Tránh vết xe đi trước

dongsongcu.wordpress.com

Bông Lau

Posted on February 21, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Aug 2025

Hình minh họa

Nhiều người đang bị lên cơn sốt về vụ đàm phán ngưng bắn ở Ukraine và suy diễn lung tung, kết luận chắc nịch là thế này thế kia vì cảm tính ghét hay thích. Trong khi đó cuộc đàm phán dự tính ở Saudi (Trung Đông) chưa diễn ra và không biết thỏa thuận của các phe sẽ là gì.

Hiện nay dựa theo các bản tin của các hãng thông tấn có uy tín như AP, BBC, CNN, Fox v.v… thì cựu Tướng Keith Kellogg của phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ nói rằng Ukraine sẽ được mời tham dự. Tuy nhiên tổng thống Volodymyr Zelensky của Ukraine cho biết vẫn chưa được mời nên họ không có chương trình gởi phái đoàn đi tham dự cuộc đàm phán.

Một chi tiết quan trọng khác là NATO vốn là đồng minh của Hoa Kỳ đã trực tiếp yểm trợ Ukraine, sẽ không được tham dự cuộc đàm phán.

Cần biết thêm là NATO đã giúp Ukraine rất nhiều trong 3 năm qua. Các căn cứ tiếp vận hậu cần cho Ukriane đã được thiết kế dọc theo biên thùy NATO. Các thiết bị hư hỏng hay bị phá hủy của Ukraine trên chiến trường được chở về lãnh địa của NATO để sửa chữa cấp thời rồi đưa ngay lại vào Ukraine. Không những vậy NATO đang bị Nga đe dọa trực tiếp, và nếu Ukraine thất thủ thì các quốc gia Đông Âu cũ như Ba Lan và vùng Baltic sẽ bị Liên Bang Nga trả thù đầu tiên.

NATO giúp Ukraine tích cực như chuyển giao máy bay chiến đấu F16 và chiến xa tối tân, trước cả Hoa Kỳ nữa. Binh sĩ NATO tham chiến đông đảo các chiến dịch chống khủng bố với binh sĩ Mỹ ở Trung Đông và Phi Châu. Nói NATO hay Âu Châu hèn nhát, nhu nhược là bị tuyên truyền, và không hiểu không thấy những gì NATO đã và đang làm cho Hoa Kỳ.

Vấn đề quan trọng ở đây vẫn chưa được xác định rõ ràng. Nếu Ukraine không được mời tham dự cuộc đàm phán ngưng bắn để đưa các điều kiện liên quan đến sự sống còn của dân tộc Ukraine, thì cuộc đàm phán chỉ thỏa mãn điều kiện của chính quyền Hoa Kỳ mà thôi.

Điều này làm người ta nhớ đến Việt Nam Cộng Hòa đã không được mời tham dự cuộc đàm phán giữa chính quyền Nixon với Hà Nội ở thập niên 70, và chính quyền Afghanistan cũng không được mời tham dự trong cuộc đàm phán ngưng bắn giữa chính quyền Trump với Taliban. Kết quả là hai quốc gia này đã bị thất thế và rơi vào tay kẻ thù của Mỹ. Cho nên Ukraine bắt buộc phải có mặt trong cuộc đàm phán chớ không phải chỉ cần thiết.

Ngoài ra nếu ký kết hiệp định ngưng bắn với Liên Bang Nga thì lấy gì để bảo đảm. Hiệp định ngưng bắn Paris năm 1973 ở Việt Nam, và hiệp định ngưng bắn với Taliban đều do chính quyền Hoa Kỳ ký kết và có được đối phương tôn trọng đâu?

Nhiệm kỳ của tổng thống Trump chỉ có 4 năm, còn nhà độc tài Vladimir Putin ngự trị trên ngai vàng chắc sẽ lâu hơn ngài Trump. Putin có đủ kiên nhẫn để chờ đợi khi tổng thống Trump về vườn. Và sau vài năm dưỡng quân, tái trang bị quân đội, Putin sẽ xé toạc hiệp định ngưng bắn như mớ giấy lộn mà hắn đã từng làm, như Hà Nội đã làm, như Taliban đã làm. Và Hoa Kỳ có trừng phạt gì cho ra hồn đâu, ngoài cấm vận lấy lệ năm mười năm rồi sau đó bình thường bang giao như không có gì đã xảy ra. Tin vào chữ ký ngưng bắn của KGB Putin là ngớ ngẩn.

Cái đáng tiếc là chính quyền Joe Biden đã quá ù lì chậm chạp và nhút nhát, không biết tranh thủ thời gian để viện trợ tối đa và nhanh chóng để Ukraine tiêu diệt quân xâm lược Nga càng nhiều càng tốt, nhằm đạt được hòa bình khi đối phương bị tê liệt không còn khả năng tiếp tục cuộc chiến. Ông Biden đã câu giờ quá lâu làm cuộc chiến kéo dài, gây mỏi mệt cho mọi người kể cả dân Mỹ.

Nhưng lịch sử không có chữ NẾU mà phải biết rút kinh nghiệm tránh vết xe đi trước của Việt Nam Cộng Hòa và Afghanistan.

BÔNG LAU 16.02.2025

Servant of the people (СЛУГА НАРОДУ)

doithoaionline.wordpress.com

bonglau-ThuyMyRFI

Posted on 23/07/2022 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 3 Aug 2025

Mỗi buổi chiều đi làm về, sau khi coi tin tức trên ti vi và ăn tối qua loa, là chúi đầu theo dõi tập phim “episode” có tựa đề “Đầy Tớ Nhân Dân”, trình chiếu từ 2015 – 2019. Phim này có thể thuê trên mạng Netflix. Phim nói tiếng Ukraine và phụ chú Anh ngữ.

Mới đầu chỉ muốn coi thử vài đoạn để coi diễn viên chính là Volodymyr Zelensky “hề” như thế nào, theo như sự phê bình cay nghiệt của cộng đồng “red bull”. Tuy nhiên mới chỉ coi lần đầu thôi mà đã bị cuốn hút vào truyện phim và không thể từ chối coi tập kế tiếp.

Cái hấp dẫn của truyện phim không phải là diễn viên Volodymyr Zelensky, bởi vì tôi không có thói quen phản dân chủ là suy tôn lãnh tụ.

Nhưng sự thu hút của truyện phim là chiều sâu của văn hóa Ukraine, rất khác Mỹ. Đặc biệt là sự thối nát phi dân chủ, di sản để lại sau nửa thế kỷ dưới ách đô hộ của Cộng Sản Liên Xô, đã được những người làm phim phơi bày.

Tập phim “Đầy Tớ Nhân Dân” soi rõ từng chi tiết góc cạnh của một hệ thống và thói quen tham ô bao trùm lên cuộc sống của người dân Ukraine. Cách phanh phui và mỉa mai về sự thối nát của chính quyền và xã hội Ukraine đã làm khán giả bật cười. Nhưng phía sau nụ cười là một nỗi buồn xót xa cho một dân tộc kém may mắn.

Trong tập phim này, nhân vật chính do Volodymyr Zelensky (đương kim Tổng Thống Ukraine) thủ vai có tên là Vasyl Petrovych Holoborodko. Vasyl là một giáo sư trung học về môn lịch sử bất ngờ thắng cử và trở thành Tổng Thống. Thầy giáo Vasyl đột nhiên bị ném vào một hệ thống tham ô đã có từ trước. Và đây là sự hấp dẫn trào phúng của tập phim.

Sau khi Vasyl trở thành Tổng Thống, ba má của Tổng Thống cùng sống chung trong một chung cư bình dân bỗng thấy đổi đời. Bà con xa gần bu lại nâng bi và muốn dựa hơi để trở thành quan chức chính phủ.

Cái này rất giống văn hóa “làm quan ba họ được nhờ” của Việt Nam xưa kia, và y hệt hiện nay là con ông cháu cha Việt Cộng được phong chức và ngồi trên đầu trên cổ dân đen, dù rất ngu. Người giỏi có trình độ thì làm nghề lái xe ôm.

Khi ba của tân Tổng Thống Vasyl Petrovych Holoborodko lái xe trên đường phố bỗng bị một anh “công an giao thông” Ukraine chận lại xét hỏi mà hỏng cần lý do gì cả. Thì ra anh công an giao thông chận lại làm khó dễ để đòi hối lộ “bánh mì” mới cho đi. Anh công an bỗng nhận ra người lái xe là ba của Tổng Thống nên hết hồn khúm núm hỏi “bi giờ ông muốn tui làm zì?” Ha ha ha đoạn này giống y chang xứ thiên đường nè.

Sau ngày nhậm chức, Tổng Thống Vasyl được cố vấn bối rối hỏi “Thưa ngài có cần “Đệ Nhứt Phu Nhân” đến tối nay không ạ?”. Câu hỏi làm Tổng Thống Vasyl nổi sùng. Theo truyện phim thì gia cảnh của Tổng Thống là ly dị và còn độc thân. Nói toẹt ra là cố vấn có ý hỏi “Tối nay ông có cần ngủ với em cẳng dài nào hong, chúng tôi sẽ cung cấp”. Ha ha ha làm vua mấy nước thiên đàng sướng thiệt.

Tập phim “Đầy Tớ Nhân Dân” do chính đương kim Tổng Thống Volodymyr Zelensky thủ vai và giúp tạo dựng. Ông xuất thân là luật sư nhưng trở thành nhà làm phim và diễn viên điện ảnh. Phim “Đầy Tớ Nhân Dân” đã đánh trúng tâm lý của người dân đang sống trong một xã hội còn nhiều tệ đoan. Phim này đã giúp Volodymyr Zelensky nổi tiếng và trở thành Tổng Thống Ukraine năm 2019.

Trong tập phim có bài hát nền mang tên “Đầy Tớ Nhân Dân” phảng phất giống dân ca “blue” của Mỹ mà tôi yêu thích. Lời hát đơn giản, nồng nàn tha thiết, nhưng cũng buồn man mác. “Đầy Tớ Nhân Dân” cũng đã trở thành tên một đảng phái chính trị có tôn chỉ tranh đấu cho người dân Ukraine.

Tôi yêu quê hương tôi

Yêu thương vợ

Yêu chú cẩu của tôi

Tôi là thành viên của tất cả

Gần như siêu nhân

Ít khi làm hư một cuộc chiến nào.

Mọi người biết

Bản án của tôi là gì:

“Đầy tớ nhân dân”

Tôi có hầu hết tất cả

Phẩm cách và danh dự

Và thậm chí tiếng thét “Bravo”

Người ta đã cấp cho tôi

Máy bay riêng

Tại sao không? Tôi có quyền.

Trên bụng của tôi, ngay đây

Sẽ xăm chữ

“Đầy tớ nhân dân”

I love my country

Love my wife

Love my dog

I am a member of everything

Almost Superman

But rarely spoil for a fight.

Everyone knows

What I’m sentenced to—

“Servant of the people.”

I have almost everything

Dignity and honor

And even shouts of “Bravo.”

The people issued me

My personal airplane

And why not? I have the right.

On my belly—right here—

I’ll get a tattoo

“Servant of the people.”

BÔNG LAU 22.07.2022

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 3 Aug 2025

99. Văn Chung

Dzoãn Mẫn cho biết Lê Yên là bạn học với ông từ thời tiểu học. Họ cùng học chữ, học nhạc với nhau. Khi họ kết hợp với Văn Chung thành nhóm Tricea, Văn Chung đang là công nhân của một nhà in ở phố Hàng Điếu, gần rạp chiếu bóng Olympia [phố Hàng Da]. Vào thời điểm ấy, Văn Chung đã có một số ca khúc được phổ biến như: Khúc Ca Ban Chiều, Thiếu Phụ Hoài Xuân, Đôi Mắt Huyền, Bóng Ai Qua Thềm … Tất cả các ca khúc đó của Văn Chung, sau này, người ta chỉ còn được biết có một bài là Bóng Ai Qua Thềm.

Đó cũng là thời kỳ lớp nhạc sĩ đầu tiên của chúng ta khởi sự xây dựng nền tân nhạc Việt Nam nhóm Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước ở Hà Nội, nhóm Lê Thương ở Hải Phòng, nhóm Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ ở Nam Định … Họ đều là những tài năng lớn. Các tác phẩm của họ khẳng định điều ấy. Trước họ là những ai đã góp công hình thành nền tân nhạc Việt Nam?

Đó là câu hỏi, cho tới nay, hình như chúng ta cũng chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Bởi vì sự thực không có tác phẩm nào chứng minh. Vậy, ca khúc nào là ca khúc Việt Nam đầu tiên được phổ biến và ai là tác giả?

Đó cũng là điều chưa được giải đáp dứt khoát. Những người viết về sử nhạc của chúng ta mỗi người kết luận một khác.

Theo Dzoãn Mẫn: “Năm 1938, người ta thấy xuất hiện một bản nhạc in đầu tiên bán trên thị trường là bài ‘Hồ Xưa’ của Thẩm Oánh. Trước đó chỉ một số bài hát [được in] trên các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy”. Dzoãn Mẫn không cho biết rõ các bài hát trên báo tên gì, ai viết? Nhưng Dzoãn Mẫn cho hay, sự kiện đó đã khiến nhóm Tricea quyết định xuất bản các sáng tác của mình. Vẫn theo Dzoãn Mẫn: “Có thể nói Văn Chung là linh hồn của nhóm Tricea; mọi việc biểu diễn xuất bản đều do anh quán xuyến.

Riêng việc in ấn, Văn Chung có thuận lợi là làm ở nhà in nên tự tay chép nhạc trên bàn in litho, chọn giấy tốt, nhờ họa sĩ trang trí bìa. Các bản nhạc in ra được trình bầy trang nhã, các nốt, các ký hiệu nhạc sáng sủa, rõ nét, trông không kém gì mấy so với bản nhạc nước ngoài.

Trong khi đó bản nhạc của các nhóm khác đều khắc gỗ, hình nốt méo mó, không rõ và thường có nhiều lỗi in”.

Những bài hát do nhóm Tricea ấn hành gồm có:

Khúc Ca Ban Chiều [Văn Chung]

Vườn Xuân [Lê Yên]

Gió Thu [Dzoãn Mẫn]

Nhớ Quê Hương [Phạm Ngữ]

Đôi Mắt Huyền [Văn Chung]

Cười Trong Nắng Xuân [Văn Chung] vv …

Trong số ca khúc được nêu, về sau này, hình như chỉ thấy một bản duy nhất là bài Nhớ Quê Hương của Phạm Ngữ còn được nhớ, được hát. Thế những ca khúc kia đâu? Vì lẽ gì chúng lại biến mất? Riêng bài Bóng Ai Qua Thềm của Văn Chung đã được yêu, được hát rất nhiều một thời, cái thời cực lãng mạn của tân nhạc Việt Nam, thường được gọi chung là nhạc tiền chiến.

Ca khúc này đã được danh ca Ái Liên thu vào đĩa nhựa. Và những ai sống ở Hà Nội sau khi cuộc chiến tranh bùng nổ ít lâu, người ta tản cư rồi hồi cư, hẳn không quên bài hát thường được phát trên sóng của các đài phát thanh và nhất là trên các loa phóng thanh của các rạp hát mà đoàn Ái Liên đang lưu diễn, trong không khí lo âu, chết chóc, giữa cái thành phố đổ nát đang cố hồi sinh, tiếng hát trong vắt của Ái Liên, nghe thấy trong những buổi chiều mùa đông xám ngắt, có một một vẻ gì đó não nùng, lạc lõng:

Những lúc em ngồi suốt canh khuya bên đèn

Miệt mài cùng một manh áo len

Vắng bóng anh em chờ mong anh

Cố sức em đan thật nhanh

Em đan áo cho xong còn hòng đông này

vắng hình anh

Em lạnh lùng thay

Xa anh em nhờ manh áo ấy

Khiến em quên lạnh lùng khi ngồi trước đèn

Bóng ai qua thềm

Vừa nhìn thoáng lướt êm trên nền trời êm

Ngừng đan em thấy gió lay mành trúc

Bóng qua êm đềm

Cùng cơn gió êm

Làm rung tấm áo len trên lòng em

Lòng em xao xuyến muốn nghiêng mình tránh

gió qua bên thềm

Rồi thời gian ấy qua

Tấm áo em đan chưa xong mà

Cứ mỗi khi chiều gió lướt qua bên mình

Thì lòng em thấy xuyến xao vì gió

Nâng áo lên em kề gần bên trái tim

Mùa đông sắp đến gió lay mành trúc

Bóng ai qua thềm

Cuộc chia lìa xẩy ra trong thực tế khác xa với cuộc chia lìa [được báo trước] trong nhạc. Nó đau đớn hơn nhiều. Cay đắng hơn nhiều. Lạnh lẽo hơn nhiều. Hình như tiếng hát nhắc nhở tất cả những điều ấy. Không biết trong thời gian từ kháng chiến đến cộng sản Văn Chung viết được bao nhiêu ca khúc nữa? Nhưng người ta chỉ được biết thêm có một bài của ông: Đợi Anh Về. Đợi Anh Về là một bài thơ của Simonov, do Tố Hữu dịch ra Việt ngữ. Văn Chung đã phổ nhạc rất thành công bài thơ này. Ông đã giữ được cả vẻ thiết tha, hào hùng lẫn bi thảm của bài thơ, ở những đoạn gay gắt nhất, nhạc của ông vẫn rất ngọt ngào.

Em ơi! Đợi anh về!

Đợi anh hoài em nhé

Mưa có rơi dầm dề

Ngày có dài lê thê

Thì em ơi em cứ đợi

Em ơi em cứ đợi

Dù tuyết rơi bão nổi

Dù nắng cháy em ơi

Bạn cũ có quên rồi

Đợi anh hoài em nhé

Tin anh dù vắng vẻ

Lòng em dù tái tê

Chẳng mong chi ngày về

Thì em ơi em cứ đợi

Đợi anh anh lại về

trong tiếng cười ngạo nghễ

Đợi anh anh lại về

trong tiếng cười ngạo nghễ

Ai ngày xưa rơi lệ hận cho sự tình cờ

Ai ngày xưa rơi lệ, nào có biết bao giờ

Nào có biết bao giờ bởi vì em ước mong

Nào có biết bao giờ bởi vì

em trông ngóng

Trông cho tan giặc phía đường xa

Anh của em lại về

Anh của em lại về

Anh của em lại về

Văn Chung đã mất tại Việt Nam tháng 8 năm 1984.

Elvis Phương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 3 Aug 2025

98. Văn Cao

Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài.

Ngoài viết nhạc, làm thơ, ông còn làmột họa sĩ. Ở địa hạt nào ông cũng tỏ ra là một tài năng lớn. Nếu hỏi bài hát nào là bài hát hay nhất trong âm nhạc Việt Nam từ trước tới nay, có lẽ không ai trả lời được. Hoặc giả nếu có câu trả lời, vị tất nó đã được mọi người đồng ý.

Nhưng nếu gặp phải câu hỏi đó, thế nào người ta cũng thấy lảng vảng trong đầu một vài bài nào đó của Văn Cao. Mặt khác, nếu coi Văn Cao là một trong những tác giả lớn nhất của âm nhạc Việt Nam thì chắc không ai phủ nhận. Chúng ta vui vì chính cái câu hỏi không có câu trả lời kia, chúng ta có cả một dẫy Trường Sơn các nhạc sĩ tài ba. Văn Cao hiển nhiên là một đỉnh cao trong dẫy Trường Sơn ấy.

Vì đa tài nên cũng đa sự. Người ta được nghe nhiều chuyện về ông. Ông tham gia cách mạng, vào ban ám sát, nhập Đảng Cộng Sản, rồi chống Đảng. Chúng ta chẳng biết thực hư thế nào. Nếu ông chống Đảng, tại sao người ta lại dùng một ca khúc của ông làm quốc ca của cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như hiện nay? Thế nhưng, nếu ai có dịp coi cuốn video về ông, được thực hiện trước khi ông mất, sẽ thấy, ông chẳng có vẻ gì là một người được sủng ái, sung sướng cả. Ngược lại nữa là đằng khác.

Người ta thấy một Văn Cao còm cõi, khô héo, uống rượu và đọc thơ như khóc, đánh dương cầm bằng nắm đấm, bằng cả cẳng tay. Hình ảnh cho thấy ông có điều gì uất ức, không nói ra được. Và người ta có cảm tưởng ông là cái bóng của ông nhiều hơn là chính ông.

