This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ôi những con đường đến tự đâu Một lần gặp gỡ ngã tư nào Rồi trong vô hạn chia lìa miết Có cuốn theo mình bụi của nhau? (Tô Thùy Yên)
Khi ra khỏi quân trường, cầm tờ sự vụ lệnh lên trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi cứ ngỡ là suốt đời binh nghiệp của mình sẽ gắn liền với rừng núi cao nguyên. Nhưng không ngờ tiểu đoàn của tôi được chọn làm đơn vị trừ bị cho quân đoàn, nên nhiều khi buổi sáng còn ở trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều lại có mặt ở bờ biển Bình Tuy, Cam Ranh, Phan Thiết.
Một ngày cuối năm 1966, sau hai tháng đánh đấm ở Bình Định, Phú Yên, đơn vị tôi cùng một chi đoàn thiết quân vận tăng phái, được tàu hải quân bỏ xuống bờ biển Nha Trang. Trong đám lính phong trần, có lẽ tôi là thằng mừng vui nhất, không phải đang từ một vùng lửa đạn được đổi đến thành phố biển an bình , nhưng vì bất ngờ được trở lại quê hương, nơi còn rất nhiều dấu vết tuổi thơ . Cuộc hành quân mang tên “Hải Âu” này, với tôi nó còn là một “định mệnh”, khi cả đơn vị tôi đổ quân xuống thị trấn Ninh Hòa lúc hai giờ sáng. Bởi chính lần này cuộc đời tôi cột chặt với vùng đất có “con sông Dinh chảy qua Cầu Sắt” này.
Hơn ba tuần trong mật khu Đá Bàn, chúng tôi xuống Phú Gia nhận lương thực rồi kéo qua Tân Hưng, Trường Lộc và cuối cùng về nghỉ dưỡng quân hai tuần tại Phú Hòa, một làng quê an bình và trù phú như cái tên gọi.
Tôi tìm địa hình thích hợp để bố trí quân, và chọn khu vườn sau một ngôi nhà lớn nằm trên vị trí khá cao bên con hương lộ, để xin được đặt ban chỉ huy đại đội
Bà chủ nhà đón tôi bằng một nụ cười phúc hậu của một bà mẹ thương con. Bà vui vẻ cho phép chúng tôi được xử dụng cái hiên nhà rộng rãi và thoáng mát làm “bản doanh”. Cần bất cứ thứ gì bà sẵn lòng giúp. Ông chủ cũng là một người nặng tấm lòng, hỏi han từng người lính. Ông Bà xem chúng tôi như con cháu trong nhà, hơn nữa thấy lính tráng khổ cực, Ông Bà thương. Bọn tôi ai nấy cũng cảm động trước tấm lòng nhân hậu của Ông Bà, nhưng theo lệnh trên, không cho phép ở trong nhà dân mà chỉ xin được ở ngoài vườn.
Hai ngày sau, thứ bảy, tôi mới phát hiện nhiều đìều thú vị. Đúng là ở hiền gặp lành, Ông Bà có đến năm, sáu cô con gái, mà cô nào cũng xinh đẹp, hiền thục và học hành giỏi. Nghe nói ba cô chị thì đã đi làm hay đi học ở Nha Trang, chỉ về thăm nhà vào cuối tuần, còn mấy cô em thì đang học ở trường trung học quận lỵ. Hỏi ra thì hầu hết các cô nương này tôi chưa gặp nhưng đã nghe danh từ lúc tôi còn đi học ở Nha Trang.. Là một tiểu đoàn lưu động, nên hầu hết lính tráng đều rất trẻ. Ba thằng đại đội trưởng cũng là ba thằng thiếu úy sữa. Thằng nào cũng vừa rời ghế nhà trường mới vài ba năm. Trong số này có Trần Công Lâm, cùng khóa với tôi và Đặng Trung Đức, khóa 19 VBĐL.
Dù sao tôi cũng là dân Khánh Hòa, nên lúc nào cũng giữ thái độ “kính nhi viễn chi”. Hơn nữa tôi cũng vừa mới làm quen với một cô trước Sân Vận Động, nên phải nằm lòng lời dạy của người xưa “ăn cây nào rào cây nấy”. Trong ba thằng, Đặng Trung Đức là hào hoa nhất. Đại đội của Đức đóng trên Gò Quít, nhưng lúc nào chàng ta cũng có mặt trong ban chỉ huy đại đội … của tôi. Đức có tài nói chuyện, hơn nữa anh thường tâm sự về hoàn cảnh con một của bà mẹ già sống góa bụa trên xứ sương mù Đà Lạt, từ lúc Đức mới lên năm, nên càng được bà chủ nhà động lòng thương. Không biết là trong mấy cô con gái lớn, Đức đã trồng cây si cô nào,(và cũng chẳng biết có cô nào dành một ngăn nhỏ trong trái tim cho anh không ?), nhưng mà thấy chàng ta yêu đời lắm, miệng lúc nào cũng hát líu lo những bản tình ca.
Chưa được hai tuần, thì đơn vị nhận lệnh di chuyển khẩn cấp vào phi trưòng Nha Trang để được bốc lên tiếp viện cho chiến trường Quảng Đức. Chia tay, chúng tôi ai cũng mang theo lưu luyến trong lòng. Nhưng chắc chắn Đức là thằng buồn nhất, vì chưa kịp nói một lời tỏ tình, và cũng kể từ hôm nay, ngoài vóc dáng bà mẹ già cô độc ở quê nhà, chàng ta còn mang theo bóng hình một người con gái Phú Hòa vào nơi gió cát.
Tình hình chiến sự ngày càng sôi động, đơn vị tôi lại tiếp tục nay đây mai đó. Chiến cuộc làm cho thời gian ngắn lại và mộng mơ của những thằng lính cũng sớm nở tối tàn. Rời khỏi Ninh Hòa, đơn vị của tôi chưa có lần trở lại. Mãi đến đầu năm 1970, khi toàn bộ trung đoàn trên đường di chuyển từ Sông Mao (Phan Thiết) lên An Khê, thương tình tôi, ông trung đoàn trưởng cho đoàn quân dừng lại nghỉ chân dọc theo cải lộ tuyến Đại Hàn hai tiếng đồng hồ, để tôi ghé lại thăm bà vợ vừa mới sinh đứa con gái thứ ba. Đặng Trung Đức chạy theo tôi, rồi hỏi đường lên Phú Hòa, nhưng chỉ gặp được bà mẹ chủ nhà phúc hậu năm nào. Các cô con gái, hầu hết đã theo chồng hoặc đang có người yêu ở đâu đó.
Mùa hè năm sau, ( lúc này tôi đã được điều về làm ở bộ chỉ huy Chiến đoàn, bản doanh tại Sông Mao), sau khi hoàn tất chuyến bay đổ quân cho một cuộc hành quân trực thăng vận vào một mật khu nằm giữa ranh giới Bình Thuận – Lâm Đồng, tôi trở về nhà trong khu cư xá. Bà vợ Ninh-Hòa vừa dắt con vào thăm. Bước vào nhà, thấy vợ tôi đang nói chuyện với hai người khách . Một sĩ quan trẻ, bô trai và một cô gái đẹp dịu hiền có nụ cười rất xinh, mà tôi có cảm giác quen quen. Bà xã giới thiệu bạn đồng hương, tôi mới biết hai người là một đôi uyên ương tuyệt vời, họ vừa mơí đính hôn. Điều làm tôi ngạc nhiên, cô gái chính là một cô em, trong mấy người đẹp Phú Hòa mà tôi đã được bà mẹ phúc hậu cho phép đóng quân trong vườn nhà sáu năm về trước. Một trùng hợp lý thú: hôn phu của cô, người sĩ quan vừa mới tốt nghiệp khóa 24 từ trường Võ Bị Đà Lạt lại đuợc bổ nhiệm về tiểu đoàn Thần Ưng, mà tiểu đoàn trưởng chính là anh bạn của tôi đã cùng đóng quân ở làng Phú Hòa thưở trước : Đặng Trung Đức.
Gặp nhau, chưa kịp tâm tình, thì vội vã chia tay. Một đơn vị chạm địch, tôi lại phải bay lên bao vùng .
Hôm sau, tôi xách xe chạy lên gặp Đặng Trung Đức. Tiểu Đoàn Thần Ưng của Đức là một đơn vị đánh đấm có tiếng, đang ứng chiến tại bản doanh, làm lực lượng trừ bị cho cuộc hành quân. Tôi hỏi Đức về Phùng, người sĩ quan Võ Bị mới bổ sung về đơn vị Đức, và bảo Đức mời anh đến Câu Lạc Bộ Tiểu Đoàn uống nước. Hai người cùng xuất thân từ mái trường Đà Lạt, nên họ rất trân trọng cái tình huynh đệ. Tôi hỏi Phùng về vị hôn thê, Phùng cho biết là cô đã về lại Cam Ranh, nơi cô làm việc, từ sáng sớm. Đức ngồi nghe nói chuyện, quay sang hỏi tôi :
– Toa bà con với Phùng à?
– Bạn có biết bà xã tương lai của Phùng là ai không ? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại Đức
Chàng ta tròn mắt, đứng phắt lên đập vào vai Phùng, khi nghe tôi bảo người con gái ấy là một trong mấy cô em của người đẹp Phú Hòa mà chàng ta đã từng mang trong tim bóng hình một dạo.
Điều duy nhất mà Đức và tôi có thể giúp Phùng, là hết lòng trong tình huynh đệ, chỉ vẽ những kinh nghiệm máu xương của một người lính chiến trường. Một sĩ quan Võ Bị như Phùng, chắc chắn anh cũng không yêu cầu chúng tôi điều gì. Hơn nữa, qui chế của Sư Đoàn từ lúc vị Tư Lệnh danh tiếng Trương Quang Ân, dành cho một sĩ quan Võ Bị mới tốt nghiệp là phải giữ một chức vụ tác chiến tối thiểu là bốn năm.
Đầu mùa hè 1972, chiến truờng cao nguyên sôi động, BTL Sư Đoàn 22 BB bị tràn ngập tại Tân Cảnh, vị Tư Lệnh hy sinh sau khi từ chối rời căn cứ bằng trực thăng của Mỹ. Trung đoàn tôi có lệnh di chuyển khẩn cấp toàn bộ lên Kontum. Đến Pleiku thì được tin thành phố Kontum đang trong nguy khốn. Đường bộ lên Kontum bị chốt dày đặt ở cao điểm Chư Pao, phi trường bị pháo kích nặng nề, phi cơ không đáp được. Cuối cùng đơn vị tôi được lệnh không vận liên tục bằng C130 vào ban đêm. Khi vào không phận Kontum, phi cơ tắt hết đèn, đảo mấy vòng, đáp thật nhanh, trút chúng tôi xuống cuối phi đạo rồi vội vàng bay lên trong bóng đêm mịt mùng.
Đơn vị tôi đã giữ vững đựơc Kontum và trở thành tuyến đầu của trận chiến Cao Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa. Chiến thắng ngày ấy dù vinh quang nhưng chúng tôi cũng đã phải trả một cái giá không nhỏ. Ba thằng thiếu úy nhóc con, đóng quân ở Phú Hòa lúc trước, hai thằng đã nằm xuống : Trần Công Lâm và Đặng Trung Đức, còn tôi thì bị thương nặng phải tản thương về quân y viện Pleiku. (Có lẽ cô gái Phú Hòa năm xưa không ngờ rằng, có một người lính vừa mang theo vào lòng đất bóng dáng của mình, mà có một thời chàng ta đã yêu trộm nhớ thầm trong một lần dừng quân ngắn ngủi)
Mất hai người bạn chí thân, hai chiến hữu can trường, tôi cảm thấy thật buồn và ngao ngán chiến tranh. Vết thương chưa kịp lành, tôi trở lại đơn vị. Một cái tin làm tôi xúc động đến lặng người . Thiếu úy Phùng, người sĩ quan Võ Bị hiền hậu, đẹp trai vừa mới hào hùng ngã xuống, để dang dở một cuộc tình tưởng chừng đẹp nhất Phú Hòa. Nghe đồng đội của anh kể lại, trước khi nhắm mắt anh lấy hết tàn hơi thì thào gọi tên người vợ sắp cưới của mình. Tôi mơ hồ nghe tiếng gió mưa, dông bão trên ngôi nhà có khu vườn tôi đã đóng quân ngày trước.
(Cố Tr.úy Phùng…khi còn SVSQ)
Chiến tranh bao giờ cũng mang theo tai họa và để lại phía sau bao nhiêu điều bi thảm. Nhưng rồi khi cuộc chiến kết thúc lại càng bi thảm hơn: sau tháng 4/75, bao nhiêu người tù đày, chia ly , khốn cùng, bỏ quê lưu lạc.
Dường như sau một lần mất mát lớn lao quá người ta dễ quên đi những nỗi buồn, những đau đớn cũ. Nhưng nếu trong bất chợt, có điều gì gợi lên nỗi nhớ, ký ức sẽ mang mọi thứ trở về thật nhanh, làm lòng người ta bâng khuâng ghê lắm.
Đầu năm 2003, như những con chim di xứ gọi bầy, một nhóm bạn Ninh-Hòa của bà xã tôi, có cùng tấm lòng tha thiết với quê nhà, với bạn cũ trường xưa, ngồi lại thành lập trang web Đồng Hương Ninh-Hòa. Trong số những cánh chim “hải âu” đáng quý này, có một người là chàng rể út Phú Hòa. Dù chưa một lần gặp nhau, nhưng anh đã cho tôi thật nhiều cảm kích. Qua mỗi lần tâm tình, anh đã gợi lại trong tôi lãng đãng một hình ảnh Phú Hòa dễ thương thuở trước.
Bây giờ Phú Hòa ngàn trùng xa cách. Những người đẹp Phú Hòa xưa giờ đã lưu lạc bốn phương trời. Chỉ có bà mẹ từ tâm, phúc hậu, vừa vĩnh viễn nằm lại trên quê nhà, bên cạnh chồng, trong gió nội hương đồng, pha lẫn dư âm tiếng vui đùa của mấy cô con gái dễ thương trong những ngày mới lớn, cùng biết bao hình ảnh đẹp đẽ của một thời Phú Hòa hưng thịnh.
Tôi miên man nhớ lại một thời xưa, cúi đầu tưởng nhớ người quá cố, và cầu mong những người Phú Hòa xưa được tròn hạnh phúc, cho dù có giây phút nào đó hồi tưởng về một chút quá khứ thật mờ mịt xa xưa.
Nhiều tháng trôi qua. Tôi đã gửi cho bà Nhu những bức thư nhã nhặn hơn, tự giới thiệu bản thân và cho bà biết về lai lịch của tôi. “Tôi muốn nói chuyện với bà”, tôi viết. Tâm trí tôi khuấy tung một danh sách bất tận những lý do giải thích vì sao bà đã không trả lời tôi. Lỡ đâu bà Nhu không thấy thoải mái với sự chú ý như tôi tưởng thì sao? Thậm chí có thể bà còn không biết mình là Rồng Cái nữa.
Tôi đã mơ màng hình dung về cuộc trò chuyện đầu tiên của chúng tôi. Tôi thấy mình đang bay tới Pháp, ngồi trên chiếc đi văng bọc nhung của bà, tán chuyện qua một tách trà bằng sứ và những chiếc kẹo bạc hà ngọt ngào… nhưng càng lúc tôi càng phải huy động nhiều nỗ lực hơn để bám riết niềm hy vọng của mình vào cùng một điểm xuất phát như vậy mỗi ngày. Tôi thật sự nghĩ mình đã hình dung ra mọi kịch bản khả dĩ về việc làm thế nào và khi nào bà Nhu sẽ quyết định liên hệ với tôi, nhưng tôi đã sai.
Một buổi sáng thứ Bảy của tháng Sáu năm 2005, khi chồng tôi vẫn đang ngủ say, một dấu cộng màu hồng rõ rệt, không thể lầm lẫn hiện ra trên que thử. Tôi đã có thai. Đó là một điều gây choáng váng vì vợ chồng tôi đã từng cố gắng đủ mọi cách để có con. Những cuộc hẹn với bác sĩ xét nghiệm máu, làm siêu âm và nhiều ý kiến khác đều đưa đến lời chẩn đoán đáng sợ về hội chứng buồng trứng đa nang. Người ta nói rằng nếu không có sự can thiệp y học, việc thụ thai đối với tôi gần như là không thể. Ấy vậy mà, tôi đang đứng đó, nhìn chòng chọc vào chiếc que ướt trong cú sốc hoàn toàn, thì chuông điện thoại nhà bếp reo vang.
“Bonjour”, một giọng gây bối rối vang lên trong ống nghe. “Cô Demery?”
Tôi hầu như không kịp kim một tiếng “oui”. Giờ làm sao mà nuốt lại cho được. Tim tôi nhảy chồm trong lồng ngực. Lẽ nào là người mà tôi đã nghĩ hay sao? Nếu không thì còn ai nữa? Tôi lập tức tự hỏi có phải mình đang mơ chăng.
“Xin hỏi có phải bà Nhu đấy không?” Làm bộ lạnh lùng xa cách lúc này thật chẳng có ý nghĩa gì. Rồng Cái đang gọi điện. Và tôi thì đang mang thai. Vâng, đó là bà Nhu. Nhưng một lô một lốc những câu hỏi xối xả ập đến tôi, chúng ngay lập tức kéo tôi ra khỏi trạng thái mơ màng sung sướng.
“Cô có phải là nhân viên chính phủ không?”
“Không, không”, tôi trấn an bà.
“Thế thì chồng cô? Hoặc là cha cô, hay ai đó trong gia đình cô?”
Tôi hứa với bà rằng không có bất kỳ ai trong gia đình tôi từng làm việc cho chính phủ cả.
“Thế thì cô có từng làm việc cho cảnh sát, hay có lẽ là New York Times?”
Cái lối chất vấn này nghe ra như lời lẽ điên rồ của một ai đó, nhưng tôi nghiêm túc trả lời mọi câu hỏi. Rốt cuộc, bà Nhu đã tỏ ra hài lòng.
“Bon” bà nói rành mạch, “bỏ qua chuyện đó đi. Tốt”.
Sau đó bà đưa ra những qui tắc cơ bản. Bà Nhu sẽ là người gọi. Bà sẽ không cho tôi số điện thoại. Bà sẽ không nói chuyện với bất kỳ ai khác bắt máy; bà sẽ chờ máy. Và bà sẽ tuyệt đối không để lại tin nhắn nào trên máy trả lời. Tôi dễ dàng đồng ý với mọi điều kiện đó.
“Bien sur. Tất nhiên, thưa Bà”.
“Tôi sẽ gọi lại trong ba ngày”.
Bà Nhu và tôi bắt đầu nói chuyện qua điện thoại một cách khá thường xuyên. Tôi sẽ biết người gọi đến là bà khi mục ID của người gọi hiện chữ “Không liên lạc được”. Bà thường gọi vào thời điểm gần trưa với tôi và sẩm tối với bà, nếu xét đến bảy múi giờ chênh lệch giữa chúng tôi. Bà có thể bắt đầu bằng một mẩu chuyện lịch sử Việt Nam mà bà nghĩ là tôi biết. Đôi khi bà tự lặp lại chính mình. Bà kể lại những truyền thuyết Việt Nam ai ai cũng biết – về những nữ anh hùng Việt Nam như chị em Bà Trưng hoặc Bà Triệu đánh đuổi bọn xâm lược Trung Hoa. Tôi khá chắc rằng đó chỉ là một lý cớ. Bà ấy đang kiểm tra để tìm hiểu về tôi. Những câu chuyện sẽ nhường chỗ cho những câu hỏi – về gia đình tôi, tôn giáo tôi, và hiểu biết về kinh thánh của tôi. Không có câu trả lời nào của tôi có vẻ khiến bà hoàn toàn hài lòng.
Tôi hiểu ra rằng tốt hơn nên để cho bà Nhu nói. Bà sẽ lưu lại lâu hơn trên điện thoại, và điều đó chắc hẳn sẽ đưa bà quay trở về quá khứ. Từ đó tôi có thể khơi ra những mảnh chuyện nhỏ về thời thơ ấu của bà và hỏi bà những gì bà còn nhớ về những thời kỳ khác nhau mà đời bà đã trải qua. Nhưng khi tôi đặt một câu hỏi mà bà Nhu thấy có vẻ quá thăm dò, bà liền chặn tôi lại. Đó có thể là một câu hỏi phù phiếm về cuộc sống trong cung điện ở Sài Gòn – chẳng hạn, tôi đã nghe đồn rằng bà có những cái nhà vệ sinh bằng vàng. Khi tôi hỏi bà về điều đó, bà gọi tôi là đứa trẻ ngớ ngẩn. Nếu tôi cố hỏi về chế độ đã nhốt những nhà sư Phật giáo và những sinh viên đại học trong những cái chuồng cọp dơ dáy nhục nhã, bà bảo tôi hãy thận trọng với những nguồn tin của mình. Những địch thủ chính trị của chế độ bà, bà nói với giọng thật sự tức giận, đã bị Cộng sản lừa bịp.
Tôi thố lộ với bà Nhu về việc tôi có thai sau khi hai vợ chồng tôi đã thông báo với gia đình nhưng trước khi chúng tôi chia sẻ tin này với nhiều bạn bè mình. Một cách gần như là bẽn lẽn, tôi kể với bà về sự trùng hợp đáng kinh ngạc – về việc bà đã gọi tôi vào ngay sáng hôm đó và chuyện mang thai với tôi khó khăn đến mức độ nào.
Bà Nhu ngập tràn cảm xúc. “Mais, c’est merveilleux” Tuu…yyêệt vời! Bà gần như hét lên lời tán thưởng. “Thật là đúng như tôi nghĩ”, bà Nhu ấp úng: “Nó xác nhận điều tôi đã hoài nghi!” Tôi hơi ngạc nhiên trước tất cả tình cảm mà bà đang thổ lộ với tôi; đó là một cách nói lời chúc mừng kỳ lạ, nhưng tôi còn có thể nói gì hơn là, “Merci”?
Tình thế thật lúng túng và còn hơn nữa không lâu sau đó. Bà Nhu nói những lời tiếp theo chầm chậm trong điện thoại, như thể bà đang chia sẻ một bí mật với tôi.
