Về Nữ Giáo Sư Triết Gốc Huế Phùng Thăng, Em Gái Cố Ni Sư Trí Hải

petruskyaus.net

Như Không

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Nguồn: Về nữ giáo sư triết gốc Huế Phùng Thăng, em gái cố Ni Sư Trí Hải | ĐỒNG HƯƠNG KONTUM (kontumquetoi.com)

VỀ PHÙNG THĂNG và PHÙNG KHÁNH, NHỮNG NGƯỜI DỊCH TÁC PHẨM CỦA HERMANN HESSE. Trần Hoài Thư (Trích)

Phùng Thăng (PT) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng sinh năm 1943 tại Huế. Là út trong một gia đình gồm 6 anh chị em. Chị của Phùng Thăng là Phùng Khánh, tức là sư bà Trí Hải. Sư bà Trí Hải tử nạn vào ngày 7-12-2003 trong một tai nạn giao thông, thọ 66 tuổi.

Gia đình Phùng Thăng là một gia đình hoàng tộc và rất mộ đạo Phật. Thân phụ của bà nguyên là giáo sư Hán văn tại trường Pétrus Ký vào những năm 50.

Tuổi thơ của PT lớn lên tại Vỹ Dạ, học tiểu học tại trường Thế Dạ. Lên trung học, học những năm đầu tại trường Trần Hưng Đạo – Đà Lạt, sau đó chuyển ra học tiếp ở trường Đồng Khánh – Huế. Năm 1960, vì Đồng Khánh không có Đệ Nhất nên phải chuyển qua Quốc Học. PT học ban C tức là ban văn chương…

Phùng Thăng học Đại Học Văn Khoa – Huế, ban Triết. Luận án ra trường của chị là Chỉnh lý tư tưởng Tây Phương. Năm 1966, PT trở thành một giáo sư Triết tại trường trung học Trần Quý Cáp – Hội An, lúc chị mới 23 tuổi.

PT dạy một năm tại Hội An. Sau đó vì không chịu nổi không khí chính trị ngột ngạt ở địa phương nên chị và phu quân là ông Trần Xuân Kiêm – nguyên là cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế và đoàn trưởng Phật tử trong thời kỳ Phật giáo tranh đấu – phải rời bỏ Hội An lên nương thân tận Di Linh. Ở đây chị là giáo sư Anh văn của trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc…

Sau đó, chị và Trần Xuân Kiêm chia tay. Trần Xuân Kiêm trở thành Chơn Hạnh, và Phùng Thăng trở thành Huệ Minh. Chị mang con gái trở lại Saigon. Ở đây chị là “single mom”, sống một cuộc sống khó khăn vất vả. Bạn bè đều nghĩ là “Những ruồi” của J. P. Sartre là dịch phẩm cuối cùng của chị, tuy nhiên chị vẫn tiếp tục âm thầm làm việc.

Năm 1973, chị cho ra đời một tác phẩm dịch thuật của Simone Weil mà tựa đề do chị tự chọn. Đó là “Kẻ lạ ở thiên đường”, mà trong phần giới thiệu, hình như chị bày tỏ tất cả nỗi lòng của chị: Qua toàn thể văn phẩm, tâm hồn Simone Weil vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một Quê Hương tâm linh đích thực cho mình.

Đầu tháng 5, 1975, chị dẫn con gái (bấy giờ mới 9 tuổi) tìm đường vượt biên. Chị theo ghe ra đảo Thổ Chu thuộc xã Nam Du với hy vọng được tàu Mỹ đón. Nhưng quá trễ. Quân Pol Pot lợi dụng lúc đảo không còn có chánh quyền, tấn công chiếm đảo vào ngày 10 tháng 5, lùa theo 515 người giải về đất Kampuchea trong số đó có một số người vượt biển.

Kể từ đó, và mãi đến bây giờ, gia đình chị không còn nghe gì đến tin tức của chị nữa. Chị và con gái được xem như mất tích hẳn. Riêng về phía thân nhân của chị, sau một thời gian dài cố tìm tông tích PT nhưng không thành, gia đình chỉ còn cách là dựa vào lời đoán của thầy “ngoại cảm”. Họ lấy ngày 10 tháng 6 năm Ất Mão (l975) làm ngày giỗ mẹ con chị.

Dưới đây là đoạn trích trong Tìm Dấu Phùng Thăng.

“Sau nhiều năm bặt tin, không có tin nào biết đích xác về hai mẹ con. Năm 1981, Trần Xuân Kiêm nhờ một cô bạn tên Hoa lên Đàlạt hỏi Thầy Chiêm.

Và không phải ai đến ông cũng tiếp và coi. Có lần Trần Xuân Kiêm và Trịnh Công Sơn lên coi. Ông chỉ coi cho Sơn về căn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ – Huế, mà không coi cho Trần Xuân Kiêm. Nên Kiêm phải nhờ cô Hoa lên coi ông Chiêm vào năm 1981 trước khi cô ấy đi Mỹ. Cô hoa ngồi chờ trước cửa nhà ông Chiêm khá lâu, không thấy ai ra tiếp, bỏ đi, thì có cậu con trai ra kêu lại, mời vô ông Thầy Chiêm tiếp.

Cô Hoa nói, sắp đi Mỹ, muốn biết tin một cô bạn sinh năm Quý Mùi (tuổi Phùng Thăng) vượt biên và không thấy tin. Ông nói ngay: “Không phải chết vượt biên trên biển mà chết tập thể cùng với con gái và một nguời cháu nữa (con ông anh ruột Phùng Thăng là Bửu Vụ). Cô Hoa hết hồn. Ông còn nói bị đập đầu vào gốc cây mà chết… khoảng 10 tháng 6 âm lich. Nên cô Trí Hải nói lấy ngày ấy làm ngày giỗ Phùng Thăng…”

Hiện di ảnh mẹ con chị được đặt tại chùa Pháp Hoa, Phú Nhuận – Gia Định.

Nếu chúng ta tin mỗi cuộc đời đều gắn liền với cái nghiệp phải trả, thì rõ ràng cái nghiệp mà PT phải trả này quả thật quá khủng khiếp. Quá kinh hoàng.

Chị chết lúc mới 32 tuổi. Con gái chị là Trần Nguyễn Thường Nga tức bé Tiểu Phượng chết lúc cháu mới 9 tuổi. Chị mất đi để lại một di sản văn học giá trị, được liệt kê ở cuối bài.

Như Không

**********************************

Nhớ Phùng Thăng

Thái Kim Lan

Phùng Thăng đứng thứ ba, đứng đầu từ trái qua là Phùng Khánh

Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khoá 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1, cả nhóm quen biết nhau từ ngày đệ thất, đệ lục, đệ ngũ Đồng Khánh, theo nhau mà học từng năm, nối nhau mà dệt mơ ước học trò, cho nên qua Quốc Học gặp mặt là tự nhiên thấy cùng phe, không sợ… Sợ chi không biết nữa, chỉ biết không sợ, không những không sợ mà còn có chút kiêu kiêu, tự hào… đường đường… lên làm đàn chị cả một trường toàn là nam sinh…

Nhưng tôi còn nhớ, ngày đầu tiên khi bước vào lớp học đệ nhất C2 ấy,… có lẽ tôi là người cuối bước vào lớp… nhưng rõ ràng… không trễ, tôi cố tình đi học sớm, bỏ cái cố tật đi trễ vì dù răng thì chừ đã lớn rồi, học đệ nhất thế lận.

Nhưng không trễ mà hoá ra trễ…vì khi vào lớp thì đã có một người ngồi đó rồi, dãy bàn phía bên kia khi bước vào lớp, hàng thứ ba, đầu ghế ở lối đi giữa phân lớp thành hai dãy.

Lạ. Chưa gặp bao giờ.

Áo trắng, dáng ngồi thẳng, nghiêm trang, nét mặt thanh tú, làn da trong sáng, tóc bín hai con rết thắt nơ trắng. Hai con rết và cái nơ tòn teng tiết lộ sự trẻ thơ so với nét mặt có sống mũi cao nghiêm nghị của “người lạ” ấy. Chị không cười mặc dù đôi môi hồng tươi, như tiết kiệm hay muốn giữ bí mật của cả tâm hồn hay của đôi hàm răng mà sau này tôi có lần nhìn được rất trong. Môi không cười cho nên nét diễn tả tâm tình hầu như dồn nơi đôi mắt sáng lấp lánh đầy chân thiện, chị cười bằng mắt rất lặng lẽ. Gương mặt ấy hầu như chỉ biết cúi xuống trang sách hay ngẩng lên nhìn bảng đen, hiếm khi thấy chị nhìn ngang hay liếc dọc để quan sát chuyện chung quanh mình…

Lạ, không biết từ trường mô mà vô lớp ni, cái lớp nhốn nháo, lổm ngổm nam sinh, hừng hực sức sống trẻ trung cỡ nhất quỷ nhì ma, ngồi sau khèo tóc con gái ngồi trước cuốn vào tay mình giật giật rồi giả lơ như không hay biết… Cùng lắm chị chỉ nghiêng đầu nhưng không quay lui. Thật ngoan như “ma soeur” ấy. Sau này mới biết chị học ở trường bà xơ thiệt và hình như ở xa mới về, vô lớp đệ nhất như bỏ băng các lớp trung học thường tình. Tôi thích nói “hình như” để viết về chị, vì tôi cũng chỉ “thấy” chị, mà thấy “hình như”.

Cố ni sư Trí Hải Phùng Khánh

Vâng hình như chị vẫn ngồi như thế suốt cả năm học, rất hiền, rất nhu mì, nhỏ nhẹ mà thông minh ghê gớm. Tôi nhỏ người nên ngồi đầu bàn ngay cửa vào lớp cùng với hai bạn khác. Thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra sau. Mỗi lần như thế, hình như tôi chỉ thấy một thứ ánh sáng bao quanh con người ấy, có thể vì màu áo trắng tương phản với những đầu tóc đen xanh, có thể vì cửa sổ phòng học mang nhiều mặt trời vào trong. Những tương phản không gian và thời gian nâng dáng người chị lên.

Chị khác, khác lạ với chúng tôi, ở cái thùy mị mà hầu như cứng rắn, ở cái ngây thơ trong trắng mà hầu như xưa rích lâu đời như câu chuyện cổ tích. Mỗi lần quay đầu nhìn như thế, quay đầu không phải để nhìn chị đâu, mà vì tò mò muốn biết sau lưng mình cảnh tượng lớp học ra răng, những gương mặt thanh niên và thiếu nữ đang ngồi học có chuyện chi ngộ nghĩnh không. Mỗi lần như thế, hình như tôi giật mình khi nhận ra sự nổi bật khác lạ của chị nơi dáng ngồi cung kính, mẫu mực, nhu nhã, trong ngần.

Hình như gặp gỡ Phùng Thăng đối với tôi đã làm nảy sinh một thứ sửng sốt – một thứ giật mình – cho ngũ quan cảm nhận của tôi, một thứ ngạc nhiên… như tôi đã có lần viết về nỗi ngạc nhiên của tôi khi nghe đọc bài luận văn của chị về triết học Ấn Độ.

Hầu như chị vượt xa những người cùng lứa tuổi về kiến thức và suy tư. Giật mình biết người ấy cũng mê sách, đọc sách và chững chạc gấp đôi mình. Mặc dù chị không phải là người xuất sắc nhất lớp, ồn ào nổi bật, có lẽ vì chị đã vượt xa trình độ đệ nhất nên không chuyên trò trẻ nít học thuộc bài các môn khác. Phần tôi, tôi ngưỡng mộ chị về văn tài ngay buổi đầu của niên khoá năm ấy và sự ngưỡng mộ ấy vẫn còn mãi trong lòng không bao giờ phai nhạt.

Năm đệ nhất rộn ràng lứa tuổi mười tám, lứa tuổi trưởng thành, ở ngưỡng cửa sắp từ giã “thời con nít” học trò để thành người lớn sinh viên, nghĩ đến là ngợp người. Nỗi choáng ngợp đôi khi làm say bọn trẻ, “quậy” hơn, huyên náo hơn với những chuyện trò văn nghệ, thi đua, những háo hức tìm kiếm văn học nước ngoài. Nhưng Phùng Thăng vẫn như một lạch suối trong giữa những cơn sóng sôi sục thanh xuân, vẫn chảy lặng lẽ trong dòng đời như thế, lặng lẽ mà rất sâu đến không nhìn thấy.

Giữa những náo nhiệt học trò, chị đã bắt đầu những cuộc giao lưu văn học mới: hình như chị đã mày mò dịch các tác phẩm văn học Pháp, Anh, Đức nổi tiếng đang chuyền về Việt Nam, những Camus, Goethe, Sagan, Beauvoir, Hesse… Còn nhớ khi tôi tìm đến địa chỉ ‘trung tâm văn hoá Pháp” ở đường Lê Lợi, trong đó có phòng sinh hoạt của viện Goethe, bắt đầu ghi tên học, thì… hình như Phùng Thăng đã ngồi ở đó rồi, y chang như khi tôi mới bước vào lớp C2, cái khổ người ung dung thanh thoát như thế đang ngồi trước trang sách…

Thời ấy thật lạ lùng, cả một lũ thanh niên say học, thấy chi cũng muốn học, như một cơn bệnh học trò hay lây. Đứa ni mới ghi tên học thêm lớp tiếng Pháp, đã thấy đưa tê lò dò đi vào ngồi bên cạnh. Vui thật! trong cái thành phố nhỏ bé với bề dày những thế hệ tiếp nối ham học, và sự học trở nên tâm huyết cả một đời.

Năm dự bị văn khoa 1961, bỗng đâu cả lũ lao xao, thấy xuất hiện một ông giáo sư trẻ tuổi, da trắng (người Việt mê da trắng!!!), tóc vàng, mũi cao, môi đỏ, một ông giáo sư người Đức mở lớp dạy tiếng Đức, ông tên Ferkinghoff. Thế là cả bọn kéo nhau ghi tên học tiếng Đức.

Khi tôi vào lớp, đã thấy Phùng Thăng ngồi đó rồi, an nhiên tự tại là thế! Hình như hồi ấy cả bọn sinh viên cả nam lẫn nữ đều “mê” ông Ferkinghoff, một nhân vật lạ “exotique” trong cái khung cảnh Huế xưa thời ấy. Cả bọn “mê”, có lẽ trừ chị Phùng Thăng, chị thanh thản ngồi, chăm chú đọc to hay đọc thầm từng con chữ theo ông giáo sư. Hình như chị làm cho ông giáo sư ấy chú ý nhiều hơn, hình như mỗi lần quay qua chị để chờ câu trả lời, mắt ông sáng hơn. Phùng Thăng ! Ông kêu cái tên ấy không dấu “accent” với nụ cười xin lỗi đọc sai “Phung Thang”! Mỗi khi ông bối rối tìm lời giải thích một chữ mới cho sinh viên, hình như Phùng Thăng là cái phao giải cứu ông ra khỏi cơn bối rối ấy. Đến phiên chị thì hầu như tiếng Đức được hiểu dễ dàng!

Nhưng Phùng Thăng không ở lâu với chúng tôi. Một khoảng thời gian, ký ức của tôi trống hình ảnh của chị. Hình như sau đó chị vào Sài Gòn học. Riêng tôi, có duyên với nước Đức, được học bổng du học khoá đào tạo Giáo sư Đức ngữ do người kế vị ông Ferkinghoff, giám đốc chi nhánh viện Goethe tại Huế, ông H. Hohl đề nghị. Từ xa, tôi nghe tin hai chị Phùng Khánh (từ Pháp trở về nước) và Phùng Thăng là những người cộng sự tài giỏi của Hoà Thượng Thích Minh Châu trong việc xây dựng Đại Học Vạn Hạnh trong những năm 1965, 66, 67 cho đến 1975. Hai chị đã đóng góp không ít trong công trình xây dựng thư viện Đại Học Vạn Hạnh. Hơn thế nữa công trình dịch thuật của hai chị với những tác phẩm lớn của những văn hào trứ danh thế giới đã làm khởi sắc nền học thuật miền Nam một thời thêm phong phú và đa dạng, không những trên phương diện văn chương mà còn trên lãnh vực tư tưởng thời đại. Gia tài văn học ấy có bàn tay tài hoa và tấm lòng thương văn chương, văn học nước nhà của hai chị đã như gấm thêu.

Chỉ duy một điều, mà hôm qua trước khi viết về chị, tôi mới hiểu được phần nào sau khi nói chuyện với anh Trần Xuân Kiêm: trong các tác phẩm dịch, hiếm khi thấy tên Phùng Thăng, mặc dù công trình dịch của chị nòng cốt, thiết yếu cho bản dịch. Bởi vì Phùng Thăng không muốn để tên tuổi của mình, Xuân Kiêm bảo Phùng Thăng là bóng chim nhạn qua sông không để lại dấu tích. Tôi hiểu không phải vì chị “cố tình muốn” mà chị là như thế.

Chị lặng lẽ đến như thế ấy. Lặng lẽ như tôi đã nhiều lần giật mình khi thoạt nhìn. Lặng lẽ đi và đến, ngồi ở thế gian giây phút rồi bỏ đi. Bóng áo trắng thấp thoáng sẻ sàng không gây tiếng động, đến nỗi khi cố tìm lại chị trong ký ức, tôi có cảm giác e dè sợ kinh động sự lặng lẽ ấy, sợ sẽ tan biến đi hình hài trong ký ức đẹp nhất về một con người…

Một đêm không ngủ trên đường bay về Huế, tôi mở mắt trong đêm tối tìm hình ảnh “Phùng Thăng”. “Phùng Thăng”, tôi kêu thầm như ông Ferkinghoff đã có lần nhắc hai chữ ấy trong vẻ ngây thơ, ngay cả dại khờ như đứa bé tập nói, với một nụ cười rạng rỡ hạnh phúc được nói lên như thế. Tôi tìm và lục lọi ký ức. Có chút tuyệt vọng và vô vọng không vượt qua được trước khi viết, đến từ nỗi ham muốn đem Phùng Thăng trở lại cõi trần.

Trong màn đen, tôi chỉ thấy ánh chớp từ một hành tinh nào đó, một giải lụa phất phơ trước mắt như tơ trời, một âm thanh lặng lẽ đang rơi, một thứ Quán Thế Âm nào dó như là nỗi yên lặng vô cùng…Tôi bất giác khấn vái sự yên lặng thần thánh ấy.

Sao băng

Áo trắng

Mày ngài

Bóng người ngồi đó

Giật mình có không…

Huế, mùa sương

Giáp Ngọ tháng hai 2014

Thái Kim Lan

Danh mục các tác phẩm được biết tới của Phùng Thăng

Dịch phẩm:

1) Hermann Hesse: Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch. Lá Bối xuất bản lần 1 (1965), lần 2 (1966); An Tiêm xuất bản lần 3 (1967).

2) William Barrett: Thiền với người Tây phương. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1- 1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. ll9-138.

3) Alan Watts: Thiền Beat, Thiền Square, và Thiền nổi loạn, và Thiền bảo thủ. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1-1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. l39-l56.

4) Jean-Paul Sartre: Những Ruồi. Nhà xb Thanh Hiên, năm 1967.

5) Jean-Paul Sartre: Buồn Nôn. Nhà xb An Tiêm, năm 1967.

6) Hermann Hesse: Sói đồng hoang. Phùng Thăng và Chơn Hạnh dịch. Nhà xb Ca Dao, 1969.

7) Tuệ Không: Vang bóng Nguyễn Du. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 8 tháng 12-1970, số Chuyên đề về Nguyễn Du, tt. 19-21.

8) Simone Weil: Kẻ lạ ở Thiên đường, An Tiêm xuất bản năm 1973.

Bản thảo bị mất:

9) Thế giới Thiền (The World of Zen) edited by Nancy Wilson Ross, New York 1960, do Nhà xb Thanh Hiên. [Bị mất bản thảo sau biến cố Mậu Thân].

10) Theo dấu tình yêu (Tác phẩm luận đề).

11) Chỉnh lý tư tưởng Tây phương (tác phẩm luận đề – luận án tốt nghiệp).

12) Thư cho Tiểu Phượng – Tuyển tập nhiều người viết: Linh Thoại, Phùng Thăng, Nhất Kiếm, Thiên Tứ.

(Theo Trần Hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo số 59, tháng 3.2014)

Chú thích:

1 Thái Kim Lan, Nhạc chiều của chúng ta: Tôi còn nhớ đã giật mình khi thầy Hương phát bài tập của chúng tôi viết về triết học Ấn Độ, bài của Phùng Thăng đã được đọc cho cả lớp nghe, thật gương mẫu. Về sau chị trở nên dịch giả tài hoa của những tác phẩm văn chương Đức nổi tiếng thế giới như Câu Chuyện Dòng Sông, Trò Chơi Bi Chai…của Hermann Hesse. Thật thương tiếc cho người tài hoa đã mệnh yểu… Phùng Thăng nghiêm trang, ít nói, ít cười, đúng phép con nhà.

2 Đặc biệt là Câu chuyện dòng sông, bản dịch tác phẩm Siddhartha của H. Hesse, với đồng dịch giả là Phùng Khánh và Phùng Thăng, ra mắt bạn đọc lần đầu tiên năm 1965 ở nhà xuất bản Lá Bối. Xem thêm: Thái Kim Lan, Câu Chuyện Dòng Sông và dịch giả Phùng Khánh.

Nhớ Phùng Thăng

tapchisonghuong.com.vn

11/07/2014

Thái Kim Lan

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Phùng Thăng (1943-1975) qua nét vẽ Đinh Cường

Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

Cả nhóm quen biết nhau từ ngày đệ thất, đệ lục, đệ ngũ Đồng Khánh, theo nhau mà học từng năm, nối nhau mà dệt mơ ước học trò, cho nên qua Quốc Học gặp mặt là tự nhiên thấy cùng phe, không sợ… Sợ chi không biết nữa, chỉ biết không sợ, không  những không sợ mà còn có chút kiêu kiêu, tự hào… đường đường… lên làm đàn chị cả một trường toàn là nam sinh…

Nhưng tôi còn nhớ, ngày đầu tiên khi bước vào lớp học đệ nhất C2 ấy,… có lẽ tôi là người cuối bước vào lớp… nhưng rõ ràng… không trễ, tôi cố tình đi học sớm, bỏ cái cố tật đi trễ vì dù răng thì chừ đã lớn rồi, học đệ nhất thê lận.

Nhưng không trễ mà hoá ra trễ… vì khi vào lớp thì đã có một người ngồi đó rồi, dãy bàn phía bên kia khi bước vào lớp, hàng thứ ba, đầu ghế ở lối đi giữa phân lớp thành hai dãy. 

Lạ. Chưa gặp bao giờ.

Áo trắng, dáng ngồi thẳng, nghiêm trang, nét mặt thanh tú, làn da trong sáng, tóc bín hai con rết thắt nơ trắng. Hai con rết và cái nơ tòn teng tiết lộ sự trẻ thơ so với nét mặt có sóng mũi cao nghiêm nghị của “người lạ” ấy. Chị không cười mặc dù đôi môi hồng tươi, như tiết kiệm hay muốn giữ bí mật của cả tâm hồn hay của đôi hàm răng mà sau này tôi có lần nhìn được rất trong. Môi không cười cho nên nét diễn tả tâm tình hầu như dồn nơi đôi mắt sáng lấp lánh đầy chân thiện, chị cười bằng mắt rất lặng lẽ. Gương mặt ấy hầu như chỉ biết cúi xuống trang sách hay ngẩng lên nhìn bảng đen, hiếm khi thấy chị nhìn ngang hay liếc dọc để quan sát chuyện chung quanh mình…

Lạ, không biết từ trường mô mà vô lớp ni, cái lớp nhốn nháo, lổm ngổm nam sinh, hừng hực sức sống trẻ trung cỡ nhất quỷ nhì ma, ngồi sau khèo tóc con gái ngồi trước cuốn vào tay mình giật giật rồi giả lơ như không hay biết… Cùng lắm chị chỉ nghiêng đầu nhưng không quay lui. Thật ngoan như ma soeur ấy. Sau này mới biết chị học ở trường bà xơ thiệt và hình như ở xa mới về, vô lớp đệ nhất như bỏ băng các lớp trung học thường tình.

Tôi thích nói “hình như” để viết về chị, vì tôi cũng chỉ “thấy” chị, mà thấy “hình như”.

Vâng hình như chị vẫn ngồi như thế suốt cả năm học, rất hiền, rất nhu mì, nhỏ nhẹ mà thông minh ghê gớm.

Tôi nhỏ người nên ngồi đầu bàn ngay cửa vào lớp cùng với hai bạn khác. Thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra sau. Mỗi lần như thế, hình như tôi chỉ thấy một thứ ánh sáng bao quanh con người ấy, có thể vì màu áo trắng tương phản với những đầu tóc đen xanh, có thể vì cửa sổ phòng học mang nhiều mặt trời vào trong. Những tương phản không gian và thời gian nâng dáng người chị lên.

Chị khác, khác lạ với chúng tôi, ở cái thùy mị mà hầu như cứng rắn, ở cái ngây thơ trong trắng mà hầu như xưa rích lâu đời như câu chuyện cổ tích. Mỗi lần quay đầu nhìn như thế, quay đầu không phải để nhìn chị đâu, mà vì tò mò muốn biết sau lưng mình cảnh tượng lớp học ra răng, những gương mặt thanh niên và thiếu nữ đang ngồi học có chuyện chi ngộ nghĩnh không. Mỗi lần như thế, hình như tôi giật mình khi nhận ra sự nổi bật khác lạ của chị nơi dáng ngồi cung kính, mẫu mực, nhu nhã, trong ngần.

Hình như gặp gỡ Phùng Thăng đối với tôi đã làm nảy sinh một thứ sửng sốt – một thứ giật mình – cho ngũ quan cảm nhận của tôi, một thứ ngạc nhiên… như tôi đã có lần viết về nỗi ngạc nhiên của tôi khi nghe đọc bài luận văn của chị về triết học Ấn Độ. (1)

Hầu như chị vượt xa những người cùng lứa tuổi về kiến thức và suy tư. Giật mình biết người ấy cũng mê sách, đọc sách và chững chạc gấp đôi mình. Mặc dù chị không phải là người xuất sắc nhất lớp, ồn áo nổi bật, có lẽ vì chị đã vượt xa trình độ đệ nhất nên không chuyên trò trẻ nít học thuộc bài các môn khác. Phần tôi, tôi ngưỡng mộ chị về văn tài ngay buổi đầu của niên khóa năm ấy và sự ngưỡng mộ ấy vẫn còn mãi trong lòng không bao giờ phai nhạt.

Năm đệ nhất rộn ràng lứa tuổi mười tám, lứa tuổi trưởng thành, ở ngưỡng cửa sắp từ giã “thời con nít” học trò để thành người lớn sinh viên, nghĩ đến là ngợp người. Nỗi choáng ngợp đôi khi làm say bọn trẻ, “quậy” hơn, huyên náo hơn với những chuyện trò văn nghệ, thi đua, những háo hức tìm kiếm văn học nước ngoài.

Nhưng Phùng Thăng vẫn như một lạch suối trong giữa những cơn sóng sôi sục thanh xuân, vẫn chảy lặng lẽ trong dòng đời như thế, lặng lẽ mà rất sâu đến không nhìn thấy.

Giữa những náo nhiệt học trò, chị đã bắt đầu những cuộc giao lưu văn học mới: hình như chị đã mày mò dịch các tác phẩm văn học Pháp, Anh, Đức nổi tiếng đang chuyền về Việt Nam, những Camus, Goethe, Sagan, Beauvoir, Hesse… Còn nhớ khi tôi tìm đến địa chỉ “trung tâm văn hóa Pháp” ở đường Lê Lợi, trong đó có phòng sinh hoạt của viện Goethe, bắt đầu ghi tên học, thì… hình như Phùng Thăng đã ngồi ở đó rồi, i chang như khi tôi mới bước vào lớp C2, cái khổ người ung dung thanh thoát như thế đang ngồi trước trang sách…

Thời ấy thật lạ lùng, cả một lũ thanh niên say học, thấy chi cũng muốn học, như một cơn bệnh học trò hay lây. Đứa ni mới ghi tên học thêm lớp tiếng Pháp, đã thấy đưa tê lò dò đi vào ngồi bên cạnh. Vui thật! Trong cái thành phố nhỏ bé với bề dày những thế hệ tiếp nối ham học, và sự học trở nên tâm huyết cả một đời.

Năm dự bị văn khoa 1961, bỗng đâu cả lũ lao xao, thấy xuất hiện một ông giáo sư trẻ tuổi, da trắng (người Việt mê da trắng!!!), tóc vàng, mũi cao, môi đỏ, một ông giáo sư người Đức mở lớp dạy tiếng Đức, ông tên Ferkinghoff. Thế là cả bọn kéo nhau ghi tên học tiếng Đức.

Khi tôi vào lớp, đã thấy Phùng Thăng ngồi đó rồi, an nhiên tự tại là thế! Hình như hồi ấy cả bọn sinh viên cả nam lẫn nữ đều “mê” ông Ferkinghoff, một nhân vật lạ “exotique” trong cái khung cảnh Huế xưa thời ấy. Cả bọn “mê”, có lẽ trừ chị Phùng Thăng, chị thanh thản ngồi, chăm chú đọc to hay đọc thầm từng con chữ theo ông giáo sư. Hình như chị làm cho ông giáo sư ấy chú ý nhiều hơn, hình như mỗi lần quay qua chị để chờ câu trả lời, mắt ông sáng hơn. Phùng Thăng ! Ông kêu cái tên ấy không dấu “accent” với nụ cười xin lỗi đọc sai “Phung Thang”! Mỗi khi ông bối rối tìm lời giải thích một chữ mới cho sinh viên, hình như Phùng Thăng là cái phao giải cứu ông ra khỏi cơn bối rối ấy. Đến phiên chị thì hầu như tiếng Đức được hiểu dễ dàng!

Nhưng Phùng Thăng không ở lâu với chúng tôi. Một khoảng thời gian, ký ức của tôi trống hình ảnh của chị. Hình như sau đó chị vào Sài Gòn học. Riêng tôi, có duyên với nước Đức, được học bổng du học khóa đào tạo Giáo sư Đức ngữ do người kế vị ông Ferkinghoff, giám đốc chi nhánh viện Goethe tại Huế, ông H. Hohl đề nghị. Từ xa, tôi nghe tin hai chị Phùng Khánh (từ Pháp trở về nước) và Phùng Thăng là những người cộng sự tài giỏi của Hòa Thượng Thích Minh Châu trong việc xây dựng Đại học Vạn Hạnh trong những năm 1965, 66, 67 cho đến 1975. Hai chị đã đóng góp không ít trong công trình xây dựng thư viện Đại học Vạn Hạnh. Hơn thế nữa công trình dịch thuật của hai chị với những tác phẩm lớn của những văn hào trứ danh thế giới đã làm khởi sắc nền học thuật miền Nam một thời thêm phong phú và đa dạng, không những trên phương diện văn chương mà còn trên lãnh vực tư tưởng thời đại. Gia tài văn học ấy có bàn tay tài hoa và tấm lòng thương văn chương, văn học nước nhà của hai chị đã như gấm thêu. (2)

Chỉ duy một điều, mà hôm qua trước khi viết về chị, tôi mới hiểu được phần nào sau khi nói chuyện với anh Trần Xuân Kiêm: trong các tác phẩm dịch, hiếm khi thấy tên Phùng Thăng, mặc dù công trình dịch của chị nòng cốt, thiết yếu cho bản dịch. Bởi vì Phùng Thăng không muốn để tên tuổi của mình, Xuân Kiêm bảo Phùng Thăng là bóng chim nhạn qua sông không để lại dấu tích. Tôi hiểu không phải vì chị “cố tình muốn” mà chị là như thế.

Chị lặng lẽ đến như thế ấy. Lặng lẽ như tôi đã nhiều lần giật mình khi thoạt nhìn. Lặng lẽ đi và đến, ngồi ở thế gian giây phút rồi bỏ đi. Bóng áo trắng thấp thoáng sẽ sàng không gây tiếng động, đến nỗi khi cố tìm lại chị trong ký ức, tôi có cảm giác e dè sợ kinh động sự lặng lẽ ấy, sợ sẽ tan biến đi hình hài trong ký ức đẹp nhất về một con người…

Một đêm không ngủ trên đường bay về Huế, tôi mở mắt trong đêm tối tìm hình ảnh “Phùng Thăng”. “Phùng Thăng”, tôi kêu thầm như ông Ferkinghoff đã có lần nhắc hai chữ ấy trong vẻ ngây thơ, ngay cả dại khờ như đứa bé tập nói, với một nụ cười rạng rỡ hạnh phúc được nói lên như thế. Tôi tìm và lục lọi ký ức. Có chút tuyệt vọng và vô vọng không vượt qua được trước khi viết, đến từ nỗi ham muốn đem Phùng Thăng trở lại cõi trần.

