Viết trong ngày mưa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 28/05/2013 

Post by Sơn râu 25 Feb 2025

Ở Montréal tuần này, mưa suốt. Nhiệt độ xuống, gió gai lạnh. Cây không biết tên gọi luôn bị mưa gió bức rời những chiếc lá xanh, nhỏ nhít, rơi rụng đầy đường. Ẩm thấp.

Nước dùng hàng ngày bị ô nhiễm, báo đài loan tin cư dân thành phố nên chịu khó mua nước suối đóng chai về xài tạm, “chúng tôi sớm có biện pháp khắc phục, chậm lắm là hai mươi bốn giờ”. Đánh răng, vệ sinh miệng lưỡi cũng vậy, hãy đun sôi, hãy nấu kỹ, cẩn thận kẻo bị tiêu chảy. Có khác không, nếu bảo, trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần?
Quán cà phê nguội lạnh, mở mà cũng tựa như đóng. Tạm thời chúng tôi chưa bán được cà phê, lý do máy pha cà phê thì cũng nóng tới một giới hạn nào đó thôi, chẳng đủ sức tiêu diệt vi khuẩn. Mưa ngoài trời, ngồi trong quán cà phê mà cầm trên tay một chai nước cam thì ngó não nề mới gớm. Cung đàn lạc điệu. Buồn miệng không cách gì tả xiết! Cách đây e đã mười năm, luật lệ nhà nước ban hành, tuyệt đối cấm hút thuốc trong quán, cứ ngỡ là đã bị khóa mõm rồi, một và chỉ một mà thôi; có ngờ đâu hôm nay “đụng hàng”: Vào nơi bán cà phê mà kẻ phục vụ dứt khoát xua tay, tuyệt tình lắc đầu nguầy nguậy. No, sir. Sorry sir! Have a nice day!

Một ngày không có cà phê để uống, ngày ấy có đáng để chúc lành? Hừ, đó là một công án. Do quen thói (hay thói quen), luật bất thành văn (hay ngại dùng điện thoại mang tiếng rủ rê) bạn cũng “đến hẹn nại nên” đúng phương án đúng lộ trình đúng giờ giấc đúng địa điểm. Bạn che dù xuất hiện trước thềm rỏ nước từng hàng, “dù cho mưa hay bão tố có kéo qua đây” thì tớ cũng đến ngồi nói chuyện thiên địa một hồi mới về an giấc điệp được. Một người mà luôn canh cánh về nỗi an nguy của giấc ngủ nên bạn không chưng hửng về tin tức sự cố ùn tắt cà phê cà phiết. Có cũng vậy mà chả có cũng rứa cả. Who cares? Trước đây nghe tin sắp tới ngày tận thế mà bạn còn chu môi son đỏ huýt gió bài “La Vie en Rose” nữa là! Có chết thằng Tây nào đâu?

Bạn có nhiều điểm đáng yêu đồng thời có nhiều điều đáng ghét. Bạn là người luôn lạc quan đồng thời cũng lắm bi quan. Hay lạc quan mà bạn có là thứ “vui là vui gượng đó mà”? Một trong những thứ dễ bị “đăng báo từ bạn” là kiểu phát ngôn không sợ mích lòng đối tượng. Tớ có đọc những gì ông vừa gửi đăng trên các báo mạng. Sự nhạy cảm trước vấn đề, cách ông biểu lộ sẽ có khi làm hại ông. Chẳng hạn? Mình hỏi sau khi nhăn mặt tợp xong một hớp nước cam. Tớ định kéo ông đi Việt Nam một chuyến nhưng điệu này thì không ổn rồi. Vì sao? Vì thú thật là tớ rất ngại làm nhân chứng. Chuyện gì? Chúng nó sẽ đón ông ở phi cảng, hai ba tên sẽ ập vào còng tay ông dẫn đi. Ba mươi năm trước ông là đứa phản bội tổ quốc, ba mươi năm sau tội danh mới của ông là thằng Việt kiều phản động. Vậy sao? Dễ hiểu quá mà, ông thóa mạ chúng đến mức “đèn đỏ”. Nước đang nhiễm trùng, thị trưởng thành phố cũng chỉ báo động cho dân tình ngang lằn vạch màu cam.

Dẫu không hợp khẩu vị, chai nước cam vắt chua loét cũng sắp cáo chung tới giọt cuối bởi miệng mình đắng khô. Đàn áp dân thô bạo và lộ liễu quá, bạn không thấy khó chịu sao? Dụi điếu thuốc vào mặt một người đàn bà đáng tuổi mẹ chúng, bạn chẳng nhìn ra thú tính chúng mang? Thì tớ đã nói rồi, ông hơi bị nhạy cảm. Hãy nhìn quanh ông đi, hải ngoại này có vô số người làm thơ viết văn, sao đa phần thảy đều câm như thóc? Một, họ bất lực trước niềm đau. Hai, họ vô can trước những “chuyện thường ngày ở huyện”. Ba, họ khôn ngoan thu mình vỏ ốc để chừa một lối về an toàn, có đúng không? Sôi nổi cũng chả cải thiện được vấn đề ông ạ! Không cải thiện nhưng ít ra nó cũng tạo sóng, bạn thấy hình cô Nguyễn Phương Uyên lên trang bìa báo Time số tháng 6 chưa? Tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt, mưa ơi xin nín khóc giùm tôi. (Tòa tuyên án 6 năm vì tội đạo văn!)

Biết nước dơ bẩn, người ta tránh uống, chuyện đã đành. Biết mưa rơi, người ta che dù để tìm gặp nhau, chuyện dễ hiểu. Nhưng tịnh khẩu như bình trước niềm đau đồng loại thì e người ta có hơi bất nhẫn chăng? Người ta văng bút, người ta đổ hắt bình mực, người ta đóng máy vi tính, người ta nhìn đời hiu quạnh, người ta tập thiền? Cả một đống dấu hỏi nghĩ không ra. Bạn ạ, hãy xem như đây là ý nghĩ của mình, rằng chúng ta may mắn được hít thở không khí trong lành của tự do, chúng ta có quyền nói và chúng ta hãy tận dụng sự ưu đãi nọ. Bên kia biển rộng, lãnh thổ luôn bị bưng bít ấy, người người đều bị khốn đốn, chúng ta nói thay họ đôi điều, chuyện ấy nên hay không?

Hai đứa ngồi nói tiếng mẹ đẻ giữa rừng ngôn ngữ lạ, có khi to tiếng với nhau vì những bất đồng nhưng thực khách tôn trọng, thảy làm ngơ. Họ tên bạn mình có lót chữ Thị. Thường thì đàn bà họ có những ý tưởng gần như một toan tính “dĩ hòa vi quý”. Trong tình yêu, bạn từng chịu một lần đổ vỡ. Gia đình bạn, bố mẹ còn ở bên nhà. Họ luôn đón đợi tin vui từ phía bạn, gần là một thúc dục, đại để như bao giờ thì bố mẹ có cháu để ẳm bế? Là đàn bà, bạn tự hiểu tới một giới hạn an toàn nào đó, người ta quyết định sinh nở nếu chẳng muốn từ khước điều nhiệm mầu mà thượng đế trao quyền làm mẹ cho họ. Rồi mai này bạn đi về thăm nhà, ở đấy người cật ruột đã giở hạ sách cố tìm ra cho bạn một thằng đàn ông ngó tử tế, con nhà lành sạch nước cản, nếu bạn không ưa “ở vậy cho khỏe thân”. Điều chẳng hiểu là cớ sao trong chuyến đi “mưu cầu hạnh phúc” kia, bạn cố lôi kéo mình theo cùng, để rồi âu lo cho vận mệnh mình chẳng được tới bến bờ suông sẻ? Mình dấu kín ý nghĩ: Đi Việt Nam thì có khác gì bạn đang nhắm mắt uống đầy một cốc nước St-Laurent đang bị warning nhiễm độc. “Con sông nào đã xa nguồn, là con sông ấy sẽ buồn với tôi”. Bạn cũng từng yêu thơ Hoài Khanh.

Bạn ra về, dù bung giữa bóng tối vây hãm. Mưa ngoài trời và người mình đang bị dột, nghe ngói. Trong lúc này đây, bạn ạ, có thiết thực không nếu bạn thích đọc những xúc cảm của mình về vẻ đẹp một cành hoa, về tiếng chim kêu bất chợt đầu ngày, về những hoang tưởng dối lòng có trong cuộc sống bình an, chẳng sóng gió. Những thứ mà đứa ác khẩu sẽ dùng từ để chỉ mặt: Cơm no bò cỡi. Lá lành mà chẳng đùm lá rách.

Ngồi một mình trong quán, sau khi đã buồn miệng, sau khi chạnh lòng, giờ thì buồn tay. Mình ghi vội xuống tờ giấy dùng để chùi miệng lau tay những suy diễn quàng xiên trước khi nó bị o ép chỉnh hình bằng những mẫu tự có trên laptop khi về tới nhà. Mình không lãng mạn, có thể dùng chữ gàn dở nếu bạn biết là định cư ở chốn này lâu ngần ấy năm mình chưa bao giờ nắm trên tay một cây dù. Rẻ thì mười đồng tính luôn thuế, xịn thì chi trả bảy tám chục bạc. Vấn đề là mua nó làm gì cho vướng víu tay cầm, để đầu óc phải quan ngại chuyện nhớ quên tới nó, chưa kể gió có thể thổi ngược, lật lọng, tựa bạn đội một cái thúng ở trên đầu; một chữ U dị kỳ với răng nhọn lởm chởm.

Vuông giấy ghi xuống những điều “cực chẳng đã” nằm trong túi bị cảm lạnh, nó bèo nhèo hứng đỡ những hàng chữ co quắp đang muốn rữa ra. Nó tựa một lá thư tình từng mang ra đọc lắm lần, và trình tự thì giống nhau, lần nào cũng thổn thức rơi lệ. Ừ, thì cứ đổ thừa do mưa, tại mưa là nguyên cớ. “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách”, mà khách lại đầu trần đi dầm lượng vô dung. Và mưa, khi từ không cùng gửi rơi xuống đất, bao giờ cũng vỡ theo, kim chích thịt da những sợi phiền muộn, câm nín, lạnh lòng, buốt tê.

Hồ Đình Nghiêm
16 tháng 5 năm 2013, ngày khát nước.

Vấn

Hồ Đình Nghiêm

Song Thao

Post by Sơn râu 25 Feb 2025

Song Thao_ Photo: Võ Văn Thạnh 10/2005


Bắt chước nhà văn Song Thao, tôi dùng vỏn vẹn chỉ một chữ, làm tựa đề cho cuộc trao đồi này. Nhà văn Song Thao cư ngụ cùng thành phố với tôi, mặc dầu chẳng “cách hai đoạn đường dài”, mặc dù không “cách nhau một dậu mồng tơi”… nhưng gạt bỏ vấn đề địa hình nhiêu khê nọ, chúng tôi luôn gần kề trong gang tấc, bởi giản dị, chúng tôi cùng táy máy “vọc chữ” dưới ngôi nhà chung: Văn chương. Lần chuyện trò này, hình thành do hai điều: Thứ nhất, những người bạn phương xa của tôi vẫn thường dọ hỏi: Song Thao là ai? Thứ hai, cách đây mấy hôm, nhà văn chung “phường khóm” với tôi đã vừa in xong cuốn Phiếm số 9. Để câu chuyện đi gần với tinh thần “vui thôi mà” của cố thi sĩ Bùi Giáng, tôi tránh hỏi tới những vấn đề nặng nề, nghiêm trọng của tình hình đất nước. Hy vọng những người từng tủm tỉm cười khi đọc Phiếm, sẽ hay biết đôi điều về tác giả, vốn kín tiếng nhưng rất sung (hiểu ở nghĩa viết mạnh).

Hồ Đình Nghiêm

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Thưa anh Song Thao, do đâu, nguyên cớ nào anh vẫn thủy chung khi đặt tựa đề. Cô độc chỉ một chữ, không hai, chẳng ba… Nó trần trụi, nó đứng lẻ loi, nó lẻ bạn, nó mình ên. Tuồng như nó… lạnh?

Song Thao (ST): Nhà văn có khác, cảm được cái lạnh của chữ. Chữ có lạnh thật không, cũng dám lắm. Nhưng những cái tựa đứng vững chãi một mình của Phiếm là thứ nhà nòi. Hiên ngang chứ không cô đơn, lẻ bạn hay mình ên. Khi đặt cái tựa một chữ cho Phiếm, tôi thấy như mình cho chữ nghĩa một sức mạnh, như một cơn gió quất, một ngọn sóng thần. Nói nghe ghê gớm vậy chứ việc đặt những cái tựa…vạm vỡ như vậy là một sự tình cờ. Khởi đầu, tựa của Phiếm cũng khi ba chữ, khi hai chữ, khi một chữ. Sau thấy những cái tựa một chữ nghe có vẻ dứt khoát, hiên ngang hơn nên quen tay cứ một chữ mà chơi. Riết rồi bạn bè, độc giả khi gặp hỏi một cách thích thú: vẫn một chữ chứ? Thấy việc đặt những cái tít một chữ vô hình trung thành một dấu ấn của những bài Phiếm. Vậy là chơi luôn! Ngờ đâu lại có người thấy nó lạnh! Chắc người lạnh mới cảm thấy chữ lạnh chăng?

HĐN: Hầu như mỗi tuần, anh đều “đẻ” ra một câu chuyện phiếm. Anh có bí quyết nào về “sự cố” mắn đẻ kiểu ấy? Và chắc là anh sẽ quyết không nghỉ hưu. Ý tôi muốn hỏi theo “tinh thần phiếm”: Anh chẳng kế hoạch hóa, chẳng đi cột?

ST: Anh đừng xúi dại tôi chứ. Cột làm chi! Con cái ngày nay nhiều đứa rất có hiếu, cũng biết an ủi, mang niềm vui lại cho bố mẹ. Mấy đứa con Phiếm của tôi lại được nhiều người thương, chắc chúng cũng có chút duyên nào đó. Đẻ con ra mà được khen, nở lỗ mũi là cái chắc. Nở lâu nên mũi quen hơi, xẹp xuống không được nữa. Thực ra cái tội mắn của tôi là lỗi của mấy ông Chủ bút hay Tổng thư ký của các báo. Họ là những người mẫn cán nên làm công việc thúc vào bàn tọa các người viết một cách chăm chỉ. Thế là cứ sòn sòn tuần một. Một năm có 52 tuần, hai năm có 104 tuần, ba năm có 156 tuần… Thế mà tôi đùa với Phiếm đã được bảy năm có lẻ rồi. Biết bao nhiêu là sinh linh đã ra đời. Để chúng lê la la liệt cũng tội nên xây nhà cho chúng ở. Năm một căn, năm hai căn, giờ đã tới căn thứ 9 rồi. Biết đến bao giờ thì hưu? Người ta thường bảo vạch đầu gối ra cắt vẫn còn thấy máu thì vẫn còn có đường ngon lành!

HĐN: Một tuần có bảy (hay tám) ngày? Một tuần với linh tinh đủ công chuyện phải thanh thỏa, mất bao lâu thời gian (giờ thứ 25) để anh “trả nợ” cái gọi là Phiếm? 

ST: Hình như sống với Phiếm đã thành quán tính của tôi. Từ hồi nào không biết. Ăn ở với người tình có ai đếm thời gian. Nó miên man bất tận đến không cảm thấy thời gian nữa. Anh bắt tôi đếm, làm khó nhau vừa thôi chứ! 

HĐN: Tôi dùng chữ trả nợ, anh có cho là quá đáng? Viết văn, xem như thú tiêu khiển của anh, hay do một thôi thúc nào khác? 

ST: Viết, dù viết gì chăng nữa, bao giờ cũng là thú tiêu khiển. Chắc anh cũng viết văn nên cũng cảm thấy như tôi, mỗi lần đặt cái chấm hết dưới một bài viết, thú vô cùng. Như gửi được chút tâm tình của mình ra cho người đồng điệu. Tâm hồn gặp tâm hồn, khoái cách chi đâu! Mà tâm hồn là thứ động đậy hàng giờ hàng phút, nó quậy vô cùng, cách chi mà giữ được nó trong lòng mình. Chữ “trả nợ” xem chừng có vẻ đời thường quá. Tôi dùng hình ảnh một người có tính thích chia sẻ, gọi là khoe…của cũng được, khi khoe được thì khoái xiết bao. Đó có phải là sự thôi thúc không? 

HĐN: Dạo này tôi ít được đọc truyện ngắn của anh. Giữa hai món, truyện ngắn và phiếm, cái nào dễ ăn hơn? Mặc dầu cả hai đều phải “cõng” trên lưng chữ một thông điệp nào đó. 

ST: Viết là một cách thế biểu tỏ. Viết cái chi cũng vậy. Nếu không đặt tất cả tấm lòng mình vào thì mình chỉ là một thứ…thợ. Chán chết! Vậy thì viết truyện hay viết phiếm đều cần có tấm lòng với chữ nghĩa. Viết truyện là trải lòng mình ra, viết phiếm là bày tỏ cõi lòng với người đọc. Viết phiếm như vậy có vẻ…cộng đồng hơn. Hai bên, người viết và người đọc, dễ thông cảm với nhau hơn. Từ khi mặn nồng với phiếm, tôi nhận được nhiều phản hồi của người đọc hơn, bằng gặp gỡ, thư từ, e-mail hay điện thoại. Có lẽ nhận được tiếng vỗ tay mau chóng và ồn ào hơn nên tôi cặm cụi với phiếm. Kể cũng bậy thật. Nhưng biết làm sao hơn khi cái tay viết truyện bỗng rời rã, gần như buông xuôi, không còn chi để chia sẻ thì biết tỏ bầy cái chi! Không biết sự tình đó có thể gọi là ngay thẳng với mình không! 

HĐN: Có lần, nhà văn Võ Kỳ Điền nói, gần như than: “Bây giờ tôi ráp hai múi dây lại cũng chẳng xẹt ra được chút lửa, sao trong người anh Song Thao chứa đựng được một bình điện bất tận đến dường ấy!” Sẵn đây, anh có thể chia sẻ, bộc lộ ít nhiều nhằm “xoa dịu nỗi đau” của anh Võ Kỳ Điền? 

ST: Có hai điều tôi nghĩ tới khi được anh hỏi câu này. Thứ nhất: hầu như là một…chân lý, cái chi xài hoài thì tốt hoài, như một thói quen vậy. Tôi không hiểu anh nhà văn họ Võ có dấu kín bình điện ở xó xỉnh nào nên nó bị sét không xẹt nữa chăng? Thứ hai: có thể anh Võ Kỳ Điền không nói ra nhưng, có nơi có lúc, anh xài bình quá lố đến bây giờ bình teng beng ra hết xài! Về tôi, xin đảo ngược lại. 

HĐN: Nhà thơ Luân Hoán cũng thuộc loại thường dân may mắn được nằm kề nhà máy điện, điều đó chúng ta đều biết. Nhà văn Song Thao có làm thơ? Đại loại kiểu như ông Bảo Sinh ở Hà Nội: “Mặt buồn vợ hỏi giận ai? Vui tươi vợ bảo có bồ rồi sao!”/ “Muốn cho trộm chẳng đến nhà, đề vào trước cửa: đây là nhà thơ”/ “Vợ là cơm nguội nhà ta, lại là phở tái thằng cha láng giềng”… Rất phiếm. 

ST: Thơ là một thứ kiệm chữ. Viết ít hiểu nhiều. Viết ít thì báo bổ không ưa. Vậy thì tội chi mà thơ với thẩn cho mất thời giờ. Nói cho vui vậy thôi, thơ là tinh lọc chữ nghĩa, tôi không dám lân la tới. Tôi có một điều dại là chơi với ông Luân Hoán. Ông này thì ngồi đâu cũng ra thơ. Đi đâu ông ấy cũng kè kè ba thứ trong người: cây viết, tờ giấy và cái máy hình. Vậy là ra thơ. Thơ ông post hàng ngày trên website của ông ấy luôn luôn có kèm theo hình. Và có cả…thời tiết nữa! Có lẽ vì thơ ông ấy cũng nắng mưa như đất trời. Có thể nói mưa ra sao thơ ông Luân Hoán cũng ra như vậy. Chơi với một con người đẫm thơ như vậy, thỉnh thoảng tôi cũng được ông ấy rủ làm thơ. Thường thì tôi lơ đi, nhưng có khi, chắc đúng khi nàng thơ đang hái hoa bên nhà tôi, tôi cũng lăng nhăng dăm ba câu. Cũng khoái lắm, nhưng khi bình tĩnh đọc lại, thấy thơ của mình chuyển thành vè. Vậy là chừa cái tính cả nghe bạn xúi. 

HĐN: Ở bài “Chữ”, anh viết: “Ngẫm ra thì đúng là một trò chơi. Ngẫm vào thì trò chơi này quả là mệt… Chắc vì vậy nên chẳng có mấy nhà văn nhà thơ có được một bộ vó đầy đặn!” Tôi hồ nghi về điều này. Anh có thể cho độc giả biết về bộ vó của anh? 

ST: Bộ vó của tôi thì anh lạ chi. Gồm đầu mình và chân tay. Được cái cũng cân cái. Đi đứng cũng vững vàng. Chưa chống gậy dù vẫn có gậy gộc còn có thể chống được. Tôi mới đọc một bài viết của nhà báo Nguyễn Khắc Mẫn ở trong nước viết về nhà văn Sơn Nam. Khi Sơn Nam phải vào bệnh viện vì một tai nạn lưu thông, thấy bộ vó của ông nhà văn, một người bạn hỏi ông cân nặng được bao nhiêu ký. Sơn Nam nói khoảng ngoài bốn chục chi đó. Một người đi nuôi bệnh nhân nằm bên cạnh nghe thấy vậy, ngứa miệng chọc vô: “Bác làm gì được bốn chục cân. Chỉ 37 cân là cùng!”. Nhà văn của chúng ta cười hóm hỉnh: “Ừ thì tự trấn an mình một chút có sao đâu. Hồi nào tới giờ có cân đâu mà biết!”. Tôi mặn câu chót của Sơn Nam. 

HĐN: Vậy là anh đã trình làng tới cuốn Phiếm số 9. Điều ấy chứng tỏ có đông độc giả. Sách anh tiêu thụ có nhanh không? Và hiện tại, anh có nhận định nào về tình trạng gần như ngắc ngoải của dòng văn học hải ngoại?

ST: Có thể nói những cuốn Phiếm thuộc loại dễ tiêu thụ. Các nhà sách đều ưu ái đón nhận, độc giả mua sách thẳng nơi tôi bằng Bưu Điện cũng khá. Nhưng có một điều phải nhận là so với cuốn Phiếm1 do nhà Văn Mới xuất bản vào năm 2005 bán hết ngay và nhà Nhân Ảnh đã tái bản hai lần đều bán hết thì tới cuốn Phiếm 9 tình trạng rất “nửa đường đi xuống”! Rất ầu ơ ví dầu! Sự đi xuống này như xuống một con dốc thoai thoải, càng ngày càng xuống sâu hơn. Tôi mới viết một bài về sách trong đó tôi nghĩ là sự đi xuống này có hai nguyên nhân: lớp độc giả càng ngày càng già, lớp về với ông bà, lớp mắt kém, thận suy không đọc được sách nữa. Nguyên nhân thứ hai là vì cái có thể gọi là cuộc cách mạng về kỹ thuật. E-book đang dần dần thay thế sách in. Hậu quả là không chỉ có sách báo tiếng Việt tại hải ngoại bị ảnh hưởng mà sách báo tiếng Anh tiếng Pháp chi cũng lãnh đủ. Cứ xem sự thu hẹp hay chết ngắc của các tờ báo và tạp chí cổ thụ có hàng mấy trăm năm tuổi thì biết. Sách tiếng Việt bị chơi cú đúp như vậy, đìu hiu là lẽ dĩ nhiên. Các tạp chí văn học của chúng ta như Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21 đều đã mồ yên mả đẹp. Sách xuất bản chẳng còn bao mà tiêu thụ cũng vào loại ngắc ngoải. Bước đi của kỹ thuật nó như vậy, lấy chi mà cản được nó. Chỉ biết ngậm ngùi. Mà ngậm ngùi, theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, “thường rất yếu ớt và hoàn toàn bất lực”. 

HĐN: Internet có nhiều lợi điểm, đằng khác, tôi ngờ là chính nó đã góp phần tước đoạt số đông, những người ưa đọc văn bản được in ấn thành sách. Anh có đồng quan điểm ấy không? Những nhà sách lần hồi thưa thớt khách lai vãng là một bằng chứng. 

ST: Internet là thủ phạm của sự đìu hiu của sách vở. Điều đó là cái chắc, còn ngờ chi nữa. Cứ ngẫm lại mà coi.Phần lớn chúng ta vẫn cảm thấy thích thú hơn khi đọc những trang sách in cầm trong tay. Cầm một cuốn sách mới, ngắm nghía bằng mắt, sờ bằng tay, ngửi mùi giấy bằng mũi, chỉ thiếu chuyện…ăn sách, thấy thú vị hơn nhiều là đọc trên internet hay trên cái máy e-Reader vô hồn nhiều chứ. Nhưng sự thể đã tới chỗ đó thì chúng ta phải theo thôi. Có than van cũng chỉ là để vơi đi nỗi sầu muộn trong lòng. Tôi mới đọc được bài “Chuyện Sách” của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, trên internet. Ông cho biết ông đã mua một cái Kindle, một cái máy chuyên đọc sách điện tử. Lúc đầu đọc cũng hơi khó chịu, riết thành quen, thấy đọc sách điện tử trên màn ảnh cũng không khác chi đọc trên sách in. Ngay cả thơ là thứ cần đọc một cách cẩn trọng hơn, ông Quốc cũng đọc trên màn hình của máy và “cũng thấy được chữ trôi và thở, cũng nghe được hơi ấm từ chúng, y như trên trang giấy”. Nhà phê bình họ Nguyễn làm tôi đau nhói: đến một người thường xuyên chơi với chữ nghĩa mà cũng không thấy cái lạnh tanh của máy, thật hết ý! Ông Nguyễn Hưng Quốc còn trẻ, tôi…nhiều tuổi hơn, chưa cảm được như ông Quốc, còn nhà văn “trẻ” Hồ Đình Nghiêm thì sao?  

HĐN: Một anh bạn vừa từ Huế sang đây thăm con có kể câu chuyện khá thú vị, tôi xin được tóm tắt: “Xóm anh ở có người đàn bà mang phải chứng bệnh nan y, sang bệnh viện trung ương, thảy các bác sĩ đều lắc đầu, ước đoán kéo dài tuổi thọ chừng hai tháng là cùng. Gặp khuôn mặt “buồn nhiều hơn vui” của bà ấy, anh đề nghị, đằng nào chị cũng thác, còn nước còn tát, cứ thử nấu nước sả uống xem.- Được, tôi sẽ nghe lời anh, nhưng phương thuốc ấy đáng tin không? Nó xuất phát từ nguồn thông tin nào? Ậy, từ Canada mà chị, tôi đọc sách Phiếm của ông Song Thao đàng hoàng. Kết quả, gần cả năm trời rồi mà người đàn bà ở trong xóm vẫn kiên cường hổng chịu đi gặp Các-mác mí lị Lê-nin!”. Qua câu chuyện trên, tôi nhặt ra được hai điều: Thứ nhất, cuốn Phiếm nào đó của anh đã đi xa, về tới Việt-nam và thuyết phục được người đọc, dẫu ngộ nhận. Thứ hai, đôi lúc chữ nghĩa cũng có thể cứu được, ít nhất một người. Anh có điều gì tâm sự, để nói thêm về trường hợp ngoại lệ vừa kể? Cho tôi đùa chút nhé: Giả như người đàn bà ấy mất trước hạn kỳ hai tháng, vô tình anh trở thành một ông… lang băm! 

ST: Phiếm không phải là “cẩm nang y học”. Nếu nó chữa được bệnh thì đó là…ý trời. Ngoài sự mong chờ của tác giả. Một trong những kết quả của y khoa là lòng tin vào thuốc. Người ta đã thí nghiệm nhiều bằng giả dược. Trường hợp cứu nhân độ thế ngoài ý muốn này của Phiếm mang lại cho tôi được hai niềm vui. Thứ nhất: những đứa con của tôi có đứa đã bay về được tới quê hương. Tôi nhớ là chưa bao giờ cho chúng tiền máy bay về Việt Nam cả! Thứ hai: Phiếm đã được lòng tin của độc giả. Cái thứ có người cho là ba láp vớ vẩn mà được như vậy quả là… trên cả tuyệt vời! 

HĐN: Một người bạn tôi (phái nữ) ở bên Mỹ có viết trong email: “Bây giờ khi chọn bạn tình, quý vị nữ lưu phương Tây đều đặt nặng vấn đề tới đầu óc khôi hài. Anh nào đẹp trai con nhà giàu học giỏi mà thiếu yếu tố biết chọc cười đối tượng, mấy nường đều xem như “nơ-pa”. Đọc văn anh Song Thao, đoán anh ấy chắc là người luôn dzui dzẻ? Tiếp cận được một người như vậy, hẳn mình sẽ yêu cái đời sống vốn nhạt nhẽo này…” Tôi tin lời cô bạn ấy nói. Tôi cũng luôn tin là đời sống anh cùng gia đình luôn an vui, hoan lạc tiếng cười. Có khi nào nhà văn Song Thao gặp “sự cố” hơi bị buồn não nề không? 

ST: Sống mà không buồn thì đâu có ra người! Tôi không lạc quan tếu nhưng tôi tin đời, yêu người. Cuộc sống có là chi mà phải rầu rĩ vì nó. Cứ coi tai nạn sóng thần và động đất vừa xảy ra ở Nhật Bổn thì biết. Cha mẹ, vợ con, dòng họ, nhà cửa, du thuyền, xe hơi, máy móc tưởng là những thứ ta có thể tin cậy bám víu để tạo nên một cuộc sống tiện nghi và an bình. Ngay cả cuộc sống quý giá của chục ngàn con người mà chắc chắn trong đó có nhiều trẻ em và người trẻ, những người không chờ một kết thúc vội vã và bất thần. Vậy mà chỉ trong chớp mắt, có đó, mất đó. Thế giới bàng hoàng với những mất mát lớn lao nhưng họ bàng hoàng hơn với tư cách của tất cả nạn nhân người Nhật. Họ vẫn giữ nhân cách, quan tâm và chú ý tới người bên cạnh, không chen lấn hỗn độn khi xếp hàng nhận những dịch vụ cứu trợ, vẫn bình tĩnh nhường cho trẻ em, phụ nữ và người già quyền ưu tiên, và không có một vụ cướp giật, phạm pháp nào, điều đã xảy ra ngay tại Mỹ trước đây khi trận bão Katrina tàn phá Florida vào năm 2005. Cái chất NGƯỜI đó (tôi phải viết hoa chữ NGƯỜI) mới đáng trân trọng. 

HĐN: Một tuần có sáu ngày, hay bảy? Tôi biết anh rất lu bu, quấy rầy anh như vậy cũng tạm đủ. Xin thay mặt những người đọc Phiếm thầm lặng ở phương xa, cám ơn nhà văn Song Thao đã vui lòng chia sẻ, đã làm ổn những câu hỏi cắc cớ này. Mong được hầu chuyện cùng anh sau khi anh lại in xong một tác phẩm khác. Trong khi chờ đợi, thân chúc anh luôn được sức khoẻ và… sung như đã từng. Anh có cả thảy bao nhiêu đứa con? 

ST: Tới nay tôi có tất cả 17 đứa con bằng giấy. Không biết có nên kể thêm 4 đứa bằng xương bằng thịt không? Bốn đứa con này đang làm tính nhân, nhân thêm cho tôi một số cháu. Còn 17 đứa con bằng giấy đã mang đến cho tôi vô số bạn mới và rất nhiều những tâm hồn đồng điệu. Tôi cho đó là những lời lãi đích thực. Tôi trân quý những cái được này của tôi.

Cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm đã cho tôi cơ hội xả xú bắp rất quý hóa. Cám ơn bạn đọc đã bỏ thời giờ theo dõi cuộc nói chuyện giữa anh em chúng tôi.

Hồ Đình Nghiêmthực hiện,

Tháng 3/2011.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Feb 2025

Tập 2

Chương 4

The Gray Tiger

Không biết là mình đã ngủ được bao lâu, đang lơ mơ trong cõi hồng trần, tôi giật mình choàng tỉnh vì thân hình của mình bị nhấc lên khỏi mặt ghế rồi quăng mạnh xuống. Chưa kịp tìm hiểu nguyên nhân, tôi đã nghe Cúc hỏi.

-Chuyện gì vậy anh?

Minh vội vàng trả lời thay tôi.

