Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 4 Nov 2026

Sydney ngày … tháng … năm …

Ông NXN thân,

Xin lỗi ông vì nhận sách của ông gửi cho đã lâu rồi mà bữa nay mới hồi âm. Lý do chính là sách của ông không dễ đọc. Phải vừa đọc vừa suy ngẫm. Đọc kiểu này như leo núi, vừa mệt vừa mất thì giờ mà tôi cũng đã có tuổi rồi. Tôi thường ít đi ra ngoài, không dám lái xe. Ở Úc này lái xe chạy bên trái, rùng rợn lắm. Ở nhà đọc sách, đọc báo lõm bõm, vớ được cái gì đọc cái nấy. Đọc sách của ông gửi cho, vô hình trung nó đã cho tôi một số dữ kiện khả dĩ cập nhật hóa thời cuộc khi chúng ta sắp bước vào thế kỷ 21, vào một thiên niên kỷ mới. Ông đã có nhiều công đọc, suy nghĩ, đối chiếu rồi mới viết ra. Một người bạn đọc già là tôi xin được cảm ơn sự đóng góp ấy. Điều đáng quý là  không những chỉ có tư tưởng Tây phương mà có cả lời nhắn nhủ của tiền nhân nước mình, của Đông phương nữa.Ông có viết trong cuốn sách là ông rời khỏi VN năm 1979. Như vậy là ông ở với “bác và đảng” chưa tới 5 năm. Tôi thì đi tù 10 niên, về “nín thở qua sông” thêm 6 niên nữa mới ODP sang Úc. Nhưng xét ra nhận định của ông về VN khá là rốt ráo. Điều tôi lo sợ trong những năm đi tù về, đúng như ông dẫn lời tiền nhân Ngô Thời Nhiệm trong “Cần bộc chi ngôn” là giáo dục nói chung, học vấn nói riêng ở VN xuống cấp quá độ. Chế độ này “chuyên chính vô sản” đúng ra nên được gọi như người Cộng sản giác ngộ Nguyễn Khắc Viện là “chuyên chính vô học”. Một anh chưa học xong lớp nhì (Moyen lère année) rồi thoát ly đi du kích, rồi bộ đội, rồi phục viên làm cán bộ đảng, không có học hành gì khác bỗng nhiên được đi Liên Sô vài niên về làm Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế bằng cấp Phó tiến sĩ. (Nếu cần biết chi tiết về ông Phó tiến sĩ chưa học xong tiểu học này ông cứ phone cho ông Hà Thượng Nhân, người làng ông ấy đấy). Người của chế độ khi cần “lãnh đạo” được “phang” bằng cấp học vị vô tội vạ. Còn bác sĩ “cách mạng” đêm đêm phải đi học bổ túc lớp 4 lớp 5 vẫn là chuyện đời thường.

Ông cũng cho hay trong cuốn sách của ông là cách đầu tư quan trọng trong việc chấn hưng kinh tế, phục hưng xứ sở bây giờ là đầu tư về “tài nguyên con người”. Tài nguyên thiên nhiên của mình, đâu có bằng ai mà tài nguyên con người được đầu tư về học vấn như vậy, được nuôi nấng như vậy (trên 50 phần trăm trẻ thiếu ăn, suy dinh dưỡng theo UNICEF) thì cất cánh làm sao nổi. Tôi ở Việt Nam, nhìn thế hệ con cháu mình thèm học quá mà không có tiền; học phí trung học, đại học bây giờ quá đắt hàng triệu đồng cho mỗi niên học. Kiếm được ít tiền thì không biết học đâu cho ra trường, ra lớp. Cái cảnh buôn văn bán chữ ở VN bây giờ thật hết sức nhố nhăng, thầy bà phần lớn kiểu “chuyên tu, tại chức” như ông Phó tiến sĩ nói trên thì đám môn sinh kia học được những gì?

