buốt lạnh lẽo của trời Đà Lạt, nhìn theo Nhân đầu bạc đưa Vân về nhà. Ánh đèn đêm soi rõ bóng của họ đổ dài trên đường phố, hai người mà chỉ có một cái bóng. Tôi chạy xe men theo con dốc Lê Đại Hành đi về cư xá, ngang qua khu Hòa Bình đèn đuốc sáng rực một góc trời. Đà Lạt vẫn thanh bình, yên ổn nhờ Quảng Trị đổ nát cản đường, cản bước tiến của cộng quân. Khi tôi về đến cư xá sĩ quan, kim đồng hồ trên tường chỉ mười giờ. Mới đầu Đông mà trời đã khá lạnh, tôi kéo mền đắp ngang ngực.
Một ngày của đời sống dân sự đã trôi qua. Ngày mai, tôi trở lại đời sống quân ngũ.

Bàn chân cô gái gọi

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on February 5, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Năm 2013 lần đầu tiên xạ thủ về thăm Việt Nam. Sau nhiều tháng chuẩn bị và được một số người tín cẩn giới thiệu cho một chủ nhân của một công ty du lịch nổi tiếng có chi nhánh khắp Đông Dương. Công ty du lịch đặt mình vào thành phần khách VIP vì xạ thủ là nhân viên của một cơ quan gộc.
Chủ nhân công ty du lịch nhường chiếc xế nhà SUV xịn và tuyển lựa một tài xế giỏi và rành đường nhứt của công ty có nhiệm vụ chở xạ thủ đi khắp nơi từ Nam ra Bắc trong ba tuần lễ.
Người tài xế này còn có một nhiệm vụ quan trọng khác là làm cận vệ cho xạ thủ trên con đường thiên lý. Cách đây 12 năm chân ướt chân ráo về Việt Nam nên còn rất ngố, ngơ ngác con nai vàng đâu biết gì, nên công ty du lịch ấy phòng xa lo lắng chu đáo sợ có gì bất trắc xảy ra thì sẽ bị mang tiếng.
Người tài xế trẻ đó người miền Nam, rất lanh lẹ và tinh tế. Có lẽ thuộc dạng cao thủ võ lâm sao đó vì mỗi lần thấy xe đò du lịch của công ty đi ngược chiều thì tài xế của xe đò bên kia đường đưa tay vẫy chào. Hỏi ra thì mới biết họ nhận diện chiếc xe nhà của chủ nhân công ty và thấy anh tài xế giỏi của công ty đang lái.
Anh tài xế khoảng 30 tuổi. Nên chỉ sau vài tiếng trên xe xạ thủ coi anh ta như em và hai anh em gọi nhau là anh em rất thân tình. Anh tài xế khoe chú của ảnh là lính Thủy Quân Lục Chiến trước 75 như để trấn an xạ thủ là anh ta có lý lịch tốt, không phải là an ninh chìm Vi Xi được gài để theo dõi. Anh ấy có mời xạ thủ về nhà giới thiệu với ba má ảnh và mình thấy gia đình ấy có phép tắc và có học. Ba ảnh là kỹ sư xuất thân từ Phú Thọ.
Chiếc SUV khá lớn. Phía sau chở hành lý của xạ thủ và quà tặng mua ở Sài Gòn để tặng cho trẻ em ở miền cao Hán Đồng, Sơn La – Bắc Yên. Mình lên hàng ghế đầu ngồi kế bên anh tài xế để dễ quan sát phong cảnh miền quê ở Việt Nam, và cũng để nói chuyện với anh tài xế cho vui trên con đường thiên lý.
Mỗi khi xạ thủ tò mò thấy cái gì hay ho hay khác thường, như những ngôi mộ cổ ở giữa cánh đồng lúa, thì biểu anh ấy ngừng xe để xuống đi bộ ra đồng ruộng tới gần ngôi cổ mộ ấy quan sát và chụp hình. Dĩ nhiên anh tài xế phải đi theo bên cạnh vì ảnh là cận vệ kia mà.
Có một đêm đi ngang địa phận Thanh Hóa hay Hà Tĩnh gì đó khoảng 8 giờ tối. Từ xa lộ nhìn hai bên đường thấy có những xóm nhà hoang vắng lụp xụp tối tăm nghèo khó. Bỗng xạ thủ thấy có ánh đèn pin trong bóng tối phất phơ qua lại. Xe chạy thêm một đoạn khoảng nửa cây số thì mình lại thấy ánh đèn pin. Rồi thêm vài ánh đèn pin kỳ dị đó dọc theo xa lộ trong bóng đêm. Giống hình ảnh man dã thời Trung Cổ.
Tò mò xạ thủ hỏi anh tài xế “Nè anh có thấy ánh đèn đong đưa qua lại trong bóng tối dọc theo xa lộ hong?” Anh tài xế giải thích đó là những cái động đ* dọc xa lộ. Tài xế các xe tải hay bất cứ xe gì muốn giải quyết sinh lý thì ngừng xe lại rồi đi vào các thôn xóm nghèo có ánh đèn pin đong đưa đó để hành lạc. Tự nhiên xạ thủ im lặng và cảm thấy buồn. Chỉ vì nghèo mà ra nông nỗi.
Nhưng một sự kiên khó quên trước khi ra Bắc. Một buổi chiều xe đến cố đô Huế và anh tài xế mang hành lý vào và làm thủ tục “check in” khách sạn Hotel Saigon Morin. Khách sạn có kiến trúc khá đẹp và lâu đời do người Pháp để lại. Sau khi làm tròn nhiệm vụ anh nói “Anh ăn uống rồi đi nghỉ đi, mai sáng 8 giờ em đến đón anh đi thăm Quảng Trị”. Dặn dò xong anh tài xế về ngủ ở một nhà nghỉ gần đó.
Ăn tối xong trong khách sạn thấy còn sớm nên chán đi lui đi tới trong phòng. Hỏi cô lễ tân thì được biết ở khu “Đập Đá” cách vài cây số có một cái phòng trà ca nhạc sống Trịnh Công Sơn nên mình đi bộ tới để nghe nhạc cho đỡ buồn.
Lúc ấy khoảng 8 giờ tối, xạ thủ đi bộ một mình trên con đường có đèn nhưng ít người qua lại. Thành phố Huế ban đêm hơi buồn. Mình cẩn thận không mang bất cứ vật gì có giá trị ngoại trừ khoảng bảy tám trăm ngàn đồng HCM. Đi nghe nhạc thôi mà. Nếu có cướp hay trấn lột thì để cho lấy? vì tay không quánh lại nó nó đâm cho một dao mất mạng, không đáng để tử thủ vì mấy trăm ngàn đồng Việt Nam.
Trên đường đi suốt mấy cây số có một cha xe ôm cứ rề rề bám sát mời mọc. Có lẽ chả thấy mình từ khách sạn Hotel Saigon Morin đi ra nên tưởng khách xịn. Đã nói muốn đi bộ mà chả cũng hỏng chịu bái bai, thiệt là sùng vì chả dai như đỉa.
Khi đến phòng trà ca nhạc sống thì nó đóng cửa vì đang xây cất sửa chữa gì đó. Đang thất vọng và hơi buồn vì hỏng biết làm gì ban đêm ở cái thành phố buồn thiu này. Thì cha nội xe ôm dai như đỉa trờ tới mời mọc nữa. Thôi được lên xe dìa lại khách sạn.
Lên ngồi sau yên cha xe ôm bỗng xạ thủ đổi ý nói “Tôi muốn đi bia ôm” để uống bia và nghe nhạc. Thú thiệt khi ấy mình cứ tưởng bia ôm là cái bar để khách vào uống bia rồi mấy em chiêu đãi xinh đẹp ngồi bên cạnh rót bia nói dóc cho zui vậy thôi.
Trước khi lên đường đi tour ba tuần từ Nam ra Bắc, xạ thủ đến thăm mấy đứa bà con ở Sài Gòn. Con em họ hỏi anh dìa đây có muốn đi đâu chơi em lấy xe chở anh đi. Mình trả lời muốn đi bia ôm thì hai vợ chồng nó im lặng tủm tỉm cười. Nụ cười làm mình nghi ngờ có điều gì đó không ổn mà chưa tiện hỏi.
Cha xe ôm chở xạ thủ đi tìm quán bia ôm mà đi quài đi quỷ hỏng thấy đâu cả, Đường càng lúc càng vắng vẻ và tối dần. Giống như xe đang chạy ra ngoại ô và về miền quê. Tự nhiên xạ thủ sợ nên hỏi dồn dập. Bia ôm ở đâu mà xa vậy ông? Chả cứ nói quài “Sắp đến rồi anh à”. Mình hỏi cho chắc ăn là cái quán bia ôm mình muốn “Ở đó có nhạc không ông?” Chả trả lời “Có đủ hết anh à”.
Khoảng 45 phút sau xe ôm ngừng lại ở một cái nhà tối hù có ánh đèn néon bên trong leo lét hắt ra. Ngoài vườn trước ngõ có trồng mấy cây mà ban đêm mình chẳng biết cây gì. Đây đúng là một căn nhà ở miền quê và mình chẳng biết nó ở đâu, có gần Huế hong. Trong bóng đêm có mấy bóng đen ngồi lù lù trên mấy cái võng. Xạ thủ lo ngại hỏi cha xe ôm. Bia ôm chỗ nào ông? Chả trả lời lát nữa họ sẽ dẫn anh đi. Mình hơi hoảng, ở đây là nhà quê rồi mà còn đi đâu nữa, bộ đi vô rừng à? Nhớ các câu chuyện chiến tranh, Việt Cộng bắt cóc người dẫn vô rừng để bụp nên cảm thấy rờn rợn trong lòng.
Cha xe ôm nói gì với một bóng đen rồi tự nhiên thấy khoảng mười mấy bóng đen ở đâu đó tới đứng chung quanh xạ thủ và cha xe ôm. Cha xe ôm hối anh lựa đi. Mình không hiểu hỏi lại lựa gì. Chả giải thích là lựa một em dẫn ra sau có chỗ “bia ôm”.
Bỗng mình hiểu ra phần nào và đoán đây là một cái động đ* chớ bia ôm gì. Xạ thủ ngồi im, lặng người vì thấy mình đang đứng trước một cái chợ bán người như bên Phi Châu. Cha xe ôm hối “Nếu ạnh khộng lựa thì ẹm sẽ lựa cho ạnh nhẹ”. Cha xe ôm chỉ một bóng đen đang đứng với mười mấy người hình vòng cung. Những bóng đen khác im lặng bỏ đi. Cái bóng đen được lựa đến đứng bên xạ thủ im lặng. Cha xe ôm nhắc anh đi theo em ấy đi.
Mình im lặng bước theo sau bóng đen đi qua khoảng đất nhỏ có trồng nhiều cây, để đến một căn nhà nhỏ sau vườn. Bóng đen mở cửa bước vào trong một căn phòng cũ kỹ vàng úa ánh đèn vàng vọt của cái đèn để cạnh bộ ghế sa lông cũng cũ kỹ. Trước ghế sa lông là một cái bàn nhỏ bằng gỗ.
Nhờ ánh sáng vàng vọt của cái đèn, xạ thủ giờ mới thấy một người thiếu nữ khoảng từ 20 – 25. Cô ấy dong dỏng cao, thanh tú nhưng vẻ dáng tiều tụy và mặc quần áo sờn cũ. Xạ thủ mời cô ấy ngồi xuống ghế sa lông. Nhìn chung quanh căn phòng nhỏ trống trơn, hỏng thấy có dấu hiệu gì là có nhạc có bia như cái bar trong trí tưởng tượng sai lầm và ngớ ngẩn của mình.
Cô gái nhắc “Bên trong có phòng và có giường đó anh”. Mình hiểu ngay bên trong là phòng để hành lạc nhưng đề nghị cổ “Mình ngồi đây nói chuyện chút xíu được hông. Tui sẽ đưa em 100 ngàn. Em ăn gì và uống nước nhe”. Cô gái mở cửa gọi một bà trung niên bước vào. Bả nhìn mình khinh khỉnh nói 300 ngàn anh. Có nghĩa là giá để động phòng hoa chúc đêm nay.
Lát sau một thằng lực lưỡng vằn vện bưng một khay nhỏ, trên có hai lon nước ngọt và một cái dĩa nhỏ với mấy cái bánh giống bánh ít lá gai gói lá chuối. Xạ thủ chỉ uống lon nước rồi mời cô ấy uống nước và ăn bánh. Cổ gỡ lá chuối rồi ăn mấy cái bánh ngấu nghiến như đang rất đói. Khi ấy mình nhớ rõ là cảm thấy thương xót cho một thân phận nghèo thiếu ăn thiếu mặc.
Ngồi bắt chuyện và hỏi thăm gia cảnh thì cổ cho biết là sinh ra ở A Shau, Thừa Thiên, đã từng làm nghề ruộng. Xạ thủ nhìn kỹ khuôn mặt thấy có nét gì đó sang trọng. Nhìn xuống bàn chân thon dài có nét quý phái. Thấy một bên gần gang bàn chân có vết thẹo dài. Tự nhiên không hiểu sao, xạ thủ cầm lấy bàn chân cô gái gọi đưa gần lên ánh đèn để nhìn vết thẹo. Cổ giải thích em làm ruộng lội dưới nước rồi đạp trúng cái gì nó cứa lòng bàn chân. Cầm bàn chân cô gái gọi trong tay, mình không gớm mà cảm thấy một chút gì thương xót.
Người đàn bà trung niên lại xuất hiện. Bả hối cô kia “Nói ảnh lẹ lên cứ ngồi đó hoài”. Cô gái phân trần “Ảnh cho em 100 ngàn”. Xạ thủ thấy đã đến lúc phải rời khỏi nơi ấy vì bà tú bà có vẻ khó chịu và muốn đuổi khéo. Chắc có khách hàng đang đợi trước sân, sau khi đã qua phần lựa thịt người.
Mình kêu tính tiền dĩa bánh ít và hai lon nước ngọt. Thằng vằn vện xuất hiện với hóa đơn ghi 600 ngàn làm xạ thủ tái mặt. Bỏ mịa rồi mình trả tiền xe ôm xong đâu có đủ 600 ngàn. Bỗng nhiên nổi sùng vì cho rằng thằng ma cô này thấy mình giống người nước ngoài nên tăng giá lên đây mà, chớ mấy cái bánh ít bánh ú gì đó và hai lon nước ngọt làm gì tới 600. Nên mình gân cổ cự nự “Sao giá cắt cổ zậy, có mấy cái bánh gói lá chuối mà tới 600 ngàn à?”.
Thằng hộ pháp nhìn xạ thủ mỉm cười có vẻ ngạc nhiên, có lẽ hắn cười vì thấy mình ngố hay sao? Hắn gằn giọng nói anh phải trả 600 ngàn. Thấy nó cũng hơi ớn vì mình chỉ một mình và không tấc sắt trong tay. Thôi tao thua mày nha. Lục túi quần đếm cả tiền lẻ thì vừa đủ 600 ngàn để trả cho thằng ma cô bóc lột.
Sáng hôm sau tiếp tục con đường thiên lý của xã hội chủ nghĩa. Xạ thủ kể chuyện đi bia ôm đêm qua thì anh tài xế tái mặt lớn tiếng. Anh không được đi lang thang một mình ban đêm. Có chuyện gì thì ông chủ sẽ trừng phạt em vì đã không theo bảo vệ anh. Nếu anh muốn đi bia ôm thì nói em dẫn anh đi chớ không được đi một mình, mà còn gây gổ hỏng chịu trả 600 ngàn. Giá đó đúng đó anh. Anh không trả nó sẽ đập cho anh một trận rồi lột hết quần áo xong đá anh ra ngoài đường chỉ còn cái quần xà lỏn. Anh không được đi một mình ban đêm nữa, nghe chưa… hic.

BÔNG LAU 04.01.2025

Dòng sông Potomac

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on February 9, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Theo toán quân khoảng 50 binh sĩ hồi hương đi trên một chiếc Boeing lớn của Bộ Quốc Phòng thuê bao. Chiếc máy bay có khả năng chở trên 200 người cho nên mỗi người có thể chiếm hàng ghế trống rồi cởi giày nằm ngủ chập chờn qua nhiều trạm ngừng ở nhiều quốc gia khác nhau.
Trong suốt chuyến đi không nơi nào hỏi sổ thông hành passport hay đóng dấu. Ngược lại binh sĩ bị cách ly, không được tiếp cận với khu vực hành khách dân sự. Đến Ái Nhĩ Lan (Ireland) thì có cái quán nước vắn hoe thấy có trưng bày bia trên kệ nhưng chỉ huy toán quân hồi hương ra lịnh cấm binh sĩ uống bia rượu. Kỷ luật gì mà dzữ thần zậy nè.
Dìa đến lục địa Hoa Kỳ thì phải ghé một căn cứ để trả quân trang quân dụng và khám bác sĩ sức khỏe tổng quát. Xạ thủ đánh dấu vào tờ đơn “không, không, không……” từ trên xuống dưới. Có nghĩa là hỏng có triệu chứng gì là bị mắc bịnh gì cả. Khỏe như trâu mà. Tuy nhiên anh Bác Sĩ hí hoáy ghi vào hồ sơ rồi ngửng đầu lạnh lùng nói “Anh đã bị tiếp xúc với môi trường nguy hiểm” – You had been exposed to hazardous environments… Hãy cảnh giác và trông chừng các triệu chứng về phổi có thể phát sinh và phải đi khám tức thì. OK salem ha ha.

Sau cùng mình lấy chuyến bay American Airlines bay một mình về Washington DC. Máy bay đến thủ đô lúc 6 giờ chiều. Nhìn ra khung cửa sổ thấy mặt trời hoàng hôn chói lòa màu cam rất đẹp. Lòng bâng khuân zui buồn lẫn lộn. Sắp sửa được quay trở lại cuộc sống xưa. Sắp sửa được làm việc trong môi trường vệ sinh và văn minh. Mỗi buổi sáng phải dành 10 phút để ăn mặc chỉnh tề thắt con khô mực hợp thời trang vào cổ. Nhưng bỗng nhớ những người bạn xưa giờ này vẫn đi những bước chân xào xạc trên sỏi đá và cát bụi sa mạc.

Và ô kìa, dưới khung cửa sổ máy bay là dòng sông Potomac phản chiếu ánh sáng cuối ngày làm con sông sáng lên màu bạc. Cách đây 6 ngày ngay trên lộ trình mình đang bay chiều nay. Cũng một chiếc phản lực American Airlines nhỏ y chang như chiếc này đụng một chiếc trực thăng Black Hawk UH60 ngay trên con sông này. Cả hai chiếc đều rớt cắm đầu xuống khúc sông này. Tất cả mọi người trên hai chiếc máy bay bị tử nạn.
Mình nhìn xuống con sông định mệnh. Con sông lui dần về phía sau. Khoảng một phút sau bánh xe máy bay chạm mạnh xuống phi đạo của phi trường Ronald Reagan Washington National Airport. Mình đã sống thêm một ngày huyền diệu, như đã sống nhiều tháng qua ở Trung Đông. Cám ơn những lời cầu nguyện của các bạn.

BÔNG LAU 05.02.2025

Những năm nào chiến tranh đã quên

baotreonline.com
Tim Nguyễn
Post on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Những năm nào chiến tranh đã quên…* Có thật vậy không? Đành rằng chiến tranh đã lùi xa ngoài bốn mươi lăm năm, nhiều cuộc đời đã đổi khác -hoặc đã héo hắt tàn phai (như Nguyễn và các bạn ta) hoặc mập béo phây phây (như mấy cha nội ở quê nhà)- và lớp người trẻ sinh sau chiến tranh nay đã bước vào đời với những bước chân bất định… Vâng, đành rằng là thế, nhưng rải rác đây đó vẫn còn dấu tích của một thời đã qua, và một khi cơn giông kéo đến trên bầu trời làm bật lên những gốc rễ từ trong lòng đất, thì lòng người bên này và bên kia bờ sóng còn dấy lên những u hoài.
A, những năm nào chiến tranh đã quên… Con mắt đen… Niềm im lặng… Câu thơ của Thanh Tâm Tuyền viết về chiến tranh chứa nhiều tầng ý nghĩa mang nội dung siêu hình. Con mắt kia là cái nhìn lịch sử. Còn niềm im lặng kia có phải là sự lãng quên hay nó là ý thức bị dìm xuống. Ðã quên, hay tưởng rằng đã quên, nhưng mãi mãi sẽ không bao giờ chúng ta quên được cuộc chiến của một thời mà chúng ta đã tham dự. Nó vẫn còn đó, trong tim trong óc mỗi người, trong cái trở mình của đêm hay thức giấc của bình minh đợi chờ cơn bão.