“Cô là một thiên thần. Cô đã được gửi đến để giúp tôi hoàn thành hồi ký của mình. Và nhờ đó mọi chuyện sẽ được tiết lộ”.
Tôi không ngây thơ. Tôi tiếp nhận những lời bà Nhu với một thái độ rất hoài nghi. Tôi nào phải thiên thần – nhưng còn hồi ký? Cuối cùng, bà đưa ra lời hứa về những chi tiết cá nhân – nơi bà gặp gỡ chồng lần đầu tiên, đám cưới diễn ra thế nào, và những trò chơi mà bà chơi đùa với con mình. Tôi hoàn toàn bị dụ hoặc bởi ý nghĩ này. Nếu bà thích nghĩ rằng tôi đã được Chúa gửi đến, có thể điều đó sẽ khích lệ bà cởi mở hơn với tôi.
Những quyển hồi ký thật là trêu ngươi, đặc biệt khi, như bà đã tự hào bảo tôi, chúng sẽ “soi sáng tất cả những bí ẩn”. Bà Nhu đã là chứng nhân sống động của việc nhào nặn lịch sử và những mưu toan chính trị ở những cấp cao nhất. Tôi hơi thích thú với ý nghĩ rằng bằng cách nào đó tôi đã được chọn, nếu không bởi Chúa, thì bởi bà Nhu vậy.
Tôi đã tự huyễn hoặc mình. Tôi thật không sao phân định được liệu tôi có thật sự thích nói chuyện với bà Nhu hay chỉ thích cái ý nghĩ sẽ nói chuyện với bà. Cảm giác này chỉ đơn giản là hồi hộp – như những đoạn đầu của một chuyện tình lãng mạn. Bà là người dẫn dắt, và tôi đi theo.
Thiếu tá Jesse Nguyen hiện là Phó phòng phụ trách khu vực huấn luyện Lực lượng tấn công thuộc Lực lượng Không gian Hoa Kỳ đóng tại căn cứ Không gian ở Colorado Springs, Colorado. Ông có kinh nghiệm trong phát triển thuật toán không gian, bảo trì phần mềm CNTT, hoạt động triển khai quân sự, quản lý bãi thử nghiệm. Khu vực huấn luyện Lực Lượng tấn công cung cấp môi trường thử nghiệm và huấn luyện thực tế, dựa trên thông tin về các mối đe dọa, thông qua việc cung cấp khả năng mô phỏng trường bắn và chiến đấu thực tế, ảo và mô phỏng để chuẩn bị cho Lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ, các Lực lượng liên hợp và đồng minh giành chiến thắng trong môi trường tranh chấp, suy giảm và giới hạn về tác chiến (CDO).
Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF) là Quân chủng tác chiến không gian trong sáu Lực lượng quân sự của Quân đội Hoa Kỳ, và là một trong tám Lực lượng đồng phục của Quốc Gia này. Được thành lập lần đầu vào ngày 1 tháng 9 năm 1982 với danh xưng là Bộ tư lệnh vũ trụ Không quân. Ngày 20 tháng 12 năm 2019, Lực lượng Không gian được tách ra thành một Quân chủng độc lập với việc ký kết đạo luật Không gian Hoa Kỳ, một phần của đạo luật ủy quyền Quốc phòng Quốc gia năm 2020. Lực lượng Không gian Hoa Kỳ được tổ chức thành một Quân chủng trong Bộ Không quân, một trong ba Bộ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Không quân là người đứng đầu Lực lượng Không gian do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện xác nhận, và tường trình trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đây là lực lượng quân sự có quân số ít nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Lực lượng Không gian hiện nay do Đại tướng B. Chance Saltzman làm Tư lệnh, ông xuất thân là Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ.
Thiếu tá Jesse Nguyen thụ huấn Chương trình Sinh viên Sĩ quan Không quân trừ bị (Air Force ROTC) tại Trường Đại học Valdosta State và tốt nghiệp năm 2015 mang cấp bậc Thiếu uý. Nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp của một Sĩ quan mới ra trường, ông được chỉ định làm Sĩ quan Chuyên viên tích hợp Hệ thống mặt đất hồng ngoại trong không gian (SBIRS); Nhiệm vụ tiếp theo Trung uý Jesse Nguyen được chỉ định làm Trưởng nhóm tích hợp hệ thống chiến đấu tại Trung tâm hệ thống hoả tiễn và không gian ở Segundo, California, ộng phục vụ tại đây 3 năm, 2 tháng.
Đại tá Không quân Hoa Kỳ Dane J. Gehrmann, Chỉ huy trưởng khu thử nghiệm và huấn luyện Nevada (NTTR), trao tặng huy chương phục vụ xuất sắc (Meritorious Service Medal) cho Đại úy Jesse Nguyen tại căn cứ Không quân Nellis, Nevada, ngày 31 tháng 10 năm 2024 (hình của Không quân Hoa Kỳ do Trung sĩ Samantha Krolikowski chụp).
Từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019, Trung uý Jesse Nguyen được bổ nhiệm Quản lý Chương trình phần mềm, phân tích giải pháp tiếp liệu tại Trung tâm quản lý vòng đời Không quân (AFLCMC) tại Montgomery, Alabama.
Từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 10 năm 2020, Đại uý Jesse Nguyen được bổ nhiệm làm Sĩ quan Kế hoạch Không lực 9 (AFCENT) tại Doha Qatar.
Từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 2 năm 2022, Đại uý Jesse Nguyen được chỉ định làm Sĩ quan Quản lý Chương trình phần mềm hệ thống quản lý thông tin giải quyết vật liệu chất nổ (EOD) tại Trung tâm quản lý vòng đời Không quân tại Greater Montgomery.
Từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 1 năm 2025, Đại uý Jesse Nguyen được bổ nhiệm Quản lý địa điểm mua sắm thuộc Bộ Tư lệnh Không quân chiến đấu tại Nevada.
Hiện nay, Thiếu tá Jesse Nguyen là Phó phòng phụ trách khu vực huấn luyện và lực Lượng tấn công thuộc Lực lượng Không gian Hoa Kỳ đóng tại Căn cứ Không gian ở Colorado Springs, Colorado.
Thiếu tá Jesse Nguyen hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh Trường Đại học Nam California (University of Southern California); Văn bằng Cử nhân quản trị kinh doanh – Kế toán, Trường Đại học Tiểu bang Valdosta (Valdosta State University), năm 2015. Ông được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không gian chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá, và đã được Uỷ ban quân vụ thượng viện (Committee on Armed Services) thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2024.
Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Lực lượng không gian Hoa Kỳ còn rất khiêm tốn, không nhiều như Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thuỷ quân lục chiến, Tuần duyên Hoa Kỳ (USCG) và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ (USPHS). Theo tài liệu từ afpc.af.mil/Promotion/Officer-Promotions và congress.gov thì Sĩ quan gốc Việt phục trong Lực luợng Không gian hiện nay gồm có: 2 Đại tá (1 hồi hưu), khoảng 10 Trung tá, 30 Thiếu tá và trên 50 Đại uý, không tính Sĩ quan cấp Trung/Thiếu uý và Công chức dân sự. Có một số Sĩ quan gốc Việt từ Không quân chuyển sang phục vụ Lực lượng không gian.
Nguồn: nellis.af.mil; linkedin.com; bienxua-Thiếu tá Ron Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến, Lực lượng không gian Hoa Kỳ.
Một giờ sau, tất cả các phi công được chọn lựa thực hiện nhiệm vụ tấn công – không trở lại này – xếp hàng ngay ngắn trước Bộ Chỉ Huy. Phía sau căn lều, là một cây cột cao có treo một lá cờ đuôi nheo màu trắng rộng lớn. Trên nền trắng của lá cờ có kẻ một hàng chữ cổ: “Namu Hachiman Daibosatsu”. Có nghĩa là: “Chúng tôi tin tưởng vào vị thần chiến tranh quảng đại.”. Ðây là lá cờ phỏng theo hiệu kỳ của một chiến tướng Nhựt ở thế kỷ 16, trong thời kỳ xảy ra hàng loạt nội chiến liên tục khiến cho nước Nhựt rối loạn cùng cực.
Khi còn ở Lae, chúng tôi không bao giờ chống đỡ tinh thần bằng những “cây nạn” tâm lý như thế này. Ðối với tôi, sự phô trương có vẻ kinh tởm này là dấu hiệu của sự yếu đuối, không có ý nghĩa gì khác hơn. Nó chứng tỏ đầu óc thoái hoá của các sĩ quan cao cấp, những kẻ cố làm nổi bật họ lên bằng ánh lửa và sự dũng mãnh của những thời xa xưa, thời mà hầu hết các cuộc chiến đều được quyết định bởi tài ba và lòng dũng cảm cá nhân.
Nhưng đó chỉ là thời xa xưa. Tôi không phải là một sĩ quan tham mưu, tôi không tham dự vào bất kỳ việc soạn thảo kế hoạch mặt trận nào, tôi cũng không phải là một chiến lược gia tập sự, nhưng tôi biết chắc chắn những gì mà các sĩ quan của chúng tôi đang làm không còn phù hợp nữa. Các tướng tá của chúng tôi đang làm công việc của một loại phù thủy mới. Họ khua chiêng đánh trống để cổ võ lòng yêu nước, để cố thuyết phục không chỉ riêng thuộc cấp mà còn chính họ nữa. Ðiều này giống như chúng tôi bù đắp những thiệt hại khủng khiếp bằng cách phô trương và đe doạ “bọn Mỹ khốn nạn” bằng những lá cờ thiêng… Tại sao những sĩ quan cao cấp lại từ chối công nhận sự thật? Làm cách nào để họ ý thức rằng loại chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi, mà từ lâu họ đinh ninh là tốt nhứt thế giới, bây giờ lỗi thời về mọi phương diện so với loại chiến đấu cơ Hellcat, cũng như nhiều loại phi cơ mới khác của đối phương mà tôi chưa thấy qua.
Tôi nhìn lá cờ. Nó hiện diện ở đó biết bao ngày rồi, nhưng hôm nay, lần đầu tiên, tôi mới thực sự nhìn thấy nó. Có thể nào chúng tôi đặt niềm tin của mình vào một vật tượng trưng cho sức mạnh siêu phàm này? Nó sẽ giúp chúng tôi gặt hái chiến thắng? Nó sẽ chận đứng những tia đạn do cả trăm chiếc Hellcat bắn ra?
Là một phi công chiến đấu, tôi nhận thấy tốt hơn hết là tin vào sức mạnh của động cơ và sự khéo léo của chính mình để thoát khỏi cái chết sẽ xảy ra trong gang tấc. Tôi chỉ có thể tin vào các phi công bên cánh và nhận sự bảo vệ hỗ tương của các đồng đội khác. Nếu tôi lâm trận bằng cách chỉ la lớn những câu chữ cổ lỗ ấy, tôi đã chết mục xương từ lâu rồi.
Nhưng tất cả đã biến đổi ở hiện tại. Sự khéo léo, tài ba đã từng cứu tôi nhiều lần cũng đang trở thành vô nghĩa… Không một người nào trong số 17 phi công đang đứng nghiêm trước Bộ Chỉ Huy có một mảy may hy vọng nào nhìn thấy lại người thân.
Tôi yêu xứ sở của tôi tha thiết, và tôi sẽ không bao giờ ngần ngại một phút giây nào khi phải đổi mạng sống để bảo vệ quê hương. Nhưng giữa việc bảo vệ quê hương đến hơi thở cuối cùng và việc hoang phí mạng sống khác nhau xa lắm.
“Namu Ami Dabutsu!”, “Nam Mô A Di Ðà Phật”… Là lời thì thầm của những người hấp hối để tìm sự khuây khoả và yên ổn tâm hồn khi sắp ra đi. Tôi tin vào nước Nhựt, tôi không tin cái gọi là vị thần chiến tranh khoan dung, quảng đại. Tôi muốn chết cho xứ sở của tôi nhưng chỉ chết với niềm tin của mình, với truyền thống Samurai, như là một con người, như là một chiến sĩ với tâm niệm Bushido.
Sự suy tư xoa dịu nỗi tức giận trong lòng tôi. Vào lúc Ðại tá Miura bước ra khỏi căn lều, tôi hoàn toàn vô cảm. Vị đại tá leo lên một cái bục xếp bằng những thùng đựng bia. Chầm chậm, ông nhìn khắp lượt, có vẻ buồn bã, như nhìn mặt chúng tôi lần cuối cùng.
“Các anh sẽ đánh trả đối phương,” ông cất tiếng, “Những trận đánh tự vệ chấm dứt từ đây trở về sau. Các anh là những phi công chọn lọc của Không đoàn Yokosuka, những phi công danh tiếng nhứt của Nhựt Bản. Tôi tin rằng hành động của các anh hôm nay sẽ gầy thêm tên tuổi và bồi đắp truyền thống vẻ vang của Không đoàn.”
Ông lưỡng lự một lúc. “Ðể cho danh dự vốn sẵn có của các anh trở nên bất diệt, các anh phải chấp nhận nhiệm vụ mà sĩ quan chỉ huy của các anh đã giao phó cho các anh. Các anh không thể, tôi lặp lại, các anh không thể hy vọng sống sót. Trong đầu của các anh chỉ có hai tiếng “Tấn công!” và “Tấn công!”. Hôm nay, các anh sẽ đâu mặt với một hạm đội địch được bảo vệ, dĩ nhiên bằng hàng nhiều trăm chiến đấu cơ.
“Do đó, tấn công cá nhân phải được quên đi. Các anh không thể tấn công vô các mục tiêu từng người một. Các anh phải luôn luôn kết hợp thành một nhóm duy nhứt. Các anh phải đánh mở đường xuyên qua những phi cơ lên nghinh chiến của địch quân và…” Ðại tá Miura lấy tư thế đứng thật thẳng. “Các anh phải chúi xuống các hàng không mẫu hạm của địch cùng một lúc. Chúi xuống! Cùng với thủy lôi, đời sống và linh hồn của các anh!”
Tai tôi lùng bùng. Ông ta đang nói gì? Tôi có nghe đúng không? “…một cuộc tấn công thông thường sẽ là vô ích. Ngay cả nếu các anh thành công trong việc thoát khỏi màn lưới chiến đấu cơ của Hoa Kỳ, các anh cũng sẽ bị truy sát và bị bắn rơi trên đường trở về hòn đảo này. Cái chết của các anh sẽ không lợi ích gì cho xứ sở. Ðời sống của các anh sẽ bị hoang phí. Chúng ta không cho phép việc này xảy ra.”
Tiếng nói của ông làm chúng tôi chấn động. “Khi tiến đến mục tiêu, các phi công chiến đấu cơ sẽ né tránh đánh nhau với phi cơ địch. Không một phi công phóng pháo cơ nào sẽ phóng thủy lôi từ trên không xuống. Những gì xảy ra không cần biết, các anh cứ giữ phi cơ của các anh chung nhóm. Cánh sát cánh! Không một trở ngại nào có thể chận đứng các anh thi hành nhiệm vụ. Các anh phải làm sao bổ nhào xuống cùng lúc, để gặt hái sự hữu hiệu. Tôi biết những gì mà tôi nói với các anh không phải dễ làm, nếu không nói là khó thể làm được. Nhưng tôi tin các anh có thể làm được, và các anh sẽ phải làm. Ðó là, tất cả mọi người cùng chúi xuống một hàng không mẫu hạm địch cùng lúc và đánh chìm nó.”
Ông ta nhìn chúng tôi một lát rồi nói mau. “Các anh đã nhận lịnh xong.”
Tôi đứng như trời trồng! Trước đây, chúng tôi đã từng được giao phó những nhiệm vụ ít có cơ may sống sót để trở về. Nhưng ít ra chúng tôi có cơ hội tranh đấu cho chính sự sống còn của mình! Rõ ràng, đây là lần đầu tiên, một phi công Nhựt nhận được lịnh tạo ra một cuộc tấn công tự sát.
Trong hải quân chúng tôi có một quy luật bất thành văn. Theo đó, viên phi công có thể bổ nhào xuống một chiến hạm địch một khi chiếc phi cơ của hắn què quặt trên biển cả bao la, không thể nào trở về căn cứ nữa. Không chỉ có phi công Nhựt, những phi công Hoa Kỳ, Anh, Ðức … cũng làm như vậy …và sẽ luôn luôn làm như vậy bao lâu mà con người còn bay và còn chiến đấu. Nhưng chưa từng có một vị Chỉ Huy Trưởng Không quân Nhựt nào nói với các phi công của ông ta: “Hãy ra đi và tự sát!”.
Những lời nói của Miura đã gây sự xúc động dữ dội cho các phi công đứng tập họp. Trường hợp những người hy sinh đời sống của họ với sự cân nhắc, thì lời nói, dáng vẻ, sự dũng cảm phi thường cũng như kinh nghiệm chiến đấu của Ðại tá Miura sẽ gây phấn khởi tinh thần cho họ. Nhưng hiện tại lại khác hẳn. Hiện tại, họ biết rằng họ sẽ ra đi không bao giờ trở lại, những người lên không trung lần cuối. Tư tưởng tôi hỗn độn. Tôi không phẫn nộ mà cũng không tuyệt vọng. Tim tôi, trí óc tôi có thể nói là đã đông lạnh. Tôi nhớ lại câu: “Một Samurai đã sống một đời sống như vậy, hắn phải luôn luôn chuẩn bị để chết.” Tuy nhiên, giáo điều Samurai không bao giờ đòi hỏi một người chuẩn bị liên tục để tự hủy. Có sự khác biệt rất xa giữa sự tự hủy và việc bước vào cuộc chiến đấu với một ý chí chấp nhận tất cả mọi thách thức và gian nan. Trường hợp sau này, cái chết được chấp nhận và, có thể, không hối tiếc. Con người sống với chiếc đầu ngẩng cao, hắn có thể chết với dáng vẻ ấy. Hắn không chôn vùi danh dự của chính mình cũng như xứ sở, và hắn mãn nguyện khi trao cho xứ sở tất cả những gì tốt đẹp nhứt mà hắn có. Bất chấp dầu sôi lửa bỏng, bất chấp kẻ thù vượt trội, hắn vẫn chiến đấu khi cần thiết, hắn tấn công khi bị áp lực. Tất cả những điều này đã hình thành đời sống của một chiến sĩ.
Nhưng làm sao một người có thể giữ được trầm tĩnh và khách quan để ra đi tìm tự hủy trong vòng một đôi giờ?
Tuy nhiên, lịnh vừa ban ra nhắc nhở chúng tôi biết rằng chúng tôi vẫn còn ở trong hải quân, nơi mà lịnh vẫn là lịnh.
Một sự yên lặng trùm lấp khi đại tá Miura dứt lời.
Chúng tôi đưa tay chào. Ông ta quay lưng, và các phi công tụ tập thành nhiều nhóm nhỏ.
Tôi nói với hai phi công bên cánh của mình: “Các anh đã thấu hiểu lịnh của đại tá?” Họ gật đầu. “Tôi tin các anh đã sẵn sàng chuẩn bị cho những gì mà chúng ta phải làm. Ðây là chỉ thị của tôi: phải sát cánh với phi cơ của tôi cho đến khi chúng ta đến mục tiêu. Không bao giờ được phá vỡ đội hình. Những gì xảy ra chung quanh không cần biết, cứ đeo dính lấy phi cơ của tôi.”
Muto và hai phi công bên cánh đến nhập bọn với chúng tôi. Muto nhe răng cười và nói đùa: “Này, còn một vài giờ nữa chúng ta đi chết, chúng ta phải nhìn mặt nhau cái đã. Tôi muốn nhớ mấy khuôn mặt quen thuộc một cách chắc ăn.” Hắn phá vỡ sự căng thẳng, chúng tôi cười và ngồi bẹp trên mặt đất. Muto không ngớt cười đùa. Tuy nhiên, một vài phút sau, tiếng cười trở nên ngập ngừng và những lời nói đùa trở nên gượng gạo. Nhiều phi công không có tên trong danh sách thi hành nhiệm vụ đến gặp chúng tôi. Họ mang cho chúng tôi thuốc hút, kẹo và nước ngọt. Dĩ nhiên, họ muốn làm cho chúng tôi vui vẻ, họ nói rằng họ rất tiếc đã không được chọn để ra đi với chúng tôi. Những đôi mắt mở rộng và buồn bã ấy nói thêm những lời mà họ không thể nói được.
Muto thôi đùa giỡn. Hắn ngồi lặng lẽ, suy tư. Nỗi căng thẳng lại hiện ra. Ðã đến giờ cất cánh lần cuối cùng.
Ba phi công khác bước ra khỏi căn lều, và tất cả chúng tôi đi ra các chiến đấu cơ. Ðứng bên cạnh phi cơ, tôi nhìn túi dù của mình. Thế rồi, khi một người quăng túi dù của hắn xuống đất, chín phi công khác đều làm theo.
Phi cơ của tôi máy móc không được tốt vì đã bay chiến đấu ròng rã hai ngày, và năng lực thiết yếu đòi hỏi của các trận không chiến làm cho động cơ muốn rệu của nó gần cháy. Thông thường tôi không bao giờ gượng gạo cất cánh với một chiếc phi cơ trong tình trạng này. Nhưng hiện thời? Tôi lấy làm khó nghĩ. Tôi nhìn các chiến đấu cơ khác. Cơ khí viên đang sửa chữa ít nhứt 4 trong số 8 chiếc phi cơ sắp sửa thực hiện nhiệm vụ. Không phải một mình tôi gặp khó khăn.
Nhưng ai lại đi đòi hỏi một chiếc phi cơ hoàn hảo cho nhiệm vụ không-khứ-hồi này? Hãy nhớ, Sakai, đây là phi xuất một chiều. Anh chỉ cần nó lết được 450 dặm, không phải 900 dặm. Anh không trở về từ nhiệm vụ này đâu. Tám phóng pháo cơ Thiên Sơn Nakajima B6N phóng ngư lôi chạy ra phi đạo. Chiếc Zéro đầu tiên nằm trong vị thế cất cánh. Tôi chạy chầm chậm theo sau, tiếp đó là hai phi công bên cánh của tôi.