Nhưng sự xuống cấp thảm hại nhất của học vấn quê nhà, thưa ông là người ta bỏ gốc lấy ngọn. Nền học vấn quan trọng nhất trong sự hình thành nhân cách, theo tôi, không phải ở trung học, đại học, mà chính là ở tiểu học. Đào tạo một con người phải đào tạo ngay từ lúc nhỏ, đợi lớn rồi mới dạy thì sao còn kịp nữa. “Dạy con từ thuở còn thơ” ông bà ta đã nói. Người thầy giáo ở tiểu học bên cạnh học trò suốt năm, vừa là thầy, vừa là bạn, cùng học, cùng chơi. Ít có người nào ảnh hưởng trực tiếp đến tâm hồn thơ dại của trẻ em bằng người thầy tiểu học. Đây là “cỗ máy cái” đào tạo ra tâm hồn con người, phần trung học đại học sau này chỉ là đi tiếp hành trình còn lại. Những năm qua, chế độ chuyên chính vô sản đầu tư rất ít cho giáo dục. Thầy giáo “tháo giầy” là nghề đói rách nhất trong các ngành nghề. Thầy giáo tiểu học lại càng bệ rạc. Đào tạo thầy giáo qua quýt, dạy học trò cũng qua quýt cho xong, bởi vì lương đói quá. “Đói nên đầu gối phải bò” thầy cô giáo tiểu học phải kiếm sống thêm, vừa dạy trẻ em, vừa phải bán cà rem, bán chôm chôm, trái cóc, trái ổi cho học trò để thêm chút tiền chi dụng. Tôi xin kể ông nghe một bài ca dao mới nói về bữa ăn của một gia đình nhà giáo chân truyền để ông rõ thêm về đời sống của “cỗ máy cái” trong việc đào tạo tâm hồn và nhân cách Việt Nam. Sông Hồng, sông Mã, vì thời cuộc, vì sinh kế phải “mang  gươm đi mở nước”. Con cháu sau này dù ở hai đầu đất nước, dù xa nhau hàng ngàn dặm, dù ngăn sông cách núinhưng vẫn là anh em một bọc với nhau, cùng một cha Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ mà sinh hóa. Giáo dục, học vấn nó quan trọng, nó cần thiết đến như vậy mà nhìn đến thực trạng buôn văn bán chữ nhăng nhố bây giờ, liệu bao giờ mình cất cánh đây? Bao giờ mình theo kịp anh em hàng xóm láng giềng đây?

Thưa ông, dạo đầu năm tôi có viết một cái “column” nói về bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên. Bài thơ này cũng như tác giả có một sức sống rất dẻo dai. Nghe nói nhà thơ họ Vũ năm nay đã tám mươi ngoài. Còn bài “Ông Đồ” thì từ trến nửa thế kỷ nay, lúc nào chào Xuân đón Tết người ta cũng nhắc đến nó. Tôi nghĩ rằng sức sống của bài thơ này không đơn thuần dựa vào tài năng của tác giả Vũ Đình Liên mà sở dĩ mỗi mùa Xuân mới, người ta lại nhắc đến nó vì từ trong vô thức tập thể, người Việt Nam nào cũng mong nhớ “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ”. Người muôn năm cũ ấy là kẻ sĩ bình dân, người lãnh đạo tinh thần gần gũi của nông dân VN: Ông đồ (anh đồ). Trong xã hội thủ nông nghiệp thời lập quốc, anh đồ là người thủ lĩnh mến yêu không ai thay thế được. “Chẳng tham ruộng cả ao liền. Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ”.

Người ta không yêu cá nhân anh, mà người ta yêu tư tưởng, đạo nghĩa của anh đồ nhờ bút nghiên mà truyền bá cho thiên hạ. Thuở ấy thời văn minh Thái Tây chưa đến đây, anh xứng đáng là người lãnh đạo của nông dân vì anh cũng từ nông dân mà ra. Anh sinh sống trong địa bàn đó. Theo lề lối xuất xử đã thành nề nếp anh “tiến vi quan, đạt vi sư”. Nếu anh thi đỗ đi làm quan, anh là người đại diện chân chính của nông dân. Anh biết rõ từng mùa, từng tháng, từng năm người nông dân cần gì, muốn gì. Anh là cái gạch nối hữu hiệu giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Nếu không thành công, không đỗ đạt gì, anh thành ông đồ dạy trẻ ở quê nhà. Anh là ông thầy gần gũi ở xóm thôn, là người đại diện của nho lâm, là một tấm gương làm sáng cái đức của thánh hiền. “Tại minh minh đức. Tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”. Anh cố gắng trở thành một người quân tử ở quê nhà; anh còn là một cái kho trí thức nhỏ ở thôn quê vì ông đồ thường kiêm luôn nghề thầy thuốc, nghề phong thủy. Có khi dân làng có chuyện gì tranh chấp, trước khi lên chốn công đường, họ đến nhờ ông đồ phân xử đã. Tôi nghĩ rằng trước khi văn minh Thái Tây xâm nhập đất nước này, chúng ta đã sống với nền văn minh “ông đồ” ấy. Trong một xã hội thủ công nông nghiệp, ông đồ nghiễm nhiên là người thủ lĩnh được yêu thương và kính trọng của nhân dân.

