This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Một chuyện tình buồn sau ngày 30 tháng Tư, 1975… Rất nhiều cuộc tình dang dở sau ngày dài đau thương đó…
Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.
Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.
Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.
Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.
Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh. Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.
– Anh chờ em có lâu không?
Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.
– Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.
Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt:
– Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.
– Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái , em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.
Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.
– Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.
– Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.
Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun, loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.
Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài Bắc.
Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong Nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang Không Quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan Alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng Tư, thì hai người đã làm đám cưới.
Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.
Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà Lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.
Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải dấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.
Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.
Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẳn sàng hết lòng giúp Thống.
Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.
Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả.
Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.
Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.
Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:
– Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.
Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:
– Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.
Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:
– Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta.. xin lỗi cô ta.
Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá. Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.
Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.
Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.
Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.
Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.
– Em cám ơn anh, và xin lỗi .. em đã không nén được xúc động.
Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:
– Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.
Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:
– Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!
Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.
Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:
– Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.
Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.
Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.
Mùa Hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị,. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexico. Đến ngày thứ Bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.
Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.
Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.
Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.
Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp Tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.
Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu nhạc phẩm “Ai Lên Xứ Hoa Đào” với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.
Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.
Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi:
– Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?
Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:
– Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.
– Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.
Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.
Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:
– Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?
Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:
– Xin lỗi, em không nhớ ra.
Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:
– Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ
Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:
– Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với… ai đó!
Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.
Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:
– Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.
Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.
Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.
Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:
– Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!
Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, Chủ Nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”.
Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn dấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ Bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.
Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều Chủ Nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.
Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:
– Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ. Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.
Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.
– Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.
Tôi đỡ lời:
– Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?
Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:
– Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?
Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.
– Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!
Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẩng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.
Cô gái hạ giọng:
– Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.
Tôi nhìn cô ngờ vực:
– Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.
– Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh. .
Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:
– Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn.
Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:
– Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa Đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.
Tôi giật mình hoảng hốt:
– Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?
– Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.
– Và chị đã chết? Tôi hỏi
– Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.
– Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?
– Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt . Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.
– Còn chị Hà Nhất Anh?
– Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chửa. Trong mấy ngày tinh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.
Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:
– Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt.
– Dạ. Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.
– “Đồi Thông Hai Mộ”. Tự dưng tôi buột miệng.
Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:
– Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà Lạt có khá nhiều “Đồi Thông Hai Mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.
– Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?
Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:
– Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.
Rồi quay sang tôi:
– Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.
Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.
Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:
– Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.
Nhị Anh nắm tay bà cụ:
– Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.
Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.
Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:
– Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?
Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:
– Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.
Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.
Đọc Truyện. “Chiến Tranh Bên Cạnh, Tình Yêu”(BBT đánh máy lại từ sách do tác giả Huy Văn Trương tặng)
Tôi nghĩ e phải mất một tuần mới đọc hết tập truyện dài nầy của Huy Văn, nhưng không ngờ, tôi đã đọc một mạch từ đầu hôm đến khuya cho hết câu chuyện. Nhờ lối hành văn trong sáng, rõ ràng, dễ hiểu và vui tươi, nên lôi cuốn được người đọc, không làm chán nản bỏ cuộc nửa chừng. Điều thích thú nhất, là tôi tìm được nhiều hình ảnh và tình cảm của chính mình vào một thời xa xưa, trước năm 1975, khi tóc còn xanh, dạt dào yêu đời, dù chiến tranh tàn khốc, khói lửa triền miên.
Tác giả như chứng nhân của một giai đoạn lịch sử, phác họa lại hình ảnh và tâm tư của lớp thanh niên trong thời đại đó.
Tác giả đã dẫn người đọc về một thoáng Đà Lạt xưa hiền hoà. Gợi lại những ưu tư, lo lắng của tuổi trẻ khi chinh chiến bất ổn tràn lan. Những ngày tháng gian khổ luyện tập trong quân trường, vác bao hành trang nặng trĩu chạy vòng vòng Vũ Đình Trường, mệt đứt hơi, mắt lóe đóm đóm, người nầy ngất, người kia xỉu. Tiếng gầm gừ, gào thét dọa dẫm của các huynh trưởng. Những hình phạt, “ phạt liên miên bất kể giờ giấc, sáng phạt, trưa phạt, chiều phạt, tối phạt, lên gường ngủ vẫn bị lôi đầu dậy thi hành lệnh phạt”. Những đêm đi kích, gác tuyến, ôm chặt cây súng Garant như ôm vợ. Những khi ngồi câu lạc bộ nhấp ly cà phê và liếc nhìn cô bán hàng mà mong ước rồi chờ một nụ cười vu vơ. Những lần thực tập địa hình, nhờ hướng dẫn của các cô bán sương sâm ngoài bãi để tìm cho đúng mục tiêu. Tác giả đưa người đọc về kỷ niệm của những ngày Chủ Nhật 24 giờ đi phép, dẫn bạn gái lên Sài Gòn dạo phố, đi bên nhau, vào ngồi quán Brodard, Mai Hương, Givral, Pole Nord. Ăn cơm quán Thanh Bạch, uống nước miá Viễn Đông, rồi rủ nhau đi xem chiếu bóng. Chiều tối vào quán cà phê Hầm Gió, Thằng Bờm nghe ca nhạc. Những hình ảnh lãng mạn nầy, dường như anh nào cũng đã trải qua và còn nhớ mãi trong đời.
Một câu chuyện tình, tha thiết yêu mà khờ khạo, làm phật lòng người yêu. Mối tình đẹp như mơ, và trong trắng như thủy tinh. Vì hiểu lầm, chàng không biết vì sao nàng giận. Trong tình trạng thất tình, chàng đi lang thang giữa phố Sài Gòn nóng cháy, vào rạp chiếu bóng ngủ quên buồn.
Tốt nghiệp trường sĩ quan Thủ Đức, được bổ nhiệm về Trường Võ Bị Đà Lạt, tác giả lại đưa độc giả về những quán cà phê Thủy Tạ, cà phê Tùng, cà phê Hạnh Tâm, hồ Xuân Hương, sương lạnh, núi đồi. Những ngày tháng hạnh phúc yên bình trong thời chiến tranh khốc liệt nhất. Người đọc, còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Đại Học Đà Lạt, đời sống sinh viên theo học bán thời gian.
Trong khi tác giả may mắn, yên bình ở hậu phương, thì bạn bè cùng khoá được tung vào các chiến trường sôi động, mạng sống mong manh, ở An Lộc, khoảng hơn bảy ngàn quân sĩ miền Nam tử chiến với hơn bốn chục ngàn quân Bắc Việt vây hãm tấn công. Tác phẩm, ghi lại: “Hàng ngày ở đây tụi tao lãnh hơn một ngàn trái đạn pháo đủ loại là chuyện thường tình, từ cái thứ đạn pháo tép riu của súng cối 82 ly, cho đến đại bác hạng nặng 130 ly. Vài trăm trái đạn pháo một ngày, tụi tao gọi là pháo quấy rối. Trên hai ngàn cho đến tám ngàn trái mới coi đó là pháo thật sự, khi pháo kích lơi dần là lúc Việt Cộng bắt đầu tấn công. Trước tiên, bọn chúng dùng xe tăng T54 tràn qua mọi chướng ngại vật đi vào trong thị xã An Lộc. Mấy chục chiếc xe tăng này như là vật tế thần,…” An Lộc được giữ vững, Bắc quân tổn thất nặng nề, kiệt lực, phải rút lui.
Rồi đến trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mỗi tấc đất tưới bằng một vũng máu. Bom đạn ngày đêm trút như mưa rào không ngớt. Đôi bên đều tổn thất nhân mạng nặng nề. Chiến thắng đã dựng cờ vàng trên cổ thành đổ nát. Câu chuyện người sĩ quan nhận lời trăn trối của anh hạ sĩ trước khi chết, nhờ nhắn với vợ đã mua đôi giày cho đứa con nhưng chưa kịp gởi về. Người sĩ quan bối rối khó xử, khi đến báo tin buồn cho vợ của kẻ đã hy sinh ngoài trận địa. Rồi câu chuyện của người thiếu nữ, mới làm đám hỏi được ba tháng, thì vị hôn phu đã hy sinh trong trận Hạ Lào.
Độc giả sẽ tìm thấy hình ảnh của những ngày sắp tàn cuộc chiến, vào đầu năm 1975. Tâm trạng của người lính khi biết nước sắp mất. Khi nghe từ điện thoại của tiểu khu Ban Mê Thuột: “…Mà thôi, không kịp nữa đâu, xe tăng của Việt Cộng đã tràn vào tiểu khu rồi, tôi phải chạy.”
Những ai từng di tản từ Đà Lạt xuôi Nam trong ngày tai biến đó, sẽ tìm thấy và biết rõ hơn tại sao cuộc triệt thoái không bi thảm như trên con đường liên tỉnh lộ số 7 về Tuy Hoà. Vị thiếu tướng chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt vẫn bình tĩnh như không có việc gì xảy ra, đã sắp đặt điều động việc phá cầu Đại Ninh ngăn chận đà tiến của địch, để có thời gian đưa quân dân Tuyên Đức và trường Võ Bị về Sài gòn.
Trong lúc bối rối đó, tác giả – nhân xưng ‘tôi’ trong truyện- được ông bố vợ sắp cưới kêu điện thoại bảo về gấp Sài Gòn để bỏ nước ra đi, không thể chờ đợi được nữa. Anh đã trả lời: “Đi đâu? Đi sao được, con rời bỏ đơn vị sẽ bị coi như đào ngũ”
Độc giả Đà Lạt sẽ thấy lại hình ảnh cuộc di tản ngày đó: “Tôi đứng ở đỉnh đèo Ngoạn Mục nhìn xuống chân núi, đoàn người di tản đi bộ dọc theo hai bên đoàn xe, đèn xe sáng rực cả một góc trời trông giống như là một con rắn lửa khổng lổ đang bò theo triền núi, để trườn mình xuống đồng bằng. Cái đầu của con rắn đã qua khỏi Sông Pha, trong khi thân của nó hãy còn ở đỉnh đèo Ngoạn Mục, và cái đuôi con rắn có thể còn ở đâu tận Đà Lạt.”
Về đến Sài gòn, tác giả được gia đình của người bạn gái cũ đem vào Tân Sơn Nhất, đã đến chân cầu thang máy bay, nhưng bị quân cảnh giữ lại: “…không có lệnh cho quân nhân xuất ngoại, chúng tôi chỉ thi hành nhiệm vụ, trung úy thông cảm.”
Tác giả trở về đơn vị, và trong lúc đang hăng say chiến đấu với địch quân, thì được lệnh buông súng của Tổng Thống, nghe mà không tin được. Tác giả viết về tâm trạng rối bời, đau xót và hoang mang của người lính chiến trong ngày tan tác đó.
Tiếp theo là tình hình hỗn loạn của thành phố Sài Gòn trong ngày cuối. Người lính thua trận lang thang giữa phố, không biết đi đâu, về đâu, bụng đói, miệng khát, thân xác rã rời, tâm thần ngao ngán, tuyệt vọng.
Qua tập nầy, tác giả như một chứng nhân của thời đại. Người lớn tuổi đọc sẽ tìm thấy chính hình ảnh, tâm tư, nổi đau khổ cũng như hạnh phúc mà họ đã trải qua trong một giai đoạn lịch sử. Những độc giả trẻ của các thế hệ sau, sẽ hiểu hơn, thấm thiá hơn với nỗi đau của cha anh trong cuộc chiến phi lý, dài và tàn khốc đem dân tộc vào đổ vở lầm than.
Đọc xong tập truyện, tắt máy vi tính, tôi xót xa nhớ về một thời xưa cũ. Không biết tại sao, tôi tha thiết muốn đọc lại cuốn “Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết” của tác giả Erich Maria Remarque. Nhưng đêm đã quá khuya. Tôi vào giường mà còn thao thức mãi. Tôi nghĩ, mấy mươi năm chinh chiến cũ, là đề tài lớn và phong phú, cho những tác phẩm văn chương vĩ đại. Nhưng chưa có tác phẩm nào đáp ứng được lòng mong ước của độc giả. Tuy nhiên, nhiều truyện dài tương tự như “Chiến Tranh Bên Cạnh, Tình Yêu” nầy, của những tác giả khác nhau, sẽ gom lại để thành những trường thiên, làm chứng cho một giai đoạn đau thương nhất của đất nước Việt Nam.
Bàn cà phê gồm có sáu người , trước mặt tôi là anh Phạm Phú Minh chủ bút tờ báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ, bên tay phải của anh Minh là Đặng Thơ Thơ đồng chủ biên báo mạng Da Màu, bên tay trái anh Minh là anh Từ Mai Trần Huy Bích giáo sư, nhà nghiên cứu văn chương Trung Hoa và Việt Nam.
Ngồi bên tay phải của tôi là anh Trúc Chi, nhà văn chuyên viết tùy bút. Bên tay trái của tôi là bình luận gia Ngô Nhân Dụng của nhật báo Người Việt.