Dọc theo hai bên phi đạo, các cơ khí viên và phi công khác đứng nghiêm chỉnh đầu trần, vẫy khăn vĩnh biệt khi chúng tôi lướt trên phi đạo và cất cánh. Chúng tôi bay dọc theo đội hình chữ V, và xoay hướng trực chỉ về phía hạm đội của địch quân.
Tôi quay đầu, Iwo Jima đã là một chấm nhỏ ở chân trời, càng lúc càng nhỏ hơn, cho đến khi chỉ còn là một mũi kim trên mặt đại dương bao la.
Tôi nhìn lại một lần nữa, khó thể thấy Iwo ở đâu. Chân trời lờ mờ và gợn sóng trước mắt tôi. Tôi cảm thấy váng vất.
Khuôn mặt của má tôi thấp thoáng khắp nơi trên bầu trời. Một ảo ảnh, nhưng rõ rệt quá đỗi. Bà mỉm cười với tôi. Bà không biết rằng tôi sắp chết bằng cách tự giết mình. Tôi nhìn mặt má tôi trừng trừng. Khuôn trang Hatsuyo lại hiện ra nhưng khác với má tôi vô tư, gương mặt Hatsuyo tư lự trên mỗi lượn sóng đang nhấp nhô và làm như mặt đại dương làm căng dãn nỗi lo lắng hốt hoảng ở chuôi mắt Hatsuyo, dưới vầng trán của nàng hai hàng mày nhăn nhíu cùng cực như đang phản đối tột cùng… Ảo ảnh tan dần và biến mất.
Một nỗi cô đơn vây phủ lấy tôi. Tôi như tan hẳn vào trong biển cả vô tận. Khắp nơi chỉ là trời nước mênh mông.
Tôi nhìn những chiến đấu cơ bay phía trước tôi, các phóng pháo cơ bay phía trước nữa và thấp hơn một chút. Chúng hình như không chuyển động, đứng một chỗ giữa không gian, lung lay nhè nhẹ, lên xuống rập rình trên một tấm đệm không khí căng phồng. Mọi thứ có thật không?
Tôi lắc đầu để xua đuổi sự mù mịt trước mắt. Nhạc! Hãy lắng nghe! Tiếng dương cầm. “Khúc nhạc dưới trăng”… Hatsuyo một lần đã đàn cho tôi nghe.
Hatsuyo! Khuôn mặt nàng lại hiện ra… một ảo ảnh? Tiếng nhạc lúc đầu phảng phất, rồi dần dần lớn hơn, phá vỡ hai lỗ tai tôi. Chính là bản đàn của đêm nàng đã nói: “Saburo, em muốn dạo một khúc nhạc khác, cho riêng anh. Hãy lắng nghe. Khúc nhạc ấy sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”
Tôi chưa bao giờ nói với nàng. “Hatsuyo, anh yêu em”. Tôi hét lớn. “Hatsuyo, anh yêu em!” Không ai hết. Chỉ một mình tôi. Tiếng hét của tôi thống thiết hãy còn dội trong buồng lái kín bưng. Tôi nghĩ về nàng… Tại sao tôi đã không nói với Hatsuyo? Tại sao? Tôi xoay lại nhìn Iwo Jima. Tôi chỉ thấy biển cả vô tận. Ðại dương bất tận không một đường ranh, không một ý niệm, trôi đều đặn.
Bầu trời trong xanh trở lại. Tiếng động cánh quạt quay vù vù đập mạnh vào tai tôi. Mấy chiếc Zéro giữ vững đội hình hoàn hảo, chuẩn xác, cùng nhau lướt về phía định mạng của máu và lửa. Niềm cô đơn đã tan hẳn. Chỉ còn những lời tự trách. Anh quá bi ai, Sakai! Anh là một phi công chiến đấu. Một Samurai! Nhiệm vụ… hãy làm những gì mà anh phải làm!
Tôi cố gắng sắp xếp kế hoạch cho những phút giây cuối cùng trong không gian, phương pháp nào để chúi xuống một hàng không mẫu hạm hữu hiệu nhứt. Chỗ nào yếu nhứt trên chiếc tàu? Ống khói! Chui xuống ống khói. Hay ba chiến Zéro hè nhau đâm vô lớp vỏ mỏng ở ngay mực nước? Hy vọng trên sàn tàu có nhiều dãy phi cơ, bình của chúng chứa đầy xăng, bên trong chứa đầy bom. Chúi xuống những chiếc phi cơ, bom sẽ nổ, xăng sẽ cháy, biến chiếc tàu thành một địa ngục với hàng ngàn người đẫm trong máu, vang dậy tiếng la hét và ngập tràn sự kinh khiếp.
Ðại dương trôi lướt phía dưới tôi. Chớp mắt, nhiều phút trôi qua và tôi nhìn thấy, xa về bên phải, một cột khói lả theo chiều gió, trôi chầm chậm trên mặt nước. Ðó là hòn đảo Pagan, nổi trên mặt biển khoảng 90 thước, với một nhóm núi lửa ngầm, toả hơi nghi ngút qua sức nóng lan rộng và luồn sâu dưới nước. Nó nhắc tôi, nhớ lại những hình ảnh a tỳ trong kinh Phật mà tôi từng coi qua lúc còn nhỏ. Mỉa mai thay, mảnh đất cuối cùng mà tôi được nhìn thấy là một mảnh đất lờ mờ, sôi sục, bốc lửa và gớm ghiếc.
Bốn mươi phút sau, nhiều đám mây đen xuất hiện ở chân trời, phía trước chúng tôi, cách mặt nước hàng ngàn bộ. Những đám mây ấy đang trút cuồng phong và mưa lũ xuống mặt biển phía dưới. Tôi nhìn bản đồ. Lực lượng đặc nhiệm Task Force của địch, do trinh sát cơ chỉ điểm, nằm ở một nơi nào đó dưới cơn mưa bão dữ dằn này.
Tháng 2-2008: Những cánh thiệp xuân đang tới tấp bay đi từ Việt Nam đến hải ngoại và từ hải ngoại bay ngược trở lại Việt Nam làm rộn ràng không khí Tết cổ truyền của dân tộc.
Dân làng meo tha hồ gửi và nhận những cánh thiệp muôn màu muôn sắc từ bạn bè thân quen và cả những “người bạn không quen” gửi chung trong một group nào đó, thôi thì cũng cứ kể như quen, càng vui.
Tuy vậy cũng còn một số bạn không chơi meo, chơi kiểu gửi thiệp qua bưu điện cho cổ kính, trịnh trọng hơn. Có những bạn đợi đúng Đêm Giao Thừa ở Việt Nam mới gửi lời chúc tết cho đúng “giờ phút thiêng liêng”, mang theo “quốc hồn quốc túy”. Dù cách nào thì giây phút nhận những canh thiệp và lời chúc ấy cũng sưởi ấm lòng “người ở bên này, kẻ ở bên kia”.
Khi tôi viết bài này, chỉ còn 3 ngày nữa thôi, ngày Tết bắt đầu cho một Năm Mới lại đến. Tự trong lòng mỗi người đều thấy xốn xang, cái xao xuyến chiều Ba Mươi như lởn vởn đâu đây. Cho dù ở đâu, người Việt Nam chúng ta cũng thấy ít ra một chút bâng khuâng. Nếu những ngày Tết là những ngày thiêng liêng thì những ngày chờ đợi mùa xuân như mấy hôm nay chính là những ngày vui nhất. Cũng như những ngày sắp thành hôn vui và “lảo đảo” hơn những ngày cưới.
Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp này là tôi về Sài Gòn để đi chợ Hoa Xuân và tường trình không khí Tết Sài Gòn, hy vọng mang lại những hình ảnh thật nhất ở quê nhà đến với bạn đọc.
Dù vui hay buồn cũng là chuyện quê hương.
Vẫn Còn Vương Vấn
Mỗi lần nói về chợ Tết, tôi lại nhớ đến phiên chợ Tết quê tôi. Có lẽ trong lòng mỗi người chúng ta đều có một phiên chợ Tết của quê mình hoặc một phiên chợ Tết nào đó cùng người tình, cùng người thân của mình dạo chơi, đi sâu vào ký ức. Phiên chợ Tết quê tôi vào ngày 26 tháng Chạp, mỗi năm chỉ có một lần họp ở phố huyện. Huyện có chừng 5-7 tổng, tổng có chừng 5-10 xã, xã có chừng vài ba thôn. Bằng ấy dân cư trong huyện mong ngóng ngày chợ Tết. Những bác nông dân, những cô thôn nữ tuổi trăng tròn tấp nập quẩy gánh hàng trên những con đường làng ướt sương sớm và gió lạnh, tiến ra con đường cái quan trải đá gồ ghề như những nhánh ngòi nhỏ chảy ra dòng sông trôi vào biển cả.
Lũ học trò tiểu học trường huyện chúng tôi, khoảng 12-13 tuổi cũng như những cánh bèo bám theo dòng sông nhỏ ấy đi vào phố huyện. Sao mà tươi vui hồn nhiên đến thế! Giờ học vừa tan là chúng tôi ùa ra chợ Tết. Chen chúc trong đám người chật chội, đi ngắm từng khu bán gà bán vịt, rồi nhìn ngắm những gian “hàng xén” bày bán sơ sài vài món hàng thông dụng, hoặc đứng tần ngần trước những hàng kẹo kéo, bàn đánh “cò quay” dụ tiền trẻ con. Đôi khi có một gánh xiếc với vài con khỉ kéo xe hoặc một anh “mãi võ Sơn Đông” múa kiếm, đánh côn, bán thuốc Bắc…
Những hình ảnh ấy thường chỉ sống lại trong tôi vào những ngày cuối năm. Và tôi không thể quên, năm nào mẹ tôi cũng mua cho tôi những bức tranh dân gian, có đàn gà mẹ gà con, có đám cưới chuột, có bày cá chép lên thiên đình… Tôi trịnh trọng dán tranh lên tường, trên cánh cửa trước cửa sau nhà tôi ngắm hoài không biết chán. Có lẽ bắt đầu từ đấy tôi biết đến cái thú thưởng thức hội họa. Những đứa bạn học con nhà nghèo hàng xóm cũng sang ngắm ké.
Năm vừa qua, chị Lai Hồng gửi cho tôi xem những bức họa này nhắc nhớ kỷ niệm ấu thơ của tôi không thể quên. Tôi còn biết thêm ngoài dòng tranh Đông Hồ còn những dòng tranh dân gian khác nữa, cũng mang đầy tính cách cổ xưa Việt Nam. Tôi không thể kể hết kỷ niệm về những phiên chợ Tết của thời thơ ấu. Rồi khi bắt đầu những năm tháng “lưu lạc” vào miền Nam từ năm 1953, tôi càng không thể quên con đường hoa Nguyễn Huệ mỗi độ Tết đến Xuân về.
Con Đường Tình Ta Đi
Đã là người Sài Gòn, không ai không nhớ đến con đường hoa Nguyễn Huệ ngày xưa. Đúng hơn, phải gọi là “Chợ Hoa Nguyễn Huệ”. Chợ Tết phải nói Chợ Bến Thành, nhưng thực chất ngày Tết, người Sài Gòn biết đến Chợ Hoa Xuân đường Nguyễn Huệ nhiều hơn. Từ năm 1953 đến 1975, dường như nó không thay đổi. Chỉ có một đoạn đường ngắn vài trăm thước, từ ngã tư Lê Lợi trước cửa Tòa Đô Chính đến bến Bạch Đằng. Những năm đầu, chợ hoa chỉ được ba phần tư con đường đã hết. Mãi sau này nó mới lan ra hết con đường chính và chiếm một đoạn khiêm nhường con đường bên sông Sài Gòn.
Hai bên lối đi là các gánh hàng hoa đủ loại, những chậu quất, chậu mai giản dị chứ không phải thứ lão mai, hoa cảnh quý hiếm như bây giờ. Hầu hết các loại hoa đều là của vùng ngoại ô như Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức mang đến. Lâu lâu mới thấy một chậu “hoa quý” từ Đà Lạt mang xuống bán. Hoa đào miền Bắc càng hiếm, có năm gần như không hề có một cành đào. Nếu có, người ta phải mang từ Hồng Kông sang, nhà nào chơi được hoa đào phải là nhà “quý tộc”. Ngay cả những trái hồng, trái mơ cũng được chuyên chở bằng máy bay qua đường Ma Cao, Hồng Kông, Thái Lan.
Hai bên đường là cửa hàng kem, hàng giải khát, bày cả ra lối đi giữa hè phố. Lác đác vài món hàng quà rong như nước mía, thịt bò khô, bánh tôm với những khoanh bánh tròn bằng bột gạo hoặc bột sắn, trên có con tôm còn nguyên vẩy, anh hàng bánh sẵn sàng đẩy vào cái chảo mỡ nóng cho thực khách. Còn một chú Ba Tàu, có gánh “lục tào xá, chí mà phù” đứng ở góc Tòa Án, khói than lập lòe. Có lẽ mấy năm sau này, chú Tàu quy tiên, không ai kế nghiệp nên không còn thấy gánh hàng này nữa.
Con đường hoa Nguyễn Huệ nhỏ nhắn, vừa đủ xinh đẹp, vừa đủ chỗ cho “người Sài Gòn” chung vui với nhau. Không có “người ngoại đạo”.
Tất nhiên hồi đó rất ít Việt kiều và họ lẫn lộn trong đám đông, chẳng ai nhận ra Việt kiều như bây giờ. Thỉnh thoảng cũng có dăm ba người nước ngoài làm việc tại thành phố nổi lên trong chợ hoa.
Đi từ đầu hàng hoa đến cuối dẫy hoa, thế nào cũng gặp một vài người quen. Đứng chọn một chậu quất, thế nào cũng có người lên tiếng “cố vấn” rất chân tình.
Chợ Hoa Xuân Nguyễn Huệ như một nơi gặp gỡ cuối năm của cư dân Sài Gòn, của những cặp tình nhân thời mới quen, của những gia đình hạnh phúc, của những niềm vui nhỏ và biến thành kỷ niệm lâu dài. Đó chính là nét đẹp truyền thống của “Sài Gòn muôn năm cũ”.
Có một thời, sau năm 1975, người ta đã dời chợ hoa về con đường lớn bên trại Ba Son, nhưng gặp ngay sự phản đối gay gắt nên năm sau lại dẹp. Đưa về vườn hoa Tao Đàn
— nay gọi là công viên Văn Hóa — cũng không ổn nên chợ hoa Nguyễn Huệ lại trở về với địa chỉ cũ của nó. Nhưng theo với sự phát triển của đô thị, nó không còn đủ sức chứa khối người và xe khổng lồ nên phải lập thêm ra ba bốn cái chợ hoa khác. Mặc dầu có những chợ hoa lớn hơn như công viên 23-9, chạy suốt một dọc dài theo đường Lê Lai hàng cây số và nhiều chủng loại hoa hơn nhưng Nguyễn Huệ vẫn là chợ hoa được chú ý hơn cả. Ngay cả cách trang trí, cách mời gọi khách du lịch cũng nổi bật hơn những nơi khác.
Đường Hoa
Trước hết, tôi nhận định một cách hết sức khách quan, năm nay tình hình giá cả đang tăng vọt từng ngày từng giờ, đời sống khó khăn hơn, nhưng những con đường hoa của
Sài Gòn lại được làm đẹp hơn, rực rỡ hơn như một kỳ công của thành phố.
Từ tối 1-2-2008, tức 25 tháng Chạp, con đường chính của Sài Gòn, trước kia gọi là đường Tự Do, nay là Đồng Khởi đã sáng lòa ánh đèn. Từ những thân cây cổ thụ hai bên đường phố trang trí theo một chủ đề. Chạy dài trục đường Đồng Khởi, họa sĩ thiết kế lấy ý tưởng từng đàn chim én vàng kéo về báo mùa xuân. Én vàng uốn lượn như từng chiếc vảy rồng tạo nên hình dáng 2 chú rồng vàng dài vài chục mét đang uốn lượn phía trên như những mái nhà chạy dài đến tận Bến Bạch Đằng với những chiếc lồng đèn và những dàn hoa đủ kiểu được cách điệu sặc sỡ.
Nối tiếp là con đường Lê Lợi có kiểu trang trí khác với những kiểu lồng đèn chạy dài từ nhà hát thành phố đến chợ Bến Thành.
Con đường Thống Nhất từ Sở Thú đến dinh Độc Lập cũng miên man đèn hoa. Đêm đêm người đi ngắm đèn đông nườm nượp để mai còn về quê ăn Tết và cũng để quên đi nỗi lo toan hàng ngày vì cuộc sống đắt đỏ.
Vài hôm nữa thành phố sẽ vắng vẻ hơn vì những người tạm cư, những công nhân, viên chức làm việc ở Sài Gòn đã tìm đường về quê nhà.
Trở lại với đường hoa Nguyễn Huệ, cho tới ngày 26 tháng Chạp vẫn còn lu bu với công việc chuẩn bị.
Ở đây dẫy phố được chia thành từng khu, mỗi khu cố tạo dáng một khung cảnh đặc biệt của từng vùng và làm sống lại những khung cảnh quê hương cổ xưa. Những chiếc xe ngựa chở đầy hoa, những gánh hàng rong, những thúng mủng sàng nia và cả những chiếc lưới buông câu giữa cảnh sông nước.
Không còn cảnh mua bán hoa ung dung như ngày nào. Muốn mua hoa, người ta phải đến các chợ hoa 23-9 hoặc công viên Lê Văn Tám — nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cũ — hoặc các chợ hoa vỉa hè ở bất cứ khu đông dân cư nào.
Con đường hoa Nguyễn Huệ không còn “nguyên thủy” như xưa nữa. Nó mang màu sắc khác của một “phòng triển lãm” mời gọi khách du lịch. Đến đây với tâm trạng của một người xa lạ vui hơn là tâm trạng của một người Sài Gòn cũ. Nó sẽ biến thành phố đi bộ, chen chúc trong cảnh xô bồ tấp nập. Những “ông Tây bà đầm”, những khách Á Châu, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản lẫn lộn cùng một số Việt kiều, chẳng biết ai vào ai. Bạn khó lòng gặp được một người quen mới hay cũ. Không khí thân mật của những cư dân Sài Gòn vì thế cũng không còn.
Truyền thống đường hoa Nguyễn Huệ đã phai màu biến sắc, để lại những nuối tiếc bâng khuâng. Con đường tình ta đi giữa chợ hoa Nguyễn Huệ bây giờ chỉ còn lại trong kỷ niệm. Đấy là nỗi ngậm ngùi của tôi và có lẽ cũng là của tất cả “những người Sài Gòn cũ” khi trở lại con đường hoa vào những ngày này.
Sự Lãng Phí
Từ những ngày Giáng Sinh đến ngày Tết Nguyên Đán đã hai lần đường phố Sài Gòn thay đèn đổi hoa. Chỉ tính riêng chi phí cho đường hoa dịp Tết này đã lên đến con số 15 tỉ đồng. Và theo các nhà tổ chức thì “tất cả đều huy động từ nguồn kinh phí xã hội hóa”. Đây là một từ ngữ mới, nhưng hiểu một cách giản dị là các nhà tổ chức muốn nói nguồn kinh phí không do quỹ của thành phố bỏ ra mà vận động các nhà tài trợ đóng góp. Tuy nhiên nếu các nhà tài trợ đóng góp không đủ thì quỹ của thành phố phải “bao chót”, chứ không lẽ làm dở dang?
Và cũng theo thông tin trên vài tờ báo thì “rất nhiều công ty trong nước, ngoài nước, cả các liên doanh đều tình nguyện ủng hộ”. Nhưng ủng hộ được bao nhiêu, thừa hay thiếu thì không thấy nhắc đến.
Mặt khác người ta cũng thừa biết các công ty không cho không mà đây là cuộc trao đổi quyền lợi bất thành văn: “Ông mất của kia, bà chìa của nọ”. Chưa biết chừng cái mất to hơn cái được. Đó cũng là một “nghệ thuật kinh doanh”, một cuộc đổi chác thông thường ở bất kỳ nơi nào trên thương trường.
Cho đến những giờ phút cuối cùng, một giám đốc công ty từng hăng hái ủng hộ và còn “nhiệt tình” đảm trách công việc chăng đèn kết hoa đã phải điện thoại than phiền với một số báo chí:
– Chắc bỏ cuộc mất thôi, chỉ riêng phần trang trí nghệ thuật đèn mặt phố dịp Tết, ban tổ chức cứ đổi ý xoành xoạch! Kế hoạch, bản thiết kế mẫu đã duyệt hẳn hoi, nhưng vừa làm xong, lại bị gọi tháo ra, làm lại, lại… tháo! Chỉ vì cứ mỗi vị một ý kiến, nhiều ý kiến quá làm sao làm?
Đúng là “lắm người nhiều ma, lắm cha con khó lấy chồng”. Ông nào cũng lớn cả, ông nào cũng thích dương oai quyền của mình với những doanh nhân, doanh nghiệp nên nhảy vào ý kiến búa xua.
Có một người dân quanh khu này đã đếm được đúng 3 lần người ta quấn vải cho cây, được vài hôm lại tháo ra, quấn cái mới, cuối cùng là tháo bỏ luôn thay bằng vài sợi dây đèn chỏng chơ. Ông nói: “Nhìn hàng đống vải quấn cây còn mới tinh bị quăng quật lên xe, chở đi, thấy mà tiếc… của!”
“Nhưng thôi tiếc mà chi”, của là chùa, cứ tháo ra tháo vô cho đẹp lòng tất cả các quan, xá gì vài chục tỉ đồng vặt vãnh.
Cuối cùng vẫn là anh “dân đen” chịu hết.
Đây chỉ là một chứng minh nhỏ trong sự lãng phí riêng phạm vi Sài Gòn. Còn bao nhiêu địa phương khác nữa, bao nhiêu tổ chức quy mô “hoành tráng” nữa trên toàn quốc, mức lãng phí sẽ đến bao nhiêu tỉ đồng cho dịp lễ Tết như thế này? Sự kêu gọi tiết kiệm chẳng lẽ không còn giá trị khi cần phải phô trương sự giàu đẹp của một đất nước mà người dân còn đang nghèo đói tả tơi?!
