Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 31 Mar 2025

10. Chương 44
Cát bụi gọi hồn

Khi mà con tàu chở chúng tôi ra khỏi cửa biển Trần Đề được khoảng mươi phút, bất chợt Long công tử nói với tôi.

-Mày nhìn lại phía sau, hình như có một chiếc tàu đang đuổi theo tụi mình.

Tôi ngồi quay người lại, nhướng mắt quan sát. Một chiếc tàu đi biển đang hướng mũi về phía chúng tôi. Nhìn con tàu mỗi lúc một lớn dần, cho đến khi tôi thấy được có hai người đang đứng trước mũi tàu. Tôi la to.

-Mày nói đúng, có tàu đang chạy theo tụi mình.

Im lặng mím môi, Long công tử cho tàu quẹo về tay phải, mặt trời đang ở mũi tàu từ từ nhích sang phía trái. Chiếc tàu đang đuổi theo cũng lẹ làng đổi hướng quay theo. Long công tử cằn nhằn với chủ tàu.

-Ông nói đã lo lót cho trạm công an nơi cửa biển rồi, tại sao tụi nó lại rượt bắt mình?

Mặt mày của chủ tàu xanh lè, ông ta lắp bắp.

-Má… má nó, cái lũ …man rợ.

Chủ tàu chưa nói dứt lời, một tràng AK đã nổ vang, cùng lúc với tiếng đạn rít qua đầu, nhiều viên đạn trúng ngay mũi tàu kêu lụp bụp, vài mảnh gỗ vụn văng tung tóe xuống sàn tàu. Không hẹn mà cả ba người chúng tôi cùng cúi đầu, nằm sát xuống sàn tàu để tránh đạn. Khi tiếng súng đã im, Long công tử cho tàu chạy chậm lại ngồi chờ. Chủ tàu vội vàng hỏi Long công tử.

-Sao ông không tống hết ga chạy trốn, mà lại đợi cho tụi nó bắt.

Long công tử với gương mặt tỉnh queo.

-Tàu của mình chạy chậm như rùa, cho dù tôi có tăng hết tốc lực cũng chỉ được chục cây số một giờ. Tàu của công an chạy nhanh gấp đôi, gấp ba, chưa kịp chớp mắt nó đã tới bên cạnh mình rồi.

Đúng như Long công tử nói, chỉ mới chừng vài phút sau, chiếc tàu của công an đã cặp sát hông tàu của chúng tôi. Hai người thanh niên mình trần trùng trục, nước da đen xạm vì nắng và gió biển, vai đeo súng AK, họ chỉ mặc độc có cái quần cụt. Một trong hai người hỏi với giọng đầy tính uy hiếp.

-Chủ tàu đâu? Tụi mày vượt biên phải không?

Người thanh niên thứ hai tiếp lời.

-Còn hỏi gì nữa, bắn chết mẹ nó vài đứa, cho tụi nó chừa cái thói ôm chân đế quốc Mỹ đã ăn sâu trong máu, xong rồi kéo tàu về giao cho công an.

Nghe hai gã thanh niên nói chuyện với nhau, chủ tàu vội vàng nói nhỏ với Long công tử.

-Tụi này không phải là công an, bọn nó là du kích hay tự vệ biển gì đó thôi, để tôi thử lo lót với tụi nó.

Nói xong chủ tàu hướng sang hai người thanh niên la to.

-Thưa hai anh cho tôi nói.

Hai gã thanh niên bắn chỉ thiên thêm một tràng AK.

– Má cái bọn phản quốc, mang tội vượt biên như tụi mày, còn muốn nói gì nữa đây.

Ông chủ tàu tay run lập cập, miệng lắp bắp.

-Thưa…thưa hai anh, anh Sáu Tùng, trưởng công an biên phòng nơi cửa biển cho chúng tôi đi, nếu không có phép của ảnh, một con kiến cũng không qua được trạm, nói gì chiếc tàu của tôi. Giờ đây anh bắt chúng tôi lại, giao cho công an, họ sẽ bỏ tù chúng tôi mà mục đích chính là khám xét để lấy vàng bạc và tiền của. Bao nhiêu lợi lộc công an hưởng hết, trong khi các anh khổ công làm việc mà chẳng được gì.

Gã thanh niên hỏi chủ tàu.

-Mày nói sao? Anh Sáu Tùng cho tụi mày đi?

-Dạ phải, tôi xin thề có trời đất quỷ thần làm chứng.

Thấy hai tên thanh niên xì xào to nhỏ với nhau, chủ tàu nói tiếp.

-Tụi tôi có hai mươi ba người, tôi sẽ nói mọi người còn bao nhiêu tiền của, vàng bạc, đô la, gom lại hết đưa cho hai anh. Các anh có chút đỉnh tiền nhậu lai rai, lại còn đỡ tốn công áp giải tụi tôi giao cho công an.

Sau chừng một phút bàn luận, một trong hai gã thanh niên nói to.

-Làm lẹ lẹ lên, tụi tao đợi.

Không cần nghe chủ tàu nói, tôi chụp cái nón đang đội trên đầu, đi đến trước mặt từng người.

-Lẹ lên quý vị, ai có tiền Việt Nam, đồng hồ , vàng bạc, mau lột ra bỏ vô đây nộp cho du kích, họ cho mình đi rồi đó.

Tôi đếm được ba cái đồng hồ đeo tay, bốn năm chiếc nhẫn, tiền Việt Nam thì khá nhiều đựng đầy một cái nón.

Chủ tàu run run đưa cái nón chứa đầy cúng phẩm cho hai người thanh niên. Cả hai tên du kích liếc nhìn sơ qua cái nón, đưa tay sục sạo bên trong rồi lẹ như chớp ôm gọn vào lòng. Hai tên du kích khoát tay ra hiệu cho đi, đồng thời chiếc tàu của chúng cũng rú ga vọt lên phía trước, quay mũi hướng vào bờ.

Thoát khỏi một đại nạn tưởng chừng như vô phương cứu chữa, chủ tàu cười vui vẻ.

-Tới luôn ông bạn.

Long công tử cho tàu nhắm ngay hướng mặt trời mọc, dọt lẹ.

Nhìn những gương mặt hớn hở vui tươi của mọi người trên tàu, tôi nói với Long công tử.

-Hy vọng không còn ai đuổi theo bọn mình nữa.

Long công tử nói.

-Phải đợi đến hải phận quốc tế mới chắc ăn.

Đưa cho tôi cái địa bàn, Long công tử nói.

-Vượt đại dương bằng con thuyền dùng để đi trên sông, không có hải đồ, không có hải bàn, thậm chí còn không có luôn tài công, phải dùng địa bàn của bộ binh, đã vậy còn bắt hai thằng sĩ quan bộ binh lái tàu. Mẹ nó đúng là không có chó bắt mèo…làm thế. Bây giờ mày mở cái địa bàn ra, nhìn qua đỉnh cao nhất của mũi tàu sẽ thấy mặt trời, sau đó kiểm soát lại qua địa bàn có phải là một ngàn sáu trăm ly giác hay không? Nếu đúng, là địa bàn còn tốt, mình có thể dùng được.

Tôi mở địa bàn, đầu mũi tên màu vàng của cây kim xoay qua, trở lại vài lần, rồi ngừng ở hướng Bắc. Tôi ngẩng nhìn về phía mũi tàu, cúi nhìn địa bàn, mặt trời đứng ngay con số 16 màu đen. Tôi nói với Long công tử.

-Đúng rồi.

Long công tử cười với vẻ hài lòng.

-Tao lái tàu, mày giúp tao xác định phương hướng, tụi mình sẽ làm nhiệm vụ của hai thằng khinh binh, dẫn đường cho một trung đội bộ binh tiến chiếm mục tiêu. Từ giờ cho tới sáng ngày mai, mình sẽ cho tàu chạy theo hướng Đông tức là hướng một ngàn sáu trăm ly giác. Vận tốc của tàu ước chừng bảy cây số một giờ, tao nói là ước chừng, còn thật sự là bao nhiêu tao không rõ. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ mình sẽ đi được khoảng trên một trăm sáu chục cây số, sau đó mình sẽ đổi chiều đi về hướng Nam, chừng sau hai ngày hai đêm, mình đổi hướng bốn ngàn ly giác vào Mã Lai. Sở dĩ tao phải chạy theo hình vòng cung như vậy là vì muốn tránh xa Côn Đảo, càng xa càng tốt, lạng quạng để tụi công an biên phòng ở đó nó tóm cổ thì bỏ mẹ.

Tôi cố nhớ lại trong đầu tấm bản đồ vùng Đông Nam Á, in trong cuốn sách địa lý thời Việt Nam Cộng Hòa. Cuốn sách mà mấy tháng qua, tôi coi hoài không chán.

-Mày yên chí đi, tối nay tao sẽ thức suốt đêm điều chỉnh phương hướng cho mày. Mà Long nè, còn có một điều tao muốn hỏi cho rõ.

-Nói đi.

-Tại sao mày không giữ hướng Đông chạy một lèo, chừng sáu bảy ngày sẽ đến Palawan của Phi Luật Tân.

-Đi theo hướng đó thì tốt rồi, nhưng tao sợ trong đêm tối mình vướng phải san hô, đá ngầm ở chung quanh quần đảo Trường Sa, và sợ nhất là lạc qua những hòn đảo do hải quân Việt Cộng đang trú đóng trên đó. Bị Việt Cộng bắt, chẳng thà tao chết dưới tay Đông Hải Long Vương còn sướng hơn.

Tôi nhắc Long công tử.

-Đi theo đường của mày có thể gặp phải hải tặc Thái Lan.

Buông tiếng thở dài, Long công tử nói.

-Mày nói đúng, thôi thì bây giờ mình cứ chạy về hướng Đông một ngày một đêm rồi tính sau. Đồng ý không?

Khi mặt trời bắt đầu lặn ở hướng Tây, tàu của chúng tôi đã đi được 10 tiếng, cách xa bờ biển Việt Nam chắc hơn 70 cây số. Suốt đêm hôm đó, dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn bão, tôi ôm cái địa bàn điều chỉnh hướng cho Long công tử lái tàu. Cứ năm, mười phút, qua địa bàn tôi chỉnh với Long.

-Lái qua phải chút xíu. Tốt, rồi giữ yên như vậy.

Một lát sau tôi lại nhắc.

-Qua trái một chút. Đúng rồi.

Bầu trời của những ngày cuối tháng hai âm lịch tối thui, biển êm gió nhẹ, đem đến chút mát dịu thoải mái cho cả hai đứa. Một cơn buồn ngủ ở đâu chợt kéo đến, khiến tôi nói với Long công tử.

-Giờ này mà có ly cà phê đen thì tuyệt.

-Mày đòi hỏi hơi nhiều, lo canh giữ phương hướng cho tao. Chừng vài giờ nữa khi bình minh đến, nếu bầu trời trước mũi tàu sáng hơn bầu trời phía sau lưng, chắc chắn là suốt đêm tụi mình đã chạy đúng hướng.

Sau một đêm dài thức trắng tưởng như vô tận, cuối cùng thì bình minh cũng đến, đúng như Long công tử nói, mặt trời đỏ ối như một cái dĩa lửa khổng lồ xuất hiện ngay trước mũi tàu, chiếu ánh sáng rực rỡ như ánh hào quang chiến thắng đến với chúng tôi, với mọi người trên tàu.

Long công tử vươn vai tươi cười.

-Chắc mình đã cách bờ biển Việt Nam khoảng chừng trăm rưởi cây số. Nói cho tao biết mày muốn đi Phi Luật Tân hay Pulau Bidong của Mã Lai.

Khi nghe hai chữ Pulau Bidong, tôi như bị một ma lực đầy hấp dẫn, quyến rủ, không thể nào cưỡng lại được. Bởi vì đối với tôi Pulau Bidong chính là ngọn hải đăng, sẽ dẫn lối đưa đường cho những con tàu của người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam, đến bến bờ tự do. Không một chút do dự tôi nói.

-Mã Lai.

-Như vậy khoảng hai giờ nữa, tụi mình sẽ cho tàu quay mũi về hướng Nam.

Tôi gật đầu rồi nói.

-Có mặt trời hướng dẫn, mày lái tàu một mình đi, tao lo phần việc của tao, phân phát thực phẩm và nước uống cho mọi người.

Nói xong, tôi đi đến chỗ Cúc và mọi người đang ngồi dưới sàn tàu. Vinh máy nổ nằm bên máy tàu ngủ ngon lành, bất chấp tiếng dộng ầm ầm đều đều của máy tàu đang chạy.

Lần đầu tiên gặp mặt Hà, vợ của Long công tử, nhìn sơ qua tôi thấy Hà có cái nét đẹp dịu dàng của một cô gái quê, chơn chất, thật thà. Chẳng trách gì ông bạn hào hoa công tử của tôi, ngày xưa khi mới gặp cô ấy đã bị hớp hồn.

Tôi nói với Hà.

-Thưa chị tôi là Quân, bạn của anh Long.

Hà nói với tôi.

-Em có nghe anh Long nói về anh và chị Cúc, mỗi khi nhắc đến chuyện xưa, chuyện từ hồi anh và anh Long còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức, cho đến lúc cùng bị nhốt trong trại tù cải tạo Sông Mao.

Tôi nói.

-Bây giờ tôi đi lấy gạo, nhờ chị và vợ tôi nấu cơm, sau đó vắt thành nắm để tiện phân phối cho mọi người. Được không?

Hà vội vàng nói.

-Chuyện dễ mà, anh yên chí.

Quay sang Cúc, nhìn gương mặt xanh xao bơ phờ của vợ, tôi hỏi.

-Em và con như thế nào?

-Hôm qua mấy đứa con nít cùng với vài người lớn, nôn thốc mửa tháo, tất cả nằm la liệt khắp sàn tàu, giờ thì mọi chuyện đều tạm ổn rồi. Anh cứ lo chuyện của anh giúp anh Long đi. Mà anh nè, tàu của mình đi tới đâu rồi?

Nghe Cúc hỏi, tôi giật mình vì hoàn toàn không biết con tàu mình đang ở đâu giữa đại dương mênh mông, tất cả chỉ là phỏng đoán, có thể hơn một trăm rưởi cây số cách bờ biển Việt Nam.

Tôi nói với Cúc mà như tự trấn an mình.

-Tàu đang đi đúng hướng đó em.

Tôi có được vài tiếng đồng hồ cùng với vợ và Hà lo chuyện cơm nước cho mọi người trên tàu. Cuối cùng tôi cũng không quên đem theo hai nắm cơm vắt và một chai nước cho Long công tử.

Khi tôi trở lại, Long công tử mới bắt đầu cho tàu quẹo phải, chạy về hướng Nam. Tôi nghĩ thầm, vượt đại dương mênh mông bằng con tàu dùng để đi trên sông, với kiến thức của hai thằng sĩ quan bộ binh, không hải bàn, hải đồ là tấm bản đồ của vùng Đông Nam Á nằm trong trí nhớ, liệu chúng tôi có bao nhiêu phần trăm đến được bến bờ tự do.

Mặt trời đã lên khá cao đứng lững lơ bên tay trái của con tàu, chiếu những tia nắng vàng rực rỡ xuống biển. Màu nước biển ở đây không còn trong xanh mà đã đổi thành màu đen, vài con cá tựa như cá heo, đang thi nhau bơi đua với tàu ở đàng mũi. Vinh máy nổ đi đến bên Long công tử.

-Chắc mình phải cho máy nghỉ một vài giờ, đừng có ép quá, vì cái Yanmar này cũng cũ lắm rồi.

Nói xong Vinh máy nổ nhìn tôi.

-Phải chi mình có được cái máy gần như mới tinh, nơi vườn của ông Quân ở Đà Lạt thì hết sẩy.

Tôi không chú tâm nghe Vinh nói, vì sau lưng hắn ở cuối chân trời một chấm đen xuất hiện, tôi nói với Long công tử.

-Có tàu.

Cả ba đứa cùng nhìn về phía cái chấm đen hình như đang di chuyển ngược chiều với con tàu của chúng tôi. Chấm đen mỗi lúc một lớn dần, cho đến khi hình dáng con tàu rõ nét. Vinh máy nổ la to.

-Có tàu ngoại quốc bà con ơi.

Mọi người trên tàu vui mừng, la hét, một vài người cầm cái áo trắng đưa lên trời vẫy gọi, miệng hét to.

-Cứu chúng tôi với, vớt chúng tôi đi.

Con tàu khổng lồ không một bóng người trên bong, im lặng, lầm lủi như một con tàu ma, từ từ lướt ngang qua trước mặt chúng tôi, đem theo hy vọng được cứu vớt của mọi người ở trên tàu. Trời êm bể lặng, con tàu của chúng tôi thả trôi trên mặt nước. Lợi dụng lúc tàu tắt máy Long công tử và tôi nằm tại chỗ, ngủ một giấc, tuy chỉ được vài tiếng nhưng nhờ đó mà sức khỏe của chúng tôi được phục hồi phần nào, sau một đêm thức trắng.

Suốt một ngày trôi qua, có hàng chục chiếc tàu sắt to lớn, xuôi ngược ngang qua con tàu của chúng tôi. Không một chiếc nào tỏ dấu hiệu là có ý muốn cứu vớt, cho dù mọi người ở trên tàu của chúng tôi vẫy cao những cái áo trắng với ba chữ S.O.S. Đêm thứ hai, tôi cũng thức sáng đêm ôm cái địa bàn điều chỉnh hướng đi cho Long công tử. Lần này tôi giữ hướng ba ngàn hai trăm ly giác, cho đến khi mặt trời mọc lên bên phía tay trái của con tàu, lúc bấy giờ Long công tử nhìn tôi với đôi mắt đầy mệt mỏi. Hắn chỉ về phía mặt trời nói.

-Hy vọng mình đi đúng hướng.

Ngày thứ ba, trong lúc tàu của chúng tôi tiếp tục di chuyển về hướng Nam.

Long hỏi tôi.

-Mày thử đoán coi, tụi mình đang ở đâu?

Tôi cười đau khổ.

-Mày tưởng tao là sĩ quan Hải quân chắc?

Mãi cho đến sáng ngày thứ tư, tôi và Long công tử cho tàu đi theo hướng bốn ngàn ly giác, lúc này mặt trời đã ở xeo xéo sau lưng của con tàu. Vào khoảng 5 giờ chiều, tôi nói khoảng vì tất cả đồng hồ của mọi người ở trên tàu đã nộp cho du kích ở Việt Nam rồi. Lúc ấy, tôi chợt thấy một chiếc tàu đang hướng mũi về phía tàu của chúng tôi. Khi đã đến gần, tôi nghi ngờ và đoán rằng, đó là một chiếc tàu của hải tặc Thái Lan, vì hình dáng và màu sơn của nó hoàn toàn khác với những chiếc tàu chở hàng mà chúng tôi đã gặp. Trên tàu non chục tên Thái, thân hình vạm vỡ, nước da sạm đen, đứng thành một hàng dài dọc theo hông tàu, tất cả đều mình trần trùng trục, chỉ mặc quần cụt và quấn khố. Một vài tên quẹt mấy cái sọc đen trên mặt, để làm tăng thêm vẻ dữ dằn, hung tợn. Bọn hải tặc, kẻ thì cầm dao, người thì cầm búa, họ cặp sát vào tàu của chúng tôi, năm thằng hải tặc vội vàng nhảy qua. Chuyện đầu tiên chúng làm là lùa đàn ông về phía đuôi tàu, đẩy đàn bà con nít về mũi tàu. Hai thằng nhảy xuống hầm máy, dùng mỏ lết, kềm, khóa mở bù lon, tháo tung cái máy Yanmar F10 ra, ốc vít quăn đầy sàn tàu, trộn lẫn với cát bụi, nước biển, chỗ nào tháo mở không được, chúng dùng búa đập phá không nương tay. Lúc đầu, tôi tưởng rằng bọn cướp muốn phá hủy máy móc, không cho chúng tôi đi tiếp. Cho đến khi thấy bọn chúng đập tháo cái nắp của hộp chứa dầu bên hông máy, lục lọi tìm kiếm. Lúc bấy giờ tôi mới hiểu ra là bọn cướp chỉ muốn tìm vàng giấu trong đầu máy Yanmar mà thôi. Không tìm thấy vàng, bọn cướp bắt đầu chuyển qua lục lọi tất cả túi xách, cũng như quần áo của mọi người, chúng cẩn thận mò trong từng cái ve áo, nắn bóp từng cái lai quần, vì kinh nghiệm cho chúng biết người tỵ nạn thường giấu những sợi dây chuyền vàng trong đó.

Sau cả giờ lục soát, không biết kiếm được bao nhiêu vàng bạc và đô la, bọn hải tặc lục đục nhảy về tàu của chúng, rú ga cho tàu chạy mất.

Tôi thở dài nhẹ nhõm, nhìn mọi người với nét mặt vui mừng vì vừa thoát qua một đại nạn. Mừng vì đám hải tặc bỏ đi không hãm hiếp đàn bà, con gái trên tàu của chúng tôi. Hoàng hôn dần đến, màn đêm từ từ phủ kín bầu trời, một chút gió nhẹ thổi đến, mang theo cái mát lạnh của đại dương. Con tàu chết máy, không người lái trôi dật dờ trên biển, trong khi Long công tử và tôi cố gắng mò tìm dưới sàn tàu từng con ốc, con vít, từng bộ phận nhỏ nhặt của máy tàu đưa cho Vinh máy nổ với hy vọng mong manh là anh ta sẽ sửa được máy tàu.

Dưới ánh sáng của ngọn đèn bão, Vinh máy nổ chỉ vào cái nắp đậy hộp dầu bị bể ra thành mấy mảnh, lắc đầu.

-Giữa biển như thế này, tìm đâu ra bộ phận để thay thế, chịu thua thôi mấy ông ơi.

Không chịu đầu hàng trước số phận nghiệt ngã, Long công tử lấy một cây sào dài chừng ba thước, dựng lên giữa tàu, cột thêm cái poncho dù làm buồm. Tôi hỏi hắn.

-Mày kiếm đâu ra cây sào hay vậy?

-Vợ chồng tao sống trên tàu, cái cây này tụi tao dùng để phơi quần áo.

Nhờ chút gió nhè nhẹ thổi vào cánh buồm dã chiến mới làm được, hình như con tàu có trôi nhanh hơn một chút. Tàu trôi nhưng không biết theo hướng nào, sẽ về đâu, mọi chuyện đã quá tầm tay, chúng tôi đành phó mặc cho số phận đẩy đưa.

Sáng ngày thứ năm, thùng phuy nước sông trên tàu đã cạn gần tới đáy, để lộ ra một lớp phù sa màu nâu đỏ, tôi dùng một cây gỗ nhỏ đâm thẳng xuống đáy thùng rồi nhấc lên, chiều dày của bùn khoảng một tấc. Tôi nhờ Vinh máy nổ nghiêng thùng phuy rồi dùng một cái tô múc tất cả nước đục ngầu trong đó đổ vào một thùng nhựa nhỏ. Hy vọng sau một vài giờ để yên cho phù sa lắng xuống, mọi người sẽ có chút nước uống. Mặt trời đã lên khá cao, đem theo cái nóng mỗi lúc một tăng. Mặt biển lặng yên, chỉ lăn tăn gợn sóng. “Tháng ba bà già đi biển”, câu nói được truyền tụng trong dân gian quả là không sai, tàu đi trên biển mà cứ như là tà tà ở trên sông.

Tôi thầm nghĩ, nếu con tàu của chúng tôi đang ở trong tình trạng chết máy, gặp những tháng biển động với dông tố bão bùng, chắc nó đã chìm sâu dưới lòng đại dương tự bao giờ. Khi mà mặt trời đứng ngay trên đỉnh đầu chiếu ánh sáng nóng như đổ lửa xuống con tàu, không khí oi bức ngột ngạt vì không một chút gió, trong không gian bao la tĩnh mịch của buổi trưa, từ xa một con tàu của hải tặc lại xuất hiện, khi đến gần tàu của chúng tôi, nó chạy chầm chậm đánh một vòng quanh tàu rồi cặp sát bên hông. Mấy tên hải tặc nhảy sang tàu của chúng tôi, chúng đi tới hầm máy nhìn quanh. Khi thấy cái máy Yanmar bị phá hư, bọn hải tặc biết là tàu của chúng tôi đã bị cướp trước đó rồi. Sau một lúc xầm xì bàn tán, cả bọn nhảy ngược về tàu của chúng. Hai thằng hải tặc bưng qua cho chúng tôi một thau cơm đầy, một thau cá luộc, một thằng khác hai tay xách hai thùng nhựa đựng nước. Khác với thùng đựng nước ở Việt Nam mà chúng tôi thường thấy, thùng của Thái Lan to hơn một chút, tôi đọc được con số 25L to thật to in nổi trên thùng nhựa. Đặt cơm, cá, nước uống xuống sàn tàu, không nói một tiếng, sau đó cả bọn hải tặc Thái Lan trở về tàu của chúng, tăng ga dọt mất.

Những gì vừa xảy ra trước mắt, cho tôi biết hải tặc Thái Lan là những ngư dân đang đánh cá trên vùng biển của họ. Gặp tàu tỵ nạn, sẵn dịp họ trở thành cướp, nếu may mắn sẽ được một ít vàng, còn không thì cũng chẳng mất mát gì.

Tôi đem thực phẩm và nước uống phân chia cho mọi người trên tàu, tất cả đều có được một buổi trưa no nê với nước uống đầy đủ.

Buổi trưa trên biển ở gần xích đạo, cái nóng của mặt trời quả thật là kinh khiếp, thêm chuyện bầu trời lặng gió khiến không khí càng thêm oi bức, ngột ngạt, mồ hôi của mọi người ở trên tàu toát ra như tắm. Tôi phát cho mỗi người thêm nửa chén nước với lời dặn là, phải đợi đến chiều tối mới phát nước lại.

Cho đến khi mặt trời ngả về hướng Tây, ánh nắng chừng như đã dịu lại, những cơn gió nhẹ cũng bắt đầu thổi, cùng lúc ấy một chiếc tàu của hải tặc lại xuất hiện. Đây là chiếc tàu hải tặc thứ ba mà chúng tôi gặp. Khi hai chiếc tàu gần kề, cặp song song với nhau, tôi đếm được bảy thằng hải tặc thân hình đen đúa, mặt mũi bặm trợn, trên tay dao búa sáng ngời. Bọn hải tặc hò hét nhảy múa trông giống như là những thổ dân Châu Phi, đang mở hội ăn mừng quanh bếp lửa. Mọi người trên tàu của tôi hầu như chết khiếp trước những tên hải tặc hung hăng dữ tợn. Bốn thằng hải tặc nhảy qua tàu của chúng tôi, thằng dẫn đầu tay cầm dao, tay cầm đuốc nhìn xuống hầm tàu. Khi thấy cảnh máy móc bị đập phá, tháo rời ra làm nhiều mảnh, như biết tàu đã bị cướp nhiều lần, tên hải tặc với gương mặt đầy vẻ giận dữ, hắn dùng cây đuốc chỉ vào từng người đàn ông, lùa sang tàu của chúng. Tất cả bọn đàn ông chúng tôi, bị dồn hết về phía mũi tàu của bọn hải tặc. Trong lúc di chuyển, một người đàn ông trong bọn chúng tôi, vừa đi vừa đưa tay gạt mạnh con dao của tên hải tặc sang một bên. Thấy có người như muốn chống cự, vẻ tức giận hiện rõ trên gương mặt của tên hải tặc, đôi mắt của hắn long lên sòng sọc, sẵn con dao đang cầm, hắn vung tay đâm mạnh vào lưng của người đàn ông. Lưỡi dao xuyên qua lưng người đàn ông ngọt như cắm vào thân một cây chuối. Chỉ nghe được hai tiếng la “Chết tôi” rồi người đàn ông quỵ một chân xuống đất. Ngay lúc ấy một em thiếu niên chừng 16 tuổi, chạy đến ôm lấy chân người đàn ông, miệng la to “Ba có sao không?” Tên hải tặc Thái Lan rút con dao ra khỏi lưng người đàn ông, một dòng máu đỏ tươi tràn theo miệng vết thương, chảy xuống sàn tàu. Tên hải tặc với nét mặt lạnh như tiền, co chân đạp xác người đàn ông xuống biển. Với gương mặt đầy sát khí, hắn túm tóc em thiếu niên kéo lên cao, đâm một dao vào bụng rồi đẩy xác xuống biển. Trước cảnh giết người một cách man rợ của tên hải tặc Thái Lan, không ai bảo ai, bọn đàn ông chúng tôi chạy dồn về phía mũi tàu. Thấy đã ổn định cánh đàn ông. Bốn tên hải tặc đang ở trên tàu của chúng tôi, bắt đàn bà phải cởi bỏ quần áo, cũng trong lúc đó ba thằng hải tặc bên tàu của chúng giương mắt đứng nhìn, với những tiếng cười man rợ đầy thú tính.

Trước tình trạng tuyệt vọng của cảnh bọn hải tặc Thái Lan sắp sửa hãm hiếp đàn bà, con gái, một sự việc bất ngờ mà tôi biết là ngoài dự đoán của bọn hải tặc và cả tôi nữa. Long công tử tay cầm cây lao đâm cá, mũi lao làm bằng sắt nhọn hoắc sáng ngời, có thêm cái ngạnh nhỏ cong cong ở bên hông. Tôi không biết nó tìm được ở đâu. Hét lên một tiếng thật to, tiếng thét nghe như muốn rách cả màng nhĩ của mọi người, Long công tử lao mình tới gần tên hải tặc đã đâm chết hai người của chúng tôi. Tên hải tặc này đang đứng bên hông tàu Thái Lan, nhìn sang tàu của chúng tôi hai tay đưa lên trời múa may uốn éo. Nghe tiếng hét, tên hải tặc quay người lại, cũng vừa lúc mũi lao cắm phập vào bụng hắn, xuyên qua người, lòi ra sau lưng hơn một gang tay. Tên hải tặc với đôi mắt trợn tròn đầy kinh ngạc, hai tay chỉ kịp ôm lấy cái cán lao đầy máu, loạng choạng thối lui một bước rồi cả thân hình vạm vỡ của hắn ngả nhào xuống biển. Chứng kiến cảnh đồng bọn bị giết, hai tên hải tặc còn lại tay vẫn còn cầm dao búa, bỗng dưng hốt hoảng đi thụt lùi. Long công tử như một con cọp dữ chuẩn bị vồ mồi, hắn gào to, tiếng gào nghe thật ghê rợn rồi bước tới một bước, hai thằng hải tặc lui một bước. Trong lúc hai bên đang còn vờn nhau như vậy, đột nhiên giọng nói của Vinh máy nổ vang lên.

-Ông thầy, giao cái thằng cao cho tôi.

Hai chữ ông thầy vừa thoát ra khỏi miệng của Vinh máy nổ, như một tín hiệu từ thuở xa xưa nào đó, khi mà cả hai còn phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc mà Long công tử là căn cứ phó một trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Thiện Ngôn Tây Ninh, rồi sau đó là Đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân, trong suốt bốn năm trường dài đăng đẳng, đã từng tham dự hàng trăm trận đánh lớn nhỏ với Việt Cộng, coi cái chết nhẹ tựa chiêm bao. Còn Vinh máy nổ ở Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù, với hai câu thơ bất hủ đã đi vào lịch sử.

An Lộc địa sử ghi chiến tích.
Biệt Kích Dù vị Quốc vong thân.

Tiếng la của Vinh máy nổ như một động lực vô hình, một sức mạnh vô địch đẩy Long công tử phóng người về phía trước nhanh như gió. Cái bóng của Vinh máy nổ cũng vội vàng lao theo. Long công tử lúc bấy giờ là một con cọp đang dang rộng hai tay, kéo thằng hải tặc văng ra khỏi tàu mất hút dưới biển. Tiếp theo đó là Vinh máy nổ theo đà phóng, ôm chặt lấy thằng hải tặc còn lại, cả hai cùng lộn nhào trên không một vòng, rồi rơi tòm xuống lòng đại dương đen ngòm.

Tất cả mọi sự việc kinh hoàng chỉ diễn ra trong vòng vài phút, bốn thằng hải tặc đang ở bên tàu của tôi la to bằng tiếng Thái, tiếng la nghe đầy hoảng sợ, rồi cả lũ thi nhau nhảy xuống biển. Ngay lúc ấy, con tàu của bọn hải tặc rú ga phóng về phía trước, tôi nghĩ rằng thằng hải tặc lái tàu sẽ chở bọn đàn ông chúng tôi chạy thoát thân. Không ngờ chiếc tàu quẹo về bên phải, đánh một cái vòng chữ C, rồi nhắm vào bên hông con tàu của chúng tôi đâm vào. Tàu đánh cá của ngư dân Thái Lan thường trang bị động cơ sáu xi lanh, to như một con cá voi với mũi tàu nhọn hoắc vươn lên trời cao. Con tàu của chúng tôi là một con tàu nhỏ cũ kỹ chạy trên sông, nhiều chỗ mục nát muốn rệu rã với cái máy Yanmar F10 nhỏ xíu. Sau một chấn động kinh hoàng, con tàu của bọn hải tặc khựng lại một vài giây, trong khi tàu của chúng tôi đã vỡ làm hai mảnh, mấy cái thùng đựng nước bằng nhựa với vài tấm ván tàu nổi lềnh bềnh trên mặt nước, cùng lúc ấy thân thể của những người đàn bà và con nít đang từ từ chìm vào lòng đại dương sâu thẳm. Tận mắt chứng kiến cảnh đau thương tang tóc, cảnh người thân của mình bị chết thê thảm như vậy, những người đàn ông Việt Nam đang ở trên tàu của bọn hải tặc Thái Lan, kẻ trước người sau nhảy ào xuống biển.

Những tia nắng cuối cùng của một ngày cũng vừa tắt, màn đêm đen tối bao phủ cả bầu trời, biển đêm hoàn toàn im lặng, một sự im lặng đến rợn người, trong tận cùng khổ đau của tuyệt vọng, tôi nhắm mắt lao mình xuống biển, với chút hy vọng là sẽ tìm được vợ con.

33 Năm Tìm Được Xác Chồng

dongsongcu.wordpress.com

Giao Chi, Sanjose

Posted on March 25, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 26 Mar 2025

Trung Úy Phi công Nguyễn Văn Lộc – Vượt Ngục Long Giao bị bắn chết Chuyện tình thực thời chinh chiến.

Câu chuyện tình bi thảm của 1 thời chinh chiến – Giáo sư Bùi văn Phú bên Oakland nói rằng học sinh Nguyễn Bá Tòng 70 ai cũng biết hoa khôi Ngọc Di – Thầy Mạc Bìa ở San Jose nói rằng anh em không quân ai cũng biết phi công Nguyễn văn Lộc – Ngọc Di quê Nha Trang vào học tại Saigon – Trung úy Lộc quê Đà Lạt về Nha Trang đi lính tàu bay – Ghé chơi nhà bạn chợt thấy tấm hình cô gái có đôi mắt “U uẩn chiều luân lạc” đâu biết rằng anh sẽ mê mệt vì đôi mắt người Nha Trang

Niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi Hoa Kỳ học lái phản lực. – Năm 71-72 cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tốt nghiệp tú tài toàn phần và ghi danh trường luật.

