This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cả thế giới vừa được mục kích một câu chuyện thương tâm xẩy ra vào ngày 13/10/11 tại thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Cộng. Theo hình
ảnh được camera ở góc đường ghi lại, một bé gái đang đi trên một con đường nhỏ trong một khu chợ vào lúc trời sẫm tối, bị một chiếc xe tải nhỏ đâm phải, em bé té xuống đường và bị xe cán qua bánh trước. Chúng ta thấy xe ngừng lại mấy giây, có vẻ ngần ngừ rồi lái xe đi tiếp, cán qua người đứa trẻ lần thứ hai bằng bánh sau mà không dừng lại. Mấy phút sau, một xe tải khác chạy đến, tiếp tục cán lên phần chân của em bé làm máu chảy loang ra thành vũng.
Sau đó có ít nhất 17 người trong khu chợ qua lại bằng xe gắn máy hay đi bộ chứng kiến bé nằm trên vũng máu mà không một ai chạy đến gần hay có phản ứng gì. Nhiều chiếc xe gắn máy chạy qua, tránh chỗ em bé nằm rồi đi thẳng. Một phụ nữ dọn dẹp vệ sinh trong khu chợ là người đầu tiên chạy lại bồng em bé lên và gọi bà mẹ em đến, đưa vào bệnh viện. Vì thương tích quá nặng, bé gái Duyệt Duyệt đã qua đời. Sau khi bị bắt, người tài xế đã giải thích:”Nếu nó chết, tôi chỉ phải trả khoảng 20,000 quan, nhưng nếu nó bị thương tật, tôi sẽ phải bỏ ra hàng trăm ngàn quan”. Trong một hoàn cảnh xã hội như vậy, hành động của người phụ nữ quét rác bồng em bé lên được coi như hành động của một kẻ “khác người”, muốn nổi tiếng, một hành động “quân tử Tàu.”
Cũng với sự tính toán “chết rẻ hơn bị thương“, tám ngày sau cũng tại Trung Cộng, ở Lô Châu, tỉnh Tứ Xuyên, một xe vận tải nặng đã cán phải một em bé trai đang trên đường tới trường. Một nhân chứng kể lại chính ông đã trông thấy chiếc xe lùi một chút rồi lại lao lên, cán lên thân hình đứa bé và tiếp tục chạy thêm khoảng 10m nữa. Sau đó, tài xế nhảy ra khỏi xe tải và câu hỏi đầu tiên y bật ra cửa miệng là: “Tôi sẽ phải trả bao nhiêu đây?” Trong trường hợp trên người tài xế đã suy nghĩ rằng trả tiền bồi thường cho một nạn nhân chết sẽ rẻ hơn chi tiền bệnh viện nếu nạn nhân chỉ bị thương.
Chuyện xẩy ra trên đây không khác gì những chuyện “vô cảm” thường xẩy ra trên đất nước Việt Nam hôm nay. Cái cảnh cán người chưa chết nên phải lùi xe lại để cán qua lần nữa. Cảnh một công an giao thông bị cán qua bụng chết nửa người, phần trên đang ngắc ngoải cố nhấc mình dậy, không ai đến đỡ hay gọi xe cấp cứu nhưng có người bình thản đứng quay phim suốt mấy phút để đưa lên “mạng.” Chuyện nhỏ trong xóm làng như dân làng gậy gộc giết và thiêu sống người trộm chó, chuyện công an đánh, đạp, giết người. Chuyện lớn như công nhân bị bỏ rơi, đi ăn xin ở nước ngoài mà đại diện chính quyền Việt cộng sở tại quay mặt trốn trách nhiệm hay hằng trăm dân oan nằm đường khiếu kiện mà bọn cường quyền vô trách nhiệm làm lơ. Hiện tượng vô cảm của đa số dân chúng Việt Nam trong nước đã được đề cập, mô tả và phê phán trong nhiều bài viết. Chưa kể đến thái độ bàng quan đối với những chuyện thương tâm xảy ra trước mắt mà việc can thiệp không nhất thiết sẽ gây những kết quả tổn hại nào đến cho họ, đối với những vấn đề lớn của đất nước, đại bộ phận dân chúng Việt Nam được mô tả trong các bài viết này còn dửng dưng xem như không liên quan gì đến bản thân mình.
Phân tích tâm lý, chúng ta thấy con người thường sợ bị liên lụy, khi can thiệp vào những chuyện không phải của mình, “ách giữa đàng chớ mang vào cổ”, nhất là khi người ta không tin vào một thứ luật pháp công chính, sợ rắc rối với chính quyền, khi phải khai báo, tường trình hay làm nhân chứng cho một vụ án. Trong một xã hội lừa lọc giả dối người ta còn sợ cả sự đóng kịch để lừa người, dần dần tình cảm con người chai đá không biết xót thương.
Thuở thiếu niên, ngày mới vào Saigon lần đầu tiên, có thể thấy cái mặt “tỉnh lẻ” tôi còn ngơ ngơ ngáo ngáo, một ông tiến lại gần: “Cậu cho xin một đồng mua ổ bánh mì.” Sau khi nhận một đồng khá dễ dàng, ông ta lại dở nón ra:”Cậu cho thêm một đồng mua tờ báo để lót ngủ tối nay!” Tôi ngần ngừ làm người nhân ái, sắp móc túi lần thứ hai thì thằng bạn Saigon đi bên cạnh, kéo mạnh tay tôi: “Đồ ngu! Đi lẹ lên mày!” Gần đây một đứa cháu của tôi về Việt Nam, một chiều mưa, đi chơi với bạn, nhìn thấy hai đứa trẻ rách rưới đang ngồi co ro bên gốc cây tội nghiệp, muốn thăm hỏi, giúp đỡ, nó bảo bạn dừng xe lại, nhưng thằng bạn đã gắt:
“Chúng giả vờ đấy! Đừng bị lừa! Mày hơi bị ngu!” Vậy thì còn biết trải lòng thương xót ai.
Trong xã hội Việt Nam bây giờ không thiếu nhữnglời than thở giả tạo: “mất cắp không tiền về xứ”,“nhànghèo, đông anh em, cha mẹ mất sớm” ... cũng nhiều cảnh những trẻ mồ côi bị bẻ chân tay cho thành tàn tật để đi ăn xin, những ông sư giả đi quyên tiền giữa chợ. Vậy thì còn biết tin ai và lòng trắc ẩn để đâu cho đúng chỗ.
Đối với hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, những chuyện “vô cảm” kiểu trên không phải ngày một ngày hai mà có, nó tích lũy từ ngày “giải phóng” khi văn hóa tốt đẹp của một đất nước bị tàn phá, sách vở bị đốt, thầy giáo bị đi tù, một nền giáo dục “tiên học căm thù,hậu học văn” được phổ biến. Khẩu hiệu “mình sống vìmọi người” được giương cao nhưng thực chất là chúng đạp lên nhau mà sống. Con người trở thành chai đá trước nỗi khổ của đồng loại, vì nỗi khổ của mình cũng không ai thèm để ý đến.
Cái chết, niềm đau, nỗi khổ của đồng loại đôi khi trở thành trò giải trí cho người khác, vì chủ đích tuyên truyền. Ở miền Bắc trước năm 1975, đấu tố địa chủ thì bắc loa buộc cả làng tham dự: “Giết, giết nữa, bàn taykhông phút nghỉ, cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,” hay “Thắp đuốc cho sáng khắp đường/Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay/Lôi cổ bọn nó ra đây/ Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi!” Sau 1975, xử tử những người yêu nước thì tổ chức tại sân vận động, lùa dân phố, phường khóm đi xem. Con người dần dần bớt xúc cảm, không hề thương xót và chai lì với những cảnh chặt đầu bêu giữa chợ, hay cảnh những xác chết bị thả trôi sông. Cũng trong thái độ “vô cảm”, nhằm mục đích đào tạo cho đất nước những vận động viên “siêu việt” trong các bộ môn cá nhân, bọn huấn luyện viên Trung Cộng đã hành hạ nhiều thiếu nhi bằng cách uốn ép xương sống các em, treo các em lên xà ngang hay ngồi lên mình các em không hề thương tiếc. Cứu cánh là cần thiết, mọi phương tiện đều không đáng kể.
Câu chuyện của em bé Duyệt Duyệt đã được cả thế giới bày tỏ sự xúc động và căm phẫn về thái độ “vô cảm” trong chế độ Cộng Sản Tàu mà Việt Nam hiện nay là một phiên bản. Người ta cảm thấy ghê tởm bởi thái độ dửng dưng, lạnh lùng của con người trước cái chết đau đớn quằn quại của một con người, lại là một em bé yếu đuối, còn thua cả một con chó, con mèo trước cái chết của đồng loại. Liệu rồi đây khi chế độ Cộng sản đã bị quét sách khỏi trái đất, phải bao nhiêu năm để xây dựng, đào tạo lại con người.
Nghĩ mà thương nhớ đến trang luân lý giáo khoa thư của những ngày xưa thân ái.
Đại tá Ly Fecteau, TQLC Hoa Kỳ (ảnh của mcieast.marines.mil).
Nữ đại tá Ly Fecteau là phụ nữ gốc Việt đầu tiên mang cấp bậc đại tá thủy quân lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ. Bà được bổ nhiệm làm, tổng thanh tra bộ tư lệnh TQLC khu vực miền Đông (MCIEAST) từ tháng 8 năm 2019. Bà được thăng cấp đại tá vào tháng 6 năm 2015, và là phụ nữ gốc Việt duy nhất mang cấp bậc đại tá trong quân chủng TQLC Hoa Kỳ.
Đại tá Ly Fecteau sinh tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa và lớn lên ở Dover, Delaware, bà tốt nghiệp văn bằng cử nhân khoa học về tài nguyên nhân lực tại đại học Delaware, và gia nhập lực lượng TQLC trừ bị mang cấp thiếu úy vào tháng 12 năm 1988.
Thời gian mang cấp trung úy và đại úy, Ly Fecteau là sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn, sĩ quan phụ tá ban 4 (G-4) kiêm sĩ quan ban 4 tiểu đoàn tiếp liệu thuộc liên đoàn 1 yểm trợ lực lượng. Sau đó bà được thuyên chuyển đến phục vụ tại tiểu đoàn trợ chiến, sư đoàn 3 thủy quân lục chiến tại Okinawa, Nhật Bản. Bà cũng từng là sĩ quan giao tế khu vực Đông Nam Á, thuộc phòng tình báo TQLC, Quantico, VA.
Khi mang cấp bậc thiếu tá*, Ly Fecteau được bổ nhiệm về phòng 3 (G-3) sư đoàn 3 TQLC, kiêm sĩ quan huấn luyện sư đoàn. Bà được thụ huấn tại trường hậu đại học hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), và là chuyên viên phân tích năng lực tại bộ tư lệnh phát triển và chiến đấu TQLC. Sau đó, bà đươc giữ chức vụ chỉ huy phó tiếp liệu tại căn cứ không quân TQLC Yuma, AZ. Trong chiến dịch Iraqi Freedom 05-07, thiếu tá Ly Fecteau khai triển phòng 4 (G-4) tiếp vận cùng lực lượng I viễn chinh TQLC ( tương đương cấp quân đoàn) tại Fallujah trong chức vụ chì huy phó của Lực lượng An ninh tiếp vận Cell Iraqi.
Trung tá*, Ly Fecteau và các quân nhân trong đơn vị (Ảnh của Marine Corps Base Camp Blaz).
Thăng cấp trung tá*, Ly Fecteau là sĩ quan kế hoạch chiến lược tại phòng 5 kế hoạch tương lai (J-5), phòng cung cấp tiếp liệu Quốc phòng (DLA), New Cumberland, PA. Sau đó là chỉ huy trưởng, phòng phân phối DLA Guam, Marianas. Trong cuộc hành quân Operation Enduring Freedom 12.2, trung tá Ly Fecteau được lệnh khai triển cùng lực lượng I viễn chinh TQLC với chức vụ sĩ quan tiếp liệu phòng 4 (G-4). Sau khi trở về từ chiến trường Afghanistan, bà được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng phòng 4 tiếp liệu (G-4) của lực lượng I viễn chinh TQLC kiêm sĩ quan tiếp liệu tại căn cứ Pendleton, CA. Sau đó trung tá Ly Fecteau được chọn đề cử thăng cấp đại tá và được bổ nhiệm làm phụ tá tham mưu trưởng, phòng G-4, liên đoàn 1 tiếp vận TQLC.
Chính thức thăng cấp đại tá, đại tá Ly Fecteau được thuyên chuyển về liên đoàn 1 không quân TQLC tại Okinawa, Nhật Bản, và được bổ nhiệm làm phụ tá tham mưu trưởng G-4, kiêm chỉ huy trưởng yểm trợ hàng không (AGSD). Sau đó bà trở lại CONUS giữ chức vụ phụ tá tham mưu trưởng G-3 kiêm tham mưu trưởng bộ chỉ huy Huấn luyện tại Quantico, VA. Trước khi được bổ nhiệm chức vụ hiện nay, đại tá Ly Fecteau từng là phụ tá tham mưu trưởng, G-4, MCIEAST, căn cứ Lejeune, NC.
Bô tư lệnh TQLC khu vực miền Đông (MCIEAST) do Chuẩn tướng General Andrew M. Niebel làm tư lệnh, là một đại đơn vị chiu trách nhiệm yểm trợ và giám sát 7 đơn vị TQLC trong hoạt động vùng Đông duyên hải Hoa Kỳ.
Đại tá Ly Fecteau đã hoàn tất thụ huấn và tu nghiệp tại các trường chỉ huy và tham mưu TQLC (Marine Corps Command and Staff College (Non-resident Program); Trường hậu đại học hải quân (Naval Postgraduate School); Trường tham mưu liên quân (Joint Forces Staff College) và trường cao đẳng không chiến (Air War College).
Đại tá Ly Fecteau là một trong bốn sĩ quan gốc Việt mang cấp đại tá TQLC Hoa Kỳ, trước bà có đại tá* William H. Seely III ( nay là thiếu tướng chỉ huy trưởng trường đại học tham mưu liên quân ) và 2 đại tá khác được thăng cấp sau bà là đại tá John T. Nguyễn, phụ tá trừ bị, đặc trách hệ thống truyền tin cho tham mưu trưởng, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương và đại tá Jackson T. Đòan, trưởng phòng G-35, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương.
*Ghi theo thời gian mang cấp bậc
Nguồn: mcieast.marines.mil; linkedin.com; en.wikipedia.org; marines.mil; Marine Corps Base Camp Blaz.
Ngày ấy, khoảng 1991, 1992, tôi với “Ông Ba” thường ngồi nơi chái hiên căn nhà tranh vùng Thôn Thạnh Lộc, Gò Vấp, Gia Định lúc đêm đến chụp sẫm tối những đám mía quanh khu vườn và gió từ sông thổi động những tấm màn chắn ngang liếp cửa sổ. Chúng tôi không nói gì với nhau, tôi vuốt lưng chó Ky, con vật nhỏ nằm im, ngủ thiếp. Ông Ba tháo kính, tắt điếu thuốc, dựa lưng vào tấm phên, tay đặt hờ trên cạnh bàn nước, nhìn ra khoảng tối. Chung quanh đồng ruộng rì rì âm động hoang dã, buồn buồn.
1974. Lời báo động đêm mùa Đông Sài Gòn đang trong buổi giới nghiêm do sự kiện lực lượng quân sự cộng sản tấn công Phước Long, và chiếm đóng thị xã để thử sức, dò xem phản ứng của Mỹ cùng Việt Nam Cộng Hòa trước vụ lấn chiếm. Thái độ bất chấp ngang ngược về những điều khoản ngưng bắn của Hiệp định Paris mà họ đã long trọng ký kết trước cộng đồng thế giới. Chính phủ Ford im lặng một cách rất có ý nghĩa và Dinh Độc Lập cố gắng vùng vẫy tuyệt vọng.
Sử dụng Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù giải vây thị xã. Nhưng dẫu người lính biệt kích của đơn vị kiệt liệt này có khả năng tác chiến cao đến bao nhiêu, họ cũng đành thúc thủ trong một thế trận thụ động toàn diện – Những bãi đáp đổ quân bị phục kích, những toán biệt kích không thể nào tấn công vào những vị trí công sự cố thủ do đơn vị cộng sản vừa lấn chiếm được – Những vị trí phải cần đến những đại đơn vị (Sư đoàn Bộ binh, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục chiến) với vũ khí của chiến tranh trận địa, quy ước, (Pháo binh, Chiến xa, Phi cơ yểm trợ) mới có thể giải quyết. Thế nên, như một điều tất nhiên, người lính biệt kích của Liên đoàn 81 bị phơi thân trần trụi, tan tác trước hàng rào hỏa lực chực sẵn hung hiểm của đối phương, đơn vị bị xé nát thành từng mảnh nhỏ. Cuộc giải cứu thị xã Phước Long biến thành lần thất trận của một đơn vị bách thắng.
Hình ảnh Thiếu Tá Vũ Xuân Thông, Tham mưu Trưởng liên đoàn nét mặt gầm cau, khóc uất trong tay ôm của nữ ký giả Thục Viên (báo Sóng Thần, Sài Gòn) tại sân bay Biên Hòa sau khi được cứu thoát từ Phước Long, hiện thực tình trạng suy sụp không thể giải cứu không chỉ riêng một đơn vị quân đội, nhưng còn là báo hiệu cơn hấp hối cận kề của một quốc gia – Nước Việt Nam Cộng hòa. Sài Gòn im lặng trong đêm mưa cuối năm. Đêm giới nghiêm, điện tắt, đường phố tối tăm, sũng nước. Buổi ra mắt sách Tù Binh và Hòa Bình (có thể là buổi ra mắt sách cuối cùng của sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam) tuy được tồ chức trang trọng nơi phòng tiếp tân bề thế của khách sạn Continental diễn ra trong không khí ngột ngạt của tình hình, đêm ẩm ướt thời tiết phiền buồn. Những người tham dự phát biểu cố nói những tiếng lời mạnh mẽ, nhưng hình như không mấy ai tin vào lời nói của mình, những Chủ tịch Quốc hội, Phu nhân tướng lãnh của hệ thống cầm quyền, điều hành vận động công cuộc chiến tranh Chính trị miền Nam.
Riêng một mình ông, Như Phong Lê Văn Tiến nói những tiếng lời rất thật. Và ông thật tin vào lời nói của mình. Như Phong chống tay vào bục thuyết trình, nhìn thẳng người nghe, ánh mắt long lanh sắc nét sau lớp kính trắng. Ông không nói chuyện văn chương. Ông cũng không trình bày quan điểm Chính trị thuận thảo, thích hợp với yêu cầu buổi tiếp tân.
Ông nói về sự thật của một hòa bình không hề có và trận chiến đang tiếp diễn. Chúng ta phải làm gì? Như thế nào? Nếu không tất cả sẽ là muộn màng, không phương giải cứu!
Ông bày ra một sự thật khắc nghiệt mà mọi người không ai muốn nghe đến. Bất chấp điều lịch sự hòa hoãn đối với buổi tiếp tân giới thiệu một cuốn sách do cơ sở Đất Sống của Mặc Thu, Chu Tử (những bạn thân của ông) bảo trợ. Lời Như Phong lại trình bày sau khi Chủ tịch Quốc hội Trần Văn Lắm phát biểu về một nội dung phấn khởi: “Tình hình Chính trị sẽ khả quan nếu như thực hiện một cuộc ngưng bắn thực sự và thành lập được Hội đồng hòa giải gồm ba thành phần với điều kiện – Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm ra đi”.
Chủ tịch Lắm không nói rõ, nhưng ai cũng hiểu, khi những chức quyền kia không tồn tại thì chính ông sẽ là người lãnh đạo miền Nam (phía Cộng hòa – một phe của ba thành phần) theo tinh thần, nội dung Hiệp định, phù hợp với hiến pháp Đệ Nhị Cộng hòa. Trong hai nội dung nầy, lẽ tất nhiên, số đông người hiện diện không mấy ai đồng thuận sự thật mà Như Phong vừa nói thẳng ra. Ông chấm dứt phần trình bày bằng những câu thơ ngắn. Âm thanh lời thơ tan loãng trong nhịp mưa rơi nặng ngoài hàng hiên. Ông rời bục thuyết trình với bước đi chậm, vẻ mệt mỏi được che giấu mau chóng qua tiếng cười hào sảng cợt đùa. Chẳng lẽ ông anh này nói như thế mà đúng hay sao? Tôi nhìn ra đường Tự Do vắng bóng người qua lại, mặt nhựa loang loáng nước mưa, lay lắt ánh đèn vàng đục khi gió thổi động những tàng me … Sài Gòn đêm nay mà sao buồn thế này?
Tháng 5, 1975, đêm trước ngày trình diện đi tù, tôi ngồi với Tạ Ký nơi hàng hiên âm u ở Chợ Đũi, Sài Gòn điện tắt, trời ủ giông. Tạ Ký gục xuống đầu tóc bạc tơi tả, than câu ai oán giữa kẻ răng ngậm chặt ống tầu thuốc … Sài Gòn đêm nay buồn quá mày ơi!! Anh đánh lên vai, lưng tôi, xong đánh vào ngực mình. Tôi nhớ lời Như Phong với cảm giác gờn gợn nơi sống lưng. Chỉ là mùa đông trước, không đầy sáu tháng, khoảng nửa năm.
1991. Những lần vui không thật
Sáng đầu năm 1991, Đằng Giao ngừng xe Honda, chạy nhanh vào nhà tôi, hốt hoảng … Ông đi đi, đừng xuống dưới tôi, ông Ba vừa bị bắt lại. Trước nhà tôi, công an nó rình từ chiều hôm qua. Tôi không kịp hỏi câu thứ hai, lên lầu lấy chiếc sac marin nhà binh đã để sẵn áo quần và những cuốn sách cần thiết mà tôi luôn chuẩn bị cho những lần vượt biên kể từ ngày ra tù hai năm trước, thảy lên ngang bình xăng xe Honda 67, hướng về phía xa lộ Biên Hòa chạy biến như một tên trẻ tuổi hung hãn. Đến chiều tối khi đã yên ổn nơi chỗ tạm trú kín đáo ở làng Đại học Thủ Đức, ngồi trước bàn thờ Phật trên căn gác vắng im, tính lại sự việc xảy ra trong ngày, bỗng dưng tôi bật lời than não nề không ngăn giữ … Vào cảnh này mà bị tù thêm lần nữa thì thật là khốn nạn. Biết có chịu nổi không đây? Muỗi vo ve bay dày theo bóng tối ngột ngạt của căn phòng châm chích lên cánh tay, nhưng tôi không buồn đuổi bởi có liền liên tưởng … Ông Ba giờ này hằn đã vào cachot. Từ “kinh nghiệm” đã có về ngày đầu tiên mỗi khi vào phòng kiên giam của chế độ tù cộng sản, nên tôi hiểu tận đủ tình cảnh của phận tù “ngày vào cùm” – cũng là dịp con người bị đọa đày thân xác, khủng bố tinh thần không thương xót …
Nếu đã biết thương xót thì đâu còn nhốt người vô cachot anh ơi … Những ý nghĩ rời rạc đến đây chững lại với so sánh: Ông Ba hình như lớn hơn Ông Cả (anh Doãn Quốc Sỹ, sinh năm 1923) một tuổi, bằng tuổi mẹ mình, tuổi Nhâm Tuất. Tôi ngồi im trong bóngđêm, đầu gục xuống cánh tay – cách ngồi từng áp dụng suốt gần mười năm ở những hầm giam ngoài Bắc – ngồi miết qua hết đêm. Thỉnh thoảng ngẩng đầu lên nhìn xuyên bóng tối, tưởng tượng nét mặt tượng Phật trầm ngâm dưới chấm đèn mờ đỏ từ đầu chân hương chạy điện.