Trong màn đen, tôi chỉ thấy ánh chớp từ một hành tinh nào đó, một giải lụa phất phơ trước mắt như tơ trời, một âm thanh lặng lẽ đang rơi, một thứ Quán Thế Âm nào đó như là nỗi yên lặng vô cùng… Tôi bất giác khấn vái sự yên lặng thần thánh ấy.

Sao băng

Áo trắng

Mày ngài

Bóng người ngồi đó

Giật mình có không…

Huế, mùa sương, Giáp Ngọ tháng hai 2014

T.K.L 

(SDB13/06-14)

———————–

1. Thái Kim Lan, Nhạc chiều của chúng ta: “Tôi còn nhớ đã giật mình khi thầy Hương phát bài tập của chúng tôi viết về triết học Ấn Độ, bài của Phùng Thăng đã được đọc cho cả lớp nghe, thật gương mẫu. Về sau chị trở nên dịch giả tài hoa của những tác phẩm văn chương Đức nổi tiếng thế giới như Câu chuyện dòng sông, Trò chơi bi chai… của Hermann Hesse. Thật thương tiếc cho người tài hoa đã mệnh yểu… Phùng Thăng nghiêm trang, ít nói, ít cười, đúng phép con nhà”.

2. Tác phẩm dịch này được giới thiệu với tựa đề: Câu  chuyện của dòng sông, lần đầu tiên năm 1965 do Nxb. Lá Bối ấn hành (ấn quán Sen Vàng, 243 Sư Vạn Hạnh – Cho lon). Sau đó trước năm 1975 Câu chuyện của dòng sông ít nhất đã được tái bản 3 lần: Nxb. Lá Bối vào các năm 1965 và 1966; Nxb. An Tiêm vào năm 1967. Bìa và trang đầu của cuốn sách có ghi bản dịch của Phùng Khánh và Phùng Thăng.

Theo lời của chủ Nxb. An Tiêm, anh Thanh Tuệ, khi tái bản vào những lần sau, tác phẩm này đã được đổi thành Câu chuyện dòng sông, vì nó gãy gọn và đẹp hơn (theo ý của chủ Nxb. Lá Bối chứ không phải của dịch giả, nhưng dịch giả đã không phản đối) và từ đó mang tên Câu chuyện dòng sông. Người dịch chính là chị Phùng Khánh.

Dịch giả Phùng Khánh (1938 – 2003) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh và dịch giả Phùng Thăng, Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng là hai chị em ruột. Thân phụ của 2 dịch giả là cụ Nguyễn Phước Ưng Thiều, thuộc phủ Tuy Lý Vương (cụ Ưng Thiều là cháu nội của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh, con thứ 11 của vua Minh Mạng). Cùng thế hệ (đồng tôn) với dịch giả Phùng Khánh có nhà văn Công Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương (cùng chung ông cố nội Tuy Lý Vương Miên Trinh), Công Tằng Tôn Nữ Phương Anh (Chủ Bút Oklahoma Việt Báo – USA), nhà thơ Công Tằng Tôn Nữ Á Nam (phu nhân bác sĩ Hồ Đắc Duy)…

Dịch giả Phùng Thăng là bạn cùng lớp đệ nhất C tại trường Quốc Học của Thái Kim Lan. Phùng Thăng hay bính tóc thành hai con rít hai bên, dáng cao gầy thanh thoát trong áo dài, gương mặt đẹp thanh tú như một tiên cô, rất ít nói, học rất giỏi, nhất là môn triết và văn chương. Tôi còn nhớ, đã giật mình khi nghe bài luận văn về triết học Đông phương của chị và đã thầm nghĩ, “người ni thật là trí tuệ và tài hoa”. Chị Phùng Thăng tỏ ra rất thông hiểu triết học Ấn Độ làm cho kẻ thời ấy còn háo thắng theo phong trào triết học Tây phương là tôi ngạc nhiên và nể vì. Mãi về sau, trở về với triết học Đông phương và Phật giáo, tôi mới biết mình đã thua xa các chị về kiến thức Đông phương mà các chị đã thức thời đi trước. Chị Phùng Thăng tôi không gặp nữa từ năm 1965 khi tôi rời Việt Nam du học. (Thái Kim Lan, Câu chuyện dòng sông và dịch giả Phùng Khánh).

Thơ từ một thời thám kích vùng hai

tranhoaithu42.com

May 12, 2012 by Tranhoaithu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Xâm nhập mật khu

Gai rừng che bít lối
Đá tiếp đá chất chồng
Phân người  bốc thinh không
Cỏ tranh che tầm mắt

Người lính Thượng tiền sát
Ngần ngừ không dám lên
Trên  gương mặt xạm đen
Mồ hôi vàng lóng lánh

Tức mình, kê họng súng
Sau lưng thằng khinh binh
Ra lệnh mày không lên
Tao bóp cò đừng hối

Nói mà lòng muốn mếu
Muốn nói thêm một câu
Tao cũng són đái đây
Mày làm sao biết được?

Đánh núi

Tiến lên lại sợ phục
Rút xuống sợ lột lon
Hét hoài, cổ họng khan
Chỉ mình ta lãnh đủ

Đi lên, dao mở lối
Gai xướt rách thịt da
Đau quá, tức chửi cha
Những thằng già hiếu chiến.

Bóng tối

Trong bóng tối có ai còn phân biệt?
Có ai còn biết được người hay ma?
Chúng tôi lỡ sinh trong thời oan nghiệt
Chỉ chập chùng những bóng tối tha ma

Chúng tôi phải dùng tai thay đôi mắt
Chúng tôi phải dùng mũi để nhìn trông
Thần trí cứng, đuổi theo từng tiếng động
Tim như chừng vỡ cả khối hư không

Chúng tôi sống, ngày là đêm, bóng tối
Trong hầm sâu, dưới địa đạo u minh
Hơi hụt hẫng, theo từng cơn địa chấn
Tai ù ù như bật vỡ âm thanh

Chúng tôi đợi, từng giờ như thế kỷ
Hỏa châu vàng oà vỡ cả màn đêm
Ngọn cứu rỗi, nơi này không Phật Chúa
Chỉ ánh sáng lòa, thảng thốt, mông mênh

Chúng tôi đã nghe nhiều hơn thấy
Tiếng côn trùng rên rỉ, tiếng mưa rơi
Cả tiếng mớ của một người lính ngủ
Rất an bình không thao thức suy tư

Chúng tôi sợ nhưng kềm cơn sợ hãi
Bóng đêm ơi, cõi lụy của hồn âm
Ngọn gió lạ, như nổi từ địa phủ
Ông bà ơi, xin phù hộ đàn con

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

7. Chương 41
Buôn người

Mới đó mà vợ chồng tôi sống ở Sài Gòn đã hơn ba tháng. Tôi ngày đêm rong ruổi trên chiếc xích lô quanh Sài Gòn, nhờ đó mà biết được khá nhiều về những đường phố chính cũng như ngóc ngách của thành phố này. Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, nơi mà trước đây người dân Miền Nam vẫn thường tự hào gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông, với vựa lúa khổng lồ của đồng bằng sông Cửu Long, nguồn cung cấp thực phẩm dư thừa cho cả Miền Nam. Bốn năm sau ngày giải phóng, người dân phải ăn độn bo bo, khoai mì, khoai lang, có thứ gì độn thứ đó, cả nước đói đến xanh mặt. Tôi đang hành nghề đạp xích lô, vào thời buổi này, người có tiền để đi xích lô cũng hiếm như lá mùa thu, đã vậy giá của một cuốc xe còn tụt xuống bậc thấp nhất. Một ngày lao động cật lực của tôi, đạp xe rã cẳng cũng chỉ kiếm đủ tiền mua gạo. Thực lòng mà nói được như vậy cũng đã quý lắm rồi, nếu đem so với những gia đình bị lùa lên vùng kinh tế mới, đói rét, bịnh tật, trốn về Sài Gòn sống lây lất nơi vỉa hè. Tôi chỉ muốn kể lại những gì mình đã chứng kiến chứ không có ý than phiền hay oán trách với ai. Phần tôi ngoài chuyện đạp xích lô nuôi sống gia đình, tôi còn có mục đích khác là dò tìm đường vượt biên. Hang cùng, ngõ cụt, đường lớn, hẻm nhỏ, nơi nào tôi cũng mò tới để nghe ngóng, thu thập tin tức. Từ chuyện hôm nay một chiếc tàu đăng ký bán chính thức, chở hơn năm trăm người tới được Mã Lai, cho đến ngày mai con tàu sắt chở tám trăm người đến được Hồng Kông. Tất cả những nguồn tin như vậy, tôi nghe mà lòng bán tín bán nghi, nghe như là nghe một tin đồn, bởi vì không thể kiểm chứng được. Những lời đồn như vậy gia tăng ngày một nhiều, nhiều đến chóng mặt.

Một ngày nọ, đang rỉ rả đạp xe tà tà kiếm khách trên đường Hiền Vương, ở đây tôi thích dùng tên đường cũ, cho dù tên đường có đổi hay không, tôi không thèm để ý đến. Một lần nọ khi ngang qua khu chợ trời Nguyễn Thông, bất chợt tôi nhớ đến anh thanh niên đòi mua cái máy bơm Yanmar F10 của tôi ở vườn rau Đa Thiện năm trước. Không ngần ngại, tôi hỏi một bà bán quần áo cũ ngồi bên lề đường.

-Ở đây dì có biết anh Vinh máy nổ không?

Người đàn bà không nhìn tôi.

-Vinh máy nổ hả? Đi thẳng tới ngã tư Kỳ Đồng hỏi, người ta sẽ chỉ cho.

Tôi gặp Vinh máy nổ, anh ta mình trần chỉ mặc độc có một cái quần cụt, mồ hôi nhễ nhại đang cúi người bên chiếc máy nổ chạy bằng dầu cặn. Lui cui, cặm cụi, vặn ốc, siết bù lon, quay máy, quay hoài máy cứ nằm lì ra đó ăn vạ, Vinh máy nổ đưa tay quẹt mồ hôi trán, nhăn mặt, co chân đá mạnh vào cái máy.

-Má mày.

Đang có ý định kiếmVinh máy nổ chuyện trò, hỏi thăm đường đi nước bước, gặp cảnh hắn đang nổi giận như vậy, tôi chỉ biết im lặng, ngồi yên trên xích lô đưa mắt nhìn.

Mồi một điếu thuốc, Vinh máy nổ ngồi xuống chiếc ghế đẩu, ngửa mặt nhả khói lên trời, bất chợt thấy tôi, hắn hỏi.

-Anh bạn cần gì?

Tôi không trả lời, nhìn Vinh với hy vọng hắn nhận ra tôi.

Thấy tôi ngồi yên, Vinh máy nổ đổi qua giọng nói đầy bực tức.

-Cha nội ở đâu tới đây, muốn gây sự phải không?

Thấy tình thế coi bộ không được yên, tôi vội nói.

-Anh Vinh không nhận ra tôi hay sao?

Nhìn tôi một lúc lâu, Vinh máy nổ hất hàm.

-Anh là ai, làm sao tôi biết được.

Tôi nhắc Vinh.

-Năm ngoái anh có lên Đà Lạt, muốn mua cái máy Yanmar F10 mới cáu chỉ của tôi ở ngoài vườn rau, nhớ không?

Sau một lúc suy nghĩ, Vinh xuống giọng.

-Cái máy thì tôi nhớ rồi đó vì nó quá tốt, còn anh thì tôi quên mất mẹ nó rồi.

Giọng nói của Vinh máy nổ đúng là giọng nói của dân giang hồ, tôi thở dài ngao ngán.

-Anh nói đúng, cái gì đáng nhớ thì mình nhớ. Hôm nay tôi đến đây chỉ muốn thăm anh, sau đó là mời anh ly cà phê.

Vinh máy nổ gật đầu cái rụp.

-Đi thì đi, má nó cái máy này nó hành tôi từ sáng tới giờ, phải nghỉ ngơi một chút, uống ly cà phê mới được.

Đưa mắt nhìn tôi Vinh hỏi.

-Ngồi đâu đây anh bạn?

-À…cái quán cà phê ở góc đường đàng kia, lên xe tôi chở đi.

Vinh máy nổ quay vô nhà nói lớn.

-Má thằng cu đâu, lên coi nhà chút xíu tôi đi công chuyện rồi về liền.

Hai ly cà phê đen đá được mang ra, tôi cầm muỗng khuấy cho tan đường, bưng lên làm một hơi.

-Cà phê gì mà đắng chát cả cổ.

Vinh nói.

-Nửa cà phê, nửa bắp rang, thêm xác cau khô xay nhuyển, đắng là phải rồi, nhưng mà có chút mùi cà phê cũng đỡ ghiền. Phải không anh bạn?

Tôi gật đầu.

-Anh nói đúng.

Nhìn quanh thấy quán vắng khách, tôi ngập ngừng thổ lộ tâm tình.

-Anh Vinh nè, tôi đến Sài Gòn này cũng được mấy tháng rồi, tìm đường vượt biên nhưng không có quen ai, hôm nay chợt nhớ tới anh, nhớ chuyện anh mua máy nổ gắn vô tàu vượt biên, nên tôi đến nhờ anh chỉ mối giùm.

Nhìn tôi lâu thật lâu như để đánh giá những gì tôi mới nói, Vinh dò hỏi.

-Anh ở gần đây không?

-Bên Tân Định.

-Ngủ vỉa hè hả?

-Không, tôi ở với bà chị họ bên ấy.

-Có hộ khẩu đàng hoàng không?

Tôi thoải mái trả lời.

-Đương nhiên là có rồi.

Vinh máy nổ tỏ vẻ tin tưởng.

-Coi bộ ngon à nhe, thời buổi này mà vô được hộ khẩu ở Sài Gòn, không phải là chuyện dễ, chung chi cho công an cũng bộn phải không?

Hỏi mà không cần nghe tôi trả lời, Vinh tiếp.

-Muốn nghe chuyện vượt biên hả? Miền Bắc như thế nào thì tôi không biết chớ ở Miền Nam này, ngày nào cũng có tàu vượt biên. Đi ngay sông Sài Gòn thì năm cây, Vũng Tàu ba cây, vùng bốn hai cây, một cây cũng có luôn. Nhưng mà, mười đường dây đi chui như vậy, chỉ có một là thiệt, chín cái còn lại là đồ dởm. Anh có dám chơi không? Nếu không thì còn một con đường này nữa, bin cái đường bán chính thức của nhà nước, mười hai cây. Đây là con đường chắc ăn như bắp, bảo đảm một trăm phần trăm là ra tới hải phận quốc tế, vì tàu có công an hộ tống. Sau đó thì chết chìm trên biển vì chở quá nhiều người, hay là gặp dông bão thì ráng mà chịu.

Nghe Vinh máy nổ nói một hơi, tôi vẫn còn bán tín bán nghi.

-Cảm ơn anh đã nói cho tôi biết rõ ràng mọi chuyện. Tôi muốn hỏi thêm về những người đi bán chính thức, họ là ai?

Vinh lên giọng.

-Anh có theo dõi tin tức qua đài BBC hay VOA, nói về boat people và những con tàu chở đầy người tỵ nạn không?

-Không.

-Vậy mà cũng bày đặt nói chuyện vượt biên, chuyện tôi kể sau đây anh sẽ không tin, nhưng mà đó là hoàn toàn thật. Năm ngoái có một con tàu tên là Southern Cross ghé Sài Gòn chở một ngàn hai trăm người Việt gốc Hoa đi bán chính thức, mỗi người đóng cho nhà nước mười hai cây.

Vinh máy nổ xoa hai tay vào nhau.

-Chỉ làm một chuyến thử nghiệm, sơ sơ ông nhà nước ẵm gọn hơn nửa tấn vàng một cách ngon lành. Còn chuyện mấy ông lớn chia chác vàng như thế nào thì không một ai biết được, nó thuộc bí mật nhà nước.

Tôi nhắc chừng Vinh.

-Anh không sợ hay sao? Nói nhỏ nhỏ thôi.

Với gương mặt tỉnh rụi Vinh nói.

-Chuyện này thiên hạ đồn rùm beng ai cũng nghe, chỉ có anh là không biết thôi. Mà nè chuyện chưa hết đâu, sau đó khoảng cuối tháng mười năm 78, thêm chiếc tàu Hải Hồng chở hơn hai ngàn năm trăm người, cũng là người Việt gốc Hoa, từ đồng bằng sông Cửu Long đi Indo hay Mã Lai gì đó. Mỗi người nộp mười sáu cây, chủ tàu bốn, nhà nước mười hai.

Vinh chắt lưỡi.

-Anh biết không, mười hai cây nghe thì ít nhưng nó nặng gần nửa kí lô. Nói cho gọn, một mạng người đổi lấy nửa kí vàng. Chủ tịch đảng hay Thủ tướng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nuốt gọn hơn một tấn vàng mà không bị mắc nghẹn. Ăn chừng đó vàng mà mấy ổng cũng không thấy no, sau đó lại có hàng trăm chiếc tàu Hải Hồng khác tiếp tục ra đi, mỗi chiếc chở theo năm, sáu trăm người, mỗi người lại đóng cho nhà nước nửa kí vàng.

Tôi ngạc nhiên quá sức.

-Đếm đầu người đổi lấy vàng, như vậy là buôn người rồi chớ còn gì nữa.

-Buôn hay bán gì thì tôi hoàn toàn không biết, nhưng đó là tin tức của đài BBC nói, dựa theo lời khai của những người đi trên tàu cặp bến Mã Lai. Phần tin tức này chính tai tôi nghe không bỏ sót một chữ.

Tôi hỏi thăm dò Vinh.

-Tôi với anh mới quen nhau, những chuyện bí mật như vậy anh đem kể cho tôi nghe, bộ anh không sợ tôi là công an chìm hay sao?

Với vẻ mặt đầy tự tin, Vinh máy nổ thản nhiên nói.

-Sợ mẹ gì. Hỏi nhỏ thôi, trước năm bảy lăm anh là lính Ngụy phải không?

Tôi lưỡng lự.

-Đúng.

Vinh cười với vẻ mặt hãnh diện.

-Tôi đoán có sai đâu. Cùng phe mà, đánh bài lật ngữa luôn nghe, không giấu giếm gì hết, tôi là trung sĩ nhất Liên đoàn tám mốt Biệt Kích Dù, tốt nghiệp Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Còn anh bạn?

Tôi nói.

-Anh lật bài, tôi cũng lật luôn. Trung úy Nguyễn trọng Quân, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Nhìn tôi với ánh mắt tựa như còn nghi ngờ.

-Sĩ quan Ngụy đang còn học tập mút mùa ở Miền Bắc, xuân thu nhị kỳ mới thả một ông quan bịnh hoạn sắp chết về, nói là đã học tập tốt, nên được nhà nước khoan hồng nhân đạo cho về đoàn tụ với gia đình. Có ông quan nào mà lang thang ở đây được, cha nội đừng có bày đặt hù tôi à nghen.

Không chần chừ tôi móc trong túi quần, lấy cái bằng tốt nghiệp của Tổng trại 8 tù binh Sông Mao được bọc plastic cẩn thận, đưa cho Vinh máy nổ.

Coi xong tờ giấy, thái độ của Vinh hơi thay đổi, giọng nói của hắn có phần xúc động.

-Hết đường bin rồi hay sao mà ông thầy phải đem thân đạp xích lô?

Không trả lời Vinh, tôi phân trần.

-Tôi với anh trước bảy lăm không quen biết, không cùng đơn vị, anh gọi tôi là ông thầy khiến tôi thêm xấu hổ.

Vinh máy nổ giải bày.

-Trước bảy lăm khi tôi ra trường, mang cái lon trung sĩ còn mới tinh về trình diện Tám mươi mốt Biệt Kích Dù. Ông thầy của tôi đã dìu dắt, hướng dẫn, nâng đỡ, đưa tôi vượt qua mọi gian lao nguy hiểm, trong những ngày đầu binh nghiệp nơi chiến trường. Ông ấy là trung úy tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt. Giống hệt như ông.

Tôi biết là Vinh máy nổ đã hiểu lầm, hắn tưởng tôi là dân Võ Bị Đà Lạt. Trước năm 1975, nếu có ai tưởng lầm như vậy, tôi không đính chính mà còn nhận luôn. Bây giờ tuổi đã khá lớn, đã biết suy nghĩ chín chắn thì đâu phải ra đó, ngô ra ngô, khoai ra khoai. Không muốn nói dối với người không biết. Tôi xác nhận với Vinh.

-Tôi là trung úy tốt nghiệp Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, được thuyên chuyển về phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt, khác xa với ông thầy của anh là sĩ quan hiện dịch, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Cùng là trung úy, nhưng tôi không thể nào sánh với ông thầy của anh được đâu.

Tôi ngồi xích lại gần Vinh.

-Tôi năm nay ba mươi, còn anh?

-Hai mươi tám.

Tôi nói.

-Gọi tôi bằng anh là tôi mừng lắm rồi.

Vinh máy nổ gật đầu, hắn nhỏ giọng.

-Không biết thì thôi, giờ đã quen nhau rồi, tôi muốn nói với anh Quân một chuyện quan trọng, tụi này có tổ chức một chuyến vượt biên, định qua Tết khi trời yên bể lặng là đánh. Tất cả mọi thứ hầu như đã chuẩn bị đầy đủ, chỉ thiếu cái hải bàn, anh đạp xích lô đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ, cố dò hỏi mua giùm tôi cái hải bàn. Giá nào cũng phải mua.

Tôi lập lại lời Vinh.

-Giá nào cũng phải mua? Nếu tìm được tôi chỉ cần đổi lấy ba chỗ trên tàu, anh đồng ý không?

-Anh cứ tìm đi, chuyện này để tôi bàn với ông chủ tàu rồi cho anh biết sau.

Tôi xin Vinh một miếng giấy và cây bút, viết địa chỉ của tôi ở Tân Định rồi trao cho Vinh.

-Tất cả mọi việc đều nhờ anh, có tin tức gì nhớ báo cho tôi biết.

Trước khi chia tay, tôi uống một ngụm cà phê đậm màu xác cau, cất tiếng gọi chủ quán tính tiền.

Vinh máy nổ khoát tay.

-Chuyện của anh là lo đi tìm cái hải bàn, ba cái thứ lẻ tẻ vụn vặt này, để tôi.

Kể từ đó, cứ dăm ba ngày là tôi ghé thăm Vinh máy nổ. Khi thì kéo ra quán kiếm chút cà phê, lúc thì ngồi tại nhà Vinh uống ly trà đá, bàn chuyện vượt biên. Tình thân giữa tôi và Vinh mỗi lúc một sâu đậm, gần như có thể tin tưởng lẫn nhau hoàn toàn.

Một hôm tôi ngồi ở nhà Vinh máy nổ uống trà, nhân lúc trà dư tửu hậu, tôi mới có ý nhờ Vinh máy nổ.

-Anh Vinh nè, tôi có chuyện muốn nhờ anh.

-Chuyện gì vậy?

-Trước khi nhờ, tôi phải kể rõ cho anh nghe về hoàn cảnh gia đình của tôi. Vợ tôi là dân Sài Gòn, anh có nghe tên ông Bảy Ấn bao giờ chưa?

Vinh nhíu mày.

-Có phải ông ấy là ông vua nhà cửa ở Sài Gòn, trước năm bảy lăm không?

Tôi vội vàng nói.

-Đúng vậy.

Vinh hỏi.

-Anh nhắc tới ông già đó làm gì? Nghe đâu là ông ấy chạy đi Mỹ lâu rồi mà.

-Tôi phải nhắc bởi vì ông ấy chính là ba vợ của tôi.

Vinh trợn mắt.

-Anh em bạn với nhau lâu nay, biết nhau khá nhiều, khá thân thiết, sao anh cứ hù tôi hoài vậy.

Không cần phải vòng vo Tam Quốc nữa, tôi rù rì kể cho Vinh máy nổ nghe mọi chuyện kể từ tháng tư năm bảy lăm, lúc tôi và Cúc bị đuổi ra khỏi căn biệt thự ở đường Công Lý, đến lần đánh tư sản mại bản đợt hai hay ba gì đó. Tất cả tiền bạc tài sản của chúng tôi đều bị mất sạch, cuối cùng phải lưu lạc đến Tân Định sống, vợ tôi bán bánh căn, còn tôi đạp xích lô như anh biết.

Nghe xong chuyện, Vinh bùi ngùi.

-Tôi làm gì giúp anh được?

-Nhờ anh giới thiệu vợ chồng tôi với chủ tàu, chúng tôi muốn thương lượng với ông ta cho vợ chồng tôi đi, khi đến Mỹ sẽ trả tiền sau. Thú thật với anh, hiện tại ở Việt Nam này, gia tài của vợ chồng tôi chỉ có một lượng vàng, tiền bán cái máy Yanmar, cái máy này anh đã thấy rồi.

Vinh tiếp lời tôi.

-Biết, biết mà.

Tôi tiếp tục câu chuyện.

Tất cả tiền bạc của vợ tôi hiện còn ở ngân hàng ngoại quốc, số tiền này nhiều đến nỗi dám làm nghiêng nhà băng như không.

Vinh cười với giọng đầy khoái trá, hắn khen tôi.

-Anh cũng biết giỡn đó.

Tôi nói.

-Không có giỡn đâu, với chừng đó tiền, vợ chồng tôi trả cho chủ tàu một, hai chục cây, coi như mấy đồng tiền lẻ bị đánh rơi. Hơn nữa chủ tàu muốn đem theo chút tiền qua Mỹ sống, phải giấu giếm chỗ này chỗ nọ. Cho vợ chồng tôi đi theo, khỏe re, để vàng sờ sờ trước mắt mà không ai biết được. Chuyện quan trọng là anh Vinh tin lời tôi nói được bao nhiêu phần trăm.

Vinh nói.

-Tin anh thì tôi tin rồi, còn chủ tàu có chịu hay không lại là chuyện khác.

Tôi giải thích với Vinh máy nổ.

-Sở dĩ tôi phải thương lượng với chủ tàu, vì tôi đã lùng kiếm khắp cả Sài Gòn mà không thấy tông tích bất cứ cái hải bàn nào hết. Thời buổi này, tìm cho được cái hải bàn của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, còn khó hơn chuyện hái sao trên trời, mò kim đáy biển. Con đường duy nhất để vợ chồng tôi có thể đặt chân lên tàu vượt biên, là xin đi với điều kiện qua Mỹ sẽ trả tiền sau.

Vinh nâng ly trà ực một hơi.

-Yên chí đi, khi gặp chủ tàu tôi sẽ đem chuyện này bàn với ông ta. Còn được hay không thì tôi không biết.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy
Post by Sơn râu 22 Mar 2025

6. Chương 40
Quên hẳn tình em.

Với tờ giấy phép đi lại của công an thành phố Lâm Đồng, vợ chồng tôi và chị Hai, sau một ngày xếp hàng rồng rắn, chầu chực ở bến xe gần ấp Ánh Sáng, cuối cùng chúng tôi cũng mua được 3 tấm vé đi Sài Gòn.

Chị Hai là người đứng chủ hộ khẩu của căn nhà ở Tân Định, chúng tôi đến gặp tên công an khu vực xin ghép thêm tên Cúc, tôi và Hương con gái của tôi vào. Ngày xưa thì miếng trầu đầu câu chuyện, hôm nay đất nước đã giải phóng rồi, tùy theo tầm mức quan trọng hay không của vấn đề mà miếng trầu sẽ to hay nhỏ, nhiều hay ít, chị Hai ôm theo cây thuốc lá Samit của Thái Lan, gói gọn trong bao giấy để làm lễ ra mắt. Gã công an khu vực tươi cười chuyện trò với chúng tôi, trong khi tay của hắn nhét lẹ cây thuốc vào hộc bàn. Sau màn thẩm vấn, điều tra lý lịch của tôi và Cúc kỹ càng thêm sự liên hệ chị em họ giữa Cúc và chị Hai, gã công an khu vực cho giá.

-Một cây.

Chị Hai than.

-Thưa anh sao nhiều dữ thần vậy, chỉ là chuyển hộ khẩu thôi mà.

Gã công an điềm nhiên nói.

-Đường Hai bà Trưng ở Thành phố Hồ chí Minh, bên này thuộc quận Một, bên kia thuộc quận Ba, cách nhau chỉ hơn chục thước. Chuyển hộ khẩu từ quận Một qua quận Ba cũng hết năm chỉ rồi, gia đình chị từ Đà Lạt về đến đây, xa lắc xa lơ, đường sá xa xôi tới ba trăm cây số lận, ngồi xe đò hết một ngày mới tới. Lấy một cây là rẻ quá rồi, còn kèo nài cái nỗi gì.

Chị Hai xuống giọng năn nỉ.

-Xin anh bớt cho gia đình chúng tôi chút ít, được không?

Gã công an lắc đầu nguây nguẩy.

-Đó là cái giá theo quy định ngầm ở trên, tôi không thể nào thay đổi được.

Tôi nhìn Cúc mà ngán ngẩm cho số tiền quá lớn phải chi ra. Chỉ viết thêm ba cái tên vào sổ hộ khẩu mà phải tốn chừng ấy. Đây quả thật là việc làm của một chính quyền vô đạo, lúc nào cũng tự xưng là vì dân vì nước mà thực chất là một lũ cướp cạn, bóc lột tận xương tủy của người dân.

Tháng 3 năm 1979, gia đình tôi di chuyển về Sài Gòn, sống trong căn nhà nhỏ của chị Hai bên Tân Định. Chuyện di dời chỗ ở cũng có một vài trục trặc nho nhỏ xảy ra, không theo đúng như ý mình. Chẳng hạn như tiền bán cái máy bơm nước Yanmar là hai cây, tôi phải trả cho người môi giới hết một chỉ. Bù lại đường ống dẫn nước bằng sắt từ chỗ đặt máy bơm lên đến vườn rau dài hàng trăm mét, tôi bán được hai chỉ. Riêng miếng đất vườn vì ông nhà nước đang tính chuyện bắt mọi người phải vô hợp tác xã, nên tôi bán đất mà không có ai mua, đành để đó giao cho trời đất trông coi.

Ngày mà chúng tôi dọn vào căn nhà của chị Hai ở con hẻm nơi Tân Định, ngay tối hôm đó, nhân có buổi họp tổ dân phố, gã công an khu vực, đưa gia đình tôi lên giới thiệu với mọi người trong tổ. Sau đó hắn long trọng trao cuốn sổ hộ khẩu gồm có tên của chị Hai là chủ hộ, kế đó là tên Cúc, tôi và con gái của chúng tôi, tổng cộng là có tất cả là bốn người trong hộ.

Xong xuôi mọi việc, gã công an khu vực ra về, ngày hôm sau hắn mới đến nhà tôi lấy tiền. Sở dĩ gã công an làm việc xong rồi mới nhận vàng sau mà không sợ bị quỵt, vì thân phận của người dân chạy lo chuyển hộ khẩu như gia đình tôi, giống hệt con cá nằm trên thớt. Quỵt tiền công an khác nào đi giựt tiền của thằng ăn cướp, nó bắt cả gia đình cho đi tù mọt gông, đánh cho lòi tiền ra mới thôi.

Sau đợt đổi tiền ngày 3 tháng 5 năm 1978, đồng tiền mới có mệnh giá khá cao do nhà nước ấn định. Vào thời điểm đó 1800 đồng tiền mới sẽ mua được một lượng vàng. Tuy nhiên tiền được in ra không có vàng bạc, Mỹ kim hay một nền kinh tế vững chắc để bảo chứng, nên đối với thế giới bên ngoài, đồng tiền của Cộng Sản phát hành, không khác gì tờ giấy lộn. Trong nước niềm tin của dân chúng đối với đồng tiền còn tệ hơn, người ta chỉ giữ một số tiền rất ít ở trong nhà, đủ tiêu dùng hàng ngày. Chỉ có vàng là có giá trị tuyệt đối, tất cả mọi việc từ giao dịch làm ăn đến buôn bán đổi chác, đều dùng vàng làm căn bản. Gã công an đòi tôi trả đúng một lượng vàng mà phải là vàng lá Kim Thành mới được, bởi vì chính anh ta cũng không tin vào giá trị đồng tiền của nhà nước.

