Bếp lửa ngày về

hung-viet.org

Posted 4 Tháng Chín 2014

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Đã hơn bảy năm nay, một cái bếp lửa gia đình ấm áp reo vui đối với Hựu là một điều xa lạ, một niềm mơ ước không bao giờ với tới được. Những ngày ở Hoàng Liên Sơn, sau một ngày mệt mỏi buồn nản vì làm lụng cực nhọc, buổi chiều trên đường về Hựu thấy tay chân rã rời, miệng lưỡi khô đắng, chân thấp chân cao. Qua những con đường làng của một bản miền thượng du có tên gọi là Cẩm Nhân, anh chậm chân lại, nháo nhác nhìn vào những căn nhà sàn hai bên đường, nơi thấy thấp thoáng ánh lửa hồng của những bếp lửa gia đình, có tiếng trẻ thơ cười đùa, có tiếng nói của bà mẹ người sắc tộc, có tiếng chó sủa và tiếng con lợn ủn ỉn hay con trâu nghé ngọ trong chuồng gia súc ngay dưới căn nhà. Đôi khi Hựu mơ ước được ngồi gần bên bếp lửa ấy, hong đôi bàn tay lạnh cóng trên ngọn lửa, hít hà cái mùi thơm gỗ cháy, uống một ngụm nước chè, bóc một củ khoai nướng… Và ước ao thêm, bên bếp lửa ấy anh nhìn lại được những khuôn mặt thân yêu, nghe tiếng trẻ nhỏ, con chàng bi bô. Khung cảnh giản dị, tầm thường đó, tưởng chừng như quen thuộc nhưng thật đã quá xa vời.

Giờ đây, theo đoàn tù nhếch nhác nhanh chân trở về trại giam giữa một buổi chiều mùa Đông giá lạnh, Hựu chỉ khát khao thèm nhai tóp tép một miếng cơm hay một củ khoai nguội lạnh vào miệng để chặn đứng cái đói cồn cào trong dạ dày. Cái nhà bếp tập thể mái tranh vách nứa trong trại tù ấy, anh cũng có đôi lần mơ ước được tới sống ở đó một ngày mười tiếng để được no bụng hơn với những miếng cơm cháy thơm giòn, những bát rau còn nóng và nhất là để được hưởng cái không khí ấm áp bên bếp lửa hồng, trong khi bên ngoài anh em trong các đội tù đang lao động vất vả dưới trời Đông giá buốt. Điều đó, có lúc tưởng chừng như Hựu đã đạt gần tới, nhưng vì cái tính lạnh lùng, dửng dưng trong người anh vẫn còn tồn tại khó có thể thay đổi, và sau này có đôi lúc hối hận, Hựu đã biết rõ sự thay đổi đó có thể mang lại sự an toàn của mạng sống một người tù.

Dạo ấy, trại loan báo có một phái đoàn y tế từ trung ương về khám bệnh cho những người tù bệnh tật trong trại Cẩm Nhân. Trại nhấn mạnh đến hai chữ trung ương, thì phải hiểu rằng đây không phải là những anh y tá huyện, lếu láo thì ít nhất cũng là phái đoàn quân y của tỉnh, hay hách hơn thì từ Cục Quân Y của Quân Đội Nhân Dân đến từ Hà Nội. Ngay cả đơn vị quân đội canh tù cũng còn chưa bao giờ được nhận cái vinh hạnh ấy bao giờ, thế mà một nhóm tù cải tạo từ trong Nam ra đây mới nửa năm đã được trung ương chiếu cố. Một nhà bạt bằng vải trắng được bộ chỉ huy trại dựng lên trên khoảng đất trống, tuy là vẫn màu cháo lòng, nhưng ít ra thì đấy cũng là biểu tượng cho một điều gì sạch sẽ, thơm tho trong bệnh viện khiến cho người ta liên tưởng đến màu áo trắng của những vị y sĩ hay hộ lý dịu dàng, hiền hậu như những từ mẫu.

Lệnh trên ban xuống mỗi lán được cử một người đau yếu nhất để trình diện cho toán y khoa trung ương khám bệnh, điều này theo dự đoán, những người đau yếu này sẽ được chuyển qua làm việc nhẹ trong trại, hoặc được ghi vào hồ sơ chuyển lên Bộ Nội Vụ để được xem xét cho họ ra trại sớm. Ai lại không mơ ước địa vị của người đau yếu nhất của mỗi lán. Nội việc được nghỉ ở nhà một ngày, khỏi leo qua hai ngọn đồi, lội qua một con suối, và lúc về với hai mươi cây nứa trên vai đã là sung sướng rồi. Còn bao nhiêu điều hy vọng khác – mà đối với một người tù, càng hy vọng, càng có cơ hội sống lâu hơn để chờ tới một ngày được thả về.

Chiều hôm ấy, lúc trời đã chập choạng tối, y vụ đến đứng trước cửa lán gọi lớn:

“Ngày mai, anh Trần Công Hựu khỏi đi lao động, ở nhà chờ phái đoàn y tế trung ương khám bệnh.”

Thật tình không ai ganh tị với số mệnh của Hựu. Từ ngày ra Bắc rồi tập trung về đây, anh gần như nhẵn mặt với y vụ với những vụ đau ốm, thuốc men, nghỉ bệnh. Xuất thân là một anh học trò ốm yếu, động viên làm lính văn phòng chưa lội bộ một ngày, cái kiểu nhà binh mà trói gà không chặt, Hựu sa sút thấy rõ khi thiếu ăn và phải lao động cực nhọc. Mặt Hựu xanh mét, ho khan, thỉnh thoảng lại lên cơn sốt. Thêm vào đó, chỉ một tháng trước đây, cơn đau ruột đã hành hạ anh, khiến nửa đêm lán phải gọi cấp cứu để y vụ mang đèn, mang thuốc đến. Đây không phải là cơn đau bao tử thông thường, cũng không phải đau ruột thừa ở vùng bụng dưới bên phải, trái lại Hựu thấy đau quằn quại ở vùng rốn, cơn đau nổi lên từng hồi, khiến người anh vã mồ hôi, mệt muốn lả đi. Bạn bè đã dùng dầu nóng thoa giúp nhưng cơn đau càng ngày càng dữ dội. Y vụ xuống, cho anh uống những thứ nóng, gừng, riềng, sả đâm chung với nhau, nuốt vào như bỏng họng, nóng ran cả ruột. Hồi ấy, vì ra Bắc, cả trại không có lấy một bác sĩ “ngụy” như ở trong Nam, y vụ gà mờ chỉ chuyên trị mấy thứ cỏ dại, lá rừng. Hựu quằn quại suốt đêm, gần sáng anh thiếp mê đi, ngủ như chết cho đến chiều hôm sau mới tỉnh dậy, trong lúc các lán đi lao động đã lục tục trở về. Trận đau ấy làm anh nổi tiếng cả trại, cho nên không những Trần Công Hựu được lên danh sách người đau yếu nhất của lán, mà được xem như là người đau yếu nhất của trại.

Thế mà sáng hôm ấy, đứng trước những người nhân danh mang sứ mạng y tế, có quyền xếp đặt cho Hựu một chỗ ẩn náu qua mùa Đông, trút bỏ cho anh những khúc gỗ nặng, những bó nứa tre nặng trĩu trên vai, đem đến cho anh sự ấm áp của những bếp than hồng thì Hựu lại tỏ ra dửng dưng, không hề có một thái độ khúm núm trước những người quyền lực để xin một chút ân huệ. Nhất là sau khi hỏi sơ qua lý lịch, những người áo trắng có mặt trong phái đoàn đã không khỏi để lộ trên khuôn mặt họ những nét khó chịu, thất vọng khi nghe Hựu khai báo ngành nghề của anh qua bốn chữ “chiến tranh tâm lý.” Từ đó những lời hỏi thăm về bệnh lý Hựu chỉ còn lại là những lời hỏi gượng gạo, qua loa và những người này, sớm hơn thông lệ, đã đẩy Hựu ra khỏi căn lều vải màu trắng với kết luận: “Thôi cho anh về.” Sáng hôm sau, trước khi xuất phát ra cổng trại đi làm như thường lệ, những người bệnh tật được phái đoàn y tế trung ương chiếu cố hôm qua đều được biên chế về nhà bếp hoặc các tổ đan lát, trừ Hựu.

Những ngày mùa Đông, khi nhiệt độ xuống quá thấp ở Hoàng Liên Sơn, vào mỗi đầu hôm, trại cho các lán đốt lửa để sưởi ấm ngay giữa căn nhà, nhưng tù chẳng có gì để nấu nướng. Hựu thường bó gối nhìn những ngọn lửa và những thanh gỗ cháy để mơ mộng. Ánh lửa chiếu bóng những người tù áo chăn quấn kỹ hai ba lớp lên vách nứa, chập chờn như những bóng ma khổng lồ. Đống lửa phải được dập tắt lúc mười giờ, khi hồi kẻng ngủ vang lên và cũng là lúc nghe loáng thoáng giọng nói the thé của người nữ xướng ngôn viên chấm dứt chương trình đài phát thanh Hà Nội qua tiếng rè rè từ chiếc loa khuếch âm trên sân bộ chỉ huy trại. Lửa tắt, ngọn gió lùa vào liếp cửa đem theo hơi lạnh giá của vùng rừng núi. Cả lán đã nằm yên. Để giữ hơi ấm, Hựu không dám cựa quậy hay trở mình. Sau một ngày mệt nhọc, Hựu thấy ê ẩm toàn thân, và anh đắm mình vào giấc ngủ lúc nào không hay biết.

Lúc về Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh anh chàng y vụ già, người miền bắc, khập khễnh vì có tật ở chân, người phần nào có quyền đề nghị và tuyển nhân viên cho nhà bếp, đã cám cảnh vì thể lực yếu đuối của Hựu, nhưng lẽ cố nhiên chẳng có gì người ta đem cho không. Anh chàng đã ướm lời: “Lúc nào vợ anh ra thăm, nhớ kiếm cho tớ cái quần tergal và cái áo sơ mi nhé!” Rồi vợ ra thăm, nhìn cái vẻ tiều tụy của nàng cùng với các thứ quà khiêm nhường bới xách trong mấy cái giỏ lác, Hựu không có can đảm hỏi tới những thứ anh đã dặn đi dặn lại qua những bức thư gởi vợ được phóng qua hàng rào nhà thăm nuôi.

Những mùa Đông lưu lạc xứ Bắc cũng qua đi. Hựu được lên xe lửa chuyển trại về Nam, đó là những ngày vui nhất trong cuộc đời tù. Hựu đã gặp lại được mảnh đất miền Nam nắng ấm và sẽ không còn chịu đựng những ngày Đông tháng giá nữa.

Ba ngày trước khi Hựu được cầm tờ giấy ra trại trong tay, ngày hai mươi mốt Tháng Chạp năm ấy, cũng như những người tù sắp được tha, anh trở thành người tù tự giác, nghĩa là được ra khỏi trại mà không cần có lính gác đi theo. Cùng những bạn khác, từ trại Hàm Tân Rừng Lá, Hựu men ra đến Quốc lộ 1, ở đó có thể trông thấy những chiếc xe đò xuôi ngược Phan Thiết-Saigon quen thuộc, những hàng quán nhỏ hai bên đường với những nải chuối vàng treo lủng lẳng, những thẩu bánh kẹo để cạnh những chai nước ngọt, cùng những gói thuốc lá bao giấy đã ố vàng. Hựu được ngồi trên một cái ghế băng dài, uống ngụm trà. Tuy vẫn còn mặc bộ đồ tù có đóng dấu ở sau lưng, nhưng hôm ấy anh đã được hòa mình với đời sống của một người dân bình thường. Sau ngạch cửa là một bếp lửa hồng với những người đàn bà đang ngồi gói bánh tét, chuyện trò. Trên mặt đất, ngổn ngang những chiếc thúng mẹt đựng đầy vật liệu gói bánh. Trên bàn thờ, một cành mai rừng đơn sơ được cắm trong một chiếc bình sành. Không khí Tết miền Nam hầu như đã bao trùm khắp nơi. Nhưng hơn hết, cái bếp lửa ấm cúng hôm ấy soi rọi vào lòng Hựu bao nhiêu kỷ niệm, anh như gặp lại một người thân quen đã xa cách lâu ngày. Hựu nghe thấy đôi mắt anh cay cay, chẳng phải vì những làn khói nhỏ từ trong bếp bay ra, mà bếp lửa của một cuộc đời thường hôm ấy đã cho anh chút ấm cúng mà từ lâu không hề bắt gặp, không hề gần gũi.

Cả một thời xa xưa như trỗi dậy trong lòng Hựu, bếp lửa rơm khi mẹ nấu bữa cơm chiều mà Hựu thường xuống ngồi với mẹ, ánh lửa hồng soi rõ khuôn mặt mẹ, có khi đầy nước mắt vì kiếp làm dâu mà quê ngoại thì ở quá xa. Bếp lửa nấu bánh chưng bánh tét của chiều ba mươi tết ở quê nhà thuở còn thơ dại khi tuổi trẻ nao nức mặc áo mới, đón xuân sang. Bếp lửa của những ngày mùa Đông khi mẹ nhúm lửa lên để rang cho các con một nồi bắp rang mà nay Hựu như còn cảm giác hai nắm bắp rang còn nóng ở hai bên đùi khi mà thằng bé tham lam đã dồn đầy hai túi quần. Một bếp lửa gia đình, một bếp lửa đoàn tụ, bình an, không chia lìa, không ngăn cách mà dễ chừng đã bao nhiêu năm nay, cả một đời người Hựu không hề nghĩ tới. Phải trong gần bảy tám năm nay, khi tự do bị tước đoạt, khi thân ái phải chia lìa, khi gia đình phải ly tán, khi những gì hiện hữu bình thường mỗi ngày đã mất đi, khuất trong những nẻo tối tăm của tiềm thức, giờ đây, hiện ra Hựu mới thấy đó là những gì quen thuộc, thân ái anh đã đánh mất hay quên lãng.

Ngày ra tù, Hựu quyết định mặc nguyên bộ đồ tù màu xanh còn mấy chữ tên trại tù Phú Sơn ở sau lưng, anh muốn làm một cuộc trắc nghiệm để xem thái độ của người dân miền Nam, sau gần tám năm tan cuộc, đối với những người tù như Hựu ra sao? Bạn bè ra tù, người thì có thân nhân đón, người xuôi Nam, kẻ ra Trung. Khi ra tới quốc lộ, một mình Hựu đón chuyến xe từ Phan Thiết vào. Mặc dù trên đoạn đường Rừng Lá này dân vẫn thường gặp những người tù cải tạo mới được tha về, tuy nhiên những người dân bình thường trên chuyến xe đò hôm ấy đã dành cho chàng những ánh mắt và cử chỉ thân ái. Anh lơ xe đã nhất mực không lấy tiền xe của Hựu, mặc dù anh đã nói anh dư tiền trả tiền xe về tới nhà. Bà già đang nhai trầu ngồi bên mời anh trái quýt. Ở băng ghế trước, một đứa bé trai chừng ba tuổi, hai má ửng hồng quay đầu lại cười với anh qua vai của một người mẹ trẻ. Đã gần mười năm rồi còn gì, sự gần gũi của những người dân lam lũ trên chuyến xe đò làm Hựu mủi lòng.

Nhưng cũng vì chiếc áo tù, Hựu đã được một tay xe ôm tại bến xe, tự nhận là em út, đã cho Hựu thấy sự biến chất của một lớp người, trong giai đoạn mới bung ra kiếm sống, chỉ biết đồng tiền, bất kể nhân tình. Khi chuyến xe Phan Thiết về tới bến xe Bình Triệu, vừa mới đứng lên, Hựu đã trông thấy một đám người xe ôm mời mọc, trong đó có một người trung niên mặc một chiếc áo trellis đã bạc màu, nhắm vào Hựu. Y vồn vã:

“Ông anh mới về. Thôi đi xe em đi, em lấy rẻ, dù sao cũng huynh đệ chi binh mà ông anh!” Hựu nghĩ tới những người lính trong đơn vị cũ, ngày nay cũng đã kiếm sống bằng mọi nghề, anh đi theo người đàn ông một quãng, nơi để nhiều kiểu xe ôm đã cũ. Anh nói:

“Về đường Nguyễn Tri Phương – Chợ Lớn bao nhiêu?”

“Nhiêu thì nhiêu, chặt ai thì chặt, chứ không nhẽ chặt đàn anh!”

Y nói có vẻ chân tình, tay với cái túi vải của Hựu máng lên tay lái. Hựu chưa yên tâm và vẫn đứng yên chờ câu trả lời.

“Hmm Hmm.. lăm thôi ông anh !” Không hiểu sao trong lúc ấy Hựu lại nghe tiếng mười lăm, và anh nhẩm tính, thế là về tới nhà mình còn dư được tới ba mươi lăm đồng, đủ làm quà cho con.

Dọc đường về, Hựu cũng nhìn ra những con phố quen tên nhưng hình như đã lạ mặt, mang một màu sắc u tối, buồn bã. Dọc dường sá, xe cộ thấy thưa thớt, phần đông là xe đạp, chen lấn với đủ loại xe lam, xe gắn máy, nhưng mọi người cũng đã chuẩn bị đón xuân sang vì tiếng pháo đã nghe đì đẹt nổ xa gần. Người tài xế xe ôm vừa chạy vừa chuyện trò về tình hình than củi, gạo cơm. Y vẽ ra chút tương lai cho Hựu:

“Rồi ông anh kiếm cái xe tàng tàng như em đây cũng kiếm cơm qua ngày.”

Hựu lơ đãng nghe, buồn bã nghĩ đến một thứ tương lai mù mịt. Anh không biết tin nhà, cuộc sống của vợ con ra sao. Chuyến thăm nuôi cách đây đã sáu tháng, sau đó một lá thư viết vội vàng với những dòng động viên chung chung, vô tội vạ. Đây cũng là chuyến về bất ngờ không báo trước. Nhìn xuống bộ áo tù, lúc ấy Hựu chợt trách mình sao lại để cho con cái ấn tượng thấy hình ảnh của người cha trở về trong bộ đồ xanh này. Nhưng về sau, khi gặp lại, con anh đã kể chuyện:

“Khi cô giáo hỏi, các em ai là gia đình có cha đi cải tạo thì chúng con đã mạnh dạn đứng lên và đưa tay cao, nhưng cũng có lúc cô giáo hỏi ai là gia đình bộ đội thì con lại thấy tụi nhóc có vẻ rụt rè và nhìn về phía tụi con? Sao vậy Ba?”

Hựu đã không trả lời thẳng vào câu hỏi của con:

“Ba đã không làm điều gì sai quấy thì có điều gì con phải xấu hổ. Nếu Ba vào tù mà bạn bè con, bà con mình, lối xóm, làng nước ai cũng sung sướng, no đủ hơn thì Ba và bạn bè Ba cũng nên vào tù. Nhưng con cũng đã thấy đó.”

Xuống xe cách xa ngôi nhà chừng vài trăm thước, mới móc túi lấy tiền ra chưa kịp trả, Hựu đã nghe người tài xế xe ôm nói:

“Ông anh cho ba mươi lăm đồng!”

Lần này, y nói tách bạch, rõ ràng không ậm ờ như ban nãy.

“Sao lúc ở bến xe, anh nói với tôi là mười lăm?”

Hựu quá đỗi ngạc nhiên đã hỏi lại.“Dạ, lúc nãy em có thưa với ông anh là cho ba mươi lăm đồng. Chặt ai thì chặt, chứ không nhẽ chặt đàn anh!”

Y lặp lại câu nói trơn tru như nó đã có sẵn đâu ở đầu lưỡi. Cùng lúc ấy Hựu nghe tiếng nói như reo của bà cụ Tám ở cách nhà Hựu mấy căn, cùng với tiếng kêu phụ họa của mấy đứa trẻ:

“Ông Hựu về, ông Hựu về rồi!”

Hựu dúi vội nắm tiền vào tay của ông “đàn em”, vội vã chào bà cụ và hấp tấp bước vội về căn nhà. Cũng là vôi gạch ấy, số nhà dù đã mờ nhạt vẫn còn nhìn ra, nhưng sao đượm vẻ hoang tàn, lạnh lẽo.

Hựu xô nhẹ cánh cửa khép hờ để bước vào nhà, đứa con trai nhỏ của anh, chào đời sau lúc Hựu vào tù, đang ngồi nhặt gạo trên một chiếc ghế nhỏ vội đứng bật dậy khi thấy có người lạ bước vào. Thoạt đầu nó có vẻ bỡ ngỡ khi nhìn thấy Hựu, nhưng sau khi Hựu đã ôm con vào lòng và nói, “Ba đây con” thì nó cũng ôm lấy cha, người ít ra cũng một lần được nhìn thấy khi theo mẹ lên thăm và thường xuyên được nghe gia đình nhắc nhở đến. Cùng lúc ấy, Hựu nghe tiếng ồn ào ngoài cổng, rồi anh thấy vợ hình như vừa đi đâu về, xuất hiện trên bậc cửa. Chị đứng đó, không kêu lên một tiếng, không bước lại gần anh, chỉ đứng lặng với hai dòng nước mắt trào ra. “Không biết hôm nay là thực hay mộng đây?” Đã bao nhiêu lần chị cầm lấy tay Hựu, nắm chặt tay anh, ôm lấy anh và nói: “Lần này thì anh về thật rồi phải không anh?”