Hai câu nói của Văn Cao được nhiều người biết đến là:

“Nay Đảng bảo phải, mai Đảng bảo trái, ai còn biết đường nào mà sáng tác” và “Đảng cần gì, tôi làm cái đó”. Người ta không biết câu nào ông nói thật. Nếu cả hai câu đều thật thì quả ông đã sống trong một bi kịch. Một trong những sáng tác hay nhất của Văn Cao là bài “Trường Ca Sông Lô” được viết trong thời kháng chiến chống Pháp. Nhưng sau đó ông không viết được gì nữa. Thậm chí, người ta cho biết ông còn bị cấm viết. Để sống, ông phải viết nhạc cho phim ảnh, viết nhạc không lời và vẽ bìa sách, bìa báo cho các nhà xuất bản. Ông giữ nhiều sự thật nhưng ông không nói ra. Những sự thật ấy Văn Cao đã mang theo xuống nấm mồ của mình.

Riêng trong âm nhạc, phải nói, cái bóng của Văn Cao tỏa rợp khắp nơi. Từ tình ca, truyện ca, đến các bản hùng ca của ông, đều đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật. “Trường Ca Sông Lô” có vẻ đẹp của một bức tranh hoành tráng.

“Thiên Thai” đẹp cái đẹp tinh vi của điêu khắc. Và chỉ có Văn Cao mới viết nổi những lời ca tương xứng với thứ nhạc như thế. Ông tự nhận là một người nhút nhát đối với phụ nữ.

Một người nhút nhát đối với phụ nữ mà viết được những ca khúc như “Bến Xuân” hay “Suối Mơ” quả là một điều kỳ lạ. Đó là phép lạ của tình yêu hay tài năng? Chúng ta yêu nhạc của ông và sợ. Sợ vì nghĩ rằng, nếu một người đã im lặng trước sự thật của mình, e rằng cũng sẽ im lặng trước sự thật của người khác. Nếu cái sự thật ấy lại liên quan tới số phận của rất nhiều người, của cả một dân tộc thì sao? Sợ vì thấy rằng, đặt tài năng dưới sự sử dụng của người khác, thật sự là một điều nghiêm trọng.

Thật là buồn vì nghe nhạc mà chúng ta đã phải nói tới cả những gì không phải là âm nhạc. Nhưng điều đó đã len lỏi vào nhạc của chúng ta. Ước gì chúng ta có thể nghe nhạc của Văn Cao (và nhiều người khác nữa) mà không phải thắc mắc một chút gì khác ngoài nhạc của họ!

Thiên Thai

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên

Kìa đường lên tiên

Kìa nguồn hương duyên

Theo gió tiếng đàn xao xuyến

Phím tơ lưu luyến

Mấy cung u huyền

Mấy cung trìu mến

Như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi

Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời

Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan

Quê hương dần xa khuất núi ngàn

Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền

Ai hát bên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai! Chốn đây hoa xuân

chưa gặp bướm trần gian

Có một mùa đào dòng ngày tháng

chưa tàn qua một lần

Thiên Tiên! Chúng em xin dâng hai chàng

trái đào thơm

Khúc nghê thường nay đều cùng múa vui

bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm

Nhạc lắng tiếng quyên

Đây đó nỗi lòng mong nhớ

Này khúc Bồng Lai

Là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi

Đàn xui ai quên đời dương thế

Đàn non tiên

Đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ

tan thành suối trần gian

Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng

có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca

Tiếng phách ròn lắng xa

Nhắc chi ngày xưa đó

Đến se buồn lòng ta

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn

Cùng bầy tiên đàn ca bao năm

Nhớ khi chiều nào xa khơi

Chắc không đường về tiên nữ ơi

Gió hắt trầm tiếng ca

Tiếng phách ròn lắng xa

Nhắc chi ngày xưa đó

Đến se buồn lòng ta

Đào nguyên trước Lưu Nguyễn quên đường về

tìm Đào Nguyên

Đào Nguyên nơi nao

Những khi chiều tà trăng lên

Tiếng ca còn rền trên cõi tiên

Anh Ngọc

Xương trắng Trường Sơn

vietmessenger.com

Xuân Vũ

Post by Sơn râu 3 Aug 2025

Kỳ 12.

(Độc giả nam nữ thân mến! Tôi viết những dòng này với lòng yêu mến chàng nghệ sĩ tài hoa của đất Sài Thành ra đi kháng chiến chống Pháp đầu năm 1946. Có lẽ ngày nay vẫn còn đôi người yêu nhạc còn nhắc nhở tài danh Lê Trực đã từng làm rung lên hàng vạn trái tim nam thanh nữ tú bằng tiếng đàn son trẻ của Lê Trực đã hiện lên trên ngũ tuyến biểu của khúc ca “Tiếng Còi Trong Sương Đêm” như những cánh bướm say tình. ..

Tôi đã vượt Trường Sơn cùng với Hoàng Việt tức Lê Trực xưa của đất Sài Gòn. Hôm nay cả Hoàng Việt lẫn Lê Trực đều đã nằm im dưới đất ở một miền nào không rõ địa danh, nhưng có lẽ người yêu nhạc vẫn còn giữ lại cái dư âm của “Tiếng Còi Trong Sương Đêm ” như một kỷ niệm u buồn.

Vậy có thể những ngày cuối cùng của chàng nghệ sĩ mà tôi sẽ ghi lại trên con đường khổ ải kia, sẽ không đến đỗi làm mất thì giờ của độc giả.)

Đích thị là anh ta rồi! Hoàng Việt quay lại.

Hoàng Việt gọi tên tôi, rồi phá lên cười. Tiếng cười của chàng nhạc sĩ vẫn tếu lại vừa châm chọc.

Hoàng Việt nhìn thẳng vào tôi và Năm Cà Dỏm đang đi tới và nói:

– Chà chà! Cái bụng teo là trông thấy. Thu vô mấy nấc dây nịt rồi vậy?

– Mới có vài nấc thôi!

– Vài mà mấy?

– Tức là từ hai tới ba!

– Khỏi tập thể dục he.

– Còn anh cái bộ bánh chè còn khua hết?

Rồi chúng tôi hỏi nhau ngay về tình hình của đoàn:

– Anh nằm lại đây hôm nào?

– Nếu so với cậu thì bằng nhau.

– Bằng nghĩa là sao?

– Nghĩa là tôi đi trước nhưng rồi cậu cũng bắt kịp chớ sao! Nghĩa là trong lúc cậu nằm thì tôi đi, còn lúc cậu đi thì tôi lại nằm.

– Còn đứa nào ở lại với anh nữa không? Tôi lo ngại hỏi.

– Không! Chúng nó đi mất mẹ hết rồi. Đứa nào thấy mình đau, cũng lẩn đi hết. Ở lại mần chi với thằng già này? Ở lại để khiêng để vác à?

– À,quên nữa!

– Sao?

– Thằng Lâm còn khóc dọc đường không?

– Hôm nay nếu cậu gặp lại nó chắc cậu sẽ không nhìn ra nó. Nó còn bằng con nhái bầu thôi!

– Anh ở đâu?

– Ở đằng kia kìa.

– Quăng “mấy cái rựa” thì tới!

– Không xa đâu! Đi giỏi thì tới trước mặt trời, đi chậm thì sau thì tới sau mặt trời.

Hoàng Việt nói với giọng bắt chước người Thượng. Chúng tôi nhại lại cái câu công thức của những anh giao liên người Thượng mỗi khi anh ta bị khách gạn hỏi bao giờ thì đến, mà cười xòa với nhau.

Hoàng Việt hỏi.

– Miss Thu ở đâu?

– Ở với “moả”.

– Ui cha cha, tài tử giai nhân mê mệt he!

– Ghé tụi tôi chơi, anh!

– Cậu thiệt không hở, buông cái này bắt cái khác!

Rồi chúng tôi dắt ông bạn nhạc sĩ về lều.

Lúc bấy giờ Năm Cà Dom mới đến trước mặt Hoàng Việt:

– Nhớ tôi không, ông bạn Lá Xanh?

Hoàng Việt chớp chớp mắt nhìn Năm Cà Dom. Năm Cà Dom cười:

– Ông bạn đi Tây đi u nhiều quá rồi quên hết anh em.

Hoàng Việt vẫn nhìn Năm Cà Dom mà lặng thinh.

Tôi xen vào:

– Năm Cà Dom!

– À ạ…Năm Cà Dom!

Hoàng Việt như vớ được một đầu mối trong ký ức, nhưng nó hãy còn mơ màng chưa phăng ra gốc được.

Hơn nữa trên con đường này đầu óc minh mẫn của con người bị kí-nín nhuộm vàng đâu còn sáng suốt mà nhớ nổi những kỷ niệm của thời kháng chiến chống Pháp đã lộn xà ngầu cùng với nhữngsự việc mới như một mớ xà bần.

Năm Cà Dom trầm tĩnh và hóm hỉnh hỏi nhà soạn nhạc:

– Anh có nhớ lúc 307 xuống miền Tây’và chúng tôi gặp anh ở Ô Môn không nào?

– À tôi có xuống Ô Môn một vùng gạo trắng nước trong của miền Tây Nam Bộ. Cảm tình lắm.

– Rồi kế đến chúng tôi đánh đồn Tây ở Bảy Ngàn.

– Vâng, chính nhờ trận đánh đó, tôi viết bài “Đêm Mưa Dầm”.

– Rồi sau đó chúng tôi xuống vùng Cà Mau, Bạc Liêu, đánh tàu ở Kinh Nhật Nguyệt.

-Trận đó… Hoàng Việt bỗng kêu lên vỗ đánh bốp vào bắp đùi:

– Tôi nhớ ra rồi. Kinh Xáng Nhật Nguyệt. Trận đó tôi nhờ anh mang cái “ba-lô-ma” của tôi phải không! Ôi chao! Thiệt là gặp lại anh bất ngờ. Ừ ừ, có những người chiến hữu mình tưởng đã chết mất từ lâu, chẳng ngờ còn sống gặp lại mình.

Hoàng Việt tiếp:

– Trận đó, mình bị Tây rượt nột quá mà trước mặt thì con Kinh Nhật Nguyệt rộng mênh mông còn mình thì toàn “lội chó.” Thế mới biết tài Năm Cà Dom. Gớm thật.

Hoàng Việt nói với tôi:

– Sông rộng thế mà anh ta một tay cầm ba khẩu súng trường giơ lên, một tay bơi xốc đứng.

Tôi cười:

– Vì thế mới có danh hiệu Cà Dom.

Hoàng Việt ngoặt sang ngay vấn đề ăn uống:

– Này, các cậu ăn uống thế nào? Ủa Miss Thu đâu rồi?

Tôi đáp:

– Tụi tôi vừa mới cướp giật được một mớ cá khô. Anh còn gạo không? Đem lại đây nấu cơm, còn thức ăn thì tôi bao cho một bữa.

– Bao có lủng không đó!

– Không sao đâu, cứ tự nhiên như một vị “khách… không mời mà đến.”

Hoàng Việt vui vẻ:

– Nhưng đãi món gì mới được chớ?

-Thịt bò bảy món được không?

– Chà ! Dân Sài Gòn hả ông bác sĩ?

– Không, Hóc Môn! Còn anh?

– Sài Gòn chánh cống con nai chà!

Hoàng Việt lại vui vẻ:

– Bỗng nhiên ông bạn làm tôi thèm rỏ dải vì cái món thịt bò đặc biệt đó. Kỳ thật, cái thằng cha này.

Hoàng Việt lên võng của tôi ngồi đu đưa. Và cười như nắc nẻ:

– Hay thiệt! Ở giữa chốn này mà nói chuyện thịt bò bảy món thì vui thật – Hắc hắc… chỉ tiếc cái là không có thực thôi…

Hoàng Việt là một con người hồn nhiên. Sống trong khung cảnh nào cũng vui vẻ bô lô ba la như vậy.

Hoàng Việt là một nhạc sĩ có tài, nếu không nói là nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Văn Cao đã ngợi khen anh chàng này khi anh ta đi học nhạc ở ngoại quốc về và cho biểu diễn bản nhạc giao hưởng Quê Hương ở nhà hát lớn Hà Nội. Cộng sản cũng thừa biết rằng anh chàng này có tài, nhưng vẫn bạc đãi anh ta như thường.

Một cái anh chàng mà sáng tác nổi một bản giao hưởng (symphonie) như thế đâu có phải là có nhiều, mà là hiếm có, chưa có từ trước tới nay ở xứ Cộng sản miền Bắc.

Ấy vậy mà… khi về Nam, Hoàng Việt cũng quảy ba lô mang dép râu lội Trường Sơn như đám cá kèo lóc nhóc.

Hoàng Việt cũng lãnh một lít muối, một lon khô, một túm thuốc và quần thô áo vải nhúng nước, ướt mưa, nặng như sắt!

Vậy mà Hoàng Việt không thắc mắc chi cả. Cái lốt nhạc sĩ, anh ta quẳng đi qua một bên, làm một người Nam Bộ tha hương lâu ngày, nay được dịp may trở lại quê hương, bất chấp mọi việc. Trong lúc đó thì không thiếu chi những vị dây mơ rễ má với các ông lớn, nhờ chạy cửa sau mà được đi “mé bay.”

Các bạn cứ thử nghĩ xem, một con người như vậy mà lại mang bị gậy lội Trường Sơn. Trong lúc người ta luôn luôn bô bô cái mồm đề cao văn nghệ hết mức (để khai thác khả năng phục vụ chánh sách Đảng).

Anh ta đi như một thằng lính tải, lẫn trong đám vô danh. Nhưng không riêng gì anh Hoàng Việt mà cả bọn “kỹ sư tâm hồn” ma khác chúng tôi, anh nào anh nấy cũng thế thôi.

Hoàng Việt ốm tong ốm teo, một người Việt Nam loại bé, chỉ có cái hồn nhiên và mái tóc bạc là cái hấp dẫn nhất trong người anh. Ngoài ra thì còn mấy ngón tay nhuộm nhựa thuốc vàng cháy.

Anh ra đi phấn khởi hăng hái thực sự, vừa đi vừa cười nói râm ran, cười như nắc nẻ. Anh vui vẻ nói oang oang lên: “Tao về tới nơi thì năm sau tháng này chỉ Bảy tụi bây (tức vợ anh) sanh một thằng con trai đặt tên là Lè Tương Phùng!”

Anh đi dọc đường gặp cái gì cũng lượm, và có một sự giải thích rất hợp lý nên anh tự cho phép mình nhặt tất cả những thứ ấy gắn vào ba lô. Anh nhặt cái hộp lon thi bảo: “đây là một dụng cụ toàn năng dùng vào chuyện gì cũng tốt cả, múc nước, nấu cơm, ca uống nước, dụng cụ nhạc!”

Anh nhặt một sợi mây với sự giải thích: “bỏ sẵn trong ba lô đó có nặng bao nhiêu đâu, khi cần, nửa đêm mắc cái tăng quờ đâu ra!”

Anh nhặt một cái mẩu ni lông thì cho rằng “nó sẽ đắc dụng vô cùng . Tụi bây cứ quen ngồi trên ba lô hỏng đồ đạc hết!”

Cho nên cái ba lô của anh phình to hơn người anh và đầy râu ria phụ tùng lóc cóc leng keng ở bên ngoài. Vậy mà còn những thứ khác không thể dồn hết vào ba lô phải mượn đám thanh niên mang dùm. Cái áo ni lông hai da không biết anh mua được ở đâu chứ Hà Nội thì không có bán. Anh mang về cho thằng con trai. Cũng may là cái áo mất dọc đường chứ đem về cho thằng con trai thì chắc nó càng thấy phụ tử thâm tình. Cái Radio của ông thầy dạy nhạc anh ở Bungarie. Cả hai thứ này đều thừa nếu thãi ở Sài Gòn nhưng tội nghiệp anh đi xa Sài Gòn lâu quá anh muốn đem về cho con một chút tình cha. Ngoài ra còn cái băng nhạc bài “Quê Hương Giao Hưởng” của anh. Nhưng cậu mang dùm lại sốt rét ác tính chết dọc đường. Cậu này là họa sĩ tên Nguyễn Văn Núi.

Đấy rành rọt chi tiết về một con người mà tôi quen không nhiều chứ ít ra cũng hai mươi năm.

Cho nên gặp lại Hoàng Việt tôi rất mừng không ngần ngại đãi thức ăn cho anh (còn cơm thì tự túc) một cách thẳng thắn như thế đó.

Chúng tồi nấu cơm. Hoàng Việt cũng về lo nấu cơm để mang lại. Năm Cà Dom hỏi tôi:

– Thằng cha có tài vậy mà bắt đi bộ như mình à?

– Ai?

– Hoàng Cò chớ ai!

– Suỵt, đừng gọi Hoàng Cò, ổng la dữ lắm.

– Sao la? Việt cũng nhìn Cò vậy chớ khác gì?

– Ổng đổi tên rồi.

– Tên gì?

– Lê Quỳnh.

– Tại sao phải đổi?

– Vi hai lý do. Lý do thứ nhất là trên đường đời này không ngờ lại có một thằng khác cũng tên Việt đi gần bên cạnh anh hằng ngày mà lại là một thằng xạo, một thằng láu cá vô dụng mà lại hưởng tiêu chuẩn cao hơn anh trong lúc đi đường.

– Là cái thằng chó chết nào kỳ cục vậy?

– Là cái thằng Trí Việt đại úy quân đội dốt đặc cán mai mà làm biên tập Điện Ảnh đó. Nó mê con Thu lắm. Nó giả đau nằm lại trạm chờ con Thu để mong nhờ hoàn cảnh rừng núi mà hoạt động có kết quả, nhưng Thu vẫn không yêu như thường cho nền hắn lủi mất rồi. Có thể nay mai anh ta lại gặp mình, rồi tôi giới thiệu cho mà tiếp xúc.

– Chao ôi! Văn nghệ của ông nhiều nhân vật đặc biệt lắm.

– Đó, vì thế cho nên cụ Hoàng ta mới thay danh đổi lánh. Nhưng còn một lý do nữa là… cụ Hoàng sợ lộ bí mật.

Năm Cà Dom ngẫm ngẫm một cuộc rồi nói:

– Đi giải phóng Miền Nam, la om trên đài nghe oai linh hùng vĩ lắm, thế mà trên mặt đất thì lén lút như đi ăn trộm. Đi đâu chẳng dám đi đâu, còn tên họ thì lại đổi hết. Nói chuyện thì xầm xì rỉ tai chằng dám nói to với nhau, giống tuồng bọn móc túi!

– Nói bậy cậu!

– Đúng vậy chớ, bậy sao được!

– Vậy sao cậu còn đi, còn đổi tên?

– Chứ không đi đường nào về xứ được?

– Vậy trên đường đi này cậu lấy tên gì?

– Cà Dom!

– Nhưng có ai gọi bằng cái tên đó đâu?

– Bây giờ thì tôi không cần, ai gọi gì cũng được, miễn tôi đi lọt vô Nam thì thôi.

– Đôi khi phải chịu nhục cậu ạ!

-Ứ hự!

– Tôi đây họ xét đi xét lại, “nghiền úp nghiên ngửa” mất ba năm trời mới cho tôi về đây.

– Tôi như cậu thì tôi không về làm mẹ gì. ở ngoài Bắc như các cậu, viết văn ngồi mát ăn bát vàng tà tà, về làm mẹ gì cho nó mệt. Ở đâu mà viết chẳng ra văn?

– Cậu nói dễ ăn quá!

– Chớ sao.

Tôi cười:

– Cuộc đời của mình, mình không còn chủ động nữa, mà do ai đâu quyết định. Tôi bực mình lắm nhưng mà biết làm sao? Có lần tôi đã nói thẳng với thằng cha tổ chức cơ quan: nếu kỳ này mà không cho tôi về, là tôi cưới vợ. Và khi tôi đã cưới vợ rồi thì tôi không về nữa. Có làm gì tôi cũng không về.

Năm Cà Dom cười khì khì:

– Trung thành với rau muống luộc dữ vậy? Rau muống quấn chân hả?

– Không phải vấn đề giản đơn là rau muống quấn chân nhưng đây là vấn đề nhân đạo.

– Nhân đạo làm..?

– Nhân đạo đối với con người, với mình.

– Nghĩa là sao chớ?

– Cậu có nhìn thấy ở đâu có tình trạng như nước mình không?

: Nhưng mà sao mới được chớ?

– Đất nước chia đôi, chồng Bắc vợ Nam! Vợ trong Nam chờ đợi mười mấy năm trời, chồng ngoài Bắc cũng lóng ngóng mười mấy năm trời, kêu trời không thấu.

Năm Cà Dom cười:

– Khặc khặc? Vì thế mới có câu thơ “đất Bắc anh gìn con tí ngẳng, trời Nam em giữ cái bề hê” là vậy đó.

Tôi không để ý tới sự pha trò của bác sĩ Cà Dom mà tôi quạu thực sự Tôi nói:

– Giữ với gìn cái con mẹ gì. Đàn bà mà bỏ đi mười lăm, mười bảy năm thời trẻ trung thì còn gì nữa.

