This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù. LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ, Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.
Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ /Tiền Sát /TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.
Hai thằng sỉ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17, 18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra. Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong. Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền, nhưng 2 cô nói: Hai anh đợi ba em một chút, còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy. Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.
Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì, thuốc lá, đồ hộp v. v. toàn là đồ ăn liền. Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn, tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình. Một lát tôi mới có thể nói: Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc. Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình. Một lát sau bánh mì, thuốc lá, đồ hộp được phát ra cho anh em.
Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây, từng gói một quăng lên xe cho anh em. Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù. Bao nhiêu mệt mỏi, thất vọng, bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan, vất vả tại Thường Đức tan biến hết. Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có. LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN. Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể. Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ.
Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra. lảnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ trên xe có khoảng 10 Nhảy Dù của các TĐ/ND tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: “Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh”. Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe. Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi; Đi đâu vậy? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời: Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ. Ông bảo: Nhớ về đơn vị sớm. Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to: Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ, hú hồn… Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND. Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh, xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê. Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay. Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6 Tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC. tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.
Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, iệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác) Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6 Quân số ít ỏi. không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là đều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều, Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất, Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, , thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống. Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi… Tôi tìm một chỗ kính đáo gần con suối cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt và ổ VC mà cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.
Dục Mỹ – Ảnh minh họa
Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2, 2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái. Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú “tấp pi” đầu tiên của VC chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới.
Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác. Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi. “Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được” Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. “Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh” tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý. Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.
Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mũ Đỏ
Quá trình phát triển của heo rừng bắt đầu từ những năm 1500, khi những người định cư Châu Âu mang chúng đến các tiểu bang để làm thức ăn. Sau đó, vào những năm 1900, người ta đã nhập cảng heo rừng để săn bắn giải trí. Ngày nay, heo rừng ở Mỹ bao gồm heo rừng, heo nhà sổng chuồng và các giống lai của cả 2 loại heo này.
Heo rừng sống theo bầy đàn. Nguồn. washingtonpost.com
Heo rừng ở Canada và Mỹ
Một đàn trùng điệp heo rừng đang di chuyển khắp Canada, các quan chức lo ngại chúng sẽ sớm tràn sang Mỹ. Theo hãng tin AP, quần thể “Siêu heo rừng” này thường bao gồm các giống lai của heo rừng Á-Âu và heo chuồng. Minnesota, North Dakota và Montana đã thực hiện các biện pháp để ngăn chặn sự xâm nhập của “Siêu heo rừng”. Những con heo rừng đang ngoài tầm kiểm soát ở Alberta, Saskatchewan và Manitoba, gây ra mối đe dọa mới cho các loài thú bản địa.
Nước Mỹ cũng đang gặp vấn đề về heo rừng. Heo rừng là một trong những động vật xâm lấn mạnh nhất kể từ khi du nhập vào Bắc Mỹ, số lượng heo rừng đã có mặt trên hơn 3/4 đất nước. Loài động vật hoang dã này đã tràn về phía tây và phía bắc, các tiểu bang như California, Hawaii và Michigan đã báo cáo số lượng heo rừng khá lớn.
Theo dữ liệu từ “Trung tâm Các Loài Xâm Lấn Hệ Sinh Thái” (Center for Invasive Species and Ecosystem Health) của Đại học Georgia thì Florida, Georgia và Texas có nhiều báo cáo về heo rừng nhất ở Mỹ. Chỉ riêng năm 2023, Texas đã có 2,425 trường hợp heo rừng phá hoại, tiếp theo là 1,377 trường hợp ở Georgia.
Ryan Brook, giáo sư tại Đại học Saskatchewan, Canada chuyên về vấn đề này, nói với hãng tin AP rằng heo rừng là “Động vật xâm lấn mạnh nhất trên hành tinh”.
Heo rừng đang hủy hoại hệ sinh thái trên 35 tiểu bang Hoa Kỳ, nhất là đối với các vùng lưu vực sông, chúng thích sống và tìm kiếm rễ cây ở những khu vực này. Heo nái và heo con lấy củ, rễ làm thức ăn. Chúng thông minh, bí mật, dễ thích nghi và xơi bất cứ thứ gì, kể cả động vật hoang dã và cây trồng để sinh tồn. Chúng đào đất một cách dễ dàng và sinh sản nhanh chóng, thích ngâm mình trong nước để giải nhiệt. Những hoạt động này gây hại thực vật, phá đất và tăng trầm tích ở các dòng sông. Chất thải của lợn cũng cung cấp mầm bệnh và chất dinh dưỡng vào nước, góp phần làm tăng tảo hoa làm cá chết ở hạ lưu.
Heo rừng là vật trung gian truyền bệnh cho cả heo nhà và người. Chúng lây lan dịch bệnh cho các trang trại chăn nuôi heo, như dịch tả heo ở Châu Phi gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD cho ngành chăn nuôi.
Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (United States Department of Agriculture-USDA), hiện tại, số lượng heo rừng ước tính lên tới gần 7 triệu con, chúng gây thiệt hại 2 tỷ USD mỗi năm.
Đó là lý do tại sao USDA gần đây đã công bố tài trợ 75 triệu USD cho chương trình thí điểm kiểm soát heo rừng. Nỗ lực này tập trung vào các khu vực mà heo rừng gây thiệt hại nhiều nhất, chủ yếu ở khu Đông Nam Bộ.
Chân dung heo rừng xứ tuyết. Nguồn. All That’s Interesting
Phương cách diệt trừ
Săn bắn
Mayer- một nhà sinh vật học Phòng thí nghiệm quốc gia sông Savannah (Hoa Kỳ), người đã nghiên cứu lợn hoang dã trong hơn 40 năm cho biết, trong những năm 1950 và 1960, các cơ quan quản lý động vật hoang dã đã khuyến khích việc săn bắt heo rừng. Tuy nhiên, ở ngoài tự nhiên, heo rừng sinh sản quá nhanh làm thợ săn không thể theo kịp. Mayer cho biết, để hạn chế một đàn heo rừng phát triển, bạn cần phải giết từ 60% – 80% số lượng heo trong đàn mỗi năm, nhưng săn bắn giải trí chỉ có thể cắt giảm khoảng 1/4.
Heo rừng phát triển mạnh ở hầu hết mọi nơi giữa Bắc Cực và vùng nhiệt đới, con heo cái có thể sinh 2 đợt mỗi năm.
Mẹ con heo rừng. Nguồn. agriland.co.uk
Đặt bẫy
Các quan chức đã sử dụng những cái bẫy giống như quây vùng để vây bắt một đàn heo rừng và sau đó tiêu hủy các con vật. Mayer nói: “Tôi không biết, liệu vùng Đông Nam có thể giải quyết được hay không”, do heo rừng ở đây lâu đời và rất đông.
Heo rừng tàn phá ruộng bắp. Nguồn. LSU AgCenter
Bắn từ trên không
Mayer nói: “Người dân miền Nam, khi lớn lên đều đi săn heo rừng, đó là một phần của văn hóa”. Ngoài bẫy quây vòng, bắn từ trên không cũng là biện pháp trừ heo rừng phổ biến. Vì heo rừng thích môi trường sống đầm lầy có cây cối rậm rạp nên khó có thể theo dõi chúng. Vì vậy, trong cái được gọi là “Kỹ thuật săn heo rừng Judas”, các quan chức bắt một con heo rừng, gắn cho nó một vòng cổ có phát tín hiệu theo dõi. Họ cho nó chạy về bầy và biết ra nơi trú của đàn heo rừng, sau đó chỉ là chuyện tiêu diệt.
Việc xóa bỏ hoàn toàn heo rừng là mục tiêu cuối cùng của các nhà bảo tồn. Hiệp hội Loại bỏ Heo rừng Missouri (Missouri Feral Hog Elimination Partnership) đã hạ 9,857 con lợn rừng vào năm 2021, nâng tổng số lợn bị giết kể từ năm 2016 lên hơn 54,000 con. Săn bắt công cộng là một trong những chiến thuật với heo rừng và đã trở thành một hoạt động giải trí phổ biến. Nhưng heo rừng thường di dời để đối phó với áp lực săn bắt. Theo Captain Experiences, việc rào và bẫy có thể hiệu quả hơn trong việc giảm thiểu bớt chúng, nhưng đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn.
Heo rừng tàn phá một cánh đồng. Nguồn. Popular Science
HĐV
(Theo Sara Chernikoff, USA Today. Chrobak Environment)
“Đám Taliban trên xe nã từng tràng Ak vô 6 người lính trinh sát đang bỏ chạy về hướng chiếc trực thăng AH-6 đang hạ thấp trước mặt. Sợi dây tải thả xuống. Thomas la.
– Lẹ lên! Đeo dây vô vai. Bốc!
Chiếc trực thăng bốc lên. 6 lính trinh sát, người cuối cùng là Jane. Treo một chuỗi dài, lơ lửng trên đầu những mỏm đá.
– Báo động mỏm đá! Kéo dây! Kéo dây! Bốc lên!
Jones la trong máy. Chiếc trực thăng kéo dây lên, đúng lúc cặp chân của Jane đập mạnh vô tảng đá phía dưới. Một chân của Jane rớt khỏi vòng dây đai, chân còn lại bị dây tự động siết chặt. Cô xoay vòng, chới với. Thằng Taliban đứng dưới đất đưa khẩu Ak lên.
– Tạch! Tạch! Tạch!
Những viên đạn nóng như lửa, đau đớn xuyên qua người Jane”
Jane mở bừng mắt, bật dậy trên giường, mồ hôi lấm tấm trên mặt, cô ôm ngực.
“Chỉ là cơn ác mộng”
Jane lấy bình nước, uống một ngụm lớn. Ngủ tiếp.
6 giờ sáng mai. Toán tuần tiểu của trung đội 72, lính rừng ra khỏi trại, đi kiểm tra vòng đai an toàn. Họ đi ngang đồn Vệ Binh của Làng Gundogan. 3 người lính đưa tay chào.
– Hello! Hello!
Jane đưa tay.
– Hello!
-Chào hello, nhưng tuyệt đối không rời tay khỏi cò súng
Thomas lầm bầm sau lưng Jane, cô bỏ tay xuống, nắm cò súng.
– Nhưng họ cùng phe mình.
– Ha! Chúa biết! Có thể là Taliban trong nháy mắt, và “Bùm” tung trái lựu đạn! Cả đám chầu Ala!
Toán trinh sát vòng qua khu thương mại.
– Kiểm tra chiếc xe tải Toyota đậu trước tiệm làm đồ sắt và tiệm ăn…
Thomas chĩa súng vô chiếc xe.
Toán trinh sát quỳ tại chỗ, súng nhắm vô các vùng mục tiêu.
– Xe tải không có người, có 1 khẩu Ak, 2 băng đạn.
Nick nói qua máy.
– Tránh khỏi xe, đề phòng chất nổ.
Thomas la lớn.
Mấy người khách trong tiệm ăn bỏ chạy ra ngoài.
– Khoan nổ súng!
Thomas đưa tay cản.
Tranh Hồ Đắc Vũ
Một người mặc áo choàng đen, bịt mặt. Cặp cổ ông chủ tiệm, súng Ak chĩa bên hông. Một người khác, bịt mặt, mặc đồ lính vệ binh kè con dao xắt thịt vô cổ bà nấu bếp.
– Đừng bắn! Đừng bắn! Tụi tao chỉ cần ra đi!
– Không bắn!
Thomas đứng lên, la lớn … Anh thì thầm với Jane sau lưng.
– Nhắm vô đầu thằng áo đen, lúc nó mở cửa chuẩn bị leo lên xe, khoảng cách giữa đầu nó và đầu cha chủ tiệm sẽ hở ra, đủ an toàn để bắn nó… Jane! Chỉ 1 viên duy nhất! 1 viên!
Đúng như Thomnas dự đoán. Người áo đen mở cửa xe Toyota, nó đẩy cha chủ tiệm vô trước, nên khoảng cách an toàn mở ra.
– Đùng!
Cha áo đen văng ra té xuống đường, chết tươi!
Người bịt mặt thả bà nấu bếp, quỳ xuống, đưa hai tay lên … Nhưng!
– Đùng!
Một cái lỗ đen trên đầu ông, rỉ máu. Ông giật lên, bật té ra sau, chết!
– Không! Ngưng bắn!
Thomas la.
“Bố già” đứng dậy.
– “Tuân lệnh” là kỷ luật khắt khe nhất của Lính Rừng, “Tuân lệnh” nằm đầu tiên trong suy nghĩ và hành động của một người quân nhân nhà nghề, “Tuân lệnh” là xương sống của lính rừng, là uy lực của đơn vị!
– Tôi hiểu!
Jane nhỏ nhẹ.
– Nhưng Jane đã ở trong tình trạng khẩn cấp của tác chiến trực tiếp… Không phải cô đã không tuân lệnh! Mà cô chỉ giải quyết hoàn cảnh nguy hiểm khẩn cấp theo một quán tính. Nguy hiểm là bắn! Đây là một lỗi lầm dễ mắc phải trong tác chiến…
“Bố già” Ngồi xuống.
– Tôi đề nghị Hội Đồng Kỷ Luật không buộc tội binh nhì Jane.
Jones nói.
– Chấp nhận… Giải tán!
“Bố già” đưa tay.
Jane buồn bã về lều, cô nằm xuống, nhắm mắt. Cố quên cái lỗ đạn màu tím đen rỉ máu trên trán của ông bịt mặt.
“Đám Taliban trên xe nã từng tràng Ak vô 6 người lính trinh sát đang bỏ chạy về hướng chiếc trực thăng AH-6 đang hạ thấp trước mặt. Sợi dây dài tung ra, rớt xuống. Thomas la.
– Lẹ lên! Khóa vô dây. Bốc!
Chiếc trực thăng bốc lên. 6 lính trinh sát, người cuối cùng là Jane. Treo một chuỗi dài, lơ lửng trên đầu những mỏm đá.
– Báo động mỏm đá! Kéo dây! Kéo dây! Bốc lên!
Jones la trong máy. Chiếc trực thăng kéo dây lên, đúng lúc cặp chân của Jane đập mạnh vô tảng đá phía dưới. Một chân của Jane rớt khỏi vòng dây đai, chân còn lại bị dây tự động siết chặt. Cô chới với. Thằng Taliban đứng dưới đất đưa khẩu Ak lên.
– Tạch! Tạch! Tạch!
Những viên đạn nóng như lửa, đau đớn xuyên qua người Jane”
Jane ngồi dậy.
“Cơn ác mộng” lại tới. Cô ngồi dậy, nhìn ra ngoài. Trời đầy nắng, mới 3 giờ chiều.
Thứ 7. Jane nhận hộp quà từ Beckwith, người cha đang sống trong nhà già ở Vermont. Cựu đại úy “Mũ Xanh” trong chiến tranh Việt Nam.
– Chắc là môi son cho Jane bôi trước khi ngủ.
Jimmy từ giường số 3 nói.
– Hà! Hà! Giày cao gót cho Jane đi trinh sát!
Jones đi ẹo ẹo trước mặt Jane.
Mấy người bạn quay quanh Jane. Cô mở nắp hộp. Một dây thắt lưng màu xanh lính và mảnh giấy viết tay.
“Jane. Lính rừng” của ba.
Đây là sợi thắt lưng, “Bùa hộ mệnh” mà ba đã đeo trong thời gian tham chiến tại vùng cao nguyên Việt Nam. Con bấm vô chốt sắt hai bên khoá, sẽ kéo ra con dao, lưỡi dài 5 inches, lưng lưỡi dao có một rãnh cong, dùng cắt dây dù, dây đeo cấp cứu, giống dao thoát hiểm của phi công. Con nên đeo, dùng để tự vệ và thoát hiểm
Ba của con. Beckwith.”
Jane bấm chốt, rút con dao, lưỡi thép mỏng. Jane cắt thử vô hộp quà. Nó làm một đường ngọt xớt.
– Ô! “Bùa hộ mệnh” bén quá!
Mấy người bạn xầm xì.
2 tuần sau. Phòng hành quân.
– Đây là một chuyến trinh sát có độ nguy hiểm cao 10/10. Các con sẽ nhảy trực thăng xuống vùng núi đá phía Tây Bắc làng Gundogan.
“Bố già” chỉ cái ống vố ngay địa điểm đã được đánh dấu đỏ trên bản đồ hành quân.
– Vùng này chúng ta chưa hề biết. Nhưng không thám và Drone đã cung cấp những hình ảnh rõ ràng về một hang chứa hỏa tiễn cá nhân chống máy bay của các nước Ả Rập viện trợ cho Taliban… Các con tới đó…
Ông đưa tay.
– “Bùm”!
Cũng như mọi lần, “Bố già” mở ngăn kéo bàn. Lấy chai whiskey, 7 cái đuôi đạn M-79 đã bóng nước đồng. Ông rót đầy.
– Điều rất quan trọng là. Mục tiêu toàn núi đá và đá tai mèo lớn, trực thăng không đáp được, nên tụi con phải xuống và leo lên bằng dây kéo với trực thăng AH-6, theo chiến thuật mới của lính rừng …
“Bố già” cầm cái đuôi đạn M-79, đứng dậy.
– Tụi bay đi bao nhiêu, về bấy nhiêu cho tao!
Xem thêm: Nơi đáng sống nhất quả đất
Mọi người cùng đứng dậy. Uống cạn rượu.
– Lính rừng… Hurrraaaaahhhhh!
Mây mù sà xuống thấp, bao quanh cả vùng núi đá rộng lớn, phủ trắng những mảng rừng cỏ gai, điều quá thuận lợi cho chiến thuật “Diều hâu bắt mồi”, một chiến thuật thả và bốc quân mới của lính rừng. Trực thăng thả toán lính rừng xuống bằng 2 sợi dây tải lớn 2 bên máy bay, mỗi dây với 3 vòng đeo, có thể đeo một lúc 6 người. Khi chạm đất, họ tháo dây và tạo thành toán tác chiến. Khi đón. Trực thăng cũng thả 2 sợi dây đó, từng người tự đeo vòng chéo vô vai, trực thăng kéo bay lên khỏi vùng nguy hiểm, bay đi. Sau đó, sẽ kéo dây cho từng người lên.
Cả toán trinh sát đáp xuống mục tiêu an toàn. Jones quan sát, chụp hình.
– Mục tiêu đã được xác nhận…
Ông chỉ tay.
– Khu hang đá tình nghi nằm trên kia. Chúng ta chia làm 2 toán 3 người. Xâm nhập 2 bên vách hầm. Tiến sát vô trong hang. Nick và Tao nằm bảo vệ đường rút, ngoài cửa hang. Thomas, Jimmy, Jerry, Jane tiến vô, cho nổ!
Thomas quay qua.
– Theo tao! Tuyệt đối không nổ súng, chỉ dùng súng tay hãm thanh.
4 trinh sát đi theo vách đá, thận trọng tiến vô hang.
Thomas đưa tay, cả toán nằm xuống. Anh gọi máy.
– Jimmy tới đây!
Jimmy, bò lên. Thomas chỉ tay.
Phía trong hang. Gã Taliban đang ngồi gác trên ghế nhựa, súng chống xuống nền, đầu gật gù. Mùi cần sa nồng mũi.
Jimmy biết mình phải làm gì. Anh nằm sát nền đá, trườn lên thật chậm, cố không gây tiếng động. cách mục tiêu chừng 6m. Jimmy chồm dậy, vung tay. Một tia xám lóe lên. Gã Taliban té xuống cái đụi. Đúng lúc.
– Hê! Anouk…
Ngay ngách đá bên hông, một anh Taliban khác bước ra, thấy Jimmy, anh ta đưa súng lên. Jimmy vung tay. Một tia xám bay vô gã Taliban. Anh ta té xuống, chân giựt mạnh. Lưỡi dao dẹp, bằng thép xám, cắm ngập vô hốc mắt.
Jimmy đưa tay ra hiệu, cả toán tiến vô.
Trong ánh sáng mù mờ của những bóng đèn gắn trên vách hang. Sát bên trái, là những thùng gỗ sơn màu xanh lính, dài chừng 4m, chồng lên nhau thành 5 dãy.
3 trinh sát quay ra bảo vệ. Thomas bước tới góc hang, dùng dao khui nắp một thùng. Anh chụp hình chiếc hỏa tiễn cá nhân M136 loại chống máy bay, mới nhất.
– Jerry, có 10 phút gài chất nổ.
Thomas ra lệnh.
Jerry đeo ba lô chạy vô dãy thùng gỗ.
– Ầm! Ầm!
2 trái B-40 bất ngờ nổ tung vách đá sát cửa hang, ngay vị trí toán trinh sát.
Đại úy Jones bị sức ép tống vô ngực, văng đi.
– Cứu thương!
Jane chạy tới, kéo Jones vô vách đá. Cô kiểm tra.
– Jones bị chấn động đầu! Không sao.
Jane chạy tới, Thomas la.
– Dựa lưng vách đá quay vòng chống phục kích.
Thomas chạy ra.
5 tay súng quay thành vòng tròn, vừa di chuyển vừa nã từng loạt đạn vô toán Taliban đang tràn vô từ cửa hang đá.
– Hang sắp nổ! Nick! Jimmy tống 2 trái M-72 trực xạ … Mở đường thoát ra ngay…
– Ầm! Ầm!
M-72 nổ, vùng lửa cam bùng lên. Tiếng M-16, tiếng Ak rền trong hang như cơn địa chấn, mùi thuốc súng cay sè, toán lính rừng băng qua khói lửa chạy thẳng ra khỏi hang. Một tiếng gầm lớn, cả khu núi đá rung rinh. Ngay cửa hang, cơn bão lửa phun ra.– Ầm!
