This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
“Chỉ có Trời hại mới chết, người hại không chết.” Đây là những điều có thật tôi viết lại nhằm nói lên rằng, “Có thế giới vô hình, và Con Người Ta chết có số.” Bàn Tay……..
Con đường Quốc lộ 14, từ Pleiku đi Kontum còn tương đối an ninh cho những chuyến xe đò và nhứt là xe nhà binh chạy ngược xuôi chở quân, đồ tiếp tế nhiên liệu, lương thưc cho những cánh quân, những đơn vị trú đóng vùng Kontum, Tân Cảnh, Benhet vào ban ngày vào những năm 1970-1971. Từ KonTum, nối dài cho đến Tân Cảnh, QL14 vẫn còn là đường tráng nhựa rất tốt, nhưng từ Tân Cảnh đi về hướng Căn Cứ Ben Het chỉ là con đường rải đá gồ ghề, dằng xốc. Đơn vị của tôi nằm ngay trên con đường dằng xốc này, nhưng vì địa thế hiểm trở chật hẹp nên con đường đã xẻ đôi căn cứ ra làm hai, có nghĩa là con đường chạy ngang chính giữa căn cứ. Đây là Căn Cứ Hoả Lực Dakto. Căn cứ Hoả Lực nằm trên đỉnh ngọn đồi thấp, phía dưới chân đồi có con suối và chiếc cầu sắt bắt ngang uốn cong hai vòng trước khi lên đến đỉnh. Đơn vị của tôi từ Qui Nhơn tăng phái lên vùng Dakto-Tân Cảnh, gồm có sáu khẩu đại bác 105 ly, yểm trợ trực tiếp cho Trung Đoàn 42 Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 22 BB, chịu trách nhiệm lãnh thổ ở đây.
Một đơn vị pháo binh SĐ22BB.
Nhưng bỗng nhiên tình hình chiến cuộc trở nên sôi động, nên mới có một Lữ Đoàn Nhảy Dù tăng viện, và đã xãy ra chuyện “Người ở lại Charlie”, một ngọn núi cao ngất cách xa tôi ngoài tầm đạn 105 ly. Đơn vị này hiện có pháo binh cơ hữu của Nhảy Dù yểm trợ. Buổi chiều trên căn cứ Hoả lực Dakto, tôi đang thư thả ngắm trời mây sông núi trong không khí “không tiếng súng nổ” trong chốc lát, thì từ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 22 đang đặt tại Tân Cảnh, trong đó có Bộ chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn kèm theo, đã ra lệnh cho tôi chuẩn bị “thế lên đường”. Dân Pháo Binh mà nghe lệnh “Thế Lên Đường” là phát chán vì phải dọn tất cả, nặng nhứt là chất hết đạn đại bác lên xe, trung bình chừng hai ngàn quả, khiến lính các khẩu đội vác mệt nghỉ. Trời miền núi vùng Tam Biên (ngã ba biên giới Việt Miên Lào) xuống nhanh và mau tối. Khi tôi báo cáo “Sẵn sàng” về Bộ Tư lênh Sư Đoàn, thì đầu máy bên kia bảo “chờ”. Trời sẫm tối không nhìn thấy gì trước mặt. Than ôi! Giờ này mà còn chờ thì biết chừng nào mới “Thế lên Đường” để đến vị trí mới, chiếm đóng vị trí, rồi tác xạ yểm trợ ngay cho các đơn vị bạn đang chạm địch? Gióng hướng súng ban đêm là nổi cực hình cho Pháo Binh vì hạn chế tối đa tiếng động nhất là ánh đèn pin. Tôi bốc máy thúc dục “Sao cho lệnh đi chưa?” Dĩ nhiên là không nói bạch văn mà phải dùng ám danh đàm thoại cho địch không biết. Bên đầu máy vẫn bảo chờ. Tôi sốt ruột lắm. Cuối cùng vì lý do gì không biết, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đã ra lệnh hủy bỏ, vì đã điều động đơn vị 155 ly khác đến thế chỗ tôi sắp chiếm đóng. Thế là khỏe re, nhưng phải cho lệnh Pháo Đội xuống đạn và quân dụng ở lại tại chỗ. Một giờ khuya đêm đó, tôi nhận lệnh yểm trợ tối đa cho căn cứ Phượng Hoàng (căn cứ mà hồi chiều lệnh cho tôi di chuyển đến), vì đơn vị đại bác 155 ly của người bạn Lâm Xuân Thảo bị tràn ngập biển người sau nhiều đợt địch pháo kích liên tục. Đơn vị của tôi đã bắn liên tục từ khuya cho tới tờ mờ sáng thì được tin Pháo đội 155 ly bị “xoá sổ”, một số lính bị bắt sống. Trung Uý Thảo chết tại chỗ nhưng không toàn thây vì trận xáp lá cà của địch. Tôi bàng hoàng xúc động thương tiếc cho người bạn trước tôi một khoá và cũng rùng mình nghĩ rằng Thảo đã chết thế mình. Tôi không hiểu tại sao đến giờ phút sau cùng thì thay đổi lệnh không cho tôi thay thế, mà là một đơn vị 155 ly, đến đó để yểm trợ cho căn cứ 5 và 6 đang bị áp lực địch vây. Thảo chết không toàn thây nhưng vẫn lấy được xác. Được tin anh ra đi, tôi nghẹn cứng cổ họng, thương cho người bạn cùng đi học một khoá Đại Đội Phó Chiến Tranh Chính Trị ngày nào. Chúng tôi, cùng ở trong Pháo Binh Sư Đoàn và cùng cấp bậc, được tham dự khoá học này, nên chúng tôi rất thân nhau. Ngày mãn khóa, Trường Chiến Tranh Chính Trị tổ chức buổi lể Sinh Nhật Tập Thể vừa dùng để mãn khóa vừa để cho các khoá sinh biết cách thực hành khi trở về đơn vị của mình. Khi buổi lễ chấn dứt, Thảo đã nghịch phá, cắm nhiều đèn cầy xung quanh chiếc giường của tôi, rồi rải nhiều hoa tươi, và cắm một bình hoa thật to trên đầu giường. Hắn đã cắm một tấm bảng viết vội “Cố Đại Uý Nguyễn Trãi” ngay chính giữa. Ngoài ra, hắn để xắc đựng quân trang dài tròn to bằng thân tôi và chiếc nón sắt của tôi trên đầu. Tất cả được phủ bằng poncho nên trong giống y chang một thây người chết nằm đó. Sau khi thắp sáng tất cả đền cầy, hắn chạy ra hành lang gọi tôi vào phòng. Khi nhìn thấy một thây người trùm kín, ghi tên tôi, với ánh đèn cầy tỏ sáng và hoa tươi, tôi lạnh toát cả người. Tôi liên tưởng tới chuyện không may, như báo trước một điềm xấu sẽ xảy ra cho tôi trong những ngày kế tiếp, khi trở lại mặt trận. Tôi giận lắm, tôi biết ngay là thằng Thảo nó làm trò chơi thật quá đáng này. Tôi vừa hét vừa đá mạnh làm tung toé hết hoa và đèn cầy. Sau đó, tôi đạp văng chiếc nón sắt cùng túi đựng quân trang rơi xuống giường, rồi hầm hầm bỏ ra ngoài. Hành động giận dữ của tôi tưởng đủ để cho nó hiểu rằng tôi ghê sợ không thích trò chơi này, ngỏ hầu nó ân hận việc làm của mình. Khi nguôi giận, tôi trở lại phòng thì lại thấy trò chơi cũ được lập lại. Tôi lại đá và hất tung chiếc giường, trong tiếng cười cuả những người cùng khoá đang chứng kiến. Thực tình tôi rất sợ hình ảnh này vì linh tính báo cho tôi biết sẽ có điều không may xảy ra cho tôi khi trở về đơn vị. Giờ đây tin Thảo đã vĩnh viễn ra đi làm tôi xúc động mạnh. Chuyện này đáng lẽ ứng vào tôi. Sao Thảo lại chết thế tôi?? Hay đây là một điềm gỡ đã ứng nghiệm của một trò chơi “dại dột” trong trường Chiến Tranh Chính Trị? Một năm sau, cũng tại Căn Cứ Hoả Lực Dakto, năm 1972, “Mùa Hè Đỏ Lửa”, trong đêm CSBV ào ạt tấn công Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 42 BB trong đó có Đại Tá Lê Đức Đạt, Tư Lệnh Sư Đoàn, và Bộ Tư Lệnh Tiền Phương. Pháo đội 105 ly của tôi đã bắn liên tục từ 10 giờ đêm đến rạng sáng hôm sau. Vì khoảng cách gần mút tầm nên tôi cho xử dụng thuốc nạp 7, là thuốc nạp hết cỡ. Vì vậy, nòng súng giật lùi rất mạnh làm cho càng súng một khẩu đã bị gãy. Theo dõi trên hệ thống vô tuyến, tôi biết giờ nào các ông xếp của mình rời hầm chỉ huy, giờ nào mất liên lạc, và giờ nào địch quân tràn ngập căn cứ, qua giọng nói vang lên trong máy của những sĩ quan “Đề Lô”.
Pháo binh Sư đoàn 22 BB yểm trợ quân bạn.