Nhưng khi chị mở mắt ra, thì đây chỉ là mộng. Trời đã mờ mờ sáng, chị nghe tiếng xích lô máy nổ phành phạch dưới đường. Chị úp mặt vào gối, lặng lẽ khóc.

Hựu ôm vợ vào lòng, khẽ nói bên tai chị:

“Rồi mọi sự cũng đã kết thúc, phải không em?”

***

Phòng khách nhà Hựu bây giờ chỉ còn trơ trọi một cái bàn gỗ với ba chiếc ghế ngồi đã cũ. Trên tường hai bức tranh, trong đó có một bức sơn dầu do một người bạn họa sĩ vẽ cho vẫn còn treo ở chỗ cũ, cũng như vách tường bảy năm nay không có một lớp vôi mới, đã xám xịt, ám khói lửa củi từ nhà bếp. Bếp lửa bây giờ đúng là bếp lửa vì thực sự phải đốt bằng những thanh củi lớn do chính tay Hựu vừa bổ ra mấy hôm nay.

Tối nay là tối ba mươi Tết, tiếng pháo nổ râm ran từ chập tối, lan rộng như một cơn sóng từ khu phố này sang khu phố khác. Trước cửa nhà những đứa trẻ đốt pháo lẻ đã làm cho khói pháo xông thẳng vào nhà. Năm nay, Hựu về, nhà cũng đã có chút bánh mứt, hoa mai do bạn bè và lối xóm mang tới. Giao thừa, cũng theo tập tục những năm nguyên vẹn về trước, Hựu nấu trà, thắp nhang lên bàn thờ ông bà. Anh đứng lặng yên nhìn ngọn nến cháy bập bùng và làn khói tỏa ta từ nắm nhang đang cháy, suy nghĩ vẩn vơ.

Từ mấy hôm nay, Hựu cố giấu nỗi buồn đang ray rứt. Trong giây phút xúc động ban đầu anh đã nói với vợ là tất cả đã qua đi, nhưng sự thật trong thâm tâm Hựu, ngày ra tù chỉ là ngày bắt đầu một cuộc đời vô định, rồi ra chưa biết sẽ ra sao? Nhìn cảnh nheo nhóc của vợ con, nhìn lại thân phận mình, chàng cảm thấy một sự bất lực đè nặng, nó làm cho lòng anh không cảm thấy một phút thảnh thơi.

Cũng đêm nay, sau khi cơn pháo giao thừa đã bắt đầu thưa thớt, Hựu nói với vợ cần thở một chút khí đêm, anh lên gác, nhìn về Saigon sáng một góc trời, rồi nhìn về vùng tăm tối khác. Mấy hôm nay, trở về nhà, Hựu đã được nghe tin một số bạn bè đã qua đời, một số người đi xa, kẻ đang sống ở một phương trời nào đó, kẻ chưa biết sống chết ra sao vì chưa có tin về. Anh đã gặp lại một vài người quen cùng ở trong cư xá hay thuộc đơn vị cũ đang yên thân kiếm một nghề nghiệp nuôi miệng, một nồi xôi đầu ngõ hay một bàn vé số bên vệ đường. Còn Hựu, những ngày trong tù, anh cũng như hầu hết bạn bè có cái thói quen không suy nghĩ, không lo âu, vì suy nghĩ lo âu trong hoàn cảnh ấy, hoàn toàn không giải quyết được gì. Nhưng giờ đây, với cuộc sống trước mắt, sự thật bây giờ lại khác.

Hựu nghĩ tới hình ảnh bếp lửa anh vẫn thường mơ mộng mà lòng cảm thấy không vui.

Huy Phương

(trích trong tập truyện Những Người Muôn Năm Cũ – 2010)

‘Bán danh…ba đồng!’

hung-viet.org

Huy Phương

Posted 27 Tháng Mười 20141

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Tháng rồi, gia đình tôi gửi về cho cô em ở Sài Gòn một thùng quà 24 lbs từ một dịch vụ gửi hàng về Việt Nam tại Little Saigon. Sau một tuần, qua điện thoại trao đổi hai bên, chúng tôi biết thùng quà bị lấy mất 2 chai thuốc Glucosamine, một loại thuốc nghe nói rất đắt khách tại Sài Gòn hiện nay, và hai hộp cheese đầu bò, là loại “bơ thừa sữa cặn” nhân viên quan thuế trong nước hiện nay vẫn còn thèm thuồng.

Tôi biết thùng quà không bị moi từ đại lý ở Mỹ, vì người Việt ở Mỹ không có thói ăn cắp vặt, và cũng đã chán bơ, sữa. Thùng quà về Tân Sơn Nhất bị những tay kẻ cắp chuyên môn rạch một đường dài rất khéo và dán băng keo lại sau khi dùng bàn tay mò mẫm để định giá món hàng cần phải lấy, và cũng có thể chúng mở thùng ra đàng hoàng và dán lại. Ai có thể khiếu mại đôi co với chúng khi nhận được thùng quà đã bị ăn cắp này?

Câu chuyện ăn cắp ở phi trường Tân Sơn Nhất đã được một em bé lớp ba trong nước, làm luận văn mô tả câu chuyện ba em, làm việc tại phi trường, mỗi chiều về nhà, đều mang theo một bịch đồ lấy cắp của khách hàng, từ chai thuốc bổ, mỹ phẩm cho đến chiếc cell phone, chiếc quần jean và mẹ em có nhiệm vụ đem hàng đi bán lấy tiền. Vì chuyện này, ba em thường bị ông nội em phàn nàn, khiển trách (trong xã hội này mà còn được một ông nội như vậy sao!)

 Ông Cao Huy Huân, một người ở trong nước, đã mô tả chuyện ăn cắp ở hàng không Việt Nam: “Chả là bạn học chung với tôi ở Mỹ lần đó bay về Việt Nam thăm gia đình vào dịp HÈ. Trong vali hành lý có mang theo một chiếc máy ảnh cổ nghe nói là trị giá cả 9 nghìn đô la Mỹ, mang về hộ cho một người bạn. Khi đến sân bay Nội Bài, cậu phát hiện hành lý mình có dấu hiệu bị xâm phạm nên mở vali ra xem thì mới biết chiếc máy ảnh đó cùng một vài chai nước hoa hàng hiệu đã không cánh mà bay. Cậu liên hệ các bộ phận ở sân bay thì đều bảo là không nhìn thấy, không biết gì cả. Vốn biết nét đặc sản tai tiếng này ở các cảng hàng không Việt Nam nên cậu lập tức gọi điện thoại cho người thân vì cậu có người thân làm quan chức cao cấp trong một bộ ở Hà Nội. Chỉ chưa đầy 10 phút sau, một nhân viên kiểm tra hành lý đã tay xách nách mang đem ra trả cho anh chàng đầy đủ máy ảnh và số nước hoa trên, còn xin lỗi rối rít. Cũng chẳng mất mát gì nên cậu cũng im lặng cho qua. Thế nhưng câu hỏi đặc ra là nếu như cậu bạn đó không có người thân là quan chức cấp cao thì số hành lý đó sẽ ra sao?”

Kiều Trinh, con gái một quan chức cao cấp của đảng, từng ăn cắp trong các chuyến công tác nước ngoài.

Một chuyện ăn cắp “quốc tế” làm mất mặt đảng nhất là chuyện Kiều Trinh, một đảng viên, trưởng phòng Văn Hóa Dân Tộc (!) của một đài truyền hình mà cha cô là Vũ Văn Hiến, ủy viên Trung Ương Đảng, làm tổng giám đốc! Năm 2001, Kiều Trinh nhám tay ăn cắp một số mỹ phẩm khi cô được bố cử đi công tác ở Thụy Điển. Năm 2009, khi sang Anh, Kiều Trinh lại giở trò cầm nhầm mấy cái máy ảnh digital. Cả hai lần, vì là con của ủy viên Trung Ương Đảng, cô được các tòa đại sứ CSVN tại địa phương “cứu hộ,” tận tình, thậm chí có cả giấy chứng nhận Kiều Trinh đang mắc bệnh tâm thần từ trong nước gửi ra. Về nước, chưa chừa thói ăn cắp, tại thành phố Vinh, Nghệ An, Kiều Trinh lại tuồn áo quần vào váy, lần này camera cửa hiệu thu hình đầy đủ và đưa lên Internet.

Vậy mà ông bố có đứa con gái làm nhục quốc thể vẫn là khuôn mặt của Trung Ương Đảng CSVN, kẻ cắp quốc tế mỗi đêm vẫn lên đài truyền hình dạy dỗ người ta cái gọi là “văn hóa dân tộc.” Cả nước khinh bỉ chúng nhưng chúng không hề có chút liêm sỉ để hổ thẹn.

Một nhân viên đài truyền hình có hồ sơ trọng tội, xấu xa như vậy phải được đưa ra khỏi ngành, một đảng viên có thành tích ăn cắp bỉ mặt như vậy phải bị khai trừ khỏi đảng. Một tổng giám đốc đài truyền hình có nhân viên làm xấu ngành nghề, một người cha có đứa con làm nhục cha ông như Kiều Trinh, nên biết tự xử như một người có nhân cách.

Tội nghiệp thay, cha con nhà này cũng như cả đảng nhà nọ, vẫn coi đây là chuyện thường tình. Không ai còn biết liêm sỉ, chẳng ai còn biết đến chuyện xấu hổ nữa chăng? Cả ai nửa, đã bổ nhiệm Vũ Văn Hiến vào chức vụ tổng giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam, kẻ đã đem con vào giữ một chức vụ trưởng phòng trong đài, đã dùng tiền dân đóng thuế để cử con đi công cán ở ngoại quốc, làm xấu mặt cho người Việt Nam. (*)

Thằng nhỏ làm công nhân, buổi sáng đem một lon nhôm đựng cơm trưa, buổi chiều về nhét đầy một lon xi măng, đinh sắt. Thằng lớn tổng giám đốc ăn theo chức tổng, thằng thủ kho kiếm chác theo thủ kho, thằng bảo vệ sống nhờ mánh mung bảo vệ. Ăn cắp để bảo vệ chức vụ và nghề nghiệp của mình và trong xã hội ấy nhân phẩm được cân đo bằng tiền. Cán bộ làm giàu nhờ ăn cắp của công, toa rập với bọn tài phiệt nước ngoài cướp đất của dân, từ trên xuống dưới, phủ bênh huyện, huyện bênh phủ, tạo nên một mạng lưới ăn cắp từ trên xuống dưới. Mấy năm gần đây, cán bộ, viên chức nhà nước dính líu đến các vụ buôn lậu, bán visa, ăn cắp hàng trong các siêu thị, có đường dây tổ chức trong nước càng ngày càng nhiều, đến nỗi khuôn mặt Việt Nam trở nên lem luốc. Tình trạng người Việt ăn cắp không một nơi nào mà không có: trong công ty, ở công sở, nơi công cộng, siêu thị, chợ búa, địa điểm du lịch… không những trong nước mà còn ra nước ngoài để bêu riếu thanh danh Việt Nam đến đỗi ở nơi đông người, các quốc gia Nhật, Thái lan, Hàn phải trưng bảng thông báo đề phòng và cảnh cáo dân Việt…ăn cắp.

Có lúc nào mà dưới mắt thế giới, người Việt bị sỉ nhục đến như thế! Vậy có ai trên quả đất này còn giấc mơ, “một buổi sáng thức dậy, bỗng dưng…thành người Việt Nam” nữa không? Và cũng không ai trách, một người Việt khi ra ngoài, phải tự thanh minh: “Phải, tôi là người Việt Nam, nhưng là người Việt Nam đang ở nước ngoài, hay tôi là một người Việt Nam nhưng không phải là Việt Nam Cộng Sản hiện nay.”

Người Việt hầu hết đều thấy hổ thẹn, có người kêu gọi “đi tìm một nhân cách của con người Việt Nam đã mất!” Đã mất có nghĩa là ngày xưa, nhân cách ấy đã có, từ cái thời mà người Việt không có, không biết đến Cộng Sản là gì. Xây dựng thì khó, có khi hàng thế hệ, nhưng phá bỏ thì dễ, chỉ cần vài năm.

Người xưa ra đường làm việc bậy, trong xóm làng, thì người ta hỏi là con cái nhà ai, để chửi là con…mất dạy! Thời nay, không còn ai cần đến danh dự của cha mẹ, họ hàng, gia tộc, vì chúng không biết xấu hổ, thì ra đường, người ta hỏi đây là dân nước nào vậy!

Tổ tiên chúng ta đã bỏ ra ba vạn để có danh dự cho Việt Nam, nhưng bây giờ chế độ Cộng Sản trong nước đã bán danh ấy có…ba đồng!

 Huy Phương

(*) “Chẳng tin thì ông đi đôi

Cha con nhà nó còn ngồi đằng kia.”

(Ca dao mới)

Chuyện Kỷ Niệm 43 năm trận chiến Khánh Dương tháng 3/1975

dongsongcu.wordpress.com

Cù Lũ Nhí Châu Nhái

Posted on February 27, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Pháo binh nhảy dù – Ảnh minh hoạ

Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột

Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương 

Chậm chân người hỡi nhè nhẹ bước

Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.

Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.

Sao đành để lại một mình tôi

Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi

Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù.  LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ, Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.

Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ /Tiền Sát /TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

Hai thằng sỉ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17, 18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra. Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong. Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền, nhưng 2 cô nói: Hai anh đợi ba em một chút, còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy. Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì, thuốc lá, đồ hộp v. v. toàn là đồ ăn liền. Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn, tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình. Một lát tôi mới có thể nói: Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc. Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình. Một lát sau bánh mì, thuốc lá, đồ hộp được phát ra cho anh em.

Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây, từng gói một quăng lên xe cho anh em. Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù. Bao nhiêu mệt mỏi, thất vọng, bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan, vất vả tại Thường Đức tan biến hết. Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có. LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN. Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể. Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ.

Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra. lảnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ trên xe có khoảng 10  Nhảy Dù của các TĐ/ND tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: “Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh”. Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe. Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi; Đi đâu vậy? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời: Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ. Ông bảo: Nhớ về đơn vị sớm. Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to: Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ, hú hồn… Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND. Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh, xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê. Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay. Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6 Tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC. tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

  Dục Mỹ – Ảnh minh họa

Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, iệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác) Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6 Quân số ít ỏi. không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là đều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều, Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất, Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, , thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống. Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi… Tôi tìm một chỗ kính đáo gần con suối cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt và ổ VC mà cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

Dục Mỹ – Ảnh minh họa

Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2, 2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái. Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú “tấp pi” đầu tiên của VC chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới.

Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác. Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi. “Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được” Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. “Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh” tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý. Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mũ Đỏ

Dạo đó anh đi mười bảy tuổi

Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai

Vũ trụ mình ta chân đạp gió

Không gian lơ lửng bắt mây trôi

Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến

Giữ yên bờ cỏi đất Phương Nam

Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến

Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng

Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa

Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô

Thường Đức vang danh quân giặc khiếp

Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh

Một không sáu hai đầy xác cộng

Sư ba lẻ bốn chốc tan tành

Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ

Đại Lộc bình yên có Hoa Dù

Tháng ba mười sáu theo quân lệnh

Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam

Bỏ lại sau lưng nhiều tình lở

Tiển Anh nước mắt ước vai nầy

Về mái trường xưa qua Đồng Đế

Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm

Có người em gái nằm xỏa tóc

Để đợi anh về dẩu trăm năm

Nha Trang chào đón đoàn quân lạ

Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù

Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7

Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương

Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống

Một Lử Đoàn Dù gắng tiến lên

Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi

Ngạo nghể trên tay viên đạn cuối

Nhảy Dù hai chử cố gắng thôi

Thiên Thần gẩy cánh ngàn thây đổ

Khánh Dương thương nhớ Lử Đoàn 3

Chí trai vị quốc không danh lợi

Vong thân bất nhục đáng anh hùng

Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ

Xác thân tô điểm áo Hoa Dù

Nợ nước muôn đời trên vai nặng

Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.

Những ngày cuối tháng 3/2018

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

  

 

          

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Tập 2

Phần 8
Sáu năm, dâu bể trùng phùng.

Chúng tôi gồm có vài trăm sĩ quan cấp úy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đi trình diện học tập cải tạo theo lệnh gọi của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, tất cả tụ tập trong sân căn nhà kính của Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Tôi đứng một mình trong góc sân, lặng lẽ quan sát cảnh mọi người gặp nhau tay bắt mặt mừng, chuyện trò nổ như bắp rang, họ thản nhiên vui vẻ nói chuyện cứ như là đang tham dự một buổi họp mặt, mừng ngày hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Trước khi đến đây, tôi tưởng chỉ có một mình tôi là sung sướng hạnh phúc, khi được đi học tập cải tạo mười ngày. Nào ngờ lúc nhìn thấy bầu không khí tưng bừng náo nhiệt của các vị sĩ quan cấp úy khi gặp nhau, tôi mới biết được là, mọi người đều có chung một tâm trạng giống như tôi.

Nhìn thoáng qua một vòng, tôi không thấy ai quen thân với mình, nhưng tôi lại biết mặt hầu hết các sĩ quan trình diện ngày hôm nay, bởi vì họ là những người dân của Đà Lạt. Trước khi vào lính những ông sĩ quan này phải là học sinh của Trường trung học Trần Hưng Đạo, trung học Việt Anh, trung học Trí Đức, trung học Bồ Đề, Lycée Yersin, hoặc là sinh viên của Viện đại học Đà Lạt. Nếu không là bạn học cùng trường với tôi, họ với tôi cũng đã từng gặp mặt nhau nhiều lần khi đi bát phố Hòa Bình.

Tôi đi vòng quanh sân với mục đích là tìm gặp những thằng bạn chung trường, chung lớp với tôi ngày xưa ở Trường trung học Trần Hưng Đạo, như là Nhân đầu bạc chẳng hạn. Tôi cần có một vài người bạn thân để chia xẻ ngọt bùi, để tối đến sau giờ học sẽ treo mùng gần nhau chuyện trò tâm sự, uống ly trà hút điếu thuốc.

Đúng hai giờ chiều, một anh cán bộ Việt Cộng mở cửa nhà, với giọng oang oang anh ta nói:

-Các anh tuần tự vào văn phòng nộp lại “Giấy chứng nhận”. Sau đó ra ngoài sân, sắp hàng đợi lệnh mới.

Mọi người ngoan ngoãn thi hành lệnh trong im lặng, trật tự. Khi vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa của căn nhà, tôi choáng váng cả người như là bị điện giật, trước mặt tôi, ông Năm bánh xèo ngồi chễm chệ sau cái bàn làm việc, ông ta đưa mắt quan sát từng vị sĩ quan một, khi họ nộp lại tờ giấy chứng nhận. Đến lượt tôi, ông Năm bánh xèo cầm tờ giấy lật qua lật lại rồi đọc:“Nguyễn Trọng Quân”. Sau đó ông ta ngẩn nhìn tôi.

-Trung úy mạnh giỏi?

Tôi ngớ người, khi nghe câu hỏi phát ra từ miệng của ông Năm bánh xèo, đây là câu nói xã giao vui đùa, mà ngày xưa khi gặp tôi ông Năm thường hỏi.

Tôi ngập ngừng, nếu là ngày xưa câu trả lời của tôi sẽ là “Quá mạnh giỏi, còn chú Năm có khỏe không?”. Hôm nay thời thế đã xoay chiều, không còn là chuyện vui đùa của một ông bán bánh xèo và một trung úy nữa, mà là chuyện sống chết giữa một ông cán bộ của phe thắng trận và một trung úy hàng binh. Tôi lấy giọng, cố nói cho rõ ràng từng chữ.

-Thưa ông, tôi khỏe.

Ông Năm bánh xèo với gương mặt nghiêm nghị, nhưng giọng nói lại giống như đùa.

-Mỗi dĩa bánh của trung úy tôi bỏ vô ba con tôm.

Tôi đứng chết lặng không dám nói một tiếng, không biết ông Năm bánh xèo đang đùa hay nói móc mình đây. Ngày xưa, khi ăn bánh xèo nơi quán của ông Năm, tôi luôn luôn giữ gìn tư cách của một người sĩ quan, không bao giờ phách lối hay làm bất cứ việc gì có thể làm mất lòng ông. Hơn nữa, tôi đâu có dại dột phá phách lôi thôi, để bị quân cảnh còng đầu. Khi xét thấy mình hoàn toàn không có làm điều gì sai trái với ông ta, tôi mạnh dạn nói.

-Cảm ơn ông.

Ông Năm bánh xèo chỉ vào góc phòng, nói mà như ra lệnh.

