Bông hồng tạ ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác giả Văn nghệ sỹ Việt Nam

Post by Sơn râu 16 Aug 2025

Tập II – Phần 3 & 4

Các tác giả Văn & Thơ

2. Bùi Giáng

Bùi Giáng đã được nói đến nhiều. Mỗi người đọc ông nói đến ông theo một cách. Người ta nói đến thơ ông, nói đến tư tưởng của ông, nói đến cách thế ông sống, tùy theo cách nhìn của mình.

Người ta nhìn thấy ở ông, rõ hơn, kiến thức của ông, tư tưởng của ông,

như một hội tụ lớn của tư tưởng Đông Tây. Người ta cũng nói đến ông như một người điên. Nếu ai đã có dịp nhìn thấy ông mang trên mình đủ các

thứ: nồi, niêu, soong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, vắt trên vai những miếng băng vệ sinh nhặt được ở đâu đó, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi, vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không có gì quá đáng.

Nhưng cũng người điên ấy, vai mang một tấm biển, đi rong qua các phố, trên tấm biển có những dòng chữ viết tay:

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân

Khi không anh bỗng nhẩy tưng lên trời

Thì nhiều người lại cho rằng đó là một người điên giả vờ. Một sự việc quan trọng như thế, một người Việt ‘đi dép lốp mà bay vào vũ trự’ như thế, mà nói tới một cách riễu cợt vậy sao?

Ông đã bị công an bắt giam.

Nhưng rồi sau đó người ta cũng thả ông ra, vì … ông điên! Và có lẽ vì điên nên ông không biết sợ, ông nói toáng lên những điều có người nghe rồi cười, có người không  muốn nghe, cả những điều người ta không dám lập lại dù là để báo cáo nữa!

Người ta cũng nhìn thấy ông, mặc bộ quần áo rằn ri của quân đội cũ, đứng trước cửa trường Đại Học Vạn Hạnh, nhìn các đám sinh viên nam nữ qua lại, mủm mỉm cười, bảo:

“Lịch sử bức bách tụi bay quá!”.

Còn rất nhiều những giai thoại liên quan tới Bùi Giáng, liên quan tới những cơn điên của ông, liên quan tới thơ ông?

Cũng vô lý như làn kia dưới lá

Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành

Lá cũng mất như một lần đã lỡ

Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh

Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở

Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình

Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa

Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng

Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa

Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư vô.

Đọc một lần, đọc hai lần những câu thơ ấy của Bùi Giáng, ai có thể cả quyết ông nói tới điều gì? Cái mất, cái còn, cái cổ xưa, cái cận đại, hồn nguyên

tiêu / Phượng Thành Hy Lạp úa / Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa / điển tích và những câu nói cửa miệng xen lẫn, bờ trùng ngộ là gì mà có cả một phen này phen nữa?

Đọc liền một lúc một bài thơ của Bùi Giáng, đọc một hơi mươi mười lăm câu thơ của ông, người ta có cảm tưởng ông đùa rỡn với một điều gì đó hết sức nghiêm trọng. Nhưng đã nghiêm trọng sao lại đùa? Đọc một hai câu thơ của ông thôi, có khi chúng ta lạnh mình, tựa hồ bị thổi tạt bởi một cơn gió rét không biết tự phương nào lại.

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời

Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Đất khóc, trời khóc hay người khóc? Nhưng khóc cái gì mới được chứ? Đất trời có vĩnh biệt đã vĩnh biệt lâu rồi, không còn gì để khóc. Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu. Hãy tưởng tượng một sớm hay một chiều nào đó, ta trở về quê cũ, ngẩng mặt trông những hàng cây, gió thổi lùa sương

từ cành này qua cành khác. Cành nói với lá. Lá nói với hư vô, nói với ta, hay chỉ vì gió lay nên cành động? Cố hương. Cố quận. Cố nhân tình. Mờ mờ, ảo ảo. Cảnh cũng là người và người cũng là cảnh, lẫn lộn trong

sương mù. Ta cười cợt, ta nghiêm chỉnh, ta nhớ quên, ta làm bộ hay

ta biết rõ, tất cả đều diễn ra cùng một lúc với cái chết. Cái chết như sương mù bôi xóa. Nhưng nghĩ như thế cũng có thể là nghĩ sai về thơ Bùi Giáng.

Hãy nghe ông nói về thơ ông:

“Thơ tôi làm ra là để tặng chuồn chuồn, châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi”.

Hoặc:

“Muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác”.

Ông còn bảo rằng:

“Kẻ nào tự xét mình từ trong tinh thể mà ra chả có chi là phiêu bồng tí chút thì chả nên cưỡng cầu tự ép uổng ghé vào thi ca thâm xứ mà chi”.

Như thế, Bùi Giáng vừa làm thơ vừa muốn đóng cửa thơ. Nguyễn Vy Khanh, trong một bài viết về thơ Bùi. Giáng cũng cho rằng “người ta đã viết nhiều về hành trạng Bùi Giáng hơn là thơ của ông”. Nhưng hành trạng sống của ông cũng là thơ ông. Thơ ông làm là để tặng chuồn chuồn châu chấu tại sao chúng ta lại lấy đọc rồi trách ông tư tưởng rời rạc, không có hệ thống?

Trữ tình chăng?

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

Hiện thực chăng:

Bây giờ em để quần đâu

Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?

Cười cợt chăng?

Que diêm que lửa que lời

Cõi trăm năm cũng một đời ba que.

Hai câu thơ vừa rồi rút trong bài ‘que diêm’ Bùi Giáng viết sau năm 1975.

Thơ Bùi Giáng như vậy. Ông không khóc nhưng hình như thơ ông có nước mắt. Ông cười cợt khi nói lời nghiêm trang. Ông nói với chính mình nhiều hơn với người khác. Về cái chết của mình ông đã để sẵn trong tập Mưa

Nguồn cách ngày ông qua đời mười năm mấy câu này:

Bùi Giáng là ai?

Một trung niên thi sĩ như ông vẫn tự gọi?

Một nhà thơ lớn của Việt Nam?

Hay giản dị: ông chỉ là một người điên?

Rất nhiều người, trong đó có cả những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học của chúng ta, đã thử trả lời câu hỏi ấy, nhưng hình như vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Mỗi người nhìn ông một khác. Người ta viết, nói về Bùi Giáng như một cách tự giải đáp những thắc mắc của mình về Bùi Giáng nhiều hơn là thơ của ông.

Và khi nói về thơ của ông dường như người ta lại nói về các giai thoại quanh ông, những điều bàn tán về ông nhiều hơn.

Nhưng nếu người ta đã có lần đọc Bùi Giáng, yêu  những bài thơ, những bài phiếm luận của ông liên quan tới thi ca, triết học, tôn giáo, chuyện tào lao dính tới BrigitteBardot, Kim Cương hay Mẹ Phùng Khánh của ông, thì người ta sẽ vô cùng thích thú vì thấy tất cả những điều đàm luận kia chẳng khác những tấm gương phản chiếu nhiều khuôn mặt của Bùi Giáng: cười cợt, đau đớn, nghiêm chỉnh, điên rồ Nhà thơ Huy Tưởng coi Bùi Giáng là “Thông tuệ và tài ba ngất trời điên đảo”.

Nhà văn Mai Thảo viết: “Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, trùng trùng một biển văn chương”.

Nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy cho rằng: “Đi cho tới cùng cái sâu thẳm nhất của ngôn ngữ tới đỉnh cao chót vót của nó sống với nó trong từng mỗi giây phút, trong từng mỗi sát na, xưa nay có lẽ chỉ mới có Bùi Giáng là một”.

Nhà văn Cung Tích Biền cho thấy một Bùi Giáng trong thơ và ngoài đời như sau:

“Sống giữa đời ông có khả năng lấy mật đắng, ớt cay làm ngọt. Ăn cơm để thiu rất nhiều ngày. Ông ăn chè ngọt nấu cả với tương chao, nêm vài con mắm. Ông nổi tam bành lúc người đời lẽ ra nên cười, được phúc, đắc lợi. Ông rất vui với những ngày chói lòa ánh dương trong một thị thành mà

nhìn xe cộ tưởng hươu nai. Ông lạ trong sinh hoạt đời thường, lạ trong thi ca, tư tưởng. Ông rất đỗi cô đơn, tự đọa đầy, vầy cuộc chơi múa  hát chỗ vô thanh, đùa giỡn quỷ thần, tương đắc kẻ ở mộ, nhớ những người sẽ tới. Ông trào lộng tuyệt cùng giữa bi đát. Nói chung, cuộc sống của ông khá bí ẩn và kỳ dị”. Như thế, có vẻ như người ta không tiếc lời ca ngợi Bùi Giáng.

Nhưng cũng không thiếu những người nghĩ khác.

Chẳng hạn như Thụy Khuê. Thụy Khuê viết:

“Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng đã để lại hàng ngàn bài, có  những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của

Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du ban đầu làm xao xuyến người đọc … Nhưng vì lập lại nhiều lần, chúng bị phá giá”.

Còn Trần Hữu Thục trong một bài nhận định của mình đã viết rằng:

“Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay, chưa hẳn là rất hay, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ của ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngây ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò”.

Xin trích dẫn mấy câu lục bát của Bùi Giáng:

Giật mình lúc chợt nghĩ ra

Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi

Có những câu ta thật sự không hiểu ông định nói gì:

một hôm gầu guộc gầm ghì

hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm

Xen vào đấy là những câu có thể làm chúng ta rởn người khi đọc:

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời

Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu

Hoặc chỉ một câu thôi đủ làm chúng ta ngẩn ngơ:

Còn hai con mắt khóc người một con

Bùi Giáng điên thật chăng?

Người ta kể lại rằng, một cán bộ cao cấp của Hà Nội khi gặp Bùi Giáng đã nói, họ đánh giá cao những tác phẩm của ông, nhưng muốn rằng Bùi Giáng phải thay đổi cách suy nghĩ, phải tỏ ra tiến bộ mới có thể làm việc trở lại được, hiểu theo nghĩa mới được “phép” viết lách trở lại. Bùi Giáng đã đứng dậy chỉ vào mặt người này, hỏi lại:

– Thế nào là tiến bộ? Trời đất có bắt núi non tiến bộ không? Nếu núi non tiến bộ mãi mày đi đâu mà ở?

Đó có phải lời nói của một người điên chăng? Đây là một giai thoại bịa đặt hay có thật?

Trở lại với thơ Bùi Giáng. Hình như ông không làm thơ theo quan niệm, theo cái cách người ta thường nghĩ. Ông rũ bỏ thơ ra khỏi mình như những bụi bậm, như một oan nghiệp.

Mai Thảo mất trước Bùi Giáng.

Trước khi chết Mai Thảo có để lại bốn câu thơ:

Và ở Sài Gòn vẫn còn Bùi Giáng

Tối tối về chùa, đêm làm thơ

Ngày ca múa, khóc cười giữa chợ

Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi

Hai người có gặp lại nhau chăng?

Nếu có, họ sẽ nói gì với nhau nhỉ?

Thanh Tâm Tuyền gọi Bùi Giáng là “một thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca hiện đại”.

Nguyễn Hưng Quốc coi “thơ Bùi Giáng là những phún xuất thạch phun lên từ hỏa diệm sơn của hồn ông”.

Nguyễn Hoàng Văn cho rằng “thơ ông [Bùi Giáng] là khối trầm hương chữ nghĩa”.

Còn Bùi Giáng tự nói về mình thế này:

Miệng anh còn đủ lưỡi môi

Mà răng rụng hết lấy gì nhe ra

Mím môi ôm mặt khóc òa

Hôn em một chút cho đỡ già nua thôi.

Tóm lại khó có một bức chân dung Bùi Giáng. Chỉ có một hình ảnh từa tựa. Ông là một bài thơ lạc vận và đôi khi thừa chữ.

Nails Việt & Olympic

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on August 16th, 2024

Post by Sơn râu 15 Aug 2025

Bộ móng tay được thiết kế rực rỡ với nền cờ Mỹ của lực sĩ điền kinh Sha’Carri Richardson trong lễ khai mạc, đã được giới truyền thông đăng tải và mạng xã hội lan truyền, bàn luận khắp nơi. Bộ móng tay tinh xảo và nghệ thuật này được giới ký giả và các tạp chí thời trang đánh giá là một trong những bộ móng tay đẹp nhất tại cuộc tranh tài Olympic năm nay. Mời các bạn cùng gặp gỡ Kelly Phan, nhà thiết kế cho bộ móng tay này.

Carri Richardson khoe bộ móng tay do Kelly Phan thiết kế   

Kelly Phan kể lại rằng, lần đầu tiên cô gặp Sha’Carri Richardson vào tiệm làm móng tay của mình tại Orlando, Florida, cô chưa hề biết cô gái thân thiện và bình dân này là ai, cho đến khi vài khách hàng đang có mặt trong tiệm nhận diện và xin chụp ảnh với Sha’Carri.

Kelly vào google để tra tên vị khách, té ra Sha’Carri Richardson, 24 tuổi là một ngôi sao trong làng điền kinh Mỹ và thế giới, từng vô địch thế giới chạy 100m trong năm qua và vừa mang về một huy chương bạc cá nhân (100m) cùng một huy chương vàng đồng đội (4x100m) cho đội tuyển Mỹ tại giải Olympic 2024 vừa qua.

Kể từ đó, mối quan hệ khách hàng trở nên gắn bó hơn khi Sha’Carri rất thích thú với các mẫu thiết kế móng tay của Kelly Phan. Vài năm qua, Kelly Phan trở thành một trong những nhà thiết kế móng tay cho Sha’Carri, dù lực sĩ này ở tận Dallas của tiểu bang Texas. Trước khi sang tham dự Olympic tại Paris năm nay, Sha’Carri đã đặt Kelly làm 6 bộ móng tay cho mình nhưng vì vấn đề thời gian, Kelly chỉ thực hiện được 4 bộ press-on, một kiểu móng giả được thiết kế trước và người sử dụng chỉ mang hay dán vào.

Kelly Phan.

Cho đến tuần qua, dù có đến 4 nhà thiết kế móng tay khác nhau và Kelly là người gốc Việt duy nhất nhưng Sha’Carri đã mang đến 3 bộ móng do Kelly thiết kế. Những bộ móng này được các ký giả ngoại quốc chú ý và đăng báo, trong đó có bộ móng cờ Mỹ mà Sha’Carri mang trong lễ khai mạc đã nói bên trên.

Đến Mỹ năm 2010 khi đang học đại học năm thứ nhì về thiết kế thời trang, Kelly Phan với tên Việt là Phan Thị Mỹ Lệ đã có sẵn sự yêu thích và nền tảng về mỹ thuật. Sau một thời gian đầu tại Mỹ, Kelly nhận ra rằng nghề Nails không chỉ là sinh kế và dịch vụ chăm sóc, làm đẹp cho khách hàng mà còn là một nghệ thuật khi mỗi bộ móng tay được thực hiện như một tác phẩm nghệ thuật. Kelly bước vào nghề Nails từ 15 năm qua và hiện đang làm chủ 2 tiệm Nails tại Orlando với tâm thức đó.

