This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Người đàn ông tuổi ngoài tám mươi, tóc rẽ ngôi chải vuốt tươm tất, ánh mắt tinh anh, vóc người nhỏ nhắn trong bộ sơ-vin, phong thái chỉn chu lịch thiệp như một công chức thời cũ, đang ngồi pha trà đón tôi ở tầng hai của căn nhà phố, đường Nguyễn Đình Chiểu, khu chợ vườn chuối. căn nhà mặt tiền mà như thể tách biệt với thế giới bên ngoài của một Sài Gòn náo nhiệt. gian phòng nơi ông tiếp tôi gợi liên tưởng về một ốc đảo hoài niệm với những đồ vật cũ kỹ xỉn màu.
Lần nào cũng vậy, ở con người chờ đợi để được thuật chuyện ấy luôn trong cung cách nhỏ nhẹ, dung dị và từ tốn. Ông là Đinh Tiến Mậu, người được sách báo ca ngợi là nhiếp ảnh gia, nghệ sĩ nổi tiếng nhất trước 1975. Nhưng tôi lại chờ đợi ở nơi ông câu chuyện của một thợ ảnh, một danh phận bình dị như chính cốt cách của ông.
Lối đi của một thợ ảnh Sài Gòn
Cậu bé quê làng Lai Xá – ngôi làng cách Hà Nội chừng 20 cây số, được coi là cái nôi của nghề chụp ảnh ở miền Bắc – đã sống đời xê dịch từ thuở thiếu thời: Theo chân bố vào Sài Gòn từ thập niên 1930 và theo mẹ ngược ra Hà Nội học nghề làm ảnh, rồi sau đấy, lại trở vào Sài Gòn đoàn tụ gia đình bốn năm trước khi xảy ra sự kiện chia cắt Bắc Nam. Một tuổi thơ trôi nổi, hợp tan không phải vì vận nước lớn lao, mà chỉ vì gia cảnh quá nghèo. Hết lớp đệ thất, ông rời ghế nhà trường để đi phụ việc ở ảnh viện. Nghề ảnh với ông, được hiểu là một chiếc phao mang lại cơ hội mưu sinh, tìm một chỗ đứng trong đời khi con đường thăng tiến chữ nghĩa danh vọng là giấc mơ quá đỗi xa xôi.
Thời bấy giờ, cũng như nghề may, nghề vẽ biển hiệu thuê, nghề làm thợ chớp bóng trong ảnh viện nghe có vẻ nhàn nhã sạch sẽ, không phải lao động cơ bắp vã mồ hôi, nhưng cũng chẳng thể là nghề chẳng thể gọi là vinh thân. Một thợ ảnh giỏi chỉ được coi như một nghệ nhân nắm ngón nghề tân thời. Tên người chụp ảnh – dù chụp đẹp đến đâu – cũng chỉ ẩn dưới tên ảnh viện, nếu đó là ảnh viện có tiếng. Nghề cho đủ sống, nhưng xa hơn, hiếm có ai thành danh nhờ cầm máy trong hiệu ảnh.
Thời kỳ đầu, ông xin phụ việc, được sai vặt làm đủ thứ: Chấm ảnh, phòng tối, treo phông, sắp xếp đạo cụ, tạo dáng cho đến cầm máy chụp trực tiếp trong các hiệu ảnh trong những ngày tháng trôi nổi, lúc Sài Gòn khi Hà Nội. Các hiệu ảnh mà ông chịu ơn học nghề là Hợp Dung (bên bờ Hồ Gươm, Hà Nội) và Văn Vấn (Van Van Photo, ở đường Duranton nay là Bùi Thị Xuân, Sài Gòn). Nhờ phụ việc ở hai nơi này, ông trở thành một “thợ ảnh toàn khoa” với nghĩa “cái gì cũng biết”.
Giai đoạn ở Van Van Photo từ 1950-1958, Sài Gòn có những chuyển biến lớn, nhất là đợt di cư 1954 và sau đó là không khí cởi mở về văn hóa nghệ thuật. Các chuyển biến xã hội và văn hóa đã tác động ít nhiều đến bộ mặt ảnh viện, nhất là những ảnh viện chuyên nghiệp. Có thể thấy rõ nhất, những ảnh viện uy tín thì ngoài khách hàng bình dân đến chụp ảnh, còn có các ngôi sao sân khấu, minh tinh màn bạc lui tới. Ảnh viện chuyên nghiệp còn được những tòa báo đặt hàng chụp ảnh bìa, các hãng băng dĩa hát thuê chụp băng dĩa, nhà xuất bản mua ảnh in ấn nhạc tờ…
Nhưng lối vào nghề ảnh của chàng trai Sài Gòn gốc Lai Xá không vì thế mà tránh được những bước thăng trầm.
Rời Van Van Photo, Đinh Tiến Mậu cùng bạn bè mới ra nghề mở hiệu ảnh Việt Hoa ở gần chợ An Đông. Anh thợ ảnh chỉ học đến lớp đệ thất đã phải tự học tiếng Hoa để làm việc với khách hàng người Hoa, tự học tiếng Pháp để nói chuyện với khách hàng người Pháp công chức ở khu thành Ô-Ma (Camp aux Mares). Ảnh viện Việt Hoa tồn tại được hai năm thì đóng cửa, nhóm thợ ảnh mới ra nghề lại lập hiệu ảnh mới là King’s Photo tại 45 Ngô Quyền, Chợ Lớn.
Người Hoa nhiều lễ lạt quanh năm và rất thích chụp ảnh, nên ảnh viện sống được dễ dàng. Những thợ ảnh trẻ ở King’s Photo lúc bấy giờ sắm được hai chiếc máy tối tân, một là Linhof chụp nội cảnh và một là Zeiss Ikon cho ngoại cảnh. Trên bìa tờ Tiếng chuông năm 1962 ở Sài Gòn, ta bắt đầu thấy dưới các bức ảnh chân dung của minh tinh Thẩm Thúy Hằng có logo của King’s Photo. Nhiều trong số những bức ảnh đưa King’s Photo lên mặt báo lúc ấy là do anh thợ ảnh Đinh Tiến Mậu bấm máy.
“Thời ở King’s Photo, chúng tôi là nhóm thợ ảnh trẻ mới vào nghề nhưng được coi thành công ở khu Chợ Lớn. Tôi bắt đầu cộng tác với các hãng phim và làm quen với những diễn viên thời danh. Tôi mời họ về ảnh viện để chụp hình bìa cho các tờ báo, nhờ đó cái tên King’s Photo bắt đầu xuất hiện trên những báo đại chúng của Sài Gòn”, ông Mậu kể.
Thẩm Thúy Hằng qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu
Thời kỳ sôi nổi và nhiệt huyết của những chàng trai mới vào nghề ảnh cũng qua nhanh. Chỉ một thời gian ngắn, trong nhóm bạn hùn hạp mở hiệu ảnh, người thì đổi nghề mưu sinh, kẻ theo gia đình ra hải ngoại sống,… chàng trai gốc Bắc lại một lần nữa đi tìm giấc mơ làm nghề ảnh giữa Sài Gòn. Anh thợ ảnh Đinh Tiến Mậu tìm đến Phúc An – một ảnh viện khá vắng vẻ ở số 348 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), xin thuê lại.
Hữu xạ tự nhiên hương, chỉ một thời gian ngắn, khách hàng người Hoa từ khu Chợ Lớn, chợ Đũi, Bàn Cờ… kéo sang dập dìu vì thích lối chụp ảnh, cách căn chỉnh sắc độ trong kỹ thuật buồng tối của anh thợ ảnh trẻ. Phúc An từ một ảnh viện nhỏ và đìu hiu đã có thể cạnh tranh, vượt qua hai ảnh viện lớn trên con đường này là Kinh Đô và Kim Đức.
Khi thấy hiệu ảnh ăn nên làm ra, chủ cũ tìm cách tăng giá thuê nhà và chỉ sau một năm, anh thợ ảnh trẻ đã lại phải tính tới chuyện rời đi; lần này thì phải mở ảnh viện riêng để ổn định. Anh thuê căn nhà 277 Phan Đình Phùng và treo lên biển hiệu Viễn Kính Photo. Đó là năm Sài Gòn xảy ra các biến động lớn: Cao điểm của phong trào Phật giáo với sự kiện nhà sư Thích Quảng Đức tự thiêu cách nơi làm việc của anh thợ ảnh trẻ Đinh Tiến Mậu chừng vài trăm mét. “Tôi đi xem và nghe được cả mùi khói khi đám lửa bùng lên, nhưng tôi đã không chụp bức ảnh nào bởi tôi chỉ đơn giản hiếu kỳ như một thường dân, tôi không biết đến chuyện đại sự”, ông Mậu nhớ lại.
La Thoại Tân qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu
Và cũng năm 1963 xảy ra cuộc đảo chánh. Có thể cái đêm hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu phải chạy vào nhà thờ Cha Tam để ẩn mình, thì anh thợ ảnh Đinh Tiến Mậu đang đèo cô vợ trẻ Phan Kim Bình trên chiếc VeloSolex đến tiệm cơm gà Siu Siu ở khu An Đông.
Nói đúng ra, 1963 xã hội biến động nhưng lại là năm may mắn với ông Mậu: Lấy được cô vợ làm nghề kế toán viên hãng IBM và mở được một hiệu ảnh mà không lâu sau, đã làm nên tên tuổi, chỗ đứng của ông trong đời.
Ảnh viện thời hoàng kim
Viễn Kính, nghĩa là thấu kính nhìn xa. Đúng như cách đặt tên cho ảnh viện, từ 1963, người thợ ảnh Đinh Tiến Mậu đã đặt mình vào một dự phóng, viễn kiến trong sự nghiệp. Người bạn đời của ông cũng bỏ việc kế toán cho IBM để ở nhà làm sổ sách cho ảnh viện, rảnh rang thì cùng các con phụ chấm ảnh, tô màu (khi khách hàng chuộng ảnh màu). Viễn Kính Photo nhanh chóng trở thành một ảnh viện được nhiều ngôi sao Sài Gòn, từ Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Kiều Chinh, Thanh Thúy, Hà Thanh, Thái Thanh, Thanh Lan, Bạch Yến, Thanh Tuyền, Thanh Nga, Diễm Thúy, Túy Hồng,… cả những nam tài tử, ca sĩ như Duy Khánh, Hùng Cường, La Thoại Tân,… ghé qua.
Khách hàng bình dân đi qua thấy trước ảnh viện có trưng ảnh chân dung ca sĩ, tài tử thì càng thích thú, tin tưởng bước vào nhờ ông chủ bấm cho vài pose. Họ hạnh phúc khi ở góc ảnh chân dung, ảnh gia đình thật đẹp có đóng con dấu Viễn Kính. Những khi có minh tinh điện ảnh đến chụp hình, dân ở khu xóm chợ Vườn Chuối háo hức kéo nhau đến đứng chật trước ảnh viện hiếu kỳ, chờ diện kiến những thần tượng ngoài đời.
Trong căn phòng nhỏ, đồ đạc gọn gàng, nhiều vật dụng đã cũ được lưu lại: Chiếc bàn máy may, bộ ghế salon bọc da nâu đỏ, chiếc đồng hồ Carillon Romanet Morbier có con lắc mạ vàng mỗi tuần lên dây cót một lần vẫn chốc chốc đổ chuông, những hộc tủ, ghế bàn nước gỗ đã xuống màu…
Bầu không khí mà đồ vật vây quanh đã đưa tôi về một quãng thời gian khác – Sài Gòn những năm 1960-1970 – đồng thời với những bức ảnh khổ lớn ghi lại nét xuân sắc rạng ngời của những người đẹp Sài Gòn. Người đàn ông tuổi ngoài 80 thỉnh thoảng vuốt ngược mái tóc bạc trắng, rồi những ngón tay xoa nhẹ lên thái dương như thể khai thông một đoạn nghẽn ký ức nào đó trong câu chuyện thời hoàng kim giữa ông với các nhân vật bên trong những bức ảnh.
Đó là chuyện những đêm khuya, Thanh Thúy đi hát phòng trà về ghé qua rủ ông đi ăn cháo gà trước khi cô ca sĩ lẻ loi đi về căn phòng trọ ở khu miếu Tam Tông; những chuyến chụp ảnh xa với Thanh Nga ở Đà Lạt được bầu Thơ chăm sóc như con trong nhà; những chuyến ra ngoại ô chụp ảnh cho cô Thẩm Thúy Hằng bị lọt vào vòng phục kích, những cuộc gặp gỡ ấm tình thân với người nhạc sĩ tài hoa phụ trách hãng dĩa Continental Nguyễn Văn Đông… Tất cả trở về trong các buổi gặp gỡ giữa tôi với ông một cách tự nhiên, không cần những câu hỏi khơi dòng. Vậy mà tôi và các đồng nghiệp đã nói với nhau về ông rằng, với người thuần túy là một thợ ảnh, học chụp ảnh, tráng ảnh kiểu truyền ngón và không có lấy một quan niệm về cái gọi là “nghệ thuật nhiếp ảnh” nào, thì sẽ chẳng có gì để ghi lại.
Diễm Thúy qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu
Một trong những câu chuyện ông kể làm tôi ám ảnh nhất, đó là những ngày sau 1975. Cũng như những người từng làm những việc có liên quan tới sinh hoạt văn hóa trào cũ, ông mang những thư từ, hợp đồng, giấy tờ của ảnh viện ra sau hẻm, châm lửa đốt. Hiệu ảnh thì vẫn hoạt động nhưng thưa thớt dần, ông phải cộng tác với một số tờ báo thuộc thành đoàn lúc bấy giờ để mưu sinh, trong vai một phóng viên ảnh.
Có một mối day dứt với ông chủ ảnh viện Viễn Kính lúc bấy giờ mà ít ai hiểu thấu, đó là sẽ phải làm gì với hàng ngàn tấm phim của khách hàng. Bởi trước đây ông chỉ giao ảnh cho khách kèm theo con số của tấm phim, nếu khách có nhu cầu thì sẽ quay lại đọc số phim là nhân viên ảnh viện sẽ sao lục và rửa ảnh.
Có nên đốt cả kho phim hay không? – đó là câu hỏi khiến ông mất ngủ. Cuối cùng thì ông quyết định giữ lại với hy vọng sẽ có những khách hàng năm xưa một lúc nào đó sẽ đến xin lại các tấm phim chỉ để gặp lại bóng hình và kỷ niệm ngày cũ. Mười, hai mươi năm, ba mươi năm và bốn mươi năm đi qua, không ai trở lại. Những tấm phim vẫn được lưu trữ cẩn thận trong các liếp nhựa trong chiếc tủ im lìm. Đôi khi ý nghĩa của chờ đợi không phải là một cuộc gặp phía trước, mà ở chỗ bản thân sự đợi chờ.
“Có thể có người đã rời khỏi thành phố, có người đã chết trên biển, có người đã ở rất xa…”, ông nói và nhìn ra ban công, nơi những bông mai muộn lốm đốm vàng. Một buổi sáng tháng Tư, ông kể tôi nghe về người bạn thân thiết, là nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả Chiều mưa biên giới và nhiều ca khúc nổi tiếng khác. Rằng, “sau 1975, ông Đông vào trại cải tạo suốt 10 năm, từ Suối Máu đến Chí Hòa, tôi vẫn tìm cách vào ra thăm ổng.
Tam Ca Thăng Long qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu
Năm 1985, ông ấy đổ bệnh nặng, người ta đưa về Chợ Rẫy nằm, tôi cũng đến thăm. Còn nhớ lúc ấy tôi còn bị hạch hỏi quan hệ làm sao với ông Đông, tôi chỉ cười bảo, là bạn. Bằng hữu, cho đến bây giờ, khi ông sống đơn độc và khép kín trong căn nhà trên đường Nguyễn Trọng Tuyển, khi rảnh ranh tôi lại tới thăm, hàn huyên chuyện cũ. Với tôi, đó là người bạn tốt, giàu khí chất và trí tuệ mà cuộc đời mang lại cho mình.”
Ông kể về những bạn bè ca sĩ thời cũ từ hải ngoại về cũng tìm đến thăm ảnh viện và xin xem lại những bức ảnh khổ lớn mà ông lưu trữ trong căn phòng này. Họ ngồi hàn huyên và đôi khi có những khoảng im lặng hàng giờ, chỉ để tưởng niệm một thời đại xuân sắc hoàng kim đã đi qua. Trên bức tường, Thẩm Thúy Hằng tóc vấn cao, tai đeo bông hột xoàn cỡ lớn, mắt ngọc, đôi lông mày cong được vẽ đậm, môi cười thanh tú. Ngoài nụ cười sáng từ đôi môi trái tim, thì sự quyến rũ của một mỹ nhân đã được quãng diễn trong một thế ngồi tạo dáng theo bố cục zic-zăc đường chéo khung ảnh. Dáng ngồi chia sẻ những gì ưu việt và đặc thù của chiếc áo dài chít eo, tay áo cắt theo lối trois-quatre (3/4), cổ thuyền, ngực vuốt – mà thời bấy giờ gọi là áo dài Bà Nhu.
Trong khi đó, dáng đứng, ngồi ngẫu nhiên của Hợp ca Thăng Long làm toát lên một sinh khí của văn nghệ sáng tạo tự do và phong lưu của một đời sống phóng khoáng tự do. Bức chân dung Khánh Ngọc gợi cảm, Diễm Thúy mạnh mẽ táo bạo, đầy sức sống, còn Thanh Nga thì toát lên vẻ đẹp vẻ quý phái, kinh điển… Những gì làm nên sắc vóc của văn nghệ, văn hóa một thời, làm nên vẻ đài các thanh xuân của những mỹ nhân Sài Gòn cũ đang trở về. Những ánh mắt, môi cười, dáng vẻ, khí chất đó bền lâu, chống lại mọi vết úa xước của thời gian. Phẩm cách tỏa ra từ các bức ảnh đó thuyết phục ta tin rằng, cái đẹp và sự thanh tao hãy còn hiện hữu, không thể phôi pha. Tôi nhiều lần phải đứng ở góc cao để chụp xuống các bức ảnh mà ông cẩn thận tỉ mỉ đặt để trên nền gạch bông. Bằng máy ảnh số, tôi nín thở để ghi lại các bức ảnh khổ lớn theo cách của một người tìm cách lặn sâu vào một đại dương mê hoặc, ghi lại từng chi tiết đã phủ bụi, làm sao cho không xê xích hay nghiêng đảo, làm sao cho tất cả phản chiếu những hồi quang. Những lúc đó, tôi được đắm chìm vào một không gian thuần khiết, tự do mà ảnh viện này tạo ra. Và cũng những lúc đó, tôi nhận ra sự bất lực. Cái đẹp là một điều gì không thể dò thấu.
Bên dòng chảy không ngừng
Những ngày đầu năm 2017, tôi rời tòa báo và thất nghiệp. Còn ông: Nghỉ dưỡng già. Một đã nghe gió heo may về, một thì mỏi gối chồn chân quá sớm, nhưng lại gặp nhau ở một điểm – chúng tôi lùi khỏi dòng chảy đời sống nhận nhịp xô bồ của một thành phố ngày đêm sôi động như thác lũ.
Tôi rón rén ở cửa hông của gian bếp, làm quen với ông bà và đưa ra một đề nghị xin được gặp ông mỗi tuần hai buổi sáng để nói chuyện về nghề làm thợ ảnh ở Sài Gòn ngày xưa. Ông ngó sang, tế nhị chờ nụ cười thiện cảm của người bạn đời rồi gật đầu.Và cứ như thế, suốt nửa năm, tôi đều đặn tuần hai buổi sáng mang sổ, bút, máy ảnh đến căn phòng trên lầu hai. Ông sẽ pha một ấm trà thơm và đợi. Lúc nào ở ông cũng toát ra sự thư nhàn, nhỏ nhẹ nhưng chu đáo từ cách ăn mặc đến tuân thủ giờ giấc của cuộc hẹn.
Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên phỏng vấn ông Đinh Tiến Mậu
Điều mà tôi cảm nhận từ lần gặp đầu tiên cho đến lần gặp cuối với ông, thật nhất quán và rõ ràng, đó là trong cốt cách riêng của ông, có cung văn hóa bặt thiệp và chừng mực của người một thời. Vẫn nụ cười ấy, khi tôi trở lại và trao tặng nhân vật cuốn sách Ký ức một ảnh viện Sài Gòn – Câu chuyện Viễn Kính (Phương Nam Book & NXB Trẻ, 2017) vào cuối năm đó, ông nắm tay tôi đi trong con hẻm nắng và bảo rằng, “Mình sẽ gửi cuốn sách về bảo tàng nghề ảnh ở Lai Xá, quê hương mình.
Ở ngôi làng đó có cả một bảo tàng nghề ảnh”. Và lần sau đó trở lại, vẫn nụ cười hồn hậu ấy, người thợ ảnh nhìn tôi từ sau màn hương khói lững lờ bay. Bây giờ, câu chuyện giữa chúng tôi là một khoảng lặng im tịch mịch mãi mãi.
Ông Đinh Tiến Mậu sinh năm 1935, tại Lai Xá, Hà Đông; mất năm 2020 tại Sài Gòn. Hai năm trước đó, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, bằng hữu của ông qua đời; và hai năm sau đó, một trong những giai nhân ngày cũ, cũng là bạn già mà ông thi thoảng còn giữ liên lạc sau này, bà Thẩm Thúy Hằng cũng rời cõi tạm. Tôi vẫn nghĩ về căn phòng trên tầng hai của ảnh viện Viễn Kính, nơi người thợ ảnh già ngồi rót trà chờ tôi để kể câu chuyện dâu bể thời gian. Cạnh những tủ phim âm bản đã niêm kín những đợi chờ.
Tôi đã nhiều lần vượt vùng trời Bến Hải với những chuyến bay ném bom trên đất Bắc. Lần này tôi được chỉ định dẫn dắt mười hai phi cơ tiến đánh một mục tiêu xa hơn những lần trước. Đó là hai trại quân quan trọng nằm trong vùng rừng nơi phía Tây Bắc thành phố Vinh. Tôi ghi nhớ nhiều về chuyến bay này vì là lần đầu tiên tôi điều khiển hoàn toàn một phi vụ Bắc phạt. Những lần trước tôi chỉ hướng dẫn một phi tuần bốn phi cơ theo sự điều khiển của phi đội trưởng. Đối với phi công khu trục, cấp trung uý dù rằng với chức vụ trưởng phòng hành quân phi đoàn, đây là một danh dự và là một hãnh diện nữa khi được lệnh đảm trách một công tác quan trọng như vậy.Suốt từ lúc được lệnh bay, xuyên qua buổi thuyết trình về phi vụ, tôi đã hỏi rất nhiều, rất kỹ lưỡng vị sĩ quan Quân Báo về các vị trí phòng không địch, cho đến khi đứng lên nhắc lại các phương thức phi hành cùng các đoản lệnh hành quân cho các chiến hữu cùng bay với tôi, tôi cảm thấy nôn nao vô cùng. Có thể hơn thế nữa, gần như là một mối lo âu. Không thể là sự lo sợ được đối với một người trẻ tuổi như tôi, đã được rèn luyện trong cái khí thế hiệp sĩ của một phi công khu trục bao lần vùng vẫy trên vùng trời lửa đạn. Tôi run run đếm những số giây cuối cùng cho các bạn tôi điều chỉnh giờ đúng. Nỗi lo âu ngập tràn. Khẳng định không phải là sự thiếu tự tin. Những người trẻ tuổi thường không sợ sệt trong lý tưởng mà luôn muốn chứng minh khả năng của mình trong khi bay. Khả năng của tôi đang được khảo thí. Một cuộc khảo thí quan trọng vô cùng, vì từ giờ trở đi, những quyết định của tôi, một phi công hai mươi ba tuổi, nếu sai lầm sẻ phải trả bằng giá của sinh mạng tôi và của cả mười một phi công khác mà số tuổi chỉ trên dưới hai mươi. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong nghề, lần này tôi sắp sửa thêm một kinh nghiệm nữa mà mãi sau này tôi vẫn thấy thú vị vô cùng. Danh nhân nào đã nói kinh nghiệm là một ông thầy khó tính, bắt ta phải khảo thí trước khi dạy ta. Tôi đang là thí sinh của cuộc khảo thí kỳ cục đầy hào khí này. Hình ảnh cuốn phim Le Pont de Toko Ri chợt đến bao trùm trong tôi thật rõ ràng linh hoạt như ngày nào tôi mười hai tuổi xin tiền mẹ bốn lần để xem đi xem lại phim này. Vùng trời Đà Nẵng hôm đó thật thấp và âm u với nhiều mây xám. Đã có lác đác vài hạt mưa rơi. Các bạn tôi lộ vẻ chán nản và nói “Chán quá! Lại phải hủy bỏ phi vụ”. Chúng tôi có những giới hạn thời tiết tối thiểu để hoạt động. Dù với lòng quả cảm chấp nhận hiểm nguy nhưng chúng tôi đều phải tôn trọng những luật lệ về an phi. Tuy nhiên tôi thản nhiên ra lệnh: “Vẫn cất cánh như đã dự trù”. Các bạn tôi đều ngạc nhiên và cho là một quyết định khá liều lĩnh. Thật ra tôi đã quyết định ngay từ lúc rời phòng thuyết trình và thầm mong một biến chuyển thời tiết khả quan hơn. Tôi nhớ thật rõ các dữ kiện mà sĩ quan khí tượng đã cho biết. Trong trí tôi, cuốn phim Le Pont de Toko Ri đang quay chậm. Tôi ôn lại các lối lượn bay toát mồ hôi lạnh trong phim. Có ai ngờ mười mấy năm sau tôi lại đóng vai chính của một cuốn phim oai hùng. Thời gian trôi qua thật nhanh chóng. Tôi tưởng chừng như mới hôm qua còn ngồi trên ghế nệm thoải mái trong rạp hát, hồi hộp theo dõi một kiệt tác của nghệ thuật thứ bảy. Để rồi hôm nay ngồi trong phòng lái chật hẹp tù túng, trước mắt là cánh quạt động cơ ào ào rung chuyển quay tròn như cơn gió lốc, như trộn lẫn định mệnh với cuộc đời… Thế rồi phơn phớt dưới chân mây, là đà trên ngọn núi, chúng tôi đem tuyệt kỹ phi hành để khắc phục trắc trở thiên nhiên. Tôi đem hết hiểu biết kinh nghiệm để dẫn dắt mười hai cánh chim lao về Bắc. Nhìn các bạn tôi chao đi trong mưa gió âm u, lòng tôi se lạnh. Trong gió mưa cuồng loạn các bạn hãy cố gắng lên. Chúng ta còn đến trung tâm một cơn bão khác quay cuồng hơn, đang đe doạ không riêng chúng ta mà cả hàng triệu chiến hữu đang gian khổ dập tắt cơn bão loạn này. Tôi biết trời âm u lắm, đôi cánh nặng vô cùng, các bạn hãy theo tôi đi dẹp tan cái âm u khác đã triền miên từ lâu. Theo tôi cho vững để trút cái nặng nề dưới đôi cánh, xoá tan những áp lực núi đá khác đang đè nén quê hương. Nhìn xem kìa, bên trái hướng chín giờ, Huế cố đô thân yêu. Chân mây cao hơn đôi chút rồi. Đừng dùng máy nhiều nhé, nhớ tiết kiệm từng giọt xăng. Chúng ta còn đi xa lắm, dù mang thêm bình xăng phụ nhưng lúc giao chiến, đôi khi chúng ta phải thả đi cho nhẹ bớt để còn mặc sức vẫy vùng. Máu của cánh chim, máu của chính mình đó các bạn. Tôi đang cố gắng giữ hướng Bắc dù cho đôi cánh đang chao mạnh run rẩy từng cơn. Hãy tin ở tôi, ở tuổi trẻ Việt Nam. Quảng Trị, Đông Hà, Cửa Việt… Các bạn thấy Cửa Việt chưa? Cố lên, hãy tra chìa khoá vào cánh cửa Việt Nam đang bị rỉ sét để mở ra cho lịch sử thôi tù túng, đóng khung. Đừng bay quá xa về phía biển, chúng ta sắp vượt Bến Hải, vĩ tuyến đau thương. Ha ha, chiếc cầu với hai cột cờ. Chẳng có ý nghĩa gì với chúng ta. Các bạn còn nhớ bài Địa Dư vỡ lòng ngày nào? Nước Việt Nam trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Đâu có ai ngờ là đứt khúc nơi Bến Hải. Bên cánh trái là giang sơn gấm vóc của giống Tiên Rồng. Dưới cánh phải là Thái Bình Dương đang dâng sóng vỗ về đất nước. Chúng ta cố bay nhanh để sớm quay về, chắp đôi cánh lại cho thanh bình mau ấp ủ quê hương… Vĩnh Linh, Quảng Khê, Đồng Hới… Tôi đã bay trên miền trời các địa danh đó, đã đem tử thần đến và cũng đã chạm mặt tử thần ở những nơi này. Quê hương tang tóc rối bời. Những trại quân bị tàn phá, những chiếc cầu gẫy gục, những quang cảnh tiêu điều, vết tích lưu lại những lần oanh tạc trước vẫn còn lở lói bên dưới kia. Những ai đó còn mê ngủ hay đã kinh hoàng tỉnh giấc trong những tràng bom nổ inh tai, dưới những làn phi tiễn nhức óc? Đừng để cho ảo tưởng bao trùm, hãy lên đây cùng chúng tôi, suốt con đường từ Nam ra Bắc để nhìn rõ bức dư đồ rách nát vì đâu? Hãy ngồi bên chúng tôi để nhìn rõ quê hương, để biết cái cảm giác của một người bay trên quê hương mà phải nghĩ đây là đất địch. Đã bao lần tôi muốn xua đuổi ý tưởng đau lòng đó, nhưng bên những sườn núi kia, trong thung lũng nọ, trên bờ biển này, tử thần đang chực chờ lôi kéo chúng tôi bằng lưới đạn giăng trời, để rồi sau cái tan vỡ kinh hoàng của một cánh chim, Thân xác cũng tan tành đưa chúng tôi đến nơi nào không biết, nhưng chắc chắn rằng cho đến lúc đó, chúng tôi chưa tận hưởng được cái khang cường thân thể với những mạch máu căng đầy sinh lực mà cha mẹ tạo thành, chưa mãn nhãn nhìn hết cái đẹp hùng vĩ đất nưóc của tổ tiên để lại, cũng như chưa tiêu xài hết một phần tuổi trẻ của cuộc đời. Tôi đưa cả phi đội bay thật thấp để cố tránh tầm rada địch. Trong mũ nghe chỉ còn tiếng rè rè của vô tuyến. Chúng tôi âm thầm bay, không một ai lên tiếng trong lúc này, kể cả đài kiểm báo Sơn Trà. Ngoại trừ khi tôi cần. Tôi biết rằng chúng tôi không cô đơn, vì ở nhà bao con tim đang hồi hộp đợi chờ. Chúng tôi rời phương Nam đã lâu, nơi đó bạn tôi cũng chờ đợi.
Địch? Bạn? Tại sao lại bắt chúng tôi dùng những từ ngữ ấy? Tại sao không xoá bỏ những chữ ấy trong tự điển, trong lòng người? Tại sao lại xem chúng ta là kẻ thù để chúng tôi trở nên những người đối địch họ vì chúng ta sắp nhận là kẻ ác của những người thiện để tiêu diệt bất cứ kẻ ác nào muốn giết người thiện. Từng phần đất quê hương sẽ thêm một lần vỡ tung dưới làn bom nổ. Thân thể mẹ Việt Nam đang bị vi trùng đục khoét, chúng tôi xót xa phải cắt bỏ những ung nhọt đang hoành hành. Nguyện ước bây giờ là làm sao cho Mẹ bớt đau đớn, hết rên xiết, con cháu Mẹ sớm quây quần bồi dưỡng Mẹ. Mẹ, xin Mẹ cho chúng con thêm một lần chạm vào da thịt thiêng liêng để Mẹ sớm yên lành… Hà Tĩnh nghèo nàn âm u kia rồi. Vinh u buồn thảm não. Chúng tôi cho vòng máy quay nhanh hơn bắt đầu vượt cao theo hướng Tây Bắc tràn vào. Mây mù giăng đặc. Tôi cố lượn giữa các tầng mây, dò theo từng chi tiết trên bản đồ mà hầu như đã thuộc kỹ. Tôi không được phạm một sơ xuất nào, một lầm lỗi nào dù nhỏ đến đâu. Tôi ra thủ lệnh cho các bạn tôi. Loang loáng trong mây, mười hai hiệp sĩ như những cánh thiên thần đi tìm tử thần trong cái âm u của trời đất. Tôi phải tận dụng yếu tố thời tiết và bất ngờ, nếu không… nếu không thì… Le Pont de Toko Ri ơi, sao có sự trùng hợp lạ kỳ? Chỉ khác chăng không phải chiếc cầu mà là trại quân. Vẫn một thung lũng rợn người với ba mặt núi cao đầy lửa đạn. Vẫn một lối vào duy nhất như lùa vào tử lộ. Vẫn một lối ra hiểm trở, vách đá sừng sững chi chít cao xạ. Tôi có cảm tưởng như địch đã biết, đang mỉm cười chờ những cánh thiên thần. Trời âm u quái đãn, bay đến đâu mới nhìn được đến đó. Tầm nhìn xa bị giới hạn tột cùng. Thoáng qua vài lỗ hổng chân mây, xa xa là Thanh Hoá.