Vô được căn nhà ở con hẻm Tân Định, xong xuôi chuyện hộ khẩu, gia tài vốn liếng của tôi và Cúc còn đúng một lượng vàng. Đối với tôi, lúc này lượng vàng mà chúng tôi hiện có là cả một gia tài khổng lồ mà tôi phải cất giữ kỹ càng, sau này sẽ dùng nó để vượt biên. Cho dù có chết đói chúng tôi cũng phải chịu, quyết không được đụng đến số vàng này. Vì nghĩ như vậy nên tôi bàn với Cúc, là phải đem vàng chôn giấu dưới nền gạch hoa trong nhà bếp.

Cúc với giọng nói không được vui.

-Tụi mình quả thật là ngây thơ, để mất bò mới lo làm chuồng.

Tôi thở dài rồi than.

-Phải chi mình làm cái chuồng bò sớm hơn thì đỡ biết mấy.

Hình như không muốn nhắc đến chuyện buồn, Cúc chuyển đề tài.

-Mình phải tìm cách lo làm ăn, kiếm tiền để sống, ngồi không sẽ chết đói hết.

Tôi nói với Cúc.

-Mấy ngày nữa anh sắm vài món đồ nghề, ra góc đường đầu hẻm ngồi vá xe đạp.

Cúc nhìn tôi ra chiều thương hại.

-Anh làm có được không?

Tôi mạnh dạn trả lời.

-Đó là nghề của anh mà, ngày xưa khi còn đi học ở bậc trung học, vì nhà quá nghèo nên anh phải tự sửa xe, vá xe, tiết kiệm đồng nào hay đồng nấy. Hơn nữa thời bấy giờ tại Đà Lạt, chỉ hai tiệm bán và sửa xe đạp là tiệm Công Thành và tiệm Tân Tiến. Hai tiệm này nằm đối diện nhau trên đường Phan đình Phùng, cách quán mì quảng ở hẻm Ngọc Hiệp khoảng chừng ba trăm mét. Xe đạp của anh nếu bị cán đinh, lủng ruột ở đâu, anh phải tự vá lấy không thể dẫn bộ hàng vài ba cây số đến hai cửa tiệm trên để vá xe. Ngoài ra, anh cũng biết sửa chữa những hư hỏng lặt vặt của xe đạp từ hồi đó, bây giờ bất đắc dĩ, dùng nó làm kế sinh nhai chắc cũng có thể được. Phần việc của anh sẽ như vậy, còn em làm gì?

Cúc nói mà như đã có tiên liệu sẵn trong đầu.

-Em với chị Hai sẽ ra đầu hẻm bán bánh căn cho dân trong xóm. Cả ba người cùng đi làm, hy vọng sẽ nuôi được thân và con, không bị chết đói. Có điều này em muốn nhờ anh, tối đến khi về nhà anh giúp em xay bột, được không?

-Được quá đi chứ mình đã giao hẹn rồi, cố gắng bươn chải kiếm cơm chờ cơ hội vượt biên. Anh chỉ hơi ngại một điều, thời buổi gạo châu củi quế, người dân cả nước ăn độn bo bo, một loại thực phẩm mà các nước khác chỉ dành để nuôi súc vật. Hiện tại giá một kí gạo chợ đen là mười đồng, vàng thì một trăm tám mươi đồng một chỉ, tính ra, một chỉ vàng mua được có mười tám kí gạo. Anh so sánh như vậy để em thấy, gạo đắt như vàng. Bánh căn được làm từ gạo, đem xay thành bột. Như vậy bánh căn là một món ăn của giới nhà giàu, người dân lao động sống trong con hẻm của mình lấy tiền đâu mà ăn bánh căn?

Cúc với giọng nói bình thản.

-Vì anh là người Miền Trung sống trên cao nguyên, nơi mà cuộc sống vốn đã khó khăn từ xưa, nên anh mới có lối suy luận như vậy. Anh à, hiện tại mình đang sống ở Sài Gòn mà, người dân ở đây suy nghĩ và tiêu pha không giống như những nơi khác. Cả tuần nhịn đói ăn độn bo bo, nhưng nếu họ có chút tiền là kéo nhau đi ăn tiệm. Giờ này không còn nhà hàng nữa, thì chỗ bán bánh căn bên lề đường của em, sẽ là quán ăn lý tưởng cho mọi người.

Tuy không đồng ý, nhưng tôi phải thừa nhận là Cúc có lý phần nào.

-Anh hy vọng em nói đúng. Nếu vậy thì mình phải thử thời vận một lần.

Cúc tươi cười nói.

-Ngày mai em với chị Hai sẽ đi chợ mua thêm một ít đồ dùng lặt vặt, tất cả mọi thứ khác hầu như đã có đủ. Trước đây sau ngày ba mươi tháng tư, chị Hai đã bán bánh căn ở con hẻm của nhà mình rồi.

Phần tôi, tôi bắt đầu hành nghề sửa xe đạp, đúng ra là vá bánh xe đạp bị lủng ruột thì đúng hơn.

Ngày đầu tiên, vác đồ nghề ra một gốc cây ở đầu đường, tôi đóng tấm giấy bìa cứng với hàng chữ “Vá xe đạp” lên thân cây, đặt đồ nghề xuống rồi ngồi đợi. Tôi ngồi từ sáng tới trưa, nắng Sài Gòn nóng cháy da, mồ hôi ướt dầm cái áo sơ mi cũ, uống cả lít nước mà vẫn không hết khát. Cuối cùng sự chờ đợi của tôi cũng có kết quả. Người khách đầu tiên là một ông cụ khoảng 60 tuổi, nhìn chiếc xe của ông, tôi nghĩ thầm không biết ở cái đất Sài Gòn này còn có chiếc xe nào bệ rạc, xập xệ như chiếc xe này không. Vá xong hai cái lỗ do cán phải đinh, cầm 1 đồng của ông cụ, tôi ngập ngừng không biết xử trí ra sao cho phải đạo. Lấy đồng bạc của ông cụ thật lòng tôi không nỡ, không lấy thì đói rã họng. Sau một hồi do dự, tôi đưa lại tiền cho ông cụ rồi nói.

-Người ta vá cái ruột xe, chỉ chừng năm, mười phút, con làm tới cả hơn nửa giờ, vậy mà bác vẫn kiên nhẫn ngồi chờ, không một lời phiền trách. Lần này con không lấy tiền bác đâu, để lần sau đi.

Ông cụ hấp háy đôi mắt.

-Hình như cậu mới ra nghề, phải không?

-Dạ phải.

Ông cụ nhét tờ giấy bạc vào tay tôi.

-Cố gắng lên, dăm ba bữa, nửa tháng sẽ quen tay thôi mà.

Những ngày sau đó, chuyện làm ăn của tôi vẫn ì ạch một chỗ, không khá lên chút nào. Có ngày sáng vác đồ nghề đi tối vác về, không kiếm được đồng xu cắc bạc nào hết. Tiền vào thì không có nhưng đến trưa vẫn phải ăn, một chén rưỡi cơm là tiêu chuẩn của tù cải tạo, được tôi đem áp dụng cho cái nhà tù lớn mà tôi đang sống.

Không như lời khuyên của ông cụ đã cho tôi đồng bạc tuần trước. Tôi hành nghề chưa được nửa tháng, chưa quen tay đã muốn bỏ nghề tìm việc khác với lý do là không có khách. Tôi vá xe đạp mà suốt ngày chỉ có một việc ngóng cổ chờ khách, nhìn xe cộ chạy qua rồi chạy lại trước mặt mà phát chán. Buồn đời tôi ngồi dựa lưng vào gốc cây, trùm cái nón vải rộng vành cũ mèm lên mặt, rồi thả hồn đi về miền quá khứ vàng son một thuở. Tôi nhớ lại từ lúc còn nhỏ xíu, ngày này qua ngày khác đạp xe đi học, cuối tuần cùng Nhân đầu bạc rủ thêm vài thằng bạn nữa đi tắm ở Hồ Xuân Hương. Vì hồ nằm ngay trung tâm thành phố nên có lệnh cấm tắm. Cấm thì cấm, lũ nhỏ chúng tôi kéo nhau đạp xe đến cuối hồ, qua ngã rẽ lên Trung tâm Nguyên Tử Lực, gần đó có cây cầu sắt đen sì bắt ngang con suối dẫn vào hồ, tại đây chúng tôi mặc sức bơi lội mà không có gì phải lo lắng. Lúc nhỏ tin lời Nhân, tôi bắt con chuồn chuồn voi to bằng ngón tay út, cho nó cắn rốn, tuy đau gần chết, nhưng nhờ vậy mà sau hai tuần tôi đã biết bơi. Thêm vài tháng nữa, tôi đã bơi nhanh như rái. Tôi đã cùng với mấy đứa bạn bơi cùng khắp nửa Hồ Xuân Hương, từ vườn Bích Câu tới cầu sắt. Cho tới bây giờ dù ai nói gì cũng mặc kệ, tôi vẫn tin rằng nhờ cho chuồn chuồn cắn rốn mà tôi biết bơi, và bơi giỏi nữa là khác.

Đang mơ mơ màng màng, tôi chợt giật mình tỉnh mộng.

-Ngủ hả?

Giọng nói sang sảng của ai đó kéo tôi về với thực tại. Ngước mặt nhìn lên, trước mắt tôi một ông già trạc ngoài 50, quần cụt áo cộc, nước da ngăm đen đang ngồi chễm chệ trên yên chiếc xích lô đạp. Đưa tay chỉ vào bánh xe, ông ta nói.

-Bơm xe coi mày.

Tôi lật đật chụp cái ống bơm, lẹ làng gắn vào cái van bằng sắt nơi bánh xe. Sau chừng hơn chục cái bơm dầu như thời còn là Sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức bị huynh trưởng phạt. Khi ước chừng đã đủ hơi, tôi lấy cái cán búa gõ mạnh vào bánh xe để thử độ căng.

-Xong rồi chú.

Ông đạp xích lô móc túi đưa cho tôi một đồng.

Tôi từ chối.

-Thưa chú, bơm xe không có tính tiền.

-Giỡn hoài mày, có làm phải có ăn, những chỗ vá xe đạp, người ta bơm bánh xe đều có tính tiền. Tao đưa mày một đồng, được không?

Tôi nhìn kỹ mặt ông đạp xích lô, đúng là dân Sài Gòn, nghèo nhưng mà tính tình cởi mở, rộng rãi và đầy hào sảng.

-Cảm ơn chú.

-Ơn với nghĩa gì. Mày không biết tao nhưng tao biết gia đình mày.

Bị ám ảnh thường xuyên bởi cái bất an trong chế độ Cộng Sản, lúc nào cũng sợ bóng sợ gió, tôi đang cố đoán coi ông già này là ai, tại sao lại biết mình.

Thấy tôi ngẩn người không nói gì, ông đạp xích lô nói.

-Đâu chừng hai tuần trước, khi thằng công an khu vực đưa gia đình mày trình diện trước tổ dân phố, hôm đó tao có đi họp nên biết mày.

Tôi thở phào nhẹ nhõm.

-Bữa đó đông người quá, nên con không biết ai là ai.

-Nhìn mày, mặt mũi coi cũng sáng sủa, tướng tá cũng tạm được, tao tưởng mày về con hẻm đó để làm vương làm tướng gì. Ai ngờ lại đi vá xe đạp. Hỏi thiệt nè, làm ăn có được không?

-Thưa chú đói gần chết, cả tuần mà kiếm chỉ được mấy đồng.

-Vậy sao? Bỏ mẹ nó đi, theo tao đạp xích lô, nghề này coi vậy mà cũng dễ thở.

Tôi phân trần với ông.

-Con không có tiền thế chưn để mướn xe, cũng như không có người giới thiệu.

Trầm ngâm một lúc, ông đạp xích lô nói.

-Chiếc xe này của tao, tao chỉ đạp ban ngày, tối đến nếu mày muốn, tao sẽ cho mày mướn.

-Thưa chú, con chưa có kinh nghiệm, chỉ sợ chạy không đủ sở hụi đóng cho chú.

-Ê, mày đừng có lo, làm được nhiều đưa nhiều, làm ít đưa ít, không có khách thì khỏi trả tiền mướn xe cũng được.

Thấy điều kiện cho mướn xe quá dễ dãi, tôi hỏi.

-Thiệt không chú?

-Bộ tao giỡn với mày hả? Làm ăn chứ đâu phải ngồi lê ngồi lết ngoài quán nhậu, muốn nói gì cũng được. Tao nói một là một, tin tao đi. Mà nè nói cho mày biết, đạp xích lô dù gì kiếm tiền cũng khá hơn nghề vá xe đạp của mày, suốt ngày chỉ biết ôm gốc cây, ngủ gà ngủ gật, chẳng làm được cái con mẹ gì hết.

Tôi nói to.

-Cảm ơn chú, nếu được như vậy thì con làm liền.

-Quên cái chữ cảm ơn đi, vợ chồng mày coi bộ cũng có học hành đàng hoàng, mà sao giờ này lại trôi giạt đến đây. Cỡ tuổi mày có đánh chết ngày xưa cũng là lính Ngụy, phải không?

Trước câu hỏi khá bất ngờ của ông đạp xích lô, tôi ú ớ không nói nên lời, che giấu lý lịch hay là khai thiệt. Đang còn phân vân, tôi chợt nghe ông đạp xích lô tiếp luôn.

-Tao đạp xích lô mấy chục năm rồi, từ trào ông Diệm qua ông Thiệu cho đến bây giờ, không có dính líu gì đến Cộng Sản. Mày đừng có lo.

Yên tâm được phần nào, tôi nói.

-Thưa chú, con là lính Ngụy, cảm ơn chú đã có lòng giúp đỡ.

-Nữa, mày lại nói chuyện ơn với nghĩa, giúp người sa cơ thất thế là chuyện phải làm. Mày bỏ hết đồ nghề lên xe, tao chở đi một vòng, chỉ dạy mày mọi ngóc ngách trong nghề.

Đang lui cui lo thu dọn, tôi nghe ông đạp xích lô nói thêm.

-Tao thứ tư, vì đạp xích lô kỳ cựu nên dân trong xóm hẻm của mình gọi tao là ông Tư xích lô. Còn mày tên gì?

-Thưa chú, Quân.

-Có chuyện quan trọng mà lúc nãy tao quên nói với mày. Tao đạp xe có năm ngày trong tuần thôi, thứ bảy, chủ nhật, tao nghỉ. Hai ngày đó, nếu muốn mày có thể lấy xe chạy luôn.

Tôi hỏi ông Tư.

-Tại sao ông nghỉ hai ngày vậy.

-Mày hỏi hơi lạ, trâu bò đi cày cũng phải cho nó nghỉ ngơi. Hỏi như vậy, hèn gì mày ngồi vá xe là phải rồi.

Ông Tư chở tôi đi loanh quanh khu chợ Tân Định, chỉ mấy chỗ mà ông thường đậu xe chờ khách, rồi nói.

-Tao sẽ căn dặn cái đám đồng nghiệp của tao giúp đỡ cho mày. Phần mày, nhớ nói mày là con nuôi của ông Tư xích lô. Nếu không bọn xích lô ở đây, lại tưởng mày là thằng trôi sông lạc chợ ở đâu đến giành mối, tụi nó đục cho mà giập mật như không.

Nhờ trời giúp, tôi bỗng dưng trở thành dân đạp xích lô ngon lành. Tất cả mọi chuyện đến với tôi một cách tốt đẹp, đẹp như mơ.

Từ ngày tôi hành nghề đạp xích lô, tiền bạc vô khá là đều đặn, đủ tiền mua gạo cho bốn người trong nhà, tiền thực phẩm thì Cúc và chị Hai lo. Từ đó cuộc sống vật chất của gia đình tôi tạm ổn định, không còn phải lo lắng nhiều. Thêm một điểm lợi mà tôi không ngờ tới, nhờ đạp xích lô rong ruổi nhiều nơi, tôi nghe ngóng được nhiều tin tức về chuyện vượt biên. Từ chuyện ở Miền Tây, người ta vượt biên chỉ tốn vài chỉ vàng, đến chuyện người Hoa đi đăng ký bán chính thức, mỗi người đóng cho nhà nước 12 cây. Nói chung tất cả mọi tỉnh ven biển, người ta rủ nhau vượt biên hà rầm. Đi thoát cũng nhiều, chìm tàu vì gặp dông tố bão bùng cũng lắm, bị hải tặc Thái Lan cướp bóc hãm hiếp cũng bộn. Và quan trọng nhất là bị công an Việt Nam bắt bỏ tù cũng khẳm.

Tất cả tin tức mà tôi thu thập được, đưa đến cho tôi một kết luận: Nếu chịu khó về sống ở Cà Mau hoặc những tỉnh lẻ xa Sài Gòn, chuyện một người dân chỉ cần chung góp vài chỉ vàng là có thể vượt biên được rồi. Và, tôi tin đó là sự thật.

Sau mấy tháng đạp xích lô, tôi đã thuộc khá nhiều con đường của Sài Gòn, không còn bỡ ngỡ như những ngày đầu, phải nhờ khách chỉ đường cho mình đạp xe. Có một chuyện mà tôi vẫn giấu kín trong lòng không nói với ai, đó là lần tôi đạp xe chở khách đi dọc theo đường Công Lý, nay đã đổi tên thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi về ngang qua con đường Nguyễn minh Chiếu ở Phú Nhuận, lòng tôi bỗng dưng bồi hồi xúc động một cách lạ thường. Tôi đạp xe men theo con đường này, đạp xe mà như sống trong mơ, nhà cửa hai bên đường vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Hình ảnh của chính tôi với bộ tiểu lễ của Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngồi bên cạnh Dung trong chiếc taxi nhỏ xíu, mùi thơm của nước hoa mà Dung dùng vẫn còn lẩn quẩn đâu đây. Rồi cũng chính hình ảnh của tôi khi về Sài Gòn học khóa Đại đội trưởng, trong bộ quân phục lính tác chiến, với huy hiệu của Trường Võ Bị Đà Lạt may bên tay áo trái, thêm hai cái bông mai vàng trên cổ áo.

Dung với chiếc áo dài lụa màu vàng mỡ gà, ôm gọn lấy thân hình đầy đặn của nàng.Chúng tôi rong chơi khắp Sài Gòn trên chiếc xe Honda hai bánh của Dung. Không biết đó có phải là những ngày hạnh phúc nhất trong đời hay không, mà khi nhớ đến tôi lại thấy mọi chuyện hiện ra rõ mồn một trước mắt. Tôi dừng xe trước nhà có hai cây vú sữa, mà không hiểu bằng cách nào tôi có thể đến đây được. Căn nhà vẫn vậy, vẫn như xưa nhưng sao tôi thấy có cái gì đó hơi là lạ. Sau một lúc tìm tòi lục lọi trong ký ức, tôi mới nhận ra căn nhà bây giờ chỉ còn có một cây vú sữa, cây kia đã bị cưa mất tự lúc nào. Chuyện cũng phải thôi, ruộng dâu còn biến thành biển cả, tôi và Dung người đi kẻ ở, thì hai cây vú sữa chỉ còn một là phải rồi.

Một người đàn bà mở cửa nhìn tôi rồi hỏi.

-Ông tìm ai?

Nhìn người đàn bà, tôi biết bà ta là ai rồi, và mong rằng bà ta cũng nhận ra tôi. Đợi cả phút mà không thấy tôi nói gì, người đàn bà quay lưng đi vô nhà miệng thì nói.

-Cái đồ mất nết.

Tôi lật đật gọi giật lại.

-Chị Lành.

Người đàn bà quay lại thật nhanh, nhìn tôi một lúc rồi hỏi.

-Sao ông biết tên tôi?

-Chị không nhớ tôi sao? Tôi là Quân đây mà.

Người đàn bà mở to đôi mắt nhìn tôi một lúc rồi la to.

-Cậu Quân phải không, mới có mấy năm mà sao cậu thay đổi nhiều quá vậy. Nếu cậu không nói, chắc tôi không nhận ra cậu, cứ tưởng là ông đạp xích lô đang đợi đón khách. Mời cậu vô nhà uống nước, thật là may mắn tôi có nhiều chuyện muốn nói với cậu.

Đang còn lấn cấn với chiếc xích lô, tôi chưa biết phải làm gì thì chị Lành đã nói.

-Đem xe vô sân, tôi sẽ khóa cổng lại là an toàn.

Chị Lành pha cho tôi một ly trà nóng.

-Sĩ quan Ngụy học tập được thả về đếm trên đầu ngón tay, cậu về được bao lâu rồi?

-Cũng hơn hai năm.

-Dữ ác hông, vậy mà hôm nay mới tới đây. Tôi mong được gặp cậu, bởi vì có một lá thư của cô Dung gởi cho cậu.

Vì nóng lòng muốn biết trong thư nói gì, tôi vội vàng hỏi chị Lành.

-Dung nói gì vậy chị?

-Cậu cứ từ từ uống nước đi, tôi vào trong lấy thư cho cậu.

Nhìn nét chữ của Dung, tôi thật sự xúc động tưởng như mình bị ngộp thở. Để trấn áp sóng gió trong lòng, tôi cố lấy bình tĩnh hớp một ngụm trà. Bức thư viết từ tháng 7 năm 78.

Anh yêu,

Em đang ở California với ba má. Mọi chuyện đều tốt đẹp. Chỉ thiếu anh nên em cảm thấy cuộc đời như vô nghĩa, cho dù là em đang ở Mỹ. Ở đây em có theo dõi tin tức Việt Nam, và biết rằng tất cả sĩ quan Ngụy đều được nhà nước khoan hồng nhân đạo, cho đi học tập cải tạo. Em hiện đang đi học lại và sẽ chờ anh, chờ mãi cho đến khi mình gặp lại nhau.

Em chỉ viết ngắn gọn vì đường bưu điện giữa Mỹ và Việt Nam, hình như chưa được thiết lập bình thường. Nếu nhận được thư này, anh nhớ trả lời cho em liền nghe. Địa chỉ của em ghi ngoài phong bì.

Thương anh rất nhiều, nhớ anh còn nhiều hơn nữa.

Em, Dung.

Đọc xong bức thư, tôi ngồi thừ người ra như kẻ mất hồn. Được một lúc, tôi thẫn thờ nhét lá thư vào túi quần, đi ra sân.

Chị Lành mở cổng đứng nép qua một bên, nhường đường cho tôi đẩy chiếc xe xích lô ra. Không chào không nói, tôi đạp xe đi thẳng về nhà.

Tới đầu con hẻm, tôi thấy Cúc vẫn chưa về, đang ngồi bên lò đúc bánh căn, bu quanh là ba người đàn bà và hai đứa con nít, họ đang say sưa thưởng thức mấy cái bánh căn một cách ngon lành, đầy nhiệt tình.

Thấy tôi Cúc vui mừng nói lớn.

-Anh ngồi đây coi hàng giúp em một chút, em về nhà lấy thêm bột rồi ra liền.

Tôi ngồi bệt xuống cái đòn bằng gỗ nhỏ xíu, múc một ít nước mắm ngọt đã pha sẵn đựng trong cái thẩu bằng thủy tinh, đổ vào chén, thêm một muỗng tương ớt rồi thản nhiên bốc một cái bánh chấm nước mắm nhai ngon lành.

Đúng là món ăn của nhà giàu, chỉ toàn là bột gạo, không pha bắp, không trộn bo bo, nhờ đó mà cái bánh dẻo thật là dẻo, thơm thật thơm mùi gạo. Sẵn bụng đang đói, tôi nhai ngấu nghiến một lúc ba cái bánh, trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên của mấy người đàn bà.

Cúc từ trong hẻm đi ra, hai tay bưng một cái nồi nho nhỏ. Hương, con gái tôi mặt mũi lem luốc, tay níu áo bà ba của mẹ, tay cầm cái chén. Nhìn hai mẹ con áo quần lôi thôi lếch thếch, giống như vừa mới đi làm ruộng về, thương vợ, thương con, thương cho bản thân mình, bỗng dưng tôi thấy cay cay nơi mắt. Tôi đưa tay giụi mắt rồi nói khống.

-Có chút ớt thôi mà sao cay quá.

Cùng lúc ấy, một quyết định dứt khoát thoáng qua trong đầu, tôi lần trong túi quần, lấy bức thư của Dung, bức thư mà trước đây chừng nửa tiếng, tôi nâng niu quý trọng. Sau một phút chần chừ, tôi dùng cái gắp than bằng sắt, dở cái khuôn bánh căn to cỡ cái chén nhỏ lên, thả bức thư vào. Bì thư được làm bằng một loại giấy dày, trắng bóc, tên của tôi được Dung viết bằng lối chữ in không bỏ dấu, uốn mình vặn vẹo trong lửa hồng như than khóc trước khi biến thành tro bụi. Cũng cùng lúc ấy, gương mặt của Dung với đôi mắt đầy vẻ lo âu nhìn tôi, trước khi mất hút trong lòng chiếc máy bay C130 đêm nào ở phi trường Tân Sơn Nhất. Đôi mắt ấy, tôi đem theo cho đến ngày hôm nay, giờ đây nó đang mờ dần, nhạt nhòa rồi biến mất. Tôi đặt cái khuôn bánh căn lại chỗ cũ che kín ánh lửa hồng, mà tưởng là mình đang đậy nắp tấm ván thiên, chôn chặt mối tình say đắm, cuồng nhiệt của một thời xa xưa. Trong giây phút chạnh lòng, tôi chợt nghe tôi nói với chính mình: Dung ơi! Anh muốn gọi tên Dung một lần nữa, để rồi từ đây cho đến cuối cuộc đời sẽ “Quên hẳn tình em.”

Đôi mắt người Sơn Tây

tranhoaithu42.com

January 28, 2020 by Tranhoaithu

Truyện thời chiến của Trần Hoài Thư

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

(tranh Thái Tuấn. Ảnh background: Kinh Vĩnh Tế, nguồn: Internet)

Buổi chiều có một người sống trôi nổi dưới những cánh rừng tràm, gian khổ cơ cực với muỗi vắt sinh lầy, đã trở về nói với tôi về huyền thoại của một con kinh, biên giới giữa hai xứ sở Miên Việt. Tôi mời y một điếu thuốc và một ly cà phê đen. Tôi hỏi về những ngày y ở ngoài Bắc, lặn lội trường chinh vượt Trường Sơn với những đoàn xâm nhập, chống chọi cùng bệnh tật, và bom đạn để rồi cuối cùng dừng quân bên kia bờ kinh Vĩnh Tế. Y vừa thả khói, vừa kể. Và một câu nói cuối cùng của y đã làm tôi thật sự xúc động:

–       Anh có biết kinh Vĩnh Biệt không?

Tôi lắc đầu chịu thua. Y thêm:

–       Kinh Vĩnh Tế đấy.

Tôi hỏi:

–       Tại sao gọi là kinh Vĩnh Biệt?

–       Bởi vì, mỗi lần chúng tôi vượt qua con kinh này, chúng tôi đều nghĩ ngay đến cái tiếng buồn não nùng kia. Chúng tôi thấy rằng đó là lúc chúng tôi phải vĩnh biệt tất cả. Vĩnh biệt gia đình thân yêu, vĩnh biệt quê hương, vĩnh biệt những ngày thanh xuân…

Tôi đã lặng yên để nghe những lời thành thật của người lính Bắc. Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe về một câu chuyện bi thảm dành riêng cho con kinh mà Thoại Ngọc Hầu đã đào cách đây gần hai thế kỷ. Và đây cũng là lần đầu tiên tôi thấy rằng vùng đất mà tôi đã trải qua, luân lạc, không phải một vùng đất quen thuộc. Nó cũng không phải là một nơi trầm lặng, không gợi cảm, cũng như làm phong phú thêm cuộc sống nội tâm của con người. Tôi đã tìm ra một điều là dưới từng vuông đất này, đều có cả một huyền thoại, ở từng con kinh, con rạch, từng bờ ruộng, bờ vườn đều có những chuyện não nùng. Ngày xưa vùng đất mới này, là cả một lịch sử kỳ diệu, được tạo dựng bởi năng lực con người. Nhưng bây giờ, cũng có những câu chuyện buồn bã thay thế vào đó. Chẳng hạn, từ một cái tên Vĩnh Tế, hôm nay, cũng có những người thay vào bằng tiếng Vĩnh Biệt.

Đối với người trẻ tuổi gốc Hà Nội này, tâm trạng y là một biển bùi ngùi. Còn tôi, tôi cũng buồn không kém. Tôi đứng dậy, và ra ngoài sân. Tuy xung quanh tôi là nhà cửa, dinh thự bao bọc san sát và những ánh đèn đầu tiên của thành phố báo hiệu một đêm bình an, nhưng rõ ràng trong đầu tôi, lại rực rỡ hiện lên một con kinh màu nước phù sa vàng đục, chảy ngang qua cánh đồng bao la, dưới ánh mặt trời chiều vàng vọt. Con kinh ấy như một giới hạn não nùng chảy vào tâm hồn tôi. Bằng một chuyện tình xa xôi. Bằng một kỷ niệm không bao giờ phai nhạt được. Tuy hai bờ cách xa nhau mười mấy thước nhưng rõ ràng, khoảng cách đã quá diệu vợi, ngăn cách trùng trùng. Và từ câu lạc bộ tiếng hát của Thái Thanh vẳng lại bài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Tự dưng ma quỷ bắt đôi chân tôi bước lại quán, con tim tôi như nhòa lệ. Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Buồn viễn xứ khôn khuây… Trên bầu trời sẩm nhạt, in những cánh chim én. Những cánh chim én của mùa xuân ấy đang lượn vờn như một điệu luân vũ. Thì ra mùa xuân đã lại trở về. Thì ra kỷ niệm đã như những cánh én kia, xa vắng một năm, bỗng một chiều đột nhiên trở lại…

Trước ngày ngưng bắn, tôi là kẻ thường vượt qua giòng kinh Vĩnh Tế nhiều nhất. Bởi nghề tôi bấy giờ là phóng viên chiến trường, đặc biệt về chiến trường ngoại địa. Hơn nữa, tôi coi vùng này là một vùng đất cần phải khám phá, học hỏi, giúp cho cuộc sống tôi rất nhiều trong hoài bão mà tôi từ lâu ấp ủ: là viết văn. Tôi sẽ là một chứng nhân của một Đông Dương bất hạnh. Tôi sẽ mở rộng tầm mắt, chữ nghĩa, vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ hẹp rêu phong của cuộc sống thường nhật. Tôi muốn tìm xem ở bên kia bờ kinh Vĩnh Tế, chiến tranh là gì, đau khổ là gì, bom đạn là gì, chủ nghĩa là gì. Cho dù, những thứ ấy như một bài học quen thuộc mà mỗi ngày tôi đã gặp phải, đã chứng kiến. Cho dù, tôi hiểu rằng trên mặt địa cầu này, chiến tranh quả là một chuyện thường tình, như một biến chuyển của lịch sử. Ấy vậy, bằng cõi lòng tham vọng vô bờ, tôi vẫn lên đường. Tay xách máy ảnh. Túi đựng cuốn sổ tay, và cây bút. Thế là tôi khởi hành. Khởi hành trong bất cứ thời gian không gian nào. Từ trực thăng, hay trong thiết vận xa hay theo một đoàn quân tiếp ứng lội bộ, tôi vượt qua biên giới. Nói là biên giới, nhưng thật ra, nó chỉ là con kinh nhỏ hẹp, như trăm ngàn con kinh ở miền đất tôi về mà thôi. Nó không phải hung vĩ, bí mật và phân định rõ ràng như rặng Trường Sơn, hay một ranh giới thiên nhiên nào khác. Và cũng vì lý do đó, khi xuống chiếc đò đưa qua bờ, lòng tôi cũng chẳng hề rung động là bao nhiêu. Ngoại cảnh như một bức tranh thường tình. Vẫn là đồng lúa xanh rì, vẫn là những khóm thốt nốt trơ trọi in bóng bên bờ ruộng. Vẫn một mặt trời rực rỡ giữa một từng không chói chang.