-Một cái ổ gà quá lớn, hình như đó là một cái hố đạn pháo mới có độ một vài tuần trở lại đây, khiến tôi không tránh kịp. Mọi chuyện đều tốt đẹp, cô cậu cứ ngủ đi.

Tôi quay qua Minh.

-Mình đi tới đâu rồi anh Minh?

-Vừa lên hết đèo Bảo Lộc, chừng một giờ nữa, khoảng sáu giờ sáng mình sẽ đến Di Linh.

Tôi nhắc lại hai chữ Di Linh, rồi nhớ đến cái quận lỵ buồn hiu, còn in đậm dấu ấn của những ngày người dân Đà lạt chuẩn bị di tản.

Tôi hỏi Minh.

-Vào khoảng ngày này tháng trước, anh ở đâu?

-À…tôi đang ở Sài Gòn.

-Như vậy, anh có biết gì về trận đánh tái chiếm Di Linh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay không?

-Đánh nhau ở Di Linh? Tôi không biết.

-Để khỏi buồn ngủ, tôi sẽ kể cho anh nghe vài chi tiết trong trận đánh ấy. Anh là tài xế đường Sài Gòn – Đà Lạt nên anh biết rõ, Di Linh là một quận lỵ nhỏ nằm trên Quốc lộ 20, cách Đà Lạt đúng tám mươi cây số. Để tôi nhớ lại coi, vào khoảng hai mươi bảy tháng Ba trong cuộc tấn công tiến chiếm Đà Lạt. Lực lượng của Việt Cộng gồm có Trung đoàn 165 và Trung đoàn 209 của Sư đoàn 7, phối hợp với xe tăng và đại pháo 130 ly, thế mạnh như chẻ tre, chúng di chuyển như chỗ không người. Bắt đầu từ Đại Quay ở gần đèo Chuối chỉ trong vòng một ngày họ đã chiếm xong Bảo Lộc, sau đó đánh thốc vào chi khu Di Linh, làm chủ luôn quận lỵ này. Ở Đà Lạt, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đưa Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức do Thiếu tá Lê Xuân Phương làm Tiểu đoàn trưởng tái chiếm Di Linh. Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng này, tôi đã nghe danh từ lâu, từ lúc ông ấy còn mang cấp bậc trung úy làm đại đội trưởng Đại đội 302 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức. Nghe danh, nhưng tôi chưa bao giờ được gặp mặt. Anh Minh có biết không, với tôi chuyện gặp mặt Thiếu tá Phương, còn khó hơn là gặp Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Minh cười ra vẻ thích thú.

-Ông thiếu tá ấy, có gì mà ghê vậy?

-Có chứ, có nhiều điểm đặc biệt về ông ấy mà tôi cần phải nói, điểm thứ nhất là về chiến công. Tôi muốn hỏi anh Minh là sáu năm trong lính Nhảy dù, anh tham dự bao nhiêu trận đánh? Có được bao nhiêu huy chương?

Đang chăm chú lái xe, gương mặt của Minh vụt sáng rực lên.

-Tôi đụng địch cả vài chục trận, thắng có thua có, chiến thắng thì đầy oai hùng mà khi thua cũng te tua tàn mạt không khác gì con gà chết. Trong gần sáu năm ở Nhảy Dù, tôi có được hai Anh Dũng Bội Tinh, một cái đồng, một cái bạc. Ngầu nhất là cái huy chương bạc, khi giấy tờ hình như từ trên Bộ tư lịnh Sư đoàn Nhảy Dù về, trong một buổi lễ thật là long trọng được tổ chức trước Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tôi diện bộ đồ bông mới cáu chỉ, đôi giày bốt đờ sô láng cóng, cái mũ nồi đỏ tươi trên đầu, thêm sợi dây biểu chương ba màu trên vai, cùng với hơn ba chục sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, đứng trước hàng quân để thiếu tá Tiểu đoàn trưởng gắn huy chương.

Vì muốn chứng tỏ sự hiểu biết của mình về dây biểu chương, tôi nói với Minh, mục đích là khoe khoang kiến thức của mình, mặc dù, sự hiểu biết này là do tôi nghe lóm khi thiếu tá trưởng phòng của tôi nói chuyện với bạn của ông ấy.

-Anh Minh nè, dây biểu chương ba màu, anh dùng chữ không được đúng cho lắm. Đại khái, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có bốn loại dây biểu chương: thứ nhất, dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội hai lần. Thứ hai, dây biểu chương màu xanh Quân Công Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội bốn lần. Thứ ba, dây biểu chương màu đỏ Bảo Quốc Huân Chương, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội sáu lần. Thứ tư, cao nhất là dây biểu chương màu Tam Hợp, tổng hợp ba màu nói trên, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội tám lần. Hồi còn ở quân trường, Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bọn tôi được mang dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, có nghĩa là Trường Bộ Binh Thủ Đức được tuyên dương trước quân đội hai lần. Riêng dây biểu chương màu Tam Hợp của anh, tôi không chắc cho lắm, nhưng hình như trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có Tiểu đoàn I Nhảy Dù, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến là được mang dây biểu chương màu Tam hợp mà thôi.

Nghe tôi nói xong, Minh gật gù.

-Vậy mà tôi cứ tưởng lính đeo dây biểu chương trên vai, cũng giống như đồ trang sức của mấy cô đeo nơi tay nơi cổ, khi đi dạo phố. Cậu Quân biết không, sau lễ gắn huy chương, suốt ngày hôm ấy tôi cứ như là đi trên mây, bay trong gió, cái cảm giác thoải mái ấy kéo dài cả ngày.

Tôi thúc cùi chỏ vào hông của Minh.

-Anh không nói cho tôi biết, tại sao anh có được cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao bạc.

Minh nhíu mày rồi nói.

-À… chuyện như thế này, Tết Mậu Thân, Việt Cộng đồng loạt đánh phá Thủ đô Sài Gòn và mấy chục tỉnh thành của Miền Nam Việt Nam. Tiểu đoàn I Nhảy Dù cùng những đơn vị bạn của các binh chủng khác, có nhiệm vụ giải tỏa áp lực của Việt Cộng tại Sài Gòn. Trung đội của tôi đụng với một đơn vị chính quy của Việt Cộng, đang cố cầm chân lính Nhảy Dù để cho phe họ rút lui. Ba thằng Việt Cộng đóng chốt, chúng đặt cây đại liên dưới một gốc cây me to lớn, cành lá um tùm, rậm ri, thân cây như là một lá chắn thiên nhiên tuyệt vời, che chở cho việc phòng thủ. Bọn Việt Cộng bám chặt lấy gốc cây, khi thấy lính Nhảy Dù ló đầu ra là cây đại liên quạt xối xả như mưa, tụi tôi mà di chuyển lạng quạng là bể gáo ngay lập tức. Ông Trung sĩ tiểu đội trưởng của tôi, với cây súng phóng lựu M79 trên tay, đang loay hoay tìm cách khóa họng cây đại liên của Việt Cộng, chỉ vì một sơ xuất nhỏ khi di chuyển, ông ấy đã lãnh một viên đạn đại liên ngay ngực.

Vừa nói, Minh vừa lấy tay chỉ vào ngực phải của mình.

-Ngay đây nè, ông trung sĩ té ngửa, giãy đành đạch như con cá lóc bị đập đầu bằng cái chày vồ. Hai thằng bạn của tôi vì nóng lòng nhào lên cứu bạn của mình, cũng bị đốn ngã luôn. Mọi việc xảy ra khá bất ngờ khiến tôi đâm hoảng. Đang lúng túng, chưa biết phải làm gì trong tình huống nguy nan như vậy, tôi đưa mắt nhìn quanh, chợt phát hiện được một con hẻm ở gần đó. Tôi sống ở khu Vườn Chuối, Bàn Cờ nên khá rành về ngóc ngách của những con hẻm ở Sài Gòn. Không một chút chần chờ, tôi phóng ngay vô con hẻm. Đánh trước mặt không được thì phải đánh bọc hậu, với tình thế không lấy gì làm sáng sủa như thế này, một phút trôi qua sẽ có thêm nhiều đồng đội của tôi bị mất mạng. Tôi biết rằng, mình cần phải chạy đua với thời gian, chạy càng mau càng tốt, mau như một lực sĩ chạy tranh tài ở Thế vận hội. Vì suy nghĩ như vậy, cho nên tôi chạy như bay thiếu điều muốn đứt hơi. Sau một hồi chạy vòng vo tam quốc trong mấy con hẻm, cuối cùng tôi cũng đến nơi. Không kịp nghỉ xả hơi, tôi nhẹ nhàng rút chốt một trái lựu đạn M26 tặng cho tụi nó. Sau một tiếng nổ vang trời, rung rinh cả mặt đất, tôi bồi thêm một băng M16 cho chắc ăn. Hai thằng Việt Cộng nằm thẳng cẳng, im ru bà rù, thằng thứ ba còn ngáp ngáp được vài cái rồi cũng đi luôn, tôi tà tà vác cây đại liên đem về trung đội.

Giọng nói của Minh trở nên sôi nổi hơn.

-Cậu Quân biết không, cả trung đội nhìn tôi với những ánh mắt đầy thán phục. Riêng ông thầy của tôi, vỗ vai tôi rồi khen “Lẽ ra sếp lớn phải mượn cái quai chảo của tao, gắn vào cổ áo của mày mới đúng”. Đó là câu khen thưởng khiến tôi nhớ đời, bởi vì suốt mấy năm trong lính, chưa có một ông sĩ quan nào khen lính hay bằng ông thầy của tôi. Chuẩn úy trung đội trưởng của tôi, tuy mang lon nhỏ nhưng lại dám ăn to nói lớn, coi bộ ông ta nói còn ngon hơn ông tướng Tư Lệnh Sư Đoàn.

Minh quay đầu nhìn tôi.

-Cậu Quân có biết tại sao tôi nói như vậy không?

Tôi lắc đầu.

-Không.

Minh cười khoái chí.

-Vì ông thầy của tôi, thăng cho tôi một lần năm, sáu cấp luôn, từ lính lên thẳng quan, bỏ qua giai đoạn hạ sĩ quan. Kể từ đó, tôi có cái biệt danh là “Minh chuẩn úy”. Lợi dụng cái biệt danh này, mỗi lần được phép về Sài Gòn, tôi diện bộ đồ bông bạc màu sương gió với cái mũ nồi màu đỏ thắm, khi gặp gỡ và chuyện trò với các em gái hậu phương, tôi tự giới thiệu với mấy cô, câu nói mà tôi đã thuộc lòng, nguyên văn như sau “Thưa cô, bạn bè ở đơn vị gọi tôi là Minh chuẩn úy”. Tôi nói sự thật, nhưng đó là một sự thật đầy gian dối kiểu mập mờ đánh lận con đen. Xin cậu Quân nhớ cho, tôi nói tôi là “Minh chuẩn úy” chứ không phải Chuẩn úy Minh. Tiếng Việt của mình nó hơi lắc léo ở chỗ đó, cậu Quân ở trong quân đội còn lầm lẫn, huống gì các em gái hậu phương. Đúng không?

Tôi nói với Minh.

-Anh nói đúng, thoáng nghe qua lầm chết đi được. Mà thôi, trở lại chuyện ba thằng Việt Cộng và một cây đại liên đổi lấy cái ngôi sao bạc, cũng xứng đáng quá đi chớ. Chỉ có một cái huy chương mà anh vui vẻ cả ngày. Thiếu tá Lê Xuân Phương, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức, có hơn bốn chục cái huy chương. Từ cái thấp nhất là Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao đồng, cho đến cái cao nhất là Bảo Quốc Huân Chương, Thiếu tá Phương có đủ. Chưa kể những huy chương của Mỹ trao tặng cho ông ta.

Minh quay nhìn tôi, đôi mắt của anh mở lớn.

-Hơn bốn chục cái huy chương?

Tôi đáp.

-Đúng.

Minh lắc đầu ra vẻ không tin.

-Huy chương chứ đâu phải lá vàng rơi rụng đầy đường, muốn lượm bao nhiêu cũng được. Tôi nghĩ đó chỉ là tin đồn, người ta vẽ rắn thêm chân để ca tụng ông ấy mà thôi. Cậu Quân nè, tôi có hơi thắc mắc cộng thêm chút nghi ngờ, cậu chưa bao giờ gặp ông Thiếu tá Phương, làm sao mà cậu biết được ông ấy có bao nhiêu cái huy chương. Cậu nghe người ta kể lại phải không? Chắc cậu biết câu chuyện con rắn vuông rồi chứ gì?

Tôi gật đầu, rồi nói với Minh.

-Tôi có biết chuyện con rắn vuông.

Miệng trả lời nhưng tôi nghĩ thầm, anh chàng này lăn lóc, va chạm với đời quá nhiều, nói chuyện với anh ta chỉ cần một điểm không rõ ràng, sẽ bị anh ta quay tới bến. Thiệt vàng đâu có sợ lửa, tôi từ tốn giải thích cho Minh.

-Anh đọc sách nhiều cũng biết rồi, đâu cần phải giáp mặt trực tiếp, nói chuyện với ai đó mới biết về họ. Tôi đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, tất cả những chi tiết về cuộc đời và binh nghiệp của Thiếu tá Phương đều có đăng đầy đủ trên đó.

Thấy Minh im lặng không phản đối, tôi mới nói tiếp.

-Đối với một quân nhân, chiến công rất quan trọng nhưng tư cách của họ mới là chuyện đáng nói hơn. Cũng trong số báo Chiến Sĩ Cộng Hòa nói trên, có thêm một bài viết dài gần ba trang của Đại úy William, ông này là cố vấn của Tiểu đoàn 204 Trinh sát, bài viết bằng tiếng Anh, được dịch ra tiếng Việt. Đại úy William là người từng sống chết với binh sĩ của Tiểu đoàn 204 trong suốt hai năm, ông ta đưa ra hai nhận xét về Thiếu tá Phương như sau “Thứ nhất về phương diện vật chất, Thiếu tá Phương là cấp chỉ huy trong sạch, không bao giờ lợi dụng cấp bậc và chức vụ của mình, làm thiệt hại đến quyền lợi của binh sĩ. Một hộp thịt, một gói thuốc lá, một kí đường, một lon dầu ăn của Quân tiếp vụ, phải được đưa đến tận tay của binh sĩ thụ hưởng, không một chút suy suyển. Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp ông ta bớt chút tiền lương đầy khiêm nhường của mình để giúp đỡ cho binh sĩ dưới quyền, khi họ lâm cảnh ngặt nghèo. Thứ hai về phương diện chiến đấu, bọn cố vấn chúng tôi, khi hành quân nhảy toán với ông ấy vào mật khu Núi Voi của Việt Cộng, nơi đó với những dãy núi đá hoa cương chập chùng, chớn chở, cao ngút trời xanh, quanh năm mây xám giăng đầy, Thiếu tá Phương cùng với lính của ông ta trong những bộ bà ba đen hay ka ki Nam Định tùy theo vùng xâm nhập, súng AK trên tay, chân mang dép râu. Họ xuất hiện như những bóng ma, di chuyển nhẹ nhàng như lướt đi trong không khí, khi ẩn khi hiện, đó là hình ảnh của con cọp sống trong rừng già. Cảm phục một con người trong sạch, một chiến sĩ can trường, cho nên chúng tôi tặng Thiếu tá Phương danh hiệu The Gray Tiger”. Từ đó về sau, bắt chước cố vấn Mỹ, tất cả binh sĩ cũng như sĩ quan của Tiểu khu Tuyên Đức, đều gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger.

Tôi ngưng kể chuyện, định hỏi ý kiến Minh có đồng ý với Đại úy William, cố vấn Mỹ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát về chữ Gray Tiger hay không. Chưa kịp hỏi, tôi đã nghe Minh nói với tôi, giọng nói đầy tự tin của một cựu chiến binh Nhảy Dù.

-Theo như tôi biết mặc áo quần, trang bị vũ khí của Việt Cộng, rồi nhảy vào mật khu của họ bên Lào hoặc trong dãy Trường Sơn với mục đích do thám, lấy tin tức của những đại đơn vị của Việt Cộng di chuyển như thế nào, rồi gọi máy bay đến tiêu diệt, đó là nhiệm vụ của Lực Lượng Đặc Biệt, Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của Tiểu khu Tuyên Đức là Địa Phương Quân, họ chỉ có bổn phận giữ gìn an ninh diện địa trong phạm vi của Tiểu khu Tuyên Đức mà thôi. Nói rộng ra, Địa Phương Quân của tỉnh nào sẽ lo phần bảo vệ an ninh lãnh thổ của tỉnh ấy.

Minh quay nhìn tôi, rồi hạ một câu chắc nịch như một cộng với một là hai.

-Nhảy toán vào mật khu của Việt Cộng, không phải là nhiệm vụ của Địa Phương Quân.

Minh đã dồn tôi vào góc tường, không chừa cho tôi một lối thoát nhỏ. Tôi nói với Minh.

-Quả thật, những hoạt động nhảy toán của Lực Lượng Đặc Biệt và Lôi Hổ Nha Kỷ Thuật tôi hoàn toàn mù tịt, chuyện mình không biết, tôi không dám bàn đến. Thế nhưng chuyện Đại úy William mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt Nam, trước khi lên đường về nước, ông ta viết một bài đề cao Thiếu tá Phương thì ông ấy được lợi lộc gì? Tôi tin rằng, Đại úy William chỉ muốn nói lên một sự thật mà ông ta đã chứng kiến tận mắt, trong suốt thời gian ông ấy làm cố vấn cho Tiểu đoàn 204 Trinh sát mà thôi. Hơn nữa, anh Minh à, anh nhìn người lính Địa Phương Quân qua con mắt chủ quan của một người lính Nhảy Dù, đó là cách nhìn của mười năm về trước, ngày đó tôi cũng nghĩ như anh, nhưng sau này tôi mới hiểu rõ hơn: Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, năm bảy mươi hai phải lo tái chiếm Cổ Thành, mấy năm sau đó lại phải giữ vùng địa đầu giới tuyến, nơi mà cả năm, sáu sư đoàn lính chính quy Bắc Việt với xe tăng, đại pháo, lúc nào cũng sẵn sàng lấp sông Bến Hải, tiến chiếm Miền Nam. Lợi dụng chuyện hai sư đoàn tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị trói chân, cột tay tại Quảng Trị, vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, quân Cộng Sản đang hoạt động tại Miền Nam tha hồ tác yêu tác quái, mà không một chút lo sợ phải đối đầu với Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.

Tôi nhìn Minh thật lẹ, rồi nói tiếp.

-Trong tình huống khó khăn như vậy, bốn Quân khu của Việt Nam Cộng Hòa, phải tự lo liệu lấy thân mình. Địa Phương Quân không còn hoạt động trong phạm vi tỉnh của mình nữa, đến đầu năm bảy mươi lăm, Địa Phương Quân đã được nâng lên cấp Liên Đoàn và họ được điều động đi khắp mọi nơi. Anh Minh cũng đừng có ngạc nhiên khi thấy vài tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu khu An Giang, ở mãi tận Quân khu III sình lầy nước đọng, lại bay lên núi đánh nhau với Việt Cộng tại Khánh Dương, là một quận lỵ nhỏ của Tiểu khu Khánh Hòa thuộc Quân khu II. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát là đơn vị trừ bị vùng của Quân khu II, bất cứ tiểu khu nào của Quân khu II cần, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát sẽ nhảy vào tăng viện. Họ đã từng tăng phái cho Tiểu khu Ninh Thuận, từng Nhảy trực thăng vận vào mật khu An Lão của Việt Cộng, nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Tiểu khu Bình Định, với nhiệm vụ là tiêu diệt những đơn vị của Việt Cộng, lẩn trốn trong mật khu này. Binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, ngụy trang và trang bị vũ khí của Việt Cộng nhưng nhiệm vụ của họ là tấn công để tiêu diệt và phá hủy hậu cần của Việt Cộng, chứ không phải do thám lấy tin tức.

Liếc mắt nhìn Minh, khi thấy anh ta vẫn đang chăm chú lái xe mà không một lời phản đối, tôi bèn quay trở lại câu chuyện The Gray Tiger.

-Cái biệt danh mà cố vấn Mỹ tặng cho Thiếu tá Phương tuy đúng nhưng không được chính xác cho lắm.

Minh vẫn dán mắt vào kính xe, miệng nói.

-Ở trong rừng, còn có ai hơn chúa sơn lâm, tụi cố vấn Mỹ gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger, tôi cho rằng khó tìm được chữ nào đầy đủ ý nghĩa hơn.

Tôi nhỏ giọng với Minh.

-Có chớ sao không, theo tôi nghĩ nếu cố vấn Mỹ có đọc bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, họ sẽ không ngần ngại tặng ngay cho Thiếu tá Phương mấy chữ “Đại trượng phu”.

Minh hơi nhăn mặt.

-Thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ nghe hay đọc bài thơ Hồ Trường. Bài thơ đó ra sao? Nói về cái gì vậy?

Tôi nói.

-Câu đầu của bài thơ, mở ra hình ảnh của một người hùng như thế này:

Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường.

Bài thơ khá dài, mai mốt rảnh rỗi tôi sẽ chép bài thơ này tặng anh. Còn bây giờ, tôi muốn nhắc lại: chữ Gray Tiger trong tiếng Anh chỉ nói lên được cái vẻ hiên ngang, oai hùng bên ngoài của một người, họa hổ họa bì nan họa cốt. Chữ “Đại trượng phu” của Việt Nam trong bài thơ Hồ Trường mới diễn tả đầy đủ được một con người toàn diện, cả trong lẫn ngoài, cả Tài lẫn Đức. Trong khi tôi đi lính gần bảy năm, leo lên đến cấp Trung úy mà chưa một lần thấy chiến trận là gì, thậm chí, tôi có cây súng M16 treo ở góc phòng Trung tâm Hành quân mà chưa hề chạm tay đến. Hai người lính, hai thái cực, Thiếu tá Lê Xuân Phương ở cực Bắc, tôi ở cực Nam. Ông ấy ngày đêm dầm mưa dãi nắng đánh nhau với Việt Cộng ngoài chiến trường, với hơn bốn mươi cái huy chương đủ loại, tôi làm việc ở văn phòng với nệm ấm chăn êm, chưa bao giờ thấy cái huy chương vuông hay tròn như thế nào. Cho nên tôi mới nói, không bao giờ tôi gặp được Thiếu tá Phương. Thế nhưng, Tổng Thống Thiệu thì tôi đã thấy mặt ông ấy.

Minh cười thoải mái.

-Tôi biết rồi, cậu Quân thấy Tổng Thống Thiệu khi ông ấy chủ tọa lễ mãn khóa ở Trường Võ Bị Đà Lạt phải không? Cả vài ngàn người thấy chứ đâu phải một mình cậu.

Tôi chần chừ giây lát rồi nói.

-Chỉ một mình tôi đối diện với Tổng Thống Thiệu, chuyện có hơi dài dòng chút đỉnh.

Đang nói chuyện với Minh, tôi bỗng giật mình khi thoáng thấy cái tháp chuông nhà thờ của quận Di Linh, lờ mờ trong sương sớm. Tôi vội vàng hỏi.

-Anh Minh thấy cái tháp chuông đó không?

-Thấy chớ, mình đang đi ngang qua Di Linh. Sẵn đây, tôi cũng nói với cậu là mình sẽ ghé lại tiệm ăn của anh Tư, là anh kết nghĩa của tôi. Trước đây chúng tôi là tài xế xe khách, cách đây ba năm anh ấy giải nghệ rồi mở quán ăn, tụi mình ghé chỗ đó để rửa mặt tiện thể trút luôn cái bầu tâm sự cho nhẹ người, sau một đêm thức trắng.

Tôi khều nhẹ vào vai Cúc.

-Em à, thức dậy đi.

Cúc giật mình, đưa tay giụi mắt rồi nhìn quanh.

-Mình đang ở đâu vậy anh?

Tôi nói nhỏ với Cúc.

-Di Linh.

Minh cho xe tấp vô bãi đậu xe của một cái quán ăn mà cửa nẻo hãy còn đóng kín, với tấm bảng to choán hết cái bao lơn ở lầu hai “Tiệm cơm Tư Chơi”.

Theo tôi ước đoán, có tám mươi đến chín mươi phần trăm người dân Di Linh chạy trốn Cộng Sản, họ di tản đến Đơn Dương rồi theo dân Đà Lạt về Sài Gòn. Cho đến hôm nay những người dân di tản khỏi Di Linh vẫn còn kẹt ở Sài Gòn, chưa kịp trở về, quận Di Linh giống như một cái thành phố chết.

Tôi đảo mắt nhìn quanh, bên kia đường chợ Di Linh vắng hoe như chùa Bà Đanh, trước chợ lèo tèo vài ba người đàn bà ngồi bệt dưới đất, bên cạnh mớ quang gánh, thúng mủng, với dăm ba trái bầu xanh, mươi trái bí đỏ bỏ nằm lăn lóc dưới đất.

Minh vừa đập cửa vừa gọi to.

-Anh Tư, mở cửa đi, Minh chuẩn úy nè. Mở cửa đi.

Tôi nhắc Minh.

-Nhỏ nhỏ thôi anh, giờ này mà còn chuẩn úy với thiếu úy gì nữa.

Một người đàn ông với gương mặt khá bảnh bao, tuổi trạc 40 trong bộ đồ bà ba đen đã bạc màu, chân mang đôi dép râu, chầm chậm đẩy cánh cửa sắt. Khi nhìn thấy Minh, ông ta mừng rỡ ra mặt.

-Minh hả, cả tháng hơn rồi mới gặp lại em, vô tiệm đi.

Vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa, Minh la to.

-Trời đất ơi, bàn ghế đâu hết trơn rồi anh Tư? Bộ dẹp tiệm rồi hả?

Người đàn ông trả lời với giọng nói xụi lơ.

-Mấy ổng không cho buôn bán, hơn nữa, đâu có gạo để nấu cơm mà bán. Còn bàn ghế, đồ đạc của tiệm thì chở về cái ủy ban nhân dân hay quân đội gì đó quản lý rồi. Không muốn dẹp tiệm, cũng phải dẹp thôi.

Người đàn ông tên Tư nhìn tôi và Cúc rồi nói tiếp.

-Mời cô với cậu ngồi, đây là bộ bàn ghế duy nhất còn sót lại trong tiệm. Đó là đồ của Cách Mạng lại quả cho tôi, sau khi dọn sạch sẽ tất cả mọi thứ trong tiệm.

Tôi và Cúc chưa kịp ngồi xuống ghế, Minh đã nói với anh Tư.

-Lái xe cả đêm mệt quá, tụi em cần ra bể nước phía sau rửa mặt. Trong tiệm có gì ăn uống không anh Tư?

Với giọng nói tỉnh bơ của một người bất cần đời.

-Sạch sẽ, không có cơm mà cũng chẳng có cháo, trong nhà còn vài gói mì ăn liền, nếu mấy em muốn anh sẽ nấu cho.

Minh tươi cười.

-Gì cũng được mà anh Tư.

Nói xong, Minh ngoắc tay, kêu tôi và Cúc đi ra phía sau nhà.

Khi chúng tôi trở vào trong tiệm, anh Tư đang ngồi nơi bàn ăn, trên bàn đã dọn sẵn ba tô mì còn nóng hổi, khói bốc lên nghi ngút. Tôi nhìn quanh tiệm, một bầu không khí lạnh lẽo bao trùm khắp mọi nơi, rồi cúi đầu nhìn cái trứng gà trong tô mì mà cảm thương cho ông chủ tiệm hết sức. Mới có hơn một tháng giải phóng mà Di Linh đã tiến mau quá chừng, cứ cái đà này, vài tháng nữa không biết sẽ tiến tới đâu. Tôi, Cúc và Minh vì đói quá nên chúi đầu vô tô mì. Anh Tư đi xuống bếp, đem lên ba ly cà phê đen, đựng trong một cái khay.

-Uống chút cà phê cho tỉnh người đi mấy em.

Tôi vừa ăn mì, vừa gợi chuyện với anh Tư mà mục đích là muốn tìm hiểu, muốn biết rõ hơn về trận đánh tái chiếm Di Linh của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát.

-Tháng trước, đánh nhau tơi bời ở chợ Di Linh này, phải không anh Tư?

Với vẻ mặt đầy ngạc nhiên, anh Tư hỏi tôi.

-Sao cậu biết?

Minh lật đật trả lời anh Tư.

-Cậu Quân, là sĩ quan của Phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt đó anh Tư.

Anh Tư nhìn tôi như dò xét rồi nói.

-Đúng vậy, khoảng hơn một tháng trước, buổi sáng tôi nghe được tin Việt Cộng đã chiếm xong Di Linh mà không nổ một tiếng súng, bởi vì dân chúng và lính Việt Nam Cộng Hòa ở Di Linh đã di tản về Đà Lạt, về Đơn Dương hết rồi. Lính đi đến đâu, dân chạy theo đến đó, bỏ lại Di Linh vắng hoe như cái thành phố ma. Vậy mà, khi chiều đến tiếng súng nổ như bắp rang khắp mọi nơi, tôi nhìn qua khe hở của cánh cửa sắt và lấy làm lạ đến độ không tin vào đôi mắt của mình, không hiểu tại sao Việt Cộng lại bắn nhau với Việt Cộng, cả vài chục cái xác chết nằm lăn lóc trước chợ. Khi tiếng súng ngừng hẳn, chiến trường đã được kiểm soát, một ông Việt Cộng gõ cửa nhà tôi xin nước uống và trấn an tôi.

-Bà con yên tâm, chúng tôi là lính Trinh sát thuộc Tiểu đoàn 204 của Tiểu khu Tuyên Đức, ngụy trang làm lính Việt Cộng, tái chiếm Di Linh.

Nghe tới đây, Minh gật gù như thấm ý rồi nói.

-Bây giờ, tôi mới thật sự tin lời cậu Quân nói đêm qua, về Thiếu tá Lê Xuân Phương và Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của ông ta.

Anh Tư nhìn Minh hỏi.

-Tối qua, cậu Quân nói chuyện gì vậy?

Minh nói.

-Không có gì đâu, anh Tư kể tiếp đi.

Anh Tư chậm rãi mồi một điếu thuốc, đôi mắt lơ đễnh nhìn lên trần nhà.

-Ngày hôm sau, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát bắt sống được ba cán binh và một ông Thượng úy Việt Cộng, tịch thu một xe Molotova do Liên Xô sản xuất với nhiều súng ống, đạn dược. Đến chiều, họ kéo chiếc xe và bốn tù binh về Đà Lạt. Hôm sau nữa, lại đánh nhau gần tháp chuông nhà thờ, Việt Cộng đã bị đẩy lui về hướng Bảo Lộc. Chiến tranh đã lùi ra ngoài bìa rừng, không còn ở trong thành phố nữa.

Anh Tư đẩy ly cà phê về phía tôi và Minh rồi nói.

-Hình như, hai bên đã đánh nhau một trận long trời lở đất ở ngoài rừng, tôi nghe tiếng gầm rú liên hồi của xe tăng, tiếng súng lớn, súng nhỏ, rồi đạn pháo nổ suốt đêm, mãi cho đến sáng chiến trường mới im tiếng súng. Sau này, khi đã hoàn toàn chiếm được Di Linh, rồi kéo quân lên giải phóng Đà Lạt. Trong buổi mít tinh mừng ngày Di Linh hoàn toàn giải phóng, một ông cán bộ Việt Cộng thứ thiệt nói với dân chúng rằng, họ đã tiêu diệt hơn một trăm năm mươi tên lính Ngụy thuộc Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, bắt sống gần một trăm tên, số còn lại băng rừng chạy trốn về Phan Thiết. Cuối cùng ông cán bộ Việt Cộng nói “Kết thúc chiến dịch giải phóng Di Linh, các chiến sĩ của ta đã xóa tên cái Tiểu đoàn 204 Trinh Sát Ngụy phản động, góp phần giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt Nam”.

Anh Tư cười với cặp môi trề ra.

-Đó là cán bộ Việt Cộng nói, tôi nghe sao thì nói lại như vậy, cậu Quân tin hay không là quyền của cậu.

Tôi nghĩ, với chừng đó chiến sĩ phải hy sinh mới chận đứng được sức tiến quân như vũ bão của Việt Cộng, đủ thời giờ cho người dân Đà Lạt di tản về Sài Gòn. Cho dù những con số mà anh Tư nói, có thể không chính xác nhưng cũng làm cho tôi quặn đau trong lòng.

Minh hớp một ngụm cà phê, mắt nhìn ra cửa rồi nói.

-Anh Tư, có khách.

Anh Tư quay nhìn người đàn bà đang xăm xăm đi vào.

-Chào bà tổ trưởng, mời bà vào chơi.

Đưa tay chỉ chúng tôi, anh Tư nói với bà tổ trưởng.

-Đây là mấy đứa em, vừa từ Sài Gòn lên.