Tôi, sở dĩ được ngồi chung bàn với năm cây viết nổi tiếng của làng văn hải ngoại là nhờ đi theo anh Trúc Chi. Cà phê chưa được nhà hàng mang ra bỗng đâu chị Trần Mộng Tú xuất hiện, chị là nhà thơ, nhà văn nữ nổi danh ở hải ngoại. Vừa gặp mọi người chưa kịp chào hỏi chị đã nói với tôi:
-Huy Văn, Huy Văn qua ngồi đây tôi có chuyện muốn nói.
Chuyện quá sức bất ngờ đối với tôi, vì từ trước đến giờ, tuy có hân hạnh được gặp mặt chị Tú vài lần nhưng tôi chưa có dịp nói chuyện với chị cho dù chỉ một câu thăm hỏi. Hôm nay khi chị kêu tên, nằm mơ tôi cũng không tin có một giấc mơ đẹp như vậy. Với tôi, Mộng Tú có nghĩa là một giấc mơ đẹp. Tôi lúng túng đứng lên đi vòng sau lưng anh Ngô Nhân Dụng đến ngồi bên cạnh chị. Chị Tú nói với tôi, giọng nói trong như nắng sớm của mùa xuân Cali.
-Tôi hay đọc sách trước khi đi ngủ, đọc rất nhiều truyện viết về lính nhưng thường chỉ được vài trang, gấp lại, rồi tối mai đọc tiếp, có lẽ họ viết buồn quá. Truyện của Huy Văn tôi đọc hết cả chương trong một tối. Hấp dẫn lắm, có buồn cái buồn cũng nhẹ nhàng. Sách còn để ở đầu giường.
Tôi chưa kịp nói lời cảm ơn với chị, anh Ngô Nhân Dụng đã lên tiếng hỏi tôi:
-Tác giả có in hình trên sách không?
Tôi biết, bìa trước cuốn sách in hình lá cờ Quốc gia bay phất phới trên Dinh Độc Lập, bìa sau độ mươi hàng giới thiệu của anh Trúc Chi, thêm vài hàng của anh Thạch Hãn, nguyên Tổng thư ký của tờ Văn Học hải ngoại viết. Tôi trả lời anh Ngô Nhân Dụng:
-Dạ không có.
-Thế thì, cô Tú để sách ở đầu giường làm gì?
Mọi người cùng cười vang vì câu nói đùa đầy ý nhị của anh Ngô Nhân Dụng. Riêng tôi, tôi biết tiếng cười của tôi chắc chắn là tiếng cười vui vẻ, sung sướng nhất trong bàn cà phê vào buổi sáng hôm ấy.
Kính thưa quý độc giả.
Nhờ lời khen “Truyện của Huy Văn tôi đọc hết” của chị Trần Mộng Tú, cũng như những lời khuyến khích trực tiếp và gián tiếp của các bạn văn khiến tôi có thêm nghị lực để viết cuốn truyện thứ hai, đó là cuốn truyện mà quý độc giả đang cầm trên tay.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn quý độc giả. Đặc biệt, cảm ơn chị Trần Mộng Tú cùng năm cây bút có mặt trong bàn cà phê ngày hôm ấy.
Tôi ngủ một giấc ngon lành thoải mái cho đến sáng ngày hôm sau.
Hôm nay, ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi dự định lát nữa sẽ xuống chợ Bến Thành, bán cái đồng hồ đeo tay, sau đó đến bến xe về Đà Lạt, về với cha mẹ và mấy đứa em của tôi.
Từ lúc thức dậy, tôi đã thấy mót tiểu nhưng làm biếng không muốn đi đến nhà tắm. Tôi biết, chỉ có một mình tôi ở trong nhà, đi đâu cho xa. Tôi đứng trên giường đái đại xuống sàn nhà cho xong việc, tiếng nước tiểu rơi lên những mớ giấy rác dưới sàn nhà kêu lộp bộp, âm thanh vang dội trong căn nhà vắng, nghe như tiếng của những giọt mưa đầu mùa rơi trên đống lá khô. Sau khi trút xong bầu tâm sự, trong người sảng khoái, nhẹ nhàng, tôi đi xuống nhà bếp, mở vòi nước dùng cả hai tay bụm lấy một vốc nước úp vô mặt, miệng ngậm một búng nước, ngửa cổ súc miệng sau đó phun nước xuống chậu rửa chén. Chuyện vệ sinh buối sáng coi như xong.
Ngoài sân im lặng như tờ không một bóng người, tôi lửng thửng đi ra phòng khách rồi khựng người lại, trước mắt tôi, Cúc đang từ trên lầu tay vịn lan can đi xuống. Cho dù có gặp ma cũng không làm tôi hoảng sợ bằng chuyện nhìn thấy Cúc. Tôi nghĩ rằng mình bị hoa mắt nên trông gà hóa cuốc, nhìn cô nào đó lại tưởng lầm là Cúc. Tôi dụi mắt để biết chắc rằng mình đã tỉnh ngủ, rồi nhìn lại một lần nữa. Cô gái trước mặt tôi rõ ràng là Cúc, lúc này Cúc đã đi xuống hểt cầu thang. Khi thấy tôi, Cúc lặng yên nhìn, đôi mắt của nàng mở lớn với hai hàng nước mắt chảy dài. Thời gian như ngừng lại, cuối cùng, Cúc khóc òa chạy lại ôm lấy tôi, với giọng nói đứt đoạn:
-Anh cũng chạy về Sài Gòn sao? Vậy mà em định vài ngày nữa sẽ lên Đà Lạt tìm anh.
Cúc ngưng nói, nhìn khắp người tôi, hai tay của nàng bóp mạnh vào hai vai của tôi.
-Sao anh ăn mặc kỳ cục như vầy? Áo quần của anh ở đâu?
Tôi ôm Cúc.
-Anh tưởng rằng em đã đi Mỹ với ba em từ tháng trước, tại sao giờ này em còn ở đây?
-Em phải chờ anh, em không thể bỏ anh được. Em nói với ba là em chỉ đi Mỹ khi nào có anh. Hơn nữa, tháng trước khi em về tới Sài Gòn ba em đã lo tất cả giấy tờ cho mọi người đi Mỹ, trong đó có bà má ghẻ của em với thằng bé con của bà ấy, thêm cha, mẹ, anh, em của bả. Điều tệ nhất là có luôn thằng bồ của bả núp dưới danh nghĩa là anh bà con. Anh đã biết mối bất hòa giữa em và ba em từ trước, đứng trước tình cảnh tệ hại như vậy em chán nản thật sự, không còn muốn đi đâu nữa.
Tôi ngắt lời Cúc.
-Chính ba của em điện thoại cho anh nói rằng, ông và em đang đợi lên máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất.
Cúc nói với tôi:
-Đúng, tất cả đang ngồi chờ máy bay ở phi trường, nhân lúc ba em đi gọi điện thoại cho ai đó, em trốn về lại đây cho đến giờ. Anh biết không, mấy tuần trước vì có những trận đánh lớn xảy ra ở Long Khánh giữa Sư đoàn 18 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Việt Cộng. Nếu không, em đã đi lên Đà Lạt tìm anh rồi.
Tôi kéo Cúc ngồi xuống cái bậc thềm bằng gỗ của cầu thang, rồi chuyển đề tài.
-Em ở nhà tại sao không đóng cửa lại để cho người ta vào đây hôi của, dọn sạch hết tất cả đồ đạc trong nhà.
-Em cần anh chứ đâu cần của cải vật chất. Ngày hôm qua, khi nghe Tổng Thống kêu gọi quân nhân buông súng, chờ bàn giao trên đài phát thanh, em mở cổng kêu người đi đường vào, ai muốn gì thì cứ tha hồ mà lấy.
Tôi nghe Cúc nói mà không tin nổi, chỉ sợ mình nghe lầm.
-Em kêu người vô lấy hết đồ đạc, đập phá nhà cửa của mình?
Cúc nói:
-Ba em là nhà đại tư bản địa ốc ở Sài Gòn, tất cả nhà cửa kể luôn căn nhà này trước sau gì Việt Cộng cũng lấy. Em thà để cho những người dân nghèo lấy hết của cải về dùng, còn hơn là để cho Việt Cộng.
Câu nói của Cúc khiến tôi tỉnh mộng. Bấy lâu nay tôi chạy trốn Cộng Sản mà không biết rằng nước đã mất thì tự do không còn, ngay cả mạng sống của mình có giữ được hay không cũng chưa biết được, vậy mà tôi vẫn còn ngoan cố chỉ lo ôm giữ vài cái bàn, dăm ba cái ghế. Cái lo nghĩ thiển cận giống như chuyện tôi đi tìm tình yêu ở tận mãi đâu đâu, trong khi mối tình sâu đậm của Cúc sờ sờ trước mắt mà tôi không thấy. Tôi tự hỏi mình, chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có hai người lính Quân Cảnh chận tôi lại ở đuôi chiếc phi cơ C130.
Tôi nắm tay Cúc, kéo xích lại gần mình.
-Hôm qua, khoảng năm giờ chiều anh đến đây, lúc đó em ở đâu?
-Em đang ở trong phòng của em, còn anh ở đâu?
-Anh đang ở dưới nhà bếp, đói bụng quá may nhờ tìm thấy hộp đậu trong góc tủ giúp anh giải quyết được cái đói. Tối đến anh ngủ trong căn phòng mà ngày xưa khi về đây anh đã ở.
Ham nói chuyện, tôi quên mất là mình chưa ăn sáng. Tôi nói với Cúc:
-Anh lại đói quá sức rồi, mình phải ra phố tìm cái gì ăn sáng.
Cúc vuốt tóc tôi.
-Tội nghiệp cho anh, trên phòng em còn thức ăn dự trữ rất nhiều.
Tôi đứng lên, định kéo Cúc đứng dậy, bỗng nhiên tôi nghe nhiều tiếng nổ ầm ầm vang trời của tiếng máy xe từ ngoài sân đưa vào, mấy khung cửa kính trong phòng rung động mạnh tựa như bị chấn động bởi bom nổ. Tôi nhìn ra ngoài, năm, sáu chiếc xe tăng nối đuôi nhau chạy vào nhà, chiếc chạy đầu với lá cờ hai màu xanh đỏ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam cắm gần pháo tháp.
Tôi nắm tay Cúc chạy ra ngoài sân. Trước mặt tôi, một gã bận thường phục, dẫn theo hàng chục tên cán binh Việt Cộng với súng đạn đầy người, hắn chỉ vào tôi và Cúc:
-Các người là ai?
Cúc lên tiếng.
-Tôi là chủ nhà.
Gã bận thường phục lên giọng hùng hổ như muốn ăn tươi, nuốt sống người đối diện.
-Đừng có láo, tên Nguyễn Văn Bảy đâu rồi?
Cúc trả lời hắn:
-Ông ấy không có ở đây.
Gã bận thường phục quay đầu nói với mấy tên cán binh Việt Cộng.
-Các đồng chí cứ thoải mái tìm chỗ bố trí cho xe tăng, mọi việc khác để tôi lo.
Vừa dứt lời, hắn quay lại nói với Cúc:
-Chúng tôi được lệnh tiếp thu căn nhà này, các người phải ra khỏi nơi đây lập tức, bằng không, chúng tôi không chịu trách nhiệm.
Cúc hỏi lại hắn:
-Tôi là chủ nhà, tại sao ông lại đuổi chúng tôi ra?
-Nói láo, tôi sống ở vùng này mấy chục năm rồi, đây là nhà của tên phản động Nguyễn Văn Bảy, hắn cấu kết với đế quốc Mỹ, cướp đoạt đất đai, tài sản, nhà cửa, làm giàu trên xương máu của nhân dân. Giờ này, chắc hắn đã chạy theo bọn đế quốc Mỹ rồi. Cô là gì của hắn?
-Tôi là con.
-Còn cái anh này.
-Ảnh là chồng của tôi.
Với giọng miệt thị, gã nói:
-Con cái của bọn tư sản ôm chân đế quốc Mỹ như hai người đây, Cách Mạng tha tội chết cho là may lắm rồi, ở đó mà đòi nhà cao cửa rộng.
Đang nói chuyện, bỗng nhiên giọng nói của hắn trở nên quyết liệt. Hắn nói như ra lịnh:
-Được rồi, tôi cho hai người mười phút để thu dọn đồ đạc và đi ra khỏi căn nhà này. Sau đó, tôi không bảo đảm tính mạng của các người.
Chúng tôi, những người bị bắt buộc phải đầu hàng vô điều kiện, còn biết làm gì hơn dưới áp lực của kẻ thắng trận, họ nói bằng sức mạnh của xe tăng T54, của họng súng B40 và AK47. Hai đứa tôi bước chân ra khỏi nhà với một va ly quần áo, và cái túi xách tay của Cúc.
Tôi và Cúc, mò đến bến xe Đà Lạt nằm trên đường Petrus Ký, khi trời đã về chiều. Sau một hồi loanh quanh dò hỏi, cuối cùng chúng tôi tìm được một chiếc xe vận tải hiệu Desoto, loại trọng tải sáu tấn thường chở rau cải từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, sau đó chở thực phẩm khô lên Đà Lạt.