– Chưa tới mười lăm năm, mới có mười bốn năm thôi, 1954-1967 mà!

Tôi nói:

– Bây giờ thì mới mười bốn năm thôi, chứ tương lai thì vô hạn định. Trời! Vậy mà hồi được người ta đem vợ con theo lại không cho.

– Để tàu rộng người ta chở lúa ra Bắc chớ!

Tôi nói tiếp:

– Anh có thấy cảnh chia ly đó không? Cha con không biết mặt nhau. Vợ chồng chờ nhau từ tóc xanh đến tóc bạc! Còn chờ làm gì?

– Ý, có nghĩa lắm chớ. Chờ ổng về bả ngoáy trầu cho ổng ăn!

Tôi lại tiếp:

– Cho nên tôi nhất định không lấy vợ Bắc, mà chờ ngày về Nam. Nhưng hễ không cho tôi về, tôi cưới vợ rồi thì tôi không về nữa.

– Cho rau muống quấn chết luôn.

– Nhất định, chớ có vợ con rồi về Nam bỏ vợ bỏ con mình ngoài đó mà chịu được sao?

Năm Cà Dom cứ nói quát ra:

– Úy chu choa, anh Nam Kỳ mà lấy Bắc Kỳ thì đẻ con khôn nhất trần đời. Tôi thấy rất nhiều rồi đó!

Năm Cà Dom ngẫm ngẫm một chốc rồi nói:

– Nói đùa vậy chớ tôi có khác chi ông bạn, gần bốn mươi tuổi đầu rồi còn “solo” đây không thấy sao. Đi bướng về Nam để có mà “hốt ổ” cho kịp kẻo tụi nó về trước chúng nó hốt hết.

– Anh Hoàng Việt làm gì mà lâu thế nhỉ? Cơm mình chín từ lâu rồi mà ảnh chưa xong à?

Tôi bảo:

– Thôi cậu ở nhà tôi đi tìm lão coi. Cái lão này gà mờ lắm chỉ được cái tài “Tiếng Còi Trong Sương Đêm “thôi. Còn ngoài ra thì vô tích sự lắm!

Rồi tôi đi tìm Hoàng Việt.

Kể thì gặp lại ông cụ non này cũng vui. Có người mình nói chuyện nhưng có một cái khổ khác cụ thể hơn là anh bạn yếu quá. Đi chung lại mệt cho mình. Đã phải dìu cô Ba Lê rồi, lại đèo thêm một ông Giao Hưởng nữa sao xuể?

Hoàng Việt chiếm đóng một nơi rất hiểm hóc. Có tảng đá, có hang và có cả hai thân cây rất vừa làm để mắc võng. Tôi gọi:

– Anh Hoàng!

Hoàng Việt quay trở lại giụi mắt nhìn tôi, nước mắt nước mũi ròng ròng cặp mắt đỏ chạch. Tôi hỏi:

– Làm cái gì lâu vậy?

– Thì có làm cái gì đâu. Có cái nấu ga-men cơm mà nãy giờ chưa xong chớ đâu có làm cửa làm nhà gì.

Tôi nhìn vào bếp của anh. Củi leo heo vài cành. Mà của đáng tội toàn củi mục. Cho nên nhóm không cháy. Trong bếp chỉ có ít lá tre còn ga-men cơm thì chưa có hơi tí nào cả.

Hoàng Việt lại lắc đầu:

– Lửa gì mà nhóm mãi không cháy he?

Thôi xách cái cà mèn lại đằng tôi, tôi nấu cho. Nấu giờ này là nấu trộm mà anh cứ giềnh giàng mãi như vậy giao liên nó bắt gặp nó chọc lủng nồi của anh ngay!

– Ừ nhỉ! Nhưng mà muốn đi đằng đó thì tôi phải cuốn hết đồ đạc quảy đi chứ nếu để ở nhà thì nó “mượn không thời hạn” hết ráo.

– Ừ thì đi.

Thế là Hoàng Việt quảy cả tăng màn ba lô đi theo tôi. Trở về đến nơi thì nghe tiếng Thu và Năm Cà Dom cãi nhau léo nhéo.

Vừa trông thấy tôi, Năm Cà Dom đã vọt miệng nói ngay:

– Mất mẹ nó hết thức ăn rồi.

-Thức ăn gì?

– Khô cá, khô voi, muối.

– Thế à? Tôi tâng hẩng, đứng chết trân, chẳng hiểu ra làm sao cả Thật tình tôi không hiểu ra sao cả.

Tôi hỏi Thu:

– Chớ còn em đi đâu?

– Thì em nằm bên võng em ngó sang.

– Ngó sang sao nó ăn cắp mà không biết?

Năm Cà Dom đỡ cho Thu:

– Ngó sang nhưng ngó lâu quá thì mỏi mắt… mỏi mắt rồi thì mí mắt sụp xuống nhắm lại luôn. Thế đó.

Hoàng Việt cười khè khè:

– Thật là tài dách he! Giữa ban ngày mà…

– Thôi cũng được. Vậy mình đãi ông bạn mình bằng món bình thường. – Năm Cà Dom vui vẻ nói- Gặp nhau đây liên hoan cái mồm thôi cũng đủ vui rồi.

– Nào dọn ra đi! Tôi bảo.

Tôi cố làm ra vẻ tự nhiên để lướt qua nỗi đau đớn trong lòng. Mất bấy nhiêu thức ăn đó trên đường này bằng người ta mất cả lạng vàng trong hoàn cảnh binh thường. Có khi còn hơn. Tôi dọn cơm ra. Nói là dọn vậy, nhưng có cái gì đâu, ngoài mớ thịt kho mặn mà tôi còn giữ được một phần, rất kỹ, dù thèm cách mấy cũng không mang ra ăn, định bụng để khi nào đau đắng miệng mới dùng tới. Nhưng hôm nay, tôi mang ra “đãi” Hoàng Việt là vì cụ Hoàng đã từng đãi tôi nguyên cả một cái lạp xưởng lúc đi được vài tuần lễ.

Một cái lạp xưởng ở giữa Trường Sơn, đó là một điều vô cùng bất ngờ, không thể đào bới ra đâu được. Ăn cái lạp xưởng đó, tôi tưởng đời tôi không bao giờ còn được hưởng cái gì, món gì, vật gì ngon lành, thú vị, khoái chí hứng thú hơn nữa. Bây giờ nhìn lại cụ Hoàng tóc bạc trắng dựng đứng lên như bọt suối mà đôi má thỏn, cái cầm nhọn hẳn xuống như một giọt chấm than, mà cái mồm hốc hác không ngậm kín lại được cứ phô hai hàm răng đầy nhựa thuốc lá vàng ệnh ra, tôi nhớ cái lạp xưởng lúc trước vô cùng. Giá bây giờ mỗi đứa được một cái thì chắc tất cả những nét thảm the đó sẽ biến đi.

Hoàng Việt sẽ lại là anh chàng nhạc sĩ tuy có tuổi nhưng vẫn bảnh trai, nho nhã, các cô nàng ở thủ đô nom thấy phải mê vì sắc kính vì tài. Nhưng bây giờ thì không có lạp xưởng cũng không có cái gì cả, cho nên Hoàng Việt nhạc sĩ số một của Nam Bộ kháng chiến và người nhạc sĩ đạt tới đỉnh cao nhất của nền âm nhạc Cộng sản ở xứ Bắc Kỳ, trông thiệt là gớm ghiếc quá!

Cái đầu chờ vờ như con cá lóc ghe. Tay chân tóp lại và dài ngoẳng như tay vượn, quần áo rộng thùng thình. Ấy vậy mà vẫn còn tếu, tuyên bố tháng này năm sau chị Bảy mày,. . . nọ kia! Thấy tôi giở lon kho lưng đến phân nửa, Hoàng Việt kêu lên:

– Cậu phí quá! Chưa gì mà đã hết từng ấy hàng chiến lược rồi.

– Chưa gì là sao anh Bảy?

– Tức là mới được đâu gần gần… nửa đường thôi.

– Thế à.

-Thế à thế ừ gì nữa.

– Thì cho là nửa đường đã qua rồi. Mình hết một nửa lon kho mặn cũng là hợp lý chứ sao.

– Cái “nửa”sau này bằng ba cái “nửa” trước cậu ạ. Đừng có dốt quá như vậy. Bây giờ cậu nhớ lại xem. Nếu con Phương còn đi chung với cậu thử xem cậu còn có dắt vô rừng rậm như lúc mới đi nữa không?

Tôi nháy mắt cụ Hoàng bảo có Thu. Thu đang nấu cơm đàng kia. Hoàng Việt trừng mắt nhìn tôi rồi lại gầm lên, tỏ ý hiểu tôi đang có “vấn đề” với cô Ba Lê Thu:

– Cũng nữa hè! Nó kiểm thảo, nó bắt hứa là chấm dứt yêu đương ở trong trường mà thoát ra một cái là cứ thế!

Tôi cười:

– Chíp! Con người không có sự đó như cục đất không mặt trời vậy anh Bảy à!

– Nhưng mà để cho cặp đầu gối còn nước nhờn mà co vô dãn ra với Nó đóng vôi lại một cái là bỏ mạng!

Thấy tôi sớt kho mặn nguyên chất ra, anh Bảy kêu lên:

– Ấy chết!

– Gì thế anh Bảy?

– Trộn muối vào chớ ăn puya (pur) thế này à?

– Thì lâu lâu mới đem ra đãi khách.

– Thôi đừng làm thế, nó phí đi. Để dành lúc đau hãy mang ra xài. Đau trên đường này khổ lắm. Ai lo cho. Chị Bảy cậu mà nó biết tôi đi đường như thế này nó không đồng ý đâu.

– Sao anh không xin đi máy bay?

– Máy mẹ tôi chớ máy bay.

– Cỡ anh là thừa sức đi mà! Chớ ông chủ trại cưa Kim Hữu (tức Lưu Hữu Phước ngủ có tật ngáy rầm trời như cưa cây nên anh em đặt ông ta là trại cưa Kim Hữu. Vì khi vô trường đi B, ông thay tên là Kiến Hữu) đi máy bay đó thì sao?

– Ổng là vụ tưởng! Ổng là người” có chức,” cậu hiểu chưa? – Hoàng Việt nhấn mạnh chữ “có chức” một cách cố ý. – Còn mình là thằng cán bộ quèn lo mà cuốc bộ cho có. Được về quê đây cũng đã là mang ơn mưa móc và hồng ân của Chúa Thượng rồi!

Bữa cơm không có gì đáng kể cả. Cơm xong, Hoàng Việt nấu nước sôi rồi lấy trà ra châm và mời tụi tôi. Hoàng Việt quay sang vui vẻ trò chuyện với Thu, còn tôi và Năm Cà Dom thì đi sưu tầm số chiến lợi phẩm bị ăn trộm.

– Sao? Chân cẳng thế nào? Hoàng Việt hỏi.

– Đau quá anh ơi.

– Liệu có đi đến nơi không cô em?

– Chưa biết anh ạ.

– Cố mà đi chứ.

– Các anh thì nên cố, còn em. . .

– Còn em thì không à?

Thu lặng thinh.

– Tại sao bây giờ em có ý nghĩ lừng chừng như vậy?

– Các anh đi về quê, còn em thì càng đi xa quê.

– Thế ra em nghĩ rằng quê anh và quê em là hai quê à?

– Tất nhiên.

-Tại sao?.

Nam là một. Bắc là một!

– Nam Bắc một nhà mà!

– Khi em ở ngoài Bắc, ở tại nhà em thì em nghĩ như vậy, nhưng khi em đi một bước rời Hà Nội thì em lại nghĩ khác ngay.

– Sao bấp bênh vậy?.

– Có những cái anh xa rồi anh mới hiểu.

– Tại sao vậy?

– Đối với em có những cái như vậy. Ví dụ có khi em múa một điệu rồi, người ta hoan nghênh ầm ĩ, em chẳng thấy gì cả, không biết rằng mình và biểu diễn một tiết mục đặc sắc, mà chỉ gục đầu vào một cô bạn mà khóc, hoặc nếu không khóc thì cứ bàng hoàng lâng lâng không có cảm xúc gì cả. Nhưng sau đó có khi một giời, có khi một tuần, có khi một năm, em nhớ lại cái điệu múa mà mình đã biểu diễn, nhớ từng “phi-guya” một, từng cử chỉ một, cười ngạc nhiên, ngạc nhiên, em không hiểu sao em lại làm được những động tác đó.

Thu ngừng lại nuốt ực, rồi tiếp ngay như những ý nghĩ đã đến tràn đầy óc Thu. Thu nói tiếp:

– Cũng như khi em ở Hà Nội thì em đâu cớ nghĩ rằng những tình cảm của mình sẽ biến động ra sao khi em phải xa Hà Nội một ngày một tháng hay một năm?

Hoàng Việt ngồi thừ người ra.

Hoàng Việt cả tôi đều công nhận rằng Thu đúng là một cô gái thông minh, tình cảm rất tế nhị và chân thành.

Hoàng Việt cũng có những tình cảm đối với Sài Gòn như Thu đối với Hà Nội. Chính vì thế mà anh mang cái tấm thân còm cõi của anh trên con đường chết tiệt này.

Quê hương! Đó là bản giao hưởng thứ nhất cũng là bản cuối cùng của anh. Đó, Cộng sản dùng một con người như Hoàng Việt như thế đó! Để rồi khi anh chết đi, thân thể tan tành, chỉ còn một chỏm tóc bạc thì ở ngoài Hà Nội làm một cái lễ truy điệu thật to đọc một bài diễn văn tràng giang đại biển, khóc khóc, mếu mếu, còn khi anh ta còn sống thì xem như con chó, đi lang thang trong rừng Trường Sơn không có một tấc sắt trong tay, không có ai giúp đỡ với cái chân què mưng mủ sưng to lên như cái bánh bò. Mỗi lần qua suối ai hảo tâm thì cõng dùm, không hảo thời thôi, ông bạn nhạc sĩ số một đó cứ lội bơi và đi cà lỉa với cái chân què.

Hoàng Việt bất thần bảo Thu.

– Đâu xăn quần lên coi.

– Cái anh này.

– Tôi nói thật mà, cô em!

– Anh kỳ quá, Hoàng Việt chứ phải Trí Việt sao?

– Ừ thì Hoàng Việt chứ Trí Việt làm sao mà dám bảo Thu làm như vậy?

– Anh kỳ quá hè!

– Cha chả, cô em bị lai Nam Bộ rồi đó nhé.

– Lai gì?

– Lai cái tiếng “hè” đó.

Thu ngồi tưng hửng. Hoàng Việt lại cười:

– Có lẽ cô đã Nam Bộ hóa hồi nào cô không hay phải không?

– ….

– Bây giờ trong máu cô có chất Nam Bộ rồi đấy nhé.

Thu nhìn xuống đỏ rừ đôi má.

Hoàng Việt cười:

– Cho anh Bảy xem cặp chân thần kỳ của cưng chút cưng!

– Thôi mà anh… kỳ cục quá hà!

– Anh Bảy muốn xem xem vô Sài Gòn Thu còn múa “ba lê” được nữa không? Hay vô tới đó rồi chỉ còn “lết, ba lết?” hả? Cha chả… cặp chân của Thu đem mà mài trên đá tai mèo này lắm lúc tôi cũng xót ruột quá. Còn cái khỉ khô gì mà lê với lết?

Thu bỗng òa lên khóc, úp mặt vào hai bàn tay.

– Úy chết. Sao vậy Thu? Kìa, coi kìa.

Hoàng Việt có tính hay trêu đám con gái, mà trêu rất nghệ thuật, cho nên có đứa bị trêu thì cười lăn ra mà thích thú còn Thu thì khóc òa lên.

Hoàng Việt không ngờ Thu lại khóc như vậy. Hoàng Việt định đùa chơi chút thôi chớ đâu có ngờ đó chính là tâm sự của Thu mà lâu nay tôi không dám đụng vào.

Hoàng Việt hơi hoảng, cố vuốt ve Thu:

– Nói vậy chớ đâu có sao. Chân cẳng có rêm chút đỉnh vô trong đó mình tẩm bổ vài… tháng thế là đâu lại vào đấy, có gì đâu. Rồi thì đôi má căng lên, đôi chân tròn như ống chỉ, Thu lại lên sân khấu với đôi chân ngà ngọc chớp lóe như sao sa. . .

Thu vụt vén ống quần lên và nói:

– Sao sa đây này, anh xem đây này.

Hoàng Việt nhìn đôi chân của cô con gái mà Hoàng Việt đã quen mắt nhìn ngắm trong lúc cô nàng biểu diễn cũng như đôi lần lội suối trên đường này.

Cặp chân gầy đi, và đầy vết sẹo thâm thẩm, chẳng khác da con lươn bông.

Hoàng Việt quay mặt đi lắc đầu, tang thương quá. Nghệ thuật gì nữa. Đôi chân đã trở nên một nỗi khổ tâm cả cho Hoàng Việt.

Hoàng Việt thấy ngồi lâu không ổn cho nên chàng nhạc sĩ ròm quảy đồ lề rút lui với cái chào của một bá tước gửi lại công chúa Trường Sơn. Chàng gập mình xuống ba mươi lăm độ, đặt bàn tay phải trên tim, và lại giơ lên một cách cung kính. Xong chàng ba chân bốn cẳng chạy tìm tôi mà kể lể hết mọi sự tình. Rồi chàng nói:

– Tôi lỡ tôi đụng nhằm trái mít ướt rồi. Nó đang sút củi đổ tòe loe ra đó. Vê mà gom mà hốt vô!

– Cái gì vậy anh?

– Nó khóc hu hu đằng đó.

– Sao vậy?

– Thì có gì đâu, tôi thấy cặp chân của cô ta thảm hại quá…

– Thôi chết rồi. Cái vết thương của người ta mà anh đụng vào mần chi?

Hoàng Việt cười khè khè.

– Vết thương “nòng” hả? Vết thương mà hóa công đã rạch thì kim chỉ phàm cũng khó nổi vá may!

– Ở đâu mà ông nhạc sĩ lại gẩy Điệu Đàn Muôn Thuở của Lê Văn Trương vậy?

– Khè khè. Thôi, tớ về nhé. Thỉnh thoảng rồi tớ sang.

Tôi trở về lều. Thu vẫn còn ngồi khóc. Tôi biết tính Thu. Ức mà khóc cũng có, nhưng giá đáng khóc vài giọt thì đủ rồi, nhưng lại khóc đầm đìa ra cho có vẻ bi đát thêm lên. Mà nếu tôi có an ủi dỗ dành thì nàng lại làm già nên tôi hỏi sang chuyện khác, xoáy vào cái khuyết điểm của Thu vừa rồi:

– Sao em lơ là để cho mất khô và muối hết vậy?

– Em có ngờ đâu?

– Không ngờ gì, đã bảo là nó ăn cắp như rươi mà ! Chứ em không thấy bao nhiêu vụ trước mắt đó à?

Thu lặng thinh.

Tôi biết như thế là vừa đủ để đắp một cái đê ngăn con sông Hồng nước mắt cho nên tôi ngưng lại ngay chớ nếu xoáy sâu vào thêm nữa thì nước mắt lại trào ra và cái đê nọ lại vỡ ngay vì một lý do mới.

Xương trắng Trường Sơn

vietmessenger.com

Xuân Vũ

Post by Sơn râu 3 Aug 2025

Hình minh họa

Kỳ 11.

Chúng tôi trở về, cuốn tăng, võng, vừa ôm, vừa xách lôi thôi lếch thếch đi theo anh giao liên.

Đúng là một đám tàn quân, như lời nhận xét của ông đại diện. Chúng tôi bị lùa vào một con suối cụt. Mà khi vừa bắt đầu đặt chân vô là chúng tôi phải kêu lên: “Khó thở quá! Khó thở quá!”

Một con suối nước trong vắt, nhưng mỗi lần nhúng chân xuống rút lên tôi có cảm giác là lông chân tôi rụng hết.

Tuy vậy Năm Cà Dom vẫn pha trò. Đang đi anh ta quay lại hỏi tôi:

– Cậu có nhớ hai câu ca dao không nhỉ?

– Ca dao nào?

– Chết rồi! Nhà văn mà không biết hai câu ca dao Nam Bộ sáng tác ở miền Bắc thì chết rồi!

– Nhưng ca dao gì mới được chớ?

Năm Cà Dom nói:

– Chú ý lắng nghe nhé! E hèm! Nghe cho kỹ nhé!

Ngang lưng thì giắt su hào

Đầu đội rau muống, chân quào bánh đa.

Tôi phá lên cười thích thú. Thu cũng cười. Và cả đám lóc nhóc đi đàng sau tôi cũng cười hưởng ứng.