-Trung úy đợi tôi ở đó.

Quay sang người sĩ quan đang đợi nộp lại giấy tờ, ông Năm bánh xèo lên giọng.

-Người kế tiếp.

Tôi đứng một mình trong góc phòng, nhìn các vị sĩ quan nộp lại giấy tờ mà trong lòng đầy phập phồng lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho mình.

Hơn nửa giờ trôi qua, chờ cho đến khi người sĩ quan cuối cùng bước ra khỏi phòng, ông Năm nói với tôi.

-Trung úy tới đây, tôi có cái này cho trung úy.

Tôi ngạc nhiên quá sức, một ông Việt Cộng nằm vùng thì có cái gì mà cho mình.

Cúi đầu lục trong cái xắc cốt một hồi lâu, ông Năm lấy ra một tấm hình.

-Tặng trung úy để làm kỷ niệm.

Tôi nhìn tấm hình màu khổ 6 x 9, rồi chợt nhớ ra đâu khoảng vài năm về trước, trong lúc tôi đang ngồi ăn bánh xèo, ông Năm đã nhờ một người khách, bấm cho tôi và ông một tấm hình. Chụp hình với ông bán bánh xèo chớ đâu phải với đào thì cần gì phải nhớ cho mệt óc, chụp xong tôi quên mất tiêu. Chuyện chụp hình hoàn toàn biến mất trong trí nhớ của tôi. Hôm nay lần đầu tiên tôi được thấy bức hình, trong hình tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè, trên vai cặp lon trung úy màu vàng nổi bật trên nền nhung đen, thêm cái huy hiệu Trường Võ Bị Đà Lạt may nơi tay áo trái gần vai. Với chừng đó thứ cho dù người mặc bộ đồ trên, mặt mũi có xấu xí đến đâu, thoáng nhìn qua cũng thấy oai phong lẫm liệt. Ông Năm mặc áo sơ mi màu xám ngồi bên cạnh tôi, tay trái thân mật quàng qua vai, trông cứ như là bà con thân thích. Người lạ nhìn vào tấm hình, sẽ nghĩ đó là hai bác cháu, hoặc nếu không bác thì cũng phải là chú.

Đang miên man suy nghĩ, bất chợt tôi nghe giọng nói của ông Năm bánh xèo vang lên.

-Trung úy có biết tại sao Ngụy quân Ngụy quyền, bỏ của chạy thoát thân như một bầy vịt chạy đồng hay không?

-Thưa ông tôi không biết.

Ông Năm bánh xèo với giọng đắc chí.

-Cảm ơn trung úy nhiều, ngày xưa khi còn Việt Nam Cộng Hòa, tấm hình này là cái bùa hộ mạng của tôi, một đôi lần bị cảnh sát xét giấy tờ, dồn vào ngõ cụt hết phương vùng vẫy, tôi nhờ nó mà vượt qua nhiều cửa ải bố ráp của cảnh sát. Trên giấy tờ tùy thân, tuổi của tôi đã quá hạn phải đi quân dịch thế nhưng có tật giật mình, tôi sợ rằng nếu để mấy ông cảnh sát bắt về đồn để tiếp tục xét hỏi thanh lọc, sưu tra lý lịch có thể tôi sẽ gặp rắc rối. Với cái nghề “Vạch lá tìm sâu” biết đâu mấy tay mật vụ hay cảnh sát chìm sẽ mò ra cái gốc cán bộ nằm vùng của tôi, cho nên tôi chìa tấm hình ra rồi nói “Cháu của tôi là Trung úy An Ninh Quân Đội của Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi là cậu của nó, là người Quốc Gia chân chính. Mấy ông có thể quay điện thoại vô Trường để kiểm chứng”. Tuy nói cứng như vậy nhưng biết mình là người xài tiền giả, tôi xuống giọng “Thưa mấy anh, cùng là anh em một nhà với nhau hết mà, tứ hải giai huynh đệ, mời quý anh khi nào rảnh ghé quán bánh xèo của tôi ở đường Tăng Bạt Hổ, tôi sẽ đãi quý anh một bữa no nê”. Khi nghe tôi nói như vậy lại có thêm tấm hình làm bằng chứng, ông nào cũng mềm lòng xét qua loa rồi cho tôi đi.

Ông Năm bánh xèo ngưng nói một lúc, rồi hỏi tôi.

-Ngày xưa, trung úy làm gì trong Trường Võ Bị?

-Thưa ông, tôi làm ở Phòng hành quân.

Ông Năm bánh xèo cúi đầu nhìn xuống, kéo hộc bàn lấy ra gói thuốc và cái hộp quẹt.

-Như vậy trung úy không thuộc diện ác ôn. Ngày hôm nay tấm hình này đối với tôi không còn giá trị nữa, tôi tặng lại cho trung úy, chúc trung úy học tập tốt, mau trở về với gia đình.

Tôi đang đờ người nghĩ, tại sao ông Năm giữ kỹ tấm hình như vậy, rồi bây giờ lại cho tôi. Mục đích của ông là gì? Vì suy nghĩ như vậy nên tôi lấy hết can đảm, liều mạng hỏi ông Năm.

-Thưa ông Cách mạng đã thành công, ông không sợ tôi dùng tấm hình này để lừa dối Cách mạng, như ông đã làm với các cơ quan an ninh của Ngụy hay sao?

Với nụ cười bí hiểm, ông Năm nói với tôi, giọng nói huênh hoang đầy tự đắc.

-Trung úy chỉ được cái lo bò trắng răng, địch vận là nghề của tôi mà.

Tôi cảm ơn ông Năm bánh xèo rồi đi ra cửa, trước khi cất tấm hình vào ví, tôi liếc nhìn phía sau. Cái tên Trần Chiến với chữ ký bằng bút nguyên tử nằm ngay góc trái đập vào mắt, khiến tôi lạnh cả gáy.

Bốn giờ chiều, chúng tôi được chất lên hàng chục chiếc GMC, bốn chục sĩ quan được nhét vô một chiếc xe, đứng sát nhau như cá đóng hộp. Không cần phải giải thích, mọi người đều hiểu rằng đây là những chiếc GMC của Việt Nam Cộng Hòa bỏ lại. Xe lăn bánh chạy dọc theo hồ Xuân Hương, qua cà phê Thủy Tạ, qua sân vận động rồi nhà ga xe lửa, một anh đứng phía trước sát với cabin xe, nhìn qua khe hở nhỏ tí xíu của tấm bạt.

-Chắc họ sẽ đưa tụi mình đến Trường đại học Chiến Tranh Chính Trị hay Trường Võ Bị Đà Lạt để học tập.

Được vài phút sau, một giọng nói khác vang lên.

-Xe đến ngã tư Phan Chu Trinh rồi các bạn, ủa mà sao lại quẹo phải. Đi đâu vậy?

Một vài tiếng xì xào bàn tán.

-Không lẽ xuống Phan Rang, dân Đà Lạt mà đem xuống Phan Rang để học tập, đi chi cho xa vậy?

Vì xe bị phủ bạt kín mít nên trong xe tối hù, không thấy rõ mặt nhau, nhưng tôi đoán chắc rằng gương mặt mọi người phải lo lắng băn khoăn ghê lắm. Khoảng mười phút sau, một giọng nói đầy mừng rỡ.

-Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến quý vị ơi, phải như vậy mới được chớ, đi đâu cho xa.

Chúng tôi xuống xe, được đưa vào những dãy nhà ngủ của khóa sinh Cảnh Sát Dã Chiến, phòng ốc ở đây rộng mênh mông, hai người một giường hai tầng. Sau khi ổn định chỗ ở đến phần phát cơm tối, mỗi người được lãnh một nắm cơm vắt to bằng trái cam. Đang sống sung sướng ở nhà, bữa cơm chiều đầy đủ cơm sốt canh nóng, chén bát đũa muỗng sạch sẽ, giờ đây đột nhiên mỗi ông quan tay bốc một cục cơm vắt lạnh ngắt, lòng dạ nào mà ăn cho được. Nhiều ông quan chê cơm nắm, cho rằng “Người quân tử chiếc chiếu trải không ngay, không ngồi” huống gì bốc cơm mà ăn như vậy coi sao được, bèn nhịn đói luôn cho được việc, họ đi ngủ với cái bụng trống rỗng. Ngày đầu tiên trong mười ngày học tập của sĩ quan cấp úy, trôi qua nhẹ nhàng êm đẹp. Chỉ còn chín ngày nữa là sĩ quan cấp úy chúng tôi sẽ trả xong nợ đời, món nợ không mượn mà phải trả.

Sáng ngày thứ hai của mười ngày học tập, nhiều người thức giấc khi trời còn mờ tối, lo làm vệ sinh cá nhân rồi chuẩn bị giấy bút sẵn sàng cho buổi học tập đầu tiên. Cũng vẫn là những gương mặt vui tươi hớn hở của ngày hôm qua, họ tụ tập trò chuyện với hy vọng tràn đầy. Mọi người chờ hoài chờ mãi, chờ cho đến trưa vẫn không được cho đi học, mà lại được hướng dẫn đi ăn cơm. Lệnh của cán bộ Việt Cộng, tất cả sĩ quan Ngụy đội hình di chuyển hàng một, mỗi người cách nhau một mét. Cứ khoảng vài chục mét lại có một anh bộ đội, súng AK mang trên vai đi ngoài hàng kiểm soát. Lội bộ chừng hơn vài trăm mét, chúng tôi đến nhà ăn, mỗi bàn một thau cơm, chút rau luộc, vài con cá khô. Mấy ông quan nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, cố nuốt cho trôi hết chén cơm vì bụng đói. Sau bữa ăn, mọi người phải tự rửa chén đũa của mình, giữ lại để dùng cho lần tới.

Đang lui cui rửa chén và đôi đũa nơi bể nước gần phòng ngủ, tôi giật mình vì có ai đó vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Cũng biết rửa chén nữa hả trung úy?

Tôi quay đầu nhìn lên, Trung úy Lợi Công binh Trường Võ Bị Đà Lạt đang tươi cười nhìn tôi, nụ cười như là chế giễu.

Tôi nói với Trung úy Lợi.

-Gọi mày với tao cho quen, cứ trung úy với đại úy, Việt Cộng nó đì cho xói trán bây giờ.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày ở phòng nào?

Tôi chỉ cho hắn căn phòng tôi đang ở.

Trung úy Lợi nhìn theo hướng ngón tay trỏ của tôi.

-Chỗ mày còn giường trống không? Tao dọn qua ở với mày cho vui.

Tôi reo lên.

-Tao đang buồn vì không có bạn, gặp lại mày cứ như là “Tha hương ngộ cố tri”. Mày dọn qua lẹ lẹ lên, còn mấy cái giường bỏ không đó.

Trung úy Lợi sửa lưng tôi.

-Đừng có ăn nói tào lao, tao với mày đang ở tại Đà Lạt, trên đất nước của mình, tha hương cái nỗi gì. Mày phải nói là “Buồn ngủ gặp chiếu manh” mới được.

Tôi gật đầu.

-Mày nói phải, chiếu manh, chiếu cói, chiếu cạp điều hay chiếu gì cũng được, giờ thì mày làm ơn về phòng lấy hành lý đi, tao đợi mày tại phòng của tao.

Phải hơn một giờ đồng hồ sau, Trung úy Lợi mới đến, hắn đặt cái ba lô xuống đầu giường kế giường của tôi, cất giọng kể lể.

-Mày biết không, mọi người đều nói mặt mũi của tao coi cũng sáng sủa không đến nỗi nào, vậy mà tao làm chuyện gì cũng chậm lụt, khi di tản khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt tao cũng chậm, rồi chuyện chạy trốn ra ngoại quốc tao còn chậm hơn, cho nên giờ phút này mới còn ở đây để gặp mày.

Tôi an ủi Trung úy Lợi.

-Mày tưởng tao ngon lắm chắc, tao còn đần hơn mày nhiều. Mà chuyện mày rời khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt sau cùng là phải rồi, còn trách cứ gì ai, bởi vì nhiệm vụ của mày là đặt chất nổ phá hủy trường mà.

Tôi nhìn quanh, khi thấy không có ai tôi mới nói nhỏ vào tai của Trung úy Lợi.

-Tan tành hết phải không? Giống như cả chục phi tuần F 5 của mình dội bom chứ gì.

Trung úy Lợi với gương mặt thảm não.

– Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi như mới, không chết một con kiến, cũng không hư một cục gạch.

Tôi ngồi đờ người ra.

-Mày nói láo cũng vừa thôi, chừng đó kí lô hợp chất C4 mà còn nguyên sao được. Công binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chứ đâu phải du kích Việt Cộng chỉ biết đặt mìn, đắp mô, phá hủy vài khúc đường rầy xe lửa.

Trung úy Lợi mồi một điếu thuốc.

-Mày có cà phê không? Tao thèm quá.

Tôi đùa với Trung úy Lợi.

-Có, mà tao để ở Trường Võ Bị Đà Lạt rồi, mày làm ơn nhớ giùm là tụi mình đang đi học tập chứ không phải ngồi ở cà phê Tùng hay cà phê Thủy Tạ. Nói cho tao biết, tại sao mày không cho nổ Trường Võ Bị Đà Lạt.

Trung úy Lợi rít một hơi thuốc, chậm rãi kể.

-Tối hôm đó, sau khi uống cà phê với mày tại Trung tâm Hành quân, tao cùng bốn ông lính công binh, là chuyên viên chất nổ, chạy xe dodge qua Nhà thí nghiệm nặng. Tại đây, vì còn dư quá nhiều thì giờ, tụi tao ngủ một giấc ngon lành chờ đến giờ hành động. Đúng chín giờ tối, tao bắt đầu cho đệ tử tháo dỡ hợp chất C4 xuống xe, lúc bấy giờ tao mới phát giác ra trong xe không có ngòi nổ với mấy cuộn dây dẫn điện.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

-Mày biết không lúc đó tao tức điên người, giận đến nỗi run tay mờ mắt, chửi thề nhặng cả lên “Đù má, cuộn dây điện to như cái cối đá mà mấy ông nở lòng nào quên cho được, trước khi đi tôi đã kiểm soát lần cuối cùng, dặn tới dặn lui, ông nào cũng báo cáo đủ. Tại sao đến đây lại không có dây dẫn điện”. Một ông lính rụt rè nói với tao “Tại hấp tấp quá nên em quên”. Tao chụp cái ống liên hợp máy PRC 25 gọi về Đại đội Công Binh của trường. Gọi khan cả cổ mà không một tiếng trả lời, tao gọi máy về đại đội mà cứ như là gọi xuống âm ti, tức mình tao quăng mẹ nó cái ống liên hợp xuống ghế trưởng xa, chỉ vào hai người lính “Hai ông làm ơn lái xe dodge về đại đội lấy ngòi nổ và dây dẫn điện qua đây cho tôi, hai ông còn lại cứ tiếp tục công việc”.

Trung úy Lợi vứt cái tàn thuốc xuống đất, lấy chân giậm lên rồi nói với tôi.

-Mày biết rồi, từ Nhà thí nghiệm nặng đến Đại đội Công Binh khoảng chừng mười phút lái xe, vậy mà tao đợi hơn một tiếng đồng hồ vẫn không thấy tăm hơi của hai ông đệ tử. Tao cùng hai người đệ tử còn lại, ôm đống hợp chất C4 mà khóc ròng. Không máy PRC 25, không đặc lệnh truyền tin, không súng đạn, tụi tao như những thằng mù, điếc, câm. Đã hơn mười giờ rưỡi rồi mà tụi tao vẫn còn ở trong trường. Tao đoán rằng hai ông đệ tử của tao khi đến Đại đội Công Binh thấy cảnh vườn không nhà trống, mọi người đã chạy mất tiêu hết rồi, quá sức hoảng sợ cả hai bèn dọt luôn cho êm chuyện. Tao chỉ hơi buồn chút xíu là tại sao họ chạy mà đành đoạn bỏ thầy, bỏ bạn của họ ở lại. Mười một giờ đêm, khi biết chắc rằng hai ông lính của tao đã dông mất đất rồi, tao mới dẫn hai người lính còn lại chạy bộ ra khỏi trường. Ba thầy trò như những cái bóng ma vừa chạy vừa run, khi chạy ngang qua Vũ đình trường Lê Lợi, tao chỉ sợ lính của Tiểu đoàn An ninh chưa rút đi, còn đóng ở điểm kích 1511 phía sau lưng Đài Tử Sĩ tưởng mình là Việt Cộng thì bỏ mẹ, họ làm thịt ba đứa tao là cái chắc. Mày nhớ giùm tao, ban đêm di chuyển trong trường mà không biết mật khẩu, mật hiệu, kể như là chết chắc, chết chắc luôn. Cuối cùng sau mấy chục phút chạy muốn hụt hơi, mồ hôi đổ như tắm, tụi tao cũng thoát được ra khỏi cổng Lý Thường Kiệt, khu Chi Lăng vắng ngắt không một bóng người, dân chúng ở đây đã di tản tự lúc nào.

Trung úy Lợi nhìn tôi rồi nhắc lại.

-Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi, không hư một cục gạch.

Tôi nói đùa với Trung úy Lợi.

-Như vậy là mày đã lập được công lớn với Cách mạng rồi.

Trung úy Lợi nghiêm sắc mặt.

-Đừng có nói giỡn, ở tù mọt gông đó mày, chuyện đặt chất nổ chỉ có tao với mày biết, tao là thủ phạm, mày là tòng phạm vì phối hợp kế hoạch với tao. Từ đây về sau, hai đứa mình cứ câm như hến là được, mày biết câu nói “Tai vách mạch rừng” rồi chớ gì.

Nhìn nét mặt đầy lo sợ của Trung úy Lợi, tôi nói.

-Biết quá đi chớ, nhưng tại sao đêm đó mày không gọi máy cho Trung tâm Hành quân?

Trung úy Lợi nhăn mặt.

-Trên đời này chưa có ai mà ngu như tao, máy PRC 25 cùng với đặc lệnh truyền tin tao đều để trên xe dodge, chuyện chết người là ở chỗ đó.

Những gì muốn biết, tôi đã biết rõ ràng tường tận. Tôi không muốn nghe Trung úy Lợi kể thêm về chuyện đặt chất nổ phá hủy Trường Võ Bị Đà Lạt trước khi di tản, nên chuyển đề tài.

-Dẹp mẹ chuyện đó qua một bên, mày đem thức ăn gì cho mười ngày.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày hỏi làm gì?

-Tao đề nghị hai đứa mình góp thức ăn lại, ăn chung cho vui.

-Mày nói nghe được, tao có năm lon thịt hộp với mấy gói mì. Còn mày có gì?

Tôi mở cái xách tay lôi ra hũ ruốc kho sả.

-Tao chỉ có chừng này.

Trung úy Lợi thắc mắc.

-Cái thứ gì trong đó?

Tôi cười với Trung úy Lợi.

-Ruốc thịt heo kho sả.

Trung úy Lợi dùng cả hai tay bưng cái hũ ruốc lên, miệng cười toe toét.

-Mẹ nó, làm gì mà mày đem theo cái hũ ruốc to quá mạng như vậy.

-Món này vợ tao làm, tao chê là nhiều quá nhưng vợ tao cứ nhét vào cái xách tay của tao.

Trung úy Lợi gật gù cái đầu.

-Mày lấy vợ được bao lâu rồi.

-Mới hơn một tháng.

-Chắc vợ của mày ghét mày lắm, muốn mày học tập ba, bốn tháng thay vì là mười ngày, cho nên mới làm cái hũ ruốc to như vậy. Nhưng mà không sao đâu, yên chí đi tao sẽ ăn phụ với mày.

Tôi và Lợi thân với nhau kể từ đó.

Một ngày ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến trôi qua lẹ như cái chớp mắt, ăn trưa xong chưa kịp làm gì đã đến cơm chiều, ngày hôm sau lại cũng cơm trưa, rồi cơm chiều. Mười ngày trôi qua cái vù, mọi chuyện vẫn giậm chân tại chỗ, không nghe nói gì đến chuyện học tập.

Gần như là tất cả mọi người đều bắt đầu thắc mắc bàn ra tán vào. Nhiều câu nói đầy ngờ vực được đưa ra.

-Nếu mai hay mốt bắt đầu học, như vậy chắc phải hai tuần nữa sẽ được về.

Một giọng nói hơi bi quan cất lên.

-Tao nghi phải một tháng quá.

Một anh có máu tếu trong người, vọt miệng.

-Chắc phải ba năm.

Nhiều tiếng ồn ào phản đối.

-Thằng nào nói ba năm đó, miệng mồm ăn mắm ăn muối, chỉ được cái nói bậy là giỏi.

Chuyện học tập mười ngày coi như không có, mọi người tuy không nói ra nhưng đa số đều tin rằng chắc cũng phải học tập vài tháng. Khi đã có được niềm tin, mọi hy vọng sẽ đến, nhờ vậy mà sinh khí trong trại vẫn còn.