Nhà báo Seth Mydans – nguồn linkedln
Nhà báo Seth Mydans trên tờ The New York Time ngày nào đã viết rằng lớp trẻ ngày nay hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh cách đây hàng chục năm. Nhận định đó không hoàn toàn đúng. Có thể giới trẻ ở trong nước, do bị bưng bít và xuyên tạc, hoặc mải mê theo cuộc sống thực dụng và những bóng ảnh phù hoa, chỉ có một hình ảnh lờ mờ về thời chinh chiến đã qua. Nhưng ở hải ngoại thì khác. Ở đây có cộng đồng và các bậc phụ huynh chăm lo truyền thụ và giáo dục con em, cho nên lớp trẻ lớn lên biết ít nhiều về cuộc chiến đấu dũng cảm của quân dân Miền Nam cùng những đóng góp đáng hãnh diện của cha ông chúng. Ở đây, cần phải ghi nhận công lao của báo chí và văn nghệ trong việc kiến tạo tinh thần của lớp trẻ. Chương trình “Lá Thư Từ Chiến Trường” của Asia là một thí dụ. Chính nhờ tất cả những nguồn ảnh hưởng tốt đẹp vừa nêu trên, những người trẻ như anh Phùng Trọng Kiệt mới hiểu rõ hơn cha anh của mình. Anh Kiệt viết như sau trên DCV Online:
“Ba ơi, hàng năm vào ngày này [30 Tháng Tư], con thường nghĩ đến sự hy sinh cao cả của Ba, của các Cậu Chú Bác trong gia đình và của toàn thể các Cô Chú Bác trong quân lực VNCH. Các vị đã hy sinh cả tuổi thanh xuân để bảo vệ tự do cho miền Nam. Sau cuộc chiến, CS đã áp dụng một sự trả thù tàn độc trên thân xác và tinh thần của quý vị trong những nhà tù; và nhiều vị đã phải bỏ mình vì không chịu nổi… Một vài dịp khi Ba hàn huyên với bạn bè anh em, con cũng được nghe một vài câu chuyện về những năm tháng dài đăng đẳng khổ lao, những lần vượt ngục kiểu Steve Mc Queen trong phim ‘The Great Escape’ và những lần trốn hụt và bị bắt lại. Vì Ba thường kể với giọng điệu hài hước chế giễu những tên cai tù nên con không cảm nhận được những đau đớn thể xác và tinh thần mà họ đã dành cho Ba sau những lần đó. Sau này, khi đọc được những chứng từ của những tù nhân, con mới cảm nhận được sự bất khuất của Ba. Ngày 30/04, con cũng nghĩ đến sự hy sinh của Má, của những bà Mẹ, những người vợ đã hy sinh cả cuộc đời để lo cho con, nuôi chồng trong những trại tù khắc nghiệt. Có lần Má đã dẫn anh chị con đi thăm Ba (con không được đi cùng vì còn nhỏ) trong một nhà tù nằm sâu thẳm trong rừng và đã bị lạc trong rừng với hai trẻ nhỏ. Muỗi rừng đã đốt anh chị con đến làm độc. Khi đến được trại tù thì người ta nói Ba không còn trong trại tù, và nói Má cứ yên tâm về lao động sản xuất nuôi con. Má tưởng Ba đã chết và bắt đầu ngã bệnh, năm đó Má chỉ còn 29 kg.

Hình không ảnh Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

Con xin nghiêng mình ghi ơn sự hy sinh cao cả ấy…”
Những năm nào chiến tranh đã quên. Con mắt đen… Không, hãy nhìn vào đôi mắt của hạ sĩ Lê Văn Nào. Nhà báo Seth Mydans ghi: “Ðôi mắt của hạ sĩ Lê Văn Nào bị đục thủng trên bức chân dung bằng sứ trong Nghĩa trang Quân đội của miền Nam bị bỏ hoang. Những con bò lang thang gặm cỏ, nơi mà những mẫu đất với những tấm bia nghiêng ngả, nhiều tấm bị vỡ vụn và bị phá nát, nhiều tấm bị bật tung lên nằm bên cạnh những ngôi mộ trống.”
Bi thảm như thế đó. Và ghê thay cho sự thù hận, tàn ác của kẻ thù. Xin đọc tiếp Steth Mydans để có câu trả lời – dù là hư vô, để cho quên và nhớ:
“Ở trên đỉnh đồi nhìn xuống Nghĩa trang bị bỏ hoang của miền Nam, có một đền thờ đầy cỏ dại. Những cơn mưa hè và rêu phong gần như bào mòn những chữ khắc oai hùng ‘Vị quốc vong thân’. Những chân hương cắm ngổn ngang trên mặt đất. Trên một tấm đá khắc kỷ niệm một người nào đó dùng mực xanh ghi lên vài chữ ‘thành kính’.
Trong những buổi trưa hè oi ả, một thanh niên tên là Nguyễn Minh Quang thích ngồi nghỉ dưới bóng mát của ngôi đền. Anh là người lao động cho những xưởng làm gạch nhỏ. Họ đào những tảng đất vàng chung quanh các ngôi mộ để nung gạch. Anh Quang chỉ mới 24. Anh nói chẳng bao giờ anh để ý đến chuyện lịch sử của ngôi đền mà anh đang trú nắng, hoặc những ngôi mộ chung quanh. Nhưng anh bảo thỉnh thoảng cũng có người đến quỳ trước các tấm bia mộ tỏ lòng thành kính.
Một vài người, có lẽ là những người Việt ở bên kia đại dương trở về thăm viếng, đôi khi trả tiền cho những người thợ làm gạch để gìn giữ những ngôi mộ của một người anh hay một người con. Thực ra, người thanh niên kể cha anh là một thương binh từng là hạ sĩ trong Lực Lượng Ðặc Biệt của miền Nam, mỗi năm cũng ghé vào đền vài lần để cầu nguyện.
‘Bố tôi thích lên đây thắp hương. Tôi chẳng biết để làm gì,’ anh ta nói. ‘Tôi thấy bố tôi đến thắp hương. Ông nói với tôi rằng ông đã từng chiến đấu cùng với người Mỹ. Tôi chẳng bao giờ hỏi bố tôi tại sao’.”
TN

Quán Phố Hoài và những người của một thời

baotreonline.com
Tim Nguyễn
September 6th, 2024

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Nhà thơ Huy Tưởng – nguồn Người Việt

Không biết mai đây Sài Gòn còn lại gì không để nhắc nhớ lại một thời. Nhà văn Nguyễn Thị Hậu cách đây không lâu khi nhìn thấy cảnh những cây cổ thụ trên đường phố trung tâm Sài Gòn bị cưa ngọn cưa thân và nhìn cảnh những tòa nhà lâu đời ở đây dần dà biến mất, đã hạ bút viết: Người Sài Gòn mai này còn có gì để nhớ để nói về lịch sử Sài Gòn? Hay là thôi, Sài Gòn cứ là của những người lạnh lùng đến rồi đi, vô cảm lên rồi xuống, chẳng cần phải là Sài Gòn của bao người từng ở, đang ở, từng đến đây và đang yêu quý Sài Gòn mỗi ngày…
Chính vì lẽ đó, và với lòng hoài cảm Ai ra đi mà quên thề xưa được sao…*, mà Nguyễn và anh em luôn viết về Sài Gòn và nhớ về Sài Gòn cùng với những bạn bè, xưa cũng như bây giờ. Để vùng địa lý thổ ngơi đó mãi mãi còn trong trí tưởng mọi người.
Và sau đây là đôi đoạn hồi ức về những thực tại đã từng có một đời sống và những con người đã từng làm nên vẻ đẹp thành phố. Nguyễn muốn nói đến Quán Phố Hoài và những văn nghệ sĩ của Sài Gòn xưa.
Vâng. Nói tới Quán Phố Hoài không chỉ nói tới một cái quán mà còn là nói tới chủ nhân của nó là nhà thơ Huy Tưởng và những bạn bè ngày cũ. Nguyễn từng quen với Huy Tưởng thời ở Đà Lạt khoảng cuối năm 1973. Gặp nhau trong nhà hàng Mê Kông. Thuở ấy, sau khi Lê Uyên Phương đã phổ nhạc thơ của Nguyễn và một số người nữa, thì các bạn gồm Thái Tú Hạp, Hoàng Khởi Phong, Lê Văn Ngăn bèn rủ nhau cùng với Huy Tưởng tổ chức Đêm Đọc Thơ & Hát Thơ tại quán Lục Huyền Cầm của đôi bạn Lê Uyên & Phương. Nhưng tới đêm trình diễn thì Huy Tưởng bận việc ở Nha Trang không kịp về dự. Sau cơn biến động lịch sử 1975, Nguyễn đi tù về, lang thang rách rưới, có ghé tới quán cà phê của Huy Tưởng ở đường Bà Lê Chân cạnh chợ Tân Định, nhưng e ngại không dám chuyện trò với bạn. Thế rồi, mình bỏ nước ra đi.
Nguyễn Đạt trong một bài viết, bằng đôi nét đan thanh, đã phác họa về những con người và ân tình ở Quán Phố Hoài như sau:
“Chúng tôi, nghĩa là những bạn văn nghệ của Huy Tưởng, thường ngồi phía trong ngôi nhà, để vừa uống tách cà phê mà “ông chủ quán” giới thiệu là Cà Phê Phin Gốm và cà phê Cappucino, vừa ngắm những bức tranh của Rừng, Nguyễn Trung, Đinh Cường, Bé Ký… những họa sĩ là bạn bè thân thiết, người ở đây, người mãi bên bờ Đại Tây Dương ngàn trùng xa cách. Ấy tuy nhiên, Rừng, người bạn họa sĩ trông thì cộc cằn mà giọng nói dịu dàng, thường trú ở Mỹ mà thường xuyên có mặt ở Phố Hoài. Chúng tôi tới là gặp anh đang thì thầm gì đấy với nhà thơ, lúc ấy cũng như bất cứ lúc nào, Huy Tưởng cũng ngơ ngơ như đang “Hỏi Đường Cùng Mây Trắng”.
Trong bài viết, Nguyễn Đạt còn cho biết Đinh Cường, mỗi lần về lại quê nhà, đều ghé Quán. Ngoài ra, Phan Xuân Sinh một lần trở lại Sài Gòn cũng đã cùng Hoàng Khởi Phong ngồi uống cà phê ở Quán Phố Hoài.
Nói tóm lại, ở đây, cái quan trọng là người, bầu khí và hương cà phê. Nguyễn thấy thật khó gặp một cái quán như vậy ở Mỹ, bởi do đời sống gia tốc và thực dụng, những quán cà phê -ngay tại Cali, nơi hội tụ rất đông người Việt- thường hỗn tạp, xô bồ, tục thanh trộn lẫn, không có được cái không khí nghệ thuật thân tình như ở quê nhà. Nhưng biết làm sao, đường về đã ẩn trong mây trắng. Đành ngồi tạm ở Mily Bakery hay Factory, Gipsy… Hoặc giả ở những quán Starbucks nơi nào cũng có và mình cũng đã bắt đầu quen thân với không khí ở những quán này. Còn nếu về New Orleans thì xin ghé Cafe Du Monde -ngồi ở đó, giữa người tứ phương từ khắp nơi trên thế giới, nhìn về phía tượng đài Di Dân với bóng những con hải âu bay đảo và xa xa dòng sông Mississippi cuồn cuộn chảy, để mơ tưởng về Sài Gòn và một dòng sông….

Huy Tưởng – tranh Bùi Giáng

Nhân những cảm xúc ngược dòng này, người viết muốn gởi đến Nguyễn Đạt đôi lời thăm hỏi của người trên xứ đồng cỏ, nơi mùa này hoa sage bắt đầu nở tím như hoài niệm một mối tình đã tắt thở. Nhân đây, cũng xin gởi đến Huy Tưởng những tâm tình sót của một thời đã quá xa. Kể từ ngày gặp nhau ở Đà Lạt, đọc Máu Biếc Xanh Và Ngực Tối của anh đến nay, đã có dư ba bốn mươi năm mà tưởng như mới hôm qua. Anh Huy Tưởng ơi, làm sao kẻ này về được Quán Phố Hoài để thấy mặt anh em. Chẳng hạn như Nguyễn Quốc Chánh và Phan Nhiên Hạo. Người viết muốn gặp hai anh bởi đây là những nhà thơ trẻ đầy triển vọng -một ở trong nước và một đang ở Cali. Muốn gặp, còn vì lẽ này: Cách đây cũng đã lâu rồi, được đọc Sổ Tay của Phan Nhiên Hạo trên báo Văn của Nguyễn Xuân Hoàng, lòng riêng lấy làm thú lắm. Phan Nhiên Hạo viết rất chân tình về những nhà văn thuở trước và cùng thời -ở cả bên này và bên kia: “Tôi đã lớn lên với tác phẩm của những nhà văn mà khi đọc họ, tôi nghĩ họ là những người bạn tinh tế. Đọc Nguyễn Xuân Hoàng, tôi có cảm giác đó. Tôi cũng yêu mến Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Võ Đình và Thường Quán qua văn chương trong một cung cách như vậy, mặc dù tôi chưa bao giờ gặp họ.” Viết về không khí văn nghệ ở Sài Gòn trước 1975, Phan Nhiên Hạo kể lại một buổi uống bia trên hè phố Sài Gòn cách nay đã mươi năm với Nguyễn Quốc Chánh. Chánh nói, “Đời sống văn nghệ ở Sài Gòn trước 1975 thật đã. Hiện sinh rắc một chút phấn vàng lên mọi thứ.” Như thế đó, Nguyễn Quốc Chánh cũng như Phan Nhiên Hạo thường nghĩ về văn chương Sài Gòn trước 1975 qua màn sương ảo mộng. Mà quả thật thời đó đẹp -tất nhiên không tránh khỏi thi thoảng (mượn từ của VC xài tạm) một vài mảng xù xì, xấu xí như phải có- nó đích thực là một không khí trí thức, một thái độ làm văn nghệ với ý thức về sự phi lý sau cùng của mọi sự để không quá cay cú, quá ‘ăn thua đủ’ với văn chương.” Phan Nhiên Hạo kể tiếp: “Tôi đã gặp Nguyễn Thị Hoàng. Một thời gian dài, bà hay ngồi buổi tối ở một quán bar gia đình trên đường Lý Tự Trọng (xưa là đường Gia Long). Một người phụ nữ mà thời gian và những truân chuyên của đời sống dường như không chạm tới được (Quả đúng như vậy ư: Ôi, Nguyễn Thị Hoàng…). Bà hay ngồi một mình trong góc, quan sát cái đám đông ồn ào với đôi mắt thẳm sâu trong bóng tối. Lối nói chuyện nhát gừng của bà cũng hấp dẫn như cái huyền thoại văn chương mà bà tạo nên. Nếu tôi là người làm phim, tôi sẽ làm một cuốn phim tài liệu về những nhà văn Sài Gòn còn sót lại như Nguyễn Thị Hoàng, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đức Sơn, Trần Thị Ngh., Huy Tưởng… Họ là những nhân chứng vô giá của một thời văn học sáng giá. Họ đã luôn luôn ở đó, Sài Gòn, qua tất cả các biến động kinh hồn của một cuộc chuyển dời…”
Ôi, Sài Gòn và Quán Phố Hoài, những bạn bè cũ mới, chỉ xin được nhìn thấy một lần. Dẫu là trong cơn mộng…

Garland, tháng 9. 2006
TN

*Khúc Tình Ca Xứ Huế. Trần Đình Quân

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương
Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Bài 4
Dưới chân đỉnh Lâm Viên

Tốt nghiệp sĩ quan trừ bị Thủ Đức, tôi nhận đơn vị mới, Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi có cái may mắn được ở hai quân trường lớn đào tạo nhiều sĩ quan tài giỏi cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi quân trường là một thế giới hoàn toàn khác biệt nhau, từ hình thức đến nội dung. Trường Võ Bị Đà Lạt lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm khuôn mẫu, trong khi Trường Bộ Binh Thủ Đức đào tạo sĩ quan dựa theo mẫu mực của Trường Fort Benning Hoa Kỳ.
Nếu muốn tìm hiểu tỉ mỉ, tường tận về sự khác biệt của hai quân trường này, tôi e rằng mình không đủ kiến thức cũng như khả năng phân tích, tổng hợp rồi đưa đến kết luận chính xác đầy đủ. Tôi chỉ muốn nói đến một vài khía cạnh dị biệt nho nhỏ có liên quan đến mình.
Với Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian đào tạo sĩ quan tùy theo tình hình chiến sự ở bên ngoài sôi động hay lắng dịu. Vào những năm cuối thập niên sáu mươi vì nhu cầu khẩn cấp của chiến trường, thời gian thụ huấn của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bị rút ngắn lại, chỉ còn hai tháng học làm lính ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, bốn tháng học cách chỉ huy một trung đội ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tổng cộng thời gian ở quân trường chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. So với bốn năm huấn luyện của Trường Võ Bị Đà Lạt, thời gian ở quân trường của chúng tôi chỉ bằng một phần tám thời gian của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Hậu quả của việc đốt giai đoạn, tháng 3 năm 1969, khóa của tôi có khoảng hai ngàn sĩ quan tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, ba năm rưỡi sau, nghị định thăng cấp trung úy chỉ còn lại khoảng một ngàn rưỡi, năm trăm chuẩn úy và thiếu úy đã đền nợ nước.
Trường Võ Bị Đà Lạt là quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, kể từ khóa 22B chương trình đào tạo sĩ quan kéo dài bốn năm. Vì quan niệm rằng, sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt sẽ là thành phần nòng cốt, rường cột của quốc gia sau này nên Tổng Thống Đệ nhất Cộng Hòa đã dành nhiều ưu tiên cho trường, chẳng hạn về phần cơ sở vật chất, công trình xây cất Trường Võ Bị Đà Lạt mới được hoàn tất vào năm 1961, kiến trúc theo kiểu Mỹ với những tòa nhà cao bốn tầng, rộng rãi, khang trang bề thế, đầy đủ tiện nghi cho hơn một ngàn sinh viên sĩ quan sinh sống và học tập. Thêm một điểm nhỏ nhưng cũng được lưu ý kỹ càng là cách ăn mặc. Sinh viên sĩ quan Đà Lạt có tất cả hơn chục bộ quần áo đủ loại, đó là:
Một bộ đồ đại lễ màu trắng, mũ kết màu trắng, dây biểu chương màu vàng, gù vai Alpha màu đỏ hình con rồng.
Mùa hè gồm có một bộ làm việc, một bộ dạo phố một bộ tiểu lễ, một bộ đại lễ.
Mùa đông có một bộ làm việc, một bộ dạo phố, một bộ tiểu lễ, một bộ đại lễ.
Một bộ vest dân sự, sinh viên năm thứ tư mặc lúc đi phép.
Chi tiết về hàng chục bộ quần áo, lễ phục của sinh viên, không biết tôi nhớ như vậy có đúng hay không?
Về phần huấn luyện, Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt trong một năm có ba tháng học về quân sự, chín tháng học văn hóa, chương trình học kéo dài bốn năm, sinh viên sĩ quan tốt nghiệp được cấp văn bằng Cử Nhân Khoa Học ứng Dụng. Để rèn luyện thể chất, Sinh viên sĩ quan Võ Bị còn học thêm về Taekwondo và Aikido. Riêng về Aikido được đặc biệt chú trọng, vì Thiếu tướng Chỉ huy trưởng mang huyền đai đệ nhị đẳng Aikido. Mồi kỳ thi lên đai đều do ông chấm điểm. Khi tốt nghiệp 4 năm, Sinh viên sĩ quan Võ BỊ thường đã có đai nâu hoặc huyền đai đệ nhất đẳng Taekwondo.
Văn võ toàn tài, đó là lý do khiến cho sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt, lúc nào cũng hãnh diện về ngôi trường của mình.
Để điều hành, Trường Võ Bị Đà Lạt được chia ra làm ba khối: Văn hóa, Quân sự và Tham mưu.
Khối Quân sự, đa số sĩ quan thuộc khối này là những sĩ quan đã tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt.

