Câu chuyện của một vị Linh mục ở trong tù CS – AI BẢO CHĂN TRÂU LÀ KHỔ?

hung-viet.org

LM Phan Phát Huồn

19 Tháng Năm 2025

Post by Sơn râu 14 Aug 2025

Linh mục trung tá Phan Phát Huồn

Lời giới thiệu của KD

Cha Phêrô Phan Phát Huồn, DCCT (1926-2015), người quê giáo xứ Phường Đúc, Huế, nguyên Trung Tá Phó Giám đốc Nha Tuyên Úy VNCH và cũng là  người sáng lập và xây dựng nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại Xóm Mới. Sau 1975, bị tù cs 13 năm (75-88), trải qua nhiều trại giam từ Nam chí Bắc như: Tam Hiệp, Thanh Phong, Nam Hà. Tại trại Nam Hà, cha Huồn đã ban bí tích Rửa Tội… cho các :Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Thiếu tướng Lê Văn Tư và Chuẩn Tướng Phan Đình Thứ tự Lam Sơn trở lại đạo Công Giáo.

Năm 1992 cha Huồn sang Hoa Kỳ theo diện H.O. Sau đó Ngài làm chủ bút nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp xuất bản tại Long Beach, Nam California.

Ngay từ khi vừa chịu chức linh mục ngài đã viết cuốn lịch sử Việt Nam Giáo Sử- tác phẩm đầu tiên về lịch sử GHCG Việt Nam từ ban đầu cho đến giữa thế kỷ XX.

Tôi gặp ngài lần đầu ở Thái Hà dịp tết năm 1988 khi ngài vừa được trả tự do sau 13 năm trong ngục tù cộng sản. Vì Thái Hà là nơi ngài đã sống 7 năm khi còn làm thầy trước năm 1954, nên ngài cùng với cha Ngô Đình Thỏa và Đinh Ngọc Quế đã ở lại đây ăn tết với cha Vũ Ngọc Bích và tôi gần 1 tháng, trước khi về Sài Gòn.

Năm sau -1989- tôi được cha Vũ Ngọc Bích gửi vào tu viện DCCT Sài Gòn ở đường Kỳ Đồng. Thế là chúng tôi lại có dịp chung sống với nhau. Bấy giờ công an cấm những người như ngài và tôi- không có hộ khẩu- ngủ qua đêm tại tu viện. Vì thế khoảng 8g mỗi tối tôi chở ngài về chỗ ngủ nhờ ở nhà 1 giáo dân và khoảng 4g45 sáng khi tôi đi qua chỗ ngài ở thì lại chở ngài đến tu viện.

Trong mấy năm ở chung tại tu viện Kỳ Đồng, ngài kể cho tôi nghe nhiều chuyện đau khổ trong tù trong đó cũng có nhiều chuyện cười ra nước mắt. Tôi nhớ mỗi lần kết thúc một câu chuyện ngài lại nói: “Đó là chuyện tôi sẽ viết khi đáp máy bay xuống phi trường Washington!”

Ngài đã viết thật. Năm 1991 ngài sang Hoa Kỳ theo diện HO và năm 1994 ngài đã xuất bản cuốn hồi ký có tựa đề là “AKA và Thập Giá. Ai thắng ai?” viết về 13 năm sống trong ngục tù cộng sản và gửi về VN tặng tôi một bản. Nhân dịp 30 tháng 4 tôi xin trích vài trang kể về hai “tai nạn” khi ngài đi chăn trâu lúc ở tù.

***

(….) Chúng tôi chia tay nhau mà lòng đầy phấn khởi, và cũng vì phấn khởi mà tôi leo lên lưng trâu cỡi, tôi vừa cỡi trâu vừa nghêu ngao ca bài của Phạm Duy:

Ai bảo chăn trâu là khổ,

Chăn trâu sướng lắm chứ

Đầu tôi đội nón mê như lọng che.

Tôi vừa ca đến đây thì tôi nghe tiếng quen quen:

– Tụt, tụt, anh tụt khỏi lưng trâu ngay lập tức. Tôi nhận ra tiếng của cán bộ quản giáo của tôi. Tôi lanh lẹ cầm đuôi trâu tụt xuống khỏi lưng nó. Cũng lúc ấy cán bộ xông tới gần tôi, tôi nghĩ là ông ta muốn đánh tôi, tôi nói:

– Yêu cầu cán bộ đứng xa tôi 3 mét.

Sở dĩ tôi nói như vậy vì trong nội quy của nhà tù, tôi không được đứng gần cán bộ 3 mét.

Ông cán bộ đăm đăm nhìn tôi như muốn ăn sống tôi làm tôi nhớ lời trong thánh vịnh:

Tôi phải nằm giữa bầy sư tử,

Loài thú ăn thịt người

Nanh vuốt chúng là đầu tên mũi giáo,

Lưỡi thì sắt bén tựa gươm đao.

– Anh có biết anh là gì không?

– Thưa cán bộ tôi là Phan Phát Huồn.

– Phan Phát Huồn là cái thớ gì? Anh là tư sản là tanh hôi là xấu xa, anh biết chưa?

Tôi không trả lời cho câu hỏi ấy. Ông cán bộ hỏi tôi tiếp:

– Anh có biết con trâu này là gì không?

– Thưa cán bộ có, về mặt sinh vật học con trâu này là một con vật có 4 chân thuộc loài có vú.

Nghe tôi nói có vẻ lạ tai, ông ta trợn đôi mắt tròn xoe rồi ông ta khạc nước bọt lên trên nền đất tỏ vẻ bất mãn:

– Cà chớn, ai lại không biết con trâu này có 4 chân thuộc loài có vú, cha cố gì mà ăn nói tục tĩu, điều mà anh cần phải nhớ, phải ghi lòng tạc dạ: con trâu này là một con trâu xã hội chủ nghĩa, và anh là tư bản chủ nghĩa, vậy mà anh dám đưa cái đít thối tha tư bản chủ nghĩa của anh, ngồi lên trên, cà lên trên lưng của con trâu xã hội chủ nghĩa. Láo.

Cán bộ nói câu ấy với tất cả tấm lòng thành của một cán bộ cộng sản lúc ông ta tưởng rằng lý thuyết của ông ta bị xúc phạm.

– Vậy bây giờ anh hãy tự xử lấy.

– Thưa cán bộ tôi chẳng biết phải tự xử làm sao cả.

– Học tập như anh quá kém, làm sao lên lớp được, anh đem trâu xuống suối tắm, giải tỏa cho lưng nó sạch mùi xú uế.

– Thưa cán bộ sáng hôm nay đài khí tượng cho biết tại Yên Bái là 5 độ C, đem trâu xuống suối tắm thì cả trâu lẫn người sẽ đều bị bệnh. Vậy tôi xin cán bộ cho phép tôi lấy lá khô xung quanh đây chùi lưng trâu với mục đích giải tỏa cho lưng trâu sạch mùi xú uế.

Cán bộ suy nghĩ chốc lát rồi trả lời ngắn gọn:

– Được!

Thế rồi tôi hái lá khô chùi lưng trâu, vừa chùi vừa cười thầm trong bụng về cái công tác kỳ cục này. Sau đó tôi lại tiếp tục nghề chăn trâu của tôi.

Một hôm cán bộ đến gần tôi và nói rằng:

– Anh Huồn, anh biết là sắp đến ngày quốc khánh mồng 2/9 không? Anh lựa con trâu nào coi được, trao cho nhà bếp làm thịt cho trại viên ăn.

Tôi lựa một con thật béo tốt và tôi để trong trí tôi, không cho ai hay biết. Tôi lựa một con thật béo là cốt ý cho anh em bồi dưỡng chứ không phải để mừng ngày 2/9 vì ngày ấy đối với tôi là một ngày toàn dân bắt đầu làm thân trâu ngựa để phục vụ cho một chế độ độc tài, độc đảng, độc ác.

Sáng mồng 2/9 tôi vào chuồng trâu để đưa con trâu tôi đã chọn trao cho nhà bếp làm thịt, thì nó nhìn tôi và tràn trụa nước mắt, thấy vậy tôi về trại cáo bệnh và tôi xin bác sĩ cho tôi nghỉ ngày hôm ấy, như thế tôi tránh được việc dẫn trâu đến lò sát sinh vì tôi không muốn chứng kiến cái cảnh đau thương dù là của một con vật.

Chiều đến chúng tôi được một bữa cơm thịnh soạn với thịt trâu, anh NSX linh mục tuyên úy Quân khu 3, bạn đồng nghiệp của tôi, nằm khít bên cạnh tôi, là người bạn giúp đỡ tôi trong suốt thời kỳ tôi đau ốm, chúng tôi cùng ngồi ăn chung với nhau suốt thời kỳ ở Yên Bái. Hôm ấy ăn món thịt trâu xong, tôi để xương vào đĩa định đem đi đổ thì anh NSX không cho và anh lấy hết đĩa xương ấy ngồi mút thật ngon lành, rồi một buổi chiều kia anh NSX đưa tôi lên bệnh xá nhận thuốc bổ của gia đình anh gởi và bắt tôi uống, có lẽ đó là cách anh trả xương trâu lại cho tôi! Anh em chúng tôi ở với nhau thật tình như thế đấy.

Lâu lâu các linh mục BĐH và mục sư ĐVL cũng ghé thăm tôi, và một hôm các anh đề nghị với tôi, tổ chức đại hội trâu, thật là một ý kiến tuyệt vời. Đến ngày ấn định chúng tôi cùng kéo nhau lên đỉnh núi cầu nguyện, để đàn trâu ăn cỏ dưới chân núi. Đứng trước cảnh trời bao la, một màu xanh biếc, chúng tôi cảm thấy tâm hồn nhẹ nhõm thư thái, và quên hết tất cả những nỗi lo âu, phiền toái của cuộc sống ở chốn nhà tù việt cộng âm u. Thế rồi không ai bảo ai, chúng tôi cất tiếng hát:

Chúa ơi cho con hầu kề, Gần bên Chúa luôn.

Trí con đinh ninh một bề làm tôi Chúa luôn.

Con quyết không bao giờ nguôi.

Theo Chúa con luôn không rời.

Chúa ơi cho con hầu kề gần bên Chúa luôn…

Chính lúc đó một tiếng từ trong bụi quát ra:

– Làm gì có Chúa mà gần các anh, chính tôi, tôi đây, cán bộ nhân lực, cán bộ an ninh, tôi gần các anh đây, tôi bắt quả tang các anh bỏ giờ lao động, tập họp bất hợp pháp để hát những bài nhạc vàng, những bài dâm ô. Các anh xuống núi, lùa trâu về trại.

Anh Hiểu quay lui nói với tôi:

– Làm gì mà không chịu ngó trước ngó sau!!

– Lỡ rồi biết sao được.

Lúc xuống núi tôi nhìn quanh quẩn nhưng không thấy đàn trâu của chúng tôi đâu cả, tôi đâm lo, người xưa nói thật đúng: Họa vô đơn chí, nhưng may cho tôi, tôi thấy được dấu chân trâu và tôi lần mò đi theo lối chân ấy, lúc tôi tới cuối ruộng mía, tôi thấy đàn trâu đang bị buộc ở đấy, bỗng trong ruộng mía một cụ già xông ra, tay cầm bó mía, vừa chạy vừa chửi:

– Mẹ kiếp nhà mày, chúng mày cho trâu ăn mía nhà ông. Ông phang cho vỡ sọ bây giờ.

Ông vừa chửi vừa chạy nhanh về phía tôi, vấp phải một hòn đá ông ngã lăn quay ra, miệng cạp phải đất, bó mía rơi khỏi tay ông nhưng miệng ông vẫn nói: “Ông phang vỡ sọ nhà mày”.

Tôi chạy tới đỡ ông dậy, ông hơi trầy gối, tôi lấy thuốc đỏ trong túi tôi xức cho ông, vì khi chúng tôi đi lao động chúng tôi luôn mang theo thuốc đỏ và thuốc trị rắn cắn, đồng thời tôi xin ông cho tôi chuộc lại bầy trâu. Bây giờ ông không còn hung hăng nữa, ông chấp nhận đối thoại, ông hỏi tôi:

– Anh có gì mà chuộc?

– Cháu có áo tây gi.

– Áo tây gi là áo gì?

– Là áo chúng cháu đang mặc đây.

Ông nhìn chúng tôi một chốc rồi ông nói:

– Được, các anh trao cho tôi.

Chúng tôi cởi áo chúng tôi ra, xót xa như bị lột da vậy, vì đây là một gia tài đối với tù nhân như chúng tôi. Ông nhận lấy áo chúng tôi, xem đi xem lại rồi bảo tôi:

– Cả quần của các anh nữa.

Chúng tôi dành phải tụt quần trao cho ông, nhưng riêng đối với tôi, tôi còn một chiếc quần đùi, mà quần đùi của tôi chỉ còn khả năng che phía đằng trước. Lấy xong bộ đồ tây gi của 3 anh em chúng tôi, ông nhìn tôi và nói:

– Áo lót của anh nữa!

Biết làm sao bây giờ, tôi cũng phải chiều lòng ông cởi chiếc áo lót duy nhất của tôi cho ông, sau đó thì ông đăm đăm nhìn tôi rồi ông hỏi tôi:

– Anh là công giáo à?

– Vâng cháu là công giáo và còn hơn thế nữa.

– Hơn thế nữa nghĩa là gì?

– Cháu là linh mục.

– Cháu là linh mục?

Nói câu ấy xong, tôi thấy một sự thay đổi rõ rệt trên nét mặt, đôi mắt ông trở nên đỏ ngầu, ông chấp hai tay lại và ông van nài tôi:

– Lạy cha, xin cha tha tội cho con, thưa cha thật tình là con không biết, lúc cha cởi áo thun ra, con thấy cha đeo thánh giá, con chỉ nghĩ rằng cha là một giáo hữu thường, con đâu có ngờ là linh mục.

Rồi ông gọi thằng con ông:

– Tuấn, mày đem nồi khoai ra đây cho tao.

Ông cụ già chẳng những hoàn lại cả bầy trâu cho chúng tôi, mà còn biếu chúng tôi một nồi khoai nóng hổi, thảo nào các em thường hát: Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!

Phan Phát Huồn

(Trích Hồi ký: AK và Thập Giá. Ai thắng ai của LM Phan Phát Huồn – trong mục XIV: Ai bảo chăn trâu là khổ? Trang 137-142).

********

DANH SÁCH NHỮNG LINH MỤC BỊ TÙ TRONG TRẠI A20 XUÂN PHƯỚC SAU NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 (và một số trại tù khác)

Tại nhà tù A20 thuộc xã Xuân Phước, tỉnh Phú Yên:

– Linh mục Marcô Bùi Quốc Khánh (nguyên Chánh xứ nhà thờ Tiên Chu)

– Linh mục Giuse Maria Đinh Bình Định (nguyên Chánh xứ nhà thờ Tân Chí Linh)

– Linh mục Giuse Đinh Hoàng Năng (nguyên Chánh xứ nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm)

– Linh mục Phanxicô Xaviê Đinh Quốc Thụy (cai quản họ đạo Bố Mua)

– Linh mục Đaminh Đinh Xuân Hải (Chánh xứ tiên khởi gx Bùi Môn, gx Tân Phú, tù 10 năm, chết tại Mỹ)

– Linh mục nhạc sĩ Giacôbê Đỗ Bá Công (nguyên Chánh xứ nhà thờ Mỹ Lợi)

– Linh mục Giuse Hoàng Văn Hinh (nguyên Chánh xứ nhà thờ Giuse), tù 11 năm

– Linh mục Giuse Lê Thanh Quế (Dòng Tên, chết tại VN)

– Linh mục Matthia M. Nguyễn Huy Chương(Dòng Đồng Công, tù 20 năm)

– Linh mục Giuse Nguyễn Huyền Linh (nguyên Chánh xứ Bù Đăng, tù 20 năm)

– Linh mục Đaminh Nguyễn Quang Minh (nguyên Chánh xứ nhà thờ Vinh Sơn, chết trong nhà biệt giam)

– Linh mục Giuse Nguyễn Tiến Khẩu (cai quản Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Xóm Mới)

– Linh mục Giuse Nguyễn Văn Bút (từng làm Mục Vụ tại Giáo Phận Vĩnh Long)

– Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Đệ (đi tập trung, hiện là giám mục giáo phận Thái Bình)

– Linh mục Nguyễn Văn Đoan (đi tập trung)

– Linh mục Nguyễn Văn Hiệu (chung thân, sau đó bị tử hình)

– Linh mục Gioakim Nguyễn Văn Hiếu (dòng Đông Công, tù 20 năm)

– Linh mục Nguyễn Văn Luân (tù 20 năm, chết trong nhà biệt giam)

– Linh mục Nguyễn Văn Thuyên (dòng Đồng Công, tù 20 năm)

– Linh mục Nguyễn Văn Vàng (dòng Chúa Cứu Thế, tù chung thân, thổ huyết chết trong buồng cùm A20 năm 1986)

– Linh mục Phanxicô Maria Nguyễn Viết Linh (đi tập trung, sáng lập Tu Đoàn Nữ Thừa Sai Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế)

– Linh mục Micae Phạm Bá Tước (tù 13 năm, Phục vụ tại Giáo xứ Gia Cốc, ngài qua đời ngày 9/4/2021)

– Linh mục Micae Phạm Quang Hồng (tù 13 năm, khi đi tù là Sư huynh dòng Lasan, sau này được thụ phong linh mục tại hải ngoại)

– Linh mục Phạm Minh Trí (Dòng Đồng Công, tù 20 năm)

– Linh mục Trần Văn Long (Dòng Đồng Công, tù 20 năm)

– Linh mục nhạc sĩ Rôcô Trần Hữu Linh (Bị bắt đi tù 11 năm “vì đã thương tình cho một chủng sinh tá túc một đêm!”. Anh chủng sinh này bị gán tội phản động. Vì vụ này, trụ sở Tu hội Thánh Vinh Sơn tại Tam Hiệp bị nhà nước chiếm đoạt.)

– Linh mục Trần Văn Nguyện(chết tại Bà Rịa tháng 12 năm 2008)

– Linh Mục Tuyên (tù trên 10 năm)

– Linh mục Phaolô Võ Văn Bộ (chánh xứ tiên khởi nhà thờ Fatima Bình Triệu, tù 15 năm)

-Linh mục Antôn Vũ Ngọc Đăng (nguyên Chánh xứ nhà thờ Chánh tòa Phan Thiết, tù trên 10 năm)

– Linh mục Phêrô Hoàng Văn Thiên (dòng Đaminh, chết tại Mỹ)

– Linh mục Phêrô Nguyễn Đình Đệ (cai quản Giáo xứ Đồng Tiến)

-Linh mục Phanxicô Nguyễn Sơn Miên (qua Mỹ và cai quản giáo xứ các Thánh Tử Đạo VN, TGP Seattle)

– Linh mục Nguyễn Văn Thông (tuyên úy nhà giam Chí Hòa trước năm 1975, chết năm 2011 tại Nam Cali)

– Linh mục Mai Đức Chương (dòng Đồng Công)

– Linh mục Phêrô Nguyễn Luân (quản xứ Thủy Lợi, bị tù 20 năm, biệt giam dài ngày, thiếu ăn, bị bệnh phổi nên kiệt sức mà chết)

– Linh mục Đaminh Ngô Quang Tuyên (đi tù 13 năm hoặc hơn, hiện là chính xứ Giáo Xứ Phú Xuân, Tổng Giáo Phận Sài Gòn, cha cũng là thành viên ban cố vấn cho Đức Tổng Năng hiện giờ)

– Linh mục Vũ Huy Chương (không rõ tt)

– Linh mục Trần Quang Điềm, Tuyên uý, chánh xứ nhà thờ Vinh Sơn, Sơn Trà , Đà nẵng

– Linh mục Phong (không rõ tt)

– Linh mục Nguyễn Văn Thế (không rõ tt)

– Linh mục Lê Quang Tạo (không rõ tt)

(Trại tù A Xuấn Phước là một trong số các trại tù khắc nghiệt nhất nước. Hầu hết tù nhân đều bị cùm, bị hành hạ, nên rất nhiều người bị thương tật, bệnh hoạn hoặc bỏ mình ở đây.)

——-

Một số linh mục bị giam ở các trại tù khác:

– Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận (tù 13 năm với 9 năm biệt giam.)

– Linh mục Mathias Vũ Ngọc Đáng (bị giam 20 năm tại Thanh Hóa)

– Linh mục Giuse Đinh Cao Thuấn (bị giam 14 năm tại Sơn La)

– Linh mục Giuse Vũ Khánh Tường, sáng lập tu hội Đắc Lộ,(chết trong nhà giam Chí Hòa năm 1980)

– Linh mục Irênê Nguyễn Bình Tĩnh. GP Ban Mê Thuộc, tù 11 năm.

– Linh mục Giuse Vũ Sỹ Hiệp, chánh xứ Trà Cổ

– Linh mục Nguyễn Hữu Lễ (giam ở trại A30 ….cũng có ở cùng Đức Cha Thuận cũng khoảng 16 năm ở cả trại giam Cổng Trời ….)

– Linh mục Lê Trung Thịnh, giám đốc nha Tuyên úy Công giáo . tù 14na8m

– Lm Phan Phát Huồn ,phó giám đốc nha Tuyên úy Công giáo, tù 13 năm

– Lm Trần Quý Thiện, Tuyên úy Bộ TTM

– Lm Giuse Vũ Ngọc Tấn Chánh, xứ tiên khởi nhà thờ Hoàng Mai- Xóm mới – Hiệu trưởng Trường Vinh Sơn Liêm, biệt giam 11 năm đến khi mắt không thấy đường. Ngài qua đời tại VN

– Lm Giuse Đỗ Bá Ái, làm quản xứ Đa Nghi kiêm Hội Yên và Thuận Nhơn. -Ngài đã lập một bệnh viện và mở một ngôi trường mang tên Trung học Quảng Đức.

– Lm Augustinô Nguyễn Thái Sanh, tuyên úy tiểu khu Mộc Hóa,sau khi đi tù cải tạo 13 năm về thì giúp xứ Chí Hòa, rồi làm cha sở Chí Hòa đến năm 2007 thì mất

– Lm Phêrô Nguyễn Quốc Túy, chánh xứ Tân Thái Sơn

– Lm Đaminh Trần Đình Thủ, Dòng Đồng Công

– Lm Nguyễn Minh bị bắt tại Rừng Lá năm 1974. Sau thời gian dài “cải tạo” cha Nguyễn Minh về Long Khánh, sau làm cha xứ Cẩm Mỹ . Hiện cha đang ở nhà Linh Mục hưu dưỡng Lái thiêu

– Lm Khổng Năng Bao. sau tù về làm phó xứ Đông Hoà GP Xuân lộc

– Lm Anton Nguyễn Bá Lộc – Chánh xứ Antôn Kênh 1A, GP Long Xuyên -Người khai mở dinh điền Cái Sắn (Tân Hiệp- Kiên Giang). Sau năm 1975 Ngài bị bắt đi tù 13 năm rồi về bị quản thúc. Trong thời gian tù đày bị hành hạ đánh đập và khi về Giáo xứ bị quản thúc và mang trong mình những bệnh tật khi ngài bị cầm tù.

-Lm Hoàng Quỳnh, Quản hạt Bình An, chánh xứ Bình An Hạ Bị bắt ngày 06/02/1976 và bị thủ tiêu cùng năm.