Qua buổi sáng của cuối tuần lễ thứ ba, hàng chục chiếc GMC bít bùng chở chúng tôi đến chỗ mới, theo lời của cán bộ Cộng Sản là tạo điều kiện cho chúng tôi học tập tốt hơn. Mọi người lại hy vọng, lần này sẽ là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì chỉ có nơi đó mới đầy đủ phòng ốc cho hàng ngàn sĩ quan chúng tôi học tập. Khi xe ra khỏi cổng Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến sẽ quẹo trái để về Trường Võ Bị Đà Lạt như mọi người dự đoán, thì đoàn xe lại rẽ phải. Một bầu không khí yên lặng chụp xuống, tất cả ngơ ngác nhìn nhau “Đi đâu đây hở Trời”.

Sĩ quan cấp úy chúng tôi, trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt, được đưa đến tập trung tại Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, ở đây khoảng hai chục ngày. Suốt thời gian nói trên, chúng tôi chỉ học được một bài học duy nhất là viết bản lý lịch trích ngang hay trích dọc gì đó, dài hàng chục trang giấy, trong đó khai rõ lý lịch ba đời của dòng họ nhà mình và cả ba đời dòng họ bên vợ, viết đi rồi viết lại, viết cho đến khi nào đạt yêu cầu mới thôi. Cái khó cho chúng tôi là không một ai biết Việt Cộng yêu cầu cái gì, cho nên đã hai chục ngày qua, chưa có ông quan nào viết được bản khai lý lịch đạt yêu cầu như Việt Cộng mong muốn. Cho dù đó là quan kỹ sư, quan bác sĩ, quan dược sĩ, quan tiến sĩ…cũng bó tay luôn.

Giã từ Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, đoàn xe GMC chở chúng tôi nối đuôi nhau giong ruổi trên con đường thiên lý, mãi cho đến chiều tối mới đến thị trấn Sông Mao thuộc tỉnh Phan Thiết, rồi ngừng lại tại trại gia binh của Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa.

Đến đây tôi biết được một điều, chuyện học tập mười ngày đã trở thành chuyện cổ tích.

Theo lời của cán bộ quản giáo nói với tất cả sĩ quan cấp úy, để cho việc học tập được dễ dàng, đạt kết quả tốt, trại học tập phải được tổ chức theo lệnh trên.

Về nhân sự cũng như nơi ăn chốn ở, Trại học tập cải tạo Sông Mao, Phan Thiết, được chia ra làm ba Trại phân biệt rõ ràng: Trại A giam giữ sĩ quan Ngụy có cấp bậc đại úy, Trại B trung úy và Trại C thiếu úy.

Tôi ở Trại B trung úy, nên không biết rõ tổ chức của Trại A đại úy và Trại C thiếu úy như thế nào. Tôi chỉ biết rằng Trại B trung úy của tôi, được chia làm năm khối: Khối 1 Lâm Đồng, Khối 2 Bình Tuy, Khối 3 Ninh Thuận, Khối 4 Bình Thuận và Khối 5 Đà Lạt. Trước năm 1975, sĩ quan cư ngụ ở tỉnh nào sẽ về khối đó. Khối Đà Lạt của tôi có sáu tổ, mỗi tổ có mười sáu người, bắt đầu từ tổ 37 cho đến tổ 42. Như vậy toàn Khối 5 Đà Lạt có tổng cộng khoảng chín mươi sáu sĩ quan cấp trung úy. Khối sẽ có khối trưởng và khối phó, tổ sẽ có tổ trưởng và tổ phó điều hành, những vị sĩ quan này đều có thân nhân đi theo cách mạng khi khai lý lịch. Họ được cách mạng chỉ định giữ những chức vụ trên.

Khối trung úy Đà Lạt của tôi ở trong hai dãy trại gia binh nằm đối diện, cách nhau bởi một cái sân rộng, một dãy nhà gồm có nhiều căn. Cứ tám người ở trong một căn nhà bề ngang khoảng bốn mét, chiều dài chừng mười mét được chia làm ba phần: nhà trước, nhà bếp, phía sau là nhà vệ sinh và phòng tắm. Tường xây gạch, loại gạch đúc bằng xi măng có lỗ hổng ở bên trong, mặt tường không có tô hồ, mái nhà lợp tôn. Nhà có phòng tắm nhưng không có nước, sông Mao là vùng đất bán sa mạc, về mùa nắng giếng khô cạn cho nên mỗi tuần một lần, tù cải tạo được dẫn lên đập nước cách trại chừng vài cây số để tắm rửa và giặt quần áo.

Sau vài ngày xáo trộn lúc ban đầu, cuộc sống của tù nhân dần dần ổn định, 6 giờ sáng khi tiếng kẻng báo thức đánh lên, mọi người phải ra sân tập thể dục tập thể đúng mười lăm phút, sau đó vệ sinh cá nhân, lãnh phần ăn sáng để chuẩn bị 7 giờ đi làm lao động.

Sáng hôm nay, Tổ 37 của tôi đang sửa chữa hàng rào kẽm gai, ngay nơi cổng ra vào của Trại trung úy. Đám tù nhân chúng tôi phải làm lại hàng rào cho kiên cố hơn để giam giữ mình. Một ông cán bộ Cộng Sản nói với chúng tôi “Các anh đòi kềm, búa, kéo cắt sắt, bao tay để làm việc phải không? Trước đây chiến sĩ cách mạng tay không còn đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Hôm nay sĩ quan Ngụy các anh chỉ có làm cái hàng rào kẽm gai sơ sài như thế này mà đòi hỏi lung tung. Cách mạng còn nghèo không có những thứ ấy, các anh phải khắc phục khó khăn để hoàn thành công tác.”

Chúng tôi với tay không, cố gắng làm cho xong lớp hàng rào thứ nhất, sau đó đến lớp hàng rào thứ hai, rồi lớp thứ ba. Mặt trời lên khá cao chiếu ánh nắng chói lòa xuống đầu lũ tù, tôi đưa tay áo lên quẹt bớt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán.

Trung úy Lợi đưa bình nước cho tôi.

-Nhắp một chút cho đỡ khát đi mày.

Tôi cầm cái bi đông nước, mà mắt không rời một đám người đang tiến về trại. Hàng trăm người chứ ít ỏi gì, tất cả đều mặc bà ba đen, chậm rãi di chuyển, trông họ giống như là đang cố lê bước chứ không phải là đi. Khi đoàn người đã đến gần, có thể trông rõ mặt, tôi chợt rùng mình nhìn lại mình, hơn hai tháng rồi bọn tù chúng tôi tuy có ốm đi nhưng vẫn còn mạnh khỏe, vẫn còn đầy đủ hình hài vóc dáng của một con người. Đám người mới tới trông như là những bộ xương biết đi, những gương mặt tái mét vàng ủng, chỉ còn da bọc xương, đôi mắt lờ đờ lạc thần như những cái xác chết.

Một người trong Tổ 37 của chúng tôi lên giọng hỏi.

-Ở đâu tới vậy?

-Cà Tót.

Ba, bốn thằng Đà Lạt ngơ ngác nhìn nhau.

-Có thằng nào biết Cà Tót ở đâu không?

-Hình như là ở trong mật khu Lê Hồng Phong.

Một giọng cằn nhằn.

-Phải không đó, đừng có đoán mò nghe cha nội.

Cà Tót, cái địa danh lạ hoắc mà từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ nghe đến. Tôi nhìn đám tù mới với đôi mắt thờ ơ, vì biết rằng mình không có quen ai trong nhóm. Tôi định quay người tiếp tục làm việc, bất ngờ một người hai tay chống gậy, chầm chậm đi đến bên tôi.

-Quân bắp cải phải không?

Tôi ngớ người ra, cái biệt danh Quân bắp cải của tôi khi còn ở Quân trường Thủ Đức, chỉ có Biên, Long công tử và một số ít bạn bè trong đại đội cùng khóa với tôi biết mà thôi. Biên đã chết rồi, người trước mặt tôi có thân hình giống như là cái xác chết, nhất định không phải là Long công tử. Tôi nhìn kỹ người gọi tôi một lần nữa, trước mặt tôi là một bộ xương khô dơ dáy bẩn thỉu, người không ra người, ngợm không ra ngợm, hai con mắt của hắn thụt sâu vào như hốc mắt của cái đầu lâu, tóc tai rụng gần hết chỉ còn lưa thưa vài cọng, hai bàn tay gầy trơ xương nắm chặt lấy cây gậy đang chống xuống đất, hai bàn chân không giày không dép, dính đầy đất bùn, cả thân hình của hắn được che bởi bộ đồ bà ba đen rộng thùng thình. Tôi hoàn toàn không biết được gã tù đứng trước mặt mình là ai. Tại sao hắn lại biết cái tên Quân bắp cải.

Tôi hỏi hắn.

-Mày là ai? Sao biết tên tao?

Bộ xương không trả lời, vất cây gậy xuống đất rồi đưa cả hai tay ôm lấy mặt tôi, nước mắt từ trong cái hốc mắt vô hồn của hắn chảy tràn qua làn da đen sạm nhăn nheo, lăn dài trên đôi gò má hóp.

-Bắp cải à, mày không nhìn ra tao sao?

Tôi lắc đầu, hỏi lại hắn một lần nữa.

-Mày là ai? Cùng chung Đại đội sáu mươi hai với tao ở Thủ Đức phải không?

Cái thây ma trước mặt tôi thều thào.

-Tao là Long công tử đây.

Cái tên Long công tử lúc bấy giờ mới thực sự trở về trong đầu của tôi, kéo theo cả một dĩ vãng vàng son một thuở, đánh thức luôn thính giác của tôi. Thêm vài câu trò chuyện trao đổi, tôi nhận ra giọng nói ngọt ngào đầy tình cảm của Long công tử, đúng là giọng nói của hắn vào những ngày xa xưa khi tụi tôi còn ở quân trường Thủ Đức. Trong trường hợp này, tôi có mắt cũng như mù, thị giác của tôi có cũng như không, vì gương mặt và hình dáng bề ngoài của Long công tử đã thay đổi, khác biệt hoàn toàn với ngày xưa. Dang rộng hai cánh tay, tôi ôm lấy bộ xương mà nước mắt của mình chỉ chực tuôn tràn. Mắt của tôi mờ đi như bị bao phủ bởi một màng sương mỏng, tôi nói với giọng nói nghẹn ngào trong cổ họng, nhiều lúc tưởng như bị hụt hơi.

-Long công tử, mày làm gì để đến nỗi thân tàn ma dại như thế này, sáu năm hơn rồi phải không, kể từ ngày tao với mày rời xa đồi Tăng Nhơn Phú, sáu năm dâu bể đổi thay, đâu ngờ hôm nay tụi mình lại gặp nhau trong cảnh đọa đày đau xót, trùng phùng trong tù ngục thê lương bi thảm như vầy.

Long công tử đưa tay rờ tai, mắt, mũi của tôi, nó dùng mấy ngón tay chỉ còn da bọc xương với móng tay đầy cáu ghét, bẩn thỉu, lau mấy giọt nước mắt trên má của tôi.

-Mày chỉ thay đổi chút ít, không còn sữa nữa rồi.

Thương thằng bạn ốm đói, lòng đầy hoang mang, không biết Long công tử có được ở chung trại B trung úy với mình hay không, tôi vỗ nhẹ vào lưng của nó.

-Nói cho tao biết ngày ba mươi tháng tư, mày là đại úy hay trung úy.

Long công tử hỏi lại tôi.

-Mày hỏi cấp bậc của tao để làm gì?

Tôi từ tốn giải thích.

-Nếu mày còn là trung úy thì tụi mình sẽ được ở chung một trại, còn nếu là đại úy, mày phải qua trại khác.

Long công tử dịu giọng.

-Tao là trung úy.

Tôi mừng rỡ ôm chặt lấy hắn.

-Vậy là tụi mình được nhốt chung một trại rồi.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Van Truong

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Tập 2

Phần 7
Mười ngày

Tôi trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt. Một ông cán bộ Việt Cộng ngồi sau cái bàn, giống như bàn ăn ở trong tiệm ăn bình dân của Tàu. Nhìn quanh căn phòng, không thấy ai, tôi bước đến trước mặt ông ta.

-Thưa ông, tôi là sĩ quan Ngụy đi trình diện theo lịnh gọi của Chính phủ Cách mạng.

Người cán bộ hất hàm.

-Giấy chứng minh đâu?

Tôi lục trong ví, đưa cho ông ta thẻ căn cước quân nhân và giấy chứng chỉ tại ngũ của tôi.

Người cán bộ tuổi chừng ba mươi, áo quần chỉnh tề, gương mặt sáng sủa, đưa tay cầm lấy giấy tờ tùy thân của tôi, trong khi đôi mắt của ông ta chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi sau đó thản nhiên vất tất cả giấy tờ của tôi vào cái bị để dưới đất. Trên bàn, trước mặt ông cán bộ Việt Cộng là một xấp giấy và cây viết Bic, với giọng nói từ tốn, cái từ tốn đầy uy quyền của phe thắng trận.

-Tên?

Tôi đáp.

-Nguyễn Trọng Quân.

Ông ta cúi đầu ghi chép rồi hỏi tiếp.

-Cấp bậc?

-Trung úy.

Ngẩn nhìn tôi với đôi mắt khó chịu.

-Anh phải nói là trung úy Ngụy, ở đây không có chuyện lẩn lộn “lập lờ đánh lận con đen” giữa một trung úy hàng binh Ngụy và một trung úy của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Tôi nghĩ thầm, tay Việt Cộng này coi bộ cũng có ăn học đàng hoàng cho nên mở miệng ra là nói Kiều. Tôi định nói với ông ta, hôm nay tuy mang thân phận “Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu”, nhưng tôi biết chắc một điều là tất cả binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không một ai đầu hàng Cộng Sản, họ buông súng chỉ vì tuân lệnh thượng cấp. Và tôi có thể khẳng định với ông, cho đến chết họ vẫn tự hào là sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dứt khoát không bao giờ lẩn lộn với sĩ quan Cộng Sản. Nghĩ như vậy, nhưng tôi kịp ngừng lại vì biết miệng người thắng trận có gang có thép, bất cứ những gì họ nói ra đều là mẫu mực, là chân lý cho mọi người noi theo.

Người cán bộ nói xong, lại cặm cụi ghi ghi chép chép. Sau đó, ông ta trao cho tôi tấm giấy to bằng một phần tư cuốn vở học trò.

-Đây là giấy chứng nhận đã trình diện Ủy ban quân quản, anh về nhà đợi lịnh mới, không được đi xa, muốn đi đâu phải có giấy phép.

Tôi quay người đi ra cửa, mắt liếc nhìn tờ giấy, tên của tôi và cấp bậc được điền vào chỗ trống bằng bút nguyên tử màu xanh. Đây là mẫu giấy đã được in sẵn, chữ ký cũng đã được ký trước rồi. Tờ giấy không ghi ngày tháng, chỉ vỏn vẹn có mấy hàng chữ.

Giấy chứng nhận.

Tên : Nguyễn Trọng Quân.

Cấp bậc: Trung úy Ngụy.

Đã trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Ký tên.

Trần Chiến.

Kể từ hôm nay, cuộc đời của tôi hoàn toàn lệ thuộc vào tờ giấy này, đi đâu, làm gì, ở đâu, đều phải xin phép cái ông Trần Chiến lạ hoắc này.

Tôi gấp tờ giấy lại, nhét vào ví rồi thong thả ra về.

Gần một tháng trường trôi qua, tôi sống mà như bị giam lỏng, hoang mang, lo sợ không biết số phận của mình rồi sẽ về đâu. Khi sống trong tận cùng của tuyệt vọng, người ta chỉ còn biết dựa vào những tin đồn. Hôm nay, có tin là tất cả quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị bắt bỏ tù, ngày mai, lại có tin sẽ phải lên tàu đi ra Phú Quốc, nơi mà ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đã giam giữ tù binh Cộng Sản. Những tin đồn xấu như vậy tôi nghe qua rồi quên mất, nhất định không thèm nhớ. Rồi vài ngày sau nữa lại có tin đồn, chúng tôi sẽ được đưa đi học tập về chính sách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong một thời gian ngắn. Sau đó được trả về quê cũ, ai ở đâu sẽ về lại nơi đó, sống và làm ăn lương thiện như một người dân thường. Đó là cái tin đồn mà tôi thích nghe nhất. Một cái tin đồn đầy lạc quan như vậy tôi phải giữ lại trong đầu, rồi hy vọng mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như thế.

Cuộc sống của tôi trong những ngày bị giam lỏng, nếu không có những lo âu phiền muộn vô cớ, quả thật là tràn đầy hạnh phúc. Buổi sáng, tôi thức dậy khi mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng vàng ấm áp xuyên qua khung cửa sổ. Cúc đã nấu xong bữa ăn sáng cho tất cả mọi người trong gia đình, khi thì nồi xôi đậu đen ăn với muối mè đậu phụng, khi thì chén cháo đậu xanh ăn với đường cát trắng.

Tôi nói với Cúc.

-Em có vẻ thích món cháo lắm phải không?

Cúc cười.

-Ba em rất thích món này, ngày xưa khi ăn cháo trắng với trứng vịt muối, ba thường gật gù đắc ý nói với em “Ở ngoài xứ của mình, đây là món ăn sáng của nhà giàu”.

Tôi múc một muỗng đường cát trắng, rải lên chén cháo đậu xanh còn nóng hổi.

-Ba của anh và ba của em, hai ông già lúc nhỏ ở ngoài xứ đi chăn trâu để kiếm sống, buổi sáng có được củ khoai, lát mì lót bụng là quá rồi, cháo đâu mà ăn. Chắc ba em thấy mấy người Tàu ở Hội An ăn cháo nên mới nói vậy. Để hôm nào rảnh anh sẽ hỏi lại ba của anh, chuyện có đúng như vậy hay không? Anh với em cùng là dân Quảng Nam, nhưng là Quảng Nam mất gốc, cho nên phong tục tập quán của người xứ Quảng, tụi mình hoàn toàn mù tịt. Hay là vậy đi, mai mốt anh và em về xứ làm ruộng sinh sống “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, em sinh cho anh một bầy con cỡ chừng một chục đứa. Được không?

Cúc múc một muỗng cháo thổi nhè nhẹ.

-Anh muốn về đâu cũng được chỉ sợ Việt Cộng không cho. Với em, Đà Lạt, Sài Gòn hay Quảng Nam cũng như nhau thôi, sống ở đâu cũng vậy vì đều là đất nước Việt Nam mà. Có điều này em muốn nói là anh bớt mơ mộng một chút đi, sống dưới chế độ Cộng Sản mà anh nghĩ đến chuyện làm ruộng để nuôi một bầy con, đó là chuyện hiện thực huyền ảo.

Cúc nhìn qua khung cửa sổ.

-Hôm nay nắng đẹp quá, mình lên sân thượng ngắm cảnh, uống cà phê đi anh.

Sân thượng nhà tôi khá rộng, trước mặt là rạp ciné Ngọc Hiệp, nhích qua bên tay phải là quán cơm Kim Linh, Như Ý của người Tàu, gồm bốn cái kiosk nối liền nhau rồi đến con hẻm có quán mì quảng nổi tiếng của Đà Lạt.

Tôi và Cúc ngồi trên bộ ghế loại đặc biệt chỉ dùng ở ngoài trời. Tất cả trang thiết bị ở trong nhà, đều do bác Bảy mua sắm nên không thể nào chê được, đẹp, tốt và bền. Nhìn Cúc thong thả nhấp một hớp cà phê, đôi mắt lơ đễnh ngắm đám mây trắng trôi dật dờ ở cuối chân trời, trong lòng đầy sung sướng, tôi cầm tay Cúc rồi chỉ cho nàng hai ngọn núi mờ xa lẩn trong sương mù.

-Ước gì tụi mình được mãi mãi sống bên nhau như thế này, giống như hai ngọn núi Bà, ngàn năm đứng bên nhau cho dù vật đổi sao dời.

Cúc nhìn theo hướng tay của tôi chỉ.

-Vậy mà hồi nào tới giờ, em cứ tưởng đó là đỉnh Lâm Viên.

Tôi gật đầu.

-Đúng, đó là đỉnh Lâm Viên nhưng người dân Đà Lạt gọi là núi Bà.

Cúc thắc mắc.

-Có tới hai đỉnh núi, một ngọn là Bà, ngọn còn lại phải là Ông thì mới đúng chứ.

Tôi cười thích thú.

-Em nói đúng, ngọn bên trái là núi Bà, ngọn bên phải là núi Ông. Núi Bà cao hơn núi Ông chừng bốn chục thước. Em có biết tại sao không?

Cúc lắc đầu.

-Không.

Tôi giải thích.