Khối Văn hóa, ngoại trừ những sĩ quan có bằng Cao học, Tiến sĩ, tốt nghiệp ở ngoại quốc, số còn lại là sĩ quan tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức để Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau khi tốt nghiệp, muốn về Trường Võ Bị Đà Lạt, một trong nhiều điều kiện là phải có văn bằng Cử nhân hoặc cao hơn.
Tôi, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, chỉ có cái Tú tài II. Khi về Trường Võ Bị Đà Lạt, chốn dung thân duy nhất cho tôi là Khối Tham mưu.
Ngày xưa khi đậu Tú tài II, tôi tự đánh giá là mình ngu cho nên không chịu tiếp tục việc học. Quan niệm đó xem ra đã lỗi thời, vì sau một thời gian làm việc ở Trường Võ Bị Đà Lạt, sống trong một môi trường mà sĩ quan Văn hóa vụ hay Quân sự vụ đều lấy văn bằng Cử nhân làm căn bản. Nhìn quanh mình, ông sĩ quan nào cũng gắn cái bằng Cử nhân trước ngực khiến tôi tự cảm thấy xấu hổ, mang nặng mặc cảm. Chuyện đời, gần mực thì đen gần đèn thì sáng, sau vài năm lông bông, thấy không được cái tích sự gì, tôi ghi danh học ở Viện đại học Đà Lạt với quyết tâm phải lấy cho được cái bằng Cử nhân.
Tôi làm việc ở Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt. Ở đây, sĩ quan trực hai mươi bốn giờ sau đó nghỉ hai mươi bốn giờ, có nghĩa là làm việc một ngày rồi nghỉ một ngày, nếu làm một phép tính đơn giản một năm chỉ làm việc có 182 ngày rưỡi, 182 ngày rưỡi còn lại, tôi được tự do hoàn toàn, đi học hay đi chơi tùy mình quyết định. Tôi ghi danh vào Đại học Văn khoa, bởi vì trong tất cả các phân khoa ở Viện đại học Đà Lạt, Văn khoa là nơi dễ dàng nhất trong việc điểm danh.

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Bài 3
Bóng tình yêu

Chiếc xe taxi hiệu Renault nhỏ xíu, sơn hai màu xanh trắng, thả chúng tôi xuống cạnh nhà hàng Bò bảy món Ánh Hồng ở đường Nguyễn Minh Chiếu. Biên đi trước dẫn đường, đi được một đoạn ngắn, hẳn chỉ vào một căn nhà khang trang, bề thế với hai cây vú sữa già mà cái tàn của nó giống như hai cây dù khổng lồ, che kín cả một góc sân.
-Nhà tao đó.
Tôi chẳng cần nghe nó nói gì cả, nó dẫn đâu tôi theo đó, đầu óc tôi mãi nghĩ đến Dung cô em gái nó. Không biết lát nữa gặp Dung tôi sẽ nói gì, làm gì. Điều quan trọng nhất mà tôi thắc mắc là không biết Dung cao hay thấp, đẹp hay xấu, chỉ có vậy thôi.
Biên đưa tay bấm chuông. Một người đàn bà tuổi chừng bốn mươi ra mở cổng, khi thấy Biên bà reo lên:
-Cậu Hai mới về.
Biên hỏi người đàn bà:
-Ba má tôi đâu?
-Thưa cậu, ông bà đi Vũng Tàu mai mới về.
-Còn con Dung đâu?
-Cô Dung ở trên lầu.
-Chị lo cơm trưa cho bốn người.
-Dạ.
Tôi nghĩ thầm, đúng là cái giọng của cậu chủ nhỏ nói với người làm.
Biên ngẩng nhìn lên lầu la to:
-Con Dung đâu?
Giọng của Biên gọi em mà cứ như là huynh trưởng nạt Tân khóa sinh. Thấp thoáng ở cuối phòng, tôi thấy dáng của một người con gái tay vịn lan can cầu thang, vừa chạy vừa reo:
-Anh Hai mới về.
Vừa dứt lời, bất chợt thấy Long công tử và tôi ngồi nơi phòng khách, Dung khựng người lại, nụ cười đang nở trên môi chợt tắt ngấm.

Tôi quay nhìn Long công tử. Không biết gương mặt của tôi có gì thay đổi hay không nhưng khuôn mặt của hắn khờ hẳn ra, Long tròn xoe đôi mắt nhìn Dung rồi sửa lại dáng ngồi cho ngay ngắn, hắn đưa tay nắn lại cái cà vạt nơi cổ áo.
Tôi nghĩ, có thể mình cũng bối rối không kém. Không biết tôi có quá lời không nhưng lần đầu vừa gặp Dung, tôi đã như kẻ mất hồn. Dung có gương mặt dễ nhìn, một nét đẹp thanh thoát, dịu dàng của ánh trăng rằm, tóc chấm vai, đôi mắt to tròn với hàng lông mi dài cong vút nhìn xuống chiếc mũi thon gọn, thêm đôi môi không thoa son nhưng tươi thắm, đỏ au.
Thấy hai đứa tôi im lặng, ngồi trơ ra như ông phỗng đá, Biên nói với em gái của nó:
-Đây là Long công tử, đây là Quân bắp cải, hai thằng bạn thân của anh ở quân trường.
Dung nhoẻn miệng cười rồi nhỏ nhẹ:
-Chào hai anh.
Biên quay qua nhìn Dung, rồi nói với hai đứa tôi:
-Còn đây là Dung, em gái tao.
Tôi ngập ngừng nói, giọng hơi rụt rè như đang đứng trả bài trước mặt thầy giáo mà trong bụng trống trơn, không có lấy một chữ.
-Dạ chào cô Dung.
Trong khi đó Long công tử lịch sự, điềm tĩnh đứng lên, hơi nghiêng mình về phía trước rồi nhẹ giọng:
-Chào em.
Gì chớ tán gái thì Long công tử lúc nào cũng từ tốn, lúc nào cũng mang đôi hia bảy dặm, vừa gặp Dung là hắn đã đốt giai đoạn kêu em ngọt xớt.
Xong chuyện giới thiệu, bốn đứa ngồi ở salon trò chuyện, Biên và Long công tử mỗi thằng một chai bia, tôi ly cà phê sữa đá còn Dung ly đá chanh.
Biên nói với em gái của nó:
-Hôm nay Dung có rảnh không? Đi chơi với mấy anh.
-Dạ em bận.
Giọng nói của Biên trầm xuống:
-Mầy bận cái gì? Họp hội với bọn sinh viên phản chiến phải không?
-Dạ đâu có.
-Vậy chớ bận cái gì?
-Dạ, học bài.
-Sao mày học hoài vậy, bữa nay thứ Bảy, nghỉ đi chơi với tụi anh, mai Chủ nhật anh vô trường rồi em ở nhà học bài, được không?
-Dạ được.
Tôi để ý khi Biên nói chuyện với em gái của nó, lúc xưng hô là mày, lúc kêu bằng em, khiến tôi chẳng biết đâu mà rờ.Nghe Dung nói mà tôi mừng rơn, chỉ sợ Dung từ chối không chịu đi chơi chung với mấy đứa tôi. Ở quân trường, ba thằng đi chơi với nhau riết phát chán, hôm nay đi phép mà cũng ba thằng đực rựa lang thang ở Sài Gòn, còn gì chán hơn nữa.

Biên nói với tôi và Long.
-Để tao phác họa chương trình cho hai mươi bốn giờ phép sắp tới, tụi mày nghe thử coi có được hay không? Cơm nước xong bọn mình xuống Sài Gòn, vô Rex coi ciné, sau đó qua Brodard làm một chầu cà phê rồi ăn cơm chiều ở Thanh Bạch, tối đến nghe nhạc ở cà phê Hầm Gió.
Long công tử lên tiếng:
-Đừng có ngồi cà phê Hầm Gió, ở đó khói thuốc lá nhiều lắm, Dung không chịu được đâu. Tao đề nghị nên qua Continental, ngồi phía ngoài hành lang uống cà phê, nhìn thiên hạ đi dạo phố là nhất.
Tôi nghe hai đứa nó nói mà cứ như là vịt nghe sấm. Với tôi, ăn ở đâu, nghe nhạc ở đâu, không thành vấn đề, chỉ cần có Dung để tôi nhìn, cho tôi nói chuyện là vui rồi. Long và Biên mỗi thằng lại cưa thêm một chai bia nữa, tôi nhắc tụi nó:
-Một thằng hai chai thôi, đừng có uống nhiều.
Biên gật đầu:
-Mày nói phải.
Liếc nhìn cái đồng hồ trên tường, Dung nói với anh mình:
-Để em phụ với chị Lành làm cơm trưa.
Nói xong, Dung nhanh nhẹn đi xuống bếp.
Ba thằng đực rựa ngồi nhìn nhau. Biên nói:
-Tụi mày thấy chưa, tao mà làm nội ứng thì khỏi chê, có thứ tự lớp lang đàng hoàng, cứ theo kế hoạch mà thi hành.
Long công tử vịn tay vào thành ghế sofa đứng lên.
-Bây giờ tao phải dọt về nhà, thăm ba má tao chút xíu.
Biên hỏi:
-Mày không đi chơi với tụi tao sao?
-Đi chớ, hai giờ chiều tao sẽ gặp tụi mày ở Rex.
Trước khi đi, hắn nói nhỏ với tôi:
-Tao phải về nhà, trước là thăm ba má tao, sau đó lấy chút tiền dằn túi. Đi với người đẹp mà chi không đẹp, còn đâu là danh tiếng của Long công tử.

Cơm trưa được dọn lên nơi phòng ăn, ba đứa ngồi vào bàn, tôi nhìn thức ăn bày ê hề trên bàn mà thấy ngợp. Nguyên một con cá lóc chiên nằm choán hết cái dĩa hình quả trám, thân con cá được cắt sẵn thành nhiều khía, một tô canh chua cá bông lau, một tô thịt heo kho tàu thêm một dĩa cải xanh xào thịt bò, tất cả đều được đựng trong những tô và dĩa loại to. Tôi ước chừng, phải tám người mới ăn hết những thức ăn dọn trên bàn. Mấy tháng rồi ăn cơm lính, từ quân trường Quang Trung sang Quân trường Thủ Đức, tôi đã bắt đầu quen với cơm lính. Thực lòng mà nói, cơm ở Quân trường Thủ Đức cũng giống như những bữa cơm của gia đình tôi ở Đà Lạt. Cũng một dĩa rau luộc, khúc cá kho, chén nước mắm ớt, năm thì mười họa mới có thêm miếng thịt kho trứng. Hôm nay, bất ngờ nhìn thấy bữa cơm quá sức thịnh soạn ở nhà của Biên, tôi hiểu ra, tại sao Biên và Long luôn luôn phàn nàn, chê ỏng chê eo về chuyện ăn cơm ở nhà bàn. Chị Lành xới cơm vào ba cái chén để trước mặt chúng tôi, đũa và muỗng đã sẵn sàng. Chị nói:
-Mời cô và mấy cậu ăn cơm.
Nói xong, chị trở lui xuống bếp.
Biên nói với tôi:
-Ăn đi mày.
Ngày hôm đó, tôi được ăn một bữa cơm nhà giàu, bên cạnh lại có thêm Dung khiến tôi đâm ra ngượng nghịu, rụt rè.
Tôi bưng chén cơm quay qua Dung nói:
-Mời Dung.
-Dạ, mời anh.
Dung vừa gắp thức ăn cho Biên vừa nói:
-Anh Long đâu rồi, sao ảnh không ở lại ăn cơm?
-Nó phải về nhà thăm ba má nó, xong chuyện nó sẽ đến Rex gặp tụi mình.
Biên nhìn tôi nói tiếp:
-Còn thằng bắp cải này, nhà nó ở Đà Lạt nên nó không về được.
Dung nhìn tôi với gương mặt hớn hở, vui vẻ nói:
-Anh Quân ở Đà Lạt hả? Hè năm nào ba má cũng dẫn em lên nghỉ mát ở Đà Lạt, nhà anh ở đâu? Đường nào? Cho em địa chỉ đi, nếu có dịp lên Đà Lạt em sẽ ghé.
Tôi nghĩ đến căn nhà gỗ lợp tôn bé tí xíu, cũ kỹ của ba tôi ở Trại Hầm, mùa nắng nóng nung người, mùa mưa khi nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vang dội bên tai mà tưởng chừng như cả Đà Lạt đang chìm trong giông bão phũ phàng. So với căn nhà gạch khang trang rộng rãi của gia đình Dung, đúng là một trời một vực, mặc cảm nghèo hèn khiến tôi nói với Dung:
-Hôm nào rảnh rồi, anh sẽ đưa địa chỉ của anh cho Dung.
Khi nói xong tôi biết mình nói dối, bởi vì tôi không thích Dung thấy căn nhà gỗ tồi tàn của ba má tôi, cũng không muốn Dung biết được tôi là con trong một gia đình lao động nghèo nàn.
Dung nói với tôi mà nhăn mặt như suy nghĩ chuyện gì:
-Mà anh đi lính rồi đâu có ở nhà, em lên đó cũng đâu có gặp được anh.
Tôi nghĩ thầm, người đã đẹp rồi nhăn mặt coi cũng đẹp, không biết có phải tôi quá chủ quan hay không? Chúng tôi vừa ăn cơm vừa chuyện trò, Dung khoan thai chậm rãi ăn uống trong khi tôi và Biên ăn nhanh như chớp, cứ như ăn ở quân trường, ăn chậm sẽ bị huynh trưởng phạt chạy ba vòng nhà bàn chỉ có nước ói hết cơm ra thôi. Thức ăn trên bàn vẫn còn nhiều mà cả ba chúng tôi cùng buông đũa. Dung nói với tôi, giọng nói nghe như rót mật vào tai:
-Sao anh ăn ít quá vậy, chê thức ăn em nấu phải không?
Tôi lắc đầu lia lịa:
-Thức ăn Dung nấu ngon quá sức, chỉ tại hơi nhiều, mười người ăn cũng không hết, nói chi chỉ có ba người.

Dung nhìn tôi:
-Thôi được, để em lấy trái cây hai anh ăn tráng miệng.
Dung đi xuống bếp, nàng bưng lên một dĩa dưa hấu và một dĩa xoài được cắt sẵn. Tôi lấy nỉa xắn một miếng xoài đưa lên miệng. Cái mát lạnh của miếng xoài ướp lạnh khiến tôi nhớ đến trái chuối xanh ăn tráng miệng ở quân trường, vị của trái chuối hơi chua chua, âm ấm.
Dung nói:
-Hai anh uống cà phê không?
Biên nói với Dung:
-Nước trà được rồi, mà thôi để chị Lành làm nước trà, em lo sửa soạn tụi mình tới Rex.
Khi Dung đi gần tới cầu thang, như chợt nhớ ra điều gì Biên dặn vói theo:
– Nè Dung, đi chơi với lính em muốn ăn mặc như thế nào cũng được.
Tôi đứng lên chụp cái túi xách tay nhỏ chạy vô phòng tắm, việc trước tiên là đánh răng, đánh đi đánh lại hai ba lần. Tôi muốn cái mùi cá chiên phải được tẩy sạch, sau đó rửa mặt sạch sẽ soi gương nhìn áo quần, khi biết chắc tất cả đã chỉnh tề, hoàn hảo tôi mới bước ra. Một lát sau Dung từ trên lầu đi xuống, thân hình đầy đặn của Dung bó sát trong chiếc quần jean xanh và chiếc áo pull over màu vàng nhạt, chân mang giày cao gót xanh đậm, tôi thấy hình như nàng cao thêm một chút. Tôi đứng ngẩn người ra nhìn, muốn khen Dung một câu nhưng miệng như bị ai bịt lại cứ câm như hến.
Ba đứa đi ra đường, tôi đưa tay sửa lại cái mũ kết trên đầu. Trưa Sài Gòn nóng thật là nóng, chưa tới một giờ, mặt trời vẫn còn chói lòa trên đỉnh đầu. Nhìn chiếc áo vàng Dung đang mặc, tôi chợt nhớ tới nhà thơ Nguyên Sa. Ông ấy bảo:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát.
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
Nguyên Sa là một nhà thơ nổi tiếng, ông ấy muốn nói gì lại không được. Với tôi, áo lụa Hà Đông làm sao mà mát bằng chiếc pull over Dung đang mặc.
Một chiếc taxi chạy trờ tới, tận đáy lòng mình, tôi mơ ước được ngồi đàng sau với Dung, nhưng vì muốn làm ra vẻ đàng hoàng, tôi đi vòng ra phía trước để ngồi cạnh tài xế. Biên bước theo, thúc cho tôi một cái cùi chỏ, hắn nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe:
-Mày không nhớ chiến thuật nội công, ngoại kích hay sao?
Tôi tỉnh cả người, quay đầu mở cửa sau cho Dung, đợi cho nàng ngồi xuống đàng hoàng, tôi mới chui vào xe ngồi bên cạnh nàng.
Biên nói với người tài xế
-Cho bọn này tới rạp Rex bác tài.
Từ nhà Biên tới rạp Rex, hơn ba mươi phút ngồi cạnh Dung đầu óc tôi như mụ đi, không biết hôm nay là cái ngày gì mà ông trời lại chiều theo ý tôi hết mực, muốn gì được mấy. Mùi thơm da thịt của Dung lẫn với mùi nước hoa trong không khí khiến tôi ngầy ngật, ngây ngất. Tôi ngồi yên như một pho tượng, hai tay vòng trước ngực, mắt nhắm lại, tận hưởng chút hạnh phúc tuyệt vời mà trời ban cho tôi, cái hạnh phúc được ngồi bên người đẹp. Thời gian chầm chậm trôi qua cho đến lúc chiếc taxi ngừng lại, tôi mới giật mình tỉnh mộng.
Long công tử đã đứng bên lề đường tự lúc nào, hắn từ tốn mở cửa sau của xe, nắm lấy tay Dung, dìu nàng xuống xe. Mấy chục phút ngồi bên Dung, khoảng cách giữa hai đứa chỉ độ một tấc mà tôi chưa dám chạm vào cái móng tay của Dung, nói chi đến nắm tay nàng. Long công tử quả là sành điệu, hắn đốt giai đoạn nhanh như gió.

Long nói cho mọi người nghe:
-Tao đã mua vé rồi, tụi mình vào thôi.
Tôi tính toán trong đầu, nếu không có Long công tử, khi vô rạp Dung sẽ ngồi giữa Biên và tôi. Đang không lòi ra thằng Long công tử làm kỳ đà cản mũi, tại sao nó không ở nhà nó, thăm ba má nó lâu hơn một chút hoặc dẫn ba má nó đi ăn tiệm đâu đó, đến chiều hãy gặp tụi tôi cũng đâu có muộn gì. Bây giờ tôi chẳng biết phải sắp xếp chỗ ngồi như thế nào cho ổn, nên đành phó mặc cho trời định đoạt.
Biên đi vào rạp trước, nó cố tình để Dung ngồi giữa tôi và Long. Được ngồi cạnh Dung nhưng tôi không cảm thấy sung sướng, hạnh phúc như khi ngồi trên taxi bởi vì tôi không an tâm chút nào. Tôi có lối suy luận hơi cù lần chút đỉnh, cái thằng Long công tử giữa chốn thanh thiên bạch nhật nó tỉnh bơ nắm tay Dung dìu nàng xuống xe, bây giờ trong bóng tối mù mờ của rạp ciné, nó sợ ai mà không nắm tay nàng.
Tôi nhớ lời dặn dò của Biên khi còn trên xe từ Thủ Đức về Sài Gòn:
-Hai thằng mày có quyền tán con em gái tao nhưng phải đàng hoàng, lịch sự, thằng nào mà sàm sỡ với nó, tao bẻ cổ không tha, nhớ đó.
Cả hai đứa tôi đều nói:
-Mày yên chí.
Tôi hy vọng, Long công tử giữ lời hứa với Biên. Suốt hai tiếng đồng hồ trong rạp hát, tôi cứ lo ra vô cớ, còn tâm trí đâu mà coi phim. Cho đến khi đèn trong rạp bật sáng, tôi mới thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ngàn cân trên vai. Tôi nói với Dung, câu nói nghe lảng nhách không đâu vào đâu.
-Phim gì mà dở ẹt, mướn anh cũng không thèm coi.
Ở rạp ciné ra, bốn đứa dẫn nhau tản bộ qua cà phê Brodard nằm trên đường Tự Do. Vừa thấy Long, anh bồi lên tiếng chào hỏi:
-Lâu quá không thấy cậu đến đây, tôi tưởng cậu đã đi du học ở bên Tây, ai ngờ lại đi lính. Cái bàn đặc biệt mà cậu ưa ngồi vẫn còn trống, mời mấy cậu.
Long lấy cái mũ kết trên đầu xuống đưa cho anh bồi, nó kín đáo giúi vào tay anh ta mấy tờ giấy bạc rồi nói, giọng nói nghe thân mật nhưng đầy quyền uy:
-Dung em gái tụi này, anh có món gì đặc biệt cho cô bé không?
-Dạ, cậu khỏi lo.
Tụi tôi ngồi xuống một cái bàn tương đối khá rộng so với không gian tù túng của tiệm. Ba tách cà phê được đem ra, riêng Dung ngoài ly soda chanh, còn có vài cái bánh ngọt đặt trong một cái dĩa xinh xinh.
Bầu không khí êm ả trong tiệm cà phê, khiến cho chúng tôi cảm thấy gần nhau hơn. Long công tử và tôi kể cho Dung nghe những chuyện buồn vui ở quân trường, nào là đi dây tử thần, tuột núi, rồi vượt sông. Dĩ nhiên chúng tôi thêm chút mắm, giặm chút muối cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn. Cái nguy hiểm của dây tử thần hay tuột núi không nhiều lắm đâu, nhưng Long công tử tăng thêm độ nguy hiểm vài phần nữa khiến gương mặt của Dung lộ vẻ lo sợ. Còn bài học vượt sông chúng tôi thực hành tại cầu Rạch Chiếc gần hãng xi măng Hà Tiên, nó chỉ là con suối khá lớn, nước chảy lờ đờ, đứa con nít chỉ cần chừng vài chục sải tay đã qua được bờ bên kia nhưng với cái tài kể chuyện của Long công tử, người nghe có cảm tưởng con sông phải lớn lắm. Long đem mớ kiến thức của mấy năm Văn Khoa ra hù Dung.
-Em có biết sông Hoàng Hà hay sông Tiền Đường ở bên Tàu hay không?