Liếc mắt nhìn chúng tôi, cái liếc mắt đầy xoi mói, bà tổ trưởng nói với anh Tư, giọng nói nghe như là một mệnh lệnh.

-Mười giờ sáng nay họp tổ, nhớ mang theo cơm trưa với cây cuốc.

Dứt lời, bà quay lưng đi ra cửa, đưa cái mông bánh đúc ngúc nga ngúc ngắt, dáng đi lẹt đẹt y hệt như con vịt bầu.

Anh Tư nói.

-Bà tổ trưởng, trước đây là người làm công rửa chén cho tiệm của tôi. Cũng may, tôi đối xử rất tử tế với bà, cho nên bây giờ làm tổ trưởng, bà vẫn nể trọng tôi chút đỉnh, nếu không thì thế nào bà ta cũng hạch hỏi mấy người vài câu, để chứng tỏ uy quyền của mình. Cách Mạng ba mươi mà, ngọn lửa đấu tranh giai cấp đang ngùn ngụt cháy trong tim họ, nhìn đâu cũng thấy rặt một bọn phản động do CIA của Mỹ gài lại.

Minh nói với anh Tư.

-Tụi em phải đi, vì có nhiều việc cần giải quyết ở Đà Lạt.

Cúc lục trong bóp lấy ra tờ giấy 500 đồng, đưa cho anh Tư.

-Chừng này, có đủ cho tiền ăn sáng và cà phê không anh Tư?

Cầm tiền trong tay, anh Tư nói.

-Dư rồi, cảm ơn mấy em.

Chúng tôi chào ông chủ tiệm cơm thời Cộng Sản Chủ Nghĩa, rồi ra xe.

Khi xe đã đi khỏi Di Linh một đoạn khá xa, tôi vẫn còn nhớ về những người lính Địa Phương Quân của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát đã hy sinh thân mình trong trận đánh tái chiếm Di Linh, họ đi vào chỗ chết để người dân Đà Lạt có con đường sống, con đường di tản về Sài Gòn. Những chiến sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, đã một thời chiến đấu vì dân vì nước, bảo vệ quê hương, hình bóng của họ sẽ không bao giờ mờ phai theo năm tháng, mà sẽ mãi mãi sống trong lòng người dân Đà Lạt, trong lòng dân tộc. Tôi quay đầu nhìn lại, quận Di Linh đã khuất sau cánh rừng thưa. Một niềm tin mãnh liệt chợt đến với tôi, Thiếu tá Lê Xuân Phương và hàng trăm binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát vẫn còn sống sót, họ đang ở đâu đó trong núi rừng trùng trùng điệp điệp của dãy Trường Sơn.

Tôi nhắm mắt lại “The Gray Tiger, Đại trượng phu, ngàn thu vĩnh biệt.”

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Feb 2025

Dâu bể trùng phùng

Tập 2

Chương 3

Mấy giọt mưa rừng.

Từ xa, tôi đã thấy Cúc đang đứng nói chuyện với anh tài xế xe vận tải. Một tay của Cúc đưa lên trời, tay kia chỉ về phía chiếc xe như muốn phân bua điều gì đó. Khi nhìn thấy tôi, Cúc bỏ mặc anh tài xế, vội vàng chạy về phía tôi. Dang tay nắm lấy tay tôi với đôi mắt đầy ngạc nhiên, Cúc hỏi.

-Anh đi đâu từ sáng tới giờ, làm em lo quá sức. Em phải năn nỉ mãi anh tài xế mới chịu đợi anh trở về. Mà nè, áo của anh đâu rồi? Tại sao lại ra nông nổi này?

Thay vì trả lời, tôi kéo Cúc ngồi xuống bậc thềm phía trước, dưới mái hiên của căn nhà mà chúng tôi ngủ tối hôm qua, rồi từ tốn kể cho Cúc nghe chuyện của viên chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta. Cuối cùng tôi nói.

-Cái áo em mua cho anh ngày hôm qua ở chợ Bến Thành, anh đã dùng nó, đắp lên mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù rồi.

Cúc nói.

-Em thấy anh không mặc áo nên mới hỏi vậy thôi. Anh không nhớ sao? Hôm qua em đã mua cho anh ba bộ quần áo, để em lấy cho anh cái khác.

Tôi gật đầu, mắt liếc nhìn anh tài xế vừa hút thuốc vừa đi về phía chiếc xe. Khi ngang qua chỗ tôi và Cúc ngồi, anh ta vẫy tay.

-Cô với cậu lẹ lẹ lên. Mình đi cho rồi.

Tôi chụp cái áo tròng vào người không kịp gài nút, tay trái xách cái va-ly, tay phải nắm tay Cúc kéo vội lên băng ghế trước của chiếc xe tải. Cúc ngồi giữa, tôi ngồi ngoài, lòng cabin xe rộng rãi, nệm ghế dày và êm vì được thiết kế cho tài xế lái đường xa khiến tôi hài lòng, không muốn đòi hỏi gì thêm nữa.

Khi xe chạy đến cầu xa lộ Biên Hòa, Cúc đưa cho tôi gói xôi đậu đen được gói trong miếng lá chuối.

-Anh ăn đi kẻo đói.

Nói xong Cúc nhìn sang anh tài xế.

-Bác tài ơi, bác có ăn xôi không? Tôi mua tới sáu, bảy gói lận, đủ cho mình ăn tới Đà Lạt.

Anh tài xế miệng nói nhưng mắt vẫn dán vào kính xe phía trước.

-Cảm ơn cô, tôi không đói. Khi nào cần tôi sẽ xin cô.

Tôi vừa ăn xôi vừa đưa mắt nhìn quanh, khúc đường này quá quen thuộc với tôi. Tôi biết, chừng mươi phút nữa xe sẽ chạy ngang qua nhà máy xi măng Hà Tiên, rồi Trường Bộ Binh Thủ Đức. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, chiều nay chúng tôi sẽ tới cầu Đại Ninh. Tại đây, tôi và Cúc xuống xe, tìm tàu bè hay bất cứ phương tiện gì để qua sông Đa Nhim, sau đó đón xe khác đi về Đà Lạt. Phần anh tài xế, anh ta phải bỏ xe lại bên này sông. Nếu muốn đem xe về Đà Lạt, cách duy nhất là anh tài xế phải chạy ngược trở lại ngã ba Dầu Giây, đi vòng qua Phan Thiết, Phan Rang rồi theo đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt.

Lương tâm của tôi không cho phép mình lừa gạt anh tài xế, về chuyện cầu Đại Ninh đã nằm dưới đáy sông rồi. Tôi nói với anh ta.

-Anh có biết là cây cầu Đại Ninh đã bị sập rồi hay không?

Anh tài xế trợn mắt nhìn tôi.

-Sập hồi nào? Mà tại sao lại sập?

Tôi trả lời.

-Cầu đã bị công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt đặt mìn, giựt sập hơn một tháng rồi. Anh không biết hay sao?

-Ê…đó chỉ là tin đồn. Hôm qua, một ông bạn của tôi đã lái chiếc Desoto chở đầy rau từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Chính ông ấy nói với tôi, tất cả cầu cống trên quốc lộ 20 đều nguyên vẹn tốt đẹp, còn đường xá thì êm ru phẳng lì.

Tôi nghe anh tài xế nói mà tưởng như mình nằm mơ, làm sao có thể có được một chuyện thần thoại hoang đường như vậy. Tháng trước chính mắt tôi thấy Đại úy Thi, công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt, trình với Thiếu tướng Chỉ huy trưởng là ông đã cho nổ sập cầu Đại Ninh rồi. Tại sao, hôm nay cây cầu vẫn còn nguyên? Không lẽ Đại úy Thi đã báo cáo không đúng sự thật. Không biết phải tin vào ai, tôi nghĩ thầm phải chi mình có đôi cánh, bay cái vèo tới cầu Đại Ninh để biết rõ hư thực như thế nào. Nghĩ như vậy nhưng tôi vẫn tin rằng cầu Đại Ninh đã bị sập, đúng như lời Đại úy Thi đã báo cáo.

Tôi thở dài rồi nói.

-Không thể nào có chuyện như vậy được. Chính tai tôi nghe báo cáo, cầu Đại Ninh đã bị giật sập.

Anh tài xế nhìn tôi, rồi ngập ngừng nói.

-Cậu dám đoan chắc như vậy, nếu tôi đoán không lầm, cậu phải là lính mà cũng có thể là sĩ quan của Trường Võ Bị Đà Lạt.

Tôi định nói dối rằng mình không phải là lính, vì không biết rõ anh tài xế là người có thân Cộng hay không. Bài học kinh nghiệm lúc sáng còn đó, trong lúc tranh tối tranh sáng như thế này, không biết giữ gìn lời ăn tiếng nói có thể mất mạng như chơi, nhưng không biết vì sao, tôi lại dõng dạc nói với anh ta.

-Đúng, tôi là trung úy thuộc Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt.

Gương mặt của anh tài xế chợt sáng lên, đang lái xe anh ta vội vàng đưa tay phải lên cuối chân mày.

-Chào trung úy, trước đây tôi là hạ sĩ nhất Nhảy Dù. Năm một ngàn chín trăm bảy mươi, tôi được giải ngũ….

Tôi nhìn bàn tay phải của anh tài xế chỉ còn ba ngón tay, ngón trỏ và ngón giữa của anh ta bị cụt mất. Tôi hiểu ngay tại sao anh ta được giải ngũ. Tôi nói mà như là nhắc nhở.

-Việt Nam Cộng Hòa đã mất rồi, xin anh đừng có gọi tôi là trung úy nữa. Tôi tên là Quân, còn đây là Cúc, vợ của tôi.

Anh tài xế cười.

-Cậu Quân nhắc tôi mới nhớ, mấy chục năm nay quen thói rồi, tôi sẽ thay đổi cách xưng hô cho hợp thời thế. Tôi tên là Minh.

Bầu không khí trong xe bỗng trở nên thân mật ấm cúng hơn, khi Minh lấy một lon nước ngọt đưa cho Cúc.

-Mời cô và cậu Quân.

Tôi nói.

-Cảm ơn anh Minh, bây giờ tôi có thể nói chuyện thật lòng với anh mà không sợ gì cả. Mấy phút trước đây tôi vẫn còn lo sợ, lỡ anh là người có cảm tình với Việt Cộng thì kẹt cho tôi.

-Cậu Quân khỏi lo, gia đình tôi là Ngụy thứ thiệt, Ngụy một trăm phần trăm.

Như để chứng minh cho lời nói của mình, Minh nói thêm.

-Tôi còn có hai thằng em đều là sĩ quan Nhảy Dù, một thằng chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thằng còn lại, tháng Ba vừa rồi bị thất lạc ở mặt trận Khánh Dương. Cho đến giờ này, tôi vẫn không có tin tức gì của nó.

Tôi hỏi Minh.

-Em của anh thất lạc ở Khánh Dương mang cấp bậc gì?

-Nó là chuẩn úy, ra trường năm ngoái rồi tình nguyện về Nhảy Dù.

Tôi giật mình và cảm thấy trái tim của mình đập mạnh hơn, hình ảnh của chuẩn úy Ngo quay về trong đầu. Tôi vội vàng hỏi Minh.

-Anh ấy tên gì?

-Nó tên Hoàng.

Tôi lắc đầu rồi nói.

-Không phải.

Minh nói với tôi.

-Phải mà, nó tên là Lê Văn Hoàng.

Tôi phân trần với Minh.

-Xin lỗi, tôi đang nói về một người khác.

Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, tôi mới từ tốn kể cho Minh nghe về chuyện của ông chuẩn úy Nhảy Dù tên là Ngo, vừa bị bắn chết sáng nay. Gương mặt của Minh biến đổi theo từng chi tiết của câu chuyện, từ cái vẻ thờ ơ lúc ban đầu, chuyển dần sang căng thẳng. Khi tôi kể xong xuôi mọi diễn biến đã xảy ra lúc sáng nay, riêng cái đoạn tôi không dám nhận mình là lính Ngụy, tôi giấu biệt, lúc ấy cũng là lúc xe sắp đến Biên Hòa.

Minh quay nhìn tôi.

-Tôi có chuyện muốn bàn với cậu.

-Chuyện gì vậy anh?

Giọng nói của Minh lộ vẻ như trách móc.

-Tại sao cậu không phụ giúp mọi người một tay, lo chôn cất mấy người lính Nhảy Dù?

Tôi giải thích.

-Anh Minh à, trước khi đi, tên cán bộ chỉ huy của Cộng Sản có viết mấy chữ đặt dưới chiếc giày, với nội dung là cấm đem xác đi chôn.

Minh nói.

-Cậu không biết gì về Cộng Sản, tin bọn nó chỉ có nước bán lúa giống, đánh trống bỏ dùi là nghề của họ. Tên Việt Cộng viết tấm giấy đó, giờ này nó đã dông mất tiêu rồi, không bao giờ trở lại chốn cũ. Cậu có đốt đuốc tìm mười năm, cũng chẳng bao giờ gặp nó.

-Sao anh biết?

-Việt Cộng là bọn đa nghi xảo quyệt giống như bầy Cáo, chúng không bao giờ dám trở lại chỗ chúng đã đi qua hoặc đã trú ngụ vì sợ gài bẫy. Tôi còn lạ gì họ, suốt thời niên thiếu ở vùng xôi đậu, thêm gần ba năm lái xe chở hành khách, hai năm lái xe vận tải trên tuyến đường Sài Gòn – Đà Lạt, bị Việt cộng đào đường đắp mô, chận xe đóng thuế. Tiếp xúc thường xuyên với Việt cộng, cho nên tôi rành bọn họ quá. Hù dọa, khủng bố thiên hạ, là chính sách và đường lối của mấy ổng mà.

Minh ngừng nói, anh ta lần trong túi áo lấy ra bao thuốc Bastos xanh, chìa về phía tôi.

-Mời cậu Quân hút thuốc.

-Cảm ơn anh, để khi khác.

Minh quay cửa kính xe xuống, với cái bật lửa Zippo bóng loáng trên tay trái, Minh mồi thuốc, trong khi tay phải chỉ với ba ngón tay vẫn điều khiển tay lái một cách thuần thục.

Minh nói với tôi, mà khói thuốc vẫn còn đầy trong miệng.

-Cậu Quân à, tôi có chuyện cần cậu giúp một tay. Không biết cậu có đồng ý không?

-Chuyện gì? Nếu không phải chuyện hái sao trên trời, tôi sẽ làm ngay.

Minh nghiêm giọng.

-Tôi muốn cậu với tôi, tụi mình đi chôn sáu người lính Nhảy Dù. Một mình tôi không đủ sức, nhất là vấn đề tài chánh. Hai ngàn mà cậu và cô trả tiền xe cho tôi ngày hôm qua, tôi tiêu xài đã hụt đi mất gần một trăm rồi.

Tự nãy đến giờ, Cúc ngồi yên nghe Minh nói chuyện với tôi. Bất ngờ Cúc lên tiếng.

-Anh Minh là dân Sài Gòn phải không?

Minh đáp.

-Tôi chỉ có một phần là dân Sài Gòn thôi.

Cúc nói.

-Vậy còn mấy phần khác, là dân xứ nào?

Minh hỏi lại Cúc.

-Cô muốn biết gốc gác tôi ở đâu, là dân xứ nào phải không? Ba anh em tôi gốc ở Bến Tre.

Cúc hỏi.

-Tại sao anh không ở Bến Tre mà lại lên Sài Gòn? Chắc ở dưới đó mất an ninh chứ gì?

Minh nói.

-Việt Cộng gọi đó là vùng đất bất khả xâm phạm của họ, cho nên ở Bến Tre tình hình an ninh không được yên ổn như Sài Gòn, nhất là làng của chúng tôi ở cách tỉnh khá xa, khi mặt trời mọc phe Quốc Gia mình kiểm soát, lúc mặt trời lặn lại thuộc về đám âm binh Việt Cộng. Sống ở vùng quê, chúng tôi thấy rõ cái dã man tàn ác của Việt Cộng mà những người sống ở thành phố như cô và cậu Quân, không bao giờ biết được.

Minh hít một hơi thuốc dài rồi mới thong thả nói tiếp.

-Nói có sách mách có chứng, tôi phải kể lại chuyện sau đây, để cậu Quân và cô Cúc thấy rõ cái man rợ của Việt Cộng. Đâu khoảng đầu năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn, khi mà Đệ Nhất Cộng Hòa vừa mới sụp đổ được vài tháng, sau đó hàng rào ấp chiến lược bị tháo bỏ, tình hình an ninh trong các xã, ấp bắt đầu trở nên tồi tệ. Những viên chức hành chánh của xã, ban ngày họ làm việc tại văn phòng xã, đêm đến họ phải ôm mùng mền vô trong Quận để ngủ, hầu tránh sự truy lùng của du kích quân Cộng Sản. Một buổi chiều nọ, ông xã trưởng Lâm Châu sau giờ làm việc, cao hứng làm vài ba xị đế, khi đã ngà ngà say, ông quên mất cái nguy hiểm nên ngủ luôn tại nhà. Nhà tôi ở cách nhà ông xã trưởng Lâm Châu khoảng chừng mươi mét, giữa hai căn nhà là một hàng dừa lão. Khoảng chín giờ tối, bốn ông Việt Cộng súng ống đầy người, kéo đến nhà ông xã trưởng. Sau khi đọc bản án tử hình được viết trên một tờ giấy xé ra từ một cuốn vở học trò, với nội dung là ông xã trưởng đã làm tay sai cho Mỹ Ngụy, bức hại dân lành. Chuyện mới nghe qua tưởng như là giỡn chơi, thế nhưng khi thi hành án lệnh, là cắt cổ thiệt, thời bấy giờ khi giết người để răn đe, Việt Cộng chỉ dùng một cách duy nhất là cắt cổ. Đối với Việt Cộng chuyện cắt cổ Ngụy quyền cũng đơn giản giống như mấy bà nội trợ cắt cổ con gà, con vịt. Tay Việt Cộng thi hành bản án, đúng là một sát thủ chuyên nghiệp, hắn tính toán một cách chính xác, cắt cổ như thế nào mà ông xã trưởng không chết ngay. Ông xã trưởng Lâm Châu, tuy bị thương nặng nhưng vẫn cố bò đến cái gốc dừa gần nhà tôi, suốt đêm ông rên la thảm thiết, rồi kêu cầu cứu, nhiều lúc lại rú lên như chó tru. Nhìn thấy người bị thương nằm đó, tôi nói với ba tôi hãy cứu ông ta. Ba tôi ra dấu cho mấy anh em tôi yên lặng, ông chỉ vào căn nhà bếp của ông xã trưởng, nơi mà ngọn đèn dầu hãy còn tỏa chút ánh sáng mờ mờ, rồi nói “Bọn Việt Cộng vẫn còn ở trong nhà ông xã trưởng. Nếu ba cứu ông ta, cả gia đình mình sẽ bị tụi Việt Cộng xử tội, cái tội tiếp tay bao che cho bọn phản quốc chạy theo Mỹ Ngụy. Mấy đứa bây có muốn bị cắt cổ hay không? Nếu không, hãy im lặng”. Mãi cho đến khi trời mờ sáng, tiếng kêu của ông xã trưởng mới yếu dần rồi tắt hẳn. Khi biết chắc rằng mấy ông Việt Cộng đã rút đi rồi, ba tôi và tôi vội chạy ra gốc cây dừa nơi mà ông xã trưởng Lâm Châu đang nằm, với chút hy vọng là sẽ cứu được ông ta. Đến nơi, tôi lặng người đi vì sợ, xác ông xã trưởng nằm bên vũng máu hãy còn tươi, một vết cắt tím bầm nơi cổ, hình như máu hãy còn tiếp tục rỉ xuống đất. Gương mặt ông xã trưởng trắng nhợt, đôi mắt trợn trừng, cái miệng há hốc như con cá Ngảo cần không khí để thở. Tôi đoán rằng, ông xã trưởng phải chết trong đau đớn cùng cực.

Minh ngừng nói, đưa điếu thuốc đến gần khe cửa, chút tro tàn nơi điếu thuốc bị gió cuốn hút ra ngoài.

-Ngay ngày hôm đó, ba tôi dẫn anh em tôi ra bến xe, cho ba đứa cùng “Đồng Khởi” lên Sài Gòn, tạm trú nơi nhà ông chú của tôi ở khu Bàn Cờ. Trước khi chia tay, ba tôi căn dặn tôi phải lo cho hai đứa em, đừng có bận tâm gì về ông.

Minh quay nhìn tôi, gương mặt của anh hiện rõ nét đau khổ.

-Cậu Quân có biết số phận của ba tôi ra sao không?

Tôi ngập ngừng.

-Coi bộ hơi phiền à nghe.

Minh vội nói.

-Chỉ phiền thôi sao? Chưa kịp nhớ về ba tôi thì một người bạn của chú tôi từ dưới quê lên, báo cho chú tôi biết là ba tôi đã mất rồi. Cái chết của ba tôi, giống hệt cái chết của ông xã trưởng Lâm Châu. Ba tôi chết, một cái chết thê thảm, oan ức, tức tưởi, chỉ vì có ba thằng con lên Sài Gòn học, chạy theo Mỹ Ngụy. Chúng tôi không một đứa nào dám về quê, dự tang lễ của ba tôi, không được nhìn mặt ông lần cuối cùng, năm đó tôi vừa mười tám tuổi, chiến tranh đã bắt đầu lan rộng khắp Miền Nam. Tôi biết rằng trước sau gì mình cũng phải đi quân dịch, sau nhiều ngày suy nghĩ, tính toán thiệt hơn, tôi tình nguyện vào Nhảy Dù. Chuyện tôi quyết định vào Nhảy Dù, không biết đúng hay sai nhưng hai đứa em của tôi, khi nhìn thấy ông anh của chúng oai hùng trong bộ đồ bông nên sau khi đậu tú tài, chúng vô Thủ Đức rồi cũng tình nguyện vào Nhảy Dù luôn.

Tay trái cầm điếu thuốc, cánh tay tì lên tay lái, Minh dùng tay phải nâng lon nước, hớp một ngụm.

-Chúng tôi chỉ là dân tạm trú ở Sài Gòn.

Cúc nói.

-Ở Sài Gòn, anh có biết ông Nguyễn Văn Bảy không?

-Không, mà cha nội đó là ai vậy? Tài xế xe đò hả?

Cúc cười vui vẻ.

-Đương nhiên là anh không biết, nhưng ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn chắc anh biết. Đúng không?

-Ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn thì ai lại không biết, có phải là ông Bảy Ấn không?

-Đúng, Nguyễn Văn Bảy tự là Bảy Ấn. Ông ấy là ba của tôi.

Minh vội vàng quăng tàn thuốc qua khe cửa, anh ta há hốc miệng, tròn xoe đôi mắt nhìn Cúc.

-Nè cô Hai, đừng giỡn với tôi, cô nói thì tôi nghe. Còn tôi nói có gì không phải, xin cô bỏ qua cho. Con gái của một đại tư bản, trùm nhà cửa ở Sài Gòn mà ngủ vỉa hè, làm sao tôi tin cho được.

Cúc vẫn cười vui vẻ.

-Tôi có bắt anh tin đâu. Tôi chỉ muốn nói với anh, ở trên đời này chuyện gì cũng có thể xảy ra được.

Cúc chỉ tôi rồi nói tiếp.

-Hai ngày trước, vợ chồng tôi còn sống trong một ngôi biệt thự nguy nga ở đường Công Lý. Sáng hôm qua, hàng chục chiếc xe tăng với hàng trăm lính Việt Cộng chạy vào sân nhà tôi, họ đuổi vợ chồng tôi ra khỏi nhà. Đó là hành động của bọn côn đồ, bọn ăn cướp giữa ban ngày chứ đâu phải là quân Giải Phóng. Chuyện như vậy anh tin được không?

Minh suy nghĩ một chút rồi trả lời.

-Tôi tuy học hành không ra gì, có cái bằng Trung học đệ nhất cấp mà thi cũng không đậu. Nhưng nhờ sớm lăn lóc với đời, học hỏi, bươn chải, đọc thêm sách vở, nên tôi hiểu được chút ít gian manh của Việt Cộng. Dinh Độc Lập là biểu tượng cho cơ quan công quyền tối cao của Miền Nam đã bị nghiền nát dưới xích sắt xe tăng của Việt Cộng. Cướp được chính quyền rồi, nước Việt Nam là tài sản riêng của đảng Cộng Sản, họ muốn đem cho ai cũng được, bán cho ai cũng xong.

Minh ngừng nói quay sang Cúc.

-Cô với cậu thử nghĩ coi, có một bọn ăn cướp, sau khi cướp được tài vật, thì chúng nó làm gì?

Không đợi cho Cúc và tôi trả lời, Minh nói tiếp.

-Ở đây tôi không muốn nói đến lũ ăn cắp, ăn trộm, bởi vì những hạng người này họ chỉ khoét vách đào ngạch, lén lút vô nhà cạy tủ lấy trộm của người, còn cái bọn ăn cướp là dùng vũ lực để cướp của người ta. Những gì dùng được chúng nó giữ lại để dùng, không dùng được, chúng đem đi bán sạch bách, lấy tiền chia nhau tiêu xài hoang phí. Đúng không? Cộng Sản cũng vậy mà thôi, mấy chục năm kiên trì, rình rập, lừa đảo, hôm nay họ đã dùng hàng chục sư đoàn lính chính quy cọng với xe tăng và trọng pháo, đã cướp xong hoàn toàn nước Việt Nam, ngày mai họ sẽ đem bán cái đất nước này lấy tiền chia chác cho các đảng viên của họ. Ngày nào, đảng Cộng Sản còn nắm quyền, trước sau gì nước Việt Nam cũng bị đem đi bán, bán cho đến sạch sành sanh mới thôi.

Tôi nghĩ thầm, anh chàng Minh này nếu được học hành tới nơi tới chốn, cuộc đời của anh ta sẽ khác đi nhiều, chứ không phải chỉ là một anh tài xế tầm thường chuyên lái xe vận tải. Tôi hỏi vặn Minh, với mục đích dò xét thêm về khả năng lý luận của anh ta.

-Dựa vào đâu mà anh nói như vậy?

Minh cao giọng.

-Dựa vào đâu hả? Thì cô Cúc mới nói với tôi đó. Hàng chục chiếc xe tăng, hàng trăm tên bộ đội với súng đạn đầy người, tràn vô sân nhà của cô, họ chỉa súng vô đầu, đuổi cô và cậu ra khỏi nhà. Đó có phải là chuyện họ mua căn nhà của cô và cậu, với cái giá thuận mua vừa bán hay không? Nếu cô Cúc nói rằng, cô đồng ý bán căn nhà cô đang ở cho Việt Cộng thì tôi sẽ im miệng, không có gì cần bàn cãi. Còn nếu cô nói rằng, đó là hành động của bọn ăn cướp thì chắc chắn là tôi nói đúng. Như vậy chuyện tương lai lũ Việt Cộng bán nước, sẽ bán sạch cái đất nước Việt Nam này, lấy tiền chia chác với nhau, là chuyện sẽ phải xảy ra.

Tôi nhắc Minh.

-Anh đang dùng “tam đoạn luận” để chứng minh là Việt Cộng sẽ bán nước, thế nhưng anh quên mất, tiền đề của anh đưa ra không đứng vững, bởi vì Việt Cộng nói rằng, họ đánh Mỹ là để giải phóng cho dân tộc.

Minh cười ranh mãnh.

-Tôi không cần biết “tam đoạn luận” hay “tứ đoạn luận” gì hết. Chuyện đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam, đem lại độc lập tự do cho đất nước chỉ là chiêu bài để mị dân mà thôi. Từ thủa thành lập cho đến ngày hôm nay, đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới cái chiêu bài này để ăn cướp. Và đó là bản chất của họ, chuyện chỉ có vậy.

Cúc nhìn Minh như ngầm đồng ý, rồi xen vô.

-Anh Minh nè, tạm gác chuyện tranh cãi qua một bên, lúc nãy anh muốn cùng với chồng tôi, lo việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Phải không?

-Đúng, nhưng tôi không có đủ tiền.

Cúc với giọng nói đầy tự tin.

-Chuyện tiền bạc tôi có thể lo được, tuy nhiên vẫn còn có nhiều việc quan trọng hơn, mà mình cần phải làm trong việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Chẳng hạn: Phải chôn họ ở đâu? Ai sẽ là người đi mua áo quan?

Minh nói.

-Tôi báo trước cho cô và cậu biết, mình không thể nào chôn họ ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa.

Tôi chen vào hỏi Minh.

-Tại sao vậy?

Minh với giọng nói chắc nịch.

-Việt Cộng đóng quân ở đó đông như kiến. Mình mà đem xác mấy ông lính nhảy dù này vô đó chôn, chẳng khác gì chạm vào cái tổ ong vò vẻ. Chọc vào mấy ông đang say men chiến thắng, họ bắn bỏ mình như không.

Vừa dứt lời, Minh vặn người sửa lại thế ngồi trong khi hai tay vẫn cầm chắc tay lái.

-Ngày hôm qua, tôi lái xe đến Nghĩa trang quân đội Biên hòa, với mục đích là thăm mộ thằng em tôi một lần cuối. Thời thế đã đổi thay, gió đã đổi chiều, biết đâu sau này người ta sẽ cày xới, san bằng cái nghĩa trang này để xóa bỏ vĩnh viễn hình ảnh của những người lính Miền Nam. Em tôi tên là Lê Văn Huy, chuẩn úy Nhảy Dù chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thân xác của nó được đem về chôn ở Nghĩa trang quân đội Biên hòa. Khi tôi đậu xe gần bức tượng “Thương Tiếc” đang gặm bánh mì, uống ly nước mía. Tôi bỗng giật mình vì một ông lính Việt Cộng tay cầm cái ống nói, với giọng oang oang qua máy truyền tin “Bọn tớ đang ở ngay chân đồi mả lính Ngụy. Mẹ kiếp cái bọn Ngụy, chúng nó dùng nguyên một quả đồi để chôn xác hàng vạn thằng lính Ngụy, cảnh quang trông hoành tráng ra phết”.

Minh lại loay hoay mồi thêm một điếu thuốc, rít một hơi dài, thở khói ra mũi coi thoải mái hết sức.

-Tôi nghe tên Việt Cộng nói rõ ràng, nhưng phải suy nghĩ một lúc mới hiểu. Cô cậu biết nó nói gì không?

Cúc lắc đầu.

-Không, mà cảnh quang hoành tráng là cái gì?

Minh trả lời Cúc.

-Theo tôi hiểu, nó muốn nói Nghĩa trang quân đội Biên Hòa to lớn và đẹp đẽ.

Tôi hỏi Minh.

-Không chôn người ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, vậy thì mình phải chôn họ ở đâu?

Cúc nói.

-Em biết, chỗ xử bắn ông chuẩn úy Nhảy Dù đến Nghĩa địa Chí Hòa, khoảng mười phút lái xe. Chôn ở đó là tiện nhất.

Chuyện nói ra thì dễ nhưng khi thi hành mới khó. Chôn cất xong năm người lính Nhảy Dù và viên chuẩn úy, đồng hồ đeo tay của tôi chỉ một giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1975.

Đợi cho đến khi Cúc thanh toán xong xuôi tiền công cho những người lo việc chôn cất, Minh giục tôi và Cúc.

-Chúng ta lên xe, trễ lắm rồi.

Đêm Sài Gòn phủ một màu đen, nhà cửa hai bên đường chỉ còn là những cái bóng chạy giật lùi mỗi lúc một mau. Chút ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường khi mờ khi tỏ của một thời xa xưa, không làm cho mặt đường sáng thêm chút nào. Đường phố vắng tanh không một bóng người, không một tiếng động ngoại trừ tiếng nổ đều đều bên tai của động cơ xe vận tải do Minh lái. Xe chạy băng băng trên xa lộ Đại Hàn, xuyên qua màn đêm dày đặc, lao đầu về phía trước.

Tôi nhìn Minh đang chăm chú lái xe, với vẻ mặt đầy mệt mỏi rồi nói với Cúc.

-Em đổi chỗ cho anh, anh muốn ngồi giữa để nói chuyện với anh Minh. Lái xe trong đêm vắng, có người chuyện trò hy vọng anh Minh sẽ đỡ buồn ngủ.

Cúc nhoài người ra ngoài, ngồi tựa vào cửa xe rồi nói với tôi.

-Phải đó, em cũng mệt quá rồi, cần nhắm mắt một chút. Hai người nói chuyện mà em ngồi ở giữa, em sẽ không ngủ được.

Tôi nói với Cúc.

-Em dựa vào vai của anh mà ngủ.

Cúc không nói gì, ngoan ngoãn tựa đầu vào vai của tôi.

Quay nhìn Minh, tôi hỏi nhỏ.