Điều này có lẽ đúng với Kelly Phan.

4 bộ móng tay do Kelly thiết kế cho Sha’Carri Richardson

Hiểu được tính cách và sở thích thẩm mỹ của Sha’Carri Richardson, Kelly đã thiết kế 4 bộ móng tay mang các ý nghĩa khác nhau để Sha’Carri mang sang Paris.

Bộ thứ nhất với nền màu cờ Mỹ, bộ móng mang chủ đề dành cho Team USA mang sự tự hào và thời trang Mỹ. Bộ thứ nhì lấy màu sắc của lá cờ Olympic ngũ sắc làm chủ đạo nên rất rực rỡ và đầy lóng lánh theo sở thích của Sha’Carri. Bộ thứ ba, Kelly trả lời rằng sau khi đã sử dụng hầu hết màu sắc cho các bộ trước, cô sử dụng màu tím làm nền chủ đạo nhưng vô tình lại trùng hợp với đồng phục màu tím của đội tuyển điền kinh Hoa Kỳ được hãng Nike thiết kế. Và bộ màu vàng chủ đạo cuối cùng mang ý nghĩa về huy chương vàng tại Olympic, là mục tiêu nhắm đến cho Sha’Carri và đoàn Mỹ nói chung. Mỗi bộ móng này Kelly cho biết được thực hiện khoảng từ 3 đến 5 giờ đồng hồ, không kể việc chỉnh sửa hay thay đổi thiết kế nếu cô chưa cảm thấy hài lòng với một hay vài móng tay nào đó.

Các bộ móng tay công phu và tinh xảo này không phải chỉ nhận toàn lời khen ngợi về phong cách thời trang của Sha’Carri mà một số khán giả cũng nghi ngại rằng, mang móng tay dài như vậy là thiếu thích hợp trong các cuộc tranh tài thể thao như Olympic. Là nhà thiết kế, Kelly bảo rằng trang phục có thể làm người ta cảm thấy hài lòng về bản thân và tăng thêm sự tự tin, mà sự tự tin vốn là yếu tố cần thiết trong các cuộc tranh tài. Tại vòng chung kết cuộc đua tiếp sức 4x100m nữ, Sha’Carri cũng mang một bộ móng tay dài và là lực sĩ chặng nước rút cuối cùng để giúp đội tuyển Mỹ chiếm được huy chương vàng.

Sha’Carri Richardson khoe móng tay trên Instagram

Hãng Nike, hãng bảo trợ cho Sha’Carri Richardson trong vài năm qua cũng đặt Kelly Phan thiết kế các bộ móng tay phù hợp với các trang phục và giày Nike mà Sha’Carri mang để quảng cáo cho Nike. Được một tập đoàn thể thao hàng đầu chú ý và đặt hàng thiết kế cũng là một thành công cho Kelly Phan.

Trò chuyện cùng chúng tôi, Kelly cho biết một vài tờ báo Pháp và Canada cũng đã liên lạc và phỏng vấn cô sau khi các bộ móng tay do Kelly thiết kế cho Sha’Carri nhận được sự chú ý và khen ngợi tại Paris, cũng như được tạp chí thời trang Fashion nêu tên là nhà thiết kế móng tay cho Sha’Carri Richardson.

Trong bài báo “Tippi Hedren, mẹ đỡ đầu nghề Nails người Việt” vào tháng Chín năm 2011, chúng tôi từng viết về lịch sử ngành Nails của người Việt. Khởi đầu từ sự giúp đỡ người tị nạn Việt Nam từ nữ tài tử Hollywood là Tippi Hedren vào năm 1975, nghề Nails lan rộng khắp nước Mỹ rồi khắp thế giới trong cộng đồng người Việt. Sau gần 50 năm, người Việt hầu như đã nắm giữ phần lớn dịch vụ làm móng tay trong một kỹ nghệ 8.6 tỉ đô la tại Hoa Kỳ và có nguồn nhân công đến gần 400 ngàn người, bao gồm các lãnh vực dịch vụ, sản xuất, cung cấp và phân phối liên quan đến nghề Nails, theo các số liệu từ World Metrics.

Câu chuyện của Kelly Phan là một sự thành công nghề nghiệp cá nhân và là một câu chuyện riêng biệt trong nghề Nails của người Việt tại Mỹ, nhưng đồng thời nó đã gây sự chú ý đến nghệ thuật nghề Nails nói chung. Từ một nghề sinh nhai, nghề Nails đang định hình một mục tiêu mới khi nhắm đến các thiết kế nghệ thuật sáng tạo và ý nghĩa, là điều Kelly Phan đã thực hiện cho nhà vô địch Olympic Sha’Carri Richardson.

Sha’Carri Richardson, huy chương vàng đồng đội (4x100m) cho đội tuyển Mỹ tại giải Olympic 2024 – nguồn washington Post

ĐYT

Mật vụ nhiệm vụ bất khả sai lầm

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

February 1st, 2021

Post by Sơn râu 15 Aug 2025

Ngay những ngày huấn luyện đầu tiên, những nhân viên được tuyển chọn sẽ tham gia vào cơ quan mật vụ được ghi tâm phương châm của nghề nghiệp sẽ theo đuổi là: “A zero-fail mission”- nhiệm vụ bất khả thất bại, nhiệm vụ tuyệt đối không sai sót, sai lầm. Bất luận là tổng thống, chính khách Cộng Hòa hay Dân Chủ, họ được bảo vệ tối đa theo những nghiệp vụ an ninh cẩn trọng nhất có thể.

Nghề nghiệp âm thầm, nguy hiểm và đầy áp lực, đây là một trong những công việc liên bang khó khăn nhất để được tuyển chọn. Các ứng viên hầu hết đã tốt nghiệp đại học hay cao học, hoặc từng là nhân viên công lực tiểu bang hay liên bang. Theo cơ quan Mật Vụ, tỉ lệ được thu nhận là 1% sau khi những ứng viên đã qua được các cuộc kiểm tra nhân thân gắt gao kéo dài hàng năm trời, các cuộc phỏng vấn nhiều người, sát hạch thể lực, kỹ năng và khả năng cùng các cuộc thẩm vấn, các cuộc kiểm tra nói dối bằng máy (polygraph).

Những người được chọn sẽ được huấn luyện ba tháng tại trung tâm huấn luyện nhân viên an ninh liên bang hoặc tại New Mexico hay Georgia, sau đó sẽ về trung tâm huấn luyện mật vụ riêng biệt James J. Rowley tại Maryland để đi sâu vào các nghiệp vụ của mật vụ. Họ sẽ còn tiếp tục được huấn luyện khi đã chính thức tham gia vào cơ quan mật vụ. Nhiệm vụ và mục đích hàng đầu của họ là để bảo vệ sự an toàn, đưa yếu nhân được bảo vệ thoát hiểm chứ không phải để rượt đuổi, truy bắt kẻ tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan an ninh khác.

Nhân viên mật vụ Hoa Kỳ trong công tác huấn luyện – nguồn United States Secret Service

Một số ký giả, như tờ Business Insider đã từng được phép thực hiện các phóng sự ngay tại trung tâm huấn luyện nhưng họ không được phép phỏng vấn hay hiện diện trong các huấn luyện phương pháp và nghiệp vụ bí mật dành cho các mật vụ này.

Ðược xem là cơ quan mật vụ hàng đầu thế giới, các nhân viên này trải qua các khóa huấn luyện đầy thử thách, theo tiêu chuẩn các lực lượng tinh nhuệ của quân đội. Kỹ thuật ngày càng tân tiến và sự xuất hiện của mạng xã hội đã buộc nhiệm vụ các mật vụ ngày càng khó khăn trước các âm mưu tấn công tinh vi, sử dụng kỹ thuật cao như loại thiết bị bay drone điều khiển từ xa. Họ phải liên tục thụ huấn về kỹ thuật cao, các theo dõi xu hướng và thông tin trên mạng xã hội ngay tại quốc gia sở tại mà tổng thống sẽ công du.

Ra đời năm 1865, Cơ Quan Mật Vụ Hoa Kỳ – US Secret Service (SS) là một trong những cơ quan an ninh lâu đời nhất của Mỹ và trực thuộc Bộ Ngân Khố, được thành lập với nhiệm vụ chống lại tiền giả, bảo vệ hệ thống tài chính Hoa Kỳ trong những ngày đầu bởi sau cuộc nội chiến, một phần ba nguồn tiền mặt lưu hành tại Mỹ là tiền giả.

Nhân viên mật vụ Floyd Boring tại Blair House và tên sát thủ Collazo bị thương trong vụ tấn công Tổng thống Truman- nguồn ghostsofdc.org

Năm 1902, sau cuộc ám sát Tổng thống William McKinley năm 1901, Quốc Hội mới yêu cầu SS bảo vệ tổng thống và lúc bấy giờ cũng chỉ có hai cận vệ mà thôi. Sau vụ tấn công Tổng thống Truman, Quốc Hội lại lần nữa ra luật cho SS chính thức bảo vệ gia đình tổng thống, phó tổng thống cùng tổng thống đắc cử. Các âm mưu tấn công hay ám sát tổng thống đã buộc Quốc Hội liên tục thay đổi các đạo luật để bảo vệ tổng thống cùng các yếu nhân chính phủ cũng như các lãnh đạo thế giới công du Hoa Kỳ cùng các sự kiện quốc gia quan trọng, đưa vai trò và trách nhiệm của cơ quan Mật Vụ ngày càng quan trọng hơn.

Các tổng thống mãn nhiệm cũng sẽ được bảo vệ trọn đời, bao gồm vợ và con nhỏ dưới 16 tuổi. Nếu các tổng thống qua đời, các goá phụ và con nhỏ cũng sẽ được bảo vệ thêm bốn năm theo chọn lựa của họ.

Trực thuộc Bộ Nội An hiện nay và có tổng hành dinh tại Washington DC cùng 150 văn phòng khắp nước Mỹ và thế giới, Cơ Quan Mật Vụ hiện có khoảng 7,000 nhân viên đặc biệt, trong đó khoảng một phần tư là các nữ nhân viên.

Hình ảnh nhân viên mật vụ Hoa Kỳ – nguồn United States Secret Service

Dù rất khó khăn để được trở thành một nhân viên mật vụ nhưng đây là công việc có mức lương khởi đầu không cao, thua kém xa với những nghề nghiệp trong lãnh vực tư nhân. Trong khi thường xa nhà, đối diện nguy hiểm thường trực và áp lực nhiệm vụ. Nhưng đó là chọn lựa và thôi thúc về nghề nghiệp. Một số sinh viên đã cho biết họ nhắm vào công việc này ngay khi bước vào đại học, chuẩn bị, đầu tư và tìm hiểu về nó để cơ hội được tuyển chọn cao hơn.

Trong lễ nhậm chức tổng thống vừa qua, người ta chú ý đến một cận vệ Châu Á đứng hay theo ngay sát Tổng thống Joe Biden. Mạng xã hội cũng đã thắc mắc, bình luận khá nhiều về điều này. Ðó là David Cho, trưởng toán cận vệ cho TT Biden, một mật vụ có gần 20 năm thâm niên, từng phục vụ qua nhiều đời tổng thống.

David Cho là mật vụ gốc Ðại Hàn, là một nhân vật đứng hàng thứ nhì của nhóm mật vụ thuộc nhóm cận vệ của Tổng thống Donald Trump, không chỉ làm nhiệm vụ chỉ huy, lên kế hoạch bảo vệ an ninh tổng thống mà còn đích thân tham dự vào nhóm thương lượng với giới lãnh đạo Bắc Hàn tại hai cuộc hội đàm với Bắc Hàn. Chính những thành tích này mà Cho đã được Bộ Nội An tưởng thưởng mề-đay cho những đóng góp nghề nghiệp và vai trò trong các sự kiện này vào năm 2019.

Bài học mà các nhân viên mật vụ nằm lòng là, bất kể nghề nghiệp nào cũng có thể xảy sai sót hay sai lầm và có thể cải đổi, hoàn thiện cho tốt hơn. Nhưng với nhiệm vụ của mật vụ bảo vệ tổng thống Hoa Kỳ, sai sót của họ sẽ làm thay đổi nước Mỹ và xáo trộn cả thế giới, nên đó là một nhiệm vụ bất khả sai lầm.

Nhân viên mật vụ David Cho luôn theo sát Tổng thống Joe Biden trong suốt buổi lễ nhậm chức. nguồn C-SpAN