Tôi mất liên lạc với cấp chỉ huy trực tiếp, nên quay sang yểm trợ cho một cánh quân Nhảy Dù thuộc Lữ Đoàn 2, gần Tân Cảnh. Viên sĩ quan”Đề Lô” của Nhảy Dù gọi tôi xin yểm trợ. Khi tôi kiểm soát vị trí mục tiêu, và điểm đứng (toạ độ điểm đứng của sĩ quan này) thì thấy khoảng cách rất gần. Sau khi điều chỉnh nhiều lần để bắn “hiệu quả”, mục tiêu chỉ còn cách đơn vị bạn dưới 50 mét. (Khoảng cách không an toàn và không cho phép tác xạ vì quá gần quân bạn.) Tôi đích thân gặp người Sĩ Quan Đề lô và nói: – “Không thể bắn cho anh được vì quá gần quân bạn.” Người SQ “đề lô” ấy trả lời, rất dõng dạc: – “Anh cứ bắn đi. Bắn cho đến khi nào không còn nghe tiếng của tôi nữa thì coi như tôi đã chết.” Câu nói rất anh hùng và khí tiết của một Sĩ Quan Pháo Binh hy sinh thân mình để cứu đơn vị đã làm tôi sững người, bất động. Tôi nghẹn lời vài giây vì xúc động. Tôi không có sự chọn lựa nào hơn khi nghĩ đến những loạt đạn “Bắn Hiệu Quả” sẽ cứu được đại đơn vị cuả bạn. Tôi cũng đang cầu xin an toàn cho viên sĩ quan “Đề Lô”. Sau đó, tôi gọi danh xưng của người này nhiều lần và không thấy tăm hơi gì hết. Tôi lặng người đi và nghĩ rằng anh ta đã chết. Lúc bấy giờ tôi mất liên lạc hoàn toàn với các cấp chỉ huy của tôi từ phía Trung Đoàn 42 và Pháo Binh Sư Đoàn. Tôi biết tất cả Bộ Tư Lệnh đã di tản ra ngoài và đang ở đâu đó. Từ giờ phút này tôi thực sự cảm thấy bơ vơ, giống như “rắn mất đầu”. Tôi không biết phải làm gì ngoài việc tự phòng thủ căn cứ. Từ trên một ngọn đồi của căn cứ Dakto nhìn về hướng Tân Cảnh, tôi thấy hai chiếc phản lực đang nhào xuống, ngóc đầu lên liên tục, và rồi một cột khói mịt mù bám theo một chiếc. Chắc là bị dính hoả tiển SA7 của địch? Khi Bộ Tư Lênh đã bị tràn ngập thì cũng là lúc bọn VC quay mũi dùi sang căn cứ của tôi bằng đại bác 130 ly. Tôi nghe tiếng depart rất rõ và xác định được hướng bắn từ đâu. Nhưng nó cách tôi 18 cây số lận, còn súng của tôi có phản pháo cũng chỉ gãi ngứa vì chỉ có 11 cây số 100 mét. Thế là cứ chịu trận ăn pháo địch mà không có một phản ứng nào. Tất cả hấm hố, đài tác xạ, hầm đạn đều trúng đạn của địch tan nát. Hệ thống truyến tin bị sập đổ, gãy cần ăng ten không còn liên lạc với ai được. Hầm chỉ huy của Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ Pháo Binh cho tôi cũng bị pháo sập. Ông Tiểu Đoàn Trưởng đã bị thương. Tôi chưa biết xoay sở ra sao trong tình cảnh này, trong khi bộ binh địch chưa tiến tới gần căn cứ của tôi. Tất cả lính của pháo đội đều trú ẩn dưới hố cá nhân mà chiều cao bằng với mỗi con người trừ cái đầu nhô lên để chiến đấu cá nhân. Đơn vị Pháo Binh của tôi ai cũng được trang bị thêm một khẩu M72, trong lúc này rất cần thiết để chống xe tăng địch; trên miệng hố cá nhân mỗi người đều có một khẩu M16 và một khẩu M72, chờ chiến xa địch tiến đến. Sư Đoàn Bắc Việt, nhất là đơn vị pháo binh địch đang có một “đề lô” áp sát đơn vị tôi. Bọn này cũng tiết kiệm đạn ra phết, chỉ tác xạ khi nào có người đi trên mặt đất sau khi san bằng căn cứ. Căn cứ vào nhiều đợt pháo kích bằng 130 ly; tôi đoán là “đề lô” của địch rất gần, gần sát nên chúng pháo kích chính xác lắm. Cũng đã xế chiều , người nào cũng mệt mỏi và đói. Khi đạn130 ly không còn nổ trên căn cứ, tôi leo lên khỏi miệng hố đi kiếm soát một vòng xung quanh các hố cá nhân. Tôi gọi lớn Ban Hoả Đầu Vụ đem lương khô cho tôi và cho lính còn đang dưới hố cá nhân. Binh Nhứt Nguyễn Văn An, dáng người lùn, mập không lanh lợi, tay cầm gói gạo sấy đã đổ nước chạy đến miệng tro cho tôi. Lúc này tôi đã đi đến chổ khác. Bọn “đề lô” Việt Công ma mãnh không kém, vừa thấy có người trên mặt căn cứ là gọi pháo tiếp. Một tiếng nổ đạn depart từ một khu núi quen thuộc từ sáng tới giờ phát ra, nên chúng tôi biết ngay là sẽ ăn đạn pháo 130 ly kế tiếp. Không ai bảo ai, Binh Nhứt An tự động nhảy xuống cái hố trống của tôi, còn tôi thì nhảy vào hố khác cách đó chừng 100 mét (hố bỏ trống). Loạt pháo này chỉ chừng trên dưới một chục quả rồi ngưng. Tôi chạy thục mạng về hố của mình, thì hỡi ôi, phía dưới hố chỉ còn lại đôi giày trận của An. Hình hài An nát bấy nhừ y như bầm tiết canh vịt, vì một quả đạn 130 ly rơi đúng xuống hố mà An đang núp. An đã chết thế cho tôi trong giây phút này. Làm sao tin được, một viên đạn bay theo chiều hình cong parabol từ trên cao có thể rớt trúng phóc vô miệng một cái hố cá nhân chỉ vừa vặn đúng cho một thân con người. Viên đạn rớt đúng ngay lúc tôi đã rời chỗ khác, và An đã chết thay thế tôi. Sát miệng hố có chiếc xe GMC 10 bánh đậu từ lâu dùng để phát điện cho hệ thống truyền tin đánh “morse”. Chiếc xe đã hư nát lủng nhiều lỗ đạn và xẹp bánh từ những đợt pháo kích trước, giờ đây thịt da nhão nhoẹt nát bấy và nhỏ như thịt bầm của An một phần được bắn lên và đang bám trên thành cửa xe.
Tôi lặng người đi và tưởng như trong mơ, tôi thực sự xúc động trước cái chết của người lính thuộc cấp chết thế cho mình. Cái số của tôi chưa tới??? Điều gì đã khiến cho tôi rời cái hố? Một sự tình cờ xảy ra hay có sự “sắp xếp của bàn tay vô hình nào đó??” Một cách tránh pháo kích địch hiệu quả nhứt không gì bằng ẩn người trong hố cá nhân. Đạn rớt trước mặt hay sau lưng hố không bao giờ gây thiệt mạng. Chưa bao giờ tôi gặp một trường hợp đạn pháo kích rớt chính xác xuống miệng hố. Điều gì đã khiến tôi rời khỏi cái hố cá nhân của riêng tôi? Tim tôi đập mạnh hơn. Tôi lặng người và TIẾC THƯƠNG CHO AN. Người đi trong cuộc chiến thường hay tin tưởng vào SỐ MẠNG, hay là TRỜI KÊU AI NGƯỜI ẤY DẠ, hoặc ĐẠN TRÁNH MÌNH CHỨ MÌNH KHÔNG THỂ TRÁNH ĐẠN. Tâm tư tôi bị giao động mạnh khi nhìn xuống hố, tôi không có thể nhận ra một thứ gì cái còn lại là của một con người, vì nó nát bấy như băm nhỏ. Một viên đạn đại bác 130 ly làm sao có thể rớt ngay phóc vô một cái hố đường kính chỉ chừng năm mươi centimet. Nếu như lúc đạn đang bay trong không trung, tốc độ gió mạnh hơn, hay gió đổi chiều chỉ một chút cũng làm viên đạn lệch đi; hay người xạ thủ địch quân giật cò chậm hơn 1/50 giây cũng sẽ làm viên đạn lệch qua chỗ khác vì sự quay của trái đất sẽ đổi chỗ viên đạn rơi. Nhiều yếu tố để khiến một viên đại bác rơi trúng đích, nhưng có điều gì đã khiên tôi bồn chồn đói bụng mà phải rời hố, để rồi một binh sĩ thuộc cấp chết thế mình. Tôi nhắm mắt lại và lặng người không dám nhìn vào đáy hố, chỉ còn rõ nhất là đôi giày trận của Binh Nhứt An. Trong nổi hụt hẫng kèm theo lo âu, chưa biết phải làm gì thì Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ chuyển cho tôi một cái lệnh. Hệ thống truyền tin gần và xa của đơn vị tôi coi như hoàn toàn tê liệt; chỉ còn duy nhứt đơn vị bảo vệ căn cứ của tôi là chỗ dựa trong lúc này. Lệnh của Trung Tướng Ngô Du, Tư Lệnh Quân Đoàn, cho tôi “triệt thoái khỏi căn cứ đi về trại BENHET ngay bây giờ”. Thì ra vẫn còn có người nghĩ đến tôi. Thực ra họ nghĩ đến 6 khẩu đại bác thì đúng hơn. Tôi không liên lạc trực tiếp với Quân Đoàn, mà chỉ thi hành lệnh qua trung gian là Biệt Động Quân Quân Khu 2. Đơn vị Pháo Binh của tôi mất tiêu hết đâu rồi, đâu còn xếp lớn xếp nhỏ gì để liên lạc. Tôi trở lại Pháo đội và ra lệnh “cấp tốc di tản khỏi nơi này.” Khi đề lô địch thấy lố nhố người xuất hiện chạy đi chạy lại trên mặt đất thì họ bắt đầu khai hỏa trở lại, làm cho công việc chuẩn bị trở nên phức tạp hơn. Chỉ móc được 5 khẩu đại bác vào những chiếc GMC nào còn chạy được dù là bể bánh xe, hay bể kết nước. Tôi phải bỏ lại một khẩu vì không còn kịp. Nếu cố gắng kéo cho được 6 khẩu và đầy đủ phụ tùng thì tôi e sẽ có quân nhân trúng đạn pháo kích. Do đó, tôi quyết định tự tay tôi rút khối kích hoả của khẩu bỏ lại và ném ra xa, giấu đi, làm vô hiệu không cho địch quân xử dụng khẩu đại bác này khi họ tràn ngập. Tôi cất chiếc nón sắt ra khỏi đầu và cúi xuống hố, nơi có xác bầy nhầy bị băm nhỏ, như chào vĩnh biệt Binh Nhứt Nguyễn Văn An. Đạn pháo kích địch vẫn tiếp tục rơi. Tôi chạy thiệt nhanh lại đoàn xe đang chờ và phóng hết ga về hướng căn cứ BENHET, căn cứ đầu não của Biệt Động Quân Biên Phòng của vùng rừng núi Tam Biên. Đi về hướng BENHET tức là không về hướng đồng bằng mà càng tiến gần với ngả ba biên giới Việt Miên Lào. Khi đến BENHET, tôi gặp người Trung Tá Biệt Động Quân, căn cứ trưởng. Ông ta bảo tự bố trí