Nhưng rõ ràng, càng đi sâu vào nội địa xứ người, tôi lại càng gặp biết bao nhiêu câu chuyện đáng để ghi nhớ. Từ pháo tháp của một thiết vận xa, giữa một cánh đồng tháng chạp trong mùa nước lớn, tôi đã bấm máy ảnh lia lịa. Mỗi hình ảnh qua đi là một biểu tượng đẹp não nùng. Từ ngôi chùa mái ngói cong vút màu đỏ thắm ẩn hiện giữa những kẽ lá của hàng thốt nốt. Từ những sóc dưới chân núi đồi, như bao phủ bởi một bầu không khí của thần linh tôn giáo. Từ những ngôi chùa đầy ngập người tản cư… Đó là những hình ảnh mà tôi đã gặp phải trong toàn cõi Đông Dương. Chúng cũng xảy ra ở Lào, Việt Nam. Và chúng đã làm cho một kẻ bàng quan nhất cũng phải đặt câu hỏi: Chiến tranh và tôn giáo. Cái nào là sức mạnh? Tuy nhiên, theo tôi, vấn đề đã đặt ra quá lớn lao. Tôi còn phải học, học thật nhiều. Với tôi, tôi không phải là một kẻ tham dự. Mà là một chứng nhân.

Vào một ngày đầu tháng chạp, tôi mang đồ nghề theo chân một đoàn thiết vận xa về giải tỏa áp lực địch tại T., một thành phố nằm trên con đường số 1 nối từ  Neak Loeung đến Thủ đô Nam Vang. Buổi tối có mưa sùi sụt, đám quân dừng đêm tại một đồng không mông quạnh và mênh mông nước, để sáng sớm tinh sương hôm sau mới tiến chiếm mục tiêu. Ngồi trên pháo tháp lạnh lẽo, bên cạnh người bạn mới quen, tôi kể lại những ngày ở thành phố, những buổi chiều của Bonard, Mai Hương và bạn thì kể lại những ngày dài ở xứ lạ quê người. Trời tối như mực, đến nỗi cảnh vật cách xa chừng 4, 5 thước, mắt người cũng chẳng nhận ra nổi. Thỉnh thoảng vài trái sáng được bắn lên từ bên kia rặng núi, soi cả một thinh không trong giây phút, rồi tắt lịm.

Người bạn bỗng nói:

–       Có bao giờ anh nghĩ rằng ở giữa vùng đất này lại có một người con gái như trong một bài thơ của Quang Dũng?

–       Có phải là Đôi Mắt Người Sơn Tây?

–       Vâng.

Rồi bạn vừa đốt thuốc vừa kéo cao cổ áo lạnh. Cơn mưa đã dứt, nhưng khí lạnh lại bốc tỏa đầy trời. Bạn lại giục tôi:

–       Trước khi kể câu chuyện, mời anh uống một chút rượu cho ấm. Rượu mang từ quê nhà đấy…

Tôi nghe lời bạn. Hớp rượu nồng nàn cả châu thân, như những giọt hạnh phúc nho nhỏ của một đêm trên vùng binh lửa. Tuy nhiên, thú thật tôi đã bỏ quên những nỗi bất trắc, hiểm nguy ra ngoài. Với tôi, đêm như một cơn mộng, và một tình nhân. Tôi chẳng còn để ý đến những tràng súng nhỏ thỉnh thoảng cắt xé cả một lòng tĩnh mịch. Tôi cũng chẳng còn quan tâm đến những tin tức đang giục giã trong máy siêu tần số bên cạnh. Và lời bạn nồng nàn:

–       Rồi ngày mai, tôi sẽ đưa anh đến một quán nghèo giữa quận K. Anh sẽ gặp một thiếu phụ trẻ. Hy vọng anh sẽ có nguồn cảm hứng để viết.

–       Người thiếu phụ ấy có liên quan gì đến anh?

Người bạn lắc đầu:

–       Không. Nhưng liên quan đến tất cả chúng ta. Nhất là anh?

–       Tại sao vậy?

Người bạn thiết giáp cười thật bí mật:

–       Anh là phóng viên, chắc anh đoán được.

–       Bạn nói hơi quá. Phóng viên chỉ là một chứng nhân. Tôi đến để ghi nhận, khám phá. Tôi không phải là thầy tướng số.

–       Ừ, xin lỗi. Nhưng, với một tâm hồn dễ xúc cảm của một nhà văn, chắc anh đã đoán được.

Tôi cười:

–       Thôi tôi xin chịu thua. Anh kể tiếp về người thiếu phụ Miên đó đi.

–       Không phải là người Miên, mà là người VN.

–       …?

Bạn vất mẩu thuốc xuống ruộng nước, rồi tiếp tục hớp khẽ từng hớp rượu đắng. Đêm nặng và đầy sương. Một trái sáng lại bắn lên từ hướng Bắc. Giọng bạn ấm:

–       Bởi thế tôi mới gọi là đôi mắt người Sơn Tây. Vâng, tôi không ngờ, hai mươi năm về sau, cũng có đôi mắt của  một người Sơn Tây để mình bồi hồi nhớ lại mấy câu thơ tuyệt vời: Em ở thành Sơn chạy giặc về, Tôi từ chinh chiến cũng ra đi hay Đôi mắt người Sơn Tây, U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây… Buồn viễn xứ khôn khuây… Anh biết không, nàng chính là một người Việt. Một người Việt một trăm phần trăm. Khi đơn vị tôi đến quận K., bọn tôi nhào xuống chợ tìm mua một vài vật dụng cần thiết. Riêng tôi, tình cờ tìm đến một ngôi quán nhỏ bên đường. Và người bán hàng quả làm cho tôi ngạc nhiên hết sức. Da nàng trắng muốt, gương mặt thùy mị, tuy nỗi cam khổ đã thấy rõ ở những ngón tay, quần áo của nàng. Rõ ràng là một cánh hoa lạ. Trong khi dân tộc nàng, màu da vàng mặt, thì màu da của nàng lại trắng nuột… Tuy nhiên, thú thật với anh, điều này chẳng làm tôi để ý đến bao nhiêu.

Giọng nói của người bạn sũng buồn:

–       Vâng. Thú thật tôi đã coi nàng như tất cả những phụ nữ Miên khác. Bởi cách ăn mặc, giọng nói của nàng. Bởi cung cách của nàng. Tôi đã bập bẹ vài tiếng Miên học lóm được, để diễn tả vài điều cần nói. Nhưng về sau, tôi bỗng nhiên nghe được một tiếng mẹ đẻ Thưa Ông. Điều mà tôi sửng sốt là giọng nói ấy là một thứ giọng Bắc. Một giọng Bắc chính cống. Rất dịu dàng. Rất dễ thương, nhất là người ấy là người con gái Bắc thì quả là một điều phi thường. Nhất là quê hương tôi là đất Bắc…

–       Nàng nói gì không?

–       Nàng hỏi quê nhà mình dạo này ra sao? Bên mình hòa bình chưa? Nàng nhớ nhà quá. Còn tôi, tôi hỏi nàng gốc người ở đâu, tại sao lưu lạc ở mãi vùng đất này.

–       Nàng bảo sao?

–       Nàng nói nàng sinh tại Sơn Tây. Rồi nàng tấm tức khóc. Sau đó, có chồng nàng đến. Nàng chắc sợ một điều gì đó, nên đã giả vờ vui, rồi nói tiếng Miên huyên thuyên. Tôi muốn hỏi thêm, nhưng lệnh lại ban xuống là đơn vị phải di chuyển gấp. Thành ra tôi chẳng biết gì thêm về nguồn gốc và lịch sử một người thiếu phụ đáng ghi nhớ kia…

–       Quả chuyện của anh như một bài thơ.

–       Phải. Như một bài thơ của Quang Dũng.

Ngừng một lát, rồi người bạn nói tiếp:

–       Ngày trước thú thật, khi đọc bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của Quang Dũng, tôi xúc động vì sự xuất thần của nhà thơ. Về câu chuyện tình tuyệt vời mà nhà thơ của chúng ta đã sáng tạo, về những nét gợi cảm của từng chữ nghĩa, cũng như cách gieo vần…

–       Hơn nữa là cốt cách tiểu tư sản dấn thân của chàng trai Hà Nội…

–       Vâng. Khi chúng ta đọc bài Màu Tím Hoa Sim hay Đôi Mắt Người Sơn Tây, chúng ta chỉ biết rung cảm cùng những nhân vật, khung cảnh, thời gian trong thơ. Nhưng bây giờ, thật sự tôi đã thấy rõ thật thấm thía một câu chuyện tình lồng trong bài thơ kháng chiến. Bởi hai ba mươi năm sau, lại có một người con gái Sơn Tây hiện đến với tôi. Anh nhớ những câu thơ này không: Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Rõ ràng từ khi gặp nàng, mỗi khi đọc lên những câu thơ đó, là lòng tôi lại vương lên một mối sầu. Chỉ có cái giọng nói dễ thương thốt lên trong giây phút. Chỉ có tiếng nói Thưa Ông. Chỉ có màu da trắng mượt lạc loài giữa một giống người lạ là có cả một câu chuyện lớn. Anh là nhà văn. Dĩ nhiên tâm hồn anh nhạy cảm hơn tôi. Dĩ nhiên, anh đang đi tìm đề tài. Tôi sẽ mang anh lại vào sáng mai. Đó là cả một đề tài lớn. Tôi tin vậy. Người bạn vất mẩu thuốc cháy dở. Một trái sáng lại òa vỡ, và mắt bạn trở nên lung linh xa vời. Anh lại nói:

–       Anh nên nhớ là tôi cũng thường xuyên theo dõi sách báo văn nghệ. Có một điều làm tôi ngạc nhiên là sự vay mượn câu chuyện, tình tiết của người ta nhiều quá. Từ chuyện tình đến chuyện chiến tranh. Tôi xin lấy ví dụ là các nhân vật trong Love Story, hay Roméo et Juliette, hay các tác phẩm của Remarque lại được thổi phồng, thi đua khai thác. Tôi thấy nước mình, hoàn cảnh của bọn mình, có hằng ngàn câu chuyện cảm động quyến rũ, tình tiết và thơ mộng hơn thế nữa.

–       Tôi ghi nhận ý của anh.

Và tôi cười:

–       Nội cái câu chuyện Đôi mắt người Sơn Tây của anh quả là một câu chuyện tình tuyệt vời rồi còn gì.

–       Anh là nhà văn, tôi xin nhường tất cả cho anh đó. Còn tôi, lưu lạc mãi sống cùng cái chết từng giây từng phút thì giờ đâu… 

Vào sáng ngày mai, cả đơn vị lại lên đường. Tôi đi theo thiết vận xa của người bạn, mà cõi lòng nôn nao vô cớ. Không phải tôi sợ những quả đạn, pháo bất ngờ từ ngọn núi rơi xuống, hay một trận phục kích nào đó bất ngờ xảy ra. Những điều này chắc không bao giờ xảy ra. Bởi đơn vị tôi đi theo là một đơn vị thiện chiến. Họ đã chiến đấu giỏi và đã từng tham gia nhiều trận đánh khủng khiếp hơn thế nữa. Với lại, đoàn thiết vận xa đang ở giữa một đồng nước mông mênh khó lòng địch nhắm trúng mục tiêu. Nhưng tôi phải thú thật rằng, tôi đang bị hình ảnh người con gái chưa gặp gỡ, chưa quen biết kia đã đớp hồn tôi thật sự rồi. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao nữa. Hay vì giòng máu văn nghệ của tôi. Hay vì tôi đã thấy được một đề tài đẹp và thơ mộng trong chuyện vượt biên này. Hay vì hình ảnh bài thơ tuyệt vời mà tôi đã ưa thích ngay từ khi cầm sách đến trường trung học. Chưa chi mà trí não tôi đã vẽ vời bao nhiêu tình tiết, xây dựng nên những nhân vật, mà dĩ nhiên nàng thiếu phụ lưu lạc kia là nhân vật chính, và cả tôi nữa. Tôi phải làm gì đây. Lòng tôi chợt bị khích động. Tôi nghe dòng máu của mình cuộn chảy. Trời đất vẫn quen thuộc khi chúng tôi đi qua. Những người Miên thấy chúng tôi chắp tay cung kính như phong tục của một dân tộc ngoan đạo Phật. Những ngôi chùa mái cong vút lên mây ẩn hiện đằng sau những khóm dừa, khóm thốt nốt. Những ngôi nhà sàn trong sóc, còn thở khói. Đám con nít nhìn đoàn quân cười thơ ngây. Trong gió, chừng như nghe mùi đất, mùi rơm và cả mùi ngây ngây của luống cầy mới vỡ. Có những cánh én bay rợp xuống mặt nước, rồi vút lên cao. Có những cánh én đuổi theo sau những chiếc vận xa, giỡn đùa cùng những ống nước mới vỡ. Bầu trời thật xanh, như mùa xuân. Có ai đã nhắc đến mùa xuân rồi. Gần đến Tết rồi. Anh em ơi. Giọng nói mang vào lòng những đứa con của chiến trường một niềm nhớ nhung tràn ngập. Riêng tôi, tôi mải đuổi theo những cánh bướm để mua vui. Tôi đã mỉm cười với chúng, với trò chơi nghịch ngợm của một loài chim của mùa xuân. Đối với tôi, loài chim ấy hình như đã có một sự liên hệ mật thiết. Chúng theo tôi như một niềm ân sủng. Chúng từ một cõi nào đó, ngoài thềm lục địa, trở về vui vầy cùng loài người rồi lại ra đi. Như một ngày gần cuối năm này. Chúng hết lượn vờn trên cao rồi sà xuống thấp, sát xuống những bọt sóng. Chúng vô tư, tinh nghịch, chẳng hề biết trên thềm lục địa này có những tai ương bất hạnh triền miên.

Và đúng như lời của người bạn, buổi trưa cả đơn vị dừng quân tại ngay trung tâm quận K. Người bạn đã nháy tôi và cả hai tìm đến ngôi quán bên đường. Và tôi đã gặp người thiếu phụ trẻ ấy. Tôi xúc động, trước màu da trắng mượt, đôi mắt to và linh động, cùng sóng mũi dọc dừa của nàng. Nàng quả là một bông hoa lạ và lẻ loi ở quận lỵ. Tuy mái tóc của nàng rối, chiếc sà rông đã bạc màu, vá víu, những ngón tay, bàn chân của nàng đã in dấu lầm than, nhưng người ta vẫn tìm ở người thiếu phụ này một vẻ đẹp nổi bật, vượt lên giữa một tập thể dân quê nghèo nàn và khổ cực này. Quả bạn đã nói đúng. Đó là một người con gái Sơn Tây. Nhất là ở đôi mắt kia, đã chứa cả một bầu trời u uẩn. Khi đôi mắt ấy nhìn lên, tuồng như người ta thấy bâng khuâng. Và tôi chỉ biết ngồi yên, đôi mắt hớp hồn. Tự dưng tôi cảm thấy thương nàng quá. Chỗ của nàng không phải là chỗ này. Chỗ của nàng là chỗ khác. Ở bên kia biên giới có đồng loại. Có tiếng mẹ đẻ. Có ao nhà, vườn rau. Và hơn nữa, với vẻ thanh tú của nàng, chắc gì nàng không được một người chồng khá giả, danh vọng? Tôi muốn nói lên một lời Việt cùng nàng. Nhưng cuối cùng tôi chẳng dám. Tôi nhìn chiếc sà rông màu vàng thẫm kia, thấy nhói ở tim.

Nắng đã lớn, tươi thắm cả khu quận. Người bạn chợt giới thiệu bằng tiếng Việt:

–       Đây là người bạn của tôi.

Tôi cúi đầu chào làm quen. Người thiếu phụ cũng cúi đầu đáp lễ. Tôi nhận ra đôi vai của nàng mềm quá. Người bạn lại nói tiếp:

–       Hôm qua, cô kể cho tôi nghe nửa chừng. Tại sao thế?

Để đáp lại câu hỏi của người bạn, nàng chỉ nói:

Các ông không hiểu hoàn cảnh của em đâu.

Tôi nói:

–       Cô có thể cho tôi được biết không?

Đôi mắt của thiếu phụ chợt hoe đỏ. Nàng nói giọng sũng lệ.

–       Thấy các ông, em bỗng nhiên nhớ đến quê nhà quá. Đã mười mấy năm xa cách, em chưa được về. Thưa ông, từ đây qua bên ấy, có xa không?

Câu hỏi của người thiếu phụ đã làm tôi quá chừng xúc động. Thì ra, ở cánh hoa lạc loài này có cả một tâm sự u uất. Tình hoài hương của nàng đang trở về mãnh liệt. Người bạn đưa mắt nhìn tôi như cùng trao một ý nghĩ. Rồi anh đáp:

–       Quê mình chỉ cách nơi này non 15 cây số, dùng đường bộ mất khoảng nửa giờ là đến.

–       Thế sao? Em không hề biết.

–       Chứ cô không bao giờ nghe nói đến quê nhà sao?

–       Dạ không.

Rồi nàng lại hỏi:

–       Không biết giờ này bên ấy nóng hay lạnh, trời có thường mưa không?

–       Bên nhà, trời đã bắt đầu có những cơn rét cuối năm. Có nơi mai bắt đầu nở hoa. Người ta đang sửa soạn ăn Tết rồi.

–       Thế ư? Gần đến Tết rồi ư?

Đôi mắt người thiếu phụ sậm buồn. Nàng nói như không:

– Không ngờ, em lại làm kẻ mất quê hương. Các ông biết hoàn cảnh của em đau đớn lắm…

Nàng lại tấm tức. Tôi chỉ đợi nàng có bấy nhiêu. Và tôi tìm cách khơi mào câu chuyện:

–       Cô có thể kể ra được không?

Nàng gạt nước mắt kể. Giọng nói của người con gái Sơn Tây mang theo những kỷ niệm đau thương. Từ một quê hương xa lắc xa lơ ngoài Bắc, với những cơn gió rét đầu mùa, với những nàng con gái có tiếng là xinh đẹp. Từ những ngày đầu tiên theo cha mẹ di cư vào Nam, quanh quẩn dưới rừng lá cao su, chưa bao giờ nghĩ đến một ngày rời xa cái thế giới bé nhỏ mà những người mộ phu đồn điền hầu như đã gửi trọn đời mình. Ở đâu? Nàng đã quên địa danh. Nhưng nàng kể đến ông chủ đồn điền người phương xa, mỗi ngày lái xe khắp cả đồn điền để trông coi đám phu cạo mủ, khiêng tải những thùng nhựa trắng đến nhà máy. Ở đâu? Nàng chỉ nhớ lại những tiếng chuông buổi sáng chủ nhật, từ gác chuông ngôi nhà thờ bằng ván tạp với ông linh mục già, hàm râu trắng mượt, đội chiếc beret đen, lúc nào cũng cười, và cho bánh lũ trẻ trong đồn điền. Ở đâu? Nàng lắc đầu. Nhưng nàng kể về những cảnh cơ hàn của những dân phu, gồm đủ hạng người: gồm Thượng, Miên và Việt. Và chúng tôi liền đoán ra đó là Lộc Ninh cũng nên.

Rồi tai họa bỗng nhiên bủa xuống như một trận bão kinh hoàng. Trận chiến từ đâu lại, chọn ngay đồn điền của nàng, ròng rã cả một tuần lễ. Nhắc đến đây, đôi mắt nàng tuồng như đầy ngập cả một bầu trời sầu thảm. Nàng bật run đôi vai, hai dòng lệ tuôn trào rồi lăn trên hai gò má. Tuy buổi trưa nắng lửa, hàng cây bên đường bất động và thinh không chói lọi, đất đai bốc khói, nhưng tôi nghe tuồng như có một cơn gió lạ chợt thổi qua, rồi một đám mây buồn bã như đậu lại trong hồn người, như một phiến băng giá. Buổi trưa hôm nay, trong một quán lá xứ người, vừa xảy ra một câu chuyện u uẩn. Buổi trưa hôm nay, tại một vùng đất xa lạ đang sôi sục vì khói lửa chiến tranh, có một người thiếu phụ trẻ Sơn Tây gặp lại những người lính đồng hương, để cùng nhau kể lại những ngày tháng trong thời kỳ binh lửa. Đầu nhà bên kia đường, có giàn hoa giấy vàng tươi thắm dưới ánh nắng rực rỡ. Nhưng ở bên này có một nụ hoa tội nghiệp đáng thương.

–  … Sau đó…

Sau đó… Nàng vừa vuốt tóc thằng con mấy tháng của nàng, vừa kể. Sau đó, cả gia đình nàng thất lạc một người một ngả. Riêng nàng, có một gia đình người Miên cứu thoát và mang về đất Miên. Khi ấy, nàng chừng 12, 13 tuổi là cùng.

–  Cho đến lúc này, em cũng chẳng biết số phận của cha mẹ em ra sao nữa…

Nàng mếu máo trong tiếng khóc. Có ai vừa đâm mũi dao vào lồng ngực tôi. Tôi nói cùng nàng:

–  Cô có thể cho tôi biết về tên tuổi bố mẹ. Khi trở lại quê nhà, tôi sẽ cố thăm dò giúp giùm cô.

Nàng nghe lời. Tôi lấy sổ ghi tên tuổi. Rồi tôi nói thêm:

–  May ra. Khi trở lại nơi này, tôi sẽ mang theo tin mừng.

–  Dạ. Em cảm ơn quý ông. Các ông làm em cảm động quá.

Trên trời, bỗng hiện ra những cánh én. Cánh én báo hiệu một mùa xuân sắp sửa về. Tôi thốt lên vu vơ:

–  Tết cũng sắp sửa lại về.

–   Vâng. Nhưng đời em chẳng có bao giờ biết đến Tết cả. Nhớ đến ngày xưa, đêm giao thừa, cả nhà quây quần bên nồi bánh tét. Bây giờ điều ấy đã không bao giờ có nữa.

Người thiếu phụ chỉ nói bấy nhiêu. Còn hai đứa chúng tôi chỉ biết đốt thuốc thương cảm nỗi niềm tâm sự của một cánh hoa đồng hương. Giữa lúc ấy, lệnh lên đường lại giục giã. Người bạn chỉ tôi và nói cùng nàng:

–  Hy vọng anh bạn của tôi sẽ đem lại tin vui cùng chị.

Còn tôi, bấy giờ, một ý nghĩ táo bạo chợt nổi dậy. Tôi nói:

–  Hay là chị hãy trốn về quê nhà. Chúng tôi sẽ giúp đỡ chị.

Người thiếu phụ lắc đầu:

– Em cũng mong có ngày về thăm quê hương. Nhưng còn con cái. Bỏ đi tội nghiệp chúng quá. Em không nỡ…

Tiếng còi tập họp lại vang rền ngoài đường. Chúng tôi bịn rịn từ biệt. Đôi mắt người Sơn Tây hoe đỏ nhìn theo chúng tôi. Đôi mắt tội nghiệp làm sao. Hồn bài thơ xưa chợt bay về, và tôi thấy lại những câu thơ não nùng: Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Buồn viễn xứ khôn khuây… Tôi quay lại nhìn nàng như muốn uống trọn cả hình ảnh một loài hoa lưu lạc một lần cuối cùng. Tôi muốn ghi nhớ mãi giọng nói dịu dàng dễ thương của một quê hương xa vời nào đó. Tôi muốn mang theo vĩnh viễn gương mặt hao gầy, những sợi tóc mây, chiếc mũi thanh tú, và nhất là đôi mắt. Và lòng tôi thầm nhủ: Hãy về bên nhà, hãy cố gắng tìm ra tung tích bố mẹ nàng. Để trong ngày trở lại, tôi là kẻ mang theo một tin mừng. Đó là cách duy nhất để giúp đỡ một người đàn bà bất hạnh. Đó cũng là một bổn phận thiêng liêng nữa.

Điều ấy chắc chắn tôi sẽ thực hiện được. Bởi vì tôi là một phóng viên. Chỉ cần nhắn tin trên vài tờ báo, hay đọc trên đài phát thanh. Sau đó, tôi sẽ xin phép đi làm phóng sự ngoại biên và sẽ tìm lại nơi chốn cũ. Tôi cũng tự bảo lòng, là sẽ mang tặng nàng một món quà Tết của quê hương. Chẳng hạn một đòn bánh Tết, bánh chưng, hay một thẩu dưa món, một gói mứt.

Ừ, tại sao tôi lại bận tâm đến nàng nhiều quá. Hay ở nàng tôi đã bắt gặp những niềm rung cảm, những xúc động chân thành như trong bài thơ kia. Tôi chính là người lính chiến lưu lạc và nàng là một người con gái trôi nổi tha phương.  

Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ có dịp trở lại chốn cũ ấy nữa. Hiệp định ngưng bắn đã không cho phép tôi vượt qua dòng Vĩnh Tế ấy nữa. Món quà xuân cho người thiếu phụ xa xăm kia đã trở thành một món quà nước mắt. Và tin mừng kia cũng chẳng có bao giờ được bay đến ngôi quán bên đường trong quận lỵ K. nữa. Thỉnh thoảng, tôi lại được về bên này kinh Vĩnh Tế biên giới Miên Việt. Mà mỗi lần về như thế, tôi đều đứng lặng, mắt dõi về bên kia bờ kinh, trên cánh đồng bao la xanh màu mạ, trên những rặng thốt nốt, rặng núi thẫm trong mây, mà vẽ vời nên một hình bóng cũ. Ở đấy, có người thiếu phụ trẻ cùng màu da, cùng tiếng nói của tôi đang trải qua những ngày tháng mỏi mòn bất hạnh. Ở đấy, có một đôi mắt, mà tôi gọi là Đôi mắt người Sơn Tây, như một thiên tình sử não nùng. Tôi tưởng tượng ra, đôi mắt ấy đang đăm đăm nhìn về hướng quê nhà, mà chờ đợi một tin mừng, một món quà của quê hương, để cuối cùng phải hoài công trông đợi.

Còn riêng tôi, đứng trên bờ kinh, tôi cứ ngỡ đứng trên một điểm cuối cùng. Tôi sẽ không bao giờ được nhìn lại cánh hoa tuyệt vời kia nữa.

Trần Hoài Thư

(trich truyện thời chiến)

Tâm thức người lính Nhảy Dù trong cõi vô sắc giới

dongsongcu.wordpress.com

Trương văn Út – Út Bạch Lan

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Hình minh họa sưu tập trên Net by Sơn râu

Người Lính Nhẩy Dù Với Chiều Kích Tâm Linh:

Chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt gần như kiệt sức, tôi trở mình xoay qua phải, tay trái gác lên xác Minh đã được gói ghém cẩn thận trong lớp poncho ướt đẫm sương khuya.

Chiều nay, trước khi đặt xác Minh vào chiếc quan tài bằng nylon dã chiến này, tôi đã khấn nguyện như thầm nhủ với em :”…thôi em hãy đi… đi…vào cõi siêu thoát , chớ vương vấn chi…chi những hệ luỵ của kiếp người phù du trong cuộc đời vô thường như ảo mộng nầy…”…và vuốt đôi mắt mở trừng tới lần thứ ba, Minh mới chịu nhắm mắt…!

Minh trình diện tôi cuối năm 1968 với cấp bậc Hạ Sĩ truyền tin, nhân tướng cao dong dõng với khuôn mặt đẹp trai dáng vẻ thư sinh, tài tử phim ảnh hơn là một “Lính Nhẩy Dù” gan lỳ dũng mãnh mà gót giầy Saut dẫm nát trên 4 vùng chiến thuật với những chiến trận khốc liệt tử sinh không biết ngày mai ai còn ai mất…?!…với tính tình vui vẻ hoà đồng với mọi người, nhưng khi lâm trận thì can đảm, lỳ lợm không thua kém một ai trong đơn vị…!!! Chỉ một năm sau, Minh được thăng cấp Trung Sĩ và tôi gửi Minh đi học khóa Truyền Tin đặc biệt về mật mã, sau khóa học Minh trở về đơn vị, được thăng cấp Trung Sĩ Nhất và đuợc tôi bổ nhiệm chức vụ Trưởng Ban Truyền Tin của Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù. Trong nhiệm vụ này, Minh lúc nào cũng thường kề cận sát bên cạnh tôi như hình với bóng, và theo thời gian binh lửa ngút ngàn, dần… dần tôi thương mến Minh như em ruột của mình…! Minh còn độc thân, chỉ có một mẹ già và một đứa em gái nhỏ đang buôn bán tảo tần ở chợ Trương Minh Giảng. Minh rất giàu đầu óc sáng tạo, tự “chế tác” ra những mật mã Truyền Tin nguỵ hoá để xử dụng hiệu quả mà ngay Nha Kỹ Thuật cũng không mã hoá được, huống hồ mấy tên cán ngố “sinh Bắc tử Nam” có thể phát hiện được qua âm thoại trên tầng sóng điện máy truyền tin … Đụng trận, Minh hét lên trong máy báo cáo liên lạc: “… ba lẽ tám bẩy không chín tám mười hai ba ba ba…” (giải mật mã là: 2 toán viển thám: 1 và 2 xuống chân đồi, 2 trung đội trinh sát theo sau và tấn công bộc hậu lên đồi).

Sau hai ngày “san định” đồi 1049 (Delta), một Đại Đội của Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (ĐĐ/TĐ2ND) thay thế Trinh Sát 2 Nhẩy Dù (TS2ND), chúng tôi có lệnh di chuyển về hướng Bắc để bắt tay với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH/TĐ2ND) đang ở đồi Charlie. Chúng tôi vừa “di hành” vừa nhổ “đẹp” chốt địch và tống tiễn hồn Bắc quân khiếp đảm, kinh hoàng bay tung về với thế giới cô hồn uổng tử…! Nhưng khi đến đồi 1028 (cao độ so với mặt nước biển) thì “đụng nặng”. với một trung đội súng nặng của Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 320 CSBV trú phòng trên đó với ưu thế hầm hố, địa đạo chiến đấu đã bố trí vững chắc, sẵn sàng chờ đợi để “gom bi” TS2ND chúng tôi…với “Thế Bối Thủy”, tiến thoái lưỡng nan, chỉ còn xông lên vượt đường máu lửa để sống còn, tôi ra lệnh “táp pi”…súng nổ vang rền chiến trận… Minh bị một tràng AK47 xé banh lồng ngực chết tại chỗ, máu tuôn ướt đẫm thân xác…!.

Tôi mệt lã chập chờn trong giấc ngủ dật dờ, bàn tay trái vẫn còn trên cái poncho bó xác của Minh lạnh giá, chợt tai nghe tiếng nói của Minh từ một cõi âm ty thâm u xa xăm nào đó mang âm hưởng tỉ tê não nuột rờn rợn ớn lạnh toàn thân…!

– Đại Úy ơi…! Mở ba lô của em ra, lấy cái poncholight của em mà đắp và giữ nó bên mình, mở cái poncho của em ra lấy cái thẻ bài gửi cho Mẹ em và con Nguyệt (em gái của Minh), còn sợi dây chuyền có cái thẻ ngà bằng nanh heo rừng Đại Úy hãy mang vào cổ đừng bao giờ rời nó….”…!