Chỉ vì những chữ viết mà còn người bị đối xử tàn tệ như thế sao? Ông Ba cũng chịu gần bằng số năm tù như mình chứ đâu ít, mà chỉ bị thuần kiên giam, biệt giam! Cảm giác mừng vui hào hứng vì chạy thoát được lần vây bắt buối sáng không còn nữa, bây giờ chỉ còn lại phần nặng nhọc do cảm ứng “được hạnh phúc khi người khác khổ đau – lại là người thân thiết, thương kính” – Phản ứng có thật khi đứng trước Đại lộ Kinh Hoàng của Quảng Trị, trước cửa vào An Lộc, nơi ngã Ba Xa Cam, năm 1972. Phản ứng “có lỗi” ngày Chủ Nhật 15 tháng 3 di tản Pleiku; cách tự xét mình “phạm tội” khi thấy bàn chân đỏ bầm của đứa bé chết trên tay người mẹ thò ra dưới lớp áo dài bên đường đèo Hải Vân ngày 25 của tháng, năm thắt nghẹn, cuối Xuân 1975.
Không hiểu ông còn khôi hài được nữa hay không, lạ thật, sao trời cứ bắt người như thế hoạn nạn, ông Ba lại lớn hơn mình đến hai mươi tuổi mới khổ hơn nữa?! Tôi tự giải thoát tình cảnh khắc khoải bằng cách thức lúng túng vụng về tội nghiệp để qua đêm. Vừa thương thân vừa thương người. Ông Ba ơi! Bằng biện pháp kiên cường bất bạo động, bất hợp tác, hợp cùng vận động áp lực của các tổ chức nhân quyền, báo chí thế giới, nên cuối cùng, khoảng cuối mùa Hè năm 1992, nhà cầm quyền cộng sản phải thả ông ra sau nhiều lần đình hoãn, hứa hẹn. Tôi lên nhà Đằng Giao để gặp ông, mường tượng một con người tan tác, hư hao vì cảnh khổ. Nhưng sự thật lại khác hẳn. Từ chân cầu thang, đã nghe tiếng cười hào sảng, thống khoái với lời nói tự tin:
– Chúng nó (kẻ giam giữ) hỏi tôi: Ông nhịn đói như thế mà không hề gì à? Tôi trả lời: Tôi có phép đấy!
Tôi bước lên, phòng ngủ trước 1975 của Chu Tử, một khuôn mặt rực sáng thanh thản hiện ra nơi cuối phòng giữa những bức tranh sơn mài lộng lẫy của Đằng Giao. Ông Ba đón tôi bằng cách nói khẳng định mạnh mẽ hằng có:
– Này, đừng viết ấm ớ gì nhá, chúng nó lại “tó” cho nữa thì khổ thân. Anh bắt chước tôi không được đâu, đã ở dưới nhà quê kia thì ở yên đấy, hôm nào tôi, ông bà Sĩ với vợ chồng cậu Giao về thăm cậu.
Thoáng ngỡ ngàng vì tình cảnh vượt ra ngoài dự tính, tôi vụng về phân bua:
– Ông Ba bị giam, em không vào thăm được?
– Cậu vào thăm thế nào được, tưởng dễ gặp tôi lắm à … mà chắc gì tôi chịu tiếp! Mấy tên ngoài Bắc vào đòi gặp, tôi cóc nói tiếng nào. Ông cười rộng, đắc ý với cách ứng xử của mình.
– Ông Ba nói thế chứ khi họ đòi lên “làm việc” thì mình cũng phải trả lời các câu hỏi của họ chứ. Tôi đẩy đưa câu chuyện.
Ông giả vờ vụt quắc mắt, nghiêm mặt, xem như một cách xúc phạm, không tin lời ông nói.
– Anh chẳng biết gì cả, tôi vừa nói với cậu Giao là tôi “có phép” mà … Đây này …
Ông đưa ra một tờ giấy viết tay.
– Đây, tôi đọc cho cả hai cậu và cô Thủy (vợ Đằng Giao) cùng nghe. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, độc lập, tự do, hạnh phúc … Đơn xin phép tĩnh tâm và nhịn ăn. Tôi ký tên dưới đây, Lê Văn Tiến sinh 1923 tại Nam Định … làm đơn này để xin ban lãnh đạo trại giam cho tôi được Tĩnh Tâm (nhấn mạnh chữ Tĩnh
Tâm) để cầu nguyện cho Tổ quốc và Dân tộc … Thời gian tĩnh tâm là bảy tuần, bốn mươi chín ngày … “.
Ông ngừng đọc, đưa mắt lên nhìn chúng tôi, hóm hỉnh. Đúng bốn mươi chín ngày đấy nhá. Bốn mươi chín ngày, tớ vào thiền. Vào đại thiền. Bữa ăn hội ngộ vẫn có nguyên cách sống động vui hòa của sinh hoạt xưa cũ nơi căn phòng này trước 1975, ngày Ông Chu còn với chúng tôi, nhưng sau buổi trà, khi tôi đứng lên đội chiếc mũ vải, khoác xắc mang lưng chuẩn bị về lại Lái Thiêu (Bình Dương, nơi bị chỉ định cư trú theo lệnh quản chế của công an) thì Ông Ba nghiêm mặt, ân cần:
– Cậu ở một mình, có gì thì tìm cách báo cho vợ chồng cậu Giao hay liền, có vàng hay tiền bạc gì nên gởi cô Thủy để có cái mà thăm nuôi. Tôi cũng thế, chưa hẳn yên đâu, khi nào ra khỏi nhà thì không nên đến thẳng đây vội, tới gần đây thì phải trông chừng từ đằng xa. Khi về, nếu thấy đứa nào theo mình thì tránh qua đường khác và đi luôn đến nơi khác. Trong túi vải phải có vài gói mì ăn liền, để nhỡ nó vớ phải dọc đường thì cũng có cái ăn cầm hơi. Cậu không thể áp dụng cái “phép” của tôi được đâu!
Tôi đặt tay lên cánh tay khô gầy, da nâu xạm.
– Em về nghe ông Ba, hôm nào em đón ông Ba và ông Cả lên nhà em chơi.
– Chẳng cần cậu mời, tôi sẽ đến, mà không chừng tôi mời cậu qua nhà tôi, cũng sẽ ở trên vùng của cậu. Nhưng tôi không như cậu, tôi sẽ trồng bông, trồng lan, trồng hồng bán ra nước ngoài, chứ không bán lu, bán chén bát nhà quê như cậu.
Ông trở lại cách thế náo hoạt cười vui. Nhưng khi đưa tôi ra đến đường, Đằng Giao nói nhỏ:
– Ông Ba trông thế chứ yếu lắm, ông cố làm vuiđể chúng ta khỏi lo. Bảy mươi tuổi mà cảnh tù như thế, người bằng thép cũng phải rã ra. Tính thêm cái hạn tù này là ông ấy với anh bằng một cỡ đấy.
– Tôi biết ..
Tôi trả lời tiếng nhỏ, lên xe, lướt mắt nhìn qua bên kia đường, nơi hành lang Thương xá Tam Đa, không bóng dáng những người thường ngày ngồi ở nhữngchiếc đòn thấp của quán hàng cà phê. Thôi chứ mấy anh, mười bốn năm tù không đủ cho các anh hài lòng hay sao? Từ trong nhà Đằng Giao nói với:
– Ông đi xe cẩn thận nghe.
Giọng bạn không vui. Lòng tôi cũng nặng phần ủ dột. Quãng đường mười mấy cây số về Lái Thiêu sao đêm nay quá dài. Qua cầu sắt An Lộc (tên cũ của cầu An Phú Đông), thấy thấp thoáng những cô gái còn rất trẻ đứng đón khách, những tay lái xe vận tải hạng nặng chạy đường xa lộ Đại Hàn, vòng đai Sài Gòn. Khoảng tuổi các cô độ chừng sinh sau 1968, năm trận chiến lớn đã tận lực xảy ra nơi đây. Gần ba mươi năm, cảnh sống chỉ đổi thay về hình thức theo thời gian – để con người và nỗi khổ mãi mãi không thôi. Căn nhà vuông vức với hàng hiên rộng, mái lợp lá gồi, không cửa chính lẫn cửa sổ. Bốn chiếc võng cột thẳng góc theo những chiếc cột cái, bốn người nằm duỗi đong đưa, lớn tiếng chuyện trò. Ông Ba mở đầu để hai người nằm đối cạnh nghe được.
– Các ông thấy hắn ta kinh khủng chưa, cả một vườn hồng của tôi chết tiệt, không còn được một bông!
– Thì em đã nói rồi, cái tay em nó “hậu đậu” mà, sờ cái gì vỡ cái ấy, đã nói là chỉ cuốc đất, gánh nước thôi chứ không “hái hoa, bắt bướm” được. Ông Ba nhờ tưới hoa thì em làm, nhưng không bảo đảm.
– Thế thì hồng chết nào phải lỗi tại “thằng nhỏ” ông Ba.
Tôi phân trần với anh Sĩ và Đằng Giao đang lắng nghe câu chuyện. Có tiếng Thủy gọi từ bếp:
– Ông Ba có cái bát nào lớn lớn để đựng thịt gà không đây?
– Cô hỏi hắn ta ấy, chắc làm vỡ của tôi hết rồi, chiều hôm qua hắn nấu bếp. Thế mà cũng là nhà văn, anh phải là nhà “văng” mới phải.
Ông hạ giọng vì tôi nằm kế tiếp. Anh Sĩ từ phía đối diện cười vui:
– Thế nhưng, Phan Nhật Nam cũng giúp anh được khối việc đấy, cậu ấy tưới hoa thế nào không biết, nhưng sen mọc vào đến gầm giường ông cơ mà!
– Ấy là sen tự động bò từ ngoài ao vào đấy chứ, hắn ta có phải tưới sen đâu. Hắn mà tưới sen thì ắt sen cũng tàn luôn. Chán mớ đời.
Ông Ba cười vui rung chiếc võng.
Bữa ăn dọn trên nền gạch, thức ăn bày lên giấy báo. Thủy phân trần:
– Cháu cố tìm mấy cái dĩa mà chẳng thấy cái nào, thôi ông Ba và bác Sĩ ăn theo kiểu dã chiến.
Anh Sĩ thật thà:
– Thế Phan Nhật Nam làm vỡ hết bát rồi đấy hở?
– Hắn ta không làm vỡ, nhưng quăng tất cả xuống giếng. Tôi nhặt lên để trên nhà ông Ba (người chủ đất, bạn của anh chị Doãn Quốc Sỹ).
– Ông Ba nói thế chứ em chỉ đánh rơi cái dĩa nhôm, mười mấy năm đi tù chuyên ở kiên giam, nên đâu biết việc chén bát, bếp núc như mấy cha đi lao động bên ngoài với anh em. Bữa ăn tiếp tục theo những câu chuyện về lan, cụ thể với những giò lan rung rinh đẹp như tranh vẽ treo ở góc vườn, nơi ít bóng nắng nhất.
– Này, đừng động đến mấy giò lan của tôi nhá, còn phải có cái để trình làng với bà con chứ. Ông Ba răn đe tôi để chuyển qua một đề tài khác. Trưa nắng đổ ngoài hiên, anh Sĩ lên nhà trên của ông chủ đất, nhường võng cho Thủy; ông Ba tháo kính, bình yên ngủ thiêm thiếp. Tôi đi vào ngăn kín đáo nhất của căn nhà. Một bàn thờ đơn giản trên tấm gỗ đóng thẳng góc với bức vách. Hình những người đã chết yên lặng. Có tấm ảnh một người còn trẻ nhìn nghiêng, mặt hơi cúi xuống – Nhà văn Hoàng Đạo, người lập thuyết của Tự Lực Văn Đoàn đầu thế kỷ. Hóa ra ông Ba cũng chỉ sống-với-những-người- đã-chết như mình, chỉ có tấm ảnh của bà già đi đâu cũng mang theo. Tôi nói thầm vì thấy những chân hương còn mới – Thói quen của chính tôi khi ra khỏi nhà, hoặc khi vừa về đến nhà. Mẹ mình cũng chết trẻ như những người này. Chỉ người sống còn lại chịuđựng đủ thôi.
Đêm ấy, sau khi anh chị Doãn Quốc Sỹ, vợ chồng Giao – Thủy trở về Sài Gòn từ chiều tối, tôi ở lại ngồi cùng ông Ba cho đến khuya. Ông chụp cho tôi tấm ảnh với chó Ky. Con chó nhỏ run rấy vì cảm xúc khi được người bồng bế, vuốt ve, bày tỏ lòng vui mừng bằng cách nằm ngã ngửa, hai chân đạp loạn.
– Coi chừng hắn tè ra đấy, chỉ có cái tội là hay tè bậy chứ ngoan và khôn ra phết. Mỗi khi tôi đi Sài Gòn là hắn cứ ra nằm ngoài cầu đợi tiếng xe tôi về. Có nó cũng vui.
Ông đưa tay bế chó Ky từ dưới đất. Con vật kêu ư ử xa xót, cong kín người trong lòng chủ, lông gáy dựng đứng …
– Ky, ngoan nào, làm gì thế này … Ông Ba vỗ vỗ lưng chó.
– Ông Ba biết mình sống đây là giữa những người chết không?
Tôi thì thầm giải thích.
– Cậu nói gì tôi không rõ.
Ngọn đèn điện ở chái hiên loáng sáng mặt kính trắng. Tôi chỉ đám mía cuối căn vườn. Đầu năm 1968, tại đây, nơi góc vườn mía nầy, đơn vị tôi, Tiểu đoàn 2 Dù đụng nặng. Bạn tôi, Nguyễn Ngọc Khiêm chết tại đây. Mỗi sáng đưa quân đi là thế nào cũng có người chết. Con Ky nó vừa thấy ma đấy.
– Thì ma cũng là người thôi, cậu nói vớ vẩn bỏ xừ đi .. Thôi đi ngủ. Trước khi vào phòng ngủ, ông ngừng ở ngăn nhà ngang đốt nén hương. Động tác lặng lẽ, chậm rãi, thắm thiết, đơn độc.
Qua thế kỷ hai mươi
Bi kịch vẫn không có kết thúc
Cuối tháng 12, năm 2001. Như một điều xếp đặt cố ý, tin ông Ba mất không đến từ những người bạn ở Washington DC mà tôi đã dò hỏi suốt một tuần liền. Anh Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại đồng đi vắng, Phạm Trần bị tai nạn không ra khỏi nhà được, Uyên Thao vào nhà thương. Cuối cùng, tin dữ lại đến từ Giao – Thủy bên kia nửa vòng trái đất với những chi tiết trước, sau cái chết. Ông Ba không muốn làm một điều gì về cái chết của mình. Tóm lại là Nothing. Thư email của vợ chồng bạn chấm dứt ngắn ngủi như bản văn vô hồn trên mặt máy computer. Vài ngày sau đọc những bài báo của Nguyễn Ngọc Linh, Trọng Kim trên tờ Ngày Nay, tôi vẫn không tìm được điều gì khác hơn từ những người vốn có liên hệ với ông thuở trước. Bởi, ông sống ngoài, khác cuộc sống thường hằng của mỗi chúng ta – Như Phong sống từ, với sự Không – Như cơn gió vô hồi ông chọn làm danh hiệu. Chỉ là cơn gió thổi qua. Đầu năm 1997, nhân lần lên DC thăm người quen cùng với C., cũng là dịp để chúng tôi cố gắng hòa giải những xung khắc kéo dài từ nhiều năm trước. Gặp
được Ông Ba lần đầu tiên kể từ ngày qua Mỹ. Ông cười vui, sống động và lần đầu tiên ngõ ý lấn sâu vào đời sống riêng tư của cá nhân tôi khi gặp nhân cách mực thước, nghiêm trang của C.
– Thằng cha này phải bị đánh đòn!
Ông phê bình tôi với Ngô Vương Toại nhân lúc C. đang chuyện vui cùng chị Trần Thị Thức, vợ anh Đoàn Viết Hoạt (hàm ý đố vỡ giữa hai chúng tôi là do phần lỗi của tôi đối với người ân nghĩa xứng đáng kia). Nhân lúc phía đàn bà đang bận chuyện, Toại thấp giọng:
– Ông nói cậu Nam có lỗi, nhưng anh ấy chỉ lỗi với một người. Còn ông lỗi nặng lắm.
– Anh nói tôi lỗi gì? Ông Ba hỏi gấp.
Toại cất ống tẩu, nói chắc từng tiếng:
– Ông là người có lòng, có lực, có mưu, mà mấy năm kia ở Sài Gòn mặc cho mấy ông tướng gây bao nhiêu điều đáng trách, để đến nay cơ sự như thế này, cả đám thân sơ thất sở. Ông Hoạt kia biết bao giờ mới được ra?
Toại chỉ về phía chị Thức. Ông Ba nói lảng, giọng đùa mỉa:
– Tôi chỉ cho chữ, còn các anh cầm quyền kia phải chịu trách nhiệm về quyết định của họ chứ. Tôi chỉ
ngang cán bộ xã thôi, quyền hành gì, anh nói quá! Và ông chuyển qua vấn đề văn bút hải ngoại với cách hài hước.
– Này, nay tôi giới thiệu cho các anh một tay làm Chủ tịch văn bút rất có hạng. Hắn ta có tác phẩm, có giải thưởng quốc tế, làm báo chuyên nghiệp, viết văn lâu năm, tiếng Tây, tiếng Mỹ nói như gió.
Tôi và Toại đồng hỏi dồn:
– Ai vậy ông Ba?
– Là tui!
Ông Ba thương kính,
Ông đã đi hết một đời người. Cuộc sống ngoại hạng, bão táp với thái độ thản nhiên của một đạo gia bản lĩnh. Và điều quý nhất – Ông không hề có cơ tâm, lời nói, hoặc hành vi mang tính ác độc – Ông sống cùng người (kể cả những đối phương đã gây cho ông bao điều bi lụy – chỉ trừ cái chết mà ông đã thoát được bao phen bởi một ơn che chở màu nhiệm rất cụ thể) với tâm chất một hiền nhân – quân tử. Và ông cũng là nạn nhân đầu tiên của tất cả mọi chế độ, những kẻ cầm quyền.
Bởi tất cả những kẻ cầm quyền Đông – Tây, Kim – Cổ xưa nay chỉ mua chuộc người bằng hai khuyến dụ: Lợi và danh chứ không có gì hơn. Cũng không có gì khác. Đặc biệt những “Kẻ Sĩ”, yếu tố “công danh” vượt trội quan trọng một cách đáng kể. Xong, kẻ cầm quyền kia sử dụng những “bầy tôi” để nên “công nghiệp”. Hitler sẽ chỉ là một anh thợ sơn lu loa vô hại nếu không có Heinrich Himmler, Rudolf Hess …thực hiện tối đa kỹ thuật vận động quần chúng để biến con người nhiều khuyết điểm, mồm miệng này nên người “cứu rỗi” của cả dân tộc – với kết quả cuối cùng đẩy dân tộc kiên cường kia vào thảm họa vô lường sau 1954.
Ở Việt Nam, dân tộc phương Đông với thói quen đã nên thành một bản năng thứ hai “trọng đạo quân, sư” – Người thủ lãnh đã luôn đồng nghĩa với phẩm tính của Chân – Thiện – Mỹ. Thế nên, một gã thô lậu, ác hiểm như Lê Duẩn qua những “kẻ sĩ được cộng sản hóa của đất Bắc” đã biến thành một nhân vật “huyền thoại Anh Ba” suốt tập hồi ký Thời Dựng Đảng đăng dài hạn trên trang nhất báo Nhân Dân ở chỗ trang trọng nhất.
Chữ nghĩa của đám văn lại này đã vô cùng kiến hiệu đến nỗi Indira Gandhi phải trầm trồ khen ngợi ngày Duẩn đến thăm Ấn Độ – Nhân vật đã tạo nên chiến thắng thần kỳ 1975 ở Nam Việt Nam. Hoặc cái xác chết nằm ở ngôi mồ Ba Đình nơi Hà Nội luôn “sống mãi trong sự nghiệp chúng ta” do không phải chỉ chất hóa học bơm vào trong khối thịt da hư rữa kia, nhưng từ một hệ thống sách, chuyện, phim ảnh, bài hát, tài liệu giáo khoa, đồ chơi con trẻ được bày ra suốt hơn nửa thế kỷ (từ thập niên 40) nên xác chết ấy đã trở thành hiển thánh tác động không riêng lên tâm lý, thân xác của người mà cả lá, hoa, con vật …
Đàn cá kia còn vui với ai? Thơm cho ai nữa hở hoa nhài!! Thơ tố hữu khóc than về cái chết hồ chí minh. (Người viết không viết hoa những danh tự vì chỉ là giả danh – không là tên riêng của con người).
Nhưng khi “Kẻ Sĩ” giữ đúng phẩm cách cao quý của mình – bứt thoát khỏi lợi – danh thì họ lập tức trở thành nạn nhân không thương tiếc – Nạn nhân đầu tiên của tất cả mọi chế độ. Những kẻ cầm quyền. Khái Hưng, Nhượng Tống, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm … trước 1945. Và sau năm tháng kể trên, suốt hai miền Nam – Bắc, của hai chế độ, cộng sản lẫn cộng hòa với Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán … ngoài Bắc; Tạ Chí Diệp, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Điền, Phan Ngô … trong Nam.
Cái chết bi tráng của Nhất Linh (1963), lần chết lặng lẽ phẫn nộ của Tam Ích Lê Nguyên Tiệp (1972) là điển hình về bế tắc không cơ may giải quyết của những kẻ sĩ không thể tồn tại cùng với chế độ, xã hội mà các ông đã chọn lựa. Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường sau 1975 khi đi ra khỏi nước mới nói được tiếng lời uất ức đắng cay đối với những người cầm quyền qua một chủ nghĩa mà các vị đã quyết định phục vụ từ thuở thanh xuân.
Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường phải nhận những cái chết bi thảm hờn oan nơi trại Z30D của công an cộng sản miền Nam. Bùi Giáng còn có thể làm gì hơn ngoài cách tự phá thân bằng những cơn điên tỉnh rực sáng thần trí. Nhưng Như Phong Lê Văn Tiến có cách vượt thoát của riêng ông. Ông Hóa Không tất cả. Ông đã qua được cơn bão táp năm 1963 với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa. Ông tháo gỡ được những mắc xích ràng buộc của chế độ quân nhân cầm quyền nơi miền Nam trong những năm 1965, 66, 67 … Chế độ mà ông đã thối vào đó một sức sống chính danh cho những người lãnh đạo mặc áo lính. Và cuối cùng, ông tự chọn mình một quyết định hiểm nghèo với vị thế “người tù nguy hiểm nhất của chế độ” – suốt giai đoạn hai đợt cầm tù sau 30 tháng 4, 1975 – Trong mười bốn năm Như Phong Lê Văn Tiến luôn ở biệt giam, chịu tình trạng kiên giam.
Trong tự khai lý lịch của bản thỉnh nguyện kể ở đoạn trên, Ông Ba khai “không có” về yếu tố gia cảnh. Ông vẫn là người đàn ông không gia đình cho đến ngày nhắm mắt vĩnh viễn. Bởi Ông Ba cũng, “Bụi chỉ có một niềm riêng với Nước – Như Nguyễn Trãi đã nói một lần tâm thức u uẩn ở Côn Sơn. Chỉ khác, Ức Trai chịu thêm phần đau thương di lụy vì án tội ba họ bị hành hình. Phải chăng, Như Phong đã hiểu nghĩa đoạn trường từ đau đớn của người xưa. Vĩnh biệt Ông Ba. Mong sẽ có một ngày tôi được đặt lên bàn thờ ông một hoa hồng để đền bù vườn hồng đã làm hư của Ông Ba.
