Cái nhau mèo

baotreonline.com

Nguyễn Thạch Giang

September 20th, 2024

Post by Sơn râu 15 May 2025

Một buổi trưa tôi ra sau hè ngồi trên ghế xích đu vừa ăn bánh mì vừa đọc báo trên Internet, có một con mèo hoang đứng gần đó thấy tôi nó kêu meo meo nhìn tôi ăn một cách rất tội nghiệp. Tôi nghĩ nó đói nên thảy cho nó một miếng thịt, nó nhìn tôi lấm lét rồi từ từ bước lại ăn. Lúc nó ăn tôi thấy trên lưng nó có một vết thương còn rướm máu, giống như bị một người nào dùng dao chém nó. Tôi bước vào nhà lấy hai miếng thịt gà luộc cho nó ăn thêm, cùng một tuýp dầu bôi ngoài da sát trùng hiệu “neosporin”. Lúc nó ăn tôi nhẹ bước đến gần bôi thuốc sát trùng lên vết thương của nó. Nó đứng yên mà không bỏ chạy như những con mèo hoang khác. Ăn xong nó đi tới chỗ nhà kho ở góc vườn nằm nghỉ.

Ngày hôm sau tôi ra sau vườn thấy nó cũng còn lảng vảng ở đó, tôi cho nó ăn và thấy vết thương trên lưng của nó đã liền mặt. Và cứ thế ngày nào tôi cũng cho nó ăn, nó ngày một dạn dĩ và lẩn quẩn gần bên tôi mỗi khi tôi ngồi trên ghế xích đu hay tưới cây làm cỏ. Đôi lúc nó tỏ ra thân thiện lấy đầu cọ cọ vào chân tôi. Một hôm tôi ngồi trên ghế xích đu nghe nhạc và đọc báo trên Internet, nó tự nhiên nhảy lên nằm cạnh một bên, làm như nó là “con mèo cưng” của tôi không bằng, tôi thấy nó có mấy cái vú, à, thì ra đây là một con mèo cái.

Mấy ngày tôi không thấy con mèo sau vườn, tưởng nó bỏ đi đâu rồi, bất chợt hôm nay thấy tôi nó từ trong nhà kho chui ra từ từ tiến lại gần. Trên miệng nó ngậm một cái gì đến trước mặt tôi nhả xuống, một cái bọc nhỏ nhớt nhau có dính một chút máu. Lúc đầu tôi tưởng nó tha thức ăn ở đâu về, sau nghĩ lại hay là cái nhau của nó, té ra nó có chửa vừa đẻ con, vậy mà mấy hôm trước thấy bụng nó bự tôi cứ tưởng nó mập. Hôm nay nó mang cái nhau lại tặng tôi, tôi bán tín bán nghi, hồi nào tới giờ có thấy cái nhau mèo ra sao mà biết, nhưng tôi cũng lượm lên để lên cái dĩa phơi trên nóc nhà. Chờ mấy ngày cho thiệt khô tôi bỏ vô bịch ny long xếp lại cho gọn bỏ vô bóp. Lúc còn nhỏ ở Việt Nam tôi có nghe kể, người nào lượm được cái nhau mèo, chơi cờ bạc sẽ rất đỏ, thần bài Hongkong cũng chịu thua.

Tôi ra quán cà phê không quên mang theo cái bóp có đựng “cái nhau mèo”. Tôi nhập bọn đám thanh niên trẻ chơi bài xập xám ăn chi, tụi này chơi lớn ăn thua bạc trăm. Tôi có bao nhiêu tiền dốc hết láng thử thời vận. Bài của tôi đỏ một cách kỳ lạ, tụi nó làm đủ cách xóc, chẻ, đổi bài mới mà vẫn chịu thua. Đánh chừng hơn một tiếng tụi nó thua hết tiền, bỏ chạy không chơi với tôi nữa, bài của tôi đỏ quá. Tôi hứng chí lái xe lên sòng bài “Bay 101” thử coi cái nhau mèo nó kỳ diệu như thế nào.

Tối thứ Bảy casino đông nghẹt người chơi không còn chỗ đậu xe. Tôi đi lòng vòng xem xét tình hình, lâu ngày trở lại đây thấy khác lạ hơn khi trước, có rất nhiều người chơi lớn, ôm cả hộp tiền chip mấy chục ngàn chơi tay đôi với nhà cái. Tôi móc tiền đổi chip ngồi xuống bàn chơi bài xập xám bảy lá (double hand poker), ván đầu tiên được 4 con xì, ván thứ nhì thùng phá sảnh, cha mẹ ơi! Hồi nào tới giờ tôi chơi bài từ thua tới huề, giờ đặt đâu trúng đó. Tôi thắng liên tiếp mấy ván sau đó, chơi đâu được chừng nửa tiếng tôi ăn hơn 5 ngàn, tôi đứng dậy đổi chip ngồi uống cà phê. Sau đó tôi đến bàn chơi bài baccarat, có một nhóm nam thanh nữ tú người Trung quốc đang hào hứng cá cược, chắc là con nhà giàu du học, đi học nhưng xài tiền bạc ngàn. Tôi móc tiền đặt thử, thắng! Sau đó thắng mấy ván liên tiếp, mạnh tay tôi cứ đặt nhồi nên thắng lớn, cả bàn trầm trồ kinh ngạc sao ông già này đỏ thế. Chưa đầy nửa tiếng tôi ăn được hơn 10 ngàn, tôi đổi chip lấy tiền ngồi nghỉ mệt, lòng phơi phới hân hoan vui sướng vô bờ. Không gì vui bằng cờ bạc thắng lớn, lòng còn tham tôi chưa chịu về, trở lại chơi xập xám bảy lá. Có vốn tôi ngồi bàn chơi lớn, ngồi chung với mấy ông người Ả Rập, chắc là con cháu vua dầu hỏa, tiền rừng bạc bể đặt cây bài mấy ngàn đồng. Tôi lại thắng, đã nói rồi mà, tôi có nhau mèo, thần bài Hongkong chưa chắc đấu lại tôi. Chơi tới nửa đêm tôi đứng lên ra về, ra xe tôi đếm tiền thấy ăn gần 50 ngàn, một số tiền quá lớn đối với tôi, trước đây có nằm chiêm bao cũng chẳng thấy.

Tranh Bảo Huân

Về nhà tôi cứ trằn trọc hoài không ngủ được, không có tiền cũng khổ mà có nhiều tiền cũng khổ.

Ngày hôm sau tôi trở lại sòng bài, tôi không lạ khi thấy mình liên tục thắng lớn, chơi hơn một tiếng đồng hồ tôi ăn hơn 50 ngàn. Tôi lẳng lặng đi qua sòng Matrix gần bên chơi tiếp, tôi lại thắng. Trong vòng 3 ngày tôi ăn hơn 300 ngàn, dân chơi bài bắt đầu dòm ngó xầm xì, ông già này bài đỏ quá thắng liên tục mấy ngày.

Tôi ở nhà nghỉ dưỡng sức vài ba bữa, sau đó trở lại sòng bài kiếm tiền. Lần này đi xa, lái xe gần 3 tiếng, tới sòng bài nổi tiếng trong vùng: “Cache Creek”. Và để tránh sự chú ý, tôi chơi lung tung bàn nào cũng ghé qua, mỗi bàn chơi một lát. Chơi từ trưa tới chiều, tôi lượm bỏ túi được hơn 200 ngàn. Cám ơn mèo yêu quý, chiều nay về nhà tao đãi mầy bò bít tếch loại thượng hảo hạng, chỉ thua bò dát vàng ở xứ ông hoàng bà chúa nào đó mà thôi.

Mấy ngày sau tôi tới sòng bài khác cũng ở xa, lái xe hơn 3 tiếng, kiếm được một mớ kha khá tôi đi về. Trong vùng vịnh nổi tiếng này có mấy sòng bài lớn tôi đều ghé qua, sòng nào cũng thắng và thắng lớn. Mấy tay chơi chung bàn xầm xì to nhỏ. Tôi bắt đầu thấy e ngại, đành rằng trên sòng bài có nhiều người chơi rất lớn, ăn thua bạc triệu không phải không có. Nhưng cái kiểu tôi thắng liên tục hết ván này đến ván khác nhất định phải có điều gì bất thường, nhất định phải có camera theo dõi. Hôm chung tiền cho tôi, họ check camera khá lâu, ôm tiền ra xe mà lòng tôi hồi hộp như mình là người đi ăn trộm.

Tối hôm đó tôi về nhà thức sáng đêm không ngủ được, đầu óc suy nghĩ lung tung, chuyện xấu nhiều hơn chuyện tốt, lại nằm chiêm bao thấy ác mộng, chắc tại mấy ngày nay tôi đi chơi suốt nên ảnh hưởng tới sức khỏe. Tôi gọi hẹn đi khám bệnh, muốn xin bác sĩ một ít thuốc ngủ, không có thuốc tôi không ngủ được. Bác sĩ nói huyết áp tôi cao, cần nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ.

Được vài hôm trong người thấy khoẻ, tôi lại rạo rực muốn đi lên sòng bài, nhưng tự nhủ lòng, thôi, nhiêu đó đủ rồi. Trong vòng một tuần lễ, tôi chơi bài ăn được cả triệu đồng, vậy còn muốn gì nữa. Ông bà mình thường nói: “tham thì thâm”, một câu nói khác của người xưa rất thâm thúy: “ăn ít no dai, ăn nhiều mau đói”. Casino chung tiền cho tôi nhiều quá thế nào họ cũng âm thầm theo dõi. Biết tôi thắng là nhờ cái nhau mèo thế nào họ cũng đưa tôi ra toà đòi lại tiền, và có thể tôi bị thua kiện. Nghĩ tới điều đó tôi lên cơn mệt, chỉ có một tuần lễ mà người tôi sa sút thấy rõ, phần thức đêm, phần lo âu, tôi mà bị heart attack hay là bị stroke thì đúng là phúc đâu không thấy chỉ thấy rước họa vào thân.

Sáng hôm sau tôi ra văn phòng dịch vụ mua vé máy bay về Việt Nam gấp, tôi cần an dưỡng nghỉ ngơi và nhất là tránh sự cám dỗ của mấy sòng bài này càng sớm càng tốt. Trước khi đi tôi căn dặn thằng cháu ngoại của chị tôi ra sau vườn cho con mèo ăn. Tôi dặn nó đừng cho mẹ nó biết. Má nó mà biết được thế nào cũng cấm cản, sợ mấy con mèo hoang tụ tập phóng uế mùi hôi không chịu được. Cũng may, má nó đi làm bận bịu suốt cả ngày, ít khi bước ra sau vườn, biết tôi cho con mèo hoang ăn thế nào cũng càm ràm nhức cả mình. (Tôi hồi nào tới giờ không vợ không con, sống với gia đình bà chị từ ngày qua Mỹ tới giờ, cũng đã hơn 30 năm rồi).

Xa quê đã lâu, đã rất lâu rồi mà tôi về không thấy bỡ ngỡ, chỉ vài hôm là tôi dễ dàng hoà nhập vào đời sống Việt Nam, cái đời sống đầu đời mà tôi đã bỏ đi biền biệt mấy chục năm không một lời thăm hỏi. Tôi còn một người chị và một ông anh sống quây quần cùng con cháu trên mảnh vườn ông bà để lại. Tôi cho họ tiền sửa chữa lại căn nhà cũ cho đàng hoàng khang trang hơn trước. Tôi giúp vốn thằng cháu rể của chị tôi mở quán ăn nho nhỏ, hai vợ chồng nó bán hủ tiếu dạo trên xe đẩy. Trước khi về Mỹ tôi nhờ nó trông coi cất giùm tôi căn nhà trên mảnh đất trống, phòng khi sau này tôi về Việt Nam dưỡng già có chỗ ở.

Tôi về Mỹ ra quán cà phê nhiều người trách móc tôi lúc này nhiều tiền trốn anh em mất biệt. Ai cũng biết là tôi lên sòng bài thắng lớn. Có đứa còn nói tôi ăn tới mấy triệu đồng, tôi cười trừ làm thinh không nói gì. Bất ngờ có người vỗ vai tôi nói hello chú, khoẻ không chú, à thì ra thằng Hiếu. “Mày lúc rày làm ăn ra sao rồi? Lâu lắm mới gặp”. Tôi quen nó 20 năm về trước khi đi làm chung trong hãng điện tử, có nhiều việc tôi không biết làm nó chỉ dẫn giúp đỡ tận tình, buổi trưa nó thường rủ tôi ra ngoài ăn và nó luôn dành phần trả tiền. Nó giống tôi ở chỗ ưa cá độ football với lại cờ bạc. Sau này nó lấy vợ và đổi qua hãng khác tôi không còn gặp nó nữa. Hôm nay nó đến quán cà phê tìm tôi chắc là nó nghe tin tôi cờ bạc thắng lớn. Lâu ngày gặp nhau hai chú cháu hỏi thăm chuyện làm ăn, chuyện gia đình, loay hoay một hồi không tránh khỏi chuyện cá độ, chuyện cờ bạc.

Tôi hỏi nó có còn dưa hấu với cà na nữa không, nó bật cười nói bỏ sao được chú. Tôi nói chắc không hề quên ông Tây với bà Đầm. Banh xác rồi chú ơi! Tôi bật cười, bởi vậy hôm nay tới đây tìm chú phải không.

Tôi đã gãi đúng chỗ ngứa của nó, nó chỉ chờ có vậy.

– Mấy tháng nay cháu khổ quá chú ơi! Mùa football vừa rồi cháu dính hết mấy chục ngàn, tính lên sòng bài kiếm tiền trả nợ dè đâu chơi lớn thua thêm càng nặng, cháu đánh liều mượn tiền đinh của mấy thằng đầu gấu, đi làm đầu tắt mặt tối không đủ đóng tiền lời.

– Cháu thiếu nó bao nhiêu?

– Cháu mượn nó có 50 ngàn, thiếu tiền lời mấy tháng nó tính dồn giờ thành bảy tám chục.

– Trời đất!

– Nó biết cháu có tiệm nails nên mới cho mượn nhiều như vậy.

Thấy nó vướng vào hoàn cảnh khổ như vậy tôi cũng tội nghiệp. Cho nó mượn tiền trả nợ thì cũng được, nhưng làm sao nó trả lại cho tôi. Thiếu nợ tôi thì nó cũng phải lo mà trả, cái vòng lẩn quẩn đó chắc gỡ hoài không ra. Tôi suy nghĩ tính tới tính lui, thôi thì cho nó mượn cái nhau mèo, nó có tiền trả nợ mà không phải bận tâm chuyện tiền bạc. Tôi nói với nó:

– Chắc cháu cũng nghe nói chú lên sòng bài ăn nhiều dữ lắm phải không.

– Dạ thiên hạ đồn rần rần.

– Cháu cũng biết hồi nào tới giờ chú chơi cờ bạc thua te tua, cháu có thắc mắc là sao giờ chú lại thắng một cách kỳ lạ khó tin như vậy không.

– Sông có khúc, người có lúc mà chú.

– Cháu tin như vậy?

Nó nhìn tôi không nói gì, chắc nó cũng hiểu là có một chuyện gì bí ẩn. Tôi thấy nó là một người rất dễ mến dễ thương, gia đình vợ chồng làm ăn đàng hoàng, chỉ có điều nó vướng vào đam mê cờ bạc, giờ gặp cảnh ngặt nghèo. Tôi cũng là một người đam mê cờ bạc giống như nó, tôi cũng từng nhiều lúc lên bờ xuống ruộng, giờ tôi được trời cho một chút ân huệ là có nhà có tiền sinh sống trong những ngày tháng cuối đời, tôi còn chần chờ gì nữa mà không giúp nó.

– Chú nói cái nầy cháu nghe, mà cháu phải giữ kín không cho ai biết, và cháu phải hứa là làm đúng theo lời chú.

– Dạ cháu xin hứa

– Cháu cờ bạc lâu ngày cũng biết, ai chơi bài cũng có lúc ăn lúc thua, mà thua nhiều hơn ăn. Những người chơi bài mà thắng được casino thì chỉ có “thần bài” trong phim bộ Hongkong. Chú trị vết thương cho con mèo hoang sau vườn nhà chú nên nó đền ơn bằng cái nhau của nó. Đó là bùa linh sai khiến thần bài muốn gì có nấy. Giờ chú cho cháu mượn kiếm tiền trả nợ, trong vòng 3 ngày cháu trả lại chú.

– Dạ cháu cám ơn chú nhiều lắm, cháu hứa làm theo đúng lời chú nói.

Lúc thằng Hiếu bước đi tôi nói với theo dặn dò, kiếm chút đỉnh đừng tham lam quá nhe cháu.

– Dạ

Đúng 3 ngày như giao hẹn mà thằng Hiếu không thấy tới trả tôi cái nhau mèo. Tôi chờ thêm 2 ngày nữa nó cũng không tới mà cũng chẳng gọi phone cho tôi biết, tôi nghĩ chắc có chuyện gì không ổn. Tôi biết tánh nó, và tôi nghĩ nó là một người đáng tin cậy. Ngày hôm sau nó tới nhà tìm tôi, thấy nó tôi giật mình hết hồn, môi sưng vù con mắt bầm tím như là võ sĩ trên khán đài bị đánh knock out.

– Sao vậy? Cái nhau mèo hết linh, mầy không có tiền trả nợ bị tụi nó xử đẹp phải không?

– Không phải, để cháu kể hết đầu đuôi chú nghe. Hôm đó được chú cho mượn cái nhau mèo cháu đi liền lên sòng bài “Bay 101”, chơi bài đỏ lắm, ăn đâu được hơn 100 ngàn, cháu chạy qua “Matrix” chơi tiếp, trong vòng 2 tiếng đồng hồ ăn đâu được trăm mấy, tổng cộng hơn 300 ngàn. Tụi đầu gấu đứng canh me theo dõi cháu chơi, cháu chung tiền cho nó tại chỗ cả vốn lẫn lời đầy đủ. Hôm sau cháu lên sòng bài Graton chơi tiếp, ăn đâu được cỡ 300 ngàn đem về nhà cất cẩn thận. Sáng ngày hôm đó cháu định đem trả chú cái nhau mèo đúng như giao hẹn. Bỗng cháu nổi lòng tham, chạy lên sòng bài kiếm thêm chút đỉnh, lần nầy chơi lớn định vớt cú chót cho đáng đồng tiền bát gạo. Trong vòng 3  tiếng đồng hồ cháu thắng 500 ngàn, thật không thể tưởng tượng nổi, bài tốt một cách kỳ lạ, người viết kịch bản phim “Thần bài” chắc cũng không nghĩ được mấy ván bài có một không hai này. Nhiều người xúm lại coi cháu chơi, y hệt như trong phim. Có mấy thằng nhìn cháu một cách đáng ngờ, trong bụng cháu cũng sinh nghi đây là bọn cô hồn các đảng.

Cháu đổi tiền, ra xe giấu cẩn thận rồi chạy một mạch về nhà. Cháu cũng ngu không đề phòng, tới khoảng đường vắng 3, 4 thằng chận đầu xe cháu lại, cháu cũng biết thôi rồi quân ăn cướp. Thoạt đầu cháu ngoan ngoãn làm theo lời chúng nói, giả bộ khờ có bao nhiêu tiền giao cho chúng. Chúng lục lọi thiếu điều muốn banh cái xe của cháu, bọn khốn nạn bao nhiêu cũng không đủ, tụi nó nghi cháu còn giấu chỗ nào đập cháu te tua để cháu khai.

– Tụi nó là người Việt Nam?

– Một thằng Đen, một thằng Mễ, nhưng tụi nó nói hớ một câu cháu biết tụi nầy trong phe bọn đầu gấu chuyên cho vay nặng lãi. Nó hỏi tiền cháu ăn ở Bay và Matrix mầy giấu chỗ nào, cháu nói trả nợ hết rồi. Nó nói mày trả có 100 ngàn, tiền dư mày cất chỗ nào. Làm sao tụi nó biết cháu trả nợ bao nhiêu, cùng phe tụi nó cả. Thời may lúc đó có ánh đèn xe chớp từ đàng xa, tụi nó bỏ đi, trước khi đi còn lột cái bóp của cháu, trong đó có cái nhau mèo của chú, đồ khốn nạn. Mất tiền cháu không tiếc, chỉ tiếc cái nhau mèo, cháu thật áy náy, xin chú tha lỗi.

– Cháu có báo cảnh sát không?

– Cháu chỉ nói đại khái là cháu lên sòng bài thắng lớn, về nhà giữa đường bị ăn cướp. Nhưng cháu không nói là cháu nghi tụi nó cũng phe với bọn đầu gấu cho vay nặng lãi, tiền mất đâu dễ gì lấy lại, mình cũng không có bằng chứng, gây thù chuốc oán với tụi nó thêm phiền, chi bằng bỏ của chạy lấy người.

– Lỡ rồi, thôi quên đi, cháu trả được nợ cũng mừng cho cháu, thôi ráng giữ mình, đừng dính líu tới bọn đó nữa.

– Dạ

– Con mèo cũng đã chết rồi.

– Ủa, sao vậy chú?

– Chú ra sau vườn thấy nó nằm im bất động, tưởng nó nằm ngủ, chừng coi lại thì thấy nó đã chết từ hồi nào. Chắc nó bệnh chết già. Chú chôn nó cạnh nhà kho, nơi mấy mẹ con nó thường quanh quẩn.

– Sẵn đây cháu cũng báo tin chú biết, chuyến này vợ cháu làm dữ, nếu cháu không bỏ cờ bạc nó ly dị. Mấy tháng trước dính nợ nần cháu khổ lắm, giờ bị hành hung thừa chết thiếu sống, cháu sợ lắm. Vợ chồng cháu tính rồi, tụi cháu thu xếp chuyện nhà cửa tiệm tùng xong xuôi đâu đó, tụi cháu sẽ dọn qua Texas ở, từ giã cái thành phố ma quỷ này. Cháu thành thật xin lỗi chú cháu làm mất cái nhau mèo, cháu còn giữ được một ít tiền gởi chú.

– Thôi cứ giữ đó mà lo chuyện nhà cửa, chú cũng còn một mớ kha khá đủ sống đến cuối đời.

– Vợ chồng cháu cám ơn chú nhiều lắm.

Hôm thằng Hiếu sắp sửa dọn đi sang tiểu bang khác, vợ chồng nó đến nhà tôi chào từ giã. Vợ nó đưa tôi một gói quà cùng một bao thư tiền. Tôi định từ chối, thằng Hiếu nhìn tôi khẩn khoản.

– Có chút quà mọn chú nhận cho vợ chồng con vui.

Tôi đưa tay nhận món quà như là nhận tấm lòng biết ơn của một người đáp lại lòng tử tế của một người khác. Hai vợ chồng nó đưa mắt nhìn nhau như có điều gì ngại ngùng không dám nói. Sau cùng vợ nó lên tiếng.

– Chú cho phép cháu thăm mộ con mèo một chút có được không chú?

Thằng này hứa với tôi không nói cho ai nghe chuyện con mèo, vậy mà vợ nó cũng biết. Tôi dẫn hai người ra sau vườn chỗ tôi chôn con mèo, mộ nó nằm cạnh nhà kho chỗ mấy mẹ con nó từng sinh sống, cạnh mộ nó tôi trồng một cây sung nhỏ tôi bứng ra từ trong chậu, để làm dấu thay thế tấm mộ bia. Tôi lấy cái phone khoe hình con mèo lúc nó nằm cạnh tôi trên ghế xích đu, một tấm hình khác ghi cảnh 3 mẹ con nó vui đùa trong ánh nắng mai. Vợ thằng Hiếu xin tôi chuyển 2 tấm hình đó qua phone của nó. Cô nàng khen tấm tắc… dễ thương… dễ thương quá hé anh. Cô nàng lấy từ trong giỏ xách ra một đóa hoa hồng đặt lên mộ con mèo. Hai vợ chồng thành khẩn miệng lâm râm như đang nói điều gì với con mèo, chắc là cám ơn nó cùng lời chúc an giấc ngàn thu.

Lần đầu tiên trong đời tôi thấy một người đặt hoa lên mộ một con mèo. Mà đúng ra, chính tôi, chính tôi phải là người làm việc ấy. Mèo ơi! Cám ơn mày, tao nhớ ơn và nhớ mày suốt đời.

NTG

Xứ Đen & Phượng Đỏ

baotreonline.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

November 29th, 2019

Post by Sơn râu 15 May 2025

Phố núi bên bờ biển. Photo: Adam Niescioruk/unsplash    

Chiều đi trên đoạn đường hướng về phố núi, dưới triền đồi của hải đảo Tenerife. Ngoài kia là biển và bên trong là khu phố với những dãy chung cư cao tầng và những ngôi nhà thâm thấp, màu trăng trắng. Từ xa nhìn vào thấy khu phố như nằm dựa vô ba bên vách núi và mặt ngoài hướng ra biển.

Tôi cắm cúi đi tới dưới tàn của một hàng cây mà tôi hổng hay, chợt thấy bông gì rụng đỏ trên đường. Ngước mặt ngó lên, thấy chen trong tàn lá lốm đốm một vài màu đỏ. Tôi dừng chân và bước thụt lùi ra khỏi hàng cây để ngước mặt lên nhìn cho rõ. Trên nền trời màn mây trắng mỏng che kéo ngang làm màu xanh của nền trời nhợt nhạt. Trong ánh sáng nhẹ nhàng của buổi chiều, trên những tàn lá xanh xanh, vàng vàng hực lên một màu đỏ lói. Lòng xôn xao, xúc động, tôi hô:

– Oh, flamboyant!

Quê hương tôi là một thị trấn ven biển, thuộc tỉnh Cà Mau ở cuối miền nước Việt; nơi đó chỉ có rừng mắm, rừng đước và cây cối tạp nhạp. Ngoài bông lục bình, bông súng, bông bí, bông điên điển và bông so đũa… những loại bông dân dã ấy đã đi vào thơ ca và màu sắc cũng rất đẹp, nhưng đặc biệt là ca dao, hò hát về một loại bông thường kèm theo một món ăn ngon hơn là để ngắm, nhìn cho sướng mắt.

Tenerife xa mù chỉ ngoài Ðại Tây Dương, gần bờ biển Tây Bắc Châu Phi, từ đất liền Tây Ban Nha chạy ra đảo, nếu biển êm phải mất hơn hai ngày. Buổi chiều nắng dìu dịu, không khí trong lành, về đêm mát mẻ và thoang thoảng hơi hám miền nhiệt đới rất là dễ chịu. Trong khi khí hậu Âu Châu đã bị ảnh hưởng cái nóng của sa mạc Sahara tràn về, có nơi lên tới bốn mươi hai độ C. Tenerife tuy cùng vĩ tuyến với sa mạc Sahara và núi đồi nơi đây trông trơ trụi, không cây xanh, chỉ có cây xương rồng, nhưng buổi trưa ở đây cao lắm là hai mươi sáu độ C. Cũng gần ba mươi năm rồi tôi mới gặp lại cây phượng trổ bông trên hải đảo này. Tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi đặt chân lên Bờ Biển Ngà (Côte d’Ivoire) vào buổi chiều tháng Sáu, đầu mùa Hè và cũng trên đường lên hội quán như hôm nay. Trên đường đi tôi thấy một hàng cây ra bông đỏ au, nhưng tôi hổng biết bông gì. Tôi đem thắc mắc vô hội quán hỏi một vị linh mục:

– Trên đường lên đây, tui thấy hàng cây gì mà ra bông đỏ hoét?

Vị linh mục vui vẻ cho tôi biết:

– Nó là flamboyant.

Hàng phượng đỏ ở Santa Cruz de Tenerife. wikimedia.org

Lúc đó tôi cũng chẳng biết flamboyant là cây gì, tôi nhờ ông ghi chữ flamboyant vô sổ tay, tôi đem về tra tự điển mới biết đó là cây phượng. Hồi còn ở quê hương, tôi chỉ biết “hoa phượng” trong văn, thơ và nghe qua những bài hát, chớ chưa từng thấy mặt mũi cây phượng ra làm sao hết. Tôi hổng biết mấy bà nội trợ quê tôi có chế biến bông phượng ra món ăn nào không? Nhưng khi nói chuyện với người Việt thì tôi thích dùng từ bông phượng. Dân miền Tây Nam Việt nói bông tức là hoa. Theo tôi thì từ bông bình dị, hoà hợp với thiên nhiên và gần gũi với người dân của sông nước miền Tây hơn.

Tôi đã đọc và đã nghe hát về hoa phượng ở Việt Nam rất nhiều. Hễ có hoa phượng thì có tiếng ve sầu buồn bã với cuộc chia ly, nhưng lâu lắc gì cho cam, có ba tháng nghỉ hè, sao mà thở than nghe buồn bầm gan, tím ruột. Ý là ở sân trường trồng chỉ có vài ba cây phượng, nếu trồng một hàng phượng dài như ở bên này thì hổng biết ngày nghỉ hè các cô cậu học trò buồn thê thảm cỡ nào. Những năm sau này tôi thấy trên Google tự động dịch bông phượng ra phoenix flower, còn cây phượng ra phoenix tree: bông phượng hoàng hay cây phượng hoàng tên đẹp đẹp, hay hay, nhưng khi nghe liền nghĩ ngay tên của một loài chim hơn là cây cối. Hơn nữa Google dịch tự động thì cũng nên suy xét lại, bởi vì khi hổng tìm ra từ nào chính xác thì Google Translate chơi trò ghép chữ. Chớ nếu chịu khó tìm trên wikipedia thì sẽ thấy tên tiếng Anh của cây phượng đúng là flamboyant hay royal poinciana. Bởi vậy cho nên khi nói với người ngoại quốc tôi dùng từ flamboyant mà họ cũng vẫn hiểu.

Có lẽ vì lần đầu tiên tôi biết phượng trên đất nước Phi Châu, nên hôm nay thấy phượng tôi chợt nhớ lại những ngày tôi sống trên vùng đất nghèo nàn, đen thui và dễ thương đó. Hình như là một sự ngẫu nhiên tình cờ hay là luật lệ của kiếp nhân sinh mà hôm nay tôi trở lại quần đảo Canary sau bao năm trời xa cách. Không khí ấm áp hiền hoà nơi đây làm cho tôi nhớ những năm tháng đi đi lại lại vùng biển Châu Phi.

Dù tôi xa vùng đất khô cằn đó đã lâu, nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ trong vài lần đổ bộ, tôi bị người dân nơi đó lột hết áo quần, đồng hồ, máy ảnh. Ban đầu tâm trạng tôi có hơi hoang mang, sợ hãi và thù ghét cái đám người vừa đen, vừa xấu, vừa tham lam… cho nên có một thời gian tôi hổng dám đi mình ên lang thang trên đường phố. Cho tới một ngày kia tôi gặp vị Linh Mục, ông là người da trắng, có lẽ ông sống ở Phi lâu quá nên da người ông pha màu đen đen, đỏ đỏ trông ông mạnh mẽ, ngồ ngộ. Nhìn ông tôi mường tượng tới, một con người đã hoà nhập với đất cát, cây cối, lá, hoa, sông nước và núi, rừng thiên nhiên của vùng đất Châu Phi này.

Núi đồi tại Tenerife trơ trụi, không cây xanh. Photo: Greg Rochat/Unsplash

Lần đầu ông xuống thăm tàu, nghe trên tàu có một Vietnamese boat people, tức là người Việt tị nạn bằng ghe, ông liền lên phòng tôi gõ cửa và hỏi xin được vào thăm. Dạo đó tiếng Anh của tôi nghe thì lõm bõm, nói thì bập bẹ, nhưng ông cũng kiên nhẫn ngồi chăm chú lắng nghe, nhiều chữ hổng hiểu chúng tôi phải tra từ điển. Trông gương mặt ông hiền từ, có giọng nói ấm áp, làm tôi cũng ấm lòng và vô cùng ngưỡng mộ. Ngày hôm sau ông đem xuống tặng tôi cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Việt, dạo đó tôi có viết cho vài tờ báo tiếng Việt, mỗi tháng mỗi toà soạn trả công cho tôi một tờ báo, tôi đọc một hai ngày là hết sạch. Nay được ông tặng quyển Kinh Thánh tôi để trên đầu giường đọc mỗi đêm trước khi ngủ.

Có lẽ lời trong kinh thấm vào lòng, cộng thêm sự dạy dỗ của ông, tôi biết thêm chút ít về đất nước con người Châu Phi. Nghe tôi phàn nàn việc trộm cắp của người dân bản xứ. Ông nói:

– Thật ra thì dân nơi đây hiền từ và thiệt thà lắm, chỉ vì nghèo quá nên có chút lòng tham vậy thôi.

Bần cùng sanh đạo tặc, nghèo sanh tham lam thì đúng rồi, còn tham lam đi cướp giựt của người ta thì làm sao gọi là hiền từ được? Nghĩ vậy thôi, chớ tôi hổng nói ra. Hình như ông đọc được ý nghĩ của tôi, nên ông nói:

– Tất cả loài người trên trái đất đều là con của Chúa, vì chúng ta là con của Chúa nên người nào cũng có lòng tham.

Lúc đó đức tin tôi còn yếu nhưng nghe những lời ông nói tôi mới suy nghĩ nhiều về kiếp con người. Ừa, con người ai cũng có lòng tham, tôi cũng có lòng tham và tôi trở thành người phiêu bạt, xa quê hương, xa tổ quốc cũng do lòng tham lam của con người mà ra. Cũng từ đó tôi không còn sợ người da đen và mặc cảm với người da trắng. Tôi thay đổi ý nghĩ và xem tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau. Mỗi khi bị giựt đồ tôi cũng không thấy tức giận và thù ghét họ nữa.

Nhờ sống gần gũi với những người dân nơi đây, tôi học hỏi được nhiều điều và tôi cũng biết cách đề phòng. Mỗi khi đổ bộ tôi không đeo đồng hồ; tiền túi bỏ theo đủ xài và hổng mang máy chụp hình theo. Nói tới máy chụp hình, tôi nhớ có lần ngồi trong quán uống bia, một thanh niên tới cà kê làm quen, thấy anh ta cao ráo, nói chuyện cũng đàng hoàng, tôi mời anh ta ngồi chơi, anh vui vẻ nhận lời và ngồi xuống. Uống chưa hết chai bia, anh ta thấy cái máy chụp hình để trên bàn, anh ta hỏi mượn coi, anh cầm cái máy săm soi, ngắm nghía một hồi rồi đứng lên, ung dung mang cái máy vô cổ rồi đi ra ngoài. Lúc đó chưa có điện thoại thông minh, xài máy chụp hình bằng phim, cái máy cũng đáng giá đồng tiền. Nhưng nhìn cảnh nghèo nàn của anh ta làm cho tôi không còn cảm giác tiếc của, và cũng không nỡ đứng lên thộp cổ tri hô để đòi lại cái máy.

Trung tâm thành phố Monrovia. Wikiward

Có lần ở cảng Monrovia, tôi lên bờ chơi với viên phụ tá thuyền phó; có hai thanh niên da đen theo chúng tôi tới quán rượu. Khi chúng tôi ngồi thì hai thanh niên cũng kéo ghế ngồi cạnh bên, thấy vậy tôi hỏi hai người uống gì? Hai người lắc đầu, nói không uống mà hỏi xin tiền cái phần tôi mời.

Tôi nói:

– Hai bạn cứ uống đi, uống mấy chai tôi sẽ cho số tiền ngang với mấy chai đó.

Lúc đó hai người mới chịu uống. Chúng tôi ngồi chơi rất vui vẻ, một người thanh nên chỉ chiếc áo tôi mặc, khen áo đẹp quá. Tôi nhìn hai người bận áo rách tả tơi. Tôi bèn cởi chiếc áo đưa cho hắn ta. Phụ thuyền phó thấy vậy chỉ tay lên đầu nói:

– Ông bị thần kinh hả?

Tôi cười ha hả giống như một tên giang hồ sành điệu, rồi cởi luôn chiếc áo thun đưa cho người thanh niên bên cạnh và nói:

– Trời nóng, đổ mồ hôi, ở trần cho mát.

Nhà cửa dọc theo sườn núi. Photo: Celio Pires/Unsplash

Lúc đó tôi thấy vui và làm vậy thôi, với lại áo quần tôi mặc cũng lấy đồ cũ từ những hội quán bên châu Âu. Nhưng từ ngày quen với vị linh mục và quen với Kinh Thánh, tâm tánh tôi có phần nào thay đổi. Tôi cũng có viết về đất nước con người nơi đây. Từ chuyện lần đầu tôi thấy hoa phượng đỏ au trên vùng đất mà người thì da đen thui, răng trắng nhách, nghèo rớt mồng tơi, dường như người nào hổng ăn xin thì cũng ăn giựt, còn con gái phần đông làm đĩ. Chợt một ngày tôi nhận ra, những thứ mà tôi đã viết về đất nước, con người nơi đây, sao mà nó giống y chang ở Việt Nam đất nước tôi. Mặc dù tôi viết lại với tấm lòng yêu thương quý trọng, nhưng nghĩ cho cùng thì chỉ để thoả mãn cho cái thằng tôi và thấy có một sự tàn nhẫn trong cách diễn đạt của mình, từ đó tôi nhận ra những gì mình đã làm rất là lố bịch.

Dù sao tôi cũng là một nạn nhân của những con người mệnh danh là cách mạng, là chân lý và cũng là người tha phương cầu thực, đi ăn mày tình thương khắp bốn biển năm châu thì có tình thương đâu mà chia sẻ với ai. Nghĩ tới đây tôi không còn hứng thú ghi chép về đất nước khô cằn và con người đen thui này nữa. Những bài nào mà tôi viết về vùng đất nghèo khó này lỡ đăng báo rồi thì thôi, còn lại bao nhiêu tôi đem liệng hết xuống biển.

Những tháng năm tôi lênh đênh trên những tuyến đường khác. Thỉnh thoảng có hội từ thiện kêu gọi góp tiền giúp dân Phi Châu, tôi sẵn sàng đóng góp không do dự. Những lúc đó tôi mới cảm thấy nhớ thương một xứ sở nghèo nàn đáng được những người khắp nơi trên thế giới quan tâm và giúp đỡ. Tôi còn rất nhiều ấn tượng về vùng đất khô cằn ít mưa, nhiều nắng, luôn thiếu nước uống và thiếu đồ ăn.

Nhưng mỗi khi nhớ Phi Châu là tôi nhớ hàng phượng đỏ au dọc bên Bờ Biển Ngà và vị Linh Mục có nước da đen đen, đỏ đỏ khả kính đã an ủi, chỉ dạy tôi trong những ngày đầu tôi phiêu bạt. Nhờ ông mà tôi biết sống chan hoà với thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá và biết thế nào là tình thương nhân loại.

NLHH

Đại Tây Dương 10-7-19

Miền kinh rạch

baotreonline.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

November 16th, 2019

Post by Sơn râu 15 May 2025

Giethoorn Netherlands 2014. wikipedia.org  

Tiện dịp gia đình người em từ Úc sang thăm tôi và đứa em kế. Sau hơn hai mươi năm ba anh em mới gặp, phải tính chuyện đi chơi coi sao cho được. Tôi là anh lớn và tất cả qua ở nhà tôi, nên tôi phải chọn một nơi thắng cảnh đẹp của Hoà Lan để mọi người cùng thưởng ngoạn.

Tôi hỏi ý kiến bà xã và con gái, bà xã tôi thích bông nên chọn đi vườn bông, con gái thì thích những thắng cảnh thành phố nên chọn Amsterdam, Den Haag hoặc Rotterdam, hai người nói qua nói lại cả buổi nhưng chưa chọn được chỗ nào. Bà xã tôi bèn day qua hỏi tôi:

– Anh đi nhiều chắc anh biết chỗ nào đẹp?

Tính ra cả đời tôi thường xê dịch đó đây, mang tiếng là dân Hoà Lan nhưng thường thì tôi sống ngoài Hoà Lan nhiều hơn, nên sự hiểu biết về đất nước con người ở xứ hoa tulip của tôi có phần giới hạn. Tôi cười và nói:

– Ở Hoà Lan anh biết ít lắm.

– Anh thường tìm hiểu chuyện du lịch mà, bộ ở Hoà Lan anh hổng có ấn tượng chỗ nào sao?

Nghe hỏi tôi chợt nhớ ra và buông lời không do dự:

– Theo anh thì ở Hoà Lan, Giethoorn là ấn tượng.

Con gái tôi thắc mắc:

– Chú và mấy em bên Úc tới Hoà Lan thì phải đi những nơi có tiếng và nhộn nhịp, ai mà tới nơi hẻo lánh và buồn hiu.

Con gái tôi sanh ra và lớn lên ở xứ sở bông tulip, trên vùng đất thấp. Nơi đây tuy ẩm ướt nhưng rất thanh bình, tên nghe có vẻ cổ tích là quê hương ếch hoặc nhái (Kikkerlandje), cho nên đầu óc nó không phức tạp và sự so sánh của nó khác biệt hơn thế hệ cha chú. Vì vậy tôi phải một phen giải thích cho nó và mọi người cùng nghe:

– Giethoorn thuộc về tỉnh Overijssel ở phía đông của vương quốc Hoà Lan,  nơi đây kinh đào chằng chịt trong một khu vực rộng lớn, nước có màu lục, cỏ màu xanh và một nơi rất thanh bình. Ngôi làng nhỏ phụ thuộc rất nhiều vào kinh rạch, nhiều ngôi nhà cheo leo không thể đến được bằng đường xe hoặc đường bộ, nhân viên bưu điện đưa thư phải dùng xuồng bơi hoặc xuồng máy. Vui nhứt là những đám cưới người ta cũng tổ chức trên thuyền, thuyền được treo đèn kết hoa và mở nhạc nho nhỏ chạy chầm chậm trên dòng kinh trông đẹp lắm. Thật ra thì Giethoorn hẻo lánh nhưng không buồn hiu, vui vẻ nhưng hổng ồn ào và cũng là một trong nhiều nơi có tiếng Âu Châu về bảo tồn cảnh đẹp của thiên nhiên.