Đó là một trong các bộ mặt phía sau khung cảnh những ngày cuối năm tại Sài Gòn. Tất nhiên trong những ngày này, với cơn bão giá kinh hoàng cứ tăng cường độ hàng ngày, còn rất nhiều những cảnh nheo nhóc “sau ánh đèn thành phố”, trong một lúc chưa thể tường trình hết với bạn đọc.
Xin hẹn qua mùa Xuân mới sẽ được tường trình với bạn đọc những chuyện vui hơn.
Vợ chồng Tèo và hai thằng cu dân Hốc Bà Tó được thằng em ruột vượt biên từ năm nẩm lãnh qua Úc, mang theo hai vali: một vali quần áo, một vali… tật! Và nói thiệt, đâu riêng gì họ – người Việt mình mới sang nước ngoài, ai mà chẳng mang theo “mấy ký tánh quê mình”. Có cái thương thấy bà, có cái ghét chết mẹ. Ở quê gọi là “tánh hương đồng gió nội”, sang Úc gặp văn minh phương Tây, mấy cái tánh đó nở bung như bông điên điển đầu mùa nước nổi.
Ngày đầu đặt chân tới Melbourne con Mận (vợ Tèo) nhìn quanh, thở dài: Ủa, sao không thấy ruộng lúa, không có cây dừa nào hết trơn hết trọi vậy hè?
Tèo cười hề hề: Ở đây mà thả vịt chạy rông là cảnh sát nó tới hốt liền!
Vậy là hai vợ chồng chính thức bước vào đời “tân di dân”, mang theo nguyên gói tánh Việt Nam mười mấy ký, cộng thêm vài ký cố tật khó gỡ.
Tật so sánh
Chưa kịp học tiếng Anh AMEP 510 giờ, Tèo đã phát huy hết khả năng “so sánh Việt-Úc” bằng giọng mùi như Út Trà Ôn xuống sáu câu vọng cổ:
– Ở Việt Nam tô bún nước lèo số dách 60 ngàn chưa tới 3 đô Úc, ở đây mười lăm đô!
– Ở Việt Nam người ta làm nhanh hơn!
– Ở Úc cái gì cũng cực hết trơn!
Con Mận nghe hoài mệt quá, bèn chặn họng:
– Vậy sao ông không bay về Việt Nam sống cho sướng?
Tèo nín, vài bữa sau lại phát lại. Cái tật này y như bệnh ho gà – hết rồi cũng tái, chưa có thuốc chích ngừa! Nhưng cũng phải thông cảm, qua Úc cái gì cũng mới, cái gì cũng khác, nên so sánh là… tự nhiên.
Tật tiếc của
Một hôm hàng xóm Úc dọn nhà, để tủ ra lề đường. Mắt Tèo sáng lên như bắt được vàng:
– Trời đất, còn tốt chán, sao tụi nó bỏ uổng dữ vậy nè!
Hai vợ chồng xúm lại khiêng vô garage. Ba tháng sau, garage biến thành viện bảo tàng “đồ hàng xóm bỏ”. Thằng con trai hỏi:
– Ba, mình mở tiệm đồ cổ hả?
Người ta gọi The Salvation Army để cho bàn ghế, ghế sofa, tủ, bàn ăn, đồ gia dụng còn sử dụng được. Còn Tèo mở Salvos Stores ngay trong nhà! Cái tật tiếc của này làm Úc thòi lòi nào cũng trố mắt nhìn. Nhưng với Tèo, cái gì còn dùng được Úc bỏ mình thấy còn quý, mình rinh về xài. Đỡ tốn việc gì mà cữ.
Tranh Bảo Huân
Tật nói tiếng Anh mắc cỡ
Mười năm ở Úc, tiếng Anh của Tèo vẫn dừng ở mức “How are you” và “Thank you very much”. Đi bác sĩ, ổng “uh, uh, ok ok” liên tục, ra về chẳng biết toa thuốc uống ngày mấy lần.
Con Mận la: Ông sợ gì, người ta đâu có ăn thịt mình! Tèo cãi: Tao sợ nói sai, tụi nó cười tao!
Thật ra, người Úc quý lắm nếu mình chịu nói. Nhưng Tèo cứ ôm sĩ diện, sợ rớt vỡ, nên cuối cùng bệnh nhẹ thành bệnh nặng… vì cứ “to quơ” hoài, không dám mở miệng. Kết quả là đi đâu cũng lầm lẫn, nhưng vẫn… vui như tết, vì mỗi “uh” là một tiếng cười… té ghế
Tật làm quên nghỉ
Qua Úc ai cũng muốn vươn lên, nhưng vợ chồng Tèo thì… vươn hơi mạnh: sáng làm hãng chiều giao pizza, tối Uber Eats.
Tèo nói: Cực chút rồi mai mốt giàu! Con Mận thở dài: Mai mốt giàu chưa thấy, hôm nay thấy mất chữ u. Là sao? Giàu mất chữ u là già chứ sao!
Đến khi đau lưng, mỏi gối, Tèo mới ngộ: cực đâu phải Úc ép, nó lè phè thấy thương vì không bao giờ đói còn mình sợ không có tiền đong gạo cho vợ, cho con. Nhưng cũng phải khen, cái tật ham việc này, dù mệt, giúp họ nhanh chóng hòa nhập vào đời sống Úc, biết tự lo, tự kiếm, tự nuôi…
Tật giữ khư khư văn hoá cũ.
Hễ ai góp ý là Tèo liền: Ở Việt Nam tụi tui làm vậy đó! Con Mận cấm con nói tiếng Anh trong nhà, bắt nói tiếng Việt để “giữ cái gốc”. Khi thằng nhỏ hỏi: “Má ơi, “salt” tiếng Việt là gì? Bà nổi quạu: Trời ơi, con người Việt mà hỏi vậy hả?
Giữ văn hoá là quý, nhưng giữ kiểu “niêm phong” thì thành… cổ vật văn hoá trong nhà. Thực tế, sống ở Melbourne cây bạch đàn đầy đường mà cứ khư khư muốn sắp nhỏ giữ bông điên điển quê nhà như mình? Có muốn cũng không được.
Tật tò mò chuyện thiên hạ
Qua Úc vẫn giữ tánh “biết chuyện thiên hạ cho vui”: Con nhỏ bán thịt ngoài chợ Footscray có chồng Úc thiệt hông? Hèn chi nó nói tiếng Anh bồi như bẻ mía! Nhà nó mua chưa trả hết hả? Thằng Bảy chồng cũ của nó giờ làm gì sống?
Tèo còn sáng chế “đài phát thanh sắc tộc, phát sóng tin hàng xóm miễn phí, 24/7. Người Úc nghe chắc xỉu, vì Úc coi chuyện riêng là chuyện riêng. Ở đây ai cũng lo việc của họ, còn mình cứ lo giùm thiên hạ, quên lo… nhà mình! Nhưng đổi lại, nhờ tò mò, Tèo biết hết chuyện xóm mình, nhậu nghe Tèo kể chuyện mới cũng vui
Tật không dám hưởng
Làm cực cả đời, tới khi có chút tiền lại sợ xài: Thôi, để dành, mai mốt về già tính. Nhưng “mai mốt” đó nhiều khi không bao giờ tới. Người Úc có đồng nào xào đồng đó, có “annual leave” 4 tuần là đi “holiday”, có rảnh là nhậu. Còn Tèo, hễ Mận rủ đi Ballarat coi Úc xưa đào vàng ra làm sao thì Tèo lắc đầu: Thôi, mắc quá! Tối về coi YouTube: Cũng như thiệt mà! Sống tiết kiệm là quý, nhưng sống tằn tiện vắt chày ra nước là… ngu. Úc nói: trẻ muốn chơi mậu lúi, già có lúi muốn chơi mậu xí quách. Ở Úc, 24 tiếng, làm lè phẽ 8 tiếng ngủ 8 tiếng, còn lại 8 tiếng dành cho tứ khoái – không dành, hối hận! Life is short.
Cái này là đòn tâm lý chí mạng. Hễ ai nói sai tiếng Anh là bị chọc liền: Ê, Việt Nam mới qua hả? Nghe cười đó mà đau. Ai qua Úc cũng từng “mới qua”, đâu có sanh ở Footscray đâu mà biết bấm ATM.
Con Mận nói chí lý: Cười người mới qua là quên mình cũng từng trật, từng run khi tới phi trường Tullamarine, từng cà lăm tiếng Úc khi đi ngân hàng CBA mở “bank account” để nhận tiền trợ cấp an sinh xã hội của Úc! Tèo im ru, không dám cãi lời vợ phán y như mấy thằng Úc.
Kết luận: Thiệt ra, mấy tật đó đâu có nặng nề gì. Nó là vết hằn của người từng sống thiếu thốn quá lâu trong gông cùm CS. Người Việt qua Úc chịu thương, chịu khó, biết lo, biết dành dụm – chỉ cần học thêm chút “lè phè” của người Úc là phẻ re như con bò kéo xe…bò.
Tèo hay đùa với bạn bè: Qua Úc không chỉ đổi passport, mà còn phải đổi tánh nữa nghen! Không phải để thành Úc rặt, mà để sống cho vui, cho khỏe, đỡ stress.
Những buổi chiều ngồi trước hiên nhà ở Footscray ngó mấy hàng cọ đong đưa, nghe tiếng xe chạy ngoài phố, Tèo bật cười: Qua Úc 30 năm rồi mà trong tim tao vẫn còn mùi mắm Hốc Bà Tó! Và đó – là cái duyên, cái tình, cái “tật dễ thương” mà nước Úc cũng không rửa trôi nổi.
Vào đôi ba thế kỷ trước, ở trời Tây ông Alexandre Dumas (con) khuyên nhủ bọn viết văn làm thơ: “Mỗi ngày nên đi bộ chừng hai giờ, mỗi đêm ngủ bảy tiếng. Ngủ một mình thôi nhé, hễ thức thì dậy liền, chớ nằm nán. Đói mới ăn, khát mới uống. Ăn uống phải từ tốn chậm rãi. Nếu hai mươi tuổi trở xuống chớ gần đàn bà, trên bốn chục cũng nên lánh xa phụ nữ…”
Để làm sáng tỏ, Charles Braibant bàn thêm: “Phải tránh ốm đau, nếu đau thì dưỡng bệnh ở đâu? An dưỡng đường thì dành cho mọi người lao động đủ mọi ngành nghề, trừ nhà văn và nghệ sĩ. Cũng tránh đừng phải chết, bởi ai chịu trả phí tổn đám táng?”
Chỉ nghe hai vị có uy tín ấy nói thôi cũng đủ chết khiếp! Nhưng đó là cả một sự thật. Bởi vào thời xa xưa nọ, các nhà văn sống tương đối thoải mái chỉ đếm được trên đầu ngón tay: Voltaire, Victor Hugo, Anatole France… kỳ dư nếu vừa đủ ăn là đã may phước. Thi nhân xem chừng chịu nhiều khổ luỵ hơn. Baudelaire từng cất lời oán than: “Sao trời sinh ta bắt làm thi sĩ!” Phương Đông, Hoàng Cảnh Nhân cất giọng cuồng ngâm trong đêm trừ tịch:
Nhữ bối hà tri ngô tự hối Uổng phao tâm sự tác thi nhân.
(Bọn trẻ biết đâu ta hối hận Uổng đem tâm trí để làm thơ).
Việt Nam có Tú Xương:
“Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi Van nợ lắm khi tràn nước mắt”.
Có Nam Cao sống với một mảnh vườn trầu không. Trần Huyền Trân chui rúc trong túp lều dựng tạm trên mặt hồ, ngày làm thơ viết văn, đêm đi làm thợ chiếu phim cho một rạp cinéma. Thâm Tâm phải đóng sách cho nhà Tân Dân để kiếm tiền độ nhật… Và Vũ Trọng Phụng có khi thốt lời chua xót: “Người ta mà được ăn cơm thì sướng thật!”
Tóm gọn, cái sự viết, theo A. de Vigny là “nói với xã hội cái mình có trong lòng”. Và theo Paul Valéry: “Một cây viết, một tập giấy, chút tham vọng là đủ cho cái nghề kỳ cục ấy”.
Viết văn là nghề kỳ cục? Vì thứ nghề nghiệp kia bày ra toàn cả sạn đạo, đoạn trường, đói kém, thiệt thòi, oan trái; chưa kể tới một vài trường hợp dẫn đến cảnh thù nghịch, bị chúng bạn khinh khi. Văn hào Lỗ Tấn là người sáng suốt? Ông nói: “Xưa nay tôi chả có chuyện gì bắt buộc phải nói ra mới được. Cũng chưa hề có thứ văn chương bảo rằng không viết ra thì chịu không nổi!”
Bạn có đồng ý viết văn là một nghề kỳ cục? Hơn bốn mươi năm thử hoà mình vào sống chung cùng chữ viết, cho tới giờ này tôi vẫn còn mang đủ sự hoài nghi hệt như Từ Hải phút đầu đối mặt cùng Thuý Kiều:
“Bấy lâu nghe tiếng má đào Mắt xanh chẳng để ai vào có không?”
Để thưa chuyện cùng bạn, những tư liệu ở trên tôi đã vay mượn và sử dụng tới công trình nghiên cứu quý báu của học giả Nguyễn Hiến Lê cất công biên soạn khởi từ năm 1950 trở về sau. Vậy thì nghĩ cho cạn, văn chương luôn là một sự kế thừa, cốt lõi ở chỗ kẻ đi sau tự mình tách ra, cách tri ân tiền nhân đúng đắn nhất là chớ dẫm vào lối cũ của người đi trước từng khai mở.
Trong tuyển tập “Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta” gồm 45 tác giả cộng tác do cơ sở Sóng xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1974. Để trả lời câu hỏi quan niệm về truyện ngắn, nhà văn Thảo Trường cho biết: “Câu nói hay nhất là câu nói ngắn nhất. Viết truyện ngắn là dùng thứ kích thước nhỏ để dựng nên một vấn đề có khi… rất lớn”.
Nhà văn Võ Phiến trả lời: “Về phần tôi, hồi gần đây tôi thích những truyện ngắn giống như những bài thơ. Dĩ nhiên thứ thơ bằng tản văn và có ít nhiều tình tiết”.
Tôi chỉ nhặt ra hai câu trả lời trên vì tôi rất mực đồng cảm với nhị vị. Cũng Võ Phiến, trong cuốn “Tiểu Luận” của ông do Văn Nghệ xuất bản năm 1988 ở California, phần viết về văn sĩ William Faulkner, Võ Phiến cóp nhặt các câu nói của văn hào có tiếng là dụng văn tối tăm khó hiểu. Đây là một trong các lời tâm sự: “Tôi là một nhà nông. Đời tôi là cuộc đời của một điền chủ, một người nuôi ngựa, trồng trọt, đi gieo hạt. Tôi khởi sự viết vì tôi thấy thích thú, viết sau khi công việc đồng áng hoàn tất đâu ra đó… Tôi là một thi sĩ bị thất bại. Có thể là các tiểu thuyết gia đầu tiên đều muốn làm thơ, thấy rằng mình không làm được mới thử viết truyện ngắn, đây là loại khó khăn chỉ đứng sau thi ca. Viết truyện ngắn cũng hỏng luôn, rốt cuộc họ mới quay ra viết tiểu thuyết”. Ông pha trò: “Dù là gì thì nghệ sĩ quả là hạng người luôn bị ma quỷ xúi giục”.
Tôi lại đồng tình, một lần nữa. Bởi thi ca là món khó nuốt, một thể loại chắt lọc chữ rốt ráo, cô đọng. Ý tưởng, không gian, thời gian, hình ảnh… có trong một bài thơ ngắn, nếu muốn diễn đạt bằng văn xuôi sẽ là tràng giang đại hải, mà chưa chắc đã nói được điều thi ca muốn thổ lộ.
Trong 45 tác giả góp mặt ở tuyển tập “Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta” có Nguyễn Đức Sơn với truyện ngắn “Ý Tưởng Chiều Tà”. – Quan niệm của tôi về truyện ngắn? Không có. Tóm tắt cái quan niệm ấy? Làm sao được? Tuy nhiên tôi có chút ý kiến này: Trong tất cả các ngành nghệ thuật dùng chữ viết, chỉ có thơ ca là có trong trời đất. Còn tất cả truyện ngắn, truyện dài, kịch… may ra mới đạt tới cái gì sâu thẳm và cao vời.
Chúng ta nghe vậy và cũng chỉ biết có vậy, xưa nay chúng ta biết Nguyễn Đức Sơn là một nhà thơ. Thơ ông có nhiều bài hay, tôi mạn phép trích dẫn một đôi bài được sáng tác sau 1975:
kinh nghiệm riêng
Mần thơ giống hệt bửa củi Nhưng nói ra nhiều người sẽ tủi Nên mặc quần đùi đứng khom lưng Có gì rớt vô ta dễ phủi.
nhắn
Đời sau người có thương ta Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi Đường xa thôi miễn bồi hồi Mả hoang nhảy đại lên ngồi đi cha.
Và một bài rất ngắn, chỉ có năm (5) chữ. Năm chữ cô đọng rốt ráo, thần sầu. Năm chữ nặng tợ ngàn cân. Bài thơ mang tên:
cho mà xem
Đừng đụng em Em đẻ.
Bài thơ có thể là vô tựa khi biến từ 5 chữ sang 8 chữ:
Đừng đụng em Em đẻ Cho mà xem.
Nhưng như thế cái cái vía cái thần “cho mà xem” đã mất hiển linh. Nguyễn Đức Sơn chẳng hề ưa lý sự dài dòng. Ông từng có bài “Tất Cả Đều Trật Lất”:
Nếu không có quỷ ma Khó bề thấy được Phật Đó là sự thật của Trái Đất Nhưng nghĩ cho cùng Tất cả đều trật lất.
Có thể tôi đang viết về một thứ gần như trật lất. (Không chừng Từ Hải cũng thẩm định sai về hoàn cảnh Thuý Kiều?) Chuyện gần nhất là nhà xuất bản Văn Học Press của anh Trịnh Y Thư điều hành vừa phát hành hai (2) tác phẩm: “Chỉ Là Đồ Chơi” tạp bút của Trịnh Y Thư (tái bản). Và “Ngôn Ngữ Xanh” thi tập của Nguyễn Thị Khánh Minh. Trong email, anh Trịnh Y Thư cho hay là dự tính sẽ ra mắt hai cuốn sách vào đầu tháng mười (10) tới đây. Anh viết một câu nghe luống những ngậm ngùi: “Bởi vì sách in ra không biết làm gì khác hơn là ký tặng và bắt bạn bè đọc”.
Mỗi ngày nên đi bộ khoảng hai tiếng. Đêm ngủ đủ bảy tiếng, nếu trên 20 mà đã có vợ thì tháng khoảng ba lần chung đụng. Ăn tiền hưu mà có bồ nhí thì nên liệu cơm gắp mắm tháng chỉ chấm mút một lần. Tránh ốm đau, tốt nhất là gắng sống tới 85 tuổi đời, để xem thử chuyện văn chương nó thay đổi đến ngang đâu. Liệu bạn viết truyện có ai còn để mắt vào đọc? Quê hương chốn cũ sắp rơi vào tay Tầu Cộng rồi ư?
Tôi đang chờ đợi một nhà văn lão thành lên tiếng cảnh báo như kiểu ngày xưa bên phương Tây lên giọng chỉ bày nhưng nào thấy. Thôi thì nhại theo Trịnh Y Thư: Tất cả “Chỉ Là Đồ Chơi” cho nó lành vậy!
Chiếc thuyền nhỏ mang theo hơn năm mươi người, một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của Nauy trên đường từ Nhật sang Singapore cứu vớt. Hai ngày sống trên tàu chúng tôi có cảm giác như đang ở trên một thiên đàng. Tất cả đều được tận tình hỏi han chăm sóc. Chúng tôi cảm thấy vừa mừng vừa xót xa khi nhận ra thế gian này vẫn còn có đầy ấp tình người. Họ là những kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những “người anh em” cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi. Với ân tình đó chúng tôi chọn Vương quốc Nauy là quê hương thứ hai để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.
Sau gần một năm ở trại tị nạn, gia đình chúng tôi được đi định cư. Khi bầu đoàn thê tử như một bầy nai vàng ngơ ngác bước xuống phi trường Oslo, được nhiều người đón tiếp, trong đó lại có cả mấy ông nhà báo và đài truyền hình nhà nước phỏng vấn, quay phim. Gốc nhà quê, nên tôi cũng chẳng biết họ quay phim để làm cái gì. Trước khi về nhà, chúng tôi còn được mời vào một nhà hàng Tàu, và tha hồ gọi bất cứ thức ăn nào mình thích.
Đến khi bước vào ngôi nhà, được bà trưởng phòng xã hội trao cho một chùm chìa khóa, dẫn đi một vòng xem phòng ốc đã được trang trí xong nội thất, cái bếp và cả cái tủ lạnh có sẵn đầy đủ thức ăn nước uống, một cái TV màu. Mọi thứ đều mới tinh. Sáu đứa con và hai đứa cháu họ của tôi thì ngồi mân mê mấy cái bàn học, và mấy cái ba lô có đầy đủ sách vở trong đó. Trước khi ra về bà giới thiệu chúng tôi một cô nhân viên của bà, và một cô giáo ở lại hướng dẫn chúng tôi xử dụng mọi thứ tiện nghi trong nhà, và mỗi ngày sẽ đến đưa gia đình chúng tôi đi mua sắm, khám bệnh, làm răng, còn cô giáo thì đặc trách lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ. Khi tất cả ra về, tôi nằm dài dưới sàn nhà và chợt khám phá ra rằng mình quả là may mắn được đến định cư ở một nước Bắc Âu xa lạ nhưng thơ mộng và có quá rộng tấm lòng này, mà lúc xuống biển ra đi chắc chẳng có ai bao giờ nghĩ tới.
Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Nauy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Nauy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu châu, và đã can đảm dắt theo sáu đứa con và hai đứa cháu nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ, ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.