Thomas la.
– Bắn phủ đầu, rút lẹ tới điểm hẹn.
Mọi người vừa chạy, vừa thay phiên quay lại bắn.
Chiếc trực thăng AH 6 đứng yên trên cao, thả 2 dây tải. Thomas cõng Jones chạy tới, choàng dây vô vai, trực thăng kéo 2 người lên, tới Jimmy, Nick, Jerry. Jane bắn hết một băng đạn vô đám Taliban lố nhố sau mấy mỏm đá tai mèo. Cô chụp dây tải, đeo vòng chéo vai, quăng 2 trái lựu đạn, nạp băng đạn mới, bắn liên tục.
– Tạch! Tạch! Tạch! Tạch! Tạch!
Trực thăng đã bốc lên. Cả toán trinh sát đong đưa trên những mỏm đá.
– Kéo dây! Bốc lên! Mỏm đá! Nguy hiểm.
Thomas la lớn trong máy. Trực thăng lên cao hơn, sợi dây người bay qua những mỏm đá.
– Báo động nguy hiểm! Đá! Mỏm đá!
Jane la.
Trước mặt, những mỏm đá lao tới, đập mạnh vô chân cô, Jane văng lên, tuột xuống, ba lô, súng văng khắp nơi, một chân Jane bị cột cứng trong sợi dây. Cô cong người lại, đưa tay, chụp vô đôi giày, cố gỡ sợi dây. Một mỏm đá lao tới, Jane đu người lên tránh…
– Bịch!
– Ahhhhhh!
Không được! lưng cô đập mạnh vô đá, văng lên, đau điếng! Jane có cảm giác như toàn bộ xương trong người cô rớt ra từng mảnh.
Chiếc trực thăng bốc lên.
– Đá! Đá!
Thomas la trong máy.
Mấy mỏm đá lao tới.
Jane nhìn xuống đất. Cô chụp thắt lưng, bấm khóa, rút con dao, cong người lên đưa sống dao có rãnh cắt, cứa mạnh vô sợi dây đang cột cứng chân mình. Dây dứt. Đúng lúc mấy mỏm đá ào tới. Jane rớt xuống lùm cỏ gai dưới đất. Chiếc trực thăng AH-6 lên cao, bay đi.
Tiếng la của Thomas vang dài theo dãy núi đá chạy vùn vụt dưới thân chiếc trực thăng đang kéo lên từng lính rừng.
Jane mở mắt, co người lại, nhìn quanh lùm gai rừng. Trời đã chiều, chung quanh vắng lặng, chắc đám Taliban đã rút đi. Cô nghiêng người, chân và lưng nổi cơn đau, Jane cố ngồi dậy trong bụi gai rừng, bấm cái GPS đeo trên tay. Gởi tín hiệu cấp cứu.
Trại lính rừng, phòng hành quân.
“Bố Già” Stefan Banach, Jones, Thomas, Jimmy, Nick, Jerry đang ngồi quanh bàn. Cửa lều vén lên. Jane mặc đồ lính rừng, 2 tay chống nạng. khập khễnh bước vô.
– Hurahhhh!
5 cái miệng cùng la lên, chạy tới bồng Jane lên ném lên bàn.
– Rầm!
– Aaaaaahhhh! Đau!
Jane la.
– Con gái tao trở về…
Ông cúi sát mặt Jane.
– … Đau còn hơn mất mạng … Con!
“Bố già” la lớn.
Ông mở ngăn kéo bàn, Lấy chai whiskey xanh, 7 cái đuôi đạn M-79 đã lên nước đồng, rót đầy rượu, cầm một cái, đưa trước mặt Jane đang ngồi trên bàn. Ông rớm nước mắt.
– Mừng con gái thoát hiểm, về với gia đình!
Jane cầm cái vỏ đạn M-79 đầy rượu, nước mắt lăn trên má, cô la.
– Lính rừng! Huraaaahhhh!
Mọi người cạn ly rượu. Jane tuột xuống bàn. Cô ôm từng đồng đội của mình, rồi cà nhắc bước tới lấy đôi nạng.
– Còn đau?
– Còn! Lưng còn đau… Hồi nãy mấy cha ném tui lên bàn… Đau chết luôn!
Mọi người cười. Jane cà nhắc về trại.
Cũng từ bữa đó. Giấc mơ khủng khiếp. “Thằng Taliban chĩa Ak bắn lúc Jane bị treo chân trên dây của trực thăng” không bao giờ hiện ra trong giấc ngủ của Jane nữa.
Khắp nơi trên đất, chó là con vật được đánh giá cao vì sự thông minh, lanh lợi, lòng trung thành, tình cảm chan chứa, và nhất là mối thân hữu tự nhiên đối với loài người.
Ai nói mặc ai, chứ ở cái xứ Việt nam từ xưa đến nay, tôi thấy con chó là thứ súc vật hèn hạ, bị khinh bỉ nhất, được con người Việt Nam dùng trong những câu chửi rủa miệt thị, không hề nương tay. Nói đến gốc gác thì gọi là “đồ chó đẻ,” mạt sát thì gọi là “đồ chó,” thậm chí trong trò chính trị, khi nói đến những tên hoạt đầu, bất tài vô tướng, một sớm một chiều ăn trên ngồi trốc, thì ví von như “chó nhảy bàn độc!”
Con chó chết lại được xem tệ hại hơn là một con chó sống, bằng chứng chửi ai là chó chết nặng gấp mười lần chửi ai là đồ chó… sống!
Mỗi ngày mở trang báo Việt Nam ra, đau lòng thấy bao nhiêu chuyện chó… chết, nói theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Nghĩa đen thì nguồn tin từ Việt Nam cho biết, mỗi năm có 3 triệu con chó chết vì bị giết thịt, thời thịnh đạt, có tổ hợp “Liên Hiệp Thịt Chó Nhật Tân” với con số lên đến 25 nhà hàng, như vậy ông chủ của cửa hàng Nhật Tân phải lên hàng Tổng Giám Đốc Thịt Chó.
Đường dây kinh doanh chó xuyên quốc gia cũng được thành lập từ đây với khoảng 300,000 con chó được nhập trái phép từ Thái Lan, Lào về Việt Nam mỗi năm. Như vậy trung bình mỗi ngày có gần 829,000 con chó chết, được đưa lên bàn nhậu, mỗi cửa hàng tiêu thụ khoảng 50 con chó mỗi ngày. Đáng lẽ Việt Nam phải nhập cảng văn hóa phẩm, máy móc điện khí, sản phẩm để tạo tiện nghi trong đời sống của con người và nâng cao dân trí, thì phải nhập cảng chó (chắc là nhập cảng lậu) để thỏa mãn những cái mồm nhầy nhụa thịt, mỡ chó và nồng nặc hơi men, để quên đời, có khi quên đi cái thân phận của mình và chẳng bao giờ nghĩ đến cái khổ của người khác. Con chó nằm trong cũi thấy đồng loại của mình bị đem đi đập đầu, cạo lông còn lồng lộn, gầm gừ, hay chảy nước mắt, nhưng đôi khi con người lại quá thờ ơ và dửng dưng với nỗi đau và cái chết của chính đồng bào mình.
Ngày nào ở Việt Nam cũng có chuyện chó… chết! Con chó bị đập đầu nhưng không phải tại các quán bán thịt chó mà chó chết vì người ăn trộm chó. Khi dân phát giác ra chó mình bị đánh chết hay bị đầu độc cho vào bao bố thì y như thế nào cũng có người trộm chó bị đánh chết để đền mạng chó. Vậy là ở Việt Nam hiện nay cái chuyện… chó nhất là mạng con người còn thua cả con chó.
Ở nước khác, nếu bắt trộm một con chó của hàng xóm, nặng lắm là bị phạt tiền và ở tù 10 tháng theo luật nhà nước, nhưng ở Việt Nam thì trộm chó có thể bị đánh chết theo luật nhà… quê, nôm na là luật… rừng.
Thậm chí là ăn trộm một con gà cũng bị đánh chết, nhưng gà không phải chó, bài đang nói chuyện “chó chết” mà nhảy qua chuyện “gà chết” là lạc đề, mặc dù chuyện “gà chết” hay “chó chết” thì cũng đại loại như nhau.
Nhà cai trị để dân đói và mất đạo đức, bần cùng phải sinh đạo tặc, bắt chó, trộm gà là nhà cai trị quá… chó. Coi mạng người thua con chó, và con người trong xã hội ấy coi chó ngang người hay hơn cả con người thật là lũ… chó!Vài người đổ xô ra đường đánh chết người trộm chó, lại toàn quyền hủy hoại tài sản của người vì họ đã đổ xăng đốt luôn xe. Không phải chủ chó mà người khác cũng hung bạo nhảy vào đánh ké, dù sự việc không can cớ đến mình, vì bản chất hung bạo của con người trong xã hội này. Những người giết người này, chúng ta có thành ngữ là “lòng lang, dạ thú,” tức là có tâm địa của loài lang, là chó… sói!
Về nghĩa bóng thì đất nước Việt Nam hôm nay mỗi ngày xảy ra không biết bao nhiêu chuyện chó… chết.
Một cái cầu treo xô bao nhiêu người xuống vực chết thảm, thì không quy tội người làm cầu mà đổ chuyện cho người đi. Thế có… chó không?
Chuyện công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (Japan Transportation Consultants – JTC) tố cáo đã hối lộ cho các quan chức Đường Sắt Việt Nam, chuyện Dương Chí Dũng đưa hối lộ cho anh mình là tướng công an, tính tiền nghìn, tiền triệu trong khi đồng bào lầm than, đói phải đi ăn trộm chó là hết sức… chó!
Công An đánh dân chết, ra tòa chỉ bị án treo là chuyện quá ư là… chó!
Nomadic Matt, người Mỹ, ký giả du lịch đã được giới thiệu trên CNN, BBC, Yahoo, Times, New York Times, trong bài viết “Tại sao tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” đã tố cáo bọn công an Việt Nam cuồng dâm, đàn áp dân, thường dùng đòn độc bằng đánh vào hạ bộ của phụ nữ! Thật là quá … chó!
Bọn công an đạp vào mặt dân, gậy gộc, roi điện đàn áp dân oan, người biểu tình chống bắt bớ, cưỡng chế đất đai có khác gì bọn khuyển ưng của hoạn thư ngày trước:
“Sửa sang buồm gió lèo mây,
Khuyển ưng (chó và chim ưng) lại chọn một bầy côn quang” (đồ hung dữ, du côn)
Do chữ “côn quang” này mà ngày nay người dân dùng chữ “côn an” để thay thế cho hai tiếng “công an” của cộng sản.
Con người tha hóa, trong một xã hội, không còn cương thường đạo lý, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con như chuyện cơm bữa. Giết chồng, giết vợ xong đem vứt xuống sông, bác sĩ giết bệnh nhân đem phi tang, thầy chùa giết tình nhân đem chôn sau vườn chùa… bạn bè giết nhau chỉ vì một cái điện thoại, mới ăn ngủ với nhau xong, nhẫn tâm đập đầu tình nhân để đoạt tài sản. Ở đâu cũng nghe giết, giết… như khẩu hiệu của “thi hào” Tố Hữu: “Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ…” Trong xã hội này, người ta giết người không gớm tay, còn dễ dàng hơn giết một con… chó!
Ở Việt Nam bây giờ ở đâu cũng nghe hiếp, hiếp! Trưởng ban văn hóa xã cho trẻ em mới học lớp 4 xem phim sex để hiếp. Hiếp dâm để quay phim, tống tình bắt làm nô lệ tình dục! Nữ sinh bị hiếp dâm tập thể trước mặt bạn trai! Nhờ bạn hiếp dâm vợ để lấy cớ ly dị! Cưỡng hiếp chị dâu đang mang thai! Đây là vài chuyện trong muôn vàn chuyện… hiếp, được tường trình trên báo chí trong nước! Một xã hội rất… chó, giống chó vì đã xảy ra quá nhiều chuyện… cẩu hợp!
Một xã hội loạn lạc, lắm điều đốn mạt “thượng hạ giai cẩu” (trên dưới đều “chó,” câu nói của Cao Bá Quát) ngay cả bậc sĩ phu, không xoay chuyển được thời thế, chỉ đành kêu lên những tiếng tuyệt vọng: “chó ơi là chó!”
Chuyện chó còn dài dài, may ra khi chết hết chó, dân chúng không còn món nhậu khoái khẩu, dân tình không còn ta thán chuyện chó, bốn cõi mới yên bình, mong rằng cũng sẽ đến lúc “chó chết là hết chuyện!”
Ngày xưa đi học, tóc còn xanh mướt, làm một bài luận văn mà dùng chữ lặp đi lặp lại (điệp ngữ) thế nào cũng bị thầy giáo gạch bôi đen, gạch đỏ. Hôm nay, tóc đã bạc phơ, viết một bài văn, câu kéo lủng củng, nhất là đếm đi đếm lại có đến 64 chữ “chó,” chỉ vì lòng còn quá buồn phiền, sân hận vì những chuyện chó chết, chỉ xin các bạn thương tình miễn thứ!
Ngày 15 Tháng Tám, Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam ra quyết định đình bản 3 tháng báo điện tử Trí Thức Trẻ và phạt 207 triệu đồng vì ngày 12 Tháng Tám báo này đã đăng một bài có tựa đề là “Gái miền Tây và 3 chữ ‘N’ nổi danh thiên hạ” của tác giả Trai Toàn Cầu.
Một cô gái quảng cáo bia Anchor của Singapore tại Hà Nội. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Ba chữ N đó là Ngoan, Ngon và Ngu. Bài này xem như đã vi phạm luật báo chí và chính ban biên tập đã ngỏ lời xin lỗi độc giả vì đã “gây nên sự tổn thương sâu sắc cũng như tạo cảm giác xúc phạm tới nhiều phụ nữ Việt Nam.”
Thật ra chuyện Ngoan, Ngon và Ngu không lạ gì với lời nói ngày xưa dùng để khuyên những người đi chọn vợ.
Ngoan nói về tính tình, ai lại không thích có một người vợ ngoan.
Ngon nói về thể chất và hình dáng bên ngoài, trắng da dài tóc, có nhan sắc, vì không ai muốn chọn vợ xấu.
Ngu nói về kiến thức. Phải ngu hơn chồng mới phục chồng, và không lấn lướt muốn dạy chồng. Không gì chán bằng cảnh ông chồng mới mở miệng phát biểu một câu thì vợ đã nói, “Chuyện này em biết rồi!” Vậy thì nên chọn một người vợ “ngu” hơn mình.
Nhưng ở đây bài báo lại dùng chữ “ngu” để vơ đũa cả nắm, cho con gái miền Tây ngây ngô và ngu muội, “não ngắn,” thiếu văn hóa. Tác giả cho rằng, “Về độ ‘ngon,’ độ ‘ngoan’ thì tôi dám quả quyết không gái miền nào địch được gái miền Tây. Nhưng còn về độ ‘ngu’ thì phần lớn gái miền Tây cũng là những cô gái ‘ngu dốt’ vô đỗi!”
Không phải bây giờ, mà trước đây báo chí Việt Nam đã có những bài báo chỉ trích cay nghiệt con gái “Bắc Kỳ,” và rồi nay, những người “phụ nữ miền Tây” bị tổn thương vì sỉ nhục là ngu đần!
Cộng sản coi là đã thống nhất được đất nước nhưng lòng người thì ly tán, nhất là sau cuộc đổi đời 30 Tháng Tư, 1875, dân miền Bắc ồ ạt vào Nam lập nghiệp, được ưu tiên nâng đỡ trong việc lập nghiệp, chiếm đất, phá rừng, bây giờ ở Việt Nam đi đâu mà không nghe tiếng nói Bắc Kỳ 75. Người miền Nam chẳng ưa gì dân Bắc vào Nam trong tư thế kẻ thắng trận chiếm đóng, người miền Bắc tuy coi miền Nam là vùng tạm chiếm, bị bóc lột, nhưng gần như ganh tỵ vì choáng ngợp trước cảnh đời sống an nhàn, sung túc của dân Nam.
Người miền Trung và miền Bắc thường có quan điểm cho rằng người miền Nam là hời hợt, nông nổi, thiếu sâu sắc, không có căn bản văn hóa, mối giềng ràng buộc với họ hàng, làng nước. Điều này dư luận thường dùng để làm câu giải đáp cho việc “lấy chồng Đài Loan” của con gái Việt Nam mà các thiếu nữ miền Tây đã dẫn đầu trong vài chục năm qua.
Những nhận xét về “gái miền Tây” lâu nay khá nặng tay. Một cán bộ của Đại Học Tôn Đức Thắng nhận định… “nhiều người dân ở vùng này chây lười nên không nhận thấy tầm quan trọng của tri thức!” Một bài khác trong Vnexpress cho rằng, “… đàn bà con gái chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage!” Và chỉ nội cái nhan đề trong Vitalk.vn, “Gái miền Tây lười, ít học và muốn một bước lên bà chủ!” cũng đủ là một điều xúc phạm chung cho cả một tập thể.
Vì đâu nên nỗi?
Người đổ lỗi tại văn hóa, hoàn cảnh thiên nhiên ưu đãi mà không hề ai dám nói đến cơ chế xã hội và những gì là trách nhiệm của kẻ cầm quyền trong bao nhiêu năm nay. Một ông trưởng khoa trưởng một đại học lớn như Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã xác định … “nền giáo dục ở Đồng Bằng Sông Cửu Long còn quá yếu, đặc biệt với phụ nữ, đã đưa đến những hệ lụy trên!” Vậy thì thưa ông, chủ trương này từ đâu đến và sao không nghe ông than trách việc khách sạn, sân golf, nhà hàng đặc sản hay cho ngoại nhân cho thuê đất để đẩy dân vào chỗ khốn cùng để con gái họ phải thoát ra cảnh nghèo, vươn qua biên giới để mong mỏi có một đời sống tươm tất hơn.
Cũng không nghe ai nói, trước Tháng Tư, 1975, con gái miền Tây toàn là dân đi bán bar, làm sở Mỹ hay làm điếm hay đi lấy chồng Đài Loan. Điều gì đã biến đổi đất nước nói chung và con gái miền Tây lâm thảm cảnh này.
Có quý vị trí thức nào bỏ ra chút thời giờ để nghiên cứu xem xứ nào đàn ông Việt Nam đầu quân đi bán sức lao động xứ người, và vì sao Nghệ Tĩnh và Quảng Bình lại lắm người bỏ ruộng bỏ vườn “đăng ký” đi làm thuê để thoát khỏi cảnh nghèo đói. Không lẽ quý vị lại đổ tội cho chây lười, ít học hay chối bỏ quê hương nghèo khổ, truyền thống của mảnh đất này là thích đi làm “bồi,” hay sợ phạm đến mảnh đất “thiêng” mà không dám nói.
Một sự thật đau lòng là nhạc sĩ Tuấn Khanh, ở trong nước, trong blog của ông đã nói lên một điều, đáng lý phải làm cho chính quyền trong nước đỏ mặt. Các hội gọi là phụ nữ, các tổ chức nhân quyền vẫn thường có thói quen báo cáo tốt, đề cao thành tích, vẽ vời hình tượng người phụ nữ Việt Nam, nhưng có đất nước nào đã ở trong thời kỳ hòa bình, độc lập mà thân phận phụ nữ bọt bèo, trôi giạt khổ đau như người con gái Việt Nam?
Sự thật là trong xã hội này, người phụ nữ bị đánh giá thấp, không hề được bảo vệ, che chở bởi công lý.
Những vụ án có liên quan về phụ nữ từ trước đến nay, phần đông phụ nữ đều bị thiệt thòi vì các loại đàn ông bên nguyên hay bên bị đều là loại nô bộc trung thành với đảng và nhà nước, và phụ nữ Việt Nam được xem không hơn một món đồ chơi.
Khi nói chuyện về đời sống của các cô gái miền Tây đi lấy chồng xứ người, blogger Tuấn Khanh được biết một sự thật rất là chua chát, nếu còn chút lương tri, hẳn các hội phụ nữ ở Việt Nam và cả cái cơ chế công an, cảnh sát xã ấp phải hổ thẹn. Khi hỏi về chuyện chồng Đài Loan đánh đập, một cô gái đã cười hồn nhiên nói, “Không phải ai cũng bị như vậy, báo chí nói quá. Nhưng nếu như có bị đánh ở Đài Loan, tụi em còn được báo chí xứ đó lên tiếng giùm, chứ ở Việt Nam, lấy một ông chồng say xỉn rồi bị đánh chết cũng không ai lo cho mình.”
Ở đây chúng tôi không nhắc đến một loại kỷ luật chỉ có trong xã hội Việt Nam là cấp lãnh đạo thông tin, một loại “Ông Kẹ” mang hơi hướng “đảng,” có thể làm tình, làm tội bất cứ cơ quan truyền thông nào khi họ cảm thấy bất như ý. Bài báo “ba N” có thể gây phẫn nộ cho quần chúng, thậm chí có thể ký giả bị bao vây hay tòa soạn bị đốt nhưng không thể vì lý do gì mà chính quyền phạt tiền hay đình bản. Phải chăng đây chỉ là một thái độ khúm núm, sợ mất lòng, vì trong Bộ Chính Trị hiện nay có bao nhiêu vị có mẹ, có em, có con là “gái miền Tây!”