Người tài xế nói với chúng tôi:
-Năm giờ sáng mai, xe sẽ khởi hành đi Đà Lạt, cô và cậu đây nếu muốn đi phải đưa tiền trước, mỗi người một ngàn.
Sau khi giải quyết xong chuyện xe cộ, tôi và Cúc ghé vào quán cơm gần bến xe, mồi đứa một dĩa cơm tôm, sườn nướng. Tôi nhìn con tôm to bằng hai ngón tay trong dĩa cơm, rồi nói đùa với Cúc.
-Em à, hôm nay ngày một tháng năm, cứ coi như là ngày cưới của tụi mình và bữa cơm này là tiệc cưới, em thấy được không?
Cúc ăn cơm mà nước mắt lưng tròng. Tôi vuốt nhẹ lên lưng của Cúc:
-Lẽ ra anh không nên nói đùa như vậy.
Cúc nhìn tôi.
-Anh nói đúng, hôm nay là ngày cưới của tụi mình, nhưng em không ngờ đám cưới lại thê thảm quá sức như vậy.
Tôi kêu thêm một chai bia 33.
-Mình cần có chút rượu mừng.
Cúc gật đầu, im lặng.
Khi hai đứa ăn xong bữa cơm chiều, màn đêm bắt đầu buông xuống, phố đã lên đèn. Sài Gòn hôm nay hình như tối hơn mọi đêm khác. Tôi thuê một chiếc chiếu trải xuống vỉa hè của một căn nhà gần ngay bến xe rồi đặt cái va ly sát tường. Cúc nằm gối đầu lên chiếc xách tay, tôi ngồi bên cạnh với cái quạt xếp, vừa quạt vừa đuổi muỗi cho Cúc. Cho đến khi Cúc trở mình, tôi chợt nghe được tiếng của hai tấm thẻ bài chạm nhau kêu lẻng kẻng, âm thanh của nó nghe như cả một trời quá khứ xa xôi vọng lại, khiến lòng mình chùng xuống.
Tôi hỏi Cúc:
-Em đeo hai tấm thẻ bài của anh?
-Anh không nhớ sao? Em đeo nó từ ngày đi Vũng Tàu với anh. Ở Viện đại học Đà Lạt, tụi bạn em rất thích cái món trang sức này, coi đó như là một cái mode mới.
Đêm tân hôn của chúng tôi, trên trời trăng sao chen lẫn với đèn đường. Tôi ngồi bên Cúc, chìm vào giấc ngủ trong cảnh màn trời chiếu đất, tay mân mê tấm thẻ bài, tay quạt muỗi, bên tai giọng hát đầy sắt máu, căm thù, từ cái radio của xe bánh mì khuya vọng lại:
Tiến về Sài Gòn đánh tan tành giặc Mỹ, Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù, Tiến về đồng bằng giải phóng thành đô.
Năm 1978, tất cả dòng sông đều tìm đường ra biển, tui cũng vậy. Mà muốn vượt biên bằng đường biển thì phải mò về cái xứ nào nằm sát biển đặng vọt cho nó lẹ.
Vậy là tui về Cà Mau, nơi có người bà con xa bên Má tui, đại bác bắn không tới; nên nhỏ lớn giờ chưa biết mặt tròn méo ra sao?
Cà Mau (tên do người Khmer đặt) nghĩa là nước đen; vì lá tràm của rừng U Minh Hạ bạt ngàn, rụng xuống, xác lá phân hủy làm đổi thay màu nước.
Xưa Cà Mau là quận, thời mình là tỉnh An Xuyên. VC vô, nhập Cà Mau vào Bạc Liêu thành tỉnh Minh Hải. VC đúng là huỡn thiệt! Nhập đã rồi cắt, rồi chia giống hịt như cũ là tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu.
o O o
Tui có thói quen dân chợ là sáng phải đi quán uống cà phê. Mới lon ton ra chợ ngang nhà có thằng cha mới hừng sáng là đã ngồi bên xị rượu đế ngoắc tui: “Ê giáo vô tao biểu”. “Ủa sao bác biết tui làm giáo?” “Ối cái xóm nhỏ chút éc hè. Mầy xuống mới hai bữa nay là bà con biết ráo. Mầy cháu bà con xa của chị Tư Bửu phải hông? Mầy kêu tao bằng dượng chín, chín Muối vì xưa tao chèo xuồng đi bán muối! Nè ngồi xuống làm với tao một ly!”
Dượng chín Muối nầy thực ra không có bà con gì ráo với tui chẳng qua là lối xóm thân tình vậy thôi! Làm vài ly là quen hè. Ổng không phân biệt được v (vờ) và d (dờ) hoặc g (gờ) chọc quê tui là: “Dáo dì dáo dây? Dụ dỗ dợ dân dệ; dân dệ dề dứt dáo dăng dô dách… dáo dọt!”
Xong thầm thì; mầy xuống đây chắc tính ‘dọt’ ra biển phải hông? Tui trả lời phân hai là: “Ðể coi mà dượng!”
Ông cười hè hè: “Dượng cháu mình năm khi mười họa, năm thuở mười thì trời xui đất khiến mới gặp nhau đây; nhậu trước đã vì chuyện đâu còn có đó, không gấp.
Giờ mới tháng Hai, tháng Ba bà già đi biển chừng đó để tao tính cho mầy!”
Bảo Huân
“Tao làm trưởng ấp nhưng không phải là VC đâu mà mầy ngại. Chẳng qua dân nó bầu vì thấy tao huỡn quá vậy thôi. Sáng dân đem hộ khẩu tới chứng, nó lăn tay, tao cũng lăn tay! Có đứa nào biết đọc biết viết gì đâu! Nghe mầy làm giáo tao khoái lắm. Vì ông bà mình nói lấy bồ đựng lúa chớ không lấy bồ đựng chữ bao giờ; vì chữ mầy nhiều quá bồ nào đựng cho nó hết hé?”
Ðang nghe dượng chín Muối nói chuyện tào lao, bỗng văng vẳng đàng sau nhà thấp thoáng chiếc áo hoa cà, vọng lên tiếng ru em:
‘Cà Mau là xứ quê mùa
Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu!
“Con gái tao đó, con Út Ðẹt, thứ chín rồi làm sao bự con cho được nên ‘đẹt’. Ru em chớ hổng phải ru con vì nó chưa chồng, ru để ‘nhát’ mầy đó.
Cà Mau giờ muỗi thì còn nhiều thiệt nhưng cọp bị nấu cao hổ cốt hết rồi mầy đừng sợ! Nếu vừa ý, cứ xáp vô, tao thích gả con gái cho dân có chữ chớ hổng gả cho thằng tư Bự, Trưởng công an xã, một chữ bẻ đôi không biết!”
Tui có cái tật xấu là ai xúi làm tui làm hè. Từ bữa nhậu đó, tui cứ cà rề cà rà theo em Út Ðẹt đi ruộng và học được nhiều điều nhỏ tới lớn chưa biết về cái xứ quê mùa nầy.
Em Út Ðẹt kể rằng: “Hồi xưa ông cố của em ngoài Trung, theo dòng họ và bà con chòm xóm trên chiếc xuồng ba lá với cái nóp xuống đây. Giữa miệt biển, miệt rừng rậm rạp, bà con mình chặt cây, đốn lá dừa nước cất chòi, móc lõm rừng để trồng lúa có gạo mà ăn, tát đìa bắt cá rồi bỏ tiêu cho ngọt bỏ hành cho thơm đó anh giáo.
Ðất nầy phèn nặng, nước lợ! Trồng lúa phải nhờ nước mưa trên trời rơi xuống nên nhà em chỉ làm lúa mùa thôi. Gieo mạ từ tháng Sáu, cuối năm gió chướng về, lúa gom mình, đứng cái, làm đòng, trổ bông, ngậm sữa và chín vàng là gặt!
Một công chừng 5, 7 giạ, không có phân phướng thuốc trừ sâu gì ráo nên gạo rất ngon cơm nhứt là giống lúa Một Bụi, hột gạo ốm dài, cong, nấu cơm, cơm dẻo, mềm, để nguội cơm vẫn mềm và thơm.
o O o
“Em Út giỏi quá, hơn cả kỹ sư nông nghiệp. Tui tính về làm rể Cà Mau; Út dạy tui làm ruộng đi”. “Anh giỡn chơi với em hoài hè. Học chữ mới khó chớ làm ruộng dễ ẹt. Anh về đây, một mùa lúa theo em là anh rành sáu câu vọng cổ!”
Làm ruộng trước hết là làm cỏ, rồi cày, rồi bừa cho đất ruộng nó bằng, những vũng nước thì mình đánh đường nước để chắt cạn nước đi. Ðể khi sạ, mầm lúa mới lên đều, không bị chết ngộp.
Ðào một mương nhỏ xung quanh ruộng để xả phèn.
Cấy xong trời mưa, nước nổi, cây lúa cứ thế đâm chồi nẩy nở. Cuối năm, thấy chim bay về vì lúa đã ngậm sữa, cong trái me hoặc sắp đỏ đuôi, mình chỉ việc chống xuồng thăm đồng, làm vài con bù nhìn để đuổi chim.
Lúa chín, vần công đến gặt bó lại dùng trâu cộ về nhà.
Ngày nắng ráo để bắt giàn đập lúa hoặc dùng trâu để đạp. Lúa hạt rụng ra, giũ rơm, gom lúa, dê lúa lép để lấy lúa chắc, phơi khô, cho vào bồ.
Muốn có gạo, cho vào cối xay tróc vỏ trấu, bỏ vào cối giã đến khi gạo trắng rồi mới nấu ăn. Còn rơm chất thành cây, từng đống, để làm ông cúi hun khói đuổi muỗi, chụm bếp, hoặc cho trâu, bò, gà, vịt nó ăn.
Có gạo không sợ đói rồi anh giáo, sau đó thì mình tát đìa để có cá ăn, làm mắm để dành khi thắt ngặt!
Nghe lời em Út Ðẹt, tui tự xét cái vụ làm ruộng nầy tui bù trất hè. Nhưng để giấu dốt, tui bèn đem cái sở học như cái lá mít do cọp dê của người khác ra khoe, kẻo sợ em chê tui lưng dài vai rộng ăn no lại nằm.
“Nè Út! Bà con mình Miệt Thứ rừng U Minh Thượng, Rạch Giá, gọi cá sặt rằn là “cá sặt lò tho”, vảy có vằn chỗ đậm chỗ lợt, dưới bụng có thêm cặp râu dài là ‘đại ca’ vì nó bự con nhứt trong dòng cá sặt!”
“Cà Mau, quê em, cá sặt rằn là cá đồng bưng trấp, ngập nước tư niên, cỏ lác, cỏ năn, lác voi, lác nước, u du, rau muống, sậy, đế dày đặc. Ðìa, bào phèn chua, nước cỏ đỏ lòm mình đào mương để xả phèn nên cá sặt bướm, cá sặt điệp dữ lắm, lớp lớp cả một vùng ruộng đồng bao la bát ngát.
Sang tháng Hai, tháng Ba cắt gặt xong xuôi, lúa thóc ví đầy bồ là vào mùa tát đìa làm mắm cá lóc, cá trê mà nhiều nhất vẫn là cá rô, cá sặt! Cá lóc, cá trê đổ xuống hầm rộng để dành, rồi sau này bắt lên để ăn từ từ.
Con nào bắt lên khỏi nước mà ngáp ngáp đi theo ông bà ông vải thì mình làm khô để ăn cơm và mồi cho Tía em nhậu.
Làm mắm chỉ cần cụ bị vài hũ đường, vài ba khạp da bò, vài ba lu mái đầm, mái vú để làm mắm cá lóc, cá rô, cá sặt, cá rằm, cá linh, cá chốt, cá trèn…”
“Sợ anh giáo chê xứ quê nghèo, chớ về mọc rể ở đây em không bỏ anh chết đói đâu nhe!” Em Út Ðẹt vẻ ra một khung trời viễn mộng: “Tía em hừng đông đi cày bừa. Má em hừng đông đi cày bừa! Cùng sống trên đồng bao la”. Bỏ thằng ‘cu’ ở nhà, khát sữa khóc thiếu điều lòi rún!
Ðúng là đi một ngày đàng học một sàng khôn mà. Cả tháng trời qua nhà dượng chín Muối ăn cơm chực do tay em Út Ðẹt nấu làm tui yêu cái đất, lậm con gái Cà Mau hồi nào hổng biết.
Dẫu vậy tháng Ba mùa biển im độ ấy, tui ra biển và đi luôn cho tới bây giờ.
Vì biến loạn, phải bỏ xứ đi nhưng trên cái lưỡi của tui vẫn mang theo cái vị quê nhà; và cái tâm cứ vấn vương hoài cái hồn cố thổ, đất Cà Mau. Em Út Ðẹt ơi! Hu hu!