Ðứa em ở Hoà Lan chen vào:

– Ờ… ờ… ở đó giống quê mình.

– Theo anh thì du khách dùng xuồng bơi, trong nhiều năm qua ca nô hay đò dọc rất thịnh hành ở Giethoorn. Với hơn chín mươi cây số đường nước và nhiều xuồng máy cho mướn, nên trông có vẻ giông giống miệt đồng bằng quê hương mình.

Ðứa cháu hỏi:

– Mà sao tên là Giethoorn chú?

– Theo chú biết thì tên Giethoorn bắt nguồn từ những cư dân đầu tiên tới đây sinh sống, họ phát hiện ra hàng trăm sừng của con dê (gietehorens) ở vùng đầm lầy, sau một trận lụt hồi thế kỷ thứ mười. Hôm nay không còn thấy sừng dê ở đây nữa, cảnh quan cũng khá khác biệt, tuy do bàn tay con người xây đắp, nhưng đất, nước, kinh, rạch gần như còn nguyên vẻ đẹp của thiên nhiên. Từ bìa của những ao hồ rộng lớn bên ngoài vô tới những con kinh, con rạch nhỏ hẹp trông đẹp đẽ, rất lý tưởng cho du khách di chuyển bằng thuyền để ngắm cảnh hoặc câu cá. Theo chú thì nếu quang cảnh của hồ Sils ở Thụy Sĩ và trong thung lũng Engadine được bao quanh bởi cây kaneelkleurige trông đẹp như cảnh thiên thai trong tranh vẽ thì Giethoorn đẹp đơn giản với bờ cỏ xanh um và cây gì hổng biết mà trông giống như cỏ lác hoặc rau bồn bồn mọc khít khao xung quanh trảng nước. Một trảng nước minh mông đến đỗi tưởng như không phải thật giữa cái xứ sở văn minh này. Có lẽ cũng vì đơn giản và trông như hổng phải thật, nên du khách từ xa tới đây tha hồ mà tưởng tượng.

Giethoorn, Bestanddeelnr – 1946 wikipedia_org

Ðứa em hô lên:

– Ồ, anh nói đúng rồi. Là người Việt Nam, nhứt là sống trên vùng sông nước miệt đồng bằng sông Cửu Long thì hình dung nó ra cảnh đồng quê miền Nam.

Tôi nói chỉ có bao nhiêu đó mà thuyết phục được mọi người. Nhưng cả hai phe, một phe Hoà Lan và một phe ở Úc cộng lại gần chục mạng. Em tôi day qua hỏi tôi:

– Ðông người quá, mình phải đi bằng cách nào?

– Ðể thưởng ngoạn vùng trời và khám phá nhiều kinh rạch ở Giethoorn, có hai cách, một là tham gia một chuyến du thuyền trên kinh, trên thuyền có những nhân viên người địa phương hướng dẫn, giải thích qua các địa điểm và những nơi quan trọng nhất trong ngôi làng yên tĩnh này. Vì du khách đến Giethoorn tăng vọt trong vài năm qua và số lượng tàu, xuồng, hạn chế, nhứt là những ngày nắng đẹp, du khách phải đặt chuyến du hành trên kinh rạch trước. Cách thứ hai thì mình có thể mướn một chiếc xuồng máy điện nhỏ, chiếc xuồng này không đòi hỏi kỹ năng lái, ai cũng có thể lái được, lái một chút là quen, nếu lỡ lái đụng nhau với xuồng khác cũng không sao, có thể nói đụng nhau cũng là một thú vui để cho mọi người cùng cười. Ngoài ra còn có ba bảo tàng bên kinh để thăm viếng và xưởng đóng tàu Schreur, nơi đóng những chiếc tàu và những chiếc xuồng nhôm ở Giethoorn.

Vậy là tất cả đồng ý đi Giethoorn. Ngày hôm sau trời trong và nắng rất đẹp, tất cả kéo nhau tới Giethoorn lúc mặt trời đã lên cao. Chúng tôi mướn một chiếc xuồng lớn, vỏ nhôm, chạy bằng bình điện, rộng rãi cho chín người ngồi rất là thoải mái. Mấy đứa nhỏ hôm nay được giao nhiệm vụ lái xuồng, chúng thích thú và thấy mình quan trọng lắm. Tiếng máy điện thì thào, nhẹ nhàng lướt trên dòng kinh. Thả tà tà dọc theo những con kinh hẹp quanh co vừa đủ cho hai chiếc xuồng qua mặt nhau. Khi ra khỏi những trang trại trước bãi cỏ xanh với những mái tranh cũ kỹ, ven bờ có những con đường nhỏ tráng nhựa và những chiếc cầu gỗ bắc ngang nối liền qua hai bờ kinh thì tới một trảng nước minh mông, ở giữa trảng là một cù lao rộng vừa đủ cho du khách sau khi chạy vòng trảng ngắm nhìn, cặp vô bờ cắm xuồng, cột dây rồi leo lên cù lao, trải khăn ra ngồi thư giãn, ăn, uống. Nếu ai thích thì có thể bơi lội trên vùng không bị ô nhiễm, nước sạch sẽ, trong màu lục và mực nước sâu không ngập khỏi đầu.

Khi xuồng trở vô kinh hẹp, tới nơi đông đúc, mỗi khi hai chiếc xuồng đụng nhau làm mọi người cười rộ lên vui vẻ, nhìn các cháu vui vẻ cười nói hồn nhiên, đầu óc không phức tạp, không suy tưởng mông lung như những người lớn. Làm tôi nhớ lại cách đây hơn hai mươi năm, mỗi khi nhớ quê hương, tôi và vài người bạn hay tới đây mướn xuồng máy chạy tà tà trên những con kinh và ra trảng nước chạy vòng vòng. Nhứt là mỗi khi vô kinh, chạy ngang những chiếc cầu gỗ vững chắc dành cho người đi dạo hoặc cho những người già đi qua thăm bạn bè hàng xóm. Khi đi ngang một chiếc cầu, có người bạn đi cùng hô lên:

– Ồ, Cầu khỉ!

Nhiều người cũng hùa theo:

– Giống cầu khỉ ở quê mình quá.

The Village – 1955 wikipedia_org

Tuy hổng giống cầu khỉ chút nào, nhưng vì ai cũng còn nặng tình quê hương đất nước nên nghĩ ra vậy thôi. Ngày đó tôi cũng nghĩ vậy và khi nhìn trảng nước rộng mênh mông, chiều sâu không quá hai thước, làm cho tôi nhớ quê hương sông nước miền Tây Nam Việt với những trảng nước rộng trong rừng và cỏ lác mọc chen nhau hoặc là một đầm nước đầy rau bồn bồn.

Hổng phải người Việt Nam vì nhớ nhà, nhớ nước non rồi sanh ra viễn tượng. Người Tây phương du lịch tới đây cũng tưởng tượng không kém, họ đặt cho nơi này biệt danh là “Dutch-Venice”, nghĩa là Venice Hòa Lan. Theo tôi thì so sánh giữa Giethoorn với thành phố Venice, một trong bảy kỳ quan thế giới ở nước Ý thì có thể bị sai lầm về mặt diện tích và sự ồn ào náo nhiệt của du khách, sự bán buôn và ăn uống trong thành phố, hơn nữa Venice thành phố ven biển. Ðây là làng quê Giethoorn của Hoà Lan, buổi trưa nghe văng vẳng tiếng gà, thỉnh thoảng vài tiếng chó sủa vu vơ rồi trở lại yên tĩnh, nhẹ nhàng, thanh thản, thân thương và gần gũi. Cũng có hàng quán, bán buôn nhưng nó không náo nhiệt, sự yên bình của miền quê đến đỗi du khách tới đây cũng tự mình hạn chế sự ồn ào. Âm thanh nổi bật thường nghe thấy là tiếng vịt kêu cạc cạc trên dòng kinh hoặc tiếng hót, tiếng kêu của những loài chim khác nhau ở trên các cành cây cổ thụ.

Trên đây là những cảm xúc mà tôi còn nhớ được hơn hai mươi năm về trước. Hình như nỗi nhớ quê hương trong tôi đã nguội lạnh, nên hôm nay tôi trở lại đây thì những ý nghĩ, cảm xúc và tưởng tượng ngày trước tan biến hết. Còn những đứa con, đứa cháu lớn lên bên này thì chúng đâu biết gì về quê hương đất nước, chúng chỉ biết giành nhau lái xuồng đùa giỡn, khi gặp chỗ đẹp thì dừng lại chụp hình.

Riêng tôi thì không tưởng tượng nữa mà so sánh thực tế hơn, thắc mắc và tự hỏi. Cũng rơm rạ, xi-măng, vôi gạch mà người Hoà Lan cất lên cái nhà rất kiên cố, bền vững cả trăm năm. Còn người Việt mình thì cất cái nhà lên chưa bao lâu thì nhà đã dột, cột đã xiêu, ấy vậy mà hễ có dịp thì đem ra thở than rất là văn hoá với giọng điệu ca dao “Ví dầu nhà dột cột xiêu…” Và cũng chừng đó cây, ván, đinh, ốc vậy mà người Hoà Lan đóng một cây cầu bắc qua con kinh nhỏ rất vững chắc, người đi bộ hoặc đạp xe qua cầu rất an toàn. Còn người Việt ở đất nước Việt Nam thì cũng chừng đó dụng cụ, cây ván có thể nói là tốt hơn ở đây nữa, mà lại đóng một cây cầu chỉ một người bước qua nó lắc lư như đưa võng, nhứt là những mùa mưa trơn trợt, người nào đi hổng khéo thì bị té nhào đầu xuống kinh. Ấy vậy mà còn tự hào văn hoá và đặt tên là “cây cầu khỉ, cầu dừa, cầu ván…”

Cách đây bốn năm, tôi về Việt Nam thăm nhà người em họ ở Bến Tre, thằng cháu chở tôi trên chiếc xe gắn máy hai bánh, mỗi lần băng qua những chiếc cầu xi măng lót ván ở quê, tôi thót ruột thót gan khi thấy chiếc cầu hẹp té mà hổng có lan can, lại còn long đinh, sút ván, xe chạy nghe tiếng ván khua lụp cụp làm tôi  sợ khiếp vía, xanh máu mặt, trong khi đó thằng cháu nó tỉnh bơ, còn ra vẻ anh hùng, nói:

– Trước đây có vài người phóng xe qua cầu và bị lọt xuống kinh đó chú.

Sau khi đi thuyền thấm mệt lên quán ngồi nghỉ ngơi uống nước. Ven bờ kinh có rất nhiều quán cà phê, nhà hàng và hầu hết các nhà hàng trên kinh đều có phòng cho du khách từ xa tới ở trọ. Con đường nhỏ tráng nhựa bên cạnh các kinh đào là nơi lý tưởng để đi bộ hoặc đi xe đạp. Du khách cũng có thể đi dạo trên những con đường nhỏ bên bờ kinh, dưới những tàn cây cổ thụ mát mẻ, ngang những ngôi nhà tranh ấm áp và thong thả đi qua những chiếc cầu cây nhỏ duyên dáng, chắc chắn, rất an toàn và bảo đảm hổng sợ té nhào đầu xuống dòng kinh hay dòng sông.

NLHH – Dronten cuối hè 2019

Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú
Post by Sơn râu 15 May 2025

12. Những chuyến tàu đi đảo

Quần đảo nằm đâu? Nó rải rác một dọc dài cả ngàn hòn, từ eo Bering chạy tuốt xuống vịnh Bosporus! Nó lù lù đấy nhưng vẫn là vô hình. Cũng như những thằng dân quần đảo, đám nô lệ có trọng lượng, cũng choán một khối lượng phải chuyển dịch từ đảo này sang đảo khác không ngừng nghỉ nhưng chớ cho ai thấy. 
Chuyển dịch bằng phương tiện gì, đi tàu nào? 
Có chứ? Có bến lớn là những khám tạm, chờ di chuyển. Bến nhỏ là trạm tiếp nhận. Chuyên chở đã có những con tàu vỏ thép nằm ngoài kè đợi những toa xe zak cũng bọc thép chở người đến đúng ngày đúng giờ. Nếu cần gấp rút sẽ có cả đoàn công voa chuyên chở rặt tù, đưa từ bến này tới bến kia. 
Đừng tưởng thường! Đó là cả một lịch trình sắp xếp nghiên cứu cả chục năm dài bởi những đầu óc nhàn nhã, no đủ để tiến hành công tác sao cho nhịp nhàng, có hệ thống. Ngày lẻ công voa Kineshma nằm chờ ở nhà ga lớn Mạc Tư Khoa đúng 17 giờ chiều để đón tù từ các khám Butyrki, Krasnaya Presnya, Taganka. Ngày chẵn công voa Ivanovo sẽ tới đúng 6 giờ sáng để đón thêm người từ các khám Nerekths, Bezhetsk và Bologeye đưa đi luôn. 
Công tác chuyển vận đều đặn, đúng ngày giờ như vậy, gần gụi kể như đụng vào mắt anh vậy mà vẫn không thấy. (Thấy làm gì, nhắm mắt lại!) Cố nhiên vì lý do an ninh bảo mật, đám tù bẩn thỉu đâu có đi chung sân ga với hành khách. Đã có sẵn toa riêng ở tuốt xa xa, chỉ nhân viên phụ trách đường rầy hay biết. Ở các ga nhỏ những hành lang sẽ được cấp thời dựng lên, ngăn ra bít bùng. Người ngoài nhìn vô không thấy mà tù có muốn nghênh ngó nhìn ra để kiếm người nhà cũng vô phương. Nhiều khi khỏi cần nhìn thấy toa xe, cứ theo chân thằng đi trước mà đặt bước. Kẻ trước người sau dồn tới, chỉ khựng lại chút đỉnh nếu bục lên xuống ở toa xe cao cỡ lưng chừng ngực. Dọc hai bên hành lang kín mít đã có toán hộ tống chia nhau đứng chặn luôn miệng hối thúc, nạt nộ: “Mau lên, gấp gấp lên chớ?” Nếu cần sẽ có những mũi lưỡi lê thúc kèm theo! 
Anh có thể ra ga đáp xe lửa đi cùng chuyến xe nhưng hối hả, bận con nít và hành lý đâu có để ý được tới một toa hàng hoá vừa móc thêm vô đoàn xe. Toa chở hàng nào chẳng bít bùng, không dấu hiệu? Nhưng ở đầu toa, chỗ chòi cao cao tại sao lại ló ra một người lính? Mỗi người ngồi một đầu, xe ngừng là trèo lên nóc toa, tay cầm súng đi lại, mắt dòm chừng xuống dưới. 
Xe chuyển bánh mang theo toa tù. Cùng đoàn xe với anh, cũng chạy ngang ngần ấy phong cảnh cũng dọc theo đường rầy ngoằn ngoèo rắn lượn, cũng thở chung làn khói với anh (trước anh vài giây đồng hồ) và cùng chung sinh hoạt đoàn xe có một đám người chen chúc nhau, dồn cả trăm mạng vào một toa. Những con người thân xác từng đau khổ, rã rời vì hành hạ tra tấn, tinh thần đang căng thẳng vì số mệnh chưa biết đưa đẩy tới đâu. Ca-bin ngồi 4 người anh còn lấy làm khó chịu vì chật chội, chung đụng – Toa zak đằng trước ca-bin cũng chừng ấy chỗ mà 14 người, 24 người và có thể 34 người đấy! (Bạn đừng lấy làm lạ, Zak mà. Trong “kỹ nghệ ngục tù” các ông lớn ưa xài danh từ đặc biệt. Phải zaklyuchennye là “toa xe chở tù” mới nghề nghiệp! Danh từ dài lòng thòng đó chỉ nằm trong hồ sơ nhà tù, vì tù quen xài chữ tắt, chỉ zak là đủ. Họ còn gọi toa xe Stolypin hay Stolypin, lấy tên ngay ông kỹ sư đã chế ra kiểu toa đặc biệt chở tù hồi đầu thế kỷ). 
Cho đến cuối thế kỷ XIX nhà nước đưa tù đi đày Tây Bá Lợi Á còn áp tải bộ hoặc xe ngựa. Năm 1896 xe lửa khá phổ thông nên Lenin đi đày Tây Bá Lợi Á được đi toa hạng 3 và ngồi chung với hành khách. Nghe nói người còn la nhân viên Hoả xa xe quá chật chội! Bức danh hoạ Đời sống muôn nơi của Yaroshenko cho thấy toa xe hành khách hạng 4 cải biến thành xe chở tù chẳng có gì khác, ngoài 2 lớp lưới sắt chăng cửa sổ. Năm 1927 vẫn xài y kiểu toa xe đó, chỉ phân biệt nam nữ. Theo tù già Trushin đảng viên Cách mạng Xã hội thì thời Nga hoàng chở tù đi đày có toa xe Stolypin mỗi ca-bin 6 người thay vì 4. 
Một toa Stolypin đại khái chia 9 ca-bin thì tù chỉ choán 5 (đó là luật quần đảo: thầy chú một nửa, tù một nửa!). Ở giữa chừa lối đi, ca-bin nằm bên, ngăn chấn song sắt từ sàn tới nóc, toa in hệt chuồng nhốt thú. Dĩ nhiên ca-bin không có cửa sổ mở ra ngoài nên trông như toa chở hàng. Chỉ có một hàng lỗ thông hơi ở lưng chừng, gần nóc toa. Cửa vô ca-bin là cửa kéo, bằng sắt. Nhà hoạ kiểu sắp xếp cho 6 tù ngồi 2 hàng ghế dưới, 3 đứa nằm ngăn giữa và giá để hành lý gần nóc toa còn thêm được 2 mạng. Mỗi ca-bin 11 tù nhưng thực tế bao giờ cũng thêm ít nhất 11 mạng nữa mà lính gác ấn vô bằng đế giày. Vậy phải sắp xếp lại. Giá hành lý vẫn co ro 2 đứa nửa nằm nửa ngồi, 5 đứa chiếm chỗ nằm ngăn giữa (đây là chỗ danh dự của các đàn anh, nếu không phải giải quyết bằng tay chân. Nếu tù chính trị và tư pháp đi chung thì đương nhiên đây là giang sơn của dân chơi!) Còn lại 13 thằng thì 10 đứa chia 2 hàng ghế dưới, 3 thằng chiếm sàn cộng thêm những gói, ba lô, va li quần áo ngổn ngang trên dưới thì đủ chỗ như trong một hộp cá mòi! 
Chật chội như vậy nhưng đừng nói tù bị hành hạ! Chiến sĩ lao động Cải tạo, phải giữ gìn cho họ còn đủ sức khoẻ mới sản xuất đủ tiêu chuẩn chớ. Nhưng đòi hỏi tiện nghi du lịch thì khỏi! Công dân tự do đi xa có trả tiền còn mệt mỏi thì dân quần đảo đi đến nơi về đến chốn là may rồi. Bộ chàng rể đưa vợ về thăm nhạc gia chắc? 
Trước năm 1950 xe lửa Xô Viết chạy như rùa bò, thời khoá biểu co giãn nên đi tù đày là phải mất mấy ngày cá hộp liền. Bây giờ văn minh hơn, chỉ một ngày tới ngày rưỡi. Thời chiến và mấy năm sau chiến tranh mới là cực khổ tối đa. Tù đi đày chất trong toa xe Stolypin cỡ 7 ngày là thường quá. Ăn uống, bài tiết, thức ngủ gì cũng giới hạn hết trong ca-bin, không có vấn đề xê xích, di chuyển. Tháng 8 năm 1945, Susi được đưa từ Kuibyshev tới Chelyabinsk mỗi ca-bin lính gác tấn vô 35 mạng bắt buộc tù phải nằm sấp lớp đè lên nhau, tranh chỗ nhau chí chóe suốt ngày đêm và đánh nhau lục đục (Ai bảo tù cong cưng, ngoan ngoãn không dám chiến đấu?). 
Kỷ lục cá hộp và thời gian chịu đựng hình như là của Timofeyev-Ressovsky trong chuyến chở tù từ Petropavlovsk về Mạc Tư Khoa mùa thu năm 1946. Cũng toa xe Stolypin chia 9 ca-bin và tù chiếm 5. Mỗi ca-bin nhét 36 mạng tù đi, đúng 3 tuần lễ liền 1. Mỗi lần hồi nhớ lại chuyến xe trở lại tự do nhà bác học đều rùng mình: không hiểu mình nằm hay ngồi nhưng chắc chắn Timofeyev-Ressovsky đã kẹt khúc giữa. Nghĩa là phía dưới người nằm la liệt, phía trên cũng chen chúc những người. Nhiều ngày liền cứ lơ lửng vậy vì chắc chắn chân không đụng được sàn xe! Dĩ nhiên những thằng nằm dưới bị đè nén cách đó thì chết quá dễ. Quả vậy, ngày thứ nhất chưa có chuyện. Từ ngày thứ hai trở đi, lính áp giải đã phải nắm chân những xác chết kẹt phía dưới kéo ra. Bớt được thằng nào đỡ khổ những thằng dở sống dở chết! Số xác kéo ra không được ghi nhận, chỉ biết dần dà 3 tuần lễ cũng đủ rộng chỗ để những thằng sống sót đi đến nơi về đến chốn. 
36 con người dồn vào ca-bin vẫn dành cho bốn hành khách! Quả có ghê rợn, nhưng kỷ lục thì chưa chắc vì nước Nga dưới chế độ Xô Viết không có gì là giới hạn. Do đó nếu muốn nhét 37 mạng thì sau cùng cũng vẫn phải được. Vấn đề là phải thu gọn con người, sắp xếp lại để sử dụng tối đa từng phân khối khe hở còn sót lại ở các hóc kẹt, ở giữa khoảng những đầu, mình và chân tay, tổng hợp lại thế nào chẳng dư ra một chỗ? Vả lại sớm muộn thế nào chẳng có thằng chết kẹt, chết ngạt? Lôi bớt ra được một xác cố nhiên bớt đi được một chỗ cho đám còn lại. Hoặc nhét thêm vô nhiều thằng nữa! 
Nhân chứng Korneyeva từ Mạc Tư Khoa bị đi đày cũng ngồi toa Stolypin, 30 đàn bà nhét một ca-bin đa số lại là những lão bà lãnh án tôn giáo. Tới trại thì 28 người phải cáng đi nhà thương. Tuy nhiên không bà nào bỏ mạng trong cabin vì may mắn trong đám có năm bảy cô trẻ đẹp mang án “giao du với ngoại nhân”. Cứ thấy mặt lính áp tải là họ xúm lại rủa xả: 
“Mấy anh khốn nạn, tàn nhẫn quá! Đày ải cả mấy bà già đáng tuổi mẹ mình, nằm ngồi chết chồng gần chết thế này sao?” 
Mấy thằng tù mà “có ý kiến” vậy là chết chắc. Các em dù sao cũng dễ thương hơn nên lập tức những bà già nào coi bộ chịu hết nổi được chuyển ngay sang cát-xô thụ hình. Nếu trong khám cát-xô là địa ngục thì trên toa xe stolypin lại là thiên đường! Như đã nói ở trên một toa chia 9 ca-bin thì tù chỉ có 5. Bao nhiêu mạng cũng dồn vào 4 ca-bin, để dành ra 1 ca-bin làm cát-xô để cô lập những thằng cứng đầu, vô kỷ luật. Cát-xô chia làm 2 ngăn và tối đa cũng chỉ nhốt 3 hay 4 thằng phạm tội. Do đó được nằm cát-xô là tiện nghi không thua nhân viên Hoả xa đi theo chuyến xe! 
Vấn đề ăn uống trên xe mới cực khổ trần ai. Tù mà đòi hỏi đồ ăn nóng, rau trái tươi trong khi di chuyển sao? Dĩ nhiên súp chẳng thể cho ăn sống được nên mới có truyền thống cá khô. Bánh mì có sẵn, để khô. Thảy cho mấy con khô là tiện lợi biết mấy. Cũng gọi là đồ ăn, chịu đựng mấy ngày có chết chóc gì. Chỉ có khát nước vô số kể, nhưng đâu phải nhà tù cố tình hành hạ cho chết khát. Chế độ cá khô áp dụng mọi thời, mọi nơi, từ Tây Bá Lợi Á xuống Ukraine. Vẫn biết toa Stolypin nào chẳng có một khu nho nhỏ gọi là nhà bếp bỏ túi nhưng lính áp tải xài còn không đủ, đâu đến mấy thằng tù hưởng. Cũng như mấy món đồ hộp vô cùng quý giá vậy! 
Hãy có cá khô mà ăn! May mắn được một miếng khô cá chép biển Caspian, hay phân nửa con khô chầy. Nhưng được vứt tận tay thì cứ giữ lấy, bọc kỹ lại hay nhét lén trong túi áo. Phải chờ coi ga tới có được phát chút nước ngọt nào không đã. Hấp tấp, tham ăn là có chầu khát nước bỏng cả cổ họng. 
Nửa con khô chầy gọn gàng, nhét vô đâu không được. Nó có lầy nhầy, nhám nhúa như mấy con khô trạch ranh con lổn nhổn những muối bột chát đắng. Khô trạch thuộc loại ướt át, dơ dáy để dành không được, nếu không các thầy chú đã chẳng hốt một mớ, thảy vào manh áo thằng nào đó để liệu mà chia nhau. Khô trạch là thứ phải vốc bằng tay, giữ không được liệng thì tiếc mà ăn vô chỉ khát nước mà khổ. Chẳng bù với khô cá chép to tướng liệng nguyên con vô sàn xe, tù có thể để lên đầu gối xé chia nhau mỗi đứa một miếng 2. 
Thông thường lính áp tải có lệ “có gì phát nấy” cho tù. Phát khô là có bánh mì, lâu lâu còn có cục đường. Chỉ sợ nhất lúc gã trưởng toán ghé đầu vô tuyên bố: “Bữa nay ráng nhịn nghe. Mấy người không có khẩu phần”. Thế là nhịn thật vì không có khẩu phần thật! Có thể vì ban lương thực nhà tù “tính lầm”, có thể lính áp tải hụt bánh, nên “mượn” của mấy thằng tù. Không phát bánh mì là nửa con cá khô cũng không luôn. Thà truất luôn thể cho đỡ bại lộ. Sức mấy tù dám kêu ca. 
Ăn tiếng vậy còn đỡ lo. Nước uống mới là mối đe doạ thường xuyên vì xe lửa đâu có chở theo nước uống. Tới ga nào tiếp tế chẳng được, dù lâu lâu ưa kẹt bậy và vận chuyển khó khăn (không lẽ chiến sĩ Hồng quân thời bình mà phải quần quật xách nước lo hầu hạ đám phản động?) Số lính áp tải giới hạn, công tác quá nhiều lại phải chia 3 ca. Làm việc 8 giờ một ngày thôi chớ. Nào canh gác trong xe, ngoài xe, tới ga lo đi kiểm soát thành toa xe, leo lên nóc, chui xuống gầm gõ từng chút một. “Lỡ tù âm mưu đục một lỗ, đào tẩu dọc đường thì sao?” Còn phải lau chùi súng ống, học tập chính trị, quân sự mỗi ngày, 
Thực sự toa tù phải đậu ra xa một chỗ khuất, công tác đi xách từng thùng quả có nặng nhọc. Phải chi tù được phép mang theo bầu nước, ca nước riêng! Mỗi ca-bin cổ lệ chỉ có 2 gáo uống nước của nhà nước phát, liệu chia tua mà xài với nhau cái điệu một thằng uống mấy thằng chầu nuốt nước miếng mà nước uống có ngon lành gì. Có khi nước lấy ở nồi súp de đầu máy ra đục ngầu, sặc sụa mùi dầu máy. Ăn thua gì, có mấy khi ở trong ca-bin có đủ ánh sáng đâu. Cũng như nguyên tắc thì “mạnh khoẻ, vô bệnh tật uống trước, sau đó đến ho lao và mấy thằng mắc chứng giang mai phải đợi sau rốt”. Nhưng lát sau ca nước lại vục vô chậu, múc thêm nước, có tẩy uế gì đâu. 
Đời sống trên công voa là vậy. Lo cơm nước, canh chừng đám tù đã là cả một trách nhiệm phiền phức. Lại còn vấn đề bài tiết mới rắc rối! Có ăn uống là phải có “cho chúng nó ăn nhiều chỉ mất công đưa đi vệ sinh”. Luật lệ hộ tống buộc phải vậy thì càng cho chúng ăn uống ít đi càng đỡ mệt. 
Đâu thể cho phép tù “bậy” trong ca-bin. Cả toa xe chỉ có một cầu vệ sinh ở đầu toa, đưa 1 thằng đi là phải 3 người “hộ tống”: 1 binh nhất, 2 binh nhì chia nhau canh. Đứng trấn sao cho nó hết hy vọng vùng chạy, kể cả đứng sát vào cửa cầu tiêu mở he hé. Luật lại buộc chỉ cho đi từng thằng một mới là phiền phức. Một thằng đi mất 3 người đưa, còn 30 thằng chở trong ca-bin và tính cả toa xe là 120. 
Vì vậy giờ cho đi cầu ầm ĩ rối loạn những hối thúc: “Lẹ lên, mất thời giờ quá!” Đi cũng như về bị 3 người hối thúc, nhiều thằng té thảm thương. Nhất là trường hợp gã Schultz một người Đức năm 1949 từ Mạc Tư Khoa đi Kuibyshev. Bị xô đẩy quá, hắn cuống cuồng nhảy lò cò làm trò cười cho mọi người. Một lần quá vội Schultz vấp té chỗ cửa cầu tiêu bị lính “hộ tống” giận dữ đánh đấm túi bụi, cất đầu dậy không nổi. Hắn đành phải bò lết vào trong cầu tiêu để tránh đòn. Vậy mà bà con còn cười được, cười lớn hơn! Nghĩ đến danh từ “thần tượng hoá cá nhân” của Stalin không khỏi xót xa. 
Than ôi ngồi trên cầu vẫn còn bị hối! Còn gã lính gác ngồi ngất ngưởng chỗ chòi cao phía ngoài toa xe “theo dõi” bằng mắt và miệng chõ vô hét: “Đi cấp tốc, đủ rồi, còn chờ đợi gì nữa? Thằng số một vô là vừa rồi. Lẹ lên”. Có cái la-va-bô nước dơ dáy tính thò tay vô rửa qua là bị nạt: “Đừng có thọc tay vô! Cút ra,”. Còn nói gì tới xà bông có cũng không dám giở ra, lấy khăn lau sơ cái tay cũng hết dám! Đành lại lẹp kẹp đôi dép trên sàn cầu cực kỳ dơ dáy, vội vàng đi như ăn cướp trở về ca-bin. Đôi dép đó điềm nhiên bước qua tay, qua vai đồng bọn trước khi trở về đúng chỗ cũ trên nócc ca-bin, treo ngất ngưởng trên chân để mặc cho nước cứ thế nhỏ giọt, 
Đàn bà đi “công tác vệ sinh” đại khái cũng vậy. Cửa ngoài không được phép đóng mà phải mở hé, vì một chiến sĩ Hồng quân vẫn phải đứng sát cửa trong canh chừng. Cũng có gã trưởng toán ra lệnh đóng cửa ngoài luôn. Sau cùng một phụ nữ bắt buộc phải công tác cọ rửa, lính canh bắt buộc vẫn phải đứng bên “theo dõi” kia mà. 
Dù có hối thúc như điên thì 120 con người vẫn không thể làm xong công việc trong 120 phút. Phải trên 2 giờ! Mất đứt đi một phần tư ca còn gì? Dù tinh thần cao đến đâu, “hộ tống” mãi cũng phát mệt và tởm. Đó là lý do lính canh không bao giờ chấp nhận cỡ nửa giờ sau lại: “Xin phép sếp, cho đi”. Thằng nào bày đặt đám đòi đi thêm là phải làm ngay trong ca-bin rồi phải tự tay bốc hốt mang xuống dưới cầu! “Ăn cho lắm vào”. Cái mùi xú uế đó ai chịu nổi? 
Thôi thì cứ giới hạn khẩu phần trước là vừa! Nước uống chỉ nhìn nhín thôi. Để giới hạn mọi phiền phức. Nhưng bánh khô, cá khô vẫn giữ phải phát. Luật bắt buộc vậy.

Xin đừng hiểu có sự cố tình hành hạ. Chẳng qua luật lệ bó buộc và sao cho tiện việc, như dân La Mã ngày xưa bị nhốt cũi sắt, lè những cái lưỡi khô rớm máu cho lính canh đổ muối lên mà thôi. Có mấy khi cố tình nhốt chung thường phạm cùng ca-bin với những người đi đày vì điều luật 58. Blatari vẫn cho đi riêng! Nhưng tù nhiều, xe ít, thời gian hẹp quá. Có 5 ca-bin thì 1 là cát-xô, 1 dành cho đàn bà. Còn có 3 cái thì sắp xếp, chọn lựa tư pháp chính trị mất công quá. Sao bằng sắp theo thứ tự nơi đến? Cùng đến một nơi nhưng nhốt chung cùng 1 ca-bin mới thuận tiện, hợp lý! Ngày xưa Pontius Pilate cho đóng dinh Đấng Christ, treo giữa 2 quân trộm cướp đâu phải nhằm hạ nhục. Tình cờ rơi trúng nhằm ngày hành hình, chỉ có một đỉnh Golgotha mà thời gian cũng gấp rút quá nữa. Vậy Đấng Christ có bị chết treo chung với bọn trộm cũng có sao đâu.