Tám phút trước mục tiêu, tôi chợt đổi đường bay về hướng Bắc. Các bạn tôi vẫn đeo sát. Nhạc gió quay cuồng, tiếng máy thét gào rú mạnh. Đài kiểm báo Sơn Trà như lo lắng gọi chúng tôi cho biết đang bay lệch mục tiêu ba mươi độ và báo động phi cơ địch được nhìn thấy trong vùng hoạt động. Tôi đáp hiểu, không giải thích lối đánh của tôi. Tôi lượn quanh trong mây đổ chập chùng, vòng sang hướng Tây mục tiêu rồi chọc thẳng về hướng Nam, tin tưởng hoàn toàn vào tấm bản đồ không ảnh. Các bạn tôi đã sẵn sàng ở đội hình chiến đấu. Tôi từ đầu rặng núi vượt ra từ trong mây. Số một lao vào mục tiêu. Tốc độ tăng nhanh như vũ bão. Áp lực ép mạnh vào người. Làm sao… Làm sao ngay từ giây phút đầu… Le Pont de Toko Ri… Phải, tôi phải cố gắng làm sao cho hai trái bom đầu tiên rơi đúng ngay trên mục tiêu nằm cách nhau non một ngàn thước để đánh dấu cho các bạn tôi nhìn thấy qua đám mây mù. Tôi phải lam sao cho các phi tiễn cùng lúc ấy phá vỡ các ổ cao xạ ở vách núi trước mặt ngăn chặn lối ra duy nhất.
Hơn nữa nếu tôi xuống quá thấp để tìm sự chính xác cho làn bom và phi tiễn thì lúc vượt lên sẽ quá muộn chỉ trong vòng một giây đồng hồ tôi sẽ cùng cánh chim dán vào vách đá. Tôi còn phải lượn lại ít lắm hai lần, trong lúc các bạn tôi đang oanh tạc, để trút số bom còn lại lên các ổ phòng không hai bên vách núi đang kẹp mục tiêu như chiếc kéo của tử thần đang chực chờ họ. Tôi còn phải nhắc nhở và theo dõi họ lúc vượt qua vách núi chắn ngang. Tất cả đều tùy thuộc vào ở lúc này. Tôi lao xuống mục tiêu đang tỏ dần trước mặt… Bom nổ kinh hoàng, phi tiễn xé rách vùng trời thung lũng. đạn bay loè sáng… Tôi như chết đi trong con người, đắm chìm trong chiến trận. Tôi trở thành máy móc, một công cụ khoa học, một nô lệ kỹ thuật. Phòng không địch giật mình hoạt động. Nhưng trễ quá rồi. Thời tiết xấu đã giúp chúng tôi tận dụng yếu tố bất ngờ. Các chú không ngờ chúng tôi tiến đánh lúc trời xấu phải không? Nếu trời trong thì với lối phòng thủ chắc ăn như vậy, các chú có thể xơi tác một con ruồi bay qua. Chúng tôi cần vài giây đầu tiên thôi. Đạn phòng không đỏ rực nổ tung dày đặc khung trời. Lúc trở vào mục tiêu lần thứ ba, có nhiều va chạm mạnh ở toàn thân phi cơ. Cánh chim lao chao… Tôi trút hết số bom vào mục tiêu đang cháy bùng vỡ toang… Tôi chợt thấy rợn người… Tôi đã xuống quá thấp và hiện ra ở cách độ 1500 bộ… Vách đá trước mắt tôi với nhiều vết đạn dài bay lên như sắp đổ ập lên tôi… Chậm quá rồi… Tôi phải kéo thật mạnh để tung bổng lên cao. Nhưng nếu cần lái lại bị kẹt vì lý do nào đó… Nếu các định luật gia tốc và thăng tốc không còn đúng nữa ở trong trường hợp này? Bao sức mạnh trong tôi dồn cả vào đôi tay níu kéo cần lái như chỉ một lần cuối níu kéo định mệnh, níu kéo những giây phút sau cùng của cuộc đời. Tôi cố nhấc bổng khối sắt nặng nhiều tấn đang rung mạnh lên cao… Hôm nay không có trời xanh cao đẹp, nhưng những đám mây xám ngoẹt kia giờ đây sao lại đẹp dị thường. Các bạn tôi đang tìm tôi trên vùng mây kia. Những giây phút này chắc tôi không còn có thể đưa họ trở về phương Nam như một “đàn chim Việt”. Lòng tôi thanh thản vô cùng. Tôi nhớ rõ trước khi đi, tôi đã ra lệnh tỉ mỉ cho người phi đội phó thay tôi nếu tôi rơi rụng… Họ sẽ trở về an toàn dù có thiếu vắng tôi. Không có gì là quá đắt nếu chỉ một mình tôi phải trả giá cho phi vụ này… Trong phim Le Pont de Toko Ri có ai trở về đâu… Thế mà các bạn tôi sẽ trở về. Chắc chắn họ sẽ trở về… Chấp nhận kiếp sống mây trời là để sống hào hùng và chết oanh liệt… Chợt một khe núi thoáng hiện bên phải hướng hai giờ. Tôi không cần thấy rõ những gì trong ấy. Bấy nhiêu đó quá đủ giúp tôi vượt khỏi bàn tay tử thần một lần nữa… Thôi tử thần, ta chào mi. Hẹn lần khác nhà. Tôi vượt lên cao… Các bạn tôi đang lượn vòng chờ đợi. Chúng tôi im lặng hướng về Nam, luôn luôn ở đội hình chiến đấu để chờ đợi một cuộc săn đuổi của phi cơ địch. Nhưng rồi lại thoáng hiện chiếc cầu với hai cột cờ. Lần này thì lại nằm bên cánh tay phải. Phải, trái? Ai phải, ai trái? Tôi không cần. Chỉ biết rằng chúng tôi đang trở về toàn vẹn và bây giờ hiện bay trên Huế… Hầu hết phi cơ bị trúng đạn, nhưng nhạc gió vẫn quay đều. Tôi báo cáo sơ lược cho đài kiểm báo và cho biết đang trên đường về. Hoàng hôn đẹp. Sóng biển lấp lánh ánh bạc. Tôi gỡ nhẹ đôi găng tay để đốt một điếu thuốc nhăn nheo được vuốt thẳng. Trời tối dần. Khi đưa điếu thuốc lên môi, tôi chợt thấy bàn tay run run… Vì sung sướng thành công hay vì những phút giây căng thẳng rợn người vừa qua còn vương vấn? Có lẽ hai thứ hoà chung. Thuốc ngon quá. Buổi tối, lúc đang sửa soạn cho phi vụ hôm sau, thành tích của tôi được loan truyền trên đài phát thanh Sài Gòn. Tò mò bắt sang đài Hà Nội, họ đang khoe đã hạ được năm máy bay trong số ba mươi máy bay tiến đánh lúc ban trưa ở cùng một nơi chốn và thời gian mười hai chúng tôi đã đến và trở về. Tôi mỉm cười… Lê Bá Định Nguyệt San Lý Tưởng 1970 Chú thích: Lê Bá Định sinh trưởng tại miền Bắc nhưng theo gia đình di cư vào Nam từ 1954. Lê Bá Định trở thành một phi công phản lực nổi danh trong binh chủng về khả năng điều khiển khu trục lẫn khả năng viết. Lê Bá Định cũng được biết đến như một cấp chỉ huy trẻ cương trực và quả quyết khi là Trung Tá Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật. Sau 1975, Lê Bá Định trở thành tù nhân cải tạo nhiều năm, nhưng quyết định ở lại Sài Gòn mưu sinh bằng cách kèm dạy Anh Văn.
Hôm nay là 30 tháng 1 năm 1976 Tây lịch, nhằm ngày ba mươi tháng chạp năm Ất Mẹo, chỉ còn khoảng 7 giờ nữa là qua năm mới, năm Bính Thìn. Sở dĩ tôi nhớ rõ như vậy vì ở trong tù mấy ngày giáp Tết, tù nhân thường hỏi thăm khi nào đến Tết. Hỏi để biết ngày nhận được cái bánh chưng, để biết sẽ có ba ngày nghỉ lao động. Và, điều quan trọng hơn là tù nhân có thời giờ ngồi ôn lại những kỷ niệm thân yêu của ngày Tết xa xưa cũ, khi còn chung sống hạnh phúc với vợ con, cha mẹ, anh em.
Tôi gói cái bánh chưng và miếng cá khô to bằng ba ngón tay đã được nướng chín vào bao cát, tay phải nắm cổ chai bia lớn chỉ còn một nửa, tay trái túm cái bao, rồi hăng hái đi qua khối Bình Thuận tìm Long công tử. Lát nữa tôi và Long công tử cũng như tất cả mọi tù nhân ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, sẽ ăn bánh chưng, uống bia con cọp để tiễn đưa năm cũ, đón mừng năm mới.
Long công tử tiếp tôi với nụ cười thật tươi, gương mặt của hắn đã khá đầy đặn, cho tôi thấy lại hình ảnh của một chàng công tử hào hoa phong nhã ngày nào, khi tụi tôi còn là Sinh viên sĩ quan ở Trường Bộ Binh Thủ Đức. Long công tử nói oang oang như sợ tôi không nghe được.
-Chờ chút, chờ chút, tao lấy cái bánh chưng và nửa chai bia. Hay là mày cứ ra bên hông nhà bếp trước đi, tao tới liền.
Tôi đi chầm chậm qua ba căn nhà, đến căn cuối cùng là nhà bếp của khối Bình Thuận rồi quẹo phải. Ngồi dựa lưng vào bức tường hãy còn âm ấm vì phía sau bức tường là nhà bếp, tôi trải cái bao cát xuống đất, lấy món ăn thức uống để lên trên. Cũng phải hơn mười phút sau Long công tử mới đến, hắn cười thoải mái.
-Mày đợi có thấy lâu không?
Vừa dứt lời, Long công tử đặt cái bánh chưng và nửa chai bia của nó xuống, lần trong túi lấy ra một gói giấy nhỏ. Hắn vui vẻ nói với tôi.
-Đố mày biết, có cái gì trong gói này?
Tôi lắc đầu.
-Chịu thua, tao làm sao biết được. Chắc là muối ớt.
Nói xong mới biết là mình đoán sai, tôi nói luôn.
-Không thể được, bởi vì không lẽ Tết nhất đến nơi mà mày cho tao ăn bánh chưng chấm muối ớt, vô lý quá.
Long công tử cười đắc ý. -Tao cũng không biết có gì trong đó luôn. Nhưng mà chuyện như thế này, thằng Thọ cùng tổ với tao, mày không biết thằng này đâu, hai đứa tao chia nhau một chai bia, nó là dân Chợ Lầu ở bên ngoài trại tù Sông Mao nên được gia đình thăm nuôi, tiếp tế thực phẩm đầy đủ. Thọ khen tao là dân chơi, nó nói “Mày băng rừng vượt suối hơn một tháng trời, dẫn theo mấy chục con cọp mũ nâu, từ Pleiku về đến Phan Thiết an toàn.
Nếu mày đi nhanh hơn độ một tuần, có thể mày thoát được về đến Sài Gòn, không bị bắt nhốt ở lao xá Phan Thiết, và cũng không phải bị đưa ra Cà Tót để nếm mùi gian khổ đọa đày, giỡn mặt với tử thần. Tao cũng phục mày sát đất, suốt mấy tháng sống ở Cà Tót, áo quần giày dép bị tịch thu sạch sẽ, ngày ngày ăn ba hột cơm nấu bằng gạo mục, ăn lá đọt mì, tối đến chỉ có một bộ đồ bà ba đen bận trên người, ngủ chung với muỗi mòng, rắn rít, đói rét triền miên mà mày vẫn còn sống, đúng là một tay anh hùng hảo hán”. Nói xong Thọ rót phần bia của hắn vào cái lon gô, đưa nửa phần còn lại trong chai và gói giấy này cho tao, hắn vừa đưa vừa nói, với giọng nói đầy chân tình “Tết nhất đến nơi, tặng mày chút mồi nhậu với bia cho đậm đà hương vị, chỉ tiếc là thiếu vài củ kiệu ngâm giấm nữa là đủ. Chúc mày năm mới, học tập tốt lao động tốt, giữ được mạng sống để trở về đoàn tụ với gia đình.”
Dứt lời Long công tử mở gói giấy đưa về phía tôi.
Nhìn bốn con tôm khô to bằng đầu đũa, tôi cười rồi nói với Long công tử.
-Thằng cho mày mấy con tôm khô này, coi bộ cũng chịu chơi dữ. Ở cái xứ Bình Thuận khô khan nắng hạn, quanh năm cát bụi mù trời, vậy mà cũng có khá nhiều tay anh hùng hào kiệt. Tao muốn hỏi, có bao giờ mày nghe bài thơ “Mật khu Lê Hồng Phong” chưa ? Bài thơ mới nghe qua đã thấy phảng phất nét hào phóng ngang tàng. Tác giả bài thơ này phải là một tay hào sảng, phóng khoáng có thừa.
Long công tử nói với tôi.
-Những gì thuộc về lãnh vực khoa học, tao chịu thua, tuy nhiên với văn chương thơ phú thì tao có thể góp ý, đấu hót với mày. Để tao nhớ lại coi đâu khoảng 1973, tao đã có dịp đọc bài thơ này rồi.
Mai ta đụng trận ta còn sống. Về ghé Sông Mao phá phách chơi.
Cái thị trấn Sông Mao nhỏ xíu này, được biết đến một phần là nhờ Sư đoàn Dã chiến, hay là Sư đoàn Sơn cước gì đó, đa phần là người Nùng, năm 1954 từ Bắc vào đóng ở đây. Sau đó đổi tên thành Sư đoàn 6 do Đại tá Vòng A Sáng làm tư lệnh. Khi sư đoàn này di chuyển xuống Vùng III, sau đó là Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 Bộ Binh chuyển đến. Cuối cùng Việt cộng lấy hậu cứ, trại gia binh của Trung đoàn 44 làm Tổng trại 8 tù binh để nhốt tụi mình. Trong văn chương, Sông Mao được biết nhiều nhờ bài thơ mà mày vừa nhắc đến của ông thi sĩ coi trời bằng vung ở Phan Thiết. Lịch sử đã chứng minh, nhiều khi bài thơ hay có thể làm cho một địa danh lạ hoắc, một ngôi chùa tầm thường bỗng nổi tiếng như cồn, điển hình là ngôi chùa Hàn San ở bên Tàu, được vang danh thiên cổ nhờ vào bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế. Ông thi sĩ này, đổ Tiến sĩ năm 754 đời nhà Đường.
Long công tử hớp một ngụm bia, hắn bốc hai con tôm khô bỏ vô miệng vừa nhai vừa nói.
-Phần còn lại là của mày.
Nói xong, Long công tử đưa gói giấy cho tôi.
-Mỗi đứa hai con tôm coi bộ thiếu mồi rồi, nhưng mà nói cho cùng, ở tù được như vậy cũng còn phong lưu chán.
Tôi nói với Long công tử.
-Mình còn miếng cá khô nữa mà.
Long công tử nhìn xuống cái bao cát trải dưới đất, hắn vói tay cầm miếng khô.
-Vậy mà tao quên mẹ nó mất.
Miệng nói tay hắn xé miếng khô làm hai đưa lên mũi ngửi rồi giữ lại phần ít, đưa phần nhiều hơn cho tôi.
-Người ta thường nói trà dư tửu hậu, mày cứ từ từ nhậu lai rai đi, tao sẽ kể cho mày nghe về chuyện bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” Bài thơ đã đưa ngôi chùa Hàn San tầm thường, không có một chút gì đặc biệt, trở thành một trong mười ngôi chùa nổi tiếng nhất Trung Quốc.
Đang thao thao bất tuyệt, Long công tử ngừng nói, hắn nhăn mặt rồi hỏi tôi.
-Mà nè, mày có biết chút gì về thơ Đường không?
Tôi vui vẻ nói.
-Mày hỏi hơi thừa, tao là sinh viên Văn Khoa năm thứ tư, đương nhiên có biết chút ít, cũng thuộc dăm ba bài thơ của Lý Bạch, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị như ai. Tao thuộc thơ Đường không phải vì thích, mà chỉ để phòng khi gặp những thằng cắc cớ như mày hỏi đến, tao còn biết đường mà trả lời.
Long công tử cười rồi nhích người ra xa, cái nhích người đầy giễu cợt giống như hắn sợ ngồi gần tôi.
-Với tao mà mày cũng nổ như lựu đạn M26, ngồi gần mày, tao sợ có ngày banh xác như không. Khi tụi mình còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức lúc đó mày mới mười chín tuổi, làm thế nào mày có thể là sinh viên năm thứ tư Đại học được. Chắc mày là thần đồng, đậu tú tài toàn phần vào năm mười lăm tuổi mà tao không biết.
Nghe Long công tử nói, tôi mới nhớ là hắn đã không biết gì về chuyện tôi học Văn Khoa ở Đà Lạt. Trong đầu của hắn, tôi vẫn là thằng Bắp cải của hơn bảy năm về trước khi tụi tôi còn ở Thủ Đức. Không có đi đâu mà vội, tôi từ tốn giải thích cho Long công tử nghe.
-Mày nói đúng, mười chín tuổi vừa đậu xong cái bằng tú tài hai, tao tình nguyện vào Trường Bộ Binh Thủ Đức mà chưa có một ngày bước chân vô đại học, chưa biết mặt mũi của nó như thế nào. Mãn khóa, khi mọi người hăng hái tươi cười vác ba lô ra đơn vị, riêng tao ôm cái mối tình tuyệt vọng với em Dung xinh đẹp đem về Trường Võ Bị Đà Lạt. Suốt hai năm sau đó tao sống như một cái xác không hồn, sống mà như đã chết rồi, sống mà không một chút hy vọng vào tương lai. Thất tình mà mày. Tao làm việc ở Trung tâm Hành quân Trường Võ Bị Đà lạt, hết ca trực có hai mươi bốn giờ nghỉ, tao dùng thời giờ này lang thang ở mấy quán cà phê, tìm quên trong tiếng nhạc lời ca, bên những giọt cà phê đắng, bên khói thuốc cay nồng. Ở đó tao mơ màng nhìn mấy cô thu ngân mà thương tiếc, nhớ hoài nhớ mãi về những ngày phép ở Sài Gòn, với mối tình mà tao cho là đi trên đường một chiều.
Long công tử cắt lời tôi.
-Tao có cảm tưởng rằng mày đã lạc đề, chuyện mày kể không có chút gì liên hệ đến việc mày học đại học. -Có chớ sao không, cứ từ từ đừng có nóng, tao mới nói rõ đầu đuôi được. Một lần nọ khi tao đang ngồi ăn sáng ở câu lạc bộ sĩ quan của trường, bàn bên cạnh tao là một ông thiếu úy và một ông chuẩn úy. Tao vừa gặm bánh mì vừa uống cà phê, tai nghe họ nói chuyện. Mày cũng đừng có vội chê là bất lịch sự khi nghe lén chuyện của người khác, tao bị nghe vì hai cái bàn kê gần nhau quá. Qua câu chuyện của họ, tao biết được cả hai ông đều tốt nghiệp Cao học, vừa đổi về làm việc ở Văn hóa vụ. Tao nghĩ thầm hèn gì cách ăn nói của họ nghe thật là chửng chạc, mạch lạc, rõ ràng, cứ như là mấy ông thầy. Cấp bậc của hai ông đều nhỏ như tao thôi, nhìn cái vỏ bên ngoài, tao giống hệt hai ông sĩ quan nọ, cũng quân phục với huy hiệu Trường Võ Bị Đà Lạt bên tay áo trái, lon lá trên cầu vai, cũng cái mũ nồi để trên bàn, thế nhưng học thức của họ thì không nhỏ chút nào, nó cao tận mây xanh. Sự khác biệt giữa tao và hai ông sĩ quan ngồi bàn bên cạnh là cái hố sâu bằng cấp.
Trường Võ Bị Đà Lạt là nơi long đầm hổ huyệt, đi đâu, ngồi đâu, cũng gặp những bậc trí thức khoa bảng, bằng cấp đầy người.Trước đó vào những ngày nghỉ, khi thấy tao không chịu tiếp tục việc học mà chỉ hay la cà ở những quán cà phê, ba tao nói với tao, câu nói mà tao nhớ mãi trong lòng “Ba là thợ mộc, đã từng đóng nhiều bàn ghế cho học sinh, mơ ước của ba là được ngồi trên những cái ghế đó mà không được, nay con may mắn hơn ba, có cơ hội tiến thân, con lại đi chọn mấy cái ghế trong quán cà phê”. Sau buổi ăn sáng ngày hôm ấy, tao quyết định mò lên Viện đại học Đà Lạt, ghi danh vào Văn khoa. Những năm sau đó tao vừa đi lính vừa đi học, cứ tà tà ngày này qua tháng nọ. Hết năm thứ nhất, tao bò lên năm thứ hai rồi tiếp tục bò lên năm thứ ba. Bò hoài, bò mãi, cuối cùng sau mấy năm đèn sách, học trầy vi tróc vảy, tao là sinh viên năm thứ tư, đang chuẩn bị bợ cái bằng cử nhân thì ngày 30 tháng 4 đến.
Long công tử dường như đã hiểu rõ chuyện học của tôi nhưng hắn vẫn thắc mắc.
-Viện đại học Đà Lạt nổi tiếng với phân khoa Chính trị Kinh doanh, tại sao mày không học mà lại chui đầu vô Văn khoa?
Tôi cười với Long công tử.
-Mấy ông giảng sư thỉnh giảng từ Đại học Văn khoa Sài Gòn lên, thường dễ dãi trong việc điểm danh, không phải là chín, mà là năm cũng bỏ làm mười, đừng có vắng mặt nhiều quá thì mọi chuyện coi như là êm xuôi, đó là lý do tao chọn Văn khoa.
Long công tử gật gù ra chiều thấm ý, hắn khen tôi mà như là người anh khen thằng em.
-Đang ở trong quân đội mà mày còn học thêm ở đại học, kể ra mày cũng là thằng có chí đó. Hóa ra tao với mày kẻ trước người sau cùng chung một môn phái. Vậy thì mày biết gì về bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” nói cho tao nghe coi.
Tôi không đọc nguyên tác bài thơ bằng chữ Hán, mà xuống giọng luôn một mạch bốn câu thơ đã được dịch sang tiếng Việt.
Trăng tà tiếng quạ kêu sương. Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ. Thuyền ai đậu bến Cô Tô. Nửa đêm ghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Long công tử đưa tay ra dấu cho tôi ngừng, rồi hỏi.
-Mày thấy bài thơ thế nào?
Tôi trả lời hắn.
-Một bài thơ bất hủ, một kiệt tác lừng danh thiên hạ, kể từ ngày bài thơ ra đời cho đến nay, trải hơn một ngàn hai trăm năm, chừng đó năm tháng qua đi cũng đủ thẩm định giá trị của bài thơ rồi. Tao nghĩ không có gì phải bàn đến.
Long công tử lắc đầu ra chiều thất vọng.
-Mày sống mà như con ngựa kéo xe, bị che mắt nên chỉ biết đi theo con đường mà người ta đã vạch sẵn, chỉ biết đi theo những lối mòn văn chương xưa rích xưa rác, nghe người ta khen bài thơ hay, mày cũng bày đặt khen theo, không biết tự chọn lấy một con đường mới mà đi. Tao đã đọc hàng trăm bản dịch bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” hầu hết những người dịch đều không nhắc đến câu thứ ba trong nguyên tác của bài thơ chữ Hán “Cô Tô thành ngoại Hàn San tự” câu này được dịch sang tiếng Việt là “Chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô”. Một câu thơ tầm thường như vậy có gì để mà ca ngợi, phân tích, tán dương. Giống như chuyện bọn mình đang đi làm lao động khổ sai, cuốc đất trồng khoai gần Chợ Lầu trong cái nắng cháy da của Sông Mao, trưa đến mỗi thằng tù chén rưỡi cơm nguội, nửa lon nước giếng, ăn cơm mà tưởng như đang nuốt hết đắng cay của cuộc đời. Cảm thương cho thân phận tù đày tao bèn than thở bằng một câu thơ “Chợ Lầu ở ngoài trại tù Sông Mao”. Câu thứ ba của bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” và câu thơ của tao, hai câu giống nhau như đúc, mày làm ơn nói cho tao biết nó hay ở chỗ nào?
Tôi giật mình nghĩ thầm, xét cho cùng ngụy biện rồi ăn nói cộc lốc như Long công tử, đôi khi cũng có lý phần nào. Để trả lời hắn tôi nói.
-Mày diễn tả một câu thơ Đường nổi tiếng bằng những lời nói phang ngang bửa củi, cứ như là quản giáo đang lên lớp, dạy dỗ tù nhân. Tao biết nói gì với mày bây giờ.
Long công tử tu một hơi bia, đưa miếng khô cá lên miệng, hắn nói.
-Còn một điều nữa tao cũng muốn nói thêm với mày, chùa Hàn San hiện đang nằm bên trong thành Cô Tô, chứ không phải ở ngoài thành như bài thơ đã nói.
-Mày nói thì tao nghe, tại sao lại có chuyện lạ lùng như vậy? Căn cứ vào đâu mà mày nói chùa Hàn San nằm bên trong thành Cô Tô.
Long công tử nói.
-Nhà tao có tấm hình chùa Hàn San treo trên tường, diện tích của chùa khá rộng dám tới một mẫu tây như chơi. Trong sân chùa cây cỏ xanh um, quanh chùa bị bao vây bởi trùng trùng điệp điệp nhà cửa của dân, nhà này sát với nhà kia khiến tao có cảm tưởng một con kiến cũng khó mà chui qua được, nói cho dễ hiểu là chùa Hàn San tứ bề thọ địch, nằm gọn giữa thành Tô Châu, tên mới của thành Cô Tô.
Tôi hỏi.
-Có phải mày đang nói đến chuyện ngựa đá qua sông, đúng không?
Long công tử ờ …ờ…trong miệng rồi nói.
-Gần đúng như vậy, cũng là chuyện vật đổi sao dời mà thôi. Mày có biết nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi không?”.
Tôi trả lời.
-Nghĩa trang này nằm chình ình ngay trung tâm thành phố Sài Gòn, ai mà không biết.
Long công tử với giọng từ tốn kể cho tôi nghe. -Người ta nói năm 1859, chính xác hơn là 1870, nghĩa trang này được gọi là Đất Thánh Tây, nằm ở ngoại ô Sài Gòn, là nơi đồng không mông quạnh, cỏ dại mọc đầy, ngày đêm ếch nhái kêu nghe buồn đến nát ruột, đó là nơi dùng để chôn cất lính viễn chinh và thường dân Pháp. Tám, chín chục năm sau, Sài Gòn phát triển quá sức mau chóng, dân số tăng vùn vụt, nhà cửa được xây cất với tốc độ chóng mặt, Sài Gòn bành trướng gấp trăm, ngàn lần ngày xưa. Đất Thánh Tây bấy giờ hết còn ở ngoại ô, mà nó đã nằm lọt vào trung tâm thành phố Sài Gòn, rồi được đổi tên thành nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Hàn San Tự cũng biến đổi theo hình thức như vậy. Từ lúc bài thơ ra đời, cho đến tấm hình treo ở nhà tao, hơn một ngàn hai trăm năm vật đổi sao dời, biển cả còn biến thành ruộng dâu thì chuyện Hàn San Tự, từ ngoại ô thành Cô Tô trở thành trung tâm thành Tô Châu, là chuyện phải xảy ra. Cho đến hôm nay, nếu ngôi chùa này còn ở ngoại ô như câu thơ đã diễn tả, đó mới là chuyện lạ, cần phải thắc mắc.
Long công tử ngừng kể chuyện, đưa tay cầm cái bánh chưng, hắn lột lớp lá chuối bên ngoài đặt xuống cái bao cát, rồi đến lớp lá chuối bên trong, tay làm nhưng miệng lại càm ràm.
-Mày có thấy không, bánh chưng thì phải gói bằng lá dong, hạt nếp trong bánh mới xanh tươi, khi ăn mới thấm được cái mùi Tết nằm bên trong bánh. Gói bánh chưng bằng lá chuối, gói cha nó bánh tét cho được việc. Mẹ nó …
Long công tử im bặt, hình như hắn đang lúng túng trong việc lựa lời để thóa mạ. Tôi chọc quê Long công tử.
-Giờ này mà mày còn nằm mơ, nhắc đến chuyện cổ tích thời tụi mình còn ở Thủ Đức, cuối tuần diện bộ Tiểu lễ đi phép Sài Gòn, ăn uống ở những nhà hàng sang trọng. Rồi đến Tết năm đó, năm Kỷ Dậu, khóa 6/68 tụi mình đi chiến dịch một tuần, ứng chiến, giữ an ninh cho dân Sài Gòn ăn Tết. Bánh chưng, bánh tét, trái cây, người dân Sài Gòn cho bọn mình nhiều đến độ ăn mà phát ớn. Hôm qua tao nghe mấy ông Việt cộng có hứa rồi, Tết năm sau sẽ cho tù nhân ăn bánh chưng gói bằng lá dong đàng hoàng.
Long công tử cười lớn, nó nói với giọng nói tràn đầy sung sướng.
-Bắp cải ơi, so với thời còn ở Thủ Đức, hôm nay mày đã khá hơn nhiều rồi. Hồi xưa mày nói cái giọng sọc dưa như vậy, coi bộ mệt với tao, nhưng hôm nay thì…thì…
Long công tử ngập ngừng.
-Hôm nay tao cũng như mấy ngàn ông sĩ quan bị nhốt ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao này, mấy ông bên Không quân thì đúng là đại bàng gãy cánh, Hải quân như tàu mắc cạn, Nhảy dù thì bị dù đuôi nheo, Thiết giáp như cua gãy càng, Biệt động quân giống như cọp sút móng. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”. Mày muốn chê trách như thế nào cũng được, không ai phàn nàn gì đâu.
Long công tử cắn một miếng bánh chưng được gói bằng lá chuối rồi gật đầu.
-Cũng không tệ lắm nếu đem so với cơm hẩm gạo mục, lá khoai mì ở Cà Tót, nhưng mà thôi, tự nãy đến giờ tụi mình nói toàn chuyện tầm phào. Bây giờ tao muốn nói với mày chuyện quan trọng hơn, có an nguy đến tính mạng của tụi mình, đó là chuyện trốn trại. Tao nói, nếu có gì không đồng ý thì mày cho tao biết. Suốt mấy tháng qua, tao dành rất nhiều thì giờ để suy nghĩ và tìm cách trốn ra khỏi cái trại tù này. Như mày biết, Sông Mao là một thị trấn khá sầm uất “bên ngoài trại tù Sông Mao là Chợ Lầu”, điều này cho mình biết rõ dân chúng sống cách trại tù không xa. Chuyện leo tường, đào đường hầm trốn trại vào ban đêm là chuyện khó có thể thực hiện được vì chỉ có vài giờ trong đêm tối, làm sao mình có thể đào được đường hầm sâu ít nhất khoảng một thước, chui qua hàng rào vỉ sắt PSP mà không gây tiếng động. Nếu lỡ bị phát giác khi đào đất, sẽ bị súng đại liên hỏi thăm sức khỏe ngay lập tức, cho nên tao không chọn giải pháp leo rào hoặc đào hầm. Tao đang tính đến chuyện khi đi lao động bên ngoài, mình sẽ thừa lúc mấy tay lính gác lơ là, chuồn ngay về phía nhà dân, phóng ra quốc lộ 1, thuê Honda ôm chạy càng xa trại tù càng tốt, trước khi Việt cộng phát hiện ra là có tù trốn trại và tung người đi truy lùng. Sau đó tao với mày sẽ tìm xe ôm về Sài Gòn hay ngược ra Phan Rang. Sở dĩ mình phải dùng xe ôm là tránh bị xét giấy tờ tùy thân. Tao cũng tính đến chuyện mình có thể mua một chiếc xe đạp cà tàng, đạp về Sài Gòn tuy chậm chạp nhưng đó là cách di chuyển an toàn và chắc chắn nhất. Tụi mình có thừa tiền để làm theo cách này. Kế hoạch của tao như vậy, mày có ý kiến gì hay nói cho tao biết.
Mặt trời vừa khuất sau cái hàng rào xám xì xám xịt làm bằng những tấm vỉ sắt PSP, trong cái nhá nhem của buổi chiều cuối năm, gương mặt của Long công tử lộ vẻ bồn chồn thấy rõ. Tôi nói với nó.
-Những điều mày nói hoàn toàn hợp lý vì trốn trại như vậy vừa dễ, vừa an toàn, cơ hội thành công rất cao. Chỉ có một điều tao thấy không êm xuôi là, khối 5 Đà Lạt của tao và khối 4 Bình Thuận của mày, có bao giờ đi làm lao động chung với nhau ở ngoài đâu. Làm sao hai đứa có thể cùng trốn trại một lần được.
Long công tử cười lớn.
-Đó chính là điều mà hôm nay tao muốn bàn với mày. Cá nhân tao, bằng mọi giá phải trốn trại tìm gặp thân nhân. Dám gần cả năm rồi tao chưa được gặp vợ con, cha mẹ, không biết họ còn sống hay đã chết trong cơn biến loạn vừa qua. Tao sẽ về Sài Gòn, về lại căn biệt thự của ba má tao, với chút hy vọng là nhà cửa chưa bị Việt cộng tịch thu và ông bà vẫn còn sống ở đó.
Long công tử quay sang hỏi tôi.
-Mày có biết tại sao tao dám về lại nhà cũ không?
Tôi trả lời hắn.
-Tao không biết, bộ mày không sợ bị công an địa phương theo dõi rồi bị bắt lại sao?
Long công tử cười sảng khoái.
-Khi bị bắt giam tại lao xá Phan Thiết ngày 25 tháng 4, lúc bấy giờ Miền Nam chưa mất, tao vẫn tin tưởng rằng phe mình sẽ chống cự cho đến người lính cuối cùng, cho nên trong tờ khai lý lịch mà Cộng sản bắt làm, tao khai địa chỉ cái nhà kho của ba tao ở bên Khánh Hội, và cái địa chỉ đó tao vẫn tiếp tục dùng trong những tờ khai lý lịch sau đó, dùng cho đến bây giờ.
Đang say sưa nói chuyện, Long công tử đột nhiên hỏi nhỏ.
-Mày có biết tuần trước, một nhóm tù Fulro bị bắt nhốt ở trại của tụi mình không?
Tôi trả lời Long công tử.
-Có, tao có thấy, nhưng mà hình như cả Tổng trại 8 tù binh này đều thấy, chứ không phải một mình tao.
Long công tử với nét mặt hớn hở.