Bên ngoài phi trường Kabul vẫn hỗn loạn. Quân Taliban bao vây phi trường và không cho người dân di tản hoặc rất ít. Một số bị Taliban đánh đập đến đổ máu. Các chuyến bay rời Kabul còn trống chỗ và chỉ có 60% hành khách. Một công dân Đức bị bắn bị thương bên ngoài vòng rào phi trường.
Theo các nguồn tin thì còn có khoảng từ 10 đến 15 ngàn công dân Mỹ vẫn còn bị kẹt lại bên ngoài phi trường và vẫn còn trốn trong thành phố Kabul. Đó là chưa kể mấy chục ngàn thông dịch viên và nhân viên Afghanistan làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ. Bộ Ngoại Giao Mỹ không biết chính xác họ ở đâu.
Hôm kia có hai trực thăng Chinook của Mỹ bay một khoảng ngắn khoảng vài trăm thước để cứu khoảng 169 công dân Mỹ bị kẹt bên ngoài vòng đai phi trường và đem họ vào trong. Số phận của công dân Mỹ còn kẹt bên ngoài như chỉ mành treo chuông. Chỉ cần vài thằng Taliban nổi cơn man rợ là sẽ có người chết.
Nguyên nhân của sự hỗn loạn này vì tổng thống Joe Biden ra lịnh quân đội Hoa Kỳ bỏ chạy chớ hổng phải rút quân nữa. Chạy lẹ đến nỗi phi trường chiến lược cho toàn vùng là Bagram bị bỏ ngõ và lính Afghan ở đó hổng biết lính Mỹ đã cao bay xa chạy mà hổng thông báo. Sau đó lính Afghan ở Bagram đầu hàng Taliban và trại tù binh Taliban và Al-Qaeda ở phi trường Bagram đã được “giải phóng”.
Joe Biden cứ đổ thừa Donald Trump đã bày ra màn rút quân trước, ngài chỉ làm theo thôi, xạo ke. Chắc ngài làm biếng chưa đọc qua bản Hiệp Định Ngưng Bắn Doha gồm có nhiều giai đoạn và điều kiện là phiến quân Taliban phải tiếp tục đàm phán và hổng được bạo động. Quân đội Hoa Kỳ sẽ rút quân từng đợt nếu Taliban tôn trọng các điều khoảng đã ký. Đằng này Taliban tấn công quân chính phủ Afghanistan nhưng Joe Biden mặc kệ những vi phạm đó, và ra lịnh lính Mỹ rút nhanh hơn cuộc tiến công của Taliban.
Lính Mỹ rầm rộ bỏ chạy khỏi A Phú Hãn đem theo hết phương tiện bảo trì kỹ thuật, tiếp vận, tình báo v.v., làm binh sĩ Afghan như mù, mất tinh thần và tan hàng. Khi Taliban tiến vào Kabul thì Joe Biden hết hồn sực nhớ ra còn mấy chục ngàn công dân Mỹ và đồng minh cần phải di tản, nên lật đật cho binh sĩ Mỹ đổ bộ lên A Phú Hãn trở lại và hổng có một kế hoạch di tản nào cho ra hồn.
Hình ảnh hàng trăm người dân Afghan đen kịt như kiến chạy theo chiếc vận tải cơ C-17 của Mỹ, rồi leo lên ụ bánh đáp như quá giang đi xe đò. Và khi máy bay cất cánh những người đi quá giang xe đò ấy vuột tay rớt xuống từ trời cao làm thế giới kinh hoàng trước cuộc di tản ngu xuẩn của chính quyền Joe Biden. Báo chí thiên tả cũng chửi đó nhe.
Chưa thấy ai ngu bằng. Tại sao lính Mỹ hổng ngừng rút quân cách đây vài tuần hay một tháng để bảo vệ các phi trường và địa điểm chiến lược dùng di tản công dân Mỹ và đồng minh, xong rồi mới rút quân sau cùng. Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ cách đây 6 tuần đã gởi công văn báo động A Phú Hãn sẽ sụp đổ, vậy mà Joe Biden hổng có phản ứng gì mà còn ngụy biện “Chúng tôi có quá nhiều công văn từ nhiều nơi gởi về”. Công văn do 20 nhân viên ngoại giao ở Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Kabul ký mà còn làm biếng đọc thì mất Kabul là đúng rồi.
Có khoảng 80% dân Mỹ ủng hộ cuộc rút quân vì họ đã mệt mỏi với cuộc chiến quá dài lâu, và nhứt là họ chỉ nhìn gần mà hổng thấy xa. Nhưng khi hỏi nếu khủng bố Al-Qaeda và IS sinh sôi nảy nở trở lại rồi dùng A Phú Hãn làm bàn đạp để đánh phá khắp nơi thì sự ủng hộ Hoa Kỳ phải can thiệp cũng rất cao. Ngài Joe Biden đã ú ớ bịp bợm tuyên bố khủng bố Al-Qaeda đã rời khỏi A Phú Hãn hết trơn trọi rồ,i nên nhiệm vụ của chúng ta đã chấm dứt.
Và để biện minh cho việc tháo chạy khỏi A Phú Hãn làm banh ta lông luôn quốc gia này, ngài Joe Biden cần phải nói xấu quân đội Afghanistan. Ngài nói rằng họ có 300 ngàn người trang bị tối tân nhưng hổng chịu chiến đấu. Nên chúng ta phải rút thôi. Rút quân bỏ rơi đồng minh, là một chiêu bài bỉ ổi mà hầu hết tổng thống Hoa Kỳ thích dùng để kiếm phiếu cho mùa bầu cử tới.
Tổng thống Joe Biden còn tự tin một cách mù lòa cho rằng các quốc gia đồng minh rất tin tưởng vào uy tín của Hoa Kỳ. Ngài Joe cần phải vểnh tai lên nghe cuộc thuyết trình của Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao của Quốc Hội Anh Quốc là Tom Tugendhat vốn là một cựu chiến binh từng chiến đấu ở Iraq và A Phú Hãn. Tom Tugendhat trút hết đau khổ và tức giận lên sự phản bội của Joe Biden. Ông ta gằn lớn giọng trước bục diễn giả của phòng họp khoán đại Quốc Hội: “Đáng hổ thẹn” (shameful). Các nhà lập pháp Anh Quốc rì rầm lập lại “hổ thẹn, hổ thẹn…”. Nhục mặt chưa ngài Joe. Các quốc gia Âu Châu khác như Đức, Đan Mạch v.v. vốn đã từng là nạn nhân của khủng bố Al-Qaeda đều lên án lịnh rút quân chạy sút giày đinh của Joe Biden.
Cuộc tháo chạy vô tiền khoáng hậu của Hoa Kỳ khỏi A Phú Hãn còn gây một hệ lụy dây chuyền trên thế giới, như khi Việt Nam Cộng Hòa bị bỏ rơi cách đây nửa thế kỷ đã làm nhiều quốc gia Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh và A Phú Hãn rơi vào quỹ đạo Cộng Sản. Trung Cộng vừa mới dằn mặt Đài Loan và Hồng Kông “đừng mong Hoa Kỳ sẽ đến tiếp cứu quý vị”. Tổng thống Nga Vladimir Putin khuyến cáo “Đừng xen vào nội bộ của nước khác vì điều đó sẽ không thành công”. Nga, Trung Cộng và Iran sẽ thay thế vùng ảnh hưởng của Hoa Kỳ nay đã bỏ trống. Không thể chối cãi tổng thống Joe Biden đã biến “cường quốc số một” Hoa Kỳ thành một con cọp giấy.
Nói vậy hổng có nghĩa tổng thống Joe Biden là sai hết và cựu tổng thống Donald Trunp là đúng hết. Trong thời gian đàm phán với Taliban, chính quyền Trump đã đi đêm với Taliban và hắt hủi chính quyền Afghanistan. Họ đã không được mời tham dự cuộc đàm phán. Thái độ coi thường đồng minh này giống tổng thống Richard Nixon đã làm với Việt Nam Cộng Hòa khi đàm phán với Việt Cộng.
Cách đây 4 ngày người viết có theo dõi cuộc phỏng vấn của chương trình Hannity – Fox News dành cho ngài Donald Trump. Nghe ngài cựu Tổng Thống nói mà không khỏi ứa gan. Giống Joe Biden và Nixon dùng chiêu bài rút quân để kiếm phiếu, ông Trump cần phải nói xấu chính quyền Afghanistan để biện minh cho lý cớ chính sách rút quân của mình. Nhưng cách nói xấu của ngài Trump tàn độc hơn. Ông nói Hoa Kỳ phải trả bộn bạc cho lính Afghan. “Chúng tôi phải “hối lộ” để chúng nó chiến đấu”. Nói như vậy ông Trump đã biến quân đội Afghanistan thành một đội quân đánh thuê của Mỹ như Việt Cộng đã chụp mũ VNCH trước đây. Ông Trump còn khen phiến quân Taliban “chiến đấu giỏi” và “thông minh”. Như vậy ông không biết gì cả về những đơn vị Biệt Kích ưu tú của quân đội Afghanistan mà quân Taliban rất sợ và căm thù. Và 20 năm qua có khoảng 70 ngàn binh sĩ Afghan đã hy sinh trên chiến địa, gấp 30 lần số thương vong của người Mỹ.
Ngài Trump còn buộc tội Tổng Thống Afghanistan Ashraf Ghani tham nhũng ôm tiền chạy trốn. Ông Trump nói “Ashraf Ghani có thể đem theo vàng nữa”. Lời buộc tội ăn cắp tiền này được rao truyền lại từ phóng viên đài BBC, NBC, và Thông Tấn Xã Nga thì giựt gân hơn với câu chuyện tiền đô la chất hổng hết lên trực thăng của Ashraf Ghani nên phải bỏ lại trên sân đáp. Tổng thống Ashraf Ghani ăn cắp vàng đem đi thì người viết chưa tìm ra xuất xứ của nguồn tin. Cũng có những nguồn tin khác nói Ashraf Ghani lên trực thăng bỏ chạy chỉ với bộ đồ mặc trên người. Chúng ta còn nhớ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã bị hàm oan bao nhiêu năm trời về vụ ăn cắp 16 tấn vàng. Những người thua cuộc không còn tiếng nói nữa nên ai muốn nhào nặn thành những hình ảnh xấu xí sao cũng được.
Tuy nhiên, người viết tin rằng nếu ông Trump vẫn còn làm Tổng Thống thì vẫn sẽ có rút quân, nhưng phiến quân Taliban sẽ không tiến quân như vào chỗ không người hôm nay. Bởi vì chung quanh ông Trump có những cố vấn diều hâu nhìn vấn đề chiến lược lâu dài và Không Lực Hoa Kỳ sẽ oanh kích nếu quân Taliban không tôn trọng hiệp định ngưng bắn.
Tình hình hiện nay ở A Phú Hãn vẫn tranh tối tranh sáng. Quân Taliban hình như đợi quân đội đồng minh rút hết rồi mới có chính sách cầm quyền rõ ràng. Khi ấy mới biết Taliban hiền hay ác, có tôn trọng phụ nữ hay không.
Người Afghan không phải là dân tộc ươn hèn và nịnh bợ. Trên đường phố Kabul không thấy có loại người như các “ông 30” thắt băng đỏ lụm súng của quân đội để lại rồi chạy rong khắp xóm hù dọa thiên hạ và hôi của. Mới một ngày sau khi Kabul thất thủ đã có nhiều nơi dân chúng can đảm biểu tình chống Taliban và phất lá quốc kỳ của họ. Phiến quân Taliban đã xả súng bắn chết những người yêu nước này.
Như Hoa Kỳ, truyền thống sở hữu súng ở A Phú Hãn đã có từ ngàn xưa. Dân Afghan sẽ không giao nộp hết võ khí cho phiến quân Taliban. Đã có lời hiệu triệu kêu gọi đứng lên kháng chiến khắp nơi ngay sau khi Kabul rơi vào tay phiến quân. Và kháng chiến quân lẫy lừng Mujahideen đang hồi sinh.
Tin tức hôm nay cho biết lực lượng võ trang kháng chiến đã chiếm được 3 quận lỵ chiến lược phía bắc thành phố Kabul, gần tỉnh Baghlan: Pul-e-Hesar, Banu và Andarab. Kháng chiến quân cho biết họ có một số xe thiết giáp và một máy bay trực thăng. Họ là tập hợp của dân quân địa phương, quân nhân, cảnh sát và lính biệt kích quy tụ về. Các phân tích gia phương Tây nghi ngờ lực lượng kháng chiến này sẽ không thành công nếu không có sự tiếp tế từ bên ngoài. Cuộc chiến tự vệ của người Afghan đã bắt đầu, dù hổng có tiền đô la “hối lộ” của những tên đồng minh phản thùng.
Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt di tản về Long Thành, tạm trú chung với Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau đó co cụm lại, rút lui về Trường Bộ BinhThủ Đức cũ.