Lên án ai đó là một công việc dễ dàng, nhưng đi tìm nguyên nhân mà và sự thật là một việc khó! Không dễ dàng như một vị tiến sĩ xã hội học, đảng viên CSVN, đã nhận định rằng do ít ý thức về đức hạnh mà phụ nữ Nam Bộ thường hay lấy chồng ngoại (TK). Vậy thì ở Hà Nội, hoa hậu, sinh viên đại học có tên trong đường dây “gái gọi,” tan trường là lên giường, chắc không phải lý do là đức hạnh!
Ba chữ Ngoan, Ngon và Ngu chưa đủ yếu tố để đưa người con gái miền Tây vào hoàn cảnh mà các “đạo đức gia” hay “đạo đức…giả” tha hồ bới móc, nói xấu. Quý vị cũng không nên quên một chữ N nữa, là chữ Nghèo khiến cho phụ nữ miền Tây phải lâm vào cảnh đi lấy chồng xa, hay chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage. Dân nghèo mạt, nhặt rác mỗi ngày không kiếm nổi tới $2, trong khi cán bộ công quyền giàu bạc triệu đô la, ăn xài huy hoắc bạc tỉ là ưu điểm của một chế độ XHCN chăng?
Miền Tây “gạo trắng nước trong” ngày nay như thế nào? Báo Hậu Giang đưa tin: “Dân khổ vì ‘ba không.’ Người dân tại các tuyến dân cư trên những con kênh mới hình thành ở xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, đang sống trong tình trạng 3 không: không nước sạch, không điện, không đường bộ. Trẻ em đến trường rất khó khăn, vậy thì sao cho là dân kém học vấn. Dân Hậu Giang còn nghèo, chỉ mỗi ấp 8 xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, đã có 87 hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có 28 hộ nghèo không có đất sản xuất.” Vậy thì động lực nào đã xô đẩy hàng vạn cô gái miền Tây đi lấy chồng ngoại, nên câu nói “không có tiền thì ‘cạp đất’ mà ăn,” đâu có gì là quá đáng?
Ở đâu có câu chuyện bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi, cùng con gái là Hồ Nguyên Thủy, 33 tuổi, với thân thể trần truồng không một mảnh vải che thân, phản đối chính quyền đã cướp đất để bán cho một công ty ngoại quốc trong dự án “Khu dân cư Hưng Phú,” sau khi chồng và cha của họ đã vì quá phẫn uất uống thuốc rầy tự tử! Hai mẹ con bà Lài “đã bị đám vệ sĩ lôi trên cát, bãi cỏ và các đống vật liệu trong tình trạng khỏa thân dưới cái nắng gay gắt.” Đó chính là câu chuyện “hổ thẹn” nhất của đất nước trong năm 2012 xảy ra tại miền Tây, nơi mà một tờ báo “vô đạo” ngày nay đã lên án là cái xứ lười, ngu và con gái chỉ muốn đi bán bia, hay hành nghề massage.
Hổ thẹn không phải nơi hai mẹ con đã phơi bày cái chỗ đáng giấu của đàn bà, vũ khí yếu đuối cuối cùng phải đem ra để tấn công vào khuôn mặt quá dày, trâng tráo của chế độ, mà xấu hổ rơi về phía cường quyền, đã toa rập với xã hội đen, các thế lực đồng tiền, với sự trợ thủ của ngành công an đẩy người dân vào bước đường cùng.
Xin các nhà nghiên cứu văn hóa, các khoa bảng, trí thức hiện đang giữ các vai trò quan trọng trong các trường đại học hay trung tâm nghiên cứu, thích chuyên bố, rao giảng thứ kiến thức cổ lỗ, xin đừng ôm mãi cái não trạng mà danh từ hiện nay, người Việt trong nước đang dùng là “não ngắn,” đi tìm và đổ lỗi cho văn hóa, địa dư và những nguyên nhân xa cho cái “nghèo,” cái “ngu” của gái miền Tây, hầu hết là để biện minh cho tình trạng hư đốn của chế độ.
Thân “vú em” năm xưa làm sao nhục nhã, khốn khổ bằng chuyện con gái Việt Nam đi làm gái mại dâm mười phương bây giờ, nên chưa lúc nào tôi thấy hai câu thơ của Tố Hữu thấm thía như hôm nay:
Đại uý Vinh Phan, phi công trực thăng UH-72 Lakota và UH-60M Blackhawk Lục quân Hoa Kỳ nguyên là một Binh sĩ Bộ binh trong Lực lượng Vệ binh Quốc gia Tiểu bang Virginia, ông theo học Chương trình Đoàn huấn luyện Sĩ quan trừ bị ROTC tại Đại học George Mason và tốt nghiệp năm 2014. Sau đó, ông thụ huấn khoá căn bản Sĩ quan bộ binh và tốt nghiệp vào tháng 12 năm 2015. Đến tháng 11 năm 2017, ông được tuyển chọn chuyển sang ngành hàng không Luc quân (Army aviation) trở thành Phi công trực thăng.
Đường binh nghiệp của Đại uý Vinh Phan, Phi công trực thăng bắt đầu từ lúc ông gia nhập Lực lượng Vệ binh Quốc gia Tiểu bang Virginia vào tháng 10 năm 2012, Vinh Phan được huấn luyện trở thành một Binh sĩ thuộc Đại đội Bravo, Tiểu đoàn 13, Trung đoàn 16, Sư đoàn 29 Bộ binh, ông phục vụ đơn vị này đến tháng 12 năm 2014. Trong thời gian này, Vinh Phan tiếp tục học tại Trường Đại học George Mason University – Costello College of Business và tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Khoa học – Hệ thống Thông tin và Quản lý năm 2013, đồng thời ông cũng theo học chương trình huấn luyện sĩ quan trừ bị ROTC tại Đại học George Mason tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Khoa học – Hệ thống thông tin và Quản lý hoạt động kinh doanh măm 2014.
Trực thăng UH-60 Black Hawk (ảnh của en.wikipedia.org).
Sau khi tốt nghiệp Chương trình ROTC, Vinh phan hoàn tất khoá căn bản Sĩ quan bộ binh vào tháng 12 năm 2015. Sau đó ông lần lượt phuc vụ tại các đơn vị: Sĩ quan ban 3 (hành quân), Sĩ liên lạc Chi đoàn 1*, Trung đoàn 11 Thiết kỵ từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016; Trung đội trưởng bộ binh, Chi đội** Alpha, Chi đoàn 1 Trung đoàn 11 Thiết kỵ từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017; Đại đội phó Đại đội Delta, Chi đoàn 1 Trung đoàn 11 Thiết kỵ từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018.
Tháng 11 năm 2017, ông được tuyển chọn chuyển sang ngành hàng không Luc quân bay loại trực thăng UH-72 Lakota and UH-60M Blackhawk cho đến nay. Đại uý Vinh Phan đã phục vụ ngành hàng không Luc quân 10 năm và Lực lượng Vệ binh Quốc gia Tiểu bang Virginia 2 năm. Ông dự tính trong tương lai sau khi về hưu, ông sẽ làm việc trong lãnh vực phân tích an ninh mạng và học chuyên môn chứng chỉ CNTT Network+ và Security+.
Ngoài Đại uý Vinh Phan, Phi công bay loại trực thăng UH-72 Lakota và UH-60M Blackhawk, ngành Hàng không Lục quân, còn có một số Sĩ quan Phi công gốc Việt khác bay các loại trưc thăng như: Đại uý Tyler Pham, Đại uý Hieu N; Chuẩn uý*** Micheal Nguyen; Chuẩn uý cấp 2***Phúc huỳnh; Trac Pham và Tran Huynh*****; Đặc biệt, nữ Trung uý Jaqueline Martin, Phi công bay loại trực thăng tấn công AH-64 Apache. Ngoài ra còn có một số Sĩ quan Phi công trực thăng Lục quân đã về hưu như: Trung tá Võ Phi Sơn; Thiếu tá Andrew Vu và Nữ Trung uý Trung uý Michelle Vu.
Chú thích: Viết theo tài liệu; *Chi đoàn tương đương với Tiểu đoàn (Squadron/Battalion) là danh hiệu, cấp số của Trung đoàn Thiết kỵ (Armored Cavalry Regiment) Lục quân Hoa Kỳ; **Chi đội tương đương với Đại đội (Troop/Company); Chuẩn uý*** (U.S. Army Warrant Officer); Chuẩn uý cấp 2**** (U.S. Army Chief Warrant Officer 2); *****Là Sĩ quan Phi công Lục quân, nhưng chưa xác định được cấp bậc
Thiếu uý* Luan Truong**, vợ và con trai trong ngày Lễ tốt nghiệp phi công Khoá 17-15, ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại căn cứ Không quân Vance Air Force Base (ảnh của Hạ sĩ Taylor Crul, Không quân Hoa Kỳ).
Đại uý Phi công Luan Truong** nguyên là Thuỷ thủ ngành chiến hạm trên mặt biển, ông đã phục vụ trên 4 Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, USS George Washington, USS Abraham Lincoln và USS John C. Stennis Hải quân Hoa Kỳ. Ông cũng từng phục vụ bảo trì xe cơ giới Humvee trong Lục quân Hoa Kỳ 2 năm, trước khi tốt nghiệp Trường Đại học hàng không Embry Riddle Aeronautical University và được tuyển chọn thụ huấn Trường Sĩ quan Không quân và Trường huấn luyện Phi công trở thành Sĩ quan Phi công.
Sau khi mang cánh bay, Thiếu uý Luan Truong được chỉ định bay loại phi cơ KC-10 Extenders, tiếp nhiên liệu trên không và vận chuyển quân dụng thuộc Phi đoàn 9 tiếp nhiên liệu trên không, đồn trú tại Căn cứ Không quân Travis, California.
Con đường trở thành phi công Không quân Hoa Kỳ của Luan Truong rất khác biệt so với những người bạn cùng khoá. Con đường đó bắt đầu từ Quốc Gia Việt Nam Cộng hòa. Luan Truong là cháu nội của ông Vinh Truong, một Phi công trực thăng của Không quân VNCH, người đã trải qua 13 năm trong trại tù cải tạo tại miền Bắc Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Được thả ra, ông Vinh Truong sau nhiều lần vượt biên, đã thoát khỏi Việt Nam trên một chiếc ghe đánh cá nhỏ, ông đã đến Phi Luật Tân với tư cách là một người Việt tị nạn. Sau đó ông Vinh Truong đã được đinh cư tại Hoa Kỳ.
Năm 2001, Luan Truong được gia đình ông nội bảo lãnh sang Hoa Kỳ định cư, lúc đó Luan được 13 tuổi và không nói được tiếng Anh. Luan học trường Trung học ở Gresham, Oregon. nhờ sự chăm chỉ và cố gắng đã giúp Luan tiếp tục học hết lớp 12, và học thêm các lớp học tại trường Cao đẳng cộng đồng địa phương. Sau khi tốt nghiệp trung học, Luan Trương gia nhập Hải quân Hoa Kỳ để có cơ hội biêt thêm thế giời bên ngoài, tham quan thắng cảnh, tự lập và quan trong nhất là để vinh danh ông nội Vinh Trương và đất nước Hoa Kỳ đã đón nhận Luân. Hải quân đã huấn luyện Luan làm việc với chiến đấu F/A-18 Hornet trong nhiệm vụ Nhân viên cơ khí phi Cơ và cơ trưởng phi cơ. Trong 5 năm tiếp theo, Luan đã phục vụ trên 4 Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, USS George Washington, USS Abraham Lincoln và USS John C. Stennis. Trong thời gian phục vụ Hải quân, Luan đã sử dụng tài chánh hỗ trợ học phí từ Chính phủ và tiền tiết kiệm riêng để hoàn thành Văn bằng Cử nhân hàng không tại Đại học Hàng không Embry Riddle.
Phi cơ KC-10 Extenders (ảnh của images03.military.com).
Sau thời gian phục vụ Hải quân, Luan Truong gia nhập Lục quân Hoa Kỳ, và được huấn luyện bảo trì các loại xe cơ giới đa dụng Humvee có bánh xe cơ động cao. Để giữ cho mình tiếp tục hoạt động học hỏi, Luan học thêm về kiểm soát không lưu. Trong hai năm phục vụ Lục Quân đội, Luân đã hoàn thành Văn bằng cao học hoạt động hàng không vũ trụ của Trường Đại học hàng không Embry Riddle. Ngoài ra, Luân còn lấy thêm bằng phi công trực thăng Robinson R22 và trực thăng Schweizer 300.
Luan Truong lập gia đình năm 2013, và việc vinh danh ông nội luôn nằm trong suy nghĩ. Vì vậy, Luan quyết định trở thành phi công Không quân. Ông đã nộp đơn ghi danh vào các Trường huấn luyện sĩ quan của Lục quân, Hải quân, Không quân và cả Tuần duyên (United States Coast Guard). Và Luan đã đã toại nguyện trúng tuyển thụ huấn Trường huấn luyện Sĩ quan Không quân. Luan có ý đình biến Không quân thành sự nghiệp. Luan muốn làm điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình để khi về già Luan muốn nhìn lại và nói rằng mình đã làm được điều gì đó tuyệt vời trong cuộc sống. Luan thích thử thách, giống như cân bằng giữa việc Phi công đi bay và cuộc sống gia đình. Luan hy vọng được bay chiến đấu cơ sau khi tốt nghiệp khóa huân luyện phi công, nhưng địa điểm vẫn quan trọng hơn loại phi cơ Luan sẽ bay. Và Luan rất vui khi được chỉ định bay loại phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-10 tại căn cứ Không quân Travis.
Hơn 7 năm phục vụ ngành phi hành Không quân, Luan Truong lần lược được thăng cấp Trung uý và Đại uý, ông dự định sẽ bay cho đến khi về hưu. Sau đó ông sẽ đi khắp thế giới, giúp đỡ người nghèo khổ, sự giúp đỡ đó bao gồm từ những công việc chân tay, cung cấp thực phẩm và tài chánh với các tổ chức địa phương. Một điểm đến sẽ là Việt Nam, vì ông nói được ngôn ngữ và hiểu văn hóa nơi đây. điều đó sẽ đưa cuộc đời anh ta trở lại vòng tròn trọn vẹn. Một hành trình bắt đầu như một cách để vinh danh ông nội Vinh Truong của Luan và đất nước Hoa Kỳ. Một hành trình đi qua từ boong tàu Hàng không mẩu hạm Hải quân, bãi bảo trì xe cơ giới Humvee của Lục quân và căn cứ, phi trường quân sự của Không quân. Một hành trình như được định sẵn để Đại uý Phi công Luan Truong thực hiện.
Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo cấp bậc ngày tốt nghiệp Phi công; Họ và tên Việt Trương Luân.
Tôi gói tán đường của tôi vào tờ giấy, rồi đi gặp Long công tử. Đây là tán đường của riêng tôi, tán đường của Trung úy Lợi, hắn đã ăn mất từ mấy ngày trước rồi vì quá thèm ngọt.
Bầu trời Sông Mao hôm nay xanh màu ngọc, không một cụm mây, tôi vỗ vai Long công tử.
-Tao còn tán đường, mày xuống nhà bếp xin gô nước sôi, hôm nay mày muốn ngồi đâu? Brodard hay Givral?
-Givral đi, tự nhiên tao nhớ đến bức tượng hai người lính Thủy Quân Lục Chiến trước Quốc Hội, nhớ đến vòi phun nước nơi tụi mình chụp mấy tấm hình với Biên và Dung.
Cũng hơn mười phút sau Long công tử mới trở lại, hai đứa tôi ngồi xuống bên hè nhà, tôi hỏi Long công tử.
-Tốt nghiệp Thủ Đức xong, mày biến đi đâu mất tiêu vậy?
Long công tử, đặt lon gô nước đường xuống khoảng đất trống giữa hai đứa.
-Lễ mãn khóa vừa chấm dứt, lúc bấy giờ cả ngàn ông tân chuẩn úy túa ra khắp mọi nơi cứ như là bầy ong vỡ tổ, mạnh ai nấy bay, trật tự và kỷ luật nhà binh hình như không còn hiệu lực vào lúc này. Trong cảnh hỗn loạn ấy tao chạy đi tìm thằng Biên và mày, tìm hoài không thấy tụi mày ở đâu, cuối cùng tao đành bỏ cuộc. Sau một lúc suy tính, tao lên Khu sinh hoạt mua một bộ đồ rằn ri mới toanh với cặp lon chuẩn úy nơi cổ áo, cái huy hiệu con cọp vàng bay qua cánh hoa dù trắng trên nền xanh lá cây, may nơi tay áo trái gần vai. Thêm cái mũ nồi xanh trên đầu, tao đã nghiễm nhiên trở thành một sĩ quan của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Sau hai tuần lễ nghỉ phép, mười chín sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt của khóa mình, trong đó gồm có chín sĩ quan tốt nghiệp Thủ Đức và mười sĩ quan tốt nghiệp Đồng Đế, về trình diện Bộ tư lịnh Lực Lượng Đặc Biệt ở Nha Trang. Thiếu tá Thanh trưởng phòng Tổng quản trị của Lực Lượng Đặc Biệt, với gương mặt còn quá trẻ, có thể chưa quá ba mươi tuổi nhưng đầy vẻ phong trần dày dạn gió mưa, trong bộ quân phục rằn ri thẳng nếp, đôi giày bốt đờ sô hai da bóng loáng, thêm cái hoa mai có gạch trên cổ áo, tụi tao say mê chiêm ngưỡng cái nét oai hùng đầy phong độ của ông ta mà quên mất chào hỏi, trình diện. Thiếu tá Thanh thân mật bắt tay từng thằng một, hỏi thăm về những ngày phép mãn khóa, sau đó dẫn tụi tao vào phòng thuyết trình để thuyết giảng sơ qua cho tụi tao nghe về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh chỉ lên sơ đồ tổ chức gắn trên bảng đen, ông thao thao bất tuyệt “Lực Lượng Đặc Biệt là binh chủng thiện chiến, là con cưng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Binh chủng này gồm có những toán Delta, có Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù và mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng trên khắp bốn vùng chiến thuật”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông ta lấy chiếc mũ nồi xanh xuống để trên bàn rồi quay nhìn tụi tao “Các anh cứ ngồi thoải mái, tự nhiên hút thuốc vì chuyện tôi nói có hơi dài dòng. Trước hết tôi xin nói về toán Delta, cho đến hôm nay khi tôi đang nói chuyện với các anh, Lực Lượng Đặc Biệt của Việt Nam Cộng Hòa có tổng cộng tất cả là mười hai toán Delta, tôi xin lập lại là chỉ có mười hai toán mà thôi, không hơn không kém, họ hoạt động thầm lặng riêng rẽ không ai biết đến, thậm chí ngay cả tôi cũng không biết họ đang làm gì, ở đâu. Chỗ này tôi muốn nói riêng với các anh, về hiểm nguy cũng như khổ cực của những toán Delta, sở trường của họ là chiến tranh xâm nhập, cho nên mức độ nguy hiểm về tính mạng giống như là chỉ mành treo chuông. Sĩ quan toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, một lần công tác vào đất địch là một chuyến mang gươm qua sông Dịch, mười đi mà chỉ có một về ”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, nhìn quanh “Mấy anh có biết sông Dịch ở đâu không?”. Dân Văn khoa như tao khi nghe câu hỏi ấy giống như là đi thi mà trúng tủ, tao bèn tà tà đọc luôn hai câu cuối trong bài thơ Dịch Thủy Tống Biệt.
Tích thời nhân dĩ một. Kim nhật thủy do hàn.