Dung dịu dàng trả lời:
-Dạ, em không biết.
Long giảng giải:
-Hoàng Hà là một con sông vĩ đại, đến nỗi Lý Bạch phải mở đầu bài thơ Tương Tiến Tửu của mình bằng mấy câu:
Quân bất kiến, Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đảo hải bất phục hồi.
Còn khi nói đến sông Tiền Đường thuộc tỉnh Triết Giang bên Tàu, đại thi hào Nguyễn Du đã phải thốt lên:
Triều đâu nối tiếng đùng đùng.
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường.
Tiếng sóng trên sông mà đánh đùng đùng, con sông không thể nhỏ được.
Chính bản thân tôi, nghe Long công tử kể chuyện cả đại đội với súng ống đạn dược vượt sông, tôi còn run sợ huống chi là Dung. Chỉ có điều, tôi không thích cái tính vọng ngoại của Long công tử. Tôi nhắc Long:
-Mày ca ngợi Tàu cũng vừa thôi. Bụt chùa nhà không thiêng hay sao? Sông Cửu Long của mình đâu có nhỏ.
Phần Dung khi nói về nếp sống của nữ sinh Sài Gòn, những chuyện nàng kể, chuyện nào cũng nhẹ nhàng, êm đềm như lá thu vàng rơi rụng ngoài hiên vắng.
Dung kể cho tụi tôi nghe về trường Nguyễn Bá Tòng của nàng, về lớp đệ nhất mà nàng đang học, cô nào cô nấy đẹp như tiên giáng trần, nhất là hai cô bạn thân của nàng. Đang kể chuyện, như chợt nhớ ra điều gì Dung hỏi:
-Hai anh thích không, Dung sẽ giới thiệu hai cô bạn của Dung cho hai anh.
Long công tử nói, gương mặt tỉnh như không.
-Giới thiệu Dung cho anh, anh thích hơn. Em có biết không, người ta thường nói, một con chim trong tay bằng mười con chim trên cành.

Gương mặt Dung ửng đỏ trước câu nói hơi bạo của Long công tử, nàng chữa thẹn bằng cách nâng ly soda lên rồi nói:
-Uống soda chanh phải có xí muội mới hết sẩy.
Long công tử rời ghế đi về phía anh bồi, một lát sau nguyên một dĩa xí muội được mang tới. Long công tử dùng cái muỗng bạc xúc hai viên xí muội cho vào ly soda. Đợi cho bọt tăm của viên xí muội trong ly dịu bớt, Long công tử mới nâng ly đưa cho Dung:
-Em có thể uống được rồi.
Cái thằng này lịch sự đến phát ghét, tôi không giận gì nó nhưng mà buồn cho mình nhiều hơn. Tại sao chuyện gì nó cũng hơn mình.
Tôi ngoảnh mặt, nhìn qua khung cửa kính sạch sẽ không một hạt bụi, Sài Gòn lúc nào cũng ồn ào tấp nập, ngựa xe như nước. Nắng đã bắt đầu dịu lại.
Biên nhìn ra đường rồi nói bâng quơ:
-Mấy người đói chưa?
Long công tử trả lời:
-Chút đỉnh.
-Vậy mình thả bộ qua Thanh Bạch là vừa, tao muốn lang thang ngoài phố đế tìm lại cảm giác ngày xưa lúc chưa đi lính.
Khi cả bọn đi qua bùng binh với vòi phun nước trước tòa nhà Quốc Hội, một anh thợ chụp hình với chiếc máy ảnh Polaroid trên tay.
-Mấy cậu chụp tấm hình, kỷ niệm ngày đi phép.
Không hẹn mà cả ba thằng vui vẻ, bằng lòng.
Long công tử hỏi anh thợ hình:
-Ông bấm máy nhiều có mỏi tay không?
Người thợ chụp hình lên giọng như muốn khoe về mình.
-Cậu nói chơi, nghề của tôi mà mỏi sao được.
-Như vậy ông cứ bấm máy, khi nào mỏi tay hãy ngừng.
Người thợ giải thích:
-Mồi tấm hình giá một trăm đồng, tui mà bấm mỏi tay, mấy cậu hết tiền đi taxi.
Long trấn an ông thợ chụp hình:
-Yên chí đi.
Bức ảnh đầu tiên là cảnh ba thằng mặc quần áo tiểu lễ, dây biểu chương và cái alpha vàng chói trên vai, mặt mày thằng nào thằng nấy tươi cười, hớn hở. Bức thứ hai là Biên và Dung, rồi Long và Dung. Cuối cùng, tôi cũng được chụp chung với Dung, không những một mà tới hai tấm. Khi ông thợ chụp hình bóc miếng âm bản đàng sau tấm ảnh, hình tôi và Dung từ từ hiện lên, cái cảm giác của tôi lúc bấy giờ thật là khó tả, đê mê, thích thú, người cứ lâng lâng nhẹ nhàng như bay trong không khí, chơi vơi, chới với. Tôi nghĩ thầm, mình sẽ giữ tấm ảnh này cho đến khi chết. Trong ảnh Dung đứng cạnh tôi, giữa hai đứa là một khoảng cách nhỏ, tôi ao ước, phải chi mình được quàng tay qua vai hoặc ôm eo của em, coi sẽ tình tứ hon nhiều. Mơ ước như vậy nhưng sợ thằng Biên nó bẻ cổ mình nên không dám. Lòng tham của con người thật vô đáy, biết bao nhiêu cho vừa. Cuối cùng, tôi phải tự nhủ với lòng đừng có quá tham lam. Hạnh phúc là phải biết bằng lòng với những gì mình có.
Lúc tụi tôi đến Thanh Bạch trời cũng vừa tắt nắng, người bồi bàn tuổi chừng bốn mươi trịnh trọng cúi đầu:
-Chào cậu Long.
Long công tử vui vẻ:
-Lâu quá mới gặp chú Sáu, chú khỏe không?
Tôi lại thấy Long kín đáo giúi vào tay chú Sáu mấy tờ giấy bạc, chúng tôi được đưa đến ngồi ở góc phòng, chỗ ngồi thật là lý tưởng, kín đáo, rộng rãi và thoải mái. Long cất tiếng:
-Hôm nay có gì đặc biệt không chú Sáu?

Người bồi bàn ngập ngừng:
-Dạ ạ ạ, hay là vậy đi. Có cơm chiên cá mặn, gà rô ti, thêm tô canh sườn heo hầm khoai tây, cà rốt Đà Lạt, cậu thấy đủ chưa?
-Chưa, nhưng tôi sẽ gọi thêm sau. À, chú cho mấy chai bia, đừng quên một chai sữa tươi loại nhỏ cho cô bé này.
-Dạ.
Tôi nghĩ, hình như tất cả các nơi ăn chơi ở cái Hòn Ngọc Viễn Đông nàỵ thằng Long công tử đều đã biết qua, không những biết mà còn lui tới nhiều lần.
Lịch sự là nghề của Long công tử, hắn mở nắp chai sữa, bóc miếng giấy bạc dán trên miệng chai, rót sữa vào một cái ly rồi đưa cho Dung.
Thật tình mà nói, nếu tôi có muốn đóng vai lịch sự cũng không được. Từ nhỏ đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy chai sữa tươi, làm sao biết cách uống. Cái xứ Đà Lạt của tôi quanh năm, suốt tháng chỉ ăn bắp cải, khoai tây, cà rốt và uống nước rau luộc.
Quen với lối sống quân trường, ba thằng tôi thanh toán bữa ăn lẹ như chớp, nhìn lại chén cơm của Dung chỉ mới vơi đi một nửa. Trong khi chờ Dung ăn cơm, Biên nói:
-Giờ này mà có vài con cua ram muối, lai rai với bia 33 là nhút.
Tôi nhìn vào tấm thực đơn:
-Ở đây không có cua ram muối.
Long công tử lên tiếng:
-Để đó tao.
Hắn đưa tay ngoắt chú Sáu:
-Chú Sáu nè, anh bạn tôi khoái nhậu cua ram muối. Chú cho tụi này vài con được không?
Chú Sáu nhìn Long công tử, vừa cười vừa nói:
-Trong thực đơn không có món đó, nhưng với cậu Long sẽ có thôi.
Vừa nói, chú Sáu vừa liếc mắt sang chợ Bến Thành ở bên kia đường.
-Cua bên đó thiếu giống gì, để tôi nói với đầu bếp.
Khoảng nửa giờ sau, một dĩa cua ram muối to chần dần được mang lên.
Tôi không uống bia, ngồi đó rảnh rỗi xới cơm cho Dung, múc canh cho nàng, xé cho nàng miếng thịt gà, lâu lâu chôm cho nàng mấy cái càng cua ram muối. Dung nhìn tôi như biểu đồng tình rồi cầm lấy cái càng cua ăn ngon lành. Tôi tận tình săn sóc Dung và biết rằng mình là người hạnh phúc nhất thế gian. Phần Dung cũng tận tình ăn uống nhưng không biết nàng có hạnh phúc hay không.
Cơm nước xong xuôi, thay vì qua Continental uống cà phê như dự tính tụi tôi lại tạt vô Pôle Nord làm mấy ly kem, cái món này ba thằng đực rựa không thích mấy nhưng vì chiều ý của Dung.

Dung thả cái muỗng cà phê vào ly kem rồi nói:
-Kem ở đây ngon hết biết, lẽ ra em phải ăn hai ly mới được nhưng thân hình em hơi tròn, cho nên một ly thôi.
Sài Gòn với hoa đèn rực rỡ, xe cộ ngược xuôi như mắc cửi, thêm chút gió nhẹ từ bờ sông thổi vào, tôi bước đi trên hè phố mà cảm thấy nhẹ nhàng, sảng khoái xen lẫn chút buồn buồn, nuối tiếc. Ngày vui rồi cũng qua mau, đã đến lúc bọn tôi phải về nhà.
Long công tử vỗ vai Biên:
-Tao phải về, ba má tao đang chờ.
Nói xong, Long công tử quay sang tôi.
-Bắp cải, mày muốn về nhà tao ngủ không? Sáng mai, mình trở lại nhà Biên rồi đi về trường.
Tôi giận cái thằng công tử này quá chừng, chuyện của mày kéo theo tao làm gì. Đi theo mày bỏ Dung cho ai, mà từ chối thì….
Còn đang phân vân chưa biết trả lời như thế nào, tôi bỗng nghe Biên nói:
-Để thằng Quân bắp cải về với tao.
Tôi mừng hết lớn, vội vã nói với Long công tử:
-Đừng lo gì cho tao, về nhà đi kẻo ba má mày chờ.
Đuổi được Long, tôi nhẹ hẳn người. Chúng tôi về đến nhà đã hơn mười giờ tối. Tôi tưởng Biên sẽ ngồi ở phòng khách trò chuyện nhưng không ngờ hắn nói với Dung:
-Em đi chơi cả ngày, mệt rồi phải không? Về phòng nghỉ đi.
Quay sang tôi, hắn chỉ tay lên lầu:
-Mày ngủ ở phòng của tao. Tao ngủ trên giường, còn cái sàn gạch bông mày toàn quyền sử dụng.
Một ngày thần tiên vừa trôi qua, tôi lăn qua trở lại không tài nào nhắm mắt, chả bù ở quân trường, mới nằm xuống ba mươi giây là đã ngủ ngon lành. Tôi đang cố dỗ giấc ngủ, bỗng tiếng của Biên từ trên giường vọng xuống:
-Ê thằng bắp cải, mày có nghe tao nói không?
Tôi trả lời:
-Nghe.
-Suốt ngày tao quan sát hai thằng mày, thằng nào hành sử cũng khá không có gì đáng phiền trách. Riêng mày, tao muốn nói cho mày biết, cứ cái đà này mày thua cuộc là cái chắc, mày không phải đối thủ của Long công tử. Ngồi sau xe taxi với con Dung, cơ hội bằng vàng để cho mày trổ tài tán tỉnh, lấy cảm tình thì mày lại ngồi yên như tượng đá, đã vậy còn nhắm mắt ngủ ngon lành. Mày phải hoạt bát, năng động lên chứ, nói láo chút xíu cũng không sao, chẳng hạn như anh thề sẽ yêu em suốt đời hay nếu không lấy được em anh nguyện ở giá trọn kiếp. Nghe rất là cải lương nhưng nó ép phê vô cùng, tin tao đi, kinh nghiệm cho tao biết như vậy. Mày nghe rõ không bắp cải?
-Nghe rõ năm trên năm.

-Tốt, thôi ngủ đi, mai dậy sớm về trường.
Làm sao mà ngủ cho được, tôi nhớ đến Long công tử rồi nhẩm tính, tất cả số tiền mà hắn tiêu pha cho ngày hôm nay, đủ cho một gia đình lao động tiêu xài vài tháng. Nó ăn tiêu lớn nhưng đúng chỗ và lịch sự, cái lịch sự của những người biết sức mạnh đồng tiền. Biên nói đúng, trẻ tuổi giàu có lại lịch lãm có thừa như Long công tử, tôi thua là cái chắc. Tôi nghĩ đến Dung, không biết giờ này Dung đang làm gì, học bài, ngủ hay cũng đang trăn trở như tôi. Cuối cùng, tôi nhớ đến tấm ảnh chụp hồi chiều với Dung mà lòng lâng lâng khoan khoái, rồi ôm hình ảnh đẹp như mơ của Dung, chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết.
Khi tôi và Biên thức giấc trời đã mờ sáng, hai đứa tôi mau mau làm vệ sinh cá nhân rồi đi xuống nhà dưới. Chị người làm đã chuẩn bị xong bữa ăn sáng, bánh mì nóng, hai dĩa trứng gà ốp la, ly cà phê sữa còn bốc khói thơm lừng. Hai đứa vội vội vàng vàng thanh toán chiến trường cho lẹ vì còn nhiều chuyện phải làm.
Dung từ trên lầu đi xuống:
-Khi nào hai anh phải vô trường?
Biên đáp:
-Đợi thằng Long tới là dọt.
Biên vừa dứt lời, tiếng chuông ngoài cửa cũng reo lên. Tôi biết Long công tử đã tới. Tôi nhìn Dung, nàng lúc nào cũng tươi mát, dễ thương. Từ tối hôm qua đến giờ, tôi chưa nói được với nàng một tiếng.
-Ngủ ngon không Dung? Tôi hỏi.
-Dạ ngon.
Lợi dụng lúc Long công tử và Biên đang bàn với nhau vấn đề gì đó, tôi bước đến gần Dung, lấy hết can đảm, cứ coi như mình đang đi dây tử thần ở Thủ Đức, nhắm mắt lại, nắm chặt hai cái ròng rọc rồi lao mình vào khoảng không gian bao la bát ngát. Nhớ tới lời Biên dặn tối hôm qua “nói láo chút xíu cũng không sao”, tôi nói nhỏ vào tai Dung:
-Vô quân trường rồi, anh nhớ em chết được.
Nói xong, tôi biết mình không nói láo. Tôi nói thật, đồng thời tôi cũng chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối phó với tình huống xấu có thể xảy ra nếu câu nói của tôi không vừa ý Dung. Không ngờ, Dung nói với tôi, câu nói nhẹ như một cơn gió thoảng.
-Em không có ép uổng gì anh đâu. Có thì nói, còn không thì thôi.
Xe chạy trên xa lộ, tôi đã nhớ Dung cần gì phải đợi lúc về đến quân trường. Vừa bước vào phòng ngủ sinh viên, tôi lấy tấm ảnh của Dung chụp với tôi ra xem. Tấm ảnh hơi lớn so với cái ví của tôi, chuyện dễ thôi, tôi dùng cái kéo cắt tấm ảnh nhỏ lại cho vừa với khung ảnh trong ví. Cảnh trí chung quanh hai đứa có gì là quan trọng đâu, cho dù có đứng dưới chân tháp Eiffel của Pháp hay chân tượng Nữ Thần Tự Do ở Mỹ tôi cũng chẳng cần, huống chi đứng bên vòi phun nước ở Sài Gòn. Bây giờ tấm hình chỉ còn lại hai đứa đứng cạnh nhau, tôi chỉ cần chừng đó thôi.
-Mày làm cái gì vậy?
Tôi lúng ta lúng túng nhét cái ví vào túi, nhặt mấy mảnh giấy vụn bỏ vào thùng rác rồi mới trả lời Long công tử:
-Có làm gì đâu.

Long công tử nhìn tôi rồi than phiền:
-Chủ nhật mà phải ứng chiến, chán cái mớ đời.
-Cũng phải có một nửa quân số để giữ doanh trại chứ, bộ mày muốn giao cái trường này cho Việt Cộng hay sao?
-Không mợ thì chợ cũng đông, mấy ngàn thằng sinh viên canh gác chưa đủ hay sao? Thêm đại đội mình ứng trực cũng vậy thôi.
Có tiếng mở cửa, Biên từ ngoài bước vào, hắn nhìn quanh một vòng rồi nói:
-Hai thằng mày làm gì đó?
-Tán dóc.
Biên nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói:
-Bây giờ là mười giờ, bốn giờ chiều mới tập họp điểm danh, làm gì cho hết giờ đây?
Long công tử trả lời:
-Tụi mình đi ăn cơm trưa, sau đó qua Khu Thiết Giáp nhậu.
Tôi nói với Long:
-Mày đâu phải là con của Tổng Thống, phải đợi tới trưa, cả đại đội cùng ăn một lần, nhà bàn đâu có rảnh mà dọn cơm cho ba đứa mình vào giờ này.
Long công tử nói như ra lệnh.
-Hai thằng mày đi với tao.
Ba thằng thả bộ theo con đường tráng nhựa đến nhà ăn. Long băng qua đường đến khu gia binh đối diện với nhà bàn.
-Kể từ hôm nay, ba thằng mình ăn cơm tháng ở đây.
Chuyện hơi bất ngờ với tôi:
-Mày nói giỡn?
Long công tử chân bước vô nhà, miệng nói:
-Mày thấy tao nói giỡn bao giờ chưa? Nếu mày muốn ăn cơm nhà bàn với bắp cải luộc, cà rốt kho cứ thoải mái. Còn nếu không muốn thì qua đây.
Trường Bộ Binh Thủ Đức có rất nhiều chuyện lạ, một trong những chuyện lạ đó là Tân khóa sinh bắt buộc phải ăn cơm nhà bàn. Sau lễ gắn Alpha, sinh viên sĩ quan nếu không muốn ăn cơm nhà bàn họ có quyền ăn cơm tháng, miễn sao đủ tiền trả là được, nên nhớ cơm tháng ở đây không rẻ đâu, gần ba ngàn một tháng. Lương sinh viên sĩ quan, sau khi trừ tiền cơm nhà bàn, tiền công may quần áo tiểu lễ, đại lễ chỉ còn được vài trăm, ai muốn ăn cơm tháng cứ việc ăn.
Đời sống ở quân trường trôi qua trong buồn tẻ, con người như một cái máy chỉ biết có một việc thi hành lịnh trên. Niềm vui duy nhứt của sinh viên sĩ quan là ngày phép cuối tuần, tuy vậy, được đi phép hay không phải tùy thuộc vào tình hình chiến sự bên ngoài. Từ sau lần cả khóa được đi phép sau lễ gắn Alpha, tuần lễ tiếp theo đó là năm mươi phần trăm đi phép, năm mươi phần trăm ở lại ứng chiến, nếu tôi đi phép thì Long với Biên phải ứng chiến ở trường và ngược lại. Biên và Long bực bội thấy rõ. Long phàn nàn:

-Như vậy là hai tuần mới được đi phép một lần.
Chỉ có tôi mừng như mở cờ trong bụng. Không có Long công tử, Dung và tôi hai đứa sẽ sánh vai nhau đi bát phố Sài Gòn. Tôi với bộ tiểu lễ màu vàng, đầu đội nón kết đi bên cạnh Dung trong chiếc áo dài trắng thướt tha yểu điệu. Thoáng nghĩ đến, tôi đã sung sướng đến lịm người.
Sài Gòn sáng chủ nhật nắng vừa mới lên, tôi đã đứng trước nhà Dung mạnh dạn bấm chuông. Chị Lành ra mở cửa, đưa tôi vào nhà. Khi tôi đã yên vị nơi salon, trong lòng hớn hở đợi chờ Dung, bất ngờ ba má của Dung từ trên lầu đi xuống. Tôi không ngờ mình ngu đến như vậy. Biên với Dung đâu có phải con mồ côi, tôi quên mất tiêu họ còn có ba má đàng hoàng. Tôi lật đật đứng lên chào hai ông bà. Như thằng ăn vụng bị bắt gặp, tôi lắp ba, lắp bắp:
-Dạ con kính chào hai bác.
Ba của Biên tươi cười nói với tôi:
-Ngồi đi con, bác có nghe con Dung nó nói lại, tuần vừa rồi mấy đứa về phép có dẫn em nó đi chơi rất là vui, à.. mà con tên Long phải không? Dung có nói với bác.
Hình như có ai đó bóp mạnh vào trái tim của tôi, khiến cho trái tim dường như muốn rớt ra khỏi lồng ngực. Tại sao Dung chỉ nhớ tới Long, còn tôi ở đâu sao không nghe Dung nhắc đến. Tôi muốn xin phép ba má Biên cho tôi về trường cho rồi nhưng vẫn cố làm mặt vui trả lời:
-Dạ thưa bác, con tên là Quân.
-Ờ, bác nhớ ra rồi Long và Quân.
Ông nhìn quanh như tìm kiếm:
-Còn thằng Biên và Long đâu rồi?
-Dạ chỉ có một mình con đi phép thôi, Long và Biên phải ở trường ứng chiến, tuần tới mới được đi phép.
-Dzậy nữa, quân trường sao mà khó quá.
Má của Biên tự nãy giờ ngồi im nhìn tôi như dò xét, cuối cùng bà lên tiếng:
-Quê con ở đâu?