Năm Cà Dom vẫn thản nhiên. Một chốc anh ta hỏi tôi:

– Bà con cười thế là cười gì ông “nhà răng”?

– Cười rùm lên.

– Không phải.

– Cười ré lên! Cười hùn!

– Không phải. Viết văn phải viết cho đúng tiếng ! Đây là cười tươi như mếu! Chứ không phải à? Trong lúc muốn khóc mà lại cười không phải cười tươi như mếu là gì?

– Ái chà! Đi vào lãnh vực của tôi rồi đấy hả? Nhưng mà trong đời sống của dân gian, có mấy chục cái loại cười anh có biết không nào?

– ….

– Có nhiều, ai mà tổng kết cho hết. Chỉ có ông Nguyễn Tuân ổng mới làm nổi việc đó thôi. Ổng cho là có hằng trăm tiếng cười, kể ra đâu có xiết như cười xòa, cười khảy, cười mũi, cười rộ, cười trừ.

Năm Cà Dom cắt ngang tôi:

– Nhưng lúc nãy anh và cô Thu cười thì cười gì?

Tôi ngẫm nghĩ và đáp:

– Có lẽ là cười rộ lên, phải không?

– Chịp, tôi cũng không rõ. Nhưng mà thôi, để việc đó qua một bên. Tôi muốn nói đến cái thần tình của hai câu ca dao. Không biết thằng nào giỏi quá cơ. Nó chơi chơi mà thể hiện đúng cái con người của mình quá nhỉ.

– Ừ nhỉ thằng nào lại đặt ra mấy cái câu đó tài thật.

– Tôi chắc chắn không có một ông nhà thơ nào làm nổi!

Năm Cà Dom nói tiếp:

– Tôi không phải văn nghệ sĩ, nhưng tôi xin phép bình hai câu anh xem có tài tình không? Ngang lưng thì giắt su hào! …

– Ừ tài thật. Nó bắt chước bài Lính Thú Thời Xưa: Ngang lưng thời thắt bao vàng, Đầu đội nón dấu vai mang súng dài! Nhưng bắt chước tài tình hả?

– Ừ. Hay thật!

– Đầu đội rau muống, chân quào bánh đa! Tuyệt hả, ông văn sĩ.

Tôi cười ngất:

– Cái hình ảnh đó giống như một chiến sĩ.

– Chiến sĩ cái kiểu như ông văn sĩ bây giờ vậy đó.

– Sao?

– Thì còn sao nữa. Làm bộ hoài. Đầu đội rau muống mà chân thì quào bánh đa rồi còn gì nữa mà làm bộ gà mờ!

Tôi cười. Cái thằng cha này khó chịu thật. Nó xoi mói mình hoài. Nó lại còn trêu luôn cả Thu:

– Này cô Thu ạ! Cô đừng buồn nhé. Đó là ca dao rất phổ biến, chớ không phải tôi đặt ra đâu mà. Nước mình có ba kỳ Nam Trung Bắc. Mỗi Kỳ đều có đeo “anh xin” trên trán riêng hết thảy. Nam Kỳ thì khắc trái dưa hấu, Trung Kỳ thì in củ khoai, còn Bắc Kỳ vẽ cọng rau muống. Cho nên nói tới dân Trung Kỳ thì người anh em ta thường gọi là “Liên Khu Khoai” còn Nam Kỳ thì xanh vỏ đỏ lòng, còn Bắc Kỳ thì rau muống luộc. Ông bạn văn sĩ tôi đây ra Bắc hơn mười hai năm có lẽ ăn rau muống và su hào ngon hơn ăn dưa hấu rồi! Phải không ông văn sĩ?

– Còn anh? Ra miền Bắc chắc anh không ăn cọng rau muống nào chắc?

-Úy úy! Nhập gia tùy tục, đáo xứ tùy dân, sao không ăn ông bạn?

– Vậy sao ông bạn cười tôi?

– Nhưng mà tôi thấy ông bạn ra đi đã một tháng trời rồi mà vẫn còn ngang lưng cứ giắt su hào và đầu vẫn cứ đội rau muống như thường.

– Úy! Anh là bác sĩ, chắc anh cũng thừa hiểu rằng su hào với rau muống là những loại rau có nhiều sinh tố lắm chứ?

– Hì hì…

– Và lại anh cũng công nhận là ngo…on chứ?

– Hé hé…

– Thế cho nên trong ba lô tôi có cả giống su hào rau muống đây! Về tới nơi là tôi kiếm đất trồng ngay, để lấy giống!

– Há há! Ông văn sĩ giỏi thật ! Ông đối phó trong văn chương giỏi thật. Thế còn bánh đa thì ông làm sao mang về, bỏ nó trong ba lô thì nó vỡ hết. Này, nhớ là bánh đa chớ không phải cành đa hoặc củ đa nhé!

– Lại nữa!

Tôi tiếp:-Ông bạn lại muốn nhảy vào làng văn ngồi chồm hổm trong đó rồi. Thì bánh đa chớ cành đa củ đa mang làm chi? Trong mình thì có bánh tráng đó, có khác gì bánh đa mà phải mang cho tốn công?

– Ừ ừ vậy hả.

– Chớ sao?

– Nhưng này ông văn sĩ!

– Gì?

– Tôi thú vị nhất là cái chữ quào bánh đa đó.

– Sao vậy?

– Vì tôi hình dung bọn dưa hấu mình sống trên đất Bắc, anh nào cũng tham lam quá. Ngang lưng đã giắt cả lố su hào rồi, lại còn tham lam, dầu lại đội thêm rau muống, đầu đã đội thì hai tay phải vịn cho chắc kẻo rơi hết, thế là bận hết hai tay còn đâu mà hoạt động! Cho nên hai chân phải “quào” lấy bánh đa chớ không chịu ở không! Gớm thật!

Năm Cà Dom bỗng đưa tay ngoặc cổ tôi lại và rỉ tai tôi:

– Như anh cũng giỏi đấy. Đi đây rồi mà còn ráng quào chớ cũng không chịu nghỉ ngơi!

Tôi cười và đẩy Năm ra vừa lúc Thu quay lại:

– Không nên nói nhỏ với nhau trước mặt người khác.

– Đâu tôi có nói trước mặt ai, tôi chỉ nói sau lưng thôi chứ.

– Trước mặt tôi đây còn không nữa à?

– Tại cô quay lại cho nên tôi mới thành ra ở trước mặt cô như thế!

Thu quay lại giữa tiếng cười chế riễu thành công của Năm. Thu cứ lẩm bẩm:

– Các anh nói xấu tôi đó hả?

– Cô đẹp thì ai nói xấu được! Ai trở mặt làm trái được?

– Gớm! Anh lắm mồm thế. Tôi chưa thấy anh Nam Bộ nào tay năm miệng mười như anh! Người ta bảo Nam Bộ thật thà lắm!

– Ừ đúng! Đú. . đúng! Thiệt thà bắt con gà đổi con vịt như ông bạn văn sĩ của tôi đây này!

– Sụyt! Thôi mà.

– Thôi sao được! Cô ấy bảo mình tay năm miệng mười! Chúng mình chỉ có hai tay và một miệng chớ đâu có tới… nhiều miệng…?

– Thôi, tôi lạy anh, anh như con đĩa đói ấy, bám vào đâu cũng khó gỡ cả.

– Hì hì… thì để cho dưa hấu thử tài với rau muống thử xem!

-Ai mà đấu cho lại anh!

Nói lải nhải như vậy mà chúng tôi đã đến nơi. Nói là đến nơi, nhưng không có vẻ gì đến nơi cả. Nhưng người ta bảo là đến nơi vì thấy có người hạ trại dài bên bờ suối. Kết quả của bài diễn thuyết của ông đại diện bộ tư lệnh là lùa đám tàn quân này vào cái suối này để ở ngoài ông ta nhét nút lại chắc!

Tôi bàn với Năm Cà Dỏm là đi tìm một chỗ nào tốt để đóng quân. Có nhiều đoàn cũng lao nhao như gà lạc mẹ đi tìm ổ như chúng tôi thành thử ra có cả một dãy người kéo lê thê đi tìm nơi hạ trại. Cứ đi dài dài, chân thì bước chậm rãi, mắt thì ngó hai bên bờ suối hễ chỗ nào tốt mình muốn dừng lại thì cũng đã thấy người nằm sẵn đó rồi.

Chúng tôi đi lộn xộn không còn giữ đoàn ba đứa như trước nữa hẹn với nhau rằng hễ đứa nào tìm được chỗ tốt thì gọi hai đứa kia đến.

Lộn xộn như thế nào mà một chốc, tôi lại đi sau lưng cô gái tóc quăn quăn lúc nãy tôi gặp trên kho gạo. Nghe cô nói chuyện với những người đi trước thì tôi biết đó là một cô gái quê ở vùng Tân Châu thuộc tỉnh Long Xuyên hay Châu Đốc chi đó và cô là người của Trường Nông Lâm Trung ương về Nam để chỉ dẫn cho nông dân vùng “giải phóng” cày cấy lúa và các thứ ngũ cốc khác. Đang đi bỗng có một nhánh tre ngã ngang qua đường. Ai đi qua cái nhánh tre đó cũng quẹt vào người và quặt lại phía sau như một cái ngọn cần bẫy.

Cô gái đỡ cành tre không cho quẹt vào người cô, và khi đi qua xong, cô không buông nhánh tre mà cầm giữ nó quặt ra phía trước, ý cô sợ nhánh tre quất vào mặt người đi sau bất ngờ không đỡ kịp. Cô quay mặt ra phía trước mà vẫn còn giữ cành tre như thế chờ cho tôi đi qua xong cô mới buông nhánh tre ra.

Ôi chao! Bàn tay cô đẹp thế. Những ngón tay thon thon hơi béo tròn và đúng là mũi viết.

Khi bàn tay buông nhánh tre ra rồi, cái hình ảnh dịu dàng của bàn tay ấy cứ ở lại mãi trong đầu tôi.

Và cái cử chỉ lề độ nhã nhặn đó nữa! Đi trên đường rừng này mà cô vẫn không quên cái văn minh của những nơi không phải là rừng.

Và có lẽ ở đời luật vay trả là sự công bằng chánh trực nhất để cho cái nhân tình thế thái, cho nên đi lộn tới trở lui thế nào mà chập sau tôi lại đi lên trước cô ta. Rồi lại đến một cái lạch nước và mấy bậc đá khá nguy hiểm, tôi phải chìa tay ra để lôi cô lên.

Tôi đưa tay cho cô, mà tim hơi rung động. Tôi bảo:

– Cô nắm tay tôi đây này, kẻo trợt ngã.

Cô gái tóc quăn ngần ngại mãi không chịu nắm tay tôi. Cô ta ngó quanh quẩn tìm xem có chỗ nào cô bước lên mà không cần đến bàn tay của tôi không ? Một bàn tay xa lạ với cô ta. Vậy cũng phải thôi. Ai người ta lại trao tay cho người khác dễ dàng như vậy?

Tôi chờ đợi, với một ít xốn xang trong người.

Cuối cùng nàng phải đưa bàn tay cho tôi. Tôi hơi hoa mắt. Cái bàn tay gì đẹp kỳ lạ thế. Nó như một cái búp non đẫm sương vừa nhú đêm qua và khoe sắc trong tia nắng đâu tiền của mặt trời hồng mà tôi đứng trước nó là một gốc cây hết nhựa.

Tôi đưa tay tôi ra chậm chạp, e ngại, có phần rung động mà nắm lấy tay nàng. Tôi không cảm thấy gì ngoài sự tưởng tượng rằng mình đang nắm lấy một mảnh nhung.

Rồi thôi, chỉ trong chớp mắt tay tôi và tay nàng rời nhau ra, tạm biệt. Một ít đau khổ!

Tôi còn đang bâng khuâng trước cuộc tao ngộ và tạm biệt bất ngờ đó thì có tiếng Thu gọi từ bên bờ suối.

Tôi giật mình đánh thót như một kẻ cắp bị bắt quả tang.

Chết chữa ! Đáng lẽ một con người như tôi bây giờ thì không nên mơ ước gì hơn nữa. Vì trên đường Trường Sơn chó ăn đá gà ăn muối xác rác xơ rơ tả tơi tan nát như thế này mà lại có cả một mùa… Thu thì còn mơ ước cái gì nữa.

Vậy mà rồi tôi vẫn có trong tôi một sự nhóm lên của ước mơ. Thu đã trông thấy cái cử chỉ vừa rồi của tôi với nàng tóc quăn và ..có lẽ nàng cũng đoán ra những tình cảm tôi. Nàng đã tìm ra được chỗ tốt và đứng đó chờ tôi đi qua. Tôi đi theo nàng, không dám quay lại nhìn cái bàn tay kia lần nữa.

Thu nói:

– Chỗ này tốt lắm anh ạ.

– Còn anh Cà Dom đâu?

– Ở kia kìa.

– Chào ông nhà. . . răng ! ông đi tìm đề tài hả? Cha chả cái đề tài đó hay lắm đó, ông đã bắt được lúc ở kho gạo mà có hứng chưa? Nếu tôi không nhầm ….

Năm Cà Dom tuôn ra có loạt nghe mà mệt đi thôi.

Tôi quát:

– Anh cho tôi nghỉ một chút!

– Khà khà… à à anh đang “mệt” phải không. Tim anh đang đập mạnh mà!

– Anh lúc nào cũng bắt mạch người ta.

Chúng tôi vui vẻ sửa soạn chỗ ở.

Thôi rồi! ở đây là nơi “nghỉ ‘ngơi” lâu dài không hẹn ngày tái hành trình. Bao giờ đi tới được nữa?

Anh giao liên không ló mặt ra lần nào để tôi có dịp hỏi chuyện, nhưng Thu thuật lại anh ta có nói với Thu rằng cứ nằm đây chừng nào có lệnh thời đi, nếu đi không được phải quay trở ra. Thu thuật lại cho tôi nghe, với sự thích thú lộ ra mặt về cái vế thứ hai của lời nói anh giao liên.

Thu đang mong điều đó.

Mưa, chao ôi mưa rừng. Ở giữa rừng lạnh, đã buồn lại thêm mưa mà mưa dai dằng vô cùng, mưa nặng hạt mưa tai hại chứ đâu phải những trận mưa mát thịt da tươi cây xanh lá như ở đồng bằng. Mưa trói chân trói cẳng và làm rệu rã cả lòng người.

Có lẽ trời đã về chiều, nhưng không có dấu hiệu gì của buổi chiều cả. Cuộc đời chúng tôi cũng đang lúc chiều tà như cảnh núi rừng này vậy.

Thu thì đang ước mong đường tịt để “quay” một cách hợp pháp, còn tôi thì đang xốn xang bứt rứt vì sợ đường tịt phải làm một tên “bê quay” bất đắc chí, riêng bác sĩ Cà Dom thì nằm võng hát hê hát hà không tỏ vẻ lo lắng ái ngại chút nào cả.

Tôi hỏi anh ta:

– Anh đang nghĩ gì đó?

– Cái ăn.

– Cái gì?

– Xem cái gì ăn được thì ăn!

– Có khô có muối có gạo rồi.

– Bấy nhiêu mà đủ à? Tôi nghi phen này nằm lại ít ra là một tháng Cậu biết chưa?

– Tôi đâu phải thầy bói.

– Bói biếc gì, nhưng để rồi xem. Tình hình này găng xi măng lắm. Nghe nói tốp đi trước mình bị biệt kích xơi một cú nặng. Nguyên cả đội xích hầu Trung đoàn bị giết sạch, một tay Trung đoàn phó bi mất tích. Tôi nghi là bị bắt sống. Nếu bị bắt sống thì nguy hiểm vô cùng. Kế hoạch hành quân lộ bí mật, nhất định nó sẽ chặn đường mình. Thế là mình treo võng nằm đây đến mục dây võng mới đi được.

Tôi thở dài.

Thu lặng thinh. Có lẽ Thu không vui trong lúc đáng lẽ Thu phải vui, vì nếu không đi được thì phải trở lại về. .. Hà Nội, giờ đối với Thu về Hà Nội đâu phải là nhảy lên tàu điện mua cái vé hai xu rồi đứng treo tay trên nóc tàu nhìn phố xá diễn hành qua mặt mình, chưa mỏi chân là từ Câu Giấy về đến nơi. Cho nên. theo tôi đoán thì tâm sự Thu bời bời. Cứ đi một bước đi một bước ngập ngừng nhưng phải đi vô mà đi làm gì, chính Thu cũng không xác định được, chỉ có đi ra là xác đinh được mục đích mà thôi. Ra để không bao giờ vô nữa.

Năm Cà Dom khuấy tan cái không khí vắng lặng mà thường thường nó là cái đống rơm đầy meo bất mãn ủ đến độ cho những tai nấm bất mãn muôn màu mọc lên.

Năm Cà Dom nói:

– Thôi mình đi kiếm ăn cái đi!

Tôi hỏi:

– Kiếm cái gì?

– Xách dao đi cái đã rồi sẽ biết mình kiếm cái gì chớ nằm lắc võng thì biết kiếm cái gì, mà có muốn kiếm cái gì cũng không kiếm được ngoài mấy chú “đòn xóc”.

Rồi Năm Cà Dom bảo Thu:

– Thôi Công chúa Nương Mỵ Ê ở nhà nhé. Đừng có mếu nữa xem nó ê ẩm ruột gan lẩm công chúa ơi!

Tôi bật cười. Thu cũng cười.

Cái anh chàng này không hiểu sao mà cứ càng nói càng có duyên thêm. Ở đâu mà y lại nhớ cái tiếng Mỵ Ê và phóng ra trong lúc này vậy?

Nhìn gương mặt Thu đúng là “ê” thật.

Hai đứa xách dao ra đi như hai chàng hiệp sĩ xách đoản kiếm đi phiêu lưu trong miền hoang dã.

Suy nghĩ mãi rồi, không lối ra cho nên tôi cũng không buồn suy nghĩ nữa, miễn sao đừng sốt thì thôi tới đâu thì tới.

Hai đứa cứ đi lang thang dọc theo bờ suối, nhìn chỗ này ít cái, nhìn chỗ kia ít cái, chỗ nào cũng có người. Chúng tôi đi mãi cho đến không còn người đóng trại nữa. Con suối lạnh buốt cho nên chúng tôi ít dám lội dốc nước và tránh ướt chân.

Tôi có cảm giác lạch suối như một làn máu bầm chảy ra từ một vết thương kinh niên.

Đi một chập thấy có mấy người chặn một khúc suối để tát bắt cá. Một chập lại thấy mấy người khác giở những hòn đá lên để tìm bắt những chú cua. Những chú cua này đen như than và to bằng những chú cua cắn mạ ở đồng bằng Nam Bộ nghĩa là bằng ngón chân cái, nhưng trông nó khô khan man rợ chứ không có vẻ màu mỡ như cua đồng.

Đi một chập nữa, lại gặp một anh cán bộ quân sự. Anh này cầm trong tay một khẩu K54. Anh đi rón rén và nom xuống xem xét những trũng nước, như một chú cò soi những con cá dưới ruộng. Bỗng anh ta dừng lại rồi, đoàng! đoàng!

Nước tóe lên trắng xóa, vằng vào cả mặt anh ta, vuốt mặt và càu nhàu, văng tục:

– Tao cho mày chết! Đ. m! Tao cho mày chết!

Rồi anh ta tìm mãi cái gì ở chỗ anh ta vừa nổ súng. Chúng tôi hỏi ra mới biết anh ta bắn vào một đàn cá lòng tong. Năm Cà Dom cười:

– Xạ thủ nhất hạng bên Tây

– Hạng nhì bên ta! Tôi cười và hỏi anh chàng xạ thủ: Đồng chí bắn được mấy con rồi?

– Đâu có được cái khỉ gì đâu ! Trông kìa, nó chạy ngờ ngờ đó, bắn liền mấy phát mà không trong ma nào cả.

Năm Cà Dom lôi tôi đi và nói:

– Cái thằng khùng.

– Sao?

– Cán bộ quân sự gì vậy ? Không hiểu qui luật của đường đạn chi cả. Bắn bừa như vậy, viên bạn có thể xẹt trúng mình đầy ! Năm Cà Dom giải thích tiếp:

– Hồi kháng chiến chống Pháp, tôi cũng thấy một thằng cha bắn súng cái kiểu đó. Đó là thằng cha Thiếu lăng quân. Y đi cầu. Cá chốt bu lại rỉa. Thế là y móc súng bắn luôn một loạt remington. Viên đạn xẹt lên sượt trán may không thôi chết.

Không đợi tôi hỏi thêm, Năm Cà Dom tiếp.

– Vì viên đạn vọt ra khỏi nòng súng đỏ như thỏi sắt nung, chạm vào nước gây ra một phản ứng rất mạnh, cho nên đường đạn không còn bình thường mà nó quặt sang hướng khác rất bất ngờ, ông văn sĩ hiểu chưa?