-Anh chỉ đoán thôi, vì người Lạch theo chế độ mẫu hệ cho nên bà phải cao hơn ông mới hợp lý. Anh sanh đẻ ở Đà Lạt nhưng chưa bao giờ nghe người dân Đà Lạt gọi là “Núi Bà, Núi Ông”, mà anh chỉ nghe họ gọi chung cho cả hai ngọn núi là “Núi Bà”. Còn nếu muốn hiểu rõ tường tận về núi Bà, phải đi xa hơn nữa với câu chuyện cổ tích của người Lạch, kể về mối tình lâm ly bi đát, đầy nước mắt của chàng Lang và nàng Biang. Người dân Lạch lấy tên hai người đặt tên cho hai ngọn núi là LangBiang mà sau này đổi thành Lâm Viên. Chỗ này lại phát sinh thêm mâu thuẫn, nếu theo chế độ mẫu hệ thì bà phải trước ông, ngọn núi phải được đặt tên là BiangLang mới đúng.

Cúc chần chừ giây lát, rồi nói với tôi.

-Cao hay thấp, trước hay sau em không quan tâm, chỉ muốn biết anh đã lên đỉnh Lâm Viên rồi. Phải không?

Tôi hơi ngạc nhiên.

-Ai nói với em như vậy?

-Em nghe mấy đứa bạn của em nói, theo truyền thống của Trường Võ Bị Đà Lạt, tất cả Sinh viên sĩ quan trước ngày lễ gắn Alpha đều phải chinh phục đỉnh Lâm Viên mà.

Tôi than thở với Cúc.

-Khổ quá em à, sao ai cũng lầm hết trơn vậy, anh tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức trên đồi Tăng Nhơn Phú, không dính dáng gì đến đỉnh núi Lâm Viên của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Một đàng là sĩ quan trừ bị, một đàng là sĩ quan hiện dịch, khác nhau hoàn toàn.

Cúc lắc đầu.

-Anh nói gì mà khó hiểu quá, anh là trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt mà, sao anh lại không nhận.

Tôi đành chịu thua Cúc, nhưng cố nói thêm.

-Quan cũng có năm, bảy đường quan, như sĩ quan Không quân, sĩ quan Hải quân, sĩ quan của Binh chủng. Chưa kể những ông quan có chuyên môn đặc biệt như: sĩ quan giáo sư, sĩ quan kỹ sư, sĩ quan nha sĩ, sĩ quan bác sĩ…và nhiều nữa. Mỗi ông quan có một nhiệm vụ khác nhau, không có ông quan nào giống ông nào.

Tôi đang khổ công giải thích cho Cúc hiểu, cái rắc rối của mấy ông quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bất ngờ con Quyên tung cửa chạy tới, ôm lấy Cúc.

-Chị Hai nè, em có tin vui cho chị.

Cúc bẹo má con Quyên.

-Tin vui gì? Em muốn ăn canh chua cá phải không? Hay là em muốn ăn xôi gà? Mấy món đó không phải là tin vui.

Con Quyên nũng nịu.

-Em nói tin vui thiệt mà, hôm qua có thông báo của Ủy ban quân quản, nói về chuyện hoc tập của lính Ngụy. Tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ phải đi học tập ba ngày, sáng đi chiều về, mang theo cơm trưa.

Con Quyên lần mấy đốt ngón tay.

-Tính ra chỉ còn hai ngày nữa là bắt đầu học rồi.

Ngừng một chút, con Quyên nói tiếp.

-Còn phần sĩ quan cấp úy, mang theo mùng mền vật dụng cá nhân, tiền ăn cho mười ngày. Sĩ quan cấp tá và tướng em không muốn nhớ. Em chỉ cần nhớ, thời gian mười ngày cho anh Hai là đủ rồi. Đó không phải là tin vui hay sao?

Cả tôi và Cúc đều mừng rỡ ra mặt, Cúc nắm chặt hai vai con Quyên, lắc mạnh.

-Em nghe có đúng không?

Con Quyên gật đầu, đưa ra tờ giấy.

-Đúng mà chị Hai, em còn ghi xuống giấy nữa nè.

Cúc khen con Quyên.

-Em giỏi thiệt, tối nay chị sẽ nấu xôi gà để thưởng công cho em. Tin vui như vậy, mà sao hôm qua em không nói cho anh chị biết.

Con Quyên liếc nhìn tôi.

-Hôm qua khi em về đến nhà, anh chị đã ngủ khò mất rồi.

Tôi dang hai tay ôm lấy Cúc, hôn khắp mặt mũi của nàng, với giọng vui mừng.

-Từ nhỏ cho đến giờ, chưa khi nào anh có được những giây phút sung sướng, hạnh phúc như hôm nay. Mình phải xuống nhà, nói cho ba má biết để ông bà bớt lo. Anh để ý mấy hôm nay, ba má và em ai cũng buồn xo.

Cúc quay nhìn con Quyên.

-Chị em mình đi chợ mua con gà bự thiệt bự, nấu xôi ăn mừng. Em biết chỗ nào bán gà chợ đen không?

-Chị khỏi lo, cứ theo em thứ gì cũng có.

Sau đúng ba ngày học tập, tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không phân biệt binh chủng, đều được cấp giấy chứng nhận là đã học tập xong và trở thành công dân trong chế độ mới. Chuyện này khiến cho tôi phải trằn trọc suy nghĩ suốt mấy ngày, tôi hồi tưởng lại, năm 1968, Việt Cộng lợi dụng hưu chiến đã tấn công khắp các tỉnh thành Miền Nam, gây nên cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, giết hại hơn sáu ngàn thường dân vô tội ở Huế. Mùa hè đỏ lửa 1972, Việt Cộng đem bốn mươi ngàn quân vây hãm An Lộc, xua xe tăng, đại pháo vượt sông Thạch Hãn, chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Năm 1973 Việt Cộng ký hiệp định Paris, mực chưa kịp khô trên giấy, họ đã xé bỏ.

Tất cả những việc dã man, gian dối, bội ước mà Việt Cộng đã làm trong quá khứ, với tôi đó là những chuyện đã qua. Trong chiến tranh, họ phải làm như vậy nếu muốn thắng đối phương. Hôm nay, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, đã bị tiêu diệt, mối lo không còn nữa, Việt Cộng giờ đây đã hoàn toàn đổi khác rồi, không giống như xưa. Bằng chứng hùng hồn, rõ ràng nhất trong đường lối và chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời là cho hạ sĩ quan, binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa học tập ba ngày, theo thông báo đã đưa ra. Họ đã giữ đúng lời hứa, nói như thế nào, thi hành như thế ấy.

Chuyện học tập của hạ sĩ quan, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã diễn ra suôn sẻ tốt đẹp, khiến tôi hoàn toàn tin tưởng vào chuyện sĩ quan cấp úy chúng tôi, cũng sẽ êm đẹp mau mắn như vậy. Khi thấy được chân lý, tôi thở phào nhẹ nhõm, bao nhiêu lo âu phiền muộn chất chứa trong lòng từ hơn một tháng qua, vụt biến mất. Tôi vui mừng, sung sướng lo chuẩn bị sẵn sàng để đi học tập, mười ngày có là bao, chỉ là một cái chớp mắt thôi mà, đi học cho xong còn trở về với gia đình.

Sáng hôm nay, tôi chuẩn bị mọi thứ để hai giờ chiều sẽ đến ngôi nhà kính gần cầu ông Đạo , trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt đi học tập. Ngoài bộ đồ đang mặc trên người, tôi đem thêm hai bộ quần áo, một cái mùng ni lông, một cái mền poncho dù, kem và bàn chải đánh răng cùng vài thứ đồ dùng lặt vặt. Nhìn cái hộp kem đánh răng quá lớn nên tôi để lại ở nhà, lấy hộp kem mà tôi và Cúc đã dùng hơn phân nửa đem theo. Tôi nghĩ có mười ngày, đem làm gì cho lắm. Mấy ngày trước đó, Cúc mua cho tôi một cái xách tay loại tốt, gọn gàng mà người đi máy bay thường dùng. Sau đó, Cúc bỏ ra một buổi chiều làm cho tôi một hũ ruốc thịt heo kho sả ớt. Cúc nói với tôi.

-Món này để anh ăn với cơm, đông người quá em sợ không đủ thức ăn.

Tôi nhìn cái hũ thủy tinh đựng thịt ruốc to quá khổ, lắc đầu ngao ngán.

-Nhà không có cái hũ nhỏ hơn sao em?

Cúc đặt cái hũ vào trong xách tay.

-Cái này là nhỏ rồi.

Quay người lục trong va ly, Cúc đưa cho tôi một xấp tiền.

-Đây là tiền ăn mười ngày của anh.

Tôi hỏi.

-Bao nhiêu vậy em?

-Mười ngàn.

Tôi càu nhàu.

-Em à, anh đi học tập chứ đâu phải đi du lịch, mỗi ngày anh ăn cơm hay mì gói tốn chừng một trăm, mười ngày khoảng một ngàn.

Tôi rút trong xấp tiền, lấy ra bốn tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa có in hình con cọp màu vàng cam, nhét vào ví của mình. Số tiền còn dư, tôi đưa trả lại Cúc.

-Anh chỉ cần hai ngàn thôi, chừng này là quá đủ rồi.

Cúc với giọng nói đầy âu yếm.

-Nghe lời em đi cưng, thà dư còn hơn thiếu.

Tôi nhắc với Cúc.

-Em có nhớ không, khi gặp lại em ở Sài Gòn, trong túi của anh không có lấy một xu, cái áo cũng không có mà mặc. Nếu không có em, hơn một tháng qua liệu anh có cơm mà ăn hay không, nói gì đến tiền bạc khi đi học tập.

Cúc cầm tay tôi, đẩy nhẹ.

-Anh cứ đem theo để mà phòng thân, nếu tiêu xài không hết thì đem về.

Biết là không cãi được Cúc, tôi ầm ừ cho qua chuyện. Đợi đến lúc Cúc bận rộn sắp xếp hành lý vô cái xách tay, tôi lẹ làng nhét mớ tiền xuống dưới gối của Cúc.

Mười hai giờ trưa, tôi chào ba má tôi để lên đường đi học tập. Cúc ngỏ ý muốn tiễn đưa tôi một đoạn. Hai đứa thả bộ ra phố, men theo con dốc Minh Mạng lên khu phố Hòa Bình. Khi cả hai đã đi khá xa nhà, tôi đưa tay vuốt mớ tóc lòa xòa trên trán của Cúc.

-Về đi, em không nghe người ta nói “Có tiễn nhau ngàn dặm, cuối cùng cũng phải chia tay” hay sao.

Cúc cúi mặt, cố giấu đi đôi mắt ươn ướt đỏ.

-Để em đưa anh thêm một đoạn nữa.

Tôi và Cúc im lặng đi bên nhau, tôi cúi nhìn hai cái bóng ngắn ngủn, di chuyển nhẹ nhàng theo những bước chân của hai đứa dọc theo vỉa hè, một niềm thương cảm chợt đến với tôi khiến lòng mình chùng xuống. Tôi đưa tay tìm bàn tay mềm mại của Cúc, trong lòng muốn nói với nàng bằng thứ ngôn ngữ tình yêu được truyền qua hơi ấm của bàn tay.

Khi tới con dốc Lê Đại Hành Cúc không chịu buông tay ra, lật đật nói với tôi.

-Em đưa anh đến bên kia cầu ông Đạo , tới Ủy ban quân quản luôn.

Tôi nhìn Cúc rồi nói nhỏ.

-Anh đâu có muốn xa em, chỉ sợ chút nữa một mình trên đường về em buồn. Em à chỉ có mười ngày, một cái chớp mắt thôi mà.

Chuyện chó chết!

hung-viet.org

Huy Phương

Posted 7 Tháng Tư 2014

Post by Sơn râu 2 Mar 2025

Khắp nơi trên đất, chó là con vật được đánh giá cao vì sự thông minh, lanh lợi, lòng trung thành, tình cảm chan chứa, và nhất là mối thân hữu tự nhiên đối với loài người.

Ai nói mặc ai, chứ ở cái xứ Việt nam từ xưa đến nay, tôi thấy con chó là thứ súc vật hèn hạ, bị khinh bỉ nhất, được con người Việt Nam dùng trong những câu chửi rủa miệt thị, không hề nương tay. Nói đến gốc gác thì gọi là “đồ chó đẻ,” mạt sát thì gọi là “đồ chó,” thậm chí trong trò chính trị, khi nói đến những tên hoạt đầu, bất tài vô tướng, một sớm một chiều ăn trên ngồi trốc, thì ví von như “chó nhảy bàn độc!”

Con chó chết lại được xem tệ hại hơn là một con chó sống, bằng chứng chửi ai là chó chết nặng gấp mười lần chửi ai là đồ chó… sống!

Mỗi ngày mở trang báo Việt Nam ra, đau lòng thấy bao nhiêu chuyện chó… chết, nói theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nghĩa đen thì nguồn tin từ Việt Nam cho biết, mỗi năm có 3 triệu con chó chết vì bị giết thịt, thời thịnh đạt, có tổ hợp “Liên Hiệp Thịt Chó Nhật Tân” với con số lên đến 25 nhà hàng, như vậy ông chủ của cửa hàng Nhật Tân phải lên hàng Tổng Giám Đốc Thịt Chó.

Đường dây kinh doanh chó xuyên quốc gia cũng được thành lập từ đây với khoảng 300,000 con chó được nhập trái phép từ Thái Lan, Lào về Việt Nam mỗi năm. Như vậy trung bình mỗi ngày có gần 829,000 con chó chết, được đưa lên bàn nhậu, mỗi cửa hàng tiêu thụ khoảng 50 con chó mỗi ngày. Đáng lẽ Việt Nam phải nhập cảng văn hóa phẩm, máy móc điện khí, sản phẩm để tạo tiện nghi trong đời sống của con người và nâng cao dân trí, thì phải nhập cảng chó (chắc là nhập cảng lậu) để thỏa mãn những cái mồm nhầy nhụa thịt, mỡ chó và nồng nặc hơi men, để quên đời, có khi quên đi cái thân phận của mình và chẳng bao giờ nghĩ đến cái khổ của người khác. Con chó nằm trong cũi thấy đồng loại của mình bị đem đi đập đầu, cạo lông còn lồng lộn, gầm gừ, hay chảy nước mắt, nhưng đôi khi con người lại quá thờ ơ và dửng dưng với nỗi đau và cái chết của chính đồng bào mình.

Ngày nào ở Việt Nam cũng có chuyện chó… chết! Con chó bị đập đầu nhưng không phải tại các quán bán thịt chó mà chó chết vì người ăn trộm chó. Khi dân phát giác ra chó mình bị đánh chết hay bị đầu độc cho vào bao bố thì y như thế nào cũng có người trộm chó bị đánh chết để đền mạng chó. Vậy là ở Việt Nam hiện nay cái chuyện… chó nhất là mạng con người còn thua cả con chó.

Ở nước khác, nếu bắt trộm một con chó của hàng xóm, nặng lắm là bị phạt tiền và ở tù 10 tháng theo luật nhà nước, nhưng ở Việt Nam thì trộm chó có thể bị đánh chết theo luật nhà… quê, nôm na là luật… rừng.

Thậm chí là ăn trộm một con gà cũng bị đánh chết, nhưng gà không phải chó, bài đang nói chuyện “chó chết” mà nhảy qua chuyện “gà chết” là lạc đề, mặc dù chuyện “gà chết” hay “chó chết” thì cũng đại loại như nhau.

Nhà cai trị để dân đói và mất đạo đức, bần cùng phải sinh đạo tặc, bắt chó, trộm gà là nhà cai trị quá… chó. Coi mạng người thua con chó, và con người trong xã hội ấy coi chó ngang người hay hơn cả con người thật là lũ… chó!Vài người đổ xô ra đường đánh chết người trộm chó, lại toàn quyền hủy hoại tài sản của người vì họ đã đổ xăng đốt luôn xe. Không phải chủ chó mà người khác cũng hung bạo nhảy vào đánh ké, dù sự việc không can cớ đến mình, vì bản chất hung bạo của con người trong xã hội này. Những người giết người này, chúng ta có thành ngữ là “lòng lang, dạ thú,” tức là có tâm địa của loài lang, là chó… sói!

Về nghĩa bóng thì đất nước Việt Nam hôm nay mỗi ngày xảy ra không biết bao nhiêu chuyện chó… chết.

Một cái cầu treo xô bao nhiêu người xuống vực chết thảm, thì không quy tội người làm cầu mà đổ chuyện cho người đi. Thế có… chó không?

Chuyện công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (Japan Transportation Consultants – JTC) tố cáo đã hối lộ cho các quan chức Đường Sắt Việt Nam, chuyện Dương Chí Dũng đưa hối lộ cho anh mình là tướng công an, tính tiền nghìn, tiền triệu trong khi đồng bào lầm than, đói phải đi ăn trộm chó là hết sức… chó!

Công An đánh dân chết, ra tòa chỉ bị án treo là chuyện quá ư là… chó!

Nomadic Matt, người Mỹ, ký giả du lịch đã được giới thiệu trên CNN, BBC, Yahoo, Times, New York Times, trong bài viết “Tại sao tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” đã tố cáo bọn công an Việt Nam cuồng dâm, đàn áp dân, thường dùng đòn độc bằng đánh vào hạ bộ của phụ nữ! Thật là quá … chó!

Bọn công an đạp vào mặt dân, gậy gộc, roi điện đàn áp dân oan, người biểu tình chống bắt bớ, cưỡng chế đất đai có khác gì bọn khuyển ưng của hoạn thư ngày trước:

“Sửa sang buồm gió lèo mây,

Khuyển ưng (chó và chim ưng) lại chọn một bầy côn quang” (đồ hung dữ, du côn)

Do chữ “côn quang” này mà ngày nay người dân dùng chữ “côn an” để thay thế cho hai tiếng “công an” của cộng sản.

Con người tha hóa, trong một xã hội, không còn cương thường đạo lý, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con như chuyện cơm bữa. Giết chồng, giết vợ xong đem vứt xuống sông, bác sĩ giết bệnh nhân đem phi tang, thầy chùa giết tình nhân đem chôn sau vườn chùa… bạn bè giết nhau chỉ vì một cái điện thoại, mới ăn ngủ với nhau xong, nhẫn tâm đập đầu tình nhân để đoạt tài sản. Ở đâu cũng nghe giết, giết… như khẩu hiệu của “thi hào” Tố Hữu: “Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ…” Trong xã hội này, người ta giết người không gớm tay, còn dễ dàng hơn giết một con… chó!

Ở Việt Nam bây giờ ở đâu cũng nghe hiếp, hiếp! Trưởng ban văn hóa xã cho trẻ em mới học lớp 4 xem phim sex để hiếp. Hiếp dâm để quay phim, tống tình bắt làm nô lệ tình dục! Nữ sinh bị hiếp dâm tập thể trước mặt bạn trai! Nhờ bạn hiếp dâm vợ để lấy cớ ly dị! Cưỡng hiếp chị dâu đang mang thai! Đây là vài chuyện trong muôn vàn chuyện… hiếp, được tường trình trên báo chí trong nước! Một xã hội rất… chó, giống chó vì đã xảy ra quá nhiều chuyện… cẩu hợp!

Một xã hội loạn lạc, lắm điều đốn mạt “thượng hạ giai cẩu” (trên dưới đều “chó,” câu nói của Cao Bá Quát) ngay cả bậc sĩ phu, không xoay chuyển được thời thế, chỉ đành kêu lên những tiếng tuyệt vọng: “chó ơi là chó!”

Chuyện chó còn dài dài, may ra khi chết hết chó, dân chúng không còn món nhậu khoái khẩu, dân tình không còn ta thán chuyện chó, bốn cõi mới yên bình, mong rằng cũng sẽ đến lúc “chó chết là hết chuyện!”

Ngày xưa đi học, tóc còn xanh mướt, làm một bài luận văn mà dùng chữ lặp đi lặp lại (điệp ngữ) thế nào cũng bị thầy giáo gạch bôi đen, gạch đỏ. Hôm nay, tóc đã bạc phơ, viết một bài văn, câu kéo lủng củng, nhất là đếm đi đếm lại có đến 64 chữ “chó,” chỉ vì lòng còn quá buồn phiền, sân hận vì những chuyện chó chết, chỉ xin các bạn thương tình miễn thứ!

Huy Phương

Can trường và sĩ khí

hung-viet.org

Huy Phương

Posted 14 Tháng Giêng 2013

Post by Sơn râu 2 Mar 2025

Nhân Lễ Bách Nhật của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Hôm nay kỷ niệm 100 ngày nhà thơ qua đời, nhớ đến Nguyễn Chí Thiện chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ đến cuộc đời đầy ải, bất hạnh của ông, và ông xứng đáng là biểu tượng cho sự thánh thiện chống lại cái ác, biểu tượng sự thật chống lại sự dối trá.

Nguyễn Chí Thiện đã dùng hết cuộc đời của ông, vắt cạn hết tuổi trẻ, trí tuệ của mình để viết nên những vần thơ, tưởng chừng như vũ bão, sấm sét nhắm vào chế độ cộng sản tàn ác, phi nhân; nhắm đến thủ phạm Hồ Chí minh, đã mang đến thảm họa cho dân tộc Việt Nam, đày đọa hàng chục triệu con người chúng ta suốt nửa thế kỷ lầm than này.