Mười giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đang ở tại tuyến phòng thủ của Trường Bộ Binh Thủ Đức với chiếc ống dòm nhà binh, quan sát một chiếc xe tăng T54 của Việt Cộng vừa bị một trái đạn chống chiến xa M72 bắn đứt xích. Chiếc tăng nằm ì một chỗ, tuy không chạy được nữa nhưng cây súng đại liên trên chiếc tăng vẫn còn hoạt động, nó liên tục khạc đạn như mưa. Cùng lúc đó, nhiều loạt đạn M16 do sinh viên sĩ quan bắn vào chiếc xe tăng, đem súng M16 mà bắn xe tăng đúng là chuyện bù mắt cắn sừng trâu.
Theo tài liệu mà tôi đã được học bổ túc tại Trường Võ Bị Đà Lạt, hỏa lực của chiếc xe tăng T54 gồm có một đại bác 100 ly, một đại liên phòng không 12 ly 7 và một đại liên 7 ly 62, riêng sức công phá của khẩu đại liên phòng không 12 ly 7 này nó mạnh gấp chục lần cây đại liên M60 mà tôi đang giữ trong tay.
Tôi đang suy nghĩ làm thế nào để tiêu diệt chiếc xe tăng. Sĩ quan không có kinh nghiệm tác chiến như tôi cùng với vài ngàn sinh viên sĩ quan ở quân trường đang cầm súng bắn nhau với Việt Cộng, gặp phải trường hợp khó xử nên chưa biết phải làm gì. Trong lúc hai bên còn đang giằng co như vậy bất ngờ một sinh viên sĩ quan lao mình về chiếc tăng, vừa đến nơi anh ta nhanh nhẹn leo lên mở nắp pháo tháp, tọt vào đó một trái lựu đạn. Tôi biết, tất cả cán binh Cộng Sản trong chiếc tăng đã chết. Chiếc xe tăng T54 đã bị hủy diệt hoàn toàn. Chuyện đơn giản như vậy mà tôi không nghĩ ra. Hình ảnh vừa xảy ra trông khá quen thuộc, giống hệt như trong phim chiến tranh thời Đệ nhị thế chiến giữa quân Đức Quốc Xã và phe đồng minh Mỹ. Dĩ nhiên chiếc tăng bị bắn hạ là của quân xâm lược Đức Quốc Xã.
Tôi tiếp tục nhìn theo anh sinh viên sĩ quan, đang lom khom chạy về tuyến phòng thủ của anh ta với tất cả lòng ngưỡng mộ, thán phục. Ngay lúc ấy một anh lính mang phù hiệu “Cư An Tư Nguy”, tay ôm cái radio, vừa chạy dưới giao thông hào vừa la ơi ới.
-Buông súng đầu hàng. Buông súng đầu hàng. Lệnh của Tổng Thống.
Tôi giật mình tưởng mình nghe lộn, mới bắt đâu đánh nhau đã đầu hàng rồi sao? Tôi lật đật nhảy qua khẩu đại liên M60, chạy theo giựt cái radio trên tay anh lính rồi áp sát vào tai của mình. Tôi nghe rõ mồn một giọng nói của Tổng Thống, càng nghe tôi càng chán nản, rụng rời tay chân. Mấy hôm nay vòng vây của Cộng Sản quanh Sài Gòn từ từ siết chặt, tôi ngờ rằng, trước sau gì rồi cũng phải buông súng thế nhưng khi nghe lệnh đầu hàng lại bàng hoàng, ngỡ ngàng không muốn tin. Tin làm sao được mùa hè năm 1972, bốn mươi ngàn quân Cộng Sản Bắc Việt được tăng phái hai trung đoàn thiết giáp thêm hàng trăm khẩu đại pháo từ 130 ly, cho đến hỏa tiễn 122 ly, bao vây tám ngàn quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở An Lộc.
Với quân số gấp năm lần, Việt Cộng những tưởng một sớm, một chiều sẽ nuốt gọn An Lộc. Nào ngờ sau hơn sáu mươi ngày giao tranh đẫm máu, con số thương vong của hai bên đã lên đến hàng chục ngàn người. Cuối cùng, quân Cộng Sản đành phải rút lui, chấp nhận thảm bại nhục nhã trong âm mưu đánh chiếm An Lộc. An Lộc hiên ngang, oai hùng trong máu lửa, đứng vững nhờ vào sức chống trả mãnh liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Cuối tháng Năm 1972, Quảng Trị mất vào tay Cộng Sản. Việt Cộng đã dùng đến bốn sư đoàn để chiếm đóng Quảng Trị. Cuối tháng Sáu năm 1972, Sư đoàn Nhảy Dù và sau đó là Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau tám mươi mốt ngày đêm đánh nhau với địch, giành giựt lại từng tấc đất với Cộng Sản. Hàng ngàn chiến sĩ Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh, máu của họ thấm sâu vào lòng đất, nhuộm đỏ Cổ Thành. Ngày 16 tháng 9 năm 1972, quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa tung bay phất phới trên Cổ Thành Đinh Công Tráng ở Quảng Trị.
Quá khứ đã chứng minh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng làm nên những kỳ tích chống lại quân Cộng Sản Bắc Việt. Như vậy, không có lý do gì mà tháng Ba năm 1975 Quân Đoàn II phải tháo chạy, Quân Đoàn I bỏ ngõ để cho Việt Cộng chiếm đoạt. Đó là những chuyện bất bình thường đưa đến sự sụp đổ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phải có một lý do bí mật nào đó, chìm ẩn bên trong mà một thằng trung úy quèn, một sĩ quan hạng chót như tôi không thể nào biết được. Buông súng đầu hàng, với tôi đó là một bí mật của lịch sử.
Buông súng rồi mình sẽ làm gì đây? Vô tù là cái chắc. Nghĩ đến cảnh tù tội trong chế độ Cộng Sản khiến tôi nhớ lại khúc phim thời sự trắng đen mà tôi đã được coi. Ngày xưa, khi Điện Biên Phủ thất thủ, hàng chục ngàn binh sĩ Pháp từ binh nhì cho đến sĩ quan cấp tướng bị bắt làm tù binh. Đám tù nhân xếp thành mười hàng ngang, dài lê thê bất tận, lủi thủi đi vào tù, phải mấy tháng sau mới được trao trả tù binh. Cái lối trao trả tù binh nhỏ giọt của Cộng Sản , từng đợt rồi từng đợt, vừa trao trả vừa đem tù binh đặt lên bàn thương thuyết để mặc cả. Pháp thua trận Điện Biên Phủ ở Việt Nam nhưng chính phủ Pháp ở bên trời Âu vẫn còn đó, họ thương thuyết để đem tù binh của họ về. Chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hòa, trên một triệu quân chứ ít ỏi gì, nếu xếp hàng mười cũng phải dài hơn vài chục cây số, nhà tù nào mà chứa cho hết. Sau đó trao trả tù binh, nhưng trao trả cho ai? Việt Nam Cộng Hòa đâu còn nữa mà trao với trả, hay là sẽ bị đem đi xử bắn? Trong một giây phút ngắn ngủi, tôi chợt nhớ tới trại Đầm Đùn mà phát rùng mình ớn lạnh.
Lính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa với hàng trăm, hàng ngàn tàu bè đủ loại, họ có quyền lên tàu ra khơi, cho dù không biết đi đâu nhưng cứ tuôn ra biển cũng tạm thoát được tay Cộng Sản trong nhất thời, chuyện gì xảy ra sẽ tính sau.
Lính Không Quân cũng vậy, với đủ loại phi cơ từ chiếc trực thăng UH1 chở được mười người, bay ra Phú Quốc rồi Thái Lan, cho đến vận tải cơ C130 có thể chở được vài trăm người, bay sang Phi Luật Tân để xin tỵ nạn chính trị, sổng kiếp lưu vong.
Lính Bộ Binh như tôi thật là nan giải, buông súng rồi chỉ còn một con đường duy nhất là chạy bộ, chạy đi đâu bây giờ hỡi trời? Một con kiến bò trong chảo lửa.
Ngày xưa, Tiêu Đẩu trong lúc đào vong vì quốc sự, ông mượn chén rượu để giải sầu. Khi nâng bầu rượu, cảm khái trước cảnh nhà tan, nước mất đã hát bài “Nam Phương Ca Khúc” lời ca nghe thật bi tráng, hào hùng đầy dũng khí. Trong lúc hào khí dâng cao ngút trời, ông một mình rót rượu, vung tay hắt đi khắp bốn phương trời. Cái thằng tôi, giờ đây chỉ mong chạy trốn khỏi đất nước này, chạy trốn gông cùm Cộng Sản đang sắp tròng vào cổ mình, chạy trốn cho dù phải sống tạm kiếp tại đào vong quốc như Tiêu Đẩu.
Chạy về hướng Đông, mù khơi biển động, Đệ thất hạm đội của Mỹ đã làm ngơ cho Hải Quân Trung Cộng chiếm lấy Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa từ năm ngoái. Mỹ đã cắt viện trợ vũ khí cho miền Nam Việt Nam, họ không có lý do gì lại dang tay cứu vớt quân đội này vào cái giờ thứ 25.
Chạy về hướng Tây, lửa cháy ngút trời, quân Khờ Me đỏ tàn bạo khát máu đã nuốt trọn Cam Bu Chia từ hơn nửa tháng trước, ở đó máu chảy thành sông, xương phơi thành núi. Tôi nghĩ rằng “Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu”. Dân Cam Bốt cùng màu da, cùng huyết thống còn bị quân Khờ Me đỏ chém giết, chôn sống một cách man rợ huống gì với dân Việt Nam vốn có sẵn mối thù truyền kiếp từ ngàn xưa với họ.
Chạy về phương Bắc, mịt mù khói súng, mới tháng trước đây chứ xa xôi gì cho lắm hình ảnh của những người dân miền Trung quần áo xơ xác, mặt mày thất sắc, vợ chồng bồng con, gánh cháu, dắt díu nhau chạy về phương Nam để lánh nạn Cộng Sản. Vùng Một và vùng Hai chiến thuật đã bỏ ngõ, để lọt vào tay Việt Cộng. Hàng chục sư đoàn Cộng Sản với đầy đủ chiến xa, trọng pháo, vũ khí, đạn dược, bọn chúng như cơn lũ dữ đang cuồn cuộn điên cuồng chảy tràn về niềm Nam, cuốn theo bất cứ những gì ngăn cản chúng.
Chạy về hướng Nam, chút hy vọng mong manh, mỏng mảnh như sợi tơ trời phất phơ trước gió. Quân Đoàn IV của tướng Nguyễn Khoa Nam không biết có còn hay không, hay là cũng đã buông súng chờ bàn giao.
Tôi biết hiện tại quân Cộng Sản đang tiến về Sài Gòn. Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đài Phát Thanh là những nơi mà họ cần phải đến trước tiên để tiếp thu. Khoảng cách chỉ trong tầm tay, thời gian được tính từng giờ, từng phút. Sài Gòn trong cơn hấp hối.
Tôi chỉ có vài tiếng đồng hồ để thoát thân, chạy đua với số mạng, chạy đua với sự sống còn. Bộ óc rối mù của tôi làm việc một cách chậm chạp, nói cho tôi biết rằng: Từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi chạy bộ về Sài Gòn còn không kịp, nói gì chuyện chạy ra ngoại quốc. Giờ phút này làm gì còn máy bay hoặc tàu bè để mà di tản. Tôi tiếc hoài vì chuyện khoảng mấy ngày trước đây, nếu không bị hai người lính Quân Cảnh giữ lại, tôi đã lên được chiếc C130 cùng với gia đình Dung di tản khỏi Việt Nam.