Đám cưới ở Nha Trang ngày 6 tháng 2/1974. – Một năm sau căn cứ không quân Phan Rang di tản. – Chồng đưa vợ có bầu lên máy bay chạy vào Saigon.– Trung úy phi công ở lại lo phi vụ hành quân.– Chia tay nhưng hẹn gặp lại tại Saigon.– Rồi vợ chồng tái ngộ trong niềm hạnh phúc.– Lại chia tay thêm lần nữa ngày 28 tháng 4/1975. –Ngọc Di có bầu 6 tháng lên máy bay đi Mỹ.– Người phi công phản lực ở lại với những phi vụ cuối cùng.– Chia tay nhưng vẫn hẹn găp lại, nhưng lần này là vĩnh biệt.– Người mẹ trẻ sinh con gái trong tỵ nạn ngày 18 tháng 7/1975. –Vợ vẫn không biết tin chồng, con không thấy mặt cha. –Anh phi công của Việt Nam Cộng Hòa nằm trong trại tù Long Giao tính được gần đúng ngày vợ sanh. –Ngày đêm anh sống với đôi mắt người tình Nha Trang. –Việt cộng hẹn 6 tháng học tập rồi sẽ trả tự do. –Sáu tháng trôi qua chưa được thả, anh âm mưu vượt ngục. –Bị bắn chết ngày 25 tháng 3/1976. –Chôn cùng người bạn phi công trốn trại. –Vợ con bên Hoa Kỳ hoàn toàn không có tin tức. –10 năm sau, những người bạn tù qua được Hoa Kỳ lần lượt kể chuyện về chuyến vượt thoát bất thành. –Nhưng không ai biết xác chồng của Ngọc Di ở nơi nào. –Ba mươi ba năm sau, những bạn tù không quân mới tìm lại được xác chiến hữu. –Người quả phụ không quân đem con gái 33 tuổi về nhận di hài của phi công Nguyễn văn Lộc. –Trên chuyến bay hãng EVA đáp xuống phi trường LA ngày 3 tháng 11/2008 cô Ngọc Di ôm bình tro cốt của chồng. –Con gái cô ôm thêm bình tro cốt của người chiến hữu cùng chết bên cạnh anh.– Năm nay 2010 là ba mươi lăm năm nhìn lại con đường. –Tôi xin kể lại ngọn ngành 35 năm cuộc đời của người góa phụ không quân anh dũng muôn đời.

Một thời chinh chiến

Mỗi người trong chúng ta đều có riêng cho mình những kỷ niệm về tháng 4 năm 1975. Chuyện của cô Nguyễn Thị Ngọc Di thường được kể thêm vài hàng bên cạnh câu chuyện của người chồng anh hùng trốn trại và đã hy sinh. Nhưng tôi lưu ý riêng đến hoàn cảnh người vợ nên đã nghe cô Ngọc Di kể lại tâm sự cuộc tình. Cô nói rằng, dù đã đem được di hài anh Lộc về nhưng tâm tình u uẩn chưa nguôi. Con gái của cháu tương đối ổn định, nhưng phần cháu, cuộc chiến vẫn chưa yên. Từ lúc 10 tuổi, hình ảnh mẹ cháu đi nhận xác chồng với di hài và vết máu trên áo trận của ba cháu vẫn theo đuổi cháu trong nhiều năm. Đến thời gian cháu ở Phan Rang có mấy tháng đã chứng kiến cảnh cô vợ trẻ miền Tây, đẹp não nùng đi nhận xác anh không quân tử trận. Phi cơ bị rơi vẫn còn mang bom. Phi công không kịp nhảy dù. Bom mang theo nổ cùng con tàu. Xác chẳng còn gì. Căn cứ lấy 2 cây chuối cho vào quan tài, thêm 1 ít da thịt rồi đóng hòm thực kín. Khi cô vợ ra nhận xác chồng, vật vã xin mở ra nhìn mặt, nhưng còn thấy làm sao được. Cháu chứng kiến mà thấy tê dại cả người. Anh Lộc dìu cháu vào nhà ở khu sĩ quan độc thân. Anh nói rằng, anh cam đoan sẽ không bao giờ bị như thế. Như vậy là làm sao. Phải chăng lời tiên tri cho cả cuộc đời sau này. Lấy nhau từ tháng 2/74, chẳng bao giờ được gần nhau 1 tháng. Anh đi bay khắp mọi nơi. Đầu năm 75, cháu có bầu mới ra sống ở căn cứ Phan Rang. Vì không có nhà bên cư xá gia binh, phải tạm trú ở khu độc thân. Chứng kiến toàn chuyện hy sinh chết chóc. Cháu mới 19 tuổi, bác nghĩ coi làm sao mà sống được. Mới năm trước từ thời học sinh vô tư qua thời sinh viên hết sức thần tiên. Chợt bước chân vào đời vợ lính, lo lắng sợ hãi biết chừng nào.

Một thời để yêu

Chờ cô Ngọc Di bớt cơn xúc động, tôi xin cô kể lại chuyện tình bắt đầu ra sao. Cô bình tĩnh và kể hết, không hề dấu diếm kề cả chuyện bay bướm và ngang tàng của anh Lộc.

Bác biết không, trước khi gặp cháu, anh Lộc đã quen với cô giáo Hương bên Ba Làng cũng tại Nha Trang. Bạn bè đã có người gọi anh là Lộc Ba Làng. Chuyện này về sau cháu mới biết. Ông anh họ không quân của cháu cũng không biết mới dẫn Lộc về nhà coi mắt chị cháu ở Nha Trang. Nhà cháu có đến 9 anh chị em. Nhưng coi bộ anh Lộc với chị Như Khuê của cô không hợp duyên, nên chỉ chuyện trò qua loa. Chợt anh Lộc thấy hình của Ngọc Di còn đang trọ học Saigon. Anh nói là đã mê đôi mắt từ lúc đó.

Qua niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi học bay tại Hoa Ky. Ngọc Di bắt đầu nhận được thư làm quen. Bạn bè của anh ở Mỹ nói rằng mỗi tuần anh đều nhận được thư của 2 cô. Cô giáo bên Ba Làng và cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng. Nhưng xem chừng đôi mắt người Nha Trang đã lấy trọn vẹn tình yêu của anh chàng không quân gốc Đà Lạt. Dù rằng về phần Ngọc Di vẫn chưa thực sự rung động với tình yêu chiến sĩ.

Hồi hương được 3 ngày, Trung úy Lộc bèn vào trường Nguyễn Bá Tòng lừa cha giám học nhận là anh vào thăm cô em cùng họ Nguyễn. Đây là đầu tiên 2 người gặp mặt. Từ trước chỉ biết qua hình ảnh. Anh chị có 2 tuần lễ đi chơi khắp Saigon, bao nhiêu là quà bên Mỹ, anh phi công hào hoa dành hết cho cô hoa khôi trường trung học..

Giáo sư Bùi Văn Phú thời đó học Nguyễn Bá Tòng cùng lớp với Ngọc Di kể lại rằng hình ảnh anh không quân xuất hiện đã làm cho biết bao nam sinh đau lòng.

Một hôm anh Lộc dẫn cô Di về nhà bà chị tại Saigon, chợt gặp cô giáo Ba Làng ra thăm.

Cuộc gặp gỡ bất chợt như trong thoại kịch trên sân khấu. Người yêu cũ chợt thấy bị phản bội, người yêu mới chợt thấy bị lừa dối. Anh không quân đưa Ngọc Di về nhà, nhưng cô cho rằng cuộc tình ngắn ngủi coi như chấm dứt. Cô cũng chưa yêu nên không thấy thực sự bẽ bàng. Sẵn sàng để anh Lộc trở về với người xưa của anh. Nhưng anh không quân đã trở thành Phạm Thái của Tiêu Sơn Tráng sĩ nhất định chết trong cặp mắt của giai nhân Trương Quỳnh Như.

Ngày hôm sau, trung úy phản lực trở lại nói là đã giải quyết xong mục tiêu. Cô gái Ba Làng buồn tủi trở về Nha Trang và anh Lộc quyết 1 lòng đi tới với Ngọc Di.

Cuộc tình duyên trải qua suốt năm tháng dài cho đến ngày đám cưới ở Nha Trang 6 tháng 2-1974.

1974 – Một thời hoạn nạn:

Khi đôi trẻ bắt đầu xây dựng gia đình qua lễ cưới là lúc đất nước bước vào năm tang tóc cuối cùng. Ngọc Di nhắc đi nhắc lại là cháu đâu có được làm vợ lính cho trọn vẹn một đời. Tuy hòa bình đã ký nhưng 2 bên vẫn còn chiến tranh dành dân lấn đất. Cô sinh viên vẫn lấy bài học luật đi về giữa Saigon Nha Trang và người chồng bất chợt lúc gặp ở Nha Trang, lúc thì Saigon. Mấy tháng cuối cùng sống chung ở căn cứ Phan Rang ngày đêm nghe tiếng phi cơ phản lực và những giây phút ngóng đợi chồng về.

Rồi khi tình thế nguy ngập, anh chồng đẩy cô vợ mang bầu lên C.130 với toàn những người xa lạ. Phi cơ cất cánh, nhìn anh còn đứng trên phi trường Phan Rang, nào biết bao giờ gặp lại nhau. Nhưng rồi anh đem phản lực về Saigon yểm trợ cho mặt trận Long Khánh.

Có tin vợ con phi công chiến đấu vào hết Tân Sơn Nhứt để chờ di tản. Đêm định mệnh cuối cùng Ngọc Di vẫn còn ở nhà với mẹ và thân quyến tại Saigon. Các ông anh cũng có chương trình di tản cả nhà.

Nửa đêm 28 tháng 4/75 chợt có tiếng xe hồng thật tự chớp đèn bấm còi ấm ỹ. Anh Lộc gõ cửa kêu Ngọc Di khẩn cấp lên đường. Bà mẹ nói rằng hay con ở lại để đi với mẹ và anh em, nhưng Lộc kiên quyết kéo vợ đi ngay. Ánh mắt mẹ già buồn bã trông theo. Nhưng sau này cả nhà đều bị kẹt lại. Lên xe hồng thập tự thấy cảnh tượng hãi hùng, Trung úy Giới ngồi bên vợ là cô sản phụ vừa sinh con, ôm con trong khăn còn vết máu.

Thì ra xe bus chở gia đình phi công đã nổ máy chờ trong căn cứ, ông trung úy Giới lấy xe cứu thương của không quân chạy ra nhà thương rước vợ. Anh Lộc nhẩy theo, sau khi đón được vợ con mày, phải ghé nhà cho vợ tao đi. OK.

Xe Hồng thập tự bóp còi chớp đèn chạy như bay trong đêm Saigon. Các gia đình trên xe bus đang nổ máy chờ, thấy 1 bà mới sinh con và 1 bà bầu mặt còn trẻ thơ bước lên xe. Hai ông chồng vất vả đứng trông theo. Ngọc Di nhìn lại anh Lộc qua khung kính. Anh phi công hẹn sẽ gặp lại bên Mỹ. Vợ con đi rồi, còn mấy anh lái phản lực thì xoay sở dễ dàng, Ngọc Di không thể nghĩ rằng đấy là hình ảnh cuối cùng. Đó là ngày 28 tháng 4-1975. Cô đi C.130 qua Côn Son rồi sau đó di tản qua đảo Guam. Hết sức cô đơn, không gia đình, không bà con thân thuộc. Ngay cả gia đình bạn bè trong không quân cô cũng không quen ai. Cô sống 1 cuộc đời tiểu thư từ nhỏ, số mệnh đột nhiên ném vào cuộc đời. Cô bắt dầu cuộc sống trong chờ đợi, đen tối mịt mùng, hoàn toàn tự lập suốt một phần tư thế kỹ.

Một thời định cư

Vẫn tràn đầy hy vọng, cô nằm chờ ở đảo Guam. Các phi công lần lượt đến tìm vợ con và đoàn tụ bay vào lục địa. Anh chị Giới của chuyến xe Hồng thập tự định mệnh cũng đến rồi đi, không có tin gì về anh Lộc và không ai biết là Lộc mất tích, đã chết hay còn lạc loài nơi đâu. Rồi người ta không cho bà bầu ở lại đảo Guam. Cô phải đi vào Mỹ để còn lo sinh đẻ.

Ngọc Di lên đường mắt còn ngó lại biển Đông. Các trại tỵ nạn Cali và Akansas đã tràn ngập người di tản. Người ta đưa cô về Floria. Nơi đây ngày xưa anh Lộc đã từng đến học bay.

Mỗi ngày vẫn còn người đến trại, dù muộn nhưng vẫn còn tìm được hạnh phúc đoàn tụ bên nhau. Nhưng cô vẫn mòn mỏi đợi chờ. Ngày 18 tháng 7/1975 Ngọc Di hạ sanh 1 bé gái. Nỗi truân chuyên và sống trong ray rứt đợi chờ đã hành hạ thêm cô gái trẻ với 16 giờ đồng hồ đau đớn chuyển dạ. Trước sau vẫn chỉ có một mình. Anh Lộc một năm trước đã đặt tên cho con trai tương lai là Phi Hải. Nhưng cô con gái được mẹ đặt tên là Nguyễn Lộc Đan Vi. Nguyễn là họ của cha và mẹ, Lộc là tên cha. Đan Vi là ý kiến của cô học sinh Nguyễn bá Tòng khi nghĩ đến những cây hoa tường vi đan vào nhau ở cổng nhà chồng trên Đà lạt.

Sau khi sanh con, mẹ con cô tỵ nạn Việt Nam được ông bà bảo trợ đón về nông trại. Ngôn ngữ không quen, suốt vùng quê không có 1 người Việt Nam. Những năm đầu vừa buồn về cảnh ngộ vừa buồn vì cảnh vật. Ngọc Di ôm con sống bằng nước mắt. Duy chỉ có điều, bé gái với cặp mắt thần tiên của mẹ là nguồn an ủi cuối cùng.

Một thời để chết

Cùng lúc đó trong trại tù, anh phi công thấy rằng không còn hy vọng được trả tự do. Thời gian ngộ nhận 15 ngày đã qua từ lâu. Thời gian hứa hẹn học tập 6 tháng cũng qua rồi. Cặp mắt người yêu Ngọc Di thôi thúc ngày đêm, anh phi công ngang tàng 1 thuở nhất định trốn trại, tìm tự do. Hai anh phi công Nguyễn văn Lộc và Lê văn Bé cùng vượt trại. Hy vọng tìm đường qua biên giới Cam Bốt rồi Thái Lan. Giữa 1 đêm mưa gió, cả 2 vượt thoát còn đem theo cả lựu đạn phòng thân.

Lính cộng sản đuổi theo. Lộc chạy trước. Bé ném lựu đạn chận hậu nhưng bị thương ngã xuống. Lộc bèn quay lại, đánh lựu đạn cứu bạn. Được biết lính cộng sản cũng bị chết vì lựu đạn. Vì vậy sau khi 2 anh phi công đã gục ngã chúng còn bắn điên cuồng vào 2 xác chết.

Hai anh chết ngày 25 tháng 3-1976. Cộng sản cho kéo xác để giữa sân trại Long Giao để rằn mặt anh em rồi đem chôn xấp 2 ngôi mộ bên nhau, nhưng không có mộ bia. Các bạn tù tìm cách làm dấu nhưng không rõ ràng. Vài năm sau, không còn ai biết rõ di hài của 2 người anh hùng không quân nằm ở đâu.

Một thời định cư

Mẹ con Ngọc Di rời bỏ nông trại tìm đư33 Năm tìm Được Xác Chồngờng về ở với bà con trên Nữu Ước. Cô nữ sinh hoa khôi Nguyễn bá Tòng, sinh viên luật Saigon tiếp tục cuộc sống lủi thủi với đứa con ngày càng rực rỡ với dấu vết người cha Đà Lạt và đôi mắt bà mẹ Nha Trang.

Mấy năm sau, anh em và gia đình không quân họp mặt nên mẹ con cô Di có dịp về Cali găp gỡ mọi người. Sau cùng cô định cư tại quận Cam. Phải bắt đầu từ thập niên 80 trở đi mới có tin tức về cuộc trốn trại hào hùng và chuyện hy sinh của anh Lộc. Mẹ con bắt đầu nghĩ đến chuyện đi tìm dấu vết của người xưa. Tuy nhiên tất cả đều vô vọng. Không ai còn nhớ những ngôi mộ ở đâu, Cuộc sống vẫn bình thản diễn tiến. Anh chị em đoàn tụ. Me già gặp lại con gái. Cháu Đan Vi tốt nghiệp bác sĩ nhãn khoa rồi lập gia đình. Vợ vẫn không thấy xác chồng. Con vẫn chưa thấy xác cha.

Một lần, hết sức vô tình, Ngọc Di gặp người trong gia đình HO. Anh ở Bắc Cali nói rằng trước có ở Long Giao. Cô Di hỏi rằng anh có biết trung úy Lộc không. Anh HO nói ngay rằng cô có phải là Ngọc Di không. Ngạc nhiên đến sững xờ, cô nói tôi là Nguyễn thị Ngọc Di, sao anh biết. Anh bạn trả lời: « Tôi ở gần anh Lộc trong trại. Anh ấy nói về đôi mắt của cô suốt ngày. Khi cô mới bước vào nhà tôi đã cảm thấy. Khi cô hỏi anh Lộc, tôi biết ngay cô là vợ anh. »Và câu chuyện 20 năm xưa tuôn chảy, nhưng sau cùng cũng không biết mộ anh ở đâu.

Một thời ngoại cảm

Câu chuyện đi tìm mộ của anh Lộc đã trải qua 1 thời gian hết sức đặc biệt dựa trên các câu chuyện linh thiêng về lãnh vực ngoại cảm. Sau cùng, người bạn tù, người chiến hữu tận tụy của anh Lộc đã tìm được 2 ngôi mộ của những người phi công trốn trại năm 1976.

Các ngôi mộ được khai quật năm 2008 có cả sự tiếp sức của thầy Mạc Đìa ngồi tại San Jose mà chỉ dẫn qua điện thoại. Mặc Đìa ngày xưa cũng là sĩ quan của không lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng cô Ngọc Di đưa con gái là Nguyễn Lộc Đan Vi về nhận xác người thân.

Ngày 3 tháng 11-2008 mẹ con ngồi trên phi cơ Eva ôm mỗi người một bình tro về Hoa Kỳ. Mẹ ôm tro của chồng, con ôm bình tro chiến hữu. Gia đình anh phi công Lê văn Bé nói rằng chiến hữu đã chết bên nhau thì cho đi Mỹ với nhau. Tuy nhiên bình tro của anh Bé chỉ có 1 nửa. Phân nửa gia đình lưu lại quê hương.

Ngày 8 tháng 11-2008 không quân Nam Cali làm lễ truy điệu cho 2 người anh hùng của họ. Có lễ trao cờ lại cho cô Ngọc Di cùng con gái.

Ngọc Di làm vợ lính có hơn 1 năm và làm quả phụ 33 năm mới nhận được xác chồng bằng tro tàn. Bác sĩ Đan Vi không bao giờ thấy được người cha dù ở trên trời hay ở dưới đất.

Khi khai giấy tờ người ta hỏi rằng con đến Mỹ năm nào. Con khai là đi năm 1975. Con đi bằng phương tiện gì. Con nói là con đi trong bụng mẹ. Cha con bây giờ ở đâu. Con không biết. Có thể còn đang bay ở trên trời. Con không có cha làm sao ai nuôi con học thành bác sĩ. Trả lời: Mẹ con.

Đan Vi là loài hoa tường vi đan vào nhau mọc ngoài cổng nhà anh phi công Nguyễn Văn Lộc.

Tuổi của cô là tuổi của cộng đồng. Cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại năm nay 35 tuổi, cũng là tuổi của Đan Vi, một cô gái khác ngày xưa sinh ra trên tàu Trường Xuân, trên biển Nam Hải, tên cô là Chiêu Anh, cũng 35 tuổi.

Chiều văn nghệ 35 năm nhìn lại tại San Jose vào ngày 23 tháng 5/2010 chúng tôi sẽ mời cả 2 cô lên sân khấu CPA. Một cô đi tàu biển vào Mỹ. Một cô đi tàu bay vào Mỹ. Lúc ra đi cả 2 đều trong bụng mẹ.

Cả 2 cô đều không phải là ca sĩ, nhưng vẫn được mời lên sân khấu trình diễn. Hai cô đều không biết hát, chỉ đứng đó cho khán giả vỗ tay. Bởi vì cuộc đời của các cô chính là những bài ca của nửa thế kỷ trầm luân. Đó là những hài nhi của cộng đồng di tản, những công dân của thế hệ mới trưởng thành sau những đau thương của đất nước.

Các bạn hỏi rằng văn nghệ của chúng tôi sẽ có những danh ca nào trình diễn.

Chúng tôi có các nữ danh ca có tên có tuổi nhưng không biết hát.

Vậy ai là những người biết hát thì xin đến giúp một tay.

Và trời đất sẽ trả công cho quý vị.

Tất cả chỉ cần hát có 1 bài: Bài “Cô Gái Việt” của Nhạc sĩ Hùng Lân.

GIAO CHI, SANJOSE

Mậu Thân… Vui Xuân Quên Nhiệm Vụ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on March 18, 2025 by dongsongcu

Captovan

Post by Sơn râu 24 Mar 2025

Hằng năm, cứ vào những ngày giáp Tết Nguyên Đán thì ai cũng gặp nó, từ trong đơn vị ra tới ngoài đường phố, mặt tiền các công sở, ở vị trí trang trong nhất, dễ thấy nhất, nó có cái tên là: “VUI XUÂN KHÔNG QUÊN NHIỆM VỤ”!

Tôi không biết ai khai sinh ra nó nhưng hình như khẩu hiệu này chỉ xuất hiện sau khi xẩy ra vụ Mậu Thân. VC xóa bỏ lệnh hưu chiến, bất ngờ tấn công vào phần lớn các quận, tỉnh, thành phố vào dịp Tết Mậu Thân 1968, trong khi hầu như các lực lượng canh gác phòng thủ địa phương đều “vui xuân quên nhiệm vụ”.

Có người cho rằng Mỹ biết hết mọi kế hoạch của VC sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng không biết lý do tại sao họ lại im lặng, không thông báo cho VN! Có thể họ muốn áp dụng kiểu chơi “điệu hổ ly sơn” để tóm đủ diệt gọn. Ờ thì cứ cho là như thế đi, Mỹ biết, nhưng tình báo và mạng lưới an ninh của VNCH có biết tí gì không?

Thông thường thời gian trước tết, TĐ2/TQLC chúng tôi đi hành quân lùng và diệt địch liên tục để mong đem lại thanh bình cho đồng bào vào những ngày đầu Xuân, chỉ dừng quân trước giờ hưu chiến đêm Giao Thừa chừng vài tiếng đồng hồ để cho anh em binh sĩ có chút thì giờ kỳ cọ, thay bộ đồ sạch đón Xuân mới. Anh em thường gọi đùa đó là những cuộc “hành quân ăn tết” và đã có nhiều Mũ Xanh chết, chẳng bao giờ được trở về đón Xuân cùng đồng đội!

Trước Tết Mậu Thân 1968, TĐ2/TQLC (Trâu Điên) chúng tôi hành quân vùng quận Cai Lậy, Giáo Đức, Cái Bè, tìm diệt mấy đơn vị VC địa phương, giữ an ninh QL4 để hàng hóa miền Tây dễ dàng về thủ đô. Ngày 31/12/67 TĐ2 đã tiêu diệt 2 Tiểu Đoàn Chủ Lực Miền 261 và 262 tại kinh Cái Thia, quận Cai Lậy, hạ tại chỗ 40 mạng và bắt 10 tên. Tuy nhiên Trâu Điên cũng trầy da tróc vẩy, vài đồng đội đã không trở về, trong đó có đại đội phó của tôi là Trung Úy Nguyễn Quốc Chính, K20/VB.

Ngày giáp Tết, TĐ2 về phòng thủ hai bên bờ sông quận Cai Lậy để anh em tắm giặt nghỉ ngơi tại chỗ, đã có một số bầu đoàn thê tử từ Thủ Đức, Saigon xuống, con đem theo bánh chưng cho cha, vợ mang bánh dầy cho chồng kèm theo mứt me mứt sầu riêng để cùng vui xuân, nhưng niềm vui chưa hưởng thì đã sầu chia ly. Đúng giờ giao thừa, giặc tràn về thôn xóm, lệnh báo động bắt anh ra nằm gối đầu súng bên hố chiến đấu thay vì được gối lên váy người yêu! Sáng mồng một tết! “Mất hết” chẳng còn gì chỉ còn mứt “sầu riêng” để em ở lại một mình nơi tiền tuyến Cai Lậy còn anh trở về hậu phương thủ đô SaiGòn với súng đạn trên vai ca bài: “Anh về hậu phương, còn em nơi tiền tuyến, chúng ta cách xa rồi..!”

*****

Tôi nằm võng đu đưa giữa hai gốc dừa bên bờ sông Cai Lậy để chờ đón Giao Thừa, những điếu Ruby Queen cháy liên tục đỏ môi, qua vòng tròn khói thuốc, tôi dường như trông thấy Nguyễn Quốc Chính cùng các đồng đội vừa tử trận trong cuộc hành quân vừa qua đã không còn quay về để đón Xuân! Tôi nhớ đến những khuôn mặt thân yêu của mẹ già, anh chị em và người tình ờ hậu phương, mắt tôi nhìn lên trời cao đầy sao lấp lánh, thấp thoáng vài ánh sáng hỏa châu từ tiền đồn nào đó bay vút lên thay cho pháo bông, tai lắng nghe những bản nhạc Xuân mà lòng buồn đến tã người:“Đón Giao Thừa một phiên gác đêm..!

Nếu mai không nở thì con đâu biết..!

Ngày Xuân nâng chén ta chúc.., chúc người binh sĩ lên đường..!”.

Lạ nhỉ! Tại sao đúng lúc cô ca sĩ đang hát câu: “Chúc người binh sĩ lên đường” thì nhạc Xxuân lại ngưng, chuyển sang điệu nhạc hùng, chờ nghe thông điệp đầu năm của TT chăng? Nhưng thay vì thông điệp của Tổng Thống chúc Tết quốc dân đồng bào cùng chiến sĩ như hằng năm thì lại là tiếng của Phó TT Nguyễn cao Kỳ:

–“Tình hình rất nghiêm trọng, các đơn vị sẵn sàng ứng chiến và đợi lệnh”

Gì nữa đây? Lại đảo chánh chăng? Chán quá! Không chừng lại bị triệu hồi về thủ đô cứu giá, rồi quân ta đánh quân mình, Mũ Xanh bao vòng ngoài, Mũ Đỏ thủ vòng trong như ngày xưa thì làm sao đây? Nhớ quá khứ, giận hiện tại, toan móc súng bắn nát đám lục bình trôi trên sông thì nhận lệnh báo động, tất cả ra hầm hố sẵn sàng chiến đấu, vì VC vi phạm lệnh hưu chiến, đang tấn công khắp nơi, kể cả Saigon. Không phải đảo chánh là tốt rồi, còn VC ư? Đi tìm cả tuần nay không thấy một mống, nay chúng dẫn xác về thì chờ gì nữa, lúc nào ta cũng sẵn sàng.

Sáng Mồng Một Tết, Tiểu Đoàn 2/TQLC được không vận bằng trực thăng Chinook từ Cai Lậy về Saigòn với quân số 110%. Tại sao lại có con số kỳ lạ thế này? Thưa rằng có một số chị thay quân phục, mang ba-lô leo lên trực thăng theo chàng về tái chiếm Saigòn, còn những bà mẹ khác thì ngơ ngác với những đứa con thơ, bơ vơ giữa đồng trống cô quạnh! Làm cách nào trở lại nhà đây? Số phận người vợ lính thật gian nan.

Trực thăng đổ quân TĐ2/TQL xuống sân cờ Bộ TTM, trước dinh của Đại Tướng TTMT, Đại Tá Ngô Du đón chúng tôi tại đây, ông cho biết tình hình địch và yêu cầu TĐ2 giải tỏa áp lực địch tại trường Tổng Quản Trị, trường Sinh Ngữ, Trung Tâm Ấn Loát, cổng số 2, số 6, v.v… đến chiều tối thì địch tan, tất cả mục tiêu được tái chiếm và TĐ2 phòng thủ đêm trong bộ TTM. Có tiếng kêu trong bụng, hình như từ sáng tới giờ đó chưa có cái gì trong dạ dầy, ngày mồng một Tết mà như vậy thì chắc sẽ bị đói cả năm!

Sáng mồng hai, TĐ2 được lệnh tăng phái cho BTL Cảnh Sát Đô Thành, rồi mỗi Đại Đội được phân tán đi một nơi khác nhau, “nơi nào cần thì Trâu Điên có, nơi nào khó có Trâu Điên”. Đại Đội 2 của Đ/Úy Đinh Xuân Lãm thì đánh từ cầu chữ Y đến cầu Tân Thuận. Đại Đội 3 của Trần Văn Thương thì xuống quận 8, bao vây hãng rượu Bình Tây, còn Đại Đội 4 của Vũ Đoan và ĐĐ1 của tôi thì bao vây khu vực chùa Ấn Quang.

Nhân dịp Xuân lại về, để thay đổi không khí, nghe đánh nhau mãi cũng chán, nghe “nổ” mãi cũng mệt, có nhiều tác giả viết vể các trận đánh rồi nên bài viết này tôi không viết về đánh-đấm nữa mà xin kể những mẩu chuyện vui buồn bên lề cuộc chiến, “người thật việc thật”, gặp đâu kể đó, những chuyện chưa ai viết hoặc viết sai sự thật.

Bắt sống VC trong bộ TTM

Ngày đầu tiên đổ bộ trực thăng xuống sân cờ bộ TTM, vác súng đi khơi khơi trước dinh của Đại Tướng TTMT mà không bị Q.C bắt nhốt cũng thấy vui vui, nhất là đêm đó được ngủ bên ngoài hàng rào của cư xá sĩ quan cao cấp. Cư xá SQ yên lặng quá, tôi không sợ VC từ trong cư xá bò ra mà lo là lính tôi lại bò vào trong lục soát thì tôi bị đi tù là cái chắc, vì gần Mặt Trời nên lo xa vậy thôi chứ anh em tôi ngoan lắm.

Nửa đêm về sáng, Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang Trung Đội14 báo có VC bò vào tuyến phòng thủ, thông thường thì cứ ra lệnh bóp… cò một phát là xong, nhưng nằm ngay trong TTM, cần sự yên lặng để các quan lớn nghỉ ngơi, phần khác, sợ có anh em ta lạc đàn nên tôi ra lệnh cho Quang phải bắt sống.Tên “VC” bị bắt là Vũ Khắc Quý, cấp bậc trung sĩ, nhân viên ban văn thư thuộc phòng TQT hay P1 gì đó của Đại Tá Hồ. Quý chính là con của cô ruột tôi, tôi hỏi hắn:

– Tại sao chú mày lại kẹt trong này, chui ở đâu ra đây?

– Phiên em trực đêm giao thừa, em chui trong ống cống từ đêm qua.

Hú hồn thằng em, coi như tôi đã tặng bà cô một món quà Tết quý giá.

Bắt VC Bẩy Lốp tại Chợ Lớn

Sáng Mồng 2 tết, Đại Đội 4 của Vũ Đoàn Doan và Đại Đội 1 của tôi được “đi lễ” chùa Ấn Quang, tới nơi thì thấy một số anh em Cảnh Sát Dã Chiến ẩn hiện núp sau những cột điện xung quanh chùa, toàn bộ khu vực khói lửa ngập trời, đì đùng súng và pháo nổ khắp nơi, khó phân biệt tiếng pháo cối và lựu đạn bê-ta của VC, đồng bào tràn ra trên các con đường Trần Nhân Tôn, Minh Mạng, Sư Vạn Hạnh, Nguyễn Duy Dương, Bà Hạt, tương tự như cảnh mà chúng ta thấy trên TV bên chiến trường Iraq.

Chính tại khu vực này, TĐ2/TQLC bắt sống tên Bảy Lốp, cán bộ VC mang súng lục K.54 và bản đồ ghi các mục tiêu phải chiếm, hắn bị trung đội của Th/Úy Kiều Công Cự bắt khi hắn chạy từ trong chùa Ấn Quang ra. Chính nó đã gây nên cảnh tang tóc cho đồng bào ngay trước mắt chúng tôi và ông Tư Lệnh Cảnh Sát. Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2 Ngô Văn Định giải giao hắn cho ông Tướng Cảnh Sát, và chuyện gì xẩy ra sau đó thì độc giả biết rồi, nhưng có tác giả chưa biết nên cứ viết Bảy Lớp bị “ai” bắt ở nơi khác, ở Bàn Cờ!

Chuyện hắn bị bắn chỉ bằng hạt cát so với mấy ngàn người dân bị VC trói tay chôn sống cùng thời điểm đó ở ngoài Huế. Tại trại Phù Đổng Gò Vấp, khi TĐ 4/TQLC tái chiếm thì đã gặp một cảnh vô cùng thương tâm toàn bộ gia đình Tr/Tá T.., CHT/ Thiết Giáp bị chúng chặt đầu. Tụi phản chiến chỉ lợi dụng tấm hình ông Tướng VN cầm ru-lô dí màng tang VC mà làm ồn lên, lơ đi tội ác tày đình của VC.

Tôi được gặp các ông tướng

Người ta gọi ông với cái tên bình dân: “Ông Sáu Lèo”, Ông là gốc KQ, một cấp nhí TQLC như tôi thì làm sao dám lại gần ông Tướng Cảnh Sát, nhưng Đại Đội 1 của tôi bị biệt phái theo Ông nên thường bị Ông chỉ mặt đặt tên. Lúc nào Ông cũng mặc áo giáp để phanh ngực và ít khi đội mũ, phơi cái trán hói trước súng đạn, tác phong chỉ huy rất nhanh nhẹn và bình dân, khi bực mình thì “đ.. cụ”. Ông ngoắc tay rồi nhảy lên xe Jeep dẫn đầu, một toán CSDC theo liền, đi sau là 4 xe GMC chở ĐĐ.1 của tôi, đến mục tiêu là Ông nhẩy xuống trước.

Đoàn xe dừng lại tại góc đường Công Chúa Huyền Trân và Nguyễn Du, Ông vẫy tôi lại, chỉ tay lên tòa nhà nhiều tầng đang xây dở dang rồi ra lệnh:

– Trong đó còn một toán VC, lính tớ không làm được, cậu tính sao?

Ông Tướng mà xưng tớ-tớ cậu-cậu với thuộc cấp, ra lệnh mà lại khéo nói như hỏi ý kiến thì nhiệm vụ dù khó khăn cũng giảm bớt cho anh em tôi được một phần căng thẳng. Toán VC cố thủ trong cái tòa nhà cao tầng, ngó ngay vào dinh Tổng Thống thì nhức tim quá, chúng đã gây khó khăn và tổn thất cho CSDC rồi. Ông hỏi tôi “tính sao” thì để từ từ rồi tôi mới tính được chứ.

Dù sao thì chúng đã chiếm và cố thủ rồi, đang bị ta bao vây, từ từ kiếm cách gỡ, sinh mạng lính là quan trọng, vội vàng chẳng ích gì. Cuối cùng thì với lựu đạn cay, khói màu, mặt nạ chống hơi ngạt, chúng tôi đã tóm gọn 6 tên VC đang đói ăn, ngơ ngáo mất liên lạc với đơn vị. Phải nói thực là với quân số đó, cố thủ trong biu-đinh, nếu chúng còn no ăn và được chỉ huy thì vất vả cho chúng tôi lắm, may mà hoàn thành nhiệm vu.

(* Lời xác nhận của cựu Đại Tá Trần Minh Công)

Phong cách ra lệnh của cấp chỉ huy quan trọng lắm, nếu ai cũng chỉ biết nạt nộ hối thúc bằng cái lệnh …lạc: “Phải chiếm cho được muc tiêu bằng mọi giá” thì cái giá phải trả chính là sinh mạng người lính! Chiến trường mạng lính rẻ hơn bèo!

Lại phải chạy theo Ông, chúng tôi lúc nào cũng súng đạn, nón sắt, áo giáp ngồi sẵn trên xe GMC, ông Tướng chạy như con thoi khắp các nơi, chỗ nào có VC là Ông đến, ngừng xe bước xuống rồi Ông mới cho lệnh TQLC tôi phải làm gì.