Thiếu tá Thanh nói lớn “Ông chuẩn úy nào đó, đứng lên cho tôi coi mặt được không?”. Tao từ từ đứng lên. Thiếu tá Thanh nhìn tao thật lâu, tựa như coi giò coi cẳng mấy con gà nòi, sau đó ông nói “Phòng Tổng quản trị đang cần một phụ tá, chuẩn úy muốn về đó không?”. Tao đoán, chắc ông ấy nghĩ rằng, tại sao lại có một con cừu đi lạc vào giữa bầy cọp như thế này. Không có việc gì phải hấp tấp, tao bèn trả lời Thiếu tá Thanh với giọng lạnh lùng như đang bơi thuyền qua sông Dịch “Thưa Thiếu tá, tôi tình nguyện về Lực Lượng Đặc Biệt là để chiến đấu ở ngoài mặt trận, chớ không phải ngồi văn phòng”. Thiếu tá Thanh với giọng nói nhã nhặn, lịch sự “Cảm ơn tinh thần phục vụ hăng say cao độ của chuẩn úy”. Sau đó ông ta cao giọng, tiếp tục thuyết trình “Tôi xin lập lại toán Delta một khi nhảy vào đất địch, giống như qua sông Dịch, nếu có anh nào đó nghĩ là sông Bến Hải thì cũng được, chuyện trở về mỏng manh như ngọn đèn lung linh trước gió, nó có thể tắt bất cứ lúc nào. Trở về được hay không là tùy lòng dũng cảm, tùy vào kinh nghiệm cũng như khả năng thích ứng trong mọi trường hợp của vị sĩ quan đó. Đi đôi với những hiểm nguy còn có thêm cực khổ gian nan về thể xác. Sĩ quan cũng như binh sĩ của toán Delta phải có một thân thể được đúc bằng sắt, một ý chí được trui rèn trong lò luyện thép, mới có đủ sức chịu đựng với giông tố bão bùng, đủ sức vượt qua mọi thử thách. Thường thì một toán Delta nhảy vô vùng địch chỉ có sáu người, trong đó gồm bốn Việt và hai Mỹ. Hai ông cố vấn Mỹ đi theo chỉ để lo về phần yểm trợ hỏa lực, việc gọi trực thăng bốc và thả toán sẽ do sĩ quan trưởng toán Delta quyết định chứ không phải là cố vấn Mỹ. Bởi vì hai ngày trước cuộc hành quân, viên phi công Mỹ lái trực thăng và sĩ quan trưởng toán Delta, đã cùng nhau bay tiền sát để chọn địa điểm thả và triệt xuất, họ đã có những đồng thuận, quy ước riêng với nhau rồi. Bốn người Việt được trang bị vũ khí cá nhân như M16 hoặc M79 tùy theo nhiệm vụ khi xâm nhập, một cấp số đạn, lựu đạn mini, M26, M67, lựu đạn khói, bảy ngày lương khô và những dụng cụ đặc biệt mà một toán viên Delta phải có. Ba toán viên của toán đều là chuyên viên đặc biệt, họ mang theo rất nhiều mìn claymore và chất nổ. Riêng sĩ quan trưởng toán ngoài phần chịu trách nhiệm về kế hoạch cũng như chiến đấu, ông ta còn phải mang thêm một máy truyền tin PRC25, nặng hơn mười kí lô và một cục pin phòng hờ. Chiếc máy truyền tin này là linh hồn của toán, mất nó cả toán sẽ không có đường về. Sĩ quan trưởng toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, hoàn toàn không giống như sĩ quan của các binh chủng khác, có được binh sĩ phụ giúp mang đồ, trái lại chính ông ta mang vác còn nhiều hơn một toán viên, cũng có nghĩa là mang vác không thua gì một con lạc đà”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, ông đi xuống những hàng ghế mà tụi tao đang ngồi dựa ngửa, thoải mái hút thuốc, thả khói bay đầy phòng. Ông hỏi “Trong số các anh ngồi đây, ai là người chưa từng thấy hộp Ration C của quân đội Mỹ”. Trong đám chuẩn úy tụi tao, nhiều bàn tay rụt rè đưa lên. Thiếu tá Thanh xuống giọng “Đó là hộp thức ăn cho một bữa, của một người lính Mỹ, hộp B1 cho buổi sáng, hộp B2 cho buổi trưa và hộp B3 cho buổi chiều. Trong đó mỗi hộp gồm nhiều lon thực phẩm khác nhau, cân nặng khoảng hai kí lô hai, như vậy thực phẩm cho một ngày phải nặng hơn sáu kí, bảy ngày công tác hơn bốn mươi lăm kí lô thực phẩm. Chỉ có mấy con lừa mới mang nổi. Theo kinh nghiệm của một người lính tác chiến, tôi đoan chắc với các anh, ration C của Mỹ tuy cung cấp đầy đủ năng lượng cho một người lính, nhưng nó chỉ tốt cho những đơn vị đóng quân cố định tại một chỗ, không thuận tiện cho đơn vị hành quân. Tôi đã nhiều lần chứng kiến, khi ở hậu cứ thiếu mồi nhậu một anh lính có thể khui một lon thịt ba lát để chữa lửa, lúc rảnh rỗi họ có thể mở một lon trái cây hộp nhâm nhi cho đỡ buồn, nhưng muốn đem theo đi hành quân, coi bộ hơi khó vì cồng kềnh và quá nặng. Nếu nói như vậy, một chuyến công tác bảy ngày, ông sĩ quan và toán viên của toán Delta họ mang gì để ăn? Thưa quý vị, họ mang một lon gô ruốc thịt heo ba chỉ kho với sả ớt, thêm vài lon thịt hộp trong khẩu phần ration C, đã được sấy khô thành thịt chà bông, và mỗi ngày bảy trăm gam gạo sấy, vì họ không được đốt lửa để nấu ăn. Chỉ chừng đó lương thực đủ cho họ sống bảy ngày trong rừng. Thêm một điều quan trọng nữa là mỗi toán viên Delta được chích hai mũi thuốc chống ho, vì điều tối kỵ nhất của toán Delta là gây tiếng động. Suốt bảy ngày trong rừng họ như là những người câm, nói chuyện với nhau bằng thủ hiệu”. Thiếu tá Thanh đi trở lên bục thuyết trình. “Tôi vừa trình bày sơ lược với các anh về hiểm nguy và gian khổ của những toán Delta. Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường, hôm nay tôi cần năm vị sĩ quan trong số các anh về toán Delta, anh nào tình nguyện xin đưa tay lên”.
Long công tử ngưng kể chuyện, hắn nhìn tôi.
-Tao đố mày, có ông chuẩn úy nào dám tình nguyện về toán Delta không?
Tôi cười thoải mái.
-Ai thì tao không biết, riêng tao “Tẩu vi thượng sách”, tao sẽ chạy xa toán Delta một trăm cây số, chạy mà cấm có quay đầu nhìn lại.
Long công tử gật gù đắc ý.
-Mày đúng là lính văn phòng. Ngày xưa, nếu cho mày về đơn vị tác chiến nắm một trung đội lính bộ binh, khi đụng trận với Việt Cộng, tao tin rằng mày sẽ co giò chạy trước, bỏ binh sĩ dưới quyền sống chết mặc bây.
Tôi không giận Long công tử chút nào vì biết nó nói đúng sự thật, nói ngay bon bản tính của tôi. Trên đời này, còn ai hiểu tôi hơn Long công tử, tôi than với nó.
-Cũng may tao được làm lính văn phòng, chứ nếu phải ra tác chiến thì mặt mũi đâu mà nhìn binh sĩ dưới quyền.
Long công tử lờ đi như không biết tôi nói gì, hắn tiếp.
-Một điều khá ngạc nhiên là khi Thiếu tá Thanh vừa dứt lời, mười chín cánh tay trong phòng không hẹn cùng một lúc đưa lên cao. Thiếu tá Thanh cười vui vẻ “Tôi đã thuyết trình rất rõ ràng rồi, các anh không ngại khổ cực, không sợ nguy hiểm đến tính mạng hay sao? Có anh nào cho tôi biết lý do được không?”. Một giọng Huế ở cuối phòng vang lên “Thưa thiếu tá, Tết Mậu Thân tại cố đô Huế, chính bản thân tôi đã chứng kiến cảnh Việt Cộng giết hại, chôn sống hàng ngàn dân lành vô tội trong những hố chôn tập thể. Tôi vô Trường Bộ Binh Thủ Đức theo lệnh Tổng động viên nhưng ý nguyện là cầm súng chiến đấu chống lại Cộng Sản, nào ngờ khi tốt nghiệp tôi lại có tên trong danh sách về đơn vị không tác chiến, dựa theo những bài Trắc nghiệm định hướng ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Không được đi tác chiến như mình mong đợi, tôi tình nguyện về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Bởi vì tôi không muốn bị Cộng Sản chôn sống, như Tết Mậu Thân ở Huế họ đã chôn sống dân mình”. Thiếu tá Thanh gật đầu, nét đăm chiêu hiện rõ trên gương mặt sạm nắng của ông. “Thế còn những anh khác không ở Huế thì sao?”. Để trả lời câu hỏi của Thiếu tá Thanh, một giọng nói chững chạc đầy cương quyết “Trước khi tình nguyện vào binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, tất cả anh em chúng tôi ở đây đều đã chuẩn bị sẵn sàng, nếu một mai có phải hy sinh vì Tổ Quốc, chuyện đó không nằm ngoài dự tính của chúng tôi”.
Long công tử ngưng kể chuyện, hắn bưng lon gô nước đường ngửa cổ uống một hơi.
-Ngon thiệt, tao cảm thấy được chất nước ngọt đi qua cổ họng, xuống đến bao tử rồi theo từng giọt máu tỏa ra khắp thân thể.
Đợi Long công tử uống xong, tôi lấy lon nước từ tay hắn, hớp một ngụm.
-Có mười chín ông Kinh Kha thời đại, ông nào cũng muốn về toán Delta, mày nói cho tao biết, làm cách nào mà Thiếu tá Thanh chọn được năm sĩ quan cho toán Delta. Ông ta bỏ ai, chọn ai?
Long công tử cười vang, tiếng cười đầy sảng khoái của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, chứ không phải tiếng cười của một thằng tù ốm đói.
-Chuyện dễ như vậy mà mày không thấy sao, mười chín thằng đều có một tinh thần Quốc Gia cao độ, có trình độ học vấn và hiểu biết tương đương, điểm khác biệt duy nhất là thể chất. Đương nhiên Thiếu tá Thanh chọn những ông chuẩn úy cao và to như những con trâu rừng, có sức chịu đựng dẻo dai để mang vác như một con lạc đà.
Tôi hơi mắc cỡ, khi thấy đầu óc suy luận của mình quá kém cỏi.
-Mày nói đúng, chuyện đơn giản như vậy mà tao nghĩ không ra. Rồi sao nữa?
Long công tử nhắc lại.
-Rồi sao nữa hả? Sau khi đã chọn được năm sĩ quan về toán Delta, thiếu tá trưởng phòng Tổng quản trị lại tiếp tục thuyết trình về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Với giọng nói đầy tính thuyết phục, ông cho biết “Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù gồm có sáu đại đội, họ chia nhau tiếp ứng cho cả bốn vùng chiến thuật. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ điều động những đại đội này đánh vào những mục tiêu đặc biệt, những vị trí chiến lược quan trọng của Việt Cộng”. Sau vài lời giới thiệu ngắn gọn về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Thiếu tá Thanh đưa ra một nhận xét “Nếu đem so sánh sĩ quan của Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù với Sĩ quan của toán Delta thì kẻ tám lạng người nửa cân”. Đứng trên bục thuyết trình với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh tỏ ra lúng túng khi phải chọn tiếp bốn sĩ quan về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Đây cũng là một bài toán khó cho Thiếu tá Thanh, bởi vì mười bốn ông chuẩn úy còn lại ai cũng muốn về tiểu đoàn này. Cuối cùng để được công bình, Thiếu tá Thanh cho mọi người bốc thăm, bốn tấm giấy có ghi số 81 và mười tấm giấy trắng. Tao bốc nhằm tờ giấy trắng, có nghĩa là tao cùng chín ông chuẩn úy khác, sẽ được phân bố đi khắp các trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng của bốn vùng chiến thuật.
Long công tử dang tay lấy lon gô nước.
-Tao không cần giải thích, chắc mày cũng dư biết, hai chữ biên phòng tự nó đã nói lên được vị trí các trại Lực Lượng Đặc Biệt ở đâu rồi. Sau khi đã phân phối xong đơn vị cho mười chín sĩ quan, Thiếu tá Thanh với giọng nói đầy chân tình “Các anh tuy đã đội chiếc mũ nồi xanh, nhưng chỉ mới đặt có một chân lên ngưỡng cửa của căn nhà Lực Lượng Đặc Biệt. Tôi, Thiếu tá Thanh nhân danh người đi trước, có bổn phận phải giúp đỡ các anh hội nhập vào đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, càng sớm càng tốt. Điều trước tiên tôi có thể làm được là, tôi sẽ gởi các anh tới căn cứ Động Ba Thìn ở Cam Ranh, để học một khóa căn bản về Lực Lượng Đặc Biệt. Các anh phải nhớ rằng, đây là một ngoại lệ chỉ dành riêng cho các anh, bởi vì muốn học khóa căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, các sĩ quan phải cần có một tới hai năm kinh nghiệm tác chiến, mới được theo học khóa này. Khóa học sẽ kéo dài khoảng năm tháng”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông chỉ vào một vị chuẩn úy ngồi ở dãy ghế đầu “Thời gian chuẩn úy theo học ở quân trường Thủ Đức bao lâu?”. Ông chuẩn úy nói “Thưa thiếu tá, nếu kể luôn giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thời gian thụ huấn trong quân trường của chúng tôi, tổng cộng chỉ có sáu tháng”. Thiếu tá Thanh nói “Sáu tháng, từ một học sinh, từ một sinh viên, các anh đã lột xác để trở thành chuẩn úy, trở thành một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với khóa Lực Lượng Đặc Biệt, các anh phải cần thêm năm tháng nữa để học về mưu sinh thoát hiểm, về xâm nhập vào đất địch, và về nhiều kiến thức cần thiết cho một binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt mà tôi không tiện nói ra đây. Sau khi tốt nghiệp khóa học này, các anh sẽ được học thêm một khóa nhảy dù, thời gian khoảng năm tuần. Khi các anh đã tốt nghiệp hai khóa học căn bản nói trên, các anh có thể hãnh diện là mình đã chính thức trở thành một thành viên trong đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt. Riêng năm anh thuộc toán Delta và bốn anh 81 Biệt Cách Nhảy Dù, thì đường còn dài, còn lắm chông gai, các anh lại phải học thêm những khóa chuyên biệt khác nữa”.
Long công tử ngừng nói, nhíu mày như để nhớ lại chuyện xưa.
-Sau mấy khóa học đổ mồ hôi sôi nước mắt ở Động Ba Thìn, tao được đưa về trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng Thiện Ngôn ở Tây Ninh, cách biên giới Việt Miên sáu cây số. Đây là một trong số mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt trên khắp bốn vùng chiến thuật. Trên bản đồ quân sự một phần năm mươi ngàn, vị trí trại Thiện Ngôn nằm gần ngay tâm điểm trung ương cục R của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nó là cái gai trong mắt, là khúc xương chận ngay cổ họng của Việt Cộng, cho nên bằng mọi giá, họ luôn luôn tìm cách nhổ bỏ khúc xương này. Trại có hai phi trường trực thăng, một ở bên trong và một ở bên ngoài trại, một phi trường dã chiến lót vỉ sắt PSP cho phi cơ C123 và C130. Về vũ khí, trại có năm khẩu đại bác 105 ly do quân nhân Mỹ sử dụng, hai khẩu súng cối 106 ly và hàng chục khẩu đại liên 12 ly 7, của đại đội Dân Sự Chiến Đấu. Về binh sĩ, trại có khoảng một trăm quân nhân Mỹ, nhưng trong đó chỉ có mười hai binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ mà thôi, số còn lại là binh sĩ pháo binh, truyền tin, kỹ thuật, thêm sáu đại đội lính Dân Sự Chiến Đấu, trong đó có ba đại đội gốc người Miên. Bên phía Việt Nam Cộng Hòa có khoảng mười hai quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt. Tất cả quân nhân Mỹ, sáu đại đội Dân Sự Chiến Đấu cũng như quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đều đặt dưới sự điều động, chỉ huy của Đại úy Tuấn Lực Lượng Đặc Biệt. Ông ta là căn cứ trưởng của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn. Trại như là một cái ốc đảo nằm gọn giữa rừng sâu, không có đường bộ để ra vào, con đường duy nhất có thể tiếp cận với thế giới bên ngoài là nhờ vào trực thăng và vận tải cơ của cố vấn Mỹ. Ba tháng đầu tiên ở trại, buồn chán đến phát điên bởi vì Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài, uống cà phê theo nghĩa bóng có nghĩa là huấn luyện. Buổi sáng, Đại úy căn cứ trưởng một ly cà phê, chuẩn úy cũng một ly cà phê, cà phê Mỹ chua lè nhạt như nước lã, vậy mà ngày nào tao cũng phải uống hai cữ, vừa uống vừa nghe Đại úy căn cứ trưởng giảng bài về chuyện hành quân phối hợp với cố vấn Mỹ và lính Dân Sự Chiến Đấu, học về kế hoạch hành quân, kế hoạch yểm trợ hỏa lực, thôi thì đủ mọi thứ từ A tới Z, và cuối cùng là trách nhiệm và bổn phận của một căn cứ phó.
Long Công tử vươn vai, duỗi chân rồi than thở.
-Mày thử nghĩ coi, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức xong, tao phải cưa thêm năm tháng căn bản Lực Lượng Đặc Biệt ở Động Ba Thìn, học về chuyện khi đói làm thế nào ăn mấy con sâu, nhai rắn rít, bọ cạp để sống còn, khi khát học cách uống nước trong rễ cây, trong thân cây, khi bị thương học cách nhai lá rừng đắp lên vết thương để cầm máu, đau yếu học cách nuốt lá rừng để trị bịnh rồi học cách sử dụng những dụng cụ đặc biệt, mà một người lính Lực Lượng Đặc Biệt mang theo khi hành quân. Và bài học quan trọng nhất tốn nhiều ngày giờ nhất, là hành quân xâm nhập. Vừa dứt khóa học căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, tao tưởng sẽ có cái phép dăm bảy ngày về Sài Gòn bay bướm, ra Givral uống cà phê khoe cái mũ nồi xanh trên đầu, tiện thể nhìn xe cộ ngược xuôi trên đường phố cho đã con mắt, nào ngờ cả bọn lại bị lùa sang học nhảy dù thêm năm tuần lễ nữa. Nhảy dù là khóa học không dễ nhưng cũng không khó, để huấn luyện về thể xác, mỗi buổi sáng tụi tao với ba lô trên vai, súng cầm tay chạy một lèo từ Động Ba Thìn đến Hòa Do rồi chạy về, hơn chục cây số chớ phải chơi đâu, lính mà chạy không thua gì những con ngựa ở trường đua Phú Thọ. Chiều đến ở trong trại học nhảy, học bò, học té. Khi học về nhiều cách té, để cho đỡ buồn tụi tao gọi đùa là té bảy món, té sấp, té ngửa, té chổng mông, té bò càng, té lăn cù, té chúi nhủi, té chổng gọng. Cuối cùng khóa sinh phải nhảy đủ bảy sô ngày và một sô đêm trên các loại máy bay, từ C47 sang C119, C123 rồi C130 mới được cấp phát bằng nhảy dù. Học như vậy tao tưởng đã đủ lắm rồi, nào ngờ khi về trại Thiện Ngôn còn bị Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài. Sau khi trải qua không biết bao nhiêu là gian nan khổ cực, cuối cùng tao chính thức được bổ nhiệm làm căn cứ phó. Khi biết tao đã sẵn sàng lao đầu vào vùng lửa đạn, nhân vụ một trung đoàn Việt Cộng pháo kích và tấn công vào trại, sau đó rút về bên kia biên giới. Đại úy Tuấn căn cứ trưởng cho lệnh mở cuộc hành quân về phía biên giới Cam Bu Chia, nơi mà bộ chỉ huy cơ quan đầu não cục R của Việt Cộng ẩn núp. Lực lượng hành quân gồm có hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu, một toán cố vấn Mỹ có hai sĩ quan, một hạ sĩ quan, hai thông dịch viên, hai truyền tin. Bộ chỉ huy hành quân do tao trực tiếp chỉ huy, có một hạ sĩ quan phụ tá, hai truyền tin, hai quân y, bốn khinh binh, một trung đội Trinh Sát, một trung đội Vũ khí nặng. Sau hai ngày băng rừng lội suối, tụi tao tới biên giới, đây là lần đầu tiên trong đời tao xuất ngoại qua Cam Bu Chia mà không cần mang theo giấy tờ xuất nhập cảnh.
Tôi tò mò hỏi Long công tử.
-Lần đầu tiên, đứng trước những người lính áo quần rằn ri, mặt mũi bặm trợn như ông kẹ, mày có run sợ chút nào không?
Long công tử nhìn tôi.
-Mày là Trung úy mà hỏi gì kỳ vậy, run thì làm sao mà chỉ huy lính được.
-Long à, hơn sáu năm ở Trường Võ Bị Đà Lạt, tao chỉ có khả năng chỉ huy hai người hạ sĩ quan trực với tao mà thôi.
Long công tử đùa.
-Mày hỏi cũng phải, mặc dầu đã được Đại úy căn cứ trưởng chỉ bảo cẩn thận, truyền thụ võ công đầy đủ, bao nhiêu chiêu thức bí truyền của ổng, tao đều thuộc nằm lòng. Vậy mà đứng trước hàng quân khi ban lịnh hành quân, tao vẫn bị khớp như thường, ăn nói không được lưu loát cho lắm. Tuy vậy chỉ vài phút sau, tao nói hăng say cứ như là đồng nhập. Từ đó về sau, nói chuyện trước hàng quân, với tao cũng giống như là uống ly bia, hút điếu thuốc mà thôi.
Tôi hỏi Long công tử.
-Một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có bao nhiêu người?