Năm Cà Dom ngẫm ngẫm một lát rồi nói tiếp:

– Cũng như bây giờ mình đang đi tìm cái ăn thơ thẫn dọc con suối này, nếu có thịt nai, thịt heo phía bên phải bên trái thì mình quay ngang ngay, ai can cho lại.

Chúng tôi đang đi thì thấy từ trên nguồn có hai người đi xuống. Họ cầm trên tay mấy cái gì giống như tàu hủ cau. Một người vừa bẻ ra từng mảnh và cho vào mồm. Tôi chưa kịp hỏi thì Năm Cà Dom đã hỏi trước:

– Cái gì đó, cho tôi thử với.

– Cây đái! Kia kìa! Thiếu gì đó!

Một người chỉ tay vào bụi rậm. Và tiếp:

– Hạ xuống mà ăn! Coi vậy chớ ăn khá lắm. Giống in như cái củ hu cau trong mình.

Tôi và Năm Cà Dom nghển cổ cò lên nhìn.

Trong lùm rậm vượt lên những thân cây xám suông óng như thân cau, lá cũng giống như lá cau, nhưng nó lại không có buồng có trái. Cả một chòm mươi cây như một bờ cau nho nhỏ ở quê nhà.

Tôi biết Năm Cà Dom cũng đang nghĩ như tôi về giống cây rừng này, nhưng Năm Cà Dom không nói chi cả. Anh ta không hay biểu lộ tình cảm về quê hương ra ngoài , trái hẳn với tôi, cái cây ngọn cỏ cái gì cũng làm cho tôi nhớ quê hương lạ lùng.

Năm Cà Dom nói phang ngang, có lẽ để gạt phăng đi cái tình cảm trong tôi mà y đoán biết:

– Đốn được một cây có mà hụt hơi.

– Nhưng muốn ăn thì phải đốn.

– Cái gốc cây to quá cụ ơi!

– Sao mà to dữ vậy?

– Xem kìa. Tôi trỏ vào bụi rậm. Cái gốc đó làm sao mình hạ cho nổi.

Năm Cà Dom nhìn tôi và cười:

– Sao cái gốc kia thì hạ nổi? Nhứt… nhì kéo cưa mà!

– Hì hì… anh cũng hiểu rồi, lựa là phải hỏi.

– Thì hỏi vậy thôi! Nhưng gốc kia hạ nổi thì gốc này cũng phải hạ nổi chứ.

Chao ôi, bây giờ đứng lên ngồi xuống, ngồi xuống đứng lên cũng phải lượng sức mình nữa là chuyện đốn cả một cái cây to tướng như thế bằng lười dao găm to bằng ba ngón tay và lục như trành bằm.

Nhưng muốn ăn phải lăn vào bếp.

Phải nghĩ xa mà tiết kiệm số khô và muối vừa giật được, chứ nếu chúng tôi biết rõ lúc đi và ngày đến như mọi khách bình thường khác thì lựa là phải tiết kiệm làm chi?

Năm Cà Dom đã lủi vô bụi vạch đường chui vào sát gốc cây và ngoắc tôi:

– Vô đây nghiên cứu!! .

– Ngửa còn chưa xong nữa là “nghiêng. “

-Có khi phải nghiêng, nhưng chính là phải ngửa!

– Gì…

– Nếu mà cậu làm cha ở dọc đường này thì con cậu sẽ tên là Trường Sơn hả?

Tôi giật mình đánh thót:

– Cái gì cơ?

– Ừ thì cái đó đó!

Tôi như bị bấm trúng mạch tim, tôi ậm ờ một chốc rồi trả lời.

– Nhưng mà theo luật ô-gi-nô thì không có đâu.

Nhưng Năm Cà Dom là bác sĩ. Hắn đâu có dễ gì mà nghe lời tôi phân bua. Hắn nói.

– Lần đó thì không sao, đúng rồi, nhưng lần khác thì biết đâu đấy!

Tôi lại muốn cãi nữa, nhưng Năm Cà Dom đã nói tiếp ngay:

– Tôi nói như vậy là vì ông bạn văn sĩ ơi, có những trường hợp kỳ cục lắm. Người vô Nam hai năm đi chưa tới nơi. Đấy, ông bạn thấy chưa?

– Gì mà ghê gớm thế hả?

– Ủa, có thật mà. Tôi có quen một thằng bạn. Nó khỏe như vâm.Nó đi vô nam rồi trở ra dắt vợ vào.Nói đúng hơn là nó cõng vợ nó đi luôn. Nhưng đó chỉ là một trường hợp mà cậu không tài .nào làm được. Còn có trường hợp một anh bạn đi hoài không tới. .

Cứ hễ nó vô tới khu Sáu là bắt đầu đau, đau nằm đã đời, chữa bịnh không khỏi, cho nên bắt buộc anh ta phải quay ra.

Năm Cà Dom kể tiếp:

– Nhưng số kiếp long đong, Trường Sơn nặng nợ, cho nên vào không thấu thì lại ra, ra rồi lại đút đầu vào. Mà anh ta thiệt cũng liều. Nhưng kể ra thì cũng không phải là liều, mà vì nhớ nhà nhớ cửa quá sá, chớ ai không biết con đường này là con đường chết. Mà vẫn phải đi. Qua cái chết, tìm cái sống. Thế đó.

Thấy ông Cà Dom đi vào triết lý, tôi chêm thêm:

– Thì đúng vậy cũng như chúng mình bây giờ đây, nếu quê hương mình là Lào Kay, Yên Bái thì buộc mình đi sau đít xe tăng mình cũng chơi lại. Dễ gì mình đi! . . .

– Ồ tớ đã nói cậu không có giấu giếm mà ! Tớ đã bảo tớ về đến nơi là tớ nuôi ngựa đua liền! Đó là nghề của tôi, còn bác sĩ là nghề bất đắc chí. Chớ không bất đắc chí à ? Tôi nói thật, từ ngày tôi biết cầm kim chích cho người ta tới nay tôi toàn gặp những gì đâu, thật khó chịu. Nhất là trên đường này. Cậu xem đó, mổ ruột thừa mà bằng lưới cạo râu. Hỏi chớ thế giới cổ kim ở đâu có trường hợp này?

Tôi lủi vào ngồi với Năm Cà Dom bên cái gốc cây mà Năm định hạ xuống để ăn củ hủ. Tôi hỏi:

– Phải kỳ được mình nghe vụ mố ruột thừa bên kia sông Bến Hải đó không?

– Ừ, cái vụ đó chớ vụ nào, anh coi có chết người không ? Nếu anh là bác sĩ, anh lâm vào trường hợp đó thì anh nghĩ thế nào.

– Nghĩ thế quái nào được. Thôi bỏ đi, bây giờ thì lượng thử sức xem có đốn nổi cái gốc cây này không?

Năm Cà Dom hăm hở rút con dao găm mà Năm đã bao lần khoe là rất bén ra chém hai ba cái liền, rồi năm sáu cái tiếp nữa. Năm Cà Dom nhìn vết chém trên thân cây và lắc đầu.

Năm Cà Dom thở ra và lại lắc đầu.

– Không được.

– Sao?

– Thử đốn vài nhát rồi biết.

Tôi nhìn vết chém, rồi sờ vào đó. Vết chém như vết trầy trên da bị gai quào. Nó cứng như gốc cau.

Rồi Năm mau mau lủi ra. Tôi cũng lủi theo. Tuy không được gì nhưng rất mừng. Thà nhịn còn hơn phung phí sức lực với gốc cây này. Đâu còn sức để mà phung phí. Ở đây thiếu tất cả. Chỉ có một cái thừa. Đó là tật bệnh, đói khát.

Chúng tôi trở ra bờ suối thả xuôi về. Tôi bỗng nom thấy một dáng gầy lóm thóm đi với bộ chân chằng hiu. Và đặc biệt mớ tóc bạc trắng như bông. Tôi gọi:

– Hoàng Việt!

Văn Hải Ngoại Sau 1975

vandoanviet.wordpress.com

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 2 Aug 2025

Kỳ 63

Tên thật là Phạm Vĩnh Xuân. Sinh năm 1943 tại Thanh Hóa. Cựu sĩ quan Hải quân QLVNCH. 1975 – 1980: Học tập cải tạo. 1981: Tới định cư tại Hoa Kỳ.

Hiện cư ngụ tại Texas.

Trước 1975 đã xuất bản nhiều tập thơ, nổi bật nhất là “Dạo Núi Mình Ta”, và nhiều truyện dịch.

Ở Hải ngoại, đã xuất bản:

Đại Học Máu, ký, Nhân Văn in lần 1, Hoa Kỳ, 1985. Nhân Văn in lần 2, Hoa Kỳ, 1985.

Thơ Viết Giữa Đường, thơ, Tân Văn, Hoa Kỳ, 1988.

Chị Em, truyện dài, Tân Văn, Hoa Kỳ, 1988.

Ông H.O., tập truyện, Thế Giới, Hoa Kỳ, 1993.

Cố Hương, tập truyện, Tú Quỳnh, Hoa Kỳ, 1994.

Hoà Bình và Tôi, thi tập, HTĐ Việt Báo, Hoa Kỳ, 1994.

Dưa Cà Mắm Muối, tập truyện, Văn Mới, Hoa Kỳ, 1996.

Về, tập truyện, Văn Mới, Hoa Kỳ, 1996.

Đêm Hè, tập truyện, Văn Mới, Hoa Kỳ, 1997.

Tống Biệt Hai Mươi, tuyển tập 50 truyện, 1 kịch, 10 thơ, Xuân Thu, Hoa Kỳ, 1999.
Tủi Nhục Ca, 11 tù khúc, Khánh Ly hát, Hoa Kỳ,1982.

Hẹn Em Sài Gòn, 12 ca khúc, các ca sĩ Phong Trào Hưng Ca hát, Hoa Kỳ, 1986.

Người Em Quận Cam, 12 tình khúc, Hồng Hạnh hát, Hoa Kỳ, 2005.

Sinh Ca, tuyển tập 56 ca khúc, Văn Mới, Hoa Kỳ, 2003.

Lạy Em Mênh Mông, tuyển tập 30 tình khúc, Tuyết Lê Productions, Úc châu, đang in.

(theo http://newvietart.com/HATHUCSINH-hoaky.html)

Lạc Nhau

Nàng đã gần bốn mươi nhưng nhìn thoáng như mới ba mươi, có vẻ đẹp cứng cỏi của một loài hoa xương rồng, quen lẻ loi và tự tin chịu được sự thử thách của mọi thời tiết. Nàng quan niệm hạnh phúc là một đời sống biết thoả hiệp với hiện tại, có thể vì thế ngay khi chân ướt chân ráo đến Mỹ, nàng đã cặm cụi học một nghề chuyên môn. Giờ nàng là một dược sĩ, làm ca đêm cho một dược phòng ở phố South Pasadena. Nhiều năm qua nàng chia phòng với mấy cô bạn nơi một căn nhà trên đại lộ Atlantic phố Alhambra, đoạn trồng nhiều dừa và tử kinh đào. Nhà và sở cách nhau mươi phút lái xe. Trước rảnh là nàng đọc sách, ít giao du, thậm chí ít ra ngoài sân ngồi. Nàng sống an nhiên tự tại. Gần đây cuối tuần nàng hay ra bao lơn ngồi nhìn núi. Ấy là vì trước nàng manh nha hiểu hoả ngục là sự cưỡng hợp giữa hai con người trái tính, nay hiểu thêm xua một người khỏi nhà không khó nhưng xua một tình yêu khỏi đời không dễ, vì thế lòng an nhiên tự tại có mẻ đôi phần. Thật vậy, nàng vẫn thường hình dung ra chàng mỗi khi nhìn lên dãy San Gabriel. Vào mùa sương mù núi nhạt hẳn. Có lúc nàng đã bắt gặp trên đó đôi nét cũ mờ, giông giống những bức ảnh từng treo trong phòng chàng, và điều đó có gây cho nàng chút hoảng sợ âm thầm.

Ngày ấy như mới đâu đây.

Đó là một chiều trước ngày lễ Tro, từ nhà cô bạn trên miệt El Monte nàng chạy về sửa soạn đi làm, về đến Alhambra xe chết máy thình lình. Hai cậu thanh niên Mỹ vừa đẩy giúp vào khu đậu xe của một thương xá thì gió đổi chiều. Một lát có hơi nước. Núi trở đen như thỏi mực Tàu. Rồi mưa. Mưa mù trời đất. Nhà cửa mờ nhạt. Con người mờ nhạt. Cả thành phố thung lũng chỉ dãy núi là còn khá rõ. Nàng bước đại vào tiệm Mervyn’s trên đường Main, vừa để đụt mưa vừa hưởng chút ấm áp của máy điều hoà. Nàng xem đồng hồ tay. Còn hơn tiếng. Nàng gọi điện thoại cho hãng trục xe, yên tâm dạo qua các quầy hàng xem chơi, tính gần tới giờ sẽ gọi về nhờ cô bạn đến chở tới sở.

Đang ơ hờ ngắm mấy lọ nước hoa thì chàng đến bên. Chàng như có ngại ngần giây lát mới hỏi:

“Cô Nữ?”

Nàng nhìn chàng, một người đàn ông quãng bốn lăm, ăn mặc hơi cẩu thả, cao gầy, mắt sâu, tóc hơi mỏng, dài. Đặc biệt nụ cười không tươi.

“Vâng…” Nàng đáp, cố thản nhiên.

“Tôi là Hoài, bạn học của anh cô ngày xưa.” Chàng cười bối rối: “Không dè…”

Nàng ngạc nhiên, tính đặt câu hỏi, nhưng như đã đoán ra trước ánh mắt dò chừng của nàng, chàng đổi nét bối rối sang nét thân mật, nói chận: “Hồi ấy thú thật tôi chưa có dịp đến chơi nhà, nhưng bọn trai trẻ, cô Nữ hiểu, không biết bạn mình có em gái đẹp còn lỗi nào lớn hơn?”

Nàng không rõ lắm mình bẽn lẽn hay khó chịu trước lời khen tặng. Nó có vẻ đột ngột, gần với sự suồng sã. Nàng muốn tỏ một thái độ chi đó, không xong, đành nói:

“Dạ không dám.”

Chàng lại hỏi, giọng hồn nhiên hơn:

“Thế gia đình cô sang đây hồi nào, ông anh mấy cháu rồi?”

“Dạ… tám năm trước tôi vượt biển có mỗi mình. Anh tôi mất vì lao sau ba năm tù.”

Nàng buột miệng và tự ngạc nhiên về sự thành thật hơi sớm và hơi quá của mình. Nhưng chàng thì thoáng nhăn mặt, giọng xa vắng:

“Hoá mỗi tôi đào ngũ. Mới ngày nào chung lớp chung trường, rồi động viên cùng lượt, giờ bể dâu hết. Thế cô Nữ có gia đình chưa?”

Nàng xốc lại chiếc ví đeo vai. Thủ. Nàng tính nói dối đại một câu, nhưng chẳng rõ lý do vẫn cứ thành thật:

“Dạ chưa…. Thế anh ở đâu?”

“Có nên hỏi một người homeless sống ở đâu không? Gặp cô Nữ mừng lắm. Tôi xa nhà từ 75, thế mà, vâng, thế mà thoáng thấy cô tôi nhận ra ngay.”

Khi ngồi đối diện với chàng trong quán cà phê ngay cạnh tiệm Mervyn’s nàng mới hoảng ngầm trong bụng. Và khi chàng chở nàng đến sở, lái xe đi, nàng mới tự hỏi tại sao người ta chỉ quen báo động sự nhẹ dạ cho những bé gái mười lăm mười bảy? Nàng đã tin nhẹ dạ là cái bóng không rời của mọi trái tim đàn bà.

Phòng trọ của chàng nằm trên đường Commonwealth, một nhánh của đại lộ Atlantic. Có lần ghé chàng, qua cửa sổ, chàng chỉ đúng nóc nhà nàng và nói: “Hơn năm ở đây nào ngờ em ở ngay kia. Thật ném lá thư tình cũng tới.” Nàng cười lặng lẽ. Nàng không còn lạ lối ăn nói hồn nhiên, đôi khi thi vị của chàng. Chàng không là một thi sĩ đó sao? Mà thi sĩ là gì nếu không phải một sự giản dị khó hiểu? Họ chua chát hoá một cuộc đời họ yêu rộn rã; họ phá sản hoá một tâm hồn vốn đầy dẫy tin yêu; họ say đắm họ và đồng thời họ coi thường họ. Có thể nàng hiểu chưa đủ về một con người như chàng, nhưng tạm để hiểu chàng là thứ người chỉ có một mảnh hồn bé nhỏ nhưng muốn chia cho tất cả.

Dù sao nàng đã yêu chàng, dễ dãi, nhanh chóng, bất ngờ nữa; giống một cô gái kỵ rượu trong ngọn lửa ấm một đêm liên hoan, nể đời, nàng nhấp thử chút rượu ngọt và say, nhưng đáng sợ là từ đó mỗi ngày không có chút rượu nàng không biết tìm đâu ra một cảm giác ấm lòng huyền diệu.

Và như thế, eo ôi, nàng đâu được phép để nguồn tình yêu của nàng phải bệ rạc. Mà chàng thì bệ rạc, hiểu theo nghĩa của nàng.

Chàng làm việc tại nhà. “Mười mấy năm qua anh chưa từng làm việc cho tên Mỹ nào.” Một lần chàng nói như thế với nụ cười khó hiểu. Đúng ra chàng nhận hàng về làm từ một studio chuyên sửa và chụp lại các ảnh cũ của một người bạn trong vùng, vì thế phòng chàng lúc nào cũng bừa bộn. Phim ảnh giăng ngang dọc như người ta phơi tã. Những thuốc màu, hoá chất, cọ lớn cọ nhỏ, khay nước rửa, máy sấy… Đó là một thế giới có chai lọ nằm trên nệm giường, ổ bánh mì nằm trong gầm bàn, đoá hoa cắm trong chai bia, lịch sử gắn trên vách. Quả vậy. Trên vách phòng chàng nàng có thể thấy lại được các tấm ảnh chụp đủ kỳ quan đất nước, những hình ảnh chiến tranh ác liệt, những cô dâu chú rể ở vào thời nàng chưa ra đời, thậm chí những đám ma; nói chung, đủ quan hôn tang tế.

Có lần chàng vui vẻ chỉ một tấm ảnh, nói:

“Đòi bằng được anh khoả thân giúp.”

“Hả?”

“Ông chồng thì xin lột hộ khăn đóng áo dài, bà vợ thì xin lột hộ chiếc áo gấm nhị thể. Họ muốn com-lê váy đầm cơ.”

“…!”

“Nữ đoán coi nhiêu?”

“…?”

“Nàng bảy bó chàng bảy bó rưỡi.”

“Rồi sao anh?”

“Rồi sao? Phải đúng hẹn chứ sao. Ba ngày nữa giao. Các cụ ấy mà. Biết đi lúc nào. Kịp giúp họ góp thêm tiếng cười nhạt vào một sân khấu đã thừa trào lộng không là việc phúc đức?”

Đại loại đó là công việc của chàng. Chàng nói vui nhưng không biết chàng làm có vui. Một buổi đến chơi chàng như quên mất có nàng bên cạnh. Chàng cặm cụi tô vẽ một bức ảnh, có lúc dừng tay bâng khuâng, ngẫm nghĩ. Nàng có cảm tưởng bức ảnh  như chất xúc tác bén nhạy cho chàng cọ sát với dĩ vãng từng ngày. Trong cái thế giới tĩnh vật chàng tiếp cận, có nhiều dấu hiệu nó không êm ả mà hàm chứa một mãnh lực khác thường. Có thể chàng nghĩ nó như dòng nước ân huệ đem phù sa bồi mãi vào một bên bờ có mình chàng đứng, giữa khi bào mòn bờ bên kia là đám đông có nàng, hay cặp vợ chồng già đòi thay quần áo mới trên tấm ảnh cũ.

Chàng thao thức nhiều với dĩ vãng. Nàng đoán vậy.

Được cái không bao giờ chàng sai hẹn với hiện tại. Cho dù cả buổi trời gọi điện thoại, thậm chí đến tận phòng tìm không gặp, nhưng năm phút trước giờ nàng đi làm chàng đã đậu xe trước nhà, và năm phút trước giờ tan sở nhìn ra khu đậu xe đã thấy xe chàng.

Khi lái xe trên đường khuya chàng ít nói. Những đêm gió thổi bần bật bên tai chàng chẳng buồn lên kính. Trong xe nàng chỉ thấy tóc chàng bay rối làm mờ thêm một nửa mặt vốn đã không rõ nét. Nhưng nàng biết đó là lúc chàng lại mải mê đeo đuổi những kỷ niệm nàng không thể tham dự.