-Dạ Đà Lạt.
-Có bà con ở Sài Gòn không?
-Dạ không.
-Nếu vậy, trưa nay con ở đây ăn cơm với hai bác, chiều đến hãy vô trường. Cứ coi như ở nhà, bác coi con cũng như thằng Biên, đừng có khách sáo.
Tôi mừng quá, vậy là mình được coi như là một thành viên trong nhà.
-Dạ, con cảm ơn hai bác.
-Để bác kêu con Dung xuống nói chuyện, hình như nó có cái gì muốn gởi cho thằng Biên.
Rủi cho tôi là ba má Biên ở nhà, may cho tôi là ông bà hiền từ cởi mở, tôi an tâm ngồi tiếp chuyện với ông bà.
Khi chị Lành đem mấy ly nước lên, Dung cũng từ trên lầu đi xuông, nàng nhìn tôi:
-Anh Quân mới về, còn anh Biên và anh Long đâu?
Tôi lại phải giải thích với Dung về chuyện năm mươi phần trăm quân số ứng chiến trong trường.
Ba má Dung đứng lên nói với Dung:
-Con ngồi tiếp chuyện anh Quân, ba má có chút việc gấp phải qua nhà bác Năm.
Tôi nhích ghế đứng lên chào ông bà, chỉ sợ mình có hành vi sơ suất sẽ gây nên hậu quả không tốt về sau.
Dung dẫn tôi ra trước sân, nàng ngồi lên chiếc xích đu dưới tàn cây vú sữa rôi chỉ cho tôi cái ghế đá gần đó.
-Mình ngồi đây nói chuyện cho mát nghe anh.
Không có Long công tử làm kỳ đà cản mũi, tôi chuyện trò với Dung thoải mái cứ như cá gặp nước, tha hồ tung tăng bơi lội, vùng vẫy. Tôi kể cho Dung nghe những chuyện tôi đã làm trong tuần lễ vừa qua.
Ngày thứ Hai trong tuần, tất cả đại đội học bài tác chiến trong thành phố. Ngày thứ Ba, nhị thức bộ binh thiết giáp, có nghĩa là lúc lính bộ binh đi hành quân chung với xe thiết giáp, hai bên hỗ trợ cho nhau, khuyết điểm của bên này sẽ được bên kia bổ khuyết. Ngày thứ Tư học về vũ khí của Việt Cộng.
Dung chăm chú lắng nghe tôi nói được một lúc, sau đó nàng lơ đễnh nhìn mây bay ở trên trời, dạ dạ cho có lệ. Tôi nghĩ hình như chuyện mình kể nó nhạt phèo, lạc đề hay sao. Thôi chết rồi, một buổi sáng đẹp trời, ngồi dưới tàn cây bên cạnh người đẹp với chiếc ghế xích đu lẽ ra tôi phải đẩy nhẹ chiếc ghế “Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây”. Đằng này, tôi lại kể cho Dung nghe chuyện ba cái thằng lính mới ở trong quân trường với súng đạn xe tăng, nghe có chán mớ đời không. Nhớ lại chuyện vừa kể, tôi còn nản không muốn nghe huống gì là Dung.
Tôi đi vào nhà, xin chị Lành một ly cà phê sữa rồi bưng ra sân, đặt xuống chiếc bàn đá bên cạnh Dung. Không biết có phải tại trời xui đất khiến hay không, tôi buột miệng nói:
-Em uống thử cà phê anh mới pha.
Dung đưa tách cà phê lên môi, nhắp một hớp rồi nhoẻn miệng cười
-Cà phê anh pha ngon thiệt, giống y chang chị Lành vẫn thường làm.
Tôi ngồi thừ người ra đó, nghẹn ngào không nói nên lời.
Thấy tôi yên lặng không nói gì, Dung đặt tách cà phê xuống bàn rồi nói:
-Để em nói chị Lành làm thức ăn sáng, anh ăn gì chưa?
-Chưa.
-Vậy anh muốn ăn gì?
-Cho gì anh ăn nấy, ở quân trường mỗi buối sáng tụi anh được phát cho một khúc bánh mì bơ, đường, thêm một ca nước lạnh. Khúc bánh mì đó mà chọi chó thì chó cũng chết.
-Tại sao vậy anh?
-Khúc bánh mì cũ, cứng như đá chớ sao.
Dung lộ vẻ ngạc nhiên.
-Anh Biên và anh có ăn không?
-Không ăn, đói làm sao mà đi học được. Nhiều bữa gặp bánh mì mốc cũng ăn luôn.

Nghe đến đây, gương mặt của Dung lộ vẻ hốt hoảng thật sự. Tôi vẫn thường có mặc cảm với cái đám con gái nhà giàu, họ đứt tay cứ như ăn mày đổ ruột nhưng khi thấy gương mặt của Dung thật sự lo lắng, tôi cảm thấy hối hận vì cái tánh đùa dai của mình. Tôi mau mắn nói:
-Anh chỉ nói giỡn chơi dọa em thôi, thực ra bánh mì trong quân trường cũng không đến nỗi nào. Thường ngày, khoảng chín hay mười giờ đêm bánh mì còn nóng được đem tới, ngoài phần bánh mì còn có một hộp bơ và một bịch đường cát trắng. Bánh mì nóng để qua đêm sẽ nguội rồi mềm đi, nhưng vẫn ăn được. Em cũng đừng quá lo lắng cho anh Biên, sáng nào bọn anh cũng qua Câu lạc bộ của Ban quân nhạc, ăn điểm tâm một tô bún bò hay một dĩa cơm tấm sườn nướng cho chắc bụng, trước khi đi học.
Tôi và Dung ngồi ăn sáng nơi chiếc bàn đá, dưới tàn cây vú sữa, mỗi đứa một tô bánh canh, một ly cà phê nóng. Tôi chậm rãi thưởng thức cái deo dẻo của cọng bột, chút ngòn ngọt của miếng chả cá, hương vị thơm nồng của hành lá và cái cay xé họng của miêng ớt đỏ tươi. Chừng đó thứ, không làm cho tôi ngất ngây bằng chuyện Dung rắc thêm vào cái tô của tôi một chút tiêu xay nhuyễn.
-Để em thêm cho anh chút tiêu.
Tôi biết những cô gái Sài Gòn tánh tình cởi mở, tấm lòng của họ trải dài như sông nước Đồng Nai. Có thể Dung chỉ hành động theo thói quen, nhưng tôi rất sung sướng vì nghĩ rằng mình được ân cần săn sóc.
Dung múc một muỗng bánh canh, thổi nhè nhẹ vào cọng bột rồi hỏi tôi:
-Anh Quân à, tại sao anh Biên và anh Long gọi anh là Quân bắp cải?
Tôi đỏ mặt, không biết trả lời như thế nào nên cứ tình thiệt mà nói
-Biên và Long biết anh là dân Đà Lạt nên gọi anh là Quân bắp cải. Anh không chịu, tụi nó lại kêu anh là Quân sữa. Anh phản đối mạnh hơn nữa, cuối cùng tụi nó cho anh chọn một trong hai cái tên đó. Anh chọn cái tên bắp cải, vì nghĩ rằng nếu mà bị gọi là Quân sữa làm sao kiếm đào cho được.
Tôi biết, mặt của tôi đỏ kè vì mắc cỡ sau khi nói câu trên.
Dung nhìn tôi
-Nếu là anh, em sẽ chọn tên Quân sữa.
-Tại sao vậy.
Dung ngập ngừng lắc đầu.
-Hôm nào em sẽ nói cho anh nghe.

Khi hai đứa ăn sáng xong, nắng đã lên cao, vài tia nắng mặt trời xuyên qua kẽ lá của tàn cây vú sữa, tạo thành những vệt sáng song song mà trong đó muôn ngàn hạt bụi nhỏ li ti liên tục di chuyển không ngừng, tôi nhìn khuôn mặt của Dung thấp thoáng sau những tia nắng vàng, lẫn trong mái tóc đen huyền. Một ý nghĩ liều lĩnh thoáng qua trong đầu, tại sao mình không mời Dung xuống Sài Gòn dạo phố như mình hằng mơ ước? Mộng với thực chỉ cách nhau một biên giới mù mờ thôi mà.
Nghĩ là làm, tôi hỏi Dung:
-Anh muốn mời em xuống Sài Gòn uống cà phê, được không?
Dung nhìn tôi với gương mặt lúng túng.
-Không được đâu anh, ba má không cho đâu.
Đã trót phóng lao nên phải theo lao, tôi nói:
-Để anh xin phép ba má em.
-Ba má có cho, em cũng không chịu.
Mặt mày của tôi chắc yểu xìu như cái bánh bao chiều nhúng nước. Hóa ra tuần trước Dung chịu đi chơi chung với tụi tôi là vì Biên, anh của nàng, tôi và Long công tử chỉ là hai đứa ăn theo. Tôi biết mình đã đi quá trớn bèn nói với Dung.
-Xin lỗi em, anh đã không biết vị trí cũng như chỗ đứng của mình.
Dung với giọng buồn buồn:
-Lẽ ra, em không nên nói với anh như vậy.
Bầu không khí giữa hai đứa trở nên ngột ngạt, không được thoải mái như lúc sáng. Tôi đang lúng túng không biết phải làm gì trước tình trạng khó xử, bất chợt thấy ba má Dung xuất hiện nơi cổng trước, tôi lẹ làng đứng lên đi ra mở cổng cho ông bà.
Ba Dung ôm một bịch trái cây, đặt xuống bàn rồi nói:
-Hai đứa ăn cam đi, cam Mỹ cũng khá ngọt.
Lần đầu tiên trong đời tôi thấy quả cam màu vàng đỏ, Việt Nam mình chỉ có cam vỏ xanh hay ửng vàng thôi. Tôi hỏi ba của Dung:
-Thưa bác, con chưa bao giờ thấy trái cam vàng đỏ như vậy, bác mua ở đâu?
-Đây là cam Sunkist của Mỹ, bác mua trong sở làm của bác. Trong đó, họ bán rẻ như cho.
Ba Dung đẩy bị cam lại phía tôi:
-Chiều nay con đem vô cho Biên mấy trái cam, tội nghiệp nó ở quân trường ăn uống kham khổ.
Má Dung lên tiếng:
-Mấy đứa coi sửa soạn rồi ăn trưa.
Sau bữa ăn sáng với Dung, bụng tôi còn căng đầy nhưng tôi vẫn sốt sắng trả lời.
-Dạ.
Dung đứng lên:
-Em phải phụ chị Lành nấu cơm, nếu không má sẽ la.

Nằm một mình trên chiếc võng, dưới bóng mát của tàn cây vú sữa, bên cạnh chiếc ghế xích đu thêm chút gió hiu hiu thổi, tôi chợp mắt lúc nào không biết, cho đến khi có tiếng gọi tên mình.
-Cậu Quân, cậu Quân dậy ăn cơm, ông bà đang chờ.
Lại một bàn đầy thức ăn, ba má Dung ngồi một bên, tôi và Dung ngồi đối diện. Tôi nghĩ, không biết làm rể phải ăn uống như thế nào nhưng tôi nhất định phải quên đi cái thói ăn uống lẹ như chớp ở nhà bàn Thủ Đức. Tôi ăn cơm chậm rãi, từ tốn như con gái, không chừng còn yếu hơn cả Dung nữa. Từ nãy giờ Dung im lặng ăn cơm bất ngờ nàng lên tiếng:
-Má à, ăn cơm xong con muốn đi Sài Gòn với anh Quân, để mua cho anh Biên mấy món đồ.
-Nó cần gì vậy con?
-À, bàn chải đánh răng, xà bông, vài đôi vớ, dao cạo râu và mấy thứ lặt vặt khác.
Má Dung sốt sắng:
-Phải đó, ăn cơm xong con đi lẹ lẹ lên, mua cho đủ để anh con có mà dùng. Gởi cậu Quân đem vô cho tiện.
Tôi hơi ngạc nhiên, ba cái thứ đó ở Thủ Đức trong Khu sinh hoạt chán vạn gì, đem mười cái xe GMC vô chở cũng không hết, tại sao phải mua ở Sài Gòn.
Tôi lên tiếng:
-Dung khỏi cần tốn công, để về trường anh vô Khu sinh hoạt mua cho.
Dung liếc nhìn tôi với đôi mắt như hờn giận trách móc. Tôi không biết mình đã làm gì khiến Dung giận, nên im lặng tiếp tục ăn cơm mà nuốt không trôi. Má Dung dường như không cần biết tôi nói gì, bà dặn Dung:
-Con nhớ mua đồ cho anh con loại thật tốt nghe, nhờ cậu Quân đi theo xách giùm.
Đang ăn cơm, tôi phải ngừng nhai, nghe má Dung nói mà tôi tưởng mình nằm mơ. Tôi đã từng đậu cái Tú tài I rồi Tú tài II một cách oanh liệt, nhưng xem ra chẳng thấm gì so với cái Tú tài III mà tôi vừa mới đậu hôm nay. Còn gì sung sướng hơn chuyện tôi được danh chánh ngôn thuận, đi Sài Gòn với Dung.
Tôi mở cửa taxi, chờ cho Dung ngồi xuống rồi mới cẩn thận đóng cửa. Xong xuôi tôi đi vòng qua cửa đối diện. Tôi cố gắng đi đứng sao cho đàng hoàng, chững chạc, vì biết rằng ba má Dung đang dõi mắt quan sát tất cả mọi chuyện.
Tôi lập lại như Biên nói hôm nào:
-Cho tụi này xuống Sài Gòn bác tài.
Khi chiếc taxi bắt đầu chạy qua đường Công Lý, tôi mới hỏi Dung:
-Lúc nãy em giận anh chuyện gì vậy?
Gương mặt Dung ửng đỏ.
-Em phải đặt chuyện, đi mua đồ cho anh Biên mới được đi Sài Gòn. Đang không anh xía vô một cách lảng xẹt.

Tôi hoàn toàn không hiểu, buổi sáng Dung nói là không muốn đi uống cà phê với tôi, lúc ăn trưa nàng tìm cách xin ba má đi Sài Gòn để được đi chơi với tôi, hai chuyện hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Người ta thường nói, đàn bà là cả một đại dương bí ẩn quả là không sai. Tôi dựa ngửa người ra ghế, khoan khoái hít thở mùi thơm của đóa Phù Dung tỏa ra trong không khí. Dù có làm gì đi nữa, tôi vẫn nhớ lời dặn của Biên, không quên chuyện phải “năng nổ, hoạt động”
-Tụi mình đi đâu đây em?
-Xuống Sài Gòn rồi hãy tính.
Nói xong, Dung chồm người về phía trước:
-Bác tài ơi, cho tụi cháu xuống chợ Bến Thành.
Chính tôi là người mong muốn được đi dạo phố Sài Gòn với Dung. Dạo phố chỉ là một cách nói, thật ra trong lòng, tôi chỉ muốn khoe với mọi người là tôi có cô bạn gái đẹp như mơ, xinh như mộng. Đến khi xe taxi ngừng bên hông chợ Bến Thành, tôi lại lúng túng không biết phải làm gì. Một giờ trưa, Sài Gòn nóng như cái chảo dầu của mấy ông ba Tàu chiên giò cháo quảy, giờ này mà đi dạo phố chỉ tổ nắng cháy da, tôi nhìn Dung cầu cứu:
-Anh từ nhỏ tới lớn sống ở Đà Lạt, không biết gì về Sài Gòn. Em dẫn anh đi chơi được không?
Dung nhìn tôi rồi nói:
-Nắng như vầy, không phải lúc để đi chơi nhưng đợi đến khi dịu nắng anh lại phải vô trường, bây giờ mình đi chợ trước mọi chuyện hãy tính sau.
-Đi chợ?
-Anh nhớ không, em xin phép má đi chợ để mua vật dụng cần thiết cho anh Biên. Nếu không mua, lại lòi ra cái tội nói láo với má em.
Bên trong chợ tuy có mát hơn chút xíu, nhưng lại đông người quá khiến cho không khí trong chợ oi nồng, chẳng thoải mái gì hơn, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, thoát được cái nắng cháy da, lại gặp phải bầu không khí ngột ngạt khó thở.
Dung mua bàn chải và kem đánh răng, xà bông, khăn mặt rồi dao cạo râu lĩnh kĩnh đủ mọi thứ, thứ nào cũng hàng chục.
Tôi hỏi Dung:
-Em mua làm gì mà nhiều vậy?
-Anh Biên, anh Long và anh, em mua cho cả ba người.
-Chừng này cho cả chục người dùng chứ đâu phải ba người.
-Một lần đi là một lần khó, anh làm ơn giúp em đi.
Tôi yên lặng đi theo Dung, nàng mua bao nhiêu tôi ôm bấy nhiêu. Tôi tự hỏi không biết mấy ông chồng đi chợ với vợ như thế nào, im lặng mà ôm đồ hay vừa đi vừa càm ràm? Với tôi hạnh phúc là được đi theo chân Dung. Đi đâu, tôi cũng bắt gặp những cặp mắt đầy thiện cảm nhìn theo chúng tôi.
Một bà bán hàng nói đùa với Dung:

-Này cô, cậu ấy đi phép được có mỗi một ngày, cô cho cậu ấy nghỉ ngơi một tí chứ ai lại bắt người ta đi theo ôm đồ như thế bao giờ.
Một bà khác tiếp lời:
-Đợi mai mốt lấy nhau rồi, lúc ấy tha hồ mà sai bảo.
Tôi sung sướng đến đỏ mặt, nhìn qua Dung mặt nàng cũng đỏ như tôi. Dung đưa tay ôm bớt một gói đồ cho tôi.
-Để em giúp anh, nếu không sẽ còn bị la dài dài.
Tôi thầm cảm ơn mấy bà bán hàng, đã nói giùm tôi những gì tôi muốn nói, “Mai mốt lấy nhau” câu nói nghe sao mà êm ái quá chừng, cứ như chuyện thần tiên. Tôi bước đi bên cạnh Dung mà hồn như đang ở đâu tận chốn thiên thai, cho đến khi nghe Dung nói:
-Đủ rồi đó anh.
Lúc bấy giờ tôi mới tỉnh mộng, tôi hỏi lại nàng:
-Em nói gì?
-Em mua hàng xong rồi, mình có thể đi.
-Anh đói bụng, mình đi ăn được không?
-Anh đói bụng?
-Phải.
Hai đứa ra khỏi chợ, thả bộ đến nước mía Viễn Đông. Nắng vẫn còn gay gắt, tôi nhìn lên tấm bảng to choán hết cả mấy căn phòng ở tầng thứ ba của tòa nhà, rồi nói với Dung:
-Dân Sài Gòn dễ tính thiệt.
Dung nói với tôi:
-Tại sao anh nói như vậy?
Tôi chỉ cho Dung tấm bảng hiệu trên tầng ba, rồi nói:
-Em nhìn coi, chữ Viễn Đông mà viết với dấu hỏi. Nó chẳng có nghĩa gì hết, phải là dấu ngã mới đúng.
Dung trả lời tôi, câu trả lời đúng là của người Sài Gòn dễ tính.
-Anh lo làm gi cho mệt thân, dấu hỏi hay dấu ngã người Sài Gòn đều đọc là “Dziển Đông”.

