Cẩu xực

Hồ Đình Nghiêm

 Sợi dây căng thẳng có khi chùng. Con chó như dẫn người đàn bà đi không giới hạn vào buồn vui vận tốc. Nó thích gầm đầu hôn hít bậy bạ, bờ hoa bụi cỏ rồi tìm gốc cây như thể ưa chơi trò trốn tìm. Ồ, hoá ra là chó mà cũng biết cả thẹn. Nghe nói ở bên mình, người ta bú mồm nhau thì lôi vào chỗ um tùm kín đáo còn thường khi việc tiểu tiện thì cứ vạch quần chu mõ huýt sáo mà đái giữa chốn thông thoáng thanh thiên bạch nhật. Sảng khoái cầm vòi vẽ rồng vẽ rắn vào tường vôi chưa đủ đậm mùi hôi khai.
Khi vật đứng ba chân sè sè nắm đất bên đàng, hai tay khổ chủ chỉ còn một, năm ngón tự động lôi từ túi áo ra cái bao ny-lông vệ sinh chốn công cộng, làm chủ tập thể, thể hiện nếp sống văn minh. Gần mực thì đen gần đèn thì sáng. Sông có khúc người có lúc. Lúc này tự dưng đâm yêu thú vật, mà nói nào ngay con cún này nó tình nghĩa với mình không bút mực nào tả xiết. Xẻ ruột đẻ ra đứa con chưa chắc nó “trả hiếu” bằng Lu nhà ta. Đi làm về nó chực sẵn sau cửa, cuống quýt tha dép tới cho mình thay giày. Nó bu sau mông đít mình mà thổ lộ nỗi nhớ mong, phụ giúp mình chuyện tha rác ra bỏ ngoài đường lộ. Thương hết biết!
Dắt chó đi dạo chẳng qua là nó muốn đi ngoài. Sợi dây căng, gượm đã, chờ tao hốt phân. Chốn đây kỳ khôi những sắp hạng: Trẻ con phụ nữ mèo chó mới tới kỳ cùng phàm phu tục tử. Giờ này ổng ngồi nhà chat chit với thằng em cách một đại dương, thi thoảng nghe má đứng hình trải lòng dặn dò, lập một danh sách dài toàn nhu yếu phẩm mang về kính lão đắc thọ. Má lóng rày coi bộ đã nhác chơi. Quê mình con Hương tội nghiệp bị uống nhằm thuốc giả, 13 tuổi vừa có kinh, xong biến thành tuổi nghi bất hoặc, không dưng tóc úa màu đành xem như quá độ tuổi thanh xuân, ai nào ngờ. Bởi vậy bà Quê gần 60 mà vẫn còn trinh, nói ra chẳng ai nghe còn trách bả “chảnh”. Pilot trẻ trong xóm chả có ma nào ham lái máy bay bà già! Khổ thế! Người còn vậy huống chi hoa quả, trái mít đang xanh lè chích một liều hoá chất thành vàng lườm, mủ thôi rít tay và thơm ngọt đúng quy trình. Mãi chung đụng thứ này sớm có ngày phủi chân “leo lên nóc tủ ngắm gà khoả thân”.
Bị chẳng ai trông con và chăm cún nên đành xốn lòng để ổng về mình ên. Em à chuyện bất đắc dĩ thôi mà. Bản thân anh rất ngại đường xa, dắt con Lu đi loanh quanh đã nghe oải huống hồ ngồi chết cứng gần ngày trời trên máy bay. Bả sắp xuống lỗ rồi, chuyến này về có thể nhìn nhau một lần cuối. Khi xưa học thuộc lòng câu: “Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Giờ này khôn dại chưa tường nhưng là thời điểm phải ở nhà với mẹ. Chỉ một tháng thôi em à, 30 ngày phù du, một chợp mắt.
Lão vác hành lý ra đi, kêu taxi, bộ tịch xẳng xái. Con Lu đứng nhìn chả thèm vẫy đuôi. Thằng con mới có 12 tuổi, phát ngôn như trong phim bộ: Mom thiệt dại khờ khi thả hổ về rừng. Con nghe bạn học “say”: Ở bển có tiền mua tiên dễ như ăn cháo, tha hồ húp, nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Người đóng vai mom hát thầm nhạc vàng boléro “một mai xa cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, ta lại về bên nhau”. Mệt mày quá, tao dắt con Lu ra công viên hít thở khí trời cho điều hoà kinh mạch.
Thằng em chở lão trên xe gắn máy dềnh dàng. Như giao hẹn, thổ công đã chí tình dắt ông anh khúc ruột ngàn dặm đi thư giãn tới bến. Đã quá mày! Về đây tao nghe như vừa trẻ lại 10 tuổi. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, sợ mình không lắm bổi thôi chứ tam cung lục viện có cả tỉ món đồi truỵ. Mày đừng vui miệng kẻo bà già nghe được thì thêm giảm thọ. Chưa kể bả mét cho con vợ tao hay thêm bù lu bù loa rách hết chuyện đại sự. Nàng bế môn toả cảng, nàng đóng cửa không cho bận sau ló mặt đi giao lưu linh tinh.
Xe tấp vào một quán nhậu, khói thịt nướng thơm điếc cả mũi. Bia ngoại mang ra cùng món đặc sản. Cậu em cụng bia: Chúc sức khoẻ, mừng anh thôi xa quê hương nhớ mẹ hiền. Mày gọi món này ngon a! Thịt con gì thơm quá mạng? Đứa em vốn không quen nói ra sự thật, hắn lấp liếm: Là thịt heo sữa đấy, chúng được tẩm hương liệu của Trung quốc nên thơm ngon là chuyện ắt phải có. Kêu thêm đĩa giả cầy nữa nhé? Ừ, mày cứ vô tư đi mà. Đồ nhắm quán này ngon nhức răng. Ông Việt kiều ham ăn nhậu, ham dòm cô phục vụ viên ăn vận thông thoáng nên không thấy đằng sau tủ kính treo lủng lẳng cả chục con chó co quắp hình hài khi thịt bị thui, bị nướng, bị quay, bị nung lửa…
Chỗ hai anh em ngồi nhậu, đồng hồ điểm 10 giờ đêm. Nhưng nơi công viên xứ lạ lại là 10 giờ sáng. Sợi dây trong tay người đàn bà bị vuột khỏi năm ngón, con Lu phóng rượt theo một trái banh từ cú sút sai mục tiêu của một đứa mơ làm cầu thủ. Trái bóng bay khỏi sân cỏ dội thình thịch xuống đường nhựa. Tiếng đạp thắng gấp rút của một chiếc xe vừa vụt ngang, chấm dứt hai tiếng kêu cùng lần: Chó và người đàn bà lạc giọng. Máu từ tốn chảy, mặt đất từ tốn hút lấy. Nước mắt người đàn bà đổ ra, hoen mờ, thác lũ. Hai tròng con Lu không nhắm, nó nhìn lên người đàn bà với thứ nỗi niềm câm lặng. Chẳng mấy lâu, từ hố mắt thăm thẳm kia ứa ra một giọt lệ. Người đàn bà ngồi bệt xuống đường, cong lưng phủ che lên xác chó thân thương. Bà gào lên: Lu. Lu ơi… Lu ơi! Bà khóc thành tiếng, nước mắt nóng hổi rơi vào, đọng trong đôi mắt trừng mở. Lu, Lu ơi. Bà đưa tay vuốt mắt.

Hồ Đình Nghiêm

Cái bóng của vị thầy tu

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

January 2, 2017

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

   

 

(tặng bạn tôi N.V.L)

Dừng xe trước quán cà phê nằm bên triền núi, tôi kéo Lân vào ngồi bên chiếc bàn nhỏ, nằm riêng rẽ dưới bóng mấy cành thông. Ngày thường, quán vắng khách. Đã hơn bốn giờ chiều mà mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Mùa hè Bắc Âu ngày dài ra, có những ngày cuối tháng sáu, gần như không thấy bóng đêm. Trời nắng, nhưng không nóng lắm. Thỉnh thoảng có vài cơn gió làm lung lay những cành thông, như muốn khuấy động cái không gian tĩnh mịch và tạo thêm chút mát mẻ, thư thái cho khách nhàn du.

Đến đây đã nhiều lần, dần dà bọn tôi trở thành khách quen của ông chủ quán, người Na-Uy, vốn trước kia ở cùng xóm với tôi, nên đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi đặc biệt, thoải mái. Hơn nữa đã từng nghiên cứu về Đạo Phật, nên thấy Lân trong bộ áo thầy tu, ông chủ cũng tỏ ra ít nhiều tôn kính, có khi trao đổi đôi điều về Phật và Thiền học, mặc dù ông chưa hề biết quá khứ, nhất là cả một thời tuổi trẻ đầy sôi nổi, hào hùng và biến động của Lân.

    Gần mười năm nay, sau khi về hưu, hằng năm, vào khoảng giữa tháng Mười, vợ chồng tôi thường sang Cali ở sáu tháng để trốn mùa Đông Bắc Âu, mà với tuổi già càng lúc cái lạnh như càng ngấm vào da thịt và cả trong lòng mình.  Đến hè, mỗi lần trở lại Na-Uy, tôi thường ghé lại thăm Lân. Từ lúc nhận ra tuổi già qua nhanh quá, cái quỹ thời gian không còn nhiều, và một số bè bạn đã lần lượt ra đi, chúng tôi dành nhiều thì giờ cho nhau hơn. Lân về hưu trước tôi một năm, và anh đã chọn một hướng đi đặc biệt cho tuổi già: tu tại gia. Anh xuống tóc, ăn chay trường và mỗi ngày sống với kinh kệ như một vị thầy tu, mặc dù không đến chùa. Anh cho rằng cái khung cảnh và sinh hoạt ở một số chùa chiền bây giờ không thích hợp với anh. Hầu hết bạn bè và những người quen biết đều tôn trọng cái quyết định đó, cũng như rất mến mộ phong cách, đạo đức của anh. Thực ra, trước khi chọn con đường tu hành, anh cũng đã có đầy đủ tố chất của một vị chân tu rồi. Hiền lành, đạo hạnh, luôn chia sẻ tấm lòng với tha nhân, nhất là những người không may, gặp điều khốn khó, và với ai anh cũng luôn nở một nụ cười hiền hòa nhân ái. Lân dùng nguyên ngôi nhà ở sửa sang lại làm tịnh thất, nằm trong khu ngoại ô, bên bìa rừng yên tĩnh. Anh sống ẩn dật, chỉ tiếp vài ba người bạn chí thân.Tôi thường đến đây với Lân, có khi ở lại cả tuần, theo anh ngồi tĩnh tâm hay tập thiền, nhưng thỉnh thoảng Lân cũng chìu tôi, theo tôi ra ngồi ở cái quán cà phê  bên vách núi yên tĩnh này. Tôi nghĩ đây là nơi lý tưởng để Lân còn nhìn thấy một chút “thế gian” và chúng tôi có thể ngồi hằng giờ tâm sự chuyện đời xưa,  nhắc nhớ khoảng thời gian khá dài mà chúng tôi có cùng chung quá khứ.

***

Tháng sáu năm 1976, sau khi bị chuyển tù ra Bắc, đến Trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, tôi gặp lại người bạn cũ, có thời ở cùng đơn vị. Anh ở khác lán với tôi, nhưng cùng tổ và nằm bên cạnh Lân. Qua anh bạn này, tôi quen biết Lân từ đó, để rồi sau này trở thành thân thiết. Điều đặc biệt là dù qua bao lần “biên chế”, bị chuyển đi nhiều trại, Lân và tôi đều được may mắn, đi chung với nhau cho đến ngày Lân ra tù, tháng 9 năm 1981.

    Trước ngày miền Nam thất thủ, Lân là thiếu tá, làm việc ở Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân (thuộc Bộ Tư lệnh Không Quân). Một công việc bất đắc dĩ, ngoài sở thích của Lân. Anh vốn là phi công trực thăng được chuyển về đây sau khi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa và được Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp vào loại 2, không thể phi hành hay chiến đấu được. Anh bị trọng thương trong một chuyến bay cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi trong trận chiến An Lộc.

     Lớn hơn tôi một tuổi.  Lân tình nguyện vào Không Quân và được sang Mỹ học ngành hoa tiêu trực thăng. Về nước được bổ sung cho Phi Đoàn Long Mã 219 ở Đà Nẵng, từ thời còn sử dụng trực thăng loại H-34, về sau này được thay thế bằng UH-1. Đây là một phi đoàn đặc biệt. Trên các máy bay sơn toàn màu đen, không vẽ quốc kỳ và  bất cứ danh hiệu hay mã số nào, ngoài hình những lá bài “ách xì” cơ, rô, chuồn, bích. Phi Đoàn có nhiệm vụ thả và bốc các toán lôi hổ, biệt kích, hoạt động trong vùng đất địch. Lân nổi tiếng là một phi công tài giỏi, thông minh và can đảm.

      Sau đó, được thuyên chuyển về một phi đoàn thuộc Vùng 3. Năm 1970, Lân cùng phi đoàn đã đóng góp nhiều chiến công trong các cuộc hành quân sang lãnh thổ Cam- Bốt. Năm 1972, tham dự trận chiến An Lộc, đổ quân, tản thương cho Liên Đoàn 81 BCND và một số đơn vị thiện chiến khác, Lân mấy lần bị thương nhẹ, được đặc cách thăng cấp thiếu tá. Khi đã có lệnh và đang chờ thuyên chuyển đến một phi đoàn khác để giữ chức vụ Phi Đoàn Phó, thì anh tình nguyện tham gia phi vụ cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi. Nhờ tài năng, lòng dũng cảm và nhất là tình đồng đội “không bỏ anh em không bỏ bạn bè”, anh đã bất chấp mọi hiểm nguy, cứu được 3 trong 4 người của một phi hành đoàn, khi phi cơ phải đáp khẩn cấp vì bị trúng đạn phát hỏa, người xạ thủ đã bị tử thương. Được bốn gunships yểm trợ, Lân đã lừa địch và bất ngờ đáp xuống trong màn lưới đạn, bốc ba người bạn đang bị Cộng quân truy bắt. Nhưng khi vừa bốc phi cơ lên, Lân bị trúng hai viên đạn, làm gãy xương cánh tay và ống chân trái. Sau này, trong một dịp tình cờ, tôi gặp anh co-pilot trong phi vụ này, kể lại chuyến bay rescue vô cùng hiểm nguy với tất cả lòng thán phục Lân.  Anh bảo, nếu không có Lân hôm ấy, chắc chắn việc cấp cứu đã không thành và ba người bạn cùng phi đoàn đã bị địch quân giết hay bắt sống.