Khi người Pháp tới VN đặt nền đô hộ trên đất nước này cái trí thức của ông đồ Nho học không đáp ứng nổi đòi hỏi mới của một nền văn minh công nghiệp vừa theo chân người Pháp tới. Ông đồ Nho trở thành lỗi thời, cổ hủ. Thay thế ông đồ Nho là ông đồ Tây, sau ông đồ Tây đến ông đồ Nhật, rồi ông đồ Mác xít Lê nin nít, ông đồ Hoa Kỳ. Mỗi thời thế có một giai cấp lãnh đạo riêng để thực thi đường lối của mình. Nhưng trong số các giai cấp lãnh đạo ấy, xét cho cùng không ai chu toàn bổn phận lãnh đạo cho bằng giai cấp ông đồ Nho trong xã hội thủ công nông nghiệp ở VN. Ông đồ Tây thì hợm hĩnh, ông đồ Nhật thì bạo ngược,  ông đồ Mác xít Lê nin nít thì vô đạo, ông đồ Mỹ thì tham tàn. Cái vô thức tập thể Việt Nam nung nấu nhớ mong một ông đồ lãnh đạo, một kẻ sĩ dẫn đường như thế là hoàn toàn hợp lý.

Thưa ông, dạo thập niên 60, ở Sài Gòn, lũ chúng tôi, một số các anh “đồ nát” bị động viên vào quân đội, có cơ duyên gặp nhau dưới một mái trường; trong những lúc bàn bạc về thời thế chúng tôi mới nêu ra câu hỏi “Tại sao không phát triển trở lại một nền văn minh ông đồ ở Việt Nam?” Ông đồ kiểu mới không phải là ông đồ búi tó củ hành, cái gì cũng chi, hồ, giã, giả … Khổng Tử viết như ngày xưa. Đây là một ông đồ hiện đại, được trang bị những kiến thức  mới. Đây chưa phải là những nhà thông thái nhưng đó làhàng loạt những trí thức “vườn”, có mặt ở thôn quê làng xã  giống như ông đồ ngày xưa bên cạnh nông dân. Nhữngông đồ kiểu mới phổ biến khắp nơi một quan niệm mới, một đời sống mới. Ông đồ này đâu phải ai xa lạ chính là các ông thầy giáo trường làng. Làng nào muốn khá mà không có trường học. Tất cả các ông thầy giáo đều đứng trong một hàng ngũ, một đảng phái (nếu có thể gọi như vậy), chung lưng đấu cật trong nhiệm vụ vừa giảng dạy vừa nêu gương. Nước mình xưa nay vẫn có khuynh hướng  trọng văn, yêu người có học, kính kẻ sĩ. “Muốn sang thì bắc cầu kiều. Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Có ngườicản bộ nào được nhân dân yêu mến sẵn trong lòng như thế hay không? Điểm đáng nói trong tổ chức mới này là người thầy giáo ngoài chuyện dạy học còn phải đứng trong Hội  đồng làng, xã. Bất cứ quyết định nào của làng, xã đềuphải có ý kiến của ủy viên giáo dục là ông thầy giáo, “ông đồ”. Từ cấp thấp nhất cho đến cấp cao nhất quốc gia, mọi quyết định đều phải có ý kiến của Ủy viên giáo dục này. Trên cương vị quốc gia, Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục (hay một danh xưng nào đó) là bộ quan trọng nhất. Đó là bộ óc của quốc gia, là đòn bẩy cho mọi chương trình dựng xây và phát triển đất nước. Tất cả mọi cấp, chỗ nào cũng có ý  kiến của ông đồ.

Ông đồ không những là người thầy dạy mà còn là ngườichuyển tri thức vào hành động làm đúng cái sứ mạng “sĩ giả bách vi”, làm tròn cái nhiệm vụ “sĩ phu lãnh đạo” của mình. Chủ nghĩa Mác xít Lê nin nít tuyên dương vô sản. Chủ nghĩa của mình (nếu có thể gọi như vậy) tuyên dương hữu sản, tuyên dương những người có tri thức trong đầu. Đảng này không đấu tranh giai cấp, không hạn chế người theo. Ai có học, có ý chí tiến thủ, có nhiệt tâm đóng góp đều vô được hết. Nếu mọi người nô nức vào đảng, nô nức đi học thì thưa ông còn gì đáng mừng hơn nữa. Nếu được như vậy chúng ta có hy vọng thiết lập được những “cỗ máy cái” sẵn sàng ở mọi nơi để đào tạo tâm hồn và lối sống Việt Nam. Và thưa ông cái chủ trương được coi là quan yếu nhất bây giờ “đầu tư về tài nguyên con người” chẳng phải là như thế hay sao? Ôi những người anh em cũ, những ông đồ nát một thời  bây giờ các bạn ở đâu? Chúng ta động viên vào quân đội, muốn đóng góp một cái gì cụ thể, nhưng tiếng nói của chúng ta rơi vào khoảng không. Các bạn tôi, ông Nguyễn Văn Ch., ông Nguyễn Gia Th., ông Hoàng Minh H., ông Nguyễn Danh S., ông Vũ Duy H., ông Phạm H., ông Tạ T., ông Thanh Tâm T … chúng ta là những kẻ mộng mơ phí thì giờ đóng góp vào một nỗi đam mê vô ích …