Đoàn xe dừng lại trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đoạn nằm giữa đường Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản, gần Đài Phát Thanh và Cục An Ninh Quân Đội, Ông vẫy tay, tôi chạy lại nhận lệnh, Ông nói vắn tắt:

– Xóm nhà sàn bên bờ sông còn tụi nó, cậu cho thanh toán.

Nói xong, tay cầm cây M16, Ông xâm xâm đi vào một con hẻm dẫn xuống khu nhà sàn bên bờ sông, dĩ nhiên là có toán CSDC chạy theo trong khi lính TQLC tôi còn đang xuống xe.

Trước đó, đã có lần khi xe dừng lại trên đường Phó Đức Chính, Ông đi vào khuôn viên hội trường Diên Hồng, tôi cho anh em xuống bố trí hai bên đường chưa xong thì Ông đi ra và lên xe jeep phóng đi, tôi theo không kịp nên lạc đường rồi bị nghe ông “đ..cụ” khiến lần đó tôi cũng “nực gà”, tự hậu khi có lệnh mới cho lính xuống xe, nên lần này tôi đang cho lính xuống xe thì nghe “cắc-bù, cắc-bù”.

Vài tiếng “cắc-bù” trong con hẻm nơi Ông mới đi vào là tôi biết có chuyện. Nghe “cắc-bù” là biết tiếng súng VC bắn về phía mình, quả thật, toán CSDC đang khiêng Ổng ra, Ông bị thương nơi chân. Chúng tôi vào lục soát, tụi VC lặn xuống sông mất tiêu, chỉ còn lại một tên bị thương nặng từ mấy ngày trước, đang nằm chờ chết trong một góc nhà sàn.

Lần đầu tiên tôi thấy một vị Tướng bị thương vì đạn bắn thẳng dưới đất, còn đa số chỉ nghe quý vị tử trận cùng với trực thăng. Dù ở trên trời hay dưới đất, tấm gương và tiếng nói của vị chỉ huy cao cấp tại mặt trận là một sức mạnh vô cùng quan trọng.

Sự việc “Ông Sáu Lèo” bị thương vào chân, đơn giản là Ông xung phong vào mặt trận, Ông đi tìm VC tại địa điểm kể trên trước con mắt hằng trăm TQLC và CSDC, vậy mà sau này có nhiều người viết như truyện “phong thần” rằng Mỹ âm mưu giết Ông!

Chả cần phải “nổ” như thế, Ông là vị Tướng bình dân, dẫn quân dẹp giặc rồi bị thương tại mặt trận không đáng quý hay sao mà phải vẽ rồng rắn cho là Mỹ bắn ông, phịa như thế là vô tình cướp đi cái dũng cảm của một vị tướng.

Ông là Tướng Cảnh Sát, tôi là Úy TQLC, chả quen biết gì nhau, tôi bị biệt phái theo Ông, Ông là vị tướng bình thường nhưng đánh giặc đẹp đã khiến tôi kính phục ông, cần gì phong thần giả làm mất đi cái thực đáng quý nơi Ông.

Một vị tướng khác, đứng trước lửa đạn, trực tiếp ra lệnh cho tôi thanh toán mục tiêu “Suối Máu” Biên Hòa, đó là Tướng Đỗ Cao Trí. Thực ra tôi đã được lệnh trực tiếp của Đồ Sơn, Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC Ngô Văn Định rồi, có Ông Tướng hay không thì tôi vẫn thi hành nhiệm vụ, nhưng sự hiện diện của Ông Tướng tại “tiền tuyến” chứng tỏ mức độ quan trọng hơn, cần thanh toán gấp, mục tiêu “Suối Máu” nằm gần trại giam tù VC, quả tình là suối máu thật!

Bạn đọc đừng phiền khi nghe tôi “khoe” gặp Tướng, lính tác chiến mà mỗi khi gặp được Tướng thì chỉ có từ chết tới bị thương, nhất là Tướng cao cấp ở trung ương đến thăm thì càng mệt thêm. Nghe mấy ông thầy nổ khoe rằng “tao quen với ông tướng XYZ” mà phát nản, nhưng hôm nay tôi phải khoe vì sự thật tận mắt nhìn thấy quân đội chúng ta có những vị Tướng đáng kính phục, nhiều vị sao sáng.

Khi được lệnh cấp cứu đồn Cảnh Sát Bà Hòa (hay Hỏa) trong Chợ Lớn, con đường tiến tới mục tiêu bị hỏa lực của địch cản ở mặt trước, tôi ra lệnh cho Trung Đội Trưởng TrĐ 14/TĐ2 là Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang phải chiếm căn biệt thự bên hông gần đó để làm bàn đạp, tấn công bất ngờ từ bên hông. Căn biệt thự cũ kỹ kiểu xưa, trông nghèo nàn nhếch nhác, trong sân, một bà đầm đang tắm cho mấy đứa nhỏ, không phân biệt được bà là đầm Tây hay đầm Mỹ, tôi toan mở miệng để giải thích lý do xin xâm nhập gia cư thì nghe bả hỏi:

– Các chú cần gì?

Thấy bà đầm 100% mà nói tiếng Việt giỏi lại gọi lính là “các chú” khiến tôi ngạc nhiên, bèn giải thích đầu đuôi để xin phép, bả gật gù đồng ý nhưng nói thêm:

– Các chú nên vào trong nhà nói với ông Tướng một tiếng.

Càng ngạc nhiên hơn, tôi hỏi:

– Ông Tướng nào vậy bà?

–Là nhà tôi, Tướng Đức, Dương Văn Đức ấy mà.

Nghe danh Trung Tướng Dương Văn Đức trong cuộc “biểu dương” từ lâu, nay tận mắt thấy Ông ngồi gật gù với chai lọ và tàn thuốc lá! Tự dưng lòng tôi chùng xuống, một vị Tướng mà thế này ư!

Ông nói nhẹ nhàng:

– Tụi nó trốn hết rồi, nhưng các em phải cẩn thận.

Vô cùng cảm động, tôi đứng nghiêm đưa tay chào “tuân lệnh” đúng quân phong quân kỷ. Người ta đồn rằng ông bị “chạm”! Chạm mà biết tình hình bên ngoài và ân cần khuyên lính một câu vàng ngọc như thế ư?

Chúng tôi cảm phục và biết ơn vị Tướng họ Dương.

Khi ĐĐ.1 của tôi bảo vệ đài phát thanh nằm ở cuối đường Phan đình Phùng, lệnh của Giám Đốc đài là Tr/Tá Vũ Đức Vinh, không cho bất cứ ai vào thăm nếu chưa được lệnh của Ông báo trước. Lính tôi y lệnh, cương quyết không cho một nhân vật có xe hộ tống vào thăm đài, nhân viên hộ tống của ổng có vẻ hùng hổ đòi gặp người có thẩm quyền, tôi phải ra tận trạm gác coi đầu đuôi.

Mấy ông bô-đi-ga mang súng ống, đeo kính đen gườm gườm khiến tôi phát rét, còn lính của tôi thì lùi lại hườm sẵn M16, người mặc còm-lê thì nhỏ nhẹ:

– Qua là Trung Tướng Trần Văn Đôn, muốn vào thăm đài phát thanh.

Tôi lễ phép thưa:

–Thưa Trung Tướng, lệnh Trung Tá Giám Đốc không cho bất cứ ai vào nếu không có lệnh của ông, xin Trung Tướng liên lạc với Giám Đốc là Trung Tá Vinh, chúng tôi là lính chỉ biết tuân lệnh.

Liên lạc không gặp ai trong đài có thẩm quyền nên Trung Tướng cám ơn chúng tôi rồi quay đầu xe, nhưng đằng sau những cặp kính đen của các cận vệ, tôi thấy mắt họ nổi gân máu! Rõ là cọp hiền hơn c.. cọp.

Và những ông tá

Sau hơn một tháng giữ an ninh đài phát thanh và bưu diện trung ương, đại đội tôi được đại đội của Đại Úy Đinh Xuân Lãm K17 đến thay thế. Trước khi tôi đi chỗ khác, Trung Tá Giám Đốc tiếp tôi tại văn phòng, ông tặng cho Đại Đội tôi tấm “lắc” bằng đồng khắc những chữ với đại ý cám ơn vì đã “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”!

Tôi đem tấm lắc treo tại văn phòng Đại Đội, nhưng cứ phân vân mãi, không biết cái “xuất sắc” này có liên quan gì tới việc thi hành lệnh không cho ông Trung Tướng vào thăm đài hay không?

Trung Tá Giám Đốc khá lịch sự và tế nhị, ông hỏi tôi:

– Bạn có thích nghe nhạc không?

Nhạc ai mà chẳng thích nghe, hơn nữa cô bạn gái của tôi mê ca sĩ Thái Thanh nên tôi mạnh dạn:

– Không thích nhưng mà mê, nhất là Thái Thanh.

Ông nháy mắt cười cười đưa tay bắt, tay ông thật ấm, ông nói:

– Tôi sẽ cho thâu một cuốn băng toàn nhạc Thái Thanh để tặng bạn.

Cám ơn Trung Tá Vũ Đức Vinh, Giám Đốc đài phát thanh năm 1968, thật điệu nghệ! Một tác phong hiếm thấy nơi các ông lớn hậu phương đối với lính tiền tuyến. Nhưng vì chúng tôi mải miết đi hành quân khắp 4 vùng nên tôi không nhận được quà của Trung Tá Vinh và tôi cũng không có dịp được gặp lại Ông.

Ông là gốc KQ, tôi phục Ông và mê Không Quân qua tác phong của Ông, của các chàng phi công vì họ được huấn luyện bởi những người “lái phi công” đảm đang, trong đó có chị Năm Vinh:

Khi định cư tại Mỹ sau năm 1990, tôi viết lại kỷ niệm về Tr/Tá Vinh trên Đa Hiệu Võ Bị với tấm lòng kính mến một thượng cấp dù lúc đó tôi không biết Ông ở đâu. Một thời gian sau thì tôi nhận được những CD toàn là nhạc Thái Thanh do Chị Năm Vinh và nha sĩ Vũ Thanh Tùng, con trai anh Năm Vinh gửi tặng! Gói quà sau gần 40 năm mới nhận được làm tôi quá cảm động nhưng cũng thật bối rối, vì khi đó tôi mới biết Anh Năm đã quy tiên! Tôi áy náy vì nhắc lại kỷ niệm xưa khiến Chị Năm Vinh bận tâm, xin chị tha lỗi. Cám ơn chị và cháu Tùng.

Ngoài ra tôi còn nhận được cuốn sách: “Về Một Người Đã Khuất HUY QUANG VŨ ĐỨC VINH” do cháu Tùng biên soạn với bút ký của chị Năm Vinh:

-“Thân tặng Anh Tô Văn Cấp.

Bà quả phụ Vũ Đức Vinh”.

(Hiện nay, 2021, tôi mất liên lạc với nha sĩ Vũ Thanh Tùng).

Nhưng cũng có một tình chiến hữu khác giữa KQ & TQLC chẳng vui tí nào:

Đã hơn một ngày truy kích VC dọc hai bên đường Lê Quang Định Gò Vấp khiến chúng kéo về cố thủ phía sau rạp hát Đông Nhì và chùa Dược Sư, khu này nhà cửa đông đúc san sát nhau, hẻm chằng chịt khiến cho việc điều động đơn vị quá khó khăn, vài Cọp của hai Đại Đội 1 và 4 đã bị thương và tử thương.

Tại Ngã Ba đường Lê Quang Định và Trung Dũng là căn nhà xây 3 tầng với sân rộng và hàng rào bao quanh, có sân thượng, đây là một cao điểm quá tốt để quan sát địch và điều quân, chủ nhà là một ông quan “mặc áo liền quần”, đeo hoa mai có gạch đít, đang cầm ống nhòm đứng lấp ló trên sân thượng coi TQLC đánh nhau vói VC! Tôi xin phép ông cho chúng tôi dùng sân thượng để đặt Ban Chỉ Huy Đại Đội và súng đại liên, ông vui vẻ… từ chối! Lý do ông bảo là vì nếu TQLC đóng ở đâu thì VC đến tấn công chỗ đó, mà nhà ông thì mới xây, không muốn bị vạ lây, ông mới xây xong sau khi đi tu nghiệp ở Mỹ về!

Quân với quân như cá với nước… sôi! Con người có máu lạnh ấy làm tôi sôi máu nóng, nhưng thôi, đành vuốt nước mắt đi kiếm chỗ khác.

Đêm 8/5/68, Đại Đội 2 của Đ/Uý Trần Kim Đệ (K8VK) trên đường Hậu Giang, Quận 6, bị VC tràn ngập. Sáng 9/5, Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn ra lệnh cho Dzoan và tôi về tiếp ứng cho Kim Đệ, nhưng trước khi đi phải gom tất cả xác VC vào sân banh Lê Văn Duyệt, gần Ngũ Hoành Miếu.

Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận, để ngoài sân banh nắng nôi, mưa gió, có nhiều anh đã phì lên và chảy nước rồi, cần chỗ mát và sạch sẽ hơn, tôi thấy không chỗ nào tốt hơn căn nhà lầu của ông quan KQ mang bông mai có gạch đít. Chúng tôi xếp xác VC nằm gọn gàng từ hàng hiên ra khắp sân, gởi gia chủ trông chừng dùm, mai mốt có xe của sở vệ sinh thành phố đến mang đi, hổm rầy họ chưa đến được vì súng nổ nhiều quá. Xác VC nằm trong nhà ông thì yên tâm hơn, không sợ bị VC tấn công vào làm hư cái vi-la.

Đây là một kỷ niệm buồn, chẳng phải buồn vì ông thái tá kia mà tôi đem những xác chết chất vào vi-la của ổng để nó biến thành căn nhà ma, bực cái mình thì đùa giai tí chơi, tôi buồn cho những người trai hai miền Nam-Bắc chết vì súng đạn, chết khi chưa biết yêu, chết mà mẹ già không hay biết, vẫn ngày ngày ngồi tựa cửa móm mém miếng trầu, cầu nguyện ngóng trông:

– “Sao Xuân này con không về?”

– Về sao được Mẹ ơi! Giấy phép con đã cầm trong tay, hứa với mẹ là Xuân này con sẽ về thăm mẹ và nhờ mẹ dắt con đi hỏi vợ, nào ngờ cái đám VC nuốt lời!

Nhìn những xác VC nằm đủ mọi kiểu trong sân vi-la mà tôi chạnh lòng, chúng tôi muốn hòa bình, nhất là ngày Tết linh thiêng của cả dân tộc VN, chúng tôi được lệnh hạn chế sát sanh, tại vì các “anh” vào cướp phá! Cùng là máu đỏ da vàng, chúng tôi nào muốn hại các anh.

– Các “anh bộ đội” sinh Bắc tử Nam ơi, việc các anh trở về với cát bụi là do súng đạn vô tình, còn Mũ Xanh chúng tôi lúc nào cũng mở rộng vòng tay, điển hình là 6 “anh” được cứu sống tại tòa biu-đinh bên hông dinh Độc Lập và 5 “anh” tại rạp hát Đông Nhì Gò Vấp. Th/Úy Quang kể chuyện nương tay với địch quân:

– Chiếm mục tiêu xong, lục soát không có gì, Tr/Sĩ Châu Văn Khánh leo lên cái mô-bi-lét dựng đầu hè đạp cho nổ chơi, máy nổ, hơi xăng và khói bay tùm lum, bất chợt nghe có tiếng ho phía dưới đất, B1 Xuân khui nắp hầm thì bị một tràng AK hất ngược ra sau. Thông thường thì chỉ một trái M.26 bỏ vào hầm là xong, nhưng lệnh anh nói phải bắt sống nên tôi tống luôn một lúc 4 trái lựu đạn… khói, 5 tên VC bị ngộp thở chui lên, trông híp-pi vì toàn thân một màu tím, còn B1 Xuân… em đã nằm im, tắt thở!

Tại Đồng Ông Cộ gần cầu Băng Ky, 150 người “anh em” buông súng đã được TQLC đón tiếp nồng hậu, ăn uống no nê, hút và xách thoải mái lại còn được ông Chiến Đoàn Trưởng đẹp giai đầy lòng nhân ái cho đi thăm thành phố Saigon khiến hai ca sĩ văn công Bùi Thiện và Đoàn Chính ngơ ngác vì lần đầu tiên trong đời được chiêm ngữơng những cái “mông có gân” mà XHCN không có. TQLC nói riêng và QĐVNCH nói chung chơi đẹp với các người anh em quá phải không?

Việt cộng lại tấn công đài phát thanh

“Đêm qua VC lại tấn công đài phát thanh, nhưng bị quân ta đẩy lui, ta tịch thu 1 súng K54, bên ta có 1 TQLC hy sinh”.

Đó là tin trên trang nhất của một số nhật báo tại Sài Gòn.

Trong khi các đại đội khác tiếp tục hành quân lùng địch trong vùng cầu Kinh thì Đại Đội 1 của tôi được Tiểu Đoàn Trưởng cho giữ đài phát thanh Phan Đình Phùng và bưu điện trung ương Sai Gòn, tuy không vất vả nhưng lại có nhiều chuyện vui buồn, chuyện không cho ông Thượng Nghị Sĩ vào thăm đài đã được Giám Đốc đài tặng cho cái “lắc” như đã kể ở trên, chúng tôi còn gặp nhiều chuyện khó khăn khác nữa.

Trong thời gian đầu khi vừa nhận bàn giao từ tay các anh hùng Mũ Đỏ, khói lửa còn nghi ngút dưới tầng hầm (nơi chứa toàn đĩa hát loại 45 hay 78 tua gì đó), mọi sự xuất nhập của nhân viên nam nữ đều phải kiểm soát thật kỹ, kể cả ca sĩ, đó là lệnh của Giám Đốc đài phát thanh.

Với nam nhân viên và ca sĩ thì không có nan đề, nhưng với nữ nhân viên và ca sĩ thì thật nan giải. Lính tôi quanh năm “hành quân vùng xa thiếu bóng đàn bà” mà bây giờ bắt xét bóp, xét ví của phụ nữ thì nguy quá, nếu không xét, lỡ một nàng nào nhét C.4 (một loại thuốc nổ dẻo như plastic) vào người thì biết trả lời sao đây? Sau 2 ngày gồng mình khám xét thì chịu hết nổi, “cẩn tắc vô áy náy”, lính tôi mà lỡ tay xét kỹ quá thì tôi chết chắc nên tôi đành xin anh Năm Vinh giao nhiệm vụ quái ác này lại cho các nữ Cảnh Sát.

Còn việc VC lại tấn công thì sao?

Chuyện lâu quá nửa thế kỷ rồi thì có quyền bật mí:

Nguyên do là thế này, tối đến, mọi ngả đi vào đài đều kéo kẽm gai hai ba lớp, còn gài thêm lựu đạn, con hẻm dẫn ra khu trại gia binh phía sân vận động Hoa Lư tôi giao cho Trung Đội súng nặng của Thượng Sĩ Lâm Khâm phòng thủ. Rồi một đêm chàng lính gác hạ phiên tên Thủy dặn chàng thượng phiên tên Hoàng:

– Tao ra thăm người yêu một chút, lát tao về, mày đừng có bắn ẩu nha.

Tình yêu lâu ngày gặp nhau sao nỡ vội chia tay! Chàng Thủy ngồi bên người yêu quên cả Trời Đất, quá phiên gác của Hoàng mà Hoàng cũng quên bàn giao cho người bạn thượng phiên, gần sáng Thủy lò mò chui rào kẽm gai trở về thì người lính mới thay phiên Hoàng tưởng VC bò vào bèn nhanh nhẩu quạt cho Thủy một băng M16!!!

Hoàn cảnh này, Thủy không hy sinh vì công vụ thì làm sao gia đình có 12 tháng lương? Làm sao giải thích với thượng cấp tai nạn chết người này cho xuôi tai? Tôi bàn với Thượng Sĩ Lâm Khâm cho bắn thêm nhiều loạt đạn hướng mũi súng về phía Cục An Ninh QĐ, (đại đội tôi cũng có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài cho cục ANQĐ của Đại Tá Thăng), tiếng đạn bắn ngược chiều nghe “cắc-bù” đúng là của VC tấn công rồi (!), máy trong Cục gọi ra hỏi tình hình, tôi nói VC đang tấn công, xin ở yên tại chỗ, báo cáo sau.

Ngày hôm sau, biết thế nào Cục An Ninh cũng đến coi tình hình và kèm theo phóng viên báo chí nên sau khi lấy được xác của Thủy vào, Lâm Khâm cho lượm nhiều vỏ đạn AK (VC bỏ lại khi đánh nhau với ND bữa trước) rải quanh chỗ nằm của Thủy. Sáng sớm báo chí đi theo Cục AN ra quan sát “mặt trận” và phỏng vấn, lính tôi thì lầm lỳ ôm súng phòng thủ, cạy miệng cũng không trả lời (dặn trước rồi), ngoại trừ tôi.

Phóng viên lượm vỏ đạn AK lên ngắm nghía gật gù, chụp hình quan sát chỗ VC bị bắn hạ và đã được đồng bọn kéo đi. Phóng viên lật qua lật lại xem cây K.54 của VC còn dính máu đã bỏ lại.

Thực ra cây K.54 này tôi đã tịch thu được trong trận Đêm Hưu Chiến 31/12/67 tại kinh Cái Thia quận Cai Lậy mà trong trận này, thằng em Nguyễn Quốc Chính hy sinh khi vừa mới “dạm vợ” một tuần lễ trước khi đi hành quân. Tôi giữ cây K54 này để làm kỷ niệm cho tình yêu Chính-Lựu gãy gánh nửa đường, nay cũng vì tình yêu mà Thủy tử nạn nên tôi đem cây súng này trình làng như một “chiến lợi phẩm” để làm bằng chứng là VC đã tấn công đài phát thanh.

Chuyện dàn cảnh như thật nên không ai nghi ngờ, vì thế mới có chuyện cho báo chí đăng tin VC lại tấn công đài phát thanh lần thứ hai! Chắc không còn nơi nào có những vụ dàn cảnh như vậy đâu, đây là một kỷ niệm buồn về tình yêu và súng đạn!

Có thể nhiều vị trách tôi nói ra điều này làm giảm giá trị các chiến công thực sự. Nhưng ở vào hoàn cảnh “gặp thời thế thế thời phải thế”, chỉ những ai đã từng đổ máu ngoài chiến trường mới thông cảm với tôi trong hoàn cảnh này.

Súng đạn và tình yêu

Đứng trước sự tàn phá của thiên tai và chiến tranh thì hình như tình người lại gần với nhau hơn? Trận động đất giữa biên giới Ấn-Hồi đã chôn vùi hơn 40 ngàn người khiến hai kẻ thù truyền kiếp bắt tay nhau cùng lo cứu khổ cứu nạn. Bão Katrina tàn phá New Orleans làm cho số hồ sơ đã nạp tại tòa xin ly dị được rút lui đi khá nhiều.

Trước Mậu Thân 1968, dân Saigòn và nhất là các em gái rất thờ ơ với chiến tranh và lính trận, ấy là chưa kể đến những thành phần no cơm ấm cật, dậm giật tối ngày, rửng mỡ nối giáo cho giặc bày đặt phản chiến, thực chất là trốn lính, trốn việc quân đi ở chùa!

Sau Tết Mậu Thân, nhờ khói súng mà tình cảm người dân thân thiện với lính hơn, tử tế hơn với quân, dân chỉ cho lính những chỗ VC ẩn núp và chôn dấu vũ khí mà trước Tết có vẻ như họ “không nghe không thấy”. Trong và sau Mậu Thân, đơn vị nào cũng được đồng bào đón tiếp niềm nở, bánh kẹo dư thừa mà vị ngọt tình yêu cũng không thiếu.

Ở Bưu Điện “một nơi dễ tìm thấy Thiên Đàng” thì anh em ĐĐ1 của tôi họ sống quá đàng hoàng nên được đồng bào quanh vùng và nhất là nhân viên bưu điện cảm phục, tình quân dân thắm thiết thật sự kéo dài cho mãi tới sau này, điển hình là cô Lan, ái nữ của ông Quận Dương Đông (Phú Quốc) là nhân viên BĐ, sau 1975 đã giúp rất nhiều anh em cựu tù nhân TQLC gởi “hồ sơ chui” tới tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Bangkok (Thai Lan) để xin được tới LOI, một việc làm hết sức nguy hiểm cho cô vào thời điểm 1982-84.

Gia đình hai cô Tuyết và Hoa gần như nuôi cả Trung Đội 12, đã hơn 35 năm rồi mà hiện nay các em Tuyết, Hoa-Quốc vẫn luôn hỏi thăm và nhắc tên các anh ngày xưa đóng ở BĐ và các em vẫn tự nhận mình thuộc gia đình “Trâu Điên” và tham dự những buổi họp mặt của TQLC. Tôi trân trọng gởi lời thăm hỏi và cám ơn đến các cô và nhất là những chị đã về làm dâu Trâu Điên.

Trong phạm vi đài phát thanh, anh em ĐĐ1 cũng được đồng bào thương, gia đình ông Tỉnh Trưởng, (Đại Tá Huy BĐQ) cho tôi tạm trú riêng một phòng thay vì tôi giăng võng ngủ dưới gốc cây, gia đình Ô.Bà phở 44, gia đình cô Phụng phở Hoàn Kiếm đãi lính ăn sáng vô hạn định, Cô Phụng cũng trở thành dâu của TQLC. Gia đình cô Chín và Jack (người Anh) nuôi cả Tiểu Đội của Trung Sĩ Mạnh, một gia đình Pháp Kiều muốn gả con là cô Alice cho B1 Thông, sau này em Alice mang quà lên Tân Uyên tiếp tế cho Thông đúng vào ngày Thông- người yêu của Alice tử trận (9/68)

Một mối tình khác khá đẹp và lãng mạng là cặp Chu và Ba.

Trước Tết Mậu Thân, mỗi lần đi hành quân về nghỉ tại hậu cứ là Chu rủ tôi đến tiệm cơm tấm của cô Ba Dung ở góc đường Trần Quang Khải và Trần Khắc Chân ngồi trồng cây si với ly café đen không đường, nhiều khi tôi chán nó quá bèn bỏ đi lang thang một mình, vài giờ sau trở lại thấy Chu vẫn ngồi lỳ với nhiều gói RuBy Queen trên bàn ra vẻ đăm chiêu qua khói thuốc ngắm cô hàng café.

Chuyện tình của họ chẳng đi đến đâu cho tới tết… Mậu Thân, một ngày kia, sau khi thanh toán tổ VC ở xóm Chùa Tân Định xong, Chu cho lính nghỉ ngơi băng bó vết thương bên lề đường, đồng bào khu vực đường Trần Quang Khải mang bánh kẹo ủy nạo, Chu được một gói RuBy từ tay Dung, bốn mắt nhìn nhau rồi cảm động tay cầm tay.

Từ đó cứ mỗi buổi trưa, Chu đều xin phép tôi chạy vào sở của Dung mãi tận cầu Chữ U trong Chợ Lớn để tâm sự trong lúc Dung nghỉ để ăn trưa. Chu nói với tôi:

– Sau chuyến hành quân này về nhất định em xin mẹ đi coi mắt Dung.

Khi Chu đóng quân dưới chân cầu Phan Thanh Giản thì Dung đến, vẻ lo lắng:

– Em lo quá, Ba em đi đâu từ hôm qua đến sáng nay không thấy về

Xế trưa thì Dương, em trai của Dung đến báo cho Dung biết là ba Dung đã bị tử nạn vì một TQLC chạy xe Honda đụng ông!

Thân phụ qua đời đột ngột mà người gây ra tai nạn thảm khốc này lại là một TQLC, cùng màu áo rằn ri với Chu, khiến Dung đau khổ tột cùng, mẹ Dung cấm cửa và không nhận vòng hoa phúng điếu của Chu! Mọi sự liên lạc giữa hai người bị chấm dứt.

Làm sao biết ai đau buồn hơn ai? Chu trở lên lầm lỳ, liều mạng hơn và rồi trong một trận đánh sau đó trên chiến trường Cao Miên, Chu bị mất tích.

Tôi bị trọng thương trước khi Chu bị mất tích và khi tôi đang nằm bệnh viện TQLC Lê Hữu Xanh, Thị Nghè thì Ba Dung đến thăm tôi và hỏi tin tức về Chu, nhưng khi thấy cô nhắc đến nó rồi khóc nên tôi dấu luôn tin nó bị mất tích và chẳng bao giờ tôi muốn gặp lại cô Ba Dung nữa.

Năm 1985 sau khi đi tù về tôi gặp Dương, em trai Dung, ở trung tâm dịch vụ xuất cảnh Nguyễn Du, cậu ta lo hộ chiếu đi Canada do chị Dung bảo lãnh, tôi không hỏi thêm chi tiết, chỉ nghe đại khái là Dung chưa lập gia đình. Mới đây tôi vô tình đọc tờ Thời Báo xuất bản ở Toronto có bài viết về “Cuộc Tình Dang Dở” với những tình tiết éo le gần như chuyện tình của cặp CHU-DUNG, tác giả ký tên là CHUNG!

Có vẻ lạ đấy, đó cũng là lý do tôi ghi lại những kỷ niệm này với ý tưởng rằng Chu mất tích ở Căm-Bốt nhưng chắc không chết và sau 30/4/1975 có lẽ đã lết sang tận Canada, nay nhắc chuyện xưa để tìm người thân nên ghép tên Chu-Dung thành Chung. Nếu đúng thế thì người viết bài này nhắn với Chu và Dung rằng:

– Hai em đang ở cùng chung một xứ Canada, nếu còn độc thân thì tìm nhau và “Yêu Nhau Đi, Chiều Hôm Tối Rồi!”

Chuyện tình yêu và súng đạn Mậu Thân còn dài, xin tạm gác lại để bớt nhàm tai đọc giả, bây giờ nói tiếp những câu chuyện buồn Mậu Thân khác.

Cố vấn Mỹ lãnh thẹo

Khi đại đội tôi từ trong Chợ Lớn tiến về Mũi Tàu Phú Lâm trên đường Hậu Giang, trên đường di chuyển chúng tôi đã thấy xác một phóng viên người Mỹ “ngồi” dựa vào chiếc xe hơi bị nát. Khi đi đến ngã tư Hậu Giang và Phú Định thì chúng tôi bị đụng nặng, địch khá đông đang cố thủ trong những cao ốc và hãng pin Con Ó. Chúng tôi sẽ phải vượt qua một bãi đất trống sình lầy mà hỏa lực của VC phía đối diện rất mạnh, đã cả giờ đồng hồ rồi mà quân tôi chưa tiến thêm được bước nào mà bị thương và tử trận ngày càng tăng cao trong khi thượng cấp thì ra lệnh phải tiến “bằng mọi giá”!

Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn xin trực thăng cobras và biệt phái xuống cho tôi viên trung úy cố vấn phó Carl White để phối hợp hỏa lực. Sau vài tràng rockets, hết đạn, cobras bay đi, tôi và Carl White leo lên cao quan sát thì nghe “cắc-bù”, White ngã ngửa về phía sau, tôi biết anh ta bị thương, vội gọi y tá đến săn sóc, nhưng y tá tìm mãi không ra vết thương, không thấy máu. Sau giây phút tỉnh hồn, Carl mở mắt chỉ vào trán, một viên đạn xuyên qua nón sắt, cởi nón sắt ra thì thấy trán Carl White nổi một cục tụ máu như viên bi. Quan sát đường đi của thần chết thì ra đạn xuyên qua cuốn băng cá nhân cài trên non sắt, chui vào trong, đụng nón nhựa, sức mạnh đạn đi chỉ còn đủ lú ra chạm vào trán White thay vì xuyên qua đầu.

Carl White lấy máy hình ra, đứng bên cái biển “NHÀ BÁN”, bấm một phát làm kỷ niệm để đời. Nhờ cái hòn bi ở trán mà sau đó Carl White được lên đại úy.

Người phóng viên chiến trường

Địch còn mạnh, tôi phải xin tăng cường xe thiết giáp để TQLC tùng thiết* (* bộ binh và thiết giáp che chở yểm trợ cho nhau cùng tiến). Cấp trên đã biệt phái xuống cho tôi một thiết giáp M41. Chỉ một chiếc thôi thì chưa đủ, nhưng có còn hơn không nên tôi cho lệnh trung đội đi đầu của Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang K22 chuẩn bị nưong theo M41 để vượt qua khoảng trống mà chiếm mấy cao ốc trước mặt để thiết lập đầu cầu. Tiến như thế rất nguy hiểm nhưng phải theo lệnh cấp trên.

Khi xe và quân tùng thiết tiến lên thì tôi bất ngờ trông thấy anh phóng viên chiến trường núp sau pháo tháp và đang đưa máy hình lên chụp, anh phóng viên này đã đi theo tôi lao vào lửa đạn cả ngày rồi, nhưng lúc này thấy anh ta liều mạng ngồi trên pháo tháp M41 như thế thì thật nguy hiểm, giận quá tôi quát:

– Này anh phóng viên, yêu cầu anh xuống xe ngay.

Ti hét thật lớn, nhưng có lẽ vì tiếng máy nổ của M41 khiến anh phóng viên không nghe được, hoặc cũng có thể anh ta nghe nhưng “giả điếc” để cố bám theo toán quân xung phong đầu tiên để chụp hình nóng. Một tay anh bám vào thành xe, một tay đưa máy hình lên bấm liên tục. Mỗi khi xe lắc lư muốn hất tung mọi người xuống đất thì anh phóng viên vội buông máy hình treo tòng teng vào cổ còn 2 tay thì bám chặt vào xe. Nguy hiểm quá, nếu không bị bắn thì anh ta cũng bị rớt xuống, sẽ bị xích xe cuốn theo ngay! Không chần chừ đươc nữa, tôi ra lệnh cho Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường:

– Đường, lôi ngay ông phóng viên xuống đất cho tao.

Không chậm trễ một giây, người hạ sĩ cận vệ của tôi nhẩy lên xe ôm ngang lưng người phóng viên rồi nhẩy khỏi xe thiết giáp, cả hai cùng té lộn nhào xuống đất. Trong lúc hai người còn đang nhăn nhó chưa kịp đứng dậy thì xe thiết giáp rú ga, gầm lên ủi sập bức tường phía trước mặt, lập tức địch bắn đủ mọi loại vũ khi về phía chúng tôi, xe bị trúng đạn B40, tiếng nổ chát chúa hất tung những người ngồi trên xe xuống đất, thiết giáp chồm lên đống gạch rồi khựng lại phun khói, cả khói xe lẫn khói đạn B40 mịt mù khiến tôi không nhìn thấy gì cả.

Sau vài động tác xoa mặt dụi mắt, tôi mới nhận ra được một cảnh tượng hết sức đau lòng, xe bị đứt xích, người trưởng xa M41 ngồi trong pháo tháp thò đầu ra ngoài thì đã biến đâu mất rồi! Cái nón sắt của anh văng ra xa, móp méo và bê bết máu! Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang*, đi sau xe thiết giáp thì đang gượng đứng dậy, hai tay xoa khắp người xem có bị thương chỗ nào không, Hạ Sĩ Danh-Thon, người mang máy truyền tin của Th/Úy Quang nằm sấp bất động, ngực đè lên máy truyền tin PRC25, tôi lật người Thon lại, một viên đạn xuyên qua máy truyền tin anh đeo trước ngực, xuyên qua áo giáp, trổ ra sau lưng một lỗ nhỏ, máu chưa kịp thấm ra ngoài. (* Thiếu Úy Quang Khóa 18 Võ Khoa đã tử trận một năm sau đó), cách đó vài mét, anh phóng viên ngồi dựa lưng vào tường, mặt nhăn nhó, chắc là lúc bị Đường kéo té xuống đất đau lắm, nhưng anh ta vẫn còn đủ sức đưa máy lên bấm liên tục. Khi máy nhắm về phía tôi, người vừa ra lệnh “lôi” anh ta xuống đất nên anh ta lắc-lắc cái đầu tỏ ý “ghê quá” và đưa ngón tay cái lên trời, ý anh muốn nói là may mắn vừa thoát chết. Tôi tiến lại bắt tay anh và nói đùa:

– Về nhà nhớ mua heo cúng, lần sau ráng giữ lấy cái “gáo dừa” nghe không.