Long công tử nhăn mặt ra chiều đau khổ. -Tùy theo mùa, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có trên một trăm người, đến mùa lúa chín, quân số của đại đội chỉ còn một nửa, bởi vì họ bỏ lính trở về nhà gặt lúa. Xong mùa gặt, họ mới vô lính lại, đúng như cái tên gọi Dân Sự Chiến Đấu. Theo tao biết, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu được tổ chức gần giống như Đại đội chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng gồm có đại đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng. Sự khác biệt là họ chỉ có chức vụ chứ không có cấp bậc, nếu một người lính Dân Sự Chiến Đấu tuyển mộ được một trung đội, thì người đó sẽ là trung đội trưởng, nếu tuyển mộ được một đại đội, người tuyển mộ sẽ là đại đội trưởng. Lực lượng Dân Sự Chiến Đấu là lính không có số quân, họ được người Mỹ huấn luyện, trang bị vũ khí và lãnh lương của Mỹ. Điều duy nhất yếu kém của Đại đội Dân Sự Chiến Đấu là đại đội trưởng hay trung đội trưởng chỉ giỏi trong việc chỉ huy lính chiến đấu chứ không biết gọi phi pháo yểm trợ. Do vậy trong bất cứ cuộc hành quân nào, sĩ quan của Lực Lượng Đặc Biệt sẽ là cấp chỉ huy. Tao là chuẩn úy căn cứ phó, nên chỉ huy hai Đại đội Dân Sự Chiến Đấu khi hành quân là chuyện bắt buộc. Ngày thứ ba trong cuộc hành quân, tụi tao bắt đầu di chuyển qua biên giới, lâu lâu mình bất ngờ tràn qua biên giới một lần, phá hủy các căn cứ hậu cần của cục R rồi lẹ lẹ rút về, chẳng có ủy hội quốc tế nào dám đến tận chiến trường trong rừng sâu núi thẳm để kiểm soát hay phản đối. Tao chia lực lượng làm hai cánh quân, Đại đội I Dân Sự Chiến Đấu đi cánh trái, Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu bên cánh phải, cách nhau chừng một trăm mét, bộ chỉ huy của tao với toán cố vấn Mỹ đi ở giữa. Đi vô hang cọp đánh phá, không u đầu thì cũng sứt trán, buổi trưa trong rừng rậm nhiệt đới không một chút gió, với cái nóng oi bức vây quanh, bộ chỉ huy của tao đang lầm lủi di chuyển với đội hình hàng một, tao bỗng nghe được cùng một lúc, nhiều tiếng nổ long trời lở đất của đủ loại vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng vào hướng ba giờ, tức là hướng của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu. Nhanh như chớp tao báo cáo với Đại úy căn cứ trưởng tọa độ điểm đứng của tao, sau đó là hướng tấn công của địch, rồi xin yểm trợ pháo binh cũng như không yểm. Vừa nói chuyện qua máy PRC25 tao vừa cho lệnh trung đội Trinh Sát cùng với hai khẩu đại liên M60, bẻ một góc chín chục độ, đội hình của bộ chỉ huy đã thành hàng ngang, tất cả tiến về phía trước. Mới di chuyển chừng hai chục thước, tao đã gặp những người lính của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, vừa bắn cầm chừng rồi dạt về phía sau.
Tao lập tức cho bố trí hai khẩu đại liên, khi những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu vừa lui tới, hai khẩu đại liên của tao quạt như điên về phía trước, thêm hơn ba chục cây M16, M79 của trung đội Trinh Sát đồng loạt bắn hổ trợ. Vừa bắn tụi tao vừa di chuyển từ từ về phía trước trong tiếng nổ kinh hồn của B40 chen lẫn với tiếng đạn AK xé gió bên mang tai, rồi tiếng cành cây gãy kêu răng rắc, tiếng đạn chạm vào thân cây kêu lụp bụp, cho đến khi gặp địa thế tương đối khá tốt, tất cả bọn tao trụ lại. Ngay lúc ấy, Trung úy cố vấn Mỹ McKenzie phóng ào tới bên tay phải, cách tao chừng hơn mười mét, ông ta đặt khẩu đại liên M60 xuống một mô đất rồi lẹ tay siết cò. Tao nhìn về phía trước, đám lính Việt Cộng đông như một đàn kiến, đang tranh nhau tràn lên định làm cỏ Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, bất ngờ bị ba cây đại liên đồng loạt khai hỏa, khói lửa mù trời, vỏ đạn rơi đầy đất chen lẫn với tiếng nổ của súng M16, M79, người chứ đâu phải mình đồng da sắt mà chịu cho thấu, lính Việt Cộng lớp rớt như sung rụng, lớp bỏ chạy tán loạn. Hai tay xạ thủ đại liên lại xách súng chạy theo tao về phía trước, đặt súng trên vùng có xạ trường tốt, tiếp tục khạc đạn. Lúc này những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu sau cú bị phục kích bất ngờ, được sự trợ giúp của trung đội Trinh Sát và trung đội Vũ khí nặng, họ đã tái tổ chức lại đội hình, và bắt đầu phản công. Trong khi hai cây đại liên của tao thi nhau nổ giòn giã từng chặp, thì cây đại liên của Trung úy McKenzie gặp trở ngại nên im bặt, tao lẹ làng phóng mình tới gần bên Trung úy McKenzie, mắt liếc nhìn khẩu M60, miệng hét lớn “Change it”. Trung úy McKenzie nghe tao nói nhưng ông ta vẫn đứng im như trời trồng, giương cặp mắt xanh lè màu ve chai nhìn tao. Vốn liếng tiếng Anh của bảy năm trung học, cộng thêm ba năm Anh văn là sinh ngữ chính ở Đại học Văn khoa coi như đổ sông bỏ biển. Các giảng viên ở Viện đại học đã bắt tao học nhiều tác phẩm lừng danh trên thế giới của đại văn hào William Shakespeare, Mark Twain, Ernest Hemingway. Bấy lâu nay, tao cứ đinh ninh trong đầu là mình biết tiếng Anh, nào ngờ khi đụng chuyện, chỉ mới nói có hai chữ mà cũng không xong. Biết là Trung úy McKenzie không hiểu tao nói gì, quá tức giận mình, tao bước qua cây đại liên, mang cái bao tay da to tổ bố vào, rồi thay cái nòng súng đại liên đang bốc khói, thiếu điều muốn cháy luôn cái bao tay da. Trung úy McKenzie nhìn tao, đưa một ngón tay cái lên trời.
Long công tử chuyển qua giọng nói đầy vẻ bực dọc.
-Ngay lúc ấy tao muốn nói với Trung úy McKenzie là “Mày còn chần chờ gì nữa, bắn đi” nhưng miệng thì lại câm như hến, không nói được một chữ tiếng Mỹ nào. Cho dù trong cái đầu của tao đã hoạt động hết công suất để dịch câu nói trên sang tiếng Mỹ, vậy mà không cách gì làm được. Ngày xưa khi còn đi học, mình chỉ chú trọng đến văn phạm, ngữ pháp, coi nhẹ chuyện đàm thoại, muốn nói một câu tiếng Mỹ, tao phải nghĩ câu nói ấy bằng tiếng Việt trong đầu, rồi dịch sang tiếng Mỹ, cuối cùng mới nói được mấy chữ tiếng Mỹ mà mình muốn nói. Cả một quá trình diễn tiến đầy nhiêu khê phức tạp trong đầu mới nói ra được một câu, lúc bấy giờ đứng giữa khói lửa mù trời, đạn bay như sao xẹt, giữa sự sống và cái chết, bắn chậm thì chết, tao càng luống cuống ngớ cả người. Trong lúc bối rối quá sức, không biết phải nói như thế nào cho Trung úy McKenzie hiểu, túng quá tao đành đưa ngón tay trỏ lên trời, duỗi thẳng ra rồi co lại giống như mình đang bóp cò, miệng hét lớn “Shoot, shoot”. Như một cái máy Trung úy McKenzie lẹ làng chụp khẩu đại liên M60. Bóp cò. Tiếng nổ chát chúa kéo dài từng chặp ba viên một, của khẩu đại liên M60 do Trung úy McKenzie bắn, xen lẫn với tiếng đì đùng vang trời của những quả đạn 105 ly do năm khẩu đại bác từ căn cứ Thiện Ngôn bắn yểm trợ, tạo nên một âm thanh hỗn tạp nghe sao mà êm tai quá chừng. Cũng cùng lúc ấy một tiếng “ầm” cọng với sức nóng hừng hực của một quả đạn B40, nghe muốn điếc con ráy vang lên chỗ khẩu đại liên M60, nơi mà tao vừa rời khỏi ít phút trước đó. Khẩu M60 văng xa mấy thước, cái nòng súng biến đi đâu mất, dây đạn đại liên đứt thành mấy khúc, người xạ thủ đại liên và phụ xạ thủ chỉ còn là hai cái xác bầy hầy máu tươi trộn lẫn với đất cát, một cái xác mất đầu, một xác mất tay, trong khi cánh tay còn lại của xác chết vẫn còn co giật nhè nhẹ. Tao cúi đầu nhìn hai cái xác nhưng không còn nhận ra ai là ai. Một lúc sau khi pháo binh 105 ly ngưng hoạt động, tao nghe được tiếng quạt phành phạch của trực thăng võ trang vần vũ trên trời, tiếng rocket xé gió bay về phía địch.
Long công tử im lặng một lúc, rồi quay qua nhìn tôi.
-Tao thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nếu khẩu đại liên M60 của Trung úy McKenzie không kẹt đạn, tao không chạy qua thay giùm cái nòng súng cho ông ta, tao chỉ còn là một đống thịt bèo nhèo trộn lẫn với máu xương, làm gì có cơ hội ngồi đây để tâm sự vụn với mày. Giống như trường hợp của mày, nếu không có hai người lính Quân Cảnh chia cắt mày và Dung ở đuôi chiếc phi cơ C130 thì giờ này…
Long công tử bỏ lửng câu nói, hắn uống một hớp nước đường.
-Khi mà chiến trường vừa ngớt tiếng súng, tao dẫn theo trung đội Trinh Sát đi truy kích lục soát, trước mắt tao là cảnh địa ngục của trần gian với xác người nằm ngổn ngang nơi chiến địa. Kết quả sơ khởi hai chục Dân Sự Chiến Đấu bị chết và bị thương, Việt Cộng bỏ xác tại chỗ hơn bốn chục mạng, súng AK, B40 và M16 nằm lăn lóc khắp nơi. Trong khi tao đang lục soát, qua máy truyền tin PRC 25, Đại úy căn cứ trưởng đang bay trực thăng trên trời, xát muối ớt tao tơi bời hoa lá “Ông làm ăn cái kiểu gì kỳ vậy, cố vấn Mỹ báo cáo với tôi lực lượng Dân Sự Chiến Đấu chết với bị thương hơn hai chục mạng”. Sếp lớn chưa biết ất giáp gì đã vội kêu máy giũa mình, cái chết ngay trước mặt tao còn không sợ, sá gì Đại úy căn cứ trưởng, tao nổi điên tắt mẹ nó cái máy PRC 25 cho được việc. Hành động đó, khiến tao có thể bị tù như không, nhưng mà một khi bị chạm dây, phản ứng của con người ngay lúc đó sẽ không còn do lý trí điều khiển nữa, mà nó tùy theo tần số của dòng điện cao hay thấp.
Tôi ngắt lời Long công tử.
-Cho con gà nòi của mình cáp độ trận đầu, Đại úy căn cứ trưởng tưởng con gà của mình yếu bóng vía, nên ông nổi giận chứ gì?
Long công tử không trả lời tôi, hắn kể tiếp.
-Ba ngày sau, tụi tao về lại đến căn cứ Thiện Ngôn. Một buổi họp Việt Mỹ được tổ chức, rút ưu khuyết điểm của trận đánh. Hai tay cố vấn Mỹ đi theo Đại Đội I Dân Sự Chiến Đấu, than phiền sự yếu kém chỉ huy của tao nên con số thương vong của Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu, đi bên cánh phải lên đến hơn hai chục người. Tao giận cành hông định đứng lên phản đối, bất ngờ Trung úy McKenzie phát biểu ý kiến, ông ta nói “Nếu không có Chuẩn úy Long nhanh chóng điều hai cây đại liên M60 cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, có thể cả Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu đã bị làm cỏ sạch rồi, sạch sẽ không còn một mạng, nói gì chỉ chết có hai chục”. Đang nói chuyện, Trung úy McKenzie bất ngờ đứng lên, với giọng nói đầy hăng say “Tôi đã chiến đấu bên cạnh Chuẩn úy Long, suốt thời gian Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu bị Việt Cộng phục kích, và tôi chưa bao giờ thấy một ông sĩ quan nào kể cả sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, can trường gan dạ như Chuẩn úy Long. Ông ta đã anh dũng chiến đấu để làm chủ chiến trường, từ bị phục kích trở thành tấn công, từ thua thành chiến thắng cho Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu mà chứng cớ còn đó, với hơn bốn mươi xác Việt Cộng bỏ lại nơi chiến trường. Đó là tất cả những gì tôi đã tận mắt chứng kiến, trong cuộc hành quân cách đây ba ngày”. Với tao, bài học kinh nghiệm sau trận đánh là, tao cố gắng thực tập nghe và nói tiếng Mỹ thường xuyên với Trung úy McKenzie hơn. Bởi vì tao không muốn trong tương lai, khi đứng giữa chốn tên bay đạn lạc, mà lại nói chuyện với cố vấn Mỹ bằng thủ hiệu. Khi buổi họp kết thúc, hai cố vấn Mỹ đến bắt tay tao xin lỗi, họ nói rằng chỉ nhìn con số tử vong của hai bên chứ không biết được sự chiến đấu anh dũng của tao.
Long công tử cười mà cái miệng méo xệch.
-Anh dũng can trường con mẹ gì, phản xạ tự nhiên của tao, khi nghe tiếng súng nổ, tao đem hai cây đại liên cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, may mắn gặp đúng thời đúng chỗ, chớ tao có tài cán gì đâu. Sau trận đánh đó, tao được binh sĩ trong trại tin yêu, họ nhìn tao với con mắt đầy nể phục. Từ đó cho đến cuối năm bảy mươi, khi mà Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, chuyển qua 81 Biệt Cách Nhảy Dù và Biệt Động Quân Biên Phòng tao vẫn là căn cứ phó của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn, ở đó để lãnh pháo kích dài dài, vẫn hành quân liên miên, đụng độ với Việt Cộng thêm nhiều trận ác liệt, mấy lần tưởng chừng như có thể lạc nẻo xuống địa ngục. Gần cuối năm bảy mươi, tao lên chức thiếu úy rồi sau đó chuyển qua Biệt Động Quân Biên Phòng. Tao bùi ngùi từ giã cái mũ nồi xanh, với không biết bao nhiêu là mến thương quyến luyến trong lòng. Khi qua làm lính mũ nâu tao được cử đi học khóa “Tác chiến trong rừng” ở Mã Lai Á. Cũng nhờ cả năm trau giồi Anh ngữ với trung úy McKenzie ở trại Lực Lượng Đặc Biệt, khi lấy cái test đi du học ở trường Sinh ngữ Quân đội, tao vượt qua một cách dễ dàng với số điểm hơn chín mươi, trong khi bài test chỉ cần bảy mươi điểm mà thôi.
Long công tử chép miệng.
-Đi Mã Lai học, nghe thoáng qua cứ như là đi du học ngoại quốc, thực sự với khóa học chỉ kéo dài một tháng, không đủ thời giờ để ngắm cảnh rừng núi của Mã Lai, nói gì đến chuyện học. Lần này tao xuất ngoại có giấy tờ đàng hoàng, qua Mã Lai mà không có giấy nhập cảnh, ai chớ tụi Mã nó bỏ tù mình như không.
Tôi nhắc Long công tử.
-Mày có biết mấy giờ rồi không?
Long công tử lắc đầu.
-Không, nhưng mà chắc tới giờ tao phải đi lãnh cơm rồi, chủ nhật tuần tới mình gặp nhau đi.
Tôi bưng hũ ruốc thịt heo kho sả chỉ còn khoảng một phần tư, để lên cái xách tay rồi nói với Trung úy Lợi.
-Hơn hai tháng rồi, tao với mày nhờ nó mà sống hùng sống mạnh, sống huy hoàng. Cho đến hôm nay chỉ còn lại chừng này, phải chi mấy tháng trước, vợ tao làm cho tao chừng hai hũ như thế này thì đỡ cho tụi mình biết mấy.
Trung úy Lợi nhìn tôi.
-Hồi còn ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, khi thấy hũ ruốc thịt kho sả của mày tao cười chế nhạo, đến hôm nay mới biết là mình hồ đồ, thiển cận. Mà thôi chuyện đã lỡ rồi, biết làm sao bây giờ, có mấy ai ngờ được mười ngày là mười tháng đâu.
Tôi múc một ít ruốc thịt cho vào cái hũ thủy tinh nhỏ bằng nắm tay. Cái hũ này tôi lượm được trong đống rác khi đi làm lao động, với ý định là làm cái ly uống nước, sau đó bỏ công kì cọ cái hũ với cát mịn, rồi lên nhà bếp của khối Đà Lạt xin chút nước sôi rửa lại một lần nữa. Sau màn làm tổng vệ sinh, cái hũ thủy tinh trông cứ như là mới mua ở chợ về. Hôm qua tôi muốn dùng nó để đựng ruốc kho sả, lại thêm một chuyện nữa tôi phải làm là lúc đi lao động tôi lượm về một cục gỗ, tốn mấy giờ đẽo gọt, mài trên nền xi măng, cuối cùng tôi có được cái nắp đậy vừa khít với cái hũ thủy tinh.
Trung úy Lợi hỏi tôi.
-Mày làm gì vậy?
-Tao muốn đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử hũ ruốc này. Tội nghiệp nó đói gần chết suốt ba, bốn tháng trường khi bị nhốt ở Cà Tót, không cơm không cháo, chỉ ăn toàn khoai mì, rồi đọt mì với măng, đã vậy còn mang thêm cái bịnh sốt rét. Người chứ đâu phải voi, sức đâu mà chịu cho nổi. Mấy ngày trước ở cổng trại, mày thấy Long công tử rồi chứ gì, người ngợm của nó chỉ còn là da bọc xương.
Trung úy Lợi gật đầu.
-Mày nói phải, đem cho nó là đúng rồi, tụi mình còn hai lon thịt hộp, mày lấy cho nó một lon đi. So với nó, tao với mày tuy cũng ở tù nhưng còn may mắn hơn nhiều vì vẫn còn mập mạp, mạnh khỏe quá mạng, dư sức chịu đựng mà.
Khi nghe Trung úy Lợi nói như vậy khiến tôi cảm thấy sung sướng trong lòng, sẵn dịp tôi nói luôn:
-Chuyện giao thiệp với mọi người tao không được khéo cho lắm, có việc này tao muốn nhờ mày.
-Chuyện gì? Nói tao nghe thử coi, có được không?
-Mày làm sao tìm mua cho tao mấy viên thuốc Chloroquine trị sốt rét của lính mình ngày xưa, thêm một lon sữa đặc có đường.
Trung úy Lợi cười sằng sặc.
-Mẹ nó, mày cũng vừa thôi, đòi toàn là thứ hàng cao cấp. Sống ở địa ngục mà mày muốn mua loại hàng chỉ có ở thiên đường dương thế, thì làm sao mà mua cho được. Để từ từ đi, tao còn phải dò xét cẩn thận rồi mới nói lại với mày sau.
Tôi đẩy nhẹ Trung úy Lợi.
-Mày học được ở đâu mấy chữ “hàng cao cấp” vậy.
Nói xong, tôi lấy trong ví bốn tờ giấy năm trăm tiền Việt Nam Cộng Hòa, đưa cho Trung úy Lợi.
-Tao chỉ có hai ngàn, đây là tất cả gia tài vốn liếng của tao, mày cầm lấy đi tìm mua thuốc với sữa giùm.
Trung úy Lợi cầm tiền rồi hỏi:
-Mày mua cho Long công tử phải không?
Tôi nói:
-Không lẽ cho tao hay mày, tụi mình còn mạnh như trâu, đâu có cần mấy thứ đó.
Phải hai ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Trung úy Lợi đưa cho tôi tám viên thuốc Chloroquine và một lon sữa đặc có đường hiệu ông Thọ. Mừng như bắt được vàng, tôi nói với Trung úy Lợi.
-Mày hay thiệt, cứ như là điệp viên. Nói cho tao nghe mày kiếm ở đâu ra vậy?
Trung úy Lợi loay hoay lục trong túi, đưa lại cho tôi ba tờ giấy năm trăm.
-Đây là một ngàn rưỡi tiền còn dư lại, thuốc sốt rét không tốn tiền mua, tao xin được của một thằng ở Tổ 39 thuộc khối Đà Lạt của mình. Còn lon sữa ông Thọ có một thằng ở khối Bình Tuy, nó bán lon sữa cho tao với giá năm trăm đồng.
Tôi ngạc nhiên quá sức, nói với Trung úy Lợi.
-Tao tưởng thằng có lon sữa, nó phải đòi nhiều hơn chớ. Từ sau ngày ba mươi tháng tư, mệnh giá của đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa thay đổi bất thường liên tục khiến cho mọi người chẳng biết đâu mà lần. Hôm nay còn có chút giá trị, ngày mai có thể trở thành tờ giấy lộn. Với tao có trong tay lon sữa, coi bộ vững tâm hơn là cầm tờ giấy năm trăm.
Tôi đặt lon sữa, thuốc sốt rét, lon thịt hộp và hũ ruốc nho nhỏ vào cái bao cát, túm gọn đầu bao cát lại khoác lên vai rồi rủ Trung úy Lợi.
-Bây giờ tao đem mấy cái thứ này qua khối Bình Thuận cho Long công tử, mày đi với tao cho vui.
Trung úy Lợi vui vẻ.
-Đi thì đi nhưng nhớ về sớm, bảy giờ là phải họp tổ rồi đó.
-Mày yên chí, qua đưa cái bao này cho Long công tử, dặn dò vài câu rồi về liền mà.
Tuy nói với Trung úy Lợi như vậy nhưng khi gặp Long công tử, nhìn cái thân xác ốm yếu gầy gò của nó, tôi không đành lòng đi ngay, cứ chần chờ, quyến luyến không nỡ dời chân.
Trung úy Lợi vì đợi quá lâu nên hối tôi.
-Quân nè sắp tới giờ họp tổ rồi, tụi mình phải về thôi.
Tôi ráng nấn ná thêm chút xíu, dặn dò Long công tử.
-Mày nhớ uống thuốc và uống sữa, như vậy mới mau bình phục được.