Tôi choàng tỉnh ngồi bật dậy. Trời hãy còn tối đen như mực, chỉ nghe tiếng xào xạc của lá cây rừng cùng tiếng văng vẳng đâu đây của Minh như chưa tan loãng hết trong không gian u uất, linh hồn phất phơ đầu cây ngọn cỏ còn ướt đẫm sương đêm…! Nhìn quanh bên cạnh vài thước, Y Khương vẫn còn ghìm súng trong phiên gác nửa đêm về sáng…Tôi tự lự: có thật linh hồn của Minh vẫn còn lẫn khuất quanh đây, em về báo mộng cho tôi, hay chỉ là hư ảo qua tình cảm tiếc thương đứa em cận kề thâm tình bấy lâu nay mà sinh chuyện mộng mị giữa đời thường, trong khi áp lực địch quân trùng điệp với lưới thép lửa đạn dầy dặc vẫn còn vây kín tứ phương …và cho dù có tin hay không tin cũng phải chờ cho đến khi trời sáng có L19 (phi cơ quan sát) bao vùng và mong là sẽ có C&C của Lữ Đoàn bay trên không phận để liên lạc với tôi…! Tôi làm theo lời báo mộng của Minh, thò tay lục ba lô và mở poncho gói xác Minh… quả thật đúng như vậy và tôi làm đúng những gì Minh căn dặn là tìm thấy được: một pocholight, sợi dây chuyền có cái nanh heo rừng khắc Phạn Ngữ Chú Nguyện theo phương pháp bùa Miên mà các vị “Lục Khủ” (Thầy) phúc tụng, tom phép hộ thân vào Katha… Suốt ngày hôm đó trực thăng của Phi Đoàn 229 không tiếp tế, tản thương được, đến buổi chiều chỉ có chiếc LOH của John Paul Van rà xuống đạp vội vài thùng lựu đạn, đạn đại liên và vài chục ống đạn 155 ly chứa nước uống. Hơn hai mươi thương binh và 12 xác chết vẫn còn nguyên đó…! Tôi nhận được công điện từ hậu cứ Long Bình của Trung Úy Tài nguyên văn:” Kính đích thân! Sáng nay mẹ và em gái của TSN Nguyễn Văn Minh có đến văn phòng hậu cứ khóc lóc thảm thiết và chất vấn tôi về tình trạng Minh đã tử trận. Tôi quá đổi ngạc nhiên vì chưa nhận được một báo cáo hành quân nào cả. Chỉ biết là đơn vị đang đụng nặng và chờ tin tức mà thôi. Tôi hỏi thì bà trả lời rằng: “… thằng Minh đã chết và đã có về báo mộng cho tôi đêm qua …”…?!!! Đọc công điện từ hậu cứ, tôi giao động thân tâm thẩn thờ như kẻ mất hồn…! Đã có báo cáo tổn thất tổng quát cho Lữ Đoàn nhưng chưa có chi tiết tên họ tử sĩ và thương binh, vì người thay thế cho Minh phụ trách công điện chưa thành thạo công việc truyền tin liên lạc báo cáo… vả lại TS2ND chúng tôi còn trong vòng chiến trận bị Bắc quân vây hãm với hoả lực hùng hậu tứ bề thọ địch…!!! Để độc giả có thể hình dung được bối cảnh lâm trận của TS2ND và tương quan lực lượng với địch quân trên Mặt Trận Tây Nguyên – Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, tôi xin trích dẫn đoạn văn của Tác Giả Vương Hồng Anh là Nhà Văn Quân Đội đã dầy công biên soạn Quân Sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã có đề cập đến Đơn Vị TS2ND trong trận thư hùng khốc liệt với Bắc quân: “Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie”:

“Trận chiến giữa Trinh sát 2 Nhảy Dù và Cộng Quân ở đồi Delta:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng quân đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, đại tá Trần Quốc Lịch-lữ đoàn trưởng lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh đại đội 2 Trinh Sát do trung úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.

Sau khi Pháo binh và Không quân hỏa tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ đại đội Trinh Sát vào đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn đại đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán tiền đồn của tiểu đoàn 1/trung đoàn 3/sư đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng quân đã điều động 1 tiểu đoàn để bao vây đại đội Trinh Sát. Dù bị áp đảo về quân số, nhưng trung úy Út (ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán đại đội và lưu động tác xạ để đánh lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng quân tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn tránh sau khi đã bấm mìm claymore. Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh sát 2 đã vòng ra phía sau tấn công ngay vào bộ chỉ huy tiểu đoàn Cộng quân và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/ trung đoàn 3 CSBV là Trương Hà.

Bị tổn thất nặng, ngay sau đó, trung đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ đại đội Trinh Sát 2 để trả thù cho tiểu đoàn 1 của trung đoàn này. Vào lúc này, đại đội Trinh sát cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch. Bị một trung đoàn CQ bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược và lương thực gần cạn, nên đại đội Trinh sát 2 ở trong tình trạng nguy kịch. Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các phi công VN của phi đoàn trực thăng Bạch Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho đại đội Trinh sát 2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một phi công kinh nghiệm và gan lì của phi đoàn Song Chùy đã điều khiển trực thăng lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho đại đội này được một chuyến duy nhất.

* Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù nhập trận:

Ngày 20 tháng 3/1972, bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã điều động tiểu đoàn 2 Nhảy Dù từ căn cứ Charlie đến giải vây cho đại đội Trinh sát 2. Ngay khi vào khu vực hành quân, thiếu tá Lê Văn Mạnh-tiểu đoàn trưởng đã điều động 4 đại đội tác chiến của tiểu đoàn tấn công ngang hông. Trận chiến đã diễn ra khốc liệt, sau 3 ngày kịch chiến, từ ngoài đánh vào, từ trong tấn công ra, tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và đại đội Trinh sát 2 đã đánh bại trung đoàn 3 CSBV, “xé” trung đoàn này thành từng phần nhỏ. Sau đó, đại đội Trinh sát 2 được trực thăng bốc về Võ Định để tái chỉnh trang và bổ sung quân số. Được báo tin về chiến thắng của đại đội Trinh Sát 2 Nhảy Dù, trung tướng Ngô Du đã bay đến nơi quan sát, vị tư lệnh Quân đoàn 2 đã đích thân gắn cấp bậc đại úy cùng Đệ ngũ đẳng Bảo quốc Huân chương cho đại đội trưởng Trương Văn Út. Ngoài ra, đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh đã thưởng cho đại đội này 1 triệu 200 ngàn đồng về chiến tích bắt sống 12 tù binh của sư đoàn 320 CSBV”. (ngưng trích).

Và trích dẫn bài viết “Charlie Ngọn Đồi Quyết Tử” của Nhà Văn Quân Đội Mũ Đỏ Nguyễn Văn Lập , đăng trên báo Chiến Sĩ Cộng Hoà số 2, xuất bản tháng 8 năm 2009 do Hệ Thống Báo SàiGònNhỏ phát hành:

“Từ ngày này trở về sau, toàn bộ Charlie bị pháo kích thật nặng, mổi ngày cỡ ngàn quả mà nhiều nhất là 130 ly, rồi đến đại bác 122 ly, và cả hỏa tiển 122 ly mà tôi nghe được tiếng hú. 310 báo lên Thiếu Tá Lạc:” tụi tôi bị ăn 130 ly, ngoài tầm không phản pháo được, chẳng lẽ phải nằm đây lãnh pháo”? Lúc này Đại Tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn II Dù ở Căn cứ Võ Định cũng đã trình lên cấp trên xin cho 11 Dù rút ra ngoài căn cứ, Nhảy Dù mà nằm đưa đầu ra lãnh pháo như thế này thì phản chiến thuật quá. Nhưng Trung Tướng Ngô Du, Tư Lệnh Quân Đoàn II vẫn lặng thinh, và Cố Vấn John Paul Van chẳng biết mẹ gì chiến thuật và pháo binh, vẫn kiên trì áp lực…tử thủ, chắc là định dùng 11 Dù nhử cho địch lên tapi như trường hợp của Đại Đội 2 Trinh Sát Dù dưới sự chỉ huy của Đại Uý Trương Văn Út (danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan) đã được trực thăng vận nhẩy xuống trấn thủ ngọn đồi 1069 ở Mặt Trận Tây Nguyên 1972. Nhận biết được tin quân Việt Cộng sẽ cường tập tấn công ngay trong đêm để tận diệt TS2ND, viên cố vấn Mỹ của Đại Đội là Trung Uý Buda đã gọi liên lạc xin với Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn 2 Mr Paul Van và Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn II xử dụng toàn bộ hoả lực phi pháo, hải pháo Việt – Mỹ để yểm trợ cho TS2ND dứt điểm giết chết cả Trung Đoàn Phòng Không thuộc Sư Đoàn Thép 320 lừng danh của Bắc Việt, cộng quân phơi xác vương vải khắp cả ngọn đồi 1069…! Với chiến thắng lẫy lừng Quân Sử nầy Tướng Ngô Du đã đặt tên cho đồi 1069 là “Đồi Út Bạch Lan” …!!! Và vì trận này mà Bộ Chì Huy Quân Sự Việt Cộng đã lên án tử hình Đại Úy Trương Văn Út, Đại đội trưởng Trinh Sát 2 Dù và thề tiêu diệt đại đội này. Quân đoàn II còn lệnh cho T Đ11 ND ra hố pháo tìm chứng tích của đầu nổ130 ly mới cho B52 dập. Quân đoàn cũng chẳng màng gần một phần ba quân số 11 Dù bị loại ra ngoài vòng chiến vì đạn pháo và chưa đươc di tản. Cái hào quang chiến thắng của thượng cấp ngoài binh chủng đo bằng máu của Dù thật quá đắt, và quả thật nếu không bị pháo kích từng phút một, chúng tôi có thể ra hố đạn đo hướng bắn và bới tìm đầu nổ, nhưng làm sao gửi ra cho các bộ óc đặc sệt chỉ thị đây. Hằng trăm thương binh, mấy chục binh sĩ tử thương vì pháo còn chưa di tản được nằm đầy các giao thông hào, không có chiếc trực thăng tản thương nào vào được cách C2 500 mét thì nói gì đáp xuống tãi thương hoặc tiếp tế. Chỉ có một pass B52 đánh về hướng Nam gần Charlie thì nhằm nhò gì, pháo của chúng đặt về hướng Tây và Tây Bắc cách Charlie ít nhất 15 đến 20 cây số thì không dập. Mỗi lần bị pháo kích xong, phi cơ lên vùng, pháo địch im, phi cơ bay ra khỏi vùng, lại bị pháo tiếp, tôi chỉ còn biết ước lượng vị trí pháo địch gửi về các pháo đội tùy nghi phản pháo nếu có thể. Tình hình hết sức khẩn cấp, nếu không có lệnh rút, chắn chết hết vì pháo”. (ngưng trích)

…Tiếp theo chuyện của Minh: Tôi hỏi Sơn Nhung, Hạ Sĩ Nhất người Miên bên cạnh tôi với Minh về sợi dây chuyền và cái nanh heo rừng. Sơn Nhung nói:

– Thưa Đại Úy đây là cái thẻ “Bùa Miên”. Trên cái thẻ ngà màu trắng đục có khắc một hàng chữ Miên màu đỏ, nó là câu thần chú để khi gặp cơn nguy biến thì đọc lên…may ra có ứng nghiệm…em không hiểu câu thần chú là gì, nhưng Đại Úy có thể đọc khi hữu sự” Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát “. Thằng Minh nó sống khôn chết thiêng, nó đang phù trợ cho Đại Úy đó “…!

Tôi không biết có nên tin hay không…? Nhưng thuở còn học trung học, tôi thích nhất môn hình học không gian, trong đó có chiều thứ ba, ngoài không gian và thời gian. Sau này khi ra hải ngoại đọc bộ sách của Giáo Sư Linh Mục Lương Kim Định mới hiểu chút chút ngôn từ “Chiều Kích Tâm Linh”. Giờ nhớ lại mới thấy thấm thía…!

Sau khi đơn vị (TS2ND) được bốc về căn cứ Võ Định (BCH/ LĐ2ND) tôi được lệnh bay cùng Đại Úy Phạm Công Cẩn C&C Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 229 (K21 ĐL) để liên lạc với Đại Tá Lê Đức Đạt Tư Lệnh Sư Đoàn 22BB vì Quân Đoàn cho biết ĐT Đạt vẫn còn liên lạc qua hệ thống Rescue Radio của Hoa Kỳ. Tôi lên trực thăng bay với một Trung Úy Tác Chiến Điện Tử của SĐND và phi hành đoàn. Trực Thăng cất cánh bay được chừng 30 giây, vừa lên cao độ khoảng 100 bộ thì bị phòng không của địch bắn vào hông tàu và phía đuôi đã rách bươm lỗ đạn. chiếc gunship bay bên cánh trái bị bắn nổ tung cháy bùng lên như một khối cầu lửa trên không rơi xuống, chiếc HU-1 bên phải nghiêng mình lách về hướng Đông để cố vượt lưới đạn phòng không như thiên la địa võng giăng mắc tử thần…!!! Cẩn gọi tôi như hét trên headset: “…thắt dây nịt cho thật chặt …”, tôi vội vàng chụp lấy dây bell an toàn cài khoá, Cẩn bậm môi, tay trái đẩy hạ cần Collective lái chiếc C&C lao xuống sát mặt đường QL14 và hướng về Tân Cảnh…Người xạ thủ đại liên bên phải đã chết gục đầu xuống cây M16 tự khi nào, co pilot ngồi ở ghế trên gục đầu bất tỉnh nhân sự, Trung Úy TCĐT bị một viên đạn 12ly7 vào chân phải gẫy lặc lìa…! Tôi hồn phi phách tán, vô thức thò tay vào ngực mò tìm cái bùa nanh heo rừng của Minh đang mang theo và miệng lẩm bẩm “cầu Kinh”…!!! Tàu vừa mới tới vùng trời Tân Cảnh, thì ôi thôi lại thêm một trận kinh hoàng: phía dưới là hằng chục chiến xa T54 VC đang tùng thiết trên đường Ql14 xuôi Nam như đang diễn binh …!!!. Như vậy Tân Cảnh (Dakto) đã bị over run…! Phạm Công Cẩn lại cắn chặt môi, bàn tay trái kéo cần Collective lấy cao độ và vận tốc, tay phải điều khiển Controller đưa Tàu lướt tới rồi cho con tàu quẹo thật gắt về phía Đông, chiếc trực thăng nghiêng bẻ góc, gầm rú dữ dội, tiếng cánh quạt xé gió phành phạch tưởng chừng như vỡ tung thân Tàu…!!! Tôi thấy vẻ mặt Anh đanh lên khẩn thiết, cương nghị, dưới Helmet khuôn mặt mổ hôi nhỏ giọt nhễ nhại…con tàu chòng chềnh như muốn lao xuống vỡ vụn …Nhưng “Công Cẩn” thật là “tay” Pilot Trực Thăng lão luyện, nhuần nhuyển phối hợp thao tác điêu luyện với hai chân đạp nhịp nhàng trên pedal và tay trái kéo lên, hạ xuống cần Collective, tay phải điều khiển đẩy Controller con tàu vực đầu phóng tới, gật qua trái, phải…điều hợp với Collective để lái con Tàu bay lên cao, rớt xuống thấp, lắt léo qua lại như chiếc lá rơi chao lượn trong cơn bão để cố vượt tránh thoát những tràng đạn của địch bắn lên từ dưới đất, con Tàu hoạt động tối đa công xuất, tiếng động cơ nổ vang rền liên thanh như gầm rú dữ dội lạ thường, thân Tàu chuyển động run lên bần bật với tiếng kêu răng rắc như muốn vỡ bung ra từng mảnh, tiếng cánh quạt chém xé gió phành phạch xen lẫn tiếng súng và đạn phòng không nổ long trời, chớp nhoáng sấm sét lấp loáng không gian, thần chết ẩn hiện chờ cơ hội thu đoạt lấy linh hồn người chết trận oan nghiệt khuất uất…”Chu Công Cẩn” của Tam Quốc Chí tân thời lại phải hạ cần lái một lần nữa cho con Tàu hạ cao độ bay là xà xuống thung lũng, men theo khe suối cố lết cánh quạt về tới Võ Định.!!! (Sau nầy tìm hiểu thêm, Tôi mới được biết kỹ thuật bay trực thăng như chiếc lá rơi để tránh đạn đạo là phát minh từ tài nghệ thao luyện tinh xảo có một không hai trên thế giới, do Cố Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh – Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân, khi Ông hãy còn là Phi Công với chức vụ Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng – Phi Đoàn 211 Trực Thăng. “Kỹ Thuật Bay Lá Rơi “được phát huy và huấn luyện cho những Phi Công tài hoa tinh nhuệ và gan dạ những “Nam Nhi Chinh Chiến Kỹ Nhân Hồi” là Kinh Kha thế hệ của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà đã viết lên trang sử Anh Hùng Bảo Quốc Trấn Không suốt 21 năm cuộc chiến Quốc – Cộng…Khi cất cánh tung hoành trên những trần mây xanh thẳm, hay ráng chiều tim tím hoàng hôn cũng chiếu sáng bởi con Tàu bị trúng đạn phòng không bùng nổ cháy đỏ rực như khối cầu lửa trong không gian dung chứa biết bao tình…! Phái Bộ Quân Sự Mỹ cũng đã cử Chuyên Gia Huấn Luyện Kỹ Thuật Bay Helicopter đến Việt Nam để tham khảo và thực nghiệm với Ông).

Trực Thăng vừa đáp vội vàng ở căn cứ Võ Định, “Công Cẩn” hỏi tôi:

– Mi có sao không?

– Dạ không, …nhờ có bùa hộ mạng…? …và cười trừ…!!!

Tôi nghĩ tới Minh trong những giây phút thập tử nhất sinh vừa qua, em có bên cạnh anh với máy PRC25 nặng chình chịch trên lưng của em hay không, hay em đang ở một cõi trời vô sắc nào đó không có không gian cũng không có thời gian, em đã vào hư vô hay vẫn hiện hữu bên anh…?

Hai tuần lễ sau đó, Lữ Đoàn II ND triệt thoái Komtum không vận về Sài Gòn bổ sung quân số, quân trang, quân dụng, đạn dược, vũ khí… trong khi An Lộc đang ngập chìm trong biển lửa, Đông Hà, Quảng Trị thất thủ,… Cộng quân nã đại pháo bắn giết tan tành dân lành vô tội tháo chạy giặc, tìm sinh lộ lánh nạn trên “đại lộ kinh hoàng”, đường lui quân xuôi Nam của gần hai trăm ngàn dân (200 000) và hai mươi ngàn lính(20 000) đang tháo chạy về phía Nam trong Chiến Dịch Xuân Hè 1972 của Quân Đội Nhân Dân (VC)…! Sau chiến trận, công binh đã phải xử dụng xe cày đào huyệt mộ để chôn cất hàng ngàn xác người đang dần phân huỷ…thảm cảnh địa ngục môn có thật giữa đời thường trần gian đầy máu và nước mắt của quân dân tỉnh địa đầu giới tuyến…!

Ôi vùng Trị Thiên, An Lộc, vùng Tam Biên
lửa máu từ rừng sâu ngụt trời
Dòng máu đỏ da vàng, trên đất nghèo nàn đã đổ vì ai
Kìa giặc thù đốt phá quê hương ta
Kìa giặc thù bắn giết đồng bào ta…!!!

Để gọi đích danh chúng: “bọn đồ tể Việt Cộng”:

Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu đồng bào
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay vấy máu anh em.
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chiến tích hận thù
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay giết chóc hôi tanh.

Lợi dụng mấy ngày ở hậu cứ, tôi cùng Trung Úy Tài Chỉ Huy Hậu Cứ, Thượng Sĩ Nhất Tá Thường Vụ, Thượng Sĩ Nhất Chiến HSQ Tiếp Liệu đến Nghĩa Trang Quân Đội để viếng mộ của Minh. Ngôi mộ chắc chỉ mới được lấp đất vài ba hôm trông thảm hại…! Đứng trước mộ của Minh, tôi thầm khấn vái: “Em sống khôn, nay chết có linh thiêng xin phù trợ cho tất cả anh em được tai qua nạn khỏi “…! Buổi chiều cùng ngày tôi với các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ trong đơn vị “làm” cạn láng 5 thùng Remy Martell của toán Cố Vấn Mỹ mua tặng…rượu hết, tàn tiệc…tôi say chếnh choáng, thần trí lờ mờ, chân bước loạng choạng ngã nghiêng tìm giường và ngáy khò khò chìm vào giấc ngủ say khước…Bỗng tai lại nghe văng vẳng đâu đây âm thanh quen thuộc trên máy PRC25 khi trời vừa sáng:”… Đại Úy ơi…nhớ ngày mai ra thăm em lần nữa… và nhớ ghi cho kỹ số mả của em để mua vé số” ! Tôi choàng tỉnh giấc và có cảm giác như linh hồn của Minh còn dang lãng vãng quanh đây…và tôi tin có thật Minh đã ở bên cạnh phù hộ thân cho tôi và anh em trong đơn vị đã thoát qua hai cơn hiểm nghèo, một ở phía tây Charlie, một ở Chupao… cũng bởi nhờ vào kỷ vật nanh heo rừng có khắc Phạn ngữ chú nguyện cho người hữu Duyên của Minh báo mộng “trao” lại…?!!! Trong buổi họp bỏ túi sáng hôm sau, bên tách cà phê đang bốc khói ở Câu Lạc Bộ TS2ND, tôi đem câu chuyện Minh báo mộng đêm qua tâm sự với tất cả Sĩ Quan trong đơn vị và họ đề nghị:”… thì mình cứ làm thử xem, cầu may mà, có tốn kém gì đâu…”! Sau đó ai muốn đóng góp bao nhiêu tiền tùy hỉ, giao cho HSQ kế toán làm sổ sách…tổng cộng được trên mười ngàn đồng để mua vé số.!

Tôi với Trung Úy Tài SQ Hậu Cứ đến Nghĩa Trang Quân Đội vào lúc buổi trưa. Mộ của Minh vẫn chưa có bia, chỉ có tên họ số quân đơn vị viết nguệch ngoạc trên tấm gỗ cắm trước mồ, không có số mộ…! Trung Úy Tài vào văn phòng của Đại Đội Chung Sự mới tìm ra đưọc danh số mộ bia là: 198264. Tôi tính nhẫm cộng lại thành ra số “bù” (10 nút)…Nhớ trước đây khi Minh còn sống, em luôn luôn chọn danh số liên lạc truyền tin cho tôi lúc nào cũng chín nút chẳng hạn như: 81, 72, 63…hay 531, 405 và các Sĩ Quan Trung Đội Trưởng cũng tương tự như vậy…Nay em đã mất,mộ bia của em lại mang con số “bù”…Ngẫm tạo hoá cũng khéo trêu người…?!!! Tôi hỏi:

– Anh Tài …anh nghĩ sao?

– Đã nói là “cầu may” mà đại úy…!

Trên đường trở về doanh trại, những ý nghĩ lung tung cứ vẫn vơ trong đầu, tôi cố lắc đầu mấy cái để xô đuổi những thứ vẫn vơ “bù” với “chín nút” đó đi… trong khi còn bao nhiêu việc chuẩn bị để hai ngày nữa lên đường đem quân ra Huế rồi vào Quảng Trị với những tin tức chiến trường mỗi ngày càng tăng thêm khốc liệt…Nhưng sáu con số 198264 vẫn y cứ quanh quẩn trong trí óc của tôi như một nỗi ám ảnh bâng quơ nào đó mà lại khó phai mờ hay bỏ quên theo ngày lại qua ngày …? Tôi tự nhũ thầm hãy quên nó đi để còn lo bao nhiêu công việc chuẩn bị lên đường ra Quảng Trị. Buổi chiều trước khi về căn nhà trong khu gia binh nằm dưới lưng chừng đồi Long Bình, tôi căn dặn Trung Úy Tài:

– Anh bảo Thượng Sĩ Dự (kế toán trưởng) giao số tiền đó cho Anh để đi mua vé số…và phải nhớ cho kỹ…tìm cho bằng được lô có bốn số đầu 1982, còn hai số sau, số nào cũng được nhưng cộng lại phải là con số bù… Đừng mua một lần mà phải tìm mua nhiều lần cho đến khi hết mười hai ngàn thì thôi…!

Đường vào Cổ Thành Đinh Công Tráng – Quảng Trị:

Từ ngã ba Long Hưng, cửa ngõ vào thành phố Quảng Trị đến làng Tri Bưu phía chính Đông của cổ thành chỉ non một cây số. Tiểu Đoàn 11 ND đã áp sát nhà thờ La Vang từ phía Nam, TĐ7ND đã vào tới Long Hưng, nhưng chậm bước vì sức kháng cự của địch quân quá mãnh liệt, TĐ5ND bên cạnh sườn phải của TĐ7ND về phía Đông và chỉa mũi dùi thẳng vào Tri Bưu theo trục Nam – Bắc. Trinh Sát 2 Nhẩy Dù (TS2ND) được thiết vận xa “cõng” ra gần bờ biển, mượn đường Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) đâm thẳng vào Tri Bưu theo trục Đông-Tây cho đến khi bắt tay được với Tiểu Đoàn.

Từ Tri Bưu đến chân tường cổ thành chỉ có vài trăm thước mà chúng tôi TĐ5ND và TS2ND có cảm tưởng như Cửu Niên Đạo, trên con đường chín năm này chúng tôi không biết cũng không nhớ, làm sao mà đếm để mà biết mà nhớ, có bao nhiêu đồng đội của chúng tôi lên thiên đàng hay xuống địa ngục hay chưa siêu thoát vẫn còn lỡn vỡn quanh đây…?!!! Tôi và Thiếu Úy Khâm là tiền sát viên của TĐ1PBND đang đứng trước một mộ bia khá lớn check lại vị trí để điều chỉnh tác xạ…Bỗng nghe “cắc bùm” một tiếng động khô khan của CKC bắn tỉa, Thiếu Úy Khâm bật ngửa tay chân giựt giựt vài cái, mắt trợn trừng…! Tôi ngồi thụp xuống tấm mộ bia bằng xi măng, phía sau có ai đó với bàn tay hộ pháp nắm giây ba chạc của tôi giật mạnh, tôi bật ngã mạnh ra phía sau cùng lúc tiếng nổ ầm trước mặt, một quả không giật trúng ngay mộ bia, tôi ngất đi không còn biết gì nữa…?!!! Nửa giờ sau tôi lay tỉnh, tâm trí mù mờ, nghe thoang thoảng tiếng của Sơn Nhung mừng rỡ cười nói bên tai:

– Đại Úy tỉnh lại rồi… Đại Úy tỉnh rồi… anh Được ơi…!!!

Được là Trung Sĩ Nhất y tá của TĐQY/SDND biệt phái Cho TS2ND, Được nhào tới bên tôi, trong khi tôi vẫn còn nghe tiếng M16, M60, M79 vang rền chung quanh.

– Không sao đâu Đại Úy. May nhờ cái mộ bia, không bị vết thương nào…chỉ tức thở một chút thôi, tôi đã làm hô hấp rồi, Đại Úy có cần tản thương thì tôi đưa đi ngay, vì tôi đã gửi công điện báo cáo rồi…?!!!

– Không sao đâu, cám ơn cậu, đỡ tôi ngồi dậy đi… !

Tôi vung tay, vung chân cố bò qua máy truyền tin liên lạc với Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền) và BCHLD2ND để báo cáo rằng tôi vô sự để cấp trên yên tâm. Tôi hỏi Sơn Nhung:

– Lúc nãy cậu nắm giây ba chạc giật tôi ngã ngửa ra sau có phải không?

– Dạ không, …lúc đó em đang nằm bẹp bên phải cạnh Đại Úy, nó bắn rát quá, em thì hết đạn nên nằm im lìm cúi đầu chịu trận, thằng Bi ôm cây đại liên không dám xài phí, chỉ chực chờ nó tràn tới thì thằng Bi đứng xổng lên quạt vài tràng rồi ngồi thụp xuống ẩn núp…chớ …. em không có ở đằng sau lưng Đại Úy hồi nào đâu, chỉ có thằng Chỉnh mang máy, nhưng nó đang núp phía sau một mộ bia khác cùng với thằng mang máy Pháo Binh…?!!!

Như vậy,… thì tôi đã hiểu và càng tin mãnh liệt thêm về cái “bùa Miên” của Minh mà tôi đang đeo trên ngực…!

Hai Biệt Đội 81Biệt Cách Dù (BĐ81BCD) thay thế TS2ND. Chúng tôi lui ra phía sau giữ “Bến Đò Đưa Xác” ở sông Nhung (sông Vĩnh Điện) trong khi quân số còn không quá 40 nhân mạng… ! Bây giờ đến phiên TS2ND khiêng poncho, cõng thương binh của TĐ5ND và 81BCD để chất lên Thiết Vận Xa M113 cách đó gần 500 mét… cho đến gần hai tuần lễ sau mới có lệnh TQLC thay thế toàn bộ lực ND và 81BCD…! Chúng tôi TS2ND được triệt thoái về phía Nam sông Bồ chờ bổ sung quân số và tiếp liệu…!!! Tôi nhận được công điện của Trung Úy Tài Chỉ huy hậu cứ báo: “Ngày mai tôi sẽ có mặt hành quân. Có vài điều cần trình với đích thân. Tài”. Sau đó Tài theo chuyến bay tiếp tế ra chỗ hành quân gặp tôi và trình báo:

– Anh-Em mình đã trúng lô độc đắc một triệu đồng đúng con số ở bia mả thằng Minh…!!!

Tài vừa trình bày chi tiết vừa mếu máo, nào là phải mất bao nhiêu ngày lùng sục khắp các chợ Biên Hòa, Thủ Đức, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định…để mua cho bằng được vé số đúng sáu con số ghi trên bia mộ của Minh như em đã báo mộng cho tôi….và:”… phải mua liên tiếp cả lô cho tới tuần lễ thứ ba, mới nghe radio phát thanh số trúng độc đắc 1000 000$ … xong chạy lòng vòng sân trại như người điên hét lên mình trúng số rồi, chúng mình trúng số độc đắc rồi ha …ha…ha…”!!!

Tôi rót một ly Remy Martell cho Tài.

– Uống đi Tài… để rồi mình tính chuyện sau…!!!

Tôi suy nghĩ phải làm gì đây với số tiền một triệu đồng trúng số…? Con số chính xác theo “lời nói” của Minh đã báo mộng. Số trúng độc đắc một triệu đồng năm 1972 ngay trong Mùa Hè Đỏ Lửa, hay số phận của Minh cùng sự hẩm hiu của bà mẹ già với đứa em gái tuổi còn thơ dại…?! Tôi quyết định ngay:

– Ngày mai trở về hậu cứ, anh Tài tìm đến nhà Mẹ của Minh và cứ giao hết số tiền này cho bà cụ…với lời nhắn của tôi là xây mộ phần cho Minh khang trang…!

Tài làm y như lời tôi yêu cầu. Mẹ và em gái của Minh rất xúc động…! Nhưng bà cụ không nhận tất cả số tiền mặt mà chỉ xin cho một trăm ngàn (100 000$) để sang lại một cái sập nhỏ ở chợ Trương Minh Giảng để bán bún suông sinh sống, số còn lại 900 000$ xin giúp cho những gia đình tử sĩ cùng tử trận với Minh ngày hôm đó ở đồi Delta-Kontum… Nài nỉ cách nào Bà cũng không nhận…! Cuối cùng tôi phải xin nghỉ phép đặc biệt vài ngày để bay về Sài Gòn gặp Bà thuyết phục thì Bà mới nhận 500 000$ để lo phần mộ cho Minh và chi phí cho Nguyệt là em gái của Minh ăn học khi mới vừa tuổi trăng tròn…!!! Còn lại 500 000$, tôi chia ra để chi giúp cho các quả phụ: Thiếu Úy Thới, Thiếu Úy Mỗi, Thiếu Úy Oanh mỗi người năm chục ngàn và chia đều cho 23 gia đình quả phụ khác…!!!

Con người từ đâu tới và khi chết sẽ đi về đâu…???