Định mệnh đã an bài, đã dành cho những người lính bộ binh như chúng tôi một số phận nghiệt ngã đắng cay. Kể từ giờ phút này cho đến cuối cuộc đời, tôi sẽ phải sống, kiếp sống của một kẻ thuộc giai cấp bùn đen trong xã hội mới đầy man rợ. Không riêng gì một mình tôi, người dân Việt Nam bị kẹt lại trên quê hương của mình, sẽ ăn nhờ ở đậu trên đất đai của mình. Những gì của tổ tiên, ông bà để lại, từ nay thuộc về Đảng Cộng Sản, thuộc về kẻ chiến thẳng. Một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ đã qua rồi, Pháp thuộc tám mươi năm rồi cũng chấm dứt. Chiến tranh Nam Bắc dai dẳng hơn hai mươi năm rồi cũng đến hồi kết thúc. Hôm nay Việt Nam đã thống nhất, từ Bắc chí Nam non sông liền một dải, đất nước đỏ một màu. Giờ đây, một trang sử mới vừa được mở ra. Người dân Việt Nam bắt đầu cuộc sống mới, trong một xã hội bị cai trị bởi một lũ Hầu tinh, xã hội mà trong đó bọn Cộng Sản đội lốt người Việt đô hộ người Việt, không biết sẽ kéo dài đến bao giờ. Việc đầu tiên, khi buông súng là tôi cởi chiếc áo trận ra vắt ngang họng súng M60, hai cái bông mai nơi cổ áo vẫn còn đó, nằm im dưới ánh mặt trời, nhìn tên của mình thêu trên túi áo, trong lòng bỗng xót xa như có ai đó xát muối vào lòng. Tôi ngồi thừ người ra đó được mươi phút, đợi cho cơn đau của kẻ thua trận nguôi ngoai được chút ít rồi mới lo tìm bộ đồ dân sự mặc vào. Tôi nhìn quanh, ở Vũ Đình Trường của Trường Bộ Binh Thủ Đức này làm sao mà tìm cho ra bộ đồ dân sự. Sau một hồi suy nghĩ, tôi cởi cái quần lính mà tôi đang mặc ra, dùng lưỡi lê cắt cụt hai ống quần, tiện tay vứt luôn miếng vải thừa xuống hố. Còn đôi giày bốt đờ sô, phải giải quyết như thế nào? Hay là cắt cụt luôn làm thành giày, giống như đôi giày của dân sự. Tôi xỏ chân vào đôi giày, nhìn tới nhìn lui, coi bộ không ổn. Tôi cắt thêm phần sau nơi đôi giày biến nó thành dép. Ở Sài Gòn không có ai mặc quần cụt mà lại mang giày bao giờ, tôi đã trở thành thường dân, giã từ đời binh ngũ. Tôi không hiểu tại sao trong giờ phút lịch sử trọng đại như vậy mà tôi chỉ lo để ý đến những tiểu tiết vụn vặt, mang bốt đờ sô, mang dép, hay đi chân đất thì đã sao? Thì ra tận cùng trong tâm thức, với tôi Cộng Sản đồng nghĩa với dã man, tàn bạo. Và tôi sợ bị bắt nếu mình ngụy trang không khéo.
Tôi nhìn cây súng đại liên M60, rồi lầm bầm trong miệng: “Điểu tận cung tàn, hết chiến tranh rồi, súng ống chỉ là khúc gỗ. Kể từ giờ phút này, tao chào vĩnh biệt mày”. Dứt lời tôi co chân đạp mạnh vào cây súng. Bao nhiêu uất hận dồn hết vào cái đạp, cây súng rớt xuống giao thông hào, lăn thêm mấy vòng rồi nằm yên, dây đạn một nơi, súng một nẻo và chiếc áo lính vẫn còn quấn quýt ôm lấy cây đại liên. Tôi biết cây súng còn sử dụng được, lẽ ra tôi phải tháo vụn cây đại liên ra nhiều mảnh nhỏ đem vứt xuống sông mới hả dạ. Đó là hành động uất ức của kẻ thua trận, tuy nó hèn hạ, ti tiện nhưng tôi vẫn thích làm như vậy hơn nếu có điều kiện.
Bảy năm trước, tôi bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của mình tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường, mang cặp lon chuẩn úy trên vai, với lời thề bảo vệ Tổ quốc ở Vũ Đình Trường hãy còn vang vọng bên tai. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hôm nay cũng tại Vũ Đình Trường này, tôi là kẻ bại trận phải lột bỏ quân phục, lột bỏ cái lon trung úy. Phe thắng trận là Cộng Sản chỉ có thể ép tôi làm được như vậy. Riêng lời thề bảo vệ Tổ Quốc, tôi giữ mãi trong lòng, lời thề đó ở trong đầu của tôi không ai có thể gột bỏ được.
Tôi đưa tay chào giã biệt sếp của tôi, rồi đi ra cổng chính của trường. Chân đi mà lòng còn bịn rịn khiến tôi phải quay đầu nhìn lại Trường Bộ Binh Thủ Đức lần cuối rồi mới chịu theo đám tàn quân, một đoàn người ô hợp, thất tha thất thểu đi ra xa lộ để về Sài Gòn. Tôi cúi đầu, lầm lủi đi như kẻ mất hồn, chân đi nhưng trong lòng ngổn ngang trăm mối u sầu.
Hai giờ chiều, tôi mò về tới Sài Gòn với đôi chân rỉ máu vì đôi dép tôi cắt lúc sáng, xét cho cùng nhiều khi khôn quá cũng không tốt. Giờ này ông chủ của miền Nam đã ngồi chễm chệ trong Dinh Độc Lập. Lá cờ hai màu xanh đỏ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đang tung bay phất phới trên nóc dinh.
Vừa đói, vừa khát, tôi ngồi bệt xuống bãi cỏ ở công trường Kennedy để nghỉ chân, rồi đưa mắt nhìn một rừng người bao quanh những chiếc xe tăng T54 và xe tăng PT76. Dân Sài Gòn đón phe thắng trận với gương mặt thờ ơ, không biểu lộ chút thiện cảm nào. Người ta tụ họp ở đây chỉ vì tính hiếu kỳ, chuyện gì chứ chuyện hiếu kỳ trên thế giới có dân tộc nào mà tránh khỏi. Hai chiếc xe đụng nhau cũng khiến cho người qua lại phải liếc mắt nhìn xem, huống gì một biến cố trọng đại như vầy, ngàn năm mới có một lần, không hiếu kỳ cũng uổng. Dân Sài Gòn muốn tận mắt nhìn người lính Cộng Sản, muốn tận tay sờ vào chiếc xe tăng mà trước đây họ chỉ được nhìn thấy trên TV. Họ nói chuyện với cán binh Cộng Sản, hỏi thăm về đời sống miền Bắc, tất cả chỉ vì tò mò muốn biết người dân miền Bắc sống như thế nào dưới chế độ Cộng Sản, để rồi suy đoán mức độ cực khổ mà người dân miền Nam sẽ phải gánh chịu. Hỏi về người để biết tương lai của mình, tôi cũng vậy thôi, bảy năm lính nhưng là lính văn phòng, đây là lần đầu tiên tôi đứng sát bên chiếc T54 để hóng chuyện miền Bắc.
Trước mặt tôi là đường Công Lý, chạy ngang qua Dinh Độc Lập kéo dài xuống tận phi trường Tân Sơn Nhứt, men theo con đường này sẽ ngang qua nhà Cúc vợ chưa cưới của tôi, rồi đến nhà của Dung ở đường Nguyễn Minh Chiếu, cả hai căn nhà giờ đây chắc trống không. Tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, chợt một người đàn bà chừng năm mươi tuổi bước lại gần tôi.
-Lính phải không?
-Dạ, sao bà biết.
-Cái quần ông đang bận, bên cao bên thấp, mới cắt đi. Nhìn qua là biết liền.
Thấy tôi ngồi im, bà ta nói luôn một hơi, giọng nói nghe như than thở, trách móc:
-Mấy ông đánh đấm cái kiểu gì kỳ vậy. Cứ chạy hoài, từ Ban Mê Thuột chạy xuống tới Khánh Dương, rồi từ Quảng Trị chạy vào tới Tuy Hòa. Người ta đồn là quân mình sẽ lập tuyến phòng thủ ở vĩ tuyến 13 . Đâu ngờ mấy ông rút lui về Nha Trang, rồi Phan Thiết, rồi về Sài Gòn, cứ chạy mãi để cho cái lũ Việt Cộng nó chiếm hết miền Nam.
Tôi chạy trốn Việt Cộng, vừa từ cao nguyên về tới đây chưa kịp hoàn hồn, hôm nay lại bị dân giũa thêm cho một trận te tua, vuốt mặt không kịp. Tôi ngồi đó còn biết nói sao với nỗi oan ức của mình. Người đàn bà nói xong đưa cho tôi ly nước đá chanh. Hành động của bà khiến tôi nhớ đến mẹ tôi. Ngày xưa, mẹ tôi thường la mắng khi tôi làm điều gì sai quấy, nhưng sau đó bà cho tôi củ khoai hay cục kẹo. Trời nóng như đổ lửa, nhìn mấy miếng chanh mong mỏng, tròn tròn nổi trên mấy cục đá lạnh, trông hấp dẫn làm sao, chỉ muốn cầm ly nước mà uống nhưng trong lòng vẫn còn chút giận hờn vô cớ, tôi nói với giọng không được bình thường cho lắm:
-Tôi không gọi mua nước.
Người đàn bà nhoẻn miệng cười, bà thân mật nói với tôi như mẹ nói với con:
-Uống ly nước cuối cùng đi, mất nước rồi, mai mốt đâu còn nữa mà uống.
Tôi cầm ly nước, ngẩng nhìn mấy tên Việt Cộng đang ngồi ngất ngưởng trên chiếc T54 rồi vội vàng nói với bà ta:
-Nói nho nhỏ một chút, bà không sợ họ sao?
-Tôi sợ đến vãi đái trong quần ấy chứ lị, mả cha tụi nó.
Bà ta nói một câu mà nửa câu đầu là lối nói chuyện của người Bắc, nửa sau lại là lối nói của người Nam.
Người đàn bà nhìn tôi như phân trần:
-Cậu lính à, cái năm năm tư tôi bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ đất đai với mồ mả ông cha ở ngoài Bắc, ôm theo có mỗi một bộ đồ lên chiếc tàu há mồm vào Nam. Tôi chạy trốn cái đảng cướp ngày, trốn cái quân cướp cạn này đã hơn hai chục năm rồi, những tưởng được an thân, yên ổn làm ăn, nào ngờ tới hôm nay lại bị cái bọn oan gia này đuổi theo tới tận đây. Mẹ bố nó, cái lũ khốn nạn này dai như đỉa đói.
Người đàn bà đảo mắt nhìn quanh rồi hỏi:
-Cậu là lính gì?
-Dạ tôi ở Trường Võ Bị Đà Lạt.
-Sinh viên sĩ quan Võ Bị như cậu, mai mốt bọn Cộng Sản sẽ đem các cậu ra xử tùng xẻo về cái tội chống phá cách mạng cho mà xem. Sao cậu không chạy trốn đi? Còn ngồi đây làm gì?
-Tôi biết chạy đi đâu?
Người đàn bà thở dài rồi nói:
-Tôi cũng vậy. Mấy hôm nay thấy người ta ùn ùn chạy trốn Cộng Sản , tôi cũng muốn chạy mà chả biết chạy đi đâu, cái năm năm tư ở Hà Nội tin tức gọi đi vào Nam rất rõ ràng, lần này không thấy ai gọi. Vô tuyến truyền hình, radio chẳng có nơi nào nói về việc trốn chạy. Tôi tìm hoài ở bến Bạch Đằng chả thấy tăm dạng cái tàu há mồm nào hết? thế cậu có thấy cái tàu nào không?
-Nếu thấy, tôi đã đi mất đất rồi đâu còn ngồi ở đây để nói chuyện với bà. Cảm ơn bà đã cho ly nước.
-Ơn với nghĩa, cậu uống xong đưa cái ly lại chiếc xe sinh tố đàng kia, tôi trả tiền ly nước rồi.
Tôi nhẫn nha uống ly nước chanh mà tưởng như mình đang uống nước mắt của mình, mất nước rồi còn đâu mà uống.
Hiện giờ, tôi đâu có việc gì phải làm ở cái đất Sài Gòn này. Tôi mới được giải ngũ lúc sáng, hết tập họp, hết điểm danh, hết lau chùi súng ống, tạm thời muốn đi đâu không cần phải xin phép. Đi đâu bây giờ? Một kẻ không nhà không cửa, không cha mẹ, không thân nhân ở Sài Gòn thậm chí đến bộ quần áo lành lặn cũng không có để mà mặc. Mới đó mà tôi đã trở thành một kẻ vô sản thứ thiệt, vô sản còn hơn mấy tên Cộng Sản vô sản đang ngồi trên chiếc xe tăng trước mặt tôi. Tôi đi mà không biết đi đâu, cứ dọc theo đường Công Lý mà đi.
Lúc đi đã khá xa Dinh Độc Lập, tôi nhìn thấy những bộ quần áo rằn ri, giày bốt đờ sô, súng M16 vất bừa bãi hai bên đường. Khi mà quân nhân đã cởi bỏ quân phục, cảnh sát rời nhiệm sở không còn ai giữ gìn an ninh trật tự, thành phố bỗng trở nên hỗn loạn. Đường Công Lý là đường một chiều thế nhưng hàng ngàn chiếc Honda hai bánh chiếc chạy xuôi, chiếc chạy ngược, mạnh người nào người ấy chạy. Một số người đi hôi của, leo vào những căn nhà trước đây cho Mỹ thuê hoặc những căn nhà mà chủ nhân đã di tản đi Mỹ, họ khiêng ra khỏi nhà bất cứ những vật dụng gì có thể dùng được, từ cái chén, đôi đũa, nồi nấu cơm cho đến TV, tủ lạnh.
Trước mặt tôi độ chục thước, hai thằng bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi còng lưng khiêng một cái TV hiệu Denon, loại có bốn chân to như một cái rương, đi được một đoạn, cả hai đặt cái TV xuống nghỉ mệt rồi lại khiêng tiếp. Tôi tới gần hai đứa nhỏ.
-Muốn chú phụ không?