Một lần nàng hỏi:

“Lái xe mà sao anh cứ nhìn núi?”

Chàng thở dài, nói nhỏ:

“Đây dễ lạc nhau quá. Phải giữ lấy một điểm chuẩn, phòng khi…”

Nàng không tin mình hiểu thấu đáo ý chàng. Đôi khi nàng có ngờ đó là một loại tâm thần. Nàng tính đề nghị chàng nên đi học lại, kiếm một nghề chắc chắn, quân bình lại cuộc đời, nhưng rồi ngại đó có thể là lời khuyên không khéo, lại thôi.

Lát sau nàng hỏi:

“Hoài à, hình như nhiều người không chấp nhận được xã hội này… Anh sao?”

Chàng cười:

“Chữ chấp nhận xa xỉ quá, anh có chi nổi. Vấn đề là làm sao yêu được một thứ mình không yêu.”

Nàng bối rối:

“Vậy cuối đường chúng ta là gì đây? Đừng giận em nói thật nhá. Lêu bêu là một ngụ ngôn xấu hổ cho tình yêu đấy.”

Chàng chỉ nhìn nàng, không phản ứng. Nàng mơ hồ hiểu hơn về một điều đáng sợ. Có những người hoàn toàn không sống với thực tại. Có thể chàng là một mất rồi.

Và cứ thế, đêm đêm ngồi với nhau một lát trong bãi đậu thảng thốt tiếng chim khuya, hay tấp vào cây xăng rẻ tiền, hay lái trên con đường một bên nhà cửa một bên núi đen sẫm, chàng không kể nàng nghe những chuyện trong ngày, thậm chí chuyện lứa đôi, chàng cứ nhắc tới những câu chuyện cũ mà trong thâm tâm nàng không mấy gắn bó, không thể chia sẻ.

Một hôm nàng rủ chàng đi với nàng dự một dạ tiệc của hiệp hội dược sĩ trong vùng, trùng ngày 30-4. Chàng ra dấu ngần ngại. Nàng khuyến khích. Chàng hỏi:

“Người ta có thể đến với bữa tiệc chung bằng một ý nghĩa riêng?”

Nàng cười:

“Ăn cá nhớ biển, ăn thịt nhớ rừng; mà ngược lại chẳng ai bỏ tù mình.”

“Được, vậy đi. Anh sẽ ăn giỗ.”

Nàng chưng hửng, sau thêm kinh dị. Nàng không dè trong chàng còn chứa sự hung hãn. Nàng không biết câu chuyện khởi đi thế nào, chỉ biết lúc ấy tiệc gần tàn, ở một góc tách biệt, chàng đã nắm chặt một chai bia, đầy nét giận dữ thách một người Mỹ đầu hói có bộ râu bạc ra ngoài “giải quyết vấn đề.” Các bạn đồng nghiệp của nàng cho là hai người say, can và không ai gọi cảnh sát. Nàng đem chàng về và dù gặng hỏi thế nào chàng không nói nguyên do. Đêm ấy chàng ngồi uống rượu một mình, uống dữ dằn, lát sau đổ xuống nệm nằm như xác chết. Nàng chán nản tắt đèn; không đèn ngủ nàng bật đèn nhà tắm, rồi bỏ về. Nửa khuya sốt ruột, gọi điện thoại không ai nghe, nàng lại phải mò sang thăm chừng. Đó là lần đầu ngồi một mình trong bóng tối nàng được chứng kiến bi kịch một màn một cảnh một nhân vật.

Chàng quỳ trên thảm trải đầy những hình ảnh nhầu nát, mắt trơ trơ như mù. Điều đáng sợ là chàng nói, nói thật điềm tĩnh, như một người đọc lời cam kết trước rất nhiều người về một việc hệ trọng. Nhưng việc gì? Nàng không hiểu. Cho đến khi chàng đổi thái độ điềm tĩnh sang hộc tốc thì nàng có thể đoán hiểu phần nào. Chàng cúi đào bới trên thảm như muốn chôn cất hay giấu giếm một khối thân yêu nặng vô hình vào một chỗ an toàn. “Ở yên đây!” Chàng thầm thì: “Khi trở lại tao bốc tụi mày. Phải tin tao ghét lỗi hẹn.” Nàng cố ngồi yên, kiên nhẫn ghi nhận. Một sợi ánh sáng từ kẽ cửa phòng tắm như thanh kiếm sắc cắt chàng làm đôi. Chàng đổ xuống, thê thảm như một con nhện mắc kẹt ngay trong chiếc lưới dầy đặc của chính nó nhả từ bụng ra. Đó là lần đầu tiên nàng thấy sợ chàng. Chàng như đổi màu, như biến thành một thứ của cải của người chết và nàng ớn sợ khi nghĩ nếu mình phải chạm tay vào. Mãi cho đến khi chàng thật sự đầu hàng giấc ngủ nàng mới đắp chăn cho chàng, rồi lặng lẽ đóng cửa, lặng lẽ ra về.

Trên đường khuya nàng nghĩ ngợi nhiều. Nhưng những việc ấy không đòi hỏi nàng một sự giải quyết, nó là của chàng, thuần túy. Sự băn khoăn của nàng nằm ở chỗ khác. Sao thế, sao lại có sự trùng hợp kỳ quặc như thế? Liệu có giá trị khả tín nào trong lời mơ hoảng của một người say? Nàng đã khám phá ra một điều kinh dị hơn cả: Cô Nữ trong giấc mơ chàng tuyệt nhiên không phải là nàng. Người anh, gia đình, những thân thuộc của nàng chàng từng ân cần nhắc tới không phải của nàng. Tất cả đều khởi đi từ một ngộ nhận!

Nằm trên giường đêm ấy nàng suy nghĩ thật lung, sau dặn lòng thôi cứ yên lặng, cứ để cho những câu chuyện kể của chàng được tiếp tục say sưa, nguyên vẹn. Nàng không nỡ đẩy chàng ra khỏi giấc mộng. Lại có lúc thấy thương chàng quá, nàng còn táo bạo với ý nghĩ bênh vực: Coi như chàng chui nhầm màn một phụ nữ, cứ để yên cho chàng hưởng sự thú vị bất ngờ!

Chàng đã đột ngột đến với nàng như cơn mưa vào ngày lễ Tro và biến đi như bụi cũng vào một ngày lễ Tro hai năm sau đó. Hai năm ân tình có đủ ghi những nét sâu đậm không thể phai mờ? Nàng hồ nghi dù không chối cãi nàng không hoàn toàn thản nhiên khi thất lạc một tình yêu. Và vì thế những khi nhìn núi nàng lại chạnh nhớ đến chàng, và không thiếu lúc khấn thầm nó vẫn là điểm chuẩn cho chàng.

Dù sao mỗi khi nhẩm lại bài thơ – như một trang nhật ký chỉ mới phác đôi nét mơ hồ – chàng viết tặng nàng trước lúc âm thầm ra đi, nàng vẫn riêng hy vọng với hai câu kết. Bài thơ viết:

Bóng núi tối như nấm mồ lớn

Chim khuya ríu rít biết chim gì

Lái xe đi mỗi đêm như thế

Gió vỗ về trên mặt tái tê

Ta cứ thấy xa lạ vô cùng

Giữa đất trời hai mươi năm sống

Te te te kèn xe ngó ngang

Gã râu ria tưởng tên cố vấn

Và cứ thế khi ta đón em

Chỗ sở làm gần cây xăng rẻ

Em quen ta hay ta quen em

Không thiếu lúc dị thường như thế

Rồi trên xe ta không hôn nhau

(Theo thói quen những người ở Mỹ)

Chỉ dịu dàng em cười cúi đầu:

Ôi chàng trai của tôi đãng trí

Và cứ thế ta phục hồi nhau

Bằng lập lại những câu chuyện kể…

Hai câu thơ mặc nhiên có hàm chứa một lời hứa hẹn mơ hồ, ấy là theo ý nàng, và vì thế đến nay nàng vẫn chờ chàng trở lại./.

Alhambra 3-95

Tác giả gửi cho Văn Việt.

Hà Thúc Sinh

Văn Hải Ngoại Sau 1975

Cung Tích Biền

Post by Sơn râu 2 Aug 2025

Kỳ 62

Tên thật Trần Ngọc Thao. Sinh năm 1937. Khởi nghiệp văn khá sớm. Năm 1961 dạy Anh văn và Việt văn tại các trường trung học ở Quảng Nam. Năm 1963 động viên vào trường Võ Bị Thủ Đức, khóa 17. Lập gia đình năm 1972. Giải ngũ năm 1973, cấp bậc Đại úy. Giáo sư Thỉnh giảng Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).
Sau 30 tháng 4-1975, sống lây lất bằng đủ thứ nghề.

Có truyện và thơ đăng trên các báo từ 1958, với nhiều bút hiệu lúc ban đầu (Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh) trước khi có bút hiệu Cung Tích Biền.
Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên tên tuần báo Nghệ Thuật (tháng 3-1966) tại Sài Gòn, với truyện ngắn Ngoại Ô Dĩ An và Linh Hồn Tôi.

Tác phẩm đã xuất bản:
– Ai Tỉnh Ai Điên (Trí Dũng, SG 1969)
– Nỗi Buồn Thắp Sáng (Trí Dũng, SG 1969)
– Hòa Bình Nàng Tình Rỗng (Trí Dũng, SG 1970)
– Trên Ngọn Lửa (in chung, Hoàng Đông Phương xb 1971)
– Cõi Ngoài (Kỷ Nguyên, SG 1970)
– Bạch Hóa (in chung, Những Truyện Ngắn Hay Nhất Quê Hương Chúng Ta, Sóng xb, SG-1974)
– Chim Cánh Cụt (Long An xb 1990)
– Một Thời Lưu Lạc (Long An xb 1990)
– Tình Yêu Mùa Ảo Ảnh (Đồng Nai xb 1990)
– Thằng Bắt Quỷ (Tân Thư xb, Hoa Kỳ 1993)
– En Traversant le fleuve (in chung, Edition Philippe Picquier, Paris)
– Thằng Bắt Quỷ (in chung, Kim Đồng xb, Hà Nội, trong Tổng Tập Truyện Ngắn Việt Nam Thế Kỷ XX).

Tác giả đang định cư ở Hoa Kỳ.
Theo http://damau.org/archives/author/CungTichBien, có bổ sung.

À, ra vậy

Cuộc nội chiến đã dần vào ngõ cụt, xương máu tới hồi cạn láng, bọn trai trẻ phải một thời quỷ ám. Mỗi đời sống một dị dạng, đầu thai vào bất định, hoang tưởng.

Cái nhìn về nhau lúc này lúc khác, đầu não chia hai, trái tim chia ba, nát bét khi phân mảnh. “Em yểu điệu đêm qua, với em trụi lơ dưới mặt trời này là hai hay một? Anh đã giết thằng người của anh-hôm-qua, giết luôn thằng-ngày-mai”.

Dòng nước kia cuộn chảy một dòng người. Thằng người gây hấn, ẩn náu trong một xác thân luôn muốn tránh xa những xung đột. Một nội thân là đối kháng trầm kha giữa khi này một đầy hy vọng, lúc kia muốn tự bắn một phát súng vào lồng ngực mình.

Chúng tôi yêu nhau. Sống với nhau như bốn con người, là ba mươi hai con người, một xã hội người lẻ loi và căm lạnh. Tình yêu luôn lên khói từ những hy vọng khô cằn, hoặc ẩm ướt lên rêu.

**

Một đêm, tôi đang say ngủ trong căn phòng ấm áp, anh cựa mình thức giấc, ngồi ngay trên giường rít thuốc, tàn bay đầy trên nệm. Đó là lúc anh mở to hai con mắt nhìn quanh, nhưng luôn than phiền, “Mở banh hai con mắt chẳng thấy quái gì trước mặt, nhắm mắt là ma quỷ cõi ta bà hiện ra”.

Trời đổ cơn mưa đêm. Nghe rất rõ bước chân mưa. Mưa rải hột từ xa xa. Rào rạt lan dần. Mang những mái tôn xa bên kia phố gần gũi bên này. Rồi mưa rải đều, ồn ào trên mái.

Tiếng nước chảy tỉ tê qua những mương cống, một dòng âm thanh xa xác. Qua ánh chớp sáng lòa, trong mắt anh, em xanh lè một thân người xác ướp.

Anh nằm xuống, đầy thao thức. Cô nói nhỏ, “Con của anh trong bụng này, em vui quá đỗi.”

Anh yên lặng. Nhận ra giọng nói của cô trở lại từ ánh trăng. Hồi ấy là trên một bãi cỏ xanh, sông ngoài kia, bờ bên kia, tất cả cùng trăng.

– Rồi anh có ý định tự tử nữa thôi?

Anh trả lời vu vơ:

– Xa quá, một ngọn hải đăng. Chúng ta cần phương hướng.

**

Cô mặc bộ đồ áo ngủ mỏng manh. Cô ngồi trên ghế.

– Lạnh dữ. Anh nói.

“Chúng ta đang trong những ngày đổi mùa”.

– Em nghĩ đến việc nuôi con chúng ta khôn lớn à?

“Anh mong gì khi kết thúc cuộc nội chiến tàn tạ này?”

– Anh sẽ tự tử.

“Ôi những nhịp điệu lì lợm kéo dài”.

– Anh không thuộc trường phái ca ngợi thứ hạnh phúc một màu trong hòa bình.

Nàng bỗng nói lơ mơ:

“Ngày mai anh đưa em đi phố mua ít hoa tươi.”

– Anh vẫn thích hoa xưa nay.

“Anh đưa em đi ăn miến gà.”

– Anh cũng thèm cái nồng ấm nhỏ nhoi ấy.

Chàng lơ mơ:

– Tối mai chúng mình đi vũ trường.

Nàng nói :

“Em đã mang thai. Em lạnh lắm.”

**

Đêm. Rừng mái nhà trần truồng, láng nhẩy sau mưa. Sau mỗi cong mình lạc thú, đôi mắt sâu khép, nàng mím chặt môi. Chàng rất bền, cơn bão quật trên cánh đồng da thịt lúc giao hoan, nàng thấy mình trôi tan lơ lửng.

– Em à, từ đây chúng ta có thể ngủ một giấc chết!

“Nhưng con của anh đang trong bụng em này. Không thể an bình trong một giấc mơ dài như thế.”

Người đàn bà có một trực giác bén nhạy, một linh tính kỳ diệu, luôn thấy trước điều sẽ xảy đến, lúc chàng bảo:

– Nên cùng ra ngoài, nghe ngóng một đoạn đường đêm.

“Em sợ lắm. Khuya quá rồi anh.”

– Đi nào. Đi một vòng cùng đêm.

“Thôi anh. Em van anh.”

Anh đi về góc phòng nơi có cái tủ áo. Cánh cửa tủ mở soạt. Anh nhìn cây súng đã nạp sáu viên đạn, cài nút an toàn.

Trong ánh sáng vừa đủ soi tường vách một phòng ngủ, anh thấy ra một bờ sông, chọn một thảm cỏ, bình thản ngồi xuống.

Nàng ngồi dậy, tựa lưng vào vách, bàn tay đặt lên bụng mình, nghe những tiếng động nhỏ, đã rõ nhịp bào thai, nhịp bước tương lai.

Nhìn vợ, anh vẫn nghĩ là đang bên một dòng sông, có lần bên kia sông trận chiến vừa tan, những mái nhà cháy dở, bọn trẻ nhỏ bàn tay che mắt nhìn ngược nắng, chúng tìm mẹ cha trong khói mù.

– Trên bờ sông này. Bên kia sông.

Anh lẩm bẩm. Lúc ôm nhau, nàng chạm phải một vật lạnh sắt. Nàng thét lên:

“Anh ơi, anh đừng làm vậy.”

– Ngày mai anh sẽ nhờ bác sĩ khám thai cho em, em ơi, anh yêu em, em phải hết mình vì đứa con chúng ta mai sau.

Nhìn khẩu súng, nàng rên rỉ:

“Anh ơi, em van anh.”

– Anh sẽ giúp em. Rất dễ dàng mà.

Nàng quặn người. Một tiếng thét đau đâu đó. Hãy còn là Đêm.

Văn Hải Ngoại Sau 1975

Trương Vũ – Mùa Đông Prague

vandoanviet.wordpress.com

Trương Vũ

Post on 16/8/2018

Tặng những nhà văn Việt Nam

Post by Son rau 2 Aug 2025

Kỳ 61
Lời Mở:

Đầu tháng 7, 2016, trong một chuyến đi chơi Châu Âu, tôi đến thăm thủ đô Prague của Cộng Hoà Tiệp (The Czech Republic). Khi đến công trường Wenceslas, tôi nhìn lên bao lơn của toà cao ốc Melantrich. Nơi đó, một ngày mùa đông 1989, Alexander Dubcek và Vaclav Havel đứng cạnh nhau, ngỏ lời với gần một triệu người dân Prague đang tụ họp ở công trường này, khởi động một cuộc cách mạng làm sụp đổ hoàn toàn chế độ Cộng Sản và xây dựng một xã hội dân chủ thực sự cho Tiệp Khắc. Một cuộc cách mạng bắt nguồn từ những vận động của giới trí thức và văn nghệ sĩ, khởi đi từ đầu thập niên 1955, không ngừng thách thức với mọi sự đàn áp của giới cầm quyền. Những biến động ở công trường Wenceslas và trên toàn đất nước Tiệp Khắc đã gợi hứng cho tôi viết một tiếu luận ngắn, nhan đề “Mùa Đông Prague”, đăng trên tạp chí Văn Học ở California. Lúc đó, những vận động được biểu dương ở công trường Wenceslas chưa hoàn toàn thành công để trở thành cuộc “Cách Mạng Nhung” (The Velvet Revolution) của Tiệp Khắc. Lúc đó, kịch tác gia Vaclav Havel chưa trở thành Tổng Thống đầu tiên của một nước Tiệp Khắc dân chủ sau thế chiến.

Gần hai mươi bảy năm đã trôi qua. Đã có biết bao đổi thay trên toàn cầu, bao đổi thay trên đất nước Tiệp Khắc. Có cả những đổi thay mà thoạt đầu người dân Tiệp Khắc không muốn có, như sự kiện đất nước bị tách làm đôi, thành hai nước độc lập, Cộng hoà Tiệp và Cộng hoà Slovakia. Ngày nay, cả hai đều là thành viên của Liên hiệp Âu châu (EU) và của khối Liên minh Quân sự Bắc Đại tây dương (NATO). Tuy tách làm đôi, liên hệ giữa họ luôn tốt đẹp. Ngày nay, Alexander Dubcek và Vaclav Havel đều đã ra người thiên cổ.

Trong những ngày ở Tiệp, tôi cảm nhận được một sức sống mạnh mẽ và trẻ trung trên đất nước này. Người dân có mức sống cao, trình độ văn hoá cao, tôn trọng một cách tự nhiên những giá trị căn bản của con người như tự do và bình đẳng. Hầu hết những người dân bình thường tôi gặp đều nói tiếng Anh khá lưu loát, và dầu đất nước này vẫn có một sắc thái riêng của họ, tôi không có cảm giác lạc lõng như khi đến thăm Moscow hay Bắc Kinh. Và, ở Tiệp ngày nay, nếu không có chút hiểu biết về lịch sứ, tôi sẽ không thể nào tin rằng dân tộc đó đã từng hơn bốn mươi năm sống cô lập sau bức màn sắt, bị áp đặt dưới một chủ nghĩa xã hội rất thiếu nhân bản, chịu sự kiểm soát chặt chẽ về chính trị và quân sự của Liên Xô, và chỉ mới tách rời khỏi những ảnh hưởng đó chưa tới 27 năm.

Trong mấy ngày ở Tiệp, tôi có đến thăm khu thương mại Sapa của cộng đồng người Việt ở đây. Khu thương mại khá lớn. Buôn bán nhộn nhịp. Nhà cửa, hàng quán, và cách buôn bán ở đây gợi nhớ đến một số khu buôn bán ở Việt Nam ngày nào. Đang ở một đất nước bên trời Tây, nói toàn tiếng Tiệp hay tiếng Anh, vào đây như vào một thế giới khác, thấy như trở về đất nước cũ, tôi rất xúc động. Đặc biệt, khi tôi trò chuyện với một số đồng bào, và được biết đa số sang Tiệp theo các chương trình xuất khẩu lao động, sống khá vất vả, thu nhập rất thấp so với thu nhập của người Tiệp trung bình. Tuy vậy, số người Việt tìm cách sang làm lao động vẫn tiếp tục. Điều đáng mừng, theo phóng sự của một số báo chí Tiệp, trẻ em Việt nam đa số học giỏi và hội nhập vào xã hội Tiệp khá dễ dàng.