-Tôi biết anh là lính Nhảy Dù, nhưng yếu tố đó không đủ mạnh, khiến anh phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy dù. Phải còn lý do nào đó chìm ẩn bên trong, anh có thể nói cho tôi biết được không?

Không vội trả lời tôi, Minh quay cửa kính xe xuống thành một kẽ hở nhỏ, mồi một điếu thuốc, rít một hơi dài, đốm lửa nơi đầu điếu thuốc rực sáng trong đêm. Chỉ một giây bừng cháy sáng, tôi thấy đôi mắt Minh như mờ đi. Minh nói với tôi, giọng nói trầm đều.

-Tôi làm như vậy vì tôi là lính Nhảy Dù, và tôi vẫn còn mang một món nợ với ông thầy của tôi, Chuẩn úy Bùi Anh.

Giọng nói của Minh trở nên xa vắng.

-Đâu hơn chục năm trước, mãn khóa Nhảy Dù, tôi cùng bốn chục tân binh được một ông thiếu úy lãnh về Tiểu đoàn I Nhảy Dù. Mang cái phù hiệu của Tiểu đoàn I nơi túi áo, tôi tham dự nhiều trận đánh lớn có, nhỏ có. Từ đồng bằng đánh lên cao nguyên, từ Sài Gòn bay ra vùng hỏa tuyến.

Đang kể chuyện say sưa, Minh đột ngột ngưng nói quay qua hỏi tôi.

-Cậu Quân có biết bản nhạc “Kỷ vật cho em” không?

Tôi trả lời Minh.

-Biết, đây là bản nhạc mà tôi thích. Đã là lính Việt Nam Cộng Hòa ai mà không biết bản này.

-Tại sao cậu Quân lại thích nó?

-Tôi là khách thường trực của quán cà phê Hạnh Tâm, bản nhạc này được mấy cô thu ngân cho khách nghe hoài. Mặc dù lời của bản nhạc nghe chán chường, đầy bi quan, mỗi lần nghe là một lần muốn tự tử nhưng nó lại có sức thu hút mãnh liệt. Tôi nghe riết rồi đâm ra thích.

Minh nói với tôi.

-Tôi thì khác. Sở dĩ tôi thích bản nhạc này vì nó nói đúng y bon chuyện năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm, Tiểu đoàn I Nhảy Dù của tôi, nhảy trực thăng vận vào mặt trận Bình Giã. Tôi mê bản nhạc này, vì có tôi hiện diện trong đó. Sau này tôi còn tham dự nhiều trận đánh nữa, như ở Sơn Tịnh Quảng Ngãi rồi quay về giải tỏa áp lực của địch quanh thủ đô, bảo vệ đài phát thanh Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân.

Thấy Minh sắp sửa lạc đề, tôi nhắc khéo.

-Anh Minh à, anh kể tiếp cho tôi nghe chuyện Chuẩn úy Bùi Anh đi.

-Chút xíu nữa là tôi quên mất tiêu, nếu cậu không nhắc, chuyện như thế này: trong cuộc hành quân vùng Mõ Vẹt Cam-Bu-Chia, một biến cố trọng đại đã xảy ra khiến tôi nhớ mãi suốt đời. Chuẩn úy Bùi Anh và tôi bị thất lạc đơn vị, không địa bàn, không bản đồ, mỗi người chỉ còn khẩu M16 trên tay với vài băng đạn. Riêng tôi chỉ bị thương nhẹ ở chân, vết thương do miểng đạn pháo 82 ly không có gì nguy hiểm. Lúc bấy giờ, sau gần năm năm trong quân ngũ, tôi đã mang lon hạ sĩ nhất, là một chiến binh dày dạn chiến trường, quen xông pha nơi trận mạc. Tôi rất hãnh diện vì mình là một trong ba người còn sót lại, trong số bốn mươi tân binh được bổ sung cho tiểu đoàn vào cuối năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn. Trong khi đó, ông thầy của tôi là Chuẩn úy Anh mới ra trường được vài tháng, kinh nghiệm chiến trường chưa có bao nhiêu, ông ấy chỉ hơn tôi cái lon chuẩn úy gắn nơi cổ áo, chuyện mưu sinh thoát hiểm, di chuyển trong rừng, làm sao bằng tôi được. Tận cùng trong thâm tâm, tôi không phục Chuẩn úy Anh, nếu không muốn nói là coi thường. Chuyện trốn chạy Việt Cộng, hai người hai ý kiến trái ngược nhau, tôi chỉ muốn chạy thật mau, bất kể phương hướng, miễn làm sao thoát khỏi vùng ảnh hưởng của Việt Cộng càng sớm càng tốt. Với tôi, thì giờ là vàng bạc, chạy chậm đồng nghĩa với chết. Chuẩn úy Anh ngược lại, ông ta chạy nhưng vẫn cẩn thận xác định phương hướng. Giữa rừng già, không có địa bàn làm thế nào mà Chuẩn úy Anh có thể tìm được phương hướng. Vì nghĩ như vậy, nên tôi xẳng giọng với Chuẩn úy Anh “Chuẩn úy có biết đơn vị mình nằm ở chỗ nào không mà ông dò tìm phương hướng?” Chuẩn úy Anh trả lời “Tôi cũng như anh, không biết đơn vị ở đâu, nhưng tôi biết chắc một điều, nếu mình đi về hướng Đông sẽ là phía Việt Nam Cộng Hòa, hy vọng sống sót rất cao. Còn nếu đi về hướng Tây sẽ là Cam-Bu-Chia, là hậu cần của Việt Cộng, đó là tử địa. Anh có muốn đi theo tôi hay không, tùy anh lựa chọn”. Tôi đi theo Chuẩn úy Anh mà trong lòng đầy bực tức, hơn hai ngày trong rừng rậm, lầm lũi băng rừng vượt suối, hai thầy trò dẫn nhau tìm đường trở về lại đơn vị. Qua ngày thứ ba, vết thương nơi chân của tôi bắt đầu làm độc vì bị nhiễm trùng, cùng lúc ấy một cơn mưa nhỏ kéo đến đã làm cho toàn thân của tôi lạnh ngắt, tai ù đi như bị điếc, đầu thì nóng sốt trong khi chân tay lại run lập cập khiến tôi không thể nào di chuyển được. Tội nghiệp Chuẩn úy Anh, mặt mày hốc hác vì đói và mệt, vậy mà ông ấy một mặt vẫn cố gắng cõng tôi trên lưng, mặt khác vừa lo dò tìm phương hướng. Gục đầu trên vai của Chuẩn úy Anh, hai tay của tôi choàng qua cổ của ông ta, mắt tôi thấy rõ ràng, Chuẩn úy Anh cố lê từng bước chân nặng nề, đi xuyên qua những rừng cây âm u đầy muỗi mòng rắn rết. Tôi thầm nghĩ, nếu tình trạng bi đát như thế này kéo dài, cuối cùng cả hai sẽ cùng chết. Trong lúc tuyệt vọng, tôi nói với Chuẩn úy Anh “Ông thầy bỏ tôi lại đây, một mình ông đi nhanh hơn, may ra còn thoát được.” Chuẩn úy Anh nói với tôi, giọng nói chứa đầy tình nghĩa “Trong binh chủng của mình, những người lính Nhảy Dù coi nhau như anh em trong một đại gia đình. Một ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng nổ chụp lên đầu, lính Nhảy Dù cùng nhau chung sức gánh chịu, bởi vì, họ từng chia xẻ với nhau từng ngụm nước trên đỉnh Trường Sơn, từng nắm cơm nơi địa đầu giới tuyến. Và điều quan trọng nhất là lính Nhảy Dù không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Một người lính Nhảy Dù nằm xuống nơi chiến địa, xác của họ phải được đem về hậu phương chôn cất.” Cuối cùng, Chuẩn úy Anh nói với tôi, câu nói mà suốt đời tôi không bao giờ quên “Trừ khi tôi chết đi, nếu còn một hơi thở, tôi còn cõng anh trên lưng”.

Minh ngừng nói, chừng như quá xúc động khi nhắc lại chuyện xưa, anh đưa tay quẹt ngang mắt của mình rồi nói tiếp.

-Mỗi một chữ của Chuẩn úy Anh nói ra, là một giọt nước mắt của tôi lại rơi xuống, trộn lẫn với những giọt mưa rừng lạnh ngắt. Đột nhiên Chuẩn úy Anh hỏi tôi “Tại sao anh lại khóc”. Ngạc nhiên quá sức, tôi không hiểu tại sao Chuẩn úy Anh biết tôi khóc. Tôi nói “Sao ông thầy biết?” Chuẩn úy Anh nói “Có mấy giọt nước mưa âm ấm, rớt vào cổ tôi”. Trong lòng đầy thương cảm, hối hận vì suy nghĩ nông cạn, sai lầm của mình, tôi buột miệng nói “Xin ông thầy tha lỗi”. Không biết Chuẩn úy Anh có nghe tôi nói lời xin lỗi hay không, nhưng ông vẫn cúi đầu lê bước. Một chuyện hết sức là may mắn, chiều ngày hôm ấy, khi chúng tôi vượt qua một cái trảng trống, được trực thăng phát hiện và bốc về. Những lời nói của Chuẩn úy Anh trong chiến trường ngày nào đã thấm vào từng mạch máu, từng tế bào của tôi. Đó là lý do khiến cho tôi ngày hôm nay, phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù.

Tôi nói với Minh.

-Bây giờ, tôi đã hiểu tại sao, nhưng trong lòng vẫn còn chút lấn cấn.

Minh lập lại.

-Lấn cấn?

Tôi gật đầu.

-Đúng vậy, nếu không có cái ơn cứu tử của Chuẩn úy Bùi Anh, liệu anh có lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù không?

Minh chần chừ một chút rồi mới trả lời.

-Câu hỏi của cậu quả thật là khó, tôi đành phải nói thật, câu trả lời có thể là không.

Quay nhìn tôi, Minh nói tiếp.

-Tôi biết làm như vậy là không phải. Nhưng mà xét cho cùng, tôi cũng chỉ là một con người bình thường như muôn vạn người khác mà thôi.

Tôi ngồi đó trên chuyến xe đêm đang lao đầu về Đà Lạt, chạy trở về quá khứ. Đèn xe chỉ đủ soi sáng chừng vài chục thước trước mặt. Đôi mắt của Minh đăm đăm dõi theo ánh sáng đèn xe, hai tay nắm chặt tay lái. Bầu không khí trong xe êm ả lạ thường, chỉ còn nghe chút hơi thở nhẹ nhàng đều đặn của Cúc bên tai, tôi nhắm mắt, miệng hỏi Minh:

-Anh có buồn ngủ không?

-Không. Tôi lái xe đường xa quen rồi. Khi buồn ngủ quá sức, tôi biết liền. Lúc ấy, tôi tấp xe vào bên lề đường ngủ một giấc độ chừng mươi phút, cơn buồn ngủ sẽ tan biến ngay.

Tôi đang trò chuyện với Minh nhưng mí mắt của mình cứ nhíu lại, kéo tôi vào giấc ngủ. Tuy là ngủ gà ngủ gật, thế nhưng đó lại là một trong những giấc ngủ phải nói là ngon nhất mà tôi có được, kể từ khi rời bỏ Trường Võ Bị Đà Lạt.

Đại uý Hieu N, Phi công trực thăng UH-60 Blackhawk, Lục quân trừ bị và Phi công Boeing B-737, hãng hàng không Delta Air Lines.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 16, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 23 Feb 2025

Đại uý Hieu N (ảnh của linkedin.com).

Tốt nghiệp Trường huấn luyện Phi công Lục quân năm 2014, Đại uý Hieu N* được chỉ định lần lượt giữ các chức vụ: Sĩ quan liên lạc hàng không Lục quân, Sĩ quan hành quân, Trung đội trưởng, và hiện nay là Đại đội trưởng Phi công trực thăng UH-60 Blackhawk (S-70) và UH-72 Lakota (EC-45) hàng không Vệ binh Quốc gia, Lục quân trừ bị.

Đại uý Hieu N tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Khoa học, Kỹ thuật Cơ khí – Trường Đại học Washington 2012; Ông đang học chương trình Cao học Quản trị Kinh doanh tổng quát – Trường Auburn University Harbert College of Business và sẽ tốt nghiệp vào tháng 6 năm 2025. Ngoài ra, ông đã tu nghiệp và tốt nghiệp các Văn bằng, Chứng chỉ chuyên môn về ngành hàng không Lục quân và hàng không dân sự.

Đại uý Hieu N phục vụ ngành hàng không Vệ binh Quốc gia từ tháng 6 năm 2012 dến nay, gần 13 năm. Và phục vụ ngành hàng không dân sự qua các hãng hàng không: Kỹ sư hàng không hãng Alaska Airlines, từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015; Phi công hãng Mesa Airlines, Inc, từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 4 năm 2022; Phi công hãng Air Transport International, Inc, từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 10 năm 2023; Và nay là Phi công Boeing B-737 của hãng hàng không Delta Air Lines từ tháng 10 năm 2023.

Thân phụ của Hieu N, nguyên là Phi công Không quân VNCH gắn cánh bay cho anh trong ngày lễ tốt nghiệp Phi công trực thăng.

Hieu N nguyên và Thân phụ trong ngày lễ tốt nghiệp Phi công trực thăng.

Hieu N nguyên và Thân phụ trong ngày lễ tốt nghiệp Phi công hàng không dân sự.

Hieu N, Phi công Boeing B-737 của hãng hàng không Delta Air Lines.

Hieu N “trái”, Phi công và Vu Dương “phải”, Trưởng phi cơ trong phòng lái phi cơ Boeing B-737 của hãng Delta Air Lines. Thân phụ của họ đều là cựu Phi công trực thăng Không quân VNCH. Vu Dương nguyên là cựu Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ và Hieu N là Phi công trực thăng UH-60 Blackhawk, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ.

Chú thích: Viết theo tài liêu; *Ghi theo tên từ tài liệu; Tất cả hình ảnh của Hieu N.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 23 Feb 2025

Dâu bể trùng phùng

Tập 2

Chương 2

Nhảy Dù cố gắng

Khi tôi thức dậy, bầu trời đã ưng ửng sáng, những ngọn đèn đường bao quanh khu bến xe đã tắt tự lúc nào. Tôi liếc nhìn đồng hồ, hơn 5 giờ rồi mà người tài xế xe vận tải đi Đà Lạt vẫn chưa đến đón chúng tôi, như anh đã hứa. Một chút nghi ngờ thoáng qua trong đầu, có khi nào anh tài xế lấy tiền của chúng tôi rồi trốn mất tiêu hay không? Có thể lắm chứ. Chuyện Miền Nam mất vào tay Cộng Sản, giống như chuyện trời sập, chuyện không tưởng, vẫn có thể xảy ra thì chuyện anh tài xế xe tải lừa chúng tôi để lấy hai ngàn đồng, có gì là lạ đâu. Tôi quay đầu nhìn sang bên cạnh, Cúc hãy còn ngủ say. Là con nhà giàu, suốt đời sống trong nhung lụa, trong nhà kẻ hầu người hạ, khi ra đường một bước lên xe, hai bước xuống ngựa, hôm nay phải ngủ lang ở đầu đường xó chợ, tôi tưởng rằng Cúc sẽ cau có, bực dọc, hoặc ít ra cũng trăn qua trở lại vì đàn muỗi đói lẩn quẩn bên tai, vì nền xi măng ẩm lạnh, vì chiếc chiếu cũ đầy mùi hôi hám. Trái lại, Cúc ngủ ngon lành từ tối đến giờ. Tôi nhẹ nhàng đặt cái quạt giấy xuống bên cạnh Cúc, rồi lượm hai tấm thẻ bài rớt dưới đất đeo vào cổ của mình. Hai tấm thẻ bài này đã theo Cúc mấy năm rồi, hôm qua Cúc mới trả lại cho tôi. Trong cái ánh sáng đùng đục tựa như pha màu sữa của bầu trời chưa sáng tỏ, tôi đọc được hàng chữ Nguyễn thị Cúc, khắc thêm vào khoảng trống bên trên tên của tôi trong tấm thẻ bài. Năm xưa, ngày đầu tiên bước chân vào lính, tại Trung Tâm II Tuyển Mộ Nhập Ngũ, tôi được nhận quân trang quân dụng, cùng với tấm thẻ bài làm bằng một loại sắt không rỉ sét, trên đó tên của tôi với số quân và loại máu được in bằng máy dập, ép. Cúc đưa tấm thẻ bài của tôi cho thợ khắc chữ ở Sài Gòn thêm tên của Cúc vào. Hai cái tên quyện vào nhau, được làm từ hai loại máy khác nhau khiến tấm thẻ bài có nét là lạ, trông đẹp hơn và cũng tình tứ hơn. Có thể nhờ vậy mà những cô bạn gái của Cúc, coi việc đeo tấm thẻ bài của lính như một món đồ trang sức. Với tôi, đó là những cô gái lãng mạn đáng yêu vào bậc nhất trên cõi đời này. Tôi vươn vai, duỗi chân để xua đuổi cái mệt mỏi của đêm dài rồi đảo mắt nhìn quanh. Sài Gòn, thành phố của hơn hai triệu dân, với sức sống tràn đầy mãnh liệt vẫn còn chìm sâu trong giấc ngủ mê mệt. Hình như, cái thành phố cứng đầu này không muốn trở lại với những sinh hoạt bình thường của nó. Trong lúc giao thời, chưa biết phải làm gì, nhà nào cũng đóng cửa chờ đợi. Theo tôi biết, bất cứ thành phố nào của Việt Nam, chợ và bến xe là nơi có sức sống nhộn nhịp nhất vào buổi sáng. Hôm nay, mọi sinh hoạt ồn ào náo nhiệt của bến xe Pétrus Ký không còn nữa, đường phố khá im vắng, một vài ngôi nhà mở hé cửa để lọt chút ánh sáng vàng nhạt qua khe hở. Tôi đoán có thể cả tháng rồi, bến xe đi Đà Lạt chỉ còn những cửa hàng ăn hoạt động cầm chừng, vì Thành phố Đà Lạt đã bị Cộng Sản chiếm đóng từ tháng trước.

Trong cái yên vắng tưởng chừng sẽ còn kéo dài không biết đến khi nào, bất chợt tôi thấy một nhóm người đi dọc theo lề đường. Khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe được họ nói chuyện với nhau.

-Đi lẹ lên mấy bà, nghe nói trời sáng là bắt đầu.

Tôi nghe để mà nghe, nghe xong rồi bỏ ngoài tai, chuyện buôn bán của mấy bà để ý làm gì cho mệt. Được vài phút lại có một bầy con nít, vừa đi vừa chuyện trò líu lo.

-Mày chắc không?

-Chắc.

-Ai nói với mày?

-Chị tao nói, lát nữa họ sẽ xử tội mấy ông lính Nhảy Dù.

Câu nói của thằng bé khiến tôi giật mình, không kịp suy nghĩ tôi bung người bật dậy như một cái lò xo, lật đật đuổi theo mấy đứa nhỏ. Tôi vừa chạy vừa la.

-Ê, mấy đứa.

Một thằng nhỏ quay đầu nhìn tôi.

-Chú kêu tụi con có chuyện gì?

Tôi vội vàng hỏi.

-Mày nói xử tội ai?

Thằng nhỏ trả lời tôi.

-Xử tội lính Nhảy Dù.

-Ai xử

-Việt cộng xử chớ còn ai nữa.

Tôi kéo tay thằng bé.

-Xử ở đâu?

-Chú theo đường Pétrus Ký này, chỉ một chút thôi, tới đường Trần Quốc Toản quẹo phải. Mà thôi, chú muốn coi thì theo tụi con, khỏi mất công con chỉ dẫn lôi thôi, tốn thì giờ vô ích.

Không một chút chần chừ, tôi rảo bước theo lũ nhỏ. Khi qua đường Trần Quốc Toản được một khúc, tôi nhìn thấy bên tay trái của tôi là một ngôi tháp nguy nga đồ sộ, cao ba, bốn tầng đang được xây cất dang dở, với những trụ sắt đen sì tua tủa đâm lên trời. Giữa sân là những đống gạch ngói, gỗ đá ngổn ngang, xa hơn chút xíu là cái cổng khá lớn với bốn chữ Việt Nam Quốc Tự.

Tôi nhìn sửng ngôi chùa không chớp mắt, thì ra tối hôm qua tôi thức suốt đêm, có ngủ đâu. Tiếng chuông tôi nghe được là tiếng chuông chùa Việt Nam Quốc Tự, chứ không phải là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở Đà Lạt mà tôi nghe được trong giấc mơ. Ôi! Trong cuộc sống đổi thay bất thường này, mộng và thực xét cho cùng khó mà phân biệt được.

Khi đi ngang qua ngôi chùa, một thằng bé giật mạnh cái chéo áo của tôi, tay chỉ về phía xa xa.

-Đó.. đó.. chú thấy chưa! Chỗ đám đông bu quanh thành cái vòng tròn. Mình chạy lẹ lên đi chú. Vì quá nóng lòng, tôi chạy thật nhanh vượt qua mấy đứa nhỏ, tiến về phía trước.

Khi tôi chen chân vào bên trong vòng tròn người, một cảnh tượng hãi hùng khiến tôi như muốn chết đứng, tay run theo tay, chân run theo chân, lạnh cứng cả người. Bốn, năm cái xác lính Nhảy Dù nằm la liệt trên mặt đất, những xác chết bê bết máu với thương tích đầy người, một điều lạ là cả hai đầu gối của mấy xác chết đều bị thấm đầy máu, trong đó có một xác không còn nguyên vẹn hình hài với cái đầu mất đi một nửa, máu khô trộn lẫn với óc phủ đầy ngực của xác chết. Bên cạnh đó, trên một cái ghế dựa cũ kỹ bạc màu sơn, một ông chuẩn úy Nhảy Dù, hai tay bị trói ngược ra phía sau, hai chân bị cột vào hai chân ghế, đôi giày bốt đờ sô cởi vất bên cạnh. Con mắt trái của ông chuẩn úy tím bầm, sưng to như một trái quít, hình như đã mù do bị một vật cứng đập vào chứ không phải do trúng đạn, máu khô còn đọng lại một bên má. Mắt bên phải của ông chuẩn úy còn lành lặn nhưng nhắm nghiền lại, đầu nghiêng về phía trái. Tôi đọc được chữ Ngo nơi túi áo phải của ông chuẩn úy. Tên ông ta là Ngô, Ngộ hay Ngọ, tôi không biết được.

Trước mặt ông chuẩn úy, cả chục tên cán binh Cộng Sản với bộ đồ trận kaki Nam Định, chân mang dép râu, vai mang súng AK, đầu đội nón cối. Gương mặt của họ đầy vẻ tự tin của kẻ thắng trận với những cặp mắt sáng ngời nhìn thẳng về phía trước, chỉ có nước da nhờn nhợt, tai tái xanh màu cây cỏ của núi rừng Trường Sơn. Tất cả đều còn quá trẻ, tôi đoán họ chưa qua được tuổi hai mươi. Riêng người chỉ huy toán cán binh Cộng Sản, sở dĩ tôi biết ông ta là cấp chỉ huy bởi vì bộ đồ kaki mà ông đang mặc trên người trông rất sạch sẽ, thẳng thớm, vai đeo cái xách cốt bằng da màu vàng đậm, bên hông kè kè cây súng ngắn K59. Chân ông ta không mang dép râu mà mang đôi giày xăng đan. Đó là điều tôi thấy khá khôi hài, mới từ trong dãy Trường Sơn ra mà mang xăng đan da còn mới tinh, khác nào George Orwell đã viết “Trong Trại Súc Vật, mọi con vật đều bình đẳng, nhưng có một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác”.

Người cán bộ Cộng Sản chỉ huy có gương mặt hiền lành, mang đậm nét quê mùa của một anh nông dân thật thà chất phát, quanh năm chân lấm tay bùn, ông ta nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù với đôi mắt hiền khô rồi cất giọng.

-Đồng bào Miền Nam ruột thịt, hãy nghe tôi nói. Đây là xác những tên lính Nhảy Dù Ngụy ngoan cố. Hai ngày trước, khi mà thằng Tổng Thống Ngụy Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn, vào khoảng mười giờ sáng ngày ba mươi tháng tư, những tên lính Nhảy Dù Ngụy này vẫn không chịu buông súng, chúng điên cuồng, tiếp tục đánh phá cách mạng với mục đích là cản bước tiến của dân quân ta trên đường giải phóng Sài Gòn. Năm cái xác lính Nhảy Dù Ngụy mà đồng bào thấy nằm lung tung, lang tang dưới đất là do bị các chiến sĩ cách mạng trừng trị. Đổi lại, cả chục chiến sĩ của ta đã hy sinh một cách oan uổng dưới tay của đám lính Nhảy Dù Ngụy này. Tất cả chỉ vì lơ đễnh, cả tin vào lời kêu gọi lính Ngụy buông súng đầu hàng của thằng Dương Văn Minh.

Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe tận tai, thấy tận mắt một cán bộ cấp chỉ huy Cộng Sản nói chuyện với dân chúng. Tôi không biết ông ta được huấn luyện ra sao, học hành tới đâu, cấp bậc là gì. Thế nhưng, khi một người cán bộ chỉ huy Việt Cộng, gọi Tổng Thống Dương Văn Minh là phe thù nghịch với mình bằng thằng, đó là ngôn ngữ của những người thiếu giáo dục, những kẻ không có học. Văn hóa của Miền Nam từ bao năm rồi không chấp nhận lối nói chuyện như vậy. Bởi vì dân cũng như lính Miền Nam, tuy không gọi Hồ Chí Minh của Miền Bắc là Chủ Tịch nhưng họ gọi ông ta là “ông Hồ Chí Minh” không có chữ thằng đi kèm.

Người cán bộ chỉ huy ngưng nói, ông ta đi tới rồi đi lui, nhìn những người dân đang đứng vây quanh với đôi mắt hiền hòa, nụ cười tươi tắn trên môi rồi thong thả đến trước mặt viên chuẩn úy Nhảy Dù, thân mật vỗ vai viên chuẩn úy.

Người cán bộ chỉ huy ngừng nói, quay nhìn đám đông như đợi cho mọi người hiểu rõ những gì mình vừa diễn đạt, sau đó ông ta mới từ tốn nói tiếp.

-Riêng tên chuẩn úy Nhảy Dù bị cột trên chiếc ghế mà đồng bào thấy đây, sở dĩ hắn còn sống cho đến giờ phút này bởi vì hắn đã quỳ lạy, van xin cách mạng tha tội.

Từ nãy đến giờ, viên chuẩn úy Nhảy Dù vẫn lặng im như đang nghe, đột nhiên ông ta ngẩng đầu lên, cố nhướng con mắt còn lại nhìn theo người cán bộ chỉ huy, rồi cất giọng thều thào:

-Nước…Nước.

Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.

-Mở trói, đem nước cho hắn.

Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.

Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.

Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một. -Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.

-Chúng tôi hy sinh thân mình đi làm cách mạng với mục đích là đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam thoát khỏi gông cùm kềm kẹp của Mỹ Ngụy, đem lại Độc lập Tự do cho đất nước, đem thanh bình no ấm cho toàn dân. Chuẩn úy biết ăn năn hối lỗi, cứ an tâm ông sẽ được hưởng chính sách khoan hồng nhân đạo của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Chúng tôi những người cách mạng chân chính, đánh kẻ chạy đi, không bao giờ đánh người chạy lại.

Người cán bộ chỉ huy ngừng nói, quay nhìn đám đông như đợi cho mọi người hiểu rõ những gì mình vừa diễn đạt, sau đó ông ta mới từ tốn nói tiếp.

-Riêng tên chuẩn úy Nhảy Dù bị cột trên chiếc ghế mà đồng bào thấy đây, sở dĩ hắn còn sống cho đến giờ phút này bởi vì hắn đã quỳ lạy, van xin cách mạng tha tội.

Từ nãy đến giờ, viên chuẩn úy Nhảy Dù vẫn lặng im như đang nghe, đột nhiên ông ta ngẩng đầu lên, cố nhướng con mắt còn lại nhìn theo người cán bộ chỉ huy, rồi cất giọng thều thào:

-Nước…Nước.

Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.

-Mở trói, đem nước cho hắn.

Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.

Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.

Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một.

-Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.

-Nước…Nước.

Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.

-Mở trói, đem nước cho hắn.

Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.

Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.

Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một.

-Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.

Bất ngờ bị vạch mặt, chỉ ra chuyện nói láo của mình, bẽ mặt trước đám đông, gương mặt của người cán bộ chỉ huy đang dương dương tự đắc, đột nhiên đổi sang màu xanh, xanh như tàu lá, đôi mắt của ông ta long lên sòng sọc biểu hiệu cho sự giận dữ tột cùng. Hai tay run run, ông ta rút khẩu K59 đeo bên hông, lên đạn rồi hướng nòng súng về viên chuẩn úy Nhảy Dù. No mất ngon, giận mất khôn, người cán bộ chỉ huy không còn giữ gìn phong cách của người thắng trận, không còn để ý đến lời ăn tiếng nói trước công chúng, ông ta nghiến răng, rít lên.

-Địt mẹ, mày nói gì? Nói lại cho bố mày nghe coi, cái thằng lính Ngụy ngoan cố.

Như chưa vừa lòng với những gì mình mới nói, gương mặt của người cán bộ chỉ huy chuyển sang màu đỏ, như màu đỏ của cái đầu con gà chọi. Ông ta hét to, nước bọt từ trong miệng văng đầy trong không khí.

-Đồ khốn kiếp, ông thì bắn bỏ mẹ mày bây giờ.

Vừa dứt lời, người cán bộ chỉ huy đá vào cái bi đông nhựa Trung Cộng, cú đá mạnh đến nỗi cái bi đông bay qua khỏi vòng tròn người đang đứng bao quanh.

Trước sự giận dữ của kẻ địch, thay vì giữ im lặng, chấp nhận nín thở để sang sông, viên chuẩn úy Nhảy Dù chậm rãi đưa tay chỉ vào vết thương nơi mắt trái của mình rồi nói.

-Mày là một thằng Việt Cộng bỉ ổi, đã bắn chết mấy người lính của tao, khi họ đã bị thương nặng không còn khả năng kháng cự, đánh bể một con mắt của tao, hành hạ bắt tao nhịn đói, nhịn khát, cột tao ở đây hơn một ngày rồi.

Nói đến đây, gương mặt của viên chuẩn úy chợt nhăn lại biểu lộ sự uất hận tột cùng.

-Tao hối hận…, thật sự hối hận vì ngày xưa trong lúc đánh nhau, tụi tao, hay nói rõ hơn là lính Miền Nam Việt Nam đã đối xử quá sức nhân đạo với tù binh Cộng Sản. Hôm nay, tụi mày là những người thắng trận, đã xử sự với lính Miền Nam Việt Nam còn tệ hơn là đối xử với một con vật. Sau này trong chính sử sẽ ghi lại, Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước giữ nước, ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm, là ngày khởi đầu cho một giai đoạn đen tối, thời kỳ mà Tàu Cộng sử dụng những người mặt Việt mà lòng dạ Tàu, cai trị Việt Nam.

Tôi sợ đến nỗi xuýt tè ra quần vì những câu nói đầy tính khiêu khích của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Lẽ ra, ông ta nên im lặng giả dại qua ải, đàng này ông ta lại nói lên sự thật, sự thật ấy như một nhát dao đâm ngay vào cổ họng của kẻ thắng trận. Tôi chỉ muốn chạy lại đưa tay bịt miệng của viên chuẩn úy Nhảy Dù, nhưng…mọi chuyện đã trễ rồi.

Hai tiếng nổ chát chúa vang lên, phá tan bầu không khí im vắng của buổi sáng, tiếp theo đó là nhiều tiếng rú đầy sợ hãi của đám đông dân chúng đứng chung quanh. Hai lỗ tai của tôi lùng bùng như muốn nổ, mắt của tôi hoa lên, đất trời chừng như đảo lộn khi thấy thân hình của viên chuẩn úy Nhảy Dù cùng với chiếc ghế đổ ập xuống đất. Người cán bộ chỉ huy đã bắn hai phát súng vào đầu gối của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Như một tia chớp xé toạc màn đêm, tôi rùng mình chợt hiểu, tại sao hai đầu gối nơi xác những người lính Nhảy Dù đều bê bết máu. Người cán bộ chỉ huy với đôi mắt trợn trừng trắng dã, nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù đang lăn lộn dưới đất, đôi mắt của ông ta lúc này giống hệt như mắt một con dã nhân đang nhe nanh, gầm gừ đe dọa địch thủ. Không biết, khi xương bánh chè nơi đầu gối bị bắn bể, mức độ đau đớn mà người ta phải chịu nó như thế nào, nhưng nhìn gương mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù tái nhợt, nhăn rúm, với cái miệng méo xệch, hai tay cố bóp lấy đôi chân mà máu tươi đã thấm ướt hai cái ống quần, tôi biết, ông ta đang gánh chịu một sự đau đớn tột cùng. Người cán bộ chỉ huy đi chầm chậm theo vòng tròn, nhìn mặt từng người đang đứng vây quanh như muốn ăn tươi, nuốt sống họ. Cuối cùng, ông ta quay lại bên viên chuẩn úy Nhảy Dù, kê họng súng vào ngay màng tang của viên chuẩn úy, rồi thản nhiên bóp cò. Chỉ một giây đồng hồ ngắn ngủi, linh hồn của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã theo tiếng súng, bước chân qua bên kia thế giới. Ông ta đã anh dũng đi vào lịch sử, một trang sử oai hùng đầy bi thương uất hận của phe thất trận. Máu ở đâu mà nhiều quá, chảy tràn lan trên mặt đất, thấm ướt cái phù hiệu hình vuông may nơi tay áo trái của viên chuẩn úy Nhảy Dù, cái phù hiệu với con chim ưng màu đen bay ngang cánh hoa dù bọc gió, nổi bật trên nền trời màu đỏ thắm. Những dòng máu oan khiên, những giọt máu uất ức chảy hoài, chảy mãi không muốn ngừng, trong khi thân thể của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã nằm yên, ngàn đời an nghỉ bên cạnh xác đồng đội của ông ta.