Serafima Vitalyevna nhỏ bé đến nỗi người ta không thể không gọi nàng là “Simochka”. Nàng bận bộ y phục bằng vải len dày, choàng chiếc khăn len ấm trên vai và nàng là một trung úy thuộc Bộ An ninh quốc gia. Tất cả những viên chức tự do làm việc trong Viện Nghiên cứu này đều là sĩ quan an ninh. Những viên chức tự do, theo những đạo luật do Staline ban hành áp dụng trên khắp lãnh thổ Liên ban Xô Viết có rất nhiều quyền lợi. Trong số này có cái quyền được làm việc. Tuy vậy, quyền này chỉ giới hạn trong có tám tiếng đồng hồ một ngày và sự làm việc của họ không có tính cách sáng tạo, họ chỉ có việc kiểm soát những tù nhân. Bọn tù, để bù lại tình trạng bị tước đoạt tất cả những quyền khác, được hưởng quyền làm việc rộng rãi hơn: quyền làm việc mười hai tiếng đồng hồ một ngày. Những viên chức tự do thay phiên nhau có mặt tuần tự ở khắp các phòng thí nghiệm và vì vậy, bọn tù bị kiểm soát liên tục không ngừng kể cả trong bữa ăn sáng, tức là từ 6 giờ sáng cho đến 11 giờ đêm. Đêm nay, Simochka đến phiên đi làm đêm. Trong Phòng Nghiên cứu âm thính, người thiếu nữ nhỏ bé như con chim này là nhân vật duy nhất đại diện cho chính quyền, cho hành pháp. Theo những điều luật, nàng có mặt để bắt bọn tù phải làm việc chứ không được ngồi chơi, nói chuyện láo, để họ không được dùng những dụng cụ trong phòng vào việc chế tạo vũ khí, đặt mìn phá hoại, đào đường hầm ra ngoài và nhất là để họ không thể dùng những bộ phận truyền thanh để chế máy thâu phát thanh liên lạc với Tòa Bạch ốc. Tới mười một giờ thiếu mười phút, nàng có bổn phận thâu lượm tất cả những tài liệu tối mật cất vào tủ sắt và sau cùng, đóng cửa và khóa cửa phòng. Trước khi về, nàng còn phải niêm phong cửa phòng để không một ai có thể lén vào phòng được. Simochka mới tốt nghiệp khóa kỹ sư truyền tin được nửa năm và nàng được phái ngay về Viện Nghiên cứu khoa học tối bí mật này để làm việc nhờ hồ sơ an ninh trong vắt của nàng. Viện Nghiên cứu này, vì những lý do an ninh, có một con số để gọi thay tên nhưng những tù nhân vẫn cứ gọi bậy là nhà tù. Những viên chức được nhận làm việc ở đây lập tức được hưởng quy chế đặc biệt, họ được lãnh lương cao hơn, nhiều phụ cấp hơn những công chức thường. Họ được hưởng phụ cấp về cấp bậc, phụ cấp quân phục và người ta chỉ đòi hỏi họ có sự trung thành và mẫn cán. Sự kiện ở đây người ta không ai hỏi gì đến những khả năng chuyên môn về khoa học của Simochka là một may mắn cho nàng. Không phải chỉ riêng nàng mà thôi, rất nhiều cô bạn cùng tốt nghiệp với nàng đều không hiểu biết gì hết về khoa học. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân. Những thiếu nữ như Simochka tuy có học hết chương trình trung học nhưng rất kém căn bản Toán và Vật lý. Khi vào đại học, các cô được biết rằng trong những phiên họp ông Viện trưởng thường bất mãn với các giáo sư cho sinh viên điểm kém, và các cô còn biết rằng sinh viên chẳng cần học gì hết vẫn được chứng chỉ tốt nghiệp như thường. Ở Viện Đại học, mỗi lần có thì giờ học về Toán và kỹ thuật vô tuyến truyền tin, các cô lạc lõng như những người mò mẫm trong rừng rậm. Những thì giò dành cho việc học chuyên môn này rất ít, ít đến gần như hoàn toàn không có. Cứ mỗi một mùa các sinh viên lại rời trường để về các nông trại tập thể sinh hoạt canh tác mất chừng một tháng. Ở những nông trại này các sinh viên đi lượm khoai tây, cà rốt. Vì những tháng sinh hoạt canh tác này, khi trở lại trường, họ phải ngồi nghe giảng liên tiếp từ tám giờ đến mười giờ một ngày trong suốt năm, họ không còn thì giờ để học bài và thực tập những gì họ học được. Ngoài ra họ phải dự những buổi học tập chính trị mỗi tối thứ hai trong tuần, mỗi tuần ít nhất họ cũng phải dự một cuộc thảo luận về một vấn đề chính trị nào đó. Rồi họ còn phải làm những công tác xã hội: phát truyền đơn, tổ chức hòa nhạc, diễn kịch. Họ còn phải làm nhiều việc riêng cho họ, tắm rửa, trang điểm, đi mua hàng, may y phục. Đó là chưa kể đến việc đi coi xi nê, đi coi hát, đi nhảy. Nếu một người con gái không được vui chơi trong những năm còn đi học, người con gái đó sẽ suốt đời không còn biết vui chơi là gì. Khi đi thi Simochka và những cô bạn cùng học của nàng viết những bài giải vào những mảnh giấy dấu vào những nơi mà đàn ông không có quyền khám và trong giờ thi, họ lấy ra những mảnh giấy nào mà họ cần, vuốt thẳng và đàng hoàng đặt lên bàn như tờ giấy nháp. Những vị giám khảo tất nhiên là có thể khám phá ra ngay sự ngu dốt của những nữ sinh viên, nhưng chính họ cũng tối tăm mặt mũi vì cả trăm phiên họp ủy ban, liên ủy ban, học ập chính sách giáo dục, kiểm thảo vì những chương trình kế hoạch, vì những báo cáo thành tích. Họ không thể có thì giờ để kiểm soát các nữ sinh viên nhiều hơn. Nhất là sau một cuộc thi, khi số nữ sinh viên bị đánh hỏng nhiều, không những chỉ những giáo sư bị chỉ trích mà thôi, cả những giám khảo cũng bị kết tội là… phá hoại. Không ai muốn nghe thấy hai tiếng phá hoại. Trong xã hội cộng sản, chỉ có thành công chứ không có thất bại, nhất là không thể có chuyện sinh viên dốt. Những vị giám khảo không tìm cách đánh hỏng thí sinh, ngược lại, họ tìm cách cho thí sinh đậu thật nhiều, càng đậu nhiều chừng nào càng tốt cho họ chừng ấy. Trong những ngày học cuối cùng. Simochka và nhiều cô bạn cùng học thấy rằng họ không yêu nghề chuyên môn này chút nào, họ thấy đó là một nghề đáng nản, không chút hào hứng, nhưng lúc này đã muộn quá rồi họ không còn có thể thay đổi được nữa. Nhiều lúc Simochka run sự khi nghĩ đến chuyện nàng sẽ phải làm cái nghề này suốt đời. Rồi nàng được phái về Mavrino. Nàng sung sướng khi thấy người ta không đặt nàng vào việc nghiên cứu, và nàng run sợ khi biết đây là một Viện Nghiên cứu khoa học đặc biệt gồm toàn những tù nhân bị bắt buộc phải làm việc. Cùng được biệt phái tới Mavrino với Simochka còn có chín cô bạn khác cùng tốt nghiệp một khóa với nàng. Các cô được người ta cho biết rằng công tác mà các cô sắp làm đầy quan trọng và nguy hiểm hơn là những công tác trong thời chiến, cá cô sẽ phải sống trong một ổ rắn độc trong đó mỗi lỡ lầm, mỗi sơ xuất đều có hậu quả tai hại vô cùng. Các cô được nói cho biết rằng các cô sắp tới phục vụ ở một nơi có những tên bất lương thuộc hạng hạ tiện nhất của xã hội, những tên không xứng đáng được nói tiếng Nga. Các cô được cảnh cáo rằng những tên phản quốc đó nguy hiểm vô cùng vì chúng không bao giờ để lộ bộ mặt thật đê tiện, bỉ ổi của chúng ra, trái lại, chúng giấu diếm mặt thật của chúng dưới mặt nạ lịch sự, hiền lành, học thức. Nếu có ai hỏi chúng về những tội lỗi mà chúng đã làm – việc này bị cấm chỉ, các nữ đồng chí tuyệt đối không được hỏi – chúng sẽ chối tội với những lời lẽ khéo léo và nghe chúng kể lể, người ta sẽ có thể lầm tưởng rằng chúng bị oan, chúng đóng vai nạn nhân rất giỏi. Tuy vậy, đối với những con rắn độc ấy, các cô không nên tỏ ra ác cảm với chúng, các cô không nên trút thù hận lên đầu chúng, thái độ đúng nhất của các cô là đối xử bình thản với chúng, không bao giờ nói với chúng bất cứ một chuyện gì ngoài chuyện công việc đang làm, không làm giùm chúng bất cứ một việc gì, nhất là việc nhắn tin ra ngoài hay đưa tin từ ngoài vào cho chúng – và mỗi khi thấy có sự vi phạm, hoặc ngờ có vi phạm, hoặc thấy có thể có sự vi phạm, các cô phải lập tực báo cáo ngay với sĩ quan an ninh, thiếu tá Shikin. Thiếu tá Shikin là một người đàn ông hơi thấp, vạm vỡ, tự coi mình là quan trọng và luôn luôn quan trọng hóa mọi việc. Ông có cái đầu lớn, mái tóc xám cắt ngắn và hai bàn chân nhỏ nằm trong đôi giầy như giầy học sinh. Trong khi giải thích cho những nữ viên chức mới đến trách vụ của họ và nhân cách hạ tiện của bọn tù nhân. Thiếu tá Shikin nói rằng với một người nhiều kinh nghiệm như ông, bọn tù nhân không thể lừa dối, che đậy được ông điều gì, ông nhìn thấu trái tim rắn độc của chúng nhưng trong số những nữ viên chức mới tới này rất c53 có người mủi lòng xót thương số phận của chúng, người đó sẽ có thể dại dột phạm lỗi vì lòng nhân từ như mượn giùm cho tên tù một quyển sách từ thư viện bên ngoài mang vào, gửi giùm một bức thư, và ông nhấn mạnh: bất kể thư gửi cho Maria hay Tania, tất cả những lá thư đó đều được chuyển đến cho bọn gián điệp ngoại quốc… Và bổn phận của các nữ đồng chí là… ngoài việc kiểm soát bọn tù nếu thấy chị em nào dại dột vi phạm như trên phải lập bức báo cáo ngay. Báo cáo như vậy tức là giúp cho đồng chí bạn khỏi sa vào lẫm lỗi nặng hơn. Tất nhiên là họ phải báo cáo với thiếu tá Shikin. Sau cùng, thiếu tá Shikin cũng không quên nói cho các nữ viên chức biết rằng phạm tội tư tình với tù nhân sẽ bị trừng phạt như một trọng tội, can phạm sẽ bị đưa ra Tòa án Quân sự và sẽ có thể bị phạt tù khổ sai hai mươi lăm năm. Những nữ sinh viên mới ra trường không cô nào không run khi nghĩ đến tương lai đen tối đang chờ đợi họ. Vài cô rơm rớm nước mắt. Nhưng sự nghi ngờ đã được gieo vào lòng họ. Sau buổi nghe giải thích ấy, không cô nào bàn tán về những chuyện họ được nghe nói để khỏi phải bày tỏ những ý nghĩ của mình. Buổi sáng đầu tiên Simochka theo thiếu tá kỹ sư Roitman bước vào Phòng Nghiên cứu âm thính, nàng có cảm giác như nàng đi vào chỗ chết, trong vài phút đàu nàng như người sắp ngã ngất, nàng ngẩn ngơ không ghi nhận được gì hết ở quanh nàng. Kể từ buổi sáng đó, sáu tháng trời đã trôi qua và có một sự kiện khủng khiếp đã xảy đến với Simochka. Không những niềm tin rằng chế độ Xô Viết luôn luôn bị bọn đế quốc phá hoại đã tan vỡ ở trong nàng, nàng còn không tin rằng tất cả những nhà khoa học bị cầm tù ở đây đều là những người đê tiện phản bội nhân dân, làm những âm mưu có hại cho tổ quốc. Thoạt đầu nàng cho rằng chỉ những tù nhân làm việc ở những phòng khác mới là bọ đê tiện, bọn phản bội. Mỗi ngày, nàng ở gần mười hai tù nhân trong Phòng Nghiên cứu âm thính và nàng thấy họ lạnh lùng, thản nhiên với tự do và tù đày, nhận chịu số mệnh của họ, bình tĩnh sống trước những hạn tù mười và hai mươi lăm năm, nàng tthấy họ đều là những khoa học gia, kỹ sư, chuyên viên, và họ chỉ chú tâm vào công việc – dù đó không phải là việc họ tự ý làm, việc không có nghĩa lý gì đối với họ, việc không đem lại cho họ một đồng thù lao hay một chút vinh quang nào – nàng cố gắng nhưng nàng vẫn không sao có thể nhìn họ như những tên phản bội đê hèn mà nàng từng thấy trong những tuồng hát, những phim ảnh, những tên sau cùng bao giờ cũng bị những nhân viên phản gián thông mình và can đảm lột mặt nạ. Sống giữa họ Simochka không thấy sợ hãi chút nào. Nàng cũng không sao có thể thù ghét được họ. Những người này chỉ làm cho nàng kính trọng họ, vì họ có tái, vì họ hiểu biết, vì họ can đảm thẳng thắn chịu đựng số mệnh không may của họ. Và mặc dù lương tâm trách nhiệm của nàng, tình yêu tổ quốc của nàng đòi hỏi nàng phải báo cáo tất cả những vi phạm dù nhỏ nhít, dù vô tình hay hữu ý, của những tù nhân này với sĩ quan an ninh, rất sớm Simochka đã thấy rằng trách nhiệm, cũng như bổn phận, là một cái gì đáng ghét và không nên làm tròn. Đặc biệt là nàng không sao làm tròn trách nhiệm dò xét và báo cáo những hành vi của Gleb Nerzhin, người ngồi gần nàng nhất. Simochka làm việc dưới sự chỉ dẫn chuyên môn của Nerzhin. Nàng thực hiện những cuộc nghiên cứu, thí nghiệm nhỏ về tiếng nói. Ở Mavrino người ta tìm mức độ trung thực của tiếng nói khi được truyền đi qua điện thoại với nhiều máy điện thoại khác nhau. Nerzhin nghiên cứu về tiếng nói trên bình diện toán học. Cuộc nghiên cứu và thí nghiệm chung của Nerzhin và Simochka đem lại kết quả tốt. Nerzhin đã viết được một báo cáo nhiều trang ghi lại kết quả này. Mỗi khi hai người bị du vào tình trạng có quá nhiều việc phải làm. Nerzhin quyết định thật nhanh chóng và sáng suốt những việc gì cần phải làm trước và những việc gì có thể hoãn lại. Trong những giây phút phải quyết định đó, khuôn mặt Nerzhin trở lại trẻ trung và Simochka tưởng tượng lại những cảnh chiến tranh mà nàng thấy trên màn bạc, nàng thấy hiện ra trước mắt hình ảnh Nerzhin trong bộ quân phục với cấp bậc đại úy trên cổ áo, mái tóc hung của chàng tung bay, chàng đứng hiên ngang giữa làn khói súng hô lớn lệnh khai hỏa. Nhưng Nerzhin chỉ muốn làm việc nhanh để sau khi làm hết phần việc được người ta trao cho chàng, chàng khỏi phải làm gì hết. Có lần chàng nói với Simochka: “Tôi chỉ hoạt động vì tôi ghét hoạt động”. Nàng e lệ hỏi chàng: “Vậy thì anh thích cái gì?” – “Tôi thích nhìn ngắm, thích suy tưởng…”, Nerzhin đáp. Và đúng như lời chàng nói sau khi đã làm đủ phần việc phải làm trong ngày chàng thường ngồi hàng giờ không thay đổi tư thế. Làn da mặt chàng những lúc ấy trở thành xanh xám, già đi và những nếp nhăn hiện rõ trên đó. Vẻ tự tin của chàng biến đi đâu mất hết. Chàng trở thành chậm chạp và do dự. Chàng suy nghĩ rất lâu trước khi hạ bút viết những hàng chữ nhỏ li ti trên tờ giấy chàng giấu giữa đống hồ sơ, báo cáo và báo chí lộn xộn, trên bàn chàng, cũng như đêm nay, nàng thấy chàng vừa mới viết. Nàng còn nhận thấy Nerzhin cất tờ giấy mới viết đó ở đâu đó trên bàn chứ không bỏ vào ngăn kéo. Nàng tò mò muốn biết chàng viết gì và viết cho ai. Nerzhin hoàn toàn không biết, không ngờ rằng chàng đã trở thành một người chiếm trọn cảm tình và thán phục của Simochka. Cuộc đời con gái của Simochka đã trôi qua không có một chút hạnh phúc. Nàng không xinh, không đẹp. Khuôn mặt nàng hư vì cái mũi quá dài, quá nhọn. Tóc nàng thưa và được búi lại thành một búi nhỏ sau ót. Nàng không chỉ bé nhỏ không mà thôi – nhiều người đàn bà thân thể bé nhỏ nhưng vẫn đẹp, vẫn quyến rũ được đàn ông – cái bé nhỏ của nàng còn có sự gày gò, khẳng khiu nữa. Nàng giống một cô học trò tiểu học hơn là một thiếu nữ sắp trở thành thiếu phụ về tuổi tác. Đã thế nàng lại ít nói, ít đùa cợt, nét mặt lúc nào cũng ủ ê. Và sự ít nói, ít đùa cười này làm cho những người thanh niên trẻ tuổi không ai muốn gần nàng. Và năm nay nàng đã hai mươi lăm tuổi, Simochka vẫn chưa được một người đàn ông nào tán tỉnh nàng, chưa người đàn ông nào ôm nàng, chưa người đàn ông nào hôn nàng. Nhưng cách đây không lâu, đúng ra là một tháng trước đây, chiếc micro trong phòng ghi âm bị hư và Nerzhin gọi Simochka vào để sửa. Nàng vào đó tay cầm cây dùi mở đanh vít và trong căn phòng hẹp không thể đủ chỗ cho hai người đứng, nàng cúi mặt nhìn xuống chiếc micro trong lúc Nerzhin cũng đang cúi nhìn và trước khi Simochka kịp biết, má nàng chạm vào má chàng. Cái chạm ấy làm cho Simochka tưởng nàng chết ngất ngay tại chỗ. Đáng lẽ ra nàng phải lùi lại nhưng lúc ấy toàn thân nàng như tê liệt, nàng cứ đứng chết trong tư thế ây, mắt mở lớn nhìn ngây vào chiếc micro. Giây phút đó là giây phút dài nhất, kinh dị nhất trong đời nàng – hai má họ nóng ra như bốc lửa, như dính liền vào làm một. Và Nerzhin cũng không nhích ra. Đột ngột, chàng đưa hai tay lên nâng hai bên đầu nàng và nhẹ hôn lên môi nàng. Toàn thân Simochka như chảy ra thành nước. Lúc ấy, nàng không nói gì về luật lệ, và vi phạm, nàng chỉ thiều thào: “Cửa không đóng!…” Một tấm màn nhung xanh đậm, lung lay, đu đưa, ngăn cách họ với cuộc hoạt động ồn ào bên ngoài, với những người đang đi lại, làm việc, cười nói bên ngoài, những người có thể vén tấm màn lên để nhìn vào bất cứ lúc nào. Tù nhân Nerzhin, nếu bị bắt gặp, chỉ bị phạt nhiều lắm là mười ngày nằm xà lim. Nữ viên chức Serafima Vitalyeyna, nếu bị bắt gặp, sẽ mất sự trong trắng của hồ sơ lý lịch, mất chức vụ và có thể mất cả tự do. Nhưng nàng không có đủ sức để gỡ nàng ra khỏi đôi bàn tay đang nâng đầu nàng. Đây là lần thứ nhất trong đời nàng một người đàn ông hôn nàng. Và như vậy là sợi dây xích tàn nhẫn, vô tình bị đứt một mắt xích. Mắt xích đó là mắt xích được làm bằng trái tim một người đàn bà.
Ở Ngũ Giác Đài, ở Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Lan, cũng như ở Bộ Tư Lệnh Lực lượng Đặc Nhiệm ngoài biển, người ta đang sốt ruột. Có bao nhiêu người phải di tản còn sót lại ở tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn? Đã có quá nhiều trò chơi cút bắt và có những con số đã hứa với ông Martin!
2 giờ 30, giờ Sài Gòn:
Ông Đại sứ cho biết là có 726 người ở tòa đại sứ gồm có 500 người Việt Nam, 53 người Mỹ dân sự và 173 Thủy Quân Lục Chiến. Bên phía quân nhân, họ làm một bài toán. Chỉ cần có 9 chuyến bay loại CH.53 nữa là bốc sạch hết số người ở tòa đại sứ.
Sau đó, ông Martin gọi Nhà Trắng để nói lại con số chính xác hơn:
_ “Có con số gấp đôi người tỵ nạn Việt Nam đã được dự trù.
Trên thật tế, có 1100 người đang chờ, hầu hết là người Việt Nam, một linh mục người Đức, khoảng 12 nhân viên ngoại giao người Đại Hàn trong đó có tướng Lee Đai Yong, cựu Tư Lệnh Phó của 40.000 quân nhân Đại Hàn đã phục vụ ở Việt Nam. Tại Hoa Thạnh Đốn và ở Honolulu, người ta cáu lên:
_ “Ông Martin đã cho di tản quá trễ rồi và bây giờ ông còn không muốn chấm dứt nữa! Người ta đã chơi chúng tôi một vố ở phi trường rồi. Tại Tân Sơn Nhất, trước hết người ta nói có 500 người tỵ nạn, rồi 1000, rồi 2.000.
Đã có nhiều sự cân nhắc chánh trị được xen vào. Ở Hoa Thạnh Đốn , người ta muốn nói là tất cả những người Mỹ phải được di tản càng nhanh càng tốt. Ông Kissinger đã có hứa sẽ họp báo vào lúc 14 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn tức là 2 giờ, giờ Sài Gòn . Bây giờ ông ta phải dời cuộc họp báo lại 16 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn.
Nhất định phải chấm dứt. Lúc 3 giờ 15, giờ Sài Gòn một chiếc CH.46 đáp xuống sân thượng tòa đại sứ. Người phi công trao một công điện viết tay của vị Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương:
_ “Căn cứ trên một phúc trình di tản, tổng số còn phải di tản là 726 người, Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương đã cho phép gởi đi 9 trực thăng, nhưng không thể hơn nữa được. Các chữ “không thể hơn nữa được” được gạch đích 2 lần. Tổng Thống muốn thấy Đại sứ Martin phải có mặt trên chiếc trực thăng cuối cùng. Thân mến.”
Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao mong rằng chiếc trực thăng cuối cùng đó sẽ cất cánh vào lúc 3 gờ 45. Ông Martin được yêu cầu là phải “đáp nhận” bức điện tín này của Tổng Thống Ford.