ĐYT

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 15 Aug 2025

6. Chương 6

Viết hồi ký, viết hoài về chuyện chết chóc, sự khốn khổ của kiếp người, chính người viết cũng thấy nản. Nhưng làm sao được, vì chính những người nằm xuống đó là chỗ thân tình của tác giả, anh em, bạn bè, hoặc là người mà tác giả ngưỡng mộ, một nhà văn, một nhà báo, một thi sĩ nào đó. Tôi nghĩ cũng là chuyện thường thôi, không oán trời oán đất gì hết, hay đổ lỗi cho ai. Con người ta chẳng qua có một số mạng, trời cho sướng thì được sướng, trời bắt khổ thì phải khổ mà thôi. Như một lần nhà văn Lê Xuyên nói với tôi. 
Đời sống tiêu cực chăng? Tôi không biết nữa. Nói chung chung đời sống chúng ta như bị cấy sinh tử phù, dở sống dở chết. Thôi cũng được. Người ta già mà chết, tai nạn mà chết, hoặc khổ quá mà chết thì cũng là chết vậy. Tôi không muốn nói đến chuyện chết chóc nữa. Bây giờ già rồi, có thì giờ thì dạo chơi, đi thăm bạn bè mà không lốt sao, chúc cho nhau câu sống lâu trăm tuổi. Còn khối người bạn vẫn sống đó, hoặc thành công, hoặc thất bại, hoặc ngất ngư, bị dính “sinh tử phù”. 
Những người bạn thành công trên đường đời hãy khoan, tôi chưa đi thăm vội, tôi đi thăm những người bạn ngất ngư trước đã. 
Hình như tôi cũng có nhiều thì giờ, tôi thuộc về loại đàn ông bây giờ vô tích sự, ăn bám vợ con, tự nhiên thích rong chơi, thăm anh bạn này, anh bạn kia đau ốm, hoặc có chuyện khốn khổ chi đó. 
Sau cơn bão, áp thấp nhiệt đới số 4 và số 5, trời lại đẹp. Buổi sáng ở thành phố Sài Gòn, không khí trở nên trong lành, se se lạnh như trời thu Hà Nội. Tôi, nhà báo hết thời, làm báo từ khi còn in báo từ máy in ty po bỗng thấy ngứa nghề, nhớ nhung vẩn vơ và thích chạy rong. Tôi có thể ngồi nhà, trên căn gác bút mà gặm nhấm kỷ niệm, dĩ vãng coi như lùi vào quên lãng cho đỡ buồn. Mà sao cẳng tôi như cuồng lên, nhớ nhung gì đâu không. Muốn ngồi quán cà phê lúc trời tảng sáng, muốn ngửi mùi giấy thơm mực in của những tờ báo mới được nhả ra từ máy in, cái không khí âm âm của tòa soạn, tiếng máy đánh chữ lách tách. Hoặc được phóng chạy như một phóng viên đi nhặt tin giờ chót, làm phóng sự: vẫn còn một cột tin giờ chót để cho anh đấy trước khi báo lên máy”. Lời anh tổng thư ký tòa soạn như còn vẳng bên tai tôi. 
Đã gần ba chục năm nay mà sao tôi thấy gần gũi như mới nghe sáng nay. Ôi nhớ nhung vô vàn. Tôi yêu nghề, nâng niu nghề nghiệp của mình đến trọn đời. Vậy sao nay tôi lại gác bút đến hai mươi mấy năm trời, như một số anh em khác. Do lý do tế nhị khó nói ra nên ai hiểu sao cũng được. Nhưng những dự định viết cái gì đó trong đầu người cầm bút vẫn còn đó, mãi mãi như một nỗi bất hạnh dai dẳng… Tôi đã thấy điều đó từ nhiều năm qua. 
Sau cơn áp thấp nhiệt đới trời đẹp, tôi lại ngứa nghề, muốn lên đường để nhìn ngó lung tung, muốn đi trở lại những con đường mà trước đây tôi từng in dấu chân thuở viết văn làm báo, thăm lại một số bạn bè xưa. 
Thế là tôi rời căn gác bút, ra đường tròn chiếc xe đạp cũ rích, cà là làng đi trên các nẻo đường, từng quen thuộc mà nay hơi xa lạ đấy. Thành phố thanh bình như khi tôi còn hành nghề phóng viên, bên ngoài thành phố khi đó vẫn ì ầm tiếng súng, chiến tranh khắp mọi nơi, thành phố khi ấy chỉ là phồn hoa giả tạo. 
Hôm nay thành phố vẫn đẹp, vẫn văn minh mà dân quê vẫn hứng chịu mọi bất công, thối nát, đói nghèo. Nạn nhân chính của thiên tai lũ lụt trên đồng bằng sông Cửu Long, miền trung đất cầy lên sỏi đá. Thành phố chỉ có một bộ mặt thanh bình, văn minh, nhưng mặt trái của nó thì khác. Xe hơi, xe gắn máy đời mới chạy nườm nượp trên đường. Tôi chóng mặt, nhảy xuống khỏi xe đạp dẫn bộ, nhưng mà sao cứ vẫn chệnh choạng. Tiếng xe hơi thắng kít sau lưng tôi, tôi nhìn, một thanh niên trẻ lái ô tô con thò cổ ra cửa, ngoạc mồm chửi: 
– Địt mẹ thằng già, chán sống rồi hả? 
Tôi ghét mặt ra, anh ta chỉ đáng tuổi con tôi mà phát ngôn được một câu độc chiêu như vậy. Tôi ngỡ ngàng đến không kịp phản ứng, chiếc xe hơi bóng loáng phóng vút đi bỏ lại một nắm khói xộc thẳng vào mũi tôi, chạy xuyên suốt lên óc. Có lẽ cậu bé thuộc loại con ông cháu cha, hoặc giả là ông bé mà làm lớn, loại này ở đây thì nhiều lắm. Tôi, dân đen, thấp cổ bé miệng chịu đựng xử sự của những người thuộc loại đó nhiều năm và quen rồi. 
Tôi nở nụ cười ngu ngơ đứng xem một đoàn du khách nước ngoài “tham quan” Sài Gòn 300 năm, thành phố Hồ Chí Minh. ở những con dường chính, tôi đã “tham quan” coi như hết rồi. Tôi đã đi qua nhiều, xưa kia là tòa báo tôi đã làm việc. Bây giờ thì tôi đi thăm ai đây? 
Tôi dừng lại ở đầu đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và đường Nguyễn Trung Trực. Tại nơi này nhìn qua thư viện Quốc Gia, đại học Văn Khoa hồi xưa, có một kiosque bán cà phê, nhìn sang bên kia đường là tòa báo Đại Dân Tộc, phía góc đường Thủ Khoa Huân, Gia Long là báo Sống. Nói tóm lại có rất nhiều tòa báo trên quãng đường ấy. Ký giả, phóng viên, nhà văn sáng sáng ngồi đầy các quán cà phê lề đường, tất cả đều quen nhau, thân thiết đến độ xộc thẳng vào đời tư của nhau, nên tình nghĩa bạn bè cũng rộn rã. Sau năm 1975, ngày đứt phim”, báo chí thuộc chế độ cũ dẹp tiệm, ký giả nhà văn có người đi mất, người còn sót lại lêu bêu. Tôi ở trong số đó. Buồn quá đi thôi, bỗng dưng tôi phải buông bút (mới chỉ buông chứ chưa gác), vẫn còn nghĩ mình dùng được ngòi bút để phục vụ độc giả. Sau vài lần “vỡ mặt” mới sáng mắt ra. Nơi tôi đứng là một lề đường rộng, cái kiosque sơn màu xám xỉn cũ kỹ nay đã biến mất. Nơi đó tôi từng ngồi, thân thiết chủ quán đến độ có thể ghi sổ nợ từng ly cà phê, điếu thuốc thơm trợ hứng cho lúc viết bài hay trang feuilleton đăng trên nhật báo. Chẳng phải riêng mình tôi mà nhiều anh em đồng nghiệp cũng thế. Sau ngày đứt phim tôi còn thấy lai rai vài người. Họ vớt vát cái gì, hay chờ đợi như ngày anh em tụ lại với nhau khi báo được lệnh đóng cửa, hình ảnh nhà văn Lê Xuyên, anh cai quen đùa gọi là chú Tư Cầu, tên tác phẩm nổi tiếng của anh viết về đồng quê Nam Bộ, dĩ nhiên là có những mối tình quê mùa mà không kém đam mê, tiêu biểu là nhân vật chú Tư Cầu. Trước ngày miền Nam bại trận, Lê Xuyên là tổng thư ký báo Sài Gòn Mai rồi Đại Dân Tộc, anh có cái nhạy cảm của người làm báo cùng với sự sâu sắc của người viết văn. Anh đã có cả lô tiểu thuyết ấn hành, tôi không nhớ hết. Nhà văn Lê Xuyên hay nhà báo Lê Xuyên cũng được. Nhưng anh em gọi anh là chú Tư Cầu cho thêm phần thân mật. Nhưng hình ảnh của nhà văn Lê Xuyên gây ấn tượng nhất cho tôi là sau ngày chế độ Sài Gòn bại trận, tôi vẫn còn thấy anh ngồi ở quán cà phê đó vào những buổi sáng kế tiếp. Mắt nhìn lên tòa soạn xưa buồn rười rượi, y nguyên như ngồi uống cà phê chờ anh chen ty po xuống báo cáo đã đủ khuôn, xin lệnh chạy máy, hay cần lấp một lỗ hổng. Bây giờ không còn gì nữa, không vắng lặng mà có cái xôn xao của cờ quạt, biểu ngữ khẩu hiệu và các trẻ thơ nối vòng tay lớn nhảy múa như cuồng ở góc đường, góc công viên. 
Lê Xuyên vẫn cái áo sơ mi bỏ ngoài quần Tây, cái mũ phở giản dị, đôi dép. Tôi chưa bao giờ thấy ở anh một sự “se sủa ” thời trang nào. Con người anh rất giản dị, cái giản dị của người miệt quê Nam bộ, nên gọi anh là chú Tư Cầu cũng rất đúng, không từ nào chính xác bằng. Tôi đã ngồi đó nói chuyện với Lê Xuyên, tôi không nhớ mình nói gì, anh nói gì. Sau đó các văn nghệ sĩ nhà văn nhà báo chúng tôi hầu hết bị vồ đi học tập cải tạo, Lê Xuyên đương nhiên có mặt trong đám học viên” đó. Anh về sớm, tôi lại gặp anh đạp xe trên những nẻo đường đi bán bánh tiêu bánh bò, rồi anh mở quầy bán thuốc lá lẻ ở đường Ngô Quyền, Chợ Lớn gần nhà anh. Tôi ngồi sửa xe đạp ở góc đường Nguyễn Kim gần đó, nên thỉnh thoảng tại qua gặp nhau. Đã lâu rồi, đến hai ba năm tôi không có dịp ghé qua anh. Sáng nay tại sao tôi không ghé, lần sau cùng gặp anh coi bộ anh yếu lắm. Khi đó anh nói với tôi anh tròn 70 tuổi. Đường về Chợ Lớn đối với tôi bây giờ xa vời vợi, nhưng phải đi chứ. Thăm một người bạn sau nhiều năm giam mình ở ấp Đông Ba cũng là một điều hay. 
Kia kìa, chú Tư Cầu còn đó, sau cái quầy bán thuốc lá cũ rích, con người anh cũng cũ rích, gầy guộc và đầy chất Nam bộ chân chất. Cái mũ bánh tiêu rúm ró chụp trên đầu, cái sơ mi mỏng lét mòn cả vai, cái quần Tây màu nâu ống cao ống thấp, đôi dép không rõ bằng vật liệu gì nữa. Mặt anh gầy rộc, xanh mét. Tôi gọi anh: 
– Chú Tư Cầu! 
Anh nhìn tôi một giây xong mới hỏi: 
– Có phải Trâu Nước không? 
– Chính tớ mà sao ông gầy thực, có khỏe không? 
Ông cũng chẳng hơn gì tôi, tôi suy yếu toàn diện rồi, 72 tuổi, hai mươi năm ngồi bán thuốc lá lẻ ở lề đường, trên góc đường này còn gì. Cám ơn, ông mò đến tôi mới nhớ mình là Lê Xuyên, chú Tư Cầu… 
Niềm hãnh diện còn lại của một kiếp người cầm bút Niềm xót xa của một nhà văn đã từng có một thời vang bóng. Nay anh ngồi đây trong sự lãng quên, hai mươi năm ngồi ở một góc đường. Trước mặt, bên kia đường có cái đình tên Vĩnh Viễn, bên cạnh đình có một căn nhà có bảng đề BCH phường đội 8 “. 
Tôi nói với anh tôi mới đi thăm thành phố Sài Gòn về, tức là thuộc khu vực quận 1 quận 3. Anh nói: 
– Tớ 15 năm nay không lên đến thành phố Sài Gòn, chẳng biết bây giờ nó ra sao nữa? To cao lắm, đúng là chốn phồn hoa đô hội, cũng đã lâu lắm tớ không tới đó, giống như gã nhà quê ra tỉnh… 
– Chúng ta giống nhau. 
Nhìn cái quầy thuốc lá cũ rích, long đinh, tróc sơln thấp tè lè của Lê Xuyên, tôi lại lo lắng cho anh trong trận mưa chiều ngày 9 tháng 1 1 vừa qua nhiều con đường ngập lụt, hàng hóa chợ Bình Tây bị nước úng hư hỏng thiệt hại bạc tỉ. Lê Xuyên cũng chỉ cười. 
Anh cố ép tôi hút một điếu thuốc Con Mèo. Trong câu chuyện của anh, tôi rút ra được có một câu: Tớ suy sụp toàn diện rồi “. Tôi cũng được biết hoàn cảnh gia đình anh, bà vợ bị mắc bệnh hiểm nghèo từ mấy năm nay, một đứa con gái của anh đã chết vì ung thư bỏ lại hai đứa con và cái quầy thuốc lá này cho anh, anh là ông ngoại của chúng. Tôi hỏi về sự học của hai đứa cháu mồ côi, anh có vẻ ngạc nhiên. Qua câu nói của anh, tôi biết anh không đủ sức nuôi hai cháu ăn học. Một quầy bán thuốc lá lá như vầy ở đầu đường kiếm chác được bao nhiêu, nuôi bao nhiêu miệng ăn, đã thế lại phải lo thuốc thang cho người bệnh. Tôi cũng đang mệt nhọc vì còn ba đứa con đi học nên rất đồng cảm với anh. 
Xoay sang chuyện văn học nghệ thuật, Lê Xuyên than phiền với tôi rằng anh mới đọc một bài báo nói về các tác giả làm văn học Việt Nam từ năm chục năm trở lại đây, những nhà văn nhà thơ ở miền Nam đã từng cầm bút và có danh không được nhắc đến một ai, nghĩa là bị gạt ra ngoài lề. Tôi nói có biết đến quyển từ điển văn học ấy. 
Báo Kiến Thức Ngày Nay số 297 trang 186, mục “Ai sao? ” có một độc giả tên Lê Minh (Khánh Hòa) hỏi: Vì sao các nhà văn Võ Hồng, Sơn Nam, Nguyễn văn Xuân, Kiên Giang, Bình Nguyên Lộc không có tên trong Từ Điển Văn Học do nhà xuân bản Khoa học Xã Hội in năm 1983- 84? Người tòa soạn có tên là Phan Hoàng trả lời: Chúng tôi thiết nghĩ ông nên gởi thẳng câu hỏi này về Ban Biên Tập Từ Điển Văn Học là NXB- KHXH. Tin rằng ông sẽ nhận được hồi âm cho thắc mắc mà dường như tất cả những người yêu thích lăn chương đều quan tâm. Chúng tôi chỉ xin lưu ý bên cạnh những nhà văn trên đây, còn rất nhiều tên tuổi văn học đáng kính khác cũng không hề được nhắc đến, dù chỉ cái tên, trong bộ từ điển tầm cỡ quốc gia này. Chẳng hạn, các bậc tiền bối thời tiền chiến: Hoàng Đạo, Đinh Hùng, Nguyễn Vỹ, Phạm Hầu, Đoàn Phú Tứ, Bằng Bá Lân… cho đến những nhà văn nhà thơ góp phần đáng kể vào diện mạo văn học Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vừa qua: Lý văn Sâm, Dương Tư Giang, Vũ Anh Khanh, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng.. 
Những nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ tầm cỡ như thế còn chưa được ngồi sau porte bagage đèo xe đạp vào Văn Học Sử nữa là… 
Đừng nói là người ta thiếu sót trong việc biên soạn, vì ban biên tập toàn là người có đầu óc, có văn hóa được đào luyện. Sỏi đá xôn xao. Chúng tôi cười xòa, cũng xong cả thôi. Quan tâm làm đếch gì đến chuyện đó. 
Bạn bè lâu ngày gặp nhau không cà kê dê ngỗng, thì cũng dây cà ra dây muống. Tôi hỏi anh về việc cư trú, anh nói anh chưa có hộ khẩu đương nhiên không thể có chứng minh nhân dân, chẳng có giấy lờ mẹ gì cho biết anh là một con người sống trong chế độ. 
– Ông có xin nhập hộ khẩu sau khi đi học tập cải tạo về không? 
– Có chứ sao không, xin nhiều lần rồi mà người ta không cho, đôi khi còn bị mắng mỏ khi xin giấy lờ, nên đành ì ra, bị phạt thì chịu thôi, chán rồi người ta cũng nản. 
Đến lúc ấy tôi mới thấy Lê Xuyên xì ra chuyện sống chết. 
– Tớ cũng nghĩ về những trường hợp của những người chết chui. 
Tôi ở dưới chế độ này lâu năm nên hiểu rất rõ từ “chui” là gì, từ này được nhập cảng vào miền Nam sau năm 1975. Chui có nghĩa là lậu, buôn chui, bán chui, phở chui. Những thứ không được công nhận. Chết chui thì thảm lắm, thảm còn hơn phở chui lèo tèo mấy miếng, nước lèo thì nhạt thếch nhạt thác đựng trong bình thủy, bát phở không hành ngò. Nói theo kiểu thời thượng là “phở không người lái”. 
Thi sĩ Bùi Giáng chết, cũng ở dạng chết chui, nhưng vì ăn ở có đức nên được chôn cất đàng hoàng. Lại được người đời vớt cho được một câu: chúng tôi đã bỏ quên anh.” Dù rằng với cách sống của ông thì ông cóc cần. Khoác thêm cho cái xác lạnh tanh ấy một sơ mi gỗ hay đội lên đầu thêm vòng nguyệt quế nữa thì nhằm nhỏ gì. 
Thuở còn ăn mắm mút dòi, gạo châu củi quế người dân khoái xài đồ chui hơn là đồ quốc doanh. Vì, muốn ăn một bát phở quốc doanh phải xếp hàng cả buổi, nhân viên phụ trách khâu bưng phở mặt vác lên như ba cái thớt chồng lên nhau, dằn tô phở trước người mua phiếu như ra ơn ban phát, bố thí, phở đồng loạt là phở chín, khách hàng không nên đòi chín nạm gầu hoặc xin thêm nước béo hành trần lôi thôi, chẳng ngon lành gì hơn phở chui. 
Người ta thèm nụ cười cầu tài của anh bán phở chui, lấy chuyện đó làm hài lòng nên cũng ấm cái bụng. Chứ không treo bảng “khách hàng là thượng đế” như bây giờ. 
Nhìn sang bên kia đường tôi thấy một sạp báo. Báo chí đủ các thể loại phục vụ độc giả, sắc màu rực rỡ, hấp dẫn, in ấn đẹp bằng mười ngày xưa hơn thuở tôi còn xách bút chạy rong nhiều. Sự tiến bộ trong ngành báo chí trông thấy ngay trước mắt. Tôi nói với Lê Xuyên: 
– Có một dạo tôi tính mở một sạp báo bán cho đỡ buồn, nhưng rồi lại thôi, dù có mượn được vốn. 
-Tại sao vậy? 
Tôi lắc đầu: 
– Sau những ngày thực tập nghề bán báo, tôi bỗng cảm thấy buồn, vì ngày nào cũng đụng đến báo chí tự nhiên mình thấy nhớ nhung gì đâu không, cái dĩ vãng làm báo tội nghiệp của tôi ám ảnh tôi quá nhiều. 
Lê Xuyên vốn là tổng thư ký của nhiều nhật báo gật gật đầu: 
– Ờ, ông nói có lý đấy, chúng ta không thể hành nghề bán báo được, sẽ buồn lắm không như nghề bán thuốc lá lẻ của tôi. 
Có một người khách ghé mua một gói thuốc lào. Bây giờ tôi mới biết anh còn bán cả thuốc lào đượm khói dân tộc nữa, nhặt nhạnh từng cắc một, quả là con người lương thiện từ đầu đến chân. 
Chia tay chú Tư Cầu vì trời đã muộn. Gặp anh tôi không thể không nhớ đến nhan đề một truyện dài của anh là Gió đưa trăng. Sau này tôi biết anh lấy từ câu hò trữ tình trên sông nước Cửu Long. Câu hò như thế này: Gió đưa trăng, trăng đưa gió, trăng lặn rồi gió biết đưa ai?… 
Tôi như nghe thấy tiếng ca trữ lình vút lên thinh không, man mác trên sông nước Cửu Long, đồng bằng lúa gạo Nam bộ. Tính chất Nam bộ trải dài trong tác phẩm của anh và ở ngay chính con người anh. Trăng lặn rồi gió biết đưa ai? Có phải một câu than thở không? Tôi lẩn thẩn mãi với câu hỏi ấy trong đầu. Tôi nghĩ đến hát ru Nam bộ mà Lê Xuyên đặt tên cho tác phẩm của mình, có một câu bỏ lửng. 
Tôi về đến nhà ở ấp Đông Ba xưa vào buổi trưa, mở truyền hình lên coi. Tôi nhận được tin cơn bão số 6 đang trên đường đổ vào bờ biển Việt Nam. Sao mà khổ thế nhỉ, bao nhiêu là tai ương. Người ta kêu gọi nhân dân chống bão lụt. Tôi nghĩ hoài về nhà văn Lê Xuyên. Mưa ập xuống ngập đường như sông. Trên con đường Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ nước ngập đến bụng, liệu Lê Xuyên có khiêng nổi xe thuốc đội lên vai lên đầu để tránh ướt không, bảo vệ cái vốn liếng nhỏ bé, duy nhất của gia đình anh trên đôi vai còm cõi. 
Tôi lo lắng, thương xót bạn, thầm cầu xin sự an lành đến với anh. Năm hết tết đến rồi. Anh từng nói từ lâu rồi anh không có mùa xuân.