Cảm thương cho người vừa nằm xuống, xót xa khi nhìn về tương lai đen tối của mình trong suốt quãng đời còn lại. “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, nước mắt của tôi được dịp tuôn tràn. Tôi khóc thành tiếng lúc nào không biết, khóc cho mình rồi khóc thương cho mấy chục triệu dân Việt Nam, không biết họ phải chịu kiếp sống đọa đày trong cái địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa này bao nhiêu lâu nữa đây.

Tiếng khóc của tôi vang lên khiến cho nhiều người xì xào, bàn tán. Với vẻ mặt đầy tức giận, khi thấy tôi khóc thương cho viên chuẩn úy Nhảy Dù vừa bị xử bắn, người cán bộ chỉ huy như đang say máu, say mùi thuốc súng, ông ta đi đến trước mặt tôi, gí cái nòng súng còn đang bốc khói vào ngay giữa trán tôi. Với giọng đầy ngạc nhiên, ông ta nói.

-Địt mẹ cái lũ Ngụy ngoan cố này, tao chỉ bắn có một thằng lính Ngụy chống phá Cách mạng. Cho dù, có một triệu thằng phản động như thằng lính Nhảy Dù này tao cũng bắn tuốt. Tại sao mày lại khóc? Mày là lính Ngụy phải không?

Hồn vía lên mây, tôi sợ đến nỗi im ngay tiếng khóc. Đầu óc của tôi làm việc nhanh như một cái máy, tôi phải trả lời người cán bộ chỉ huy liền lập tức, trước khi ngón tay trỏ của ông kịp bóp vào cò súng. Bằng một giọng nói run rẩy vì quá sợ hãi, tôi lắp ba, lắp bắp.

-Thưa… cách mạng tôi không phải là lính Ngụy.

Chỉ là một câu nói tuy đơn giản, nhưng nó cho tôi biết rõ về con người của mình như thế nào rồi.

Một giây chần chừ, chỉ một giây thôi nhưng tôi thấy nó dài như một thế kỷ. Người cán bộ chỉ huy nhích nòng súng lên trời. Tôi nghe được một tiếng nổ vang lên bên tai như muốn rách màng nhĩ, cùng lúc ấy tôi biết là mình vẫn còn sống. Như chưa hả giận, người cán bộ chỉ huy hướng mũi súng vào xác của mấy người lính Nhảy Dù liên tục bóp cò, cho đến khi một tiếng “cắc” lạnh lùng vang lên, ông ta mới chịu ngừng tay. Từ lúc viên chuẩn úy Nhảy Dù bị bắn, cho đến khi những viên đạn điên cuồng ghim vào thân xác của những người lính Nhảy Dù, tất cả mọi việc chỉ diễn ra trong vòng vài phút, tôi hành động theo phản xạ tự nhiên, hoàn toàn theo bản năng sinh tồn của một con người đứng trước cái chết.

Người cán bộ chỉ huy nhét khẩu súng K59 vào bao.

-Mẹ bố cái lũ Ngụy ngoan cố, chỉ có bỏ tù bỏ đói, lưu đày biệt xứ nơi trại Cổng Trời mới trị được bọn chúng mày.

Vừa dứt lời, ông ta bước đến bên cạnh xác của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đưa tay lật cái ghế lên trong khi chân đá mạnh vào cái xác chết.

-Địt mẹ cái đồ bán nước, ôm chân đế quốc.

Nói xong, người cán bộ chỉ huy ngồi chồm hỗm bên cạnh chiếc ghế, lục trong cái xách cốt, lấy ra một tờ giấy đặt lên mặt ghế và bắt đầu viết.

Tôi không biết ông ta viết gì trong tờ giấy nhưng nhìn nét mặt đầy căng thẳng của ông ta, tôi biết chắc đó phải là những điều quan trọng. Chừng độ hơn mười phút sau, người cán bộ chỉ huy ngừng viết, ông ta đặt tấm giấy ngay ngắn trên mặt ghế, rồi cúi đầu lượm một chiếc giày bốt đờ sô của viên chuẩn úy Nhảy dù dằn lên.

Người cán bộ chỉ huy chống tay vào ghế đứng lên, quay nhìn đám cán binh Cộng Sản, ông ta nói:

-Chúng ta về thôi.

Cùng một sự việc, tôi và viên chuẩn úy bị kẻ thù uy hiếp bằng súng, viên chuẩn úy Nhảy Dù nói với mọi người là ông đã chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng chứ không van lạy, xin tha mạng như lời nói điêu ngoa của kẻ thù. Ông thà chết để bảo vệ danh dự, quyết không để kẻ thù vu khống, sỉ nhục. Tôi là Trung úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cấp bực của tôi cao hơn ông chuẩn úy Nhảy Dù hai bậc. Chúng tôi cùng xuất thân từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi là siêu huynh trưởng của ông ta nhưng không dám nhận mình là lính. Tôi là một thằng hèn đã nói láo để sống còn. Chuyện rõ như ban ngày, người đáng sống là viên chuẩn úy Nhảy Dù chứ không phải là tôi.

Tôi có thể im lặng, giấu kín chuyện xấu hổ hèn hạ, tham sống sợ chết của mình bởi vì không một ai ở đây biết tôi là trung úy, chỉ trừ một người. Người đó là tôi. Biến cố xảy ra ngày hôm nay, đã làm thay đổi hẳn con người của tôi. Cái chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đã khiến tôi có cái nhìn khác hơn của một người bên thua trận. Viên chuẩn úy Nhảy Dù chết nhưng ông đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Đó là một cái chết đầy bi thảm oai hùng, cái chết còn sống mãi muôn đời với lịch sử, với Tổ Quốc Việt Nam.

Đợi cho đến khi đám cán binh Cộng Sản đã đi xa, tôi ngồi xuống bên cạnh xác chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù với máu tươi bám đầy trên tóc, chảy dài xuống mặt. Con mắt còn lại của ông ta trợn trừng nhìn lên bầu trời cao xanh thẳm. Ở đó, người chết đã chết rồi nhưng oan khiên, uất hận ngàn đời vẫn còn chất chứa không tan. Tôi đưa tay vuốt mắt cho viên chuẩn úy Nhảy Dù, rồi cởi cái áo sơ mi đang mặc trên người. Với tất cả tấm lòng thành kính, tôi cẩn trọng đắp chiếc áo lên mặt người chết, mà tưởng là mình đang làm lễ phủ cờ cho một chiến sĩ vị quốc vong thân.

Khi tôi ngước mặt nhìn lên, đám đông đã tản mác đi gần hết, chỉ còn lại xác của sáu người lính Nhảy Dù, họ nằm yên đó không đi đâu hết, chết rồi làm sao mà đi. Một chuyện lạ lùng hy hữu, đã xảy ra giữa Sài Gòn ngày hôm ấy, trên trời cao, lẫn trong đám mây xám ngập ngừng trôi, một con chim lạc bầy, cất tiếng kêu ai oán bi thương, tiếng kêu vang vọng giữa thinh không như muốn xé nát lòng người, như tiếng gọi hồn tử sĩ trong đêm truy điệu trước ngày lễ mãn khóa, tại Trường Bộ Binh Thủ Đức mà tôi đã tham dự.

Một thằng bé mặt mày sáng sủa, trên người chỉ mặc độc có một cái quần cụt, nhè nhẹ bước đến bên tôi, nó nói nhỏ vào tai của tôi.

-Chú đợi đây, con chạy về nhà lấy cái áo của ba con cho chú bận. Đợi con nghe.

Lòng tôi chùng xuống khi nghe giọng nói êm dịu đầy ắp tình người, vì thằng bé chỉ lo tìm áo cho tôi, trong khi nó thì mình trần trùi trụi. Tôi gật đầu rồi đưa tay nhấc tờ giấy dằn dưới chiếc giày trên mặt ghế. Trên tờ giấy chỉ có một hàng chữ “Ngim cấm kông được kéo sác đi chôn kí tên ba út”. Phải mất hơn mười phút để người cán bộ chỉ huy viết được mười hai chữ, loại chữ như gà bươi mà ngày xưa khi mới bước chân vào học lớp vỡ lòng ở bậc tiểu học, tôi thường tập viết. Tôi nhớ đến sếp của tôi, thiếu tá trưởng phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt. Thiếu tá Hưng là mẫu người rộng rãi, xuề xòa, không bao giờ phê phán, chê trách một ai. Với ông thì chín bỏ làm mười, vậy mà khi nói đến cái man rợ, độc ác của Việt Cộng, ông nói “Có một cái luật bất thành văn là những người chỉ huy, những kẻ lãnh đạo của Cộng Sản Việt Nam, cấp bậc càng cao, chức vụ càng lớn, trong đầu của họ càng chứa nhiều bã đậu, nhưng mức độ gian manh, dã man tàn ác, trong những cái đầu bã đậu ấy, không một ai trên trái đất này sánh bằng”.

Tôi đứng lên, nhìn xác thân của những người lính Nhảy Dù bị vứt bỏ bên đường mà lòng đầy thương cảm. Đã đến lúc phải đi, tôi đứng nghiêm như đang làm lễ chào Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vào mỗi sáng thứ Hai tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Sau vài giây chần chờ, tôi đưa tay chào kính xác của mấy người lính Nhảy Dù lần cuối cùng rồi hít một hơi dài để lấy sức, nhắm mắt cắm đầu chạy thục mạng trở về bến xe.

Hai ngày, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh, một ông chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta vẫn còn chiến đấu. Tuy bị thương nặng nhưng họ đã cố gắng cho đến hơi thở cuối cùng, cố gắng bảo vệ màu cờ sắc áo, cố gắng bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Bởi vì, bốn chữ “Nhảy Dù Cố Gắng” thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào từ quan cho tới lính cũng đều thuộc nằm lòng.

Không phải tự nhiên mà sau hai mươi năm dâu bể đọa đày, Tô Thùy Yên đã phải ngậm ngùi thương tiếc với bài thơ “Anh Hùng Tận”

Tới đây toàn những tay hào sĩ.
Tiêu xác thân, để lại oan hồn.

Lời thơ nghe sao mà xót xa, đau đớn đến tận cùng xương tủy.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Dâu bể trùng phùng

Tập 2

Chương 1

Bát nhã tâm kinh

Chỉ mới lơi tay quạt, chợp mắt được chút xíu, tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu của một đàn muỗi đói đang rình rập gần đâu đó. Những con muỗi tinh ranh quỷ quái, chỉ chờ tôi ngừng tay là chúng lẹ như chớp, hè nhau đáp xuống hút máu của tôi và Cúc rồi bay mất tiêu, để lại những mụn đỏ ngứa ngáy trên tay trên cổ. Không muốn bị muỗi đốt, tôi chỉ còn một cách duy nhất là thức để quạt muỗi chờ trời sáng. Càng chờ, thời gian như càng dài ra, một giờ trôi qua mà tôi tưởng như một năm. Để giết thời giờ, tôi nhìn cây kim dài bò chầm chậm quanh mặt kính nơi cái đồng hồ đeo tay của mình, rồi đếm theo từng tiếng tích tắc âm vang trong đêm khuya vắng lặng. Cuối cùng vì mệt mỏi quá sức, tôi thiếp đi lúc nào không biết, mặc cho lũ muỗi đói tha hồ hút máu.

Chập chờn trong giấc ngủ nửa mê nửa tỉnh, tôi mơ hồ nghe tiếng chuông chùa nương theo cơn gió thoảng, vang đến bên tai.

Bong.. Bòng ..Bong

Tiếng chuông êm đềm, khoan thai ngân dài trong đêm vắng rồi quyện vào bầu không khí tĩnh mịch, bao trùm lấy khoảng không gian chật hẹp quanh tôi. Hình như, tiếng chuông mà tôi nghe được là từ trong tiềm thức xa xăm vọng lại thì đúng hơn.

Boong.. Boòng ..Boong

Đúng rồi, đúng là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở xóm Trại Hầm của tôi. Nhà tôi ở đầu xóm, chùa Sư Nữ ở cuối xóm.

Ngày xửa, ngày xưa… xưa lắm rồi, lúc mà thuở trời đất còn mang mang trong trí nhớ, khi tôi học lớp nhì, lớp nhất ở bậc tiểu học, cứ vào những ngày rằm hoặc mồng một, má tôi thường dẫn tôi đi lễ ở chùa Sư Nữ. Đó là ngôi chùa nằm trơ trọi trên đỉnh một ngọn đồi giữa rừng thông xanh, quanh năm chim kêu gió hú, nghe đến buồn hiu hắt. Chùa vốn đã nhỏ lại được làm bằng gỗ, trải bao năm tháng dãi dầu mưa nắng, màu gỗ đã xuống sắc khiến cho ngôi chùa trông cũ kỹ, nghèo nàn đến tội nghiệp. Nếu không nhờ mái chùa uốn cong, được lợp ngói âm dương với hai con rồng bằng gỗ chạm trổ rất tinh vi gắn ở hai đầu nóc chùa, người ta có thể tưởng lầm đó là một căn nhà của cư dân trong xóm.

Lần đầu tiên nhìn thấy ngôi chùa ẩn mình trong một khu rừng quạnh hiu thanh vắng, hình ảnh ấy, đã ăn sâu vào tâm khảm của một đứa bé mười tuổi như tôi. Vì chùa ở quá xa thành phố, cho nên chỉ vào những ngày lễ lớn hoặc Tết Nguyên Đán, mới thấy khách thập phương từ Đà Lạt hoặc những nơi khác đến viếng chùa. Những ngày còn lại, hầu hết thiện nam tín nữ, đi dâng hương lễ Phật tại chùa Sư Nữ đều là người dân ở trong xóm Trại Hầm của tôi. Lễ vật của dân trong xóm dâng lên chùa có gì đâu ngoài vài nải chuối sứ hãy còn xanh, dăm ba trái mận vừa chín tới, mấy củ khoai đào ở sau vườn cọng thêm tấm lòng thành kính của họ. Tất cả chỉ có vậy, không còn gì khác.

Chùa Yên Tử-Quảng Ninh

Má tôi là một phật tử thuần thành, đi lễ chùa và niềm tin vào Đức Phật, với bà đó là hai chuyện không thể tách rời. Lần nào cũng vậy, trước khi đi lễ, má tôi thường ra mảnh vườn sau nhà đào một ít khoai lang, bà cẩn thận lựa những củ to lớn tốt đẹp, sắp riêng vào một cái rổ nhỏ đem lên cúng chùa, những củ còn lại còi cọc xấu xí, bà để ở nhà luộc cho tôi ăn sáng. Má tôi cũng không quên cắt một ít bông Vạn Thọ giao cho tôi ôm, theo bà lên chùa.

Tôi theo má dâng hương lễ Phật, rồi ngồi im lặng nơi chánh điện nghe tiếng tụng kinh gõ mõ, đều đều bên tai. Một đứa trẻ năng động, ham chạy nhảy chơi đùa như tôi, phải ngồi im một chỗ để nghe kinh, đúng là một cực hình. Tai nghe nhưng đầu óc của tôi lại lang thang đâu mãi tận đầu làng cuối xóm với mấy đứa bạn, khi thì chơi bịt mắt bắt dê, lúc thì đá banh hoặc kéo nhau xuống cái trũng sâu bên kia đồi bắt dế. Người một nơi mà hồn một nẻo, đó là tâm trạng của tôi khi ngồi trong chùa. Tuy vậy, chuyện nghe kinh cũng không khiến tôi đau khổ bằng phải ăn cơm trưa tại chùa, đó là những bữa ăn đáng nhớ trong đời. Nhà tôi vốn đã nghèo, nhưng trong bữa cơm cũng có được vài con cá hấp kho mặn to bằng hai ngón tay, cái trứng vịt luộc dằm trong chén nước mắm ớt dùng để chấm rau luộc. Và một nồi cơm trắng với những hột gạo chín đều, nở bung khi xới ra chén. Trong chảo cơm của chùa, cơm có màu vàng lại thoang thoảng mùi ẩm mốc, một thau nhôm đựng rau lang luộc mà trong đó nước nhiều hơn rau. Tôi gắp cọng rau luộc, chấm vào tô nước muối, ăn với những miếng cơm bở rệt lạt nhách. Chê cơm của chùa nhưng tôi phải cố ăn cho được hai chén cơm đầy, vì cái bụng đói của mình. Lẽ dĩ nhiên tôi nhai và nuốt cơm một cách khó khăn, khổ sở. Không biết gương mặt của tôi nhăn nhó, xấu xí như thế nào nhưng sau bữa ăn, thừa lúc mọi người lo dọn dẹp, lau bàn rửa chén, Sư bà trụ trì giúi vào tay của tôi khi thì trái chuối sứ chín rục ngọt lịm, lúc thì trái quít nho nhỏ chua chua. Tuy còn nhỏ nhưng tôi cũng biết chùa quá nghèo, có phải Sư bà đã nhịn phần ăn của mình cho tôi hay không? Điều ấy tôi không thể xác quyết được. Tôi chỉ biết là với đôi mắt đầy lòng nhân từ độ lượng của Sư bà lúc cho tôi trái chuối, khiến tôi thấy hương vị của trái chuối thơm tho, ngon ngọt hơn bội phần.

Sau này khi lớn lên rồi vào lính, tôi đã đi nhiều nơi, ăn nhiều món ngon vật lạ, tham dự những bữa tiệc mâm cao cỗ đầy với xôi thịt ê hề, bia rượu rót tràn ly thế nhưng hương vị trái chuối của Sư bà cho tôi ngày nào, vẫn là món quà ngon nhất, món quà mà tôi nhớ mãi suốt đời.

Thời gian âm thầm lặng lẽ trôi mau, chưa kịp ngoảnh mặt nhìn lại, tôi đã bước chân vào trung học. Cũng trong khoảng thời gian này, chùa Sư Nữ đang bắt đầu xây lại bằng gạch, to lớn hơn, nguy nga bề thế hơn xưa rất nhiều. Mái chùa được lợp ngói đỏ mới tinh, hai con rồng gỗ cũ kỹ trên nóc chùa được thay thế bằng hai con rồng to lớn, đúc bằng xi măng khảm sành sứ, với nước men bóng loáng đủ màu. Cổng Tam Quan trước chùa, tuy không lớn lắm nhưng với lối kiến trúc hài hòa độc đáo, làm tăng thêm vẻ uy nghi trang nghiêm của chùa. Phật lịch 2505 là năm mà ngôi chùa mới đã xây cất xong hoàn toàn, năm đó tôi đang học lớp đệ lục trường nam trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Vì trường ở cách xa xóm nhỏ Trại Hầm của tôi hơn chục cây số, cho nên tôi phải dùng xe đạp để đi học. Một ngày của tôi thường bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng, khi tiếng chuông công phu của chùa Sư Nữ từ cuối xóm len lỏi qua rừng thông xanh vọng đến đầu xóm. Tiếng chuông như một cái đồng hồ báo thức, đã đánh thức tôi dậy. Buổi sáng trời Đà Lạt lạnh tê tái, tôi quấn mình trong cái mền cũ, đi ra sau hè múc một gàu nước từ trong cái lu bằng sành, đổ vào cái thau nhôm để rửa mặt, đánh răng. Xóm Trại Hầm của tôi chỉ có ba vòi nước máy công cộng được đặt ở đầu xóm, giữa xóm và cuối xóm, cho nên nhà nào cũng gánh nước về chứa trong lu để dành dùng cho cả ngày. Nước trong lu để qua đêm ở ngoài trời trở nên lạnh cóng, lạnh đến độ khi chạm tay vào nước, tôi có cảm tưởng máu trong tay của mình muốn ngưng chảy.

Chùa Hương

Sau khi làm vệ sinh cá nhân, tôi ngồi vào bàn ăn. Ba tôi là thợ mộc, thế nhưng cái bàn ăn của nhà tôi với dăm bảy miếng gỗ thông ghép vào nhau, long đinh, xộc xà xộc xệch, trông thật tội nghiệp. Có một lần, tôi tình cờ thấy má tôi nhìn cái bàn rồi bà lẩm bẩm một mình “Thợ rèn xài dao cùn”. Tôi nghe má tôi nói nhưng không hiểu bà muốn nói gì, bởi vì một cái bàn cũ mèm, xấu xí, có liên quan gì đến ông thợ rèn đâu mà má tôi lại nói như là than thở. Tôi nhìn trên bàn, mấy củ khoai luộc èo uột quặt quẹo, nhỏ bằng ngón chân cái đựng trong một cái tô sành cũ rích, sứt mẻ nhiều chỗ. Đó là phần ăn sáng mà má tôi đã dọn sẵn cho tôi. Tôi quấn chặt cái mền quanh người mong tìm chút hơi ấm, rồi thong thả thưởng thức bữa ăn sáng. Tôi phải nhét cho đầy cái bao tử của mình để chút nữa lấy sức đạp xe hàng chục cây số đến trường, có bao nhiêu khoai lang tôi ăn sạch sẽ. Một hôm, khi đã ăn hết khoai mà tôi vẫn còn thấy đói. Nhìn đống vỏ khoai trong tô, khiến tôi nhớ đến những củ khoai tốt đẹp mà má tôi đã đem đi cúng chùa, điều đó cho thấy, má tôi quý mến ngôi chùa đến mức nào. Sau một hồi suy nghĩ, tôi bốc một ít vỏ khoai ăn thử. Vỏ khoai tuy dai dai nhưng cũng có chút ngòn ngọt, tôi từ từ ăn sạch luôn mớ vỏ khoai trong tô nhờ vậy mà tôi biết được một điều, khi đói ăn vỏ khoai cũng không tệ lắm đâu. Từ đó về sau, khi ăn khoai tôi có thói quen ăn luôn cả vỏ và coi đó là chuyện bình thường. Nếu nhà hết khoai, má tôi làm cho tôi chén cơm chiên hoặc bà nấu cho tôi vài chén cháo. Với tôi, thứ gì cũng được, tôi ăn tuốt, miễn sao đầy bụng là tốt rồi. Sau bữa ăn sáng đầy khiêm nhường, tôi thay quần áo, đi lấy cặp vở cột vào cái yên sau của xe, thêm một lon gô lưng lửng cơm nguội trong đó có vài con cá cơm to bằng ngón tay út kho mặn. Đó là phần ăn trưa của tôi tại trường. Riêng về nước uống, tôi không cần phải mang theo, vì đã có vòi nước máy công cộng ngay bên hông nhà của thầy Tổng giám thị.

Khi đã chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, tôi dẫn chiếc xe đạp ra khỏi nhà, đẩy xe men theo lề đường của con dốc cao ngất trời, dài lê thê lên đến khúc đường Lê Thái Tổ bằng phẳng, sau đó mới bắt đầu đạp xe đi học. Buổi sáng khi sương mù còn giăng mờ khắp nẻo, tôi mặc hai cái áo ấm, cái còn lành lặn ở trong, cái rách ở bên ngoài. Sở dĩ tôi mặc như vậy vì lúc đến trường, tôi chỉ có việc cởi cái áo rách ra, cất vào cặp rồi vào lớp học.

Một mình trên chiếc xe đạp lao đi trong sương mù lạnh ngắt, giữa không gian bao la một màu trắng sữa, tôi nhớ đến thầy giáo dạy anh văn của tôi vừa du học bên Anh trở về. Thầy Hạnh, với bộ vest nỉ xám, đôi giầy da bóng loáng, cặp kính trắng trên gương mặt thông thái nghiêm nghị. Trong giờ học, thầy thường đi tới đi lui trên bục gỗ, miệng giảng bài nhưng trên tay lúc nào cũng là cái tẩu, thỉnh thoảng thầy lại đưa lên miệng bập bập vài hơi, lúc ấy trông thầy giống như là một nhà quý tộc Ăng Lê, chứ không phải là một ông thầy giáo dạy Anh văn ở một tỉnh lẻ. Thường thì sau giờ học, còn dư độ mươi phút, với giọng nói khoan thai từ tốn, thầy kể cho chúng tôi nghe những điều mới lạ về cuộc sống đầy lý thú nơi xứ người. Và, điều đáng nhớ nhất vẫn là sương mù Luân Đôn, sương mù ở đó dày đặc đến độ đứng cách xa chừng vài mét, chỉ thấy một cái bóng mờ. Thầy nói “Các em có biết không, rất nhiều lần, thầy đi trong sương mù Đà Lạt mà cứ ngỡ là đang còn sống ở Luân Đôn”. Rồi, lần nào cũng vậy câu nói cuối cùng của thầy vẫn là “Sương mù Luân Đôn chỉ được cái làm nguy hiểm cho giao thông, chứ chẳng được cái tích sự gì, so với sương mù Đà Lạt lãng đãng giữa rừng thông, Đà Lạt quả thật là đẹp tuyệt vời.”

Riêng tôi, sương mù Đà Lạt tuy có đẹp thật nhưng lại mang theo cái lạnh buốt đến cóng tay, và khi tôi đạp xe được vài cây số tới nhà Thủy Tạ, chiếc áo ngoài của tôi đã ướt dầm sương mai. Nhà Thủy Tạ sơn toàn một màu trắng, nằm trên mặt hồ Xuân Hương, tên cũ của nó là La Grenouillère, đó là nơi gặp gỡ, tụ họp của những người Pháp trong câu lạc bộ thể thao. Bên hông trái của La Grenouillère, là bến đậu của hàng chục chiếc thuyền buồm giống hệt nhau, được phân biệt bằng cách đánh số thứ tự, bắt đầu từ số một. Thuyền trắng, buồm cũng trắng soi bóng nước trong xanh. Mỗi khi chiều đến, với chút gió nhẹ làm gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ, là lúc mấy ông Tây hãy còn luyến tiếc Đà Lạt không chịu trở về Pháp, giăng buồm, thả thuyền trôi theo gió. Hồ Xuân Hương lúc bấy giờ, trông thơ mộng như một cảnh trong ciné với nét đặc thù của người Pháp.

Chùa Bái Đính – Ninh Bình

Đi thêm chút nữa, tôi đến cái đập ngăn nước của hồ Xuân Hương mà người dân Đà Lạt gọi là cầu ông Đạo . Tôi hoàn toàn không hiểu vì sao người ta lại gọi như vậy, cho đến khi được một người lớn tuổi chỉ cho tôi căn nhà của ông Đạo gần ngay đó. Tuy vậy, phải đợi cả chục năm sau, khi học về tổ chức hành chánh của triều Nguyễn dưới thời Pháp thuộc ở Viện đại học Đà Lạt, tôi mới biết rằng ông Đạo không phải là tên riêng của một người, mà đó là chức Quản Đạo của vị quan trông coi một Đạo ở miền núi, tương đương với chức tỉnh trưởng ở vùng đồng bằng hay miền duyên hải.

Qua khỏi cầu ông Đạo là con dốc Lê Đại Hành, dẫn đến chợ Đà Lạt. Đây là một ngôi chợ khá đặc biệt, tôi không biết nó được xây dựng vào năm nào, khi tôi lớn lên, ngôi chợ đã có ở đó tự bao giờ rồi. Nơi mặt tiền của chợ, một cái huy hiệu hình tròn đường kính ước chừng hai mét, gắn nơi nóc chợ, trong đó có hình một đôi nam nữ. Người thiếu nữ để ngực trần, với một mảnh vải nhỏ quấn ngang hông, trái tai căng bằng hai cái khuyên to, cổ, tay, chân đeo đầy những vòng trang sức. Người thanh niên đóng khố, tay cầm cây lao dài và nhọn. Dưới chân họ là hàng chữ “DAT ALIIS LAETITIAM, ALIIS TEMPERIEM”. Tôi nhìn cái huy hiệu với đôi mắt của một người khách du lịch nhàn nhã, ung dung cưỡi ngựa xem hoa, nhìn đó rồi quên luôn. Mãi cho đến vài tháng sau, bỗng một lần nọ, óc tò mò khiến tôi chép lại hàng chữ trên, rồi đạp xe đến thư viện. Đà Lạt là một tỉnh nhỏ, nhưng thư viện của nó lại to lớn, bề thế vô cùng. Tôi tìm ông quản thủ thư viện, với mục đích là hỏi ông về ý nghĩa của hàng chữ trên. Chỉ vừa mới liếc qua tờ giấy, ông ta nói với tôi, giọng nói của người Miền Bắc.

-Cậu chép câu này ở trên nóc chợ phải không?

Tôi hơi ngạc nhiên, hỏi lại ông.

-Tại sao bác biết?

Ông quản thủ thư viện cười.

-Không hiểu nghĩa câu này, thì không phải là dân Đà Lạt. Cậu ở đâu mới tới, đúng không?

Tôi mắc cỡ quá sức nhưng cũng đành thú thực với ông.

-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.

Ông quản thủ thư viện chắt lưỡi, rồi nói.

-Hỏng, hỏng hết, tôi là dân Bắc kỳ di cư, thế mà xem ra tôi còn biết về lịch sử và sự hình thành của Thành phố Đà Lạt hơn cậu đấy. Cậu có biết không, năm một ngàn tám trăm chín mươi ba, khi bác sĩ Yersin khám phá ra Đà Lạt, thì tại đây đã có bộ tộc người “Lạch” sống từ lâu rồi, cho nên người Pháp mới lấy hình ảnh của đôi trai gái người Lạch, với hàng chữ La Tinh mà cậu mới đưa cho tôi coi, làm biểu tượng cho Thành phố Đà Lạt. Ý nghĩa của những chữ La Tinh đó dịch ra tiếng Việt như sau “Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe”. Tôi tạm dịch như vậy không biết có sát nghĩa hay không, khả năng của tôi chỉ có chừng đó. Theo tôi nghĩ, cậu nên đến nhà thờ Con Gà, hỏi mấy vị linh mục ở trong đó, cậu sẽ được nghe giải thích rõ ràng hơn về mấy chữ trên, bởi vì còn ai mà giỏi tiếng La Tinh hơn những vị linh mục.

Ông quản thủ thư viện trả lại tờ giấy cho tôi.

-Mà nè, cậu có biết nhà thờ Con Gà ở đâu không?

Không trả lời câu hỏi của ông quản thủ thư viện, tôi cười đùa với ông ấy, rồi lập lại câu nói mà tôi đã nói với ông trước đây.

-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.

Tôi cảm ơn ông quản thủ thư viện rồi ra về, vừa đi tôi vừa nghĩ đến những gia đình người Lạch ở đâu tận chân núi Lâm Viên, vẫn thường mang những gùi củi sau lưng, hay những giò Lan rừng ra chợ Đà Lạt để đổi lấy cá khô hoặc muối hột. Tôi không biết những người Lạch này, họ nghĩ gì khi thấy hình của mình trên nóc chợ.