Bất hạnh bởi lớn lên nhầm chế độ, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã chọn con đường của “một nhà văn suốt đời chân thật,” biết ghét và can trường chống lại cái Hiểm Ác, điều Dối Trá, và sự Xấu Xa của chế độ Cộng Sản.

Cũng bởi tôn trọng sự thật, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã vào tù lần thứ nhất, chỉ trong một giờ dạy sử giúp bạn, ông đã không theo kinh điển dối trá của đảng CS để nói rằng lực lượng Hồng Quân của Liên Xô là nguyên do khiến Nhật Bản phải đầu hàng, chấm dứt Thế Chiến Thứ 2. Can trường giữ vững khí tiết với những vần thơ nhắm vào đảng Cộng Sản, ông đã liên tiếp chịu hai lần giam cầm tiếp theo, đã tàn phá hết cả tuổi thanh xuân của ông.

Bằng những vần thơ vào trận, Nguyễn Chí Thiện đã chịu tất cả 27 năm giam cầm trong những trại tù khắc nghiệt, tồi tệ nhất của nhân loại, và chấp nhận cuộc sống 17 năm lưu vong từ năm 1995 cho đến khi ông qua đời.

Máu và nước mắt của ông trong tập thơ đầu tiên đã được ông mạo hiểm đưa vào tòa Đại Sứ Anh với những dòng chữ thống thiết:

“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc.”

Chúng tôi thiết nghĩ không cần nhắc lại những giải thưởng văn học quốc tế dành cho ông, vì thơ Nguyễn Chí Thiện được phổ biến trên thế giới, là tiếng nói oan khuất của những người đang bị áp bức, thiếu tự do, của những ai là nạn nhân của chế độ cộng sản, dù Đông hay Tây.

Nguyễn Chí Thiện có thể có một chỗ đứng xứng đáng nào đó trên văn đàn thi ca thế giới, nhưng gần gũi và đẹp đẽ nhất là ông đang đứng trong lòng bạn bè, đồng bào xa gần, những nhà tranh đấu dân chủ trong nước, đã thương yêu, cảm phục ông, và thơ ông sáng-tỏa trong lòng hàng triệu người là nạn nhân hay đang tranh đấu chống lại chế cộng sản.

Thơ Nguyễn Chí Thiện là vũ khí sắc bén nhất, là ngọn lửa bừng lên từ con tim, từ tiếng nói xót xa của những người bị áp bức, của cả người sống lẫn người chết.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện không nhận mình là thi sĩ hay nhà thơ:

“Thơ của tôi không phải là thơ.

Mà là tiếng cuộc đời nức nở.

Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở.

Tiếng khò khè hai lá phổi hoang sơ.

Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ.

Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ.”

Ông không hề kêu gào, máu trả máu, đầu trả đầu với chế độ đã giết hết hạnh phúc và tuổi thanh xuân của ông cũng như đưa hàng triệu người Việt Nam vào địa ngục với tai ương và bất hạnh.

Đối với ông, trong tương lai, sự thương yêu và tính nhân ái sẽ thay thế độc tài, sắt máu:

“Khai sáng kỷ nguyên Tả Trắng thắng Cờ Hồng…

Tiếng mục đồng êm ả, tình quê bao la

Thay tiếng “Quốc tế ca”

Bằng tiếng diều cao vút trong chiều tà

Trên ruộng đồng quê ta…”

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã cống hiến cuộc đời mình cho lý tưởng, ông không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu, không có cả một mái ấm gia đình.

Ông cho biết thời gian giữa những trại tù, là những ngày đói khổ, phải lo miếng ăn, chưa hưởng được một ngày no ấm, hạnh phúc.

Mang thân phận một nhà văn lưu vong, từ ngày sang Mỹ, tuy không còn chật vật trong cuộc sống, ông vẫn có một cuộc đời đơn giản, chay tịnh, dành dụm từng đồng đô la để giúp cho bạn nghèo ở quê nhà, cho những công cuộc đấu tranh dân chủ trong nước.

Dù đau ốm bệnh tật, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng đã dùng thời gian đi đây đó, nói cho tuổi trẻ, nói cho hải ngoại về khát vọng tự do của đồng bào và về những thủ đoạn gian trá của chế độ Cộng sản ở quê nhà.

Kỷ niệm 100 ngày nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời, chúng ta học hỏi được từ nơi ông: một nhân cách lớn, một thành tâm, thiện chí như cái tên của ông và tấm lòng trăn trở của ông đối với quê hương dân tộc, từ tuổi thanh niên cho đến lúc nhắm mắt buông tay.

Gần gũi ông, trong đời sống hằng ngày mới thấy tấm lòng đôn hậu của ông. Ông không hề lợi dụng tấm lòng tử tế của ai, của cải, phương tiện và cả tình yêu, để giữ khí tiết, vị trí độc lập và thân phận của riêng mình.

Ông là người trọng nghĩa khinh tài, đã có dịp “cho đi nhiều mà chẳng nhận bao nhiêu,” không hề lo lắng cho đời sống cá nhân của riêng ông.

Chúng ta học hỏi ở ông sự can đảm và bình thản tột cùng trước nghịch cảnh, ở trong tù không xin xỏ kêu van; mạo hiểm vào tòa Đại Sứ Anh để lúc ra, biết rằng phải bước thẳng vào xà lim, cùm kẹp mà vẫn làm. Ra đến hải ngoại, ông đã bị bêu riếu, đánh phá, vùi dập, trong trường hợp này, chúng ta mấy ai đã giữ được tâm bình thản như ông. Gần ông mới thấy tấm lòng bình an, tha thứ của ông, tiết trực mà tâm hư, để cho tấm lòng rỗng không, không hề để tâm hận thù, oán trách, giận hờn ai.

Đó chính là thái độ của một kẻ sĩ.              

Trên thế gian này, không có vị giáo chủ nào được ca tụng và tôn sùng mà không bị chửi bới, chỉ trích, xỉ vả.

Đó là số phận của những bậc vĩ nhân.

Điều mà cuối cùng chúng ta cần học hỏi nơi ông, quý báu nhất, là phải luôn luôn giữ vững lòng tin, lạc quan về một tương lai của dân tộc.

“Trong bóng đêm đè nghẹt

Phục sẵn một mặt trời      

Trong đau khổ không lời

Phục sẵn toàn sấm sét           

Trong lũ người đói rét

Phục sẵn một đoàn quân

Khi vận nước xoay vần

Tất cả thành nguyên tử…”

Vì:

“Đảng như hòn đá tảng

Đè lên vận mạng quê hương

Muốn sống trong hòa hợp yêu thương

Việc trước nhất phải tìm phương hất xuống!”

Cả một cuộc đời tranh đấu như thế, nhắm mắt từ giã cuộc đời mà chưa thấy chế độ cộng sản tàn lụi, hẳn lòng ông chưa yên, linh hồn ông chưa siêu thoát. Hình như ông vẫn chưa đi đâu xa, đang ở gần chúng ta để hỗ trợ, công việc chúng ta đang làm, ông đang ở cạnh các nhà tranh đấu dân chủ, đồng bào khổ nạn, để cùng với ông một niềm tin như ông đã viết:

“Tôi tin chắc một điều.

Một điều tất yếu.        

Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu.

Tôi lại nghĩ một điều.        

Một điều sâu thẳm.            

Là đêm tàn Cộng Sản tối tăm.”

 Huy Phương

Theo Người Việt

(Đọc trong buổi tưởng niệm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ngày 8 Tháng Giêng, 2013 tại Đài VHN, Nam California)

Cái ác lộng hành

hung-viet.org

Huy Phương

13 Tháng Giêng 2014

Post by Sơn râu 2 Mar 2025

Xem những đoạn phim ngắn quay cảnh các cô “bảo mẫu” đối xử với các cháu trong bữa ăn tại nhà trẻ Phương Anh trong thành phố mang tên “Bác” vừa được đưa lên Internet, không ai không khỏi giật nảy mình và sau đó không cầm được nước mắt. Giật nảy mình là vì thấy những cử chỉ tàn ác quá đột ngột không ai ngờ trước, như bóp mũi em bé, đút liên tục rất nhanh thức ăn vào miệng em, và khi phải nói là quá đau đớn khi thấy cô “trồng người” dốc ngược đầu em bé vào thùng nước. Khốn nạn hơn nữa là cô “bảo mẫu” bé kẹp đầu em bé vào chỗ kín để rảnh tay đánh tới tấp vào lưng đứa trẻ, cũng như một cô khác lắc em bé như lắc một con gấu nhồi bông, hay đút chỗ thức ăn trẻ vừa nôn mửa ra vào lại mồm đứa bé!

Phản ứng của người xem đoạn phim trên là phải đồng loạt la lên: “Sao lại có loại người ác độc như thế?”

Danh từ Hán Việt “bảo mẫu” mà Việt Nam đang dùng có nghĩa là vú nuôi, bây giờ phải nghĩ đó chính là “ác phụ,” cũng như lối đặt chữ của người trong nước bây giờ: “Lương Y như Hà Bá – Thầy thuốc kiêm Mẹ Mìn”. Chúng ta đặt hy vọng gì cho thế hệ tương lai, khi một cô gái mới 19 tuổi, trong tương lai sẽ là người sinh nở, cho con bú mớm, nuôi dạy con, đã có những lối hành xử như thế!

Nhà trẻ này lấy cớ vì đồng lương của “bảo mẫu” quá ít, cha mẹ mỗi đứa trẻ chỉ đóng một triệu đồng mỗi tháng, trong khi đó phải chi ra bao nhiêu thứ, tốn phí nhất là tờ giấy phép, hay chưa có phép thì phải chi cho công an, phường khóm để làm ngơ cho nhà trẻ hoạt động. Nhưng đây chỉ là lý do đưa ra để biện minh cho sự lơ là nhiệm vụ, chứ không thể nào giải thích cho cái ác lộng hành.

Một ông bố kết hợp với bà dì ghẻ, đánh một đứa trẻ mới lên sáu gẫy một cái xương sườn, xong bỏ vào bao bố, đem vứt ra nghĩa địa gần nhà, cho nó khóc la hết hơi, gọi là để răn đe. Một “lương y” làm đẹp cho phụ nữ, lỡ tay làm chết khách hàng, thản nhiên mang xác đi vứt xuống sông. Một đứa con bất hiếu đi làm về, thấy mẹ bệnh chưa nấu cơm, nổi giận đánh chết mẹ. Một bà vợ đánh chồng đến chết, con thắc mắc thì nói dối, bố uống rượu ăn tiết canh bị nôn ra, xong gói xác chồng đi chôn. Một ông sư tằng tịu với tín đồ lỡ mang thai, đem giết người tình rồi chôn sau vườn chùa. Rất nhiều cô gái lỡ lầm sinh con rồi ném con xuống ao hay vứt vào thùng rác! Những viên công an sẵn sàng đánh chết người vì lý do thi hành nhiệm vụ.

Chúng ta kể sao cho hết những cái ác chúng ta đã nghe, thấy mỗi ngày ở Việt Nam?

Chưa lúc nào cái ác hiện hình nhan nhản và lộng hành trong xã hội như hiện nay, vì nhìn đâu cũng thấy ác, nên con người lâu ngày trở nên chai lì và thấy cái ác của người khác là bình thường, và sẵn sàng làm điều ác như một bản năng mà không thấy.

Ở Việt Nam, sau khi Sài Gòn bị đổi tên, có một tờ báo bán chạy nhất là tờ “Công An TP. Hồ Chí Minh” và có ông ký giả “to lon” nổi tiếng nhất là “ký giả, nhà văn Trung Tướng Hữu Ước,” người cầm đầu tờ báo này trong 17 năm. Ông này đã từng hãnh diện tuyên bố lúc về hưu: “Nhiều báo trên thế giới đã đánh giá hệ thống truyền thông của Bộ Công An Việt Nam là mạnh nhất thế giới so với các hệ thống truyền thông của các nước, kể cả Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc. Hệ thống truyền thông của công an Việt Nam có ảnh hưởng xã hội, có tia ra (*) phát hành lớn nhất, kênh truyền hình cũng là một trong những kênh truyền hình có số lượng người xem nhiều nhất. Như vậy thì tôi đã hoàn thành một sứ mệnh lịch sử rất vinh quang.”

Hệ thống truyền thông của Bộ Công An Việt Nam đã vượt xa các cường quốc văn minh như Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc… vì các cường quốc khác mãi lo chuyện “vô bổ” như phổ biến đến quần chúng những thông tin về văn hóa, khoa học, xã hội, tôn giáo, công dân giáo dục… thì báo đài của Bộ Công An Việt Nam chuyên loan tin hiếp dâm, giết người, cướp của và những hành động tàn độc nhất của con người Việt Nam, tập cho độc giả, từ đứa trẻ con đến ông già làm quen với máu me, chết chóc. Tờ “Công An TP. Hồ Chí Minh” hãnh diện là tờ báo bán chạy nhất, ngày này đã thành một tờ nhật báo “không thể thiếu trong mọi gia đình” để mỗi buổi sáng thức dậy, bên ly cà phê, người dân bắt đầu một ngày với những tin hiếp dâm cắt cổ, đánh mẹ chửi cha, hiếp dâm trẻ nhỏ.

Trong một đất nước dân trí cao, thì con người có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và khao khát những thông tin về nghệ thuật, văn hóa, chính trị, tôn giáo… còn dân trí như Việt Nam dưới chế độ này thì thích nghe ngóng lượm tin, bàn tán chuyện giết người, hiếp dâm, cắt cổ… qua báo Công An và băng tần Công An, mà ông Hữu Ước khoe khoang là báo Công An có số lượng nhiều nhất và kênh truyền hình Công An có số lượng người xem nhiều nhất, điều đó có gì đâu để hãnh diện, mà phải thấy xấu hổ.

Chúng ta ở Mỹ, không thấy có nhật báo Cảnh Sát, cũng chẳng thấy đài truyền thanh, truyền hình riêng của FBI, và người dân mỗi buổi sáng mua tờ nhật báo phải lật xem “Tin Thế Giới” hay mục “Thể Thao” hay trang “Kinh Tế” trước, phải chăng là một đất nước tụt hậu kém cỏi thua nước CHXHCN Việt Nam?

Ông Cao Tuấn, một người trong nước, đã viết trên báo Lao Động là: “Trong khi nhiều người đua nhau thể hiện ‘đẳng cấp’ bằng hình ảnh nhà cao, xe đẹp, hàng hiệu… thì một thông tin từ Bộ Văn Hóa-Thể Thao và Du Lịch đưa ra khiến dư luận không khỏi giật mình: Người Việt Nam đọc trung bình 0.8 cuốn sách/người/năm, khá thấp so với các nước trong khu vực. Thông tin này có thể giúp giải thích đôi điều về cái ác.”

Theo tôi, có lẽ trung bình một năm người Việt Nam không đọc được một cuốn sách nhưng đọc hết 365 tờ báo Công An. Đây là tờ báo chuyên thông tin và đồng lõa với cái ác.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có lần phát biểu: “Người Cộng Sản vì theo chủ nghĩa Karl Max, một chủ nghĩa ‘duy ác,’ không phải ‘duy tâm,’ cũng không phải ‘duy vật,’ nên đã làm cho đất nước chúng ta lâm vào cảnh điêu tàn…” Trong lịch sử nhân loại vào thế kỷ XX, có ba người bị coi là đồ tể lớn nhất, giết hơn 100 triệu người, ngoài Phát Xít Hitler, có hai người Cộng Sản được thần dân CSVN ca tụng hết mình là Staline giết 12 triệu người từ 1924 đến 1953, Mao Trạch Đông với 65 triệu người chết từ 1949 đến 1976, chưa kể đến Hồ Chí Minh và Pol Pot trong danh sách các ác nhân của thời đại.

Phật Giáo có nói: “Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, thấy điều ác nhỏ mà làm!”

Công Giáo cũng có câu: “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy tiếp tục lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-Ma 12:21). Lẽ cố nhiên muốn đẩy lùi cái ác thì xã hội cần phải biểu dương cái thiện, nêu những tấm gương thiện để giáo dục con người về nhân cách sống.

Nhưng trong khi Bác Sĩ Nguyễn Thu Thủy tố cáo vụ tráo đổi thủy tinh thể ở bệnh viện mắt Hà Nội và của chị Hoàng Thị Nguyệt tố cáo giả mạo kết quả xét nghiệm ở bệnh viện Đa Khoa Hoài Đức bị gặp rắc rối, thì Dược Sĩ Trần Kiều Oanh đứng lên tố chuyện ăn tiền hối lộ tại phòng Giám Định Y Khoa, Sở Y Tế Bình Phước, bị đuổi việc.

Ai nói cái thiện luôn luôn thắng cái ác?

Có, nhưng không phải dưới chế độ Cộng Sản!

Huy Phương

Theo Người Việt

(*) “tia ra”: Ông Hữu Ước không để trong ngoặc kép, chữ “tirage”(tiếng Pháp) là số lượng phát hành!

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 2 Mar 2025

Tập 2

Chương 6
Lý Ngựa Ô

Vì muốn dành một sự ngạc nhiên, bất ngờ cho ba má của tôi, cho nên tôi dùng chìa khóa riêng của mình mở cửa, rồi dẫn Cúc vào nhà. Không thấy ai trong phòng khách, tôi kéo Cúc đi ra sau bếp, hai đứa đứng núp sau một cánh cửa. Đưa mắt nhìn qua ô kính nhỏ, tôi thấy má tôi đang rửa chén, ba tôi ngồi nơi bàn ăn, mắt nhìn mông lung qua khung cửa sổ nhỏ và hẹp.

-Bà nghĩ coi, giờ này thằng Quân đang ở đâu?

Vừa nói xong, không để má tôi trả lời, ba tôi thở dài.

-Không biết nó sống chết ra sao rồi !

Má tôi nói mà như muốn khóc.

-Cầu xin Trời Phật giúp nó trốn thoát được ra nước ngoài, tìm gặp vợ nó. Tội nghiệp, con nhỏ hiền lành lại dễ thương quá sức.

Ba tôi than thở.

-Cũng tại phúc phần nhà mình không có, cho nên đã làm đám hỏi rồi mà thằng Quân phải chịu cảnh chia lìa với vợ nó như vậy. Nếu biết được tình thế đổi thay như thế này, tui cho tụi nó làm đám hỏi và đám cưới một lần luôn cho rồi.

Tôi bấm nhẹ vào tay Cúc, nói nhỏ vào tai nàng.

-Em đợi anh một chút.

Nói xong tôi bước vô nhà bếp, hai tay chụm lại làm cái loa.

-Con đây nè.

Má tôi giật mình buông tay, cái chén sành bà đang cầm rớt xuống sàn nhà vỡ tan tành.

Tôi chạy đến, ôm lấy má tôi.

-Má ơi, con về rồi nè má.

Hai tay run run ôm chồm lấy tôi, má tôi nói, giọng nói nghẹn ngào đứt khúc.

-Có..có phải là con không Quân? Má có..mơ không?

Tôi nói thật rõ và chậm.

-Má không có mơ đâu, con về thiệt mà.

Ba tôi đến bên cạnh tôi, ông đưa bàn tay sần sùi, thô nhám nắm lấy tay tôi lắc mạnh, với giọng nói đầy thắc mắc.

-Tại sao con không trốn ra ngoại quốc, mà còn trở về đây làm gì?

Tôi quay người lại ôm lấy ba tôi, miệng nói với ông nhưng trong đầu lại nghĩ đến hai người lính Quân Cảnh đã chận tôi nơi đuôi chiếc phi cơ C130, ở phi trường Tân Sơn Nhất đêm nào.

-Con có trốn đi đó chớ, mà không được.

Tôi quay nhìn Cúc rồi đưa tay ra dấu. Cúc nhẹ nhàng đẩy cửa bước ra với cái va ly trên tay.

Bất ngờ thấy Cúc xuất hiện, ba tôi thảng thốt kêu lên.

-Trời đất ! Hai tháng trước, ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi mà. Sao bây giờ con còn ở đây?

Cúc đặt cái va ly xuống đất, lí nhí trong miệng.

-Thưa ba, con không có đi Mỹ.

Đưa hai tay ôm lấy đầu, ba tôi nói như là than thở, trách móc.

-Trời ơi là trời, con làm ba tức muốn chết được. Con và thằng Quân, cho dù có chết cũng phải liều mình mà trốn đi, tại sao giờ này cả hai đứa đều kẹt lại ở Việt Nam.

Cúc nhìn ba tôi, khi thấy đôi mắt của ông lộ vẻ giận dữ, Cúc ôm ông khóc ngon lành. Má tôi nhìn Cúc, rồi như mủi lòng bà cũng khóc theo. Đưa tay ngăn những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, bà thổn thức.

-Tội nghiệp cho hai đứa con.