     Khi ở trại Nghĩa Lộ, tôi được sắp xếp cùng tổ với Lân. Chúng tôi thuộc đội phát rừng (vào mùa Đông) và tăng gia (vào mùa Hè, vì mùa Đông, ở vùng này rất lạnh, không trồng rau được). Tù ăn uống thiếu thốn và lao động cực khổ, nhưng Lân rất khỏe mạnh. Có lẽ nhờ vào khả năng mưu sinh. Phải nói đây là một sở trường đặc biệt của Lân mà bạn tù ai cũng nể phục. Anh có thể bắt tôm, cá bằng tay không,  khi đứng giữa một dòng suối hay con sông. Nhìn dấu chân các loài vật anh biết ngay đó là con vật gì. Chỉ cần một nhánh cây anh có thể “sáng chế” thành một cái bẫy để bắt các loại chim, chồn, và cả thỏ rừng. Nhờ vậy mà anh nuôi sống cả một tổ tù, đặc biệt cứu vài người bị đau bệnh, kiệt sức. Anh còn biết cả thuốc Nam, các loại lá, vỏ cây trị bệnh. Một lần đi rừng chặt nứa, tôi bị một con ong đất chích vào tay, sưng vù lên và tím cả một vùng da. Lân cho biết nọc loài ong này rất độc, có thể làm chết người. Anh dùng dây rừng cột chặt cánh tay tôi lại, đi tìm một loại lá và vỏ cây gì đó đắp lên. Chỉ sau một giờ đồng hồ vết sưng biến mất. Một buổi trưa nhân ngày lễ, được nghỉ lao động, anh đã câu được gần ba mươi con ếch ngay trong trại, dưới các rãnh mương thoát nước. Chính tay trưởng trại đã đi theo xem và phục tài của Lân. Tất cả ếch câu được đều giao cho nhà bếp “hậu cần” để có thêm chất thịt cho anh em.  Lân cho biết là chỉ cần nghe tiếng ếch kêu đêm hôm trước là anh biết có khoảng bao nhiêu con và đang trốn ở đâu. Cần câu chỉ là một thanh tre và một sợi chỉ từ cái bao cát được Lân xe lại, và mồi câu chỉ bằng một miếng bông gòn nhỏ. Tối hôm ấy, tôi khuyên Lân nên chấm dứt chuyện câu ếch và cần phải giấu kín cái tài mưu sinh, vì có thể bị bọn cai tù nghi ngờ, “ra tay” trước đề phòng khả năng anh trốn trại. Tôi cũng ngạc nhiên, khi Lân là một phi công “hào hoa”, nhưng khả năng mưu sinh thoát hiểm rất tuyệt vời. Lân cho biết, khi còn nhỏ, nhờ cả thời tuổi thơ sống bên quê ngoại, một vùng quê ở Tây Ninh, anh đã theo đám bạn bè và cả những người nông dân lớn tuổi, học được rất nhiều điều như thế.

      Điều làm tôi nể phục hơn, ngoài mưu trí, lanh lẹ, Lân còn là một con người gan dạ, liều lĩnh và chí tình với bạn bè. Một lần trải qua một trận kiết lỵ kéo dài, thuốc men không có, tôi chỉ còn khoảng ba mươi ký, kiệt sức đứng không vững. Lơi dụng lúc đi lấy “phân xanh” (loại lá cây để ủ thành phân bón), không có vệ binh canh giữ, Lân đã lén vào trại heo của Hợp Tác Xã (cách trại khoảng vài trăm mét, mà trước đó đám tù bọn tôi có đến vài lần làm chuồng cho họ) bắt một chú heo con (heo sữa) mang về giấu ngoài khu vực tăng gia (nằm sát bên hông trại), để hôm sau vùi vào hầm lửa (do tù đào và dùng các gốc cây đốt lửa sưởi ấm) cho tôi ăn dần. Nhờ đó mà tôi sớm lấy lại được sức. Một lần khác, khi được giao cho công việc lên phơi lúa trên sân trại, nằm ngay trước ban chỉ huy trại, Lân thấy có một buồng chuối thật dài sắp chín được đám bộ đội chăm sóc cẩn thận, bao lại bằng mấy tấm bao cát và chống lên bằng hai thanh gỗ. Vài hôm sau, trong một buổi sáng sớm mùa Đông, khi sương mù còn dày đặc (đứng cách vài thước không nhìn thấy nhau), Lân đã lẻn lên sân trại cắt trộm cả buồng chuối mang ra chôn giấu ngoài khu lao động. Hai hôm sau chuối chín, chờ lúc không có mặt tay quản giáo, Lân đào buồng chuối lên để cả tổ cùng ăn. Vì sợ mùi chuối chín dễ bị phát hiện, nên Lân đề nghị phải ăn cho hết. Một thời gian quá lâu thiếu chất đường, nên cả tổ tám người thanh toán buồng chuối khoảng một trăm quả trong vòng 20 phút đồng hồ mà vẫn chưa thấy ngọt. Nhưng vì ăn nhiều quá, nên khi vừa đứng dậy, cả bọn bị ói thốc tháo ra toàn là chuối.

      Biết tài bắt cá của anh, nên mỗi lần trại tù hay hợp tác xã bên cạnh tổ chức “tảo” các hồ cá để thả cá con, Lân đều được chọn đi bắt cá. Hầu hết các hồ chỉ nuôi loại cá trắm cỏ, nhưng có nhiều loại cá khác, như cá lóc, cá trê sống trong đó, sẽ ăn hết đám cá trắm cỏ con. Nên trước khi thả cá, phải “tảo”hồ, băng cách bơm cạn và bắt tất cả các loại cá khác nằm dưới bùn. Lân sở trường về việc này. Nhưng thay vì  phải giao tất cả cả bắt được cho trại, anh tìm vài cái hang dưới bờ hồ, tạo thành những cái hộc để nhốt một số cá lóc vào đó. Những cái hồ cá này, cũng là nơi cho tù rửa ráy hay tắm sau giờ lao động. Và cứ mỗi lần tắm, Lân lại bắt một con cá nhốt sẵn trong hộc, mang về cho cả tổ cùng ăn. Vì là đội tăng gia, được giữ mấy cái bình tưới bằng nhôm, nên dễ dàng giấu cá trong đó mà không bị “phát hiện”.

      Có một kỷ niệm tôi không thể nào quên. Một khoảng thời gian ở Trại Hang Dơi, bọn CS luôn tìm mọi cách vắt kiệt sức của chúng tôi. Tất cả tù đều phải lên rừng chặt nứa (loại tre nhỏ) mang về bán cho nhà máy giấy Việt Trì, theo hợp đồng của trại. Chỉ tiêu mỗi ngày là ba mươi cây. Nếu không đủ, sẽ không được nhận khẩu phần ăn. Chỉ sau một tháng là nứa ở các vùng núi chung quanh trại tù hết sạch. Chúng tôi phải chia nhau một toán ba người đi rất xa lên các dãy núi cao tìm nứa.  Lân và tôi luôn đi chung một toán. Trời mùa Đông, lạnh buốt xương, và suốt cả ngày mưa phùn rả rích. Các lối mòn, ngõ ngách lên núi biến thành bùn nhão, trơn như mỡ. Bọn tôi phải đóng những cái cọc ngắn dọc trên các con đường, mỗi lần vác nứa xuống, dùng đầu ngón chân tì vào các cọc để không bị trượt ngã xuống vực. Nguy hiểm hơn là khi bị té ngã, bó nứa chùi xuống đâm vào người đi trước, có thể mất mạng. Một buổi trưa, len lỏi trong rừng già, rất khó khăn để chui qua những cây mây già, nằm chằng chịt như những con trăn dài chặn các lối đi, những cây cổ thụ cao to che hết ánh sáng mặt trời. Khi bọn tôi đang lo âu có thể bị lạc đường, chia nhau đi chặt vào các thân cây làm dấu, thì bất ngờ một một cây cổ thụ bỗng rung rinh, lá cây xào xạc,  bóng một con vật to lớn nhảy xuống. Cả ba thằng khựng lại, rồi như theo bản năng, nhanh chóng tìm lại ngồi sát vào nhau, mặt thằng nào cũng tái xanh. Bỗng Lân quát lớn: “Đừng sợ, đứng dậy, đưa dao lên!” Tôi làm theo Lân như cái máy. Khi hoàn hồn, nhận ra ngay trước mặt mình không xa, một con dã nhân (vượn người?), cao to bằng ba con người, lông lá đầy mình, mặt mày dữ tợn, đang rú gào đe dọa chúng tôi. Lân rất bình tĩnh, bảo bọn tôi cùng hét thật lớn và bước tới với con dao đưa lên chém vào không khí. Không ngờ con dã nhân lùi lại, rú thêm mấy tiếng rồi nhảy phóc lên cây, phóng đi nơi khác. Hôm ấy bọn tôi về tay không và biết là sẽ bị phạt mất phần ăn, nên Lân đã đi tìm mấy mụt măng rừng và luộc lên cho bọn tôi ăn đỡ đói. Tôi và anh bạn tù kia phục Lân vô cùng. Nếu hôm ấy mà không có Lân, chẳng hiểu bọn tôi sẽ phản ứng ra sao. Cũng đã từng bao lần vào sinh ra tử, nhưng đứng trước một tình huống quá bất ngờ này, thực tình chúng tôi mất hết bình tĩnh, chẳng biết cách nào đối phó. Đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con vật lạ lùng, ghê sợ, mà trước đây chỉ biết mơ hồ qua sách vở và lời kể của ông bà.

     Năm 1979, trước khi chuyển trại để rời khỏi Hoàng Liên Sơn, vì Trung Cộng đang tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc, đội tù chúng tôi được chọn ra hai tổ đi lao động “thông tầm”, gặt lúa cho một HTX nông nghiệp, ở cách xa trại khoảng mười cây số. Lân được chọn làm toán trưởng. Chúng tôi khoảng 20 người, đi bộ, có hai tên vệ binh đi theo. Đến nơi vào buổi chiều, trời sắp tối, bọn tôi được trú ngụ trong một cái đình làng bỏ hoang, một phần mái và một bức tường đã rệu rã. HTX dùng cái sân đình để chứa và phơi lúa. Không biết có phải để “khuyến khích tinh thần” hay tạo thêm sức, HTX “bồi dưỡng” cho bọn tôi một bữa xôi nếp với thịt trâu khá no nê. Có cả một xị rượu mía. Đây có lẽ là bữa ăn thịnh soạn nhất trong đời tù bọn tôi.

      Sáng hôm sau, tay Chủ nhiệm HTX hướng dẫn chúng tôi ra khu ruộng, nằm cách ngôi đình làng khoảng 100 mét. Khi đến nơi bọn tôi mới ngỡ ngàng. Đây là những đám ruộng sình, lúa rất tốt, nhánh nào cũng trĩu đầy hạt, nhưng nếu bước chân xuống ruộng, người ta sẽ bị lún sâu xuống ngay, khó mà ngoi lên được, vì càng cử động, tìm cách thoát lên, lại càng bị lún xuống thêm, có thể ngập đầu. Bọn tôi lắc đầu ngán ngẩm, khi vừa hiểu ra cái giá của bữa cơm nếp có thịt trâu, rượu mía tối hôm qua. Trong khi cả bọn nhìn nhau bất lực, Lân đưa ra sáng kiến. Dùng các tấm cửa cũ của ngôi đình bỏ hoang, cột dây kéo hai đầu, chỉ cần một người (chọn những người nhẹ ký nhất) ngồi trên tấm cửa, gặt lúa, những người còn lại, đứng trên bờ hai đầu, thay phiên kéo và giữ thăng bằng tấm cửa và an toàn cho người gặt lúa. Một tấm cửa khác kéo theo bên cạnh, để chứa những bó lúa gặt được. Khi nào đầy lúa, người gặt ra dấu, để được kéo vào bờ. Sáng kiến của Lân được mọi người hoan nghênh, kể cả tay Chủ nhiệm. Khoảng mười tấm cửa cũ đủ loại lớn nhỏ được mang ra sử dụng, một số cuộn dây được cung cấp, kể cả một số tre được mang tới để vài anh chẻ ra đan thành những cuộn dây dài.  Không ngờ sáng kiến của Lân lại tuyệt vời. Chỉ hai hôm, tất cả lúa trên hơn mười thửa ruộng sình được gặt xong. HTX “thu hoạch” được số lượng lúa khá lớn. Tay Chủ nhiệm xin cho bọn tôi được ở lại thêm một ngày để nghỉ ngơi và “liên hoan”.  Ăn cơm trắng với cá “trám cỏ”. Thấy có một cái trống rách, bỏ nằm lăn lóc trong góc đình, Lân bèn nghĩ ra một điều “kỳ lạ” khác.  Anh tháo da từ cái trống ra, mượn một cái chảo đun sôi gần cả một đêm, sáng hôm sau, các miếng da nở ra, mềm, dẻo và trắng mướt. Lân thái nhỏ ra, xin thêm đậu phụng (lạc), giã nát cùng với ít rau, rắc lên. Miếng da rách trong chiếc trống lăn lóc ngày hôm qua, bây giờ đã trở thành một món ăn khoái khẩu. Những bạn tù hôm ấy chắc chắn không ai có thể quên Lân và những ngày tù thật đặc biệt này.

        Sau khi được chuyển về Trại Nghệ Tĩnh, Lân rủ tôi và một người bạn thân nữa tổ chức một cuộc trốn trại. Tôi rất tin tưởng vào khả năng vượt thoát của Lân. Thời gian này bắt đầu được thăm nuôi, Lân đã nhờ người nhà mang theo nhiều thức ăn khô, một số tiền mặt và một cái địa bàn nhỏ dấu kín trong hũ mắm ruốc. Nhờ hối lộ hậu hỉ cho tên công an phụ trách, nên mọi thứ đều trót lọt. Nhưng chưa tới ngày thực hiện thì bất ngờ Lân có lệnh thả. Anh rất ngạc nhiên về việc này. Kế hoạch trốn trại phải hủy bỏ, vì tôi và người bạn còn lại không tin vào khả năng của mình, nếu không có Lân.