Anh nắm chặt tay tôi như muốn nói thêm điều gì nhưng rồi lại vội vàng tiếp tục đưa máy chụp nhiều tấm hình. Đến lúc này tôi mới biết là xe thiết giáp đã bị 2 trái B40 bắn vào xích và pháo tháp. Pháo tháp là một khối sắt dầy, đạn B40 không phá được nhưng sức nổ đã làm bay những gì xung quanh, sức nổ đã làm bay đầu anh trưởng xa thiết giáp, còn phần thân dưới có lẽ đã bị đứt ra và lọt vào trong lòng xe rồi! Nếu anh phóng viên còn bám theo pháo tháp để chụp hình thì không biết sẽ ra sao? Tôi không hối hận khi cương quyết đuổi anh ta xuống xe.

Kể từ đó anh phóng viên, tôi và Đường kết thân với nhau như anh em, chụp với nhau vài tấm hình để làm kỷ niệm và anh phóng viên đưa tôi và Đường về nhà trong khu cư xá Phú Lâm để giới thiệu với chị ấy và các con anh. Chị ấy phúc hậu hiền lành còn mấy cô con gái thì xinh sắn nhí nhảnh dễ thương ở độ tuổi lên 10. Thấy bố ngồi nói chuyện với các chú lính, các cô có vẻ tò mò, thập thò bên song cửa nhìn huy hiệu con Trâu Điên trên cánh tay áo trận của Đường rồi cười khúc khích.

Chúng tôi kết thân với nhau chưa được bao lâu thì VC tấn công đợt 2 vào tháng 5/1968, đại đội tôi phải liên tục tham dự các mặt trận khắp Saigon và ngoại ô nên chưa có dịp gặp lại người anh phóng viên.

Tháng 9/1968, sau khi Saigon, Chợ Lớn thanh bình trở lại thì TĐ2 đi hành quân vùng quận Khiêm Hanh Tây Ninh. Ngày 17/9/1968, Tiểu Đoàn Trâu Điên nhẩy trực thăng vào mật khu Bời Lời và đã đụng nặng với một trung đoàn VC, Trung Úy cố vấn Mỹ Joe Bargerstock, bị thương nặng vào vai và bị lạc vào tuyến VC, Đường đựợc tôi giao nhiệm vụ đi cứu Joe và Đường đã cứu được Joe về an toàn. Sau cuộc hành quân đó, Đường được cố vấn Mỹ thưởng huy chương Bronze Star. Thiếu Tá Lê Đình Bảo, Trưởng Phòng Chính Huấn Sư Đoàn TQLC tặng cho Đường chiếc xe Honda. Đường tỏ ý muốn đi thăm và khoe chiến công với người anh phóng viên. Tuy đang cấm trại nhưng tôi hiểu ý nên cũng cho chú em “nhẩy dù” về thăm người anh, do đó chúng tôi mới biết anh đã tử trận trong Mậu Thân đợt hai rồi! Đường cắn môi rồi nói với tôi

– Cứu đựơc cố vấn Mỹ mà không cứu được anh mình! Buồn quá! Tức quá!

Thảm thay, sau khi về thăm anh, trong chuyến hành quân sau đó thì tôi bị trọng thương và Đường tử trận. Một trong những tấm hình chụp làm kỷ niệm, có một tấm chụp chung 3 anh em, chưa đầy một năm sau thì hai người đã ra đi vĩnh viễn, môt người bị trọng thương. Dù không tin dị đoan hình chụp 3 người, nhưng mỗi khi nghĩ đến, tôi cũng cảm thấy bất an.

Hơn 40 năm sau, ở Little Saigòn, thủ đô của người Việt tỵ nạn CS, trên tờ KBC Hải Ngoại trong mục thư Tiền Tuyến & Hậu Phương, tôi đọc được lá thư với cái tựa đề: “Người Yêu Trâu Điên”.

Trên các trang báo lính, thường có mục “thư tiền tuyến, thư hậu phưong” mà nhân vật trong các thư chỉ là tưởng tựơng. Đã có một thời Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú, Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến SĐTQLC, giao mục này cho tôi với cái tên là “Kim Chi”, em gái hậu phương Kim Chi đã viết thư cho các anh tiền tuyến, nay trong lá thư này, chính 2 chữ “Trâu Điên” khiến tôi đọc kỹ hơn.

Tác giả Phượng T.. kể lại câu chuyện một anh lính Tiểu Đoàn Trâu Điên về giải tỏa địch ở cư xá Phú Lâm trong dịp tết Mậu Thân 1968, thân phụ Phượng T.. đã chụp được tấm hình người lính này, một tấm hình đẹp và oai hùng nên ông tặng cho con gái khi cô mới chỉ là một nữ sinh lớp Đệ Lục. Cô nữ sinh ép hình người lính trong cuốn nhật ký bé nhỏ. Chuyện đau lòng là sau đó thân phụ Phượng T.. bị VC sát hại khi chúng tấn công vào Saigon đợt hai tết Mậu Thân. Thương nhớ cha, cô giữ mãi tấm hình người lính và rồi tấm hình đó cũng bị thất lạc cùng với cuốn nhật ký bé nhỏ vào ngày 30/4/1975. Cuối lá thư cô Phượng T.. ở Phú Lâm A Chợ Lớn Saigon Mậu Thân 1968 viết:

“Lá thư này em viết mà không bao giờ gửi, vì em đâu biết anh Trâu Điên đang ở nơi nào trên mảnh đất chiến tranh đầy thống khổ của dân tộc Việt Nam mình. Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Điên, người bạn trẻ của Ba. Hình ảnh Ba và anh Trâu Điên luôn gắn liền nhau trong lòng em. Với lòng mong mỏi người anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó sau cơn hồng thủy, biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ tới anh Trâu Điên ngày xưa ”.

*****

Một sự vô tình trùng hợp hay đây chính là tâm sự thật của con gái ngừơi phóng viên chiến trường ngày xưa ở cư xá Phú Lâm mà tôi đã có dịp nhận làm anh?

Nếu đúng là những cô bé, con anh phóng viên, núp sau rèm cửa, cười khúc-khích khi nhìn thấy cái hình con Trâu Điên trên vai áo trận của Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường thì… Đừơng không còn “sống sót đâu đó” nữa, mà Đường đã tử trận ở chiến trường rồi tác giả Phượng T.. ơi!

“MỞ CỬA THÀNH DỤ ĐỊCH”

Đại đội tôi bị khựng tại đường Phú Định, cobras đến rồi đi, thiết giáp đến rồi bị bắn cháy, địch vẫn cố thủ trong dẫy nhà lầu bên kia bãi sình lầy, TQLC đâu phải mình đồng da sắt mà liều mạng chiếm mục tiêu bằng mọi giá? Vả lại trời đã về chiều rồi tối, tôi được lệnh đóng quân đêm, lấy đường Phú Định làm tuyến phòng thủ án ngữ, bắt tay với tôi là ĐĐ4 của Vũ Doàn Doan.

Một đêm bình yên, nhưng mới vửa hừng Đông là súng nổ tưng bừng sau lưng chúng tôi, trong Chợ Lớn, khu vực Soái Kình Lâm, chính khu vực này hôm trước chúng tôi làm tuyến xuất phát tiến về Mũi Tàu Phú Lâm, làm gì có địch. Tôi gọi máy hỏi Tiểu Đoàn thì mới biết BĐQ (hình như TĐ35/BĐQ) đụng VC.

Tôi cho thám thính tình hình để chuẩn bị tấn công mục tiêu hôm qua thì địch hoàn toàn im lặng, nhưng phát giác khu sình lầy và ruộng rau muống không phòng thủ đêm qua đã bị cày nát vì dép râu, số lựợng địch thoát ra bằng đường này ước chừng vài chục tên chứ không ít.

Tôi biết ngay là địch đã rút khỏi mục tiêu của tôi, nhưng thay vì rút ra về hướng rừng thơm Lý Văn Mạnh thì chúng lại chui đầu vào Chợ Lớn để bị BĐQ thịt. Không lẽ sự lơ là phòng thủ của tôi vô tình “mở cửa” cho địch chui vào rọ của BĐQ. Tôi thấy có cả trực thăng quần trên trời để yểm trợ cho BĐQ. Có lẽ vì không có giao liên dẫn đường nên lũ ngợm về thành phố, lạc đường đâm đầu vào chỗ chết. Điều buồn là một biến cố bất ngờ, trực thăng bắn lầm vào trường Phứoc Đức, nơi BĐQ đặt Bộ Chỉ Huy HQ khiến một số sĩ quan cấp tá bị tử thương và bị thương. Nguyên nhân đạn lạc chưa có lời giải.

*****

Chỉ vì vui Xuân quên nhiệm vụ để VC xâm nhập vào thành phố lúc ban đầu, nhưng chúng không chiếm được bất cứ điểm trọng yếu nào, chúng bị quân ta lùng, bao vây và diệt, không có lối thoát nên chúng đành nằm chịu trận gọi là cố thủ đến tan xác hay ra đầu hàng. Tài liệu đã chứng minh VC đã tồn thất nặng nề, lực lựơng kiệt quệ một thời gian dài sau Mậu Thân, nếu nói cho vui là mở cửa thành dụ địch thì cũng có lý.

Captovan

Ký ức tháng Tư: Chuyện của Tuấn

www.sbs.com.au/language/vietnamese

Published 12 May 2018 6:34pm

Updated 25 April 2023

By Mai Hoa

Source: SBS

Post by Sơn râu 24 Mar 2025

One of the countless fishing vessels rescued by Cap Anamur in 1979 and beyond Source: WDR

Nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn kể lại một cách nhẹ nhàng như thể đang kể về một chuyện phim hay một cuốn sách mà anh đã đọc, về 28 lần đi vượt biên của anh, về số phận một kẻ bị chính quyền mới xoá sổ khỏi xã hội dù vẫn đang sống.

Ðã có một thời những người Việt sống như những linh hồn vất vưởng ngay trên quê hương mình. Ðó không phải là chọn lựa, thói quen hay tính cách, mà là sự bị tước đi quyền hạn và không gian sống của họ. 

Sau năm 1975, lịch sử dân tộc Việt chứng kiến dân Việt tan tác chưa bao giờ như bây giờ. Dưới sự lãnh đạo của những cái đầu kinh tế cày cuốc áp đặt lên xã hội tự do, tân tiến và phát triển của Miền Nam đã biến một nửa đất nước và con người phồn thịnh đĩnh đạc quy củ trở nên tan nát. Cả miền Nam phút chốc bi thương. Ngay cả những năm chiến tranh bom đạn người dân Việt cũng đã không bỏ nước hay bỏ xứ ra đi, ngay cả những người sống nơi địa đầu giới tuyến của mảnh đất Quảng Trị.

Tuấn những ngày ở trại tị nạn Source: Supplied

Thế nhưng cái gọi là hoà bình thống nhất lại đẩy những người dân Việt Nam vốn cần cù chăm chỉ và bám chặt vào đất đai bản quán đã phải rứt mình bỏ xứ ra đi, tan tát khắp chân trời góc bể, bất chấp cái chết vô tăm tích trên biển, bất chấp làm mồi cho cá hay rơi vào tay hải tặc còn hơn ở lại quê hương mình. Vì sao vậy?

Tuấn, cậu thanh niên 21 tuổi, cựu sinh viên Văn Khoa – Thủ khoa Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang đã bị khai tử ngay khi còn sống và buộc phải sống như một linh hồn lang thang trên quê hương mình.

Chuyện bắt đầu bằng chuyến đi vượt biên đầu tiên vào năm 1977. Một chuyến đi vượt biên kỳ lạ: chiếc tàu ra đi thành công cùng với cha, em và bạn, nhưng Tuấn thì ở lại.

Từ sau chuyến đi không thành, Tuấn quay lại học. Lúc này Tuấn đã bỏ Văn Khoa và về Nha Trang học Cao Đẳng Sư Phạm.

Ngày tốt nghiệp, ông thầy hiệu trưởng tốt bụng đến nói nhỏ vào tai cậu sinh viên giỏi nhất của trường năm đó “Con sẽ không đuợc nhận bằng Tốt Nghiệp hôm nay vì công an đã tới thu bằng của con rồi.”

Công an có toàn quyền để làm tất cả liên quan đến sinh mệnh của một ai đó và không coi đó là con người. Công an – chứ không phải Bộ Giáo Dục, phân công Tuấn lên miền heo hút. Một hình thức lưu đày như cách người Cộng Sản đã đẩy người dân miền Nam lên vùng kinh tế mới.

Đó là một định mệnh, một món nợ lạ lùng của một con người đối với đất nước nơi mình đã sinh ra không thể trút bỏ được (…). Tôi nghĩ đã lỡ sinh ra làm người Việt Nam như vậy rồi, đã sống một kiếp như vậy, đã biết thế nào là đau khổ thế nào là ngục tù, thì cái nguyện vọng lớn nhất là một đất nước Việt Nam tự do.

Chàng sinh viên Thủ khoa tìm được tới nhiệm sở của mình vào một buổi chiều đìu hiu. Nhìn các thầy cởi trần thổi lửa nấu cơm trong trời chạng vạng giữa tiếng muỗi rừng vo ve Tuấn thấy đời mình xong rồi. Tối đó, xong bữa cơm rau muống với các thầy, Tuấn nằm võng đong đưa và quyết định quảy ba lô, nhảy cửa sổ, lội rừng ra đường tàu đu xe lửa về lại nhà Nha Trang. 

Thật nhanh nhạy làm sao vừa về đến nhà chưa kịp định thần thì công an tới tìm. 

Họ nói rằng anh không được ở nhà anh vì anh đã không còn hộ khẩu ở nhà. 

Họ nói rằng họ đã cắt hộ khẩu của anh chuyển lên trường và anh phải quay lại trường. 

Họ nói rằng ngôi nhà anh sống từ nhỏ cùng gia đình ba mẹ không phải là nhà anh vì anh không còn hộ khẩu ở đó và anh không được ở đó. 

Họ nói rằng họ cho anh 24 tiếng đồng hồ để quay laị trường nếu không thì anh sẽ bị bắt. 

Và từ đó bắt đầu những ngày lang thang của Tuấn. Những ngày về thăm mẹ phải ngủ ngoài ga, ngủ trên mái nhà của nhà mình, và ăn với mẹ chưa xong chén cơm đã bị bắt đi vì không có hộ khẩu ngay trong ngôi nhà mình.

Tuấn hội ngộ với Cha tại Úc sau bao nhiêu năm xa cách Source: Supplied

Cuộc sống vô vọng đến mức vào tù là một cách nghỉ ngơi để bớt phần thất vọng. Ở Tuấn chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Phải đi. Ðó là con đường sống duy nhất nếu muốn tồn tại.

Ði tù cải tạo vì vượt biên không thành và Tuấn gặp ngay phải một viên công an vô lại. Có một sự căm ghét kỳ lạ ở tên quản giáo với Tuấn khi biết Tuấn là sinh viên Văn Khoa, và hắn chỉ muốn tìm cách để kết liễu Tuấn.

Tuấn sống những ngày trong trại với viên quản giáo ti tiện như thế nào và cuộc hội ngộ kỳ lạ giữa anh với hắn ngay trong trại tị nạn khi hắn là thuyền nhân mới đến còn Tuấn là Chủ tịch cộng đồng người Việt ở trại, chuyện gì tiếp theo sau đó?

Tuấn- 1979, những ngày lang thang ở Việt Nam và những chuyến đi không thành Source: Supplied

Kết thúc bốn kỳ đặc biết về Ký ức Tháng Tư, nhắc nhở người Việt vì sao chúng ta tan tác mỗi người một nơi, vì sao hôm nay dân ta quá đỗi bộn bề.

Chuyện của Tuấn, không chỉ là những chuyến đi hay kỷ lục về số lần vượt biên. 

Chuyện của Tuấn cho chúng ta nhiều điều để suy ngẫm. 

Liệu chuyện gì sẽ xảy ra nếu Tuấn bỏ cuộc? 

Chắc chắc cộng đồng người Việt chúng ta không có một nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn; các thế hệ học sinh Úc đã không có một thầy giáo dạy nhạc đầy cảm hứng để truyền tình yêu âm nhạc cho chúng; các văn sĩ bị bức hại đã không có một trang Tiền Vệ đầy uy tín để đăng tải tếng nói của họ; và trên hết chúng ta đã không có được câu chuyện ngày hôm nay để cùng chia sẻ với nhau, để thấy rằng có rât nhiều bài học qua câu chuyện này. 

Liệu người Việt có đủ lớn để bước qua hận thù với người Cộng Sản, để không hành xử như Cộng Sản đã làm với người Cộng Hòa một mai sau này?

Liệu cái tự do mà người Việt bỏ mạng để tìm được là đủ để chúng ta bằng lòng và khép mình lại trong thế giới riêng của mình, và nguồn gốc Việt hay tên gọi Việt Nam không gì hơn chỉ là một cái tên.

Liệu người Việt chúng ta có đủ dũng khí, niềm tin, trí tuệ và nhơn hoà để xây dựng lại đất nước mình, một quê hương mà như Tuấn nói ai cũng có thể về thăm lại quê hương mình, đi khắp chiều dài từ Bắc chí Nam, gặp tất cả những bạn bè và có thể nói tất cả những chuyện muốn nói mà không ngại ngần, như đúng những điều chúng ta đang có hiện nay ở Úc, ở Mỹ hay ở đâu khác nhưng không phải là ở bên ngoài Việt Nam mà là ở ngay tại Việt Nam trên quê hương mình.

Đó là một chuyến đi chưa hết. Khi tôi đi như vậy để tôi tìm tự do. Khi tôi tìm thấy tự do rồi thì tôi nhận thấy cái tự do đó chỉ cho riêng mình tôi, mà như vậy thì nó nhỏ bé quá. Cái tự do tôi thực sự tôi muốn là tự do cho cả đất nước chứ không phải cho riêng tôi.

Và đó là con đường duy nhất để chúng ta tồn tại, không phải bây giờ, mà cả đời sau.

Hồi ký Lê Ngọc Danh: chết để làm gì

dongsongcu.wordpress.com

Posted on March 11, 2025 by dongsongcu

Hồi ký Lê Ngọc Danh

Giao Chi San Jose.

Post by Sơn râu 24 Mar 2025

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam

Photo created by Sơn râu

Chết để làm gì? Ai nói câu đó? Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Ai nghe được? Trung úy tùy viên Lê Ngọc Danh. Ghi nhận ở đâu? Trong tác phẩm Nguyễn Khoa Nam của gia tộc Nguyễn Khoa.

Người nói như vậy có phải đang hoảng loạn tâm thần hay không? Không hề. Lúc đó tướng quân Nguyễn Khoa Nam hết sức sáng suốt, bình tĩnh và dũng cảm. Nhắc lại ‘Chết để làm gì’ như vậy có phải là sỉ nhục một danh tướng VNCH không? Tầm bậy. Lê ngọc Danh viết lại với tấm lòng tôn kính ông thầy. Dòng họ Nguyễn Khoa in trong sách với niềm hãnh diện chia xẻ với toàn quân. Tôi viết lại nguyên văn vì chợt bắt được linh hồn của chữ nghĩa. Các bạn chê bai là chưa tỏ ngọn ngành. Nhưng cũng nhờ những phê phán loạng quạng tôi có dịp giảng giải nguồn cơn. Thực vậy, các bạn thắc mắc loạn ngôn nhưng tôi phải cảm ơn, chính vì các bạn mà tôi viết lại đầu đuôi câu chuyện này.

Di ngôn tự vấn

Từ nhiều năm trước, tôi đọc hồi ký Lê Ngọc Danh, chợt đến những đoạn nghe đối thoại của thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tôi lặng người. Tôi suy tư về tư duy của con người đã nói lên những lời bất hủ đó. Khi tùy viên báo tin tướng Minh đầu hàng. Ông nói: Qua biết rồi. Khi báo cáo các sĩ quan thân cận di tản. Ông nói: Đi làm gì. Khi được thương binh yêu cầu: Thiếu tướng đừng bỏ tụi em. Ông nói: Không! Qua không bỏ tụi em. Khi báo cáo phó tướng tự tử. Ông nói: Chết để làm gì. Những lời ông nói lúc đó không phải dành cho thủ hạ. Không phải dành cho chúng ta. Tướng Nguyễn Khoa Nam nói cho chính ông. Ông tự hỏi và tự đi tìm câu trả lời. Bây giờ 50 năm sau, xin các bạn cùng tôi tìm hiểu. Tôi phải viết lại câu chuyện từ đầu như sau.

Những lời cuối cho miền Nam.

Lịch sử ghi rằng. 1954 Geneve chia đôi đất nước. Đất nước trở thành 2 miền Nam Bắc. Trải qua 21 năm đấu tranh chính trị rồi chiến tranh thực sự. Tháng 4 năm 1975 Bắc quân tràn ngập các quân khu 1,2 và 3. Quân khu 4 của tướng Nguyễn Khoa Nam với 3 sư đoàn, 18 tiểu khu và 200 ngàn quân vẫn còn yên tĩnh. Tổng thống và thủ tướng cùng bàn giao và ra đi. Đại tướng tổng tham mưu trưởng cũng ra đi. Trung tướng quyền tổng tham mưu trưởng điện thoại cho tướng Nam yêu cầu chuẩn bị đón chính phủ và bộ tổng tham mưu tái phối trí về miền Tây. Tướng Nam điện thoại cho tư lệnh sư đoàn 9 đưa trung đoàn Long An chuẩn bị lên đường. Liền sau đó lệnh hủy bỏ. Vị tổng thống dân sự chưa nhậm chức được 1 tuần đã chuẩn bị bàn giao cho vị đại tướng cuối cùng.

Chiều 29 tháng 4- 1975 thiếu tướng Phạm văn Phú quê Hà Đông, 47 tuổi uống thuốc độc tự tử tại nhà, tự nhận trách nhiệm làm mất vùng 2. Chở vào nhà thương Grall cấp cứu. Ông qua đời sáng 30 tháng 4, trước khi có lệnh đầu hàng. Trưa 30 tháng 4 đại tướng Dương văn Minh ra lệnh buông súng trên radio Sài gòn. Tại Cần thơ, trung úy Lê ngọc Danh bước vào phòng tư lệnh quân đoàn 4 báo cáo chưa hết lời, tướng Nguyễn Khoa Nam ngồi coi giấy tờ, ngước lên nói: Qua biết rồi.

Trung tá cảnh sát Nguyễn văn Long sinh trưởng tại Huế, 56 tuổi, nghe tin radio đã tự sát bằng súng lục tại công viên giữa thành phố Sài Gòn. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, quê Sơn Tây, 42 tuổi, bình tĩnh ngồi ăn 3 bát cơm với các sĩ quan rồi rút vào phòng tự tử bằng súng tại bộ tư lệnh Lai Khê.

Từ căn cứ Đồng Tâm nghe tin đầu hàng, chuẩn tướng Trần văn Hai, quê Gò Công, 50 tuổi, tư lệnh sư đoàn 7, điện thoại qua Mỹ Tho từ giã tướng Huỳnh văn Lạc tư lệnh sư đoàn 9 bộ binh. Sau đó ông Hai uống thuốc độc tự tử. Trở lại Cần Thơ, tùy viên lại vào phòng tư lệnh báo cáo các sĩ quan quân đoàn bắt đầu di tản. Tư lệnh Nguyễn Khoa Nam vẫn ngồi ở bàn giấy, nhìn lên nói. Đi để làm gì.

Ông tự hỏi nhưng đã tự tìm thấy câu trả lời. Ông quay sang chỉ thị cho tùy viên chuẩn bị xe. Lúc đó là chiều 30 tháng 4. Sài Gòn đang náo loạn. Những chiếc trực thăng cuối cùng của Hoa Kỳ đã rời tòa đại sứ từ sáng sớm. Bến Bạch Đằng vắng lặng vì toàn thể hạm đội VNCH đã ra khơi đêm qua. Đoàn tầu quân vận của chúng tôi đi sau hải quân nhưng chưa ra khỏi cửa sông đã nghe lệnh đầu hàng. Trong khi đó, tại miền Tây, tướng Nam, tưởng chừng một ngày như mọi ngày, đi thăm thương binh tại quân y viện Phan thanh Giản giữa 1 thị xã Cần thơ vắng lặng. Thương binh ngóc đầu nói với vị tư lệnh: Thiếu tướng đừng bỏ tụi em. Tư lệnh nói: Không, Qua không bỏ tụi em. Bước ra cửa bệnh viện, tùy viên thấy tư lệnh chùi nước mắt. Trở về tư dinh, tư lệnh vẫn mặc quân phục thắp hương lễ Phật.

Hai lần phái đoàn cộng sản vào gặp tư lệnh rồi lại đi ra. Tối 30 tháng 4 tùy viên Lê ngọc Danh qua nhà tướng tư lệnh phó Lê văn Hưng. Nghe tiếng súng nổ. Chuẩn tướng Lê văn Hưng quê Gia Định, 42 tuổi, đã vào phòng riêng tự sát. Trở về báo cáo. Vị tư lệnh quân đoàn nói. Chết để làm gì.

Ông nói với tùy viên, nhưng thực sự là tự hỏi mình. Tùy viên kể lại, ông vẫn mặc quân phục nằm suốt đêm 30 tháng 4. Đèn vẫn sáng trên bàn thờ Phật. Buổi sáng sớm 1 tháng 5-1975 ở Cần thơ. Thành phố vẫn vắng lặng. Ba thầy trò đứng nhìn xuống đường. Tư lệnh đứng giữa, hai tùy viên 2 bên. Tư lệnh chợt bật khóc. Hai anh trung úy trẻ tuổi trẻ cũng khóc theo. Giọt nước mắt của những chiến sĩ khóc cho cả 1 đạo quân. Dường như có máu trong nước mắt đàn ông. Quay vào tư lệnh bình tĩnh giao 2 va ly cho 2 anh sỹ quan. Các anh vừa ra khỏi phòng, ông lấy súng bắn vào đầu tự tử.

Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, sinh quán Thừa Thiên, năm đó 48 tuổi. Tiếng chuông thỉnh Phật lần cuối dường như vẫn còn vang vọng trong không gian với khói hương nghi ngút. Tướng Nguyễn Khoa Nam đã sống 1 ngày 30 tháng 4 dài nhất của đời lính.

Ông đã tự tìm thấy các câu trả lời. Đi để làm gì. Ông không đi. Chết để làm gì. Ông biết ông chết để làm gì. Rất sáng suốt và bình tĩnh. Ông chọn cái chết. Ông là mặt trời chói lọi của tháng 4 năm 1975.

Chết để làm gì. Đó chính là di ngôn tự vấn.

Thắp hương.

Suy luận cổ kim.

Sau cùng tướng Nguyễn Khoa Nam đã để lại di ngôn bằng 1 câu hỏi. Ông đưa ra 1 bài toán và ông đưa ra lời giải đáp.

Ngày xưa ở trong Nam năm 1867 tại Cần thơ, cụ Phan thanh Giản không giữ được 3 tỉnh miền Tây cũng đã tự tử. Ngài cũng biết chết để làm gì. Ngoài Bắc, Nguyễn Tri Phương 1873 rồi đến Hoàng Diệu 1882 cũng không giữ được thành Hà Nội nên đã tự tử. Các ngài đã biết là chết để làm gì.

Con người ta thường hỏi là chết rồi sẽ đi đâu. Không ai hỏi là chết để làm gì. Chỉ có những người tự quyết định tính mạng của mình mới có thể đặt câu hỏi chết để làm gì.

Trong đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam, người chiến binh thường không có cơ hội lựa chọn. Cộng sản ào đến biển người hô lớn. Hàng sống, chống chết. Sự lựa chọn không có suy nghĩ. Giơ tay lên sống, không giơ tay lên bị bắn. Đại tá Hồ ngọc Cẩn là công giáo nên không tự sát. Ông không giơ tay đầu hàng nên bị xử bắn sau khi bị hành hạ suốt 4 tháng dài. Ông không đầu hàng có nghĩa là đã chọn con đường chết. Ông tự sát trong phiên tòa cộng sản. Ông tự sát bằng những viên đạn thù xử bắn. Trên bảng vinh danh anh hùng tuẫn tiết, chúng tôi ghi nhận 7 người chiến sĩ. Sự lựa chọn không trong tầm tay anh chị em xây dựng dự án. Toàn thể hải ngoại đã công nhận trong 38 năm qua. Có tên tuổi, hình ảnh, có tiểu sử và chiến tích. Có nhân chứng cho tới giờ phút cuối cùng. Sau cùng tất cả đều là lính Việt Nam Cộng Hòa. Khi nhập ngũ họ đều là lính. Cấp bậc chỉ là hình thức trong binh đoàn. Họ đã sống như người lính và tuẫn tiết như những người lính có trách nhiệm.

Bây giờ nói đến chuyện trả lời câu hỏi Đi để làm gì. Trong anh em chúng ta dù ở lại hay ra đi, nếu có cơ hội lựa chọn lấy quyết định cũng là 1 thái độ mà phê phán suốt cả cuộc đời chưa hết chuyện. Bây giờ ở hải ngoại này dường như ai cũng đã ra đi. Kẻ trước người sau.

Tất cả đều phải trả lời cho tướng Nam câu hỏi. Đi để làm gì?

Nếu ngày xưa 30 tháng 4-1975 ông Nam đưa ra câu hỏi: Chết để làm gì? thì ngày 2 tháng 1-1961 khi Kennedy lên làm tổng thống, ông cũng đã có câu trả lời cho vấn nạn sống để làm gì.

Đừng hỏi đất nước này đã làm gì cho anh, hãy tự hỏi anh đã làm gì cho đất nước. Câu nói đó của Kennedy đã được khắc trên bia đá tại nhiều nơi trên nước Mỹ. Cũng theo danh ngôn này, người ta đã dùng để tu thân suốt cả cuộc đời. Xin đừng đòi hỏi người khác phải làm cái này, cái nọ; hãy tự hỏi mình xem đã làm được gì cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng, cho đất nước tạm dung và cho quê hương bỏ lại. Lịch sử luôn luôn ở bên những người hành động. Lịch sử không có chỗ cho các bạn ngồi phê phán. Có ý kiến hay, xin bạn đứng lên làm lịch sử.

Bài diễn văn lịch sử:

Nhân nói đến chuyện khắc các di ngôn trên bia đá. Xin kể các bạn câu chuyện dành cho phần kết.

Năm 1863, trận chiến kinh hoàng nhất của chiến tranh Nam Bắc Hoa Kỳ xảy ra tại vùng Gettysburg thuộc Pennsylvania giữa binh đoàn Potomac Liên bang Union và binh đoàn Bắc VA của phe Liên hiệp Confederate. Đây là trận quyết định với chiến thắng về phe liên bang. Chiến trường đẫm máu với 51,000 thương vong, trong số này có 7,500 binh sĩ cả hai bên chết vì gươm giáo còn để xác tại chỗ. Trải qua nhiều ngày, các xác chết 2 bên đã bốc mùi nên dân ở thị xã nhỏ bé Gettysburg có vài ngàn người phải ngày đêm lo chôn cất. Một nghĩa trang 17 mẫu được thành lập. Ban tổ chức làm lễ tưởng niệm vào ngày 19 tháng 11 năm 1893. Diễn giả chính là 1 nhân vật danh tiếng từng là thượng nghị sĩ, thống đốc và viện trưởng Harvard. Khách mời có tổng thống Lincoln dự trù sẽ nói vài lời trước khi chấm dứt.

Sau khi ông diễn giả chính nói chuyện 2 giờ đồng hồ, tổng thống Lincoln đọc bài phụ diễn chưa đến 3 phút gồm có 272 chữ trong 10 câu. Bắt đầu bằng câu:

81 năm trước, ông cha ta đã tạo dựng trên lục địa này 1 quốc gia mới, thai nghén trong tự do.

Câu cuối cùng là: Một chính quyền của dân, do dân và vì dân sẽ không thể tàn lụi trên trái đất này.

15 ngàn người gồm các thống đốc và chính khách có mặt. Tất cả đã sững sờ nghe trực tiếp bài diễn văn bất hủ. Đây là những lời nói khuôn vàng thước ngọc và trở thành bài diễn văn nổi tiếng kim cổ trên toàn cầu. Đặc biệt bài diễn văn này tuyệt đối không đề cập đến chiến thắng hay chiến bại. Không nói đến bạn hay thù. Tổng thống nói: Những người nằm xuống ở đây đều đã chết cho tổ quốc.

Người ta khắc bài diễn văn trên đá tại các thư viện, tại các trường đại học và tại nhà mồ của ông Lincoln ở Springfield, Illinois.

Đó là lý do chúng tôi muốn có cơ hội khắc trên bia đá những lời của tướng Nguyễn Khoa Nam. Những lời nói ngắn ngủi của ông phản ảnh triết lý sống và chết của con người. Ra đi hay ở lại. Câu hỏi của cả nhân loại trên con đường tìm đất sống, tìm tự do. Con đường mưu cầu hạnh phúc. Sống để làm gì, và chết để làm gì.

Lời Chúa và lời Phật nói ra cũng phải có người chiêm nghiệm và giải thích. Phải viết thành Kinh Thánh hay Kinh Phật để truyền bá và học hỏi.

Đi hay ở. Tại sao. Đi để làm gì.

Sống hay chết. Sống để làm gì và chết để làm gì.

Tôi không biết rằng có thuyết phục được ban tượng đài khắc lời của tướng Nguyễn Khoa Nam thành câu chuyện Anh Việt ở phía sau bức tường hay không. Nhưng câu chuyện và lời nói của ông đã khắc sâu trong tim tôi. Mãi mãi, chẳng bao giờ ai lấy ra được. Đi để làm gì, tôi đã có câu trả lời bằng nửa cuộc đời. Chết để làm gì. Tôi chưa biết.

Giao Chi San Jose.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 24 Mar 2025

9. Chương 43
Qua cửa Thần Phù

Mười một giờ ngày 12 tháng 4 năm 1980, gia đình Vinh máy nổ gồm có bốn người và gia đình tôi có ba người, bắt đầu chuyến vượt biển. Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, đoạn đường chỉ chừng 170 cây số, mà chúng tôi phải mất hơn 6 giờ mới đến nơi. Vừa xuống xe đang còn ê ẩm cả người sau mấy giờ ngồi bó gối một chỗ, tôi đã thấy một người đàn ông với gương mặt hiền lành chơn chất, nước da ngăm đen, áo sơ mi xám ngắn tay, ông ta đến bên tôi.

-Xe đạp ôm cậu Hai.

Tôi trả lời.

-Tôi đợi xe lôi.

Nhận ra mật khẩu, người đàn ông dẫn tôi ra khỏi đám đông rồi nói.

-Tôi tên là Ba Râu, được ông Dậu phân công đi đón mấy người.

Khi biết được người dẫn đường do Long công tử sắp đặt, tự nhiên tôi cảm thấy an tâm vô cùng.

Ông Ba Râu nói mà như là ra lịnh.

-Tất cả hãy đi theo tôi, nhớ chia làm hai toán riêng biệt, đừng có đi chung.

Nói xong ông ta dẫn chúng tôi đi dọc theo một con đường nhỏ, qua một khúc cua, ông chỉ vào một căn nhà khá rộng.