Chúng tôi ngồi xuống cạnh xe bò bía. Ông Tàu già đưa cho tôi một dĩa gồm có bốn cuốn bò bía. Dung ngồi nhìn tôi ăn, nàng lấy tương đen trộn với tương đỏ trong một cái dĩa nhỏ, thêm chút ớt sa tế đưa cho tôi. Dưới cái nóng của Sài Gòn thêm vị cay của ớt, mồ hôi trên trán tôi chảy thành dòng. Tôi ăn liền một hơi sạch hết mấy cuốn bò bía. Khi cái bụng đã lung lửng, tôi nhích sang gánh bò viên bên cạnh, kêu thêm một chén bò viên rồi mới cùng Dung thong thả thưởng thức ly nước mía Viễn Đông. Nước mía ở đây ngon khỏi chê, sạch sẽ nổi tiếng ở Sài Gòn nhưng Dung chỉ uống nửa ly rồi đẩy ly nước về phía tôi, nàng nói:
-Anh uống hết giùm em, được không?
-Được chứ, anh còn đói mà, lúc nãy ở nhà em, anh đâu có ăn uống gì.
-Tại sao vậy?
-Em còn hỏi, sợ ba má em quá sức, bụng dạ đâu mà ăn.
Gần bốn giờ chiều chúng tôi về đến nhà, ba má Biên có vẻ bằng lòng khi thấy hai đứa về sớm. Má Biên kêu tôi lại, bà nói:
-Bác có chút việc nhờ con.
-Dạ, con nghe.
-Con đem vô cho thằng Biên hai ngàn, để nó có tiền tiêu vặt trong tuần.
Tôi nghĩ thầm, hai ngàn mà tiêu vặt trong một tuần, một ly sương sâm tụi tôi uống khi đi học ngoài bãi chỉ mười đồng bạc, uống mấy năm mới hết hai ngàn. Nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn đưa tay lấy tiền cất vô túi.
-Bác cần gì nữa không?
-Không, mà con ở lại ăn cơm chiều rồi mới vô trường chớ?
-Dạ không, con phải vô trường liền, đợi ăn cơm chiều xong sẽ trễ chuyến xe của trường. Hơn nữa, tụi con đã đi dạo và ăn ở khu nước mía Viễn Đông rồi.
Dung nhìn tôi, đôi mắt của nàng như ngầm bảo đừng có nói nữa. Lát sau, khi chỉ còn tôi và Dung, hai đứa đang sắp xếp đồ đạc để tôi mang vô trường. Dung nói:
-Anh sao mà khờ quá, nào ai có khảo mà mình lại khai. Má em hỏi một đường anh lại trả lời một nẻo, khác nào lạy ông tôi ở bụi này. Má em chỉ nghĩ rằng tụi mình đi chợ mua đồ cho anh Biên, bà đâu biết chuyện mình đi dạo phố rồi uống nước mía Viễn Đông, anh khai ra làm gì.
Tôi ngượng nghịu trả lời:
-Anh đâu có biết, lần sau đi chơi với em, anh sẽ giấu không nói cho ai hết.
Dung cười với tôi, nụ cười tươi như hoa mới nở.
-Anh có biết là anh khờ…, không phải, hiền lắm không?
Tôi sung sướng ra mặt khi được Dung khen.
Ba của Biên ôm tới một bị cam Sunkist, ông hỏi Dung:
-Có chuyện gì vui mà con cười vậy?
Quay sang tôi, ông nói:
-Con đem bịch cam này vô trường, mấy anh em chia nhau mà ăn.
Tôi nhìn ba bốn cái bịch giấy rồi ao ước, giá mình có cái ba lô tọng hết vào là ổn. Má Biên đến bên tôi, bà nói:
-Bác đã nghĩ rồi, con cầm thêm cho Biên một ngàn nữa, bác sợ hai ngàn không đủ cho nó tiêu xài trong tuần.

Tôi lại bỏ túi thêm ngàn nữa.
-Bác cho Biên nhiều quá, trong trường có gì đâu mà tiêu với xài, hơn nữa tuần tới là đến lượt anh ấy về phép rồi.
Tôi ôm bốn cái bịch giấy to, chào ba má Biên để về trường. Dung đưa tôi ra cổng, nàng nói nhỏ với tôi:
-Anh còn nhớ tuần trước, trước khi vô trường anh nói gì với em không?
Tôi giật mình lật đật lên tiếng:
-Nhớ, nhớ chớ, làm sao anh quên được.
Dù có khờ đến đâu, tôi cũng biết Dung muốn tôi lập lại câu nói “vô trường rồi anh nhớ em chết được”. Tôi liếc nhìn ba má Dung rồi lấy hết can đảm, liều mạng nói nhỏ vào tai Dung:
-Anh yêu em.
Tôi bắt gặp đôi mắt tròn xoe, kinh ngạc, đôi môi tươi tắn của nàng mấp máy như muốn nói gì đó. Tôi không cần biết Dung muốn nói gì. Riêng tôi, tôi đã nói được câu mà tôi muốn nói.
Dư vị của ngày phép vẫn còn kéo dài cho đến hôm sau, khiến cho ngày thứ Hai như dài lê thê, lưng mang ba lô, tay ôm cây súng Garant nặng như cái búa tạ, vai đeo một dây đạn thêm cái bi đông nước, tôi đi tới bãi chiến thuật mà như là đi xuống địa ngục. Bữa cơm trưa tại bãi do xe GMC chở tới, một gà mèn cơm, chút canh cải, miếng thịt heo kho trứng. Con nhà nghèo như tôi, từ nhỏ tới lớn tôi chưa bao giờ biết chuyện kén cá chọn canh là gì, kén cá chọn canh theo đúng y bon cái nghĩa đen của nó chứ không phải là chuyện chọn vợ kén chồng. Hôm nay, tôi nhìn bữa cơm mà ngán ngẫm. Nước canh cải sao ngọt bằng chén nước súp của bò viên, thịt heo kho trứng sao bì được mấy cuốn bò bía, và nhất là nước thịt kho không thể nào sánh với dĩa tương đen với chút ớt sa tế do Dung làm cho tôi ở nước mía Viễn Đông. Tôi ăn cơm ở bãi mà cứ tưởng như là đang nhai mớ giẻ rách. Tôi bỏ dở bữa ăn mặc dù hãy còn đói, mở nắp bi đông tu một hơi, một dòng nước âm âm nặng mùi hôi của bình đựng nước làm bằng nhựa chảy qua cổ, khiến tôi lại nhớ đến nửa ly nước mía Viễn Đông mà Dung đẩy qua cho tôi. Tôi lờ mờ nhận ra rằng, tôi thiếu Dung chứ không phải thiếu thức ăn hay nước uống. Mới xa nhau có một ngày, mà tôi đã nhớ Dung da diếc đến như vậy, còn bao nhiêu ngày sắp tới liệu tôi có chịu đựng được hay không?
Nhìn đồng hồ, tôi biết hãy còn lâu mới đến giờ học. Tôi lật nắp ba lô lên, lấy cây viết nguyên tử viết tên Dung lên trên ấy, đồ đi đồ lại nhiều lần, cho đến khi tên Dung nổi bật lên tôi mới ngưng tay. Nhìn tới nhìn lui, sau một hồi suy nghĩ, tôi viết thêm hàng chữ nho nhỏ bên dưới: Anh yêu em.
Một tuần lễ trôi qua trong đơn điệu và buồn chán, tôi nhẩm tính từng ngày. Còn bao nhiêu ngày nữa mới đến ngày tôi được đi phép? Tính toán rồi thở dài ngao ngán, tuần này đến phiên Biên và Long đi phép, tuần tới mới đến phiên tôi.
Hai tuần chờ đợi qua mau, đến ngày tôi được đi phép lại có lệnh cấm trại một trăm phần trăm. Ba, bốn tuần liên tiếp chúng tôi bị nhốt trong trường, thằng nào thằng nấy nhớ Sài Gòn quay quắt. Khi được đi phép trở lại, Biên và Long được đi phép trước, tôi phải đợi tới tuần sau. Cuối cùng ngày tôi đi phép cũng đến. Tôi không biết Biên và Long công tử dẫn Dung đi chơi ở đâu trong ngày phép vừa qua, Long đã nói với Dung những gì, nhưng đến lần tôi đi phép Long lên Khu sinh hoạt mua một cuốn album đắt giá, gáy mạ vàng với vài món đồ nữa. Nó nói:
-Mày đưa gói quà này cho Dung, nói là của tao gửi mừng sinh nhật. Nhớ nói với Dung phải mở quà ngay lập tức, tao hy vọng mày và Dung sẽ có một ngày vui.

Tôi nhìn nụ cười bí hiểm trên môi của Long công tử mà giận hắn quá chừng.
Khác với mọi lần, hôm nay khi vừa bấm chuông, tôi đã thấy Dung đích thân ra mở cổng. Chưa bao giờ tôi thấy Dung có một nụ cười hớn hở xinh tươi như ngày hôm ấy. Dung nói với tôi:
-Em biết rõ, hôm nay là ngày anh đi phép nên em chờ anh từ sáng đến giờ.
Nhìn vào hộp quà tôi đang cầm trên tay, Dung lăng xăng hỏi:
-Quà sinh nhật của em phải không?
Tôi không nói gì, im lặng đi theo Dung vào nhà, đến phòng khách tôi trao cho Dung gói quà rồi nói:
-Quà của anh Long gởi cho em, hắn dặn em phải mở ngay lập tức.
Dung xé giấy gói quà, mở nắp hộp lấy ra cuốn album, nhìn vào trong hộp rồi ngẩng nhìn tôi với đôi mắt đầy giận dữ, không bao giờ tôi quên được cái nhìn ngày hôm ấy của Dung. Dung vùng vằng ôm gói quà đi lên lầu, vừa đi nàng vừa nói:
-Anh đi về trường đi.
Tôi đứng im như một pho tượng, không biết có gì trong hộp quà mà Dung lại giận tôi. Thời gian chầm chậm trôi qua, tôi đi tới đi lui trong căn phòng, năm phút rồi mười phút Dung vẫn ở trên lầu. Một mình trong phòng khách, không biết làm gì tôi mở cửa đi ra ngoài sân, rồi vì tự ái của một thằng con trai khi bị một cô gái coi thường khiến tôi đi lần ra cổng. Tôi mở hé cánh cổng, lách mình ra ngoài, đi mà không biết đi đâu cho đến khi một chiếc taxi rề tới bên cạnh.
-Chuẩn úy về đâu?
Đang giận trong lòng, tôi nói với giọng hằn học.
-Tôi là sinh viên sĩ quan, chưa có ra trường.
-Chuẩn úy hay sinh viên cũng như nhau thôi.
Tôi nổi giận thật sự, gằn giọng:
-Như nhau sao được.
Khi nói xong tôi mới giật mình nhớ lại, tuần tới mình ra trường rồi còn gì, chỉ còn vài ngày nữa mình sẽ mang lon chuẩn úy. Tôi nhẹ giọng với anh tài xế:
-Cho tôi xuống Sài Gòn.
Tôi đi lang thang từ tòa nhà Quốc Hội đến chợ Bến Thành, vòng qua nhà hàng Thanh Bạch, nắng mỗi lúc một gắt hơn, mồ hôi thấm ướt chiếc áo may ô, không chừng thấm luôn ra bộ đồ tiểu lễ. Tôi nhìn đồng hồ, giờ này ở trường chắc Biên và Long công tử đang trên đường đến nhà ăn, bao tử của tôi cũng bắt đầu lên tiếng. Tôi mua một ổ bánh mì thịt, xeo xéo trước mặt tôi là rạp ciné Vĩnh Lợi, còn chần chờ gì nữa. Tôi chui vào rạp, vừa coi ciné vừa gặm ổ bánh mì mà không biết tại sao Dung lại giận tôi. Tôi đoán chừng, có thể tại tôi không mua quà cho Dung.
Trong cái nóng chảy mỡ, ngột ngạt, đầy hơi người của rạp ciné không có máy lạnh, tôi ngủ một giấc ngủ đầy mộng ảo, có lúc thấy mình là công nhân của lò gạch đang chất củi đốt lò, ngọn lửa trong lò hừng hực cháy tỏa ra một sức nóng kinh hồn khiến tôi như muốn ngợp thở. Lại có lúc thấy minh là công nhân xe lửa, đang xúc than đá đổ vào lò đốt của đầu máy, hơi nóng của than trong lò làm phỏng da, cháy thịt, trong khi đó Dung lạnh lùng quay lưng đi về cuối đường ray xe lửa mỗi lúc một xa, xa mãi, cho đến khi chỉ còn là một cái bóng mờ ở cuối chân trời.