         Năm 1983, sau gần một năm được chuyển về Trại Z-30 C Hàm Tân, tôi được thả. Ra trại, thay vì về quê ngoài Nha Trang, tôi vào Sài gòn tìm Lân. Vì trước lúc chia tay, Lân cho biết là sau khi về nhà, anh sẽ mua ghe tổ chức vượt biên. Anh còn dặn dò, bất cứ lúc nào ra khỏi tù, tôi nhớ tìm gặp anh ngay. Tôi luôn tin tưởng vào khả năng, đạo đức và chân tình của Lân.

      Thời gian trong tù, qua tâm sự của Lân, tôi biết rất rõ về nhà cửa, địa chỉ và tất cả những người trong gia đình anh. Ông cụ đã mất trước 75, Lân chỉ còn bà cụ đang sống với hai cô em gái trong ngôi nhà khá lớn ở bên Quốc lộ, gần Ngã Tư Hàng Xanh. Ông anh duy nhất là một Biên Tập Viên Cảnh Sát, làm việc tại Sài gòn, đã kịp rời khỏi Nhà Bè vào sáng sớm ngày 30.4.75.

      Lân được cả nhà, đặc biệt là bà mẹ hết lòng yêu thương. Chính vì điều này mà Lân đã không đành bỏ mẹ để ra đi khi CS chiếm Sài gòn, mặc dù khi ấy Lân có nhiều phương tiện trong tay, đã giúp khá nhiều bạn bè ra khỏi nước. Sau này Lân còn cho tôi biết, chính mẹ và các em gái của Lân đã bán nhiều tài sản và dùng vàng bạc giấu được sau các đợt “đánh tư  sản”, tìm đường dây đến một tay thứ trưởng Bộ Nội Vụ CS mua cho Lân cái giấy ra trại, để vượt biên sớm.  Lân là một trong số rất ít tù được thả sớm từ miền Bắc trong thời gian ấy.

        Khi tìm đến nhà, tôi gặp mẹ và cô em lớn của Lân. Bà mẹ cũng là một người tu hành.  Bên kia phòng khách, tôi nhìn thấy một tượng Phật Quan Âm lớn hơn một người thật, cao gần đến trần nhà. Tôi bảo tôi là bạn tù rất thân của Lân vừa mới được thả ra, tìm đến thăm Lân, nhưng cả mẹ con đều bảo Lân đang sống ở vùng kinh tế mới dưới Phước Tuy. Nhìn vẻ mặt của hai người tôi biết là họ đang nghi ngờ tôi, có thể là một gã công an nào đó muốn thăm dò tin tức Lân. Khi tôi hỏi xin địa chỉ nơi ở của Lân trong vùng kinh tế mới để đi thăm, viện cớ là tôi ở ngoài Trung, sau này khó có thể gặp Lân, hai người bảo là không biết, hơn nữa người lạ cũng không được phép đến đó. Đoán là có điều gì xảy ra cho Lân, nên cả  mẹ và em Lân cố tình giấu giếm, tôi lấy tờ Giấy Ra Trại đưa cho cô em xem và kể thêm một số chi tiết về Lân cũng như những người trong gia đình. Khi ấy hai người mới tin và cho tôi biết là Lân tổ chức vượt biên, kéo theo một số bạn bè, nhưng chẳng may ghe bị mắc cạn ở cửa sông Mỹ Tho, Lân bị bắt và đang bị nhốt trong một trại tù rất khắc nghiệt. Tôi cám ơn và xin tạm biệt, nhờ chuyển lời thăm Lân khi có thăm nuôi. Tôi cũng để lại địa chỉ và nhờ nói lại với Lân, khi ra tù nhớ liên lạc với tôi. Mẹ của Lân bảo cô em vào lấy một số tiền biếu tôi. Tôi từ chối nhưng hai mẹ con nhất mực bắt tôi phải nhận. Cô em đã nhét tiền vào túi áo của tôi.

        Sau hơn tám năm, trở về nhà, chưa kịp làm quen với mấy đứa con, nhất là con gái út còn nằm trong bụng mẹ ngày tôi vào tù, và cũng chưa kịp hỏi được tin tức về nơi chôn cất cha tôi, ông đã chết trong môt trại tù khác trong Nam từ tháng 6/1976, thì bốn hôm sau, tôi được “mời” ra công an thị trấn, nhận cái giấy trả lại trại tù, với lý do “nhân dân địa phương không chấp nhận cho tôi được tạm trú”. Khăn gói vào lại trại tù Z-30C, được cho ở tạm nhà thăm nuôi ba hôm, sau đó nhận một tấm Giấy Ra Trại khác, với nơi chỉ định tạm trú mới là sinh quán của tôi. Ở đó tôi chẳng còn ai, ngoài bà cô già, góa bụa sống trong ngôi nhà từ đường của ông bà nội tôi để lại. Tôi lại bị chính quyền CS ở đây hành hạ, làm nhục đủ điều. Không còn con đường nào khác, ngoài vượt biên. Nhờ một ông anh con ông cậu ruột, nguyên là một HSQ Hải quân, đang có sẵn ghe đánh cá, tôi liều lĩnh âm thầm khuyến khích và tổ chức vượt biên, chỉ dành cho gia đình và những người thân thiết nhất. Tôi nhờ đứa cháu vào nhà Lân. Rất may là Lân vừa mới ra khỏi tù hơn một tuần lễ, cũng nhờ bà mẹ lo lót.  Lân mua giấy tờ giả, đóng vai một “cán bộ thương nghiệp” ra Nha Trang công tác. Tôi gởi Lân ở chung nhà với một người bạn thân khác của tôi, là căn phòng nhỏ ngay phía sau một trường tiểu học mà anh là hiệu trưởng, không ai để ý. Đúng giờ hẹn, tôi cho người đón Lân bằng xe Honda và đưa Lân trốn trong một ghềnh đá sát bên bờ biển ở một nơi an toàn. Tôi hẹn cho ghe ghé đến, đậu xa bờ khoảng 200 mét, báo mật hiệu bằng đèn và cho thằng cháu chèo thúng chai vào đón. Nhưng Lân bảo không cần, vì thúng chai chèo chậm lắm, anh sẽ bơi ra tàu cho nhanh. Khi kéo Lân lên tàu, hai đứa ôm chầm lấy nhau, như thầm hứa hẹn một “trang sử” mới.

       Mặc dù có người anh định cư ở Mỹ từ 1975, nhưng Lân quyết định cùng đi Na-Uy với chúng tôi. Mấy lần tôi hỏi, có phải trong lòng Lân còn “hận” Mỹ, đã phản bội, bỏ rơi người bạn đồng minh, để đất nước và cả dân tộc mình điêu đứng lầm than?  Lân cười, bảo chỉ muốn sống gần tôi, người bạn đã cùng sống chết với anh trong suốt đoạn đời tù đày khốn khổ.

       Lân cùng học rồi cùng vào làm một sở với tôi cho đến ngày về hưu. Chúng tôi cùng hăng say hoạt động trong một tổ chức kháng chiến ngay từ ngày đến Trại Tị Nạn Bataan, Phi Luật Tân. Vào thời điểm ấy, tổ chức này rất nổi tiếng và được nhiều người khắp nơi tham gia, ủng hộ. Khi một cán bộ cao cấp của tổ chức từ Hoa Kỳ đến Na-Uy sinh hoạt, cả Lân và tôi xin tình nguyện được về “chiến khu quốc nội”(?), nhưng ông ta bảo không còn cần thiết nữa. Chỉ một tháng sau đó, tổ chức này rạn nứt, tan vỡ, phơi bày bao điều không thật, đau lòng. Chúng tôi thất vọng và phẫn nộ khi có cảm giác mình bị lừa dối. Những năm sau, Lân sang Mỹ nhiều lần, thăm ông anh, họp bạn bè và tìm hiểu các tổ chức, hội đoàn hoạt động ở đây. Anh háo hức, thiết tha mong được đóng góp phần mình. Lân thường bảo, cuộc sống lưu vong này sẽ trở nên vô nghĩa, nếu chúng ta không làm được điều gì. Chẳng lẽ rồi bọn mình cũng chỉ là những “con chim ẩn mình chờ chết!”hay sao?

      Cuối cùng, dường như Lân đã không tìm được một “ánh sáng nào ở cuối đường hầm”. Anh bảo những hình thức, phô trương, những bộ quân phục và lon lá bị lạm dụng, những ông bà háo danh chủ tịch, tranh giành cộng đồng này, hội đoàn nọ, tệ nhất là mấy cái chính phủ với đám tướng tá tự phong, tự diễn, lố bịch như đám phường tuồng, làm anh muốn buồn nôn.

      Có những ông chưa có một ngày trong lính, nhưng lúc nào cũng tỏ ra là một nhà quân sự tài ba, huênh hoang chê bai ông tướng này ông tá khác, phê phán đủ các trận chiến ngày xưa. Cũng có những ông gốc lính, chẳng biết tài năng đến đâu, chửi bới không sót một người nào, từ các cấp chỉ huy của mình ngày trước cho đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, bằng lời lẽ hạ cấp bẩn thỉu, chụp mũ người này người khác, nếu không hoan hô “cái tài thao lược” của phe ông.

      Bạn bè thì một số thoải mái với cuộc sống mới và đã biến thành những con người mới, quên mình đã từng là lính và bị tù đày. Một số thì tìm đến với nhau trong những hội hè, mong có nhiều cuộc họp mặt tiệc tùng, để có dịp mặc bộ quân phục, tìm lại chút “dư âm ngày cũ”. Chưa kể một số đua nhau về Việt nam, để đi trở lại trên những “đường xưa lối cũ.”  Lân bảo, vẫn biết mỗi người có quyền chọn cho mình một cách sống riêng để bù đắp những mất mát hay xoa dịu phần nào vết thương quá khứ, tất cả đều tội nghiệp, nhưng sao anh vẫn thấy có điều gì đó làm xót xa, đau đớn trong lòng.

      Đôi khi Lân than thở với tôi:

      -Đã hơn 30 năm sống trong cái cộng đồng ly hương này, sao nhiều lúc mình vẫn có cái cảm giác bồng bềnh như ngày nào còn ngồi với bạn trên chiếc thuyền vượt biển ra khơi!

       Tôi lên mặt lý sự cốt an ủi Lân:

      -Bạn đừng lý tưởng quá, thời gian nó sẽ xói mòn và làm đổi thay tất cả. Trong cái xô bồ, mình phải gạn lọc để chấp nhận và trân trọng những gì tương đối, bởi rất nhiều anh em, cũng như chúng ta, đành phải “lực bất tòng tâm” trước những ước vọng đó sao!

        Tôi thầm tiếc và tội nghiệp cho Lân, một con người yêu nước, tài ba, can đảm và đức độ như vậy mà chẳng còn một nơi nào để “dụng võ”.

         Nhiều lúc thấy Lân trầm ngâm, ngồi im lặng như một thiền sư, tôi tự hỏi, từ ngày chọn con đường tu hành, ngày đêm với kinh kệ, không biết trong lòng Lân có còn nỗi khắc khoải nào không? Tôi ngại không dám hỏi Lân. Mới đây, trong lúc ngồi bên nhau Lân nói với tôi:

      -Bây giờ tôi chỉ còn mong ước hai điều, trước khi chết được thấy đất nước mình đổi thay, không còn Cộng sản, và khi nhắm mắt được có bạn ở bên cạnh để vuốt mắt và niệm cho tôi một bài kinh A Di Đà!

***

Con chim gỗ trên chiếc đồng hồ treo trong quán cà phê vừa hót lên bảy tiếng. Như vậy là bọn tôi ngồi đây đã ba giờ đồng hồ. Trời không tối nên cứ tưởng còn sớm lắm. Ánh mặt trời vẫn chói chang qua những tàng cây. Tôi đứng dậy dành đi trả tiền. Lân bước ra trước, đứng chờ ở vệ đường, nhắm mắt ngước mặt lên trời. Không biết anh đang cầu nguyện điều gì hay muốn xóa đi, quên hết những gì mà chúng tôi vừa tâm sự, để trở về với cái tâm yên tĩnh của một thầy tu. Anh đứng yên lặng nhưng cái bóng của anh lung linh, sống động trải dài theo bờ con dốc đá. Nhìn cái bóng, tôi mơ hồ như bất ngờ được gặp lại người phi công trẻ, hào hoa, oai hùng, mà mình đã từng quen biết từ một thời nào xa xưa như trong tiền kiếp.

      Bỗng dưng, tôi nhớ tới những đồng đội bạn bè đã hy sinh, nhớ tới những chàng phi công hào hùng đã từng sống chết với đơn vị tôi trong Mùa Hè 1972 và suốt một thời binh lửa. Khi bước đến bên Lân, tôi vẫn thấy anh đứng lặng yên, bất động, hướng mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Trên không gian bao la chỉ có vài áng mây đang chầm chậm bay về phía cuối chân trời.

Phạm Tín An Ninh

(30.4 2016)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường … nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái. Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng. Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi. Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”. Cũng lại câu chuyện của một người già. Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hang trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã paid off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dặm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm ‘home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang ngồi xem TV, nó hất hàm hỏi:

– “Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”

Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:

– “Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình. Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”. Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Samurai!Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Quân lực Ðế quốc Nhật Bản chia ra làm hai binh chủng, Lục Quân và Hải Quân. Mỗi bộ tư lệnh đều có Không Lực riêng trong tay. Một Không Lực độc lập, không phụ thuộc Lục Quân hay Hải Quân không hề được nghĩ đến trước đó hoặc ngay cả trong Ðệ Nhị Thế Chiến. Nhật Bản cũng không có binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tự trị như Hoa Kỳ hoặc các cường quốc khác, tức binh chủng Thủy Binh được huấn luyện cho các cuộc hành quân vừa trên bộ vừa dưới nước.

Vào giữa năm 1935, tất cả các phi công thuộc Hải Quân được huấn luyện tại trường hoa tiêu phi hành ở Tsuchiura, cách Ðông Bắc Ðông Kinh 50 dặm. Mỗi khóa học có 3 lớp, một lớp dành riêng cho các thiếu úy xuất thân từ Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima, miền Tây Nhật Bản, một lớp dành cho các sĩ quan đang phục vụ, và lớp cuối cùng dành cho các thanh niên dưới 20 tuổi muốn khởi nghiệp Hải Quân của họ trong tư cách khóa sinh phi công.