-Trước mặt là cái quán cơm bình dân, mọi người vào đó cứ yên tâm mà ăn uống, chủ quán là vợ của một người lính Ngụy. Nhớ ăn cho no vì phải đến gần trưa mai mới được ăn lại. Không có gì gấp, cứ từ từ mà ăn, bao lâu cũng được.

Ông Ba Râu ngưng nói, nhìn chúng tôi như chờ đợi có ai hỏi gì không, khi thấy mọi người đều im lặng, ông nói thêm.

-Phía sau quán có nước rửa mặt, có cầu tiêu, khi ăn xong qua bên kia đường, tôi đợi ở đó.

Tôi kêu hai dĩa cơm trắng, một miếng cá kho, Cúc và con gái của tôi ăn chung một dĩa. Tuy cả nước đang sống trong hoàn cảnh đói ăn, thiếu mặc, nhưng cái hào sảng của người dân ở đây vẫn còn hiện rõ trong dĩa cơm đầy ắp, cao như ngọn núi. Tôi đang ở tại một thành phố mà người ta gọi là Tây Đô, là trung tâm của vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, cho nên những hạt gạo trong dĩa cơm coi bộ cũng trắng trẻo, tròn trịa, và hình như cũng thơm hơn những hạt gạo ở các tỉnh khác. Gác bỏ ngoài tai những lo âu của một chuyến vượt biên đầy hiểm nguy đang chờ đón, tôi có được bữa ăn tối no bụng và ngon miệng. Cách đó hai cái bàn, Vinh máy nổ và vợ con của anh ta cũng đang tận tình thưởng thức bữa cơm. Thời gian qua mau, bên ngoài mặt trời đã lặn từ lâu, hai ngọn đèn Neon trong quán chiếu ánh sáng trắng mờ xuống căn phòng, Vinh máy nổ trả tiền xong, dẫn vợ con đi về phía nhà sau. Chờ cho đến khi gia đình Vinh máy nổ trở lại, rồi dẫn nhau đi qua bên kia đường, lúc bấy giờ tôi mới thanh toán tiền cơm, cùng vợ con đi ra nhà vệ sinh.

Khi chúng tôi qua đến bên kia đường, đã thấy Vinh máy nổ và vợ con của anh ta đi được một khoảng khá xa phía trước.

Ông Ba Râu nói với tôi.

-Mấy người cứ đi theo sau tôi, cách vài chục thước là được rồi, đường đi cũng khá xa đó, mấy cây số chứ không ít đâu.

Sau cả giờ lội bộ, chúng tôi đến được một bãi đất rộng cỡ chừng cái sân quần vợt. Một chiếc xe chở hàng đậu ở góc sân, sát với lề đường. Chỉ vào những lùm cây bên đường, ông Ba Râu nói.

-Vào trong đó nằm nghỉ, tôi đi lo công chuyện lát nữa sẽ trở lại đón.

Tôi nhìn quanh, không thấy gia đình Vinh máy nổ ở đâu, trong lòng có hơi lo lo, tuy nhiên tôi vẫn kéo tay Cúc và con đi vào một bụi cây gần đó. Chúng tôi nằm nghỉ ngơi, sau một ngày di chuyển đầy mệt nhọc. Tưởng chỉ đợi chờ chút xíu, ai ngờ hơn cả giờ sau ông Ba Râu mới trở lại, đưa tay chỉ chiếc xe, ông ta nói.

-Bên tay phải của chiếc xe là bờ sông, hai người đi tới đó rồi theo bờ dốc mà đi xuống, sẽ thấy chiếc ghe đậu sẵn nơi đó. Nhớ chờ tôi đi xa rồi hãy đi.

Khi cái bóng của ông Ba Râu đã khuất trong màn đêm, tôi dẫn vợ con lần theo vệ đường đến gần chiếc xe, quả thật sau đó là triền dốc thoai thoải. Phía dưới sông một chiếc ghe khá lớn, với hai ngọn đèn bão thắp sáng nơi mũi ghe. Khoảng năm người, vừa đàn ông, vừa đàn bà, đang hì hục chuyền tay nhau những trái thơm từ ghe lên bờ. Tất cả đều im lặng, chú tâm làm việc. Tôi nghĩ thầm, tổ chức đưa đón người vượt biên như thế này quả thật là tuyệt vời, hàng hóa thì cứ từ ghe chuyển lên bờ, người thì cứ từ bờ mà xuống ghe. Vì nghĩ như vậy nên tôi tà tà bồng con gái của tôi đưa xuống ghe. Người đàn bà đang chuyển thơm dừng tay, bà ta nhìn tôi với vẻ mặt đầy ngạc nhiên sửng sốt. Cũng cùng lúc ấy, có có người đập nhẹ lên vai của tôi rồi nói nhỏ.

-Lộn rồi ông nội ơi, ghe của mình ở bên kia chứ không phải ở đây đâu.

Tôi nghe giọng ông Ba Râu nói mà giựt mình toát mồ hôi, vội vàng ôm con quay người đi theo ông ấy gấp. Đi mà không kịp nhìn phản ứng của những người trên ghe chở thơm như thế nào.

Khi gia đình của tôi lên được chiếc ghe tam bản, chun vô cái mui lợp bằng tre ở giữa ghe, tôi đã thấy gia đình Vinh máy nổ ở trong đó rồi. Chiếc ghe nhỏ xíu chỉ chở được bốn người lớn và ba đứa con nít, mà đã chật ních. Ba Râu đứng sau đuôi đẩy nhẹ mái chèo, chiếc ghe từ từ rời bến.

Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm nay là 27 hay 28 âm lịch rồi, chỉ còn một, hai ngày nữa là qua tháng ba, tháng của bà già đi biển. Những ngày cuối tháng của âm lịch, không trăng không sao, bầu trời tối đen như mực, giữa không gian bao la tĩnh mịch, tôi ngồi lặng yên mắt nhìn vào khoảng tối mênh mông, tai nghe tiếng mái chèo khua nước đều đặn. Càng về khuya âm thanh của nó nghe càng lúc càng rõ hơn, thỉnh thoảng lại có tiếng cá quẫy nước trước mũi ghe, làm tăng thêm cái im vắng của đêm dài. Trong bóng đêm dày đặc, tôi bò chầm chậm về phía đuôi ghe, nơi ông Ba đang đứng chèo.

-Ông Ba nè, còn bao lâu nữa mới tới điểm hẹn.

Giọng nói của ông Ba, nghe như là hơi thở của gió sông.

-Còn lâu lắm, ít ra phải chiều mai mới tới.

-Xa dữ vậy sao ông?

-Xa chớ, tính ra phải chèo ròng rã gần một ngày một đêm đó cậu.

Tôi nêu thắc mắc với ông Ba.

-Bộ hổng có cách nào khác, mau hơn hay sao?

-Có chớ, nhưng mà ông Dậu muốn tuyệt đối an toàn nên chọn cách này.

-Như vậy khi lên được tàu lớn, mình bỏ chiếc ghe này phải không?

Vẫn với giọng trầm trầm.

-Tôi đâu có đi, nhiệm vụ của tôi là chở người đến chỗ hẹn, Khi mấy người lên tàu lớn xong xuôi, ông Dậu sẽ trả tiền công cho tôi.

-Như vậy, ông Ba phải chèo ghe thêm một ngày một đêm nữa để trở về.

-Đúng như vậy.

Tôi chắt lưỡi.

-Chèo đi và về suốt mấy ngày đêm như vậy, ông được trả bao nhiêu tiền?

-Hai chỉ.

-Tai sao ông không leo lên tàu lớn đi vượt biên luôn.

Có tiếng thở dài của ông Ba trong đêm vắng.

-Tôi còn có bổn phận lo phụng dưỡng mẹ già. Mẹ của tôi đau yếu quanh năm, nếu tôi bỏ đi, ai lo cho bà. Hai chỉ vàng cho chuyến đưa khách này là một số tiền lớn, đủ cho tôi sửa lại cái mái nhà đã mục nát, còn dư chút đỉnh dùng để lo thuốc thang cho mẹ.

Tôi ngã lưng xuống sàn ghe, nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ mà trong lòng vẫn còn vướng bận chút ưu phiền. Tôi ngủ một giấc ngon lành, cho đến khi trời mờ sáng mới giật mình thức dậy, ông Ba vẫn đứng đó, hai tay đều đặn đưa đẩy mái chèo. Tôi biết ông Ba đã thức nguyên đêm, chèo ghe không nghỉ, vậy mà gương mặt của ông trông vẫn bình thường, không một chút gì gọi là mệt mỏi. Lúc này thì mọi người trong ghe đã bắt đầu thức giấc, Vinh máy nổ múc một thau nhỏ nước sông, cho mọi người rửa mặt.

Ông Ba Râu vừa chèo ghe vừa lên tiếng căn dặn mọi người.

-Khúc sông này còn nhiều ghe xuồng qua lại, mấy người thay phiên nhau mà rửa mặt đừng có bò ra khỏi mui ghe, lát nữa khi đến chỗ nghỉ ngơi, lúc đó ai muốn làm gì thì làm.

Tuy nói vậy mà phải mấy tiếng đồng hồ sau, ghe mới tấp vào một doi đất cây cối um tùm. Ông Ba Râu lấy trong bị ny lông, phát cho mỗi người hai nắm cơm vắt.

-Ở đây rất là an toàn, ít ghe tàu qua lại, mọi người có thể chun ra khỏi mui, ngồi trên ghe ăn cơm. Tôi phải nghỉ một chút cho lại sức, khoảng một giờ nữa mình sẽ tiếp tục đi.

Nói như vậy nhưng mãi cho đến khi mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, ông Ba mới bắt đầu cho ghe di chuyển. Tôi nhìn quanh, dòng sông rộng mênh mông từ bên này bờ qua bờ bên kia có thể hơn một cây số. Đó là do sự ước đoán của tôi mà thôi, còn trên thực tế, sông rộng bao nhiêu tôi không rõ. Ghe đi khá xa bờ, trên sông tàu bè ngược xuôi không nhiều lắm. Khi mà mặt trời bắt đầu lặn ở cuối chân trời, ông Ba chỉ vào một cái cồn to thật to ở giữa sông.

-Mình đã đến điểm hẹn, tối nay khoảng tám giờ tàu lớn sẽ đến. Bây giờ tôi sẽ cho ghe tấp vô cái cù lao đó để nghỉ ngơi, chờ tàu đến rước.

Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, êm đẹp. Mới gần tám giờ, giữa đêm tối mịt mù có tiếng động cơ của máy Yanmar nổ giòn mỗi lúc một gần hơn. Ngày xưa lúc được phóng thích khỏi Tổng trại 8 tù binh, trở về Đà Lạt tôi làm vườn ở Đa Thiện, ngày ngày tưới nước bằng cái máy Yanmar F10 cho nên tôi rất quen thuộc, nghe tiếng nổ của máy là tôi nhận ra ngay.

Giữa đêm đen, tôi thấy ánh đèn pin chớp tắt ba lần. Ông Ba cũng vội bấm đèn ba lần. Vài phút sau, ghe của tôi và tàu đã đến gần nhau. Giọng của Long công tử từ bên tàu hỏi vọng sang.

-Quân với Vinh phải không?

Cả hai đứa tôi đều nói.

-Đúng.

Chiếc tàu do Long công tử lái chạy chậm chậm như ngừng lại, ông Ba chèo ghe cặp sát hông tàu. Con gái của tôi và Cúc được đưa lên trước, sau đó là gia đình của Vinh máy nổ, tôi là người cuối cùng leo lên tàu.

Trên tàu hoàn toàn trống vắng, chỉ có vợ con của Long công tử, tôi đoán vậy vì tôi chưa gặp mặt vợ hắn bao giờ. Sau một lúc chuyện trò, trao đổi tiền bạc với ông Ba, Long công tử cho tàu tách khỏi ghe của ông Ba rồi dọt mau về phía trước.

Tôi đi đến bên Long.

-Sao không thấy ai hết vậy?

Long trả lời tôi.

-Chạy khoảng một giờ nữa, tụi mình sẽ đón thêm hai gia đình, già trẻ lớn bé khoảng mười người, sau đó sẽ là gia đình chủ tàu và tài công gồm có tám người, tổng cộng có tất cả là hai mươi tám người trên chiếc tàu này.

Quá chín giờ, tàu nhận thêm hai gia đình mà chỉ có tám người, gần một giờ sau thêm gia đình ông Hòa chủ tàu.

Vừa gặp mặt Long công tử, chủ tàu đã vội vàng nói.

-Mẹ nó thằng tài công biến đâu mất, tôi đợi nó cả buổi chiều mà không thấy. Giọng của chủ tàu đột nhiên như than thở.

-Khổ một điều là cái hải bàn lại do nó giữ, mới mệt cho mình.

Vinh máy nổ hỏi chủ tàu.

-Không có tài công, không có hải bàn, mình phải làm gì bây giờ?

Ông chủ tàu với nét mặt đầy bối rối.

-Tôi đang muốn điên cái đầu, không biết phải giải quyết như thế nào. Mất cả hai năm tính toán, sắp xếp, chuẩn bị, cuối cùng không đi được chỉ vì một sai lầm nhỏ tý xíu hay sao.

Nhìn Long công tử, chủ tàu nói.

-Đây là cơ hội ngàn năm mới có một, không thể bỏ qua, tụi mình phải đi thôi.

Vinh máy nổ hỏi vặn chủ tàu.

-Ông định làm tài công phải không?

Lắc đầu lia lịa, chủ tàu chỉ Long công tử.

-Ông Dậu lái chứ tôi mà lái cái nổi gì.

Vinh máy nổ nói.

-Nè ông Hòa ơi, ông có nằm mơ hay không? Bắt ông Dậu lái tàu ra khơi vượt đại dương, khác nào ở trên đất liền, có một chiếc xe chở hành khách với ba chục chỗ ngồi, đổ đèo mà không có tài xế. Ông biểu lơ xe phải cầm tay lái, đã vậy ông còn bịt mắt anh lơ xe. Nếu xe xuống hết đèo, mà tai nạn không xảy ra, thì đó phải là một phép lạ.

Chủ tàu phân bua với Vinh máy nổ.

-Trong một chuyến vượt biên chui, công việc quan trọng nhất là đón khách, tám mươi phần trăm thất bại là ở chỗ này. Tối nay công tác đón khách do ông Dậu làm, đã hoàn thành tốt đẹp. Kế tiếp là chuyện, từ đây ra tới biển còn có hai trạm công an, một cái cách cửa biển gần ba mươi cây số, tôi đã cúng cho nó ba cây. Còn trạm công an gần cửa biển, bọn cô hồn sống này đòi bảy cây nữa mới chịu nhắm mắt làm ngơ. Chính bản thân tôi sẽ đứng trước mũi tàu vẫy tay như một ám hiệu, khi tàu của mình đi qua hai trạm công an đó. Vàng thì họ đã lấy rồi, nhưng chuyện cho mình đi hay bắn mình chết, còn tùy vào mệnh trời. Đêm nay nếu tàu của mình không qua cửa ải, anh Vinh có trả lại cho tôi mười lượng vàng, mà tôi đã chi cho công an hay không?

Lúc này Long công tử mới lên tiếng.

-Cãi nhau cho đến sáng cũng không giải quyết được vấn đề, mình phải quyết định ngay lập tức, có đi hay không?

Chủ tàu sau một lúc do dự, ông ta bèn đẩy trách nhiệm cho Long công tử.

-Tất cả mọi việc đều do ông Dậu quyết định.

Long công tử vừa lái tàu vừa nói với giọng ôn tồn.

-Ông Hòa à, trước năm bảy lăm, tôi là trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phan văn Dậu là tên giả.

Tháng ba năm sáu chín, tôi tốt nghiệp Trường Bộ binh Thủ Đức, tình nguyện đi Lực Lượng Đặc Biệt. Cuối năm bảy mươi, binh chủng này giải tán, tôi về binh chủng Biệt Động Quân. Cấp bậc và chức vụ cuối cùng của tôi là, Trung úy đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân. Sở dĩ tôi phải giải thích đầu đuôi rõ ràng như vậy, vì với chức vụ đại đội trưởng, tôi phải chịu trách nhiệm trực tiếp đến mạng sống của hàng trăm binh sĩ dưới quyền. Đại đội của tôi đụng trận với Việt Cộng không biết bao nhiêu lần, trong cảnh bom rơi đạn nổ, cận kề với tử thần, tôi chưa một lần nao núng, chưa một lần cảm thấy lẻ loi đơn độc, vì biết rằng có hàng trăm binh sĩ đang cầm súng chiến đấu bên tôi.

Long công tử bất chợt chỉ vào đám hành khách, rồi mới nói tiếp.

-Hôm nay, trên con tàu này, với khoảng hơn hai chục người, có được mấy người… sống chết với tôi. Tôi thật sự phân vân lưỡng lự. Nhưng mà xét cho cùng, tự do thì phải trả bằng mạng sống của mình mới có được, từ sau năm bảy mươi lăm, đã có hàng triệu người dân Việt Nam, họ thà chết trên biển cả để đổi lấy tự do. Thì tại sao một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như tôi, lại không dám làm. Tôi sẽ lái tàu vượt biển, còn chuyện có đến được bến bờ tự do hay không, còn tùy vào mệnh trời như ông Hòa đã nói.

Vinh máy nổ bắt tay Long công tử.

-Yên chí đi, tôi đứng sau lưng của ông, Tám mươi mốt Biệt Kích Dù cũng từ Lực Lượng Đặc Biệt mà ra. Mình phải đánh một trận cuối cùng cho oai hùng trước khi đầu hàng số mệnh. Nhất định không để phải cúi đầu nhục nhã như tháng tư năm bảy lăm.

Nhìn thẳng vào mắt Long công tử, Vinh máy nổ với nụ cười đầy bí mật.

-Tôi có một món quà đặc biệt tặng ông.

Nói xong, Vinh máy nổ lục trong túi lấy ra một cái địa bàn của lính bộ binh Việt Nam Cộng Hòa.

-Cái địa bàn này nó theo tôi từ khi tôi về Tám mươi mốt Biệt Kích Dù. Sau bảy lăm, tôi giữ nó làm kỷ niệm, giấu kỹ cho đến bây giờ.

Vinh máy nổ và Long công tử nhìn vào cái địa bàn, rồi cả hai cùng cười to. Giữa đêm khuya vắng lặng, tiếng cười đầy sảng khoái của họ vang vang trên dòng sông, nghe như cả một thời chinh chiến kiêu hùng của ngày xa xưa cũ vẫn còn hiện diện đâu đây.

Dứt tiếng cười Long công tử nói.

-Anh Vinh lo phần máy móc, nhắc nhở tôi phải làm gì, chạy như thế nào. Tôi biết cái máy Yanmar F10 này quá yếu, quá cũ, cho một chuyến vượt biên dài ngày trên biển.

Quay sang tôi.

-Quân, mày lo phần kiểm soát và phân phối thực phẩm, quan trọng nhất là nước uống, mình chỉ có một phuy nước sông và một thùng nhựa chứa hai mươi lít nước mà thôi. Chừng đó nước ngọt cho hơn hai chục người, chính xác là hai mươi ba người, phải không? Tất cả đều do mày định liệu.

Trong đêm khuya tĩnh mịch tiếng máy tàu nổ đều đặn, đưa con tàu hướng ra cửa biển.

Khi mà ông Hòa đứng trước mũi tàu, vẫy tay lần thứ hai, trời cũng bắt đầu sáng, mặt trời ló dạng ở phương đông, chiếu những tia nắng màu hồng rực rỡ cả một góc trời, tôi biết tàu đang qua cửa biển. Đột nhiên tôi nhớ đến câu ca dao được truyền tụng trong dân gian.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù.
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Ở đây tôi chỉ muốn nói đến nghĩa đen của câu ca dao mà thôi, Thần Phù là cửa biển thuộc tỉnh Ninh Bình, Miền Bắc Việt Nam. Ngày xưa hàng chục thế kỷ trước, từ đồng bằng sông Hồng vượt biển vào Nam, khi qua đây, người ta sợ hãi những đợt sóng to gió lớn nơi cửa biển sẽ làm chìm tàu. Hôm nay chúng tôi vượt biển trên một con tàu nhỏ, ngoài chuyện dông tố bão bùng còn phải đối diện với nạn bắt bớ, giam cầm, tù đày của công an Cộng Sản Việt Nam, rồi nạn cướp của, hiếp dâm phụ nữ của hải tặc Thái Lan, cả hai đều tàn bạo man rợ như nhau. Nếu so ra, ở vào thế kỷ thứ hai mươi này vượt biển lánh nạn Cộng Sản, còn thập phần nguy hiểm hơn sóng gió nơi cửa biển Thần Phù cổ xưa.

Kiến thức về địa bàn và phương hướng trong Trường Bộ binh Thủ Đức, kinh nghiệm nơi Trường Võ Bị Đà Lạt, cho tôi hiểu rõ về phương hướng và tọa độ. Mặt trời đứng ngay trước mũi của con tàu, tôi biết chúng tôi đang đi đúng hướng

Tôi ngoảnh nhìn hai bên bờ sông, mù khơi xa tít là đất liền, cửa biển rộng mênh mông ước chừng vài cây số. Rời bỏ quê cha đất tổ, ngậm ngùi nói câu giã từ Việt Nam, giã từ nơi đã cưu mang tôi hơn 30 năm, vui buồn khổ đau lẩn lộn. Và cũng vui mừng hớn hở nói lên mấy chữ “Vĩnh biệt nhà tù hình chữ S”.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 24 Mar 2025

Chương 42
Bà già đi biển

Những ngày thường trong tuần, vì phải đạp xích lô ca đêm cho nên tôi ngủ đến 10 giờ sáng mới thức dậy. Đang ngon giấc tôi chợt nghe tiếng dộng cửa ầm ầm. Sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, khi nghe tiếng đập cửa mấy ai mà không sợ, tôi lật đật chạy ra, trong lúc tiếng đập cửa mỗi lúc nghe một gấp rút hơn.

-Anh Quân có nhà không? Vinh máy nổ đây.

Khi nghe giọng nói của Vinh, tim tôi mới đập bình thường trở lại. Tôi la to.

-Đang tới đây, có gì mà gấp quá vậy anh bạn.

Khi cánh cửa vừa hé mở, Vinh máy nổ đã lẹ làng nghiêng mình luồn vô nhà, kéo theo một gã đàn ông. Nhìn hắn ta tôi sửng sờ chết lặng, đưa tay giụi mắt, không tin vào đôi mắt của mình trong khi toàn thân rúng động. Cuối cùng tôi la to với tất cả sự sung sướng tràn ngập trong lòng.

-Long công tử, có thật là mày không? Mấy năm trước chia tay với mày trong tù, tao tưởng tụi mình sẽ vĩnh viễn xa nhau. Nào ngờ hôm nay lại thêm một lần nữa hai đứa mình lại gặp gỡ, tạo hóa quả thật là kỳ diệu.

Với nụ cười đầy vui sướng hiện ra trên mặt, Long công tử ôm chầm lấy tôi, hai tay siết chặt.

-Mẹ nó, sáng nay đang ngồi uống cà phê ở chợ trời Nguyễn Thông với Vinh máy nổ, nghe nó kể chuyện về một gia đình có ba người xin đi vượt biên với điều kiện qua Mỹ sẽ trả tiền sau. Tên của hắn là Nguyễn trọng Quân trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt. Vừa nghe tới đó tao giật thót cả người và tin chắc là mày.

Chưa hết vui mừng tôi lắp bắp hỏi.

-Tại sao mày dám quả quyết như vậy?

Long công tử với giọng đầy tự tin.

-Cái tên của mày hơi khác lạ, rất khó trùng, hơn nữa lại phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt, thì còn ai vào đây nữa.

Đến lúc này Vinh máy nổ mới nói với tôi.

-Thì ra hai người là bạn thân, hèn gì khi mới nghe tôi nói đến tên Nguyễn trọng Quân, ông Dậu bỗng như bị điện giựt, hấp ta hấp tấp giục tôi chạy xe đến đây gấp. Trên đường đi tôi phóng xe như mới ăn cướp nhà băng ra, vậy mà ông Dậu cứ la là sao chậm quá vậy.

Long công tử nói mà như nhắc nhở Vinh máy nổ.

-Bây giờ anh về lo việc máy móc đi, tôi có vài chuyện phải nói với thằng này. Tối nay tôi sẽ gặp lại anh, mình cần giải quyết những khó khăn đang gặp phải.

Đợi cho Vinh máy nổ đã đi xa, Long công tử mới hỏi tôi.

-Vợ con mày đâu rồi? Tao muốn thăm, muốn nhìn tận mắt vợ mày, người đàn bà tuyệt vời đã chịu nhiều gian khổ, hy sinh giúp tụi mình vượt qua những ngày đói rách, tuyệt vọng trong trại tù cải tạo.

Tôi nhìn Long công tử.

-Trông mày bây giờ đen đúa, chai lì cứ như là một tay giang hồ hảo hán thứ thiệt. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ vẫn còn nét hào hoa nho nhã của ngày xưa.

Long công tử cười.

-Mày đừng có đánh trống lảng, đưa tao đi thăm vợ con mày ngay đi.

Tôi càu nhàu với Long công tử.

-Tao vừa thức dậy, cho tao vài phút đánh răng rửa mặt.

Long công tử vừa mồi điếu thuốc vừa nói.

-Lẹ lẹ lên.

-Mày làm gì mà hối như chạy giặc vậy? Vợ con tao đang ở ngoài đầu hẻm chứ có xa xôi gì đâu. Cho tao năm phút thôi.

Miệng thì nói tay chụp cái bàn chải, đánh răng qua loa cho có, sau đó mới thong thả, thoải mái trút cái bầu tâm sự đã mang nặng suốt đêm qua. Xong xuôi mọi việc, trong người nhẹ nhàng, tôi cùng Long công tử thả bộ dọc theo con hẻm ra đầu đường. Vừa đi tôi vừa hỏi Long công tử.

-Nói cho tao biết, mày trốn trại như thế nào? Bây giờ sống ra sao? Cha mẹ vợ con ở đâu? Có định vượt biên hay không?

Im lặng một lúc thật lâu, Long công tử chửi thề.

-Mẹ nó, mày tưởng tao có ba đầu sáu tay chắc, làm sao tao có thể trả lời một lúc ba, bốn câu hỏi của mày. Hỏi từ từ từng câu một đi.

-Tao nóng lòng quá, muốn biết mọi chuyện xảy ra như thế nào với mày, chắc cũng hơn ba năm rồi, kể từ lúc tao với mày xa nhau cho đến giờ. Thôi thì mày kể chuyện trốn trại trước đi.

Long công tử tươi cười.

-Chuyện tao trốn trại thì có gì đâu mà nói, vì không một chút khó khăn, nguy hiểm. Hồi còn ở trong trại tù, mỗi lần đi lao động bên ngoài là tao dành nhiều thì giờ dò xét mấy thằng lính canh, tìm hiểu thói quen của tụi nó, quan sát thật kỹ mọi địa hình nơi mình lao động. Sau vài tháng, khi đã biết rõ mọi sự việc, một buổi trưa nọ thừa lúc mọi người lo ăn trưa, cải thiện linh tinh, mấy thằng lính gác nằm nghỉ dưới gốc cây khá xa, tầm quan sát hạn hẹp, tao biến vô khu rừng đầy cỏ cây rậm rạp, thay bộ đồ tương đối còn sạch sẽ của mày cho, rồi chuồn thẳng ra quốc lộ, đón xe ôm dông lẹ. Chạy càng xa trại tù bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Long công tử chợt ngưng kể, hắn vỗ vai tôi.

-Nhờ một trăm đồng tiền mới của mày cho, giá trị của nó khá lớn vào thời bấy giờ, dư sức cho tao xoay xở, trốn tránh qua các trạm kiểm soát của công an để về đến Sài Gòn.

Thấy đã gần chỗ Cúc ngồi bán hàng, tôi ngắt lời Long công tử.

-Hôm nay tao sẽ đãi mày một chầu ăn sáng thật đặc biệt, ngon nhất vùng Tân Định này.

Long công tử nói.

-Giữa thời buổi đói rách đến xanh mặt, ăn thứ gì mà không ngon.

Tôi hỏi Long.

-Mày có ăn bánh căn bao giờ chưa?

Long công tử nhíu mày như đang suy nghĩ.

-Có một lần, nó chẳng ra cái con mẹ gì hết, nướng cục bột gạo lên nhai, cũng giống như là ăn bánh căn, có gì khác nhau đâu mà ngon với dở.

Tôi cự với Long.

-Đó là chuyện hồi xưa, lúc mày còn là Long công tử, lái xe hơi thể thao, ăn trưa ở Hoàng Gia, chiều đến ghé nhà hàng Đồng Khánh trong Chợ Lớn ăn tối. Còn bây giờ cả nước đói rả họng, khoai lang không có mà ăn, củ mì không có mà độn, mày thử ăn bánh căn làm bằng bột gạo nguyên chất, sẽ biết đời là gì ngay. Nó ngon không thua gì thức ăn ở nhà hàng Thanh Bạch, nơi tụi mình ăn tối ngày xưa.

Đến gần đầu con hẻm, quanh lò bánh căn của Cúc chỉ có ba đứa nhỏ khoảng chừng năm, sáu tuổi đang ngồi ăn. Tôi và Long công tử ngồi xuống trên hai cái đòn nhỏ, bên cạnh mấy đứa bé.

Tôi nói với Cúc.

-Cho ông khách này bốn cặp, giới thiệu với em đây là Long công tử, bạn tù mà anh đã kể cho em nghe nhiều lần.

Quay nhìn Long, tôi nói.

-Còn đây là Cúc, vợ tao.

Long công tử bất chợt nổi giận, hắn cau mày.

-Mày cũng vừa phải thôi, tại sao mày không nói cho tao biết sớm hơn là vợ mày đang bán bánh căn ở đây.

Dứt lời hắn quay sang Cúc.

-Xin lỗi chị, cái thằng Quân này hơi hồ đồ khiến tôi quá bất ngờ. Hôm nay tôi định đến gặp Quân, sau đó là thăm chị và cháu, trong cùng tận đáy lòng, tôi muốn nói một lời cảm ơn muộn màng với chị. Tôi còn sống cho đến ngày hôm nay, là nhờ sự chăm sóc hết lòng của thằng Quân bắp cải này. Khi còn ở trong tù, nhờ vào thực phẩm thăm nuôi và số tiền chị gởi cho Quân, có bao nhiêu hầu như nó đem chia đôi cho hai đứa. Nhờ vào số tiền đó mà khi trốn thoát khỏi trại tù, tôi đi về đến Sài Gòn một cách dễ dàng. Hôm nay lần đầu tiên gặp chị, gặp người ơn, tôi thật sự xúc động khó nói nên lời. Chị và Quân bắp cải là hai người mà tôi vẫn thường nhắc đến, khi kể chuyện cho vợ tôi nghe về những ngày tháng tôi bị đày ải trong tù.

Cúc nhìn Long công tử.

-Anh Long à, tiền bạc có đó rồi mất đó, chỉ tình thương yêu, quý mến, giúp đỡ lẫn nhau, tình nghĩa đó mới còn mãi với thời gian. Em có nghe nói, anh là bạn thân của chồng em cả chục năm về trước, lúc hai người còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức. Từ giờ anh cứ gọi em là em, em nhỏ tuổi hơn anh nhiều mà.

Long công tử giải thích.

-Văn hóa Việt Nam, tôi phải gọi vợ của bạn là chị, chữ chị ở đây không có nghĩa là bà chị mà nó mang ý kính trọng.

Cúc tươi cười, đưa một cái dĩa có mấy cái bánh căn tới trước mặt Long.

-Cảm ơn anh, mời anh ăn bánh đi, để nguội mất ngon.

Đến lúc này tôi mới chen vô.

-Không biết tao đã nói cho mày nghe chưa, ba vợ của tao là ông Nguyễn văn Bảy, trùm nhà cửa ở Sài Gòn, vợ tao là con gái của ổng, con một.

Long công tử nói nhỏ.

-Tao có nghe danh ông ấy, biết đến ổng như là một triệu phú tiền muôn bạc vạn của Sài Gòn. Vì vậy tao hơi thắc mắc là tại sao mà vợ chồng mày phải trôi giạt đến con hẻm này, sống trong cảnh thanh bần, nói đúng hơn là phải sống nghèo đói như vậy.

Tôi chỉ tay về phía Cúc.

-Mày hỏi vợ tao thì rõ hơn.

Cúc, tay xúc cái bánh bỏ ra dĩa, miệng kể với Long công tử, kể rõ đầu đuôi ngọn ngành.

-Ngày một tháng năm, năm bảy lăm, khi vợ chồng tôi bị đuổi ra khỏi nhà, ngủ vỉa hè rồi đi về Đà Lạt trên chiếc xe chở rau, anh Quân đi học tập hơn một năm, được thả về với gia đình. Sau đó trong lần đánh tư sản hai hay ba gì đó, bao nhiêu tiền bạc của cải của tôi bị cái lũ đầu trâu mặt ngựa cướp sạch sẽ, vơ vét không chừa một chút gì.

Cúc nói với nét mặt buồn buồn.

-Anh cũng hiểu giùm cho tôi, vì quá uất ức mà không biết phải kêu với ai, nên tôi dùng chữ có hơi nặng nề để chỉ bọn người nhân danh là giải phóng, mà thực chất thì chẳng khác gì bọn cướp cạn.

Long công tử lên tiếng.

-Tại chị hiền quá nên mới nói như vậy. Gặp phải tay tôi, nếu có kẹo đồng tôi tặng cho tụi nó mỗi đứa vài chục viên mới hả dạ.

Vừa nói xong Long công tử lại chắt lưỡi than.

-Người ngoài cuộc thì nói vậy, chứ thực ra nếu lâm vào hoàn cảnh của chị, tôi cũng phải đành thúc thủ mà thôi. Nói đâu xa, hồi còn ở trong trại tù cải tạo Cà Tót, tôi bị sốt rét, bị bỏ đói đến gần chết, cũng đành bó tay chứ làm gì được. Hôm nay hoàn cảnh của chị và Quân tuy có bi đát, nhưng vẫn còn may mắn hơn tôi nhiều. Năm bảy mươi sáu, tôi trốn khỏi trại tù Sông Mao về Sài Gòn, sống mà phải giấu kín lý lịch, luồn lách tránh né những đợt càn quét của công an Việt Cộng, vừa kín đáo dò la tin tức cha mẹ và vợ con. Suốt mấy tháng trời tìm kiếm, tôi mới biết được những chuyện kinh khủng đã xảy ra cho gia đình tôi. Mấy cái biệt thự của ba tôi đã bị Việt Cộng tịch thu, cái thì làm cửa hàng mậu dịch quốc doanh, cái dùng nuôi heo, cái làm ty ngoại thương. Nguyên một cái kho hàng bên Khánh Hội của ba tôi, chứa toàn là động cơ nổ dùng cho nông và ngư nghiệp, vừa mới nhập cảng về đầu năm bảy lăm, bị Việt Cộng đánh tư sản mại bản đợt một, họ chở đi sạch sẽ. Sau đó họ cho ba má của tôi ở trong một cái chòi, ngay góc sân căn biệt thự mà ba má tôi đang ở.

Cúc nhăn mặt hỏi Long công tử.

-Một cái chòi? Như vậy mà ba má của anh sống được sao?

Long công tử cười.