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 15 Aug 2025

5. Chương 5

Vẫn là những người quen biết nằm xuống. Tôi biết tin thi sĩ Bùi Giáng mất qua một mẩu tin ngắn trên báo. Dù là tin ngắn mà khá cảm động.
Bài báo nói sơ qua thân thế của Bùi Giáng, ông thọ 73 buổi, tuổi Đinh Dần. Người Sài Gòn ai cũng biết ông: ông điên, cái điên của ông có nhiều dạng, như thật, như giả, như cuồng chữ. Như tác giả bài báo đã nói. Ai cũng nói thế, chung chung là ông điên. Ông điên một mình, chẳng hại đến ai cả. Vì ông có thời gian để điên, để rong chơi với cái điên, cái tâm thần bất ổn của mình, có lần ông đã nói với tôi như vậy. Lần cuối cùng tôi gặp ông, không lâu lắm, thấy ông ngồi giữa đường Lê Quang Định thuộc quận Bình Thạnh (tỉnh Gia Định xưa). Phía trước ngõ vào chùa Già Lam, áng chừng ông tạm trú nơi đó.
Ông vốn là người từ xưa đến giờ chưa biết đến tờ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân là gì ông là người vô sản chân chính, chẳng thèm bon chen với đời. Điều không ai có thể chối cãi được ông là người trí thức, trí thức hơn nhiều người trí thức khác, ông là người bằng cấp đầy mình cũng được, không cũng chẳng sao. Ông đã từng dạy học, giáo sư Việt văn, cấp trung học và dậy cả đại học. Đại học Vạn Hạnh, thuở thầy Thích Minh Châu làm viện trưởng. Viết sách, dịch thuật làm thơ.
Thuở đó đã lâu lắm rồi, hồi nam 1952 ở Sài Gòn, tôi là học sinh trung học trường Kiến Thiết. Tôi là học trò của thầy Bùi Giáng. Giờ Việt văn, thầy thản nhiên đọc thơ tình, thơ của thầy Bài thơ nào đó ca tụng người vợ đã mất của thầy rồi thầy bỏ lên núi ít năm, núi gì đó ở Quảng Nam, quê hương của thầy.
Khi đó cuối cuộc chiến Việt Pháp, Việt Nam giành Độc Lập. Tình hình thành Phố Sài Gòn sôi động, học sinh các trường đều tham gia, biểu tình, phá rối. Nhiều thế lực chính trị lợi dụng lòng nhiệt tình của tầng lớp trẻ.
Có phá rối, chắc chắn là chính quyền cai trị thuở đó phải đàn áp. Sân trường Kiến Thiết hỗn loạn vì cả trung đội Công An Xung Phong, đội mũ bê rê xanh, Bình Xuyên, của tướng Bẩy Viễn xông vào đàn áp. Các lớp học không thể học được, thầy giáo và học sinh nào không tham dự thì đứng trên hành lang nhìn xuống. Máu tôi cũng sôi lên, tôi đứng cạnh thầy Bùi Giáng. Tôi hỏi thầy:
– Thầy nghĩ sao về bọn công an đàn áp học sinh?
Thầy Bùi Giáng cười, đôi mắt hấp háy sau cặp kính trắng:
– Em muốn tôi cho em một lời khuyên phải làm gì hả?
– Dạ thưa thầy, đúng vậy.
Thầy lại cười, nụ cười dễ chịu và lần này tôi nhìn thấy rõ hơn trên trán thầy có một vết sẹo nhỏ, tóc cắt ca rê, rất ngắn:
– Vậy thì thầy chẳng có lời khuyên nào cả vì thầy đứng ngoài những chuyện này, thầy dạy học, làm thơ và rong chơi bất cứ trong hoàn cảnh nào.
Đúng thế, thuở đó tại trường Kiến Thiết không thiếu gì các thầy đứng lên làm chính trị, không phe này cũng phái kia, nhân danh lòng yêu nước. Học sinh là đối lượng chính của các thầy dùng làm công cụ củng cố cho phe nhóm của mình. Truyền đơn truyền tay nhau rồi học sinh đi thả, đi dán trên tường đường phố. Học sinh bị bắt bớ, bị đánh hộc xì dầu, rồi bị bỏ tù. Bạn tôi, Trịnh Nhiên bị bắt bỏ tù trong tòa Bố Gia Định, nằm đếm lịch tới mùa hè nhìn hoa phượng nở đỏ rực ngoài song cửa tù mà buồn. Tôi nhớ mãi nụ cười hiền lành của thầy, đôi mắt kính trắng, vết sẹo trên trán và mái tóc cắt ngắt.
Năm 1954. Hiệp định Genève, đất nước chia đôi, cuộc di cư ào ạt. Một số bạn bè tôi ở miền Nam tập kết ra Bắc học và làm cách mạng. Tôi ở lại Sài Gòn và tiếp tục thấy thầy Bùi Giáng cho đến tận những ngày cuối cùng của đời thầy. Thấy và nghe nhiều về thầy và chứng điên loạn của thầy. Tôi chẳng biết nói thế nào về thầy cho đúng, mấy ai đã đủ tư cách nói về thi sĩ “điên” Bùi Giáng.
Nay thì trên đường phố Sài Gòn đã vắng bóng lang thang của thi sĩ điên Bùi Giáng. Có phải là một mất mát không, ở một thành phố tự hào có lịch sử 300 năm? Thi sĩ Bùi Giáng cũng là nhân vật của Sài Gòn đó, nói theo lối nói chuyện của cố học giả Vương Hồng Sển.
Một buổi chầu mùa thu ở Sài Gòn, trời cũng khá đẹp mặc dầu báo đài có thông báo cơn áp thấp nhiệt đới như mọi năm. Rồi tai ương đổ xuống. Nắng vàng ánh bạc trên kinh Nhiêu Lộc ở những căn nhà bị giải tỏa nham nhở hai bên bờ. Tôi qua cầu Công Lý xưa, đến chùa Vĩnh Nghiêm, xác của thi sĩ Bùi Giáng quàn ở Vãng Sinh Đường hay nhà Vĩnh Biệt cũng vậy. Ngay trên cửa vào trẹo một tấm “băng đờ rôn ” màu đỏ khá lớn, chữ sơn trắng: Lễ truy điệu thi sĩ Bùi Giáng.
Tôi vào nhà rạp. Quan tài thi sĩ Bùi Giáng khá đẹp các sư đang tụng kinh. Khách khứa đến khá đông nhưng tôi thấy lạ hoặc, hoặc tôi kém cỏi ít giao tiếp nên không biết đến các vị ấy, những thi văn nghệ sĩ đương thời, những sao bắc đẩu núi thái sơn, họ lia chia ghi ghi chép chép vào sổ lưu niệm. Tôi thấy cả những bài thơ khóc Bùi Giáng. Tôi tự thấy mình chẳng là cái thá gì mà bon chen ghi sổ. Kìa có hai vị đang ca tụng nhau lời lời châu ngọc. Tôi có điều suy nghĩ về chuyện này, về cả con người của Bùi Giáng. Tấm hình thi sĩ phóng thật to, có nét tiên phong đạo cốt lẩm, nhưng gầy guộc hom hem. Thơ ông đề bên dưới:
Hỏi rằng ông ớ quê đâu
Thưa rằng người ở rất lâu quê nhà
Bên trong, chỗ để quan tài, nơi các nhà sư đang tụng niệm, tôi thấy có người mặc quần áo tang, nhưng tôi không rõ là bà con thế nào với thi sĩ Bùi Giáng. Bên ngoài, tít tận trên cao có hàng chữ đề lớn, viết tháu, kiểu thư họa: “Chúng rồi đã bỏ quên anh “
Một thông báo khác bên cạnh nhắc nhở những người anh em văn nghệ tối hôm ấy đến họp mặt, thơ văn tự do không giới hạn. Tôi dắt xe đạp ra khỏi Vãng Sinh Đường chùa Vĩnh Nghiêm. Tôi quên cả cắm nhang cho ông, tôi cảm thấy lạc lõng.
Trong cái xôn xao của buổi chiều Sài Gòn, tôi còn như thấy bóng hình của thầy Bùi Giáng tưng tưng giữa đời. Trên người thầy đeo đủ thứ quái dị, nhưng mỗi thứ là một biểu tượng đấy tôi suy ra thế.
Người ta nói thầy Bùi Giáng điên, thời thượng thì người ta nói thầy bị bệnh tâm thần, khi điên khi tỉnh, khi thật khi giả. Người bình dân khố rách áo ôm, có dịp gần gũi thầy thì bảo rằng thầy “khùng-điên-ba trợn”. Cổ người nói thầy có bệnh cuồng.
Tôi đi theo dòng người, miên man nghĩ về thầy Ngày mai người ta mang xác thấy đi chôn ở Gò Dưa Thủ Đức. Tôi không biết vị Mạnh Thường Quân nào bỏ tiền ra làm đám ma cho thầy. Thời buổi này chết cũng mắc mỏ lắm. Hai mươi triệu đồng Việt Nam cho một đám ma là chuyện thường.
Tôi nghĩ hoài về câu thương tiếc chúng tôi đã bô quên anh. Ai nói câu đó thế?
Nói về những cơn điên loạn của thầy Bùi Giáng thì nhiều lắm. Tôi nghe kể lại về thầy cũng có mà chứng kiến cũng có. Tất cả đều trở thành giai thoại. Có thật và có giả, hay người đời thêm mắm thêm muối ra cũng nên. Nhưng chẳng có giai thoại nào có hại cho thanh danh tư cách của thầy, một người điên hòa nhập với đời sống mà lại là đứng ngoài cuộc đời, sống với đời mà không dính dáng gì cả, bao nhiêu năm qua rồi mà như kẻ bàng quan. Ông thi sĩ điên chứ không phải thằng điên.
Không ai rõ thầy khùng liên từ bao giờ. Những dấu hiệu cho thấy nhưng đôi khi vẫn bị coi là thầy giả vờ, để thi vị hóa cuộc đời mình, mà có lời giải thích nào đâu. Ông thi sĩ Bùi Giáng vẫn rong chơi, vẫn tưng tưng giữa đời bất cứ qua chế độ nào.
Thi sĩ thì phải có cuộc đời tình ái, người ta không biết, do chính thầy “làm” ra hay thầy thấy sao nói vậy. Thuở tôi còn học thầy, tôi nghe thầy đọc bài thơ dài lê thê ca tụng người vợ thầy đã khuất bóng, khi đó thầy còn rất trẻ. Một ngày vào những năm 1963, thi sĩ Viên Linh, bạn tôi nói rằng anh mới đèo xe đạp chở thi sĩ Bùi Giáng đi thăm người tình. Cô ta là ai, Viên Linh không biết, nhưng có chở thầy đến tận nhà cô ta ở Cống Bà Xếp, đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng Tám). Thi sĩ Bùi Giáng rất trang trọng trong cuộc đi thăm này. Trước khi đi, ông mặc gần một chục chiếc sơ mi chồng lên nhau, áo sạch giặt ủi đàng hoàng. Ra khỏi cửa ông lột chiếc sơ mi đầu tiên ném xuống đường, hối Viên Linh đi, rồi lần lượt ném gần hết áo, tới trước nhà người yêu ông cởi đến chiếc kế chót, còn lại chiếc chót ông mới bước vào nhà người yêu. Một lúc sau ông trở ra hí hửng. Viên Linh hỏi ông:
– Sao ông mặc nhiều áo thế rồi cứ cởi ra vứt đi vậy?
Tau phải làm thế, đến với người yêu thì phải trong sạch từ tâm hồn đến thể xác. Những chiếc áo bận đi đường bị nhuốm bụi hồng trần, tau đến với nàng phải là chiếc áo tinh khiết nhất như tâm hồn tau vậy…