Chùa Bảo Lâm Phú Yên

Thêm một điểm đặc biệt nữa là cái tháp hình khối của chợ, nếu đứng trước chợ nhìn vào thì nó nằm bên tay phải, gần trên đỉnh tháp có gắn một cái đồng hồ, mỗi ngày đúng vào lúc mười hai giờ trưa, khi hai cây kim nơi tháp đồng hồ chập lại làm một, là còi trong chợ bắt đầu hú lên báo hiệu đến giờ nghỉ. Khi nghe còi hụ, hầu như tất cả mọi tiệm buôn, hàng quán quanh chợ đều đóng cửa để ăn cơm và nghỉ trưa, mãi cho đến gần hai giờ mọi sinh hoạt mới trở lại bình thường. Cái lối sống chịu ảnh hưởng của Pháp sâu đậm như vậy, hình như chỉ có ở Đà Lạt. Một lần nọ, vì muốn chứng tỏ mình không phải là thằng cù lần. Ở cái tuổi của tôi vào thời bấy giờ, nếu bị gọi là cù lần, đó là một lời chê trách nặng nề, cho nên tôi nghe theo lời rủ rê của Nhân đầu bạc trốn học, để rồi suốt một buổi chỉ biết đi lang thang vòng quanh chợ Đà Lạt, lúc đó đã được sửa chữa lại với cái tên mới là Khu phố Hòa Bình. Chúng tôi, vừa đi vừa nhẩm đếm xem có bao nhiêu cây cột xi măng chống quanh rạp hát. Sau đó, hai đứa đến ngồi nơi những bậc cấp trước nhà thờ Tin Lành ở đường Hàm Nghi, nhìn những cô gái má phơn phớt hồng như hoa Đào, học ở trường nữ trung học Bùi Thị Xuân trong bộ đồng phục quần trắng, áo dài trắng, chân đi guốc, tung tăng đùa giỡn, chuyện trò trên đường đi đến trường. Hai đứa tôi tha hồ ngồi ngắm những người đẹp, rồi mặc sức khen chê bình phẩm. Cho đến khi không còn bóng dáng chiếc áo dài trắng nào trên đường phố, lúc bấy giờ tôi mới nhìn Nhân như ngầm hỏi “ Phải làm gì nữa đây để tiêu pha cho hết một ngày trốn học?”

Chùa Lá Sen-Đồng Tháp

Nhân đầu bạc là một người không bao giờ chịu thúc thủ trước mọi hoàn cảnh, bất cứ lúc nào nó cũng có thể đưa ra sáng kiến mới để giải quyết vấn đề. Hắn nói với tôi.

-Mày có biết quán mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp không? Tụi mình đến đó ăn mì, tao sẽ trả tiền, nhưng sau đó mày phải làm cho tao một chuyện.

Tôi nghĩ đến quán mì quảng ngon nhất của Thành phố Đà Lạt. Lần đầu tiên, tôi biết được quán mì này là do ba tôi dẫn tôi đến. Điểm đặc biệt của quán là bán mì quảng, nhưng lại do hai vợ chồng người Bắc đứng nấu. Người chồng hiền khô như ông bụt với con mắt hiêng hiếng, lo việc múc mì ra tô cho khách kiêm luôn việc thu tiền, vợ dọn dẹp. Lần đó, ba tôi thưởng cho tôi một tô mì to bự, khi biết tôi đã đậu vào lớp đệ thất Trường trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Bốn năm sau khi đậu bằng Trung học, tôi lại được ông thưởng cho một tô mì y như xưa, nhưng giá tô mì lúc này là năm đồng chứ không còn là ba đồng như ngày xưa. Đặc biệt, lần này ba tôi kêu thêm cho tôi một ly cà phê túi vải, uống với sữa đặc có đường. Với tôi, tô mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp quả thật là danh bất hư truyền. Những sợi mì gièm giẹp vàng ươm bóng lưởng vì thấm dầu phụng, được xếp gọn trong một cái tô to bên dưới là rau sống, ông chủ quán mì chan nước xốt xăm xắp ngang những cọng mì. Nước xốt ở đây quả thật là đặc biệt, được nấu với thịt heo bằm và tôm khô, nó sền sệt tựa như có pha thêm tí da heo xắt hột lựu, thêm chút vàng óng ánh của mỡ, chút đỏ tươi của ớt bột. Trên cùng là mấy lát thịt heo ba chỉ mong mỏng, nằm cạnh hai con tôm tươi không đầu đã được lột vỏ. Khi ăn khách dùng đũa, mạnh tay trộn đều lên sẽ thấy những cọng rau thơm xanh ngắt như húng lủi, tím bầm như tía tô, lẫn với rau xà lách, bắp chuối xắt nhỏ và mùi thơm nức mũi của nước xốt. Cuối cùng, thực khách chỉ cần thêm vào tô một ít đậu phụng rang giã nhỏ, dăm miếng bánh tráng bẻ vụn, một tí nước mắm ớt để làm dậy mùi thơm, là đã có được một tô mì nóng hổi, thơm ngon. Một điểm đặc biệt không nơi nào có, là cái gáo múc nước mắm làm bằng nửa hột mù u to cỡ trái chanh, với cái cán bằng tre. Chỉ mới nghĩ tới thôi, nước bọt đã ứa ra đầu lưỡi, tôi hăng hái hỏi Nhân.

-Mày cần tao làm việc gì?

-Dễ thôi, không có gì là nặng nhọc, mày lấy cái kéo hớt tóc cho tao.

Nghe Nhân đầu bạc nói mà tôi cứ tưởng nó nói đùa.

-Tại sao mày không vô tiệm hớt tóc, mà lại biểu tao cắt tóc cho mày.

Gương mặt Nhân lộ vẻ đau khổ thấy rõ.

-Tao không ngờ, mày lại chậm hiểu quá sức như vậy. Mười đồng má tao cho để hớt tóc, tao với mày sẽ lấy đi ăn mì, còn tiền đâu nữa mà trả cho tiệm hớt tóc.

Nghe nó nói, tôi chợt tỉnh mộng. Tô mì quảng thơm lừng, mới đó đã biến mất tiêu.

-Mày làm tao mừng hụt, tao thà chịu nhịn đói chứ nhứt định không dám xởn cái đầu của mày. Tao mà cắt tóc cho mày xong, đầu tóc của mày lúc bấy giờ loang lổ, vằn vện chẳng khác gì tấm da beo.

Nhân đầu bạc nhìn tôi

-Mày nói cũng có lý, vậy thì mình phải tính chuyện khác, mà dầu có làm chuyện gì đi nữa, mày cũng phải đóng vai chính. Chương trình của tao như thế này: Tao với mày sẽ vô cà phê Tùng vừa rỉ rả uống cà phê, vừa nghe những bản nhạc đã một thời vang bóng. Mày nghe bản nhạc “Chiều vàng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh do bạn Tôn Thất Niệm trình bày trên Đài phát thanh Đà Lạt chưa? Giọng hát của ông ấy, phải nói là tuyệt vời.

Tôi chỉnh Nhân đầu bạc.

-Ca sĩ chứ bạn sao được, ông ấy đã là bác sĩ, lại còn hơn mình có tới hai chục tuổi như không. Mày ăn nói hồ đồ, không chịu để ý kính trọng người trên.

Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử

Nhân đầu bạc lên giọng với tôi.

-Cách đây hơn chục năm, trên Đài phát thanh Đà Lạt người ta dùng chữ “bạn” để chỉ người trình bày bản nhạc, chứ không dùng chữ ca sĩ như bây giờ.

Tôi đá nhẹ Nhân đầu bạc.

-Thời đó mày cũng như tao, bảy tám tuổi thì biết cái gì về Đài phát thanh Đà Lạt mà bày đặt nói.

Bị bắt bí, Nhân đầu bạc cười bẽn lẽn.

-Thì tao nghe chú tao nói ấy mà.

Tuy bắt bí được Nhân đầu bạc nhưng tôi vẫn thầm phục hắn quá trời, vì chuyện hắn muốn vào cà phê Tùng, đó quả là một ý tưởng hết sức mới mẻ và đầy táo bạo. Tôi là dân Đà Lạt đúng bảy mươi hai phần dầu, đã từng đi ngang qua cà phê Tùng cả ngàn lần nhưng chưa một lần bước chân vào, bởi vì tôi nghĩ rằng nơi đó chỉ dành cho người lớn. Bọn nhóc tì dở dở ương ương, nhỏ không ra nhỏ, lớn không ra lớn như chúng tôi, chỉ có việc đứng ngoài cà phê Tùng mà nhìn vào. Thêm nữa, điều quan trọng nhất vẫn là chuyện tôi không có tiền. Tôi nói với Nhân:

-Tiền đâu mà uống cà phê?

Nhân đầu bạc tươi cười, hắn xoa hai bàn tay vào nhau.

-Nếu muốn uống cà phê, mày phải làm theo lời tao dặn, chuyện này cũng dễ thôi. Mày chạy đến sạp vải Hưng Long của má tao ở trên lầu hai chợ mới, nói với bà là tao bị té xe đạp. Chiếc xe bị hư hại nặng, tao cần tiền để sửa xe.

Tôi nói với Nhân.

-Ăn gian, nói dối là chuyện tao không thể làm được. Ba tao mà biết được chuyện lường gạt, gian dối, ổng tống cổ tao ra khỏi nhà ngay lập tức. Hơn nữa, liệu má mày có tin tưởng tao để mà đưa tiền hay không?

Thấy tôi lừng khừng, Nhân đầu bạc trấn an tôi:

-Tao sẽ viết vài chữ với nội dung là tao đang ngồi ở tiệm sửa xe đạp, nhờ mày về nhà lấy tiền. Má tao biết mày mà, bà thường gọi mày là thằng “Cục Bột”, mỗi khi nhắc đến mày. Giao tiền cho một thằng khờ như cục bột thì có gì mà phải lo. Còn nữa, mày cứ yên chí, má tao rất cưng tao, bà chỉ quan tâm tới sự an nguy của tao thôi. Chuyện tiền bạc, má tao không coi nặng bằng thằng con yêu quý của bà.

Sau một chút suy nghĩ, Nhân đầu bạc nói thêm.

-Tiền hai ly cà phê hết hai chục, tụi mình cần thêm bốn đồng để mua năm điếu thuốc Ruby. Uống cà phê mà không có thuốc lá, coi không được chút nào. Đã lỡ làm dân chơi, dù là dân chơi tỉnh lẻ cũng phải chơi cho tới bến. Tao sẽ viết xuống giấy, xin má tao hai mươi bốn đồng.

Tôi nghĩ thầm, người ta thường nói “được voi đòi tiên”, còn ông bạn quý của tôi, không cần biết có voi hay chưa, đòi luôn một lần cả voi lẫn tiên cho tiện việc sổ sách. Vì nghĩ như vậy nên tôi nói với Nhân.

-Xin hai chục đồng là đủ uống cà phê rồi. À… mà sao mày biết giá một ly cà phê là mười đồng? Mày có lộn không? Tao muốn nhắc cho mày biết, một tô mì quảng to hết cỡ, ngon hết biết ở hẻm Ngọc Hiệp, chỉ có năm đồng.

Nhân đầu bạc với giọng nói đầy quả quyết.

-Một trăm phần trăm là đúng vì chú tao mới nói với tao tuần trước, khi ông ấy dẫn bà vợ sắp cưới của ổng đi uống cà phê ở Tùng. Chú tao còn nói thêm rằng, nội cái chuyện nghe nhạc ở cà phê Tùng cũng đáng giá mười đồng rồi, ly cà phê coi như cho không.

Chùa Linh Ứng – Bãi Bụt Đà Nẵng

Khi đã có tiền trong tay, tôi và Nhân đẩy cánh cửa của cà phê Tùng, hiên ngang ưỡn ngực bước vào. Với khoảng không gian không lấy gì làm rộng rãi cho lắm, chừng bốn mét bề ngang, chiều sâu đâu khoảng bảy tám mét, gần cuối phòng, bên tay phải là một cái cầu thang nhỏ dẫn lên lầu hai. Diện tích của cà phê Tùng chỉ có ngần ấy. Chọn một cái bàn nhỏ ở góc phòng gần quầy tính tiền, Nhân đầu bạc dõng dạc gọi hai ly cà phê đen. Lần đầu tiên được ngồi trong một tiệm cà phê nổi tiếng của Đà Lạt, tôi tò mò nhìn quanh, trên tường bên tay trái của tôi treo một bức tranh lập thể, vẽ hình một người đàn ông tay ôm cây đàn guitar, cần đàn chúi xuống đất. Tôi chăm chú nhìn bức tranh, nhìn hoài mà vẫn không thấy cái đẹp, cũng không hiểu ông họa sĩ muốn nói gì trong bức tranh đó. Cuối cùng, tôi đành phải chấp nhận, mình là người phàm mắt tục, không có chút kiến thức gì về hội họa, thôi thì đừng có thắc mắc gì về tranh với ảnh cho được việc. Khác với tôi, Nhân thong thả mồi một điếu thuốc, nhả khói bay mù mịt y hệt như một người sành điệu. Chỉ có điều, ngay lúc đó nó ho sặc sụa vì khói thuốc. Hai tay ôm lấy ngực, Nhân đầu bạc nói mà như là phân bua để chữa thẹn.

-Thuốc Ruby Queen tưởng nhẹ, ai ngờ nó lại gắt hơn thuốc Bastos.

Đợi cho những giọt cà phê đen cuối cùng từ cái phin xinh xắn làm bằng một loại sắt không rỉ sét, nhỏ xuống tách cà phê, tôi cho một muỗng đường khuấy đều rồi hớp một ngụm. Cà phê phin ở Tùng quả thật là thơm ngon, nhưng lại quá sức đậm đặc so với ly cà phê túi vải nhạt phèo mà tôi đã được uống. Đem so sánh ly cà phê Tùng với ly cà phê túi vải là một chuyện làm khấp khểnh, nhưng biết làm sao bây giờ. Bởi vì, ly cà phê túi vải nơi hẻm ciné Ngọc Hiệp là ly cà phê duy nhất mà tôi đã từng được uống. Tôi xin một ly nước sôi, thêm hai muỗng đường, lúc bấy giờ tôi mới có được một ly cà phê vừa theo ý mình.

Hai đứa tôi ngồi im lặng thưởng thức ly cà phê đen, lắng tai nghe nhạc trong bầu không khí lù mù khói thuốc lá. Bất chợt, Nhân đầu bạc hỏi tôi.

-Má tao có nói gì khi đưa tiền cho mày không?

Tôi phải giải thích vòng vo Tam Quốc với Nhân.

-Từ nhỏ tới lớn, chưa bao giờ tao biết ăn gian nói dối, nhưng vì cái hấp lực quá mạnh của ly cà phê Tùng nên tao đành liều mạng, nhắm mắt đưa chân. Có tật giật mình, mày biết không khi gặp má của mày, tao run còn hơn là leo rào trốn học, bị thầy Tổng giám thị bắt gặp tại trận. Cũng may má mày hiền quá sức, khi biết mày cần tiền để sửa xe, bà vội vàng đưa tiền cho tao mà không một chút nghi ngờ.

Nghe tôi nói, gương mặt của Nhân đầu bạc sáng rỡ, hắn nói, câu nói không liên quan gì đến chuyện gian dối của hai đứa.

-Mày có biết tao bao nhiêu tuổi không?

Tôi hơi ngạc nhiên vì câu hỏi không đâu vào đâu của hắn, cũng không hiểu vì sao hắn hỏi tôi như vậy. Tôi nhìn lên mái tóc muối tiêu của Nhân đầu bạc rồi giả vờ nói.

-Trông mày giống một ông già bốn mươi.

-Đừng có giỡn, nói thiệt đi.

Tôi nói.

-Mày giỏi lắm cũng chỉ hơn tao một tuổi là cùng. Mười chín.

Nhân nói với tôi mà như là thổ lộ tâm tình, hắn dốc cạn bầu tâm sự.

-Vậy mà má tao cứ tưởng là tao chỉ có bảy, tám tuổi. Từ sau ngày ba tao mất đi, má tao sống đó mà cứ như người chết rồi, có bao nhiêu tình thương bà dồn hết cho tao, bà thương tao quá sức, chiều chuộng tao còn hơn là chiều vong. Suốt ngày, má tao bám theo tao không rời nửa bước, cơm ăn áo mặc, bà lo từng chút một, thậm chí đến chuyện buổi tối trước khi đi ngủ, bà nặn sẵn kem vào bàn chải đánh răng cho tao, giục tao đánh răng sau đó mới cho tao đi ngủ. Mày nghĩ coi, một thằng con trai lớn tồng ngồng còn bị má giám sát từng chút một như vậy, không giận sao được. Tao chỉ mong sao đậu xong cái Tú tài là tao đăng lính ngay, mà phải là lính Nhảy Dù hay là Thủy Quân Lục Chiến mới được. Mày biết tại sao không?

-Không.

Nhân đầu bạc nói một cách rành rẽ.

Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn

-Bởi vì Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được điều động đi khắp bốn vùng chiến thuật. Hôm nay họ đang thanh toán chiến trường ở Kontum, ngày mai có thể bay ra địa đầu giới tuyến để giải tỏa áp lực của Việt Cộng. Nơi nào mà chiến trường sôi động, sặc mùi thuốc súng, nơi đó sẽ có sự hiện diện của Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Nếu tao được vào một trong hai binh chủng này, cho dù má tao có cánh bà cũng không theo kịp để mà giám sát tao.

Đang rù rì tâm sự, đột nhiên Nhân đầu bạc nghiêng đầu như lắng tai nghe rồi nói.

-Mày có nghe gì không? Hình như cả tiếng đồng hồ ngồi đây, tao không nghe bản nhạc Việt Nam nào hết trơn. Nhạc ở đây nghe không khá chút nào, không lý ông chú của tao du học ở bên Tây về mà lại không biết nghe nhạc.

Nhân ngừng nói nhìn tôi, gương mặt của hắn lộ vẻ giận.

-Tao phải hỏi ông chủ quán mới được.

Vừa dứt lời, hắn hùng hổ đứng lên đi về phía quầy thâu ngân, cách bàn của chúng tôi độ dăm bước, nơi ông chủ cà phê Tùng đang ngồi.

Tôi nhìn theo Nhân đầu bạc mà trong lòng đầy lo âu, chỉ sợ hắn ăn nói lỗ mãng với người lớn. Trái với thái độ hung hăng con bọ xít, khi đến trước mặt ông chủ cà phê Tùng, Nhân đầu bạc với giọng nói nhỏ nhẹ:

-Thưa bác, cho tụi con nghe bản nhạc “Hai lối mộng” của nhạc sĩ Trúc Phương được không?

Ông chủ quán cà phê Tùng trong bộ vest màu nâu đậm đúng thời trang, với cái tẩu đang cầm trên tay, ngẩn nhìn Nhân đầu bạc. Ông không trả lời mà hỏi hắn.

-Cậu là học sinh trường nào?

-Dạ thưa bác, con học Trường Trần Hưng Đạo.

-Lớp mấy?

-Thưa bác, đệ nhị.

-Cuối năm nay, cậu thi Tú tài Một phải không?

– Dạ phải.

Ông chủ cà phê Tùng, với giọng nói như là cha dạy con.

-Học hành không lo, đi uống cà phê hoài coi chừng thi rớt đó.

Dứt lời ông nhẫn nha nhồi một ít thuốc vào cái tẩu, rồi chỉ vào thời khóa biểu gắn trên tường.

-Chương trình hôm nay là nhạc hòa tấu cổ điển tây phương, ngày mai là nhạc tiền chiến, bản nhạc thời trang mà cậu muốn nghe, ở đây không có.

Lâu nay, tôi cứ đinh ninh rằng thầy Hạnh dạy Anh văn của tôi, là người duy nhất ở Đà Lạt hút thuốc bằng cái tẩu. Hôm nay, tôi lại thấy thêm một người nữa cũng hút thuốc bằng tẩu. Đó là ông chủ cà phê Tùng. Hai người, hai công việc khác nhau nhưng cái điểm chung mà tôi thấy được nơi họ, là cả hai đều có bề ngoài lịch sự, trang nghiêm, và nhất là lời ăn tiếng nói khoan thai từ tốn.

Nhân đầu bạc đứng tần ngần như suy nghĩ, một lúc sau hắn nói.

-Thưa bác, tính tiền giùm con.

-Mười đồng.

-Tụi con uống hai ly cà phê lận, nghe nói phải hai mươi đồng.

Ông chủ cà phê Tùng mỉm cười rồi nói, giọng nói của một người đầy hào phóng.

Chúng tôi đi ra cửa, vẫn còn nghe ông chủ cà phê Tùng dặn vói theo.

Chùa Bà Thiên Hậu – Sài Gòn

-Nếu muốn uống cà phê Tùng, phải gắng tập nghe nhạc hòa tấu cổ điển.

Tôi nghe nhưng thầm nghĩ, ông chủ cà phê Tùng không ở trong hoàn cảnh của tôi, cho nên ông mới khuyên chúng tôi như vậy. Ông đâu có biết, nếu tôi muốn nghe một bản nhạc mà tôi thích, đó là chuyện không dễ chút nào. Trước tiên, tôi phải viết một lá thư gởi cho đài phát thanh Đà Lạt, với nội dung xin yêu cầu được nghe bản nhạc mình muốn. Sau đó, phải đợi từ hai tới ba tuần lễ, một đôi khi sự chờ đợi có thể kéo dài đến bốn, năm tuần là chuyện thường tình. Tuy vậy sự chờ đợi không phải là chuyện đáng nói, mà là chuyện nhà tôi không có radio. Với tôi radio là một vật xa xí, chỉ có trong ước mơ. Nội cái việc Thứ tư hàng tuần, vào giờ có nhạc yêu cầu của đài phát thanh Đà Lạt, nếu muốn nghe, tôi phải chạy qua tiệm tạp hóa Đông Á ở gần nhà, ngồi bên hè để nghe ké. Tuy là nghe lén nhưng vẫn không ổn, bởi vì trong tiệm tạp hóa Đông Á có mấy cô gái, cũng trạc tuổi của tôi, cô nào cô nấy xinh như mơ. Nếu cha mẹ của họ thấy tôi ngồi bên hông nhà, làm sao tôi có thể giải thích được chuyện tình ngay lý gian của mình. Vậy thì nếu muốn nghe nhạc hòa tấu cổ điển, tôi phải đến đâu để nghe.

Sau này lớn lên rồi vào lính, khi có chút tiền rủng rỉnh trong túi, nếu muốn vừa uống cà phê, vừa ngắm cảnh, tôi chọn cà phê Thủy Tạ. Nếu muốn ngắm người đẹp, nghe nhạc thời trang tôi ghé cà phê Hạnh Tâm. Năm thì mười họa, tôi mới bước chân vào cà phê Tùng một lần. Bởi vì, với tôi nghe nhạc hòa tấu cổ điển cần phải có thời gian học hỏi, làm quen và sau đó mới là thưởng thức. Bắt tôi nghe nhạc hòa tấu với những cái tên lạ hoắc như Mozart, Schubert, Beethoven, Chopin khác nào chuyện đàn gảy tai trâu.

Vừa bước chân ra khỏi cà phê Tùng, với mười đồng trên tay, Nhân đầu bạc cười với tôi, nụ cười thật là rạng rỡ.

-Tao đói lắm rồi, tụi mình đi tới hẻm ciné Ngọc Hiệp, ở đó, mày có quyền tì tì thưởng thức tô mì quảng danh tiếng của Đà Lạt, mà không phải lo sợ cầm kéo hớt tóc cho tao.

Cho đến khi niên học chấm dứt, chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày thi, tôi mới ôm một chồng sách đến chùa Sư Nữ để ôn lại bài vở. Với cái cầu thang bằng gỗ ở cổng Tam Quan, tôi leo lên căn gác đúc nơi cổng, đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ nho nhỏ hình vuông lên, chun vào rồi sập cánh cửa xuống. Trên đầu tôi là một bầu trời xanh lơ với vài cụm mây trắng đã bao bọc, cô lập tôi với thế giới bên ngoài. Tôi đang ở trong căn gác chỉ độ vài mét chiều dài, một mét rưỡi bề ngang, một mình tôi một cõi tịnh không, bao nhiêu phiền nhiễu phức tạp biến đi đâu mất. Tôi học bài thi mà cứ như là đi tu. Sở dĩ tôi được đặc ân lên căn gác đúc ở cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ để học bài, bởi vì ba tôi đã góp nhiều công sức lo về phần đóng bàn ghế trong chùa. Tôi cố nhồi nhét vào cái đầu chậm chạp u mê của mình, cuốn sách vạn vật dày cộm, cuốn lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, mà trong đó đầy đặc những năm tháng cấm không được quên. Thêm nữa, cái khó nhất vẫn là giải những bài toán vật lý, hóa học, tuy hiện thực nhưng lại quá sức trừu tượng hoặc những bài toán hình học với ba chiều không gian khô khan, mà trong đó tôi tìm hoài không thấy chiều không gian thứ ba nằm ở đâu. Gặp những bài toán khó như vậy, tôi lại thấy như mình đi lạc trong sa mạc hoang vu nắng cháy, mò hoài không thấy đường ra, thậm chí một cái ốc đảo nho nhỏ cũng bặt tăm biệt tích. Biết mình không được thông minh cho lắm, cho nên tôi cố gắng học thuộc lòng bài vở, học quên trời quên đất, mãi cho đến khi chút nắng vàng yếu ớt còn sót lại của một ngày vừa khuất sau dãy núi phía xa, sương mù kéo về bao trùm lên cái xóm nhỏ, cùng với tiếng chuông thu không của chùa Sư Nữ ngân vang trong sương mù ẩm đục.

Boong… Boòng… Boong…….. Boong… Boòng… Boong…

Từng tiếng chuông thong thả nối tiếp nhau, tạo thành một hồi chuông ngân dài trong chiều vắng, lúc bấy giờ tôi mới ôm chồng sách vở trở về nhà. Hai tháng trường tu luyện trên cái gác đúc nơi cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ, tiếng chuông thu không thanh thoát gióng lên vào mỗi buổi chiều, trở nên gần gũi thân thiết với tôi hơn bao giờ hết. Tôi đậu hai cái Tú Tài rồi bùi ngùi luyến tiếc, giã từ tiếng chuông chùa, lên đường nhập ngũ. Năm tháng dần trôi, dòng đời đưa đẩy, cuốn hút con người theo cơn lốc của chiến tranh, quay cuồng trong chiến cuộc. Mới đó mà đã gần bảy năm trời trong quân ngũ, tôi quên bẵng đi tiếng chuông chùa của thời niên thiếu.

Chùa Bái Đính Ninh Bình

Đêm nay trong cảnh nước mất nhà tan, bơ vơ lạc lõng giữa Sàigòn, tôi gối đầu lên bậc cấp nơi vỉa hè của một căn nhà ở bến xe, nhìn thấy tương lai là hai cánh cửa của địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa đang mở rộng đón chào, nghe lại được tiếng chuông chùa năm xưa khi tôi còn bé vang vọng đến bên tai. Tôi ngờ rằng tiếng chuông hình như không có thực, bởi vì có khi nó lẩn quẩn bên tai như là tiếng chuông của một ngôi chùa nào đó gần đâu đây, lại có lúc xa thật xa như từ trong quá khứ vọng về. Tiếng chuông trầm trầm, lắng xuống, nhỏ dần, nhỏ dần rồi tan vào cõi hư không, kéo theo cái bóng một thằng bé mười tuổi của những năm tháng xa xưa, ngồi nơi chánh điện chùa Sư Nữ, tai nghe má đọc câu kinh “Sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Mà trong đầu chỉ mơ ước có được một con dế.

Chuyện tình trong cuộc chiến sắp tàn

dongsongcu.wordpress.com

Duy Sam

Posted on February 5, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 22 Feb 2025

Nhân đọc mục nhắn tin trong webside “Ba Cây Trúc”, được biết, gia đình cố đại úy Dương Đức Hạnh, sau 35 năm tìm kiếm, đã biết đích xác địa điểm nơi trực thăng của cố đại úy Hạnh bị lâm nạn. Trực thăng trong phi vụ yểm trợ hành quân tái chiếm Bamêthuột đã bị trúng hỏa tiễn SA7 và đã bị nổ tung trên vòm trời Bamêthuột ngày 16 tháng 3 năm 1975. Phi hành đoàn gồm bốn người đã hy sinh vì tổ quốc. Thi thể của phi hành đoàn đã được dân địa phương chôn cất qua loa bên cạnh các mảnh vụn của trực thăng. Gia đình đại úy Hạnh muốn thông báo và kính mời thân nhân và thân hửu của phi hành đoàn cùng lên Bamêthuột làm lễ cầu siêu và cải táng ngôi mộ cho đại úy Hạnh và phi đoàn vào dịp trung tuần tháng bảy năm 2010.

Nhắc đến Hạnh lòng tôi cũng bâng khuâng, muốn viết một cái gì về Hạnh dẫu cho rằng chưa bao giờ viết được một mẩu chuyện dài. Tôi không biết nhiều về gia đình Hạnh, chỉ quen và chơi thân với Hạnh từ đầu năm 1974, khi Hạnh đã là trung úy phi công mới được thuyên chuyển về Phi Đoàn Trực Thăng 219 đồn trú tại Nha Trang. Tôi quen Hạnh qua Thạnh. Có lẻ cũng nên nói về Thạnh một tí cho câu chuyện thêm đậm đà.

Thạnh là bạn lối xóm của tôi, tôi quen Thạnh qua một người bạn khác. Bạn tôi học cùng lớp với anh của Thạnh, nhưng thay vì chơi với thằng anh, lại hay chuyện trò với thằng em. Nhưng rồi, bạn tôi đậu tú tài và tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức, theo đuổi đời binh nghiệp còn tôi vào Saigon học đại học. Thạnh ở lại Nha Trang một mình.

Tôi học đại học vài năm, lận đận thi cử rồi cũng vào Thủ Đức. Khi ra trường tôi trở về Nha Trang nhận nhiệm sở thuộc Sở Động viên số 2 thì bạn bè cũ không còn ai. Chỉ có Thạnh đang làm trưởng ban hành chánh của Trung Tâm Trợ Huấn Cụ, một đơn vị quân sự nhỏ chuyên cung cấp vật liệu huấn luyện cho trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Thạnh lúc này đã chửng chạc, ăn nói khôn ngoan, được sự tín nhiệm của chỉ huy trưởng, nên dù không mang cấp bực, vẫn có thể đi lại tự do trong giờ làm việc. Tôi làm trưởng ban Hoãn Dịch, cấp giấy hoãn dịch cho dân chúng vùng 2. Công việc ngập đầu, nhưng bù lại, được du di trong vấn đề trực gác, nên cũng có thể đi uống cà phê, nghe nhạc cùng bạn bè mỗi đêm.

Đời sống ở Nha Trang thật nhẹ nhàng thoái mái, thành phố thơ mộng , dân chúng hiền hòa. Có thể nói Nha Trang là thành phố không chiến tranh. Nha Trang nhờ có các quân trường vây quanh, nên ngoại ô được kiểm soát chặt chẽ, tăng phần an ninh cho thành phố. Nhờ vậy mà Tết Mậu Thân năm 1968, Việt cộng tổng tấn công miền Nam, nhiều thành phố bị chiếm đóng vài ngày, nhưng không một đặc công nào lọt vào được Nha Trang. Suốt mười mấy năm qua, không một viên đạn pháo kích bắn vào thành phố khiến người dân phải giựt mình thức giấc. Nha Trang không có cảnh các binh sĩ với súng ống bừa bãi ngồi ăn uống trong các hàng quán. Nha Trang chỉ có các chàng trai hào hùng với alfa sáng chói dạo phố bên các thiếu nữ áo dài thướt tha hoặc áo đầm đủ màu mổi cuối tuần. Người dân Nha Trang chỉ cảm nhận được chiến tranh khi gia đình họ có người thân giã từ lên đường nhập ngũ, hoặc khi nhận được giấy báo tử từ các vùng chiến thuật gởi về rồi vật vã bên quan tài người thân được phủ màu cờ. Ngoài ra Nha Trang vẫn yên bình, hàng ngày sóng biễn vổ rì rào, mùa đông sóng cũng không gầm gừ gào thét dữ dội.

Tôi và Thạnh đều ở gần gia đình, chúng tôi có nhiều bạn bè và em gái hậu phương. Hậu phương đây là em gái của những người bạn và bạn gái của những người em trong nhà. Chúng tôi như cặp bài trùng, đi đâu cũng có nhau. Tôi ít nói, Thạnh là cái miệng của tôi, tôi là cái bức bình phong của Thạnh. Thạnh có đặc điểm là dể bắt chuyện làm quen với mọi người. Ăn nói nhỏ nhẹ, đến đâu cũng dễ gây cảm tình, các cô cũng thích, người lớn cũng ưa. Thạnh rất tốt với bạn bè. Các bạn học ngày xưa, dù chỉ quen sơ, nay gặp lại cũng trở thành thân thiết. Nhất là các bạn về nghỉ phép, Thạnh luôn luôn giúp đở, tìm phương tiện máy bay quân sự cho trở về đơn vị đúng ngày. Hạnh có lẽ cũng chỉ là bạn cùng trường với Thạnh, nhưng khi gặp lại đã thấy tương đắc, thân thiết.

Trước nhà Thạnh có vườn cây xinh xắn, được cho mướn để làm quán cà phê ngoài trời ban đêm. Do đó, chúng tôi dùng nhà Thạnh làm nơi tụ họp. Dưới mái hiên nhà, có ghế xích đu, bàn và mấy cái ghế nhỏ, đủ để chúng tôi ngồi chơi, nghe nhạc, và chuyện trò, mà không làm phiền ai cả. Dương Đức Hạnh cũng hay ghé qua đây. Nhà Thạnh nằm trên đường về nhà của Hạnh, nên mỗi lần chạy ngang, thấy bóng chúng tôi là tạt vô ngồi tán dóc. Hạnh cao lớn đẹp trai, hào hoa với bộ đồ bay hai mai vàng trên vai. Hạnh thích nói chuyện tiếu lâm, ưa kể chuyện học bay bên Mỹ, chuyện các cô gái tóc vàng mắt xanh….