“Tôi chắc nếu mình là thường phạm sẽ bị đối xử tệ hại lắm. Bề nào chính trị phạm tôi cũng được bọn áp tải từ lính đến quan vì nể rõ, tiếng bị đưa đi đày khổ sai nhưng ngồi xe tương đối dễ chịu, có ca-bin riêng không phải chung đụng với thường phạm. Mớ hành lý cỡ hai chục ký lô còn có xe đẩy đi, không phải tự tay vác lấy”. 
Xin bạn đọc để ý giùm mấy hàng chữ trên in trong ngoặc kép. Ngoặc kép còn để làm gì, nếu không muốn gợi ý ngược lại một cách chua chát? Hay muốn phân biệt ra cho rành rẽ. 
Vì đoạn văn trên chẳng phải của tôi mà trích từ hồi ký của tù già Yakuhovich cực tả đời sống tù tội những năm 1890, vừa được xuất bản ở Mạc Tư Khoa để ghi nhận một thời kỳ tăm tối, đau thương. Tolstoi cũng ghi nhận trong tập Hồi sinh. Hồi đó tàu chở tù đi đảo thì chính trị phạm cũng được dành ca-bin riêng, có lối đi dạo cho đỡ chồn chân. Ông Hoàng Nebkhlyudov còn được phép vô thăm hỏi. Cũng chỉ chờ 3 chữ mầu nhiệm chính trị phạm ghi lầm bên cạnh tên (chính đương sự thú nhận) mà đến trại khổ sai Ust Kara, phạm nhân Yukabovich được sếp giám thị vị nể. 
Chính trị phạm là phải đổi khác, không được phép đánh giá như tù tư pháp. Thời buổi quý hoá vậy chớ. Đảng viên Cộng sản Oliminsky viết rằng: “năm 1899 thường phạm ra ga đi đày bị sắp hàng đi diễu ngoài phố để hạ nhục trước công chúng. Chính trị phạm có xe ngựa chở đến. Ngay ăn cũng không phải ăn cơm tù, có phụ cấp ẩm thực và có quyền nhận đồ ăn chính do nhà hàng đưa tới. Vì vậy khẩu phần nhà thương bị tôi từ chối vì nấu hỗn tạp quá!” 3. 
Thậm chí quản đốc khám Butyrki có lần phải xin lỗi chính trị phạm Olminsy vì một giám thị dưới quyền lỡ ăn nói xấc xược. Ông ta giải thích rằng: “Ở đây lâu lâu mới có chính trị phạm nên thuộc viên của tôi không quen tiếp xúc với mấy ông!”. 
Chao ôi, thời buổi sung sướng. Butyrki lâu lâu mới có chính trị phạm! Thời ấy chính trị phạm nằm đâu? Đâu đã có khám đường Lubyanka hay Lefortovo? 
Nhà văn Radishehev bị xiềng xích đưa đi đày thật. Gặp trời lạnh được vứt cho một mảnh da cừu tươi, dơ dáy lấy đỡ của một phu Hoả xa. Nhưng sau đó chính Nữ hoàng Catherine ra lệnh phải trút bỏ xiềng xích và người cần cái gì phải cung cấp trong thời kỳ đưa đi đày. Ngược lại tháng 11 năm 1927 giữa mùa giá lạnh nhất, nữ phạm nhân Anna Skripnikova bị đưa từ Butyrki ra đảo Slovetsky vẫn phong phanh chiếc váy vải hoa, mũ rơm mùa hạ. Từ lúc bị câu lưu là nhà cửa niêm phong cứng, có ai cho phép gởi quần áo lạnh? 
Thử hỏi giữa thường phạm và chính trị phạm có gì khác nhau, nếu chẳng phải quan điểm cá nhân? Tù chính trị có quan điểm, có lập trường do đó họ có ý thức tự do ngay cả khi bị bắt. Nhưng kể từ khi nhà nước có nhãn hiệu phản cách mạng (bọn KR!) và đến đảng viên Xã hội còn bị tước đoạt luôn mác chính trị thì chẳng gì làm mấy ông cai ngục ôm bụng cười và phạm nhân ngạc nhiên cho bằng xác nhận “Tôi là tù chính trị. Yêu cầu!” Lập tức giám thị sẽ long trọng tuyên bố: “Vô đây thằng nào cũng là thằng tội! Đó là một sự thực!” 
Đó là sự thực ngỡ ngàng mở mắt thằng tù chính trị ngay từ hồi còn kẹt ở khám giam cứu hay trên chuyến xe đi đày. Nếu những trận đòn tra tấn tàn nhẫn, những mục thẩm vấn quay quắt liên miên đã khiến anh không dám xếp hạng những ông Mật vụ mũ xanh (họ là cán bộ Cơ quan, không thể nhầm lẫn!) thì hiển nhiên anh cũng phải nhận ra sự đồng loại giữa những thằng tội với nhau, những thằng đang chia sẻ một thân phận. Dù căn bản, trình độ và thực tế cuộc đời khác hẳn nhau. Có gây gổ nhau hay bị họ chèn ép, đàn áp thì cũng đến vậy. Cũng thằng tội như nhau! Chen chúc cùng một ca-bin toa xe Stolypin với nhau hiển nhiên là một đám cùng chung cảnh ngộ tù đày. Những kẻ thù, những thằng từng hành hạ mình nhất định phải ở bên kia, không thể cùng ở bên này, trong đám này. 
Khốn nạn, vậy mà lúc ngước mắt nhìn lên ca-bin phía trên anh bỗng nhận ra 3, 4 khuôn mặt một lúc. Mặt người không phải mà mặt khỉ cũng không! Mặt khỉ phải lành hơn, có dáng suy tư hơn nhiều chớ. Không phải những khuôn mặt chịu đựng đau khổ đang xấu xa nhăn nhó. Nếu vậy đã có phần nào người! Rõ ràng 3, 4 khuôn mặt ác độc, hung dữ, biểu hiện của cả một thèm khát, nhạo báng. Hình như mặt nào cũng chăm chăm vào anh như nhận rình ruồi và anh đã bị màng lưới của nó giam hãm kỹ. Trên khuôn mặt đó hình như hai cánh môi đang mấp máy, nhem nhép sửa soạn táp mồi. Hình như chúng cũng cất tiếng nói. Không, chúng phát âm thì đúng hơn vì âm thanh gì rít rống, ấp úng khác lạ quá! 
Những thân hình kỳ cục không người không khỉ đó thường đánh chiếc áo thun cộc. Ca-bin Stolypin hầm quá mà. Chợt hiện ra những phần cổ nổi ngắn, những bờ vai ăm ắp, những lồng ngực xâm trổ đến khiếp. Không gầy gò, trơ xương tù chút nào. Ô hay, ai thế? Họ từ đâu đến? Bỗng đâu lủng lẳng nơi cần cổ hiện ra một vật nho nhỏ, đong đưa. Một cây thánh giá xinh xinh, dĩ nhiên phải bằng nhôm. Anh chợt nghe lòng ấm hẳn lại, tin cậy hẳn. Dù sao có nó là còn có Đức Tin. Còn là người, không có gì e ngại hết! 
Đúng lúc đó thì niềm tin vừa hình thành trong anh sụp đổ cái rụp. “Con người” mang thánh giá vừa buộc miệng chửi thề, tiếng chửi thô tục các ngài, lai căng, đểu giả. Thế rồi nó chĩa ra hai ngón tay, ngón trỏ và ngón giữa đâm thẳng ra và dứ dứ chọc vào mắt anh. Nó muốn nói: “Ê, thằng quỉnh, Ông móc mắt mày ra bây giờ!”. Nó đâu có hăm doạ suông. Nó dám làm thiệt và làm tức thời, ngay đây, vì triết lý sống, đạo sống của nó là vậy! 
Than ôi, cặp mắt quý giá của anh còn dám bị nó móc ra khơi khơi thì những gì của anh, bám vào người anh nó có tha bao giờ! Thốt nhiên cây thánh giá đua đưa, thấp thoáng trước cặp mắt và khuôn mặt ngơ ngẩn, khờ khạo của anh. Đầu óc anh choáng váng. Này, còn biết suy nghĩ gì nữa, trời? Nó điên hay anh điên. Thằng nào sắp điên? 
Phút chốc bao nhiêu quan niệm của anh về cuộc đời này, về con người bỗng đổ sập. Thế này còn gì nữa? Cuộc đời anh trước khi bị bắt kể bỏ đi. Nhưng ngay cả sau khi bị bắt thì người với người giao tiếp với nhau vẫn phải bằng lời. Bằng tiếng nói của người. Thẩm vấn, hạch hỏi cũng vẫn người nói với người, để rồi người có thái độ, người phản ứng. Hoặc ra lệnh, hoặc chấp nhận cũng vẫn là con người nói với nhau. Nhưng động tác anh vừa chứng kiến đã vượt ra khỏi ngôn ngữ của loài người, ở ngoài hẳn sự tương quan giữa người và người. Một đại diện trong số 3, 4 khuôn mặt ấy sẽ mò xuống – thông thường là một đàn em côn đồ, mất dạy ra mặt. Chính nó cởi gói đồ của anh, thọc tay vào túi anh, điềm nhiên như của nó. Vậy thì anh còn gì nữa? Anh ngây người ra như tượng gỗ, thây kệ cho nó bóc lột. Lên tiếng phản đối, la lối hay một cử chỉ phản kháng, giằng co làm gì với nó hoặc với mấy thằng trên ấy? Chúng nó đâu phải người. Đúng thế, với thằng đàn em, hay 3, 4 thằng già đầu kia chỉ có một cách đối phó và đập. Đừng nói. Đập là xong. 
Từ dưới này đập với lên sao được? Mà thằng khốn cướp trắng trợn bỉ ổi thật nhưng nó cũng không ổn. Hay là xô nhẹ nó ra? Không được. Ngay bây giờ chính nó có thể xô tới cắn phập một phát cho anh đứt mũi. Hay bất thần từ trên dộng xuống cho anh bể đầu. Dao nhọn chúng có, nhưng với anh thì rút làm chi, lụi làm chi cho dơ lưỡi dao? 
Anh đành liếc nhìn bè bạn chung quanh, mấy thằng điều 58 Hình Luật như nhau. Để coi, có nên kháng cự lại chăng? Ô hay, sao họ im lặng, họ dửng dưng như không thấy gì, chính họ là những người từng bị lột dễ dàng in hệt? Họ ngồi co ro, gục mặt và hỡi ơi rõ ràng họ nhìn anh như mọi lần vẫn nhìn. Họ toạ thị điềm nhiên trước một chuyện ắt phải xảy ra, như cỏ mọc như mưa rơi! 
Mà thôi, xét ra đúng lúc phải chống cự nhất thì họ cũng như anh đã điềm nhiên toạ thị mất rồi, lúc phải nhìn lại gương Struzinsky châm lửa thiêu sống trong xà lim ngục Vyatka, lúc bị nhà nước gán mác “phản cách mạng”. 
Vậy anh mới để cho mấy thằng côn đồ “mượn” đỡ chiếc áo lạnh, lục lọi trong người “mượn” luôn tờ giấy bạc 20 rúp khâu kín dưới ve áo và ngó bọc đồ của anh bị thảy lên trên đó để chúng lục soát “tịch thu” tất cả những gì bà vợ yêu gởi cho chồng mang theo đi đày. Đúng, chúng thảy xuống cho anh thì còn gì đâu, ngoài chiếc bàn chải răng? 
Phải nói thật là không phải ai ai cũng chịu để chúng “thịt”. Khoảng 1930, 1940 chẳng hạn, chỉ 99 phần 100 thôi 4. Khốn nạn, toàn những đàn ông, chiến sĩ tiền tuyến cả! 
Thì ra muốn làm gan đập thì phải biết mà chuẩn bị sẵn, chờ chúng ta ra tay là đập. Không ngờ có chuyện này xảy ra, không ngờ bọn blatnye bóc lột là hỏng! Cứ ngây thơ tưởng đã làm cảnh tù đày chỉ phải đối phó với thầy chú là sai lầm tai hại. Còn phải “đụng độ” chán mới thấm thía rằng côn đồ với thầy chú chỉ là lá mặt lá trái của một cây bài, đúng định luật câm: “Chú khi ni, mi khi khác”. Mới đi tù quen tự coi mình tù chính trị, đứng về phía nhân dân chống lại nhà nước ắt không khỏi bốn phương tám hướng đều có kẻ thù chia nhau xâu xé. Lúc bấy giờ đầu óc mới quay cuồng, không biết đường nào mà mò cho đến lúc tỉnh táo nhận ra rằng Mũ xanh hay xâm ngực vốn tuy hai mà một. 
Muốn gan dạ đập lại thì ít nhất phải có cảm giác an toàn. Sau lưng có chỗ dựa, hai bên sườn là đồng minh và, chân đi vững vàng trên đất. Những điều kiện đó tù đi đày điều 58 không có! Về mặt vật chất thì ngồi trên xe Stolyphin thân thể đã bầm dập, tơi tả, không còn hơi sức sau những trận đòn, nhịn ăn, cấm ngủ, biệt giam gần chết cóng. Tinh thần là cả một sự sụp đổ để thấy rằng tư tưởng mình sai lệch, cuộc đời đi không đúng hướng và bạn bè đồng chí cũng chẳng cần biết gì, chẳng còn gì. Chỉ cần sống. Điều 58 Hình Luật quả có tác dụng đè bẹp một con người, tách rời nó một lần và vĩnh viễn. Nó sẽ thấu hiểu rằng lỗi lầm trọng đại và tệ hại nhất hồi còn tự do ở ngoài đời là dám nghĩ đến việc kết hợp nhau đi khác con đường của Đảng, của nhà nước. Thậm chí trong tù nó đâm sợ bất cứ cái gì làm chung hay có dây dưa với một người nào khác. Hai thằng tù cùng thắc mắc một điểm, cùng ký tên chung một bản thỉnh nguyện. Nghĩ đến hợp tác, cộng tác là ngán và còn ngán lâu. Ngán đến độ không dám sẵn sàng hợp lực để đối phó với côn đồ nữa! Ở trên xe, ở khám dọc đường tù “chính trị” đâu dám nghĩ đến một con dao, một cây gậy. Một là dao, gậy để làm gì, để đánh ai? Hai là đã bị dính vô điều 58 mà giở đến dao đến gậy dám bị ra toà xử lại, xử bắn lắm. Ba là chưa dùng đến mà bị lính xét lòi ra dao, gậy cũng nguy hiểm quá. Thường phạm chỉ vì phạm luật nhà lao hay côn đồ là cùng. Dân 58 thì chắc chắn là khủng bố hết chối. 
Sau hết, đa số những kẻ bị đi đày điều 58 đều thành phần hiếu hoà, nhiều người có tuổi hoặc thể chết yếu đuối. Đó là những người cả đời chỉ văn chương chữ nghĩa chớ không chuộng quả đấm. Bị bắt cóc rồi cũng vẫn vậy chớ không hơn. 
Trong khi đó đám trộm cướp tuy cùng chuyến xe đi đày nhưng họ đâu bị thẩm vấn, điều tra. Hai chầu hỏi cung, một phiên xử là thành án mà án cũng chẳng mấy khi ở hết. Không khoan miễn giảm án cũng vượt ngục 5. Sung sướng nữa là thời kỳ giam cứu, chưa thành án vẫn có quyền nhận đồ tiếp tế từ ngoài gởi vô. Tiền “làm ăn” còn giữ được, thân nhân hay đồng nghiệp phụ trách “thăm nuôi” thì phải biết là no đủ! Họ có nhịn ăn một ngày, gầy ốm đi ký lô nào. Di chuyển lại có quyền ăn trên lưng bọn tù Frayera 6 mà họ liệt vào hạng nhà quê, cả quỉnh làng xã. Đối với dân blatnye, luật pháp không xuống tay nặng đã đành mà hình như họ còn vinh dự vì 3 chữ “tù tư pháp!” Thái độ của thầy chú còn làm cho họ có lý do “lên” nữa: 
“Cướp, trộm hả? Có sao đâu, cho dù có mang án sát nhân, cũng còn hơn mấy thằng phản quốc! Có cơ hội là còn cải hoá được”. 
Ưu điểm của tù tư pháp còn thấy rõ ở điểm không bị những khoản 11 chi phối. Tù điều 58, thêm khoản 11 là CÓ TỔ CHỨC rồi! Trái lại luật pháp không nhằm đối phó với bọn ăn cướp có tổ chức, nhà nước không trừng trị tổ chức cướp, trộm. Cướp trộm có tổ chức cũng quét dễ cái một!) Có dấu võ khí cũng chẳng sao, luật lệ giang hồ còn được tôn trọng (thì ăn trộm, ăn cướp hiển hiện là vậy rồi!) Thậm chí giết người trong xà lim không bị chồng án mà xem ra còn được vị nể thêm. 
Tù tư pháp thực sự được chế độ ưu đãi từ lâu. Họ bất quá chỉ bị roi như vô kỷ luật, không tôn trọng luật pháp. Làm cách mạng phản đế nương dựa được vào bọn họ! Năm 1901 Stalin còn bị các đồng chí cùng ở tù kết án lợi dụng tù tư pháp để chống lại các đối thủ chính trị và từ 1920 trở đi nghiễm nhiên coi họ như “đồng minh”. Quan điểm Makarenko cũng vậy khi ông ta khẳng định “tội ác thực sự bắt nguồn từ môi trường phản cách mạng” do đó trộm cướp còn cải hoá được. Thành phần rác rưởi, vô phương cứu vãn là đám kỹ sư, tu sĩ, đảng viên Men-xơ-vích, Cách mạng Xã hội. 
Vì vậy mấy chục thằng phản động nhát nhúa quen cong lưng chống cự sao nổi vài ba đứa “vô kỷ luật” hè nhau bóc lột? Gọi là “đồng minh” cố nhiên người nhà nước đã lờ đi cho họ làm. Đó là sự thực trắng trợn, ngờ ngờ! Bằng không nếu không dám đấm đá, giằng co thì những thằng bị lột vẫn còn mồm để thưa gửi, kêu cứu chớ. Chỉ cần la một tiếng là lính gác phụ trách hành lang bắt buộc phải nghe thấy. Cách nhau có 1 mét không lẽ người nhà nước không can thiệp. 
Người nhà nước không can thiệp vì nạn nhân không cầu cứu. Cầu cứu làm chi khi chính xác các đồng chí hộ tống cũng cùng quan điểm Makarenko? Tệ hơn nữa là bao lâu quen dung dưỡng “đồng minh”, người nhà nước nay bọc xuôi theo “đồng minh”, và đặc biệt trên công voa hộ tống thì làm “đồng minh” luôn. 
Lính hộ tống thực sự cũng bóc lột tù, cũng ăn giựt. Nhất là trong khoảng 10 năm giữa thập niên 1930 và 1940, thời kỳ tù phản cách mạng bị đàn áp mạnh nhất, tù tư pháp dám làm lộng nhất! Nạn bóc lột gần như công khai nhưng có nghe nói lính hộ tống chưa can thiệp một lần nào. Chỉ thấy trước mắt vô vàn những chia chác giữa “đồng minh”. Có “mượn” được món đồ tốt là đút lót các đồng chí hộ tống, đổi lại được tiếp tế Vodka, săng-úych và nhất là thuốc lá! Xét ra cũng chẳng có gì lạ. Thầy đội trưởng toán áp tải có súng thật nhưng tất cả mọi vật sở hữu trong người từ chiếc áo dạ, đôi giày đến cà-mèn cơm đều là đồ nhà binh phát, nghĩa là những vật dụng hạng tồi. Có dễ gì trấn áp được khi thấy thằng tù phản động dưới tay mình nào áo nào mũ nào bốt-da toàn thứ chiến? Lại đầy một bọc đầy những vật lạ trưởng giả thành thị tại sao không động lòng tham? Tại sao không có quyền tịch thu, huống hồ đã có “đồng minh” ra tay thay và sẵn sàng nạp lại? Nếu có sự phân cách, tại sao không san bằng chính cái hố sâu ngăn cách đó? 
Hai năm 1945-1946 lớp tù đi đày phản động từ Âu châu trở về. Họ mang trong người, bọc trong hành lý nhiều món đồ lặt vặt, hiếm có quá! Sĩ quan đi hộ tống cũng động lòng tham, cứ gì trung sĩ? Thời chiến không được ở ngoài mặt trận để vơ vét chiến lợi phẩm, thời hậu chiến có dịp sao không bọc lột lại? 
Thì ra chẳng phải vì ít thì giờ, vì thiếu chỗ nhốt hoặc vì muốn thuận tiện công việc mà có vụ giam lẫn lộn thường phạm và tù chính trị trong cùng một ca-bin toa xe Stolypin? Phải tạo ra sự chung đụng, hỗn tạp, các “đồng minh” blatnye mới có cơ hội “làm ăn”. Con mòng có những cái gì đáng lột và lột bằng hết để những gì đáng chuyển giao thì cho chúng chạy vào ba lô các thầy chú hộ tống! Nào trash (những quần áo, giày dép giá trị của nhà giàu) nào bao nhiêu thứ bacilli béo bở (đường, sữa, bơ). 
Muốn lột con mòng thì phải có các “đồng minh” nhằm sẵn trong ca-bin. Nhưng có phải muốn có “đồng minh” lúc nào cũng được? Lỡ trên xe không có, chuyến xe sắp chuyển bánh và những khám đường cũng không có thì sao? 
Năm 1947 có toán lính hộ tống được lệnh áp tải một số tù ngoại quốc từ Mạc Tư Khoa tới Trung ương khám đường Vladimir. Điệu này trúng mối lớn! Chỉ nhìn chỗ hành lý, bao nhiêu va-li căng phồng mở ra xét qua là biết hết. Một cuộc tịch thâu diễn ra tức thời. Để không giấu lén được một cái gì, tù phải cởi trần truồng ngồi thứ tự trên sàn xe, ở sát nhà cầu. Xét món nào là “di chuyển” món ấy. Có lẽ toán hộ tống choá mắt quá quên bằng một điều sơ đẳng: đám tù này không đưa đi trại Cải tạo mà đến một khám đường! Đến khám đường là có tổ chức đàng hoàng, tù có quyền làm đơn khiếu nại. Do đó, Korneyer tố cáo. 
Thế là phải điều tra. Toán hộ tống “ăn cướp” bị truy ra tức thời, từng người một bị khám xét và lòi ra gần đủ mặt “chiến lợi phẩm”. Những món đồ mất không truy ra được nhà nước bồi thường bằng tiền mặt. Nghe nói mỗi vị hộ tống đều bị quất từ 10 năm tới 15 năm, nhưng án tư pháp dễ khoan hồng quá! 
Phải chi ông trưởng toán sáng suốt một chút chắc đã không dám rớ tới “món hàng” ngoại quốc này. Càng mập càng khó nuốt! Trường hợp dưới đây khác. 
Tháng 8 năm 1945 có chuyến đi đày từ Mạc Tư Khoa đi Novosibisk, có mặt cả Susi. Trên toa Stolypin không có một dân chơi. Đường xa, xe chạy rề rề. Đợi đúng lúc thuận tiện nhất, ông trưởng toán hộ tống ra lệnh khám xét. Từ ca-bin tù phải bước ra từng đứa một, cởi trần truồng đứng ngoài hành lang. Dĩ nhiên lúc bước ra phải xách theo hành lý. Đâu phải khám xét những món đồ bất hợp pháp. Kêu từng người ra thì chuyền tay nhau giấu trong ca-bin quá dễ. Ông sếp chỉ giương cặp mắt hau háu ngó đám ba-lô, ngó túi mấy thằng tù tình nghi con mòng. Bề nào cũng sĩ quan, không lẽ tự tay xét? Đành kiêu kỳ đứng một bên để gã trung sĩ đàn em “làm ăn”. Nhưng vẫn không giấu được ai vì không quen giấu được sự thèm muốn! Phải chi có một “đồng minh” thì tiện biết mấy. 
Không có dân blatnye chính hiệu thì coi, thế nào, chẳng có thằng đi dây điều 58 đổ đốn, sẵn sàng làm công việc “đồng minh”. Tù khổ sở quá, những gương ăn cắp nhan nhản, tội gì giữ tư cách mãi. Thế là có 2 ông sĩ quan, 1 Hải quân là Sanin, 1 Bộ binh là Merezkhov động lòng và đồng tình xung phong. 
Bắt thóp được sự thèm muốn của Trung úy trưởng toán, Sanin bèn tự nhận đại diện ca-bin xin gặp sếp. Đó là một sự lạ nhưng sếp cho gặp liền. Ca-bin kế bên cũng có ông đại diện tương tự. 
Ngay sáng hôm sau, giờ phát bánh mì có chuyện lạ. Cổ lệ khẩu phần ăn đường hàng ngày của tù là 450 gam bánh. Sáng nay chỉ có 180 gam. Bánh phát xong là bà con xầm xì. Xầm xì chớ đâu dám lên tiếng, thay mặt tập thể chất vấn. Mãi sau mới có thằng dám hỏi gã phát bánh: 
“Sếp coi, khúc bánh mì này cỡ bao nhiêu gam?” 
“Đúng khẩu phần hàng ngày”. 
“Sếp cho cân lại. Khẩu phần này tôi từ chối”. 
Hắn lớn tiếng. Ca-bin lặng thinh. Có thằng tính bẻ bánh ra ăn cũng chùn lại. Lỡ ra được cân lại thực thì sao? Sĩ quan trưởng toán hộ tống xuất hiện, quân phục chỉnh tề, oai nghi hơn thường lệ và oai vệ hỏi gặng: 
“Thằng nào vừa phát ngôn chống nhà nước đấy? Thằng nào?…” 
Cả ca-bin nghẹt thở. Cha thằng nào dám hó hé, dám đứng lên nhận ngay cái tội tày đình? Đang lãnh án đi đày vì tuyên truyền chống nhà nước mà lại bị quất thêm tội phát ngôn trước công chúng và người nhà nước thẩm quyền thì nát xương! 
“Thằng nào hó hé, toan xách động phiến loạn vì mẩu bánh mì đấy?” 
Bao nhiêu cặp mắt chiếu vô thằng tội phạm ghê gớm! Chẳng trốn chạy nổi, gã đứng lên ấp úng: 
“Trình sếp, tôi chỉ muốn nói…” 

“À, mày! Thằng khốn, mày tính chống đối?” 
(Đúng, hắn chống đối thực sự. Chống mẩu bánh quá nhỏ chớ chống nhà tù, nhà nước làm chi? Biết vậy thà bóp bụng một chút còn hơn!). 
“Thằng phản động tồi bại! Tội mày đáng treo cổ, cho ăn là tốt còn đủ can đảm đòi cân lại bánh. Nhà nước không bỏ đói, cho mày ăn uống mà còn dám bất mãn. Mày muốn chết chắc? Lính đâu, lôi cổ thằng khốn ra. Tống nó xuống cát-xô đã, nào còn thằng bất mãn nào ra đây? Còn thằng nào xách nhiễu bánh ít bánh nhiều không?” 
Thấy “thằng bất mãn” bị kéo cổ ra, cha thằng nào dám xách nhiễu! Bây giờ không phải bánh ít, bánh nhiều nữa. Mà từ nay sẽ là bánh phạt, cho cả ca-bin, cho tới khi đến Trại! Phải hiểu bánh đã thiếu thì sức mấy còn đường? Số bánh mì, đường đã bị sung công, tiếp tế thêm cho toán hộ tống công voa. (Vụ ăn chặn bánh và đường đã diễn ra đúng vào năm Hồng quân chiến thắng 2 kẻ thù lớn nhất là Đức và Nhật). 
Một ngày thiếu bánh chỉ khó chịu. Ngày thứ hai bắt đầu thấm mệt để thấy bị phạt bao tử chỉ có thiệt. Chống đối là ngu. Lúc bấy giờ “đại diện” Sanin mới có một ý kiến khôn ngoan: 
“Cứ đà này anh em mình sợ chịu hết nổi. Sức đâu chống chọi cho đến khi tới nơi? Theo tôi, tội gì anh em mình chịu đói? Anh em nào có chút đồ giá trị chút đỉnh không? Đưa tôi coi, tôi có cách ngoại giao, trao đổi với họ”. 
Một vài người chịu đói may mắn chìa ra, gom góp vô để Sanin làm bộ chê món này, nhận món này. Một vài người không chịu. Thà đói! Một vài người ngần ngừ, chìa thêm đồ ra. Sau cùng Sanin cũng thâu được một mớ và lấy tư cách đại diện xin ra gặp Trung úy. Cả Merezkhov cũng xin theo ra. 
Lát sau 2 kẻ từ ca-bin gác bước ra, mang theo một mớ bánh mì xắt khoanh thực ngon. Lại có thêm mớ thuốc rê! Đại diện Sanin làm công tác chia chác. Dĩ nhiên thằng nào có lòi đồ ra mới có quyền thụ hưởng, cộng thêm 2 ông sĩ quan có công “ngoại giao”. Anh em khác nhịn hết. Đó là một sự công bằng, hợp lý mà anh em không trách vào đâu được. Bản chất của trao đổi là vậy mà. Mấy người mất đồ cũng tự an ủi thà bỏ ra bây giờ còn no bụng chút đỉnh. Khư khư giữ lấy đồ có chắc gì giữ được mãi không? 
Có thêm mớ bánh là hể hả lắm. Dù kẻ ăn người ngó! Lát sau thế nào chẳng có tí khói vì thuốc rê chia chác cho nhau dễ chớ đâu có khó khăn như mấy lát bánh mì. Quả nhiên “khói tập thể” bốc lên, khét um cả ca-bin. Lúc bấy giờ mấy anh có đồ mới tiếc, tới Sanin gạ đi “ngoại giao” giùm nhưng hắn từ chối, để khi khác! 
Mấy năm hậu chiến xe lửa chạy chậm rề rề. Mỗi lần thấy toa, móc toa Stolypin mất quá nhiều thời giờ nằm ga chờ đợi nên đi Kuibyshev phải mất một tuần lễ. Vì vậy lính hộ tống mới đủ điều kiện sắp đặt vụ bóc lột tỉ mỉ và nói cho cùng chỉ những năm quá thiếu thốn ấy con người ta mới thèm muốn quá đáng những thứ thật tầm thường. Một tuần lễ liền mỗi ngày tù được phát không hơn 200 gam bánh (và cá khô, nước lã). Muốn được đủ phần bánh của nhà nước phát phải có gì trao đổi, mà số cung mỗi ngày vượt quá xa số cầu nên lính hộ tống còn có quyền kén chọn. 
Kuibyshev chỉ là khám tạm dọc đường. Đặc biệt tù được xuống xe áp tải đi tắm rồi trở về toa xe cũ. Từ đây đổi toán hộ tống mới nhưng công tác đổi chác vẫn tiến hành in như cũ vì lính cũ lính mới đã có cuộc “bàn giao” cần thiết. Điều đó chứng tỏ nạn bớt bánh đổi đồ phổ biến mạnh trong tất cả các đơn vị hộ tống. 
Vừa đặt chân xuống nhà ga Novosibirsk, còn đứng ngơ ngác giữa hai đường rầy đã thấy một ông sĩ quan tất tả chạy ra đón. Câu hỏi đầu tiên là: “Có ai thắc mắc, khiếu nại gì về đoàn hộ tống không?” Chẳng thằng tù nào lên tiếng, đến được là may rồi! Nước Nga vốn dĩ vậy, sếp đoàn hộ tống đầu tiên nghĩ ra công tác trao đổi thật hay.

Tù đi đày xe Stolypin còn khác mọi hành khách ở chỗ không hề biết sẽ đi đâu. Đi miễn phí, khỏi mua giấy không được coi bảng ghi trạm đến thường treo ở vách toa hành khách. Ngay lúc lên xe cũng là một bí mật: toa Stolypin có chỗ đậu riêng xa sân ga mà Mạc Tư Khoa có tới 8 nhà ga khác nhau. Người nhà hay tin có muốn đi đón cũng chẳng biết nhà nước đưa đến ga nào. 
Tù ngồi cả mấy giờ trên xe đợi toa đầu máy tới kéo đi, móc vào chuyến xe đang đợi sẵn. Nếu là mùa hè sẽ nghe tiếng máy phóng thanh cất lên rành rẽ: “Xe đi Ufa chuyển bánh ở đường số 3, xe đi Tashkent chuẩn bị”, chỉ cần nghe vậy là dân đi đày kinh nghiệm sẽ biết đang ngồi ở nhà ga Kazan. Vậy là mình không đi Vortuka và Pechora rồi: đi đày 2 trại này phải ra ga Yaroslavl kìa! Mà nhất định không phải Kirov và Gorky nữa 7. Thời buổi này nhà nước có gởi đi đày Byelorussia, Ukraine, Caucasus đâu? Dưới đó làm gì còn chỗ? Nếu đi Ufa hay Takhsent thì đã đi rồi. “Xe đi Novosirbirsk nghe đây, ai đưa tiễn làm ơn xuống giùm. Hành khách cho coi vé xe”. 
Thế rồi xe chuyển bánh. Đi hướng Novosibirsk thì đúng rồi nhưng còn thiếu gì trại khác ở trung vực Volga, ở miền Nam Urals? Bên Kazakhstan, bên Dzhezkazgan còn thiếu gì mỏ đồng? Ở Taishet cũng có trại vậy chớ? Ở đấy chuyên sản xuất các tà-vẹt đường xe lửa. Nghề làm tà-vẹt này độc lắm: nước thuốc xi ngấm vô xương, hơi thuốc vô phổi dễ bệnh vô cùng mà bệnh là chết chắc. Ngả đường này còn đi Tây Bá Lợi Á luôn: nào Sovetskaya Gavan, Kolyma, Norilsk. 
Gặp mùa đông thì cửa xe đóng kín bưng, chẳng nghe tiếng máy phóng thanh nữa. Nếu lính hộ tống giữ đúng kỷ luật là chịu, không thể biết đi đâu. Nằm co quắp vào nhau nghe bánh sắt nghiến xuống rầy rầm rầm nhưng chỉ biết đi là đi. Hai bên đường là rừng rậm, đồng bằng hay thảo nguyên cũng chịu luôn. Chỉ những thằng nằm ngăn giữa, liếc mắt nhìn qua cửa sổ bên kia hành lang may ra thấy thấp thoáng mấy cái cột điện chạy giật lùi. Nếu khuôn cửa không bị băng giá làm mờ mịt thì ngó qua ngó lại cũng có thể đọc lên mấy nhà ga. Nhưng những Avsyunino, Undol, nghe lạ hoắc, có biết nó nằm địa phương nào? Ngần ấy người có ai biết? Đành ngó mặt trời để biết đại khái đang đi hướng Đông hay ngược lên miền Bắc vậy! Tới ga Tufanovo chẳng hạn, có thêm mấy mạng tù mới được nhét lên. Họ kháo nhau lên Danilov lần này không biết toà xử nặng, nhẹ thế nào… mới hay mình sắp đi ngang Yaroslavl khuya nay và Vologda sẽ là trạm đầu tiên đổi đoàn hộ tống. Mấy tay sành sỏi trong đám sẽ lên mặt thầy đời: “Coi chừng nghe mấy bạn! Dân Vologda nói trọ trẹ thật, nhưng không biết nói đùa đâu!”. 
Dọc đường này thiếu gì khám tạm? Không hiểu họ sẽ cho xuống nhằm khám nào? Uktha, Inta, hay Vortuka coi vậy còn đỡ. Kẹt ở Công trường số 501 mới là đau khổ! Đắp đường xe lửa băng ngang thảo nguyên, địa cầu phía Bắc Tây Bá Lợi Á đâu phải chuyện chơi! 

5 năm sau Thế chiến, các đợt đi đày đã sắp đặt xong, MVD đã kiện toàn cơ sơ, Bộ Nội An đã lập xong cả triệu hồ sơ cá nhân nên mỗi thằng đi đày đều có một phong bì dày dán cứng đi kèm. Đưa vô Trại nào, đi đường nào đã chừa sẵn một lỗ hổng nho nhỏ đủ để lính hộ tống liếc vô và liệu sắp đặt. (Hồ sơ bên trong bọn Hộ tống không có quyền mở ra coi, lỡ tiết lộ bí mật hay đe doạ làm tiền thì sao?). Nếu anh nằm ngăn giữa, thầy chú cầm hồ sơ đứng gần bên và mắt anh lại tinh, đọc ngược chữ dễ dàng thì liếc vô lỗ hổng có thể biết thằng nào đi đâu ngay. Tình cờ thấy tên anh, đi Kargopol. 
Ủa, trại Kargopol nằm đâu? Bà con có ai biết không? Kargopol sản xuất gì nhỉ? Xây cất, khai mỏ, biết được là biết ngay thiên đường hay địa ngục! 
Thì ra anh sẽ vô trại Cải tạo Kargopol. Người nhà cứ tưởng anh còn nằm trại Stalinogorsk mới là khổ. Tìm không ra, không biết tin là họ lo sốt vó, mà Trại Cải tạo thì cổ lệ một năm chỉ được gởi một lá thư về nhà. Anh bồn chồn, nghĩ đủ mọi cách để thông báo gấp. Tôi đi Kargopol rồi. Nhưng thông tin cách nào? Vô phương! Ủa, có một cách nhưng hy vọng mong manh quá. Cứ thử coi, biết đâu chừng. 
Anh còn viết chì rồi. Phải xoay 1 miếng giấy cỡ đầu ngón tay. Càng dày, càng cứng, càng may! Nắn nót bức “thông điệp” vắn tắt mà phải che đậy cho khéo, đầu phải nằm quay ra hành lang mà lính vẫn không hay (luật đi xe Stolypin mà đưa chân ra hành lang là bị trừng trị nặng!). Anh phải gấp tờ giấy lại, đợi giờ được đi cầu; đoán chừng sắp đến hay đi ngang một nhà ga là lấy người che khuất tầm mắt thầy chú đứng canh đi cầu để liệng nó qua cái lỗ thoát nước. Tờ giấy sẽ dơ dáy nhưng nó sẽ nằm đâu đó giữa hai đường rầy hoặc gió tạt ra ven đường, 
“Thông điệp” khẩn của anh thế là có dịp dầm mưa dãi nắng, chịu gió bão đến rã rời, manh mún. Hay được một bàn tay nào đó lượm lên coi. Đời này thiếu gì người xót thương thân phận tù tội và không khoái Đảng. Họ sẽ chép lại hay cho vô phong bì đàng hoàng, gởi đến tận nhà anh. Đồng ý “thông điệp” khó thọ lắm lắm, nhưng thực tế rất nhiều gia đình vẫn nhận được tin người nhà từ trên trời rơi xuống vậy đó. Thông thường thư không tem và người nhà chịu phạt nhưng ít ra nhờ mấy nét chữ mờ nhạt của anh trên mảnh giấy dơ dáy, nhàu nát cũng còn biết anh lưu lạc trại nào.

Đi tù đi đày hãy tốp những “thông điệp” kiểu trên. Đừng làm dân quỉnh, làng xã tức những thằng bị bóc lột mãi! May lắm “thông điệp” của anh tới nhà được cỡ 5%. Mà có tới cũng chẳng tạo hạnh phúc cho gia đình. Cuộc đời anh kể từ khi lọt vô Trại Cải tạo thời gian đâu có kể ngày kể giờ nữa. Đến hay đi tính bằng thập niên, bằng một góc thế kỷ đi. Trở lại sự thực thế giới của anh ngày xưa thì không bao giờ nữa. Cho nên quên được gia đình và gia đình quên được anh đi sớm ngày nào hay ngày ấy, càng dễ sống ngày ấy. 
Đồ vật cá nhân – những cái gì bám vào người anh – càng ít càng tốt. Khỏi nơm nớp sợ mất. Chớ có giữ lại cái va-li! Nhốt chung chạ 25 mạng người một ca-bin mang va-li đi để cho thầy chú đạp dẹp nó sao? Mà không đạp thì để làm gì? Đồ lên chiến, áo khoác ngoài đúng mốt, bốt hách đừng mang theo người. Sớm muộn gì cũng bị bóc lột, bị tịch thu hoặc bị trao đổi ở trên xe, ở trong khám điều tra hay khám dọc đường. Có ai đòi hỏi hãy nạp mau mau vì giữ không nổi sợ còn thêm nhục ôm đầu máu mà rút cục mất vẫn mất. Mang những thứ đó trong người là đối tượng của những bầy kên kên dòm dỏ, xâu xé. Mãi lo ôm đồ, mất đồ, anh còn bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng là sống và quan sát. 
Trước hết là tìm hiểu những con kên kên ở quanh anh. Xưa nay qua các hình tiểu thuyết của Kipling, Gumilyev, các nhân vật giang hồ, sống ngoài vòng pháp luật được họ mô tả đặc sắc, có nét lắm chớ. Đâu có tồi bại như bọn blatnye cặn bã này. Dân giang hồ chỉ đẹp trong tiểu thuyết, thực tế cuộc đời chỉ có những tù tư pháp! 
Còn gì nữa? Với đám blatnye nhà tù mới đích thực là nhà. Dù nhà nước có dung túng, pháp luật có nhẹ tay và án tù có ân giảm liên miên thì trước sau họ cũng có ngày tái ngộ “thế giới của họ”. Họ có đặc quyền “dân quần đảo” là phải. Anh có bị bóc lột trơ thân cụ cũng là phải. Ngoài đời chế độ tư hữu tài sản có còn đâu mà mai mỉa ở chỗ chính những đấng có thẩm quyền truất hữu lại khoái chiếm hữu! Ở quần đảo họ thiếu tại sao anh thừa? Anh lạc hậu, có tí mỡ tí đường và thuốc lá cũng giữ xài một mình, không chia chác cho anh em? Họ phải lột anh bằng hết để cho một bài học. Đừng thắc mắc, đôi giày bốt thứ chiến cũng như chiếc áo lên nhà giàu họ vừa “trao đổi” với anh (lấy đôi giày rách, tấm áo công nhân dơ dáy) chính họ cũng chẳng giữ được bao lâu. Qua lại năm ba canh bài thì bốt chiến cũng đi mà áo len sẵn sàng thảy ra đánh đổi chai Vodka, khoanh xúc xích! Cũng có ngày họ trơ thân cụ như anh cho đúng luật động nhiệt học vạn vật đồng nhất thể. Hết khác biệt. 
Chớ giữ của, chớ giữ của. Phật Thích Ca hay Đấng Christ đã từng dạy. Các bậc thánh nhân, vô vi cũng bảo vậy. Giản dị có thế sao không chịu hiểu? Há chẳng biết có của là sa sút linh hồn? 
Vậy thì có được phát cá khô thì hãy nhét vào túi đợi đến trạm sau, đừng có hỏi xin miếng nước. Phát hai khẩu phần bánh đường một lượt cũng thanh toán cái một cho rồi! Khỏi phải giữ, khỏi sợ mất cho thư thái cõi lòng! 
Chỉ giữ những cái không ai lấy được. Đó là kinh nghiệm hiểu đời hiểu người. Là ngôn ngữ, là mớ ký ức mà anh sẽ ghi nhận lại mãi mãi để sau này ắt có dịp sử dụng. Hãy mở mắt nhìn kỹ những người chung quanh. Biết đâu anh chẳng nhớ vĩnh viễn một khuôn mặt nào đó và sau này mới tiếc hùi hụi hồi đó chẳng chịu tìm hiểu sâu xa thêm. Cố mà tìm hiểu, cố nói ít nghe nhiều. Biết bao nhiêu nhân vật lạ anh có thể gặp trên những ngả đường chi chít dẫn đến quần đảo. Gặp đấy, sống cạnh nhau đấy nhưng chỉ một đêm thôi lại xa nhau vĩnh viễn. Anh phải dỏng tai ra nghe chuyện họ cũng như nghe nhịp bánh xe lăn xình xịch trên rầy sắt. Tiếng bánh xe lăn xình xịch như dòng đời vùn vụt trôi. Biết bao nhiêu chuyện lạ cần ghi nhận lại? 
Như gã người Pháp liến láu đang nghênh ngó ở vách ca-bin. Hắn tìm kiếm cái gì, ngạc nhiên vì cái gì đó. Có ai biết tiếng Pháp xề tới bắt chuyện ắt phải cười đau bụng vì chuyện đi đày nước Nga của Marx Nanterre, quân nhân Pháp. Tính nết lăng xăng cái gì lạ cũng ghé mắt vô, hệt như hồi còn ở quê nhà, ở mảnh đất Pháp tự do. Một hôm đi qua trại tiếp cư những người Nga hồi hương, Max thấy lạ, đứng nghênh ngáo mãi. Bị lịch sự mời đi hắn chưa chịu đi vội. Nên được mấy ông bạn Nga mời lên chơi, làm một ly thân thiện. Rồi không biết trời đất gì nữa, tỉnh lại thấy nằm cong queo trên sàn phi cơ, mình mặc chiến y Hồng quân. Một đôi bốt đưa ra trước mặt dậm doạ. “Anh bị 10 năm trại Cải tạo”. 
Max Nanterre bật cười. Cái gì kỳ lạ vậy? Chắc phải có chuyện lầm lẫn gì đây, và thế chẳng giải thích xong? Hắn được giải thích thật: 10 năm là 10 năm! Có gì đáng ngạc nhiên? Hai năm 1946-1947 những vụ Max Nanterre quá thường! (Sau này ở Trại Cải tạo Max còn bị quất thêm bản án 1 phần 4 thế kỷ. Tính ra nếu không có gì thay đổi còn phải nằm ở Ozerlag tới 1957.) 
Chuyện Max Nanterre quân nhân Pháp bị đày Trại Cải tạo Nga giản dị có vậy. Chuyện công nhân Nga Ivan Koverchenko bị bắt sau khi đại náo Toà Đại sứ Pháp và cũng đi đày dưới đây thì nhiều màu sắc, nhiều hơi rượu và phi lý hơn nhiều. Xét ra chỉ Nga mới có nổi vở tuồng bi hài khủng khiếp tới cỡ này. 
Nếu ở đời có những người ngoại khổ, không thể gò ép vào khuôn nếp như những người khác thì Ivan Koverchenko phải là kiểu mẫu của sự ngoại khổ. Hắn không thể sống mẫu mực được, dù người tầm thước và trí óc minh mẫn sức khoẻ không thua ai và nhậu Vodka số dách. Câu chuyện Ivan bị bắt, lãnh án chính trị và đi đày thì chính hắn sẵn sàng cười ha hả kể mọi người nghe chơi cho vui. Đi đày là đi đày, chớ chính trị hay không thì ăn nhằm gì! 
Chẳng hạn hồi Nga – Đức còn chiến tranh thì Đức bị tố cáo dám sử dụng “võ khí hoá học” còn Nga dĩ nhiên không. Kẹt vụ triệt thoái Kuban gấp rút quá mấy thằng Quân Cụ ngu như bò dám bỏ sót lại nguyên một hầm bom hơi ngạt gần một phi trường. Không thủ tiêu kịp, bọn Quốc Xã sẽ nắm lấy bằng chứng cụ thể thì còn gì thể diện Hồng quân? Trung úy Dù Ivan Koverchenko người tỉnh Krasnodar được giao trọng trách tiêu hủy kho tang vật bằng cách nhảy dù cùng 20 đồng đội xuống phía sau phòng tuyến Đức (Bạn đọc Quần đảo ngục tù hẳn suy đoán Ivan bị Đức cầm tù và sau ngày được giải thoát sẽ lãnh án phản quốc 10 năm chớ gì? Không phải vậy!). Trung úy Koverchenko phá được kho bom, dẫn đồng đội về an toàn không hao một mạng nên được đề bạt làm Anh hùng Liên bang Xô Viết. 
Muốn chính thức làm Anh hùng thì chờ công văn đi lại ít nhất cũng 1, 2 tháng. Trong khi chờ đợi làm anh hùng thiệt thọ, Ivan không gương mẫu như các đồng chí anh hùng khác. Vừa máu hăng vừa ham nhậu Vodka nên Ivan chịu sao nổi mấy thằng Quân tiếp vụ bần tiện dám từ chối phát cho anh hùng 1 lít rượu. Bất mãn quá hắn bèn cưỡi ngựa thúc lên lầu 2 để hỏi thăm đồng chí trưởng ban. Phải cả người lẫn ngựa lên lầu (như Caligula thời La Mã) đòi thêm rượu mới hách và chắc ăn! Sau đó Ivan bị bắt chăng? Không! Chỉ làm mất Anh hùng, đành lãnh Huy chương Hồng kỳ vậy. 
Khoái Vodka mà nhà binh phát không đủ thì Ivan phải xoay sở lấy. À, nhờ hắn tiến chiếm kịp thời bọn Đức không kịp phá nên cây cầu này mới còn chớ. Có chiến công phải chiến phẩm, Bộ Tư lệnh chưa tới thì mấy thằng dân Balan muốn qua lại cây cầu được đúng một ngày, vừa đủ mua Vodka nhưng chán chết, có ở đây mãi đâu? Đại úy Koverchenko bèn cho gọi đám dân địa phương đến, đề nghị bán lại cây cầu. “Tao cứu được, tao không xài. Tụi bay muốn xài cầu thì bỏ tiền ra!” Dĩ nhiên dân Balan không chịu. Nhưng Đại úy Ivan vẫn không bị bắt vì vô kỷ luật. Hắn bỏ đi. “Đấy, giữ lấy cầu mà xài. Có tí tiền mà bần tiện!”. 
Năm 1949 Ivan lên lon Thiếu tá, giữ chức Tham mưu trưởng một Trung đoàn Dù đóng ở Balan, nhưng Phòng Chính trị Sư đoàn tối kỵ gã Thiếu tá ba gai không thể giác ngộ chính trị. Xin giấy Sư đoàn đề bạt đi học Đại học Quân sự thì Phòng Chính trị cũng cấp nhưng vừa liếc qua Ivan đã vứt trả lại: “Mấy anh giới thiệu điệu này thì Đại học Quân sự chó gì? Kể như gởi gấm với bọn phản loạn Banderovtsy đúng hơn!” 
Nếu bị bắt vì vụ này và lãnh 10 năm đi đày thì đáng đời hắn quá rồi! 
Đúng lúc đó Tham mưu trưởng Ivan ký một giấy nghỉ phép cho thuộc cấp bất hợp lệ. Và bản thân ông Thiếu tá thì say rượu, lên xe phóng như điên làm lật xe nhà binh hư luôn. Làm sao không bị phạt? Nhưng bị 10 ngày trọng cấm chớ đâu phải 10 năm? Phạt trọng cấm, nằm 10 ngày dưới phòng Kỷ luật nhưng có sao đâu? Bọn đàn em vẫn khoái người hùng Ivan Koverchenko, đêm đêm mở cửa cho đàn anh “ra phố” chơi lu bù! Đáng lẽ hắn cũng ráng nằm đủ 10 ngày phạt nếu mấy ông ở Phòng Chính trị Sư đoàn không hăm he đưa ra Toà Quân sự. 
Mấy chữ “đưa ra Toà Quân sự” làm hắn nổi sùng: “Thế ra cần đi phá kho bom thì thằng Koverchenko này xung phong mà mới làm hư có cái xe ranh con đã ra Toà Quân sự hả?” Ivan bèn cạy cửa sổ, mò ra bờ sông, bơi qua sông Dvina. Bên kia sông có chiếc xuồng máy của thằng bạn nằm chờ, hắn lái dông đi luôn. Hắn nhắm thằng địa giới Lithuania. 
Bất quá như một hơi rượu say, Ivan có hận chỉ hận mấy thằng ở Phòng Chính trị Sư đoàn. Nhưng hắn quyết phục hận, tình nguyện giúp sức bọn quốc gia Lithuania đang võ trang chống lại nhà nước Xô Viết mới là ngoại khổ! Nào ngờ nghe ông Thiếu tá Dù bảo: “Mấy anh cứ thử nhận tôi coi. Tôi sẽ đánh cho chúng chạy cúp đuôi”, cấp chỉ huy Lithuania cũng ngán, chỉ sợ bị gài! 
Ivan còn có một giấy giới thiệu khâu kín dưới lớp ve áo, có vé xe lửa đi Kuban nhưng trên đường đi Mạc Tư Khoa hắn ghé vô một nhà hàng nhậu say quá. Thế là hắn xuống ga Mạc Tư Khoa, kêu tắc xi. Tài xế hỏi đi đâu. Hắn bảo “Đến Toà Đại sứ”. Toà Đại sứ nước nào? “Thì nước nào chẳng có Đại sứ. Toà Đại sứ nào chẳng được!”. “Ô hay, phải nói rõ Toà Đại sứ nước nào chớ?”. “Thế hả? Cho lại Toà Đại sứ Pháp đi!” 
Có lẽ đầu óc Ivan lúc bấy giờ choáng váng, nếu có ý định đến một toà Đại sứ nào đó thì cũng đổi rồi. Nhưng làm gì còn đủ tỉnh táo để sai khiến chân tay? Chẳng cần để ý mấy thằng lính canh cửa làm gì. Cứ bức tường ngang nhảy một phát là vượt cái một. Cao 2 đầu người chớ mấy? Vô trong sân là dễ rồi. Chẳng thấy ai hỏi hay chặn đường. Cứ thế Ivan đi phòng này sang phòng khác và lọt vô một phòng có bàn tiệc bày sẵn. Ra chúng sắp tiệc tối! Vẫn không thấy ai, trên bàn bày nhiều món ăn quá chừng nhưng chỉ mấy trái lê là ngon mắt. Ivan quơ đại ít trái nhét vào túi quần túi áo trận. 
Mấy người bước vô bàn tiệc. Thấy Ivan họ chưa kịp hỏi hắn đã xông tới: “Tụi bây Pháp hả?”. Hắn hỏi là đập liền. Với Nga thì cả thế kỷ nay Pháp chỉ làm hại không. Vừa đập túi bụi Ivan vừa lè nhè chất vấn: “Tại sao tụi bay không làm cách mạng coi? Đưa de Gaulle lên nắm quyền để làm cái gì? Tụi bay còn yêu sách gởi lúa mì Kuban cho nữa? Đâu có được!” Mấy người Pháp lúc bấy giờ cuống quít hỏi: “Ông là ai? Ông ở đâu vô đây”. Lúc ấy Ivan còn tỉnh táo nồ: “Là ai hả? Là Thiếu tá KGB được không?” “Thì cứ cho là vậy đi, nhưng ông đâu có quyền xâm nhập nơi đây. Ông tính vô làm gì?” 
Ivan hét lớn: “Hỏi gì? Câm họng hết!” Sự thực lỡ nồ rồi đành phải nồ tiếp. Làm gì hắn không nghe họ đang quay điện thoại ở phòng bên. Bèn kiếm cách rút lui tà tà nhưng nhè lúc đó mấy trái lê trong túi ông “Thiếu tá KGB” mới rớt ra. Ivan bèn tháo lui cấp tốc giữa tiếng cười ầm ĩ. Chạy gì nổi và chạy sao thoát? Đi còn không vững, nhưng không hiểu sao vẫn đi được! 
Sáng hôm sau tỉnh dậy Ivan thấy đang nằm ở nhà ga Kiev (bộ tính dông xuống Ukraine chắc?). Lúc bấy giờ mới bị người nhà nước vồ. 
Dĩ nhiên một ca đặc biệt như thế phải được Bộ Nội An chiếu cố đặc biệt. Đích thân ông Bộ trưởng Abakuma thẩm vấn Ivan và chắc là nặng tay lắm nên mấy chiếc thẹo sau lưng hắn bây giờ còn bằng bàn tay một. Lý do không phải vì mấy trái lê hay nhục mạ ở Toà Đại sứ mà để tra hỏi cho ra hắn thuộc tổ chức nào, được tuyển mộ hồi nào. Và đặc biệt như ca Ivan Koverchenko là phải lãnh án 25 năm đi đày, dĩ nhiên.°