Nhìn lại một số đổi thay chính trị lớn, tôi nghiệm ra một điều: nơi nào có sự tham dự tích cực của giới trí thức và văn nghệ sĩ yêu nước, yêu sự sống, tôn trọng sự khác biệt, và can đảm đứng lên tranh đấu quyết liệt cho điều mình tin, cho những quyền căn bản của con người, thì ở nơi đó, sự đổi thay mang lại ít bạo lực nhất, những quyền căn bản được phục hồi và xã hội phát triển nhanh nhất. Hãy nhìn, như một phản đề, những gì đã xảy ra trong cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam vào thập niên 50, trong cuộc “cách mạng văn hoá” ở Trung Hoa vào thập niên 60, và sự thống nhất bằng quân sự và áp đặt chủ nghĩa ở Việt Nam vào 1975. Và, như chính đề, hãy nhìn những gì đã xảy ra trong những đổi thay lớn ở Đông Âu, và đặc biệt, ở Tiệp Khắc, vào 1989.

Bài viết này được đăng lại vì tác giả tin những điều trình bày trong bài viết chưa bị thời gian gần hai mươi bảy năm đào thải, ít ra, với trường hợp Việt Nam. Tác giả giữ nguyên lời đề tặng ‘những nhà văn Việt Nam’, như trong bản gốc.

Maryland, tháng 8 năm 2016

Trương Vũ

Tháng Giêng 1968, Alexander Dubcek, lãnh tụ Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc chủ trương đổi mới chế độ trong một chính sách được gọi là “Chủ Nghĩa Xã Hội Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Biến cố này được gọi là “Mùa Xuân Prague”. Bảy tháng sau, nửa triệu quân của khối Warsaw cùng với thiết giáp xa tiến vào thủ đô Tiệp Khắc. Alexander Dubcek bị tước hết quyền hành, đuổi ra khỏi Đảng, đưa đến Slovakia làm một viên chức kiểm lâm không ai biết tới.

Hai mươi mốt năm sau, vào mùa đông 1989, cùng với những cơn lốc đang thổi xoáy vào các chế độ Cộng Sản ở Ðông Âu, người dân Tiệp Khắc vùng dậy. Vài ngàn người, rồi chục ngàn người, rồi trăm ngàn người, rồi gần một triệu người, tụ tập tại công trường Wenceslas đòi hỏi chấm dứt một chế độ cai trị mà họ cho là rất thiếu nhân bản.

Từ mùa xuân 68 đến mùa đông 89, có những cái đi và đến ngược chiều nhau. Có những lãnh tụ lớn như Husak, Jakes, đến với quyền hành vào mùa Xuân 68 và bây giờ bị buộc phải ra đi. Alexander Dubcek, bị buộc phải ra đi sau biến cố Mùa Xuân 68, thì vào ngày 24 tháng 12 năm 1989, xuất hiện trên một bao lơn ở Công trường Wenceslas để đón nhận những tiếng chào mừng nồng nhiệt của dân chúng.

Những gì thực sự xảy ra ở Tiệp Khắc không phải chỉ đơn giản ở những cái đi và đến này. Alexander Dubcek có tái xuất hiện, nhưng những khuôn mặt nổi bật ở Mùa Ðông Prague lại là những nhân vật của nhóm Diễn Ðàn Công Dân (Civic Forum) như nhà soạn kịch Vaclav Havel hay giáo sư Komarek của Hàn Lâm Viện Khoa Học. Những nhân vật này có vẻ như mới lao mình vào những cơn lốc của thời đại kể từ ngày 19 tháng 11, năm 1989, tức ngày thành lập nhóm Diễn Ðàn Công Dân. Thật ra, cuộc tranh đấu của họ đã khởi đầu từ 1955, vào năm mà “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành” được sáng tác ở Ba Lan. Kể từ ngày đó cho đến trước mùa Ðông 1989, cuộc tranh đấu của Tiệp Khắc hoàn toàn là cuộc tranh đấu của trí thức, không mang bóng dáng của những thành phần khác như thợ thuyền hay nông dân.

Những gì đã thực sự xảy ra ở Tiệp Khắc từ 1955 đến nay?

Nhà văn — lương tâm của đất nước:

Quốc gia Tiệp Khắc chỉ mới chính thức thành lập như một nước độc lập vào ngày 28 tháng 10 năm 1918 sau sự bại trận của đế quốc Áo Hung vào Ðệ Nhất Thế Chiến. Danh xưng đầu tiên là Cộng Hoà Tiệp Khắc. Hai sắc dân chính là Czech (64%) và Slovak (30%). Trong Ðệ Nhị Thế Chiến, Tiệp Khắc bị Ðức chiếm đóng và một phần lãnh thổ bị sát nhập vào Ðức. Một chính phủ lưu vong đã được thành lập ở Anh để tiếp tục điều khiển cuộc kháng chiến trong nước.

Sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, một cuộc bầu cứ được tổ chức vào 1946, dưới ảnh hưỡng chính trị của Liên Xô, đã đem lại thắng lợi cho Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc với một đa số tương đối so với các Đảng phái khác. Hai năm sau, vì chia rẽ và thiếu phối hợp, các Đảng phái không Cộng Sản đã thất bại trong nỗ lực ngăn chặn sự áp đặt xã hội chủ nghĩa theo kiểu của Liên Xô. Một bản Hiến Pháp mới được ban hành và danh xưng của quốc gia được đổi lại là Cộng Hoà Nhân Dân Tiệp Khắc.

Sang năm 1950, cuộc thanh trừng lớn trong nội bộ Ðảng Cộng Sản bắt đầu. Bộ Trưởng Ngoại Giao Vladimir Clementis bị cách chức và sau đó bị xử tử cùng với 10 Đảng viên cao cấp khác. Ðảng Cộng Sản bắt đầu cai trị Tiệp Khắc theo đường lối cực đoan của Stalin. Cuộc thanh trừng lan rộng đến các thành phần khác của xã hội. Ðường lối này vẫn được duy trì sau cái chết của Stalin và cả sau khi chủ trương Xét Lại được áp dụng ở Liên Xô.

Những bất mãn lớn bắt đầu. Trước hết, một cuộc nổi dậy nhỏ của thợ thuyền xảy ra ở một thị trấn xa xôi, Plzen, vào tháng Sáu 1953 để phản đối vụ đổi tiền mới. Cuộc nổi dậy đã bị cảnh sát đặc biệt dập tắt và không tạo được tiếng vang đáng kể.

Nhà văn Tiệp Khắc có một thế đứng khá đặc biệt trong lịch sử của nước họ vì đó là thành phần đóng góp nhiều nhất và hiệu quả nhất trong việc xây dựng nền độc lập của Tiệp Khắc. Nhưng, cho tới lúc đó, Hội Nhà Văn Tiệp Khắc, được thành lập vào 1949, chỉ là một công cụ để tuyên truyền cho chế độ. Số hội viên có giới hạn và đa số viết theo chỉ thị. Những người cầm bút có tư cách thì tránh né công việc như vậy bằng cách xin dịch thuật sách ngoại ngữ hoặc sáng tác những bài thơ vừa đủ mơ hồ để thoát lưới kiểm duyệt. Một số ít nhà văn hoặc chống đối hoặc không viết theo đường lối đã phải chịu những trừng phạt khác nhau tuỳ theo cấp độ. Thi sĩ Laco Novomesky bị án mười năm tù vì đã viết những bài thơ “thiếu ái quốc”.

Ngày 21 tháng Tám 1955, một tuần san văn học ở Warsaw, tờ Nowa Kultura, đăng tải một bài thơ dài và cay đắng của một nhà thơ Cộng Sản Ba Lan, Adam Wazyk, mang nhan đề “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành”. Nhà thơ Wazyk, trong suốt cuộc đời của ông kể từ lúc bắt đầu khôn lớn, đã tận tuỵ phục vụ cho lý tưởng Cộng Sản. Bỗng nhiên, ông sáng tác và gởi đăng bài thơ nói trên như một bản tuyên chiến gởi đến chế độ. Ngay sau đó, ông bị trục xuất khỏi hội Nhà Văn Ba Lan, và đồng thời chủ bút tập san Nowa Kultura cũng bị cách chức. Tuy nhiên, bài thơ của Adam Wazyk ở Ba Lan đã đánh thức những người trưởng thành ở Tiệp Khắc, nhất là những người cầm bút.[1]

Ðại Hội kỳ 2 của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc được tổ chức vào tháng Tư năm 1956. Tổng Thống lúc đó là Zapotocky đến đọc diễn văn khai mạc, trong đó ông nhấn mạnh là Ðảng không hề và sẽ không bao giờ chi phối vào các công trình văn học, và các nhà văn Tiệp Khắc hoàn toàn có tự do để sáng tác. Ngay lập tức, thi sĩ nổi tiếng của Tiệp Khắc là Jaroslav Seifert đã cùng với nhiều nhà văn khác như Frantisek Hrubin mạnh mẽ chỉ trích sự thiếu thành thật trong bài diễn văn và yêu cầu Đảng trả tự do cho những người cầm bút đang còn ở trong tù. Các nhà văn đã kịch liệt công kích chính sách “viết theo yêu cầu” và cho đó là một thái độ nhục mạ người cầm bút. Sau đó, khẩu hiệu được trương lên ở Ðại Hội là “Nhà Văn — Lương Tâm Của Ðất Nước”. Mặc dầu Seifert và Hrubin được bầu vào chủ tịch đoàn, Đảng đã phản công khá hữu hiệu và cuối cùng áp lực được đại hội đưa ra một tuyên ngôn công nhận Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc như là “Người đề xướng và tổ chức cuộc cách mạng vĩ đại” và cám ơn Ðảng về “Những đề nghị khôn ngoan và đứng đắn”.

Vào tháng Năm 1956, các nhà văn thuộc Nhóm Phản Kháng đã cho phát hành một tạp chí lấy tên là Tháng Năm (Kveten) nhằm cổ võ những công trình văn học có giá trị thực sự. Mô thức này đã lan tràn sang nhiều lãnh vực khác. Và, chính những hoạt động có tính quốc cấm này đã làm cho đời sống văn hoá của Tiệp Khắc trở lại sinh động.

Ðại Hội kỳ 3 được tổ chức vào tháng Sáu 1957, sau khi các cuộc nổi dậy ở Poznan (Ba Lan) và Budapest (Hung Gia Lợi) đã hoàn toàn thất bại. Nhà thơ Frantisek Hrubin bị ép buộc đứng lên đọc lời tự phê bình về những “Phát biểu sai lầm” của ông trong kỳ đại hội trước. Về phần Seifert lúc đó đã 56 tuổi, ông vẫn không chịu đầu hàng, và không chịu tự ý rời khỏi Chủ Tịch đoàn dưới áp lực của Ðảng. Nhóm chủ trương tạp chí Tháng Nămtuyên bố hậu thuẫn Seifert. Cùng lúc đó, một số khuôn mặt mới đã nổi bật lên để cùng với Seifert và Eduard Goldstucker, vừa mới được trả tự do, làm một cuộc cách mạng cho trí thức Tiệp Khắc. Các khuôn mặt đó là nhà thơ Jan Prochazka, nhà soạn kịch Ivan Klima, nhà viết tiểu thuyết Ladislav Mnacko, và nhà soạn kịch Vaclav Havel. Lúc đó, Vaclav Havel mới 21 tuổi.

Hai năm sau, Ðảng áp lực Hội Nhà Văn trục xuất Seifert và bốn nhà văn thuộc Nhóm Phản Kháng. Sau đó, Đảng đóng cửa tạp chí Tháng Năm.Những người phản kháng bắt đầu đi tìm một phương thức đấu tranh khác.

Sang năm 1960, danh xưng của Tiệp Khắc được đổi lại là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Tiệp Khắc.

Tháng Tư 1963, nhà văn Ladislav Mnacko hoàn thành tác phẩm “Những Bản Phúc Trình Bị Trì Hoãn” (Delayed Reports). Tác phẩm này làm náo động xã hội Tiệp Khắc vì đã đánh thẳng vào lương tâm của hàng ngũ trí thức, kết án thái độ thụ động của họ, và coi thái độ thụ động này như là một hình thức toa rập với tội ác, một điều mà đa số trí thức muốn tảng lờ. Tác phẩm của Mnacko đã tạo nên cuộc biểu tình của sinh viên Prague vào ngày Lễ Lao Ðộng 1963.[2]

Cuối tháng Năm, Hội Nhà Văn Tiệp Khắc cho phổ biến lời phát biểu của nhà thơ Laco Novomesky, lúc đó đã mãn hạn tù. Lời phát biểu có những câu sau đây:

“Thảm kịch của chúng ta không phát sinh hoặc không phải chỉ phát sinh từ sự kiện là có những kẻ đã tin nhiều hay tin ít vào một điều gian dối và chấp nhận điều gian dối đó. Những người này, hoặc vì sợ hãi, hoặc bằng hảo ý, cho rằng họ đang phục vụ cho một mục tiêu chính đáng nên cứ chấp nhận điều gian dối. Thảm kịch của chúng ta phát sinh từ sự kiện – và sự kiện này áp dụng cho những nhà văn hay nhà báo – là chúng ta đã cố gắng thuyết phục người đọc tin rằng sự gian dối đó là sự thật, chúng ta đã đánh lạc hướng và làm hoang mang cả một thế hệ đang đứng ở ngoài căn phòng này, lạc lõng, ngơ ngác, vì không biết phải dựa vào cái gì để tin. Chúng ta cần mang đến cho thế hệ đó sự tín nhiệm, lòng tin, và sự thật. Nhưng trước hết, hãy mang những điều đó đến cho chính chúng ta.”[3]

Cùng trong năm đó, Vaclav Havel, đã 27 tuổi, hoàn thành vở kịch dài đầu tiên: “Viên Hội”(The Garden Party). Vở kịch xây dựng trên những cái phi lý và lố bịch của xã hội đương thời bằng những lời mỉa mai cay độc. Từ đó, nhiều sáng tác như vậy do những nhà văn đã nổi tiếng hoặc những nhà văn mới nổi đã ra đời. Phản ứng của chế độ vẫn là một phản ứng cổ điển nhưng hữu hiệu: đe doạ, tù đày,và cô lập.

Tháng Giêng 1967, Ðại Hội kỳ IV của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc ra Nghị Quyết yêu cầu tái lập truyền thống văn học của Tiệp Khắc, đồng thời yêu cầu được tiếp xúc và trao đổi văn hoá với các nước Tây phương. Lúc bấy giờ, lãnh tụ Đảng là Antonin Novotny. Phản ứng của chế độ vẫn như cũ, vẫn là đe doạ, tù đày và cô lập.

Mùa Xuân Prague:

Ðầu tháng 11, 1967, sinh viên đại học ở Prague biểu tình đòi thay đổi đường lối cai trị của Ðảng. Ðồng thời, trong nội bộ của Trung Ương Ðảng, Alexander Dubcek cầm đầu nhóm chủ trương cải cách, áp lực Novotny huỷ bỏ phương thức cai trị cực đoan. Ðể chống lại những áp lực này, Novotny kêu gọi sự hậu thuẫn của Liên Xô. Tháng 12 năm đó, lãnh tụ Liên Xô Leonid Brezhnev đến thăm và quan sát tình hình ở Prague và ông từ chối hậu thuẫn Novotny. Tháng Giêng 1968, Dubcek được bầu vào chức Bí Thư Thứ Nhất của Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc thay thế Novotny. Sau đó, nhiều thành phần thủ cựu cũng lần lượt bị thay thế. Ðến tháng Ba, Novotny mất luôn chức Chủ Tịch Nhà Nước, và Tướng Ludvik Svoboda lên thay.

Alexander Dubcek chỉ định rồi chỉ đạo một uỷ ban gồm nhiều khuynh hướng khác nhau, từ cải cách đến bảo thủ, soạn thảo một Chương Trình Hành Ðộng nhằm tạo một mô thức xã hội chủ nghĩa mới, có tính “dân chủ” và “dân tộc”, thích hợp với hoàn cảnh của Tiệp Khắc. Tháng Tư 1968, thành phần lãnh đạo Ðảng chấp thuận Chương Trình Hành Ðộng. Alexander Dubcek đã gọi mô thức này là “Chủ Nghĩa Xã Hội Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Ngoài những điểm liên hệ đến cải cách chế độ bầu cử, xác nhận quyền tự do hội họp và phát biểu, Chương Trình Hành Động cũng có những điểm quan trọng như tái xác nhận sự theo đuổi mục tiêu Cộng Sản và sự liên minh với Liên Xô và khối Warsaw.

Chương Trình Hành Động của Dubcek đã tạo một sức sống mới cho xã hội Tiệp Khắc. Dân chúng đã phấn khởi gọi biến cố đó là Mùa Xuân Prague. Những tuần lễ tiếp theo, những bài báo đả kích Liên Xô đã thấy xuất hiện trên báo chí. Một số tổ chức có tính chính trị đã được thành lập và không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Ðảng. Các phần tử bảo thủ yêu cầu đàn áp các sinh hoạt này nhưng Alexander Dubcek không chịu nghe.

Cuối tháng Sáu năm đó, Ludvik Vaculik, tiểu thuyết gia và đồng thời cũng là Đảng viên Cộng Sản kỳ cựu, cho đăng tải một tuyên ngôn nhan đề “Hai Ngàn Chữ” với chữ ký của 70 nhà văn và nhà khoa học. Bản Tuyên Ngôn nói đến những trở ngại có thể gây ra cho Tiệp Khắc bởi những phần tử bảo thủ trong Đảng và các thế lực ngoại quốc, và hô hào dân chúng hãy đứng dậy tự mình thực hiện lấy chương trình cải cách. Liên Xô và các nước thuộc khối Warsaw liền tổ chức một phiên họp đặc biệt không mời Tiệp Khắc tham dự. Sau đó, họ gởi cho Uỷ Ban Lãnh Đạo Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc một văn thư lên án những phần tử “phản động” đã viết tuyên ngôn này, đồng thời yêu cầu Tiệp Khắc tái lập chế độ kiểm duyệt, bãi bỏ các sinh hoạt chính trị không thuộc Đảng Cộng Sản và trục xuất ra khỏi Đảng các phần tử hữu khuynh. Sau cùng, văn thư nhấn mạnh đến nhiệm vụ phải bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc, và coi đó là nhiệm vụ chung của tất cả các nước anh em, thuộc khối Warsaw. Dubcek phản đối bức tối hậu thư và yêu cầu gặp riêng với Liên Xô.

Trong cuộc gặp gỡ này, Alexander Dubcek đã khẳng định sự trung thành của Tiệp Khắc với chủ nghĩa Mác Lê và với liên minh Warsaw (hay Comecon). Ông hứa trừng trị những kẻ muốn tái lập Ðảng Dân Chủ Xã Hội cũ, những phần tử “phản cách mạng”, đồng thời kiểm soát báo chí hữu hiệu hơn. Brezhnev ra lệnh rút các lực lượng quân đội Xô Viết khỏi Tiệp Khắc nhưng cho dừng lại dọc theo biên giới.

Trong khi đó, Dubcek và các Đảng viên cao cấp thuộc khuynh hướng cải cách lại dự trù một kế hoạch loại trừ tất cả những phần tử chống cải cách ra khỏi Trung Ương Ðảng trong kỳ Ðại Hội Ðảng sẽ tổ chức vào tháng Chín. Hầu hết những phần tử này có khuynh hướng thân Nga và họ đã cầu cứu Liên Xô. Ngày 20 tháng Tám, 1968, nửa triệu quân thuộc các nước Liên Xô, Ðông Ðức, Ba Lan, Hung Gia Lợi và Bảo Gia Lợi tiến vào Tiệp Khắc. Lỗ Ma Ni ngay từ đầu đã phản đối quyết định của các nước liên minh Warsaw đối với Tiệp Khắc nên không tham dự chiến dịch này. Dubcek và Uỷ Ban Lãnh Ðạo Ðảng lên tiếng phản đối sự can thiệp quân sự của liên minh Warsaw nhưng đồng thời ra lệnh cấm quân đội và dân chúng dùng vũ lực cản trở các đoàn quân này. Tuy nhiên, khi các xe tăng tiến vào Prague, bạo động cũng đã xảy ra từ phía dân chúng và khoảng 100 người dân Tiệp Khắc đã bị giết.[4] Cơ quan đầu tiên bị thiết giáp xa bao vây là trụ sở của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc.

