This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
10 giờ 40, mười phút sau lệnh đầu hàng cộng sản của Dương văn Minh, Đặng Xuân Côn và tôi ra vỉa hè trước cửa nhìn Sài gòn chờ đợi cộng sản vào. Tại sao chưa đánh đã đầu hàng? Tôi nghe rõ câu hỏi nghẹn ngào đó trong những ánh mắt ngơ ngác của người Sài gòn quanh tôi. Trời hết âm u, nhưng vẫn chưa có nắng. Vẫn thiếu nắng vàng rực rỡ. Dân Xóm Lách kéo lên. Lề đường Công Lý, gần nhà tôi đông nghẹt. Dẫu lòng ngổn ngang bối rối, tôi còn chút hạnh phúc trên những khuôn mặt buồn bã của đám dân “vô sản” Xóm Lách. Không một nụ cười. Khó tìm ra niềm hân hoan. Ngay cả những người đã truy nã kỹ thân phận mình, sự nghiệp của mình ròng rã hai mươi năm Việt Nam cộng hòa, thấy chẳng dính líu gì tới “nợ máu” với cộng sản, cũng hồi hộp vì “biển máu.” Chưa bao giờ tôi thấy, kể từ nhận Sài gòn làm quê hương, một cảnh tượng Sài gòn não nề đến thế. Tôi có cảm tưởng Sài gòn đang sợ hãi cơ hồ tôi đang sợ hãi, cơ hồ mọi người đang sợ hãi. Xe cộ ngưng chạy. Những gia đình có “máu mặt” rút hết vào nhà. Cổng đóng kín mít. Cửa sổ gác cao he hé mở. Ai đã nhìn tôi qua ô cửa kính mắt lệ mờ? Tôi sinh ra ở miền Bắc, thị xã nhỏ bé, êm đềm Thái Bình. ấu thơ của tôi, trải dọc theo hàng cây hồi thấp và vương vấn cùng khắp cầu Bo. Niên thiếu của tôi lãng đãng vùng trời Hà Nội. Tôi khôn lớn ở Sài gòn. Sài gòn cho tôi những bước xuống đời cay đắng để tôi làm cuộc đời tôi Sài gòn cho tôi tình yêu, cho tôi thi ca, cho tôi tiểu thuyết. Công sinh không nặng bằng công dưỡng. Sài gòn đã nuôi dưỡng tôi. Sài gòn là mẹ tôi. Mẹ Sài gòn săn sóc tôi hai mươi năm. Tôi đã làm gì cho Sài gòn? Đã làm gì, vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới là cái hữu hạn trong cái vô hạn. Bây giờ, đứa con phóng đãng ôm ghì mẹ mình bằng đôi tay rời rã, nước mắt ròng ròng. Đứa con bất lực, đứa con hèn hạ, đứa con khiếp nhược, đứa con mải rong chơi nỡ để mẹ mình lạc vào tay thù. Mà chỉ biết khóc. Mà chỉ rên rỉ Mà chỉ luyến tiếc hàng me xanh, ghế đá công viên và những cuộc tình phù phiếm. Tôi hiểu những giọt nước mắt của tôi vô nghĩa, chẳng dám khóc, chẳng thiết khóc, mà mắt tôi cứ căng mọng và lệ cứ rơi. Tôi đã biết khóc vì Sài gòn, vì một thành phố kỷ niệm. Một toán quân xuất hiện. Quân ta. Tôi đếm: 19 người. Mười chín người lính, mười chín người chiến sĩ, đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gầm, lầm lũi bước. Tối hôm qua, tôi đã thấy quân ta ngang qua đây. Quân ta và xe tăng. Hình ảnh người lính sửa xích tăng đã in vào tiềm thức tôi. Tối hôm qua, tôi đã thấy tướng Vĩnh Lộc chủ chiến. 10 giờ 30 hôm nay, tôi nghe Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Và, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, tôi lặng người ngắm toán quân chiến bại. Cảm giác đầu tiên của tôi là ngậm ngùi. Tôi nhớ một câu thơ của Corneille: “ô cruel souvenir de ma gloire passée” mà Thế Lữ cảm hứng viết: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu? Thời oanh liệt đâu? Những chiến tích rực rỡ dội vang sông núi của quân lực Việt Nam cộng hòa, những chiến tích làm bàng hoàng thế giới, làm vỡ mộng xâm lược của cộng sản, nay còn đâu? Tôi không bao giờ quên người Do Thái đã bầy tỏ công khai với nhân loại rằng, họ mơ thành người An Lộc. Tôi vốn không ưa các chế độ, các nhà lãnh đạo, một số tướng lãnh bất tài vô học, tham nhũng của miền Nam sau 1963, nhưng, luôn luôn, tôi yêu mến và cảm phục quân đội. Chế độ đã xóa bỏ chế độ, lãnh đạo đã hạ bệ lãnh đạo, quân đội tồn tại như quê hương. Bởi vì quân đội bảo vệ quê hương. Quân đội không phải là công cụ riêng của chế độ, của lãnh tụ. Một số tướng lãnh hèn mạt, vì quyền lợi cá nhân, vì địa vị khốn kiếp, đã bán mình cho chế độ, cho lãnh tụ để bán xương máu của quân đội và làm nhạt nhòa cái kiêu sa của người lính. Kẻ bán xương máu của lính nhiều nhất, kẻ dùng quân đội làm thang lưng leo lên danh vọng là Nguyễn văn Thiệu. Bây giờ, Thiệu đã bỏ đi. Cao văn Viên đã bỏ đi. Vô số tướng lãnh đã đào ngũ chạy trốn. Dương văn Minh đã đầu hàng. Quân đội tiếp tục chiến đấu. Quân đội sẽ tiếp tục chiến đấu, nếu Dương văn Minh không hám cái hư vị “tổng thống miền Nam trung lập” đến nỗi thỏa hiệp với cộng sản. Tham vọng bằn tiện của Dương văn Minh còn là tham vọng của vài ông tướng, vài ông nghi sĩ, vài ông dân biểu “nhất định” ở lại làm Tổng trưởng. Bùi Tường Huân là một thí dụ. Những người khác đã đi học tập cải tạo, đã vượt biên sang âu châu, Mỹ châu thì xin miễn kể tên, sợ mất ép-phê chống cộng của quý vị ấy. Thế giới đã thiếu sự công bình tối thiểu để khắc nghiệt lên án sự tan hàng bệ rạc của quân đội ta. Họ không thèm quan tâm tới sự tôn trọng kỷ luật tối đa của quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội không tuân lệnh đầu hàng của Dương văn Minh mà tuân lệnh đầu hàng của vị Tổng thống nước Việt Nam cộng hòa kiêm Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội nước nào cũng thế cả, trừ trường hợp người ta làm cách mạng, làm đảo chính lật đổ Tổng thống. Tôi yêu quân đội của đất nước tôi. Tôi không xuẩn ngốc phán xét quân đội. Tôi có bổn phận ngưỡng mộ quân đội quốc gia. Và tôi đau đớn nhìn quân đội của tôi đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gằm, lầm lùi bước. ông Nguyễn văn Thiệu không chứng kiến thảm cảnh này. Các ông tướng đào ngũ không chứng kiến thảm cảnh này. Tôi nghĩ các ông ấy chẳng nên nói về quân đội, nhắc đến quân đội nữa. Một bà mẹ hớt hơ hớt hái, từ dốc chợ Xóm Lách, chạy lên đuổi theo toán quân, (tôi quả quyết quân đội ta không thua trận. Quân đội ta mãi mãi chiến thắng, mãi mãi anh dũng. Chế độ Nguyễn văn Thiệu thua trận, các ông tướng đào ngũ thua trận và chính sách Mỹ ở Việt Nam thua trận). Bà mẹ già ôm chặt lấy một người lính: – Mày đi đâu nữa con? Sao không về nhà? Hết chiến tranh rồi, hòa bình rồi. Về thôi, con? Người lính cố gỡ nhẹ tay mẹ mình ra: – Con không thể về được. ‘ Bà mẹ khóc. Bà mẹ khóc tức tưởi: – Sao vậy? Có lệnh hàng rồi mà. Người lính lắc đầu: – Con không thể về được. Toán quân đã băng qua ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Bà mẹ vẫn níu chặt người con chiến sĩ lại: – Mày đã đi đánh nhau bao lâu nay, có được hưởng gì đâu? Người lính nghẹn ngào: – Con không thể nào bỏ các bạn con. Bà mẹ rên rỉ: – Bỏ hết, bỏ hết đi con, về với má, không sao đâu. Người lính gỡ mạnh tay mẹ mình ra: – Má về đi, con phải theo các bạn con. Người lính chạy nhanh để bắt kịp các chiến hữu. Bà mẹ đứng bên đường mắt đẫm lệ, nhìn theo con mình…
° ° °
– Rồi người lính có về không? Đó là câu hỏi của ký giả Patrick Sabatier của nhật báo La libération đã đến tận nhà tôi ở Ivry sur Seine phỏng vấn tôi để làm số báo đặc biệt cho ngày 30-4-1985. Tôi đã kể câu chuyện trên nhằm trả lời câu hỏi “Điều gì còn làm ông nhớ Sài gòn nhất”? – Tôi không biết, ông Patrick ạ! Sau 6 năm tù đầy trở về, tôi hỏi thăm người Xóm Lách, được rõ là bà mẹ còn sống, và người con vẫn biệt tăm… – Anh ta đi đâu? – Tôi nghĩ rằng anh ta đi làm cuộc chiến đấu mới, không cần viện trợ Mỹ, cố vấn Mỹ và lính Mỹ. Dân tộc tôi cần thiết cuộc chiến đấu mới mẻ này. – Tại sao? – Nó mới đích thực là cuộc chiến đấu của dân tộc tôi nhằm tiêu diệt chế độ cộng sản, chủ nghĩa cộng sản để giành lại tự do, dân chủ, độc lập cho Việt Nam. Cuộc chiến đấu mới của dân tộc tôi loại bỏ hết tay sai của Mỹ, của ngoại bang. Như thể, chúng tôi gọi là một cuộc chiến đấu có chính nghĩa, tuy cô đơn, lãng mạn nhưng tổ tiên chúng tôi đã lãng mạn, cô đơn chiến đấu. – Rất đẹp, rất cao quý. – Ông ủng hộ cuộc chiến đấu mới của chúng tôi chứ? – Vâng, tôi hết lòng. Số báo đặc biệt của La libération, một tờ báo khuynh tả, xuất bản ngày 30-4-1985 viết về Việt Nam đã như gáo nước lạnh hắt vào mặt đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Số báo này có đăng thêm một đoạn trong bài thơ Sài gòn ra đường của tôi trên trang nhất.
° ° °
19 người lính đi tới đâu, đi về đâu, tôi không biết. Hình ảnh bi thảm của họ khiến lòng tôi se lại nhưng cũng sưởi ấm tâm hồn tôi. ít ra, tôi còn được tự hào là người Sài gòn, người miền Nam. 19 người lính quốc gia đã anh dũng chiến đấu cho tới phút giây nghe lệnh đầu hàng. Vẫn 19 người lính này, biểu tượng của quân lực Việt Nam cộng hòa bất khuất, tháo bỏ quần áo Mỹ, giầy nón Mỹ, tiếp tục chiến đấu sau lệnh đầu hàng. Tôi đã thèm sống hèn, càng thèm sống hèn hơn. Để nói lên được cái hào hùng của người lính, cái tâm sự não nề của người lính, những con người không được phép chiến thắng, những con người bị tước đoạt quyền chiến thắng cộng sản. Thế giới đã không có hân hạnh nhìn 19 chiến sĩ Việt Nam. Thế giới đã không có hân hạnh nghe người lính giã từ mẹ mình lên đường nhập cuộc chiến đấu mới. Thế giới, cái thế giới mù lòa, điếc, ngọng đã bảo chúng ta thua trận đã miệt thị quân đội chúng ta tan hàng bệ rạc. Tôi đợi, tôi đã đợi, tôi đang đợi những kẻ tự nhận mình sống hùng viết những trang tâm sự của người lính sau 30-4-1975. Thú thật, tôi đã chai lỳ từ dạo cắm sừng nhọn vào đầu đề đương đầu với cuộc đời và người đời. Thế mà tôi còn khóc được hôm nay, khóc như kẻ mau nước mắt nhất. Giống hệt người mẹ anh lính, tôi cũng mắt đẫm lệ nhìn theo anh ta. – Buồn quá hả, Long? Côn hỏi. – Buồn hơn một chuyện tình buồn trong tiểu thuyết. Tôi nói. – Nếu mày còn sống và có cơ hội viết nhỉ? – Ở đâu? – Mỹ. – Ông mơ mộng hơn cả tôi rồi. – Sống phút nào mơ mộng phút ấy. 11 giờ, đường Công Lý nườm nượp những người đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun cắm cúi rảo bước. Nhiều người chạy. Đó là lính, là sĩ quan của chúng ta. Họ đã liệng súng đạn. Họ về nhà mình, nhà thân nhân của mình. Khuôn mặt họ, sự sợ hãi pha trộn sự phẫn nộ. Dân chúng hai bên đường im lặng. Không một nụ cười rè bỉu. Không một ánh mắt khinh khi. Người ta đã thù ghét chế độ, thù ghét Nguyễn văn Thiệu và tập đoàn thống tri tôi mọi cùng đám tướng lãnh dốt nát, hống hách nhưng chẳng bao giờ người ta thù ghét quân đội* . Chỉ thiếu những tiếng hoan hô nồng nhiệt, những tràng pháo tay bất tận như những lần quân ta chiến thắng sau mỗi chiến dịch trở về thành phố. Tiếng nhạc quân hành, tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay, lúc này, là tiếng vỡ của trái tim, tiếng nứt của mạch máu, tiếng rơi của nước mắt. Lúc này, cả thành phố thấy mình chiến bại, cả thành phố chia xẻ nỗi đau chiến bại, bởi vì, những kẻ đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun là anh, là chồng, là cháu, là em của người Sài gòn. Của Sài gòn. Có phải khi người ta đã quá sợ chết thì người ta hết biết mình sợ chết? Tôi bỗng quên nỗi sợ chết của tôi. Hoặc là tôi đã chết rồi, linh hồn tôi đậu trên chân đất của người lính tìm về nhà mình. Người lính ấy, hai mươi năm ròng rã đứng giữa biên giới sống chết, hai mươi năm chưa một lần cúi đầu, nửa tiếng đồng hồ trước vẫn ngẩng mặt và, lúc này… Tôi hết biết mình sợ chết. Hơn cả thế, tôi biết mình nên sống hèn, không nên sống hùng để cùng bị chết hèn lãng nhách.
-Côn! – Hả? – Ông nhớ sau hôm đảo chính 1945 chứ? – Nhớ. – Thực dân Pháp đã chạy dài, đã lột bỏ quần áo, giày vớ, đã chân đất, đội nón mê cắm cúi bước. Đã bị phát xít Nhật truy lùng. – Chúng ta đứng bên kia cầu Bo nhìn các ông Tây kéo xe bò chở đất, các bà Đầm khóc sướt mướt và phát-xít Nhật cười hoan hỉ. – A, chúng ta đã vỡ lẽ chiến bại và chiến thắng từ năm mười tuổi. Chúng tôi trở vào nhà, đóng cổng kỹ lưỡng. Chuông điện thoại reo vang. Tôi nhấc máy. – Alô, alô, tôi muốn nói chuyện với Duyên Anh. – Chính tôi. – Phạm Lê Phan đây… Phạm Lê Phan, nhà văn, nhà thơ, tác giả nhiều truyện ngắn đăng rải rác trên các tạp chí Bách Khoa. Chi Đạo từ 1960 là bút hiệu của thượng sĩ Phạm văn Kiệm, phục vụ tại Cục tâm lý chiến. Anh ta đã viết thi phẩm Chiến ca mùa hè mà Phạm Duy phổ nhạc. Chiến ca mùa hè như những trang quân sử bằng thơ ghi lại mùa hè đỏ lửa. – Mày chạy không thoát à? – Ừ. – Tao gọi bạn bè, chẳng còn thằng nào. May quá, còn mày. – May cái con c…? Mày chưa về nhà ư? – Về hả? Tao là thượng sĩ nhưng là chiến sĩ, hơn cả, tao là kẻ sĩ. Tao đại diện quân lực Việt Nam cộng hòa chuẩn bi tiếp xúc với Việt cộng. – Cục mày hết người… lớn rồi à? – Còn mỗi mình tao. Tao là tân Cục trưởng. Cục trưởng cút lâu rồi. Cục phó Phan Trọng Thiện vừa về… nhà. – Mày cũng nên về đi. – Tại sao tao lại phải về? Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè. Tao thủ trái lựu đạn, ngồi tại văn phòng Cục trưởng Tâm lý chiến thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị của quân lực Việt Nam cộng hòa. Chai whisky trên bàn vơi quá nửa rồi. ông tu chất cay. Bọn nó vào mà tử tế, ông giao Cục, dở trò hỗn láo, ông cho lựu đạn nổ… Tao sẽ gọi mày sau. Thôi nhé! Người lính văn nghệ, thượng sĩ Phạm Lê Phan không muốn cộng sản vào Cục tâm lý chiến như vào nhà hoang. Anh ta ngồi đợi kẻ thù tới tiếp thu. Không còn cấp bậc và huy chương nào tưởng thưởng anh ta cả. Anh ta có quyền về nhà, được phép về nhà mình mà không ai dám kết tội anh ta đào ngũ hèn nhát. Nhưng mà “lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè.” Anh ta kiêu hãnh nói “tại sao tao phải trở về”? Sẽ chẳng một ai đủ liêm sỉ bắt chước Phạm Lê Phan tự vấn lòng mình “Tại sao tôi lại đào ngũ”. Tôi ngồi hút thuốc, chờ điện thoại của Cục trưởng Tâm lý chiến: Thượng sĩ Phạm văn Kiệm.
XÁC T-54 BÊN KIA CẦU THỊ NGHÈ “Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè”. Tôi biết rõ những người lính ấy. Họ là nhà báo vô danh, là kép cải lương thứ yếu, là ca sĩ tân nhạc hạng xoàng. Họ còn là thanh niên Chợ Lớn, thanh niên con nhà giàu sợ hãi chiến trường, được ẩn thân ở Cục Tâm lý chiến dưới sự “bảo trợ” của tướng bà Cao văn Viên. Hai hạng người dưới, lương quân đội lĩnh xong phải cộng thêm tiền gia đình nộp cho người bảo trợ hàng tháng, chưa kể khoản tiền nặng ra mắt và được chấp thuận bảo trợ. Lính văn nghệ cơ hữu của Cục tâm lý chiến chỉ có bổn phận canh gác giữ an ninh cho Cục ngày và đêm. Sự canh gác mang tính cách trình diễn, dù đã học 9 tuần quân sự ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Vòng đai an ninh của Cục bé nhỏ. Đã có lực lượng bảo vệ an ninh của Cục an ninh quân đội, của Đài phát thanh Sài gòn lo giùm hết. Vậy bên đây cầu Thị Nghè, kế sát Cục, là nơi lính văn nghệ canh gác ban đêm để bảo vệ Đài phát thanh quân đội, tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, văn phòng của các quan văn nghệ… Nói ra hơi buồn, lính văn nghệ gác cầu, chỉ nhằm trình diễn tinh thần kiểng và tạo oai phong cho các quan tâm lý chiến chơi xì-phé, mạt chược những đêm trực. Truyện kể về những người lính văn nghệ gác cầu Thị Nghè sáng 30-4-1975 như sau: Xe tăng cộng sản vào thành phố Sài gòn để vô Dinh Độc Lập bằng hai ngả. Ngả thứ nhất: Từ ngã tư xa lộ Hàng Xanh, T-54 của cộng sản chia đôi. Không nhiều gì đâu. Có 10 chiếc thôi. 5 chiếc rẽ phải vô Hàng Xanh, qua đường Bạch Đằng, qua đường Chi Lăng, Võ Tánh Phú Nhuận, bọc lên đường Cách Mạng, Công Lý. 5 chiếc rẽ trái vô Thị Nghè, qua cầu, qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua đường Thống Nhất. Chiếc thứ nhất bị lính văn nghệ chặn đánh ở bên kia cầu. Với súng M- 16, lính văn nghệ đã nhắm T-54 mà khạc đạn. Lúc ấy, 10 giờ 45 phút, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh 15 phút. Lính văn nghệ đã gây cảm hứng cho quần chúng. Sự phẫn nộ nổi lửa, nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Thị Nghè bốc phừng phừng. Bất chấp cái chết, thanh niên Thi Nghè đã viết những trang sử đấu tranh mới bằng những chai xăng châm lửa ném tới tấp vào T-54 của kẻ thù. Lửa cháy trên nóc T-54. Lửa cháy dưới T-54. Lửa cháy xích T-54. Lửa cháy đàng trước T-54. Lửa cháy đàng sau T-54. Lửa Thị Nghè bất khuất. Lửa Thị Nghè của Sài gòn. Ngọn lửa tiên phong của cuộc chiến đấu mới. Chiếc T-54 dẫn đầu đứng khựng. Nó bất động. Năm người bộ đội xe tăng, công cụ tội nghiệp của cộng sản, đã chết thảm dính chùm trong một sợi xích khốn kiếp. Đã chết mà không biết mình bị mê hoặc: Năm ngón tay trên một bàn tay Như năm người con cùng một mẹ Năm ngón tay trên một bàn tay Không xa rời nhau Như năm người con cùng một mẹ Năm người bộ đội trong xe tăng Như năm ngón tay trên một bàn tay Như năm người con cùng một mẹ Không xa rời nhau Sống bên nhau và chết bên nhau* Một chiếc T-54 bị bốc cháy. Là thừa thắp sáng cuộc chiến đấu mới. Là thừa mở mắt thế giới đui mù. Bốn chiếc sau phải dừng lại, ngơ ngác. Kẻ thù hoảng sợ. Nó hung hãn khạc đạn. Nó trấn áp. Nó vất vả qua cầu Thị Nghè. Hà Nội phải hiểu họ không có đại thắng. Bởi vì, theo Ngô Khởi, chiếm được đất mà không chiếm nổi lòng người thì không bao giờ chiến thắng cả. Xác chiếc T-54 nằm nhục nhã bên kia cầu Thị Nghè trọn ngày 30-4 và những ngày kế tiếp là biểu tượng bất hủ của lịch sử nòi giống và của quân sử Việt Nam cộng hòa. Tôi nhớ đã xem một phim, hình như tên phim là El Alamein do Frederick Stafford thủ vai đại úy quân đội ý, diễn tả một trận đánh tuyệt vọng giữa đám quân đồn trú ở sa mạc Phi Châu với đạo quân xe tăng của tướng Montgomery lừng danh Anh Quốc. Tăng của tướng Montgomery đã phơi xác lớp lớp. Và rồi, kẻ chiến thắng đã nghiêng mình kính cẩn chào tinh thần chiến đấu quả cảm tới phút chót của kẻ chiến bại. Người cộng sản, chắc chắn, thiếu sự hào sảng đó. Và, tôi còn thấy, thiếu cả những trang sách vinh tôn những người lính văn nghệ đã chết hay vẫn sống đã hạ chiếc T-54 của cộng sản bên kia cầu Thị Nghè buổi trưa ngày 30-4-1975 của những ông quan văn nghệ tự cho mình sống hùng trong ngục tù cộng sản rồi thoát ra ngoại quốc. Tôi cố tìm ở hồi ký dầy cộm của họ. Chẳng thấy gì ngoài sự kể khổ, lên án cộng sản man rợ và phô diễn cung cách sống bần tiện của mình.
Eliot Ness phóng lên xe, Gary Malone ngồi bên cạnh, Lite leo lên phía sau.
Chàng phóng hết ga chở cả ba người về nhà, lòng vui rộn như ngày nào còn trẻ cùng đám bạn bè đi ngao du phong cảnh. Eliot Ness tròn miệng huýt sáo một điệu nhạc, thỉnh thoảng lắc lư cái đầu ra chiều rất đắc ý. Công tác của bộ tài chánh giao không biết chừng nào mới xong, nhưng kể từ lúc chân ướt chân ráo xuống Chicago, chiều hôm nay, lần đầu tiên chàng thấy ánh sáng đã lóe lên ở cuối con đường hầm.
Gary Malone ngồi bên cạnh thấy cũng có vẻ hả hê. Lâu quá rồi, dễ chừng
đã hơn 15 năm, hắn mới tìm ra một người bạn như Eliot Ness. Cha nội cớm liên bang này coi được quá chừng. Gary Malone nhớ đến lần gặp gỡ đầu tiên với ông cớm khó chịu này. Phải rồi, cái buổi sáng mà hắn đập nát chiếc xe của thằng Frank Nitti. Thật ra sáng hôm đó, sau khi nhìn tới nhìn lui chiếc xe đậu ngang xương dưới bảng cấm, hắn đã tính bỏ đi. Trời đẹp như vậy thì nên tìm một cái ghế đá nào mà ngồi ngắm trời ngắm đất cho sướng cái thân già, ai thèm đi hạch xách ba cái màn đậu xe vớ vẫn làm chi. Nếu như thằng tài xế ngồi trên xe chỉ việc nhìn ra ngoài cười cầu tài một phát thì Gary Malone cũng chẳng thèm chấp nó làm gì. Một con cọp dữ cỡ Gary Malone đâu thèm đi chấp những con nai ngu đần làm chi. Hơn nữa, những lúc sau này, nhất là mấy năm gần đây, Gary Malone cảm thấy hơi mệt mỏi và chán nản. Cách đó vài tuần, một hôm buồn đời quá không có chuyện gì làm hắn bèn đi thăm thầy thuốc để kể lể sự chán nản của mình và xin ý kiến. Ông Bác sĩ phân tâm học già nghe chuyện xong lắc đầu bảo cho Gary Malone biết là sức khoẻ và bộ thần kinh của hắn bình thường, không có gì lạ cả. Chẳng qua đó chỉ là một dấu hiệu của tuổi già. Ông còn khuyên thầy đội nên tập thể tháo, ăn uống kiêng cữ, bỏ hết rượu
chè, tình nguyện tham gia vào những hội đoàn địa phương để hoạt động đi làm
những công tác xã hội “cho cuộc đời bớt tẻ nhạc,” và chuẩn bị đón tuổi già đến với mình một cách an lành như hằng bao nhiêu người khác. Gary Malone ra khỏi phòng mạch mà thấy tiếc cho 3 đồng bạc đã bỏ ra để vào đây nghe một anh thầy lang dạy đời. Tập thể tháo thì 40 chục năm qua, ngày nào Gary Malone không luyện “Lưỡng Thiết Cầu”, cái môn võ rất bí mật nhưng rất
là đơn giản của người Trung Hoa mà hắn may mắn học đường từ lúc nhỏ để đến nổi có biệt danh là “bàn tay thép”. Hai ngón tay của Gary Malone có thể bẻ cong đinh, đâm thủng ván và quan trọng nhất, chặt xuống đầu ai một cái thì cũng như người ta lấy búa sắt mà giộng vậy. Máu xịt ra có vòi liền và kẻ bị đòn chắc chắn gục liền tại chỗ. Nếu xui xẻo gặp hôm thầy đội nổi cơn điên thì … chết ngắt luôn là chuyện rất thường.
Ăn uống kiêng cử và bỏ rượu thì nhất định là không có Gary Malone rồi.
Hắn đã từng thấy thương hại cho những “thằng người” coi trọng mạng sống mình đến độ một miếng thịt, một hớp rượu cũng không dám uống. Sống … hèn như vậy chẳng thà đừng sống. Đối với Gary Malone, một tay cảnh sát từng tay không bẻ cổ bọn găng tơ Chicago liệng xuống sông, từng đánh xì phé với mạng sống của mình thì có sợ gì thần chết mà phải kiêng cử? Phải thì sống, còn không phải thì “thăng thiên” nơi miền hoan lạc, thèm chó gì cái cuộc sống này kìa? Vấn đề tham gia các hội đoàn để đi làm việc thiện nguyện còn thấy tức cười hơn. Nghề của thầy đội là nghề diệt du đãng mà có hội đoàn từ thiện nào ở Chicago này cần một tay súng hay một thằng biết đấm đá đâu?
Hắn đành lủi thủi đi về nhà, và chỉ đồng ý với ông thầy thuốc một điểm:
“Đó là dấu hiệu của tuổi già.” Suốt quãng đường đó, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi về mình. Ai biết Malone bằng chính thằng Malone này?
Nhưng sáng hôm đó, cái thái độ kênh kệu mất dậy của thằng tài xế làm
máu anh hùng của một quá khứ xa xưa nổi dậy trong người hắn. Từ đằng xa, Gary Malone đã biết chỉ có dân mafia gộc mới dám đậu xe khơi khơi trước mũi cảnh sát như vậy. Tới gần hơn chút nữa, Gary Malone nhận ra ngay chiếc xe của thằng đệ nhất đao phủ thủ Chicago.
Thằng Frank Nitti, dù tiếng tăm của nó có vang lừng tới đâu, Gary Malone chỉ coi nó như một đứa con nít. Ngay chính xếp của nó là Al Capone mà gặp Gary
Malone còn phải kính nể một mực thì nó có nghĩa lý gì. Nhưng cuộc đời thường có những cái bất ngờ lạ lùng. Đã nói cọp rừng thiêng không thèm chấp nhất bọn thỏ cáo. Nếu thằng tài xế của Frank Nitti hôm đó không cương ẩu, chỉ cần chi một phát cười cầu tài thì Gary Malone cũng bỏ đi rồi. Dĩ nhiên chiếc xe Cadillac mấy chục ngàn đô la của chủ nó đã không bị đập nát, và Eliot Ness đã không có dịp thưởng thức tài nghệ của Gary Malone …
Quẹo xe vô nhà, nhìn vào dấu hiệu trên cánh cửa gỗ của hàng rào, Eliot
Ness biết là Catherine không có nhà. Vì cuộc đời của một cảnh sát như Eliot Ness có rất nhiều kẻ thù nên gia đình chàng có một hệ thống thông tin cho nhau một cách đặc biệt. Bằng những dấu hiệu nhỏ và đơn giản nhưng họ luôn luôn thông báo cho nhau được những khi cần kíp. Như cách gài cửa sổ hàng rào. Nếu chàng trở về và nhìn thấy cái then cài được để hớ hênh nửa trong nửa ngoài, đó là mọi chuyện bình yên và nàng không có nhà. Eliot Ness chỉ sợ nhất là nhìn thấy cái then cài bị lật ngược ra sau. Đó là dấu hiệu “Nguy hiểm lắm, có kẻ thù trong nhà”. Nếu then cài vậy mà tấm rèm cửa nơi phòng khách được kéo ra một phần ba, dấu hiệu chết người hơn: “Em bị bắt làm con tin trong này, … mau vô cứu gấp.” Cách đây mấy năm, gia đình chàng đã trải qua một lần kinh khủng như vậy nhưng nhờ có dấu hiệu thông báo, Eliot Ness đã lặng lẽ đi một đường ra sau nhà, dùng “độc đạo” mà chàng sáng chế ra để từ từ mò lên phòng khách, nơi một thằng khùng đang kê súng vào đầu Catherine để chờ Eliot Ness trở về. Truyện còn lại đâu có gì đáng nói. Một cái bang súng từ đàng sau đánh tới làm thằng khốn té lăn cù, lòm còm bò dậy thì cặp còng sắt đã bay ra, mổ cứng vào hai cánh tay. Eliot Ness gọi đàn em tới để chở thằng này vào ty chờ ngày ra toà nhưng sáng hôm sau, nghe nói nó bị bắn chết dọc đường vì tính chuyện tẩu thoát. Chàng biết và mọi người đều biết có cho kẹo thằng khốn
cũng không dám bỏ chạy. Chẳng qua nó đã phạm tới cái điều tối kỵ của cảnh sát, không thể tha thứ được: Nó dám đụng đến thân nhân của cảnh sát. Mày phạm tội gì cũng có thể đem ra toà án để xét xử được hết nhưng tội này là tử hình. Dù ông Ness đã cấm không cho nhưng đàn em cũng tìm được cách để xử tử hình được như thường.
Luật là luật mà.
Eliot Ness cảm thấy hơi thất vọng. Chàng muốn đem ông hung thần Gary
Malone này về khoe với vợ, nhưng điệu này thì đành phải chờ đến lần khác vậy. Mở cửa bước vào, ba người cùng ngồi nơi phòng khách. Gary móc ống tẩu ra, nhồi đầy một vố, thở khói ngi ngút lên trần nhà. Eliot Ness hỏi:
-Mấy ông uống cà phê.
Lite lẹ miệng xin một ly liền:
-Dạ, anh cho tôi xin một tách cà phê. Nhớ bỏ tí đường tí sửa.
-Còn ông, Malone?
Gary Malone cười. Hắn thò tay vô trong aó kéo ra một cái ve nhỏ:
-Ông khỏi lo cho tôi. Tôi có thức uống khác quý hơn. Cà phê chỉ uống vào
buổi sáng, buổi chiều nên uống thứ khác.
Tuy chưa bao giờ làm việc chung với Gary Malone nhưng Eliot Ness biết
hắn là một “tập họp” của những cái gì kỳ lạ, khác thường. Eliot Ness nhớ ra là cái số của chàng nó như vậy. Tất cả những nhân viên làm việc cho Eliot Ness thường có những con người nổi tiếng là “bất bình thường”. Mà nghĩ thấy cũng đúng. Nếu
đầu óc không bất bình thường không ai lại chịu xông pha nơi hòn tên mũi đạn, mạng
sống ngày nào cũng được tính từng giờ một để đi làm cái nghề nguy hiểm này với
một số lương chẳng có bao nhiêu.
Không hiểu cái “bất bình thường” của ông nội “bàn tay thép” này cỡ nào
nhưng nhưng Eliot Ness đoán phải là to lắm. Đa tài đa tật mà, chàng vừa bước lui ra
phía nhà bếp vừa suy nghĩ.
Trong khi đó, Gary Malone vặn nút cái ve nhỏ đen thùi lùi ra, ngữa cổ đưa
lên làm một hơi rồi bỏ xuống, khà một cái ngon lành.
Lite đang còn ngạc nhiên thì thầy đội đã thẩy cái ve tới:
-Chú mày muốn thử chút không?
Từ lúc thầy đội “đàn anh” móc cái ve ra, Lite đã nghi trong đó chứa những
gì, giờ nghe nói vậy bèn hoảng vía lên, giẩy nẩy:
-Cái gì vậy Gary?
Gary Malone tỉnh bơ:
-Đù mẹ rượu chớ còn gì nữa.
-Rượu!
Gary Malone chùi miệng:
-Đù mẹ chừng này tuổi đầu rồi không lý đi đâu cũng thủ một chai sữa trong người. Không phải là rượu thì là gì? Mà thứ này là thứ đặc biệt, nhập cảng từ
Canada qua đàng hoàng, không phải thứ cà chớn của mấy thằng chết đói nấu lậu đâu.
Nghe đến đây, Lite thấy muốn … chết trong lòng đến đó. Là một cảnh sát
viên trẻ tuổi, nó gia nhập nghành này vì muốn làm đẹp xã hội, muốn tống cổ mấy thằng găng tơ, bọn ăn cướp vào tù để đem lại no ấm và hạnh phúc cho xã hội. Chính vì vậy mà Lite mới đi tình nguyện đi theo Eliot Ness và gặp được Gary Malone. Chẳng ngờ thần tượng hằng bao nhiêu năm của hắn, con người đã làm rúng động giới giang hồ Chicago lại là một thằng nghiền rượu hay sao? Theo đầu óc non nớt của Lite, muốn bảo vệ luật pháp, thì chính mình phải giữ luật cho đàng hoàng trước đã. Mình chuyên môn đi bắt rượu mà lại uống rượu như hủ chìm như thế này thì coi không ổn chút nào cả.
Nhìn thấy vẻ chới với trong ánh mắt thằng cảnh sát trẻ, tinh đời như Gary
Malone thì hiểu liền là thằng bé này đang nghĩ gì. Té ra là nó ngạc nhiên vì thấy mình uống rượu đây mà. Gary Malone chợt nhớ đến hình ảnh của mình cách đây trên 20 năm …
Ngày ấy, mới vào nghề cảnh sát, Gary Malone cũng là một cảnh sát viên
gương mẫu, nhìn đời qua lăng kính màu hồng, quyết đem tuổi trẻ để phụng sự pháp luật. Sau thời gian tập sự, Gary Malone được giao trông coi một khu ghetto nghèo của dân di cư có nhiều thằng du đãng mới lớn hay phá làng phá xóm, nổi tiếng là “bất trị”. Theo sự nhận định của cảnh sát lúc ấy, con nít mới lớn thì chẳng có gì nguy hiểm, có thể giao cho một thầy đội mới ra trường cỡ Gary Malone trông coi được. Thầy có thể dạy dỗ đám con nít này vừa học thêm kinh nghiệm để sau này đảm nhận những chức vụ khó khăn hơn.
Nhưng đâu có ai ngờ chính cái bọn con nít mới lớn lại là cái bọn nguy hiểm nhất. Chúng nó còn trẻ lại có cái lợi thế là được pháp luật của cái xứ này gìn giữ nên đâm ra ngang ngược không thể nào trị được. Tệ hơn, hồi đó thầy đội làm gì có xe hơi, đi đâu cũng cỡi ngựa và mang gươm giống y hệt một hiệp sĩ thời trung cổ. Đi đứng coi oai vệ lắm nhưng sau mấy tháng hành nghề, thầy đội Gary Malone cứ bị khiển trách hoài vì từ ngày về “trấn nhậm” khu vực, nạn trộm cắp và phá làng xóm của bọn du thử du thực chẳng những không giảm mà còn có khuynh hướng “đi lên” mới là kẹt. Thầy đã cố gắng hết sức, lúc thì dọa nạt, khi khác lại còng đầu vài thằng đem vô bót nhưng chúng nào có sợ. Vừa được thả ra là bọn côn đồ tụ tập nhau lại và phá làng xóm còn nặng hơn xưa nữa như có ý nhắn với thầy đội trẻ tuổi rằng:
“Tài của thầy chỉ có vậy là hết rồi. Tưởng thầy làm được trò gì chứ bợp tai con
người ta rồi bắt đem về bót nhốt vài giờ thì đâu có hù được ai … “
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone căm lắm nhưng luật pháp Hoa Kỳ chỉ cho
mình xử dụng quyền hạn đến đó là hết. Tức đến học máu ra nhưng không thể làm gì hơn được. Vốn thượng tôn luật pháp, thày tự trách hay vì mình giữ luật không đúng để đến nổi bọn nó phải ra nông nổi đó. Tối tối về nhà, thầy chong đèn thức đêm tới mấy giờ sáng để ráng tìm trong cái mớ sách của trường cảnh sát, có một phương thức nào hay không để dẹp bọn du côn mất dậy.
Nhưng tìm mãi chẳng thấy. Trong khí đó, bọn nhô con vẫn lộng hành cho
đến một ngày, xếp trực tiếp gọi thầy đội Gary Malone vào phòng, đóng cửa lại rồi … chửi thẳng vào mặt chẳng nể nang gì cả:
-Bố mày là cảnh sát tuyệt hảo, … đẻ ra mày, tao tưởng mày nếu không được
bằng một nửa của bố thì cũng trên trung bình, hoa ra mày làm việc như … cứt.
Gary Malone tái mặt, ấp úng hỏi:
-Xếp cho tôi một thời gian nữa, tôi mới ra trường …
Người Thượng sĩ cảnh sát chửi thề:
-Nếu tao không nể mặt ông già mày thì tao đã tống cổ mày đi từ khuya rồi.
Làm việc như vậy mà cứ khoái mặc đồ cảnh sát đeo gươm làm những thằng cảnh sát khác phải ngượng lây. To con và sức lực như mày làm nghề phu khuân vác chắc có lẽ hợp lý hơn, chữ thọ lại bảo đảm nữa. Bây giờ, khỏi nói nhiều, tao cho mày một tháng, nếu cái khu trách nhiệm mà còn một lá đơn hay một lời than phiền về những vụ ăn cắp vặt, đấm đá vớ vẩn thì cút cha cái thân mày đi, đừng về đây mà nhìn mặt tao nữa. Trước khi cút, đừng quên trả cái mộc cảnh sát lại để tao kiếm người khác có khả năng hơn làm việc.
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone đang còn tính phân biện thì gã thượng sĩ già
đã đứng dậy, phất tay đuổi hắn ra ngoài như đuổi một thằng tội phạm tầm thường.
Gary Malone giận tím mặt lại nhưng biết tính tình xếp mình, đành lủi thủi bước ra. Tối đó, nhục nhã, đau khổ, hận đời, thầy đội Gary Malone đành lò mò tới
nhà cũ của mình để vấn kế ông cụ. Giòng họ Gary Malone đã có hai đời cớm trong máu, đến đời mình là đời thứ ba, chẳng lẽ để bị đuổi ra khỏi nghành thì mặt mũi nào mà dòm mặt tổ tiên.
Ông cụ thân sinh của Gary Malone tiếp đón đứa con trai niềm nở, lại biểu
vợ nấu nướng linh đình để đãi con. Bữa tiệc linh đình mà Gary Malone có ăn uống gì được đâu, chỉ thở dài và thỉnh thoảng nốc rượu lia lịa. Sang phần tráng miệng, Gary Malone mới tâm sự nổi khổ của mình cho bố nghe, và kết luận:
-Bố không cho ý kiến để giúp con thì chắc con bị đuổi sở, mất hết uy tín
của gia đình mình …
Ông thân Gary Malone cười ngất. Thằng con trai của ông, nổi tiếng là ngang ngược từ lúc còn đi học, đoạt giải vô địch quyền anh của trường và của Chicago trong mấy năm mà bây giờ sợ không làm tròn nhiệm vụ của một cảnh sát viên hạng bét thì quả là chuyện khôi hài. Sao cái máu cớm hai đời còn chờ gì mà không bốc lên trong người nó kìa.
Thấy ông già cứ nhìn mình cười mãi, Gary Malone đâm ngượng bèn hỏi:
-Bố, ngày xưa bố cũng là cảnh sát, bố làm sao để giữ được an ninh một khu
vực?
Ông già hỏi lại:
-Ngày xưa đi học trong trường, mày nổi tiếng là một thằng dữ tợn ai cũng
sợ, vậy để tao hỏi mày, mày làm sao để chúng nó nể sợ mày?
Cậu con nhớ lại dĩ vãng oanh liệt, cười hề hề:
-Tại con nóng tánh, nhìn thằng nào thấy gai gai con mắt là đập cho một trận liền …
Ông thân Gary Malone vỗ tay đánh đét một phát:
-Mày nên nhớ, trường học và trường đời đều giống y như nhau. Cái khác
biệt là ở trường đời, luật lệ gắt gao hơn gấp vạn lần và nếu mày thua, thì không phải mình mày khổ mà cả gia đình và vợ con sẽ khổ …
-Bố muốn nói là làm cảnh sát, hễ thấy thằng nào gai mắt là cứ xông tới đập chết mẹ nó ra như lúc còn đi học?
-Đúng. Thằng nào lạng quạng nói không được thì cứ tẩn cho nó mềm xương nó ra.
-Nhưng đâu có được, con đã thề trước thần công lý ngày ra trường là sẽ
bảo vệ luật pháp đến giây phút cuối cùng … Chưa đã hết, còn luật lệ, còn hiến pháp của quốc hội đã ban hành để bảo vệ quyền lợi của mỗi người dân, con làm vậy thì xã hội còn ra cái thể thống gì nữa?
Ông thân Gary Malone mồi một ống tẩu, phà khói um lên rồi trả lời:
-Luật pháp và hiến pháp cái … đít của tao. Mày phải hiểu, luật pháp được
lập ra để bảo vệ xã hội, dành cho những thằng biết tôn trọng luật pháp thôi. Những thằng không biết tôn trọng luật pháp thì cứ thẳng tay với chúng nó …
Gary Malone vẫn chưa hết thắc mắc:
-Là một cảnh sát, tức là người bảo vệ luật pháp, con nghĩ trước hết mình
phải tôn trọng luật đã, rồi mới bắt người ta tôn trọng được …
Ông thân Gary Malone ngắt lời con trai:
-Mày cứ tôn trọng luật pháp của mày theo kiểu trường huấn luyện cảnh sát
dậy đi, cứ áp dụng đúng những gì sách vỡ dạy đi, sáu tháng nữa trở lại đây để tao coi thử mày còn mặc bộ đồ cảnh sát này không cho biết … Mà nếu mày còn mặc được bộ đồ này, tao dám chắc là chẳng bao lâu, tao sợ sẽ phải đi đưa đám mày.
Gary Malone ngồi im, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Suốt đời,
bố làm cảnh sát, ngày hai buổi sáng cầm … dùi cui đi, tối ôm dùi cui về. Trong bao nhiêu năm mặc đồ cảnh sát đó, bố có bao giờ thèm mở miệng nói một câu gì về công việc của mình? Gary Malone biết tính bố, cũng chẳng bao giờ dám thắc mắc nhưng đoán là bố mình phải là một con người thượng tôn luật pháp nhất thế giới. Mà thật, bố bắt đầu áp dụng luật ngay từ trong gia đình, khởi đầu bằng cậu con trai quý tử. Đi chung với bố, chỉ cần xả một chút rác xuống đường là bố thẳng cánh giộng cho một bợp tai liền. Ngay cả thấy rác ngoài đường mà không chịu khó lượm lên bỏ vô thùng thì cũng bị cự. Bố hay bảo: “Mày biết không, nếu mỗi thằng con nít như mày mỗi ngày liệng một tờ rác xuống đường thì nước Mỹ này sẽ thặng dư bao nhiêu tấn rác? Hoặc nếu chúng mày chịu khó cúi xuống nhặt một tờ rác khi nhìn thấy thì đất nước này sẽ sạch sẽ hơn được mấy trăm tấn rác một ngày … “
Cho đến ngày Gary Malone từ giã bố lên đường đi học cảnh sát, bố cũng
chẳng nói gì. Tốt nghiệp trở về, bố cũng chẳng nói gì. Cho đến ngày hôm nay,
trong giờ phút bi đát nhất của nghề nghiệp mà được bố giáo huấn mấy câu ngược đời vậy thì cậu cả không ngạc nhiên sao được?
Ông già mồi thêm một tẩu thuốc, tiếp:
– Mày biết một người cảnh sát giỏi là gì không?
-Thưa không.
– Vễnh cái lỗ tai của mày ra mà nghe tao nói câu này. “Một người cảnh sát
giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật.” Suốt đời mày, mày nhờ lấy giùm tao câu này. Tao đã chờ một ngày như ngày hôm nay từ lâu lắm rồi. Tao biết một ngày nào đó, mày sẽ đến đây để năn nỉ tao để truyền cho mày một ít kinh nghiệm của nghề cảnh sát. Vậy thì, lời tao vừa nói là chìa khoá, là sự khôn ngoan của giòng họ này, suốt cuộc đời còn lại của mày, mày phải ráng mà nhớ lấy. Nếu mày biết áp dụng câu này khéo léo, sẽ đem được hạnh phúc lại cho gia đình, cho xã hội. Bằng không, mày nên kiếm một nghề khác mà sinh sống.
Liếc nhìn bộ sắc phục cảnh sát lộng lẫy với mấy hàng nút vàng bóng láng
trên áo của con trai, ông ta nói tiếp:
-Nếu mày không muốn làm cảnh sát, tao nghĩ mày chỉ nên đi làm … tướng
cướp. Cái số của mày nó như vậy rồi con trai …
Tối đó, từ giã bố trên đường về nhà, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi câu nói
của ông bố, một cựu cảnh sát viên với hơn ba chục năm trong nghề: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … “
Câu nói gì nghe sao mà lãng quá. Phá luật để mà trị những thằng phá luật
mà vẫn không ai biết thì thật là rắc rối.
Ngày hôm sau, Gary Malone lại thắng yên lên ngựa, lòng rối bời, tà tà ra
khu vực trách nhiệm cũ. Vừa vào tới khu phố, thầy đội chưa dạo hết một vòng thì một bà già đã nhào ra, ôm cứng cổ con ngựa khóc ngất.
Đúng luật cảnh sát, thầy đội Gary Malone xuống ngựa, thò tay tính móc ra
cuốn sổ “biên bản” để ghi chép như mọi lần. Bàn tay vừa cho vào túi bỗng thầy
khựng lại. Câu nói hồi tối hôm qua của bố lại trở lại ám ảnh thầy: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … ” Xưa nay mình chỉ ghi ghi chép chép hết gần cả mấy cuốn sổ mà có giải quyết được cái gì đâu. Hay là cứ thử nghe lời bố một lần để giải quyết vụ này coi đã. Thầy chắc lưỡi nghĩ tiếp: “Dù gì ổng cũng là … bố mình, lại là cựu cảnh sát, ổng không dạy mình bậy đâu.”
Suy nghĩ xong là thầy Gary Malone xoay người, ra dấu cho người đàn bà
thôi khóc:
-Bà bị cái gì, bình tỉnh nói cho tôi nghe, tôi sẽ giải quyết cho bà.
Cái giọng nói của thầy đội trẻ tuổi Gary Malone lúc ấy tự nhiên có một sức
mạnh bí mật lạ lùng, khác hẳn những lần trước làm bà già nín khóc ngay và chính
thầy đội cũng phải ngạc nhiên.
-Thầy ơi, vợ chồng tôi già rồi, chỉ còn có vài sợi giây chuyền và cái đồng
hồ vàng mà chúng nó cũng vào ăn cắp cho được.
-Tuị nào lấy và lấy hồi nào, lấy cái gì, có ai thấy không?
-Hu … hu, nếu thấy được thì tôi còn tới đây nhờ thầy làm gì? Chắc cũng mới
trong vòng một tiếng đồng hồ đây thôi. Hai vợ chồng tôi vừa đi lễ về thì thấy nhà cửa mở tan hoang … hu hu .. , tôi đã nói với lão già nhà tôi mà lão cứng đầu nhứt định không chịu nghe tôi, hu … hu, bây giờ mất của thì mới sáng mắt ra .. , nhờ thầy chận bắt chúng nó giùm, mới có một tiếng đồng hồ thì chúng nó không chạy đi đâu xa được đâu …
Thầy đội Gary Malone suy nghĩ mau lắm. Trong một khu phố nghèo với
nhà cửa san sát nhau như thế này thì cần gì tới một tiếng, chỉ một phút đồng hồ thôi là chúng cũng có thể lặn mất tiêu. Không lý chỉ vì một cái đồng hồ vàng mà xét hết một lần mấy ngàn cái nhà trong khu này à? Có muốn xét hết cũng không sao xét được. Bà già này tưởng cảnh sát là … trời con sao kìa? Khó nghĩ quá. Cứ theo như thông lệ thì thầy Gary Malone sẽ vào nhà làm một màn điều
tra lấy chi tiết, hỏi dăm ba câu vớ vẩn để chép vào biên bản. Xong đưa biên bản
cho bà già ký một phát rồi biểu diễn một nụ cười kèm theo câu: “Have a nice day” trước khi từ giã ra đi. Bà già nghèo khổ kia sẽ chẳng bao giờ nhìn thầy cái đồng hồ của mình, và thầy đội Gary Malone sẽ chẳng bao giờ tìm ra thủ phạm.
Nhưng hôm nay thì khác, mắt thầy đội Gary Malone tự nhiên long lên sòng
sọc, nhìn bà nói nhẹ nhàng:
-Bác cứ đi về nhà đi. Tên tôi là Gary Malone. Số thẻ hành sự là 982, tôi
sẽ lấy lại cái đồng hồ cho bác.
Từ lúc đi lễ về, nhìn thấy cửa sổ bị mở tang hoang, hai vợ chồng bà đã quì
ngay xuống đất mà cầu nguyện. Cầu nguyện xong bà chạy ra và gặp ngày thầy đội Gary Malone đang đi tuần buổi sáng thì tin là lời cầu nguyện đã được chấp nhận, chúa gởi ông này tới giúp mình thật. Thế là bà nhào tới, khóc lóc một thôi cho đỡ ấm ức trong lòng. Bây giờ nghe thầy đội Gary Malone hứa một câu như vậy thì bà càng mừng hơn nữa, chẳng sợ mắc cỡ, liền quì ngay xuống mặt đường mà tạ ơn thiên chúa. Gary Malone thấy cảnh đó không khỏi nhịn cười được, chờ bà đứng lên, liền hỏi thăm về chi tiết của cái đồng hồ, rồi kết luận:
-Xong rồi, tôi biết nhà bác ở đâu rồi, bác cứ về nhà, vài ngày nữa tôi đem
đồng hồ lại trả cho bác.
Bà già hớn hở ôm lấy Gary Malone hun một phát nghe đến chụt rồi quay
lui, mặt mày tươi tỉnh như là bà đã cầm lấy cái đồng hồ trong tay rồi vậy.
Nhìn bà lão bước đi, Gary Malone cũng thấy vui lây trong lòng. Thầy đội
trẻ tuổi chưa biết sẽ làm cách nào để lấy lại cái đồng hồ vàng cho bà ta nhưng mới áp dụng thử đòn “phá luật để bảo vệ luật” mà đã thấy có kết quả tốt rồi. Ít nhất, hắn đã làm vui lòng một bà già nghèo khổ đã có sự tin tưởng mãnh liệt nơi thiên chúa. Gary Malone phóng tót lên ngựa. Hứa thì ai hứa cũng được, chuyện quan trọng là có giữ được lời hứa không kìa. Gary Malone bắt đầu suy nghĩ một cách … phạm pháp để tìm cách lấy lại cái đồng hồ đã mất. Ý nghĩ đầu tiên là phải túm lấy một vài thằng đầu xỏ trong khu vực này mà tẩn cho mỗi đứa một trận rồi bắt nó khai chăng? Không được. Gary Malone biết rõ khu này hổn tạp, chúng nó đâu có tổ chức đàng hoàng như bọn mafia nên làm sao có đứa nào làm đầu sỏ. Vụ này nhất định phải là sản phẩm của một thằng nào kẹt tiền quá làm liều. Gom hết chúng nó lại rồi tát cho mỗi đứa một bợp tai chăng? Cũng không được. Gary Malone biết bọn con nít khu này. Tù tội chúng nó con chưa sợ thì sợ gì một cái bợp tai của cảnh sát. Hay là treo một giải thưởng. Mà lấy gì để làm giải thưởng kìa. Lương cảnh sát đâu có bao nhiêu, nhiều khi không bằng một cú ăn hàng của chúng nó thì làm sao hấp dẫn chúng được. Hơn nữa, không lý mỗi lần có ăn cắp là mỗi lần bỏ tiền túi ra treo giải thưởng? Chịu gì thấu?
Rẻ ngựa sang một khúc đường khác, thầy đội Gary Malone bỗng nghĩ ra
một kế. Thằng nào đó bỏ công rình mò đi ăn cắp cái đồng hồ này để làm gì kìa? Chắc chắn không phải là dân sưu tập đồ cổ. Nó phải tìm cách bán tháo bán đổ để kiếm tiền xài. Mà nó bán cho ai? Nghĩ tới đây, Gary Malone bật cười lên một phát rất là khoan khoái. Có vậy mà nãy giờ kiếm không ra. Trong cái khu phố này, có nơi nào mua đồ “thổi” mau và kín đáo cho bằng tiệm chạp phô của lão Enabel. Thằng cha Do Thái mũi quặp này có cái gì bán được mà lão không mua. Ngay cả xác chết, nếu có giá thì lão cũng sẵn sàng cất một cái nhà để chứa xác liền. Dân Do Thái xưa nay sống bằng nghề buôn bán mà.