Chuyện đi đày như trên thì thiếu gì. Nhưng đi đường dài xe nào chẳng phải ngủ, kể cả toa tù Stolypin? Ban đêm là phải ngủ, khỏi phát cá phát nước hay cho đi cầu. Đêm đến chỉ nghe tiếng bánh xe lăn đều một nhịp nhưng nếu không thấy bóng lính hộ tống ngoài hành lang thì những vụ thì thào liên lạc giữa các ca-bin mới bắt đầu, kể cả với ca-bin nhốt đàn bà. 
Hình như thông lệ nhà lao là vậy, có trò chuyện với đàn bà con gái là phải ăn nói tử tế, đàng hoàng. Dù chỉ nói chuyện tù tội, án gì, bao lâu, dưới đây là một vụ trò chuyện điển hình, hồi tháng 7 năm 1950. 
Chuyến xe đó ca-bin đàn bà chỉ trần một cô bé con gái một ông bác sĩ, bị vì điều 58/10. Đặc biệt như vậy nên cả ba ca-bin đều xôn xao vì sự hiện diện của người đẹp. Đột nhiên lính hộ tống ra lệnh ba ca-bin dồn vào hai. Làm liền, được hay không miễn thắc mắc! Thế rồi họ đưa vô một gã trông không ra vẻ tù chút nào. Tóc không hớt trọc mà để dài có lọn, dợn sóng trên khuôn mặt sáng sủa, con nhà lành. Gã còn trẻ, mặc bộ nhà binh Ăng-lê thật chững chạc. Coi bộ lính hộ tống cũng trọng vọng nữa (chắc họ liếc qua hồ sơ). Gã bước vô, không buồn nhìn ai, kể cả ca-bin đàn bà. 
Nhưng thấy lính dồn ba ca-bin vô hai, để trống nguyên một ca-bin cho một mình gã, người đẹp buộc phải chú ý, kiếm cách liếc nhìn ra bằng thấy. Họ sắp đặt cho gã ở ca-bin bên cạnh, không cho liên lạc với ai thì cô bé càng ham bắt chuyện. Trên toa Stolypin vách ngăn ca-bin kín bưng nhưng chỉ nhìn không thấy nhau chớ ban đêm yên lặng nói chuyện giữa hai bên vẫn được nữa. 
Đợi đêm xuống một lúc lâu, chắc chắn lính gác ngủ khoèo rồi cô nàng mới đứng sát vách vừa gõ ra hiệu vừa khẽ gọi. Gã lạ mặt làm đúng như lời nàng chỉ dẫn để hai bên ngồi, đối lưng tâm sự! Ngồi đúng chỗ, lưng tựa lưng, đầu ngoảnh lại thì thầm nói khẽ nghe cũng được. Hai lần vách lưới sắt đan dày cách nhau cỡ hai phân tây chớ mấy. Đúng là mặt kề mặt, môi sát môi nhỏ to tâm sự thì được nhưng không mong gì nhìn thấy mặt hay đụng chạm. 
Ra gã không phải người Nga, tiếng Nga chưa nói rành. Cố gắng lắm gã mới nói được cho biết tên Erik Arvid Andersen và câu chuyện đặc biệt của gã (sau cùng ở khám tạm chúng tôi mới biết). Trái lại, nàng chẳng có gì để nói. Một nữ sinh bị nhà nước bắt đi đày vì vi phạm điều 58/10 thế thôi. Vậy mà Arvid nghe mê quá! Thì ra nước Nga, thanh niên Nga không giống mấy tờ báo tả phái Âu Châu quảng cáo hay gã quan sát thấy. Hai người nói chuyện thâu đêm. Đối với Arvid đó có thể là đêm mở mắt cho thấy sự thực: xứ sở gì lạ quá mà xe tù cũng lạ nữa! Tiếng xe lăn bánh đều đặn như nhịp tim đập. Giọng người con gái lạ mặt véo von, tiếng thì thầm nhẹ như hơi thở dài, hơi thở của nàng phả trên tai. Rõ ràng nghe nong nóng vành tai mà người đẹp vẫn không thấy mặt (cũng như một năm rưỡi rồi Arvid đâu có nghe thấy tiếng đàn bà). 
Thế rồi nhờ giọng nói xa xôi đó Arvid chợt nhìn thấy và nhận ra nước Nga đích thực. Làm như chính xứ sở này lên tiếng với gã vậy. Được hướng dẫn như vậy làm gì chẳng nhận ra và ngày hôm sau gã mới để ý nhìn qua cửa sổ thấy những mái rơm thấp thoáng, kèm theo lời phụ đề buồn buồn của người con gái không hề thấy mặt. 
Nước Nga là như thế này đây. Những thằng tù chen chúc trên toa xe, không phàn nàn. Cô gái khuất mặt bên kia vách sắt. Đám lính hộ tống ngủ khoèo, mấy trái lê lăn lông lốc, một hầm bom hơi ngạt và một con ngựa có người cưỡi thong thả lên lầu hai.

“Lính sen đầm, lính sen đầm kia rồi!”. Đám tù chỉ chỗ, bàn tán. Từ đây trở đi được sen đầm hộ tống, sung sướng hơn lính hộ tống nhiều. 
Xin lỗi, những hàng chữ trên không phải của tôi. Mà là trích của V.G. Korolenko trong tập hồi ký Thế hệ tôi ấn hành ở Mạc Tư Khoa năm 1955. Chúng tôi khác, không thể có cảm giác sung sướng được các ông Mũ xanh đi hộ tống! Chỉ trừ mắc kẹt dọc đường, nghĩa là tới nơi mà không có đại diện khám ra đón nhận đã đành phải ở lại trên xe cùng toán hộ tống. Đi tới đi lui mãi chừng thấy Mũ xanh đón đợi không mừng vui sao được? 
Và ít nhất cũng khỏi đói. 
Thông lệ một thằng tù được chỉ định xuống một nhà ga nào đó mà không thấy người địa phương ra nhận thì toán hộ tống chỉ đợi đúng 2 phút. Xe chuyển bánh là nó mắc kẹt, phải ở lại với toán hộ tống. Nhưng từ đó nhịn ăn, khẩu phần đâu mà chia? Không lẽ buộc lính đi áp tải nhường phần bánh? Có thằng phải xuống ga xép Tulun nhè địa phương đón hụt mà cứ phải “làm con thoi” 6 lần giữa Irakutsk và Krasnoyarsk, không được phát phần ăn. Mà đoạn đường đâu có ngắn ngủi! 18 giờ đồng hồ. Lần thứ 7 qua ga Tulun thấy lố nhố vài chiếc Mũ xanh mừng như sống lại! 
Sự thực ngồi xe Stolypin gò bó, ngộp thở đến rã rời. Sắp tới một đô thị lớn đâm ra phân vân, không biết nên cầu mong xe chạy thẳng tới nơi sớm cho rồi, hay nghỉ ở khám tạm cho đỡ mệt. Chỉ khi nào thấy toán hộ tống xôn xao, xách ra lủ khủ những ba lô áo lạnh và dộng báng súng xuống sàn xe lộp cộp là dấu hiệu sửa soạn xuống hết. 
Xuống xe cũng là vấn đề, có quy tắc đàng hoàng. Trước hết lính hộ tống nhảy xuống, quây tròn vây chặt cửa xe. Từng thằng tù nhảy xuống, chúi nhủi vài cái mà chưa ngồi đúng chỗ thì mấy cái miệng sẽ nhau nhau: “Ngồi, ngồi, ngồi xuống hết!”. Họ hét đều, hét lớn buộc nó phải luống cuống, ríu ríu tuân lệnh. Không dám ngước lên nhìn mà ngoan ngoãn ngồi bệt xuống kế bên thằng xuống trước. 
Xin nói rõ “ngồi” là phải ngồi bệt xuống đất. Không được ngồi cách nào khác. Chính tôi đã bị lần đầu tiên ở nhà ga Ivanovo: tay xách va-li, sàn xe cao, cú nhảy làm tôi choáng váng, hớt hải, không liếc nhìn coi anh em ngồi thế nào, thấy hô “ngồi” là ngồi lên trốc va-li, sợ ngồi bệt dơ hết vạt áo ngoài. Gã trưởng toán hầm hầm chạy lại, rõ ràng tính sút cho tôi một đá. Không hiểu sao hắn khựng lại, chỉ cho chiếc va-li một mũi giày và dộng thêm một gót giày lên trên có ý ra hiệu: “Ngồi thế này này”. Thế là tôi nhìn quanh anh em và sụp xuống ngồi in như mọi người. In như chó ngồi canh cửa, mèo ngồi trấn trên bàn. (Chiếc va-li lãnh cú đá thay tôi giờ đây tôi còn giữ. Có dịp giở ra coi thế nào tôi cũng mân mê lỗ hổng, một “vết thương không bao giờ thành sẹo” đó!) 
Đâu phải tình cờ có luật tù bắt buộc phải ngồi bệt. Ngồi bệt là bàn toạ thấp, hai đầu gối đưa cao trước mặt, trọng tâm thân thể sẽ chuyển hết ra phía sau cặp chân. Đứng lên khó mà thình lình nhảy dựng là không được! Ngồi bệt sát vô nhau đỡ tốn chỗ, ngồi sắp thành hàng lối, đấu mặt vào nhau thì muốn xông ào lại tấn công lính gác cũng đụng đầu, lộn xộn mất vài giây! 
Ở nhà ga tù ngồi đợi thường chỉ đợi xe Mũ xanh đưa đi từng chuyến, nếu không áp giải bộ. Tù sẽ bị quây vô một chỗ kín đáo, ít người thấy. Cùng lắm mới cho ngồi sân ga, ngã tư. Người qua lại ngó nhiều khi phiền là đằng khác. Có ai dám đứng lại nhìn một cách thương hại, có cảm tình (để bị mời đi hay lấy tên tuổi tức khắc). Nhưng chẳng ai nỡ nhìn căm thù, khinh khi (trừ bọn Yermilov tâm thần sao!) Hầu hết cúi đầu bước đi, coi như không ngó thấy. Lâu lâu mới có một bà già dám liệng cho khúc bánh mì hay một “lão tù” từng nếm cơm nhà lao thương tình đồng cảnh quăng cho gói thuốc. Gói thuốc còn ném xa vào trong được nhưng mẩu bánh mì sẽ có hy vọng nằm đấy, thây kệ mấy thằng tù đói. 
Mỗi lần được ngồi đợi sung sướng biết mấy! Nhất là lần ở nhà ga Omsk, dù ngồi khuất và bất cục cựa giữa hai đoàn xe dài. Không thấy ga thấy người mà chỉ được ngồi lên trên những hòn đá xanh đường rầy còn ấm hơi nắng tháng 8, tai nghe lao xao tiếng nhạc khiêu vũ, tiếng người cười nói cũng ấm hẳn lòng. Hai mươi phút quý giá: ngước lên trời cao còn thấy sao, xa xa ánh đèn néon xanh đỏ thấp thoáng. Chao ôi, nhờ những phút giây này mới sống nổi để những ngày tù tội mà không phát điên lên. 
Để đề phòng lúc áp giải bộ dọc đường đã có lệnh “Ôm nhau mà đi, thằng trước thằng sau!” Ôm nhau gọn gàng, bằng một tay (vì tay kia còn xách bọc nặng) thì cả bọn sẽ biến thành một đám tàn phế, nương dựa vào nhau đi lặc lè đến thảm hại. Nhưng dù sao cũng còn dễ chịu hơn cái lệnh ác nghiệt: “Đi sát vào nhau. Tay chấm đất!” Phút chốc đám tù biến thành một bầy ngỗng. Gọi là chấm đất nhưng thực tế chỉ nắm được gần cổ chân. Khom lưng đi tới như vậy không khó nhọc sao và một đám vài ba chục thằng tù nhìn nghiêng không giống một bầy ngỗng? Xét cho cùng chẳng phải sếp hộ tống muốn hành hạ tù cho bõ ghét mới bắt đi lặc lè, đi lom khom. Hắn chỉ sợ trách nhiệm, sợ áp tử tù từ xe đến khám không đủ số đó thôi! 
Tháng 8 còn đỡ. Gặp mùa đông như đợt áp giải tù đến khám tạm Pertopavlovsk tháng 12 năm 1946, hàn thử biểu xuống quá 10 độ dưới zê-rô mới là cực khổ. Mệt nhọc đã đành. Lạnh cóng người cũng không sợ bằng lỡ có nhu cầu bài tiết dọc đường! Mấy giờ trước khi đến ga họ đã cấm tuyệt vụ “Xin sếp cho xuống cầu” để đỡ phải mất công coichùi rửa cầu lần nữa mà. 
Càng về chiều càng lạnh càng mắc đi đái. Vô cùng khó chịu. Nhất là đàn bà! Phải chi là ngựa thì cứ đứng sững lại, làm một bãi lụt lội, ngập ngụa ra đó là xong. Là chó thì ghếch chân sau lên gốc cây, hàng rào cũng được vậy. Là người, thân phận tù đày không có quyền đứng lại hay ghếch chân thì đành đái trong quần, vừa đi vừa đái cho xong. Đất nước này của mình, có gì đâu hổ thẹn? Ở khám tạm thế nào quần chẳng khô. 
Phải vừa đi vừa đái, nhớ vậy. Khựng lại có một bước để cúi xuống lúi húi lo xiết dây giày mà Vera Korneyeva bị gã hộ tống suỵt chó trận tới táp một phát ngay bàn toạ. Cũng may mà Vera mặc thủ mấy lớp vải dày! Phải chi là đàn ông đã ăn no đòn hộ tống: chỉ báng súng, gót giày cũng đủ nằm chết giấc. 
Công tác bắt buộc phải vậy, có chi bi thảm? Có chụp hình gởi đăng báo Daily Express đâu mà sợ. Phải vậy trưởng toán hộ tống mới sống lâu lên lão làng, chẳng ai đả động đến!

Đọc Balzac phải biết đến thứ xe chở tù bít bùng. Xe của Mũ xanh cũng bít bùng vậy. Chỉ khác là di chuyển nhanh hơn và chất tù chật chội hơn nhiều, chật cứng. 
Những năm 1920 trở đi tù còn được áp giải bộ đi phố phường Leningrad rất thường. Đến ngã tư là xe cộ, bộ hành ngưng lại hết đợi những cột tù đi hết đã. Biết bao nhiêu ánh mắt chiếu vào “những thằng phạm pháp”? Người như thế kia mà bất lương! Mấy ai thời đó đã biết đến những đợt tù tống vô quần đảo? Nhưng dần dà Cơ quan phải tiến bộ hơn, chở tù cũng phải cơ khí hoá. 
Những xe tù đầu tiên xuất hiện đen sì sì, khi hệ thống đường sá còn nguyên vẹn chưa canh cải. Đường lát đá tảng xanh gồ ghề, nhíp xe thì quá yếu. Ngồi bên trong chịu đựng cả một sự lắc lư, hành hạ nhiều khi nhảy dựng người. Nhưng ăn thua gì, tù có phải là đồ sứ, đồ thủy tinh đâu mà sợ hư bể dọc đường? Cho đến 1927 vẫn còn kiểu xe kín bít, không một lỗ hổng, không thèm bắt một ngọn đèn nho nhỏ. Ủa, không khí còn thiếu thì cần gì ánh sáng? Dĩ nhiên lên xe là tù phải đứng, đứng xuôi tay cho đỡ tốn chỗ. Nhét được thêm thằng nào là cứ nhét. Có bao giờ không thiếu xe mà đòi rộng rãi? 
Mấy năm sau xe tù sơn màu xám xịt. Chỗ nào viết được, vẽ được đều có danh hiệu nhà tù cho phân biệt. Sau Thế chiến II, ở mấy đô thị lớn mới có vụ ngụy trang lớp sơn ngoài rằn ri hay mấy màu tươi tắn, vẽ bảng hiệu quảng cáo hãng thịt, lò bánh hoặc một mác rượu nào đó. 
Bên trong xe gần như không bao giờ thay đổi. Sườn thép, vách thép cang cảng và trống trơn như một cái hộp sắt khổng lồ. Nếu có bắt mấy hàng ghế sắt ở hai bên chỉ khổ cho mấy thằng tù: số người nhét vào xe đã ấn định rồi, đứng sát vào nhau còn chật ních huống hồ bị ghế chiếm bớt diện tích sàn xe? (Gặp ca này tù lại phải chất nằm, để lớp nọ nằm lên lớp kia cho đủ số vậy). Gặp kiểu xe chia ô tức có vách thép ngăn ra từng ngăn – tức “cát-xô” trên xe – còn khổ nữa. 
Tuy nhiên xe tù đâu phải đứng lâu, nằm lâu mà sợ. Di chuyển giữa công voa xe lửa và khám tạm chỉ 20 phút, 30 phút chớ có mấy khi một giờ liền. Chậm trễ cũng không nổi với mấy ông Mũ xanh thấy mặt là thấy “Lẹ lên, gấp rút lên!” Vì gấp rút quá nên thây kệ những thằng ôm đồ kềnh càng hoặc có chiều cao trên trung bình! Đầu có đập vô cửa xe, thân thể có bị ép vô cũng ráng nhét cho đủ số, trong thời gian kỷ lục. Vì vậy đi xe Mũ xanh (đúng hơn là, chất đứng trong lòng xe) 20 phút là 20 phút hành hạ xương cốt kinh khủng, 20 phút tiếc nuối ca-bin Stolypin. Phải trông chờ từng cái nhảy nhổm để có dịp nhấc chân, nhấc tay đổi thế một chút cho đỡ mỏi. 
Chật chội, chen chúc như vậy có khổ thật. Nhưng thà chật cứng, chật ních… chật ních, thằng nào cũng phải đứng xuôi tay, không cục cựa, còn đỡ cho bọn làng xã, dân quỉnh! Vì 20 phút trên xe bít bùng vẫn là cơ hội tốt cho dân blatnye mò mẫm, làm ăn. Không cần di chuyển đôi chân, chỉ cần nhích được tay, quơ qua quơ lại tạm được là bọn kên kên thừa thời giờ “làm thịt” những bacilli, những trash! Họ cất nhắc được đôi tay là những ba lô, những gói của thằng làng xã đứng gần sẽ bị mò mẫm thật thản nhiên. Xe chật chội thế này không lẽ kêu la oái oái, hay trao đổi vài quả đấm? Có đấm được một vài cú, chặn đứng được tệ nạn bóc lột thật nhưng chỉ lúc bấy giờ thôi. Về đến khám tạm là anh phải biết: một mũi dao nhọn sẽ nhằm lưng anh ấn một phát thật đúng lúc! Biết ai mà kêu, biết nắm thằng nào bây giờ? Cũng có thể thầy chú sẽ phải điều tra, nhằm đầu đích danh thủ phạm. Nhưng dân blatnye đâu có ngán điều tra. Sợ rằng họ còn được nằm lại khám tạm (khỏi phải đi xa hơn nữa) trong khi chính anh nếu có sống được thì cũng đành ôm vết thương kỷ niệm lên đường lưu đày, lưu đày xa nữa. 
(Vậy thà là đứng chật, chật như nêm cối để kên kên cũng phải bó tay, phải không nào?) 
Nếu đầu óc anh ngây thơ tin rằng đứng xe bít bùng không dễ gì bóc lột đồ vật của người khác – hoặc chật chội hoặc không đủ thì giờ – thì anh hố lớn! Dân blatnye từng lập thành tích hiếp dâm tập thể, ngay trên xe bít bùng, theo lời một nhân chứng khả kính là Đại tá hồi hưu Lunin, nhân viên Ban Chấp hành Hội Osoaviakhim (một tổ chức yểm trợ Quốc phòng, Hàng không ở lãnh vực chế biến hoá học). 
Trong xà lim Butyrki, ông Đại tá già đã kể lại “thành tích đặc biệt” mà dân blatnye đã lập được trên chuyến xe bít bùng đi từ pháp đình Mạc Tư Khoa đến khám đường Taganka, ngày mồng 8 tháng 3 nhằm Ngày Phụ nữ Thế giới (!) Cô thư ký xinh đẹp sáng hôm ấy còn trang điểm sáng sủa hơn ngày thường để ra hầu toà (chắc để gieo ấn tượng tốt nơi quý vị thẩm phán). Tội danh có gì đâu. Chỉ là “bỏ sở đi chơi, nghỉ không xin phép” mà ông sếp thuyết phục làm nhân tình không được nên bịa đặt ra. Vậy mà trước Toà cũng lãnh án 5 năm vì điều 58 và lên xe bít bùng đã bị “bề hội đồng”. Dù xe bít bùng nhưng vẫn là giữa ban ngày và giữa đám đông công chúng là những người có mặt trên chuyến xe. Những “công chúng” đã làm lơ, coi như không có chuyện gì xảy ra. Đừng hỏi tội về ai, về đám blatnye vô lương tâm, vì lính hộ tống đồng lõa, hay vì ông sếp đốn mạt! 
Mà có phải chỉ hiếp dâm mà thôi. Với blatnye còn phải có bóc lột. Cô bé đáng thương đã mất trinh tiết còn bị cưỡng đoạt thêm đôi giày cao gót và chiếc áo vét duyên dáng mặc ngoài! Chúng đã được thảy lên cho thầy chú hộ tống. Thầy chú ngừng xe lại, đổi lấy Vodka và dĩ nhiên cũng chia chác “chiến lợi phẩm” cho bầy kên kên. 
Tới khám Taganka dĩ nhiên cô bé nạn nhân phải khóc lóc, thưa gởi. Ông sĩ quan trách nhiệm vừa nghe vừa ngáp và đi đến quyết định giản dị như sau: 
“Nên nhớ nhà nước không thể cung cấp phương tiện chuyên chở cho từng cá nhân. Nhà nước không có những tiện nghi ấy. 
Vậy là thống nhất đường lối và quan điểm! Ở quần đảo không có vấn đề nhốt riêng tù chính trị, tù tư pháp trong xe Stolypin thì nhà nước cũng chẳng sẵn phương tiện chuyên chở riêng cho đàn ông, đàn bà! Dân blatnye chỉ mong được nhốt chung để bóc lột thì truất quyền chuyên chở chung để bóc hốt của họ trên xe bít bùng sao được? Phải cho chung đụng như vậy để đền bù lại. Bao nhiêu năm tù đày có bao giờ họ được dịp gần gũi, đụng chạm với chút đỉnh hơi hướng đàn bà. Phải có những chuyến xe bít bùng chung chạ thế này họ mới có dịp ngửi lại hơi đàn bà, nghe giọng nói đàn bà và nhất là đụng chạm da thịt đàn bà chớ. 
Chúng tôi cũng có lần được gặp một người đàn bà trên một chuyến xe bít bùng, dĩ nhiên hiểu theo nghĩa khác. Đó là vào năm 1950, chúng tôi được chở từ Butyrki ra ga trên một chuyến xe lý tưởng: xe có hai hàng ghế sắt mà chỉ có 14 người. Đang ngồi thoải mái thì họ tống lên một phụ nữ. Người đàn bà rụt rè ngồi xuống băng xe ở sát cửa sau, ngồi riêng rẽ hẳn ra mà mắt vẫn không ngừng dáo dác. Nhưng chỉ một vài câu ngăn ngắn trao đổi là biết ngay toàn người nhà. Cùng điều 58 với nhau, có gì đâu mà phải sợ. 
Bà ta tự giới thiệu tên Regina, có chồng Đại tá bị bắt trước ít lâu. Bỗng nhiên một khuôn mặt gầy gò nãy giờ khuất lấp bỗng thò ra. Đúng týp sĩ quan nhưng trẻ thế kia chắc chỉ Trung úy là cùng! Hắn đột ngột lên tiếng: 
“Có phải chị bị bắt cùng với Antonina không?” 
“Ủa, anh là chồng Antonina hả? Anh là Oleg chớ gì?” 
“Tôi đây”. 
“Ra anh là Trung tá Oleg I. ở Viện Đại học Quân sự Frunze đấy?” 
“Đúng thế!” 
Ôi chao, còn gì bất ngờ, sung sướng cho bằng những tiếng ngắn gọn: “Tôi đây, đúng thế!”. Cả một nỗi bàng hoàng mà sau đó không giấu nỗi sợ sệt, hãi hùng của một kẻ sửa soạn phải nghe một hung tin đau thương. Trung tá Oleg bèn chạy lại ngồi kế Regina, hối hả thăm hỏi. Còn may mắn nào bằng tình cờ gặp đây? Ánh nắng vàng úa buổi chiều chiếu lọt qua những kẽ hở trần xe, nhảy múa trên hai khuôn mặt kề cận nhau. Gã đàn ông hốt hoảng, chờ đợi. 
“Anh biết không, chị ấy và tôi chung xà lim tới 4 tháng liền. Chị ấy đang đợi thẩm cung”. 
“Chị nói sao? Nhà tôi hiện giờ ở đâu?” 
“Tội nghiệp chị ấy! Nhắc đến anh hoài. Chỉ lo anh bị bắt, và sau này suốt ngày cứ cầu mong cho anh lãnh án nhẹ”. 
“Nhưng nhà tôi hiện giờ ra sao?” 
“Khoan, để nghe tôi nói đã. Chị ấy tội nghiệp cho anh, chỉ vì vợ mà phải dây dưa, tù tội! Chỉ bấy nhiêu đó mà khổ”. 
Mắt Oleg long lên. Hắn săn đón hỏi tin vợ, vậy mà cứ nói chuyện gì đâu! Nhưng Regina đưa tay lên vai hắn vuốt ngực an ủi như một người thân: 
“Chị biết nhà tôi hiện ở đâu chớ?” 
“Đừng sợ, có sao đâu? Chẳng qua chị ấy quá lo đó mà thôi. Chớ người như chị ấy có đời nào chịu khuất phục? Nhưng sau cùng cũng phải chịu vậy, thế rồi bọn chúng tách rời chị ấy ra, đưa đi một chỗ khác. Từ đó mới bặt tin luôn”. 
Hai người mãi chúi đầu vào nhau to nhỏ. Thời giờ sao ngắn ngủi thế? Chỉ có lúc này để thăm dò tin tức người vợ thân yêu. Xe bít bùng vẫn cứ phóng vùn vụt trên đại lộ 6 đường xe chạy. Đèn đỏ cũng ngừng lại, quẹo cũng ra dấu như bất cứ thứ xe nào khác. Trên xe những vách sắt rung lên từng nhịp, như hoà điệu với câu chuyện nhỏ to.
Trung tá Oleg I. thì tôi vừa mới gặp trong lao Butyrki xong. Tụi tôi một đám được đưa ra “nhà ga” chờ làm thủ tục đi đày. Ai cũng phải sắp hàng chờ ngoài hành lang để cán bộ Cơ quan lục soát lại lần chót trước khi trả lại mớ đồ đang nằm ở nhà kho. Tình cờ hai đứa tôi sắp hàng bên nhau. 
Bên trong phòng mụ nữ giám thị mở va-li, rũ tất cả mọi thứ chứa bên trong ra sàn nhà. Không hiểu sao lúc bấy giờ nó còn kẹt được? Một chiếc cầu vai vàng óng ánh với mấy ngôi sao nho nhỏ cấp bực Trung tá. Mụ giám thị cũng không nhìn thấy nên mới sơ ý giẫm chân lên chiếc lon. 
Tôi vội bấm hắn: “Thấy không, thấy tận mắt chưa, Trung tá?”. Hắn nghiến răng chịu đựng. Không thể để chà đạp lên một tượng trưng cho những năm phục vụ. Nhưng thôi, chẳng thể làm gì được. Chỉ đau cho chiếc lon vừa bị chà đạp. Cũng như bây giờ đang xót thương cho con vợ chưa biết lưu lạc đến phương nào.

——————————–

1Cũng nên nhắc Timofeyev-Ressovsky là nhà quang tuyến Sinh vật học lừng danh của Nga, có phòng thí nghiệm ở Đức từ 1922 đến 1945. Sau khi “hồi hương để kiến quốc” bị Stalin tặng 10 năm cải tạo. Sống sót trở về Mạc Tư Khoa, như trên thì các Sĩ quan Nội An chờ sẵn ở sân ga, chia nhau bồng bế (thay vì nằm cáng đã quá tử tế) ra xe riêng đưa đi tĩnh dưỡng để nhà bác học có dịp phục hồi sức khoẻ phục vụ Tổ quốc.
2Tập hồi ký Thế giới tù đày của Yakubovich, xuất bản năm 1964 ở Mạc Tư Khoa viết về những năm đói kém hồi 1890 tù đi đày Tây Bá Lợi Á được phát mỗi đầu người 10 kopeck tiền ăn đường Hồi đó ổ bánh mì lớn, ngon nhất là 5 kopeck… một bình sữa 3 kopeck và ở trại Irkutsk xa xôi, đời sống đắt đỏ tới 10 kopeck một nửa ký thịt nên tù đi đày KHỔ SỞ, THIẾU THỐN. Than ôi, với những thằng đi đày “cá khô làm chuẩn” thì chỉ mong sao “thiếu thốn” được nửa ký thịt một ngày!
3Yubahovich ghi rõ ràng: “… chỉ vì những đòi hỏi đặc biệt này mà tù thường phạm thường mệnh danh chính trị phạm là những “đàn anh đớp híp”. Xin bạn đọc phê phán xem có oan hay không?
4Tôi cũng nghe nói có vài trường hợp chống cự hẳn hoi, nhất định không cho bọn côn đồ “làm thịt”. Có điều những chiến sĩ đó không bảo vệ Công lý, bênh vực mấy thằng già yếu bênh cạnh mà chỉ tự bảo vệ lấy thân, đúng nguyên tắc “võ trang bất can thiệp”.
5Bằng cớ là ông bạn V.L. Ivnov nay ở Uktha, trong thời gian đi chơi đã dính Điều 162 (trộm cắp) chín lần và Điều 82 (vượt ngục) năm lần. Nếu ở đủ án thì phải 37 năm nhưng thực sự Ivanov chỉ ăn cơm nhà lao từ 5 đến 6 năm.
6Trong ngôn ngữ của giới Blatnye thì danh từ frayera chỉ bọn người ở ngoài giới nhưng “nhà quê, làng xã” chớ không phải blatnoi hay Chelovek (con người, người đàng hoàng).
7Tên nhà đại văn hào mà lấy đặt tên cho Trại Cải tạo thì quả thực trớ trêu! Sao không có trại Pushkin, Gogol hay Tolstoi? Giữa Elgen và Kolyma còn có mỏ đồng Gorky.

Vượt cạn

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/09/2017 

Post by Sơn râu 14 May 2025

Sau cuộc đổi đời, túi bụi lùng bùng chuyện mưu sinh đa số mọi người đầu tắt mặt tối trên khắp ba miền đều sử dụng phương tiện đi tàu hoả. Xe đò thì đã “thôi an toàn trên xa lộ làm bà xã thót tim”, chưa kể sức chứa của xe lửa coi bộ thông thoáng hơn, dẫu có bị quang gánh đồ đoàn chèn ép người thì cũng chẳng lấy đó làm điều. Hành khách cắn răng bó gối nhìn mây lờ đờ trôi ngoài cửa thầm nhủ lòng: Qua sông luỵ đò. Trần ai đang là dòng sông trôi qua bể khổ. Kệ đi mà, cứ hồn nhiên nuôi hy vọng: Sông có khúc người có lúc. Lúc này đây xin lầm bầm câu khẩu quyết “ai sao ta vậy”.
Như chúng sinh, tôi cũng lắm phen chạy vạy leo lên được con tàu Thống Nhất. Rất mang ơn một người từ ngoài Bắc vào tự nhận là anh bà con, ổng mặc đồ tuyền màu cứt ngựa đội nón cối mang dép râu hồ hởi tiếp thu vật chất của bọn Mỹ nguỵ có trong gian nhà lạnh. Ổng làm ở tổng cục đường sắt và đánh mất lập trường khi dúi vào tay tôi tờ giấy phép đi đường có đóng mộc hẳn hoi, rất xịn: “Yêu cầu các đồng chí ở các cơ quan liên hệ tạo điều kiện thuận lợi đễ đương sự sớm hoàn thành công tác”. Chêm bửu bối vào thân, tôi đường bệ đi dọ hỏi tin tức bà con thất tán thuở nọ ù chạy vào phương Nam, một công đôi ba chuyện tôi đi buôn lặt vặt bột ngọt thuốc tây và tôi ngắm nghía sẵn một bờ bãi mai này lên ghe “tìm đường trốn nước”.

Ngồi tàu hoả thì chung đụng với lắm hạng người, nghe đủ thứ chuyện lạ đã và đang xẩy ra từ Liên Xô cho chí “ngoài ta thứ gì cũng có”. Có bữa dóng tai nghe một khứa lão gốc “miền Nam” xởi lởi: “Có anh mù làm nghề hát dạo, ảnh ngồi gần một chị con buôn. Tàu lắc lư, chiếc quần đen chị ấy mặc vô tình bị rách ở đáy. Thay vì tiếp tục chương trình tự biên tự diễn để xin tiền, anh mù cất cao giọng: Ủa, tàu chạy mau dữ thần hén, mới đó mà đã ngang Phan Thiết rồi sao cà! Chị con buôn la: Trời, còn lâu mới tới cha nội. Hổng thấy đường mà ưa làm tài khôn! Ậy, sao thoang thoảng có mùi nước mắm chờn vờn đâu đây!”

Phan Thiết là nơi tôi sẽ làm bàn đạp để vượt biển. Và nhờ trời, do run rủi nhát búa tình yêu giáng ngang mày để tôi mê muội bén duyên với một người con gái nhan sắc mặn mòi được sinh đẻ và lớn lên ở chốn nức tiếng sản xuất nước mắm thương hiệu chỉ đứng sau Phú Quốc. Gia đình nàng thuộc hạng khá giả, chưa hề biết ăn cơm độn và dĩ nhiên quần nàng mặc chưa từng một lần sút chỉ bày hàng. Lúc bấy giờ chưa hiện ra ông Bút Tre, nhưng vì yêu nàng tôi từng mần thơ na ná:

“Nhớ nhung về thị xã Phan
Thiết tha mơ tưởng cô hàng nước măm”.

Măm có nghĩa là nhai, là ăn, là dộng, là nuốt. Cơ thể nàng, nói tội trời, chỗ nào cũng khiến tôi thèm măm. Ghiền hơn nuốt sống nước mắm nhĩ. Ăn mặn mà không khát nước. Ăn ngày không đủ tranh thủ ăn đêm. Háu đói cũng bởi nàng luôn khuyến khích, luôn muốn bồi dưỡng cho tôi. Xơi em đi anh, em thương chứ không ai thương đâu! Phan Thị Mộng lập luận: Cuộc đời này đã khô hạn những niềm vui, chẳng có gì để giải trí. Phim ảnh không, đại nhạc hội không, cải lương không, phòng trà không, chỉ sôi nổi duy cái món trời ơi đất hỡi là môn bóng đá. Muốn sống còn ta nên ngụp lặn vào việc quấn lấy nhau, đền bù cho nhau. Lời Mộng nói thiệt hạp bụng tôi, sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng triết lý ấy không bao giờ thay đổi. Vì vậy cả hai chí thú muốn ăn cơm trước kẻng, ngấu nghiến không sợ cha rầy má la. Thoắt cái khi không mà nàng thèm chua, ưa nhậu xoài tượng chấm muối ớt và ba chừng bảy đỗi thì nôn oẹ dợn mửa nhăn nhó mặt xanh. Đã căng chưa, sao chóng cấn thai thế nhỉ? Nàng nói giọng dỗi hờn: Bắt đền anh đó, người chi mà gieo đâu đậu đó. Bụng đã tượng hình, chừng như mang thai sai qui trình thì phải? Nhờ trời ba má nàng cũng thương thằng con rể tương lai ngu ngơ trôi sông lạc chợ, bỏ tiền tổ chức một cái đám cưới danh chính ngôn thuận nhằm vun quén cái hỷ sự nằm ngoài dự tính. Bổn phận của mày là mai này mang con Mộng tới bến bờ bình an, săn sóc nó, che chở nó, thương yêu nó, một lòng một dạ với nó, không hoài nghi ghen tuông nghĩ quàng nghĩ xiên. Tụi tao sẽ cho hai đứa bây chục lượng vàng để mua chỗ trên ghe hòng đào thoát sớm được ngày nào hay ngày đó. Mẹ! Đẻ con ở nước ngoài thì có thắp nhang cầu Phật chưa chắc đã được đâu nghen.

Lời tía ngôn nghe sướng dàng trời nhưng mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Người lên kế hoạch là một chuyện mà nhằm lúc mùa biển động gió giật cấp 5 thì xem như xôi hỏng bỏng không. Người tính không bằng tin tức cho tàu chạy ven biển tính. Phan Thiết tháng ngày đó sao chừng như mặt ủ mày ê, sáng màu bạc chiều xám tro thi thoảng mưa lai rai sấm chớp đì đùng gửi lời răn đe hăm doạ. Đến lúc trời yên biển lặng thì có cho tiền cũng không ai vác bụng bầu leo lên ghe vượt trùng khơi. Bộ muốn chết cả mẹ cả con hả? Đã vậy còn liên luỵ thêm, gây phiền não thêm cho bọn muốn chung số phận làm thuyền nhân.