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 14 Aug 2025

4. Chương 4

Con đường Chi Lăng xưa, nay là đường Phan Đăng Lưu, phía trước Lăng ông Bà Chiều, có tòa Bố của tỉnh Gia Định, thời chế độ Cộng Hòa thành tòa tỉnh trưởng. Bên cạnh tòa tỉnh trưởng có trại giam, sau này cũng vẫn là trại giam, có bí số bao nhiêu đó tôi quên mất rồi. Tôi chỉ nhớ gọi là số 4 Phan Đăng Lưu, hầu hết văn nghệ sĩ của chế độ cũ sau ngày 30-4-75 bị giam ở đó, trước khi bị đưa đi học tập cải tạo ở các vùng xa xôi. Tôi từng biết nơi đó, từng lêu bêu từ nhà giam này tới nhà giam khác trước khi tới trại giam Z30A, thuộc miền đông, dưới chân núi Chứa Chan mà ở đó có “Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ”. 
Bây giờ khi đi qua con đường Chi Lăng xưa hằng ngày tôi không thể không nhớ nhung, những kỷ niệm và những bằng hữu tôi. Trên con đường Chi Lăng có con đường chạy xuyên ngang ra Suối Đen ấp Đông Ba gọi là đường Nguyễn Huệ, nay là đường Thích Quảng Đức. Con đường Thái Lập Thành, nay là đường Phan Xích Long, hồi xưa có quán ốc, chuyên nấu cơm lá sen của tài tử điện ảnh Văn Giai, quán cơm của anh bị trúng pháo kích ngày 29-4-75 gia đình anh bị mạng vong gần hết. Tôi đã đứng với anh trên đống tro tàn, anh ngẩn ngơ như người mê sảng. Phía đầu đường Nguyễn Huệ Chi Lăng, các bạn bè tôi từng thuê nhà ở đó, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Viên Linh, Nguyễn Khắc Nhân, cả họa sĩ Phạm Hoán. Tôi nhớ tựa đề một bài thơ của Trần Dạ Từ nói lên sự khổ cực của anh em bạn bè “Chi Lăng! Chi Lăng! Tiếng ai hò reo.?” Nếu tôi nhớ không lầm đó là tên bản hùng ca của Lưu Hữu Phước. 
Căn nhà tôi ở trọ cũng gần với nhà thuê của Trần Dạ Từ – Nhã Ca. Thuở mới vào đời chúng tôi nghèo khổ lắm. Tôi là chú lính đất làm việc ở phi trường Tân Sơn Nhất, các bạn tôi đeo đuổi nghề báo nghề văn, nhưng cũng bữa đói bữa no, hoặc phải kiêm luôn nghề kèm trẻ tư gia để kiếm ăn. 
Sự thật là như thế. Nhưng vẫn ngoan cố coi mình là văn sĩ, thi sĩ. Tôi thì mới mơ thành văn sĩ. Thời gian ấy cũng xa xôi lắm rồi, dễ chừng phải 40 năm trước. Một buổi chiều trời sẩm tối tôi di dạo dưới hàng eây sao bên lề đường Chi Lăng, bỗng gặp Viên Linh đi lang thang một mình. Tôi hỏi: 
– Sao cậu không ở nhà? 
– Nhà bé bằng cái lỗ mũi đông đảo bạn bè quá Thôi mày cũng đừng sang bây giờ, đi với tao ra cà phê Bằng. 
Cà phê Bằng ở khu nhà mười căn bên cạnh cư xá Chu Mạnh Trinh, đầu ngã tư Phú Nhuận. Trong khu cư xá đó, nhiều văn nghệ sĩ đã có danh cư ngụ. Cà phê Bằng có căn nhà dưới và trên lầu. 
Tôi thích ngồi trên lầu nhìn ra cái cửa sổ rộng, nhìn cái cột điện có những ống sứ mắc dây chằng chịt. Không biết sao tôi lại nghĩ cái cột điện ấy trông thật cô đơn. Những chiều mưa, dây điện đọng nước võng xuống nhỏ từng giọt, những dòng nước khác tiếp tục chạy đến làm thành những giọt khác, những giọt liên tiếp nhau nối thành chuỗi… 
Buổi tối hôm ấy, Viên Linh vừa uống cà phê vừa đọc thơ anh mới làm cho tôi nghề, những bài thơ đã đăng báo, anh có vẻ tâm đắc, mấy câu thơ, mà tôi cũng thuộc đến bây giờ: 
Sáng ở đầu sông nhớ núi. 
Đêm về trong núi nhớ sông 
Có tin về hôm giáp Tết 
Sống bây giờ long đong 

Đồng thời anh nói với tôi về đức Zehova và chuyện thánh thần trong thánh kinh Cựu ước. Quyển thánh kinh Cựu ước đó tôi thấy trong căn nhà thuê ở đường Nguyễn Huệ, không biết do ai mang về. Trước lối đi vào căn nhà đó có bụi tre gai, những cơn điên loạn của Nhã, cô ta lao đầu vào đó. Trên lối cửa vào phòng có ai đó đề hàng chữ L enter des hommes”. 
Con đường Chi Lăng ở tỉnh Gia Định xưa ngắn ngủi, có thể coi bắt đầu từ tòa tỉnh trưởng Gia Định chạy dài đến ngã tư Phú Nhuận là dứt. Con đường giữa dành cho xe hơi, hai bên có đường phụ dành cho xe đạp. Trên hai con đường phụ đó trồng cột điện và hàng cây sao rợp bóng mát. 
Ấp Đông Ba, Đông Nhì là những xóm ngoại thành, cây cối la đà. Những căn nhà tranh vách đất, những ngôi chùa ẩn mình dưới rặng tre xanh. Những ngọn điện vào được những căn nhà trong xóm đó còn rất hiếm hoi. Đường đất như những lối mòn trong xóm làng. Cái ồn ào của phố thị chỉ huyên náo ngoài lộ chính. 
Tôi sống ở đó hơn nửa đời người, có ngắt quãng một vài điểm thời gian, nhưng cuối cùng tôi lại về đây. Đổi khác nhiều rồi dó, nhà cửa mọc san sát làm mất đi nhắc cảnh xưa cũ. Nhưng tôi vẫn còn nhớ như in. Khó mà quên được vì có những kỷ niệm đậm nét trong cuộc đời Tôi ghi nhận, quan sát, đôi khi cũng có chút hư cấu để viết lên khá nhiều tác phẩm, truyện ngắn, truyện dài, liều thuyết. Kể cả những kỷ niệm với bạn bè, vì rằng căn nhà tôi mua hồi ấy qui tụ khá đông bằng hữu văn nghệ. Cũng từ căn nhà ở ấp Đông Ba xưa, tôi làm nên tác phẩm rồi chính thức bước vào nghề viết văn làm báo. Thành ra những kỷ niệm tội nghiệp cứ luôn trùng điệp trong tôi. Tôi nhàn nhã quá trong những đêm trường thao thức trên căn gác bút, những kỷ niệm đến với tôi bất cứ lúc nào. Tiếng ễnh ương kêu y uổng ở ao hồ nào đó còn sót lại trong xóm tôi, thường thì gây ra những kỷ niệm buồn. 
Bây giờ tháng Bảy mưa ngâu, những con mưa đêm chợt đến chợt đi, tôi nghe tiếng ễnh ương kêu ở một vũng nước nào đó bên vườn chùa trong đêm. 
Tháng này là tháng xá tội vong nhân. Nhiều nhà sửa soạn cúng cô hồn, những quán cơm chay bên đường Nguyễn Văn Đậu (Ngô Tùng Châu cũ) bắt đầu đông khách. Những tay nghề bẫy chim đem bán làm chim phóng sinh ở cổng lăng ông Bà Chiều hoạt động mạnh. Khách thập phương giầu lòng nhân ái bỏ tiền ra mua bầy chim tội nghiệp ấy thả bay lên trời xanh để rồi chúng lại bị bắt trở lại ở mẻ lưới khác Lại được bầy bán ở cổng lăng, cổng chùa. Người ta vê mãi mà vẫn không tròn quả phúc. Nếu có người nào đó đánh dấu vào chân những con chim chim mình phóng sinh sẽ thấy rằng chúng trở lại lồng của người bán chim để được bán nữa. Vẫn có người mua để phóng sinh cầu phước, tỏ với Trời Phật lòng nhân đức của loài người. 
Buổi chiều hôm nay đứng trên gác bút, tôi chứng kiến chú tiểu trong chùa chạy ra xua đuổi lũ chim tham ăn, đậu vào màng lưới rộng trải trên mặt đất. Chú tiểu bị bọn côn đồ bẫy chim đánh cho một trận nhừ tử. Tệ hại hơn nữa chú bị chúng nhét thịt chim nướng vào miệng khiến chú phạm giới. Bọn côn đồ bẫy chim say rượu cười hộc lên như một bầy linh cẩu. Chú tiểu vừa chạy vừa khóc, chùi miệng nhổ phì phì. 
Một cảnh như thế mà cười được đấy. Sư cụ trụ trì chắp tay niệm câu “mô phật”. 
– Hôm nay không trúng mánh mà vui? 
Tôi chứng kiến cảnh tượng đó, thấy mình hết ý. Nhưng sao đêm nay vẫn cứ suy nghĩ vẩn vơ Bao nhiêu là điều, bao nhiêu là chuyện đế nói đc viết. Tiếng ễnh ương kêu ở vũng nước vườn chùa buồn bã thế vẫn không đưa nổi tôi vào giấc ngủ. 
Tiếng ễnh ương kêu buồn bã trong đêm gây buồn gây nhớ. Nhớ lắm, thương lấm, hỡi những người bạn của tôi. Các anh thoắt hiện thoắt biến trên cõi đời. Còn lại những kỷ niệm, những cái các anh để lại, mà tôi không thể nào quên. 
Tôi viết hay tôi đang gậm nhấm những kỷ niệm? Tôi tự do trong tôi, tôi vẫn nghĩ thế. Đọc một quyển sách, một bài thơ, nghe lại một đoạn nhạc, một lời ca, do các anh sáng tác tôi lại nhớ đến các anh, lại nhớ nhung, lại ngậm ngùi. Như thấy các anh còn hiện diện. Những người bạn nghệ sĩ của tôi, nếu chứng kiến cái chết từ từ của anh, như cây nến cháy tự ăn mình để tồn tại, tôi càng thêm chua xót. Không gì đau bằng ngồi bên giường bệnh của anh, nhìn anh lịm dần vào giấc ngủ ngàn thu. Tuy nhiên không phải cái chết nào cũng giống nhau, có cái chết thanh thản với nụ cười trên môi thì cũng có cái chết oằn oại vì đau đớn, cái chết còn đọng giọt lệ trên hố mắt. Vâng tôi đã thay, đã thấy nhiều lắm rồi. Có cái chết đến là ngỡ ngàng, tiếc nuối hay bức xúc vì còn dở dang một điều gì đó chưa trọn vẹn trên cõi đời. Có cái chết cô đơn, còng queo trong nhà giam, không ai nghe thấy lời cuối cùng của kẻ bạt mạng như cái chết của nhà văn Dương Hùng Cường. Nghe tin anh chết, tôi ngỡ ngàng và nhớ đến những tác phẩm của anh. Từ Buồn vui phi trường đến tên tác phẩm cuối cùng của anh, Vĩnh biệt phượng. Có phải lời trăn trối của anh không, gửi cho vợ hay người yêu. Tôi bỗng như thấy cái nghênh ngang của con người anh qua bút hiệu Dê Húc Càn. Cái nghênh ngang ấy đi vào trí nhớ của tôi. Mới ngày nào anh còn tưng tửng giữa đời, mà nay anh đã là người thiên cổ. Đã bao nhiêu người bạn tôi nằm xuống. 
Một đêm tôi nằm gục trên bàn viết, cây bút không gác lên mà rời khỏi tay, lăn lóc trên mặt bàn. 
Tiếng ễnh ương kêu y uông trong vũng nước, xưa kia nguyên là một hố pháo kích sau vườn chùa Húc Nghiệm đánh thức tôi dậy, đánh thức cả kỷ niệm đang ngủ trong tôi. Tôi nhớ lại bản nhạc thuở nào: Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy nào Bây giờ anh ở đâu con ễnh ương vẫn gọi tên anh… 
Đó là lời bài hát mở đầu cho phim Người tình không chân dung của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Bài hát buồn đến ray rứt nói về cuộc chiến, một cuộc chiến đau khổ cho Việt Nam từ mấy chục năm trước mà mọi người Việt Nam ở miền Bắc, miền Nam, dù không trực tiếp tham gia thì cũng vẫn ở trong cuộc. Họ đều có những người thân ngã xuống, hay thương tật. Bài hát buồn bã đọng trong đầu tôi từ bao lâu rồi. thỉnh thoảng lại nổi lên như những câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm: 
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi 
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi 
Chinh phu tử sĩ mấy người 
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn 

Máu đổ, nước mắt rơi, bao nhiêu là tử sĩ, bao nhiêu chinh phụ, bao nhiêu những bậc mẹ cha già. Nước mắt người mẹ khóc con, vợ khóc chồng, cha khóc con, đứa trẻ khóc cha đều ai oán như nhau. 
Dù bất cứ ở nơi đâu, thuộc phe phái nào, cũng buồn lắm, đau khổ lắm. 
Hình ảnh ấy được ghi lại trong băng hình điện ảnh, con ễnh ương tạm trú trong cái mũ sắt thủng của người chiến binh nào đó bỏ lại trên chiến trường. Có thể chiến binh đó còn sống hay đã tử trận, xác thân đã rã, nhưng dấu chiến tích vẫn còn kia, làm nơi trú ẩn cho con ễnh ương ngồi khóc than ảo não trên chiến trường đìu hiu. Hình ảnh đó mở đầu cho cuốn phim chiến tranh Người tình không chân dung kèm theo lời ca buồn đến não lòng làm nền cho cả cuốn phim. Nét tài hoa của một nghệ sĩ, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, là ở đó. Anh khai thác nổi từ một hình ảnh nhỏ bé, tầm thường để làm nên cái vĩ đại trong nghệ thuật. Dù rằng điện ảnh Việt Nam thời gian đó còn trong phôi thai. 
Trước năm 1975, tôi quen biết đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, nhưng chỉ là chỉ sơ giao, vì tôi vừa là nhà háo, nhà văn. 
Do chú ý đến phim ảnh nên tôi không thể không làm quen một đạo diễn tài ba như Hoàng Vĩnh Lộc. Anh có nét vượt trội hơn nhiều đạo diễn khác, từng được đào tạo qua trường lớp ở nước ngoài. Khán giả nhìn thấy trong phim anh những nét phóng khoáng, hào hoa. Tôi được biệt trước khi làm phim, anh từng là diễn viên trong phim Bến Cũ năm 1950, từng là lực sĩ có thể hình đẹp từng là ca sĩ, kể cả làm liếp viên Hàng Không. 
Một buổi tối, trước năm 1975, tôi được mời đến dự tiệc trà ở một nhà hàng, không nhớ rõ là ở Majestic hay Continental. Buổi ra mắt hãng phim Giao Chỉ của hai nghệ sĩ tài danh. Đạo diễn điện ảnh Hoàng Vĩnh Lộc và nữ minh tinh màn bạc Kiều Trinh. Cũng là ngày đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc khởi đầu làm cuốn phim Người tình không chân dung. Chưa tới ngày bấm máy, nhưng đã được báo chí loan tin từ một hai tuần trước 
Các hãng phim hồi đó thì nhiều, mà làm thất vọng khách mộ điệu cũng không ít vì trình chiếu những cuốn phim quá gây thất vọng. Khán giả vẫn mơ ước có một cuốn phim coi được. 
Trong điện ảnh, Hoàng Vĩnh Lộc, theo anh nói, không xuất thân trong trường lớp nào. Nhưng nhiều người thấy anh có tài, có khả năng. Người ta đánh hơi thấy anh là người làm được và có thể làm hay vì anh có nhiệt tình. Anh đã cho ra mắt mấy cuốn phim trước khi anh thành lập hãng phim Giao Chỉ. 
Buổi tiệc trà tối hôm ấy khá đông đủ mặt văn nghệ sĩ. Kịch bản truyện phim, dĩ nhiên là về chiến tranh rồi. Một cuộc chiến đau thương. Giọng nói dễ thương của Dạ Lan hằng đêm gửi người chiến sĩ ở khắp 4 vùng chiến thuật để chia xẻ mọi nỗi niềm. 
Có lẽ Hoàng Vĩnh Lộc dựa vào chi tiết ấy để làm nên Người tình không chân dung. Cuốn phim có giá trị nào cũng nên có một bản nhạc nền. Người tình không chân dung cũng vậy Hoàng Vĩnh Lộc cũng mong mỏi có một bản nhạc nền phản ánh cho kịch bản truyện phim, nói lên được điều gì đó sâu thẳm của kịch bản mà tác giả, đạo diễn ấp ủ. Hoàng Vĩnh Lộc nghĩ đến điều đó và anh đã nhờ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhưng nhạc sĩ họ Trịnh lấy cớ chưa nắm vững kịch bản nên chưa làm được. 
Khi cuốn phận trình chiếu, tôi thấy bài hát “con ễnh ương”. Lời ca hay và hình ảnh cũng đẹp Khi đó hỏi ra mới biết chính Hoàng Vĩnh Lộc đã sáng tác bản nhạc nền cho cuốn phim của mình, và kiêm cả soạn kịch bản. 
Năm 1975, sau ngày “đứt phim”, tôi gặp lại Hoàng Vĩnh Lộc. Tôi hơi ngạc nhiên vì anh kẹt lại. Bạn bè chúng tôi còn lại thưa thớt nên dễ thân nhau, thân nhau qua những kỷ mềm và thân phận kẻ đồng cảnh ngộ. Buồn chán thì cùng nhau cụng ly rượu “nước mắt quê hương”. Chúng tôi thường xuyên gặp nhau, chia xót với nhau những gì mình có, rủ rê nhau cùng lao vào một điều gì hoặc cho nhau một mối làm ăn nào đó, béo bở hay không hạ hồi phân giải. 
Thuở đó miền Nam Việt Nam đã bại trận, nhưng đất nước chưa thống nhất để có tên gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Miền Nam Việt Nam có chính phủ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, quốc kỳ nửa xanh nửa đỏ có ngôi sao vàng ở giữa. Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh và tôi thường đến Alpha Film của đạo diễn “con nhà giàu Thái Thúc Nha ở đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu) sắp sửa trao lại cho nhà nước toàn quyền sử dụng. 
Sau này tôi gặp lại Thái Thúc Nha ở một tiệm ảnh nhỏ trên đường Tạ Thu Thâu. Nhà nước đổi cả cơ ngơi điện ảnh của anh để anh lấy tiệm ảnh nhỏ bé này kiếm sống qua ngày. Alpha Film xưa nay có tên xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu. Sau này tôi nghe tin Thái Thúc Nha đã chết. Tại Alpha film, chúng tôi gặp đạo diễn Mai Lộc, một đạo diễn của miền Bắc, từng đạo diễn phim Vợ chồng A Phủ. Khi ấy ông làm Cục trưởng Cục Điện ảnh. Ông mời chúng tôi về làm việc tôi nhớ ngôi nhà ấy ở đường Lê Quí Đôn. Tôi lo phần kịch bản, qua sự góp ý của hai đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc và Minh Đăng Khánh. Một tháng qua, chúng tôi thật tình vẫn chẳng làm được gì vì công việc viết lách không khó khăn mà phức tạp, đủ mọi khuôn phép, đầy những tính nọ tính kia. 
Một buổi chiều, ba người chúng tôi gom những đồng tiền rủ nhau ra quán nhậu nốc nước mắt quê hương”, sau một cuộc khẩu chiến với ngài biên tập. Rõ ràng là chúng tôi sai trái vì chúng tôi không đi đúng đường lối chính sách. Chúng tôi đồng ý với nhau là phải ngưng ngay lối làm việc này vì chỉ công toi. Chúng tôi là những người cầm bút chưa “xuyên suốt được sợi chỉ hồng”. Chúng tôi cám ơn sự giúp đỡ và xin phép được ra về. 
Hôm ấy cả ba chúng tôi say la đà. Rượu vào thì lời ra, chúng tôi ăn nói linh tinh, chẳng nhớ nói gì đến lúc sẩm tối. Ba tên chất nhau lên chiếc xích lô của người anh em chở về miễn phí. Hình như trong cảnh bần cùng tất cả mọi người đều hào phóng. Tôi không ngờ sau buổi chiều ấy Hoàng Vĩnh Lộc bị tố, tôi bị vồ hụt ở nhà Minh Đăng Khánh Trong mẻ lưới ấy hầu hết văn nghệ sĩ chế độ cũ đều bị thu gom vào nhà đá, rồi đi các trại học tập cải tạo. Tôi may phước biến được xuống Cà Mau làm cu li, vì ở Sài Gòn, tôi đã bị vợ đuổi ra khỏi nhà, lý do đơn giản vì vợ tôi là con nhà liệt sĩ, tôi không biết, trước kia nàng gá nghĩa vợ chồng với tôi là một sai lầm lớn, dù chúng tôi đã có hai mặt con chung. Tôi là đối tượng để căm thù, tôi mang biết bao nhiêu là xấu xa của một vở cải lương tố Ngụy rẻ tiền. 
Công việc làm cu li của tôi ở Cà Mau lại không xuôi chèo mát mái. Bởi chủ tôi, ông chủ nhiệm Tổ Hợp Việt Nam Kỹ Thuật phạm một sai lầm lớn là mưu đồ vượt biên trốn đi nước ngoài. Ông không thoát, bị tó. 
Tôi lại phải biến về Sài gòn. Về lại chốn này dĩ nhiên tôi tìm gặp lại anh em. Hoàng Vĩnh Lộc ra khỏi tù, một khoảng thời gian ở tù được coi là ngắn ngủi. 
Tôi hỏi Lộc: 
– Ông làm cách nào ra khỏi tù sớm vậy? 
– Tớ học lập tốt nên sớm được về xum họp với gia đình. Vả lại tớ bị bệnh xuyễn kinh niên, thêm bệnh tim nữa nên rất dễ chết. Ông cụ thi sĩ Vũ Hoàng Chương được tha rồi. Khiêng được về nhà thì chết. Thằng bạn chúng ta là thằng nhà báo Sao Biển vẫn phải chạy chợ trời kiếm thuốc cho tớ trong đấy. Thuốc hay đáo để, cứ tọng vào họng một viên tớ chết rồi là sống lại liền. 
– Này, ông được tha có giấy tờ chứ? 
Hoàng Vĩnh Lộc móc lúi đưa tôi xem giấy tờ có một chữ ký đàng hoàng: 
– Đây là giấy tạm tha, chỉ tạm tha thôi, lúc nào người ta muốn vồ lại thì cứ vồ. Trong đợt tha về với tớ đều là giấy tạm tha hết. 
– Cụ Vũ Hoàng Chương được tạm tha rồi chết thì tính sao? 
– Thì quịt nợ chứ sao nữa, có lẽ tớ cũng sẽ như vậy. 
Tôi vỡ nhẽ ra. 
Tôi lang thang chợ trời kiếm sống và tiếp tục lui tới nhà Hoàng Vĩnh Lộc chơi. Thời gian này, tài tử xi la ma hết thời Huy Cường cũng thường lui tới với anh. Huy Cường rất quí mến anh. Minh Đăng Khánh thì chưa ra khỏi tù. Hoàng Vĩnh Lộc thường xuyên lên cơn bệnh, vợ anh, chị Hồi Hương phải đưa anh vào bệnh viện Nguyễn văn Học (nay là bệnh viện Nhân Dân Gia Định). Anh cũng thường xuyên chết đi sống lại. Có lần anh đã bị đưa xuống nhà xác nhưng lại sống lại. Anh vẫn tếu như thường. Máu con nhà báo khiến tôi vốn dĩ tò mò, bây giờ lại tò mò đến chuyện khoa học huyền bí. Điêu gì tôi không biết, tôi hỏi cho biết: 
– Này ông, ông có chết thật không đấy? 
– Chết thật chứ giả sao được, tớ đã từng bị khiêng đi bỏ vào nhà xác rồi. 
– Ông thấy thế nào khi chết? 
– Nhẹ nhàng lắm, hệt như một giấc ngủ có mơ. 
– Ông kể cho tôi nghe được không?. 
Sao lại không được, lần nào tớ cũng thấy mình đi đến một bến đò, chỉ đến đấy thôi là tỉnh dậy, vì lý do gì đó, quên cái gì hay lỡ chuyến đò không chừng. 
– Lần sống lại cuối cùng này thì sao? 
– Cũng vậy thôi, khi tỉnh dậy tớ thấy mụ Hồi ngồi ngay cạnh tớ… Suýt nữa thì tớ la mụ ấy cản đường làm tớ lỡ chuyến đò. Tớ biết mình sống lại không hiểu có phải nhờ thuốc hay ông trời bắt tớ phải liếp tục sống để trả nợ đời. Cậu quên là tớ mới chỉ được tạm tha sao. Tớ còn nợ nhiều lắm, hình như chạy nợ không thoát. Không thể biết được chuyện bí mật của trời đất. Biết đâu chuyến sau tớ mới gặp chuyến tàu suốt để thoát nợ. 
Hai mươi năm sau tôi còn nhớ rành rọt từng lời nói của Hoàng Vĩnh Lộc. 
Cuối mùa mưa năm ấy tôi nghe tin Hoàng Vĩnh Lộc đi chuyến tàu suốt. Tôi đến nhà Hoàng Vĩnh Lộc trong lúc tang gia bối rối mà lòng vẫn nửa tin nửa ngờ. 
Gặp Sao Biển ở đó, tôi hỏi: 
– Anh ta chết thật chưa mà đã khâm liệm? 
– Thật rồi, lần này anh ấy đi chuyến tàu suốt quên lấy vé khứ hồi. Hồi chiều tớ mới đi sắm được cái sơ mi gỗ cho anh ta. Gớm, người gì mà dài quá, cái chân anh ta hơi khèo một chút. Nhưng vẫn còn hơn chết bó chiếu. 
Anh em bạn cũ còn nhớ đến anh lác đác đến. Tất cả đều khóc thương anh. Nổi bật nhất là Huy Cường, anh khóc gào thật tình không phải diễn xuất đóng phim: 
– Anh Lộc ơi, sao anh bỏ anh em, anh không chờ em đi với, em cũng chán sống rồi. Tôi thường thấy Huy Cường khóc những lúc ngồi uống rượu một mình. Huy Cường uống rượu khan và uống như hũ chìm, không bao giờ dùng đồ mồi, dù chỉ một hạt đậu phong đưa cay. Một người nghiện rượu chân chính. 
Một năm sau, khi tôi ở trong nhà tù, nhận được mảnh báo gói đồ thăm nuôi, có cáo phó đăng tin Huy Cường tử nạn, tức Vũ Minh Chính bị tai nạn chết bất đắc kỳ tử. Tôi tự hỏi có phải ngày nào anh đã nói gở không? 
Huyệt chôn Hoàng Vĩnh Lộc ngập nước mưa. Chuyến ra đi của anh thật ướt át. Tôi lại nhớ hình ảnh con anh ương nằm trong nón sắt vẫn gọi tên anh. 
Hoàng Vĩnh Lộc đã trốn thoát nợ đời hơn hai chục năm qua. Biết bao vật đổi sao dời, không biết phần mộ của anh còn không? Vợ con anh đã xa biệt Việt Nam. ở tại Việt Nam, anh còn người thân nào? Tôi không biết. Nghĩa địa trong thành phố hoặc ven đô từng bị đào xới, di dời. Tôi thường nghe nói những phần mộ, những nắm xương tàn vô thừa nhận được xử lý có tình có lý. Tôi chỉ nghe nói như vậy. Ngày cuối năm, tôi muốn đến phần mộ Hoàng Vĩnh Lộc cắm cho anh nén nhang. Nhưng không biết anh nằm đâu, xương cốt anh giờ cũng phiêu linh. 
Đêm khuya ngồi với bầy muối đói, tôi đốt một điếu thuốc Bastos, tưởng nhớ đến bạn xưa. Tôi nghĩ đến cái mũ sắt bị bỏ rơi trên chiến trường, bên bờ lau sậy, con ễnh ương cô đơn ngồi làm tổ không ngớt gọi tên anh. 
Đêm nay trời mưa bão, tôi nhớ hai mươi mấy năm trước, Hoàng Vĩnh Lộc đã nằm xuống vào mùa mưa bão này. Tôi không còn thớ được chính xác ngày tháng anh em bạn bè nằm xuống như Minh Đăng Khánh, Dương Hùng Cường, Huy Cường và nhiều anh em khác nữa. Nhưng tôi nhớ đến họ và viết về họ để cốt nói lên cái chất của họ. Họ như còn sống mãi bên tôi, tiếng cười câu nói của họ vang mãi trong đầu tôi.