Những Tờ Bạc

hopluu.net
Khánh Trường
9 Tháng Năm 2018

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Chung quanh chiếu bạc, ngoài năm người đang thực sự sát phạt còn có thêm ba người nữa, hai vợ chồng chủ nhà và tôi.
Căn phòng chật mù mịt khói thuốc, có lúc khá ồn, có lúc yên lặng đến nghe rõ hơi thở của nhau.
Canh bạc kéo dài từ một giờ chiều đến bây giờ.
Bây giờ, đồng hồ trên tường chỉ bảy giờ tối.
Bình thường, tôi cũng giữ một chân, nhưng hôm nay tôi đến trễ. Từ ngày công ty mở thêm nhiều chi nhánh, tôi rất bề bộn, vẫn phải làm thêm ngoài giờ, kể cả ngày thứ bảy như hôm nay. Tuy không giàu có như những nhân vật đang ngồi đây, nhưng với chỉ số lương sáu mươi bốn ngàn một năm, chưa kể tiền lời được chia căn cứ theo số cổ phần đầu tư, tôi đương nhiên đứng vào hàng trung lưu có khả năng hội nhập bất cứ cuộc chơi tốn kém nào.
Sáng nay gia chủ gọi cho tôi, giới thiệu sơ qua thành phần tham dự.
Ông Thành, giám đốc hệ thống cung ứng thực phẩm Á châu. Huy, luật sư, du học và tốt nghiệp tại Mỹ vào những năm đầu của thập niên bảy mươi. Hà, vua không ngai trong ngành địa ốc. Phan, chủ chợ. Hổ, cựu chính trị gia, nghề nghiệp không rõ nhưng tiền của thuộc hàng triệu phú.
Dù rất nôn nóng muốn được họp mặt với những nhân vật nổi tiếng này, tôi vẫn không thể không giải quyết một số những công việc cần kíp. Mãi hơn sáu giờ mới tạm xong, tôi gọi phone về nhà dặn cậu em có thể tôi sẽ ngủ lại sở, đừng chờ cửa, rồi vội vã ra xe đến đây, sau khi ghé quán ăn vội bữa cơm tối.
Tôi bước vào phòng khách giữa lúc một ván bài đang ở giai đoạn gay cấn.
Mọi người có vẻ say máu, chẳng ai thèm để ý đến tôi ngoài chủ nhà. Ông ta mang cho tôi một chai bia, hỏi có cần gì thêm nữa không? Tôi lắc đầu nói cảm ơn và ngồi xuống sau lưng Hà, vừa theo dõi cuộc sát phạt vừa nghĩ, với khả năng tài chánh của những con bạc đang hiện diện, không hy vọng sẽ có người cạn láng bỏ cuộc. Đành chầu rìa ăn có đỡ ghiền vậy. Tôi chơi phé không hay, không chuyên nghiệp, nhưng lại rất mê. Có lẽ một phần do số tôi bao giờ cũng đỏ, trong mười lần, ít nhất cũng bảy tám lần được hoặc thủ huề, họa hoằn lắm mới thua.
Tôi đưa mắt nhìn quanh một vòng thử lượng đoán tình hình sắp đến, nhưng chưa kịp có kết luận thì ông Thành đã đẩy ra chiếu một xấp bạc.
Huy và Phan xoay bài, bỏ.
Hà hất hàm hỏi ông Thành,
“Bao nhiêu?”
“Năm tờ.” Ông Thành trả lời.
Hổ nhìn Hà,
“Theo không?”
“Còn ông?”
“Theo chứ. Đã biết mèo nào cắn mỉu nào!”
Hổ vừa trả lời vừa đặt tiền vào tụ.
Hà một tay chống cằm, một tay xóc xóc cọc tiền của mình, suy nghĩ. Mỗi người đã có bốn con bài. Ông Thanh đôi cẩu, một già. Hổ đôi xì, một bạt. Hà đưa tôi xem con bài tẩy của hắn, đôi đầm kít, đôi mười, cả ba tụ bài đều ngang ngửa. Ông Thành có lẽ ba cẩu, nếu ông ta bắt được cây già sẽ thành cù lũ cẩu, nhưng cây già đã nổi trên chiếu, mò thêm một con khó hơn mò kim đáy bể, tứ quý càng vô phương vì cây cẩu cũng đã nổi. Như vậy nếu Hổ bắt được cây xì thì khả năng cù lũ xì sẽ rất có thể, con bạt chưa thấy xuất hiện, nhiều phần nó đang là con bài tẩy của Hổ. Hà liếc mắt kiểm soát hai tụ bài bỏ. Chưa có cây đầm nào lộ mặt. Cây đầm rất sáng. Nhìn mặt bài, tụ của Hổ và ông Thành chiếm ưu thế hơn. Nhưng bài bạc mà, biết đâu chừng. Có điều bỏ ra gần năm trăm để mua một con bài kể có nặng. Hà suy nghĩ khá lâu. Tôi ngồi phía sau hắn hồi hộp theo dõi, rất muốn thúc hắn tham dự ván bài.
Ông Thành châm một điếu thuốc, rung đùi,
“Theo chứ?”
“Từ từ.” Hà trầm giọng.
Ba phút trôi qua, cuối cùng hắn quyết định theo. Ông Thành cười lớn,
“Chà, gay cấn đây.”
Và đưa tay rút một con, dấu kín dưới lá đót chưa coi vội. Hổ rút con kế tiếp, hắn nặn rất chậm. Bỗng chửi thề vất con bài ra chiếu.
Cây bồi. Hà thở phào nhẹ nhõm. Như vậy bài của Hổ đã bể. Thêm một địch thủ bị loại khỏi vòng chiến. Chỉ còn hai người. Hà rút. Tôi ghé mắt coi ké. Tôi cũng thở phào. Hà chậm rãi đặt con bài lên tụ của mình. Con mười, cả làng xôn xao. Hà hất hàm vẻ đắc thắng về phía ông Thành,
“Ba xập đủ ăn ba cẩu rồi chứ?”
Ông Thành không trả lời, bình tĩnh kéo một hơi thuốc, từ tốn nặn và đặt con già xuống chiếu, sắc mặt không thay đổi.
Hà ngồi im cố dấu sự khoái trá. Ván này nhất định ông Thành sẽ cạn láng, tôi nghĩ. Không ai có thể ngờ Hà đang có đôi đầm kít. Bài kín như bưng. Ông Thành mua được con bài mình muốn. Thế mới chết! Làm sao ông ta hiểu được đã vừa mua thêm tai họa. Hà làm ra vẻ bất an,
“Cù lũ bạt thật sao cha?”
Ông Thành nhìn vào mắt Hà, từ tốn,
“Đánh đi.”
Hà cầm cọc tiền lên định ném hết vào láng. Nghĩ sao bỏ xuống, chỉ tố thêm hai nghìn,
“Thật thì nhào vô.”
Tôi biết Hà muốn tẩy xạc nhưng sợ lộ liễu quá ông Thành đoán ra sẽ bỏ nên cố tình nương nhẹ để câu địch thủ. Hắn tính hợp ý tôi, tố vừa phải ông Thành tiếc ván bài, cay cú thế nào cũng theo, nếu mạnh tay hơn gặp người đánh cao hoặc nhát đòn có khi lại hỏng ăn.
“Thật hay không chưa biết, nhưng ba xập đánh thế thì văn nghệ quá. Mà đây lại đếch thích văn nghệ, mới phiền!” Ông Thành vừa cười vừa đẩy hết đống tiền còn lại của mình ra chiếu, tiếp,
“Láng tẩy.”
Hà ngước mắt nhìn địch thủ. Vẻ rạng rỡ trên khuôn mặt hắn bây giờ không thể che dấu. Tôi thấy hai bàn tay đặt trên đùi Hà run run. Thần kinh tôi cũng căng thẳng không kém. Ông Thành thua ván này đậm quá. Đánh phé như thế, yếu xìu, yếu hơn cả tôi là cái chắc. Từ lúc ông ta khởi tố năm trăm đồng, ai cũng nghĩ bài của ông ta đã lộ, nếu không có ba bạt, chẳng ai ngu dại bỏ ra những năm tờ để mua một con bài hú họa, con bài duy nhất còn lại trong tụ. Hà lại chống cằm đóng kịch suy nghĩ. Tôi nói nhỏ vào tai hắn,
“Cho tôi theo năm bớp.”
Hà không nhìn tôi,
“Bỏ năm tờ vào đi.”
Tôi móc ví. Hà vớ cọc tiền mới ông Thành vừa vất ra, đếm. Tất cả năm nghìn tư ba chục. Trừ hai nghìn đánh trước, cộng năm trăm của tôi, Hà phải thêm vào hai nghìn chín trăm ba chục nữa. Hắn gãy gọn,
“Bắt.”
Chủ nhà ngồi sau lưng Huy vói tay tới trước gom đống tiền sắp lại vuông vức, đồng thời lấy hai tờ trăm bỏ vào cái giỏ mây đặt bên cạnh. Chẳng hiểu điều gì vừa nẩy ra bên trong chiếc trán hói kia, khiến ông ta chậc lưỡi,
“Chừng này gởi về Việt nam dám xây được một cáí bệnh xá chứ chẳng chơi.”
Câu nói đùa không được hưởng ứng, nó chìm lỉm vào không khí căng thẳng đang vây bọc quanh những con bạc. Hà ngồi thẳng lưng,
“Xong chưa?”
“Xong.” Chủ nhà trả lời.
Hà chồm người qua đống tiền, dùng lá đót kéo con bài tẩy của ông Thành về phía mình, đưa lên cao, nặn.
Cả làng nín thở theo dõi từng động tác của Hà. Sắc mặt hắn chợt đổi, hai bàn tay run nhiều hơn, hắn vọt miệng chửi tục,
“Đụ mẹ, bài phản!”
Và vất con bài ra chiếu. Con bài nằm ngửa bụng tênh hênh như chọc vào mắt mọi người. Con già. Cù lũ già!
Tôi nhủ thầm, đi đứt năm bò!
Không, ông Thành không yếu như tôi tưởng. Nhìn nét mặt lạnh tanh của ông ta, tôi tiếp tục tự cảnh giác, lần sau, gặp tay này liệu mà giữ thân, chết như chơi!
Hà đứng dậy,
“Hôm nay xui quá.”
Và quay qua tôi,
“Ông thế tôi một lát, phải nghỉ xả xui mới được, liên tiếp bốn ván bị phản phé, đánh đấm quái gì được nữa.”
Hà đến sofa ngả người nằm đốt thuốc hút. Tôi ngồi vào chỗ của hắn, lấy tiền ra đậu láng.
Cuộc chơi tiếp tục.
Tôi thua dài dài cả chục ván, hai lần phải ký check đổi tiền mặt của chủ nhà, nhưng tới nửa đêm thì vận đỏ xoay về phía tôi. Đến sáng, tan cuộc chẳng những tôi gỡ được vốn, còn lời thêm nghìn tư. Ông Thành thắng lớn. Hổ thua đậm nhất, đi đứt hơn chục nghìn, Phan thủ huề, Huy có lẽ kiếm được chút đỉnh. Hà từ khi nhường chỗ cho tôi nằm lầu bầu văng tục một lúc rồi ngủ thẳng cẳng đến sáng, hắn cũng thua gần sáu thiên. Dĩ nhiên không thể quên hai người chẳng bao giờ thua: vợ chồng gia chủ, khiêm nhường lắm cũng vồ được hai nghìn tiền xâu.
Ông Thành rủ cả bọn đi ăn sáng. Tôi cảm thấy buồn ngủ muốn về ngay. Đi với đám này lại dông dài không chừng mất cả buổi sáng. Trên đường về tôi ghé một quán phở ăn qua quít dằn bụng. Cơn buồn ngủ làm hai mí mắt nặng trĩu. Tôi tự nhủ lát nữa sẽ ngủ thẳng một giấc đến chiều. Hôm nay chủ nhật, tối nay có cái hẹn với Hạnh. Phải dưỡng sức để còn rong chơi nhảy nhót và quần nhau suốt đêm chứ.
Tôi sống khá bừa bãi. Gần bốn mươi tuổi, độc thân, bố mẹ đã qua đời, chỉ phải lo cho một đứa em trai duy nhất, tiền bạc dư giả, tiêu pha hào phóng, vì vậy tôi có khá đông bạn bè và tình nhân. Trong rất nhiều những tình nhân này từng có đôi người tôi yêu thực sự, vài lần định tiến xa, nhưng hình như tôi cao số, rốt cuộc chẳng đi đến đâu, vả, có lẽ tiền bạc đã làm tôi hư hỏng. Tôi, dưới mắt của một số đàn bà con gái, là con mồi béo bở, họ đến với tôi do mãnh lực của đồng tiền nhiều hơn sự rung động chân thật của trái tim. Trong tình yêu, nếu trái tim không chịu tham dự, sẽ chỉ là đổi chác thuần tính vật dục, lâu dần trở thành một thói quen, nó giết chết sự thơ mộng vốn là nhân tố cần thiết giữa tương quan nam nữ. Tôi, trong tôi, sự thơ mộng kia đã bị khai tử từ lâu!
Tôi quen Hạnh đã ba tháng nay. Hạnh lẳng lơ và táo bạo. Một mẫu đàn bà có ít chất xám trong đầu nhưng lại rất thừa chất nhờn ở phần hạ thể. Yêu Hạnh, dĩ nhiên không, càng không thể nghĩ chuyện ăn đời ở kiếp. Hạnh cũng chẳng quan tâm đến điều đó, đối với nàng, sống là phóng về phía trước, băng băng như một mũi tên, vượt qua những ràng buộc đạo đức, những tai tiếng hệ lụy. Hạnh lý luận rẻ tiền,
“Một người đàn bà qua năm bảy mối tình sẽ đương nhiên bị xếp vào loại lẳng lơ mất nết, trong khi đàn ông càng từng trải trong tình trường bao nhiêu càng được xem như những người lịch duyệt! Điều đó bất công chứ? Em không có ý nổi loạn để phá vỡ cái trật tự kỳ cục kia, nhưng cũng bực mình. Cuối cùng em nhận thấy cách tốt nhất cứ sống như mình thích, mặc kệ thiên hạ muốn nghĩ gì thì nghĩ.”
Tôi lên mặt triết lý ba xu,
“Cái gì cũng có giá của nó. Em sẽ phảỉ trả một giá đắt cho quan niệm cứ sống như mình thích của em.”
“Em đang trả đây thôi. Anh hẳn đã nghe những tai tiếng về em rồi mà. Ngay cả anh nữa, sức mấy anh dám lấy em làm vợ, phải không.”
Phải, sức mấy tôi dám lấy nàng làm vợ. Hạnh biết vậy nên chẳng bao giờ du tôi vào thế kẹt. Tôi nghĩ – với một chút trắc ẩn – đó là sự khôn ngoan duy nhất của nàng.
Tôi lái xe vào lối đi tráng xi măng. Đứa em trai đang đứng trên bậc thềm cùng cô bạn gái. Thiếu nữ khẽ nghiêng đầu chào, tôi mỉm cười đáp lễ rồi quay qua cậu em,
“Có ai gọi anh không?”
“Có, chị Hạnh.”
“Bao giờ?”
“Tối qua.”
“Em trả lời thế nào?”
“Như anh dặn.”
“Tốt. Hình như các em sắp đi đâu?”
“Dạ, đến thư viện.”
“Anh cần ngủ, sẽ tắt phone trong phòng. Nếu em về sớm, có ai gọi nói anh đi vắng, nhé.”
Đứa em trai gật đầu. Tôi vào bathroom rửa mặt, trở ra cởi quần áo leo lên giường. Căn phòng mát lạnh. Tôi kéo tấm chăn mỏng đắp kín ngang ngực, nhắm mắt. Tôi biết giấc ngủ sẽ đến ngay, vì hai mí mắt đã mọng cứng, cay xè.
Tôi thức dậy vào lúc bảy giờ chiều, cũng vừa lúc Hạnh gọi nhắc tôi về buổi du hí tối nay. Tôi nói sẽ đến đón nàng trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.
Tôi trầm mình trong bồn tắm. Một giấc ngủ dài không mộng mị, hơi ấm của nhiệt độ nước được pha vừa phải, mùi xà phòng quyện trong không khí khiến đầu óc tôi tỉnh táo hơn. Nghĩ đến cuộc hẹn với Hạnh, tôi cảm thấy vui vui.
Tắm xong tôi trở lại phòng ngủ bật TV xem một lát rồi thay quần áo đến đón nàng.
Chiếc xe chưa vào đến parking Hạnh đã từ nhà đi ra. Tôi mở cửa. Hạnh nhanh nhẹn bước lên. Trong bóng tối chập choạng, tôi nhìn thấy đôi môi Hạnh bóng nhẫy và mùi nước hoa từ thân thể nàng toát ra thoang thoảng quyến rũ. Tôi nói,
“Cho anh hôn.”
Nàng nghiêng người ngước mặt về phía tôi. Chúng tôi hôn nhau. Khi rời ra Hạnh nhìn tôi cười,
“Son dính tùm lum kìa.”
Và vói tay rút tờ “nápkin” lau cho tôi.
“Đi ăn chứ?” Tôi hỏi Hạnh.
Nàng gật đầu,
“Anh đói lắm phải không? Mình xuống đường Beach ăn cơm Thái lan. Cay lùng bùng hai lỗ tai nhưng ngon tuyệt.”
Tôi đưa Hạnh đến nơi nàng chỉ. Đó là một restaurant thuộc loại nhỏ, bên trong bày biện có vẻ xập xệ. Một tấm hình chụp được phóng lớn treo trên bức tường ngang, hai ba cô gái Thái với quốc phục màu sắc lòe loẹt, đầu đội những chiếc mũ nhọn, đang uốn éo tay chân trong một vũ điệu dân tộc đặc thù của xứ chùa tháp. Tấm hình này tôi vẫn thường thấy ở phòng bán vé các công ty du lịch, quen mắt đến chẳng gây nổi ấn tượng. Quán đông, đa số là người Thái, họ nói chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ líu lo tôi hoàn toàn không hiểu. Thâm tâm tôi có hơi thất vọng nghĩ cứ “về tắm ao ta” coi bộ thoải mái hơn. Mãi đến lúc dùng xong bữa tôi mới công nhận Hạnh nói đúng, thức ăn Thái lan quả có cay và ngon thật.
Từ quán ăn ra đã mười giờ, tôi chạy luôn đến vũ trường. Ở đó tôi gặp một số bạn bè quen, chúng tôi uống rượu và nhảy. Nửa đêm vãn cuộc, tôi ngà ngà say. Sau khi chia tay với đám bạn, Hạnh nói,
“Đưa chìa khóa đây em lái.”
Đã một lần bị rắc rối về việc say rượu lái xe, nên khi nghe Hạnh đề nghị tôi bằng lòng ngay. Tôi đưa chìa khóa cho nàng. Chiếc xe bò ra khỏi parking. Hai chiếc quạt nước xua tan lớp sương đọng mù khung kính. Dù cửa đã đóng kín nhưng tôi vẫn rùng mình ớn lạnh. Tôi nói Hạnh mở máy sưởi và lục túi tìm thuốc hút. Chiếc bao giấy xẹp lép không còn điếu nào.
“Ghé đâu đó anh mua bao thuốc.”
Hạnh cho xe rẽ vào cây xăng chỗ ngã tư. Tôi vỗ vỗ bàn tay lên đùi nàng,
“Đừng tắt máy anh ra ngay.”
Chờ người đàn ông đứng phía trước trả tiền xong rời chỗ, tôi bước tới vói tay lấy hai gói Marlboro Light thẩy lên mặt quầy, kèm theo tờ dollar năm đồng. Gã thâu ngân người da đen nhanh nhẹn đưa cho tôi hai tờ giấy xanh. Gã cười lịch sự,
“Thank you sir.”
Tôi cầm hai tờ bạc, nhận ra ngay gã thâu ngân đã thối lộn. Gã tưởng tôi vừa đưa mười đồng nên thối lại những sáu đồng. Tôi nghĩ thầm, được hai bao thuốc không mất tiền lại lời thêm một dollar. Cảm giác thích thú trộn lẫn lo sợ dấy lên trong lòng, tôi vội vã bước nhanh ra cửa, hối hả bảo Hạnh rời chỗ đậu ngay. Thâm tâm, tôi ngại gã thâu ngân phát hiện ra sự lầm lẫn sẽ chạy theo đòi lại. Thấy tôi có vẻ nôn nóng, Hạnh hỏi,
“Bộ anh say lắm à?”
“Ừ, có lẽ anh sắp ói. Nhanh lên em.”
Hạnh tưởng thật, nhấn chân ga, chiếc xe chồm tới, phóng ra đường chạy băng băng trên mặt nhựa rộng. Đêm đã ngả về sáng, đường phố trở nên rộng thênh thang. Tôi ngả người vào chỗ tựa, nhắm mắt. Cảm giác lo sợ không còn, sự thích thú cũng rút đi. Tôi giật mình bàng hoàng. Vừa rồi, tôi đã hành xử như một tên ăn cắp hèn hạ! Ồ, có thể như vậy được chăng? Tại sao tôi lại làm thế? Vì say? Không. Tôi mở mắt quay qua nhìn Hạnh, định nói nàng vòng xe lui. Nhưng tôi thở dài chán nản. Chẳng giải quyết được gì hết. Cho dù tôi có trả lại cho gã thâu ngân số tiền thối dư thì câu chuyện vẫn nguyên trạng. Vấn đề không phải ở đó. Vấn đề là bởi động cơ tối tăm nào tôi cảm thấy khoái lạc một cách mọi rợ khi ăn gian được của gã sáu dollars? Hôm qua tôi đánh bạc, thắng, thua chỉ một ván bài đã có khi lên đến vài nghìn. Tối nay tôi cũng vừa rong chơi với Hạnh, riêng tiền “típ” tôi cho cô tiếp viên đã ngót ngét năm chục, kể gì đến bia rượu đổ như suối. Trên năm trăm đồng bay vèo qua cửa sổ không làm tôi động tâm mảy may. Với khả năng làm tiền của tôi, với cung cách tiêu pha hào phóng nổi tiếng từ trước đến nay, mấy đồng bạc nào có nghĩa gì đâu? Vậy mà tôi lại sung sướng vì nó, vậy mà tôi lấm la lấm lét, vội vội vàng vàng cút nhanh ra khỏi cây xăng với một cảm giác ngây ngất đầy thú tính cùng nỗi hãi sợ đốn mạt!
Tôi hình dung khuôn mặt của gã bán hàng có nụ cười trắng bóng hai hàm răng. Thank you sir. Cảm ơn ngài. Ngài! Khuôn mặt gã da đen lớn dần, nụ cười biến thành tiếng cười vang động. Hắn nhìn tôi, nheo nheo đôi mắt như mỉa mai giễu cợt. Ngài! Cảm ơn ngài! Cảm giác tủi hổ trào lên, tiếp tục tăng trưởng khiến ngực tôi tức nghẹn.
Bỗng nhiên tôi nhớ đến một kỷ niệm xảy ra trên hai mươi năm trước.
Năm đó tôi mười một tuổi, đứa em trai hiện đang sống với tôi chưa ra đời. Gia đình tôi thuộc thành phần giàu có nhất nhì trong tỉnh, tôi lại là con một nên được cưng chiều rất mực. Có thể nói ấu thơ tôi được bọc kín bằng nhung lụa. Lên tám, tôi đã biết tiêu tiền và tiêu rất bạo. Khi thích một đồ vật gì tôi mua ngay, không đủ tiền cũng cố vòi vĩnh cho bằng được mới thôi. Mỗi sáng trước khi đến trường, dù đã ăn uống đầy đủ, trong túi tôi vẫn luôn luôn có thêm năm mươi đồng tiêu vặt. Nên nhớ vào những năm đầu của thập niên sáu mươi, với năm mươi đồng, một gia đình nghèo có thể sống no đủ vài ba ngày. Nói rõ như thế để thấy rằng thuở đó tôi “phong lưu” biết bao nhiêu, và lơ mơ về giá trị của đồng tiền cũng biết bao nhiêu.
Nhà tôi tọa lạc ngay phố chính của tỉnh lỵ. Đó là một khối building bốn tầng. Ba tầng trên để ở, tầng trệt là Trung Tâm Nhập Cảng Dụng Cụ Nông Cơ do bố tôi làm chủ. Bên cạnh nhà có một khoảng đất trống, hai năm trước chị người làm của gia đình tôi đi lấy chồng, sau ngày cưới chị trở lại xin bố mẹ tôi cho mướn miếng đất để chồng chị che một mái tôn làm chỗ sửa xe gắn máy kiếm sống. Anh ta chỉ làm việc ban ngày, chiều về với gia đình. Bố mẹ tôi thấy miếng đất bỏ không chỉ tổ mất công làm cỏ nên vui vẻ bằng lòng. Dần dà, từ một chái tôn ọp ẹp, nhờ cần mẫn chăm chỉ, hai vợ chồng chị người làm mỗi ngày mỗi tu chỉnh và nới rộng thêm ra. Trong vòng hai năm, đã nghiễm nhiên biến thành cửa tiệm khang trang bề thế.
Một buổi sáng chủ nhật tôi lân la qua tiệm sửa xe xem ông chủ làm việc, đồng thời cũng có ý chờ gã bán kẹo kéo sắp đi ngang. Tôi đứng chỗ hai trụ cổng ximăng bên ngoài chứ không vào sâu phía trong, tôi sợ gã bán kẹo sẽ đi hút không nhìn kịp. Tôi đứng khoảng năm phút thì một thanh niên dẫn chiếc Honda vào tiệm.
“Nhờ chú coi dùm cái xe, đạp mãi không nổ.” Thanh niên nói.
Sau một hồi kiểm tra máy móc, ông chủ kết luận,
“Vít lửa mòn hết rồi, phải thay cái mới.”
“Bao nhiêu chú?”
“Hai chục.”
“Chú thay giùm đi.”
Xong việc, chàng thanh niên móc ví đưa cho ông chủ hai tờ mười đồng. Đang bận tay với một chiếc xe khác vừa mới mang vào, ông chủ nói,
“Anh để trên bàn hộ tôi.”
Chàng thanh niên làm theo, nói cảm ơn rồi lên xe phóng đi.
Ngay lúc đó một đứa bé, khoảng chín mười tuổi, dẫn người đàn bà mù bước vào tiệm. Đứa bé da xanh mướt lốm đốm vô số những mụn ghẻ nước, hai trũng mắt thâm quầng, mái tóc rối vàng hoe, chiếc quần đùi đang mặc rách tả tơi, lộ hẳn hai mông đít đen mốc ra ngoài. Người đàn bà cầm một đầu cây gậy tre, đầu kia trong tay thằng bé, bà ta bước chập choạng theo sau nó, đôi chân khẳng khiu không ngừng run lẩy bẩy bên trong hai ống quần đen vá chằng vá đụp, gấu đã rách te tưa. Đứa bé cầm chiếc bát sành sứt mẻ chìa về phía ông chủ,
“Chú làm ơn làm phước…”
Ông chủ quay ngang, nhăn mặt,
“Không có, đi đi.”
Đứa trẻ lùi lại chỗ chiếc bàn, tiếp tục nài nỉ.
Một cơn gió lớn bỗng cuốn ngang, hai tờ bạc rơi xuống đất một tờ bay đến tận chỗ tôi đứng. Nhanh như điện, tôi dẫm bàn chân lên tờ giấy bạc. Tôi đứng yên ra vẻ bình thản. Một lúc, biết chắc không ai để ý, tôi ngồi xuống lượm vội nhét vào túi.