Cũng vì cái chương trình phóng sự bất ngờ này, mà sau đó, mỗi ngày gia đình chúng tôi phải tiếp nhiều người khách không mời, và nhận đủ thứ quà. Trong số đó, đặc biệt có một người đàn bà Việt Nam, mà lúc bà mới bước vào nhà, chúng tôi cứ tưởng là người Nhật, hay là người Tàu gì đó, khi nhìn thấy cái vẻ quí phái đặc biệt của bà. Tôi nghĩ có lẽ không có người Việt Nam nào sống ở cái xứ Bắc Âu xa lạ này từ lâu để có được nét đẹp của một người con gái đông phương pha lẫn âu tây ở cái tuổi còn trẻ như bà. Sau đó tôi bất ngờ thú vị khi bà tự giới thiệu tên là Huyền-Trân Thomassen, hiện là giảng sư môn nhân chủng xã hội học tại trường đại học Oslo, chồng bà là người Nauy, hiện đang làm đại sứ tại Mexico. Bà không muốn bỏ nghề bà yêu thích, hơn nữa bà vẫn còn tiếp tục nghiên cứu về ngành này, nên không theo chồng mà ở lại Nauy với hai đứa con. Lúc nhỏ bà theo cha sang sống ở Thụy Sĩ, khi cha bà là đại sứ của VNCH tại đó. Người chồng của bà, cũng thuộc một gia đình có truyền thống ngoại giao. Cha của ông cũng một thời là đại sứ của Nauy tại Thụy Sĩ. Hai người con của hai ông đại sứ quen nhau từ khi học chung một trường trung học và làm đám cưới sau khi tốt nghiệp đại học tại thủ đô Bern, một năm trước khi miền Nam Việt Nam thất thủ.
Tôi rất ngưỡng mộ người đàn bà trẻ này. Rời Việt nam từ lúc 12 tuổi, nhưng bà nói tiếng Việt rất lưu loát, hiểu biết rất nhiều về văn học Việt nam, từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đến bài thơ Hai Sắc Hoa TyGôn của TTKH. Điều đặc biệt hơn hết là bà rất quí mến và giúp đỡ tận tình người đồng hương. Gia đình tôi cũng mang nặng khá nhiều ơn nghĩa của bà.
Những ngày sống hạnh phúc ở quê người, nhìn con cái ngày một lớn lên và đang có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt, lúc nào tôi cũng chạnh lòng nhớ lại cái thời mình khốn khó và những bạn bè xưa. Tôi thấy mình nợ nần nhiều người mà không biết làm sao trả được. Trong số này, người mà tôi thường nghĩ tới nhiều nhất và ân hận chẳng giúp được điều gì là Nguyễn Thượng Tâm, người đồng đội và cũng là đứa em kết nghĩa của tôi.
***
Tâm ra trường sau tết Mậu Thân. Về trình diện đơn vị tôi khi vừa tròn 18 tuổi. Mặc dù còn rất trẻ, nhưng được đào tạo từ lúc còn nhỏ tại trường Thiếu Sinh Quân nổi tiếng ở Vũng Tàu nên Tâm là một hạ sĩ quan gương mẫu trong kỷ luật và gan dạ trong chiến trường. Tâm hiền lành và rất ít nói. Nhưng không phải vì vậy mà tôi trở thành thân thiết với Tâm và hai thằng kết nghĩa anh em, nếu không có buổi sáng mồng một Tết năm 1969, khi đơn vị chúng tôi tạm dừng quân trong một ngôi làng hoang đổ nát nằm sâu giữa những động cát nơi giáp ranh hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy lúc trước.
Dù đang hành quân, nhưng biết hôm đó là mồng một Tết, tôi thức dậy thật sớm, thay bộ đồ trận mới, đi một vòng chúc tết anh em. Ngày đầu năm, nằm giữa một khu hoang tàn không một bóng người, chắc ai cũng chạnh lòng nhớ tới gia đình. Chiếc radio từ một căn lều poncho nào đó đang phát ra tiếng hát nỉ non của ca sĩ Duy Khánh, trong bản nhạc Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân, làm lòng tôi càng thêm lắng xuống. Đến cuối ngôi làng, tôi bỗng giật mình khi nghe tiếng sụt sùi. Lại gần tôi mới nhận ra Tâm. Anh ta đang quì lạy trước một cái bàn thờ được kê bằng cánh cửa sổ của căn nhà nào sập xuống. Trên bàn thờ dã chiến, tôi thấy có mấy cái hoa rừng cấm trong cái bi đông nước, hai bát cơm bằng gạo sấy và một lon guigoz có lẽ chứa nước trà hay canh nấu bằng lá giang hay lá tàu bay gì đó. Tâm khấn vái một lúc, quay lại bất ngờ nhận ra tôi. Tâm đưa tay chào và cũng như mọi khi, không nói một lời nào. Có lẽ Tâm biết là tôi đã đứng im lặng ở đây từ lâu lắm. Tôi bước tới nắm chặt tay Tâm, kéo anh đứng lên. Tâm vội rút tay ra lau nước mắt. Tôi đến trước bàn thờ vái một vái, rồi vỗ vai Tâm:
– Em cúng bố mẹ à. Sao đầu năm mà buồn quá vậy em.
– Không, bố em còn ở ngoài Bắc, em không biết là còn sống hay đã chết. Mẹ em thì đã qua đời lúc em còn bé lắm. Nhà em ở tận Ý Yên, nhưng bố em đi làm xa, nên phải gởi hai anh em em xuống nhà ông chú ở Hà Nội học, rồi theo gia đình chú ấy xuống tàu há mồm vào Nam luôn.
– Còn anh của em bây giờ ở đâu? Tôi hỏi
– Anh ấy chết rồi. Anh là sĩ quan thủy quân lục chiến, tử trận đúng ngày mồng một tết Mậu Thân ở ngay Sài gòn. Hôm nay là giổ đầu của anh ấy.
– Anh em tên gì?
– Nguyễn thượng Minh, khi chết anh vừa mới lên trung úy.
Tôi giật mình. Cái tên Nguyễn thượng Minh làm tôi nhớ ngay đến một thằng bạn cùng tên hồi còn tiểu học. Tôi hỏi Tâm:
– Vậy có phải em là cháu của thầy giáo Nguyễn Thượng Cầu?
– Dạ phải, nhưng chú Cầu đã chết lâu rồi. Tâm trả lời rồi nhìn tôi ngạc nhiên.
Năm 1954, tôi đang học lớp nhì trường huyện Vạn Ninh. Nhập học được vài tháng, thì thầy hiệu trưởng Nguyễn công Tố dắt ba đứa học trò lạ vào lớp giới thiệu với cô giáo Kiệt rồi dặn dò đám học trò chúng tôi:
– Hôm nay trường nhận thêm những em học trò mới, trong đó có ba em vào lớp này. Tất cả các em phải biết yêu thương và giúp đỡ những người bạn này, vì họ đã vừa phải bỏ quê hương, gia đình ngoài miền Bắc, di cư vào đây. Đó cũng là lời kêu gọi của Ngô Thủ Tướng.
Hai thằng con trai và một đứa con gái cúi đầu chào cô giáo rồi quay xuống chào chúng tôi bằng thứ tiếng lạ hoắc khó nghe. Thằng lớn con nhất được cô Kiệt chỉ cho ngồi dãy bàn cuối lớp, ngay phía sau tôi.
Đến giờ ra chơi, bọn tôi bu quanh “phỏng vấn” nó đủ điều. Tên nó là Nguyễn Thượng Minh. Nó và thằng em nhỏ hơn bốn tuổi, nhà ở quê, mẹ chết sớm, ông bố đi làm xa, nên phải gởi anh em nó xuống Hà Nội ở nhà ông chú để học hành, hơn nữa ông lại là thầy giáo. Khi có lệnh di cư, ông chú không liên lạc được bố nó, nên dắt hai anh em nó xuống tàu há mồm vào Nam luôn, rồi được chính quyền phân phối đến định cư ở quê tôi, Vạn Giã, cùng với hơn mười gia đình khác. Nó bảo vài hôm nữa ông chú nó cũng sẽ được sắp xếp cho vào dạy lớp ba trường này, thay cho một ông thầy thuyên chuyển đi nơi khác.
Nó lầm lì ít nói, chắc ngại cái tiếng Bắc Kỳ xa lạ của nó. Nhưng không phải vì điều đó mà làm cho tôi ghét nó, và đã có nhiều lần đánh lộn với nó nữa. Lý do chính là nó đánh bi rất giỏi, giành mất giải quán quân của tôi trong lớp. Nó đánh bi khác với chúng tôi. Chúng tôi để viên bi lên đầu ngón tay giữa rồi bắn đi, còn nó đặt viên bi trong lòng bàn tay và bắn đi bằng ngón tay cái. Vậy mà nó ăn tôi sạch túi. Bọn tôi bảo là nó ăn gian, không được chơi kiểu bắc kỳ của nó mà phải chơi theo kiểu trung kỳ của bọn tôi. Nhập gia phải tùy tục. Nó cô đơn một mình nên chịu thua, phải trả lại cho tôi tất cả viên bi nó thắng ngày hôm đó. Vậy mà hai hôm sau nó chơi trở lại, dĩ nhiên với cái kiểu hoàn toàn mới lạ với nó, nhưng nó vẫn thắng tôi oanh liệt. Cuộc đấu bi này bây giờ không phải chỉ giữa cá nhân hai thằng: tôi với nó, mà giữa hai miền nam-bắc, cho nên học trò trai gái cả trường bu quanh làm khán giả. Tôi thua trắng tay, mất luôn chức vô địch từ lớp năm đến bây giờ. Dĩ nhiên là tôi ức lắm. Điều ghê gớm hơn nữa, là chỉ có cuối tháng đầu tiên nó đứng hạng ba trong lớp, lên nhận bảng danh dự sau tôi, nhưng kể từ tháng thứ nhì trở đi nó đều chiếm hạng nhất. Tôi đâm ra hận nó, có nó là tôi mất tất cả. Mấy lần tôi nhại tiếng Bắc chọc quê nó, nó cũng chỉ cười, tôi nghe lời xúi của lũ bạn, bảo nó rờ sau “đít” coi có còn tòn ten cọng rau muống nào không, nó chỉ im lặng. Có lần bọn tôi xô nó ngã, nó chỉ cười, đứng dậy rồi phủi bụi trên áo quần. Tôi thua nó, nhưng cố làm ra vẻ tự mãn: “nó vẫn chỉ là một anh hùng cô đơn, không có ai chơi với nó”.
Đùng một cái nó nghỉ học. Chẳng có ai biết lý do. Nhưng rồi vài ngày sau nó tới trường, nhưng không phải để học mà để bán bánh mì và cà rem. Cô giáo và bạn bè hỏi, nó khóc và bảo là bà thím, sau khi cãi vã với chú nó một trận, không nuôi hai anh em nó nữa, nó phải tự “khắc phục” để còn nuôi một thằng em nhỏ. Hôm đó bọn tôi nhiều thằng cũng khóc theo với nó. Chờ cho tất cả vào lớp, tôi ở nán lại chỉ để ôm nó và nói một lời xin lỗi về những điều đã qua. Nó nhìn tôi thân thiện, và bảo là nó chưa hề để tâm tới điều ấy. Tôi “tâm phục khẩu phục” nó. Nó còn nhỏ mà thông minh và thánh thiện hơn tôi nhiều.
Tôi bèn làm ngay một cuộc “quảng cáo” cho bánh mì và cà rem của nó, vì vậy hôm nào nó mang mọi thứ tới trường là bán sạch ngay trong giờ ra chơi buổi sáng. Sau đó tôi còn kêu gọi một cuộc lạc quyên giúp nó: gạo, tiền xu, tiền cắc, áo quần, có thằng còn mang tới cho nó cả buồng chuối và một trái mít nữa.
Rồi nó cũng được chính quyền giúp đỡ, tôi nghĩ như thế, nên vài tuần sau nó trở lại lớp học, và chỉ bán bánh mì trong giờ ra chơi. Nó vẫn học giỏi, vẫn đứng đầu lớp, nhưng lần này nó không còn là anh hùng cô đơn nữa mà nó có đông đảo bạn bè, mà thằng thân nhất chính là tôi.
Ông chú nó, thầy giáo Nguyễn thượng Cầu, cũng đã vào trường dạy lớp ba, nhưng bây giờ anh em nó không còn ở chung với ông chú nữa, mà chỉ đến thăm ông vào những cuối tuần. Có khi nó dắt tôi đi theo. Vì vậy tôi mới bíết ông thầy, chú nó sợ bà vợ Bắc kỳ còn hơn sư tử, nên chẳng dám bênh vực nhiều anh em nó, mặc dù ông rất đau lòng xót xa khi bọn nó phải dọn ra ở ké nhà một gia đình người di cư khác.
Tôi mất mẹ, cha tôi cũng đi làm xa, nên tôi thông cảm hoàn cảnh của Minh, nên thường đưa anh em nó về nhà ông bà nội tôi và chơi với đám anh em họ hàng của tôi.
Khi xong tiểu học, tôi vào Nha Trang học trung học, cũng là lúc phải chia tay nó. Bởi Minh cũng vừa theo một số người di cư vào tận khu định cư Phước Tỉnh nào đó ở trong nam, người ta bảo trong ấy làm ăn khấm khá hơn ở quê tôi nhiều lắm. Từ đó, tôi không gặp lại nó, mặc dù trong ký ức tuổi ấu thơ của tôi, lúc nào hình ảnh nó cũng in lên đậm nét.
Không ngờ hôm nay, giữa chiến trường xa xôi này tôi lại bất ngờ gặp lại thằng em duy nhất của Minh, và lòng tôi lắng xuồng khi biết nó cũng từng là lính đánh giặc và đã hy sinh đúng ngày này năm trước: ngày mồng một Tết. Cái ngày mà lời chúc Tết của ông Hồ Chí Minh trên đài phát thanh Hà Nội chính là cái mật lệnh “Tổng Công Kích Tết Mậu Thân” để giết hại bao nhiêu người vô tội, đặc biệt hàng vạn người ở Huế bị chôn sống. Cũng là cái ngày người ta nhận diện được bọn trí thức, sinh viên phản trắc, đã giết hại bao nhiêu thầy, bạn của chính mình.
Sau đó, tôi rút Tâm về làm việc bên cạnh tôi, phụ tránh toán quân báo gồm toàn những người lính trẻ. Chúng tôi yêu thương nhau như anh em. Rồi vào một đêm trăng sáng, dưới sự chứng giám của đất trời, tôi đã nhận Tâm là đứa em kết nghĩa, sau lần Tâm liều mình cứu tôi thoát chết trong một cuộc phục kích ở Thiện Giáo. Đổi lấy sự an toàn cho tôi, Tâm phải mất hai ngón tay của bàn tay trái và nằm bệnh viện hơn một tháng để được giải phẩu lấy một mãnh đạn nằm trong sâu trong thanh quản. Sau khi xuất viện, Tâm phát âm tương đối khó khăn. Được hội đồng giám định y khoa xếp vào loại không còn khả năng chiến đấu, Tâm có thể chọn về một đơn vị hành chánh hay tiếp vận nào mà Tâm thích, nhưng Tâm một mực chối từ và nằng nặc đòi trở lại đơn vị cũ. Tâm xác nhận là mình vẫn còn khả năng chiến đấu, hai ngón tay của bàn tay trái và giọng nói khó khăn một chút không gây trở ngại nhiều cho một người lính chiến trường. Cuối cùng Tâm được toại nguyện.
Tôi vừa vui mừng vừa cảm động khi Tâm trở về trình diện. Tâm bảo sống chết gì em cũng muốn ở bên anh. Vì gia đình em có còn ai nữa đâu. Đơn vị này là gia đình của em. Tôi sắp xếp cho Tâm một công việc tạm thời ở hậu cứ để tiếp tục chửa bệnh. Chỉ sau vài tháng giọng nói của Tâm gần trở lại bình thường. Tâm nghe lời tôi xin vào khóa Sĩ Quan Đặc Biệt ở Thủ Đức. Tâm được ưu tiên thu nhận vì gốc TSQ.
Ra trường đúng vào mùa hè đỏ lửa 1972, Tâm lại xin trở về đơn vị cũ, lúc này đang ngày đêm nằm trong lửa đạn ở mặt trận Kontum. Năm tháng sau, tôi bị thương, được tản thương về Quân y viện Pleiku nằm điều trị gần một tháng. Xuất viện, được điều về Phòng Hành Quân. Cả tháng tôi không gặp lại Tâm, nhưng ngày nào chúng tôi cũng liên lạc trên hệ thống vô tuyến.
Cuối năm 1973, chiến trường lắng dịu. Tâm xin phép về Sài gòn cưới vợ. Vợ Tâm là cô bạn nhỏ ngày xưa trong cùng một viện mồ côi. Bây giờ là cô giáo. Hai người gặp lại và tình yêu nẩy nở trong thời gian Tâm học ở trường Thủ Đức. Cả vợ chồng tôi đều có mặt trong ngày cưới, và làm chủ hôn bên họ nhà trai. Đám cưới xong, tôi vận động xin cho vợ Tâm được chuyển lên dạy tại một trường tiểu học nằm trong thành phố Pleiku, để vợ chồng được gần gũi nhau hơn.
Đầu tháng 3/1975 Ban Mê Thuột thất thủ, bản doanh Bộ Tư lệnh SĐ 23 BB bị tràn ngập sau một phi vụ bắn nhầm. Ông Tư Lệnh Phó cùng ông tỉnh trưởng Đắc Lắc bị bắt. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 44 được trực thăng vận nhảy xuống đầu tiên ở Phước An, quận duy nhất còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm vừa ngăn chặn địch quân tràn xuống Khánh Dương theo Quốc lộ 21, vừa tái chiếm thị xã Ban Mê Thuột khi tình hình cho phép. Tâm có mặt trong toán quân đầu tiên này. Tôi không gặp được Tâm nhưng có liên lạc nói chuyện vài lần trong máy vô tuyến. Tâm rất đau lòng khi phải bỏ vợ và đứa con gái ba tuổi trên Pleiku, trước khi gởi gấm cho anh trung sĩ tiếp liệu đại đội cố dắt theo cùng đoàn quân triệt thoái về tỉnh lộ 7, bây giờ không biết ra sao. Tâm khẩn khoản nhờ tôi tìm mọi cách liên lạc và giúp vợ con mình. Tôi lấy cái tình anh em kết nghĩa mà thề với Tâm là tôi sẽ cố gắng hết sức mình. Không ngờ, đó là một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đã làm mất biết bao nhiêu sinh mạng, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam. Ra tận Tuy Hòa, đứng đón dòng người tả tơi, nét mặt còn đậm nỗi kinh hoàng, họ vừa trải qua và chứng kiến biết bao nhiêu cái chết thê thảm để được đến bên này bờ con sông Ba nhuộm máu, tôi nghĩ là tôi chẳng còn có cơ hội nào gặp lại vợ con Tâm. Trở lại Khánh Dương, đúng lúc Phước An thất thủ và đơn vị của Tâm đã phải tan hàng, tôi gặp lại vị chỉ huy của Tâm ở Dục Mỹ, ông xác nhận là trung úy Nguyễn Thượng Tâm đã nằm lại trên đỉnh đồi Chu Cúc, khi chiến đấu tới viên đạn cuối cùng rồi tự sát trước một biển người của địch quân tràn lên chiếm giữ.
***
Hơn sáu tháng định cư ở Nauy, cả nhà tôi lúc nào cũng miệt mài để sớm hội nhập vào quê hương mới. Thời gian qua nhanh quá. Mới đây mà chúng tôi cũng đã tập tành tổ chức ngày lễ Giáng Sinh và ăn cái tết Tây đầu tiên theo truyền thống của Nauy. Sau đó bận bịu đi học đi làm, và cũng chẳng có cuốn lịch Âm lịch nào để biết ngày nào là Tết Ta, Nguyên Đán. Một buổi tối vợ chồng tôi đang ngồi cãi nhau về thời điểm giao thừa để thắp một nén hương tưởng nhớ ông bà, thì điện thoại reo. Bà Huyền-Trân Thomassen gọi, mời cả nhà chúng tôi tối mai lên ăn tết với gia đình, chồng bà từ Mexixo cũng mới trở về. Bà cho biết bây giờ đã là sáng mồng một Tết bên Việt Nam. Thì ra, chúng tôi tệ quá, mới rời khỏi Việt Nam hai năm mà không còn nhớ ngày tết và tổ chức mừng Tết như bà. Tôi cám ơn và nhận lời bà xong, vội vàng thắp mấy nén hương tạ tội ông bà. May mắn ngày mai là thứ bảy.
Bà biết gia đình chúng tôi có tới mười người mà chỉ có một cái xe Ford vừa nhỏ vừa cũ, nên bà đặt một chiếc taxi tám chỗ ngồi lại đón chúng tôi. Bà xã tôi chỉ huy bầy con gái trên chiếc taxi, còn tôi lái xe chở đám con trai chạy theo sau. Trời thật lạnh, tuyết rơi trắng cả bầu trời. Chúng tôi phải chạy gần một tiếng đồng hồ mới tới nhà bà. Bà ở trong một ngôi biệt thự khá xinh, cách trường đại học Oslo, nơi bà dạy, chừng năm phút lái xe. Trong phòng khách bà trang trí giống như tết ở Việt Nam, đặc biệt có cả một cành mai thật to (một loài hoa Bắc Âu nở hoa vào mùa đông, nhìn giống như hoa mai) trong một cái bình sứ lớn, nằm ở giữa nhà. Chồng bà rất phúc hậu, và nói được một ít tiếng Việt. Khi giới thiệu ông với chúng tôi bà đùa:
– Hoàng đế Chế Mân của tôi đây.
– Không, tôi là Trần Khắc Chung. Ông vừa đưa tay bắt tay tôi vừa đùa.
Ông ta khá am tường về lịch sử Việt nam. Ông cũng biết khá nhiều và có những nhận định khá công bình về cuộc chiến Việt nam. Ông cho biết là lúc cuộc chiến Việt Nam đang ác liệt, khi ấy ông là trưởng ban ngoại giao của Quốc Hội Nauy, đã phản đối kịch liệt những nhóm tả khuynh và đặc biệt là những nhận định và việc làm của ông Olaf Palma, thủ tướng Thụy Điển, người đã hô hào ủng hộ Bắc Việt và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận cho binh lính Mỹ đào ngũ đến dung thân ở nước ông. Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhìn hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, ông vừa kịp phản tỉnh thì cũng bị ám sát chết.