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 14 Aug 2025

3. Chương 3

Đã từ lâu rồi, cư dân Sài Gòn, không kể Bắc, Trung, Nam, lâu ngày bỗng nhiên gặp nhau. Thế rồi tay bắt mặt mừng, thăm hỏi nhau, cuối cùng phải có sự hỏi han về chính thân phận của nhau: 
-Thế nào lâu nay ông làm gì? 
Tức là một câu hỏi dành riêng cho công ăn việc làm của anh. Câu trả lời của người hóm hỉnh, thất nghiệp kinh niên rất tiêu cực: 
– Làm thinh? 
Chỉ một chút sững sờ, nhưng rồi sẽ hiểu ngay thôi, người bạn được trả lời bèn cười xòa, sự đời cay cú thế đó. Động từ làm thinh được coi như là công việc nghề nghiệp, danh từ. Nghề gì lại là nghề làm thinh. Làm thinh để mà sống. Anh sống thế nào thì mặc kệ anh, sự sống quí giá như thế đấy Ngược lại câu khẩu hiệu mà người dân Sài Gòn nào cũng được nghe từ hơn hai mươi năm trước: Lao động là vinh quang, Lang thang là chết đói. Hai chữ làm thinh phản bác thẳng vào câu khẩu hiệu có tính cách đe dọa kia. Như một câu gắt gỏng quen thuộc của cụ cố trong tác phẩm Số Đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng: Biết rồi khổ lắm nói mãi! Người nhận được câu trả lời chẳng thèm bực mình khi được người bạn trả lời như thế còn lấy làm thú vị khoái trí. Hiểu hoàn cảnh bạn rất rõ, vặn vẹo bạn theo kiểu tam đoạn luận chỉ vô ích mà thôi, chỉ cần hai chữ đã nói lên tất cả, có biết bao nhiêu người làm thinh mà sống mãi. Chẳng chết thằng Tây nào suất cả. Người kia bèn hỏi bạn: 
– Còn anh? 
– Cũng làm thinh như anh. 
– Bậy nào! 
– Tôi có là nhà giáo thật, nhưng mất dậy rồi nên vô lương. Hớp không khí mà sống. Chúng ta đồng hội đồng thuyền hiểu nhau quá mà. 
Hai nhà trí thức hết thời, đồng nghiệp làm thinh chơi chữ với nhau một lát rồi “giung giăng giung giẻ ” dắt nhau đi. Cái lắt léo của ngôn ngữ Việt Nam nó thế đấy! 
Tôi tiếc là hai chục năm qua tôi không ghi lại được biết bao nhiêu bài đồng dao, bao nhiêu là từ quái dị, bao nhiêu câu vè câu thơ, những chuyện tiếu lâm thời đại, truyền tụng trong dân gian. Đó là sở trường của người Việt Nam. Chính tôi cũng bị nhiễm những từ ấy mà không biết. Tôi từng dùng hàng ngày. Có thể đột xuất hoặc cố ý. Tôi đã từng trả lời ai đó hỏi tôi làm nghề gì. Tôi trả lời làm thinh cho yên. Cho đỡ sốt ruột, đỡ phải nói quanh co mất thì giờ, sự thành thật là đáng quí: “Báo cáo anh lâu nay tôi làm thinh.”. Thế có phải là ngắn gọn không nào. Con người tôi vốn dĩ đã nhiều sai trái rồi, mà càng nói thì càng sai. Tốt hơn hết dù có không câm cũng nên nói ít đi. Tôi có thú vui riêng của tôi, đời sống riêng, cứ việc tưng tưng giữa cuộc đời. 
Tôi đang ở trong cuộc đời mà nhớ Sài Gòn da diết. Nhớ từng góc phố, từng con đường, nhở hình bóng từng người bạn đi qua trong đời tôi. Người tình xa, người tình gần, nhớ tuốt luốt. Người còn sống và người đã chết. Dĩ nhiên phải có giới hạn với tôi, tôi không thù không ghét ai cả. Anh em như thể tay chân. Những kỷ niệm đó giúp tôi có thể viết hồi ký được. Tôi nhạy cảm nên dễ đau xót, khi nghe tin một người bạn tôi ở nơi xa nằm xuống vì chứng bệnh nan y. Mừng vui khi nghe bạn thành công, dù tôi chẳng ăn cái giải gì. 
Thời tiết Sài Gòn mùa mưa mùa nắng đều gợi nhớ đến những kỷ niệm, xót xa có, mừng vui cũng có vậy. Nhiều khi tôi lẩn thẩn tự đếm xem những người bạn của mình ở Sài Gòn đã bao nhiêu người nằm xuống bao nhiêu người đã ra đi, bao nhiêu người còn phải bon chen trong đời sống. Mỗi bước chân di chuyển là mỗi kỷ niệm. Những kỷ niệm đó trong sáng thôi, chẳng hại ai, nói chung là vô hại. Mỗi bước chân đi là gợi nhớ dĩ vãng. Bước chân càng chậm chạp càng gợi nhở sâu đậm hơn. Tôi đã có những bước chân như thế trong hai mươi năm qua. Vâng, từng góc phố, từng con đường. Nhớ những người quen, những người bạn, những người thoắt hiện và thoắt biến khỏi cuộc đời, những người đi xa rồi lại trở về.
Trong ngày đưa đám Trần Lê Nguyễn, tôi gặp lại họa sĩ Hồ Thành Đức, sau đó gặp lại họa sĩ Bé Ký, vợ anh Đức. Lại có dịp đi lên trung tâm Sài Gòn nghĩ đến chị Bé Ký trên những con đường tôi đã đi qua trước đây. Con đường Tự Do xưa, đường Lê Lợi, hai con đường ở trung tâm thành phố Sài Gòn, khách nước ngoài ở nhiều. Sau những năm di cư 1954. Một hình ảnh đập vào mắt tôi nhiều nhất là hình ảnh nữ họa sĩ Bé Ký. Khi ấy chị chưa được gọi là họa sĩ mà chỉ là một thiếu nữ còn ít tuổi, sống bằng nghề bán tranh, những bức tranh “hàng chợ”, cũng vẽ trên lụa trên nhung, bàng phấn tiên hay sơn dầu, nhưng quả thật không mấy có tính cách nghệ thuật. Những đường nét vụng về của các tay thợ vẽ vẽ cảnh chiều tà, con đò lênh đênh giữa dòng. Mái tranh nghèo tỏa khói lam có mục đông cưới trâu trở về làng, cánh đồng và cánh cò bay, đại khái như thế, v.v…và v. v…. 
Bé Ký ngày đó còn rất trẻ, có lẽ tuổi chỉ trên dưới hai mươi, nhưng người chị nhỏ bé, tóc bỏ xõa, quần áo bà ba giản dị, tay ôm xấp tranh đi bán dạo trên những đường phố quen thuộc. Chị trông thật đơn giản, như những cô gái bán tranh, bán đồ lưu niệm khác ở Sài Gòn thuở ấy. Thu nhập kinh tế chắc cũng không nhiều. Nhưng những ghi nhận của chị trên đường phố chắc hẳn phải phong phú lắm cho sự nghiệp hội họa của chị sau này. Tôi là người yêu hội họa, đã từng mơ ước đeo đuổi hội họa, nhưng không thành công, nên không dám lạm bàn sâu. Ngắm tranh của Bé Ký chỉ biết tranh chị đẹp, đường nét đơn sơ và rất sống động, gần gũi với những cảnh diễn ra hằng ngày trên đường phố. Một chút đòi thường được ghi nhận qua hội họa, mà ai cũng nhìn ra ngay qua tranh của chị. 
Tôi chưa từng biết tên thật của chị, cho đến bây giờ cũng vậy. Tôi chỉ biết họa sĩ Bé Ký chính là cô gái bán tranh dạo trên đường phố. Lần đầu tiên tôi xem chị triển lãm tranh ở Alliance Francaise. Bé Ký, nữ họa sĩ Bé Ký. Vẫn con người đơn giản như thế, có hơn chút xíu chăng là chiếc áo dài Việt Nam, một chút phấn thoa mặt, khi chị đứng ở phòng triển lãm cùng với quan khách, người xem tranh. Báo chí khi đó nói về tài năng hội họa của chị nhiều, như một hiện tượng. Tôi chỉ nhớ được chừng đó thôi, thành ra nói về chị cũng thật đơn giản. Tôi không thể có cái sâu sắc của người trong nghề hay chú tâm theo dõi, nghiên cứu. Một thời gian sau, tôi nghe tin chị Bé Ký và họa sĩ Hồ Thành Đức kết hôn, tấm thiệp hồng của đôi vợ chồng ấy chỉ có tên họa sĩ này tự thành hôn với họa sĩ kia, không có tên bố mẹ, hoặc bậc bề trên nào của hai người làm chủ hôn. Thật đơn giản hơi có chút sách mé của người nghệ sĩ. 
Thời tôi làm xuất bản ở Sài Gòn, đúng ra là tự in lấy sách của mình. Tôi đến nhà đôi vợ chồng Bé Ký, Hồ Thành Đức nhờ vẽ bìa. Căn nhà đó tôi nhớ là trong con hẻm đường Trường Tấn Bửu, nhà cửa còn lụp xụp lẩm. Cũng là xưởng vẽ của vợ chồng Hồ Thành Đức – Bé Ký. Chị luôn luôn say mê với nghiệp hội họa của mình. Tôi nhớ câu chị nói: 
– Tôi nhìn đâu cũng thấy những đường nét biến thành những bức tranh, miếng giẻ rách vứt ở cuối nhà kia hoặc khoảng vôi quét nham nhở trên tường tôi cũng nhìn thấy có những đường nét của một bức tranh. Tôi muốn vẽ, nó có hình tượng… 
Bây giờ tôi nhớ và ghi lại những lời này, tôi tin rằng mình không nhớ sai. 
Sau 30-4-75, tôi gặp lại vợ chồng Hồ Thành Đức, Bé Ký. Tôi lại đến thăm vợ chồng nhà ấy, nhưng ở một căn nhà khác trên đường Phan Thanh Giản cũ ở Dakao, nay là đường Điện Biên Phủ. Vẫn là để xem những bức họa và hỏi thăm nhau. 
Khi ấy vợ chồng Hồ Thành Đức mới đi thăm miền Bắc về. Chị Bé Ký vẽ một bức tranh thật to rộng, có lẽ bức phác họa cho tranh sơn mài. Tôi nhớ nội dung bức tranh là đám cưới ở thôn quê Việt Nam thuở xa xưa. Có những đứa trẻ tóc để trái đào giăng dây ngang đường cô dâu chú rể đi qua. Tinh thần phong tục rất Việt Nam, có chút phiền nhiễu đó, nhưng chẳng ai buồn lòng. Cái phiền nhiễu cần có trong tình nghĩa lứa đôi tôi nhìn thấy nụ cười ở cô dâu chú rể và tất cả mọi người. Ngọt ngào như khi đọc một bài về phong tục Việt Nam của Toan ánh. Vì là bức phác họa nên chưa có màu sắc. Khi có màu sắc rồi tôi nghĩ cũng rất đơn giản như những bức tranh khác của chị đã từng sáng tác. 
Nói về tranh Bé Ký, tôi hoàn toàn nói trong trí nhớ từ hơn hai mươi năm trước, thực tình cho đến nay tôi chưa được xem thêm một bức tranh nào của người họa sĩ đường phố ấy. Hai vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức – Bé Ký lên đường sang Hoa Kỳ rồi. 
Tôi gặp lại họ trước ngày lên đường được một buổi, không có dịp hàn huyên nhiều. Tôi chỉ biết chúc các bạn tôi thành công trong nghiệp hội họa. Khối người mơ ước trong ngành nghề mình từng đeo đuổi mà không được thành công đấy. Sự xót xa ấy mới cay đắng làm sao. Biết nói gì đây, coi như không nói gì hết, làm thinh. Nhưng khổ lắm, tôi làm sao làm thinh được.
Tôi còn thấy quá nhiều, quá nhiều kỷ niệm chưa nói tới, ở thân phận tôi, thân phận bằng hữu ở khắp mọi nơi, những người bạn đã nằm xuống trên quê hương mà số phận đã an bài, ở ngay trong thành phố này. Những người vẫn còn sống, họ sống thế nào, ra sao? Tôi biết khá rõ đấy ở từng góc phố, từng con đường. Ra khỏi nhà là gặp dĩ vãng, gặp kỷ niệm, ai cũng vậy cả thôi chẳng riêng mình tôi. Chỉ khác nhau là làm thinh và không làm thinh thôi. 
Thú vui của người lớn tuổi là nhớ lại kỷ niệm, dĩ vãng. Tôi cũng vậy và còn bày đặt viết hồi ký, dù tôi chẳng là cái thá gì, cũng chẳng một chút mưu đồ gì. Chiếc xe đạp và chiếc xe solex vẫn cứ đưa tôi đi. Tốc lực càng chậm tôi càng nhớ nhiều. Kìa, tôi nhìn thấy hình ảnh đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh. Cơn khùng điên bất thường của thi sĩ Bùi Giáng trên đường phố. Những người đó đã nằm xuống rồi. 
Quán rượu Mười Hai Bến Nước ở đường Trương Minh Giảng, bạn tôi, nhà văn Dương Hùng Cường ngồi ngất ngưởng ly rượu thuốc khề khà chuyện trời đất. Anh đã “đứt bóng” trong nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu, tức Chi Lăng xưa. ở góc đường Ngô Quyền, Vĩnh Viễn miệt Chợ Lớn kia, nhà văn Lê Xuyên đã ngồi bán thuốc lá lẻ suốt hai mươi năm trời. Người ta đã quên anh, nhưng cũng có người chưa quên anh. 
Khi gặp anh, anh nói với tôi được một câu, nghe mà chán chường: 
– Gặp cậu, tớ mới nhớ ra mình là Lê Xuyên. Nhớ anh em gọi mình là chú Tư Cầu. 
Tôi đã toan ngừng viết hồi ký sau hai tập hồi ký đã viết rồi. Nhưng tôi như cái xe bị đứt thắng cứ tuồn tuột trôi đi, lại đang đổ dốc, con dốc dài… 
Ngày mai tôi đi xe đò lên Bảo Lộc, thăm bạn thi sĩ Tú Kếu. Tôi ngồi trước người bạn bị bệnh quên, bệnh Alzheimer, đến độ không còn nhớ mình là ai. Nhưng có điều duy nhất anh không quên anh là thi sĩ. Theo như chị Phượng, vợ anh, nói lại như thế. 
Đó là điều mừng, tôi phải tới thăm anh xem thực hư ra sao. Buổi tiếp xúc này tôi phải đế ngấu trong tôi, lên men rồi tôi mới viết được.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 14 Aug 2025

9. Thái Thanh.

Đối với những thính giả đã đứng tuổi, từ 50 trở lên, tiếng hát Thái Thanh không chỉ còn là một tiếng hát thông thường, một giọng hát hay, mà gần như còn là một phần đời của chính mình nữa. Vâng, trong một nửa thế kỷ qua, tiếng hát Thái Thanh đã gắn liền với vận mạng của xứ sở. Người ta dã nghe tiếng hát ấy trong mọi hoàn cảnh, vui cũng như buồn. Có thể nói, âm nhạc Việt Nam biến đổi theo lịch sử đến đâu, có tiếng hát Thái Thanh đến đó. Máu lửa, chiến tranh, bom dạn, chia cắt, người sống, người chết, nước mắt, mồ hôi, thấm nhập vào âm nhạc của chúng ta như thế nào, đều được phản ánh qua tiếng hát Thái Thanh.

Lịch sử của chúng ta không kể hết những nỗi bi thương. Tai họa rình rập người ta khắp nơi, khắp chốn. Những mạng sống được tính từng giây, từng phút. Thế nên, không có gì lạ, khi người ta, trong khoảnh khắc nào dó, nghe tiếng hát Thái Thanh đồng thời cũng nhận ra mình vẫn còn. [Lịch sử của chúng ta thiếu gì lúc đã khiến người ta thấy như mình chẳng còn hiện hữu nữa]. Thái Thanh được yêu mến nhất qua những bài dân ca. Không phải thứ dân ca dựa dẫm trên những làn diệu ả đào hay chầu văn chẳng hạn, được biến chế, thêm thắt, như một số các ca khúc chúng ta dược nghe gần dây. Mà là thứ dân ca xuất phát tự lòng người, từ những hoàn cảnh lịch sử, ước muốn chia sẻ, giải bớt oan khiên, phục hồi hy vọng. Những bài hát trở thành dân ca chứ không phải những bài dân ca có sẵn. Qua tiếng hát Thái Thanh, người ta cảm thấy yêu tiếng nói của dân tộc hơn, thương yêu nhau hơn. Nói Thái Thanh được yêu mến nhất với những bài dân ca, không có nghĩa bà chỉ hát được dân ca. Thật ra, dân ca, theo cách hát, cách lựa chọn bài hát của Thái Thanh, tự nó, đã là một thứ tình ca rồi. Nghe Thái Thanh hát tình ca, dù là nhạc của Phạm Duy, Văn Cao, Dương Thiệu Tước hay Phạm Dình Chương, người ta mới thấy rõ, đạt tới một trình độ nào đó, một ca sĩ có thể quyết định mà không sợ nhầm lẫn, mình có thể hát được bài hát nào, loại nhạc nào. Trường hợp Thái Thanh cũng là trường hợp hãn hữu.

Vì, bà khởi dầu sự nghiệp của mình vào những ngày gần như cả nước bừng lên tinh thần ái quốc, mùa thu năm 45. Bên cạnh bà, lại có anh rể là Phạm Duy, anh ruột là Phạm Đình Chương, viết bài cho hát. Những bài hát được sáng tác vào lúc ấy, mang ý nghĩa thực sự của những dóng góp trực tiếp để làm nên lịch sử. Đưa được những bài hát ấy đến quảng đại quần chúng là công lao lớn của Thái Thanh. Theo những người được nghe ca khúc Bà Mẹ Gio Linh vào đúng cái lúc xẩy ra chuyện “quân thù đã bắt được con, mang ra giữa chợ chém đầu” và bà mẹ đi lấy đầu con về ấy, Thái Thanh, bằng tiếng hát của mình, đã gây một sự xúc động lớn đến nỗi, tất cả những người nghe đều cảm thấy mình phải để tang người đã chết. Những sự xúc động như thế làm tăng thêm sức mạnh, tăng thêm ý chí cho người ta, là điều dễ hiểu thôi.

Tiếng hát Thái Thanh là “tiếng nước tôi”, là tiếng tình yêu, là tiếng hy vọng, là tiếng chia ly, oan khổ. Nó vang vọng những nỗi đớn đau của người đàn bà. Nó phản ánh những khát vọng, đau thương của hàng triệu phụ nữ Việt Nam bị rập vùi trong một nửa thế kỷ chiến tranh, kèm theo những băng hoại của một xã hội bất an. Những nạn nhân âm thầm vô danh là những người tình, người vợ, người mẹ, đã có dịp thở than bằng tiếng hát Thái Thanh.

Người ta đã nói nhiều về sự nhậy cảm của người đàn bà, một thứ giác quan ở ngoài tầm của nam giới, Thái Thanh đã tận dụng cảm quan ấy để chuyển hóa âm thanh thành cái vũ trụ đắm đuối trong lòng người. Cái cách nhấn câu, nhả chữ của Thái Thanh khi hát, là một mẫu mực cho những ai muốn theo đuổi công việc này. Dù bà có hát những bài được sáng tác ngay vào ngày hôm nay, người ta vẫn nghe ra cái chất ca dao trong tiếng hát. Không có một bề dày quá khứ và văn hóa, không thể có tiếng hát như vậy được. Phê bình truyện Kiều, Phạm Quỳnh có một câu, hẳn những ai đã đọc Kiều, yêu Kiều, đều nhớ:

Truyện Kiều còn thì tiếng Ta còn.

Tiếng Ta còn thì nước Ta còn. Cái tiếng Ta ấy, tiếng Việt Nam ấy, nay có thể thêm vào, phải được nghe qua tiếng hát Thái Thanh nữa, để biết cái nặng nhẹ của một chữ phải dược phát âm chính xác thế nào. Phải nghe Thái Thanh hát “Buồn Tàn Thu” của Văn Cao hay “Bà Mẹ Gio Linh” của Phạm Duy để thấy tiếng nói biến thành lời ca thế nào, và được ca sĩ trả lời ca lại cho tiếng nói ra sao.

Không có gì bền vững mãi. Đó là luật của thiên nhiên. Giữ vững được tiếng hát của mình trong ngót một nửa thế kỷ, không phải chuyện ai cũng làm được. Khó khăn hơn nữa, với hoàn cảnh lịch sử của chúng ta, công việc của một ca sĩ nhiều khi không phải chỉ là hát mà còn phải biết im lặng nữa.

Ước mong sao có một buổi gặp gỡ nào đó giữa Thái Thanh và các thính giả, trước khi bà ngừng hát hẳn. Để những người yêu tiếng hát của bà có thể trực tiếp trao tận tay bà, mỗi người một bông hồng tạ ơn. Nói tới đây, chúng tôi chợt nhớ tới mấy câu thơ của Tagore, xin trích để tặng bà:

Tôi đã nhận được lời mời đi vào cuộc lễ trần gian

Và như thế đời tôi đã được chúc lành

Phận sự của tôi trong cuộc lễ này là xử dụng nhạc khí

Và tôi đã cố hết sức tôi.

Thai Thanh

Thái Thanh

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 14 Aug 2025

8. Sĩ Phú

Theo dõi sinh hoạt âm nhạc của chúng ta hẳn ai cũng nhận thấy điều này: Chúng ta có nhiều nữ ca sĩ hơn nam ca sĩ. Có phải vì giọng nữ, tự thân, đã gần với tiếng chim hót, nên dễ hát hay? Hoặc còn nhiều lý do khác? Thực tế, giọng nam của chúng ta có vẻ hiếm. Sĩ Phú là một trong những giọng nam hiếm hoi ấy. Hát nhiều, nổi tiếng, chưa chắc đã là ca sĩ. Bởi vì, một ca sĩ xứng danh, ngoài cái giọng “trời cho” còn cần phải có một trình độ hiểu biết nào đó và một cá tính mạnh mẽ nữa. Cả hai điều này sẽ hiện rõ trong giọng hát. Trình độ hiểu biết làm nên mức “khả tín” của tiếng hát.

Và cá tính làm nên cái riêng biệt của từng người. Sĩ Phú hội đủ những điều kiện ấy. Sĩ Phú có giọng trầm, ấm và nhất là dầy. Một nữ thính giả, xưa, ở Sài Gòn, đã viết thư cho chương trình “Nhạc Chủ Đề” bảo rằng: “Đêm nằm ôm chiếc radio trên ngực, nghe Sĩ Phú hát, như được đắp chăn bông”. Như thế, người ta không biết nàng đã nghe bằng tai hay bằng tim. Nhưng, với tư cách là một ca sĩ, đọc những dòng chữ như thế, hẳn là điều thích thú. Một nhạc sĩ cũng nói, ông thích nghe Sĩ Phú hát những bài như “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý, “Cô Hàng Cà Phê” của Canh Thân hay “Cô Lái Đò” thơ Nguyễn Bính, nhạc của Nguyễn Đình Phúc, những bài hát có ‘truyện’ để kể.

Cái chất thủ thỉ của giọng hát Sĩ Phú thích hợp với những “truyện ca” bình thường như thế. Có những tiếng hát, người nghe không thể đoán ra một

chút gì về đời sống tình cảm thật của người hát, ở ngoài đời, như thế nào.

Tiếng hát Sĩ Phú cho người ta cảm tưởng nó hệ lụy với đời sống của người hát, lúc vui cũng như khi buồn. Dĩ nhiên đó chỉ là những sự dò đoán hay cảm tưởng người ta có khi nghe Sĩ Phú hát, có thể không ăn nhập gì với sự thật.

. Nhưng chính cái cảm tưởng ấy, làm cho tiếng hát của Sĩ Phú gần gụi với người nghe hơn, làm nên cái chất “khả tín”, nghĩa là có thể tin được rằng, người hát hiểu bài hát, và cái tình của người hát là có thật. Kỹ thuật không phải là ưu điểm của giọng hát Sĩ Phú. Người ta có thể thấy rõ điếu đó ở những nốt cao và trong tiếng ngân phải kéo dài của Sĩ Phú. Bù lại, ở những nốt trầm, tiếng hát Sĩ Phú có đủ sức nặng và độ truyền cảm mạnh. Có những câu hát, qua giọng Sĩ Phú, lọt vào tâm thức của người nghe và ở lại mãi. Ca nhạc của chúng ta, cho đến hiện tại, vẫn còn là một nghề phiêu lưu. Ca sĩ còn có những người sống được nhờ đi hát. Nhạc sĩ sáng tác thì khó khăn hơn nhiều. Ảnh hưởng qua lại, các ca sĩ chưa thể có những nhạc sĩ viết bài riêng cho mình. Các nhạc sĩ làm việc tùy hứng nhiều hơn là coi công

việc sáng tác như một nghề nghiệp hẳn hoi. Trong cái cuộc chơi ấy, người ta phải hát chung bài, hát vì thấy hay hoặc cho rằng hợp với giọng của mình, hát theo yêu cầu của các nhà sản xuất băng hay đĩa nhạc …

Biến một bài hát nhiều người hát, thành một bài hát tựa hồ đã được viết cho riêng mình, không phải chuyện dễ. Không biết có bao nhiêu người nghe cho rằng Sĩ Phú đã làm được cái việc khó khăn ấy. Có điều, quả thật có một số

bài hát, khi đã nghe Sĩ Phú hát rồi, thì dù có nghe ai khác hát, người ta vẫn nhớ tới Sĩ Phú.

“Cô Hàng Cà Phê” của Canh Thân là một thí dụ. Nói tới nghệ thuật là nói tới tác phẩm. Một nhạc sĩ viết một bài hát, một thi sĩ làm một bài thơ, một họa sĩ vẽ một bức tranh, hay, dở, xấu, đẹp cũng vẫn là tác phẩm của riêng mình. Thế đâu là tác phẩm của một ca sĩ? Một ca sĩ trình bày một bài hát hay tới đâu chăng nữa hình như cũng không thể tách rời tác giả ra khỏi bài hát. Như thế có vinh quang cũng chỉ vinh quang một nửa. Cộng chung tất cả những gì mình đã hát gọi là tác phẩm ư? Có vẻ như cũng không còn cách nào khác. Thế nhưng hoàn cảnh như nước ta, chiến tranh rồi chia xé triền miên, cái mất lắm khi nhiều hơn cái còn. Vậy, phải làm sao đây? Trước khi mất Sĩ Phú có sưu tầm một số bài đã hát đây  đó để làm thành CD.