-Sau 30 tháng 4, những người Fulro đó vẫn tiếp tục chiến đấu chống Cộng sản cho đến tuần trước mới bị bắt, có nghĩa là họ đã cầm cự được hơn tám tháng rồi. Vậy thì những người Fulro chưa bị bắt họ đang ở đâu? Nếu trốn thoát được khỏi trại tù này, sau khi gặp vợ con và cha mẹ, tao sẽ nghiên cứu kỹ càng, tìm cách móc nối với những người Thượng Fulro còn ở trong rừng. Và tao sẽ vào rừng để tiếp tục chiến đấu. Đàng nào cũng chết, tao thà chết tự do ở trong rừng chứ không chịu chết một cách nhục nhã hèn hạ, như đã suýt bỏ mạng ở Cà Tót cách đây mấy tháng. Còn trường hợp, nếu không gặp được lính của mình hoặc Fulro thì với một khẩu M16 và cái địa bàn, tao sẽ tìm cách vượt biên giới, băng rừng đến Thái Lan. Mưu sinh thoát hiểm, sống trong rừng là nghề của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt. Chắc chắn tao sẽ đến được Thái Lan.
Tôi cản ngăn Long công tử.
-Đi Thái Lan làm gì? Mày đã từng du học ở Mã Lai rồi, hai nước Mã với Thái có gì khác nhau đâu. Nhập cảnh Thái Lan bất hợp pháp, không giấy tờ tùy thân, họ sẽ bỏ tù mày, sau đó sẽ gởi trả về Việt Nam giao cho Việt cộng, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa chẳng thà đừng tránh tốt hơn.
Long công tử nhìn tôi rồi thở dài ngao ngán.
-Mày đúng là một thằng khờ, nhưng mà chuyện đời mấy ai mà biết được, biết đâu nhờ cái khù khờ đó mà cuộc sống của mày cứ thuận chèo xuôi mái, trôi nhẹ nhàng trên dòng đời đầy hiểm nguy trắc trở. Mày hỏi tao, đi Thái Lan để làm gì hả? Dễ thôi, mày nhìn vào bản đồ Việt Nam đi, phía Bắc là Tàu cộng, hướng Tây là Lào cộng rồi Khờ Me đỏ. Xa hơn là Thái Lan vẫn còn tự do. Tao thà bỏ thây trong rừng núi Trường Sơn tìm đường sang Thái Lan chứ quyết không sống chung với Việt cộng, với lũ quỷ đỏ này. Còn điều này nữa, tao biết chắc rằng phi trường B52 ở U-Ta-Pao vẫn còn đó, hy vọng người Mỹ ở trong căn cứ này sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ mà họ sẽ chấp nhận tao, đón nhận một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt đã từng cộng tác với họ trong chiến tranh Việt Nam. Trong trường hợp vượt biên tới Thái Lan, tao cần vài người bạn đồng hành.
Tôi hăng hái nói với Long công tử
-Bên khối 5 Đà Lạt của tao có một thằng trung úy, là một tay hảo hán bạt mạng, hắn đã từng chung sống với Đại đội Địa Phương Quân Fulro nhiều tháng. Nếu mày muốn, tao sẽ giới thiệu nó với mày.
Long công tử cười ngất.
-Quân bắp cải ơi, chính mày vừa nói với tao là khối 5 Đà Lạt và khối 4 Bình Thuận không thể cùng đi lao động ở bên ngoài một lần, thì làm sao cùng trốn trại. Nếu được tao đã trốn chung với mày rồi, cần gì phải tìm ai.
Hình ảnh cái xác chết của người tù trốn trại lỗ chỗ vết đạn nằm dưới mấy lớp hàng rào kẽm gai, rồi cảnh hàng chục tên bộ đội với súng AK, thi nhau bắn vào người tù cải tạo trốn trại đang chạy trối chết, khiến tôi buột miệng nói với Long công tử.
-Có một điều này, tao cũng muốn nói thêm với mày, đôi khi ông trời cũng khéo sắp đặt cho tao với mày không thể trốn trại chung một lần. Trước đây, với gần bảy năm lính, cuộc sống quân ngũ của tao phẳng lặng như mặt nước hồ thu, im lặng an lành đến mức tao cứ tưởng như mình chưa đi lính. Cho nên hôm nay chỉ cần một chút sóng to gió lớn là tao sẽ bị nhận chìm ngay tức khắc. Tháng trước sau buổi thăm nuôi, mày muốn rủ tao trốn trại. Tao đã suy nghĩ rồi, nếu theo mày chắc tao không thể chịu đựng nổi gian lao, hiểm nguy cũng như khổ cực. Chỉ cần cho tao một chút hy vọng nhỏ nhoi, là sẽ còn có cơ hội gặp lại vợ con thì dù phải ở tù thêm năm, hay mười năm nữa tao cũng chịu. Hãy để tao ở lại trong trại tù này.
Long công tử gật đầu.
-Đúng, mày đi theo tao khác gì cái của nợ, làm vướng bận thêm cho tao mà thôi. Nhưng mà…
Trong bóng tối mờ mờ, gương mặt của Long công tử trở nên đăm chiêu tựa như đang suy nghĩ, phải mấy phút sau hắn mới nói nên lời.
-Có một chuyện khiến tao phải lo lắng là khi tao trốn trại rồi, mày là đứa đầu tiên sẽ bị kêu lên để điều tra, bọn Việt cộng sẽ đánh đập, đày ải, trấn lột, mày có muốn sống cũng không được mà chết cũng không xong. Chỉ còn một cách duy nhất để mày có thể sống an toàn trong trại tù này là tao với mày phải chia tay nhau, không được gặp gỡ thường xuyên như bấy lâu nay tụi mình vẫn làm. Tao cũng nghĩ đến chuyện phải làm cách nào để mọi người trong khối 4 Bình Thuận khinh bỉ, coi tao như một con chó ghẻ cần phải xa lánh. Muốn được như vậy tao chỉ còn một cách là đóng vai một thằng ăn ten. Chừng ba tháng sau, khi mọi người đã ghê tởm, khinh khi tao ra mặt, trong số đó có mày, lúc bấy giờ tao sẽ trốn trại.
Tôi nhắm mắt lại mà lòng xúc động muốn khóc, thương cái quang minh lỗi lạc của Long công tử, trước khi ra đi mà hắn còn tính chuyện an nguy cho bạn. Tôi nói.
-Mày có biết chuyện làm ăn ten dù là đóng kịch, cũng không tốt cho mày. Tại sao phải làm như vậy, hay là mày giả làm thằng ăn trộm vặt một vài tán đường, chút thuốc Lào, với cái tội này mày chỉ bị đem ra phê bình kiểm thảo và làm bản kiểm điểm trước tổ, trước khối mà thôi, không bị nhốt conex, cũng không mang tiếng phản bội anh em.
Long công tử chần chừ giây lát, chuyện này phải để tao suy nghĩ lại, nên đóng vai ăn cắp vặt hay là làm thằng ăn ten chuyên đi rình mò tố cáo anh em.
Tôi nhìn chiếc đồng hồ dạ quang đang đeo trên tay, mới đó mà đã hơn tám giờ. Ở đây cho tôi nhắc một chuyện quan trọng, có một điều khá may mắn là tất cả những tù nhân ở Trung tâm Huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến Đà Lạt, không bị tịch thu vật dụng cá nhân cho nên tôi và nhiều người tù còn giữ được đồng hồ hoặc nhẫn vàng, trong khi ở những trại khác, tù nhân bị trấn lột sạch sẽ. Đêm nay là đêm trừ tịch, không trăng không sao, bầu trời tối đen như mực, tôi ngồi gần bên Long công tử, tuy đã quen với bóng tối nhưng cũng phải khó khăn lắm mới thấy được gương mặt của hắn. Long công tử nói với tôi, giọng nói chầm chậm, trầm trầm như là của một ông già đã bước qua khỏi ngưỡng cửa tri thiên mệnh, nói lời cuối cùng khi chia tay với người bạn cố tri.
-Lẽ trời đất hợp tan, tụ tán, tao với mày may mắn được sống chung với nhau trong tù mấy tháng rồi, bèo hợp để mà tan, trăng tròn rồi lại khuyết, đừng có buồn khi phải xa nhau. Sau này, nếu còn nhớ đến tao, mày cứ coi như tao là thằng Biên, đã chết từ lâu rồi. Kể từ ngày mai, tụi mình phải tập nín thở qua sông, phải giấu kín tình cảm của mình, sống vô tri vô giác như cây cỏ đất đá. Muốn được như vậy mày nhớ đừng bao giờ qua đây tìm tao, nếu mày còn muốn sống chờ ngày trở về gặp lại vợ con và cha mẹ.
Hình bóng của một người lính cô đơn với cây súng M16 trên vai lầm lủi vượt Trường Sơn, băng ngang nước Căm Bốt với đầy mìn bẫy, lính Khờ Me đỏ tàn ác, bạo tàn, khiến tôi chạnh lòng thương cảm. Nghĩ đến giây phút phân ly, trong bóng tối của đêm giao thừa, tôi siết chặt tay Long công tử rồi nói mà nước mắt chỉ chực tuôn tràn.
-Tao sẽ cố gắng làm đúng những gì mày dặn. Nhớ giữ gìn sức khỏe.
Tôi ngồi đó im lặng nghe Sơn kể chuyện, hắn kể hoài kể mãi vẫn không thấy nó nói gì đến chuyện, tại sao nó có cái biệt danh Sơn Fulro. Nóng lòng, tôi nhắc khéo nó.
-Chắc cuộc sống khổ cực, hành quân liên miên, dãi dầu mưa nắng, da của mày đen sạm nên mày có tên là Sơn Fulro, phải không?
Sơn cười, tiếng cười như mắc nghẹn trong cổ.
-Nếu cứ có làn da đen vì sạm nắng sẽ bị gọi là Fulro, thì lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ có hàng trăm ngàn ông lính mang tên Fulro.
Sơn lấy một cái chén, loay hoay lúi húi múc cho tôi một ít lá rừng còn nóng hổi.
-Thử đi mày, nếu không quen sẽ không ăn được đâu, rán tập đi, độn cho nó đầy cái dạ dày lép kẹp, tụi tao sống nhờ nó đó.
Tôi bưng chén lá rừng, khói còn bốc lên nghi ngút, gắp một mớ lá nhai thử. Tôi nhai hoài, nhai muốn trẹo quai hàm giống như mấy con bò nhai lại cỏ, lá rừng dai vì có nhiều xơ, vị của nó nhân nhẫn lại thoang thoảng khai mùi nước tiểu. Người ta thường nói ngậm bồ hòn làm ngọt, tôi đang ở trong trường hợp đó. Phun ra không được sợ buồn lòng bạn, tôi nhắm mắt cố nuốt thật nhanh mấy cọng lá rừng, nếu để chậm chút nữa chắc tôi phải ói ra mất.
Sơn nhìn tôi rồi nói.
-Cứ từ từ mà ăn, vừa ăn vừa nghe tao kể chuyện. Mày muốn biết tại sao tao có tên là Sơn Fulro phải không? Fulro là mấy mẫu tự đầu của năm chữ tiếng Pháp, đại khái nói về phong trào đòi tự trị của những bộ tộc thiểu số ở cao nguyên, và những sắc dân Chăm, Cam Bốt. Tao không muốn dài dòng về nguồn gốc, sự hình thành và quá trình hoạt động chiến đấu của họ. Tao nghĩ mày cũng như dân Miền Nam đều hiểu rõ về Fulro. Tao chỉ nói đến chuyện có liên quan đến tao. Tháng 2 năm 1969, sau nhiều lần thương thuyết thất bại, lực lượng Fulro đồng ý về hợp tác với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Một buổi lễ long trọng được ký kết giữa lãnh tụ Fulro và Bộ trưởng Sắc tộc Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự chứng kiến của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Theo đó với sáu ngàn người trong lực lượng Fulro, trong đó có hơn hai ngàn binh sĩ của họ, sẽ sáp nhập vào lực lượng Địa Phương Quân của mình. Dĩ nhiên họ sẽ được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi, như một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, có một chi tiết quan trọng là những binh sĩ Địa Phương Quân Fulro, sẽ được đặt dưới sự chỉ huy của sĩ quan Fulro chứ không phải sĩ quan Việt Nam.
Tôi nói với Sơn.
-Nếu vậy thì có cũng như không.
Sơn cười.
-Mày nói sai rồi, thêm bạn bớt thù mà, có còn hơn không mới đúng. Bởi vậy cho nên giữa Fulro và tao mới có một mối duyên kỳ ngộ. Vào một buổi trưa nọ, khoảng cuối năm 1969, tao đang ngồi phè cánh nhạn, nhậu lai rai ba sợi với mấy tên đệ tử. Mồi nhậu ê hề, ba con cá lóc to bằng bắp tay vừa mới câu được ở hồ Lăk đem nướng trui, một tô nước mắm với đầy đủ ớt, tỏi, chanh, đường. Nguyên một con gà luộc vàng hườm, mỡ tươm đầy da, đưa cái mỏ nhọn hoắc với đôi mắt đục ngầu nhìn tao. Một anh lính thuộc loại đệ tử ruột của thần lưu linh, hắn trịnh trọng quay cái đít con gà về phía tao rồi nói “Nhất phao câu nhì đầu cánh, ông thầy nhắp một chút rượu đưa cay, xong rồi làm một miếng phao câu, là thấy đời lên hương ngay.” Nói xong hắn từ tốn rót một ly rượu nếp than thơm lừng, đưa cho tao “Mời ông thầy uống trước”.
Sơn ngưng kể chuyện, hắn đứng lên rồi chửi thề.
-Mẹ nó, trong quân đội Miền Nam chuẩn úy Bộ binh là ông quan hạng chót, kinh nghiệm trận mạc thì không có vậy mà lúc nào đụng trận cũng thấy hắn ở hàng đầu, xung phong giết giặc phải chạy trước lính. Nếu có ông chuẩn úy nào miệng hô xung phong mà chạy sau lính, cuộc đời binh nghiệp của hắn ta kể như chấm dứt, bị đặt vô cái thế chẳng đặng đừng, cho nên có chết chuẩn úy cũng đành chết trước luôn. Đánh nhau thì như vậy, về hậu cứ uống rượu đương nhiên phải uống trước lính. Tao mới bưng ly rượu chưa kịp nhắp miếng nào, bất ngờ tên đệ tử thân tín xuất hiện phá bỉnh, báo cho tao biết phải lên trình diện Trung úy Đại đội trưởng ngay lập tức. Tên lính nói mà mặt mày hớt hơ hớt hải như chuyện trời sắp sửa sụp không bằng, miệng hắn lắp bắp “Ông thầy à, hình như ông thầy bị thuyên chuyển đi đơn vị khác”. Tao gắt với tên đệ tử “Bị cái con mẹ gì, ở đây với địa ngục có gì khác nhau đâu, đi khỏi địa ngục thì phải gọi là được mới đúng. Đợi tao uống xong ly rượu đã.” Tuy nói như vậy nhưng tao biết, chuyện gì còn có thể chần chờ được chứ gặp hung thần mà chậm trễ, ổng đì cho sói trán. Tao đặt ly rượu xuống mà như còn tiếc nuối cái gì đó, không có thì giờ suy nghĩ, tao lại bưng ly rượu lên nốc một hơi rồi co giò phóng như bay, quên mẹ nó luôn cái phao câu béo ngậy của con gà.
Tôi đùa với Sơn.
-Trời đánh tránh bữa ăn, mày cứ từ từ cưa vài ly rồi mới đi gặp Đại đội trưởng, không được hay sao?
Sơn chậm rãi nhai mớ lá rừng.
-Ngày đó, tao chưa dám giỡn mặt với sếp. Trung úy Đại đội trưởng với nét mặt nghiêm nghị, giọng nói rõ ràng là đang ban lệnh hành quân “Chuẩn úy lo sắp xếp mọi thứ, đi biệt phái cho một Đại đội Fulro, thời gian là hai tháng. Đi theo ông sẽ có một binh sĩ truyền tin, và một đệ tử lo chuyện ăn uống cho ông. Nhiệm vụ của chuẩn úy là, giúp Đại đội trưởng Đại đội Fulro theo dõi đường đi, chấm tọa độ đóng quân, điểm kích đêm cũng như tác xạ tiên liệu, xin pháo binh yểm trợ khi đụng trận. Bên đó họ cần ông, bởi vì sĩ quan Fulro không quen sử dụng địa bàn và bản đồ. Người Thượng Fulro, có thể đi trong rừng ngày này qua tháng nọ không cần bản đồ và không bao giờ bị lạc, nhưng nếu xin pháo binh yểm trợ mà không rành tọa độ, không giỏi bản đồ, sẽ bị lạc đạn như không.” Trung úy Đại đội Trưởng ngừng một lúc như đợi cho tao hiểu rõ nhiệm vụ, ông nói tiếp “Chuẩn úy có gì thắc mắc không?”. Tao hỏi ông ta “ Trung úy có thể nói cho tôi biết, tại sao lại là tôi phải đi biệt phái, trong khi đại đội của mình còn mấy sĩ quan thâm niên hơn tôi.” Trung úy Đại đội trưởng xuống giọng với tao “Bởi vì chuẩn úy là người giỏi địa bàn và bản đồ nhất, trong mấy ông sĩ quan. Hơn nữa, ông cũng vừa học xong khóa Điều chỉnh tác xạ pháo binh, cử ông đi là phải rồi.Với lại ông cũng nên biết, bồng em thì khỏi xay lúa.” Tao nói với Trung Úy Đại đội trưởng “Đánh nhau với Việt cộng tôi không sợ, vậy mà lại ớn mấy ông kẹ Fulro, mỗi khi không vừa lòng chuyện gì lại nổi loạn, trói cổ mấy thầy trò của tôi lại, đe dọa cắt cổ mổ bụng, để yêu sách với Tiểu khu.” Trung úy Đại đội trưởng an ủi tao, giọng nói yếu xìu như cái lốp xe bị xì hơi, ông nói mà như tiễn đưa tao về miền miên viễn “Chắc không sao đâu, mình cứ sống hết lòng với họ là được rồi.”
Sơn nhấc cái nồi lá rừng để xuống đất, vừa làm hắn vừa nói với tôi.
-Mày biết không, hồi đó chỉ nghĩ đến chuyện phải sống với mấy ông Fulro hai tháng, là tao sợ muốn đái trong quần.
Tôi đặt cái chén lá rừng xuống, rồi nói với Sơn.
-Tao có chút thắc mắc, mày nói với tao có hơn hai ngàn hai trăm binh sĩ Fulro về hợp tác với Việt Nam Cộng Hòa. Mày đi tăng phái cho một đại đội Fulro, vậy còn hơn hai ngàn binh sĩ Fulro nữa, họ ở đâu?
-Chuyện đó tao không biết, tao chỉ nghe nói lại thôi không tận mắt chứng kiến. Khi về hợp tác với mình, lực lượng Fulro được tái tổ chức theo kiểu mẫu của Địa Phương Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ bị chia thành bốn tiểu đoàn, một tiểu đoàn có bốn đại đội. Sau khi gởi đi thụ huấn, Địa Phương Quân Fulro được đưa về các tiểu khu ở cao nguyên Trung phần như Tiểu khu Darlac, Tiểu khu Pleiku, Tiểu khu Kontum, và Tiểu khu Tuyên Đức. Hình như mỗi tiểu khu tiếp nhận một tiểu đoàn Fulro. Khi về tiểu khu, họ bị phân tán mỏng, tùy theo tình hình địa phương mỗi quận nhận một đại đội. Quận Lạc Thiện của tao có một Đại đội Fulro về đó. Và tao lãnh nhiệm vụ đi biệt phái cho họ.
Tôi hỏi Sơn.
-Nếu vậy còn phải có chừng hai chục ông sĩ quan, đi biệt phái cho những Đại đội Fulro khác. Đúng không?
Sơn nhíu mày như cố nhớ lại chuyện xưa.
-Chuyện đó tao chịu thua, chỉ biết trường hợp của tao thôi, chuẩn úy chứ đâu phải chuẩn tướng, làm sao mà tao biết hết mọi chuyện được. Ngay buổi chiều hôm đó, khi mà lá rừng của núi đồi cao nguyên chìm trong hoang lạnh, bầu trời đầy mây xám, tao cùng hai ông đệ tử, mỗi thằng bảy ngày lương khô, ba lô súng đạn đầy đủ dẫn nhau đi biệt phái cho Đại đội Fulro, mà quân số của họ một trăm phần trăm là người Thượng. Cá nhân tao, ngoài khẩu súng ngắn colt 45 đeo xề xệ bên hông, tao thủ thêm cây súng dài M16 và mấy trái lựu đạn M26 cho chắc ăn.
Sơn im lặng một chút, rồi đột ngột hỏi tôi.
-Mày có biết tại sao tao mang hai cây súng không?
-Tại mày sợ quá chứ gì.
Sơn cười.
-Đúng một phần thôi, một phần nữa là do hồi nhỏ tao bị ảnh hưởng phim “Bảy người hiệp sĩ” của Nhật, do tài tử Toshiro Mifune thủ vai chính. Hình ảnh của ông ấy với hai thanh kiếm, một dài một ngắn, giắt ngang hông, đứng một mình trong mưa chuẩn bị đánh một trận sinh tử với lũ giặc cướp. Cái oai phong lẫm liệt của một người sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa, bảo vệ dân lành chống lại bọn thổ phỉ, đã khắc sâu vào tâm khảm của tao. Mẹ nó, phim hay đến độ nó báo hại suốt ba ngày kế đó, sáng nào tao cũng ôm cái bụng đói đi học.
Tôi thấy có cái gì đó lấn cấn nên hỏi Sơn.
-Tại sao mày không ăn sáng rồi đi học, bộ mày bị tiêu chảy hả?
Sơn giải thích.
-Không tiêu mà cũng không chảy, ba ngày nhịn ăn sáng, tao để dành được sáu đồng đủ để mua một vé cine, coi lại phim “Bảy người hiệp sĩ” thêm một lần nữa.Và tao đem theo trong đầu ông hiệp sĩ với hai thanh kiếm giắt ngang hông, cho đến khi có cơ hội là tao chơi liền hai cây súng. Mày biết không, mang tâm sự của những người đi biệt phái cho Fulro, giống như tâm sự kẻ sang Tần, tuy không nói ra nhưng tao biết cả ba thầy trò đều lạnh cẳng, cùng có một tâm trạng giống nhau, từ đây giữa chốn gió cát mịt mù, chuyện sống chết rủi may đành phó mặc cho số phận. Đại đội của tao cũng giống như đa số đại đội Địa Phương Quân trên vùng cao nguyên, tệ lắm cũng có phân nửa quân số là người Kinh, đây là yếu tố tâm lý rất quan trọng, nó giúp mình an tâm, gặp khi nguy khốn còn có chỗ mà dựa. Anh chàng truyền tin coi bộ yếu bóng vía nhất trong bọn, hình như ớn cho cái cảnh cô đơn lạc lõng giữa rừng người Thượng Fulro, bịn rịn không nỡ chia tay với đại đội cho nên cứ “Bước đi một bước, giây giây lại dừng.” Hắn ta nói với tao, giọng nói nghẹn ngào như là muốn khóc “Ông thầy ơi, nếu mà Fulro có giở quẻ, khi ông thầy chạy nhớ dẫn thằng em theo với.” Nhìn anh ta mà lòng đầy thương cảm, tao còn biết nói gì hơn là nhắc lại lời của Trung úy Đại đội trưởng “Chắc không sao đâu.”
Tôi hỏi Sơn Fulro.
-Tại sao mày không đổi anh chàng truyền tin khác, gan dạ hơn?
Sơn nhìn tôi.
-Mày ngon thì tới đó mà đổi.
Nói xong, Sơn Fulro tà tà kể tiếp.
-Tụi tao trình diện ông Đại đội trưởng Fulro, khi ông ta đang ngồi dựa lưng vào một gốc cây rừng. Vừa nhìn thấy ông, bao nhiêu lo âu phiền muộn mang nặng trong lòng vụt tan biến, trước mặt tao một người Thượng mặt mày phương phi, sáng sủa, cặp lông mày rậm đen nằm trên đôi mắt to có màu xanh lờn lợt, da vàng, mũi cao chứ không tẹt như đa số người Thượng. Tay phải của ông đại úy cầm cái kéo bé tí xíu, tay trái với tấm gương soi mặt tròn và nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay, ông ta đang ung dung nhàn nhã, tỉa bộ râu mép màu nâu đậm. Ông đại úy bận một bộ đồ rằn ri với ba cái bông mai vàng sáng chói nơi cổ áo, thêm cái tên Y Gul trên túi áo phải. Ở đại đội tác chiến, quân nhân mang lon màu đen, tao không biết tại sao ông đại úy này lại mang lon màu vàng. Từ con người của ông ta toát ra một vẻ thanh thoát, thân thiện, ông niềm nở bắt tay tao rồi nói “Chuẩn úy ngạc nhiên lắm phải không? Tôi lai Tây, đã học hết lớp đệ tứ ở trường trung học Ban Mê Thuột, ba tôi là thư ký đồn điền cao su nhưng ông ta đã về Pháp từ lâu rồi. Dăm ba năm, ông gởi cho mẹ con tôi tí tiền, mà tôi đoán là chút tình còn sót lại khi nhớ đến giọt máu rơi ở Việt Nam”. Sau cái bắt tay thân mật đầy tình người, với giọng nói cởi mở, ông cảm ơn ba đứa tao đã đến đây giúp đỡ ông. Sau đó, ông ra lệnh cho anh lính Fulro chỉ cho tụi tao chỗ nghỉ tạm qua đêm. Anh lính yên lặng dẫn tụi tao đi vòng vo, băng qua nhiều giao thông hào, hầm hố, vọng gác, cuối cùng anh ta dẫn tụi tao vào trong một cái hầm rất kiên cố được xây bằng xi măng, không có người ở, nóc hầm được bao phủ bằng nhiều lớp thân cây rừng mà chu vi của nó khoảng một vòng tay ôm, rồi đến hàng chục lớp bao cát xếp chồng lên nhau. Bên trong căn hầm chỉ có chút ánh sáng mặt trời xuyên qua khung cửa hẹp, làm cho căn phòng chìm trong bóng tối, xòe bàn tay chỉ thấy mờ mờ. Anh lính Fulro chỉ cho tụi tao cái chõng tre ở một góc của căn hầm rồi lặng lẽ bỏ đi. Sau này tao được biết, ngày xưa đây là một trong hàng chục trại nội địa của Lực Lượng Đặc Biệt, nó nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, khác với trại Lực Lượng Đặc Biệt Biên phòng, khi Lực Lượng này rút đi, họ bàn giao căn cứ lại cho Địa Phương Quân của Tiểu khu Darlac. Tao bật cái đèn pin, quét một vòng quanh tường rồi đưa mắt quan sát khắp nơi.
Sơn ngừng nói, hắn hỏi tôi, câu hỏi không liên quan gì đến chuyện đang kể.
-Mày đã thấy con bọ cạp bao giờ chưa?
Sau một lúc suy nghĩ, tôi trả lời Sơn.
-Cách đây mấy tuần, khi đi làm lao động bên ngoài trại, lúc làm cỏ chung quanh cái hàng rào vỉ sắt PSP tao có thấy một chú bọ cạp nằm trong kẹt đá, đó là lần đầu tiên trong đời tao thấy con bọ cạp.
Sơn cười khoái chí.
-Tao cũng vậy, khi tao chiếu đèn pin lên vách tường căn hầm, một cảm giác lành lạnh rợn người chạy khắp thân mình. Từ nhỏ đến lớn, đó là lần đầu tao thấy bọ cạp, không phải một con mà mấy chục con đang bám đầy trên vách tường xi măng thô nhám. Tất cả đều nằm yên không nhúc nhích, khiến tao có cảm tưởng đó là những con bọ cạp làm bằng nhựa dẻo, mà ai đó đã dán lên vách để trang trí cho vui. Đang miên man suy nghĩ, tao tự hỏi làm sao có thể ngủ với một bức vách đầy bọ cạp như vậy? Tên đệ tử của tao đốt một cây đèn cầy, hắn gắn cây đèn lên đầu cái chõng tre đặt cách vách tường chừng hơn một gang tay rồi nói lớn “Chuẩn úy, ông có thể ngủ trên cái chõng tre này.” Tao nói với tên đệ tử, giọng nói đầy giễu cợt “Tao còn yêu đời không muốn chết vì bị bọ cạp cắn”. Tên đệ tử chỉnh tao “Bọ cạp chích chứ không có cắn, nơi đuôi của nó có một cây kim, khi chích nọc độc từ trong thân con bọ cạp theo cây kim này truyền sang sinh vật mà nó chích. Đám bọ cạp đang bám trên tường, nếu ông thầy không đụng chạm tới nó, thì sẽ không bao giờ bị chích. Tui sẽ kéo cái chõng tre cách xa tường chừng một thước là an toàn.” Nói xong tên đệ tử cúi người, tay kéo cái chõng miệng nói như để trấn an tinh thần của tao “Ngày mai tui sẽ bắt độ chục con bọ cạp, nướng lên cho ông thầy ăn với cơm.”
Sơn đột ngột vỗ vai tôi.
-Mày nghĩ coi, chắc tên đệ tử tưởng tao là dân của những bộ tộc bán khai bên Phi Châu, cho nên nó đòi nướng bọ cạp cho tao ăn. Tuy bực trong lòng nhưng tao cũng đùa với nó “Tao không thích ăn bọ cạp nướng.” Tên đệ tử vội vàng nói không suy nghĩ “Nếu ông thầy không thích bọ cạp nướng thì tui làm bọ cạp chiên giòn, thứ này nhậu với rượu đế cũng bắt lắm đó ông thầy.” Tới đây thì tao giận thiệt nên nói “Mẹ nó, bọ cạp nướng với chiên, ăn xong để rồi lăn quay ra chết phải không?” Tối hôm đó tao nằm ngủ dưới hầm, bên cạnh bức tường đầy bọ cạp. Trong giấc ngủ chập chờn đầy ác mộng, nửa đêm tao chợt giật mình thức giấc, giữa cái vắng lặng của đêm đen sâu thẳm, tao bật cái quẹt zippo mồi thuốc, ánh lửa vàng vọt bùng cháy soi sáng một góc hầm. Tao nhìn lũ bọ cạp trên vách mà nhớ đến quán cà phê ở thành phố Ban Mê Thuột, quán có cô thu ngân đẹp như tranh vẽ, ngồi mơ màng bên dàn máy Akai M9, với cặp loa 100 watts treo trên tường phát ra những bản nhạc thời trang lãng mạn, ướt át, làm mê mẩn lòng người.
Tôi kéo Sơn ra khỏi cái thế giới đầy mơ mộng của hắn.
-Bọ cạp ăn được đó mày, mấy ngày trước tao thấy một thằng trong tổ của tao, nó chộp được con bọ cạp, nướng lên rồi xơi ngon lành.
Sơn nhìn tôi nói.
-Đồng ý là ăn được nhưng mà…
Hắn nhăn mặt rồi kể tiếp.
-Khi mà mặt trời rọi những tia nắng đầu tiên vô hầm, lúc đó ba thầy trò tụi tao đang bắt đầu ngồi thưởng thức bữa ăn sáng. Hai bịch cơm sấy lớn, một gói mì làm canh, một hộp thịt ba lát thêm ly cà phê đen. Tụi tao phải ăn thật no, nhét cho đầy bụng để có sức mà lội. Vừa dứt buổi ăn sáng, cũng là lúc ông lính Fulro dẫn đường cho tụi tao ngày hôm qua, tới kêu đi họp. Đứng trước hàng quân, tất cả mọi quân nhân đều mặc áo quần rằn ri, nên tao cứ tưởng mình đứng trước một Đại đội Biệt Động Quân. Tao không biết Tiểu khu Darlac lấy áo quần rằn ri ở đâu, để trang bị cho những ông lính Fulro này. Thêm một điều nữa khiến tao thắc mắc là, tao ước chừng có khoảng trên hai chục sĩ quan đủ các cấp từ đại úy xuống đến chuẩn úy, đang đứng trong hàng quân, trên cổ áo của họ là một rừng mai vàng nở rộ cứ như là Tết. Tao nghĩ nhiều đến cấp số sĩ quan đầy đủ của một Tiểu đoàn Biệt Động Quân, cũng chỉ đạt đến chừng đó mà thôi. Sau này tao được biết thêm, sở dĩ có nhiều sĩ quan được đồng hóa cấp bậc trong một Đại đội Địa Phương Quân Fulro, vì đó là điều kiện khi họ về hợp tác với Việt Nam Cộng Hòa, và yêu sách đó đã được chấp thuận. Đại úy Y Gul giới thiệu tao với các sĩ quan và binh sĩ trong đại đội, khi ông ngưng nói, ba đứa tao đã nghiễm nhiên trở thành binh sĩ của Đại đội Fulro.
Mỉm cười nhìn tôi, Sơn nói.
-Tới đây, mày biết tại sao tao có cái tên Sơn Fulro rồi chứ gì?
Tôi gật đầu.
-Bây giờ mới biết.
Sơn Fulro tiếp tục câu chuyện.