Tôi vốn xuất thân “Võ Biền”, văn dốt chữ nát… thì làm sao để có thể biện luận, giải thích, trình bày từ u mặc cho chí lý hiển lộ được hiện tượng, trạng thái, tính chất chân đế, qui ước chế định là chỉ Danh để vay mượn tạm mà làm phương tiện hạn hẹp trong lắm lời ngôn từ vốn thường tối nghĩa để lý sự chỉ bày nhiều trường hợp rất giản dị và thường tình mà hạng “thuật sĩ”, triết gia thời đại, …thường hay lẻo mép dạy đời…và lại nữa “thì làm sao” “thuyết minh” câu chuyện mộng mị của cố Thượng Sĩ Minh, người Hạ Sĩ Quan Truyền Tin bên cạnh tôi như hình với bóng trong suốt một khoảng thời gian dài chinh chiến dạn dầy gian khổ, hiểm nguy… có dư thừa bi thương máu lửa và nước mắt mà được ít ngắn ngủi niềm vui …! Hôm nay đây ở Mỹ, vào những ngày đầu Nguyên Đán khí trời ấm ám, gió sớm thoáng thổi nhè nhẹ mang theo tiết Xuân hây hây vờn những sợi tóc mây phơn phớt trên má cô gái Xuân thì e ấp nói cười, trong nhà, ngoài ngõ sắc Xuân tươi thắm mơn mỡn hiện nét trên những cành chồi non, hoa Xuân nở rộ khoe sắc,…Chuyện chinh chiến máu lửa không còn nữa, nước mắt đã khô cạn, nhưng trong tôi vẫn có linh cảm Minh vẫn còn “hiện hữu” bên cạnh tôi với những thăng trầm trong cuộc sống hoài cố hương nơi xứ lạ, em luôn phù hộ nâng tôi đứng dậy khi tôi ngã quỵ, an ủi tôi khi rơi vào nghịch cảnh…và có đôi khi thu thúc lục căn, thân tâm khinh an lạc bước dạo chơi vào thế giới quan “Âm cảnh” lý sự mang mang với Minh nơi cõi “Vô Sắc Giới” hà phương chi liễu ngộ vốn vô minh mà sinh chấp hữu vạn pháp giới …chí đến:

Thuỷ chung tương hoán hà phi xứ
Lai khứ thường niên hà thị tâm
Vạn hoá đại toàn ai khá biết !
Cổ lai muôn sự lý tuỳ trung…

“Cái” tuỳ trung, hiểu biết như ở trong lòng bàn tay là ở những “Bậc Thần Nhân” Đại Trí, Đại Lược, Đại Dũng,…phải chăng cũng là “ đại gạt, đại gian hùng, đại ác độc” …đã thiết kế Chính Trị,… và dùng cường quyền đưa đẩy Dân Tộc – Đất Nước Việt Nam vào chiến sự khốc liệt suốt cả phần tư thế kỷ, rồi tháo chạy an toàn về hậu phương “phớt tỉnh Ăng Lê” (England) mồm loa mép giải với “danh ngôn” để lại lịch sử mai hậu soi chơi:” …trang sử Việtnam đã được lật (lọng) qua…”…!!! Thống kê của “Người Mỹ” đã đưa lên con số 3,000 000 (ba triệu) người Việt đã bị giết trong cuộc chiến, thống kê của Nhà Nước Việt Nam (VC) hơn 1,100 000 (một triệu một trăm ngàn) quân dân Bắc Việt hy sinh và còn nữa (Quí Độc Giả có thể lên Net để xem thống kê) …! Con số thật nạn nhân Việt bị bom đạn được sản xuất tận các quốc gia Văn Minh Âu, Mỹ, Liên Xô, Tàu Cộng ,…phải nhiều lần hơn thế ! Thế giới đã đồng loã với tội ác với Việt Cộng. Vì nếu nói thật, viết thật, công bố thật số nạn nhân Việt Nam trong cuộc chiến Quốc – Cộng chẳng khác nào như gián tiếp tố cáo “Tính Nhân Đạo,Trí Thức, Lương Tâm” …của “người” văn minh Tây Phương trước sự diệt chủng của Việt Cộng dẫu sao cũng đã mang đến lợi nhuận cho “họ” rất nhiều…Người Lính Nhẩy Dù chúng tôi và toàn thể dân Việt đã phải nhận chịu bao nhiêu triệu tấn bom đạn đã trút xuống ruộng vườn, nương rẩy, nhà cửa, mồ mả gia tiên, súng đạn từ Nga,Tàu, Khối Sô Viết và những “quốc gia anh em Cộng Sản” cũng chỉ để tàn sát dân Việt. Người Việt chúng tôi là Người đó! Minh là một điển hình: “Người Lính chết trận khi mái tóc còn xanh” và:

Một ngày tôi đi qua
Trại lính ngang nhà
Thấy một lá cờ
Với một vòng hoa.
Hỏi ra:
Mới biết anh là
Lính trẻ xa nhà
Chết trận đêm qua!
Chung quanh đây
Có ai đâu…?
Đưa tiễn anh về
Buồn tiễn anh về
Với lòng đất sâu…!

Đêm Xuân nơi xứ người, trời khuya lành lạnh…! Chạnh nỗi nhớ quê nhà, tôi thắp lên nén hương thầm tâm sự lênh đênh với “chúng sanh” Minh:

Ai từ sắc tướng tìm ta?
Ai từ âm tiếng gọi ma cõi ngoài?

Tâm tư của tôi như chuyến tàu đêm đỗ bến quê nhà, viếng mộ em nay còn hay đã hoang phế tiêu điều mà rợ hoang đã mọc phủ kín chỗ nằm…? Minh ơi! Anh không có tham vọng là ảo tưởng để “ăn cơm dưới đất mà nói chuyện trên trời” lấy “cái” trí tục vật hạn hẹp để bàn chuyện bao la vô cùng của vô thuỷ, vô chung không không du du hạt vi trần du phương trôi lăn hà tứ xứ…chỉ là khúc nôi của trí não chưa bị lú lẫn còn nhận biết: “phân biệt là Thức, vô phân biệt là Trí; dựa Thức là Nhiễm, dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có Sinh Tử; Tịnh chẳng có Chư Phật” bước “chân” vào thế giới Chân Đế nầy Anh phải cởi bỏ kiến thức cũng như giầy dép để qua ngưỡng cửa thế gian pháp, tháo mở nút thắt thói tục đã huân tập, tiêm nhiễm biết bao định kiến, thành kiến, thường kiến, đoạn kiến …là si mê bao bọc, đóng chặt nẽo về giác ngộ…! Minh ơi! …Không gian bao la vô cùng và hằng chuyển…trái đất “của” chúng ta đang sinh sống đây “thuở trời đất chưa có cơn gió bụi” nó như là một tinh cầu than (carbon) chết bay hoài, bay huỷ…nhiều tỷ tỷ tỷ năm …và những “hạt” vi trần năng lượng làm Nhân theo trùng trùng Duyên khởi mà cấu tạo thành môi sinh để nẩy nở vật chất là vạn pháp tiến hoá…khởi thuỷ hành tinh có sự sống nầy không có ngay cả ý niệm thời gian thì nói gì đến có ngày:” thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư, thứ Nam, thứ Sáu, thứ Bẩy và Chủ Nhật”…?!!! Sắc Pháp: thân thể Vật Lý hay Vật Chất luôn biến đổi theo tính chất vô thường… là duyên “vay mượn” của hạt năng lượng trong không gian có sẵn mà cấu thành…? Danh Pháp: là “phần” Tâm Lý” 121 Tâm Vương, Tâm Sở cũng là Duyên vay mượn từ 33 cõi: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, Siêu Thế Giới… làm: Thọ, Tưởng, Hành, Thức và là “nơi” chúng sanh “Người” thọ hưởng tướng trạng hạnh phúc hay đau khổ…?!!! Đó cũng là ý nghĩa của bản Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh – Prajna-Paramita Sutra: “Ngài Bồ Tát dụng tuệ giác không có gì ngăn ngại quán xét thâm sâu hiện tại, soi thấy ngũ uẩn: Sắc (hình thể vật lý), Danh (tâm lý): Thọ cảm giác chủ thể chịu ảnh hưởng bởi đối tượng, Tưởng tác ý đến đối tượng, Hành hiện tượng tâm lý hay cảm xúc phát khởi theo sự kích động của thọ và tưởng, Thức sự hiểu biết …đều không có tự tánh (vô ngã)…nên rốt ráo là giai không…! Vậy thì Minh ơi, sau khi tử cận tâm chấm dứt thân thể vật chất của em chỉ còn là cái xác vô tri, vô giác đang theo tiến trình huỷ hoại vật lý…Tâm thức của em ngay lập tức tái sanh theo nghiệp mới, sanh trở lại trong kiếp sống kế tiếp, không là người, mà là một “chúng sanh” Ma trong cõi vô sắc giới còn giữ được nguyên thức giác, tính năng ở tàng thức thứ 8 Alayda…mà như như quán tính khi còn tại thế Minh vẫn miệt mài gian khổ, vui buồn kinh qua đoạn đường chiến chinh…? Hay em cũng như bao “chúng sanh” hữu tình ở cõi sắc giới, vô sắc giới do vô minh u… u… mê… mê lầm tưởng là đời sống ở những cõi như thế là hạnh phúc vĩnh viễn và tâm tham được sống, tham ái phát sinh mà thành nhân thức tái sanh kiếp người tương lai khi có hội đủ phước báu và nhân duyên…? Thời Kinh khuya tụng:” Sappe Satta Avera Hontu Sukita Hontu …nguyện cho chúng sinh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự an vui, sự hạnh phúc, sự bình yên lâu dài…Anh phúc chúc và hồi hướng cho em Nguyễn Văn Minh được an lạc, hạnh phúc, tái sanh nhàn cảnh…!” Nhưng em khẳng định: “Em không muốn tái sinh khi bọn Việt cộng còn đang ngự trị trên dân tộc, đất nước Việt Nam!” Khiến cho anh đã bao lần cũng mong ước sẽ được về lại quê nhà, thăm bao người thân, quyến thuộc, viếng mộ Ông Bà, Cha Mẹ và tìm lại mộ phần của em…Nay “đành” phải dứt khoát thái độ sẽ không về Việt Nam khi còn loài Việt cộng kẻ thừa sai của Hán thất trên đất nước Việt thân yêu.

Khi còn sống Minh hiền lành, khôn ngoan…sau khi chết em linh hiển “Hồn” vẫn còn tình Huynh Đệ Chi Binh quyến luyến, thường theo bên đời phù độ giúp cho anh may mắn thoát khỏi bao hiểm nguy giăng mắc trên đoạn đường chiến binh …Tự thân anh biết cũng là quá đủ để thầm truy điệu tử sĩ và cám ơn em với tất cả tấm lòng trĩu nặng ân tình:

Nếu cuộc đời là hữu phùng hữu biệt
Thì tôi như mậy trắng mãi ngàn phương
Nếu cuộc đời là sầu đa lạc thiểu
Sao chân cầu còn lưu nước trường giang?
Ai đã qua sông còn ngoảnh vời cố quận
Thiên lãng xa ải nhạn hướng đâu tìm…?
(MĐTTA)

Viết xong Mùa Xuân Ất Mùi 2015 Houston, Texas.
Mũ Đỏ Trương Văn Út 
(ÚtBạchLan)

Ba mươi tháng tư năm xưa, bác ở đâu?

dongsongcu.wordpress.com

Tiểu Quyên

Posted on March 18, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Thưa bác, ngày ba mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa.

Ba mươi tháng tư năm xưa, bác ở đâu?

Thưa bác, ngày ba mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa.

Thưa bác,

Nhiều năm qua bác nhắc đi nhắc lại về chuyện Ba Mươi tháng Tư. Bác nói rằng mỗi người đều có một ngày Ba Mươi tháng Tư cho riêng mình. Bác vẫn hỏi một câu. Lúc ấy quý vị đang ở đâu? Thưa bác, ngày ba mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa.

Xin kể đầu đuôi như sau:

Người yêu của cháu, chồng sắp cưới của cháu là Nguyễn Đông Thành, trung úy biệt động quân, đơn vị đóng tại Chân Thành vào thời kỳ 1975. Từ lúc ra trường Thủ Đức, anh làm trung đội trưởng tác chiến cho đến khi lên đến trung úy đại đội trưởng đã bị thương 4 lần. Một lần bị thương nặng phải nằm nhà thương hai tháng. Còn các lần khác chỉ bị thương nhẹ. Cháu gặp anh trong một lần nữ sinh đi ủy lạo chiến sĩ tại tổng y viện cộng hòa rồi quen nhau. Sau đó chúng cháu đôi khi lại còn cầu cho bị thương nhẹ để có dịp gặp nhau ở Sài Gòn. Một lần anh chỉ bị trẹo chân vì nhảy trực thăng mà được nghỉ đến gần một tháng. Đó là lần bị thương hạnh phúc nhất của chúng cháu. Gia đình hai bên đã có dịp gặp nhau sau khi về thưa với cha mẹ. Đầu năm 75 đã làm đám hỏi. Chờ đến đầu tháng 5-1975 là làm đám cưới. Cháu có ông cậu làm trung tá ở Sài Gòn quen biết nhiều nên hy vọng sẽ giúp cho anh Đông Thành đổi về đơn vị hậu cứ hay về bộ quốc phòng. Tết 75, hai đứa chúng cháu đến mừng tuổi cậu và xin cậu chạy giúp. Chạy đây là nói hộ chứ không phải tiền bạc gì hết. Cậu cháu coi tướng anh Thành và rất hài lòng để mừng cho cháu gái. Cậu khen vị hôn phu của cháu tuy còn trẻ nhưng rất đẹp trai và tướng mạo đàng hoàng. Anh 22 tuổi, còn cháu 19 tuổi vào năm 1975. Cháu cũng khá cao mà anh Thành còn cao hơn cháu cả đầu người. Anh chơi thể thao cả xà ngang và xà dọc nên người rất tài tử. Bạn học trường Gia Long đứa nào cũng thích trung úy Đông Thành của cháu.

Tuy nhiên, khi hỏi chuyện về đơn vị của Thành thì ông cậu của cháu hơi ngần ngại. Cậu nói rằng năm trước có xin cho con một anh bạn đóng đồn được đổi về tỉnh. Chỉ một tuần sau anh thiếu úy lên thay thế bị hy sinh. Bà mẹ anh này đi thưa giám sát viện về tội ăn tiền đổi người để đưa con bà vào chỗ chết. Vì vậy cậu cháu nói để chờ một thời gian, đơn vị rút từ Chân Thành về hậu cứ rồi sẽ xin đổi sau.

Người yêu của cháu cũng rất tự ái nên không hề nói gì thêm, cứ bấm tay cháu gạt đi không muốn đề cập đến việc xin thuyên chuyển nữa. Từ biệt ông cậu xong, hai đứa ra về. Cháu giận anh ấy hết sức, nhiều lúc chỉ muốn cho ra trận chết đi cho rồi.

Đàn ông mới hơn hai mươi tuổi mà đã muốn làm anh hùng. Gia đình anh ấy con một, xin hoãn dịch cũng còn được chứ ai lại đi biệt động quân. Quanh năm hành quân, đôi khi ở đơn vị còn có lệnh phải cạo trọc đầu cho thêm dữ dội. Nhưng nói gì thì nói, anh Đông Thành dù để tóc dài hay tóc ngắn thì trông vẫn đẹp như tài tử Pháp Alain Delon.

Cháu rất hãnh diện đi với anh ở đường Nguyễn Huệ. Nhưng hai đứa không có dịp đi chơi với nhau nhiều lần.

Qua tháng 3-1975, có tin địch uy hiếp Chân Thành, gia đình hai bên và riêng cháu lo lắng ngày đêm. Rồi tin từ bộ chỉ huy là đơn vị biệt động quân ở Chân Thành có lệnh rút. Quân đội cho lệnh bỏ Chân Thành. Chưa bao giờ cháu lại vui mừng khi được tin quân ta rút như vậy. Là một học sinh chưa được 20 tuổi, cháu chỉ mong người yêu sớm trở về bình yên.

Quân đội muốn bỏ đâu thì bỏ. Muốn rút đâu thì rút.

Nhưng đau khổ chưa, đúng như cháu đã lo ngày lo đêm. Đơn vị cho người đưa tin về nhà để đi nhận xác Đông Thành vào ngày 25 tháng 4-1975. Người lính ở đơn vị nói rằng anh ấy đã chiến đấu anh dũng ra sao, hy sinh như thế nào. Chẳng còn lòng dạ nào mà nghe chuyện.

Sao bao nhiêu người còn sống ở Sài Gòn không ra mà anh dũng hy sinh. Trời đất công bình ở chỗ nào. Đi lính có ba năm mà bị thương đến 4 lần, rồi mới chết. Đông Thành của cháu hiền lành như thế, có làm hại ai đâu mà phải chết oan uổng như vậy. Sau khi được tin cháu cứ như điên dại rồi đi theo gia đình lên nghĩa trang quân đội nhận xác người yêu. Dù chưa cưới nhưng cháu đã khai là chồng. Mấy ông đòi hôn thú vì tưởng cháu muốn xin tiền chồng chết. Xin tiền tử tuất với 12 tháng lương. Cháu quyết liệt nhận xác chồng dù chẳng có hôn thú.

Đất nước có còn đâu mà lãnh tiền.

Anh Đông Thành nằm như ngủ. Đạn vào ngực, vào tim, vào bụng nhưng mặt anh vẫn nguyên lành. Anh nằm đó vẫn đẹp như thiên thần. Anh về bằng trực thăng trên băng ca đúng như trong bài hát, đúng như trong tiểu thuyết. Bên cạnh xác anh có nhiều đồng bạn cũng chết nhưng vì để lâu nên bốc mùi hôi thối.

Nhiều gia đình cũng đến nhận xác. Đàn bà trẻ con khóc la ầm ỹ.

Cháu cũng hòa theo tiếng khóc nức nở. Gia đình chôn xác anh ngày 27 tháng 4-1975, buổi chiều thì ra về nhưng cháu ở lại. Cháu trốn vào khu Nghĩa dũng đài nhưng người nhà lại tưởng bạn cháu chở về Sài Gòn. Suốt những ngày cuối tháng 4 đau khổ cháu tha hồ khóc.

Trên nghĩa trang toàn là gia đình tử sĩ nên cũng không ai chú ý. Có gia đình đem theo Radio nên mở ra nghe tin tức chiến sự. Rồi dân di tản ở bốn phương trời kéo nhau về tạm trú. Họ dựng lều ngay bên cạnh các phần mộ.

Khu lính chết đã lâu thì có mộ bia và tấm Ciment bên trên. Khu mới chết thì chỉ đắp đất.

Có cả trăm cả ngàn ngôi mộ. Những ngày đầu thì có nhiều xác chở về bằng trực thăng. Về sau xác chở về toàn bằng xe nhà binh. Sau cùng thì đủ các thứ xe chở xác về đơn vị chung sự.

Nơi để xác có máy lạnh nhưng không có điện nên trở mùi hôi thối. Nhiều xác chở đến để ngay dưới đất, trời nắng bốc mùi làm cho các gia đình ở gần phải dở lều di chuyển đi nơi khác.

Ông sĩ quan trách nhiệm chôn cất nóng nẩy gắt gỏng và anh em chôn cất làm việc rất vất vả. Ai cũng có mùi rượu và dầu Nhị Thiên Đường đầy người.

Đến ngày 30 tháng 4, khi có lệnh đầu hàng thì không còn ai trách nhiệm. Lúc đó đã xuất hiện người của cộng sản ra gom dân gom lính chạy loạn bắt phải đào hố chôn tập thể.

Một anh công binh của ta lấy xe đào các hố thật lớn, rồi đưa tất cả các xác lính Việt Nam Cộng Hòa chôn tập thể. Có gia đình cố giành lại xác người thân tự đào lỗ chôn riêng.

Cháu thấy một gia đình chỉ có người vợ trẻ với mấy đứa con tám chín tuổi ạch đụi bới đất chôn chồng. Cháu tìm cuốc đến giúp một tay và thấy mình đã bớt điên. Thấy cảnh hai đứa nhỏ cùng mẹ móc đất chôn bố, cháu thấy cuộc chiến tranh vô nghĩa biết chừng nào. Và sự đau khổ của mình cũng chẳng phải là duy nhất. Đứa con gái chừng 10 tuổi và đứa em trai 6 tuổi vừa khóc vừa móc đất giúp mẹ. Cháu sẽ không bao giờ quên được hình ảnh này. Sau đó qua ngày 2 tháng 5-1975, cháu quá giang xe của người ta về lại Sài Gòn. Năm 1980, cháu lập gia đình với một anh Thủ Đức còn trẻ có 2 năm cải tạo. Chúng cháu vượt biên rồi vào Mỹ. Chồng cháu rất hiểu biết nên tôn trọng mối tình đầu của cháu với Đông Thành.

Từ mùa Xuân 1993, chúng cháu cứ vài năm lại về Sài Gòn và lần nào cũng lên nghĩa trang Biên Hòa .

Cháu có theo dõi chương trình tảo mộ chui của các bác. Lần nào cũng khấn vái cho anh Đông Thành phù hộ công việc của hội. Cháu có thuê người làm cho anh Thành tấm Ciment đúng kích thước như các ngôi mộ khác chứ không muốn xây cho thật lớn. Anh Thành đã muốn được chết như các chiến hữu thì phải để anh nằm giống như các bạn của anh.

Cháu vừa thương mà vừa giận anh biết chừng nào. Người yêu của cháu là mối tình đầu, anh chính là hình ảnh của chiến tranh Việt Nam. Cháu vừa ghét lại vừa thương. Đã 30 năm qua rồi mà tình cảm vẫn không thay đổi.

Bác đã hỏi rằng, ngày Ba Mươi tháng Tư cháu ở đâu? Vâng, 30 tháng 4-1975, cháu đi chôn chồng ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Vậy thì phần bác Ba Mươi tháng Tư, bác ở đâu?

Tiểu Quyên,

Viết tặng các con của mẹ.

—

Muon nhan duoc sach tang xin gui dia chi ve Email nay

Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393

From an article 20 years ago, Giao Chỉ, San Jose

Dear Sir, on April 30, 1975, I went to collect the body of my husband at the military cemetery in Bien Hoa.

Sir, for many years, you have repeatedly mentioned April 30th. You said that everyone has their own April 30th. You always asked, “Where were you at that time?”

Sir, on April 30, 1975, I went to collect the body of my husband at the military cemetery in Bien Hoa. Let me tell you the full story:

My beloved, my soon-to-be husband, was Nguyen Dong Thanh, a captain in the Special Forces. His unit was stationed in Chan Thanh in 1975. After graduating from Thu Duc, he served as a platoon leader and later became a company commander. He was wounded four times. One time, he was seriously wounded and had to stay in the hospital for two months. The other times, his injuries were lighter. I met him when I was a student, visiting soldiers at the Republic of Vietnam Armed Forces General Hospital. We became close, and after that, we sometimes even wished for him to be slightly injured so we could meet in Saigon. One time, he sprained his ankle while jumping from a helicopter, which allowed him to rest for nearly a month. That was the happiest “injury” for us.

Our families met after we informed our parents. Early in 1975, we got engaged, and we were planning to marry in early May 1975. My uncle, a lieutenant colonel in Saigon, knew many people, so we hoped he could help my fiancé, Dong Thanh, transfer to a different unit or to the Ministry of Defense. During Tết 1975, we visited my uncle to ask him for help. He took a look at Dong Thanh and praised him, saying that although he was young, he was handsome and had an honorable appearance. Dong Thanh was 22 years old, and I was 19 in 1975. I was fairly tall, but Dong Thanh was even taller than me. He was athletic, participating in both horizontal bars and parallel bars, so he looked very fit. All my friends from Gia Long School liked my fiancé.

However, when we asked about his unit, my uncle seemed hesitant. He said that the previous year, he had requested to transfer a friend from a garrison unit to the province, but that soldier was killed after a week, and his mother had gone to the hospital to report corruption. Therefore, my uncle said we should wait for a while, as the unit would eventually be pulled back to the rear, and the transfer could happen later.

Dong Thanh was very proud, so he didn’t bring up the transfer issue again. After we left my uncle’s house, I was very upset with him and often wished he would go to battle and die. A man who was just over 20 years old, and yet already wanted to be a hero. His family only had one son, and he could have postponed his service, but he chose to join the Special Forces, always on the move, sometimes with orders to shave his head for added intimidation. Yet, no matter what, Dong Thanh, whether with long or short hair, always looked like a handsome French actor, Alain Delon.

I was very proud to walk with him on Nguyen Hue street, but we didn’t have many chances to go out together. In March 1975, news spread that the enemy was threatening Chan Thanh, and both our families, as well as I, were worried day and night. Then came the news from headquarters that the Special Forces in Chan Thanh had received orders to withdraw. The army was pulling back. I had never been so happy to hear that our forces were retreating. As a student under 20, I just wanted my fiancé to come back safely. I didn’t care where the army retreated to. But then came the painful news, just as I had feared. The unit sent someone to inform my family to come collect Dong Thanh’s body on April 25, 1975. The soldier from his unit spoke about how valiantly Dong Thanh had fought and how he died, but I couldn’t listen to that. How could so many others still be alive in Saigon, but he died heroically?

Dong Thanh was so kind, and he never harmed anyone. Why did he have to die in vain? When I heard the news, I went mad and followed my family to the military cemetery to collect his body. Even though we weren’t married yet, I declared him my husband. The officials tried to question our marriage, thinking I wanted to claim his death benefits, but I was determined to take his body, regardless of whether there was a marriage certificate. What was there left to claim from a country that no longer existed?

Dong Thanh lay there, looking as though he was sleeping. A bullet had pierced his chest, heart, and abdomen, but his face remained intact. He looked as beautiful as an angel. He was brought back by helicopter on a stretcher, just like in the song, just like in the novels. Beside him were many fallen comrades, but they had been there too long, and the stench was unbearable. Many families came to collect their loved ones’ bodies, with women and children crying loudly. I joined in their cries. We buried him on April 27, 1975, and then my family left, but I stayed behind. I hid in the Heroes’ Memorial area, while my family thought I was going back to Saigon with friends.

During the last days of April, I wept freely at the cemetery, where all the families of the fallen soldiers were. No one paid attention to me. Some families brought radios to listen to news of the ongoing battle. Refugees from all over the country arrived, setting up tents next to the graves. There were hundreds, even thousands of graves. In the beginning, many bodies were brought by helicopter, but later, they came by military trucks. Eventually, all sorts of vehicles brought the bodies for burial. The cold storage facility was supposed to preserve the bodies, but without electricity, the stench was overwhelming. Many bodies were left on the ground under the sun, emitting foul odors that forced nearby families to move their tents further away.

By April 30th, with the order to surrender, no one was in charge anymore. Communist soldiers began to gather people and soldiers who were fleeing, forcing them to dig mass graves. An engineer from our side used a bulldozer to dig large holes, and all the bodies of the South Vietnamese soldiers were buried together. Some families tried to retrieve their loved ones’ bodies, digging their own individual graves. I saw one family, a young wife with a few children about 8 or 9 years old, digging to bury her husband. I grabbed a hoe and helped, and in that moment, I felt less crazy. Seeing those two children, with tears in their eyes, helping their mother dig their father’s grave, I realized how pointless the war was. And that my own suffering was not unique. I will never forget that scene.

After that, on May 2, 1975, I hitched a ride back to Saigon. In 1980, I married a man from Thu Duc, who had spent two years in reeducation camps. We fled the country and went to the United States. My second husband understood my first love, Dong Thanh, and respected my memories of him. Since 1993, every few years, we visit Saigon, and we always go to the Bien Hoa cemetery. I follow the program for visiting graves. Each time, I pray for Dong Thanh to bless the work of the association. I hired someone to make a gravestone for him, the same size as the others, because I didn’t want to build a large one. Dong Thanh had wanted to die like his comrades, so I made sure his grave resembled theirs.

I both love and resent him. My first love, Dong Thanh, is the embodiment of the Vietnam War. I both hate and love him. It’s been 30 years, yet my feelings haven’t changed.

You asked, where was I on April 30th? Yes, on April 30, 1975, I went to bury my husband at the Bien Hoa Military Cemetery.

So, where were you, Sir, on April 30th?

Tieu Quyen,

Gậy thần, sách ước…

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Ngọn lửa vàng leo lét phật đi phật lại bởi những luồng gió luồn vách quán, dầu từ trong những hạt cây rừng bị đốt tỏa ra một mùi thơm thảo mộc kỳ lạ. Người chủ quán ngả lưng vào tường, nét mặt khô rắn, những đường nét bật rõ dưới ánh sáng phảng phất một vẻ gì vừa huyền bí, vừa thực, vừa giấu giếm, vừa biểu tỏ. Người khách chống khuỷu tay phải xuống khúc cây lớn, ngả người một chút ra sau, chiếc áo rộng để lộ ra một khoảng ngực trần khoẻ mạnh. Người chủ quán ngồi ngay trở lại, cúi người cầm bát rượu uống một hớp:

– Ba năm rồi hôm nay mới được uống một bữa rượu vẫn chờ đợi.

– Đạ tạ lão huynh.

– Đã ba năm rồi, mới đó mà tưởng như mới hôm qua đây.

– Đó là ngày lão huynh bỏ chốn phồn hoa, lánh cửa công quyền mà tới đây?

– Không, đệ bỏ mọi điều đã trên mười năm nay, từ ngày đoạn tang nghiêm phụ. Trước đó, những ngày lang bạt, mộng tưởng… thật không ra thế nào. Ba năm, hồi đệ đã ở đây… Bữa rượu cuối cùng với một người bạn thiết…

Người chủ quán ngừng lại, vẻ thẫn thờ, chừng như một quá khứ nào đó thức dậy, bát rượu đã cạn, người khách bưng chiếc bình sành lên giót đầy cho chủ rồi tự giót cho mình một bát nữa.

– Người bạn thiết của lão huynh trở về dưới Kinh?

– Không, sao tiên sinh lại nghĩ như vậy. Như tiên sinh biết, những ngả đường qua đây không phải chỉ dẫn tới Kinh, dẫn tới những thị trấn với đời sống nhung lụa dơ bẩn, ở đây cũng có những con đường vào núi, vào rừng, con đường dẫn tới phương Nam, đó là những con đường có sẵn. Vả lại sao tiên sinh không nghĩ tới cả những con đường khác; dẫn tới những nơi khác nữa, những con đường nào đâu phải tự nhiên có đó, ai ngăn cấm chúng ta len qua những cây cao, rừng lau sậy, đạp lên những núi đồi tạo thành những con đường mới… Phải chăng vậy tiên sinh?

– Ý lão huynh muốn nói người bạn kia đã chọn một con đường khác.

Người chủ quán khoát khoát tay, nhún vai, vẻ thất vọng.

– Không phải vậy, người bạn đệ đã chọn một con đường có sẵn. Anh ấy đi vào trong núi, không biết giờ sống chết ra sao, dù vậy đệ nghĩ anh ấy đã hài lòng, dù thế nào, cuộc sống vốn đã phù du…

Ngọn lửa vẫn bập bùng, tiếng gió xao động ngoài rừng cây thâm u của đêm trường, người chủ quán ngâm khe khẽ:

« Yên hà thử khứ vô tung tích

Tử ngã tương kỳ cửu viễn khan ».

Tiếng ngâm dật dờ thân thiết đầy tâm sự tiếng nói với một tri kỷ, tiếng nói không nhiều nhưng đủ nói bao nhiêu u uẩn, những tâm sự không cần diễn tả nhưng kẻ tri âm có thể nghe thấy, đó là thứ tiếng nói thiêng liêng kín đáo của tâm hồn. Cả hai trong giây phút như hai pho tượng đá phơi mình trên một ngọn núi cao trong buổi bình minh. Chợt người chủ quán với tay lấy ngọn đuốc cầm nơi tay soi vào vách quán.

– Đó là hai câu kết trong bài thơ của đệ đọc cho người bạn thiết nghe trước khi chia tay trong một bữa rượu như hôm nay, bạn tôi đã dịch âm ra chữ nôm và viết lên vách quán đây, để tôi đọc tiên sinh nghe, cũng là một tâm sự.

Người chủ quán xoay người vào vách, hắng giọng rồi đọc vừa đủ nghe, giọng trầm trầm đầy một hào khí:

Suối trong thác biếc uống quen mui

Danh lợi nhiêu khê chẳng bén mùi

Hang đá bên mây mình dễ tếch

Vòng trời dưới thế bước khôn lui

Tỉnh mơ, ác lặn, non trơ trẽn

Mỏi lắng canh khuya tuyết sập sùi

Mây khói phen này đi biệt tích

Còn nhiều gặp gỡ để chung vui 1

Người chủ quán để ngọn đuốc vào chỗ cũ ngồi lại, nhấp một hớp rượu, giọng hoài cảm xa xăm:

– Còn nhiều gặp gỡ để chung vui, đệ không tin rằng có một ngày được như thế… Cách đây ít lâu đệ nghe nói tới một người tiều phu lâu lâu trở xuống thị trấn, uống rượu và hát ở dưới đó, một hôm kia gặp mặt đám vua quan nhà Hồ tới săn bắn trong vùng núi Na, khiến cho họ để ý, vua nhà Hồ thấy hành tung của người tiều phu có vẻ gì đáng chú ý nên đã phái người theo và thuyết ra giúp nước, người đó một mực không nghe, ẩn minh trong núi vì vậy vua nhà Hồ liền sai phóng hỏa cả khu rừng nhưng tuyệt nhiên không thấy một dấu tích gì về kẻ vô danh kia. Người ta nói trong lúc quân lính bao vây khu rừng chờ đợi, mọi người chỉ nhìn thấy một con chim hạc đen, cánh lớn bay lên không trung với tiếng kêu thảm thiết… Sau đó tại đây và trong cả vùng, mưa gió liên tiếp trong suốt ba tháng trời, sông ngòi ngập lụt, khi mưa bão dứt thì cây cỏ trong khu rừng của núi Na xanh tốt trở lại, tưởng như không có một biến chuyển nào… Một con chim hạc đen đã bay lên không trung, đệ nghĩ tới cánh chim đó mà không đậu được lòng, phải chăng đó là người bạn thiết… Anh ấy đã không dứt khoát, người ta chỉ có thể chọn một đường, không biết tiên sinh có nghĩ tới điều đó không, một con đường cô quạnh kiêu hãnh gạt bỏ mọi điều, một con đường chật chội những đua chen, đệ đã chọn con đường cô quạnh này còn tiên sinh…

Người khách ngồi im không nói, những bát rượu đầy nhấp mãi trên môi, không khi như khô lại trong khoảnh khắc. Con đường cô quạnh. Con đường chật chội đua chen. Thái độ. Sống và những trách nhiệm ràng buộc. Sống và lý tưởng. Sống và thực tại. Con đường chật chội…

– Lão huynh đã chọn con đường cô quạnh, nhưng sao lão huynh không cùng theo với người bạn thiết.