Nhưng kỹ thuật thu thanh không đồng đều, phần khác, những bài đã hát từ mấy mươi năm trước bây giờ tìm đâu ra? Rất có thể đó lại là những bài hay nhất vì đã được hát vào cái thời trẻ trung, sung sức nhất của mình. Thật là một sự thiệt thòi lớn. Và đáng buồn nữa. Cả một đời người, rút cục chỉ còn lại một tác phẩm thiếu sót như vậy sao?

Sĩ Phú

Sĩ Phú

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy long

Post by Sơn râu 13 Aug 2025

2. Chương 2

Chỉ còn sáu tháng nữa thì đến năm 2000, bước sang thế kỷ 21. Sự cố máy tính Y2K của thế giới hình như đã khắc phục được. Tôi nghe phát thanh truyền hình nói thế. Lâu nay tôi ít để ý đến tình hình trên hành tinh này, vì loài người đánh đấm, ăn thua đủ với nhau lùng tùng xòe. Địa cầu huyên náo. Tôi cũng có sự huyên náo của riêng tôi. Những bức xúc có căn nguyên, những buồn vui, những hậm hực, tôi nhả ra hết, có sao nói vậy quên luôn cả lời mẹ từng dậy: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào” hoặc “Một điều nhịn là chín điều lành”. Tôi cóc cần rồi, tôi có thể “khùng – điên – ba trợn”. Tôi sợ húp nhầm cháo lú thì khổ. Tôi không muốn sống như cục thịt hoặc như một nấm xương khô. Tôi tự vả vào miệng mình, tự bới xấu mình, nhiếc móc cái thân phận bất hạnh của mình thôi. Chẳng thèm đụng chạm đến ai. Than thân chúng tôi (kể cả bạn bè): 
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ 
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh 

Những câu thơ này của ai, thi sĩ nào thuở có trào lưu lãng mạn, chán đời hồi đầu thế kỷ 20 trên đất nước Việt Nam, tôi nhớ tác giả là Vũ Hoàng Chương nhưng không dám chắc lắm. Xin lượng thứ cho tôi. Bạn bè tôi ai thấy mình không ở trong hoàn cảnh này cứ việc tự do phủ nhận. Tôi không kéo bè kết đảng hay làm tha hóa bất cứ ai.

° ° °

Ngày hôm nay Sài Gòn mưa từng chặp, gần như suốt ngày. Tôi nằm nhà vì cơn bệnh ập đến với tôi hơn một tuần nay. Tôi bị cao áp huyết nên máu lên xuống bất thường. Bà vợ tôi sợ nguy hiểm cho tôi, khi leo lên leo xuống trên căn gác bút, nên đề nghị tôi ở căn buồng dưới nhà, một căn phòng nhỏ có thể tránh được gió máy. Điều ấy hợp lý quá, tôi đành chấp nhận. Thôi, không ở trên căn gác bút nữa thì xuống hầm ninh chữ” vậy. Tôi gọi chỗ làm việc mới của tôi là hầm ninh chữ, cũng là bút hiệu của bạn tôi đã chết. Thi sĩ Ninh Chữ. Rảnh thì giờ tôi dọn dẹp tí chút. Mơ ước mở được cái cửa sổ để có lỗ thông gió, nhìn ngôi mả đá xưa mấy trăm năm. Nhìn thấy những con ốc sên to bằng nắm tay trẻ con mà người ta gọi là ốc ma bám trên mả đá. Tôi không còn thấy nữa vào những ngày mưa từ mấy chục năm nay. Hình như chúng đã bị tiệt chủng. Đang ngồi buồn và suy nghĩ vẩn vơ thì nhận được tờ báo Khởi Hành của Viên Linh gửi qua đường bưu điện. Tôi đọc ngấu nghiến. Tôi thấy sự hiện diện của một người bạn im hơi lặng tiếng suối bao nhiêu năm trời, nay cũng có lên anh viết về những dòng sông ở Việt Nam, con sông Đáy ở Sơn Tây làm nền cho bài viết. Người viết nói: Nhắc đến sông Đáy, nhắc đến Sơn Tây, người ta nhắc đến thơ Quang Dũng, những bài thơ của một cuộc chiến, một cuộc chiến có tiếng hát, cuộc chiến ấy đã dứt để hôm nay là cuộc chiến khác, một cuộc chiến không có tiếng hát, không có thơ…. Tại sao lại có hai cuộc chiến khác nhau? 
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến 
Hiu hắt chiều sương lạnh đất Tề…. 

Tôi đọc bài Tạp ghi của Ký Giả Lô Răng, Bạn tù Sơn La. Cảm động và buồn không chịu được Vì tôi cũng từng là người tù, từng chứng kiến những cảnh đầy đọa như thế, từng ăn đói mặc rách, từng đi đào trộm khoai sắn, biết chia nhau với bạn tù một con rết núi nướng, mơ ước một miếng cơm cháy ăn cho thơm miệng, và điếu thuốc lào đỡ vã. Điều ấy tôi đã viết chưa nhỉ? Tôi viết rồi. Thành nguyên một cuốn truyện dài kia. Tôi tin rằng không bị lỗi thời. Không gây hận thù để tuyên truyền cho một thời điểm hay giai đoạn nào đó. Tôi nghĩ đến cái lâu dài của con người với con người. Trong Bạn tù Sơn La, Ký giả Lô Răng có nhắc đến thượng tọa Thích Thanh Long (nguyên giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo). Cũng là một người tù. Tôi chưa từng biết vị này. Nhưng chùa mà ngài có thời gian trụ trì tôi biết, chùa Viên Giác trong ấp Đông Ba Gia Định xưa, nghĩa là rất gần với nhà tôi bây giờ. Nhắc đến nhà sư này, tôi không thể không nhớ đến bạn tôi, Lý Phật Sơn, Trần Kỳ Hùng, Trần Quang Bạch, đã khuất bóng, tôi đã viết trước đây, trong Hồi Ký Viết Trên Gác Bút. Anh đã ở trong ngôi chùa đó sau ngày 30-4-75, khi thầy trụ trì đi học tập cải tạo ngoài Bắc Việt Nam. 
Tôi với Lý Phật Sơn từng ăn chuối thay cơm ở dưới mái hiên ngôi chùa đó. Nói chuyện trời đất bông lông, nhắc lại một số bạn xưa mà tởng chừng như không bao giờ gặp lại nữa. Nghĩ đến bạn đã khuất bóng sau khi đọc bài Bạn tù Sơn La tôi bắt gặp cũng trong tờ báo ấy hai bài thơ, một của Thuyên Du, bài Chiêu Niệm, một của Nguyễn Quan Hà, Chiêu niệm Ly phật Sơn. Thì ra hai vị này là bạn thân của Lý Phật Sơn tự thuở nào, còn biết cả tên tục của Lý Phật Sơn là Trần Quang Bạch. Nhân đọc hồi ký của tôi. Tôi không thể không ghi lại những câu thơ khóc bạn, lấy ra những điều tôi ghi nhận về Lý Phật Sơn: 
Dưới mái rêu phong người tá túc 
Hôi người, người nhắm mắt không thưa 
Hỏi thầy: thầy cải tạo ra Bắc 
Hỏi Phật: Chùa hoang phế khác xưa 
(thơ Thuyên Du) 


Vắt kiệt máu xương ngọn đèn sắp tắt 
Nửa đốm linh anh leo lét đợi thời 
Thời chẳng chiều ngươi, 
Trời cao không mắt 
canh bạc nhân sinh ngươi đã thua rồi. 
Đã đến đã đi đã còn đã mật, 
Bạch ơi Bạch ơi! sao phận con người. 
(thơ nguyễn Quan Hà) 

Khoảng gần mười năm sau 1975, tôi nghe nói nhà sư trụ trì chùa Viên Giác ở ấp Đông Ba cũng là Tuyên úy Phật Giáo đã học tập cải tạo được trở về. Ngài tiếp tục tu hành tại ngôi chùa, đệ tử đến thật đông, rồi ngài cũng viên tịch thời gian ngắn sau đó. Tôi thấy đám ma của ngài đi trong ấp Đông Ba (nay là phường 7 quận Phú Nhuận) ra đường lớn, đường Chi Lăng cũ (nay là đường Phan Đăng Lưu). Đông đệ tử đi đưa tiễn. Tôi tự hỏi không biết vị sư trụ trì sau học tập cải tạo về có bị quản chế không, nghĩa là mỗi tuần, có khi hàng ngày phải dẫn xác lên phường để Công An thấy mặt, nghiêm chỉnh báo cáo về mình, trong một cuốn sổ. 
Với tôi đã từng phải ghi những trang nhật ký như thế, tốn khá nhiều giấy búi. Cuối tuần được ban cho quyền được Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa, như công việc quét phường, nhặt rác hoặc sai bảo linh tinh. ấy cái tính tôi cứ nói năng lẩn thẩn. Nhưng đó là sự thật, không nói điêu và cũng không có gì mờ ám. Bây giờ mỗi buổi sáng tôi có nhiệm vụ đưa thằng con trai út đi học ở trường tiểu học Đông Ba. Lần nào cũng đi qua chùa Viên Giác, tôi dừng lại mua một cái bánh tiêu hay dầu cháo quẩy cho con, trước cổng chùa có bà bán chuối, tôi nhớ bà ta đã ngồi ở đây lâu lắm rồi. Tôi không biết bạn Lý Phật Sơn của tôi đã ăn chuối của bà lần nào chưa. Hành lang chùa trống vắng. Tôi nhớ cái giường sắt của Lý Phật Sơn kê ở chỗ đó. Tôi và anh ta có bữa làm hết cả một nải chuối, ngồi nhìn kiểng chùa tiêu điều. 
Thời gian đó cũng xa xôi rồi… Những gì tôi ghi lại đều là hồi ký. Những chuyện linh tinh trong cuộc đời mà tôi nghĩ rằng với tuổi đời tôi đủ tư cách để ghi lại. Mà sao những kỷ niệm ấy lại buồn thế. Trong năm Mậu Dần vừa qua bao nhiêu chuyện để ghi lại. Nào là tiễn bạn lên đường đi định cư ở nước ngoài, đón bạn về thăm quê hương. Tiễn bạn vĩnh viễn xa lìa trần thế, lên lò thiêu hoặc xuống mồ. Đường nào cũng xuống âm phủ. 
Mỗi bước chân điều chuyển là mỗi kỷ niệm, tính ra tôi đã sống ở thành phố Sài gòn này hơn bốn mươi năm, từ khi tôi còn là một thiếu niên, nay đang về già. Cũng từ Sài gòn tôi bung ra khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam thuở viết văn làm báo. 
Sau 30-4-1975 tôi quanh quẩn trong Sài gòn, ngoại trừ một lần lưu lạc xuống Cà Mau làm cu ly, khoảng thời gian ngắn. Một lần khác ra khỏi Sài gòn đi học tập cải tạo, tức là đi tù. Tôi học tập không tối hơn mà hình như xấu đi nhiều. Sau một thời gian bị quản chế lại còn xấu hơn nữa. Hằng triệu điều bức xúc ở trong đầu tôi, hình như không thể nào tẩy rửa sạch được. Muôn đời tôi cũng chẳng trở thành con người mới có tư duy mới để thích nghi với cuộc sống. Tôi tự ăn mình để sống, như ngọn nến ăn sáp, tiêu hao nhiên liệu của chính mình để duy trì ngọn lửa, ánh sáng, trong cái chết dần mòn. 
Tôi yêu mến Sài Gòn, yêu mến những kỷ niệm. Một ấp Đông Ba nhỏ xíu, với những kỷ niệm cỏn con. Yêu mến bạn bè, chẳng may bạn bè có điều gì tôi đến ngay dù chỉ với tấm lòng. Còn những cái lôm côm khác bỏ luốc, ai nói sao cũng được. Những lúc tôi thập tử nhất sinh, có bạn thì ngược lại, khi bạn gặp điều không may cũng có tôi. Không phải là sự tính toán, vì không tính toán gì suất cả. 
Ngồi mãi trên gác bút hay trong hầm ninh chữ này cũng chán, tôi lang thang ra ngoài xóm, nhìn những căn nhà bị giải tỏa dưới cù lao Rạch Miễu mà chán hơn. Tôi lấy xe đạp đi xa. Tôi muốn tìm đôi vỏ xe cho chiếc xe Solex già nua của tôi, mà các cửa hàng bán vỏ xe ở Sài Gòn không còn nữa, tôi đoán trúng ở Xóm Mới may ra còn. Xóm Mới nổi tiếng một thời sau ngày 30-4- 75 sản xuất vỏ xe các loại, kể cả nghề làm pháo lậu. Một thời sau khi đi học tập cải tạo về, vì miếng cơm manh áo tôi đã tham gia với những người anh em Xóm Mới làm nghề sản xuất vỏ xe lậu. Thời buổi đó thật khó khăn, cái gì không phải của nhà nước, quốc doanh đều bị coi là hàng lậu, nghề lậu, “chui”. Khi đó tôi còn sức khỏe, đủ sức chịu đựng gian nan vất vả, kể cả hiểm nguy để kiếm lấy miếng ăn. Tôi không giống như con mèo ướt hay con gà chết như bây giờ. 
Xóm Mới qui tụ hầu hết là dân Bắc kỳ công giáo di cư nhà quê từ năm 1954, mộ đạo và người dân ấy có nết chịu thương chịu khó. Đất canh tác ít ỏi, chỉ đủ đất trồng thuốc lào, nên dân chúng xoay ra làm nghề buôn bán, hoặc làm công. 
Hồi trước năm 1975, Xóm Mới cũng đã làm đủ ngành nghề, trong đó có nghề làm pháo, nghề mổ hco. Khi không được chính thức làm ăn nữa thì bị coi là làm pháo lậu, thịt chui. Năm nào cũng xảy ra lai nạn vì sơ xảy. Pháo phát nổ, nhà xập người chết bị thương cũng nhiều. Nhưng rồi đâu vẫn hoàn đấy. Chẳng phải người dân Xóm Mới ngang chướng gì, hay cố tình không tuân hành luật pháp. Hay nói một cách khác là tham tiền, tham lời. Của đáng tội không phải vậy đâu. Dân Xóm Mới, dân Hố Nai Biên Hòa hay dân Cái Sắn dưới miền Tây, không đủ tư cách và điều kiện để hội nhập với chế độ mới, không làm chui làm lậu lấy gì mà sống. Chúa dậy phải đổ mồ hôi mới có được miếng ăn, Chúa chỉ cấm không được ăn cắp ăn trộm, gian dối hay lừa đảo thôi. Con chiên ngoan đạo là con chiên biết nghe lời dậy tốt lành của Chúa. Tôi chỉ thấy người dân Xóm Mới nhẫn nại, ngoan cường như loài kiến. Cái thân tôi từng lê lết xuống vùng ấy làm nghề ve chai nên rất rành. Từng chở keo, cao su lậu từ nhà máy vượt qua bao nhiêu trạm kiểm soát kinh tế lúc đêm khuya mưa gió để mang vào Xóm Mới nguyên vật liệu làm ra chiếc vỏ xe đạp, xe xích lô rất cần thiết lúc bấy giờ. 
Thuở đó mua được một chiếc vỏ xe đạp hiệu Sao Vàng hoặc vỏ xe quốc doanh nào đó thật khó khăn, anh có năn nỉ vã bọt mép ra cũng kệ anh, nếu anh không có giấy giới thiệu, không được “thủ trưởng ” nào đó chứng nhận thì không bán. Mặt mấy đứa thương nghiệp cứ vác lên như mặt thớt. Bực quá anh văng tục hay chửi thề, liệu cái thần hồn nhà anh. 
Tôi là người có bệnh cận thị kinh niên, chẳng may vỡ mất một bên mát kính, làm thế nào tôi cũng không thay được tròng mất kính bể suốt nhiều năm trời. Vì tôi không là nhân viên gì hết nên không có giấy giới thiệu, chuyện đó không ai giải quyết cho. Tôi đành làm kẻ mù dở. Nhìn đời, nhìn người mờ ảo như trong cơn mê hoặc lệch lạc ráo trọi. 