Do đôn đáo suốt ngày dọ hỏi tìm nơi ký thác mạng mình, tôi từng chung đụng với lắm người mối lái lạ mặt. Thường thì hẹn hò ở quán cà phê, lúc thay đổi địa điểm ở quán cơm trong góc chợ lại có khi la cà ở tổ hợp sản xuất mực khô. Muốn an toàn thì không nên gặp mặt ở chỗ cố định, người ta nói vậy. Cho tới một hôm ngồi ở chỗ vá sửa xe đạp thì tôi gặp được một anh chàng “giao liên”. Anh ta chở tôi ra một quán nước neo thân bên quốc lộ. Có chuyện này tui nghĩ là quan trọng hơn chuyện ra khơi. Anh ta nhập đề. Là đàn ông với nhau, tui nên thông tin cho anh rõ về tác giả cái thai trong bụng cô ấy. Hắn đang ở tù, bắn tiếng ra ngoài cần chút đỉnh tiền để đút lót kẻ quyền thế. Đây là cuốn băng cassette hắn lén thu âm những lúc làm tình với cô ấy, mang về nghe để chứng minh hắn không đặt điều, hắn xin cô ấy nghĩ lại tình xưa mà rộng lòng giúp hắn chút tiền. Tui không muốn làm anh đau khổ, phải chấp nhận sự thật và phát hiện ra sớm thì sẽ dễ chịu hơn. Anh hiểu không? Cây kim trốn trong bọc lâu ngày cũng biết thò đầu ra, huống chi… Tôi hỏi nguyên cớ vì sao hắn chịu cảnh tù đày? Chẳng dấu chi anh, hắn muốn cải thiện cuộc sống nên liều mạng đi buôn hàng quốc cấm. Tôi ho: Bụng dạ đàn bà thường khó lường, không chừng kể chuyện này ra bà vợ tôi sẽ mang tiền đi bôi trơn thằng cai ngục để gia tăng mức án dành cho đứa chơi dao chẳng sợ có ngày đứt tay. Đề xuất này xem chừng thất bại ngay từ trứng nước.

Tôi dằn lòng đợi nuốt xong bữa cơm chiều, đợi tối lửa tắt đèn leo lên giường mới bỏ cuốn băng vào trong máy để hai vợ chồng nín thở cùng nghe. Thiệt là bất nhân, thiệt là đoản hậu, thiệt là nằm mộng cũng không ngờ khi nghe rõ tiếng Mộng biểu lộ sự khoái cảm, tiếng giường kẻo kẹt rên la. Tôi nhấn nút stop trong khi Mộng nằm co thân lại, quay mặt vô vách. Đồ khốn nạn! Có thể đó là tiếng chửi rủa của Mộng mà tôi chẳng nghe rõ. Anh có còn thương em không? Câu này thì tôi nghe đủ. Tôi hằn học, khi xưa giờ tập làm văn thích nhất là cô biểu “hãy điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”. Gái không chồng tự dưng có chửa ngó sao đặng, phải thế không? Mượn anh đây để cứu bồ chứ còn chi nữa! Em sẽ đi phá thai nếu anh còn nói chua nói cay. Không riêng em, ngay cả ba má cũng xem anh như người trong nhà, phương chi hai chiếc đũa ghép lại nào có bị so le nếu không muốn nói là xứng đôi vừa lứa. Mộng bắt đầu khóc. Hoặc có thêm phương án khác là cứ đẻ nó ra, nếu ngó không vừa con mắt thì đem bán cho bọn chuyên làm mẹ mìn. Thút thít, tức tưởi. Thằn lằn chắt lưỡi trên vách, tôi nằm xuội lơ ngó bóng tối nhập nhoà nhốt kín trong gian phòng, tôi thở dài. Dù sao thì đã lỡ ăn nằm với nhau, có giấy đăng ký kết hôn ngoài phường cấp chứng thực ai vợ ai chồng giấy trắng mực đen. Và hoàn cảnh bức bối như tôi có muốn cũng không tìm đâu ra con ngựa để leo lên mà truy phong, phi nước đại. Lại được sự uỷ thác của nhạc phụ, rằng một mai qua cơn mê xa cuộc đời bềnh bồng ta sẽ sang xứ người định cư.

Mộng lau khô nước mắt, đổi mặt gối rồi bình thản thoát y, trôi tuột những áo này quần nọ. Da Mộng tuy không trắng như trứng gà bóc nhưng cũng dư phát quang trong bóng tối nhọ mặt người. Nếu anh còn thương em, sẵn lòng xoá bỏ những lỗi lầm thì hãy chứng minh cho em an tâm. Mộng mở rộng đôi chân, bây giờ mấy tháng rồi hỡi em mà mang cái bụng như vậy, mình thương yêu nhau mà có gây phương hại tới nó không, giọt máu của thằng cha căng chú kiết nào đó. Mẹ nó chứ, đã bóc tem con người ta rồi mà còn nhẫn tâm lén lút đi thâu băng những chuyển động của mây mưa giường chiếu. Mộng làm việc thiện nguyện giúp cởi bỏ áo quần cho đứa nằm bên nhác như con cáy. Đồ cù lần, dầu sôi lửa bỏng tới nơi mà cứ chây lười lao động, dễ bắt viết bản kiểm điểm quá! Đêm ấy Mộng nhiệt tình yêu tôi dữ tợn chưa từng thấy, kiểu như không làm vậy thì ngày mai tận thế nghĩ cũng phí tuổi xuân đi. Một liều ba bảy cũng liều, chơi cho đêm dài vắng mộng.

Rồi vắt tay lên trán nghĩ về 36 kế, kế nào cũng hạ sách, con tạo cứ xoay mòng Mộng đẻ ra đứa con gái thiếu tháng, dĩ nhiên vượt cạn ở địa phương sầu tủi mà không ra ngoài biên ải được, cục thịt đỏ hỏn khóc thét liên hồi kỳ trận nhăn nhó cái bản mặt lạ hoắc lạ hươ. Con nít thì ai mà chả vậy, xấu hoắc! Đầu lòng một ả tố nga khuôn trăng méo mó thì cứ kệ mẹ nó đi, miễn đứa thứ hai giống y trang mày thì lúc đó cục bồ hòn tự khắc sẽ ngọt. Đêm hôm trái gió trở trời nghe má nó hò ru em mà thêm quặn lòng: “Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi, xuống sông gánh nước đụng chỗ cát bồi khe khô”. Chắc là tâm trạng không nói thành lời của anh chứ nào phải của em, hở Mộng?

Rồi thời cơ đến, xuất hành đúng giờ hoàng đạo, nhờ trời thương hai vợ chồng ôm con dại leo được lên ghe giã biệt thân bằng quến thuộc cùng giây mơ rễ má. Ra biển nguyện thầm Phan Thiết ơi nay xin đành đoạn chẳng mong chi ngày gặp lại. Quyết tìm non cao nhiều củi và sông thì nước ngọt ê hề trường lưu thuỷ chẳng biết cạn khô. Sang xứ lạ, chẳng ngờ đứa con do Mộng đẻ rất sáng dạ, chóng tiếp thu hai ba ngoại ngữ. Nó vào lớp học đặc biệt dành cho trẻ thông minh và mỗi rằm hàng tháng Mộng đều thắp nhang khấn vái, lâm râm cốt cho tôi nghe: Mô Phật, may mà hai đứa con thuộc hạng tử tế chứ nếu dại khờ e đã mang tội với đất trời, một là phá bỏ khi đã tượng hình hai là đẻ xong liền mang nó đặt trước cổng chùa, thanh thản phủi của nợ. Ở đây chính phủ họ khuyến khích đẻ con, chắc là nguyện cầu xin thêm đứa con trai cho chồng con được mát dạ. Ảnh có chín bỏ làm mười, thương yêu cách mấy thì rốt cuộc nó cũng hổng phải là con ruột. Có được đứa cùng huyết thống thì gia đạo con mới vẹn toàn an vui đầm ấm. Quay mặt qua tôi, Mộng hối: Tắm táp sạch sẽ đi anh rồi lòng thành ra thắp nhang bàn Phật. Rồi đền bù vầy cuộc mần ăn. Sao lạ quá, xung trận đã lắm lần thiếu đường mỏi gối chồn chân mà cái bụng em cứ chịu lép xẹp. Không ấy anh đi khám bác sĩ xem có bị trắc trở chi không. Dắt con mình theo có gì nó làm thông ngôn cho. Tui muốn có em mà ba tui hổng chịu hay sao vậy cà? Ùn tắc giao thông chăng!

Tôi được sở nhân lực chuyên giới thiệu việc làm điều đến lao động trong một cơ xưởng sản xuất vật liệu trang hoàng nội thất. Tuần 45 tiếng chưa tính có bữa phải cày thêm giờ. Quay như vụ, đầu bù tóc rối. Nam nhi đại trượng phu mà! Còn ai trồng khoai đất này? Cái job ấy buộc mày phải nai lưng gồng gánh, tuyến đầu có đổ mồ hôi sôi nước mắt thì chớ than van bởi hậu phương êm ấm có hai miệng ăn đang nương nhờ, đó là chưa tính một miệng sẽ lòi đầu ra đòi măm sữa. Bụng vợ tôi nhô ra, mặc áo thun thấy rõ cái lỗ rốn trông kỳ cục như một hạt nút. Hai đầu vú đổi màu thâm đen, thi thoảng bắt tôi phải áp tai vào đó để trò chuyện với “hắn”. Mộng coi sách báo ở đâu đó để quả quyết rằng: Chuyến này sẽ đẻ ra một con cu. Dám cá không? Ì ạch đi siêu âm quả nhiên người ta xác nhận là giống đực. Có vậy chứ, trong nhà đã sẵn hai bướm rồi, đã âm thịnh dương suy rồi. Có con cu cho được huề vốn, cho thăng bằng cán cân. Đó là thuận với luật âm dương chứ bản thân tôi chẳng hề kỳ thị việc gái trai như đa số đấng phụ huynh cứ một mực trọng nam khinh nữ. Mẹ, lạc hậu quá! Nữ cũng tuỳ nữ. Nữ cỡ như Mộng thì rất ngon cơm, đã từng là cục mỡ trêu ngươi trước miệng mèo. Gái một con mà! Hãng tôi làm có anh công nhân từng phát ngôn linh tinh: Con vợ mày xếch xi hết biết. Tao nói điều không phải thì mày bỏ qua, đẹp cỡ đó mà mày không khéo chìu chuộng thì có ngày nó để lại lá thư tạ từ. Con vợ tao đó, đẹp hơn Chung Vô Diệm chút đỉnh vậy mà có hôm đi cày over-time về thấy tờ giấy dằn nơi bàn ăn: Tui không thể hy sinh đi theo anh cho trọn đường tình. Bái bai. Tao thích đội nón vì không muốn bà con nhìn thấy cái sừng mọc giữa đỉnh đầu. Và do đâu tao ưa chửi thề thì may đã hiểu. Phất!

Ngày Mộng chuẩn bị vượt cạn, khi sắp đi biển mồ côi, tôi ngồi ngoài hành lang cùng đứa con gái tinh thông ngoại ngữ. Cháu nó nói: Họ biểu lát nữa má sanh thì ba có muốn vào đứng đầu giường không? Ủa, vậy hả? Ba sợ thấy cảnh máu đổ thịt rơi lắm. Cháu nó vuốt lưng tôi: Hy vọng mặt bây bi sẽ giống ba đôi chút. Sao con nói vậy? Thầy Nguyễn dạy Toán ở lớp con có lần họp phu huynh, má vô phòng có hơi lâu, con dòm lén thì thấy thầy ấy đang tìm cách giải phương trình nơi người má. Mấy hôm ba phải làm thêm giờ, má có mời thầy về nhà. Họ biểu con ra ngoài McDonalds mua thứ gì ăn đi. Thầy Nguyễn đẹp trai lắm ba à. Em nó không xấu như ba thì ba có buồn không?

Tôi từ chối không vào phòng sinh. Tôi man khai với bác sĩ: Bị con tim tôi rất yếu, rất mong manh rất dễ vỡ, một thứ broken heart. Ra đường hỏi già về nhà hỏi trẻ. Con à, ba mang tội gì mà con nỡ lòng thành thật khai báo cùng ba chuyện chí tử kia. Và rồi trong phòng cách ly có tiếng hài nhi khóc thét khi bị vất ra cõi đời lắm thương đau. Chúc mừng ông. Nặng 4kg 3. Tay chân chim cò đầy đủ. Nó rất bô giai.

Hồ Đình Nghiêm

Vui thôi mà

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 7/08/2014 

Post by Sơn râu 14 May 2025

Cố thi sĩ Bùi Giáng có hai câu thơ hiện thực huyền ảo thần sầu:

Em đi bên ấy chân tròn khép
Hai ống mơ hồ mỏi một hang.

Ông mất trong nghèo khổ nhưng ông hào phóng để lại cho trần gian nhiều vật vô giá. Tôi từng “kiểm kê tài sản” của đại gia họ Bùi và nhìn ra một trong số những “di sản” kia là lấp lánh ba chữ Vui Thôi Mà.

Cố nhà văn Mai Thảo kể chuyện, có trưa anh em trong toà soạn báo Văn ở Phạm Ngũ Lão đi ăn cơm, đến khi về phát hoảng khi thấy Bùi tiên sinh say giấc ngủ trên một chiếc bàn chứa bừa bộn các thứ thường có trong một toà soạn. Đánh thức ông, lay ông dậy và anh em đã nhăn mặt càm ràm. Bùi Giáng vươn vai, nhảy xuống bàn: Vui thôi mà! Rồi bỏ đi.
Trường hợp trên, ba chữ đó gần là một cách chạy tội, xí xoá. Không nhiều lời phân giải, chẳng nói tao xin lỗi. Chuyện chẳng có gì để xé to. Mọi việc đâu lại vào đấy, hãy vui vẻ mà sống.

Tôi yêu chuộng cái khinh khoái nọ, chỉ ba chữ bình dị nhưng trong chúng ta không phải ai cũng thốt ra được, hoặc nói mà thiếu chất hồn nhiên trong ngữ điệu của người tài hoa. Chúng ta nói, mang tính vay mượn, trong nhất thời. Có thể xem đó là thứ triết thuyết mà Bùi Giáng có công tạo dựng nên. Ghép theo sau, thử dùng ngôn từ của Trịnh Công Sơn: “Vui thôi mà, cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”. Lần này thì rõ nghĩa hơn, và có khi tôi đã lầm bầm câu kệ này để trấn áp những bức bối luôn đến từ cuộc sống, để thụ hưởng những khi xông pha hưng phấn vào chốn mà chúng sinh xem là nguy hại: Rượu, bia , thuốc lá, đàn bà con gái và… làm thơ viết văn chẳng hạn. Có nhà tan cửa nát không? A hèm, tuỳ vô nhân duyên đức độ mỗi phần số. Lại chín bỏ làm mười: Vui thôi mà! Em nói chi tiếng thâm trầm, đêm nằm nghĩ lại nát bầm lá gan.

Có người tin chắc rằng chủ nhân những câu sau đây là của Tú Xương:

Ông ở nhà ông ông nhớ mi
Nhớ mi nên mới bước chân đi
Không đi mi bảo sao không đến
Đến thì mi bảo đến mần chi
Mần chi ông đã mần chi đặng?
Mần đặng ông mần đã chán khi!

Hậu bối ngày nay chẳng có được thứ khẩu khí như tiền nhân. Không mày tao chi tớ gì sất.. Đã thế ga-lăng nịnh đầm rất mực, xem đó là bổn tính của kẻ mần thơ. Rất uy tín. Nếu không tử tế anh lấy tư cách gì để cưa đào, hử? Trúc xinh trúc mọc đầu đình, Em xinh em đứng một mình cũng xinh. Chao ôi! Dở như rứa đó mà cũng có khối em xiêu lạc đi phải lòng gã rườm lời nói trăng nói cuội, vòng vo tả cảnh tả tình làm tốn giấy mực. Chẳng biết gã xuất khẩu thành thi kia có mần đặng cái em xinh yếu bóng vía nọ?

Ca nhạc sĩ nổi tiếng Bob Marley nói lời giản dị nhưng mang nội lực hoành tráng: “Some people feel the rain. Others just get wet”.

Trích dẫn câu tiếng Anh này vì mới hôm qua, “ôi ta buồn ta đi lang thang” vào trang Tạp Niệm của Bắc Phong, đọc được ba bài thơ ướt át của chàng và người tôi cảm nhận đang có cơn mưa bay nghiêng trong lòng. Lỗi lầm tôi mang, gấp nếp trong trí bấy lâu là khi nhắc đến Bắc Phong tự động nghĩ tới những vần thơ chứa nhiều sắc lửa, bỏng rát; một thứ gì gần như thể bản cáo trạng dùng để đả phá lề thói xấu, lên án cái ngu muội của bọn người nhiều quyền lực làm nguy hại tới sinh mạng đồng loại.

Chàng tượng trưng cho hoả, thiên thượng hoả mà ba bài thơ kia đích thị là trường lưu thuỷ, chảy ròng, tạt ướt, ngập thân của một người sẵn lòng chết đuối trong bể tình. Khoan, hãy bình tâm, cái logo thương hiệu môn phái Võ Đang không phải là biểu tượng của lưỡng cực âm dương là gì? Tinh hoa võ thuật tựu trung là cách phối hợp nhuần nhuyễn giữa chí cương và thuần nhu. Phải biết pha trộn chớ có đóng đinh niềm tự hào độc tôn “Nam quyền Bắc cước”. Ngoài chốn giang hồ cũng vậy, cứng quá làm em sợ mà mềm quá thì em chả ưa đâu, anh giai ạ! Phải biết nắm khoảnh khắc thuận lợi mà sử dụng linh động ứng xử. Mưa thì mệt mà nắng thì cực. Hoàn cảnh lắm em ạ!

Cầm lòng không đậu trước hấp lực của ba bài thơ ngắn (hai cu) tôi đã lén phén mê muội: Đang cao huyết áp một mình, hoạ ba bức ảnh chực rình ăn theo. Xin phép chép lại nguyên trạng ba bài ấy, bốn câu đuôi là của kẻ hèn này Hãy xem đây là một liên khúc mà tôi chỉ là đứa gân cổ hát bè. Nếu có được một giọng nữ phụ hoạ hợp xướng thì liên khúc này ắt phải thơ mộng lắm lắm, nhỉ? Bây giờ em ở nơi xa, chim kêu vượn hú bắt ta nhớ người!

Thổi vào thơ

Nàng than lâu không đọc thơ tình
Chàng thổi nàng vào thơ bát ngát
Thổi mạnh quá áo quần bay mất
Nàng vào thơ ngượng ngập khoả thân.

Chàng cởi áo vì nàng than lạnh
Chiếc quần ấy em mặc e vừa
Trót làm thơ chàng đành chìu chuộng
Nàng ngắm chàng vụng dại che tay.

Đọc sách

Chàng gập sách nhìn ra cửa sổ
Đôi mắt buồn sâu thẳm mù khơi
Ngồi đùi chàng quàng vai nàng nói
Vào giường em cho đọc sách người.

Sách khép lại khi mưa rơi đủ ướt
Giải hạn rồi anh còn vướng mắc chi không
Nàng nói tiếp mai em cho xem chương khác
Làu thuộc trả bài để hiểu đâu là sách gối đầu.

Đêm mưa

Nàng nằm đọc truyện đêm mưa
Gạt tay ra lúc chàng đưa tay sờ
Anh ơi không được bây giờ
Em còn đang bị anh chờ tối mai.

Tối mai vật vả chèo queo
Ai dè chữ bị chẳng theo vận hành
Cấm vận giải toả không thành
Khát nước bên giếng chàng đành cà lăm.

Tức cảnh sinh tình, trống đánh xuôi kèn thổi ngược rồi cũng tới lúc buông màn. Nói dai nói dài nói dở thì bận sau bà con đòi nghe tân cổ giao duyên chắc phải rêm mình nhác chơi, không cách chi xuống sáu câu mùi riệu được.

Mở có thơ Bùi Giáng, khép cũng rứa cho phải phép. Thơ rằng:

Hãy mang tôi tới giậu rào
Cho tôi ngó vịt thì thào với chim.

Vui thôi mà!

Hồ Đình Nghiêm

Vô tựa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 25/10/2019

Post by Sơn râu 14 May 2025

Thiếu nữ quàng khăn
Đinh Trường Chinh

Nhà mình không nuôi chó, mình thì không giỏi đánh hơi, nhưng trưa đó, do linh tính, qua cửa sổ, mình đứng ngó, ngoài hàng rào, hình như có ai lấp ló. Trời lặng gió, sao mấy nụ hoa dâm bụt đỏ lại lay động? A, một o con gái, thậm thụt dậm cẳng kiểu tiến thoái lưỡng nan. Nắng chan chan, dâm bụt hắt màu đỏ lên mặt o, đôi mắt to, có vẻ đang lo. Mình tròng áo sơ-mi vô một nửa người đang khoả thân. Gọn bân, xong bước ra sân.

– Xin lỗi anh, có anh Cu nơi không?

– Cu chi? Nhà tui có năm cu lận. Cu Phúc, cu Lộc, cu Thọ, cu Thành, cu Đạt.

– Chết cha! Em nghe nói anh Cu không có anh em chi cả, ở với mạ cùng hai người chị thôi. Có lý mô em đi lộn nhà.

– Mà tìm ra anh cu thì răng nữa? Có chuyện chi phải tìm ra cu?

– Em đưa thư cho anh Cu.

– Thư chi? Ai gửi?

– Của chị em gửi.

Mình nghĩ không ra. Nhà tới năm mống đực rựa, ba ông anh mình dại gì chỉ dùng lẻ loi một chữ cu, vô tội vạ, chẳng danh chính ngôn thuận. Mình thì chưa có bồ, thằng em kế cũng rứa, khờ câm. Cu mô hè?

– Cho tui liếc sơ qua cái bì thư có được không? Biết mô vì rứa mà lá thư đến tay người nhận?

O con gái bặm môi, khi nở ra hình trái tim thì bắn tới một điều kiện, coi bằng mắt chớ đụng bàn tay. Chân o mang dép, mấy ngón bám đầy cát, đứng gần o tự nhiên thấy mát.

– Trời, cái o ni! Người ta tên Cư mà cứ hô là Cu. Tui quen anh Cư, đưa thư đây tui chuyển giúp cho.

– Không được, chị em dặn lui dặn tới là phải trao tận tay, không may thất lạc thì chị em sẽ la “đồ thày lay”.

– Nhà anh Cư ở bên kia kìa, cũng số 13 nhưng có thòng thêm chữ B sau đít. Rứa o tên chi?

Người con gái quay lưng, chẳng thèm ư hử một tiếng. Không chửi “dai như đỉa, bu như sam”. Cũng không cám ơn anh. Đi là đi, sợ về trễ, chị nóng ruột, chị ngầy ngà.

Thế rồi cũng vào một buổi trưa, nhưng giờ đây mọi thứ đã úp ngửa. Màu hoa dâm bụt an lành khoe sắc bên hàng giậu đã thôi còn sắc đỏ đơn côi. Bây chừ thì đỏ toàn tập, đỏ nóng lan tận chân trời, những vị khách không mời cũng kêu giời. Giời, thật là phồn vinh giả tạo! Tớ vừa mút xong cây cà-lem, ngon miệng quá, mua cây khác, dấu sau lưng nhằm chiêu đãi bộ đội gái, em tới, mời em, dơ que. Lếu láo thật, lừa phỉnh thật, ác ôn thật. Nó ăn không chừa một thứ gì! Mình theo bà con “chạy giặc” vào Đà Nẵng từ độ trời đất nổi cơn gió bụi, cắm dùi mà chẳng màng chuyện lộn lui. Chỗ ni coi bộ thích hợp hơn chỗ tê? Hàm hồ mà nói rứa chứ ai biết rõ chuyện ngày mai. Ngao ngán tận mang tai. Làm trai mà chẳng đáng thân trai, tối nay thắp nhang trên bàn thờ Phật cũng không rõ ngày mai còn đứng nguyên trạng để thỉnh cầu bình an.

Trưa nắng, gió từ sông Hàn gửi lên chút mát nhưng miệng thấy khát. Ngang cổ viện Chàm thấy dáng ai quen, ngờ vực, tưởng sẽ khó nhìn lại bộ mặt làm đày làm láo, hỏi tên mà chẳng thèm bật mí. Mình tấp xe đạp vô sát lề, dóng tiếng: Cho hỏi có anh Cu nơi không? Ô kìa, tưởng chọc phá “rắn mắt” cho vui, ai ngờ trong khuôn viên cổ viện Chàm anh Cư đang nắm tay một hường nhan thơ thẩn rối bước chân tình tứ, mặc xác tới số phận lẻ bóng đứng canh me bên ngoài. O quay đầu, đôi mắt to như trước “giải phóng”. Đôi mắt câm nín, nhưng nếu cần thông dịch sẽ hiểu nghĩa “anh đi mô rứa? anh cũng chạy tuốt vô đây?”. Dưới sông Hàn ghe thuyền xớn xác chạy qua chạy lại xẻ sóng chừng như sẵn sàng, như toan tính, như chực cơ hội vượt biển. Hết chỗ chơi, sao anh Cư dắt người yêu vô “tham quan” cổ viện Chàm? Vô thành tâm khấn nguyện xin được an toàn vượt biên đường bộ, qua Cam rồi qua Thái? Ông Bút Tre phán: “Hôm nay ghé viện bảo tàng, cũng là công tác cách màng giao cho”.

Anh Cư đi ra, mặt mừng mà tay không bắt, vì đang lu bu chẳng muốn rời ra ngọc thể: Mi cũng vô trong ni đăng ký hộ khẩu à? Mình giả giọng Quảng: Thấy loạ hay reng? Phải tự hồ dù có đúa cơm rách ố. Không ai cười, riêng mình o che miệng. Mình quan sát chùng vụng, hai chị em có nhiều điểm giống nhau, có khác chăng là hai giọt nước có giọt to giọt nhỏ. Ý mình là ngực cô chị có hơi bị “bành trướng” trong lúc cô em nhỏ thó như quen sống với bọn bóc lột. Mình hạc xương mai, dáng gầy đến liễu cũng hờn tủi. Múp có cái đẹp phô trương của sự đầy đủ, thân mỏng cũng phất phơ một vẻ đẹp riêng tư, dễ đánh động lòng thương cảm.

Anh Cư nói bóng nói gió về một cuộc đi “dã ngoại” tay ba. Mình hiểu rằng o nớ, phận làm em trước làm chim xanh trao thư cho cu, khi dành thắng lợi vẻ vang chàng cu liền trở mặt, coi o như kỳ đà cản mũi, gây trở ngại, sinh khó ăn khó nói với tình nhân. Cho nên khi nghe mình đề nghị chở o đi loanh quanh trên chiếc xe đạp cà tàng, cả anh cả chị đều “hồ hởi” ra mặt. Mày tha nó đi giùm cái. Tao biết mày (từ thuở nằm nôi) dại khờ đến uy tín, hoa dâm bụt cũng không dám đưa tay ra ngắt (em nhớ cho mùa cũ đã chết rồi). Đừng nói là đôi uyên ương, ngay cả con bồ câu nhỏ bé cũng cảm thấy nản việc lò dò đi theo họ làm chứng nhân bất đắc dĩ. Hẹn về một thời khắc, một nơi chốn để trình diện, chớ làm bồ câu rụng một cọng lông.

Mình nhớ như in về nạm tiền nằm trong túi quần. Quên sao được bởi vừa bán đi chiếc áo ấm ở trong chợ Mới. Mình thồ “em” qua đường Lê Đình Dương, hỏi người chưa biết tên có cảm thấy đói, hàng quán kia có món bánh khoái bánh xèo thơm ngon đến quặn ruột. Bài bản mình đang thuộc, bụng no mới được cứu chuộc, em một duột thương anh? O ăn nhỏ nhẹ, dùng một mái tóc buông để che bớt bán diện. O hỏi, thỏ thẻ: Bộ anh tính ở đây luôn hay răng? Mình thưa: Chưa biết, nhưng ra lại chốn xưa thì nghe yên dạ hơn Chim xa rừng thương cây nhớ cội. O trao cho mình trái ớt hiểm: Răng anh không đọc tiếp câu sau. Mình cắn miếng ớt: Quên rồi. O cúi mặt: Người xa người tội lắm ai ơi, nếu em nhớ không lầm. Nếu ra Huế, anh vẫn ở địa chỉ cũ? Ừ, chơ biết đi mô. Số nhà 13 như một định mệnh bày trò, tui vẫn nhớ dáng o thập thò. Khi o quay bước tui phải nhảy lò cò lộn vô. O cười thành tiếng, đừng chọc em, nuốt không trôi mô. Rứa còn o? Em sẽ đi xa, nhưng phương trời nào thì chưa tính. Nếu duyên lành, rồi đây em sẽ gặp lại anh.

Phút ban đầu là câu hỏi về một kẻ tên Cu. Số phận là thứ mình rất ngu, khù khờ kiểu chẳng biết mô tê về cách mạng mùa Thu. Người theo kách mệnh thường đi vào khu. Trở ra xúi dân lành phải khóc bù lu bù loa. Tơi tả bao cánh hoa, đến cả mình cũng từng la ui chu choa, khổ chi khổ như bị muối xát gừng thoa. Đang xấc bấc xang bang thì nghe tin anh Cư mang cả chị cả em thầm lặng lên ghe bên Hải Châu quận Ba dông một lèo ra biển xuôi chèo mát mái. Nhạc cách mạng vẫn sa sả, ra rả phát đi trên mấy cái loa chôn đầy phố phường: Từ thành phố này người đã ra đi… Người xuống tàu bọn thực dân rửa chén bát, còn o, cầu trời cho o được tàu Mỹ vớt giữa cuộc hải hành.

Đôi ba tháng sau, mình nhận được thư o. Tuồng chữ học trò mềm mại, đều tăm tắp của một người chịu khó nắn nót khi biểu tỏ những gì mình muốn trình bày: “ … Em viết cầu may vì không mấy tin anh đã rời xa Đà Nẵng. Hú hoạ, có còn hơn không. Em đang ở trại tị nạn, chừng tháng sau thì lên đường sang Mỹ”, nơi mà người ta sẵn lòng vất bỏ hết mọi thứ, kể cả mạng sống hòng được đặt chân lên. Ở trong trại, em buồn lắm. Tự nhiên em luôn nghĩ về anh. Nếu nhận được thư này, anh nhớ hồi âm cho em ngay. Anh vẫn làm con chim cu lẻ bạn? Kể chuyện bên nhà cho em nghe, càng dài càng tốt. Em, Huỳnh Thị Phượng Vỹ. Tái bút: Em hỏi anh Cư và biết được tên anh để ghi ngoài phong bì. Không có ai kỳ cục như bọn mình, anh Thành có nghĩ vậy không? Thư sau em sẽ gửi kèm theo tấm ảnh để anh xem cô bé ngày nọ đã đổi thay đến chừng nào?”

Thư đi tin lại. Mình cố kềm giữ để không bày tỏ hết tâm trạng riêng mang, sợ Phượng Vỹ ngộ nhận và sợ nhà nước kiểm duyệt nội dung gây bất lợi chẳng đáng có. Tuy chẳng thở than, nhưng khi qua tới Mỹ, o nớ đã gửi về cho mình 100 đô la. Ô là la, đang ở dưới sáu tầng địa ngục khi khổng khi không được tha lên tầng trệt. O viết thiệt cảm động: Anh có đi ăn bánh khoái thì hãy tưởng tượng ra em đang ngồi bên cạnh… Có tấm ảnh màu Phượng Vỹ đứng cười dưới hai hàng cây phượng tím. Ôi, thứ màu tím biền biệt hơn cả đồi sim tím của Hữu Loan. Tôi về không gặp nàng, nàng ở tận bên kia thế giới. Nàng ngày mà tôi đêm, nàng hy vọng mà tôi tuyệt vọng, nàng sướng mà tôi khổ.

Lại có phong thư xanh khác: Mưa lũ phong ba lụt lội khiến mộ phần ba mạ em bị sụt lở. Tụi em gửi về cho anh chút tiền, nhờ anh thuê người tu sửa giúp, xin lòng nhé anh. Vật đổi sao dời nhưng em vẫn ghi ra nơi chốn, đặc điểm cho anh dễ nhìn nhận. Tấm bia có khắc tên em nằm dưới những người đồng phụng lập. Để khỏi gây trở ngại tụi em sẽ gửi tiền về làm bốn đợt. Một ngày kia, không xa, em tìm cách về nắm tay anh cùng đi thăm mộ phần. Thương nhớ anh.

Mình bắt xe ôm đi ra ngoại ô, tìm về nơi hoang lạnh. Mình có mang theo bốn bao ny-lông đựng hoa quả lễ vật. Mình thắp nhang cúi đầu dưới một bầu trời nặng đục nhiều mây xám. Lòng bồi hồi, chẳng nhớ mình đã khấn nguyện điều gì, thổn thức. Tối đó trong giấc ngủ muộn, mình thấy Phượng Vỹ nằm đè xuống thân mình một trọng lực rất đỗi êm ái: Chồng ơi, hãy yêu em đi.

Hồ Đình Nghiêm
tháng 10, 2019

Về Trà Vinh!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 14 May 2025

Thưa Trà Vinh, thời mình gọi là Vĩnh Bình, nằm bên bờ sông Tiền, cách Sài Gòn khoảng 202 km và cách Cần Thơ  khoảng 100 km, cách Biển Đông khoảng 40 km.

Đất Trà Vinh chia cắt bởi sông rạch chằng chịt. Trên đất liền là gò, là giồng, lan ra tới cửa biển. Có nơi độ cao, so với mực nước biển, chưa tới một mét, nên năm mười hai tháng, Trà Vinh ngập mặn tới nửa mét trong vòng từ ba tới năm tháng.

Nước mặn tràn vào sông thành nước lợ. Nước ngọt thiếu, dân muốn xài, phải đào giếng! Và ‘Gánh nước đêm trăng’ của Viễn Châu do Út Trà Ôn ca… ra đời như vậy đó!

Soạn giả Viễn Châu

Thưa hồi xưa đất Kampuchia gồm Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp, (tức cái đồng bằng sông Cửu Long mình bây giờ). Vua Chân Lạp, Chey Chetra II (1618 – 1628) là con rể của Chúa Nguyễn Phước Nguyên, là chồng của Công chúa Ngọc Vạn.

Làm vua nước nào cũng vậy, là có nhiều vợ: vợ Miên, vợ Lào, vợ Việt nên nhiều dòng con, mạnh ông nào cũng muốn giành lên ngôi báu, nên giết nhau, hổng anh em gì ráo. Một Hoàng tử yếu thế hơn, trên bước đường bôn tẩu để tồn sanh, thuyền bị chìm nhưng nhờ Phật độ nên thoát chết. Sau lên ngôi, bèn lập chùa tạ ơn. Có chùa là phải có tượng Phật linh thiêng! Và truyền thuyết ra đời rằng:

Préah Trapéan (tiếng Khmer), Trà Vinh (âm tiếng Việt), có nghĩa tìm được tượng Phật đá trong ao mùa nước lụt năm đó, dân rước tượng Phật về Chùa thờ phượng!

Sau nầy cứ mỗi lần ông nầy lên ông kia xuống, thay tên đổi họ vùng đất nầy hoài, nhưng người dân vẫn gọi đất Trà Vinh…

Đất Trà Vinh là một đất đa sắc tộc. Cứ mười người là có bảy người Việt, hai người Khmer và một người Tàu.

Rồi yêu nhau ‘sa cạ’! (Khoái là yêu hè! Không phân biệt chủng tộc gì hết ráo) Rồi sanh con đẻ cái, nên Trà Vinh có đầu gà đít vịt, Tiều lai Miên (!), hoặc Miên lai Việt… Nên con lai, nhứt là con gái, thừa hưởng của tía mình một chút, của má mình một chút. Tổng hợp toàn tinh hoa, nên em nó đẹp não nùng… Đẹp đến nỗi mấy anh xứ Nẫu quê mình, tuốt tự Quảng Nam, phiêu bạt vào, dẫu còn nhớ con ‘ghệ’ mình ở quê xưa, mà vẫn thấy con tim mình tan nát! Chẳng hạn như nhạc của Đinh Trầm Ca, qua giọng hát Thái Châu: “Sông quê nước chảy đôi bờ! Để anh chín dại mười khờ thương em!…Chiều nay bỗng nhớ cây mù u/ Dòng sông in bóng em chiều thu! Về đây mới biết/ Bên sông không còn mái nhà ngày xưa…”

Té ra em đi lấy Đài Loan mất rồi! Thưa, ông nhạc sĩ Đinh Trầm Ca là người ngoại tỉnh, nhưng cái đất Trà Vinh nầy cũng tự mình sản sinh ra rất nhiều người nổi tiếng đó nhe bà con. Như nhạc sĩ Trúc Phương, tên thật là Nguyễn Thiên Lộc, sanh năm 1932, tại Mỹ Hòa, Cầu Ngang, Trà Vinh.

Nhạc sĩ Trúc Phương

Đằng sau đôi mắt kiếng cận thị dày cui, nặng độ, Trúc Phương rất tài hoa với điệu Bolero như: Đò chiều, Nửa đêm ngoài phố, Tàu đêm năm cũ, Mưa nửa đêm, Ai cho tôi tình yêu… Nhưng tui khoái nhứt là bài Thói đời mà mỗi lần ngà ngà, tui thường rên ư ử, đến nỗi em yêu tui phải tán thưởng nhiệt liệt.

Rồi sau 75, kiếp con tằm không được phép nhả tơ, buồn quá, tâm bệnh… rồi lâm bệnh… nên đời Trúc Phương khá ngắn ngủi! Trúc Phương đã đi chuyến đò chiều cuối cùng vào miền vĩnh quyết, đêm 20 Tháng Chín, năm 1995.

Đó là tân nhạc, bên cổ nhạc, đất Trà Vinh cũng sản sinh ra hai nhân vật kiệt xuất.

Thập niên 1940, cô Ba Trà Vinh rất nổi tiếng trong làng “dĩa đá”, thời gian này các hãng dĩa âm nhạc Việt Nam mới ra đời, ghi âm và phát hành các giọng ca trên “dĩa đá” màu đen, phải ‘còm măng’ ở tận bên Tây (Dĩa nhựa mới có từ thập niên 1960 trở về sau).

Cô Ba Trà Vinh

Trong dĩa vọng cổ ‘Dẫu có xa nhau rồi’, giọng ca mới, Cô Ba Trà Vinh này có âm vực rộng, làn hơi đầy đặn, rõ chữ tròn vành, lúc nỉ non ai oán, khi thác dậy sóng trào… hòa cùng tiếng đờn của Năm Cơ (đàn kìm), Bảy Bá (đàn tranh), và Văn Vĩ  (ghi ta phím lõm) để khi phát hành về đến Trà Vinh, làm xôn xao cái thị xã nhỏ bé, trầm lặng quanh năm, làm rạng rỡ quê hương Trà Vinh.

Cô Ba Trà Vinh lừng lẫy bên cạnh Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Cần Thơ, cô Năm Sa Đéc… và… ông Út Trà Ôn. Chắc bà con mình, hồi xưa, từng nghe đài Pháp Á vẫn còn nhớ. Những người nghệ sĩ tài hoa ấy, bây giờ đã đi vào cát bụi!

Và chỉ mới đây thôi, nhạc sĩ Bảy Bá tức soạn giả Viễn Châu đã từ trần vào trưa mùng Một, tháng Hai, tại Sài Gòn, hưởng thọ 92 tuổi.

Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sanh năm 1924, tại Đôn Châu, Trà Cú, Trà Vinh. Con thứ Bảy nên thường được gọi là Bảy Bá. 19 tuổi, ông vác cây đờn tranh lên Sài Gòn lập nghiệp, xa mãi Đôn Châu nên lấy bút hiệu là Viễn Châu.

Những bài vọng cổ nổi tiếng đã từng được thâu dĩa của Viễn Châu là: “Người đánh đàn trên Bắc Mỹ Thuận, Gánh nước đêm trăng, Tình anh bán chiếu, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà”… v.v…

Xa quê Đôn Châu, Viễn Châu nhớ nhà quá xá… Nhớ em yêu nên xúc cảm nhiều, bài ‘Gánh nước đêm trăng’ của ông thiệt là hết ý! “…Gìn lòng hai chữ ngỡi nhân, yêu ai yêu chỉ một lần mà thôi/ Em cười em bảo với tôi, thề có đất trời em không phụ anh đâu…”

“…Quê người dãi nắng dầm mưa/ làm sao quên kẻ sớm trưa đợi chờ.

Đêm nay vầng trăng khuya/ Như mơ màng lẻ bóng/ Bên giếng xưa bơ vơ

Mình tôi thẫn thờ trông ngóng/ Ai nỡ quên câu thề ngày nào/ Đành sang ngang giữa ngày ly cách/ Tôi quay về lòng vương vấn tơ sầu…”

Thưa về Trà Vinh, vùng đất thương mến thương, đêm nay, cuối năm nhớ quê, nhớ cửa Cổ Chiên, ngày xưa, ngày vượt biển!

Nhớ Trúc Phương, nhớ thời giày sô áo trận. Nhớ Cô Ba Trà Vinh, nhớ ông thầy đờn Bảy Bá với ‘Gánh nước đêm trăng’. Nhớ đủ thứ, những hồi ức êm đềm của ngày tháng cũ.

Cải lương trong nước giờ đang giãy giãy… chết! Nhưng ‘Gánh nước đêm trăng’ vẫn còn là đêm trăng đi gánh nước ở Đôn Châu, Trà Cú, Trà Vinh.

Vì gánh nước là phụ; mà hẹn hò với anh là chính! Trao cho anh chiếc khăn tay; rồi tiện chưn quất anh một đá! Đau quá xá! Hỡi người con gái Trà Vinh!