Xong một chuyện. Chuyện thứ hai là phải làm sao mà “phá luật” được với thằng cha Do Thái lưu manh này. Thầy đội Gary Malone biết Enabel giàu có và rất nhiều thế lực. Làm cái nghề của lão mà không quen biết lớn, không nuôi vài ba thằng luật sư “trong túi” thì chỉ có nước vô tù mà … bán cà phê cho bọn cai ngục. Gary Malone lắc đầu liền mấy cái, nhíu mày tư lự. Chao ôi, ngày đầu tiên tính thử phá luật mà đã đánh mùi thấy sự rắc rối rồi.
Gary Malone lại nhớ đến nụ cười của bố mình tối hôm qua và câu nói.
Xưa nay có bao giờ thấy bố bày đặt triết lý đâu, đến bây giờ mới làm một câu thấy đúng quá trời. Gary Malone dạo thêm mấy vòng phố, rồi vào một tiệm cà phê bên đường bình tĩnh ngồi chờ cho cái kim đồng hồ quả lắc của mình bò tới con số 9. Đúng giờ, thầy đội đứng dậy, đội mũ chỉnh tề bước ra phóng lên ngựa.
Đường tới nhà lão Enabel không xa, chỉ quẹo vài vòng là thầy đội đã nhìn
thấy cửa tiệm của lão. Đã có chủ đích, Gary Malone xuống ngựa, cột nó vào một nơi vắng vẻ rồi tà tà cầm dùi cui thả bộ tới. Tiếng giày đinh nện xuống mặt đường nghe cồm cộp. Thỉnh thoảng, thầy đội trẻ tuổi phang cây dùi cui vô bàn tay trái của mình nghe đến chát một tiếng nổ to như pháo. Cả ty cảnh sát Chicago, đúng hơn, cả nước Mỹ chỉ có mình thầy là nện được cây dùi cui mạnh cỡ đó mà không sợ … gãy tay. Nếu ai biết thầy, thì họ chỉ sợ cho cây dùi cui bị gẫy làm đôi chứ bàn tay của thầy nổi tiếng xưa nay là “bàn tay thép” thì làm sao gẫy được?
Từ ngoài nhìn vào, Gary Malone phát hiện được ngay chiếc mũi quặp lại
như con két của lão Do Thái. Mũi gì đâu mà kỳ cục, thầy đội vừa suy nghĩ vừa đẩy cửa bước vào.
Lão Enabel đang lom khom làm mấy con tính, nghe tiếng động nhìn lên và
chút xíu nữa thì rú lên một tiếng. Làm cái nghề buôn bán này người ta kỵ cảnh sát như đàn bà kỵ rắn, mới sáng sớm chưa buôn bán gì mà thầy đội đã dẫn xác vào thì suốt ngày chắc thần tài sẽ không thèm ghé đây.
Nụ cười … Do Thái nở trên cặp môi … Do Thái liền, tuy hơi méo mó nhưng
rất nồng nhiệt, rất cầu tài, kèm theo một câu chúc tụng vui vẻ để chào mừng ông thày đội trẻ.
Ủa, thằng cảnh sát trẻ tuổi này hôm nay ăn trúng cái gì mà sao có vẻ bặm
trợn quá trời. Lão Enabel xã giao mấy câu, vẫn không thấy hắn trả lời, chỉ lầm lì thò tay ngoắc lão ra một góc nhà nói chuyện.
Lão Enabel chột dạ, bỏ quầy tính tiền bước ra. To nhỏ với thầy một lúc,
lão mới tá hoả mặt mày khi nghe ý định của thầy: Một gia đình trong khu trách
nhiệm của thầy bị mất cái đồng hồ vàng, thầy muốn ra ngồi phía nhà trong của lão để rình bắt nó. Làm sao được. Cái cửa tiệm này xưa nay chuyên môn mua và bán đồ ăn cắp, bây giờ dấu cho một thầy cảnh sát ngồi trong nhà chờ cho thằng ăn cắp vào để thầy thộp cổ thì còn thằng nào dám tới đây mà bán đồ cho lão nữa. Dẹp tiệm là cái chắc. Chẳng những bị bể nồi cơm, chúng nó còn nghi mình đi làm ăn ten cho cảnh sát thì có thể mất mạng như chơi.
Mới nghĩ đến đó là mồ hôi … Do Thái lấm tấm trên trán. Lão tính toán liền:
Mình từ chối được không? Được chớ, xưa nay luật pháp nước Mỹ đâu có cho cảnh sát vô ngồi trong nhà của người ta. Đừng nói ngồi, chỉ cần bước vô nhà thôi là cũng phải cần có trát của toà án. Nhưng dòm lại khuôn mặt của thằng cảnh sát này thì thấy nó còn ghê gớm hơn cả mấy cái án lệnh của toà. Cặp mắt nó sắc như thế kia thì làm sao dám cản nó. Mà nếu có cản nó được đi, không cho ngồi trong nhà, nó xách ghế ra ngồi lù lù một đống ngoài cửa thì càng kẹt hơn. Lão biết dân ăn cắp là dân hèn nhát nhất thế giới. Hễ đánh hơi thấy có chút mùi cớm thôi là chúng nó đã dọt rồi, nói gì tới chuyện có cảnh sát gác cửa?
Tiến thoái lưỡng nan, lão Enabel đứng thừ người ra suy nghĩ. Nhưng thầy
đội Gary Malone đâu có thì giờ để chờ, bèn gõ mạnh cái dùi cui vào tay mình nghe đến “póc” một tiếng, ra dấu là thầy đã mất kiên nhẫn rồi đấy. Cái gõ của thầy mạnh quá, tiếng “póc” vang lên nghe chẳng khác nào tiếng sét đánh ngang tai làm lão Do Thái giật nẩy mình lên. Nó ăn cái gì mà tay chân như cứng như sắt. Tay chân như vậy thì linh hồn chắc cũng chẳng mềm hơn, nó không đến đâu để đùa. Lão suy nghĩ thật mau và đi đến quyết định liền:
– Thầy đội đừng nóng, để tôi sẽ lấy lại cho thầy cái đồng hồ vàng đó.
Gary Malone mừng rỡ như người rớt xuống mỏ vàng. Không ngờ cái triết
lý của bố dạy nghe thì thấy khó nhưng áp dụng lại dễ dàng đạt đến kết quả như vậy.
Mừng lắm trong lòng nhưng bộ mặt thầy đội vẫn tỉnh bơ:
-Chừng nào?
Câu trả lời của lão Do Thái làm thầy đội trẻ tuổi muốn nhẩy lên:
-Nội trong ngày hôm nay.
-Ông không có dỡn mặt với chính quyền đó hả.
Lão Enabel nhăn nhó, đưa hai tay ra phân trần:
-Tui có khùng cũng không dám dỡn mặt mấy thầy.
Rồi lão kéo tay Gary Malone:
– Thầy đi theo tôi vào nhà, tôi có chuyện này muốn trình bày với thầy …
Ngồi phía trong nhà, khuất sau tấm cửa, lão mới tâm sự với thầy cảnh sát
trẻ, nói giọng rất nhỏ làm như sợ một kẻ thứ ba nghe thấy:
-Thầy biết không, tụi tôi luôn luôn ủng hộ chính quyền mà. Kỳ tranh cử
nào tôi lại không bỏ ra hàng chục nghìn bạc để vận động cho ….
Gary Malone không muốn nghe chuyện chính trị, xua tay:
-Ông muốn nói gì nói đi, tôi còn bận nhiều việc.
Câu trả lời tiếp theo của lão Do Thái đã làm thay đổi không những triết lý
mà cả cuộc đời của thầy cảnh sát trẻ Gary Malone:
-Nói thật với thầy, bọn ăn cắp ở đây thì đứa nào tôi chẳng biết. Tôi mà
làm cảnh sát thì khu phố này sẽ không còn một thằng ăn cướp …
Nói xong câu đó, lão bật cười, tự cho là mình đã nói một câu pha trò hay.
-Khu phố này, nếu chúng nó không đem đồ tới đây bán cho tôi thì bán cho
ai? Tôi tin thầy nên mới nói vậy, chứ nếu thầy đem luật pháp ra để làm khó tôi thì cũng khó lắm. Thầy hiểu luật pháp mà, trong khi đó, hội của chúng tôi có nuôi tới mấy chục thằng luật sư trong tay. Ngay cả thị trưởng còn phải xin tiền của chúng tôi mỗi khi tranh cử kia mà …
Ghê thay cái thế lực tiền bạc của bọn Do Thái này. Ra là chúng nó còn có
băng có đảng để bênh vực lẫn nhau. Vậy mà mình cứ tưởng ăn hiếp một thằng lái buôn Do Thái là dễ lắm. Nhưng tại sao đương không nó lại chịu hợp tác với mình kìa? Thầy đội mồi điếu thuốc:
-Nếu ông có thế lực mạnh ngon lành cỡ đó, tại sao lại chịu thua tôi một
cách dễ dàng vậy?
-Không ai thua ai hết, chỉ là vấn đề làm ăn thôi. Bây giờ tôi giúp thầy,
vài hôm nữa thầy sẽ giúp tôi lại.
Gary Malone quắc mắt lên liền, sẵn giọng đáp lại:
– Vậy ra là ông tính làm áp lực tôi à?
-Không, tôi, một thằng Do Thái “cô đơn” làm gì lại dám có ý tưởng làm áp
lực với cảnh sát? Tôi dùng chữ “giúp nhau” thôi mà. Thầy cứ tính đi, nói thật với thầy, nếu tôi không giúp thầy, chắc cũng còn lâu thầy mới lấy lại được cái đồng hồ.
Gary Malone cười:
-Và dĩ nhiên cái cửa tiệm của ông cũng khó mà mở cửa lâu được?
Lão Enabel vỗ hai tay vào nhau nghe đánh đét một phát:
-Đúng lắm. Thầy thấy không, nếu hở ra một chút là cứ đem pháp luật và
nguyên tắc ra để chơi nhau thì làm sao mà con người sống với nhau được? Trong cuộc đời, người ta thường quên là luật pháp, dù muốn nói gì đi nữa, thì cũng do con người làm nên. Mà hễ con người làm được thì con người bỏ được.
-Nhưng làm vậy thì chừng nào mới diệt hết nạn ăn cướp được? Hơn nữa,
luật pháp đặt ra để làm gì?
Lão Enabel ngã người ra sau, ngắm thầy cảnh sát. Tướng thầy coi dữ dội thật, lúc nãy thầy mới bước vào, lão tưởng là thầy “biết điều” lắm nhưng không ngờ
thầy còn ngây thơ quá. Chắc thầy bị xếp rầy quá cho nên mới nổi khùng làm bậy một chuyến đây mà.
Lão Enabel tinh mắt thật và phần nào biết mình đã đoán đúng. Đã vậy thì
nên tặng cho thầy một bài học, biết đâu chừng thầy nhờ bài học này mà sẽ trở nên một cảnh sát lừng danh của Chicago?
-Thầy cảnh sát, thầy ngây thơ quá. Từ khi có con người trên mặt đất, hễ
ngày nào người ta còn biết … đói bụng, thì ngày đó xã hội còn có người phạm tội ác. Nếu đổ mồ hôi mà không kiếm được miếng cơm để ăn thì người ta sẽ không chịu ngồi không để chờ thần chết tới đón đi. Người ta sẽ đổ máu, sẽ làm mọi chuyện, sẽ đổi tự do để tranh lấy miếng cơm mà ăn. Thầy còn trẻ mới ra nghề, tưởng rằng hễ cứ giữ được luật pháp là sẽ hết nạn trộm cắp, nạn ăn cướp chăng? Thầy lầm rồi. Từ thuở tạo thiên lập địa đến bây giờ, chưa bao giờ loài người sống được trong một xã hội tuyệt đối “phi tội ác”. Nó luôn luôn hiện diện với chúng ta, dù chúng ta không thích nó, dưới một hính thức nay hình thức khác. Đặc biệt, hễ xã hội càng nghèo đói, càng bất công thì càng nhiều trộm cắp và tội ác.
Lão Do Thái nói một thôi, thầy đội trẻ tuổi nghe đến đâu thấm đến đó.
Không ngờ hôm nay lại học được một bài học quý giá vô cùng từ một tên lái buôn Do Thái hạng bét mà mình thường khinh bỉ hằng ngày.
Thấy thầy cảnh sát có dáng bối rối, lão Enabel mĩm cười, lấy từ trong học
bàn ra một cuốn sổ tay, xé một trang đưa cho thầy:
-“Anh hùng trong thiên hạ” nằm hết trong cuốn sổ này của tôi. Mà chúng
nó đâu có nhiều, chỉ chừng năm ba thằng thôi.
Gary Malone đón nhận tờ giấy. Lão Do Thái hỏi luôn:
-Cái đồng hồ bị mất là khu nào?
-Khu Nam Ciceria!
Lão Enabel cười liền:
-Chém tôi chết nhất định là thằng Dusty phải có dính líu tới vụ này. Thầy
đội cứ chờ đi, tối nay tôi sẽ có cái đồng hồ vàng đem trả lại thầy.
-Sao ông biết rõ quá vậy?
-Nghề mà thầy. Buôn bán với bọn này mà không rành chúng nó thì chỉ
còn nước kiếm nghề khác mà sống …
Khỏi cần nói nhiều, Gary Malone đứng dậy kiếu từ liền. Ra tới cửa, thầy
quay lui bắt tay lão Enabel, giọng có vẻ thân thiện:
-Cám ơn ông. Buổi gặp gỡ hôm nay dạy cho tôi nhiều điều mà không có
trường cảnh sát nào dạy được.
Lão Enabel khoái chí cười:
– Thầy có tướng … cô hồn, nhất định thầy sẽ là một cảnh sát thượng thặng.
Mai mốt lên voi, thầy đừng có quên ngày hôm nay và thằng Do Thái nghèo hèn này.
Gary Malone cười, lắc đầu:
Chừng nào ông mua hết cả Chicago, mong ông cũng đừng quên thằng
cảnh sát … hiền lành này.
Cả hai cùng bật cười lên thật lớn.
Ra khỏi tiệm, Gary Malone lên ngựa, vừa đi vừa suy nghĩ những gì lão Do Thái vừa nói…
Dừng chiếc xe cảnh sát trước đại khách sạn Lexington, đưa mắt liếc một vòng là Mike Casey biết ngay là tụi này đang chuẩn bị chiến tranh. Hôm nay, lực lượng an ninh của Capone gài kín người từ ngoài ngõ vào đến đại khách sạn. Nhìn lên cao, Mike Casey khám phá ra chúng nó còn bố trí người vào cả những cao ốc chung quanh Lexington. Mike Casey thắc mắc. Nếu chỉ vì thằng Ness mà nó bố trí kỹ vậy thì là quá đáng. Hay là nó sợ tụi O Bannon lợi dụng nước đục thả câu, chơi cú phục kích bất ngờ. Gì đi nữa thì cái mùi của chiến tranh cũng đầy dẫy trong không khí.
Mike Casey chặc lưỡi, bước xuống xe, vừa đóng cửa thì hai thằng cô hồn
không biết từ đâu nhào tới như một cơn lốc:
-Xin lỗi ông bạn, đậu xe đây không được.
Mike Casey nhăn mặt lại. Đù mẹ tụi mù này, chúng nó dù có ngu đến đâu
cũng phải biết chiếc xe này là xe cảnh sát thành phố Chicago. Cái ngôi sao đen thùi lùi với hàng chữ “Police Chicago” bự bằng bánh xe được vẽ sơn rõ ràng nơi cánh cửa như vậy mà chúng nó không thấy sao? Còn nếu chúng nó không biết đọc, thì cái bộ đồ cảnh sát cùng căp lon đại úy mà lão đang mang cũng nói được lão là cảnh sát.
Chúng nó ở rừng mới ra hay ở cái lỗ nào chun lên mà ăn nói với cảnh sát mất dạy quá. Xưa nay, hễ ăn nói với thầy đội, thì người ta phải khúm núm, vừa nói vừa cười cầu tài và vừa gãi đầu gãi tai mới là đúng đạo công dân Chicago, có đâu lại xưng hô “ông bạn” một cách xấc láo với mình như thế này.
Mike Casey đang suy nghĩ, chưa kịp dừng bước thì hai thằng khốn đã chặn
ngay trước mặt lão. Tay chúng nó còn thọc sâu vô trong áo măng tô làm như sắp sửa móc chó lửa ra ăn thua đủ liền mới là lộn ruột. Xưa nay chỉ có cảnh sát đi làm khó dễ thiên hạ chứ đâu có cái màn thiên hạ đi làm khó dễ cảnh sát như thế này. Mike
Casey quen thói … cảnh sát, bèn lên giọng nạt lớn:
-Đù mẹ tụi mày, biết tao là ai không? Hai thằng khỉ đột không trả lời, vẫn
đứng yên một cách thách thức, lạnh lùng. Mike Casey dừng bước trước mặt chúng nó:
– Tao hỏi tụi mày có biết tao là ai không?
-Biết ông bạn là ai rồi nhưng không ông không thể đậu xe chỗ này được.
Lại chữ “ông bạn” chó đẻ. Ai thèm bạn bè với chúng mày. Mike Casey
gầm lên:
-Cảnh sát lái xe cảnh sát đi công chuyện nhà nước muốn đậu chỗ nào cũng
được hết … Xích qua một bên cho tao đi.
-Xin lỗi, tôi có lệnh như vậy. Ông bạn phải chạy vô ga ra như mọi người.
Lăn lộn trong nghề cảnh sát trên 30 năm, chưa bao giờ Mike Casey bị một
cảnh ngang ngược như thế này. Lão nổi khùng, giơ hai tay ra đẩy vào ngực một
thằng:
-Cút cha mày ra khỏi đường tao đi …
Ngay lập tức hai cây Colt.45 từ đâu không biết bay ra chĩa thẳng vào màng
tang lão. Tiếng con cò mổ bị kéo ra sau nghe cắc cắc đến lạnh mình. Một thằng cất giọng cảnh cáo:
-Xin lỗi ông bạn. Tôi không biết ông bạn làm tới quan chức gì bên cảnh sát
nhưng đất này là đất của Capone. Tôi lập lại, đất này là của Capone. Bất kỳ ai, kể cả tổng thống Hoa Kỳ muốn đi vào đây cũng phải tuân theo luật lệ của xếp Al Capone. Ông bạn có quyền chọn lựa, một là ông đi ra khỏi đây, hai là ông phải lái xe đậu vào ga ra.
Lão Mike Casey không ngờ chúng nó dám chơi bạo vậy. Giữa ban ngày ban nhật mà dám chĩa súng vào màng tang nhân viên công lực. Nhìn kỹ ánh mắt
chúng nó, Mike Casey biết tụi này không móc súng ra để doạ non dọa già. Lão
xuống nước phân bua:
-Tao tới đây đi họp với xếp Al Capone của tụi mày. Tao được mời.
-Ngay cả mấy Caporegime của xếp Capone cũng phải đậu xe vô ga ra như
thường. Luật là luật. Ông bạn thông cảm giùm.
Mike Casey tức muốn học máu ra. Cái câu “Luật là luật” là câu mà cảnh sát thường dùng để giáo dục dân chúng. Ngàn năm một thưở mới có thằng anh chị
dạy cho trùm cảnh sát câu này. Biết không thể làm tới, Mike Casey đành đấu dịu, nhăn nhó xuống giọng:
-Thôi được, xếp của tụi mày đâu, cho tao gặp chút coi.
– Khỏi cần, có gặp cũng vô ích vì chính xe của xếp tôi vẫn phải đậu vô ga
ra như thường.
Mike Casey lắc đầu, xoay người bước lui. Nó đã nói vậy thì đành lái xe ra
đậu vào ga ra cho yên chuyện. Thằng Al Capone này đúng là một ông vua không ngai. Lãnh thổ của nó thực tế đã trở thành một “quốc gia trong một quốc gia” với đầy đủ luật pháp và hệ thống an ninh riêng biệt.
Lão lên xe rồ máy, ngoan ngoãn chạy vòng ra sau, quẹo vào ga ra rồi đón
thang máy đi lên như tất cả mọi … công dân khác. Mike Casey không nhớ lần cuối cùng mình phải ngoan ngoãn lái xe như vậy là lúc nào. Có lẽ đã lâu, lâu lắm, từ thưở lão còn là một anh cảnh sát gác đường. Mấy chục năm nay đeo lon đại úy cảnh sát, tất cả những đặc ân của cảnh sát Mike Casey đều hưởng đủ, nay bỗng dưng trở lại làm phó thường dân trong vài phút đồng hồ, lòng dạ lão cảm thấy chua chát không ít. Lão lại chạnh lòng nhớ đến những ngày hưu trí sẽ đến. Người ta thường thì chỉ mong về hưu để hưởng nhàn nhưng riêng lão, cứ nghĩ đến ngày đó là thấy bạc đầu. Từ dân lên làm cảnh sát thì dễ chứ từ cảnh sát xuống làm dân không dễ chút nào hết. Mất mát nhiều quá.
Đếm những bước chân nặng nề trong cái ga ra lạnh lẽo, Mike Casey chợt
nghĩ đến Eliot Ness. Kể từ ngày thằng chó đẻ này xuống đây, Chicago như bị lọt vào cơn lốc. Mọi chuyện đảo lộn, chẳng còn ra cái thể thống gì cả. Lão ước giá hôm qua chúng nó phơ cho thằng cớm quái ác này một tràng vào giữa ngực cho nó chết mẹ nó ra thì cuộc đời sẽ giản dị hơn không biết là bao nhiêu lần.
Ra tới thang máy, Mike Casey thấy lạnh mình. Người của chúng nó đâu mà
lắm thế này? Nhìn đi đâu cũng thấy một thằng mặc áo bành tô, hai tay thủ sâu trong túi, mặt lầm lì làm như sắp sửa giết người vậy.
Một thằng cận vệ của Frank Nitti đón lão ngay tại cửa, lẹ tay đi một đường
kiểm soát khắp người. Lần thứ hai kể từ khi đến đây, Mike Casey thấy tự ái … cảnh sát bị thương tổn. Đến cả cảnh sát mà cũng bị đối xử như vậy thì chúng nó còn kiêng nể ai trên cõi đời này nữa? Ứa gan lắm nhưng Mike Casey chỉ biết đứng im lắc đầu.
Sau một tiếng gõ ra ám hiệu, cánh cửa phòng bật mở. Mike Casey bước
vào. Chỉ cần nhìn phớt qua là lão biết ngay buổi họp này rất quan trọng. Toàn là những thằng tư lệnh chiến khu của Capone, đúng hơn, gọi theo danh từ của bọn Ý là Caporegime khắp các nơi ở Chicago kéo về đây. Chúng nó ngồi thành hai dẫy dài chung quanh Al Capone. Trên bàn la liệt rượu và thức ăn như các bữa họp của bọn này. Xếp Al Capone ngồi giữa. Bên phải của xếp, như thường lệ là thằng Guzick, bên trái là thằng Frank Nitti với khuôn mặt lầm lì cố hữu. Cái thằng này suýt chết mới hôm qua mà bây giờ thấy nó mặt mũi nó vẫn tỉnh bơ, không có vẻ gì hoảng hốt cả.
Khi thấy xếp Al Capone đưa tay làm dấu chào Mike Casey, mấy chục cái
miệng trong phòng đang nói bỗng nín khe, trở nên im lặng như tờ. Mấy chục cặp mắt xoay về phía cửa, dán chặt vào người ông đại úy cảnh sát. Mike Casey lững thững bước vào. Một cái ghế bành được đẩy tới, Mike Casey ngồi xuống, đối diện với xếp Al Capone.
Ngồi chưa im đít là một thằng cô hồn đã lẹ tay bưng khay rượu đưa tới. Gì
chớ whiskey thì lúc nào đưa tới cũng tốt hết. Đặc biệt như hôm nay, sau khi đã bị tụi nó “hành hạ” kỹ như vậy thì lão cần uống rất nhiều để “trả thù”. Mày cho đàn em làm khó tao, tao … uống rượu trả thù. Mike Casey chụp chai rượu, rót đầy một ly.
Lão nâng ly làm dấu chúc tụng với Al Capone rồi ngữa cổ, “hà” một cái cạn sạch. Khỏi cần khách sáo làm gì cho mất công, Mike Casey lẹ tay rót tiếp ly thứ hai. Rồi đến ly thứ ba … Xếp Al Capone và đám đầu trâu mặt ngựa nhìn lão không thiếu một chi tiết. Ra là con người, khi bị lệ thuộc vào một cái gì rồi thì nó trở nên hèn hạ như vậy đó. Mà thường thì ai cũng bị lệ thuộc hay đam mê một cái gì. Kẻ bần tiền thì bị lệ thuộc rượu chè hay hút sách, trở nên nghiện ngập. Người thực tế thì làm nô lệ cho tiền bạc. Bậc anh hùng thì làm nô lệ cho danh vọng, cho những mục đích mình theo đuổi. Chính những cái đam mê này đã làm người ta hoặc trở nên hèn hạ, hoặc thành anh hùng, hay trở nên tàn ác. Xếp “suy tư” sâu thêm một chút và nhận ra là mình thuộc vào hạng đam mê … đủ thứ. Rượu chè hả, khỏi nói rồi. Danh vọng xếp cũng khoái nữa. Thì mấy chục thằng phóng viên nhà báo ăn lương tháng từ bao lâu nay mà có nhờ được gì đâu ngoài chuyện lâu lâu viết một bài bốc cho xếp lên chín tần mây xanh? Nếu không chi đẹp vậy và không có tụi nó thì làm sao tiếng tăm của Al Capone được cả thế giới biết tới. Và dĩ nhiên, cái đam mê quan trọng nhất của xếp
xưa nay vẫn là tiền bạc vì nó sẽ là chìa khoá để mở cửa cho sự thành đạt hai cái
đam mê kia. Xếp thường khuyên bảo đàn em là: “Danh vọng phải có tiền làm gốc. Có danh mà không có địa thì danh đó chỉ là danh của mấy anh hàn sĩ, không làm được mẹ gì hết. Ngược lại, có tiền mà không có danh thì tuy về già cảm thấy hơi thiếu thốn đó, nhưng cũng chẳng sao. Lấy tiền mua danh mấy hồi?”. Và xếp đóan lão Mike Casey cũng là một típ người y như xếp vậy. Có cái gì mà lão mập này chẳng khoái? Sự khác nhau giữa xếp và lão là xếp có nhiều tiền hơn. Phải nói là “vài trăm triệu đô la” nhiều hơn mới đúng. Và xếp kết luận rằng nếu ngày nào con người không còn biết đam mê nữa, ngày đó thế giới sẽ bước vào nơi mà kinh thánh gọi là thiên đàng …Chờ vài phút cho men rượu chạy đều trong cơ thể Mike Casey, xếp Al Capone mới lên tiếng:
-Xin cảm ơn đại úy về sự giúp đỡ ngày hôm qua. Tuy chuyện không như ý
mình muốn nhưng xin thành thực ghi nhận là đại úy đã cố gắng với chúng tôi hết mình.
Mike Casey thấy an ủi đôi chút. Lão liếc nhìn thằng Frank Nitti cười cầu
tài:
-Ông bạn thấy đó, tôi lúc nào cũng hết lòng với mấy ông.
Frank Nitti không cười. Cặp mắt lạnh lùng của nó nhìn chằm chặp vào phía
trước. Đúng là cặp mắt của một thằng gian ác. Nhìn mọi người mà như chẳng nhìn vào ai, cứ lờ đờ như một cái xác chết.
Hình như bọn chúng nó có mặt nơi này đã lâu lắm. Mọi chuyện cần bàn cãi
chúng đã bàn xong, chỉ mời lão đến bây giờ để nhận chỉ thị. Chuyện này không làm cho Mike Casey khó chịu. Nghề của lão xưa nay mà. Lần này, lão biết chỉ thị của Al Capone đưa ra không phải là ba chuyện vớ vẫn nữa. “Giặc” vào đến tận kinh thành, cung điện nhà vua mà náo động lên như vậy thì chắc chắn phải có đánh lớn. Máu sẽ đổ bằng thích. Có bao giờ vua bị nguy khốn mà thuộc hạ được bình yên?
Xếp Al Capone cắm điếu xì gà lên môi, khẻ xoay đầu cho thằng cận vệ mồi lửa rồi bắt đầu nói thật chậm:
– Như mọi người đều biết, cơ sở của chúng ta mấy tháng nay bỗng bị một cú
bất ngờ: Một thằng cớm … khùng từ Hoa thịnh Đốn xuống đây đòi diệt chúng ta. Bỗng nhiên, xếp vùng đứng dậy, bóp nát điếu xì gà trong tay. Đầu lửa bị nghiền nát trong lòng bàn tay, cháy nghe xèo xèo mà xếp đâu có thấy gì. Xếp bước từng bước một nặng nề trong phòng, gào lên thật to:
-Đòi diệt tao. Đù mẹ nó, thử hỏi nó là gì? Nó là một thằng cớm quèn, một
thằng cảnh sát vô danh tiểu tốt mà dám nói một câu không có tinh thần … cảnh sát chút nào hết: “I come here to get Capone”. Đù mẹ bộ nó tưởng nước Mỹ này hết còn luật pháp rồi hả? Ai cho nó cái quyền để đi diệt thiên hạ? Tụi mày đều biết, anh em đều biết Al Capone cũng là một công dân Hoa Kỳ như bao nhiêu người công dân Hoa Kỳ … lương thiện khác. Al Capone phải được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật như bất cứ mọi thằng Mỹ nào ở cái chỗ tên là United States of America này. Al Capone cũng có quyền làm giàu, quyền buôn bán, quyền tiêu tiền, quyền đi xe Cadillac, quyền ăn tôm hùm uống rượu vang, quyền ăn chơi nhảy nhót v.v …. như mọi người khác. Tại sao nó cứ đè thằng Al Capone này ra mà chữi bới và hành hạ đủ điều? Đù mẹ nó! Tại sao thằng chó đẻ đó lại mang đầu óc kỳ thị và bất công như vậy? Tại sao nó nhất định đòi diệt chúng ta cho bằng được? Chúng ta đã làm gì nên tội? Chúng ta có tiền có của, đi xe Cadillac bóng lộn, có cận vệ có đầy tớ quanh mình đâu có phải là tội. “This is America” mà!
Vài giọng nhao nhao cất lên hùa theo xếp:
-Xếp nói làm em … cảm động quá. Tụi mình phải có biện pháp đối phó.
-Xếp nói đúng. Chúng ta đã làm gì? Chúng ta chỉ là những công dân Hoa
Kỳ!
-Phải, chúng ta đã làm gì nên tội tình mà nó ăn hiếp chúng ta quá cỡ? Đù
mẹ nó.
-Bắn thấy mẹ nó đi …
Mike Casey phải cắn mạnh hàm răng mới giấu được nụ cười. Lão không
ngờ bọn quỷ sứ giết người không tanh máu này lại ngây thơ đến như vậy. Chúng nó cho rằng chúng nó là ai kìa? Thiên thần chắc? Làm nghề cảnh sát trên 30 năm, Mike Casey biết mặt hầu như gần hết những thằng ngồi trước mặt lão ngày hôm nay. Từ lãnh tụ Al Capone trở xuống, thằng nào lại không đã từng vào tù ra khám? Tội chúng nó phạm nhiều khi lại quá nặng nữa là khác. Tâm lý con người quả thật kỳ lạ, dù có phạm bao nhiêu tội ác cũng luôn luôn chủ quan cho rằng mình vô tội. Lại còn đòi pháp luật bảo vệ nữa mới là nực cười. Xếp Al Capone tiếp tục:
-Đồng ý rằng chúng ta có nấu rượu, có chứa đĩ, có mở sòng bạc nhưng cái
thế giới này nó không biết rằng nếu chúng ta không nấu rượu thì sẽ có thằng khác nấu, không chứa đĩ thì tụi nó lấy chó gì mà giải trí? Chúng ta chỉ giúp thoả mãn những đòi hòi thầm kín của xã hội thôi. Tụi mày nghĩ coi, không lẽ cưới xong con vợ rồi một năm mười hai tháng cứ nằm nhà ôm một cái … đít của nó mà hôn mãi. Chán thấy mẹ. Sống như vậy chẳng thà đừng lấy vợ, bỏ đi tu làm cố đạo luôn cho được mau lên thiên đàng. Chúng ta đã giúp chúng nó giải quyết những đòi hỏi thầm kín và quan trọng của chúng. Vậy mà, đù mẹ có thằng chó nào biết ơn chúng ta đâu. Cảnh sát gặp chúng ta là đòi bắt bỏ tù, dân chúng thấy mặt thì né như né hủi. Cố đạo hay bà phước vừa nhìn bóng dáng chúng ta từ đằng xa là đã làm dấu đọc kinh lia lịa, làm như sắp gặp phải quỷ sứ không bằng. Đù mẹ đời bất công quá. Còn cờ bạc hả?
Chúng ta chỉ hệ thống hóa cho nó có quy cũ để tránh cái nạn “cờ gian bạn lận” thôi. Nếu không có mấy cái xòng ru lết, máy quay tiền của bọn mình đặt dài dài khắp nơi thì khi chúng nó lấy chỗ nào mà sát phạt nhau? Đù mẹ máu tham thằng nào chẳng có? Chúng nó còn tham hơn mình gấp ngàn lần, chỉ rình dịp để chặt nhau, ăn chận ăn dựt của nhau. Vì chúng nó hèn, không dám đứng ra mở xòng để sát phạt nên mình phải hy sinh nhảy vào tổ chức giùm cho chúng nó, làm trung gian thôi. Đã tốn công của và nhân lực thì mình phải có chút huê lợi chớ? Tụi mày thấy tao nói đúng không? Đù mẹ bộ tụi nó tưởng chỉ có chúng nó là phải ăn mới sống được còn bên mình thì là gỗ đá, không biết đói bụng sao?
– Đại ca nói đúng!
-Xếp nói phải quá! Chúng ta đã bị đối xử rất bất công, đã bị kỳ thị rõ ràng.
-Còn, nếu chúng nó cho rằng ta là một bọn khát máu giết người không gớm
tay là nói bậy, là xuyên tạc quá đáng. Bọn mình trời sinh ra đâu có muốn giết ai? Vạn bất đắc dĩ mới phải cầm cây súng. Nhưng nếu có thằng nào muốn kê súng vào đầu mình đòi bấm cò thì mình phải tự vệ chớ. Tao còn nhớ ngày xưa đi học, trong thánh kinh Chúa có dạy một câu đại khái như vầy: “Con phải làm cho kẻ khác những gì mà con thấy nó … sắp sửa làm cho mình”. Chúa đã dậy vậy mà. Cái quan trọng là mình luôn luôn làm … trước nó, và phải làm đẹp. Làm một cái là bay luôn cái sọ khỉ nó ra ngoài, khỏi có màn hối hận đi.
Xếp tốp bài diễn văn nửa chừng, quay nhìn lão Mike Casey:
-Tụi mày không tin tao thì hỏi ông đại úy cảnh sát ngồi đây coi có phải là
chúa đã dạy như vậy không? Tao là dân … ăn cướp, học thức ít nên nói vậy có lẽ chúng mày không tin. Tụi mày hỏi thử ông này, ổng dù gì cũng có học đàng hoàng và lại là cảnh sát thì chắc chắn phải biết. Tao đâu dám bịa chuyện kinh thánh ra để ăn nói với tụi mày …
Mike Casey ngồi im. Thực ra, trong kinh thánh có một câu như sau: “Hãy
làm cho kẻ khác những gì mình muốn kẻ khác làm cho mình.” Không hiểu thằng ăn cướp này hồi nhỏ đi học ở trường nào mà được giảng dậy trật lất. Bị giảng sai hay nó cố tình nhớ lộn để cho lương tâm đỡ bị thắc mắc? Có Chúa nào lại đi dạy cái điều bất nhân như vậy?
Cả đám quần thần hướng mắt nhìn về lão. Mike Casey nhún vai gật đầu ra
điều đồng ý. Lão không ngu gì đi sửa lại một câu diễn văn của xếp lớn với đàn em của xếp ngay tại đại bản doanh của chúng nó.
– Tụi mày thấy, mình rất ghét chiến tranh, chỉ khóai hoà bình. Trời sinh ra
con người có ai thích cầm súng bắn nhau suốt đời đâu? Lâu lâu nếu cần phải săn tay áo để giải quyết công chuyện thì cực chẳng đã mới ra tay, nhưng xong rồi thì tụi mình chỉ khoái đếm bạc, ăn nhậu và chơi đĩ. Xưa nay, mình đâu có giết người như rác? Mình cũng biết tôn trọng mạng sống của con người lắm chớ. Đâu phải hở là giết như mấy thằng nhà báo thường hay nói. Những thằng bị giết toàn là những thằng cảnh sát … gian ác, những đứa phản thùng, những thằng ngu ngốc cứ nằm cản đường tiến thân của mình thôi. Nghĩ cho cùng, cuộc làm ăn nào mà không có nguy hiểm? Đù mẹ đi ỉa đái trong nhà mà lâu lâu còn bị trợt chân té chổng gộng trong cầu tiêu thì trên cõi đời này làm việc gì mà được an toàn trăm phần trăm?
Đám đàn em gật gù. Vất điếu xì gà đã bị bóp nát vào một xó, xếp lại dơ
hai ngón tay. Một thằng cận vệ nhét vào đấy điếu xì gà khác rồi bật hộp quẹt cho xếp. Xếp nhả khói lên trần nhà. Sau hơi thuốc đó, tự nhiên xếp quên mất bài diễn văn mình đang thao thao nãy giờ, bèn hỏi một đứa:
-Đù mẹ tao nói đến đâu rồi?
Thằng bị hỏi bất ngờ trả lời:
-Dạ đến những thằng cần phải bị giết.
Một đứa khác tinh ý hơn, nhắc xếp:
-Thằng cớm mất dạy Eliot Ness. Xếp bảo là mình phải “làm cho nó trước
những gì nó sắp làm cho mình” như lời Chúa dạy. Mình nên cho nó đi mò tôm càng sớm càng tốt.
Xếp quay nhìn thằng vừa mở miệng. Té ra là thằng caporegime Sal của
nhà hàng The Red Horse chớ ai. Đù mẹ mới lên làm chủ nhà hàng có mấy tháng mà đã biết ăn nói đúng điệu đại quản lý rồi.
-Sal, chú mày nói tao nghe được. Tao triệu tụi mày về đây sáng hôm nay
là chỉ có vậy. Thằng nào có ý kiến gì khác không? Có cái gì hay nên nói ra để tụi mình cùng nhau bàn tính.
Xếp nói xong là đảo mắt một vòng nhìn hết đám cận thần. Cặp mắt xếp
mới đầu dừng lại nơi thằng Frank Nitti, như có ý ngầm bảo: “Phải chi mà mày dứt nó được ngày hôm đó thì tao đâu có khổ sở như vầy. Lần đầu tiên thấy mày ra quân mà kẻ thù vẫn tỉnh bơ, lại bị nó quất cho 6 thằng nằm thẳng cẳng … ” Frank Nitti không có ý kiến. Không ai có thể đoán được nó nghĩ gì, tính làm gì sau cái khuôn mặt tái mét xám xịt cố hữu đó. Rồi cặp mắt xếp rời thằng Frank Nitti, trở qua “ôm cứng” lão Mike Casey.
Lão cảnh sát già thấy như có luồn điện chạy qua thân thể mình. Nghĩ cho
cùng, đâu có phải lỗi tại mình kìa. Thằng Ness số nó sống dai nên mới như vậy. Con người dù tài giỏi đến đâu nhiều khi cũng phải đành chịu thua số mạng mà.
Một thằng khác mở miệng, tiếng Mỹ pha lẫn tiếng Ý:
-Xếp biết, và thiên hạ đều biết, xưa nay ở Chicago này, xếp đã muốn đứa
nào chết mà nó còn sống được? Dù nó là biện lý gộc cỡ thằng McSwignn, hay là cớm ngoại hạng từ Hoa Thịnh Đốn đưa xuống. Theo ý đàn em, chuyện này chẳng có gì khó. Bắt đầu ngày mai, xếp cứ ra lệnh cho anh em là hễ gặp thằng chó đẻ đó ở đâu là bắn tại đó, khỏi có màn họp hành lỉnh kỉnh làm gì cho mất thì giờ.
Nhiều tiếng xì xào bàn tán đồng ý. Xếp xoay người nhìn đứa vừa phát ngôn. Ra là cậu Corossio, caporegime dưới trướng và cận vệ của Frank Nittie. Thằng này tuổi chưa tới 25, gốc Sicilian, bà con và là người cùng làng với ông chủ. Frank Nitti bảo lãnh cho nó di cư từ Ý qua lúc nhỏ và cưng lắm, coi như con cháu
trong nhà. Hai thầy trò thằng này tính tình giống hệt nhau, gặp chuyện bất bình là cứ rút súng ra ăn thua đủ, chẳng cần suy nghĩ hay tính toán làm gì cho mệt.
Xếp mỉm cười, gật gù cái đầu. Đù mẹ chuyện làm ăn bạc triệu mà dễ dàng
như nó nói thì giờ này mình đã có cả thế gian rồi.
-Còn đứa nào có ý kiến gì khác không?
– Như xếp nói lúc nãy, chúng ta đâu có phải là bọn hiếu chiến, bọn giết
người vô lương tâm? Chúng ta chỉ giết những đứa nào cản trở con đường tiến thân của chúng ta thôi. Tôi thấy thằng Ness là một. Thành phố Chicago sau khi tụi Colosimo bị dẹp tan là những ngày “Thái bình thạnh trị”, ai nấy lo chí thú làm ăn cho đến khi thằng khốn nạn bỗng từ đâu không biết dẫn xác về. Mới đầu, nó xung phong đột nhập vô kho hàng của chúng ta làm anh em phải lo … chạy thấy mẹ, rồi nó dám đem tên của xếp ra mà xỉ vã thậm tệ trên báo chí, dám gọi xếp là “Son of a bicth”, rồi lại còn hăm he đòi nhốt xếp vào tù nữa …
Đù mẹ thằng này bắt chước ai mà dài dòng quá, cứ nhắc chuyện cũ làm
xếp Al Capone cũng cảm thấy sượng trong người. Xếp ngắt lời thằng đàn em:
-Muốn nói gì thì nói mẹ nó ra, mau lên, để thì giờ cho người khác nói với …
-Thì đàn em muốn nói rằng chính nó là thằng gây nên cuộc tao loạn chứ
không phải chúng ta. Hai tháng qua, nó đã làm chúng ta thất điên bát đảo bao nhiêu lần? Chúng ta đã phải đục không biết bao nhiêu thùng bia cho chảy xuống cống?
Hết báo động ngày rồi tới báo động đêm …
Xếp bỗng nhăn mặt. Thằng quỷ này nói nhiều quá, ông trùm sắp cáu rồi
đây. Dòm sắc mặt biết ý đàn anh, thằng nọ đi mau vào phần kết thúc. Nói thêm vài câu nữa thì không chừng điếu xì gà trên tay xếp sẽ bay cái vèo vào mặt nó.
-Để kết luận, ý kiến của đàn em là “bắn chết mẹ nó đi”. Thứ này chết
không ai thương tiếc.
Câu kết luận của bài diễn văn dài thòn lòn cũng chỉ có vậy. “Bắn chết mẹ
nó ra”. Xếp bặp bặp điếu xì gà. Tụi này đi theo xếp bao nhiêu lâu, được dạy dỗ
hàng trăm lần, làm tới chức caporegime chứ ít sao mà chẳng hiểu chiến thuật chiến lược gì cả. Tụi nó không chịu suy nghĩ dùm là muốn bắn gục một “thằng liên bang” ngon như vậy không phải là chuyện dễ dàng. Ngày hôm kia, lúc quyết định cho thằng Frank Nitti đi làm thịt Eliot Ness, xếp Al Capone ở trong một tình trạng bối rối ghê gớm. Thực ra, xếp chỉ mong mua được nó. Đến chừng thằng Oliver Randal trở về vừa lắc đầu vừa méo miệng báo cáo chút xíu nữa bị nhốt vào nhà đá thì xếp biết là sẽ có chuyện lớn. Phải như cách đây chừng năm mười năm thì không những cái mạng của thằng Ness mà ngay cả mạng của tổng thống xếp cũng chẳng coi ra gì. Xếp nghĩ luật đời cũng óai ăm thật. Lúc người ta còn nghèo khổ thì người ta dám làm tất cả để đạt được giàu sang. Nhưng ngồi trên núi bạc rồi thì tất cả mọi chuyện sẽ thay đổi. Người ta sẽ thay đổi từ cách sống, cho đến tính tình, cho đến lời ăn tiếng nói. Ngày xưa hễ gặp một chuyện hơi bất bình một chút là xếp móc súng ra nổ liền, chẳng cần biết thằng trước mặt là ai và cũng khỏi cần phải suy nghĩ lần thứ hai.
Bây giờ thì cũng móc, nhưng chậm chạp hơn và phải suy nghĩ coi có đáng hay
không. Chẳng những xếp thôi mà các đàn em, những tay súng sừng sõ đã từng vào sinh ra tử, lẫy lừng một thời với xếp cũng vậy. Lâu lâu mới họp mặt chúng nó lại một lần, quan sát kỹ từng đứa xếp mới thấy giật mình. Ngoại trừ thằng Frank Nitti, bọn caporegime bây giờ ai cũng già đi và yếu thấy rõ. Đâu hết rồi cái hình ảnh “cảm tử quân” gươm dáo đầy mình, mặt mũi sát khí đằng đằng chỉ chờ nghe một tiếng hô “go” là ào ào xuất quân như nước lũ, quạt đạn mờ trời đất? Chúng nó bây giờ đứa nào cũng nốc rượu rào rào, bụng càng ngày càng phệ ra, đi đứng chậm chạp y hệt bọn con buôn thành công trên đời.
Nhìn những mặt khuôn mặt chảy xệ của chúng nó, xếp chợt liếc vào gương
và nhận ra rằng mình cũng chẳng hơn gì chúng. Có thể nói mập hơn chúng nó là đàng khác. Cái thân thể cường tráng của “Al mặt thẹo” ngày nào bây giờ chỉ còn là một khối thịt khổng lồ trên hai trăm pounds. Mặc quần thì mới đầu là size 44, rồi leo lên 46, cho đến cỡ 50 vẫn còn thấy chật. Hàng ngày ăn uống nếu không có hai ba thứ rượu vang đỏ, bốn năm loại rượu cognac hão hạng từ Pháp đưa sang thì không cảm thấy ngon được.
Đó có phải là cái giá của sự thành công? Thằng nào sống trên đời mà
không mơ ước một ngày mai giàu có với cuộc sống hạnh phúc an nhàn? Xếp biết không thể trách chúng nó cũng như không thể trách mình được. Xã hội tư bản là như vậy. Làm cho chết người ra lúc trẻ để về già thì rềnh rang tận hưởng kết quả của sự cực khổ của mình. Cái nỗi lo lắng của xếp bây giờ là tuổi già đã lò mò tới bên đường mà sự nghiệp gây dựng từ bao nhiêu năm bỗng bị đe doạ nặng nề từ khi thằng Eliot Ness đột ngột xuất hiện ở thành phố này. Vì thế, sau bao cố gắng mà vẫn không mua được nó, xếp quyết định cho Frank Nitti đi nhổ cái gai trong mắt mình.
Khi thằng Frank Nitti ra khỏi cửa rồi xếp mới thấy chột dạ nhưng đàn em đã lên xe, không thể kêu lại được. Rốt cuộc, gai đã không nhổ được mà chừng như nó càng mọc mạnh thêm, kéo luôn được một cây gai khác mọc rể ở Chicago này đã hơn 30 năm, thằng Gary Malone.
Ôi cuộc đời sao có nhiều lúc khó xử như thế này. Xếp bây giờ tiến thoái
lưỡng nan. Làm mạnh tay thì cũng kẹt vì chưa lường được hậu quả của Hoa Thịnh Đốn, hay có thể nói là của cả nhân dân Hoa Kỳ. Mà cứ để như vậy thì rồi sẽ có ngày không còn cái quần xì líp mà mặc. Hai tháng qua, cứ hai ba ngày là thằng khốn nạn cứ cho hành quân ma một lần. Không biết bao nhiêu là galông la de quý giá đã bị đục thủng, chảy lênh láng xuống đường mương. Ai cũng than phiền, chỉ có xếp là phải cố chịu đấm ăn xôi. Mình bây giờ đâu phải là thứ du thử du thực nữa.
Hồ sơ của cảnh sát Chicago ghi rõ nghề nghiệp là “Businessman, Real estates
Investor” mà. Không thể để đàn em bị bắt bậy bạ rồi nó moi tên mình ra, gởi trát mời tới sở cảnh sát để chụp hình lăn tay như ngày nào còn ở New York thì quê lắm. Tuần trước, thằng Guzick đã cảnh cáo với xếp là nếu thằng Ness cứ cái mững này tái diễn hoài thì mình sẽ bị lỗ nặng trong vòng mấy tháng nữa. Dân giang hồ làm ăn xưa nay là vốn một lời mười, bây giờ lại sắp có chuyện lỗ thì bỏ mẹ hết cả lũ. Ngày xưa đánh nhau tơi bời như vậy, tiền chi ra không biết bao nhiêu một ngày mà vẫn còn vốn “một lời năm ba”, ai ngờ sẽ có ngày như hôm nay. Mà kẻ thù đâu có phải là ghê gớm gì? Chỉ là một thằng thanh tra hạng bét của Hoa Thịnh Đốn gởi xuống.
Xếp đi lại trong phòng, đầu cúi xuống với luồng tư tưởng xoay quanh thằng
Ness. Thằng này có gì đặc biệt kìa? Nó bắn giỏi. Frank Nitti cũng đâu có thua gì. Nó gan lì? Đàn em mình còn ngon hơn. Dám vô tới tận ty cảnh sát để thanh toán nó thì đâu phải là dân chết nhát? Vậy nó có gì đặc biệt hơn những thằng cớm khác mà mình từng đối phó trong suốt mấy chục năm qua? Hôm nọ nghe Mike Casey nói là thằng này có bằng cấp đại học. Hèn gì. Không hiểu thiên hạ dạy cái chó gì trong mấy trường đại học mà ghê gớm quá cỡ. Thằng Do thái Guzick cũng là dân đại học ra mà. Thảo nào nó “sắc” không ai bằng. Xếp nhất định lát nữa sẽ hỏi thằng Guzick coi nó có đề nghị gì để giải quyết vụ này không?
Rồi xếp chợt mơ ước giá hồi xưa nhà mình có tiền một chút để được học
hết đại học rồi mới đi làm … ăn cướp thì thiên hạ phải biết tay Al Capone này. Hình ảnh đứa con trai Micheal Capone bỗng hiện ra trong đầu làm xếp thấy đau nhói nơi trái tim. Trăm sự cũng tại mình. Ai biểu đi chơi bời đàng điếm làm chi để mắc bệnh giang mai, thằng bé vừa sinh ra kháu khỉnh vậy là đã bị tật nguyền, khùng khùng điên điên. Nếu nó ngon lành như những người khác thì đường công danh của nó còn sẽ hơn gấp mấy lần mình. Mình sẽ cho nó vô đại học, học cho hết mấy cái kho sách trong đó rồi kéo ra mở cho nó một cơ sở thương mại kếch sù. Cuộc đời nó sung sướng phải biết. Kẹt cái là gần mười tuổi đầu rồi mà vẫn chưa biết cầm muỗng nĩa ăn cơm thì tương lai sẽ ở được chỗ nào khác hơn là mấy cái trường tàn tật. Càng suy nghĩ xếp càng cảm thấy xót xa trong dạ …
Nghĩ đến con một lúc rồi lại trở về với hiện tại. Thằng phụ tá mới giết người hụt lần đầu tiên trong đời mà xếp thấy mất tinh thần kinh khủng. Triệu bọn
Caporegime khắp nơi về để họp một cú lại càng thấy nản hơn. Không ngờ đàn em lẫy lừng của “Xếp Al Capone” chỉ sau vài năm thái bình mà đã trở nên yếu quá. Chả thằng nào có ý kiến gì hay ho hết. Mở miệng ra là cứ đòi “bắn thấy mẹ nó ra” thì ai mở chẳng được? Điều đáng nói là có làm được không kìa. Và làm xong hậu quả sẽ ra sao mới là chuyện quan trọng. Hay là đã đến lúc cần phải thay thế hết mấy cái bọn già nua … bụng phệ này? Thấy cũng tội. Chúng nó theo mình từ những ngày còn hàn vi áo vải, lăn lóc suốt một đời mới leo ngồi được ở chức vụ này. Tống cổ chúng nó đi thì tội quá mà không chừng còn có vẻ nguy hiểm nữa. Chúng nó mà họp lại “đảo chánh” thì giặc ngoài lo chưa xong, đã phải lo đến giặc trong nhà. Đù mẹ sáng hôm nay sao mà suy nghĩ đến đâu thì thấy chết người đến đó.
Xếp lắc đầu mấy cái, tay chỉ vào cái quày rượu.
Một ly cognac được kính cẩn dâng lên. Xếp ngữa cổ làm một phát cạn
sạch rồi đưa hai tay lên trời ra dấu cho bọn đàn em:
-Tất cả nghe tao nói đây.
Cả phòng im lặng như tờ.
– Tụi bay hiểu tại sao chúng ta có buổi họp này. Tao không muốn bi quan,
nhưng cơ sở làm ăn của chúng ta 2 tháng vừa qua bị tấn công tới tấp. Phụ tá Guzick cho biết là mấy tháng nữa, mình sẽ “không còn cái quần sì líp mà mặc.” Tụi bây hiểu “quần sì líp không có mà mặc” thì nói gì đến những thứ khác. Đế quốc này sẽ sụp đổ, bọn mình sẽ hoặc là chết đói hoặc là chết già trong mấy cái nhà đá liên bang …
Xếp Al Capone quả là một nhà hùng biện đại tài. Chỉ vừa vẽ sơ sơ trong
gió mấy cái hình ảnh tưởng tượng mà cả bọn đầu trâu mặt ngựa chưa hề biết sợ trời sợ đất trong phòng đã thấy rúng động. Ngay cả đại úy cảnh sát Mike Casey cũng cảm thấy nhói trong tim. Cái hình ảnh về hưu ngày ngày không có … rượu uống lại trở về ám ảnh lão.
Xếp tiếp tục:
-Ngày hôm nay tao nói thiệt, tụi mày cứ làm một con tính thì biết. Một thùng bia, dù nhập cảng từ Canada hay là nấu lấy, giá vốn cuối cùng tệ nhất phải là
25 đô la. Một lần chúng nó đột kích có khi cả ngàn thùng phải thẩy khơi khơi xuống cống … Đù mẹ nhắc đến một ngàn thùng tao mới thấy lộn ruột. Một ngàn thùng chứ ít gì. Một ngàn thùng tức là 25 ngàn đô la …
Xếp ngừng nói, đảo mắt một vòng nhìn khắp nơi. Cặp mắt xếp dừng lại nơi
ngài đại úy cảnh sát Mike Casey:
– Trong chúng ta đây, tụi bay biết tao có một người bạn thân thiết: Đại úy
Mike Casey …
Nghe đến đó, Mike Casey muốn té xỉu xuống đất. Mấy chục cặp mắt bây
giờ hướng về Mike Casey. Thì ra xếp mình cũng đâu có ngu. Lúc đại úy Mike
Casey xuất hiện, nhiều đứa đã thấy hơi khó chịu. Găng tơ bàn chuyện giết cảnh sát mà lại mời một thằng cảnh sát tới họp thì quả là chuyện lạ đời. Mà xếp suy nghĩ gì hay tính toán gì trong đầu đâu có thằng nào biết? Đến bây giờ nghe xếp nói vậy thì thằng nào cũng hả hê. Xếp biết dùng người lắm chớ. Trên cõi đời này, có cảnh nào đẹp bằng hình ảnh kẻ thù giết kẻ thù hay cảnh sát giết … cảnh sát?
Cả phòng nín thở nhìn xếp Al Capone chờ đợi.