Sau khi Nhật Bản khai chiến toàn diện với Hoa Kỳ, Hải Quân phát triển mạnh mẽ các căn cứ huấn luyện phi công, trong nỗ lực tuyệt vọng đào tạo hàng loạt phi công chiến đấu. Tuy nhiên, vào năm 1937, quan niệm huấn luyện phi hành ồ ạt này không hề được đặt ra. Phi công huấn luyện gồm toàn những người được chọn lọc kỹ càng, chỉ các ứng viên xuất sắc trên toàn quốc mới hy vọng được thâu nhận. Năm 1937, năm tôi theo học, chỉ có 70 người được chọn theo học lớp phi công trong tổng số 1,500 người dự thi. Khi tôi biết có tên mình trong danh sách 70 người được thâu nhận, nỗi vui mừng của tôi không thể nào tả xiết. Việc này có nghĩa là tất cả những tủi hổ trên đường học vấn ở Ðông Kinh của tôi được quét sạch, danh dự và kỳ vọng của gia đình đặt nơi tôi, được bảo toàn.

Kỳ nghỉ phép đầu tiên, tôi trở lại nhà của người chú ở Ðông Kinh với tất cả niềm vui sướng. Tôi không còn là một thiếu niên cứng đầu và bực tức, đối diện với vấn đề học vấn một cách đầy sợ sệt. Tôi đã trở thành một chàng thanh niên hai mươi tuổi, đầy kiêu hãnh, bảnh bao trong bộ đồng phục phi công hải quân mới toanh, với 7 chiếc nút đồng sáng chói, và mong muốn, mong muốn nhứt, nhận lãnh những lời khen ngợi của gia đình chú tôi.

Ánh mắt của cô em họ Hatsuyo hướng về tôi đăm đăm. Cô học trò bé bỏng ngày nào đã biến mất, nhường lại cho sự chững chạc, hấp dẫn của một nữ sinh trung học 15 tuổi. Cô em họ gây cho tôi ấn tượng mạnh. Hatsuyo đã đón tiếp tôi thân mật và nồng nhiệt hơn. Tôi nói chuyện rất lâu với người chú. Ông tỏ vẻ hài lòng, tất cả niềm kiêu hãnh đã trở lại trong ông. Quá khứ thất bại của tôi không còn vướng vấp chút nào. Chuyến viếng thăm này khiến tôi không quên được trong nhiều năm. Sau bữa ăn tối, chúng tôi ngồi trong phòng khách và nghe Hatsuyo dạo dương cầm. Nàng mới bắt đầu học trong vòng 3 năm trở lại. Nhưng tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, vì vậy tiếng đàn của nàng đối với tôi rất tuyệt diệu. Hatsuyo xinh tươi, thoải mái và thân ái, tất cả đã xóa sạch những ngày huấn luyện đầy gian khổ nhọc nhằn. Tuy nhiên, cuộc viếng thăm ngắn ngủi và tôi sớm trở lại quân trường.

Căn cứ huấn luyện Tsuchiura tọa lạc bên cạnh một cái hồ rộng lớn và tiếp cận một sân bay có 2 phi đạo, 3,000 mét và 2,500 mét. Nhiều nhà chứa phi cơ khổng lồ có thể chứa hàng mấy trăm phi cơ cùng lúc và căn cứ luôn luôn hoạt động rộn rịp. Mỗi chương trình huấn luyện mới của Hải Quân là mỗi kinh ngạc đối với tôi. Những thứ kỷ luật mà tôi đã từng trải qua so với quân trường mới đến này không thấm vào đâu. Kỷ luật ở căn cứ Hải quân Sasebo nhiều khi còn dễ chịu hơn ở Tsuchiura. Ngay cả thứ kỷ luật sắt đá ở trường huấn luyện pháo thủ hải quân cũng ấu trĩ đối với trường phi công.

“Một phi công khu trục phải hung tợn và cố chấp, trong mọi tình huống!” Là câu đầu tiên huấn luyện viên môn đấu vật nói với chúng tôi. “Ở đây, Tsuchiura, chúng tôi sẽ dạy cho các anh hai đặc tính này. Nếu không thâu nhận được, các anh sẽ không bao giờ trở thành một phi công giỏi.” Không để mất thì giờ và nhằm chứng tỏ cho chúng tôi thấy sự hùng hổ ấy cần thiết ra sao, hắn ta bất chợt chỉ ngay hai khóa sinh và ra lệnh cho họ vật nhau. Kẻ chiến thắng sẽ được phép rời khỏi đấu trường, kẻ thua cuộc chuẩn bị đấu với một khóa sinh khác. Thua cuộc chừng nào hắn ta phải đấu nhiều chừng nấy, hắn có thể lần lượt đấu với cả 69 khóa sinh. Và nếu thua hết, ngày mai hắn lại phải tiếp tục đấu nữa. Cái ngày mai đó, hoặc là hắn chiến thắng một người hoặc là hắn ôm gói ra khỏi khóa học.

Ðối với những khóa sinh nào không muốn bị đuổi ra khỏi khóa phi công, các màn đô vật sẽ trở thành những màn tranh đua dữ dội nhất của họ. Thường thường hễ khóa sinh nào bị đánh gục đều bất tỉnh. Nhưng bất tỉnh không phải hy vọng được miễn trừ. Một thùng nước lạnh hoặc nhiều cách khác để làm hắn tỉnh lại, và cuộc đấu lại tiếp diễn.

Sau một tháng huấn luyện căn bản trên mặt đất, chúng tôi bắt đầu những bài học phi hành vỡ lòng. Những bài học này dạy vào buổi sáng, các môn khác dồn cho buổi chiều. Sau bữa ăn chiều, chúng tôi học thêm 2 giờ nữa.

Nhiều tháng trôi qua, con số khóa sinh sút giảm hẳn. Khóa huấn luyện đòi hỏi khóa sinh phải hoàn hảo mọi mặt, và khóa sinh không thể nào tránh khỏi lỗi lầm nhẹ nhàng nhứt. Vì các phi công hải quân được xem là thành phần ưu tú nhứt của binh chủng hải quân, của ngay cả các lực lượng võ trang Nhật Bản, thì không có chỗ nào gọi là chỗ sai lầm dành cho họ. Trước khi giai đoạn huấn luyện 10 tháng hoàn tất, 45 trong số 70 khóa sinh bị loại khỏi trường. Thẩm quyền áp dụng kỷ luật thể xác dữ dội không đáng sợ bằng thẩm quyền loại bỏ khóa sinh, với bất kỳ lý do nào của các huấn luyện viên.

Ngay trong ngày mãn khóa, một trong những khóa sinh còn lại, bị sa thải. Một nhóm tuần tiễu nhìn thấy hắn bước vô một quán rượu bị cấm ở Tsuchiura để ăn mừng “ngày thành tài” của hắn. Khi trở về trường, hắn được lịnh trình diện hội đồng kỷ luật, và biện hộ bằng cách quỳ gối trước mặt các sĩ quan cán bộ. Nhưng lời biện hộ của hắn như đàn gảy tai trâu.

Hội đồng kỷ luật tìm thấy hắn phạm 2 tội không thể tha thứ được. Tội đầu tiên, mọi phi công đều biết: một phi công chiến đấu không bao giờ, vì bất kỳ lý do nào, uống rượu đến say khướt trong đêm trước khi bay. Ngày hôm sau chúng tôi sẽ có một chuyến bay theo đội hình, chuyến bay này được xem như một phần thực tập tốt nghiệp mà chúng tôi đã trải qua. Tội thứ hai, thường tình hơn nhưng nghiêm trọng không kém, không một binh sĩ hải quân nào làm giảm giá trị binh chủng của mình bằng cách bước vô một nơi có để bảng “cấm”.

Sự huấn nhục ở Tsuchiura có thể là đáng sợ nhứt so với các trường khác ở Nhật Bản. Một trong những môn huấn nhục hóc búa hơn hết: leo cột sắt. Cột này rất cao, chúng tôi phải leo lên tận ngọn và chỉ được nắm lơ lửng một tay. Khóa sinh nào bám không tới 10 phút mà để rơi xuống sẽ nhận ngay một cái đá chớp nhoáng và bị bắt leo trở lên. Cuối môn huấn luyện này, khóa sinh nào muốn khỏi bị loại trừ thì ít ra cũng phải bám lâu đến 15 hoặc 20 phút.

Tất cả các quân nhân trong binh chủng Hải quân Hoàng gia đều phải biết lội. Có nhiều khóa sinh người miền núi nên không biết lội như thế nào. Phương pháp huấn luyện rất đơn giản. Các khóa sinh cột dây quanh lưng rồi bị quăng xuống biển, một là họ lội được hai là họ chìm lỉm. Hiện thời tôi đã 39 tuổi rồi mà vết dây siết chặt vẫn còn để dấu lại trên thân thể tôi. Tôi có thể lội 50 mét trong vòng 34 giây. Ở trường phi công, lội khoảng cách đó dưới 30 giây là chuyện thường. Mỗi khóa sinh buộc phải lặn sâu xuống nước 50 thước và duy trì ít nhất 90 giây. Một người bình thường với tất cả nỗ lực, có thể nín thở được 40 – 50 giây, nhưng thành tích này được xem là trung bình đối với một phi công Nhựt. Riêng tôi có thể nín thở 2 phút 30 giây dưới nước.

Chúng tôi trải qua hàng nhiều trăm buổi tập lộn nhào để làm quen với cảm giác thăng bằng, giúp một phần sau này khi chúng tôi cho các chiến đấu cơ lộn nhào nhiều vòng trong bất kỳ cách thức nào. Có lý do đặc biệt để chúng tôi chú tâm vào các buổi tập này, vì một khi thấy chúng tôi lộn nhào đã thành thuộc, các huấn luyện viên ra lịnh cho chúng tôi leo lên một cái tháp cao và lộn nhào xuống mặt đất cứng. Trong lúc rơi xuống, chúng tôi phải lộn nhào 2 – 3 vòng trong không khí và đáp xuống bằng đôi chân. Ðương nhiên, nhiều lỗi lầm xảy ra với những kết quả thảm khốc. Môn lộn nhào này được xem là một phần huấn luyện thân thể quan trọng, đòi hỏi chúng tôi hoặc là phải thực hành chính xác và đầy đủ những gì mà huấn luyện viên đưa ra hoặc là bị loại khỏi khóa học. Môn đi bằng tay cũng được xem là quan trọng. Thêm vào đó là môn cắm đầu xuống đất và giữ thăng bằng thoạt đầu 5 – 10 phút, và cuối cùng khóa sinh có thể giữ thăng bằng đến 15 phút hoặc hơn nữa. Dần dần, tôi có thể giữ thăng bằng hơn 20 phút, trong thời gian này mấy bạn đồng khóa đốt thuốc cho tôi hút. Ðương nhiên, mấy trò xiệc này không chỉ có tánh cách luyện tập thân thể mà thôi, mà chúng còn giúp cho chúng tôi phát triển một cảm giác thăng bằng cả tinh thần lẫn thể xác đáng kinh ngạc, và có giá trị cứu mạng sống chúng tôi nhiều năm sau này. Mỗi khóa sinh ở Tsuchiura đều phải có thị độ sắc bén, việc này, dĩ nhiên, là một đòi hỏi tối thiểu khi mới bước chân vô quân trường. Lúc nào chúng tôi cũng phải học nhìn, để chỉ với một cái liếc mắt chúng tôi có thể biết các mục tiêu cách bao xa. Tóm lại, chúng tôi phát triển mọi kỹ năng giúp chúng tôi thắng thế phi công đối phương.

Một trong những môn học mà chúng tôi khoái nhứt là tìm tòi các ngôi sao vào ban ngày. Các huấn luyện viên thường nhấn mạnh rằng việc nhận diện một ngôi sao giữa ban ngày còn dễ hơn một chiếc phi cơ ở khoảng cách nhiều trăm thước. Và một phi công khám phá kẻ thù trước tiên rồi chuẩn bị vị thế tấn công thuận lợi, phi công đó có thể đánh “trăm trận trăm thắng”. Sau nhiều lần thực tập, công việc “săn sao” của chúng tôi trở nên thiện nghệ. Chúng tôi có phương pháp nhìn và định vị trí một ngôi sao đặc biệt một cách chính xác và nhanh như chớp. Các phi công chiến đấu Nhật Bản đều làm được. Ðôi khi để tự gây khó khăn hơn, chúng tôi quay đầu 90 độ rồi quay ngược lại và tìm ra tức khắc ngôi sao ban nãy.

Cá nhân tôi đánh giá cao điều học hỏi đặc biệt này, nó có vẻ xuẩn ngốc với những ai không biết đến những chiến pháp trên không, chết hoặc sống chỉ trong nháy mắt. Tôi biết như vậy trong suốt 200 trận không chiến của tôi, ngoại trừ 2 lỗi lầm nhỏ, tôi không bao giờ để vấp vào một cuộc tấn công bất thần bởi các chiến đấu cơ địch, tôi cũng không để mất một đồng đội nào bay bên cánh bao giờ. Những giờ rảnh rỗi trong suốt cuộc huấn luyện ở Tsuchiura, không lúc nào chúng tôi không tìm những phương pháp có thể thu ngắn thời gian phản ứng và cải tiến những cử động chính xác của chúng tôi. Một trong những phương cách ưa thích của chúng tôi là chụp bắt những con ruồi đang bay. Chúng tôi trông có vẻ đần độn trong lúc luyện tập cách này, nhưng chỉ sau vài tháng lũ ruồi bay ngang mặt chúng tôi đều bị túm gọn trong lòng bàn tay. Ðó là cách tự tạo những cử động chính xác không thể không có được trước cơ man những dụng cụ trong buồng lái hẹp của một chiến đấu cơ.

Phản ứng nhanh đã giúp chúng tôi thoát chết một ngày. Một lần bốn khóa sinh chúng tôi phóng xe gần trăm cây số giờ, rồi bất thình lình xe lạc tay lái và đâm vào kè đá. Cả bốn chúng tôi mở tung 4 cửa xe cùng một lúc và lăn ngay xuống đường. Tai nạn chỉ để lại vài vết trầy mà không ai bị thương, tuy đầu xe hoàn toàn bể nát.

Nữ Trung tá Phi Tran (gốc Việt), Chỉ huy trưởng Phi đoàn 9 Quân y Không quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá.

dongsongcu.wordpress.com/

Nguyễn Quân

Posted on August 13, 2026 by dongsongcu

13/08/2026

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Trung tá Phi Tran (hình của instagram.com).

Trung tá Phi Tran vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân chọn đề cử thăng cấp Đại tá cho tài khoá năm 2026 (CY26B), trong danh sách đề cử còn có Trung tá Vy S. Nguyen cũng được chọn thăng cấp Đại tá. Danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Uỷ ban quân vụ Thượng viên (Committee on Armed Services) nhận được ngày 7 tháng 8 năm 2026. Trung tá Phi Tran hiện là Chỉ huy trưởng Phi đoàn* 9 Quân y sẳn sàng chiến đấu (9 OMRS) thuộc Liên đoàn 9 Quân y (9 MDG) tại căn cứ Không quân Beale, California từ tháng 6 năm 2025.