Người ta cố gắng làm yên lòng những người tỵ nạn Việt Nam đang ở trong sân của tòa đại sứ . Ông Polgar dự trù là ông ta sẽ chấm dứt mọi liên lạc vào lúc 3 giờ 20. Lạ lùng là ngay lúc này và vào giờ này, người trưởng cơ quan CIA lại bị lôi cuốn vào những nhận xét tổng quát. Ông gởi bức điện tín:
_ “Kinh nghiệm duy nhất này trong lịch sử Hoa Kỳ không có nghĩa là Hoa Kỳ không còn là một cường quốc trên thế giới nữa. Tuy nhiên, với sự thất bại nghiêm trọng này và những điều kiện mà Hoa Kỳ đã vướng phải, bắt buộc Hoa Kỳ phải tái xét lại đường lối chánh trị của mình” Để đánh dấu thời điểm này, ông Polgar qui trách cho tánh bần tiện của Quốc Hội:
_ “Những người không chịu rút ra được từ những bài học lịch sử này bắt buộc phải xét lại. Hy vọng là chúng ta không còn một kinh nghiệm kiểu Việt Nam nào khác và chúng ta phải học được bài học này của chúng ta …. ”
giờ 30 phút:
Chiếc phi cơ được dùng như Bộ Chỉ Huy nhẹ trên Không phận Sài Gòn là một chiếc C.130, chiếc này đã truyền đi một điện tín được mã hóa. Kể từ giờ này, người ta chỉ có di tản người Mỹ mà thôi, ông đại sứ Martin phải lên chiếc trực thăng đầu tiên được xử dụng. Khi đã cất cánh rồi thì chiếc phi cơ này phải đánh đi một mật hiệu rất đơn giản: cọp, cọp, cọp (nguyên tác: tiger)
Ông Kissinger nói với ông Martin qua điện thoại:
_ “Ông và các vị anh hùng của ông bây giờ là phải trở về nhà.”
Ông Kissinger đã phải dời giờ họp báo của ông lại thêm một giờ nữa.
3 giờ 45
Sau khi nhìn qua một vòng đám đông người tỵ nạn trong sân của tòa đại sứ, Ông Martin mới nói:
_ “Kể từ giờ này các trực thăng trên sân thượng chỉ dành cho người Mỹ.”
Tất cả những người Việt Nam trong các dãy nhà của tòa đại sứ phải xuống sân hết. Ở đó, ông Martin tuyên bố là họ sẽ được các CH53 bốc đi.
Ở Nhà Trắng, tướng Brent Scowcroft nhận được một công điện tối khẩn của ông Martin.
_ “Chúng tôi đề nghị đóng cửa tòa đại sứ lúc 4 giờ 30 ngày 30 tháng 4, giờ địa phương. Vì có nhu cầu phải phá hủy hết máy móc truyền thông. Đây là công điện cuối cùng của tòa đại sứ Sài Gòn”
4 giờ 42 phút
Một chiếc CH.46 có tên là “Lady Ace 09” viết bằng sơn hai bên hông, đáp xuống sân thượng của tòa đại sứ. Phi công trình lệnh viết tay của Tổng Thống:
_ “Chỉ có những người Mỹ mới được lên trực thăng này với phi hành đoàn. Ông đại sứ phải lên chiếc Lady Ace 09 này”
Ông Martin bước lên trực thăng với tùy viên báo chí của mình, ông John Hogan, ông Polgar và đại tá Jacobson. Trên trực thăng, ông gặp lại các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến đến từ phi trường. Nếu đại sứ từ chối không chịu đi trong lúc này thì đã có một lịnh được dự trù: Đó là Lệnh bắt giữ ông Martin do Tổng Tư Lệnh Lực lượng Thái bình Dương, Đô Đốc Gayler ký tên. Ở tòa đại sứ vẫn còn nhiều người Mỹ trong số đó có ông Wolfgang Lehmann. Hai sĩ quan đang cãi nhau. Đại tá John Madison tưởng rằng tất cả người Việt Nam sẽ được di tản. Thiếu tá Jim Kean, trưởng toán Thủy Quân Lục Chiến trả lời là ông ta đã nhận được lệnh phải đi. Ông sẽ ra lệnh binh sĩ của ông phải rút lên sân thượng.
Ngoài bức tường của tòa đại sứ , người Việt Nam xô đẩy nhau, dẫm chân lên nhau la ó om sòm:
_ Làm ơn cho tôi đi.
_ Cho con tôi đi với tôi giùm
_ Tôi có vàng và mỹ kim …
_ Vợ con tôi đã đi rồi, Xin cho tôi đi luôn theo.
Họ kêu van, họ khóc lóc. Đối với một số người Mỹ sự chia ly này thật là não ruột. Nếu người ta cho những người Việt Nam đó vào tòa đại sứ thì những người còn ở lại đây không khi nào rời khỏi đây được đâu. Các anh Thủy Quân Lục Chiến dùng tới báng súng mà cũng khó khăn lắm mới giữ được một chu vi luôn bị thu hẹp, không xa bức tường được bao nhiêu. Có nhiều người leo qua tường. Có một số muốn dùng xe vận tải để ủi sập cửa tòa đại sứ. Đại tá Madison lấy làm rụng rời. Bây giờ vẫn còn khoảng bốn năm trăm người, nhất là người Việt Namvà phần đông là nhân viên của tòa đại sứ trong đó có nhân viên cứu hỏa, một linh mục người Đức và người Đại Hàn. Tất cả đều bỏ hết hành lý của họ, những nhân viên cứu hỏa đều là những người tình nguyện. Các người tỵ nạn được chia ra làm 6 nhóm, Hai sĩ quan là đại tá Madison và đại tá Harry Summers , thành viên của Ủy Ban quân sự 4 Bên và 2 Bên của Hiệp Định Ba Lê, đều cảm thấy bất lực. Những người Việt Nam biết là họ sẽ bị bỏ rơi. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến rút lên lầu của tòa đại sứ.
Sau đó khi đáp được xuống mẫu hạm Okinawa, đại tá Madison yêu cầu người ta gởi cho 6 chiếc trực thăng đến bốc giùm 6 toán tỵ nạn trong khuôn viên tòa đại sứ . Người ta từ chối. Những nhân viên ngoại giao đầu tiên đã đến mẫu hạm trước đó đã quên nói là vẫn còn 420 người tỵ nạn trong sân của tòa đại sứ trước khi nơi này bị đám đông người Việt Nam ở ngoài tràn vào.
5 giờ 10 phút:
Hai trăm người Mỹ, trong số này có 170 lính Thủy Quân Lục Chiến đang chờ ở tòa đại sứ . Thời gian sao mà quá dài! Các binh sĩ cuối cùng dưới quyền thiếu tá Kean, đã leo lên cầu thang. Họ đã không quên khóa hết các cửa sau lưng họ bằng các thanh thép.Trong các cầu thang và cả trong thang máy họ vất đầy hết nào là tủ, bàn ghế, và tất cả những gì họ túm được. Các binh sĩ này phải mất 2 tiếng đồng hồ mới đi được từ tầng trệt lên đến tầng chót. Họ ném lựu đạn cay. Và có một người còn ném một trái lựu đạn miểng nữa. Và người Việt Nam không còn cách nào để lên đến sân thượng được nữa.
Chung quanh tòa đại sứ là các binh sĩ Việt Nam đi lang thang với vũ khí của họ. Trên sân thượng có bố trí một khẩu đại liên để canh chừng chung quanh. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến tuân hành “lệnh D” tức là cấm bắn bừa bải, chỉ được bắn theo lệnh của một sĩ quan hay một hạ sĩ quan thượng cấp nào đó mà thôi.
5 giờ 47 phút:
Trên chiếc trực thăng mang tên Lady Ace 09, ông Martin quá mệt mỏi, có một cảm tưởng nhẹ nhõm. Sau cùng mọi việc cũng đều tốt…nếu không có thể là quá tốt…. Một số cộng sự viên của ông nghĩ là ông đã có nhiều quyết định hơi trể. Ông Martin ước tính là ông đã tránh được một sự hoãng loạn và rằng ông đã bịp được Bắc Việt. Tất cả những người Mỹ đều đã được di tản, các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến không cần phải đánh nhau. Ông Martin cũng có thể ở lại tại chỗ lâu hơn nữa được nhưng ông tỏ ra là một người có kỷ luật trong vòng 45 năm nay.
Đối với ông, lệnh của Tổng Thống rất là khắc nghiệt. Ông tự nghĩ là Tổng Thống đã bị Tổng Trưởng Quốc Phòng gạt. Ở các Bộ Tư Lệnh quân sự người ta đã nhận thấy là ông Martin đã tìm cách gạt gẩm tất cả những người đối thoại với ông. Còn ông Martin thì lại nhận thấy là người ta đã gạt ông ta.
Như vậy là cuộc chiến đã qua, và tất cả sự tan vỡ cũng đã qua!
Ông Martin nghĩ rằng ở Hoa Thạnh Đốn người ta không có chuẩn bị gì hết. Người ta chỉ sống với ý nghĩ của một sự di tản thành công ở Phnom Penh. Nhưng hãy xem lại coi. Ở đó người ta chỉ di tản có ba trăm người, hầu hết là người Mỹ. Còn tại Việt Nam, ở Sài Gòn với tất cả các chiến hạm, phi cơ, trực thăng, người ta đã di tản được 130 ngàn người Việt Nam, còn hơn thế nữa là khác, nhờ vào các chuyến bay không chánh thức.
Trên sân thượng của tòa đại sứ, hạ sĩ Stephen Bauer tự hỏi là ông ta và các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến khác có phải sẽ đến xin tỵ nạn ở tòa đại sứ Pháp hay không? Các tiếng nổ của đạn bách kích pháo càng ngày càng đến gần hơn. Trời đã bắt đầu sáng dần, và không có sương mù. Cuối cùng chiếc trực thăng rồi cũng đến. Nó đáp xuống, các cánh quạt vẫn chạy đều làm sạch phần nào không khí nhất là làm tan bớt khói của lựu đạn cay mà binh sĩ đã ném trong cầu thang đang làm họ không thấy đường và muốn nghẹt thở. Còn 10 binh sĩ nữa đang bước lên trực thăng. Người cuối cùng là trung sĩ nhất Juan Valdez đang đẩy binh sĩ của ông lên, với cảm tưởng là binh sĩ của mình chỉ muốn bước lên trực thăng sau ông để có thể nói “Tôi là người cuối cùng ” điều mà chính ông ta mới là người có thể làm được . .
7 giờ 53 phút:
Chiếc trực thăng cuối cùng này cất cánh, có mấy chiếc trực thăng võ trang Cobra hộ tống. Đây là lần đầu tiên trong 10 năm nay, không còn người lính Mỹ nào ở Việt Nam. Có vài chú đào ngũ thì họ đã nằm kín trong vùng ngoại ô.
Khi đến được bờ biển, các Thủy Quân Lục Chiến trên trực thăng vỗ tay reo hò, và chụp một bức ảnh.
Trong sân của tòa đại sứ những người Việt Namvà ông tướng Đại Hàn chạy vòng tròn. Các bản báo cáo chánh thức của Mỹ nói là ” khoảng 420 người ”
Đám đông tràn vào tòa đại sứ la hét om sòm.
Những tay tuyên truyền cho cộng sản hô to những khẩu hiệu:
_ “Mỹ đã đi hết rồi, đất nước ta được tự do, độc lập, dân chủ rồi….
Người ta bắt đầu cướp bóc trong các tầng lầu. Thình lình đám đông lui ra hết, có người la lên:
-“Chạy ra chạy ra, tòa đại sứ sắp nổ rồi!
Khi ông Martin đã đến được trên soái hạm Blue Ridge rồi, thì ông đi qua thật nhanh phòng báo chí, nơi đó ông Polgar đang nói chuyện với các nhà báo. Ông Martin nói nhanh:
_ “Nếu chúng ta giữ được những cam kết của quốc gia Hoa Kỳ xứng đáng với danh xưng của nó, thì không có xảy ra chuyện ngày hôm nay.”
Câu nói này đã chạy khắp nơi trên các máy điện báo của các cơ quan báo chí quốc tế. Ông đại sứ nhận một công điện của ông Kussinger, cứng rắn khuyên ông nên giữ cảm nghĩ riêng của mình cho Tổng Thống Hoa Kỳ . Sau khi dùng một bữa điểm tâm nhẹ với trứng và xúc xích. Ông Martin đi khám sức khỏe. Qua chiếu điện, người ta khám phá ra nhiều sung huyết trong cả hai buồng phổi của ông. Khi ông nhìn lại kỹ cuộc di tản, đại sứ Graham Martin nói rằng:
_ “Tôi không thấy việc đó là một niềm danh dự của Hoa Kỳ”
Trên soái hạm Blue Ridge, người ta trao cho ông một lượt cả ba công điện. Những người gởi các công điện này đã nói với ông với một giọng điệu khác nhau hết:
(1)- của Tổng Thống Ford gởi cho ông Martin:
_ “Tôi bày tỏ một sự hài lòng sâu xa của tôi, đối với ông và đối với tất cả các cộng sự viên của ông,
về sự thành công trong cuộc di tản người Mỹ và người Việt Nam ở Sài Gòn . Sự tận tâm không mệt mỏi trong nhiệm vụ của ông và việc thực hiện trong những điều kiện cực kỳ khó khăn là tối cần thiết cho sự hoàn chỉnh của cuộc hành quân rất khó khăn và tế nhị này. Xin ông vui lòng nhận những lời khen thành thật và cá nhân của chính tôi. Lòng can đảm và sự bình tĩnh của ông trong thời điểm khó khăn này đã giúp di tản được chính những công dân của chúng ta và một số lớn người Việt Nam trong cơn nguy khổn. Tôi ước mong là ông sẽ chuyển đến tất cả các cộng sự viên của ông lòng biết ơn sâu xa của tôi và của dân chúng Hoa Kỳ về một công việc đã được hoàn tất tốt đẹp. Thành thực,”
(2)- của ông Tổng Trưởng Ngoại Giao, thân mật hơn:
– “Gởi ông Graham Martin, của Henry Kissinger,
Tôi chắc chắn là ông biết những cảm nghĩ sâu xa của tôi về thành tích của ông trong những điều kiện
thật không gì khó khăn hơn. Hãy nhận những lời cám ơn nồng nhiệt nhất của tôi. Nghĩ về ông.
Tái bút: Sẽ chấp nhận mọi tin tức về các dự tính du lịch tức thời của ông để chuyển cho gia đình ông”
(3)- của tướng Brent Scowcroft từ Nhà Trắng, một công điện rất giản dị:
_ “Graham, ông thật là tuyệt diệu.”
Các trực thăng, với những Thủy Quân Lục Chiến của thiếu tá Melton bị phân tán ra hết. Trực thăng của thiếu tá thì đáp ở mẫu hạm Midway, còn trực thăng của người phó của ông thì đáp trên chiếc Vancouver.
Các trực thăng Việt Nam, hết nửa còn trống hay chở đầy binh sĩ và dân sự gồm đàn bà, bô lão, trẻ con, thúng rổ đựng trái cây, đạn dược súng ống lẫn lộn bay đến. Thiếu tá Melton còn thấy cả những hành khách ra khỏi trực thăng với những con gà chân cột lại.
Thật là rất đúng, có thể là tượng trưng, là chiến tranh của người Mỹ, quá cơ giới hóa, đã kết thúc với những chiếc trực thăng. Từ năm 1965, đối với các Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ, trực thăng được xem như là một vũ khí tấn công quyết định. Bây giờ thì trực thăng là phương tiện triệt thoái.
Di động, dễ điều động, trực thăng được ghi nhận là đã tiến xa trên bốn điểm – mà cũng là bốn nhược điểm? về đặc tính của Hoa Kỳ: sự lạc quan, sự háo chiến, sự mất kiên nhẫn và lòng tin ở cơ giới tối tân. Ngày 30 tháng 4 này, trong lúc hình ảnh cuối cùng của các vũ điệu trên không đang diễn ra trên các chiến hạm thì người ta bỗng ghi nhận là trực thăng đã trở thành phương tiện tiêu biểu của một sự triệt thối.
Chiếc Midway đang di chuyển. Các sĩ quan đã cho ông thiếu tá Melton biết là chiếc mẫu hạm này sẽ đến bờ biển Thái Lan để chở các phi cơ tiềm kích của Miền Nam Việt Nam. Có một chiếc phi cơ nhỏ xuất hiện trên vùng trời và qua truyền tin gởi một công điện:
_ “Tôi là một thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa, tôi có chở theo vợ và mấy đứa con của tôi. Tôi xin phép được đáp xuống.
Trả lời:
_“Không thể được. Chúng tôi không có sẵn sàng. Chúng tôi không có lưới an toàn để chận phi cơ loại này của anh.
_“Tôi đáp xuống đây”
Chiếc phi cơ được phi công Việt Nam đặt trên trục tiến của mẫu hạm, đáp xuống, thắng lại, và thành công. Cà binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến và Hải Quân trên mẫu hạm đều nhiệt liệt hoan hô phi công, cả ông thiếu tá Melton cũng vậy.
Thiếu tá Melton rất bằng lòng. Không có một người nào của ông bị thương hay tử thương. Thủy Quân Lục Chiến được thành lập để tấn công, đổ bộ, và chiếm vị trí. Trong những ngày sau cùng này, họ đã bảo vệ cho một cuộc triệt thối. Thiếu tá Melton là một quân nhân hiện dịch, đã làm đúng theo lệnh. Đứng tựa vào lan can, ông ngắm nhìn các chiếc thuyền nhỏ chung quanh mẫu hạm, quan sát các binh sĩ Hải Quân dưa những người tỵ nạn lên mẫu hạm.
Tướng Richard Carey tổng kết 3 ngày làm việc của mình, ngày 28, 29 và 30 tháng 4. Kết quả tốt cho cuộc di tản bằng đường biển : 8 chiếc tàu đã chở được 29. 783 người tỵ nạn, hầu hết từ Vũng Tàu; 2500 người được bốc đi từ hai đảo Phú Quốc và Côn Sơn.. Chiếc Pionner Commander đã cứu được 4669 người ở vàm sông Sài Gòn.
Các phi công Hải Quân đã bay đổ đồng 13 giờ một ngày. Có nhiều anh đã bay trực thăng của mình suốt 18 giờ liên tục. Riêng cho những trực thăng di tản đã có 689 chuyến bay trong đó có 160 chuyến bay đêm . Có hai Thủy Quân Lục Chiến bị tử thương ở phi trường. Và hai phi công, một của chiếc CH46 cố đáp xuống mẫu hạm Hancock đã bị lật úp xuống biển, không có hành khách, hai phi công chánh và phụ bị chết chìm, người ta đã cứu được hai xạ thủ đại liên. Một chiếc AH.1J, trực thăng võ trang, bị khó khăn về nhiên liệu, đã bị phi công cho xuống biển cách chiếc Okinawa bốn dậm. Phi hành đoàn bình yên. Như vậy có tất cả là 4 quân nhân bị tử thương.
Từ các bãi đáp gần các dãy nhà của Phòng Tùy Viên quân sự ở phi trường Tân Sơn Nhất , Thủy Quân Lục Chiến đã bốc đi được 5.600 người . Không có một người nào nghĩ rằng mình đã di tản được 2206 người trong đó có 1375 công dân Hoa Kỳ, từ trong sân và trên sân thượng của tòa đại sứ.
Có đôi lúc trên tàu, binh sĩ Hải Quân nhất là trong lúc họ phát lương thực, đã bị chửi, đôi khi còn bị người tỵ nạn xô đẩy nữa. Những mầm nổi loạn? Không … Có vài người tỵ nạn bị đè bẹp. Trên một số chiến hạm, các binh sĩ Miền Nam mặc quân phục có, mặc thường phục có, có võ trang đã tạo ra tình hình căng thẳng, nhưng binh sĩ Hải Quân đã giải giới được họ và lập lại trật tự có qui củ bình thường.
Cũng có vấn đề khó khăn về vệ sinh . Đôi khi người ta thiếu nước. Dưới hầm tàu thì có mùi nôn mữa và phân người. Đúng ra đây là một vấn đề quá khó vì người Việt Nam được chở trên tàu quá đông.
Điều ngạc nhiên, là không phải không có điều gì xảy ra, mà đã không có có xảy ra nhiều.
Đại tá Lê vĩnh Hòa không muốn rời khỏi Sài Gòn . Vào lúc 6 giờ, ông ta còn ở trong văn phòng giám đốc đài truyền hình. Ông định lái xe đi ra. Cảnh sát đã ngăn ông lại:
_ “Ông bị bắt.
_ “Ai bắt tôi?
_Theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh.
Ra đi, là trốn chạy, là đào ngũ. Tổng Thống đã ngăn cấm các sĩ quan không được rời khỏi Sài Gòn.
Ở căn cứ Tân Sơn Nhất, nơi mà tất cả binh sĩ đều ôm chặt máy thu thanh, trung sĩ Thương, đang chờ đợi tin tức của Chánh Phủ mới.
Đang có một buổi họp ở văn phòng của Thủ Tướng, ở một ngôi nhà cổ của người Pháp trên đại lộ Thống Nhất. Chung quanh Tổng Thống có Thủ Tướng Vũ văn Mẫu, một vài quân nhân và công chức cao cấp.. Một cố vấn của Tổng Thống, ông Lý quý Chung, từ trại Davis trở về. Người của CPLTCHMN không chấp nhận thương thuyết với tân Tổng Thống . Họ không sẵn sàng cho bất cứ một sự nhượng bộ nào, quân sự cũng như chánh trị.
_“Họ đòi hỏi “phải giải tán Quân đội và cảnh sát bù nhìn” Họ sẵn sàng cung cấp giấy thông hành cho Tổng Thống và người của ông.
Các cố vấn của ông Minh chia thành phe phái. Có nên lấy một vị thế cứng rắn hay không ? Nhưng muốn vậy thì phải dựa vào ai? Các sư đoàn ở mặt trận, các sư đoàn 5, 18, 22 và 25 cũng như thành phần còn lại của các lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến hay Dù, theo tin tức quân sự giờ chót đều tan rã hết. Vài vị khuyên nên đầu hàng. Ông Minh còn lưỡng lự. Người ta gởi một đại diện mới nữa vào trại Davis. Người ta điện thoại. Các ông Phật Giáo, các vị Công Giáo, và các nhà ngoại giao Pháp họ đều thú thật là họ không biết cộng sản muốn gì nữa . Đùng một cái, tướng người Pháp, ông Francois Vanuxem xuất hiện, mặc thường phục.. Ông này là người chủ trương đánh tới cùng ở chiến trường Algérie thuộc Pháp, thạc sĩ triết học. Ông đã cho khá nhiều dự án. Ông đề nghị một đề án khác: mình phải yêu cầu Trung Quốc tấn chiếm Miền Bắc Việt Nam. Lúc bấy giờ nước Pháp sẽ làm trung gian hòa giải. Ta có thể nhờ đó giữ được một Miền Nam trung lập hay được trung lập hóa.
Ông Minh soạn một văn bản và trao cho Thủ Tướng của ông, sau đó ông trở về Phủ Tổng Thống để thu băng. Đài phát thanh sẽ cho phổ biến văn bản này vào lúc 10 giờ 24 phút.
Đường lối chánh trị của chúng tôi là hòa giải. Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào sự hòa giải của người Việt Nam để tránh khỏi đổ máu thêm một cách vô ích. Tôi yêu cầu binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa hãy chấm dứt chiến sự và nằm yên tại chỗ. Tôi yêu cầu binh sĩ anh em của CPLTCHMN cũng nên chấm dứt chiến sự. Chúng tôi đợi ở đây để gặp CPLTCHMN để cùng nhau bàn thảo về một buổi lễ bàn giao quyền bính và tránh đổ máu của dân chúng vô ích. ”
Trong bản tuyên bố này, tướng Minh không bao giờ nhắc tới quân đội Bắc Việt. Ông chấp nhận tổ chức hư cấu thường được gọi là CPLTCHMN , ông cũng cho thấy rõ ràng là ông không nghĩ tới chuyện nắm giữ lại một phần nào dù là bề ngoài của chánh quyền .Ông ta sẽ “chuyển giao”. Ngay sau đó, đài phát thanh cũng phát đi một thông cáo của Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa:
_ “Binh sĩ, trung đoàn trưởng, lực lượng bảo an, dân vệ..Tôi, tướng Nguyễn hữu Hạnh, Tổng Tham
Mưu Phó thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi yêu cầu các tướng lãnh và binh
sĩ các cấp, phải triệt để tuân lệnh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa liên quan đến chuyện ngừng bắn.