– Đệ không theo nhưng không phải đệ chống lại con đường ấy, ý đệ muốn: người bạn phải chọn con đường khác, vì anh ấy còn trẻ, anh ấy hơn đệ, đệ muốn sống khác nhưng tự biết không đủ sức để chọn, bởi vậy đệ muốn kẻ khác chọn như mình nghĩ tham quá, khôn quá phải không, nào đâu phải chỉ đơn giản như vậy. Chắc tiên sinh hiểu đệ… Với quán nhỏ bên đường này, đệ nhìn thấy biết bao điều, nghe thấy bao nhiêu chuyện, nhìn thấy bao nhiêu người… Những lựa chọn, những hành động, nếu đệ còn trẻ, nếu đệ…

Người chủ quán bỗng cười lớn, vẻ gì chua chát đau lòng. Chợt người chủ quán nghiêm mặt, giọng nhẹ nhàng trầm hẳn xuống:

– Chắc tiên sinh ở Kinh tới đây.

– Vâng, đệ có ghé qua đó, đệ nay đây mai đó…

– Chuyện ở Kinh bây giờ ra sao?

– Hóa ra lão huynh vẫn còn nhiều phiền lụy với đời sống, nhưng mà lão huynh cũng chẳng nên bận tâm làm gì. Từ bấy đến nay bao nhiêu là đổi thay, lão huynh rời khỏi nơi ấy đã lâu, hồi ấy chốn kinh thành có lẽ cũng chưa đến đỗi nào dù đã vào cuối thời của một triều đại. Còn đâu những bậc cái thế anh hùng của những chiến công hiển hách, những gương sáng chói lòa chiếu xuống đời sống quốc dân… Bánh xe của lịch sử làm sao mà chống lại được. Rồi xảy ra cuộc hưng phế, nhà Trần đã bị những kẻ tôi tớ thoán đoạt, triều đình chia năm xẻ bảy, những chia năm xẻ bảy ấy chẳng phải vì chính sách, đại cuộc, mà chỉ là những chia xẻ vì quyền lợi bổng lộc, tranh giành nhau miếng đỉnh chung, quyền hành nhỏ mọn, kỷ cương trong thiên hạ không còn giường mối chính truyền, tệ nạn mỗi lúc một gia tăng, kẻ ở ngôi thiên tử không có đức độ, kẻ sĩ thì nhu nhược, hèn nhát, bất chính… Trong cơ sự rồi đây chỉ đưa ta đến một đời sống đen tối… Bao nhiêu công lao gìn giữ, xây dựng, chống được giặc ngoài, yên được cõi trong e cũng không còn… Có kẻ đã lên đường đưa giặc vào nhà, nhận vai tôi tớ, tình cảnh khiến cho đệ không ngồi yên được…

Người khách thở dài nhấp một chút rượu nữa. Người chủ quán nói:

– Người bạn đệ bỏ kinh đô, rời khỏi quyền lợi danh vọng mà vào núi khi gặp đệ cũng nói: vận nước đã đến hồi suy. Đệ đã không chịu như vậy, đệ đã nghĩ tới ngày nay từ mười năm trước. Đệ đã nói với những người chung quanh: mình phải làm gì chứ, phải sửa soạn gì chứ… Lúc ấy không ai nghe, mỗi người những mưu toan riêng rẽ, phải chờ khi nước tới chân mới nhảy thì làm sao… Không ngồi yên được, phải, đệ cũng nghĩ như thế… Nhưng..

Người chủ quán ngừng lại, nhìn thẳng vào mắt người đối diện, trong giây phút ngắn ngủi người chủ quán như nghe thấy một tiếng nói nào. Hai người nhìn nhau không động. Lúc sau người chủ quán mới nói:

– Nhưng… Đệ còn nhớ như in đây, cũng tại chính nơi này đệ đã gặp một người đi từ núi xuống, người đó chừng như đã lên núi từ lâu nhưng nay tìm đường trở xuống, rời khỏi hang động trở lại với đời sống, người đó cũng ngang qua đây, trong câu chuyện đệ hiểu rằng người đó trở xuống với những mong ước thiết tha. Đệ hỏi: với tệ trang hiện nay, với cảnh thoán đoạt, với một xã hội phân tán tan rã mình có thể làm được gì mà vẫn giữ được hai bàn tay không bẩn. Người đó im không nói, nhưng anh ta cũng không tìm đường trở lại. Anh ta chỉ nói với đệ một cách dứt khoát, ngay thẳng, cương quyết: nếu không như vậy thì cần gì tới mình. Xưa kia thanh bình thịnh trị tôi lo tu luyện, tôi nghĩ tới lúc phải cần đến, nếu không tu luyện làm gì, bỏ đời sống, sợ tay mình dơ, đó chỉ là sự hèn nhát, đó chỉ là những thoái thác không đáng được nói đến. Phải tạo lại, phải làm ra một thời thế mới, tôi lựa chọn như vậy, ông hãy đốt bỏ quán này cùng tôi trở về dưới, kẻ có học, có nghĩ, còn chút lương tri mà lại nhắm mắt làm ngơ, giữ cho yên thân mình hay sao, như vậy còn sống làm gì nữa. Đệ đã không nói được một lời nào sau đó. Phái, trước ngọn lửa đồi bị đốt cháy, đệ thấy ở chính mình một điều gì không hợp lý, nhưng đồng thời cũng không hoàn toan vào những điều mà người kia đã nói và tin hành động, đệ lo âu một cái gì. Có những việc làm của người khác mình không tán đồng nhưng mình cũng không chối được. Đệ khổ tâm hết sức. Trong nhiều đêm một mình đối bóng, tiếng nói của người lạ lại làm đệ khổ tâm, chừng như mình có một tội gì đó. Tội gì? Sự bất lực? Sự ươn hèn? Ngại khó ngại khổ? Đệ lúng túng quanh quẩn trong vòng những suy nghĩ lao lung. Quả thật, giữa nghĩ và làm đã có những mâu thuẫn… đệ không biết phải làm sao. Điều mình muốn làm vẫn còn đó, nhưng sao đệ thấy mình cô quạnh quá muốn lánh đi cũng không được, muốn hành động thì chung quanh không có ai…

Người chủ quản nói không ngừng mọi điều được chiếu rọi lên trước lương tâm. Người khách ngồi yên nghe không tỏ một dấu hiệu tán đồng hay phản đối.

– Người bỏ đời sống trở vào hang động. Kẻ rời hang động trở lại đời sống… Hai con đường ngược chiều… Nhưng, như lão huynh nói, còn những con đường khác nữa?

– Thưa tiên sinh, có vậy, sự lựa chọn này không phải của một người. Một hôm đệ gặp một đoàn người ngang qua đây, khi đó đệ đang thả mình dưới dòng suối. Đó là toán ngưi vừa già vừa trẻ nhưng trông ai cũng khỏe mạnh, họ mang theo nhiều hành lý và có sửa soạn cẩn thận. Đệ ngạc nhiên không biết toán người định đi đâu. Khi hỏi, họ chỉ nói: vào núi. Chắc chắn họ không phải là những người vào đó để đi tu, nhưng có lẽ họ cũng không phải là những tên ăn cướp. Một người, chừng như làm trưởng nhóm có nói chuyện với đệ, người đó không nói rõ hành động của họ nhưng trong hàm ý cho thấy họ là những bầy tôi trung thành của nhà Trần, muốn khôi phục lại cơ đồ đã đổ vỡ, đệ hỏi: tiên sinh có phải thuộc dòng vua Nghệ Tông không.

– Sao lão huynh lại nghĩ thế?

– Kẻ hèn nghe tin có một kẻ nhận là Trần Thiêm Bình, dòng vua Nghệ Tông hiện đang có mặt trên đất Tàu xin nhà Minh trợ giúp để khôi phục lại nhà Trần, có phải tiên sinh ở trong mưu đồ đó không? Điều đó nào có chi là quấy?

– Không có chi là quấy, nhưng theo thiền ý, trong câu chuyện chừng như lão huynh không hài lòng về điều này?

– Hài lòng, điều đó do nơi tiên sinh, kẻ ẩn thân chốn hoang dã không dám luận bàn. Có điều chắc tiên sinh cũng nghĩ rằng: dễ gì để cho dân ta được sống trong tự chủ, việc hưng phế của một thời đại đâu phải trách nhiệm của riêng ai. Trong phạm vi nào đó tất cả chúng ta đều có bổn phận mà trong đó bổn phận giữ nền tự chủ đâu phải là nhỏ.

– Đa tạ những lời vàng ngọc của lão huynh. Có điều kẻ hèn này xin đoan quyết cùng lão huynh rằng: chúng tôi không có liên hệ gì với kẻ nhận là con cháu Trần Nghệ Tổng trong mưu đồ của họ. Còn chúng tôi… Nhưng riêng tiên sinh nghĩ sao về kẻ cầm quyền hiện nay?

– Đã lâu không còn liên lạc với đời sống, kẻ ở trong rừng không được rõ lắm, có điều chính sách học hành quân sự thì riêng kẻ hèn nhận thấy cũng là những điều hay, chỉ tiếc kẻ cầm quyền không có đức, không được lòng người, phải chi…

– Nhưng lão huynh có nhận thấy là vua quan nhà Hồ đã theo nhiều chính sách của tiên vương không? Nào lập ngôi thái tử sớm, tìm cách ổn định với phương Bắc… Chính cái lòng dân như lão huynh nói nên chúng tôi… Chúng tôi muốn có một nhà Trần mới…

Người chủ quán ngừng lại sau khi kể chuyện gặp gỡ những người vào núi trước đây. Người khách theo dõi câu chuyện một cách chăm chú:

– Chuyện xảy ra đã lâu chưa lão huynh?

– Cũng mới đây.

– Từ đó đến nay lão huynh có nghe nói gì về chuyện này không, ý đệ muốn nói tới tung tích của những người này.

– Không, không nghe nói gì cả. Đệ chỉ nghe phong thanh về một nhóm người ở trong Nam, không phải của những kẻ phù Trần diệt Hồ, hành tung không được rõ lắm…

– Ở phương Nam? Như vậy họ có liên hệ gì với Chiêm thành không?

– Đệ không được rõ chút gì, chỉ nghe nói họ mưu đồ một nước Việt mới, chờ đợi đánh đuổi quân xâm lược từ phương Bắc, chừng như họ thấy rõ mưu toan của giặc Bắc, họ cũng biết rõ thế nào nhà Hồ cũng bị diệt, vận nước sẽ bước vào một giai đoạn mới. Bao nhiêu là chuyện từ đó đến nay, kẻ xuôi người ngược, đệ nghĩ nếu có dịp để cho những người mà đệ đã gặp ngồi lại bên nhau thì không biết sẽ ra sao. Theo ai, chống ai. Ai phải, ai không phải. Mỗi kẻ một mưu đồ, một ý muốn. Chỉ có một điều mà mọi người đều đồng ý là thế nào cũng có một vận hội mới, dù chưa rõ vận hội ấy ra sao trong những ngày tới này.

Người chủ quán giót thêm rượu, người khách vẫn ngồi im, tay chống lên khúc gỗ, mặt củi xuống trầm ngâm. Tiếng gió ngoài rừng cây tạo thành một âm thanh kỳ bí, trong đó chừng như còn lẫn tiếng thú rừng… Trong đêm khuya khoắt này ai còn thức, Tiếng nói một quá khứ nào đó như dội về. Càng khuya gió càng mạnh, chừng như một cơn bão, mưa nặng hạt đỗ xuống, chiếc quán nhỏ lay động cùng với lay động của tạo vật.

Người khách vẫn ngồi im như một pho tượng đồng. Ngọn lửa trên vách có lúc muốn tắt trả cho quán khoảng đêm tối bịt bùng. Chợt cánh cửa bật tung. Người chủ quán nhỏm dậy. Không có một người nào, một vật nào. Sức gió đưa đẩy cánh cửa những tiếng động khô khan. Quá nửa đêm thì cơn bão ngớt, người khách vẫn ngồi, rượu giót mãi không ngừng trên chiếc bát sành. Chủ quán cũng ngồi đó, dựa lưng vào vách. Hai người ngồi đối ẩm cho tới lúc bình rượu không còn một giọt, người khách đứng lên, vươn vai, dáng điệu trầm tĩnh khoe khoắn khác thường. Người chủ quán nhìn người khách với sự ngạc nhiên, trong bao nhiêu năm trôi nổi, gặp gỡ không biết bao kẻ nghĩa khí, những kẻ ngang ngược, những tay tài tử nhưng chưa thấy ai là kẻ tửu lượng mạnh như người khách, uống đã nhiều mà xem chừng vẫn minh mẫn, không có chút gì tỏ ra đã đắm mình trong men rượu. Người khách bước đi trong lòng quán chật hẹp.

Người khách nói:

– Đệ muốn hỏi lão huynh, chẳng hay lão huynh nghĩ thế nào mà chọn nơi này dựng quán, phải chăng lão huynh chờ đợi tri âm.

– Tri âm, ai là người mà không muốn gặp tri âm, nhưng e rằng đời nay không còn tri âm nữa Trong nhiều năm phiêu bạt chốn giang hồ, gặp gỡ không biết bao nhiêu kẻ tiếng tăm, nhưng cho tới nay đệ vẫn thấy mình cô đơn. Bao kẻ mà thiên hạ ngưỡng mộ, khi gặp, đệ chẳng thấy gì ngoài một thứ tiếng tăm hão, một thứ hư danh phù phiếm, đệ không còn tin vào những phán xét của người đương thời nữa. Kẽ sĩ chỉ còn lại hai chữ tùy thời và một cái vỏ liêm sỉ giả trá. Những tráo trở của thời đại như ngọn lửa thử vàng. Chỉ thay đổi một triều đại mới nhìn thấy ai là kẻ xu thời, ai là kẻ hèn hạ, ai là kẻ bất trung, ai là kẻ bất tài. Có bão lớn mới thấy đâu là ngọn cây cứng. Phải vậy chăng tiên sinh. Đệ tự nhận như một ngọn cỏ trong rừng thảo mộc, hèn yếu và khiêm tốn chẳng biết làm gì hơn là rời khỏi đời sống, tự mình sống cho mình, như vậy chắc tiên sinh hiểu đệ và rộng lượng cho.

– Xin lão huynh chớ quá hạ mình, kẻ hèn này thật không đáng được nghe những lời chỉ dạy đó. Bao nhiêu điều…

Người khách đi đi lại lại vẻ bồn chồn không yên, chừng như có điều gì muốn nói rồi lại thôi, người chủ quán nhìn lên với vẻ mong đợi:

– Thưa tiên sinh, tiên sinh nghĩ, sống trong tình cảnh này, theo tiên sinh, mình có thể làm được gì?

– Làm được gì? đó cũng là điều mà chính kẻ hèn này, muốn được hỏi lão huynh.

– Với quán bên đường này đệ đã được nghe, được thấy những lựa chọn, những thái độ, tất cả đều có một phần nào đúng, một phần nào không đúng, chừng như đệ quá hoài nghi, thiếu tin tưởng và một nhiệt tình… Chính vì thế mà không thể quyết định hay hành động được gì. Đệ muốn hỏi tiên sinh: tiên sinh từ đâu đến, tiên sinh sẽ tới đâu trong cuộc hành trình?

Người khách ngừng lại, ngồi xuống chỗ cũ, sửa lại ngay ngắn, dáng người chững chạc đường hoàng hai tay khoanh trước ngực, lúc đó trong người khách như một kẻ tham thiền nhập định, nhưng tất cả toát ra một sức mạnh. Giọng người khách trầm tĩnh, dõng dạc:

– Thưa lão huynh, đệ là kẻ sinh ra trong một gia đình thanh bạch, sống xa chốn kinh thành, lớn lên với sự dạy dỗ của song thân, nhưng thân mẫu qua đời từ khi đệ còn tấm bé, nên sau đó chỉ còn nhờ vào sự trông nom của nghiêm phụ. Khi lớn lên đệ thấy nghiêm phụ sống như người ẩn dật, không nghe nói gì tới hai tiếng danh lợi. Trước khi nghiêm phụ qua đời có gọi đệ đến bên mà kể cho nghe một chuyện trước khi nhắm mắt. Đến nay đệ vẫn còn tưởng như hôm qua đây, câu chuyện vẫn còn ghi khắc trong tâm khảm, bây giờ đệ xin được kể lại hầu lão huynh. Nghiêm phụ đệ nói rằng tổ tiên của chúng ta thuộc dòng Lạc Việt. Vua Lạc Long lấy bà Âu Cơ sinh được một trăm người con, một nửa xuống biển, một nửa lên núi, một gốc chia hai dòng, cho nên từ trong nguyên thủy dân tộc ta đã khởi đầu một dòng chia rẽ. Điều ấy không quan trọng gì, bởi vì mỗi người đã được giao phó một nhiệm vụ trên con đường lập quốc và kiến tạo để cho có một nước Việt như hiện nay. Sự hưng vong của mỗi thời đại chỉ là những chu kỳ phải có trong vòng xoay chuyển của lịch sử nhưng có một điều mỗi người phải nhớ: Mỗi người con Việt có một cuốn Sách Ước và một chiếc Gậy Thần. Cha đệ nói, con cũng đang cầm trong tay một cuốn Sách Ước, như cha đã cầm, và như mọi người đều có trong tay, nhưng nó có hay không là tùy thuộc nơi sự nhận biết của người cầm nó. Bên cuốn sách ước đó con còn có một chiếc Gậy Thần, nó cũng hiện diện tùy theo sự nhận biết của con hay không. Sách ước, chắc con nghĩ tới những điều được ghi trong đó. Cha đọc thấy những điều đó và con cũng có thể đọc thấy, nhưng những điều được ghi đó như thế nào tùy con, Sách ước trong nguyên thủy ghi chép những điều giống nhau, nếu không nhận thấy những điều giống nhau là do nơi người cầm nó. Tất cả chỉ là một. Cũng như Chân Lý. Gậy Thần cũng vậy. Với cha, chiếc gậy rõ ràng cho thấy một Đầu Sinh, một Đầu Tử, điều quan trọng cho người sử dụng là biết phải cầm cái gậy ở chỗ nào. Gậy Thần và Sách Uớc gắn liền với nhau. không thể có cái này mà thiếu cái khác. Đó là điều con phải ghi nhớ…

Người khách ngừng câu chuyện lại. Không gian lặng như tờ. Người chủ quán ngồi bất động. Đêm đã gần sáng. Rất lâu cả hai người bừng tỉnh khi tiếng gà rừng vẳng xa. Ngọn đuốc trên vách cháy đỏ và rực sáng hơn bao giờ. Người chủ quán nhìn người khách im như tượng: hai tay khoanh trước ngực, dáng đường bệ nghiêm trang, đôi mắt mở lớn nhìn thẳng về phía trước, khuôn mặt cương quyết với đôi mày rậm và xếch, mái tóc búi ngược bạc trắng. Người chủ quán nói:

– Thưa tiên sinh, năm nay tiên sinh được bao nhiêu tuổi?

– Thưa lão huynh, kẻ hèn này mới chẵn ba mươi…

(1968)

——————————–

1          Thơ Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Bùi Xuân Trang.

Kinh Kha, con chủy thủ và đất Tần bất trắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

1.  Anh có tin là mình thoát được không, cái khó nhất đã qua nhưng còn đoạn đường dài từ đây xuống dưới đó.

– Tin hay không tin cũng chẳng ích gì, vượt được chừng nào thì vượt chừng đó, cùng lắm bị bắt trở lại, và mình có bổn phận là tìm cách vượt qua, dễ chừng từ trước tới nay anh chưa bao giờ phải vượt khỏi, phải trốn đi…

– Chưa.

– Thật là một người may mắn, với tôi đây là lần thứ bảy hay thứ tám gì rồi, chúng nó nghĩ mang tôi tới một vùng như thế này thì tôi không làm cách nào mà vượt được, tôi nhớ lại những điều mấy thằng nó nói với nhau, chúng nó tưởng tôi không biết đây là đâu, chúng làm như bọn mình đang sống trong một vùng thuộc tỉnh Vân-nam, tôi đã áng chừng từ hôm mới tới, rừng như thế nào, núi như thế nào, tôi lại dò ra ngọn sông thì tôi yên tâm. Trông anh có vẻ mệt rồi…

– Tôi yếu ít lâu nay, vốn không quen kham khổ, nếu không ở giai đoạn đặc biệt thế này có khi tôi không biết núi rừng, kham khổ là gì, cũng may tôi không đến nỗi mất tinh thần như những người khác, một số bạn tôi đã ngã lòng, chúng tôi không đủ một niềm tin, không kiên trì.
– Đa số hàng ngũ những người quốc gia đều thiếu cái đó, mình nhiều cảm tính quá và thường hoài nghi anh thấy đó, nếu bọn mình nghe được nhau, tin được, phối hợp được thì bây giờ đâu đến nỗi này… mình đã mắc những lầm lỗi lớn, đó là một bài học, bọn mình đã bỏ mất nhiều cơ hội …

Giọng người đứng tuổi trầm xuống hơi buồn, người trẻ tuổi lặng thinh nhìn ra dòng sông trước mặt, ánh trăng xanh trải trên mặt sông rộng, những gợn sóng lóng lánh như bạc, bên kia dòng sông những lau sậy trải ngút ngàn như chạy tới tận chân dãy núi đen sẫm phía xa, không khí vây quanh tịch mịch, nền trời như không một gợn mây, gió nhẹ thoảng qua làm xao động những lùm cây, dòng sông này sẽ xuôi đến đâu.

– Mình phải đi thôi, có lẽ mình đã ra thoát vòng vây chính rồi, nhưng mình còn phải qua nhiều vòng vây nữa. Anh đang nghĩ gì vậy?

– Nhớ tới gia đình…

– Một mái nhà, một ông bố, một bà mẹ, một người vợ, một người con, những bữa cơm đầm ấm trong gia đình, nhiều lúc nghĩ đến tôi muốn rớm nước mắt, nhưng lựa chọn ở lại trong khung cảnh ấy chắc mình sẽ khổ tâm về những điều khác. Nghĩ đến cha mẹ già nhiều lúc thấy mình bất nhẫn…

Tiếng người trẻ tuổi ngâm khe khẽ:

“Gió hiu hắt chừ sông Dịch lạnh
Tráng sĩ một đi chừ chẳng trở về…”

Tiếng gió lay động những lá cây, vẻ tịch mịch bao quanh tưởng như giữa chốn hoang đảo nào. Tiếng người lớn tuổi:

– Anh tưởng con sông này là sông Dịch sao?

– Tôi nhớ lại chuyện Kinh Kha sang Tần, Tư Mã Thiên đã viết cảnh qua sông của chàng Kinh thành một thiên anh hùng ca, chắc anh cũng đã đọc qua.

– Anh cũng muốn làm một Kinh Kha nữa sao, tiếc đây không phải là dòng sông Dịch, tiếc tôi không phải là Cao Tiệm Ly, là chủ quán thịt chó hay Thái-tử Đan, và tiếc bên kia sông cũng không có cả một Tần Thủy Hoàng cho anh tới mà hạ con chủy thủ… Để chọn làm một Kinh Kha thì sướng quá đi rồi, hoàn cảnh này đâu còn thích hợp cho Kinh Kha nữa, nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng giết Tần Thủy Hoàng là mục đích chính của chàng Kinh, ca tụng cái hành động đó người ta đã giết Kinh Kha để thỏa mãn sự bất lực của mình, để làm hài lòng tự ái của mình. Tôi hỏi anh, một người như Kinh Kha mà lại không nghĩ tới hậu quả khi cầm con dao nhọn sang Tần sao?

– Tại sao không, nhưng chắc chàng ta không nghĩ tới hậu quả mà nghĩ tới kết quả.

– Kết quả là nước Yên bị làm cỏ, những người như chàng Kinh mà hành động là phải nghĩ tới cùng một lúc những thất bại, và những thành công, anh nghĩ giết được Tần Thủy Hoàng là thành công rồi sao. Tôi nghĩ chắc chắn khi cầm mũi nhọn sang Tần chàng Kinh phải nghĩ tới sau khi đã giết được Tần Thủy Hoàng và nếu việc giết thất bại. Giết Tần Thủy Hoàng rồi làm gì với một nước Tàu rối loạn? Giết một kẻ tàn bạo không chết hắn sẽ làm gì với võ lực trong tay hắn?

– Tôi thấy các chính sử chỉ chép hành động của Kinh Kha: giết một kẻ bạo tàn, sự bạo tàn mà về sau này ai cũng thấy, như vậy hành động như Kinh Kha không đáng ca ngợi sao?

– Coi chừng anh nghĩ sai điều tôi nói, tôi không hề không tán đồng hành động của Kinh Kha, nhưng tôi không tán đồng lý do người ta đưa ra, lý do khiến Kinh Kha hành động… Trước đây tôi được một người kể lại cho nghe về một cuốn sách viết về chàng Kinh, một cuốn sách mà những sự việc trong đời chàng Kinh khác hẳn những điều mình đã đọc.

– Sao lại có nhiều Kinh Kha thế?

– Kinh Kha thì chỉ có một người, nhưng những sự thật về Kinh Kha khác nhau, sự thật tùy thuộc con mắt nhìn của kẻ khác. Đọc về Kinh Kha do Tư Mã Thiên viết hay thì hay thật, hào hùng thật nhưng tôi không khỏi thấy hành động của chàng như hành động của một kẻ mà thành ngữ của mình gọi là anh hùng rơm, nếu không thì tôi cũng nghĩ Kinh Kha là một kẻ tầm thường chỉ hành động để thỏa lòng tự ái, tự ái vì hành động của Điền Quang, của Phàn Ô Kỳ, của Thái-tử Đan, nếu hành động vì nghĩa lớn, chàng Kinh đã không hấp tấp sang Tần với một kẻ giết mướn là Tần Vũ-Dương mà chàng phải đợi người bạn có đường kiếm tuyệt luân, chàng cũng không thể có những hành động ăn chơi, mê người đẹp như là cố hưởng cho hết những lạc thú trên đời để rồi chết. Kinh Kha sang Tần không phải vì mắt xanh của Điền Quang, của Thái-tử Đan, của Phàn Ô Kỳ, lại càng không phải vì cái đầu của Phàn Ô Kỳ do chính tay Kỳ chặt lấy, chẳng phải vì đôi tay người yêu của Thái-tử Đan, một người như chàng Kinh từng qua chơi khắp các chư hầu kết bạn với hết cả những bậc hiền sĩ trong thiên hạ, Điền Quang thấy không phải là người thường, luận kiếm với Cát Nhiếp, Nhiếp dọa bằng mắt mà lặng lẽ bỏ đi, vừa thân với những danh sĩ, vừa có thể thân với một tên chủ quán thịt chó; chơi với rượu mà tính thâm trầm ham đọc sách, lại có thể nghêu ngao hát giữa chợ như chỗ không người thì đâu phải là một người thường. Như vậy khiến tôi tin những điều tôi đã được nghe về chàng Kinh.

Giọng nói trầm trầm của người lớn tuổi đầy vẻ say sưa, người trẻ im lặng lắng nghe, trăng giữa tháng vằng vặc trên nền trời đầy sao lấp lánh, con sông như một dòng nước bạc óng ánh, người trẻ nói:

– Anh đã đọc được những gì về Kinh Kha mà anh cho là khác hẳn với những sử sách đã viết về chàng?

– Tôi không được đọc, tôi chỉ được nghe lại do một người anh cả nói cho nghe, anh ấy nói đã được đọc cuốn sách khi lưu lạc bên Quảng-châu.

– Liệu đó là một cuốn sử hay là một tập truyền kỳ?

– Tôi không rõ, nói theo bây giờ, theo người thật, nó như một cuốn ký sự lịch sử, không có tên tác giả, người ta khám phá ra nó giữa những sách được cất giấu khi Tần Thủy-Hoàng ra lệnh đốt hết những sách lưu truyền bấy giờ, cuốn sách có ba chương với cái tên là: Ba lần gặp Kinh Kha, cuốn sách chừng như chưa viết xong và được bỏ lửng. Trăng còn sáng quá, tôi có thể kể lại cho anh nghe trong khi chờ đợi mình lên đường.

2.

Được tin của Kinh Kha tôi vội vàng đeo hành lý lên đường, nhưng khi tới nơi Kha đã đi trước đó một ngày. Thôi thế là hỏng hết mọi chuyện, gặp Cao Tiệm-Ly trong quán rượu chúng tôi chỉ than thở với nhau, tôi nói:

– Đã nhắn tôi sao hắn không chờ tôi?

– Hắn chờ quá, lần lữa mấy ngày nhưng vẫn không thấy gì, hắn cũng như tôi nghĩ rằng một là anh không muốn nhận chuyến đi, hai là người ta không tìm thấy anh, sau nữa Thái-tử Đan có ý ngờ Kha không muốn lên đường vì sợ chết. Trong lúc quân Tần đã ngấp nghé ngoài biên thùy, làm sao để Kha có thể nói được trong một hoàn cảnh như thế, khi xuống thuyền với Tần Vũ-Dương, Kha có ý không vui.

– Tần Vũ-Dương là người thế nào?

– Một kẻ sinh ở đất mường mán, năm mười ba tuổi đã giết người, không ai dám nhìn mặt. Thái-tử Đan cho đó là một dũng sĩ có thể giúp Kha giết được Tần Thủy-Hoàng một cách dễ dàng, Kha đã quát lên với Tần Vũ-Dương: Sao Thái-tử lại sai đến mày, đi mà không về là tại thằng nhãi này, cầm một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc phải là một dũng sĩ chứ đâu phải là một kẻ giết người như mày.

Nghe Cao Tiệm-Ly nói tôi chỉ biết thở dài, chúng tôi đều linh cảm thấy công việc của chàng Kinh đã hỏng và chúng tôi chờ đợi để nghe tin chàng chết, ngọn lửa hung bạo lại được tưới thêm dầu, chúng tôi không thể tưởng tượng hậu quả phải gánh chịu. Bây giờ Kinh Kha đang trên con đường tới Hàm-dương, tôi quanh quẩn chỗ này chỗ khác nghe người ta nói tới những ngày chàng Kinh còn ở lại đây, nào là cái chết của Thầy Điền-Quang, dũng khí của Phàn Ô Kỳ tự tay cắt lấy đầu mình cho chàng Kinh mang qua đất Tần mong được gần bạo chúa, người ta nói đến Thái-tử Đan chỉ nghĩ tới việc diệt Tần đã hy sinh ngay cả người yêu để làm vui lòng chàng Kinh. Ngồi uống rượu bên sông Dịch, nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly khiến tôi không khỏi bồi hồi xúc cảm, cái cảnh hơn ba ngàn tân khách, mấy vạn người dân mặc áo tang đã ra đây tiễn chàng đi, tôi tiếc đã không được hưởng khung cảnh ấy, tiếc đã không được cùng chàng lên chiếc thuyền nhỏ qua sông, bao nhiêu năm tập luyện để làm gì, lưỡi kiếm truyền lại từ nhiều đời để làm gì khi đã bỏ lỡ mất cơ hội của nó.