-Tháng tư năm bảy mươi lăm, chị và thằng Quân bắp cải bị đuổi khỏi nhà, từng ngủ vĩa hè, ba má tôi được cho sống trong cái chòi kể cũng là khá rồi. Chị hãy từ từ, tôi sẽ kể tiếp cho chị nghe. Sau đợt đánh tư sản mại bản, ba tôi buồn rầu sanh bịnh rồi mất, mẹ tôi vì có sẵn bịnh từ trước, lại không có người chăm sóc nên cũng chết theo ba tôi. Đó là theo lời kể của bà bán nước mía ở góc đường gần nhà tôi ngày xưa. Nhờ có có cơ hội bằng vàng đưa đến giúp mình tìm hiểu về gia đình, tôi làm như vô tình hỏi bà ta “Dì có biết xác của họ được chôn ở đâu không?” Bà bán nước mía trả lời “Dưới cái chế độ này, người ta chỉ cần cướp lấy tài sản của người giàu, còn ai chết, chôn ở đâu không phải là chuyện họ phải lo”. Tôi hỏi tiếp “Còn con cháu thì sao?” Bà bán nước mía trả lời “Nghe nói có cô con dâu, thì đã dẫn con lên Ban mê Thuột tìm mẹ ruột thất lạc ở trên đó. Mà cậu hỏi gì mà kỹ quá vậy?” Nói xong bà bán nước mía nhìn tôi chăm chú “Tội nghiệp, ông bà ấy có một người con đi lính Ngụy mang lon trung úy, biệt tích từ tháng tư năm bảy lăm. Ông trung úy đó có phải là cậu không?” Có tật giật mình, hồn vía lên mây, tôi kêu thêm một ly nước mía rồi nói với bà ta “Nếu là trung úy Ngụy, giờ này tôi đang ở trong tù cải tạo nơi rừng sâu núi thẳm, làm gì có thể ngồi đây uống nước mía, nghe dì nói chuyện.”

Cúc hỏi với giọng đầy lo âu.

-Không giấy tờ làm sao anh sống ở Sài Gòn, trong lúc bọn công an ngày càng nhiều, càng kiểm soát gắt gao hơn.

Long công tử với giọng nói đều đều.

-Ban ngày tôi lang thang ở chợ trời Nguyễn Thông, chợ trời là nơi xô bồ phức tạp, đủ mọi thành phần trong xã hội, đa phần là Ngụy nên họ thường hay giúp đỡ lẫn nhau, trong khi công an chỉ lo tịch thu tang vật để kiếm lợi, không để ý gì đến chuyện khác. Ban đêm tôi mò đến Trường đua Phú Thọ, nơi có mấy cái ống cống đúc bằng bê tông thời Việt Nam Cộng Hòa còn bỏ lại, chun vô ngủ.

Cúc hỏi Long công tử.

-Vợ con của anh đang ở đâu? Anh có tin tức gì về họ không?

-Tôi lúc đó như một người mù, ngay cả mồ mả của cha mẹ ở đâu, tôi cũng không biết, thì làm sao tôi biết vợ con ở đâu. Hỏi ai bây giờ? Sau cả năm sống chui rúc trong ống cống, gầm cầu xó chợ ở Sài Gòn, nhờ có năm trăm đô la mà Quân cho, khi túng đói tôi đổi một trăm đô thành vàng, đô la lúc đó có giá trị cao nhờ những người vượt biên muốn có tiền đô giấu đem theo. Một trăm đô đổi được năm chỉ vàng, có khi được sáu chỉ, vì vàng trong dân chúng còn có nhiều nhưng đô la thì hiếm, và cũng tùy người mua cần gấp hay không. Thị trường vàng và đô la tùy thuộc vào nhu cầu của người vượt biên, chứ không căn cứ nhiều vào thị trường của vàng và đô la trên thế giới. Nhờ những tờ đô la Quân bắp cải cho, tôi sống tương đối dễ dàng. Sau đó cũng nhờ môi giới ở chợ trời, tôi lo lót cho công an mua giấy tờ, thay tên đổi họ, rồi xin được một chân gác kho cho một hợp tác xã. Nói là xin chứ thật ra tôi phải mua cái chỗ làm này hết hai chỉ vàng. Đó là một số tiền lớn nhưng với tôi thì lại quá rẻ vì tôi sẽ có công ăn việc làm hợp pháp, và điều quan trọng nhất là có chỗ ngủ ban đêm. Coi kho thì đương nhiên phải ngủ trong kho rồi. Giã từ đời sống lang thang đây đó tối đến phải ngủ trong ống cống, tôi có cuộc sống công khai hợp pháp, không còn sợ công an xét hỏi. Nhờ có giấy tờ nghề nghiệp đàng hoàng tôi đi làm chứng minh nhân dân, có chụp hình lăn tay đầy đủ. Tôi bây giờ là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chết tiệt. Cái tên Long công tử, trung úy Lực Lượng Đặc Biệt, tù cải tạo trốn trại được tôi khai tử từ lúc ấy.

Cúc thắc mắc hỏi.

-Anh không sợ công an phát hiện ra, anh là sĩ quan Ngụy hay sao?

-Chị khỏi lo, lúc tôi ở tù bộ máy hành chánh của Việt Cộng còn thiếu sót nhiều, nói đúng hơn là họ không có đủ phương tiện để kiểm soát, chỉ căn cứ vào lời khai của sĩ quan Ngụy, không chụp hình không dấu tay, làm sao mà truy xét.

Móc trong túi tấm thẻ chứng minh nhân dân, Long công tử đưa cho Cúc coi rồi nói.

-Đây là lá bùa hộ mạng hợp pháp của tôi. Tôi có tên mới là Phan văn Dậu, dựa theo năm sinh của tôi. Một cái tên nghe đậm chất quê mùa, dân dã, bởi vì tôi đang đóng vai một anh nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long mà.

Đang nói chuyện Long công tử im bặt, khi thấy hai người khách ngồi xuống ăn bánh.

Một trong hai người nói.

-Cho tôi tám cặp, nhiều mỡ hành.

Mấy đứa nhỏ cũng vừa ăn xong, trả tiền cho Cúc rồi dẫn nhau đi.

Nhìn theo lũ nhỏ, Cúc nói với hai người khách mà như là giải thích.

-Ba đứa nhỏ chỉ có một đồng đủ mua bốn cặp bánh. Khi tụi nhỏ ăn xong, nhìn đôi mắt với cái miệng của tụi nó thấy vẫn còn muốn ăn thêm, thương quá tôi cho thêm ba đứa bốn cặp nữa, tổng cộng là tám cặp tất cả.

Hai người khách cười đùa.

-Hai đứa tui ăn tám cặp, vậy thì chút nữa cũng chỉ trả một đồng thôi. Phải không?

-Dạ không, tám cặp phải trả hai đồng, một đồng thì không đủ tiền mua gạo.

Long công tử đứng lên, nói với Cúc.

-Tôi và Quân ngồi ở quán cà phê bên kia đường, lát nữa chị muốn mua gạo với giá rẻ không? Qua gặp tôi bên quán đó.

Trên đường đi đến quán cà phê, tôi hỏi Long công tử.

-Mày đi buôn gạo hồi nào vậy?

Long công tử cười sặc sụa, hắn cười mà nước mắt muốn trào ra.

-Mày đi lính cũng được bảy năm, học hành cũng tạm được, tù cải tạo cũng từng trải qua, vậy mà cho tới giờ đôi khi mày vẫn còn ngây ngô, ngớ nga ngớ ngẩn. Tội nghiệp cho sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thấy người lạ tao không muốn nói chuyện, nên ngầm báo cho vợ mày biết là tụi mình đi uống cà phê gần đây thôi, chớ có buôn gạo bán cơm gì đâu.

Quán vắng khách tôi và Long chọn một cái bàn nơi góc, loại quán cóc như thế này gần đây xuất hiện khá nhiều ở Sài Gòn.

Long công tử hỏi tôi.

-Mấy giờ vợ mày nghỉ bán?

-Hết bột sẽ nghỉ, thường thì vào khoảng mười một giờ trưa.

-Tao có một chuyện rất quan trọng, cần bàn với vợ chồng mày. Trưa nay tao ăn cơm ở nhà mày, rồi nói chuyện luôn được không?

Tôi gật đầu, nói.

-Được quá đi chớ, mày không nói tao cũng bắt mày phải ăn cơm với vợ chồng tao. Mày có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, vợ chồng tao cũng vậy, không có gì phải lo sợ công an hay hàng xóm dòm ngó. Bây giờ nói tiếp cho tao nghe chuyện của mày đi.

Long công tử ngồi dựa lưng vô vách tường, hai tay đan vào nhau rồi vòng ra sau đầu.

-Khoảng hơn một năm trước đây, lúc tao còn làm cái công việc giữ kho, một ngày nọ có một người đàn ông đến gặp tao gợi chuyện, rồi tự giới thiệu mình tên là Hà văn Hòa. Ông này muốn tao bỏ nghề gác kho, về làm việc lái tàu chuyên chở hàng hóa trên sông cho ông. Công việc này không có gì là khó nhọc, lương bổng lại cao hơn gác kho khá nhiều. Quá sức ngạc nhiên tao hỏi ông ta, tại sao lại là tao, một thằng bước chân xuống tàu là say sóng, nói gì đến chuyện lái. Ông ấy nói là cần một người lanh lẹ, tháo vát và nhất là trọng chữ tín. Tao là nhân tuyển thích hợp nhất vì ông ta đã dò xét suốt thời gian tao làm việc coi kho. Không ngờ mình đã bị người ta bí mật theo dõi mà không biết. Có tật giật mình, tao tiếp tục chuyện trò với ông Hòa mà mục đích là dò hỏi, tìm hiểu nguyên nhân đầu đuôi mọi chuyện. Sau đó mới biết được, lý do đơn giản là vì suốt thời gian tao coi kho, của cải vật chất bên trong không mất mát bất cứ một thứ gì cho dù là cây kim sợi chỉ. Từ đó ông Hòa suy ra tao là một thằng có tính tình ngay thẳng, không tham lam. Ông muốn mướn tao, chuyện chỉ có vậy. Biết rõ nguyên nhân, tao vui vẻ nhận công việc mới. Sau vài tháng thực tập, tao thực thụ lái con tàu chạy trên sông, cho đến bây giờ. Chỗ này tao muốn giải thích thêm chút xíu cho mày hiểu, người Việt Nam mình thường dùng chữ, tàu, ghe, thuyền, mà không chịu phân biệt rõ ràng. Tao cũng vậy, dùng chữ tàu để chỉ chiếc ghe tao đang lái.

Tôi hỏi Long công tử.

-Còn vợ con mày ra sao? Đó mới là chuyện tao muốn biết.

-Mày hỏi vợ con tao hả? Từ ngày trốn trại về, sống chui rúc như chuột, cho đến khi chạy được giấy tờ hợp lệ cũng hơn một năm, sau đó lại thêm một năm làm nghề gác kho, rồi chuyển qua lái tàu. Khi mà mọi việc đã ổn định, lúc bấy giờ tao mới đi lên Ban Mê Thuột tìm vợ con. Tao đã vạch sẵn kế hoạch trong đầu, nếu vì một lý do nào đó vợ con tao đã chết hoặc thấy mình không còn chút hy vọng nào, tao sẽ vô rừng tìm phe mình, nếu không gặp nữa, sẵn đó sẽ băng rừng qua Thái Lan luôn. Tính toán là như vậy, nhưng thực ra đó là một chuyến đi tuy có gian nan vất vả, nhưng lại mang đến cho tao một kết quả tuyệt vời.

Long công tử nghỉ một lúc, uống một hớp cà phê, rồi tiếp tục câu chuyện.

-Chuyến đi bắt đầu từ Sài Gòn, khi xe đến Phan Thiết, tao đã nhớ đến mày rồi, nhớ trại tù Sông Mao với cái hàng rào vỉ sắt PSP, không biết mày còn bị nhốt trong đó hay không, hay là đã bị đưa đi trại tù khác rồi. Nhớ để mà nhớ chứ thực ra tao biết mình hoàn toàn bất lực, không làm gì được hết. Mặc dù có giấy tờ đầy đủ nhưng khi xe chạy ngang qua Sông Mao, tao vẫn thấy hồi hộp trong lòng. Nhìn về bên trái của quốc lộ nơi có trại tù, tao cầu mong cho mày được mạnh khỏe, không tật bệnh, sống để chờ ngày về với vợ con.

Long công tử với chút ngập ngừng ra mặt, hỏi tôi.

-Ngày đó khi tao trốn trại, mày có bị tụi Việt Cộng điều tra hay đánh đập gì không?

Tôi cười thoải mái.

-Tụi nó dẫn độ tao lên ban chỉ huy trại để làm việc, điều tra về mày, rồi dần cho tao một trận nên thân, ê ẩm cả người.

Sẵn trớn tôi kể cho Long công tử nghe chuyện khi bị đánh, tôi khai gian có ông cậu là Bí thư tỉnh ủy của tỉnh Lâm Đồng. Nhờ vậy mà mấy tháng sau đó, tôi được phóng thích.

Trợn tròn đôi mắt biểu lộ sự ngạc nhiên tột cùng, Long công tử lắc đầu.

-Không thể có chuyện như vậy xảy ra được, đâu phải cứ khai có thân nhân theo Việt Cộng là được cho về sớm, tao ngờ rằng còn có chuyện gì khúc mắt, lẫn khuất bên trong. Khi thả một thằng tù, tụi Việt Cộng phải điều tra cho người về địa phương xác nhận, tìm hiểu.

Tôi đồng ý với Long công tử.

-Mày nói đúng.

Sau đó tôi kể tiếp tất cả những tình tiết chi ly nhỏ nhặt, trong việc tôi được phóng thích.

Nghe xong, Long công tử với vẻ thoải mái.

-Phải như vậy mới được.

Tôi uống một ngụm cà phê có màu nâu đen, không mùi không vị.

-Chuyện của tao mày đã biết rồi, nói cho tao biết mày đi Ban Mê Thuột tìm vợ con như thế nào?

Long công tử đưa tay gãi đầu.

-Có nhiều chuyện muốn nói quá, nên đầu đuôi lẫn lộn. À…như thế này. Đến Phan Rang tao ngủ lại một đêm ở đó, sáng hôm sau lên đường đi Nha Trang, sau đó là Dục Mỹ, đèo Phượng Hoàng rồi Khánh Dương, toàn là những địa danh của một cuộc chiến bi hùng, một cuộc rút quân bi thảm. Nhìn cảnh cũ, nhớ chuyện xưa mà buồn đến đứt ruột, cuối cùng tao đến Ban Mê Thuột vào một buổi chiều mưa bay giăng mắc khắp phố phường. Ban Mê Thuột một thời của gió bụi mưa mùa, buồn muôn thuở, đang chìm trong hoang lạnh cô đơn, lạnh như tâm hồn tao lúc bấy giờ. Tao mò đến nhà của má vợ tao, chỉ còn thấy một căn nhà xiêu vẹo đổ nát, không cửa, không mái và dĩ nhiên không có một ai ở bên trong. Dò hỏi những người sống quanh đó, tao biết được cả gia đình gồm có vợ con của tao và má vợ, đã bị đưa đi khai khẩn đất hoang đâu tận Ban Dong, gần biên giới Việt Miên.

Tôi góp ý mà như muốn chia sẻ khó khăn với Long công tử.

-Ngày xưa Tần Thủy Hoàng xây Vạn lý trường thành, có điển tích nàng Mạnh Khương vạn lý tầm phu. Ngày nay mày đi tìm vợ coi bộ cũng gian nan không khác gì mấy.

Long công tử nói.

-Có khác mà mày không để ý, cả trăm ngàn sĩ quan Ngụy cùng với công chức, cảnh sát, bị lùa vô trại cải tạo không có ngày về. Dân chúng thì, người giàu bị gắn cho cái nhãn tư sản mại bản, bị tịch thu gia sản, đày đi vùng kinh tế mới. Người nghèo bị bịnh hoạn như má vợ tao thì bị đưa đi đến những vùng rừng sâu nước độc gọi là khai khẩn đất hoang. Như vậy những căn nhà sang trọng, đầy đủ tiện nghi ở thành phố không lẽ bỏ hoang, không nói chắc mày cũng thừa biết chủ nhân mới của những căn nhà đó là ai rồi. Cá nhân tao nếu không trốn trại, vẫn còn ở trong tù thì ai sẽ là người lo cho vợ con tao? Cả trăm ngàn người tù cải tạo, vợ con của họ đều chịu cảnh khổ đau nghiệt ngã, nhiều trường hợp còn cay đắng gấp ngàn lần mà vợ tao phải chịu. Ngày xưa chỉ có một nàng Mạnh Khương tìm chồng, ngày nay một trăm ngàn vợ tù cải tạo, lặn lội tìm chồng đâu tận Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phú… khác nhau là ở chỗ đó.

Long công tử hớp một ngụm cà phê rồi nói tiếp.

-Đêm đó khi trời đã tối mịt, tao đi đến bến xe gần cây số ba, trình giấy tờ cho công an đàng hoàng, xin ngủ ở trạm bán vé xe đò.

Tôi hỏi Long công tử.

-Tại sao mày không thuê phòng trọ? Bộ không có tiền hay sao?

-Lỡ đóng vai một ông gác kho nghèo nàn, một thằng lái tàu mướn thì phải diễn cho trọn vẹn vai trò. Hơn nữa ngủ bờ ngủ bụi, ngủ ống cống cả năm trường tao còn chưa sợ, thì sá gì dăm ba tuần lễ lang thang vạn lý tầm thê. Sáng hôm sau tao đi Ban Dong, suốt mấy ngày ở đó lặn lội khắp rừng sâu núi thẳm, dò hỏi tin tức của Hà và con. Hoàn toàn bặt âm vô tín, bóng chim tăm cá biết đâu mà tìm. Còn tin tức quân phục quốc của phe mình cũng hoàn toàn mù mịt trong mây. Tao trở lại Ban Mê Thuột, đêm nằm thao thức nhớ vợ thương con mà lòng đau quằn quặn. Không chịu đầu hàng nghịch cảnh, tao lại dò tìm ở khu vực chung quanh đồn điền của ba tao.

Long công tử bất ngờ hỏi tôi.

-Mày có biết tại sao tao không dám công khai đến đồn điền, để hỏi thăm tin tức của vợ tao không? Bởi vì hầu hết công nhân ở đồn điền đều biết tên, biết mặt tao trong khi giấy tờ tao mang trên người đều có tên là Phan văn Dậu. Nếu để bại lộ thân thế, tao sẽ bị tù rục xương, cũng có thể bị Việt Cộng cho dựa cột như chơi. Sau một tuần giấu mặt, khổ công dò hỏi, tao biết được một chi tiết khá quan trọng, vợ con tao đang ở nhà ông cậu vợ, căn nhà tranh vách đất ở gần cây cầu Mười bốn trên dòng sông Serepok. Hồi còn ở trại tù Sông Mao, tao có kể cho mày nghe chuyện tao và vợ tao đi câu cá ở đó. Mày còn nhớ không?

Tôi lẹ làng trả lời.

-Nhớ quá đi chớ, nhớ luôn lúc đó mày còn đang gù vợ mày mà.

Long công tử khen.

-Mày có trí nhớ khá tốt, viết hồi ký được đó. Sau bao ngày gian lao khổ nhọc tìm kiếm, cuối cùng tao tin rằng mình đã thấy được tia sáng cuối đường hầm. Từ Ban Mê Thuột quá giang một chiếc xe bò chở khoai mì, tao xuống xe bên kia cầu Mười bốn trong một buổi chiều mây xám đầy trời, mưa bụi bay lất phất như muốn che lấp cả con sông Serepok đỏ màu phù sa. Rảo bước qua khoảng rừng thưa đầy cỏ dại, tao đến được căn nhà khi trời nhá nhem tối. Hình dáng của căn nhà vẫn vậy, vẫn giống như hơn mười năm về trước, khi tao và Hà ghé qua. Chỉ có một điều là mái tranh đã mục nát, vách đất nhiều chỗ bị mưa gió bào mòn lòi cả thân tre bên trong. Đứng tần ngần trước cửa, giũ những hạt mưa bụi lành lạnh bám vào tóc, vào quần áo, sau một lúc chần chờ, tao quyết định đẩy nhẹ cánh cửa tre chỉ khép hờ, rồi bước vào nhà. Phải mất một, hai phút, mắt của tao mới quen dần với cái tăm tối của căn nhà. Đảo mắt một vòng, nơi góc nhà bên bếp lửa, một người đàn bà và đứa nhỏ đang ngồi sưởi ấm, trên bếp nồi nước đang sôi, phát ra những tiếng kêu sùng sục. Người đàn bà hỏi “Ông tìm ai?”. Giọng nói của bà ta nghe thật êm đềm đầy thân quen, tao mạnh dạn đi đến gần hơn. Dưới ánh lửa bập bùng lúc mờ lúc tỏ, vợ tao với gương mặt già đi trông thấy, nhưng đôi mắt thì vẫn trong sáng như thủa nào. Đưa tay vuốt những giọt nước mưa còn đọng lại trên mặt, mà tao cứ tưởng như mình đang lau những giọt nước mắt tràn đầy hạnh phúc. “Em không nhận ra anh hay sao? Anh là Long đây mà.” Nói xong tao cứ yên chí rằng vợ tao sẽ rất vui mừng, ôm lấy chồng với đôi mắt sung sướng nơi gương mặt mà tao hằng đêm nhung nhớ.

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn thong thả mồi một điếu thuốc nhả khói bay mù trời, rồi mới tiếp tục.

-Trái với sự suy nghĩ của tao, đôi mắt của vợ tao bỗng trở nên hoảng sợ, hai tay run lẩy bẩy chống xuống đất, đạp hai chân lùi cả thân hình về phía sau, miệng lắp bắp “Anh sống khôn thác thiêng, đừng có cho em thấy anh như vậy. em hứa tối nay sẽ nấu chén cơm để cúng anh”. Nghe vợ nói tao giật mình chợt tỉnh, hiểu rõ tâm trạng của vợ, tao nói to “Anh là Long còn sống sờ sờ ra đây, có chết đâu sao em lại nói như vậy”. Đưa tay giụi mắt, rồi lại giụi mắt, im lặng một hồi lâu, Hà ngập ngừng ấp úng “Anh còn sống…Còn sống phải không?” Tao gật đầu mà lòng ngập tràn hạnh phúc rồi nói với Hà “Anh vẫn còn sống, đang ở bên em đây nè”. Lúc bấy giờ Hà mới đứng lên nhào tới, ôm chặt lấy tao rồi khóc như mưa, tiếng khóc nghe chừng như đầy ắp yêu thương nhung nhớ. Thằng con trai của tao lúc bấy giờ cũng đã mười một tuổi rồi, ốm như cây sậy, đen như củ súng đu lấy vai của tao miệng mếu máo “Vậy mà má nói với con ba mất rồi”. Đưa tay chỉ lên miếng vải đen to bằng đầu ngón tay may nơi ngực áo “Má bắt con để tang cho ba, cả má cũng để tang nữa”. Tao hỏi vợ “Tại sao em biết anh đã chết mà để tang”. Nước mắt Hà vẫn lưng tròng “Có một ông lính Biệt Động Quân trong tiểu đoàn của anh đến nhà báo tin, ông ấy nói có thấy anh và vài chục người lính nữa bị Việt Cộng lùa lên xe Molotova đem đi xử bắn”. Tao nói với Hà “Chuyện như vậy mà em cũng tin được hay sao?” Vợ tao đưa tay giụi mắt “Ngay lúc ấy thì không, nhưng một tháng rồi hai tháng trôi qua, cho đến một năm sau vẫn không nghe được tin tức của anh, không thấy anh trở về, bấy giờ em mới hoàn toàn tin lời người lính nói, tin rằng anh đã chết rồi”. Tao nhìn quanh căn nhà rồi hỏi “Má đâu rồi em”. Nghe tao hỏi, Hà với giọng nói đầy đau khổ “Em nghe cậu nói lại, tháng ba năm bảy mươi lăm khi Việt Cộng tấn công vào Ban Mê Thuột, má theo đoàn người di tản rồi biệt tích luôn, em nghĩ là má đã chết mất xác trong một khu rừng nào đó trên đường trốn chạy. Một người bình thường sức khỏe còn đầy đủ, cũng khó mà vượt đèo lội suối, huống chi má đã già yếu lại bịnh hoạn”. Tao ở lại thành phố Ban Mê Thuột, đợi vợ tao xin giấy phép đi thăm bà con. Một tuần sau, tụi tao về đến Sài Gòn an toàn.

Liếc nhìn cái đồng hồ treo trên tường, tôi nhắc Long công tử.

-Quá mười hai giờ rồi, tụi mình về nhà ăn cơm rồi nói chuyện tiếp.

Long công tử dằn mấy tờ giấy bạc xuống dưới đáy ly, số tiền khá hậu hỷ so với giá hai ly cà phê, tôi cười đùa với hắn.

-Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời, Việt Nam Cộng Hòa mất rồi nhưng mày vẫn là mày không có gì thay đổi.

Long công tử nói mà như là than thở.

-“Rằng quen mất nết đi rồi”

Khi tôi và Long công tử về đến nhà, Cúc đang lui cui trong bếp nấu cơm.

Long công tử hỏi tôi.

-Con mày đâu?

Bất ngờ nghe Long công tử hỏi, tôi cũng không biết con mình đang ở đâu.

Thấy tôi lúng túng, Cúc đỡ lời.

-Sáng nay chị Hai dẫn con bé đi sở thú chơi rồi, chắc chiều mới về. Sẵn dịp anh Long ở lại ăn cơm với tụi này luôn.

Long công tử tiếp lời Cúc.

-Chị không mời tôi cũng ở lại, vì có chút việc quan trọng phải nói với chị và Quân.

Chỉ một lát sau cơm được dọn lên bàn, một tô canh rau muống nấu với tôm khô thêm vài miếng cà chua đỏ thắm nổi trên mặt, hai lát cá lóc kho tộ. Hình như Cúc đã đoán được Long công tử sẽ ở lại ăn trưa với chúng tôi, nên đã nấu một bữa ăn khá tươm tất. Chúng tôi vừa ăn cơm vừa chuyện trò.

Tôi vui vẻ mở đầu.

-Vợ chồng tao có nhờ Vinh máy nổ, cho tụi tao gặp mặt chủ tàu thương lượng xin ba chỗ trên tàu vượt biên, khi qua đến Mỹ sẽ trả tiền sau, không ngờ đại diện chủ tàu lại là mày.

Long công tử vừa bưng chén cơm lên, chưa kịp ăn hắn lại đặt xuống rồi nói với tôi.

-Có thể nói, tao là đại diện cho chủ tàu cũng được, chuyện hơi dài dòng, nhưng mà tóm lại đầu đuôi là như thế này. Hồi còn ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, mày đưa cho tao năm trăm đô la, tao nhét vô túi cho mày vui lòng vì tao nghĩ thầm, mày là cái thằng lẩm ca lẩm cẩm. Ở trong tù một hột cơm không có mà ăn, cầm tiền của Việt Cộng, muốn mua tán đường cũng phải trăm cay nghìn đắng mới mua được. Bắt tao ôm một mớ đô la khác nào ôm một đống giấy lộn, đã vậy nếu bị khám xét bất thình lình, lòi ra cái tội tàng trữ tiền của đế quốc Mỹ, chắc chắn nằm thùng sắt mọt gông, không chừng còn bị đem đi xử bắn để làm gương nữa là khác. Trốn thoát trại tù về đến Sài Gòn, khi đã xài đến đồng bạc cuối cùng của Việt Cộng, lúc bấy giờ tao mới thấy được mãnh lực của mấy trăm đô la mà mày đưa cho tao. Chừng đó tiền, nếu đem đổi ra vàng sẽ được khoảng ba cây. Trong lúc người dân cả nước đang sống trong bần cùng khổ cực, chạy ăn từng bữa thì ba cây vàng đúng là một tài sản quý hiếm đối với tao. Chữ quý hiếm được hiểu theo cả hai nghĩa, giá trị vật chất và tình bạn gói ghém ở trong đó. Từ một tay công tử xài tiền không đếm, tao trở thành một người biết coi trọng, trân quý đồng tiền. Trong đời sống hàng ngày tao cố gắng bươn chải, chạy đầu này đắp đầu kia, kiếm chút tiền sống lây lất qua ngày đoạn tháng. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết, chẳng đặng đừng lúc bấy giờ tao mới dùng đến.

Cúc hỏi Long công tử.

-Hiện giờ anh đang làm gì?

Long công tử mau mắn trả lời Cúc.

-Nghề nghiệp của tôi là lái tàu chở hàng trên sông, mà có chuyện gì không chị?

Không trả lời câu hỏi của Long công tử, Cúc hỏi.

-Tàu anh đang lái, có kích thước như thế nào?

-À…bề ngang gần ba thước, chiều dài non mười thước, mũi tàu bầu, tròn, gắn máy Yanmar F10, chỉ dùng để chở hàng di chuyển trên sông. Còn tàu đi biển thì mũi tàu phải nhọn, chiều dài hơn mười bốn mét. Đó là theo lời chủ tàu nói.

Cúc nhắc Long.

-Như vậy, con tàu anh lái, đâu có liên quan gì đến chuyện vượt biên.

Long cười.

-Không mà có đó chị, tất cả mọi người kể cả trạm canh gác của công an dọc theo hai bên bờ sông đều biết rõ, tàu đi trên sông với cái mũi bầu mà ra biển chỉ cần một vài đợt gió lớn, sóng vỗ mạnh, con tàu sẽ bị bể và chìm ngay.

Sau vài tháng, khi tôi đã quen với cuộc sống trên sông rạch. Một hôm ông Hòa là chủ chiếc tàu mà tôi đang lái, gặp riêng tôi tâm sự, hỏi tôi có muốn vượt biên hay không? Tôi cười nói với ông ấy là “Ở Việt Nam cây cột đèn nếu đi được, nó cũng đã đi mất rồi, huống gì là tôi.” Ông Hòa cho biết ông mua chiếc tàu này với mục đích là che mắt thiên hạ, thực tâm là khi có dịp, ổng sẽ dùng nó để vượt biên. Dùng tàu đi trên sông mà vượt biển khác nào đi tự tử, thế nhưng ông Hòa cho rằng người ta quên mất câu nói mà dân đánh cá thuộc nằm lòng “Tháng ba bà già đi biển”. Đó là cái kẽ hở mà con tàu của ông Hòa sẽ chun qua để vượt đại dương. Ông Hòa bàn với tôi lập ra một ban tổ chức gồm có, ông Hòa chủ tàu, tài công là một ngư dân đã có nhiều năm kinh nghiệm đánh cá trên biển, ông này là bạn ông Hòa, thợ máy là Vinh máy nổ, tôi lo việc rước người trên sông, tất cả bốn gia đình của ban tổ chức có con số chính xác là mười lăm người. Chủ tàu sẽ nhận thêm ba gia đình nữa khoảng mười người, số tiền đóng góp của họ sẽ dùng để lo lót cho công an, tân trang máy móc, mua xăng dầu, thực phẩm cho chuyến đi. Nay có thêm ba người của gia đình chị nữa, con số sẽ vào khoảng gần ba mươi người.

Cúc hỏi Long công tử.

-Tụi tôi sẽ phải trả bao nhiêu?

Long công tử cười sảng khoái.

-Chị nghĩ như thế nào mà hỏi tôi như vậy? Bản thân của tôi là do thằng Quân bắp cải cứu sống, nay tôi có bổn phận phải hoàn lại những gì mà tôi đã nợ chị và Quân. Chị không phải tốn một xu trong chuyến đi này. Tôi cũng biết hiện tại chị và thằng bắp cải làm gì có tiền mà đòi đóng với góp. Nếu có tiền chị đã không phải bán bánh căn kiếm sống.

Cúc nói nhỏ với Long công tử.

-Vợ chồng tôi hiện còn một cây, nhờ chị Hai cất giữ.

Long công tử nói với Cúc.

Lượng vàng của chị cứ để chị Hai giữ giùm, trong trường hợp, chuyến đi thất bại, bị công an bắt, chị Hai có sẳn tiền mà lo lót cho công an lãnh chị và Quân ra khỏi tù. Còn nếu thành công coi như chút vàng đó giúp cho chị Hai.

Quay sang nhìn tôi, Long công tử nói.

-Trong chuyến vượt biên, mày phải thay tên đổi họ, dùng giấy tờ giả, đừng bao giờ để lộ cái gốc sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa của mình. Một anh nông dân chân lấm tay bùn ngu ngơ tin tưởng vào Xã Hội Chủ Nghĩa, lúc nào cũng tốt hơn là một tên sĩ quan Ngụy phản động chống đối cách mạng. Tất cả giấy tờ và tên thật của mày và vợ, hãy giao cho chị Hai giữ giùm luôn.

Đang say mê nói, Long công tử vỗ trán, như nhớ ra điều gì đó.

-Còn một điều quan trọng mà tôi quên nói với chị. Đại dương bao la vô tận, nạn hải tặc đang hoành hành tại vịnh Thái Lan, con tàu của mình nhỏ xíu, là tàu đi trên sông chứ không phải tàu đi biển. Chuyến vượt biên sẽ có muôn ngàn hiểm nguy chờ chực, người đời đánh bài bằng tiền, người dân Việt Nam đem tiền của, vàng bạc cộng thêm sinh mạng của họ để vượt biển, tôi đem mạng sống của mình và vợ con đặt vào một canh bạc mà nếu thắng sẽ có được hai chữ tự do. Còn nếu thất bại thì hậu quả là mình phải trả bằng những gì mình đặt xuống chiếu bạc. Hôm nay đã qua tháng chín dương lịch, đầu tháng tư năm tới tàu sẽ ra khơi, không thể chần chừ vì đó là cái tháng định mệnh. Tụi mình còn tới khoảng nửa năm nữa mới lên đường, xin chị và Quân hãy suy nghĩ kỹ, cho tôi biết có muốn tham dự hay không?

Đường ta đi

thơ nguyễn lê minh – “đường ta đi”

trầm hương (UT)

Post by Sơn râu 23 Mar 2025

Nguyễn Lê Minh là cựu bác sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.  Chức vụ cuối cùng: Y sĩ Trưởng Lữ Đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến.

Đường Ta Đi là tập thơ đầu tay (và cũng là duy nhất) ông viết trên chiến trường Quảng Trị, trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.


Bìa trước, trình bày mai phương

photo Nguyễn Lê Minh

Bìa sau, trình bày mai phương

photo Nguyễn Lê Minh

trích đoạn trong tập thơ  “Đường Ta Đi”

Mùa hè đỏ lửa

Mùa hè đỏ lửa
Bắc Cộng vượt biên
Đường ta đi đất rung chuyển cuồng điên
Cuộc thảm sát xe tăng, đại pháo
Đường ta đi bày nhày xương, thịt, máu
Suốt một vùng Bến Hải, Gio Linh
Qua Mai Lộc, Đông Hà, Ái Tử
Ngổn ngang xác người Quảng Trị, Hải Lăng.

Đường tiến quân nhìn dân cư chạy ngược
Tất tả kinh hoàng dưới lằn đạn Nga Hoa
Từng thân người bật ngửa, rên la
Màu máu đỏ chan hòa cát nóng

Một chiếc xe đò lèn người như cá mắm
Tràng thượng liên lóc cóc nổ lạnh lùng
Từ thành xe những lỗ đạn tròn đen
Bỗng phọt máu những tia hồng tươi rói
Dưới ánh mặt trời tháng tư sáng chói
Tia máu hồng lóng lánh thắm như son

Một chiếc Honda chở hai cha con
Đang len lách giữa dòng người hỗn loạn
Bỗng người cha ngồi sau lưng trúng đạn
Té xuống đường dãy dụa rồi im
Đứa con chưa biết vẫn còn
Cố len cố lách vượt vòng hiểm nguy

Một trái đạn 130 ly
Rớt ngay lưng chiếc GMC đầy người
Thịt da tung toé đầy trời
Trước ta rơi một thây người không chân

Một người mẹ bồng đứa con
Lội qua sông rộng trên đường tản cư
Sông thì sâu, lòng mải lo
Lội qua sông rộng, con so ngộp rồi
Nhìn quanh thiên hạ chạy vùi
Ôm con, người mẹ toan ngồi khóc thương
Xung quanh đạn nổ dập dồn
Vứt con, chồng vội cuống cuồng kéo đi.
Đường ta đi của những ngày hè đỏ lửa
Không phải là đường
Mà là nỗi nhục chán chường đắng cay

Và ta thấy này Cha, này Mẹ
Của ngày xưa hốt hoảng tản cư
Còn ta là đứa bé kia
Ngồi trong chiếc thúng bi bô “khói hồng”
Giòng nước mắt doanh tròng mắt nặng

Ta bây giờ khoác áo rằn ri
Trợn trừng mắt đỏ tà huy
Mặt mày đen đúa khác gì Lê Dương

Trong cuộc chiến người gồm hai hạng
Hạng dân lành và hạng đeo gươm
Muôn đời có khác gì hơn
Dù mang chính nghĩa, dù còn chính tâm
25 năm, 25 năm
Nhục nào đeo đẳng trên thằng dân Nam
Nghèo hèn vẫn cứ nghèo hèn
Tối tăm vẫn cứ lèm nhèm dốt, ngu
Ngục tù vẫn cứ ngục tù
Chiến tranh vẫn cứ đòn thù giết nhau
25 năm trước bi bô
“Mẹ ơi khói bụi”, bây giờ sót sa
Mẹ ơi, con của mẹ cha
Ngờ đâu có lúc phải qua cầu này
“Nợ đời phải trả nếu vay
Còn ta đâu biết nợ, vay kiếp nào?”

Đường ta đi, lao đao hối hả
Đường gập ghềnh, sỏi đá nặng trong tim
Đường ơi còn nẻo nào riêng
Cho ta ít phút lãng quên trong lành
Cho ta ít phút mơ mòng
Mơ căn nhà nhỏ, mơ đồng lúa tươi
Mơ ngày mai góp nụ cười
Hội hè đình đám nơi nơi hát hò
Mơ người người sống ấm no
Mơ đời không có những trò ác gian

Việt Nam ơi, Việt Nam
Ta nghe uất nghẹn vô vàn
Trên môi vết rách toạc ngàn sót sa
Mồ hôi, nước mắt mẹ cha
Quyện cùng bụi cát thối tha xác người
Máu trong ta, máu trong người
Máu nào không thắm những lời mẹ ru?
Máu nào là máu hận thù?
Máu nào là máu rạng cờ hùng anh?
Máu nào là máu hôi tanh?
Máu nào không phải em anh họ hàng?
Máu nào cờ đỏ, cờ vàng?
Máu nào là máu của thằng, của ông?
Máu nào là máu người dưng?
Máu nào nước biển, nước sông, nước hồ?
Máu ơi, địa ngục lõa lồ
Những tên quỷ dữ đang hò hét vui
Cố lên, hỡi những thằng đui
Giết thằng mắt sáng, giết người thế cô
Đòn thù cho đáng đòn thù
Phe ta chính nghĩa, phe kia liếm giầy
Giết đi, giết thật hăng say
Chiến công đỏ máu hai tay dâng người
Khăn tang cách mạng sáng ngời
Thân hình ốm đói rạng đài ấm no
Xích xiềng đẹp chữ Tự do
Máu kia đỏ thắm ngọn cờ vinh quang
Tiến lên hỡi nước anh em
Những dòng máu đỏ chảy quên cội nguồn.

II

Những con đường rút lui chiến thuật

Hỡi những con đường rút lui chiến thuật
Của những ngày hè rực lửa tháng tư
Có còn nhớ ta?
Tên y sĩ mới ra trường, ngơ ngác
Còn nặng mùi sách vở giảng đường
Còn buồn phiền vì túi hành trang khiêm nhượng
Chưa vừa lòng với pince, kéo, bông băng.
Chợt một ngày tất tả cuống cuồng rút lui chiến thuật
Không túi y khoa, không cả vài viên thuốc
Không cáng, không bông băng dù chỉ một
Ta còn gì? Đôi bàn tay trắng
Với đôi chân cố gắng, mệt nhoài
Ta còn gì?  Những nhịp thở hụt hơi
Nghẹn câu an ủi
Chẳng giúp gì cho những thương binh
Đang lê lết trên đường tìm đất sống
Những bước chân khấp khểnh
Máu loang quần áo trận
Mồ hôi ướt đẫm gương mặt xanh tái nhúm nhăn
Ta làm được gì khi không có dù chỉ một miếng băng
(thứ phương tiện đã có lần làm ta phiền muộn)
Chỉ còn súng đạn, áo giáp, nón sắt
và hai bi đông đầy nước suối rừng
Đôi vai khòm, đôi bàn chân bỏng rát.
Con mắt ngủ vịt ngủ gà
Và bao tử chứa đầy nước suối

Hỡi những con đường của những ngày u tối
Của những bóng ma khệnh khạng lờ đờ
Có còn nhớ ta, tên y sĩ dại khờ
Lầm lũi giữa đám tàn quân
Thẹn câu an ủi
Dù nói với người, dù nói với ta
Câu nói chết khô trong cổ họng
Giữa không gian hừng hực lửa hồng

Lửa trong người
Lửa trong ta
Lửa trên những bước gay go lên đèo xuống trũng
Lửa vượt suối
Lửa vượt sông
Lửa trong thôn xóm
Lửa giữa ruộng đồng
Lửa nổ cao trên không
Lửa xoáy tung lòng đất
Lửa rang cháy tim
Lửa nung chín óc
Hỡi những bóng ma của những ngày hè u uất
Hãy tha thứ cho ta
Tên y sĩ dại khờ yếu ớt
Thổi giùm ta làn mây mù đau xót
Xin nói rằng ngày đó đã xa xưa
Ai cũng vậy, người người ai cũng vậy
Quên đi, quên đi nhé
Những con đường tán loạn rút lui.

III

Ta còn một bộ áo quần
Sau hai lần rút lui… “chiến thuật”
Ta còn nửa linh hồn
Sau hai lần theo… “chiến thuật rút lui”
Áo quần ta  đem phơi
Nửa linh hồn bay mất
Trần như nhộng ta đợi áo quần khô
Buồn như đất ta ngóng nửa hồn về
Buổi hoàng hôn chim xa rủ nhau về tổ
Ríu rít tiếng vui
Gõ mổ vào đầu ta tịch mịch
Tiếng mẹ nức nở
Tiếng mẹ thì thầm
Câu kinh tiếng kệ không vơi niềm lo ngại
Ta đọc, mờ nhòe
“Cha xưa chỉ còn một quần đùi, người đầy ghẻ lở
Con còn khá hơn cha.”
Ta chợt cười rũ rượi
Với bức tường vôi trong căn nhà đổ
Ta cười với chính bóng ta trần truồng, ghẻ lở
Trên bức tường  nham nhở vết đạn bom
Ta đó hay chính cha ta đó?
25 năm !!!

IV

Quần áo phơi chưa khô
Lá thư chưa đọc xong phân nửa
Lệnh sửa soạn lên đường


Đường ta đi bây giờ mênh mông sóng
Bập bềnh chiến hạm trôi trăng
Những chiến hữu áo rằn nói cười ồn ào tàu đổ bộ
Lòng ta phẳng lì, ấm áp
Khi nhìn những khuôn mặt quen thân
Cùng vui, cùng khổ
Khi nhìn những nụ cười bình dị
Trước giờ sinh tử cận kề

Muôn quân reo hò
Át ngàn con sóng lớn
Khói bụi mịt mù
Hoang vắng bờ biển xanh
Nắng và gió lạnh tanh
Phành phành âm thanh của những mái tôn rách nát
Phút gom quân oi ả
Ta ngồi sau bờ cát nóng lo lắng nhìn xa
Những chấm đen hàng dài như kiến
Chậm chạp đi trên nền cát trắng
Hơi đất lung linh
Nắng như dao đâm cặp mắt
Gió lào như cánh cung
Tung ngàn muôn tên cát vào mặt vào da
Vi vu tiếng đạn kéo dài hiu hắt
Nặng nề hơi thở
Ngột ngạt tiếng máy 25
Người lính trẻ dừng lại cười tươi
Mời ta điếu thuốc
Rồi ung dung tiến về phía trước,
Khói thuốc xanh phì phèo, tán loạn
Bay trên cồn cát trắng lung linh
Ta nhìn theo bàng hoàng
Tuổi trẻ, những người lính trẻ  Việt Nam
Hồn nhiên đánh giặc
Hồn nhiên giữ nước
Thản nhiên đi vào cõi chết
Không hỏi tại sao, không thắc mắc
Nếu có băn khoăn chắc chỉ là vài ngày phép
Khi rảnh rỗi chuyện tiếu lâm vui như Tết
Lúc xung phong chỉ biết một mục tiêu
Những chiếc máy quay phim
Có diễn đạt dược không?
Người phóng viên ngoại quốc mãi lom khom tìm góc cạnh

Những chiếc cáng nặng nhọc trở về
Những thương binh nằm ngửa dưới mặt trời trưa mùa hạ
Nắng tháng năm vẫn không làm hồng thêm đôi má
Gió Lào phủ thêm cát trên lớp máu đang khô
Lạnh đông dòng máu trong người
Lạnh đông dòng máu trong ta
Có đúng không? Người lính trẻ?
Chắc trong túi vẫn còn bao thuốc mới vơi phân nửa
Sẽ không bao giờ hút
Sẽ không bao giờ mời
Nét mặt của sáp, thảnh thơi
Khói thuốc còn đọng trên môi ta cay rát.
Những cột kèo gãy gục đồng loạt rú thảm
Hốt hoảng những chiếc Chinook bay mau
Đem đi những thương binh, tử sĩ
Cùng những chiến lợi phẩm
Và những  phóng viên với những cuộn phim màu
Tối nay, tối mai
Cả thế giới sẽ thấy, sẽ biết
Thấy gì ?
Biết gì ?

Trong Bán Kính 50 Cây Số

Thận Nhiên

Post by Sơn râu 23 Mar 2025

Hình minh họa Google

Mây chiều nặng, sà xuống thấp. Ngã ba. Hai con đường đất giao nhau, vắng hoe, bụi đỏ bốc lên khi có gió tạt ngang. Cái bảng tên đường rỉ sét, gắn trên thanh gỗ, vẽ mũi tên chỉ về hai phía. Một mũi tên ghi Núi Thái, chỉ theo con đường chạy vào chân núi, khi hút tầm mắt, nó chạm vào sườn đá thì biến mất, đường cụt. Mũi tên còn lại chỉ một ngã dẫn vào xã Định Long – 5 km, ngã kia ghi Cao Cảnh – 3km, dẫn ra đường lộ lớn, đường trải nhựa, ra thị trấn, ra tỉnh, đi Hà Nội, đi Sài Gòn, qua Miên, qua Thái, có khi ra khỏi nước. Có khi tới Mỹ.

Hắn xuống xe ở lộ lớn, từ trưa. Xuống ở đó là ngẫu nhiên, hắn không chọn. Định mệnh chọn giùm. Khi thằng lơ hỏi hắn xuống ở đâu thì hắn nói: “Ở đâu cũng được, mày cho tao xuống đâu thì tao xuống đó.”

“Đm, ông nói ngang vậy? Đi xe đéo trả đủ tiền còn nói giọng cà chớn. Đm, muốn chơi cha hả? Muốn gì? Đm, xuống đây đi!” Thằng lơ la to với tài xế, “Ghé vô cho thằng này xuống đi anh Hải ơi.”

Hắn mở dây kéo cái túi xách đeo ở vai, thò tay vào, ngón tay chạm lưỡi dao sắc ngót, rồi lần xuống cái cán gỗ quấn dây dù, cầm sẵn, nhưng hắn kịp nghĩ lại, thấy mình vô lý, đã đi xe không trả đủ tiền thì sinh sự làm gì. Hắn nhảy xuống. Chiếc xe vù đi.

Đứng tần ngần một lát, không còn chọn lựa nào khác, hắn từ từ đi bộ vào ngã ba này. Dọc đường không có quán xá. Mệt và buồn ngủ, hậu quả còn lại của bữa rượu tối qua. May trong xách tay còn khúc bánh mì, trái chuối và chai nước mà hắn đã mua ở bến xe. Và một xị rượu đế.

*

Từ trưa đến giờ chỉ có bốn chiếc xe chạy ngang. Một chiếc xe cày và một chiếc xe thùng gỗ chở phân bón làm bằng xác cá biển, hắn đứng ven đường vẫy tay xin nhưng cả hai xe đều không dừng lại. Chiếc xe chở phân bón để lại mùi tanh lợm giọng. Hai chiếc còn lại là xe gắn máy, nhưng khi nhác thấy hắn thì họ đều rồ tay ga, lạng ra giữa đường, phóng luôn, hắn không kịp phản ứng.

Đm, giờ có chiếc nào đến thì mình sẽ đứng giữa đường chận lại chứ không đứng vẫy nữa. Hắn nghĩ thầm, rồi quyết định. Hắn đã quyết định.

Tao sẽ giết thằng đàn ông đầu tiên nào đi ngang đây mà tao thấy, bất kể già trẻ lớn bé, bất kể là ai!

Tao sẽ hiếp, rồi giết, bất cứ con đàn bà nào đi ngang đây mà tao thấy, bất kể già trẻ lớn bé, bất kể là ai!

Rồi sau đó thì sao?

Đéo cần biết, tới đâu thì tới.

Hắn lấy con dao trong xách tay ra. Lưỡi thép xám, dài hơn gang, cong cong theo dạng lá lúa, rất vừa tay và quen thuộc đến từng gờ thép. Hắn lấy cái áo thun bọc lưỡi dao rồi dắt sau lưng quần, kéo cái áo lính đang mặc xuống phủ chuôi dao lại.

*

Người kế tiếp không đi xe gắn máy mà đang đạp xe đạp. Không phải là đàn bà, cũng không phải là đàn ông, như hắn tính. Chiếc xe đạp sườn ngang cũ mèm, không có vè. Cái bánh sau được quấn lại bằng ruột xe.

Ông già nhảy xuống khi hắn vẫy tay chận lại.

“Mi muốn chi?”

“Tui lỡ đường. Chừ lạc…”

“Tên chi?”

“Dạ, Lộc.”

“Ở mô tới?”

“Dạ, ở trong nớ.”

“Trong nớ là chỗ mô?”

“Dạ, Sài Gòn.”

“Ở Sài Gòn răng nói tiếng ngoài ni?”

“Dạ, nhà tui ở Quảng, rồi vô Sài Gòn.”

“Chừ đi mô? Định Long hay Cao Cảnh?”

“Dạ, chưa tính đi mô. Chắc về…”

“Về mô? Chỗ ni chừ hết xe rồi.”

“Dạ, tui chờ xe từ trưa, mà không có chiếc nào dừng.”

“Không có xe mô đón khách hay cho đi nhờ ở đây. Muốn đi thì phải đi chuyến sớm, ở sân vận động trong xã.”

Hắn ước lượng khoảng cách giữa hắn và ông già, xem liệu rút dao ra thì có kịp chồm tới để đâm không. Đâm vào cổ, một nhát một thôi, chỗ những vằn gân xanh đang nổi lên, cho chắc ăn. Một nhát thôi. Chưa được, ông vẫn còn ngoài tầm tay, gượm chút nữa đã.

“Chừ tui phải mần răng đây?” Hắn hỏi.

“Thầy mô biết! Mi có giấy tờ chi?”

“Dạ, có. Có chứng minh nhân dân.”

“Có giấy chi nữa? Hộ khẩu ở mô?”

“Dạ, chỉ có vậy thôi. Không có hộ khẩu.”

“Rứa thì không được. Du kích xã sẽ giữ lại. Rồi mai sẽ giải ra ngoài huyện để xác minh.”

“Chừ mần răng?”

“Răng thầy biết được…”

“Hay là… ông cho tui trọ lại đêm nay đi? Ông giúp giùm…”

“Thầy biết mi là ai, quen biết chi mà giúp? Nửa đêm xã tới xét hộ khẩu thì nói năng làm răng?”

Hắn bước tới một bước, rồi hai bước. Ông già bước lui lại, kéo chiếc xe lết theo, một tay nắm ghi-đông, một tay giữ trên yên xe. Thấy ông có vẻ thủ thế, hắn đứng sựng lại.

“Thầy là thầy tu, không có của cải chi mô. Muốn lấy cái xe thì thầy cho.” Ông già nói.

“Dạ, tui nào dám, tui có ý chi mô, chỉ xin ông cho ngủ nhờ.”

Ông già buông tay ở yên xe, chìa ra. “Đưa dao đây!”

“Dạ…”

“Đưa dao đây!” Ông già nói.

Hắn lạnh lưng. Làm sao ông biết mình có dao? Rồi không kịp nghĩ gì thêm, hắn hất cái xách tay trên vai xuống đất, vòng tay ra sau lưng rút cây dao, cái áo thun quấn dao rớt xuống đất. Lưỡi dao lăm lăm chĩa về ông già. Hắn dấn tới một bước.

Ông già gằn giọng, “Đứng lại đó. Đưa dao đây. Đưa chuôi dao đây!”

Hắn vung tay dao lên, nhưng khựng lại, trở tay kia cầm lưỡi dao, ngần ngừ, rồi chìa chuôi dao ra. Ông già gạt chống xe, chồm tới. Lúc này thì cổ ông ở vừa tầm dao, nếu hắn muốn, nhưng hắn bất động.

Ông già nhón tay cầm lấy chuôi dao, hắn buông lưỡi dao ra.

Ông già nâng con dao lên ngang tầm mắt ngó, đưa sát vào mũi ngửi, rồi xoay tay đưa chuôi dao lại phía hắn, nói thong thả, “Thôi, cất lại vô xách đi. Theo thầy về chùa, rồi tính.”

Hắn líu ríu nhận dao, cúi nhặt cái áo thun và túi xách lên, bỏ dao vào.

“Mi chở, thầy ngồi sau. Chùa cũng không xa, chừng ba cây số thôi. Về nhanh còn cơm nước nữa, kẻo tối.” Ông già đẩy nhẹ chiếc xe đạp cho hắn, nói tiếp, “Đưa cái xách thầy cầm cho, không sợ mất đâu, có chi quý mô mà mất. Thầy phải ngồi sau lưng mi, kẻo có khi mi lại đổi ý.” Ông cười, rồi ngồi lên yên sau, lập lại, “Về chùa rồi tính, thầy đổi nghề, đổi đời cho…”

“Dạ…”

Hắn lên xe, gò lưng đạp. Chiếc xe lảo đảo chạy về phía chân núi.

*

Bảy năm sau, sư phụ qua đời. Hắn lo được hộ khẩu, thừa hưởng cái chùa, từ chức sãi hắn lên chức Đại Đức. Nghề này có vẻ hạp. Hắn không phải đâm giết ai từ dạo đó.

Theo lời sư phụ dạy, hắn gói kỹ con dao trong mấy lớp bao ni-lông, bỏ vào một hộp thiếc cũ đựng bánh, rồi mang chôn dưới một trong những cái lu nước sau hậu liêu.

Tám năm kế tiếp, từ một cái nền chùa hoang vắng, mái xiêu vẹo, hắn trùng tu thành ngôi linh tự nguy nga, lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Hắn nhận thêm vài đệ tử nhưng chưa có ý muốn truyền y bát cho ai.

Hắn nổi tiếng đạo cao đức trọng hơn cả sư phụ. Tín đồ trong vùng rất yêu quý và trọng vọng hắn. Nhất là những bà goá, những bà cư ngụ trong bán kính 50 cây số.

22/10/2017

Xạ Thủ

Thận Nhiên

Post by Sơn râu 23 Mar 2025

Lần đầu gặp xạ thủ[1] là ngày đầu tiên tôi nhận việc ở cái bệnh viện dành cho cựu chiến binh này. Vóc dáng gầy nhỏ và màu da đen của xạ thủ chìm khuất trong những người đang ken chật bên nhau trong buồng thang máy. Xạ thủ đứng sát cửa. Vào xong, mọi người ngừng nói chuyện, từng người trả lời khi xạ thủ hỏi. “Ông lên lầu mấy?” “Lầu 7, làm ơn bấm giùm.” “Lầu 13, làm ơn.” “Lầu 9, làm ơn.”

“Cô, lầu mấy?” Xạ thủ hỏi tôi.

“Lầu 16, cám ơn ông.” Tôi đáp.

Giờ ăn trưa, tôi lại gặp xạ thủ khi xuống căng-tin.

“Cô bắt đầu làm việc ở đây à?”

“Vâng, hôm nay là ngày đầu. Sao ông biết là tôi bắt đầu?”

“Vì tôi biết tất cả mọi người ở bệnh viện này. Đừng sợ. May mắn nhé. Nhớ cầm theo dù, dự báo thời tiết chiều nay sẽ mưa.”

“Cám ơn ông.”

*

Tôi làm ở đây được ba tháng, gặp xạ thủ mỗi tuần ba hay bốn ngày, mỗi ngày có khi hai lần, có khi ba lần, mỗi lần dưới một phút, khi thang máy đi lên và đi xuống. Một buổi trưa, tôi xuống mua thức ăn, thang máy không có ai đi cùng, ngoài xạ thủ.

“Cô là người Việt?”

“Vâng, sao ông biết? Sao ông không nghĩ tôi là người Phi, người Hoa, hay người Thái? Bảng tên của tôi cũng không phải họ Nguyễn hay họ Trần.”

“Tôi… ngửi thấy. Xin lỗi, đừng bực nhé, nhưng thật vậy đấy. Tôi ngửi thấy mùi người Việt ngay dù cho họ cách tôi 7 thước. Bệnh viện này có gần một ngàn nhân viên nhưng chỉ có ba người Việt thôi. Cô nữa là bốn.”

“Ông tài quá. Tôi là Connie.”

“Tôi là… xạ thủ. Mình làm bạn nhé.”

“Cái gì? Xin lỗi tôi nghe không rõ tên ông, phải gọi ông như thế nào cho phải phép?

“Cô gọi tôi là xạ thủ.”

“Vâng, thưa ông xạ thủ, rất hân hạnh.”

“Thỉnh thoảng cho phép tôi ngồi cùng bàn với cô nhé? Tôi muốn nghe chuyện Việt Nam. Và tập nói lại tiếng Việt.”

“Vâng, nhưng tôi không thể giúp ông trong việc tập nói tiếng Việt đâu, vì tôi cũng đang quên dần nó rồi.”

*

Dù sau này đã biết tên thật của xạ thủ, tôi vẫn thích gọi ông là xạ thủ, theo cái cách mà ông muốn hiện diện với mọi người, là vị trí của ông, nghề nghiệp của ông, cách đây hơn nửa thế kỷ. Lúc đó tôi chưa ra đời, và ông 19 tuổi. Xạ thủ là cái nghề mà ông được đào luyện rất chuyên nghiệp. Nghề giết người. Giết đồng bào tôi. Giết người Việt.

Ông là xạ thủ súng đại liên trên trực thăng. Ông đi hai tours trong chiến tranh Việt Nam, vào lúc cuộc chiến đẫm máu nhất, mỗi tour chừng một năm rưỡi. Anh thanh niên da đen, ra đời trong một gia đình rất nghèo, và lớn lên ở một vùng quê thuộc bang Georgia, chưa học xong trung học, vào lính để đỡ gánh nặng cơm áo cho gia đình và thoả mộng giang hồ, bị thương, rồi giải ngũ, về Mỹ làm đủ thứ nghề để kiếm sống.

Khi xạ thủ về hưu, sống bằng lương hưu, dời về New York để tiện theo dõi bệnh tình ở bệnh viện cựu chiến binh, được trợ cấp thuê nhà giảm giá của chính phủ, thì ông tự nguyện nhận việc đứng điều khiển thang máy ở bệnh viện này đã nhiều năm, như một cách trả lại những gì nhận được từ nó, và cho đỡ buồn, cho thấy mình hiện hữu và có ích với đời, và được gặp gỡ những người đồng cảnh ngộ, các chiến hữu của một thời bom đạn. Đây là việc thiện nguyện, mỗi tuần ba hoặc bốn ngày, không có lương, chỉ được bữa ăn trưa miễn phí do bệnh viện cung cấp nhưng ông không ăn vì chê thức ăn dở nên mang theo thức ăn tự nấu ở nhà. Dần dà, tuy không là một nhân viên chính thức, ông trở nên một thành phần của bệnh viện, được mọi người yêu quý.

Nhà ông cách đây không xa, chừng 10 phút lái xe, có thể đi bằng xe bus nhưng ông thường lái chiếc Jeeps cũ màu đỏ đi làm. Mỗi ngày ông đến rất sớm, từ 6 sáng đã có mặt. Những năm sau này, chứng ung thư trở nặng, có những khoảng thời gian ông chữa trị nội trú, ở luôn một phòng dành cho bệnh nhân ở lầu 8, những lúc yếu mệt quá thì ông không xuống làm việc. Không có ông thì cũng không sao, người dùng tự mình bấm nút thang lên xuống lấy.

Thoắt cái tôi đã làm việc ở bệnh viện này 12 năm, từ một nhân viên lơ ngơ lên lão làng. Thời gian đủ dài để xạ thủ và tôi hình thành một tình bạn thân thiết. Thỉnh thoảng chúng tôi ngồi ăn chung với nhau bữa trưa. Ông chia thức ăn của ông cho tôi khi có món ngon đặc biệt. Tôi cũng mang theo chè, chả giò, bánh chưng, những món Việt không nặng mùi, và trái cây nhiệt đới, mời ông. Ông sẵn sàng giúp tôi những việc vặt như đóng đinh treo tranh ảnh lên tường, kê lại bàn ghế trong phòng, đưa tôi ra xe khi trời tối, cào tuyết bám trên xe khi trời đổ tuyết, câu bình khi xe không nổ máy…

Hôm vụ khủng bố 9/11 xảy ra ở trung tâm New York, các ngả đường đều bị chặn không thể lái xe được, tôi bị kẹt lại bệnh viện nhưng phải về nhà bằng mọi giá vì tôi phải đón con. Xạ thủ đưa tôi về bằng xe điện, xe bus, dắt tôi đi bộ từng chặng trong cảnh hỗn loạn và khói bụi mù mịt, mất 7 giờ chúng tôi mới về đến Manhattan. Khi đến khu chúng cư của tôi an toàn, ông không chịu lên nhà, chờ tôi mang cái bánh mì thịt và chai nước xuống rồi lại bươn bả về bệnh viện. Vậy mà tôi chưa bao giờ đến nhà thăm ông.

*

“Ông có trở lại Việt Nam không?”

“Không.”

“Vì sao? Có nhiều cựu chiến binh trở lại mà…”

“Tôi biết. Nhưng không muốn về. Không thể… Từ khi qua đây đến nay, cô có về thường không?”

“Tôi về một lần.”

“Tôi đóng quân nhiều nơi, giờ chỉ còn còn nhớ mang máng những địa danh. Chỉ còn nhớ Đà Nẵng, Tây Ninh, Kon-tum, Biên Hoà… và Sài Gòn. Cô từng ở đâu?”

“Tôi chỉ ở Sài Gòn cho tới khi vượt biên.”

“Vậy là tôi ở, và biết, Việt Nam nhiều hơn cô.”

“Ông nhớ gì về Việt Nam? Nhớ gì nhất?”

“Nhiều thứ… Ruộng lúa, màu xanh như ngọc, những con trâu, hàng cây dừa, sự nghèo khó, sông, bãi biển, cái nóng, những đêm mưa bay lạc, núi, làng mạc, nhà tranh, khẩu phần ăn của lính, trọng lượng khẩu súng và thùng đạn, đạn từ dưới đất bắn lên, bar rượu, say rượu, đánh nhau, con gái, ma tuý, những lá thư của mẹ tôi, trực thăng bị trúng đạn, bệnh viện dã chiến, máu, bông băng, vết thương, xác lính trong túi, la khóc, đèn màu Sài Gòn, xe nhà binh, hầm cá nhân, công sự, đau răng, mùi, rất nhiều thứ mùi, trái cây ngon, trái mít, nước dừa và cùi dừa chặt từ cây xuống uống tại chỗ, những món thức ăn cay và lạ và tanh… Và Tết, lễ mừng năm mới của người Việt. Múa lân, pháo, áo quần mới, và nhậu nhẹt. Và đánh nhau với VC, cháy nhà, xác người. Tết năm 1968, tôi bay nhận thương binh và xác lính liên tục từ Đà Nẵng. Tôi nhớ nhiều, nhiều thứ lắm. Chỉ ở đó một thời gian ngắn trong đời nhưng tôi có ấn tượng sâu đậm nhất, hơn cả ở quê nhà Georgia của tôi. Nhưng lạ, nhiều khi tôi cố nhớ lại thì không được, nhưng khi không cố gắng nhớ thì chúng hiện ra. Chúng cứ bất chợt hiện ra rồi mất đi, từ chỗ tăm tối, sâu thẳm nhất của tiềm thức.”

“Ông nghĩ gì về Việt Nam?”

“Tôi sẽ lập lại những điều mà cô đã biết do nhiều người nói. Tóm lại là một đất nước rất đẹp, và con người thì thật đáng yêu, và đáng sợ…”

“Ông nghĩ đẹp về Việt Nam như vậy mà sao không làm một chuyến du lịch, thăm lại ‘chiến trường xưa’ như người ta thường nói vậy…”

“Tôi đang thấy Việt Nam qua cô. Và đó là một Việt Nam đẹp.”

“Một Việt Nam đẹp? Vậy có Việt Nam nào khác à? Việt Nam xấu à?”

“Tôi không trả lời câu hỏi này đâu.”

“Tùy ông, tôi xin lỗi nếu đã làm ông khó chịu.”

“Không, không khó chịu lắm. Nhưng hôm nay tôi chỉ muốn câu chuyện tới đây thôi.”

*

Những câu chuyện giữa chúng tôi thường không đầu không đuôi về mọi đề tài, nhưng nếu ngồi đủ lâu thì thế nào nó cũng dẫn đến Việt Nam, nhưng dường như cả hai chúng tôi đều cố tránh cái Việt Nam của quá khứ. Chúng tôi nói, nhưng nói về Việt Nam hôm nay. Đại loại như tình hình Trung Quốc muốn chiếm Biển Đông; biểu tình ở Sài Gòn, ông kể chuyện mấy mươi năm trước từ một quán bar ở Sài Gòn nhìn ra, ông đã chứng kiến cảnh sát đàn áp và bắt người biểu tình như thế nào; món quà ngu xuẩn của một tay quan chức VC vừa tặng cho Thượng nghị sĩ John Mc. Cain; chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Clinton, rồi tổng thống Obama…

Cho tới một hôm, tôi buột miệng, “Ông có giết người không?”

Xạ thủ nhìn vào mắt tôi, rồi hỏi lại, “Tôi có giống một thằng giết người không?”

“Tôi không biết… tôi từng thấy tận mắt người ta giết người.”

“Ở đâu? Lúc nào?”

“Trên biển, trên thuyền, lúc tôi đi vượt biên. Bọn cướp biển Thái…”

“Vậy tôi có giống chúng không?”

“Không, lúc này thì không.”

“Đúng vậy. Lúc này có lẽ không giống. Tôi đã giết người.”

“Ông giết bao nhiêu người?”

“Tôi không biết, nhưng chắc là nhiều.”

“Nhiều là bao nhiêu?”

“Có lẽ nhiều… Làm sao tôi đếm được. Ngồi trên trực thăng thì tôi có thấy được họ đâu. Chỉ là những bóng người nhỏ xíu, không rõ nhân dạng, chạy lăng quăng bên dưới, khi ban ngày, khi trong ánh lửa bùng lên trong bóng tối. Chỉ là đạn bắn lên từ bên dưới. Chỉ là khói và lửa. Từ những đám rừng dày. Khi đó, ngay khi đó, họ không là CON NGƯỜI. Họ là KẺ THÙ. Và tôi cũng vậy, lúc đó tôi không phải là CON NGƯỜI. Tôi phải bắn để trở về nhà. Tiếng nổ và sự rung giật của súng làm tôi tê dại và không còn là CON NGƯỜI. Lúc đó gần như chỉ còn bản năng. Giết và sống sót. Lúc đó tôi sợ chết lắm. Tôi nghĩ rằng nếu tôi ngừng bắn, ngừng siết cò, thậm chí nếu tôi bắn không trúng họ thì tôi sẽ chết. Sẽ bị giết. Vì sao cô muốn biết?”

“Tôi tò mò, nhưng nếu ông thấy không thích hay khó khăn thì thôi.”

“Đúng vậy, tôi không thích, không phải lúc này. Lúc nào đó thì tôi muốn nói, muốn kể, một lần, với cô thôi. Rồi mình sẽ không bao giờ trở lại câu chuyện này nữa.”

“Đồng ý. Nhớ nhé, ông hứa rồi đó. Có ngày tôi sẽ hỏi. Hoặc khi nào ông muốn kể thì ông có đôi tai của tôi chờ nghe.”

*

“Hôm nay tôi muốn nói tiếp câu chuyện với cô hồi tháng trước?”

“Chuyện món thịt heo nấu đông hả? Lát nữa tôi sẽ in cái công thức nấu ra cho ông.”

“Không phải chuyện đó. Chuyện chiến tranh.”

“À, vậy thì tôi hỏi ông và ông hỏi tôi. Nếu có ai không thích tiếp tục thì mình ngừng. Nếu câu nào không thích thì không trả lời. Ông đồng ý không?”

“Đồng ý. Cô hỏi trước đi.”

“Ông nhớ gì về chiến tranh nhất?”

“Tôi nhớ lần đầu tôi bắn người. Lần đầu tôi giết người.”

“Ông kể đi.”

“Tôi vừa sang Việt Nam được một tuần. Khí hậu nóng bức, và những cơn mưa nhanh vào buổi chiều. Tôi được lệnh lên trực thăng đi tuần tra. Chỉ có tôi và tay phi công. Khi bay trên con lạch hẹp, hai bên bờ là cây cối, tay phi công thấy một chiếc thuyền, bèn cho trực thăng bay nhanh và sà xuống sát trên nó để quan sát. Lập tức, có tiếng súng nổ. Không biết ở đâu bắn. Không biết súng từ chiếc thuyền bắn lên hay từ những đám cây ven sông. Tay phi công thét, ‘Bắn đi, bắn đi…!’ Tôi không hiểu hắn muốn tôi bắn cái gì thì hắn gào tiếp, ‘Bắn chiếc thuyền…’ Tôi siết cò, không cần nhắm, khẩu đại liên rung giật dữ dội. Chiếc thuyền trúng đạn. Cái mui thuyền bị đạn thổi bay đi. Nó xoay xoay nhiều vòng rồi chìm xuống. Tôi thấy hai hay ba người chới với giữa dòng nước và chìm với nó. Chuyện xảy ra quá nhanh, chỉ chừng 2 phút. Quang cảnh con lạch yên lắng, mặt nước khép trở lại như thể nó chưa từng nuốt mất chiếc thuyền, như không có chuyện gì vừa xảy ra. Như không có chiếc thuyền vừa chìm. Như không có ai vừa chìm. Như tôi không vừa giết người… Đêm đó tôi thấy mình lạ hẳn, không là mình như trước. Tôi là kẻ giết người. Tôi nhìn mãi đôi bàn tay, nhất là cái ngón trỏ đã siết cò. Chỉ một động tác đơn giản vậy thôi mà. Tôi vừa giết những người mà tôi chưa từng biết. Mẹ tôi là người rất ngoan đạo. Bà tin và sống theo lời Chúa dạy trong Thánh kinh. Tôi tưởng tượng việc mẹ tôi biết rằng tôi đã phạm một điều răn lớn nhất: ‘chớ giết người’, thì bà sẽ sợ hãi và đau khổ vì con mình đến như thế nào. Sau này, tôi biết rằng mọi thằng lính đều nhớ rất rõ lần đầu chúng giết người, nhớ từng chi tiết nhỏ. Nhớ nhiều hơn cả lần đầu làm tình.”