-Sẵn có mặt đại úy ở đây, tôi xin hỏi đại úy một ý kiến, không biết có được
không à?
-Ông bạn cứ hỏi, tôi nghe.
-Dĩ nhiên, đại úy là khách quý của Al Capone, là một người bạn lâu năm …
Al Capone này không bao giờ chơi ép bạn bè, không bao giờ lợi dụng lòng tốt của bạn bè …
Một thằng cận vệ của Al Capone lại đưa cho Mike Casey khay rượu. Lão
cầm một ly đầy ắp, cạn cái rào.
-Đại úy thấy đó, anh em tại đây cũng đều đồng ý là thằng Ness … phải
chết. Nhưng, đại úy biết, thằng này không phải dễ mà tới gần nó được. Chuyện thất bại của thằng phụ tá tôi thiên hạ đều biết. Xưa nay, nói thật với đại úy, nó đã giết hàng mấy trăm người, mỗi khi nó ôm súng ra đi là chưa bao giờ có ai thoát khỏi tay nó. Vậy mà, dù đại úy đã tận tình giúp đỡ, thằng phụ tá vẫn không rờ được tới sợi lông của nó. Không sờ được mà còn bị nó quất sụm một lần sáu thằng mới là nhục …
Xếp Al Capone ngừng nói. Mike Casey im lặng chờ câu hỏi của nó. Thằng ăn cướp này xưa nay có cái tật ham đấu. Hỏi gì thì nói mẹ nó ra, cứ đi vòng vòng từ chuyện này sang đến chuyện kia làm lão hồi hộp quá. Không hiểu sao nói
nhiều vậy mà nó vẫn còn có thì giờ để chỉ huy một đế quốc với hơn ngàn tay súng. Mà nó đã đổi cách xưng hô, một điều đại úy, hai điều đại úy là sắp có chuyện rồi đây. Lão biết mỗi lần nó xưng hô như vậy tức là nó có công tác quan trọng muốn nhờ vả. Lần này, lão không muốn nghĩ xa nhưng mơ hồ cảm thấy cái công tác mà Al Capone muốn giao phó.
-Đó, nó ghê gớm như vậy, quỷ quyệt như vậy, cho nên, muốn diệt nó, chúng ta cũng phải kiếm ra được một phương pháp ghê gớm, quỷ quyệt. Cứ áp dụng
kiểu bình thường thì không diệt nó nổi. Vậy, đại úy có ý kiến gì không, xin cho anh em biết?
Mike Casey trả lời liền chẳng cần phải suy nghĩ:
-Tôi đồng ý với ông hoàn toàn. Nhưng muốn có một kế hoạch “ghê gớm,
quỷ quyệt” như ông nói, cần phải ngồi cùng nhau bàn thảo, suy nghĩ …
Cái tật của những người thích nói vẫn luôn luôn là không thích nghe người
khác nói nhiều, xếp Al Capone cắt lời lão:
-… cho phép tôi … tóm tắt những gì đại úy nói. Đại úy nói đúng, chúng ta
cần phải bàn thảo và nghiên cứu kỹ. Sau khi nghiên cứu và bàn thảo, chúng tôi đã tìm ra một giải pháp tuyệt hảo. Cú này mà không xong thì tôi không xứng đáng được gọi là “Xếp Al Capone”.
Al Capone xoay người, nhìn thẳng vào mặt lão cảnh sát:
-Phi … đại úy, bất thành đại sự. Nói theo cách khác, đại úy không giết nó
thì không ai giết được.
Dù đã chuẩn bị trước để nghe những đề nghị như vậy, Mike Casey cũng
không khỏi giật mình. Từ ngày “bán linh hồn cho quỷ” đến nay, lão đã làm nhiều chuyện phi pháp, đã gián tiếp ra lệnh hoặc ngầm yểm trợ cho chúng nó giết người, nhưng chưa bao giờ lão nghĩ đến chuyện có ngày đích thân mình sẽ cầm súng đi làm chuyện đó. Thật ra, trên con đường tới nơi này để “phó hội”, lão đã phần nào đoán được là bọn nó sẽ nhờ mình chuyện này nên lão đã suy nghĩ kỹ. “Giết thằng cảnh sát liên bang”, mới nghe nói thấy ghê thật nhưng thật ra, nếu ngày hôm qua mà thằng Frank Nitti dứt được Eliot Ness ngay tại ty cảnh sát thì mình cũng đã nhúng tay vào máu nó chớ còn gì nữa? Nhúng một cách … hàm thụ nhưng tay vẫn vấy máu đàng hoàng. Cái khác lạ là lần này, chính tay mình sẽ cầm súng bắn nó. Vậy thì tại sao phải suy nghĩ nhiều cho rắc rối kìa? Trước sau gì nó cũng chết, dù chết dưới tay thằng Frank Nitti hay bởi tay mình. Cho nên, nếu hỏi rằng dám làm hay không, lão phải nói là dám. Nhưng “dám” với một cái giá nào kìa. Năm nay lão đã trên 60 tuổi. Ở lứa tuổi này, nếu muốn làm gì, người ta phải làm cho mau, vì thời gian chẳng còn nhiều nữa. Và con số một triệu đô la từ đâu không biết xuất hiện bay chập chờn
trước mặt lão …
Mike Casey ngước nhìn Al Capone, nhún vai, bắt đầu trò mặc cả:
-Al, bạn biết tôi là một anh cảnh sát già, trong khi đó, thằng Ness thì đang
còn trong lứa tuổi “căng nhựa sống”. Tôi làm gì đủ sức lo chuyện này. Xếp Al Capone lắc đầu. Xưa nay xếp ghét nhất là cái màn kỳ kèo lẩm cẩm. Muốn gì nói mẹ nó ra, rào đón làm gì:
-Mike, tôi biết và ông cũng biết, vụ này quan trọng. Al Capone có bao giờ
để ai thiệt thòi đâu. Nhưng, chuyện giá cả không nên bàn tại đây, chúng mình và Guzick sẽ bàn sau. Chuyện quan trọng nhất tôi nghĩ, là đại úy có chịu giúp cho một tay hay không? Chịu thì nói, còn không thì cũng cho biết để tôi còn kiếm người khác.
Mike Casey đưa mắt một vòng nhìn khắp cả phòng. Hình như đứa nào cũng nhìn lão bằng một cặp mắt chờ đợi và hy vọng. Có đại úy giúp cho một tay
như thế thì cái vần đề nhức đầu nhất coi như được giải quyết xong, bọn này khỏi phải mất công lo nghĩ. Ngày xưa đi đánh đấm còn thấy hứng thú vì cái nồi cơm và giấc mộng của cuộc đời vương giả phủ mờ lý trí, bây giờ ngồi trong cung vàng điện ngọc rồi thì có ai còn ham ba cái chuyện đó nữa. Già rồi. Sau bao nhiêu năm lăn lộn, ở lứa tuổi năm mươi là lứa tuổi hưởng nhàn.
-Bạn Capone hiểu lầm ý tôi rồi. Đồng ý là tôi giúp mấy ông thì mấy ông
giúp tôi, nhưng tôi xin một ít thì giờ để suy nghĩ đã …
Lão vừa nói đến đó bỗng nhe đến xoảng một tiếng kinh hồn. Cả phòng giật mình nhìn lên. Thì ra xếp Al Capone vừa mạnh tay liệng cái ly rượu mình đang
cầm vào tường vỡ tan tành. Xếp tiến tới trước mặt Mike Casey, tay lăm lăm khẩu khẩu Colt. Thằng đao phủ thủ Frank Nitti xuất hiện đứng ngay sau lưng chủ liền. Mike Casey tái mặt. Xếp Al Capone chĩa thẳng cây súng vào giữa trán
lão:
-Đù mẹ đến giờ phút này không có có suy nghĩ gì cả. Chịu hay là không,
chỉ xin ông một lời.
Thằng này đúng là quân vô giáo dục. Đù mẹ mới một điều đại úy hai điều
đại úy mà bây giờ nó đã trở mặt như một con thò lò. Làm ăn liên hệ với bọn ăn
cướp này có cái chỗ kẹt là như vậy. Chúng nó sống ngoài vòng pháp luật nên có nhiều cách “thương lượng làm ăn” rất lạ lùng. Lão đã có lên tiếng từ chối đâu nào, chỉ muốn làm eo một chút để kiếm được giá cao thôi mà. Ai ngờ nó lại phản ứng lạ lùng như vậy. Ra là làm ăn với chúng mấy chục năm, lão tưởng đã hiểu hết nhưng hôm nay mới biết mìh lầm. Một con người như lão không bao giờ hiểu hết được bọn mafia. Chỉ có chúng nó hiểu nhau thôi. Lão biết là nếu mình nói “no”, âm thanh phát ra chưa hết là đã nghe một tiếng “oành” liền. Colt.45 mà nổ gần vậy thì máu óc phọt ra có vòi liền.
Nhưng Mike Casey đâu có dẫn xác đến đây để cho chúng nó tập bắn, lão
cười cười, dơ tay trái đẩy họng cây súng qua một bên.
-Ông bạn tính giết thằng già này thiệt sao? Mình quen biết nhau lâu quá
rồi mà, từ từ coi, chuyện gì phải nóng nảy vậy?
Lão cảnh sát đã cười hiền vậy mà khuôn mặt xếp Al Capone đâu có vẻ gì
thay đổi. Khuôn mặt vẫn lầm lì, cặp mắt vẫn còn trợn tròng lên:
-Đại úy biết tính thằng Capone này mà, xưa nay tôi có bao giờ đi dọa non
dọa già ai đâu? Sao, câu trả lời của ông là gì?
Cả phòng họp bỗng chìm sâu trong không khí nặng nề khó thở. Mọi người
chỉ sợ lão cảnh sát già nổi khùng sủa một chữ “no” bất tử thì cái sọ khỉ của lão sẽ bay khắp nơi trong phòng liền. Thằng ngồi ngay sau lưng lão, đoán chừng viên đạn sẽ bay từ trước trổ ra sau, máu óc có thể phun ra dính khắp người mình liền nhích ghế, lui sang bên cạnh. Bộ đồ đóng mất 200 đô la mà máu óc dính đầy thì chỉ có nước bỏ luôn. Chúng nó đâu có lạ gì cái cảnh này.
Dĩ nhiên, trước họng súng đen thùi lùi như vậy, và người cầm nó là một típ
như vậy thì ai mà dám nói “no”. Vẫn nụ cười … khả ái trên môi, Mike Casey nói liền:
– Thì đồng ý là cái chắc rồi chứ còn gì nữa. Mình làm việc với nhau quá
lâu rồi mà …
Nghe xong câu đó, xếp Al Capone xoay người nhìn thằng Guzick gật đầu
một cái. Thằng này liền móc ra cây bút chì và cây viết, hí hoáy ngồi tính toán …
Thân mến tặng các chiến sĩ Lôi Hổ của Chiến Đoàn III Xung Kích Nha Kỹ Thuật, để cùng nhau tưởng nhớ đến một buổi chiều Tây Nguyên rực nắng quê mình…
Trường Sơn Lê Xuân Nhị.
Trước khi vào truyện:
Bài này tôi viết vào ngày Quân lực năm 1989, cách đây 23 năm, lúc tôi mới tập tểnh cầm bút, đăng trên Tập San Ngàn Sao của anh em Không Quân Houston. Xin cám ơn Hắc Ưng 01, tức Trung Tá Nguyễn Tiến Thành, (Còn được anh em âu yếm gọi là Thành… dâm–thời buổi này, ai nói mình dâm là một lời khen quý giá vô cùng) một phi đoàn trưởng F-5, một nhà thơ, một … con người đầy tình cảm đã cho tôi lại bài này sau nhiều năm thất lạc. Nếu ai chưa đọc, xin đọc. Nếu ai đã đọc rồi, đọc lại cũng chẳng sao. Điều quan trọng ở đây, tâm hồn tôi ngày đó như thế nào thì bây giờ cũng như thế thôi…
Ai biết đời đổi thay, sẽ không bao giờ thay đổi
Ai tưởng rằng đời không thay đổi, người đó thế nào cũng đổi thay…
Sau mười mấy năm di tản, tôi đã được đọc hơn chục câu chuyện viết về cuộc đời binh nghiệp của nhiều người. Chuyện nào cũng hay, cũng có nhiều kỷ niệm, nhiều hào hùng. Riêng tôi, nhớ lại quãng đời binh nghiệp dang dở của mình, dù có chủ quan đến đâu, tôi cũng thấy hơi… mắc cỡ. Kể từ ngày vòng tay giã từ bố mẹ đi đăng lính cho đến ngày leo lên tàu bay… “chạy thấy mẹ”, đời lính tôi chẳng có đoạn nào hào hùng đáng để viết ra đây cho độc giả thưởng thức. Lý do đơn giản vì tôi là phi công lái tàu bay L-19. Nếu là phi công khu trục hay trực thăng, có lẽ tôi cũng đã có nhiều kỷ niệm ghê gớm hơn đáng được kể lại cho thiên hạ nghe như lúc cắm tàu bay xuống giữa rừng phòng không để thả những trái bom xuống đầu địch, hoặc lái trực thăng xông pha lửa đạn đến để thả quân, bốc thương binh ở những vùng địa đầu giới tuyến vân vân. Tàu bay L-19 của tôi, thân hình ẻo lả chậm chạp, thường bị người ta gọi là Tàu Bay Bà Già, được dùng để thám thính và đánh trái khói chỉ điểm mục tiêu. Thám thính hay quan sát thì bay cao bay thấp gì cũng được, chẳng ai cần để ý. Mới ra trường vì “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên tôi còn hăng lắm, trận thám sát nào cũng bay thấp gần ngọn cây. Nhưng già hơn một chút nữa thì cái bu-gi của tôi nó cứ từ từ teo lại như bị mắc phải một chứng bịnh quái ác và cao độ quan sát càng ngày tăng theo tỉ lệ nghịch của… con chim để tránh bớt phòng không. Gần đến ngày mất nước thì nó cao lắm, tôi không nhớ là mấy ngàn bộ.
Tôi không thể tự dối lòng mình và dối thiên hạ để bảo rằng ngày xưa tôi là một chiến sĩ oai hùng lắm, anh dũng lắm. Đời tôi đã hèn một lần ngày 30 tháng 4, tôi chẳng thể hèn thêm nữa. Nói láo, đối với tôi là một hành động hèn nhát. Tôi nhớ đã đọc được ở đâu đó rằng một trong những đức tính quan trọng nhất của người Võ sĩ đạo Nhật Bản là không bao giờ nói dối. Vì vậy, tôi đành thành thực mà viết rằng suốt mấy năm mặc áo nhà binh ăn cơm chính phủ, những đoạn đáng nhớ nhất về cuộc đời binh nghiệp của tôi có thể viết ra đây cho độc giả thưởng thức là mấy lần … đi ở tù.
Đời lính ngắn ngủi của tôi, kính thưa quí vị, tôi bị ở tù trước sau là 4 lần. Tôi nói ngắn ngủi bởi vì tôi đi lính năm 69, đến năm 75 thì quân đội tan hàng, tính ra là gần được 6 năm. 6 năm lính mà ở tù 4 lần, và mỗi lần một hai ngày là quá ít, nhưng đối với một thằng nhớ dai như tôi, mỗi lần như thế là một kỹ niệm. 4 lần ở tù, bây giờ ngồi nghĩ lại sau mười mấy năm, tôi chả thấy oan ức chút nào. Tôi công nhận lần ủ tờ nào cũng là do lỗi mình mà ra cả, rất đáng bị nhốt để duy trì kỹ luật quân đội và tốp bớt cái tính du côn hung hản của thằng thiếu úy trẻ. Đôi khi, tôi cảm thấy kỹ luật của quân đội đới với tôi như vậy còn là nhẹ hìu, nhẹ lắm.
Nhưng trong 4 lần ở tù này, chỉ có một lần cuối cùng là tôi leo lên xe quân cảnh mà lòng sung sướng hãnh diện đến độ có thể nói như ông Gandhi của Ấn Độ. “Đi vào tù mà vui tươi sung sướng như chú rể đi vào nơi động phòng ngày đám cưới.” Trước khi kể đến lần đi tù kỳ lạ này, tôi xin bắt đầu từ những lần ở tù đầu tiên…
Từ thuở nhỏ, tôi vốn là một thằng… chẳng giống ai. Lúc còn đi học ở tiểu học, lên đến trung học, tôi luôn luôn gây rắc rối cho thầy giáo, cho cha mẹ. Ở trường, thay vì phải lo dùi mài kinh sử để đáp đền ơn dưỡng dục của song thân, tôi chỉ thích nghiên cứu tổ chức lập đảng để đi oánh nhau. Về nhà, đã chẳng giúp gì được công việc gia đình, tôi lại ăn hiếp các em, thỉnh thoảng còn “đỡ nhẹ” một ít tiền của mẹ để tiêu hoang. Quá khứ gian ác như vậy, vào lính, chả trách gì chỉ một thời gian ngắn là tôi phải ôm mền chiếu đi ngồi tù.
Tôi được nếm mùi tù lần đầu tiên leiền chỉ sau khi khoác áo nhà binh mấy tháng ở trường bộ binh Thủ Đức. Một tối nọ trung đội tôi có nhiệm vụ đi gác uyến. Phiên gác của tôi được anh em cắt là 3 giờ sáng. Đem mùng mền khăn gói theo trung đội ra tuyến, căng lều võng xong lúc ấy mới có 9 giờ đêm. Không có chuyện gì làm, thay vì đắp chăn nằm ngủ lấy sức như những người anh em ngoan ngoản khác, tôi và vài thằng bạn trời đánh rủ nhau phú lỉnh ra khu gia binh ăn hột vịt lộn. Hột vịt lộn, muốn thưởng thức cho đúng điệu thì phải có ba thứ đi kèm: thứ nhất muối tiêu, thứ nhì rau răm và chót hết là… la de. Cái món sau cùng này nó đã hại tôi bởi khi đứng dậy đi về, trời đã quá nửa đêm, bước chân tôi xiêu vẹo lạng quạng, đi nghiêng ngã như… một thằng say rượu. Nói đúng hơn, tôi đã “xỉn mẹ nó rồi”. Mò mẫm mãi chúng tôi mới về đến nơi cắm trại. Vào tới lều thì tôi chẳng còn biết trời trăng gì nữa, nằm lăn quay ra đánh một giấc.
Hai giờ rưỡi sáng tôi bị một người khóa sinh đánh thức giậy để đổi gác. Gác gỏng gì nữa vì tôi lúc ấy chỉ còn là một khúc gỗ, có đem thẩy tôi vào lửa thôi cũng cóc cần, làm sao tôi thức dậy được? Anh khóa sinh này sau 10 phút không kêu tôi được, lại lui cui thế nào đễ lãnh phải một bốt đờ sô của tôi té lăn cù, bèn tức mình đi báo cho trung đội trưởng. Trung đội trưởng khôn hơn, biết tính tôi nên chẳng thèm gọi nữa, liền đi thông báo sĩ quan cán bộ trực. Ông trung úy Ba (tôi nhớ rõ tên), có lẽ bị mất giấc ngủ vì một chuyện không đâu, hầm hầm xách cây Carbine M-2 chạy ra tuyến kiếm tôi. Sau hai tiếng kêu không có kết quả, người sĩ quan cán bộ không thèm phí thì giờ, ông ta nhờ… báng súng Carbine kêu dùm. Bị giộng mấy cái đau điếng, tôi lòm còm bò dậy. Trung úy Ba xài xể tôi một thôi rồi bắt tôi ôm súng ra tuyến gác. Để trừng phạt, ông bắt tôi phải gác thế cho cho tất cả những người khác tới sáng.
Tôi ôm cây M-16 ra phòng tuyến, quên cả hỏi mật khẩu và mấy thứ lẩm cẩm khác của người lính gác giặc. Đứng được khoảng 15 phút thì tôi không còn chịu nổi nữa, cơn buồn ngủ kéo tới, tôi rớt một cái rầm xuống đám cỏ. Ôi, đất ơi là đất, sao mà êm ái và dịu dàng thế này, tôi nhắm mắt nằm ngủ thẳng cẳng.
Không biết tôi ngủ được bao nhiêu lâu thì trung úy Ba lại đi thanh tra. Lần này ông cho người dắt tôi thẳng về đồn quân cảnh. Lúc tỉnh dậy, đầu óc choáng váng, tôi nhìn thấy vừng Thái Dương đã ló dạng qua khung cửa sổ có mấy song sắt của nhà thù. Sáng hôm đó là ngày chủ nhật, ngày thăm viếng. Không biết hên hay xui cho tôi, ngàn năm một thuở, ngày ấy tôi có người đến thăm. Nhà tôi ở rất xa, mãi trên cùng cao nguyên đất đỏ, xuân thu nhị kỳ mới cò người đến kiếm, nay thằng em kế của tôi lên thăm ông anh quý thì hóa ra ông ấy đang ủ tờ. Thật là chán đời. Hai anh em gặp nhau trong một tiếng đồng hồ ngắn ngủi. Tôi dặn nó về đừng có nói là lên thăm gặp tôi đang ủ tờ, sợ cha mẹ phiền. Nó cười cười, dạy khôn tôi: “Anh là cùi mà cớ sợ hủi. Đi lính mà không ở tù lính thì làm sao đáng gọi là lính?” Tôi ầm ừ và cũng đành dùng câu nói của thằng em quý để tự an ủi lòng mình.
Chiều hôm ấy tôi được thả ra nhưng đã tiêu hết ngày chủ nhật quý giá của quân trường.
Lần ủ tờ thứ hai, khoảng 2 năm sau, lúc ấy tôi đã đeo lon thiếu úy tàu bay, vừa tốt nghiệp xong khóa hoa tiêu và đang được huấn luyện hành quân ở phi đoàn. Đó là những ngày nhàn nhã. Mục đích của thời gian huấn luyện này là tập cho phi công trẻ có dịp làm quen với chiếc phi cơ L-19 càng nhiều càng tốt nên chúng tôi nhận được lệnh của phi đoàn trưởng phải bay ít nhất 6 giờ mỗi ngày. Gì chớ bay bổng và nhậu nhẹt là hai chuyện tôi thích nhất trong cõi đời. Ngày nào tôi cũng vào phi đoàn, ký sổ phi lệnh rồi xách một chiếc L-19 cất cánh lang thang một mình trong không gian bát ngát. Khỏi cần nói chắc quí vị cũng có thể tưởng tượng được một thằng trời đánh như tôi sẽ làm gì trên trời một mình mới món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ? Tôi nhào, tôi lộn, tôi bay nghiêng bay ngã, tôi hành hạ chiếc L-19 đáng thương như đứa bé con tinh nghịch đủa giỡn với món đồ chơi cũ. Đùa chán chê, tôi xách tàu ra ngoài biền đi phá đám mấy ông thuyền chài. Thấy được một chiếc ghe nào lạc lỏng một mình là tôi cắt ga biểu diễn màn bay sát mặt nước, nhắm thẳng vào chiếc ghe lao tới như các Kamikaze Nhật trong xi nê. Khi nào người ngồi trên ghe chưa chịu… nhảy xuống biển là tôi chưa thoả mãn, quay tàu lại làm vòng khác thấp hơn, thấp hơn nữa. Tôi không nhớ đã thoát chết bao nhiêu lần và đã làm không biết bao nhiêu người thuyền chài vô tội sợ hú hồn, phải nhảy tùm xuống biển.
Những hôm khác, tôi xách tàu đi xa hơn. Có khi còn lên Khánh Dương, bay dọc theo mấy dòng suối để tìm con gái Thượng tắm. Tôi ở Ban Mê Thuột nên biết đàn bà thiều số thường tắm truồng. Tôi chả bao giờ tìm thấy ai tắm nhưng cũng xém chết mấy lần vì tàu gần đụng núi.
Đấy, tôi gian ác như vậy nhưng vẫn chưa bị vào tù vì không ai biết chuyện tôi làm cả. Nhưng thiên bất dung gian, một ngày nọ, vào khoảng giữa trưa, tôi xách nón bay ra quay máy một chiếc L-19 để bay tập. Tôi nhớ rõ hom ấy là ngày thứ sáu và lại vào giấc trưa nên phi trường vắng vẻ vô cùng. Phi đoàn cũng vắng tanh. Tuy ở phi đoàn chưa lâu lắm nhưng tôi biết chiều thứ sáu “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm” được. Thử máy xong, tôi đem ràu ra so hàng ở taxiway rồi xin đài kiểm soát ra phi đạo cất cánh.
Đài kiểm soát vừa “Clear for takeoff” là chiếc L-19… già đã bị tôi tống ga cái rào. Con tàu như nhảy dựt người lên, lóc cóc chở ông thiếu úy cô hồn ra so hàng cuối phi đạo mau như bị ma đuổi. Tôi tống hết ga. Con tàu gầm lên, nhào tới trước. Cái giây phút thú vị nhất của bất cứ người phi công nào là lúc điều khiển con tàu chạy mau trên mặt đắt trước khi cất cánh. Sự khác biệt giữa người và chim, giữa mặt đất tù túng giới hạn và không gian bao la bát ngát , giữa nguy hiểm và an toàn, giữa sống và chết là những giây đồng hồ ngắn ngủi này đây.
Tàu tăng tốc độ, phi cơ “ăn no gió” chuyền áp lực vào cần lái làm tay tôi bắt đầu cảm thấy nặng. Khỏi cần nhìn tốc kế tôi cũng biết là chỉ cần kéo nhẹ cần lái là tàu sẽ rời mặt đất từ từ bay bổng lên không. Đó là kiểu cất cánh bình thường. Nhưng đời tôi, ít khi nào tôi làm chuyện gì bình thường và giống thiên hạ. Thay vì kéo tàu lên, tôi lại hơi đè cần lái xuống cho tàu nhỏng đít chạy thằng trên phi đạo. Cất cánh như vậy coi nó mới giống Skyraider, nó mới hùng, mới đúng điệu “Pilot de Guerre.” (Tôi thường bảo bạn bè rằng, nếu là mây, anh sẽ là loài mây trắng, nêu là người, anh sẽ chết cho quê hương, nếu là phi công, anh chỉ nên lái Skyraider…) Tôi cứ ráng giữ như vậy cho đến lúc không thể nào đèn phi cơ trên mặt đất nữa, mới hơi nới cần lái cho tàu bay lên.
Lần đó, tàu vừa hỏng mặt đất là tôi có một ý tưởng mới lạ. (Suốt đời tôi khốn nạn vì những ý tưởng mới lạ của mình). Bay bổng ngon lành như tôi, tại sao không làm một cái Chandel (đọc là Xăng Đeo) ở cuối phi đạo? Xin dành một vài hàng để tôi cắt nghĩa cái Chandel cho các quí vị không phải là dân bay hiểu.
Làm Chandel tức là làm một cái quẹo ngược 180 độ lên cao về phía sau. Tác diễn này giúp cho các phi công khi gặp phải chướng ngại vật phía trước có thể quẹo ngược ra sau một cách chính xác để khỏi mất hướng và vừa lấy thêm được cao độ. Muốn làm Chandel, người ta mới đầu chúi mũi phi cơ để lấy thêm tốc độ rồi vừa nghiêng vừa quẹo và vừa kéo tàu lên một lượt. Tay và chân phải hòa hợp và ăn khớp với nhau như biểu diễn một điệu nhảy đầm. Cái Chandel tuyệt hảo đặt con tàu đúng 180 độ ở cuối đường, không hơn không kém. Điểm quan trọng cần nói thêm, Chandel là một tác diễn chỉ được làm ở một độ cao tương đối, làm ở sát mặt đất lúc vừa cất cánh là một điều tối kỵ vị rất nguy hiểm và vi phạm luật an phi nặng nề.
Lúc ấy tôi nào có biết gì là nguy hiểm, cứ cho đó là một ý kiến hay. Nhưng trước khi liều mạng như vậy, vốn gian ác nên tôi tính toán cẩn thận. Tôi phải chắc chắn là không có ai ở phi đoàn giờ này thì mới an toàn. Thế là tôi tà tà cho tàu bay lên, quẹo phải hơn ngắn một chút và để ý nhìn xuống phía phi đoàn. Good. Bãi đậu xe của phi đoàn vắng tanh. Phi đoàn tôi lúc ấy có 3 người tôi ngán nhất là phi đoàn trưởng, phi đoàn phó và trưởng phòng hành quân, ông nào cũng có một chiếc xe. Tôi mừng thầm, thế này chắc là các đàn anh đã về nhà ngủ rồi hay không chừng đang chở vợ con đi tắm biền cũng nên. Riêng thiếu tá Bững trưởng phòng hành quân hì chắc đang đụng trận phé lớn ở một chỗ nào đó. Tôi ngán nhất là ông thần này, phi công gì mà mặt mày coi hung dữ chi lạ, còn ngầy hơn cả tôi, dòm cứ như là phi công Nhật. Cho chắc ăn hơn, tôi nhìn xuống bãi đậu xe của Không Đoàn. Chiếc xe díp xanh của đại tá Lạc không đoàn trưởng cũng thấy mất tiêu. Tôi mỉm cười khoái chí. Vậy là nhô con có thể múa rối được rồi.
Tôi làm vòng phi đạo xin tập đáp “Chạm Bánh cất cánh” (touch and go). Trưa thứ sáu, phi trường Nha Trang vắng khách nên các ông đài kiểm soát xem ra cũng có vẻ dễ dãi, chà bù với những lúc bận rộn, mấy ông hối nhặng cả lên. Vừa đáp xuống là tôi tống hết ga để chuẩn bị cất cánh lại. Phi cơ hổng khỏi mặt đất, tốc độ lên rất cao, có thể đến 140 Knots (quá giới hạn của L-19) là tôi trổ tài. Tôi nghiêng cánh, vừa quẹo trái vừa đạp bàn đạp trái và kéo cần lái lên. Con tàu bốc cao như một cái hõa tiễn, người tôi bị lực G đề xuống. G càng lớn thì tôi càng cảm thấy đê mê khoái tỉ, tưởng tượng như mình đang kéo một chiếc Skyraider bay lên. Thật không thể có cái Chandel nào đẹp hơn cái Chandel vừa rồi của tôi trên thế giới này. Chao ơi, sao mà nó sướng, sao mà nó đã, sao mà nó thú, không bút mực nào tả cho hết được. Bay như thế mới gọi là bay, mới là hào hùng, mới là xứng đáng là “Ôi phi công … danh tiếng muôn đời…”
Quẹo xong tôi theo mửng cữ soạn lại, tiếp tục vào đáp và làm thêm mấy cái Chandel nữa. Tôi cảm thấy lúc ấy tôi không còn là một người phi công mới ra trường với số giờ bay chưa tới ba trăm, mà là một anh hùng của KQVN. Giá có thằng Việt Cộng nào ngu dốt đi lạc vào phi trường thì tôi sẽ ủi cho nó xịt khói ra quần cho chúng nó biết tay người phi công trẻ này. Tôi cảm thấy phục tôi quá chừng.
Ở vòng đáp thứ bảy, đang biểu diễn ngon lành thì tự nhiên có tiếng gọi của đài kiểm soát phi trường trong nón bay:
-Mustang Alpha đây Nha Trang đài.
-Nha Trang, Mustang Alpha nghe năm.
-Có điện thoại từ phi đoàn gọi bạn về đáp gấp và vào trình diện phi đoàn trưởng. Mustang Alpha nghe rõ không bạn?
Tôi như muốn té xỉu trong tàu bay. Thế này là tàn một đời phi công vô kỷ luật. Phi Đoàn Trưởng rôi, tôi còn lạ gì? Ông ta là một hung thần xuất thân khóa 17 Đà lạt. Bình thường gặp ông ta không có tội lỗi gì mà đã thấy ngán, bây giờ giữa trưa vắng vẻ như thế này không lý ông ấy gội tôi vể trình diện để kể chuyện đời xưa? Liếc mắt thật nhanh về phía phi đoàn, tôi mới biết là cuộc đời gian ác của tôi sắp sửa bế mạc thật. Rõ ràng là chiếc xe díp đen của ông ấy đang nằm “chình ình” ngay trước cửa phi đoàn. Lúc ấy tôi mới hiểu rõ cái chữ “teo bu gi” mà thiên hạ thường dùng để chỉ những phút giây con người sợ vãi đái ra quần nó như thế nào. Thê thảm lắm.
Đang còn chới với thì đài kiểm soát phang tiếp cho một chưởng:
-Mustan Alpha nhận rõ không bạn?
Tôi… mếu máo:
-Mustang Alpha nhận năm bạn.
Con đường từ phi đạo về đến bãi đâu phi cơ sao mà ngắn quá, tôi cứ mong cho nó dài ra, đừng bao giờ hết để tôi khỏi gặp phi đoàn trưởng tôi. Nhưng rồi cái giây phút kinh khủng ấy đã sắp phải đến. Tôi cặp nón bay lủi thủi bước vào phi đoàn ủ rủ như con chuột ướt, như một đứa con hoang trở về nhà cũ để nhận lãnh hình phạt sau đã phung phí hết tiền của. Tôi ngạc nhiên khi thấy phi đoàn lúc ấy đã có mặt đầy đủ văn võ bá quan. Ông thiếu tá phi đoàn trưởng đang chờ tôi trong văn phòng phía sau. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi nhìn thấy ai cũng nhìn tôi bằng một cặp mắt thương hại. Chắc họ đã đoán được cơn thịnh nộ sắp sửa dành cho tôi.
Sĩ quan trực ngày hôm đó là thiếu úy Hầu Văn Thùy Dương. Nó là một thằng tôi luôn luôn cho là cù lần cả quỷnh nhưng hôm nay tôi thấy thèm được cù lần như nó quá. Nó nhìn tôi rồi bám máy interphone báo cáo:
Tôi sửa sang quân phục, vuốt lại tóc tai. Thằng Dương bụm miệng kề tai tôi nói nhỏ:
-Số mày xui quá, thường thường giờ này ổng đâu có vô phi đoàn làm gì. Ổng để quên cái gì đó rồi chạy vào lấy là gặp ngay. Làm sao mà dấu được, tụi tao cũng chạy ra xem. Mày làm náo động cả phi trường Nha Trang. Ai bảo ngu ráng chịu. ĐM mày chuẩn bị 2 lỗ tai để nghe “mô ran” đi. Nhiều lắm là 2 tiếng và ít nhất là một tiếng. Xong phần “mô ran” là phần đi ủ tờ.
Nói xong nó lắc đầu nhìn tôi cười mỉm nửa như thương hại, nửa như thán phục. Tôi không nói gì. Tôi ngu thật, đúng như lời thằng Dương nói. Trong trạng huống này, tôi cảm thấy tôi ngu hơn cả con kiến.
Bước qua chỗ Lý Bững, ông trưởng phòng hành quân còn chơi nhẹ một câu:
-Bổ hết chỗ biểu diễn rồi hay sao mà về Nha Trang biểu diễn mày, làm như ở đây không có tàu bay chắc? Người thì nhỏ một chút mà sao bay bổng dữ dằn quá chừng…
Ông Tám là một con người cẩn thận. Mặc dù tội lỗi của tôi đã rành rành như vậy nhưng ông còn muốn xác nhận lại xem thử tôi vô tình hay cố ý mà “bay bổng kiểu gì kỳ quặc” vậy? Tôi thú nhận là tô đã làm Chandel ở cuối đầu phi đạo.
Thế là cơn thịnh nộ của ông thiếu tá giáng xuống. Suốt gần một tiếng đồng hồ, ông phi đoàn trưởng trẻ tuổi khi la hét, khi nhỏ nhẹ, lúc khác đập tay thình thình xuống mặt bàn để cắt nghĩa cho tôi hiểu về bổn phận và trách nhiệm của một phi công trong thời chiến. Tôi không hiểu cái vụ Chandel của tôi vừa rồi nó có liên hệ gì về quốc hội Hoa Kỳ và tiền viện trợ như thế nào và đôi khi tôi cũng nghe được hai tiếng này. Thỉnh thoảng tôi lại còn nghe được danh từ “phản quốc” và “phá hoại” mới chết chứ. Vì đã chuẩn bị… hai lỗ tai trước khi vào đây cho nên tôi không lấy gì làm khó chịu lắm. Thằng nào đi lính một thời gian rồi cũng học được cái nước tịnh khẩu này. Cứ để cho đàn anh chửi rủa cho hả cơn tức, tới một lúc nào đó đàn anh sẽ mỏi miệng rồi sẽ tốp lại. Sau đó mình sẽ đứng lên chào cái cốp rồi bước ra…
Nhưng tôi bỗng tỉnh hẳn người và cảm thấy quặn đau trong lòng như ai đâm vào đó một con dao khi ông phi đoàn trưởng chê cái Chandel của tôi:
-Anh nói anh làm Chandel hả? Chandel cái con khỉ gì. Tôi chưa thấy cái Chandel nào sai nguyên tắc, vụng về và xấu xí như cái Chandel của anh. Đó là “Xăng đan” của ba tàu Chợ Lớn chứ “Xăng đeo” gì.
Than ôi, nếu biết tôi bay dở như vậy thì thì tôi đâu thèm biểu diễn làm gì để ra nông nổi này. Tôi không buồn bao nhiêu vì sắp đi ủ tờ nhưng tôi đau đớn vì khả năng bay bổng của mình bị đánh giá tệ quá. Trong giây phút buồn phiền thất vọng, tôi chợt bi quan nghĩ rằng hay trời sinh mình ra chỉ để lái tới xe … GMC là hết cỡ, sao lại lái tàu bay để chuốc lấy họa?
Tôi không nhớ mình ngồi đó thêm bao lâu nữa nhưng khi leo lên xe Quân Cảnh đi về Cải Hối Thất thì trời chiều đã bớt nắng. Tối đó, thay vì ăn chơi nhậu nhẹt với bạn bè, tôi phải nằm trong tù nhìn mấy con muỗi làm … Chandel trong mùng tôi. Xem chừng bọn muỗi đói này làm Chandel hay hơn thiếu úy Nhị trưa này nhiều vì đã mấy lần tôi đưa tay định vỗ thì chúng đã lượn một vòng tuyệt đẹp, bay ngược ra sau rồi biến mất. Vồ hụt muỗi mấy lần, tôi phát cáu chửi thề: “Tiên sư chúng mày, học ở đâu mà làm Chandel đẹp quá thể, ông mà bắt được thì ông nghiền nát chúng mày ra cho tan đời muỗi…” Có thể nói, mỗi một con muỗi là một Fighter Pilot chính hiệu. Tuy tức tối nhưng tôi phục chúng nó.
Tôi đốt thuốc lá liên miên và tuy nằm trong một chỗ gọi là Cải Hối Thất, tôi chẳng thấy muốn hối cải chút nào hết. Chẳng những không biết hối cải, tôi còn tự rút ưu khuyết điểm để lần sau, nếu tôi có hành động gian ác nữa htì không ai có thể bắt được. Tôi lại nghĩ về cái Chandel … quê mùa và bực tức sự ngu dốt của mình. Đúng là có mắt như mù.
Ông Tám chỉ cho tôi nằm xả hơi đến sáng thứ hai thì gởi sĩ quan trực xách xe đến đón tôi về. “Ở tù ra” tôi đâm khôn, làm gì cũng ngó trước tính sau, nhất định không để sơ xẩy như lần đầu nữa.
Rồi tôi cũng được tha cho đi bay hành quân. Trước khi đi biệt phái lần đầu tiên, tôi được phi đoàn trưởng gọi vào trình diện. Một lần nữa, tôi chuẩn bị 2 cái lỗ tai để nghe “mô-ran” nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy ông Tám ỏ ra thân mật với tôi. Tôi còn được mời hút thuốc lá 3 con 5 mới là ly kỳ. Ông phi đoàn trưởng tâm sự với tôi một câu mà tôi không thể nào quên được:
-Tôi biết anh là một con người ba gai nhưng anh có tâm hồn và tài năng. Tôi sẽ huấn luyện để anh trở thành một cán bộ nồng cốt của phi đoàn. Phần anh, anh phải cố gắng, đừng cậy mình có tài mà bê bối. Anh phải luôn luôn ghi nhớ mình là một sĩ quan của QLVNCH, phải giữ gìn tư cách và tác phong.
Kể từ ngay đi lính đến giờ đó là gần 3 năm, tôi luôn luôn bị nghe chửi, đây là lần đầu tiên tôi được khen là “có tâm hồn và tài năng” nên rất lấy làm sung sướng. Sẵn trớn, tôi muốn hỏi xem cái Chandel tôi làm ngày nào có quả thực là xấu xí và quê mua không nhưng tôi tốp lại kịp thời. Không nên nham nhở với phi đoàn trưởng quá, để rồi từ từ hỏi sau cũng được…
Rồi tôi nhận phi vụ lệnh sách tàu đi biệt phái ở một chiến trường hung hản nhất của vùng II chiến thuật lúc đó: Chiến trường Tam Biên Pleiku-Kontum. Giặc vừa mở một loạt tấn công khắp các nơi để mở màn cho một trong những mùa hè tang tóc và kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam mà nhà văn Phan Nhật Nam gọi là “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Tôi còn nhớ trong bay từ Nha Trang đến Pleiku lần đầu tiên ấy, lêo lên 8 ngàn 500 bộ, trên tôi là mây, dưới chân tôi là đồi núi trùng trùng điệp điệp. Phong cảnh hùng vĩ và tươi đẹp của quê hương lúc trời rạng đông làm cho lòng tôi dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Trong một thoáng, tôi cảm thấy mình không còn là một phi công vô kỷ luật nữa mà trở nên trầm lặng như một nhà hiền triết. Sau bao nhiêu tháng ngày học tập, đây là lúc tôi có thể thi thố tài năng để đền ơn cho tổ quốc. Tôi lại cảm thấy tôi mang nợ với đất nước này nhiều quá. Lúc nhỏ, tôi mang nợ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Lớn lên tôi mang nợ công ơn giáo dục của thầy. Vào lính hơn 2 năm qua, tôi chỉ cắp sách và nón đi học để trở thành một phi công. Giữa lúc mà những người cùng tuôi tôi phải nằm gai nếm mật, vượt rừng lội suối, đem máu đào ra gìn giữ từng con đường từng tấc đất của quê hương thì tôi suốt ngày hết bay lên rồi lại bay xuống. Tôi tự nguyện với lòng mình là sẽ sử dụng hết khả năng mình để làm việc đền ơn cho tổ quốc.
Bạn có bao giờ đưa cho một đứa con nít một cây súng thiệt rồi bảo nó đi săn với bạn chưa? Khổ sở lắm, vì đứa con nít đó luôn luôn hăng tiết vịt, gặp cái gì cũng muốn bắn phá, rồi hết chòng ghệo người này lại đến phá phách người khác. Thằng con nít còn đỡ hơn là tôi, một phi công trẻ với món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ. Chỉ vài ngày sau thôi là điện thoại gọi tới tấp về phi đoàn để báo cáo và than phiền về những hành vi vô kỷ luật của tôi trên trời. Lúc ấy ở chiến trường, tôi nào co biết sợ là gì? Vùng phòng không đan kín trời ai cũng né thì tôi lài lù lù dẫn xác vô bằng một cao độ mà AK bắn chắc cũng rớt. Tôi nghĩ bọn xạ thủ Việt Cộng phải bắn giở lắm vì tôi chẳng hề bị gì cả. Chẳng phải là tôi gan dạ hay ngon lành gì, chẳng qua chỉ vì chưa biết nên chưa sợ đó thôi. Đâu đã hết, nhiều lúc tôi còn đi lạc vào vùng có tác xạ pháo binh đang TOT (Pháo tập trung bắn từ nhiều nơi đến một chỗ, một lần) của hàng trăm khẩu vừa Tây vừa Ta. Tôi nào có biết. Đến khi nhìn thấy hàng trăm đóa hoa đất tự dưng nở tung tóe ngay dưới chân mình thì mới giật nẩy mình lên, hốt hoảng … chạy lấy người. Ai đi bay với tôi cũng đều than phiền.
Một buổi sáng, đích thân ông phi đoàn trưởng xách chiếc U-17 lên Pleiku đi điều tra tình hình. Khi chiếc tàu của ông vừa đáp thì một cơn mưa pháo của giặc cũng ào ào rớt xuống làm cho ông Tám càng giận thêm. Chỉ vì thằng thiếu úy mất dạy mà ông phải khổ sở như thế này. Gặp tôi, ông phùng mang trợn mắt xài xể và hăm dọa một lúc rồi đi một vòng thăm nơi ăn chốn ở của anh em, hỏi han dặn dò rồi ra về.
Tôi có bớt đi chút ít nhưng sau đó thì vẫn chứng nào tật ấy.
Một ngày nọ, tôi chở một ông đại úy bộ binh của phòng 2 tiểu khu Pleiku đi thám sát. Vừa quay máy tàu xong, đang tà tà di chuyển phi cơ thì phi trường bị pháo kích. Tôi nghe đài kiểm soát là ùm trong tần số, thông báo phi trường đóng cửa, tất cả các phi vụ bị tạm thời đình chỉ, yêu cấu tất cả các phi cơ đang di chuyển trở về bến đậu. Dĩ nhiên tất cả các phi cơ khác đều quay lui về ụ, chỉ còn mình tôi tiếp tục lang thang trên đường taxiway, coi lệnh lạc của đài kiểm soát chẳng ra gì, coi pháo giặc cũng chẳng ra gì luôn. Chẳng phải vì tôi ngon lành gì nhưng nghe bị pháo mà nhìn quanh tôi chẳng thấy trái pháo nào rớt cả nên cứ giả vờ như mình không biết. Quả đúng là “chưa có thằng nào ngu hơn thằng này.” Tôi không muốn trở về bến đậu vì trời Pleiku vào khoảng 2 giờ trưa, mùa hè nóng bức vô cùng. Hơi nóng từ trên cao đổ xuống, từ mặt đất bốc lên, làm cả 2 người ngồi trong phi cơ như ngồi trong lò bánh mì. Nghĩ đến cái cảnh phải trở về bến đậu rồi cà kê với mớ đồ nghề lỉnh kỉnh, tháo dù, cất dù, tôi đâm ra làm biếng. Tôi chỉ muốn cất cánh mau rồi leo lên chừng 5, 6 ngàn bộ cho nó được mát mẻ một chút. Ông sĩ quan bộ binh phòng 2 đi bay với tôi thì dĩ nhiên không có ý kiến gì rồi.
Đến cuối đường bay, tôi bấm máy gọi xin ra phi đạo cất cánh. Mấy ông đài kiểm soát này giờ tưởng tôi bị hư vô tuyến, bây giờ mới bật ngữa. Mấy cha la hoảng lên như bị ai bóp dái:
-Mustang 12, đài kiểm soát gọi bạn nảy giờ không được. Phi trường đóng cửa, đài kiểm soát yêu cầu bạn trở về bến đậu gấp.
-Bạn cho tôi ra cất cánh… đại cái đi bạn. May ra tôi còn tìm thấy pháo chúng nó để phản pháo.
-Negative! Đài kiểm soát thông báo một lần nữa, yêu cầu Mustang 12 trở về bến đậu gấp.
Ngay lúc đó, hình như tôi nhìn thấy được một cụm khói đen bốc lên ở đâu đó trong phi trường, dấu hiệu pháo bắt đầu rớt. Nguy cấp rồi, khỏi thèm cãi vã với mấy cha đài kiểm soát này làm chi, tôi bèn tứ động tống ga nhào ra phi đạo rồi đẩy cần ga lút cán. Chiếc L-19 chồm tới trước, chỉ vài trăm thước là hỏng bánh ngay. Tôi kéo tàu lên, quẹo gắt ra khỏi phi trường, trong tai vẫn còn nghe mấy ông đài kiểm soát lải nhải. Tôi cười hì hì, nói thầm với mình: “Mẹ, biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”
Hành động điên rồ của tôi, nếu ở một hoàn cảnh khác thì có thể đã bị treo cánh bay vĩnh viễn, nhưng ờ một vùng địa đầu giới tuyến, giữa lúc cường độ chiến trường như vậy, tội của tôi được coi là nhẹ. Tuy nhẹ nhưng điện thoại cũng gọi tới tấp về biệt đội và phi đoàn. Hết ông an phi sư đoàn rồi đến ông an phi không đoàn thay phiên nhau mắng vốn về tôi. Tôi nghĩ đến cảnh ông trung tá Tám lại một phen nữa phải vểnh tai ra nghe thiên hạ xài xể vì có thằng thiếu úy du côn mà không biết dạy. Chiếu đó về biệt đội, ông biệt đội trưởng, đại úy Huy gọi tôi ra một góc, mặt mày hầm hầm:
-ĐM sao mà tôi chán cái ông quan con này quá, lại có chuyện rồi. Ông Tám mới gọi ra, xỉ và tao tưng bừng…
-Em biết rồi, chuyện cất cánh hồi chiều chứ gì?
-Tụi an phi nó bẩo ông cất cánh không có lệnh đài kiểm soát, làm bộ hư vô tuyến, đủ thứ…
Tôi đáp tỉnh queo:
-Trời đất, vô tuyến của em hư thật, lúc nghe được lúc không. Đến chừng nghe đài kiểm soát bảo đóng cửa phi trường thì pháo nó rớt gần quá, em hoảng hồn cất cánh luôn. Teo quá, chỉ sợ chết…
Nói xong tôi còn làm bộ dậm chân dậm cẳng như là mình vô tội mà bị oan ức lắm. Đại úy Huy không biết phải nói gì, đành than thở:
-Cái phi đoàn này ngày ông chưa về thì nó yên thế mà bây giờ ngày nào cũng có chuyện. Thôi chuẩn bị mồm mép đi để lúc đổi biệt đội về trình diện ông Tám. Mấy ngày còn lại, ông bay với tôi. Cấm không được lạng quạng, nghe rõ không ông thần?
Tôi gật đầu sốt sắng. Lúc quay trở vào, tôi còn nghe đại úy Huy lẩm bẩm đằng sau lưng: “Đù mẹ sao mà tôi chán ông quan con này quá, lúc nào cũng sinh chuyện được.”
Đến ngày đổi biệt đội, tôi vừa đáp xuống phi trường Nha Trang thì đã thấy chiếc xe díp của phi đoàn trưởng đậu sẵn. Người tài xế mời tôi lên xe rồi chở thằng về phi đoàn. Tôi vào trình diện ông Tám.
Tôi có thể lừa được nhiều người nhưng ít khi nào lừa được phi đoàn trưởng của tôi. Làm một cánh chim đầu đàn mà không biết mấy cái mưu chước vặt của đàn em thì làm sao trị được những thằng phi công vô kỷ luật cỡ như tôi. Chỉ vài câu hỏi hóc búa thôi là cái tội nói láo của tôi bị lòi ra ngay. Thế là một lần nữa hết đời tên gian ác.
Chiều hôm đó, sau 15 ngày biệt phái, thay vì được về nhà ăn nhậu như những người khác thì tôi lại lóc cóc leo lên xe Quân Cảnh trực chỉ Cải Hối Thất. Sao mà tôi ghét những chiếc xe díp nhà binh như thế này. Người ta thường ngồi lên đó lái đi phom phom coi rất oai phong lẫm liệt còn tôi thì chỉ ngồi lên để đi trình diện xếp lớn hay đi tù. Ngồi trên xe, tức quá mà chằng biết làm gì, tôi đành lôi mấy thằng đài kiểm soát Pleiku ra mà nguyền rủa. Tiên sư chúng nó, đúng là chuyện bé mà xé ra to để tôi phải đi tù…
Có lẽ chỉ muốn dằn mặt ông thiếu úy du côn một chút thôi nên sáng sớm ngày hôm sau tôi được thả ra. Lần này tôi được ông Tám cho một đại úy lái xe díp (lại xe díp) đi đón tôi và tôi được tặng một tờ giấy phép 5 ngày với nhiều lời nhắn gời…
Sau đó, bẵng đi một thời gian đến mấy năm, tôi không còn nhớ cái hình dáng của Cải Hối Thất nó tròn hay méo như thế nào nữa. Chẳng phải vì tôi trở nên tốt lành gì nhưng càng lớn thì tôi càng khôn ra, làm gì cũng cẩn thận, ngó trước dòm sau chứ không ào ào như những ngày xưa…
Tôi trưởng thành dần theo cuộc chiến cho đến lần xảy ra vụ ở tù lần thứ tư….
Khoảng đầu năm 1974, giặc bỗng tấn công và tràn ngập đồn Bu Prăng. Cái đồn địa phương quân này có một vị thế chiến lược quan trọng vì nó nằm giữa con lộ duy nhất nối liền Quảng Đức và Ban Mê Thuột.
Quận lỵ Quảng Đức, vốn đã từ lâu “sống âm thầm cô độc” giữa những khu rừng già trùng trùng điệp điệp nên chịu số phận hẩm hiu: Chỉ là miền đất lạnh lẽo dành cho những kẻ bị lưu đày. Bộ binh ở đây toàn là những kẻ ngang tàng và hào sảng như thiếu tá Trương Minh Dũng, tham mưu trưởng tiểu khu Quảng Đức. Thiếu tá Dũng, “người anh em” của phi đoàn 114, xuất thân khóa 1 hay khóa 2 Thủ Đức, vừa ra trường là gia nhập binh chủng nhảy dù, đánh hàng trăm trận lớn nhỏ trước khi được tổng thống Diệm đưa qua địa phương quân để vừa làm cán bộ vừa nâng cao khả năng chiến đấu của những đơn vị này. Gần mấy chục năm máu lửa và sương gió trên khắp nẻo quê hương cũng chỉ được nhà nước nhớ ơn bằng cặp lon thiếu tá khiêm nhường trên cổ áo. Phi đoàn tôi từ nhỏ tới lớn ai mà không biết hoặc không quen thiếu tá Dũng với cái điếu cày thuốc lào luôn luôn có trên tay. Cái điếu cày bằng nhôm màu bạc này là vật bất ly thân của thiếu tá Dũng dù trên chiến trận, trong tàu bay L-19, nơi phòng họp hành quân với tư lệnh quân đoàn, hoặc ở các phòng trà nhảy đầm danh tiếng của thủ đô Sài-gòn những lần về phép. Cái con người ngang tàng lạ lùng này của quân lực còn là một nhà thơ nỗi tiếng với những bài như “Nỗi buồn của Hạ”, “Xuân Cao Nguyên”, “Bỏ phố lên rừng…” Riêng bài Bỏ Phố lên rừng lúc ấy đã được Châu Kỳ phổ nhạc, nghe rất hay.
Về phía không quân thì đi biệt phái Quảng Đức cũng coi như khăn gói đi tu mười lăm ngày. Cả thành phố chỉ có được một khu chợ chính nằm trên con đường dài không quá một trăm thước, khách bộ hành, vừa đi vừa nghỉ, cũng chỉ cần năm phút là về chỗ cũ.
Nhỏ vậy, nghèo vậy, hiền lành như vậy, nhưng Quảng Đức với tôi có nhiều kỷ niệmvô cùng. Ai cũng sợ đi Quảng Đức, chỉ có mình tôi, đại úy Hưởng, đại úy Nhơn là cóc cần vì chúng tôi đã có “bùa”. Chiều chiều, chúng tôi hay hay rủ rê anh em xách tàu bay qua Lâm Đồng nhậu nhẹt với thiếu tá Dũng hay lên Đà Lạt hay qua Ban Mê Thuột chơi. Quảng Đức là một quận ly hiền lành, dường như giặc cũng chê cái thành phố này cho đến hôm nay.
Lấy xong Bu Prăng, con cháu giặc Hồ còn chơi bạo, tính kéo luôn quân về vây hãm Quảng Đức. Thế là chúng tôi có nhiều việc làm.