Bộ Chỉ Huy Quân sự của chúng ta đã sẵn sàng liên lạc với Bộ Chỉ Huy Quân sự của CPLTCHMN để thực hiện một cuộc ngưng bắn mà không đổ máu”
Thủ Tướng cũng có một bản tuyên bố ngắn:
_ “Trong một tinh thần hòa giải và hòa hợp, tôi, giáo sư Vũ văn Mẫu, Thủ Tướng, xin kêu gọi tất cả các tầng lớp dân chúng hãy hân hoan chào mừng ngày hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Tôi kêu gọi tất cả công viên chức của Chánh Phủ hãy trở về nhiệm sở và hoạt động lại như cũ .”
Tại phi trường trung sĩ Thương khóc.
Ngay tại nhà mình, ông kỹ sư Văn kết luận là những cuộc thương thuyết của ông Minh đã không đi đến đâu hết. Ông nghĩ rằng người cộng sản không bao giờ chấp nhận một chế độ trung lập. Nhưng rồi ông nghĩ lại. Dù sao ông cũng muốn tin ở sự khoan hồng của kẻ thắng trận. Ông đi vào văn phòng của ông. Phần đông các bạn đồng nghiệp của ông đều nghe theo lời kêu gọi của Thủ Tướng, nhưng họ vẫn sợ.
Hầu hết các Phật Tử ở trong chùa của hòa thượng Thiện Hoa đều nói:
_ “Hết rồi, chúng ta có thể đi về nhà rồi.
Tại Hoa Thạnh Đốn Tổng Thống Gerald Ford vừa ăn tối xong với quốc vương Hussein của nước Jordanie. Người ta cho ông biết về tuyên bố của ông Dương Văn Minh. Không có người nào gợi lên chuyện đầu hàng này và cả nước Việt Nam nữa.
Bộ Tổng Tư Lệnh Quân đội Bắc Việt đã nghe lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh trên đài phát thanh. Tướng Dũng nói:
_“Làm gì có vấn đề tước đoạt chiến thắng của mình bằng “trò chơi cút bắt” này được?
Bộ Chánh trị cho lệnh:
_“Tiếp tục tấn công vào Sài Gòn theo kế hoạch đã dự trù” Tăng tốc độ và tăng cường tối đa sự tiến quân của chúng ta. Phải giải phóng cả thành phố, giải giới địch quân. Phá vỡ bộ máy hành chánh của địch trên tất cả mọi cấp. Đập tan hết mọi mưu toan kháng cự.”
Ngay tức khắc tướng Dũng phổ biến lệnh cho tất cả các đơn vị:
_ “Gởi tất cả các quân đoàn, các khu quân sự , tất cả các đơn vị: thứ nhất, tiếp tục tiến càng nhanh càng tốt đến các mục tiêu đã được chỉ định ở trung tâm thành phố và ở các tỉnh. Thứ hai, kêu gọi địch quân phải đầu hàng và giao nộp tất cả vũ khí. Bắt giữ và tập trung tất cả các sĩ quan địch từ cấp tá trở lên. Thứ ba: Đập tan ngay tại chỗ tất cả mọi mầm móng kháng cự.”
Một vài nơi ở Sài Gòn nhất là trong các văn phòng và các biệt thư bỏ trống của người Mỹ, đã thấy người ta cướp bóc. Đàn ông, đàn bà, con nít gỡ và khiêng đi nào là đèn, máy thu thanh, vòi nước trong bồn rửa mặt, máy đánh chữ, bàn ghế đủ loại, đi văn, nệm, giường. Trong các sân và cầu thang của tòa đại sứ rải rác đầy những giấy tờ, sách báo, và hồ sơ báo cáo…. Trong các tầng lầu, người ta đua nhau gỡ các máy điều hòa không khí, các tủ lạnh được mở tung tóe. Có nhiều người cố thử mở các tủ sắt . Chỗ nào cũng có các ghế phô tơi bị tháo tung ra, các khuôn hình và các bức tranh bị đập nát. Có nhiều người Việt Nam còn trẻ, mặc sọt, ở trần trùng trục, đang di tản mấy chiếc ghế tràng kỷ dài. Từ 30 năm qua, người Việt Namvới tánh kiên nhẫn và khéo tay, đã thu nhặt và sửa chữa, đóng hay dán lại mọi loại vật dụng. Bây giờ thì họ lại tiếp tục. Các ông chủ củ đã ra đi, các ông chủ mới còn chưa thấy có mặt.
Tại dinh Tổng Thống , điện thoại reo tới tấp và liên tục. Ông Nguyễn văn Hảo, cựu Tổng Trưởng Kinh Tế nói to lên:
_ “Những người nào đã có một trách nhiệm nào đó đối với đất nước không thể ra đi được. Dù có gì xảy ra cũng phải ở lại. Bắc Việt biết rõ họ muốn gì. Họ đã tranh đấu từ ba chục năm rồi, họ xứng đáng để lãnh đạo Việt Nam… một đất nước thống nhất và độc lập, tương lai được bảo đảm. Miền Nam giàu về nông nghiệp và dầu hỏa, Miền Nam có thể giúp đỡ cho Miền Bắc.
Vị tân Thủ Tướng đã chỉ định ông Lý quý Chung trong chức vụ Tổng Trưởng Thông Tin, ông này tuyên bố:
_“Chúng ta không có một mặc cảm nào về sự đầu hàng… Đừng bao giờ nói tới lực lượng thứ ba nữa. Lực lượng này không có chỗ đứng chánh trị của nó. Nhất là nó chỉ đại diện cho một dân tộc thống nhất và không đánh nhau.
Ngoài thành phố, cờ xí treo rộp trời. Dân chúng treo cờ xanh và đỏ của CPLTCHMN ở cửa sổ. Trên các công sở thường thường người ta chỉ treo môt miếng vải trắng hay một tấm vải trải giường trắng. Có nhiều người treo cờ Pháp, nghĩ rằng để thay thế cho một loại đặc miển ngoại giao. Trời rất tốt.
Ông Patrick Hays đi một vòng Sài Gòn . Có nhiều đường vắng teo, có đường cũng đông nghẹt. Ông gặp những người lính Dù, có võ trang, rất có kỹ luật ở đường Công Lý và Pasteur. Ông đến bệnh viện Grall. Ờ đây chung quanh các dãy nhà có nhiều người dân sự và rất nhiều quân nhân mặc thường phục.
Đại úy Phạm Thình làm việc ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát. Thượng cấp của ông, trong đó có tướng Nguyễn khắc Bình Tư Lệnh cảnh sát và Giám Đốc Trung Ương Tình Báo, cùng với 3 tướng lãnh khác và 4 đại tá và một số sĩ quan khác đã ra đi. Phạm Thình ở lại với nhiệm vụ “giữ gìn trật tự và danh dự”. Hai ngày trước ông Thình đã gởi vợ con đi Pháp. Ông đã từng giúp hãng hàng không Air France ở văn phòng nên người ta đã giảm giá vé cho ông đến 50 %. Ông Thình đã yêu cầu người ta đốt hết tất cả hồ sơ. không một ai đả đụng tới. Ông quyết định đến tỵ nạn ở tòa đại sứ Anh, đang được người gát cổng. ông Sam, dân Ân độ, coi sóc. Nơi đây ông thấy có một đại tá và khoảng 12 sĩ quan cảnh sát . Họ lên xe đi đến bệnh viện Grall. Họ tin tưởng rằng ở đây có treo một lá quốc kỳ Pháp và họ sẽ được bảo vệ. Đại úy bỏ khẩu súng của ông. Ông nghĩ nhiều tới những hồ sơ vẫn còn ở Bộ Tư Lệnh, từ những tờ giấy đã ngả vàng và bụi bậm với những lời phê bằng mực tím, từ hồi còn người Pháp… cho đến những tờ giấy đánh máy, các bản sao của cơ quan CIA. Đại úy này thù ghét cộng sản nhưng ông tự nhủ là có thể họ sẽ tỏ ra hiểu biết. Họ sẽ nói về hòa hợp và hòa giải. Tất cả mọi chế độ đều cần cảnh sát Có thể người ta sẽ hạ cấp bậc ông xuống một ít. Và ông sẽ lấy lại cấp bậc cũ của ông trong tương lai.
Nhiều toán quân nhân Miền Nam Việt Nam đi lang thang trong thành phố. Có một số lớn đã vứt hết vũ khí và cả quân phục của họ. Trên lề đường vương vãi đầy quần áo trận, giày cao cổ đi rừng, nón sắt, mũ nhựa, băng đạn v.v.. Có những lời đồn đoán được loan đi một lần nữa. Một vài người dân Sài Gòn quả quyết là cộng sản sẽ trừng phạt thành phố bằng bom đạn. Người khác thì tin chắc và xác nhận là chiến xa Bắc Việt sẽ không vào thành phố. Sài Gòn sẽ là một thành phố tự do như Hong Kong vậy, vì Hà Nội cũng cần có một cửa mở ra cho vùng Á Đông.
Ở công trường Lam Sơn, dưới chân tượng đài “chiến sĩ Việt Nam” có một tử thi nằm dài giữa hai chậu bông. Một ông trung tá cảnh sát, sau khi nghe lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, đã đến đây. Ông đứng nghiêm chào tượng đài, đứng nguyên vị thế nghiêm một lúc lâu rồi ông ta tự bắn vào đầu một phát sùng lục. Có một số lớn sĩ quan đã tự tử trong ngày 30 tháng 4, trong đó có tướng Trần văn Phú, cựu Tư Lệnh Vùng 2 Chiến Thuật. Hồi xưa những người có trách nhiệm mà không làm tròn nhiệm vụ quan trọng thì phải tự sát.
Người ta ghi nhận có nhiều đơn vị Bắc Việt trong vùng ngoại ô. Có một số thành phần của quân đoàn 3 Bắc Việt đã tiến đến gần phi trường. Tướng Văn Tiến Dũng đã cho 150.000 người tiến sát vào Sài Gòn . Một vài đơn vị của Miền Nam Việt Nam vẫn còn kháng cự ở vùng cầu Tân Cảng trên sông Sài Gòn. Người ta thấy cả bộ binh và chiến xa Bắc Việt đi qua cầu. Bộ binh thì được xe Quân đội chở, theo sau là các khẩu đại bác của Pháo Binh có xe kéo, và các khẩu đại bác cao xạ phòng không . Các xa đoàn trên chiến xa thì khó thấy được. Đôi khi, họ hòi thăm đường giống như khách du lịch đi lạc vậy.
11 giờ :
Ở phi trường, trung sĩ Thương và hai chục binh sĩ nhận lệnh của cấp trên, ông Lê xuân Huyến:
_ “Hết rồi, các anh hãy bỏ súng xuống và về nhà hết đi, còn tôi, tôi phải ở lại để bàn giao… Không có một người nào chịu đi. Tại dinh Tổng Thống, ông Dương Văn Minh mệt mỏi, đang có mặt với Thủ Tướng của ông và một vài nhà báo. Ông nói:
_ “Tôi đợi anh em ở “phía bên kia”
Ông cũng tâm sự với anh Jean Louis, trưởng phòng của cơ quan truyền thông AFP:
_ “ Tôi không biết là phải đợi họ hôm nay hay ngày mai… Phải có người nào đó….
Khi các bộ đội Bắc Việt xuất hiện, các nhân viên người Việt đã bị CIA bỏ quên ở khách sạn Duc, bắn mấy tiếng súng lục và liên thanh. Mấy tràng liên thanh nặng và hỏa tiển đã làm cho họ im ngay. Phía sau lưng nhà thờ Chánh Tòa, một trung đội Dù cố ngăn các chiến xa địch. Tất cả đều bị thương hay tử thương.
Người dân Sài Gòn quan sát đoàn quân chiến thắng Bắc Việt với một sự nhẹ nhõm, sợ hãi và ngạc nhiên lẫn lộn. Hầu hết các bộ đội hình như còn quá trẻ hơn là có kỹ luật. Sĩ quan thì hình như đã quá tuổi 40. Các pháo tháp của chiến xa thường được mở toang, chiến xa thì được nghi trang bằng lá dừa nước .
11 giờ 45:
Trung sĩ Thương của Việt Nam thấy bộ đội Bắc Việt trang bị súng AK. Họ nói lớn tiếng và mạnh dạn, toàn nói tiếng Bắc:
“Ai chỉ huy ở đây ?
Thiếu tá Lê xuân Huyến tiến tới và nói:
“Tôi”
Bộ đội Bắc Việt ra lệnh cho tất cả đều phải cởi bỏ hết quân phục. Các binh sĩ nghe theo lệnh, và mặc quần cụt đứng chờ. Người ta nói là tất cả, người thắng trận cũng như người thua trận đều có vẻ sợ. Người thắng trận thì sợ mắc bẩy, người thua thì sợ bị hành quyết. Bộ đội Bắc Việt cho lệnh họ trở về nhà, trừ thiếu tá Huyến. Trung sĩ Thương cùng ra về với các đồng đội.
Có nhiều xe jeep chạy quanh trong thành phố, chở đầy sinh viên mang súng M.16 nhưng đeo băng đỏ.
Anh Tiên, một người trẻ thích xi nê, đã từ Hà Nội vào, đi trên 6 chiến xa Bắc Việt đến trước Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa. Chiến xa xếp thành hàng trong sân , súng chĩa thẳng vào Bộ Tổng Tham Mưu. Vào giờ chót toán chiến xa này được lệnh đến khám Chí Hòa, rồi lại được lệnh trở về Bộ Tổng Tham Mưu vì các tù nhân đã được thả hết rồi.
Anh Tiến này thấy bằng lòng, chiến tranh đã chấm dứt, anh ta sẽ về gặp mẹ anh và ông anh.
Chiến xa mang số 879, thuộc lữ đoàn 203, do Bùi đức Mai chỉ huy, đã vào đại lộ Thống Nhứt, qua khỏi tòa đại sứ Hoa Kỳ để tiến tới. Người trưởng xa nhận thấy mình đã đi quá xa, nên lui lại và hướng về Dinh Độc Lập tiến tới . Chiến xa này chạy tới trước hàng rào và những bồn cỏ. và với một hành động cố ý hay tượng trưng, vì không có một ai ngăn cản và lính gát đã chờ để mở cổng dễ dàng, chiến xa mang số 879 ủi sập hàng rào sắt và tiến tới tòa nhà lớn. Chi đoàn trưởng Bùi quang Thuận bước xuống chiến xa , bước lên cầu thang, lên đứng tại bao lơn. Một anh bộ đội đi lại lan can để hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa xuống và kéo cờ xanh đỏ của CPLTCHMN lên. Bây giờ là đúng 12 giờ 15 phút, giờ Sài Gòn, 11 giờ 15 phút giờ Hà Nội, lá cờ của CPLTCHMN đã phất phơ trên dinh Độc Lập. Các chiến xa khác cày nát bải cỏ vào bố trí thành hàng…Các bộ đội cũng chia ra nằm rải rác trên bãi cỏ. Xa xa, về hướng tòa đô chính, người ta nghe được một vài tiếng súng nỗ lẻ tẻ và cũng có một vài tiếng lựu đạn nỗ. Dân chúng, trong đó rất nhiều trẻ con và nhà báo bu quanh các chiến xa và các bộ đội Bắc Việt. Sĩ quan và bộ đội Bắc Việt phân tán ở tầng trệt nhưng sau đó tràn lên lầu một, và ở đó họ gặp Tổng Thống Dương Văn Minh và những người trong chính phủ của ông. Ông Tô văn Quang, một nhân viên Điện Lực hình như cũng có mặt để làm trung gian. Một anh Bắc Việt có lẽ quá sốt ruột đã hỏi xem có ai có vũ khí gì không:
_ “Nếu có vũ khí thì vất xuống đất hết đi.
Có hai người nói với ông Dương Văn Minh, với 2 cách đối xử hoàn toàn khác nhau. Một người thì có vẻ ôn hòa hơn, là đại tá Bùi Tín, một nhà báo, từng là sĩ quan báo chí thuộc phái đoàn quân sự Bắc Việt trong Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên Trung ương ở trại Davis, là sĩ quan cao cấp nhất lúc bấy giờ , đến để chấp nhận sự đầu hàng:
_ “Các ông không có gì để phải sợ sệt, Giữa người Việt Nam với nhau, không có người thắng không có người thua. Chỉ có người Mỹ mới là kẻ bại trận. Nếu các ông là những người yêu nước thì hãy xem đây là phút giây vui sướng. Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc rồi.
Ông Dương Văn Minh trả lời:
_ “Chúng tôi chờ các ông để giao quyền bính.
Một sĩ quan cấp úy khác có lẽ tên Tùng, thẳng thừng nạt lại:
_ “Các ông không có gì để mà giao nộp. Các ông chỉ có đầu hàng vô điều kiện thôi. Các ông hãy đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Ông Minh cúi mặt xuống, ríu ríu bước xuống cầu thang của dinh Độc Lập và đi đến đài phát thanh đọc một văn bản do một sĩ quan Bắc Việt thảo ra:
_ “Tôi tuyên bố là nền hành chánh của Sài Gòn hoàn toàn được giải tán từ trung ương đến địa phương. Từ cấp trung ương đến địa phương, đâu đâu cũng đều đầu hàng CPLTCHMN.
Ông Dương Văn Minh trở về dinh, nơi đây đã có gần 40 chiến xa Bắc Việt đại bác và liên thanh chỉa ra ngoài như để phòng thủ nơi này vậy. Một vài tù binh đang ngồi dưới đất, đứng dậy và được mấy bộ đội Bắc Việt dẫn đi gia nhập vào các hàng tù binh khác trong thành phố.
Còn bộ đội Bắc Việt thì lớp đứng, lớp ngồi chồm hổm, người thì đội nón cối người để đầu trần, đang ba hoa với dân chúng. Ông Minh và những người của ông ăn trưa. Bữa cơm của một Tổng Thống , cua biển chiên và mì ống đã sẳn sàng. Người ta cho Tổng Thống một khẩu phần của bộ đội gồm có cơm và thịt hộp.
Có nhiều thanh niên -được gọi là “cọp 30/4”, mới nhảy ra tham chiến vào giờ chót – một số có võ trang, chạy khắp thành phố trên những chiếc xe sung công.
Trung sĩ Thương, mặc thường phục, trở về nhà ở đường Lăng Cha Cả. Nhà anh trống vắng. Anh lấy một chiếc xe đạp và đạp đi. Trên đường Trương minh Giản, anh thấy một số binh sĩ Việt Nam Cộng Hòachết nằm dài dưới đất. Anh đi đến gần chợ, thấy toàn là chiến xa và xe vận tải Molotova. Các “cọp 30” mang băng đỏ, ồn ào cho lệnh đám đông:
_ Vỗ tay đi
Đàn bà và trẻ con chạy vào tiệm mang đi các băng ghi âm, đèn, máy thu thanh. Mấy ông “cọp 30” vội la lên:
_ “Đừng có cướp phá, đó là tài sản của nhân dân!”
Một vài anh Việt Cộng , mặc bà ba đen đội nón vải đi rừng, với khăn rằn choàng cổ mang súng AK.47 và súng phóng hỏa tiển, được thấy lẫn lộn trong đám bộ đội Bắc Việt.
Tại Bộ Tổng Tư Lệnh, tướng Dũng hớn hở:
_ “Trên bản đồ của chúng ta, 5 cánh quân của chúng ta vừa nở ra như những tai của một hoa sen. Quân đoàn 1 chiếm Bộ Tổng Tham Mưu và các Bộ Chỉ Huy của các binh chủng. Quân đoàn 3 chiếm phi trường Tân Sơn Nhất , ở đó họ bắt tay với phái đoàn quân sự của ta ở trại Davis. Nhiều pha gặp lại nhau cũng cảm động và nên thơ lắm. Quân đoàn 4 đã đóng quân ở bộ Quốc Phòng , bến Bạch Đằng và đài phát thanh. Toán đặc nhiệm 232 kiểm soát Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô và Bộ Tư Lệnh Cảnh sát.”
Nơi đây các đơn vị đặc biệt đã khám phá được hằng ngàn hồ sơ và các máy điện toán, làm cho họ phải suy nghĩ. Tướng Dũng tiếp tục:
_ “Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc Lập, chỗ mà những người Mỹ làm đủ mọi trò để bán đấu giá nền độc
lập của chúng ta.”
Ở Bộ Tư Lệnh Bắc Việt, có cuộc họp của những người chỉ huy. Họ ôm nhau và khen lẫn nhau. Ông Lê đức Thọ, Phạm Hùng và tướng Văn Tiến Dũng đã ôm hôn nhau. Trong phút giây sung sướng đó, tướng Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đốt một điếu xi gà và kéo vài hơi thích thú.
_ “Một mùa xuân lạ thường vừa mới nở ra thình lình trong một khúc nhạc vui không thể tả được”tướng Dũng viết. Tướng Dũng này, một quân nhân có tuổi, luôn chiến đấu, 36 năm trước vốn đã có lúc phải tỵ nạn trong một ngôi chùa Phật Giáo , ám chỉ cho một công thức lạ lùng trong chu kỳ sanh và tái sanh trong Phật Giáo: “Giây phút này, người ta chỉ sống được có một lần trong cả cuộc đời , hay có thể trong nhiều cuộc đời. Dù sao thì cũng chắc chắn là không có hai lần như vầy trong một đời người.”
Một trong số sĩ quan của ông nói:
“Kể từ giờ này người ta có thể đưa vũ khí qua bên trái, lòng thấy đã thỏa mản.”
Tướng Dũng đã tìm thấy lại được hình ảnh cũ của hoa sen, cái hoa đầu tiên, mới xuất hiện lần đầu tiên của cuộc đời trên dòng nước đục, cái hoa đẹp và trong trắng. Tướng Dũng đã từ những dòng nước bẩn đó của chiến tranh đi ra, từ các chiến khu, từ những cuộc tấn công thất bại và sau đó thành công. Một trong những người cận vệ của ông ta, anh Võ xuân Sang đã chụp được những giây phút hoan hỷ này. Dĩ nhiên là các hệ thống dân sự và quân sự của người cộng sản đều tỏ vẻ hân hoan. Tướng Dũng trong hồi ký của mình, đã rơi nhanh vào giòng thơ trử tình lẫn lộn với các hình ảnh loại tình cảm chánh trị mà Hà Nội cho phép:
_ “Phải, chúng tôi đã khóc vì mừng trong ngày chiến thắng này… Ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi là dành cho Bác Hồ, sau giây phút loan báo chiến thắng hoàn toàn đó. Chúng tôi hình như nghe được tiếng chuông reo ở nhà sàn của Người , để báo cho Người chiến thắng mới. Chúng tôi hình dung được Người đang đứng sau các bức màng, đang viết một bài thơ để mầng chiến thắng..”