Bữa ăn còn có cả dưa hành, thịt kho và bánh chưng. Tôi phục bà và thấy xốn xang nhớ những ngày tết lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà.
Ăn uống xong, bà còn lì xì bì thơ màu đỏ cho mấy đứa con và mấy đứa cháu của tôi. Tôi đành phải ngượng ngùng xin lỗi vì không chuẩn bị kịp quà cáp cho hai đứa con của bà. Nhưng bà rất khéo léo, khi bảo sự có mặt của gia đình chúng tôi trong thời khắc đặc biệt này đã là một món quà vô giá, rất có ý nghĩa cho mẹ con bà.
Tôi thay mặt gia đình cám ơn, chúc tết ông bà và gia đình. Tôi cũng nói lên lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối với một người đã xa quê hương lâu ngày và lập gia đình với một người ngoại quốc mà vẫn còn giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam, trong lúc một số người mới chân ướt chân ráo sang đây đã vội tập tành thành người bản xứ, muốn quên hết nguồn cội của mình.
Chia tay bà lúc gần mười hai giờ đêm. Đường sá vắng tanh. Tuyết vẫn rơi kín bầu trời. Không quen lái xe trên tuyết, tôi chạy thật chậm. Khi đến trước khu đại học Blindern, tôi thấy có một người đứng dưới tàng cây thông, đưa tay đón. Tôi dừng xe lại. Một cô gái chạy tới xin quá giang về nhà, vì cô dự tiệc tối ra, đã gọi taxi khá lâu mà không thấy tới. Tôi bảo đứa con trai lớn của tôi ra ngồi ở băng sau, nhường ghế trước cho cô gái. Khi cô lễ phép chào tôi, và bắt tay mấy cậu con và cháu của tôi ngồi ở băng sau, tự giới thiệu tên Anita rồi ngồi lên ghế, tôi mới nhận ra cô gái gốc Á đông, nhưng phát âm tiếng Nauy và điệu bộ hoàn toàn như người bản xứ. Tôi ngạc nhiên khi thấy cô đang run vì lạnh. Cô chỉ mặc một cái áo khoác mỏng. Tôi dừng xe, cởi cái áo choàng bằng lông cừu choàng qua vai cô. Gương mặt cô bé xinh xắn dễ thương, nhưng phảng phất buồn. Tôi hỏi cô bé đến từ nước nào. Cô cho biết cô được cha mẹ nuôi người Nauy nhận mang về đây lúc chưa tròn ba tuổi, nên cô chẳng biết gì. Sau này lớn lên, cô mới được cha mẹ nuôi kể lại là cô được Cơ quan Bảo Trợ Nhi Đồng LHQ nhận từ một viện mồ côi ở Việt Nam vào năm 1975. Ông bà xin nhận cô làm con nuôi từ Cơ quan này. Cô bé rất mong muốn được trở lại Việt nam một lần, để biết nơi mình sinh ra và nhờ người tìm lại tông tích, mồ mả của cha mẹ ruột. Cô sẽ xây mộ cho ông bà. Cha mẹ nuôi có hứa sẽ đưa cô về sau khi cô học xong trung học, và khi nào việc xin visa vào Việt Nam dễ dàng hơn. Nhà cô không xa nơi tôi ở, có lẽ không quá hai mươi phút lái xe. Khi qua hết mấy khu rừng thông thanh vắng, cô chỉ ngôi nhà lớn nằm lưng chừng trên một ngọn đồi, bảo tôi dừng lại phía dưới. Cô sẽ đi lên bằng con đường tắc. Cô cám ơn tôi, cởi trả lại tôi cái áo choàng. Cô hỏi xin tôi một mảnh giấy, viết địa chỉ xong rồi đưa lại cho tôi. Cô mời tôi đến Lễ Phục Sinh ghé lại nhà cô chơi. Vì chỉ còn một ngày nữa cô phải đi London tiếp tục theo học một năm chương trình trao đổi học sinh. Cha mẹ nuôi của cô rất thích nói chuyện với người Việt Nam, nhất là những người đã từng tham gia cuộc chiến. Tôi hứa với cô là thế nào tôi cũng đến thăm cô cùng ông bà cha mẹ nuôi tốt bụng.
Về nhà, khi kể lại chuyện cô bé quá giang cho vợ và mấy cô con gái nghe, tôi mới nhận ra một điều: sao tôi lại có duyên với những người mồ côi đến thế. Suốt cả đêm hôm ấy tôi nằm trằn trọc nghĩ đến thân phận mình và nhớ thật nhiều đến Nguyễn Thượng Tâm, người mà tôi đã từng nhận làm đứa em kết nghĩa, nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa làm tròn được lời thệ ước của mình.
***
Ðến Lễ Phục Sinh, nhớ lời hẹn, tôi rủ bà xã và hai cô con gái lớn đến thăm cô Anita. Bây giờ là đầu tháng tư mà tuyết vẫn còn rơi trắng cả bầu trời. Nhờ ban ngày nên tôi thấy rõ nhà cô hơn. Ngôi nhà có dáng của một lâu đài, cổ kính, sang trọng. Chung quanh là một hàng thông. Chủ ngôi nhà chắc đã trọng tuổi và giàu có. Ngần ngừ một lúc, tôi bấm chuông. Đúng như tôi nghĩ, người mở cửa là một bà già khoảng trên bảy mươi, nhưng còn khỏe mạnh và nói năng vui vẻ lịch thiệp. Bà ngạc nhiên nhìn tôi, và hỏi tôi đến có việc gì bất ngờ mà bà không đuợc báo trước. Tôi xin lỗi, giới thiệu tên mình và cho bà biết là tôi có hẹn với cô Anita, con gái của bà, đến thăm cô ấy và vợ chồng bà. Có lẽ cô Anita quên, không kể chuyện lại với bà. Bà tròn mắt ngạc nhiên:
– Anita nào? vì đứa con gái duy nhất của chúng tôi đã chết rồi mà.
Bây giờ đến lượt tôi ngơ ngác. Tôi kể cho bà nghe chuyện tôi gặp cô Anita trước cổng trường đại học hồi tháng hai, và cho cô quá giang về đây lúc nửa đêm. Bà mời tôi vào nhà, chỉ cho tôi tấm ảnh treo trên vách.
– Đây chính là cô Anita mà tôi đã gặp, trước khi cô trở lại London để tiếp tục học. Tôi nói to như để xác nhận với bà.
Bà nhìn tôi sụt sùi hai dòng nước mắt.
– Ðúng rồi, sau lần về thăm nhà và cũng để khám bệnh ấy, thay vì trở lại trường, con tôi phải vào bệnh viện, do một mảnh đạn nằm sâu trong tim từ lúc cháu ba tuổi, và cháu qua đời sau đó một tuần. Trước đây, bác sĩ có khám và chụp hình, nhưng bảo mảnh đạn nằm ở một vị trí khá an toàn, và rất nguy hiểm nếu phải giải phẩu. Không ngờ cháu lại chết vì chính mảnh đạn từ thời chiến tranh này.
Bà ra nhà sau lên tiếng gọi ông chồng, kể cho ông nghe câu chuyện tự nãy giờ. Ông đến chào tôi, và bảo tôi chờ ông bà mặc áo lạnh rồi sẽ dẫn tôi ra nghĩa trang, nằm không xa ở phía sau nhà, thăm ngôi mộ cô con gái.
Ngôi mộ phủ đầy tuyết trắng. Bà đưa tay phủi lớp tuyết trên tấm bia, hàng chử khắc sâu trên bia: ANITA NGUYEN HILDE. Nhìn tấm ảnh trên mộ bia, tôi có cảm giác dường như cô cũng đang nhìn tôi mỉm cười. Tôi đứng trước mộ, chấp hai tay khấn nguyện một đôi điều. Ông bà chủ nhà sụt sùi, bảo với tôi đó là cô con gái duy nhất mà ông bà hết lòng thương quí. Từ khi cô ta qua đời, ông bà chẳng còn thiết tha bất cứ thứ gì trên cõi đời này nữa. Đưa tôi trở lại nhà, ông châm củi thêm vào lò sưởi, rót mời tôi một tách cà phê nóng. Ông bảo nếu cô không chết thì mùa hè này ông bà sẽ đưa cô về thăm quê hương nguồn cội ở Việt Nam. Riêng cha mẹ ruột của cô thật sự đã chết trong chiến tranh rồi.
Dường như vừa nhớ lại một điều gì, ông đứng lên bước tới kệ sách, quay lại nói vói tôi:
– Trong hồ sơ của con tôi, người ta có ghi chú: Khi hấp hối, mẹ cháu có trăn trối nhờ người mang nó về một viện mồ côi mà bà quen. Bà có để trong túi áo quần của đứa con một tấm hình khi vợ chồng bà làm đám cưới. Sau tấm hình có ghi tên và đơn vị của ba cháu. Đó cũng là dấu tích duy nhất về gốc gác của cô con gái nuôi yêu dấu của chúng tôi.
Tôi chưa kịp hỏi, ông đã đưa cho tôi tập album, và chỉ cho tôi một tấm ảnh đen trắng ngã màu vàng sậm, được dán ngay ở trang đầu. Nhìn tấm ảnh, tôi giật thót cả người, như đang bị mộng du vào một cõi xa xăm nào đó: hai người trong tấm ảnh chính là vợ chồng Nguyễn Thượng Tâm, người em mồ côi kết nghĩa mà chúng tôi đã lạc mất nhau trong những ngày cuối của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
Gia đình ông Chương đã trở lại Hà Nội trước sinh nhật thứ tám của Lệ Xuân. Cha cô đã được bổ nhiệm vào luật sư đoàn Hà Nội, công việc sáng giá nhất mà một luật sư Việt có thể nhắm tới trong chế độ thực dân. Mặc dù là một vinh dự, đó cũng là lời nhắc nhở về những sự lựa chọn hạn hẹp có thể có được ngay với một người Việt học thức nhất. 1
Sau bảy năm ở vùng thôn quê miến Nam, Hà Nội là một thành phố lạ lẫm với Lệ Xuân. Người ta nói chuyện bằng cái giọng đầy hơi gió kiểu cách. Họ nhấn những tiếng trầm bằng những cú ngắt nghỉ nặng nề trong khi người miền Nam chỉ cần nói lướt qua. Thức ăn thì kém ngọt hơn. Không còn có những khoanh dứa hoặc xoài nổi bổng bềnh trong bát canh, món dùng với cơm trong hầu hết các bữa ăn nữa. Mỗi lần Lệ Xuân cắn một thứ gì, kể cả thứ cô nghĩ mình biết, cô vẫn phải thận trọng. Những cuộn chả giò giòn rụm ở miền Nam, được gọi là nem ở Hà Nội, và nước chấm của chúng ở miền Bắc có vị cay khác hẳn, vị cay của hạt tiêu đen làm nhột nhạt sóng mũi cô thay vì sức ấm nóng lan tỏa của quả ớt ở miền Nam.
Ở Hà Nội, Lệ Xuân cảm thấy lạc lõng kỳ lạ vì một lý do khác: để tránh né những hệ lụy rắc rối về chủng tộc trong một thành phố đông đúc là việc khó khăn thậm tệ. Trong chừng mực nào đó, sự giàu có và vị thế ưu tú của gia đình ông Chương giảm nhẹ sự kỳ thị ắt hẳn khốc liệt của một thành phố thực dân. Ngôi nhà của họ, số 71 đại lộ Gambetta, là một trang viên uy nghi, cao và hẹp với mái hai mảng, những căn phòng có đầu hồi, và cửa sổ trên mái. Trông nó cũng giống những ngôi nhà khác trong khu vực của họ, nhưng hầu hết thuộc về các gia đình Pháp. Thật ra, cả khu này được biết đến như là phố người Pháp. Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà quy hoạch đô thị thuộc địa đã san lấp đầm lầy và tạo ra những đại lộ thênh thang che bóng bởi những hàng me. Một du khách người Anh đến Hà Nội đã miêu tả cái phong cảnh mà ắt hẳn là điều Lệ Xuân cảm thấy vào năm 1932: “Những ngôi biệt thự hoàn toàn Pháp, trơ gan cùng gió dập mưa vùi… và nếu không vì những cây cọ, giàn bông giấy… ta có thể ngỡ đang đứng giữa một khu ngoại ô dễ thương nào đó ở Paris”. 2
Lệ Xuân chỉ nhìn thấy đời sống đô thị Việt Nam khi được chở ngang qua thành phố – hoặc từ đằng sau cửa kính một chiếc Mercedes hoặc từ chiếc càng xe xích lô, một cỗ xe hẹp, mui trần lăn bánh bởi guồng đạp pê-đan của một người hầu. Việc len lỏi qua mớ bòng bong lộn xộn của ba mươi sáu phố phường mệnh danh Phố Cổ nằm về phía tây bắc nhà ông Chương sẽ dễ dàng hơn nhiều với một chiếc xích lô. Những ngôi nhà truyền thống dựng bằng vách đất và mái rơm. Những ngõ hẹp ngoài sức tưởng tượng nối liền các ngôi nhà, tạo ra một mê cung thật sự. Đằng sau những ô cửa tối ám, những người thợ thủ công cặm cụi với công việc từ tinh mơ đến tối trời, dệt lụa, dát bạc, hoặc đan lọng, với cùng những thao tác hệt như cha ông họ. Những tiệm mì vỉa hè và những hàng quán tỏa mùi thơm nghi ngút không gian.
Mặc dù Phố Cổ cách nơi Lệ Xuân sống không đầy một cây số, giữa chúng là cả một vực thẳm ngăn cách. Người khá giả có thể ở trong những ngôi nhà gỗ mái ngói, nhưng số khác với nơi nương tựa kém vững vàng hơn, phải khốn khổ với những cơn mưa xối xả mùa hè và cái rét cắt da mùa đông. Cuộc Đại suy thoái càng khiến cho điều kiện sinh sống của người Việt ở Hà Nội thêm căng thẳng. Những nông dân rời bỏ miền quê lên thành phố tìm kiếm cơ hội để rồi chẳng được gì. Những cống rãnh lộ thiên và những khu nhà ổ chuột mở rộng ra ngoại vi thành phố. Bạo lực tràn ngập giữa những kẻ bất mãn.
Bé Lệ Xuân tám tuổi đã có một trải nghiệm khác về sự bất công thời thực dân. Cô học một ngôi trường Pháp cùng với trẻ em Pháp và nói tiếng Pháp với cha mẹ ở nhà. Ông bà Chương và số ít người Việt có điều kiện như họ đã tham gia vào những trò tiêu khiển Tây phương, như môn tennis và thậm chí yoyo. Phụ nữ bắt chước mốt thời trang Paris; những áo cánh cổ thuyền mời gọi một cái liếc trộm vào làn da mềm mại bên dưới xương đòn, và khuôn phép lịch sự đã không còn đòi hỏi phụ nữ phải nai nịt ngực quá chặt. Phấn hồng, son môi, và nước hoa trở thành mốt thịnh hành. Cuộc sống xa hoa là một bàn tiệc thịnh soạn chảy tràn sâm banh Pháp và nhạc swing rộn rã.
Lệ Xuân muốn hòa hợp với môi trường mới mẻ xung quanh mình, nhưng bằng cách nào? Người bạn thân thiết nhất từ thời thơ ấu của Lệ Xuân cũng là một kẻ ngoài cuộc lạc lõng, một cô gái người Nhật. Nỗi bất hạnh chung của họ đã tạo nên một mối quan hệ lâu bền, và họ vẫn còn giữ liên lạc với nhau suốt đời. Hầu hết những người Việt khác mà Lệ Xuân thường nhìn thấy thuộc vào số hai mươi người làm công trong gia đình, bao gồm đầu bếp, tài xế, bảo mẫu, và người làm vườn. Cô gái nhỏ hiểu biết lịch sử Pháp khá tường tận để biết rằng con đường nhà cô, một trục lộ chính chạy từ đông sang tây xuyên qua thành phố, được đặt tên theo Leon Gambetta, một chính khách Pháp thế kỷ mười chín tin rằng thanh thế của nước Pháp trên thế giới xoay quanh chủ nghĩa thực dân hung hăng – trong việc đi xâm lược các dân tộc và đất đai. Người Pháp có mặt ở Việt Nam từ thập niên 1860, và bảy thập niên hiện diện của Âu châu trên mảnh đất này chẳng là gì so với lịch sử một ngàn năm Bắc thuộc của Việt Nam; dù thế nào đi nữa, sự bất công thời thực dân đối với bé Lệ Xuân là một thực tế của cuộc sống.
Thực vậy, người Pháp ngăn cấm dùng từ “Việt Nam”, vốn ngụ ý sự thống nhất của một quốc gia. Để giữ cho quyền lực thực dân không bị sứt mẻ, người Pháp đã kìm hãm không cho Việt Nam trở nên quá mạnh – vì vậy họ đã dùng thủ đoạn chia ra để cai trị. Chính quyền của quốc gia được chia làm ba phần: miền Bắc (Bắc Kỳ) và miền Trung (An Nam) là những lãnh thổ thuộc chủ quyền của người Việt trên danh nghĩa, hoặc lãnh thổ bị bảo hộ, của Pháp. Phần phía nam giàu tài nguyên của quốc gia, Nam Kỳ, được cai trị trực tiếp bởi chế độ thực dân. Từ thuộc địa này người ta cắt ra những khu đất rộng lớn để sản xuất lúa gạo, cao su, và những sản vật giá trị khác. Để tài trợ cho chính quyền thực dân, nhà nước Pháp dựa vào lợi tức từ những mặt hàng độc quyền mà nó kiểm soát: muối, rượu, và đặc biệt là thuốc phiện. Người Pháp biết rõ thuốc phiện nguy hiểm thế nào, nhưng họ cũng biết sự nghiện ngập có thể mang lại lợi nhuận to lớn ra sao. Họ mở những trung tâm buôn bán thuốc phiện trong mọi ngôi làng. Những làng nào không đáp ứng chỉ tiêu doanh số của họ sẽ bị trừng phạt. 3
Sự thịnh vượng ở vùng thuộc địa Đông Dương có một mặt khuất tăm tối. Có những câu chuyện về những gia đình trong làng buộc phải bán con để trả những khoản thuế hà khắc. Điều kiện làm việc trong những xí nghiệp do người Pháp điều hành, trong những hầm mỏ, hoặc trên những đồn điền cao su là địa ngục trần gian đối với những công nhân Việt Nam. Bệnh sốt rét và dịch tả hoành hành tràn lan, và chỉ có vừa đủ gạo để bù đắp cho những ngày làm việc mười hai tiếng ròng rã. Một công nhân tại đồn điền Michelin đã chứng kiến quản đốc người Pháp gọi những tên lính tới trừng trị bảy người muốn bỏ trốn; ông ta “bắt những người bỏ trốn nằm phục xuống đất và khiến những tên lính chân mang bốt tán đinh giẫm đạp lên xương sườn họ. Đứng bên ngoài tôi có thể nghe thấy tiếng xương gãy răng rắc”. 4 Người ta kể rằng những ông chủ xí nghiệp thường nhốt con của công nhân trong những chiếc cũi tối tăm và chỉ trả chúng về vào cuối ngày làm việc cho những công nhân mình mẩy lấm lem dơ dáy.
Lợi nhuận không phải là động cơ duy nhất khuyến khích người Pháp tin rằng những nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Đông Dương là của họ để chiếm lấy. Họ tin rằng người Việt Nam thấp kém hơn về mặt sinh học. 5 Người Pháp gọi người Việt Nam, bất kể đến từ vùng nào, là Annamite. Từ này bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc, nhưng với người Pháp nó nghe rất giống như une mite, nghĩa là sâu bọ hoặc kẻ ăn bám. Một từ khác họ dùng để chỉ người Việt, bất kể thuộc giai cấp nào, là nhà quê, hoặc nông dàn. Một cư dân thành thị có học thức sẽ nổi giận trước cái lối mô tả này, nhưng những người thận trọng và những người giống như cha của Lệ Xuân, vốn có quá nhiều thứ để mất, không dám thể hiện sự bất mãn của họ.
Gia đình ông Chương không tham gia vào bất kỳ hoạt động chống Pháp công khai nào – ít ra đến thời điểm này. Cuộc sống của họ quá sung túc để mạo hiểm. Nhưng ngay cả như thế họ vẫn có thể thấy rằng chế độ thực dân đang bị thách đố gay gắt. Thời điểm gia đình ông Chương quay lại Hà Nội trùng hợp với thời điểm sau khi xảy ra khởi nghĩa Yên Bái, cuộc bạo loạn ghê gớm nhất vùng mà người ta từng chứng kiến trong thời Pháp thuộc.
Tháng Hai năm 1930, một nhóm người Việt theo chủ nghĩa dân tộc (Việt Nam Quốc Dân Đảng – VNQDĐ) đã tấn công một bốt đóng quân ở miền Bắc Việt Nam, giết chết những sĩ quan Pháp trú đóng ở đó và chiếm một kho vũ khí. Để giữ vững quyền lực của mình, người Pháp phản ứng bằng một cuộc phô trương uy vũ với ý định làm cho người Việt sợ hãi mà khuất phục trở lại. Chính quyền thực dân kiểm soát chặt chẽ những kẻ bị nghi ngờ phiến loạn, chém đầu những ai họ bắt được, và ném bom vào những đám đông tụ tập và những ngôi làng khả nghi. 6
Ngôi trường của bọn trẻ ở Hà Nội nằm kế bên dinh thự của quan toàn quyền Pháp. Tòa nhà màu nghệ tây vẫn còn đến hôm nay nhưng được dùng làm văn phòng và phòng tiếp tân của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào thời Lệ Xuân, ngôi trường được đặt tên theo Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương từ 1911 đến 1913. Mặc dù Sarraut được ca ngợi bởi việc thúc đẩy cải cách giáo dục, động cơ của ông, từ căn đế, là một thí dụ khó chịu khác về sự thắng thế của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Ông tin rằng người Việt không thể được khai hóa cho đến khi tư tưởng, phong tục tập quán, và những thể chế của họ được phản ánh theo nước Pháp. Đối với Albert Sarraut, người chiến sĩ tự xưng của công cuộc cải cách giáo dục bản địa, người Việt Nam “sẽ xứng đáng được giải phóng khỏi sự cai trị của Pháp chỉ khi họ không còn khao khát là người Việt, nhưng là người Pháp da vàng”. 7
Lệ Xuân được dạy nói, đọc, viết, và suy nghĩ như một nữ sinh Pháp bé nhỏ. Cô học thuộc thứ tự các vị vua nước Pháp và ngày tháng tất cả những cuộc chiến giữa Pháp và Anh. Cô có thể đọc vanh vách những cánh rừng và những ngọn núi tuyết phủ mà thậm chí chưa từng nhìn thấy chúng. Cô làm bài kiểm tra về thi ca và chính tả tiếng Pháp nhưng không được học về di sản của đất nước mình. Lệ Xuân có bổn phận phải quên cô là người Việt và được khích lệ để tin rằng định mệnh của cô là trở thành một phần của một nền văn hóa khác, ưu việt hơn.