Chiến dịch tái chiếm Bu Prăng, vào lúc căng thẳng nhất, đã có đến 6 phi hành đoàn L-19 túc trực ngày đêm để làm việc với một liên đoàn Biệt Động Quân, một trung đoàn của sư đoàn 23 bộ binh và chiến đoàn III xung kích LLĐB. Rất từ từ nhưng quân ta cũng chặt đứt được khúc đuôi của giặc, giải tỏa áp lực cho Quảng Đức đồng thời tiền gần trở lại Bu Prăng.
Tôi bay lên biệt phái cho Quảng Đức một thời gian thì một buổi trưa, vừa về đáp sau một phi vụ, tôi đang nằm ngủ trong căn nhà của biệt đội. Sáng đó, tôi bay sớm và bay lâu nên về nhà thì mệt nhoài. Tôi cũng không còn nhớ lúc ấy những phi hành đoàn khác đã bỏ đi đâu mà chỉ còn có mình tôi ở lại biệt đội. Tôi nghĩ họ chở nhau đi ăn cơm.
Đang nằm thiu thiu thì bỗng có một chiếc xe díp nhà binh phóng như bay rồi thắng kít ngay trước cửa biệt đội. Bụi đỏ tung mù trời phủ mờ chiếc xe díp và hình ảnh mấy ông mặc áo rằn ri không rõ lon lá đang phóng xuống chạy như bay vào. Biệt đội Quảng Đức chúng tôi trú ngụ trong một căn nhà xây xi-măng. Từ đầu tới đuổi căn nhà, chúng tôi kê đúng 12 cái giường bố sắp thẳng băng sát cạnh nhau như trong một cái bệnh viện. Giữa nhà là một chiếc bàn con và cái điện thoại để liên lạc với trung tâm hành quân tiểu khu và sĩ quan liên lạc không quân. Chiếc bàn con này coi vậy mà làm được nhiều việc. Nó vừa là nơi họp hành quân, nơi ăn uống, nơi đánh bài và dĩ nhiên, cũng là bàn rượu khi rỗi rảnh. Giường tôi nằm khá xa phía trong.
“Mẹ, lại có chuyện rồi, thế là mất tiêu buổi ngủ trưa,” tôi vừa cằn nhằn vừa trở mình nhìn ra, chỉ hy vọng mấy ông mặc đồ rằn ri đổi hướng khác, không bước vào đây.
Nhưng họ không đổi hướng, cứ xăm xăm đi vào. Chẳng biết mấy ông muốn gì đây mà bộ tịch coi ghê quá. Tôi liền dựng người trở dậy, thọc vội cái áo bay vào người, kéo xong phẹc ma tuya thì mấy ông rằn ri cũng vừa tới trước mặt. Thì ra toàn là những sĩ quan của Sở Liên lạc Nha Kỹ Thuật, phù hiệu đỏ chói của Tổng Tham Mưu bên tay trái và huy hiệu chiếc dù có con cọp hay con beo gì đó trước ngực. Theo trí nhớ của tôi thì có một ông trung úy và hai ông đại úy, mặt mày ai nấy coi có vẻ nghiêm trọng vô cùng.
Tôi chưa kịp đưa tay chào mấy ông sĩ quan lớn lon hơn tôi theo đúng lễ nghi quân cách, chưa kịp nói gì thì một ông đại úy hỏi:
-…. Em là phi hành đoàn duy nhất ở đây?
Theo thói quen học được từ những ngày còn ở trường bộ binh Thủ Đức, tôi cung tay chào mấy quan Lôi Hổ:
-Dạ đúng đại úy, không biết mấy ông kia đi đâu hết rồi. Đại úy cần gặp ai?
Nghe như thế thì khuôn mặt mấy người sĩ quan Nha Kỹ Thuật thoáng lên vẻ thất vọng. Tôi kéo mấy cái ghế sắt:
-Mời đại úy và quí vị ngồi chơi, tôi xin phép đi sỏ đôi giầy.
Họ cám ơn tôi rồi cùng nhau xầm xì to nhỏ gì đó. Tôi bình thản ngồi xuống giường mang giày vớ. Mặc áo nhà binh lâu, tôi đã quá quen với những bất ngờ, những bấc trắc của cuộc chiến nên đã học được cái tính phớt tỉnh Ăng Lê. Chuyện gì xảy ra, tin tức gì cũng chẳng làm cho tôi bận tâm. Thêm vào đó, hồi đó tôi đang trở chứng, muốn tìm hiểu và đang đọc các loại sách nói về Kinh Dịch, về luật Âm Dương của tạo hóa nên trở nên là đà, mặt mày lúc nào cũng đăm chiêu tư lự và chán đời như ông Trang Tử ngày xưa.
Mang giày xong, tôi ra kéo ghế ngồi giữa mấy ông sĩ quan Nha Kỹ Thuật, châm lửa một điếu thuốc:
-Nếu đại úy muốn kiếm ông biệt đội trưởng, đại úy có thể dùng điện thoại đây gọi về cho trung tâm hành quân tiểu khu. Mấy ông “Alo” (sĩ quan liên lạc không quân) chắc biết ổng ở đâu.
Một ông đại úy lên tiếng sau một vài giây ngần ngừ:
-Chúng tôi có một việc cần anh giúp đỡ, nếu anh giúp được chúng tôi cám ơn anh vô cùng.
Lời nói khẩn thiết và chậm rãi của vị sĩ quan Nha Kỹ Thuật làm cho tôi ngạc nhiên. Một thằng thiếu úy không quân hạng bét như tôi thì giúp gì được mấy ông rằn ri thứ dữ này ? Nhưng cứ nhìn điệu bộ và cách ăn nói thì mấy ông này giữa trưa lái xe tới đây không phải để đùa dai với tôi. Trong một giây phút, tôi cảm thấy khoái chí vì mình tự nhiên được trở nên một nhân vật quan trọng.
Tôi nhíu mày:
-Đại úy cần gì, xin đại úy cứ cho biết…
Người sĩ quan Nha Kỹ Thuật nhìn thật sâu vào mắt tôi, nói chậm rãi và bằng tất cả những sự thống thiết của một con người:
-Một toán Lôi Hổ của tôi thả xuống lần trước đã bị Việt Cộng phát hiện, bị bao vây và tấn công mấy ngày. Tụi nó đã chạy thoát được nhưng đang bị phân tán mỗi người một nơi và lạc trong rừng. Tôi muốn nhờ… thiếu úy, muốn nhờ… em giúp tôi bay lên để gom chúng nó về một LZ an toàn.
Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tưởng gì chứ đi bay kiếm Lôi Hổ bị lạc và chọn bãi đáp thì quá thường đối với tôi. Tôi chịu nhất là cái tài chiếu kiếng của mấy ông này. Nhiều khi tôi bay rất cao, giữa rừng già thăm thẳm mênh mông mà mấy ông chỉ cần chiếu một phát là tôi nhìn thấy ngay. Chà bù với mấy ông bộ binh, nhiều khi chiếu cả ngày cũng chẳng thấy đâu. Nhưng một phi vụ đơn giản như thế thì tại sao lại khổ sở vào đây để kiếm tôi?
Tôi nói ngay:
-Có gì đâu đại úy, đại úy cứ việc gọi về trung tâm hành quân, request một phi vụ là tôi cất cánh liền.
Ông đại úy lắc đầu:
-Nếu xin được thì tôi đâu có đến đây kiếm anh.
Thì ra vậy. Số là, không quân chúng tôi khi được biệt phái đi bay yểm trợ cho các đơn vị bạn, mỗi ngày trung tâm liên lạc hành quân đều thông báo cho bộ tư lệnh chiến trường biết có bao nhiêu tàu khả dụng, bao nhiêu phi vụ có thể cất cánh được. Số phi vụ này được tư lệnh chiến trường, tùy theo mức độ cần thiết và nhu cầu, chia ra cho các đơn vị tham chiến. Khi một đơn vị cần phi cơ yểm trợ, họ chỉ việc gọi cho trung tâm liên lạc hành quân. Nơi này, tùy theo số lượng phi vụ đã được cấp phát trước, sẽ cho chúng tôi cất cánh để làm việc với họ. Tôi không tò mò hỏi thêm nhưng biết chắc có lẽ đơn vị Lôi Hổ này đã xài hết những phi vụ của mình, hoặc vì tình trạng thiếu thốn máy bay, không xin được một phi vụ nào cả, đành phải đau xót nhìn những đứa con của mình bị rượt đuổi giữa rừng già.
Đối với chúng tôi, ngoài những phi vụ huấn luyện hay bay thử phi cơ, cất cánh không có phi vụ lệnh đàng hoàng là sẽ bị ở tù hoặc đưa ra tòa án quân sự. Thân bại danh liệt là cái chắc. Thật ra, trong suốt cuộc đời bay bổng, chúng tôi cũng đã nhiều lần cất cánh lậu để đi ân nhậu hay chở bạn bè đi chơi nhưng chúng tôi đều luôn luôn có phép ngầm của trung tâm liên lạc hành quân. Nhiều khi, những người hành khách mà chúng tôi chở đi chẳng ai khác hơn là ông sĩ quan truỏng phòng liên lạc hành quân dù đi chơi hoặc bạn bè của ông ta. Nhưng đó là chuyện thời bình, khi không có việc gì để làm. Điềm quan trọng là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chúng tôi không bao giờ dám cất cánh lậu mà trung tâm liên lạc hành quân không biết. Hôm nay, giữa lúc khói lửa ngút trời như thế này, không ai dám nghỉ đến việc xách tàu đi đâu.
Tôi đã tính lắc đầu. Chuyện của thiên hạ thì mắc mớ gì tới mình mà bày đặt. Hơn nữa, cái tiếng tăm của tôi trong phi đoàn lúc ấy đã quá nổi. Không phải nổi nhờ những cái hay mà toàn là những chuyện bê bối và “gian ác.”
Tết vừa rồi, ngày mùng ba, tôi bay mấy trăm dặm đường về Ban Mê Thuột để chúc Tết và nói chuyện đầu năm với thân phụ. Sau một ly trà nóng, ông đã bảo tôi bằng một giọng buồn buồn và mệt mõi rằng: “Con đã lớn tuổi, phải sửa lại tính tình để lo cho tương lai, không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm.” Cái chết của thằng em ruột tôi, trung sĩ Lê Xuân Bích tại trận Tân Cảnh năm 1972 đã đem tang tóc vào nhà tôi và làm cho ông buồn bã vô cùng. Tôi nhớ, khi em tôi vừa ra trường Đồng Đế, về sư đoàn 23 bộ binh, nhiều người đã bảo ông sao không chạy chọt cho nó được một chỗ ấm thân. Thân phụ nghiêm mặt trả lời: “Nếu ai cũng lo chạy chọt như mình thì chính phủ lấy người đâu mà đánh giặc. Hơn nữa, nhà nghèo quá, tiền ăn còn không có thì lấy tiền đâu ra mà chạy chọt.” Thật là một lời nói đau buồn nhưng không phải không có lý. Hình như cái chết của thằng con trai đã ám ảnh ông. Thân phụ không còn như xưa nữa. Nghĩ đến thân phụ tuổi đã cao, lại khổ cực cả một đời vì con cái nên tôi có thành tâm hối cải, tính tu thân để trở thành một “cán bộ nồng cốt của phi đoàn” như lời dạy dỗ của phi đoàn trưởng. Nhưng số tôi làm như không có… căn tu cho nên lâu lâu cứ bị dây dưa vào những chuyện đâu đâu.
Tôi suy nghĩ sâu hơn nữa. Nhìn những vị sĩ quan của Nha Kỹ Thuật ngồi trước mặt, lòng tôi bỗng tự dưng dâng lên một niềm kính phục kỳ lạ. Giữa lúc có nhiều ông sĩ quan cao cấp đem bán cả gạo, cả súng đạn cho giặc thì những con người Việt Nam này, những sĩ quan trẻ tuổi này, mặt mày lo âu, mắt ai nấy ngầu đỏ vì thiếu ngủ đang ngồi chờ sự quyết định của tôi. Nếu tôi đồng ý, các vị sẽ cứu được những người lính của mình, những người tuy không phải bà con ruột thịt nhưng tình chiến hữu còn khắng khít còn cao hơn máu mủ ruột thịt. Nếu tôi từ chối, chẳng làm gì tôi cả và tôi sẽ không bị lôi thôi rắc rối với phi đoàn hay pháp luật. Nhưng nếu làm vậy, tôi biết những người lính Lôi Hổ anh dũng kia có thể bị giặc bắt hay tàn sát và lương tâm tôi, cái lương tâm của một sĩ quan QLVNCH, dù mang một cấp bậc rất nhỏ là thiếu úy sẽ dằn vặt sâu xé tôi suốt đời.
Tôi lại nghĩ đến những lần cất cánh trái phép để đi chơi bời, đi ăn nhậu. Xăng chính phủ, tàu bay chính phủ, tôi sử dụng trái phép như thế chẳng khác gì tôi phạm tội tham nhủng, ăn cắp của công. Tôi chửi bới người khác tham nhủng, còn tôi, ai sẽ chửi bới tôi? Lớn ăn theo lớn, nhỏ phá theo nhỏ, còn gì là cái gia tài của quốc gia?
Ông đại úy Nha Kỹ Thuật mời tôi điếu thuốc. Ông cười… cầu tài. Tôi thấy nụ cười của người đàn anh trong quân đội sao vừa buồn mà lại vừa oai dũng, vừa chịu đựng, lại vừa quyết liệt. Ông nói, giọng như người anh khuyên bảo đứa em trai:
-Thiếu úy cứ tính đi. Anh em chúng tôi không muốn làm cho thiếu úy kẹt. Nhưng nếu giúp được chúng tôi, chúng tôi sẽ cám ơn vô cùng…
Vì trách nhiệm, vì tình chiến hữu sắc son, vì muốn cứu mấy người lính của ông ta, một vị đại úy oai hùng của Nha Kỹ Thuật đã mời thuốc lá và cười cầu tài với một chú thiếu úy oắt con như tôi. Tôi bỗng thấy trái tim mình như rướm máu, lòng dạ xót xa bồi hồi. Tự nhiên, tôi thấy thương quân đội tôi, dân tộc tôi vô cùng. Ngày nào quân đội tôi còn những sĩ quan như thế này, ngày đó chúng tôi và những người đàn em của ông ta còn có lý do và để hãnh diện chiến đấu. Quân đội tôi, cái quân đội nghèo nàn bắt đầu không phải từ con số không mà từ con số trừ to lớn bởi vì đã bị bóp méo coi thường ngay từ những giây phút đầu tiên. Bọn CS đã lòe được thiên hạ để mang cái võ “Quân đội Nhân dân” bên ngoài. Chúng tôi, những chiến sĩ của nhân dân thật sự thì lại mang tiếng là lính hậu thân của quân đội thuộc địa. Hàng bao nhiêu năm qua, bạn cũng như thù, đã đem quân đội tôi ra mà nhục mạ, bêu xấu, hành hạ đủ điều.
Tôi không phủ nhận quân đội tôi đã có những thằng tướng hèn, tướng phản bội, tướng nối giáo cho giặc. Nhưng, trên cõi đời này, có cái gì là tuyệt đối? Những bê bối, những xấu xa, quân đội nào chả có đâu phải chỉ riêng mình quân đội tôi.
Chính những người sĩ quan của một binh chủng hung hãn nhất quân lực ngồi trước mặt tôi ngày hôm nay làm cho tôi nghẹn ngào mà hãnh diện, vui mà buồn. Tôi nhớ đến cái chết của thằng em tôi tại chiến trường Tân Cảnh ngập máu năm nào. Mỗi lần nghĩ về em, lòng tôi như bị ai đâm lút cán một lưỡi dao. Tôi lại nhớ đến lời nói của thân phụ: “Không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm.” Trách nhiệm của tôi, một sĩ quan xuất thân trường bộ binh Thủ Đức, một phi công của QLVNCH trong hoàn cảnh này là gì? Là bằng mọi cách, phải cứu cho bằng được những chiến sĩ Lôi Hổ can trường kia. Tôi cũng đã suy nghĩ đến những hậu quả có thể xảy ra cho tôi. Đi tù, “cát xê ga lông”, ra tòa án quân sự vân vân. Và cũng có thể, sẽ chẳng có gì xảy ra cho tôi hết. “Không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm” câu nói của thân phụ lại trở về ám ảnh lấy tôi.
Tôi gật đầu, mặt đanh lại với câu nói quyết định:
-Được, tôi sẽ cất cánh mà khỏi cần phi vụ lệnh. Đại úy cho người đi bay với tôi.
Ba khuôn mặt đang buồn thảm bỗng trở nên sáng ngời như những vì sao. Vị đại úy đứng dậy, đưa hai tay ra nắm lấy vai tôi, giọng hớn hở như đứa con nít được quà:
-Em… em bay cho tụi tôi thật à. Thế thì quý hóa quá, hay quá, tốt quá. Thế mới là huynh đệ chi binh chứ. Mà cất cánh … bất ngờ như vậy có sao không? Có kẹt gì cho em không?
Đã lỡ giúp, tôi đành giúp cho trọn:
-Không sao đâu đại úy, cùng lắm thì bị phi đoàn trưởng xài xể chút thôi.
Tôi đứng dậy ra đầu giường để chuẩn bị dụng cụ phi hành. Khi thấy tôi lôi cây AK-47 từ trong góc giường ra, một người hỏi:
-Anh thích xài AK ư?
Tôi hãnh diện khoe:
-Dạ, quà của trung tá Xuân, tham mưu trưởng quân đoàn cho đấy.
Tôi vốn là một thằng ngược đời. Thằng Hiệp, bạn thân nhất có lần bảo tôi: “Con người mày nó kỳ lạ làm sao ấy. Mày luôn luôn phải có tí gì khác người thì ăn cơm mới thấy ngon. Thiên hạ đeo súng ở thắt lưng thì mày đeo ở nách, đeo lon ở vai thì mày đeo ở cổ, xài M-16 thì mày lại thủ AK coi cứ như một thằng du kích Việt Cộng. Anh em khoái đánh bài thì mày tối ngày cứ ôm mấy cuốn sách mà đọc, thích nói chuyện chơi bời thì mày lại giảng Kinh Dịch, bàn chuyện tử vi tướng số hoang đường và triết lý lẩm cẩm. Không biết chừng nào mày mới khá được như chúng tao.”
Tôi phóng lên chiếc xe díp của Nha Kỹ Thuật. Ông đại úy lái xe, tôi leo ra phía sau ngồi nhưng ông ta nhất định không chịu, bắt tôi ngồi ghế trước với ông. Từ chối không được, tôi đành phải ngồi ở ghế trước. Ông đại úy và ông trung úy kia ngồi sau. Ông đại úy ngồi sau khom tới trước, đưa cho tôi coi tấm bản đồ với những khoanh màu xanh màu đỏ đủ thứ và bắt đầu briefing. Đã bay vùng này mấy năm nên tôi chẳng lạ gì, nhìn qua là tôi nhớ liền. Sau vài phút đồng hồ, tôi đưa một ngón tay lên trời ra dấu nhận và hiểu.
Xe phóng thẳng lên phi trường Quảng Đức là một quả đồi nhỏ. Tôi lên tàu quay máy, chở ông đại úy bay tới vùng làm việc. Chừng 2 tiếng đồng hồ sau tôi đem tàu về đáp. Cả tôi và vị sĩ quan Nha Kỹ Thuật hả hê sung sướng vì phi vụ coi như thành công mỹ mãn. Ông ta đã kiếm được hết mấy đứa con đi lạc và gom họ hướng về một LZ an toàn. Ngày mai sẽ có một hợp đoàn trực thăng lên bốc họ về.
Di chuyển tàu về tới bến đậu, tôi loáng thoáng trông thấy mấy cái áo bay nhấp nhô ở đàng xa. Một dấu hiệu không tốt. “ĐM lại có chuyện rồi”, tôi lẩm bẩm. Biết thế nhưng giờ phút này không phải là giờ phút để hối hận. Muốn ra sao thì ra, tôi cóc cần.
Tắt máy xong, tôi tháo mũ bay, chụp cây AK và leo xuống tàu, bình thản, tự tín. Chiếc xe díp của Nha Kỹ Thuật ào tới như một cơn lốc. Vị đại úy Nha Kỹ Thuật nọ bước xuống, thân mật đửa tay cầm lấy nón bay của tôi:
-Để tôi đưa em về, mình ghé qua tiệm cơm kiếm chút gì bỏ bụng. Cám ơn em rất nhiều. Tối nay anh em chúng tôi ngủ yên giấc được rồi.
Khuôn mặt ông ta rạng rỡ dưới ánh nắng vàng của chiều cao nguyên Quảng Đức. Tôi đứng yên, hất đầu về phía có nhóm người đang mặc áo bay:
-Cám ơn đại úy nhưng chắc tôi phải cất cánh phi vụ kế tiếp, hình như anh em đang chờ.
Chiến trường đang ở hồi khốc liệt, chẳng ai có thì giờ cà kê lẩm cẩm, chúng tôi vội vã chia tay nhau. Mỗi người trong bọn họ siết chặt tay tôi, nói những lời cám ơn chân tình. Đáp xuống từ một độ cao cho nên hai lỗ tai tôi còn hơi bị ù, nghe được tiếng còn tiếng mất. Tôi không nghe được hết nhưng tôi nhìn thấy hết trong ánh mắt của họ vẻ trỉu mến, biết ơn và cảm phục. Trước khi leo lên xe díp, vị đại úy nọ bảo tôi:
-Tôi hy vọng không có gì rắc rối cho em. Tôi có nói chuyện với ông biệt đội trưởng của em, ổng bảo đối với ổng không có gì trở ngại. Nhưng nếu có gì, cứ gọi cho tôi, tôi sẽ nhờ chiến đoàn can thiệp. Thôi cám ơn em lần nữa nhé. Ráng giữ thân mình, anh em báo cáo Việt Cộng có đem hoả tiễn tầm nhiệt SA-7 về đây từ hồi đầu chiến dịch đó.
Tôi vẫy tay chào. Chiếc xe lăn bánh đi, nhưng được vào vòng bỗng ngừng lại và de lui đến trước mặt tôi. Ông đại úy hớn hở:
-Vội quá nên quên, tôi có mấy cây AK còn mới tinh, ngày mai tôi sẽ ghé qua biệt đội tặng em một cây làm kỹ niệm.
Tôi mỉm cười cám ơn ông đại úy. Thật ra thì lúc ấy tôi đã chán AK rồi, nặng bỏ mẹ, đang tính bán cây AK đang cầm để mua chai rượu. Tôi nghĩ giá ngài đại úy tặng tôi một chai rượu thì tốt hơn nhưng không dám nói ra. Chiếc xe díp lại lăn bánh. Lần này chiếc xe mất hút giữa đám bụi mù.
Tôi tà tà lê từng bước một đến chỗ bãi đổ xăng của biệt đội. Đại úy Nhơn đã “ghia ghiếc” (một danh từ chỉ phi công đã trang bị phi hành đầy đủ) xong, đang chờ đợi tôi.
Biết thân phận mình, tôi liền biểu diễn một nụ cười cầu tài để “do thám tình hình.” Đại úy Nhơn cười theo, rất thông cảm, rất chân thật. Như thế là quá tốt. Xếp “địa phương” mà thông cảm được như thế thì tôi đỡ được một gánh nặng. Đại úy Nhơn cũng chẳng hỏi tôi đi bay đâu mới về. Đúng hơn, cả hai chẳng nói gì nhiều với nhau. Ông đại úy chỉ bảo cất cánh lẹ lên để còn bàn giao với chiếc L-19 đang làm việc trên vùng.
Suốt phi vụ, ngài đại úy chẳng nói gì về chuyện cất cánh vừa rồi. Tôi cũng lờ luôn. Trước khi về đáp, ngài đại úy chỉ để cập vấn đề của tôi hơi vắn tắt:
-Chuyện đi bay của chú anh coi như không biết. Anh đồng ý chuyện chú làm. Chỉ sợ kẹt là kẹt phi đoàn thôi. Chú biết tính ông Tám mà, ổng biết được thì thế nào cũng có chuyện.
Và phi đoàn trưởng của tôi đã biết được chuyện này ngay cả trước khi tôi về đáp với đại úy Nhơn. Biết bằng cách nào tôi không biết và cũng chẳng cần tìm hiểu. Xã hội nào, thời đại nào, tập thể nào cũng luôn luôn có những con ký sinh trùng thối tha sống bám vào máu mủ của đồng loại bằng cách báo cáo vặt để kiếm tí điểm, tí ân huệ dư thừa. Cách hay nhất để sống là đừng thèm để ý hay biết đến bọn này. Biết chỉ làm cho mình bực mình.
Ngày hôm đó, tôi bay tổng cộng hơn 10 tiếng đồng hồ nên về đến biệt đội là phóng lên giường ngủ như chết, quên cả ăn uống.
Sáng hôm sau, lệnh từ Nha Trang gọi về: “Không cho thiếu úy Nhị đi đâu hết. Bảo hắn chuẩn bị hành lý có tàu lên chở về phi đoàn.” Đại úy Nhơn đích thân nhận chỉ thị này sau khi bị xài xể thậm tệ trong điện thoại. Lúc ấy trời còn tối mịt, tôi đang nằm trên giường thưởng thức điếu thuốc Capstan đầu tiên trong ngày. Tôi chỉ nghe ngài đại úy đáp những câu vắn tắt như: “Tôi không biết trung tá,” và “Làm sao tôi biết được trung tá?”
Chừng đó thôi cũng giúp tôi hiểu được cái số phận của mình. Gác điện thoại cái cụp, đại úy Nhơn nổi máu giang hồ, đứng giữa phòng chửi đổng cho tất cả biệt đội nghe:
-ĐM thằng C… hèn hạ khốn nạn nào báo cáo thì phải báo cáo cho đúng. Chuyện thằng Nhị nó làm thì tao biết C… gì, sao lại lôi cả tao vào? ĐM tao mà biết được thằng C… chó má đó thì tao vặn cổ.
Đã biết tính tình của đại úy Nhơn, chẳng có thằng C… nào dám mở miệng. Tiếng quát tháo của ông đại úy phi công lúc trời chưa sáng như vang dội cả núi rừng Quảng Đức. Tôi hút xong điếu thuốc, nằm im nhìn lên khoảng tối âm u trên trần nhà. Âm u như đất nước tôi, dân tộc tôi. Một lần nữa, tôi lại làm phiền đại úy Nhơn. Ông đại úy này vào tôi có nhiều kỷ niệmlạ lùng tôi sẽ đề cập tới trong một lúc khác.
Chửi bới một lúc xong, ngài đại úy đến bên giường tôi, kêu ra ngoài nói chuyện.
Mặt trời vùng cao nguyên hôm ấy dậy khá trễ, gần sáu giờ mà vẫn chưa chịu ló mặt ra. Tôi và đại úy Nhơn đứng hút thuốc ngoài biệt đội, trong bóng tối gần tàn của rạng đông, trên một ngọn đồi, nhìn xéo xéo xuống thung lủng mờ mờ phía trước. Gió cao nguyên thổi lồng lộng, hơi lành lạnh làm tăng thêm giá trị của hơi thuốc lá buổi sáng sớm. Giòng sông Đắp La dưới chân đồi, tuy không nhìn thấy nhưng tiếng nước chảy xiết bao trùm cả không gian. Trong một thoáng, tôi cảm thấy yêu cái cuộc đời “tang bồng hồ thỉ” của người phi công. Nay đây mai đó trên khắp nẻo quê hương, tôi thấy mình càng ngày càng gắn bó hơn với cái nơi chốn mà người ta gọi là “Tổ quốc.”
Khuôn mặt đại úy Nhơn có dấu buồn phiền mệt mõi khi đầu điếu thuốc được rít lên:
-Còn phải nói, tù là cái chắc rồi thằng em. Nhưng tù cái không đáng tù mới là đáng nói.
Tôi chẳng thấy buồn phiền gì cả, lính mà:
-Em quen rồi anh Nhơn. Ông đại úy Tới coi tướng em nói số mày không đeo nổi cái long trung úy. Thiếu úy là “Danh phận tột đỉnh” rồi.
Đại úy Nhơn bỗng bật cười:
-Mày chưa bị xuống Chuẩn úy là may. Nhiều khi tao tự hỏi tại sao quân đội lại để cho một thằng ba gai như mày đeo lon thiếu úy, những thằng ngổ nghịch như tao đeo lon đại úy.
Cả hai chúng tôi cùng cười. Tiếng cười như che lấp cả núi rừng chung quanh. Khi chúng tôi quay vào, vừng thái dương vừa từ từ ló dạng. Cả không gian, cả bầu trời bừng lên một sức sống mãnh liệt. Rạng đông ở quê hương mình đẹp đẽ và hùng dũng làm sao.
Sáng hôm đó, tôi về lại Nha Trang. Trước khi đi, tôi cũng không gọi điện thoại cho mấy ông Lôi Hổ để từ giã. Tôi biết họ rất tốt nhưng sẽ chẳng giúp gì được cho tôi. Mỗi quân chủng đều có một đường lối làm việc riêng. Hơn nữa, hôm qua trước khi cất cánh tôi đã suy nghĩ kỹ và sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì sẽ xảy đến cho mình…
Khi leo lên tàu giã từ Quảng Đức, tôi vẫy tay chào đại úy Nhơn và chẳng hề cảm thấy hối hận chút nào mà trái lại, còn cảm thấy hãnh diện nữa. Tôi đã sống như một người có trách nhiệm như thân phụ tôi đã dạy.
Vào trình diện ông Tám, tôi tỉnh bơ đưa tay lên chào mà không hề thấy sợ sệt hay mặc cảm gì cả. Ông mời tôi ngồi, nói chuyện với tôi bằng một giọng nhỏ nhẹ làm tôi hơi ngạc nhiên. Ông hỏi tôi chuyện gì xảy ra. Tôi kể lại mọi chuyện rồi kết luận:
-Thưa thầy, (tục lệ của phi đoàn quan sát gọi người dạy bay mình là thày), chính tôi đề nghị bay giúp họ. Họ không có ép hay năn nỉ gì cả. Tôi thấy cần bay phi vụ đó nên tôi bay. Đơn giản như thế thôi. Bây giờ thì tôi chấp nhận mọi hình phạt của thầy.
Tôi nhìn thằng vào mặt ông Tám mà nói như thế. Lần đầu tiên, tôi thấy ông có vẻ hơi bối rối. Nhưng ông nắm được thế thượng phong ngay:
-Chuyện anh làm có thể… đúng. Nhưng anh nghĩ coi, quân đội sẽ như thế nào nếu ai muốn làm gì thì làm. Phi công muốn cất cánh thì cất cánh, lính thiết giáp muốn lái xe tăng đi đâu thì lái vân vân. Nếu ai cũng như thế thì làm sao có thể điều hành và chỉ huy một tập thể to lớn như quân đội được…
Lại bài mo-ran cũ rích mà lúc ấy tôi chẳng còn muốn nghe nữa. Dĩ nhiên là ông ta nói đúng, nhưng bây giờ tôi không muốn ngồi đây để nghe giảng hay cải lý với ông ta. Mẹ, trước sau gì cũng đi tù, tôi muốn đi tù càng sớm càng tốt. Tôi cảm thấy mệt mõi. Sau hàng trăm phi vụ hành quân ở Quảng Đức gần tháng qua, tôi muốn nghỉ ngơi, muốn ngủ một giấc thật dài dù là ở Cải hối Thất hay ở đâu. Ít nhất, ở trong tù Nha Trang, tôi không sợ bị ăn đạn pháo kích của giặc. Tự nhiên, tôi đâm liều:
-Trước sau gì tôi cũng đi tù, thầy cho tôi đi sớm chừng nào tốt chừng đó. Tôi mệt mõi quá rồi, không có thì giờ ngồi đây để nghe giảng…
Trung tá Tám như khựng lại sau câu nói liều lỉnh của tôi. Phi đoàn tôi chưa có ai nói chuyện với xếp lớn kiểu này. Nhưng con người có sức chịu đựng của nó.
Suy nghĩ một lúc, ông nói:
-Được, tôi sẽ cho anh đi tù…
Câu tiếp theo sau làm cho tôi giật nẩy mình:
-Tôi đã nói anh là một người có tâm hồn và tài năng. Tôi đã không lầm.
Tôi chưa biết nói gì thì ông tiếp:
-Nói thật với anh rằng hôm qua nếu tôi là anh, thì tôi cũng làm như anh mà thôi. Anh xứng đáng là một phi công tài giỏi của Không Quân. Nhưng, với cương vị là phi đoàn trưởng của anh, tôi phải phạt anh. Phạt nhưng rất phục.
“Phục cái kiểu … mẹ gì lại bắt tôi đi nhốt,” tôi nói với lòng mình như thế và đứng lên đi ra, chẳng muốn nói gì thêm nữa.
Ra khỏi phi đoàn, tôi leo lên chiếc xe díp của Quân Cảnh đã đợi sẵn bên ngoài. Ngồi trên xe trực chỉ Cải Hối Thất sư đoàn II Không Quân, tôi lẩm bẩm: “Mẹ, lại những chiếc xe díp…”
Sáng hôm sau, tôi được thả ra kèm một sự vụ lệnh đi phép 5 ngày…
Đó là lần thứ tư và cũng là lần ủ tờ cuối cùng của tôi. Nhưng như đã nói, lần này, khác hơn những lần trước, tôi lừng lửng bước vào Cái Hối Thất, đầu ngẩng lên cao, lòng cảm thấy sung sướng, không hề hối hận, không chút gì buồn phiền…
Đó là một lần rất ít trong cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường ngắn ngủi của tôi, tôi cảm thấy đã làm một việc gì thật sự cho quê hương đất nước. Nếu phải bắt đầu làm lại từ đầu, tôi cũng sẽ không ngần ngại làm y như cũ.
Ngày hôm sau, tôi cũng quên không gọi lên biệt đội xem có ai tặng tôi cây AK không. Và tôi cũng chẳng bao giờ có dịp gặp lại vị đại úy Nha Kỹ Thuật tận tâm nọ…
Mười mấy năm sau trên đất khách, tôi hy vọng người đại úy ngày nọ của Nha Kỹ Thuật, nếu trời còn thương để cho đại úy không tự sát ngày 30 tháng 4, hay đã không bị kẻ thù giết chết trong các trại tù, và vượt biên được sang thế giới tự do này, nếu đọc được bài này, không hiểu đại úy còn có nhớ đến một buổi trưa ngút ngàn khỏi lửa ngày nào tại quận lỵ Quảng Đức quê mình? Tôi chẳng dám đòi cây AK đại úy đã hứa đâu, chỉ muốn tỏ một chút lòng ngưỡng mộ đối với đại úy, với anh em Nha Kỹ Thuật. Nếu đại úy đọc được những hàng chữ này, thì dù có cách trở xa xôi, dù tâm hồn đã héo hon tàn tạ sau mười mấy năm đau thương tủi nhục, xin hãy cùng tôi cất lên tiếng cười cho một chút quá khứ đáng hãnh diện. Chúng ta là những người trài sinh nhằm thời loạn, đành phải mặc áo nhà binh để bảo vệ non sông tổ quốc. Tôi biết đại úy cũng như tôi, chúng ta nào có thích gì cái trò chơi lửa đạn, mê gì cái bông mai vàng trên cổ áo với số lương tháng không bằng một ngày làm việc của anh tài xế taxi. Ngày xưa, trong cơn binh lửa, chúng ta là những kẻ bị thiệt thòi nhiều nhất. Ngày hôm nay, tàn cuộc binh đao, chúng ta lại là những kẻ bị trả thù tàn nhẫn nhất, bị hành hạ và lăng nhục nặng nề nhất. Hàng trăm thứ tội đều được đổ lên đầu chúng ta, gọi chúng ta bằng những danh bỉ ổi hèn hạ nhất như “nợ máu với nhân dân.” Nợ gì khi chúng ta đã bỏ hết tuổi thanh xuân quý giá đi nằm gai nếm mật, băng rừng lội suối, ngủ bờ ngủ bụi ngày này qua tháng nọ để gìn giữ cho xóm làng được yên vui, cho trẻ thơ được rộn rả tiếng cười, cho buổi họp chợ ban mai được yên lành trong nắng sớm, cho mái chùa cong cong còn được gióng lên những hồi chuông tín mộ, cho ngôi giáo đường thành phố còn nhịp nhàng vang lên những bản thánh ca nghe dịu dàng thanh thoát như những tiếng hát của thiên thần?
Nợ gì đây? Đồng bào miền Nam mình chắc cũng đã thừa biết ai nợ ai rồi…
Nếu còn có thể khóc được sau tiếng cười vừa rồi, thưa đại úy, xin hãy khóc lên không phải cho chúng ta nhưng cho hơn một triệu anh em đồng đội của chúng ta đã anh dũng ngã gục dưới cờ, chết thay cho cả dân tộc. Chính những sự hy sinh cao cả này của đồng đội mà chúng ta không thể để mất niềm tin. Chúng ta không được để những cái chết cao cả đó trở thành vô nghĩa. Chúng ta sẽ không bao giờ sao lãng cái sứ mạng mà tổ quốc và dân tộc Việt Nam đã long trọng giao phó: Ngày xưa là giữ gìn và bảo vệ non sông tổ quốc và bây giờ là quang phục lại quê hương. Theo Kinh Dịch, trong đại họa là cái mầm của đại phúc, trong tận cùng thống khổ là bắt đầu của thời đại an vui sung sướng. Chúng ta phải vững niềm tin. Chúng ta đều đã thật sự trưởng thành trong nước mắt, trong tủi nhục, trong đau thương thống khổ cùng với quê hương và dân tộc mình. Càng bị sĩ nhục, càng bị hành hạ, càng bị khinh bỉ, chúng ta càng trở thành những chiến sĩ, những cán bộ tài giỏi cần thiết cho công việc quang phục quê hương sau này…
Kính thưa quí vị,
Tôi vừa kể lại cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường của mình, rất chân thành, không dấu diếm những hèn mọn, không khoe khoang quá đáng những cái hay. Tôi có đủ can đảm của một người lính để chấp nhận mình là kẻ thua trận, xứng đáng bị lăng nhục, bị chê trách, bị chửi bới. Tôi không có gì nói để biện mình cho tôi cả. Bây giờ, mỗi lần nhìn thấy chim bay trên trời, lòng tôi cảm thấy đau xót và tiếc nuối vô cùng vô tận. Không phải tôi tiếc nuối những giây phút lồng lộng giữa trời xanh bát ngát vì bên Mỹ này, chỉ cần bỏ ra 25 đô la một giờ là tôi sẽ mướn được một chiếc phi cơ còn đẹp hơn chiếc L-19 của tôi ngày xưa nhiều, tha hồ và vung vít, tha hồ mà nhào lộn. Cũng không phải tôi tiếc nuối vì đã mất đi cái mác “Thiếu úy phi công” trong bộ đồ bay màu xanh da trời với cái khăn quàng màu trắng nơi cổ và cây Colt lủng lẳng bên hông. Tôi đau xót và tiếc nuối thật tình, lòng tôi héo hon phiền muộn vì biết mình đã phần nào chịu trách nhiệm trong việc làm mất đi cái vòm trời vô giá của tổ quốc mến yêu. Cho cái thuở xa xưa, dù đã được giáo dục đầy đủ, được quân đội cưng chiều ưu đãi, tôi đã ít khi nào biết hết lòng tận trung báo quốc. Cho cái tuổi trẻ yêu dấu đã âm thầm vĩnh biệt tôi ra đi mãi mãi không bao giờ trở lại. Và, thật sâu trong đáy trái tim rướm máu của một người phi công lưu lạc, tôi đau đớn tiếc thương cho những chiến sĩ của một quân đội kiêu hùng đã nằm xuống, chấp nhận chết thay cho cả dân tộc, trong đó có tôi.
Mỗi năm, vào độ Xuân về, khi cầm nén hương đứng trước bàn thờ tổ quốc, nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ uy nghiêm giữa hương khói ngút ngàn, hai hàng lệ của tôi cứ tuôn tràn ra mãi không sao cầm được. Tôi thấy hình bóng của một triệu người anh em đồng đội tôi, trong đó có em ruột tôi, có vợ chồng chú Bốn tôi chập chờn ẩn hiện sau lá cờ đó. Và năm nào cũng thế, tôi đều thề với trời đất rằng sẽ dùng hết quãng đời còn lại của mình để phụng sự tổ quốc. Tôi biết bây giờ mình đã già, thêm nợ thê nhi chồng chất, ắt khó mà cầm súng được. Nhưng tôi còn ngòi bút, còn lá phiếu để đi bầu, còn nhiều… tài vặt, và quan trọng hơn cả, tôi còn một ý chí sắt đá trong lòng mình.
Người ta bảo là chúng ta đã thua giặc không phải trên chiến trường ở Việt Nam mà tại Hoa Thịnh Đốn, vậy thì, với một triệu người Việt Nam di tản ở đây, tại sao chúng ta sẽ không thắng được chúng cũng ngay tại Hoa Thịnh Đốn này?
Để kết luận, tôi xin viết lại một đoạn trong bài diễn văn của Thủ tướng Winston Churchill đọc trước quốc hội Anh ngày 4 tháng 6 năm 1940, sau cuộc rút lui thảm bại và ô chục của quân đội Anh tại bờ biền Dunkirk. Trong những ngày lịch sử tăm tối đó, thật tăm tối và tràn đầy tủi nhục như chúng ta bây giờ, con sư tử lừng danh của Anh Quốc đã rống lên thảm thiết với hàng nước mắt chảy dài trên má như sau:
“We shall go on to the end. We shall fight on the seas and oceans… We shall defend our country, whatever the cost may be. We shall fight on the beaches, we shall fight on the landing ground, whe shall fight in the fields and in the streets, we shall fight in the hills; we shall not surrender. We shall never surrender…”
Hôm nay, trong những ngày tăm tối u buồn của quê hương Việt Nam, hỡi những người Việt Nam lưu lạc, xin hãy cùng tôi nói với lòng mình như thế và xin hãy giữ vững niềm tin…
Nỗi danh nhất không những trong Tiểu Đội thám báo mà cả trong Tiểu Đoàn 3/48 là Bé em M79, Bằng Lựu đạn và Tùng dao găm. Cây M79 trong tay Bé em khi đã nhã đạn thì không bao giờ trật mục tiêu dù xa hay gần. Đan nỗ thì làm bung mục tiêu, đạn cay thì đuổi địch chạy ra khỏi hầm, cho M16 đốn ngã. Bằng lựu đạn, không những chỉ vì mang gấp đôi, gấp ba số lựu đạn cơ hữu dành cho một người lính mà vì lúc ném lựu đạn, sau khi rút chốt, còn thả bung cả mỏ vịt vài giây rồi mới ném ra khỏi bàn tay, quả lựu đạn khi rơi xuống mục tiêu thì nỗ ngay, địch không thể có thì giờ chụp quả lựu đạn ném lại mình. Ít người dám làm như vậy bởi vì chỉ cần sơ xuất ném chậm một giây thì quả lựu đạn sẽ nỗ trong tay mình. Tùng dao găm còn ghê hơn. Cây dao găm là một thứ vũ khí thầm lặng, rất hữu ích cho người lính thám báo khi bò vào căn cứ địch. Địch ở xa hay gần, khi đã là mục tiêu củaTùng thì lưỡi dao găm không bao giờ khoan nhượng. Cả ba đều là binh nhì quân dịch, cánh tay không xâm chữ “sát địch” nhưng đánh giặc rất chì. Trong trận Long Tân, Núi đất Bà Rịa năm 1973, Tiểu Đội thám báo do Thượng sĩ Bé anh chỉ huy vô tình lọt vào ổ phục kích của địch. Địch không nỗ súng, ta không kịp kéo cò, đành chơi cận chiến, nhưng số ít thua số đông. Bé em, Bằng và Tùng đi đầu bị bắt sống. Thượng sĩ Bé thoát chạy về báo cáo. Tiểu Đoàn tức tốc mở ngay cuộc hành quân, không cần pháo binh dọn đường, lặng lẻ áp sát căn cứ địch mới đồng loạt nổ súng xung phong, giải cứu ba người. Cuộc hành quân chỉ được báo cáo lên Trung Đoàn, sau khi tiếng súng tấn công bắt đầu nỗ, quân lính đã tràn vào căn cứ địa VC. Địch không kịp trở tay, bỏ chạy tán loạn. Lúc này mới gọi pháo binh rượt theo. Đại Tá Trần Bá Thành, Trung Đoàn Trưởng ngạc nhiên, phán một câu” Các chú làm gì lẹ vậy!” Ba binh nhì Bé em, Bằng và Tùng cùng được thăng cấp hạ sĩ do chính Tư Lệnh Sư Đoàn Lê Minh Đảo và Tư Lệnh phó Quân Đoàn 3 Nguyễn Văn Hiếu đến gắn tại mặt trận. Lý do vì cả ba đã cùng loạt cận chiến, cướp vũ khí, chống lại địch khi thấy quân ta ào ạt xung phong tràn vào căn cứ địa Tiểu Đoàn 274 thuộc Trung đoàn 33 VC. Từ ngày đó ba người như hình với bóng, ở chiến trường cũng như khi về hậu cứ. Chiều ngày 8 tháng tư, Tiểu Đoàn hành quân từ ngã ba Hàm Tân Gia Rai lên hướng Bắc, Đông Bắc thì đụng địch mà theo suy đoán đây là quân tiền phương CSBV. Hai cánh quân đều đụng mạnh. Trung Úy Nguyễn Ngà, Đại Đội trưởng hy sinh. Toán thám báo của Thượng sĩ Bé lần theo dõi ba người đôi nón cối mang túi trên vai xuất hiện trên đường đi Gia Rai. Đêm đó địch yên lặng. Nửa khuya máy PCR 25 Tiểu đoàn sôi ò è như có tín hiệu của Tiểu Đội thám báo nhưng không có tiếng nói. Sáng sớm ngày 9 tháng tư, Tiểu Đoàn được lệnh rút về tăng cường chiến tuyến trong khi hàng ngàn đạn pháo của địch rơi xuống Xuân Lộc, mở đầu cuộc đại tấn công của quân đội CS.
Chiều ngày 9, Tiểu đội thám báo trở về nhưng thiếu mất toán ba hạ sĩ Bé em, Bằng và Tùng. Thượng sĩ Bé báo cáo đêm qua Tiểu đội phân tán thành ba toán ẩn mình vì khắp nơi trong rừng, địch di chuyển gần như suốt đêm, có cả tiếng động cơ xe tăng. Không dám gọi mà chỉ dùng hơi thở mà thôi, nhưng sau đó máy không phát sóng được. Đến sáng thì bị địch phát hiện. Các toán nỗ súng, zdọt lẹ, tìm đến điểm hẹn. Thượng sĩ Bé đợi đến chiều vẫn không thấy Bé em, Bằng và Tùng. Bé anh tin tưởng với khả năng của người lính thám báo, ba người hạ sĩ sẽ trở về trong nay mai. Còn tôi, tuy thương ba người lính đặc biệt của đơn vị nhưng thật tình xem chuyện thất lạc của họ là chuyện bình thường của người tham dự cuộc chiến. Những năm tháng ở tù cải tạo, tôi thật sự không còn nghĩ đến việc đó nữa. Năm 1984, sau khi ra tù, tình cảm thôi thúc khiến tôi về thăm Xuân Lộc. Về thăm Xuân Lôc như về thăm quê nhà, một quê nhà không có nhà cũ, vườn xưa, không có người thân thích chờ đợi, Nhưng thật không ngờ, không bao giờ nghĩ đến. Người đàn ông nhỏ con, một mắt đứng bên chiếc xe đạp thồ chờ khách ở bến xe đò lại là Bé em. – Xin lỗi, có phải là ông thầy, à à là anh không? Bé em hỏi. Tôi chìa tay ra. Bé em đưa cả hai tay chụp lấy. Chiếc xe đạp thồ cũ kỷ rơi ngã xuống. Cả hai chúng tôi nhìn chiếc xe ngã, cùng cười. – “Bằng và Tùng”? Tôi hỏi. Bé em không trả lời ngay mà hỏi lại tôi về Thượng sĩ chỉ huy và anh em Tiểu đội thám báo. Khi nghe tôi nói “Đầy đủ, chỉ có thiếu ba cậu”, gương mặt Bé em như bừng sáng với những giọt nước mắt đang ứa ra: “Trời ơi! Em biết mà, em ở đây bao năm chờ anh Bé, chờ bạn bè, bây giờ thì quá sung sướng ông thầy ơi”. Bé đưa mắt nhìn về khu đồn điền cao su, giọng buồn: “Bằng và Tùng không còn nữa từ những ngày đó anh à”. Một người đàn bà vừa kéo hai xách hàng xuống xe, quay mặt nhìn Bé em, gọi: “anh chột, cho tôi về Bảo Chánh”. Bé em gượng mỉm cười nhìn người đàn bà, nói: “Bà chị thông cảm, xin gọi người khác, hôm nay tui gặp bạn cũ, mừng quá, phải đi lai rai với nhau một lúc…” Thấy tôi nhìn vào con mắt chột của mình với vẻ ái ngại, Bé em cười: “Ở bến xe này, em có tên là anh chột xe thồ. Người gọi, người nghe đều thích”. Tôi ngồi lên xe đạp để Bé em chở về nhà. – Về nhà em lai rai rồi em chở ông thầy đi khắp Xuân Lộc thăm cảnh củ người xưa. À, mà ông thầy tìm thăm ai ở đây”? -Tự nhiên nhớ Xuân Lộc mà đi. Bây giờ bất ngờ gặp lại một người em. Tôi nói và thân mật vỗ vào lưng Bé em. Chiếc xe đạp nghiêng nghiêng như cùng xúc động với người đang cầm tay lái. Giọng Bé em run run: “Một thằng em chứ anh ba!” *. Bé em nói đúng. Một thằng em, thằng em trong đơn vị, gọi lên nghe thật tình cảm như gọi thằng em trong gia đình mình. Ghé qua nhà Bé em không đầy mươi lăm phút rồi lại chở nhau đi. Vùng đất này, xóm làng này, trước kia mình là người quen nhưng bây giờ là người lạ, bị để ý thì phiền. Mới ra tù, tờ giấy ra trại mang theo trong người dể bị thu hồi lắm. Bé em hiểu điều đó nên không ép tôi ngồi lâu. Đèo nhau trên xe đạp, chầm chậm đi khắp nơi trong thị trấn chiến trường cũ, tâm sự, nói cười không ai để ý. Nhớ lại đêm rút quân, bây giờ vẫn còn buồn. Đêm đó, đi bên cạnh, Thượng sĩ Bé anh nhiều lần yêu cầu tôi cho Tiểu Đội thám báo ở lại Xuân Lộc chờ đợi ba người trở về. Lúc đó tâm trạng tôi không yên. Tôi không nghĩ nhiều đến cuộc đụng độ với VC trước mặt vì đánh nhau là chuyện bình thường. Hình ảnh những người vợ lính, con lính đứng trước cổng trại Long Giao, căn cứ Trung Đoàn 48 mới làm mình suy nghĩ, đau lòng. Họ lặng lẻ nhìn theo đoàn quân trong đó có chồng, có cha mà không một lời than, tiếng khóc. Chồng đi, cha đi, vợ con ở lại trong trại gia binh. Đêm nay họ thế nào? Ngày mai họ ra sao?
Dường như tôi đã nói với Bé anh với giọng bực bội “Nếu được thì tôi cũng dẫn cả Tiểu đoàn quay lui”. Từ đó Bé anh im lặng. Tiểu đoàn sau khi về Long Bình, cùng Trung Đoàn lên Trãng Bom làm tuyến chận ngay bên này đường xe ủi đất đào sâu cắt ngang Quốc Lộ1 để làm cản trở xe tăng T54 của quân CSBV tiến về Biên Hòa. Ngày nào Bé anh và anh em trong Tiểu Đội thám báo cũng đứng bên này tuyến trông chờ bóng ba người bạn xuất hiên bên kia để nhào qua cứu, nhưng mãi đến ngày 27 tháng tư, TĐ lại một lần nữa theo lệnh rút lui. Bóng ba người hạ sĩ vẫn không thấy. Từ đó, xem như Bé em, Bằng và Tùng đã hy sinh. Còn ba người, trong thời gian đó, sau khi thất lạc đơn vị bị VC phát hiện, rượt theo “bắt cho được bọn trinh sát nguỵ”, như tiếng la lối om sòm của VC khắp nơi trong rừng. Ba người đã không thể tìm đến điểm hẹn. Bằng bị thương ở bả vai trái ngay từ khi bị VC phát hiện, bắn xối xả một loạt AK, may mà chỉ trúng một viên. Lúc đó Tùng ẩn mình sau một thân cây lớn, phóng dao găm cứu bạn. Còn Bé em cầm cây M79 trong tay nhưng không bắn được vì cây rừng chằn chịt. Ba ngày đầu, ba người len lỏi trong rừng, tìm nơi kín đáo ẩn núp, ban đêm lần mò về hướng Xuân Lộc nhưng cũng không đi được xa. Đối với người lính thám báo, vùng rừng đồi Gia Rai, Bảo Chánh không xa lạ gì, nhưng lúc này gần như nơi nào cũng có bóng dáng quân CS, mọi ngã vào Xuân Lộc đều bị lấp kín bằng xe tăng, lính bộ được nguỵ trang rất khéo léo. Bằng càng ngày càng kiệt sức vì máu ra nhiều và những cơn sốt hành hạ. Khi lần mò về được vùng đồn điền cao su, thấy nhiều quân trang, quân dụng của quân đội CS còn vươn vải khắp nơi, ba người mừng rỡ, tưởng quân địch bị thiệt hại nặng, đã bỏ đi, ai ngờ họ vẫn còn đào hầm hố trú ẩn trong vùng bị đạn bom tàn phá, chuản bị cho cuộc tấn công khác. Một lần nữa, ba người lại bị rượt đuổi. Bằng không đủ sức chạy trốn, dừng lại, tay phải cầm trái lựu đạn, đưa miệng cắn rút chốt, xoay người bung mõ vịt ném vào toán VC vừa rượt tới gần, tiếng lựu đạn nỗ ầm cùng với tràng AK. Xác bốn VC tung lên. Bằng cũng gục xuống. Còn lại Bé em và Tùng, nhanh nhẹn như sóc, băng mình từ gốc cao su này đến gốc khác tránh đạn địch và bắn trả khá chính xác. Thấy được một gò mối, hai người nhào đến, nép mình sau gò mối chống trả nhưng bốn bề bị địch bao vây, Khi Tùng trúng đạn cũng là lúc súng không còn viên đạn nào. Bé em còn trái lựu đạn cuối cùng, chưa kịp rút chốt thì bỗng nhiên một loạt đạn pháo rơi xuống ầm ầm, hất tung rừng cây cao su gãy đổ cùng với xác người. Bé em cũng bị hất tung nhưng may mắn sống sót, chạy thoát ra khỏi khu vực. Thấy một chiếc xe chở công nhân đồn điền bị trúng đạn pháo, có bốn người chết chắc đã vài ngày, Bé em thay đổi áo của mình bằng chiếc áo công nhân trên xác người tài xế; sau đó nhập vào đoàn người chạy loạn, phần nhiều là đàn bà, trẻ thơ đói, khát đang nằm la liệt bên cánh rừng cao su. Nhiều người mẹ lần mò đến các gốc cao su tìm nước trong những chiếc chén hứng mũ cao su cho con mình, nhưng chẳng ai được may mắn bởi vì những ngày qua không có mưa, còn mũ cao su trong chén thì đã đạc quánh. Bé em mệt mõi rã rời, nằm lăn, ngủ thiếp giữa đám người đang khóc lóc. Tiếng súng AK chát chúa đánh thức Bé em dậy. Khoảng mười mấy người đội nón cối đang chỉa súng hò hét, lùa đám đông vào một khu đất trống gần một xóm nhà bị đạn bom tàn phá. Một người chỉ huy lính CS tay cầm súng ngắn, tay chống nạnh, mặt hầm hầm la lối: “Bọn người này giúp bọn nguỵ gài mìn, gài bẩy giết hại cách mạng rồi bỏ chạy theo Nguỵ, phải bắn bỏ hết. Phải trả thù cho các đồng chí đã hy sinh. Hai người lính CS, mở cặp mắt trừng trừng nhìn đám đông, dò xét, tìm kiếm rồi kéo ra khoảng vài chục người có cả ông già, đàn bà dáng vẻ dân thành phố, tập trung trước hai cây súng đại liên. Bắn, bắn hết, giết hết! Tiếng hét ra lệnh bắn, tiếng đại liên thi nhau nỗ. Hàng loạt thân người đổ xuống, máu văng phủ đỏ màu xanh cỏ dại.
Bắn xong một loạt, như say máu, bọn CS không cần chọn lựa nữa mà chỉa súng đẩy đám đông ra từng nhóm. Toán thứ hai, thứ ba lần lượt bị đốn ngã. Bé em lọt vào toán thứ ba, đã khôn ngoan ngã xuống trước khi súng đại liên nhả đạn tới tấp. Những xác người ngã trên thân Bé, nhuộm máu. Không ai để ý vì tiếng khóc la của những người chờ phiên mình và tiếng rên rĩ của những người chưa chết hẳn. Rồi Bé không còn nghe tiếng súng nổ nữa. Bé cho rằng họ giết người đã chê chán, tạm ngừng để đem người chết đi chôn. Bé nghe có tiếng động cơ nỗ, bánh xe đang lăn về hướng mình. Bé suy tính không biết làm sao để thoát. Hay cứ để họ ném mình lên xe như một xác người rồi sẽ tính chứ chạy trốn lúc này chắc không thoát được. Bỗng có tiếng người la lối ra lệnh: “Không được bắn nữa. Tôi chịu trách nhiệm. Các đồng chí xem người nào còn sống thì tìm cách đưa người ta đi cứu. Nhiều người bị thương nặng cất tiếng kêu la. Những người dân chưa bị bắn theo lệnh lính CS đến kéo những kẻ còn sống, có cả Bé ra khỏi đống xác người. Bé không chết nhưng con mắt trái bị mù vì tay hay đầu người nào đó khi ngã xuống đã đánh mạnh vào hoặc bị cây đâm mà Bé trong cơn thập tử nhất sinh đã không còn cảm giác đau đớn. Cảnh tàn sát dã man người dân lành của lính CSBV làm cho Bé quá hãi hùng, kinh tởm. VIệc rút quân khỏi Xuân Lộc của QLVNCH làm cho Bé càng chán nản, đau buồn. Đầu óc Bé luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh những xác người bị súng đạn VC đốn ngã, cảnh hoang tàn, trống vắng, đầy mùi tử khí của thị trấn Xuân Lộc và các vùng chung quanh. Thế mà Bé em vẫn không về quê Gò Dầu, Tây Ninh ngay mà vẫn ở lại Xuân Lộc. Lý do vì Bé phải kiếm tìm và chôn cất Bằng và Tùng như lời thệ nguyện cam kết với nhau từ ngày ba người bị VC bắt, được giải cứu, cùng được thăng cấp hạ sĩ: Người chết sau chôn người chết trước. Một thời gian, sau khi CS làm chủ Xuân Lộc, Sài Gòn, rất nhiều người đã tự đi tìm kiếm xác người thân chạy loạn, bị chết bỏ xác trong vùng đồn điền cao su dọc theo Quốc Lộ 1. Bé là một trong hàng trăm người đi tìm kiếm. Bé dể dàng tìm ra xác hai bạn vì đã biết nơi bạn nằm xuống. Việc nhận xác có phần khó khăn vì xác đã mục rữa. Hôm đó cũng có mấy người bộ đội đi tìm xác. Thấy Bé em tay cầm thẻ danh bài, có người hỏi” lính đi tìm bạn phải không? Bé em không chút sợ hãi, gật đầu. “Anh trước mang quân hàm gì? Bé trả lời: Hạ sĩ. Còn hai người này? Cũng là hạ sĩ. Cũng là hạ sĩ à, ghê nhỉ. Định chôn đâu? Bé chưa trả lời thì người lính CSBV vừa chỉ tay ra ngoài khu đất trống cạnh đồn điền cao su, nói tiếp:” Ngoài kia còn chổ trống, nhưng anh nhớ phải làm dấu kẻo mai kia chúng tôi hốt nhầm, không xứng đâu”. Bé buồn và tức. Đất đai của mình họ đến chiếm, bây giờ lên mặt làm chủ, chưa chi đã phách lối. Ai cần nằm bên bọn họ mà sợ nhầm lẫn, không xứng. Bé khóc khi gói ghém đem tạm chôn hai bạn ở gần Dầu Giây. Một thời gian sau, theo lệnh chính quyền địa phương đã dời xương cốt Bằng và Tùng đến chôn dưới chân núi Chứa Chan. Sau nhiều năm cây cỏ đã tràn lan che lấp, chính Bé đã một lần đến thăm nhưng không tìm ra được. Bé không buồn về việc này mà nghĩ rằng như vậy hai bạn được nằm yên, khỏi phiền luỵ đến ai. Rồi đây, biết đâu người ta lại tranh dành nơi yên nghĩ của những xác người bại trận. Buổi chiều, chở tôi trở lại bến xe đò, Bé nói: “Gặp được anh ba, em mừng quá, càng mừng hơn khi được biết anh Bé anh và anh em trong Tiểu đội Thám báo ngày đó đã về đầy đủ. Tội nghiệp anh Bé và các bạn hồi đó lo lắng cho ba đứa em nhiều”. Tôi ôm vai Bé em, nghe cảm xúc của chính mình và của bạn đang dâng lên. Bé nói, giọng chân thành: “Gần mười năm rồi, bây giờ mới có được một bàn tay xiết chặt, ấm áp. Ông thầy cố giữ gìn sức khoẻ, biết đâu một ngày nào anh em mình lại cùng đứng bên nhau. Em còn muốn mang cấp bậc hạ sĩ anh ba à”.
Eliot Ness phóng lên xe, Gary Malone ngồi bên cạnh, Lite leo lên phía sau.
Chàng phóng hết ga chở cả ba người về nhà, lòng vui rộn như ngày nào còn trẻ cùng đám bạn bè đi ngao du phong cảnh. Eliot Ness tròn miệng huýt sáo một điệu nhạc, thỉnh thoảng lắc lư cái đầu ra chiều rất đắc ý. Công tác của bộ tài chánh giao không biết chừng nào mới xong, nhưng kể từ lúc chân ướt chân ráo xuống Chicago, chiều hôm nay, lần đầu tiên chàng thấy ánh sáng đã lóe lên ở cuối con đường hầm.
Gary Malone ngồi bên cạnh thấy cũng có vẻ hả hê. Lâu quá rồi, dễ chừng
đã hơn 15 năm, hắn mới tìm ra một người bạn như Eliot Ness. Cha nội cớm liên bang này coi được quá chừng. Gary Malone nhớ đến lần gặp gỡ đầu tiên với ông cớm khó chịu này. Phải rồi, cái buổi sáng mà hắn đập nát chiếc xe của thằng Frank Nitti. Thật ra sáng hôm đó, sau khi nhìn tới nhìn lui chiếc xe đậu ngang xương dưới bảng cấm, hắn đã tính bỏ đi. Trời đẹp như vậy thì nên tìm một cái ghế đá nào mà ngồi ngắm trời ngắm đất cho sướng cái thân già, ai thèm đi hạch xách ba cái màn đậu xe vớ vẫn làm chi. Nếu như thằng tài xế ngồi trên xe chỉ việc nhìn ra ngoài cười cầu tài một phát thì Gary Malone cũng chẳng thèm chấp nó làm gì. Một con cọp dữ cỡ Gary Malone đâu thèm đi chấp những con nai ngu đần làm chi. Hơn nữa, những lúc sau này, nhất là mấy năm gần đây, Gary Malone cảm thấy hơi mệt mỏi và chán nản.
Cách đó vài tuần, một hôm buồn đời quá không có chuyện gì làm hắn bèn đi thăm thầy thuốc để kể lể sự chán nản của mình và xin ý kiến. Ông Bác sĩ phân tâm học già nghe chuyện xong lắc đầu bảo cho Gary Malone biết là sức khoẻ và bộ thần kinh của hắn bình thường, không có gì lạ cả. Chẳng qua đó chỉ là một dấu hiệu của tuổi già. Ổng còn khuyên thầy đội nên tập thể tháo, ăn uống kiêng cữ, bỏ hết rượu chè, tình nguyện tham gia vào những hội đoàn địa phương để hoạt động đi làm những công tác xã hội “cho cuộc đời bớt tẻ nhạc,” và chuẩn bị đón tuổi già đến với mình một cách an lành như hằng bao nhiêu người khác.
Gary Malone ra khỏi phòng mạch mà thấy tiếc cho 3 đồng bạc đã bỏ ra để
vào đây nghe một anh thầy lang dạy đời. Tập thể tháo thì 40 chục năm qua, ngày nào Gary Malone không luyện “Lưỡng Thiết Cầu”, cái môn võ rất bí mật nhưng rất là đơn giản của người Trung Hoa mà hắn may mắn học đường từ lúc nhỏ để đến nổi có biệt danh là “bàn tay thép”. Hai ngón tay của Gary Malone có thể bẻ cong đinh, đâm thủng ván và quan trọng nhất, chặt xuống đầu ai một cái thì cũng như người ta lấy búa sắt mà giộng vậy. Máu xịt ra có vòi liền và kẻ bị đòn chắc chắn gục liền tại chỗ. Nếu xui xẻo gặp hôm thầy đội nổi cơn điên thì … chết ngắt luôn là chuyện rất thường.
Ăn uống kiêng cử và bỏ rượu thì nhất định là không có Gary Malone rồi.
Hắn đã từng thấy thương hại cho những “thằng người” coi trọng mạng sống mình đến độ một miếng thịt, một hớp rượu cũng không dám uống. Sống … hèn như vậy chẳng thà đừng sống. Đối với Gary Malone, một tay cảnh sát từng tay không bẻ cổ bọn găng tơ Chicago liệng xuống sông, từng đánh xì phé với mạng sống của mình thì có sợ gì thần chết mà phải kiêng cử? Phải thì sống, còn không phải thì “thăng thiên” nơi miền hoan lạc, thèm chó gì cái cuộc sống này kìa? Vấn đề tham gia các hội đoàn để đi làm việc thiện nguyện còn thấy tức cười hơn. Nghề của thầy đội là nghề diệt du đãng mà có hội đoàn từ thiện nào ở Chicago này cần một tay súng hay một thằng biết đấm đá đâu?
Hắn đành lủi thủi đi về nhà, và chỉ đồng ý với ông thầy thuốc một điểm:
“Đó là dấu hiệu của tuổi già.” Suốt quãng đường đó, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi về mình. Ai biết Malone bằng chính thằng Malone này?
Nhưng sáng hôm đó, cái thái độ kênh kệu mất dậy của thằng tài xế làm máu anh hùng của một quá khứ xa xưa nổi dậy trong người hắn. Từ đằng xa, Gary
Malone đã biết chỉ có dân mafia gộc mới dám đậu xe khơi khơi trước mũi cảnh sát như vậy. Tới gần hơn chút nữa, Gary Malone nhận ra ngay chiếc xe của thằng đệ nhất đao phủ thủ Chicago.
Thằng Frank Nitti, dù tiếng tăm của nó có vang lừng tới đâu, Gary Malone
chỉ coi nó như một đứa con nít. Ngay chính xếp của nó là Al Capone mà gặp Gary Malone còn phải kính nể một mực thì nó có nghĩa lý gì. Nhưng cuộc đời thường có những cái bất ngờ lạ lùng. Đã nói cọp rừng thiêng không thèm chấp nhất bọn thỏ cáo. Nếu thằng tài xế của Frank Nitti hôm đó không cương ẩu, chỉ cần chi một phát cười cầu tài thì Gary Malone cũng bỏ đi rồi. Dĩ nhiên chiếc xe Cadillac mấy chục ngàn đô la của chủ nó đã không bị đập nát, và Eliot Ness đã không có dịp thưởng thức tài nghệ của Gary Malone …
Quẹo xe vô nhà, nhìn vào dấu hiệu trên cánh cửa gỗ của hàng rào, Eliot Ness biết là Catherine không có nhà. Vì cuộc đời của một cảnh sát như Eliot Ness
có rất nhiều kẻ thù nên gia đình chàng có một hệ thống thông tin cho nhau một cách đặc biệt. Bằng những dấu hiệu nhỏ và đơn giản nhưng họ luôn luôn thông báo cho nhau được những khi cần kíp. Như cách gài cửa sổ hàng rào. Nếu chàng trở về và nhìn thấy cái then cài được để hớ hênh nửa trong nửa ngoài, đó là mọi chuyện bình yên và nàng không có nhà. Eliot Ness chỉ sợ nhất là nhìn thấy cái then cài bị lật ngược ra sau. Đó là dấu hiệu “Nguy hiểm lắm, có kẻ thù trong nhà”. Nếu then cài vậy mà tấm rèm cửa nơi phòng khách được kéo ra một phần ba, dấu hiệu chết người hơn: “Em bị bắt làm con tin trong này, … mau vô cứu gấp.” Cách đây mấy năm, gia đình chàng đã trải qua một lần kinh khủng như vậy nhưng nhờ có dấu hiệu thông báo, Eliot Ness đã lặng lẽ đi một đường ra sau nhà, dùng “độc đạo” mà chàng sáng chế ra để từ từ mò lên phòng khách, nơi một thằng khùng đang kê súng vào đầu Catherine để chờ Eliot Ness trở về. Truyện còn lại đâu có gì đáng nói. Một cái bang súng từ đàng sau đánh tới làm thằng khốn té lăn cù, lòm còm bò dậy thì cặp còng sắt đã bay ra, mổ cứng vào hai cánh tay. Eliot Ness gọi đàn em tới để chở thằng này vào ty chờ ngày ra toà nhưng sáng hôm sau, nghe nói nó bị bắn chết dọc đường vì tính chuyện tẩu thoát. Chàng biết và mọi người đều biết có cho kẹo thằng khốn
cũng không dám bỏ chạy. Chẳng qua nó đã phạm tới cái điều tối kỵ của cảnh sát, không thể tha thứ được: Nó dám đụng đến thân nhân của cảnh sát. Mày phạm tội gì cũng có thể đem ra toà án để xét xử được hết nhưng tội này là tử hình. Dù ông Ness đã cấm không cho nhưng đàn em cũng tìm được cách để xử tử hình được như thường.
Luật là luật mà. Eliot Ness cảm thấy hơi thất vọng. Chàng muốn đem ông hung thần Gary Malone này về khoe với vợ, nhưng điệu này thì đành phải chờ đến lần khác vậy. Mở cửa bước vào, ba người cùng ngồi nơi phòng khách. Gary móc ống tẩu ra, nhồi đầy một vố, thở khói ngi ngút lên trần nhà. Eliot Ness hỏi:
-Mấy ông uống cà phê.
Lite lẹ miệng xin một ly liền:
-Dạ, anh cho tôi xin một tách cà phê. Nhớ bỏ tí đường tí sửa.
-Còn ông, Malone?
Gary Malone cười. Hắn thò tay vô trong áo kéo ra một cái ve nhỏ:
-Ông khỏi lo cho tôi. Tôi có thức uống khác quý hơn. Cà phê chỉ uống vào
buổi sáng, buổi chiều nên uống thứ khác.
Tuy chưa bao giờ làm việc chung với Gary Malone nhưng Eliot Ness biết
hắn là một “tập họp” của những cái gì kỳ lạ, khác thường. Eliot Ness nhớ ra là cái số của chàng nó như vậy. Tất cả những nhân viên làm việc cho Eliot Ness thường có những con người nổi tiếng là “bất bình thường”. Mà nghĩ thấy cũng đúng. Nếu đầu óc không bất bình thường không ai lại chịu xông pha nơi hòn tên mũi đạn, mạng sống ngày nào cũng được tính từng giờ một để đi làm cái nghề nguy hiểm này với một số lương chẳng có bao nhiêu.
Không hiểu cái “bất bình thường” của ông nội “bàn tay thép” này cỡ nào nhưng nhưng Eliot Ness đoán phải là to lắm. Đa tài đa tật mà, chàng vừa bước lui ra
phía nhà bếp vừa suy nghĩ. Trong khi đó, Gary Malone vặn nút cái ve nhỏ đen thùi lùi ra, ngữa cổ đưa lên làm một hơi rồi bỏ xuống, khà một cái ngon lành.
Lite đang còn ngạc nhiên thì thầy đội đã thẩy cái ve tới:
-Chú mày muốn thử chút không?
Từ lúc thầy đội “đàn anh” móc cái ve ra, Lite đã nghi trong đó chứa những
gì, giờ nghe nói vậy bèn hoảng vía lên, giẩy nẩy:
-Cái gì vậy Gary?
Gary Malone tỉnh bơ:
-Đù mẹ rượu chớ còn gì nữa.
-Rượu!
Gary Malone chùi miệng:
-Đù mẹ chừng này tuổi đầu rồi không lý đi đâu cũng thủ một chai sữa trong người. Không phải là rượu thì là gì? Mà thứ này là thứ đặc biệt, nhập cảng từ
Canada qua đàng hoàng, không phải thứ cà chớn của mấy thằng chết đói nấu lậu đâu.
Nghe đến đâu, Lite thấy muốn … chết trong lòng đến đó. Là một cảnh sát viên trẻ tuổi, nó gia nhập nghành này vì muốn làm đẹp xã hội, muốn tống cổ mấy
thằng găng tơ, bọn ăn cướp vào tù để đem lại no ấm và hạnh phúc cho xã hội. Chính vì vậy mà Lite mới đi tình nguyện đi theo Eliot Ness và gặp được Gary Malone. Chẳng ngờ thần tượng hằng bao nhiêu năm của hắn, con người đã làm rúng động giới giang hồ Chicago lại là một thằng nghiền rượu hay sao? Theo đầu óc non nớt của Lite, muốn bảo vệ luật pháp, thì chính mình phải giữ luật cho đàng hoàng trước đã. Mình chuyên môn đi bắt rượu mà lại uống rượu như hủ chìm như thế này thì coi không ổn chút nào cả.
Nhìn thấy vẻ chới với trong ánh mắt thằng cảnh sát trẻ, tinh đời như Gary
Malone thì hiểu liền là thằng bé này đang nghĩ gì. Té ra là nó ngạc nhiên vì thấy mình uống rượu đây mà. Gary Malone chợt nhớ đến hình ảnh của mình cách đây trên 20 năm …Ngày ấy, mới vào nghề cảnh sát, Gary Malone cũng là một cảnh sát viên gương mẫu, nhìn đời qua lăng kính màu hồng, quyết đem tuổi trẻ để phụng sự pháp luật. Sau thời gian tập sự, Gary Malone được giao trông coi một khu ghetto nghèo của dân di cư có nhiều thằng du đãng mới lớn hay phá làng phá xóm, nổi tiếng là “bất trị”. Theo sự nhận định của cảnh sát lúc ấy, con nít mới lớn thì chẳng có gì nguy hiểm, có thể giao cho một thầy đội mới ra trường cỡ Gary Malone trông coi được. Thầy có thể dạy dỗ đám con nít này vừa học thêm kinh nghiệm để sau này đảm nhận những chức vụ khó khăn hơn.
Nhưng đâu có ai ngờ chính cái bọn con nít mới lớn lại là cái bọn nguy hiểm
nhất. Chúng nó còn trẻ lại có cái lợi thế là được pháp luật của cái xứ này gìn giữ nên đâm ra ngang ngược không thể nào trị được. Tệ hơn, hồi đó thầy đội làm gì có xe hơi, đi đâu cũng cỡi ngựa và mang gươm giống y hệt một hiệp sĩ thời trung cổ. Đi đứng coi oai vệ lắm nhưng sau mấy tháng hành nghề, thầy đội Gary Malone cứ bị khiển trách hoài vì từ ngày về “trấn nhậm” khu vực, nạn trộm cắp và phá làng xóm của bọn du thử du thực chẳng những không giảm mà còn có khuynh hướng “đi lên” mới là kẹt. Thầy đã cố gắng hết sức, lúc thì dọa nạt, khi khác lại còng đầu vài thằng đem vô bót nhưng chúng nào có sợ. Vừa được thả ra là bọn côn đồ tụ tập nhau lại và phá làng xóm còn nặng hơn xưa nữa như có ý nhắn với thầy đội trẻ tuổi rằng:
“Tài của thầy chỉ có vậy là hết rồi. Tưởng thầy làm được trò gì chứ bợp tai con
người ta rồi bắt đem về bót nhốt vài giờ thì đâu có hù được ai … “
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone căm lắm nhưng luật pháp Hoa Kỳ chỉ cho
mình xử dụng quyền hạn đến đó là hết. Tức đến học máu ra nhưng không thể làm gì hơn được. Vốn thượng tôn luật pháp, thày tự trách hay vì mình giữ luật không đúng để đến nổi bọn nó phải ra nông nổi đó. Tối tối về nhà, thầy chong đèn thức đêm tới mấy giờ sáng để ráng tìm trong cái mớ sách của trường cảnh sát, có một phương thức nào hay không để dẹp bọn du côn mất dậy.
Nhưng tìm mãi chẳng thấy. Trong khí đó, bọn nhô con vẫn lộng hành cho
đến một ngày, xếp trực tiếp gọi thầy đội Gary Malone vào phòng, đóng cửa lại rồi …chửi thẳng vào mặt chẳng nể nang gì cả:
-Bố mày là cảnh sát tuyệt hảo, … đẻ ra mày, tao tưởng mày nếu không được
bằng một nửa của bố thì cũng trên trung bình, hoa ra mày làm việc như … cứt.
Gary Malone tái mặt, ấp úng hỏi:
-Xếp cho tôi một thời gian nữa, tôi mới ra trường …
Người Thượng sĩ cảnh sát chửi thề:
-Nếu tao không nể mặt ông già mày thì tao đã tống cổ mày đi từ khuya rồi.
Làm việc như vậy mà cứ khoái mặc đồ cảnh sát đeo gươm làm những thằng cảnh sát khác phải ngượng lây. To con và sức lực như mày làm nghề phu khuân vác chắc có lẽ hợp lý hơn, chữ thọ lại bảo đảm nữa. Bây giờ, khỏi nói nhiều, tao cho mày một tháng, nếu cái khu trách nhiệm mà còn một lá đơn hay một lời than phiền về những vụ ăn cắp vặt, đấm đá vớ vẩn thì cút cha cái thân mày đi, đừng về đây mà nhìn mặt tao nữa. Trước khi cút, đừng quên trả cái mộc cảnh sát lại để tao kiếm người khác có khả năng hơn làm việc.
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone đang còn tính phân biện thì gã thượng sĩ già
đã đứng dậy, phất tay đuổi hắn ra ngoài như đuổi một thằng tội phạm tầm thường.
Gary Malone giận tím mặt lại nhưng biết tính tình xếp mình, đành lủi thủi bước ra. Tối đó, nhục nhã, đau khổ, hận đời, thầy đội Gary Malone đành lò mò tới
nhà cũ của mình để vấn kế ông cụ. Giòng họ Gary Malone đã có hai đời cớm trong máu, đến đời mình là đời thứ ba, chẳng lẽ để bị đuổi ra khỏi nghành thì mặt mũi nào mà dòm mặt tổ tiên. Ông cụ thân sinh của Gary Malone tiếp đón đứa con trai niềm nở, lại biểu vợ nấu nướng linh đình để đãi con. Bữa tiệc linh đình mà Gary Malone có ăn uống gì được đâu, chỉ thở dài và thỉnh thoảng nốc rượu lia lịa. Sang phần tráng miệng, Gary Malone mới tâm sự nổi khổ của mình cho bố nghe, và kết luận:
-Bố không cho ý kiến để giúp con thì chắc con bị đuổi sở, mất hết uy tín
của gia đình mình …
Ông thân Gary Malone cười ngất. Thằng con trai của ông, nổi tiếng là ngang ngược từ lúc còn đi học, đoạt giải vô địch quyền anh của trường và của Chicago trong mấy năm mà bây giờ sợ không làm tròn nhiệm vụ của một cảnh sát viên hạng bét thì quả là chuyện khôi hài. Sao cái máu cớm hai đời còn chờ gì mà không bốc lên trong người nó kìa.
Thấy ông già cứ nhìn mình cười mãi, Gary Malone đâm ngượng bèn hỏi:
-Bố, ngày xưa bố cũng là cảnh sát, bố làm sao để giữ được an ninh một khu
vực?
Ông già hỏi lại:
-Ngày xưa đi học trong trường, mày nổi tiếng là một thằng dữ tợn ai cũng
sợ, vậy để tao hỏi mày, mày làm sao để chúng nó nể sợ mày?
Cậu con nhớ lại dĩ vãng oanh liệt, cười hề hề:
-Tại con nóng tánh, nhìn thằng nào thấy gai gai con mắt là đập cho một
trận liền …
Ông thân Gary Malone vỗ tay đánh đét một phát:
-Mày nên nhớ, trường học và trường đời đều giống y như nhau. Cái khác
biệt là ở trường đời, luật lệ gắt gao hơn gấp vạn lần và nếu mày thua, thì không phải mình mày khổ mà cả gia đình và vợ con sẽ khổ …
-Bố muốn nói là làm cảnh sát, hễ thấy thằng nào gai mắt là cứ xông tới
đập chết mẹ nó ra như lúc còn đi học?
-Đúng. Thằng nào lạng quạng nói không được thì cứ tẩn cho nó mềm xương nó ra.
-Nhưng đâu có được, con đã thề trước thần công lý ngày ra trường là sẽ
bảo vệ luật pháp đến giây phút cuối cùng … Chưa đã hết, còn luật lệ, còn hiến pháp của quốc hội đã ban hành để bảo vệ quyền lợi của mỗi người dân, con làm vậy thì xã hội còn ra cái thể thống gì nữa?
Ông thân Gary Malone mồi một ống tẩu, phà khói um lên rồi trả lời:
-Luật pháp và hiến pháp cái … đít của tao. Mày phải hiểu, luật pháp được
lập ra để bảo vệ xã hội, dành cho những thằng biết tôn trọng luật pháp thôi. Những thằng không biết tôn trọng luật pháp thì cứ thẳng tay với chúng nó …
Gary Malone vẫn chưa hết thắc mắc:
-Là một cảnh sát, tức là người bảo vệ luật pháp, con nghĩ trước hết mình
phải tôn trọng luật đã, rồi mới bắt người ta tôn trọng được …
Ông thân Gary Malone ngắt lời con trai:
-Mày cứ tôn trọng luật pháp của mày theo kiểu trường huấn luyện cảnh sát
dậy đi, cứ áp dụng đúng những gì sách vỡ dạy đi, sáu tháng nữa trở lại đây để tao coi thử mày còn mặc bộ đồ cảnh sát này không cho biết … Mà nếu mày còn mặc được bộ đồ này, tao dám chắc là chẳng bao lâu, tao sợ sẽ phải đi đưa đám mày.
Gary Malone ngồi im, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Suốt đời,
bố làm cảnh sát, ngày hai buổi sáng cầm … dùi cui đi, tối ôm dùi cui về. Trong bao nhiêu năm mặc đồ cảnh sát đó, bố có bao giờ thèm mở miệng nói một câu gì về công việc của mình? Gary Malone biết tính bố, cũng chẳng bao giờ dám thắm mắc nhưng đoán là bố mình phải là một con người thượng tôn luật pháp nhất thế giới. Mà thật, bố bắt đầu áp dụng luật ngay từ trong gia đình, khởi đầu bằng cậu con trai quý tử. Đi chung với bố, chỉ cần xả một chút rác xuống đường là bố thẳng cánh giộng cho một bợp tai liền. Ngay cả thấy rác ngoài đường mà không chịu khó lượm lên bỏ vô thùng thì cũng bị cự. Bố hay bảo: “Mày biết không, nếu mỗi thằng con nít như mày mỗi ngày liệng một tờ rác xuống đường thì nước Mỹ này sẽ thặng dư bao nhiêu tấn rác? Hoặc nếu chúng mày chịu khó cúi xuống nhặt một tờ rác khi nhìn thấy thì đất nước này sẽ sạch sẽ hơn được mấy trăm tấn rác một ngày … “
Cho đến ngày Gary Malone từ giã bố lên đường đi học cảnh sát, bố cũng chẳng nói gì. Tốt nghiệp trở về, bố cũng chẳng nói gì. Cho đến ngày hôm nay,
trong giờ phút bi đát nhất của nghề nghiệp mà được bố giáo huấn mấy câu ngược đời vậy thì cậu cả không ngạc nhiên sao được?
Ông già mồi thêm một tẩu thuốc, tiếp:
-Mày biết một người cảnh sát giỏi là gì không?
-Thưa không.
-Vễnh cái lỗ tai của mày ra mà nghe tao nói câu này. “Một người cảnh sát
giỏi Là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật.” Suốt đời mày, mày nhờ lấy giùm tao câu này. Tao đã chờ một ngày như ngày hôm nay từ lâu lắm rồi. Tao biết một ngày nào đó, mày sẽ đến đây để năn nỉ tao để truyền cho mày một ít kinh nghiệm của nghề cảnh sát. Vậy thì, lời tao vừa nói là chìa khoá, là sự khôn ngoan của giòng họ này, suốt cuộc đời còn lại của mày, mày phải ráng mà nhớ lấy. Nếu mày biết áp dụng câu này khéo léo, sẽ đem được hạnh phúc lại cho gia đình, cho xã hội. Bằng không, mày nên kiếm một nghề khác mà sinh sống.
Liếc nhìn bộ sắc phục cảnh sát lộng lẫy với mấy hàng nút vàng bóng láng
trên áo của con trai, ông ta nói tiếp:
-Nếu mày không muốn làm cảnh sát, tao nghĩ mày chỉ nên đi làm … tướng
cướp. Cái số của mày nó như vậy rồi con trai …
Tối đó, từ giã bố trên đường về nhà, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi câu nói
của ông bố, một cựu cảnh sát viên với hơn ba chục năm trong nghề: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … “
Câu nói gì nghe sao mà lãng quá. Phá luật để mà trị những thằng phá luật
mà vẫn không ai biết thì thật là rắc rối. Ngày hôm sau, Gary Malone lại thắng yên lên ngựa, lòng rối bời, tà tà ra khu vực trách nhiệm cũ. Vừa vào tới khu phố, thầy đội chưa dạo hết một vòng thì một bà già đã nhào ra, ôm cứng cổ con ngựa khóc ngất.
Đúng luật cảnh sát, thầy đội Gary Malone xuống ngựa, thò tay tính móc ra
cuốn sổ “biên bản” để ghi chép như mọi lần. Bàn tay vừa cho vào túi bỗng thầy
khựng lại. Câu nói hồi tối hôm qua của bố lại trở lại ám ảnh thầy: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … ” Xưa nay mình chỉ ghi ghi chép chép hết gần cả mấy cuốn sổ mà có giải quyết được cái gì đâu. Hay là cứ thử nghe lời bố một lần để giải quyết vụ này coi đã. Thầy chắc lưỡi nghĩ tiếp: “Dù gì ổng cũng là … bố mình, lại là cựu cảnh sát, ổng không dạy mình bậy đâu.”
Suy nghĩ xong là thầy Gary Malone xoay người, ra dấu cho người đàn bà
thôi khóc:
-Bà bị cái gì, bình tỉnh nói cho tôi nghe, tôi sẽ giải quyết cho bà.
Cái giọng nói của thầy đội trẻ tuổi Gary Malone lúc ấy tự nhiên có một sức
mạnh bí mật lạ lùng, khác hẳn những lần trước làm bà già nín khóc ngay và chính thầy đội cũng phải ngạc nhiên.
-Thầy ơi, vợ chồng tôi già rồi, chỉ còn có vài sợi giây chuyền và cái đồng
hồ vàng mà chúng nó cũng vào ăn cắp cho được.
-Tuị nào lấy và lấy hồi nào, lấy cái gì, có ai thấy không?
-Hu … hu, nếu thấy được thì tôi còn tới đây nhờ thầy làm gì? Chắc cũng mới
trong vòng một tiếng đồng hồ đây thôi. Hai vợ chồng tôi vừa đi lễ về thì thấy nhà cửa mở tan hoang … hu hu .. , tôi đã nói với lão già nhà tôi mà lão cứng đầu nhứt định không chịu nghe tôi, hu … hu, bây giờ mất của thì mới sáng mắt ra .. , nhờ thầy chận bắt chúng nó giùm, mới có một tiếng đồng hồ thì chúng nó không chạy đi đâu xa được đâu …
Thầy đội Gary Malone suy nghĩ mau lắm. Trong một khu phố nghèo với
nhà cửa san sát nhau như thế này thì cần gì tới một tiếng, chỉ một phút đồng hồ thôi là chúng cũng có thể lặn mất tiêu. Không lý chỉ vì một cái đồng hồ vàng mà xét hết một lần mấy ngàn cái nhà trong khu này à? Có muốn xét hết cũng không sao xét được. Bà già này tưởng cảnh sát là … trời con sao kìa? Khó nghĩ quá. Cứ theo như thông lệ thì thầy Gary Malone sẽ vào nhà làm một màn điều
tra lấy chi tiết, hỏi dăm ba câu vớ vẩn để chép vào biên bản. Xong đưa biên bản
cho bà già ký một phát rồi biểu diễn một nụ cười kèm theo câu: “Have a nice day” trước khi từ giã ra đi. Bà già nghèo khổ kia sẽ chẳng bao giờ nhìn thầy cái đồng hồ của mình, và thầy đội Gary Malone sẽ chẳng bao giờ tìm ra thủ phạm.
Nhưng hôm nay thì khác, mắt thầy đội Gary Malone tự nhiên long lên sòng
sọc, nhìn bà nói nhẹ nhàng:
-Bác cứ đi về nhà đi. Tên tôi là Gary Malone. Số thẻ hành sự là 982, tôi
sẽ lấy lại cái đồng hồ cho bác.
Từ lúc đi lễ về, nhìn thấy cửa sổ bị mở tang hoang, hai vợ chồng bà đã quì
ngay xuống đất mà cầu nguyện. Cầu nguyện xong bà chạy ra và gặp ngày thầy đội Gary Malone đang đi tuần buổi sáng thì tin là lời cầu nguyện đã được chấp nhận, chúa gởi ông này tới giúp mình thật. Thế là bà nhào tới, khóc lóc một thôi cho đỡ ấm ức trong lòng. Bây giờ nghe thầy đội Gary Malone hứa một câu như vậy thì bà càng mừng hơn nữa, chẳng sợ mắc cỡ, liền quì ngay xuống mặt đường mà tạ ơn thiên chúa. Gary Malone thấy cảnh đó không khỏi nhịn cười được, chờ bà đứng lên, liền hỏi thăm về chi tiết của cái đồng hồ, rồi kết luận:
-Xong rồi, tôi biết nhà bác ở đâu rồi, bác cứ về nhà, vài ngày nữa tôi đem
đồng hồ lại trả cho bác.
Bà già hớn hở ôm lấy Gary Malone hun một phát nghe đến chụt rồi quay
lui, mặt mày tươi tỉnh như là bà đã cầm lấy cái đồng hồ trong tay rồi vậy.
Nhìn bà lão bước đi, Gary Malone cũng thấy vui lây trong lòng. Thầy đội
trẻ tuổi chưa biết sẽ làm cách nào để lấy lại cái đồng hồ vàng cho bà ta nhưng mới áp dụng thử đòn “phá luật để bảo vệ luật” mà đã thấy có kết quả tốt rồi. Ít nhất, hắn đã làm vui lòng một bà già nghèo khổ đã có sự tin tưởng mãnh liệt nơi thiên chúa. Gary Malone phóng tót lên ngựa. Hứa thì ai hứa cũng được, chuyện quan trọng là có giữ được lời hứa không kìa. Gary Malone bắt đầu suy nghĩ một cách … phạm pháp để tìm cách lấy lại cái đồng hồ đã mất. Ý nghĩ đầu tiên là phải túm lấy một vài thằng đầu xỏ trong khu vực này mà tẩn cho mỗi đứa một trận rồi bắt nó khai chăng? Không được. Gary Malone biết rõ khu này hổn tạp, chúng nó đâu có tổ chức đàng hoàng như bọn mafia nên làm sao có đứa nào làm đầu sỏ. Vụ này nhất định phải là sản phẩm của một thằng nào kẹt tiền quá làm liều. Gom hết chúng nó lại rồi tát cho mỗi đứa một bợp tai chăng? Cũng không được. Gary Malone biết bọn con nít khu này. Tù tội chúng nó con chưa sợ thì sợ gì một cái bợp tai của cảnh sát. Hay là
treo một giải thưởng. Mà lấy gì để làm giải thưởng kìa. Lương cảnh sát đâu có bao nhiêu, nhiều khi không bằng một cú ăn hàng của chúng nó thì làm sao hấp dẫn chúng được. Hơn nữa, không lý mỗi lần có ăn cắp là mỗi lần bỏ tiền túi ra treo giải thưởng? Chịu gì thấu?
Rẻ ngựa sang một khúc đường khác, thầy đội Gary Malone bỗng nghĩ ra
một kế. Thằng nào đó bỏ công rình mò đi ăn cấp cái đồng hồ này để làm gì kìa? Chắc chắn không phải là dân sưu tập đồ cổ. Nó phải tìm cách bán tháo bán đổ để kiếm tiền xài. Mà nó bán cho ai? Nghĩ tới đây, Gary Malone bật cười lên một phát rất là khoan khoái. Có vậy mà nãy giờ kiếm không ra. Trong cái khu phố này, có nơi nào mua đồ “thổi” mau và kín đáo cho bằng tiệm chạp phô của lão Enabel. Thằng cha Do Thái mũi quặp này có cái gì bán được mà lão không mua. Ngay cả xác chết, nếu có giá thì lão cũng sẵn sàng cất một cái nhà để chứa xác liền. Dân Do Thái xưa nay sống bằng nghề buôn bán mà. Xong một chuyện. Chuyện thứ hai là phải làm sao mà “phá luật” được với thằng cha Do Thái lưu manh này. Thầy đội Gary Malone biết Enabel giàu có và rất nhiều thế lực. Làm cái nghề của lão mà không quen biết lớn, không nuôi vài ba
thằng luật sư “trong túi” thì chỉ có nước vô tù mà … bán cà phê cho bọn cai ngục. Gary Malone lắc đầu liền mấy cái, nhíu mày tư lự. Chao ôi, ngày đầu tiên tính thử phá luật mà đã đánh mùi thấy sự rắc rối rồi.Gary Malone lại nhớ đến nụ cười của bố mình tối hôm qua và câu nói. Xưa nay có bao giờ thấy bố bày đặt triết lý đâu, đến bây giờ mới làm một câu thấy đúng quá trời.
Gary Malone dạo thêm mấy vòng phố, rồi vào một tiệm cà phê bên đường
bình tĩnh ngồi chờ cho cái kim đồng hồ quả lắc của mình bò tới con số 9. Đúng giờ, thầy đội đứng dậy, đội mũ chỉnh tề bước ra phóng lên ngựa.
Đường tới nhà lão Enabel không xa, chỉ quẹo vài vòng là thầy đội đã nhìn
thấy cửa tiệm của lão. Đã có chủ đích, Gary Malone xuống ngựa, cột nó vào một nơi vắng vẻ rồi tà tà cầm dùi cui thả bộ tới. Tiếng giày đinh nện xuống mặt đường nghe cồm cộp. Thỉnh thoảng, thầy đội trẻ tuổi phang cây dùi cui vô bàn tay trái của mình nghe đến chát một tiếng nổ to như pháo. Cả ty cảnh sát Chicago, đúng hơn, cả nước Mỹ chỉ có mình thầy là nện được cây dùi cui mạnh cỡ đó mà không sợ … gãy tay. Nếu ai biết thầy, thì họ chỉ sợ cho cây dùi cui bị gẫy làm đôi chứ bàn tay của thầy nổi tiếng xưa nay là “bàn tay thép” thì làm sao gẫy được?
Từ ngoài nhìn vào, Gary Malone phát hiện được ngay chiếc mũi quặp lại
như con két của lão Do Thái. Mũi gì đâu mà kỳ cục, thầy đội vừa suy nghĩ vừa đẩy cửa bước vào. Lão Enabel đang lom khom làm mấy con tính, nghe tiếng động nhìn lên và chút xíu nữa thì rú lên một tiếng. Làm cái nghề buôn bán này người ta kỵ cảnh sát như đàn bà kỵ rắn, mới sáng sớm chưa buôn bán gì mà thầy đội đã dẫn xác vào thì suốt ngày chắc thần tài sẽ không thèm ghé đây.
Nụ cười … Do Thái nở trên cặp môi … Do Thái liền, tuy hơi méo mó nhưng
rất nồng nhiệt, rất cầu tài, kèm theo một câu chúc tụng vui vẻ để chào mừng ông thày đội trẻ.
Ủa, thằng cảnh sát trẻ tuổi này hôm nay ăn trúng cái gì mà sao có vẻ bặm
trợn quá trời. Lão Enabel xã giao mấy câu, vẫn không thấy hắn trả lời, chỉ lầm lì thò tay ngoắc lão ra một góc nhà nói chuyện. Lão Enabel chột dạ, bỏ quầy tính tiền bước ra. To nhỏ với thầy một lúc, lão mới tá hoả mặt mày khi nghe ý định của thầy:
Một gia đình trong khu trách nhiệm của thầy bị mất cái đồng hồ vàng, thầy muốn ra ngồi phía nhà trong của lão để rình bắt nó. Làm sao được. Cái cửa tiệm này xưa nay chuyên môn mua và bán đồ ăn cắp, bây giờ dấu cho một thầy cảnh sát ngồi trong nhà chờ cho thằng ăn cắp vào để thầy thộp cổ thì còn thằng nào dám tới đây mà bán đồ cho lão nữa. Dẹp tiệm là cái chắc. Chẳng những bị bể nồi cơm, chúng nó còn nghi mình đi làm ăn ten cho cảnh sát thì có thể mất mạng như chơi. Mới nghĩ đến đó là mồ hôi … Do Thái lấm tấm trên trán. Lão tính toán liền:
Mình từ chối được không? Được chớ, xưa nay luật pháp nước Mỹ đâu có cho cảnh sát vô ngồi trong nhà của người ta. Đừng nói ngồi, chỉ cần bước vô nhà thôi là cũng phải cần có trát của toà án. Nhưng dòm lại khuôn mặt của thằng cảnh sát này thì thấy nó còn ghê gớm hơn cả mấy cái án lệnh của toà. Cặp mắt nó sắc như thế kia thì làm sao dám cản nó. Mà nếu có cản nó được đi, không cho ngồi trong nhà, nó sách ghế ra ngồi lù lù một đống ngoài cửa thì càng kẹt hơn. Lão biết dân ăn cắp là dân hèn nhát nhất thế giới. Hễ đánh hơi thấy có chút mùi cớm thôi là chúng nó đã dọt rồi, nói gì tới chuyện có cảnh sát gác cửa?
Tiến thoái lưỡng nan, lão Enabel đứng thừ người ra suy nghĩ. Nhưng thầy
đội Gary Malone đâu có thì giờ để chờ, bèn gõ mạnh cái dùi cui vào tay mình nghe đến “póc” một tiếng, ra dấu là thầy đã mất kiên nhẫn rồi đấy. Cái gõ của thầy mạnh quá, tiếng “póc” vang lên nghe chẳng khác nào tiếng sét đánh ngang tai làm lão Do Thái giật nẩy mình lên. Nó ăn cái gì mà tay chân như cứng như sắt. Tay chân như vậy thì linh hồn chắc cũng chẳng mềm hơn, nó không đến đâu để đùa. Lão suy nghĩ
thật mau và đi đến quyết định liền:
– Thầy đội đừng nóng, để tôi sẽ lấy lại cho thầy cái đồng hồ vàng đó.
Gary Malone mừng rỡ như người rớt xuống mỏ vàng. Không ngờ cái triết
lý của bố dạy nghe thì thấy khó nhưng áp dụng lại dễ dàng đạt đến kết quả như vậy.
Mừng lắm trong lòng nhưng bộ mặt thầy đội vẫn tỉnh bơ:
-Chừng nào?
Câu trả lời của lão Do Thái làm thầy đội trẻ tuổi muốn nhẩy lên:
-Nội trong ngày hôm nay.
-Ông không có dỡn mặt với chính quyền đó hả.
Lão Enabel nhăn nhó, đưa hai tay ra phân trần:
-Tui có khùng cũng không dám dỡn mặt mấy thầy.
Rồi lão kéo tay Gary Malone:
– Thầy đi theo tôi vào nhà, tôi có chuyện này muốn trình bày với thầy …
Ngồi phía trong nhà, khuất sau tấm cửa, lão mới tâm sự với thầy cảnh sát
trẻ, nói giọng rất nhỏ làm như sợ một kẻ thứ ba nghe thấy:
-Thầy biết không, tụi tôi luôn luôn ủng hộ chính quyền mà. Kỳ tranh cử
nào tôi lại không bỏ ra hàng chục nghìn bạc để vận động cho ….
Gary Malone không muốn nghe chuyện chính trị, xua tay:
-Ông muốn nói gì nói đi, tôi còn bận nhiều việc.
Câu trả lời tiếp theo của lão Do Thái đã làm thay đổi không những triết lý
mà cả cuộc đời của thầy cảnh sát trẻ Gary Malone:
-Nói thật với thầy, bọn ăn cắp ở đây thì đứa nào tôi chẳng biết. Tôi mà
làm cảnh sát thì khu phố này sẽ không còn một thằng ăn cướp …
Nói xong câu đó, lão bật cười, tự cho là mình đã nói một câu pha trò hay.
– Khu phố này, nếu chúng nó không đem đồ tới đây bán cho tôi thì bán cho
ai? Tôi tin thầy nên mới nói vậy, chứ nếu thầy đem luật pháp ra để làm khó tôi thì cũng khó lắm. Thầy hiểu luật pháp mà, trong khi đó, hội của chúng tôi có nuôi tới mấy chục thằng luật sư trong tay. Ngay cả thị trưởng còn phải xin tiền của chúng tôi mỗi khi tranh cử kia mà …
Ghê thay cái thế lực tiền bạc của bọn Do Thái này. Ra là chúng nó còn có
băng có đảng để bênh vực lẫn nhau. Vậy mà mình cứ tưởng ăn hiếp một thằng lái buôn Do Thái là dễ lắm. Nhưng tại sao đương không nó lại chịu hợp tác với mình kìa? Thầy đội mồi điếu thuốc:
-Nếu ông có thế lực mạnh ngon lành cỡ đó, tại sao lại chịu thua tôi một
cách dễ dàng vậy?
-Không ai thua ai hết, chỉ là vấn đề làm ăn thôi. Bây giờ tôi giúp thầy, vài hôm nữa thầy sẽ giúp tôi lại.
Gary Malone quắc mắt lên liền, sẵn giọng đáp lại:
– Vậy ra là ông tính làm áp lực tôi à?
-Không, tôi, một thằng Do Thái “cô đơn” làm gì lại dám có ý tưởng làm áp
lực với cảnh sát? Tôi dùng chữ “giúp nhau” thôi mà. Thầy cứ tính đi, nói thật với thầy, nếu tôi không giúp thầy, chắc cũng còn lâu thầy mới lấy lại được cái đồng hồ.
Gary Malone cười:
-Và dĩ nhiên cái cửa tiệm của ông cũng khó mà mở cửa lâu được?
Lão Enabel vỗ hai tay vào nhau nghe đánh đét một phát:
-Đúng lắm. Thầy thấy không, nếu hở ra một chút là cứ đem pháp luật và
nguyên tắc ra để chơi nhau thì làm sao mà con người sống với nhau được? Trong cuộc đời, người ta thường quên là luật pháp, dù muốn nói gì đi nữa, thì cũng do con người làm nên. Mà hễ con người làm được thì con người bỏ được.
-Nhưng làm vậy thì chừng nào mới diệt hết nạn ăn cướp được? Hơn nữa,
luật pháp đặt ra để làm gì?
Lão Enabel ngã người ra sau, ngắm thầy cảnh sát. Tướng thầy coi dữ dội
thật, lúc nãy thầy mới bước vào, lão tưởng là thầy “biết điều” lắm nhưng không ngờ thầy còn ngây thơ quá. Chắc thầy bị xếp rầy quá cho nên mới nổi khùng làm bậy một chuyến đây mà. Lão Enabel tinh mắt thật và phần nào biết mình đã đoán đúng. Đã vậy thì nên tặng cho thầy một bài học, biết đâu chừng thầy nhờ bài học này mà sẽ trở nên một cảnh sát lừng danh của Chicago?
-Thầy cảnh sát, thầy ngây thơ quá. Từ khi có con người trên mặt đất, hễ
ngày nào người ta còn biết … đói bụng, thì ngày đó xã hội còn có người phạm tội ác. Nếu đổ mồ hôi mà không kiếm được miếng cơm để ăn thì người ta sẽ không chịu ngồi không để chờ thần chết tới đón đi. Người ta sẽ đổ máu, sẽ làm mọi chuyện, sẽ đổi tự do để tranh lấy miếng cơm mà ăn. Thầy còn trẻ mới ra nghề, tưởng rằng hễ cứ giữ được luật pháp là sẽ hết nạn trộm cắp, nạn ăn cướp chăng? Thầy lầm rồi. Từ thuở tạo thiên lập địa đến bây giờ, chưa bao giờ loài người sống được trong một xã hội tuyệt đối “phi tội ác”. Nó luôn luôn hiện diện với chúng ta, dù chúng ta không thích nó, dưới một hính thức nay hình thức khác. Đặc biệt, hễ xã hội càng nghèo đói, càng bất công thì càng nhiều trộm cắp và tội ác.
Lão Do Thái nói một thôi, thầy đội trẻ tuổi nghe đến đâu thấm đến đó.
Không ngờ hôm nay lại học được một bài học quý giá vô cùng từ một tên lái buôn Do Thái hạng bét mà mình thường khinh bỉ hằng ngày.
Thấy thầy cảnh sát có dáng bối rối, lão Enabel mĩm cười, lấy từ trong học
bàn ra một cuốn sổ tay, xé một trang đưa cho thầy:
-“Anh hùng trong thiên hạ” nằm hết trong cuốn sổ này của tôi. Mà chúng
nó đâu có nhiều, chỉ chừng năm ba thằng thôi.
Gary Malone đón nhận tờ giấy. Lão Do Thái hỏi luôn:
-Cái đồng hồ bị mất là khu nào?
-Khu Nam Ciceria!
Lão Enabel cười liền:
-Chém tôi chết nhất định là thằng Dusty phải có dính líu tới vụ này. Thầy
đội cứ chờ đi, tối nay tôi sẽ có cái đồng hồ vàng đem trả lại thầy.
-Sao ông biết rõ quá vậy?
-Nghề mà thầy. Buôn bán với bọn này mà không rành chúng nó thì chỉ
còn nước kiếm nghề khác mà sống …
Khỏi cần nói nhiều, Gary Malone đứng dậy kiếu từ liền. Ra tới cửa, thầy
quay lui bắt tay lão Enabel, giọng có vẻ thân thiện:
-Cám ơn ông. Buổi gặp gỡ hôm nay dạy cho tôi nhiều điều mà không có
trường cảnh sát nào dạy được.
Lão Enabel khoái chí cười:
-Thầy có tướng … cô hồn, nhất định thầy sẽ là một cảnh sát thượng thặng.
Mai mốt lên voi, thầy đừng có quên ngày hôm nay và thằng Do Thái nghèo hèn này.
Gary Malone cười, lắc đầu:
Chừng nào ông mua hết cả Chicago, mong ông cũng đừng quên thằng
cảnh sát … hiền lành này.
Cả hai cùng bật cười lên thật lớn.
Ra khỏi tiệm, Gary Malone lên ngựa, vừa đi vừa suy nghĩ những gì lão Do Thái vừa nói ….
Sáng sớm ngày hôm sau, các nhật báo Nữu Ước chạy trang đầu hình ảnh và
chi tiết của cuộc thảm sát chiều qua với con số thương vong chưa hề có trong lịch sử tội ác: 13 người chết, 7 người bị thương. Báo New York Times chạy tít: Trùm Mecca bị bắn gục: đại chiến không thể tránh được: Báo New York Daily News: Cái chết của Mecca chỉ là phần mở đầu, nhiều trận thư hùng sắp tới … Tờ New York Evening News: Máu sẽ tràn ngập khắp New York …
Thức giấc từ lúc sáng sớm, việc đầu tiên Frank Nitti làm là dọt ra đường
kiếm tờ báo. Đúng như nó đoán, tờ nào cũng thấy hình ông trùm Mecca nằm chết trên đường, máu me be bét coi thấy gớm. Nhưng nó đâu phải đọc báo để coi hình trùm Mecca. Cái nó muốn kiếm là coi có hình của anh Russo không kìa. Tối qua đến giờ, không nghe tiếng tăm của đàn anh, Frank Nitti đâm rét. Lật thêm vài tờ nữa vẫn không thấy hình của Russo, mặt mày Frank Nitti thấy có vẻ dễ chịu. Hễ chưa nhìn thấy hình thì còn hy vọng, người như Russo dễ gì chết nổi, chắc ảnh đang còn bị kẹt ở đâu đây mà. Frank Nitti lẹ tay lật thêm mấy tờ nữa. Nhưng khi dở tới tờ New York Evenings News thì nó muốn thét lên một tiếng kinh hoàng. Dưới cái hình của trùm Mecca là tấm ảnh chụp chiếc Cadillac của thằng Bob Laysten nằm thù lù một đống. Trong xe là một cái xác bị cháy đen thui. Frank Nitti nắm chặt tay, kéo tờ báo sát mắt mình, nhìn kỹ hơn nữa. Đúng là ảnh rồi, không trật vào đâu được. Dù mặt mày đã bị cháy nám, quần áo không còn nhìn được nhưng nó nhận ra sợi dây chuyền có đeo cây thánh giá thiệt bự trên cổ đàn anh. Cây thánh giá bị sức nóng uốn cong đi nhưng Frank Nitti vẫn nhận ra được. Vậy là Russo đi luôn rồi. Frank Nitti tự nhiên thấy muốn đập phá một cái gì, muốn giết chết một ai đó. Hai bàn tay nó nắm lại thật chặt. Chặt đến độ tờ báo bị bấm thủng mà nó đâu có biết.
Đứng yên lặng một lúc, hút xong vài điếu thuốc, Frank Nitti từ từ cảm thấy
mình nguội lại. Nó suy nghĩ thật mau. Từ nay, không còn Russo nữa thì mình phải quyết định lấy mọi chuyện. Chuyện quan trọng nhất, bây giờ không phải là lúc khóc than. Đúng ra, đối với Frank Nitti, không phải lúc này mà suốt cuộc đời nó, chẳng bao giờ là lúc để khóc than. Nó chỉ biết có một cách sống, đó là luôn luôn đi tới. Frank Nitti nhớ đến lời mơ ước cuối cùng của đàn anh Russo. “Mày làm sao xin cho tao được chôn ở trong đất thánh nhà thờ … ” Frank Nitti suy nghĩ và có quyết định liền. Chuyện trả thù cha hãy để sang một bên đã. Nó phải làm sao giữ lời với anh Russo.
Người duy nhất có thể lên nhà xác để lãnh cái xác đen thùi lùi này trở về là
mẹ nó, bà Albert Nitti. Frank Nitti phóng lên xe trở về nhà gặp mẹ, đưa cho bà một mớ bạc và trình bày mọi chuyện. Mẹ Frank Nitti nói: “Lên nhà xác lãnh nó ra để đem về nhà đòn đám ma thì mẹ lo được, nhưng chuyện xin làm phép xác trong nhà thờ không thì mẹ không biết. Chuyện này con phải đích thân lên gặp cha xứ.”
Frank Nitti chào mẹ và ra xe đi liền. Ai nói chuyện với cha xứ thì khó chứ
với Frank Nitti thì nó thấy dễ ợt. Có gì đâu, nếu nói chuyện phải trái không được thì nó sẽ kê cây Colt.45 vào đầu cha coi thử cha có chịu làm phép không cho biết. Cha cũng là người mà.
Frank Nitti dừng xe trước cửa nhà thờ vào khoảng 10 giờ sáng. Khu giáo
đường vắng tanh không một bóng người. Đứng loanh quanh một lúc, Frank Nitti lấy hết can đảm, dở mũ cầm tay … rón rén bước vào nhà thờ.
Không khí trang nghiêm trầm mặc trong giáo đường làm Frank Nitti thấy
bồi hồi trong dạ. Ánh sáng lung linh mờ ảo từ những khung kính màu trên cao chập chờn càng làm tăng thêm sự tôn nghiêm của nơi thờ phượng. Frank Nitti nhớ đến thuở ấu thơ thường theo bố mẹ đi lễ vào những ngày chủ nhật. Ôi cuộc đời sao sớm nắng chiều mưa, thay đổi mau như gió thoảng, như mây bay, không thể nào lường trước được. Mới ngày nào còn là một thằng bé con mà bây giờ đã là một tên giết mướn ngoại hạng, tên tuổi lừng danh khắp Nữu Ước.
Frank Nitti quét mắt nhìn chung quanh, nhà thờ vắng vẻ đến độ tiêu điều,
không thấy một bóng người. Cha cố giờ này chắc đang bận ăn uống hay làm gì
không biết, điệu này thì chắc phải ra nhà xứ mà kiếm thì mới gặp được. Đang tính đi ra, Frank Nitti chợt nghe một tiếng động nhỏ từ xa đưa tới.
Nó quay lại nhìn thì nhìn thấy một người đàn bà mặc đồ đen, đang lui cui
dọn dẹp ở cuối nhà thờ, quay lưng về hướng nó. Frank Nitti từ từ tiến lại để hỏi
thăm.
Nhẹ nhàng tiến tới phía sau lưng người đàn bà, Frank Nitti vừa tính mở miệng ra hỏi thì người đàn bà cũng vừa quay lại. Và ngạc nhiên thay, cả hai người
cùng rú lên một tiếng sửng sốt.
Frank Nitti rú lên vì tưởng là mình gặp ma. Từ thuở nhỏ, nó thường nghe
người ta đồn là ma quỉ hay ở trong nhà thờ. Người đàn bà đứng trước mắt nó bây giờ là mụ Pat đây chớ ai. Mụ là gia nhân cũ của gia đình, đầu mối của bao nhiêu chuyện bí mật về cái chết của cha nó. Quái lạ, mụ đã bị đụng xe chết cách đây sáu tháng thì làm sao mà về nơi đây được? Họa chăng đây chỉ là hồn ma của mụ?
Mụ Pat cũng rú một tiếng vì mụ không ngờ gặp thằng con trai ông chủ cũ ở
đây. Sau cái ngày bi thảm đó, bị lương tâm cắn rứt, mụ sống như một người đàn bà dở khùng dở điên. Cuối cùng, mụ xin được một chân quét dọn ở cái nhà thờ vắng vẻ này và tưởng có thể sống nốt quãng đời còn lại một cách yên ổn, chẳng ngờ hôm nay lại có cái màn đụng độ này. Mụ thấy mặt mày xây xẩm, đưa hai tay ôm lấy ngực không nói lên lời. Cơn bệnh đau tim kinh niên từ năm nào chừng như trở lại hành hạ mụ
Nghe tiếng hét của mụ, lanh trí như Frank Nitti thì biết ngay rằng nguời
đàn bà đứng trước mặt mình không phải là ma mà là người thiệt. Ma quỉ đâu có bao giờ la oai oái lên như vậy. Nó mừng như mở cờ trong bụng. Nhìn thấy cậu cả là mụ Pat hoảng kinh hồn vía liền. Mới có mấy năm không gặp nhau mà thằng nhỏ đổi khác quá. Nó to lớn, mặt mày coi bặm trợn không thua một thằng ăn cướp chút nào. Mà nó đúng là ăn cướp chớ còn gì nữa. Báo chí
lâu nay thỉnh thoảng vẫn đăng hình nó. Cái làm bà sợ nhất là cặp mắt thằng Frank Nitti. Sao mà nó dữ tợn, nhìn đi đâu là như có tử thần đi theo tới đó. Mụ thấy như muốn co rúm người lại khi nó nhìn thẳng vào mắt mụ. Cái cặp môi xám xịt chưa thèm nhấc lên để nói một lời nào nhưng mụ hiểu nó muốn nói gì.
Mụ Pat lẹ làng làm dấu thánh giá. Tay mụ run quá, tính đưa tay chấm trán
mà chấm trật ra tới tận mang tai. Tự nhiên, mụ thấy nhói nơi lồng ngực. Làm dấu xong, mụ ra hiệu cho Frank Nitti ra ngoài nhà thờ nói chuyện rồi cúi xuống tính cầm lấy cái sô nước chùi nhà để bước theo. Ủa, tại sao cái quai cầm của sô nước thấy ngay trước mắt mà chụp không được kìa. Tay mụ như cứng đơ, quíu lại. Liền theo đó, mụ thấy nóc nhà thờ quay vòng vòng trên đầu mình. Mụ không đứng vững được nữa, liền chụp lấy thành ghế, té ngồi trên đó. Mãi đến lúc đó, mụ mới biết mình cơn đau tim kỳ này nặng lắm, nếu không được chở vào nhà thương liền thì khó mà thoát tay tử thần. Thấy khuôn mặt tái mét của mụ, Frank Nitti hình như cũng biết vậy nên cúi mình, kề đầu xuống thật sát mặt mụ, mắt tóe lửa nhìn mụ, chờ một câu nói. Mụ Pat ôm ngực hổn hển:
-Cậu, cậu đừng nóng, chuyện đâu còn đó, để tôi tôi trình bày cho cậu
nghe … không phải tôi cố ý bán cha cậu đâu, tôi … bị … bị chúng nó ép quá …
Nói xong là hai hàng lệ của người đàn bà nghèo khổ ứa ra ràn rụa. Frank
Nitti bây giờ mới chịu vén cặp môi xám xịt lên, sủa một tiếng duy nhất:
-Ai?
-Giuseppe.
– Tại sao báo đăng tin bà bị đụng xe chết cách đây sáu tháng?
Mụ Pat lắc đầu, nói qua tiếng nấc:
-Tôi có biết gì đâu. Tôi hoàn toàn không biết gì về vụ đó.
Frank Nitti chỉ cần biết có vậy thôi. Nó đứng thẳng người lên. Mụ Pat ôm
ngực lăn lộn trên chiếc ghế:
Cậu, nhờ cậu gọi dùm ông bác sĩ hay cha xứ, tôi bị đau tim bất ngờ, chắc
tôi chết quá …
Frank Nitti mặt lạnh như tiền, đứng yên nhìn mụ một lúc không nói gì. Đột
nhiên nó rút cây Colt.45 ra cầm nơi tay, nhẹ nhàng bấm nút cho băng đạn rớt xuống bàn tay kia rồi kéo cơ bẩm nghe đến soạt một tiếng. Frank Nitti kê cây súng lục không còn đạn vào ngay giữa hai mắt mụ Pat, mặt vẫn lạnh lùng, cặp môi xám xịt vẫn khép kín như hai cánh cửa nhà mồ.
Đang lăn lộn, chợt nhìn thấy cái nòng súng đen thùi lùi chĩa vô mặt mình
thì mụ Pat hoảng kinh hồn vía, rú lên một tiếng. Cơn đau tim lại nổi lên mãnh liệt lạ thường.
Chẳng nói chẳng rằng, Frank Nitti bóp mạnh cò súng.
Một tiếng cắc lạnh người vang lên. Mụ Pat khựng lên một cái sau tiếng
cắc của cây súng rồi nằm im luôn. Mụ chết mà mắt vẫn còn trợn trừng.
Có lẽ trong thiên hạ kể từ khi người ta biết chế ra súng ống để giết nhau,
người duy nhất có tài bắn súng không đạn mà vẫn giết được người là thằng Frank Nitti này. Thật chẳng hổ danh “đệ nhất đao phủ thủ Nữu Ước”.
Chưa bao giờ tin ai, Frank Nitti lay mụ mấy cái. Thấy mụ vẫn xụi lơ, nó
đặt bàn tay lên bộ ngực lép kẹp của mụ để nghe ngóng. Không nghe tiếng tim đập nữa. Mụ chết thật rồi.
Nhìn cái xác chết, tự nhiên Frank Nitti thấy con người nó trở nên sảng
khoái một cách bệnh hoạn kỳ lạ. Nó thấy đầu óc mình lâng lâng và say sưa như vừa uống xong một ly rượu quý. Nắm chặt cán cây Colt.45, Frank Nitti liếc nhìn khắp một vòng chung quanh nhà thờ, mắt tóe lửa lên làm như nếu thấy được một sinh vật nào đó còn sống ở đâu đây là nó xông tới giết chết liền.
Nhà thờ vắng lặng im lìm, chỉ có tiếng thở của nó là nghe khì khì.
Frank Nitti đút băng đạn trở lại vào cây súng, nhét vào bao dưới nách rồi
quay lui, chậm rãi bước ra khỏi nhà thờ. Đầu óc nó cảm thấy quay cuồng, cơn say máu dường như vẫn còn bừng bừng trong người.
Vừa bước ra khỏi cửa, Frank Nitti hừ lên một tiếng khi nhìn thấy một con mèo đen đang đứng tư lự trên bực thềm đá. Sau cái ngày “uống máu mèo” kinh
hoàng cách đây 2 năm tại đống rác thành phố, Frank Nitti đâm ra k mèo. Con mèo này hôm nay tới số chết nên mới lãng vãng ở đây.
Frank Nitti móc cây Colt.45, nhắm vào đầu con vật vô tư tính bóp cò nhưng
vội vàng dừng tay, đút súng vào trở lại. Nổ súng ở đây là nằm tù mọt gông, nó vừa nảy ra một ý kiến hay hơn.
Nó tới gần bên con mèo, đưa tay vuốt vuốt chú ta, vừa nhìn khắp nơi để
quan sát. Good. Khu giáo đường buổi sáng vắng tanh. Con mèo đen vừa nhắm mắt lim dim như tận hưởng những cái vuốt ve của tên đao phủ thì Frank Nitti bỗng đưa hai tay ra chụp cứng lấy cổ nó, nghiến răng bóp thật mạnh. Mèo, dù là vật bé nhỏ nhưng trong giây phút nguy hiểm của cuộc đời cũng biết tự vệ đẹp ra gì. Nó cào, nó la, nó hét, nó cắn, nó làm loạn cả lên. Chỉ trong vòng tíc tắc, bàn tay Frank Nitti đã bị mèo quào rách vài chỗ. Frank Nitti càng điên tiết lên, dùng hết sức bóp mạnh hơn nữa. Nó nghe thấy tiếng xương cổ con mèo gãy nghe rạo rạo, hai con mắt lòi hẳn ra ngoài kéo theo hai hàng máu chảy,
lưỡi lè ra dài cả tấc, cứt đái cũng đồng thời phọt ra có vòi.
Chỉ một lúc, con mèo xuội lơ, hết gào thét và cũng ngưng cữ động. Tên
đao phủ thủ mỉm một nụ cười khoái trá và nhìn xuống hai bàn tay mình. Ối chào, sao đau quá, có đến năm sáu đường quào chớ ít gì. Nhưng càng đau thì nó càng thích. Có chiến thắng nào mà không phải mua bằng máu kìa?
Frank Nitti lại mở cửa bước vào nhà thờ, đi tới bên cái xác chết, nhẹ nhàng đặt
xác con mèo chết trên bụng của mụ Pat. Xong xuôi nó tà tà bước ra miệng mỉm một nụ cười khoái trá. Đóng cánh cửa nhà thờ lại phía sau, Frank Nitti nghĩ đến cảnh người nào khám phá ra xác chết mụ Pat hôm nay ắt phải thắc mắc làm sao một mụ già như vậy lại có sức bóp cổ chết con mèo trước khi bị nó hớp hồn mang đi.
Đứng trên thềm nhà thờ một lúc, Frank Nitti lại thấy lòng mình từ từ dịu lại
như người uống rượu vừa tỉnh một cơn say. Frank Nitti nhìn xuống bàn tay mình và giật mình khi thấy những vết thương do mèo cào. Nó lại nhớ đến cái lý do nào đã đưa mình tới đây và biết ngay là mình không thể nào hỏi xin ông cha xứ làm phép xác cho đàn anh Russo được. Nó không có can đảm nhìn mặt ông ta. Thôi, đàng nào thì hồn anh Russo cũng xuống địa ngục. Hồn ở địa ngục mà xương thịt nằm trong đất thánh cũng chẳng ích gì.
Frank Nitti lầm lủi bước ra khỏi khu giáo đường leo lên xe rồ máy. Mặt mày nó bình thản và nghiêm trang như một con chiên ngoan đạo vừa đi lễ về. Ngày đầu tiên vắng bóng anh Russo quả thật khó chịu. Dù đã có bằng chứng xác đáng là tụi Giuseppe đứng sau lưng vụ giết cha mình, Frank Nitti vẫn phân vân không biết phải bắt đầu cuộc trả thù như thế nào. Bọn Giuseppe “dòng họ mấy đời” chuyên trị khu bến tàu Nữu Ước với hàng trăm tay súng dưới tay, đâu có
để cho nó vào khơi khơi mà trả thù. Không chừng nhìn thấy mặt nó, chiếc xe chưa thắng kịp là đã bị đạn bắn nát ra như tổ ong rồi.
Frank Nitti lái xe vòng vòng suy nghĩ. Khó tính quá. Xưa nay, nó chỉ nghe
lệnh và nhận lệnh của Russo. Đàn anh biểu bắn thằng này vỡ sọ thì bắn, bảo ôm súng nằm chờ ở đây thì nằm, nó đâu biết gì đến kế hoạch. Đúng ra, đàn anh Russo cũng đã nhiều lần chỉ bảo cho nó nhưng nó còn non quá, mới ra nghề có hai năm thì biết gì.
Frank Nitti lại cố gắng nhớ đến đàn anh Russo. Nếu giờ này ảnh còn sống,
ngồi bên cạnh mình thì chả sẽ làm gì kìa? Sống với nhau hơn hai năm, Frank Nitti nhớ rõ từng cữ động của đàn anh. Trước hết, ảnh sẽ bắt đầu bằng một điếu xì gà. Sau đó, hai đứa sẽ vào một quán cà phê để đàn anh ngồi suy nghĩ có khi đến hàng mấy giờ liền. Vậy tại sao mình không bắt chước kìa. Biết đâu chừng mình cũng sẽ kiếm ra một giải pháp hay như vậy.
Frank Nitti quẹo xe vào một tiệm ăn. Ngồi an toàn sau một cái bàn, đốt
xong điếu thuốc lá là Frank Nitti biết mình vừa mắc phải một lầm lỗi đầu tiên. Lầm lỗi này tuy nhỏ nhặt nhưng anh Russo không bao giờ phạm. Đó là “Đừng bao giờ đem cái bia thịt đến một quán nào mà mình không quen biết cho chúng nó tập bắn.”
Nó vừa nhìn thấy một thằng cô hồn biến mất ngay sau khi nhìn thấy nó. Thằng này đi đâu vậy kìa? Có đủ thứ lý do. Có thể nó đi … đái. Cũng có thể đi lấy thêm cứu viện hoặc đi xin chỉ thị. Khỏi cần phải quan sát lâu, ánh mắt thiện nghệ quét một lượt là Frank Nitti nhìn thấy ngay khuôn mặt của lão bồi pha
rượu xám ngắt ại như một tàu lá. Lão mập này tướng tá coi ngon lành quá, đâu có cái màn bị trúng gió bất tử vậy. Nhất định phải có chuyện gì đặc biệt đâu đây, hoặc sắp sửa có nổ lớn không chừng. Liếc sang bên phải,nó nhìn thấy trong dãy bàn sát bên tường có một mớ mấy thằng cô hồn khác mặc aó bành tô đang ngồi rù rì to nhỏ với nhau gì đó, mặt mũi đứa nào coi cũng sát khí đằng đằng. Frank Nitti kín đáo thò tay cởi hai hột nút của chiếc áo vét, sẵn sàng nổ liền nếu chúng nó có hành động gì khả nghi.
Tuy bất ngờ đi vào một nơi xa lạ và ngửi thấy chuyện bất thường nhưng Frank Nitti vẫn giữ được vẻ bình tỉnh chính hiệu của một “con nhà đao phủ thủ.”
Chết là cùng chớ làm gì mà phải hoảng vía lên kìa? Nó ngoắc tay gọi thằng bồi một cách rất tự nhiên. Chú bồi là dân cắt ké nên chưa biết chuyện trời sắp xập xuống nhà hàng này, vẫn tỉnh queo cười cầu tài:
-Thưa ông, dùng chi?
Frank Nitti móc tờ giấy bạc 20 đô cuộn tròn trong lòng bàn tay đẩy tới:
-Đây là khu nào mày?
Nhìn thấy tờ giấy bạc và cách ăn mặt của người khách lạ, chú bồi hiểu ngay là mình đang đứng trước một găng tơ, liền mau mắn trả lời, bàn tay không quên
đớp lấy tờ bạc cho vào túi:
-Brooklin!
Nãy giờ lái xe lang thang khắp phố phường, Frank Nitti tưởng mình đi lạc ở
đâu xa xôi chớ Brooklin Nữu Ước thì gần quá. Vậy thì tại sao tên bồi pha rượu lại tái mặt lên khi nhìn thấy mình bước vào? Frank Nitti đưa tay ra dấu cho thằng hầu bàn cúi đầu sát mặt rồi lên tiếng hỏi:
Ở đây có gì lạ không mày?
Thằng hầu bàn hiểu ý Frank Nitti. Dân chơi Nữu Ước hỏi vậy có nghĩa là
khu vực này yên tĩnh không đây? Nó gật đầu, quả quyết:
-Đâu không biết chớ trong quán này thì yên tĩnh vô cùng.
Nhìn mặt thằng bồi, Frank Nitti biết nó không dám nói dối. Vậy thì tại sao thằng pha rượu kia lại tái mặt? Hay nó bị trúng gió bất ngờ thật chăng? Frank Nitti bật cười vì ý tưởng ngộ nghĩnh của mình. Sao cũng được, trước sau gì nó cũng kiếm ra. Frank Nitti kéo mũ xuống thấp, che lấp ánh mắt mình và gọi ly cà phê. Đầu cúi xuống nhưng cặp mắt của Frank Nitti không bỏ sót một cử chỉ của tên bồi pha rượu và cái đám mấy thằng cô hồn ngồi bên góc đàng kia. Hình như chúng nó đã nhận ra sự xuất hiện bất ngờ của Frank Nitti, nên đang thì thầm và thỉnh thoảng liếc về phía này theo dõi. Frank Nitti nhìn lên và thấy mặt lão già pha rượu càng ngày càng tái đi.
Rồi nó chợt giật mình khi nhớ đến ngày xưa lúc đàn anh Russo còn sống,
chính nó đã từng ôm súng núp sau quầy rượu chờ địch thủ đến như vầy. Điểm khác lạ là những lần ấy, nó luôn luôn biết trước chỗ kẻ thù sắp đến nên chờ được, bây giờ nó đến bất ngờ, ai có thể biết được mà rình?
Thật là nhức đầu! Frank Nitti thầm ước giá còn anh Russo đây thì vụ này
ảnh nghiệm thấy liền tức thì. Nhưng muốn gì thì muốn, Frank Nitti biết mình không thể ngồi im cho chúng nó tập bắn được. Phải hành động trước rồi muốn ra sao thì ta. Nếu có chết thì cũng không chết hèn. Nó suy nghĩ thật mau. Nếu bọn này tính giết mình, thì mình đứng dậy, chúng nó sẽ có phản ứng liền. Bằng không, tình hình cũng chưa đến đổi nào. Đành phải liều một cú mới biết thời cơ được. Frank Nitti nín thở, tay chuẩn bị thò vào nách và từ từ đứng dậy. Nhìn bằng đuôi con mắt, nó thấy bọn cô hồn bên kia vẫn ngồi yên. Chúng nó chỉ quay đầu lại quan sát Frank Nitti thôi.
Thế là tốt rồi. Chúng nó chưa muốn thịt mình đâu, có lẽ còn đang chờ đợi
một cái gì đó như lệnh trên chẳng hạn. Có khó gì, hễ bắt chuyện được với lão bồi rượu này thì nó sẽ phăng ra được nhiều chuyện. Frank Nitti làm mặt tĩnh, vừa lên giọng nói thật to vừa tiến về phía quầy rượu:
-Ông bạn có thứ rượu vang quý nào mới không, cho tôi coi thử coi.
Nói hết câu thì Frank Nitti cũng đã tới sát bên quầy rượu. Nhìn lão già,
Frank Nitti thấy mồ hôi lấm tấm trên khắp mặt lão. Lão cất giọng, vừa nói vừa liếc nhìn về dãy bàn có mấy thằng mặc áo bành tô đang ngồi:
– Thưa ông, rượu thì có nhiều nhưng ông muốn chọn thứ nào.
Frank Nitti không trả lời câu hỏi. Nó ngồi lên ghế, tay trái dở nhẹ vạt áo
vét, tay phải chỉ vào cây Colt.45 cán bạc đang đeo dưới nách, nói rất nhỏ:
-Ông biết tôi là ai rồi phải không?
Người pha rượu gật đầu. Frank Nitti đã đoán không lầm. Lão phải biết nó
là ai nên mặt mày mới trợn trắng lên khi nhìn thấy nó bước vào. Frank Nitti lạnh lùng nói:
-Rót cho tôi một ly đi, cái gì cũng được, mình vừa làm việc vừa nói chuyện
-Cầu xin thượng đế cứu giúp linh hồn ông Russo. Ông ta tốt với tôi lắm …
Frank Nitti thấy nhẹ nhỏm trong người một chút. Nhưng nó vẫn không hiểu
được là tại sao lão này miệng nói đầy vẻ thân tình mà mặt mày thì cắt không còn hột máu. Frank Nitti vô đề liền:
-Cám ơn ông. Nhưng có chuyện gì mà thấy ông có vẻ lo lắng quá vậy?
Lão già lắc đầu, nhìn ngang ngữa cho đến khi chắc là không có ai ở gần
mới dám thều thào nói:
-Ngũ đại gia đình Nữu Ước đang cho người lùng ông gắt lắm từ tối ngày
hôm qua. Chúng nó vừa nhìn thấy ông bước vào đây, mong ông liệu cho … thế nào cũng có chuyện …
Frank Nitti nhíu mày, hỏi đồn:
-Vậy là ngũ gia không có bắn giết nhau à? Chúng nó họp lại để diệt tôi sao?
-Không! Ngu gì? Trùm Mecca đã chết, chiến tranh đâu có lợi cho ai.
Frank Nitti muốn đập đầu mình xuống nền nhà. Vậy là anh Russo tính trật
lất hay cái chết của ảnh đã thay đổi cuộc cờ? Nếu không có chiến tranh thì gia đình Gravalia đâu thèm dại dột đem nó về để chịu đấm của bốn gia đình kia. Lịch sử Nữu Ước xưa nay đâu có dung túng cho một băng giết mướn “độc lập” kiểu Russo mà dám xông vào đại bản doanh của một trong năm đại gia đình để gây máu lửa như vậy? Anh Russo dám cương ẩu là vì được cánh Gravalia bảo trợ, bây giờ nghe bọn nó họp lại để làm thịt mình, Frank Nitti biết là trùm Gravalia đã bỏ rơi nó. Bỏ không thương tiếc như người ta liệng miếng chanh vào thùng rác sau khi vắt hết nước vậy.
Có hai chiếc xe hơi dừng lại trước cửa nhà hàng. Tuy ngồi im nhưng đuôi
mắt của Frank Nitti cũng đếm được có ít nhất là năm sáu thằng trong mỗi chiếc. Xe tốp lại rồi mà đâu có thằng nào chịu leo xuống. Chúng nó cứ ngồi im như là để chờ đợi ai vậy.
Lão pha rượu nhìn thấy hai chiếc xe bỗng khóc lên híc híc:
-hu … hu, tôi không biết nữa, ông ráng tính đường dọt đi … Tôi mới sang
được tiệm rượu này chưa tới một năm … tôi có một vợ và hai con còn nhỏ …
Không hiểu sao đến giờ phút này mà Frank Nitti cũng chẳng thấy sợ hãi gì
cả. Chết là cùng chớ gì. Nó chỉ tiếc là chết mà chưa trả được thù nhà.
Frank Nitti nhấc ly rượu lên, uống cạn, nói với lão già:
-Ông đừng lo, tôi sẽ đi khỏi đây để cửa tiệm của ông được an toàn.
Đã đến lúc cần phải sống mái một trận cuối cùng với bọn này. “Tao mà
chết thì ít nhất phải có gần chục đứa chết theo tao,” Frank Nitti nói với lòng mình như vậy. Nó móc tờ giấy 100 đô thẩy lên quầy, tính đứng lên thì có một người lạ mặt tà tà tới ngồi xuống cái ghế bên cạnh nó.
Frank Nitti thò tay vào nách, chuẩn bị móc súng ra nhưng bỗng khựng lại
khi nghe tiếng nói đầy sự kính trọng của lão pha rượu với người khách lạ này:
-Kính chào ông Al Capone, lâu quá mới gặp ông.
Capone không nói gì. Hắn nhìn xuống tờ giấy 100 đô la để trên quầy với
vẻ thắc mắc. Bảo vệ an ninh cho cái quán rượu hạng trung này đã mấy năm,
Capone biết khách triệu phú đâu có thèm vào đây.
Capone quay người nhìn thằng khách hàng quái lạ này coi thử nó là ai. Ủa,
thằng này mặt mày búng ra sữa mà tiền đâu nhiều vậy? Tướng của nó là tướng … ăn cướp chớ đâu phải tướng con nhà giàu. Cái nách cộm lên như thế kia thì nhứt định là nó phải có chó lửa trong người, làm sao qua mặt Capone này được. Còn cái cặp mắt sắc như dao và bàn tay để lờ lờ trên bàn như thế kia là để chuẩn bị móc súng ra đó. Gớm thật.
Capone cười cười, sửa lại thế ngồi và móc ra một điều xì gà cắm vào môi.
Capone ngạc nhiên khi nhìn thấy hai cái hộp quẹt đưa tới một lần để mồi lửa cho hắn. Một cái là của lão bồi pha rượu, cái kia là của thằng khách lạ mới là ly kỳ.
Capone đưa đầu điếu thuốc vào cái hộp quẹt của thằng khách lạ, vừa pập
khói vừa nhìn thẳng vào mặt nó. Cặp mắt nó sắc lạ thường, đúng là týp người dám làm chuyện lớn. Và hắn giật mình khi nghe nó nói luôn:
-Tôi là Frank Nitti, đàn em của Russo. Trước khi “đi luôn”, ảnh có nhắc tôi
đến kiếm ông …
Nghe tới đó, Capone giựt mình một cái, quên cả chuyện mình đang làm để
đến nổi khói xì gà chui tuốt vào mũi, bật lên một tràng ho sặc sụa.
Thì ra đây là người em của ông bạn Russo đây mà. Kể từ chiều hôm qua,
nghe tin người bạn ngã gục, Capone buồn rầu đến bỏ cả cơm nước. Mọi dịch vụ trong xã hội đen của Nữu Ước, từ đĩ điếm cho đến sòng bài, 5 gia đình lớn chia nhau bao thầu hết, chỉ chừa lại một “dịch vụ” nguy hiểm nhất và khó ăn nhất là “dịch vụ giết người” thì cho thả nổi. Thằng nào bắn giỏi và coi mấy cái án 3, 4 chục năm tù là nhẹ thì cứ việc nhảy vào nghề này mà sinh sống. Khó khăn vậy mà vẫn có nhiều đứa xông vào mới là lạ. Nhưng đa số, chỉ sau vài tháng hành nghề, thường chấm dứt “dịch vụ” ở ba nơi: Nhà thương, nhà tù hoặc nhà xác. Capone và Russo là hai tay thiên tài lẫy lừng của dịch vụ này nên làm ăm khấm khá lắm cho đến chiều hôm qua, tới phiên Russo chấm dứt “dịch vụ” của mình trong một chiếc xe Cadillac … bị cháy đen thui. Hắn nhớ Russo có nhắc đến một “thằng em bà con” tên là Frank Nitti vài lần, không ngờ hôm nay tình cờ mới gặp.
Capone gọi hai ly rượu rồi xoè tay ra cho Frank Nitti nắm chặt lấy, nói
bằng một giọng rất thân tình:
-Tao là Al, Al Capone, bạn của anh Russo. Chú mày cứ việc gọi tao là
anh. Tao xin chia buồn với mày về sự mất mát đó.
Frank Nitti cúi đầu yên lặng rồi suy nghĩ cố kiếm một câu nói để giã từ ra
đi nhưng nghĩ chưa ra. Nó muốn gặp Capone, nhưng không phải trong hoàn cảnh bi đát và … sắp chết như thế này. Mình là kẻ đang bị treo án tử hình, nên chết một mình, không nên kéo theo một ai nữa.
Hai ly rượu vang được để trên bàn, Capone thân mật trao cho nó một ly:
-Uống với tao một ly đi, uống để nhớ thằng anh mày.
Frank Nitti không biết nói sao đành nâng ly.
-Tao nhớ, thằng anh mày luôn có mộng chọc trời khuấy nước, mày biết nó
có âm mưu gì không?
Frank Nitti lắc đầu.
-Nó muốn gồm thâu hết New York này về thành một mối, làm như là Ceasar ngày xưa vậy.
Capone cười hề hề rồi bỗng im bặt:
-Không thể được, tao tính rồi. Ngũ đại gia đình mọc rể ở đây quá lâu làm
sao bứng chúng nó đi được. Nếu muốn làm hoàng đế thì nên kiếm nơi khác mà làm, như Chicago hay qua tuốt miền Tây, San Francisco chẳng hạn …
Đã đến lúc phải ra đi. Frank Nitti đột ngột chùi miệng đứng dậy, xòe tay ra:
-Rất hân hạnh được gặp ông, ông Capone, tôi có việc phải đi liền bậy giờ.
Đang thao thao Capone bỗng chưng hững. Thằng này tính đi đâu kìa? Có
chuyện gì xảy ra mà thằng nhỏ coi bộ hối hả quá vậy. Capone nhìn nó hỏi:
-Chú mày đi đâu vậy?
-Chuyện riêng!
Miệng nó nói mà mắt nó quắc lên, bắn ra những tia lửa giết người. Capone
lúc ấy mới cảm thấy một việc gì trọng đại sắp sửa xảy ra. Giác quan thứ sáu của hắn ít khi nào đoán trật. Cấp mắt cú vọ của hắn đánh một vòng và biết là mình đoán đúng: Tuốt dãy bên kia là lù lù mấy thằng đao phủ thủ của bọn Giuseppe đang ngồi, ngoài cửa là hai chiếc xe của bọn Mecca. Thằng nào coi mặt mày cũng đầy sát khí. Capone nhíu mày suy nghĩ. Hai băng đao phủ của hai đại gia đình có mặt một lần ở nơi này mà không … bắn nhau quả là chuyện hi hữu. Nếu không bắn nhau thì chúng nó tính bắn ai đây? Dòm tướng tá và điệu bộ, chúng nó đâu có tới đây để ăn mừng sinh nhật của nhau. Mới nhất, chiều hôm qua trùm Mecca lại vừa bị quất sụm …
Và Capone hiểu ra liền. Không bắn nhau thì nhất định phải bắn thằng em
của Russo đây chớ ai nữa. Capone thầm phục “màn lưới tình báo” của mấy gia đình này. Không chỗ nào là chúng không biết, không nơi nào được gọi là nơi an toàn cả.
Đang nắm tay thằng Frank Nitti, Capone lẹ làng kéo nó ngồi xuống trở lại:
-Mày ngồi yên đây với tao, từ từ để tao tính kế cho, bước ra khỏi cửa bây
giờ là nát bấy như cái tổ ong liền …
Frank Nitti bình thản gạt tay Capone ra:
-Cám ơn ông, nhưng tôi lo thân tôi được, khỏi cần ai giúp hết …
Capone trợn mắt nhìn Frank Nitti như nhìn một con quái vật. Xưa nay hắn
đã gặp nhiều thằng khùng nhưng tuyệt chưa có ai khùng kiểu này.
-Mày nói sao?
-Chuyện của tôi, tôi lo được, xin cám ơn và để tôi đi.
Nói xong là nó đứng dậy, nhìn qua đám bàn bên kia như để thách thức.
Bọn đàn em của Giuseppe chỉ chờ có vậy. Nghe rào một cái là chúng nó đứng lên hết, tay đứa nào cũng đút sâu vô trong áo bành tô.
Capone suy nghĩ thật mau. Bằng mọi giá phải cứu cho được thằng em của
người bạn mình. Nhưng khó quá, mình chỉ có một mình, trong tay không có cả cây súng, trong khi bọn kia gom lại cũng cỡ hai chục đứa, võ khí trang bị tới tận răng. Cũng không thể đứng ra điều đình hay năn nỉ chúng nó được. Tiếng tăm mình có thật đó nhưng bọn đao phủ này có biết nghe lời ai đâu ngoại trừ xếp của chúng nó.
Ăn nói bậy bạ có khi còn bị chúng nó cho đi theo thằng Frank Nitti thì bỏ mẹ …
Khó nghĩ quá nhưng Capone biết chắc một điều là nó phải cứu thằng này,
dù có phải chết theo nó. Bỗng Capone nhìn thấy một võ chai bia để dưới quyầy rượu và nghĩ ra được một kế. Hắn làm bộ mặt tiếc rẻ bảo Frank Nitti:
-Mày muốn đi cũng được nhưng ngồi xuống đây cho tao nhắn cái này. Một
lời nhắn thôi rồi mày muốn đi đâu thì đi, tao không cản.
Chết còn chưa sợ thì sợ gì một lời nhắn, Frank Nitti lại ngồi xuống ghế trở
lại. Capone thò tay xuống dưới chụp cổ chai bia, đồng thời ghé sát vào tai nó thủ thỉ điều gì đó …
Frank Nitti đang lắng tai chờ Capone nói bỗng nghe đến rầm một tiếng, thấy đầu mình như bị ai bửa vào một nhát búa, tá hỏa tam tinh. Capone đã bất ngờ
dùng hết sức giộng chai bia xuống đỉnh đầu thằng nhỏ nghe đến “bục” một cái. Chai bia vở nát, mảnh văng khấp nơi. Frank Nitti gục đầu xuống quầy rượu nhưng chưa chịu ngất hẳn, còn ráng thò tay vô nách tính lôi ra cây súng. Capone lẹ làng đứng dậy, chụp cái ghế gần đó phang xuống đầu nó một cái thật mạnh nữa. Sau cú này thì Frank Nitti nằm xụi luôn một đống.
Trước cặp mắt chưng hững của tất cả mọi người trong quán, Capone thò tay
vô nách Frank Nitti, móc ra cây Colt.45 đút vào bụng rồi quay ra sau nhìn bọn
Giuseppe hét to lên như sấm:
-Đù mẹ tụi mày, sao không chạy tới đây giúp tao một tay mau lên, tao hạ
được nó rồi.
Thì ra vậy, bọn Giuseppe đâu có biết là ông trùm đã mướn “đao phủ thủ”
Al Capone thanh toán thằng này. Chúng nó chạy ào tới vây quanh “thằng giết
mướn” Capone. Capone rút cây Colt.45 của Frank Nitti ra chĩa vào đầu nó tính bóp cò. Lão bồi pha rượu sợ hãi quá, thét to lên:
-Không! không! Không giết nó ở đây được, tôi xin ông.
Capone dừng tay, suy nghĩ một lúc rồi dút súng vào bụng trở lại. Lão bồi
pha rượu chắp tay thở ra một hơi dài. Capone vẫn đứng yên nhìn thằng Frank Nitti, hỏi mà không thèm nhìn lui:
– Trưởng toán tụi mày là ai?
-Tôi đây, Mike.
-Mày biết tao không?
-Biết, ông là Capone, ông hành nghề “độc lập” mà.
Capone xoay người, xòe bàn tay ra:
– Vậy tiền của tao đâu đưa đây.
Thằng nọ lắc đầu, chưng hững:
-Tôi có nghe nói gì đâu, kiếm nó cả mấy ngày không ra, tình cờ ngồi đây
chơi thì nó lại dẫn xác vào nạp mạng.
Capone nhổ một bãi nước miếng xuống nền nhà, hằn học:
-Tình cờ mẹ gì, nếu tao không dụ làm sao nó vào đây được. Vậy tụi
Mecca có biết nó ở đây không?
-Chính tụi tôi thông báo cho bọn Mecca đến đây … lượm xác nó mà.
Capone hất đầu bảo thằng Mike:
-Làm ăn như fuck. Mày cho người chạy ra hỏi coi chúng nó có đem tiền
đặt cọc tới cho tao không?
Mike hất hàm ra hiệu cho một đứa đàn em chạy ra ngoài. Capone chỉ mặt
hai thằng bự con nhất:
– Không giết nó ở đây thì đem ra bờ sông bắn cũng được, hai đứa mày chịu
phiền khiêng nó ra xe cho tao.
Hai thằng nọ nhìn Mike chờ lệnh. Nó gật đầu. Thế là Frank Nitti được đứa
ôm chân, đứa ôm đầu khiêng ra ngoài theo gót Capone. Ra tới cửa, Capone hoảng hồn khi nhìn thấy hơn chục thằng đao phủ của bọn Mecca đứng choán đầy lối đi, đứa nào cũng có vẻ “ngụt lửa căm hờn”. Cái điệu này thì một con muỗi cũng chưa chắc đã chun qua được, nói gì đến người? Nhưng Al Capone vẫn mặt lạnh như tiền, bình tĩnh dơ tay chỉ vào một chiếc xe, nói với hai
thằng đàn em của Mike:
– Tụi mày để nó trên đó giùm.
Chúng nó vừa bước ra khỏi cửa thì có một người xuất hiện, hai tay chọc sâu
vào áo bành tô, mặt mũi hung ác lạ lùng, đứng chận ngay lối đi:
-Làm như thế là không được, không thể đem nó đi như vậy được, tụi này
muốn chính tay móc ruột nó ra.
Vẫn lạnh lùng, Capone tiến tới một bước, … xòe tay ra:
-Dễ mà ông bạn, ông đưa tiền đây tôi giao phức cho ông liền. Đù mẹ giữ
cái xác của nó thì ăn c … gì?
Tên kia hỏi lại liền:
-Tiền gì?
-Đù mẹ đừng có làm bộ, tiền mua cái mạng của thằng này chứ tiền gì.
Mấy ông dư biết là thằng Capone này sống bằng nghề giết mướn mà.
Rồi hắn hầm hầm móc cây Colt.45 ra cầm nơi tay, hất đầu bảo hai đứa kia:
– Tụi mày cứ đem nó lên xe đi, để tao lái thẳng về tổng hành dinh của trùm
Giuseppe. Bên Mecca không dám chi thì tôi giao cái xác này cho tụi Giuseppe vậy. Thằng nào muốn cản đường cứ việc nhào ra, Capone này xưa nay rất biết điều nhưng cũng biết cách xử thế khi nồi cơm bị xâm phạm.
Bọn Mecca nhìn nhau bối rối rồi lui bước, nhường đường cho đi. Tụi
Giuseppe cũng ngơ ngác không kém nhưng nghe nói nó đem xác thằng nầy về đại bản doanh của mình thì cũng thấy yên lòng.
Capone đóng cửa xe nghe đến rầm một cái nhưng chưa thèm rồ máy đi vội.
Có cái gì mà phải hấp tấp kìa? Nếu mình chết thì đã chết rồi. Đã lừa được chúng để đem thằng Frank Nitti ra tới đây rồi thì càng phải đóng cho trọn vỡ kịch. Al Capone biết nhiều khi, vỡ kịch coi thấy có vẻ trót lọt mà đến màn chót lại hư hết chỉ vì một chút hớ hênh, hay sợ hãi vô cớ. Nếu chúng nó biết bị lừa vào giờ chót, gần hai chục thằng thiện xạ với hai chục cây liên thanh trong tay dư sức biến chiếc xe của mình thành một cái quan tài.
Al Capone bước trở lại nhà hàng, cắm một điếu xì gà vào miệng:
-Thằng nào có lửa, cho chút coi.
Một đứa trong bọn Mecca thảy cho nó cái hộp quẹt. Al Capone nhả khói:
-Tôi hỏi anh em một lần chót để tránh các vụ hiểu lầm về sau. Có ai muốn
đem cái xác thằng Frank Nitti đi không?
Không có tiếng trả lời. Al Capone dơ hai tay lên trời, phân bua:
-Vậy là thằng Al Capone này phải đem nó đi rồi, đù mẹ chán thiệt … Tiền
không biết được bao nhiêu mà phải chở một cái xác đẫm máu như thế này đi ngờ ngờ giữa New York. Đù mẹ vô phúc mà cảnh sát nó chận lại là 10 cuốn lịch trở lên chứ không phải ít …
Al Capone quay lui, miệng lẩm bẩm mấy lời than phiền. Bọn Mecca và
Giuseppe nhìn theo cho đến khi chiếc xe của Al Capone khuất bóng sau dãy nhà. Sáng hôm sau, Frank Nitti thức giậy trong sào huyệt của Al Capone ở phía
Nam Nữu Ước, thấy đầu và lưng đau nhức không thể tả. Capone nhìn nó mỉm cười:
-Không ngờ quất mạnh vậy mà mày vẫn dậy được. Thông cảm nghe chú
em, nếu không làm vậy thì làm sao lừa được chúng nó.
Frank Nitti nghẹn ngào không biết nói sao để cám ơn cứu tử. Té ra là mình
cứu tử anh Russo, bạn anh Russo lại cứu tử cho mình ….
Từ đó, dân giang hồ New York chẳng có ai nghe tin tức của Frank Nitti và
Al Capone nữa. Đám tang của đàn anh Russo cũng thiếu mặt chúng nó. Làm sao hai đứa dám ló mặt ra được? Xưa nay có ai đủ tài năng để cho cả đám đao phủ của hai đại gia đình cùng vào xiếc một lần. Dĩ nhiên, lệnh tầm nả của ngũ gia bây giờ có thêm cái tên Al Capone đứng phía dưới nữa.
Sau khi nghe Frank Nitti kể lại hết cuộc đời lang bạt của mình, Capone nói:
-Thù thì phải trả nhưng không thể bây giờ được. Lúc tao còn nhỏ đi học,
có một bà phước hay nói với tao như thế này: “Chúa sinh ra chúng ta, có cho chúng ta một người bạn quý mà ít có ai biết làm quen đó là thời gian. Hãy để ông bạn thời gian lo giùm mọi chuyện rắc rối trước, sau đó khi chuyện hết khó khăn rồi, chúng ta sẽ lấy lại để giải quyết” Mấy bà phước nói đúng. Mình phải để cái vụ này chìm xuống chừng một năm đã, tao bảo đảm, mình sẽ lượm xác thằng Giuseppe …
-Mình sẽ làm gì trong thời gian đó?
-Phải đi khỏi nơi đây. Russo không nghe lời tao nên chết thảm, New York
là đất chết. Bọn ngũ gia đã mọc rể ở đây sâu quá rồi, không có cách nào bứng
chúng nó được.
-Đi đâu?
-Chicago!
Frank Nitti ngồi suy nghĩ một lúc thật lâu rồi lắc đầu nói:
-Cám ơn anh Capone, tôi đồng ý với anh là mình phải đi khỏi nơi đây nhưng tôi không xuống Chicago được.
-Mày muốn đi đâu?
-Tôi muốn thay đổi cuộc sống, tôi sẽ đăng lính TQLC.
Capone lắc đầu. Hắn biết thằng này đã muốn làm cái gì rồi thì không ai cản được. Mà biết đâu chừng quân đội là một dịp may cho nó, đầu óc … đầy tội ác
của Capone nghĩ sâu thêm chút nữa. Người ta có thể biến nó từ một thằng đao phủ tầm thường thành một thằng đao phủ siêu hạng có một không hai của thế giới này.
Capone vỗ vai nó, cười rất tươi:
-Đi lính cũng được nhưng để tao hỏi cái này. Về già, mày muốn làm anh
cai đội TQLC … ốm nhách già khụ hay muốn sống như một ông vua với tiền bạc tiêu xài như nước?
-Tính tình như tôi làm sao mặc áo lính suốt đời được. Tôi chỉ muốn thay
đổi cuộc sống trong lúc này thôi.
-Tốt lắm, tao cũng nghĩ vậy nên mày phải nghe cho kỹ đây. Vào trong
lính, mày phải học cho thành thuộc hai môn sau đây để giải ngũ có chuyện dùng tới:
Thứ nhất là chất nổ. Tương lai nằm trong tay những kẻ biết … gài mìn. Nhớ học đủ cách, đủ kiểu và biết tường tận như là mày biết bàn tay mày vậy. Thứ hai là máy móc điện tử. Thông minh như mày thì ráng khai thác càng nhiều càng tốt, sau này sẽ có dịp dùng. Mày phải nhớ là quân trường TQLC là nơi huấn luyện “thợ giết người” tối tân nhất thế giới. Tại đây mày sẽ được xử dụng những thứ vũ khí mới tinh, đi trước các nước khác cả năm sáu năm. Rành hai thứ đó thôi, về Chicago kiếm tao, tụi mình sẽ tính chuyện “thôn tính” Chicago.
-Làm sao mà anh biết rành vậy?
-Tao đọc báo, theo dõi thời cuộc.
Al Capone làm một hơi xì gà, nhìn ra xa rồi buông một câu chắc nịch, đầy
tự tin:
-Nếu mày làm găng tơ để nuôi thân thì chỉ cần một cây súng là đủ, muốn
trở thành giàu có thì phải học hỏi thêm nhiều, phải đọc thêm báo chí. Và muốn trở thành ông trùm thì phải có thêm khoa ăn nói nữa.
Frank Nitti nhìn người bạn mới quen vừa cứu mạng mình và tự nhiên cảm
thấy con người kỳ lạ này có đủ cả ba cái tài kể trên. Đó là chưa nói đến cái tài thứ tư, đó là bộ óc tính toán bén nhậy không ai ngờ được. Nếu Al Capone tính trễ một chút thì giờ này nó đâu có ngồi đây.
-Mày nhắm chịu được kỷ luật quân trường không? Trại TQLC là lò luyện
thép dữ dội nhất thế giới, tao nghe nói nhiều thằng chịu không nổi đã tự tử chết trong đó.
Nghe nói vậy, Frank Nitti sáng mắt lên. Thì nó tính đăng lính cũng chỉ có
bấy nhiêu thôi mà.Nó muốn thử coi cái sức chịu đựng của mình tới đâu.
Frank Nitti thò tay móc cây Colt.45 đưa cho Al Capone:
-Anh về Chicago giữ dùm tôi cái này. Ngày nào ra lính, tôi tới lấy.
Al Capone nhận cây súng, hỏi đùa:
-Mày đã hạ mấy thằng với cây này rồi?
Câu trả lời của Frank Nitti làm Al Capone giật mình:
-Nhiều quá nhớ không hết. Tôi giết người xong là quên liền, nhớ lại ăn
cơm mất ngon.
Al Capone lắc đầu.Hắn biết là mình không bằng thằng lỏi này được.
Sau đó, Al Capone và Frank Nitti phải thay đổi chỗ ở luôn mới tránh được
cuộc săn người vĩ đại nhất của lịch sử Mafia Nữu Ước. Phải mất cả tháng sau, hai đứa mới lén leo lên được một chuyến tàu hoả rời Nữu Ước. Chúng nó phải hóa trang cẩn thận lắm mới qua mặt nổi đám “tình báo” của ngũ gia gài người khắp nơi trong thành phố. Tới Chicago, Al Capone phải bắt đầu mọi chuyện lại từ con số không. Hắn kiếm được một chân gác động điếm lương mười đồng một tuần. Frank Nitti lên tàu hoả đi California để đăng lính TQLC.
Hai thằng găng tơ chia tay nhau âm thầm vào một buổi chiều. Dân anh chị
tuy tình cảm rất nhiều nhưng tuyệt khỏi có cái màn bịn rịn tiễn đưa đi. Tiễn đưa người chết còn chưa thấy gì thì đi xa có vài năm, có gì đáng để nói. Chỉ một cái bắt tay một câu nói chắc như đinh đóng cột của Al Capone: “Khi nào thành tài, mày về đây kiếm tao.” là hết.
Frank Nitti gật đầu. Nhưng bước lên toa xe lửa, Frank Nitti vừa ngồi
xuống, tính chụp mũ ngủ một giấc thì thấy đàn anh Al Capone dọt lên, mặt mày có vẻ hứng khởi vô cùng, ngoắc tay kêu nó xuống.
Xuống khỏi xe, Al Capone mới gõ gõ vào trán mình, nói chậm rãi:
-Tao nghĩ là mình có thể trở về New York trở lại được rồi.
Frank Nitti chưng hửng. Vừa chạy thừa sống thiếu chết ra khỏi cái “lò thịt”
đó xong, chưa kịp hoàn hồn thì đàn anh đã biểu mình trở lại nghĩa là làm sao? Frank Nitti đứng yên, ngó sững Al Capone như trời trồng.
-Đù mẹ đừng có ngó tao bằng cái cặp mắt đó. Lúc ở New York mình hãi
quá nên nghĩ không ra, bây giờ tao mới thấy chìa khóa của vấn đề. Vào tiệm cà phê tao cắt nghĩa cho mày nghe.
-Trễ tàu thì sao?
-Dẹp đi, lát nữa trả vé lại. Chuyến xe sắp tới tao đi với mày, không phải
qua Los Angeles mà về trở lại New York.
Quán vắng người. Gọi xong ly rượu chát cho mình, Al Capone vào đề liền:
-Bọn Mecca tìm giết mày là một lẽ tự nhiên vì tụi mày giết ông trùm của
chúng nó. Tụi Giuseppe tìm giết mày là vị sợ trả thù cái vụ giết cha, có thể hiểu
được. Nhưng điều tao không thể nào hiểu nổi là đến ngày cả trùm Gravalia mà cũng bỏ rơi mày, về hùa với bọn kia để giết mày cho được là tại làm sao? Mày có biết tại sao lão lại một hai đòi giết mày cho được không?
Frank Nitti lắc đầu. Ông này suy nghĩ gì đâu rắc rối quá, đầu óc nó đang
còn mơ tưởng đến những cuộc thao dượt hào hứng của quân trường TQLC, làm sao hiểu được. Frank Nitti buộc miệng:
-Nó không thích thì nó giết chớ gì? Ai biết lòng tụi nó được?
Al Capone bật cười:
– Tao đã nói với mày là cái nhìn của con diều hâu khác con chim sẻ. Mày
mới là con chim sẻ … bắn đẹp thôi, còn lâu mới trở thành diều hâu được.
Frank Nitti dụi điếu thuốc lá:
-Vậy nói đi con diều hâu, tại sao tụi Gravalia muốn giết tôi?
Câu trả lời của Al Capone làm thằng Frank Nitti muốn nhảy nhổm ra khỏi
ghế:
-Tại vì nếu bọn Mecca biết là chính gia đình Gravalia đứng sau lưng đỡ đầu tụi mày để giết thằng Bob Laysten và ông trùm của chúng nó thì cả nhà thằng
Gravalia sẽ không còn một thằng nào sống sót. Nó phải giết mày để bị miệng. Hiểu chưa con chim sẻ … biết bắn súng.
-Nhưng chính tụi Mecca mướn tụi tôi đi giết trùm Gravalia trước mà.
-Đúng. Chúng nó muốn giết trùm Gravalia, nhưng làm sao biết được tụi
kia đã dùng anh em mày để quất lại một cú đẹp vậy. Bọn Mecca chỉ tưởng hai đứa mày cương lên làm ẩu thôi. Bây giờ, bí mật này chỉ còn có mình mày biết. Đó là lý do tại sao chúng nó phải một hai tìm giết mày cho được. Ai cũng có thể tha được hết nhưng Frank Nitti thì phải chết. Tao đã nghĩ kỹ rồi. Mày tưởng bỏ đi lính ở tuốt bên California là thoát được bàn tay của chúng nó à? Không, dưới gầm trời này không có chỗ nào là an toàn hết. Trước sau gì chúng nó cũng kiếm ra mày để làm thịt. Chúng nó phải giết mày để bịt miệng. Mày đừng tưởng chúng nó không có người trong quân đội, tao nghe chúng nó còn mua được cả súng đại liên và súng “Ba dô Ka” mới tinh của TQLC kia mà. Frank Nitti suy nghĩ và thấy rằng mình đúng là một con chim sẻ. Nó phục
đàn anh Al Capone quá chừng. Al Capone có thể bằng hay hơn Russo chứ không thua.
-Vậy bây giờ “Xếp” tính sao?
Al Capone để ý chữ “Xếp” (Boss) mà nó xài. Ra là nó bắt đầu nể mình rồi
đây. Cái thằng cũng khó tính thật. Ngày mình cứu nó thoát chết, nó cũng chưa them gọi là “Xếp”. Bây giờ mới luận sơ sơ có vài câu “chiến lược” mà cu cậu đã mê típ mắt lại và thay đổi cách xưng hô rồi. Đúng là một thằng có máu mafia trong huyết quản.
– Tương kế tựu kế. Tao sẽ làm cho hai cánh Mecca và Giuseppe giết nhau
bằng thích rồi sẽ trở về New York với mày để làm thịt tụi Giuseppe.
– Tụi Giuseppe đâu có dính dáng gì tới vụ giết trùm Mecca, làm sao chúng
nó giết nhau được.
Al Capone lắc đầu:
-Đó mới là vần đề nan giải. Nếu để cho bọn Mecca đánh nhau với
Gravalia thì cặp mắt tao sao còn đáng gọi là có “cái nhìn diều hâu” nữa. Tao đã có cách làm sao cho bọn Mecca thề không đội trời chung với gia đình iuseppe.
-Cách nào vậy … xếp?
-Thì tao phải làm sao để thuyết phục cho chúng nó tin là chính bọn Giuseppe mướn mày để thanh toán trùm Mecca …
– Tụi Mecca cũng đâu có ngu. Chúng nó vừa bị mình lừa một vố ra gì, làm
sao dám tin mình?
Al Capone nhìn thằng em cười cười:
-Chính vì vậy mà tao với mày cần trở lại New York một phen. Hồi còn ở
New York tao có quen biết hai thằng. Một thằng đang làm lính của Giuseppe tên là Vaccio. Thằng này có ông bố cờ bạc, thiếu tiền sao đó không trả nổi nên phải bán con mình cho Giuseppe lúc chỉ là một đứa bé 12 tuổi. Trùm Giuseppe nuôi nó trong nhà và coi như một thứ nô lệ tân thời. Bố nó sau đó có lẽ vì hối hận và túng quẩn quá nên treo cổ tự tử chết ngay tối hôm trước ngày lễ Giáng Sinh. Lớn lên nó biết chuyện này và có tâm sự với tao mấy lần. Nó có ưa gì thằng già Giuseppe, nhưng bị thất học từ nhỏ, lại không biết nghề ngổng gì để nuôi thân đành ôm súng làm một thứ tà lọt hạng bét cho người ta sai khiến. Tao sẽ kêu nó về Chicago với bọn mình.