Bác Hồ đã nói rằng Người chờ 10, hai chục hay ba chục năm nếu cần. Quân đội là Đảng, và đảng như một hoa sen, với bốn, sáu, hai mươi và ngàn tai. Hoa sen với một ngàn tai, đó là cả một sự phát hiện và đảng là sự thật. Chỉ còn có việc làm cho người dân Miền Nam vốn thường hay lãnh đạm hay cười và hay bị mua chuộc, để cho họ hiểu và chấp nhận . Tướng Dũng nghĩ rằng Sài Gòn và Miền Nam cũng như Hà Nội và Miền Bắc xứng đáng được biết “cuối cùng là hòa bình và hạnh phúc “. Rất giản dị là họ không được biết loại hạnh phúc nào mà họ rất cần. Còn người dân ở Hà Nội thì họ đã biết rồi. Hạnh phúc rất xứng đáng phải được tổ chức. Trong thành phố loạn ly và đầy nghi ngờ này, có nhiều người dân và quân nhân cần phải đền tội trước hết. Ngoài một vài quyền lợi hay nhiều đau khổ cá nhân, mới có nẩy ra được hạnh phúc tập thể trên tất cả những khát vọng nhỏ nhoi cá nhân, ích kỷ và tư sản đáng khinh.
Tại Sài Gòn trên bãi cỏ có bóng mát trong dinh Độc Lập hiện có gần 2000 bộ đội Bắc Việt cười nói vui vẻ. Lúc họ tới họ không nhận thấy được những biểu hiện vui mừng ồ ạt như họ đã dự kiến . Có nhiều khẩu súng được cài hoa trên đó. Các bộ đội ăn cơm nếp với đồ hộp.
Bệnh viện Grall đầy ấp người dân tỵ nạn, trong đó có những người Đại Hàn, người Đài Loan, Cả đàn ông đàn bà và trẻ nít đã chiếm hết các bãi cỏ và họ cấm lều giữa các dãy nhà tiền chế. Có nhiều người thấy xa hơn nên đã xin nhập viện từ mấy tuần trước . Một ông già buôn bán đồ cổ, nghiện thuốc phiện, ông Thanh An, đã thuê một căn gác xép của bệnh viện, được gọi nôm na là “chuồng bồ câu” gồm có một phòng ở đầu dãy nhà có nhiều hành lang. Ở đây hồi xưa, các đô đốc toàn quyền Pháp đã từng được săn sóc ở “chuồng bồ câu ” này. Nằm dài trên chiếu rơm, ông lão thong dong đưa ống tẩu lên hút thuốc phiện …
Ông Patrick Hays không bao giờ dùng đến vũ khí của mình.Người phụ tá của ông , ông Hamieux, chở vũ khí của họ trên một chiếc xe Jeep mui trần để đến bệnh viện Grall xuyên qua thành phố đầy bộ đội Bắc Việt. Ở bệnh viện, các vũ khí này sẽ nhập vào với đống vũ khí mà những ai muốn vào tỵ nạn ở đây dưới lá quốc kỳ Pháp đều bắt buộc phải vứt bỏ hết. Ông Hays đã nghe được những tiêu lệnh đầu tiên đã được đài phát thanh Giải Phóng phổ biến. Kể từ giờ này thành phố Sài Gòn sẽ được gọi là hành phố Hồ chí Minh. Các bà các cô phải ăn mặc chỉnh tề, mặc quần áo khiêm tốn của người nông dân, màu đen hay màu nâu. Màu xám là màu hạnh phúc của người cộng sản . Đài phát thanh của thành phố Hồ chí Minh đã loan báo là đã có một cuộc nổi dậy của dân chúng để vui mừng chào đón đoàn quân giải phóng.
Sự thật là cũng có một vài người dân phần lớn là trẻ con ở Sài Gòn đã có vỗ tay, và những người khác thì im lặng. Các xe vận tải chạy khắp các đường phố phóng loa kêu gọi:
_ “Lực lượng của MTGPMN đã làm chủ Sài Gòn. Hãy yên tâm đừng có lo sợ. Bà con sẽ được đối xử đàng hoàng nếu biết tôn trọng trật tự và kỷ luật.”
Đài phát thanh Giải phóng được đài phát thanh Sài Gòn lập lại ngay sau đó, đã phổ biến 10 điểm trong chương trình của CPLTCHMN:
Lần lần, các bộ đội Bắc Việt điều hành sự lưu thông. Xa xa, các kho đạn vẫn tiếp tục nổ.
Có nhiều cột khói đen lên cao ngất trời ở về hướng Chợ Lớn.
Linh mục Jean Mais đã nghe được tin Sài Gòn bị thất thủ do những người giữ ông cho biết: Họ còn nói:
_ “Trường hợp của Anh nặng lắm, Anh là một gián điệp quốc tế. Anh sẽ bị giữ lâu lắm.
Linh mục mua một tập vở học trò, một cây bút máy và bao thuốc lá Bastos, loại thượng hạng. Ông giết thì giờ bằng cách soạn một bài mới cho lớp của ông về phép ẩn dụ hay chế ra cách nói lái.
_ “Tôi có tội gì? đôi khi ông thường hỏi
_ “Anh không biết thiệt sao?
_ Không biết.
_ Sao? Anh dám nói là anh không có tội gì, trong khi cách mạng đã bỏ tù ông?
Linh mục chờ đợi, chỗ nhốt ông bị dời đổi luôn, từ nhà này đến lều khác. Ở đây người ta trao cho ông áo choàng, ở chỗ khác người ta cùm chân ông lại. Một ngày kia, một người giữ ông đọc cho ông nghe một số điều lệ:
_ Anh, từ giờ này anh được gọi là “số 32”. Anh không được nói tên anh ra cho ai biết hết, Cấm không được nói anh là ai. Cấm không được nói về dĩ vãng của anh. Cấm không được nói gì về vấn đề chánh trị . Cấm không được nói chuyện về đạo giáo.
Hà Nội nhanh chóng đặt chánh quyền của họ lên Sài Gòn nhưng rất kín đáo, và chậm hơn ở các tỉnh của vùng đồng bằng vì ở đó có ít lực lượng cộng sản , chỉ có vài trung đoàn Việt Cộng và một ít bộ đội Bắc Việt về phía Nam của Vùng 4 Chiến Thuật. Cho đến đầu tháng 3, các lực lượng này bị phân tán nhỏ ra để mang “tên ma” cấp đại đội và trung đội. Tướng Trần Văn Trà đã cho lệnh tập trung lại thành “sư đoàn” của CPLTCHMN nhưng thật sự chỉ có tên trên giấy tờ. Phải “hù dọa”Chánh Phủ Sài Gòn, cho họ tin là CPLTCHMN có nhiều quân.
Trong vùng Đồng Bằng, chiến trận thường chỉ là chiến tranh du kích, bên nào cũng có thiệt hại., có đổ máu. Tướng Trà gậm nhấm hạ tầng cơ sở của chính phủ Miền Nam Việt Nam. Việt Cộng đột kích vào các vụ mùa lúa gạo. Trong Vùng 4 này, chiến trận mạnh nhất thường diễn ra ở về phía Bắc, nơi đó Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt có thể tựa lưng vào hậu cứ ở Cam Bốt. Các tướng cộng sản Bắc Việt dự định chiếm Cần Thơ vào cuối tháng 3 năm 75. Nhưng với sư đoàn 21 bộ binh có Thiết Giáp yểm trợ, thành phố này khó mà chiếm được. Các nhánh sông Cửu Long lại còn có thể được xử dụng như tuyến phòng thủ thiên nhiên của Miền Nam.
Chánh quyền cách mạng vào Cần Thơ trưa ngày 30 tháng 4, vì sự tự tan hàng của bên hành chánh và của Quân đội Miền Nam hơn là sự tiến quân ồ ạt của Việt Cộng và Bắc Việt.
MTGPMN và CPLTCHMN không bao giờ đủ mạnh trong Vùng 4 này. Anh Wilfrid Burchett, một nhà báo người Úc, thân cộng sản, đã vô tình tiết lộ như thế. Bà Nguyễn thị Mười Bé, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân An Nghiệp, một trong 12 khu của thành phố, đã mô tả cho anh Burchett về sự gải phóng của Cần Thơ. Trong khu của bà có 19.000 dân , bà ngây thơ thú thật là vào ngày 28 tháng tư, “hạt nhân cách mạng” chỉ có khoảng 15 người yêu nước . Bà có thêm 4 người dân quân bí mật và 40 lính dân vệ của Miền Nam “sẳn sàng ngả về phe ta, khi có lệnh”. Người ta có thể suy diễn là ở Cần Thơ chỉ có nhiều lắm là vài trăm người cốt cán đã làm việc cho CPLTCHMN . Ngày 30 tháng 4 đến 9 giờ sáng rồi mà họ còn đi phát truyền đơn, còn đi dán biểu ngữ trên tường và trên các gốc cây. Sau đó một lúc, họ phát truyền đơn của họ cho binh sĩ Miền Nam Việt Nam ở nhà kho tiếp vận số 4, trong khu An Nghiệp. Hầu hết binh sĩ đều cởi bỏ quân phục của họ và mặc thường phục đi về nhà.
Cộng sản chiếm đài phát thanh. Lúc 15 giờ, tướng Nguyễn khoa Nam nhận thấy là binh sĩ của CPLTCHMN gần như không có võ trang, nên ông cho một số binh sĩ đến chiếm lại đài phát thanh. Ông xin thêm lực lượng tiếp viện nhưng không có. Sau đó ông với tướng Tư Lệnh Phó Nguyễn văn Hưng của ông mới tự tử.
Ông Nguyễn hà Văn, một thành viên của Ủy Ban cộng sản địa phương, một người tóc đã hoa râm và mặt nhăn nheo, đã giải thích cho ông Burchett như sau:
_“Về sau, trong đêm, lực lượng chánh quy của chúng tôi mới đến. Họ đến trễ vì bị đụng độ dài dài trên quốc lộ số 4.”
Chuyện chiếm giữ đài phát thanh là hành động quyết định. Trong các làng và các ấp ở chung quanh, người dân và binh sĩ nhận thấy là đài phát thanh đã ở trong tay cộng sản , nên họ cho rằng kháng cự nữa cũng vô ích. Từng toán hai ba chục người, cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của Miền Nam Việt Nam kéo nhau đi về phía Nam. Nhiều người hy vọng nhập vào các ổ kháng chiến. Nhiều người khác thì nghĩ rằng có thể đến được vùng sình lầy của mũi Cà Mau . Những người khác nữa thì tìm thuyền, tàu, ghe chài để ra khơi tìm hạm đội Mỹ hay của Việt Nam. Có một số toán này đi vòng qua các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long , Bến Tre hay Mỹ Tho để ra biển.
Tại Mỹ Tho, quân lính thuộc tiểu khu này buông súng xuống lúc 18 giờ.
Các đơn vị Hải Quân quốc gia bắn nhiều tràng súng rồi kéo nhau theo sông Cửu Long chạy ra biển. Binh sĩ Miền Nam kháng cự lại ở một số điểm tựa, ở Bộ Chỉ Huy Bình Định Nông Thôn. Ở đây một đại đội cán bộ bình định không chịu đầu hàng. Cửa ra vào được khóa chặt bằng 2 hàng rào kẽm gai. Theo ông Burchett thì lực lượng cách mạng phải dùng mẹo. Họ nghi trang với quân phục binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa để đến gần trại rồi hạ sát người lính gác để vào trại.
Cũng vào giờ này, trên đảo Côn Sơn, có 75 tù nhân nổi loạn. Từ thời Pháp, Côn Sơn và nhà tù ở đây đã là hiện thân của cả một lịch sử và một biểu tượng. Những phòng giam kiểu song sắt như chuồng cọp vẫn còn đó. Đại sứ Graham Martin đã nói rằng các phòng giam này cũng sạch sẽ. Các phòng giam được gọi là chuồng cọp này là những phòng ở dưới tầng hầm mà người kiểm soát đi lại ở trên. Không có nóc, chỉ có một tấm vỉ song sắt để người ta dở lên cho người tù xuống và để phát thức ăn nước uống cho tù nhân. Có rất nhiều người cộng sản đã đi qua Côn đảo. Hầu hết là tù chánh trị. Các cai tù đã bỏ đi hay đã được vô hiệu hóa. Chiều hôm đó, đài phát thanh Gải phóng loan báo là các tù nhân ở Côn đảo đã thành lập một Ủy Ban gồm 11 thành viên “dưới quyền lãnh đạo của đồng chí Lê Cầu”.
Đài phát thanh Gải phóng cũng tuyên bố là “27 tàu chiến của Hải Quân bù nhìn” đã bị khám xét ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Họ bị các đơn vị của Hải Quân Bắc Việt bao vây ở hải phận Đà Nẵng , nơi đây không còn có tàu chiến Hoa Kỳ nữa.
Sự thật là Hải Quân Bắc Việt không bao giờ có mặt trong vùng biển dù là hạm đội Hoa Kỳ đang có mặt hay không có mặt…..
Dọc theo tất cả bờ biển thuộc Miền Nam Việt Nam, có quá nhiều dân tỵ nạn đã dùng đủ loại tàu thuyền lớn nhỏ để “vượt biển”, đó là những người vượt biển đầu tiên! (nguyên tác: “boat people”)
Tại Sài Gòn, tòa đại sứ Pháp thảo một điện tín cho Chánh Phủ Pháp. Ông Mérillon giải thích là “buổi trưa ở đây rất nóng bức. Việt Cộng đã chế ngự hết các hệ thống phòng thủ cuối cùng”
Để mô tả cảnh các dơn vị Bắc Việt tảo thanh thành phố, đại sứ dùng danh từ “Việt Cộng” để xác nhận dù gì thì hành động tiến chiếm Sài Gòn cũng chỉ là một hư cấu về phía CPLTCHMN. Ông Mérillon viết tiếp:
_ “Bọn Việt Cộng vào Sài Gòn vào giữa trưa, nghĩa là đúng 2 giờ sau lời kêu gọi đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Thật là vô phước cho ông Dương Văn Minh vì tên ông cũng không được ghi chú như là một Tổng Thống ngay trong các công hàm chánh thức cũng vậy. Thật ra không thấy có đánh đấm một trận nào. Trở ngại duy nhất là những tay bắn tỉa lẻ loi, nhưng nhanh chóng bị triệt hạ…. Thường thường vì thiếu tin tức, các binh sĩ Dù và Biệt động Quân đang đánh nhau không chấp nhận tư cách của các công hàm ngoại giao… Về phía bên kia của khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ súng liên thanh vẫn không ngừng tác xạ.”
Có ít nhất một mục tiêu mà tòa đại sứ Pháp và Đại sứ Mérillon đã đạt được Ông Mérillon viết:
_ “người ta không có chứng kiến tại Sài Gòn những cảnh giết chóc não lòng như đã diễn ra ở Đà Nẵng. Trong vòng gần 48 tiếng đồng hồ, Sài Gòn đã biết được sự hỗn độn, một sự hỗn độn tương đối thôi, nếu người ta không muốn nói đến những pha cướp bóc…”.
Có trách nhiệm về an ninh, ông đại sứ lúc nào cũng phải nghĩ tới các công dân của mình:
_ “Tôi tin tưởng là có thể nói cộng đồng người Pháp của chúng ta không có bị thiệt hại gì….Hình như
họ còn nguyên vẹn.”
Ông Mérillon cầm điện thoại trực tiếp nối liền với tòa đại sứ Hoa Kỳ lên. Đường dây đã chết rồi.
Thượng úy Bắc Việt Trần bá Đoài đang ở Bộ Tư Lệnh Vùng 4 cộng sản , ở Quảng Bình khi ông nghe được ông Dương Văn Minh đã đầu hàng qua đài phát thanh. Thượng úy này thuộc thành phần tiểu đoàn 28 của đơn vị vận tải số 559. Ông chỉ huy một đoàn xe 70 chiếc chở đạn dược, cá khô và gạo. Như vậy là chiến tranh đã chấm dứt, sự thống nhất đã bắt đầu…
Cuộc chiến này đã quá dài.. .Ông Đoài đã vào bộ đội mười sáu năm nay. Ông từng mong muốn trở thành bác sĩ. Trước khi được chuyển sang ngành vận tải, ông thuộc lữ đoàn 305 Nhảy Dù và đã nhảy được 25 lần, do Trung quốc và Liên Xô huấn luyện. Lúc bấy giờ ông hết lòng phục vụ , để giải phóng và thống nhất đất nước . Đầu óc của ông bị nhét đầy biểu ngữ: “Việt Nam là đất nước của chúng ta”, “Người Việt Nam là một dân tộc thống nhất”, “Không có gì quí hơn Độc Lập, Tự Do”… Các khẩu hiệu này được gắn liền với ông ta như vết mực xâm trên tay ông ta vậy. Ông ta đã ngày đêm chạy trên đường số 1 , nối liền Hải Phòng đến Hà Nội , sau đó đi vào trong Nam. Ngồi trong buồng lái của chiếc Molotowa, ông dẫn đầu đoàn xe từ 50 đến 80 chiếc xe vận tải. Khi mà mọi việc đều tốt thì ông đi suốt 700 cây số trong hai ngày và một đêm. Nhiều khi một phần ba người của ông bị thương hay tử thương.
Đã từ lâu rồi, ông tự hỏi rồi chiến tranh sẽ đi về đâu? Vào tháng 12 năm 1974, cấp trên của ông đã nói là chiến tranh còn dài lắm, rằng người ta không thể giải phóng nhanh chóng cho cả nước Việt Nam được . Phải có những “viễn ảnh đúng đắn”, người ta không thể tấn công mạnh bạo vào Sài Gòn được , sẽ có nhiều tổn thất cho cả 2 bên. Sài Gòn là một hòn ngọc, Không thể phá hủy nó được bằng một cuộc tấn chiếm. Vào tháng giêng, thượng úy đã dự một buổi họp với 700 sĩ quan đủ mọi binh chủng. tại Hà Nội, gần Ba Đình. Anh ta đã sửng sờ. Người ta loan báo cho hội nghị là có một cơ may đã đến, cơ may này ngàn năm mới có một lần.
Cơ may đó đã nắm được. Chiến tranh đã chấm dứt….
Ở Hà Nội, dân chúng cũng như Lãnh đạo đảng đã nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng qua đài phát thanh. Có nhiều cơ quan của chính phủ đã điện thoại đến cho ông Jean Thoraval, phóng viên của cơ quan truyền thông AFP, để có được bản văn chính xác, đầy đủ về lời tuyên bố của ông Minh. Người ta đang sửa soạn ăn lễ 1 tháng 5 . Đối với công đoàn lao động, đề tài của buỗi lễ Lao Động sẽ phải là: “viễn ảnh vô địch và sáng chói của cách mạng Việt Nam”. Ngày lễ Lao Động 1 tháng 5 đã trở thành ngày của chiến thắng.
15 giờ chiều:
Đến khoảng 15 giờ , giờ địa phương, người ta được biết chánh thức là thủ đô Sài Gòn của Miền Nam Việt Nam đã thất thủ. Mọi việc làm được tiếp tục nhưng sau đó được ngưng lại. Tất cả đều ra đường. Buổi chiều hôm đó là cả một niềm vui được nổ bùng. Nhiều người ngoại quốc cũng ăn mừng sự kiện to lớn này với số đông dân chúng Bắc Việt. Các nhân viên hợp tác xã và nhân viên ngoại giao người Cuba đi dạo với một dàn kèn ở phố hàng Lụa, trong cổ thành Hà Nội. Đại sứ Thụy Điển mở một cuộc tiếp tân, ăn mừng ngày sinh nhật của Hoàng Đế Thụy Điển, cũng là một buổi lễ quốc gia của nước này. Tất cả các tòa đại sứ của các nước Đông Âu đều treo cờ ăn mừng. Một viên chức của Bộ Ngoại Giao Bắc Việt trách tòa đại sứ Pháp là tại sao không làm như các tòa đại sứ khác. Ông Philippe Richer trả lời:
_ “Đúng theo phong tục, tôi chỉ treo cờ cho các ngày lễ quốc gia của nước tôi mà thôi.”
Tại trại tù Phong Quang, các tù hình sự cũng như tù chánh trị đều ngưng làm việc. Trời quá nóng bức. Cũng như mọi người tù khác, anh Nguyễn Ky đinh ninh rằng một ngày nào đó quân lực Miền Nam Việt Nam sẽ đến giải phóng cho họ. Ông không bao giờ tin là Ban Mê Thuột, rồi Đà Nẵng, rồi Huế đã bị thất thủ. Các loa truyền thanh của trại tù đã loan báo Sài Gòn đã thất thủ. Toàn là chuyện tuyên truyền ! Láo khoét ! Toàn là tin thất thiệt ! Người ta muốn làm cho tù nhân mất tinh thần, đập tan hết mọi hy vọng của người tù. Một binh sĩ của Miền Nam Việt Nam, một anh Biệt động Quân không thua gì các anh tù khác, cũng không chấp nhận “tin tức” này.
Còn nhà thơ Nguyễn chí Thiện trong trại này có phản ứng gì ? Người ta chỉ biết là ông tiếp tục nghiền ngẩm lại bài thơ mà ông đã sáng tác:
ĐAU ĐỚN LẮM
(xin xem nguyên tác của tác giả Todd Olivier ở dưới)
Đau đớn lắm, cái lầm to của thế kỷ Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi! Mấy chục năm trời xương máu đổ đi Thử hỏi dân đen thu được những gì Ngoài một số từ lừa mị kẻ ngu si?Người “Công Nhân” trước gọi “Cu Li” “Người Lính” cũ, nay gọi là “Chiến Sĩ”
Song vẫn “Vác” vẫn “Khuân”, vẫn đói nghèo, vẫn bị Đẩy ra chiến trường, chết hoài, chết phí.
Cho một lũ Trung Ương lợn ĩ! Còn cuộc sống ngày xưa thì tắc tị Nay vạn lần thêm tắc tị, đen sì! Đau đớn lắm cái lầm to thế kỹ
Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi!
1970
(nguyên văn dịch giả trích từ tập thơ: Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” của nhà thơ Nguyễn chí Thiện)
(nguyên tác bằng tiếng Pháp của tác giả Olivier Todd)
Douloureuse, la grande erreur du siècle Dans mille ans
L’Histoire n’en finira pas d’en parler De multiple décennies de sang et de larmes
Qu’as obtenu le peuple?
– Rien qu’un vocabulaire leurre à idiots Douloureuse, la grande erreur du siècle Dans mille ans
Toujours prêts aux sacrifices dur le champ de bataille
Tù binh Nguyễn Ky sáu tháng về sau mới công nhận là Sài Gòn đã trở thành “thành phố Hồ chí Minh”. Tin này được các tù binh Miền Nam xác nhận , trong đó có một trung tá, cùng làng với anh ta.
Tại Hoa Thạnh Đốn, các cơ quan trực thuộc đại sứ Bill Brouwn, người giám sát toán đặc nhiệm phụ trách về tất cả các vấn đề của những người tỵ nạn, đã cho gắn một tổng đài điện thoại để ai cũng có thể gọi được không mất tiền: số (800) 368- 1180 . Điện thoại reo liên tục không ngớt.
Tại Bộ Ngoại Giao, có một trung tâm đặc biệt được mở ra trong nhiều ngày qua. Các viên chức ngủ qua đêm trên các giường bố được cấp tốc dựng lên. Giống như các đồng nghiệp của mình, ông Douglas Pike rất bực mình, theo nghĩa hẹp của danh từ này. Tất cả việc này đã đi ra ngoài lý trí hết.
Tại Ngũ Giác Đài, các quân nhân hiện dịch đều im lặng hay đưa các nhà báo qua cho phát ngôn viên của Bộ Quốc Phòng tiếp, hay thường thì của Bộ Ngoại Giao. Hầu hết các sĩ quan nghĩ rằng những người có trách nhiệm quan trọng trong việc kết thúc chiến tranh là các nhà chánh trị , không phải các quân nhân . Các chánh trị gia thường thường hay gán trách nhiệm của sự đổ vỡ lại cho báo chí.