Nhà văn Cung Tích Biền, người đồng hương với Bùi Giáng kể rằng: Thầy Bùi Giáng được một trường trung học ở Mỹ Tho mời dạy. Trong lớp học, thầy liên miên giảng truyện Kiều. Thầy say sưa giảng dạy, ca tụng nàng Kiều, tự cảm động về số phận nàng, thầy đau xót, thầy bật khóc tu tu trước mặt học trò, đến đỗi thày phải ra sân trường leo lên cây ngồi khóc cho hả cơn thương xót. Rồi thầy bỏ trường đi biến. Hiệu trưởng, học trò nháo lên đi tìm thầy, họ tìm thấy thầy ở Sài Gòn. Hỏi thầy sao bỏ dạy học? Thầy trả lời rất đơn giản là thầy không dậy được vì khi giảng về nàng Kiều thầy xúc động quá, yêu nàng quá, có thế thôi.
Khoảng 1967-68, thuở thịnh thời của nhật báo Sống, do nhà văn Chu Tử làm chủ nhiệm, độc giả rất thú vị và say mê mục Ao Thả Vịt của Chu Tử. Độc giả cười nghiêng ngửa khi ATV loan tin rằng thi sĩ Bùi Giáng yêu say đắm kỳ nữ Kim Cương. Ông yêu đến đỗi phải làm thơ gọi Kim Cương là Mẫu thân. Kỳ nữ Kim Cương cũng phải chới với qua tình yêu mãnh liệt, kỳ quái của thi sĩ Bùi Giáng. Khối tình đó bền bỉ trong Bùi Giáng, có lẽ đến lúc ông nằm xuống. Giã từ cuộc đời rong chơi của ông.
Một thời gian sau tôi thấy thầy Bùi Giáng ở đại học Vạn Hạnh của Phật giáo. Tôi không nhớ thầy có dạy ở đó không, nhưng các thầy rất nể vì sở học của Bùi Giáng.
Thi sĩ Bùi Giáng có một phòng riêng tại viện đại học này. Thầy chuyên ăn khoai lang luộc, những củ khoai mốc xanh mốc đỏ, và thầy có lý luận riêng khi ăn những củ khoai lên men ấy. Cái áo của thầy có rất nhiều túi, mỗi cái túi đựng một chó con, thầy chơi với chúng. Tối, nhiều khi thầy bỏ phòng trong viện đại học ra sạp chợ nằm ngủ với bầy chó con.
Thuở đó nhiều người nói thầy điên rồi, kể cả những bài thơ của thầy cũng kỳ quái, dù rất có duyên, đầy ấp chất Bùi Giáng, điên điên mà phóng khoáng. Khi đó Bùi Giáng làm rất nhiều thơ kể cả dịch thơ của một số thi sĩ nước ngoài. Văn thì dịch Hoàng Tử Bé (Le petit prince) của Saint Exupery. Ông in nhiều tập thơ. Nghe đâu tiền tài trợ in thơ do bác sĩ Bùi Kiện Tín, vị bác sĩ nổi danh bào chế ra dầu gió Khuynh Diệp Bác Sĩ Tín bán chạy trên toàn quốc. Ông bác sĩ này nghe đâu là anh họ của Bùi Giáng.
Sau năm 1975, Sài Gòn kẻ ở người đi, tôi là kẻ sót lại nên gặp lại thầy Bùi Giáng. Thời gian này thầy có vẻ điên dữ. Trong khi đó Sài Gòn sau cơn biến loạn có nhiều người điên, các dạng điên khác nhau.
Bùi Giáng cũng điên, nhưng là cái điên có phong cách riêng của thầy. Tôi muốn nói hình như cái điên của thầy vẫn là nói lên một điều gì ẩn ức. Tất cả những cơn điên của thầy đều là những biểu tượng, mang một ý nghĩa nào đó chỉ có mình thầy biết.
Dân Sài Gòn cũ ùa ra đường kiếm sống, quán cà phê, chợ trời mọc lên khắp nơi để tự cứu mình thuở gạo châu củi quế”. Sĩ quan, ngụy quân, ngụy quyền lên đường đi học tập cải tạo, đời sống khó khăn cả vật chất lẫn linh thần. Người ta nói con người đang sống lùi lại thời đồ đá ăn lông ở lỗ.
Thi sĩ Bùi Giáng là dân thành phố, ông sống lang thang và có vẻ điên hơn. Tôi cũng bắt chước mọi người khác kiếm sống, mở một quán cà phê nhỏ ở lề đường, dưới một gốc cây nhìn ra hồ Con Rùa, phía trước Viện Đại Học Sài Gòn. ở đây tôi gặp lại nhiều anh cai cũ, thăm hỏi nhau, ai còn ai mất, ai đi ai ở.
Tôi hỏi về Bùi Giáng, anh em nói ông vẫn còn đó. Vẫn sống như không có chuyện gì xảy ra. Ông đang ở nhờ một ngôi chùa ở đường Lạc Long Quân. Để khỏi làm phiền đến sư cụ trụ trì về vấn đề cư trú ông ra ngoài vườn chùa đào một cái lỗ chui lọt người vào nằm. Ông nói ông đang ăn lông ở lỗ.
Không biết chuyện ấy có thật hay anh em nói chơi, nhưng tôi cứ ghi lại.
Tôi quan tâm đến thầy, tôi thấy chuyện có chất của Bùi Giáng, nên cũng không hỏi lại. Ban ngày Bùi Giáng đi lang thang, ăn mặc rách rưới, làm trò cười cho mọi người để đỡ buồn. Một hôm ông ghé qua quán tôi, gần trần như nhộng, tóc tai bù xù. Cặp kính trắng vẫn ngạo nghễ trên mắt. Ông nói “tau ” đang ăn lông ở lỗ.
Có hôm gặp ông ngoài đường. Ông mặc quân phục chế độ cũ, lon lá huy chương đầy mình. Mọi người sợ hết hồn, vì thời gian ấy các sĩ quan chế độ cũ phải lên đường đi học tập cải tạo kẻ nào trốn cũng khó thoát khỏi lưới tình báo nhân dân”. Kể cả những anh trước kia đeo lon giả để lòe gái hay trốn lính cũng bị tố cáo. Có anh nằm trong trại tù làm cả chục lá đơn minh oan vẫn chưa được phóng thích. Ông thi sĩ Bùi Giáng lại đâm đầu vào chuyện oan nghiệt ấy, không hề sợ hãi, phom phom nhận mình là sĩ quan quân đội chế độ cũ, sĩ quan cao cấp kia, từng “có nợ máu với nhân dân”, bây giờ “ngã ngựa” rồi xin được đi học tập cải tạo để được trở thành người tốt đủ tư cách xây dựng đất nước đẹp bằng mười ngày xưa. Ông lang thang khắp các chợ trời, trên người đeo lỉnh kỉnh đủ các thứ đồ.
Có hôm ông đeo cả mấy chục cái lon đồ hộp trên người. Ông nói ông là người có nhiều “lon” nhất trên đời vậy mà ông vẫn yên ổn. Có hôm ông vào chợ cá Trần Quốc Toán, khi ấy trở thành chợ xe đạp. Ông “thó” một cái ghi đông xe cũ rích, rồi bỏ đi, người ta la lên ông ăn cắp. Ông trả lại liền, càu nhàu:
– Mẹ lụi bay, bị mất tất cả mà phải câm, tau chỉ ăn cắp cái ghi đông mà la rầm trời, có kẻ đang ăn cắp đấy… làm gì nó nào?
Ai mà chấp một người điên, khi biết người đó là thi sĩ Bùi Giáng. Hình ảnh Bùi Giáng trở thành quá quen thuộc với thị dân kể cả những người mới giữ gìn trật tự trong thành phố này. Thời gian này, Bùi Giáng dở chứng nói bậy và nói tục kinh khủng, mà có ai làm gì đâu. Kéo dài cả chục năm hơn, Bùi Giáng vẫn sống nhăn. Ông hiện hữu trong cái bái nháo của đời sống, trong sự chuyển mình của đất nước. Nghe nói ông vẫn làm thơ, chẳng phải để đăng báo, in sách, ông cóc cần điều đó. Những bài thơ ông ghi vội trên một tờ giấy nhàu nát, hoặc một bao thuốc lá.
Uống chén rượu, ăn tô phở ông điên, ông tỉnh, ông làm trò, chẳng một ai đụng đến ông. Tôi biết rõ một điều là ai cũng quí mến và chiều chuộng ông. Ông vẫn chung thủy với mối tình đơn phương dành cho kỳ nữ Kim Cương như thuở nào. Có hôm ông ngất ngưởng ngồi xe xích lô đến tận nhà thăm nàng. Ông sơn móng chân móng tay, đánh phấn thoa son cẩn thận. Gọi cửa nàng không ra, ông lấy đá chọi rầm rầm vào nhà. Nàng phải xuất hiện để ông thấy mặt và ông nói vài lời rồi ông ra đi, chỉ có thế thôi, cũng trữ tình ra phết.
Có một thời Hãng phim Giải Phóng ở thành phố, mời ông đóng phim, làm tài tử “xi la ma”. Báo Điện ảnh có đăng tin và in hình ảnh ông. Tôi không biết ông đóng phim gì, nhưng ông có lãnh “cát sê” cẩn thận. Hôm ấy, ông ngồi xích lô đi từ xưởng phim đến đường Bà Huyện Thanh Quan, rải tiền đầy đường, trẻ con, người lớn chạy theo xe ông lượm tiền như một đám rước Bùi Giáng.
Bùi Giáng dừng lại sạp báo của nhà báo Nguyễn Kinh Châu hồi trước. Ông đề vội mấy câu thơ tặng bạn rồi lại ra đi phát nốt số tiền còn lại. Ông tới Hội Văn Nghệ thành phố uống bia say la đà.
Thời mở cửa, kinh tế thị trường mà sao tôi vấn khổ quá vì vấn đề cơm áo.
Gặp thầy Bùi Giáng, khi đó thầy có vẻ tỉnh táo. Tôi tâm sự với thầy về hoàn cảnh của mình, văn chương là nghề chính mà ế ẩm, bút phải gác lên mái lều, làm nghề lao động chân tay để nuôi vợ con, sức khỏe ngày một suy yếu. nghèo rớt mồng tơi. Tôi thật tình muốn điên, muốn tâm thần để kệ mẹ đời.
Tôi hỏi thầy vì thầy có kinh nghiệm điên:
– Em muốn điên thầy ạ!
Thái độ vừa bình ĩlnh vừa chậm rãi:
– Mày muốn điên thật hả?
– Dạ thật!
– Mày chưa đủ tư cách làm người điên vì mày mắc míu nhiều quá. Mày không có thì giờ để điên, lâu mới có thì giờ điên. Tau chửi mày là đồ ngu chứ không chửi mày là đồ điên.
Sau đó thầy Bùi Giáng “xuất chiêu ” làm một loạt động tác điên, tôi thất kinh và thấy lời thầy dạy có lý quá. Nếu tôi điên thì “trật giuộc” hết trơn.
Đã nhiều năm tôi tự nguyện xa lánh các cuộc vui tụ tập ăn uống hay đàn ca hát xướng. Ngoài chuyện lo kiếm ăn tự nuôi sống mình và gia đình, tôi ở tịt nhà với vợ con, tôi không đi đến đâu và cũng chẳng gặp gỡ ai. Tôi sợ những chuyện thị phi nơi gió tanh mưa máu. Phải chăng tôi tự cô lập mình? Hay hoàn cảnh bắt buộc như thế?
Tôi không dự đám tang thầy Bùi Giáng sáng ngày hôm sau, nên không biết có bao nhiêu người đưa tiễn thầy?
Người ta không bỏ quên thầy, thế là mãn nguyện lắm rồi. Câu này dành cho những người sống hơn là người chết. Thi sĩ Bùi Giáng là một con người ngạo mạn với đời. Ông chăng cần lưu danh vì một câu an ủi. Một cuộc đời với hơn năm mươi tác phẩm biên khảo, dịch thuật và hơn mười tập thơ Đó là một gia tài không nhỏ ông để lại cho đời.

Bông hồng tạ ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác giả Văn nghệ sỹ Việt Nam

Post by Sơn râu 15 Aug 2025

Tập II – Phần 3 & 4

Các tác giả Văn & Thơ

1.  A Khuê

A Khuê thuộc lớp những người làm thơ trẻ ở miền Nam trước 75. Thơ ông không nhiều. Nhưng mấy bài thơ của A Khuê do Trần Quang Lộc phổ nhạc đều đáng được xếp vào hàng các tác phẩm cả.