Dĩ nhiên, trước khi đi, nó phải thi hành công tác của tao giao phó. Thằng kia tên Desino, là một thứ “gián điệp” được ông trùm Mecca gài vào gia đình Giuseppe. Nếu tao dùng thằng Vacca thuyết phục thằng này tin là Giuseppe đứng đằng sau vụ giết ông già nó thì Kelly nhất định phải tin. Mày hiểu tâm lý con người, trong những hoàn cảnh như thằng Kelly bây giờ, người ta thường phải kiếm lấy một cái gì đó để tin … Hơn nữa, thằng Desino “nằm” bên đó lâu quá, lâu lâu cũng cần phải đem một tin tức gì “nóng hổi” về nhà để lấy điểm. Con người mà … Khẩu khí của những tay đại gian hùng có khác, mở miệng ra là cứ nhắc đến tâm lý con người. Frank Nitti lắc đầu:
-Xếp còn nhớ ngày tụi mình trốn ra khỏi New York nó khổ sở như thế nào.
Khổ hơn chó. Tôi không muốn trở lại thành phố … chó đẻ đó nữa.
Al Capone cười:
-Không, lần này mày về đàng hoàng với kế hoạch thần sầu của tao. Tao
biết tính tình thằng Kelly Mecca, trưởng nam và là người kế vị ông trùm. Tao biết có thể cho nó vào xiếc được. Thế nào cũng có nổ lớn. Chỉ tiếc một điều …
-Điều gì?
Al Capone ngữa cổ nốc cạn ly rượu:
-Thằng bạn Russo tao đã chết rồi. Nếu nó còn sống, hai đứa mày và tao sẽ
gồm thâu New York về một mối.
Khi Al Capone đứng lên, Frank Nitti lẹ làng kéo ghế cho đàn anh. Rồi nó
cầm mũ, mở cửa cho Al Capone, điệu bộ y hệt như ngày nào nó đã làm với Russo.
Chỉ khác một điều, thành phố Chicago này là một thành phố “còn trinh” chứ không phải nát bấy như New York, nơi chúng nó sinh ra và lớn lên …
**
Cuộc săn người của ngũ đại gia đình xem ra không thấy kết quả. Ai có ngờ
bọn nhóc con này tài quá. Bao nhiêu người, bao nhiêu đường giây vây bủa kín vậy mà chúng nó cũng trốn biệt được. Ba gia đình xông xáo nhất trong cuộc săn người này, đúng theo ý Al Capone đoán là Mecca, Giuseppe và Gravalia. Chúng nó phải hăng hái vì mỗi nhà có một lý do riêng. Trong khi đó, hai cánh kia thì chỉ tham gia cho có lệ. Sau hai tháng tìm kiếm mà không thấy có kết quả gì thì thiên hạ bắt đầu ngữi được mùi chiến tranh trong không khí. Cánh có nhiều lý do để đái trong quần nhất là tụi Gravalia.
Sáng hôm ấy, trùm Gravalia đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ. Gia đình
Mecca xưa nay là gia đình mạnh nhất, thế lực nhiều nhất mà mình lại lỡ dại dàn cảnh cho hai anh em Russo nướng luôn một lúc từ xếp xuống tới lính gần chục mạng trong vòng một ngày thì cái tội này chừng nào mới rửa sạch được? Kẹt cái là thằng Russo, tuổi trẻ tài hoa coi thấy ngon lành như vậy mà sao lại chết non bất ngờ làm hư hết kế hoạch của mình. Nếu như nó thành công và còn sống thì trước sau gì thế nào cũng … chết, nhưng mà chết dưới mũi súng của mấy thằng cận vệ nhà mình kìa, sau khi đã phá nát hết lực lượng tụi Mecca. Mà số mình sao rủi quá. Nếu đã chết thì sao hai đứa không chết cha nó luôn một lần cho mình dễ tính, để một thằng còn sống làm gì để mình kẹt cứng. Nó mà khai hết cái âm mưu bẫn thỉu này cho thằng Kelly Mecca thì thế giới sẽ nổ thành trăm mảnh. Ghê quá. Trùm Gravalia chặt lưỡi.
Nếu không bịt miệng được thằng Frank Nitti thì trước sau gì tụi kia cũng phanh ra. Đến ngày đó thì chắc hối không kịp. Hay là thử liều mạng, chơi bọn Mecca một cú nữa coi sao? Ý nghĩ vừa thoáng hiện là lão đã lắc đầu. Không được. Gia đình Gravalia từ trước tới giờ vẫn nổi tiếng là một gia đình “thương mại”, đâu có quen đánh đấm, làm sao chơi lại chúng nó được? Trọn canh bạc chỉ có lá bài ngon lành nhất là anh em thằng Russo thì đã đem ra nướng sạch ở chiếu …
Suốt tháng qua, hễ một ngày trôi qua mà chưa moi đầu tụi Al Capone ra
được là trùm Gravalia cứ như người ngồi trên đống lửa. Càng về sau này thì mọi người đều như cảm thấy được là cuộc hoà bình gắng gượng này không thể nào kéo dài lâu hơn nữa được. Sớm hay muộn, chiến tranh sẽ nổ ra, New York sẽ tràn ngập máu. Năm nay trùm Gravalia đã trên sáu mươi. Ở lứa tuổi này, làm gì người ta cũng tính toán rất cẩn thận. Với lá bài Russo trong tay, lão âm mưu cú chót để chuẩn bị về hưu. Nhưng ai có ngờ …
Tuần lễ vừa rồi, tin tức “tình báo” cho biết có cái gì “ngửi không được” bên
gia đình Mecca. Mấy chục tay súng thường ngày vẫn hay nhởn nhơ khắp nơi ở các động chơi của New York để phô trương thanh thế của gia đình Mecca bỗng biến mất một cách kỳ lạ. Năm mươi năm trong nghề đâm chém, ông trùm hiểu thằng trưởng nam của Mecca, đi theo bố bao nhiêu năm rồi không tự nhiên rút quân của mình về để tổ chức ăn nhậu khi bố vừa bị giết chết thê thảm.
Hay là tụi nó đã bắt được thằng Frank Nitti mà chơi khăm không báo cho
mình biết kìa. Nghĩ đến đây, mồ hôi ông trùm bỗng vả ra. Trời sinh ra con người, thường ban cho họ một cái giác quan nào đó để mà sinh tồn. Chiều nay, ông chưa bao giờ thấy cái giác quan bí mật này trở về một cách mạnh mẻ như vậy. Thằng Calven, theo ông trùm làm consigliosie từ bao nhiêu năm biết ý chủ liền tăng cường toán cận vệ lên đến 30 đứa nhưng ông trùm vẫn cứ thở vắn than dài suốt buổi.
Chiều nay, hai người đang ngồi thương lượng thì một cú điện thoại khẩn
cấp gọi về thông báo một tin tức động trời. Thông thường thì điện thoại gọi về đại bản doanh là tuyệt đối cấm xin nói chuyện với Calven hay ông trùm. Trùm Gravalia vốn biết tụi cảnh sát liên bang là chúa nghe lén những đường giây điện thoại. Nhiều khi người ta vào tù hay thân bại danh liệt chỉ vì một cú điện thoại hớ hênh. Nhưng cú này là cú đặc biệt. Đặc biệt đến độ vừa nghe xong mẫu tin là ông phụ tá Calven tái mặt liền …
Là một người cẩn thận nên từ lâu, trùm Gravalia đã gài được một nhân
viên của mình vào trong cái đám lâu la của Mecca. Thằng này chỉ giữ một chức vụ hạng bét là nuôi ngựa cho mấy đứa cháu cưng của ông trùm thôi nhưng được ở ngay “mặt trời” thì tin tức nó kiếm được quý giá phải biết. Có ai ra khỏi đại bản doanh hay làm gì mà nó không biết? Nhiều khi kẻ đứng ra mở cổng lại chính là nó. Thì cái âm mưu “Xoá tên gia đình Gravalia tại nhà hàng con chuột trắng” dạo nào của trùm Mecca bị đổ bể là cũng bởi thằng này. Đúng hơn, cái mạng của ông trùm bị anh em thằng Russo lấy gọn là cũng bởi nó. Vậy mà có ai biết? Bố chết rồi, Kelly Mecca lên thế cha, cũng vẫn quý trọng nó như thường. Có khi còn hơn cha nữa là khác vì nó là “người cũ của bố” mà.
Chính thằng gọi điện thoại mà giọng cũng run lên thì phải biết là ghê gớm
tới cỡ nào. Calvin ráng đứng cho vững khi nghe nó nói:
-Thằng cả Mecca dẫn đầu một đoàn xe 4 chiếc đang trực chỉ “nhà mình”
đó.
Phản ứng đầu tiên của Calven là thò tay vô bụng mình liền, rờ rờ vào cán
cây Colt nhét ở cạp quần, làm như là bọn Mecca đã đứng thập thò ngoài cửa rồi vậy. Ông trùm vẫn ngồi im trên bàn giấy, nhưng thái độ của thằng phụ tá sao
qua mắt ông già được. Giờ G đã điểm rồi sao. Ông thở dài lên một tiếng, ráng giữ kiên nhẫn để chờ thằng Calven báo cáo lại xem nó đã nghe những gì.
-Sao mầy biết nó đang tới đây?
-Hỏi lạ vậy. Nghề của tôi mà ông phụ tá. Chừng mười lăm phút nữa mà
chúng nó không có mặt ở đó thì tôi nghĩ không ăn lương.
Giây phút hốt hoảng đã qua, Calven lấy lại phong độ của một consigliosie thời chiến ngay. Nó tính toán. Dù gì thì mình cũng có mười lăm phút để chuẩn bị.
Hơn nữa, chúng nó đem xác tới đây là dại. Đánh bất ngờ may ra chúng có thể thắng nhưng mình đã biết trước như thế này thì mười chiếc xe cũng chết chứ đừng nói bốn.
Hơn nữa, còn cái món “vũ khí bí mật” mà ông trùm mới mua để làm gì kìa? Calven mỉm cười và nhớ đến cái “võ khí bí mật”. Đó là cây đại liên 50 ly do hãng Colt chế tạo. Cây súng này mới tinh, đang còn được bộ binh Hoa Kỳ cho thí nghiệm bắn thử ở khắp lục địa, chưa đến tay lính tác chiến mà ông trùm có trước được hai cây mới là tài.
Ngay cái ngày đầu tiên đem súng về, Calven đã cho bố trí một cây ngay
cổng ra vào, tuốt phía trên lầu 3, nhìn xuống một quãng đường dài. Phải mất hết cả tuần lễ mới kín đáo đem nó lên tới đó được, bây giờ là lúc có thể nhờ nó đây.
-Ngoài ra, mầy còn thấy có gì đặc biệt không?
Một thoáng ngần ngừ rồi câu trả lời:
-Hình như nghe tin thằng Capone đã xuất hiện trở lại ở New York.
Bây giờ thì tới phiên giọng ông phụ tá Calven trở nên run run:
-Capone?
-Ừ, tôi không biết thằng này rõ lắm nhưng nỗ là chỗ quen biết với Kelly
ngày xưa. Nghe nói hai bên có gặp nhau để thương lượng gì đó.
Calven biết là mọi chuyện đã phải đến hồi kết thúc. Thì thằng Capone gặp
Kelly để kể tội mình chớ gì. Thảo nào chúng nó chẳng lên xe kéo hết về đây để trả thù.
-Ông phụ tá còn chỉ thị gì nữa không, tôi cúp máy đây.
Chỉ thị mẹ gì nữa, Calven bảo nó cúp máy và gọi lại tối nay. Nó chỉ hy
vọng sau cuộc binh biến lát nữa sẽ xảy ra tại đây, mình sẽ còn nguyên một miếng để đứng trả lời điện thoại của thằng này.
Cái ống nói này vừa gác lên là Calven chụp liền mấy cái ống nói khác, chỉ
thị và ban lệnh lạc lia lịa, để mặc cho ông trùm ngồi yên ngó. Phân cắt lực lượng đâu đó đàng hoàng xong, nó mới đến bên ông trùm, nghiêm nghị nói:
– Thằng cả nhà Mecca dắt 4 chiếc xe phóng tới đây. Không biết nó đến để
làm gì nhưng tôi đã bố trí lực lượng đâu đó xong hết rồi.
Ngừng một chút, nó thông báo luôn cái tin mà ông trùm rất sợ nghe:
-Hình như thằng Capone đã liên lạc được với tụi Kelly Mecca rồi.
Từ lúc nó chụp điện thoại lên, nhìn sắc mặt nó là trùm Gravalia cũng phần
nào đoán được nội dung câu chuyện. Không ngờ kết cuộc lại còn ghê gớm hơn ông nghĩ. Vậy là thằng Capone đã đến đó khai hết mọi chuyện rồi chăng? Nếu thế thì chắc chắn là chiều nay phải là một buổi chiều kinh hoàng nhất của New York và của hai gia đình mafia số một.
Ông đứng dậy, chỉ vào cái quầy rượu. Calven thấy có lý lắm. Nó rót đầy
một ly cho ông và một ly cho mình:
– Tụi nó sẽ có mặt ở đây trong vòng 15 phút nữa …
Mười lăm phút nữa. Cả cơ đồ của mình như vậy mà chỉ trong vòng 15 phút
nữa không chừng sẽ bị tiêu tan.
-Cái tao không thể hiểu được là tại sao chúng lại phóng xe hết về đây? Mà
lại có cả thằng Kelly dẫn đầu nữa?
-Tôi cũng nghĩ như ông. Nếu muốn chơi mình, nó sẽ có thiếu gì cách làm
đẹp hơn. Cái kiểu này là kiểu TQLC Mỹ đi hành quân chớ đâu phải kiểu “anh em mafia” đánh nhau.
Làm một ngụm rượu, trùm Gravalia nhíu mày:
-Mày đã ra lệnh cho thằng thủ đại liên?
-Dạ rồi. Lệnh của tôi là hễ thấy đủ bốn chiếc xe của chúng nó lọt vào con
đường dẫn vào cổng chính, cách đúng 150 feet là nổ liền. Với cây đại liên đặt ở chỗ đó, nhịp bắn 600 viên một phút, sẽ không có chiếc nào còn nguyên một miếng mà mò tới cổng.
Trùm Gravalia gật gù:
-Được lắm, chú mày bố trí vậy thì Napoléon sống lại cũng chào thua.
Nhưng nếu chúng nó đến đây để bàn chuyện làm ăn thì làm sao? Đù mẹ đâu có lý nào lại khơi khơi nổ banh xác chúng nó ra như vậy?
Câu hỏi đó thì Calven không trả lời được. Nếu mình biết trước được hết
mọi chuyện thì còn nói làm gì nữa. Nó nhìn ông trùm, lắc đầu:
-Đành vậy! Nhưng ngược lại, nếu chúng nó đến đây không phải nói
chuyện mà để làm thịt mình thì sao? Ông trùm đừng quên yếu tố Capone.
Lần này tới phiên trùm Gravalia không trả lời được câu hỏi. Một giả
thuyết khác đứng rất vững là chúng nó có thể đến đây để thương lượng chuyện làm ăn, hay chỉ để uống vài ly rượu vang cho đỡ buồn. Nhưng nếu có vậy thì tại sao lại phải đi tới bốn chiếc xe một lần? Hay thằng Kelly hôm nay muốn biểu diễn một chút uy quyền, thứ “tiền hô hậu ủng” cho ra cái vẻ ta đây cũng là trùm đâu có thua gì bố. Có thể lắm, bọn con nít thường làm những chuyện trái tai gai mắt như vậy. Khó nghĩ quá. Lão xoay xoay ly rượu trong tay, lắc đầu tiếc rẻ:
-Thôi thì đành chơi trò đánh bạc vậy. Một thắng hai thua.
-Ông trùm muốn chọn cái lá bài nào. Bắn hay không bắn.
-Bắn. Chẳng thà bắn lầm còn hơn bị bắn.
– Vậy thì khỏi có gì phải lo nữa, tôi đã chuẩn bị xong rồi.
Mấy phút đồng hồ còn lại, Calven lo thu dọn mớ giấy tờ ở trong văn phòng.
Nổ xong là bộ tư lệnh phải dọt đi gấp gấp, nếu không muốn bị cảnh sát ập vào đây còng đầu đem về nhà đá. Nội cái tội dám tàng trữ vũ khí ăn cắp của chính phủ là cũng đủ năm cuốn lịch rồi, chưa kể đến tội cố sát và tội phá rối an ninh trật tự. Càng nghĩ đến đó, bàn tay ông phụ tá càng di chuyển mau lẹ và nhịp nhàng …
Trong lúc Calven bận rộn với mớ giấy tờ, trùm Gravalia ngồi suy nghĩ đến
cái giá phải trả cho cuộc chiến này. Vậy là hết, chẳng còn gì giữa hai gia đình.
Càng nghĩ đến ngày mai đen tối, lão càng nhớ đến thằng Russo. Phải chi nó chết trễ một chút nữa thì cuộc cờ sẽ đẹp biết mấy.
Theo đúng chỉ thị của ông phụ tá, toán an ninh đã dàn trận sẵn sàng. Lệnh
của ông phụ tá ban ra như thế này: Cấm không được đứa nào tự động khai hỏa mà phải chờ tiếng súng của thằng giữ đại liên. Thằng này, đứng trên sân thượng, phải chờ làm sao cho cả bốn chiếc xe cùng lọt vào trong tầm bắn một lần rồi mới khai hỏa. Cấm tuyệt đối không được nổ trước mà cũng không được rời chỗ ẩn nấp bất cứ vì lý do gì. Tràng đạn của cây đại liên sẽ là những phát súng lệnh tuyệt đối. Đứng trên tầng cao nhất của sân thượng, thằng xạ thủ đại liên nhìn thấy một dàn bốn chiếc Cadillac của bọn Mecca bắt đầu quẹo vào khu phố. Nó kiểm soát lại dây đạn, coi lại cái cái khoá an toàn, mím môi chờ đợi.
Ngay lúc ấy, Calven vừa thảy xong mớ giấy tờ cuối cùng vào Vali thì chuông điện thoại reo vang. Calven xoay người nhìn và nhăn mặt lại. Thằng chó nào không biết mà giây phút thập tử nhất sinh này còn gọi vào đây? Nhưng khi nhận ra đường chuông reo ở cái điện thoại bí mật thì mắt hắn sáng lên ngay. Nhất định phải có chuyện quan trọng. Mà không chừng cú điện thoại này có dính dáng đến trận tranh hùng sắp tới này lắm.
Calven bốc điện thoại. Ra là thằng “gián điệp” ở nhà Mecca gọi tới:
-Chúng nó tới không phải để đánh mình mà đã lập kế hoạch đánh tụi Giuseppe đó, ông phụ tá đừng có cho nổ ẩu. Có thằng Al Capone muốn nói chuyện
với ông trùm.
Calven ra dấu cho ông trùm Gravalia bắt ống nghe phụ bỏ vào tai, lên
giọng:
-Al Capone? Mày không nói giỡn?
-Không, ông phụ tá, tôi đâu có thì giờ … Hello, Al đây.
-Hello Al, Calven!.
-Lâu ngày không gặp, ông phụ tá vẫn còn cho đàn em đi kiếm tôi chớ?
-Hết thì giờ rồi, có gì nói mẹ nó ra đi cha nội.
Giọng của Al Capone nói rất nhỏ, làm như nó không muốn cho ai nghe
thấy:
-O.K. nghe cho kỹ đây ông phụ tá. Tôi biết ai đứng đằng sau vụ giết ông
trùm Mecca rồi nhưng chuyện đó bỏ qua đi, “thằng Frank Nitti chết rồi.” Ông hiểu ý tôi nói chớ, nó “chết cách đây hai ngày và sẽ chết cho đến khi nào tụi tui quất được thằng Giuseppe.” Hơn nữa, tôi có bằng chứng là tụi Giuseppe đã đứng ra làm thịt ông trùm Mecca. Ông nghe rõ chưa? Và bằng chứng này hình như thằng Kelly Mecca đã biết. Nó, ông và chúng tôi sẽ hợp lực để đập tụi Giuseppe một mẻ.
Thằng Frank Nitti muốn trả thù cái chết của bố nó. Mong ông hiểu cho. Trả thù
xong là chúng tôi sẽ đi khỏi New York, một lời nói danh dự của thằng Capone này. Vậy ra là chúng nó cho thằng Frank Nitti “tạm chết” để đánh hoả mù giữa
tụi Mecca và Giuseppe. Gớm thật. Hậu sinh khả uý.
Calven nhìn ông trùm hỏi ý kiến. Hỏi mẹ gì nữa, vậy là được quá rồi còn
gì. Đã từ lâu, ông biết trùm Giuseppe đứng đàng sau vụ ám sát ông Albert Nitti. Rồi cuộc tàn sát tại nhà Mecca đã làm mọi chuyện đảo lộn. Hôm nay, ông không ngờ thằng Capone mới có chừng ấy tuổi mà đã biết tính toán đâu ra đấy đàng hoàng.
Nếu chúng nó khai với tụi Mecca là cánh Gravalia đứng đằng sau vụ đổ máu bất hủ đó, chắc chắn chiến tranh sẽ xẩy ra. Nhưng ai được lợi kìa? Dĩ nhiên không phải là hai gia đình đang lo đánh nhau túi bụi. Và tụi Frank Nitti cũng chẳng được cái gì cả. Kẻ ngồi mát ăn bát vàng phải là thằng Giuseppe. Nó đã mạnh sẵn, bây giờ cứ đứng khoanh tay mà nhìn hai kẻ thù của mình giết nhau thì còn gì thú bằng. Chờ đến gần tàn cuộc, nó sẽ lựa gia đình mạnh hơn nhảy vào thanh toán nốt gia đình yếu để chia chác quyền lợi. Không chừng xong chuyện rồi nó còn quay lại bứng luôn gia đình kia thì cả New York này chắc chắn phải về nó. Đây là điểm chiến lược quan trọng đã làm ông trùm mất ăn mất ngủ mấy tháng nay. Dĩ nhiên, nếu chuyện này xảy ra thì thằng Frank Nitti làm sao trả thù cho bố được. Không những vậy, thằng Frank Nitti dù có bay lên trời tụi Giuseppe cũng cho người đến cắt cổ để trừ hậu hoạn.
Dân Sisilian nhiều khi chỉ có một cái tát mà đến 50 năm sau nó còn nhớ thì nói gì cái mối thù giết cha. Cho nên, cái việc làm của thằng Capone chứng tỏ nó là một tay mưu lược trùm đời, tương lai sẽ rất khá. Nó lại còn cẩn thận hứa là xong việc sẽ bỏ New York mà đi thì biết điệu quá.
Ông trùm gật đầu liền hai ba cái. Calven trả lời:
-Mày muốn vậy cũng được, nhưng xong việc thì phải cút khỏi New York
gấp gấp, tụi tao không muốn nhìn thấy mấy cái bản mặt cô hồn của tụi mày ở đây.
-Dĩ nhiên rồi, ông phụ tá khỏi lo chuyện đó. Nhưng còn chuyện này nữa.
-Chuyện gì?
-Anh em lúc này kẹt quá, ông phụ tá nói với ông trùm là bắt người ta đi “lưu vong” thì phải cho con người ta chút ít tiền chớ, xuống nơi xa lạ lấy chó gì mà
sống?
Calven cười. Đù mẹ thằng quỉ này chết đến đít mà vẫn ráng bắt địa cho
được. Nó nhìn ông trùm và thấy ông gật đầu, đưa lên hai ngón tay, bèn nói:
-Được. Ông trùm cho hai đứa tụi bay 20 xấp, nhưng trước khi lên xe mới
giao tiền.
-O.K. Nhờ ông phụ tá gởi lời cám ơn giùm tôi. Nói với ổng là có thể tin
Capone này được. Thằng này nói một lời cho có chết cũng không bỏ …
Vừa nghe tới đó thì Calven cũng nhìn thấy chiếc Cadillac đầu tiên của bọn
Mecca quẹo vào. Nhìn kỹ hơn thì nó thấy thằng Kelly ngồi nghênh ngang ở ghế sau của chiếc đầu tiên, điệu bộ rất phong lưu nhàn nhã. Đúng thật, chúng nó đâu có đến đây để tấn công mình. Nếu đến để tấn công thì đời nào chúng nó lại để xếp ngồi hớ hênh vậy.
Calven buộc miệng chửi thề. Đù mẹ mấy thằng con nít mới lên ngôi vua
này, bày trò tiền hô hậu ủng làm chi không biết để suýt tí nữa thì có đổ máu tùm lum. Nghĩ chưa hết thì Calven giật nẩy mình và nhớ đến thằng thủ đại liên. Cứ đúng theo lệnh ban ra thì thằng này sẽ chờ cho đủ bốn chiếc xe quẹo vào con đường dẩn tới cổng chính thì nổ liền. Sau khi đại liên khai hoả, tất cả những họng súng khác ở trong nhà tổng cộng chừng 40 cây sẽ đồng loạt nổ một lúc. Thằng nào sẽ sống nổi?
Calven không kịp trả lời nữa. Nó cúp điện thoại, sủa được ba tiếng “cây đại liên” xong là phóng như bay ra khỏi phòng. Đến lúc ấy, chiếc Cadillac thứ hai
của bọn Mecca bắt đầu quẹo vào cổng chính.
Bọn cận vệ đang ở trong “vị trí tác chiến” ngoài văn phòng của ông trùm,
nhìn thấy ông phụ tá đương không hớt hãi bung cửa chạy ra trối chết như vậy thì kinh ngạc, lắc đầu nhìn nhau. Ông phụ tá chạy xuống hết bậc thang, thì chiếc xe thứ ba của bọn Mecca quẹo vào.
Không kịp nữa rồi. Calven vò đầu bức tóc. Từ đây ra đến sân chính, có
chạy mau lắm cũng mất đến ba mươi giây đồng hồ. Mà đứng đây la lên cũng không được, nó đứng tuốt trên lầu ba, đâu nghe thấy gì? Trời hỡi, ai bảo rằng có gián điệp nằm bên phe kẻ thù là tốt? Nếu hồi nãy, nó không gọi điện thoại về với cái tin … lẩm cẩm thì giờ này cảnh tương tàn đâu đã xảy ra. Than ôi, một sự nghiệp lẫy lừng như vậy mà cuối cùng bị tiêu tan vì một cú điện thoại.
Calven vận hết sức còn lại, chạy như bay ra sân chính trước hàng chục cặp
mắt kinh ngạc của đàn em. Chạy được đến gần tới nữa sân thì Calven thoáng nhìn thấy chiếc xe thứ tư của bọn Mecca quẹo vào sân chính …
Xong rồi. Vậy là hết. Chỉ trong vòng một giây đồng hồ nữa khẩu đại liên
sẽ khai hoả. Sau đó, cả toà nhà sẽ rung động dưới tiếng nổ hàng chục cây tiểu liên cùng nổ một lúc. Và, dĩ nhiên, đó cũng có thể là ngày tàn của hai gia đình Gravalia và Mecca.
Mồ hôi Calven toát ra như tắm. Trán hắn nhăn lại, hai mắt lạc thần khi
nghĩ đến cuộc đại chiến điên khùng sắp xảy ra chỉ vì một chuyện lãng nhách.
Giữa lúc đó, thay vì những tràng đạn khủng khiếp xé trời của cây đại liên
như mình lo sợ, Calven lại nghe thấy một nổ bụp rất gọn của ai đó vừa bắn ra. Tất cả mọi người đều ngạc nhiên thắc mắc. Ai dám nổ súng trái lệnh của ông phụ tá vậy? Mà hình như tiếng súng phát ra từ trên lầu, gần nơi văn phòng chính.
Lúc này thì bốn chiếc xe của gia đình Mecca đã đỗ xịch trước cổng. Bọn
cận vệ trong nhà đứng im, không dám nổ súng cũng không dám bỏ chỗ núp. Ủa, cái thằng xạ thủ chết dịch này sao mà chậm trễ vậy? Kẻ thù ngờ ngờ trước cổng, sao nó chưa chịu bóp cò để anh em còn bắn nữa chớ, bộ ngủ gục trên đó hay sao. Calven chạy đến giữa sân, nhìn lên ổ súng và hiểu liền mọi sự. Thì ra ai lẹ tay đã để cho thằng xạ thủ một phát súng vào đầu. Nó nằm ngã người trên ụ súng, có giòng máu rỉ ra nơi cái miệng méo xệch. Calven nhín xéo lên chỗ văn phòng và nhìn thấy ông trùm Gravalia đang vẫy tay cười cười, ra dấu bảo nó mở cổng ra đi.
Trên tay ông trùm là khẩu súng trường Winchester còn bốc khói. Calven thở phào một cái nhẹ nhỏm. Ra là mình đã nhanh, nhưng ông già còn lanh hơn mình một bực. Hèn gì chẳng được làm trùm.
Calven ra hiệu cho đám cận vệ nhà dẹp hết súng ống và đích thân chạy ra
mở cái cổng sắt. Cái then cài bự đến vậy mà phải chụp đến mấy lần mới trúng được vì bàn tay run quá …
Bốn chiếc xe của tụi Mecca chỉ có hai chiếc chạy vào, hai chiếc kia dừng
phía ngoài để làm an ninh. Xe của trùm Kelly tốp lại trong sân, cánh cửa sắt vừa đóng lại thì ông trùm Gravalia cũng đã có mặt ngay tại nhà dưới. Ông khựng người lại một chút khi nhìn thấy thằng AI Capone nhưng trấn tĩnh được ngay. Al Capone còn kín đáo nháy mắt một cái. Cáo già như trùm Gravalia thì hiểu được ngay là thằng lỏi con này muốn chơi trò gì.
Ông ôm Kelly hôn và thầm nghĩ trong lòng là xong trận này, bọn Giuseppe
sẽ không còn được giới giang hồ New York nhắc đến nữa. Gravalia nói:
-Chú mày giống bố y hệt, đi đâu là không bao giờ để cho ai biết trước.
Lần sau, nên thông báo để người nhà còn có thì giờ chuẩn bị đón tiếp.
Kelly cũng quỷ quyệt không vừa:
-Lâu lâu ghé thăm bất ngờ như vậy mới biết lòng nhau.
Trùm Gravalia hơi bất mãn trong lòng vì câu nói này và nhớ đến giây phút
nguy kịch lúc nãy. Nếu không có cú điện thoại của thằng điệp viên gọi về thì giờ này nó là một cái xác không hồn rồi chớ đâu có còn đứng ở đây mà nói chuyện trời đất. Mà nếu nó bị bắn chết luôn chưa chắc phải là một đại họa cho mình. Ông trùm tiếp Kelly ở phòng làm việc ngay dưới lầu một. Calven mở cửa, Kelly bước vào một mình, để hết đám cận vệ ngồi chầu rìa ngoài phòng khách. Rót rượu cho hai người xong, Calven ra ngồi phía sau ông trùm.
Ông trùm Gravalia mở lời:
-Chú Kelly lên thăm bất ngờ chắc có chuyện muốn bàn.
-Đúng. Chuyện rất quan trọng tôi muốn nói …
Ngừng lại làm một ngụm rượu, Kelly thong thả tiếp:
-Tôi biết bọn nào đứng sau lưng anh em thằng Russo để hạ ông già rồi …
Nói tới đó, Kelly im bặt. Ông trùm Gravalia cùng thằng phụ tá như muốn
nín thở. Đù mẹ thằng này ăn nói giống y hết bố nó, cái gì cũng úp úp mở mở, hư hư thật thật làm không ai đoán ra được gì. Trùm Gravalia nâng ly rượu, phá tan sự yên lặng ghê gớm:
-Chúc mừng chú em. Thù nhà là chuyện quan trọng nhất, nhiều khi còn
quan trọng hơn cả chuyện làm ăn. Vậy thằng gia đình nào đã đứng sau vụ này?
– Bọn khốn nạn Giuseppe!
Trùm Gravalia và thằng phụ tá thấy khoẻ khoắn trong người liền. Ông
trùm Gravalia hỏi ngay:
-Có bằng chứng gì không?
-Một thằng đàn em của nó về đầu quân với chúng tôi. Nó khai hết mọi chuyện.Ông trùm Gravalia gật gù:
-Gớm thật cái thằng Giuseppe …
Kelly nốc cạn ly rượu:
-Vì vậy hôm nay tôi mới đến thăm ông trùm, tôi có một đề nghị này cho
ông.
-Nói đi.
-Nhân danh là “Don” của gia đình Mecca, tôi muốn cùng ông trùm thoả
thuận “hiệp ước bất tương xâm”. Tôi muốn ông cho tôi rảnh tay để diệt tụi
Giuseppe. Tôi lấy danh dự và thề trên xác chết của cha tôi rằng bọn tôi sẽ không bao giờ đụng đến ông, và ngược lại, nếu thấy đề nghị là đúng, tôi cũng xin ông thề rằng không bao giờ đụng đến gia đình tôi.
Dân mafia xưa nay là vậy. Bàn chuyện làm ăn bạc triệu hay chuyện chiến
tranh có thể ảnh hưởng đến sinh mạng của hàng trăm người, không bao giờ thấy ký với nhau một tờ giấy nào. Chỉ một lời nói danh dự là đủ rồi. Một mafiosi có thể chết chứ không bao giờ để lời hứa mình bay đi.
Ông trùm khẽ liếc mắt nhìn Calven rồi cúi đầu suy nghĩ. Mình mới giết
cha nó xong, tính lật đổ cả gia đình Mecca nhưng chuyện bất thành, đang vãi đái trong quần thì thằng cả nhà này lại vác mặt tới đề nghị kết anh em. Thật chẳng còn gì ngon hơn. Khỏi cần hỏi ý kiến thằng consigliorie, ông cũng biết là nó đang mừng như mở cờ trong bụng.
Ông trùm nhíu mày:
-Chú mày đã tính toán kỹ chưa?
-Tôi nghĩ là “Don” của một đại gia đình như nhà tôi khi nói ra rồi thì chẳng
có gì phải suy nghĩ lại cả.
-Chú mày thề là sẽ không đụng đến gia đình tao dù bất cừ trường hợp nào?
-Đúng! Nếu ông cũng thề được như vậy.
Trùm Gravalia đứng lên ôm lấy Kelly Mecca mà hôn, vỗ vỗ vào lưng nó,
nói thật bùi ngùi:
-Trừ phi tôi chết thì thôi, nhưng từ nay giữa Mecca và Gravalia, sẽ không
9 giờ. Tôi bảo Đặng Xuân Côn thả tôi xuống trước rạp Kinh Thành. Côn chạy về Phú Nhuận. Mình tôi đứng bên dãy phố Hai Bà Trưng nhìn sang vỉa hè bên kia, buổi sáng Tân Định. Chỗ đó, vài hôm trước, tôi vừa gặp anh Trần Kim Tuyến, sơ-mi bỏ ngoài, giép Nhật Bản, thất thểu đi. -Anh đi đâu đấy, anh Tuyến? – Đi đâu? Ông Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị, “tên trùm mật vụ ác ôn thời Diệm” – cộng sản nó gọi thế – thở dài. – Chúng ta đã chống cộng. Riêng tôi thì cứ ngoác miệng đòi “chống cộng đến chiều.” Và rồi chúng ta hỏi nhau đi đâu. Anh sẽ đi đâu, anh Tuyến? – Chẳng hiểu. – Mỹ nó không đón anh à? – Không. Còn cậu? – Có lẽ cũng không. Người Mỹ dành ưu tiên số một cho me Mỹ, cho bọn tham nhũng, thối nát, cho đám làm giầu bằng chiến tranh. – Cậu định đi đâu? – Chẳng hiểu, anh ạ! Không có lối chạy cho người chống cộng. Những kẻ chống cộng tự nguyện rất kiêu hãnh nhưng luôn luôn thiệt thòi. Tôi là một trong những kẻ ấy. Vì chống cộng tự nguyện, tôi không bị xếp vào hàng ngũ đầy tớ Mỹ. Đó là một thiệt thòi. Sự thiệt thòi nhìn rõ: Có cả chục ngàn chỗ cho những người chưa hề chống cộng trên máy bay di tản của Mỹ mà lại không có chỗ nào cho Doãn Quốc sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền… Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng*, ở “Lời giới thiệu”, cộng sản viết: “… Một số người khác như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ. Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa cộng sản. Họ cho văn nghệ làm sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện đểà đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là “viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ.” Doãn Quốc Sĩ coi mình như một “viên kim cương, răng cộng sản không sao nhá được.” Thêm một thiệt thòi. Và cái thiệt thòi cay đắng là bị cộng sản chụp cái mũ khả ố “chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới”. Như thế, vẫn chưa đủ nghẹn ngào. Kẻ chống cộng tự nguyện còn bị những người tập sự chống cộng, bập bẹ chống cộng, vỡ lòng chống cộng, ngớ ngẩn chống cộng phán xét một cách dễ chửi thề. Hẳn nhiên, những kẻ chống cộng tự nguyện thường xuyên bị vây hãm, bị bêu nhục bởi bòn đầy tớ Mỹ chống cộng ở bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Nhưng mà những kẻ chống cộng tự nguyện phải chấp nhận, hiên ngang chấp nhận và can đảm chống luôn cả bọn đầy tớ ngoại bang chống cộng, bọn làm thui chột niềm tin chống cộng, bọn giúp cộng sản đánh bóng chính nghĩa của nó, bọn ảo tưởng và thù vặt vì bất đồng quan điểm. Những kẻ chống cộng tự nguyện ngổn ngang kẻ thù. Ngoài cộng sản, họ còn bị đánh dấu tuyết hận bởi bè lũ thống trị tôi mọi, tập đoàn ăn cắp, thảo khẩu chính trị, lũ thời cơ chủ nghĩa, đám buôn bán Phật Chúa… Song cần chi, hai tiếng tự nguyện mà kẻ thù cộng sản khoác hoa quanh cổ họ cơ hồ hào quang đốt cháy mọi rác rưởi, bèo bọt thế thời. Và họ vẫn ngồi lên tất cả như đã ngồi lên tất cả những khuôn mặt sa-đích chính trị rẻ tiền. – Anh có lối nào khác lối Mỹ không? Tôi hỏi. Bác sĩ Trần Kim Tuyến lắc đầu buồn bã: – Không. Không. Chúng ta đã chống cộng sản hai mươi năm và chúng ta không có lối chạy trốn cộng sản! Tại sao tổ tiên chúng ta đã không tìm đường chạy trốn mà chỉ tìm chỗ tạm lui về chờ đợi tiến lên? Chắc chắn, tổ tiên chúng ta chống giặc nước một mình. Còn chúng ta, chúng ta chống giặc nước với người Mỹ. Chúng ta đã đổ xương máu cho KHÔNG. Và cái không ủ ê nhất là cái không lối chạy trốn giặc. Liệu chúng ta đã học được một điều gì trong bài học chống cộng sản với Mỹ rồi không còn lối chạy trốn cộng sản? Chỗ đó, vài hôm trước… Chỗ đó, hôm nay… Tôi đã thất thểu bước tới ngã tư Hai Bà Trưng – Yên Đổ – Trần Quang Khải. Nỗi chết không còn ám ảnh mà nỗi chết hiện dần. Tự nhiên, tôi thèm sống vô cùng. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh a! Đỗ Bá Thế đã phán vậy. Sự thèm sống khiến tôi quên sợ chết. Lạ quá, lúc đó, tôi chẳng hiểu nổi tôi. Phải nói, tôi chẳng hiểu nổi sự chuyển dịch tâm hồn tôi. Nếu tôi đã chưa biết cái cảm giác lênh đênh của tâm hồn thì, bây giờ, tôi biết. Biết rõ. Tâm hồn tôi lênh đênh theo bóng ngã hoàng hôn của cuộc chiến đấu hai mươi năm hư ảo. Lênh đênh chạy trốn. Lênh đênh bất bình chạy trốn. Lênh đênh sợ chết. Lênh đênh chờ chiến đấu. Lênh đênh thèm sống. Lênh đênh ước mơ. Đi ngược đường Yên Đổ, tôi về nhà tôi.
° ° °
Thành phố Sài gòn bất chấp lệnh giới nghiêm 24 trên 24 của Dương văn Minh. Thành phố này, hình như, cũng bất chấp cả nỗi ngậm ngùi sắp đến. Sài gòn thản nhiên chờ đợi niềm bất hạnh. Mặt trời vẫn chưa mọc. Có vẻ mặt trời không thích mọc hôm nay. Tôi buồn bã đứng trước cổng nhà mình ngó ngang, nhìn dọc. Bà bán thuốc lá sát cổng nhà tôi hớt hơ hớt hải từ dưới Xóm Lách chạy tới chỗ tôi: -Cậu không đi được à? – Không. – Liệu người ta có để cậu yên không? – Ai? – Thì… Việt cộng? Bà ta nói nhỏ: – Cậu ạ, người ta vây kín Sài gòn rồi! Tôi thở hắt ra: – Thế à? Nhìn bà bán thuốc lá, tôi hỏi: – Sao bữa nay bà không bán? – Tôi tưởng giới nghiêm. – Chứ không phải mệt vì đêm qua lo hôi đồ à? – Tôi thề với cậu, không quen làm việc ấy. – Làm thì đã sao, của Mỹ chứ bộ. – Mà không quen. Tôi nhìn thẳng vào mặt bà ta: – Việt cộng vào, bà có để tôi yên không? Bà ta chớp mắt lia lịa: – Tôi mong cậu đi lọt mà. Từ người vô sản bán thuốc lá, tôi quan sát những người vô sản Xóm Lách quanh tôi. Tất cả đều còn cho tôi những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm. Tôi yên tâm. Đã quá hiểu những bài học căm thù của cộng sản, tôi sợ rằng những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm của người vô sản Xóm Lách sẽ biến mất. Chưa biết bao giờ. Có thể lát nữa. Có thể trưa nay. Có thể chiều nay. Có thể tối nay. – Bà Tẹo. – Dạ. – Tôi đã làm phiền bà điều gì chưa? – Sao cậu hỏi vậy? – Bởi vì sẽ thay đổi nhiều đấy. – Không có gì thay đổi đâu cậu ạ? Tôi vẫn bán thuốc lá trước cổng nhà cậu, vẫn xin được bán thiếu cho cậu để cuối tháng có món tiền để dành lớn. – Cám ơn bà. Tôi bấm chuông. Nhà tôi ra mở cổng: – Thế nào, bố? – Thế nào là thế nào? – Còn nước tát không? – Cạn rồi. Mỹ thật sự cút rồi. Nhưng em yên tâm. Bằng hữu của chúng ta còn ở lại khá đông. Anh đã gặp Mai Thảo, Nguyễn Tuấn Anh… Nhà tôi nín thinh. Tôi vào, gieo người xuống ghế bành, gác chân lên bàn xa-lông. Tôi cảm giác căn nhà của gia đình tôi đã trở thành cái nghĩa địa hoang vắng. Nỗi hiu quạnh đùn lên, đùn lên, dâng ngập trắng xóa. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ cái lẽ phù ảo của đời sống. Nhờ vậy, tôi thanh thản dọn chết. Và tôi còn dọn thêm cả sự “thoát chết, bung ra.” Nếu lúc này có Mai Thảo ngồi đấu hót? Tôi trách tôi đã quên rủ Mai Thảo đi nhìn Sài gòn hấp hối và rủ Mai Thảo về nhà tôi uống rượu. Tôi vẫn còn vài chai Table du roi. Tôi nhớ, mới đây thôi, Mai Thảo tâm sự với tôi: – Tôi ở một nơi chốn nào là lòng gửi nơi chốn đó nên xa một nơi chốn là nhớ vô cùng, dẫu nơi chốn cũ chẳng xa gì nơi chốn mới. Thật sự, tôi không thích di tản. Xa quá, xa quá… Và Mai Thảo rất lừng khừng chuyện ra đi- Anh ta cứ ra, theo triết lý cù nhầy của Nguyễn Bính “ngày mai ra sao rồi hãy hay.” Mai Thảo tâm sự tiếp: – Tôi có ông thày học khá lạ lùng. ông ta đã nói với tôi rằng, người ta chỉ cần sống đến 50 tuổi. Là đủ rồi. Tôi đã 50 tuổi. Sống thêm có lẽ thừa thãi. Mai Thảo đã 50 tuổi. Tôi mới 40. Cho nên, dù đã vỡ lẽ phù ảo của cuộc đời, Cứ thèm thuồng “thoát chết, bung ra” trong những giờ phút dọn chết.
° ° °
10 giờ thiếu 10 phút. Chuông điện thoại reo vang: – Long hả? – Ừ! – Chúng nó xuất hiện ở Xóm Gà, Gò Vấp rồi. Trên ấy ra sao? – Im lặng. – Mày nghĩ xem có nên chở gia đình lên bà Nguyễn Đình Vượng tránh né cảnh tranh tối tranh sáng không? – Không cần. – Tại sao không cần?
– Vì bà Vượng cũng bị ném vào biển máu! Nếu ông muốn cùng chết với tôi thì lên đây. Đặng Xuân Côn, Thằng Côn, người bạn ấu thời của tôi, người bạn đã, cơ hồ cái bóng, theo sát tôi 30 năm ròng rã, đã chia xẻ vinh nhục với tôi, đã đau khổ vì tôi, đã ôm đau khổ của tôi làm đau khổ của mình. Chúng tôi học tiểu học ở trường Monguillot thị xã Thái Bình. Côn là cháu đích tôn của cụ Đặng Đình Điền, tự Hào Điển, một trong những lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng. Năm 1951, sau khi cộng sản quy định thành phần, giai cấp, mặc dù đã mù lòa, bệnh hoạn, cộng sản vẫn bắt cụ Hào Điển, bỏ cụ vào cái rổ xề, khiêng cụ ra giữa cánh đồng hoang vắng và để cụ chết đói chết khát ở đó. Qua mấy năm tao loạn, chúng tôi lại gặp nhau ở thị xã Thái Bình đổ nát vì tiêu thổ kháng chiến. Tình bạn vẫn khắng khít. Chúng tôi học trung học tại trường Trần Lãm và không ngớt tương tư thị xã đềm êm cũ với những hàng hồi thơm hăng hắc dọc vỉa hè đường phố. Rồi chúng tôi lên Hà Nội trọ học. Mùa hè 1954, tôi về Thái bị kẹt vì Pháp “di tản chiến thuật”. Tôi ở lại chứng kiến quân cách mạng tiếp thu Thái Bình. Rồi hội nhập đời sống mới. Cuối tháng 7-1954, Côn trở lại Thái với nhiều ưu tư. Nó không hé miệng nói cho tôi nghe những ưu tư của nó. Chúng tôi thường lên cầu Bo ngắm dòng sông Trà Lý đỏ ngầu phù sa mùa nước lũ. Cầu Bo. cây cầu kỷ niệm của chúng tôi, bị quân Pháp đánh sập nhịp giữa trước đêm rút lui. Người ta bắc cầu giây đi tạm. Côn ở Thái hai tuần lễ và lỉnh tránh mọi công tác… cách mạng. Một buổi sáng nó tìm tôi khi tôi đang bận kê bàn ghế cho lớp học dạy “công nhân” vỡ lòng quốc ngữ. Côn rủ tôi sang Nam Định chơi. Tôi từ chối, vì… công tác khẩn trương. Tôi bảo Côn đợi vài hôm nữa. Nó bỏ về. Rồi nó sang Nam Định lúc nào tôi không rõ. Cuối tháng 8-1954, Nguyễn Thịnh từ Hà Nội về Thái. Tôi hỏi thăm Côn. Thịnh nói Côn đã vào Sài gòn.. Tôi choáng váng. Côn đã nghi ngờ tôi theo… cách mạng, không dám tâm sự với tôi. Tôi vội vàng chuồn lên Hà Nội, kiếm nhà Vũ Thượng Văn ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, hỏi thăm đia chỉ Côn tại Sài gòn. Tiêu pha hết đồng bạc cuối cùng ở Hà Nội, cuối tháng 9-1954 tôi mới vào Sài gòn, đến phố Heurtaux bên Khánh Hội tìm Côn. Thế là chúng tôi có tháng ngày nhà hát Tây ba đào, có tình yêu lẩm cẩm, có Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi… Chúng tôi thêm những kỷ niệm cay đắng vào đời. Sự nghiệp văn chương của tôi, phần lớn, là do Thằng Côn đóng góp. Bằng khích lệ. Bằng cả những đồng tiền mồ hôi của nó. Tập truyện Hoa thiên I)” của tôi, Côn bỏ tiền xuất bản. Nếu có lần nào đền ơn Thằng Côn thì chỉ một lần Thằng Vũ nghiến răng chịu nhục, chịu hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn để ngậm miệng cho Thằng Côn bình yên ngoài nhà tù mà tìm cách đưa vợ con trốn khỏi Việt Nam. Đáng lẽ, Côn ra đi bình yên trước 30-4-75, nó cứ bám sát tôi Cho đến phút chót, nó vẫn lo tôi bị tàn sát trước nhất. – Tao nghĩ mày nên đưa vợ con lỉnh chỗ khác. – Chỗ nào? Không còn chỗ nào cho tôi ẩn thân cả. Mà tôi cũng cóc cần ẩn thân nữa. – Mày đừng chướng. – Cúp điện thoại đi! Tôi cúp trước, khỏi cần đợi Côn.
° ° °
10 giờ 20 phút. Chuông điện thoại lại reo: – Long hả? – Ừ! – Chúng nó đã lảng vảng khu nhà anh Hoàng văn Đức rồi. Tao lên mày nhé? – Hỏi chi nữa! Tôi cúp điện thoại ngay. Và, thật sự, kể từ phút này, tôi đã té nhào khói lãng du lênh đênh trên ước mơ, tôi hết dám thèm “thoát chết, bung ra.” Tôi sợ hãi. Tôi trở về với sự sợ hãi 0 giờ 1 phút. Nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Làm thế nào đểà con người được chết ngon lành? Tôi chợt nhớ một truyện ngắn của Jack London, nhan đề Mất mặt. viết về sự dọn chết tuyệt vời của một người không thích chết đau đớn, sợ hãi chết khắc khoải. Câu chuyện như thế này: Một gã phiêu lưu da trắng lạc vào một bộ lạc hung dữ nhất của một vùng Bắc cực. Các bộ lạc ở đây đánh giá trị vĩ đại nhất bằng sự tàn ác nhất. Bộ lạc nào giết kẻ thù chết từng giây, chết đếm nỗi chết từng giây, chết quằn quại, rên la lâu nhất, bộ lạc ấy được tôn vinh và công nhận là minh chủ. Thế thì gã phiêu lưu của Jack London đã rơi vào tay bộ lạc minh chủ. Gã hiểu gã sẽ bị chết co rút mỗi tế bào. Gã cũng hiểu những kẻ tàn ác nhất đều là những kẻ thèm sống “muôn năm”, thèm bất tử, nên gã xin được kéo dài ngày chịu tội để kiếm lá luyện thuốc bất tử. Môn thuốc này bôi khắp mình mẩy, tên bắn vào văng ra, búa bổ xuống nẩy tung, lao phóng trúng cong oằn… Tù trưởng của bộ lạc minh chủ sướng quá, bèn cho gã phiêu lưu đi tìm lá. Gã khôn ngoan, luyện thuốc bất tử thật lâu. Khi đã luyện xong, gã yêu cầu vị tù trưởng thử. Vị tù trưởng sợ, không dám thử. Không ai trong bộ lạc dám thử cả. Tất cả những kẻ hung ác đều sợ chết thảm và đều thích người khác chết thảm. Cuối cùng, gã phiêu lưu tình nguyện thí nghiệm thuốc bất tử của mình. Bộ lạc đồng ý. Gã yêu cầu kê cổ gã trên một 1 húc gỗ tròn và chắc và phải dùng một cái búa sắc như nước do tay lực lưỡng xử dụng. Gã bôi thuốc đầy cổ. Rồi gã dục hạ búa. Nhát búa vung lên, bổ mạnh xuống. Gã phiêu lưu bay đầu. Gã được chết ngon lành. Bộ lạc minh chủ mất mặt, mất ngôi minh chủ và bị các bộ hạ khác khinh bỉ, vì đã để kẻ thù chết sung sướng, chết thanh, chết gọn… Cộng sản ác hơn và khôn ngoan hơn bộ lạc minh chủ bị mất mặt trong truyện ngắn của Jack London. Và tôi, tôi không có can đảm dọn cho mình cái chết ngon lành. Tôi sợ luôn cả cái chết ngon lành, cái chết của chiến sĩ, cái chết của liệt sĩ, cái chết của thánh tử đạo. Rốt cuộc, tôi thèm sống, sợ chết. Bởi tôi vừa nhận ra tôi đích thực rằng tôi chỉ là nghệ sĩ. Tôi cần sống sót. “Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.” Cao Dao khuyên tôi thế. Tôi cần sống sót. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ”? Đỗ Bá Thế dạy tôi thé. Nhà văn không cần thiết tử vì đạo. Vì y vô đạo. Nhà văn không cần thiết tuẫn tiết. Vì y tuẫn tiết sẽ chẳng còn ai sống để viết về những cái chết đẹp trong cõi đời. Nhà văn cần thiết có tác phẩm, và phải là tác phẩm rực rỡ kinh qua mọi sợ hãi, mọi thống khổ mỏi mòn. Nhà văn là người viết về sự sống ngoạn mục, nỗi chết phi thường của người khác, không bao giờ là kẻ trông đợi người khác viết về cái chết, nỗi chết của mình. Do đó, nhà văn bất chấp những kẻ bỉ thử mình, lăng mạ mình đủ điều về sự sống của mình. Rất tự hào và đủ quyền kiêu hãnh để nói, những kẻ bỉ thử, lăng nhục nhà văn là những kẻ không biết viết hay viết chẳng ra gì. Những kẻ này không bao giờ được phục sinh, bởi vì họ không hề có một cái gì đểà lại cho đời sống kế tiếp. Tôi là nhà văn, tôi chẳng lấy gì làm xấu hổ mà công khai nhận mình thèm sống sợ chết. Tôi đã bày tỏ thái độ của tôi rõ rệt trong bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù. Theo tôi, sự tồn tại khác hẳn với sự sống. Tôi chưa thấy một nhà văn chuyên nghiệp nào – nhà văn nuôi mình, nuôi vợ con mình bằng hàng tỉ chữ thao thức viết – khi chết được vinh tôn như một anh hùng, liệt sĩ. Người ta đã chỉ vinh tôn tác phẩm của nhà văn. Tôi cũng chưa thấy ai nhận trách nhiệm nuôi vợ con nhà văn, nuôi nhà văn cả, nhưng người ta cứ bắt nhà văn phải có đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ đạo đức, đủ thứ can đảm. Người ta còn bắt nhà văn dấn thân, nhà văn tranh đấu cho đủ thứ quyền của con người, nhưng, mỉa mai thay, cái quyền lợi thiết thực của nhà văn là tác phẩm mồ hôi, tim óc của họ bị đạo tặc công khai tước đoạt, không ai tranh đấu cho nhà văn cả Tôi đã thấy chính xác nhà văn tạo hào quang rực rỡ cho anh hùng, liệt sĩ, thần thánh. Nhân loại đã thờ phụng hình chúa Giêsu vẽ theo trí tưởng tượng của Michel Ange mà không thờ Michel Ange. Những bức tượng, những tranh vẽ trong giáo đường của Léonard de Vinci, của Raphael về Đức Mẹ, về thiên thần đều được kính cẩn thờ phụng cả đấy. Ai đã nói cho nhân loại biết tài năng của Michel Ange, Léonard de Vinci, Raphael? Nhà văn. Nhà văn viết về Thượng Đế. Nhà văn làm ra Thượng Đế. Thượng Đế không làm ra nhà văn. Gần gũi chúng ta nhất, người Tầu và cả người Việt Nam đều đèn nhang, trầm hương xì xụp vái lạy ba anh Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi mà quên nhà văn La Quán Trung đã phong thánh cho ba anh rất lơ mơ trong lịch sử Trung Hoa. Tài năng của nhà văn La Quán Trung đã biến nhân vật tiểu thuyết thành thánh. Không ai thờ La Quán Trung cả. Người ta hằng luận về hào khí Võ Tòng, Lâm Xung mà quên Thị Nại Am; ngợi ca Kiều Phong, Lệnh Hồ Xung, Dương Quá, Quách Tĩnh mà quên Kim Dung. Vân vân… ở thời đại của tôi và ở đất nước tôi, nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc đã phong thánh cho Hồ Chí Minh. Khi đất sét được nặn hóa thánh, thánh tưởng mình thiêng đã bỏ tù những kẻ phong thánh cho mình. Nhân Văn giai phẩm là thí dụ điển hình. Nguyễn Bính có câu thơ mà tôi rất thích: Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ. Cái đám thế nhân mắt trắng có thánh để thờ, có thần tượng để chiêm ngưỡng, có lãnh tụ để suy tôn, có ước mơ để mơ ước, đã không đem gạo nuôi nhà văn, đã không biết ơn nhà văn, lại còn ong óng lời chó dại, lại còn phun phì nọc rắn rết lên án nhà văn, thống trách nhà văn. Vậy thì nhà văn, anh đã sáng suốt nhận ra anh chưa? (Tôi đã nhận ra tôi. Và tôi cho rằng tôi chỉ có trách nhiệm với những thống khổ tôi đã kinh qua, đã thể nghiệm. Tôi không được phép phản bội những oan khiên, những cay đắng, những cô đơn đã soi sáng cuộc đời tôi. Và tôi hiểu rằng nhà văn có quyền phép ghê gớm. Nhà văn đưa thằng bán chiếu Lưu Bị lên ngôi anh hùng và bắt kẻ anh hùng Tào Tháo làm đứa gian hùng. Thế nhân mắt trắng, cái đám ưa hạch sách nhà văn, vấn nạn nhà văn, thị phi nhà văn, chụp mũ nhà văn, sống nghìn đời vẫn không đủ tư cách và khả năng hủy diệt nổi tác phẩm của nhà văn. Nhưng, nhà văn chỉ cần cuốn sách mỏng, viết bằng chân trái, cũng đủ nhốt cái đám gian dối lương tâm vào ngục tù muôn thuở. Đừng có đùa với văn chương Và đừng có rỡn mặt nhà văn. Chưa quán triệt sức mạnh của văn nghệ, học đòi làm lãnh tụ, học đòi mưu đồ quốc sự, đã không biết kính trọng nhà văn còn xúi dục tiểu yêu bôi bẩn nhà văn, quả là bọn cắn hạt gạo chưa vỡ đôi Người ta chỉ đố kỵ niềm vinh quang của nhà văn mà không chịu cảm thông nỗi nhục nhằn nhà văn phải kiên nhẫn chịu đựng, chịu đựng không ngừng. Và nhà văn làm việc cho ai, tác phẩm của nhà văn để lại cho ai, người ta cứ giả vờ không thèm biết. Rồi mỗi năm bao nhiêu tiến sĩ tốt nghiệp và bao nhiêu năm mới nẩy sinh một danh sĩ, người ta cũng cứ giả vờ không biết. Và nhà văn chờ đợi cái chết vì tác phẩm của mình thì không ai biết. Nhưng cần gì ai biết mình sống ra sao, viết trong những hoàn cảnh nào, nhà văn, có vẻ như kiêu ngạo để không lý tới cái hôm nay. Mà đúng thế, nhà văn đã không lý tới cái hôm nay, cũng chẳng thèm lý tới những phán xét ngu xuẩn của thời nay. Trên sầu đạo và ngược dòng nghịch lũ oan khiên, nhà văn mang tâm sự của con gọng vó, âm thầm bước, âm thầm lội. Và âm thầm đợi chết. Như tôi. Không ai chia xẻ với tôi nỗi sợ hãi cả. Ngày nào đó “thoát chết, bung ra”, tôi viết những trang sách ghi lại cảm giác rụng rời của tưởng tượng nỗi chết, cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim, chắc chắn, tôi vẫn được chiếu cố tận tình bởi soi mói của cú vọ, bởi phẩm bình của quạ diều. Có phải đó là sự trả nghiệp, theo nhà Phật?