Thằng bé với gương mặt lanh lợi trả lời tôi:
-Không cần đâu chú, tụi con khiêng được.
Đi được vài bước, tôi chợt nghe giọng nói của thằng bé, hình như nó muốn nói cho tôi nghe.
-Tao đâu có dại, để ổng khiêng giùm rồi ổng khiêng đi luôn, mình làm gì được.
Tôi cười thầm trong bụng, tôi cũng đâu có dại. Thân tôi đây lo còn chưa xong, ôm theo cái của nợ đó mà làm gì.
Tôi lầm lủi đi về hướng chùa Vĩnh Nghiêm, với chủ đích là muốn xin chùa chén cơm chiều, và tìm chỗ ngủ cho tối nay. Tôi đi hoài, đi mãi, cho đến khi chợt thấy cánh cổng của nhà bác Bảy. Tôi không ngạc nhiên khi thấy hai cánh cổng mở toang hoác. Một đứa bé đang dùng hai tay lăn cái bánh xe hơi ra khỏi cổng, nó nhìn quanh như dò xét rồi tiếp tục lăn cái bánh xe.
Tôi nhìn vào trong sân, một cảnh tượng đau lòng đập vào mắt tôi. Khắp cái sân cỏ rộng mênh mông ngập tràn giấy và rác, đầu này dăm ba cái bàn xiêu vẹo gãy chân, cụt cẳng, đằng kia vài cái ghế ngã chổng gọng, cuối sân bên góc trái ba, bốn cái xe hơi bể kính, móp méo nằm mọp một đống. Tôi đi đến gần một anh thanh niên, quần cụt áo cộc đang hì hục tháo mấy cái bánh xe, mồ hôi tuôn nhể nhãi trên trán.
Tôi góp ý với anh ta.
-Tại sao anh không đẩy cái xe Peugeot 404 này về nhà luôn, rồi từ từ tháo gỡ những gì mà anh muốn.
Người thanh niên nhìn tôi, im lặng một lúc rồi nói:
-Tôi chỉ cần mấy cái bánh xe thôi.
-Tôi biết rồi, xe hơi của anh bị mòn vỏ phải không?
Người thanh niên cười.
-Tôi làm gì có xe hơi, mấy cái bánh xe này đem về quê gắn vô xe bò, dùng để chở phân chở lúa tốt khỏi chê, xài cả chục năm cũng chưa hư.
Tôi nói với anh thanh niên:
-Lúc nãy, tôi thấy một thằng bé lăn cái bánh xe ra cổng.
-Nó là em tôi, ở dưới Long Xuyên nhưng nhà tôi thì ở gần đây, anh biết bến Tắm Ngựa không?
-Không.
-Ở gần ngã tư Công Lý và Yên Đổ.
-Chỗ đó thì tôi biết.
Người thanh niên hỏi mà như muốn đuổi tôi.
-Còn anh, ở đây làm gì? Đi vô nhà, coi có gì dùng được lấy đem về xài.
Tôi nói với anh ta:
-Anh nói phải, tôi đi đây. Mà nè, nếu anh có cần người giúp một tay, kêu tôi.
Tôi đi vào nhà, cảnh tượng còn thê thảm hơn ở ngoài sân, tất cả đèn đuốc ở phòng khách từ cái đèn trần cho đến đèn treo tường bị tháo gỡ không còn một cái, bao nhiêu là màn cửa biến đâu mất. Cửa sổ, cửa lớn mở tung ra, trong nhà không sa lông, không bàn ăn, không tủ rượu, một căn nhà trống không, đầy nhà chỉ toàn là giấy rác, loại giấy mà tôi đoán là hồ sơ hợp đồng cho thuê nhà của bác Bảy.
Tôi đi lần xuống nhà bếp, cảnh tượng cũng như ở phòng khách, chén bát bể vương vãi khắp sàn nhà, trong chậu rửa chén một cái tô chưa rửa với vài cọng mì còn dính nơi đáy. Khi nhìn thấy mấy cọng mì khiến tôi cảm thấy xót trong ruột, rồi nhớ ra từ sáng đến giờ chưa có một hột cơm vào bụng. Cơn đói ập đến khiến tôi run tay run chân, hoa cả mắt. Sau một hồi lục lọi khăp các ngăn kệ đựng thức ăn gắn trên tường, cuối cùng tôi tìm được một hộp thịt nấu với đậu nằm kẹt trong góc tủ. Bọn lính chúng tôi, mỗi người thường có một cái khui đồ hộp dã chiến lúc nào cũng đem theo bên mình, nó nhỏ bằng nửa ngón tay cái, mỏng như con dao, tôi lấy nó ra mở hộp đậu. Mùi thơm của thịt và đậu tỏa khắp căn phòng, tôi đưa hộp đậu tới gần miệng phồng mũi hít một hơi dài, đợi cho mùi thơm lan xuống con tì con vị lúc bấy giờ tôi mới từ từ bốc một ít đậu trộn lẫn với thịt cho vào miệng. Không có đi đâu mà vội, tôi nhai chậm rãi vừa nhai vừa thưởng thức chút beo béo của thịt heo, bùi bùi của đậu, mằn mặn của nước thịt. Tôi ăn ngon lành, cho đến hết lon đậu. Nhìn mấy hột đậu còn sót ở đáy lon, tiếc của trời, tôi mở vòi nước hứng nửa lon nước lạnh, lắc nhẹ rồi ực một hơi. Bụng hãy còn đói vì lon đậu quá nhỏ chỉ bằng lon sữa Ông Thọ, tôi lục soát khắp nhà bếp một lần nữa với hy vọng sẽ tìm được thức ăn, chỉ hoài công thôi, không còn thứ gì có thể ăn được.
Tôi nhìn ra bên ngoài, chút nắng chiều còn sót lại bên khung cửa, mắt tôi như nhíu lại. Tôi đi lên lầu, phòng thứ hai bên trái là căn phòng ngày xưa tôi ở, bao nhiêu đồ đạc trong phòng đều biến mất chỉ còn lại cái giường và tấm nệm có thể vì quá lớn người ta khiêng không được nên còn đó. Tôi ngả mình xuống giường chợp mắt được một lúc. Không biết được bao lâu, cho đến khi tôi mở mắt nhìn, con trăng mười chín đã đứng bên cửa sổ tự lúc nào, tỏa ánh sáng mờ mờ lành lạnh lên khắp căn phòng.
Đúng một tháng trước, cũng ánh trăng mười chín này đã dẫn đường cho tôi trên chiếc xe jeep rời bỏ Trường Võ Bị Đà Lạt. Chỉ mới có một tháng mà không biết bao nhiêu là chuyện đổi thay dâu bể, chuyện tôi phải xa cha mẹ, phải chia tay vĩnh viễn với người yêu của mình, rồi chuyện Sài Gòn bị bức tử, khiến tôi tưởng chừng như đã mấy thể kỷ vừa mới trôi qua.
Khóa 28 và 29 của Trường Võ Bị Đà Lạt vừa làm lễ mãn khóa được vài ngày, trong trường chỉ còn lại hai khóa 30 và 31. Nhàn cư vi bất thiện, tôi và Trung úy Trí rảnh rỗi ngồi uống cà phê ở Long Thành với mấy người bạn cùng khóa. Khóa của tôi có khoảng một trung đội đi du học Fort Benning ở Georgia Hoa Kỳ, sau khi tốt nghiệp hầu như tất cả được đưa về làm huấn luyện viên tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tụi tôi gặp lại nhau, thôi thì không biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa được đem ra nhắc lại. Đang say sưa tán gẫu, tôi bỗng giật mình khi nghe loa phát thanh gọi tên mình.
-Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, đến Khu tiếp tân có thân nhân cần gặp.
Cả Sài Gòn này, tôi chỉ quen có hai người con gái là Cúc và Dung. Cúc là vợ chưa cưới của tôi, đã đi Mỹ với bác Bảy từ mấy tuần lễ trước rồi, không lẽ người tìm tôi lại là Dung.
Tôi nói với Trung úy Trí và mấy người bạn cùng khóa, hiện đang là huấn luyện viên của Trường Bộ Binh Thủ Đức.
-Xin lỗi quý vị, tôi phải ra khu tiếp tân có chút chuyện.
Khi hai đứa còn cách xa nhau cả chục thước, Dung chạy đến ôm chầm lấy tôi hôn lên khắp mặt mũi, vừa hôn vừa nói:
-Cảm ơn trời Phật.
Tôi nghe rõ nhưng vẫn hỏi lại Dung:
-Em nói cái gì vậy?
-Em nói cảm ơn trời Phật đã cho em gặp anh, em chỉ sợ anh không có ở trường sẽ hư hết mọi chuyện.
-Chuyện gì? Mà tại sao em biết anh ở đây?
-Em đọc báo nên biết được Trường Võ Bị Đà Lạt di tản về đây.
Giọng nói của Dung đột nhiên trở nên như hờn giận.
-Anh về đây đã mấy tuần rồi, sao không báo cho em biết?
Tôi nói với Dung:
-Vừa đặt chân xuống Long Thành, việc đầu tiên mà anh nghĩ đến là phải tìm gặp em ngay lập tức, vì anh có chuyện quan trọng muốn nói với em. Vậy mà cũng phải cả tuần sau, anh mới có được cái phép hai ngày để về Sài Gòn. Trái với những gì anh nghĩ trong đầu, khi đứng trước nhà em, anh hoàn toàn không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nhìn ngôi nhà im lìm trong nắng sớm, cửa đóng then cài thêm hai sợi dây xích to khóa chặt cánh cổng, trong nhà không một bóng người. Anh đoán rằng có thể cả nhà em đã đi Mỹ rồi. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, anh trở về Long Thành mà lòng buồn vô hạn.
Tôi nắm tay Dung rồi hỏi nàng:
-Bấy lâu nay gia đình em ở đâu?
Thay vì trả lời, Dung lại hỏi tôi:
-Anh đến nhà em ngày nào?
-Để anh nhớ lại coi, hôm đó là…là thứ Năm ngày mười tháng Tư.
Dung nói to:
-Đúng rồi, đâu khoảng hai ngày trước đó, khi cái ông trung úy không quân phản bội lái phi cơ F5 ném bom Dinh Độc Lập, ba thấy tình hình Sài Gòn không yên ổn nên đưa cả nhà về Bạc Liêu, một tuần sau gia đình em mới trở về lại Sài Gòn. Tội nghiệp cho anh, anh đến đúng lúc cả nhà đang ở Bạc Liêu.
Đang nói chuyện Dung choàng hai tay qua vai tôi, kéo đầu tôi xuống, nàng nói nhỏ vào tai tôi:
-Có chuyện quan trọng, anh phải trốn về Sài Gòn với em ngay bây giờ.
-Em à, anh là lính chứ đâu phải thường dân, muốn đi đâu thì đi.
-Bởi vậy em mới nói là trốn, anh tính toán như thế nào tùy anh, chiều nay mình phải có mặt tại nhà, ba đã dặn em như vậy.
-Nhưng mà có chuyện gì? Quan trọng hay không? Nếu không, anh sẽ không về đâu. Đừng có nói với anh là tụi mình về Sài Gòn để làm đám cưới.
Dung cười tươi như cô dâu.
-Chuyện đám cưới tính sau, ba nói cả nhà sẽ đi Mỹ.
Tôi nói với Dung:
-Đúng rồi, ba em làm ở USAID nên cả nhà sẽ đi Mỹ, anh có liên hệ gì với Mỹ đâu mà đi với đứng.
-Anh phải về nhà, ba em sẽ giải thích rõ ràng hơn cho anh nghe. Ba nói với em, Sài Gòn sẽ mất trong nay mai. Riêng em, chỉ nghe lỏm được là khi lập danh sách của gia đình em để đi Mỹ, tên anh Biên vẫn còn trong sổ gia đình, anh Biên mất rồi, anh thể chỗ của anh Biên.
Nghe tin Sài Gòn sẽ mất trong vài ngày nữa, từ một viên chức của cơ quan USAID, tôi chợt rùng mình chỉ muốn chạy trốn, sẵn dịp được trốn đi Mỹ với người mà mình yêu thì còn gì bằng, tôi nói với Dung:
-Em nói nghe cũng có lý, chờ chút, để anh vô xin phép thiếu tá trưởng phòng rồi mình về Sài Gòn.
-Đợi anh xin được cái giấy phép mọi chuyện đã trễ rồi, tối nay mình phải đi.
-Không sao chỉ cần sếp gật đầu, không cần ký giấy phép, anh sẽ dù về Sài Gòn nếu đi Mỹ được cũng tốt, đi không được cũng chẳng có mất mát gì.
Tôi chở Dung trên chiếc Honda Dame của nàng, nắng đã bắt đầu dịu lại, tôi nhìn đồng hồ rồi nói với Dung:
-Anh đoán chừng mình sẽ về đến Sài Gòn trước khi trời tối, có kịp không em?
-Ba nói, khuya nay sẽ đi.
-Như vậy không có gì phải lo.