Giờ đây khi gia đình đã trở lại Hà Nội và bọn trẻ bận bịu với trường lớp, người phụ nữ của gia đình, bà Chương, có thể tận hưởng chút ít tự do. Thoát khỏi miền thôn quê truyền thống, áp lực sinh con đẻ cái, và sự can thiệp của mẹ chồng, bà Chương có thể khám phá ý nghĩa của việc là một người phụ nữ Việt trong một kỷ nguyên của sự thể nghiệm và thậm chí buông thả. Là điều không thể tưởng nghĩ chỉ một thế hệ trước, phụ nữ Việt giờ đầy có thể đứng cùng chồng ở những nơi công cộng như nhà hàng và vũ trường.
Không phải bó chặt bộ ngực sau tấm áo chùng, bà Chương đã có thể trưng diện sắc vóc của mình. Bà có thể mặc những bộ quần áo đặt may, chạy theo những mốt mới nhất, như áo váy có viền ren. Cửa hàng bách hóa Godard ở góc phố Paul Bert bán bít tất lụa, mũ, và kẹp tóc. Sự thiên vị của người Pháp với gia đình ông Chương mang lại cho họ phương tiện kinh tế để theo đuổi tất cả những thú vui Âu châu ở Hà Nội. Một chiếc Mercedes có tài xế riêng đưa họ đi xung quanh thành phố; họ ăn trong những nhà hàng Trung Hoa trang nhã nhất thành phố và xem những bộ phim Mỹ và Pháp ở rạp xi nê. Rạp Palace hiện đại và đắt đỏ nhất trong số bảy rạp chiếu bóng ở Hà Nội, nhưng ngay cả người Việt nghèo nhất ở thành thị vẫn có thể xem phim. Có một rạp Trung Hoa bên kia thành phố, nơi mọi người ngồi xổm cùng nhau trên những thanh gỗ, vươn cổ ngoẹo đầu để nhìn rõ màn ảnh. Có một loại vé thậm chí rẻ hơn nữa dành cho những ai sẵn lòng đứng ở phía ngược màn hình và xem những hình ảnh lập lòe từ sau ra trước. 8
Vào những chiều thứ Ba, bà Chương mở tiệc chiêu đãi ở nhà. Khách là người Việt và người Pháp – và sau năm 1939 là người Nhật. Đàn ông và đàn bà thoải mái trộn lẫn vào nhau sau những tuần bánh và rượu cốc tai trong phòng khách. Tất cả những nhân vật quan trọng, hoặc một ngày nào đó sẽ quan trọng, đều tham dự.
Tiếng cười và trò chuyện trôi lơ lửng trên những ngọn đèn chùm pha lê và cuộn lên cầu thang đến chiếu nghỉ nơi những đứa trẻ đang thu mình, nghe lỏm chuyện người lớn bên dưới.
Bà Chương đang thích nghi với truyền thống, có từ thời Cách mạng Pháp, của những phụ nữ tinh anh chủ trì những cuộc họp xa lông, nơi khách khứa có thể tham gia vào những cuộc tranh luận đầy trí tuệ về nghệ thuật, văn chương, và thậm chí chính trị. Những người đàn ông quyền thế luôn luôn có mặt trong những cuộc hội họp tại nhà bà Chương, nhưng những quan điểm về bình đẳng nam nữ và nữ quyền đã trở thành phương tiện biểu đạt để tranh biện về một để tài khác, một đề tài quá nguy hiểm để bàn luận công khai: Giải phóng Việt Nam khỏi chủ nghĩa thực dân Pháp. Ở đó những cuộc tranh luận sôi nổi về vai trò thích đáng của phụ nữ, giá trị của giáo dục đối với nữ giới, và sự cân bằng giữa tổ ấm gia đình và đời sống công cộng, nhưng tại căn để của tất cả những câu hỏi này là một vấn đề lớn lao hơn nhiều: Làm thế nào để Việt Nam có thể trở nên hiện đại và tự do?
Tôi đã kỳ vọng tìm được nhiều thông tin về những cuộc họp mặt thứ Ba của bà Chương trong những văn khổ của French Sureté, hay mật vụ Pháp lừng danh, nhưng thay cho tin tức tình báo về những con người nguy hiểm bà đã tiếp đãi và những tư tưởng nguy hiểm đã luận bàn, tôi tìm thấy một sự mô tả thô tục về cuộc sống của vợ chồng ông Chương.
Không có gì trong những tập hồ sơ tiếng Pháp xác nhận ý tứ về “sự vinh quang” mà bản cáo phó của ông bà Chương mô tả rất nhiều năm sau. Sự thực hoàn toàn trái lại. Tướng quân đội Pháp Georges Aymé miêu tả cha bà Lệ Xuân, ông Chương, là “người khá còi cọc”, một khí lực ẻo lả không làm thỏa mãn được vợ mình. Lời tử tế nhất tôi có thể tìm thấy về ông Chương trong văn khố miêu tả ông “thông minh, đúng hơn là tinh tế”. Điều đó có vẻ khác xa bức chân dung về một nhà ngoại giao lỗi lạc vào lúc chết.
Nhưng mô tả về bà Chương làm tôi sốc nhất. “Vợ ông Chương đẹp và rất hấp dẫn. Giữa người An Nam với nhau, người ta biết rằng bà là người chỉ huy, điều khiển chồng mình”. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Ngay khi hai bên thái dương đã điểm hoa râm, bà Chương luôn trông có vẻ vương giả và tự chủ trong những tấm hình mà tôi đã xem. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy một tấm hình nào lột tả khía cạnh hoang dại trong tính cách của bà – mà theo mật vụ Pháp, “nổi tiếng khắp Đông Dương”. Bà cũng nổi tiếng không kém với “tham vọng lì lợm cũng như tính cách coucheries utilitaires – lang chạ với những người có uy thế thuộc bất kỳ quốc tịch nào”.
Những báo cáo tiếng Pháp đã điểm danh những tình nhân của bà, bao gồm một con người xuất chúng và nguy hiểm nhất. Một thời gian sau khi đến, vào năm 1939, nhà ngoại giao Nhật Bản Yokoyama Masayuki đã phản bội người vợ Pháp của ông vì bà Chương; đổi lại, bà đã được miêu tả là còn hơn cả nhân tình của ông. 9 Bà Chương đã trở thành “cánh tay mặt” của lãnh sự Nhật ở Hà Nội. Đối với người Pháp, việc một phụ nữ thông minh và tham vọng như bà Chương lựa chọn người Nhật thay vì người Pháp là một dấu hiệu đáng ngại. Bà đang làm những gì có thể để giúp giữ vững vị thế tốt đẹp của gia đình trên cồn cát chính trị biến động không ngừng.
Đủ thứ luận điệu đã được truyền đến Paris trên những tờ giấy vỏ hành phai màu và được lưu trữ như những mẩu chuyện tầm phào của các nhà ngoại giao cho hậu thế. Theo một lời đồn thổi đã trở thành câu chuyện phiếm bên ly cà phê của nhiều người nhiều năm về sau, trong số nhiều nhân tình của bà Chương ở Hà Nội có một người đàn ông tên Ngô Đình Nhu. 10
Ông Nhu đang tiến gần đến tuổi ba mươi khi được giới thiệu với cô Lệ Xuân mười lăm tuổi vào năm 1940. Là một người đàn ông độc thân với gia thế tốt đẹp ở Huế, dáng vẻ điển trai của ông càng tăng thêm cùng với tuổi tác và trải nghiệm. Họ đã gặp nhau trong khu vườn nhà ông Chương ở Hà Nội. Ông Nhu vừa trở về Việt Nam sau gần một thập niên học hành ở Pháp. Tấm bằng đầu tiên ông có được là về văn chương. Sau đó, trong khi đang theo học ngành quản thủ thư viện, ông đã lấy một bằng cấp về cổ tự học, từ trường Pháp điển quốc gia danh giá ở Paris. Ông Nhu đang bắt đầu một vị trí tại cơ quan văn khố Hà Nội khi ông gặp Lệ Xuân. 11 Tất cả những điều đó có vẻ mang tính sách vở và nhỏ nhặt với một người giàu kinh nghiệm, nhưng với Lệ Xuân, bấy giờ vẫn đang học trung học và chưa bao giờ ra khỏi đất nước, trải nghiệm ở hải ngoại của ông Nhu mang lại cho ông một nét hấp dẫn kỳ lạ. Một cuộc hôn nhân sẽ giải phóng cô khỏi những nỗi bẽ mặt hàng ngày mà gia đình cô gây ra. Có vẻ như với Lệ Xuân một người đàn ông ham mê sách vở hơn chính trị sẽ là nỗi khuây khỏa sau những trò chơi hai mặt và phản bội mà bà đã chứng kiến trong cuộc hôn nhân của chính cha mẹ mình. Việc ông Nhu mỉm cười nhiều hơn nói chuyện có vẻ là một biểu hiện tốt nữa. Kết hôn là bước tiếp theo với một cô gái có giáo dục, và Lệ Xuân không nghĩ cô hơn ông Nhu về điểm này.
Ngặt nỗi ông Nhu thuộc về một gia đình Công giáo kiên trung. Trong tầng lớp tinh anh Việt Nam thì người Công giáo chiếm thiểu số và có phần kỳ lạ. Tuy vậy, điều đó khá tốt với kỳ vọng của một người con gái thứ như cô.
Ông Nhu là con trai thứ tư trong gia đình. Cha ông, Ngô Đình Khả, đã từng nắm giữ vị trí quan trọng trong triều đình Huế, nhưng vào thời điểm ông Nhu chào đời năm 1910, người Pháp đã phế truất vị hoàng đế mà ông phụng sự. Vì lòng trung thành với chủ, ông đã từ chức và đưa gia quyến về quê nuôi trâu và trồng lúa, một bước lùi đáng chú ý, nếu không nói là đáng khâm phục. Thái độ phản kháng sự can thiệp của Pháp vào chính sự Việt Nam đã củng cố một ý thức danh dự và trách nhiệm dân tộc của gia đình – những phẩm cách đã được truyền thừa cho cả sáu người con trai của ông.
Mỗi sáu giờ sáng, chín người con của ông Khả tập hợp lại. Sau đó, đến trường. Ông cũng bảo ban họ siêng năng làm việc đồng áng, lấm lem bùn đất cùng những nông dân địa phương. Mặc dù bản thân ông Khả mặc áo choàng lụa truyền thống của một người có học và để móng tay dài năm phân như một biểu hiện của vị thế quan lại, ông không ngừng quở trách các con trai rằng “một người đàn ông phải thấu hiểu đời sống của nhà nông”.
Ông Khả đích thân giám sát việc học hành của các con trai, ở trường và ở nhà. Ở trường, ông yêu cầu họ theo chương trình Âu châu. Ở nhà, ông dạy họ tiếng phổ thông kinh điển (chữ Nho). Ngoài sự chú trọng về học thuật, nhà ông Khả là nơi học tập về quan điểm chính trị chống Pháp theo dân tộc chủ nghĩa.
Vào thời điểm ông Nhu và Lệ Xuân gặp nhau lần đầu tiên, những người anh trong gia đình họ Ngô đã xác lập những sự nghiệp lỗi lạc. Người anh cả bấy giờ đang làm thống đốc tỉnh. Người anh thứ hai đang trên bước đường trở thành một trong những vị giám mục Công giáo đầu tiên ở Việt Nam. Người anh thứ ba, thành viên trực tiếp góp bàn tay vào việc nhào nặn tương lai dân tộc, là Tổng thống tương lai của miền Nam Việt Nam, ông Ngô Đình Diệm.
Trong những cuộc phỏng vấn về sau với các ký giả Tây phương, bà Nhu thẳng thắn thừa nhận rằng cuộc hôn nhân của bà với ông Nhu là vấn đề thực tế, không phải chuyện yêu đương lãng mạn. “Tôi chưa từng có một tình yêu ngọt ngào”. Bà thú nhận với Charlie Mohr của tạp chí Time. “Tôi đã đọc những thứ đó trong sách vở, nhưng tôi không tin chúng thật sự tồn tại. Hay có lẽ chỉ với một số rất ít người mà thôi”. 12
Nhưng cô gái trẻ Lệ Xuân là một diễn viên có tài, và cô biết nhận ra một vai diễn phù hợp.
Năm 1940, ngay trước khi gặp ông Nhu, những nữ sinh trường múa ba lê Madame Parmentier đang chuẩn bị diễn vở Bạch Tuyết. Những nữ sinh người Pháp và Việt khác từ chối đóng vai mụ phù thủy gớm ghiếc, nhưng Lệ Xuân đã nhìn thấy tiềm năng trong vai diễn này. Cô hẳn không bao giờ được cho đóng Bạch Tuyết; vai đó sẽ vào tay một cô gái Pháp da trắng. Song cô vẫn có thể tỏa sáng trên sân khấu bằng một vai diễn độc ác xuất sắc.
Lệ Xuân đã nhìn thấy ông Nhu như một cơ hội. Bất luận vì tình yêu, tham vọng, hay là lợi dụng lẫn nhau, Lệ Xuân và ông Nhu đã đính ước không lâu sau buổi gặp gỡ trong vườn. Họ đã đính hôn trong ba năm, một truyền thống của người Việt, mặc dù việc đó không phải theo ý của cha mẹ Lệ Xuân. Nhưng trong quãng thời gian ấy, từ 1940 đến 1943, cái thế giới mà Lệ Xuân hằng biết đã hoàn toàn thay đổi.
Thế chiến thứ hai đã nổ ra ở Âu châu. Sự bại trận của nước Pháp đã gần như cắt phăng Đông Dương khỏi mẫu quốc. Chính quyền Vichy ở Pháp cho phép Nhật Bản chuyển quân đến miền Nam Trung Quốc thông qua Bắc Việt, xây dựng những sân bay, trưng thu lương thực, và đóng 6.000 quân ở Bắc Kỳ.
Những nhà ngoại giao Nhật, người thông ngôn, những chuyên viên tình báo, và doanh nhân người Nhật đã chiếm giữ những vị trí danh dự trong những cuộc họp xa lông chiều thứ Ba tại nhà ông Chương, và những tay thực dân Pháp ở Đông Dương rất lấy làm khó chịu về điều này. Họ đơn giản là không thể, hoặc không chịu tin rằng sự đầu hàng của họ ở Âu châu đã làm phương hại đến quyền cai trị của họ ở Đông Dương. Vì vậy trong một thời gian, người Pháp gắng sức níu kéo cuộc sống thường ngày của mình, giữ lại những người hầu, ăn mặc trang trọng trong bữa tiệc tối, và tụ tập tại các quán cà phê để tán gẫu về những chuyến du ngoạn cuối tuần về miền biển hoặc người thắng tại các cuộc đua ngựa. Người Pháp có thể đã trao chứng từ tài sản thuộc địa của họ ở Đông Dương cho người Nhật, nhưng trong năm năm tiếp theo, họ sẽ tìm mọi cách để giữ thể diện cho mình. Lá cờ Pháp vẫn tiếp tục phất phới. Những tiệm bánh, bị cắt mất 20.000 tấn lúa mì nhập khẩu hàng năm, vẫn gắng gượng dựng lên một ảo tưởng cuối cùng, đã nhồi bánh mì từ bắp và gạo. Đông Dương là khu vực Đông Nam Á duy nhất dưới sự kiểm soát của Nhật Bản cho phép những người thực dân da trắng lưu lại.
Năm 1942, phiếu lương thực đã được cấp cho những người Ấu châu để cung cấp gạo, muối, đường, dầu ăn, xà phòng, diêm, thuốc lá “tốt”, và nhiên liệu cho họ. Người Pháp vẫn được thiên vị với những thứ như thịt và sữa đặc, họ được ưu tiên cung cấp trước nhất. Tất cả những điều này được biện hộ trong tư duy thời thực dân bởi quan niệm rằng người An Nam đã quen với chế độ ăn uống đơn điệu, trong khi người Âu châu sẽ ngã bệnh với khẩu phần ăn kém đa dạng.
Mặc dù gia đình ông Chương thật ra không phải chịu khổ, họ đã bị tước đi những thứ hàng hóa xa xỉ mà họ đã quen dùng. Nhưng nhà ông Chương là bậc thầy về những thủ đoạn chính trị và họ xoay xở khá tốt – ít ra trong một thời gian. Sự thâm nhập của người Nhật vào chế độ trên danh nghĩa của Pháp đã tạo nên một tình trạng chính trị khá rối ren. Ai là kẻ đang nắm quyền, người phương Tây hay người châu Á? Ai sẽ cảm thông hơn với những nguyện vọng dân tộc chủ nghĩa của người Việt? Gia đình ông Chương cố gắng vun đắp những tình bạn quan trọng với cả hai phía, nhưng rốt cuộc họ đã chọn chia sẻ số phận với người Nhật dưới ngọn cờ “Tình huynh đệ da vàng”. Người Nhật khuyến khích người Việt Nam tự coi mình như một phần của Khối thịnh vượng chung Á châu – được lãnh đạo bởi Nhật Bản, tất nhiên. Ít ra người Nhật không quả quyết sự ưu việt dựa trên màu da của họ.
Mẹ của Lệ Xuân đã đăng ký những khóa học tiếng Nhật, và tình yêu của bà với Yokoyama, phái viên của hoàng đế xứ mặt trời mọc ở Hà Nội, đã sớm được tưởng thưởng. Năm 1945, tình nhân Yokoyama của bà được bổ nhiệm làm công sứ An Nam, và Trần Văn Chương, chồng bà, được để bạt vào nội các chính phủ bù nhìn của Nhật Bản.
Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu kết hôn trong tuần đầu tiên của tháng Năm, 1943 tại thánh đường Saint Joseph ở Hà Nội, hay như cách gọi của dân Hà Nội, Nhà Thờ Lớn. Đó là lần thứ hai Lệ Xuân đặt chân vào giáo đường mang phong cách tân gô-tích cao chót vót này. Lần đầu là vào ngày trước đó để làm lễ cải đạo sang Công giáo. Cô mang tất tay dài và một chiếc khăn choàng đăng ten quấn quanh mái tóc đen và chảy dài xuống đôi vai. Lời tuyên xưng đức tin, mà Lệ Xuân đọc to, khẳng định niềm tin mới của cô vào Thiên Chúa, Chúa Giê-su, Chúa thánh thần, và giáo hội cùng tất cả những phép bí tích của nó. Vị linh mục vừa đọc nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần vừa rưới nước thánh lên trán Lệ Xuân ba lần, sau đây mọi tội lỗi của cô đã được rửa sạch. Tiếp đó Lệ Xuân được đặt tên thánh. Người ta chọn tên Lucy, theo tên thánh Lucia, thánh bản mệnh của người mù. Là một người Cơ đốc giữa những kẻ ngoại giáo, Lucy đã chọn giữ mình đồng trinh và tự chọc mù mắt thay vì lấy một kẻ ngoại giáo. Nét đẹp nhất của Lệ Xuân, đôi mắt long lanh của cô, mở to trong suốt buổi lễ, một thái độ thận trọng mới mẻ đối với những cảm giác mà cô phải dè chừng hầu hết thời gian – tính ưa dâm dục, sự tự mãn và kiêu căng.
Một thời gian trước lễ cưới và sau những cánh cửa đóng kín, gia đình chú rể đã trả một món tiền thách cưới, của hồi môn, cho gia đình Lệ Xuân. Theo truyền thống, số tiền này là để bù đắp cho sự mất mát của gia đình sau khi cô dâu xuất giá. Việc nhà Chương là một gia đình giàu có ở thành thị không làm thay đổi phong tục này. Nhà họ Ngô có thể trả hoàn toàn bằng tiền hoặc bằng những vật dụng thiết thực: quần áo, đồ trang sức, thịt, và trà. Số tiền hồi môn dành cho Lệ Xuân được quyết định bởi vị thế gia đình cô, và nhờ sự thay đổi lòng trung thành của mình, vị thế của gia đình ông Chương quả thực vẫn rất tốt đẹp giữa một Hà Nội bị Nhật Bản chiếm đóng.
Khu vườn nhà ông Chương biến thành một ốc đảo vương giả dành cho buổi tiếp khách sau lễ cưới. Không khí buổi đầu tháng Năm thơm ngát với những bông hoa huệ tây nở rộ và hoa đại nồng nàn. Những phụ nữ diện quần áo lụa và mỹ phẩm được cấp hạn chế. Một số người có thể lôi từ trong kho những bộ trang phục được giữ gìn kỹ lưỡng từ thời của những bữa tiệc thảnh thơi, trước khi cơn lốc chiến tranh ập đến. Số khác ăn vận rõ ràng là hàng lậu thuế: những phụ nữ biết chọn đàn ông khôn khéo chưng diện những mốt mới nhất.
Tình cảnh thiếu thốn của thời chiến tuy vậy vẫn không cắt đứt nguồn cung cấp rượu sâm banh Pháp của gia đình ông Chương. Nó chảy tràn vào những chiếc ly có chân kêu lanh canh của những thực khách, đó là, như bà Nhu bâng khuâng nhớ lại, “tất cả Hà Nội” – tức là tất cả những nhân vật quan trọng ở Hà Nội vậy.