° ° °
Đặng Xuân Côn chở vợ con lên. Tôi cũng tính xong sổ đời. Thấy chẳng để lại vết tích nào dơ bẩn trên 200 số báo Tuổi Ngọc và suốt 1 5 năm viết văn, làm báo, tôi cam đành đợi chết. Nói cam đành vì tôi thèm sống, sợ chết. Để cực tả, phải viết: Tôi thèm sống vô cùng. Lúc này tôi mới cảm Tư Mã Thiên và phục Tư Mã Thiên. Than ôi, Tư Mã Thiên chịu nhục hình, cố bám lấy cái sống hèn chỉ vì chưa lo xong Sử ký. “Ta hồ văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ Nếu Tư Mã Thiên không chấp nhận hình phạt thiến, không vượt lên sự khinh bỉ của thể nhân mắt trắng, không cô đơn những ngày tháng còn lại, sẽ muôn đời không có Sử ký của Tư Mã Thiên. Kẻ làm việc cho muôn đời chấp nê chi cái lẽ sống hèn, sống hùng. Những đứa chê bai Tư Mã Thiên đều đã chết như cây cỏ. Chúng nó sống hùng lắm, sống hùng miệng lưỡi mà chẳng có gì để lại: Chúng nó chê Tư Mã Thiên sống hèn, sống nhục nhã tội bị thiến, không dám chết giữa pháp trường, nhưng nhờ biết sống hèn, sống nhục, Tư Mã Thiên có Sử ký. Tư Mã Thiên được phục sinh bằng Sử ký. Và bằng Sử ký, Tư Mã Thiên bất tử. Ông đau vết hoạn lưỡi dao hèn Từ đó, cung giương một mũi tên Theo hồn tài tử. tên bay vút Ngạo nghễ hành tinh Tư Mã Thiên Những đứa chê ông chết cả rồi Nhưng ông sống mãi như mây trôi Hai nghìn năm ngỡ chùng gang tấc Mảnh đất oan này lại có tôi…
Sử ký và Tư Mã Thiên đã đủ soi sáng thân phận nhà văn và tác phẩm hoàn thành bất chấp nghịch cảnh, bất chấp mọi hoàn cảnh, bất chấp cung cách sống, bất chấp cảnh ngộ sống chưa? Có lẽ, với ngự sử vô học, với “sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền”, cần được giáo dục thêm nữa. Tôi không thừa thì giờ nói với hai hạng người vừa kể. Tôi tâm sự với nhà văn. Nhà văn có sức mạnh tuyệt luân. Nhà văn là con người như mọi con người. Y cũng phải chết thôi. Có thểà, y sẽ bị chết theo cung cách Gandhi đã bị chết. Nhưng tác phẩm của y không bao giờ chết. Y có thể chịu hình phạt nhục, chịu phán xét ngu xuẩn như Tư Mã Thiên, như Gheorghiu. Chính sự chịu nhục sống hèn (hiểu theo nghĩa bần tiện của thế nhân mặt trắng) của nhà văn đã làm tác phẩm của y rực rỡ và tác phẩm của y phục sinh y sau cái chết. Nhà văn, có thể, chết thảm như Khái Hưng và Lan Khai. Cộng sản đã nhận chìm Khái Hưng, Lan Khai dưới nước mà không thể nhận chìm tác phẩm của tác giả Hồn bướm mơ tiên, Dọc đường gió bụi, của tác giả Cái hột mận, Lầm than… dưới nước. Cộng sản kiêu ngạo nhất loài người, đầy đủ quyền uy và biết chơi bạo lực mà vẫn ngậm ngùi sợ hãi văn chương – tư tưởng: “Cơ sở giai cấp của bọn phá hoại còn tồn tại lâu dài trong xã hội ta. Khi đã hết giai cấp, thù địch vẫn còn. Vì tư tưởng của giai cấp có sức sống dai hơn giai cấp tính ra nó”* . Nghĩ cũng tội nghiệp cho đám lãnh tụ ễnh ương của quyền uy ảo tưởng và đồ đệ cứ hăm hở đòi hủy diệt nhà văn và tư tưởng của nhà văn. Phải nói rõ rệt là nhà văn cố gắng soi sáng những mê muội của thời đại mình. Thời đại mê sảng, cố tình mê sảng thì người đời sau sẽ làm công việc thương người đời xưa. Nguyễn Du còn ngờ vực, 300 năm sau, có ai hiểu ta chăng, thì nhà văn xá chi những hạch hỏi vô lý, vô nghĩa, vô học, vô ơn của cóc nhái thời thượng. Song, cần thiết, nhà văn phải nhận ra mình, phải nhận ra sức mạnh tuyệt luân của mình và phải biết xử dụng, dám xử dụng sức mạnh đó để chế ngự bạo lực đến từ bất cứ phía nào, ở bất cứ nơi đâu, dẫu sự chế ngự có mang tới những cay đắng nghiệt ngã, những oan khiên ứa máu, những ngộ nhận nứt tim. Và cả nỗi chết. Và luôn sự thèm sống hèn đểà thoát chết. Tôi nghĩ rằng cái cứu cánh biện minh cho cung cách sống chết của nhà văn là tác phẩm y để lại cho đời sống. Trong bộ cassette tưởng mộ Victor Hugo, một vị viện sĩ của Viện Hàn Lâm Pháp quốc đã múa một tuyệt chiêu: “Nước Pháp không được phép nói tha thứ những bê bối trong cuộc đời của Victor Hugo mà phải có bổn phận chấp nhận những bê bối ấy. Vì sự nghiệp văn chương của Hugo đã làm rạng rỡ cho đất nước Pháp và dân tộc Pháp.” Tôi không ở nước Pháp, không là nhà văn Pháp. Georges Simenon viết nhiều, viết khỏe, chẳng cần phải quan tâm văn chương, tư tưởng của Simenon, Jean-paul Sartre đã vinh tôn khả năng sáng tạo của Simenon. Tôi cũng viết nhiều, viết khỏe, thì chỉ nghe Sài gòn dè bỉu và đợi Hà Nội vào tàn sát. Và tôi thèm sống hèn. Để hy vọng có một Sử ký như Tư Mã Thiên.
° ° °
10 giờ 30. Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đặng Xuân Côn mở radio thật lớn. Tôi lặng người trong giọng nói cơm nguội của Big Minh. Tôi mất miền Nam từ giây phút này. – Tắt radio đi, Côn? – Để nghe xem còn tin tức gì nữa. – Hết rồi. – Chưa. – Tôi bảo hết rồi. Tắt đi? Tôi nhìn Côn: – Có thể ông thoát biển máu. Vợ con tôi cũng có thể thoát biển máu. Tôi thì khó thoát. Côn an ủi tôi: – Mày sẽ thoát. Tôi lắc đầu: – Khó lắm. Tôi biết tôi. Cộng sản biết tôi. Những kẻ muốn làm tốt đẹp cho xã hội miền Nam sẽ bị quăng xuống biển máu. Nếu ông thoát… Côn chớp mắt: – Tao hiểu tao sẽ phải làm gì cho mày. – Cho vợ con tôi thôi. – Mày muốn tao sẽ làm gì? – Đưa vợ con tôi rời khỏi Việt Nam. Im lặng. Hai chúng tôi nhìn nhau, nước mắt ứa ra. Trong phòng ngủ, hai người đàn bà và những đứa trẻ con khóc nức nở. Tôi biết, cả Sài gòn đang khóc….
Nếu cuộn băng nhựa ghi lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh thất lạc Mỗi biến cổ lịch sử xảy ra thường kèm theo những chuyện ngoài lề. Và những chuyện ngoài lề được truyền kể, được thêu dệt thành huyền thoại. Một trong những chuyện ngoài lề dưới đây không phải là huyền thoại. Mà là chuyện ở quán cà-phê vỉa hè sau ngày 30-4-1975. Người ta thuật cho nhau nghe, người ta luận bàn và người ta không thèm quan tâm đến cái vô lý của câu chuyện.
° ° °
10 giờ, Phủ tổng thống gọi cho Đài phát thanh sài gòn, yêu cầu gửi gấp sang một chuyên viên ghi âm. Anh chuyên viên đem máy móc, băng nhựa đến trình diện ông Giám Đốc Nha báo chí Phủ tổng thống. Anh vào phủ bằng lối góc ngã tư Nguyễn Du – Thủ Khoa Huân – Huyền Trân Công Chúa. Giám đốc Nha báo chí hướng dẫn anh chuyên viên tới phòng họp của Tổng thống. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng cộng sản tại đây. Kẻ viết lệnh đầu hàng là Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin của nội các Vũ văn Mẫu, “danh sĩ” của môn phái Hoa Lan. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng xong, anh chuyên viên Đài phát thanh đem băng về đài. Anh ta lái chiếc Honda 50. Cuốn băng lịch sử được giao cho phòng phát thanh và được ra lệnh phát vào đúng 10 giờ 30 phút.
° ° °
Câu chuyện vắn tắt trên đây ví như Kinh Xuân Thu của Khổng Tử. Các vị Đông Lai, các Mao Tôn Cương “phản động” đã “bác nghị”, đã “lời bàn” sôi nối. – Tôi không tin đại sự lại giản dị thế. – Dương văn Minh hiểu gì đại sự? ông thử nhìn kỹ coi, bọn Minh sún có thằng nào ra cái giống người? – Tôi nghĩ lệnh đầu hàng trực tiếp truyền thanh. – Trực tiếp con khỉ! Chúng nó quýnh hét, đâu kịp chuẩn bị. Phải tin tôi, thằng chuyên viên Đài Sài gòn là bạn tôi. – Là bạn ông à? – Ừ! Nó lái Honda “chở” lệnh đầu hàng. Tôi tự hỏi, nếu nó bị đụng xe, chết ngỏm, lịch sử sẽ ra sao? Hoặc nó phẫn nộ, vất cha nó cuốn băng ghi lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, về ngủ với vợ, lịch sử sẽ ra sao? – Chắc chắn Sài gòn nổ lớn. – Nổ lớn, tôi đã mong mỏi. Rốt cuộc, chỉ tại thằng chuyên viên mẫn cán, ngu đần, sợ lệnh lạc mà cộng sản vào Sài gòn ngon ơ. Tức muốn hộc máu mồm. – Tôi nghe nói cộng sản đã vô Dinh Độc Lập từ đêm trước, chúng dí súng sau ót Dương văn Minh, bắt Minh đọc lệnh đầu hàng. – Không có vụ ấy.
° ° °
Nếu câu chuyện kể trên đúng 80%, nếu anh chuyên viên của Đài phát thanh Sài gòn bị đụng xe chết giữa đường Thống Nhất, nếu anh chuyên viên quên Dương văn Minh, quên lệnh đầu hàng về ngủ với vợ, tôi tin chắc rằng lịch sử khác đi một chút. Nó cũng sẽ bị sang trang nhưng không đến nỗi sang trong buồn tủi. Sẽ có máu, nhiều máu của Sài gòn 30-4-1975. Và đó là những dòng máu cần thiết cho Sài gòn ngày mai…
Ông Từ Diễn Đồng mâu thuẫn với chính ông. Đã hỏi: Lòng nước ai ai đà thức dậy Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho… Ông lại chép miệng: Thiên hạ có khi đang ngủ cả Tội gì mà thức một mình ta Không ai ngủ. Tất cả đều thức. Và thức trắng đêm qua. Và cùng đợi chờ. Có ba tâm trạng đợi chờ trong một đêm bắt buộc không ngủ. Kẻ đợi chờ cộng sản mang hạnh phúc cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản mang bất hạnh cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản vùi xác giữa một thành phố bất khuất. Tôi đang ở tâm trạng thứ ba sau khi thoát khỏi tâm trạng thứ hai. 6 giờ thiếu 10 phút. Thường lệ, vào giờ này, sinh hoạt chợ Xóm Lách đã ồn ào. Hôm nay im vắng. Chẳng phải vì giới nghiêm đâu, mà vì cuộc hôi đồ chiều hôm qua đã diễn sâu tới khuya, đã diễn xa lên Sài gòn, đã diễn rộng khắp khu vực nên dân chúng ngồi nhà ngắm “chiến lợi phẩm”. Tôi lại mở cổng ra đường. Bước sát cột đèn lưu thông, tôi đứng ở ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Lần đầu tiên, từ hai mươi năm khôn lớn tại Sài gòn, tôi được nhìn Sài gòn buồn bã. Như thể Sài gòn choàng khăn tang và hồi chuông cáo phó đã đọng trên đầu cỏ, ngọn lá. Con phố Công Lý, con đường của VIP, nườm nượp xe cộ từ tan giới nghiêm đến vô giới nghiêm, hôm nay, vắng ngắt. Tôi mơ hồ thấy, trong hiu quạnh khôn cùng của ban mai Sài gòn 30-4, những lời giối giăng đứt khúc. Chắc chắn không có sóng ngầm. Chắc chắn không có Stalingrad ở Sài gòn. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ thành phố chuẩn bị nghênh giặc. Tôi đã thất vọng. Tôi đã tuyệt vọng. Não nề hơn, tôi đã thất tình với cuộc chiên đấu mơ ước. Với Dương văn Minh và đám cầy cáo đui què, không bao giờ có chiến đấu, dù chiến đấu để chết đẹp, chết xứng đáng làm người. Tôi tự trách tôi ngu xuẩn đã không chịu suy diễn sự dọn đường quỳ mọp của Lý Quý Chung, phát ngôn viên chính thức của Dương văn Minh. Tôi ngu xuẩn hay tôi giống người sắp chết đuối với được cái phao Giới Nghiêm 24 trên 24? Sài gòn của tôi, Sài gòn của chúng ta đã lần nào chịu khuất phục trước bạo lực xâm lăng? Từ thành phố này mang tên Sài gòn, ít nhất, đã hai phen nó phóng nhiệt tình và lòng tự phụ vào mặt kẻ thù xâm lược. Còn nhớ Tiếng súng Nam Bộ của tháng ngày 1946 chứ: Tiếng súng vang sông núi miền Nam ầm đất nước Việt Nam Tiếng súng vang lùng khắp non sông dục ta ra tranh đấu Tiếng súng vang sông núi miền Nam vì mưu chiếm miền Nam Ta muốn băng mình xuống phương Nam xé xác quân tham tàn… Còn nhớ nghĩa sĩ Bình Xuyên* thuở ấy chứ? Bình Xuyên… Bình Xuyên oai hùng ngàn năm đoàn dũng sĩ máu sôi lòng hờn căm Khi quân ta tiến ra vung gươm lên chói lòa muôn đầu rơi sát khí ầm vang hát chốn sa trường không tiếc thân… Bình Xuyên… Gò Công hai lần diệt Tây… Còn nhớ tuổi trẻ Sài gòn thuở ấy chứ? Những gậy tầm vông của thanh niên đã làm khiếp đảm súng liên thanh của liên quân Anh-ấn-pháp. Những địa danh Cầu Quay, Cầu Mống, Rạch Đỉa, Thị Nghè đã làm nản lòng quân xâm lược. Và đã làm Sài gòn ngạo nghễ, đã làm người Sài gòn bất hủ. Đó là lần Sài gòn đứng dậy, đứng hết dậy viết những trang lịch sử mới sau 100 năm nô lệ. Lần thứ hai, còn nhớ chứ, tháng ngày mùa hè 1955. Tuổi trẻ Sài gòn lại đứng dậy, kẻ sĩ Sài gòn lại đứng dậy biểu dương nhiệt tình và lòng tự phụ cho bạo lực cộng sản mở mắt. Những khẩu hiệu chiến đấu ăm ắp sáng tạo: Chặt cổ Hồ Chí Minh. chém ngang thây Trường Chinh… Những bước chân săn đuổi Văn Tiến Dũng khiến nức lòng đường phố. Nhiệt tình của tuổi trẻ bốc cháy Majestic, Galliéni. Gươm dáo Bảo Tàng Viện cũng rung rinh nhạc võ Kẻ thù phương Bắc rụng rời… Nhưng hôm nay… Đứa thoán nghịch đã học đòi Mạc Đăng Dung sẽ học đòi Mạc Đăng Dung thôi… Tôi nhìn ngang con đường Công Lý. Tôi nhìn dọc con đường Yên Đổ. Tôi hình tưởng những con phố khác. Tôi hình tưởng cái toàn thể Sài gòn và những vùng thân yêu Đakao, Tân Định, Phú Nhuận, Chí Hòa… Tất cả chìm vào mù khơi hiu hắt. Tất cả rơi xuống hụt hẫng thinh không. Sài gòn. Em đã cho anh hai mươi năm sung sướng Anh phải van lơn để hứng chịu cơ cầu Tôi chôn chân cạnh trụ đèn lưu thông, ngã tư CôngLý – Yên Đổ. Tôi thèm được chết đứng ở đây. Tôi thèm được chết đứng cơ hồ Từ Hải, cái chết đứng bị phản bội nhục nhã. “Thiên hạ có khi đang ngủ cả,” mình tôi, một mình tôi thức, mình tôi chới với trong quạnh hiu ứa máu của Sài gòn đợi chờ khuất phục. Và tôi, tôi lại đợi chết. Mơ ước cuối cùng của tôi đã tàn tạ khi chưa kịp nở. Tôi mơ hồ nghe tiếng bước chân thù dẫm trên đường phố, tiếng rên xiết của đất đá, tiếng chuông cáo phó rung lên cho Sài gòn chết oan. Tôi không chết đứng nổi. Tội nghiệp tôi. Tôi trở về, đẩy cổng, vào nhà.
° ° °
Đạn nổ phía phi trường Tân Sơn Nhất đã thưa thớt. Trực thăng Mỹ vần vũ mạnh hơn ở góc trời đó, góc trời ân huệ của những người Việt Nam đã ăn no đấm đá của lính Mỹ để leo lên nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ; góc trời thảm não của những người Việt Nam không được ăn no đấm đá của lính Mỹ để bị ngồi bó gối trước cống Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Trời đầy sương mù. Tại sao sương mù mùa xuân, mùa khô của miền Nam? Bỗng chuông điện thoại reo: – Alô, bố Tí hả? – Ừ. – Tao lên được không? – Giới nghiêm 24 trên 24 mà. – Ở đây, thiên hạ đi lại ầm ầm. – Thì ông lên đi? Đặng Xuân Côn từ Phú Nhuận gọi cho tôi. Chuông điện thoại reo làm các con tôi thức. Nhà tôi, vì uống thuốc an thần quá trễ nên vẫn còn ngủ mê man. Thằng con lớn của tôi chạy ra phòng khách. Nó bật đèn. Thấy tàn thuốc lá bừa bãi, chai Rémy Martin đã cạn nằm nghiêng, nó hỏi: – Bố không ngủ à? Tôi gật đầu. – Bố sợ cộng sản à? Tôi lắc đầu. – Tại sao bố không ngủ? Tôi đáp: – Rất nhiều người không ngủ đêm qua. Không để con nít biết chuyện nước non buồn thảm, tôi dục con tôi: – Cu Tí pha cà-phê cho bố. Đặng Xuân Côn đã lái xe lên Sài gòn. Chúng tôi uống cà-phê, đàm luận. Con nít bị đuổi hết vô phòng ngủ: – Có gì lạ ở Phú Nhuận? – Thiên hạ đợi Việt cộng vào. – Hân hoan đợi? – Một nửa sợ hãi, một nửa vui mừng. Chắc chắn, không có đánh đấm gì đâu. Dương văn Minh là cái xác chết. Bọn tướng lãnh đầu xỏ cút hết rồi. Đào ngũ hết rồi. Ông Vĩnh Lộc ví như chiếc lá cuối cùng. Gió cũng cuốn ông ta bay… – Tôi hiểu. Tôi đã mơ mộng Sài gòn sẽ là Stalingrad thứ hai. Rốt cuộc, nó sẽ là Hochiminhgrad, đúng như tiên đoán trước của lãnh tụ văn nghệ Nguyễn Đức Quỳnh mười tám năm cũ. – Mày tính sao? – Tính gì? – Chuồn. – Chuồn đâu? Mã cùng đồ rồi! – Về Long Xuyên ẩn thân. – Mai danh ẩn tích hả? Kệ mẹ nó. Đến đâu hay đến đó. Đặng Xuân Côn có thể đưa vợ con di tản dễ dàng. Cứ bám lấy tôi vào những ngày tôi bối rối nhất. Rồi tôi biến thành cái đầu tầu di tản, kéo các toa em vợ. Nhà tôi không thèm nghĩ đến con mình, chỉ nghĩ vợ con của đứa em trai mình, bắt tôi kéo bằng được vợ con đùm đề của cậu em trai du học bên Mỹ. Rốt cuộc, kéo nặng quá, đầu máy chết. Phạm Duy, trước khi chạy, cho tôi hay rằng anh đã phải vất vài đứa con lại. Anh khuyên tôi lo thoát lấy thân mình. Tôi còn bận bịu lo thoát thân vợ con của em vợ. Than ôi! -Thả một vòng Sài gòn chơi chăng? Đặng Xuân Côn đề nghị. – Thì đi. Tôi trả lời. Lúc ấy đã 7 giờ, đường phố không còn hoang vắng như cách đây một tiếng đồng hồ. Xe cộ xuôi ngược, bớt cảnh nườm nượp hàng ngày. Đèn lưu thông chớp nháy tự động ở các ngã tư. Lệnh giới nghiêm của Dương văn Minh vô hiệu quả. Luật pháp quốc gia đã bị coi thường. Người ta có thể tự do thanh toán nhau vì thù hận riêng tư hôm nay. Người ta có thể cướp bóc, hãm hiếp hôm nay. Cảnh sát vắng bóng. Quân cảnh vắng bóng. Nhưng cao quý thay là ngày Sài gòn thả nổi, ngày Sài gòn có chính phủ như vô chính phủ, tất cả bình yên nhờ chân lý mất gì không mất tình người Việt Nam. Tôi muốn vinh tôn dân tộc tôi bằng vàng son chói lọi. Tôi muốn vinh tôn Sài gòn bằng gấm vóc kiêu sa. Thành phố thân yêu của tôi, có trái tim của mấy triệu trái tim. Thành phố ấy không hề khích lệ, đốc xúi trả thù, tuyết hận trong cơ hội tha hồ trả thù, tuyết hận và tha hồ nhân danh đủ thứ chính nghĩa. Sài gòn, thành phố nhân bản, thành phố biểu tượng của tình nghĩa Việt Nam, của tình người Việt Nam. Như thế, Sài gòn vĩnh cửu, Sài gòn tồn tại như dân tộc Việt Nam.
Tôi yêu Sài gòn. Sài gòn, tên em trên những vệt môi son trong ánh mắt và trong hơi thở trong hạnh phúc và trong đau khổ ở tuổi non và ở tuổi già ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua ở hôm nay anh sống và ngày mai anh chết Trước hết, Đặng Xuân Côn lái xe ngang qua căn nhà số 101 Phan Đình Phùng. Tôi thấy Mai Thảo đang nói chuyện với cô bé Nicole, (cháu của ông Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tạp chí Văn). Tôi ấm lòng. Mai Thảo còn ở lại Sài gòn. Chúng tôi sẽ cùng bơi trong biển máu. Đặng Xuân Côn cư ngụ tại cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Hắn cho tôi biết Văn Quang, Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành còn ở lại. Anh em văn nghệ còn ở lại, tôi mới rõ bốn người. Những ai nữa, và những ai đã đi thoát,. không ai hiểu. Một ngày dài nhất còn là một ngày xa cách nhất. Vẫy tay chào Mai Thảo, chúng tôi vòng lại đại lộ Hai Bà Trưng, đến nhà thờ Tân Định. Gặp Nguyễn Tuấn Anh, ngỡ ngàng tưởng chừng gặp người trong mộng. Tuấn Anh và gia đình đã xuống tầu chiều qua. Tôi đã bắt tay vĩnh biệt anh. Thế mà anh trở lại, đang khuân “hành lý di tản” vào nhà. Con tầu đã đi. Người bạn của tôi không đi nữa. Vài câu đối thoại nhanh, chúng tôi tạm biệt Tuấn Anh lên Sài gòn. Tôi nghĩ Nguyễn Tuấn Anh sẽ chung số phận với tôi. Anh ta là bác sĩ, đã phục vụ quân đội, đã là dân biểu đối lập trong nhóm Quốc Gia, đã bày tỏ thái độ chống cộng quyết liệt như Nguyễn văn Cử, Nguyễn Trọng Nho, Đặng văn Tiếp, Nguyễn văn Cung, Trần văn Ân. Anh ta sẽ bơi trong biển máu. Chúng tôi đậu xe sát lề đại lộ Thống Nhất, ngay cửa tư thất của ông Đại Sứ Pháp tại Sài gòn, thả bộ lên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Trực thăng lên xuống đều đặn. Trên nóc tòa nhà biểu tượng cho quyền uy Hiệp chủng quốc ở Việt Nam, vẫn đông nghẹt người di tản. Chung quanh tường Toà Đại Sứ, Thủy quân lục chiến Mỹ mặc áo giáp, tay trần, kè kè M-16 gắn lưỡi lê sẵn sàng đàn áp những người Việt Nam sợ biển máu, nhất định đáp lời kêu gọi di tản của tổng thống Ford. Thủy quân lục chiến Mỹ, binh chủng vẻ vang của quân lực Hoa Kỳ, được thần thánh hóa trong phim ảnh do Hồ ly vọng sản xuất, đã và đang diễn nghĩa cái nắm tay thân hữu của Mỹ với các nước đồng minh. Năm 1954, lính thủy Mỹ thân ái cầm tay người Việt Nam di cư bỏ trốn cộng sản. Năm 1975, “lính thủy đánh bộ” Mỹ giáng báng súng xuống thân phận Việt Nam di tản bỏ trốn cộng sản. Hẳn nhiên, lý luận theo cộng sản, đó là hiện tượng. không phải là bản chất. Bản chất tốt đẹp là dân tộc Mỹ, là đất nước Mỹ. Hiện tượng xấu xa là chính phủ Mỹ, chính sách Mỹ đối với nước nhỏ. Thế thì cái hiện tượng Hoa Kỳ đang lạnh lùng đề phòng những người Việt Nam di tản xếp hàng đông đặc trên vỉa hè phía trước Tòa Đại Sứ chỉ rình cơ hội là tông cửa xô vào, leo lên nóc Tòa Đại Sứ. Dân tộc Việt Nam chưa được hưởng tí gì về sự nghiệp khai phóng dân chủ, tự do của Mỹ ở Việt Nam ròng rã hai mươi năm. Dân tộc bất hạnh này chỉ hưởng dùi cui, báng súng, lựu đạn khói, phi tiễn vì áp dụng bài học tự do, dân chủ. Và hôm nay, dân tộc ấy có định nghĩa chính xác về tự do trước cổng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Chúng tôi lái xe ra bến Bạch Đằng. Những con tàu nghiêng lệch về một bên đã đi cả rồi. Cái phà qua Thủ Thiêm còn sang ngang. Và trên sông, những chiếc ghe chèo, ghe máy đuôi tôm vẫn thản nhiên xuôi ngược. Chúng tôi sang Khánh Hội. ở kho 5, thiên hạ di tản ùn ùn kéo nhau vô. Có lẽ còn tàu. Chúng tôi trở lại Sài gòn. Các cửa hiệu khu phố Lê Lợi, Tự Do, Nguyễn Huệ đóng cửa. Ở những căn nhà lầu, cửa sổ mở tung và những khuôn mặt ngó xuống nhìn Sài gòn dáo dác. Khác với Sài gòn ngày 11 tháng 11 năm 1960, khác với Sài gòn buổi chiều trước 1-11-1963, khác với Sài gòn ngày chỉnh lý, ngày biểu dương lực lượng, ngày đảo chính cục bộ, Sài gòn sáng 30-4-1975 là ngày hân hoan dấu kỹ, là ngày ngơ ngác phô ra, là ngày sợ hãi hiện rõ. Trời u ám. Người ủ ê. Hơn tám giờ mà mặt trời còn ẩn kỹ. Không một sợi nắng. Có ba ngày lạ lùng trong tháng 4. Hôm tên phi công phản phúc oanh tạc Dinh Độc Lập, trời lất phất mưa. Hôm Dương văn Minh “lên ngôi” tổng thống, trời lất phất mưa. Và hôm nay, trời u ám lạ thường. “Khí trời u uất hận chia ly”. Câu thơ này đã diễn tả chính xác Sài gòn buổi sáng 30-4-1975. Tôi bảo Đặng Xuân Côn đậu xe. Chúng tôi lang thang trên hè phố. Tôi nhìn vào Garden (Givral cũ) vắng hoe. Bên kia, Continental cũng thế. Mới hôm nào, ngày Sài gòn hốt hoảng tin cộng sản tấn chiếm Đà Nẵng, tôi còn ngồi chung bàn với Cao Dao, Đỗ Bá Thế luận bàn thế cuộc. Cao Dao, người biết quá nhiều, cộng tác viên của vài tờ báo Mỹ lớn. Anh viết tiếng Việt và Phùng thị Hạnh dịch sang Anh Ngữ. Sau này, sang Bỉ, viết báo Đức, anh lại viết bằng tiếng Pháp. Đỗ Bá Thể, tác giả Thím Bẩy Giỏi. Ngã tư quốc tế* , tiểu thuyết gia, báo gia, điện ảnh gia, kẻ lãng du tình ái không hề mỏi gối long chân. Cả hai, Cao Dao và Đỗ Bá Thế đều bình thản trước cơn hấp hối của Sài gòn. Tôi hỏi Cao Dao: – Cả nước lo di tản, ông còn ngồi đây tán phét à? Cao Dao cười tít mắt: – Để thiên hạ đi vợi, tớ chạy sau chót. Tôi nói: – Ông ơi, không có chuyến tầu vét Hải Phòng 1955 đâu Cao Dao hít đẫy hơi thuốc, nhả khói: – Thì ở lại. Di tản sớm mất giá. Chạy trốn sau có giá. Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán. Tôi cười: – Nhỡ vào biển máu, cạn láng? Đỗ Bá Thế vỗ vai tôi: – Tao đã đi mòn chân Âu Châu rồi, tao không viết được chữ nào thời gian dài tao ở Pháp. Về Việt Nam tao mới biết viết! Mày muốn tác yêu tác quái xứ người, mày cần ở lại. Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ? Nghe hai ông già này nói chuyện câu trăng, câu sao trên mặt nước, tôi chợt nhớ hai câu thơ của Hoàng Cầm trong kịch bản Lên đường: Đêm ba mươi còn đi cầu danh lợi Vận nhà ta đến lúc hỏng mất rồi Đó là ý nghĩ của tôi mấy hôm trước. Bây giờ, nhìn vào Garden qua cửa kính, tôi nhớ Cao Dao, Đỗ Bá Thề, và trong tâm hồn tôi vừa nẩy mầm hy vọng mới. Ừ nhỉ, nếu không dám tình nguyện đi buôn thì bất đắc dĩ đi buôn vậy “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ?” Thoát chết, bung ra được… Di tản sớm mất giá. Tôi đã có niềm an ủi bị ở lại. Bước nhanh qua La Pagode. Cũng vắng hoe. Các nhà văn nghệ chiếu nhất, hàng đầu, chiếu ba hàng cuối, bằng hữu của tôi nơi mô? Sông chưa lấp mà tưởng chừng đã lấp. Biển dâu tự lúc nào vậy? Tôi đọc khẽ Trần Tế Xương: Sông kia rầy đã nên đồng Nơi thì nhà cửa nơi trồng ngô khoai Đêm nghe tiếng ếch bên vai giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò… Và đọc khẽ Vũ Đình Liên: Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ… Quay lại, tôi đã đứng trước cửa Phòng Triển Lãm. Nhìn sang Caravelle, tôi thấy vài anh phóng viên ngoại quốc đeo súng! Phóng viên nhiếp ảnh, quay phim, thông tín viên, ký giả ngoại quốc ví như lũ đỉa đói đã hút máu cuộc chiến của chúng ta bằng những tin bẩn, phim bẩn, bình luận bẩn của họ. Chính họ đã tiếp tay cộng sản tạo ra hôm nay. Sự hiểu biết thiển cận của họ, sự làm dáng tiến bộ của họ, sự phản chiến một chiều của họ, sự xuyên tạc, bêu nhục cuộc chiến đấu của chúng ta đầy ác ý và giúp cộng sản thắng lợi ngoài nước trước khi thắng lợi trong nước. Phóng viên, ký giả ngoại quốc, đỉa đói và kên kên gớm ghiếc, nhiều kẻ lãnh lương của Việt cộng, nhiều kẻ đần độn, nhiều kẻ tự nhận lương tâm của mình là lương tâm nhân loại để phán xét chiến tranh Việt Nam. Họ còn ở lại Sài gòn. Họ chưa muốn… di tản. Họ cần thiết có những thước phim, những tấm ảnh, những bài báo ngưỡng mộ cộng sản. Họ chờ đợi cộng sản tiến vào sài gòn. Họ đeo súng*. Không phải để đối phó với cộng sản mà để bắn chết bất cứ một người lính vô kỷ luật, một người Việt Nam nào đe dọa mạng sống của họ. Nhà báo đeo súng, thứ nhà báo vô liêm sỉ. Chắc chắn, nghĩa vụ luận báo chí của nước họ không có điều khoản đeo súng hành nghề. Nhà báo đeo súng và nhà báo đeo súng đã miệt thị ông Nguyễn Ngọc Loan bắn bỏ tù binh? Nhìn những tên phóng viên ngoại quốc đeo súng nghênh ngang trước cửa khách sạn Caravelle, tôi lấy làm ghê tởm. Làng báo Việt Nam cũng có ít nhất, năm đứa đeo súng hành nghề. Đứa lõa lồ nhất, vô lại nhất là Như văn Uy. Thằng này đem súng cả vào Hạ Viện, bắn loạn xà ngầu. Nhưng khi bị Đặng văn Tiếp thách “bắn chậm thì chết”, nó co vòi. Bẩn mắt vì ngó những thằng phóng viên ngoại quốc đeo súng, tôi ngắm Hạ Viện. Hạ Viện đã giống chùa Quán Sứ của bà Hồ Xuân Hương: Hạ Viện sao mà cảnh vắng teo Hỏi thăm dân biểu đáo nơi neo Nghị sĩ chạy cả rồi. Dân biểu chạy cả rồi. Chiến hay hòa không có tiếng vang rung chuyển nơi đây. Cho nên, những trang lịch sử chó đẻ nhất của dân tộc phải tính từ ngày 12-3-1975. Và những trang này không chứa chất u ẩn cần các sử gia đời sau soi sáng. Nó phơi ra thỗn thện như những miếng thịt bầy nhầy, như xác chết muông thú nhung nhúc ròi bọ. Chẳng còn gì hấp dẫn ở trung tâm thành phố, cũng chẳng có gì lạ lùng ở bất cứ một khu vực nào của Sài gòn. Câu thơ sau đây của Trần Tế Xương diễn tả đúng cảnh tượng Sài gòn buổi sáng 30-4-1975: Kẻ đi người lại dáng bơ vơ… Chúng tôi trở lại tòa Đại Sứ Mỹ. 8 giờ 15 phút. Lính Mỹ vẫn lạnh lùng canh gác. Con nít ngủ la liệt trên vỉa hè. Cụ già dựa lưng vào tường, nửa thức nửa ngủ và nửa mơ màng thiên đường Mỹ. Chúng ta tìm về đất hứa không có Moise hướng dẫn, không có Moise bênh vực, không có Moise bảo vệ và không có Moise đầy phép tích nên chúng ta bệ rạc nằm, ngồi ngổn ngang trước Toà Đại Sứ Mỹ, chúng ta ăn báng súng, ăn xô, ăn đạp. Quân dữ ở không gian và thời gian nào cũng thế. Quân dữ ở thời đại của chúng ta hơi khác một tí là nó đã từng bảo nó là bạn của chúng ta. Người ta cần nhớ bài học cay đắng di tản những ngày cuối tháng 4-1975 ở phi trường Tân Sơn Nhất, ở tòa Đại Sứ Hoa Kỳ nằm trên đại lộ Thống Nhất mà định mức hào hiệp của người Mỹ thống trị. Và người ta sẽ quán triệt chân lý: Chỉ người Việt Nam mới giải thoát nổi thân phận Việt Nam khỏi ách thống trị của cộng sản. Người Việt Nam phải làm chủ vận mệnh của dân tộc mình. Mọi hậu thuẫn, trợ giúp tinh thần, vật chất là phụ. Chấp nhận viện trợ và khước từ chỉ huy, lãnh đạo. Để không còn vết nhục quốc sỉ Nguyễn văn Thiệu: “Bảo chúng tôi chống cộng sản mà không viện trợ thì làm sao chúng tôi chống cộng được”? 8 giờ 17 phút, bất thần, Thủy quân lục chiến Mỹ rút hết một lượt vào bên trong Tòa Đại Sứ. Dân di tản nhất loạt đứng dậy. Cụ già tỉnh táo. Con nít thức giấc. Mọi người chờ đợi một “biến cố” như một quyết định ban ân huệ vào phút chót. 8 giờ 25 phút, không thể chờ đợi lâu hơn, nóng ruột lắm rồi. Dân di tản leo tường vào, xô cổng vào. Chiếc trực thăng bay lên đúng 8 giờ 30 phút. Dân di tản đã ùa vô đầy sân Tòa Đại Sứ. không có chiếc trực thăng nào xuống, không còn chiếc trực thăng nào xuống nữa. Năm phút, mười phút, rồi ba mươi phút. Trực thăng hết vần vũ trên một góc trời Sài gòn. Chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài gòn hồi 8 giờ 30 phút. Có thể, chuyến đó mang ông đại sứ Martin, các nhân vật của Tòa Đại Sứ, và lính Thủy quân lục chiến Mỹ ra khơi. Dĩ nhiên, ông đại sứ Martin đã không quên gấp lá cờ sao xọc vuông vắn, bê theo, bước lên tàu bay. Thế giới có thể mường tượng cảnh cuốn cờ bỏ chạy của đại sứ Martin qua hình ảnh đại sứ John Dean. Hình ảnh đại sứ John Dean cuốn cờ bỏ chạy khỏi Nam Vang đã đăng trên báo chí. Những người hụt di tản đau nhất, đau đến mất trí, là những người đã chịu đựng “gian khổ” leo lên nóc Tòa Đại Sứ Đã ngồi trước cổng Thiên Đàng mà lại bị xuống Địa Ngục, còn gì nghẹn ngào hơn? Tuyệt vọng vì người Mỹ hào hiệp không trở lại, họ dắt díu nhau, tìm lối, mò mẫm xuống. Di tản trong gặp gỡ di tản ngoài. Di tản trên gặp gỡ di tản dưới. Chỉ Picasso mới đủ khả năng vẽ những khuôn mặt méo mó của người di tản hụt từ nóc Toà Đại Sứ xuống sân, bước ra đường. Thảm cảnh này rất nên ghi vào những trang lịch sử chó đẻ.
Ông Hồ Chí Minh không có tham vọng đánh tan giặc Mỹ. Hơn bất cứ ai, ông hiểu thấu binh pháp Tôn Vũ: “Tri kỷ tri bỉ.” Cho nên châm ngôn chống Mỹ của ông là”Đánh cho Mỹ cút”, không đánh cho Mỹ thua. ông ta đã thành công. Mỹ không thua mà Mỹ cút. Mỹ không bao giờ thua trận cả. Mỹ càng không bao giờ thua Việt cộng. Mỹ mở chiến tranh như mở cuộc chơi. Chơi lấy thắng mãi đâm ra nhàm chán, Mỹ chơi lấy… không thắng. Không thắng và thua khác nhau. Cút và thua khác nhau xa tít tắp. Như ăn uống và tiêu hóa vậy. Người ta có thể bắt bẻ: Không ăn lấy gì tiêu hóa, không thua tại sao cút? Bắt bẻ thế là sai. Mỹ muốn thắng Việt cộng thì bố Việt cộng cũng chẳng đỡ nổi. Đằng này, Mỹ không thèm thắng, dù Mỹ thí lính Mỹ chết thảm, què quặt, tàn phế như con nít đốt kiến. Do đó, thế giới thân cộng mới bảo chiến tranh Việt Nam là chiến tranh bẩn thỉu. Mỹ giao đấu với Việt cộng móc ngón tay: “Tao không đập mày chết đâu.” Việt cộng lạy lục: “Cám ơn ông, tôi chỉ mong ông cút.” Và Mỹ bèn cút…
° ° °
Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh giai đoạn cho một mục đích*. Sự nghiệp chống cộng sản bảo vệ độc lập, tự do, dân chủ của chúng ta chỉ là cái cớ để Mỹ khỏa lấp cái tham vọng hèn hạ của họ. Hai trái bom CBU thả thử xuống chiến trường Long Khánh tiêu diệt dưỡng khí trong một chu vi rộng lớn đã làm “chết sạch” gần hai sư đoàn Việt cộng và cả quân dân ta luôn. Sự tiến công của cộng sản phải dừng lại. Mục đích thử bom CBU của Mỹ đã đạt. Không có thèm trái thứ ba như đã không có ngày thứ mười ba trải thảm bom B-52 ở Hà Nội. Mỹ hoàn toàn yên ổn lương tâm. Phi-la- tồ American rửa tay, mặc xác cho Việt cộng với biển máu của nó. Người Mỹ thực sự hết trách nhiệm khai phóng dân chủ tự do và bảo vệ dân chủ tự do ở Nam Việt Nam vào hồi 8 giờ 30 ngày 30-4-1975. Một nửa dân tộc bị bán đứng cho cộng sản. Một biển máu hứa hẹn dâng tràn. Và tổng thống Gerald Ford thản nhiên tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang!” Nếu có một sư đoàn bộ binh “phản loạn” bao vây Tòa Đại Sứ Mỹ, nghênh súng phòng không hạ trực thăng Mỹ, không cho đáp xuống, liệu lịch sử có sang trang dễ dàng?
TRUYỆN NGHE KỂ SAU 30-4-1975 Lịch sử thường làm nên bằng những bất ngờ. Lịch sử còn đãi ngộ những kẻ có duyên và hờ hững với những kẻ vô duyên. Người vô duyên nhất trong lịch sử hiện đại là cụ Nguyễn Hải Thần. ông Lý Thành Cầu, đại tá tình báo của quân đoàn Lư Hán, người đã theo tướng Tiêu Văn sang Việt Nam tước võ khí Nhật ở miền Bắc, người đã dẫn dắt Hồ Chí Minh gặp Tiêu Văn để hối lộ vàng cho Tiêu Văn rút Tầu phù về nước, khi vào tù cộng sản* , kể cho Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Mạnh Hùng và tôi nghe rằng: – Cụ Nguyễn Hải Thần làm thơ chữ Hán trác tuyệt, hay gấp bội thơ chữ Hán của cụ Hồ Chí Minh. Cụ mê thơ quên đại sự. Thống chế Tưởng Giới Thạch kính trọng cụ Nguyễn lắm, nhưng bận việc nước non, rất hiếm dịp tiếp cụ Nguyễn và nếu có dịp, chỉ tiếp được 15 phút. Cụ Nguyễn gặp Tưởng không bàn chuyện cứu nước, mà cứ khoe thơ, bình thơ mãi hết thì giờ. Đó là nỗi vô duyên thứ nhất của cụ Nguyễn Hải Thần. Nỗi vô duyên thứ hai được nhà văn Trúc Sĩ, tác giả Kẽm trống khá hay, người đã tham dự ngày tổng khởi nghĩa 19-8-1945 tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội kể lại trong trường thiên tiểu thuyết Thét hận* . Theo Trúc Sĩ, cụ Nguyễn Hải Thần bôn ba sang Tầu trước Lý Đông A có vài năm mà cụ nói tiếng Việt không sõi nữa. Vì cụ ấp úng “tồng pào thân mến” nên Trần Huy Liệu mới dám vỗ vai cụ, mời cụ xuống đểà thao túng diễn đàn. Và quốc gia bị cộng sản chế ngự. Cộng sản cướp luôn công lao chiến đấu giành độc lập của các đảng phái quốc gia. Nỗi vô duyên thứ hai của cụ Nguyễn Hải Thần xứng đáng là bài học quý giá cho những ai mưu đo chuyện phục quốc, cho thế hệ trẻ trưởng thành tại quê người. Vì vô duyên với lịch sử, cụ Nguyễn còn bị cộng sản ghép vào bộ ba bán nước Tam Thần Sâm (Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn văn Sâm) và nhục mạ cụ bằng bài hát: Nguyễn Hải Thần. Nguyễn Hải Thần ông ơi, ông ra đi từ 21. 22 ông ra đi sang nước Tầu buôn sái vì sái thơm ông hy sinh cả một đời… Và nhái ca dao Thằng Bờm: Thằng Thần có cái Việt Nam thực dân gạ đổi ngai vàng nhà vua Thần rằng Thần chung lấy vua thực dân gạ đổi ba cô nàng hầu… …….. thực dân gạ đổi cơm đen Thần cười… Người có duyên, dù thù hận cách mấy, dù không ưa một tí ti ông lão nào cả, người ta vẫn phải công nhận ông ta có duyên với lịch sử, là Hồ Chí Minh. Bất ngờ, về nước năm 1945, ông Hồ Chí Minh lơ thơ vài sợi râu. Và ông ta được suy tôn là “cha già dân tộc”, một cách lãng xẹt. Nguyễn Thanh Trịnh, nhà văn trẻ của tuần báo Tuổi Ngọc kể với tôi rằng, đã gặp Nguyễn Đình Thi, đã chất vấn bộ râu của “Bác Hồ” và được trả lời: – Râu của Bác là cái may và còn là cái không may. Nếu 54 tuổi, cằm bác nhẵn thín, lịch sử đã có khúc rẽ: Nguyễn Đình Thi không dám “diễn nghĩa”… cụ thể về mấy sợi râu lơ thơ tơ liễu buông mành của ông Hồ Chí Minh năm 1945. Cái may của ông Hồ nhờ râu. Cái không may của dân tộc vì râu của ông ta. ông Hồ Chí Minh khôn lỏi. Bí danh cuối cùng của ông chọn làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chứng tỏ ông ta toan tính kỹ lưỡng. âm nhạc có bảy nốt. Hồ Chí Minh chiếm ba nốt êm ái. Hồ Chí Minh muôn năm thì ông ta chiếm 4 nốt. Mà Bác Hồ Chí Minh muôn năm là 5 nốt. Tình tính tinh: Hồ Chí Minh. ông Hồ Chí Minh đã đi giép râu, mặc quần áo đại cán, cầm que điều khiển giàn nhạc đại hòa tấu chơi bài Kết đoàn, có vẻ như ông ta rành âm nhạc. Ông ta gây dễ dàng cho các nhạc nô suy tôn ông và gây khó khăn cho các nhạc nô muốn suy tôn lãnh tụ kế nghiệp và lãnh tụ đối nghịch. Thí dụ: Tôn Đức Thắng, Đặng Xuân Khu, Lê Đức Thọ, Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu… Ti tì tị: Ngô Đình Diệm. Nghe không du dương. Tí ti tị: Nguyễn văn Thiệu. Càng chói lỗ tai. Tì tí ti: Hồ Chí Minh. Mê ly như hờ ly rút tinh tủy? Thế là ông Hồ Chí Minh có hàng trăm bài suy tôn công đức và sự nghiệp. ông ta xứng biệt danh Cáo Già. Vì khôn lỏi, ông ta cố tình cấy râu ớ có râu lơ thơ. Nhờ râu lơ thơ, ông ta tự nhận mình là “cha già dân tộc,” là “Bác Hồ,” là “Cụ Hồ”. Cả nước gọi ông bằng Bác, bằng Cụ. ông ta, chó ngáp phải… râu, trở thành bác của nam phụ lão ấu? Nếu 1945 về nước “cướp chính quyền”, ông Hồ Chí Minh không có râu, ông ta sẽ bị miệt thị: Đàn ông không râu bất nghì Đàn bà không vú lấy gì nuôi con… Ông ta chẳng bao giờ dám trơ trẽn để cho văn nô, thi nô, nhạc nô ví mình như “cha già dân tộc,” như Bác của nam phụ lão ấu, như Cụ… trong dân! Lịch sử đã có khúc rẽ. Ôi, vì vài sợi râu lơ thơ mà ông Hồ Chí Minh có duyên với lịch sử. Sự có duyên của ông ta đã khiến dân tộc đói khổ, ngu dốt, lạc hậu, thù hận, tù đầy. Và đó là trớ trêu của lịch sử. “Với một chữ nếu, người ta có thể bỏ Paris vào trong cái chai.” Nếu cụ Nguyễn Hải Thần nói giỏi tiếng Việt, Việt Minh đi về đâu từ 1 945? Nếu ông Hồ Chí Minh vô tù, dân tộc Việt Nam đi về đâu? Chắc chắn, không đi vào quỹ đạo cộng sản. Đừng tưởng lịch sử sáng suốt. Lịch sử đã mù lòa chọn kẻ có duyên Hồ Chí Minh mà đãi ngộ. Nói cho hợp lý, muốn lịch sử mù lòa, những kẻ âm mưu lãnh tụ cần tua tủa thủ đoạn và biết hóa trang. Hồ Chí Minh chính là một trong những kẻ đó. Nhưng lịch sử không chỉ đãi ngộ những kẻ có duyên mà còn đãi ngộ những kẻ liều lĩnh đúng thời. Nguyễn Nhạc là biểu tượng của những kẻ liều lĩnh đúng thời. Kẻ phóng đãng đất Bình Khê, nhờ liều lĩnh mà dẫn lối cách mạng Tây Sơn để Nguyễn Huệ* mở đường đi tuyệt vời cho dân tộc. Nếu Nguyễn Nhạc không liều lĩnh, có nhà Tây Sơn không? Và nếu Nguyễn Nhạc không phóng đãng, Nguyễn Nhạc là Biện Nhạc hiền lành, có nhà Tây Sơn không?
° ° °
Ông Đinh Xuân Cầu, tác giả Bên kia Bến Hải và Đôi kính, kể với tôi rằng: -Lịch sử có thể thay đổi bằng một cú chơi bạo cuối cùng. Những người chống cộng quyết liệt đã vận động xong một sự hợp tác với một tiều đoàn nhẩy dù. Tiểu đoàn dù sẽ bao vây Toà Đại Sứ Mỹ, sẽ nhắm trực thăng mà hạ. Trực thăng không đáp xuống được đểà cứu ông đại sứ thì thủy quân lục chiến Mỹ phải đổ bộ vào cứu. Chúng ta lợi dụng cơ hội này hô hào chiến đấu vì Mỹ lại can thiệp thì quân đội sẽ lên tinh thần. Kế hoạch định vào sáng 30-4. Bất ngờ, 30-4, Dương văn Minh ban lịnh giới nghiêm. Quý vị đầu não của kế hoạch nản lòng, nằm nhà thở dài. Thế là lịch sử sang trang! Cú chơi bạo cuối cùng sẽ ngoạn mục lắm. Người ta có thể mường tượng ra phản ứng của Mỹ. Nhất định, Thủy quân lục chiên Mỹ sẽ can thiệp. Chúng ta bắt Mỹ phải chơi trò chơi do chúng ta bầy ra. Chúng ta không cho “Mỹ cút”. “Mỹ đã trở lại.” Chỉ cần bốn tiếng đó cho một khoảnh khắc thế sự. Là có thay đổi lòng người. Là sẽ thay đổi mọi mặt. Nhưng vì thiếu liều lĩnh cần thiết, vì hèn nhát, những kẻ định níu kéo lịch sử đã nản lòng. Và lịch sử lạnh lùng sang trang như sự lạnh lùng của tuyên bố Ford. Và chúng ta có những khuôn mặt méo mó di tản hụt, từ nóc Tòa Đại Sứ Mỹ mò mẫm xuống sân, lếch thếch trên đường về…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.