Phi đoàn 9 Quân y sẳn sàng chiến đấu do Trung tá Phi Tran chỉ huy là Phi đoàn Quân y lớn nhất của Liên đoàn 9 Quân y Không quân hỗ trợ cho 44.000 khách hàng, tài sản trị giá 24 tỷ đô la và 4 đơn vị hỗ trợ mặt đất (GSU), bảo đảm 5.500 chuyến bay trên toàn cầu. Quân số Phi đoàn 9 bao gồm hơn 130 nhân viên, 6 Phi hành đoàn, 24 chuyên ngành Không quân (AFSC), quản lý vật liệu sẵn sàng chiến đấu trị giá 1,6 triệu đô la và các chương trình ứng phó y tế trị giá 719.000 đô la. Giám sát sự sẵn sàng về y tế cho tổng số 3.800 thành viên Lực lượng. Cung cấp dịch vụ trị giá 45 triệu đô la, cho phép vận hành các hệ thống vũ khí trị giá 45 tỷ đô la cho 33 đơn vị và một tài sản được bảo vệ ở cấp độ 1.

Các Sĩ quan trong đơn vị chúc mừng Trung tá Phi Tran được chọn đề cử thăng cấp Đại tá (hình của instagram.com).

Từ năm 2006 đến nay, Trung tá phi Tran, được bổ nhiệm phục vụ các đơn vị Quân y Không quân được ghi nhận:

Nhiệm kỳ từ tháng 9 năm 2019 đền tháng 8 năm 2022, Trung tá Phi Trần được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Phi hành đoàn, Y tá phi hành, quản lý lâm sàng, quản lý điều dưỡng thuộc Phi đoàn 18 vận chuyển y tế hàng không (18 AES), tại căn cứ Không quân Kadena.

Nhiệm kỳ từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 10 năm 2025, Trung tá Phi Tran giữ chức Phó phụ tá quản lý chương trình cơ quan Y tế Quốc phòng, tại Falls Church, Virginia, làm việc kết hợp hệ thống thông tin Y tế tác chiến Liên hợp (JOMIS), tập trung vào Y tế ảo, quản lý di chuyển bệnh nhân & danh mục cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho Quân y tác chiến liên hợp.

Nhiệm kỳ từ tháng 6 năm 2025 đến nay, Trung tá Phi Tran chỉ huy Phi đoàn 9 Quân y sẳn sàng chiến đấu (9 OMRS) thuộc Liên đoàn 9 Quân y tại căn cứ Không quân Beale, California,

Trung tá Phi Tran tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cao học Điều dưỡng, Lãnh đạo & Quản lý, Trường Đại học American Sentinel, năm 2021; Văn bằng Cao học Nghệ thuật và Khoa học/Nghiên cứu tác chiến quân sự, Trường Cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu Không quân Hoa Kỳ (USAF Air Command and Staff College), năm 2019 ; Văn bằng Cao học Khoa học – Y tế công cộng Quốc tế/Sức khỏe Quốc tế Đại học Quốc tế Trident năm 2014; Văn bằng Cử nhân Khoa học – Điều dưỡng/Y tá, Trường Đại học Tiểu bang San José, năm 2005.

Trung tá Phi Tran người sáng lập kiêm Giám đốc điều hành của Fostering Our Youth Incm (Nuôi dưỡng thế hệ trẻ của chúng ta Incm), và là Phó Giám đốc Chương trình phát triển chuyên môn của Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt (VAUSA).

Tân Đại tá Phi Tran là 1 trong 37 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt, 1 vị nay là Thiếu tướng (Thiếu Tướng John R. Edwards), 15 vị hồi hưu, 1 vị chuyển sang Lực lượng Không gian (USSF) đã hồi hưu, và 1 vị đã qua đời, danh sách 19 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm ghi nhận bao gồm: Đại tá Bui S Jeffrey; Nữ Đại tá Duong T. An; Nữ Đại tá Tina H. Nguyen, Đại tá Van T. Thái; Nữ Đại tá Tam T. Dinh; Đại tá Vinh Q. Tran; Đại tá Lawrence Vu Nguyen; Đại tá Anthony LeMinh Truong; Nữ Đại tá Dorothy Nguyen Hinkley; Đại tá Nga T. Do; Đại tá Cang Quốc Bui; Đại tá Asan Q Bui; Đại tá QuocNam T. Nguyen; Đại tá Lim Dinh Vu; Đại tá Diep H. Le; Đại tá Loc H; Nguyen, Tân Tân Đại tá Peter Tran; Tân Đại tá Vy S. Nguyen và Tân Đại tá Phi Tran.

Chú thích: *Phi đoàn=Squaron không quân tương đương với Tiểu đoàn=battalion Bộ binh và Thuỷ quân lục chiến.

Nguồn: afpc.af.mil; congress.gov; linkedin.com; instagram.com

Gặp lại Pilot 215 Phi đoàn trực thăng Thần Tượng

Phạm Sơn Liêm

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Ngày đó, giữa rừng sâu, chúng tôi không biết mặt nhau.

Chỉ biết một điều: khi nghe tiếng cánh quạt từ xa vọng lại, là tim bắt đầu đập khác đi. “215 inbound.” 4 chữ ấy, qua làn sóng rè, đối với chúng tôi không chỉ là tín hiệu. Đó là hy vọng. Là con đường về. Là sự sống treo lơ lửng dưới bụng trực thăng.

Tôi chưa từng thấy mặt người lái. Chỉ thấy bóng chiếc chim sắt lượn vòng trên rừng già. Chỉ nghe tiếng rotor quần nát khói và lá cây. Chỉ cảm được sự liều mạng khi nó hạ thấp hơn mức an toàn, để kéo chúng tôi ra khỏi vòng vây lửa đạn đang rượt đuổi.

Trong đầu tôi, “Pilot 215” là một huyền thoại. Một người không sợ chết. Một thần tượng vô danh của toán lính dưới đất.

Rồi chiến tranh qua… Đơn vị tan…

Thần tượng ở lại trong ký ức như một biểu tượng, không tuổi, không tên, chỉ có tiếng máy và bầu trời.

Tết năm nay 2026. Một buổi họp mặt Tết Bính Ngọ cựu quân nhân vùng Bay Cali.

Tôi đứng lặng nhìn mấy ông già tóc bạc kể chuyện xưa.

Một người nhỏ con, dáng lưng hơi còng, đeo cặp kính dày. Ông nhìn phù hiệu trên ngực tôi, hỏi:

– Anh từng ở bãi bốc rừng năm… đó?

Tôi gật. Ông cười nhẹ:

– Bãi đó… tôi đáp bốc toán xâm nhập về hai lần.

Tôi lạnh tê sững người:

– Anh… bay 215?

Ông không nói ngay, chỉ gật đầu.

Thế giới như thước phim chậm lại….

Trước mặt tôi không phải huyền thoại. Không phải một biểu tượng bất tử giữa trời xanh. Chỉ là một ông lão với đôi tay đã run, với giọng nói trầm và hiền. Tôi nhìn ông mà cổ họng nghẹn cứng.

Ngày đó, khi ông cho máy bay hạ thấp hơn quy định, khi đạn bắn vạch những vệt lửa ngang thân tàu, khi chúng tôi bám càng leo lên trong khói, tôi nghĩ người Pilot trên buồng lái chắc là một vị thần.

Hóa ra… là một con người. Một con người cũng biết sợ. Cũng có gia đình chờ. Cũng có trái tim đập nhanh khi kim xăng tụt xuống và đạn chạm thân tàu. Tôi nói nhỏ:

– Anh là thần tượng của tụi tôi.

Ông cười, lắc đầu:

– Không. Tôi chỉ làm phần việc của mình. Mấy anh dưới đó mới là người liều mạng.

Câu nói ấy làm tôi quay mặt đi. Vì thần tượng của tôi, không chỉ từng cứu tôi mà còn khiêm nhường đến mức, không bao giờ nhận mình đã làm điều phi thường.

Chúng tôi bắt tay. Bàn tay ông gầy và ấm. Bàn tay từng giữ cần lái giữa lằn ranh sống chết.

Ngoài kia, Tết rộn ràng….

Còn tôi, đứng trước người phi công năm ấy, chỉ thấy lòng mình mềm ra như đất ướt.

Có những thần tượng không đứng trên sân khấu. Không có huy chương lấp lánh.

Họ chỉ lặng lẽ bay vào lửa đạn, để bốc một toán lính vài ba người dưới đất, còn có ngày, được già đi.

Và Tết này, tôi mới biết mặt người anh hùng của đời mình. Không phải trên trời. Mà ở ngay trước mắt.

Phạm Sơn Liêm
2-2026

(Nguồn: Hội quán Phi Dũng)

Chỉ giỡn chơi thôi

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on November 3rd, 2020

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã gần kề! Không khí càng sôi động, sùng sục như chảo nước sôi dùng để cạo lông heo. Bên ‘Cuồng Trump’ lẫn bên “Cuồng Chống Trump” gấu ó, chửi nhau ỏm tỏi! Bên tám lạng; đằng nửa cân, sùi bọt mép, chí chóe với nhau như hai bà bán rau cải ở chợ Cầu Ông Lãnh!

Nhưng quyết định cuộc đua, ai thắng ai thua lại là thành phần thứ ba, đứng chàng hảng chê hê. Ðám nầy được gọi là ‘The Quiet American’ (Người Mỹ thầm lặng). The Quiet American nầy hổng cuồng đứa nào hết ráo! Họ chỉ vểnh lỗ tai lên nghe và dùng đôi  mắt kèm nhèm của mình để đọc. Ðọc xong thì lại hỏi nhà báo một câu rất lý thú là: “Ðôi khi tui nghe hoặc thấy trên ‘Facebook’ hoặc ‘Twitter’ một bài phát biểu chính trị – hoặc một bản tin – mà tui không chắc nó có đúng hay không? Làm thế nào tui có thể tìm ra được sự thật?”

Lo như vậy là quá xá đúng! Vì trong thời buổi vàng thau lẫn lộn, tin tức tùm lum, tà la, bay tá lả, bay lả tả trên ‘net’, ma quỷ và người! Thì làm sao mình biết ai là người? Ai là quỷ, là ma? (Nếu nó không có đi hổng hai chưn trên mặt đất?)

Vì vậy cho nên Fact-checkers (Người kiểm tra sự thật) là kiếng chiếu yêu, xài cũng tốt, vì soi tới đâu là tin giả nó hiện nguyên hình hè. Fact-checkers là cái hải bàn giúp cho thủy thủ biết được hải trình trong cơn sóng cả đầy những tin giả. Tin giả tràn lan vỗ miết mạn thuyền, kêu ‘oàm oàm, oạp oạp’, toan nhấn luôn đầu óc của người đọc chìm sâu vào biển ngu tăm tối!

Dà con xin trả lời ông (bà) Nội con nít như vầy: “Kiểm tra sự thật, ai nói thiệt ai nói dóc, là một chuyện rất quan trọng. Nó không chỉ giúp ông (bà) Nội đoan chắc rằng việc nghiên cứu để làm luận án ở trường Ðại học của mình không bị sai lệch, không chính xác, mà còn bảo đảm rằng ông (bà) Nội là một người có suy xét, có hiểu biết. Ngoài ra nó còn giúp cử tri mở mắt ra trao tráo, mở mắt ra thao láo, với cái đầu minh mẫn như vừa uống xong một tách ‘cà phe’ đen thật đậm vào buổi bình minh.

Ðầu óc sáng suốt để chọn lựa được người tài đức (họng), người sẽ làm đầy tớ cho mình trong vòng 4 năm sắp tới! Bằng không, mình sẽ vò đầu bứt tóc, nhéo lỗ tai, đấm ngực, than rằng: “Ta đã lầm đưa nó vô Tòa Bạch Ốc”. Ðể nó ăn trên ngồi trốc, ăn ốc bắt ta đổ vỏ ốc; bằng cách bốc, rồi lủm tiền đóng thuế của ta!

Tranh Bảo Huân

Dạ! Tui xin trình cho ông (bà) Nội con nít một số trang ‘web’ kiểm tra sự thật nổi tiếng, có uy tín, thường công bố kết quả của họ trực tuyến để ông (bà) Nội con nít có thể tham khảo một cách nhanh chóng:

  1. FactCheck.org: phi đảng phái, phi lợi nhuận, mục đích nhằm làm giảm mức độ lừa dối trong chính giới Hoa Kỳ. FactCheck.org theo dõi tính chính xác của những gì chính trị gia của Hoa Kỳ phát biểu trên quảng cáo tranh cử trên truyền hình, tranh luận, bài phát biểu, phỏng vấn và loan tin tức.
  2. LogicCheck: được lấy từ nhiều nguồn và trang ‘web’ xác minh sự thật, chuyên sử dụng các nguyên tắc và phương pháp hay nhất của báo chí để giúp người dân tách sự thật khỏi sự giả dối trong chính giới Hoa Kỳ. Ðể người dân Mỹ không bị các nguồn ‘Tin tức giả mạo’, tức ‘Fake News’, lừa phỉnh!
  3. Snopes.com: là nơi dân Mỹ có thể yêu cầu xin kiểm tra tin tức. Các nhà nghiên cứu sẽ điều tra nó và dán cho nó một trong một số thứ hạng, từ: ‘Ðúng‘, ‘Hầu hết là đúng’. Hoặc là ‘Sai’. Hay là ‘Huyền thoại’

(Huyền thoại tức là đặt dóc, như bài ‘Huyền Thoại Mẹ’ (bợ đít CS) của nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công Sơn vậy!)

Xin chúc may mắn! Good Luck! các ông (bà) Nội con nít, quởn, ở không nên nhiều chuyện, khoái xen vào chánh sự nước Mỹ như tui vậy. He he!

***

Khuya nay, khi tui leo lên ghế, ngồi khỏ bàn phím lốc cốc để viết bài nầy, thì trên Fox News của Trùm truyền thông thế giới, ‘mông xừ’ Rupert Murdoch (người Mỹ gốc Úc chớ không phải gốc cây) đồng hồ nhích từng ngày, giờ phút giây cho biết: Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ chỉ còn 15 ngày, 11 giờ 49 phút, 43 giây nữa là tan sòng đánh cá ngựa, hên xui may rủi, biết ai thắng ai thua?