Người Xóm Mới làm ra được cái vỏ xe mới tài tình chứ, đáng ra được trao huy chương vàng. Thời đó cả Xóm Mới, già trẻ, lớn bé lao vào nghề làm vỏ xe, mỗi người làm một khâu, một công đoạn, rút ra những chỉ bố từ vỏ xc hơi phế thải, nối chỉ rồi lên bồ quay, bàn căng ghép ta-lông, dán keo mang hấp, khuôn hấp chạy điện hay chạy than. Điện thường là câu trộm, phải thú thật như thế. Bị bắt, bị phạt, bị tịch thu khuôn hấp cũng nhiều, được tha cũng không ít vì lễ độ biết điều, biết nói câu thông cảm đậm đà, biết mời thuốc có cán, điếu đóm cẩn thận. Vỏ xe tung ra thị trường bán đắt như tôm tươi, và tất nhiên theo ngả buôn lậu bán chui rồi. Tôi thành thật khai báo rằng vào thời gian ấy tôi cũng đã theo người ta làm ăn kiếm sống cái kiểu này. Nếu không thì đã chết đói từ lâu rồi. 
Một buổi trưa, khi tôi còn theo nghề mua bán ve chai, lang thang xuống tận Xóm Mới kiếm ăn, tôi rao đến rát cổ nổ họng mà chẳng ai mang đồ ra bán. Một người dàn ông vẫy tôi vào nhà, nói: 
– Chẳng mua bán gì được đâu, vô đây làm bát nước chè tươi, điếu thuốc lào cho đỡ vã đã. Biết hút thuốc lào chứ? 
– Biết, cái món này tôi hẩu lắm. 
Tôi làm đến ba bi thuốc lào, say la đà, đỡ vã thật. Trong căn nhà đó tôi thấy đông người làm việc, đàn bà trẻ con ngồi kéo chỉ, nối chỉ, người khác đứng khuôn, người đàn ông khi nãy phụ trách khuôn hấp. Thì ra anh ta là chủ cơ sở. Tôi quan sát từng khâu một, tôi thấy làm ra chiếc vỏ xe chẳng mấy khó khăn. 
Anh chủ cơ sở nói với tôi: 
– Muốn làm không, nếu muốn thì ngồi xuống mà làm, tôi trả công cho, còn hơn đi rao ve chai. Không kiếm nổi bữa cơm chiều nay đâu, nhưng nếu anh làm từ giờ đến chiều, chắc chắn anh kiếm được ba chén cơm. 
– Vậy thì được, nhưng tôi làm gì bây giờ? 
Việc đầu tiên anh ngồi tuốt chỉ từ cái vỏ xe cũ này ra, tôi tính công qua từng ký lô, coi người ta làm sao thì anh làm vậy.
– Cần làm giấy tờ thủ tục gì không? 
– Khỏi, tôi chẳng cần biết tên anh thì cần biết lý lịch anh làm chi. Làm đi rồi chiều lãnh lương, ngon như óc chó. 
Tôi nhập nghề làm vỏ xe, chỉ làm vỏ xe thôi chứ không biết kinh doanh. Tôi xin thề rằng tôi đã biết thêm được một nghề nữa trong hàng chục nghề tôi đeo đuổi suốt 23 năm qua, ngoài nghề cầm bút của tôi đã bị coi là lỗi thời, phế thải. Tôi quen với sinh hoạt làm vỏ xe từng ngày. Cái kính trắng tôi đeo có một tròng mắt nên được gọi là ông mù, như tên gọi trong trại học tập cải tạo của tôi.
Tính tôi ưa phiêu lưu mạo hiểm, nên đề nghị với chủ để được chở keo mướn. Việc làm đơn giản nhưng không kém phần gian nan nguy hiểm. Khâu quan trọng nhất trong nghề làm vỏ xe là cao su, mà nghề nghiệp gọi là keo. Tôi phải lấy keo từ nhà máy cán keo ở Chợ Lớn mang về Xóm Mới. Trạm kiểm soát kinh tế giăng mắc khắp ngả đường như thiên la địa võng. Vô ý một tẹo thôi là sa lưới, mất cả chì lẫn chài. Những cuộn keo nặng hàng tạ chất lên chiếc xe đạp thồ của tôi, tôi vừa đạp xe vừa cầu Chúa cầu Phật phù hộ độ trì cho để lọt lưới. Tôi tự tìm ra những con đường xuyên xóm, xuyên sân bay Tân Sơn Nhất, qua ngả chợ Cầu về Xóm Mới, ngả kho đạn qua An Nhơn. Thường là lúc một hai giờ đêm, trời mưa to gió lớn càng tốt, một mình tôi với chiếc xe thồ chở hàng tạ hàng lậu. Cùng với lời cầu nguyện tai qua nạn khỏi, trong túi áo tôi luôn luôn có gói thuốc lá điếu có cán, thuốc lẻ thôi, để nếu không may gặp “sự cố thì hát bài “con cá nó sống vì nước, con sống vì các ông các bà, xin các đồng chí thông cảm cho”. Thời gian đó tôi vừa láo vừa biết nói dối như cuội. 
Xóm Mới khi đó còn heo hút lắm, những trại lính của chế độ cũ chạy dài từ Ngã Năm Chuồng Chó đến tận An Nhơn, những nghĩa địa hoang, ruộng vườn ngả Hạnh Thông Tây, ban đêm, nhất là những đêm mưa, ễnh ương kêu y uống sao mà buồn thế. Người ta nói trắng con đường ấy có ma. Thây kệ. Hằng đêm tôi phải đi qua những ngả đó. Những trạm kiểm soát cũng ở những góc đường đó. Tôi gần như in thở đạp xe qua. Vậy mà cũng có lần có người xồ ra chiếu đèn pin vào mặt tôi, súng chĩa vào ngực. Tôi bèn hát bài con cá, hòa điệu cùng tiếng ễnh ương, rồi rất lễ độ xin thông cảm, tôi làm mặt khổ đến thảm hại. Có lẽ tôi diễn xuất cũng tài nên các cán bộ thông cảm, nhắc nhở tôi: 
– Này khắc phục nhé, lần sau mà tái phạm không tha đâu. 
Tôi vâng dạ rồi cút thẳng. Hy vọng rằng hơi thuốc có cán làm ấm lòng chiến sĩ. Nhưng tôi vẫn nghe lời ba người đó cãi nhau phía sau: 
– Đúng thằng đó rồi, hôm trước nó chạy qua cầu có con suối đầu An Nhơn rồi biến mất chứ ma quỉ gì. Quân này láo thật. 
Đúng là tôi chứ chẳng sai. Đêm hôm đó chính tôi chở keo qua chốt kiểm soát này, qua trạm được chừng chục thước, nghe tiếng hô hoán: 
– Hàng lậu, hàng lậu bắt lấy nó, đứng lại không tao bắn! 
Để bảo đảm nguyên vật liệu không hiểu sao tôi lại liều đến thế. Nhấn bàn đạp đạp bừa. Xe lao xuống dốc vun vút, ở một khúc quanh tôi lạc tay lái, thay vì qua cầu tôi lao ngay xuống con suối cạn, chỉ một cái ngã đau điếng người nhưng tôi cũng chui được vào gầm cầu. Rồi tôi nghe tiếng người tao nhao, đèn pin chiếu loang loáng: 
– Rõ ràng nó mới ở đây mà biến đi đâu nhanh thế. Ma à? 
Đèn pin chiếu xuống suối đúng ra là cống thoát nước từ khu Hoàng Mai chảy ra: 
– Hay là nó rơi xuống đây? 
– Rơi xuống thì gãy cổ sống sao nổi. Đấy, đồng chí thấy không, có gì đâu nào! 
Đèn pin chiếu ngay sát chỗ tôi nằm cùng chiếc xe đạp, nhưng không phát hiện. Rồi toán người ấy bỏ đi. Vừa đi vừa bàn chuyện ma quỉ hiện hình rồi biến mất. Tôi là một con ma, có sao đâu. 
Chuyến chở hàng lậu ấy của tôi trót lọt về đến Xóm Mới. Nhà chủ banh những cuộn keo ra, cắt cắt dán dán, vô khuôn hấp mớ hàng lúc năm giờ sáng. Lái buôn vỏ xe đã trực sẵn đầy nhà chờ lấy hàng. Tôi mệt quá vì mất gần một đêm không ngủ nghỉ, lại đau nhức cả một bên bả vai, vì cái ngã hồi đêm. Tôi lảo đảo ra đầu xóm ăn bát cháo lòng, đánh hết hai bát tiết canh mới thấy người khỏe ra. Tôi còn cần một ly cà phê, điếu thuốc nữa mới đủ đô, phục hồi sức khỏe. Tôi có tí tiền trong túi đủ nghỉ ngơi nguyên ngày. Chẳng làm giầu làm có gì nên tôi không tranh cướp vỏ xe đi bỏ mối. Dù tôi có lấy cũng được coi là ưu tiên số một. Tôi mệt mỏi quá rồi, đúng với nghĩa của nó. Tôi đạp xe ra cuối Xóm Mới, quán cà phê sát mé sông mở sớm. Ly cà phê nóng hôi hổi và thơm tho làm sao, tôi tự thường cho mình điếu thuốc có cán thơm râu, hưởng lấy không khí trong lành buổi sớm mai. Nhìn ra mặt sông xem những thuyền câu xuôi ngược hoặc đang giăng lưới. Tôi thường nghe người ta đồn rằng, trên bến sông này nhiều thuyền câu “giả dạng thường dân” làm taxi đưa người Xóm Mới ra “cá lớn” đậu ngoài biển, hoặc ếm gà ở Cần Giờ, đủ “quân số” ra biển, bỏ quê hương mà đi, kiếm ăn xứ người, nếu may mắn thoát chết, không chui vào bụng cá thì gửi “thùng ” về cứu giúp gia đình còn kẹt lại trên quê hương. Chính tôi cũng mang trong lòng giấc mơ đen tối ấy. Những mong mình chính là những con người đó. Được tốt lành hay bất hạnh gửi số mệnh cho ông Trời định đoạt. Những phút giây mơ mộng đã giúp tôi sống, dù là lây lất qua những chuyến đổ hàng lậu thập tử nhất sinh như đêm qua. Một tiếng nói sau lưng làm tôi giật mình. 
Tôi mới mang chứng bệnh hãi sợ này từ khi đi học tập cải tạo về: 
– “Rê su ma ” lạy Chúa tôi, có phải anh đấy không?…. 
Tôi ngẩng lên, nhân vật Đức râu, chú em ít tuổi cùng ở chung trong trại học tập với tôi. Anh ta là người ở Xóm Mới, được ra về sau tôi một thời gian ngắn. Bây giờ anh cũng là chủ cơ sở làm vỏ xe lậu, mang lên Sóng Thần”, tên của một tờ báo hồi chế độ cũ tôi từng cộng tác. Đức râu cũng hẩu món văn nghệ lắm, tính nết thì bộp chà bộp chộp, nhưng không phải là người xấu. ở trong trại học tập, Đức râu từng nổi tiếng qua bài hát Nửa hồn thương đau của Phạm Đình Chương. Trong phim Chân trời tím, truyện phim của nhà văn Văn Quang. Giọng anh to, ồm ồm, đặc sệt thổ âm Xóm Mới, mang từ miền Bắc di cư vào. Anh ta hát như thế này: “Rắm mắt… cho tôi tìm một thoáng hương xưa…”. 
Thật là hết ý, nhắm mắt mà anh ta cứ hát thành rắm mắt thì có chết người ta không chứ. Anh em cười cái rần, Đức râu cứ tiếp tục hát cho đến hết bài. Vui đáo để, ai yêu cầu hát là anh hát liền, râu ria cứ mọc ra tua tủa nên mới có tên là Đức râu. Thường mở đầu câu nói bằng câu “Rê su ma, lạy Chúa tôi”. Anh là một con chiên ngoan đạo. Tôi thường thấy anh lần chuỗi Mân Côi lầm rầm cầu nguyện, khi ngừng lao động, dù là ít phút ngắn ngủi. Năng cầu nguyện tức là tăng thêm sức mạnh. Anh nói thế và tin thế, cũng tốt thôi khi đang ở trong một hoàn cảnh nghiệt ngã. Những nhát cuốc phăng phăng trên sỏi đá, sườn đồi tóc lửa. Mảng đất sắt cũng phải bật lên thành luống. 
Tôi chậm rãi nói: 
– Ngồi xuống đã nào, tôi bao cậu cà phê sáng nay. 
Đức râu ngồi xuống: 
– “Rê su ma, lấy Chúa tôi”, anh làm gì mà có tiền, trúng mánh nào hả? 
– Chẳng mánh mung gì hết, vẫn chở keo lậu như mọi khi thôi. Đêm qua bị bể một chuyến tí chết…. 
Tôi kể cho Đức râu nghe chuyến đi hàng gian nan đêm trước. Đức râu chăm chú nghe và luôn miệng “Rê su ma”. Đôi mắt của Đức râu nhìn tôi và những tiếng “Rê su ma” của anh, tôi biết anh xót xa cho thân phận tôi lắm. Bàn tay anh đang xoa bóp nhè nhẹ trên cái vai đau của tôi. Tôi nói: 
– Tao tưởng bị gãy cổ rồi, may mà cái ngã lăn tròn, cái vai chịu đựng tất cả, nếu không chắc là đi đứt! 
– “Rê su ma ” lạy Chúa tôi, em cũng đang tính nhờ anh một chuyến hàng, nhưng nghe anh nói em không dám nữa. 
– Hàng cho nhà Tốt còn chuyến được chuyến không, tao sức đâu mà đưa cho mày. Mày nhờ người khác đi, cũng nhiều tay liều mạng lắm. Vỏ hồi này bán chạy, bọn xe thồ và xích lô tín nhiệm là ăn bứt, tao không ngờ Xóm Mới lại thành công trong việc làm này… Anh thông thạo việc làm vỏ chưa? 
– Tao có thể làm được từ A đến Z. 
– Vậy tại sao anh không ra nghề, mình làm chủ lấy mình. 
– Tao có nghĩ đến chuyện đó, nhưng không có vốn để làm ăn, vả lại tao không có tài làm chủ, chỉ có khiếu làm cu li thôi. 
– “Rê su ma” anh hận đời đen bạc nên cay đắng thế thôi. Nhưng em biết rồi, anh nguyên là một nhà văn nên anh làm thế này để lấy chất liệu trong thực tế, biết đâu một ngày nào đó em lại không được đọc truyện của anh. Trong anh còn âm ỉ một đốm lửa, chưa biết lúc nào bùng lên. Em sống bên anh trong trại học tập suốt mấy năm trời, em biết chứ? 
– Thế hả, cậu có thể gia nhập ngành Công an được đấy. 
– “Rê su ma” anh nói thế thì chết nhà em mất, anh em mình cứ thành thật với nhau, với kẻ khác thì chẳng nên, không khôn khéo sao em sống được đến ngày hôm nay, em còn phơi thay thầy em trông coi cả mấy mẫu thuốc lào, mấy cái ao nuôi cá rô phi, rồi cái xưởng làm vỏ Sóng Thần của em nữa. Từ lâu em đã có ý định giúp anh mở một xưởng nữa lấy tên là Vỏ xe Sống. Vỏ xe Sống và Sóng Thần bon bon chạy khắp các ngả đường Việt Nam. 
– Con lạy bố, con sợ ở tù lắm rồi, làm ơn khẽ cái mồm một tí nào. Bố trẻ cứ hứng lên phát ngôn bừa bãi là khốn đó. Có mồm thì cắp có nắp thì đậy. 
– Xin nghe anh, nhưng cũng phải hỏi anh có ngày nào anh viết về cái Xóm Mới này không? 
– Có chứ, những ngày tao chở keo lậu cho dân Xóm Mới làm vỏ xe lậu, ghi lại những chuyến chở keo lậu, gian nan nguy hiểm không kém gì đường Trường Sơn. Tao đặt tên cho nó là đường mòn Cao Su. Cuộc chiến đấu của riêng tao, đơn độc nhưng cũng không kém vẻ hào hùng đâu. 
Buổi sáng hôm ấy tôi đã hứng chí mà bốc phét như thể với Đức râu. Đã mười lăm năm qua rồi. Mười lăm năm trong 23 năm của một đời người, hôm nay tôi mới thực hiện được lời hứa ấy khi nó đã ngấu, đã chín rục. 
Cũng buổi sáng hôm ấy tôi hứng chí nói năng lung tung, hình như về một chuyến ra đi nào đó. Bây giờ tôi không còn nhớ rõ. Nhưng cuối cùng tôi vẫn còn ở lại trên quê hương. úi chà chà, sao buổi sáng hôm ấy tôi lại hùng biện như vậy, phải chăng vì cái ngã đau suýt toi mạng đêm trước. Nên quên cả sợ, có những cơn bốc đồng thành bốc phét. Phải chăng tôi nhiễm bệnh khùng-điên-ba trợn. 
Sài Gòn bị ảnh hưởng một cơn bão rớt nên đẹp như mùa thu Hà nội. Tôi nhẩn nha đạp xe xuống Xóm Mới, từ đầu Nguyễn Kiệm qua sân “gôn” xưa, qua bệnh viện Cộng Hòa, đến Ngã Năm Chuồng Chó, thẳng đường xuống An Nhơn là nhập Xóm Mới. Tôi là người sống ở Sài Gòn mà ngạc nhiên vì sự thay đổi của Sài Gòn. Sự thay đổi đó mới có từ khi nền bao cấp cáo chung, bước sang đổi mới rồi kinh tế thị trường. Một sự giầu sang mà người ta nói là phồn vinh, nhưng là thứ phồn vinh gì đó. Chưa phải là một sự bình sản, chênh lệch nhau thấy rõ nhất từ xưa tới nay. Nếu có chút hiểu biết người ta không thể vỗ tay hay hết lời ca tụng thành quả kinh tế phát triển tốt đẹp. Cứ chờ đợi rồi biết ngay thôi. 
Với tôi mỗi bước chân di chuyển trong thành phố Sài Gòn xưa là mỗi kỷ niệm, dấu ấn đậm nét dĩ vãng. Thường thì không mấy tốt đẹp, bệnh viện Cộng Hòa xưa, nay là bệnh viện 175. Buổi chiều ngày 30-4-75, tôi chứng kiến hàng hàng lớp lớp thương bệnh binh của quân đội chế độ Cộng Hòa bị lùa ra khỏi bệnh viện, thằng mù cõng thằng què, thằng đổ ruột đựng trong bao ni lông ôm bên hông. Tôi không theo dõi kỹ nên không biết số phận họ ra sao, cũng không biết họ bị lùa ra khỏi bệnh viện rồi đi đâu, vì bệnh viện Cộng Hòa không còn là chỗ nằm dưỡng bệnh cho họ nữa. Nhưng khách quan mà nói tôi thấy thê thảm quá. Một chút mủi lòng trong cái xô bồ của thời thế. 
Cái xóm trước bệnh viện Cộng Hòa xưa, nay mọc lên những căn nhà khang trang buôn bán tấp nập. Trại lính kéo dài từ Ngã Năm Chuồng Chó đến An Nhơn đã bị phá đi, mọc lên một khu thương mại, cả bên ngả Hạnh Thông Tây cũng vậy. 
Xóm Mới nhỏ bé cũng khác xưa nhiều lắm. Dĩ nhiên là nhà cửa mọc lên, xây cất kiểu cọ đàng hoàng. Nhà thờ cũng nhiều và khang bang hơn trước. Dòng sông xưa, nay cũng có một cây cầu xi măng bắc qua, xe vận tải hạng nặng chạy được. Quán cà phê xưa, bên bờ sông tôi từng ngồi mỗi buổi sáng tinh mơ không còn nữa. Con đò dọc trên dòng sông đã triệt tiêu luôn ý nghĩ vẩn vơ của tôi mơ ước một lần nào đó đưa mình ra cửa biển, nhưng thực tế cũng có đấy. Không riêng gì dòng sông này mà nhiều dòng sông Việt Nam khác đã chảy ra biển, cũng đã từng mang theo nhiều con người ra đi. Có những nguồn tin mất tích và cũng có tin được hồi âm. Có hợp rồi tan, tan rồi hợp như truyền thuyết Lạc Long Quân, Âu Cơ. 
Suốt buổi sáng hôm ấy tôi rong chơi ở Xóm Mới. Tìm lại những kỷ niệm xưa, rất rõ nét trong tôi thời làm vỏ xe lậu. nhưng lại rất mơ hồ trong thực tế. Tôi không thể nào tìm mua được chiếc vỏ xe Solex vừa lỗi thời vừa cũ rích của tôi. Một món đồ đáng để vào viện bảo tàng. Hỏi một người làm vỏ xe cũ thì được biết khuôn hấp dó không còn nữa, người ta đã nấu chảy nó ra làm khuôn bánh xe Honda Dream rồi. Tôi từng thấy có đám trẻ con ùa ra xem chiếc xe của tôi, đôi mắt chúng nhìn chiếc xe quái dị. Chúng có nhìn thấy chiếc xe này bao giờ đâu. Đơn giản vì đương thời của chiếc xe Solex chúng chưa ra đời. Nên chiếc xe Solex chẳng là gì cả đối với chúng. Tôi buồn cười khi nghĩ đến câu nói của anh Tây già đóng tuồng quảng cáo cho tủ lạnh Electronic trên ti vi: 
Bốn mươi năm vẫn chạy tốt! 
Tôi chạnh lòng nghĩ đến thân phận tôi, như thân phận một số bạn bè cầm bút của tôi thuở nào. Tưởng là chìm đắm vĩnh viễn trong quên lãng, người ta muốn thế. Có người đã nói vào mặt tôi: 
– Anh đừng tưởng bảnh, mười năm người ta không quên anh thì hai mươi năm. 
Phải chăng tôi hai mươi ba năm mới hồi sinh, một giấc ngủ đông quá dài của loài gấu. Tôi có nghề làm vỏ xe, tôi có thể tái sinh được cái vỏ xe cũ rích của tôi, bằng cách này hay cách khác để chạy thêm được một khúc đường dài nữa. Tôi sẽ chạy suốt con đường hồi ký cho đến khi nó “xúm bã chè”. Cũng trong ngày hôm ấy tôi đi qua một nhà thờ trong xóm đạo. Tôi nghe thấy bài kinh “lậy cha”: 
Lậy Cha chúng con ở trên Trời 
Chúng con nguyện danh cha cả sáng 
Nước Cha trị đến, ý cha thể hiện 
dưới Đất cũng như trên Trời. 
Xin Cha cho chúng con 
lương thực hàng ngày và cha nợ chúng con. 
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ 
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. 
A men! 

Lại là những ngày rong chơi trong thành phố. Sài Gòn đang ảnh hưởng một cơn bão. Ninh Thuận, bão đánh chìm xuống, tốc nhà, người chết. Nước sông Tiền sông Hậu dâng cao. Cả một vùng rộng lớn ở Đông Nam á bị đe dọa. Tôi nghĩ đến tập kịch Bão Thời Đại của Trần Lê Nguyễn vừa nằm xuống, mà anh đã viết cách dây bốn mươi năm.

Giữa đêm trường

Nguyễn Thuỵ Long

Post by Sơn râu 13 Aug 2025

1. Chương 1

Nhiều khi tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao mình còn sống bình yên được đến ngày hôm nay, điều này chúng tôi từng nói với nhau, những người bạn đồng cảnh ngộ lúc trà dư tửu hậu. Muốn tìm hiểu phải ôn lại, nhớ lại tất cả những gì xảy ra cho mình từ sau ngày 30-4-1975, còn có thể trước nữa, nghĩa là trước ngày miền Nam bại trận với quân đội miền Bắc. Tôi không chối cãi một điều rằng tôi là người Bắc di cư 1954. Mặc dầu tôi không phải người di cư thực sự mà vào Nam trước di cư hai ba năm gì đó Tôi không đổi được giọng Bắc nên nhiều anh em bạn bè người Sài Gòn gọi tôi là Bắc kỳ di cư. Bắc kỳ di cư thì đã sao? Tôi chấp nhận. Cũng là người Việt Nam cả, tôi là người Bắc chuyển vùng. Đời sống nên dễ dãi như thế dễ chịu cho mình, cho người. 
Trước năm 1975 ở Sài gòn tôi đã hoàn thành phần nào mộng ước của mình là được làm nhà báo nhà văn. Tôi gặt hái được ít nhiều kết quả trong nghiệp báo cũng như nghiệp văn. Tôi chỉ nói thế thôi chứ không tự đánh giá mình bao giờ. Nhưng tôi hãnh diện vì nghề mình đã đeo đuổi đôi khi cuồng tín với nghiệp dĩ. Chúng tôi là người làm báo được hưởng quyền thứ tư. Nhưng phải đòi mãi có thể có chứ không bỗng dưng mà có được. 
Tôi nhớ thuở làm báo trước năm 75. Những tờ báo đứng vững được, và đám người làm báo chúng tôi sát cánh cùng nhau để có tự do trong hành nghề không phải là dễ. Cũng rất gian nan. Những tờ báo bị tịch thu, bị đục trắng khi vừa ra khỏi nhà in. Những tờ báo bị đóng cửa rút giấy phép, ký giả bị bắt bớ, bị ám sát cũng đã có, không biết lừ phía nào. Nhà báo lêu bêu từ tòa soạn này sang tòa soạn khác nhiều lắm. Có năm tôi nhảy đến ba bốn tờ báo, cũng có thể năm sáu gì đó. Nhưng vẫn vui, vẫn sống, vẫn hành nghề được.
Chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ, quân nhân lên cầm quyền. Chế độ quân nhân muốn báo chí vào khuôn vào phép, không được nói lên điều dở điều chướng tiêu cực của nhà nước, đặt ra một số điều lệ bắt nhà báo phải tuân theo. 
Tôi nhớ một buổi họp báo của một ông tướng cầm quyền ở phủ thủ tướng. Ông tướng họp báo nói lên điều lợi điều hại gì đó. Ra luật lệ kinh khủng lắm. Buổi họp báo chiều hôm ấy chỉ một mình ông tướng nói, chẳng một nhà báo nào đứng lên đặt câu hỏi. Rồi một nhà báo lớn tuổi, tôi nhớ là ký giả Tô Văn đứng dậy vỗ tay, lây lan sang hàng mấy chục ký giả khác cũng đứng dậy vỗ tay theo. Chấm dứt cuộc họp báo. Các nhà báo ra về trên lối đi có hai hàng lính cận vệ ghìm súng. Chúng tôi coi cuộc họp báo ấy như pha, như không có, qua sự chứng kiến của những nhà báo nước ngoài. Cuộc họp báo chỉ có thế thôi, nhưng đã nói lên thật nhiều, thực tế chẳng ký giả nào nói gì. 
Tôi đã sống qua những kỷ niệm ấy, tôi trang trọng nghề nghiệp mình. Sau năm 75, anh em đồng nghiệp của tôi xảy đàn tan nghé. Tôi còn lại trên đất nước quê hương, dù còn yêu nghề lắm nhưng không hòa nhập được. Có muốn cũng đành chịu. Lý do tại sao tôi cũng đã nói rồi nên không nói lại, tôi đành gác cây bút lên một thời gian dài, để tìm đường tự cứu sống mình và gia đình. 
Đến tuổi già hết sức lao động, chòm xóm có đưa giấy mời vào hội phụ lão, từ mấy năm nay, nhưng tôi vẫn chưa tham gia, vì tôi nghĩ tôi không có thì giờ ngồi đánh cờ với các cụ, hay đi dự những cái gọi là quan hôn tang tế gì đó trong chòm xóm. Hoặc phải viết một bài điếu văn theo đơn đặt hàng, vì tôi cũng có chút chữ nghĩa viết được ra câu ra cú, xài tàm tạm vậy. Mà đụng đến giấy búi tôi ngứa nghề kinh khủng, có lẽ cũng là cái bệnh, hoặc hình như chứng nan y. Tôi leo lên căn gác bút ọp ẹp, xuống cấp trầm trọng của tôi múa bút vung vít, chẳng có mưu đồ gì hết. Tôi múa may một mình thật cô đơn, nhưng thật là tự do. Vũ điệu cũng có thể là múa rối mà tưởng rằng mình vũ ballet. Hiểu sao cũng được. Cũng vui được tuổi già, dù cô đơn trên căn gác bút. Đêm chán viết thì đập muỗi, ngắm sao trên trời, nghĩ ngợi vẩn vơ: thương ông bạn này vừa nằm xuống, nhớ thằng bạn kia còn phải bon chen với đời. Rồi thương mình, thấy mình trẻ lại như hồi nào, hà tất phải ngồi đánh cờ với các vị bô lão, lẩn thẩn nói chuyện dở người. Xin lỗi hội phụ lão đã có lời mời gọi. Lạy các cụ ạ! Nhà cháu còn trẻ lắm, dù rằng có người đã hỏi ba đứa con nhỏ của tôi là chúng phải gọi tôi là ông nội hay ông ngoại? Tôi bị sốc” là chuyện của tôi. Tôi sinh ra chúng trong cảnh nghèo khó và muộn màng, có thế thôi. 
Đúng thời gian đất nước mở cửa, kinh tế thị trường thì tôi bị dời khỏi ao cá, nói đúng ra tôi bị đuổi khỏi nơi ấy. Dĩ nhiên người ta có vin vào một lý do, một cái cớ nào đó và cũng nhân tiện không trả tôi mười hai tháng tiền lương khi tôi làm nghề coi ao cá mà phường còn thiếu chịu của tôi. Tôi thấp cổ bé miệng mà miệng nhà quan thì có gang, có thép. Vợ chồng con cái lếch thếch dời túp lều ao cá trên chiếc xe đạp thồ, con chó ghẻ lẽo đẽo chạy theo. 
Tôi lại hy vọng ở một cuộc đời mới, một chốn ở mới. Không lẽ trời đất bao la mà ta không có chỗ dung thân. Tôi vẫn luôn luôn nuôi một hy vọng nào đó nên mới sống dai. Kể cả những lúc thập tử nhất sinh trên giường bệnh, tôi vẫn không chán sống. Mỗi năm, giờ giao thừa leo lên căn gác bút, tự chúc thọ mình sống lâu trăm tuổi. Hãy cạn chén đắng, còn người ta muốn tính toán gì ở tôi thì cứ làm đi. Tôi lại nhớ đến một đoạn nhỏ trong Thánh Kinh của Chúa, cầu nguyện lại vườn Ghét-sê-ma-nê, sau buổi liếc ly. Cũng là lời Chúa nói với Giu đa. 
Ở trên căn gác bút, tôi có thì giờ nghĩ ngợi về đời sống, về tôn giáo, xã hội, chế độ. Mặc dầu tôi không là tín đồ của một tôn giáo nào, nhưng kính trọng tất cả những thánh nhân. Trước bàn làm việc của tôi có hình của Gandhi. Những lời lẽ ấy, những tư tưởng ấy giúp cho tôi khởi sắc trở lại và tha thiết với cuộc sống, mà tôi cho là quá ngắn ngủi với một kiếp người. Tôi có thể nói thật nhiều hoặc không nói gì. Chẳng phải vì hãi sợ hay lý do gì khác. Thường thì tôi hay bông đùa với cuộc đời, vì tôi yêu đời, tha thiết với đời. Đơn giản như bốn phép tính. Cộng, trừ, nhân, chia. Một cộng một là hai, hai nhân hai là bốn, bốn chia hai được hai, hai trừ hai không được gì cả. Hết. Tức là zéro. Tôi cứ tưng tửng giữa cuộc đời, coi là nghiệt ngã thì nó nghiệt ngã, không đáng gì cả thì thôi, mặc kệ nó, không phải là chuyện cấp bách, quần áo mặc sao cũng được, nhà cửa có chỗ chui ra chui vào, cơm nước có muối mè gạo hẩm là xong. Không rượu chè, cờ bạc, hút xách. Nhu cầu cần thiết chăng, có các con tôi, chúng cần học hành để biết lấy tí chút chữ thánh hiền là quí rồi. Tôi đã từng lao động để nuôi con, cho đến ngày không còn đẩy nổi chiếc xe bán xôi vò nữa thì mới nghỉ. Trước đây, gần hai chục năm trước, sau ngày đi học tập cải tạo về, mà trả lời với Công An phường kiểu này thì mệt đó. Anh nói anh không lao động mà vẫn sống nhăn, chẳng ai tin hết. Nghiêm túc lên nào. Có làm mới có ăn, không làm mà có ăn, đích thị anh là kẻ phạm pháp, phi ăn cắp thì cũng ăn trộm, ăn cướp, nói chung là ăn… bẩn. Kẻ ăn bám xã hội hèn hạ như loài ký sinh trùng. Phải truy nguyên tróc nã cái mà anh đang hưởng thụ đến nơi đến chốn, có nguồn có gốc, theo lý thuyết tam đoạn luận. 
Bây giờ thì dễ dãi rồi, anh có thể trả lời tiền có để tiêu, để thưởng thức một tô phở xuất xứ từ Đô do người thân từ nước ngoài gửi về cho, bất kể đó là người thân hay bạn bè thương tình. Anh không bị kết tội là liên lạc với người nước ngoài nữa. Chuyện đó bây giờ bị coi là chuyện chẳng hơi sức đâu. Kể từ ngày tôi phi lao động, nằm dài chờ Chúa thu hồi hộ chiếu trên giường bệnh, nếu tôi không có bạn bè giúp đỡ lo lắng cho thì đã lận số rồi. Chưa biết lên Thiên Đàng hay xuống địa ngục. 
May mà tôi cũng chưa húp lầm cháo Lú ở bến đò sông Nại Hà để quên sạch sự đời. Lấy đâu ra tư liệu để viết Hồi Ký Viết Trên Gác Bút. Thì ra tôi vẫn còn sống, vẫn còn minh mẫn. Không như anh bạn của tôi, thi sĩ Tú Kếu, nổi tiếng một thời ở Sài Gòn trước 1975. Anh đã húp lầm cháo Lú ngay khi còn sống nhăn ở thế gian. Khiến anh quên tất cả: Quên đời, quên gia đình, quên tất cả những người thân, thậm chí không biết mình là ai…Vợ anh kể rằng, anh vừa ăn cơm xong, lại đòi ăn nữa vì quên biến rằng mình vừa ăn rồi. Chứng bệnh đó, người ở thế gian, bên cõi Âu gọi là bệnh Alzheimer, tên của vị bác sĩ tìm ra chứng bệnh đó. Đi ra đường mà không ai đưa dắt là Tú Kếu đi lạc, không biết đường về tổ ấm của mình. Sống cứ ngơ ngơ ngáo ngáo chẳng ra sao hết. Anh ngồi với người thân nào đó cũng như với người xa lạ. Hệt như phim Bay xuống vùng đất lạ mà tôi mới được xem trên truyền hình. Hai người phi công bị rơi ở một vùng đất xa lạ úc châu. Nhiều ngày tháng lạc lõng đói khát, khổ cực, cô đơn. Cuối cùng được trở về với thế giới văn minh. Một trong hai người trở nên điên khùng, quên hết mọi sự đời, vĩnh viễn sống trong u tối, sống như một cục thịt, một nắm xương tàn đến trọn đời. Nhưng dù muốn dù không tôi cũng phải kiểm chứng lại chuyện này, tìm xem lý do nào khiến Tú Kếu lại rơi vào tình trạng ấy. Tại sao tâm hồn anh lại tê tái đến vô cảm. Thuở Tú Kếu còn tỉnh táo, anh có đưa tôi đọc tập thơ anh làm trong tù, những bài thơ cay đắng phẫn nộ, những cảnh trông thấy trong những ngày tù tội dài dằng dặc. Nhà thơ yếu đuối đó được trở về sớm hơn bản án anh phải mang, không biết do ân huệ từ đâu tới. Anh người xứ Sơn Tây, từng kể chuyện quê hương anh cho tôi nghe, đọc thơ của Tản Đà, Quang Dũng. Anh đọc bài thơ Quang Dũng, ánh mắt người Sơn Tây: 
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng 
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc 
Sáo diều se sắt thổi đêm trăng 
Bao giờ ta gặp em lần nữa 
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa 
Đã hết sắc tàn chinh chiến cũ 
Thì có bao giờ em nhớ ta 
Buồn, buồn quá đi thôi khi ngồi trước Tú Kếu, một nhà thơ sinh ra ở đất Sơn Tây, bây giờ có lẽ đã quên rồi. Rất may có một dạo, sau khi ra tù, Tú Kếu đưa vợ con về thăm quê nội, còn sót lại gì trong anh không? Hãi hùng quá trước một sự trống rỗng thăm thẳm. 
Đây cũng là những gì cần trả lời cho Khanh, cháu của cậu Nhiên (tên tục của Tú Kếu). Cháu viết thư về thăm hỏi cậu Nhiên, cậu Long, mơ ước một ngày về thăm quê hương được cùng cậu thăm lại xứ Sơn Tây. Cháu Khanh bé nhỏ hồi nào, thương cậu Nhiên, thương cả bạn thân của cậu Nhiên là cậu Long. Khi đó hai cậu theo đuổi nghề viết văn làm báo, nghèo lắm, và có lẽ cái nghèo, cái khốn khó ấy đeo đuổi suốt đời.
Cho đến bây giờ, sau mấy chục năm trời, sau khi Hồi Ký Viết Trên Gác Bút của tôi ra mắt độc giả ở bên ngoài quê hương, tôi nhận được thư của Khanh. Bức thư của Khanh từ nước ngoài, xứ Texas xa xôi về được địa chỉ của tôi ở ấp Đông Ba Gia Định xưa thật khó khăn, vì Khanh chỉ nhớ mài mại đến căn nhà của tôi ở đó. Thư cũng đến nơi nhưng mất một thời gian dài, công lao của người đưa thư tìm ra. Tôi biết hoàn cảnh của Khanh ở nước ngoài. Lời lâm sự của Khanh trong thư nói đến gió mưa ở xứ người và nhớ mưa Sài Gòn. Tình cậu cháu nhưng không thể coi là lãng mạn của thời mới lớn. Khanh chưa đến tuổi về hưu, nhưng cũng có cháu nội và sắp có cháu ngoại rồi. Bây giờ thì Khanh sống cô đơn trong một căn nhà ở xứ người, nhớ Sơn Tây, Sài Gòn, thèm nghe tiếng nói Việt Nam nên vẫn thường phải mở đài phát thanh Little Sài Gòn để nghe tiếng Việt. Tôi quí mến cô cháu gái như thuở nào. Tôi ngồi vào bàn viết thư hồi âm cho Khanh. Đang viết thư thì nhận được tin Trần Lê Nguyễn mất. 
Trần Lê Nguyễn là một nhà văn, đúng ra là một kịch lác gia, nổi tiếng với cuốn Bão Thời Đại của anh xuất bản từ năm 1956. Sau năm 1975 anh không còn cầm bút nữa, không đụng chạm gì đến chữ nghĩa, văn chương. Anh đi chạy chợ trời như những nhà văn nhà thơ hết thời khác. Nhưng tôi vẫn thấy anh luyến tiếc cái gì đó ở nghệ thuật, tìm lại những bức tranh sơn dầu, tranh lụa, tranh sơn mài của những họa sĩ quen tên xưa: Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Tạ Tỵ, Nguyễn Trung. Tôi nói với anh nếu những bức tranh này phải bán đi thì tiếc thật. Anh cười, chuyện mua bán mà. Tôi làm nghề sửa xe đạp, thường hay sưu tầm đồ phụ lùng xe đạp cũ nổi danh một thời. Tôi thấy anh đi một chiếc xe đạp cũ đờ mi cuốc, có cái khung xe, cặp vành và cặp đùm quí giá quá. Tôi hỏi anh kiếm được ở đâu. Anh nói anh sưu tầm từng thứ một để ráp thành cái xe này. Anh nhắc tôi cố sưu tầm cho anh một cặp đùm hiệu Campagnelo của ý, giò đĩa hiệu Stronglight, phải “din” từ con ốc, vít. Tôi hứa với anh mà tôi không làm được trọn vẹn, vì tôi đổi nghề như cóc nhảy. Một buổi chầu gần tàn, nơi chốn chợ trời tôi với Trần Lê Nguyễn vẫn ngồi say sưa “đấu những món đồ xe đạp quí. Tôi nghe ngóng được từ người ta, bèn nói đến một cặp mừng làm bằng gỗ, dai, dẻo, cứng, nhẹ của một tay đua nổi danh thuở xa xưa, câu chuyện cứ y như chuyện “bốc phét”. Cặp niềng đó vẫn còn lưu lạc trong dân gian mà tôi chưa tìm ra. Tôi nói với anh ở Đà Năng có người vẫn giữ được chiếc xe đạp của tay đua nổi tiếng trong cuộc đua Đông Dương, vượt đèo Hải Vân. Phượng Hoàng Lê Thành Các. Có một người vẫn còn giữ được đến bây giờ. Trần Lê Nguyễn thì nói với tôi về những bức tranh với nỗi đam mê, trời tối lúc nào không biết. Lúc chia tay nhau anh Nguyễn còn nói: “Nếu chúng ta còn những đam mê như thế thì khó mà hòa nhập được với nền văn minh chợ trời”. Chợ trời là phải chụp giật nhau mà sống, có lời thì bán, mua rẻ bán đắt bán đồ dởm đồ giả, cần thì bóp cổ nó cho mình trúng mánh. Bán mà không tiếc, coi nghệ thuật đồ quí như pha. Phải coi bức tranh sơn dầu, tranh lụa này là miếng giẻ cũ, bức sơn mài của Nguyễn Gia Trí là một tấm ván. Nói chuyện nghệ thuật ở đây là chuyện vô ích. 
Trong một lần khác gặp lại Trần Lê Nguyễn, tôi khoe tìm lại được quyển kịch Bão Thời Đại của anh ở gánh ve chai. Anh hỏi người ta cho hay mua lại. Tôi nói mua lại. Anh lại hỏi có đắt không, bao nhiêu tiền? Tôi nói chỉ có năm đồng bạc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Anh nói vậy thì đáng giá rồi, chỉ thế thôi, có khi hớ đấy, nếu không người ta cũng xé ra để gói xôi. Mua thế được giá cho người bán, mẹ ve chai trúng mánh. Cả cuốn sách chỉ cân nặng lối hai trăm gờ ram, bán giấy vụn giá cũng chỉ vài đồng bạc một ký lô, đủ mua một gói xôi bắp ăn ấm lòng. Tôi bỗng thấy nhói lên ở trong lòng. Con người chúng tôi nếu có được đánh giá cũng là giá “bèo” huống chi là những tác phẩm. Bức tranh sơn dầu chỉ là mảnh vải cũ, bức tranh sơn mài chỉ là tấm ván cũ. Trước đây người ta đốt đi cũng là phải. 
Theo cái lý của người ta. Tôi chẳng nói đến cái lý phải quấy ấy làm chi. 
Một ngày khác nữa, Trần Lê Nguyễn đến ngôi nhà cũ của tôi ở ấp Đông Ba xưa, xem xét căn nhà hoang của tôi, rồi biết tôi vẫn thất nghiệp, anh khuyên tôi nên nuôi chim cúi. Tôi nói tôi chẳng có kinh nghiệm gì về chim cút hết, anh rủ tôi đến nhà anh ăn sáng, căn nhà gác chật chội ở bến Chương Dương kê đầy chuồng chim cúi, đẻ trứng lia chia. 
Anh mời tôi ăn bánh mì “ớp la ” trứng chim cút. Tôi đếm được mỗi đĩa trứng có sáu cái. Trong khi bà vợ anh nhặt một giỏ trứng mang xuống chợ bán mỗi ngày. Anh nói gia đình anh vẫn có thịt ăn. Anh chỉ bầy chim cút trong chuồng. Thế rồi suốt ngày hôm ấy Trần Lê Nguyễn và tôi đi lang thang, lên tận Gò Vấp, vào nhà Tô Thùy Yên để học kinh nghiệm nuôi chim cúi của nhà thơ này. Một nhà thơ mới ở tù ra và được coi là hết thời, đang chờ ra đi nước ngoài theo diện HO. 
Cái vốn liếng tù tội của Tô Thùy Yên có lẽ dư thừa còn vốn liếng kinh nghiệm nuôi chim cút của anh thì tôi không biết có từ bao giờ. Nhưng nghe nói anh cũng dầy dạn kinh nghiệm lắm. Tôi thì không theo nghề ấy, vì một lần nuôi gà bị chết toi cả bầy. Sạch luôn cả vốn liếng mà bạn bè có lòng giúp đỡ. Nói tóm lại, tôi không có tay nuôi gia cầm.
Tôi vẫn lang thang kiếm sống qua ngày, xa lánh chợ trời mà có lần tôi đã coi là chốn gió tanh mưa máu. Tôi đi bán xôi đến lúc quị ngã vì mất sức lao động. Một cơn tai biến mạch máu não, tí nữa thì chết, nếu không chết thì cũng bán thân bất toại, tê liệt nửa người. Tôi qua khỏi cơn bệnh như có phép lạ. Bây giờ di chứng chỉ còn nói ngọng và khó khăn khi nói. Chẳng được một câu nào gãy gọn. Còn một tay chưa tê tôi bèn viết. Kệ nó muốn ra sao cũng được. 
Tôi bị tai biến mạch máu não phải nằm bệnh viện, ngoài vợ con ra tôi chỉ có bạn bè, những người bạn nghệ sĩ nghèo, góp nhặt cho tôi từng đồng để trả viện phí. Tôi mang ơn bằng hữu hoặc thân hoặc sơ. Khi đó tôi tường mình đi đứt rồi. Chỉ có những khuôn mặt bạn bè cúi xuống tôi. Tôi nhớ mãi những khuôn mặt ấy, những đôi mắt ấy không bao giờ quên được. Tôi làm sao quên được chú em bạn tù Võ Bá Yên, nguyên là huynh trường Hướng Đạo Sinh, khi khiêng tôi vào phòng cấp cứu phải mang cầm Chứng Minh Thư Nhân Dân (căn cước) để có tiền đưa tôi qua cửa ải này. Trước khi mê man, tôi còn ghi nhận được hình ảnh ấy. Nay thì Võ Bá Yên không còn nữa, chú em ấy bị nhồi máu cơ tim cũng đã chết rồi. 
Tôi đưa Yên đến phần mộ ở Bình Hưng Hòa. Tôi đã khóc. Tôi quì trong chùa cùng các sư cầu siêu cho Yên. Ôm hai đứa con nhỏ của Yên, khuyên nhủ chúng cố giúp mẹ chúng duy trì nghề bán cơm bình dân ở căn nhà cạnh chợ Cây Quéo. Bố chúng chết rồi, hàng cơm thiếu người bưng tô rửa chén, các cháu phải thay bố ngoài giờ đi học. 
Khi tôi rời bệnh viện ít ngày thì vợ tôi cũng giở dạ đẻ, đứa con út tôi hiện nay. Lúc ấy tôi không có tiền. Mẹ con nó may mắn mẹ tròn con vuông và vợ tôi chịu đoạn sản để lấy tiền thưởng đóng thay viện phí. Vậy cũng xong. Chuyện cũng như người phải bán máu mình để lấy tiền mua cơm ăn. Như cây nến tự ăn mình đề duy trì ngọn lửa. 
Mấy năm sau, tôi nghe Trần Lê Nguyễn bị bệnh. Bệnh tai biến mạch máu não như tôi đã từng bị. Anh đau khổ hơn vì bị bán thân bất toại, nói năng ngọng nghịu. Vợ anh Nguyễn phải làm thông ngôn mỗi khi đi đâu hay có người tới thăm. 
Có hôm tôi với Tú Kếu đang ngồi ở quán báo của Nguyễn Kinh Châu ở đường Bà Huyện Thanh Quan thì Trần Lê Nguyễn đi xích lô đến. Anh nói chuyện với chúng tôi mà chúng tôi chẳng nghe được câu nào. Anh bị ngọng quá sức rồi. 
Một lần khác anh đi xích lô đến nhà Tú Kếu, bà vợ đi cùng, hôm ấy tôi cũng có mặt. Chị Nguyễn phải thông ngôn chúng tôi mới hiểu. Nội dung anh hỏi nhà Tú Kếu còn tranh không, nếu bán thì anh mua. Trời đất, anh vẫn còn nghĩ đến chuyện ấy, chuyện nghệ thuật mà anh đam mê từ mấy chục năm trước, thuở lêu bêu chợ trời. Buôn bán mà không bao giờ có lời, bán một tác phẩm mình mua được tiếc đứt ruột. Con người Trần Lê Nguyễn thế đó. 
Hôm chợ Cầu ông Lãnh cháy, ngay vào khu anh ở từ bao nhiêu năm trên đường bến Chương Dương, tôi lo lắng suốt một đêm. Sáng sớm tinh mơ tôi đạp xe xuống phía nhà anh, may quá ngọn lửa không lan đến, tôi an tâm ra về. Tin Trần Lê Nguyễn mất đột ngột đến với tôi. Khi đó là buổi chiều, sáng sớm ngày hôm sau gia đình sẽ đưa anh đến nhà thờ làm lễ rồi đưa anh lên lò thiêu Bình Hưng Hòa. Đến khi đó tôi mới biết tên thật của anh là Nguyễn Huy Tạo, sinh năm 1924, mất ngày 7-7-1999. Thế có nghĩa là anh 75 tuổi, sao mà tâm hồn anh trẻ thế. Những người đi đưa tiễn anh lần cuối cùng hầu hết là những văn nghệ sĩ chế độ cũ. Ngoài những nhà văn nhà báo mà đếm được trên đầu ngón tay, tôi thấy còn có các họa sĩ như Cù Nguyễn, Rừng, Hồ Thành Đức mới ở nước ngoài về thăm quê hương. Đưa đám anh đến tận lò thiêu Bình Hưng Hòa, có một người con trai chống gậy, tôi cứ ngỡ là con trai của anh, nhưng hỏi ra thì biết cậu đó là cháu, con trai người em trai anh. Một bài điếu văn ngắn, cảm động do Hoàng Vũ Đông Sơn đọc trước quan lài, rồi cửa lò thiêu mở, quan tài anh từ từ hạ xuống. Thôi, thế là vĩnh biệt Trần Lê Nguyễn. Tiếng khóc của người thân anh òa lên. Tôi cũng không cầm nổi nước mắt. Tấm hình của anh vẫn toe loét nụ cười.
Buổi trưa về nhà anh, trên tường tôi thấy còn nhiều bức tranh nghệ thuật. Căn nhà đó ở bến Chương Dương, trước khi anh tới cư ngụ, tôi biết nhiều họa sĩ đã đến ở đó, có cả Cù Nguyễn. Năm 1963 tôi đến đó nhờ họa sĩ Nguyễn Trung vẽ cho tấm bìa tập truyện ngắn Vác Ngà Voi, tập truyện ngắn đầu lay của tôi thuở đầu đời. Trên đường về, buổi trưa trời ập xuống một cơn mưa. Tôi bị cảm nằm liệt mất mấy ngày. Đêm nay ngồi ghi lại những dòng này trời vẫn còn mưa. Những con muỗi đói sự ướl cánh ùa đầy vào phòng. Vừa đụt mưa vừa kiếm ăn, chúng bu vào đốt tôi tơi lả. Tôi đập tan xác chúng, máu lóe trên bàn lay.  Trong đêm trường này chỉ mình tôi còn thức, trên căn gác bút đam mê cô quạnh.

Thiếu tá Nguyễn Văn Ba và Chuyến Bay Cuối Cùng

bienxua.wordpress.com

KQ Nguyễn Văn Ba

Posted by bienxua on June 2, 2025

Post by Sơn râu 13 Aug 2025

Minh hoạ của theaviationgeekclub.com

Ngày 29 tháng 4 năm 1975 lúc 4 giờ sáng tại phi trường Tân sơn Nhứt, 4 phi cơ trực thăng vận tải khổng lồ Chinook đậu song song nhau trước phi cảng hàng không dân sự Việt Nam. Sở dĩ phi hành đoàn tạm trú ở đây là vì ngày hôm trước 28-4-75, mấy tên hoa tiêu phản loạn theo Việt Cọng đã dùng 5 phi cơ A-37 chiếm được của Không Lực VNCH do tên Nguyễn Thành Trung xuất phát từ phi trường Phan Rang đã dội bom phi trường Tân sơn Nhất để gây thêm áp lực và làm hoang mang dân chúng Sài Gòn.

Phi đoàn 237 Lôi Thanh cũng đành chịu chung định mệnh và số phận của đất nước. Tất cả nhân viên phi hành đều nôn nóng và chờ quyết định cuối cùng của anh, nhưng anh vẫn còn trì hoãn cố ý chờ Lôi Thanh 1, Trung tá Nguyễn Phú Chính, gia nhập chung với anh em rồi sẽ quyết định dứt khoát sau. Vì trước đó ngày 27-4-1975, Phi đoàn 237 được lệnh di chuyển từ Căn cứ Biên Hòa về Tân Sơn Nhứt do đó Lôi Thanh 1 phải ở lại Biên Hòa để điều động cùng với Chuẩn tướng Tính Tư Lệnh SĐ3KQ và Đại tá Triệu, Không Đoàn trưởng KĐ43CT. Thiếu tá Nguyễn Văn Ba PĐ Phó PĐ237 được điều động về TSN chỉ huy để thiết lập cầu không vận BH-TSN (Biên Hòa-Tân sơn Nhứt).

Trong lúc này, các sĩ quan tham mưu của PĐ đã hoàn toàn vắng mặt từ khi nghe tin phi trường bị dội bom. Kể từ chiều ngày 28-4-1975 là những giây phút cực kỳ nghiêm trọng như ngồi trên dầu sôi lửa bỏng. Anh thấy nhiều vận tải cơ C-130, C-47, C-119, v.v…. đã lần lượt cất cánh, chở đầy gia đình thân nhân của các sĩ quan tại BTLKQ để đi Thái Lan hoặc Côn Sơn. Một số lớn các anh hạ sĩ quan và sĩ quan trong phi đoàn còn lại cố bám theo anh như một chiếc phao cuối cùng.

Sau khi kiểm điểm lại phi cơ đang trong tình trạng tốt khả dụng hành quân, anh cắt 4 phi hành đoàn gồm: Thiếu tá Ba, Đại úy S, Trung úy Q, Trung úy K… và các anh cơ phi xạ thủ phi hành. Súng đạn được cất giấu trên tàu để sẵn sàng tùy cơ ứng biến. Anh ra mật khẩu cho mọi người và chia nhau canh gác để đề phòng đặc công CS trong đêm tối. Đêm hôm đó mọi người đều ngủ dưới bụng tàu để chờ xem có tin tức gì mới từ BTLKQ không?

Đã 3 ngày qua anh không có cơ hội để tắm rửa vì sau khi đưa bà xã và các con về tạm trú với gia đình ở Phú Lâm, là anh ăn ở ngay tại phi đoàn, cấm trại 100% như các anh em khác. Có nhiều anh em cho biết là họ đã thấy gia đình của các KĐT, KĐP của các không đoàn chiến thuật đang bận rộn đưa gia đình ra khỏi Việt Nam. Trước kia, anh có hỏi Lôi Thanh 1 về chương trình di tản, ông ta chỉ biết rất mơ hồ là chờ lệnh trên. Anh cũng thừa hiểu trong giai đoạn khẩn trương này, các Tư Lệnh Sư Đoàn, Không Đoàn và các sĩ quan tham mưu cao cấp của Bộ TLKQ đã bí mật giữ kín tin tức để thuộc cấp khỏi hoang mang. Anh khuyên anh em phi hành đoàn nên nằm nghỉ trên nền xi măng, dưới bụng phi cơ vì nếu có đặc công bắn phá, mình sẽ có nhiều cơ hội để sống sót và cũng có lợi thế là tầm quan sát rộng rãi để có thể chống trả hữu hiệu hơn.

Lúc đầu hôm, anh nhận thấy có nhiều phi cơ vận tải của KLVNCH lên xuống chở đầy ắp người, cất cánh bay về hướng Nam, anh cũng không chú tâm lắm. Thỉnh thoảng có vài chuyến Hàng Không Dân Sự ngoại quốc đáp đêm đậu cạnh chỗ CH-47 của anh. Hành khách đa số là dân chính, ăn mặc rất tươm tất, anh nghĩ đây có lẽ là các phu nhân mệnh phụ hay gia đình các quý tộc trong chính phủ VNCH, các anh em HSQ cho anh biết họ đi Thái Lan.

Trong giờ phút cực kỳ khó khăn này, ngay chính anh em trong phi hành đoàn, anh vẫn không hoàn toàn tin tưởng là họ có cùng ý tưởng như anh vì biết đâu những anh em đó có thể bị móc nối bởi đặc công CS. Anh chỉ cẩn thận im lặng để ý dò xét cử chỉ và khuyến khích anh em chờ lệnh thượng cấp. Đã nhiều đêm mất ngủ thêm vào đó những suy nghĩ miên man, anh đã thiếp đi lúc nào không biết đến khi 1 trái đạn hỏa tiễn 122 ly rớt gần đó, tiếng nổ long trời làm mọi người phải thức giấc. Anh nhìn về phía phi đạo phía Nam, lửa đã cháy đỏ 1 vùng trời, hình như kho xăng bị trúng đạn phát hỏa. Lúc bấy giờ vào khoảng 3 giờ 30 sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, VC đang tập trung hỏa lực để pháo vào phi trường, tiếng nổ hầu như không dứt. Tiếng đại bác 130 ly cộng với tiếng hỏa tiễn 122 ly của địch phóng đi, rít lên trong gió nghe như tiếng ma tru quỷ rống thật rợn người.

Phi trường bị thụ động vì anh không nghe hay thấy một phi cơ chiến đấu nào cất cánh để oanh kích các mục tiêu pháo kích của địch cả. Anh cho gọi tất cả 4 phi hành đoàn lại chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh khi nào thấy phi cơ số 1 quay máy là các anh em hãy làm theo. Tất cả anh em nôn nóng và cố gắng chờ đợi để nghe chỉ thị của BTLKQ qua tần số của đài kiểm báo Paris. Là 1 sĩ quan đang đứng trước một tình trạng ngặt nghèo rối loạn của lịch sử dân tộc, anh vẫn luôn tuyệt đối tuân hành kỷ luật quân đội, đặt mình dưới sự chỉ huy của thượng cấp. Như “cao-bồi” có ngựa trong tay, anh muốn bay lúc nào cũng được, nhưng anh không làm chuyện đó vì anh không phải là 1 kẻ đào binh trốn tránh trách nhiệm. Bổn phận và trách nhiệm của cấp chỉ huy không cho phép anh làm thế. Lôi Thanh 1 không có mặt nơi đây, là Phi đoàn Phó, anh là chỉ huy cuối cùng của anh em trong đơn vị. Hiện tại anh em sĩ quan, hạ sĩ quan còn lại xem anh như một chiếc phao cho họ níu lấy trong giai đoạn gần như tuyệt vọng này.

Khoảng 4 giờ sáng, anh nghe từ chiếc máy truyền thanh của an ninh phi cảng báo là VC đang tấn công và xâm nhập được vào vòng rào phía Tây của phi trường cách chỗ phi cơ đậu không xa lắm, anh suy nghĩ có nán lại cũng vô ích. Anh cho tất cả phi hành đoàn quay máy, bay ra phi trường Vũng Tàu. Anh nghĩ Vũng Tàu nằm gần biển chắc đỡ pháo kích hơn. Anh cất cánh trước thì được biết là số 2 của Đại úy S bị trục trặc chưa quay máy được. Anh định vòng lại để đón phi hành đoàn thì kịp lúc số 2 đã mở máy được. Tất cả 4 phi cơ trực chỉ Vũng Tàu, trời còn đang tối, anh thấy nhiều nơi chớp sáng, anh đoán là những nơi đang pháo vào phi trường.

Hợp đoàn lên cao khoảng 3,000 bộ nhìn xuống Sài Gòn có những đám cháy nhỏ, nhìn lại phi trường Tân Sơn Nhứt, các bồn nhiên liệu đang cháy đỏ một góc trời. Gần tới căn cứ Hải Quân Vũng Tàu, phòng không bắn lên phi cơ, anh ra lệnh cho tắt tất cả đèn navigation và hợp đoàn 4 phi cơ đã đáp an toàn xuống bãi đổ xăng dành cho trực thăng. Xong xuôi, anh ra lệnh cho anh em dời phi cơ ra chỗ trống, tắt máy và chờ lệnh của trung ương. Mọi người lo vệ sinh cá nhân, anh cũng sẵn dịp này thay bộ đồ bay mới. Vừa mặc xong áo, chưa kịp mang giày thì “oành, oành….” VC tiếp tục pháo kích. Anh ra lệnh quay máy, cất cánh trực chỉ Cần Thơ. Khi phi tuần đã bình phi, anh gọi cho đài kiểm soát Paris, thì không còn nghe thấy gì. Anh nghĩ: “thế là xong…”

Một vài phút sau đó anh gọi hợp đoàn để biết vị trí của họ:

– Đại Bàng 2,3,4 đây 1 gọi, cho biết vị trí?

– Số 2 bên phải 1 dậm, 1 nghe rõ? Trả lời!

– 1 nghe 5/5. Số 3 báo cáo vị trí?

– 1 đây 4!

– 1 nghe 4. 5/5

– Hình như Đại Bàng 3 đã tách hợp đoàn khi c/c tại Vũng Tàu.

– 1 nghe rõ.

Anh im lặng bất động trong phòng lái. Lại một cánh chim đã tách rời đoàn, không lưu luyến, không một lời từ giã lần cuối cùng. Trong giờ phút này, anh không có đủ thời giờ để oán hận hay phiền trách bất cứ một hành động nào của anh em. Phi cơ là tài sản của quốc gia, nhưng trong giờ phút này là vật sở hữu của người đang ngồi lái. Họ muốn xử dụng tùy nghi theo ý nguyện mặc dù anh là người chỉ huy trực tiếp, nhưng giờ đây chỉ còn là tình chiến hữu, vì các cấp chỉ huy của anh cũng tìm đường lẩn tránh hoặc đào tẩu hết rồi.

– Đại Bàng 1 đây 2 gọi!

– 1 nghe 2, 5 trên 5.

– Xin 1 cho phép 2 đáp xuống bờ hồ Mỹ Tho để giã từ vợ con. 1 nghe rõ trả lời!

– Đồng ý với 2 chỗ đáp bờ hồ hơi hẹp, nên cẩn thận. 2, 4 nghe rõ trả lời?

– 2 rõ 5/5.

– 4 rõ 5/5.