Khi tôi và Trung úy Lợi về đến nơi, cũng là lúc tổ trưởng bắt đầu điểm danh để họp tổ. Tất cả mọi người ngồi thành hình chữ nhật trên sân đất trong phòng ngủ, mười sáu cái miệng đói ăn, hét ra lửa ngày nào, giờ đây ông ổng hát bài “Bác cùng chúng cháu hành quân”. Sở dĩ tôi nói hét ra lửa, là vì với cấp bậc trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nếu ở đơn vị tác chiến, chức vụ của mấy ông trung úy thường là đại đội trưởng. Bài hát mà chúng tôi vừa vỗ tay vừa gào lên, âm điệu của bản nhạc lúc thì the thé, lúc thì eo éo cứ như là bản nhạc Tàu lời Việt.
Điện Biên năm nào vọng lời Bác giữa chiến hào.
Tôi say sưa hát nhưng trong lòng cứ nơm nớp lo sợ hão huyền, Bác đang ở giữa chiến hào, lỡ bị trúng bom của thực dân Pháp chết banh thây, thì còn ai mà đọc lời “Chúc Tết Mậu Thân”. Điều quan trọng hơn là cái lăng của Bác ở Quảng trường Ba Đình, không lẽ bỏ trống, chắc phải làm cái thi hài bằng sáp thế vào, để cho dân chúng đến chiêm ngưỡng. Tất cả những bản nhạc mà chúng tôi hát trong tù, đều là loại nhạc lai căn mất gốc, được sáng tác theo đơn đặt hàng của đảng Cộng Sản. Vậy mà bọn tù chúng tôi bị bắt buộc phải học thuộc lòng khoảng sáu, bảy bài hát này. Hàng ngày trước khi họp tổ, họp sinh hoạt kiểm điểm, là cả tổ phải căng họng rống lên một bài hát lai Tàu. Một vài lần, anh tổ trưởng thấy khí thế chống đế quốc Mỹ, chống Ngụy của tù nhân chưa được mạnh mẽ cho lắm, bèn bắt hát thêm bản nữa, hát cho đến khi sạch bóng quân thù, Mỹ cút Ngụy nhào mới được ngưng. Đó là hình ảnh mở màn cho một buổi họp tổ trong tù, một ngày họp hai lần, tính ra một tuần chúng tôi phải hát ít nhất là mười bốn lần mấy bài hát thổ tả của Việt Cộng.
Gần một tuần trôi qua, hôm nay là chủ nhật, tất cả mọi người được nghỉ ngơi không phải đi lao động, một mình tôi đi qua khối Bình Thuận thăm Long công tử. Nội quy của trại không cấm chúng tôi đi từ khối này qua khối khác, nhưng chẳng có mấy ai đi lang thang, thường chỉ quanh quẩn trong khối của mình, bởi vì không một ai muốn bị phê bình, kiểm điểm vì cái tội liên hệ linh tinh. Chỉ mới có mấy ngày không gặp mà sắc diện của Long công tử đã thay đổi hẳn. Tôi không ngờ Long công tử hồi phục nhanh như vậy, hắn có thể tự đi lại một mình không cần phải chống gậy, giọng nói của hắn nghe đã bắt đầu mạnh hơn, không thều thào đứt khoảng, hụt hơi như khi gặp tôi tuần trước. Tôi nắm vai Long công tử.
-Trông mày khỏe hơn trước nhiều rồi.
Long công tử cười, giải thích với tôi.
-Mỗi buổi sáng tao ăn một chén cháo, uống một viên thuốc Chloroquine, sau đó mới xuống nhà bếp của khối xin một lon nước sôi đem về phòng. Bảy người trong phòng đã đi lao động hết rồi, một mình tao một cõi muốn làm gì thì làm, chẳng có ai phiền hà gì đến mình. Tao pha một chén sữa rồi cứ nhẩn nha mà thưởng thức, còn gì khoái cho bằng khi tao ngửa cổ uống một hơi, chất ngọt của đường, vị béo của sữa đi qua cổ họng, trôi tới đâu mình cảm thấy ngọt ngay tới đó. Cứ vậy tao từ từ uống cạn hết chén sữa ngon lành. Buổi trưa, tao lại đi xuống bếp lãnh phần cơm của mình, một chén rưỡi cơm thêm một miếng bí đỏ to bằng nửa ngón tay cái, với tao chừng đó đã là quá sức hậu hỉ rồi, có nằm mơ cũng không tin là mỗi bữa ăn lại có chén rưỡi cơm. Thế nhưng có một điều tao không ngờ tới là, tay nấu bếp có lẽ thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, hắn bèn cho thêm một miếng cơm cháy cỡ hai ngón tay.
Long công tử đưa hai ngón tay lên nhìn, rồi gật đầu.
-Đúng rồi cỡ đó thôi, mày có biết không, miếng cơm cháy đó mà ăn với ruốc thịt heo kho sả của mày thì không gì ngon bằng. Chút béo của mỡ heo, chút ngọt của đường, cái mặn của muối, cay cay của ớt, mùi thơm của sả, giòn giòn của cơm cháy, tao ăn mà cứ tưởng như ngày xưa khi đi chơi khuya về ngang qua khu Tân Định, ăn khúc bánh mì kẹp thịt nơi xe bánh mì Sáu Voi. Chiều đến tao lại lãnh chén rưỡi cơm, lại ăn với ruốc, hộp thịt mày cho tao vẫn chưa ăn, còn để dành đó.
Tôi nói với Long công tử.
-Hộp thịt đó của Trung úy Lợi cho mày, chứ không phải của tao. Trung úy Lợi là bạn tao mới quen sau này khi bắt đầu vô tù, còn bạn cũ chẳng thấy thằng nào, chắc tụi nó lanh tay lẹ chân bay qua Mỹ hết rồi. À Long nè, mày có biết là Biên chết rồi không?
Long công tử lặng người đi hồi lâu rồi hỏi tôi.
-Biên chết lâu chưa? Từ ngày ra trường tao đi biệt luôn rất ít khi về Sài Gòn nên không biết gì.
-Để tao nhớ lại coi, Biên nó chết đâu khoảng năm bảy hai tại Quảng Trị.
Tôi kéo Long công tử.
-Ở đây tù túng quá, tụi mình kiếm chỗ nào thoáng mát, ngồi nói chuyện cho thoải mái hơn, tao muốn biết tại sao mày là dân Sài Gòn mà lại bị đưa đi học tập ở Cà Tót, Phan Thiết.
Long gật đầu.
-Mày nói phải, tụi mình ra sau hè bên hông nhà bếp, chỗ đó ít người qua lại.
Tôi và Long công tử ngồi bên hè nhà bếp, dựa lưng vào tường. Long công tử nâng cái lon gô uống một ngụm nước rồi bắt đầu câu chuyện.
-Mùa hè năm sáu mươi sáu, tao vừa xong năm thứ nhất bên Văn khoa, một thằng quanh năm suốt tháng chỉ biết rong chơi khắp cả cái đất Sài Gòn, không có nơi nào mà thiếu dấu chân của tao, ăn chơi xả láng như vậy mà cũng xong được năm thứ nhất, đúng là chuyện đáng mừng. Để thưởng công cho mình, tao bèn lấy vé máy bay, lên đồn điền của ba tao ở Ban Mê Thuột. Lúc đầu tao chỉ định ở chơi dăm bảy ngày, trốn cái nóng nực ở Sài Gòn đi tìm chút không khí trong lành của cao nguyên, không ngờ đó là một cuộc phiêu lưu kéo dài luôn ba tháng, cho đến ngày nhập học ở Văn khoa, tao mới trở về lại Sài Gòn. Đồn điền của ba tao cách Ban Mê Thuột vào khoảng mười cây số, trên đường từ Ban Mê Thuột đến cầu Mười bốn.
Long công tử ngưng nói quay nhìn tôi.
-Mày có đến Ban Mê Thuột bao giờ chưa?
Tôi lắc đầu.
-Chưa.
-Có dịp mày cũng nên đi một lần cho biết cái xứ đất đỏ bụi mù đó, nó như thế nào. Bụi mù nhưng con người thì lúc nào cũng trong sáng, không một chút mù mờ. Ngày đầu tiên ở Ban Mê Thuột, tao lái chiếc Land Rover của ba tao dạo phố. So với mấy chiếc xe Honda hai bánh đang chạy ở phố Ban Mê Thuột, chiếc Land Rover như một con voi rừng chạy bên cạnh mấy con nai. Ngồi trên xe tao phì phà điếu thuốc lá, nhìn đời bằng nửa con mắt, thành phố gì mà buồn quá sức, bụi đỏ bám đầy khắp nơi nhìn đâu cũng một màu gạch, phố xá vắng tanh người đi thưa thớt, thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh chạy vụt qua để lại một lớp bụi mù trên đường phố. Không biết làm gì cho hết giờ, tao chui vào rạp ciné Lodo ở ngay trung tâm thành phố. Được mươi phút tao phải hộc tốc chạy thoát thân, bởi vì cái nóng ngột ngạt khó thở của rạp chiếu bóng không có máy lạnh. Mới có một ngày ở Ban Mê Thuột mà tao đã ớn đến tận cổ. Ngày thứ hai, tao theo anh tài xế xe truck tên là Phục tới thăm đồn điền của ông già tao. Khi xe đã ra khỏi thành phố chừng bốn cây số, đường xá ở đây vắng bóng người di chuyển, trên quốc lộ chỉ có duy nhất một cô gái đang đi bộ. Anh Phục chỉ cô gái rồi nói “Con nhỏ đó tên Hà, mặt mũi coi dễ thương vậy mà tính tình lại cộc cằn, thô lỗ như là dân đầu đường xó chợ”. Tao quay đầu lại, chỉ kịp nhìn thoáng qua thì xe đã chạy quá xa. Tao nói với anh Phục “Anh biết cô ta hả?”. Anh Phục trả lời “Biết chớ cô Hà làm công trong đồn điền của mình, sở dĩ tôi nói cô ta khó ưa vì có xe của đồn điền chở công nhân đi làm miễn phí mà cô ta không chịu đi, cứ nhất định lội bộ”. Khi tới đồn điền, một mình tao ngồi trong văn phòng nhìn qua khung cửa kính, mới đầu tháng sáu hãy còn bốn năm tháng nữa mới đến mùa thu hoạch cà phê, cho nên cái sân đóng bao cà phê rộng mênh mông vắng hoe, chỉ có vài nữ công nhân đang làm việc.
Óc tò mò khiến tao lén quan sát cô Hà. Về sắc đẹp thì đúng như anh Phục nói, Hà không có vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, nhưng xinh xắn dễ thương như một con búp bê, còn về tính tình thì hoàn toàn khác hẳn những gì anh Phục nói. Hà vui vẻ với mọi người, ăn nói dịu dàng lại hay pha trò làm cho mấy cô công nhân cười bò lăn. Chuyện xảy ra trước mắt khiến tao không tin Hà là một con người cộc cằn. Bị sắc đẹp của Hà mê hoặc, sắc đẹp của một loài hoa nơi núi rừng hoang dã, nên ngày hôm sau tao lái chiếc Land Rover chạy rề rề theo sau Hà, suốt mấy cây số đường cô ta cắm cúi đi không một lần ngó lại. Ngày hôm sau mọi chuyện cũng diễn ra y như vậy. Sang đến ngày thứ ba, tao gần như mất kiên nhẫn, lái xe theo sau Hà nhưng trong bụng thì nản lắm rồi, đã mấy lần tao muốn bỏ cuộc quay về Ban Mê Thuột. Đúng ngay lúc ấy, Hà quay lại nhìn chăm chăm vào mặt tao rồi hỏi “Coi bộ anh rảnh quá há, tôi lội bộ mệt muốn chết, anh lái xe theo tui mấy ngày nay, anh không biết mệt hay sao?”
Long công tử ngừng kể, hắn bưng cái lon gô nước uống một hơi rồi quay sang tôi.
-Chỉ chờ chừng đó, khi nghe người đẹp mở miệng, tao mừng quá sức tắt máy xe, nhảy xuống chạy theo Hà rồi lấy giọng êm dịu nói “Tôi sợ cô mỏi chân nên muốn chở cô tới đồn điền, nhưng nghe người ta nói cô không ưa đi xe hơi, nên tôi không dám hỏi”. Hà nhìn tao rồi nói “Ai nói với anh như vậy?”. Tao trả lời “Anh tài xế Phục nói là cô chỉ thích đi bộ”. Hà phá ra cười rồi nói với tao “Tui không đi xe của đồn điền là vì mỗi lần chở tui, ông Phục lại kiếm cách tán tỉnh, anh biết không ổng hơn tui cả chục tuổi, già khú đế, thiếu điều có cháu rồi mà còn bày đặt dụ dỗ tui”. Tao nghĩ thầm trong bụng, tôi cũng đang tán tỉnh cô đây nè, nghĩ như vậy nhưng tao lại nói “Tôi chỉ muốn giúp cô thôi”. Hà cười vui vẻ “Được rồi tui sẽ đi xe, nhưng anh phải thề với trời đất là anh sẽ không học cái thói dê xồm của ông Phục”. Tao lập tức đưa hai tay lên trời rồi nói “Xin thề”. Miệng nói nhưng trong đầu lại nghĩ. Khi mở lời tán tỉnh em, anh Phục quên mất chuyện cưa sừng làm nghé, nên mới lâm cảnh điêu tàn như vậy. Với tao bước đầu khó khăn qua đi không mấy khó, kể như tao đã làm quen được với Hà.
Tôi hỏi Long công tử.
-Bộ Hà không biết mày là con ông chủ, là ông chủ nhỏ của đồn điền hay sao?
Long công tử nói.
-Theo tao nghĩ, ngay lúc ấy thì không. Những ngày sau đó ở Ban Mê Thuột là những ngày tao thật sự sống trong vui vẻ, đầy thoải mái bên Hà. Sáng chủ nhật khi mặt trời lên khá cao, tao lái chiếc Land Rover chở Hà đi lang thang quanh phố Ban Mê Thuột. Đường sá trong thành phố nhỏ hẹp ngắn ngủn so với Sài Gòn, chỉ mới đạp ga vài lần đã đi hết một con đường. Tao cho xe chạy dọc theo đường Ama Trang Long, Hà ngồi trên chiếc ghế bên cạnh luôn miệng giải thích rõ ràng những gì tao muốn biết, gặp đường Tôn Thất Thuyết tao cho xe quẹo phải, chạy ngang qua những dãy nhà khang trang sạch sẽ, khi đến đường Hoàng Diệu, tao quẹo phải một lần nữa rồi hỏi Hà muốn đi đâu. Câu trả lời của Hà nghe thật hết sức dễ thương “Anh muốn đi đâu tùy ý, em thuộc từng ngóc ngách của thành phố này vì em lớn lên ở đây, nhưng đây là lần đầu tiên em ngồi trên một chiếc xe hơi sang trọng chạy trong phố Ban Mê Thuột”.
Long công tử quay sang hỏi tôi.
-Mày biết xe Land Rover rồi chứ gì? Chiếc xe hai cầu dùng để chạy trong đồn điền, có thể chở nặng, băng rừng vượt suối, vậy mà Hà coi đó là chiếc xe sang trọng. Chuyện trò với Hà được vài câu xe đã đến đường Lý Thường Kiệt, tao phân vân không biết phải quẹo trái hay phải. Cuối cùng tao và Hà xuống xe đi bộ, tao muốn tận tay sờ vào cái thành phố Ban Mê Thuột chứ không muốn làm kẻ cưỡi ngựa xem hoa. Khi ngang qua một quán cà phê có bề ngoài rất là đẹp, trang hoàng bắt mắt ở đường Lý Thường Kiệt, tao kéo Hà vào vì tò mò muốn thưởng thức cà phê Ban Mê Thuột. Mang danh là thủ phủ cà phê của miền Nam, chắc chắn cà phê ở đây không thể dở được. Trái với cái vỏ hào nhoáng bên ngoài, trong quán cà phê không có gì đặc sắc, tao gọi hai ly cà phê phin rồi cùng Hà ngồi thưởng thức những bản nhạc tiền chiến phát ra từ mấy cái loa hàng trăm watt treo trên tường. Cà phê trong quán rất đậm đặc, vị khá ngon nhưng mùi thơm thì hoàn toàn không có. Chắc tao đòi hỏi hơi nhiều khi muốn so sánh với những quán cà phê nổi tiếng ở Sài Gòn. Tao hỏi Hà biết quán cà phê nào ngon nhất ở đây không. Hà cúi mặt lí nhí trong miệng “Em nói ra sợ anh không tin, từ nhỏ tới giờ em chưa bao giờ uống một giọt, nói gì đến một ly cà phê. Làm sao em biết ở đâu có cà phê ngon. Nếu anh hỏi em loại rau cải nào ngon hay dở, tốt hay xấu em sẽ trả lời được, bởi vì ngày xưa em vẫn phụ mẹ bán rau cải trong chợ Ban Mê Thuột. Thực ra không phải vậy đâu, em bưng một cái rổ nhỏ trong đó gồm có độ chục trái chanh, một mớ hành lá, mươi trái ớt, bán dạo cho những người khách ngừng xe bên lề đường trước chợ, kiếm được đồng nào hay đồng nấy, phụ giúp mẹ”. Những câu nói của Hà khiến tao bắt đầu suy nghĩ rồi đâm ra nể trọng cái lối ăn nói chơn chất thật thà, không một chút che giấu của cô ấy. Qua khung cửa sổ của quán cà phê, nắng đã lên cao đem theo cái nóng hâm hấp của cao nguyên chụp xuống thành phố, bụng đã bắt đầu thấy xót vì ly cà phê quá đậm, tao và Hà rời quán, thả bộ đến nhà hàng Mỹ Cảnh. Tao biết nhà hàng này vì lúc sáng tao đã lái xe chạy ngang qua.
Long công tử ngẩn nhìn lên bầu trời Sông Mao xanh ngắt một màu, đôi mắt của hắn rõ ràng đang chìm trong quá khứ.
-Khi hai đứa đã ngồi yên trong nhà hàng, tao kêu một tô súp măng cua, sau đó là hai dĩa steak ăn với sà lách và khoai tây chiên, một dĩa mì ống xào thịt bò, thêm một chai bia 33 cho tao và một ly soda chanh cho Hà. Thức ăn dọn đầy bàn, tụi tao vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ, nhờ vậy mà tao biết được hoàn cảnh cũng như đời sống kinh tế của Hà. Với giọng nói tự nhiên đầy chân thật, không một chút ngại ngùng, Hà kể cho tao nghe về cuộc sống túng quẫn nghèo khó của gia đình mình. Mười sáu tuổi, đậu bằng trung học đệ nhất cấp, cha chết vì tai nạn xe, Hà bỏ học đi làm kiếm tiền nuôi thân, hơn ba năm làm công trong đồn điền của ba tao, cuộc sống tạm ổn định, tiền lương chỉ đủ sống đắp đổi qua ngày. Tuy vậy Hà vẫn cho là mình rất may mắn khi có được một việc làm ổn định ở cái xứ Ban Mê Thuột đất đỏ buồn hiu, nơi mà mọi người thường gặp khó khăn trắc trở trong khi tìm kiếm công ăn việc làm. Không biết chút xíu gì về Ban Mê Thuột nhưng tao vẫn gật đầu đồng ý với Hà, rồi than phiền về thành phố vắng vẻ, buồn quá sức so với Sài Gòn. Hà nói với tao “Bởi vì anh rảnh rỗi quá, cho nên sinh ra buồn chán, ngày mai em sẽ dẫn anh đến nơi này và hy vọng anh sẽ thích. Sáng mai, nhớ đón em trên đường như mọi lần”. Tao thanh toán tiền ăn rồi để một mớ tiền tip trên bàn. Khi vừa bước chân ra khỏi tiệm, tao ngạc nhiên khi thấy Hà đưa cho tao mớ tiền rồi nói “Anh để quên tiền nè”. Tao cầm mấy tấm giấy bạc trên tay Hà, vô tình nhìn thấy tay áo dài trắng may bằng loại vải rẻ tiền mà Hà đang bận, tuy chưa rách nhưng đã sờn nhiều chỗ quanh cổ tay áo. Tao chợt hiểu ra, đồng tiền đối với Hà rất là quý. Sau khi giải thích với Hà chuyện phải cho người hầu bàn chút tiền gọi là cảm ơn, tao trở vào tiệm giải quyết chuyện tiền tip. Khi tao bước ra cửa, Hà nói với tao, câu nói chắc suốt đời tao không bao giờ quên “Số tiền mà anh trả cho bữa ăn hôm nay bằng nửa tháng lương của em, tiền anh cho người ta đủ để em sắm một đôi dép mới”. Tao đứng như trời trồng, ngượng ngùng lúng túng. Khi đã hiểu rõ Hà muốn nói gì, một chút tình thương xuất phát tận đáy lòng chợt đến với tao.
Long công tử ngưng kể chuyện, nó hỏi tôi.
-Mấy giờ rồi?
Tôi nhìn đồng hồ.
-Mười một giờ hơn.
Long công tử hối tôi.
-Mày về ăn cơm đi, tao phải đi lãnh phần cơm của tao. Chủ nhật tuần tới rảnh qua đây chơi, tao cần có người để tâm sự, dân Sài Gòn như tao, một mình sống lạc loài trong khối Bình Thuận, quả thật là buồn còn hơn là ở tù.
Tôi nắm chặt tay Long công tử, an ủi hắn.