Nghe nói, lúc nhỏ Hạnh cũng ưa nghịch và rất tốt với bạn bè. Trước sân nhà Hạnh có trồng một cây mận vừa sai trái vừa ngon ngọt. Ba của Hạnh rất quí cây mận, chăm sóc rất kỹ lưỡng. Khi trái sắp chín, ngoài việc ông tự mình bọc giấy báo quanh chùm mận để dơi khỏi ăn, ông còn lo canh lũ trẻ con hàng xóm lén qua hái trộm. Tuy nhiên, Hạnh vẫn lén hái mận, mang cho bạn bè thưởng thức. Lưu là bạn thân nhất của Hạnh, được hưởng nhiều hương hoa nhất.

Đậu tú tài xong, Hạnh tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường Hạnh được bổ nhiệm về Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và được chỉ định làm Trung đội trưởng của một đơn vị tiền phương. Trong một cuộc hành quân chạm địch, Hạnh theo lệnh của Đại đội tiến quân, nhưng một trung sĩ đã không nghe lệnh, còn làm lộ mục tiêu cho địch. Hạnh buộc lòng phải bắn anh ta để giử vững kỷ luật Quân đội. Sau cuộc hành quân, trung đội không bị tổn thất nhiều. Người trung sĩ chỉ bị trúng đạn nơi bắp chân, không trầm trọng. Tuy nhiên, vì vấn đề tãi thương khó khăn, máu ra quá nhiều nên anh ta đã kiệt sức trước khi vào bệnh viện. Khi về đơn vị, thay vì được gắn huy chương, Hạnh bị Quân cảnh Tư pháp điều tra qui trách nhiệm về cái chết của viên trung sĩ và bị đưa ra Tòa án Mặt trận xét xử.

Sau nhiều tháng điều tra,ra toà Hạnh được trắng án và được phục hồi cấp bậc cũ. Nhân lúc đó binh chủng Không Quân đang bành trướng, cần nhiều phi công trực thăng. Hạnh xin chuyển ngành và được trúng tuyển. Hạnh được huấn luyện tại Mỹ, sau đó về phục vụ phi đoàn trực thăng tại Phù Cát. Đến năm 1974, Hạnh thuyên chuyễn về Phi Đoàn Trực Thăng 219 tại Nha Trang. Là sĩ quan xuất thân từ bộ binh, Hạnh thông cảm nổi bồn chồn của binh sĩ mỗi khi chờ đợi yểm trợ hoặc di tãn, nên lúc nào anh cũng nhanh nhẹn trong các phi vụ trách nhiệm.

Về Nha Trang, mặc dầu có nhiều bạn trong phi đoàn nhưng Hạnh thích một không khí thay đổi. Nên khi gặp lại Thạnh là bạn lúc niên thiếu, Hạnh rất mừng. Từ đó sau các phi vụ, Hạnh thường hay tạt qua nhà Thạnh. Nơi đó, chúng tôi có lắm chuyện vui để tạm quên chiến tranh khốc liệt mà chúng tôi đang tham dự.

Nhà Thạnh ở trên đường các em nữ sinh đi học. Nên mỗi buổi chiều chúng tôi hay đứng dưới bóng cây trong hàng rào, nhìn các em đi học về. Hạnh phúc nhất là lúc mới tựu trường, nhìn các em còn ngây thơ, nói bâng quơ một câu gì đó, các em đỏ mặt, cúi đầu rảo bước.

Một buổi chiều đầu tháng chín năm 1974, trời bổng dưng muốn mưa. Cơn mưa đầu mùa khiến các em nữ sinh không kịp chuẫn bị, phải hấp tấp lo rảo bước về nhà. Một nhóm bốn cô nữ sinh áo trắng đi ngang qua nhà Thạnh thì trời mưa nặng hạt, thấy nhà có mái hiên, quán cà phê chưa mở cửa, các cô vội chạy vào tránh mưa. Thấy cô nào cũng cao ráo xinh xắn, Thạnh trổ tài làm quen. Mới đầu các cô còn dè dặt, e ngại. Sau thấy Thạnh ăn nói nhẹ nhàng, lại là chủ nhà, nên các cô dần dần cũng tự nhiên hơn.

Các cô cho biết họ là sinh viên năm thứ 2 trường Sư phạm hai năm vừa mới mở năm ngoái. Vì trường chưa có lớp học, nên phải mượn tạm dãy nhà tôn của trường Nữ Trung Học Nha Trang. Do đó, các cô cũng thường thấy chúng tôi ở ngoài sân, cười đùa vui vẽ, các cô cũng có thiện cảm nhưng chưa có dịp làm quen. Chúng tôi nói chuyện bắt đầu cởi mở thì Hạnh lái xe honda vào. Hạnh vừa đi bay về, bộ đồ pilot lấm tấm những hạt mưa trông đượm nét phong sương. Thạnh lại có dịp giới thiệu từng người. Các cô hỏi Hạnh về tình hình chiến sự. Các cô cũng đã lớn, đã biết suy nghĩ về hiện tình đất nước, lo lắng không biết khi ra trường tương lai sẽ ra sao. Từ đó, chúng tôi chơi thân với nhóm nữ sinh sư phạm. Không cần chờ trời đổ mưa, các cô cũng ghé nhà Thạnh mổi khi thấy bóng chúng tôi. Hạnh cũng hay ghé chơi với chúng tôi thường xuyên hơn.

Trong nhóm nữ sinh sư phạm, ai cũng xinh đẹp duyên dáng, nhưng Nga nổi bật nhất, Nga vừa cao ráo xinh đẹp, vừa dạn dĩ cởi mở, xứng đáng là con chim đầu đàn. Xét bề ngoài, tôi thân với Nga nhất. Tôi chỉ có thể nói chuyện tự nhiên với Nga, còn các cô khác, thì dè dặt ấp úng. Có lẽ tại Nga cao hơn tôi cả một cái đầu nên tôi không có lý do gì để mà động lòng nghĩ vớ vẫn. Nga cũng rất tế nhị, nên hay chuyện trò và quan tâm đến tôi.

Nga có hai chị em, cha Bắc, mẹ Nam. Ba của Nga là thượng sĩ, phục vụ ở Tòa Án Quân Sự Nha Trang. Mẹ Nga không hiểu vì lý do gì, đã bỏ vào Saigon từ nhiều năm trước, để cho ba Nga trở thành gà trống nuôi con, hay đúng hơn, để cho Nga sớm trở thành bà nội trợ lo lắng cho cả gia đình. Ba Nga làm ở tòa án quân sự, là nhân viên của bạn tôi. Do đó, tôi cũng được nễ nang đôi chút, có thể đến nhà Nga chơi ban đêm mà không bị phiền hà khó chịu. Nga xem tôi như người anh để tâm sự. Đôi khi Nga cũng xem tôi như cậu em trai khờ khạo, cần phải quan tâm nhiều:

– Cái anh này hiền quá, làm sao có được đào? Thôi để em làm mai cho.

Thế là Nga bắt ngay cô bạn cùng nhóm, vừa dể thương ít nói, gần nhà tôi, ra giới thiệu liền.

– Em giới thiệu Thủy cho anh đó, ráng lên, đừng làm em mất mặt.

Mỗi tuần, Nga nhờ tôi mang cuốn sách lại nhà trao tận tay cho Thủy, hay nhờ Thủy mang gói quà gì đó cho tôi.

– Anh ráng mà nói chuyện tay đôi với Thủy ít nhất 15 phút, đừng trao sách rồi bỏ về ngay thì quê lắm đó.

Tình bạn của tôi và Thủy nhờ thế mà có tiến triễn khả quan, nhưng chưa đến giai đoạn cặp kè đi chơi riêng. Nếu Nha Trang không bị mất quá sớm, có lẽ giờ đây tôi cũng có được một chút gì để thương để nhớ.

Nga có quá nhiều tâm sự, không biết ngỏ cùng ai. Mẹ đi vắng, cha cũng lặng lẽ từ ngày thiếu bóng mẹ. Nga vui chơi hồn nhiên với bạn bè là để che đậy niềm u uất nào đó. Nga và Hạnh đã phải lòng nhau kể từ khi bốn mắt nhìn nhau của ngày đầu gặp gỡ. Họ đã từng cặp kè để nói chuyện riêng tư. Tuy nhiên, trong Nga, Nga vẫn thấy có một niềm ray rứt. Nga thích cái dáng dấp hào hoa của Hạnh, thương cái vẻ phong sương của Hạnh, nhớ từng cử chỉ ân cần săn sóc của Hạnh. Bên Hạnh, Nga như com chim nhỏ bé, quên hẳn mình là cô giáo sắp ra trường, là trưởng nhóm tinh nghịch nhất lớp. Nhưng không hiểu có một cái gì đó, khiến con tim của Nga chưa dành hết cho Hạnh.

Nga đã có bạn trai. Hai người quen nhau và chơi thân với nhau từ nhỏ đến lớn. Hai gia đình cũng rất thân thiết. Tuy không nói ra, nhưng họ đã ngầm chấp nhận cuộc tình đầy hứa hẹn của hai trẻ. Rất tiếc, khi vào Saigon học đại học, chàng trai đã bị thu hút bời một hình bóng cô sinh viên nào đó. Chàng bắt đầu lơ là Nga, thư từ thưa thớt, lời lẽ nhạt nhẽo. Hè về, cũng không còn săn đón như xưa. Nhưng khi hai gia đình gặp nhau thì chàng lại vồn vã, khiến ba má chàng yên tâm như không có chuyện gì xãy ra. Cái khổ ở đây là không biết vì lý do gì mà chàng không dám dứt khoát, nói thẳng cho gia đình biết, cho Nga biết, để cho Nga mang nỗi khổ một mình.

Mỗi khi gặp Hạnh, đi chơi với Hạnh, nhìn cái hào hùng của Hạnh, lòng Nga thấy tươi tắn hẳn lên, quên đi cái anh chàng dẻo miệng. Nhưng khi về một mình, thì tâm tư lại ray rứt khó quên được mối tình thủa học trò vụng dại. Dĩ nhiên là Hạnh cũng biết Nga đang ôm ấp mối tình đó nhưng không phải qua tôi, mà do Nga thổ lộ với Hạnh. Cô gái này muốn sống thực với lòng mình chứ không muốn bắt cá hai tay. Do đó, Hạnh càng thương Nga hơn, càng quyết tâm gần gủi và chinh phục Nga nhiều hơn.

Hạnh, khi van lơn, khi phân tích cặn kẻ để cho Nga trở về với thực tế. Cuối cùng, Hạnh không còn kiên nhẫn chờ đợi Nga nữa. Anh đã hẹn Nga trong vòng hai tuần phải quyết định tình cảm của mình. Trong thời gian này Hạnh sẽ không gặp Nga để cho Nga yên tĩnh hiểu rỏ lòng mình hơn.

Một hôm, khoảng đầu tháng 3 năm 1975, Nga đến nhà tìm tôi và hỏi ngay :

– Anh có hay gặp anh Hạnh không? Lúc này em thấy ảnh buồn buồn và như không muốn gặp em nữa.

– Anh mới gặp Hạnh hôm qua, nhưng lúc này không gặp nhau thường.

– Tối mai em cần gặp anh, nói chuyện riêng, anh đến xin phép ba em cho em đến nhà anh dư sinh nhật của cháu gái anh.

Dĩ nhiên tôi có chút ít uy tín với ba của Nga, nhưng nói dối để xin phép cho Nga đi chơi thì ngượng quá, nhất là thời buổi này nữa, đâu có ai muốn làm party gì đâu. Thấy tôi dùng dằng, Nga bực mình khó chịu:

– Cái anh này nhát quá, có chút xíu vậy mà cũng không dám thì làm sao làm nên đại sự.

Chiều hôm sau, tôi đến nhà xin phép ba Nga cho mời Nga đến dự sinh nhật của cháu gái. Nga cũng đã gói sẳn qùa cho bé, nhưng ba Nga không cho phép với lý do thời buổi này bất ổn, con gái không nên ra đường ban đêm, có gì thì ngồi nhà chơi cũng được. Nga buồn thiu vì tôi không thuyết phục được ba. Tôi cũng không có lý do gì để ở lại lâu, vì còn phải về để kịp dự sinh nhật. Tôi ghé nhà Thạnh cho Thạnh biết tình hình, có ý chờ Hạnh nhưng Hạnh không đến, đành nhờ Thạnh nhắn với bạn bè là Nga muốn gặp Hạnh.

Hai hôm sau, Nga lại đến nhà tìm tôi, tay cầm xấp thư dầy cộm:

– Đêm kia em không ngũ, đêm qua em phải thức suốt đêm để viết cho xong bức thư nầy. Hôm trước em muốn gặp anh để nhờ anh giãi quyết cái uấn khúc trong lòng thôi. Nhưng bây giờ thì em thông suốt cả rồi. Em quyết định dứt bỏ mối tình củ để hoàn toàn yêu anh Hạnh và chỉ anh Hạnh mà thôi. Em phải biết quí hiện tại, quí tình yêu đang chớm nở. Anh đưa giúp em bức thư này cho anh Hạnh.

– Anh đã nhờ anh Thạnh nhắn anh Hạnh là Nga cần gặp anh Hạnh gấp.

– Không cần đâu anh, chưa đến ngày hẹn ảnh không gặp em đâu. Nhưng đọc thư em rồi chắc ảnh sẽ nghĩ khác. Thú thật, lúc này lòng em cũng bồn chồn lo lo, anh đưa gấp thư giùm em.

Tôi cầm bức thư tới nhà Thạnh mà lòng hí hững, thế là một cuộc tình sắp nở hoa. Tôi nói úp úp mở mở với Thạnh để cùng nhau chờ Hạnh, chúc mừng cho Hạnh, nhưng đêm đó Hạnh không tới. Đêm hôm sau Hạnh cũng không đến. Thạnh và tôi bắt đầu sốt ruột. Muốn đi tìm Hạnh mà chẵng biết tìm đâu. Hạnh chỉ đến chơi với chúng tôi, chứ chưa bao giờ chúng tôi đến nhà Hạnh. Chỉ có một cách duy nhất là nhắn bạn bè để Hạnh tìm đến chúng tôi. Thêm một đêm chờ đợi nữa, vẫn không thấy Hạnh đến.

Hôm sau, sáng ngày 16 tháng 3 năm 1975, chúng tôi nghe tin một trực thăng của Phi Đoàn 219 bị trúng hỏa tiễn SA7 của việt cộng nổ tung trên vòm trời Bamêthuột. Đến chiều mới biết là phi cơ của Hạnh. Hạnh và phi hành đoàn đã lâm nạn. Thật ra phi vụ yễm trợ này không phải là nhiệm vụ của Hạnh. Hạnh đã tình nguyện đi thay cho người bạn bận việc gia đình muốn xin nghỉ phép. Cả tuần nay mặt Hạnh rầu rầu, chẵng nói chẵng rằng, nhìn thời khóa biểu, chờ đến phiên mình là xách đồ ra sân. Có lẽ Hạnh đang buồn phiền và ân hận đã gởi tối hậu thư cho Nga, để rồi chỉ một mình thương nhớ mà không dám gặp mặt người yêu. Bay trên không, nghe đạn nổ, cũng là một cách giãi quyết vấn đề. Phi vụ yễm trợ của Hạnh cũng không nguy hiễm gì lắm. Trực thăng tãi quân xuống phi trường, rồi bay trở về căn cứ. Trực Thăng của Hạnh vừa tãi quân xong, cất cánh để quay trở về đơn vị. Xui thay, một hỏa tiễn tầm nhiệt bắn lên, trực thăng của Hạnh nổ tung trước sự chứng kiến của bạn bè, trong đó có trung úy Anh, hiện đang ở Colorado, USA.

Đêm đó, Thạnh và tôi tới nhà Nga. Nga vẫn theo dỏi tin chiến sự hàng ngày và đã biết, hai mắt đỏ hoe, ngồi bên tôi khóc sụt sùi. Nga không nói gì, không một lời than trách. Mãi đến khi chúng tôi từ giã ra về, Nga cũng không hỏi để lấy lại xấp thư. Chiều hôm sau chúng tôi đến chia buồn cùng gia đình Hạnh. Phòng khách không thay đổi, không khí ảm đạm nhưng không quá bi quan. Bởi vì đơn vị đã thông báo với gia đình Hạnh, trực thăng của Hạnh bị lâm nạn, phi hành đoàn mất tích, công cuộc tìm kiếm đang tiếp diễn, kết quả sẽ thông báo sau. Tuy nhiên, tình hình chiến sự mỗi lúc một khốc liệt, Pleiku bỏ ngỏ, Bamêthuột không cần tái chiếm, quân dân bỏ chạy hỗn loạn, đâu còn ai nghĩ đến việc đi tìm người lâm nạn.

Vài hôm sau, chúng tôi lại gặp nhau tại nhà Thạnh. Thạnh và các bạn muốn tôi đem bức thư của Nga ra đọc, xem Nga đã nói gì. Nhưng tôi không nghĩ như vậy, tôi vẫn trân trọng cuộc tình của Nga. Bức thư chỉ có thể giử lại chờ ngày trở về của Hạnh, dù rất là mong manh. Hay tốt hơn, chờ dịp thuận tiện trao trả lại cho Nga để Nga tự quyết định cuộc tình của mình.

Nha Trang giờ đây tình hình không mấy khả quan, mọi người đều hoang mang khi làn sóng dân di tãn khắp nơi đổ về. Chỉ có tôi và Thạnh gần nhà nên gặp nhau mỗi ngày, các bạn khác thì từ từ vắng bóng. Gia đình các chị tôi đã lần lược theo máy bay Air Việt Nam vào Saigon. Riêng hai bà chị vì công vụ nên sẽ từ từ đi sau. Ngày 28 tháng 3 năm 1975, tôi đưa hai chị tôi vào phi trường để đáp chuyến bay Air Việt Nam cuối cùng vào Saigon. Về nhà lòng nhẹ nhỏm, nếu có chuyện gì thì một mình theo đơn vị cũng xong. Chiều hôm đó, bạn bè lại tụ về, có cả Nga và Thủy ghé chơi nữa. Thôi thì, trong nhà có đầy thức ăn nấu sẵn dành cho tôi ăn vài ba ngày, thêm chai rượu mạnh chưng trong tủ kiến, lấy hết ra làm buổi tiệc họp mặt cuối cùng. Chúng tôi đang cười cười nói nói, đang bày biện thức ăn lên bàn, thì hai bà chị lò dò xách đồ vô nhà. Thấy chúng tôi đang chén tạc chén thù, chị Lan la giọng oang oang:

– Mất nước đến nơi rồi mà tụi bay còn lo ăn với uống …

Chị cho hay là phi trường đã hỗn loạn. Phi cơ vừa dừng là mọi người đều ùn ùn chạy ra phi đạo, khiến phi công hoãng sợ, cất cánh bay luôn. Chờ mãi không thấy có chuyến bay khác, hai chị đành lũi thũi ra về. Ra tới cổng, lính gác khuyên các chị nên ở lại, may ra có phi cơ khác tới chở đi. Nếu về nhà, thì ngày mai không cách chi trở vô được. Nhưng các chị tôi không nghe, cứ đòi về. Có lẽ chị Thương đã quen biết với một phi công trực thăng, ngày mai anh ta đón gia đình đi, sẽ đón hai chị đi luôn. Các bạn tôi thấy tình hình quá bi quan, chẵng còn thiết ăn uống, vội từ giã ra về. Hôm sau, quả như người lính gác đã nói, tôi mượn xe jeep của đơn vị để đưa hai chị vào phi trường, nhưng không cách chi vào được, đành phải đưa hai chị về sở làm của chị Thương. Đó cũng là điểm hẹn để anh chàng phi công tới đón. Tôi về sở, trả xe jeep, lấy xe honda chạy vòng vòng, nghe ngóng tình hình. Chạy qua cỗng trại Phi Long, thấy chị em Nga trên xe pick-up, theo đoàn xe chờ vào cỗng. Tôi chạy đậu bên xe Nga, anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi, Nga nói:

– Tụi em có ông anh họ không quân xin cho vào Saigon chung với gia đình ảnh. Ba em nhất quyết không đi, có lẽ vẫn còn giận má em. Hay là anh lên đi với tụi em đi, cảnh hỗn loạn chắc họ không xét giấy tờ đâu.

Tôi lắc đầu cười:

– Không được đâu, anh còn phải về sở chờ lệnh.

– Thôi anh ở lại bình an. Nếu vào Saigon được anh nhớ kiếm em, nhà dì em ở hẻm Chí Hòa cũng dễ tìm lắm.

Nga cúi xuống, tìm tờ giấy ghi vội địa chị cho tôi, dặn lại:

– Anh nhớ đến tìm em. Cho em gởi lời thăm anh Thạnh.

Giã từ chị em Nga, tôi trở về sở làm. Lính gác vẫn còn, nhưng không khí có vẽ khác thường. Anh lính cho hay là Trung tá Chỉ huy trưỡng đã ra lệnh tan hàng. Mọi người có thể về nhà thu xếp gia đình và tự lo liệu lấy. Gia đình của Trung tá Sâm và Trung tá Huynh đã vào tòa lãnh sự Mỹ để được đưa vào Saigon. Thiếu tá Tấn ở lại, đang ở kho tiếp liệu để nhận lại súng đạn của anh em binh sĩ. Xăng ai muốn lấy bao nhiêu thì lấy, đây là món quà độc nhất và cuối cùng đơn vị có thể tặng cho anh em.

Giờ đây, tôi mới hoãng hốt thưc sự. Đơn vị tan hàng, tôi biết chạy đi đâu bây giờ? Tôi vội quay đầu xe, chạy một mạch ra khỏi cổng trại, không kịp vào văn phòng lấy vài thứ cấn thiết, cũng không kịp chạy vào giã từ thiếu tá Tấn. Tôi chạy về nhà, mặc thêm bộ đồ dân sự bên trong, xách vội túi quần áo để sẵn, lên xe honda chạy vòng vòng, không biết phải đi đâu. Tôi chạy đến nhà Thạnh, Thạnh đi vắng, đến sở làm của Thạnh, sở trống trơn. Chạy ra phố Phan Bội Châu, các nhà quen thân đều cửa đóng then cài. Thì ra ai cũng có kế hoạch di tãn, chỉ một mình tôi ngu ngơ chờ tử thủ với đơn vị. Buồn tình, tôi chạy dọc theo đường biển Duy Tân. May thay, tôi gặp được cậu em sinh viên sĩ quan hải quân, đang cùng bạn chạy honda về nhìn thành phố Nha Trang lần cuối. Hải cho biết tối nay sẽ có tàu hải quân vào đưa sinh viên sĩ quan và gia đinh hải quân về Saigon, bảo tôi cứ xuống căn cứ Hải Quân, sẽ có cách theo vào Saigon. Tôi vội đến sở làm của chị Thương, hai chị vẫn còn ngồi đó, mòn mỏi chờ đợi anh phi công. Chúng tôi bàn bạc với nhau và quyết định chở nhau trên honda, chạy về phía căn cứ Hải Quân. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân giờ đây chật ních người, mặt mày hớt hãi. Cứu cánh cuối cùng của mọi người là chiếc tàu hải quân tối nay, liệu tàu có đủ lớn để chứa hàng ngàn người không? Hay lại chen chúc tranh dành nhau lên tàu như ở Đà Nẵng. Đến chiều, tôi gặp lại Hải, Hải đưa tôi bộ đồ hải quân, bảo tôi cứ trà trộn theo đám sinh viên sĩ quan sẽ lên được tàu. Các chị tôi cũng đồng ý như vậy:

– Em là sĩ quan, nếu bị bắt thì khổ lắm, các chị là đàn bà, nếu bị kẹt lại, cũng không sao.

Tôi mặc bộ đồ hải quân, chờ đến khuya, giã từ các chị, theo đoàn hải quân đi bộ lên cầu đá. Tàu cặp dọc theo bờ không có cầu tàu. Muốn lên tàu phải có người bên hông tàu nắm tay cho nhảy qua. Tôi nhờ mặc đồ hải quân, nên được lính kéo nhảy qua dễ dàng. Lên được tàu rồi, tìm một chổ dựa lưng mới hoàn hồn, không biết hai chị giờ đây ra sao? Làm thế nào mà vừa xách đồ, vừa đi bộ hàng mấy cây số từ căn cứ Hải Quân, qua đồi núi của Cầu Đá để đến bến tàu? Tôi lại nghĩ đến thành phố Nha Trang, nghe nói, hồi chiều thả tù, tù chạy khắp phố, cướp bóc, hôi của. Lại nghe nói có một chiếc máy bay phản lực A37, không biết viên phi công nhận lệnh từ đâu, đã nhào xuống bắn phá, bỏ bom nhầm khu cư xá sĩ quan, khiến cho nhiều người chết và bị thương. Ôi Nha Trang của tôi, Nha Trang thành phố hiền hoà, nay đã bị bom đạn tàn phá, mà lại bom đạn của phe ta mới khổ chứ. Dân Nha Trang bây giờ không phải chỉ có cảm nhận chiến tranh, mà đã là nạn nhân của chiến tranh, với cảnh cửa nát nhà tan, phải bỏ nhà bỏ của chạy lấy thân mình.

Tàu từ từ rời bến, để lại đám đông đang kêu la inh ỏi, đến trưa hôm sau thì tới Cát Lái. Mọi người rời tàu để ra cổng trại. Quân cảnh xét qua loa từng người rồi cho ra ngoài tự tìm phương tiện về nhà. Đến chiều tôi về đến nhà anh Duyên với tâm trạng buồn phiền và lo lắng cho các chị. Đến tối thì chị Lan bước vào nhà, mặt mày xơ xác, mới tới cửa là đã khóc lên:

– Con Thương rớt xuống biễn, chắc chết rồi .

Không hiểu nhờ sức mạnh nào mà hai bà chị của tôi cũng dìu dắt nhau đi bộ đến được bến tàu. Chị Lan được kéo qua tàu trước. Chị Thương vì đang có bầu, lại xách đồ nặng, nên đã bị tuột tay và rớt xuống biễn. Chị Lan nhìn em, chỉ biết khóc, vì đã lên tàu rồi, không thể nào trở lại vào bờ để tìm kiếm em. Tuy nhiên, ba ngày sau, trong lúc cả nhà đang làm lễ cầu an cho chị Thương, thì có tin tức của chị từ Phú Quốc, cho biết vài ngày nữa sẽ về tới Saigon. Chị bị rớt xuống biễn, nhưng nhờ bên dưới có nhiều túi xách nên không bị chìm. Nằm lêu bêu trên mặt nước, đến sáng hôm sau được người ta vớt lên, nhờ vậy mẹ tròn con vuông, túi xách của chị với tiền và nữ trang cũng không bị mất. Thất thểu đang tìm người đưa về nhà thì nghe tin có tàu Đại Hàn vào cứu vớt những người còn sót lại. Tàu Đại Hàn đã đưa mọi người ra Phú Quốc để thanh lọc. Chị đang có bầu, lại là công chức cao cấp nên được ưu tiên cho về Saigon sớm. Gia đình hai vị Trung tá Chỉ huy trưỡng của tôi cũng được Mỹ đưa ra tàu Đại Hàn này, 2 tuần lễ sau mới về tới Saigon.

Tôi nghỉ ngơi vài ngày rồi đi trình diện Tổng Nha Nhân lực. Được nghỉ thêm vài ngày để thu xếp gia đình và chờ sự vụ lệnh đi Cần Thơ. Tôi đến Quân Vận Saigon xin phương tiện di chuyển. Gặp người bạn cùng khóa Thủ Đức, anh lấy sự vụ lệnh đóng dấu “Không có phương tiện’’ trao lại tôi và nói nhỏ:

– Bạn khỏi cần tới trình diện nữa. Lo tìm đường mà đi đi.

Thạnh cũng vào được Saigon. Hôm đó Thạnh gặp người bạn, nói là có ghe, Thạnh theo anh ta luôn, không kịp về đưa các em cùng đi. Nhà anh tôi và anh Thạnh đều có điện thoại quân sự nên chúng tôi thỉnh thoãng cũng gọi nhau hỏi thăm tin tức. Tôi rủ Thạnh đi thăm Nga. Chúng tôi đến khu hẻm Chí Hòa, tìm nhà Nga cũng không khó khăn lắm. May mắn chiều hôm đó Nga có ở nhà. Anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi, kể cho nhau nghe chuyện vượt thoát khỏi Nha Trang. Nga trách đùa tôi :

– Hôm đó anh nghe lời theo em là được rồi, lên máy bay dể dàng, đâu có ai xét giấy tờ đâu.

– Thì các anh đã có mặt ở đây rồi, đường nào cũng về đến Saigon mà.

– Bây giờ các anh có tính gì không, em thấy người ta lo giấy tờ đi Mỹ quá trời.

– Anh Thạnh có cô ở Canada xin bảo lảnh cho đi Canada nhưng không biết bao giờ tòa đại sứ Canada mới xét đến. Anh đang chờ phương tiện đi Cần Thơ nhận nhiệm sở mới. Còn Nga thì sao?

– Tụi em chắc không đi đâu hết, ngoại em bảo nếu có chuyện gì thì về Gò Công ngoại em nuôi. Ngoại là mẹ chiến sĩ nên khỏi phải lo gì hết.

Hàn huyên một hồi, cũng đến lúc chia tay. Trước khi giã từ, tôi lấy xấp thư trao trả lại cho Nga, ấp úng một vài câu xin lỗi. Nga cầm thư áp vào ngực, rươm rướm:

– Em sẽ giử mãi trong tim. Thời buổi này chắc mình khó gặp nhau nữa, các anh giữ gìn sức khoẻ.

Tình hình Saigon cuối tháng 4 năm 1975 thật là giao động. Với sự vụ lệnh trong tay, tôi có thể đi khắp Saigon mà không sợ quân cảnh chận xét. Tôi cũng thử tìm đường đi Cần Thơ nhưng không tìm được phương tiện. Đêm 29 tháng 4, tôi cùng với Nhung và chị Lan theo gia đình anh Duyên ra bến Bạch Đằng theo đoàn người di tãn trên các tàu Hải Quân mà chẵng biết sẽ đi về đâu. Thạnh, trưa ngày 30 tháng 4 cũng đến được bến Bạch Đằng và lên được chiếc tàu Hải Quân đang nằm ụ chờ sữa chữa. Trên tàu có nhiều tướng tá trong nộị các của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đang thành lập. Các vị này đã vở mộng và lo chạy thoát thân khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Có thể nói đây là chuyến tàu lịch sử. Tàu chưa sữa xong, đã vội chạy, phải chạy lùi từ từ rời bến Bạch Đằng để tránh tai mắt của bộ đội việt cộng vừa chân ướt chân ráo tiến vào Saigon. Nhờ vậy đã cứu thoát được nhiều gia đình sĩ quan, binh sĩ và dân chính không chấp nhận chế độ Cộng sản.

Thạnh và tôi gặp nhau tại đảo Guam. Thạnh được phái đoàn Canada phỏng vấn, cho đi Canada ngay. Tôi được bảo trợ về New York, sau đó dọn qua California sống một đời bình an bằng nghề điện tử. Mấy năm đầu, Thạnh và tôi cố ý dọ hỏi bạn bè tìm Nga ở Mỹ, Canada và các trại tị nạn, nhưng không có tin tức gì. Về sau, khi Việt Nam đã thông thương dễ dàng, chúng tôi dọ hỏi tận Nha Trang. Các bạn trong nhóm của Nga nay đã là cô giáo của trường Nữ Trung Học Nha Trang. Thủy dạy việt văn và đã có chồng con. Thủy cho biết họ đã mất liên lạc với Nga kể từ ngày Nha Trang bỏ ngỏ.

Giờ đây đã 35 năm qua, 35 năm dài với bao vật đổi sao dời. 35 năm Hạnh cô đơn trong lòng đất lạnh. 35 năm Nga sống lưu lạc ở phương trời nào đó. Giờ đây gia đình Hạnh đã tìm được nơi thất lạc của Hạnh. Giờ đây Hạnh đã được đoàn tụ với gia đình, đã có mồ yên mã đẹp. Riêng Nga vẫn biệt vô âm tín. Nhưng thôi, cũng không nên khơi lại niềm đau trong lòng người thiếu nữ đáng thương đó. Chỉ mong rằng chị em Nga, trong những ngày đầu mất nước, được bình yên trong sự thương yêu đùm bọc của bà ngoại. Ngoại là mẹ chiến sĩ của chế độ mới nên đời sống chắc không khó khăn lắm. Mong vậy thay!