Tôi nhớ lại lần gặp gỡ năm xưa, cũng trong một quán rượu như thế này, lần đó Kha vừa rời khỏi Hàm-đan trên đường sang Yên, tôi nghe tiếng chàng từ lâu nên gặp nhau rất mừng rỡ và chúng tôi thân với nhau ngay, tôi thấy rõ chàng không phải là một người thường, tôi hỏi tại sao lại rời Hàm-đan, Lỗ Câu-Tiễn không dung được anh sao? Kha nói hắn mới quát mắng tôi chỉ vì ganh nhau khi đánh song lục, với những người như thế mình nên đi khỏi là hơn, lúc trước tôi cũng đã phải đi vì Cát-Nhiếp dọa tôi khi luận kiếm thuật với hắn, mỗi lần bỏ đi như thế chắc họ tưởng tôi hèn lắm, nhưng trong những trường hợp đó tôi chọn làm kẻ hèn, tôi đi tìm một kẻ để tôi xách dép cho họ nhưng tôi chưa thấy một người làm tôi nể, tôi nghe nói đất Yên có Thầy Điền Quang rất đáng kính, và Thái-tử Đan có mắt thấy được kẻ sĩ nên sang đó xem sao, trông Tần bạo ngược tôi không yên lòng được, anh có sang Yên cùng với tôi không? Tôi nói tôi không cùng đi được, tôi muốn về thăm mẹ già, nhưng tôi hẹn nếu cần đến tôi thì hãy tin cho tôi biết. Chúng tôi ở với nhau ít ngày luận bàn kiếm thuật rất tương đắc, Kha uống rượu rất nhiều, uống bao nhiêu cũng được và chừng như không bao giờ say, càng uống khí dũng của Kha càng như mạnh thêm, chàng vừa uống rượu vừa múa gươm, giọng ngâm thơ hào sảng, khí khái, tôi chưa được gặp một ai như chàng. Kha nói với tôi: luyện kiếm để làm gì, tôi nói tôi nghĩ tới Tần Thủy-Hoàng, Kha cười, chàng nói: anh có biết Cát-Nhiếp, Lỗ Câu-Tiễn luyện kiếm để làm gì không, tôi nói không, Kha cười lớn, họ luyện kiếm để dọa tôi, họ cầm lưỡi kiếm trong tay với sự đùa giỡn, nước loạn chính vì những kẻ không đáng cầm kiếm đã cầm kiếm trong tay và khoa lên với một đầu óc khoa trương rỗng tuếch, bao nhiêu lưỡi kiếm quý đã phải tủi hờn, tiếc thay.

Giọng Kha trầm trầm, tôi không phải là kẻ đánh gươm có tài, nhưng tôi muốn được dùng tới gươm một lần cho thật xứng đáng. Tôi nói tôi cũng ao ước như thế nhưng chưa được thỏa lòng, thực là một kẻ đánh kiếm không bao giờ nói đến đánh kiếm trừ trường hợp gặp tri âm, tôi đã nhầm khi đánh kiếm, luận kiếm với những kẻ như Lỗ Câu Tiễn hay Cát-Nhiếp, quả là tôi chưa có mắt thấy được người, cũng từ đó tôi bắt đầu sợ khi thấy những kẻ đeo kiếm bên mình, tôi sợ cho những người khác và cho chính hắn mang họa vì lưỡi thép vô tri, cầm một mũi nhọn, cầm một ngọn bút trong tay đâu phải giỡn được.

Ngồi bên quán nơi Kha đã ngồi, uống rượu với những kẻ Kha đã uống, nhìn con sông Kha đã qua tôi bồi hồi lo âu, mũi nhọn trong tay chàng sang đất Tần liệu có mang được gì về, tiếng nói của chàng như còn văng vẳng bên tai tôi. Chúng tôi chỉ gặp nhau mấy ngày rồi chia tay, tôi lên đường trở về cố hương, Kha lên đường sang Yên với lời hẹn gặp lại, nhưng có lẽ không bao giờ chúng tôi còn gặp lại nhau nữa. Ngày ngày chúng tôi ngồi uống rượu bên sông chờ tin người đi, có lúc Tiệm-Ly hỏi tôi:

– Nếu hắn không về chúng ta phải làm gì?

– Đừng vội nghĩ đến điều đó. Tôi tin hắn trở về.

– Anh nghĩ vào đất Tần dễ vậy sao?

– Không, tôi không bao giờ nghĩ vậy, tôi không muốn nghĩ rằng hắn thất bại. Nay Tần đã diệt Hàn, chiếm Sở, lấn Triệu, quân Tần đã đến biên giới nước Yên rồi, nếu hắn thất bại thì không quá một ngày gót quân Tần đã tới đây, chúng ta nào còn được ngồi yên đây, Thái-tử Đan liệu có chạy thoát, cảnh huống nào người dân nước Yên phải chịu, và thân hắn liệu có còn hay đã tan thành muôn mảnh. Vào một đất Tần bất trắc hiểm nghèo tôi vẫn mong hắn có thể trở về được.

Chúng tôi chờ đợi từng ngày nhưng tin từ Hàm dương vẫn biệt tăm, không ai biết những chuyện gì đã xảy ra ở đó, quân Yên dưới quyền Thái-tử Đan đã được điều động để phòng bất trắc có thể xẩy ra, tôi nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly không còn hay nữa, thịt rượu không còn ngon miệng nữa, luyện lưỡi gươm trong bao nhiêu năm đến lúc phải dùng lại không dùng được, đêm đặt mình không sao nhắm mắt. Chợt một đêm kia chúng tôi nghe tiếng gọi cửa, khi ra tới nơi thì thấy Kha, tôi rợn người hỏi:

– Anh thác rồi sao?

Kha cười khan:

– Không đâu, sao anh tới muộn thế, nhưng không sao.

Kha đưa tay cho tôi cầm và biết Kha còn sống, Kha nói:

– Tôi về đây để gặp Thái-tử Đan. Tôi bắt sống được Tần Thủy Hoàng rồi.

Chúng tôi đều tưởng mình sống trong một giấc mơ, nhưng đó là sự thực, Kha nói:

– Tôi muốn nghe câu trả lời của Thái-tử Đan: giết được Tần Thủy-Hoàng rồi thì Thái-tử làm gì với nước Tàu này?

– Anh hãy thuật mọi chuyện cho tôi nghe.

– Tôi vẫn có ý đợi anh cùng đi, nhưng đợi mãi không được tin gì của anh, quân Tần đã lấy Triệu, Thái-tử Đan không còn kiên nhẫn được nữa khiến tôi phải lên đường. Tới Hàm-dương tôi phải mang tất cả vàng bạc đút lót cho kẻ sủng thần của Tần là Mông-Gia để được vào bệ kiến Tần Thủy-Hoàng, với cái đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm địa đồ đất Đốc-căng chúng tôi vào bệ kiến vua Tần. Giữa chốn triều đình uy nghiêm, vượt qua bao nhiêu tầng canh gác Tần Vũ-Dương kinh sợ khiến suýt bị bại lộ, may sao con chủy thủ trong tấm bản đồ đã không lộ ra, một kẻ giết mướn làm sao đủ sức để giết được một kẻ như Tần Thủy Hoàng, tôi đứng lên sát tận ngai vàng dâng tấm bản đồ, thừa cơ cầm chắc lấy mũi nhọn túm lấy ngực vua Tần, cả triều đình kinh hoàng nhưng không ai có khí giới trong tay, lệnh vua Tần cấm không cho bất cứ ai mang võ khí vào triều, quân phía ngoài phải có lệnh vua Tần mới được vào, tôi rút lấy kiếm của vua đưa cho Tần Vũ-Dương ra lệnh cho các quan không được nhúc nhích, tôi kề mũi nhọn vào cổ vua Tần, ý tôi muốn bắt sống mang về Yên làm thịt cho hả lòng Thái-tử Đan, sau là moi gan hắn ra tế Phàn Ô Kỳ. Tôi hơi ngạc nhiên về thái độ bình tĩnh của Thủy Hoàng, hắn nói không ngờ trong thiên hạ còn có những dũng sĩ như anh, tôi nói đừng có nịnh ta, ta chẳng phải là dũng sĩ gì, ta là người đánh gươm rất dở, dù vậy những người trong thiên hạ như ta không thiếu, họ không chấp nhận được sự tàn bạo của nhà ngươi và chỉ vì vậy họ thừa can đảm liều mạng tới đây. Nhà ngươi không sợ chết sao? Tôi bảo nếu tôi chết sẽ có kẻ khác noi theo, cho tới khi nào giết được nhà ngươi. Vua Tần gằn giọng: thôi ta chịu chết, nhưng ta hỏi: giết được ta rồi nhà ngươi làm gì với nước Tàu này.

– Thế bây giờ hắn ra sao, anh chưa giết nó?

– Chưa, nhưng hắn ở trong tay tôi lúc nào mình muốn giết thì giết, có điều tôi muốn biết Thái-tử Đan sẽ làm gì với một nước Trung-hoa sau khi tôi đã giết hắn. Câu hỏi đặt ra không những cho Thái-tử Đan mà cho cả tôi lẫn anh, cho những ai không vì địa vị, không vì quyền bính mà chỉ hành động cho chính nghĩa, hành động vì đời sống hạnh phúc của dân chúng. Không chấp nhận sự tàn bạo của Tần Thủy-Hoàng, nhưng tôi cũng không chấp nhận một xã hội rối loạn phân tán, chia rẽ, một nước Trung-hoa hùng vĩ bị chia ra làm nhiều mảnh nhỏ cho mỗi kẻ hùng cứ một phương, lâu lâu kết bè kết đảng đánh lẫn nhau gây cảnh chiến tranh không bao giờ dứt, không thể chấp nhận để một nước Trung-hoa có văn hóa bị chia cắt ra từng vùng văn minh, lại để cho mình bị yếu hèn với sự đe dọa của mọi phương bắc. Bây giờ chính là lúc phải nghĩ tới việc thống nhất một nước Trung-hoa để đối địch với dân Mông cổ, mở lại ảnh hưởng ở miền Nam, như thế phải chấp nhận phá bỏ chế độ liệt quốc, đối với tôi việc giết Tần Thủy Hoàng không phải là điều quan trọng mà chính là phải làm gì sau khi đã giết hắn? Tôi đã bắt mang theo Tần Thủy Hoàng và giao cho Tần Vũ-Dương canh chừng trên đoạn đường từ Hàm-dương về đây, vua Tần đã giải thích cho tôi nghe những việc ông làm, hắn muốn làm những việc mà tôi đã nói với anh ở trên, thống nhất một nước Trung-hoa trong mọi lãnh vực …
Chỉ gặp chúng tôi trong một thời gian rất ngắn, chàng Kinh vội từ biệt để đi gặp Thái-tử Đan, sau một ngày trời chàng Kinh trở lại vẻ thất vọng, chàng nói: các anh phải sang Triệu đi, không thể ở đây được, tôi phải trở lại Tần. Tôi nói anh trở sang Tần làm gì, Thái-tử Đan đã trả lời anh ra sao, tôi phải sang Tần, tôi chưa thể trả lời anh được, còn Thái-tử Đan, thật đáng thất vọng, Thái-tử nói trả đất lại cho chư hầu, mỗi kẻ hùng cứ một phương, và nước Tần phải bị tiêu diệt. Không, tôi không chấp nhận một hành động như vậy, tôi phải trở lại Tần và hẹn lại các anh sau. Và Kinh Kha đã đi.

3.

Người lớn tuổi ngừng kể, gió núi thổi mạnh hơn, trên nền trời những vạt mây theo gió trôi qua mặt trăng có lúc bầu trời tối hẳn đi, khuôn mặt người bạn lạnh như một pho tượng dưới ánh trăng, dòng sông nước bạc vẫn lờ lững trôi. Tiếng thú rừng lạc lõng vẳng xa. Người lớn tuổi đứng lên:

– Mình phải đi thôi, mình phải ra khỏi vùng này trước khi trời sáng.

Người trẻ tuổi đứng lên theo:

– Rồi sau đó ra sao, chẳng lẽ câu chuyện lại ngừng lại ở đó, cái kẻ xưng tôi kia chắc chắn là người bạn mà Kinh Kha đã đợi để cùng sang Tần, trong Sử-ký Tư Mã Thiên có nói đến nhưng không cho biết đó là ai, trước tôi nghĩ là Cát-Nhiếp.

– Không phải Cát-Nhiếp, là một kẻ vô danh.

– Như vậy thì Thủy-Hoàng đâu phải là một kẻ tồi gì, nhưng tại sao sau đó hắn lại có nhiều hành động bạo tàn như thế. Thủy-Hoàng chết rồi, cho đến nay trải qua bao nhiêu thời đại mà tội ác của hắn vẫn được coi là kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung-hoa, những tội ác không ai có thể bào chữa được, bao nhiêu kẻ đã chết ở Vạn-lý trường-thành, bao nhiêu kẻ sĩ bị chôn sống, sách vở của thánh hiền đều bị đốt, các chư hầu đều bị thanh toán, nếu quả Kinh Kha đã tha chết cho Tần Thủy-Hoàng thì Kinh Kha đáng là kẻ phải chịu trọng tội và ngày nay người ta sẽ không còn ca tụng Kinh Kha như một dũng sĩ nữa.

– Câu chuyện đâu đã dứt, để rồi tôi kể tiếp cho anh nghe, tại sao phải xây Vạn-lý trường-thành, tại sao phải chấm dứt sự chia cắt, tại sao phải đốt sách chôn học trò, chính là phải đặt mình trong hoàn cảnh của nước Trung hoa thời đó, lại đặt mình trong cương vị của Tần Thủy Hoàng may ra mới thấy được điều đó, phê phán lịch sử một thời phải đặt mình trong hoàn cảnh của lịch sử đó. Tôi hỏi anh, nếu bây giờ anh là người nắm vận mạng của nước ta anh phải làm gì?

– Tôi chưa bao giờ nghĩ tới điều đó.

– Anh cứ thử đặt mình vào trong một hoàn cảnh như thế.

– Không, tôi không thể đặt được, lớn lên với những ý nghĩ cao đẹp, nào giành lại độc lập, thống nhất, nào kiến tạo tự do hạnh phúc, ai cũng nói thế mà nay anh em giết lẫn nhau, tự do hạnh phúc chưa thấy đã thấy trại giam, đói khổ, độc lập chưa thấy đã thấy gót giày ngoại xâm, tôi chẳng cần giấu anh, ngày nay nhiều lúc tôi buồn chán ngã lòng, sức mình chẳng làm được gì, anh thấy đó, may mà anh với tôi không đến nỗi chết ở đây, nhưng rồi những ngày tới này ra sao?

Giọng người trẻ tuổi buồn buồn xúc động. Người lớn tuổi giọng vững vàng:

– Anh ít tuổi hơn tôi mà còn thấy vậy, nếu anh là tôi anh sẽ thấy còn đáng buồn hơn nhiều, nhưng đã nhận cho mình một trách nhiệm thì không có quyền được ngã lòng. Nhìn ra những khó khăn, những sự thật chắc chắn Kinh Kha cũng ngã lòng và chàng chắc không muốn mình là một kẻ sĩ nữa, chàng muốn là một kẻ thoát ra khỏi đời sống nhưng làm sao để sống một cách yên lòng với hạnh phúc nhỏ bé của mình trong giữa một cõi đời đầy những đau khổ, làm sao để ăn miếng cơm mà thấy ngon giữa những kẻ đói khát, làm sao để thấy mình ấm áp giữa mùa đông đầy những người không có tấm áo che thân, làm sao để yên lòng phiêu diêu giữa một xã hội đầy những nhà giam, những đàn áp, bóc lột, bị tước đoạt tự do. Làm sao để yên ngủ với những mộng đẹp triền miên khi đất nước khói lửa, khi ngoại xâm giày xéo, khi đất nước bị những kẻ vô đạo, bất nhân cai trị … Cũng như bây giờ tôi hay anh có đang nhiên mà ngồi nguyên được không? Chúng ta chống Tây để rồi nhận Tàu sao, chúng ta chống chế độ thực dân hà khắc để nhận chế độ độc tài đảng trị sao, chúng ta bằng lòng nhìn sự thay thế tinh thần quốc gia bằng một tinh thần quốc tế sao?… Bao nhiêu câu hỏi đặt ra cho mình, thất bại nhưng không được bỏ cuộc, tôi vẫn nhủ thầm với tôi như thế, mình còn nhiều cơ hội, dù thế nào cũng không thể ngồi yên được.

Hai bóng người yên lặng len lỏi trong lối đi hẹp, một con đường mòn luồn dưới những hàng cây rậm rạp, ánh trăng thấp thoáng qua những bóng lá.

– Còn câu chuyện chàng Kinh?

– Đoạn tôi vừa kể lại với anh là hai phần đầu của cuốn sách, tôi kể lại theo một người kể cho tôi nghe, chừng như tôi đã toát lược thêm đi một phần, tôi không phải là một người có tài kể chuyện, tiếc rằng anh không được nghe người anh cả của tôi kể, câu chuyện anh ấy kể trong một đêm cũng có trăng sáng như đêm nay trong chiến khu ở Vĩnh-yên, thời gian chúng tôi phải sống những ngày đêm dài nhất trong cuộc chống trả lại Việt-Minh, rồi anh thấy đó, chúng tôi thất bại, mỗi kẻ lưu lạc một phương, người anh cả chúng tôi sau đó đã bị giết một cách bí mật, có người không tin anh đã chết, nhưng tôi có nhiều bằng chứng để tin anh không còn lại với chúng tôi nữa. Tôi nhớ rõ khuôn mặt anh, tôi còn nhớ tiếng anh nói, giọng tha thiết, ấm, mạnh khỏe, tôi tiếc không nhớ hết và nói được cái giọng của anh ấy cho anh nghe, không bao giờ tôi còn được thấy lại anh, không bao giờ được nghe giọng nói đầm ấm thiết tha và đầy tin tưởng ấy nữa.

Hồi bấy giờ anh cũng ngừng câu chuyện ở lại đó, anh hỏi chúng tôi: nếu đã nắm được quyền lãnh đạo trong tay rồi chúng ta phải làm gì, anh nói chúng ta hành động không phải chỉ để hành động, chúng ta hành động để giữ lấy vai trò lãnh đạo, với quyền lãnh đạo chúng ta mới thực hiện được cuộc cách mạng chúng ta mong muốn, tạo dựng một xã hội chúng ta hằng mơ tưởng, chúng ta không hành động như một kẻ nổi loạn hư vô, chúng ta muốn tiến tới một đổi đời… Những điều anh ấy nói trong đêm trăng ngày nào vẫn còn văng vẳng bên tai tôi, không bao giờ tôi quên những điều đó, chính nó như ngọn đèn cháy mãi soi sáng cho tôi… Và sau đó anh kể tiếp câu chuyện chàng Kinh.

4.

Chẳng bao lâu Tần đã thu tóm thiên hạ về một mối, thống nhất luật lệ, cân đo, chữ viết, cải tổ toàn thể cơ cấu xã hội, thanh toán những kẻ chống lại chế độ, bắt dân chúng xây Vạn-lý trường-thành ngăn rợ phương bắc, cải cách điền địa… tạo thành một nước Trung-hoa hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử. Nhưng những đau khổ mỗi ngày một chồng chất lên dân chúng. Chúng tôi đã rời khỏi ngay nước Yên khi chàng Kinh ra đi. Câu chuyện ngày nào còn như một giấc chiêm bao đối với chúng tôi, chúng tôi vẫn hỏi nhau có thực Kinh Kha đã bắt được vua Tần, có phải người hôm gặp chúng tôi thật là Kinh Kha hay chỉ là một hình bóng trong giấc mộng chúng tôi, chúng tôi hỏi nhau như thế nhiều lần nhưng không sao trả lời được. Chỉ biết sau đó ít ngày tin dữ từ Hàm-dương đưa về: Kinh Kha đã nát thân dưới lưỡi kiếm bạo chúa, đâu đâu cũng nghe nói tới chuyện chàng Kinh khi tiến lên dâng địa đồ đất Đốc-cang đã thừa lúc bất ngờ cầm con chủy thủ định giết vua Tần nhưng việc không thành, nhiều chi tiết trái ngược nhau được nói đến, có người nói tại Tần Vũ-Dương mất can đảm nên để lộ cơ mưu, có người nói vì chàng Kinh không biết đánh gươm, nhưng ai cũng cho đó là số trời không cưỡng lại được, dân chúng còn phải lầm than nên mưu toan của chàng Kinh bất thành. Có điều chắc chắn là sau đó không bao lâu vua Tần phái Vương-Tiễn mang quân sang Yên, thế quân như nước lũ, gót quân Tần đến đâu cỏ không mọc lên được, chưa đất nào bị giày xéo như đất Yên, chừng như vua Tần muốn trả cái thù của Kinh Kha, không đầy một năm thành trì của Yên đã lọt vào quân Tần, vua Yên nghe lời vua Đại-Gia rằng Tần chỉ căm giận Thái-tử Đan, nếu giết Đan dâng cho Tần thì sẽ tránh được chết, nhưng dù giết Đan vua Yên vẫn bị giết theo.

Tiệm-Ly như phát điên: phải trả thù cho hắn, trả thù cho những kẻ đã bị tàn sát, phải giết tên bạo chúa. Tôi nói thì giết tên bạo chúa nhưng sau đó… Tiệm-Ly kêu: hãy giết hắn đã rồi sau sẽ hay, nghĩ mãi rồi làm sao mà hành động, trông những việc hắn làm đó mà ngồi yên được sao. Chúng tôi sống chui nhủi, bôi mặt đổi tên để tránh sự lùng bắt của quân Tần vì từ sau khi bị mưu sát vua Tần đã cho lệnh lùng bắt những bạn hữu của chàng Kinh mà giết đi, Tiệm-Ly nương náu nơi nhà Tống-tử, nhờ tài thổi ống tiêu được tiến vào cung vua Tần, nhưng có kẻ nhận ra mặt nói cho Thủy-Hoàng biết, vua Tần tiếc tài cho khỏi chết, khoét mắt chàng bảo thổi ống tiêu, dần dần Tiệm-Ly được ngồi gần Thủy-Hoàng, chàng liền đổ chì vào ống tiêu, nhân lúc ngồi gần liền giơ ống tiêu đánh vua Tần nhưng không trúng, từ đó Thủy-Hoàng không bao giờ gần người ở các nước chư hầu nữa. Hai người bạn thân đều đã chết, còn lại người chủ quán thịt chó, chúng tôi lang bạt khắp nơi mong có ngày nhà Tần bị diệt.

Còn đâu tiếng tiêu của Cao Tiệm-Ly, còn đâu tiếng nói, khí phách một người vào đất Tần bất trắc với một mũi nhọn. Tôi cô đơn trong niềm bất lực đau đớn. Tôi không còn chàng Kinh nữa. Tôi tưởng tôi đã có trách nhiệm trong sự thất bại của chàng, nếu tôi đi được chắc tôi đã không để cho hắn sống.

Một ngày kia khi đang ở nước Hàn, lang thang ngoài chợ bỗng nghe tiếng gọi, tôi ngạc nhiên không nhận ra người trước mặt.

– Kha đây.

Tôi kinh hoàng nói:

– Tôi tỉnh hay mê vậy?

– Tỉnh, tôi thật đây.

Vừa nói Kha vừa nắm lấy tay tôi: Tôi đang đi kiếm các anh, khi tới Triệu thì tôi nghe Tiệm-Ly đã chết, tôi nghe ở Hàn có hàng thịt chó rất ngon, đoán chắc các anh ở đó, quả không sai.

– Hóa anh chưa chết, tôi không hiểu được. Sau khi anh đi chúng tôi hỏi nhau hôm gặp anh thực hay mơ, và cho đến bây giờ vẫn vậy, anh đã tha chết để cho hắn hành động như vậy sao?

Chàng Kinh lặng đi, chúng tôi trở về quán, nhìn thấy một chiếc ống sáo của Tiệm-Ly còn để lại chàng Kinh cầm lấy mà khóc:

– Tôi đâu nào sợ cái chết, giết hắn đâu phải là khó với tôi, nhưng chính là tôi đã nghe người, quả tôi không có mắt thấy được người. Bây giờ chàng Kinh tóc đã có những sợi trắng, má đã nhăn, nhưng khí dũng vẫn còn cương cường. Trong cảm xúc nghẹn ngào Kha đã nói lại với chúng tôi:

– Chắc chắn sau này sử sách sẽ viết rằng: năm ấy, ngày ấy có một tay dũng sĩ tên là Kinh Kha đã mang một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc mưu mô giết vua Tần nhưng việc không thành. Nào phải thế, như tôi đã nói hôm gặp lại các anh trên bờ sông Dịch đó. Giữa chốn triều đình nhà Tần, tôi đã tay trái túm lấy ngực hắn, tay phải áp con chủy thủ vào cổ hắn, tôi muốn mang hắn về Yên cho Thái tử Đan hài lòng, sau là moi gan hắn mà tế anh linh của Thầy Điền-Quang, Phàn tướng quân, tôi cũng muốn như Tào Mạt xưa kia bắt hiếp Tề Hoàn-Công ký giấy trả đất cho chư hầu. Tôi nghe hắn hỏi tôi: nhà ngươi sẽ làm gì với một nước Trung-hoa này, ta không muốn chết một cách ân hận. Lật bỏ một chế độ là người ta muốn có một chế độ tốt đẹp hơn. Xô đổ một ngai vàng là để lập một ngai vàng mới, nhưng ngày nay ai là kẻ đáng mặt lên ngôi? Tôi so sánh giữa hai chế độ: những ngày đầu tiên trong chế độ nhà Tần và tình cảnh Trung-hoa trong chia cắt, phân tán, mỗi kẻ hùng cứ một phương tác oai tác quái, nỗi khốn khổ của dân chúng kéo dài quá lâu. Tôi không muốn thấy mãi một tình trạng tranh chấp liên miên, không muốn thấy một thời liệt quốc mới. Tôi muốn có một nước Trung-hoa thống nhất, một nền cai trị mạnh, hữu hiệu, sáng suốt. Thủy-Hoàng nói với tôi cũng muốn vậy đó là lý do khiến ông tiến tới thống nhất Trung-hoa, phá bỏ các chư hầu. Chúng tôi thảo luận với nhau và tôi đồng ý tha chết cho Tần Thủy-Hoàng để cùng nhau bàn kế hoạch, chúng tôi làm việc hoàn toàn bí mật: phải thống nhất một nước Trung-hoa, phải thay đổi hẳn căn bản xã hội, phải làm lại hết cả…

– Anh đã đồng ý để chôn học trò, đốt sách?

– Từ sau thời Thầy Trọng-Ni tư tưởng của Thầy đã bị không biết bao nhiêu kẻ làm sai lạc, sách vở nhảm nhí không biết bao nhiêu, để những sách ấy tôi hỏi anh di hại biết đến bao giờ. Phải chỉnh lại văn hóa, cuộc sống chỉ yên vui được khi xã hội chỉ sống với một tư tưởng, một cuốn sách cho một chân lý, một lẽ phải. Còn chôn sống học trò thì không đúng, giết hết những người có học thì lấy ai để điều khiển guồng máy cai trị. Nhưng không thể dung túng những tên khuyển nho những kẻ có học mà sống xa nghĩa sách thánh hiền, học ba chữ thánh hiền chưa vỡ mà tưởng mình đội đá vá trời được, muốn nước hùng mạnh xã hội trật tự cuộc sống hạnh phúc thì phải chôn đi những kẻ không chấp nhận sự tiến bộ, chôn đi những kẻ mãi mãi muốn duy trì địa vị quyền lợi của mình.

– Anh chấp nhận để xây Vạn-lý trường-thành bằng xương máu của người dân?

– Chúng tôi nhân danh sự bền vững muôn đời, sự sống còn của nước Trung-hoa mà xây trường thành. Muốn có đời sống buộc mọi người cùng nhau đóng góp hy sinh… Nhưng thôi anh đừng hỏi tôi nữa, tôi là một kẻ có tội, tôi cũng đã bị phản bội… Mộng tưởng của tôi chỉ là ảo tưởng, Tần Thủy-Hoàng đã đổi thay, Hoàng-đế nhà Tần ngày nay không phải là kẻ mà xưa kia tôi đã tha chết cho hắn.

– Vậy ai đã chết thay cho anh?

– Như tôi đã nói đó, tôi thất vọng với Thái-tử Đan nên đã thấy Tần Thủy-Hoàng có lý, chúng tôi cộng tác với nhau, Thủy-Hoàng nguyện thi hành những kế hoạch tôi đã đề ra, để cho vua Tần có thêm uy thế chúng tôi vẽ ra cái chuyện Kinh Kha nát thây dưới lưỡi kiếm vua Tần. Nhưng ai ngờ khi đã thu thiên hạ về một mối, dẹp tan các chư hầu, ổn định được tình thế thì vua Tần thay lòng đổi dạ. Khi đã thống nhất được giang sơn, diệt hết các địch thủ hắn không còn nghĩ tới lý tưởng tới đất nước nữa, hắn nghĩ tới hắn, hắn nghĩ tới trường sinh bất tử, tôi biết tôi đã bị phản bội, không làm cách gì khác hơn là bỏ đi.

Chàng Kinh lấy ra con chủy thủ mỉm cười:

– Anh nhớ cái này không?

– Nhớ.

– Nó nguyên là của Từ Phu-nhân nước Triệu, lúc trước Thái-tử Đan mua với giá một trăm lạng vàng, đã được tẩm thuốc độc, tôi còn giữ nó đây và đi tìm các anh. Bây giờ mình phải bắt đầu lại, bắt đầu lại trong khó khăn, thiếu vắng bạn hữu và một chế độ đã được củng cố… Xưa kia cầm con chủy thủ vào một đất Tần bất trắc tôi chỉ nghĩ tới lúc giết được bạo chúa, nhưng nay cũng với con chủy thủ này vào một đất Tần bất trắc gấp trăm lần tôi nghĩ tới một xã hội sau khi đã giết được bạo chúa, điều đó khiến tôi yên tâm hơn, nhất nữa nay tôi không phải vào đất Tần với một tên giết mướn mà vào đất Tần với anh…

5.

Hai người dừng lại, người đứng tuổi ngồi xuống một cành cây, trăng đã ngả xuống, ánh sáng đục hơn, trước mặt họ con sông vẫn lờ lững chảy, người trẻ tuổi nhận ra họ đã đến một bến sông, hai bên bờ sông có mấy quán lá xơ xác, không một bóng người, dưới bến có một chiếc thuyền cột vào một gốc cây. Người lớn tuổi nói:

– Người kể câu chuyện cho tôi nghe đã dừng lại ở đó. Tôi hỏi rồi sau đó ra sao? Người anh cả trả lời: không biết, tôi chỉ thấy cuốn sách hết ở đấy. Còn sử chép: Thủy Hoàng chẳng hề bị giết mà sau chết vì dư máu, như thế có nghĩa rằng chàng Kinh Kha kia đã thất bại, nhưng đó đâu phải là kết luận của cuốn sách.

Người trẻ tuổi tư lự:

– Tôi cho rằng đây là huyền thoại do một người nào đó tạo ra để gửi gắm tâm sự của mình. Lịch sử còn chép rành rành ra đó.

– Anh tin sử ký đều là sự thực?

– Chẳng lẽ nó đều là những điều dối trá sao?

– Tôi không nói vậy. Đó là sự thực theo một con mắt nào đó. Anh cũng đã từng tham dự vào một số những biến động lịch sử trong những ngày gần đây, anh đã biết những vụ Ôn Như-hầu, Cổ-am, Vĩnh-yên… vô phúc lịch sử lại được viết bởi những người vừa bỏ tù chúng ta thì anh sẽ thấy, có khi chúng ta còn được gọi là những kẻ phản quốc nữa. Những người sau này đọc còn biết đâu là sự thật. Nếu những người đã chết đều đội mồ mà sống lại được thì chắc lịch sử còn được làm sáng tỏ nhiều uẩn khúc. Có thể câu chuyện chàng Kinh tôi vừa kể với anh chỉ là một huyền thoại, nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn tin rằng một kẻ như Kinh Kha đâu chỉ hành động để hành động hay hành động để lấy chết.

Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng, họ đưa mắt nhìn lơ đãng xuống bến sông mơ hồ trước mặt, mấy quán lá quạnh hiu trong màn sương đục, bên kia sông lờ mờ hình bóng những lũy tre mỏng đi như nét bút vờn nhẹ trong bức tranh thủy mạc đã lâu đời. Người lớn tuổi nói:

– Chúng ta phải chia tay nhau thôi.

– Sao vậy?

– Nơi chúng ta đang đứng đây người ta gọi là vùng tự do hay vùng giải phóng; còn bên kia sông được gọi là vùng địch hay vùng tề. Muốn cộng tác với Pháp thì qua sông, muốn sống trong giam hãm, đày đọa hay chết thì ở lại đây. Anh thấy chưa, bây giờ đâu phải là thời của Kinh Kha, còn Kinh Kha thì Kinh Kha cũng bó tay. Bây giờ có nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy-Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua… Chiến sĩ một đi không trở lại, tôi không chấp nhận quan niệm ấy, lên đường là phải nghĩ đến ngày trở về, nhưng đó lại là chuyện khác, bây giờ anh qua sông hay ở lại?

– Còn anh, anh lựa chọn đường nào?

– Tôi từ chối lựa chọn cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận những con đường có sẵn? …

(1962)

Dương Nghiễm Mậu

(Văn số 58 ngày 15/5/1966)