Tôi lặng người đứng nhìn mấy người thân của mình, cố gắng đè nén cảm xúc, không để bật thành tiếng khóc rồi vỗ nhẹ vào lưng Cúc.

-Nín đi em, mới gặp lại ba má, mình phải vui vẻ lên chứ.

Nghe tôi nói nhưng phải một lúc sau Cúc mới lau nước mắt rồi hỏi má tôi, giọng nói vẫn còn đầy xúc động.

-Thằng Tý với con Quyên đâu rồi má?

Má tôi cúi người nhặt một miếng miểng sành vỡ dưới đất, miệng nói.

-Tụi nó đi sinh hoạt đoàn thể Thanh thiếu niên tiền phong cứu quốc hay xung phong gì đó rồi, ở nhà chỉ còn ba với má thôi.

Cúc mở va ly lấy ra mấy xấp vải, đưa cho má tôi.

-Con mua xấp vải này để má may quần áo, màu và bông của nó rất trang nhã hợp với tuổi của má, xấp này dày và đậm màu để ba may quần tây, còn mớ này cho thằng Tý với con Quyên.

Vừa nói xong Cúc cúi đầu lục trong xách tay, lấy ra một cái hộp nho nhỏ cỡ bằng gói thuốc lá.

-Còn đây là chai dầu nóng Nhật Bản, con mua riêng cho má. Má để dành khi nào chân tay có nhức mỏi, dùng nó để xoa bóp.

Hai ngày trước tại chợ Bến Thành, khi thấy Cúc mua quần áo cho tôi rồi mua thêm mấy xấp vải cùng vài món đồ lẩm cẩm, tôi cứ nghĩ rằng Cúc mua cho nàng. Hôm nay, khi thấy Cúc chia quà cho mọi người, tôi mới biết Cúc đã tính toán sẵn mọi thứ trong đầu. Với tôi, trước đây Cúc là con gái nhà giàu chỉ biết tiêu xài phung phí. Bằng cớ là một tháng lương trung úy của tôi, chưa chắc mua được cái áo choàng hoặc đôi giày của Cúc, nói gì đến cái xách tay được làm tại Pháp mà Cúc đang dùng. Mọi việc trong nhà, Cúc chỉ cần sai bảo người làm, một lời của Cúc nói ra là một mệnh lệnh, kẻ ăn người ở phải tuân theo. Cúc dư biết, căn nhà mà ba má tôi đang ở là do bác Bảy bỏ tiền ra mua, chiếc xe Honda tôi đang đi, có một nửa là tiền của bác Bảy. Ba má tôi là những người quê mùa dốt nát, thuộc giai cấp nghèo khó trong xã hội, gia đình tôi được sự giúp đỡ, chịu ơn của bác Bảy quá nhiều, nếu phải đền ơn thì không biết đến kiếp nào mới xong. Cúc không cần phải mua quà cáp, để lấy lòng ba má và mấy đứa em của tôi. Dựa vào lối suy luận như trên, tôi có thể kết luận rằng: Những việc làm của Cúc cho ba má tôi ngày hôm nay, tất cả đều xuất phát từ cái tâm của nàng.

Tôi đã từng đi chơi với Cúc nhiều lần, nhưng ít khi để ý đến cử chỉ, hành động cũng như lời ăn tiếng nói của Cúc, cô vợ sắp cưới của mình, bởi vì thiên kiến về cuộc sống con gái nhà giàu như thế nào vốn đã có sẵn trong đầu của tôi. Những thành kiến trước đây của tôi về Cúc, hôm nay đã bị đánh đổ. Bấy lâu nay tôi có mắt mà như mù, đã nhìn lầm về cô vợ mới cưới của mình.

Khi đã hiểu rõ thêm chút tính tình của Cúc, tôi không ngạc nhiên cho lắm khi thấy Cúc nhanh tay lo phụ má tôi quét nhà, nấu cơm.

Phần tôi, chỉ có việc ngồi nơi bàn uống ly nước trà, chờ cơm chín. Hơn cả tháng rồi, hôm nay tôi mới có dịp ngồi chuyện trò với ba tôi. Thôi thì đủ thứ chuyện được nói tới, bắt đầu từ cái chuyện học hành, vô đoàn thể của hai đứa em tôi, tới chuyện sau khi tất cả dân chúng, quân nhân cũng như cảnh sát và Trường Võ Bị Đà Lạt di tản, Thành phố Đà Lạt bỏ ngõ, phải ba bốn ngày sau mới có vài ông du kích tiến vào tiếp thu. Đang nói chuyện, bỗng nhiên ba tôi hỏi.

-Con còn nhớ ông Năm bán bánh xèo bên hông tiệm sắt, ở ngã ba đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ không?

Tôi trả lời mà không cần suy nghĩ.

-Nhớ chớ, con với ba đã có lần ăn bánh xèo ở đó rồi mà.

-Ba cũng nhớ chớ sao không, bởi vậy ba mới hỏi, ngày trước con có ỷ mình là trung úy rồi hống hách hay hiếp đáp gì ông ta hay không?

Tôi cười vì câu hỏi quá sức thật thà của ba tôi.

-Ba à, trung úy không là cái gì hết, chỉ cần phạm một lỗi nho nhỏ về quân phong quân kỷ thôi, như mặc quần mà không gom ống cho gọn hay để tóc dài chưa kịp hớt, cũng đủ để Quân Cảnh còng đầu, bỏ tù ngay lập tức, huống gì mang cái tội về hình sự, hiếp đáp dân lành. Ba có biết không, một trong sáu điều tâm niệm của người lính Việt Nam Cộng Hòa là không được làm mất lòng dân, con là trung úy nên phải triệt để thi hành, lấy câu nói đó làm phương châm khi giao tiếp với mọi người. Có bao giờ con làm mất lòng ai đâu. Còn quán bánh xèo ông Năm thì quá quen đối với con, tuần nào con lại không ghé đến đó một hai lần. Vì quen biết như vậy, nên khi đổ bánh xèo cho con, ông Năm thường ưu ái thêm vào cái bánh một hai con tôm gọi là tặng cho khách quen đặc biệt. Mối giao tình giữa con và ông ấy rất tốt.

Ba tôi với giọng nói dè chừng.

-Theo ba nghĩ, lúc còn Việt Nam Cộng Hòa, với bất cứ ai ông Năm cũng đối xử vui vẻ niềm nở, thậm chí còn khúm núm thưa bẩm nữa là khác.

-Con không có binh ông Năm, nhưng ba nói hơi quá, ai làm ăn buôn bán cũng phải nể trọng, chiều chuộng khách hàng, ông ta hành xử như vậy có gì là lạ đâu.

Ba tôi hứ trong cổ họng.

-Lạ chớ sao không, con có biết ông ta là ai không, gốc gác như thế nào?

-Con làm sao mà biết được.

-Sở dĩ, ông Năm nhún nhường như vậy, bởi vì ông ta đóng kịch để che giấu cái gốc Việt Cộng nằm vùng của ông ấy. Nhờ đóng kịch khéo léo cho nên một cán bộ gộc, sống ngay trước mắt các cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng Hòa mấy chục năm rồi, mà không bị phát giác. Hiện tại ông Năm là chủ tịch hay là phó chủ tịch tỉnh của mình, mỗi khi ông ta đi đâu đều có hai ông lính Việt Cộng, súng đạn đầy người theo sát bên hông để bảo vệ ông ta. Mới hôm qua, ba gặp ông Năm trước trụ sở khu phố, thoáng thấy ba, ông ngoắt ba lại rồi hỏi “Cậu Quân, con của ông về chưa?”. Ba chỉ ăn ở quán bánh xèo ông Năm có một lần duy nhất, đó là lần đi với con, vậy mà gặp ba là ông ấy nhớ liền.

Nghe ba tôi nói mà tôi giật mình, ngồi trong nhà mát lạnh mà trán của tôi rươm rướm mồ hôi. Bao nhiêu năm rồi, tôi tiếp xúc với một cán bộ gộc của Việt Cộng, lúc nào cũng đùa giỡn với ông ta, đùa với lửa mà hoàn toàn không biết. Tôi nhấp một ngụm trà, cố nuốt trôi cái đăng đắng nơi cổ họng, rồi nói.

-Hôm nay, ba nói con mới biết.

Ba tôi với giọng nói chậm rãi.

-Đổi đời rồi, ba chỉ muốn nhắc nhở để con chuẩn bị tinh thần.

-Dạ con nhớ rồi.

Tôi nhìn qua bếp, má tôi múc thức ăn ra dĩa rồi lên tiếng.

-Hai cha con chuẩn bị ăn cơm.

Cúc bưng lên hai chén nước mắm ớt, mỗi chén có một cái trứng luộc và một dĩa bắp sú xào mỡ, tôi là dân Đà Lạt nên gọi bắp cải là bắp sú. Thức ăn bữa trưa của bốn người, chỉ có vậy. Tôi nhìn dĩa bắp sú xào trên bàn, rồi nói đùa với má tôi.

-Tụi con mới về, bữa cơm đoàn tụ mà má cho tụi con ăn chỉ có một món bắp sú thôi sao? Mà má à, tại sao bắp sú lại xắt nhỏ và có màu nâu như vậy?

Má tôi giải thích.

-Đây là bắp sú phơi khô, chuyện như thế này, lúc dân Đà Lạt di tản hết rồi, người không nhà trống tuy nhiên rau cải đã đến kỳ hạn mà không có người thu hoạch, để mặc ngoài vườn cho hư thối. Một vài người dân nghèo tiếc của, họ chặt rồi gánh bắp sú ra phố đi bán dạo. Của đổ mà hốt, được đồng nào hay đồng nấy.

Má tôi xới cơm ra chén.

-Con có biết không, một gánh bắp sú nặng năm, sáu chục kí-lô, bán chỉ được một trăm đồng. Nội cái chuyện gánh mấy cây số từ vườn ra tới phố, tiền công gánh, cũng phải gấp năm lần tiền bán sú. Với một trăm đồng, họ mua chưa được một kí gạo, cho nên người ta không bán sú để lấy tiền, mà chỉ đổi lấy gạo. Thấy hoàn cảnh khổ cực của mấy người bán bắp sú, ba của con đổi cho họ, hai kí lô gạo lấy một gánh sú. Hình như, những người bán bắp sú thấy chuyện trao đổi với ba của con là có lợi nhiều nhất cho họ, cho nên vài ngày sau đó, người ta lại gánh đến trước nhà thêm vài gánh nữa. Ba con đồng ý đổi cho họ, nhưng dặn thêm lần tới sẽ không đổi nữa, vì hết gạo và nhà mình đã thành cái vựa bắp sú rồi. Với mấy trăm kí lô bắp sú, ba con xắt nhỏ, phơi khô rồi đóng vô bao bố. Cả tháng rồi nhà mình ăn cơm với bắp sú khô xào, rồi bắp sú khô luộc, đến nỗi thằng Tý với con Quyên nói, thấy bắp sú khô là tụi con ớn lên tận cổ.

Tôi hỏi má tôi.

-Trong nhà còn gạo nhiều lắm phải không má?

Má tôi lắc đầu nguây nguẩy.

-Làm gì có, trước khi Đà Lạt di tản, có bao nhiêu tiền má gom góp lại đem hết đi mua gạo, được đâu một trăm kí. Nhà mình có bốn người, ăn dè sẻn cho đến hôm nay, cũng hết quá phân nửa rồi.

Cúc đang ăn cơm ngẩn nhìn má tôi.

-Ngoài chợ có bán gạo không má?

-Có đó nhưng mà mắc lắm, mua không nổi đâu.

Cúc thắc mắc.

-Nếu như vậy, khi hết gạo, thì lấy gì để ăn?

Má tôi với giọng nói bình thản.

-Trời sinh voi sinh cỏ con à, mình đã lo rồi mà không được, phải đành chịu thôi.

Nghe Cúc và má tôi nói chuyện, tôi nghĩ đến người Lạch ở trong buôn làng mấy chục năm trước, chặt được một gùi củi đem ra chợ Đà Lạt, đổi lấy vài kí lô muối hột. Hôm nay chuyện trao đổi lại tái xuất hiện, chỉ khác biệt là người dân làm vườn trồng rau cải, suốt ba, bốn tháng trường, chăm lo tưới nước, bón phân, xịt thuốc sâu. Đến khi thu hoạch gặp lúc tai trời ách nước, gánh một gánh bắp sú nặng oằn vai ra phố Đà Lạt, đổi lấy hai kí lô gạo.

Bữa cơm gia đình chấm dứt trong bầu không khí đầy lo âu, tôi đưa Cúc về phòng riêng của chúng tôi ở tầng ba. Hai tay vịn lấy lan can nơi cầu thang, vừa đi Cúc vừa nói.

-Anh chở em ra phố chút xíu thôi, được không?

-Đi liền hả?

-Dạ, đi liền.

Tôi lái chiếc Honda hai bánh của mình, chở Cúc chạy chầm chậm vòng quanh khu phố Hòa Bình. Chung quanh tôi, không bóng dáng một chiếc xe hơi, chỉ có cờ đỏ với sao vàng ủ rủ trong nắng chiều, lác đác vài khách bộ hành áo quần lem luốc đi trên hè phố. Cà phê Tùng rồi nhà hàng Mê Kông, tiệm thuốc bắc Đức Xương Long, bánh mì Vĩnh Chấn cùng tất cả mọi cửa hàng đều đóng kín. Cúc đập nhẹ vào vai của tôi, rồi nói nhỏ.

-Mình chạy xuống chợ đi anh, em muốn mua ít đồ.

Tôi cho xe đổ dốc Lê Đại Hành, đi vòng quanh vòi phun nước gần cà phê Hạnh Tâm rồi quẹo vô chợ Đà Lạt. Giống như Khu phố Hòa Bình, những tiệm tạp hóa quanh chợ đều đóng cửa im ỉm. Trong chợ, chỉ một số ít sạp hàng là có người buôn bán, trong đó có vài gian hàng thực phẩm khô, còn lại, hầu hết là những sạp bán rau cải tươi của Đà Lạt.

Cúc mua một mớ tôm khô, cá khô, rau củ tươi, thêm mấy bao gạo, mỗi bao chỉ có mười kí lô. Người bán kéo bao gạo giấu ở dưới chân đưa cho Cúc, đôi mắt của bà ta lén lén lút lút nhìn ngang, liếc dọc như sợ có người trông thấy.

Cúc hỏi bà bán hàng.

-Tại sao mỗi bao chỉ có mười kí, có bao một trăm kí không bà?

Bà bán hàng nói.

-Cô di tản xuống Sài Gòn, mới trở về Đà Lạt phải không?

-Sao bà biết?

-Gạo là món hàng thuộc quyền quản lý của nhà nước, bao gạo chỉ xanh một trăm kí làm gì có nữa, cô có thấy mấy tiệm gạo bên hông chợ không, nhà nước đã tịch thu hết gạo rồi, còn đâu nữa mà bán. Số gạo mà tôi giấu ở đây là gạo chợ đen, gạo lúa rẫy trồng ở Tùng Nghĩa, phải bán chui, bán lén, trốn tránh sự kiểm soát của nhà nước.

Đang nói chuyện với Cúc, bà bán hàng quay qua nhìn tôi phân bua.

-Cậu nghĩ coi tôi nói có đúng không, ở vào thời buổi gạo châu củi quế, kiếm được đồng tiền không phải dễ, làm việc đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được, tiền đâu mà mua bao gạo chỉ xanh một trăm kí lô. Cho nên, tôi đóng mỗi bao mười kí cho dễ mua bán và chuyên chở.

Nhìn mớ hàng quá nhiều mà Cúc vừa mua, tôi phải dặn Cúc ngồi trong chợ, đợi tôi chở gạo và mấy món đồ khô về nhà, sau đó sẽ chạy ra đón Cúc về.

Khi tôi trở lại chợ, Cúc đang đứng bên mấy bị gạo mới mua thêm với đủ mọi thứ thực phẩm đựng trong hai cái giỏ xách to. Tôi đùa với Cúc.

-Em định dọn hết cái chợ Đà Lạt về nhà mình phải không? Có muốn dọn cũng phải kin kín một chút, coi chừng đám cách mạng ba mươi.

Tôi lái xe mà đầu óc cứ suy nghĩ vẩn vơ, mấy hôm nay tôi thấy Cúc tiêu xài khá nhiều, suốt mấy ngày qua một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu của tôi “Cúc còn bao nhiêu tiền?” Nghĩ như vậy nhưng tôi không dám hỏi thẳng Cúc, bởi vì từ trước cho đến giờ, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi chuyện mình là kỹ sư đào mỏ.

Cúc đã nấu xong cơm chiều, mãi đến lúc trời tối mịt hai đứa em của tôi mới về đến nhà. Khi thấy vợ chồng tôi, cả hai đứa đều vui mừng chạy lại ôm lấy Cúc, tụi nó coi như không có tôi, không có ông anh đứng bên cạnh. Chuyện cũng phải thôi, trước đây mỗi khi tới nhà tôi, Cúc đều mua quà cho cả hai đứa, khi thì bánh kẹo, lúc thì đồ chơi thậm chí một đôi lần còn cho tiền, con nít gặp bà chị dâu như vậy, không thương cũng uổng.

Hai đứa em của tôi, mặt mày tươi rói khi ngồi vô bàn ăn, thằng Tý nói.

-Ăn cơm tối mà giống như nhà có tiệc, Chị Hai nấu phải không?

Má tôi cười, nụ cười đầy sung sướng.

-Chị Hai tụi bây chứ còn ai vô đây.

Con Quyên láu táu.

-Mấy tháng rồi, con mới thấy miếng thịt heo ba chỉ, con ăn được không?

Cúc mời ba má tôi ăn cơm, rồi nói với hai đứa em.

-Hôm nay, nhà mình ăn thịt heo luộc cuốn bánh tráng, chấm mắm nêm, sau đó mới ăn cơm với thịt heo kho tàu. Mấy đứa ăn bao nhiêu cũng được, chị mua nhiều nhưng cũng đừng ăn mỡ nhiều quá, coi chừng đau bụng.

Bầu không khí trong nhà vui vẻ, ấm cúng lạ thường, bao nhiêu chuyện xưa tích cũ cũng như những gì đã xảy ra trong tháng vừa qua, đều được đem ra kể lại.

Ba tôi vừa ăn vừa nói với Cúc.

-Cúc à, nhân dịp cả nhà đầy đủ, ba muốn nói với con chuyện này, căn nhà này là nhà của con, tối nay con muốn ở phòng nào, con cứ chọn.

Cúc nói với ba tôi.

-Tụi con ở căn phòng trên lầu là được rồi, mà tại sao ba nói như vậy.

Ba tôi từ tốn giải thích cho Cúc hiểu.

-Mấy năm trước, anh Bảy có nói với ba hãy bán căn nhà ở Trại Hầm, mua căn nhà nơi phố mà ở. Ba với má không chịu nhưng anh Bảy nói với ba “Anh chị phải mua nhà ở phố, khi thằng Quân cưới con Cúc, tụi nó mới ở chung với anh chị, lo phụng dưỡng anh chị lúc tuổi già. Nếu anh ở Trại Hầm, căn nhà gỗ nhỏ như vậy làm sao đủ phòng cho sáu, bảy người”. Nghe anh Bảy nói, ba đã ngầm đồng ý vì ảnh nói đúng ngay ước mơ của ba, nhưng mà ba không có tiền, nội cái chuyện ăn uống trong nhà đã thiếu trước hụt sau, đào đâu ra tiền để mua nhà ở phố. Thấy ba im lặng không nói gì anh Bảy mới nói thêm “Tôi mua căn nhà ở phố nhờ anh đứng tên, mai mốt thằng Quân với con Cúc làm đám cưới xong, tụi nó dọn về ở với anh chị. Nếu anh chị chê không thèm ở đó, thì sang tên lại cho con Cúc.”

Ba tôi cúi đầu, trầm ngâm một chút.

-Cúc à, con có biết không, anh Bảy mua căn nhà này là mua cho con, vậy mà tháng trước ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi, khiến ba như bị hụt chân không biết xử trí ra sao với căn nhà, bây giờ có con về đây, ba thấy nhẹ nhõm cả người.

Cúc cười, nụ cười đầy vẻ tinh nghịch rồi nói với ba tôi.

-Ba với má bị ba con lừa rồi, ổng nói với ba như vậy vì ổng muốn ba dọn về ở đây cho tươm tất hơn thôi. Thật ra, ba con đã xây cho con một cái biệt thự to lớn với đầy đủ tiện nghi ở đường Nguyễn Tri Phương, cái biệt thự xây gần xong, đang chuẩn bị mua sắm bàn ghế, con đã phải bỏ chạy, chắc giờ này cũng bị Việt Cộng lấy mất rồi.

Cúc ngưng nói, nhìn về phía phòng khách.

-Cũng may là còn cái nhà này của ba má, mà hôm nay tụi con mới có chỗ để trú ngụ. Con với anh Quân ở căn phòng trên lầu ba đã quá sức rộng rãi, quá tiện lợi. Ba má đừng có suy nghĩ nhiều cho mệt sức.