Bà con cử tri Mỹ cũng như nhân dân toàn thế giới, trong đó có cả tui, sẽ biết hai con ngựa già: Joe Biden (78 tuổi), đảng Dân Chủ và Donald Trump (74 tuổi), đương kim Tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa, con ngựa nào sẽ ‘lết’ về tới đích trước.

Sỡ dĩ tui dùng động từ ‘lết về tới đích’ vì cả hai ông nầy đều già háp, gần hết xí quách, gần đất xa trời. Nhưng vì lòng yêu nước Mỹ dạt dào, bao la quá xá nên nhứt định hy sinh, thân nầy kể bỏ. Leo lên leo xuống cầu thang máy bay, hai tay run run nhưng vịn thật chắc để mà bay kiếm phiếu tùm lum, tà la vòng vòng nước Mỹ. Nhứt là ở các tiểu bang chiến trường miền Trung Tây nước Mỹ đang ngang ngửa, nhứt chín nhì bù giữa đôi bên. Cả hai ứng viên đối địch sẽ khóc than: “Ông đi qua; bà đi lại làm ơn, làm phước bỏ phiếu cho tui. Hu hu!” Thiệt thấy thảm thương luôn! Ôi Cái vòng danh lợi cong cong, Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào?!

***

Vừa bước ra khỏi chiếc ‘Air Force One’, Ông Trump tuyên bố với đám đông cuồng nhiệt tại tiểu bang Georgia, đang la ó um sùm để ủng hộ ông, rằng “Nếu tui mà thua ứng cử viên dở ẹc nhứt trong lịch sử chính trường là ‘Joe ngủ gật’; thì tui sẽ vĩnh biệt nước Mỹ dấu yêu nầy để bay ra nước ngoài, bay về nơi gió cát! Bạn sẽ không còn nghe tui đàn và hát”

Tui thì ngược lại! Xin đừng đi! Ông Trump ơi! Ðừng dắt Melania đi mất! Xin đừng bắt chước Chú ba Phạm Lãi dắt á xẩm Tây Thi lặn mất vào Ðộng Ðình Hồ hồi thời Việt Vương Câu Tiễn nhe ông!

Mất ông, tui buồn một! Nhưng mất Melania tui buồn tới một (trăm). Vì Melania là Hoa hậu trong những ‘The First Lady’ già khú đế của nước Mỹ. Nước Mỹ và tui tim sẽ vỡ tan, sẽ buồn rầu, sẽ rờ râu râu rụng; rờ rún rún rung rinh. Nước Mỹ buồn thỉu, buồn thiu! Buồn như Sa mạc Nevada hoặc Sa mạc Sahara chiều lên cơn bão cát! Cát bay làm rát hai con mắt, khóc người một con! Hu hu!

“Yêu người như thế đó. Người bỏ người ra đi. Lời thề bay theo gió. Gió ơi gió bay cao. Thôi từ nay còn nói năng gì?” Con vợ bé của tui, mới vừa lãnh từ Việt Nam qua, một thành viên trong đám chị em ta, thuộc nhóm ‘Cuồng Trump’, vừa nước mắt, nước mũi lòng thòng (thấy mà gớm), vừa khóc than như vậy đó. Sao ông nỡ bỏ đi cho đành lòng?

***

Sau một hồi bình tâm nghĩ lại, tim bớt đập mạnh, bớt xúc động vì nghe tin Trump sẽ bỏ nước Mỹ ra đi, nếu thất cử vào ngày mùng 3, tháng Mười Một tới! Vì tui chợt ngộ ra rằng ông Trump chỉ xuống ‘xề’ để chỉ giỡn chơi thôi. Ông muốn chọc quê ca, nhạc sĩ lừng danh Springsteen, 71 tuổi, vốn đã thề rằng ông sẽ lên chuyến bay tiếp ngay sau khi kết quả bầu cử được công bố, để bay đến Úc, nếu Trump tái đắc cử”.

Rồi tay trống cũng lừng danh, Tommy Lee, thề có Chúa: ‘Tôi sẽ ra khỏi đây. Tôi sẽ trở về đất mẹ, trở về Hy Lạp và kiếm một ngôi nhà nằm chơi vơi trên một đảo hoang nào đó, nếu Trump tái đắc cử”

Thôi mấy ông ơi! Cho tui xin can! Mấy ông bỏ nước Mỹ đi hết ráo thì cũng được đi! Nhưng cái tui sợ nhứt là Melania sẽ bắt chước mấy ông đòi trở về đất Mẹ, Tiệp Khắc, Slovenia, là cuộc đời của dân Mỹ sẽ buồn lắm đó mấy cha!

ĐXT

Melbourne.

Cánh mỏng phù du

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Màu tối mù lau vách đá
Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ
Rồi đi biệt
Để hờn trên đỉnh gió
Ta ở đâu?
Cánh mỏng phù du
”.
(Tuệ Sỹ)

Anh không lạ khi nghe tin, bởi anh biết sức viết của cô. Cái anh chẳng ngờ là cô gom chúng lại, tự bỏ tiền in thành một tập truyện. Lúc này đây, khai sinh ra hai ba trăm trang giấy, dán keo, đóng bìa, cắt xén, tựu trung là hình thành một cuốn sách; hình ảnh ấy thấy hiếm và váng vất chút bất ổn. Dĩ nhiên anh chẳng thể nói lên cái cảm nhận quái gỡ đó. Bởi nói, chính anh là đứa buồn phiền chứ chẳng phải cô. Chúng ta sống trong giai đoạn kỳ cục hết sức. In ra cuốn truyện đầu tay nào phải là một việc làm phi pháp cho cam!
Anh cũng chẳng rõ cụm chữ “tiền mất tật mang” nhằm áp dụng vào trường hợp nào thành ra anh không nên mang ra so sánh. Có tác phẩm, trình làng một cái tên, điều ấy chả nhẽ lại bị chấn thương? Anh là đứa rất ngại kê gạch giữa đàng làm khó dễ một niềm vui đang vận hành suông sẻ. Anh thành thật, đồng thời cũng biết đóng kịch. Suốt tuần, mỗi khi gặp cô, anh vẫn khai mở những nụ cười. Anh muốn cô nhìn nhận rằng anh cũng lăng xăng hòa chung trong cái happy ending kia.

Cô muốn lôi anh vào cuộc và anh muôn đời là tên lính yếu đuối “hàng sống chống chết”. Rất cảm động, cô bảo: mình muốn tạo một kỷ niệm, ông có thể viết ngắn một cảm nhận hoặc minh họa đôi ba phụ bản. Anh thuộc loại hàng binh an tâm cải tạo và thành quả là “bảng báo cáo” dài hai trang chữ viết tay gò dũa ý tưởng khi tiếp cận cõi văn của một người viết mới. Cô hoan hỉ khen anh có văn tài nhưng đề nghị nên để tên thật chứ ba chữ Một Độc Giả thì có vẻ như nhặt từ lưới xuống. Phản hồi treo trên mạng thường ngó không sướng bởi tính hư ảo khuất mặt của nó, chẳng danh chính ngôn thuận. Cô phán. Và anh lại dong tay đầu hàng. Tên cha sinh mẹ đặt của anh trôi dạt qua nhiều bến đục bến trong, khởi đi trên những cuốn sổ điểm danh viết mực xanh suốt thuở học trò vụng dại, nằm trong học bạ, đánh máy chữ oai vệ trên thẻ sinh viên, thẻ căn cước (có lăn tay và dấu vết dị hình ghi ở mặt sau) rồi giấy chứng thực kẻ vô tổ quốc (tên họ bắt đầu rơi rụng mất dấu sắc huyền hỏi ngã), rồi thì thẻ bọc nhựa cam đoan rằng cái bản mặt lạc hồn của thằng người ấy đích thực là công dân xứ lá phong, nó thành Cà-na-điên đấy chứ chẳng phải chơi (khi không lại đổi ngược họ tên)… Trôi, ba chìm bảy nổi, trôi đắm, dật dờ và sau rốt tạt vào, nằm đường bệ trong cuốn truyện vừa lay-out xong của cô, ở những trang cuối (lần này thì nguyên vẹn hình hài thứ tên cúng cơm thời khởi thủy). Anh nói với cô tới chữ vận mệnh, tên của mỗi người dường như mang sẵn một duyên số.

Anh phụ cô việc đóng gói bao bì dán băng keo trong cẩn trọng. Y như xẻ chia một nửa người của cô ra, tẩm liệm rồi chuẩn bị xuất dương sang Đài-loan. Bên ấy in rẻ, bao trọn gói, từ a tới z, giá thành mỗi cuốn là 4 đô-la. Trẻ lên ba cũng biết làm phép tính, 12 thằng giặc Mỹ xâm lược bị bộ đội giết đi 4, đố em còn lại mấy đứa? Dạ thưa cô, nếu trời thương, sách bán chạy, chuyến này cô làm cách mạng để triệt tiêu thành ngữ dân gian ác miệng “từ chết tới bị thương đếm không xuể”. Và thành ngữ này chết đi tất yếu sẽ có thành ngữ khác hiện hữu: Bận sau cứ thế mà làm, điếc không sợ súng toàn thắng ắt về ta!

Oan cho cô, cuộc chơi này chẳng dính dáng tới chuyện tiền bạc được mất. Cô có ưu điểm: Thường đãng trí việc tính toan. Anh gần cô, thích cô do anh sợ những người con gái xem đồng tiền là thước đo mọi giá trị. Một người viết văn như cô mà còn ôm đồm thêm lãnh vực toán học thì hỏng. Hỏng hoàn toàn, vì xưa nay hai chiến tuyến ấy không cách gì hòa hợp được, anh nghĩ vậy. Một bên sống trong mộng tưởng, hư ảo, phù du và bên kia sống giữa suy tính trần trụi, những so đo rạch ròi công thức hơn thua.

Cô hẹn anh ở quán ăn, gọi là thế cho một phủi tay mãi bận bịu. Đánh chén, mừng đi xong nửa chặng đường. Cô có gọi rượu chát, thứ dùng để khai vị, và thật bảnh khi ngón tay cô chỉ vào những món nặng tiền in lệch lạc trên tấm thực đơn. Cô biết tính anh, hơi thụ động, nên cô toàn quyền lựa chọn và quyết định kia có hơi hào phóng. Hai nhân mạng nhưng thức ăn có thể chứa căng bốn cái bao tử. Chữ “tả páo” có thể sẽ nói ra sau bữa ăn và dứt khoát cô dúi mấy hộp đồ ăn dư vào tay anh. Bỏ phí tội trời, nuốt cũng được ba bốn hôm, dại gì, nhỉ? Chưa khi nào anh ngó ra vẻ linh hoạt của cô hôm ấy, cô sẽ là nhà văn và trong khi chờ đợi sự chứng thực từ bá tánh, nhiệm vụ của anh là phải chia vui. Anh nâng cốc rượu sóng sánh màu đỏ như máu sắp đông để cụng vào ly cô. Tiếng thủy tinh va nhau, anh nghĩ e khi hai trái tim có điều kiện để chạm vào nhau, bất quá nó cũng sẽ phát ra ngần ấy tiếng. Trong trẻo, vui tai và ngân lên một âm hưởng chẳng thể diễn đạt thành lời. Nói chung là rung động. Thứ rung động làm mắt cô trông long lanh hơn thường nhật. Cô không đẹp, khách quan để nói chùng vụng như thế. Duyên ngầm hoặc mang một nét dễ nhìn cũng lẫn trốn đâu đó. Anh chiêm nghiệm về vẻ đẹp khuất tất, nó sẽ hiển hiện nếu ta để tâm. Một cái gì lấp ló e ấp luôn quyến rũ hơn một bông hoa đã mãn khai. Và anh chợt phát hiện thứ đức tính có ở cô. Về cách thức cô thổ lộ, nó phá đi bao ngần ngại để mang ta đến gần, thân cận với bao đằm thắm ý nhị. Hầu như thứ ấy nằm ở dạng bù trừ bởi thượng đế khi nhào nặn ra, chẳng một ai được vẹn toàn, mất cái này được cái khác. Chớ bao giờ bạn dùng chữ “giá mà” hoặc “phải như”, bạn sẽ suốt đời cô đơn vì cách đặt vấn đề xem ra bất khả. Người ta đã có sẵn thành ngữ để chỉ đích danh hạng người như vậy: Được voi đòi Hai Bà Trưng.

Trời chưa khuya khi hai đứa rời nhà hàng. Trời không lạnh, những bông tuyết nhỏ bay vu vơ trước khi tan biến giữa muôn trùng bóng tối. Cô nói, có lẽ mình nên rảo bộ một lát để đốt cháy năng lượng vừa dung nạp quá mạng. Anh đi sát vào người cô để nếu lề đường trơn trợt giá băng cô sẽ có thứ để vịn đỡ, gượng chống. Một chút rượu thấm vào máu khiến bước chân cô trông chẳng được vững chãi. Trong cuốn Rừng Na Uy, nhà văn Haruki Murakami đã viết ra những tiểu tiết lý thú, cô nói, chẳng hạn như đôi nhân tình dắt nhau đi suốt buổi chiều, mỏi chân họ ngồi xuống trên một ghế đá, người con gái chỉ tay về cái ống khói liên tục nhã ra từng luồng trắng đục nặng nề hơn cả mây trôi. Đố anh họ đang đốt thứ gì? Đó là ngôi trường nữ mà em đang theo học. Nhìn vẻ đăm chiêu của người bạn trai, cô gái đưa ra lời giải: Họ đang đốt những cái bông băng vệ sinh dính máu tháng, trường nội trú ấy có không dưới 500 thiếu nữ, bao lâu thì khói sẽ thôi thoát ra nơi cái ống cao ngất trời xanh ấy? Cô thôi kể chuyện sau khi đặt một dấu chấm: Tuyệt cú mèo! Cô bắt đầu nắm lấy cánh tay anh để gió thôi lòn lách giữa hai đứa. Có gì cần sẻ chia không? Cô hỏi, tóc rối bên vai áo ngự hàn. A hèm, tuần trước có gặp lại người bạn cũ, anh nói chậm như bước chân vô định, cậu ấy sau khi nắm bắt một vài thông tin đã ngồi yên, gần như thiền giả: Lạ, tớ am hiểu thuật tướng số, mặt mũi cậu là thứ chứng minh rõ về những sai lạc ám vào hoàn cảnh cậu. Nói khác đi, đời cậu phải sáng lạng hơn những gì cậu đang có. Nói xong, anh cảm thấy áy náy tựa một kẻ say rượu không làm chủ được miệng lưỡi mình. Nó gần là một than van và anh thì chẳng mấy cảm tình với những kẻ vô cớ tự mình làm yếu đuối lấy mình. Anh từng đọc những truyện cô viết, thế giới cô bày ra những nghịch cảnh và thường thì nhân vật tôi trong đó luôn chiến thắng bằng những hành động có khi đi gần tới sự hủy diệt. Cô cứng rắn, hiểu ở một góc cạnh nào đó, thường những người nhan sắc kém họ vin vào thứ gì đó để ứng xử, mặt khác họ buông thả với tất cả cái lạnh lùng. Văn, có thể không là người, nhưng viết được những dòng chữ ấy ra, cũng dễ xúi mình nghĩ nó phản chiếu ít nhiều một tâm tình người viết đã dàn trải. Thứ kinh nghiệm đó, anh không có, anh thích đọc một cuốn truyện nhiều hư cấu, xa sự thật, càng nhiều hoang tưởng càng tốt.