-Với người Thượng núi rừng là nhà, hành quân trong rừng giống như chuyện họ đang sống trong nhà. Hai tháng biệt phái, hơn một tháng rưỡi bọn tao hành quân trong rừng sâu núi thẳm, lặn lội trong dãy Trường Sơn âm u hiểm trở, nơi đó những dãy núi xếp nếp tiếp nối nhau tưởng như không bao giờ dứt. Địa bàn hoạt động của Đại đội Fulro, trải dài từ buôn Don, cho đến những dãy núi cao chập chùng chớn chở, vây quanh đỉnh Chư Yang Lăk với độ cao 1650 mét, mà người Thượng gọi là đỉnh núi nhiều mây trắng. Có lần tụi tao đã tốn gần hai ngày mới lên đến đỉnh Chư Yang Lăk, mà mục đích là lục soát vùng đặt súng cối 82 ly của Việt cộng. Mỗi người lính vai ba lô với bảy ngày lương khô, súng M16 với một cấp số đạn, lựu đạn, mìn claymore, thêm bốn bi đông nước, bám theo sườn núi dựng đứng mà leo lên, vừa leo vừa sợ nếu có Việt cộng ở trên, chỉ cần năm, sáu tên ném đá cục xuống cũng chết sạch cả đại đội, nói gì chuyện họ bắn và quăng lựu đạn xuống. Khi tao và Đại đội Fulro đến nơi Việt cộng đặt súng cối, họ đã rút đi mất từ hôm trước, dấu vết còn lại chỉ là mấy cái bếp lửa giấu kín trong hang đá, một tờ giấy vở học trò gấp làm bốn dằn dưới một hòn đá. Có một điều lạ là họ không gài mìn. Đại úy Y Gul đọc xong những gì viết trong tờ giấy, ông đưa cho tao “Chuẩn úy coi lại, tụi Việt cộng nói gì, nét sơn là ai mà thua rồi ?” Tao nhìn hàng chữ viết nguệch ngoạc trên tờ giấy, nét chữ lúc thì té bên đông, khi thì trượt bên tây mà ớn cho mấy ông Việt cộng. “Tại sao bọn ngụy tụi bây không nghe đài bbc, nét sơn đã thua rồi”. Giống như Đại úy Y Gul, tao cũng không biết nét sơn là thằng mắc dịch nào. Trao tờ giấy lại cho Đại úy Y Gul, tao tính nói với ông là tao cũng không biết, cùng lúc ấy đột nhiên một tia sáng lóe lên trong đầu, tao đoán rằng người viết dòng chữ này là một tên Việt cộng ở miền Bắc cho nên khi nói đến Tổng Thống Mỹ Nixon, hắn nói là nét sơn. Nói sao hắn viết như vậy. Tao cười với Đại úy Y Gul “Tụi nó nói Tổng Thống Mỹ Nixon đó”. Gật gù cái đầu ra chiều đắc ý, đưa tay vuốt bộ râu mép, Đại úy Y Gul nói với tao “Vậy mà tôi nghĩ không ra”.
Sơn ngưng nói, hắn nhìn quanh rồi đưa tay vơ lấy tấm ván nhỏ đậy lên nồi lá rừng. Xong xuôi hắn mới tiếp tục kể chuyện.
-Đứng ở lưng chừng núi Chư Yang Lăk, nhìn xa hơn nữa, xa thật là xa về hướng Đông, Chư Yang Sin mới là đỉnh núi vô địch trong vùng với cao độ 2442, cao nhất vùng cực Nam của dãy Trường Sơn. Tụi tao chưa bao giờ bén mảng tới vì quá xa, ngoài tầm hoạt động của Đại đội Fulro. Khi hành quân lúc nào thầy trò tao cũng đi cùng với bộ chỉ huy đại đội, sát cánh với Đại úy Y Gul. Tao là cái máy đo tọa độ, xác định điểm đứng, điểm đóng quân đêm, tác xạ tiên liệu gởi về chi khu và cả phòng ba của tiểu khu. Một lần nọ tại điểm dừng quân, tọa độ mà tao gởi về chi khu không được Đại úy Y Gul đồng ý, ông ta cho rằng tao chấm tọa độ sai. Hai cái tú tài ban toán hạng bình thứ, những bài học địa hình ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, gần một năm kinh nghiệm lội suối băng rừng ở Lạc Thiện, làm sao tao có thể chấm tọa độ sai được. Tao yêu cầu Đại úy Y Gul hãy cùng tao kiểm soát lại tọa độ điểm nghỉ quân. Với những phương pháp cơ bản về bài học địa hình ở Thủ Đức, tao để tấm bản đồ xuống đất, đặt cái địa bàn lên trên rồi xoay tấm bản đồ, cho đến khi hướng Bắc của bản đồ trùng với mũi tên chỉ hướng Bắc của địa bàn. Sau khi đã định hướng được bản đồ, tao chỉ Đại úy Y Gul về phía hướng Đông, cách điểm đóng quân khoảng hai trăm mét là ngã ba nơi hai con suối nhỏ gặp nhau. Sĩ quan mới ra trường nhắm mắt chấm tọa độ cũng đúng, huống gì là sĩ quan có kinh nghiệm như tao. Tao gọi pháo binh ở chi khu xin một trái khói, chừng hơn năm phút sau một làn khói trắng bốc lên cao, cách xa đại đội khoảng hơn trăm thước, ngay hướng Đông. Một nụ cười tươi rói nở trên gương mặt Đại úy Y Gul, ông ta đưa ta vuốt bộ râu mép rồi nói “Chuẩn úy giỏi thiệt”.
Sơn lim dim đôi mắt, hắn nói chuyện với tôi mà như nhớ về dĩ vãng.
-Hồi đó được khen tao khoái quá chừng, quên mẹ nó hết mọi khổ cực. Những ngày sau đó Đại úy Y Gul luôn tỏ ra thân thiện với tao, khi đứng trước hàng quân ông thường gọi tao là Chuẩn úy Y Son, rồi nói rằng, ông rất bằng lòng với những gì mà tao đã giúp cho đại đội khi đi hành quân.Đại úy Y Gul còn dành nhiều ưu ái cho tụi tao, ưu ái đến độ ông muốn xin tiểu khu cho tao về làm sĩ quan cơ hữu của Đại đội Fulro do ông chỉ huy. Cách duy nhất mà tao có thể từ chối tấm lòng yêu mến của ông Đại úy Fulro, là tao phải đưa ra một ví dụ thực tế nhất, để ông ta hiểu rõ vấn đề một cách thấu đáo. Tao nói “Đại úy thích sống nơi núi rừng, làm bạn với chim muông cây cỏ, ông ở trong rừng giống như con cá sống dưới nước. Nếu đại úy là con cá đang bơi dưới suối, tôi đem quăng ông lên bờ, ông có chịu không?” Đại úy Y Gul trả lời tao “Không được đâu.” Tao vin ngay vào câu trả lời của ông rồi nói “Tôi quen sống ở thành phố, bắt tôi bỏ vô rừng cũng giống như đem con cá vất lên bờ, nó sẽ giãy đành đạch rồi chết. Tôi đi biệt phái cho đại úy, đặt dưới quyền chỉ huy của ông, tôi là thuộc cấp của ông, quyền sinh sát nằm trong tay của ông. Đại úy bắt tôi ở lại với ông, tôi phải ở lại, cho về, tôi mới được về.” Đại úy Y Gul đưa tay vuốt bộ râu mép, gật gù “Chuẩn úy nói đúng, khi hết hạn tôi sẽ trả ông về đơn vị cũ.” Những ngày sau đó, trong những bữa ăn khi hành quân, Đại úy Y Gul thường cho tao khi thì miếng thịt heo rừng, lúc thì chút thịt nai, mà lính của ông vừa mới săn được trong rừng. Thời gian trôi mau như cánh chim bạt gió, vừa thấy đó đã mất hút ở cuối trời, ba đứa tao sống với Đại đội Địa Phương Quân Fulro mới đó mà đã được hai tháng. Ngày mà tao mãn hạn lưu đày, Đại úy Y Gul với đôi mắt ươn ướt, bắt tay tao siết mạnh rồi từ tốn nói “Người Thượng chúng tôi nói một là một, hôm nay tôi trả chuẩn úy về với đơn vị cũ của ông, đúng như tôi đã hứa trước đây”. Đại úy Y Gul nói trả nhưng giọng nói đầy bịn rịn nghe cứ như là muốn giữ tao lại. Lòng bồi hồi xúc động trước cái chân tình của Đại úy Y Gul, tao ôm chặt lấy ông rồi hỏi nhỏ “Đại úy à, ông có còn ý định giữ tôi ở lại đại đội này với ông không?” Gương mặt của Đại úy Y Gul đang buồn bã bỗng dưng vụt sáng, ông hấp tấp hỏi “Chuẩn úy chịu ở lại với tôi, có đúng không?” Tao nhìn vào đôi mắt sâu thăm thẳm của Đại úy Y Gul rồi cười thoải mái “Hai tháng nữa thôi nghe đại úy, chỉ một mình tôi thôi còn hai người lính phải được thay thế”. Và bài học quý giá nhất mà tao học được nơi núi rừng hoang dã của cao nguyên là những loại lá rừng nào ăn được, loại lá nào có thể dùng làm thuốc.
Sơn cúi đầu như nhớ về những ngày tháng cũ.
-Bây giờ thì mày hiểu tại sao mấy tháng trời ở trong trại tù Sông Mao này, tao ăn đủ mọi thứ lá rừng mà không bị đau hay ngộ độc.
Sơn ngừng nói, hắn nhíu mày như đang suy nghĩ.
-Mày còn nhớ không, hôm trước trong trại của tụi mình, khi một toán tù nhân Fulro khoảng hơn chục người nhập trại, tao nhìn họ và tin rằng, có thể họ là những binh sĩ Địa Phương Quân Fulro năm xưa. Những tù nhân Fulro này hôi hám bẩn thỉu, áo quần lôi thôi nhếch nhác, hai tay của họ bị khóa chặt trong cái còng số 8, dưới chân là một sợi xích sắt to và dài hàng chục thước cột họ lại với nhau. Tất cả cúi đầu đi chầm chậm trong im lặng, kéo lê từng bước chân mệt nhọc đến nhà giam. Cảnh đó giống hệt như những tên nô lệ của Âu châu thời Trung cổ, mày thấy tao nói có đúng không?
Tôi nói với Sơn. -Cùng một chuyện về tù Fulro nhưng đó là cách nhìn của mày, tao có cái nhìn của tao. Khi thấy đoàn tù Fulro đi qua, hàng chục người bị cột chung với nhau bằng một sợi xích sắt dài, khiến tao nhớ lại đâu khoảng năm tao còn học đệ nhất, lần đầu tiên bất ngờ nghe được bản nhạc “House of the rising Sun”, do ban nhạc The Animals trình diễn. Khi anh ca sĩ cất giọng, toàn thân tao chợt như đóng băng, lặng người đi, sửng sờ như bị hớp hồn bởi giọng ca truyền cảm đầy ma quái của anh ta. Hấp lực của nó mạnh đến độ đầu của tao muốn vỡ tung.
Khả năng Anh ngữ của tao lúc bấy giờ chỉ nghe câu được câu mất, không làm sao hiểu trọn vẹn đầy đủ lời ca của bản nhạc. Cũng may âm nhạc thì không có biên giới, nên tao vẫn có thể cảm nhận cũng như thưởng thức được cái hay của nó. Khi đến gần cuối bản nhạc, bất chợt tao nghe được câu “wear that ball and chain” thì hình ảnh của nước Mỹ thời lập quốc, thời Nam Bắc chiến, thời chinh phục miền Tây, thời đãi cát tìm vàng của hơn vài trăm năm trước, hiện về ngay tức khắc trong tâm trí của tao. Những người nô lệ da đen, rồi những tù nhân chân mang sợi xích với trái banh bằng sắt, làm lao động khổ sai lấp sông, phá núi, làm đường xe lửa, họ chậm chạp kéo lê những bước chân nhọc nhằn mệt mỏi trong cái nắng như thiêu đốt của miền Tây nước Mỹ. Đoàn tù Fulro mà sợi xích sắt dài như vô tận cột hơn mười trái banh người, xâu thành một hàng di chuyển trước mắt tao, hình ảnh đó còn dã man tàn bạo, man rợ hơn nước Mỹ thời Nam Bắc chiến gấp ngàn lần. Cùng là thân phận tù đày, cùng chung một trại giam, nhưng những người tù Fulro bị biệt giam trong một căn nhà với sợi xích sắt to, xiềng họ lại với nhau, khi cần di chuyển hơn mười trái banh người phải cùng đi một lần. Sau đó những người tù Fulro được đưa đi đâu mất, trả tự do hay đem đi xử bắn, điều đó tao không biết được. Với Việt cộng câu nói mà ai cũng biết “Thà giết lầm hơn bỏ sót.” Quá khứ đã chứng minh, Việt cộng thà giết lầm hơn sáu ngàn thường dân ở Huế trong Tết Mậu Thân, chớ quyết không bỏ sót bất cứ một tên Ngụy quân, Ngụy quyền nào hết. Như vậy số phận của những người tù Fulro này, chắc không được sáng sủa cho lắm.
Sơn lo thu dọn mấy cái chén miệng nói với tôi, giọng nói nhỏ lại, nhỏ thật nhỏ.
-Có điều này, tao cần phải nói với mày, ngày xưa khi không biết gì về “Phong trào tự trị Fulro” tao nhìn họ với đôi mắt đầy kỳ thị. Với tao Fulro đồng nghĩa với nổi loạn, Fulro là chống đối. Sau mấy tháng sống chung với họ nơi núi rừng cao nguyên đèo heo hút gió, tao hiểu ra người Thượng Fulro yêu thiên nhiên, yêu cái hoang sơ của núi rừng Trường sơn, yêu đất đai nơi mà cha ông của họ đã sống tự ngàn xưa. Y hệt như người dân Miền Nam , từ sông Bến Hải cho đến mũi Cà Mau, họ yêu sông nước Miền Nam , yêu con sông Hàn ở Đà Nẵng, sông Côn ở Bình Định, sông Ba ở Tuy Hòa, yêu sông Cửu Long ở Nam kỳ lục tỉnh, yêu ruộng đồng, yêu mồ mả ông cha, yêu tự do. Kể từ cuối năm 1969 cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn hai ngàn binh sĩ Địa Phương Quân Fulro đã sát cánh với quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng nhau chiến đấu để bảo vệ Miền Nam chống lại sự xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt. Rồi cái lệnh đầu hàng nghiệt ngã của Tổng Thống Miền Nam đã lùa sĩ quan bọn mình vô tù. Riêng binh sĩ Địa Phương Quân Fulro vẫn còn tiếp tục chiến đấu, bằng cớ là cho đến mấy hôm trước, tụi mình mới thấy hơn chục binh sĩ Fulro bị bắt vào đây. Tao tin rằng sau hơn bảy, tám tháng đánh nhau, không có tiếp tế, súng ống và đạn dược của họ đã cạn kiệt, chuyện bị bắt không chóng thì chày phải đến thôi.
Giọng nói của Sơn bỗng trở nên nghiêm trọng.
-Những gì tao vừa kể cho mày nghe về cái tên Sơn Fulro của tao, mày hãy giữ kín miệng giùm. Khi vô đây tao giấu biệt, không nói cho một ai biết về chuyện tao đã từng có thời gian sống với Fulro.
Tôi nói.
-Bên tổ 38 của mày, tụi nó vẫn thường gọi mày là Sơn Fulro mà?
Sơn cười.
-Tao nói láo với bọn nó là tao đen giống người Thượng, nên bị bạn bè đặt tên là Sơn Fulro.
-Vậy tại sao mày lại nói sự thật với tao?
Sơn hơi ngập ngừng.
-Hôm trước nói chuyện với mày, tao biết rằng mày là thằng có thể tin được.
Tôi nói với Sơn.
-Chuyện này thì tao hứa với mày, sẽ tuyệt đối giữ bí mật.
Trong ánh lửa sắp tàn, chỉ còn lại chút tro than âm ỷ cháy giữa đêm đen, Sơn với nét mặt đăm chiêu, tư lự, hắn nói mà như không muốn nói.
-Còn một điều này nữa, mấy tháng trường ở trong tù đói ăn thiếu mặc, đã nhiều lần vì quá đói tao phải tìm lá rừng mà ăn thêm. Khi cầm trong tay ba tán đường mày cho, tao cảm động đến muốn khóc, không ngờ rằng trong tận cùng của địa ngục đói khát, lại có người dám cho mình không phải một mà tới ba tán đường. Tao dự tính, đến tối sẽ cùng với hai thằng bạn trong nhóm nấu một nồi chè đậu đen, ăn cho bỏ những ngày thèm khát. Chuyện đời có mấy ai ngờ, trưa hôm đó khi gặp đoàn tù Fulro với cái sợi xích sắt dài hàng chục mét, cột họ lại thành một xâu, khiến tao nhớ lại thời mình còn ở chi khu Lạc Thiện. Nhớ lại chuyện tao với những người Thượng Fulro có một thời là chiến hữu, từng sát cánh bên nhau chống lại Cộng sản. Nghĩ đến ân tình mà ông Đại úy Fulro có cái tên là Y Gul đã dành cho tao, khi ông thân mật gọi tao là Y Son. Không một chút đắn đo, tao trở về phòng, lấy ba tán đường đem cho mấy người tù Fulro, vừa cho vừa run vì sợ bị lính gác phát hiện. Thật lòng mà nói, tao không có tốt bụng đến như thế đâu, nhưng nền giáo dục Nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa đã ăn sâu vào tiềm thức, khiến tao có hành động như vậy. Và kể từ ngày bước chân vào tù cho đến hôm nay, tao không biết cái vị ngọt của tán đường nó như thế nào, dám nó sẽ làm tê dại đầu lưỡi của mình như chơi. Phải không mày?
Lữ Đoàn III Nhảy Dù sau khi làm chủ tình hình trên đỉnh 1062 thì các đơn vị trực thuộc được bung rộng an ninh về hướng D1, D2, và trên những ngọn đồi chiến lược quanh vùng, quân Nhảy Dù dần dần ổn định vị trí một cách yên lành trong khi các đơn vị VC cũng rút khỏi vùng lửa đạn này êm thắm…
Buổi sáng mùa Đông 1974, Tuấn Sùi, người SQ cùng khoá 9/72 với tôi khi còn ở quân trường Thủ Đức, đang chỉ huy một Trung đội Trinh sát thuộc ĐĐ3TSND, xuống thăm tôi trên đài quan sát (ĐQS) còn mang theo chai “ông già chống gậy” (Johnnie Walker) để từ giã tôi vì ngày mai Tuấn cùng Trung đội Trinh sát sẽ xuống núi dưỡng quân ngoài Cầu Chìm, Tùng Sơn, Ái Nghĩa… Chúng tôi ngồi sau bậc đá nhâm nhi chai rượu mới vừa được trực thăng tiếp tế hôm qua, tôi cũng được Anh Sáu Lũng (TĐT/TĐ2PBND) gởi tặng cây thuốc President, anh thường khi gởi cho tôi mỗi khi anh muốn nói lời “khen thưởng” riêng cho thuộc cấp… ĐQS bây giờ cũng thoải mái hơn xưa, không còn sợ quân bắn sẻ thường xuyên rình rập như trước và có thể lai rai đốt thuốc hút mà không sợ “lủng cổ”, hút thuốc là điều tối kỵ và nghiêm cấm trên ĐQS này.
Tuấn kể cho tôi nghe huyên thuyên chuyện Trung đội Trinh sát của hắn cách đó ba tuần đã bẻ gãy cuộc tấn công của đặc công CS đang cố gắng mon men bám sát hầu tìm cách tiêu diệt ĐQS chúng tôi. Tôi cũng nhớ rất rõ giọng đanh thép của Tuấn lúc 4 giờ sáng oang oang trên tần số, điều động đàn em cẩn thận khi phát hiện đặc công CS đang bò vào và gặp ngay Trinh sát Dù nghinh đón… Trinh sát và các đơn vị Đa Năng của Nhảy Dù là các đơn vị được huấn luyện đặc biệt để diệt chốt, diệt tăng, và chống đặc công CS; đêm đó khi đặc công bò vào thì đã bị quân tiền đồn phát hiện ngay từ đầu, nhưng vẫn để cho họ ung dung như không hề có khả nghi, tôi cũng được báo cáo nên ba thầy trò chúng tôi đã bò ra các giao thông hào trên triền dốc nằm sẵn sàng chờ đợi… cho tới khi Tuấn biết họ chỉ có chừng một trung đội và hầu như tất cả đã lên hết lên trên đỉnh 1025, hướng về ĐQS. Tuấn ra lệnh khai hỏa, vừa khi tiếng nổ của quả Beta đầu tiên mà bọn đặc công ném vào các hầm trú ẩn chữ A kiên cố trống không… sau khi bị phát hiện tấn công vào chỗ không người, họ cố gắng rút về hướng yên ngựa D1, nhưng những bóng người đã hiện quá rõ dưới đường chân trời, làm mục tiêu trong tầm ngắm của các chiến binh Trinh sát Dù đang săn địch dưới giao thông hào.
Sáng hôm sau khi tôi lên 1025 gặp Tuấn đang chờ trực thăng đáp xuống để bàn giao 9 tù binh đặc công vừa bắt được đêm qua về cho Ban 2 Lữ Đoàn trong khi những toán TS khác đang đào hố chôn những xác chiến binh đặc công miền Bắc còn trẻ đến độ không ngờ, chân đất, quần tà lỏn, mình thoa đầy lọ nghẹ hóa trang đen thui… họ là những chiến binh đặc công tình nguyện để rồi “sinh Bắc tử Nam”… nhưng CS không bao giờ mang xác họ về cho gia đình, cha mẹ đâu biết con em mình nằm chết vất vưởng nơi nào đó trong rừng núi Trường Sơn.
Ngày hôm sau chúng tôi từ giã nhau, Tuấn lên đường sớm để bắt kịp chuyến trực thăng ngoài LZ (Landing Zone) dưới dãy Đông Lâm, và đó cũng là lần cuối tôi và Tuấn Sùi gặp nhau, mãi cho đến bây giờ không biết Tuấn ở đâu, tuy nhiên, trong tôi, hình ảnh của người bạn cùng khoá, chàng SQ/ĐĐ3TSND kiên cường, gan dạ và đầy bản lãnh, luôn ngự trị trong lòng tôi ở một vị thế trang trọng nhứt cho đến ngày hôm nay.
Tôi được lệnh phải ở lại chờ gặp viên SQ/PBND có biệt danh 207, để bàn giao ĐQS cho toán mới (và một Trung đội Đa năng lên bảo vệ) để thay thế cho toán chúng tôi được về dưỡng quân. Vị SQ/B3 yêu cầu tôi duyệt lại các điểm cận phòng quanh ĐQS, các vị trí phòng không của đối phương, đặc biệt là những vị trí bên kia sông Vu Gia, làng Đông Phước, và đồng thời tiếp tục quan sát các vị trí đóng quân giữa ta và địch. Suốt ngày hôm đó tôi ôm cái viễn kính lưỡng mục đi chu du khắp vùng trách nhiệm, tôi bỗng để ý dưới Đồi 52, sát bên Chi khu Thường Đức, có 3 ụ đất đỏ thật lớn vừa được đào lên đêm qua (hoặc được xe ủi đất ủi thành ụ đất lớn), tôi bốc máy gọi cho Thiếu tá Việt, Đại Cồ Việt, báo cáo tình hình và cho biết có thể địch sẽ dùng làm việc gì đó lớn lao lắm nhưng tôi không biết, mấy ĐT [đích thân] cũng chú ý những ụ đất mới, họ nói phải cần thêm “bà già” lên vùng để kiểm chứng.
Sáng sớm hôm sau “bà già” xác nhận đã có 3 con cua (tăng T54) trám qua đêm vào các ụ mà tôi vừa báo cáo hôm qua, hiện chúng đã che đậy và hoá trang như những lùm cây. Thì ra Bắc quân đã đoán được đoàn quân ND sớm muộn gì cũng sẽ dứt điểm Đồi 52 để tái chiếm quận lỵ Thường Đức. Tôi thực sự bị sốc khi biết tin này, vì từ khi ND tham chiến mặt trận Thường Đức cho đến giờ, chưa bao giờ thấy mặt T54 xuất hiện vào vùng này, bởi lẽ rừng núi trùng trùng điệp điệp về hướng tây dầy đặc làm sao xe tăng có thể vào được? Vả lại ở ĐQS tôi cũng thường theo dõi đường di chuyển của Bắc quân xuyên rừng bằng những con đường chuyển gỗ của dân theo đường xe be, giờ có lẽ xe tăng cũng dùng những con đường đó để áp sát Thường Đức từ hướng Quốc Lộ 14 (còn được gọi là Đường Mòn HCM).
Nghe được tin phối kiểm từ nhiều phía là Đồi 52 giờ có thêm 3 chiếc T54 án ngữ đón chào đoàn quân Mũ Đỏ, các đơn vị bắt đầu trang bị mạnh vũ khí chống tăng, hiện các cánh quân ND đã bao vây Chi khu Thường Đức và Đồi 52 từ nhiều phía; ĐĐ21, 22, 23, và 24 của TĐ2ND đóng dọc theo các triền đồi 126, 383, 400 ngay trên đầu Núi Đất (tên gọi khác của Đồi 52, theo tên dân địa phương); tôi cũng ghi lại những tọa độ chính xác trên bản đồ hành quân của riêng tôi, đồng thời gởi các tọa độ về trung tâm hành quân LĐ.
Ngay đêm đó, bất thần, tôi nhận được lệnh của Thiếu tá Hóa, TĐP/TĐ2PBND, điều động thầy trò 3 người chúng tôi rời bỏ vị trí ĐQS, ông nói rằng tôi sẽ được đề cử lên làm Sĩ Quan Liên Lạc (SQ/LL) cho một tiểu đoàn nào đó đang được không vận vào vùng, nhưng chính ông cũng chưa biết đích xác, và để bảo mật, chúng tôi phải rời ngay đêm nay, theo chân toán viễn thám dẫn đường, băng rừng về LZ tiếp tế trên dãy Sơn Gà, chúng tôi len lỏi trong đêm đen, một cách thật yên lặng, bám sát toán viễn thám, bằng cách nhìn theo miếng giấy bạc (bên trong mỗi bao thuốc) được dán sau ba lô của người đi trước, và chỉ được dùng bật lửa một cách giới hạn trong trường hợp bị lạc nhau quá xa… có đôi lần Hùng, người hạ sĩ mang máy PRC25 bị cần antenna vướng cây nên suýt bị rơi xuống vực, tôi phải đổi cho Trung sĩ Bé to con hơn mang thay. Toán Viễn Thám (thuộc ĐĐ3TS/LĐIIIND) chỉ có 6 người, được chỉ huy bởi một sĩ quan cấp thiếu úy làm trưởng toán, tôi cũng chưa đối diện với hắn lần nào, chỉ nói chuyện qua máy với danh xưng Thiên Long 3, và chỉ gặp viên hạ sĩ quan toán phó vào ĐQS dẫn đường cho chúng tôi lúc nửa đêm, nên cũng chẳng nhớ rõ mặt hắn. Phải công nhận rằng, các toán viễn thám Nhảy Dù hoạt động một cách độc lập, thành thạo trong khắp các ngõ ngách vùng hành quân, họ len lỏi giữa đêm đen một cách nhanh nhẹn như những bóng ma, phần vì bị giới hạn vô tuyến, chỉ liên lạc khi nào tối cần thiết, cho nên chúng tôi phải cố bám cho được họ qua những vết loang loáng phản chiếu từ miếng giấy bạc sau lưng của người đi trước; tôi là người đi đầu của toán ĐQS, phần được trang bị nhẹ nên tôi theo kịp họ dễ dàng, tuy nhiên 2 đệ tử theo sau có phần chậm chạp hơn, nhiều lúc tôi phải yêu cầu toán VT chậm lại.
Gần sáng hôm sau cả toán chúng tôi đến được LZ trên dãy Sơn Gà, ai cũng mệt nhoài sau một đêm dài di chuyển một cách căng thẳng, vừa lo lắng vừa cảnh giác cẩn thận nên cả bọn gần như không còn sức để trò chuyện, riêng tôi phải lên gặp Thiên Long 3 để cám ơn và từ giã anh ấy, tôi nhận ra anh là một huynh trưởng khoá đàn anh cách tôi mấy khoá, khi tôi về Khối Bổ Sung chờ học khoá Nhảy Dù thì anh đang chờ ra đơn vị, tuy nhiên chúng tôi không nói chuyện nhiều vì toán anh phải gấp rút trở về ngay.
Tình hình vùng 1062 bây giờ khá ổn định, nhớ lần trước khi trực thăng mới nghiêng mình thả toán chúng tôi xuống thì pháo địch cũng đã departed, chân vừa chạm đất phải phóng ngay xuống giao thông hào gồm toàn thương binh đang nằm chờ di tản… bây giờ thoải mái hơn, quân ND đã nện những cú đấm thần tốc, tái chiếm đỉnh chiến lược 1062, D1 và D2 đang đẩy Bắc quân ngược về hướng Sông Vu Gia, và nay mai, không xa, Chi khu Thường Đức sẽ là mục tiêu sắp được dứt điểm.
Ngồi trên chuyến trực thăng về dưỡng quân thật là sung sướng, sau hơn 1 tháng rưỡi bó chân trên ĐQS, liên tưởng đến nhiệm vụ mới lòng tôi cảm thấy nao nao, dù sao chức vụ SQ/LL coi như mình được đãi ngộ rồi, từ đây sẽ đi theo cấp Tiểu đoàn cùng hợp tác với vị TĐT/ND và ở BCH cấp TĐ dù sao cũng an toàn hơn SQ/TSV [tiền sát viên] ngoài tuyến đầu, vả lại sau chiến thắng đồi 383 của TĐ2ND, mọi người trong tiểu đoàn đều thừa hiểu rằng tôi đã góp phần không nhỏ.
BCH tiền phương của LĐIIIND vẫn đóng ở căn cứ Chuồng Bò, mới vừa bị đặc công CS hỏi thăm cách nay một tuần, tuy không bị thiệt hại nhiều nhưng an ninh có vẻ thắt chặt hơn, ra vào đơn vị phải qua cổng an ninh. Tôi trình diện Anh Sáu, vị TĐT/TĐ2PBND khả kính của chúng tôi, anh cho tôi biết lý do rút tôi ra khỏi ĐQS một cách gấp rút vì tình hình đang khẩn trương, LĐ đang chuẩn bị tái chiếm Quận Lỵ Thường Đức, dĩ nhiên, Đồi 52 (Núi Đất) sẽ là mục tiêu đầu tiên nằm sát phía đông của Chi khu. Anh bảo tôi rằng, tôi là người am tường địa thế của vùng hành quân, nhất là biết rõ vị trí của những con cua đang nằm chờ đợi trong hang. Thực sự, mấy ngày nay các xe tăng này chưa được khởi động, chỉ nằm đó ém quân một cách bí mật để chờ thời. Anh cũng lặp lại là tôi sẽ làm SQ/LL cho một TĐND đang được không vận vào vùng. Tôi hỏi Anh Sáu về toán mới trên ĐQS, hơi ngạc nhiên vì tôi vẫn chưa bàn giao nhiệm vụ và các vị trí cho toán mới, nhưng lệnh của TĐ bảo tôi phải rút đi rồi sẽ làm việc với họ trên tần số vô tuyến sau này khi họ đến nơi.
Không còn gì sung sướng hơn là được tự do về Cầu Chìm để được an nhàn ngồi ngắm các “kiều nữ cà phê” ngoài chợ Ái Nghĩa, cùng chai bia lạnh, dưới ánh sáng điện mờ… quên mất rằng, chúng tôi vẫn đang trong vùng hành quân và tiếng đạn ầm ĩ xa xa cách đấy không đầy 12km, là tử điạ Thường Đức và vùng núi 1062, D1, D2… vừa chôn không biết bao nhiêu chiến binh cả 2 miền Nam–Bắc…
Tôi có một người cha nuôi ngoài chợ Ái Nghĩa, gia đình ông có 2 người con, người anh trai trưởng tên Lợi, trước kia cũng là lính Nhảy Dù nhưng bị thương ngoài Quảng Trị vào mùa Hè đỏ lửa năm 1972, nay đã giải ngũ và là anh kết nghĩa với tôi, cô con gái út tên Hoa, 16 tuổi, còn đi học nên mỗi lần đến nhà ít khi gặp. Khi quân ND tiến vào vùng Hiếu Đức và Đại Lộc tham chiến, trong khi chúng tôi đóng quân quanh bìa rừng chờ đợi các toán Công Binh Nhảy Dù đang ngày đêm khai phá những con đường chiến lược bên trong chân núi, tiếp cận những ngọn đồi hướng về đỉnh 1062, đồng thời làm bàn đạp cho các pháo đội kéo pháo lên đồi, áp sát các mục tiêu đã định, sẵn sàng yểm trợ cho các cánh quân Dù đang đóng quân trên các ngọn đồi bên trên. Trong khi chờ đợi các pháo đội đặt súng là thời gian thần tiên cho các SQ đề lô, được rảnh rỗi la cà khắp vùng Tùng Sơn, Ái Nghĩa, vừa được phát lương sau thời gian chuyển quân về từ Huế–Quảng Trị, người nào cũng rủng rỉnh tiền đầy túi tha hồ tiêu pha, dân chúng trong vùng bấy giờ nhiệt tình đón chào đoàn quân Mũ Đỏ, họ đến đây để chuẩn bị chiếm lại Thường Đức, dù biết rằng mai này máu của họ sẽ đổ ngập đồng, nhưng bằng mọi giá, họ sẽ tái lập an ninh cho người dân trở về quê cũ, tìm lại cuộc sống yên vui ngày nào. Trong tình quân dân cá nước, các anh tha hồ vờn gái trong các quán cà phê ngoài chợ Ái Nghĩa, còn các cô cũng dành nhiều tình cảm cho các chàng trai oai hùng đa số từ miền Nam ra.
Một buổi trưa đang ngồi nhâm nhi ly bia lạnh, Lợi đến gần mời tôi cụng ly, thấy hắn đội nón kết có bằng dù trên nón nên tôi hỏi ra lai lịch… từ đó chúng tôi thân nhau rồi kết nghĩa anh em, đôi lần Lợi dẫn tôi về nhà ăn uống, Ba của Lợi là người đàn ông goá vợ, là Thôn Trưởng ở Tùng Sơn, thấy tôi quê ở tận miền Nam xa xôi, vùng Cửu Long hiền hòa, vì nhiệm vụ làm trai thời chiến, phải ra đây để mưu cầu đem lại sự ấm êm hạnh phúc cho người bản xứ, từ đó, ông quý mến tôi như con, nên nhận tôi làm con nuôi… và cũng từ đó, mỗi khi đơn vị về dưỡng quân quanh vùng, có dịp là tôi “biến mất”… và cái tên “Châu Nhái” chết tiệt ra đời khi ông Hoá tập họp đám “cù lũ nhí” (các SQ trẻ trong TĐ) để phân chia đơn vị, ai cũng được phân công về các tiểu đoàn tác chiến chuẩn bị vào vùng hành quân, còn tôi, làm người nhái… lặn mất tiêu… ĐT Hoá từ đó gán cho tôi cái nickname này, dần dần nó ăn sâu vào lòng bạn bè cho đến bây giờ.