-Mày nói đúng, yên chí đi còn có tao ở đây, gắng ăn uống, thuốc thang, tuần tới tao qua thăm mày. À quên nữa, bịnh sốt rét của mày tới đâu rồi?
Long công tử với nụ cười rạng rỡ trên môi.
-Mẹ nó có mấy viên thuốc Chloroquine, cái thứ thuốc mà ngày xưa tụi mình chê lên chê xuống thiếu điều muốn vứt vào thùng rác, không hiểu sao bây giờ nó như là thuốc tiên, tao mới uống có mấy viên mà con vi trùng sốt rét Cà Tót, nó biến mất tiêu.
Cuối tuần đó, tôi không qua thăm Long công tử được, phải đợi thêm hai tuần lễ nữa tôi mới có dịp qua thăm nó, lý do rất giản dị vì tất cả khu trung úy gồm có năm khối phải tập trung lại, bốn khối đi đến phi trường dã chiến Sông Mao để gỡ vỉ sắt PSP, đem về làm hàng rào bao quanh khu trung úy, khối còn lại lo phần đào đất để chôn vỉ sắt PSP xuống. Phi trường này trước đây do công binh Mỹ thiết kế và xây dựng để cho phi cơ vận tải đáp xuống tiếp tế thực phẩm đạn dược, cho những căn cứ quân sự quanh Sông Mao. Hôm nay phi trường trở thành vô dụng đối với cách mạng, vì Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đánh nhau với Mỹ bằng xe tăng và trọng pháo, chứ không dùng phi cơ. Hơn nữa nhu cầu trước mắt là cần chỗ chắc chắn để nhốt tù, cho nên phải gỡ PSP đem về làm hàng rào trại tù.
Chỉ tiêu của Việt Cộng đưa ra là, mỗi ngày hai tù nhân phải đem từ phi trường về trại một tấm PSP. Đoạn đường di chuyển dài khoảng hai cây số, muốn khiêng, vác, cõng, gánh, lôi , kéo, làm gì cũng được tùy tù nhân, miễn sao đem được tấm vỉ sắt về trại. Khi đám tù nhân chúng tôi đến phi trường, Trung úy Lợi nhìn phi đạo rộng mênh mông, dài ngút mắt được lót bằng vỉ sắt, hắn lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán.
-Tao đã quan sát kỹ rồi, phi trường Sông Mao có hai phi đạo, phi đạo nhỏ dành cho trực thăng, dùng vỉ sắt M8, phi đạo dài và rộng dành cho vận tải cơ, dùng vỉ sắt M8A1. Tấm vỉ sắt M8 có tám mươi bảy cái lỗ to như cái chén, bề ngang của nó đo được ba mươi tám phân, bề dài ba mét, nặng ba chục kí lô, thứ này Việt Cộng không muốn dùng nó làm hàng rào, vì sợ tù nhân có thể nhìn xuyên qua những cái lỗ này, quan sát được bên ngoài và bám theo những cái lỗ đó leo rào vượt ngục. Thứ mà Việt Cộng muốn là loại M8A1, không có lỗ, bề ngang sáu mươi phân, bề dài ba mét sáu, nặng bốn mươi lăm kí lô. Hai thằng tù khiêng một tấm vỉ sắt M8A1, tuy không nặng lắm nhưng lại cồng kềnh, đi gần hai cây số coi bộ hơi oải à nha.
Tôi nhìn Trung úy Lợi.
-Sao mày rành quá vậy? Biết hai, ba loại vỉ sắt, biết được tám mươi bảy cái lỗ. Mày đếm hồi nào vậy?
-Đếm cái con mẹ gì, tất cả những thông số kỹ thuật đó tao học ở Trường công binh. Chỉ có mấy con số mà không nhớ thì đi lính bộ binh như mày cho được việc.
Tôi sửa lưng nó.
-Phải rồi mấy cái con số vô dụng đó thì mày nhớ kỹ, còn nguyên cuộn dây dẫn điện to như cái cối đá thì mày quên mất tiêu. Phải không?
Trung úy Lợi cười.
-Vô dụng sao được mày, không có tao làm sao tụi mày biết tấm vỉ sắt mà tụi mày sẽ khiêng, nặng đúng bốn mươi lăm kí.
Tôi đề nghị với Trung úy Lợi.
-Hai thằng khiêng một tấm vỉ sắt nặng bốn mươi lăm kí, đi hai cây số, đúng như mày nói coi bộ hơi oải gân đó. Hay là mình kêu thêm hai thằng nữa, bốn thằng gánh một tấm, một ngày đi hai lần, sáng một chuyến, chiều một chuyến, vừa nhẹ nhàng vừa thoải mái. Khỏe re như con bò kéo xe.
Trung úy Lợi tán đồng.
-Mày nói đúng, để tao đi kêu gọi thêm hai thằng nữa.
Bốn thằng tù tụi tôi, dùng một cọng kẽm gai được tháo ra từ hàng rào cột vào hai đầu tấm vỉ sắt, lòn khúc cây qua vòng kẽm gai, gánh tấm vỉ sắt về. Mỗi ngày gánh hai chuyến không có gì là mệt nhọc, chỉ có chuyện nguy hiểm là khi gỡ kẽm gai nơi hàng rào của phi trường, có thể bị trúng mìn. Nhiều ông sĩ quan ở đơn vị tác chiến than thở, đánh đấm bao nhiêu năm không sao, giờ đây vô tù, bị đạp mìn giống như chết lỗ chân trâu, lảng nhách.
Bốn khối trung úy lo vận chuyển vỉ sắt từ phi trường về trại, khối còn lại lo phần đào đất để chôn tấm vỉ sắt. Bề dài của một tấm vỉ sắt là ba mét sáu mươi phân, chôn sâu xuống đất sáu mươi phân, chiều cao còn lại của hàng rào là ba mét. Gần bảy trăm tù trung úy làm việc suốt hai tuần, cái hàng rào sắt kiên cố đã hoàn tất. Bốn góc trại, mỗi góc có một cái tháp canh cao hơn hàng rào, mỗi tháp canh được bố trí một cái đèn pha và một khẩu đại liên phòng không 50. Loại súng này bắn máy bay còn rớt, sá gì mấy thằng tù ốm nhom cho dù có leo lên tới đỉnh của hàng rào, cũng sẽ làm mồi ngon cho mấy cây đại liên phòng không 50 này. Nhìn bức tường cao ngút mắt, thêm mấy họng súng đại liên đen sì, lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn, đa số tù nhân đều nhắm mắt chào thua, trừ những vị nào có máu Papillon mới dám nghĩ đến chuyện vượt ngục.
Xong phần hàng rào, tù trung úy được lệnh khiêng thêm vỉ sắt về trại. Bao nhiêu tháng rồi tuy không có đi tu nhưng tù nhân phải ăn chay nằm đất, chuyện ốm yếu và bịnh tật dễ xảy ra, hôm nay được cách mạng ưu ái chăm lo sức khỏe của tù nhân, cho khiêng PSP về làm gường ngủ nên mọi người đều hăng hái làm lao động. Mỗi phòng tám người, được lấy bốn tấm vỉ sắt kết với nhau thành một cái gường, bề ngang 2 mét 4, dài 3 mét 6, kê trên hàng chục viên gạch xi măng. Tính ra mỗi người được gần nửa mét bề ngang để nằm ngủ. Tới đây tù cải tạo Sông Mao đã có nơi ăn chốn ở an toàn đúng như ông bà mình nói “Có an cư thì mới lạc nghiệp”. Tù nhân chỉ còn một việc duy nhất là đi lao động.
Hôm thứ bảy, Trung úy Lợi “liên hệ” với ai đó mua được ba tán đường, liên hệ là chữ tôi mới học được của cách mạng, nó có nghĩa là liên lạc móc nối với người khác, trao đổi tin tức hoặc buôn bán, đại khái là như vậy. Thật ra tôi chưa hiểu rõ hoàn toàn ý nghĩa chữ “liên hệ” để sử dụng cho chính xác.
Chủ nhật sau khi ăn sáng xong, tôi lấy một bộ quần áo của tôi, sau đó gói một tán đường vào trong tờ giấy báo to bằng bàn tay, đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử, hai tán đường còn lại là phần của tôi và Trung úy Lợi.
Hơn hai tuần không gặp, hôm nay Long công tử trông khỏe hẳn ra, giống như hắn lên được vài kí thì phải. Sau khi đưa tán đường cho Long công tử, tôi nói với hắn.
-Ngày đi học tập ngoài bộ đồ bận trên người, tao còn mang theo hai bộ nữa để thay đổi. Theo tao đoán suốt mấy tháng qua, mày chỉ có một bộ bà ba đen này thôi phải không?
Long công tử hỏi lại tôi.
-Sao mày biết?
-Mấy tuần trước khi gặp mày nơi cổng trại, ngoài cây gậy đánh chó trên tay, mày đâu có gì nữa.
Không đợi Long công tử trả lời, tôi lấy trong ví ra một đồng bạc mới tinh còn thơm mùi giấy, trịnh trọng đưa cho hắn.
-Tuần trước đổi tiền, ở trong trại của mình quản giáo thu tiền của tù nhân đi đổi giùm, cứ năm trăm đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy một đồng tiền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Tao còn một ngàn rưỡi tiền Việt Nam Cộng Hòa, đổi được ba đồng tiền mới. Trung úy Lợi lấy một đồng mua được ba tán đường, còn lại hai đồng tao đem tặng mày một đồng, mày giữ lấy để phòng khi hữu dụng.
Long công tử cười, nụ cười đầy sảng khoái.
-Bắp cải à cất tiền đi, khi nào cần tao sẽ qua mày, còn quần áo thì tao lấy chớ vì đúng là tao đang cần, mấy tháng rồi chỉ có một bộ duy nhất trên người, hôm nay nó bốc mùi rồi. Bây giờ tao xuống nhà bếp xin một lon gô nước sôi, bỏ tán đường vào, hai thằng mình ra ngồi sau hè, kể chuyện đời xưa nhâm nhi chút nước đường. Cứ tưởng tượng như tụi mình đang ngồi ở Thanh Thế, ăn cái bánh Pâté Chaud với vỏ mỏng giòn rụm, gói gọn lấy miếng thịt bằm thơm mùi bơ, uống ly cà phê sữa nóng, nhìn thiên hạ dẫn nhau bát phố Sài Gòn mà nhớ lại “Những ngày xưa thân ái”. Có Biên, có Dung, có mày, có tao, có cả một bầu trời của tuổi thanh xuân tràn đầy hạnh phúc.
Tôi khen Long công tử.
-Ý kiến của mày quả thật tuyệt vời, không có chỗ chê, tao ra sau hè đợi mày.
Được chừng mươi phút sau, Long công tử bưng lon gô nước gói trong miếng vải bao cát, hắn ngồi xuống bên cạnh tôi.
-Nè Bắp cải, mày còn nhớ lần tụi mình ăn tối ở Thanh Bạch không?
Tôi nhắm mắt lại, để cho hồn của mình bay về quá khứ, miệng nói với Long công tử
-Không nhắc đến thì thôi, nhắc lại nhớ quá trời, nhớ da diết, nhớ quay quắt, nhớ điên cuồng.
Giọng nói của Long công tử vang lên bên tai tôi.
-Nói cho tao biết, chuyện tình của mày với nàng Dung xinh đẹp, kết cuộc có đẹp hay không?
Tôi mở mắt nhìn Long công tử, thong thả kể cho hắn nghe về đời sống quân ngũ của mình như thế nào, rồi chuyển sang chuyện tình cảm giữa tôi với Dung và Cúc. Tôi say sưa kể lại từng chi tiết nhỏ nhặt vụn vặt, từ chuyện tôi được đọc lá thư của nó viết cho Dung, chuyện hai người Quân cảnh đưa tay cắt đứt tôi và Dung nơi đuôi chiếc vận tải cơ C130, đến chuyện đám cưới của tôi và Cúc nơi quán cơm gần bến xe. Cuối cùng tôi thú thực với Long công tử.
-Lý trí nói với tao rằng, hãy sống cho xứng đáng với mối tình đậm đà sâu sắc của Cúc, trong khi trái tim của tao thì nhất định không chịu, một hai cứ bắt tao phải nghĩ đến Dung. Từ ngày đứt phim tới hôm nay, tao sống bằng lý trí, quyết không để trái tim của tao được quyền can dự vào.
Long công tử thở dài.
-Hình như phần số của mày đã sắp sẵn như vậy rồi, mày có cố gắng vùng vẫy cũng vô ích mà thôi, hãy an hưởng hạnh phúc mà định mệnh đã dành cho mình.
Long công tử bưng cái lon gô lên.
-Tao bỏ hai phần ba tán đường vào lon gô nước sôi, một phần ba tán đường tao cho thằng nấu bếp. Tội nghiệp thằng tốt bụng quá sức, cứ vài ngày nó lại cho tao một miếng cơm cháy. Mày đừng có nghĩ là mấy tay nấu bếp muốn cho ai cơm cháy thì cho, không phải như vậy đâu, tất cả cơm cháy phải chia đều ra cho mọi người. Anh chàng nấu bếp chỉ được phần cơm cháy dôi ra chút đỉnh, thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, nên tay nấu bếp cho tao phần dôi ra mà hắn có, để tao “bồi dưỡng”.
Tôi đùa với Long công tử.
-Chắc tại có thêm chút cơm cháy mỗi bữa ăn, cho nên hôm nay mày mập ra thấy rõ, chỉ có điều.
Tôi kéo vai áo bà ba đen của Long công tử, đưa mũi giả vờ hít mấy cái, rồi nói.
-Có chuyện này tao muốn hỏi mày, thằng tù nào cũng hôi ình vì đi làm lao động ngoài nắng, hết lớp mồ hôi này đến lớp mồ hôi khác tích tụ trên người, thấm vào trong quần áo, một tuần mới được đi tắm một lần cho nên hôi là phải. Riêng mày chắc mấy tháng rồi chưa tắm phải không? Người của mày còn hôi hơn tao gấp mấy lần.
Long công tử than thở.
-Tao biết chớ, đi tắm là một đặc ân, nhưng mà từ trại ra đến đập nước xa quá, tao đi đâu có nổi. Biết là mình hôi hám đó nhưng đành chịu thôi, cho đến hôm nay tao mới khỏe lại, lần tới tao sẽ đi tắm, tiện thể sẽ thay bộ đồ đen này bằng bộ đồ của mày mới cho tao.
Bắt chước Long công tử, tôi dùng những chữ mới học được nói với nó.
-Khi tới nơi tắm, mày nhớ “tranh thủ” tìm thức ăn để “cải thiện”. Khi đang tắm dùng chân của mày rà trong lớp cát dưới đáy sông, nếu gặp được vật gì cân cấn dưới chân, đó là con chem chép to cỡ hai, ba ngón tay. Với mười lăm phút tắm giặt, thằng dở nhất cũng mò được năm, bảy con chem chép, đem về luộc rồi bỏ vô chén cháo ăn buổi sáng. Tao không cần nói, mày cũng biết chén cháo ngon ngọt bổ dưỡng cỡ nào. Đó là việc đáng nhớ nhất khi đi tắm mà tao phải căn dặn mày, còn chuyện giặt quần áo, tắm cho sạch sẽ bớt hôi, chắc cũng không quan trọng lắm đâu. Mày không nghe người ta thường nói đùa với nhau “Trâu bò mấy tắm, mà một con cũng bán được cả chục ngàn” hay sao? Bây giờ chuyện quan trọng là, tao chỉ muốn mày kể tiếp cho tao nghe về người tình Ban Mê Thuột của mày.
Long công tử nhấp một chút nước đường rồi đưa cái lon gô cho tôi. -Mấy tuần trước tao kể tới đâu rồi? À, tao nhớ ra rồi. Sáng hôm sau tao lái xe tới khúc đường cũ, Hà đang lửng thửng thả bộ dọc theo quốc lộ, khi nghe tiếng xe ngừng lại sau lưng, Hà quay người mở cửa xe phóng lên rồi nói với tao cứ tiếp tục chạy. Tao lái xe được cả chục cây số rồi mà chưa thấy Hà nói gì về nơi sắp đến, chỉ nghe cô ta vui vẻ kể cho tao nghe chuyện đi câu cá, cho đến khi tao nhìn thấy cây cầu khá dài và lớn chắn ngang phía trước. Hà nói “Trước mặt anh là cầu Mười bốn, bắc ngang con sông Serepok. Sở dĩ người ta gọi là cầu Mười bốn vì nó nằm cách Tòa hành chánh Thành phố Ban Mê Thuột đúng mười bốn cây số. Ở hai đầu cầu đều có trạm gác, anh phải ngừng lại để mấy ông lính kiểm soát”. Khi tao ngừng xe lại, mấy người lính bao quanh tao với giọng nói đầy thân thiện “Ông cụ đâu? Ông cụ đâu?”. Vì quá bất ngờ, tao ngớ người ra không biết trả lời như thế nào. Một người lính nhìn tao “Anh là tài xế mới của ông cụ hả?”. Sau vài giây suy nghĩ, tao nói “Dạ đúng”. Người lính nói “Tụi tôi tưởng ông chủ đồn điền đem bánh mì thịt cho chúng tôi”. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, khi thấy chiếc xe Land Rover của ba tao, những người lính Địa Phương Quân giữ cầu tưởng ba tao đem bánh mì đến ủy lạo. Gì chứ chuyện giao tế tao rành quá sức, tuy trong xe không có bánh mì nhưng tao nghĩ ngay đến mấy cây thuốc lá để sau thùng xe, mà tao mua để hút khi ở Ban Mê Thuột. Không một chút chần chừ, tao đi vòng ra sau xe, lấy một cây thuốc Lucky “Không có bánh mỳ nhưng có cái này, tặng mấy anh hút cho ấm lòng khi canh gác”.
Có cây thuốc lá làm quà, mấy người lính quay sang hỏi Hà “Cô Hà đi câu cá phải không?”. Hà trả lời “Dạ, con dẫn anh tài xế mới này đi câu cho biết”. Tao cho xe chạy chầm chậm qua cầu, bề ngang của mặt cầu chỉ vừa đủ cho một chiếc xe, thêm một lằn nhỏ riêng biệt rộng khoảng một mét dành riêng cho khách bộ hành. Theo như tao ước đoán, vào khoảng hai, ba chục năm về trước khi xây cất cây cầu này, xe hơi thời bấy giờ chẳng có bao nhiêu, người Pháp vì muốn tiết kiệm tiền nên họ thiết kế cây cầu chỉ cần cho một lằn xe là đủ rồi. Vì lý do đó, những người lính Địa Phương Quân đóng đồn ở đây có hai nhiệm vụ, ban ngày họ là cảnh sát giao thông lo việc điều hành xe cộ lưu thông trên cầu, đêm đến họ là lính gác giặc bảo vệ cây cầu.
Nắng đã lên cao, Long công tử nhắm mắt lại, hắn lấy cái nón may bằng vải bao cát che mặt, rồi nói.
-Khi xe đã qua khỏi cầu được một đoạn ngắn, Hà chỉ tao rẽ vào một con đường mòn, đậu xe lại. Hai đứa bắt đầu lội bộ qua cánh rừng thưa đến một căn nhà tranh vách đất, với cánh cửa chỉ khép hờ. Hà nói với tao “Đây là nhà của cậu em, mình xuống bến sông lấy ghe, trên ghe lúc nào cậu em cũng để sẵn đầy đủ mọi thứ cần thiết để câu cá. Mà nè, anh có biết bơi không?”. Tao nói với Hà “Không những biết bơi mà còn bơi giỏi nữa”. Tụi tao xuống một chiếc ghe nhỏ, phải gọi là thuyền độc mộc mới đúng, vì nó được làm bằng một thân cây khá to, bề ngang của thuyền khoảng chừng bảy, tám tấc, chiều dài hơn ba thước. Chưa tới mùa mưa lũ nên nước sông đỏ ngầu, chảy lờ đờ, Hà sử dụng mái chèo một cách thành thạo, con thuyền lướt đi nhẹ nhàng trên sông. Trên thuyền với hàng chục cây cần câu không có đọt, dài khoảng hơn một sải tay đã cột sẵn cước và lưỡi câu, mồi là mấy con sâu đựng trong một cái lon nhỏ. Hà chèo thuyền dọc theo bờ sông, khoảng hơn mười mét lại cắm một cần câu, cột thêm sợi dây đỏ để làm dấu. Sau khi đã cắm hết cần câu, Hà để cho thuyền trôi lửng lơ trên sông rồi nói với tao “Mình nằm đây chờ, trong lúc đợi cá cắn câu, anh nhìn cây cầu Mười bốn trước mặt mình đi, hôm nay nếu may mắn mình sẽ thấy được mấy ông phi công Việt Nam, lái máy bay bà già chui qua gầm cầu”.
Long công tử dỡ cái nón vải bao cát, nhìn quanh một vòng rồi mới nói tiếp.