Thưa, tui thường đưa em yêu đi chợ Little Sài Gòn. Trong khi chờ đợi em bốc trái nầy lên rờ một cái, rồi bỏ xuống; bốc trái kia lên nắn một cái, rồi bỏ xuống, dài như ba thu, tui thường hay thẩn thơ, thơ thẩn vòng vòng chợ, đọc tên bảng hiệu, giết thời giờ… làm vui!

Footscray có một cái tiệm hủ tiếu mì Trà Vinh. Té ra ông chủ quán là người dân miệt Trà Vinh đây mà! Xa quê, và nhớ quê nên ông mới đặt tên quán như vậy chớ. Mà nói tới Trà Vinh, cha, tui cũng có nhiều kỷ niệm lắm nha bà con.

Nhớ gần Tết năm 1989, khi các nước vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương hăm he sẽ đóng cửa Trại tị nạn vào Tháng Tư, theo lời xúi biểu của thằng em đang ở Adelaide, tui vội vã xuống thuyền dong ra biển mà không kịp ăn Tết với vợ con. Chiều 28 Âm lịch nè, đúng 28 năm về trước, bãi đáp ở Lò đường, Kinh Ngang, Mỏ Cày, Bến Tre, cái máy Ray 6 ù ù ra biển. Tài công sợ chạy gần bờ, du kích bắn sảng, nên cứ giữa dòng mà bường tới. Nước ròng, sát cửa biển có cái cồn cát, lé đé mặt nước. Trời tối hù ai thấy, thuyền lủi vô cái ịch, mắc kẹt sình, hết nhúc nhích, phải chờ nước lớn. Tui ló cái bản mặt của mình lên khoang, vừa nhìn mấy đứa nhỏ dân địa phương, trần truồng, mặt mày lấm lem bùn đất, đi bắt sò, bắt hến trên cồn, vừa hút thuốc nhìn trời hiu quạnh…

Chắc xuân nầy anh hông về! Thôi phần số tới đâu hay tới đó… Cá chui vô rọ, chỉ biết chờ chiếc vỏ lãi  của bọn công an biên phòng ra xúc về, nhốt Khám Lớn Vĩnh Bình. Nhưng may thay cha con nó mắc lo ăn Tết, bận nhậu nên hổng có đứa nào rảnh mà đi ruồng bắt đám vượt biên. Mười hai tiếng sau, chiều tàn, đêm bủa lưới, bóng tối lan tỏa mặt sông đầy, nước lên, thuyền ra hàng đáy ngoài cửa biển, trái giờ, ngược gió. Sóng nó đánh đùng đùng. Thôi chạy trở vô!

Chín giờ đêm, tui nhảy cái tùm xuống bến sông, xã Mỹ Long, Cầu Ngang bì bõm, nước ngang cần cổ, chòi chòi leo lên bờ, rượt theo một em vợ xuân thì của thằng tài công về nhà em là quán cà phê trong xã trốn…

Quần áo ướt nhẹp, em giấu tui trong cái mùng của em, sao mà ấm quá trời! Be he!

Rạng sáng sớm hôm sau, em đưa tui bằng xe Honda ôm ra bờ rẫy, đất giồng, cách bến xe chừng hai, ba cây số, để tui đón xe về Sài Gòn. Sau khi gom cả trăm ngàn đồng tiền dằn túi, tui đền ơn em. Em cười hí hí, mà rằng: “Đi chuyến sau… Xuống tìm em… để em lo…! Đừng có thối chí nhe anh hai! Có người đi tới chục lần mới được. Anh hai mới có năm, ba lần mà nhằm nhò gì… Lần tới lại đi với em… nhe! Em chờ!”

28 năm! Giờ người xưa của tui chắc đã thành bà Ngoại… Xin hẹn Ngoại Trà Vinh kiếp sau nhe!

đoàn xuân thu

melbourne

Ô sin

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 May 2025

Bà con mình ai cũng biết: Quân là quân đội. Phiệt là phe hoặc tầng lớp cầm quyền. Quân phiệt chỉ một nhóm người thuộc quân đội có quyền lực chính trị rất lớn, nắm toàn quyền cai trị đất nước.

Có quyền lực từ nòng súng, bọn chúng thao túng, chi phối các lĩnh vực chính trị, kinh tế, hoặc xã hội. Trong lịch sử Việt Nam có loạn thập nhị sứ quân (944-968). Soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà có viết tuồng cải lương: ‘Người vợ không bao giờ cưới’ về mối tình của Kiều Mộng Long Hữu Phước và Sơn nữ Phà Ca Út Bạch Lan. Lịch sử thế giới thời cận đại, nhà Thanh sụp đổ năm 1912, nước Tàu rơi vào thời kỳ quân phiệt cát cứ, các lãnh chúa thường xuyên đánh nhau giành quyền lực. Và cũng vào đầu thế kỷ 20, Nhật Bản, bọn quân phiệt kiểm soát chính quyền, đem quân xâm lược Trung Quốc. Năm 1940, Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam. Nhật Bản ép buộc nông dân Việt Nam nhổ lúa để trồng các cây đay, thầu dầu. Đay được sử dụng để sản xuất bao tải và quân phục cho lính Nhật. Hành vi, tàn nhẫn, vô nhân tính nầy làm khoảng 2 triệu người, ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như: Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, và Hải Dương phải chết đói. Dân Bắc gọi Nhật Bản là quân phiệt Nhật để phê phán, chỉ trích sự độc tài, chuyên chế của các thế lực quân sự của nước Nhật Bản vào thời đó. Sau khi Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Ở Việt Nam, Ngày 19 tháng 8 năm 1945, lợi dụng việc Nhật không còn khả năng kiểm soát, tạo ra khoảng trống quyền lực; cộng với sự căm phẫn của người dân, Việt Minh cướp được chính quyền.

Còn bà con Nam Kỳ gọi là Nhựt Bổn hoặc Nhựt lùn. Vì lùn xịt, sĩ quan Nhựt đeo kiếm lịnh, đi phải vén kiếm lên mới bước được cho nó oai. Soạn giả tuồng cải lương như Hà Triều Hoa Phượng trong tuồng “Khi Hoa Anh Đào nở” gọi Nhựt Bổn là nước Phù Tang. Cây Phù Tang không có thật. Theo truyền thuyết, thần thoại Trung Quốc, cây này mọc ở phương Đông, nơi mặt trời mọc. Vì vậy, Phù Tang có nghĩa là: “Đất nước nơi mặt trời mọc”

Ayako Kobayashi trong vai Oshin khi nhỏ – nguồn nippon.com

Nhiều từ vựng tiếng Việt ngày nay đã mượn từ tiếng Nhật. Như: món ‘Sushi’, ăn cá sống với mù tạt cay nồng hai cái lỗ mũi. Nhậu thì rượu Sa Kê. Mặc có ‘Kimono’ với dây thắt lưng bằng vải. Giải trí có ‘Karaoke’; với ‘kara’ (rỗng) và ‘oke’ (nhạc), hát trên nền nhạc. Ngoài võ ‘Judo’ (Nhu đạo) để tự vệ; Nhựt còn có ‘Sumo’; hai thằng Nhựt bự như hai con bò mộng, bước lặc lè vô một cái vòng tròn để vật nhau chơi.

Viết vòng vo tam quốc là nhập đề lung khởi (nói lung tung), cuối cùng tui muốn nói đến hai chữ “ô sin”. Hồi xưa bà con Nam Kỳ của mình gọi em giúp việc là bạn ở; kẻ ăn, người ở trong nhà. Việt Cộng như soạn giả Trần Hữu Trang tức Tư Trang trong ‘Đời Cô Lựu’ Hội đồng Thăng, hoặc soạn giả Điêu Huyền trong “Tiếng hò sông Hậu”, Hội đồng Dư kêu là đầy tớ. Còn sồn sồn trong ‘Tấm lòng của biển’ soạn giả Hà Triều Hoa Phượng gọi là vú nuôi, vì có cho cô chủ bú tí. Vai vú nuôi nầy cũng do diễn viên Ngọc cũng tên Nuôi, tức Ngọc Nuôi, vợ của nghệ sĩ Việt Hùng thủ diễn.

Nhưng đa phần mấy em giúp việc còn trẻ, khoẻ nên không kém phần hấp dẫn. Nên có chuyện rằng: Một em giúp việc muốn được lên lương. Bà chủ rất tức giận hỏi: “Em nghĩ sao mà đòi được tăng lương?” “Chà, thưa bà, có nhiều lý do lắm: Một là em ủi đồ láng hơn bà”. “Ai nói em ủi đồ giỏi hơn tui ?” “Ông nhà! Chồng của bà, ông ấy nói như vậy.”

Lý do thứ hai: “Em nấu ăn ngon hơn bà”. “Nói dối! Ai nói em nấu ăn ngon hơn tôi?” “Ông nhà! Chồng của bà, ông ấy nói như vậy.” Bà chủ càng lúc càng kích động: “Bậy, không đúng!” “Lý do thứ ba chuyện giường chiếu em đã điếu hơn bà!” Tới lúc nầy thì bà chủ sục sôi, gầm lên: “Thằng chồng tao cũng nói như vậy phải không?” “Không thưa bà! Anh làm vườn nói”.  Một khoảnh khắc im lặng trôi qua. “Vậy… em muốn lên bao nhiêu?”

Tác giả Sugako Hashida và 2 tài tử Ayako Kobayashi và Yuko Tanaka – nguồn topcount

Hồi xưa em giúp việc là vậy nhưng khoảng năm 1994, bà con mình không gọi mấy em là bạn ở nữa mà gọi là ‘ô sin’. Chẳng qua chuyện vầy nè: ‘Oshin’ là một bộ phim truyền hình dài 297 tập được phát sóng từ 1983 đến 1984 ở Nhật Bản. Chiếu toàn thế giới đã đời, 10 năm sau mới tới Việt Nam. Vì dưới chế độ CS, tiền đâu để mua bản quyền về chiếu chùa cho dân coi để quên cái đói!

Bộ phim kể về cuộc đời của cô gái tên là Oshin, sinh ra trong một gia đình nghèo khó nên phải làm việc vất vả để giúp gia đình. Câu chuyện của Ô sin là câu chuyện của nước Nhật Bản thất trận Thế chiến thứ hai, gượng dậy trong hoang tàn đổ nát. Bộ phim Oshin với tài tử Ayako Kobayashi, sinh ngày 5 tháng 11 năm 1967, đóng vai Oshin thời thơ ấu. Sau khi Ayako Kobayashi đóng vai Oshin lúc nhỏ, minh tinh Yuko Tanaka, sinh ngày 17 tháng 1 năm 1961, tại tỉnh Fukuoka vào vai Oshin lúc trưởng thành. Vào vai Oshin, cả hai tài tử Ayako Kobayashi và Yuko Tanaka đã hoàn toàn chinh phục khán giả Việt Nam. Trong phim Oshin, chuyện của một cô gái Nhật kiên cường vượt qua nhiều nghịch cảnh để tới thành công. Nhưng trong tiếng Việt, ‘ôsin’ là người con gái còn trẻ giúp việc nhà, chăm sóc gia đình, nấu nướng, lau dọn v.v.

Ông chủ ‘khoái’ em ô sin và đôi khi em ô sin cũng ‘chịu đèn’ ông chủ. Cũng như Cựu Thống đốc California, Arnold Schwarzenegger, tò tí với Patty, một người giúp việc lâu năm. Em tọt cho ông chủ một thằng cu; cả hai giống hịt nhau như hai điếu thuốc.

Chiều cuối năm quê người, lên Facekook tình cờ thấy hình hai Oshin ngày cũ, tui bèn tìm tài liệu viết ngay một bài kẻo cái hứng nó buồn tình nó ‘sayonara’ một đi không trở lại thì uổng lắm. Kỷ niệm xưa quê nhà gợi nhớ trong tui bùi ngùi quá mạng bà con ơi! Hu hu! Tui ‘dục tửu phá thành sầu’ nghĩa là tui đi nhậu rồi nói dóc để quên nỗi buồn xứ xa, xa xứ!

Đoàn Xuân Thu

Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú

Post by Sơn râu 14 May 2025

11. Bản án tử hình

Ở ngay bản án tử hình có lúc thịnh lúc suy. Dưới thời Nga hoàng Aleksei Mikhailovich Romanov, Bộ Hình Luật ghi rõ 50 tội danh có thể lãnh án tối đa. Thời Peter Đại đế có luật quân sự, số tội danh tăng lên 200. Nữ hoàng Elizabeth không hủy bỏ những đạo luật cho phép xử tử hình nhưng không hề sử dụng đến. Tục truyền lúc mới lên ngôi bà đã lập lời nguyền không bao giờ tuyên án tử hình. Hai mươi năm trên ngôi báu, bà vẫn giữ vẹn lời thề, kể cả 7 năm chinh chiến. Giữa thế kỷ XVIII, 50 năm nữa mới có máy chém thì đó quả là một kỳ tích! 
Tuy nhiên chúng ta quen hạ giá lịch sử, có bao giờ chịu ngợi khen, nhìn nhận điều gì tốt đẹp bao giờ? Chúng ta sẵn sàng chê Nữ hoàng Elizabeth, tiếng là bỏ án tử hình nhưng thay vào đó biết bao nhiêu cách trừng phạt: nào phạt roi phạt trượng, cắt mũi xẻo tai, thích chữ vào mặt, lưu đày chung thân sang Tây Bá Lợi Á. Nhưng thử hỏi dưới chế độ xã hội ấy bà có thể làm gì hơn được? Hiển nhiên một thằng bị án tử hình bây giờ sẽ coi như được sống lại sẵn sàng đánh đổi tất cả ngần ấy hình phạt miễn là được sống. Văn minh nhân tạo như chúng ta có cho phép họ chịu đòn, chịu đi đày thế mạng không? Không lẽ những hình phạt thời Elizabeth lại nặng hơn 20 năm (hay 10 năm) nằm trại Cải tạo? 
Xét lại khi nhất quyết không cho thi hành án tử hình, Nữ hoàng Elizabeth đứng trên quan điểm hoàn toàn nhân đạo. Nhưng Nữ hoàng Catherine nghĩ khác. Làm sao bỏ án tử hình cho được? Bỏ đi là nguy hiểm cho bản thân, cho ngai vàng và cho cả chế độ! Bắt buộc phải duy trì bản án tối đa trong những vụ án chính trị, chẳng hạn như vụ khởi loạn Mạc Tư Khoa, vụ án Mirovich, vụ án Pugachev. Còn đối với những thứ tù tư pháp thì cần gì duy trì án tử hình! 
Dưới triều đại Hoàng đế Paul không còn án tử hình. Dù chinh chiến nhiều phen song vẫn không có nạn mỗi đơn vị kèm theo một toà án binh. Suốt triều đại Alexander Đệ nhất án tử hình chỉ áp dụng riêng cho những tội phạm chiến tranh, giữa thời kỳ chiến tranh (1812) Dĩ nhiên không thể tránh khỏi những vụ thủ tiêu lén lút nhưng tuyệt đối không có vụ người truất quyền sống của người, trong những phiên họp gọi là Toà xử án công khai. Trong nửa thế kỷ liền – từ Pugachev đến vụ sĩ quan nổi loạn tháng 12 – nước Nga không có một bản án tử hình, kể cả những tội chống lại nhà nước. 
Hình như máu của 5 kẻ phản loạn tháng 12 đổ ra đã làm nhà nước say mùi máu. Án tử hình không bỏ xó nữa, không cấm đoán, giới hạn nữa cho đến ngày Cách mạng tháng 2 năm 1917. Những bộ luật năm 1845 và 1904 đã xác nhận điều đó và sau này còn thêm các bộ Hình Luật của Lục quân, Hải quân. 
Ở Nga có bao nhiêu người đã bị chính thức xử tử trong thời gian đó? 
Ở chương 8, chúng ta đã có con số. Giờ đây phải thêm vô những con số đã được kiểm chứng của chuyên viên Hình Luật Tagantsev. Theo ông ta cho tới 1905 án tử hình ở Nga chỉ là một biện pháp đặc biệt. Trong khoảng 30 năm, tử 1876 đến 1904 trên toàn quốc chỉ có tổng cộng 486 người bị xử tử, trung bình mỗi năm 17 người. Đó là thời kỳ hoạt động Cách mạng và khủng bố của Narodnaya Volya phải mới rỉ tai dự định khủng bố! Đó là thời kỳ công nhân đình công tập thể và nông dân nổi loạn. Đó cũng là thời kỳ thành lập và củng cố, phát triển của các đảng phái làm cách mạng. Con số 486 người bị xử tử trong vòng 30 năm đó còn gồm luôn những tội phạm tư pháp. Mỗi năm xử tử đến 17 người! Đấy quả là một thành tích ghê gớm, nếu so với Thụy Sĩ, vì ở Schlusselburg từ 1884 tới 1906 chỉ có đúng 13 người bị xử tử hình. 
Những năm đầu tiên của cuộc Cách mạng 1905, nhà nước thẳng tay đàn áp số người bị xử tử đã nhảy vọt kinh khủng. Dân Nga bàng hoàng, Tolstoi đổ lệ Korolenko và biết bao nhiêu người khác nghiến răng căm hờn. Từ 1905 qua 1908 mới có 4 năm mà nhà nước xử tử tới 2.200 người, trung bình 45 người một tháng. Chuyên viên Hình Luật Tagantsev phải mệnh danh thời kỳ dịch xử tử. Dịch chấm dứt đột ngột. 
Chính phủ Cách mạng lâm thời lên cầm quyền là bãi bỏ án tử hình. Tháng 7 năm 1917 phải áp dụng lại trong quân lực chính quy và ở vùng tiền tuyến để trừng phạt những tội phạm có tính cách quân sự: giết người, cướp của, hiếp dâm. Dĩ nhiên phải hiểu tình hình tiền tuyến quá hỗn loạn, nhưng chính phủ lâm thời bị công kích dữ, bị mất lòng dân trầm trọng cũng vì lặp lại án tử hình, dù chỉ giới hạn. Bằng không phe Bôn-xê-vích đã chẳng tung ra khẩu hiệu cướp chính quyền: “Đả đảo án tử hình, đả đảo Kerensky lặp lại án tử hình!” 
Lại nghe có phiên họp mặt ở điện Smolny tối 25 sang ngày 26 tháng 10 để bàn tính có nên ngay tức khắc ban hành Sắc luật thủ tiêu vĩnh viễn án tử hình hay không thì Lenin chê các đồng chí quá lý tưởng, thiếu thực tế. Chiều hướng xã hội nào chẳng phải duy trì án tử hình, thiếu nó là không được nhưng chính phủ là chính phủ liên hiệp với cánh tả Xã hội Cách mạng thì bọn họ có sai lầm thì Lenin cũng cứ chiều ý! Thế là ngày 28 tháng 10 năm 1917 án tử hình bị chính thức hủy bỏ. Cứ để vậy coi sao. 
(Rồi có một trường hợp đặc biệt. Đầu năm 1918 Trotsky đưa ra Toà ông tân đô đốc chỉ huy Hạm đội Baltie Aleksei Schhatsny vì tội không tuân lệnh đánh chìm Hạm đội. Chánh thẩm Karklin la lối: “Tội này phải bắn bỏ, bắn trong vòng 24 giờ đồng hồ!” Cử toạ nhao nhao thì Chưởng lý Krylenko nghiễm nhiên giải thích: “Quý vị có gì thắc mắc nào? Đồng ý án tử hình hủy bỏ rồi. Nhưng bị cáo Schhatsny đâu có bản án tử hình? Hắn bị xử bắn mà”. Kết quả là bị cáo bị bắn.) 
Nếu căn cứ vào tài liệu chính thức thì tháng Sáu năm 1918 án tử hình đã được khôi phục toàn vẹn. Không phải tái lập mà là khởi đầu cả một kỷ nguyên mới cho những vụ xử tử! Trong tác phẩm vĩ đại của Latsis, nếu tác giả đã không đưa ra đủ con số chỉ vì thiếu tài liệu thì phải hiểu rằng Toà Cách mạng một mặt xử công khai, Cheka một mặt thủ tiêu ngầm. Kết quả là trong 20 tỉnh nội địa nước Nga, từ tháng Sáu 1918 đến tháng Mười 1919 tổng cộng khoảng 16 ngàn người đã bị xử bắn. Mỗi tháng trên một ngàn người! 
(Trong số 16 ngàn người này đau khổ nhất là Khrustalev Nosar, vị Chủ tịch Xô Viết St. Petersburg từ 1905, một Xô Viết đầu tiên của Liên bang Xô Viết! Lại phải kể ông hoạ sĩ đã sáng chế ra bộ quân phục đặc biệt, chính thức của Hồng quân.) 
Không phải chỉ bấy nhiêu bản án tử hình tuyên công khai hoặc thủ tiêu ngầm năm 1918 mà kỷ nguyên mới đã làm dân Nga rùng mình kinh hoảng. Đặc điểm kinh khủng nhất là những vụ cho chìm tàu, trôi sông cả loạt người một lúc, không phân biệt, không cần đếm đầu! Lối thủ tiêu tàn nhẫn này đã được nhiều nước áp dụng giữa thời chiến tranh và sau đó phe thắng thủ tiêu phe bại. Nó đã vượt ra khỏi giới hạn của Toà án và bản án tử hình. Nó đặt vấn đề lương tâm con người. Phải nói là nước Nga đã chứng kiến nhiều thời kỳ đổ máu, kể từ triều đại Ryurik trở đi, nhưng có thời kỳ nào giết người tàn nhẫn cho bằng sau thời kỳ Cách mạng tháng Mười, khởi đầu nội chiến? 
Một đặc điểm không thể bỏ sót được khi nghiên cứu sự thịnh, suy của bản án tử hình ở Nga là Sắc lệnh hủy bỏ án tử hình vào tháng Giêng năm 1920. Có lẽ nào nhà nước lại “buông gươm” dễ dàng khi ở Kuban còn Denikin vùng vẫy, ở bán đảo Crimea còn phe nhóm Wrangel và ngay ở Balan các chiến sĩ kỵ mã cũng chuẩn bị lên đường? 
Không. Sắc lệnh không áp dụng cho những toà án quân sự mà chỉ có ảnh hưởng với những quyết định “bên lề pháp luật” của Cheka và những Toà ở hậu phương. Hai nữa, trước khi Sắc luật ban hành nhà nước đã chuẩn bị: Những loại phạm nhân nào có thể “lọt lưới” vì Sắc luật mới, đã được quét sạch khỏi khám đường. Có còn đâu để thoát án tử hình? Và sau cùng, Sắc luật cũng chỉ sống vừa vặn 4 tháng! Ngày 28 tháng 5 năm 1918 lại có Sắc luật mới, trao trả thẩm quyền xử tử phạm nhân cho Cheka. Trong khoảng thời gian đó dĩ nhiên các khám đường toàn quốc lại chật cứng rồi. 
Cách mạng đã đẻ ra danh từ mới. Không còn “bản án tử hình” mà chỉ có “biện pháp tối đa”. Không có vấn đề “trừng phạt” mà chỉ có vấn đề “bảo vệ xã hội”. Nếu căn cứ trên nền tảng lập pháp 1924 thì “biện pháp tối đa” chỉ được tạm thời áp dụng “bảo vệ xã hội” trong khi chờ đợi Ủy ban Hành pháp Trung ương Liên Xô tuyên hủy toàn thể. Năm 1927 Ủy ban Hành pháp Trung ương bắt đầu hủy bỏ, chỉ còn áp dụng đối với những tội chống nhà nước, chống quân lực (điều 58) và tội phiến loạn. Tuy nhiên danh từ “phiến loạn” quả là rộng nghĩa, suy diễn cách nào cũng được. Có thể là trộm cướp mà cũng có thể là một du kích quân xứ Lithuania, một phần tử quốc gia võ trang, một kẻ tham dự vào một cuộc nổi dậy ở trại quân hay ngoài thành. Ấy là để kỷ niệm năm thứ 16 cuộc Cách mạng tháng Mười. 
Qua đệ thập ngũ chu niên kỷ niệm Cách mạng tháng Mười có thêm một đạo luật ác ôn, ban hành ngày 7 tháng 8. Để đẩy mạnh cuộc Cách mạng Xã hội phải bảo toàn tài sản nhà nước. Kẻ nào xúc phạm đến tài sản nhà nước bị trừng trị nặng mà khởi đầu phải có một loạt “biện pháp tối đa” làm gương. Hai năm 1932-1933 công cuộc “bảo vệ xã hội” đã đoạt biết bao nhiêu sinh mạng? Một thí dụ: tháng 12 năm 1932, giữa thời bình, chưa có vụ án Kirov, riêng khám đường Kresty ở Leningrad cũng có sẵn 265 người đang chịu án tử hình chỉ chờ giờ hành quyết (trích hồi ký của nhân chứng B. người phụ trách tiếp tế thực phẩm cho khám tử tội). Trọn năm 1932 không thể dưới một ngàn tử tội bị xử bán trong khám Kresty. 
Trong số tử tội ở Kresty năm đó, có 6 nông dân ở Tsarskiye Selo. Họ phạm tội gì ghê gớm mà Ủy ban Hành Pháp Trung ương cương quyết bác cả 6 đơn ân xá, xử bắn hết. Sau khi gặt lúa về cho Nông hội, 6 người đã lén quay trở lại ruộng lúa để mót. Không phải để mót lúa, mà chỉ mót chút rơm về cho bò của họ ăn. Ngày xưa mụ địa chủ quý tộc Saltychikha chỉ vì hành hạ đám nông nô mà còn bị Hội nghị Quý tộc tuyên xử mười một năm cấm cố dưới nhà hầm Tu viện Ivanovsky Mạc Tư Khoa. Sử sách ghi chép mụ chủ đất độc ác đã dùng gậy lớn trừng trị bọn nông nô phạm tội nên bao nhiêu năm sau còn bị thoá mạ. Nhưng 6 mạng nông dân Selo có ai nói đến, nhắc đến? Họ bị xử theo luật 7/8 đàng hoàng và mất mạng chỉ vì mấy bó rơm. Mà cha đẻ ra Bộ Hình Luật là ai, nếu chẳng phải Stalin? 
Công bình mà nói, đừng trách Ủy ban Hành pháp Trung ương! Có thể Ủy ban sẽ từ từ tiến tới việc hủy bỏ trọn vẹn những “biện pháp tối đa” thật, đúng như Ủy ban đã long trọng tuyên hứa, nếu Lãnh tụ tối cao và Cha già dân tộc không thình lình ra lệnh giải tán toàn thể Ủy ban Hành pháp Trung ương vào năm 1936. Thay vào đó là Hội đồng Xô Viết Tối cao mà Hội đồng chủ trương kỷ luật sắt thép như thế kỷ XVIII nên “biện pháp tối đa” lại hiện nguyên hình. Nó hết là “biện pháp để bảo vệ xã hội” mà rõ ràng một sự trừng phạt ghê gớm nhất. Không lẽ xử tử nhiều như vậy, gắt gao như vậy chỉ để bảo vệ thì nghe vô cùng chướng tai! 
Làm thế nào để có con số đích xác những nạn nhân của đợt 1937-1938? Có một Hồ sơ Đặc biệt thật, nhưng chẳng ai, chẳng bao giờ được ghé mắt đến dể chép ra những con số! Đành chịu luôn. Những con số phỏng định duy nhất và có thể tin nổi chẳng kiếm đâu ra, ngoài những kẻ may mắn hãn hữu được ở Butyrki khoảng 1939-1940, được nghe những ông bạn đồng xà lim tiết lộ, những ông bạn mới đây còn là cán bộ cao cấp và trung cấp. Những đàn em thân tín của Yezhov, những người từng trực tiếp nhúng tay vào nội vụ thì không tin sao nổi? Theo họ thì 2 năm 1938-1938 trên toàn quốc nửa triệu chính trị phạm đã bị xử bắn, ngoài 480 ngàn dân Blatnye tức bọn đầu trộm đuôi cướp. Điều đặc biệt là bọn Blatnye bị thanh toán chiếu điều 58/3 Hình Luật để đốn tận gốc bọn đốn mạt Yagoda! 
Sự thực thì khoảng thời gian tai hoạ của chính trị phạm không phải 2 năm mà chỉ vừa đúng một năm rưỡi. Số nạn nhân của điều 58 Hình Luật trung bình khoảng 28 ngàn người một tháng, ở 150 địa điểm khác nhau. Con số 150 được coi như khiêm nhượng vì riêng ở Pskov cơ quan NKVD đã phải lấy cả hầm nhà thờ, cấm phòng Tu viện để làm phòng tra tấn và pháp trường mật. Cho đến năm 1953 du khách còn tuyệt đối không được vô thăm các nhà thờ ở Pskov vì lý do còn nhiều hồ sơ, tài liệu lưu trữ ở trong vòng nhà thờ. Ngoài 10 năm rồi, cỏ hoang đã mọc lấp cả những “địa điểm cất chứa hồ sơ!” Và để “dọn dẹp” khu nhà thờ, nhà nước đã phải tốn nhiều công trình đào xới, mang đi từng xe vận tải đầy xương khô. 
(Nếu tính toán cẩn thận thì mỗi ngày mỗi địa điểm chỉ phải lo có 6 người. Đó là một tiêu chuẩn dưới khả năng NKVD quá xa cho nên những tiết lộ của bọn đàn em Yezhov có thể dưới sự thực nhiều. Trong khi đó những nguồn tin khác ước lượng số nạn nhân khoảng 1 triệu 700 ngàn, tính đến ngày 1 tháng 1 năm 1939.) 
Những năm đầu của Thế chiến II án tử hình đôi khi còn được áp dụng cho những trường hợp phi quân sự. Cán bộ, quân nhân đường sắt phạm tội cũng xử như quân nhân. Trong khi đó phương pháp hành quyết cũng nới rộng: từ tháng 4 năm 1942 ngoài vụ xử bắn còn thêm xử treo cổ. 
Những vụ xử bắn xử giảo cứ tiếp tục. Hy vọng hủy bỏ án tử hình, trọn vẹn và vĩnh viễn không phải vì vậy mà mất đứt! Quả nhiên tháng 5 năm 1947 khi hoà bình đã trở lại, Stalin bất thần ra lệnh cho Chủ tịch đoàn Hội đồng Xô Viết Tối cao ban hành Sắc luật bãi bỏ bản án tử hình làm dân Nga thở ra nhẹ nhàng. Thay vào đó bản án tối đa từ nay chỉ có thể là 25 năm tù. Dân quần đảo mệnh danh bản án 1 phần 4 tức một phần tư thế kỷ. 
Dù sao bản án tử hình cũng không còn nữa, trên nguyên tắc. Tại sao cứ thắc mắc nhà nước hà khắc, bỏ án chết và thay vào đó bằng một ản án đày đoạ con người tới một phần tư thế kỷ? Câu nói bạc là dân, vô ơn là dân quả xác đáng. Sao họ không nhìn nhận đó là một tiến bộ? Vì vậy nhà nước quyết định chấm dứt sự khoan hồng nhân đạo sau khi áp dụng đúng hai năm rưỡi. Ngày 12 tháng 1 năm 1950 nhà nước thấy cần phải tái lập án tử hình, nhưng lần này chiếu nhu cầu và đáp ứng sự đòi hỏi của nhiều thành phần xã hội! Không những một số các nước xã hội anh em trong Liên bang khẩn thiết yêu cầu (không biết có Ukraine không?) mà các nghiệp đoàn các hội nông dân và cả các tổ chức văn hoá (?) cũng đòi hỏi nhà nước phải thiết lập lại “bản án tối đa” để đối phó với bè lũ phản quốc, gián điệp và phản động, phá hoại. Do đó chế độ án tử hình lại tái lập nhưng dĩ nhiên bản án 1 phần 4 thế kỷ chẳng phải vì vậy mà thủ tiêu. Nhà nước quên hẳn bản án ¼! 
Đặc biệt lần này ngoài vụ xử bắn, xử giảo còn thêm chiếc máy chém cổ truyền lâu nay không dùng đến. Án đoạn đầu năm 1954 chỉ dành cho bọn sát nhân có dự mưu. Từ tháng 5 năm 1961 ăn cắp hay thâm lạm của công cũng lên đoạn đầu đài. Sau đó áp dụng cho bọn làm bạc giả, khủng bố trong trại giam (âm mưu giết hại lính canh, giám thị hay ban quản đốc khám đường). Tháng 7 năm 1961 vi phạm đến chế độ ngoại tệ nhà nước cũng lãnh án chém. Nói nôm na là bọn buôn lậu, chợ đen tiền ngoại quốc! Tháng 2 năm 1962 án chém còn áp dụng cho bọn “đe doạ đến đời sống của nhân viên công lực, cảnh sát của Đảng”. Sau đó thêm vô bọn hiếp dâm, bọn ăn hối lộ và đưa hối lộ. 
Ngần ấy trường hợp có thể bị án chém đầu, tuy nhiên tất cả đều hiểu là chỉ áp dụng tạm thời, trong khi chờ đợi hủy bỏ toàn vẹn! Đó là một đặc điểm của nước Nga dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa. Cũng như nước Nga dưới triều đại Nữ hoàng Elizabeth Petrovna, từng không áp dụng “bản án tối đa” lâu hơn cả trong số các vương quốc cùng thời.

Chúng ta quen nhắm mắt sống đời bình dị cứ tưởng đâu tù tử hình phải là những tay lầm lì, xui xẻo, phải sống khác người và phạm tội nặng lắm mới nằm khám đợi chết. “Như mình thì đời nào bị!” 
Tưởng vậy là lầm quá! Ai dám ngờ khám tử hình đa số đầy nhóc những con người chẳng có gì đặc biệt, phạm những tội tầm thường nhất trên đời, những tội không đúng tội. Ân huệ cuối cùng chỉ tới với rất ít – hoàn toàn tình cờ – còn đại đa số đều nằm chờ ngày chịu tối đa, dân tù ưa gọi tắt vậy. 
Như năm 1937 ông kỹ sư Canh nông quận phân chất sai mẫu lúa Nông hội vừa gặt về cũng lãnh án tử hình. Sơ sẩy như Melnikov, quản đốc xưởng cũng bị quất án tối đa. Cũng may được ân huệ giờ chót, còn có 10 năm! 
Năm 1932 trong khám tử hình khám đường Kresty có 2 kẻ: Feldman giấu ngoại tệ trong người và Faitelevich, sinh viên Nhạc viện dám đổi dây đàn lấy viết chì nguyên tử. Lấy bơ lấy bánh nhà nước bán lấy tiền bỏ túi chịu án tử hình nặng nhất đã đành. Đến như chú Geraska, dân một làng tỉnh Ivanovo mà bị lên án tử thì khó hiểu quá! Một đêm ở làng bên ăn nhậu say sưa liên hoan về nó thấy ông Công an cỡi ngựa đi trước và rắn mắt quất một roi vào đít ngựa. Bị bắt về trụ sở nó uất ức quá gỡ vách ván chạy ra vồ lấy tê-lê-phôn hét lớn: “Đập chết bọn quỷ!” 
Đừng ngây thơ tin tưởng rằng vì làm một cái gì đó mà nằm khám tử. Hình như có một bánh xe lớn quay quay và gặp một số hoàn cảnh khách quan nào đó là bị thảy vô như chơi. 
Chẳng hạn như hồi Leningrad bị bao vây nguy khốn. Tình hình căng thẳng như vậy thì đồng chí Zhdanov, tư lệnh mặt trận sẽ nghĩ gì nếu Ty Nội An không xử tối đa một trong đám hồ sơ còn kẹt? Không lẽ bọn Đức bao vây bên ngoài không có âm mưu gì và mình không phát giác ra? Năm 1919 Stalin phát giác được mà không lẽ Zhdanov năm 1942 lại bó tay? Thế là ông Tư lệnh có lệnh và những cánh tay lông lá thò ra. 
Thiếu gì người đang co ro nằm ngủ trong phòng mà bị Nội An vô tận nơi lượm. Ông Đại tướng Công xưởng Ingatovsky còn bị mà. 
Đứng ra cửa sổ rút cái mùi xoa trắng xỉ mũi, hay ra ám hiệu gì đây? Lâu nay ông Công xưởng trưởng lại hay nói chuyện máy móc với bọn lính thủy thì đúng là tiết lộ bí mật nhà nước! Ông Đại tướng bị Nội An vồ thì phải khai. Khai cho đủ 40 thằng tòng phạm. 
Nếu anh chỉ là thằng xét giấy rạp hát quèn thì không đến nỗi dính vô đám 40. Lỡ ra lại là Giáo sư Viện Kỹ thuật thì dính chắc! Ai chẳng biết bọn kỹ sư chúa là phản động? Anh có làm gì đâu nhưng cãi sao nổi? Mà “tòng phạm tiết lộ bí mật nhà nước” thì tránh sao khỏi án tử hình? Quả nhiên ông tướng Ingatovsky và 40 tòng phạm ra pháp trường đủ! 
Cũng có trường hợp sống sót hy hữu như nhà bác học Cơ khí Konstantin I. Strakhovich. Các ông lớn Nội An chê danh sách của ông ta quá ít. Nhất định phải còn nhiều nữa. Vậy là Strakhovich được giữ lại để khai thác thêm. Đại úy N.A. Atshuller hét lên: 
“À, anh định qua mặt? Cái gì anh cũng thú nhận để được xử bắn cho mau, cho khỏi tiết lộ chính phủ bí mật chắc? Biết điều khai đi. Anh giữ chân gì trong Nội các?” 
Sau đó bác học Strakhovich nằm khám tử hình chịu thẩm cung. Chịu nhận chức Tổng trưởng giáo dục để ra pháp trường cho rồi nhưng ông Đại úy khó tính nhất định còn khai thác thêm được. Do đó Strakhovich được cho sống tạm trong khi nhóm tòng phạm nhỏ nhoi ra pháp trường hết. Kẹt lại một mình ông ta bị quay dữ quá, quay liên miên đến nổi giận. Không phải tại muốn sống mà chỉ vì chờ chết mãi bực bội quá. Lại cứ phải bịa ra những vụ dóc láo nên Strakhovich phát tởm. Một buổi thẩm cung có vài ông lớn Nội An ghé ngang, ông ta không dằn nổi, đập bàn chửi thẳng vào mặt Đại úy Atshuller: 
“Cho mày hay, chính mày mới là thằng đáng mang bắn bỏ tức khắc. Tao bị buộc khai láo nhiều quá, chán quá rồi! Tao không khai gì nữa. Xé bản tự thú đi, bỏ hết!” 
Không ngờ một phút nổi nóng lại phúc đức thế. Cuộc thẩm cung ngừng tức khắc và Nội An lâu ngày quên luôn có thằng tù tử hình Strakhovich trong khám. Có thể nào giữa một bầy ngoan ngoãn một kẻ bực bội tới không muốn sống nữa bao giờ cũng có đường sống?

Những vụ xử bắn cứ thế tiếp tục. Số ngàn, số trăm ngàn, Đâu có nghĩa gì, ngoài những con số? Mà những con số thì đọc mãi cũng bù đầu và quên mau lắm. 
Một bữa nào đó có người gởi lại một bức hình thân nhân họ bị xử bắn. Rồi nhiều người gởi tiếp thêm, đủ in một bộ hình dầy. Có dịp lật qua những tấm hình kỷ niệm đau xót đó, nhìn vào những cặp mắt không bao giờ mở ra được nữa ta có thể có một bài học giá trị đến mãn đời. Không cần ghi chú phía dưới những bức hình đó sẽ in sâu vào tâm tưởng ta đến vĩnh viễn. 
Một hôm tôi tới chơi một gia đình thân, nơi lui tới của dăm thằng Zek cũ và tình cờ được dự một buổi lễ nhiều ý nghĩa. Ngày 5 tháng 3 vốn là ngày giỗ của Cha già Đại đao phủ, gia đình này quen bày lên những bức hình của họ hàng, bạn bè từng bị xử bắn hay bỏ thây trong ngục. Được người nào hay người ấy, tổng cộng cỡ vài chục bức hình. Cả nhà im lặng, chiêm nghiệm suốt ngày. Bầu không khí trang nghiêm hẳn như lễ cầu hồn ở nhà thờ hay trong nhà mồ. Một bản nhạc tang tóc nhẹ nhàng trổi lên. Ai nấy ngồi lặng yên ngắm chân dung những người đã chết, rồi nhìn nhau kể chuyện khe khẽ. Lúc ra về tất cả phải nắm tay từ biệt. 
Lẽ ra phải tổ chức những buổi chiêm nghiệm ở nhiều nơi. Để không sao quên được những người chết, vì sao họ chết. Có vậy những cái chết của họ mới ý nghĩa. Phần tôi, tôi chỉ giữ được một bộ hình của mấy người sau: 
• Viktor P. Pokhrovsky, xử bắn ở Mạc Tư Khoa năm 1918 
• Alesandr Sthrobinder, sinh viên, xử bắn ở Petrograd 1918 
• Vasily I. Anichkov, bắn trong Lubyanka năm 1927 
• Alesande A. Svechin, giáo sư Bộ Tổng tham mưu, xử bắn năm 1935 
• Mikhail A. Refomatsky, kỹ sư Canh nông, bắn ở Orel 1938 
• Yolizaveta Y. Anichkova xử bắn trong trại Cải tạo vùng Yenisei năm 1942 
Họ vô khám tử trong trường hợp nào? Nằm đợi chết ra sao và có cảm giác gì? Họ suy nghĩ những gì, có quyết định gì không? Chừng bị mang đi xử bắn, họ có ấn tượng gì trong những phút giây chót của cuộc đời? 
Nghĩ về những người chịu án tử hình, ai chẳng nêu ra câu hỏi trên? Ai chẳng muốn biết, nhưng có ai biết mà trả lời? Những người được ân xá mà về chẳng sao biết nổi những gì xảy ra ở giây phút chót. Những gì xảy ra sau đó thì bọn đưa đi xử tử phải biết. Đời nào họ nói. Như bác Lyosha ở khám Kresty Leningrad mỗi lần dẫn tử tù đi đều trói giật cánh khỉ, còng cứng. Vừa định nói: “Anh em ở lại tôi đi” đã bị một nắm giẻ bịt miệng. Vậy mong gì bác Lyosha nói, dù giờ đây người vẫn ăn mặc chững chạc dạo phố hay nhậu la-ve trong câu lạc bộ một “đảo” nào. Có gặp xin cứ hỏi thử. 
Tuy nhiên chính bọn xử tử cũng chẳng biết hết mọi chuyện. Hắn chỉ chĩa súng sau gáy nổ một phát, máy xe hơi bên cạnh nổ át tiếng súng. Thế thôi. Công việc đó hắn còn không muốn biết thì còn biết làm gì chuyện xảy ra! Biết hết chỉ còn những người chết, không nói được nữa. Ngoài ra biết phần nào, biết lờ mờ thì chỉ còn các nhà văn, cộng thêm những tử tù chờ chết được ân xá. Nhờ họ mới đoán biết bộ mặt của khám tử hình trước giờ hành quyết. 
Như Narokov tác giả cuốn tiểu thuyết Những giá trị tưởng tượng. Ông ta đặt quá nặng việc gợi lại thảm cảnh còn hơn Dostoyevsky, muốn tạo xúc động hơn Dostoyevsky, nhưng dù sao không khí khám tử và phút thọ hình cũng được ông ta ghi nhận lại tuyệt vời. Không kiểm chứng được nhưng đọc là tin ngay. 
Trước Narokov mấy ông nhà văn như Leonid Andreyev đều lạc hậu cỡ 150 năm. Tả khám tử hình 1937 mà cứ tưởng tượng thì hố nặng: nào chờ đợi trong tuyệt vọng, nào lắng nghe thời gian. Làm sao biết nổi những đặc điểm kỳ quặc như dưới đây: 
Chết rét: Tử tù nằm chờ chết trong xà lim tử tội, dám chết rét lắm chớ? Chưa ăn đạn đồng cũng có thể gục như không vì đêm đêm nằm sàn xi măng, hàn thử biểu xuống cỡ 10 độ. 
Chết ngộp: Sau đó còn có thể chết ngộp hơi người. Cát-xô cá nhân mà nhét 7 người tối thiểu, 28 mạng tối đa – như Strakhovich từng bị ở Leningrad năm 1942 – thì quả là khó thở. Nằm đợi chết 7 người, 10 người một lượt đã cực kỳ rùng rợn lại phải chen chúc nhau mấy tuần, mấy tháng. Nỗi bận tâm không phải giờ hành quyết. Xử bắn không sợ mà chỉ ngại co chân duỗi tay và làm sao thở được một tí không khí trong sạch. 
Năm 1937 khám Ivanovo, trại giam riêng của NKVD, gồm 2 khu chứa từ 2 đến 3 ngàn tù mà phải nhét trên 40 ngàn. Khu I là khu giam cứu, tức câu lưu để điều tra. Khu II gồm đủ thứ tù, chính trị tư pháp lẫn lộn, kẻ chờ đi căng, người chờ chết, người tử hình được ân xá chưa biết đi đâu. Có xà lim nhốt chặt cứng đến độ dựa sát vào nhau vừa đủ chỗ đứng, giở chân giở tay không được. Đứng sát bục nằm sơ ý là bị xô gãy ống chân. Mùa đông mà hơi người hầm quá phải phá cửa kính cho khỏi nghẹt thở. Có mặt ông già đầu bạc Alalykin, đảng viên từ 1898 đến Cách mạng 1917 thành công thì rút lui, cũng nằm chờ giờ hành quyết. 
Chết đói: Nằm chờ chết lâu quá, nhiều tử tù không sợ ra pháp trường bằng sợ đói. Năm 1941 Alesandr Babich đợi 75 ngày ở khám tử Krasnoyarsk, muốn ăn đạn để giải thoát nhưng chưa chết được người đã phù thũng như con bò vì thiếu ăn. Rồi được ân xá còn 10 năm mới lê thân tàn đi đày! Kỷ lục thời gian chờ đợi là bao lâu? Không biết. Tử tội Vsevolod P. Golitsyn vô địch 1 xà lim năm 1948 tưởng 140 ngày đã là nhiều. Nhà bác học số 1 nước Nga Vavilov đợi chết gần một năm. Chẳng đến khám Saratov mà nằm nhà hầm cũng còn đợi. Mùa hè 1942 không được ân xá, Vavilov được ra xà lim chung mà đi không nổi. Đến giờ được ra hứng gió phải có người đỡ đi. 
Chết bệnh: Tử tội không được khám bệnh, khỏi có thuốc. Năm 1938 Okhrimenko nằm xà lim đợi chết tới, bệnh gần chết! Không được đi bệnh viện, năn nỉ mãi không có bác sĩ. Chừng bà bác sĩ tới thì đứng ngoài xà lim. Không nhìn con bệnh, không thèm hỏi một câu mà chỉ nhét qua song sắt gói thuốc bột! Còn Strakhovich phù thũng, ứ nước ở hai chân. Kêu mãi mới được một ông nha sĩ xuống. 
Chữa bệnh cho đám tử tội người thầy thuốc có lương tâm nên chữa cho họ để khỏi kéo dài kiếp đau khổ nữa, hay nên hối thúc xử tử lẹ lên. Strakhovich kể lại chuyện có ông bác sĩ xuống thăm, đi cùng gã gác khám và chỉ vào từng thằng tử tội: “Thằng này chết rồi, thằng này sống sao nổi, thằng này cũng thế”. Ý hắn có ý bảo để chúng sống dở chết dở làm chi? Sao không hành quyết cho rồi.

Đúng vậy, bắt chờ đợi lâu như vậy để làm gì? Không lẽ thiếu đao phủ thủ? Có điều lạ là nhân viên khám đường thường nhắc nhở, đôi khi còn hối thúc bọn tử tù nạp đơn xin ân xá. Nhiều người không chịu, không muốn đụng đến một vụ gì cho thêm lôi thôi họ còn viết đơn giùm ký tên thay cho nữa. Mỗi lá đơn gởi đi là phải mất vài tháng. 
Có tình trạng xung khắc trên vì hai cơ quan vốn chẳng ưa gì nhau. Bên bắt người, xử người (theo sự tiết lộ của mấy ông Toà quân sự thì chỉ là một) chỉ mong bắt nhiều và xử án nặng lấy điểm. Tuyên thật nhiều án tử hình cho chúng hết hồn. Nhưng tuyên án xong là hết trách nhiệm. Có gì thắc mắc, mà những thằng tù nhìn tơi tả thì còn làm gì được nên cứ để cho chúng sống, an ninh nhà nước cũng chẳng vì thế mà bị đe doạ! Hãy liệng hết bọn chúng cho nhà tù tức cơ quan giam người lo. Mà nhà tù là anh em ruột với Nha Tổng quản trị các trại Lao động Cải tạo lại quen nhìn bọn tù dưới khía cạnh kinh tế. Quan điểm của họ là càng nhiều nhân công càng tốt. Nhiều án tử hình làm gì? 
Quản đốc nhà giam NKVD trong khám lớn Leningrad là Solokov nhìn tù dưới góc cạnh kinh tế tức lao động. Tử tội Strakhovich nằm chơi không đợi chết mãi cũng phát chán bèn hỏi giấy bút để ghi chép. Lập tức ông quản đốc bèn khai thác, cung cấp ngay đầy đủ tập vở và viết chì để ông kỹ sư láy hoáy ghi chép mớ lý thuyết cơ học. Hết bàn về xúc tác giữa vật thể cứng trong môi trường lỏng đến tính toán về bọc đạn, lò xo, nhíp hoặc đưa ra Căn bản của luật ổn định 1. Sau đó dĩ nhiên tử tội Strakhovich được ở “xà lim khoa học” riêng một mình, ăn uống đầy đủ hơn để “đóng góp chuyên môn”. Chẳng hạn Bộ Tư lệnh chiến trường Leningrad được chỉ dẫn nguyên tắc súng lớn, bắn toả chống máy bay. Kết quả là tử tội được ông Tư lệnh Zhdanov ân xá tạm còn 15 năm tù. Mãi sau này mới nhận được công văn rùa bò từ Mạc Tư Khoa tới, chính thức ân giảm còn 10 năm, khoan hồng còn hơn ông Tư lệnh! 
Không riêng quản đốc mà điều tra viên cũng có quyền tha hồ “khai thác” tử tội. Phục vụ riêng cho mình cũng được. Như ông điều tra viên nhám tay Kruzhkov đang theo học của hàm thụ về toán. Dưới khám tử tội có nhà Toán học N.P. giáo sư đại học nên ông điều tra viên kêu lên bắt chỉ dẫn thêm, giải bài khó giùm. 
Ngoài mục đích giữ tử tù để khai thác, nhà tù còn sử dụng khám tử để dựng kịch, cho cò mồi đóng y như thật để “bẻ gãy” những thằng cứng đầu nhất định không chịu ký cung. Nhân chứng Ch. thuật lại vụ 2 can phạm giam cứu khám Krasnoyarsk thình lình bị đưa ra một phiên toà giả và lãnh án tử hình giả, tống giam vô một khám tử hình thiệt đợi ngày “hành quyết”. Dĩ nhiên 2 gã tử tội giả phải rầu rĩ, buồn phiền, cứ tưởng đời sắp tàn chắc! (Sao không tưởng thiệt khi những phiên toà thiệt cũng còn “dựng vở”?). Đúng lúc đó có hai ba cò mồi cũng bị án tử, tống vô chung khám tử tội. Chúng cũng giả vờ rầu rĩ và bàn nhau hối ngộ. Xin lập lại bản cung để cung khai thêm thì lập tức được cho ra khỏi khám tử hình, nghĩa là sinh mạng bảo đảm. Tấm gương “cung khai sự thực thì khỏi chết” sờ sờ như vậy làm gì 2 can phạm cứng đầu chẳng nôn nả noi theo. 
Sau chót tử tội còn được giữ lại trong khám để lâu lâu xách ra nồ đưa đi xử bắn cho mất tinh thần, cung khai thêm cho điều tra viên. Ngay ông Thống chế Konstantin Rokossovsky hồi nào cũng bị nồ 2 lần. Nửa đêm bị kêu tên, đưa vô rừng. Bịt mặt trói vô cột, toán lính lên đạn lách cách như sắp nổ đến nơi, nhưng đột ngột lại hạ súng xuống. Những gì xảy ra sau đó không ai biết. Chỉ thấy trước mắt Rokossovsky không chết tí nào, mạnh giỏi hơn người và lên lon vù vù.°

Hình như tử tội ngoan ngoãn lắm trước lúc bị đưa đi thọ hình. Những người được ân xá kể lại chẳng thấy ai bị đưa đi mà chống cự, giằng co bao giờ. Nghe nói khám Kresty chỉ có một vụ năm 1932, ông lính áp tải vô xà lim tính kéo đi bị mấy tử tù giật súng bắn lại. Rút kinh nghiệm từ đó về sau đưa 1 người đi cũng ngó vô nhận diện trước rồi 5 người võ trang ào vô. Có xà lim nhốt 8 người, ai cũng nạp đơn xin ân xá rồi nên nằm chờ đợi. Thấy lính ào vô nắm đầu một nạn nhân thì cả 7 người quay đi. Vùng vẫy, kêu cứu chẳng ai dám ngó. Đành chịu trói và miệng bị nhét nguyên một trái banh cao su trẻ con chơi. Ai mà ngờ trái banh hiền lành lại được sử dụng đặc biệt như vậy! 
Thử hỏi nếu không ham sống, 7 người đó ùa lại tận lực cứu bạn thì sao? Không chừng chấm dứt được nạn xử bắn bừa bãi, chẳng cần đến Ủy ban Hành pháp Trung ương ân xá! Đằng nào cũng đến chết là cùng, sao không thử chống cự? Nhưng thôi, nói làm chi. Từ lúc bị bắt đã thụ động, khom lưng quỳ gối rồi. Khốn nạn, làm như chân tay bị chặt rồi phải bò để may ra thoát chết.°

Vasily Grigoryevich Vlasov nhớ lại đêm bị tuyên án tử hình, điệu đi ở Kady với 4 khẩu súng lục kè kè 4 bên. Nghe bản án xong vẫn không tin bị xử ngay, còn ham sống lắm nên lúc ấy chỉ nghĩ họ dám nổ rồi phao vu toan đào tẩu là mất mạng oan. 
Nhưng không. Chỉ bị áp giải về Ty Cảnh sát, cho ngủ trên bàn giấy. Dưới ánh đèn dầu hôi 2, 3 thầy chú canh chừng gắt. Họ kháo nhau: “Nghe xử án cả 4 ngày liền mà chẳng hiểu các bị cáo bị buộc tội gì? Tụi mình làm sao hiểu nổi?”. 
Vlasov nằm lại Ty 5 ngày. Ra họ còn đợi xác nhận lại bản án rồi xử bắn ngay tại Kady chớ mang đi chỗ khác phiền phức lắm. Chưa thấy Trung ương có chỉ thị, dù có người đã đánh điện xin ân xá giùm cho Vlasov: “Tôi không nhận tội. Xin bảo toàn sinh mạng”. 
Mấy ngày chờ chết Vlasov run rẩy, cầm muỗng múc cháo không nổi phải bưng cả tô lên húp. Quản đốc Klyugin còn đến ngó và giễu nhưng sau vụ án ở Kady đương sự cũng bị đưa từ Ivanovo về Mạc Tư Khoa. Năm ấy “có động” ở cấp chỉ huy trung ương Trại Cải tạo: nhiều vụ lên xuống thật bất ngờ, nhiều ông lớn cải tạo cũng sắp đi quần đảo đến nơi mà không hay. 
Chưa có chỉ thị rõ rệt thì cả 4 người vụ Vlasov cũng được áp giải đến Kineshma: 4 người đi 4 xe, mỗi xe 7 thầy chú ngồi cùng và chĩa súng lăm lăm. Đến nơi tống đỡ vào nhà hầm 1 tu viện kiên cố cho chắc ăn, đợi thêm 1 toán tử tội nữa mới nhập chung cho lên toa xe lửa nhà lao đưa thẳng về Ivanovo. Vừa tới sân ga họ đã tách làm hai: Vlasov được giữ lại cùng Saburov và một tử tội mới còn bao nhiêu được đi chỗ khác. Smirnov thuộc tốp sau và chỗ khác là pháp trường! 
Ba người co ro ngồi bệt xuống đất ở khoảng sân ga phía trong đợi họ tìm người, chia toán cỡ 4 giờ. Chưa chắc đã bị “đi” bữa nay nhưng cả 3 cùng rét, chỉ nơm nớp sợ bị kêu tên. Giữa lúc bồn chồn, lo sợ thì bị kêu đi, vô cát-xô làm Saburov hoảng quá, níu cứng lấy thằng ngồi bên cạnh. Hắn bị níu cứng bắp tay, đau quá la chói lói làm lính phải gỡ bằng lưỡi lê Saburov mới chịu buông tay. 
Khám tử hình Ivanovo có 4 xà lim, chung hành lang với nơi giam bọn thiếu nhi và nhà thuốc. Xà lim tử tội phải có 2 lớp cửa. Ngoài cánh cửa gỗ có lỗ nhòm thông thường còn thêm lớp cửa sắt mà mỗi cửa 2 ống khoá. Muốn mở cửa phải có mặt cả gã gác khám lẫn trưởng khu, mỗi người một chìa khoá riêng. Xà lim 43 giáp vách với Phòng Điều tra nên nằm chờ chết đêm đêm còn phải nghe những tiếng gào thét vọng sang đến khổ. 
Vlasov vô xà lim số 61 trước đây là cát-xô biệt giam 1 người dài cỡ 5 mét rộng cỡ 1 mét là nhiều. Có 2 “ghế bố” sắt bắt cứng xuống nền xi-măng thì mỗi ghế đã có 2 ông chiếm, nằm trở đầu trở đuôi. Còn 14 người chen chúc nhau nằm ngang khoảng diện tích còn lại, dĩ nhiên nằm đất. Ngày xưa người chết “nằm 3 thước đất” Chekhov còn chê chật hẹp mà bọn chờ chết ở đây tính ra chỉ được trên 3 tấc đất thì không hiểu phải dùng danh từ gì? 
Câu đầu tiên Vlasov hỏi thăm anh em cũ là “Vô đây có bị đưa đi ngay không” thì có kẻ tỉnh bơ đáp: “Người anh em không biết sao chớ tụi tôi nằm đây chán chê mà vẫn còn nằm đây này!” 
Tình trạng chờ đợi nghẹt thở bắt đầu. Những đêm thức trắng mắt, chán nản đến không thiết một cái gì mà chợt nghe tiếng mở khoá lách cách là sợ đứng tim! Ác nhất là những đêm đau khổ vì hồi sáng vừa có một thằng được ân xá. Nó nhảy cẫng lên hò reo chạy ra khỏi cát-xô là anh em còn kẹt lại càng hốt hoảng, bồn chồn thêm. Chỉ sợ đêm nay cửa mở! 
Chao ôi, có đêm cửa sắt mé ngoài chợt động. Bao nhiêu con tim chết đứng thì gã tuần hành kiểm soát thò đầu qua khung cửa sổ kia.. Những con tim vừa thắt lại, lại tiếp tục nhảy! Cả 19 tử tù trong xà lim đều công nhận mỗi cú đứng tim như trên quả tương đương với 1 năm sống. Chỉ cần mở khoá điệu đó cỡ 50 lần thôi, nhà nước khỏi tốn đạn! Nhưng mừng biết mấy khi trong đám anh em có thằng bật ra được: “Dạ xin lỗi sếp, để lấy xuống liền!” 
Sáng ra sau chầu làm vệ sinh là có quyền ngủ khoan khoái. Ngủ không sợ sệt cho đến lúc gã gá khám bưng vô khay cháo: “Nào cháo đây!” Nghe thân mến làm sao! Nội cái vụ bưng cháo vô một mình cũng đã là vi phạm luật lệ nhà lao: lẽ ra mở cửa sắt bắt buộc phải có trưởng khu đi cùng. Nhưng con người dù sao cũng vẫn chưa phải máy, vẫn lớn hơn luật lệ chớ. 
Hớp cháo sáng thật sung sướng, thoải mái. Nó lọt ngon lành xuống cuống họng. Cả ngày mới ăn được bằng ấy vì kể từ trưa trở đi lại hết ngủ và hết ăn luôn. Còn đầu óc đâu nữa mà nuốt cho trôi? Cho dù người nhà không biết vẫn gởi vô một gói tiếp tế cũng để đến mốc meo. Ở cát-xô tử hình thì mọi thứ đều là của chung nhưng cũng chẳng ai buồn đụng tới. 
Suốt ngày tù tử hình nằm trơ chờ đợi. Lâu lâu ông trưởng khu bước vô chơi cho có chuyện. Hoặc ông Ác Tarakanov, hoặc ông Thiện Makarov. Nhưng chuyện thì nếu không “Có ai cầm giấy viết đơn” thì lại “Có tiền thì gởi Câu lạc bộ mua thuốc lá giùm cho?”. 
Món giải trí duy nhất là gỡ vỏ bao diêm ra, vạch đại mấy con số làm bộ cờ đô-mi-nô chơi với nhau. Hứng chí lắm Vlasov mới đem những chuyện Hợp tác xã Tiêu thụ ra kể. Nằm khám tử nghe những chuyện vớ vẩn mà còn cười hả hê được thì in thành sách bây giờ phải hốt bạc. 
Riêng ông già cựu Chủ tịch Quận Yakov P. Kolpakov, đảng viên từ đầu xuân 1917 và từng xung phong ra tiền tuyến thì cả chục ngày liền hai tay ôm đầu ngồi gục một chỗ, cằm dựa lên đầu gối. Kolpakov ngồi không cục cựa, mắt thao láo dán vào bức tường trước mặt. Thấy Vlasov làm trò cười, ông ta lắc đầu rầu rĩ: “Vô đây mà còn…” Lập tức ông tướng tử tù quát lên: 
“Chớ làm gì bây giờ? Dọn mình cho sạch đặng lên Thiên Đường chắc? Tôi chỉ nghĩ một điều và nghĩ xong từ lâu. Bữa đó tôi sẽ chửi thẳng vào mặt thằng đao phủ: “Mày coi chừng, ông oán mày mãn kiếp! Toà xử, thằng nào quyết định chẳng thấy đâu. Chỉ có mày. Chính mày giết tao. Chỉ vì có những thằng giết người như mày mới có án tử hình, biết không đồ chó chết? Phải nói bằng được ngần ấy câu tôi mới chịu chết!” 
Nhưng người chết không phải Vlasov mà là Kolpakov rồi đến Kostantin S. Arkadyev cựu Trưởng chi Canh nông tỉnh Vladimir. Nửa đêm ông Trưởng chi bị 6 giám thị ùa vào cát-xô lôi đi. Arkadyev bình tĩnh ngó quanh, chiếc nón cầm tay cứ mân mê mãi như luyến tiếc phút chia tay. Sau cùng chỉ mấy người ở kế bên may ra mới nghe thấy tiếng lí nhí: “Thôi, vĩnh biệt!” 
Giây phút lâm ly đó mấy kẻ ở lại chợt cảm thấy nhẹ mình: “May quá!” Nhưng sau đó người đi vừa khuất là cả cát-xô lại trở về tình trạng bồn chồn, khổ sở. Suốt ngày hôm sau tất cả lại ngậm câm, nuốt không vô. 
À, phải trừ một kẻ! Cũng đợi chết như mọi người nhưng chú Geraska ăn no ngủ kỹ nhờ gốc nông dân. Nó nhất định không tin bị xử bắn. Quả nhiên được ân xá. Còn có 10 năm. Không lẽ say rượu chửi bậy 1 câu, phá vách hoặc vụt 1 roi vào đít ngựa của ông Công an mà phải đền mạng? 
Nằm cát-xô tử tội ít ngày là hầu hết già đi trông thấy. Mặt mũi nhợt nhạt, tóc mọc dài quá nhanh bắt buộc phải hớt tóc, phải đi tắm theo luật nhà lao. Nhiều người đâm ngớ ngẩn, nói không rành mạch và hiểu chậm hẳn. Nhưng vẫn phải nằm đợi trong cát-xô. Bất thần nổi điên là ra pháp trường tức khắc, luật nhà lao là vậy.
Phải nói là số tử tù được ân xá nhiều chớ. Cuối năm 1937 bắt đầu có án 15 năm, 20 năm càng nhiều. Một số chỉ còn 10 năm. Và 5 năm cũng có nữa! Nước Nga là vậy, chuyện gì chẳng có thể xảy ra? Thiếu gì thằng hôm qua còn đáng tội chết hôm nay đã phất phơ đi đày có 5 năm, bản án thiếu nhi? Ở trại Cải tạo còn án nào nhẹ hơn nên nó còn có quyền đi đó đi đây, miễn áp giải! 
Lại có trường hợp kỳ quặc của lão Khomenko 60 tuổi cựu Đại úy Cốt Sắc. Quả là “linh hồn của xà lim” vì tối ngày lão nhởn nhơ cười cợt coi như ở tù chơi. Bị giải ngũ vì sức khoẻ từ sau hồi Nga – Nhựt chiến tranh, Khomenko chuyên nghề nuôi ngựa giống và có chân Hội đồng tỉnh. Sau đó được cử sang Ty Nông vụ tỉnh Ivanovo làm Thanh tra ngựa, chuyên trách gây giống ngựa tốt cho Hồng quân. Cũng vì ngựa mà ông Thanh tra bị ghép tội băng hoại và lãnh án tử hình. Tại sao dám đề nghị ngựa đực phải thiến trước khi lên 3? Phá hoại tiềm lực chiến đấu của Hồng quân! 
Chuyên viên Khomenko không chịu, xin thượng tố. Đợi đúng 55 ngày thì đơn chống án bị ông trưởng khu mang tận xà lim trả về, vì đi trật hệ thống. Lão thản nhiên mượn ông trưởng khu cây viết chì, kê lá đơn cũ lên vách cát-xô, bôi bỏ chỗ sai và điền vô đúng tên cơ quan thẩm quyền. Giản dị như đơn xin mua thuốc lá vậy! Sau đó chờ thêm 60 ngày nữa, trước sau vừa vặn 4 tháng. 
Kết quả là Khomenk được miễn tố. Ra khỏi khám tử hình, tha bổng luôn! Lý do là sau khi lão đi tù bỗng có chỉ thị của Thống chế Voroskilov ra lệnh ngựa đực của quân đội phải thiến trước khi lên 3. 
Dù thấy tận mắt nhiều ca giảm án Vlasov vẫn cảm thấy quá ít hy vọng. Tội đã nặng, bữa ra toà còn găng thì thoát sao nổi? Bề nào họ cũng phải bắn bỏ một số, có thể là một nửa mà. Đằng nào cũng chết thì tại sao phải chết gục đầu? Hèn hạ trước khi chết còn tệ nữa. Do đó anh hùng tính nổi dậy, nếp sống ngang tàng sống lại. 
Đúng lúc đó ông Trưởng ban Điều tra Ty Nội An Ivanovo đi thanh tra khám đường. Có lẽ Chinguli muốn lấy le chơi nên xồng xộc vô bắt giám thị mở cát-xô rồi đứng sững chỗ ngưỡng cửa hỏi thuộc viên: “Đâu, thằng ở Kady đến là thằng nào?“. Hồi đó mốt sơ-mi lụa cộc tay mới ra đời ở Nga, ông sếp Nội An mặc chi lẳng lơ và cát-xô bỗng sực nức mùi nước hoa. 
Đang nằm trên ghế sắt Vlasov đứng bật dậy, dõng dạc quát: “Mặt thằng này mà sĩ quan hả? Cút ngay, quân sát nhân!” Một bãi nước bọt nhổ tiếp theo. Đứng cao như thế làm gì không trúng giữa mặt. 
Chinguly lau mặt, thối lui trở ra. Cấp bực đó không có quyền vô cát-xô tử hình nếu không có 6 vệ sĩ kèm theo, luật nhà lao rõ ràng như vậy. Vả lại có 6 vệ sĩ đi cùng chưa chắc Chinguli đã dám vô. Vì vậy hắn đành bẽ mặt. 
Xét ra tử tội Vlasov hung hăng vậy là dại. Đã vô đây thì chúng hành sao chẳng được. Vả lại biết đâu chừng báo cáo của sếp chẳng ảnh hưởng đến vụ sống hay chết? Tuy nhiên chịu đựng mãi, quá giới hạn nhục nhã rồi dằn không nổi nữa. Hèn là thân phận con thỏ nhưng một khi thỏ đã hiểu rõ trước sau cũng biến thành ra-gu thì lại khác. Có hèn cũng chậm chết là cùng chớ có sống được đâu? 
Đợi đến 41 ngày, căng thẳng quá, Vlasov chỉ muốn có dịp là hét lên: “Đ.M, tới đây. Lôi tao đi bắn cho rồi!”. Hai lần nhân viên khám Ivanovo hối ông ta nạp đơn xin ân xá Vlasov đều lắc đầu. 
Qua ngày thứ 42 Vlasov bất thần được gọi đi. Tới một phòng vắng ông ta được thông báo: Chủ tịch đoàn Xô Viết Tối cao vừa quyết định giảm án cho ông ta còn 20 năm cải tạo, cộng 5 năm an trí. Lúc ấy khuôn mặt nhợt nhạt của Vlasov nhếch một nụ cười, kèm theo vẫn là một lời cay đắng, bóng bẩy: 
“Lạ thật, Người ta lên án tôi không tin tưởng ở sự chiến thắng của Xã hội chủ nghĩa trên đất nước này. Nhưng tin sao được kìa? Ngay Kalinin cũng cóc thể tin nổi! Chiến thắng, thành công gì mà hai mươi năm sau vẫn còn Trại Cải tạo kìa?” 
Hai mươi năm sau nữa vẫn còn trại Cải tạo? Hồi đó có ai tin! 
Cái lạ là ba mươi năm vẫn còn. Vẫn cần. 

12. Tù xưa, tù nay 
Văn tự Nga có một danh từ đặc biệt ý nghĩa. Ostrog nghĩa đen là tù, ngục. Có 6 chữ cái ghép lại mà đọc lên hình dung ra ngay những bức tường kiên cố, không thể vượt qua! Cùng một âm với nó còn có một lô danh từ có ý nghĩa gần cận. Nào strogost là nghiêm khắc, ostroga là mũi lao, ostrota có nghĩa bén nhọn. Thêm vào một vần ostoroznhost lại có nghĩa thế chân (tiền thế chân để đổi lấy tự do chớ còn gì? Mà bớt đi, còn rog gọi là gai nhọn. Cây gai nhọn chĩa ra, đâm vào cuộc đời chúng ta chớ còn gì nữa? 
Xét về toàn bộ tổ chức, điều hành thì chế độ lao tù ở nước Nga trong vòng 90 năm trở lại có thể ví như một cây gai. Một cây gai nhọn cả 2 đầu. Thời Cách mạng phản đế Narodnaya Volya là một đầu gai nhọn. Nó từ nhọn đi thuôn thuôn dần đến chỗ xù xì, không làm rách da được: đó là những năm đầu thế kỷ XX. 
Thế rồi thân gai bắt đầu thu lại, cứng ngắc để từ sau 1917 để trở thành một đầu gai nhọn hoắt, chìa ra năm 1913 để sẵn sàng cắm ngập vào yết hầu chúng ta. 
Nhờ tập hồi ký đồ sộ của bà già Vera Finger (xuất bản ở Mạc Tư Khoa năm 1964) mà ta có thể hiểu được sự khắc nghiệt của chế độ lao tù thời đó, điển hình là khám đường pháo đài Schlusselburg ở gần St. Petersburg. Hồi đó tù không có tên mà chỉ là con số, cai ngục hắc ám như đào luyện ở lò Lubyanka ra! Hành lang nhà tù im lặng như nhà mồ, xà lim tối om kín mít, sàn trải nhựa đường. Mỗi ngày một ô cửa sổ mở đúng 40 phút. Ăn thì chỉ có cháo đặc, cải bắp. Không được đọc sách có khi hai năm liền chẳng được nhìn thấy mặt ai. Ít ra từ năm thứ 3 trở đi tù mới có quyền giữ ít tờ giấy, có đánh số đàng hoàng. Theo tài liệu của Novorussky thì từ 1884 đến 1906 tù Schlusselburg có 3 người chịu không nổi phải tự sát và 5 người hoá điên. 
Như cây gai thuôn dần, đời sống khám đường dần dà cải thiện bớt, nay một chút mai một chút. Tù được ăn bánh mì, phát trà, đường, Có tiền gởi vô còn được mua đồ Câu lạc bộ thêm, kể cả thuốc hút. Xà lim sáng sủa, thoáng hẳn nhờ cửa kính đóng mở tùy tiện, vách không âm u một màu sơn đen, sân nhà tù có vườn bông, cây cảnh. Tù được ra chơi, trò chuyện hay dạy học lẫn nhau. Sách có quyền mượn của thư viện St. Petersburg. Ban quản đốc Khám Schlusselburg còn phải cấp thêm đất để phạm nhân trồng hoa, trồng rau tổng cộng 450 thứ khác nhau. Hồi đó nhà tù còn có phòng trưng bày thủ công khoa học, có xưởng mộc, lò rèn. Kiếm được tiền ở trong tù có quyền gởi mua sách chính trị hay mua tháng, mua năm báo ngoại quốc. Thư từ cho gia đình rất dễ dàng 2. 
Nữ phạm nhân Vera Finger nhớ lại tình trạng ngược đời hồi đó: lớn lối, la hét không phải giám thị mà là phạm nhân. Năm 1902 một thầy chú không chịu chẳng đơn bị bà ta lồng lộn, xé rách cả cầu vai. Vậy mà ông Thanh tra đến xét còn phải xin lỗi! 
Tại sao chế độ tù tội hồi ấy lại tử tế, nhân đạo vậy? Finger cho rằng tại quản đốc và giám thị còn là những người tốt, biết cư xử đàng hoàng, vả lại “ở tù lâu đâm quen mặt, quen nết”. Cũng có thể vì phạm nhân hồi đó vừa khôn khéo vừa có tư cách. Nhưng theo tôi đó là nhờ ảnh hưởng của thời đại xã hội vừa được một ngọn gió tự do, ngọn gió mới thổi tạt qua, xua đuổi hết mây mù ám chướng khiến đời sống dễ chịu, lòng người phơi phới. Nếu không thì tội xé cầu vai, nhục mạ giám thị hẳn sẽ lãnh 9 gam chì! 
Nói chung chẳng phải nhà nước đã làm đẹp cho chế độ nhà tù thời Nga hoàng, cải thiện đời sống phạm nhân. Chính trào lưu xã hội với ngọn gió tự do, cách mạng đầu thế kỷ XX đã trông cậy một sự thay đổi bộ mặt khám đường. Triều đại Nga hoàng không phải đợi đến tháng Hai 1917 mới đổ sụp mà từ cả chục năm trước đã lung lay nặng. Ở địa hạt ngục tù chẳng hạn, có ai coi ở tù là xấu đâu? Con nhà danh giá còn có hân hạnh được ở tù mà. Giám thị nhà tù thực sự bị coi là cai ngục, ngay sĩ quan Ngự lâm quân cũng không thèm bắt tay! Chế độ nhà tù càng nới rộng – tức càng suy yếu – thì chính trị phạm càng có giá trị và các đảng viên Cách mạng càng có thế lực, càng coi nhẹ luật pháp nhà nước. 
Thế rồi 1917 Cách mạng bùng nổ và từ 1918 trở đi chế độ nhà tù đổi khác hẳn. Phải nói kể từ 1918 trở đi vì từ tháng Hai 1917 đến cuối năm trên toàn lãnh thổ Nga có chính trị phạm nào ở tù đâu. Khám giam cứu, khám thọ hình hay trại khổ sai vẫn giam tù chính trị đều mở toang cửa, giám thị thất nghiệp hết! Không muốn đói phải trồng khoai ăn trọn năm đó nhưng qua 1918 lại bắt đầu sung sướng như cũ. 
Cuối tháng 12 năm 1917 nhà nước cách mạng vô sản bắt đầu cảm thấy dầu sao cũng phải thiết lập khám đường trở lại xét vì có những thành phần không thể cho phép trà trộn vào xã hội mới mà bắt buộc phải tống vào tù. Đó là thời kỳ thân cây gai bắt đầu nhọn dần và cho thấy sự bén nhọn. 
Dĩ nhiên nhà nước phải long trọng tuyên bố sẽ không đi theo chế độ tù ngục hà khắc, hãi hùng của triều đại Nga hoàng. Qua lời đồng chí Vyshinsky thì sẽ cấm tuyệt sự trừng trị, hành hạ kéo dài. Không có nạn tuyệt đối im lặng, biệt giam, đi chơi theo hàng lối riêng rẽ. Không có cát-xô nữa. Chế độ mới nhằm 2 trọng tâm: một là huấn luyện cán bộ gác bên ngoài khám sẵn sàng ứng chiến, hai là tiếp tục thu trọn vẹn hệ thống nhà giam do chế độ cũ để lại. (Vẫn biết Cách mạng là thay đổi toàn diện nhưng đặc biệt riêng bộ phận khám đường không thể phá bỏ hết làm lại mới!). Cũng may mà Cách mạng không triệt hạ hết khám lớn, khám nhỏ. 
Vấn đề là đào thải danh từ. Khám đường, cải hối thất lạc hậu quá. Phải là trung tâm cô lập chính trị, để cô lập những kẻ bị coi như đối thủ ở địa hạt chính trị, không phải cần trừng phạt họ nhưng nên để những con người cách mạng lỗi thời đó ra ngoài đường tiến của xã hội mới. Do đó phải có những trung tâm cô lập dành riêng cho những đảng viên Xã hội Cách mạng, Dân chủ xã hội, vô chính phủ, có sẵn cả hệ thống tiếp nhận của chế độ cũ! 
Những kẻ cần cô lập vốn chẳng phải tù mới. Họ ở tù quen rồi và được đãi ngộ như tù chính trị cũng quen rồi! Họ quen có một khẩu phần chính trị, một chế độ chính trị mà quyền của họ Nga hoàng vẫn áp dụng và được Cách mạng công nhận. Một số quyền lợi được nêu ra như sau: mỗi ngày nửa gói thuốc lá, được mua sữa, phó-mát ngoài chợ, đi chơi thong thả ngoài sân, giám thị nói không phải đứng dậy nghe, nếu hai vợ chồng cùng bị nhốt thì phải nhốt chung xà lim, được đọc sách báo giữ bút giấy viết, đồ vặt cá nhân (kể cả kéo, dao cạo), một tháng 3 lần nhận thư gửi thư, 1 lần thân nhân vô thăm, đi lại dễ dàng giữa các phòng giam, cửa sổ không bít kín, đàn bà hộ sản được đưa ra ngoài 2 tháng trước. Và quan trọng nhất trong số quyền lợi của họ là quyền bầu cử ban đại diện để tạo tình đoàn kết và tiếp xúc với ban quản đốc. 
Tù chính trị nhất quyết bảo vệ tất cả quyền lợi của họ và nhà nước cũng cương quyết tước bỏ bằng hết. Trong vòng rào nhà tù cuộc chiến đấu gay gắt nhưng âm thầm diễn ra và kéo dài đến hai mươi năm: chẳng sử sách nào nói đến, chẳng có đại bác. Lâu lâu mới có loạt súng nhỏ, cửa kính bể, vừa đủ nghe. Những chuyện tranh đấu – thua thì nhiều mà được thì quá ít – của tù chính trị thảng hoặc mới lọt đến tai chúng ta. Không sách, truyện, hồi ký mà chỉ có dịp thì truyền miệng, do đó người chết thì chuyện tranh đấu trong tù cũng chết luôn. 
Chúng ta đã quen nghe chuyện xa chiến hoặc bom nguyên tử nổ nhưng đâu biết gì về ý nghĩa, tầm quan trọng của những cuộc tranh đấu vặt vãnh của những người đã mất tự do chỉ để đòi hỏi quyền tự do thông báo tin tức, đại diện tù phải được quyền liên lạc giữa các phòng giam. Nếu không được thì lén lút gõ vách, truyền miệng, thòng dây thả xuống. Phải can đảm thế nào mới dám chống lại cát-xô biệt giam, hay quản đốc Lubyanka bước vô nhất định không đứng dậy chớ. Năm 1926 có Anna G. và 1931 có Katya Olitskaya từng cứng đầu như trên: dĩ nhiên phải có một chầu đánh đập, riêng Katya còn bị cấm tắm, cấm rửa mặt. Nếu nằm xà lim cấm không cho nói chuyện thành tiếng thì năm 1925 hai cô Shura và Vera nhất định cất tiếng ca vang mấy bản tình ca, dù biết rằng sau đó bị gã quản đốc đánh đá, nắm tóc kéo từ xà lim xềnh xệch xuống cầu tiêu. Năm 1924 đám sinh viên bị nhét trên toa xe súc vật đưa đi đày cũng lên tiếng ca thách thức và sau đó bị cúp nước uống luôn. 
Đối với chúng ta những vụ chống đối đó đâu được coi như những tấm gương anh dũng? Chúng ta quá quen với những thứ anh dũng chiến trường, bay trong không gian hay lách cách những mề đay, trong khi lòng anh dũng của người dân mới là thứ xã hội này cần và chúng ta không có. 
Năm 1923 ở khám Vyatka có vụ tẩm dầu hôi tự thiêu tập thể của Struzhinsky và các đồng chí. Họ đóng chặt cửa xà lim chịu chết cháy, nhưng họ là ai, bao nhiêu người và tại sao, thì ai biết nổi? Không nói thời tiền cách mạng mà ngay thịnh thời của Schlusselburg một vụ chống đối rùng rợn như vậy sẽ rúng động cả nước Nga. Không thể rơi vào quên lãng được! Nhưng Vyatka là “Trung tâm cô lập chính trị” mà! 
Quần đảo Solovetsky là trung tâm cô lập lý tưởng. Sáu tháng băng giá mùa đông thì tuyệt đối cắt đứt hẳn liên lạc với thế giới bên ngoài, nên năm 1923 các đảng viên Xã hội bị đày ra đó, chia ra ba nhóm ở ba trại trước kia là tu viện. Trại Savvatyevsky gồm hai toà nhà trước kia dành cho khách thập phương lưu ngụ: mấy tháng đầu các phạm nhân còn được hưởng chế độ đặc biệt, vài thân nhân ra thăm còn được, còn được cử 3 đại diện cho 3 nhóm chính trị, bên trong trại còn được đi lại, chuyện trò. 
Ít lâu sau đã có nguồn tin cầu tiêu cho hay chế độ đặc biệt sắp hủy bỏ. Quả nhiên giữa tháng 12 băng đóng cứng mặt Bạch Hải, đường giao thông duy nhất bị cắt đứt thì Tổng Quản đốc Eichmans mới thông báo chỉ thị mới. Dĩ nhiên không có vấn đề nhất loạt bãi bỏ tất cả quyền lợi chính trị phạm. Mới cầm viết thư, nhận thư và giới hạn đi lại bên trong trại thôi! Kể từ ngày 20 tháng 12 từ 6 giờ chiều là không được ra khỏi xà lim. 
Để chống lại, 2 nhóm Cách mạng Xã hội và Vô chính phủ kêu gọi anh em tình nguyện, đợi đúng 6 giờ chiều ngày cấm đầu tiên thử bước ra sân trại coi phản ứng của nhà tù ra sao. Phản ứng có liền, tới trước 6 giờ! Không đợi đúng giờ, Nogtyev quản đốc trại Savvatyevsky đã ra lệnh cho lính canh xông vô sân trại nã súng vào đám người chưa vô xà lim. Ba loạt đạn 6 phạm nhân chết tại chỗ, 3 bị thương nặng. 
Sáng hôm sau Tổng Quản đốc Eichmans vô trại trấn an, giải thích tất cả chỉ là một hiểu lầm đáng tiếc (có thể vì đồng hồ chạy lẹ!). Tuy nhiên Nogtyev bị thuyên chuyển tức khắc và các nạn nhân sẽ được tổ chức mai táng trọng thể. Sáu nạn nhân được chôn trong nấm mộ tập thể và đây là lần cuối cùng Bài ca tiễn bạn tù thảm tử được phép cất lên giữa vùng băng tuyết chập chùng đảo Solovetsky. Tuy nhiên một gốc phong lớn được dựng lên với họ tên 6 người bất hạnh khắc sâu vào lòng gỗ thay vì bia mộ không thọ được hơn một năm! Năm 1925 nó đã bị quật xuống, vùi sâu lòng đất đến không còn mảy may di tích. 
Một vụ hạ sát phạm nhân trắng trợn cỡ đó báo chí lờ đi sao nổi? Có tờ Pravda đăng mấy hàng chữ nhỏ li ti là tù tấn công toán lính hộ tống, 6 kẻ bị bắn chết. Tờ Rote Fahne trung thực hơn, loan báo Tù nổi loạn ở Solovetsky. Bằng chứng cụ thể duy nhất là những tờ y chứng của các nạn nhân có Yuri Podbelsky giữ được tính sau này sẽ công bố nhưng chẳng may đã nhét giấu trong chiếc va-li 2 vỏ mà còn bị lính xé ra một năm sau, lúc bị lục lọi ở khám tạm Sverdlovsk. 
Tuy nhiên 6 mạng người hy sinh không oan. Ít nhất suốt một năm chế độ đặc biệt vẫn được duy trì. Tháng 12 năm 1924 lại có tin cúp bớt nên cả 3 trại đồng tình chuẩn bị chống đối: 3 trại trên 3 đảo Savvatyevsky, Troitsky, Muksalmsky sự liên lạc cực kỳ khó khăn nhưng vẫn ước hẹn nhau được đồng thời phát động tranh đấu, gởi tối hậu thư lên Bộ Chỉ huy Solovetsky và về Mạc Tư Khoa để yêu cầu: một là được đưa về đất liền trước khi băng đóng cứng mặt hồ, hai là duy trì toàn vẹn chế độ đặc biệt. Hạn định 2 tuần lễ, nếu không toàn thể phạm nhân 3 trại Solovetsky sẽ tuyệt thực. 
Còn một ngày nữa hết hạn. Tổng Quản đốc Eichmans đi từng trại thông báo Trung ương bác bỏ. Cuộc tuyệt thực khởi sự ở cả 3 trại, tất cả đều từ chối thực phẩm, chỉ uống nước. Hàng ngày có bác sĩ (trong đám phạm nhân) theo dõi để những người bệnh khỏi phải tuân hành quyết định chung. Tuyệt thực tập thể khó ở chỗ tình trạng sức khoẻ, sức chịu đựng mỗi người mỗi khác, tất cả đều phải nương nhau, canh nhau để giữ vững tinh thần đến phút chót. Huống hồ cả mấy trăm con người, không cùng một Đảng nên qua ngày thứ 15 trại Savvatyevsky đã phải bỏ phiếu kín để quyết định nên tiếp tục hay tạm ngưng tuyệt thực. 
Trong khi đó Eichmans và nhà nước cũng làm lơ: báo chí Mạc Tư Khoa đâu dám hó hé, sinh viên đâu dám biểu tình yểm trợ. Tất cả đều im lặng, cúi đầu im lặng. 
Cuộc tuyệt thực Solovetsky đình chỉ. Không thắng nhưng cũng không bại, Chế độ đặc biệt vẫn còn, tù chỉ phải tự vào rừng kiếm củi sưởi mùa đông. Mùa xuân năm 1925 mọi người hân hoan vì có lệnh được di chuyển về đất liền hết. Cuộc di chuyển quá gay go, khổ cực nhưng ít nhất cũng còn gần gũi quê hương, khỏi phải thức trắng đêm Bắc cực, khỏi 1 năm 6 tháng hoàn toàn cô lập. Tù Solovetsky đã tưởng đâu thoát nạn cho đến khi ban đại diện bị tách rời khỏi các anh em: họ đều được mời lên toa xe trên, đầy đủ phương tiện hơn. Đến ga Vyatka toa xe đại diện được tách rời ra, đi theo công voa về Tobolsk còn toàn thể phạm nhân như “rắn mất đầu” được tiếp tục chở tới “khánh thành” trung tâm Verknhe – Uralsk vừa được trang bị lại. Để áp đảo tinh thần đám tù Solovetsky ngỡ ngàng vì mất thành phần lãnh đạo nhà nước đặc cử 2 cán bộ “thứ dữ” Yagoda và Katanya. 
Đến đây họ mới trắng mắt ra: cuộc tuyệt thực tưởng thắng phần nào bỗng là cả một thảm bại! Ở Verknhe Uralsk chế độ đặc biệt bỗng mất hết. Quyền lợi duy nhất còn sót lại là đề cử ban đại diện thì chính ban đại diện cũng bị hạn chế lại giữa các phòng. Biện pháp chống đối còn có thể làm được là hò hét thì bị lính canh át đi bằng súng! Chớ nghĩ tới phá hoại, đập bể đổ nhà lao: phá hư cái gì mất luôn cái đó, đập bể cửa kính thì mùa đông tới tha hồ chết rét! 
Theo nhân chứng Pyotr P. Rubin thì năm 1928 tù Verknhe Uralsk ráng vùng lên bằng một đợt tuyệt thực như mấy năm trước ở Solovetsky. Toàn trại tham gia nhưng tinh thần yếu hẳn. Được mấy hôm thình lình từng toán lính canh xông vô “hạ” từng xà lim một. Đám tù mấy ngày nhịn ăn sắp lả được ăn gậy và giày bốt no nê đến chết ngất hết! Cuộc tuyệt thực chấm dứt luôn và Verknhe Uralsk nổi danh địa ngục từ ngày đó!°