Tôi được mấy ngày “dưỡng quân tại chỗ”, nghĩa là hết tiền để xuôi về miền Nam thăm gia đình, nên dĩ nhiên là về nhà Lợi, cùng hắn vi vu về Hòa Khánh, Đà Nẵng, và Hội An… vui chơi cho vơi đi những nhọc nhằn trong ngày tháng ngoài vùng hành quân. Thực ra, mấy tháng nay nói là về tham chiến vùng Quảng Nam–Đà Nẵng nhưng tôi có biết thành phố là gì? Ngày đêm chỉ lo quần thảo với hiểm nguy, đối diện với tử thần trên chạm tuyến, từ hừng sáng đã thấy những bộ đồ xanh bộ đội miền Bắc bò lúp súp dưới giao thông hào, chỉ cách nhau có vài chục mét… giờ về thành phố Đà Nẵng, ban đêm vui thật là vui, người dân thành phố đâu hiểu được những nhọc nhằn của đoàn quân Mũ Đỏ nói riêng và tất cả quân đội đang ngày đêm gìn giữ ngoài biên trấn cho họ có được sự thanh bình, an vui như vậy. Nhưng thôi, đã làm trai, ai cũng có bổn phận với nước non, Nhảy Dù Cố Gắng!!!
Tối nay tôi và Lợi đi dạo dọc bờ biển, chúng tôi cũng ngà ngà sau một chầu bia, đi hóng gió mát từ biển thổi lên, quyện theo tiếng nhạc từ những nhà hàng sang trọng bên kia Kênh Phú Lộc, đang say sưa với cảnh thanh bình của Đà Nẵng về đêm, bỗng chiếc xe Quân Cảnh Hỗn Hợp (QC của QĐ I đi tuần chung với QC 204/ND) dừng lại, thấy hai chàng nhảy dù đang đi dạo, lúc đó Lợi đang mặc bộ đồ bông ND nhưng trông có vẻ lôi thôi nên họ dừng lại hỏi giấy, Lợi trình giấy giải ngũ từ SĐND (hắn vẫn được mặc đồ ND nhưng không cần phải đúng quân phong tuyệt đối vì đã giải ngũ), còn tôi có đầy đủ phép nên họ bỏ đi; nghĩ lại, dù đang trong vùng hành quân nhưng khi ra ngoài thành phố cũng phải giữ đúng tác phong.
Buổi sáng hết phép, lên trình diện các Đích Thân để nhận nhiệm vụ mới, ngồi nghe ông SQ Ban 3 thuyết trình tình hình khu vực sau 1 tuần lễ trôi qua… ĐT Việt cho biết là toàn bộ TĐ2ND đã rời vị trí chung quanh các ngọn đồi 126, 383, 400, vượt qua bên kia sông Vu Gia, đang làm nỗ lực chính, bằng mọi giá phải tiến chiếm các ngọn đồi bên trên làng Đông Phước và QL14B, đối diện Chi khu Thường Đức, hiện nơi đây đang đặt những ổ phòng không chiến lược của Bắc quân, lưới phòng không này ngày đêm khống chế các phi tuần oanh tạc mỗi khi vào vùng yểm trợ cho quân Dù, cho nên các phi công A37 thường bay từ hướng biển ngoài Hội An và Hiếu Đức dọc theo sông Vu Gia vào vùng để tránh những ổ phòng không này, sau khi đánh bom trong vùng Thường Đức xong, thay vì họ bay qua hướng 1062 để trở ra, thì họ lại đánh vòng ngược lại, bay bổng lên không về Hội An (belly up or upside down) để tránh những ổ phòng không bên trên những ngọn đồi phía sau 1062 trông thật ngoạn mục; đường bay vào và đi ra đánh bom như vậy đã né được cả hai ổ phòng không quan trọng, tuy bị giới hạn vì kém chính xác, nhưng vẫn còn hơn là không vào được, và cũng chính những ổ phòng không này là hung thần trực xạ vào các cánh quân Bộ Binh ND khi lâm chiến, những ổ phòng không 37ly liên thanh 2 nòng khi trực xạ làm thui chột ý chí chiến đấu của quân Dù… họ ngại ngần tiến quân dưới lằn đạn 37ly… nay TĐ2ND có nhiệm vụ vượt qua cầu Hà Nha để khoá họng chúng thì công cuộc tái chiếm TĐ mới dễ trong tầm tay.
TĐ6ND từ Phú Bài được không vận vào vùng Hiếu Đức, chuẩn bị thay cho TĐ3ND vừa bị rách áo vài tuần trước đây bên trên 1062 và D2, đang được về Sài Gòn dưỡng quân… LĐIIIND nay gồm các TĐ2, 5, và TĐ6ND, các cánh quân của TĐ6ND gồm các ĐĐ61, 62, 63, 64 đang rải mỏng trên Đỉnh Đông Lâm và Sơn Gà, chuẩn bị vào vùng bao quanh Thường Đức.
Hôm nay trong phòng hành quân có mặt Anh Sáu Triệu, Ông Hoá, Ông Việt, và Trung úy San, anh là vị Sĩ Quan Liên Lạc (SQ/LL) thâm niên gốc Thiếu Sinh Quân từ Lực Lượng Đặc Biệt về PB Dù, đã đi cho TĐ3ND bấy lâu nay nhưng khi TĐ3 rút ra dưỡng quân thì anh và các Sĩ Quan Tiền Sát Viên Pháo Binh (SQ/TSV/PBND còn gọi là Đề Lô) bị giữ lại, tiếp tục đi cho TĐ6ND… Thấy tôi có vẻ hơi hụt hẫng, anh Triệu dã lã rằng chính anh cũng không biết trước điều đó nên mới rút tôi từ ĐQS về gấp đề làm SQ/LL… biết nói gì đây khi tình hình đang khẩn trương và tôi không còn sự lựa chọn. Ông Triệu bảo tôi rất thành thạo tình hình chung quanh Đông Phước và Thường Đức nên cử tôi về ĐĐ61, tôi dự đoán ĐĐ61 sẽ là nỗ lực chính đánh vào Thường Đức, chắc chắn chúng tôi sẽ đối đầu với những chiếc tăng T54 đang ẩn mình trên Đồi 52 chờ chúng tôi, và còn không biết bao nhiêu chiếc nữa đang vào vùng. Tôi đứng dậy đưa tay chào anh rồi gật đầu tuân lịnh, anh cũng ái ngại bắt tay tiễn chân tôi.
Đêm đó, lịnh cấm trại 100%, cổng căn cứ Chuồng Bò khép lại, trực thăng sẽ đưa chúng tôi vào vùng đêm nay, sáng sớm ngày mai lên gặp ĐĐT/ĐĐ61ND trên đỉnh Sơn Gà, về đơn vị mới với nhiều vấn đề mới, tôi bảo Trung sĩ Bé và Hạ sĩ Hùng ra câu lạc bộ mua ít đồ cần thiết rồi đi ngủ sớm, chuẩn bị khuya đêm nay thầy trò lên đường. Lần này vào trực diện với Bắc quân trên tuyến đầu Thường Đức.
Toán chúng tôi lên trực thăng cùng với Trung úy San, hơn nửa giờ sau đã đến LZ Sơn Gà, lần này tạm yên ổn không còn bị pháo như trước, chúng tôi lên trình diện vị Thiếu tá TĐT/TĐ6ND, lần đầu tiên vào họp hành quân chung mới thấy uy danh của một vị TĐT/ND, trong căn hầm chỉ huy hành quân thật kiên cố, đã có đủ các ĐĐT và các SQ/TSV/PBND của từng ĐĐ, trước tiên, Trung úy San, SQ/LL/PBND (TĐ6ND) trình diện và giới thiệu các SQ/TSV/PBND cho các ĐĐT, sau đó viên SQ/B3 lần lượt trình bày diễn tiến sắp đến của Tiểu đoàn, chỉ rõ chi tiết bước tiến quân cho từng ĐĐ trên bản đồ hành quân, nhiệm vụ phối hợp của các SQ Đề Lô, tôi ghi lại những điều cần thiết, nhận ám danh đàm thoại, và bản đồ khu vực. Trước khi ra về Thiếu tá TĐT/TĐ6ND, Thành Thái, ban lịnh hành quân, mỗi đơn vị chuẩn bị xuất phát, ngày N và giờ G bắt đầu sẽ được thông báo sau.
ĐĐT/ĐĐ61 là Trung úy Danh, có biệt danh là Danh Con hay Danh Lùn, là một ĐĐT thân mật và cởi mở, sau buổi họp hành quân chúng tôi cùng nhau trò chuyện và đi dần xuống chân đồi bên dưới dãy Sơn Gà, băng qua khu rừng chồi hướng về đồi 383, anh đề nghị chúng tôi ở chung với BCH/ĐĐ cho dễ làm việc, HS Hùng sẽ cùng làm việc với toán nhà bếp lo việc ăn uống, TS Bé sẽ ở gần với âm thoại viên ĐĐ và chúng tôi sẽ ở chung lều với toán Quân Y, Thiếu úy Bản, SQ Trợ Y và 2 binh sĩ quân y, bên cạnh lều của BCH. Ngày đầu tiên làm việc chung rất là thân thiện, chúng tôi dần dần xưng hô rất thân mật, cởi mở, và hợp tác một cách ăn khớp với nhau.
Trời đã xế trưa, tôi bắt đầu gọi về pháo đội chuẩn bị điều chỉnh cận phòng và các điểm cần thiết, đề phòng bất trắc cho đêm nay, đồng thời gọi lên 207, ám danh của vị SQ mới lên thay thế trên ĐQS, để hỏi thăm động tĩnh đáng nghi quanh Đồi 52 và Chi khu Thường Đức, 207 cũng đã ghi nhận các vị trí T54 và cho hay chúng vẫn còn ẩn mình, nhưng hiện rất rõ dưới lưỡng kính viễn mục, tôi cũng yêu cầu 207 chấm chính xác tọa độ cấm chỉ của chúng và gởi về pháo đội để khi cần sẽ có ngay. Tôi bắt đầu đi một vòng xem tình hình chung quanh, mọi vật thật là yên tĩnh.
TĐ6ND vừa thay quân trám chỗ cho TĐ2ND cách đây vài ngày, họ cũng vừa ổn định các tuyến phòng thủ, vẫn chưa có động tĩnh gì, tôi và Danh đi qua dãy rừng chồi thưa, nơi cách đây vài tuần trước, Huyến, Hồng, Nghị, và Phúc Con la chói lói trên máy khi đánh nhau chiếm lại các ngọn đồi này. BCH/ĐĐ61 đóng trên triền đồi nhìn xuống hướng sông Vu Gia, cách đó không xa là vách đá sừng sững hiểm trở bên trên khu vực Ba Khe, điểm hội tụ của 3 con suối từ trên núi chảy xuống đồng bằng, tạo thành một khu vực đầm lầy trước khi chảy ra sông Vu Gia. Danh có vẻ tin tưởng tôi trong vị trí đề lô, khi nhìn thấy tôi chỉnh cận phòng trước khi trời tối, và vì mới được không vận vào vùng nên anh còn bỡ ngỡ với tình hình chung quanh, tôi trấn an anh, là tôi mới vừa rời ĐQS trên 1025 nên biết rất rõ đường đi nước bước trong khu vực, tôi dẫn anh ra bờ đá hướng về Đồi 52 và chỉ cho anh vị trí các chiếc xe tăng T54 đang chém vè ở đó, tôi móc bản đồ hành quân cho anh thấy khu vực Đồi 52 đã được khoanh tròn bằng bút chì mỡ màu đỏ, cùng với vị trí 3 chiếc xe tăng đã đánh dấu bằng những mũi tên…
Bây giờ là mùa Đông, cuối năm 1974, vùng rừng núi trùng trùng hiểm trở bên trên Thường Đức mưa nhiều, lạnh cắt da, chúng tôi ăn ngủ trong lều quần áo bị mưa ẩm ướt qua đêm nên lạnh lẽo vô cùng… trong lều có một chiếc băng ca, không hiểu vì sao Bản không nằm [trên] nó mà nhường cho tôi, ngủ trên băng ca im quá, cũng đỡ lạnh và khỏi bị ướt lưng nếu trời mưa lớn, tôi thấy có vài vết máu trên đó nhưng không sao, trải chiếc poncho (lightweight) quấn lại rồi cũng qua đêm.
Mấy ngày trôi qua vẫn chưa nghe động tĩnh gì, tuy nhiên bên kia sông Vu Gia, các đơn vị của TĐ2ND bắt đầu đụng nhẹ, khi tiến lên chiếm các triền đồi bên trên làng Đông Phước. Tôi bốc máy liên lạc với nhóm cù lũ nhí bên TĐ2ND để xem tình hình ra sao? Hình như Bắc quân đã dần dần rút khỏi vùng một cách êm thắm, những điểm phòng không ghi nhận trước đây giờ rút sâu về phía Tây hướng Khâm Đức và Đường Mòn HCM… có lẽ, họ bị thiệt hại nặmg và nay cố tránh chạm mặt với quân Dù.
Cuối cùng ngày N cũng đến, chiều nay được lệnh ăn sớm trước 4:00g chiều và chuẩn bị lương khô cho nhiều ngày sắp tới, thời tiết xấu mấy ngày qua, trời rét mướt không làm chùn bước, không cần nói cũng biết chúng tôi sẽ rất vất vả suốt đêm nay, giờ G đã đến, phải lên đường… Tôi qua lều Danh hỏi thăm tình hình mới biết được rằng Thành Thái đã ra lịnh cho ĐĐ64 của Thiếu úy Thóc đêm nay rời đồi 126, vượt qua yên ngựa thoai thoải một cách im lặng ém sát sườn Đồi 52 trong thế chờ, ĐĐ63 vượt qua con suối và bám sát đường thông thủy hướng lên chân đồi nằm chờ ở đó, ĐĐ62 trên đồi 400 xuống thay quân cho ĐĐ61 của chúng tôi trước 6:00g chiểu nay, đồng thời để trung đội vũ khí nặng (cối 81ly và sơn pháo 57ly) trên đỉnh yểm trợ, còn lại hướng về mục tiêu Núi Đất. Riêng ĐĐ61, đêm nay sẽ xuống núi ngay sau khi bàn giao đồi 383 cho ĐĐ62, sẽ băng rừng chồi xuống làng Phước Lộc, men theo vách đá hiểm trở khu Ba Khe để vượt qua đầm lầy Phước Lộc, dọc theo con suối Phụng Lâm đến Hà Nha, nằm đó, chuẩn bị con cái, và báo cáo về TĐ trước khi trời sáng.
Tôi ngó Danh và cười gượng, cố gắng hết sức mới không buông tiếng chửi thề. Trời ạ! Mình là Nhảy Dù chứ phải là TQLC đâu Đích Thân? Mà lội qua đầm lầy nửa đêm như thế này, tôi nói, nhưng Danh cũng đã cãi nhau với Thành Thái về việc “hiếp người quá đáng” đó rồi… lệnh là lệnh. Danh cho tôi biết thêm thông tin từ các toán Thám Báo của Chi khu Thường Đức, có rất nhiều mìn bẫy trong vùng đồng bằng do du kích CS gài lại, nên di chuyển đêm khá khó khăn, nhứt là không được đi trên bờ đê, chỉ lội dưới ruộng và đầm lầy. Tôi cười, mấy thầy trò, ngay cả tôi, đều mang boot–de–saut… Nhảy Dù mà ĐT! Danh nhìn tôi một cách đăm chiêu, cuối cùng Danh chọn cách tránh xa khu đầm lầy, sợ nước sâu làm ướt các máy truyền tin, dù sao cũng phải băng qua đầm mới về Hà Nha.
Rời 383 lúc trời tối đen như mực, chúng tôi len lỏi qua khu rừng chồi một cách nhanh nhẹn, trời cuối năm mang gió bấc về thổi lạnh từng cơn, cộng thêm trời mưa đông miền núi lất phất làm tê tái lòng người, tôi thả ống tay xuống và thụt vào bên trong poncho cho đỡ lạnh, bước theo BCH một cách lặng lẽ. Đêm nay, tất cả phải im lặng vô tuyến, Danh và tôi không ai nói một lời, mỗi người có mối suy tư riêng…
Chúng tôi đi qua đầm một cách khó khăn, đúng vào lúc nửa đêm trời lạnh buốt tâm can, nước ngập tới lưng quần cũng đủ run bần bật, nhưng vì di chuyển trong đêm đen nên mọi người đều cố gắng bắt kịp nhau (ai biểu đi lính nhảy dù, Nhảy Dù Cố Gắng!!! mà…), phần vì mệt lả nên quên đi cái lạnh cắt da bên ngoài. Chúng tôi cuối cùng cũng vượt qua đầm và đến bên bờ suối, Danh dừng lại ngoài cánh đồng cải cách bìa làng Hà Nha vài trăm mét (dân trồng cải để bán cho dịp tết sắp đến, nhưng vì chiến tranh nên họ đã di tản, bỏ lại nguyên cánh đồng cải đang độ tốt tươi). Danh bảo tôi rằng ngoài đồng sẽ không có mìn bẫy vì dân thường ra đồng đi làm hằng ngày, đợi trời rạng sáng sẽ cho em út dọn đường hướng về Đồi 52. Danh bấm máy cho Thành Thái báo cáo, tôi cũng gọi cho ông Việt biết địa điểm để cập nhật trên bản đồ, ĐĐ61 chỉ cách Đồi 52 chưa đầy 500 mét, chúng tôi mệt nhoài, cứ nằm đó chờ lịnh, tôi thiếp đi dù quần áo còn ướt đẫm.
Bé đánh thức tôi dậy và đưa ống liên hợp, Anh Sáu trên đầu dây, tôi nghe, ĐT… anh cho tôi hay các pháo đội đã sẵn sàng đợi khi nào Thành Thái phất cờ, thằng 207 nay sẽ làm mắt thần lại cho tôi, nghe quen quen ĐT… nhứt định dzớt 3 con cua càng sớm càng tốt, ĐT bảo 207 bắn cắm chỉ và khoá họng mấy con cua đó thì sẽ dễ dàng thôi ĐT, nó có tọa độ rồi, OK! Anh sẽ trực tiếp theo sát trên máy. Danh quay qua bảo tôi chuẩn bị pháo binh thì bắt đầu nghe 64 tapi, cối 81 từ hướng 383 bắt đầu nổ, Đồi 52 đã bị bao vây từ khuya đêm qua, chung quanh đồi quân ND dù thâu đêm mệt lả vẫn hò reo vang trời trong tiếng depart pháo binh rộn rã từ phía cầu Hà Nha.
Cuộc tấn công tái chiếm Đồi 52 đúng ngày 24 tết, năm Giáp Dần, đầu tháng hai, năm 1975… lúc này mùa đông nên 6 giờ sáng vẫn còn tối hù, tôi điều chỉnh bắn rải từ chân đồi dọc lên tới đỉnh để con cái 61 tiến lên, địch phản ứng dữ dội, chống trả các đợt tapi từ hướng 64, Thóc đã vang trên máy chuẩn bị xung phong, lên rồi lại bị đẩy lui, mấy chiếc T54 giờ đây xoay nòng trực xạ làm thui chột đàn chó điên đang vờn chuột trên đỉnh Đồi 52… 207 gọi bắn cắm chỉ lên Đồi 52 một cách hối hả và liên tục, đồng thời gọi cho Hồng, Huyến, và Phúc Con cố gắng khoá họng mấy dàn 37ly trên núi Đông Phước. 207 cho tôi hay mọi chuyện tiến triển tốt đẹp, trước mỗi đợt xung phong mấy con cua đều bị pháo nện tả tơi nhưng vẫn không thể làm chúng gãy càng. Tôi hỏi 207, anh đã có tọa độ cắm chỉ của đám cua, sao không dứt điểm chúng cho rồi? Tôi ở dưới triền đồi nên không tự chủ được, mọi chuyện chỉ nhờ 207… hắn cho tôi hay là các pháo đội không thể bắn thỏa mãn theo yêu cầu vì không được tiếp tế đạn đầy đủ! Trời ạ!!! Pháo binh Nhảy Dù luôn gọi bắn bằng tràng (6 quả), giờ chỉ bắn từng quả… mẹ, vậy mà cứ đòi tapi, tapi cái con mẹ… tôi chửi thề trên tần số hành quân của pháo binh, nghe tôi chửi đổng tá lả, ĐT Tuấn con nhảy vào cố gắng làm dịu tình hình, cuối cùng anh điều ông Thọ kéo các khẩu M2 lên đồi… lần nữa nằm chờ, chơi trực xạ ngay trên đầu địch.
Chiều hôm đó chúng tôi chỉ nhích lên được chừng 200 mét, địch đông như kiến, được tiếp viện đạn dược đầy đủ từ nhiều hướng phía từ sau CK/TĐ, nơi hầm hố kiên cố được để lại từ thời TĐ79/BĐQ còn trú đóng nơi đây… có thêm vài ổ phòng không 57ly mới nổi lên từ hướng Đại Lãnh, vùng núi hướng tây bên trên Thường Đức, bắn trực xạ rát quá làm quân Dù chùng chân.
Qua ngày đầu tiên các ĐĐ đã bao vây Đồi 52 bằng 3 phía, chỉ còn cách ngọn đồi vài trăm mét, không xa lắm nhưng mỗi tấc đường di chuyển đều được trả bằng máu, địch cũng không kém, trả đũa quân Dù sau mỗi đợt xung phong, họ được tiếp ứng quân và đạn dược nhanh chóng bằng đường sông Vu Gia, nên các ĐĐ bắt đầu dè dặt hơn trước. Đêm nay thế nào địch cũng sẽ phòng thủ lại kỹ hơn, mỗi phút trôi qua chậm trễ sẽ làm bất lợi cho quân Dù.
Mấy ngày hôm sau thời tiết quá xấu nên chỉ nằm im lặng chờ đợi, mưa càng lúc càng nặng hạt, làm tăng thêm khó khăn và rét mướt, khổ nỗi, nước ngập hết các giao thông hào mà ban ngày không được căng lều nên đành đội mưa chịu lạnh… Trên cao 207 quan sát kỹ hơn, theo dõi “nhứt cử nhứt động” của Bắc quân, tôi nghe 207 liên lạc với Đài Quan Sát Không Quân chuẩn bị cho Thần Phong lên vùng ngay sau khi trời quang đãng… phải vậy chứ, mình bị thời tiết khó khăn, bị giới hạn đủ điều… nên phải tính cách khác.
Sáng ngày N+5 dự báo trời quang mưa tạnh, gió thổi từ hướng biển vào lạnh tê tái. Thành Thái gọi Danh Con chuẩn bị con cái hành động cho đẹp mắt. OK! Make my day, ĐT. Tôi bò qua gần Danh, hắn chỉ tay về phía đỉnh đồi, tôi thấy cái nòng súng đầy lá ngụy trang 100ly của con cua quay qua quay lại một cách thách thức, Danh nói hôm nay mình được tăng cường thêm 1 Trung đội Đa năng để chuẩn bị dứt điểm, sẽ thanh toán ngọn đồi bằng mọi giá. Tôi hơi ái ngại vì địa thế bất lợi cho quân Dù, đang ở dưới thấp, địch thấy ta còn ta không thấy địch… Danh gợi ý tôi gọi pháo bắn cắm chỉ vào đỉnh đồi liên tục và kéo dài cho tới khi Thần Phong bao vùng, lúc đó đa năng sẽ bò lên dùng lựu đạn khói cay, lợi dụng mình đang trên gió, 61 sẽ lên dứt điểm mục tiêu dễ dàng hơn. Tôi nhìn Danh e ngại, anh nghe tôi chửi thề trên máy rồi đó, mấy hôm trước xin 20 tràng (120 quả) chỉ bắn có 12… bà mẹ, chỉ xúi mình xung phong… tôi cười, xung phong cái con… khỉ…
Trên tần số hành quân nội bộ, Bé cho tôi biết 207 đã phối hợp xong, Thiếu úy Trưng ở đài tác xạ cho hay đã sẵn sàng, tôi hỏi anh Tuấn tình hình anh Thọ chơi ngông ra sao? Anh cho tôi hay lợi dụng thời tiết xấu, anh ấy kéo pháo lên đồi ém quân nay đang nằm chờ lệnh… tôi quay qua cho Danh hay mọi chuyện đã êm xuôi. Tuy nhiên Danh cho hay, Thần Phong hôm nay không đến được, thôi được, có gì chơi nấy, Danh lầm bầm, đánh đấm cái con… kẹt…
Trung đội Đa năng cuối cùng đã đến, người nào cũng mặt mày lem luốc sình bùn, được trang bị đầy đủ XM202, M72, và đầy đủ lựu đạn cay, Thiếu úy Thời, Trung đội trưởng Đa Năng, lên gặp Danh để chuẩn bị di chuyển, tôi thực sự ngỡ ngàng khi gặp Thời ở đây, thì ra là Thái Kiêm Thời cùng khoá với tôi, cái thằng cao lêu nghêu, Thiếu Sinh Quân, ngoài Vũng Tàu, chung ĐĐ15 khi còn là SVSQ bên Thủ Đức, từ ngày ra trường đến giờ mới gặp lại nhau trên chiến trường nơi góc núi đèo heo vùng Thường Đức này, tuy nhiên, vì tình hình quá cấp bách nên hai đứa chỉ cần một cái bắt tay, không hỏi thăm nhau lâu được, rồi mỗi người trở về với công việc thực tại… cuộc phối hợp tái chiếm Đồi 52 thực sự bắt đầu.
Các pháo đội bắt đầu depart ngoài Cầu Chìm và bên kia sông khá rộn rã, các ĐĐ cũng bắt đầu tiến lên chầm chậm giữa đạn pháo, địch pháo lại liên tục… vài tiếng nổ sát hầm chỉ huy làm tôi lùng bùng lỗ tai, cầm ống liên hợp trên tay chỉ huy các trung đội phía trước, Danh bảo tôi pháo lần này có hiệu quả, Thóc bên kia báo trên máy 1 con cua đã banh càng, 2 con kia vẫn đang hung hăng trực xạ… đúng lúc đó, Thọ khai hỏa trực xạ ngay trên đầu địch, tôi nghe tiếng hò reo bên máy của Danh Con, chính xác, chính xác, hai con cua còn lại đã bị gãy càng nằm chổng gọng… tôi không biết đích xác vì sao 3 con cua bị luộc, pháo ngoài Cầu Chìm, pháo trực xạ M2 của Thọ, hay từ các M72, XM202 của Thời, nhưng sao cũng được, miễn dứt điểm chúng thì OK. Trong khi đó, các trung đội của 61 xung phong phía sau làn khói cay, Bắc quân bắt đầu bỏ chạy, rút về hướng Chi khu Thường Đức, Trung đội Đa năng đang làm chủ tình hình trên đỉnh Đồi 52.
Đang lúc tình thế phấn khởi, tôi lắng nghe 207 báo tin vui trên máy thì Danh gọi tôi, bảo Thành Thái muốn nói chuyện. Ngồi trên thành giao thông hào với tay qua cầm ống liên hợp, chưa kịp nói chuyện với Thành Thái thì một tiếng nổ át tai ngay bên hông cách tôi và Danh chừng 2 mét, đất đá bay tung toé, tôi chưa kịp phản ứng thì nghe bên hông ẩm ướt bên trong làn áo, một dòng máu thấm qua áo nghe âm ấm, trong khi Danh không hề hấn gì, Danh đưa tay chỉ vào mấy lỗ lủng bên hông cạnh sườn cho hay tôi đã bị thương. Trời đất, chưa lên tới đỉnh đồi mà bị thương cái gì? Tôi sờ vào hông rồi nói với Danh, chỉ nghe ran rát bên hông, chẳng ăn thua gì đâu, tôi tiếp tục kêu Bé báo cáo về Anh Sáu là 61 đã làm chủ tình hình trên Đồi 52, tai tôi vẫn còn nghe Anh Sáu khen làm được việc… nhưng mắt tôi bắt đầu hoa lên, mắt tôi trờn trợn dường như muốn nhắm lại, tôi sờ bên hông thấy máu ra ướt đẫm xuống thắt lưng, hình như tôi ú ớ không còn nói được nữa, nhưng tai vẫn còn nghe Danh bảo Bé chuẩn bị đưa máy cho anh, rồi bảo Bé cõng tôi về phía sau cho y tá băng bó, họ khiêng tôi trên chiếc băng ca tôi dùng làm giường ngủ mỗi đêm, có lẽ, đó là [lý do] tại sao Thiếu úy Bản không dùng nó để ngủ… 2 y tá khiêng tôi băng qua bao hầm hố về bệnh viện dã chiến hành quân đàng sau hậu cần, cách đó chừng một cây số, tai tôi vẫn còn nghe vị Bác sĩ tiền tuyến của Tiểu đoàn nói bụng tôi đã bị trương lên vì bị ứ máu bên trong thành bụng, bị xuất huyết nội, cần được cấp cứu kịp thời nếu không sẽ bị tử vong… Cuộc chiến đánh chiếm Đồi 52 đã qua nhiều ngày, thương vong quá nhiều nên tình trạng thuốc men không còn đầy đủ, trong lúc cấp cứu, tôi không được gây mê để họ bơm máu đang bị ứ đọng bên trong lòng bụng, bác sĩ thọt ống bơm trực tiếp vào lỗ bị thương để bơm máu… chính chứng xuất huyết nội làm cho tôi bị á khẩu, không thể rên la mặc dù tai vẫn còn nghe họ bàn tính cách cứu chữa, văng vẳng bên tai tiếng ì đùng vẫn còn vang lại từ mặt trận… tôi không chịu nổi cơn đau nên chìm vào cơn mê…
Tôi giựt mình khi nghe gió lạnh làm run người, tiếng trực thăng quạt xành xạch bên tai, chòng chành chuẩn bị đáp xuống Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng… Chiến trường bỏ lại sau lưng, băng ca cứu thương nhanh nhẹn đưa tôi vào phòng mổ, lần này về Duy Tân thì không còn sợ chết nữa vì đầy đủ máy móc y khoa, tôi được bác sĩ rút hết số máu còn đọng lại bên trong vòm bụng một cách dễ dàng không đau thấu xương như ngoài tiền tuyến, ông cho tôi biết đã bị gãy mấy cái xương sườn, về làm việc nhẹ và sẽ tự hồi phục dần.
Khi họ chuyển tôi ra ngoài phòng hậu giải phẫu, trong lúc tôi vẫn còn mơ mơ màng màng chưa tỉnh dậy hẳn, nằm trên giường trong khu hồi phục, tôi nghĩ lại, các bác sĩ Quân Y Nhảy Dù cấp cứu thương binh dưới lằn đạn pháo địch, chỉ cách chạm tuyến không đầy 1–2km, dù hiểm nguy chực chờ nhưng họ cứu người rất thành thạo, cứu sống bao nhiêu sinh mạng, dù đến đây khi bị thương nên tôi không nhớ mặt và tên, nhưng tôi thầm cám ơn vị Trung úy Bác sĩ, Y Sĩ Trưởng của TĐ6ND đã nhanh nhẹn cứu sống tôi dù không còn thuốc mê một cách thành thạo ngoài mặt trận. Người ta thường nói, đi lính nhảy dù dễ chết, nhưng khi bị thương thì khó mà chết, đánh nhau đàng trước, bác sĩ cấp cứu phía sau…
Lúc tôi tỉnh dậy trong bộ đồ xanh thương binh, nhìn thấy nhiều người đứng lo lắng chung quanh, Ông già nuôi, Lợi, và Hoa, đứa em gái của Lợi mới tròn 16 tuổi đứng bên khóc như mưa… mặt tôi tái xanh như tàu lá, chắc là mất máu nhiều lắm, nhưng vẫn gượng cười nhìn họ và trấn an họ là tôi hoàn toàn cảm thấy khỏe hẳn, bác sĩ nói sẽ bình phục nay mai.
Thường khi ghé nhà Lợi, tôi xem Hoa chỉ là cô bé mới lớn, đáng tuổi em mình, đang học lớp 10 ngoài Trường Trung Học Ái Nghĩa, nhí nha nhí nhảnh chào hỏi tôi mỗi khi vừa đi học về. Có khi Hoa bưng nước mời tôi uống, hình như có chút e lệ, luống cuống mỗi khi đứng trước mặt tôi… nhưng sao giờ thấy cô bé đứng khóc như mưa làm lòng tôi ngài ngại, bảo Hoa đừng khóc nữa, tôi vẫn là tôi của bao ngày…
Đó là ngày Mồng 4 Tết năm Ất Mão, nhằm ngày 14 tháng 2, năm 1975. Tôi được chuyển về Bệnh Viện Đỗ Vinh hành quân ngoài Non Nước, thời gian nằm dưỡng bịnh, tôi bàng hoàng hay tin Trung úy San vừa hy sinh đâu đó trong vùng núi gần Đại Lộc, TS Bé về ghé thăm tôi cho hay xác của anh đang chờ phi cơ về SG với gia đình, được quàn ngoài phòng Chung Sự Sư Đoàn, nhưng vì còn yếu, tôi không đủ sức đi thăm anh lần cuối… Đâu cũng là số trời, lẽ ra tôi đã thay thế chỗ của anh, để anh được về Sài Gòn dưỡng quân theo chân TĐ3ND… nhưng định mệnh nào ai biết được, số mệnh ơn trên đã dành cho mỗi chúng ta, tôi giờ đây vẫn còn nằm trong bệnh viện còn anh nằm yên nghỉ ngoài phòng Chung Sự… Vĩnh biệt Đích Thân, cố Đại úy Lý San, TĐ2PBND, SQ/LL/PBND cho TĐ6ND…
Bác sĩ Cổn vào phòng thăm bịnh nhìn tôi cười, anh rất may mắn, bị thương tuy nặng nhưng mà nhẹ, nếu không cứu kịp thời thì chắc đã ra… ma rồi.
– Anh hỏi tôi: muốn về Sài Gòn không?