Sở báo chí của Nhà Trắng xác nhận là trong khi đợt trực thăng chót di tản những người Mỹ cuối cùng thì Tổng Thống Ford lại nói chuyện với các đại diện của những nhà nuôi trừu và gà lôi. Những con chó sói đã đặt cho họ rất nhiều vấn đề.
_“Đề tài này có vẻ như đã làm cho ông Tổng Thống được thư giãn rất nhiều”
các cộng sự viên của Tổng Thống đã nói như vậy khi thấy Tổng Thống đã trò chuyện với những nhà chăn nuôi đến gần 70 phút.
Tổng Thống Ford đã trao cho các nhà báo một bản văn vô thưởng vô phạt:
_ “Cuộc di tản đã chấm dứt, Hải Quân Hoa Kỳ và đại sứ Martin đã làm xong phận sự của họ, và rất hoàn hảo, trong những điền kiện thật khó khăn. “Tôi yêu cầu tất cả dân chúng Hoa Kỳ hãy siết chặt hàng ngũ, và tránh những lời đả kích về quá khứ….”
Qua đài truyền hình, ông Henry Kissinger họp báo trong văn phòng của tòa nhà Hành Pháp., ở cạnh Nhà Trắng. Trong 4 tháng sau cùng này và nhất là trong 48 giờ cuối cùng, bộ mặt chánh trị của ông về Việt Nam đã sụp đổ hoàn toàn. Ông nói:
_ “Cho tới chiều chúa nhật 27 tháng 4, tôi nghĩ là một giải pháp thương thuyết có khả năng cao. Nhưng đến một lúc nào đó, chiều chúa nhật, Bắc Việt rõ ràng đã thay đổi tín hiệu của họ. Lúc bấy giờ họ tìm một giải pháp quân sự nhanh chóng….Chúng ta đã thành công trong việc di tản 55.000 người Việt Nam”
Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao cho thấy là Bắc Việt đã liên tiếp thay đổi vị trí của họ trên địa bàn ngoại giao:
_ “Những sự đòi hỏi của cộng sản cứ mỗi ngày mỗi leo thang hoàn toàn.
Thoạt tiên, theo cộng sản thì người ta không thể thương thuyết nếu ông Thiệu chưa ra đi. Sau đó họ lại đòi hỏi ông Hương cũng phải ra đi. Về sau thì ông Dương Văn Minh có vẻ như được họ nhận, nhưng cuối cùng ông Minh cũng bị từ chối nốt….
“Chi bộ tấn công ngoại giao” của Hà Nội làm việc rất đắc lực.”
Một nhà báo nêu câu hỏi với ông Kissinger:
_ “Ông có chủ trương về một sự giúp đở của Hoa Kỳ trong vấn đề tái thiết nước Việt Nam hay không?
Ông Kissinger không thích câu hỏi này nên ông trả lời vòng vo.
_ Còn về Miền Nam Việt Nam?
_ Còn phải xem lại coi chính phủ mới đó thuộc loại nào? nếu thực tế sẽ có một quốc gia Việt Nam ở Miền Nam”.
Cũng trong ngày 30 tháng 4 này, ông Kissinger viết thư cho bà Lionnaes, thơ ký của Giải Nobel về Hòa Bình. Ông mong muốn được trả lại cả giải thưởng và số tiền. Nhưng Ủy Ban ở Na Uy từ khước. Những biến cố đã xảy ra “không làm giảm sự quý trọng của ông chút nào hết, về những cố gắng thành khẩn mà ông Kissinger đã dàn xếp để tái lập một cuộc ngừng bắn hồi năm1973”
Đối với ông Kissinger, với tư cách là con người, và một người của chánh quyền, sự kiện Sài Gòn bị thất thủ đã thể hiện một sự thất bại thật to lớn, thật rõ ràng và thật là nặng nề cho sự nghiệp của ông ta.
Từ tháng 5 năm 1968, CPLTCHMN đã có một biệt thự ở vùng Verrière-le-Buisson, gần Ba Lê. Nơi đây, bà Nguyễn thị Bình, trong cương vị của những người kháng chiến, đã gây được xúc cảm hay quyến rũ các nhà báo thuộc giới truyền thông quốc tế. Với tư cách là Bộ Trưởng Ngoại Giao của CPLTCHMN, bà thường tiếp báo chí. Một người Pháp đã nêu lên vấn đề thanh toán ở Miền Nam Việt Nam. Bà Bình đã trả lời:
_ “Không có chuyện đó. Chúng tôi biết là ở Pháp và trong các quốc gia Âu Châu khác, đã có những chuyện thanh toán các cộng sự viên của Đức Quốc xã . Đó là phản ứng tự nhiên, của con người . Kẻ địch của chúng tôi đã phạm nhiều tội ác đẫm máu. Họ đã tra tấn, giết chóc và đã cướp gia đình của các nạn nhân của họ. Những người có nợ máu cần thanh toán với họ sẽ là những người cách mạng . Chúng tôi đã dạy dân tộc chúng tôi là không nên trả thù..”
Đối với những người còn hoài nghi, bà nói tiếp:
_ “Trong 30 năm qua, chúng tôi đã chịu nhiều hy sinh hơn, nếu đem so sánh thì chuyện không trả thù chỉ là một chuyện nhỏ thôi, nhất là chuyên hòa hợp quốc gia mới là có giá trị. Chúng tôi gạch bỏ quá khứ.”
Anh Trần văn Bá, với các bạn trong Hội Sinh viên Việt Namở Ba Lê, đến tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa cũ ở đường Villiers
Đại sứ Nguyễn duy Quang sắp từ chúc ra đi. anh Bá nói:
_ Chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đấu với các bạn sinh viên. Ông hãy giúp chúng tôi.
Đại sứ trao cho anh một ngân phiếu- của một chương mục không còn được tiếp tế- Anh Bá biết là tòa đại sứ sớm muộn gì cũng phải được giao lại cho chánh quyền Hà Nội. Anh đi khắp nơi trong tòa đại sứ với các sinh viên, lấy hết hồ sơ lưu trữ ra đốt hết. Anh nói là phải tranh đấu, không chấp nhận sự thất trận.
Đó là cử chỉ đầu tiên của một người tranh đấu. Mẹ anh còn ở Sài Gòn, em của anh là Trần văn Tòng, khuyên anh em nên cẩn thận, ở Ba Lê này:
_ Bọn cộng sản sẽ hành hạ bà mẹ chúng ta.
Từ ngày đó trở đi, giữa căn phòng rách nát ở Bourg-la-Reine là nơi anh đang ở, và trụ sở của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở đường Monge tại Ba Lê, anh Bá bắt liên lạc, viết thư, hy vọng, suy nghĩ, rồi thất vọng…
Anh Bá muốn thúc đẩy người Việt Nam ở Pháp và tất cả các cộng đồng trên thế giới chống lại cộng sản . Một anh bạn học cũ của anh ở trường trung học Yersin đã mạnh mẽ khuyên anh:
_ “Làm sao anh có thể chống lại cả một bộ máy của một chế độ quân sự – công an đã có 50 năm kinh nghiệm?
Người anh em của Bá cải ráo nước miếng:
_ Có phải đây là thời điểm để chống như vậy hay sao? Coi như Anh sẽ lội qua cả một đại dương đó!
Bá cười:
_ “Đó không phải là con đường khó đi. Lúc Hồ, Giáp và Đồng bắt đầu tranh đấu, họ chỉ có bốn năm người. Lúc đó đảng cộng sản còn quá yếu. Dân tộc đã khuyến khích họ.
Anh Bá không chấp nhận mất Sài Gòn. Anh không muốn tương lai của anh bị tước đoạt. Nếu người Việt Nam không tự lo cho mình thì ai sẽ giúp cho họ đây Ở hải ngoại trong hiện tại, cũng như ở Việt Nam trong quá khứ, người Việt Nam sống chia rẽ. Thường thì họ không chịu đoàn kết với nhau. Tranh đấu là một chuyện hay đó, nhưng làm sao đây? Phải cầm súng trở lại chăng? và bắt dân tộc Việt Nam phải chịu đau khổ nữa hay sao? anh Bá tự hỏi như vậy…..
Xin nhắc lại một vài chuyện cũ: Vào tháng 8-2010, hằng trăm người dân tại xã Tam Lãnh, Quảng Nam đã kéo nhau đến nhà máy vàng Bồng Miêu đập phá tài sản và cướp đi 5 tấn quặng vàng của nhà máy, trị giá hàng chục tỷ đồng vì một em bé vào bãi thải của nhà máy Bồng Miêu để mót quặng, đã bị công an bắt giữ và đánh bằng roi điện để lại nhiều vết thương trong người. Cuộc tấn công vào nhà máy, thoạt tiên là một cuộc trả thù khi con em của họ bị đánh đập, trở thành một vụ cướp phá cuồng nộ khi dân làng la hét, dùng gạch đá tấn công các cơ sở và cuối cùng cắt kẽm gai tràn vào khu vực chứa, cướp quặng vàng mang đi. Nổi loạn vì bị hà hiếp, bất công và đói khổ, nên người dân vừa đập phá cho hả lòng hả dạ, vừa bị sự nghèo đói thôi thúc trở thành cướp bóc.
Trưa ngày 25/7/2010 hàng chục nghìn người dân huyện Việt Yên – Bắc Giang đã đi theo đám tang, mang quan tài một thanh niên bị công an đánh chết, một số cơ phận của nạn nhân đã bị cắt bỏ, có kèn trống lên thành phố Bắc Giang biểu tình. Công an và người dân đã đối đầu nhau trên đường phố, xe công an đã bị dân chúng tấn công và đập phá. Lực lượng công an tỉnh đã huy động cảnh sát cơ động của thành phố và các huyện tiếp ứng, nổ lựu đạn cay, chặn đường tiến của đoàn biểu tình, bắt đi nhiều người dân. Ngày 21 tháng 12-2010, lực lượng công an quận Kiến An (Hải Phòng) đã phải huy động cả loại xe bọc sắt mới giải cứu được 5 công an bị hằng trăm người dân bao vây vì bất bình vì cách đối xử của công an với người dân quá tàn bạo. Một đôi thanh niên nam nữ đi xe máy, người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm đã bị một tên sĩ quan công an địa phương đuổi theo, dùng chân đạp vào xe hai người này khiến cho họ bị ngã và bị trọng thương. Sau khi 5 tên công an được giải cứu, những người dân sau đó còn tiếp tục kéo đến trụ sở Công an phường Quán Trữ bao vây phản đối, la ó dữ dội.
Ngày 14 tháng 5-2011, hằng trăm người dân đang di chuyển trên đường Hồng Bàng, Saigon, chặn bắt một công an đã vô cớ chặn xe và đánh một người dân bị thương, gây nên cảnh kẹt xe trên đường khoảng một tiếng đồng hồ. Lâu nay vẫn xảy ra những vụ người dân bị đánh chết tại trụ sở công an như trường hợp thanh niên Nguyễn Văn Nhương ở Bắc Giang, vụ ông Trịnh Xuân Tùng, ở Hà Nội, hay vụ anh Nguyễn Công Nhựt tử vong tại đồn công an Bình Dương …
Chỉ mới ngày 21 tháng 7-2011 gần đây, tại Ba Vì, Hà nội, 3,000 dân địa phương đã tập họp, đắp mô, dùng người già, trẻ em làm chiến lũy sống quyết bám trụ, chặn đường 200 công an cơ động cùng 1 xe ủi dự định cướp đất của dân cho các doanh nghiệp. Cuộc đương đầu kéo dài suốt ngày. Công an Cộng Sản càng ngày càng để rõ mặt là kẻ thù của quần chúng đang bị bóc lột, để bảo vệ cho giới cầm quyền và tư bản đang xâu xé, tàn phá đất nước. Hiện tượng dân chúng tụ tập, bao vây, chận đường công an, hay đập phá các cơ sở của chính quyền Cộng Sản, thậm chí còn tấn công cướp bóc tài sản của chính phủ, những năm gần đây không còn là một chuyện lạ ở Việt Nam nữa. Thái độ, ngang ngược hống hách của công an, một lực lượng tôi tớ bảo vệ chế độ, đứng đối lập với người dân trong nước càng ngày càng rõ nét. Công an là lực lượng tuyệt đối trung thành với những kẻ cầm quyền có thế lực, trên danh nghĩa là với đảng. Sau năm 1975, để trấn áp dân miền Nam, công an được tuyển mộ từ “đất thánh” Nghệ Tĩnh, về sau lực lượng công an càng ngày càng đông đảo, chọn lọc trong các thành phần trung kiên, ba đời mang ơn đảng. Để tăng cường sự hữu hiệu của lực lượng công an, trên tiêu chuẩn sắt máu, tàn bạo, chế độ này đã không từ nan việc tuyển chọn nhân viên công an từ phường du côn, tội phạm, lấy công chuộc tội và trung thành là tiêu chuẩn nồng cốt. Theo Vũ Thư Hiên, trong “Đêm Giữa Ban Ngày” thì Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công An quyền lực đầu tiên của Việt Công nguyên là dân móc túi, gật dọc, trộm cắp được Trường Chinh thu nạp. “Công an nhân dân” là lực lượng bị người dân căm ghét nhất trong chế độ Cộng Sản. Ở đất Bắc ngày xưa, trai tráng cầm súng vào Nam, để làng xóm, vợ con nghèo đói lại cho bọn công an, thôn xã nhũng lạm, “ngồi mát ăn bát vàng”, nên giữa công an và bộ đội đã có những mâu thuẫn về quyền lợi, thù ghét xung khắc với nhau. Cứ nhìn cảnh những “công an khu vực” hằng ngày “tác oai, tác quái” trong thành phố của chúng ta sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, mới thấy thế nào là “nghiệp vụ chuyên môn” của chúng. Chúng lùng sục vào mọi nhà, đi từ cửa chính ra nhà sau mà chẳng hề xin phép ai, chúng nhòm ngó đến từng bữa ăn, từng hành động, chuyện đi đứng của từng người. Từ những ngày đói khổ cơm không có ăn ở những vùng đất Bắc xa xôi, vào Nam thời đó, chúng đã tậu nhà cửa, mua xe cộ, phương tiện sống giàu có hơn hẳn bà con lối xóm, nhờ vào mọi thủ đoạn từ cứng rắn như dọa nạt, đòi hối lộ, đến mềm mỏng, “con con, cháu cháu”, xin xỏ một bữa nhậu, hay vòi tiền sửa xe, cha mẹ ốm, về Bắc thăm nhà. Mỗi “công an khu vực” là mỗi ông Vua con! Trong suốt những năm miền Nam dậy lên phong trào vượt biển, công an là những thành phần “béo bở” nhất, từ chuyện mua bến bãi, đến các nhà tạm giam, trại “cải tạo” với những chuyện thả người, chuộc người, chạy án. Trẻ em thời “xã hội chủ nghĩa” trong bài luận văn cũng như trong những giấc mơ đều có hình ảnh của “chú công an”: nhà cửa khang trang, ăn nhậu dàn trời, ai cũng nể nang.
Xin đừng quên những chuyện mới: Những năm gần đây, với các cuộc đình công khắp nước, các cuộc biểu tình chống cướp đất đuổi nhà, chống bá quyền Trung Cộng, công an càng ngày càng trở nên hung hãn, mất nhân tính. Chúng dùng vũ lực khóa tay, đạp vào đầu, đánh vào mặt người, kể cả dùng roi diện, dùi cui. Danh hiệu mị dân của chúng là “công an nhân dân”, cũng như chúng thường rêu rao công an là “con cái của nhân dân”, nhưng chúng gọi nhân dân bằng giọng khinh miệt “mày tao”! Cả thế giới đã thấy hình ảnh tên sĩ quan công an Hà Nội đứng trên cửa xe buýt đạp vào mặt một người yêu nước đang bị hai tên công an khác giữ chặt chân tay khiêng lên xe trong ngày biểu tình chống Tàu Cộng mới nhất tại Hà Nội, hay những cảnh công an khiêng, đẩy con người như những con vật. Trong xã hội Cộng Sản hiện nay, công an là tiêu biểu bộ mặt của chính quyền. Chúng đại diện cho bọn cai trị, được đặc quyền đặc lợi, (chỉ với chúc vụ Giám Đốc Công An Hà Nội đã mang cấp bậc Trung Tướng), chúng có quyền sinh sát, bắt bớ, giam cầm và giết chết những kẻ “phản động”, “chống đối”, “quá khích”,“bị kẻ xấu lôi kéo”, nhưng tiếc thay đó chính là toàn thể nhân dân, hiện nay là kẻ thù của chế độ Cộng Sản.
Chống công an, vây đánh công an chính là do sự bất mãn với chế độ, nhất là vì việc cường quyền dung túng cho bọn này đặc quyền sinh sát, đánh đập người dân một cách dã man, thù hận, khốn nạn gấp bội thái độ và hành động của những tên lính “Partisan”, “Marocain” rạch mặt thời Pháp thuộc. Trước những chuyện người dân trong nước bất bình, uất ức tụ tập, bao vây tấn công đồn, đánh công an trọng thương là chuyện sẽ phải xẩy ra. Tôi muốn mượn lời một người trong nước, giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam cho rằng phản ứng của người dân là “chuyện tức nước vỡ bờ cũng xưa như trái đất này thôi, tích tiểu thành đại, đến một lúc nào đó khi mà sức nước đã dồn, đê yếu thì nó bung ra.”
Cường quyền dùng công an là lực lượng bảo vệ cho mình và là công cụ trấn áp nhân dân, nhưng cuối cùng sẽ nhận những hậu quả do những thành phần này mang lại. Bất công, áp bức, tham nhũng, cướp đất … đã lan tràn. Một cuộc cách mạng trong ngày tới, không thể là một cuộc “cách mạng nhung”, vì thù oán đã chất chồng, oan khuất chưa được giải. Lúc bấy giờ bọn đầu sỏ, quyền lực đã có phương tiện cao bay xa chạy, nhưng chắc chắn những tên côn đồ đội lốt công an như tên Minh đạp vào mặt người dân yêu nước, phải trả món nợ này bằng máu! Giờ này một giọt nước cũng có thể làm tràn ly, một cánh đồng cỏ khô hạn chỉ cần một tia lửa.
Nhà văn Lâm Ngữ Đường đã nói rằng: “Bất bình nhỏ trong lòng, có thể dùng rượu để tiêu sầu; bất bình lớntrong đời, phải dùng gươm để giải quyết.”
Đại Tá Van Thai Chỉ huy phó Trung tâm điều hành không vận 618 (Ảnh của amc.af.mil).
Đại tá Van Thai* là Chỉ huy phó Trung tâm điều hành không vận 618 (618 AOC/TACC) tại căn cứ Không quân Scott, Illinois, là Trung tâm kiểm soát không vận và tiếp nhiên liệu trên không lớn nhất của Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ, với quân số hơn 800 Quân nhân hiện dịch, trừ bị, Vệ binh Quốc gia, Nhân viên dân sự và nhà thầu, hỗ trợ các hoạt động không vận toàn cầu cho 11 Bộ tư lệnh tác chiến Hoa Kỳ (11 Combatant Commands). Trung tâm điều hành không vận 618 trực thuộc Bộ Tư lệnh không vận (AMC), giữ vai trò và nhiệm vụ chuyên gia của Bộ tư lệnh không vận trong việc lập kế hoạch, giao nhiệm vụ, thực hiện và đánh giá các phi vụ không vận, một nguồn lực vô giá khi duy trì tầm ảnh hưởng toàn cầu của Hoa Kỳ. Chỉ huy một đội phi cơ gần 1100 chiếc phi cơ vận tải, phi cơ tiếp nhiên liệu trên không, cung cấp cho các binh sĩ ở tiền tuyến sự yểm trợ không vận cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Trung tâm điều hành không vận 618 thực hiện từ 100 đến 150 phi vụ mỗi ngày, cung cấp khả năng chỉ huy và kiểm soát trên toàn bộ phạm vi hoạt động không vận, bao gồm vận chuyển hàng không, tiếp nhiên liệu trên không, sơ tán y tế hàng không và hệ thống yểm trợ vận tải toàn cầu. Trung tâm điều hành không vận 618 luôn hoạt động 24 giờ/ngày, 365 ngày/năm để chuyển đổi các yêu cầu thành các nhiệm vụ hiệu quả trên toàn thế giới. Đại tá Van Thai được bổ nhiệm làm Chỉ huy phó Trung tâm điều hành không vận 618 từ tháng 6 năm 2025, sau khi ông hoàn thành nhiệm kỳ Chỉ huy trưởng Không đoàn** 434 tiếp nhiên liệu trên không từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025.
Đại Tá Văn Thai sinh tại Sài Gòn, Việt Nam, ông tốt nghiệp Học viện Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force Academy), năm 1998. Ông được chỉ định chỉ huy các Phi đoàn tiếp nhiên liệu trên không trang bị phi cơ KC-135 và phi đoàn vận tải trang bi phi cơ C-12. Sau đó ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn** 340, tiếp nhiện liệu trên không là một Phi đoản chiến đấu lớn nhất của Không quân Hoa Kỳ hoạt động tại căn cứ Không quân tiền phương A Phú Hản với 300 nhân viên phi hành đoàn (2000 nhân viên luân phiên) với 55 phi cơ trị giá 3 tỷ Mỹ kim. Phi đoàn 340 đã bay 14000 phi vụ yểm trợ cho các Lưc lượng thuộc Bộ tư lệnh quân sự Hoa Kỳ tại Trung Đông (U.S. Central Command).
Huy hiệu Trung tâm điều hành Không vận 618 của en.wikipedia.org
Ngoài thòi gian phục vụ tại các đơn vị trên, Đại Tá Văn Thái đã từng đãm nhận những chức vụ chỉ huy quan trọng trong Không quân Hoa Kỳ như:
-Chỉ huy phó liên đoàn tác chiến** 18 Không quân Hoa Kỳ đóng tại căn cứ Không quân Kadena Nhật Bản. Liên đoàn 18 có quân số hơn 900 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ phục vụ trong 13 Phi đoàn với 92 chiến đấu cơ F-15C, F-16; Phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-135, Phi cơ tiền thám và báo động sớm E-3 AWACS, Phi cơ quan sát Radar tấn công mục tiêu E-8 JSTARS, Phi cơ không thám RC-135 và Trực thăng HH-60 trị giá hơn 4 tỷ Mỹ kim. Liên đoàn 18 thi hành nhiệm vụ thực hiện các phi vụ cấp cứu, không thám, chiến đấu và yểm trợ cho lợi ích của Hoa Kỳ và Đồng minh trong khu vực.
-Chỉ huy trưởng Liên đoàn tác chiến 100 Không quân Hoa Kỳ tại Mildenhall, Suffolk, Anh Quốc (100th Operations Group, Royal Air Force Mildenhall, United Kingdom) từ 6 năm 2020. Liên đoàn 100 chịu trách nhiệm kế hoạch thực hiện các phi vụ tiếp nhiên liệu trên không cho các lực lượng Không quân Hoa Kỳ tại Châu Âu. Liên đoàn điều động vả sử dụng 15 phi cơ KC-135R Stratotanker với quân số 245 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ phi hành đoàn cùng với các nhân viên dân sự sẵn sàng yểm trợ thi hành nhiệm vụ.
-Trưởng phòng hành quân và kế hoạch Đệ Ngũ không lực, trú đóng tại căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản từ tháng 6 năm 2022.
-Trưởng phòng hành quân và huấn luyện Đệ Ngũ không lực, trú đóng tại căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản từ tháng 4 năm 2023.
-Chỉ huy trưởng Không đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không, đồn trú tại phi trường Grissom, Indiana từ tháng 2 năm 2024.
-Chỉ huy trưởng Không đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025.
Đại tá Van Thai, Chỉ huy trưởng Không đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không phát biểu trước các Quân nhân trong đơn vị vào tháng 5 năm 2024 (hình của grissom.afrc.af.mil).
Là một Sĩ quan cao cấp Không quân ngành phi hành, Đại tá Văn Thái đã bay hơn 2700 giờ qua các loại phi cơ KC-135 R/T, tiếp nhiên liệu trên không; phi cơ C-12 F/J, vận tải nhẹ; phi cơ E-3 B/C, tiền thám và báo động sớm; phi cơ E-8 chỉ huy trên không; Trực thăng HH-60; Phi cơ huấn luyện T-1A và phi cơ huấn luyện T-37B. Đại tá Văn Thái cũng từng đảm nhận cương vị Sĩ quan giao tế Không quân (ngành ngoại giao quân sự), ông có nhiều kinh nghiệm phục vụ tại các khu vực đông bắc Á Châu; Thái Bình Dương-Án Độ Dương; Châu Âu và Phi Châu. Trong 27 năm kinh nghiệm phục vụ ngành phi hành Không quân Hoa Kỳ, Đại tá Van Thai đã tham dự các cuộc hành quân không vận: ATLAS GUARDIAN, ALLIES REFUGE & WELCOME, ATLANTIC RESOLVE, JUNIPER MICRON, INHERENT RESOLVE, FREEDOM SENTINEL, IRAQI FREEDOM, ENDURING FREEDOM (MIDDLE EAST & PHILIPPINES), NOBLE EAGLE.
Đại tá Van Thai tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cử nhân khoa học sinh học, Học viện Không quân Colorado Springs, năm 1998; Văn bằng Pháp văn tại Học viện kỹ thuật an ninh Quốc gia Không quân Hoa Kỳ, Đại học Colorado, Colorado Springs năm 1998; Văn bằng Cao học kinh tế, Đại học Oklahoma, Norman; Văn bằng cao học bang giao Quốc tế, Đại học Troy University, Montgomery, Ala; Văn bằng liên kết Cử nhân Nhật ngữ, Học viện ngôn ngữ quốc phòng Defense Language Monterey, Calif. Ngoài các Văn bằng tốt nghiệp trên, Đại tá Văn Thái đã tu nghiệp vá thụ huấn tại các Học viện quân sự Hoa Kỳ, Nhật Bản và Pháp. Ngoài ra, Đại tá Van Thai còn thụ huấn và tu nghiệp nhiều Văn bằng và Chứng chỉ chuyên môn của ngành Không quân.
Suốt thời gian phục vụ không quân, Đại tá Van Thai được ân thưởng nhiều loại huy chương cao quý gồm có: 2 huy chương Legion of Merit with oak leaf cluster; 1 huy chương Defense Meritorious Service Medal with oak leaf cluster; 5 huy chương Meritorious Service Medal with five oak leaf cluster; 1 huy chương Air Medal; 1 huy chương Aerial Achievement Medal; 1 huy chương Air Force Commendation Medal with oak leaf cluster; 1 huy chương Joint Service Achievement Medal và1 huy chương Air Force Achievement Medal with oak leaf cluster.
Đại Tá Van Thai là 1 trong 33 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt, 18 vị đương nhiệm, 14 vị đã hồi hưu và 1 vị đã qua đời. Ông được thăng cấp Thiếu úy năm 1998, Trung úy năm 2000, Đại úy năm 2002, Thiếu tá năm 2007, Trung tá năm 2013, Đại tá năm 2019. Sĩ quan cao cấp Không quân Hoa Kỳ gốc Việt ngành tác chiến (Line Officer). chỉ có 2 Đại tá duy nhất chỉ huy Không đoàn phi cơ tác chiến Không quân, đó là Đại tá John R. Edwards (nay là Thiếu tướng), nguyên Chỉ huy trưởng Không đoàn 28 (28th Bomb Wing), phi cơ oanh tạc B-1B Lancer tại căn cứ Không quân Ellsworth, South Dakota. Và Đại Tá Van Thai, Chỉ huy phó Trung tâm điều hành Không quân 618, nguyên là Chỉ huy trưởng Không Đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không
Chú thich: *Họ và tên Việt, Thái T Văn hay Vân; **Không đoàn=Wing; **Liên đoàn=Group; **Phi đoàn=Squadron.
Nguồn: amc.af.mil; grissom.afrc.af.mil; mildenhall.af.mil; kadena.af.mil; okinawa.stripes.com; Pacific Air Forces; Congress.gov; en.wikipedia.org; bienxua-Đại Tá không quân Van T. Thai, Chỉ huy trưởng Không Đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không.
Gleb Nerzhin cùng tuổi với Valentine Pryanchikov nhưng trông anh có vẻ già hơn nhiều. Mái tóc hung hung đỏ của anh không thưa và cũng chưa bạc, song trên khuôn mặt mệt mỏi của anh đã có nhiều vết nhăn đậm, những vết nhăn xúm xít ở hai đuôi mắt anh, ở hai bên mép anh và trên trán anh có nhiều đường nhăn dài. Nước da anh như phai màu vì cuộc sống thiếu ánh nắng và gió. Nhưng thực ra chính là vì vẻ hà tiện cử chỉ làm cho anh có vẻ già – tiết kiệm cử chỉ là một thái độ mà thiên nhiên đã dạy cho những người sống lâu năm trong tù để có thể có đủ sức chống chọi lại với chế độ tàn nhẫn của những trại tập trung. Thực ra, sống trong nhà tù đặc biệt này, tù nhân được tương đối tự do, được ăn thịt và năng lực không bị tiêu mất vì những công việc lao động chân tay nặng nhọc. Nerzhin không cần phải tiết kiệm cử chỉ nhưng anh biết rõ hơn ai hết tình trạng bấp bênh đầy bất ngờ của bạn tù của anh ở đây nên anh vẫn tiết kiệm để đề phòng, anh muốn thái độ đó trở thành một thói quen thường trực của anh. Từng chồng sách vở và hồ sơ dựng lên trên mặt bàn của anh, ngay cả phần mặt bàn dành để làm việc cũng bị hồ sơ xâm lấn, lẫn vào đó là những bản đánh máy, những tập san Nga và ngoại quốc – tất cả đều mở. Bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy trên cảnh hỗn độn, vô trật tự của mặ bà này dấu vết để lại của cơn bão lốc tư tưởng khoa học. Nhưng thực ra, cảnh đó chỉ là một bộ mặt che đậy. Nerzhin dàn cảnh đó mỗi ngày đề phòng những viên chức có quyền kiểm soát trong nhà tù này bất ngờ đến bàn anh xem anh đang làm gì. Ngay lúc này, anh không để mắt tới những gì được bày trên bàn anh. Anh đã kéo tấm màn che cửa sổ hở ra và anh nhìn qua đó ra vùng tối đen bên ngoài. Xa kia trong nền trời đêm âm u, ánh sáng của Mạc Tư Khoa lấp lánh, thành phố bị che khuất vì một ngọn đồi, sáng như một cột ánh sáng mờ khổng lồ làm cho nền trời trở thành có màu nâu sậm. Chiếc ghế ngồi đặc biệt của Nerzhin, chiếc ghế có lò xo mắc vào thành để người ngồi có thể ngả người được một cách thoải mái, cái bàn bằng sắt có nhiều ô kéo không phải là kiểu bàn được chế tạo trong Liên bang Xô Viết cùng chỗ ngồi nhìn ngay ra cửa sổ phía nam của Nerzhin có thể là những bằng chứng cho những người quen thuộc với lịch sử biết rằng anh là một người lập nên nhà tù này, hoặc nói một cách khác, anh là tù nhân đầu tiên trong số những tù nhân đầu tiên được đưa tới làm việc ở đây.
Nhà tù đặc biệt này lấy tên làng Mavrino ở gần đây, làng này từ lâu đã bị sáp nhập vào vùng ngoại thành Mạc Tư Khoa. Những nhà tù đặc biệt kiểu này được lập lên vào một đêm tháng Bảy cách đây đã ba năm. Thoạt đầu, người ta lựa trong những trại tập trung từng toán khoảng mười lăm người đưa về sống trong một tòa nhà nào đó ở vùng Mạc Tư Khoa, chung quanh tòa nhà này đã được rào bằng dây thép gai. Những nhà tù đặc biệt thời ấy được gọi là nhà tù thời “Krylov” và được người ta nhớ lại như một thời dễ chịu hơn bây giờ nhiều. Thời đó ở đây buổi tối tù nhân có thể được tự do đi quanh quẩn ở khu vực bây giờ là “khu cấm”. Đó là khu bãi cỏ nằm giữa lối đi chung quanh nhà và hàng rào dây thép gai. Khu này có cỏ xanh, mặc dù luật bắt phải cắt hết cỏ chung quanh nhà tù đi vì bọn tù có thể ban đêm, bò trên cỏ đến hàng rào nhưng ở đây người ta vẫn để nguyên cỏ. Trong thời mới thành lập nhà tù đặc biệt Mavrino, ban đêm những tù nhân đi dạo thường trông thấy Zhvakun, một trung sĩ chuyên gác đêm, mồ hôi mồ kê vẫn những khúc gỗ do y lấy cắp được của đống gỗ trong nhà tù, luồn ra dưới hàng rào dây thép gai để đem về nhà làm củi đun. Trong thời gian đầu, không một ai, kể cả những cai ngục, trong nhà tù Mavrino biết rõ về mục đích khoa học của nhà tù, nghĩa là không ai biết những khoa học gia được đưa về đây sẽ làm gì, nghiên cứu gì? Suốt ngày tù nhân bận rộn với việc tháo, mở những thùng cây đóng kín được hai chuyến xe hỏa chở tới. Trong những thùng cây đó họ lấy ra những dụng cụ, máy móc về âm thanh, vô tuyến, điện thoại, những bộ máy siêu tần số đã lạc hậu và hư hỏng, nhiều máy thiếu mất những bộ phận quan trọng nhất. Về sau người ta được biế đó là những dàn máy những dụng cụ âm thính học do quân đội Nga tịch thu được của người Đức ở Bá Linh và gửi về, nhưng những dụng cụ điện tử tối tân nhất cùng những tài liệu về những dụng cụ này đã bị những tù binh Đức lo việc đóng thùng, vô thùng phá hủy, lấy đi mất trong khi gã Đại úy mật vụ được phái đến chỉ huy vụ này suốt ngày mò mẫm đi khắp vùng Bá Linh để tìm bàn ghế, giường tủ bằng gỗ quý gửi về cho các sĩ quan thượng cấp và cho chính nhà gã. Tất nhiên là những đồ đạc này cũng được coi là chiến lợi phẩm. Gã đại úy này biết rành về bàn ghế, giường tủ hơn là biết về dụng cụ âm thanh học. Trong khoảng một năm trở lại đây, cỏ trong vườn bao quanh nhà đã bị cắt. Khung cửa sắt từ nhà ra khu vường nơi những tù nhân tập thể dục luôn luôn đóng khóa và có lính gác. Nhà tù đặc biệt Mavrino được chuyển từ quyền tài phán của Béria sang quyền tài phán của Abokumov và mọi người trong nhà tù này được đặt vào việc nghiên cứu âm thanh để chế tạo những máy điện thoại riêng cho Stalin và dò xét những cuộc điện đàm bí mật. Việc nghiên cứu này được giới hạn trong vòng một năm nhưng đã kéo dài đến hai năm mà vẫn chưa có kết quả đáng kể. Cuộc nghiên cứu mỗi ngày một trở thành rộng hơn, phức tạp hơn kéo theo nhiều công tác phụ thuộc khác. Giờ đây trên bàn giấy Rubin và Nerzhin, cuộc nghiên cứu đa đi đến giai đoạn tìm cách nhận ra tiếng nói đặc biệt của một người qua máy điện thoại và khám phá ra có những gì làm cho tiếng nói của con người không thể lẫn lộn được với nhau. Trước họ, chưa có ai thực hiện cuộc nghiên cứu thí nghiệm này. Họ không tìm thấy một báo cáo, một tài liệu nhỏ nào có sẵn liên can đến việc họ tìm tòi. Họ được cho thời hạn sáu tháng để hoàn thành và sau đó được nới thêm sáu tháng nữa. Họ tiến triển chậm và giờ đây, thời gian còn lại của họ đã gần hết. Bị ám ảnh sự thúc bách này, Rubin than: “Không biết sao đêm nay tôi không muốn làm việc chút nào.” “Lạ nhỉ?” – Nerzhin nói – “Anh chỉ mới tham dự chiến tranh có bốn năm, mới ở tù có năm năm mà anh đã mệt mỏi rồi sao? Anh nên đi nghỉ vài tháng ở Crimea.” 1 Họ yên lặng. “Phải anh đang bận làm việc riêng không?” Rubin thản nhiên hỏi. “Có thể.” Nerzhin trả lời mơ hồ. “Vậy thì ai sẽ là người làm cuộc nghiên cứu tiếng nói?” “Nói thật với anh tôi trông cậy ở anh.” “Kỳ cục thật, tôi cũng đang trông cậy ở anh.” “Anh là người không có lương tâm. Anh đã mượn được bao nhiêu sách ở thư viện Lenin nhờ công việc này? Theo tôi biết sơ thì quyển Diễn văn của những luật sư danh tiếng. Hồi ký của Koni, quyển Người nghệ sĩ chuẩn bị của Stanishlavky. Làm gì có người tù thứ hai nào trên khắp liên bang này được đọc một số sách như anh.” Rubin trề môi ra, cái trề môi này luôn luôn làm cho khuôn mặt anh trở thành khôi hài: “Kể cũng buồn cười. Tôi đọc tất cả những quyển sách mượn được đó cùng với một người nữa ở đây, nhiều khi người đó đọc sách ngay trong giờ làm việc. Hình như người đó là anh, phải không nhỉ?” “Đúng là tôi. Đáng lẽ phải làm việc thì tôi bắt chước anh ngồi lén đọc sách. Ngay cả đêm nay nữa, đáng lẽ ra tôi phải làm việc rất hăng, nhưng đêm nay tôi không làm việc được vì có hai việc ám ảnh tôi. Một việc thuộc về dĩ vãng. Tôi đang bận tâm vì một số những tấm ván lát nền một tòa nhà.” “Những tấm ván lát sàn tòa nhà nào?” Rubin có vẻ ngạc nhiên khi anh hỏi bạn câu trên. “Một tòa nhà ở cổng Kaluga” – Nerzhin âu sầu đáp – “một tòa nhà được xây dựng trên cho nhân viên chính phủ ở. Tôi nhớ rõ đó là tòa nhà hình tròn có cái tháp cũng tròn. Năm 1945, tôi ở trong số tù nhân được đưa đến xây tòa nhà đó. Năm đó tôi chỉ là một anh thợ tập việc. Tôi phụ trách việc lát những tấm ván làm sàn nhà. Mới hôm nay tôi được tin là Roitman đang ngụ trong tòa nhà đó. Tôi nhớ lại những sàn phòng do tôi dựng lên ở đó và tôi thắc mắc nhiều vì việc những sàn phòng đó bị hở, hoặc kêu khi chân người dẫm lên. Nếu sàn phòng hở hoặc kêu là do người thợ làm sàn không được rành nghề. Tôi thắc mắc nhưng không có cách nào được biết rõ, mà có được biết rõ, tôi càng khổ sở thêm, vì tôi không có cách nào sản xuất được khuyết điểm ấy.” “Anh thắc mắc là phải. Chuyện cả anh đúng là một cơn ác mộng. Còn việc thứ hai?” “Việc thứ hai là: chúng ta có thể làm việc được trong đêm thứ bảy không khi ta biết rằng chủ nhật là ngày chỉ có những người tự do mới được nghỉ làm việc?” Rubin thở dài: “Ngay cả lúc này, khi chúng ta ngồi đây, những viên chức tự do đang ở những chỗ giải trí vui vẻ. Tình trạng này quả là khó chịu.” “Nhưng họ có đến được những nơi xứng đáng hay không, họ có được hưởng gì ở cuộc đời này nhiều hơn chúng mình không? Đó mới là vấn đề.” Họ nói chuyện nồng nàn nhưng thói quen giữ bí mật của những tù nhân vẫn làm cho họ giữ được tình trạng nói chuyện với nhau mà người ngồi gần họ nhất là Serafima Vitalyevna, người thiếu nữ gày gò với khuôn mặt nghiêm trọng, một viên chức tự do, vẫn không nghe được tiếng họ nói. Bây giờ hai người bạn tù ngồi hơi nghiêng mặt về cùng một phía. Họ cùng nhìn ra cửa sổ về khu cấm bên ngoài nhà giam, họ không nhìn thấy nhưng cảm biết tháp canh đứng sừng sững trong vùng đêm tôi, họ nhìn thấy những ánh đèn trong sương mờ và cột sáng bốc lên nền trời đêm từ thành phố xa. Nerzhin, mặc dù là một nhà toán học, không xa lạ gì với địa hạt ngôn ngữ học. Kể từ ngày Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino – một tên khác của chủ nhà tù đặc biệt này – bắt đầu mở cuộc nghiên cứu về âm thanh ngôn ngữ Nga, Nerzhin đã được xếp sắp làm việc chung với Rubin, nhà ngôn ngữ học duy nhất ở đây. Trong hai năm trời, họ đã ngồi gần nhau, dâu lưng vào nhau mười hai tiếng đồng hồ mỗi ngày. Và cũng ngay từ những ngày đầu gần nhau, họ đã khám phá ra họ có nhiều điểm giống nhau: cả hai cùng nhập ngũ và chiến đấu trên mặt trận, họ cùng ở mặt trận miền Tây Bắc và cả hai cùng có một số huy chương giống nhau, họ bị bắt ở trên mặt trận cùng trong một tháng và cùng do một trung đội mật vụ Smersh – những người đi bắt Rubin cũng là những người đến bắt Nerzhin – họ cùng bị bắt dưới tinh thần một sắc luật gồm mười điều – mười điều này có thể áp dụng trong tất cả mọi trường hợp, có thể dùng để kết tội và để bắt tất cả mọi người. Và cả hai người cùng bị xử tù mười năm. Thực ra, gần như tất cả mọi người bị bắt đều bị án tù mười năm. Sự khác biệt giữa họ chỉ là việc họ hơn kém nhau sáu tuổi – Nerzhin trẻ hơn Rubin – và Nerzhin là đại úy và Rubin là thiếu tá khi họ bị bắt. Họ nghĩ rằng rất có thể trước cuộc Thế chiến xảy ra Nerzhin từng đến nghe giáo sư Rubin giảng ít nhất là một lần trong trường đại học. Hai người im lặng nhìn ra trời đêm một lúc lâu. Rồi Rubin buồn rầu: “Anh không có điều kiện để trau dồi kiến thức. Đó là điều làm tôi lo nhất.” “Tôi không cần trau dồi kiến thức như ý anh, tôi không muốn hiểu ý nghĩa của cuộc sống, của vật chất. Ở đời này thiếu gì người hiểu biết nhưng có ích lợi gì đâu?” “Tôi có quyển sách này, anh nên đọc.” “Hemingway? Phải chăng đó lại là một quyển sách viết về đời sống của những con bò rừng bị người ta đẩy vào đấu trường ở Tây Ban Nha?” “Không.” “Về những con sư tử bị người ta tàn sát ở Phi châu?” “Cũng không nữa?” “Đến cả chuyện người tôi cũng còn không cần biết, tôi cần biết làm chi đến chuyện bò rừng, chuyện sư tử?” “Anh cần phải đọc quyển sách này.” Nerzhin gằn giọng: “Tôi không cần phải làm bất cứ việc gì hết. Anh cần nhớ như thế. Tôi đã trả hết nợ nần của tôi đối với xã hội, với cuộc đời, như anh bạn của bọn mình là Spiridon đã nói.” Rubin vẫn quả quyết: “Anh phải đọc. Đây là một quyển sách giá trị nhất trong những quyển sách giá trị nhất của thế kỷ hai mươi.” “Sách này liệu có thể đem lại cho tôi những gì tôi đích thực cần biết không? Tác giả nó có quả thật đã giải thích được sáng tỏ những gì đã làm cho loài người hoang mang, bối rối không?” “Hemingway là một nhà văn thông minh, tinh thần tốt và vô cùng lương thiện. Ngoài ra, ông ta còn là một chiến sĩ, một người đi săn, một người bắt cá giỏi, ông thích rượu và thích đàn bà, ông yêu nhiều và sống thực bất kể những giả dối của đời, một người đàn ông đơn giản, một nhà văn rất người, ông có cái ngây thơ của một thiên tài…” “Thôi đi bạn…” Nerzhin cười nhẹ: “Tôi đã sống qua ba mươi năm trời không có Hemingway và tôi còn cố sống được ít năm nữa. Trước đây anh đã thuyết phục tôi đọc Capek, rồi Fallada. Đời tôi đã tan nát đủ rồi, đừng làm cho nó tan nát thêm. Tôi cần tự mình tìm một hướng đi cho đời tôi mà không có sự chỉ bảo của bất cứ ai, nhất là của mấy ông văn sĩ.” Nerzhin quay lại để ngồi thẳng vào bàn. Rubin thở dài. Anh không nói nữa nhưng anh vẫn không cảm thấy hăng hái làm việc. Anh nhìn lên tấm bản đồ Trung Hoa lục địa đặt trên ngăn kệ sắt. Anh cắt tấm bản đồ này từ một tờ nhật báo và dán no lên mộtmiếng giấy dầy. Suốt năm ngoái anh dùng viết chỉ đỏ ghi lên đấy bước tiến của quân đội Trung Hoa cộng sản và giờ đấy, sau khi quân đội đó thắng lợi hoàn toàn, anh để tấm bản đồ trước mặt anh để trong những lúc thất vọng và mệt mỏi, nó làm cho anh phấn khởi. Nhưng đêm nay nỗi buồn rầu tràn đầy trong tâm hồn Rubin, khối chiến thắng lớn ở Trung Hoa cũng không làm cho anh vui lên được. Nerzhin, thỉnh thoảng lại đưa đoạn cuối của cây viết bằng plastic lên môi, ngồi yên suy nghĩ, rồi anh viết những hàng chữ nhỏ, thanh thanh lên một tờ giấy dấu trong đống giấy tờ bừa bộn trên bàn: Tôi nhớ lại một đoạn Marx nói (tôi khó tìm được đoạn này), rằng giai cấp vô sản chiến thắng có thể sống mà không cần tước đoạt hết tài sản tư hữu của giai cấp tiểu địa chủ. Điều này có nghĩa là Marx nhìn thấy một biện pháp kinh tế nào đó châp nhận sự có mặt của giai cấp nông dân trong chế độ xã hội mới. Tất nhiên là Người Cày đã không chịu tìm con đường mà Marx đã nói đến đó trong năm 1929. Nhưng tại sao ta lại hy vọng một người như hắn nghĩ ra một điều gì giá trị và tỏ ra thông minh? Khi một anh đồ tể đi làm thầy thuốc chữa bệnh…2 Phòng Thí nghiệm và nghiên cứu âm thính sống với nhịp sống thường đêm của nó. Có tiếng động cơ ngừng nổ và tiếng người ra lệnh: “Chạy máy kia… Tắt máy này!” Tiếng nhạc du dương phát ra từ những chiếc radio. Có người nào đó hỏi xin một ống điện 6K7. Nhân một lúc không có ai nhìn mình, Serafima Vitalyevna chăm chú nhìn Nerzhin, anh này vẫn cúi xuống viết những hàng chữ nhỏ xíu lên trang giấy. Thiếu tá an ninh Shikin đã ra lệnh cho nàng phải theo dõi từng cử chỉ của tù nhân này.
Marx được nói tới đây là Karx Marx, người khai sinh ra lý thuyết chủ nghĩa cộng sản. Người Cày được nói tới đây là một tên hiệu trong nhiều tên hiệu của Staline.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.