Về Đây Nghe Em

Lãng Du Ca

Chỉ Còn Bóng Đổ Dài

Nghe nói, cả ba ca khúc đó Trần Quang Lộc đều phổ từ thơ của A Khuê. Nhưng cũng có người bảo không phải như vậy. Không rõ sự thật ra sao.

Cả hai tác giả đều còn ở trong nước. Sao họ không chịu cùng làm cho sáng tỏ mọi chuyện một lần? Về Đây Nghe Em hiện đang lưu hành tại Mỹ, có rất nhiều lời ca.

Những người quen biết Trần Quang Lộc, từng được nghe chính Trần Quang Lộc hát, thì thấy bản ghi âm của Quỳnh Giao là gần với bản Trần Quang Lộc thường hát nhất. Điều đáng nói là các bản khác với bản Trần Quang Lộc vẫn hát cũng có những câu rất hay, bỏ đi cũng tiếc. Sau đây là nguyên văn bài Lãng Du Ca, một trong những sáng tác hay nhất của Trần Quang Lộc và A Khuê, một “khúc du ca” thực sự của nhạc Việt Nam:

Lãng Du Ca

Về ngồi lại hát hát cho quên đời

Về tìm lại kiếp kiếp lãng du này

Đàn tình tang cho ta lòa xòa mộng rối …

Ha! Về làm người rong chơi chín cõi đời

Về chào mừng cuộc đời mới

Bởi vì người cũng biết xót thương người

Và vì lòng vẫn cứ vấn vương lòng

Thì làm sao hay biết cuộc đời như ma

Ha! Về nực cười vung gươm giết hết sầu

Về tìm lại chút duyên đầu

Ôi lãng du! Nhìn mây trắng vuốt tóc giang hồ

Tìm ân ái bên câu ca dao trời

Lãng du ơi!Chờ ta xóa hết u mê trong loài người

Về đàn đàn vỗ vỗ lưng trâu cười

Về thả diều phất áo bay bay trời

Về tạ ơn khi ta là bạn nhân ái

Về gọi mời thương yêu đến với người

Về cùng dệt câu tơ trời!

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 15 Aug 2025

Ghi Chú:

ANH BẰNG, tên thật: Trần An Bường. Sinh năm 1925 tại Hà Nội. Tác phẩm đã phổ biến: Nếu Vắng Anh, Bướm Trắng,

Nỗi Lòng Người Đi, Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ, Khúc Thụy Du [Thơ Du Tử Lê]. Hiện sống tại Hoa Kỳ.

ANH VIỆT, tên thật Trần Văn Trọng. Không rõ năm sinh. Hiện sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm đã phổ biến: Bến Kiên Giang, Bến Cũ, Một Chuyến Đi, Lỡ Chuyến Đò, Thơ Ngây, Chiều Trong Rừng Thẳm.

ANH VIỆT THU, tên thật: Huỳnh Kim Sang. Sinh năm 1940 tại Mỹ Tho. Mất năm 1974. Các tác phẩm chính đã được phổ biến: Cuốn Theo Chiều Gió, Đa Tạ, Đường Chúng Ta Đi, Dòng An Giang, Hai Vì Sao Lạc, Máu Chảy Về Tim, Mình Nhớ Nhau Không, Một Mình Thôi, Tám Điệp Khúc,

Trên Đầu Súng, Vuốt Mặt.

BẠCH BÍCH, tiểu sử: không rõ.

CANH THÂN, sinh năm 1918, năm mất không rõ. Tác phẩm chính: Anh Còn Cây Đàn, Cô Hàng Cà Phê, Khúc Ca Mùa Hè, Túi Đàn, Hoa Mai.

CHÂU KỲ, sinh năm 1923 tại Thừa Thiên, Huế. Tác phẩm: Trở Về, Khúc Ly Ca, Từ Giã Kinh Thành, Nhạc Sĩ Trong Sương Chiều, Khi Ánh Trăng Vàng Lên Khơi.

CHUNG QUÂN, bút hiệu. Tên thật và năm sinh không rõ. Tác phẩm đã phổ biến: Làng Tôi, Cô Gái Quê.

CUNG TIẾN, tên thật, Cung Thúc Tiến, sinh 1938 tại Hà Nội. Hiện sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm đã cho phổ biến: Thu Vàng, Hương Xưa, Nguyệt Cầm, Hoài Cảm, Đêm Hoa Đăng, Lệ Đá Xanh, Mắt Biếc, Mùa Hoa Nở.

DZOÃN CẢNH, tiểu sử: không biết.

DZOÃN MÃN, hiện sống tại Hà Nội [VN]. Tiểu sử: không biết.

DƯƠNG MINH NINH, Tiểu sử: không biết.

DƯƠNG THIỆU TƯỚC, sinh năm 1925 tại Vân Đình, Hà Đông. Mất 1995. Tác phẩm chính: Bến Xuân Xanh, Áng Mây Chiều, Ngọc Lan, Thuyền Mơ, Cánh Bằng Lướt Gió, Buồn Xa Vắng, Dưới Nắng Hồng, Khúc Nhạc Dưới Trăng, Kiếp Hoa, Đêm Tàn Bến Ngự, Hờn Sóng Gió, Hội Hoa Đăng, Mơ Tiên.

ĐAN THỌ, sinh năm 1924, tại Nam Định. Hiện sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm chính: Bóng Quê Xưa, Vọng Cố Đô, Tình Quê Hương, Chiều Tím, Xa Quê Hương.

ĐAN TRƯỜNG, sinh năm 1919 tại Lạng Thương, Bắc Giang. Hiện sống tại Pháp. Tác phẩm chính: Trách Người Đi, Miếng Trầu Duyên, Áo The Thâm Tàng, Biệt Quê.

ĐÀO THỪA LIỆT, tiểu sử: không biết.

ĐẶNG THẾ PHONG, sinh năm 1918 tại Nam Định. Mất năm 1942. Tác phẩm chính: Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu.

ĐOÀN CHUẨN, sinh năm 1924 tại Hải Phòng. Mất 2001. Tác phẩm chính: Thu Quyến Rũ, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Tình Nghệ Sĩ, Lá Đổ Muôn Chiều, Lá Thư, Cánh Hoa Duyên Kiếp. Tà Áo Xanh [Dang Dở] Đường Về Miền Bắc.

ĐỖ KIM BẢNG, tên thật, sinh năm 1932 Tại Huế, quê Quảng Nam. Tác phẩm chính: Mùa Thi, Bước Chân Chiều Chủ Nhật, Vòng Tay Giữ Trọn Ân Tình, Xin Dìu Nhau Đến Tình Yêu. Hiện sống tại Hoa Kỳ.

Đỗ LỄ, tên thật Đỗ Hữu Lễ, sinh năm 1941 tại Hà Nội. Tác phẩm chính: Sang Ngang, Tan Vỡ, Tình Phụ, Từ Thuở Yêu Nhau, Tình Buồn, Hận Tình, Nụ Hôn Đầu. Đã mất tại Việt Nam năm 1997.

ĐỖ NHUẬN, tên thật, sinh năm 1922 tại Cẩm Bình, Hải Dương. Tác phẩm chính: Hận Sơn La, Côn Đảo, Chiều Tù, Hận Nam Quan [nhạc kịch], Du Kích Sông Thao, Đoàn Lữ Nhạc, Người Tạc Tượng [nhạc kịch]

ĐỨC HUY, tên thật Đào Đức Huy, sinh năm 1947. Tác phẩm chính: Cơn Mưa Phùn, Bay Đi Cánh Chim Biển, Để Quên Con Tim, Đừng Xa Em Đêm Nay, Đường Xa Ướt Mưa, Khóc Một Dòng Sông, Người Tình Trăm Năm, Trái Tim Ngục Tù, Và Con Tim Đã Yêu trở Lại, Và Tôi Cũng Yêu Em.

ĐỨC QUỲNH, tiểu sử: không biết.

HIẾU NGHĨA, tiểu sử: không biết. Tác phẩm chính đã được phổ biến: Chàng Đi Theo Nước, Ông Lái Đò.

HOÀI AN, tên thật: Nguyễn Đắc Trịnh. Năm sinh không rõ. Tác phẩm đã phổ biến: Dựng Một Mùa Hoa, Câu Chuyện Đầu Năm, Trước Giờ Tạm Biệt.

HOÀNG DƯƠNG, tên thật Ngô Hoàng Dương, sinh năm 1933 tại Hà Nội. Hiện sống tại Hà Nội. Tác phẩm chính: Tiếc Thu, Hướng Về Hà Nội, Khúc Nhạc Tương Tư [với Hoàng Trọng].

HOÀNG GIÁC, sinh năm 1924 tạ Hà Nội. Hiện sống tại Hà Nội. Tác phẩm chính: Mơ Hoa, Ngày Về, Bóng Ngày Qua, Quê Hương, Anh Sẽ Về, Hương Lúa Đồng Quê, Khúc Hát Thương Binh, Lỡ Cung Đàn, Tiếng Hát Biên Thùy, Ngày Đi.

HOÀNG NGUYÊN, tên thật Cao Cự Phúc, sinh năm 1932 tại Quảng Trị. Mất năm 1973. Tác phẩm chính: Anh Đi Mai Về, Ai Lên Xứ Hoa Đào, Đường Nào Lên Thiên Thai, Tà Áo Tím, Cho Người Tình Lỡ.

HOÀNG QUÝ, tên thật. Sinh năm 1930 tại Bắc Giang, Bắc Việt. Tác phẩm: Anh Hùng Xưa, Nắng Tươi, Gọi Bạn Lên Đường, Đêm Trong Rừng, Cô Láng Giềng, Chùa Hương.

HOÀNG THI THƠ, tên thật, sinh năm 1928 tại, Triệu Phong, Quảng Trị. Tác phẩm: Ai Buồn Hơn Ai, Gao Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu, Đường Xưa Lối Cũ, Rước Tình Về Với Quê Hương, Tà Áo Cưới, Máu Hồng Sử Xanh [trường ca], Kinh Chiều. Mất năm 1991 tại Hoa Kỳ.

HOÀNG TRỌNG, sinh năm 1922 tại Hải Dương. Mất 1998. Tác phẩm chính: Chiều Tha Hương, Lạnh Lung, Bóng Trăng Xưa, Gió Mùa Xuân Tới, Vui Cảnh Mùa Hè, Chiều Mưa Nhớ Bắc, Hai Khung Trời Cách Biệt, Đẹp Giấc Mơ Hoa, Mộng Ban Đầu, Khúc Đàn Tâm, Mộng Đẹp Ngày Xanh …

HỒNG DUYỆT, tên thật Dương Hồng Duyệt. Sinh năm 1936. Đã Mất. Tác phẩm duy nhất: Đường Chiều.

HÙNG LÂN, tên thật Hoàng Văn Hướng, sinh năm 1922 tại Hà Nội. Mất 1986. Sáng tác chính: Hè Về, Rạng Đông, Khỏe Vì Nước, Mùa Hợp Tấu, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Sầu Lữ Thứ, Tiếng Gọi Lên Đường, Cô Gái Việt và nhiều ca khúc viết cho thiếu nhi.

HUỲNH ANH, tên thật Huỳnh Văn Anh, sinh 1933 tại Cần Thơ. Hiện sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm chính: Em Gắng Chờ, Biết Nói Gì Đây, Thuở Ấy Có Em, Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím, Mưa Rừng, Loan Mắt Nhung, Rừng Lá Thay Chưa, Khung Trời Tưởng Nhớ.

HỮU HIỆP & HỮU CHÂU, tác phẩm duy nhất: Trào Lòng. Tiểu sử: không biết.

KHÁNH BĂNG, tên thật Phạm Văn Minh, sinh năm 1935 tại Vũng Tàu. Mất 2005. Tác phẩm chính: Có Nhớ Đêm Nào, Đôi Cánh Thiên Thần, Đôi Ngã Chia Ly, Sầu Đông, Tiếng Mưa Rơi, Vọng Ngày Xanh, Thà Đừng Yêu Nhau.

LA HI, sinh năm 1920 tại Quảng Đông. trưởng thành tại Hội An, Việt Nam. Không rõ số tác phẩm. Chỉ có một bài phổ biến: Xuân Và Tuổi Trẻ.

LAM MINH, tiểu sử: không biết. Tác phẩm duy nhất phổ biến: Mơ Khúc Tương Phùng.

LAM PHƯƠNG, tên thật Lâm Đình Phùng, sinh năm 1937 tại Rạch Giá. Hiện sống tại Mỹ. Tác phẩm chính: Duyên Kiếp, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Đoàn Người Lữ Thứ, Đèn Khuya, Kiếp Nghèo, Kiếp Tha Hương, Lá Thư Miền Trung, Nắng Đẹp Miền Nam, Ngày Tạm Biệt, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Trăng Thanh Bình, Nhạc Rừng Khuya, Chiều Hành Quân, Khúc Ca Ngày Mùa.

LÂM TUYỀN, không rõ năm sinh. Đã mất tại Sài Gòn khoảng cuối thập niên 80. Tác phẩm chính: Khúc Nhạc Ly Hương, Hình Ảnh Một Buổi Chiều, Lặng Lẽ, Tiếng Thời Gian, Tơ Sầu, Trở Về Dĩ Vãng.

LÊ BÌNH, tiểu sử: không biết. Tác phẩm duy nhất được phổ biến: Đường Lên Sơn Cước.

LÊ ĐÔ & VĂN HẠNH, tiểu sử: không biết.

LÊ HOÀNG LONG, sinh 1930 tại Sơn Tây. Tác phẩm duy nhất đã phổ biến: Gợi Giấc Mơ Xưa. Hiện sống tại Sài Gòn.

LÊ HỰU HÀ, tên thật, sinh năm 1946 tại Đồng Nai. Tác phẩm chính: Vào Hạ, Tôi Muốn, Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào, Hãy Ngước Mặt Nhìn Đời, Yêu Em, Đôi Khi Tôi Muốn Khóc, Lặng Nghe Con Tim Hát.

LÊ HỮU MỤC, sinh 1925 tại Phát Diệm, Ninh Bình. Viết nhiều sách biên khảo. Ca khúc duy nhất cho phổ biến: Hẹn Một Ngày Về.

LÊ MỘNG NGUYÊN, sinh 1930 tại Phú Xuân, Huế. Hiện sống tại Pháp. Tác phẩm chính đã phổ biến: Trăng Mờ Bên Suối, Vó Ngựa Giang Hồ, Trọng Thủy My Châu, Mưa Huế, Đôi Mắt Nhung, Về Chơi Thôn Vỹ, Mơ Đà Lạt, Hoàng Hoa Thôn.

LÊ THƯƠNG, tên thật Ngô Đình Hộ. Sinh năm 1914. Mất năm 1996 tại Sài Gòn. Tác phẩm chính: Bản Đàn Xuân, Thu Trên Đảo Kinh Châu, Thằng Cuội, Hòn Vọng Phu 1, 2, 3, Hoa Thủy Tiên, Học Sinh Hành Khúc, Nắng Hà Tiên.