– Tôi cười trả lời: dạ Đích Thân…
Tôi được theo chuyến bay C130 về nghỉ dưỡng thương ở Đỗ Vinh Sài Gòn khi mặt còn xanh như tàu lá, trên chuyến bay đi chung với những xác đồng đội được đưa về cho gia đình, phía sau phi cơ là những quan tài được chồng chất lên nhau trên những pallet nực mùi tử khí… dẫu biết rằng tương lai không xa, mình cũng sẽ nằm dưới lá quốc kỳ phủ kín đời trai như các đồng đội đang nằm đó, nhưng Nhảy Dù Cố Gắng, chuyện đâu còn có đó, tôi hân hoan về dưỡng thương trước đã… khoan nghĩ đến chuyện chết sống, âu là do trời định…
Một tháng sau tôi trở lại hành quân, Lữ Đoàn III bàn giao Thường Đức cho các đơn vị TQLC, lên tàu Hải Quân trên đường xuôi nam… đâu ai biết rằng Ban Mê Thuột đang dần dần thất thủ, Khánh Dương đang chờ LĐIIIND về làm nút chận bước tiến quân như vũ bão của bộ đội miền Bắc từ hướng Ban Mê Thuột tiến về Nha Trang… và rồi ngày 30/03/1975 tôi lại lặng người khi nghe trên tần số Thiếu úy Thái Kiêm Thời đã bị thương, được di tản ra nằm trong bóng râm trên Quốc Lộ 21 bên cạnh Buôn Ê–Thi… khi những chiếc xe tăng T54 ung dung phá tan phòng tuyến của TĐ5ND đang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, chúng cày nát những thương binh nằm trong bóng mát chờ tản thương… trong khi tôi đang di quân cách đó non cây số… Vĩnh biệt Cố Trung úy Thái Kiêm Thời, người bạn cùng khoá của tôi, làm sao tôi có thể nhìn anh lần cuối, khi LĐIIIND đang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và không được tiếp tế, làm sao còn đủ sức để ngăn đoàn xe tăng đang cày nát thân xác anh… Mẹ và vợ anh bồng con thơ đến tìm tôi tận mặt, để biết đích xác trước tin anh ngã gục trên chiến trường Khánh Dương… chỉ đúng 1 tháng nữa thôi là ngày định mệnh 30/04/1975.
Bản đồ đồi 1062 và đồi 52.
Cù Lũ Nhí, Châu Nhái
Ghi chú Cửu Long: Cù Lũ Nhí, Châu Nhái cùng khoá 9/72 Thủ Đức với tôi, tên thật là Đoàn Văn Châu. Châu Nhái đã từ giã cõi trần ngày 18 tháng 12, 2019 tại Anaheim, CA hưởng thọ 66 tuổi.
Nói về cuộc sống ở Mỹ của những người Việt Tỵ Nạn mà không nhắc đến những cuộc hành trình gian nguy của họ để rời nơi cố hương thì quả là một thiếu sót? Riêng với tôi, chuyến vượt biên đẫm máu tôi đã từng trải qua sẽ còn mãi ám ảnh tôi cho đến hết những ngày tháng còn lại của mình.
Đó là lần đầu tiên tôi được đặt chân xuống tàu để mong rời khỏi quê hương đầy hận thù ! Đó là những ngày cuối năm, sau khi được người thân ở Mỹ gửi về cho ít tiền viện trợ, má tôi đã lo cho tôi đi vượt biên… Người ta dặn má tôi về nói tôi hãy chờ, khi họ cho người xuống kêu là đi ngay. Ngày ngày, tôi vẫn đi rừng đốn cây như thường lệ trong khi chờ đợi những thay đổi quan trọng sắp đến cho mình.
Đúng như tôi đã lường trước, khi đứa em trai út vào rừng báo cho tôi biết chuyến đi lúc trời đã tối hẳn rồi, đám thợ rừng chúng tôi vừa dựng được cái sàn gỗ mới cưa xong để chuẩn bị làm chỗ ngủ. Tôi vội vàng vừa đi vừa chạy về nhà với đủ thứ âu lo hồi hộp. Sáng sớm hôm sau, tôi đón chuyến xe đò đầu tiên chạy về Saigon, để rồi từ đó đón xe đi Bà Rịa.
Nhớ lời dặn, để tránh sự theo dõi của du kích và công an, tôi đã thận trọng xuống xe ở cách địa điểm “tập kết” của chuyến đi chừng một cây số để đi bộ đến đó. Đêm đầu tiên tôi ngủ trong nhà bà chị cùng đi trong chuyến vượt biên đó, rồi đêm sau tôi được chuyển tới địa điểm ẩn náu khác mà dân ở đó gọi là “nơi nhốt gà”. Phía trước nơi này cũng chỉ là một mái nhà tranh bình thường như mọi ngôi nhà khác, nhưng phía sau có một gian nhà tranh khác được dựng tường kín đáo hơn.
Đi theo người dẫn đường vào bên trong, tôi thấy đã có hơn 50 người khác đang chờ đợi chuyến đi như tôi. Đến đây, tôi bắt đầu sống giữa những tiếng thì thầm, những lời bàn luận; cùng những hy vọng và âu lo do từ những bàn luận của họ. Ngày hôm sau, tôi có dịp làm quen và chia sẻ những quá khứ điêu linh cùng những kinh nghiệm vượt biên và tù đày của họ.
Chúng tôi được chủ nhà cho ăn trưa và ăn tối tại chỗ. Ngay sau bữa tối, họ dắt từng tốp đi ra ngõ sau vườn rồi băng qua những đám ruộng hoang cỏ mọc lộn xọn để đến “bãi”! Trời tối đen như mực nên chúng tôi phải đi sát vào nhau cho khỏi bị lạc và để cho đỡ sợ. Không phải chúng tôi sợ bóng tối mà là sợ những bất trắc bị VC phát giác trên đường đi ra bãi.
Vì là dân rừng, tôi đã giúp nhiều người vượt qua các khe suối, những vũng lầy; và dần dần tôi vượt qua hầu hết đoàn người để nhập vào toán dẫn đầu. Khi người ta đi chậm dần và đứng lại, tôi nhìn thấy đám người vượt biên đến “tập kết” ở bãi đông như cái sân nhà thờ vào ngày lễ chủ nhật, lúc đó tôi có thể thấy lập lờ chiếc tàu vượt biên của chúng tôi đang chập chờn dưới bóng đêm ở ngay con lạch trước mặt.
Thành tàu khá cao nên nhiều người không tự leo lên nổi; tuy nhiên khi tới phiên tôi, chỉ cần vươn hai tay đu lên thành tàu và búng mạnh hai chân một cái là cả thân hình tôi đã hoàn toàn ở trên boong tàu rồi. Vừa lên tới đó, tôi đã bị người ta lùa ngay xuống hầm tàu.
Cửa hầm tàu là một lỗ vuông tối om nằm ở phía gần mũi tàu, chỉ vừa một người chui xuống. Đúng ra đó chỉ là cái ham đựng cá. Bên ngoài dù trời tối nhưng tôi còn có thể nhìn thấy những người gần mình; trái lại sau khi bị dồn xuống hầm cá, hoàn toàn không nhìn thấy gì nữa, ngoại trừ cái ô vuông ở miệng hầm. Tôi không thể biết cái hình dáng hay kích thước phía trong của nó như thế nào, mà chỉ cảm giác được chỗ ngồi bằng 2 tay của mình thôi! Họ lùa người xuống sau dồn người xuống trước tiến sâu hơn nữa vào phía cuối hầm tàu, vừa đi vừa mò mẫm. Tôi bắt đầu cảm thấy lo sợ, lỡ tàu chìm thì làm sao mình thoát ra ngoài được đây? Vì thế tôi chùn bước không dám tiến sâu vào hướng tối đó, mà nép người sang một bên ở gần ô vuông cửa hầm, nhường chỗ cho những người xuống sau theo nhau mà bước sâu vào phía trong. Không nhìn thấy gì nữa; nhưng qua cảm giác với những tiếng nói và tiếng động sột soạt, tôi biết là người ta đang lũ lượt nhảy xuống! Những âm thanh đó kéo dài chừng gần một tiếng, có lẽ mọi người đã được dồn hết vào “chiếc quan tài” trôi nổi đó rồi thì có giọng ra lệnh cho tàu nổ máy chạy. Khi tàu vừa chạy, lại có giọng nói lớn “bây giờ anh em nào công giáo, mình đọc kinh đi”; và tàu vẫn cứ đều đều chạy.
Tiếng kinh râm ran hòa nhịp với tiếng máy tàu làm tâm hồn tôi cảm thấy yên ổn hơn một chút. Nhưng chợt có giọng nói khác trên tàu ra lệnh “Tất cả im lặng. Gần đến trạm công an!” 1 Tiếng máy lúc đó cũng trở lên nhẹ nhàng hơn, làm như nó đang thận trọng trước những hiểm nguy đang rình chờ…
Có tiếng trẻ thơ khóc trong tàu làm mọi người lo lắng; một vài tiếng người thì thầm phản đối. Có tiếng nói “bóp mũi nó lại không cho nó khóc nữa!” Rồi bỗng có tiếng ra lệnh “cho máy dzọt lẹ lên, chạy hết ga đi!”
Trong khoảnh khắc sau đó, tôi nghe tiếng súng nổ; thế là rồi. Tôi phải ngồi nghiến răng, ghì mạnh hai tay vào ván tàu đã nghe tiếng súng! Tàu đang chạy hết tốc lực, có lúc tiếng súng xa dần để nhường chỗ cho những hy vọng trở lại… Tiếng súng nghe xa, nhưng vẫn tiếp tục nổ. Căng thẳng! Chúng tôi đặt hy vọng vào người tài công đang điều khiển chiếc tàu, và dồn những hy vọng khác vào động cơ tàu để mong đẩy chiếc tàu vọt nhanh hơn cho mau thoát khỏi chốn nguy nan!
Những giây phút căng thẳng này là những khoảnh khắc tranh chấp giữa sống và chết, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa may mắn và ngục tù; giữa đấu tranh chịu đựng và những chọn lựa ! Đây chính là giai đoạn khó nhất mà chúng tôi phải trải qua để tìm được tự do Hàng trăm người trên tàu, nhưng không ai dám nói chuyện và cựa quậy; mọi người đều tập trung một ý nghĩ mong sao chiếc tàu lướt nhanh hơn và êm hơn để thắng lươt những giờ phút nguy kịch đó!
Đột nhiên, có những tiếng súng nổ chát chúa gần bên tàu. Tôi cảm thấy chiếc tàu bẻ cua sang tay trái và chạy sượt vào mé bờ. Có nhiều tiếng kêu trời ơi cứu tôi! Chiếc tàu chỉ lệch sang một bên nhưng chưa chìm, nó gượng lại thăng bằng và tiếp tục chạy giữa tiếng súng nổ liên hồi. Trong bóng tối, tôi nghiến răng ghì mạnh tay vào ván tàu để nỗi lo sợ của mình không buột ra khỏi miệng, như một số người khác. Có tiếng nói trong tàu bảo tài công ngừng lại, nhưng có tiếng nói khác ra lệnh cứ tiếp tục chạy.
Đạn đã bắn xuyên nhiều vào trong tàu, nhiều tiếng rên la bên trong nhưng lúc đó tôi chỉ chú ý lắng nghe tiếng đạn bay xeo xéo sượt vào thành tàu! Rồi tôi nghe tiếng chiếc tàu khác gạt vào mũi tàu tôi làm nó bị lệch hướng đâm xập vào bờ! Con tàu chênh vênh một lần nữa tưởng như muốn bị lật úp; Nhiều người giành nhau chui ra cái lỗ ô vuông cửa hầm tàu ngay phía gần đầu tôi. Có khi hai ba người giành nhau chui ra một lúc làm cho những người muốn thoát ra mất thì giờ hơn. Nhìn qua ô vuông đó, tôi thấy những ánh đèn pha sáng chói bên ngoài.
Tôi không giành chui ra với họ là vì còn nuối tiếc chiếc tàu. Đến khi trống trải không còn ai dám chui ra nữa thì tôi lại lo sợ, tại sao mình lại ngồi trong đó để cho tàu chìm mà chờ chết ; và tôi liền quyết định chui lên!
Vừa chui lên, tôi đã bị chói mất bởi ánh đèn pha từ phía chiếc tàu VC; Sau này vào tù thì tôi mới biết được rằng đó chính là chiếc tàu của những người tù chung với tôi, họ bị bắt trong chuyến vượt biên trước chúng tôi. Công an VC đứng dàn hàng ngang trên boong tàu đó, họ đang nhắm bắn từng người đang bơi dưới con lạch nhỏ như những thợ săn nhắm bắn những chiếc gáo dừa đang trôi lềnh bềnh dưới nước!
Vừa chui từ dưới hầm cá lên khỏi cái lỗ ô vuông, tôi giơ hai tay lên đầu hàng. Một tên công an nó hỏi tôi hai, ba câu; sau đó chúng chú ý nhắm bắn những “chiếc gáo dừa” kia, nên đột nhiên tôi quyết định nhảy trở lại xuống hầm tàu! Sáng hôm sau, ngay chỗ cửa hầm tàu là xác chết của một đứa cháu họ của tôi, nó bị bắn bể thái dương và rớt trở lại xuống dưới!
Sau khi hoàn toàn làm chủ tình hình, không còn ai dám nhảy xuống nước bỏ trốn nữa, công an VC vẫn để những đèn pha chỉa vào chung quanh chiếc tàu và cho phép một số chúng tôi leo lên boong nằm đợi lệnh. Nằm trên boong và dưới ánh neon pha, tôi nhìn thấy xác chết của người thợ máy chiếc tàu chúng tôi nổi lềnh bềnh cạnh đó. Suốt đêm, lẫn trong tiếng vi vu của gió biển là những tiếng rên la não nề của những người bị thương nằm dưới hầm tàu.
Đến sáng thì những người ba con của tôi đi kiểm điểm người thân trên tàu, thấy mất một số, có thể họ đã nhảy xuống nước bơi và trốn được rồi. Nhưng lại có người không biết bơi mà tìm mãi vẫn không thấy họ; Có người cho biết ở cái sàn phía sau máy tàu có ba, bốn người bị bắn chết nằm chồng lên nhau. Tôi vội vã ra đó kiểm chứng kỹ xem có người thân nào của tôi không.
Lần này tôi mới chú ý nhìn mặt những xác chết, ….đúng rồi, nó chết rồi! Nó bị bắn vỡ một góc đầu ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, dựa lên xác của một thanh niên khác cũng bị trúng đạn ngay tai. Còn một xác chết nữa ngay cạnh đó bị bắn trong tư thế quỳ chổng mông lên trời trông như một trái núi, đầu cúi khom xuống sát sàn gỗ, có lẽ để núp đạn; nhưng tôi cũng thấy một đường máu khô trên sàn tàu chảy ra từ phía đầu của nạn nhân. Cả ba xác đó đều mở trợn trừng mắt… nhìn tôi? Thế là đã có hai người thân của tôi chết trong chuyến đi này! Còn hai xác khác bên trong tàu là một ông già bị đạn bắn nát ngực, và xác đứa bé khóc lúc tàu chạy gần trạm công an. Không biết nó bị người ta xô lấn hay bị bóp mũi cho chết lúc nó đang khóc!
Mãi tới chừng 10 giờ sáng hôm sau, công an mới đem một chiếc tàu khác đến chở những người bị thương đi. Có người trong tàu đứng ra quyên tiền và vàng để đút cho công an. Sau khi mang số vàng bạc sang nộp cho công an, mọi người đều hy vọng chờ đợi; nhưng chờ hoài cũng chẳng có gì.
Mãi tới lúc chiều tối, có chiếc tàu công an khác chạy tới, bọn chúng lùa tất cả mọi người lên tàu này chở vào nhà tù. Một số người là thân nhân của những nạn nhân bị chết, bọn công an “cho” ở lại để dọn xác những người chết xuống bãi, người ta hy vọng sẽ được thả . Tôi ở trong nhóm khoảng 10 thanh niên được ở lại đó, đến chiều gần tối mới có một tên công an cấp lớn hơn đến giải quyết với chúng tôi. Đầu tiên hắn hăm dọa chúng tôi, dí họng súng K54 vào đầu từng người để khám xét. Ông chú họ của tôi bị hắn hăm dọa dữ quá đã phải chắp tay lạy hắn! Sau đó hắn ra lệnh chúng tôi phải khiêng các xác người chết trên tàu xuống.
Hắn ra lệnh và bắt chúng tôi phải làm thật nhanh. Tôi rất sợ xác chết và sợ máu nên đi sau cùng và phải đứng dưới nước để đỡ những xác chết được chuyền xuống. Lúc này chiếc tàu không còn người nữa nên nó nổi rất cao, tôi phải giơ thẳng hai tay lên mới đỡ tới những xác chết chuyền trên boong xuống. Thấy tôi nhút nhát, tên công an VC để ngón tay trỏ vào cò súng và dí mạnh họng súng K54 vào gáy tôi bắt phải làm việc cho nhanh.
Khi những xác chết được lần lượt chuyền xuống, máu và óc của những nạn nhân đó đã chảy đầy xuống đầu, mặt và toàn thân tôi. Lúc đó tôi quên cả cảm giác với máu và óc vì cái cảm giác lạnh và cứng của họng súng K54 sau gáy nó chi phối hết nỗi sợ hãi của mình, không may tên VC đó lỡ tay thì trong khoảnh khắc cái mạng của tôi cũng sẽ tương tự như các nạn nhân kia thôi! Sau khi làm xong việc chuyển xác, tên công an bắt chúng tôi rửa sạch những vết máu trên tàu. Rồi hắn đưa chúng tôi lên tàu nhỏ của hắn cho đồng bọn chở về bãi Lam Sơn ở gần Bà Rịa. Vì tên công an VC này sợ chúng tôi chạy trốn nên đã bắt chúng tôi di chuyển bằng cách bò từ đó qua xóm nhà dân, qua chợ Lam Sơn ra tới đường lộ. Hắn dồn chúng tôi lên một xe lam chở về nhập chung với nhóm người bị giải đi trước tại trạm Gò Dầu. Từ đây, sau khi VC lột hết vàng bạc của mọi người, chúng dùng xe công an chở thẳng chúng tôi vào trại giam B5 ở Biên Hòa. Giữa đêm hàng trăm người chúng tôi đã bị nhét chung vào một chiếc phòng chỉ bằng phòng ngủ master room của một gia đình ở Mỹ. Tôi đã phải ngồi khít giữa khối người chen chúc và ngủ thiếp đi vì mệt mỏi và tuyệt vọng.
Sáng hôm sau tới giờ làm việc bọn công an VC lại bắt đầu một màn điều tra, khám xét nữa. Chúng hỏi cung, làm hồ sơ lý lịch, rồi từng người chúng tôi phải cởi hết quần áo đưa cho chúng khám xét. Rồi lần lượt mỗi người phải đi ngang chiếc bàn và hả miệng ra cho tên công an VC kiểm kê mấy chiếc răng vàng hoặc “khâu” vàng nào giấu trong miệng? Phòng bên cạnh là một công an khác chuyên “điều trị” lỗ đít. Từng người phải đến đó, chổng đít lên gần mặt nó và banh lớn lỗ đít ra cho nó kiếm vàng bên trong chỗ đó!
Sau đủ thứ thủ tục kỳ dị ấy, mọi đồ đạc đều bị cướp hết. Mọi người được đưa vào một khu vực có tường dầy cao và hàng rào kẽm gai phía trên, cùng những chòi canh trên cao ở bốn góc. Vào trong khu này tôi nghe thấy tiếng rì rào như những đàn ong đang bay. Đến khi được đưa lại gần các căn phòng phát ra những âm thanh đó thì mới biết đó là nơi cư trú mới của tôi. Từng phòng nhìn vào tối om, có cánh cửa sắt và hàng chấn song sắt lớn. Nhìn mãi tôi mới nhận ra một số người ở trần, mặc xà lỏn và đầu trọc lóc đang đứng gần song sắt nhìn chúng tôi, trông họ ốm nhom như lũ khỉ.
Khoảng 5 phút sau, tên quản giáo đến mở khóa đưa chúng tôi vào nơi cư trú mới, nhập bọn với “lũ khỉ” bên trong! Vì quá tối nên phải đứng chớp mắt một lúc tôi mới nhìn rõ hết được căn phòng. Cả một xã hội mới, chẳng bao lâu chính tôi cũng trở nên y hệt “lũ khỉ” đó; nhưng sau một thời gian tôi cảm thấy cái xã hội trong đó còn có tình nghĩa hơn xã hội bên ngoài ma tôi đã sống!
Nhiều năm đã qua. Sau cùng, tôi cũng đã tới được xứ sở tự do, nhưng mãi mãi, chuyến vượt biên đẫm máu ấy còn ám ảnh tôi.
Như đã nói, nhiều vị có nói là phải quên quá khứ. Riêng tôi, quá khứ của tôi tuy không đẹp nhưng tôi không có gì mặc cảm với những gì tôi đã kinh qua. Nó là những bài học quý giá cho chính tôi về con người và nhất là về xã hội nơi cố hương tôi đã từng sống.
Quá khứ đó cũng là những kinh nghiệm xương máu, mồ hôi và nước mắt; và bằng chính mạng sống của những nạn nhân đã cùng cảnh ngộ như chúng tôi khi còn ở đó. Những hy sinh của họ đã xúc động lương tâm thế giới để chúng ta được cơ hội đến đây tỵ nạn và xây dựng cuộc sống mới hôm nay… Cuộc sống của chúng ta hôm nay, há chẳng phải được xây dựng trên nền tảng quá khứ thương đau đó sao?
Buổi sáng bột mì luộc, buổi trưa hai chén cơm, buổi chiều hai chén cơm, đó là những suất ăn đặc biệt của ba ngày Tết mà Cách mạng dành cho các anh.
Người cán bộ Cộng sản có gương mặt khắc khổ với những vết nhăn hằn sâu trên trán, áo quần chỉnh tề đứng trên bục gỗ dõng dạc nói, giọng nói của ông ta tràn đầy sức mạnh vang khắp cả hội trường. Trước mặt ông là hàng ngàn tù nhân cải tạo, áo quần lôi thôi nhếch nhác, thân thể gầy còm, ngồi ngay hàng thẳng lối dưới đất. Tất cả đều im lặng như đang lắng nghe.
Sau lưng vị cán bộ, ba người quản giáo thoải mái ngồi trên một cái băng ghế dài. Một người trong bọn bỗng đứng lên, ông ta từ tốn đi tới bên cạnh người cán bộ rồi tiếp lời.
-Để phát huy “truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta”, ngoài việc đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, đưa Việt Nam tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, Đảng và nhà nước ta còn hết lòng chăm lo cho đời sống của các anh. Tết Bính Thìn năm nay ngoài phần ăn do cán bộ Bình vừa thông báo, tôi xin bổ sung thêm, tất cả các anh mỗi người sẽ được nhận một cái bánh chưng.
Vừa dứt câu nói, người cán bộ đưa tay về phía những người tù cải tạo đang ngồi dưới đất.
-Đề nghị các anh, chúng ta cùng vỗ tay ăn mừng.
Tôi đưa hai tay tới trước mặt vỗ mạnh vào nhau, cùng lúc ấy tôi nghe được âm thanh của hàng ngàn tiếng vỗ tay vang lên như sấm động khắp cả hội trường. Tôi biết chắc một điều, vỗ tay theo sự hướng dẫn là căn bệnh truyền nhiễm của người Cộng sản, bệnh này được phát hiện lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, khi ông Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn mà ông ta cho là Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế Việt Nam có độc lập hay nô lệ Cộng sản, chuyện đó còn phải chờ sự phán xét cuối cùng của lịch sử.
Đợi cho đến lúc tiếng ồn tạm lắng xuống, người cán bộ mới thong thả nói.
-Tôi cũng xin thông báo thêm, các anh đừng vội nghĩ đến cái bánh chưng truyền thống thường thấy bày bán ngoài chợ, hay cái bánh cúng trên bàn thờ trong những ngày Tết. Cách mạng hãy còn nghèo, chỉ có thể phát cho các anh cái bánh chưng to bằng cái bánh Trung thu mà thôi. Tuy vậy, ít nhiều nó cũng nói lên được lòng ưu ái mà Cách mạng dành cho các anh. Tôi thầm nghĩ, chỉ nghĩ trong đầu thôi chứ không dám nói ra. Ngày Tết cho tù cái bánh nếp nho nhỏ, thêm nửa chén cơm mà chén cơm trong tù chỉ được xới ngang mặt, dùng chiếc đũa gạt ngang, chỉ cho phép vài hột cơm dính vào đũa mà thôi. Chuyện chẳng có gì mà mấy ông Việt cộng này cũng cố ghép thêm mấy chữ “Truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta” vào mới chịu.
Melbourne Ngày Quân Lực 19 Sep 2018
Tuy biết vậy nhưng tất cả tù cải tạo đều im lặng nghe cán bộ nói chuyện. Nếu ai không muốn nghe thì chịu khó vô thùng sắt nằm, nhốt thùng sắt là hình phạt dành cho tù cải tạo vi phạm nội quy của trại, bất cứ tội gì dù nặng hay nhẹ cũng bị nhốt vào đó. Riêng cái tội trốn trại, sẽ bị lính gác bắn chết ngay lập tức. Mấy tháng trước đây, khi hàng rào vỉ sắt PSP chưa được dựng lên, một anh bạn tù lợi dụng đêm tối chui hàng rào kẽm gai trốn trại, đã bị bắn chết ngay tại chỗ. Xác của anh lỗ chỗ vết đạn với máu khô bám đầy bộ quần áo nhàu nát, nằm úp mặt xuống đất, giữa mấy lớp hàng rào kẽm gai cho đến trưa. Tôi nghĩ rằng, Việt cộng cố tình để xác chết nằm đó như một lời cảnh cáo, răn đe, những ai có ý định trốn trại.
Trên bục gỗ, giọng nói của cán bộ lại oang oang cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi .
-Còn nữa để mừng Tết Bính Thìn, một cái Tết lịch sử đánh dấu năm đầu tiên mà nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, dưới sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tết năm nay các anh sẽ được uống la de, do nhà máy La Ve quốc doanh Sài Gòn giải phóng sản xuất. Hai người một chai.
Tôi nhìn những người ngồi quanh như ngầm hỏi. “ Cho tù uống la de ” chuyện này quả là có hơi khác thường. Từ sau ngày cơn bão 30 tháng 4 đổ ập xuống Miền Nam , khi vị Tổng Thống mới nhậm chức được hai ngày, lên Đài phát thanh kêu gọi lính Ngụy buông súng đầu hàng. Quân nhân các cấp thuộc đủ mọi quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đành phải tuân lệnh, vất súng đầu hàng Cộng sản Bắc Việt. Đầu hàng trong đau đớn uất hận, trong hờn căm tủi nhục. Hơn một tháng sau, phe chiến thắng kêu gọi sĩ quan Ngụy đi học tập cải tạo, đem theo mười ngày ăn. Mười ngày học tập đâu không thấy, chỉ thấy hơn sáu tháng trôi qua, sĩ quan Ngụy bị Việt cộng nhốt trong tù mà không một lời giải thích. Tù nhân trong trại cải tạo là những người đói ăn triền miên, mơ ước của họ là có được chén cơm đầy, không phải ăn độn, vậy mà Việt cộng lại cho họ uống la de.
Người cán bộ nhìn những gương mặt ngơ ngác của tù nhân, ông ta vội nói.
-Ngoài Bắc chúng tôi gọi là bia, trong Nam các anh gọi là la de, đúng không?
Có nhiều tiếng trả lời.
-Đúng, la de con cọp.
Tôi ngồi đó bên góc phải của hội trường, không muốn phải căng tai nghe Việt cộng nói. Cộng sản Bắc Việt đem quân lính với xe tăng đại pháo vô Nam đánh phá, cướp sạch của cải của người dân Miền Nam , lừa gạt gom sĩ quan Ngụy vô tù. Ngày Tết cho tù nhân cái bánh chưng nho nhỏ, cho nửa chai la de, chuyện chỉ có vậy mà phải tốn vài tiếng đồng hồ để giảng giải, đả thông tư tưởng của sĩ quan Ngụy. Tôi không có dư thì giờ ngồi nghe mấy ông Việt cộng đọc chưa thông, viết chưa thạo, nói tầm phào nếu không về chủ nghĩa Mác Lê, thì cũng chỉ chuyện Cách mạng chăm lo cho tù có hai chén cơm, trong mỗi bữa ăn của ba ngày Tết. Tôi cũng không muốn bị đem đi nhốt trong thùng sắt. Việc của tôi là để cái xác của mình ngồi đó rồi nhắm mắt thả hồn đi lang thang. Bắt đầu từ chuyện vợ tôi và đứa con sắp sinh, không biết là trai hay gái đang sống ở Đà Lạt, ngày đêm mong ngóng chờ tôi trở về, rồi đến cuộc sống cơ cực, đói khổ triền miên trong tù. Với bọn tù cải tạo chúng tôi, cái ăn được đặt lên hàng đầu bởi vì chuyện thiếu ăn, đói lạnh, lúc nào cũng bám sát lấy tù nhân như hình với bóng, không thể tách rời. Một lát sắn khô, một chút bột mì vụn nơi đáy nồi, vài hột cơm còn sót lại nơi vành chén, tất cả đều được tù nhân chiếu cố tận tình.
Tôi đã từng chứng kiến cái cảnh trong lúc chia cơm, vì sơ ý có mấy hột rơi xuống tấm vỉ sắt PSP, anh bạn tù dù đang bận tay vẫn cẩn thận cúi đầu nhặt cơm lên, thổi nhè nhẹ như muốn bụi bám vào cơm bay đi, sau đó anh ta chậm rãi bỏ hột cơm vào thau. Việc làm của anh ta, khiến tôi phải suy nghĩ nhiều về giá trị của chén cơm trong tù. Ở trong tù, tuy không có chuyện tranh giành cơm nước, vì tư cách của một sĩ quan không cho phép họ làm như vậy. Tuy nhiên tất cả mọi người đều ngầm hiểu rằng “Cơm và thức ăn, phải được phân chia sao cho thật đồng đều.”
Tổ 37 của tôi cũng như mọi tổ khác trong khối 5 Đà Lạt, được chia làm hai bán tổ là bán tổ một và bán tổ hai. Mỗi bán tổ gồm có tám người, ngủ chung một phòng, ăn cơm chung với nhau. Đến giờ cơm, khi nghe tiếng kẻng vang lên, người đại diện của bán tổ sẽ đến nhà bếp lãnh phần cơm của bán tổ mình. Trong tuần có khoảng hai ngày sẽ được nhận thêm tô canh, trong đó không cần nhìn hay đếm cũng biết là có tám miếng bí đỏ to bằng ngón tay cái. Ngày này qua tháng nọ, chỉ có duy nhất một loại canh bí đỏ mà thôi. Sở dĩ tù nhân chỉ được ăn canh bí, vì bí đỏ rẻ tiền và nhà bếp của khối có thể cất giữ lâu ngày mà không sợ bị hư thối.
Riêng về việc chia cơm, công việc có hơi khó khăn, tổ trưởng loay hoay hoài không biết làm sao cho việc phân chia được đồng đều, để mọi người vui vẻ nhận phần cơm của mình. Vì muốn giải quyết vấn đề, một người trong tổ có sáng kiến, khi đi làm lao động, anh ta lượm một miếng tôn nhỏ đã han rỉ vất đâu đó trong đống rác, sau khi chùi rửa sạch sẽ anh đục, cắt, ráp nối thành hình một cái hoa Thị có tám cánh. Với dụng cụ này, anh tổ trưởng chỉ có việc đặt miếng sắt vào thau cơm, đè mạnh xuống, cơm trong thau sẽ được cắt thành tám phần đều nhau, giống như tám miếng phô mai con bò cười của Pháp, mỗi người lãnh một phần. Mọi người đều coi cách chia cơm như vậy là công bình, hợp lý, tuy nó không được đẹp mắt cho lắm.
Khác với mọi người, tôi có lối suy nghĩ của tôi, cơm tuy được chia đồng đều nhưng thân thể và sức nặng của con người thì không bằng nhau. Bằng cớ là trong trại có nhiều người chỉ cân nặng khoảng bốn mươi lăm kí, cạnh đó lại có nhiều người nặng khoảng sáu, bảy chục kí. Phân chia như vậy, quá tội cho những người vai u thịt bắp, thân thể to lớn.
Tôi để ý, tổ 38 bên cạnh tổ của tôi có một nhóm gồm ba người, họ cao khoảng một mét tám, nặng dám tới bảy chục kí lô như không. Một chén rưỡi cơm cho một bữa ăn, chẳng thấm tháp gì cho cái thân thể to lớn cần nhiều năng lượng để nuôi sống họ. Ăn uống thiếu thốn một vài ngày, vài tuần thì không sao, thế nhưng đói ăn liên miên hàng sáu bảy tháng rồi, trông họ giống như những người Do Thái ốm đói trong trại tập trung hủy diệt Auschwitz ở Ba Lan, do Đức Quốc Xã dựng lên vào năm 1940. Để sống còn, ba ông lực sĩ của tổ 38 bằng mọi giá phải tìm thêm thực phẩm, tìm thêm thức ăn phụ trội cho cái bao tử lép xẹp của họ. Bị nhốt trong tù, vây quanh kín mít bởi bốn bức tường vỉ sắt PSP cao ba mét, mùa nắng đất cát khô cằn nứt nẻ, đến nỗi cỏ dại cũng khó mà sống sót thì làm sao có rau xanh mà ăn. Con đường sống duy nhất của ba ông lực sĩ, là tình nguyện xin đi lao động bên ngoài trại như đốn củi, kéo xe. Tuy phải làm những việc lao động nặng nhọc như vậy, nhưng bù lại họ có thể nhặt nhạnh bất cứ loại rau dại, lá rừng, có thể ăn được đem về trại. Tối đến sau bữa cơm chiều, sau giờ họp tổ, trong cái ánh sáng mờ mờ của trăng sao trên bầu trời Sông Mao, ba người cùng nhau nấu một nồi lá to như cái nồi nấu nước xông khi bị cảm, trong đó gồm đủ loại lá rừng mà con người có thể ăn được, miễn sao không chết là tốt rồi. Phải ăn để mà sống còn,chờ ngày trở về, và họ đã sống oai hùng không một tiếng than van, không một lời oán trách.