Rất hoang tưởng, cô bảo anh vào cái apt. cô thuê để ngủ đêm nay khi anh đưa cô về tận cửa. Cô thấy lạnh, cô đưa cảm tưởng, bổ túc thêm, như thể ngộ độc thực phẩm. Hơn nữa, trời trở, để ông về một mình đường xa thấy ngại quá. Cô run tay với chùm chìa khóa lập cập và mở cánh cửa kính mờ đục hơi ẩm một cách khó nhọc. Tấm tapis dơ bẩn in dấu những vệt tuyết tan, căn chung cư tịch lặng với ngọn đèn thắp sáng thường trực chói chang nỗi thọc mạch. Gió nhốt bên ngoài và cô đi dáng tự tin dẫn lối vào cái hành lang thâm sâu giữ chặt hơi ấm. Vẫn là sự xao động quen mặt mỗi bận anh tới nhưng nó gia tăng bội phần do bởi cái khác biệt giữa ngày và đêm. Chưa bao giờ anh bước chân vào lộ trình này vào buổi tối, quen thuộc đã vừa giã từ và anh nghe mệt nhịp tim với lạ lùng đột ngột ùa ra chào đón. Hai ba lần cửa được mở, chẳng phải vì điều đó mà người ta sẽ nắm giữ được bí mật. Bí mật có khi chôn sâu trong đầu óc, chỉ có duy thứ máy đọc sự thật mới thông hiểu. Và ngu ngơ, có khi là một dằn vặt, lúc khác mình nên tri ân. Anh đang ngu ngơ, một cậu bé con được mẹ nắm tay dắt tới trường học buổi ban đầu cũng mang vẻ choáng ngộp tựa anh.

Cô pha cho anh một cốc cà phê đậm đặc như kiểu muốn anh tỉnh thức vùng thoát mê muội. Cà phê đen uống vào lúc 11 pm nó ngon khủng khiếp, người uống sẽ dễ ngủ sau đó bởi cái phản ứng của nó chưa kịp tác hại. Giống như uống Viagra, bác sĩ khuyên: Ông cụ nên xơi nó nửa giờ trước khi xung trận. Ba mươi phút dài dằng dặc ấy, như một thiên thu, cụ ông sẽ phải làm gì để đốt thời gian? Đấy là một công án. Thiền giả như anh chậm rãi cởi giày, cởi áo tìm an lạc nơi động từ nhấm nháp chất đen expresso. Thư giãn nghe tiếng nước chảy thoát ra từ phòng vệ sinh. Ngoài hương liệu cà phê mũi anh luôn hít thở hô hấp một mùi kỳ hương dị thảo luôn chờn vờn trong căn phòng quét vôi hồng. Rèm cửa treo màn vải nâu, đèn để bàn sáng với công suất dịu dàng. Những cuốn sách đưa gáy ra đứng chen vai trên giá gỗ. Chiếc bàn khá lớn đặt ở góc, nơi hứng đỡ giàn computer, máy in, điện thoại và lỉnh kỉnh những thứ máy móc dây nhợ rắc rối khác. Đó là nơi hằng đêm cô ngồi vật lộn với chữ nghĩa, ngồi thầm lặng, ngồi lẻ loi, ngồi đối mặt với một thế giới đầy ảo tưởng và cô tin, thế giới đó mang cô thoát ra khỏi cái đời sống tịch lặng này, đánh đổi những mất ngủ, những ríu mắt, những bần thần, dẫu biết ngày mai hư không vẫn còn trên đôi tay.

Cô bỏ anh đi không lời từ biệt, như người ta viết truyện không màng tới một kết thúc, buông thả, ai muốn hiểu sao thì hiểu, người đọc thế tác giả để tự tìm một dấu chấm hợp lý. Điện thoại reo tiếng đục, lát sau có giọng nói: Số này hiện không còn hiệu lực. Anh đi ngang chỗ cô ngụ và thấy chủ nhân yết bảng cho thuê. Trong phút bốc đồng anh lưu số điện thoại người chủ vào iphone, anh gọi và được họ đồng ý cho thuê một năm mà chỉ phải trả 11 tháng tiền mướn. Anh từ chối những tu bổ hoặc họ sẽ quét lại lớp sơn mới ngó cho tươm tất. Anh không thích tươm tất, ít ra trong hoàn cảnh này. Anh muốn ngửi lại, trọn vẹn những hương mùi cũ. Cô đi, nhưng chắc chắc trong căn phòng nhỏ bé ấy còn rơi rớt những thứ cô chẳng thể mang theo.

Cuốn truyện của cô được đón chào khá ấm áp trong thời “gạo châu củi quế”. Chữ bông lơn đó anh dùng để nói với cô với một chú thích: Người ta mặn với internet hơn, người ta làm biếng bỏ tiền mua sách đọc trong lúc thiên hình vạn trạng ở thế giới ta bà tả pí lù miễn phí kia bao giờ cũng rộng mở. Hư đốn cũng có mà nghiêm trọng cũng có. Bịt miệng cũng có trói người cũng có lột truồng cũng có trấn nước dân chủ nhận chìm tự do thì vô số kể nếu cho con chuột đụng mũi tên vào hai chữ VN. Viết, có nên động lòng tới những phần số kém may mắn hơn ta? Nhà văn và thi sĩ, chẳng phải họ luôn dấu kín một trái tim mềm yếu? Chẳng lẽ cứ say cùng trăng và mơ cùng gió suốt kiếp sao? Hôm ấy anh có uống bia với người bạn biết coi tướng số, anh ghé cô và trong cuộc đối thoại, vui miệng anh đã lỡ lời như thế. Cô giận anh, nhưng anh hoàn toàn tin rằng, cô bỏ đi chỉ vì một nguyên cớ đại sự hơn. Cô đi tìm một nửa mãi thất lạc của cô chẳng hạn. Cô lấy chồng hoặc dọn tới một chốn đìu hiu để lấy chất liệu viết tiếp tác phẩm khác? Không chính xác nhưng thực sự thì cô đã vắng mặt chốn này mất rồi. Cô đang là nhà văn nữ, giao tiếp rộng, tự dưng lắm bằng hữu, cô có cả triệu lý do để dời đổi một cảnh sống mà không việc gì phải thông báo cho ai hay. Đột ngột bao giờ cũng là điều lý thú, cô từng nói với anh vậy.

Đồ đạc không nhiều, anh làm chim thiên di trong khoảnh khắc, chẳng mỏi cánh. Anh sẽ chung đụng thế giới hoang lạnh mà cô đã từ chối. Theo trí nhớ, anh bày biện những vật thể của mình trùng khít vào vị trí cô định đoạt trước đây. Này giường này nệm này tủ này bàn này sách này vở. Anh bỏ công lùng sục nhưng chả còn chứng tích cô để lại, hệt một thám tử chuyên lo trọng án anh chỉ nhìn ra đôi ba sợi tóc của cô, một cái khăn khô quắt để quên trong phòng tắm, hết. Mang cho chó đánh hơi, liệu sự tinh tường của chó đặc nhiệm có lần ra tung tích? Mà tìm ra để làm gì cơ chứ, khi một kẻ đã cứng lòng quay lưng. Khi người đã quyết định, cách hay nhất là bạn câm lặng đối phó với chất chồng những dấu hỏi người để lại. Anh không đối phó, anh lỡ nghiện cà phê cô pha. Lóng rày anh uống nhiều, siêng ghé starbucks và đêm về thường mở mắt mường tượng ra dáng cô đi khật khưỡng vào bồn cầu giải thủy. Cô có kể chuyện, bà hàng xóm thường dặn con thơ, chớ nên nghịch bốc tuyết vàng. Anh chậm hiểu, không ngờ xứ này cũng có kẻ mang bệnh tiểu đường. Hay đó là thành quả của một bợm nhậu? Khi say, ta có quyền đái ngoài lộ ở đêm khuya thanh vắng. Vấn đề là anh có đủ can đảm để moi cái vật đáng ghét kia ra khỏi quần khi hàn khí bên ngoài đang chỉ dưới 20 độ âm. Tuyết vàng, như vậy là nhân tạo bởi dễ hiểu điều ấu trĩ: nước đái bà Trời luôn trắng ngần. Trắng nhức nhối, trắng buốt xương, trắng đau lưng mỏi chắc.

Có hôm, trong hộp thư, chen với các thứ biên lai đòi nợ ghi tên anh (muôn năm không bỏ dấu) lạc loài lá thư xanh viết tay cái tên họ cô đủ đầy văn phạm tiếng Việt nhuần nhuyễn. Người gửi là một ông nội nào đó ở tuốt bên Paris. Par avion, dĩ nhiên, nhưng không khẩn cấp nên thư chậm lụt chẳng rơi vào tay khổ chủ. Lịch sự tối thiểu cũng tạo cho anh chút lần khân nhưng sau rốt anh là đứa có thể chai mặt đứng đái đường đêm hôm khuya khoắt mình ên với Tào Tháo bên lưng. Anh vào phòng, thảy lá thư đặc biệt xuống bàn, dằn lòng đi pha một cốc cà phê đen. Từ từ, đi đâu mà vội, chuyện gì cũng còn có đó, anh phát tiếng để nghe hồi âm tiếng vọng của cô đơn. Chưa khi nao, anh thèm được làm nhà văn như hôm nay, để thử xem nó sẽ viết xuống những xáo trộn nào vừa dấy lên trong lòng.

Anh đọc đúng ba lần lá thư với thứ lời lẽ dễ làm xiêu lòng kẻ đón nhận. Bức thư mà đọc xong, nó có hấp lực xúi người đọc phải hồi âm. Anh thay mặt cô, anh tập tành viết văn và anh viết thẳng vào máy vi tính: Anh Nguyễn thân mến, thư anh đến lúc tôi đang chuẩn bị đi xa. Anh có thể gọi đó là hình ảnh của con chim trốn tuyết. Tôi ghét mùa đông, nói chung là sự lạnh lẽo. Anh có thể nói tôi cường điệu nhưng chất thép có trên con dao bén là thứ mà tôi nghĩ anh cũng không ưa khi ngó thấy. Đe dọa, rợn cảm, ngọt cắt da, mùa đông Paris có mang đủ những thứ ấy không? Tôi trốn lạnh, những ấm áp có trong thư anh, tiếc thay nó không làm xáo trộn được cái cơ hàn mà tôi đang hứng chịu. Thú thật cùng anh, tôi có quen một người ở cùng thành phố tôi ngụ, là người viết nên cái bạt in trong cuốn truyện của tôi, chắc anh có để mắt qua. Anh ấy giúp tôi nhiều thứ, kể cả việc qua hình ảnh anh, tôi đã viết nên những trang văn mụ mị gần như bị đồng nhập. Tôi đã ngủ với anh ấy, tôi muốn tự mình khám phá ra những cõi miền mà tôi chưa hề đi thực tế. Chúng tôi làm tình và đớn đau thay việc làm nọ khiến chúng tôi bị đẩy rời ra. Tôi khóc trên chăn nệm, chẳng phải nước mắt đổ ra cho hoan lạc mà nó chảy xuống chỉ vì một tỉnh mộng. Tôi cứ ngỡ sự dâng hiến, cách đi sâu vào nhau của hai thân thể sẽ tạo ra một chấn động khiếp đảm đến mê đắm, nhưng mọi thứ chỉ là hư tưởng. Andre Gide nói:” Sắc màu của sự thật là cái xám ngoét”. Tấm màn xám kia vừa phủ chụp quanh tôi. Tôi phải tìm cách thoát ra mà không gì hơn là một chuyến đi xa. Tôi sẽ ghi nhớ địa chỉ của anh, để biết đâu có ngày buồn chân tôi sẽ thăm thú Paris, sẽ hẹn anh ở quận 13 và chúng ta vào ngồi quán ăn mang tên ấn tượng: “Ớt”. Ngày mai tôi lên đường, không một ai hay. Tôi không thích nhìn cảnh tiễn đưa, sự bịn rịn luôn làm hành lý mình thêm nặng. Tôi biết ít nhất sẽ có một người vô cùng thất vọng cho thái độ của tôi. Tôi cũng không mong người ấy hiểu. Trao thân, có khi chỉ nên giải thích là một hành động ơn đền oán trả. Và oán thì nên cởi chứ không nên buộc. Anh đồng ý không? Tôi đang tự do và tôi nghĩ anh và tôi cũng chỉ nên đứng ngay trên một lằn ranh nào đó thôi. Tôi dẫm qua giới hạn một lần nên tôi hiểu rõ cái thất thoát đớn đau của một giọt nước làm tràn ly. Mong anh vui, khỏe. Ký tên.

Anh tắt máy, chẳng dò lại những dòng chữ viết. Anh tắt đèn, lên giường nằm và dọn giấc ngủ muộn bằng vuông khăn đắp mặt. Chiếc khăn ngày nào cô bỏ quên trong phòng tắm, chiếc khăn lưu giữ một hương mùi, hình như sau đêm làm tình vội vã, cô đã vào rửa ráy và lau khô chỗ kín bằng vuông đắp mặt này. “Khóc mùa hè mà khô cả đại dương”. Anh nhẫm đọc câu thơ Tuệ Sỹ trong lúc đợi mộng dữ đón đường.

Hồ Đình Nghiêm

Trời đất bao la

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới mười ngàn cây số khứ hồi, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Lại nghe mấy người bạn tới trước hù, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe, thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.

Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi, nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh sát với súng ống dầy người, trông mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa bình, tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước mà tôi nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa Tulip, với vườn hoa lớn và đẹp nhất thế giới, những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng.

Ở thủ đô Amsterdam, có một nơi dành cho những người nghiện đến nhận thuốc phiện miễn phí của chính phủ; nguyên cả một khu phố lớn dọc theo bờ sông thơ mộng lại là một khu dành cho mấy cô gái điếm đủ sắc dân. Đây là một cơ sở kinh doanh, có đóng thuế cho nhà nước, nên dược cảnh sát bảo vệ. Trước mỗi nhà là một cái tủ kiếng, bày hàng thật cho khách bốn phương chiêm ngưỡng. Hàng thật là một hay hai cô gái thoát y 90%, dĩ nhiên phải là đẹp, đứng như những pho tượng nữ thần Hy lạp. Chúng tôi ghé thăm gia đình mấy ngưòi bạn cùng quê, sống rải rác khắp nơi. May mà đất nước Hòa Lan này không rộng lắm, lái xe từ bắc xuống nam chỉ mất khoảng bốn tiếng đồng hồ. Dừng lại nhà một người bạn ở Bergen op Zoom, thành phố biển phía nam chúng tôi tha hồ ăn sò huyết và những con “hàu”. Mấy loại này ở đây chỉ cần lội xuống biển mười phút là mang lên cả thùng nướng ngay tại chỗ. Hôm sau, chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng chúng tôi đến Pháp.

Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân. Tôi bắt gặp đâu đó những đứa trẻ trong Sans Famille của Hector Malo, những người đàn bà trong Les Misérables, và cả những bến tàu có cảnh tiễn đưa trong Oceano Nox của Victor Hugo. Chúng tôi ở trong khách sạn của một người Hà Nội, sang Pháp lập nghiệp từ hơn 50 năm trước. Khách sạn nằm trên con phố chính trong quận 13, nơi có đông ngưòi Việt Nam sinh sống.

Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Đại Tây Dương, gần thành phố Cannes nơi qui tụ những tài tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có quá nhiều phiền muộn này.

Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con gái của tôi đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ,, xem thử nơi đã cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố ” lệnh hành quân”. Chúng tôi không đi theo xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế. Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ “tuyến xuất phát”, tôi mới biết là mình đã sai lầm khi xử dụng con đuờng tắt này. Vì chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người.

Đang mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt, vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở Việt nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm vô- lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một chập, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mớí phát hiện là sợi dây cu-roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ và đám con gái đang nằm trên bờ cỏ ruộng lúa mì, ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh ” đóng quân tại vị trí ” vì xe hư không biết khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.

Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa, thì nghe có tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó, càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi.

Qua ánh đèn xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu:

– Chắc là xe các anh bị hư? Có cần tôi giúp điều gì không?

Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, tôi hiểu tiếng được tiếng mất, vừa trả lời vừa ra dấu:

– Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không chạy được nữa.

– Các anh ở tỉnh nào tới?

– Chúng tôi từ Nauy sang, chứ không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.

Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ tính..Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.

Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng chỉ khoảng 10 phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chập sau anh lại mang vào bánh mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi người ngủ ngon.

Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.

Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con gái của tôi.

– Các anh là người Việt Nam? Anh ta vừa bưng tách cà phê vừa hỏi.

– Nhưng làm sao anh biết được vì ở bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn, người Thái Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại anh.

– Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.

Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt nam thật to treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.

Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn nho.

Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.

Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam tỏa ra thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng tên khắc đậm trên bia.. 
Khi đọc đến tên người mẹ: 
JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER – tôi bỗng giựt mình. 
Cái tên này tôi thấy quen lắm. Bà mất lúc tròn 50 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một người.

Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng? – Không thể nào! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.

Năm học lớp đệ nhất trường Võ Tánh, Nha Trang, dù học không giỏi nhưng tôi cũng cố gắng để được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên hạng bét và cũng để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời làm gà trống nuôi con. Vậy mà tôi bị một lúc hai cái tai ương. Tự dưng có một nàng con gái, mà lại là con gái đẹp, yêu tôi. Đang ngụp lặn trong tình yêu thì ông Trời phạt tôi: phận nhà nghèo mà lại đèo bồng yêu người đẹp, nên giáng cho tôi một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Vì vậy khi bạn bè vác lều chỏng đi thi, thì tôi đang nằm bất động ở nhà thương tư của bác sĩ Thạch ở đường Trần Quí Cáp. Ba tháng sau, khi vừa xuất viện về tiếp tục điều trị tại nhà, tôi nhận được bức thư tạ từ. Người đẹp đi lấy chồng. Tôi bỏ thành phố Nha Trang, bây giờ với tôi là thành phố buồn, vào Sài gòn lang thang kiếm việc làm thuê để có tiền đi học tiếp. Nhưng rồi cũng chẳng có ai chịu thuê một thằng thư sinh nhà quê như tôi. Vừa buồn vừa không có tiền trả tiền cơm cho bà Cả Đọi, tôi đăng vào lính.

Khi chân ướt chân ráo vào Sài gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được tòa đại sứ Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các trường Tây Sài gòn, Đà lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách Tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó không phải là tên thật của cô.

Chỉ đi chơi với nhóm một vài lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn Alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn Alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai Alpha.

Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài gòn, họ làm một buổi tiệc chia tay tôi. và lần này tổ chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm lớn trên Tân Định.

Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc loại nhà giàu. Tôi nghĩ như thế.

Tới hơn hai giờ sáng, tiệc mới tàn. Khi nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn tôi trên má.

Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, tôi bất chợt nhớ đến nàng, mở xách tay ra tìm lại tấm ảnh. Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi: À toi, avec tout mon coeur. Phía dưới cô chỉ ghi là người có mái tóc Sylvie Vartan.

Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình: Đúng là lãng mạn như Tây.

Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng 30 cây số, do một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng buôn súng.

Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là người thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do Thổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh sáng lập để thu hút di dân sau 1954.

Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vã và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học , và khuôn mặt những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì? Vì giữa nàng với tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận, gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp và quí phái. Nàng quen với tôi , thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.

Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường nhất. Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư sinh. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội solo xuống núi biệt phái cho tiểu khu Lâm Đồng

Đoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu trên QL 14, từ Saigòn chạy lên Đàlạt, vừa bị đặc công giựt sập trong hai đêm trước.

Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ khí nặng, nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yễm trợ hỏa lực. Phía duới khu đồn điền này là cây cầu Đại Ngà, cây cầu dài nhất vừa bị phá hoại.

Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân báo của đại đội tôi phối hợp cùng với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.

Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sài Gòn lên. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấy tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra. À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ? Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát ; cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng Tây mà anh chưa kịp hiểu.

Cô nhìn tôi cười rạng rỡ:

– Anh là anh Ninh, phải không? Mấy năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie.

– Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. –

Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền –

– Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chổ tôi chơi. Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.

Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:

– Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.

Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.

Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên Đà Lạt, như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không biết là mình đang nói dối.

Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời chúng tôi dùng bửa cơm chiều với ông. Bửa cơm đầy đủ hương vị tây, mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bửa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.

Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng tỏa ánh vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng dưới ánh trăng, nghe từng nhịp đâp của trái tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe về một ước mơ của nàng: muốn có lần trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một bải cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ rộng mênh mông

– Anh có thấy gì lạ không?

Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng cây bên kia bờ suối

– Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?

Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert không?

– Lúc học Littérature Francais, anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động. Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.

Nàng cất tiếng khe khẻ hát bài thơ Les feuilles mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu:

            Et la vie sépare ceux qui s’aimant
           Tout doucement, sans faire de bruit
           Et “le vent” effface sur la “plaine”
           Les pas des amants désunis.

Tôi hỏi sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.

Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ lại mẹ và hai chị em nàng. Những người con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không anh ? mấy lần nàng hỏi tôi như thế.

Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.

Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành quân TK Lâm Đồng xin gặp ông Tiểu Khu Trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc xe jeep của TK biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông Tiểu Khu trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội phó.

Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách sạn La Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cỡi ngựa ở sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya.

Ngày hôm sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thưởng thức cà phê Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm dưới dòng thác. Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.

Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại trường Domaine de Marie để gặp lại em nàng. Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt: Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em nữa. Hôn anh.

Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường. Tôi ngồi trên xe nhìn thẩn thờ vào khu trường. Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước cổng.

Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự bao giờ.

Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một khoảng trống bao la.

Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.

Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.

Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của nàng: Jacqueline Cuvéro.

May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà nàng yêu thích.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais’s mon amour silensieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la vie

Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sàigon. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt Nam.

Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.

Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đôi tôi nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong.

Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ: Jacqueline, màu vàng. Mấy thằng lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giã vờ: tại vì tao ái mộ bà vợ của Tổng Thống Kennedy.                                     
Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng tôi một bũa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra những dấu tích của nàng.

Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi vào khu nghĩa địa.

Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông Đà Lạt.

Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.

Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì thầm trong gió:

Et la chanson que tu me chantais
Toujours, toujours je l’entendrai.!

    (Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe
     Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây)

Vương Quốc Nauy, mùa hè 2004
Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Không biết ông bạn già của tôi nghĩ gì khi vào cuối tháng mười, lúc trời bắt đầu se sắt lạnh, nước Mỹ đổi giờ và trời hình như bắt đầu tối nhanh hơn. Từ lễ Thanksgiving trở đi, các trung tâm thương mãi đã sửa soạn giăng đèn kết hoa, đón mời khách mua, rộn ràng âm thanh và hình ảnh của những ngày lễ cuối năm. Trẻ em chắc phải hớn hở vui mừng, lòng hân hoan đón những ngày nghỉ sắp đến, quà cáp, ăn uống, sum họp. Những đôi vợ chồng trẻ lo lắng, sắp đặt những chuyến đi chơi xa hay trở về nhà bố mẹ lòng đầy phấn khởi nghĩ đến tương lai.

Riêng tôi, mỗi năm lúc bắt đầu nghe tiếng nhạc Giáng Sinh, nhìn những ánh đèn nhiều màu nhấp nháy trên những cành thông ngoài phố hay trong phòng khách, lòng bỗng xúc động lạ thường và một nỗi buồn xâm chiếm lấy tâm hồn. Khi tuổi trẻ nghĩ đến tương lai, thì người già nhìn lui về quá khứ.

Đã biết bao nhiêu mùa Giáng Sinh trôi qua, từ lúc cắp sách đến trường, tuổi biết yêu, rồi quê hương chiến trận đạn bom, rồi trại tù giá lạnh, rồi nước Mỹ mênh mông lạnh buồn làm chạnh lòng người xa xứ. Nhìn lại tháng ngày qua, mới đó mà thấy đã thật xa, thăm thẳm dài, nhìn tương lai đàng trước, còn lại chẳng bao nhiêu, thấy chừng rất ngắn ngủi. Khi sống trong đau khổ, ta muốn kéo sợi chỉ thời gian nhanh hơn, khi hạnh phúc ta muốn giữ tháng ngày chậm lại. Nhưng ngày tháng vẫn trôi đi như những dòng nước không bao giờ trở lại như một nhà thơ đã nói: “Thời gian và con nước không chờ đợi ai”. Ông bạn già của tôi có bao giờ nghĩ đến việc đi tìm lại một hình ảnh cố nhân không? Người thiếu nữ ngày xưa mà bạn thường mơ mộng, theo đuổi hay đã có một thời yêu thương. Có mấy người còn có cơ hội để gặp lại nhau, mà:

“Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi con mắt còn có đuôi! (Phan Khôi)

Bây giờ đã bốn, năm mươi năm rồi. Xin hãy để những hình ảnh ấy yên ngủ trong dĩ vãng dịu dàng, xin đừng đánh thức những sự thật phũ phàng khi gặp lại một bà cụ già bệnh hoạn, vầng trán nhăn nheo và mái tóc rối bạc. Những hình ảnh đã mất đi là những hình ảnh đẹp nhất của đời người, có thể chẳng bao giờ tìm lại được.

Trên cuốn sổ điện thoại, tên nhiều người bạn chưa được xóa đi nhưng những con số không bao giờ dùng tới. Những đoạn đường hay thành phố, qua đó bỗng chạnh lòng khi nhớ đến một vài người thân đã không còn nữa. Đi thăm một người quen đã hôn mê trong bệnh viện, ghé nhà quàn thắp một nén hương, đứng lặng một vài giây để nhìn người bạn lần cuối hay buổi sáng sớm nghe điện thoại một người ở xa báo tin buồn, để thấy cuộc đời không còn vô tư, phấn khởi như những ngày còn trẻ.

Chúng ta có bao nhiêu điều để hối hận, tiếc nuối hay buồn rầu về những lỗi lầm của tuổi trẻ, những cơ hội đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại như những dòng sông vẫn trôi. Mỗi sáng thức dậy, mỗi buổi tối lên đèn lập lại từng ngày, càng lúc càng nhanh như ai đó làm người kéo màn khép lại từng màn kịch và mở ra những màn nối tiếp. Rồi cuối cùng vang lên tiếng vỗ tay trong màn cuối, nhà hát bật đèn, mọi người đứng dậy và một đêm kịch thực sự đã chấm dứt. Nhân vật của kịch bản đã chết nhưng diễn viên vẫn sống để đóng vai trở lại, mà chúng ta thì sẽ không bao giờ còn cơ hội đó nữa. Đây chính là cuộc sống. Nếu cho chúng ta “đi lại từ đầu”, chúng ta có sửa sang, tu bổ, khôn ngoan chọn và viết lại kịch bản, thánh thiện hơn phàm tục, ở hiền thay sống ác cho hết một đời người, hay cuối cùng vẫn chẳng có gì đổi thay.

Bây giờ mùa đông tới, trong những khớp xương nghe đau nhức như nỗi buồn đã thấm vào da thịt. Bây giờ người già trở lại như đứa trẻ thơ, nhớ nhớ quên quên, vụng về, lẩm cẩm. Những đứa cháu mới bé thơ năm nào nay đã lớn như thổi, vậy thì cũng không mấy ngạc nhiên khi tóc mình càng ngày càng thưa dần và chuyển sang bạc trắng. Tre già bên những mầm măng mới mọc, những ngọn lá vàng rơi xuống và nằm yên ẩm mục để làm nhựa cho cây. Vòng quay của sự sống diễn ra từng giờ trước mắt chúng ta, nhưng mỗi khi nghĩ đến chuyện ra đi, người ta có bình thản như một người sắp trở về, đi trên con đường quê nhà quen thuộc thời thơ ấu, như một triết gia nào đó đã nói chăng?

(tgv 05)