Thằng bé ăn xin vẫn tiếp tục lải nhải. Ông chủ nổi nóng đứng dậy, định tỏ thái độ với thằng bé, chợt ông ta phát hiện hai tờ bạc không còn nằm trên bàn. Ông tìm quanh, cúi lượm một tờ, tờ còn lại chẳng thấy đâu. Lập tức ông xoáy tia nhìn vào thằng bé,
“Mầy mới lấy mười đồng phải không?”
Thằng bé dương mắt vẻ ngạc nhiên. Hắn chưa kịp hiểu, vì dù đứng chỗ góc bàn nhưng mặt quay về phía ông chủ, hắn chưa thấy hai tờ bạc. Ông chủ lặp lại, giọng gay gắt,
“Phải không?”
“Con… Con…”
“Khôn hồn trả đây ngay, tao gọi cảnh sát còng cổ bây giờ.”
“Con… Con… đâu có lấy…”
“Đồ lưu manh. Không mày thì còn ai vào đây, hả?
“Con không lấy thật mà…”
Ông chủ nổi nóng chồm tới, vươn tay túm cổ áo thằng bé nhấc lên. Nó co rúm người lại, khuôn mặt tái xanh càng thêm tái. Ồng ta gằn giọng,
“Có trả không, nói?”
“Con không lấy mà… Chú ơi, oan con…”
Nó bật khóc, nước mắt ràn rụa. Người đàn bà mù cất giọng hốt hoảng,
“Chuyện chi rứa…?”
“Mẹ ơi, ông này nói con ăn cắp tiền của ổng. Đâu có mẹ ơi…”
Ông chủ vẫn túm chặt cổ áo thằng bé, hai mắt ông trợn ngược, tay còn lại đưa lên trong tư thế sắp bạt tai. Nó vùng vẫy thoát ra được, lùi dài về phía sau. Ông chủ hét lớn,
“Mày chạy hả… Chạy hả…”
Và nhảy tới. Thằng bé sợ quá luồn nhanh qua gầm bàn, vụt ra cổng. Ông chủ vừa la bai bải tao đập bỏ mẹ mầy… đồ lưu manh… Tao đập bỏ mẹ mầy… Vừa đuổi theo.
Một chiếc xe nhà binh từ hướng ngã tư kềnh càng lao xuống. Chẳng hiểu thằng bé có nhìn thấy hay không, nó vẫn cuống cuồng phóng ngang lộ. Chiếc xe đảo qua đảo lại, kéo dài tiếng rít trên mặt nhựa buốt óc. Tôi hét lớn xe… Xe… Nhưng đã muộn! Cái đầu máy màu cứt ngựa mốc thếch chồm lên, thằng bé ngã bật ra, mất biến dưới gầm xe…
Gần ba mươi năm kể từ biến cố thảm khốc kia, tôi tự hứa sẽ không bao giờ nữa trong suốt cuộc đời còn lại, tái phạm hành vi ăn cắp, dù dưới bất cứ hình thức nào. Lời hứa đó tôi đã giữ được, cho đến hôm nay.
Hôm nay, động cơ và nguyên nhân tối tăm nào đã thúc đẩy tôi, thêm một lần, trở thành kẻ cắp đốn mạt? Tôi nhớ đến cảm giác vừa ngất ngây khoái lạc vừa lo sợ luống cuống lúc vội vàng rời trạm xăng. Bỗng nhiên tôi lợm giọng, muốn ói.
Chiếc xe đã vào đến lối đi tráng ximăng, Hạnh tắt máy mở cửa bước ra, vòng qua phía tôi,
“Xuống anh.”
Nàng đưa tay ra cho tôi nắm. Tôi cầm bàn tay của nàng, bàn tay nóng ấm mềm mại. Tôi nói,
“Cảm ơn em, anh đi được.”
Tôi bước lên mấy bậc cấp đầu thềm, Hạnh theo sau. Cảm giác lợm giọng tiếp tục gia tăng, bụng cồn cào quặn thắt, và không cách chi kềm hãm kịp, tôi nôn thốc tháo ngay dưới chân cánh cửa gỗ dẫn vào phòng khách. Thức ăn chưa tiêu hóa trộn lẫn với men rượu bốc lên oi nồng. Hạnh hốt hoảng,
“Ồ… Ồ… Anh say quá rồi…”
Tôi chống hai tay lên mặt cửa, thở dốc. Một lát, tôi nói với Hạnh,
“Yên trí, anh đâu có say.”
Quả vậy, tôi không say, tôi hoàn toàn tỉnh táo. Cơ thể tôi thừa khả năng để dung chứa một lượng rượu nhiều gấp bốn lần tối nay kia mà.
Nhìn bãi nôn lầy nhầy dưới chân, bãi nôn đang bốc lên cái mùi vị khăm khẳm chua lè, tim tôi nhói buốt. Tôi gục đầu vào tấm cửa gỗ. Hạnh nói,
“Khỏe chưa anh? Vào nhà em pha nước chanh anh uống dã rượu.”
Tôi không trả lời.
Trong đầu tôi bỗng vang dội tiếng thắng rít dài trên mặt nhựa và hình ảnh thằng bé ngã vật ra, mất biến dưới gầm xe, cùng với nụ cười sáng bóng đôi hàm răng của gã da đcn. Thank you, sir.
Tôi bật cười, nụ cười khiến nước mắt tôi trào ra ràn rụa.

KHÁNH TRƯỜNG

Tường cao, sông rộng, biển mênh mông!

hung-viet.org
21 Tháng Tám 2017
Huy Phương / VOA

Sau khi Thế chiến thứ II kết thúc vào năm 1945, nước Đức chia đôi. Đông Đức thuộc về Liên Xô dưới chế độ Cộng Sản (Cộng Hoà Dân Chủ Đức,) Tây Đức thuộc về các nước Mỹ, Anh và Pháp (Cộng Hoà Liên Bang Đức). Thành phố Bá Linh nằm trong vùng do Liên Xô kiểm soát cũng bị cắt đôi: Đông và Tây Bá Linh. Liên Xô tìm cách phong toả Tây Bá Linh trong một thời gian dài nhưng không thành công.
Năm 1949, khi Liên Xô quyết định ngưng phong toả Tây Bá Linh, gần ba triệu người đã chạy trốn khỏi Đông Đức, trong số đó có nhiều trí thức có chuyên môn như bác sĩ, giáo sư, kỹ sư.
Từ đó cho đến năm 1958, người dân Đông Đức vẫn vẫn tiếp tục ồ ạt ra đi. Tính đến tháng 6-1961, khoảng 19.000 người rời Cộng Hoà Dân Chủ Đức qua Tây Bá Linh. Tháng 7 sau đó, 30.000 người, và chỉ trong 11 ngày vào tháng 8, có tới 16.000 người Đông Đức vượt qua ranh giới để vào Tây Bá Linh. Đặc biệt là vào ngày 12/8, 2.400 người đã di tản khỏi Đông Đức, con số lớn nhất trong riêng một ngày, như một cơn thác lũ không có gì ngăn chận nỗi.
Ngay đêm đó, chính quyền Đông Đức quyết định ngăn dòng người di tản bằng cách đóng cửa biên giới vĩnh viễn. Chỉ trong hai tuần, quân đội, cảnh sát và các công nhân xây dựng của Đông Đức đã hoàn tất hàng rào thép gai và bức tường bê tông, ngăn đôi thành phố.

Bức tường Bá Linh.

Nhưng việc xây bức tường Berlin này có nhiều sơ hở, đã không ngăn được dòng người di tản từ Đông sang Tây, nên sau đó, năm 1961, chính quyền Đông Đức thay thế bức tường tạm bằng một bức tường kiên cố hơn, dựng bằng các tấm bê tông cốt thép cao 3,6 m, rộng 1,2 m chôn sâu dưới đất khiến việc trèo qua tường gần như không thực hiện được. Đông Đức gọi bức tường này là để ngăn chận Phát Xít xâm nhập (!) nhưng thực sự là để ngăn chận dân chúng Đông Đức chạy trốn chế độ Cộng Sản. Những khẩu súng máy, vọng gác và lính canh, đèn pha quét hàng đêm, chó dữ, với chỉ thị bắn bỏ những người có ý định trèo qua bức tường bỏ trốn.
Cho đến ngày bức tường Bá Linh sụp đổ ngày 12 tháng 11 năm 1989, trong lịch sử vượt thoát đã có 171 người thiệt mạng khi cố vượt qua bức tường, nhưng cũng đã có hơn 5.000 người Đông Đức (trong đó có cả 600 lính biên phòng Đông Đức,) đã vượt qua được bức tường bằng cách nhảy từ cửa sổ tòa nhà gần bức tường, trèo qua dây thép gai, bay bằng khinh khí cầu, bò qua cống và lái xe băng qua những phần bỏ ngỏ của bức tường.
Vào ngày 1/11/1989, kinh tế Đông Đức đang trên bờ vực sụp đổ và chính quyền không thể trả lãi cho những món nợ khổng lồ, các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn nổ ra ở Leipzig lan tới Bá Linh. Đông Đức cần được Liên Xô hỗ trợ về tài chính và quân sự ngăn chận tình trạng suy sụp, tuy nhiên, Gorbachev tuyên bố Liên Xô không có trách nhiệm ngăn lượng người di tản quy mô lớn khỏi Đông Đức.
Vào ngày 9/11/1989, Đông Berlin mở cửa cho dân chúng được tự do vượt qua ranh giới.
Ngay sau đó, bức tường bị đánh sập và Berlin lần đầu tiên được thống nhất ngày 3/10/1990, trở thành nước Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh vào năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt làm hai với ranh giới là vĩ tuyến 38: Bắc Hàn – CHDCND Triều Tiên theo chính thể cộng sản và Nam Hàn – Đại Hàn Dân Quốc theo chính thể tư bản. Năm năm sau, ngày 25/6/1950,135.000 binh sĩ Bắc Hàn đổ quân dọc vĩ tuyến 38, và để chống lại sự xâm lược này, tháng 7/1950, quân đội Mỹ lâm trận cùng với Nam Hàn để chống lại sự bành trướng của Bắc Hàn. Sau khi quân đội Mỹ vượt qua vĩ tuyến 38, quân đội Bắc Hàn bị dồn tới sông Áp Lục, sát biên giới Trung Cộng. Tháng 10/1950, quân đội Trung Cộng vào vòng tham chiến, đánh qua sông Áp Lục, tạo nguy cơ về cuộc Thế chiến III sắp xảy ra, nên Mỹ quyết định rút quân. Tháng 7/1953, hiệp định đình chiến được ký kết, hình thành khu phi quân sự dọc vĩ tuyến 38 trở lại như cũ.
Trong khi đó tại bán đảo Triều Tiên, giữa Nam và Bắc không có “bức tường ô nhục,” nhưng tính tới cuối tháng 8-2016, đã có 29.688 người người Bắc Hàn vượt thoát sang Nam Hàn sinh sống vì điều kiện sống ở xứ này càng ngày càng trở nên khắc nghiệt, trong đó cả các lính Bắc Hàn và ngay cả Thae Yong Ho, Phó Đại Sứ Bắc Hàn tại Luân Đôn cũng xin tỵ nạn chính trị. Park Kun-ha phải trốn qua ngã Trung Cộng trong cuộc hành trình đầy nguy hiểm phải mất 5 năm mới đặt được chân tới thủ đô Hán Thành. Eunsun, một cô gái trốn khỏi địa ngục Bắc Hàn, phải mất 9 năm mới đến được bờ Nam.

Sau hiệp định Geneve tháng 4-1954, Việt Nam bị chia làm hai, lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải- Cầu Hiền Lương) làm ranh giới, khoảng một triệu người dân miền Bắc (khoảng 800 ngàn trong đó là người Công giáo) di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu thuỷ do Pháp và Mỹ tổ chức. Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà khiếu nại cho rằng chính phủ quốc gia đã ép buộc đồng bào di cư vào Nam. Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Bắc Việt, nhưng trong số 25.000 người được Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị “cưỡng bách di cư” hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo của phe Cộng Sản.
Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng để vào Nam.
Trong số các nhà văn nhà thơ từ miền Nam đi tập kết ra Bắc vào năm 1954 có Vũ Anh Khanh và Xuân Vũ. Xuân Vũ sau này, khoảng 1965, đã vượt Trường Sơn vào Nam cầm bút trở lại để phơi bày thực trạng của nhân dân miền Bắc và cái giá mà ông và bạn hữu phải trả vì sự lầm lẫn của mình về cộng sản, thì nhà thơ Vũ Anh Khanh, trong khi bơi qua sông Bến Hải, bị bắn chết giữa dòng sông.
Ngày 30 tháng 4-1975, vi phạm hiệp định Paris, chế độ Hà Nội tiến công chiếm miền Nam, để tránh nạn Cộng Sản, đã có hàng nghìn người di tản khỏi Việt Nam. Sau đó, với tính chất cai trị sắt máu, Cộng Sản cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng.
Đến cuối năm 1977, đã có trên 15,000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á. Năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân sang Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đã tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, đã có 62,000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông-Nam Á. Riêng trong tháng 6 năm 1979, đã có trên 54,000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Hàng chục nghìn thuyền nhân bỏ nước ra đi đã bị bão tố, bị nạn hải tặc đánh cướp, hãm hiếp, giết chết bỏ thây trên biển cả. Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ đến định cư tại các nước tự do, nhưng số người vượt biên chỉ thành công 50%, cứ một người đến được bờ tự do thì có một người chết trên biển Đông hay trong rừng thẳm.
Và vào thời điểm 2017, người Việt Nam dưới chế độ CHXH Việt Nam- Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc sau 42 năm đã thấm đòn cai trị của đảng Cộng Sản, còn đóng tàu vượt biển sang Úc.
Bây giờ sau 42 năm, người Việt trong nước đã biết rõ thế nào là chế độ Cộng Sản rồi, nếu có một cơ hội để rời đất nước ra đi, thì đây là một cơ hội tốt không ai từ chối.
Qua chuyện chia cắt của Đức Quốc, Triều Tiên rồi đến Việt Nam, các cấp đảng viên Cộng Sản, dân chúng miền Bắc, các dư luận viên, hàng ngũ bộ đội, công an… nhận định và giải thích ra sao về chuyện dân chúng của các nước trên, luôn luôn liều chết, vượt biên giới bỏ chế độ Cộng Sản Đông Đức, Bắc Hàn, Bắc Việt và bây giờ là Cộng Sản VN để chạy sang phía tư bản, xứ tự do, phía phi cộng sản.
Chế độ Cộng Sản nếu tốt đẹp, no ấm, tự do, hạnh phúc thì con người không ai liều chết để ra đi như vậy. Rõ ràng bên kia và bên này khác nhau như đêm và ngày, tự do và tù đày, mà con người phải có một lựa chọn cho bản thân mình và con cháu đời sau. Dù tường cao, sông rộng, biển mênh mông cũng không ngăn được bước chân những người ra đi, chọn cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình và tương lai cho con cái!
Tổng Thống Mỹ Ronald W. Reagan đã có một câu nói vĩ đại: “Tôi có một câu hỏi cho các nhà lãnh đạo ở các nước chủ nghĩa cộng sản: nếu chủ nghĩa cộng sản có tương lai, tại sao mấy ông cần phải xây dựng những bức tường để giữ mọi người lại và quân đội, cảnh sát chìm để bắt mọi người im lặng?”

Và Milton Friedman, giải Nobel Khoa học Kinh Tế 1976:“Hãy nhìn bao nhiêu người từ xứ cộng sản bất chấp cái chết để vượt biên qua xứ tư bản, nhiêu đó cũng cho chúng ta nhân loại đã bình chọn ra sao!”

Huy Phương
Nguồn VOA

Trong nghĩa trang buồn

hung-viet.org
Huy Phương
Post on14 Nov 2016

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Một góc Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa năm 2011. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Trong sinh hoạt cộng đồng cuối tuần vừa qua tại Nam California, Vietnam Film Club ở Washington, DC, đã tổ chức một buổi ra mắt cuốn DVD “Hồn Tử Sĩ, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” trước một số người tham dự đông đảo, phần lớn là các cựu quân nhân VNCH, tại Westminster.
Câu chuyện Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được mọi người quan tâm không phải bây giờ mà cách đây đã khá lâu, khi một số người tị nạn Cộng Sản đã ra được nước ngoài, vẫn canh cánh bên lòng câu chuyện đau lòng của nghĩa trang miền Nam, nơi đã chôn cất hàng chục nghìn tử sĩ của miền Nam. Nghĩa trang này sau khi miền Nam thất thủ, đã không được chính quyền Cộng Sản, những người thắng cuộc tôn trọng và cư xử với đạo lý “nghĩa tử là nghĩa tận” của người phương Đông hay với tính cách nghĩa hiệp của người văn minh phương Tây, đối với những người cùng chung một nước, như sự cư xử của Bắc quân khi miền Nam thất trận trong cuộc Nội Chiến (Civil War 1861-1865) của Hoa Kỳ.
Ngay đối với đội quân xâm lược từ một quốc gia khác, khi tiếng súng đã ngưng, những đối thủ ngày trước, bây giờ cũng phải được tôn trọng, nhất là đối với những người đã chết.
Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920, nơi có khắc hàng chữ “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.” (1914-1918). Tuy vậy, vào ngày 14 Tháng Bảy, 1940, nghĩa là trong thời gian quân đội Đức chiếm đóng Paris, buổi lễ Chiến Sĩ Trận Vong vẫn được tổ chức với sự cho phép của sĩ quan Đức.
Thay vì đào mồ bới mả kẻ thù lên mà hả hê sung sướng, reo hò khi đã thắng được kẻ thù, chúng ta được biết trong năm 2015, Ukraine đã tháo dỡ gần 140 tượng đài của Liên Xô và chính phủ Ba Lan có kế hoạch hạ bỏ khoảng 500 tượng đài Liên Xô, kẻ thù ngày trước, nhưng không đụng đến tượng đài ở các nghĩa trang, nơi an nghỉ của những người lính Xô Viết.
Sau khi cuộc Nội Chiến Mỹ kết thúc, chính phủ liên bang đã trả lại tài sản bị trưng dụng hoặc bị chiếm đoạt cho phe bại trận để hàn gắn vết thương chiến tranh và những người lính hy sinh từ hai chiến tuyến được chôn chung trong một nghĩa trang với nhau, hoàn toàn không có sự phân biệt kẻ thắng người thua.
Chỉ vài ngày sau khi miền Nam thất thủ, bức tượng “Thương Tiếc,” tác phẩm điêu khắc của Nguyễn Thanh Thu, bằng đồng, nặng 10 tấn, cao hơn 6 mét, ghi lại hình ảnh của một người lính gác súng, ngồi trên bệ đá trước nghĩa trang, đã bị Cộng Sản giật sập và kéo đi. Từ đó, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được xem như một vùng quân sự, cấm người dân ra vào.
Năm 1995, ký giả Gordon Dillow, sau khi bất ngờ vào được bên trong, ông đã viết trên nhật báo The Orange County Register như sau: “Hai mươi năm trước, đây là nghĩa trang quốc gia lớn nhất với đài tưởng niệm các chiến sĩ của miền Nam Việt Nam, bây giờ là bãi đất hoang vu, bị bỏ mặc không ai chăm sóc, bị phá hoại. Những nấm mồ bị đào xới không còn nhận dạng được. Nhà cầm quyền Cộng Sản đã trồng một số cây, ngay bên cạnh các mộ phần, khiến cho rễ của cây khi lớn lên sẽ phá nát những ngôi mộ bên dưới.”
Ký giả Dan Southerland của đài Á Châu Tự Do, năm 2005, khi ghé thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, đã nhận ra đây là một khung cảnh thù địch, khiến cho ông phải bàng hoàng. Nghĩa trang như một căn cứ quân sự, hay như một nhà tù, có lính Cộng Sản canh gác ngày đêm. Họ sợ điều gì vậy?
Ông Southerland cũng dã đi thăm một vài nghĩa trang của những người lính Cộng Sản, sự tương phản làm cho ông ngỡ ngàng, một bên được chăm sóc đẹp đẽ, mở cửa cho mọi người vào, một bên như là một nhà tù. Tất cả chỉ là hoang phế, phá hoại và lấn chiếm.
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một trong những chủ trương trả thù của quân Cộng Sản, nhằm xóa bỏ di tích của cuộc chiến, là triệt phá tất cả các nghĩa trang của quân đội VNCH trên toàn miền Nam, ngoại trừ duy nhất là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa chưa bị san bằng và mọi việc thăm viếng đều bị kiểm soát.
Bằng chứng là vào đầu Tháng Năm, 1975, Cộng Sản đã cho san bằng hằng nghìn ngôi mộ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, và sau đó là số phận của nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nơi chôn cất Thống Tướng Lê Văn Tỵ và hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Theo Wikileaks, hồi năm 2008, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb đã bí mật đến thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nằm trong tình trạng hoang phế vì không có người chăm sóc. Dịp này, ông Webb gặp bí thư thành ủy Sài Gòn là ông Lê Thanh Hải và chủ tịch thành phố là ông Nguyễn Hoàng Quân. Ông Webb khuyến khích nhà cầm quyền Cộng Sản, đây đã đến lúc hòa giải với cựu quân nhân VNCH.
Các viên chức đảng Cộng Sản này, khi đáp lời ông Webb, đã không nhắc gì tới quân đội VNCH mà chỉ nói tới vai trò quan trọng của Mỹ trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, tức là xin viện trợ. Cả hai đều nhắc tới những “bước tiến trong quan hệ hai nước, để người Việt ở Mỹ có thể trở về nước làm ăn!”
Báo chí ở Việt Nam hàng năm nêu ra con số hàng chục tỷ đô la do người Việt hải ngoại, đa số là những người chạy trốn Cộng Sản, gửi về nước cho thân nhân mà nhờ đó có tiền nuôi chế độ. Nhưng chế độ này, tuy bề ngoài vẫn hô hào hòa hợp hòa giải, quên đi quá khứ, nhưng vẫn quyết tâm ngoảnh mặt làm ngơ, không tương nhượng với việc hòa giải ngay cả với người chết là việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hay coi đây như là một di tích lịch sử.
Thật bất hạnh cho miền Nam chúng ta, đã có một đồng minh bội phản và hơn thế, một thứ kẻ thù mọi rợ, nhỏ nhen.

Huy Phương
Nguồn Người Việt