Ngoài chuyện đói ăn, tù nhân còn phải đương đầu với cái nạn thiếu mặc. Vì cái thông cáo tráo trở, đi học tập mười ngày, cho nên sĩ quan Ngụy chỉ đem theo hai hoặc nhiều lắm là ba bộ quần áo. Sáu, bảy tháng rồi chỉ một bộ đồ dãi nắng dầm mưa, quần áo đã bắt đầu sờn rách. Để giải quyết vấn đề, tù nhân khi đi làm lao động thường đào bới những lô cốt, hầm chống pháo kích của lính mình ngày xưa tìm vải bao cát, đem về may thành quần áo để bận thay đổi.
Hình ảnh của một người tù khi đi làm lao động, đầu đội một cái nón rộng vành may bằng vải bao cát rách bươm như xơ mướp, vai khoác một chiếc áo sơ mi đã bắt đầu mục với nhiều miếng vá. Họ bận một cái quần cụt cũng được may bằng vải bao cát, để lòi ra hai cái ống chân đen đúa, gầy ốm khẳng khiu. Cuối cùng dưới chân là một đôi guốc gỗ được tù nhân tự làm lấy.Tù cải tạo lúc đi lao động, khi làm gần những doanh trại mà người Mỹ lúc rút khỏi Việt Nam, bàn giao cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau năm 1975 những doanh trại này bị bỏ hoang, tôn lợp mái nhà đã bị tháo gỡ chỉ còn trơ lại cái sườn nhà làm bằng gỗ thông. Tù nhân lấy những thanh gỗ này đẻo thành đôi guốc, quai guốc được làm bằng vải bao sẻng của lính Mỹ vứt đầy trong những đống rác của doanh trại. Để tránh cho đôi guốc khỏi bị mòn quá mau do nhu cầu di chuyển khá nhiều, tù nhân tìm mấy miếng cao su ruột xe hơi, cắt nhỏ, đóng vào đáy đôi guốc. Một đôi guốc được chế biến xong, tuy hình dáng của nó xấu xí giống như cục gạch nhưng rất bền, có thể dùng được cả năm. Người dân sống quanh khu Chợ Lầu Sông Mao, khi gặp một nhóm người, thân thể ốm đói, mặc áo quần may bằng vải bao cát, chân đi guốc gỗ đế cao su, họ biết chắc rằng đó là tù cải tạo của Tổng trại 8 tù binh. Và tôi cho rằng, nó cũng có thể là hình ảnh của mọi tù nhân cải tạo trên khắp nước Việt Nam thời bấy giờ.
Tôi có vóc dáng của một người Việt Nam cao trung bình, nặng hơn năm chục kí lô một chút. Một chén rưỡi cơm do trại cấp phát cho mỗi bữa ăn, tuy không đủ năng lượng cần thiết để nuôi cơ thể, nhưng cái đói không làm cho tôi quay quắt, cuống cuồng, lo tìm thức ăn thêm như những anh bạn lực sĩ của tổ 38. Vào kỳ thăm nuôi vừa qua, vợ tôi đã tiếp tế cho tôi khá nhiều thực phẩm cũng như tiền bạc. Thỉnh thoảng trong bữa ăn, tôi thường giặm thêm chút thịt ruốc kho sả hoặc miếng cá khô to bằng ngón tay út. Khi ăn tôi vẫn thường kín đáo giấu mọi người, vì tôi không muốn những bạn tù không được thăm nuôi nhai cơm trắng với nước muối, phải nhịn thèm khi ngửi mùi ruốc sả thơm lừng thoảng trong không khí, hoặc liếc nhìn miếng cá khô với đôi mắt thèm thuồng. Chút cá khô, chút ruốc sả, không cung cấp đủ năng lượng cần thiết cho cơ thể nên khoảng dăm ba ngày, vào buổi tối sau giờ họp tổ, tôi và Trung úy Lợi dùng cái lon gô nấu chút chè đậu xanh, sau đó bưng lon chè còn nóng hổi ra sân sau của nhà bếp. Trong bóng đêm mù mờ, hai thằng vừa thổi vừa ăn, nhai húp xì xụp. Bụng tuy còn đói, miệng vẫn còn thòm thèm, tôi vẫn không quên để dành chừng nửa chén chè đựng trong lon gô, xách qua cho Long công tử. Tôi cũng xin nói thêm là ở trong tù, lon gô thường được tù nhân đục hai cái lỗ nơi miệng lon, sau đó họ dùng một cọng kẽm gai móc vào đó, làm thành quai cho dễ xách khi nấu nướng.
Khi đi ngang qua tổ 38, tôi thấy ba anh bạn lực sĩ đang ngồi quanh một cái nồi to bự với đũa chén trên tay. Tôi biết những thứ gì trong đó rồi. Tất cả năng lượng của lá rừng trong cái nồi ấy, không thể nào sánh bằng chút chè đậu trong cái lon gô mà tôi đang có trên tay.
Tôi xin lập lại, tôi là người quá sức may mắn được vợ của tôi tiếp tế đầy đủ thức ăn và tiền bạc. Nếu không, tôi cũng sẽ chịu cảnh đói khổ như mấy ông bạn lực sĩ ở tổ 38, bên cạnh tổ của tôi mà thôi. Tôi biết một trong ba người là Sơn mập, học ngang lớp với tôi, tôi đệ nhất B2 ban toán, sinh ngữ chính là Anh văn, hắn đệ nhất B1 ban toán, sinh ngữ chính là Pháp văn. Sở dĩ Sơn có cái tên này vì nó cao và to như một con trâu. Sau khi đậu tú tài toàn phần, với lệnh Tổng động viên, chúng tôi kẻ trước người sau, lần lượt lên đường nhập ngũ. Nếu không có ngày 30 tháng 4, không có trại tù cải tạo, chúng tôi có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau. Hạnh phúc vì nghĩ mình được sống đầy đủ hơn mọi người, cho nên tôi muốn chia sẻ chút gì đó với Sơn mập và hai người bạn lực sĩ của nó. Đang mơ màng, tôi chợt giật mình vì hàng ngàn tiếng vỗ tay đồng loạt vang lên như muốn nổ tung cả hội trường. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi vội vàng đưa hai tay lên trời vỗ mạnh vào nhau. Đồng thời, tôi hỏi nhỏ Trung úy Lợi đang ngồi bên cạnh tôi.
-Có chuyện gì mà vỗ tay dữ vậy bạn?
Trung úy Lợi ghé miệng sát tai của tôi, với giọng nói tỉnh khô vừa đủ cho tôi nghe.
-Mẹ bố cái lũ Việt cộng, chỉ được cái gian manh lừa gạt, bọn nó nói “Không đụng đến cây kim sợi chỉ, của người dân” nhưng xe cộ, nhà cửa của người ta thì chúng cướp sạch sẽ. Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa của mình đã nói: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói”. Cho nên tao nghe tai này, để nó lọt qua tai kia. Mày hỏi tao cũng vô ích.
Tôi quay nhìn Lợi, gật đầu cười khoái chí như ngầm đồng ý với hắn.
Trên bục gỗ, người cán bộ đợi cho tiếng vỗ tay tạm yên, ông ta nói.
-Tôi xin nhắc lại một lần nữa, để cho chương trình văn nghệ giúp vui ngày Tết được thêm phần long trọng, mỗi khối phải có ít nhất là ba tiết mục giúp vui như là hát tốp ca chẳng hạn. Khối trưởng phải nhanh chóng trình lên quản giáo, những bản nhạc Cách mạng mà các anh chọn, nếu được đồng ý, sẽ cho anh em trong khối tập dợt. Tôi xin thông báo thêm, trong đêm văn nghệ Tết, sẽ có các đồng chí trên ban chỉ huy trại xuống tham dự.
Trên đường từ hội trường về phòng ngủ, tôi nhẩm tính còn bảy ngày nữa mới đến Tết, cũng có nghĩa là ba ông bạn lực sĩ tổ 38 phải đợi thêm một tuần, mới được ăn bánh chưng. Vì nghĩ như vậy ngay chiều hôm ấy, tôi mở bao ny lông đựng thực phẩm của tôi để ở đầu nằm, lấy ra ba tán đường rồi xúc một chén đậu xanh. Nhìn tới nhìn lui thấy chẳng còn bao nhiêu đậu, sau một hồi đắn đo suy nghĩ, cân nhắc thiệt hơn, tôi đổ đậu xanh trở lại. Thuận tay tôi bốc một nắm đậu đen gói vào trong tấm giấy vở học trò. Tôi cẩn thận cho đường và đậu vào trong một cái bao cát đã sờn rách, túm gọn lại. Tôi đi ra phía sau căn nhà của tổ tôi, băng qua một cái giếng khô tới căn nhà sau của tổ 38. Sơn đang ngồi gom củi thành một đống nhỏ, hình như hắn đang chuẩn bị bếp để nấu nồi lá rừng. Tôi đến bên cạnh Sơn.
-Mày đang làm gì đó?
Sơn ngước mặt nhìn tôi không trả lời mà lại hỏi tôi, giọng nói đầy mệt mỏi.
-Mày không thấy hay sao? Tao đang nấu chút lá rừng.
-Tao thấy mấy người trong nhóm của mày hình như không được thăm nuôi kỳ vừa rồi, tụi mày ăn uống có vẻ thiếu thốn. Tao có mấy tán đường đem tặng tụi mày.
Vừa nói tôi vừa đưa cái bao cát đến trước mặt Sơn.
Sơn nhìn tôi với gương mặt đầy vẻ ngạc nhiên, hắn nói.
-Trong tù mọi người đều thiếu thốn, tại sao mày không giữ lấy để ăn mà lại đem cho tao?
Thực lòng mà nói, tôi không biết trả lời Sơn như thế nào vì tôi không phải là bạn thân của hắn. Tận cùng trong đáy lòng, tôi biết mình chỉ thương xót cho hoàn cảnh đói rách, khốn khổ cùng cực của hắn mà thôi. Mà cũng có thể vì chút tình ngày xưa khi hai đứa cùng học chung trường, ngang lớp. Của cho không bằng cách cho, ăn nói không khéo, có thể làm Sơn nổi giận chửi cho tôi một trận như không, nghĩ như vậy nên tôi nói với Sơn.
-Ăn lá rừng hoài, chắc xót ruột lắm phải không?
Chừng như hiểu rõ tại sao tôi cho hắn mấy tán đường, Sơn dịu giọng.
-Cảm ơn mày nhiều.
Tôi đi về mà lòng nhẹ nhàng thanh thản, đêm hôm ấy tôi ngủ một giấc ngon lành tới sáng, không trăn trở, không mộng mị vì nghĩ rằng mình đã làm được một việc tốt lành.
Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày trong tù lặng lẽ trôi qua, buổi tối sau khi họp tổ xong, thay vì đi ngủ, tôi đi qua tổ 38 bằng cửa trước. Tại đây tôi gặp hai anh chàng lực sĩ đang ngồi hút thuốc lào, bên cạnh họ là ngọn đèn cầy leo lét cháy. Ở trong tù, đèn cầy là một tài sản quý giá của tù nhân, người ta chỉ dùng trong những trường hợp cần thiết, tôi biết sau khi hút thuốc lào xong họ sẽ tắt ngay, nhưng mà như vậy cũng là xài sang quá rồi. Không giống như mọi tù nhân trong trại, thường hút thuốc lào bằng điếu cày, hai anh chàng này lại hút bằng cái điếu bát men xanh, mà theo tôi đoán có thể họ đã nhặt được trong đống rác nào đó khi đi làm lao động. Hai chàng lực sĩ đang nhét bi thuốc lào to bằng đầu ngón tay vào nõ của cái điếu bát, với cái xe điếu là một ống ny-lông cong vòng, dài chừng ba mươi phân. Hình như họ chỉ xin được một bi thuốc nên cả hai cùng hút chung. Người hút trước, chỉ hút một hơi ngắn, rồi đẩy cái điếu bát cho bạn. Anh hút sau nhanh nhẹn đón lấy cái xe điếu, đặt lên miệng rồi lấy sức hút một hơi dài, anh ta rít cho đến khi mấy cọng thuốc lào trong cái nõ cháy đỏ rực, rồi tan biến đi không còn chút tàn mới chịu ngừng. Chỉ có một bi thuốc lào mà hai người hút, tụt nõ là cái chắc. Đưa tay đẩy cái điếu bát ra xa, anh chàng lực sĩ thong thả ngửa cổ, nhắm mắt, lơ tơ mơ nhả khói bay đầy phòng.
Tôi đi tới gần họ rồi hỏi.
-Hai anh có biết anh Sơn ở đâu không?
Anh bạn lực sĩ dường như đang phê vì thuốc lào, giương cặp mắt lờ đờ nhìn tôi.
-Ông bạn hỏi Sơn nào? Sơn em hay là Sơn Fulro.
-Tôi muốn hỏi anh Sơn to và cao, vẫn thường đi lao động chung với mấy anh.
Anh bạn lực sĩ khác trả lời.
-Sơn Fulro phải không? Nó đang ở ngoài sân sau.
Tôi quay người đi mà quên luôn chuyện nói lời cảm ơn.
Dưới ánh lửa bập bùng của mấy thanh củi, trên bếp nồi lá rừng đang sôi sùng sục, hơi nước từ trong nồi thoát ra lẩn vào không khí, mang theo mùi hôi ngai ngái. Tôi nhìn gương mặt vuông chữ điền với đôi mắt sáng quắt của Sơn rồi hỏi hắn.
-Tao có hơi tò mò chút xíu, trông mày cũng sáng sủa trắng trẻo, không biết tại sao mày lại có cái biệt danh là Sơn Fulro. Hình như năm học đệ nhất mày có tên là Sơn mập mà.
Không để Sơn kịp trả lời, tôi hỏi tiếp.
-Đường với đậu tao đưa cho, tụi mày đã nấu chè chưa?
Sơn đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn hơi là lạ, ngập ngừng lưỡng lự một chút, hắn nói nhỏ.
-Chuyện khá dài dòng, mày ngồi xuống đây, tao mời mày chén lá rừng, đừng có vội nghĩ rằng lá rừng thì chán vạn gì, không dễ có đâu. Tụi tao đi lao động bên ngoài trại, vài lần mới có một lần nhặt nhạnh được lá rừng, rau dại, trong đó lá Bình bát là loại lá ngon nhất. Nồi lá tao đang nấu không có loại lá này, mày cứ từ từ ăn chén lá rừng rồi nghe tao kể chuyện. Tao phải kéo mày trở lại cái năm 1969, mới có thể giải thích rõ ràng.
Đôi mắt của Sơn chợt nhíu lại như đang suy nghĩ, phải một lát sau hắn mới nói tiếp.
-Ngày hai mươi lăm tháng giêng năm đó, tao tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, nhận đơn vị mới là Tiểu khu Darlac.
Tôi cắt lời Sơn.
-Như vậy mày đi khóa 5/68 Thủ Đức. Tên của mày thêu nơi túi áo với bảng đen chữ vàng phải không?
-Đúng, sao mày biết?
-Tao còn nhớ hồi đó, ở quân trường khi thấy Huynh trưởng khóa 5/68 mang bảng tên đen chữ vàng, là khóa 6/68 bọn tao bẻ cua lặn mất, vì tránh voi chẳng xấu mặt nào. Tao khóa 6/68, ra trường sau mày khoảng một tháng rưỡi. Đơn vị mới của tao là Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Sơn hỏi tôi, giọng hơi cao lên.
-Mày dạy môn gì ở đó?
Tôi cười chế giễu hắn.
-Mày tưởng cứ về Trường Võ Bị Đà Lạt, là phải dạy sinh viên sĩ quan hay sao? Lúc đó tao chỉ có cái tú tài toàn phần, kiến thức còn thua mấy ông sinh viên Võ Bị, lấy cái gì mà dạy họ. Tao làm ở Khối tham mưu, Phòng hành quân. Làm việc ở đó, không hề có chút dính dáng gì đến Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt.
Sơn gật gù, tỏ ý như hiểu rõ. Hắn kể tiếp.
-Sau hai tuần nghỉ phép mãn khóa, tao tà tà vác ba lô ra Air Việt Nam bay lên Ban Mê Thuột, thủ phủ của Cao nguyên trung phần. Đó là lời nói mà tao vẫn thường nghe người ta nói chắc như bắp khi nhắc tới Ban Mê Thuột. Và tao hoàn toàn yên chí như vậy, cho đến khi đặt chân xuống phi trường Phụng Dực, tao mới giật mình tỉnh mộng. Trước mắt tao là một cái phi đạo nhỏ xíu, khô khốc nhựa đường, nằm im lìm trong cái nóng oi bức của buổi trưa, chung quanh chỉ có đất đỏ và đất đỏ, bụi bay mù trời. Khi xe bus Air Việt Nam chạy vào thành phố, tao nhìn hai bên đường với nhà cửa lụp xụp, dân cư thưa thớt, nhìn đâu cũng thấy một màu đỏ của bụi mù. Lúc bấy giờ thật lòng mà nói, tao hối hận quá sức tự trách mình, tại sao không chọn về những tiểu khu đông dân trù phú ở vùng IV. Tiểu khu Darlac thời bấy giờ gồm có mấy quận như sau: Quận Hòa Bình với thành phố Ban Mê Thuột ở ngay trung tâm, Quận Phước An, Quận Buôn Hô, cuối cùng nếu đi theo Quốc lộ 27 về hướng Nam, khoảng sáu mươi cây số là Quận Lạc Thiện. Sau hai tuần chờ đợi ở Tiểu khu, tao nhận được Sự vụ lệnh cho về Đại đội 650 Địa Phương Quân đang đóng ở Chi khu Lạc Thiện. Khi qua Phòng 4 xin phương tiện di chuyển, Thiếu úy Giang nhìn tờ Sự vụ lệnh của tao với đôi mắt đầy thương hại “Hết chỗ đi rồi hay sao mà chuẩn úy lại về Lạc Thiện, ông hãy chuẩn bị sắm cái áo giáp thiệt dày, nhớ mang thêm nón sắt không thôi bể gáo đó.” Tao hỏi Thiếu úy Giang “Tại sao phải cần áo giáp?” Ông ta trả lời “Tại sao hả? Bởi vì ở đó ngày nào cũng ăn đạn pháo kích của Việt cộng”.
Sơn ngưng kể chuyện, hắn cho thêm một thanh củi nhỏ vào bếp rồi mới từ tốn nói.
– Mày biết không, lúc bấy giờ tao nghĩ rằng ông thiếu úy Phòng 4 chỉ đùa cho vui nên tao nghe mà coi như không có, chỉ lo việc hỏi ông ta đường xuống Lạc Thiện. Thiếu úy Giang thấy tao có vẻ coi thường lời nói của ông ta, nên ông gằn giọng “Con đường duy nhất để đến Lạc Thiện là quá giang trực thăng của cố vấn Mỹ. Đường bộ từ Ban Mê Thuột đến Lạc Thiện bị hư hại nặng nề, thêm chuyện mất an ninh do Việt cộng đào đường đắp mô thu thuế, bắt thanh niên thiếu nữ về mật khu để tải đạn hoặc làm lính cho chúng.” Tao hỏi Thiếu úy Giang “Như vậy tôi phải qua gặp cố vấn Mỹ của Tiểu khu để xin trực thăng xuống Lạc Thiện, phải không?” Thiếu úy Giang trả lời tao “Không cần phải làm như vậy, chuẩn úy cứ đi thẳng ra phi trường L19. Ở đó, ngày nào cũng có trực thăng của cố vấn Mỹ ra vào Lạc Thiện, ông cứ yên tâm không phải lo việc thiếu phương tiện. Mà nè chuẩn úy có biết phi trường L19 nằm ở đâu không?” Tao trả lời ông ta “Nó ở gần nhà thờ, ngay ngã năm hay ngã sáu gì đó phải không” Thiếu úy Giang gật đầu “Đúng rồi”.
-Từ Tiểu khu Darlac tới phi trường L19 khoảng hơn một cây số, đi xe lam chỉ tốn mười đồng nhưng tao không thích. Tao vác ba lô rủng ra rủng rỉnh lội bộ, đi cho đỡ cuồng chân, chuẩn bị cặp giò để xuống đơn vị mà lội. Nói là gần, nhưng dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa, mồ hôi cũng thấm ướt áo may ô. Cổng vào phi trường hướng mặt ra quốc lộ, hai anh lính Địa Phương Quân gác cổng với quân phục chỉnh tề, đầu đội mũ sắt có lưới, khăn quàng cổ màu xanh da trời, dây biểu chương trên vai, bên hông thêm khẩu colt 45. Một anh lính chào tao, rồi sốt sắng chỉ chỗ xin quá giang trực thăng đi Lạc Thiện. Theo sự hướng dẫn của anh lính, tao vừa đi vừa nhìn cái chòi lợp tôn vách ván, mỗi cạnh chừng ba mét sơn màu vàng lợt, được gọi là phòng vận chuyển mà ngao ngán trong lòng. Anh chàng trung sĩ tên Thu lo việc giấy tờ, nhìn Sự vụ lệnh của tao rồi hỏi “Chuẩn úy đi xuống Lạc Thiện ?”Tao nói “Đúng”. Trung sĩ Thu nói với tao hãy ngồi đó đợi, khi nào có trực thăng đến, anh ta sẽ dẫn tao đi.
Ngồi trên một cái băng làm bằng bìa gỗ tạp được đóng dính vào tường, tao vừa hút thuốc vừa nhìn phi cơ lên xuống để giết thì giờ. Đúng như tên gọi của phi trường, phi cơ đến và đi chỉ toàn loại có dòng họ với phi cơ bà già, chỉ có một lần duy nhất, một chiếc Caribou màu xám hạ cánh rồi sau đó chừng mươi phút, lại cất cánh bay lên. Sau hơn ba tiếng đồng hồ chờ đợi, Trung sĩ Thu mới dẫn tao ra phi cơ trực thăng, theo sau là bốn người đàn bà Thượng, mỗi người mang một cái gùi to thật to đựng đầy ắp muối hột, thêm hai đứa bé chừng bảy, tám tuổi, mặt mày lem luốc mà tao đoán là con của họ. Điều đặc biệt nhất là có thêm hai con chó mực, lúc nào cũng quấn quít bên chân hai đứa nhỏ. Tất cả mọi người đi bộ dọc theo phi đạo một đoạn chừng hơn trăm thước, tới chiếc trực thăng UH1 đang đậu trên phi đạo. Một anh chàng Mỹ trắng dẫn mấy người Thượng đến gần máy bay, đỡ từng người đàn bà lên, sau đó là hai đứa bé và hai con chó. Cuối cùng anh ta cẩn thận đem bốn cái gùi muối hột, đặt lên máy bay cạnh mấy người đàn bà Thượng. Xong xuôi mọi việc, hắn quay lại phía tao và Trung sĩ Thu ra hiệu là máy bay đã hết chỗ. Trung sĩ Thu nói với tao “Chuẩn úy theo tôi về lại trạm vận chuyển rồi về phố nghỉ ngơi, ngày mai tới đây đợi nữa.” Tao phàn nàn với Trung sĩ Thu “Tôi có Sự vụ lệnh ra đơn vị, lẽ ra tôi phải được ưu tiên đi chứ”. Trung sĩ Thu cười, nụ cười như thương hại cho sự ngây thơ của tao, anh ta nói “Tại chuẩn úy không biết thôi, ở đây trực thăng của Mỹ, phi công cũng là người Mỹ, mình xin đi nhờ, muốn cho ai đi là quyền của họ. Hơn nữa chuẩn úy có biết không, tại phi trường này với người Mỹ, thứ tự ưu tiên lên máy bay được sắp xếp như sau: thứ nhất là đàn bà, thứ nhì là con nít, thứ ba là chó, lính tráng bọn mình được đứng hàng thứ tư”.
Tôi gật đầu nói với Sơn.
-Ngày đó tụi mình còn quá trẻ, mang cái quai chảo trên vai mà cứ tưởng là ông trời con cho nên mới càm ràm. Đi ra đơn vị, lao đầu vào chiến trường, chứ đâu phải ăn cỗ mà tranh giành, đi không được thì về phố nghỉ, có sao đâu.
Sơn tiếp lời tôi.
-Mày nói đúng tao về lại Thành phố Ban Mê Thuột, đi lang thang như một gã du thủ du thực, buồn tình bèn ghé vào một quán cà phê trên đường Lý Thường Kiệt. Ngồi một mình trong góc phòng, tao mồi một điếu thuốc, kêu một ly cà phê đen, thưởng thức vài bản nhạc thời trang phát ra từ mấy cái loa treo trên tường. Giọng hát của cô ca sĩ nũng nịu như là thì thầm bên tai người yêu. “Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ, màu lam tím Đà Lạt sương phủ mờ, từng đôi đi trên phố vắng”. Đang mơ màng thả hồn theo khói thuốc, bất chợt nghe lời ca của bản nhạc nhắc đến nơi mình ở, bỗng dưng tao thấy xốn xang trong lòng, vị cà phê vốn đã đắng lại càng đắng hơn.Ngẩn nhìn cô thu ngân có gương mặt sáng như trăng rằm, đôi mắt buồn như chứa cả một mùa thu, tự nhiên tao thấy cô đơn lạc lõng, thấy lòng buồn vô cớ, chán cho cái thân làm lính trận miền xa của mình.
Ngày hôm sau, tao lại ba lô lên vai cuốc bộ ra phi trường. Lần này tao được cho lên máy bay một cách thoải mái vì hành khách quá giang chỉ có một mình tao. Đối với những quân nhân trong binh chủng Tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, hoặc như các binh sĩ của Sư đoàn Bộ Binh thì hành quân trực thăng vận giống như đi xe đò. Riêng với tao kể từ ngày vào lính cho đến khi ra trường, mang cái lon chuẩn úy về Tiểu khu Darlac, đó là lần đầu tiên tao bước chân lên một chiếc trực thăng UH1 của quân đội Mỹ, dĩ nhiên mọi chuyện đều khá xa lạ, khiến tao không tránh khỏi ngạc nhiên. Phi cơ gì mà trống trơn, không cửa, không ghế, thậm chí đến cái dây an toàn để mình bám víu vào, cũng không có luôn. Gió lùa từng cơn từ trái sang phải thoải mái, cứ như mình đang đứng giữa nơi đất trời lộng gió.Ngồi phía trước trực thăng, đã có hai viên phi công Mỹ oai vệ trong bộ đồ áo liền quần, đầu đội helmet. Hai bên hông là hai xạ thủ đại liên, mỗi người ngồi trên một cái ghế đặt sát chân khẩu M60. Nằm dài dưới sàn trực thăng là một anh lính bộ binh Mỹ.
Tôi ngắt lời Sơn.
-Mày còn ngon hơn tao nhiều, sáu năm lính ở trường Võ Bị Đà Lạt, tao như một thằng nhà quê, chưa bao giờ đặt chân lên chiếc trực thăng.
Không chút gì quan tâm đến câu nói của tôi, Sơn ngẩng đầu rồi đưa hai tay vòng ra sau ôm lấy cổ, hắn tiếp tục câu chuyện.
-Ngày xưa thuở còn đi học, như mày biết tao có cái tên là Sơn mập, bởi vì tao cao và to như một con trâu. Khi vào Quân trường Quang Trung rồi Quân trường Thủ Đức, tao là sinh viên sĩ quan trong toán Quốc Quân Kỳ. Vậy mà thằng Mỹ nằm dưới sàn trực thăng, có thân hình phốp pháp to gần gấp đôi tao, hắn có đôi mắt xanh và một gương mặt dễ nhìn. Tao không biết quân đội Mỹ có cho phép quân nhân để râu hay không, nhưng thằng Mỹ trước mặt tao có bộ râu quai nón dài và rậm. Tao thầm nghĩ nếu bộ râu của hắn trắng như tuyết, thêm bộ đồ màu đỏ nữa, thì hắn sẽ biến thành ông già Noel mà không cần phải hóa trang. Một mình một chợ, thằng Mỹ nằm chình ình giữa sàn máy bay, gối đầu lên cái túi quân trang màu cứt ngựa, hai tay để hờ lên bụng, cây súng M16 vứt lăn lóc bên cạnh. “Sang sông phải lụy đò”, bài học kinh nghiệm ngày hôm trước vẫn còn đó, biết rõ thân phận đi nhờ tàu, tao rón rén nhẹ nhàng ngồi xuống nơi khoảng không gian còn trống, ngồi mà chỉ sợ gây lên tiếng động mạnh. Khi thấy tao thằng Mỹ cười, nụ cười ngây ngô, hiền khô như ông già Noel, rồi lịch sự nhích người sang một bên nhường chỗ cho tao. Tao không hiểu tại sao hắn phải làm như vậy, sàn phi cơ còn khá rộng, đủ chỗ cho dăm ba người nữa mà. Nhìn quanh con tàu mà lòng đầy hoang mang, tao loay hoay tìm chỗ nào đó để bám vào vì lo sợ khi trực thăng bốc lên cao, gió hút mạnh sẽ quăng mình ra ngoài trời như không. Tiếng cánh quạt trực thăng quay mỗi lúc một nhanh, toàn thân con tàu rung lên bần bật, máy bay nhấc mình khỏi mặt đất, cắm đầu bay là là dọc theo phi đạo rồi bốc lên cao, lao mình về phía trước để lại đằng sau nhà cửa, xe cộ, và cánh rừng cao su chìm trong làn bụi đỏ. Ngày qua tháng lại, lá của những cây trong rừng cao su nằm sát phi trường nhuốm toàn một màu đỏ gạch, màu đỏ của bụi thời gian.
Ngưng lại một lúc như để lấy sức, sau đó Sơn mới nói tiếp.
-Trực thăng bay được chừng hơn mười phút, bên dưới máy bay đã là một cánh rừng xanh ngắt, trải dài đến tận cuối chân trời. Phi cơ đang bay ngon lành bỗng dưng tao nghe được nhiều tiếng kêu lụp bụp quanh thân tàu, chen lẫn với tiếng phành phạch như xé gió của cánh quạt. Chưa kịp tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra, tao đã thấy hai anh chàng Mỹ đen đang ngồi nơi ghế xạ thủ đại liên, đứng bật lên như một cái lò xo, họ nhanh nhẹn mở tung nắp che cơ bẩm, nạp đạn vào súng. Cùng lúc ấy trực thăng nghiêng mình về bên phải, đạn đại liên từ khẩu M60 rải xuống như vãi đậu, những viên đạn vạch đường sáng bay lẹ như sao xẹt, chen nhau cắm đầu xuống đất xen lẩn với những tiếng nổ giòn giã vang lên giữa bầu trời trong xanh, rồi tiếng vỏ đạn rớt trên sàn trực thăng nghe lùng bùng cả màng nhĩ. Phi công và xạ thủ đều có đội helmet, nên họ thản nhiên thi hành nhiệm vụ một cách ngon lành như không có gì xảy ra. Riêng tao, chỉ kịp đưa hai tay lên bịt lấy tai. Khi tiếng đạn đại liên ngưng nổ, phi cơ lại nghiêng mình về bên trái, cây đại liên bên trái bắt đầu hoạt động, lại có hàng loạt tiếng nổ tành tạch kéo dài, vỏ đạn với móc sắt lại văng tung tóe trên sàn trực thăng. Mặc kệ chuyện gì đang xảy ra, anh chàng lính Mỹ nằm dài dưới sàn vẫn nhắm mắt ngủ ngon lành. Hình như những viên đạn bắn từ dưới đất lên trúng trực thăng, rồi những tràng đại liên M60 nổ chát chúa bên tai, không có gì làm cho hắn phải bận tâm. Trái với gương mặt thản nhiên của thằng Mỹ, tao biết rõ, mặt của mình cắt không còn giọt máu. Hai tay của tao hết bịt tai mà đã chuyển sang ôm chặt lấy cái ba lô từ lúc nào, trong khi toàn thân ướt dầm mồ hôi.
Tôi cười khoái chí.
-Tao tưởng chỉ có một mình tao nhát gan thôi, ai ngờ mày cũng vậy.
Sơn với giọng hãnh diện.
-Chuẩn úy mới ra trường mà được như vậy là ngon lắm rồi. Sau này tao mới biết, khu rừng phía dưới là vùng oanh kích tự do, cho nên hai anh chàng xạ thủ tha hồ rải đạn mà không sợ trúng phải thường dân. Cho đến khi tiếng súng đã hoàn toàn im bặt, chỉ còn nghe tiếng kêu phành phạch của cánh quạt, tao hướng tầm mắt về phía trước, xa xa giữa vùng đồi núi chập chùng, một cái hồ rộng mênh mông bát ngát hiện ra như một tấm gương phẳng lì đặt giữa rừng xanh, bao quanh hồ là trùng trùng điệp điệp núi và núi, tiếp nối nhau như không bao giờ dứt. Trực thăng bay ngang hồ tao nhìn xuống, nước hồ xanh màu ngọc, bóng của chiếc trực thăng đen thui như một con cá mập, nhẹ nhàng bơi lướt trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng. Cái bóng bơi lẹ như chớp, khiến tao có cảm tưởng nó bơi còn nhanh hơn chiếc trực thăng mà tao đang ngồi. Trong đời chưa bao giờ tao thấy một cái hồ lớn như vậy, và tao tin rằng đó là cái hồ lớn nhất Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ. Chừng năm phút sau, trực thăng đã qua khỏi hồ, bay dọc theo một con đường đất đỏ lỗ chỗ ổ gà, thỉnh thoảng lại có dăm, ba cái hố bom hình nón lá lật ngửa mà đường kính của nó còn to hơn bề ngang con đường. Hai bên đường cây cối chết khô chỉ còn trơ lại những nhánh cây gầy ốm, cong queo, què quặt vì thuốc khai quang, bên lề đường xác một chiếc xe bus cháy đen, xa xa vài chiếc quân xa, cái lật ngửa chổng bánh lên trời, cái nằm bẹp như một đống sắt vụn. Những hình ảnh điêu tàn của cánh rừng, cho tao biết rằng chiến tranh đã hiện diện ở đây, đã tàn phá không xót thương, hủy hoại không chừa một thứ gì. Vượt qua cánh rừng cây khô, phi cơ hạ thấp cao độ rồi đáp xuống một khoảng đất trống, xa xa ẩn hiện trong vùng cỏ tranh là những căn nhà tiền chế, mà tao đoán là căn cứ của cố vấn Mỹ và chi khu Lạc Thiện. Khi cánh quạt đã ngưng hẳn, một chàng phi công đi quanh chiếc trực thăng, với cây viết chì mỡ trên tay, hắn từ tốn khoanh tròn những lỗ đạn trên đuôi tàu. Xong xuôi công việc, đứng nhìn những vòng tròn to nhỏ khác nhau, hai chàng phi công Mỹ nhìn nhau cười khoái chí. Tao đưa mắt nhìn quanh rồi đếm thầm trong miệng, có tất cả mười hai cái vòng tròn, nếu đem chia đều cho sáu người trên máy bay thì mỗi người lãnh hai viên, đạn AK hay đạn đại liên phòng không 12 ly 7, tao không biết được. Chừng đó đạn bắn vào chiếc trực thăng mà mọi người vẫn bình an vô sự, đúng là chuyện khá hy hữu, chuyện may mắn không ngờ. Lúc này thay vì quay lưng phủi đít đi vào chi khu, vì muốn chứng tỏ mình là người biết chuyện, tao đi đến trước mặt hai anh chàng Mỹ lái trực thăng nói lớn. “Thank you.” Nói xong tao quay lưng bước đi.