Danh sách Tác giả

Ca Sĩ

112. Anh Ngọc

113. Khánh Hà

114. Kim Tước

115. Lưu Hồng

116. Mai Hương

117. Ngọc Lan

118. Quỳnh Giao

119. Sĩ Phú

120. Thái Thanh

121. Tuấn Ngọc

Nhà Văn – Nhà Thơ

122. A Khuê

123. Bùi Giáng

124. Cao Đông Khánh

125. Cao Tần

126. Cung Giũ Nguyên

127. Cung Trầm Tưởng

128. Đặng Trần Huân

129. Đinh Hùng

130. Đỗ Ngọc Yến

131. Đỗ Quỳnh Giao

132. Đỗ Tốn

133. Hoàng Anh Tuấn

134. Hoàng Đình Báu

135. Hoàng Hải Thủy

136. Hoàng Khởi Phong

137. Hoàng Ngọc Tuấn

138. Hoàng Trúc Ly

139. Hồ Hữu Tường

140. Huy Cận

141. Huy Phương

142. Huy Trâm

143. Huyền Vũ

144. Kiệt Tấn

145. Kim Tuấn

146. Lãng Nhân

147. Lâm Chương

148. Lê Đình Diểu

149. Lê Thiệp

150. Lê Xuyên

151. Lưu Trọng Lư

152. Lý Hoàng Phong

153. Mai Ninh

154. Mai Thảo

155. Mai Trung Tĩnh

156. Minh Võ

157. Ngô Thế Vinh

158. Nguyên Sa

159. Nguyễn Bạt Tụy

160. Nguyễn Chí Thiện

161. Nguyễn Đức Sơn

162. Nguyễn Hải Chí

163. Nguyễn Hiến Lê

164. Nguyễn Hữu Nhật

165. Nguyễn Hữu Trí

166. Nguyễn Khắc Hoạch

167. Nguyễn Nam An

168. Nguyễn Thị Hồng

169. Nguyễn Thị Vinh

170. Nguyễn Thụy Long

171. Nguyễn Tiến Lãng

172. Nguyễn Văn Sâm

173. Nguyễn Văn Vĩnh

174. Nguyễn Văn Xuân

175. Nhật Tiến

176. Phạm Hoàng Hộ

177. Phạm Huấn

178. Phạm Quốc Bảo

179. Phạm Quỳnh

180. Phan Khôi

181. Phan Lạc Phúc

182. Phan Lạc Tiếp

183. Phan Nghị

184. Phan Nhật Nam

185. Phan Xuân Sinh

186. Phùng Cung

187. Quách Tấn

188. Song Thao

189. Tạ Ty

190. Thái Thủy

191. Thanh Nam

192. Thanh Tuệ

193. Thảo Trường

194. Thơ Thơ

195. Thụy Khuê

196. Trí Hải

197. Tô Kiều Ngân

198. Tô Thùy Yên

199. Trà Lũ

200. Trần Dần

201. Trần Dzoãn Nho

202. Trần Đức Uyển

203. Trần Hoài Thư

204. Trần Lam Giang

205. Trần Mộng Tú

206. Trần Ngọc Ninh

207. Trần Phong Giao

208. Trần Thị Diệu Tâm

209. Trần Thị Ngh.

210. Trần Trị Chi

211. Trần Yên Hòa

212. Trần Hải

213. Tuệ Sỹ

214. Văn Quang

215. Văn Thế Bảo

216. Võ Phiến

217. Vũ Bằng

218. Vũ Hoàng Chương

219. Vũ Hữu Định

220. Vũ Khắc Khoan

221. Vũ Ký

222. Vũ Thư Hiên

223. Vương Đức Lệ

224. Vương Hồng Sến

225. Xuân Đỗ

226. Xuân Vũ

227. Y Uyên

Họa Sĩ & Nghệ Sĩ Tạo Hình

228. Đăng Giao

229. Hồ Thành Đức & Bé Ký

230. Mai Chửng

231. Nguyên Khai

232. Nguyễn Cao Đàm

233. Nguyễn Văn Trung

234. Thái Tuấn

Tài Liêu

[Trích Báo NGƯỜI VIỆT số 6448, ra ngày Chủ Nhật 3 tháng 8, 2003]

LTS: Chúng tôi vừa nhận được bài của tác giả Trần Huỳnh Châu bổ túc thêm một số chi tiết liên quan đến bài viết về La Hối của Nguyễn Đình Toàn, nguyên văn như sau:

Viết thêm một chút về DƯƠNG MINH NINH và LA HỐI

Của Trần Huỳnh Châu

Bản nhạc “Gấm Vàng” của Dương Minh Ninh là một trong những bản nhạc của vở kịch “Khói Lửa Cảo Kinh”.Hình như chỉ có bản “Gấm Vàng” được phổ biến và vở “Khói Lửa Cảo Kinh” cũng chưa bao giờ lên sân khấu. Vở

kịch này, nguyên thủy là một vở kịch thơ, tác giả là Vũ Hân. Ông Vũ Hân sáng tác thơ rất nhiều, và nhờ tài làm thơ, ông đã có một mối tình thật đẹp. Ông là một người có tật, đi đứng xiêu vẹo, đầu không đứng thẳng được mà lúc nào cũng ngoẹo cổ, tiếng nói không rõ ràng.

Tuy vậy, khi dạy học ở Huế, ông đã được một nữ sinh xinh đẹp xứ Huế đem lòng yêu và nhất quyết lập gia đình với ông, mặc dù gia đình cô này phản đối. Không biết sau khi lấy nhau cô có được hạnh phúc hay không, nhưng về phần nhà thơ tật nguyền Vũ Hân, mối tình cao đẹp đó quả là một phần thưởng xứng đáng cho con người tài hoa mà trời không cho sức khỏe tốt.

Vở kịch “Khói Lửa Cảo Kinh” dựa theo truyện U Vương Bao Tự, câu chuyện tình mở đầu cho cuốn “Đông Châu Liệt Quốc”. U Vương, vua nhà Chu [lúc đó là Tây Chu], say đắm Bao Tự, mà Bao Tự lúc nào cũng buồn, không bao giờ cười. Một hôm, thấy Bao Tự có vẻ vui khi nghe tiếng xé lụa, nhà vua ra lệnh tập trung các thứ vải quý như gấm, lụa để các cung nữ vừa múa hát vừa xé gấm xé lụa … nhưng người đẹp  Bao Tự vẫn không cười. Bản nhạc “Gấm Vàng” thuộc đoạn này trong vở kịch.

Gấm ái gấm ân

Gấm tan ngàn mảnh giai nhân không cười

Giai nhân trong câu hát chính là Bao Tự vậy. Về sau, có người xúi dại, U Vương cho đốt Phong Hỏa Đài, làm cho các Chư Hầu tưởng là có giặc đánh kinh đô, hấp tấp kéo quân về cứu giá, không ngờ đến nơi chỉ thấy Ư Vương cùng Bao Tự bình yên trên mặt thành, nên lại vội vã kéo quân đi. Bao Tự

thấy các Chư Hầu ngỡ ngàng vì bị lừa thì cất tiếng cười vui. U Vương sung sướng với nụ cười Bao Tự, nhưng chẳng bao lâu sau, có giặc thật sự đến đánh, lại đốt Phong Hỏa Đài, thì lần này Chư Hầu chẳng ai kéo quân về nữa, cho nên U Vương bị rợ Khuyển Nhung giết chết. Kinh thành của nhà Chu lúc đó thuộc xứ Cảo [hay Kiểu] nên gọi là Cảo Kinh. Cảo Kinh ở phía Tây, sau này là Trường An, bây giờ gọi là Tây An; khách du lịch đi Trung Quốc, đến Tây An, thường được hướng dẫn đến núi Ly Sơn, nơi có Phong Hỏa Đài ngày trước. Sau khi Ư Vương chết, nhà Chu phải rời kinh đô sang phía Đông [nên gọi là Đông Chu], nhưng uy tín đối với Chư Hầu đã mất, nên các Chư Hầu đánh nhau lung tung, gây nên thời đại loạn 700 năm, trong đó có hai giai đoạn chính là Thời Xuân Thu và Thời Chiến Quốc. Thời Xuân Thu thì các Chư Hầu chỉ đánh nhau, nhưng vẫn còn kiêng nể nhà Chu phần nào. Đến khi Khổng Tử ra đời và kế tiếp, các nhà tư  tưởng lớn đi du thuyết các Chư Hầu, thì mới có kế hoạch lớn như Liên Hoành, Hợp Tung, đó là thời Chiến Quốc, kết thúc bằng việc Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Tàu. Ai muốn biết rõ chi tiết, xin đọc cuốn Đông Châu Liệt Quốc.

Trở lại với Dương Minh Ninh và La Hối.

Thời trước 1945, Hội An gọi là Faifo, tuy là một thành phố rất nhỏ, nhưng có nhiều người chơi nhạc. Có lẽ người đứng đầu là nhạc sĩ La Hối. Ông thuộc một gia đình giàu có ở Hội An, gia đình La Thiên Thái. Ông vừa có tài về âm nhạc, vừa được học nhạc đến nơi đến chốn. Ông lập ra ban Philharmonique de Faifo, điều khiển ban nhạc, soạn hòa âm và chơi piano. Ông sáng tác nhiều, nhưng chỉ có bài “Xuân Và Tuổi Trẻ” là được phổ biến rộng rãi. Căn phố được thuê để ban nhạc tập dượt cùng một dãy phố gia đình tôi cư ngụ. Vì vậy tôi nghe và thuộc nhiều bản nhạc Tây Phương khi còn học tiểu học. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ bản nhạc “Le Reveil Du Lion” của La Hối diễn tả sự thức dậy của nước Trung Hoa, mà lúc đó Tây Phương cho là con sư tử ngủ. Gia đình La Thiên Thái theo Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Thân phụ tôi có kể lại là khi cụ Phan Bội Châu hoạt động ở Nhật Bản và Trung Quốc, cụ có nhờ các Hoa kiều chuyển tài liệu cách mạng về nước và ở Hội An, các nhân sĩ cách mạng tại Quảng Nam thỉnh thoảng có nhận được tài liệu do gia đình họ La trao lại. Năm 1945, nhạc sĩ La Hối bị Nhật bắt và xử tử cùng với khoảng mười người khác ở chân núi Phước Tường, gần Đà Nẵng. Sau khi Nhật đầu hàng, Hoa kiều tại Hội An đã tìm được xác, đem về cải táng với tang lễ trọng hậu. Theo tôi biết thì bản nhạc “Xuân Và Tuổi Trẻ” không phải là phổ nhạc thơ Thế Lữ. La Hối đã viết bản nhạc này với nhan đề tiếng Pháp là “Printemps Et Jeunesse”, nhan đề tiếng Việt đầu tiên là “Thanh Xuân” sau mới đổi lại là “Xuân Và Tuổi Trẻ”. Bản này cũng có lời ca tiếng Trung Hoa. Trong chuyến hướng dẫn đoàn kịch Anh Vũ lưu diễn miền Trung [khoảng cuối năm 1945], Thế Lữ ghé lại Hội An, thấy bản nhạc hay, đặt lời ca tiếng Việt.

Dương Minh Ninh cũng xuất thân từ Hội An và sáng tác nhiều bài, nhưng bây giờ dường như không có bài nào được mọi người ca hát nữa. Nếu không có bài viết của Nguyễn Đình Toàn, có lẽ không ai nhớ đến bài Gấm Vàng. Từ năm 1946 đến 1954 Dương Minh Ninh cùng với Lê Trọng Nguyễn là những tên tuổi lớn về âm nhạc trong vùng Liên khu 5, Nam Ngãi Bình Phú. Bản nhạc Trai Đất Việt và bản Đường Chiều là hai bản của Dương Minh Ninh rất phổ biến tại Liên khu 5. Tuy vẫn còn thuộc hai bài này tôi chỉ nhớ lõm bõm lời ca.

Trai đất Việt

Trai hùng Nam quốc quyết đem thân ra sa trường

Mau mài gươm báu đánh tan quân sài lang

Hồn ai linh thiêng đâu đây giúp ta rửa nhục chung

Đường Chiều

Băng qua rừng chiều nắng nghiêng sườn non chơi vơi

Có toán quân đi theo tiếng nước non xa vời …

Về sau, vào năm 1952, Lê Trọng Nguyễn trốn về vùng Quốc Gia, sau rất nổi tiếng với bản Nắng Chiều. Còn Dương Minh Ninh, kể từ năm 1954, không nghe ông có sáng tác nào khác, về sau không biết vận mạng ra sao.

Danh Sách Nhạc sĩ/

1. Anh Bằng

2. Anh Việt

3. Anh Viet Thu

4. Bạch Bích

5. Canh Thân

6. Châu Kỳ

7. Chung Quân

8. Cung Tiến

9. Dzoãn Cảnh

10. Dzoãn Mẫn

11. Dương Minh Ninh

12. Dương Thiệu Tước

13. Đan Thọ

14.Đan Trường

15.Đào Thừa Liệt

16. Đặng Thế Phong

17. Đoàn Chuẩn

18. Đỗ Kim Bảng

19. Đỗ Lễ

20. Đỗ Nhuận

21. Đức Huy

22. Đức Quỳnh

23. Hiếu Nghĩa

24. Hoài An

25.Hoàng Dương

26. Hoàng Giác

27. Hoàng Nguyên

28. Hoàng Quý

29. Hoàng Thi Thơ

30. Hoàng Trọng

31. Hồng Duyệt

32. Hùng Lân

33. Huỳnh Anh

34. Hữu Hiệp & Hữu Châu

35.Khánh Băng

36. La Hối

37. Lam Minh

38. Lam Phương

39. Lâm Tuyền

40. Lê Bình

41. Lê Đô

42. Lê Hoàng Long

43. Lê Hữu Mục

44. Lê Hựu Hà

45. Lê Mộng Nguyên

46. Lê Thương

47. Lê Trạch Lựu

48. Lê Trọng Nguyễn

49. Lê Trực

50. Lê Uyên Phương

51. Lê Vy

52. Lê Xuân Ái

53. Lê Yên

54. Long Châu

55. Lưu Hữu Phước

56. Lương Ngọc Châu

57.Minh Kỳ

58. Ngọc Bích

59. Ngô Thụy Miên

60. Nguyễn Đình Nghĩa

61. Nguyễn Đình Phúc

62. Nguyễn Đức Quang

63.Nguyễn Đức Toàn

64. Nguyễn Hiền

65. Nguyễn Thiện Tơ

66. Nguyễn Văn Khánh

67. Nguyễn Văn Quỳ

68. Nguyễn Văn Thương

69. Nhật Bằng

70. Phạm Duy

71. Phạm Duy Nhượng

72. Phạm Ngữ

73. Phạm Trọng

74. Phạm Văn Chừng

75. Phan Huỳnh Điểu

76. Phan Ni Tấn

77. Tạ Tấn

78. Thanh Bình

79. Thẩm Oánh

80. Thu Hồ

81. Tô Vũ

82. Trần Duy Đức

83.Trần Quang Lộc

84. Trần Thiện Thanh

85. Trần Văn Lý

86.Trần Văn Nhơn

87. Trịnh Công Sơn

88. Trịnh Hưng

89. Trịnh Văn Ngân

90. Trọng Khương

91. Trúc Phương

92. Từ Công Phụng

93. Tử Phác

94. Từ Vũ

95. Tuấn Khanh

96. Ung Lang

97. Văn Cao

98. Văn Chung

99. Văn Giảng

100. Văn Khôi

101. Văn Phụng

102. Văn Trí

103. Việt Lang

104. Võ Đức Phấn

105. Võ Đức Thu

106. Vũ Chấn

107. Vũ Nhân

108. Vũ Thành.

109. Xuân Lôi

110. Xuân Tiên

111. Y Vân

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 15 Aug 2025

10. Tuấn Ngọc

Kể từ khi lưu lạc ở xứ người, chúng ta đã thấy có bao nhiêu gia đình có những người con giỏi giang, thành đạt trong khoa bảng, học thuật. Nhưng một gia đình có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng thì vẫn còn hiếm.