“Ông có sám hối, có ăn năn không?”

“Sám hối chuyện gì?”

“Những chuyện ông đã làm ở Việt Nam.”

“Lúc đó thì không, bây giờ thì tôi không biết. Tôi chỉ sợ. Thỉnh thoảng tôi vẫn đi xưng tội. Rất đều, đi gặp Chúa và linh mục đúng hạn kỳ. Cái gì tôi đã làm thì đã làm rồi…”

Ngưng một lát, xạ thủ nói tiếp, gằn giọng, “Cô không biết chiến tranh là cái đéo gì đâu. Tha lỗi cho cái ngôn ngữ bậy bạ của tôi. Mấy bọn làm phim cũng đéo biết chiến tranh là cái đéo gì đâu, bọn viết sách, viết hồi ký cũng đéo biết chiến tranh là cái đéo gì đâu, bọn trẻ ranh phản chiến cũng đéo biết chiến tranh là cái đéo gì… Các tổng thống cũng đéo ai đi lính, thậm chí có thằng trốn lính… và chúng nó ca ngợi lòng yêu nước…”

“Ông có những lúc hào hứng vì niềm vui chiến thắng không?”

“Không, gần như là không. Chỉ có những cơn say máu thôi. Không có chiến trường nào tồi tệ bằng ở Việt Nam đâu, kể cả Trung Đông. Và chắc cũng không có kẻ thù nào nguy hiểm hơn bọn du kích VC. Cái chết được nguỵ trang kỹ dưới những người có vẻ hiền lành, vô hại. Còn chúng tôi là những đứa con nít, những thằng con nít chỉ mới rời mẹ.”

“Ông nghĩ rằng ông hiểu chiến tranh không?”

“Chiến tranh ư? Tôi hiểu. Chỉ có bọn giết người, nạn nhân và Thượng đế hiểu…”

“Tôi không hiểu, hay tôi biết rất mù mờ. Chiến tranh chấm dứt khi tôi 3 tuổi. Nhưng bố tôi biết, mẹ tôi cũng biết. Bố tôi biết chiến tranh như ông biết. Ông ấy đã tham dự. Ông ấy cũng trạc tuổi ông. Không, ông ấy lớn hơn ông 4 tuổi. Bố tôi là lính của quân đội Việt Nam Cộng Hoà và bị đi tù sau khi chiến tranh chấm dứt, rồi vượt biên qua đây.”

“Ông ấy là một tay đàn ông thứ thiệt đấy. Tôi kính nể ông ấy, và những người trong đội quân của ông ấy. Này, có bao giờ cô hỏi ông ấy có giết người như cô đang hỏi tôi chưa?”

“Chưa, tôi cũng muốn hỏi nhưng không dám, và nếu có hỏi thì chắc ông ấy cũng không kể.”

“Vì sao cô không dám?”

“Vì bố tôi nguy hiểm hơn ông. Và đau khổ hơn ông. Nếu tôi hỏi thì ông ấy sẽ phản ứng rất dữ dội. Văn hoá của chúng tôi không cho phép đứa con hỏi bố của nó những chuyện nhạy cảm như vậy. Tuy những người lính như các ông bạn của bố tôi đều bị PTSD,[2] nhưng tôi chưa thấy ai trong họ được chữa trị như các ông, mà họ vẫn phải sống một đời sống tủi nhục và gian khổ hơn nhiều. Chúng tôi đau khổ và nghèo quá. Thú thật, tôi cũng bị một thứ PTSD!”

“Thật vậy sao? Cô đâu có dính gì tới chiến tranh!”

“Tôi không dính trực tiếp nhưng tôi cũng là nạn nhân của nó.”

“PTSD của cô là gì?”

“Tôi không thể đi tàu, đi du thuyền, đi chơi trên biển. Tôi sợ mặt nước. Tôi có những cơn ác mộng về biển. Những con sóng đẩy chiếc thuyền bé xíu lên cao ngất rồi rơi tõm xuống vực nước tối. Hôm nào tới lượt, tôi sẽ kể cho ông nghe chuyện của tôi.”

“Người Việt là một loại người kỳ dị. Họ có khả năng chịu đựng vô hạn. Và họ bất khả đoán. Như cô vậy.”

*

“Xạ thủ này?”

“Gì cô?”

“Ông đừng giận nếu tôi nói thật điều này nhé?”

“Cô cứ nói, tôi không giận đâu.”

“Tôi ngại bắt tay ông…”

“Sao? À, tôi hiểu rồi. Cô ngại chạm tới cái bàn tay đã giết người, những người Việt, những đồng bào, có thể là có cả người thân của cô nữa, đúng không?”

“Đúng vậy. Tôi từng cảm động khi cầm tay ông, khi chạm cái làn da khô nẻ, những vết chai vì lao động cực nhọc, cho tới một hôm tôi chợt nhớ lại rằng cũng bàn tay đó đã bóp cò, xả đạn xuống làng mạc và con người trên xứ sở của tôi, thì tôi rùng mình ghê sợ, và tôi đã bị ám ảnh bởi điều đó suốt.”

“Tôi cũng từng ghê sợ chúng — đôi tay mình. Tôi nhớ là đã kể với cô về cái cảm giác đó rồi, trong lần đầu tiên bắn người. Chúng lạ như thể chúng không thuộc về tôi, không là thành phần trên thân thể tôi. Nhưng tôi phải sống với chúng. Con người phải quen thuộc dần và sống với tội ác của mình. Tôi biết mấy thằng lính, sau khi đi Nam về, từng được chữa bệnh ở đây, đã tự sát. Tự sát vì không chịu nổi chính cái phần tăm tối trong con người chúng.”

“Ông khác với họ? Ông mạnh mẽ nên chịu đựng được sự dằn vặt ấy à?”

“Tôi không biết. Cho tới giờ thì tôi vẫn ổn. Và dù thường xuyên nghĩ đến cái chết, tôi không hề có ý định tự sát.”

“Vậy giờ tôi phải làm sao?”

“Cô đừng bắt tay tôi nữa. Tôi sẽ không buồn đâu.”

“Ok, cám ơn ông.”

“Và cũng đừng ăn thức ăn của tôi nữa.”

“Ok. Tôi sẽ không ăn nữa. Nhưng nếu điều đó… Này, ông vẫn ăn thức ăn của tôi chứ?”

“Tôi ăn chứ. Tôi hoàn toàn không có cảm xúc gì xấu về cô.”

“Thứ năm tới tôi sẽ mang xôi lạp xưởng cho ông. Đừng mang thức ăn theo nhé.”

“Ok, tôi sẽ không mang. Tôi thích món xôi đó. Người Mỹ rất ít ai ăn loại gạo dẻo. Cám ơn cô. Này, cô có biết là tín đồ Hồi giáo không được đụng vào con heo không? Vì họ cho rằng heo là loài bẩn thỉu.”

“Vâng, tôi có nghe nói. Vì sao ông hỏi?”

“À, không liên quan gì. Tôi bất chợt liên tưởng đến điều đó thôi.”

“Tôi biết điều đó là bất công với ông. Vì đôi tay của ông không chỉ giết, mà chúng còn cứu người, trong đó có những đồng đội của cha tôi nữa. Tuy nhiên tôi vẫn không chịu nổi điều đó. Tôi nhạy cảm quá.”

“Đêm qua không ngủ được, tôi lái xe ra West Side Highway, dọc theo sông Hudson. Tôi đậu xe, thả bộ một lát, rồi ra ngồi ở ngoài bờ kè nhìn trời nhìn đất, nhìn ánh trăng loang loáng trên mặt nước. Một lát sau thì có bốn thằng nhóc đến cướp, chúng bảo tôi đưa ví, tôi làm theo, chúng lấy hết tiền, chừng $130, nhưng rồi một thằng ném trả lại $10, bảo rằng cho tôi ăn sáng. Tôi nhặt tờ bạc lên, lạ thay, lòng đầy hàm ơn. Chuyện đó làm tôi nghĩ hoài, và thấy vui lắm.”

“Trời đất, ông xui quá! Nhưng vì sao bị cướp mà ông lại thấy vui?”

“Vì tôi luôn có một lưỡi dao bấm trong túi áo Jacket, lúc đó tôi suýt lấy dao ra ăn thua đủ với chúng. Nếu làm vậy thì chắc là tôi sẽ giết ít nhất một thằng, và chúng sẽ giết tôi. Nhưng khi được thằng nhóc kia ném lại tờ $10 thì tôi đổi ý. Nó làm tôi nhớ tới chính mình lúc trẻ, cái hình ảnh chính tôi mặc đồ lính loé lên nhanh như chớp, chứ không thì lúc này tôi không ngồi đây với cô rồi. Tôi biết ơn thằng nhóc đó. Không phải vì $10 của tôi mà nó ném lại, nhưng vì nó cho tôi cơ hội để không giết nó và bị chúng giết.”

“Nguy hiểm quá! Nếu lúc này ông không ngồi đây với tôi thì ông sẽ đang ở đâu?”

“Dưới lòng sông. Chỗ làn nước đêm qua loang loáng ánh trăng. Khi thân thể người ta chìm xuống thì làn nước sẽ khép lại, rất nhanh.”

*

“Vì sao ông không lập gia đình?”

“Tôi không thể!”

“Vì sao không thể”

“Sau khi về từ Việt Nam thì đời tôi nát bét. Tôi không thể sống với ai, thậm chí còn nguy hiểm cho họ. Quá muộn để làm lại, nhưng càng cố gắng thì càng thất bại. Và những vết thương làm tôi không còn có nhu cầu với phụ nữ nữa. Cô không muốn nhìn chúng đâu. Người phụ nữ duy nhất yêu thương và chịu đựng được tôi là mẹ tôi. Mà bà cũng qua đời rồi. Các anh chị của tôi đều có gia đình nên mẹ tôi về sống với tôi cho tới khi bà qua đời. Có bà an ủi thì tôi cũng cảm thấy bớt đau khi bị các vết thương hành.”

“Dạo này sức khoẻ của ông thế nào?”

“Càng ngày càng tệ. Chắc không còn lâu nữa đâu. Tôi nghiện thuốc giảm đau như nghiện ma tuý. Tôi có ác mộng hằng đêm. Tôi không ngủ được, có nhiều đêm phải thức trắng.”

“Có thời tôi cũng có ác mộng hằng đêm.”

“Cô thấy gì trong đó?”

“Tôi thấy khi thì mình bị hải tặc hiếp, bị giết, khi thì bị chém bằng dao rựa, khi thì bị đập đầu bằng búa, khi thì bị chìm xuống biển, bị chết đuối… Và tôi sống trong lo sợ, hồi hộp… sợ đủ thứ chuyện.”

“À, PTSD của cô. Cô có đi bác sĩ tâm thần để chữa không?

“Có, nhưng thấy không hiệu quả và mất thời gian và tốn kém quá…”

“Rồi sao nữa? Làm sao cô có thể sống được với chúng?”

“Rồi không dưng chúng hết, nên tôi không đi nữa.”

“Hết?”

“Ừ, hết!”

“Từ lúc nào?”

“Từ sau khi vào đây làm, gặp và quen ông và nói chuyện với ông. Và gặp những người lính mặc đồ rằn ri ở đây. Các ông gợi cho tôi nhớ lại bọn hải tặc và bọn lính hung tợn của Thái Lan.”

“Thật sao?”

“Thật! Tôi sợ cả ông, vì ông có mặt trong ác mộng của tôi.”

“Sợ cả tôi? Trong ác mộng của cô?”

“Vâng, cả ông. Trong ác mộng của tôi. Tôi thấy ông biến thành một trong những thằng cướp biển.”

“Lạ nhỉ?”

“Ừ, lạ. Và không lạ. Sau hôm nhận việc ở đây tôi mua cái bình xịt hơi cay để tự vệ. Rồi thấy vẫn chưa đủ, tôi mua một khẩu súng lục loại nhỏ có thể cất trong túi xách, và bảo cha tôi đưa tôi đi trường bắn và dạy tôi bắn. Và tôi xin được giấy phép mang súng nhưng người ta không cho mang súng vào đây nên tôi bỏ ngoài xe. Hai tháng sau, khi tôi bắn khá thuần thục, tôi thấy mình bắn cả trong những cơn mơ, thì tôi hết bị ác mộng…”

“Bắn trong những giấc mộng? Cô có bắn tôi? Trong mộng?”

“Tôi bắn tất cả bọn cướp biển trong mộng, bắn cả ông trong đó! Ông tin không?”

“Cô tin không?”

“Hahahaha… Không, tôi không tin những giấc mộng của tôi.”

“Bây giờ cô còn thấy ác mộng như vậy nữa không? Ác mộng của cô khác với ác mộng của tôi.”

“Không, tôi không còn bị ác mộng. Ông thấy gì?”

“Tôi thấy khác với cô. Ác mộng của chúng ta khác nhau, trái ngược nhau. Cô thấy mình bị giết. Còn tôi thấy chuyện tôi đã làm. Tôi thấy tôi giết.”

“Tôi sẽ giúp chữa cho ông nhé?”

“Không thể đâu. Cái này đâu có nằm trong chuyên ngành của cô. Và có lẽ nó là chứng bất trị.”

“Tôi không tin nó bất trị.”

“Cô nhìn những thằng cựu chiến binh đang ngồi trong căn phòng ăn này đi. Nhìn kỹ nhé. Chúng đều đã giết người. Chúng là những cỗ máy giết người tiềm năng. Khi được bấm nút kích hoạt là chúng sẽ hoạt động, như máy. Bằng vũ khí hay bằng tay không.”

“Ông không làm cho tôi sợ được đâu.”

*

“Cô có súng thật à?”

“Thật.”

“Tôi không có. Sau khi từ Việt Nam về tôi thề rằng sẽ không bào giờ chạm tay vào súng nữa.”

“Vì sao? Ông sợ súng à?”

“Không sợ. Nhưng vì tôi bắn quá giỏi. Súng gì tôi bắn cũng giỏi. Từ súng đại liên trên trực thăng đến các loại tiểu liên và cả súng ngắn. Tất cả mọi loại vũ khí khi vào tay tôi thì đều được sử dụng hết mọi công năng của chúng.”

“Tôi không tin. Hôm nào ông đi bắn với tôi thì tôi mới tin.”

“Không, tôi không đi đâu. Tôi đụng vào cây súng nào thì nó trở thành súng ma. Nó phải giết người. Tôi tin vậy. Tôi không sợ súng. Tôi sợ phải giết người.”

“Ông bị ám ảnh chuyện giết chóc quá! Đó là quá khứ rồi mà…”

“Tôi nghe lời bác sĩ. Họ bảo chẳng những không được xem phim chiến tranh thôi mà tôi còn không được xem phim bạo lực nữa.”

“Tệ nhỉ!”

“Giờ tôi cũng bắn nhưng không bắn súng. Tôi chụp hình. Tôi chơi nhiếp ảnh mấy năm nay rồi. Thích lắm. Hôm nào tôi cho cô xem ảnh tôi chụp nhé.”

“Ông cho tôi xem ảnh bậy bạ thì sao?”

“Không, tôi không chụp ảnh bậy bạ. Tôi chỉ chụp phong cảnh và đường phố thôi.”

“Ok, vậy thì được. Nhớ cho tôi xem nhé.”

*

“Cô có tín ngưỡng không?”

“Gia đình tôi theo Phật giáo.”

“Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn nhé? Cô có tin là sau khi chết thì người ta còn có linh hồn không?”

“Tôi làm nghề khoa học. Tôi được dạy rằng chỉ nên tin vào những gì được chứng minh bằng khoa học, và tôi cũng được cha mẹ và văn hoá của đất nước tôi dạy về luật nhân quả. Câu hỏi của ông là một câu hỏi khó. Tôi tin và không tin, tuỳ lúc và tuỳ hoàn cảnh. Khi đang trôi giạt trên biển, sức lực cạn kiệt, cái chết cận kề như thể tôi có thể chạm vào nó, thì tôi tin và cầu khẩn những đấng siêu nhiên, bất cứ mọi đấng nào mà tôi nhớ đến, Chúa và Phật và tổ tiên phù trợ cho tôi qua cơn nguy hiểm, để được sống sót.”

“Những kẻ bị tôi giết thì họ có yên nghỉ không? Họ có theo đuổi tôi không? Tôi biết là họ vẫn theo đuổi tôi… Nếu cô là một trong những người tôi đã giết thì cô có theo đuổi tôi không?”

“Tôi không trả lời được những câu hỏi kinh khủng này ông à. Tôi xin lỗi. Tôi không giúp được gì cho ông.”

*

“Này, cô có thấy ở New York này có nhiều người vô gia cư ngồi xin tiền với cái bảng ghi rằng họ là cựu chiến binh không?”

“Có, tôi có thấy.”

“Cô có nhận ra họ có điều gì giống nhau không?”

“Không, ông muốn nói đến vẻ nghèo khổ của họ à?”

“Không, không phải điều đó. Mà là ở những tấm bảng họ trưng ra, phần lớn chúng đều có một nội dung gần giống nhau. Đại khái: Tôi là cựu chiến binh. Tôi cần giúp đỡ. Tôi cần công việc kiếm sống. Tôi cần $30, hay $75, nghĩa là một số tiền để mua vé xe về nhà. Ai cũng phải về nhà.”

“Ừ, đúng vậy.”

“Một số người trong bọn họ nói dối. Họ không phải là cựu chiến binh. Ngoài cái tài nhận ra người Việt thì tôi còn cái tài nhận ra ‘đồng đội’, nhận ra mấy ông GI. Tôi nhìn qua là biết hắn có phải là lính hay không. Cách hàng dặm tôi cũng ngửi ra được mùi của họ. Mùi chiến tranh.”

“Mùi chiến tranh ư? Mùi nó như thế nào?”

“Cô về hỏi cha của cô đi. Ông ấy là lính chuyên nghiệp, ông ấy sẽ tả cho cô thế nào là mùi chiến tranh.”

“Ok, tôi sẽ hỏi. Nhưng ông trả lời cho tôi trước đi.”

“Mùi chiến tranh là mùi của sự nghèo khổ.”

“Sao ông nghĩ vậy?”

“Vì rất ít người giàu tham gia chiến tranh, phần lớn họ chỉ điều khiển chiến tranh. Và hai việc, tham gia và điều khiển, thì khác nhau rất xa. Những thằng lính như tôi đều nghèo, dân nhà quê, và chưa học xong trung học. Nếu ai đã lên đại học thì sẽ được hoãn dịch. Cha cô hiểu điều đó vì trong quân đội của ông ấy cũng vậy.”

“Tôi cũng hiểu.”

“Sao cô hiểu? Cô hiểu như thế nào?”

“Ba tôi đi tù. Mẹ tôi không nuôi nổi mấy anh em tôi, trừ đứa út ra vì nó còn quá nhỏ, thì chúng tôi mỗi đứa đều phải tự kiếm sống, chúng tôi bỏ học, chúng tôi tan tác. Anh tôi phải đi lính khi tới tuổi, đánh trận và chết ở Campuchia. Người ta không mang xác anh ấy về cho mẹ tôi. Người ta đã không mang xác anh ấy về trả cho anh chị em tôi. Chỉ có tin báo và bạn anh ấy kể lại họ bị phục kích trong một cái làng và anh ấy lãnh trọn một quả đạn, đạn gì thì tôi không biết. Mẹ tôi mang mảnh giấy báo tử đi bọc nylon lại rồi đặt hình anh lên để thờ.”

“Tôi quen với xác chết. Tôi thường đón thương binh và xác lính tử trận chở về hậu cứ. Mỗi người đeo trên cổ hai thẻ bài ghi chi tiết về nhân thân và thông tin về y tế của hắn. Cái thẻ kim loại ấy được bọc viền bằng cao su để khi chạm nhau thì không gây ra tiếng động, có thể bẻ ra làm hai phần đều nhau, mỗi phần có thông tin giống y như nhau. Khi hắn đã chết từ trước hoặc chết trên trực thăng, thì tôi bẻ thẻ bài ra làm hai phần, tôi mở miệng hắn ra, bỏ một phần vào đó. Việc đó như một thứ nghi thức kỳ quặc. Những cái miệng trào máu, có khi là một vết thương toác hoác trơ ra xương hàm, răng, lưỡi. Tôi cứ tưởng tượng rằng nửa miếng thẻ bài ấy là miếng bánh thánh cuối cùng mà tôi thay mặt Chúa bỏ vào miệng hắn, như các vị linh mục làm trong buổi lễ. Hay nó là cái vé để hắn lên thiên đàng hay xuống hoả ngục. Rồi hắn được bỏ vào túi đựng xác. Nửa miếng thẻ bài còn lại thì được giao cho người chịu trách nhiệm về nhân sự làm sổ sách. Thông thường thì người lính còn một cái thẻ nữa được bỏ trong giày để phòng ngừa khi thẻ kia bị lạc mất.”

“Chắc ông không biết điều này, theo phong tục của người Việt, và cả người Hoa thì phải, trước khi liệm và đóng nắp hòm lại thì người ta bỏ vào miệng tử thi một đồng xu. Người ta cho rằng vong hồn người chết sẽ dùng đồng xu đó để trả tiền cho người chèo đò đưa hắn qua con sông ngăn cách cõi sống và cõi chết. Có khi người lính cũng dùng cái thẻ bài ấy với chung một mục đích chăng? À, ông còn giữ thẻ bài của ông không? Cho tôi xem nhé.”

“Tôi không biết cái phong tục kỳ quái và thú vị đó. Ừ, biết đâu thần chết nhận diện hắn bằng cái thẻ bài, hay hắn dùng cái thẻ như một thứ thẻ tín dụng ở thiên đàng hay địa ngục chăng, hahaha! Cô có muốn giữ giùm tôi cái thẻ bài không?”

“Không, không đâu. Vì sao ông không giữ mà trao cho tôi?”

“Cô không phải sợ đâu. Đừng nghĩ rằng nó là một bổn phận hay một thủ tục hành chánh, nhưng nghĩ rằng nó là một nghi thức đơn giản mà một người có thể làm cho bạn của hắn. Chẳng phải cô là bạn của tôi sao? Mai tôi sẽ đưa cho cô giữ một nửa cái nhé…”

“Nhưng tôi giữ nó để làm gì chứ?”

“Không sao cả, sau khi tôi đi thì cô hãy ném nó xuống sông Hudson giùm tôi. Tôi muốn một phần của mình nằm lại ở New York, cái thành phố mà tôi đã gắn bó một phần đời sống của mình.”

“Thế thì tôi nhận, nhưng có khi tôi sẽ đi trước ông đấy.”

“Chúa chưa gọi cô đâu.”

*

“Hồi những năm 80, qua hội từ thiện và nhà thờ, tôi có giúp những gia đình người Việt tị nạn vừa đến Mỹ. Thậm chí tôi có nhận đỡ đầu hai đứa nhỏ, gởi tiền cho chúng mua sách vở và chi tiêu trong mấy năm, hai thằng nhóc con trai. Thỉnh thoảng tôi ghé lại nhà thăm gia đình họ, chở chúng đi chơi, vài lần chở chúng về thăm nhà tôi để mẹ tôi nấu cho chúng ăn. Nhưng họ, tôi muốn nói những người lớn, không thân thiện lắm. Họ sợ tôi. Và có lẽ vì mẹ tôi hay khuyên con họ đi nhà thờ. Sau tôi biết lý do là vì tôi là người da đen. Có lần tôi nghe họ nói với nhau, gọi tôi là ‘Mỹ đen’, họ tưởng rằng tôi không hiểu, nhưng tôi còn nhớ ‘Mỹ đen’ là cái tên người Việt thường gọi bọn da đen chúng tôi khi tôi còn ở Việt Nam. Ở Mỹ thời những năm 80 ấy rất khó khăn. Tôi vừa đi làm thợ hàn cho một hãng đóng tàu vừa chạy xe taxi. Tôi làm quần quật mỗi ngày gần 14 giờ…”

“Rồi sau đó?”

“Có lần Phong, tên một thằng nhỏ, giữ một khẩu súng mà nó mua hay nhặt được đâu đó. Tôi biết được và bảo nó theo tôi mang giao cho cảnh sát. Cha mẹ chúng cũng biết được và sợ rắc rối nên họ cắt liên lạc với tôi. Giờ thì chúng đã trưởng thành và có gia đình, và chắc là có đời sống tốt. Thỉnh thoảng thằng nhóc ấy gởi thiệp Giáng Sinh cho tôi. Chúng không biết những việc có súng, bắn súng, và giết người là khác nhau như thế nào… Tôi không hiểu có phải tôi làm việc thiện nguyện, việc giúp những người Việt đó, là để nó giúp tôi yên ổn, nhẹ lòng hay thể hiện sự ăn năn hay không. Cô nghĩ sao?”

“Tôi nghĩ là họ kỳ thị và xử tệ với ông!”

“Tôi quen với việc bị đối xử bất công như vậy từ khi còn bé. Hôm nào tôi sẽ kể cho cô về tuổi thơ của tôi.”

*

“Gia đình tôi mấy đời đều sống ở Clay County, một trong những thành phố nhỏ và nghèo nhất của bang Georgia, có khi nghèo nhất nước Mỹ. Cô nghe cái tên thì biết nó quê mùa và khô cằn như thế nào. Các đời trước của gia đình tôi là nô lệ. Vùng này có chừng 30% là người da trắng, 70% còn lại là người da đen. Không còn là nô lệ như các thế hệ trước, nhưng tới thập niên 60 phần lớn người trong nhà tôi, và trong xóm tôi, đều đi trồng bông cho chủ là người da trắng.

“Tôi quen với sự cô độc từ bé. Những buổi chiều không phải đi học và rảnh việc nhà, tôi lang thang qua một cánh đồng bông rộng ngút ngàn, rồi vào khu nghĩa trang gần đó, tay cầm theo một cây gậy để ngừa khi gặp rắn. Khu nghĩa trang này có từ lâu đời, gần như cả dòng họ nhà tôi đều đã và sẽ nằm ở đó khi qua đời.

“Tôi đi mà không có chủ đích, sau này tôi hiểu rằng vì mình chỉ thích một khoảnh khắc yên tĩnh, khoảnh khắc một mình. Như là cách liên tục chạy trốn cái thực tại buồn tẻ mà ồn ào trong khu xóm. Nơi đó, người ta chỉ ngồi hút thuốc vấn, hút cần sa nếu mua được đâu đó, uống bia rẻ tiền, và nói nhảm với nhau sau một ngày cực nhọc, trong tiếng nhạc ầm ĩ từ những cái radio. Bình yên, an toàn, nhưng quá buồn tẻ.

“Tôi nằm xuống chân mộ quen, mộ của một người trong gia tộc của tôi. Cái bia sứt sẹo, mòn vẹt với thời gian, phai nhoà tên của người nằm dưới lòng đất từ hơn 50 năm trước: W. Jackson. Ông ấy là Jackson, người trong nhà thì gọi tên cúng cơm của ông ấy là Jack Crazy [Jack Khùng]. Tôi thích nằm ở bên ông vì chỗ này có bóng cây râm mát, và vì tôi thích câu chuyện đời của ông ấy. Tôi tưởng tượng mình có thể trò chuyện với ông ấy, với những lóng xương nằm bên dưới gò đất. Những lóng xương ấy đã từng phiêu lãng ở những chân trời mà tôi mơ ước được đến. Tôi nghe người ta kể rằng ông ấy đã bỏ cái xứ này để đi giang hồ khắp nơi, không chỉ đi trên nước Mỹ mà ông ấy còn qua Phi châu, Âu châu, Trung đông, Trung quốc… rồi về sống ở New York. Nhưng sau cùng ông ấy cũng về lại cái xứ đất sét này khi đã quá già mà chết.

“Tôi mơ mình sẽ có cuộc đời như ông ấy, đi xa và đi nhiều hơn ông ấy. Tôi sẽ đi khắp thế giới, cả những nơi ông ấy chưa đặt chân tới, và nếu có về Mỹ thì sẽ về New York như ông ấy, nhưng sẽ không về đây để chết. Lúc ấy, vào cái thời thơ dại và mông muội của tôi, New York là một thế giới khác, một hành tinh khác, tuy nó cùng ở trên nước Mỹ nhưng nó không cùng ở trong cái thế giới, cái vũ trụ của chúng tôi.

“Tôi nhìn những ngọn bông rập rờn trong gió ngoài xa, có vài nụ bay vờn trong nắng tàn. Mùi đất khô hanh nồng xộc lên mũi trong những ngày hè nóng, rồi tôi ngủ thiếp đi cho tới tối mới lần mò về nhà, trước khi mẹ tôi xua các anh chị đi tìm thằng con út không giống chúng. Tôi dò dẫm, khập khiễng bước qua những ngôi mộ sụp lở, nhấp nhô. Tôi có cảm giác như những kẻ nằm dưới mộ đều cố gắng níu chân tôi lại. Họ muốn tôi nằm lại đó mà tan rữa đi như họ, thành những lóng xương như họ, nằm bên họ.

“Sau này, mẹ tôi lên New York sống với tôi vì các anh chị đều đã có gia đình. Trước khi qua đời bà cũng muốn được đưa về nằm lại ở cái nghĩa trang đó. Tôi chiều theo ý bà nhưng không thể hiểu nổi cái gì đã níu kéo người ta về cái nơi buồn tẻ nghèo hèn đó. Tôi thì khác. Tôi đã viết di chúc. Nếu tôi chết thì hãy thiêu xác rồi ném cái mớ tro tàn ấy đi đâu cũng được, nhưng tốt nhất là mang nhúm tro của tôi về bỏ dưới chân mộ của Jack. Tôi muốn nằm bên ông ấy. Tôi biết là các anh chị của tôi sẽ làm được điều đó. Mong họ làm theo ý nguyện của tôi. Rốt lại, nghĩ cho cùng thì tôi cũng không khác gì họ. Dù trong một hình thức khác thì tôi cũng sẽ trở về. Về quê.

“Tôi khó thoát ra khỏi hoàn cảnh của mọi người trong gia tộc nếu đã không đi lính. Đó là lối thoát duy nhất của tôi. Vậy mà, sau khi giải ngũ tôi chỉ muốn chạy ù về với mẹ, cho bà thấy rằng thằng con của bà chưa chết. Về sau, tôi không còn sợ chết như thời gian đầu mới vào lính. Tôi chai đá đi. Nhưng tôi lại sợ cái cảnh mà tôi hình dung ra trong đầu hằng đêm: cảnh mẹ tôi nhận tin báo tử của tôi. Chắc nó cũng đau đớn giống như khi mẹ cô nhận tin của anh trai của cô. Tôi không biết mẹ của cô chịu đựng cái tang tóc ấy như thế nào. Nhưng mẹ của tôi thì sẽ kinh khủng lắm. Bà sẽ đấm ngực, kêu gào và giật ra khỏi đầu từng nắm tóc. Mẹ của những kẻ bị tôi giết thì đã đau khổ như thế nào? Có khi tôi không bị dằn vặt về những người mình đã giết bằng những người mẹ mà họ bỏ lại.

“Vậy mà khi trở về, mọi người nhìn tôi ghẻ lạnh, đối xử với tôi nhạt nhẽo, trừ người duy nhất là mẹ tôi. Lạ, dù biết rằng con mình giết người mà mẹ tôi vẫn không xử tệ với tôi như những người khác, không như tôi đã nghĩ. Bà chỉ đau khổ ngấm ngầm, và cầu nguyện cho tôi. Họ cho rằng tôi đã phạm điều răn lớn nhất trong những điều răn của Chúa: ‘Chớ giết người.’ Và họ tin rằng nước Mỹ không cần, không nên có chiến tranh. Sở dĩ nước Mỹ có chiến tranh là do những thằng lính quèn như tôi gây ra. Tôi không phân bua gì được.

“Một hôm, không lâu sau đó, tôi ra thăm mộ Jack Khùng, rồi nhớ lại lời nguyền khi xưa mà tôi đã không giữ được: đi khỏi Georgia và đừng trở về. Tôi lại khăn gói ra đi. Đi New York và chết ở New York.

“Ngày mai tôi được về nhà. Dù ở nhà thì cũng chỉ một mình nhưng nằm trong bệnh viện thì chán quá.”

*

Chiều hôm qua, trời mưa lớn. Tôi đang họp trong phòng với ba người đồng nghiệp thì nghe loa thông báo Code 4000, có bệnh nhân cần cấp cứu ở bãi đậu xe. Code 4000 là thông báo có bệnh nhân đang nguy ngập vì tim mạch, các bác sĩ nào đang ở gần bệnh nhân đều phải chạy ngay đến nơi đó. Chúng tôi ở xa nên không phải đi, tuy nhiên đều đứng lên nhìn qua kính cửa sổ xuống bãi đậu xe. Khoảng cách khá xa, tôi chỉ thấy mờ mờ trong màn mưa nhiều người lố nhố đang vây quanh một chiếc xe màu đỏ lẫn trong những chiếc xe khác. Nửa tiếng sau họp xong, tôi ra về.

Sáng nay tôi bước vào buồng thang máy mà không có ai chào. Không có xạ thủ. Tôi nghĩ chắc ông ấy mệt nên nghỉ làm. Một lát sau cô thư ký phòng nhân sự gởi e-mail chung cho mọi người, thông báo tin buồn.

“Xin mọi người hãy cầu nguyện cho người bạn yêu quý của chúng ta. Ông xạ thủ đã qua đời chiều hôm qua tại bãi đậu xe vì một cơn đột quỵ. Chúng tôi sẽ thông báo về các chi tiết tang lễ khi được biết rõ thời gian và địa điểm.”

Tôi bước ra cửa sổ nhìn xuống bãi đậu xe và khoảng trống nơi chiếc xe đỏ ngày hôm qua đậu, bây giờ có những chiếc xe khác đã lấp đầy. Tôi lấy nửa cái thẻ bài của xạ thủ mà tôi cất trong hộc bàn ra ngắm, mảnh kim loại mỏng và lạnh trong lòng bàn tay tôi. Chiều nay nó sẽ nằm dưới lòng sông như ý nguyện của ông.

Giờ ăn trưa, tôi lặng nhìn cái bàn ở góc phòng và chiếc ghế trống mà xạ thủ thỉnh thoảng ngồi ăn với tôi. Tôi nghĩ mình sẽ không ngồi vào cái bàn đó nữa.

Vĩnh biệt xạ thủ. Vĩnh biệt những cánh đồng bông ở Georgia. Vĩnh biệt những món ăn ông chia sẻ. Vĩnh biệt chân mộ Jack Khùng trong nghĩa trang mà ông đã ngồi. Vĩnh biệt chiếc xe taxi màu vàng mà ông đã lái. Vĩnh biệt những chuyến bay đêm giữa lằn ranh sống chết. Vĩnh biệt những câu chuyện không đầu không đuôi.

Vĩnh biệt ác mộng chiến tranh. Vĩnh biệt những vong linh theo đuổi, ông sẽ gặp lại họ. Vĩnh biệt ác mộng Việt Nam. Vĩnh biệt tất cả.

Vĩnh biệt trần gian.

Ngủ yên, mộng lành. Bay nhẹ nhàng như bông trên cánh đồng, bay về với mẹ đi nhé, xạ thủ Ringo.

25/10/2017

_________________________

[1]Xạ thủ: gunman, còn gọi là door gunner nếu là xạ thủ trên máy bay trực thăng.

[2]PTSD: Post-traumatic stress disorder, là một bệnh tâm lý rối loạn do những sự tổn thương về tinh thần, thường gặp ở những người đã trải qua những biến cố khủng khiếp trong chiến tranh, trong những tai nạn hay những vụ bạo hành.