Tất cả mọi cặp mắt đều hướng về cô dâu mười tám tuổi khi cô bước vào khu vườn. Trong bức ảnh cưới trang trọng của Lệ Xuân, chụp vào ngày cưới của cô, nét mặt cô bình tĩnh và nghiêm trang. Hai bàn tay cô đan lại phía trước nhưng bị che khuất khỏi ống kính camera bởi những ống tay áo rộng của chiếc áo cưới truyền thống. Phần rộng của chiếc áo lụa đỏ được thêu những ký tự tiếng Hoa về hạnh phúc lứa đôi và lấm chấm những bông hoa nhiều họa tiết thanh tú. Những dải băng vàng vương giả vòng quanh cổ và hai ống tay áo, một phong cách phù hợp với con gái của một công chúa hoàng tộc. Một trái tim lớn bằng ngọc bích rạng rỡ trên chiếc vòng cổ của cô; đôi khuyên tai hoa hồng bằng kim cương trang nhã tuyệt vời. Chiếc khăn đóng màu đen xếp nếp trên trán. Mái tóc chẻ ngôi giữa và quấn thành lọn quanh đầu. Mắt long lanh viển phấn và đôi mày kẻ thật kỹ. Đôi môi lấm vết son, và má đánh phấn hồng. Cô trông như một búp bê sứ sẽ rạn vỡ ngay khi đánh bạo nở nụ cười, nhưng một mối thông gia bền vững như thế này là một vấn đề hệ trọng. Lệ Xuân đã sắm vai trò của mình một cách không thể chê trách. Từ đây trở đi, cô sẽ là bà Nhu.
Trần Tử Bình, The Red Earth: A Vietnamese Memoỉr of Life on a Coỉonial Rubber Plantation – Đất Đỏ: Hồi ký của một người Việt về cuộc sống trên đồn điền cao su thực dân (Athens: Ohio University Press, 1985), 30.
Cooper, Prance in Indochina, 150. Có một sự phân biệt giữa vị trí cao của người Đông Dương so với người Phi da đen trên thang thứ bậc chủng tộc. Song giữa các lãnh thổ thực dân cũng có một sự xóa nhòa cách biệt. Các chuyên gia y tế nghiên cứu về những tác động của sự hòa nhập chủng tộc đã rút ra những so sánh giữa dân Đông Dương và dân Phi châu, ngụ ý một sự thiếu màu sắc riêng giữa những cư dân không da trắng. “Đế quốc Pháp đã xóa nhòa mọi cư dân bản địa trong một vũng lầy không thể phân biệt của bệnh tật và dơ bẩn” (Cooper, France in Indochina, 152).
Edward Miller, Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam – Cuộc hôn nhân không tương xứng: Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ, và Số phận của Nam Việt Nam (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2013), 42.
Ngày hôm sau, tôi bị tháo dạ trầm trọng do uống nước chứa trong phuy sắt. Tất cả nguồn nước của Iwo Jima đều là nước mưa hứng rồi trữ trong đủ loại phuy, đôi khi không vệ sinh lắm. Tình trạng tinh thần của tôi cũng không khá hơn thể chất. Mất bốn mươi phi cơ vừa phi công chỉ trong một phi vụ khiến tôi choáng váng. Cuộc chiến đã xoay đủ một vòng.
Cơn bịnh tháo dạ tàn phá năng lực và đè bẹp gí tôi trên giường suốt một tuần lễ. Sức khoẻ của tôi phục hồi chậm chạp.
Buổi chiều ngày 2 tháng 7-1944, khắp doanh trại như bị giựt điện. Các liên lạc viên chạy thốc tháo từ Phòng Truyền tin đến Bộ Chỉ Huy. Tôi chận một người để hỏi và được biết các hiệu thính viên của chúng tôi vừa chặn bắt được một số công điện chuyển đi tới tấp của đối phương. Mặc dù đa số đều mã hoá, không thể nào đoán giải nổi, nhưng chúng tôi cũng biết những công điện ấy chuyển đi từ các đơn vị địch không xa hòn đảo mấy.
Một cuộc tấn công sắp xảy ra. Ðiều này rõ rệt, và sẽ xảy ra rất sớm. Tất cả phi công trình diện Bộ Chỉ Huy để nhận lịnh. Tôi không được phép bay. Vị chỉ huy trưởng cảm thấy tôi còn yếu sức, khó thể nắm vững cần lái chiến đấu cơ của mình.
Sáng hôm sau, tất cả phi công ra sân bay vào lúc bốn giờ. Nhiều trinh sát cơ cất cánh tức khắc để dò tìm tung tích địch trên đại dương. Không có việc gì xảy ra trong suốt giờ kế đó. Tôi trở về phòng để ngủ thêm. Vào lúc sáu giờ, tiếng tù và nổi lên, phá tan sự yên tĩnh của hòn đảo, báo động một cuộc tấn công của địch sắp xảy ra. Binh sĩ chạy thục mạng ngang qua sân bay đến các ụ súng, và bốn mươi chiến đấu cơ lướt ra các phi đạo để cất cánh nghinh chiến. Tôi bước ra sân bên ngoài doanh trại để coi diễn tiến.
Xa về phía Nam, có ít nhất 50 phi cơ xuất hiện, hướng thẳng về phía chúng tôi. Hellcat! Bốn mươi chiến đấu cơ Nhựt đang bay quần trên đầu, đã đổi hướng để mặt đâu mặt với các chiến đấu cơ địch. Tôi chỉ nhìn trận không chiến dữ dội được một vài phút, tai tôi bỗng ù đi vì một âm thanh khác… những chiếc phi cơ đang chúi xuống. Tôi quay đầu và nhìn thấy một phi đội phóng pháo cơ Avenger, chia làm bốn loạt, lao xuống phi đạo chánh. Cuộc tấn công của phi đội này đúng vào lúc bốn mươi chiến đấu cơ của chúng tôi đã bị nhóm Hellcat lôi vào trận đánh, nhường căn cứ hoàn toàn trống phòng vệ.
Khi tôi quay đầu chạy vô doanh trại, bom rớt nổ làm rung chuyển mặt đất dưới chân tôi. Tôi ngã chúi xuống, vùi mặt vô tro than của núi lửa. Tôi cố gắng trườn đi nhằm tránh xa những mảnh bom rít vang trong không khí. Tiếng nổ liên tục cả mấy phút. Các phóng pháo cơ lướt về phía Nam.
Tôi đứng dậy, nhìn những cột khói và bụi bốc trên sân bay. Một cuộc oanh tạc khác. Một phi đội Avenger thứ nhì lướt xuyên qua các cột khói dày đặc, chúi thẳng xuống sân bay. Các phóng pháo cơ hầu như ở ngay trên đầu tôi. Tôi quay mình và chạy bán sống bán chết, phi thân vô phía sau một hồ chứa nước mưa vĩ đại, nằm đằng sau doanh trại. Cùng lúc đó, tôi nhìn thấy những trái bom rớt ra từ bụng máy bay Mỹ. Tôi nhìn trừng trừng như bị thôi miên… Những trái bom lớn dần, to dần rồi phồng lên như chớp, thành những chiếc lu với cánh quạt ở đuôi xoay tít. Chúng chúi xuống mặt đất. Làm tôi bị hất nhào và miệng đầy bụi.
Những tiếng nổ vang dội đập vô đôi tai tôi như có cả một chuỗi pháo đại nổ sát mang tai. Tôi mở mắt, chỉ thấy đất cát và khói bốc cao khỏi mặt đất. Tôi không bị một thương tích nào, ngoại trừ mấy chỗ xây xát lúc ngã chúi xuống. Thính giác tôi phục hồi dần dần. Tôi nghe mùi lưu huỳnh, hơi xăng và cả tiếng răng rắc của dãy doanh trại đang sụp đổ, tôi thét lên “Chạy.. chạy..” vừa vội vã thoát thân khi hồ chứa nước nghiêng qua một bên.
Trận không chiến vẫn tiếp tục. Tôi lắng nghe tiếng động cơ máy bay, tiếng đại bác, tiếng đại liên vang rền. Tôi chạy đến Bộ Chỉ Huy, nhưng khựng lại và vọt vô một hầm trú ẩn khi nhìn thấy đợt oanh tạc thứ ba đang lao tới. Lần này đối phương nhắm hơi yếu. Bom rớt hết phía bên kia phi đạo. Tôi chạy đến Bộ Chỉ Huy, một căn lều vải, vẫn còn nguyên vẹn. Gặp Trung tá Nakajima, tôi nói với ông rằng tôi muốn bay. “Tất cả phi cơ khả dụng đều rời khỏi mặt đất hết rồi, Sakai”, ông đáp rầu rĩ.
Tôi chỉ một chiếc Zéro đang đậu ở cuối phi đạo. “Còn chiếc này?”, “Máy nó rệu rồi!”. Vị chỉ huy nói. “Nhưng bây giờ có lẽ sử dụng được. Bọn thợ máy đã sửa chữa mấy giờ trước đây.” Ông nhìn lên. “Ðược, bay đi!” Tôi vội vã chào và chạy ra khỏi lều vải. “Sakai!” Nakajima gọi với, tôi quay lại. “Hãy thận trọng, Sakai. Bây giờ không phải như ở Lae… hãy thận trọng! Tôi không muốn mất anh!..”
Nhưng, khi tôi cất cánh, trận chiến đã kết thúc. Những chiếc Hellcat buông nhóm Zéro để hộ tống các phi đội oanh tạc Avenger trở về. Tôi không thể làm gì hơn là quay về phi trường Iwo với những chiếc Zéro còn lại. Tổng số chiến đấu cơ Nhựt cất cánh nghinh chiến với chiến đấu cơ Hoa Kỳ đã bị bắn rơi một nửa. Hai mươi chiếc. Chỉ qua hai trận đánh, đối phương đã hạ tất cả 60 chiếc trong tổng số 80 chiếc Zéro của chúng tôi. Một con số không thể tin nổi.
Hải quân Mỹ chưa chán chúng tôi. Một lần nữa, vài ngày sau tất cả chiến đấu cơ còn lại trên đảo cất cánh. Kết quả tồi tệ hơn dự tính. Chỉ còn 9 chiếc Zéro trở về đáp xuống Iwo.
Lần này cuộc tấn công của đối phương cũng lặp lại y hệt lần trước. Các cơ sở tan nát, phi đạo đầy dấu bom. Chỉ còn lại 8 phóng pháo cơ phóng thủy lôi Jill được hầm trú ẩn bao che. Hầu hết các oanh tạc cơ hai máy Betty và chiến đấu cơ Zéro đang được sửa chữa hoặc giấu trong những hầm khác đều bị phá hủy.
Sau khi đáp xuống, chúng tôi bước nặng nhọc đến Bộ Chỉ Huy. Không ai còn nghị lực và tinh thần để bàn tán. Chúng tôi lê thân trên mặt đất, mệt mỏi và tuyệt vọng, đưa mắt nhìn binh sĩ chạy tới chạy lui trên phi đạo cố gắng lấp những hố bom, dập tắt lửa đang còn hoành hành trên mấy gian trại gần đó. Mấy phút sau, Trung tá Nakajima chậm rãi bước vô Bộ Chỉ Huy. Chúng tôi đứng nghiêm. Nakajima khoát tay, biểu chúng tôi ngồi xuống. Ông có vẻ kích động, tuy giọng nói nhỏ và do dự. Ông nói với chúng tôi rằng các sĩ quan tham mưu đã thảo luận suốt đêm, và tất cả đều đồng ý với phương cách chống lại kẻ thù mà chúng tôi sẽ phải thực hiện trong tương lai.
Một nhóm sĩ quan nhấn mạnh rằng nếu chúng tôi cứ tiếp tục ngăn chặn các cuộc tấn công của đối phương, một vài ngày nữa chúng tôi sẽ không còn một chiếc máy bay nào. Do đó, chỉ còn một hành động duy nhứt mà chúng tôi phải làm là dốc toàn lực đánh trả đối phương. Một trong những trinh sát cơ của chúng tôi đã phát hiện ra một lực lượng đặc nhiệm Mỹ cách phía Ðông Nam của Iwo Jima 450 dặm, và chúng tôi có thể tấn công Task Force này.
Nhóm sĩ quan tham mưu thứ nhì đồng ý kế hoạch tấn công trên nguyên tắc. “Nhưng”, họ lý luận, “chỉ với 9 chiến đấu cơ và 8 phóng pháo cơ Jill một máy, chúng ta có thể nào chống lại lực lượng đặc nhiệm của đối phương hay không? Các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ có thể tung hàng nhiều trăm phi cơ nghinh chiến cùng một lúc!” Nên biết lực lượng mà chúng tôi tấn công là lực lượng đã quét sạch tất cả các phi cơ thuộc các hàng không mẫu hạm Nhựt ở quần đảo Mariana vào ngày 20 tháng Sáu. Cũng chính Task Force này chiếm lại Guam.
Cuộc thảo luận, Nakajima nói, cuối cùng đã đưa ra kết luận khi chỉ huy căn cứ Iwo, Ðại tá Kanzo Miura, chấp nhận kế hoạch đánh trả hạm đội Hoa Kỳ. Miura định ngày phát xuất của chúng tôi là trưa ngày 4 tháng Bảy, đúng ngày lễ kỷ niệm Ðộc Lập của Hoa Kỳ.
Chúng tôi không bao giờ thực hiện được kế hoạch dự trù. Các phi công Hoa Kỳ đã hung hăng trở lại Iwo vào sáng ngày 4 và xé nát các cơ sở của hòn đảo thành manh mún. Chúng tôi không sao cất cánh nổi. Các phi đạo đều tê liệt. Sau cuộc không kích chúng tôi ngồi quanh Bộ Chỉ Huy, trong khi các sĩ quan tham mưu thảo luận bên trong. Ðại tá Miura (sau này chúng tôi biết được vẫn không thay đổi kế hoạch), “Chúng ta đang kiệt quệ dần,” ông nói với Bộ tham mưu của ông, “sự kết thúc đã nhìn thấy rõ rệt nếu chúng ta cứ tiếp tục nằm trong thế thủ. Chúng ta sẽ làm gì? Ngồi đây để nhìn chiếc phi cơ cuối cùng bị bắn rơi trong khi hạm đội của đối phương vẫn còn nguyên vẹn? Không! Chúng ta sẽ tấn công, ngay hôm nay! Ngay khi các phi đạo được sửa chữa, tôi muốn tất cả các phi cơ rời khỏi mặt đất.”
Trung tá Nakajima đã kể lại chi tiết của buổi họp cho chúng tôi nghe. Ông kết luận: “Tôi ý thức nhiệm vụ mà chúng ta sắp thực hiện. Không có cách nào khác hơn: các bạn sẽ bay để chết. Nhưng,” tới đây ông do dự, “quyết định đã được đưa ra. Các bạn sẽ phải đi.”
Ông nhìn đôi mắt của mỗi người. “Và có lẽ may mắn vẫn theo một bên các bạn.”
Vị trung tá rút ra một tờ giấy trong túi áo và đọc tên những phi công được chọn để thực hiện phi vụ này, một phi vụ không có lượt về.
Không hề có một sự phấn kích nào ở nhóm phi công. Mỗi người nghe đọc tên đã đứng dậy và đưa tay chào. Tên tôi đứng hàng thứ chín trong sanh sách. Tôi sẽ cầm đầu nhóm phi cơ thứ nhứt, gồm 9 chiến đấu cơ Zéro. Muto, phi công ưu tú của không đoàn, cầm đầu nhóm thứ hai. Nakajima chỉ định một vị đại úy cầm đầu cả phi đội.
Nakajima bước đến tôi, hiển nhiên là không mấy vui vẻ. Ông đặt tay lên vai tôi. “Tôi rất buồn phải để anh đi hôm nay, người bạn thân lâu năm của tôi.” Ông ấp úng nói. “Nhưng, tôi không thể nào làm khác hơn, Sakai … Tôi… …chúc anh gặp may mắn.” Tôi lặng thinh. Tôi đưa tay ra. Chúng tôi siết lấy tay nhau trong lặng yên, còn lời nào để nói nữa? Chính Nakajima đã đem tôi từ Bali đến Lae. Mang tôi từ Lae đến Rabaul. Chính ông đã dùng tay cào đất khi tôi bị bom chôn sống ở Lae. Chính ông đã hân hoan la lớn, cùng với Ðại úy Sasai hét vang tên tôi khi tôi quay về Rabaul dù thui chột một mắt. Tự tay ông viết thư cho bịnh viện nhãn khoa gửi gắm tôi cho bác sĩ giỏi nhất. Cũng chính ông tranh đấu cho tôi thăng cấp từ trung sĩ lên thượng sĩ rồi chuẩn úy. Ông đã làm tất cả. Giờ ông buột phải ra lệnh cho tôi lao vào một phi vụ không khứ hồi. Cảm ơn hay từ chối? Trong Hải quân Hoàng gia Nhựt không có từ chối nhiệm vụ. Bất khả. Cả hai chúng tôi cùng biết. Trung tá Nakajima chỉ định tôi cầm đầu toán thứ nhứt, vì ông còn hy vọng tôi mở được đường máu cho các phóng pháo cơ Jill lao vào tàu chiến Mỹ. Tuy ông biết rất ít khả năng quay về. Trung tá siết lấy vai tôi, lắc lắc, như ông muốn thêm gì nữa, nhưng rồi ông quay lưng và bước đi.
Chúng tôi giải tán, không ai nói tiếng nào. Các phi công được chọn thực hiện nhiệm vụ bỏ lại hết các vật dụng tùy thân. Tôi nhìn một vài thứ mà tôi mang theo đến Iwo. Bày chúng lên giường. Những vật dụng để lại này sẽ được gởi về cho gia đình, má tôi sẽ phản ứng ra sao khi người ta trao cho bà những thứ này và kể cho bà nghe câu chuyện đã xảy ra? Tôi không muốn nghĩ tới, thắt quanh lưng khăn lụa mà Hatsuyo và Fujiko đã đứng xin trong trời buốt giá một ngàn mũi kim thêu của một ngàn phụ nữ Nhựt băng qua đường, để làm chứng lòng thành cho tôi tránh được tên đạn. Tôi cầm lấy những lá thơ sau cùng của Hatsuyo. Nàng đã nhận bưu thiếp tôi gửi trước khi rời Yokosuka. Hatsuyo biết tôi đồn trú ở Iwo, nàng viết thơ cho tôi mỗi ngày. Với tất cả chăm sóc của một em gái. Tôi nhận thơ khi có chuyến tiếp tế, có khi nhiều lá thơ đến cùng lúc. Tôi cảm giác Hatsuyo sống bên cạnh mình, nàng ở đây trên đảo Iwo. Tôi sờ các lá thơ, như nắm các ngón tay nhỏ của Hatsuyo để nói lời vĩnh biệt. Rồi tôi bó hết những lá thơ và buộc chung với túi vật dụng cá nhân sẽ được trao cho má tôi. Tôi viết cho má tôi vài chữ, nói con sẽ phù hộ cho má và dặn má tôi trao các lá thơ lại cho Hatsuyo rồi tôi không biết viết gì nữa… Tôi muốn viết cho Hatsuyo là tôi đã quyết định đúng, vào đêm trước khi đánh đàn, nàng nói: “Saburo, em muốn dạo một khúc nhạc khác, cho anh. Khúc nhạc sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.” Ít nhất tôi không làm Hatsuyo thành một bà góa. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm là đã tránh cho nàng một thảm kịch. Nhưng tôi không viết được, ngón tay run run vì ngần ngại. Tôi đã chẳng cố làm ra vẻ không hiểu nàng muốn bày tỏ tâm sự gì qua khúc nhạc đó hay sao? Và hãy để nàng thanh thản không có nhiều quá khứ khi kết hôn với một tấm chồng xứng đáng. Tôi quẳng bút rồi tất bật vận áo phi hành vì thì giờ trôi qua quá mau. Thật mỉa mai, tôi nghĩ, là chỉ mới một đôi ngày trước đây, tôi còn giành giựt mạng sống với 15 chiếc Hellcat. Và giờ thì tôi không giành gì nữa…
Muto bước vô căn lều của tôi và hỏi tôi có ý kiến gì về nhiệm vụ này không? Tôi nhìn hắn hồi lâu. “Muto, tôi… tôi không biết. Ý kiến gì? Có ai hỏi ý kiến của chúng ta đâu! Khi chúng ta bay đến chiến hạm địch vào trưa nay, chiến đấu cơ địch sẽ bu lấy chúng ta. Tất cả những gì mà tôi có thể nói là… chúng ta đã nhận lịnh. Chúng ta sẽ đi. Và thi hành …thế thôi.”
Tôi cảm thấy buồn cho viên phi công trẻ tuổi này. Cá nhân tôi không còn lợi ích mấy cho xứ sở nữa. Những khó khăn mà tôi đã trải qua trong việc né tránh bọn phi công Mỹ thiếu kinh nghiệm, cho tôi sự xác tín rằng đời sống nửa đui nửa sáng của tôi có kéo dài cũng chỉ kéo dài một hai ngày một hai bữa. Nhưng Muto… hắn là sự phối hợp của Nishizawa, Ota và Sasai. Một phi công tài ba sáng chói. Hắn không thuộc thế hệ của chúng tôi. Quẳng hắn vô một nhiệm vụ vô vọng như thế này quả là ngu xuẩn. Hắn có thể làm hơn nữa trong việc bảo vệ xứ sở. Còn hiện thời… hoang phí biết bao.
Dĩ nhiên Muto không biết tôi đang suy nghĩ gì. Hắn cười sau lời nói của tôi. “Ðúng lắm, Sakai. Tôi biết. Nếu Thượng đế vui lòng…” hắn nhún vai. “Nói cách khác, xin Thượng đế hãy để cho chúng ta ít ra là được chết chung với nhau, như những người bạn.”
Muto bước ra, tôi theo hắn ra khỏi lều. Iwo vẫn nồng mùi lưu huỳnh và biển vẫn ngay sát, xanh trong trên cát đen. Những hàng dừa lả ngọn trong tiếng xì xào của gió. Các lao công Ðại Hàn vẫn đang đào đất xây công sự phòng thủ. Các toán lính vẫn đang đánh bắt cá làm thức ăn nhưng chúng tôi đã hoàn toàn thoát ra khỏi Iwo Jima, không còn trong cảnh vật đó nữa. Với những kẻ chỉ còn vài giờ để sinh sống, Iwo Jima đã biến mất.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.