Riêng trong lãnh vực âm nhạc, gần chúng ta nhất, có thể kể tới gia đình nhạc sĩ Phạm Đình Chương, với các giọng ca: Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, Thái Thanh. Gia đình Nhật Bằng với 4 giọng ca: Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần, Hồng Hảo. Gia đình Phạm Duy với 4 anh em: Duy Quang, Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo.

Rồi gia đình nhạc sĩ Lữ Liên với những giọng hát: Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Lưu Bích, Anh Tú … Tuấn Ngọc và Khánh Hà được coi như là những ca sĩ hàng đầu của chúng ta ở hải ngoại hiện nay. Có một hiện tượng đáng ghi nhận trong sinh hoạt âm nhạc của chúng ta, cũng như một số các nước Đông phương khác là: các giọng nữ luôn luôn nhiều hơn các giọng nam. Ngược lại ở các xứ phương Tây, các giọng ca nam được trân quý hơn.

Tại sao ư? Chắc có nhiều lý do. Ở đây chúng ta chỉ ghi nhận như một hiện tượng. Và trong bối cảnh ấy, Tuấn Ngọc như một bù đắp lớn. Nói như vậy không có nghĩa bảo rằng, ngoài Tuấn Ngọc chúng ta không còn giọng nam nào hát hay nữa. Có. Chúng ta vẫn có những giọng nam quý hiếm khác.

Điều chúng tôi muốn nói là Tuấn Ngọc nổi bật trong những số những giọng ca ấy và càng ngày càng được yêu mến. Cũng như Khánh Hà, Tuấn Ngọc có một lối hát tình ca khác với lớp người đi trước. Giọng Tuấn Ngọc mạnh và sắc sảo. Mạnh ở đây không chỉ có nghĩa là khỏe, mà có thể nói, tiếng hát như một nét khắc trên cái nền âm nhạc được hiểu theo người hát.

Người hát tin vào điều mình hát chứ không dựa vào điều mình hát. Cho nên tiếng hát dứt khoát. Sắc sảo bởi vì, nó in hằn cá tính Tuấn Ngọc chứ không

không phải chỉ có linh hồn của bài hát. Hát được như vậy hẳn phải là người có bản lãnh trong nghề nghiệp.

Phải nói giọng Tuấn Ngọc là giọng sẵng chứ không phải ngọt ngào. Ngọt ngào chỉ là cái dư vị người ta cảm thấy sau khi nghe Tuấn Ngọc hát. Chúng ta rất tiếc ít khi được nghe các ca sĩ của chúng ta trả lời các cuộc phỏng vấn, để biết rõ hơn trình độ hiểu biết cũng như quan niệm nghiêm túc của họ về công việc ca hát.

Dĩ nhiên, nhiệm vụ của ca sĩ là hát chứ không phải nói. Nhưng đọc hay nghe những ý kiến phát biểu của Nana. Mouscouri chẳng hạn, thật cũng không kém thích thú như nghe Nana hát vậy. Và người ta hiểu tại sao, những người như Nana đã bảo vệ mãi sự yêu mến của thính giả đối với tiếng hát của mình. Chúng tôi xin trích dẫn sau đây vài lời của Nana Mouscouri nói về việc hát tình ca.

Không biết Tuấn Ngọc có đồng ý một vài điều gì đó chăng? Tình yêu ở khắp mọi nơi. Và tôi nghĩ rằng, khi bạn yêu nghề thì bạn có thể làm cho tình yêu hiển hiện được. Tôi hiểu những bài hát của mình như là thứ tình yêu có thể nghe thấy được. Tình yêu ở trong chúng ta, tại đó, chúng ta phải tìm nó, ở đó chúng ta có thể tìm thấy nó. Khi tôi bắt đầu hát, tôi tập hợp tất cả những tình cảm mạnh mẽ của mình, trong các bài hát: tình yêu, tình bạn và cả sự giận dữ. Nói một cách khác là cả cuộc đời tôi. Tuấn Ngọc không nói gì về quan niệm hát của mình. Nhưng là một giọng ca đã chinh phục người nghe trong mấy chục năm trời và cho đến bây giờ vẫn còn tiếp tục được yêu mến, hẳn Tuấn Ngọc cũng đã có những quan niệm nghiêm chỉnh và riêng biệt về công việc ca hát.

Tuấn Ngọc

Thiên Đàng và Địa Ngục

hung-viet.org

13 Tháng Giêng 2012

Huy Phương

Post by Sơn râu 14 Aug 2025

“Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế

Khổ đau chia, khi sung sướng một mình

Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy

Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!” (HP)

(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)

Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:

Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đồi, trên một triền núi, người lữ hành trông thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:

– Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?

– Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Đàng.

Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Đàng hay Địa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:

– Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.

– Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.

Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:

– Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây.

Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình. Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.

Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây. Người lữ khách lên tiếng:

– Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.

– Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống bao nhiêu cũng được.

Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trở lại con đường gặp ông già để cám ơn. Ông già nói:

– Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!

– Đây là đâu? Thưa ông?

– Đây là Thiên Đàng!

Người lữ khách ngạc nhiên:

– Đằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Đàng. Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?

– Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấp nhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!

Đừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Đừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. “Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Được làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.

Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Đàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh” – danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè – mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cảm khí phách như Nguyễn Đình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.

Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển Đông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!” Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.

Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Đàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục. Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.

Huy Phương

Tháng Tư, thắng và thua

hung-viet.org

Huy Phương

29 Tháng Tư 2013

Post by Sơn râu 14 Aug 2025

Từ đầu năm 2013 đến nay, nhân cuốn “Bên Thắng Cuộc” của một nhà văn “bên kia” mới ra đời, hai tiếng “thắng” và “thua” đã được nói đến nhiều, cuộc tranh luận trên báo chí thì ít, mà trong câu chuyện lúc trà dư tửu hậu thì nhiều. Cuốn sách ấy đã phơi bày nhiều mặt trái không lấy gì làm đẹp đẽ của cái bên thắng cuộc, cũng như trình bày được những nỗi oan khuất, đau đớn của bên bại trận. Nếu thật sự bên thắng cuộc là một chế độ khác, một quốc gia khác, có một nếp sống và trình độ, dân trí khác, thì chúng ta, những người miền Nam thua trận đâu đến đỗi tan tác, chia lìa và chịu những nỗi thống khổ dai dẳng như vậy.

Tôi cũng rất đỗi ngạc nhiên khi vài người quen biết, thân có, sơ có, đã nói với tôi những lời khá đứng đắn, không hề có ý đùa giỡn là: “Chúng ta là những người thắng trận, chúng ta đâu có thua!” Đằng sau câu nói này, tôi không biết khi dừng lại, kiếm một chỗ ngồi để tranh luận, chúng ta sẽ nói như thế nào cho tròn ý nghĩa của việc thua thắng, câu chuyện đã để lại những vết hằn lên tâm khảm chúng ta, 38 năm qua chưa đủ kín vết thương để thành vết sẹo, mà đôi khi còn rỉ máu. Là những người lính, trước hết phải nhận trách nhiệm đã không làm tròn công cuộc bảo vệ quê hương của mình, để rơi vào tay cộng sản, một chế độ tệ hại nổi tiếng trên thế giới đã làm cho con người đắm chìm vào đau khổ, tai ương.

Những bậc trí thức miền Nam cũng không thể đổ lỗi cho người khác, vì quốc gia hưng vong, thất phu phải hữu trách, mà phải như một nhà thơ đã dám viết lên câu: “Tôi làm tôi mất nước!”

Chúng ta giải thích thế nào về sự thắng bại khi đã để cho hàng nghìn đồng bào ruột thịt của mình vì quá sợ hãi cộng sản đã bỏ mình khi trốn chạy chế độ này từ cuối Tháng Ba 1975 cho đến ngày tàn cuộc, và còn mãi mãi sau đó trong rừng sâu, ngoài biển cả, mà miền Nam, không có gia đình nào không âm thầm vấn những mảnh khăn tang, nuốt những dòng lệ vào lòng, xóa gạch tên người thân trong tờ hộ khẩu với hàng chữ: “Vắng mặt không lý do!” Những người lính luận về thắng bại thế nào khi đã không bảo vệ được cho đồng bào ruột thịt mình lúc giặc vào nhà, để cho chiến hữu, đồng đội của mình bị trả thù, tàn sát; bị lùa vào các trại tập trung, lao động khổ sai, bỏ mình nơi chốn rừng thiêng, nước độc. Những người có trách nhiệm luận thế nào về chuyện thắng thua, khi để lại một miền Nam cho những kẻ gian tà, độc ác khiến cho ngày nay, nhân tâm ly tán, đạo lý suy đồi.

Trong binh lược, thắng là kẻ làm chủ trận đánh cuối cùng. Ban Mê Thuột có được xem là trận đánh cuối cùng không hay trận đánh cuối này đã được quyết định ở Bắc Kinh hay Hoa Thịnh Đốn, và sau đó không còn trận đánh nào nữa, mà chỉ là những kế hoạch lui binh, nhường đất.

Từ 1973 miền Nam bị Quốc Hội Mỹ cắt giảm viện trợ mỗi năm 50%, từ Tháng Tư 1974 hỏa lực giảm 70%, Tháng Hai 1975 đạn trong kho chỉ còn đủ đánh 30 ngày, Tháng Tư 1975 chỉ còn đủ đạn đánh 2 tuần, trong khi đó miền Bắc vẫn được Nga và Trung Quốc viện trợ dồi dào, khoảng 660 ngàn tấn vũ khí, đạn dược. Riêng chi viện của Nga cho Bắc Việt từ Tháng Mười Hai 1974 đã tăng gấp bốn lần.

Cũng có thể nói, miền Nam thua vì “hết đạn”.

Không phải tướng tài là trăm trận trăm thắng. Napoleon được coi là một trong những nhà quân sự vĩ đại nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của vị danh tướng này được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa Châu Âu, nhưng cuối cùng với trận Waterloo vào Tháng Sáu năm 1815, Pháp phải đầu hàng và vị danh tướng lẫy lừng Napoléon đã trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena, nơi ông qua đời vào năm 1821.

Từ 1941-1945, quân đội Nhật hùng cứ khắp Đông Nam Á, nhưng trận chiến cuối cùng là Okinawa, tiếp đến hai quả bom nguyên tử thả xuống đất Nhật đã khiến Nhật phải đầu hàng. Việc đầu hàng này ít nhất đã làm cho ba vị tướng lãnh cao cấp của Nhật tự sát là Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama và Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka.

Miền Nam thua mà can trường, anh hùng, sĩ khí với năm vị tướng và hàng trăm quân nhân tuẫn tiết ngày Sài Gòn thất thủ, vậy chớ nên đem thắng bại mà luận anh hùng.

Trong lịch sử đã có câu hỏi:“Ai chiến thắng mà không hề chiến bại?”

Huống gì người lính của chúng ta, anh hùng, khí tiết có thừa mà phải thua trận vì bị phản bội. Đồng minh phản bội, cấp lãnh đạo đất nước đã bất tài lại phản bội, để người lính phải chịu thất trận, chịu chết đau đớn, oan khiên. Nỗi đau thua trận không chỉ là trong khoảnh khắc mà kéo dài qua nhiều thế hệ, để ngày nay một đứa trẻ mới lớn lên, có thể hỏi chúng ta:

“Tôi là người Việt Nam, vì sao tôi đến đây?” Không thể nói với thế hệ này rằng chúng ta thắng. Không thể đem điều thắng bại để biện minh, vì thua trận để chịu cảnh lưu vong, lúc nào cũng là điều đau xót khôn nguôi.

Nhưng thử nhìn lại đất nước. Danh từ “giải phóng” phải được dùng đúng nghĩa của nó như khi lực lượng Đồng Minh tiến vào Paris ngày 26 Tháng Tám năm 1944, giải phóng phải như Huế sau 26 ngày khi người lính Việt Cộng bị truy đuổi ra khỏi thành phố. Quân đội giải phóng không phải là thứ quân đội tiến đến đâu, dân chúng bỏ làng bỏ xóm chạy đến đó.

Quân đội giải phóng không phải là thứ quân đội cướp bóc mang của cải ùn ùn chở về Bắc, dùng súng ống để khống chế tư sản cướp tiền của và áp bức lê dân. Ngày mà “quân đội giải phóng” tiến vào Sài Gòn, 120,000 người miền Nam đã “bỏ của chạy lấy người,” ngày mà khắp nước bị vỗ tay hát theo nhau bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng,” cả vạn người đã dắt díu nhau ra đi, chấp nhận bao gian nguy, chết chóc, vì không còn muốn thấy bản mặt của chế độ dù thêm một ngày.

Nói như tác giả Bình Ngô Đại Cáo: “Đem đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” thì bên thắng cuộc “lấy hung tàn mà thắng đại nghĩa, dùng cường bạo để thay chí nhân!” Cũng đồng nghĩa như thế chúng ta đã nghe câu nói “cái ác thắng cái thiện” của John McCain, hay “nền văn minh đã thua chế độ man rợ” của Dương Thu Hương về chuyện “thắng-thua” ngày 30 Tháng Tư 1975.

Bên thắng cuộc đã xô đẩy bằng cách này hay cách khác ba triệu người Việt ra hải ngoại. Nếu chế độ tốt đẹp ai lại không muốn sống trên quê hương của mình. Hôm nay, cuộc vượt biển vẫn còn tiếp diễn!

Ba mươi tám năm nay, người Việt Nam đã đặt câu hỏi “Ai giải phóng ai?” thì câu trả lời cũng sẽ làm nhẹ lòng cho những người còn ám ảnh bởi chuyện “thua hay thắng”.

Huy Phương