phòng thủ tạm và chờ sẽ có lệnh sau.. . Khi mặt trời khuất sau rặng núi, tôi quyết định dùng một chiếc GMC và lựa một toán lính gan dạ, lanh lẹ cùng tôi chạy trở lại căn cứ Dakto để lấy khẩu đại bác bị bỏ lại. Vì tôi là người dấu khối kích hỏa, biết chỗ nên tôi phải đi. Vả lại, có tôi cùng đi, binh sĩ sẽ lên tinh thần. Địch quân không ngờ rằng có người trở lại nên không phản ứng kịp và chúng tôi đã hoàn thành công tác lấy được khẩu đại bác trở về. Ở đây pháo đội không gióng hướng súng để tác xạ yểm trợ nữa, mà chỉ bắn trực xạ phòng thủ vị trí, vì đêm nào cũng nghe tiếng xích của xe tăng địch gầm rú xung quanh. Cả pháo đội thức bét con mắt để trông chừng mà trực xạ. Tới ngày thứ tư mới có trực thăng câu đại bác và toàn bộ pháo đội tôi từ Benhet về Kon Tum. Không phải Quân Đoàn thương tiếc đơn vị tôi mà cho trực thăng hai cánh quạt đến bốc, mà vì cả Sư Đoàn vừa bị tan hàng không còn một khẩu đại bác nào để tử thủ KonTum. Khi trực thăng đáp xuống là lúc đạn pháo kích bắt đầu rơi tới tấp. Trực thăng không thể chờ nên cũng liều mạng móc súng, đạn 105 ly, và dụng cụ. Coi như chơi trò ú tim hên xui may rủi, nếu lỡ trúng đạn thì đành chịu. Mỗi lần chỉ đáp được một trực thăng vì xuống một lúc dễ trúng đạn pháo kích. Sau 10 chuyến thì chuyển xong hết đơn vị. Chỉ khi nào trực thăng lên đến độ cao an toàn thì tôi mới biết mình thoát nạn. Thời điểm này là lúc Cộng Quân Bắc Việt đang vây. KonTum chỉ còn có cái lõm. Trực thăng vừa đáp xuống thành Dapla là nhận dàn chào đạn của VC ngay. Bọn nó ở đây sẵn và pháo kích liên tục. Cái số của tôi may mắn nên không làm sao cả. Những ngày gian khổ và nhiều nguy hiểm tại KonTum cũng qua đi khi có các đợn vị Pháo Binh của Sư Đoàn 23 đến được. Nhưng họ không thể mang theo đại bác vì trực thăng không thể câu súng qua đèo ChuPao. Không biết do ông lớn nào thương nghĩ tới, đã truyền lệnh cho tôi từ Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn 23, ra lệnh tôi bàn giao tất cả súng đại bác lại cho nhân viên Pháo Binh Sư Đoàn 23 để chuẩn “trực thăng vận” về Pleiku nhận súng ở đó và tái phối trí. (Tôi là dân Pháo Binh Sư Đoàn 22) Gia đình tôi từ quê cha sanh mẹ đẻ cho tới quê vợ không biết tin tức tôi ra sao trong hai tháng. Ba tôi chạy ngược chạy xuôi hết đi coi bói ông thầy này tới bà nọ để mong tin con. Cả một sư đoàn 22 và cả một Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn của tôi tan nát, còn ai theo dõi số phận của tôi. Do đó, làm sao từ Nha Trang và Sài Gòn biết được. Khi về đến Pleiku, đơn vị đã ổn định, tôi được đi phép đặc biệt về thăm nhà. Tất cả “gia tài” quân ngũ của tôi để lại tại căn cứ Đệ Đức. Khi Bồng Sơn bị tràn ngập, căn cứ mất, tôi cũng mất hết tất cả. Nơi này có hai ông Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó tiểu đoàn của tôi cũng mất tích và chết sau đó. Tôi không còn đồ đạc gì nên cứ mặc quần áo trận lên xe đò về Nha Trang.
Vừa ngồi lên xe đò nhỏ từ Qui Nhơn đi Nha Trang, một cô ngồi sát bên bảo: – “Anh mặc đồ này khi vô tới Hảo Sơn, Vũng Rô, tụi nó chận và bắt anh đó.” Cô nói tiếp, “Để em đưa cái áo này cho anh mặc đỡ.” Tôi nghĩ bụng, “Về tới đây còn gặp rắc rối.” Thế là tôi cũng phải nghe lời cô ấy. Tôi nhớ đến chuyện Binh Nhứt An đã thế chỗ tôi trong hố cá nhân, để rồi thịt xương bị nổ tung và bằm như tiết canh. Tôi thở ra và nghĩ không ngờ vẫn còn thế giới vô hình đâu đây. Tôi không biết phải làm gì với em gái tôi để gọi rằng đền ơn cứu mạng.(Tôi tin là người em gái của tôi, đã chết khi vừa tròn 3 tháng tuổi, đã luôn phù hộ cho tôi.) Kể từ đó tôi rất tin tưởng CON NGƯỜI TA CHẾT ĐI VẪN CÒN LINH HỒN, cũng như tôi tin CON NGƯỜI TA SỐNG CHẾT ĐỀU CÓ SỐ. Đến năm 1975, vùng Dakto-Tân Cảnh-Ben Hét coi như mất luôn vào tay địch. Ta chỉ còn giữ được KonTum. 1972, Sư Đoàn 22 Bộ Binh cùng với một Liên Đoàn Biệt Động Quân ồ ạt tái chiếm ba Quận Bắc Bình Định là Hoài Ân, Bồng Sơn, Tam Quan. Có lúc quân ta dàn cả 52 khẩu đại bác trong rừng dừa Vạn An để bắn TOT (Time On Target) vào vùng đất địch. Chỉ trong hai giờ tác xạ không ngưng nghỉ, các đồi núi trơ xương chỉ còn đất với đá mà không có cây cối nữa. Pháo đội của tôi chiếm đóng đồi Vạn An. Cứ sáng sáng năm giờ là pháo binh địch bắn vào căn cứ của tôi. Mà hễ bị pháo kích là chúng tôi bắt buộc phải phản pháo. Tôi chạy ra khẩu đội ra lệnh thì lính mới dám ngóc đầu lên vì địch bắn rát quá. Tôi đứng ngay giữa hai càng súng ra lệnh nạp đạn trực xạ vì súng địch chỉ cách chừng 1000 mét. Một quả đạn súng cối 82 ly của địch rớt làm rách áo giáp và xẻ nát thịt bắp đùi người xạ thủ nạp đạn rồi rớt xuống trước mặt tôi mà không nổ. Người lính ngã xuống. May mắn, nếu quả đạn ấy nổ thì tôi cũng banh xác rồi. Vào đầu tháng 3 năm 1975, khi Cộng quân đã chiếm Ban mê Thuột, sau đó cắt đứt quốc lộ 19 từ Pleiku xuống Qui Nhơn, thì pháo đội tôi đóng tại chân đèo Mang Giang gần Lăng Mai Xuân Thưởng. Chúng pháo kích suốt ngày đêm để khống chế đơn vị tôi không cho yểm trợ Trung Đoàn Bộ Binh. Những chuyến xe tiếp tế, có khi lên tới 20 chiếc, dồn dập chở đạn 105 ly tới mỗi ngày. Một lần khi tôi leo lên chiếc GMC đứng trên 200 thùng đạn đại bác để kiểm soát số đạn chở đến bị sai thì những quả 82 ly của địch rót đến tới tấp. Có một quả rơi ngay dưới chân tôi và nằm trên những thùng gỗ đạn 105 mà không nổ. Thật là huyền diệu, và may mắn. Những ngày cuối cùng của Phù Cát Bình Định, tôi bị một quả B40 bắn trúng chiếc xe của tôi trước khi qua cầu. Xe trúng đạn lật làm năm người trong xe bị thương, trong đó tôi, với sáu mảnh đạn B40. (Giờ đây sau 38 năm nó vẫn còn trong cánh tay). Sau chừng 30 phút, một người lính bò lên băng bó vết thương cho tôi thì bị một viên AK, khiến anh ta ngã xuống chết ngay. Phản ứng tự nhiên của tôi là ngóc đầu lên xem từ hướng nào bắn. Tôi liền bị ba viên AK khác bắn từ sau ót xuyên ra phía trước mặt. Cả ba viên đạn đi vô khác nhau, nhưng chỉ có một lỗ nơi ba viên đạn đi ra nên nó phá cái mặt tôi khá lớn. Đây là một điều thần diệu, chỉ cần ba viên đạn ấy nhích ra một chút xiú thì sẽ chạm tới óc và chắc chắn tôi đã chết ngay. Tôi cũng tin rằng đứa em gái tôi đã cứu tôi trong giờ phút đó. Những người lính và sĩ quan đơn vị khiêng tôi trên đoạn đường dài từ cầu Cương vào phi trường Phù Cát. Khi vào bên trong, phi hành đoàn của chiếc trực thăng HU-1B bằng lòng cho tôi đi trong khi phi trường đang khói lửa ngập trời. Ông Trung Uý Pháo Đội Phó của tôi cùng người Trung Sĩ Khẩu Trưởng khiêng tôi bỏ lên trực thăng đã có sẵn 34 người lính bộ binh trên ấy. Chiếc trực thăng cất cánh chừng 10 mét thì rớt xuống và chặt đứt đôi người Trung Uý pháo đội phó và Trung Sĩ Khẩu Trưởng, vì khi khiêng tôi bỏ lên trực thăng thì họ vẫn còn đứng dưới đất. Cánh quạt trực thặng lúc rớt xuống đã chém đứt đôi hai người. Phần trên từ ngực của họ đã bay mất, không thể tìm thấy. Sáng hôm sau tôi bị bắt làm tù binh, nhưng họ thấy tôi bị thương nặng quá nên bỏ tôi nằm tại chỗ trong phi trường. Trong trại tù Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt, một ngày chúa nhật nghỉ lao động, có người bạn tù lớn tuổi, cầm tay tôi coi chỉ tay và nói chắc như đinh đóng cột, “Mạng của anh rất lớn, nhiều lần sắp chết mà không chết, vì có một vong linh của kẻ khuất mặt che chở, Nó hiện lên rành rành đây nè.” Tôi không tin điều ấy là có thực, nhưng qua những sự kiện xảy ra, khiến tôi thoát được hiểm nguy như vậy, làm tôi phải tin rằng điều ấy có thực. Anh em bạn tù tối đến, vừa đói, vừa buồn, đau khổ không biết ngày nào trở về nhà, nên thường hay tổ chức kể chuyện cho quên hết đói và ưu phiền. Họ thấy tôi có những vết đạn còn mang trong người, nên hỏi thăm và bảo tôi kể chuyện “Những ngày cuối cùng cuộc chiến của tôi.” Tôi đã kể lại tỉ mỉ câu chuyện bị thương, rớt máy bay. và những ngày gian nan sau đó. Sáng hôm sau Bộ Chỉ Huy Trại Tù cho người gọi tôi lên “làm việc”. Họ khủng bố tinh thần tôi từ 8 giờ sang đến 5 giờ chiều với kết luận, “còn hàm ơn luyến tiếc chế độ cũ.” Từ ngày ra khỏi tù về với gia đình, tôi luôn tự tin rằng số tôi không chết sớm được, và có lẽ “Chỉ có Trời hại mới chết, người hại không chết.”. Đây là những điều có thật tôi viết lại nhằm nói lên rằng, “Có thế giới vô hình, và Con Người Ta chết có số.”
“Những Con Hổ Rừng Già” Sa Cơ Và Câu Chuyện Của Những Người Lính Hiển Linh Trở Về Báo Mộng Thôn Dương Lâm, những ngày tháng 3/1975 đẫm máu: Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH, một trung đoàn nổi tiếng có những người lính quả cảm, đánh đồn xuất quỉ nhập thần bởi họ được đào tạo bài bản từ kiến thức địa lý, kiến thức quân sự, chính trị, văn chương cho đến võ thuật, phương cách sử dụng vũ khí… Những Chiến Sĩ can trường, quả cảm của Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH này được mệnh danh là “Những con hổ rừng già”…
Ông K., người tham gia trận đánh nhưng thoát chết, trầm ngâm nói:
“Phần lớn những người lính trong Trung Đoàn 5/ Sư Đoàn 2BB, có gốc gác miền Nam, do thuyên chuyển, họ về Quảng Nam. Lý do chính để họ có mặt ở đây là vì bọn việt cộng nằm vùng ở Quảng Nam có cơ sở bọn đặc công khủng bố ở đây khá lớn.
Phần đông những Chiến Sĩ QLVNCH này nói giọng Miền Nam, họ là những người trí thức, nói năng nhẹ nhàng, lịch sự và thường giúp đỡ bà con trong thôn, không như lũ khủng bố cộng phỉ.” Ông K. nhớ lại.
Kể lại trận đánh, ông K. cho biết thêm:
“Bắt đầu từ rạng sáng ngày 20/3/1975, phần lớn các tuyến phòng thủ của Vùng 1 Chiến Thuật đã lung lay, bọn cộng phỉ Bắc Việt xâm lược tràn vào ngày một nhiều. Ngày 21/3/1975, nhiều tuyến phòng thủ Quảng Đà (tên gọi cũ) đã rạn nứt.
Ảnh minh hoạ
“Ngày 22 tháng 3 năm 1975, nhiều binh chủng rút quân từ núi ra biển, thoát lên tàu. Có 1 số đơn vị bị mắc kẹt do có quá nhiều lính bị thương và họ vẫn muốn tiếp tục chiến đấu bảo vệ vòng đai chiến sự của mình. “Trường hợp nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5/ Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH là một điển hình của tinh thần chiến đấu can trường này. Thay vì rút quân về phía biển, họ tiếp tục trụ lại khu vực thôn Dương Lâm để chiến đấu chống lại lũ giặc cướp xâm lược từ phương bắc.”
Ngày 23/3/1975, có thêm một nhóm chiến sĩ khác thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tiến về thôn Dương Lâm, hợp với nhóm chiến sĩ Trung Đoàn 5.
Cũng trong ngày 23 này, có thêm nhiều nhóm nhỏ chiến sĩ thuộc các đơn vị khác (đã trúng thương) đưa thương binh vào chùa Dương Lâm nương nhờ vào sự bảo vệ của nhóm chiến sĩ Trung Đoàn 5 và nhóm vừa “tăng cường,” để các y tá chăm sóc cho các thương binh.
Ngày 24 tháng 3, bọn giặc cướp cộng phỉ bắc việt xâm lược chiếm đồn 159 trên đỉnh đồi Phú Ninh, nằm phía Tây Nam, cách chùa Dương Lâm chừng 3km. Đồng thời, đồn 162 – Núi Cấm cũng bị chiếm trong ngày này.
Bốn phía là bọn phỉ quân bắc việt xâm lược, nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5 và nhiều thương binh của các binh chủng bạn trong chùa Dương Lâm rơi vào thế bị cô lập hoàn toàn.
Phía bọn phỉ quân bắc việt bắt đầu nã đạn vào chùa Dương Lâm. Các chiến sĩ VNCH chưa có phản ứng gì, họ tranh thủ đào hầm, đào hào và canh chừng, chưa vội nổ súng để tiết kiệm đạn dược đang thiếu thốn.
Đến chiều ngày 24 tháng 3 năm 1975, sau một ngày bắc loa kêu gọi đầu hàng nhưng không thấy động tĩnh nào, bọn giặc cướp xâm lược từ bắc việt bắt đầu nã súng vào khu vực khuôn viên chùa Dương Lâm.
Lúc này, có nhiều thương binh của VNCH đã treo áo lên nòng súng làm cờ trắng, ra trước sân chùa đầu hàng. Nhưng khi họ bước ra đến sân chùa thì tiếng súng bắn tỉa của bọn giặc cướp xâm lược từ bắc việt hèn hạ nổ đanh điếng, khiến những người thương binh tội nghiệp trúng đạn gục ngã.
Những người lính trong chùa bắt đầu nã súng phản công dữ dội về phía đối phương, đẩy lùi bọn giặc cướp từ bắc việt xâm lược lên phía núi.
Chừng 3 giờ chiều, một tên đặc công bắc việt mang lựu đạn bò vào chùa, vào đến giếng nước phía Đông sân chùa thì hắn bị phát hiện và bị các chiến sĩ QLVNCH bắn chết tại chỗ.
Phía phỉ quân bắc việt tức tối hạ lệnh bắn xối xả B40, B41 vào chùa Dương Lâm. Trong bắn ra, ngoài bắn vào, trận pháo hai bên kéo dài chừng 3 giờ đồng hồ thì cả hai bên im hơi lặng tiếng.
Những người lính VNCH còn sống sót trong chùa bắt đầu rút ra khỏi chùa, luồn người dọc theo bờ rào trồng hoa râm bụt của chùa.
Lúc này, phía quân cộng sản Bắc Việt xâm lược ngồi trên những đồi cao quan sát và hạ tầm súng xuống ngang mặt đất, nhắm ngay vào bờ rào hoa râm bụt và nổ trực xạ liên tục. Toàn bộ những người lính rút theo hướng bờ rào ngã xuống chết không còn sống sót người nào. Còn một người duy nhất – ông K. (người chúng tôi không tiện nêu tên, đã trải qua lao tù cộng sản, hiện đang sống trong một huyện miền núi hẻo lánh ở Quảng Nam) – còn sống sót được nhờ băng ruộng phía bên hông chùa chạy thẳng ra nhà dân, cải trang thành thường dân và rút về Tam Kỳ.
Lúc này, toàn bộ phủ lỵ Tam Kỳ đã treo cờ của bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược.
Sau trận đánh hơn một tuần, không ai dám đi ngang qua khu vực chùa Dương Lâm bởi mùi máu tanh và tiếng quạ kêu, đêm thì chim cú kêu và tiếng mèo hoang gào rú nghe hết sức thê lương rợn người như những tiếng réo gọi vong hồn những người đã ngã xuống trong cô đơn và uất hận!
Sau đó, người dân thôn Dương Lâm bắt buộc phải kéo nhau lên chùa để thu gom xác người chết đem đi chôn cất. Nói là chôn cất nhưng thật ra, lúc đó không ai dám bày tỏ lòng kính ngưỡng hay thương cảm đối với những người lính đã chết mà vốn trước đây có người còn là ân nhân của thôn vì sợ bọn phỉ quân bắc việt hèn hạ trả thù. Chính vì vậy mà sự chôn cất rất qua quýt, chôn để mà có chôn, tránh tình trạng thú vật ăn mất xác và mùi tử thi bay khắp thôn. Chôn không có vải bọc thi thể như những người lính trên bãi biển An Dương ở Phú Vang, Huế mà chỉ phân nhóm ra, đào một cái hố sâu chừng 1.5 mét, lùa toàn bộ xác người xuống đó và lấp đất lại.
“Vì sao tôi nói hơn 100 xác à? Vì lúc đó, số anh em chúng tôi, nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5, nhóm này tuy là thuộc Bộ Binh nhưng bên trong cơ cấu rất nhiều Biệt Động Quân, kể cả tôi, nhằm ứng phó chiến cuộc… còn lại 62 người, cộng thêm với nhóm lính thuộc một đại đội Thủy Quân Lục Chiến cũng ngót nghét 50 người, rồi các thương binh… Ông K nói:
“Tính kiểu gì cũng ra trên 100 hài cốt, nếu không nói là 200, vì phần bị nã B40 chắc chắn là không còn nguyên vẹn hình hài, phần nguyên vẹn nằm ở trên đường rút và sau vạt khoai mì, chừng 100 người.”
Câu chuyện của những người lính VNCH khép lại sau trận chiến một cách buồn thảm và bi tráng. Cái chết của họ cũng không được yên bởi phong trào đào sắt, rà sắt để cải thiện bữa ăncủa nhiều người nghèo trong những năm tháng Việt Nam nghèo đói. Mộ tập thể của họ bị quật lên nhiều lần để lấy thẻ bài, súng đạn, dây nịt…
Mãi cho đến sau này, khi Phật Tử chùa Dương Lâm sinh hoạt thường xuyên hơn, kinh tế của họ cũng khá hơn, họ bắt đầu nghĩ đến những người đã khuất. Họ cùng nhau chung tiền, góp công, góp sức để bốc mộ và di dời những hài cốt lên núi.
Cũng bắt đầu từ lúc này, những câu chuyện về người lính năm xưa trở về linh hiển và bí nhiệm…
“Sống khôn, chết thiêng”:
Đầu tháng 4 năm 2009, sau hơn 30 năm im ngủ trong lòng đất mẹ, những người lính VNCH tưởng đã đi vào quên lãng bỗng dưng sống dậy trong ký ức của nhiều Phật tử chùa Dương Lâm.
Ngày 1 tháng 4 năm 2009, sau lễ chiêu linh, sau những hồi chuông chiêu cảm của chư thầy và các Phật Tử chùa Dương Lâm, những đoạn xương, những bộ hài cốt được đưa lên mặt đất, an quách và đưa đến khu nghĩa trang tập thể của chùa, nằm trên lưng ngọn đồi Phú Ninh, lưng dựa vào núi, mặt hướng ra lòng hồ nước xanh.
37 ngôi mộ mới (trong đó có 3 mộ đôi) an tọa trên lưng đồi, nơi mà trước đây 30 mấy năm, những người nằm dưới mộ kia, những người được mệnh danh là ‘những con hổ rừng già’. Họ nằm im nghe tiếng gió núi và lời thầm thì của đại ngàn sau cơn binh biến cháy đỏ trời quê hương, sau những tử sinh của kiếp người bất hạnh sinh nhầm thời và ngã xuống trong uất hận và cô đơn.
Vẫn còn nhiều đồng đội của họ nằm sót lại đâu đó gần chùa, trên những nương khoai mì vắng lạnh…
Về báo mộng:
Và, sau lần di dời ấy, nhiều Phật Tử trong nhóm bốc mộ nằm mơ thấy những người lính hiển linh trở về. Câu đầu tiên họ nói là lời cám ơn gửi đến những ân nhân đã đưa họ đến nơi khô ráo, yên tĩnh và thơ mộng.
Sau đó, nhiều lần báo mộng khác, họ cho biết rằng trong số họ, có người thèm ăn ớt xanh với mì quảng, có người thèm khoai lang luộc, có người thèm hút thuốc lá, có người thèm một chai bia, có người nhớ quê mà lâu quá không được về nhà bởi không có tiền mãi lộ… Cũng có người than lạnh quá bởi ngôi mộ mới của họ bị trống chân…
Vậy là các Phật Tử lại họp nhau, mua những thức quà mà họ đã báo mộng rằng họ đang cần, mang lên khu mộ mới để cúng kính, dâng tặng.
Ngạc nhiên nhất là người Phật Tử nằm mộng thấy người lính chỉ ngôi mộ của mình nằm ngoài bìa khuôn viên nghĩa trang mới bị lạnh chân. Khi anh đến cúng thì phát hiện ngôi mộ đó bị lở đất do mưa núi. Anh đắp đất lại thì tối đó về nằm mộng thấy người lính ấy về cám ơn và hứa sẽ tặng một món quà…
Những hài cốt còn nằm lẩn khuất đâu đó trong vùng, chưa được di dời lên khu nghĩa trang vẫn là nỗi canh cánh trong lòng những Phật Tử Dương Lâm.
Qui tập lần 2, những báo mộng mới:
Đầu năm 2011, Đại Đức Thích Pháp Tánh về nhậm trụ trì chùa Dương Lâm. Việc đầu tiên của thầy làm là kêu gọi các Phật Tử cùng thầy góp công sức, tiền của để tiếp tục di dời, cải táng cho những hài cốt còn sót lại trong khuôn viên chùa.
Lời kêu gọi của vị sư trẻ tuổi đã nhanh chóng được hưởng ứng, đợt qui tập mộ lần 2 được thực hiện sau đó không lâu.
Nhưng, điều làm cho vị sư trẻ cùng những Phật Tử buồn nhất lại là những hài cốt đã bị lưu lạc trong lòng đất. Nếu như những ngôi mộ đôi, những hố chôn đôi vẫn còn nguyên vẹn (bởi lúc chôn được phân công theo từng đội hoặc cá nhân, chính vì vậy mà có hố chôn cả mấy chục chiến sĩ, có hố chỉ chôn một hoặc hai người) nhưng những hố cá nhân và tập thể, khi đào lên thì hỡi ôi, không còn đầy đủ hoặc không còn gì cả!
Thầy Pháp Tánh tâm sự: “Có lẽ do trải qua 1 giai đoạn nghèo đói chung của cả nước, người dân có lúc thi nhau đi rà phế liệu, họ đào lên và lấy nhiều thứ, trong đó có những thứ quí giá vô cùng nhưng lại được bán với giá rẻ mạt, mua chưa được 1 ổ bánh mì, đó là tấm thẻ bài. Tính ra, hơn 100 tấm thẻ bài mất đi, chưa tới 100 ổ bánh mì theo thời giá hiện tại nhưng cái mất mát lại là danh tánh của người chết vĩnh viễn không còn!”
Cũng chính vì có những ngôi mộ đôi, khi đào lên, không còn thẻ bài, chỉ còn sắc phục và dây thắt lưng (ra gió chừng 5 phút là tan rã, không còn gì nữa), mà phần đầu và phần mình lại nằm chéo nhau, rất khó để phân biệt mình của ai, đầu của ai nên các phật tử không dám tách thành hai mộ mà vẫn giữ nguyên mộ đôi khi về nơi qui tập mới.
Lại có cả chuyện nhiều hố chôn đơn lẻ, khi đào lên chỉ thấy bộ xương thân hình nhưng không tìm thấy đầu,mọi người lo lắng và hoài nghi… Quàn tạm trong nhà linh ở chùa để đào tiếp thì tối đó, người lính về báo mộng, chỉ vị trí đầu mình nằm cách nơi gần hố chôn chừng vài mét. Sáng mai, ra đào, đúng y như giấc mộng.
Cuộc cầu siêu và những giấc mộng lành:
Sau cuộc qui tập lần 2, nỗi canh cánh vẫn còn đó, chỉ có 27 hài cốt được tìm thấy, như vậy có nghĩa là còn nhiều người vẫn nằm lạnh trong vườn chùa.
Nhưng dẫu sao cũng ít nhiều an lòng người sống và ấm lòng người khuất phần nào. Những giấc mộng vẫn còn quanh quẩn trong nội dung đói, lạnh, thèm ăn, nhớ quê, nhớ người thân, bơ vơ lạc lõng…
Thầy Pháp Tánh họp các Phật Tử một lần nữa, bàn kế hoạch tổ chức Trai Đàn Chẩn Tế – Cầu siêu bạt độ cho những vong linh chiến sĩ trận vong.
Ngày 27, 28, 29 tháng 7 Âm Lịch 2011 (26, 27, 28 tháng 8 năm 2011), một đại lễ Trai Đàn Chẩn Tế – Cầu Siêu Bạt Độ cho tất cả được tổ chức trong khuôn viên chùa Dương Lâm.
Hiện nay, khu mộ mới đã hoàn thành, tọa lạc trên một sườn đồi thoai thoải bên hồ chứa nước của đập thủy điện Phú Ninh, cách xa chùa Dương Lâm khoảng 5 km.
Dường như từ đó đến nay, thỉnh thoảng, những giấc mộng của các phật tử Dương Lâm được thấy vui hơn, các vị chiến sĩ báo mộng xin thuốc lá để hút chứ không còn lạnh và cô đơn như trước đây.
Thay cho lời kết của bài viết này, xin trích lời một Phật Tử: “Tôi là người nằm mộng thấy họ về nhiều nhất. Bây giờ họ vui vẻ hơn nhiều. Nhưng có một điều, dường như nỗi nhớ nhà, nhớ người thân vẫn là nỗi thao thức lớn nhất của các linh hồn cô đơn. Đã mấy mươi năm họ chưa được gặp lại người thân! Phần lớn họ nói giọng miền Nam, và họ rất muốn về quê!”
Vẫn còn nhiều bộ hài cốt nằm trong khuôn viên chùa Dương Lâm chưa được di dời. Qua thời gian, xê dịch địa tầng, đào sắt và mưa lũ, rất có thể, sự nguyên vẹn là hy hữu. (7/2020)
Theo lời kể của Thầy trụ trì là Đại Đức Thích Pháp Tánh cho biết thì hiện nay, Thầy đã di dời tất cả là 71 ngôi mộ (trong đó có 3 mộ đôi, có 13 ngôi mộ có tên nhưng không có địa chỉ) còn lại là những ngôi mộ vô danh. Thầy đã làm mộ bằng đá cho những Chiến Sĩ Anh Hùng này qua một người thợ làm đá tại đó cho Thầy nợ trả dần, vì chùa cũng rất khó khăn. Tâm nguyện của Thầy rất tốt, vẫn thường xuyên lo cầu siêu, hương khói cho các linh hồn những Chiến Sĩ Anh Hùng đã “Vị Quốc Vong Thân” mà không có thân nhân thăm viếng và hương khói.
Danh tính các chiến sĩ mà chùa Dương Lâm hiện có:
1. Nguyễn Minh – SQ 75- 211355 – Trung Đoàn 5/SĐ2
2. Nguyễn Văn Tôi – SQ 75 – 151704 – Trung Đoàn 5/SĐ2
11. Kết Đoạn cuối cho một quê hương băng hoại, một nền văn hóa suy đồi, một xã hội mục nát.
Tên của hắn là Lâm Châu, độc thân, 30 tuổi, đến Pulau Bidong ngày 28 tháng 4 năm 1980, trên tàu CLA 10385 gồm có 76 người, số thứ tự tàu là 622, có nghĩa là trước con tàu của Lâm Châu, đã có 621 chiếc đến Mã Lai và sau đó được đưa ra đảo Pulau Bidong. Sau khi hoàn tất mọi thủ tục nhập đảo với Ban tiếp nhận người mới, Lâm Châu được Ban nhà ở cho về tạm trú trong một căn lều thuộc khu A, nơi có 3 thanh niên độc thân đang trú ngụ.
Vào khoảng giữa tháng 4 năm 1980, số người Việt Nam tỵ nạn ở trên đảo Pulau Bidong chỉ còn hơn ba chục ngàn người, so với bốn mươi lăm ngàn vào tháng 4 năm 1979. Với chừng đó người, sống chen chúc trong một khu vực khoảng một cây số vuông, quanh bờ biển phía Nam của đảo, quả là có hơi chật chội. Tất cả nhà cửa cũng như lều trại ở trên đảo, được chia ra làm 7 khu A,B,C,D,E,F và G. Tùy theo quan niệm sống cũng như sở thích riêng của từng gia đình, nhiều người mong được sống trong khu A, vì gần bịnh viện Sick Bay, gần chợ chồm hổm nơi khu C, và gần nơi lãnh thực phẩm do Cao ủy tỵ nạn phân phát. Riêng Lâm Châu, vì độc thân nên ở đâu cũng không có gì là quan trọng đối với hắn. Hắn quan niệm, ở khu nào trên đảo Pulau Bidong cũng đều là thiên đường nơi hạ giới.
Một hôm khi đi tắm biển ở khu F, bất ngờ Lâm Châu gặp lại một người bạn ngày xưa cùng ở chung xóm. Cái tình hàng xóm của một thời mà hai người còn bận quần xà lỏn tắm mưa, bắt dế, đá cá lia thia. Sau đó khi lên bậc trung học, mỗi người một nẻo bặt âm vô tín. Gần hai chục năm sau nơi đất khách quê người tình cờ gặp lại, tha hương ngộ cố tri, cả hai ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi, cứ như là Bá Nha gặp Tử Kỳ.
Ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.
-Tới đảo lâu chưa?
-Được khoảng một tuần. Còn mày?
-Tao hả? Ngày mai tao qua trại chuyển tiếp Terengganu, rồi đi Mỹ.
Lâm Châu vỗ vai ông bạn hàng xóm.
-Chúc mừng, chúc mừng.
Mặt mày tươi rói, ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.
-Mày đã gặp phái đoàn nào phỏng vấn chưa?
-Chưa.
-Ngày xưa có lính tráng gì không?
Đưa bàn tay phải cụt mất hai ngón tay trỏ và giữa, Lâm Châu nói.
-Tao được miễn đi lính vì lý do tàn tật.
-Có cha mẹ, anh em gì ở Mỹ không?
-Không.
Ông bạn hàng xóm chắt lưỡi rồi than.
-Hốt rác là cái chắc.
-Mày nói gì?
-Tao nói nếu muốn xin đi Mỹ, mày sẽ bị xếp vào thành phần hốt rác. Hiện tại muốn đi định cư ở Mỹ, phải có một trong ba điều kiện ưu tiên như sau: Ưu tiên một, cha mẹ bảo lãnh cho con cái hay ngược lại, thành phần này sẽ ở đảo khoảng ba đến bốn tháng. Ưu tiên hai, vợ chồng anh em bảo lãnh, thành phần này ở đảo khoảng năm sáu tháng. Ưu tiên ba, là quân nhân, cảnh sát, những người đã từng phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, những người này sẽ ở đảo khoảng chín tháng tới một năm.
Ngừng một chút như chờ cho Lâm Châu hiểu rõ vấn đề, ông bạn hàng xóm nói tiếp.
-Ngoài ba thành phần trên, hầu hết những người còn lại, nếu không chịu đi định cư tại những nước khác như Canada, Úc, Anh, Pháp…thì cứ nằm ở đảo mà chờ. Một, hai năm, phái đoàn Mỹ sẽ mở một cuộc phỏng vấn nhân đạo, họ lượm hết tất cả những người này, gọi là làm một cuộc hốt rác. Chữ dùng nghe không được êm tai cho lắm, nhưng đó là cách mà những người tỵ nạn sống trên đảo nói chuyện với nhau.
Lâm Châu than với bạn.
-Như vậy tao ở đây có tệ lắm cũng hơn một năm, phải không?
-Đúng.
Sau một phút chần chừ, ông bạn hàng xóm nói tiếp.
-Tao có cái này rất hay muốn nói với mày, tụi mình vô quán cà phê đàng kia ngồi đi. Tao sẽ giới thiệu cho mày một việc làm tốt nhất trên đảo này, làm để cho cơ thể được mạnh khỏe lại có chút tiền, chờ ngày đi định cư. Hy vọng mày sẽ không từ chối.
Lâm Châu nói.
-Khoan đã, tao không có tiền uống cà phê đâu.
-Đừng có thắc mắc, nhằm nhò gì ba cái chuyện tiền bạc lẻ tẻ đó, tao cân hết mà.
Từ bồn chứa nước ngọt khổng lồ, cung cấp nước sinh hoạt cho tất cả mọi người trên đảo, cả hai đi dọc theo bãi biển về phía đồi tôn giáo, ước chừng sáu, bảy trăm mét mới đến được quán cà phê. Quán rộng chừng ba chục mét vuông, một nửa mái của quán lợp bằng tôn, nửa còn lại che bằng mấy tấm ny lông xanh được viền, nẹp, bằng cây rất kỹ. Tuy vậy mỗi khi có chút gió biển thổi vào, phần ny lông dư, viền quanh mái đập phần phật như muốn tách ra, bay đi nơi khác. Bàn ghế trong quán được đóng sơ sài bằng những tấm ván, nhặt nhạnh nơi vỏ mấy con tàu cũ. Một quầy tính tiền ở sâu trong quán, hai cái loa dám tới 100 watt treo trên cột đang phát ra một bản nhạc tình, lời ca buồn da diết.
Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa, bọt tràn theo từng làn gió đưa…
Gần 5 năm rồi mới được nghe lại một bản nhạc ngày xưa của thời Việt Nam Cộng Hòa, nghe trong một không gian bao la rộng rãi của bãi biển nơi xứ người, trong bầu không khí tự do tuyệt đối, không có Bác Hồ, không có Đảng Cộng Sản, không công an khu vực, không tổ trưởng, không tổ phó an ninh, không họp tổ dân phố, không xét sổ hộ khẩu, không đánh tư sản mại bản, không kinh tế mới, không đổi tiền, không cơm độn. Nói chung những thứ gì chết bằm, chết tiệt, có liên hệ tới Đảng Cộng Sản đều không có ở đây. Bất ngờ gặp lại cái không khí bãi biển Nha Trang của những ngày xa xưa cũ hiện về trước mắt, khiến Lâm Châu lặng người chết sửng. Bầu không khí tự do mà anh đi tìm đang hiển hiện trước mắt.
Bắt tay với chủ quán, ông hàng xóm của Lâm Châu giới thiệu.
-Đây là Lâm Châu, bạn của tôi, người mà tôi nói sẽ tiếp tục làm công việc kéo nước.
Chủ quán cười vui vẻ.
-Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông, cứ thế mà làm đi. Bây giờ hai ông uống gì, cà phê sữa đá, cà phê đen, coca, pepsi, seven up?
Ông bạn hàng xóm của Lâm Châu nói.
-Cho tôi hai ly cà phê sữa đá.
Chủ quán đi vào trong, một lúc sau vợ của ông ta mang hai ly cà phê đến.
Cầm cái muỗng khuấy đều rồi nâng ly ực một hơi. Ông hàng xóm bắt đầu.
-Chuyện như vầy, cả năm rồi ở trên đảo Pulau Bidong, tao sống hùng sống mạnh bằng cái nghề kéo nước mướn cho tiệm cà phê này. Đồ nghề của tao gồm có tám cái thùng nhựa đựng nước, mỗi thùng có dung tích là hai mươi lăm lít, và hai sợi dây dù cỡ ngón tay mỗi sợi dài bốn mét. Mỗi buổi sáng sau khi điểm tâm bằng hai chén cơm của Cao ủy, nếu sang hơn tao bỏ ra một đồng Mã Lai là có một tô bún cá to bự, với đầy đủ hành hẹ giá sống. Tám giờ sáng tao đến bồn chứa nước ngọt của đảo, nhờ mấy anh bạn trong Ban cấp thủy du di cho tao tám thùng nước đầy. Từ bồn chứa tao xách những thùng nước này xuống mé biển, cách đó chừng hai chục mét, dùng sợi dây dù xỏ qua tay cầm, cột bốn thùng nước lại với nhau. Sau đó choàng đầu dây qua vai, rồi kéo đến quán cà phê này. Một trăm lít nước tương đương với sức nặng là một trăm ký, mới nghe qua tưởng là khó khăn, cực nhọc lắm. Thực ra nó nhẹ hều, bởi vì tao kéo phía trước, đàng sau nhờ có ông Archimede đẩy phụ. Đoạn đường kéo nước dài chừng sáu trăm mét, tao đi mất nửa giờ, sau đó trở lại làm tiếp chuyến thứ hai. Đổ tám thùng nước vào hai cái phuy của quán cà phê xong, tiền trao cháo múc, chủ quán trả cho tao tám đồng Mã Lai, nếu đổi ra đô la Mỹ được bốn đồng. Mỗi buổi sáng tao tập thể dục chừng hai tiếng kéo nước trên biển, lãnh bốn đô la Mỹ ngon ơ. Mày muốn làm không?
Nhìn bàn tay cụt mất hai ngón của mình, Lâm Châu ngần ngừ.
-Nếu tao không làm thì sao?
-Mày đừng có lo, cái mối này có thằng chịu chung cho tao ba chục đô, để tao sang lại cho nó dàn đồ nghề và giới thiệu với chủ quán cà phê. Khi gặp mày, tao đổi ý chỉ muốn giao lại cho mày, với chút hy vọng là hơn một năm đợi chờ trên đảo, mày có công ăn việc làm để giải khuây, có chút tiền tiêu vặt và tao cũng được trọn chút tình xưa nghĩa cũ với bạn bè. Mày có biết, tại sao tao nói như vậy không?
Lâm Châu lắc đầu.
-Không biết.
Ông hàng xóm của Lâm Châu cười.
-Tao biết mày quên chuyện này rồi. Hồi đó mày có con dế lửa với râu ria chân cẳng coi ngầu hết sức, đá đâu thắng đó, có đứa đòi mua hai đồng mà mày không bán lại đem cho tao. Lúc đó, thiệt lòng mà nói tao cảm động đến muốn khóc. Khi xa cái xóm nhỏ, thằng bạn mà tao nhớ nhất là mày.
Lâm Châu hoàn toàn không nhớ một chút gì về chuyện con dế ngày xưa, vậy mà ông bạn hàng xóm vẫn còn mang theo trong lòng cho đến hôm nay, hắn nhìn ông bạn mà lòng bồi hồi xúc động.
-Cảm ơn mày đã giúp đỡ tao.
-Không có gì đâu, sau khi uống cà phê xong tao sẽ dẫn mày về lều của tao, mày phải dọn qua khu F này ở luôn cho tiện việc làm ăn. Căn lều tao đang ở chỉ có tao và một thằng nữa, hắn cũng mới tới đảo đâu chừng vài ngày.
Khi ông bạn hàng xóm đã lên đường đi định cư, căn lều còn lại hai người, Lâm Châu và một gã thanh niên. Mỗi người một góc lều, mạnh ai nấy sống.
Hai ngày qua đi trong câm lặng, cuối cùng không chịu được bầu không khí tẻ nhạt, Lâm Châu nói với gã thanh niên.
-Tôi tên là Lâm Châu, còn anh?
-Hỏi làm gì?
-Để khi cần, xưng hô cho dễ.
Gã đàn ông với đôi mắt buồn hiu, lơ đễnh nhìn trời.
-Quân.
Lâm Châu chửi thầm trong bụng, mẹ nó sao mày hà tiện lời nói quá vậy, nghĩ như vậy nhưng hắn vẫn cố nhẫn nại.
-Nếu cần gì xin anh cứ nói, làm được gì giúp anh tôi sẽ làm.
-Cảm ơn.
Nói xong Quân lại cắm cúi ngồi viết, coi như không có Lâm Châu đang có mặt trong lều. Một tháng trôi qua bầu không khí nhàm chán trong căn lều vẫn vậy, không có gì thay đổi. Lâm Châu ngày ngày đi kéo nước mướn, khi trở về lều, hắn thấy Quân vẫn ngồi đó chăm chú viết. Có một điều khá kỳ lạ là tuy Quân chăm chú viết, nhưng hình như hắn không viết được bao nhiêu. Một tháng qua rồi mà cũng chỉ một cây viết với cuốn vở. Nhiều lần khi đi lãnh thực phẩm của Cao ủy ở kho tiếp liệu, gần cầu Jetty, tiện thể Lâm Châu lãnh giùm lương thực cho Quân. Nhờ đó mà Lâm Châu biết là Quân đi tàu chỉ có một người, đến đảo ngày… số thứ tự tàu …
Chừng đó chi tiết giúp cho Lâm Châu đoán được, chắc tàu của Quân gặp dông tố, bão bùng trên biển, và hắn là người sống sót duy nhất, cho nên hắn mới bị trầm cảm như vậy. Giải tỏa được thắc mắc mang nặng trong lòng, Lâm Châu mới thấy thoải mái, không còn bận tâm nhiều về Quân.
Cũng trong thời gian này, một thuyền nhân là kiến trúc sư đang ở trên đảo, cùng với nhiều người trong khối xây cất, đã được phép của chính quyền Mã Lai, họ bắt đầu xây đài tưởng niệm thuyền nhân trên một ngọn đồi, cách nhà thờ và chùa trên đồi tôn giáo không xa mấy. Mọi việc tiến hành tốt đẹp, qua đến tháng bảy, đài tưởng niệm đã hoàn tất. Đài gồm có một cái đế hình tròn được xây bằng đá, đường kính ước chừng sáu, bảy mét, chiều cao hơn một mét. Ngay trung tâm có một cái trống đúc bằng xi măng tượng trưng cho trống đồng Ngọc Lũ của người Việt Nam. Trên chân đế, có năm cánh buồm trắng, to nhỏ, cao thấp, khác nhau. Cánh buồm cao nhất chắc cũng hơn bốn mét, cùng với bốn cánh buồm khác hội tụ tại một điểm là tâm của nơi đặt trống. Năm cánh buồm tượng trưng cho những con thuyền tỵ nạn Việt Nam, cùng hướng về cái trống đồng là hòn đảo Pulau Bidong, hòn đảo của tự do.
Từ ngày có đài tưởng niệm trên đồi tôn giáo, Lâm Châu thấy Quân không còn ngồi lì trong lều. Mãi cho đến sau này hắn mới biết, Quân ngày ngày vẫn thường lên ngồi dưới những cánh buồm nơi đài tưởng niệm, nhiều lần hắn ngồi cho đến gần nửa khuya mới trở về.
Cuộc sống trên đảo êm đềm qua mau, ngày ngày người ta vẫn tiễn người cũ lên đường đi định cư, đón tàu tỵ nạn mới tới đảo. Những đợt sóng tỵ nạn Cộng sản, lớp sau theo lớp trước, ào ào như sóng biển vỗ bờ tưởng không bao giờ dứt. Sau gần một năm chờ đợi, cuối cùng Lâm Châu cũng được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, và chấp thuận cho đi định cư. Để ăn mừng ngày mà cuộc đời bước qua ngã rẽ mới, Lâm Châu chia sẻ với Quân tin vui của mình.
-Anh Quân nè, tôi đã được cho đi Mỹ rồi.
Quân cười, nụ cười mà cả năm rồi Lâm Châu mới thấy.
-Chúc mừng, lên đường bình an.
-Mới được Mỹ nhận thôi, còn phải đợi ít nhất là dăm ba tháng nữa. Trường hợp của anh như thế nào?
Quân thản nhiên nói.
-Tôi thuộc diện ưu tiên ba, năm ngoái phái đoàn Mỹ phỏng vấn và chấp thuận cho đi định cư, nhưng tôi từ chối.
Nghe Quân nói, Lâm Châu tưởng Quân nói giỡn, cho nên hắn không thắc mắc gì rồi nói.
-Cả năm rồi tôi kéo nước mướn cho nên có chút tiền dư. Hôm nay tôi mời anh đi ăn bún cá rồi uống cà phê, mừng ngày tôi được chấp thuận cho đi Mỹ.
Quân gật đầu.
-Đi thì đi.
Sau khi thưởng thức tô bún cá thơm ngon, đậm đà hương vị của biển Bidong, Lâm Châu và Quân kéo nhau đến quán cà phê.
Ngồi xuống chiếc ghế gỗ xập xệ, Quân nói.
-Sở dĩ tôi đi uống cà phê với anh, vì tôi có chuyện muốn nhờ anh giúp đỡ.
-Chuyện gì? Nếu được tôi sẵn sàng làm.
Quân nói.
-Tôi sẽ ở đây làm chúa đảo. Khi nào anh đi định cư, tôi có mấy cuốn vở nhờ anh chuyển cho gia đình của tôi. Được không?
-Tưởng gì khó khăn lắm chớ vài cuốn vở là chuyện nhỏ, anh yên chí đi.
Nghe Lâm Châu đồng ý giúp mình, gương mặt của Quân sáng rực lên vui mừng thấy rõ. Hắn nói.
-Cảm ơn anh rất nhiều.
Liên tiếp luôn mấy tuần sau đó, nhiều đêm Lâm Châu để ý thấy Quân say sưa ngồi viết, hắn viết cho đến sáng rồi gục đầu bên ngọn đèn đã cạn dầu từ bao giờ. Hình như có bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu sinh lực hắn trút hết vào mấy cuốn vở, như sợ rằng không còn đủ thời giờ để viết.
Đúng như những gì Lâm Châu suy đoán, một buổi sáng nọ khi thức dậy, hắn không còn thấy Quân ngồi đó nữa, thay vào đó là một cái bì thơ, với hàng chữ “Kính gởi anh Lâm Châu”.
Tôi và anh sống chung với nhau trong một căn lều cũng đã được gần một năm, cho đến hôm nay, tôi mới có dịp tâm sự cùng anh qua những trang giấy này.
Như anh biết, bãi biển khu F nơi anh và tôi đang sống, nó nằm ở cực Nam của đảo Pulau Bidong. Nếu đứng tại đây, nhìn về hướng Nam, hòn đảo Cá mập chắn ngay trước mắt, quay qua hướng Đông không bao xa, vợ con tôi đang ở đó. Tuy gần như vậy mà hôm nay, đúng một năm rồi tôi mới chịu đi gặp họ. Sở dĩ có sự chậm trễ như vậy vì tôi cần phải viết, phải kể lại cho ba má và người thân của tôi. Kể cho họ biết chuyện gì đã xảy ra cho vợ chồng tôi vào chuyến vượt biên năm ngoái.
Tàu của chúng tôi, sau năm ngày lênh đênh trên biển, bị tàu hải tặc Thái Lan cướp hết vàng bạc, sau đó húc chìm. Tôi lao mình xuống biển tìm vợ con giữa lúc màn đêm vừa buông xuống. Biển đêm sâu hun hút, đen như mực, tôi vừa bơi vừa gọi tên vợ con đến khản cả giọng. Tôi bơi mà không biết bơi về đâu, cho đến khi sức tàn lực kiệt mới nhắm mắt xuôi tay. Cũng cùng lúc ấy một tấm ván chạm vào tay tôi như có ai đó đưa cho mình. Tôi ôm lấy tấm ván rồi thiếp đi, không còn biết gì nữa. Khi tôi tỉnh dậy, mặt trời đã lên khá cao, chiếu ánh sáng xuyên qua giàn lưới cá phơi nơi mũi tàu. Nhìn thấy mấy người đàn ông lực lưỡng, mình trần như hải tặc Thái lan đang kéo lưới, tôi hoảng sợ la lớn rồi cố vùng dậy để chạy. Hoàn toàn bất lực, tay chân của tôi bủn rủn, tê liệt, không cử động được. Một người trong bọn đánh cá đè tôi, để một ngón tay lên miệng như nói hãy im lặng. Sau đó hắn chỉ vào ngực của hắn, rồi nói.
-Malaysian.
Tôi thở phào nhẹ nhõm rồi nhắm mắt mê đi vì quá mệt.
Bốn ngày sau, tôi được chiếc tàu này đưa đến một đồn lính, hình như là đồn biên phòng của Mã Lai, gần biên giới Thái Lan. Ở đồn lính Mã Lai hai ngày, tôi được Cao ủy tỵ nạn đưa về trại chuyển tiếp Terengganu và sau đó là Pulau Bidong.Trên đảo Bidong, nhiều đêm tôi ngồi một mình nơi đài tưởng niệm thuyền nhân trên đồi tôn giáo. Đêm khuya gió biển lành lạnh, bầu trời đầy trăng sao, tôi dõi mắt nhìn về hướng Đông, nơi đó vợ con tôi và người bạn thân đang trầm mình dưới đáy đại dương, dang tay vẫy gọi. Tôi thẫn thờ ngồi đó nghe biển hát, tiếng hát rì rào khi trầm khi bổng như sóng biển vỗ bờ, như tiếng gọi thầm thương nhớ thiết tha của vợ con, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn tràn tưởng như không bao giờ dứt. Cả một quá khứ xa xưa bỗng chốc hiện về ngay trước mắt, năm 1954 hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, gần một triệu người Bắc di cư vào Nam lánh nạn Cộng Sản. Ở Miền Nam người dân được sống trong thanh bình vài năm, sau đó đến cuối năm 1960, Cộng Sản Bắc Việt lập ra Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam rồi đem quân xâm lăng Miền Nam. Chiến tranh mỗi ngày một leo thang khốc liệt, tôi và bạn bè của tôi lên đường tòng quân. Tôi biết, tôi là một người bình thường, đúng hơn là dưới mức bình thường.
Suốt bảy năm trong quân ngũ, tôi không cóđược cái dũng khí của Trung úy Đức bạn tôi, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh, đã cùng anh em binh sĩ chân giẫm lên xe tăng T54, đầu đội hàng chục ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng để rồi bị thương phải cưa mất hai chân khi tử thủ An Lộc, trong mùa hè đỏ lửa 1972. Tôi cũng không có được tính kiêu hùng, coi cái chết nhẹ tựa mây trời nơi vùng hỏa tuyến của Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Nhân đầu bạc, khi cùng binh sĩ trong đại đội xả thân tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Tôi lại càng không có cái hào hoa lãng mạn nơi thành phố, nhưng vẫn đầy đủ bản chất anh hùng trên chiến trường nơi biên giới của Long công tử. Trong khi bạn bè của tôi ở những đơn vị tác chiến, cầm súng đánh nhau ngày đêm với Việt Cộng để bảo vệ Miền Nam, lớp chết, lớp bị thương, người còn sống mang tấm thân tàn phế thì tôi được ở đơn vị không tác chiến, sống an lành ở hậu phương. Như vậy với hai mươi mốt năm, từ năm 1954 cho đến năm 1975, khi mà dân quân Miền Nam anh dũng chiến đấu chống Cộng Sản xâm lược, thì riêng cá nhân tôi CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU đậm đà thắm thiết của vợ tôi mới theo tôi cho đến ngày hôm nay, đến cuối cuộc đời.
Thưa anh Lâm Châu.
Tôi là Trung úy Nguyễn trọng Quân, sĩ quan trực Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Một năm trước đây, khi tôi đến được đồn lính biên phòng của Mã Lai, một mình đến được bến bờ tự do, trong khi vợ con thì chìm sâu dưới đáy đại dương, tôi khóc không thành tiếng, dửng dưng đứng nhìn cánh cổng thiên đường Pulau Bidong với ngọn hải đăng đã tắt ngấm, chỉ còn lại cái bóng mờ nơi bờ biển mà không muốn bước chân vào. Tôi tự coi như mình đã chết từ lúc chiếc tàu của tôi, bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Trên tàu gồm có hai mươi ba người kể luôn cả tôi, hai mươi hai người đã chìm vào lòng đại dương sâu thẳm, họ là nhóm người trong số hàng triệu, triệu người Việt Nam dùng thuyền vượt biển, được thế giới gắn cho cái chữ Boat People. Người ta ước lượng rằng, trong số vài triệu người đó, một phần tư đã bỏ mình trên biển Đông. Người dân Việt Nam bỏ nhà bỏ cửa, bỏ mồ mả ông cha, bỏ tất cả, vượt biển tìm tự do, họ thà chịu chết trên biển Đông chứ quyết không sống dưới chế độ độc tài man rợ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau này trong lịch sử, các sử gia chân chính của Việt Nam sẽ nói đến giai đoạn mà Đảng Cộng Sản cai trị Việt Nam, và coi đó như một trang sử ô nhục của đất nước, là thời kỳ đen tối nhất của Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Sáu cuốn vở mà tôi gói trong tấm ny lông này là những gì tôi muốn nói. Nhờ anh chuyển cho ba vợ tôi, tên ông ấy là Nguyễn văn Bảy, ông vua nhà cửa ở Sài Gòn trước năm 1975. Hiện tại ba vợ của tôi đang sống ở Mỹ, tôi chỉ biết được có chừng đó chi tiết về ông. Anh có thể đọc và phổ biến những gì tôi viết trong mấy cuốn vở này, hy vọng ba vợ của tôi khi nghe chuyện, sẽ biết được tin tức con gái của ông cùng thằng rể và đứa cháu ngoại.
Khi anh đọc những hàng chữ này thì tôi đã đi gặp vợ con của tôi. Chúng tôi đã được sum họp vui vầy bên kia thế giới, một thế giới Tự Do không Cộng Sản
Chúc anh lên đường định cư bình an, hạnh phúc.
Cảm ơn anh. Nguyễn trọng Quân.
Lâm Châu đọc xong bức thư mà cả người bần thần, thương cho hoàn cảnh bi đát của người bạn chung lều. Không thể chần chờ hắn vội vã mở tấm giấy ny lông, sáu cuốn vở dày cỡ trăm trang được xếp ngay ngắn, đánh số từ một tới sáu. Bên trong mấy cuốn vở là những trang giấy dày đặc những hàng chữ nhỏ đều đặn, nhiều nơi chữ đã nhạt nhòa, hình như là do nước mắt của người viết. Lâm Châu mở trang đầu tiên của cuốn vở rồi bắt đầu lẩm nhẩm đọc.
“ Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẳm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu….”
Mới đọc được vài trang, Lâm Châu chợt nhớ ra những dòng chữ mà mình đang đọc là của Quân, người bạn ở chung lều với mình suốt một năm qua. Anh bạn này vừa mất tích, hay là đã tự tử từ tối hôm qua rồi. Trên đảo Bidong nếu vì bất cứ lý do gì mà mất đi một người tỵ nạn, Ban chỉ huy trại phải báo cho Cao ủy tỵ nạn Liên hiệp quốc biết. Không thể đọc tiếp, Lâm Châu vội vàng gói sáu cuốn vở vào trong tấm giấy ny lông cất vào túi xách tay, rồi co giò phóng như bay lên Ban chỉ huy trại để báo cáo về tình trạng của người bạn sống chung lều với mình.
Một tuần lễ, trước ngày rời đảo Pulau Bidong đi định cư, Lâm Châu bất chợt nghe được trong mục tìm người, phát đi từ loa phóng thanh của Ban thông tin trên đảo.
“Tìm chồng. Trung úy Nguyễn trọng Quân 32 tuổi, trước năm 1975 phục vụ tại Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, vượt biển ngày 12 tháng 4 năm 1980, trên con tàu gồm có 23 người, đã bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Anh Quân, nếu anh còn sống hãy liên lạc số điện thoại …hoặc địa chỉ …California, USA. Vợ Nguyễn thị Cúc.”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.