-Trước mắt tao, cây cầu với ba cái chân cột khổng lồ hình quả trám đỡ lấy mấy nhịp cầu với những đường cong mềm mại không đồng đều ở bên trên, thành cầu đúc bê tông cốt sắt hình chữ V thật đơn giản nhưng lại phối hợp rất nhịp nhàng với chân cầu, tất cả những yếu tố trên, tạo cho cây cầu có một nét đẹp hút hồn. Giữa núi rừng cao nguyên hoang vắng, cây cầu đứng một mình, lung linh soi bóng nước, như một tác phẩm nghệ thuật mà người kỹ sư Pháp nào đó đã bỏ công tạo nên. Nhờ vào chiều cao của một chiếc xe GMC, đang bò chầm chậm qua cầu, nên tao ước lượng được chiều cao từ mặt nước sông đến đáy cầu phải cỡ chừng hai chục mét, khoảng cách rộng nhất giữa hai chân cầu độ chừng năm mươi mét. Với những khoảng cách lý tưởng như vậy, tao tin rằng chiếc phi cơ bà già có thể chui qua gầm cầu mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Nhưng mà đó chỉ là cái nhìn của một thằng sinh viên Văn khoa như tao mà thôi, còn chuyện chui qua được gầm cầu hay không phải hỏi mấy ông phi công Việt Nam còn trẻ tuổi, thích phiêu lưu mạo hiểm mới biết được. Trong lòng bán tín bán nghi, một thoáng nghi ngờ về câu nói của Hà, tao hỏi “Em thấy máy bay chui qua gầm cầu rồi phải không?”. Hà trả lời “Có, em được thấy vài lần khi câu cá ở đây, lần nào cũng như lần nấy, hồi hộp muốn đứng tim, khi thấy chiếc phi cơ L19 xuất hiện ở cuối chân trời, trông nó giống như một con đại bàng sải cánh, lướt trên mặt sông, quắp lấy con mồi rồi bay vút lên trời cao”. Dưới ánh nắng rực rỡ của buổi sáng mùa hè, Hà ngồi nơi cuối thuyền, trong bộ đồ bà ba với những đường cong tuyệt đẹp, hai tay ôm lấy mái chèo lắc nhẹ, đẩy con thuyền trôi lững lờ về phía mặt trời. Nhìn hình ảnh của một thiếu nữ khỏe mạnh, ở lứa tuổi đôi mươi chèo thuyền trên sông, xa xa thấp thoáng cây cầu nổi bật trên nền trời xanh màu ngọc bích, trong lòng phân vân tao tự hỏi, không biết người đẹp hay cây cầu đẹp.
Tôi đưa lon gô nước đường cho Long công tử.
-Làm một hơi cà phê sữa Thanh Thế đi mày, em xinh em đứng một mình cũng xinh, cần gì phải có cây cầu làm hậu cảnh.
Long công tử dường như không quan tâm đến lời nói của tôi cho lắm, hắn nói tiếp.
-Hà cho thuyền quay ngược lại về phía thượng nguồn, cặp sát vào bờ sông, từ từ dỡ những cần câu lên, hơn chục cái cần câu mà chỉ có được một con cá nặng ước chừng một kí. Tao tính toán trong đầu, cất công từ Ban Mê Thuột đến đây, chèo thuyền bơi dọc theo bờ sông mấy tiếng đồng hồ chỉ để bắt được một con cá. Đời sống của những người dân quê ở đây, sao mà khổ quá vậy. Tao hỏi Hà “Sao ít cá quá vậy em?”. Hà giải thích cho tao hiểu “Câu cá Lăng đuôi đỏ ở trên sông này phải giăng dây ngang sông, cột thật nhiều lưỡi câu, dùng mồi tươi như là ếch, nhái, mới có hy vọng bắt được nhiều cá lớn. Chuyện đó chỉ dành cho những người câu cá chuyên nghiệp. Câu cá như em, gặp ngày may mắn lắm cũng chỉ bắt được dăm ba con cá Lăng cỡ này, họa hoằn lắm mới được con cá lớn hơn chút xíu. Mà anh có biết không, em chỉ cần một con cá thôi, như vậy là đủ rồi”. Nhìn gương mặt tươi cười hớn hở của Hà, tao hỏi “Em định làm gì với con cá này”. Hà nói với tao “Cá Lăng đuôi đỏ ở chợ Ban Mê Thuột bán rất được giá, em đem con cá xuống chợ nhờ chị Ba bán cá, bán giùm em. Sau đó em sẽ dùng số tiền bán cá, mua một đôi dép mới”. Tao lặng người đi vì thương cảm, thương cho những ước mơ sao mà nó bình dị quá chừng, mấy ngày trước đó tao cất công theo đuổi Hà, vì thích cái vẻ đẹp ngây thơ duyên dáng của một cô gái quê. Và nhất là muốn thỏa mãn cái tự tôn mặc cảm của mình, của một thằng công tử sống ở thủ đô, coi tiền như rác, quanh năm chỉ biết vung tiền qua cửa sổ để mua lấy những “Cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm”. Cho đến khi đi ăn trưa ở nhà hàng Mỹ Cảnh, rồi đi câu cá trên sông Serepok, biết được hoàn cảnh khó khăn của Hà, tao như lạc bước qua một vùng đất đầy kỳ hoa dị thảo đã bị lảng quên bởi thời gian. Tao hoàn toàn bị khuất phục trước cái trong sáng giản dị, hồn nhiên của Hà. Từ chỗ đi chinh phục tao trở thành kẻ bị chinh phục. Mặt trời đứng bóng, Hà lấy trong cái giỏ xách hai củ khoai “Anh đói rồi phải không? Anh một củ, em một củ, ăn xong mình trở về Ban Mê Thuột”.
Tôi cười rồi nói với Long công tử.
-Coi bộ mày bị lậm thuốc rồi. -Lậm quá đi chớ, nếu không tại sao Hà xách con cá đi vào chợ, tao lại lẽo đẽo theo sau. Đưa con cá cho chị Ba, cầm tiền trong tay Hà quẹo qua hàng bán dép guốc. Sau một lúc lựa chọn, mang thử, Hà mua đôi dép được làm bằng một loại nhựa rẻ tiền màu xanh, nhỏ hơn chân của Hà ước chừng một phân. Thấy lạ, tao nhắc mà như hỏi Hà “Tại sao em chọn đôi dép quá nhỏ như vậy, khi đi sẽ đau chân cho mà coi”. Hà giải thích “Đi vài ngày, quai dép sẽ giãn ra là vừa”.Khi hai đứa tao bước ra khỏi chợ, nắng chiều đổ xuống mái tóc đen huyền óng mượt của Hà, hắt lên cái bóng dáng nho nhỏ xinh xinh trải dài theo hè phố, tao đi bên Hà mà trong lòng mơ thấy hai cái bóng nắm tay nhau. Mua được đôi dép, nét vui tươi hớn hở hiện rõ trên gương mặt của Hà. Tao dẫn Hà vào nhà hàng, cũng lại là nhà hàng Mỹ Cảnh, ở Ban Mê Thuột vào thời buổi đó, hình như chỉ có độc nhất một cái nhà hàng này mà thôi. Chuyện cũng dễ hiểu, vì tao mới tới Ban Mê Thuột chưa được một tuần, nên không biết nhiều về thành phố này. Tao chọn một cái bàn nằm kín đáo trong góc, khi thấy tao gọi toàn là những món ăn đắc tiền, ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh là người Việt gốc Hoa hỏi tao với giọng nói lơ lớ “Nị ở Sài Gòn mới lên Ban Mê Thuột phải không? Vậy mà ngộ lại thấy nị quen lắm”. Tao cười rồi pha trò “Trông tôi chắc giống mấy tay du đảng trong phim Hồng Kông, đang chiếu ở rạp hát Lido chứ gì”.
Ông chủ nhà hàng đứng suy nghĩ một lúc rồi nói “Ngộ biết nị giống một người, mà ngộ nghĩ hoài không ra”. Từ nãy đến giờ Hà ngồi im lặng bên tao, đột nhiên lên tiếng “Giống ông chủ đồn điền cà phê phải không?”. Ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh vỗ tay cái bốp, rồi nói “Đúng rồi, nị đúng là con của ông chủ đồn điền Nam Long, ngộ có mấy mẫu đất trồng cà phê gần đồn điền của ông chủ Nam Long”. Vừa nói ông chủ hàng Mỹ Cảnh vừa cười thân thiện “Ông chủ lớn Nam Long có ghé đây ăn uống vài lần, khi nào về Sài Gòn nị cho ngộ gởi lời thăm ông chủ”. Trong suốt bữa ăn, Hà nói cho tao nghe là ngay cái ngày đầu tiên, cô ấy đã biết tao là con ông chủ đồn điền, không phải qua giọng nói, cách ăn bận của người Sài Gòn, lối tiêu xài xa xỉ, mà là tao có nhiều nét giống ba tao, nhất là đôi mắt và cái trán. Hóa ra suốt mấy ngày qua tao bị lừa, địch biết ta mà ta không biết địch, thua là phải.
Tôi đùa với Long công tử.
-Mang danh là công tử của Sài Gòn hoa lệ, của Hòn Ngọc Viễn Đông mà bỏ thây nơi cái xứ Buồn Muôn Thuở thì tệ thiệt.
Long công tử chống chế.
-Tình yêu mà mày. Mấy ngày sau, sáng hôm đó thay vì cùng tao đi đến đồn điền, Hà mời tao về nhà, vì nàng có chuyện quan trọng cần nói. Tao lái xe mà trong lòng băn khoăn thắc mắc, không biết Hà muốn nói chuyện gì đây. Theo sự hướng dẫn của Hà, tao cho xe quẹo trái trên quốc lộ, chạy trên con đường đất nhỏ và hẹp, chỉ mới được độ một trăm thước, Hà chỉ vào một ngôi nhà bên đường rồi nói “Nhà em đó”. Trước mặt tao là một căn nhà gỗ nhỏ bé với những tấm ván cũ kỹ ghép vào nhau một cách vụng về cẩu thả, nhiều chỗ đã bị mục nát do sự tàn phá của nắng mưa. Tao thầm nghĩ nếu có một cơn gió mạnh thổi qua, không chừng cả ngôi nhà có thể bị sập đổ như không. Khi bước chân qua ngưỡng cửa, mắt tao chạm phải một rừng giấy bao xi măng cũ dán đầy tường. Sau một hồi suy nghĩ, tao mới hiểu được công dụng của những tờ giấy dán trên tường là để che gió lùa qua kẽ ván. Trước mặt tao, một người đàn bà thân hình nhỏ nhắn, tuổi chừng bốn mươi, gương mặt phảng phất nét u buồn, bà ta đang ngồi trên chiếc ghế nơi bàn ăn, chân mang đôi dép nhựa màu xanh còn mới tinh. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, tại sao Hà mua đôi dép nhỏ hơn chân của nàng một chút. Hà lên tiếng giới thiệu với tao “Má của em”. Quay sang người đàn bà, Hà nói “Má à, đây là anh Long, con của ông chủ đồn điền, nơi con đang làm việc”. Người đàn bà chỉ vào chiếc ghế duy nhất còn trống trước mặt bà “Mời cậu ngồi chơi, tôi có vài chuyện muốn hỏi cậu”. Tao ngồi xuống ghế, miệng nói “Cảm ơn bác”. Má của Hà hỏi tao “Năm nay cậu bao nhiêu tuổi? Học hành tới đâu?”. Tao từ tốn nói với bà “Thưa bác con hai mươi mốt tuổi, đang học đại học ở Sài Gòn”. Má của Hà hỏi tiếp “Cậu học kỹ sư hay bác sĩ”. Tao trả lời với bà “Thưa bác con học bên Văn khoa”. Nói như vậy nhưng tao không biết bà có hiểu tao nói gì hay không. Sau đó, suốt gần cả tiếng đồng hồ, má của Hà hỏi tao đủ mọi chuyện về gia đình của tao. Cuối cùng bà nói “Con Hà đang làm công trong đồn điền của ba cậu, đồng lương của nó kiếm được chỉ đủ mẹ con tôi sống đắp đổi qua ngày. Cậu hãy nhìn căn nhà chúng tôi đang ở, nó tồi tàn xập xệ như thế nào, trong khi gia đình của cậu giàu sang quyền quý, mai mốt khi cậu ra trường, cả một tương lai huy hoàng sáng lạng đang chờ đón cậu. Cậu thử nghĩ coi, con Hà có xứng đáng với cậu hay không?”. Bà má của Hà ngưng nói chừng như hơi mệt khi phải nói nhiều, được một lúc sau bà mới nói tiếp “Con Hà nó còn quá nhỏ chưa biết gì về cuộc đời, cậu đừng chơi qua đường, tội nghiệp cho nó”. Nghe má Hà nói, tao nghĩ “ có phải bác muốn nói con là thằng sở khanh không?”. Tao ngồi đó, giận muốn run lên, giận vì má của Hà chưa biết gì về tao mà đã vội nặng lời. Tao đứng lên chào bà rồi xin phép ra về, trước khi đi tao nhẹ nhàng nói với bà “Xin bác cứ yên tâm, từ hôm quen Hà tới nay, con chưa bao giờ có ý định lợi dụng, bằng cớ là con chưa chạm đến cái móng tay của Hà”. Ngay chiều hôm đó, tao mua vé máy bay trở về Sài Gòn.
Long công tử co tay, duỗi chân ra chiều mệt mỏi.
-Một tuần sau, tao nhận được điện tín của Hà chỉ vỏn vẹn có năm chữ “Hà cần gặp anh gấp”. Mới đầu vì giận bà má của Hà, tao quăng mẹ nó cái điện tín vào thùng rác, rồi lái xe xuống Brodard. Mới uống một hớp cà phê, tao vội vã trả tiền vì trong lòng bồn chồn đứng ngồi không yên, tao lái xe mà không biết đi đâu. Cho đến khi thắng xe lại trước hãng hàng không Việt Nam, lúc bấy giờ tao mới biết tại sao. Thì ra tiếng gọi của tình yêu, tuy êm dịu nhẹ nhàng như gió thoảng bên tai, nhưng cái hấp lực của nó quả thật còn mạnh hơn sức hút của trái đất. Tao bay lên Ban Mê Thuột.
Long công tử cười, nụ cười của Sài Gòn ngày xưa.
-Mày biết không, khi gặp lại tao, gương mặt của Hà vui tươi hớn hở như trẻ con được quà. Ôm chặt lấy tao, Hà nói “Má em đâu có phiền trách gì anh, bà chỉ muốn nói với anh là đừng chơi qua đường, còn chuyện nếu anh muốn lấy em đàng hoàng, bà đâu có ngăn cản”. Cho đến cuối hè năm đó, tao và Hà có được hai tháng rong chơi nhiều nơi, từ Ban Mê Thuột xuống Nha Trang tắm biển, nhìn cát vàng biển xanh, chạy qua Phan Rang ngắm cảnh Tháp Chàm, thăm bãi biển Ninh Chữ, vòng lên cái xứ bắp cải đầy sương mù của mày, uống ly cà phê Thủy Tạ, rồi bay về lại Ban Mê Thuột. Hai tháng trường sống trong hạnh phúc tuyệt vời, và có thể nói là đẹp nhất trong cuộc đời của tụi tao. Mãi cho đến khi năm học sắp bắt đầu, tao mới chịu trở về Sài Gòn. Ngày tiễn tao ở phi trường Phụng Dực, lúc ngồi nơi phòng chờ đợi lên máy bay, Hà đặt tay tao lên bụng của nàng rồi nói nhỏ “Em có bầu”. Năm đó, tao mới hai mươi mốt tuổi, nghe tin mình sẽ có con, một cảm giác là lạ chợt đến, ngạc nhiên lẫn thích thú. Tao bóp nhẹ tay Hà “Anh biết rõ trách nhiệm và bổn phận của mình, em yên tâm vài tháng nữa anh sẽ trở lại, tiền bạc thì anh đã để sẵn cho em đủ chi dùng cả năm rồi. Nhớ giữ gìn sức khỏe”.
Long công tử quơ tay tìm lon nước, hắn chậm rãi hớp một ngụm.
-Năm đó, tao bay lên Ban Mê Thuột thường xuyên như đi chợ, cho đến khi học xong năm thứ hai, tao mới thú tội với ba tao về chuyện đã có vợ mà giấu cha mẹ. Cuối cùng tao cho ba tao biết, hiện giờ dâu và cháu của ông đang ở Ban Mê Thuột. Nghe tao nói chuyện, gương mặt của ba tao đầy vẻ giận dữ, ông chửi mắng tao không tiếc lời, chưa bao giờ tao thấy ông giận như vậy. Ngày hôm sau, ba má tao dẫn tao lên Ban Mê Thuột. Việc đầu tiên mà ông bà làm là mua lễ vật đem đến nhà má Hà xin lỗi, tạ tội. Sau đó ông xin phép má Hà, cho ông được đem Hà và thằng cháu nội của ông về sống trong căn nhà to lớn, đầy đủ tiện nghi ở đồn điền. Thì ra, cái tội lớn tày trời của tao, là dám để thằng cháu đích tôn của ông phải sống trong điều kiện nghèo khó, thiếu thốn đủ mọi bề. Thêm một chuyện cũng quan trọng không kém, trước khi về lại Sài Gòn, ông họp với chú Luật là người quản lý và chú Bốn là người phụ tá quản lý của đồn điền từ bao lâu nay, với cái lệnh ngắn gọn là mỗi tháng phải trích cho vợ con của tao một số tiền lớn. Đó là quà của ông nội cho thằng cháu đích tôn.
Tôi nghe Long công tử kể chuyện, bất chợt nhớ lại những lời của má Long công tử nói với tôi, hình như có gì đó không ổn.
-Long à, tao có chút thắc mắc, năm đó là năm sáu bảy, má của mày đã có dâu có cháu, tại sao đến năm sáu mươi tám khi tụi mình còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, chính má của mày nói với tao là mày chưa có vợ, bà mong có cháu để bồng mà không có.
Long công tử giải thích cho tôi bằng câu hỏi.
-Mày có bao giờ nghe nói đến cái bịnh tưởng tượng, bịnh hoang tưởng không?
-Không. Tưởng tượng đâu có phải là bịnh, chẳng hạn bây giờ tao tưởng tượng mình được thả ra khỏi trại tù này, như vậy là tao đang bị bịnh hay sao?
Long công tử nhíu mày.
-Mày nói đúng, không thể gọi là bịnh tưởng tượng được, cứ tạm gọi là hoang tưởng. Năm tao mười lăm tuổi, thì má tao bắt đầu bị bịnh. Hôm ấy tao đang ngồi ăn sáng nơi phòng ăn của nhà tao, bỗng đâu một cột lửa chen lẫn với khói đen bốc lên cao ở ngoài sân. Tao vội vàng phóng ra khỏi nhà, chiếc xe Mercedes của ba tao đang bốc cháy dữ dội, cách đó độ chục thước má tao đang lấy xăng tưới lên chiếc xe Peugeot 403 của bà, rồi châm lửa đốt. Tao hỏi má tao tại sao mà làm như vậy. Câu trả lời của bà rất giản dị, bà nói là đang đốt hai con voi trốn trong nhà của bà. Sau đó còn nhiều vụ tương tự như vậy xảy ra, chẳng hạn khi thì bà nói tao không phải là con của bà, khi thì bà có hai đứa con trai chứ không phải một mình tao. Sau nhiều lần ba tao đưa má tao đến bịnh viện khám bịnh, mới biết bà bị cái bịnh hoang tưởng. Ngoài những lúc như vậy, má tao là một người khá bình thường, thoáng nhìn qua không một ai biết được là bà bị bịnh.
Tôi gật đầu.
-Thì ra là vậy, tao không biết má mày bị bịnh nên mới hỏi.
Long công tử nói thêm.
-Một phần cũng vì hoàn cảnh gia đình như vậy, cho nên ba tao dồn hết tình thương cho thằng con, ông chiều tao hết mực muốn gì cũng được. Là con một trong gia đình giàu có, dấu chân của tao từng in khắp chốn ăn chơi thanh lịch của Sài Gòn, tao tiêu xài hoang phí không một chút e dè, cho nên bạn bè mới tặng cho tao cái tên Long công tử. Khi học xong năm thứ ba, tao muốn đem vợ con về Sài Gòn, ba của tao đồng ý với điều kiện là tất cả mọi người phải sống chung trong căn biệt thự của ông, để ông bà nội được gần thằng cháu. Tao không chịu, vì muốn sống tự do thoải mái với vợ con trong một căn biệt thự khác. Mày cũng biết rồi, ba tao có tới mấy căn biệt thự ở Sài Gòn, tại sao phải sống chung. Chuyện chỉ có vậy, lại đưa đến xung đột giữa hai cha con. Tuổi trẻ nông nỗi, không nghĩ đến phải trái, tao bỏ học ngang xương, tình nguyện vô Thủ Đức rồi sau đó là Lực Lượng Đặc Biệt.
Long công tử thở dài rồi than.
-Tao là một thằng ích kỷ, chỉ muốn làm theo sở thích của mình, tội nghiệp cho ba má tao, ông bà phải sống trong buồn bực một thời gian dài. Riêng vợ tao khỏi cần nói, mày cũng biết là Hà khổ đau đến mức nào.
Long công tử vỗ nhẹ vào vai của tôi.
-Mày còn nhớ không, khi đang học ở Thủ Đức với mày và Biên, trong một lần đi phép tao có nói với Dung là tao đã có vợ và đứa con hơn một tuổi, đang sống ở Ban Mê Thuột trông coi cái đồn điền của ba tao. Dung cũng có kể chuyện này cho mày nghe rồi mà.
Long công tử nhìn cái đồng hồ đeo tay của tôi.
-Tới giờ tao phải đi lãnh cơm, tuần tới tụi mình gặp nhau đi.
Tôi gật đầu đồng ý.
-Ừ, tao về đây, mày nhớ giữ gìn sức khỏe.
Tuy khuyên Long công tử như vậy nhưng tôi biết, ở trong tù của Việt Cộng, khi đau ốm không thuốc men, chuyện chăm sóc sức khỏe nằm ngoài vòng tay của mình.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.