Tôi cho xe chạy với tốc độ vừa phải, không chậm cũng không mau, gió chiều nhè nhẹ thổi, vài sợi tóc của Dung bay bay trong gió quấn lấy mặt tôi. Dung ôm tôi chặt cứng, ngực của nàng áp vào lưng của tôi, mặt của nàng tựa vào vai của tôi, một cảm giác êm đềm thoải mái như mơ chạy khắp người. Tôi nói với Dung:
-Anh yêu em.
-Em biết, anh đã nói với em từ hồi anh còn là Sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức. Ngày đó, khi nghe anh nói như vậy khiến em sung sướng quá chừng, cả tuần lễ sau đó lúc nào cũng nghĩ tới anh, ngủ không được.
Nghe Dung nói, tôi cứ tưởng rằng minh đang sống lại thời còn là sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức. Tôi cho xe chạy chậm lại, nói to hơn:
-Có chuyện này anh muốn hỏi em. Ngày xưa em nói: “Nếu là anh, em sẽ chọn cái tên Quân sữa”. Sau đó, em hứa với anh là hôm nào rảnh, em sẽ nói cho anh nghe là tại sao anh nên chọn cái tên đó. Hôm nay, anh muốn em nói cho anh biết.
Dung cười ngặt nghẽo, tiếng cười tràn đầy hạnh phúc.
-Như vậy thì anh phải đợi. Khi nào tụi mình đến Mỹ, làm đám cưới xong, em sẽ nói cho anh nghe.
Tôi không nói gì thêm, im lặng lái xe.
Khi hai đứa đến ngã ba Biên Hòa, chúng tôi bị chận lại ở một trạm gác dã chiến của Thủy Quân Lục Chiến. Người lính chào tôi rồi nói:
-Trung úy cho coi giấy tờ.
Tôi đưa cho anh ta cái căn cước quân nhân cùng với giấy Chứng chỉ tại ngũ. Người lính chăm chú đọc một cách cẩn thận, rồi anh ta nhìn thẳng vào mặt tôi, cái nhìn như để nhận diện, coi tôi có phải là người mang giấy tờ mà anh ta đang nắm trên tay không? Cuối cùng, người lính nói với tôi:
-Đơn vị của trung úy đang ở đâu?
-Tôi là sĩ quan hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt, mới di tản về Long Thành.
-Trung úy có giấy phép về Sài Gòn hay không?
-Không có.
-Như vậy, trung úy không được về Sài Gòn.
Tôi nói, giọng nói như là ra vẻ hằn học.
-Tôi đưa vợ tôi về Sài Gòn, sau đó trở lại trường cũng không được hay sao?
Dứt câu nói, tôi nhìn Dung rồi nháy mắt một cái.
Người lính vẫn điềm đạm.
-Thưa không, chúng tôi nhận được lệnh, không để bất cứ quân nhân nào vào Sài Gòn mà không có giấy phép.
Tôi nhìn Dung, lắc đầu tuyệt vọng.
-Chắc em phải về Sài Gòn một mình, cả nhà đang đợi em, anh sẽ trở lại Long Thành xin giấy phép rồi về sau.
Dung nhìn tôi bối rối ra mặt.
-Như vậy trễ mất rồi.
Tôi nói:
-Biết làm sao bây giờ.
Vừa nói tôi vừa bước tới cạnh chiếc Honda định lấy chìa khóa xe đưa cho Dung. Cùng lúc ấy, tôi nhìn thấy một nhóm lính Thủy Quân Lục Chiến đang trò chuyện. Trong đó, một người lính đứng quay lưng lại phía tôi với mái tóc muối tiêu, dáng người trông rất quen. Tôi hỏi người lính Thủy Quân Lục Chiến.
-Trung úy Nhân đầu bạc phải không?
Người lính nói:
-Đúng, ông ấy là thầy của tôi, mà sao trung úy biết?
Tôi mừng quá la to lên:
-Ê Nhân, Nhân.
Người lính quay đầu lại, khi nhìn thấy tôi hắn vừa chạy vừa nói:
-Mày làm gì ở đây?
-Tao từ Đà Lạt di tản về, còn mày sao lại ở đây?
-Tụi tao, tạm thời đóng quân ở Biên Hòa giữ an ninh, không cho quân nhân di tản vô Sài Gòn.
-Tao biết rồi, ông lính của mày chận tao lại từ nãy đến giờ.
Nhân đầu bạc hỏi tôi:
-Mày có tin tức gì của Vân không?
-Không, hai tuần lễ trước khi di tản, tao không có thì giờ ra Đà Lạt nên không biết gia đình Vân như thế nào, có di tản hay không.
Nét thất vọng hiện rõ trên gương mặt của Nhân, hắn nói:
-Cả hai tháng rồi tao không nhận được tin gì của Vân. Gặp mày, tao mừng muốn chết, tưởng biết được chút tin tức về Vân, hóa ra gặp cũng như không.
Tôi vỗ tay lên trán rồi nói với Nhân đầu bạc:
-Tao nhớ ra rồi, Vân có một bà dì tên là Hoàng Yến bán hàng vải trong chợ Bến Thành, nếu gia đình Vân di tản về Sài Gòn, chắc chắn họ sẽ ở nhà bà dì của Vân. Mày thử đến đó tìm đi.
Vừa dứt lời, tôi nhìn Dung rồi nói tiếp:
-Quên giới thiệu với mày, đây là Dung, người yêu của tao.
Khi nói xong, tôi cười với Dung.
-Không đúng, phải nói là vợ sắp cưới mới đúng.
Nhân đầu bạc nhìn Dung rồi nói:
-Chúc mừng chị.
Dung nói với Nhân:
-Cảm ơn anh, tình hình lộn xộn như vậy không biết có làm đám cưới được không để mời anh, mà anh Nhân nè, tụi này có việc cần về Sài Gòn gấp.
Nhân nhìn tôi.
-Từ đây về Sài Gòn còn mấy trạm gác nữa, mày về không được đâu. Cách hay nhất, tao khuyên mày vô nhà ga Biên Hòa, đi xe lửa về Sài Gòn sẽ không bị xét giấy tờ.
Tôi bắt tay Nhân đầu bạc mà trong đầu nghĩ đến chuyện trốn đi Mỹ. Tôi nói:
-Không biết tụi mình còn có dịp gặp nhau nữa hay không? Tao ngờ rằng, đây là lần cuối cùng gặp gỡ. Gắng giữ gìn sức khỏe nghe mày.
Tôi chở Dung chạy vô nhà ga xe lửa Biên Hòa.
Bảy giờ tối, chúng tôi về đến nhà. Ba má của Dung chạy ra mở cổng, cả hai ông bà mừng rỡ ra mặt, ba Dung nói:
-Con lên lầu, lấy bộ đồ dân sự của anh Biên đưa cho anh Quân bận.
Quay qua tôi, ba Dung nói:
-Con phải bỏ bộ đồ lính, thay đồ dân sự, bận đồ lính sẽ không vào phi trường được.
Bốn người chúng tôi chất lên chiếc xe taxi nhỏ tí xíu, chạy đến nơi có một tòa nhà to lớn, tôi không biết nó nằm trên đường nào, chỉ đoán đó là cơ quan của Mỹ. Một người Mỹ đen, đứng ngay cổng kiểm soát người rồi cho vào trong sân để lên xe bus. Bên trong sân, một người Mỹ khác nhìn vào sổ gia đình, đếm người rồi so với tờ danh sách ông ta đang cầm trên tay, khi đã đầy đủ người ông ta mới ra lệnh cho xe chạy. Phải mất khoảng nửa giờ, xe bus mới đến cổng sân bay Tân Sơn Nhất, người Mỹ lo chuyện di tản ôm hồ sơ xuống xe, trình giấy tờ. Hình như, những người lính gác cổng chỉ lo coi giấy tờ chứ không nhìn số lượng người trên xe. Khi thanh gỗ chắn ngang cổng được nâng lên, chiếc xe từ từ đi vào sân bay tim của tôi mới đập bình thường trở lại. Xe vừa chạy được một đoạn lại thêm một trạm kiểm soát thứ hai, rồi thứ ba, mỗi lần qua một trạm kiểm soát, tay của tôi lại nắm tay của Dung bóp mạnh. Dung nói nhỏ vào tai tôi:
-Không sao đâu anh, mình có giấy tờ hợp lệ mà.
Tôi nói với Dung, giọng nói không được bình tĩnh cho lắm:
-Không biết còn bao nhiêu trạm kiểm soát nữa đây? Mỗi lần qua một trạm kiểm soát là một lần trái tim của anh lại đập trật đi vài nhịp.
Cuối cùng, xe bus ngừng lại cách đuôi của một chiếc phi cơ C130 khoảng hai mươi mét, cánh cửa khổng lồ sau đuôi của phi cơ đã hạ xuống chạm mặt phi đạo làm thành một chiếc cầu, mọi người xuống xe theo thứ tự rồi cứ hàng một đi vào phi cơ. Theo chân đoàn người, tôi vừa đi vừa nhìn quanh rồi giật mình khi thấy hai người lính Quân Cảnh đứng gác nơi đuôi chiếc phi cơ, họ để cho mọi người đi vào mà không nói gì. Có thể, nhiệm vụ của họ là giữ gìn an ninh trật tự chứ không phải là kiểm soát.
Thấy tôi chỉ lo chăm chú nhìn hai người Quân Cảnh, Dung kéo tay tôi.
-Lẹ lên anh.
Khi chỉ còn vài bước nữa là tôi đặt chân lên cửa sau của chiếc phi cơ, bỗng dưng người lính Quân Cảnh dang tay cắt đứt tôi và Dung ra, anh ta làm dấu cho Dung tiếp tục đi đồng thời nói với tôi:
-Mời ông đứng qua bên này, để cho mọi người có đường đi.
Tôi bước tránh qua một bên, người Quân Cảnh thứ hai bước đến bên tôi:
-Ông cho coi giấy tờ.
Tôi như kẻ mất hồn, tay móc túi lấy giấy tờ đưa cho người lính Quân Cảnh, mắt nhìn theo Dung vừa đi vừa ngoái cổ nhìn tôi. Đôi mắt của Dung đầy vẻ lo âu. Đó là hình ảnh cuối cùng về Dung mà tôi còn nhớ được.
Người lính Quân Cảnh nói với tôi:
-Chúng tôi phải giữ trung úy lại.
Tôi nói, giọng nói như là cằn nhằn:
-Ba má tôi, vợ tôi trên máy bay, tôi có tên trong danh sách được đi, tại sao mấy ông giữ tôi lại.
Người Quân Cảnh trả lời tôi:
-Mỹ cho trung úy đi, nhưng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không có lệnh cho quân nhân xuất ngoại, chúng tôi chỉ thi hành nhiệm vụ, trung úy thông cảm.
Khi mà tất cả mọi người đã lên phi cơ, cánh cửa sắt khổng lồ từ từ nâng lên rồi đóng chặt lại, lòng tôi bỗng dưng chết lặng, cơ hồ như cả vũ trụ này đã sụp đổ.
Người lính Quân Cảnh nói:
-Mời trung úy lên xe.
-Mấy anh đưa tôi đi đâu?
-Chúng tôi đưa trung úy ra khỏi phi trường, sau đó trung úy tự mình về lại đơn vị.
Mấy tuần trước khi nghe tin Cúc đi Mỹ với bác Bảy, tôi chỉ hơi tiêng tiếc rồi quên Cúc dễ dàng. Hôm nay khi bị cắt đứt, chia tay đột ngột với Dung, tôi cảm thấy đau đớn, xót xa như ruột gan bị cắt chia làm nhiều đoạn. Khi biết mình đã đi đến bước đường cùng, không nhà, không người thân ở Sài Gòn, không còn gì phải giữ gìn, tôi nói với hai người Quân Cảnh:
-Tôi có chuyện muốn nhờ mấy anh giúp đỡ.
-Chuyện gì? Nếu được chúng tôi sẽ làm.
-Nhờ hai anh, bắt tôi bỏ tù luôn được không?
-Xin lỗi, chuyện này chúng tôi không giúp được.
Tôi trở về nhà của Dung, chị Lành ra mở cổng hỏi tôi với giọng nói đầy vẻ ngạc nhiên:
-Cậu không đi sao?
-Không.
Tôi thay bộ đồ dân sự, tròng vào người bộ đồ lính, chào từ giã chị Lành rồi đi ra cửa.
Một mình tôi lang thang giữa đêm khuya ở Sài Gòn, Cúc và Dung giờ đây đã nghìn trùng xa cách.
Hai mươi sáu tuổi đời, chưa có bao giờ tôi cảm thấy cô đơn, lạc lõng, tuyệt vọng đến như vậy. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn đường, tôi nói với anh xe ôm đang đậu xe chờ khách ở một ngã tư:
-Cho tôi về Long Thành.
Anh xe ôm nói với tôi:
-Giờ này, gần giới nghiêm rồi, trung úy có cho bạc triệu tôi cũng không dám chạy về Long Thành.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.