Thì ra võ khí tuyệt thực lỗi thời rồi. Đe doạ nhịn ăn đến chết thực sự chỉ có ảnh hưởng nếu Ban Quản đốc nhà lao còn nhất điểm lương tâm hay còn sợ phản ứng của dư luận. Bọn cai ngục Verknhe Uralsk đâu có ngây thơ, khờ khạo như các đấng tiền bối thời Nga hoàng, thấy tù tuyên bố tuyệt thực là bồn chồn, bấn loạn rồi coi như vấn đề quan trọng, nào canh chừng nào săn sóc. 
Ngày xưa nhà cách mạng Valentino tuyệt thực 12 ngày, cuộc điều tra phải ngưng tức thời. Năm 1912-1913 mỗi đợt tuyệt thực của tù khổ sai Orel là một lần nới lỏng chế độ nhà tù. Năm 1914, Dzerzhinsky và 4 đồng chí nhịn ăn nhịn uống 5 ngày là bao nhiêu yêu sách được thoả mãn đủ. Hồi đó tù nhịn ăn chỉ sợ đói chớ đâu còn sợ gì nữa. Đâu sợ bị đánh đập, tra tấn hay chồng án, tăng án, hoặc bắn bỏ, đưa đi đày chỗ khác. 
Thời kỳ sau Cách mạng 1905 tù còn nắm vững tình hình hơn nhiều. Chống đối thì đập phá vật dụng nhà lao cho hả rồi mới phát động tranh đấu sau! Năm 1906 ở khám đường thị xã Nikolayev 197 phạm nhân tranh đấu tuyệt thực, thò đầu ra cửa sổ ca hát rầm rầm. Dân thị xã kéo tới trước khám cổ võ, yểm trợ công khai, làm dữ với ban quản đốc nên qua ngày thứ 9 nhà nước phải nhượng bộ. Ở Odessa, ở Kherson, ở Yelizavetgrad, bao nhiêu cuộc tuyệt thực là bằng ấy lần đại thắng. Nó là võ khi sắc bén, hữu hiệu của tập thể mất tự do. 
Sau Cách mạng 1917 võ khí tuyệt thực gần như bị phạm nhân bỏ quên. Qua thập niên 1920 nó bỗng hết bén nhọn để trở thành một mũi tên cùn đầu, như bị một bàn tay thép phạt ngang. 
Muốn tranh đấu tuyệt thực trên nguyên tắc vẫn được chớ. Nhưng coi chừng luật lệ mới ấn định kẻ tuyệt thực phải biệt giam, tuyệt đối cấm tiếp xúc, ít nhất nhà tù cũng có quyền kiểm soát xem có tuyệt thực thật sự, hay chỉ đòi hỏi làm nũng, vẫn được tiếp xúc lén chớ. Do đó nếu ở khám Byturki sẽ được “lên chòi” Pugachev ngay. Kẻ tuyệt thực không có quyền gây xúc động quần chúng: không cứ công chúng ở ngoài đời, mà tù ở phòng kế bên hay nhốt cùng một xà lim cũng là quần chúng! 
Từ thập niên 1930 thì quyền tuyệt thực bị chính thức bôi sổ. Một phạm nhân “có hạng” như Yekaterina Olitskaya đâu chịu nhượng bộ dễ dàng. Nằm cát-xô biệt giam đúng 15 ngày đến ngất ngư mới được đưa xuống nhà thuốc và bị nhử bằng sữa tươi, bánh bích quy. Oltitskaya cương quyết nhịn đói: sang ngày thứ 19 mới được nhà tù nhượng bộ, cho phép nhận đồ tiếp tế. 
Đấy là trường hợp cá nhân, tuyệt thực chỉ để đòi hỏi một quyền lợi cá nhân tầm thường, hợp pháp! Thiếu gì người ăn vạ tới 20 ngày, nguy hiểm đến cả sinh mạng chỉ để đòi hỏi một gói đồ tiếp tế, hay quyền được đi ra ngoài sân hóng mát. Tín đồ Koloskov cũng chỉ vì những đòi hỏi nhỏ mọn tương tự mà nhịn ăn hết ngày thứ 25 và sau đó hết sống luôn! 
Chính vì để ngăn ngừa những trường hợp Koloskov mà các quản đốc khám đường đều được học tập chỉ thị chống tuyệt thực, với những phương pháp sau: 
Kiên nhẫn đối phó (sự lơ là, bỏ rơi như đã thuật ở trên) 
Cô lập tuyệt đối: Không gì thất vọng cho một kẻ tuyệt thực bằng bị bưng bít, có chết cũng không ai hay biết. 
“Bơm” thực phẩm, bó buộc nuốt: Có những trường hợp không thể để cho nạn nhân được quyền nhịn đói đến chết, do đó, bắt buộc hắn phải tiếp nhận thực phẩm, rút kinh nghiệm “bơm” đồ ăn cho gia súc bệnh. Từ 1937, phương pháp “bơm” sử dụng rộng rãi nhưng vẫn thường xuyên bí mật. Hồi các đảng viên Xã hội tuyệt thực tập thể ở khám Yarolav bất cứ kẻ nào nhịn qua ngày thứ 15 là phải “bơm” thức ăn lỏng. 
Nếu hiếp dâm là bị xúc phạm về trinh tiết thì “bơm thực phẩm” nhằm bẻ gãy ý chí: “Mày không muốn ăn để được chết thì tụi tao phải tìm đủ cách tống thức ăn vô cho mày không được chết“. Một dụng cụ được dùng để nạy hàm răng ra, giữ chặt. Một đầu ống sẽ được đẩy vô cuống họng. “Nuốt!”. Nếu không nuốt sẽ tống sâu xuống thực quản. Thực phẩm đổ vô không có cách chối bỏ. Để đề phòng mửa ra, dạ dày sẽ được thoa bóp. Nó sẽ sung sướng tiêu thụ luôn chớ đâu có tuyệt thực. Ngoài ra còn có cách bơm đằng hậu môn, nhỏ vô lỗ mũi. 
Đe doạ chống án: Đối với nhà nước cách mạng, bất cứ hoạt động nào cản trở guồng máy chạy đều đặn đều bị coi là phản động. Trong tù còn phản động ắt phải nặng thêm, án nặng thì chồng án nữa. 
Từ giữa 1957 trở đi có chỉ thị rõ ràng: Xét vì tuyệt thực là một hành động bất hợp pháp, phản động nên ban quản đốc không chịu trách nhiệm về những trường hợp chết vì tuyệt thực. Để bảo vệ các điều tra viên, thời gian tuyệt thực không được kể. Thế là hết, dọn chết bằng sự nhịn ăn từ nay chỉ thiệt vào thân: nhà tù vô trách nhiệm mà ông điều tra viên cũng vô trách nhiệm luôn. 
Arnold Rappoport đang tuyệt thực để phản đối điều tra viên trong khám Archangel thì có chỉ thị trên. Ông ta quyết làm mạnh, không đụng tới giọt nước trong 13 ngày liền ở cát-xô biệt giam. Không có bác sĩ coi sóc, một y tá lâu lâu ngó qua. Không ai buồn hỏi lý do tuyệt thực mà coi như không hay biết. Nhà lao chỉ ra lệnh cũ soát cát-xô thiệt kỹ, lòi ra mớ thuốc rê, ít cây quẹt! Arnold chuẩn bị tuyệt thực từ lâu, giảm dần khẩu phần và 1 tuần lễ chỉ ăn sơ sài mấy món nhẹ nên cơ thể mới tập quen lần. Ngày thứ 13 tưởng có thể nhìn xuyên gan bàn tay nhưng đầu óc nhẹ nhàng tỉnh táo. Chừng được 1 tuần nữa thì giám thị thương hại rỉ tai: “Đừng dại chết chỉ uổng mạng. Tốp ngay đi. Sao không nhịn trước khi có chỉ thị?”. Arnold hiểu ngay tuyệt thực tối vô ích nên chịu ăn trở lại và được nhà lao đãi săng-úych, rượu cá, khiêng cáng trả về xà lim chung. 
Mấy bữa sau cuộc thẩm vấn lại tiếp diễn nhưng ông điều tra viên hết dám hành hạ vì biết can phạm sẵn sàng chết thực. “Phải vậy mới coi được chớ. Đáng mặt chó sói”. Arnold bèn cảm ơn: “Không dám! Nhưng làm chó thì không đời nào!”. 
Arnold Rappoport sau này còn biểu diễn một màn tuyệt thực ở khám tạm Kotlas, đòi hỏi thẩm cung lại, không chịu lên xe, nhưng thất bại một cách hài hước! Nhịn ăn sang ngày thứ 3, lính gác vô hối: “Sửa soạn lên xe” thì ông ta phản đối: “Mấy ông không có quyền. Tôi đang tuyệt thực!” Miễn giải thích, 4 đứa xông lại liệng Arnold vô bồn tắm, xách cổ ra trạm gác. Thấy “tranh đấu” không xong ông ta bèn ríu ríu sắp hàng lên xe. Vả lại sau lưng còn có lưỡi lê và bầy chó trận!

Có lẽ sau Arnold Rappoport mốt tranh đấu tuyệt thực kiểu tiểu tư sản 3 không doạ nổi nhà nước Cách mạng! Cứng đầu đến mấy cũng chỉ có thể tranh đấu bằng cách tự hủy mình. Nhưng tự sát là chống đối hay chỉ là đầu hàng tiêu cực? Dù có bị nhốt chung một khám, các đảng viên Cộng sản và phe Trotskyite vẫn không chịu ủng hộ chiến thuật tuyệt thực. Họ còn làm suy yếu đi vì lúc nào cũng sẵn sàng tuyệt thực mà bỏ cuộc cũng quá dễ. Như L.N. Smirnov, một thủ lãnh phe Trotskyite tuyên bố tuyệt thực trước khi ra toà Mạc Tư Khoa nhưng vừa vặn được 4 ngày! 
Bản chất quá bén nhạy của họ là vậy. Thời nào nước nào chẳng có những phần tử tương tự? Nhưng chống tuyệt thực đắc lực nhất chỉ có chế độ Xô Viết, xét vì nơi đây dư luận quần chúng chỉ là một con zê-rô. Chế độ ngục tù được thể càng xiết mạnh thì tuyệt thực là thảm bại! Thời gian qua, võ khí tuyệt thực bị quên luôn, chẳng ai dám liều. Với đám cai ngục nhắc đến tuyệt thực là cả một sự ngu ngốc. 
Cuối cùng, năm 1960 tù thường phạm Gensdy Smerlov tuyên bố tuyệt thực dài hạn trong khám lớn Leningrad. Tình cờ ông Công tố ghé ngang xà lim hỏi: 
“Tự hành hạ mình để làm gì?” 
Có lẽ quá ngạc nhiên vì câu trả lời ngớ ngẩn: “Với tôi Công lý quý hơn sinh mạng” nên ngay sáng hôm sau “người của Công lý” Smelov được đưa đi nhà thương – nhà thương điên Leningrad!

Kể từ 1937 đầu gai bắt đầu nhọn hoắt, các khám đường bắt đầu tên mới “Trại cô lập đặc biệt”. Những gì gọi là nhược điểm còn lại được thanh toán dứt khoát. Tù chính trị đa số là đảng viên Xã hội cũng hiếm dần và mệt mỏi cùng độ. Vụ tuyệt thực đầu năm 1937 ở Trại Cô lập Yarolav là một cố gắng vùng lên giờ chót. Họ cũng đòi hỏi tái lập chế độ đặc biệt (đại khái bầu cử đại diện, tự do đi lại giữa các phòng,) nhưng thực sự chẳng hy vọng bao nhiêu. 
Qua ngày nhịn ăn thứ 15 thì được bơm cháo vô bao tử và tạm thời cũng đạt được phần nào mục tiêu: mỗi ngày đi dạo 1 giờ, được coi báo địa phương, được giữ giấy bút. Ngược lại Ban Quản đốc Trại tịch thu quần áo, bắt buộc phải mặc đồ tù. Thế rồi giờ đi dạo rút xuống nửa giờ, rồi 15 phút. Cũng đành chịu. Họ là những tù cũ, phần đông đang ở án 10 năm, 15 năm. Có người từng tranh đấu chống chế độ tù đày từ thời tiền Cách mạng và từng nếm mùi chiến thắng. Họ tranh đấu cốt để nới rộng chế độ ngục tù, nhưng giờ đây chế độ càng khắc nghiệt, bóp nghẹt dần mà họ càng suy yếu thêm, kể cả lớp đồng chí trẻ biết vô Đảng và hoạt động lén lút là thế nào cũng tàn đời trong ngục. 
Cuộc tranh đấu có quần chúng hưởng ứng đâu mà năm ấy sang năm khác không tàn rụi trong tẻ lạnh. Quần chúng im lặng, thản nhiên. Báo chí có nhắc đến “bọn Xã hội” thì cũng chỉ miệt thị và kêu gọi mạnh tay đào thải bọn mà Lãnh tụ đã liệt vào hạng đối thủ nguy hiểm nhất. Còn hy vọng gì ở đám quần chúng lâu nay không thèm tín nhiệm bầu cho người của Đảng một lá phiếu vào Quốc hội? Sau cùng báo chí cũng không thèm nhắc nhở đến đám người bất lực, bỏ đi, có cũng như không. 
Đối với quần chúng còn tự do ở ngoài đời thì bọn đảng viên Xã hội Nga là một thứ cũ mèm, thuộc hẳn về quá khứ. Lớp trẻ không ngờ còn sống sót bọn Men-xơ-vích, bọn Cách mạng Xã hội! Trong khi đó họ run rẩy nằm xà lim các trại Cải tạo, các trại Cô lập. Họ nằm suy nghĩ trong bóng tối, sau lớp cửa sổ “đóng nút” bít bùng. Tại chủ trương sai, lãnh tụ dở? Tại chiến lược, chiến thuật hỏng, và hành động cũng sai lạc? Rút cục chẳng được gì, cũng bất động nằm đây và kể như tàn đời. 
Nhưng dù sao ở trong tù họ cũng đã tranh đấu. Dĩ nhiên họ tranh đấu cho chúng ta, cho những người có thể bị tù. Để cho ta thấy ở tù phải như thế nào và nhà tù phải đối xử như thế nào. Phải chi họ chiến thắng thì mọi sự đã khác hẳn, và chẳng cần viết Quần đảo ngục tù làm gì! 
Họ thất bại. Họ bị đánh bại nên chẳng bảo vệ được thân, chẳng làm gì được cho ta. 
Phe Xã hội đã bị bao vây trong ngục tù nhưng họ trót nhận nhãn hiệu GPU khoác cho là “chính trị phạm” để tự tách rời ra, không chịu đứng chung với những bọn mà GPU cũng cho là hữu phái, Đảng viên Dân chủ Lập hiến chẳng hạn là hữu phái, là bọn KR coi là “chính trị phạm”! Cũng không thể coi là “chính trị phạm” bọn tù vì lý do tôn giáo, bọn không có lập trường tả hữu. Chính vì sự cố tình tách rời, không chịu hoà đồng với các nhóm hữu phái mà phe Xã hội đã vô hình trung “bật đèn xanh” cho Điều 58 Hình Luật sau này mà chính bọn họ cũng bị nghiến nát luôn. 
Do đó ngay trong tù đã có hố sâu ngăn cách các “chính trị phạm” và bọn phản cách mạng. Cùng đau khổ ở Solovetsky mà các “chính trị phạm” Xã hội có coi dân KR ra gì. Dĩ nhiên với bọn KR thì các đấng “chính trị phạm” bất quá chỉ là một đám ô hợp, chia bè phái, chỉ lớn họng đòi “chế độ đặc biệt” cãi cọ vì quyền lợi riêng trong khi cả đại khối đói khổ. Không hiểu sao dưới thời Nga hoàng phe Xã hội tranh đấu mạnh thế mà dưới chế độ Xô Viết bọn họ lại mềm yếu, ngoan ngoãn đến thế! 
Với những thành phần mà Xã hội coi là tả phái tức các đảng viên Cộng sản là đảng viên Trotskyite thì đến lượt phe xã hội lại là một bọn phản cách mạng, cũng là KR như bất cứ nhóm KR nào khác! Cùng nhốt chung khám nhưng họ đứng tách rời hẳn ra, đứng trên hẳn. Họ còn oán ghét, uất hận và đổ tội lên đầu phe Xã hội, coi như nguồn gốc của mọi bất hạnh mà nhà tù có thể giáng lên đầu họ. 
Đó là đặc điểm của nhà tù dưới chế độ Xô Viết: dưới thời Nga hoàng các phe nhóm chính trị đoàn kết bao nhiêu thì nay phân tán, tự cô lập bấy nhiêu. Phe Trotskyite đứng biệt lập, không chịu đi chung với Cộng sản và Xã hội. Phe Cộng sản – những cán bộ bị nhà nước tống giam – hoàn toàn không tranh đấu. Không lẽ chống lại chế độ của mình, nhà tù của nhà nước? Nhưng ở các trung tâm cô lập cũng như khám giam dài hạn, tù nhân có Đảng vẫn bị đối xử nghiệt ngã, tệ hại hơn nhiều. Thông lệ tù Xã hội chỉ có án là xong, không cần phải dùng áp lực cũng sẵn sàng cung khai không giấu giếm quan điểm cá nhân. Tù Cộng sản không quan điểm cá nhân, nhà nước muốn bắt họ nhận tội không còn cách nào khác hơn là phải làm cho bật ra bằng được bản án tự thú.

Xin lưu ý điều này: mặc dù hệ thống trại cải tạo đã mọc lên như nấm khắp nước nhưng các khám giam tù dài hạn vẫn tồn tại nguyên vẹn, với đầy đủ truyền thống tù ngục. Hệ thống quần đảo có đóng góp nhiều và thật giá trị cho việc giáo dục quần chúng nhưng chưa đủ. Phải có hệ thống TON – những khám đường đặc biệt bổ túc. 
Có phải bất cứ ai bị cuốn vào guồng máy Nội An khổng lồ cũng làm dân quần đảo được đâu? Dân ngoại quốc nhiều người biết, những công dân Xô Viết có tên tuổi, những người cần giam kín không thể để cho ai thấy, nhân viên An ninh, Mật vụ bị sa thải không thể để xuất hiện sờ sờ. Để ló mặt ra dám ảnh hưởng tai hại cho chế độ! Cũng phải tách rời bọn đảng viên Xã hội đầu não, luôn miệng đòi hỏi chế độ đặc biệt. Khoảng thập niên 1950 các khám đường đặc biệt còn tiếp nhận những thành phần có thể xách động trong quần đảo, bọn tù tư pháp thứ trộm cắp cứng đầu không cải huấn nổi. Có những người lãnh án đi trại Cải tạo nhưng vẫn vô tù đặc biệt. Thể chất quá yếu, chưa lao động đã bỏ thây trong đảo là thoát khỏi phải trả nợ tù tội dễ đến thế sao? Nhà nước đành phải tống vô hệ thống TON nuôi báo cô vậy! Trường hợp vô quần đảo mà không lao động được, bọn vô tích sự cũng bị đưa vô hệ thống TON. Chẳng hạn lão xẩm mù Kopeilin 70 tuổi ngày ngày ưa ngồi giữa chợ Yuryevets bên sông Volga hát nhảm cũng lãnh 10 năm cải tạo vì tội KRD. Một lão mù, già nua như vậy thì đóng góp được gì cho trại Cải tạo mà đưa đi? 
Hồi đó tất cả các khám đường cũ thừa hưởng của triều đại Romanov đều được nhà nước canh tân, trùng tu lại để tổ chức thật chu đáo, chặt chẽ. Chẳng hạn khám lớn Yaroslav xây kiểu xưa thật kiên cố (cửa lớn như bọc thép, trong xà lim cái gì cũng đóng cứng xuống sàn) chỉ phải cải sửa nhẹ nhàng: cửa sổ làm thêm “nút đậy” bít bùng, dựng hàng rào chia lô sân chơi, dẹp cây cối vườn cỏ để tráng nhựa hết. Mấy tu viện cũ phải chỉnh trang lại cho thích hợp công dụng mới, trang bị “chuyên môn” là đủ. Xét ra công tác cải biến cũng không tốn kém vì tu viện là nơi tự hãm mình và nhà tù để giam người thì kiến trúc đại khái cũng như nhau. 
Một số ngục dữ của chế độ Nga hoàng phải dùng làm chứng tích thời đại cho du khách vô coi (như nhà ngục pháo đài Leningrad hay ngục Schlusselburg kế bên) thì để bù lại phải nới rộng những khám lớn cũ – như khám Vladimir – chỉnh trang thêm. Phải có đủ diện tích và tiện nghi để sẵn sàng tiếp nhận số phạm nhân gia tăng trong nhiều năm tới. Cùng với Tobolsk, phải có Verknhe Uralsk, Aleksandrovsk, nếu khám Orel bị hư hại nhiều vì Đệ nhị Thế chiến thì phải có khám Dmitrovsk Orlovsky khang trang, tối tân và kiên cố hơn.

Xét về phương diện thực phẩm thì thập niên 1920 tương đối dễ chịu đối với “chính trị phạm”: bữa trưa còn có ít thịt, rau tươi, sữa còn mua được dưới Câu lạc bộ. Thời kỳ 1931-1933 khẩu phần chính trị phạm cũng sút dần: thiếu máu, chóng mặt là bệnh quá thường. Phạm nhân Korneyev ở khám đặc biệt Vladimir năm 1947 cả ngày kêu đói: 450 gam bánh mì, 2 viên đường, 2 đĩa “súp” vơi vơi. Chỉ có một thứ được xài không giới hạn là nước sôi. Tuy nhiên tù còn được ăn vậy là khá, dân ở ngoài còn chết đói mà. Những năm tương tự, nhà nước cho phép thân nhân gởi đồ tiếp tế thả giàn. Miễn có để mà gởi. 
Chế độ nhà tù Xô Viết ánh sáng cũng giới hạn. Những năm 1930-1940 xà lim nào cũng chỉ sáng lờ mờ vì hệ thống “nút chặn” cửa sổ, cửa kính đục, giàn lưới thép gài phía ngoài. Phải tối tăm tù mới xuống tinh thần! Đọc sách báo chỉ tổ hại mắt. Nhưng đêm đến lại khác! Đèn điện phải chong sáng trưng, chói chang suốt đêm. 
Ánh sáng đã vậy thì không khí cũng giới hạn luôn. Theo thông lệ những ô cửa sổ chỉ mở một phần, chỉ trong lúc tù đi làm vệ sinh. Đi dạo thì mỗi nhà tù mỗi khác: từ 15 tới 45 phút. Đất không được đụng tới, khỏi có vấn đề trồng cây, làm vườn. Mọi sự thăm viếng của thân nhân bãi bỏ từ 1937, cho đến bây giờ vẫn chưa được phép. Về thư từ thì một tháng hai lần có thể viết thư ra cho những người ruột thịt nhưng nhận thư thì có khi hàng năm không có 1 cái. Ở Kazan có lệ thư nhà gởi tới sau khi đọc phải nộp cho Ban Quản đốc trong ngày hôm sau. 
Thông thường người nhà vẫn được phép gởi tiền và tù có thể dùng tiền đó mua thực phẩm, đồ thực dụng ở Câu lạc bộ. Dĩ nhiên vấn đề có chút đồ đạc trong xà lim là hãn hữu. Ở Suzdal nữ phạm nhân Adamova kể như có phước lớn mới có nổi một giường cây và một bàn cây nho nhỏ. Các xà lim khác đồng loạt ghế sắt xếp vô vách và bàn chôn chân cứng dưới sàn! 
Korneyev phân biệt 2 giai đoạn ở khám đặc biệt Vladimir: năm 1947-1948 còn được xài đồ riêng, ban ngày có quyền ngả lưng và ít khi lính gác nhòm lỗ khoá. Giai đoạn 1949-1953 thì xà lim hai khoá, giám thị và trưởng khu mỗi người giữ một. Cấm nằm ban ngày, cấm nói chuyện thành tiếng. Nệm nhà lao phát, cấm giữ đồ riêng. Mỗi năm được phép viết thư 2 lần, mảnh giấy bằng nửa tấm bưu phiếu mà chỉ thông báo trước 1 ngày, không kịp viết là bỏ luôn. Xà lim bị lục xét hoài, tù phải đứng sắp hàng, lột trần truồng để tra xét. Mọi sự đi lại, thư từ giữa các phòng giam cấm triệt để đến nỗi mỗi phòng đi cầu một giờ riêng và sau đó lính gác xách đèn vô rọi kỹ cầu tiêu để phát giác “thông điệp” mật. Viết bậy lên vách nhà cầu và cả xà lim đi nằm cát-xô. 
Chế độ “nằm cát-xô” sử dụng tối đa ở các khám đặc biệt thuộc hệ thống TON. Ho lớn có thể bị. Tại sao không trùm mền rồi ho sau? Đi lại trong phòng cũng cấm. Bộ tính sắp đặt chống đối? Đi giày lẹp kẹp cũng cấm. Ở Kazan tù đàn bà bị phát giày đàn ông ráng chịu, coi chừng mà đi. 
Theo Ginzburg thì không phải phạm lỗi mà tù đi cát-xô đúng kế hoạch lần lượt tống cát-xô bằng hết để mỗi người đều có dịp nếm mùi vị biệt giam. Đau khổ nhất là vô kỷ luật còn bị dộng thêm 20 ngày cát-xô nữa. Thế nào là vô kỷ luật? Kozynev chỉ đi lại trong cát-xô cũng bị phạt thêm 5 ngày! 
Cố nhiên nằm cát-xô là phải trân mình chịu lạnh. Phải cởi giày, mặc đồ lót và nằm bệt trên sàn nhà có bụi có đất có sình và vũng nước nữa! May mắn cát-xô Kazyrev có chiếc ghế đẩu. Mới đầu đêm về lạnh cóng người, lúc nào cũng tưởng sắp chết rét đến nơi. Cố mãi mới học được phép ngủ ngồi trên ghế đẩu và tự nhiên thấy nảy nở một sức chống đối nội tâm. Mỗi ngày 3 ca nước nóng và 1 lần phát bánh mì: cỡ trên dưới 300 gam. Có ông giám thị tử tế còn kẹp “bất hợp pháp” cho 1 viên đường. May quá, đếm bánh mì thấy bản án thêm 5 ngày vừa dứt. 
Kinh nghiệm quá nên biết mình đã mãn hạn phạt, Kozyrev cố lặng thinh. Tai rất thính, rõ ràng nghe họ bảo nhau “ngày thứ 6 hay số 6” gì ở ngoài cửa cát-xô nhưng tuyệt đối không lên tiếng. Dại dột hỏi: “Sao qua ngày thứ 6 rồi, các ông chưa cho tôi ra?” là bị khép ngay vào tội vô kỷ luật. Bất mãn, phản đối hả? 
Quả nhiên cứ ngoan ngoãn, bình tĩnh ngồi đợi thì có người mở cửa cho ra. Theo Kozyrev đây là một biện pháp để đo thật chính xác sự khuất phục của phạm nhân, coi đã “vô khuôn khổ” tức cong lưng đến mức độ nào, xét vì so với cảnh biệt giam trong cát-xô thì được giam chung ngoài xà lim quả là thiên đường. 
Sau chầu cát-xô tai Kozyrev bị điếc đặc tới nửa năm lại thêm chứng nổi mụn cuống họng. Gã bạn đồng xà lim chỉ vì cát-xô nhiều quá hoá điên cho nên hắn bị nhốt chung với 1 thằng khùng trên một năm liền. So với hệ thống TON thì ngục dữ Schlusselburg thời Nga hoàng có 3 thằng điên đã ăn nhằm gì! 
Khi phạm nhân đã chịu khuất phục tới cỡ Kozyrev thì phải hiểu là mũi gai tù ngục đã dần dà được mài nhọn tới mức tối đa. Đầu gai đằng kia có nghĩa lý gì, phải không? 
Không hẳn vậy, mỗi người quan niệm một khác. Thiếu gì dân trại Cải tạo được về nằm khám đặc biệt lấy làm sung sướng như đi nghỉ mát. Như Vladimir B. Zeldovich ở trại Abez và Anna P. Skripnikova ở trại Kemerovo được chuyển về khám đặc biệt Vladimir năm 1956. Nữ phạm nhân Anna không ngờ ở đây còn được phép 10 ngày 1 lần làm đơn khiếu nại 4 còn có thư viện có cả sách ngoại quốc và lại cho coi danh sách cả năm trước. 
Luật lệ nước Nga vốn “cao su” ở chỗ nhiều nữ phạm nhân (có chồng tù) bị án tù, mà chỉ cần một lệnh ban ra cả ngàn con người bị đưa vô quần đảo cái một. Không cần xử lại, khỏi giải thích (nếu giải thích thì có thể nói trại Kolyma chưa khai thác vàng đủ số ấn định). Vì vậy khám đường thực sự chỉ là cửa ngõ để nhập trại.
Đến đây mới là phần quan trọng trong cuộc đời tù tội. Đang yên lành trong cuộc sống thường dân phút chốc mất tự do. Chịu đựng đủ mọi cực hình, bị tẩy sạch tất cả những gì còn bám víu trên người. Như một chậu nước sông bị khuấy động lên rồi đi từ từ cho lớp bùn đóng xuống đáy. 
Tay thằng tù chìa ra mân mê từng hòn đất ngoài vườn rau, vườn hoa. Giờ đây chẳng còn gì, ngoài nhựa đường! Hắn muốn ngẩng đầu lên, ngước nhìn Thượng Đế. Không được, cấm ngẩng. Phải cúi xuống! Hắn muốn lắng tai nghe một tiếng hót của loài chim nhỏ ngoài khung cửa sổ. Than ôi, cũng không được. Chỉ thấy bít bùng! Những lúc đầu óc tỉnh táo cũng muốn ghi nhận vài chữ trên tập giấy chớ. Còn ghi chép được là may mắn lắm, với điều kiện giấy vở phải bỏ tiền ra mua ở Câu lạc bộ và viết xong – ghi chép bất cứ cái gì – phải nạp cho Văn phòng Quản đốc nhà lao giữ gìn, giữ đến muôn đời. 
Nếu cuộc đời thằng tù nằm khám đặc biệt TON có thể ví như một chậu nước sông đục ngầu để bộ máy tù ngục dần dà làm công việc gạn đục khơi trong thì tinh thần hắn đã gạn lọc được thực sự, hay giản dị là hắn đã đánh mất luôn, không còn tinh thần nữa. Liệu còn giữ nổi tinh thần không? Đó câu hỏi vương vấn trong đầu óc thằng tù. Sáng dậy ngài mở mắt ra là thấy trước tiên cặp mắt ngơ ngáo, thất thần của thằng bạn khùng cùng xà lim thì không thể không tự hỏi đời mình sẽ ra sao, liệu rồi có thế này không.
Để giữ vững tinh thần, cho khỏi phát điên Nikolai Z. Kozyrev đã phải rèn luyện ý chí, luôn luôn hướng đầu óc vào điạ hạt chuyên môn. Là một nhà thiên văn trứ danh, Kozyrev không dám cho đầu óc nghỉ ngơi. Bắt nó phải suy nghĩ về vũ trụ, phải hướng về trăng sao, trời đất, phải lý luận về thời gian, ý nghĩa của thời gian. Đầu óc bận rộn hẳn khi quyết định bước sang địa hạt Vật lý mới toanh. Có vậy mới tồn tại được trong khám đặc biệt Dmitrovsk. 
Suy nghĩ, tính toán nhẩm mãi rồi cũng phải kẹt. Bao nhiêu con số dài đặc, bao nhiêu sự kiện mới chồng chất mỗi ngày đầu óc nào nhớ cho nổi? Phải có gì để ghi chép, phải lưu lại trên giấy tờ, phải có tài liệu tham khảo. Chao ôi, ngần ấy thứ lấy đâu ra trong cát-xô biệt giam trơ trụi, suốt đêm hơi đèn dầu hôi ngột ngạt và một con chim nhỏ bay không lọt này? Không còn cách nào hơn, Kozyrev tự nhiên quỳ xuống cầu nguyện: “Con đã làm hết sức mình. Cầu xin Thượng Đế cứu vớt con”. 
Vì tin tưởng nên cầu nguyện đó thôi. Hy vọng gì? Cỡ nửa giờ sau lính gác gõ cửa cát-xô. Đến lượt Kozyrev được quyền mượn sách, mỗi lần giữ mười ngày. Khốn nạn, thư viện nhà tù này có sách gì! Quanh quẩn vài cuốn tuyên truyền rẻ tiền, riêng tiểu thuyết Hoà tấu đỏ sẵn cả chục cuốn. Lính gác liệng vô là giữ lấy đọc chớ đâu có quyền lựa chọn. Có biết thư viện có những cuốn nào đâu. Nào ngờ Kozyrev bữa đó được liệng vô cuốn Vũ trụ Vật lý học. 
Thư viện nhà tù Dmitrovsk mà có cả Vũ trụ Vật lý học? Không thể ngờ nó nằm sẵn từ hồi nào và đúng lúc cần nhất thì nó nằm ngay trong lòng tay! Kozyrev sững sờ cầm cuốn sách, ngơ ngẩn nghĩ tới lời cầu nguyện. Thế rồi như bắt được vàng, Kozyrev vồ lấy đọc nghiến ngấu, vồ vập. Đọc đến đâu ghi nhận ngay trong óc, nhớ như in. Vừa duyệt lại mớ sự kiện mới nảy nở trong đầu, vừa lưu giữ lại để ứng dụng sau. Còn gì quý bằng? Hai ngày liền Kozyrev thả hồn vào cả một vũ trụ vật lý và sung sướng làm sao còn cả 8 ngày liền tha hồ nghiền ngẫm, sắp đặt! Đúng lúc đó tình cờ Quản đốc khám đi thanh tra, ghé ngang cát-xô. Cặp mắt cú vọ của hắn nhìn cuốn sách chằm chặp rồi ra lệnh: 
“Thằng cha này Thiên văn học mà? Đọc sách này không được! Tịch thu, đổi cho nó cuốn khác”. 
Thế là Kozyrev thẫn thờ nạp trả lại. Dịp may đến và đi hoàn toàn bất ngờ! Nhưng hai ngày đọc Vũ trụ Vật lý học cũng đủ để Kozyrev ôn lại toàn bộ lý thuyết mới để sau này tiếp tục khai triển thêm trong trại Cải tạo Norilsk. Trường hợp Kozyrev điển hình cuộc chiến đấu giằng co giữa tinh thần con người và song sắt nhà giam. 
Nhưng này, bữa nay có chuyện gì lạ mà nghe chừng phía ngoài xà lim xôn xao? Gã gác khám mở khoá sắt lách cách. Rồi đến ông trưởng khu hắc ám bước vô, tay cầm bản danh sách dài. Cuộc vấn đáp nhanh như máy kế tiếp, hết người này đến người khác, 
Nghe đây, tên gì, họ gì, lót chữ gì? Ngày sinh, nơi sinh? Tội gì? Án bao nhiêu, chừng nào mãn? Quần áo, đồ đạc có gìlấy ra đi, chuẩn bị lẹ, đi liền. 
Thế là đi. Lại đi. Chuyến đi, con tàu đang nằm chờ. Mà biết đi đâu đây? Lần này đi, biết có ngày về không? Trời đất ơi, có chắc gì! 
Nhưng bảo đi là đi. Còn sống được thì còn về. Về để tiếp nối Quần đảo ngục tù. Phần Một Kỹ Nghệ Ngục Tù đã qua rồi, thì bước sang Phần Hai: Đến Đi, Đi Đến miễn còn sống nổi.

——————————–

1Strakhovich vẫn còn giữ nguyên vẹn những bản thảo lý thuyết Cơ học ghi chép trong khám lớn Leningrad. Ở tù ra vẫn khai thác chúng khi được nhà nước giao công tác sáng chế loại động cơ phản lực đầu tiên của Liên Xô.
2Theo lời tự thuật của Krasilov (sau này ngồi ghế Công tố đã lên án tử hình Đức Tổng Giám mục Veniamin) thì chính hắn đã được đọc Tư bản luận ở trong tù. Tuy nhiên Krasikov chỉ bị giam đúng 1 năm là được phóng thích.
3Theo nhân chứng Cách mạng Xã hội Olitskaya thì các đảng viên Cộng sản Đệ Tam hay Đệ Tứ đều chống lại phương pháp tuyệt thực trong tù. Dưới thời Stalin, đảng viên Trotkyste nào cũng không chịu sử dụng đường lối nhịn ăn đến chết như các phe nhóm quốc gia.
4Do đó Anna Skripnikova mới nổi hứng, viết kháng thư gửi đến… Liên Hiệp Quốc!