Sau khi bay ở cao độ thấp để quan sát thành phố, anh nhận thấy ở đây hoàn toàn yên tĩnh. Chợ Mỹ Tho vẫn đông đúc người mua kẻ bán vẫn không có gì là rối loạn, giặc giã, anh cho lệnh 3 chiếc cùng đáp xuống. 3 chiếc Chinook đậu choán gần hết bờ hồ. Sau khi tắt máy, ai nấy đều có vẻ thoải mái, hình như nơi đây không có cảnh bom đạn náo loạn gì hết, chắc chắn dân chúng vẫn chưa biết chuyện gì đã xảy ra tại Sài Gòn. Trong lúc Đại úy S. chạy về thăm vợ con trong thành phố, anh bàn với anh em nên tạm trú ở đây mà không về phi trường Cần Thơ nữa. Tất cả đều đồng ý. Trung úy K. phụ trách sang phi trường Đồng Tâm để lấy thêm xăng cho 3 chiếc phi cơ. Thời gian đó, hầu hết các phi hành đoàn còn độc thân, ngoại trừ anh và Đại úy S. đã có gia đình. Bà xã và 3 đứa con của anh còn đang tạm trú ở Phú Lâm, nên anh quyết định bay về Phú Lâm để bốc gia đình rồi sau đó hãy tính. Bây giờ khoảng 9 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, sau khi căn dặn anh em, anh sẽ trở lại khoảng 11 giờ trưa. Anh cùng Trung úy L thượng sĩ C. và xạ thủ thượng sĩ M. cùng bay về Phú Lâm.

Thời tiết miền Nam, vào mùa này những buổi sáng thường có mây rất dầy và ở cao độ thấp. Anh cũng thừa biết là CS thường đặt súng phòng không ở ven đô, vùng Bình Trị để bắn phi cơ lên xuống phi trường, nên anh cho phi cơ bay cao trên các tầng mây trắng, để tránh phòng không và hỏa tiễn SAM. Khoảng 15 phút sau anh đã nhận diện được sân bay Tân Sơn Nhứt vẫn còn khói lửa mịt mù. Giảm cao độ luồn lách qua những đám mây trắng, anh nhận rõ ngôi nhà của ba má anh phía dưới. Quần 1 vòng thập thấp xung quanh, anh nhận thấy Ba Má,vợ và các con anh chạy ra sân ngó lên.Anh chồm ra đưa tay vẫy và đáp xuống khoảng đất trồng phía trước.

Thượng sĩ C. mở cửa phía sau đuôi tàu, chạy ra rước giùm bà xã, 3 đứa con của anh và 2 đứa cháu lên tàu. Lúc này thì dân chúng hiếu kỳ bu xung quanh đó, chạy ra xem đầy đường. Xe cảnh sát cũng hụ còi chạy lăng xăng, hình như họ cũng không biết chuyện gì đang xảy ra. Trong 3 phút, Thượng sĩ C. báo cáo an toàn, “ramp up” sẵn sàng “zu lu”. Anh cất cánh với sức máy tối đa. Chiếc Chinook to lớn như con chiến mã ngoan ngoãn bay thẳng lên không trung một cách nhẹ nhàng, để lại phía sau một trận cuồng phong thật khủng khiếp. Sau này Má tôi nói là phi cơ cất cánh đã làm sụp một căn nhà phía sau, ở nhà phải đền tiền cất lại cho người ta.

Trong khoảnh khắc anh đã đưa phi cơ lên khỏi các lớp mây trắng, cũng là lúc đèn đỏ báo hiệu máy số 2 có mạt sắt. Theo thường lệ là phải tìm chỗ đáp càng sớm càng tốt, nhưng tình trạng này thì không thể được vì anh biết phía dưới là vùng Bình Chánh, giờ này chắc chắn là có nhiều du kích đang tiến về Sài Gòn, vả lại anh tin tưởng vào khả năng bản lãnh để đưa phi cơ đến chỗ an toàn. Phía trái không xa lắm, anh nhìn thấy 1 chiếc HU1 đang bay về hướng Mỹ Tho, anh mở tần số cấp cứu gọi để xin hộ tống nếu có trường hợp phải đáp ép buộc nhưng không được trả lời. Tuy nhiên mọi chuyện rồi cũng xong xuôi êm đẹp cả. Cuối cùng phi cơ vẫn đáp được 1 cách an toàn tại bờ hồ Mỹ Tho. Các anh em vẫn còn ngồi đây chờ, họ rất mừng rỡ khi thấy anh trở lại đúng hẹn.

Lúc này vào khoảng 11 giờ trưa. Anh có giữ 1 số tiền quỹ của Phi Đoàn do Đại úy L. giao lại hôm trước, cộng thêm số tiền của bà xã mang theo, anh đưa tiền cho anh em đi ăn trưa và du hí với các em gái Mỹ Tho lần chót. Anh đang ngồi nói chuyện với bà xã và cho mấy đứa con ăn uống. Đứa nhỏ nhất Mina con gái vừa mới được 8 tháng tuổi, thằng trai kế là Mika vừa đầy 3 tuổi và con trai đầu lòng Miki được 7 tuổi. Cũng vừa lúc đó các anh em dẫn đến trước mặt anh một cụ già khoảng độ 60 tuổi. Ông tự giới thiệu là cha của Chuẩn tướng T. Tư Lệnh SĐ3KQ Biên Hòa. Vì đường bộ Sài Gòn Mỹ Tho bị Việt Cộng chận, nên chạy xe không được. Ông nhờ nếu có bay về Sài Gòn cho ông xin theo. Anh báo là tất cả anh em đều chạy nạn từ Sài Gòn, hiện tại chưa quyết định sẽ phải đi về đâu trong những giờ phút tới. Vả lại Tướng T. và Đại tá T. đã bặt tin từ ngày hôm qua. Ông ta lắc đầu có vẻ chán chường.

– Nếu vậy, xin Thiếu tá vui lòng đi đâu cho tôi theo đó.

– Không có gì trở ngại, xin bác cứ ngồi đây chờ!

Anh quan sát lại bản đồ và bàn luận với anh em là không thể nào ở đây được trong đêm nay, vì vị trí mất an ninh, CS có thể tấn công bất cứ lúc nào. Bây giờ nên tìm một hòn đảo ở ven biển, để tạm qua đêm chờ nghe tin tức Sài Gòn. Số súng đạn có rất nhiều trên tàu, chúng ta có thể tử thủ nếu cần và mọi người đều đồng ý với ý khiến đó của anh. Anh nhờ tài xế lái chiếc Toyota của ông cụ, đưa ra phố để mua thêm lương thưc dự trữ. Anh mua 2 bao gạo 100kg, 20 ký đường tán, chục chai nước mắm, một số khô cá lóc, cùng thực phẩm khô và dụng cụ làm bếp, nồi niêu soong chảo, v.v…. Số lương thực mới mua dự trù này cũng nuôi sống được anh em trong thời gian chờ đợi. Lúc này, Trung úy K. cũng đã đổ xăng cho chiếc phi cơ cuối cùng, bước lại gần cho anh biết những tin tức anh vừa nhận được trên tần số.

– Tôi nghe trên tần số guard, hạm đội Mỹ kêu gọi tất cả anh em pilot nên tìm cách di tản ra Đệ Thất hạm đội! Thiếu tá nghĩ sao?

Sau một phút suy nghĩ, anh lắc đầu:

– Tại sao chúng ta phải nghe theo lời tụi Mỹ? Mình nên đợi để nghe tin tức từ Đài Phát Thanh Sài Gòn xem tình hình như thế nào rồi sẽ tính sau!

Hình như Trung úy K. đã hiểu ý định của anh nên không bàn luận gì thêm nữa, anh trở về tàu nằm nghỉ. Bây giờ khoảng 1 giờ trưa, tất cả anh em đều có mặt đầy đủ. Đại úy S và vợ con cũng đang ở chung với anh em trên tàu, bỗng Thiếu tá Ba sực nhớ lại trên tàu còn có mấy chai rượu Napoleon mà Đại tá T đã cho mấy ngày trước, lúc ông dọn nhà di tản về Sài Gòn. Anh lấy ra mời anh em dùng để gọi là tiệc rượu cuối cùng của Phi đoàn 237 Lôi Thanh.

Trong lúc anh em đang vui vẻ để tạm quên đi những cái gì nặng nề, đau đớn và hoang mang nhất trong cuộc đời binh nghiệp thì lúc đó có một ông Trung tá Bộ Binh mang phù hiệu Tổng Tham Mưu lái xe Jeep đến. Với đôi mắt gần như thất thần, sợ hãi, sự lo lắng hiện lên trên khuôn mặt và cử chỉ của ông ta:

– Các anh định đi đâu vậy?

– Chúng tôi đang chờ lệnh Sài Gòn.

– Trời ơi! Các anh chưa biết sao? Đại tướng Tổng Tham Mưu trưởng đã dông mất rồi. Bộ Tham Mưu không còn ai hết. Tôi là người sau cùng vừa chạy khỏi xuống đây. Nếu các anh ở đây lâu hơn nữa, Đại tá Tỉnh trưởng Mỹ Tho sẽ cho lính giữ các anh lại, để đưa gia đình họ di tản, nếu các anh không tin, chờ tôi chạy về mang gia đình đi theo các anh luôn.

– OK! Ông về rước vợ con ông đi!

Sau đó Thiếu tá Ba gọi anh em phi đoàn lại họp kín phía bên trong nghĩa trang quân đội Mỹ Tho.

– Ông ta nói cũng có lý! Nếu ở đây lâu sẽ kẹt cả đám. Bây giờ các anh em tính sao? Nên ra Đệ Thất Hạm Đội hoặc bay đi nơi khác?

Trung úy K. nhanh nhẹn trả lời:

– Tôi nghĩ mình nên bay ra hạm đội cho an toàn hơn, rồi sẽ tính sau. Thiếu tá và các anh em nghĩ sao?

– Nếu tất cả đã đồng ý như Trung úy K. đề nghị thì chúng mình cùng đi. Còn người nào có gia đình hoặc muốn ở lại thì anh em cứ tự nhiên. Trước tình thế khó khăn này tôi không ép buộc anh em phải theo tôi.

Sau đó có vài người xin ở lại, vì họ không biết nếu ra đi rồi cuộc sống của họ sẽ ra sao. Còn phần lớn các anh khác đồng ý ra đi. Anh bắt tay từ giã mọi người ở lại và chúc gặp nhiều may mắn. Anh chia làm 2 phi hành đoàn, một do anh lái, còn chiếc thứ hai do Đại úy S. chiếc thứ ba giữ lại trên bờ hồ để dự phòng.

Lúc này vào khoảng hơn 1 giờ trưa, 2 chiếc Chinook cất cánh tại bờ hồ, lấy hướng 90 độ, trực chỉ Đông Nam Vũng Tàu. Trên tần số Guard, Đệ Thất hạm Đội đã gọi và cho biết vị trí của chiến hạm Mỹ đang di chuyển ngoài khơi Thái Bình Dương.

Trên cao nhìn xuống, những cánh đồng xanh rì, những con sông uốn khúc, những mái nhà lá ở vùng Long Định hình như họ đang thổi cơm trưa, khói trắng tỏa lên từng cụm nhỏ mỏng manh trên mái lá. Quê hương miền Nam, có vẻ thái bình và đẹp đẽ kia, những người dân quê hiền lành và chất phác dưới đó, có lẽ họ đang chờ đợi bữa cơm trưa. Họ đâu nghĩ rằng các anh đang chạy loạn, đang sắp sửa rời bỏ quê hương, nơi anh và các bạn đã chôn giấu biết bao kỷ niệm, từ thời thơ ấu tung tăng cắp sách đến trường làng cho đến ngày đầu quân vào binh nghiệp. Hôm nay chiến tranh không còn xảy ra tại vùng quê hẻo lánh nữa, mà nó đã mang đến ngay tại thủ đô Sài Gòn, tại phi trường quốc tế Tân Sơn Nhứt. Dân chúng thủ đô đang nếm mùi bom đạn của cái gọi là Giải Phóng Miền Nam, đang rình rập mang chế độ vô sản, bần cố nông, vô thần, để đem vào canh tân Miền Nam, hướng dẫn cả dân tộc trở về thời kỳ bán khai trung cổ! Anh trở về với thực trạng khi nghe copilot là Trung úy K. kêu lên:

– Thiếu tá có thấy cụm khói đen hướng 11 giờ trên biển đó không? Đó là check point do tụi Mỹ cho.

– OK! Mình cứ giữ hướng bay tới, chắc Hạm Đội tụi nó không xa lắm.

Chiếc số 2 của Đại úy S. nhanh nhẹn hơn, bay trước chúng tôi. Đã 20 phút bay trên biển, bờ biển VN mờ dần từ phía dưới chân trời xa thăm thẳm. Anh hơi ngại, vì vợ con trong tàu không có lấy 1 chiếc phao cấp cứu, nếu phi cơ trở chứng thì chết cả lũ dưới biển sâu. Anh cố mở mắt thật to để tìm kiếm dấu vết gì của hạm đội, nhưng sương mù dầy đặc, tầm nhìn giới hạn nên chẳng thấy được gì. Lúc đó Trung úy M đưa tay chỉ về hướng 12 giờ:

– Kìa Thiếu tá thấy gì không?

– Ồ! hình như một chiếc tàu?

Một sự vui mừng khó tả hiện lên gương mặt mọi người, như kẻ đang chết đưối vớ được phao cứu mạng. Bảo Trung úy K quan sát chung quanh còn anh cho phi cơ vòng một lượt xung quanh tàu để xin đáp. Đây là tàu tuần duyên nên chỉ có 1 bãi đáp nhỏ dành cho HU1 còn chiếcChinook của anh quá lớn nên không thể hạ cánh được.

Lúc đầu thủy thủ đoàn khoát tay đuổi đi, thậm chí còn dùng shotgun để bắn đe dọa. Chiếc tàu tuần vẫn chạy nhanh chứ không chịu dừng lại. Anh cứ bám sát theo, cuối cùng họ đành chịu thua, dừng lại đứng yên một chỗ. Không đáp được nên anh phải hover một chỗ thật chính xác, vì tàu có quá nhiều cột antenna cao. Mọi người lần lượt nhảy xuống. Phía dưới có thủy thủ Mỹ đứng chờ sẵn để chụp từng người, nếu không, có thể bị gãy chân dễ dàng vì anh không thể xuống thấp hơn nữa. Vợ con anh cũng chịu cùng chung số phận như những người khác trên tàu. Độ vài phút mọi người đã xuống an toàn, anh bảo Trung úy M:

– Bây giờ tới phiên anh. Nhưng trước khi nhảy xuống, anh hãy xem lại phía sau tàu còn có ai bị kẹt lại không, tôi sẽ làm Ditching.

Trung úy M. cởi bỏ áo giáp, tháo dây an toàn bước ra khỏi phòng lái, đi ra phía sau kiểm soát lại lần cuối. Vài giây sau đó M. đưa ngón tay cái lên trời, ra dấu OK. Anh gật đầu cám ơn. Chốc lát sau đó anh thấy Trung úy M. đã đứng trên tàu khoát tay chào.

Bây giờ là khoảng 2 giờ chiều ngày 29-4-1975, anh đưa chiếc Chinook ra khỏi vị trí hover, dang ra cách tàu thật xa khoảng 200 bộ. Vài chiếc máy quay phim của Hải Quân Mỹ nhắm thẳng vào chiếc chinook anh đang lái. Họ không để mất đi một cơ hội hiếm có này, vì họ biết chắc anh sẽ làm Ditching. Chiếc CH47 đã ở vị trí an toàn, anh đưa tay kéo chốt thoát hiểm, cho cánh cửa sổ trái phía bên anh văng ra ngoài và rơi xuống biển. Từ từ lần mò, một tay lái một tay cởi áo giáp, áo bay và súng đạn một cách hết sức khó khăn. Lẽ ra anh phải nhờ Trung úy M. lái để có thời gian rảnh rang cởi bỏ những cái lỉnh kỉnh trước khi anh M. nhảy ra khỏi tàu. Nhưng bây giờ mọi chuyện đã xong rồi (kinh nghiệm này chắc không bao giờ tái diễn lần thứ hai). Anh đã sẵn sàng trong tư thế cuối cùng. Hải quân Mỹ cũng đã hạ phao cấp cứu, mọi việc xong xuôi. Họ đang chờ cách đó khoảng 200 bộ. Anh đưa ngón tay cái lên trời, ra dấu sẵn sàng. Những cánh quạt to lớn quay vù vù, đan vào nhau ở phía trên đầu, như những thanh long đao bén nhạy. Nếu sơ hở trong đường tơ kẽ tóc, có thể thân xác sẽ trở thành những miếng thịt bầm vụn nát, làm mồi cho cá biển. Sự thật tất cả phi cơ CH47 của phi đoàn hầu như không có đủ điều kiện để đáp xuống nước như khi đang học ở trường huấn luyện Fort Rucker, vì nước sẽ tràn vào trước khi cánh quạt ngưng quay.Do đó chỉ còn làm Ditching mà thôi. Anh đưa mắt kiểm soát lại lần cuối: các đồng hồ phi kế, rotor RPM, v.v… tất cả đều tốt đẹp, trong vòng an toàn. Anh đẩy nhẹ cần lái về phía trước và sang bên phải, cùng lúc chân phải đạp vào pedal, chiếc Chinook ngoan ngoãn trườn tới trước và dạt về hướng phải, cùng lúc đó anh nhanh nhẹn phóng mình ra cửa sổ bên trái và rớt xuống biển. Anh cố lặn sâu xuống nước, nhưng nước biển mặn cứ đẩy anh trồi lên trên mặt biển. Anh cố mở mắt nhìn phi cơ, lúc này nó như một con khủng long đang cuồng nộ giận dữ, cánh quạt chặt ầm ầm trên mặt biển, thân xác khổng lồ của nó còn đang đu đưa, giãy dụa chưa chịu chìm.

Anh cố gắng lặn trở lại, vì chỗ phi cơ rớt không xa lắm, cánh quạt có thể gãy văng ra như miểng bom, giết người một cách dễ dàng. Độ vài chục giây sau, anh lại trồi lên mặt nước. Bây giờ tất cả đều yêm lặng, phi cơ chưa chìm hẳn, vẫn còn nổi lấp xấp trên mặt nước. Vừa lúc ấy thuyền cấp cứu của Hải Quân Mỹ cũng vừa chạy tới vớt anh lên. Khi bước lên boong tàu, anh chỉ còn quần đùi và chiếc áo thun mặc trên người. Không biết người thủy thủ nào đó thấy thương hại anh đã cho anh một chiếc áo mưa bằng plastic màu vàng để choàng vào cho đỡ lạnh. Sau đó viên thuyền trưởng đến bắt tay anh, cám ơn sự bình tĩnh của anh đã đưa được những hành khách xuống tàu một cách an toàn và xin chụp ảnh lưu niệm.

Một chuyến bay sau cùng của đời binh nghiệp, một sự đóng góp, hy sinh của một thời trai trẻ cho quốc gia dân tộc. Anh luôn luôn có một hoài bão và ước vọng là đất nước Việt Nam được sớm thanh bình, hạnh phúc. Rồi kết quả sau cùng thật chua chát, đắng cay. Gia tài của mẹ Việt Nam, anh đã mang theo một vợ 3 con, chiếc quần đùi và cái áo thun ba lỗ!

Nghĩ lại anh em trong đơn vị, phi đoàn 237 Lôi Thanh, anh rất hãnh diện là đã làm tròn bổn phận của một cấp chỉ huy sau cùng. Anh không lừa phỉnh, bỏ đơn vị để trốn tránh anh em, lo cho riêng mình. Ngay cả đến giờ phút cuối cùng, anh cũng đã tự nguyện hy sinh như một thuyền trưởng để cho người khác được an toàn tính mạng. Anh không thích tự đề cao mình, nhưng chính đó là sự thật. Anh cũng không muốn nhắc đến tên tuổi những anh em đã bỏ hợp đoàn trốn đi trước. Anh nghĩ rằng vì quá sợ hãi cho tính mệnh và gia đình mình nên anh em mới có hành động ngoài ý muốn như vậy.

Anh không quên cám ơn Thượng sĩ C, thượng sĩ M. và Trung úy L. đã cùng anh bay trở về Phú Lâm để rước vợ con anh trong phút chót. Cũng xin cám ơn Đại úy S. Nếu không có anh xin đáp xuống Mỹ Tho, thì có lẽ vận mệnh của chúng ta đã đổi khác nhiều. Anh cũng cám ơn Trung úy K. và tất cả anh em phi hành đoàn đã thi hành nhiệm vụ mà quân đội đã giao phó cho đến giờ phút cuối cùng.

KQ Nguyễn Văn Ba, Seattle, WA.

Những Chuyến Về Cố Hương Không Mong Đợi

dongsongcu.wordpress.com

Kalynh Ngô

Posted on August 10, 2025 by dongsongcu

08/08/2025

Post by Sơn râu 13 Aug 2025

Ảnh: Khi đón người bị trục xuất ở phi trường Tân Sơn Nhứt, Ba Lô Project trao cho mỗi người một ba lô, trong đó có các vật dụng cá nhân cần thiết, một điện thoại có sim, và $50. (Hình: Ba Lô Project)

PHẦN 2: TRỞ VỀ SAU 30 NĂM VỚI COLLECTIVE FREEDOM VÀ ‘BA LÔ PROJECT’

LTS:  Trong Phần 1 – “Trục Xuất Lúc Nửa Đêm” – Việt Báo đã tường thuật câu chuyện của ông X. Nguyễn, cư dân của Santa Ana, đến Mỹ từ năm 1990, bị bắt giữ khi đi gia hạn thẻ làm việc và bị trục xuất về Việt Nam mà gia đình không hay biết.

Trong phần 2, Việt Báo phỏng vấn Giáo sư Thảo Hà, người sáng lập Collective Freedom, và Lê Bảo Cát của Ba Lô Project (BLP) – hai tổ chức phi lợi nhuận giúp đỡ người bị trục xuất khi họ về đến Việt Nam.

*

Tân Sơn Nhứt sau 30 năm

Ông X. Nguyễn bị trục xuất vào sáng sớm của một ngày trong tháng Tư. Cuối ngày hôm đó, vào lúc 5 giờ chiều, cô K. Nguyễn bay về Sài Gòn.  Cô đến phi trường Tân Sơn Nhứt sau chuyến bay trục xuất anh cô khoảng một ngày.

“Khi đến Tân Sơn Nhứt, họ đưa anh tôi và mấy người bị trục xuất một lối đi đặc biệt để vào nơi làm thủ tục hải quan. Họ phỏng vấn, lăn tay, làm giấy tờ. Rồi họ đọc tên từng người, nếu có thân nhân, họ sẽ dắt ra cổng, bàn giao lại cho người nhà. Với ai không có thân nhân, nhưng có tên trong danh sách của Ba Lô Project (BLP) thì tình nguyện viên của nhóm sẽ nhận. BLP cho mỗi người một ba lô, trong đó có những vật dụng cá nhân cần thiết, một điện thoại có sim sẵn và $50”, cô K. kể.

Người nào không có thân nhân, không có tên trong danh sách giúp đỡ của BLP, thì chính quyền địa phương nơi họ từng sinh sống trước khi rời Việt Nam sẽ ra đón. Những người bị trục xuất khi về đến Việt Nam nhận một hộ chiếu và thẻ căn cước công dân có thời hạn sáu tháng. Theo cô K. mô tả, hộ chiếu đóng dấu ở San Francisco, “có nghĩa là khi anh tôi lên phi cơ thì giấy tờ trục xuất đã sẵn sàng hết,” cô nói.

Một tuần sau, hai anh em cô ra phi trường để đón nhóm “hồi hương” kế tiếp. Lần này, cô tận mắt chứng kiến những hình ảnh mà với cô là “không thể hình dung được.” Cô K. kể lại ngày hôm đó:

“Tôi ra phi trường với anh tôi và một người của BLP. Có những người khi đi ‘report’ bị bắt, họ chỉ mặc quần ngắn, áo sơ mi, thêm cái áo khoác. Có người lại bị còng tay phải lấy áo khoác che lại. Bà con đi đón thân nhân nhìn vào thì sẽ không thấy sự khác biệt. Nhưng, có điều này mình để ý, vì không có túi xách gì cả, nên họ bỏ quần áo tù màu cam vào trong cái túi lưới dùng đựng quần áo dơ khi ở trong tù. Họ xách trên tay như thế cùng với một tập hồ sơ đi từ Mỹ về Việt Nam. Nhìn tội lắm.”

Cuộc đón tiếp giữa những người xa lạ nhưng cùng cảnh ngộ kết thúc ở một quán phở gần phi trường. Nơi đây, cô chứng kiến hình ảnh xúc động của một thanh niên khoảng 30 tuổi, rời Việt Nam khi còn bé và đây là lần đầu tiên anh quay về. Cô K. tạm gọi tên anh là A.

“Cậu A. không nói được tiếng Việt, hỏi mượn tôi điện thoại để gọi báo tin về cho mẹ ở Texas, ‘vì mẹ em không biết em về Việt Nam.’ Tôi nghe mà rớt nước mắt,” cô K. kể.

Gia đình của A. định cư ở Texas từ khi đến Mỹ. Sau này anh đi nơi khác làm ăn, rồi dừng chân ở Bolsa. “Xảy ra chuyện ở Bolsa, rồi sau đó em ở lại Bolsa đến bây giờ,” cô K. thuật lại lời cậu A. “Vì không thường xuyên gọi về cho gia đình nên mẹ cậu ấy cũng không biết cậu bị ICE bắt giữ một tháng qua.”

“Tôi gọi về Texas theo số điện thoại cậu A. đọc rồi đưa máy cho cậu ấy. Cậu ra gốc cây đứng nói chuyện với mẹ. Tôi đứng gần đó, canh chừng sợ người ta giựt điện thoại. Hai mẹ con nói chuyện một tiếng đồng hồ. Thấy cậu rơi nước mắt tôi thật xót xa.”

Tô phở thơm lừng, nóng hổi – bữa ăn ngon đầu tiên trên đất mẹ – là chút an ủi ấm lòng do nhóm BLP mang tới cho những người vừa trở về sau những tháng bị giam giữ. Ăn trong lặng lẽ, nhiều người rưng rưng, như thể họ vẫn chưa hiểu được mình đang ở đâu. BLP đưa họ về nhà nghỉ, mỗi phòng hai, ba người. Theo lời cô K., nhóm đã cố tình chọn nơi tạm trú gần khu thị tứ để thuận tiện cho việc ra ngoài mua sắm, nhất là những món đồ cá nhân căn bản cho cuộc sống đời thường mà họ phải bắt đầu lại từ đầu.