Alexander Dubcek bị bắt vào đêm 20 tháng Tám và đưa sang Moscow gặp Brezhnev. Sau đó, ông vẫn được giữ chức vụ cũ nhưng không có thực quyền cho đến tháng Tư 1969 thì chính thức từ chức. Gustav Husak lên thay. Cuối năm đó, Husak cử Dubcek đi làm Ðại Sứ tại Thổ Nhĩ Kỳ. Trong lúc Dubcek đang còn ở Ankara, Uỷ Ban Lãnh Ðạo Ðảng bỏ phiếu trục xuất ông ra khỏi Ðảng. Những người còn cảm tình với ông ở trong Đảng đã ngầm khuyên ông xin ti nạn chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng ông vẫn trở về Tiệp Khắc. Sau đó, ông được đưa đến thành phố Bratislava, thủ phủ của Slovakia, làm một viên chức kiểm lâm cho đến cuối năm 1988.

Ðối với các thành phần đã tham dự vào Chương Trình Hành Ðộng, hậu quả dành cho họ khá trầm trọng. Hơn một nửa thành viên của Trung Ương Đảng bị thay thế. Hơn nửa triệu Đảng viên bị trục xuất. Ða số các viên chức cao cấp trong những lãnh vực khác nhau bị đuổi việc. Xã hội Tiệp Khắc trở lại tình trạng cai trị khắt khe cũ.

Vào Mùa Thu 1970, một nhóm trí thức gồm cả các cựu Đảng viên Cộng Sản thành lập Phong Trào Xã Hội Của Công Dân Tiệp Khắc nhằm đấu tranh theo tinh thần của Mùa Xuân Prague. Ngay sau đó, 47 thành viên cao cấp của phong trào bị bắt và bị đưa ra toà xét xử vào mùa Hè 1972. Từ đó, một số đông nghệ sĩ và chuyên viên đã trốn khỏi nước.

Hiến Chương 77:

Vào ngày 6 tháng Giêng 1977, các nhật báo ở Tây Ðức đã cho đăng tải một Tuyên Ngôn lấy tên là Hiến Chương 77 (Charter 77). Bản Tuyên Ngôn làm tại Tiệp Khắc mang chữ ký của 242 người Tiệp Khắc thuộc nhiều thành phần khác nhau: Nhà văn, nghệ sĩ, giáo chức, và cựu đảng viên Cộng Sản. Giáo sư Jan Patocka, nhà soạn kịch Vaclav Havel và giáo sư Jiri Hajek được nhắc tới trong Tuyên Ngôn như là những phát ngôn viên chính thức của Hiến Chương 77.

Hiến chương 77 nói lên những bất mãn của những người ký tên đối với những thực tế đang xảy ra ở Tiệp Khắc liên hệ đến Dân quyền và Nhân quyền. Họ lên án chính phủ Tiệp Khắc đã không tôn trọng những quyền công dân được ghi trong Hiến Pháp cũng như trong các thoả ước quốc tế mà Tiệp Khắc đã ký, như thoả ước Helsinki vào 1975.

Hiến Chương 77 cũng nói rõ mục đích của Hiến Chương là: theo dõi những trường hợp cá nhân bị vi phạm nhân quyền; đưa ra những đề nghị sửa sai; và đóng vai trò trung gian giữa chính phủ và những cá nhân bị áp bức.

Ðến cuối năm 1977, có khoảng 800 người ký tên vào Hiến Chương, trong số đó có một số ghi là công nhân. Hiến Chương đã được phổ biến trong lãnh thổ Tiệp Khắc theo kiểu chuyền tay.

Gustav Husak đã phản ứng mạnh mẽ đối với bản Hiến Chương này. Sau đó, những người ký tên đã bị bắt giam hoặc bị đuổi việc. Báo chí đã được nhà nước vận dụng để tấn công Bản Hiến Chương một cách hạ cấp. Dân chúng bị bắt buộc phải ký tên vào những bản lên án các thành phần “phản động” của Hiến Chương 77.

Trong khi đó, cảnh sát và công an đã hành động hoàn toàn đúng như những gì bản Hiến Chương đã mô tả: bắt người vô cớ, lục soát bất hợp pháp, hạch hỏi và tra tấn trái phép. Giáo sư Jan Patocka, một người nổi tiếng và có uy tín, bị cảnh sát mời đến thẩm vấn và một tuần lễ sau thì ông ta chết. Vaclav Havel bị bắt bốn tháng thì được thả. Ðến cuối năm, ông vào tù trở lại và lần này, ông bị kết tội chống chính phủ.

Những cuộc đàn áp như vậy kéo dài trong suốt năm 1978 và số người ký tên vào Hiến Chương vẫn tăng lên. Vào tháng Tư năm đó, một nhóm trí thức khác thành lập một uỷ ban để bảo vệ những người đã bị xét xử trái phép. Họ đòi chế độ Husak phải đưa những người bị bắt ra xử công khai. Chế độ đã phản ứng bằng cách đưa hết nhóm trí thức này vào nhà giam. Từ đó, Phong Trào Hiến Chương 77 yếu đi hẳn. Tuy nhiên, những người đã tham dự vào Hiến Chương 77 vẫn tiếp tục cuộc phản kháng của họ bằng cách này hay cách khác.

Mùa Ðông Prague:

Tháng Tám 1989, Tadeusz Mazowiecki của Công Ðoàn Ðoàn Kết thành lập chính phủ “không Cộng Sản” đầu tiên ở Ba Lan. Tháng Mười 1989, Ðảng Cộng Sản Hung Gia Lợi tuyên bố giải tán. Qua đầu tháng 11, Bức Tường Bá Linh bị phá vỡ.

Giữa một không khí đầy biến động như vậy ở Ðông Âu, Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc, Milos Jakes, tuyên bố trong một đại hội thanh niên là Ðảng sẽ không tha thứ bất cứ một cuộc xuống đường nào nhằm phản đối sự cầm quyền của Ðảng và cũng sẽ không nới lỏng sự kiểm soát chính trị. Năm ngày sau, 15 ngàn sinh viên và thanh niên biểu tình chống chính phủ trên các đường phố ở Prague gần công trường Wencelas. Cảnh sát đã thẳng tay đàn áp cuộc biểu tình và gây thương tích cho hơn 100 người.

Ngày 19/11/1989, Vaclav Havel và những bạn đồng hành của ông thuộc nhóm Hiến Chương 77 cùng với một số sinh viên, nghệ sĩ và công nhân họp nhau tại tầng dưới của một hí viện lâu đời nhất Âu Châu, hí viện Lanterna Magica. Họ thành lập Diễn Ðàn Công Dân, đóng vai trò của một tổ chức chính trị đối lập. Ðầu tiên, họ lên tiếng yêu cầu trừng phạt những kẻ đã ra lệnh đàn áp biểu tình và đòi hỏi tất cả những lãnh tụ Cộng Sản có trách nhiệm đàn áp phong trào Mùa Xuân Prague phải từ chức. Milos Jakes đã bác bỏ những yêu sách này. Sau đó. Vaslav Havel cầm đầu Uỷ Ban gồm 18 người, tổ chức cuộc biểu tình ở công trường Wencelas vào ngày 20 để hậu thuẫn cho những đòi hỏi của họ.

Hầu hết những nhạc sĩ, ca sĩ dân nhạc, nhà văn, lực sĩ, và cả những tu sĩ, đã tiếp tay với ông vận động biểu tình để biến Diễn Ðàn Công Dân thực sự trở thành phong trào quần chúng bên cạnh tư cách của một tổ chức chính trị. Hơn 200 ngàn người đã tụ họp lại Công trường Wencelas. Những cuộc biểu tình tương tự đã xảy ra trên những thành phố khác. Diễn Ðàn Công Dân đã đưa ra yêu sách đòi bầu cử tự do và đòi Husak, Jakes và những lãnh tụ cực đoan phải từ chức. Ðến lúc này, Uỷ Ban Lãnh Ðạo Ðảng không còn coi thường Diễn Ðàn Công Dân chỉ như là sản phẩm của một số nhà văn và trí thức. Ngày 24 tháng 11, Jakes và chín thành viên khác của Uỷ Ban Lãnh Ðạo từ chức. Karel Urbanek, một lãnh tụ ít tiếng tăm, lên thay chức Tổng Bí Thư Đảng. Ngày hôm đó, Alexander Dubcek xuất hiện tại Công trường Wencelas, ông đã được mọi người hoan hô nhiệt liệt. Những người thuộc thế hệ ông đã khóc khi nghe lại tiếng nói của ông. Alexander Dubcek đã im hơi lặng tiếng trong suốt 20 năm. Ông không ký tên vào Hiến Chương 77. Ông chỉ làm được hai cử chỉ nhỏ tạm tương xứng với vị thế của ông, đến thăm Vaclav Havel vào giữa năm 1989 khi nhà soạn kịch được thả ra khỏi tù, và ông gởi lời mừng sinh nhật Ðức Hồng Y Frantisek Tomasek, một người không được cảm tình của chế độ. Do đó, ông đã được chào mừng như một cựu lãnh tụ hơn là một lãnh tụ. Ông vẫn nhắc lại chủ trương “Chủ Nghĩa Xã Hội Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Nhưng, ở Mùa Ðông Prague 89, câu nói này không còn tạo được một âm hưởng nào như 21 năm trước. Nhiều người có nghĩ đến một vai trò chuyển tiếp mà ông có thể đóng được, và chỉ có thế. Ông cũng không tỏ ra có một tham vọng nào. Ông ủng hộ Diễn Ðàn Công Dân cùng với tất cả những đòi hỏi của họ.

Vì chế độ vẫn không chịu thoả mãn tất cả những yêu sách của Diễn Ðàn Công Dân, Vaclav Havel kêu gọi một cuộc Tổng Ðình Công trong 2 tiếng đồng hồ để cảnh cáo chế độ. Vaclav Havel đã thuyết phục được thợ thuyền nhập cuộc. Ngày 27 tháng 11/1989, hơn một triệu người Tiệp Khắc đã tham dự cuộc Tổng Ðình Công ở Prague. Có cả một phái đoàn của những người mù xuất hiện tại Công trường Wencelas. Vaclav Havel thách đố chế độ hãy nhìn thẳng vào Công trường để thấy đó như một cuộc trưng cầu dân ý bác bỏ tư cách lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng Sản Tiệp Khắc. Những yêu sách cũ như bầu cử tự do được nhắc lại, và thêm vào những yêu sách mới như thay đổi nội các và giao những bộ quan trọng như Quốc Phòng cho những người không Cộng Sản v.v… Dĩ nhiên, những đòi hỏi như vậy đã không được dễ dàng chấp nhận. Ký giả Jiri Dienstbier phát ngôn viên của Diễn Ðàn Công Dân, một người đã ra vô nhà giam rất nhiều lần, tuyên bố với báo chí:

“Ở Tiệp Khác, trong suốt 20 năm qua, mọi người đều biết rằng chế độ này không thể nào giải quyết được những khó khăn của đất nước. Nhưng mọi người vẫn sợ. Bạo lực và áp bức là những phương tiện chính để cai trị. Quyền hành đã được xây dựng từ đó và chỉ muốn được xây dựng từ đó. Vì vậy, những kẻ cầm quyền rất sợ nhượng bộ vì họ e ngại nếu nhượng bộ, quyền hành của họ sẽ tiêu tan”.[5]

Tuy nhiên, sau cùng, những kẻ cầm quyền có nhượng bộ.

Ngày 30 tháng 11. Quốc Hội Tiệp Khắc biểu quyết bãi bỏ tư cách lãnh đạo chính trị của Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc như đã ghi trong Hiến Pháp. Uỷ Ban Lãnh Ðạo Ðảng tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do. Ngày 4 tháng 12, khối Warsaw chính thức công nhận: “Cuộc xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968 1à một quyết định sai lầm”. Trong vòng một tuần lễ, Nội Các Tiệp Khắc thay đổi ba lần, và cả ba lần họ đều chưa đáp ứng được đúng những đòi hỏi trước đó của Diễn Ðàn Công Dân. Dĩ nhiên, những kẻ cầm quyền còn muốn kéo dài quyền lực của họ.

Lúc này, cuối năm 1989, biến cố Mùa Ðông Prague có thể vẫn chưa đến hồi kết cuộc. Tuy nhiên vấn đề đáng nói ở đây là sự thức tỉnh của dân tộc Tiệp Khắc. Ðể nói về sự thức tỉnh này, không có gì hơn là ghi lại một câu viết trên bức tường một hầm xe điện ngầm ở Prague:

“Chúng ta đã tập bay như chim và tập lặn như cá. Có phải đây là lúc chúng ta bắt đầu sống như những con người?”[6]

*

Cuộc tranh đấu chống chủ nghĩa Cộng Sản ở Tiệp Khắc mang một sắc thái đặc biệt ở Ðông Âu: một cuộc tranh đấu kiên trì và thuần trí thức. Mục đích chính được nhìn qua các Tuyên Ngôn hay sách vở của họ, không nói rõ là họ chống chủ nghĩa Cộng Sản mà chỉ nói là chống bất cứ một chế độ, một thế lực hay một chủ trương nào nhằm áp đảo hay tước đoạt những quyền căn bản của con người. “Chống Cộng” do đó chỉ được hiểu như một hệ quả đương nhiên từ mục tiêu chính.

Cái lợi của cách tranh đấu này là dù có hiểu được thâm ý của họ, những kẻ cầm quyền cũng khó tìm thấy một cái cớ thật chính đáng tiêu diệt họ cách tàn bạo. Thêm vào đó. với sự can đảm, với ý chí sắt đá, với tài năng, và với ý thức cao độ về trách nhiệm của người trí thức đối với dân tộc, họ đã tạo được một sức mạnh đủ cho cuộc tranh đấu tồn tại trong suốt hơn 30 năm cho đến khi cơ hội đến, họ chộp lấy được ngay, và chỉ trong 10 ngày họ đã đạt được những gì mà Ba Lan mất đến 10 năm.

Nhược điểm của cách tranh đấu này là làm cho họ xa rời quần chúng. Những tác phẩm văn học hay nghệ thuật của họ vẫn làm cho quần chúng say mê thưởng thức, nhưng quần chúng phục họ hơn khi thấy họ hoà nhập với quần chúng là một. Về điểm này, trí thức Tiệp Khắc đến mãi mùa Ðông 89 mới đạt được cái mức mà trí thức Ba Lan đã đạt từ 1976, khi tổ chức Bảo Vệ Công Nhân (KOR) ra đời để tạo một liên minh với Thợ Thuyền. Chính vì vậy mà trong suốt hơn 30 năm, người trí thức Tiệp Khắc khá lẻ loi trong cuộc tranh đấu của họ.

Nếu không có sự thành công của cuộc cách mạng Ba Lan cùng với những biến động mới nhất phát sinh từ những chủ trương Perestroika và Glasnost ở Liên Xô, không chắc những trí thức Tiệp Khắc đã làm nên được lịch sử. Trong trường hợp này, những kẻ cầm quyền sẽ tiếp tục cô lập họ như những kẻ cầm quyền ở Ba Lan đã làm đối với trí thức Ba Lan trước 1976. Trường hợp của Tiệp Khắc còn thuận lợi hơn cho kẻ cầm quyền vì Tiệp Khắc có nhiều tài nguyên, dân số ít và hưởng được một truyền thống tốt về phát triển kỹ nghệ từ trước thế chiến nên thợ thuyền hưởng một mức sống vật chất tương đối đầy đủ. Do đó, sẽ rất khó cho người trí thức thuyết phục thợ thuyền làm những điều có thể nguy hại đến đời sống bình thường của họ.

Dù sao, mỗi nước có một hoàn cảnh riêng, người trí thức Tiệp Khắc có thể đã tiến hành cuộc tranh đấu của họ bằng cách tốt nhất mà họ có thể làm được. Riêng đối với những nhà văn Tiệp Khắc, những người đã ý thức trách nhiệm của mình là phải nói lên tiếng nói lương tâm của đất nước, họ đã làm được những điều mà những đồng nghiệp của họ ở những nơi khác, dù trong hoàn cảnh thuận lợi hơn, đã không làm được. Ðây cũng là lý do cắt nghĩa tại sao nhà văn Tiệp Khắc luôn luôn có một chỗ đứng cao trong lịch sử của nước họ.

Một điều cuối cùng cần được nói đến với lòng khâm phục là trình độ dân trí của Tiệp Khắc. Gần một triệu người xuống đường lật đổ một chế độ mà họ đã chán ngấy, vậy mà họ vẫn giữ được kỷ luật và tự chế đến độ gần như không có một điều đáng tiếc xảy ra. Thêm vào đó là một ý thức chính trị vượt bực. Hoan hô Dubcek nhưng cũng hiểu ra rằng Dubcek đã không theo kịp thời cuộc. Nếu sau này, tổ chức Diễn Ðàn Công Dân đạt được những mục tiêu tranh đấu của họ, chắc chắn phần lớn phải là nhờ ở tinh thần kỷ luật và ý thức chính trị cao của người dân Tiệp Khắc.

Trương Vũ

Maryland, tháng 12 năm 1989

—————

Chú thích:

[1] Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Tad Szulo, đề nghị xem ngày đăng tải “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành” như là ngày đầu của cuộc tranh đấu trí thức cho cả Ðông Âu, không riêng gì cho Ba Lan hay Tiệp Khắc. (Xem tác phẩm đã nêu ở chú thích 2).

[2] Szulo, Tad. Czechoslakia Since World War II (New York: The Viking Press, 1971).

[3] Nyrop, Richard. Czechoslakia: A Court Study (Washington, D.C.: The American University/Area Handbook Series, 1982).

[4] Doerner, William. “Our Time Has Come”. Time, Dec. 4, 1989.

[5] Harden, Blaine. “Czechoslovakia In the End of Communist Monopoly”. The Washington Post, Nov. 29, 1989.

[6] Kamm, Henry. “Spirit of 1968 is still alive, still distinct”. The New York Times, Nov. 30, 1989.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 2 Aug 2025

97. Ưng Lang

Ở bìa sau bản Mưa Rơi của Ưng Lang do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần thứ nhất, có thấy liệt kê thêm 5, 6 sáng tác khác nữa của ông. Nhưng có lẽ vì chỉ được phổ biến hạn chế nên ít người biết.

Riêng bài “Mưa Rơi” thì, kể từ khi được Ưng Lang tung ra đời, đã được coi như một trong những ca khúc nói về mưa hay nhất của nhạc Việt Nam nói chung. Giai điệu dịu dàng nhưng thiết tha. Cái thiết tha của những tâm hồn mơ mộng, lãng mạn, thu cả trời đất vào trong một người.

Cái người ấy nhiều khi lại không rõ mặt, nên tan lẫn vào mưa, vào thành phố, vào núi non, sông biển. Không phải chỉ một mình Ưng Lang yêu như thế. Đó còn là cái “cách thế yêu” của cả một thời đại.

Yêu ai, yêu cả một đời [Nguyễn Văn Khánh]

Ai lướt đi ngoài sương gió [Văn Cao]

Bóng ai qua thềm [Văn Chung]

Tình yêu như trái phá

Con tim mù loà [Trịnh Công Sơn]

Vào những năm 90 vừa qua, những ai gặp lại Ung Lang ở Sài Gòn, đều thấy ông còn nhanh nhẹn, hoạt bát, mặc dầu nghe nói tuổi ông đã khá cao bẩy mấy gần tám mươi rồi. Đặc biệt gặp những người cỡ tuổi con, cháu, nhưng ông bắt phải gọi ông bằng “anh”, chứ không được xưng hô là “ông” hay “bác”. Ung Lang cùng với những Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Nguyễn Văn Thương, Ngô Ganh, Văn Giảng, Châu Kỳ, rồi Trịnh Công Sơn họp thành nhóm những nhạc sĩ danh tiếng của đất Thần Kinh. Bài “Mưa Rơi” của Ưng Lang do Châu Kỳ viết lời ca. Những năm sau 75, Châu Kỳ bị bắt giam nhiều lần vì tội “say rượu chửi bậy”. Cái vui, cái trẻ trung của Ưng Lang cũng có cái vẻ gì đó buồn buồn. Cái say đến bất chấp trời đất của Châu Kỳ cũng buồn. Đó là điều người ta nghĩ sai ra hay quả thật cái buồn đã ngấm trên quê hương chúng ta, nên nhìn quanh ta thấy cái gì cũng buồn?

Mưa Rơi

Mưa rơi! Chiều nay vắng người

Bên thềm gió lơi

Mơ bóng ngàn khơi

Mưa rơi! Màn đêm xuống rồi

Mây sầu khắp nơi

Thương nhớ đầy vơi

Bâng khuâng nghe tiếng tơ dịu dàng

Nhìn lá úa theo hoa tàn

Tiếc thương phút giây lìa tan

Ai đi như xóa bao lời thề

Thuyền theo nước trôi không về

Thấu cùng lòng ai não nề

Riêng chốn phòng khuê

Mưa rơi! Đìu hiu dưới trời

Đêm dài vắng ai

Thương nhớ nào nguôi

Hà Thanh