Duy San

Chuyện Hai Người Phi công VNCH và Bắc Việt

Posted by SVSQKQ  November 28, 2018

Post by Sơn râu 22 Feb 2025

Bài viết ghi lại theo lời kể của một SVSQ/KQ để nói lên sự tuyên truyền láo khoét và che lấp của người cộng sản Việt Nam. SVSQKQ

• Ngày 11 tháng 4 năm 1975: Khóa chúng tôi gồm 15 người, là khóa phản lực đàn em cuối cùng của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa mãn khóa tại trường bay Webb AFB, Big Spring, TX
• Ngày 20 tháng 4-1975: Chuyến phi cơ hành khách PANAM 747 cuối cùng chở chúng tôi hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất trong khung cảnh nhốn nháo và lo âu hỗn độn của những người di tản rời Việt Nam.
• Ngày 21/4/1975: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc bài diễn văn từ chức tại Thượng Viện và tố cáo Mỹ đã bỏ và cúp viện trợ cho Việt Nam một cách vô trách nhiệm.
• Ngày 30/4/1975: Tân Tổng Thống Dương văn Minh lên đài phát thanh kêu gọi anh em quân nhân các cấp buông súng đầu hàng vô điều kiện.Cuộc đổi đời
Tháng 5/1975: Cộng sản kêu gọi các sĩ quan quân đội VNCH, từ cấp thiếu úy tới cấp tướng đi trình diện để học tập chỉ có 3 ngày rồi sau đó trở về lại với gia đình (sau này mới biết là đi học tập cải tạo mút chỉ, có khi tới 17..20 năm, có khi bị chết trong tù, hoặc bị tàn tật hay bị bệnh hậu, khi trở về thành phế nhân hoặc chết sớm), anh em Sĩ Quan VNCH bị gạt một cách dễ dàng. Đúng là câu“ Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm“.
Sau khi về nước, vì còn mang cấp bậc Sinh Viên Sĩ Quan nên tôi không bị đi cải tạo, chỉ đi trình diện ở địa phương và bị theo dõi chặt chẽ bởi lũ công an phường khóm.
Cuối năm 1975, tôi lập gia đình và vợ tôi quê ở Vĩnh Long, lên Sài Gòn ở với tôi nhưng vì mẹ chồng nàng dâu không thuận, nên bà xã tôi ở với tôi được vài tháng rồi trở về ở lại Vĩnh Long quê nàng ta, còn tôi thì ở lại Sài Gòn, cuối tuần thứ sáu thì về Vĩnh Long, rồi chiều chủ nhật thì đón xe đò lên Sài Gòn, y như lính đi nghỉ phép vậy.

Một ngày cuối tuần sau khi đi thăm bà xã ở Vĩnh Long, tôi mua vé xe đò để trở lên Sài Gòn (vì tôi hộ khẩu ở thành phố), tôi ngồi ở chặng giữa, ghế bìa sát cửa sổ, người ngồi kế bên tôi là một người đàn ông người Bắc, trông mập mạp và cao ráo, tuổi chừng khoảng 35-40. Xe đang chạy khoảng hơn nửa tiếng, tôi đang ngủ gà ngủ gục, lúc đó đang đeo chiếc nhẫn của Không Quân Mỹ (USAF) bên ngón tay phải (nhưng khi công an hay lính cộng sản xét giấy tờ thì tôi sẽ lật mặt chiếc nhẫn vô lòng bàn tay để giấu, giống như đeo nhẫn bình thường) thì người đàn ông ngồi kế tôi dùng cùi chỏ thúc vào hông tôi nhè nhẹ hỏi:
– Ê, có phải chú mày là “giặc lái“?
Tôi tỉnh dậy: 
– Sao chú biết?
– Tao nghe nói bọn giặc lái ngụy nó thường đeo chiếc nhẫn không quân Mỹ, vậy chắc chú mày là giặc lái phải không?
Tôi hỏi:
– Ủa vậy chú là…?
– Tao là “người lái” của Không Quân Nhân Dân.
– Ủa vậy chắc chú còn bay?
– Không, tao làm phó thường dân rồi, đâu còn bay bổng chi nữa.
– Ủa sao vậy chú? Trông chú còn trẻ, khỏe mạnh lắm mà?
– Tao bị đuổi ra khỏi đảng và bây giờ làm dân bình thường thôi.
– Thật vậy hả, tại sao vậy chú?
– Số là như vầy: 
Tao là người lái máy bay Mig-19, là máy bay phản lực 2 máy, giống máy bay A-37 hay F-5 của chú mày, nhưng nó không có khả năng không chiến mạnh như Mig-17 hay Mig -21 để đương đầu với phi cơ F-4 con ma của Mỹ, nhưng tao thích lên đấu với chiếc F một lẽ năm (F-105) của Mỹ, vì chiếc này nó to và bay nhanh. Chủ đích là mang bom nhiều ở dưới cánh và bụng, nhưng khả năng không chiến hoặc tự vệ rất yếu.
Một ngày kia khoảng trung tuần tháng sáu năm 1972, tao đang ngồi ở phòng trực tác chiến, thì nghe loa phóng thanh báo động: Có phi cơ F-105 của Mỹ ở hướng Đông Nam Hà Nội, có phi cơ địch, có phi cơ địch…! ! ! Tụi tao mừng lắm, vì nếu gặp F-105 thì hên lắm, còn thọ được. Chớ nếu gặp F-4 thì phiền lắm, thì coi như chết chắc, tới số! Mig-19 tụi tao không đủ sức độ với F-4 của Mỹ. Tao bay về hướng Đông Nam, hướng dẫn thẳng ra biển, trên cao độ khoảng 5000 mét, thì tao thấy nhiều đốm đen theo hướng hai giờ (hướng tay phải), nhìn rõ tao thấy toàn F-4, chớ đâu phải F-105. Tao lẩm bẩm chửi thề mẹ kiếp cái đài không lưu báo cáo loét, chết cha tao rồi… Tao chửi thề trong miệng, liền đẩy tay ga lên tối đa, bay thẳng lên trên cao thêm khoảng 7000-8000 mét, hy vọng trốn vào trong mây cho nó chắc ăn, nhưng tao đã lầm to: ít nhất có 30 chiếc F-4 bay giăng hàng ngang ở trên từng mây cao này, tao bay gần sát bọn nó, thậm chí còn thấy tụi Mỹ đội nón an toàn (helmet) thật rõ, tao liền kéo cần để nhảy dù ngay (eject/ bailout) liền tức tốc….
– Chú nhảy dù ??? Trời đất ???
– Chớ còn gì nữa, nếu chần chờ thì sẽ bị ăn cái hỏa tiển (sidewider) của nó là chết banh xác. Tao nhẩy dù ra bay lơ lửng trên trời xanh rồi từ từ hạ xuống, tao còn thấy chiếc Mig-19 của tao nó rớt xuống đất nổ tan tành với một cục lửa màu đỏ cam rất to, có vài chiếc F-4 của Mỹ nó bay vào vèo vèo bên tao, nó thấy tao nhưng nó không bắn, thật là tao rất có phúc…đại phước… Tao cũng nghe nói là bọn Mỹ rất anh hùng, nó không bao giờ bắn người ngã ngựa, kinh nghiệm trong thế chiến thứ hai. Tao rớt xuống một cánh rừng, bị vướng tòn ten trên một cây thật cao, nhưng may phước là thân hình tao còn nguyên, lành lặn không có gì bị thương cả, nhưng tao thấy ở dưới gốc cây có chừng khoảng 10 thằng du kích xã, hầu hết là mang súng trường SKZ và đứa nào cũng đang nhắm vào tao để muốn bắn chết tao, đứa đứng đứa ngồi.
Tao hét lên: Này đừng bắn, Không Quân Nhân Dân…Không Quân Nhân Dân !và đồng thời tao vỗ vào cánh vai trái bình bịch vào cụm tay tao có may lá cờ đỏ sao vàng to tổ bố để phân biệt là người lái phe ta với giặc Mỹ. Tao tiếp tục la thất thanh: “Ông là Không Quân Nhân Dân, Không Quân Nhân Dân đừng bắn !!! Đ. má đừng bắn!!! Tiếp theo tao nghe một tiếng súng nổ …Đoành! 
Tao mở mắt ra thì thấy đang nằm trên giường nhà thương, áo choàng màu trắng, chân phải tao đang bị băng bột treo lên cao và đang bị vô nước biển, cô y tá đứng bên giường nói:  Thưa đồng chí Thượng Úy, đồng chí đang nằm điều trị tại nhà thương Bạch Mai, Hà Nội.
Chừng khoảng nửa tiếng thì có phái đoàn vô thăm tao, dẫn đầu là một thượng tá là người lái xếp của tao và kế tiếp theo sau là các người lái Mig-17, Mig-21 vô để chúc mừng tao, nói là hôm ấy tao bắn hạ 3 chiếc F-4 và sau đó máy bay tao bị hết xăng, tao phải nhẩy dù ra và phi cơ địch đã bắn trúng chân phải của tao, họ cấp cho tao giấy khen là chiến sĩ anh hùng diệt máy bay Mỹ và truy thăng tao lên Đại Úy và nói là kể từ phút này vì bị thương tích nơi chân, nên tao không thể bay được nữa và họ đã dành cho tao một nhiệm sở mới đó là làm việc tại phòng huấn luyện, để giảng dạy dưới đất cho các học viên người lái. Tao rất buồn vì thú thật tao rất thích đi bay lắm, nhưng tao phải thầm cám ơn mấy thằng du kích xã vì nó bắn tao bị thương chân, nên bị loại ra khỏi đi bay, chớ nếu còn bay thì có ngày nát thây với bọn F-4….
Tôi hỏi tiếp: 
– Rồi sao hả chú?
– Tao làm việc tại phòng huấn luyện được vài năm, thì đến ngày 30-4-1975. Miền Bắc tấn công và chiếm miền Nam, tụi tao thì nói với nhau: Miền Nam thua vì bị thằng Mỹ bỏ rơi nửa chừng, tụi mình có đánh đâu mà thắng, còn miền Nam có đánh đâu mà thua.
Sau 30-4-1975, tao nhận được một lá thư từ trong Nam gởi tới nhà tao tại Hà Nội, trong thư nói là tao có một thằng em trai, nó đi vô Nam hồi năm 1955, sau này nó lớn lên tốt nghiệp ở trường Võ Bị Đà Lạt, rồi giữ chức Đại Úy nhảy dù, bây giờ nó đi cải tạo ở suối Máu, nhờ anh đó bảo lãnh ra dùm, dẫu sao cũng là anh em ruột thịt. Tao động lòng máu mủ, tao mới đứng ra điền đơn xin bảo lãnh cho thằng em ra trại.
Kết quả là thằng em không ra tù, mà tao lại bị chúng nó điều tra lại lý lịch, tụi nó nói là tao khai gian và che dấu có thằng em Mỹ ngụy ác ôn, rồi kể từ đó tao bị trục xuất ra khỏi đảng. Cho tao ra làm phó thường dân, tao xin về miền Nam ở nhà gia đình thằng em tại tỉnh Vĩnh Long này. Thứ nhất là tại vì tao thích ở trong Nam thoải mái hơn, thứ hai là thấy có cán bộ trong nhà tụi công an phường xã nó đỡ ăn hiếp gia đình em tao.
Sau khi ở miền Nam được vài tháng tao mới phát hiện được là trong Nam, thằng cha nông dân, thằng tài xế xe đò …còn có hai bà vợ lẽ, con gái miền Nam rất đẹp, khêu gợi, ăn mặc đều đẹp cả, ngay cả đi ngủ cũng mặc đồ ngủ riêng. Cái khổ miền Bắc là đàn bà chỉ được cấp một năm có hai bộ đồ, nó mặc hoài hôi rình, nhìn thấy mắc ói, chán lắm mày ơi! Thành thử giải phóng miền Nam đâu chưa thấy, chớ tao thấy là giải phóng tao trước.
Tuy nói vậy, cũng phải làm gì để kiếm ăn, tao thì đi đi về về Hà Nội – Sài Gòn bằng đường xe hỏa Bắc Nam, tao thấy trên tàu hỏa, người ta đi hầu hết là đi buôn, vậy mà họ sống rất khuây khỏa, đâu cần đi làm công nhân cho nhà nước suốt đời nghèo mạt, tao bèn nghĩ ra cái nghề đi buôn, mua đi bán lại. Miền Nam gọi nôm na là nghề chợ trời, ở trong Nam, tao đi mua xe đạp mini, xe đạp Pháp Peugeot 5 lip, xe gắn máy Honda, đồng hồ Seiko không người lái, có hai cửa sổ, mền nĩ US, mền dù lính, mùng ngủ lính Mỹ, máy may Singer, hộp quẹt Zippo, bột ngọt… đem ra ngoài Bắc bán, còn từ Bắc vô Nam thì tao chỉ mua đồ của Liên Sô, thuốc Tetra lon nhôm vàng Bulgary chống sốt rét, đại khái là mua một lời năm, sau một năm tao chỉ cần đi hai ba chuyến là đủ sống trong năm, đời sống rất thoải mái sung sướng, không còn giặc giã chết chóc, ăn cơm thì toàn độn thịt, chớ không độn bo bo, sướng thật vì sống bằng nghề đi buôn… Nói xong anh ta kéo hai tay áo lên, trên hai cánh tay đeo ít nhất là mười mấy cái đồng hồ Seiko và chiếc áo khoác bên ngoài thì có nhiều túi kéo chứa toàn là hộp quẹt Zippo, mặc giống như chiếc áo giáp.
– À quên nữa, thế chiếc nhẫn Không Quân mày đang đeo có định bán không, tao mua nó thật đấy!
Tôi trả lời:
– Chiếc nhẫn này của tôi quí lắm, là kỷ vật của tôi để kỷ niệm hồi học bay bên Mỹ, tôi không bán đâu.
Ông ta hỏi tiếp:
– À nghe nói bọn mày đi Mỹ học bay nó có cấp cho mỗi đứa một cái áo khoác màu xanh lá cây, bên trong có vải satin màu cam đẹp lắm, mày còn giữ không? Nếu có bán cho tao đi.
Tôi trả lời:
– Trong lúc loạn lạc, hồi miền Bắc mới chiếm miền Nam, tôi vất đi hết rồi đâu dám giữ, vì mình là dân „Mỹ ngụy. À chú đi buôn lên xuống như vậy có bị công an hay trạm xét làm khó dễ không?
Chú ta hể hả cười nói:

– Có gì đâu, hễ tụi nó xét, là tao rút túi ra tờ giấy chứng nhận liệt sĩ, anh hùng diệt máy bay Mỹ, là tụi nó cho qua tuốt, vả lại tao là cựu Đại Úy có giấy tờ chứng minh mà mày, tụi nó thấy là run rồi. Coi vậy có tờ giấy tùy thân mắc dịch này cũng có lúc được nhờ cậy, chưa kể buồn buồn tao đeo cái huy chương bác Hồ phi công anh hùng ở ngực áo là tụi nó phát khiếp…ha ha.
À tao thấy trong hình bọn giặc lái chú mày mặc đồ bay đẹp và trông oai quá, đồ bay gì mà toàn là giây kéo (zipper), ăn mặc khít khao, có khăn quàng cổ màu tím, màu cam, hông đeo súng cá nhân, dây nịt súng có đầy đạn tùm lum, mang dao, máy truyền tin, súng bắn cứu nguy (flare gun) áo lưới mưu sinh (survival vest), coi chằng quá, đội mũ vải xanh dương (calo) trong oai ghê, tao thấy còn mê, chắc mấy em trong Nam khoái mấy chú mày lắm phải không? Tao thấy thằng nào trông cũng bảnh trai hết?
Tôi trả lời:
– Thì đồ bay của chú cũng đẹp lắm mà?
Chú ta trả lời:
– Đẹp cái con khỉ khô, đồ bay mà của tụi tao mặc còn cài nút, mặc hai mảnh trên dưới, trông giống mấy thằng công nhân xí nghiệp chết mẹ, nhìn muốn mửa, còn lái Mig 17 giờ này còn mang nón bay bằng da (leather helmet), giống lính lái xe tăng vào đệ nhất thế chiến, trừ cái đám lái Mig 21 thì còn đội nón bay hao hao giống Mỹ, nhưng vẫn không đẹp bằng của Mỹ, còn mặt mày thì thằng nào trông cũng thấy ngố ngố, miệng hô hốc, vì tối ngày lo luyện bài chính trị Bác và Đảng, thì làm sao ga lăng được.

Nói ba hoa chích chòe, mà xe đã chạy tới Phú Lâm, xe đò chạy vô bến xe Xa Cảng miền Tây, có cả ngàn người đang lô nhô, bụi bặm, khói xe ngộp trời, xe ngừng tại bến, thấy chú ấy đang đợi các lơ xe thả xe đạp, máy may xuống. Tôi tình nguyện đứng giữ đồ cho chú ấy, bên cạnh chiếc cyclo máy đang nổ máy nghe xình xịch. Sau khi chất được hai chiếc xe đạp mini, một máy may, vài bịt hàng lỉnh kỉnh lên xe, chú ta đã ngồi gọn hẳn trong cyclo máy.
Chú ấy nói lần cuối:
– Bây giờ tao lên thành phố, đón tàu hỏa về Bắc, thôi tạm biệt chú em, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé, cám ơn đã giữ đồ cho tôi lúc nẫy, thôi mình đi nhe.
Tôi giơ tay lên chào theo kiểu nhà binh, chú ấy cũng chào lại y chang.
Tôi đón xe lam về Sài Gòn cư xá Nguyễn Thiện Thuật, trong lòng không bao giờ quên lại câu chuyện gặp lại anh phi công Mig Hà Nội này, trông cũng thật tội nghiệp. Đúng là đất nước mất, mất tất cả, cộng sản thà bắt giết lầm, chứ không tha lầm, đa nghi như Tào Tháo. Vậy mà cũng có người nhẹ dạ nghe theo, rồi chết ân hận.
Tôi rất hối hận không có dịp hỏi tên của anh ta. 

Chợ trời
Vào năm 1976, sau nước mất, tôi sống bằng nghề chợ trời (nghề chánh là làm việc cho hãng in (printing shop) trong thành phố nên không bị đi vùng kinh tế mới, nhưng đó là cái nghề để qua mắt công an phường khóm, chớ thật ra phải sống bằng nghề mua đi bán lại còn là gọi nghề chợ trời, khi thì buôn thuốc tây ở khu Huỳnh Thúc Kháng, Hàm Nghi. Khi thì đi mua bán vàng và đô la Mỹ ở khu Lê Thánh Tôn, thấy vậy mà sống rất phây phả, ung dung.
Một bữa kia vào đầu năm 1979. Tình cờ tôi gặp lại anh phi công Mig-19 Hà Nội (hồi gặp trên xe đò Sài Gòn-Vĩnh Long). Lúc này trông anh ta thấy khác ra, không khác người Sài Gòn, tuy hơi ốm nhưng trông rất khỏe. Anh ta đang lái chiếc xe gắn máy Honda 50cc kiểu đàn ông màu đen, ngồi sau xe là một cô cũng khá trẻ đẹp ngồi ôm eo ếch (thoạt tiên tôi tưởng là anh ta chạy xe ôm).
Tôi hỏi:
– Giời ơi trái đất tròn, bây giờ gặp lại chú, trông chú đẹp trai quá, chú còn nhớ tôi không?
– A thì ra anh…anh là phi công tôi gặp trên xe đò năm 1975 phải không?
– Đúng rồi đó, a còn cô ngồi ở phía sau là…?
– Bà xã mình đó.“ Anh ta dựng xe và nói tiếp:
– Bà ấy nguyên là vợ một Thiếu Tá phi công của chế độ Sài Gòn, đi học tập và chết trong trại cải tạo năm 1977. Sau đó bà ấy phải lam lũ khổ sở buôn bán chợ trời để nuôi hai đứa con nhỏ, có vài lần bị công an nó bắt, mình là bạn bè bán hàng với bà ấy. Tôi lên đồn công an xin nó thả bà ra và mình nói là bà con của mình và xin đặc biệt thả ra, chứ không nó bắt đầy đi vùng kinh tế mới, nhận bừa là bà con nó vừa nể mình là cựu cán bộ. Sau đó mình thấy tình cảnh đắng lòng mẹ góa con côi, còn tôi thì còn độc thân, vả lại làm ăn qua lại riết có cảm tình. Lấy nhau rồi tôi về nhà bà ấy ở khu đường Trương Minh Giảng, gần nhà thờ Ba Chuông (Sài Gòn) cho tiện. Buôn bán thì cũng tạm được, có điều lúc nào cũng cảm thấy bị rình rập bởi công an cộng sản, đất nước mang tiếng là Độc Lập – Tự Do, nhưng lúc nào cũng phập phòng lo sợ không biết bị bắt bất cứ lúc nào, vả lại thằng em Đại Úy Nhảy Dù đi học tập mới chết năm ngoái, còn ông chồng cũ của bà xã mình thì cũng chết trong trại tù ở Hoàng Liên Sơn (Bắc Việt), nên tôi buồn khổ lắm. Tôi không còn luyến tiếc ra miền Bắc nữa, chỉ ở trong Nam thôi.
– À chú mày có đường dây nào đi ra nước ngoài không? Chúng tôi không muốn sống sống ở đất nước này nữa!
Tôi nói:
– Nếu chú thím đi chui thì lỡ bị bắt thì rất là nguy hiểm, vì chú là chính gốc cán bộ, còn nếu đi theo kiểu bán chính thức, tức là theo kiểu người Hoa thì đường này thì nó tính mỗi đầu người là 7 cây vàng, nhưng nó chắc và an toàn hơn, nhưng nó sẽ đặt tên chú là tên Hoa kiều chớ không lấy tên Việt Nam
– Số tiền đó tụi này lo được, nhưng chú em biết tổ chức đó ở đâu không?
– Tôi cũng đang đi tìm, nếu có sẽ cho chú thím hay
– Nếu muốn gặp, thì vợ chồng tụi này hằng ngày ở đây. Chỗ quán nước mía cạnh cây cột đèn và sẽ thấy có chiếc Honda màu đen này, thì tụi này có mặt ở đó.
– Thôi tạm biệt chú và chúc chú thím may mắn.

Vượt Biên
Vào tháng 6/1979, vợ chồng chúng tôi đi vượt biển đường Vĩnh Long, ghe chở khoảng 300 người và sau một tuần lênh đênh trên biển thì đến đảo Tanjung Pinang, Indonesia. Cũng may là tàu đi vào tháng này biển rất êm và may mắn không gặp hải tặcThái Lan hoặc Mã Lai lộng hành, ở được hai tháng thì một ngày kia, tôi đang ở trại A đi qua khu trại B để thăm coi có ai quen không. Tình cờ tôi thấy một người đàn ông trông rất quen, anh ta đang sửa lại cái lều của mình.
Tôi hỏi đại:
– Chú còn nhớ tôi không, có phải chú lái Mig-19?
Chú đưa lên miệng một ngón tay:
– Này nói khẽ chứ, mình đây, sao chú em đến đảo này hồi nào. Tôi đi đường Bến Đáy ở Trà Vinh, tới đây vợ chồng chúng tôi ở trong lều này.
Tôi hỏi:
– Chú sắp được phỏng vấn bởi phái đoàn Mỹ chưa? à có điều này mình cần nói với chú là phải khai thành thật, không dấu diếm, phải khai báo sự thật về lý lịch cũ của chú nhé, đừng khai gian. Mỹ họ rất ghét ai nói láo, khai gian và nhớ khai đúng sự thật thì không bị trở ngại xin tỵ nạn theo diện chính trị (political asylum) nhé. Thôi chào chú thím và chúc may mắn.

Tuần lễ sau là ngày tôi được phái đoàn Mỹ kêu lên phỏng vấn, mình mừng hết cỡ, vì ở trại tỵ nạn tuy không có làm gì, nhưng ngày nó kéo dài đăng đẳng. Chỉ trông lên đường định cư qua Mỹ, rồi có đi làm cơ cực cũng chịu.
Phái đoàn Mỹ gồm có một ông Mỹ trắng già khoảng 50-60 tuổi, một cô Việt Nam (ở bên Mỹ qua) làm thông dịch viên và một người Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, râu rậm. Trông giống điệp viên Gestapo hay CIA với khuôn mặt rất lạnh lùng như pho tượng.
Nghe tôi học bay bên Mỹ mới về nước, ông Mỹ mang kiếng đen hỏi tôi bằng tiếng Mỹ:
–  What is your name and your serial number?
Tôi nói:
– Yes sir, my name is … and my serial number is…
Ông ta hỏi tiếp:
– Do you know how to fly T-37 and can you let me know how to start the engine?
Tôi bình tỉnh trả lời:
– Carburator switch on, throttle on, mixture to cold, prime switch to on, navigator light to on, ignition switch on and hold.
Ông ta hỏi tiếp:
– “What is the name of your jet engine and thrust?
Tôi trả lời:
– Each engine has 1025 lbs thrust, has two J-69-T engines
Tôi trả lời rành rẽ không lúng túng, không nói vấp vì đó là nghề củ của tôi mà (trong cuốn Dash 1 trước khi pre flight hay bị IP hỏi.)
Ông ta nói:
– Very good, now you can go and let us interview the next one
Tôi đứng dậy chào tay kiểu nhà binh rồi đi ra
Buổi chiều hôm đó, tôi gặp lại anh ta (Mig-19) ở khu giếng lấy nước, thấy anh ta đang khom lưng khệ nệ khiêng hai thùng nước về cho gia đình xài.
Tôi chận lại hỏi nhỏ:
– Sao bữa nay chú có được phái đoàn Mỹ phỏng vấn không?
– Có chứ, hú hồn hú vía
Tôi hỏi:
– Chú khai thật hết phải không?
– Vâng theo lời chú em tôi khai thật hết
– Họ hỏi gì?
– Có ông Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, có râu rậm, ông hỏi tôi bằng tiếng Việt. Trời đất ơi! ổng ta nói tiếng Việt theo giọng Bắc mới khiếp chứ
– Thế họ hỏi chú cái gì?
– Ổng Mỹ hỏi:“Nghe nói ông là người lái phi cơ Mig-19, xin ông cho biết, ông thuộc phi đoàn nào và căn cứ nào?”
Tôi trả lời:“Phi đoàn 925 tại Yên Bái, Bắc Việt”
Ông ta nói tiếp:“Anh học lái Mig-19 ở đâu?”
Tôi trả lời:“Tân Cương, Trung Quốc”
Ông ta hỏi tiếp:“ông có thể nói cho tôi biết cách đề (start) của phi cơ Mig-19?”
Tôi trả lời:“Đề máy như vầy…như vầy”
Ông ta hỏi tiếp:“Lý do nào mà ông muốn xin qua Mỹ?“
Tôi trả lời:“Tôi muốn ở thế giới Tự Do, tôi không thế nào sống dưới chế độ cộng sản. Tôi không thích cộng sản và tôi xin phép được tỵ nạn chính trị tại nước Mỹ”
Ông ta chỉ tay qua vợ con tôi hỏi: “Còn người đàn bà này là ai và hai đứa nhỏ này?”
Vợ tôi trả lời: “Tôi tên… và …tuổi, nghề nghiệp nội trợ. Chồng cũ tôi tên là…cấp bực Thiếu tá, lái phi cơ khu trục A1H, phi đoàn 518 đóng ở Biên Hòa. Lúc trước chồng tôi học bay T-28 ở tại Keesler, thành phố Biloxi, tiểu bang Mississippi, và đã chết trong tù cải tạo trại Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt năm 1977. Tôi có hai đứa con với ảnh, đứa con gái được 11 tuổi và đứa con trai 8 tuổi. Vào năm 1978, tôi lấy anh này và anh ấy là người rất tốt, đến năm 1979 chúng tôi vượt biển đến trại tỵ nạn này.
Ông Mỹ trả lời: “Cám ơn ông bà, hồ sơ phỏng vấn của ông bà đã xong, xin ông bà ra về. Chúng tôi sẽ điều tra và sẽ thông báo cho ông bà biết sau”
Chú ta trả lời:
– Chỉ vậy thôi, bây giờ mình như cá nằm trên thớt, không biết ra sao nữa. Có điều là vái trời là họ cho đi định cư bên Mỹ, đợi bao lâu cũng được, chớ đừng gởi trả về Việt Nam là chết bỏ mẹ.

Huyền diệu thay, một tháng sau gia đình tôi và gia đình anh ta được đi khám sức khỏe tại bệnh viện Tanjung Pinang và tuần sau thì lên thuyền đi Singapore để định cư bên Mỹ.
Gặp lại anh trên thuyền tôi hỏi:
-Chúc mừng chú và gia đình được đi Mỹ, à chú biết định cư ở tiểu bang nào không?
Anh ta trả lời:
– Mình được gia đình Mỹ bảo lãnh, sang định cư ở Newyork, còn anh đi tiểu bang nào vậy?
Tôi trả lời:
– Tôi được bảo lãnh về tiểu bang Cali, thôi xin gặp lại chú thím nhé
Anh ta trả lời:
– Cám ơn anh đã chỉ bảo cặn kẽ lúc phỏng vấn, thôi tụi mình đi nha, hẹn sớm gặp lại

20 Năm Sau: Little Saigon – California
20 năm sau tình cờ tôi gặp lại chị ở Little Saigon, con cái đều thành công và công ăn việc làm ổn định. Nhưng đổi lại với nét buồn trên khuôn mắt chị và tôi nhìn thấy trên bàn thờ hình ảnh hai vị phi công đã cất cánh bay cao, ở một nơi mãi mãi Tự Do, không có bóng dáng cộng sản đang từng ngày dày xéo trên quê hương Việt Nam bé nhỏ thân thương. 
Sau khi định cư ở Mỹ, tôi đi làm cho một hãng đóng máy bay F-16 ở tại San Diego được 20 năm. Một ngày cuối tuần năm 2000, vào trung tuần tháng 5, vợ chồng tôi rủ nhau đi lên Santa Ana để đi chợ Việt Nam mua thức ăn và nhân tiện ghé một nhà hàng bán phở tại khu Westminster. Chúng tôi vào nhà hàng ăn, vừa ngồi ghế xong, là có một người đàn bà, cầm menu đưa chúng tôi và hỏi:
– Thưa ông bà dùng chi và đây là thực đơn, xin ông bà lựa chọn món ăn
Tôi ngẩng lên nhìn và trông thấy bà này quen quen ở đâu nè, tuy nét mặt khoảng trên 50 tuổi nhưng nét đẹp vẫn còn đó. Tôi hỏi đại:
– Hình như bà chủ tên…lúc trước ở Sài Gòn, khu nhà thờ Ba Chuông thì phải?
Bà ta trả lời và mừng rỡ:
– A hình như đây là chú…mình hồi đó có làm ăn trên đường Lê Thánh Tôn
Tôi mừng quá nói:
– Đúng rồi! chính mình đây, ủa anh đâu rồi chị? anh khỏe không?
Bà ta sầm nét mặt và buồn rười rượi nói:
– Anh mất hơn hai năm rồi, anh bị đột quỵ (Stroke) khi đang ở trong bếp. Anh ấy đi làm technician trên 15 năm ở một hãng điện tử, thì xin về hồi hưu rồi để dành chút tiền để mở tiệm phở này. Tính ra hai vợ chồng già sống qua ngày, không phải đi làm vì hai đứa con đã lớn hết rồi. Con bé thì học ở UCI xong ra làm bác sĩ ở bệnh viện Fountain Valley, còn thằng con trai học xong ở UC Davis ra làm kỹ sư cho hãng Boeing ở Long Beach, tụi nó có gia đình hết rồi. Bây giờ anh ấy mất rồi, tôi buồn quá, cũng nhờ có công việc ở nhà hàng bề bộn nên thời giờ qua mau và bớt lo buồn. Bây giờ tôi có thờ linh cốt (Tro) anh ấy trong chùa Điều Ngự và thờ linh vị thì ở nhà và trong văn phòng nhỏ trong tiệm này. Chị dẫn chúng tôi vô văn phòng nhỏ của chị, trên tường có thờ hai linh vị của: Thiếu Tá Phi Công thuộc PĐ 518 và anh phi công Mig-19. Tôi đốt nén nhang lên khấn vái và kính chúc hai anh chóng siêu thoát lên cõi niết bàn. Hai anh đã cất cánh bay về miền viễn cực lạc, ở một nơi mãi mãi tự do, không còn khổ đau như trần thế. 
Chị nói: “Khi không anh em đánh giết lẫn nhau cũng vì ngoại bang, anh em cũng một nhà, cùng một nước, nói cùng ngôn ngữ vả lại có chiến tranh cũng vì ngoại bang gây ra, chị cầu mong cho đất nước mình, một ngày không còn cộng sản, có thể chế tự do dân chủ và không bao giờ có chiến tranh nữa.”

■ Cánh Thép Channel