“Có người sang ngày hôm sau hỏi chỗ đi cắt tóc để đến chào người bà con của gia đình. Rồi họ rủ nhau đi vô chợ. Ai cũng không có tiền, chỉ có $50 của BLP đổi ra tiền Việt, vậy mà thấy người ăn xin bên đó họ lấy tiền ra cho, còn nói sao ở Mỹ cũng có homeless xin tiền mà không thấy xót như cảnh ở đây,” cô K. kể.

Sau ngày hôm đó, những người này vừa phải hòa nhập vào một Việt Nam quá xa lạ, vừa phải lo những giấy tờ pháp lý để bắt đầu trang đời mới. Nước Mỹ để lại sau lưng. Hiện tại và phía trước của họ là Việt Nam.

Trong khi đó, Collective Freedom và Ba Lô Project lại tiếp tục công việc, lại chuẩn bị “ba-lô” giúp đỡ cho những những trường hợp kế tiếp.

Collective Freedom và Ba Lô Project

Tháng Giêng, 2025, với các sắc lệnh hành pháp của chính quyền mới, nhiều thế hệ trẻ ở Mỹ nhận thấy xã hội bắt đầu bị ảnh hưởng, như y tế, di dân, tị nạn, giới tính… Trong đó có Lê Bảo Cát, một người làm về di trú, ở North Carolina. Cô chia sẻ với Việt Báo:

“Như nhiều người thuộc thế hệ của mình, tôi nhận thấy có một cuộc tấn công, không chỉ vào quyền lợi, mà còn vào chính bản sắc của chúng ta, của cả một thế hệ, của một cộng đồng. Chúng ta đã thấy điều đó trên quá nhiều mặt trận. Rồi những cuộc trục xuất diễn ra, cũng như nỗi sợ bao trùm. Mỗi sáng thức dậy là những tin trong nước, rồi ở Gaza, cơ thể tôi bị phản ứng sinh học, như bị đóng băng. Tôi phải chọn giải pháp, phải làm gì đó, tập trung vào nó, để tất cả chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Và tôi nghĩ chính là giây phút đó, như có một lời gọi, hãy làm gì đó, hãy ‘thu dọn hành trang’”

Và đó là thời khắc BA LÔ PROJECT ra đời. Cái tên Ba Lô, vốn tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa. Cũng là “backpack – ba lô” nhưng nó không lạnh lùng, băng giá như tiếng nhắc nhở của quản giáo Adelanto Detention Center, “pack your backpack”. Nó chứa đựng tất cả những gì gọi là tình người, và sự hy vọng.

“Chúng tôi gọi là Ba Lô là có ý nghĩa như thế. Bạn có thể không thích cái tên đó, hoặc không thích việc đưa cho ai đó vài bộ đồ lót, cái áo, kem đánh răng, để họ có một chút gì phẩm giá của người bị trục xuất khi họ ra khỏi trại giam giữ. Tôi không quan tâm người đó là ai. Tôi chọn làm việc mà tôi có thể làm. Thế là hồi Tháng Tư, tôi và Jennifer Huỳnh ngồi với nhau, cùng với 13 người nữa. Ba Lô Project ra đời,” Lê Bảo Cát kể lại qua điện thoại.

Nhóm BLP chính thức hoạt động từ Tháng Tư 2025. Các thành viên làm việc theo hình thức “truyền miệng.” Có khi chính những người bị bắt giữ giới thiệu với người cùng nhà giam tìm đến BLP. Do đó, không phải tất cả những ai bị trục xuất đều có thể có tên trong danh sách hỗ trợ của BLP.

Để có tên trong danh sách được BLP đón ở phi trường, gia đình của người bị trục xuất, hoặc chính người đó sẽ liên lạc với BLP hoặc tổ chức COLLECTIVE FREEDOM do Giáo sư Thảo Hà, giảng dạy Xã hội học và Tư pháp Hình sự của trường MiraCosta College, sáng lập. Cô thành lập Collective Freedom năm 2024, từ ngân sách giải thưởng cô nhận được “2024 Nancy Jamison Fund for Social Justice” – với mục đích hỗ trợ luật pháp và nhập cư, những người bị ảnh hưởng bởi trở ngại pháp lý trong hành trình tái hòa nhập cộng đồng.

“Khi nói về trục xuất, thì sự chia cách gia đình là vấn đề đau buồn nhất của những người đó. Những người ngày xưa phạm tội, rồi vào tù, rồi bây giờ bị trục xuất. Họ nghĩ đến cái hiếu với cha mẹ chưa trả được. Họ lo lắng không biết ai sẽ chăm sóc cha mẹ già, hoặc gia đình, con cái của họ. Đó là vấn đề tinh thần họ phải đối diện,” Thảo nói.

Thỉnh thoảng cuộc nói chuyện qua điện thoại với Thảo Hà bị gián đoạn vì cô cần trả lời điện thoại của gia đình người đang bị giữ trong trại giam chờ ngày trục xuất hoặc của người gọi ra từ trại giam.

“Có một trường hợp tôi từng giúp. Người này bị Ice bắt ngay ở trạm xăng, khi anh đang trên đường đến đám tang của người cha. Gia đình chờ anh đến lễ tang nhưng không thấy, đã gọi cho tôi nhờ tìm giúp.”

Theo phúc trình của cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE), năm 2017, chính quyền Tổng tống Trump đã trục xuất 71 người về Việt Nam. Từ đầu năm 2025, với chính sách di dân trục xuất hàng loạt của thời Trump 2.0, Sở Di Trú Hoa Kỳ đã trục xuất khoảng 300 người Việt ở Mỹ. Hiện tại, Thảo Hà nói, có khoảng gần 400 người Việt đang bị ICE bắt giữ.

BLP sẽ đón người bị trục xuất ở phi trường Việt Nam, trao cho mỗi người một ba lô. Họ được thuê chỗ lưu trú ngắn hạn, được hướng dẫn làm giấy tờ lưu trú ở Việt Nam như thẻ căn cước, hộ chiếu vì họ chỉ có trong tay hộ chiếu sáu tháng. Giáo sư Thảo Hà nói:

“Với hộ chiếu tạm, bạn không thể làm được gì ở Việt Nam, không thể tìm việc làm, không thể thuê nhà ở, không thể đi học… BLP sẽ hướng dẫn những người đó làm hồ sơ để có căn cước công dân Việt Nam.”

Khi kể về trường hợp của anh mình, cô K. có nói rằng với tấm thẻ căn cước và hộ chiếu sáu tháng, anh cô không thể mua hoặc thuê xe gắn máy. Do đó, đi bộ, xe công cộng, là phương tiện duy nhất của họ.

Sự giúp đỡ này, như tâm sự của Thảo Hà, không chỉ là những vật dụng cụ thể, mà còn là một giá trị khác về tinh thần. Những người về đến Việt Nam sau hơn ba thập niên, khác biệt với văn hóa, ngôn ngữ, họ bỡ ngỡ, bị áp lực về tâm lý. Sứ mệnh của BLP là giúp họ vượt qua những ngày tháng đầu xa lạ trên quê hương. Trong nhóm những người tình nguyện viên của BLP ở Việt Nam, có những luật sư hướng dẫn họ làm những thủ tục như mở tài khoản ngân hàng để gia đình có thể hỗ trợ tài chính. Collective Freedom và BLP tìm đến những nhà hảo tâm làm kinh doanh ở Việt Nam để nhận những người bị trục xuất vào làm việc khi họ đã có căn cước công dân.

Từ tháng Tư năm 2025 đến nay, BLP và Collective Freedom đã giúp khoảng 50 người bị trục xuất về Việt Nam. Mỗi người là một hoàn cảnh khác nhau. Trường hợp ông X. Nguyễn là một ví dụ cho một người có gia đình, anh chị em ở Mỹ. Ông có sự giúp đỡ vô điều kiện từ những người thân. Em gái của ông đã bay từ Mỹ về Việt Nam để bên cạnh ông những ngày đầu bỡ ngỡ. Nhưng rất nhiều người khác, không được may mắn đó.

Do đó, tùy hồ sơ, Collevtive Freedom và BLP quyết định có những hỗ trợ khác nhau về thời gian.

Có nhiều trường hợp mà khi ở Mỹ, họ không gia đình, không nhà cửa, từng phạm sai lầm, từng bị tù tội, cuộc sống của họ mỗi ngày là một màu u tối. Giáo sư Thảo Hà nói, cô đã nói chuyện rất nhiều với những người vô gia cư ở Bolsa đã bị bắt, chờ ngày trục xuất. Điều mà cô nhận được từ họ đó là, “họ chờ đợi ngày về Việt Nam,” Thảo nói. “Bị trục xuất về Việt Nam đối với họ như một cơ hội để họ bắt đầu lại từ đầu.”

“Những anh em bị trục xuất có những kỹ năng rất giỏi. Họ cần được hỗ trợ để phát triển nghề nghiệp. Tìm kiếm việc làm là một nhu cầu rất quan trọng với họ,” Bảo Cát cho biết. “Có một công việc để nuôi sống bản thân ở nơi không có thân nhân, dù là cùng ngôn ngữ Mẹ đẻ, là một phần rất quan trọng trong việc thích nghi và ổn định về cảm xúc lẫn tinh thần. Họ đã trải qua quá nhiều biến cố,” Bảo Cát nói.

Cuộc sống ở Mỹ đã là những cánh cửa đóng lại với những người này. Theo phân tích của Thảo Hà, họ không có cơ hội tẩy xóa đi vết chàm mà tay đã vướng phải. Không thẻ xanh, không quốc tịch, thẻ làm việc thì phải đi làm mới theo đúng hạn kỳ cũng là một trở ngại khi xin việc. Do đó, họ hy vọng về Việt Nam như một cánh cửa mở ra cho họ con đường mới.

Để họ có thể tự tin mở ra cánh cửa ấy, Collective Freedom và Ba Lô Project và sự giúp đỡ của cộng đồng chính là chìa khóa. Lê Bảo Cát nhắn gửi: “Tôi mong với sự giúp đỡ và thấu cảm của chúng ta, họ được thay đổi, ít nhất là họ không cảm thấy xấu hổ. Chúng ta ai cũng phạm sai lầm, không ai hoàn hảo. Con người ai cũng xứng đáng nhận cơ hội. Đây là cách chúng tôi hỗ trợ họ, trao họ một cơ hội thứ hai.”

“Nếu chúng ta cùng hiểu những người từng phạm sai lầm đó đã trả xong án tù, 10 năm, 15 năm, 20 năm…, tin rằng họ sẽ không phạm tội nữa, thì hãy cùng lan tỏa lòng trắc ẩn, sự cảm thông đến những cuộc đời,” Giáo sư Thảo Hà chia sẻ.

Kalynh Ngô

Hàng trăm người Việt đang mong đợi những vòng tay cho họ một cơ hội thứ hai trên mảnh đất quê hương đã trở nên quá xa lạ với họ. Đây là hai tổ chức đang hết lòng giúp đỡ và rất cần sự ủng hộ của cộng đồng.

1, Collective Freedom: https://www.collective-freedom.org

2. Ba Lô Project: Jennifer Huynh – Cat Bao Le – http://www.baloproject.org. Email: baloprogram@gmail.com

Nguồn: https://vietbao.com/a322903/nhung-chuyen-ve-co-huong-khong-mong-doi

Những Chuyến Về Cố Hương Không Mong Đợi

vietbao.com

01/08/2025

Kalynh Ngô

Post by Sơn râu 13 Aug 2025

Hình bài chính trang nhất

Ảnh ghép: 1. Trung Tâm Giam Giữ Người Nhập Cư ICE Tại Trại Giam Adelanto – Cơ sở này, là trại giam lớn nhất và mới nhất của Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (ICE) tại California, đang giam giữ trung bình 1.100 người nhập cư đang chờ quyết định về hồ sơ nhập cư của họ hoặc đang chờ trục xuất. (Ảnh: John Moore/Getty Images); và 2. Ảnh của  istockphoto.

Phần 1: Trục Xuất Lúc Nửa Đêm 

LTS:  Bất kể hiệp định ký kết giữa Hoa Kỳ và Việt Nam năm 2008 – những công dân Việt Nam đến Mỹ trước ngày 12 Tháng Bảy, 1995, không thuộc diện bị bắt buộc trục xuất về Việt Nam, trên thực tế, vẫn có nhiều người Việt tại Mỹ bất ngờ bị đưa về nước. Họ bị trục xuất trong âm thầm – không thông báo trước, không kịp chuẩn bị, và gia đình hoàn toàn không hay biết. Sau hơn ba thập niên xa quê, nhiều người không còn thông thạo tiếng Việt, không còn thân nhân tại quê nhà, và phải đối diện với muôn vàn khó khăn trong một xã hội đã quá xa lạ.

Việt Báo thực hiện loạt phóng sự độc quyền này, ghi lại lời kể của thân nhân những người bị trục xuất – những câu chuyện có thật, đầy bất trắc và u uẩn. Vì lý do an toàn cho các nhân vật đương sự, họ tên của nhân vật trong bài đã được thay đổi.

Tiếng gõ cửa lúc 3 giờ sáng

Ba giờ sáng của một ngày giữa Tháng Tư, cả hệ thống điện và điện thoại trong trại giam Adelanto Detention Center (California) đồng loạt bị ngắt. Bóng tối phủ trùm khắp các khu vực. Nhân viên trại giam đi từng khu vực, gõ cửa từng phòng, gọi tên “những người được chọn.” Mỗi phòng một, hoặc hai người bị gọi tên.

“Thu xếp đồ đạc của các anh” – lệnh được truyền đi vắn tắt, không giải thích.

Ông X. Nguyễn, cư dân của Santa Ana, đến Mỹ từ năm 1990, là một trong những người bị đánh thức được lệnh phải thu dọn đồ đạc.

Cùng với những người khác – không ai biết ai vì tất cả đèn đã tắt, trong bóng tối họ bị áp tải ra khỏi trại giam trong tình trạng tay bị còng, chân bị xích. Chỉ đến khi bước vào chiếc xe bít bùng, họ mới nhận ra nhau qua cùng tiếng Mẹ đẻ, mới biết mình không đơn độc – mà cùng những người khác cùng ngôn ngữ, cùng cố hương, cùng một chuyến đi không có ngày trở lại.

“Họ đưa anh tôi và những người trên xe đến tòa nhà INS (Immigration and Naturalization Service) ở Los Angeles. Lúc đó, mọi người bối rối nhưng rồi vui mừng vì tưởng rằng mình được đưa đến đây để phỏng vấn và sẽ được về nhà. Không một ai nghĩ đến chuyện bị trục xuất,” cô K. Nguyễn, em gái của ông X., thuật lại lời kể của anh mình.

Anh của cô và những người trên xe ngồi chờ đến khoảng 5, 6 giờ sáng thì được đưa vào bên trong tòa nhà. Lối đi như đường vào mật thất. Không ai nhìn thấy họ, và họ cũng không biết mình đang đi ở đâu. Cho đến khi nhìn thấy bên ngoài thì ai cũng nhận ra đó là nơi ngồi chờ ở phi trường LAX. Tuy nhiên không phải nơi ngồi chờ chuyến bay như những hành khách thông thường.

“Họ đi ra máy bay cũng bằng một lối đi đặc biệt. Khi tất cả đã lên phi cơ, nhân viên chính phủ đi theo thông báo ‘các ông đến San Francisco’” cô K. nói. “Trong người họ không có một giấy tờ tùy thân nào cả.”

“Họ nói với anh tôi, ‘ông vào đây như thế nào thì khi ra như thế.’ Khi anh tôi bị giam giữ, trong người có một kính mát, một điện thoại, một cái bóp có $700. Anh mặc quần jean, áo sơ-mi, mang giày. Họ trả tất cả những thứ đó cho anh tôi.”

Trước khi ra khỏi trại giam Adelanto Detention Center, California, những người này được cởi bỏ bộ quần áo màu cam để mặc lại quần áo của chính mình.

Một nhóm khoảng 6, 7 người bị áp giải đến đây, ngồi chờ trong im lặng. Người giám sát họ không phát thức ăn, nước uống. Mỗi người bị kèm bởi hai nhân viên ICE mặc thường phục. Không ai biết họ sắp đi đâu. Sau đó, nhóm được đưa lên một chuyến bay ngắn đến San Francisco. Tất cả vẫn nghĩ rằng họ đang đến INS trụ sở San Franciso để phỏng vấn ở lại Mỹ.

Tại phi trường San Francisco, sau một số thủ tục không rõ ràng, họ được đưa vào khu chờ lên máy bay cùng với hành khách dân sự. Lần đầu tiên trong suốt nhiều giờ, họ được tự do đi lại quanh khu vực gần đó, có thể mua nước uống và thức ăn. Một lúc sau, có thêm năm, sáu người nữa từ New Jersey, Texas và vài nơi khác được đưa tới nhập nhóm.

“Có những người trong nhóm không có tiền. Anh tôi có sẵn $700 trong người nên đã mua thức ăn cho họ. Từ 3 giờ sáng cho đến giờ đó, họ hoàn toàn không được ăn uống gì,” cô K. kể.

Đến tối hôm đó, nhóm khoảng mười người bước lên chuyến bay Vietnam Airlines, bay thẳng về Tân Sơn Nhứt. “Họ hoang mang, nhưng cũng có người mừng. Mừng vì sau hơn ba mươi năm, lần đầu tiên họ trở lại quê hương – dù là trở về trong cảnh bị dẫn độ,” cô K. nói trong tiếng nấc. “Thương lắm. Không ai kịp nghĩ đến những gì đang chờ họ bên đó.”

Một tháng trước đó

Một buổi sáng đầu tháng 3/2025, vợ chồng ông X. Nguyễn đi gia hạn “working permit” của ông. Vợ của ông ngồi chờ ngoài xe. Những năm trước, thời gian làm hồ sơ gia hạn không quá một giờ đồng hồ, gồm có chụp hình, lăn tay, và gia hạn thẻ làm việc.

“Lần này, vợ của anh tôi ngồi chờ một tiếng, hai tiếng, rồi ba tiếng vẫn không thấy trở ra. Chị chạy vào hỏi thì nhân viên yêu cầu chị về đi, ‘tôi không nghĩ là ông ấy về nhà hôm nay.”

Vợ của ông X. tiếp tục chờ ngoài xe. Đến khoảng 2 giờ chiều, bà trở vào hỏi một lần nữa. Sau khi tra cứu hồ sơ, một nhân viên di trú cho hay ông đã bị đưa vào trại giam.

“Gia đình tôi lúc đó không biết phải làm gì. Không ai nghĩ anh tôi sẽ bị bắt hay bị trục xuất. Khoảng 6 giờ chiều, cả nhà vào trang mạng của sở di trú, mới biết anh tôi đã bị đưa vào Adelanto Detention Center,” cô K. nói.

Cho đến ba ngày sau, gia đình ông X. mới nhận thông tin chi tiết về trại giam, số phòng giam, lịch hẹn có thể đến thăm. Mỗi lần thăm được một tiếng, giới hạn cho ba người. Theo lời của cô K. kể về thời gian vào thăm anh, những người bị đưa vào trại giam giữ rất hoang mang.

“Đặc biệt rất nhiều người Việt ở Bolsa bị giam giữ trong đó. Họ là những thanh niên trẻ, trung niên. Tôi hỏi những thân nhân đi thăm mới biết đa phần họ là những người đến đây trước năm 1995. Đáng nói ở chỗ họ là những người có công ăn việc làm đàng hoàng. Có những người bị đưa vào trại cùng ngày với anh của tôi, có những người trước đó một tháng.”

Ngay khi bị đưa vào Adelanto Detention Center, họ phải cởi bỏ những bộ quần áo đang mặc trên người để mặc vào “áo tù.” Màu áo dùng để phân biệt người hiện ở Mỹ (áo màu cam), người vượt biên leo tường biên giới thì màu khác. Khoảng một tuần sau đó, trại giam đưa họ vào những tòa nhà khác nhau, tuỳ tội trạng họ phạm phải trong quá khứ. Cuộc sống “tù nhân” bắt đầu, dù án tù họ đã thi hành xong từ rất lâu.

Qua lời kể của gia đình ông X. Nguyễn, cuộc sống trong Adelanto Detention Center, California, có vẻ không đáng sợ như những trại giam giữ khác ở Florida, hay Texas. Tạp chí The Guardian ngày Thứ Hai, 21/7/2025, dẫn phúc trình của Human Rights Watch, Americans for Immigrant Justice, và Sanctuary of the South cho biết, tại một nhà giam di trú ở Miami, những người di dân đã bị xiềng tay ra sau lưng và bắt quỳ gối cuối mặt xuống ăn cơm từ dĩa xốp “như chó.” Sự việc này chỉ là một trong nhiều ngược đãi xảy ra tại các nhà giam di trú đông đúc ở miền Nam Florida mà truyền thông mạng xã hội đã chỉ trích rất nhiều trong mấy tháng qua.

“Một ngày họ có ba bữa ăn. Thức ăn toàn là đồ Mỹ, không có thịt. Đây là những người đã ở Mỹ lâu rồi nên họ cũng thích nghi với những thức ăn đó. Có máy tự động bán mì gói. Mỗi người bị giam có một tài khoản để gia đình của họ bỏ tiền vào, dùng để mua thức ăn, nước uống, hoặc gọi điện thoại ra ngoài. Tuyệt đối không cho dùng tiền mặt. Mỗi ngày, sau giờ ăn sáng, họ được ra ngoài sân chơi thể thao,” cô K. nói.

Theo lời anh của cô kể, trong nhà giam rất lạnh, dù California đang vào mùa Hè oi bức. Một phòng giam khoảng ba, bốn người. Mỗi người một giường có nệm, gối. Họ được phát cho một túi màu cam, loại mà những người bán hàng rong bên vệ đường dùng để đựng trái cây. Cách vài ngày, họ bỏ quần áo dơ vào túi này, đặt trước cửa phòng để trại giam mang đi giặt.

Họ không biết được rằng, cũng chính chiếc túi sơ sài đó, một tháng sau sẽ là “hành lý” cho họ trở về cố hương.

Những lời hứa quanh co.

Theo lời cô K., trong hai tuần đầu tiên, anh của cô được thông báo rằng ông sẽ bị giữ lại đây ba tháng để chính phủ rà soát hồ sơ, nếu không sai phạm gì thì cho về nhà.

“Gia đình tôi hy vọng. Nhưng một tháng sau, anh tôi gọi về, nói anh cần những lá thư,” cô nói.

Trại giam yêu cầu gia đình gửi những lá thư do bạn bè, người quen viết, để khi xem xét lại hồ sơ của từng người, họ cần bằng chứng đây là người xứng đáng được cho về với gia đình. 

“Gia đình tôi viết thư tay, dán tem bảo đảm gửi vào, nhưng không được gửi cho anh tôi mà phải gửi trực tiếp cho người quản lý trại giam đó. Sau đó, mọi chuyện rất bình thường. Gia đình vào thăm. Anh tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Cho đến buổi sáng đó, một người bị giam cùng phòng với anh tôi gọi cho gia đình, báo là anh tôi đã bị đưa đi với những người khác mà không biết đi đâu,” cô K. nói.

Cho đến khi gặp lại anh mình ở Việt Nam, cô K. mới biết tất cả những lá thư đó còn nguyên vẹn, chưa từng được mở ra. Ngay cả lần khám sức khỏe gần nhất trước khi bị trục xuất, mãi sau này họ mới biết lý do.

“Anh tôi kể được đưa đi khám sức khỏe. Không những vậy, người của Lãnh sự quán Việt Nam đến gặp từng người, hỏi thông tin cá nhân. Sau này, anh tôi và những người bị trục xuất mới biết là để làm hộ chiếu Việt Nam,” cô nói. “Anh tôi nói tất cả đã có sự sắp xếp trước nhưng sở di trú không nói sự thật, mà ‘chỉ tìm cách để trấn an người bị giam giữ, chẳng khác nào cho họ liều thuốc để dỗ giấc ngủ ngon.’”

Việt Báo gọi đến ba số điện thoại ghi trên trang web của Lãnh Sự Quán Việt Nam ở San Franciso, nhưng không số nào có người trả lời. Chúng tôi cũng gọi đến trại giam giữ Adelanto Detention Center để hỏi thêm. Người trả lời máy đề nghị đọc số thẻ hoặc tên của người bị giam. Khi biết chúng tôi gọi để hỏi về vấn đề trục xuất, người này chuyển số máy đến phòng báo chí, nhưng bên kia đường dây là đề nghị để lại tin nhắn qua điện thoại.

Họ đã trả lỗi lầm của mình

Ngay khi nhận được tin anh mình bị trục xuất về Việt Nam, gia đình cô K. nhớ lại những lời kể của ông X. khi còn bị giam giữ để suy ra “anh tôi bị đưa về Việt Nam.” Chiều hôm đó, cô bay về Sài Gòn.

Cũng chính ở đây, cô K. tận mắt chứng kiến những hình ảnh hồi hương không mong đợi, những ánh mắt bỡ ngỡ, lo lắng khi đặt chân lên mảnh đất họ đã rời xa quá lâu, có những người không còn chút ký ức gì. Cô cũng biết đến một tình cảm gọi là tình đồng hương dù họ chưa từng gặp mặt nhau. Đó là The Ba Lô Project – một nhóm thiện nguyện ra đón những người không có thân nhân ở Việt Nam, và giúp đỡ cho họ trong những tuần lễ đầu tiên ở nơi mà từ nay, họ sẽ tập gọi là quê hương.

“Quá khứ của họ đã xong rồi, đừng nhìn về quá khứ nữa. Họ còn có gia đình, con cái. Vậy mà bị đưa đi không một lời từ giã, không một cái ôm. Dù là về đất Mẹ, nhưng đó là nơi hơn 30 năm, 40 năm họ chưa quay về và không còn thân nhân nào bên đó,” cô K. nói, xen lẫn là những quãng lặng nghẹn lời.

“Nếu ai có thân nhân phải đi trình diện hoặc gia hạn thẻ làm việc, đừng mang theo bằng lái, ID, hoặc bất cứ giấy tờ nào liên quan chính phủ, chỉ trừ tờ giấy gia hạn. Vì tất cả giấy tùy thân sẽ bị Sở Di Trú giữ lại hết. Hãy gửi cho người thân một vali nhỏ dạng carry-on, trong đó để vài bộ đồ, thuốc men cần thiết, quan trọng là đồ charge điện thoại,” cô K. ngỏ lời với cộng đồng.

Kalynh Ngô