Con Quyên cắn miếng thịt heo kho tàu, vừa nhai ngồm ngoàm trong miệng vừa nói:

-Chị Hai nè, chị là số một, em thương chị nhất nhà, thương hơn ba má em luôn, tối nay em ngủ với chị nghe.

Má tôi nhìn con bé.

-Có phải chị Hai cho con ăn thịt heo kho, nên con mê Chị Hai phải không? Chị Hai là của anh Hai, con không được giành.

Bữa cơm đoàn tụ gia đình đã đem đến thoải mái, vui vẻ cho mọi người. Cơm nước vừa xong, tôi đưa Cúc về phòng. Khi đã đi qua khỏi phòng khách, tôi cười rồi nói đùa với Cúc.

-Để anh cõng em lên lầu.

Hai gò má ửng hồng vì mắc cỡ, Cúc đập nhẹ lên vai của tôi.

-Đừng có giỡn, ba má thấy kỳ chết.

Tôi nói với Cúc giọng chắc nịch, đầy tin tưởng.

-Em không nghe má nói sao, Chị Hai là của anh Hai mà. Nghe theo lời dạy của má, bây giờ anh Hai phải cõng chị Hai lên lầu.

Nói xong, không đợi Cúc có đồng ý hay không, tôi nghiêng vai cúi người xuống.

Cúc cười khúc khích choàng hai tay qua cổ, thì thầm vào tai của tôi.

-Chỉ sợ em nặng quá, anh cõng không nổi.

Máu anh hùng rơm chợt nổi lên, tôi hỏi Cúc.

-Em bao nhiêu kí?

-Bốn mươi tám.

Tôi bĩu môi.

-Nhẹ hều, em có biết không, ngày xưa khi còn học ở quân trường Thủ Đức, mỗi lần đi bãi chiến thuật xa hàng chục cây số, lưng anh mang ba lô, vai vác cây súng đại liên M60, tay xách một thùng sắt đựng hai trăm viên đạn, anh coi như không có.

Sở dĩ tôi nói như vậy, vì biết Cúc hoàn toàn mù tịt về quân trang cũng như quân dụng của lính, cho nên tôi tha hồ nói hươu nói vượn mà không sợ bị lộ tẩy, thậm chí nếu lỡ có sơ suất nói với Cúc là cây súng đại liên M60 nặng bốn mươi tám kí lô, Cúc cũng sẽ tin ngay. Thực ra, cái ba lô tôi mang lép kẹp chỉ có vài cuốn vở ở bên trong, còn cây súng đại liên M60 nặng khoảng mười kí, chỉ chừng đó thôi mà tôi đã đổ mồ hôi cục, thở muốn hụt hơi khi tới được bãi học. Sức đâu mà xách thêm thùng đạn, Sinh viên sĩ quan chứ đâu phải con lạc đà mà mang vác nặng như vậy.

Lên được mươi bậc thang, tôi giả vờ như mình mệt lắm đi chậm lại miệng thở hổn hển.

-Em có nhớ, ngày xưa khi mình đi tắm biển ở Vũng Tàu không?

Cúc nói qua hơi thở.

-Em nhớ suốt đời, khổ đau mới mau quên, còn hạnh phúc thì làm sao quên được.

Tôi góp ý.

-Cũng tùy thôi, với anh bỏ lỡ cơ hội sẽ làm mình nhớ suốt đời.

Lợi dụng lúc đang cõng Cúc, tôi bấm nhẹ vào đùi của nàng.

-Hồi đó, khi thấy em từ dưới bãi biển vắng người đi lên, một mình em giữa trời đất bao la, vây quanh bởi nước xanh, mây trắng, cát vàng. Em có biết không, khi nhìn thấy thân hình của em lồ lộ, đẹp tuyệt mỹ với làn da trắng mịn màng trong bộ bikini xanh lợt, lúc ấy anh chỉ muốn ôm lấy em, nhưng…

Tôi chắt lưỡi như là tiếc rẻ.

-Hồi đó anh không dám, phải chi được như bây giờ.

Cúc hỏi.

-Như bây giờ, thì anh làm gì?

Tôi mỉm cười đắc ý.

-Ôm hôn em liền chứ còn chờ đợi gì nữa mà hỏi.

Không nghe Cúc nói gì, tôi quay đầu nhìn lại.

-Em có biết bài dân ca “Lý Ngựa Ô” không?

Cúc gật đầu.

-Biết.

Tôi hát nho nhỏ, chỉ vừa đủ cho Cúc nghe.

“Là đưa í a, anh đưa nàng.
Anh cõng nàng về dinh”.

Chuến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 2 Mar 2025

Tập 2

Chương 5
Cây cầu trên sông Đa Nhim

Xe chạy được hơn nửa giờ trên Quốc lộ 20, khúc đường này cong queo, ngoằn ngoèo như một con rắn, tôi quay đầu nhìn sang bên phải, cây cối thi nhau chạy giật lùi trong cánh rừng thưa đầy lau sậy với những bụi tre gai mọc chen chúc. Thỉnh thoảng xen vào giữa vùng đất hoang dọc theo quốc lộ, là mươi ngôi nhà tranh vách đất xiêu vẹo ngả nghiêng, xóm không ra xóm, làng không ra làng. Cho đến khi xe qua khỏi đèo Ông Cố một đoạn khá xa, tôi nhìn thấy cầu Đại Ninh sơn toàn một màu trắng, hiện ra sừng sững trước mắt. Cây cầu này, tôi đã đi qua, đi lại nhiều lần vào những năm Quốc lộ 20 còn an ninh, chưa bị Việt Cộng đắp mô, chận đường xe đò để thu thuế. Cầu Đại Ninh được đúc bằng bê tông cốt sắt rất kiên cố, ánh nắng ban mai của mặt trời chiếu sáng cả một vùng quanh cầu, khiến tôi có cảm tưởng như mình đang sống trong mơ.

Tôi vẫn còn nhớ như in, dưới ánh sáng dìu dịu của hàng chục ngọn đèn néon trong phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, Đại úy Thi công binh của trường, đứng nghiêm trước mặt Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng “Trình Thiếu tướng, tôi đã giật sập cầu Đại Ninh rồi”. Đang làm việc nhưng tôi vẫn lén nhìn, gương mặt của Đại úy Thi trông bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến công tác đầy khó khăn nguy hiểm. Với gương mặt đó, giọng nói đó, tôi biết Đại úy Thi nói thật, có nghĩa là ông ấy có cho nổ mìn cầu Đại Ninh. Như vậy, tại sao cho đến hôm nay, cây cầu vẫn còn đó, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Chuyện về cây cầu Đại Ninh không bị vùi sâu dưới lòng sông Đa Nhim, chỉ có Đại úy Thi mới có câu trả lời chính xác, rõ ràng mà thôi.

Minh giảm bớt tốc độ, cho xe chạy từ từ qua cầu. Khi xe đến giữa cầu, đột nhiên Minh rà thắng, chiếc xe chạy chậm hẳn lại. Tôi nhìn về phía trước, trên mặt cầu chỗ mí nối, nơi mà hai tấm bê tông khổng lồ với bề dày hơn cả một thước tây, tiếp giáp nhau. Mặt đường ở đây bị sụp xuống tạo ra độ chênh lệch, một bên thấp, một bên cao khoảng năm, sáu tấc. Vết sụp chạy dọc theo bề ngang từ trái qua phải của cầu. Một thân cây thông khá lớn, đường kính cũng vào khoảng sáu tấc được thả xuống dọc theo vết nứt, nhờ vậy mà xe cộ vẫn có thể lưu thông được, tuy có hơi khó khăn chút đỉnh. Bất chợt một tia sáng lóe lên trong đầu, tôi hấp tấp nói với Minh:

-Anh ngừng xe lại cho tôi xuống đây.

Minh nói nhanh.

-Luật không cho phép ngừng xe ở giữa cầu.

Tôi cằn nhằn.

-Anh là một người quyền biến lanh lẹ, tại sao anh lại có thể nói một câu ngớ ngẩn như vậy. Từ tối hôm qua tới giờ, tôi đếm được ba chiếc xe chạy ngược chiều với mình, đường sá vắng tanh, không một đồn bót, không một trạm kiểm soát. Lính Việt Cộng còn đang lo ăn mừng chiến thắng, Quốc lộ 20 này, ngày hôm nay coi như là của riêng anh. Anh ngừng xe lại cho tôi xuống thì đã sao, có chết thằng Tây nào không? Hay là anh sợ lính Việt Cộng tịch thu bằng lái xe của anh.

Minh hỏi tôi.

-Tại sao cậu muốn xuống ở đây?

-Tôi cần tìm hiểu chút việc riêng.

Khi xe đã dừng hẳn lại, tôi phóng cái ào ra khỏi xe, miệng nói to với Cúc mà mục đích là muốn cho Minh nghe luôn.

-Em với anh Minh, qua khỏi cầu rồi đợi anh ở đó.

Tôi đứng trên thân cây thông, ngay mí nối giữa cầu, đưa mắt nhìn quanh. Mặt đường chỉ bị hư hại nhẹ tại một điểm. Thiệt hại nặng nhất của cây cầu, là độ chênh lệch cao thấp khoảng sáu tấc giữa hai tấm bê tông khổng lồ.

Từ giữa cầu, tôi thong thả vừa đi vừa đếm cho đến khi qua hết cầu, tất cả được một trăm hai mươi bước. Tôi biết, khoảng cách trung bình giữa hai bước chân của tôi là bảy mươi phân, như vậy một nửa cây cầu, sẽ có chiều dài khoảng tám mươi lăm mét.

Tôi bước lên xe, câu đầu tiên tôi hỏi Minh.

-Bên Nhảy Dù, anh Minh có biết gì về việc sử dụng mìn và chất nổ hay không?

Minh nổ máy xe, gài số rồi nói với tôi.

-Lính như tôi thì mù tịt về chuyên môn, tôi hoàn toàn không biết gì về chất nổ, còn về mìn claymore, thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào cũng đều sử dụng thuần thục. Trước khi gài một trái mìn claymore, tôi chỉ cần nhớ mấy động tác sau đây: ôm cái mặt lõm của trái mìn áp vào bụng, hướng mặt lồi về phía địch, đặt trái mìn xuống đất, gắn ngòi nổ, kéo dây điện, kích hỏa bằng cách bấm vào con cóc. Tất cả sự hiểu biết của tôi về mìn claymore chỉ có vậy. Ngoài ra, tôi không biết gì hơn nữa.

Tôi cười với Minh.

-Tôi cũng như anh thôi, sau gần bảy năm làm việc ở Trường Võ Bị, bao nhiêu bài học về mìn cũng như chất nổ ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi gởi trả lại cho huấn luyện viên hết rồi. Có điều này, tôi muốn hỏi anh. Tết Mậu Thân, khi anh tung trái lựu đạn để diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt, anh có nhìn theo cho đến khi nó nổ hay không?

Minh cười trong cổ họng.

-Trước khi quăng lựu đạn, tôi đã liếc mắt tìm sẵn nơi an toàn. Khi trái lựu đạn rời khỏi tay, tôi núp ngay lập tức, ở đó mà coi với ngó. Tuy vậy do kinh nghiệm nơi chiến trường, tôi cũng biết được một điều, thông thường lựu đạn chạm đất rồi mới nổ, miểng lựu đạn sẽ bung mạnh lên trời theo hình chữ V, hình cái nón lá lật ngửa.

Tôi nói.

-Anh Minh nhớ giùm tôi cái điểm này.

Minh hỏi.

-Tại sao tôi phải nhớ.

-Chút nữa tôi sẽ giải thích cho anh biết.

Tôi nhắc Minh.

-Anh còn nhớ không, lúc ở Sài Gòn tôi có nói với anh là cầu Đại Ninh đã bị giật sập. Vậy mà, trong thực tế cây cầu vẫn còn nguyên vẹn như anh thấy đó. Để giải thích tại sao có chuyện như vậy, cách suy luận của tôi như thế này, anh Minh nghe thử coi có hợp lý không? Khoảng tám giờ tối của hơn một tháng về trước, Đại úy Thi công binh Trường Võ Bị, nhận được khẩu lệnh trực tiếp từ Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đi phá cầu Đại Ninh. Đại úy Thi dùng một chiếc xe dodge chở đầy hợp chất C4, cùng với bốn người lính công binh của ông ta đi phá cầu. Mười một giờ đêm, năm người đến nơi, họ dừng xe trên cầu Đại Ninh rồi quan sát hiện trường. Dưới sông, ở độ sâu ước chừng mười lăm thước, từng làn hơi nước lạnh lẽo từ mặt sông Đa Nhim bốc lên cộng với những cơn gió rét lùa qua vách núi, lòn dưới chân cầu. Cái lạnh thấu xương của núi rừng cao nguyên vào lúc nửa đêm về sáng, khiến cho mọi người run cầm cập. Tối hôm đó, nếu tôi nhớ không lầm thì hình như là đêm rằm hay mười sáu gì đó. Cho dù là có ánh trăng, cũng không đủ soi sáng khắp dưới gầm cầu, để lính công binh thực hiện công tác đặt chất nổ. Thường thì khi muốn phá sập một cây cầu, người ta phải cột chất nổ vào chân cầu, vì đó là điểm trọng yếu của nó. Chân cầu gãy, cầu sẽ sập. Những người lính công binh của Đại úy Thi, không phải là biệt kích, làm sao họ có thể treo mình dưới những sợi dây dài hàng chục mét, đánh đu bên hông hoặc dưới gầm cầu tối đen, để cột chất nổ vào chân cầu. Nội cái chuyện đong đưa trong gió như là làm xiếc, cũng đủ cho mấy anh lính công binh mất hồn, sơ ý sẩy tay là rơi tòm xuống sông, kể như toi mạng. Chuyện mỗi anh Công binh phải ôm theo vài chục kí chất nổ để cột vào chân cầu, gài ngòi nổ, chạy dây dẫn điện, đó là chuyện làm không tưởng, ngoài khả năng của họ.

Minh chận ngang.

-Cậu Quân nói là cậu không biết gì về chất nổ, sao cậu lại có thể diễn tả một cách rành rọt như vậy.

Tôi cười.

-Tất cả từ ciné, tôi coi nhiều phim chiến tranh với những toán Biệt kích quân được huấn luyện thuần thục, công tác của họ là xâm nhập vào đất địch, dùng chất nổ phá hoại cầu cống, đường xá của đối phương. Kiến thức về phá cầu, là do tôi học được trong những phim chiến tranh.

Tôi ngưng nói, quay tìm lon nước bên chỗ Cúc ngồi, ực một hơi rồi mới nói tiếp.

-Không thể làm gì khác vì những khó khăn, trở ngại như trên, Đại úy Thi sau khi quan sát hiện trường kỹ càng ông de xe đến giữa cầu, ra lịnh cho lính của ông ta đem tất cả chất nổ từ chiếc xe dodge xuống, sắp thành đống ngay mí nối giữa cầu Đại Ninh, chỗ cây thông mà anh vừa cho xe chạy qua, gắn ngòi nổ. Khi mọi việc xong xuôi, Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta lăn cuộn dây điện về phía bên này cầu, thuộc địa phận Đà Lạt. Khoảng cách từ khối chất nổ, cho đến nơi an toàn mà Đại úy Thi cùng lính của ông ta ẩn nấp, ít ra cũng phải hơn tám mươi lăm mét. Để cho chắc ăn, tôi đoán nơi họ ẩn núp phải cách xa nơi đặt chất nổ, tối thiểu là trên một trăm mét. Cuối cùng Đại úy Thi chính tay bấm nút để kích hỏa, nhiều tia chớp xé toạc màn đêm tiếp theo là tiếng nổ tưởng chừng như rung chuyển cả đất trời, một cột lửa khổng lồ cao vài chục mét bùng lên soi sáng cả một vùng. Cầu Đại Ninh hoàn toàn chìm trong biển lửa, có nghĩa là cầu đã bị chôn vùi dưới sông Đa Nhim. Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta leo lên chiếc xe dodge đã quay đầu sẵn, chạy về Đà Lạt. Đại úy Thi tin chắc rằng công tác hoàn tất tốt đẹp, mà không kiểm soát lại hiện trường, cho nên ông ta mới báo cáo với Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng là cây cầu đã sập rồi. Có một điều khá quan trọng mà Đại úy Thi quên nghĩ đến là, khối chất nổ mà ông ấy đặt trên mặt cầu, khi nổ sẽ tỏa ra như hình cái nón lá lật ngửa. Tất cả sức công phá của nó bung mạnh lên trời cao, giống như trái lựu đạn mà anh Minh cho nổ, khi diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt. Đỉnh cái nón lá chỉ là một điểm nhỏ nằm trên mặt đường của cây cầu, nơi đó, sức phá hủy của chất nổ gần như là con số không. Cho dù Đại úy Thi có đặt thêm hàng tấn chất nổ vào đó, cũng không làm cho cây cầu sập được.

Tôi nhìn Minh rồi kết luận.

-Tôi đã tự đặt mình vào vị trí của Đại úy Thi, và tôi biết bất cứ ai ở vào hoàn cảnh đó, cũng sẽ hành sử giống như ông ấy mà thôi. Anh Minh nghĩ coi tôi suy luận như vậy có đúng không?

Minh nhìn tôi rồi gật đầu.

-Có thể là đúng, dấu vết sụp ở giữa cầu chứng tỏ là Đại úy Thi có cho nổ mìn tại đó.

Cúc đang chăm chú lắng nghe tôi nói chuyện với Minh, bỗng nàng đột ngột hỏi tôi.

-Anh à, tại sao anh quan tâm nhiều đến chuyện cây cầu như vậy, em chỉ muốn mau mau về Đà Lạt để gặp ba má.

Minh hỏi Cúc với giọng đầy ngạc nhiên.

-Ủa, bộ ba má cô còn kẹt ở Đà Lạt sao? Chuyện này mệt cầm canh à nghen, Việt Cộng mà bắt được ba cô, khác nào họ trúng số độc đắc. Tài xế xe tải như tôi mà cũng biết rằng, cứ nhắm mắt mà khảo ba của cô, thế nào cũng lòi ra của, lòi ra đô la.

Cúc cười thích thú.

-Anh nói đúng, nhưng ba tôi kẹt ở bên Mỹ rồi, ở Đà Lạt là ba má chồng của tôi. Gần hai tháng rồi, tôi chưa được gặp ông bà, cho nên tôi mới nóng lòng như vậy.

Nghe Cúc nói, tôi vội hỏi Minh.

-Anh Minh à, mấy giờ mình tới Đà Lạt?

Liếc mắt nhìn đồng hồ đeo tay, Minh nói.

-Chậm lắm là mười giờ.

Khi xe chạy ngang qua khu phố Hòa Bình, tôi nhìn quanh, người đâu không thấy, chỉ thấy cờ đỏ sao vàng treo khắp phố phường. Nếu đem so sánh cờ của nước Việt Nam Cộng Sản với cờ của Trung Cộng, nó giống nhau đến chín mươi phần trăm. Cái khác biệt duy nhất là trên lá cờ của Tàu Cộng ngoài một cái ngôi sao vàng ở giữa, họ thêm vào lá cờ bốn cái ngôi sao vàng nhỏ, Mãn, Tạng, Hồi, Mông. Chừng đó chi tiết cho tôi thấy, Việt Nam Cộng Sản đã thần phục Thiên Triều, đã tự đặt nước Việt Nam vào vị trí là chư hầu của Tàu Cộng, tất cả được thể hiện qua lá cờ đỏ sao vàng, một lá cờ nô lệ lai căn như vậy không thể nào được coi là cờ của người Việt Nam. Cả Thành phố Đà Lạt nhuộm bởi một màu đỏ rực, xen lẫn vào đó lác đác dăm ba lá cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Đà Lạt vốn là thành phố du lịch của Việt Nam, có nhịp sống trầm lặng yên tĩnh, với nét đẹp của hoa Đào và sương mù, đến hôm nay sau hơn một tháng giải phóng, trông nó cứ như là một góc phố nào đó của Tàu Cộng, một góc phố chết trong nô lệ, chết trong rừng cờ đỏ, sao vàng.

Theo sự hướng dẫn của tôi, Minh ngừng xe trước nhà ba tôi. Nhìn căn nhà, Minh rối rít khen:

-Nhà đẹp quá mạng, của cậu hả?

Tôi cười với Minh.

-Anh nghĩ sao mà hỏi như vậy, tôi chỉ có cái mạng cùi, đây là nhà của ba tôi.

Tôi bắt tay Minh với chút ngập ngừng, không hiểu sao, tôi lại lừng khừng nửa muốn xuống xe, nửa muốn nấn ná thêm chút nữa. Có phải vì chút tình giữa hai người lính Việt Nam Cộng Hòa hay không? Hay là tôi thích tính tình bộc trực, thẳng như ruột ngựa của Minh, của người Miền Nam. Chắc là cả hai.