Sơn nhìn thẳng vào mắt tôi rồi hỏi.
-Mày biết thằng phi công Mỹ nói gì với tao không?
Tôi trả lời Sơn.
-Làm sao tao biết được.
Sơn cười híp cả mắt.
-Hắn nói “Không có chi” Tao nghe rất rõ nhưng phải đợi khi đi được vài bước, tao mới giật mình hiểu ra là hắn nói tiếng Việt. Khi tao đưa tay nhấc cái ba lô khoác lên vai, chuẩn bị đi về phía mấy căn nhà mà tao nghĩ là Chi khu Lạc Thiện. Bất ngờ, tao giật mình đánh thót vì tiếng la hốt hoảng đầy kinh hoàng của hai anh chàng xạ thủ đại liên. Tao và hai ông phi công cùng quay đầu nhìn lại. Bên hông chiếc trực thăng, một anh xạ thủ đang lật và kéo anh chàng Mỹ to quá khổ sang một bên, hình như anh chàng này đã chết vì trúng đạn của Việt cộng bắn lúc nãy, máu tươi ướt đẫm chỗ anh ta nằm. Tao thật sự choáng váng, lạnh cả người khi nhớ lại cái cảnh anh Mỹ mập nhích tấm thân đồ sộ sang một bên, để tao có thể ngồi thoải mái hơn, nếu anh ta vẫn nằm yên thì chắc viên đạn vô tình bắn hú họa đó, đã không trúng vào chỗ nhược của anh ta, mà sẽ trúng vào tao cũng nên. Cũng có thể cái tấm thân to lớn bề thế như một ông hộ pháp của anh ta, đã đỡ lấy viên đạn cho tao không chừng. Ở đời, chuyện sống chết mấy ai biết được. Một anh lính ở tận nước Mỹ xa xôi vạn dặm, đến Việt Nam chiến đấu để bảo vệ Miền Nam, anh ta chết, cái chết nhẹ như một giấc mơ. Tao nghĩ đến mình, là con dân nước Việt, là lính Miền Nam Việt Nam, nếu tao có phải hy sinh để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa thì cũng không có gì phải tiếc nuối. Thế nhưng với anh lính Mỹ vừa mới giã từ cõi đời nơi xứ lạ quê người, thân nhân không được thấy mặt, khiến lòng tao không khỏi bùi ngùi thương cảm. Ngày đầu tiên ra đơn vị, với tao đó là một ngày đáng ghi nhớ trong đời.
Sơn cho thêm một thanh củi vào bếp rồi ngước nhìn tôi với giọng nói đầy tự tin, hắn nói.
-Tao dám bảo đảm với mày, Lạc Thiện là một cái quận xa xôi, hẻo lánh, tiêu điều xơ xác và nhỏ nhất của Việt Nam Cộng Hòa vào thời bấy giờ. Quận lỵ cái con mẹ gì, chỉ có chừng hơn hai chục cái nhà tôn vách ván với con đường đất đỏ nhỏ xíu chạy ngang trước quận.
Tôi thắc mắc hỏi Sơn.
-Như vậy thì tại sao người ta gọi là quận?
Sơn giải thích cho tôi.
-Vài chục căn nhà, dân số chưa được trăm người Kinh nhưng gọi là quận, vì trong lãnh thổ của quận Lạc Thiện còn có khoảng hơn ba chục cái buôn Thượng nằm rải rác khắp nơi, có buôn cách xa quận hơn hai chục cây số. Tổng số dân của mấy chục cái buôn Thượng này lên đến con số hơn bốn ngàn người. Việt Nam Cộng Hòa có nhiệm vụ phải bảo vệ dân của mình, bảo vệ những cái buôn Thượng này, đó là lý do người ta lập quận, đặt cơ quan hành chính ở đó. Ngày đầu mới đến Lạc Thiện, bụng đói cồn cào, tao được một anh lính chỉ cho căn nhà thấp lè tè, mái lợp tôn, trong số hơn vài chục căn nhà trước quận, anh ta gọi đó là quán ăn. Trong quán chỉ có bán một món ăn độc nhất là mì gói đổ nước sôi với một cái trứng gà, thức uống thì chỉ vài chai Coca sắp trên một cái kệ. Điều đặc biệt là tuy quận không có điện nhưng quán lại có đá lạnh, tao thắc mắc hỏi chủ quán và được ông ta dẫn ra sau nhà, chỉ vào cái tủ lạnh đặt nơi góc bếp.
Sơn đột ngột đổi giọng hỏi tôi.
-Mày có thấy ai ngu như tao không? Được cha mẹ cho ăn học đầy đủ, tốt nghiệp trung học với hai cái tú tài, cũng tốt nghiệp Thủ Đức đàng hoàng, vậy mà tao không hề biết là trên đời này trước khi có tủ lạnh chạy điện, người ta đã chế ra cái tủ lạnh chạy bằng dầu hôi. Và cái tủ lạnh này là sản phẩm độc đáo nhất của Lạc Thiện thời bấy giờ. Chừng đó, quận chỉ có chừng đó mà thôi, không còn gì khác. Nói vậy cũng không đúng, còn chớ, còn chuyện pháo kích nữa. Ở cái chỗ ma thiêng nước độc, chỉ có một trung đội pháo binh và bốn Đại đội Địa Phương Quân trú đóng, vậy mà ngày nào cũng ăn pháo kích. Việt cộng đặt súng cối 82 ly nơi những đỉnh núi cao gần hồ Lăk, hôm nay chúng rót vào chi khu mươi trái đạn, ngày hôm sau tại ngọn núi khác, bọn chúng lại bắn vài chục trái nữa, cứ như vậy ngày qua tháng lại pháo đều đều. Việt cộng pháo kích đều đặn đến nỗi một vài ngày không ăn pháo lại thấy thiêu thiếu, lại nghe lính hỏi nhau “Sao mấy ngày rồi, chưa thấy Việt cộng pháo kích hè ?”. Tao cười rồi nghĩ thầm, hình như ngày nào không có pháo kích thì lính mình ăn cơm không thấy ngon. Khi biết rằng tao đang bước một chân xuống cái địa ngục có thật ở trên đời tên là Lạc Thiện, cũng là lúc tao nhớ lại thành phố Ban Mê Thuột, nhớ nhà cửa, nhớ xe cộ, nhớ rạp cine Lô đô, nhớ con người, nhớ xe mì hoành thánh bên hông chợ của vợ chồng ông Tàu, và biết rằng Ban Mê Thuột đúng là thiên đường, là thủ phủ của cao nguyên. Hơn mấy năm trường ở Chi khu Lạc Thiện, đại đội của tao cùng ba đại đội khác thay phiên nhau hành quân lục soát, truy lùng Việt cộng. Một tuần lội rừng, một tuần về phòng thủ quận nghỉ dưỡng quân. Rồi lại bảy ngày lương khô thịt hộp, tiếp tục hành quân, cứ như thế ngày này qua tháng nọ. Tụi tao đụng trận với Việt cộng cả chục lần, con số thương vong của hai bên cũng khá, chết chóc cũng bộn. Anh chàng mang máy cho tao may mắn được giải ngũ, chỉ để lại một con mắt ở chiến trường. Còn ông đệ tử của tao không được may mắn cho lắm, hắn gởi lại chiến trường một cái chân, thêm mấy vết thương ở bụng, sau ba tháng nằm ở Quân Y Viện Ban Mê Thuột, cộng thêm mấy lần tái khám, hắn trở về với vợ con trên đôi nạng gỗ. Cá nhân tao mỗi khi đụng trận là tao phải thí mạng cùi, ôm súng dẫn lính xung phong chiếm mục tiêu. Nhờ phước đức của ông bà để lại nên tao vẫn còn lành lặn, không được giải ngũ, cứ phải phục vụ trong quân đội cho đến ngày 30 tháng 4.
Nguồn tin hai tuần nữa được thăm nuôi loan truyền nhanh như chớp, tù binh bị nhốt trong Tổng trại 8 đang sống ngoắc ngoải tuyệt vọng, đột nhiên bừng tỉnh lại. Chuyện được thăm nuôi xảy ra, giống hệt như vùng đất Sông Mao khô cằn nắng cháy, bỗng đâu có được một cơn mưa rào đổ xuống. Sáu tháng dài đằng đẵng ăn uống thiếu thốn, từ tuần trước tù nhân đã phải bắt đầu ăn độn, mỗi bữa ăn tiêu chuẩn chỉ còn lưng chén cơm, áo quần của họ cũng bắt đầu tả tơi sờn rách. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Sông Mao là hậu cứ của Trung đoàn 44 Bộ Binh, cho nên có rất nhiều công sự phòng thủ được làm bằng bao cát. Tù nhân lợi dụng lúc đi làm lao động gần những khu vực này, họ lén đào xới, đổ đất từ bao cát ra, giấu cái bao vào người đem về trại. Sau khi giặt giũ sạch sẽ, phơi khô, tù nhân dùng vải bao cát may thành quần áo để bận, thay thế cho những bộ đồ đã bị rách. Trường hợp gặp bao cát được dệt bằng sợi ny-lông dẹp, tù nhân cũng lượm về, họ chập nhiều sợi vào với nhau, thường thì khoảng sáu sợi, xe lại thành một sợi to tròn đan võng để nằm. Nhiều tù nhân khéo tay, họ đan những chiếc võng tuyệt đẹp, với ý định là khi mãn hạn tù sẽ đem về làm quà cho vợ con.
Ngay tối hôm đó trong một buổi họp tổ, khi chúng tôi đang è cổ hát bản “Tiếng đàn Ta Lư” thì quản giáo Cảnh xuất hiện. Đợi cho chúng tôi hát xong, với gương mặt vui tươi cởi mở, ông ta xác nhận, hai tuần nữa sẽ cho thăm nuôi. Và một tin tức quan trọng hơn mà mọi người chờ đợi từ bấy lâu nay là, sau kỳ thăm nuôi “Trên” sẽ tổ chức cho cả Tổng trại 8 tiến vào học tập. Chữ “Trên” ở đây có nghĩa là cấp cao hơn, còn cao cỡ nào thì chỉ có Việt Cộng biết mà thôi. Đây là một cái tin mang đến niềm vui, mang đến sung sướng, cái tin làm rúng động lòng người.
Sau khi họp tổ xong, tuy đã hơn tám giờ tối, tôi chạy qua khối Bình Thuận tìm Long công tử để báo tin mừng. Với nét mặt điềm tĩnh, Long công tử nói.
-Khối Bình Thuận cũng đã được quản giáo báo tin rồi.
Như mọi lần, hai đứa tôi kéo nhau ra sau hè của nhà bếp, ngồi đó chuyện trò, tâm sự vụn.
Long công tử với giọng buồn buồn.
-Trước khi bị lùa vô đây, mày còn có được diễm phúc là gặp lại cha mẹ, mấy đứa em cùng với vợ, tao không có cái may mắn đó. Một ông chủ công ty nhập cảng nông ngư cơ, xuất cảng cà phê cộng thêm mấy cái biệt thự to lớn ở Sài Gòn, ba má của tao nếu không cao bay xa chạy như ba vợ của mày, chắc chắn ông bà đã bị tống cổ ra khỏi nhà, giống trường hợp của vợ mày mà thôi.
Long công tử buông tiếng thở dài.
-Cho đến hôm nay, ba má tao ở đâu, vợ con tao còn ở Ban Mê Thuột hay đã chết tức tưởi trong một xó rừng nào đó, tao không biết được.
Tôi hỏi Long công tử.
-Ba mươi tháng tư, mày đang ở đâu?
Long công tử nhắm mắt, nhíu mày.
-Ngày mười ba tháng ba, Liên đoàn Biệt Động Quân của tao đang ở Long Thành, được lệnh về phi trường Tân Sơn Nhất, sau đó là vận tải cơ C130 bốc tụi tao thả xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku. Khi đáp xuống phi trường, một chiếc C130 trong đoàn phải hạ cánh khẩn cấp, không biết có phải vì trúng đạn phòng không của Việt Cộng hay không, may mắn là phi cơ đáp an toàn rồi sau đó mới bốc cháy.
Tôi nêu lên thắc mắc với Long công tử.
-Lúc đó mày có biết là Ban Mê Thuột đã mất vào ngày mười tháng ba rồi hay không?
-Biết cái con mẹ gì đâu, khi tụi tao xuống phi trường Cù Hanh nghe tin là Ban Mê Thuột xong rồi. Lúc bấy giờ tao cứ tưởng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã giải tỏa Ban Mê Thuột xong xuôi, không cần tụi tao nữa. Ngay chiều hôm đó, có lệnh mới cho Đại đội 2 của tao tới trám chỗ cho một Tiểu đoàn Địa Phương Quân vừa mới rút đi. Hơn sáu năm lính, ba năm làm Đại đội trưởng Đại đội 2, của một Tiểu đoàn Biệt Động Quân, đánh nhau với Việt Cộng hằng trăm trận, chưa bao giờ tao tham dự một cuộc hành quân lạ lùng như vậy. Hành quân mà không có lệnh hành quân, chỉ với một tấm bản đồ to bằng cuốn vở, không yểm trợ, không lương thực, không có cái con mẹ gì hết. Đem một đại đội tấn vào một vùng đất hoang vu, không biết bạn ở đâu, địch ở đâu, đại đội của tao lơ ngơ lớ ngớ giữa rừng cả tuần. Mãi cho đến ngày hai mươi tháng ba, tao mới được lệnh của Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng gọi về Pleiku họp và lãnh tiếp tế.
Tôi tỏ vẻ không tin.
-Mày kể chuyện giống như đùa.
-Không có đùa đâu, sau khi dặn Thiếu úy Đại đội phó ở lại coi đại đội, tao dẫn theo một trung đội về Pleiku. Suốt mấy tiếng đồng hồ lội bộ trong rừng, khi tao tới cái buôn Thượng mà tuần trước đại đội đi qua, dân trong buôn còn đưa tay vẫy chào. Ngày hôm ấy buôn Thượng vắng hoe không một bóng người, ngay đến mấy con heo đen thui, lưng cong bụng ỏng chúi mũi xuống vũng sình tìm thức ăn cũng biến đi đâu mất. Cả buôn làng chìm trong im lặng đến kỳ lạ, chỉ còn nghe được tiếng rì rào trong gió của mấy bụi tre gai ở bên đường. Tụi tao tiếp tục di chuyển, cho đến khi mặt trời đứng bóng mới về tới Pleiku. Qua tin tức do Chuẩn úy Trung đội trưởng thu lượm được, báo cáo với tao, lúc bấy giờ tao mới biết Ban Mê Thuột đã bị Việt Cộng chiếm từ ngày mười tháng ba. Riêng thành phố Pleiku, lính và dân ở đây đã di tản mất tiêu từ ba, bốn ngày trước đó rồi. Cả một Quân đoàn với hàng trăm ngàn quân nhân, được trang bị phi cơ chiến đấu, chiến xa, trọng pháo, tất cả đều biến mất, biến khỏi Pleiku một cách khó hiểu. Tao ngẩn ngơ đứng nhìn phố núi cao nguyên mà lặng điếng trong lòng, xa thật xa tận cuối con đường mòn, chỉ một người duy nhất đang di chuyển chầm chậm, trông giống như một cái bóng ma. Tao đi trong thành phố không xe, không người, không tiếng động, chỉ thấy lá vàng khô trong bụi mù cùng với giấy rác, theo từng cơn gió nhẹ đuổi nhau chạy trên mặt đường, băng ngang qua những căn nhà cửa đóng then cài. Pleiku lúc bấy giờ là hoang địa, là một thành phố vô chủ, thành phố ma, tao đứng trước kho tiếp liệu của một đơn vị nào đó trong Quân đoàn, cửa kho mở toang hoác, vũ khí, đạn dược, quân dụng, thực phẩm, văng tung tóe khắp mọi nơi. Chiều hôm đó trong lúc mây đen vần vũ khắp trời, tao ôm cái cổng Quân đoàn khóc như một thằng điên.
Tôi hỏi mà như xúi Long công tử.
-Dân Sài Gòn như mày, đâu có gì phải quyến luyến cái thành phố “Đi dăm phút đã về chốn cũ” đó, tại sao mày không chạy đi cho rồi.
Long công tử đột nhiên nổi giận với tôi.
-Mày biểu tao chạy hả? Chạy sao được. Ban Mê Thuột mất, đem C130 chở một Liên đoàn Biệt Động Quân thả xuống Pleiku, rồi bỏ quên luôn ở đó, một mình tao chạy, trong khi lính của tao còn ở trong rừng đợi tao. Tao không thể làm như vậy được, mày cũng biết rồi, lính không có cấp chỉ huy như rắn mất đầu. Sáng hôm sau, tao dẫn đại đội xé rừng đổ xuống biển, sau hơn hai tuần băng rừng vượt núi, tụi tao tới Tuy Hòa, thành phố đã lọt vào tay Cộng Sản từ mấy ngày trước, sau đó là Nha Trang, Phan Rang. Ngày hai mươi lăm tháng tư, sau hơn một tháng vượt thoát chạy về vùng tự do, tụi tao tới được Phan Thiết, lúc này lính Cộng Sản đã đứng chật đường. Tao bị bắt, nhốt ở lao xá Phan Thiết. Nếu tao nhớ không lầm, ngày mười tháng năm, Việt Cộng chở tao cùng với hàng trăm tù binh đủ loại, đem lên giam giữ ở Cà Tót.
Long công tử quay sang nhắc tôi.
-Mày buồn ngủ chưa? Khuya rồi về đi, mai còn đi lao động.
Bầu trời Sông Mao sâu thăm thẳm, con trăng lưỡi liềm treo lơ lững giữa trời, tôi nhìn theo ánh sao đêm lấp la lấp lánh như muốn tắt ở cuối dải Ngân Hà mà thương xót cho Long công tử. Thương một thằng tù cô đơn, lạc lõng giữa đám bạn tù, cha mẹ vợ con lưu lạc phương nào, không biết sống chết ra sao, trong lòng đầy thương cảm, tôi nói với Long công tử.
-Mày cũng vậy, giữ gìn sức khỏe để mai còn đi lao động.
Cuối cùng chuyện gì đến phải đến, hôm nay là ngày thăm nuôi, tất cả tù nhân được miễn đi lao động, ở trong phòng đợi loa gọi tên. Khi nghe gọi tên mình, lúc bấy giờ người tù mới được đi ra khu thăm nuôi, nằm cách trại chừng năm trăm thước để gặp thân nhân.
Hôm nay những cái quần cụt may bằng vải bao cát, biến đi đâu mất, hầu như tất cả tù nhân đều bận bộ quần áo còn lành lặn khi gặp người thân, vì họ không muốn thân nhân của mình thấy được sự khổ cực mà họ đang gánh chịu. Bộ đồ tuy che đậy được phần nào cái thân thể ốm yếu của tù nhân, nhưng không thể nào che được nét lo âu sầu não, trên gương mặt của họ. Thôi thì giấu được chút nào hay chút ấy, có còn hơn không.
Tám giờ sáng, tôi đã diện bộ đồ tương đối còn tốt ngồi chờ. Mãi cho đến gần mười một giờ, mới nghe loa gọi tên mình, nhanh như một con sóc, tôi phóng ra cửa phòng đi đến khu thăm nuôi. Vừa đi vừa chạy mà vẫn thấy chậm, trong lòng nôn nao náo nức, không biết chỉ có một mình vợ tôi đi thăm tôi, hay còn có ba má tôi đi theo nữa.
Nhà thăm nuôi khá rộng với một dãy bàn dài, tù nhân đứng một bên, thân nhân của tù đứng một bên, cách vài mét lại có một cán bộ xen vào giữa kiểm soát. Tôi không thấy ba má tôi, chỉ có một mình Cúc đứng bên cạnh một người đàn bà lạ hoắc, tuổi độ bốn mươi. Trên bàn là hai bao ny lông to, tôi biết đó là thực phẩm mà Cúc mang vào cho tôi. Điều khiến tôi ngạc nhiên, mừng muốn khóc là Cúc mập ra với hai tay đỡ lấy cái bụng bầu. Ngày tôi đi học tập, Cúc không nói gì về chuyện nàng có thai, tôi xa vợ đã hơn sáu tháng, chắc đứa bé vào khoảng bảy tháng. Tôi thầm cảm ơn trời, hú hồn nếu để hai tháng nữa mới cho thăm nuôi, cận ngày sanh nở Cúc không thể nào đi thăm tôi được. Trước ngày thăm nuôi, tôi có cả ngàn câu hỏi trong đầu muốn hỏi Cúc, dĩ nhiên chỉ là những câu hỏi về gia đình, không liên quan gì đến chính trị, trước mặt cán bộ tôi không dại gì nói đến chuyện chính trị. Khi gặp mặt Cúc với cái bụng bầu, tôi quên hết mọi chuyện, chỉ lo hỏi về đứa con mà vợ tôi đang mang trong bụng.
Cúc giới thiệu với tôi.
-Đây là chị Hai, anh còn nhớ không ngày xưa khi anh và em về Sài Gòn, chị Hai là người thường làm bữa ăn sáng cho mình.
Tôi lắc đầu.
-Hồi đó anh không để ý, nên không nhớ.
Cúc giải thích với tôi.
-Nhờ có chị Hai lo cho em, ba má mới cho em đi thăm anh, cũng nhờ chị em mới đem được chừng này thực phẩm cho anh. Tất cả thức ăn trong bao đã qua thủ tục kiểm soát của trại rồi.
Nói tới đây, Cúc nói nhỏ chỉ đủ cho tôi nghe.
-Chị Hai hiện là người giúp việc cho nhà mình. Tiền em giấu dưới đáy lon gô đựng ruốc kho sả.
Tôi gật đầu.
-Anh đã nghe rõ rồi.
Dứt lời tôi nói to, cốt ý cho ông cán bộ nghe.
-Ba, má, thằng Tý, con Quyên, có khỏe không? Em an tâm ở trong này anh phấn đấu học tập tốt, lao động tốt, theo đúng chủ trương đường lối của đảng và nhà nước, khi nào tiến bộ anh sẽ được trở về sum họp với gia đình.
Mới hơn sáu tháng ở tù, tôi học được một câu nói nghe sặc mùi chữ nghĩa của Việt Cộng.
Ba mươi phút thăm nuôi trôi qua thật lẹ, ông cán bộ Việt Cộng thông báo đã hết giờ thăm, lợi dụng lúc chộn rộn, khi mà mọi người đang còn ồn ào xôn xao, Cúc giúi vào tay của tôi một cuộn tiền. Hành động của Cúc, không qua được đôi mắt lanh lẹ của ông cán bộ, nhưng hình như ông ta thấy cái bụng bầu của Cúc nên cố tình quay mặt làm ngơ. Tôi vội vã nhét tiền vào túi mà sợ điếng hồn.
Kéo lê hai bao thực phẩm ra khỏi nhà thăm nuôi, tôi đứng lặng yên nhìn Cúc đi về phía cổng trại, đầu của Cúc cúi gầm, tay đỡ lấy bụng, với những bước đi nặng nề chậm chạp vì cái bầu quá lớn. Hình ảnh người vợ thương yêu của mình phải chịu nhiều đau đớn mất mát, khiến tay chân của tôi cứ như rũ rượi, rã rời. Tôi ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào hai cái bao thực phẩm mà thấy cay cay nơi mắt. Tôi đang ở trong tù, ngoài kia vợ tôi cũng đang ở tù, có khác chăng chỉ là cái hàng rào vỉ sắt PSP. Hai bao thực phẩm quá nhiều, nặng có đến bảy, tám chục kí lô như không, tôi phải nhờ một anh trung úy vác giùm tôi một bao về trại. Nhìn cái bao thực phẩm của anh ta, tôi ngượng ngùng không nói nên lời, thực phẩm thăm nuôi của anh, đựng trong một cái bao ny lông nhỏ xíu ước chừng năm, bảy kí. Mấy ngày đường, đi xe đò từ Bảo Lộc Đà Lạt, đến Sông Mao, mà chỉ đem cho chồng vài kí lô thực phẩm, chuyện đó nhắc cho tôi nhớ bên ngoài vợ con của sĩ quan Ngụy hẳn là phải chịu nhiều bạc đãi, khổ sở, chẳng khác gì trong tù. Nghĩ như vậy, tôi lấy tặng anh bạn mới quen gói đường khoảng một kí. Anh ta nhìn tôi với đôi mắt đầy u uẩn, giống như chất chứa cả một đại dương buồn bã.
-Cảm ơn anh bạn, nếu bạn cho tôi một điếu thuốc, hút để lãng quên đời chắc tôi sẽ vui hơn, thích hơn.
Tôi vui vẻ lục trong bao, đưa anh ta gói thuốc còn nguyên.
-Cám ơn anh, đã giúp tôi mang bao thực phẩm về trại.
Việc đầu tiên tôi phải làm là múc hết thịt ruốc kho sả, cho vào cái hũ thủy tinh mà tôi có, nơi đáy lon gô được gói kỹ lưỡng trong mấy lớp ny-lông, là một xấp tiền mới và mười tấm giấy một trăm đô, kèm theo một lá thư ngắn gọn.
Anh giữ số tiền này để phòng thân, cả gia đình đều mạnh khỏe. Trước đây em quên nói với anh, cho nên anh để lại tám ngàn tiền Việt Nam Cộng Hòa dưới gối. Số tiền này chỉ là hột cát sông Hằng so với số tiền em đang có. Đừng lo lắng gì cho em, bằng mọi giá anh phải sống trở về với em và con. Thương anh, vợ của anh. Cúc.
Đọc xong thư, anh nhớ đốt bỏ ngay lập tức.
Tôi bật que diêm hút thuốc tiện thể đốt luôn bức thư, đợi cho đến khi bức thư chỉ còn lại chút tro tàn, tôi lấy khoảng một phần ba số thực phẩm mà tôi có, đem qua cho Long công tử. Phần còn lại của tôi và Trung úy Lợi.
Tôi và Long công tử ra ngồi sau hè nhà bếp, vừa ăn xôi gà vừa thưởng thức lon gô cà phê sữa nóng hổi. Chuyện hai đứa tôi mở tiệc linh đình như vậy, không có gì là lạ vì hầu như tất cả tù nhân trong trại, cũng đều đang tụ họp theo từng nhóm nhỏ ăn uống tưng bừng.
Tôi đưa cho Long công tử năm trăm đô la, thêm một trăm đồng tiền mới của Việt Cộng, đó là một món tiền khá lớn vào thời bấy giờ. Sở dĩ tôi biết giá trị của đồng tiền mới, vì Trung úy Lợi đã dùng một đồng mua được ba tán đường.
Long công tử nhìn tôi.
-Mày nhớ không, hồi còn ở Thủ Đức mày cho tao với Biên mượn năm trăm, tao vẫn chưa trả lại cho mày. Hôm nay mày cho tao năm trăm đô la nữa, như vậy là đúng một ngàn.
Biết Long công tử chỉ đùa cho vui, nên tôi nói với hắn.
-Dưới con mắt của một cậu công tử như mày, tiền nào cũng là tiền cho nên mày mới đem gà cọng với vịt như vậy.
Long công tử hỏi.
-Mày có biết giá trị của năm trăm đô la không?
Tôi thú thật với Long công tử.
-Đô la ngoài thị trường chợ đen của thời Cộng Sản tao không biết, nhưng mà nhiều hay ít không phải là chuyện đáng nói, không thể nào đem đô la cộng với tình bạn được.
Long công tử nhắc tôi.
-Bản tính của mày vốn nhút nhát, nhưng mày là thằng chí tình, chuyện đó sẽ hại mày về sau.
Tôi nói với Long công tử.
-Có chuyện này tao muốn nói với mày, cứ mỗi lần thiếu tiền, muốn ăn cướp của dân, tụi Việt Cộng lại đổi tiền. Từ ngày mà ông Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình cho đến nay, đúng ba mươi năm, mấy tháng trước là lần thứ tư Việt Cộng đổi tiền, tính trung bình cứ khoảng hơn bảy năm là dân Việt Nam lại bị Việt Cộng ăn cướp tài sản của mình một lần. Riêng cái thằng đế quốc Mỹ bị Việt Cộng gán cho cái tội danh xâm lược, bóc lột, thì từ ngày lập quốc tới giờ, trải qua gần hai trăm năm, hình như tụi nó chưa đổi tiền lần nào.
Long công tử giục tôi.
-Mày lo ăn thịt gà đi, nói chuyện đổi tiền làm gì cho mệt.
Tôi cười với Long công tử.
-Vợ tao chưa đi học tập nên biết được, giữ tiền Việt Cộng giống như cầm tờ giấy lộn, chắc cũng tại như vậy mà vợ tao mới gởi đô la cho tao.
Long công tử cầm cái đùi gà rô ti vàng ươm mỡ.
-Mày cứ giữ tiền đi, đưa cho tao làm gì.
Tôi thuyết phục Long công tử.
-Với bọn Việt Cộng gian xảo lọc lừa, họ nói mười ngày thành mười tháng hay có thể lâu hơn nữa, tụi mình có đề phòng vẫn hơn. Tao ở khối 5 Đà Lạt, mày ở khối 4 Bình Thuận, cách nhau không xa, tuy là bấy lâu nay tao với mày có thể gặp nhau đều đều nếu muốn. Nhưng mà…Mày còn nhớ hay không, ngày xưa khi còn ở quân trường, mày đã từng giải thích cho tao nghe về ý nghĩa của bốn chữ Cư An Tư Nguy trong phù hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức “Sống yên ổn phải nghĩ đến lúc nguy khốn”. Biết đâu tối nay, tụi Việt Cộng bất ngờ giới nghiêm, tù của khối nào ở yên trong khối đó, áp tải mày ra giam giữ ở miền Bắc, đem tao nhốt ở Phú Quốc thì sao.
Long công tử gật gù cái đầu chỉ còn vài cọng tóc.
-Mày nói nghe cũng có lý.
Nói xong Long công tử cất tiền vào túi.
-Có tiền, có đầy đủ thực phẩm rồi, tao cần phải ăn uống tẩm bổ cho mau mạnh khỏe lại như xưa.
Tôi mừng rỡ tiếp lời hắn.
-Lâu lắm tao mới nghe mày nói một câu hay như vậy, cố gắng ăn cho nhiều vào.
Với nụ cười đầy tự tin, Long công tử ghé sát vào tai của tôi nói nhỏ, giọng nói ngang tàng của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, không bao giờ chịu khuất phục trước họng súng AK.
-Khi mà sức khỏe của tao đã hoàn toàn hồi phục, hai thằng mình vượt ngục, kéo nhau vô rừng tiếp tục chiến đấu.
Tôi nhìn cái hàng rào vỉ sắt PSP xám xì xám xịt, cao đúng ba mét, với nòng súng đại liên 50 đen thui trên tháp canh, rồi nghĩ đến vợ tôi đang mang thai sắp sanh mà mồ hôi trộm tuôn ra khắp người. Tôi nhắm mắt than thầm, làm bạn với một ông sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt coi trời bằng vung, lại là bạn thân cùng sống cùng chết với hắn, quả thật không dễ chút nào. Đưa tay nâng cái lon gô, tôi ngửa cổ uống một ngụm cà phê sữa nóng mà tưởng là mình đang uống thuốc liều.
Trump nói Zelensky không có quân bài nào trong tay để đàm phán cả. Nếu năm 1994 Ukraine không bị đám Mỹ, Nga, Anh, NATO liên kết “dụ khị” phá hủy 1.800 hỏa tiễn lục địa và kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba thế giới thì xin lỗi, không riêng gì Nga mà cả Mỹ, Tàu cũng đố dám rớ đến, nói chi là xâm lược.
Nói có sách mách có chứng. Cứ nhìn nhiệm kỳ đầu của Trump, chỉ cần Kim Jong Un tức Ủn Béo xịt hỏa tiễn và nổ tá lả đã có “bom nguyên tử” là Trump lập tức hạ mình xuống nước dịu giọng làm quen ngay.
Chẳng những làm quen mà còn ve vãn hội đàm ở Hà Nội, nhưng cuối cùng cả Mỹ, Tàu, Nga chẳng ai cản được Bắc Hàn nghèo đói cứ lâu lâu bắn một hỏa tiễn ra biển hù dọa quốc tế lên ruột.
Ấy vậy mà bây giờ mấy siêu cường dự hội nghị đó (trừ Anh) nỡ hùa nhau ăn hiếp một dân tộc dũng cảm bảo vệ tổ quốc trước bọn xâm lược Nga suốt hơn 3 năm, mà không thấy bội tín với chữ ký của mình và xấu hổ ư ? Chính lòng yêu nước của dân tộc Ukraine là “quân bài tẩy” mà Trump không bao giờ tính đến.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.