***

Thưa ông NXN, nhân nói về những ông đồ nát một thời dưới một mái trường tôi nhớ đến những lời cuối trong cuốn sách của ông, ông ca ngợi hết lời Raymond Aron. Đây là người mà toàn thể tụi tôi hết lòng ngưỡng phục. Ông là  triết gia, hay nói cho đúng hơn, là một nhà xã hội học lớn nhất của thời đại chúng ta. Anh em chúng tôi có lúc đã  gián tiếp chịu ơn ông. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dưới thời ông Diệm ông Nhu, chúng tôi được giao một nhiệm vụ rất lớn, trên sức mình rất nhiều: “Phê phán chủ nghĩa Cộng sản”. Lúc bấy giờ chúng tôi có một số tài liệu của Trung Hoa Dân quốc. Nhưng tài liệu này không hoàn toàn thỏa mãn chúng tôi. Anh em bàn cai mãi, tranh luận “cho phở” mà chưa đi đến đâu. Chợt chúng tôi vớ được cuốn sách mới xuất bản “Gauche année O” của Raymond Aron. Phê pình chủ nghĩa CS như thế này là nhất thế giới. Ngày đó thập niên 60, có một cái khó vô cùng khó là khi bức màn sắt, bức màn tre đã buông xuống rồi là thiêm thiếp, là bằn bặt, là Mác xít Lê nin nít muôn năm. Không có noi nào, người nào giở được bức màn ấy lên. Không có một tiền lệ ào để mà học hỏi. Quạt CS kiểu hàng tôm hàng ca thì rẻ tiền, người ta cười cho. Chỉ có Raymond Aron mới cho chúng tôi những dữ kiện đáng tin cậy nhất. Trong khi thế giới, đặc biệt là Tây Âu chìm trong một đống sách vở tả khuynh (vì chỉ tả khuynh mới tiến bộ) một mình Raymond Aron chiếm lĩnh một diễn đàn cô đơn, bảo vệ đến cùng những điều mà ông tin là nhân loại sẽ phải hướng tới. Chủ nghĩa CS, theo R. Aron, muốn tồn tại cần phải làm lại từ đầu, từ số 0. Hình như lúc ấy ở Pháp đã có một cuộc bút chiến dai dẳng giữa Sartre và Aron, 2 người đồng môn, 2 người bạn cùng xuất thân trường lớn Normale Supérieure. Có một chuyện tôi không được rõ lắm chỉ nghe lại khi đi tù về là Sartre và Aron sau mấy chục năm xa cách, chỉ gặp lại nhau trong cuộc họp báo ủng hộ thuyền nhân VN đầu thập niên 80. R. Aron là người đi trước, là người khải thị. Ba mươi năm sau (1990) người ta mới thấy R. Aron là đúng. Khi chủ nghĩa xã hội tan rã thì R. Aron đã mất rồi. Một người bạn gửi cho tôi cuốn sách đáng xem:

“Mémoires de Raymond Aron: 50 Ans de Reflexion Politique” (Hồi ký của R. Aron – 50 năm Suy nghĩ Chính trị). Đọc cuốn hồi ký này tôi không tìm thấy cuốn “Gauche Année 0″ trong thư mục của ông. Mà chuyện đọc tác phẩm này, tôi và bạn hữu nghĩ là không thể nhớ sai được, mặc dù bây giờ không còn tìm lại được cuốn sách nhiều kỷ niệm đó. R. Aron có nói trong cuốn “Mémoires” rằng một số những bài giảng của ông ở Sorbonne được môn sinh hoặc bè bạn tập hợp lại ấn hành. Phải chăng “Gauche Année 0″ đã được phát hành theo lối đó. Lâu quá tôi không nhớ được nhà sách nào đã in cuốn sách này. Tôi xin nhờ ông sẵn những quen biết lâu năm ở Paris, check lại hộ và nếu được xin ông tìm lại cho tôi một cuốn. Nếu ông có tìm được cuốn “L’Opium des Intellectuels” cũng của R. Aron, ông cho nữa lại càng hay. Trong sách của ông, ông nói rằng đến thập niên cuối thế kỷ 20 này, F. Revel phải viết lại “Ni Marx, Ni Jesus”. Như vậy trong nhóm L’Express ngày đó J. J. Servan Sreibert cũng phải viết lại “Le défiaméricain”. Một cuốn sách, dù “ầm ĩ đến đâu (trường hợp “Le défi américain”) nhưng qua được sự đãi lọc thời gian đâu phải dễ. Như vậy càng thấy R. Aron là lớn, rất lớn. Do vậy nên tôi nghĩ rằng ông không nên nóng ruột về của cuốn sách của ông? Thời gian rồi ra sẽ có tiếng nói của nó …

(1995)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply