Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 11 Feb 2026

Chương 21 – Ngày 29/4: Hãy Tắt Hết Đèn

Ngày 29 tháng 4 1975

Vào lúc 4 giờ chiều, pháo binh Bắc Việt càng bắn càng chính xác, tác xạ tập trung phần lớn vào các đường bay của phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Miền Nam Việt Nam và Bộ Tư Lệnh Hải Quân . Ở phi trường thì các kho xăng kho đạn, xe vận tải, xe nhỏ quân sự hay dân sự bị trúng đạn đang bốc cháy khắp nơi. Bộ binh Bắc Việt không thể ở quá xa vì các quả đạn bách kích pháo và những hỏa tiễn phát nổ với ngọn lửa còn đỏ, và xanh lục. Có hai Thủy Quân Lục Chiến là Charlie McMahon và Darwin Judge bị tử thương ở vòng đai phòng thủ. Tướng Homer Smith và những sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ bị hất tung lên khỏi giường ngủ. Có một số người trong số 1500 người Việt tỵ nạn đang ở trong nhà thể thao, đã bị thương. Một chiếc vận tải cơ C.130 bị trúng đạn khi vừa đáp xuống sân bay.

Trời sáng dần… Các phi công của những phi cơ F.5 và A.37 cuối cùng cất cánh lên được và bay đi luôn không trở lại. Các phi công này giống như những phi công còn muốn chiến đấu đều không điều động được phi cơ vì vướng hằng trăm binh sĩ Miền Nam đang nằm rải rác khắp các đường bay. Nhân viên của trạm kiểm soát không lưu không thể làm việc được. Một phi công của chiếc AC.119 đặc biệt bướng bỉnh vì không đúng nhiệm vụ mà cứ cất cánh bay lên đánh vào các vị trí cộng sản mà anh thấy rõ chung quanh Sài Gòn, trở lại lấy thêm bom đạn, bay lên nữa, và đến 6 giờ 46 thì anh bị một hỏa tiễn SA.7 bắn rơi.

Đại tá Không Quân Hoa Kỳ John Madison, một trong những sĩ quan trong Ban Giám Sát Hiệp Định Ba Lê đã gởi một diện tín cho phái đoàn quân sự cộng sản ở trại Davis đang ẩn núp dưới hầm trú ẩn. Đại tá phản kháng về cuộc bắn phá phi trường, mà ông mô tả như là một vi phạm đến quyền miễn trừ ngoại giao của các thành viên Ủy Hội Quốc Tế và các phái đoàn quân sự 2 Bên và 4 Bên. Các đại diện của hai phái đoàn Bắc Việt và CPLTCHMN ở trại Davis đã trả lời mỉa mai và ngọt ngào rằng họ không biết chuyện gì đã xảy ra. Ngoài ra, họ đã thấy không cần phải báo trước cho hai phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi ở Tân Sơn Nhất nên những người này phải hỏi tin tức với người Mỹ. Những người Hung gia Lợi đã liên lạc với ông Polgar vốn đã đến phòng hành quân của tòa đại sứ trong đêm. Tại đây các thành viên của CIA rất lo sợ cho số phận của các cộng sự viên người Việt Nam của mình.

Tác xạ của đại pháo 30 ly được các quan sát viên Bắc Việt điều chỉnh, đều rơi vào khoảng 4 cây số ở hướng Bắc của phi trường. Đối với tướng Văn Tiến Dũng và ông Lê đức Thọ, tình hình rất là tế nhị. Một mặt, phải để cho người Mỹ ra đi, do đó không nên làm trở ngại cho các cuộc hành quân di tản. Mặt khác, cả hai người cộng sản có trách nhiệm , theo chỉ thị của Hà Nội, đều muốn giữ áp lực để người Mỹ ở Sài Gòn cũng như ở Hoa Thạnh Đốn đều phải hiểu rằng “không bao giờ có chuyện thương thuyết”. Bộ đội Bắc Việt nhận được lệnh không được đụng đến phi cơ và trực thăng của Hoa Kỳ, trừ trường hợp bị họ tấn công. Ngoại lệ có một vài trường hợp, còn thì bộ đội thi hành lệnh đúng đắn. Tướng Dũng có thể luôn luôn sợ một sự can thiệp của Không Lực Mỹ từ Thái Lan. Trong giai đoạn này, nếu có nhiều người Mỹ bị thương hay tử thương thì có thể bắt buộc Ngũ Giác Đài phải can thiệp ồ ạt. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt không ý thức được là quyền hành quân sự ở Hoa Kỳ phải tùy thuộc vào quyền uy dân sự đến mức độ nào. Song song đó, người Mỹ cứ mãi đi tìm hiểu những phe phái hay rạn nứt trong ban lãnh đạo Hà Nội mà vẫn không bao giờ thấy được sự đồng tâm nhất trí giữa hai cánh quân sự và chánh trị trong thủ đô Bắc Việt.

Tướng Nguyễn cao Kỳ lái chiếc trực thăng của ông ta lên, bay chung quanh Sài Gòn, ông thấy một pháo đội Bắc Việt đang tác xạ, mỗi phút một phát. Ông bắt liên lạc được với một đội Skyriders đang bay từ Cần Thơ về:

_ “Đây Nguyễn cao Kỳ đây, phải tiêu diệt các pháo đội địch này.

_ Nhận rõ, nhưng tôi chỉ còn có một quả bom, sĩ quan chỉ huy trả lời. Đúng là giờ đã điểm, đối với những chiến trận danh dự không đáng kể!

  • giờ 45 giờ Sài Gòn.

Ông Martin đến tòa đại sứ. Lệnh cuối cùng của Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam: Tất cả các phi cơ còn trong tình trạng khiển dụng đều phải rời khỏi lãnh thổ Miền Nam Việt Nam.

  • giờ, giờ Sài Gòn (5 giờ, giờ Hà Nội):

Tại Bộ Tư Lệnh ở Bến Cát, cách thủ đô Sài Gòn 40 cây số về hướng Bắc, tướng Dũng nhận được một công điện của Chánh trị Bộ, khen ngợi bộ đội của ông ta về sự tiến quân trong những ngày cuối cùng vừa qua. Chánh trị Bộ ra lệnh: tiến nhanh để “chiếm lấy sào huyệt cuối cùng của địch”

Có rất nhiều công điện và điện thoại tiếp nối nhau giữa Nhà Trắng, Bộ Ngoại Giao, Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Phòng) ở Hoa Thạnh Đốn, Bộ Tư Lệnh Á Châu Thái bình Dương ở Honolulu, tòa đại sứ và các cơ quan trực thuộc của Phòng Tùy Viên Quân Lực ở Sài Gòn . Các sự việc còn đi nhanh hơn là công điện. Một bức điện tín của Bộ Ngoại Giao xác định rõ:

“Kiểm thính truyền tin được giữa các cấp chỉ huy Bắc Việt nói rõ tấn công ba mặt vào Sài Gòn, ngày giờ không rõ. Với khả năng chủ động của các đơn vị, nếu có cơ may xảy đến.”

Các tin tức này đã được Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ phối kiểm. Một xác định khác: Bắc Việt dự trù phải chiếm Sài Gòn cho ngày sinh nhật của Hồ chí Minh, 19 tháng 5 “với khả năng bắt đầu tấn công vào những ngày cuối của tháng 4.” Hôm qua, kiểm thính cũng xác định là sư đoàn 7 Bắc Việt có nhiệm vụ phải chiếm lấy đài truyền hình Sài Gòn.

  • giờ, giờ Sài Gòn (19 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn):

Hội đồng An Ninh Quốc gia Hoa Kỳ nhóm họp, dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống Ford, với sự hiện diện của ông Henry Kissinger (Ngoại Giao), ông Janes Schlesinger (Quốc Phòng) và các phụ tá của họ, Chủ Tịch các Tham Mưu liên Quân, tướng George Browne, và ông William Colby, Giám đốc CIA. Ông Colby xác nhận là trong 3 ngày nay không có một hy vọng nào để quân bình lại tình hình quân sự. Cuối cùng giờ này mọi người đều đồng ý. Nhưng mà sẽ ra lệnh gì cho Sài Gòn đây? Ông Kissinger lưỡng lự. Theo ông ta thì trong giờ phút này là phải tiếp tục di tản người Mỹ và người Việt Nambằng phi cơ. Ông Schlesinger và tướng Browne ước tính là phải cấp bách di tản bằng trực thăng. Tướng Browne đề nghị dùng phi cơ săn giặc hộ tống các vận tải cơ C.130. Ông Kissinger chống lại việc này vì cho là Bắc Việt có thể hiểu lầm.

Và còn nhân viên của tòa đại sứ thì sao? Phải đưa họ đi với tốc độ 150 người trong ngày, trong đó có 1/3 nhân viên và viên chức của cơ quan CIA. Ông Frank Snepp biết rằng ông ta phải là người đi sau cùng.

Từ Honolulu, Đô Đốc Noel Gayler vốn biết rõ tính tự ái của ông Martin nên đã có điện tín như sau:

–“Tôi đề nghị là ông nên quyết định di tản bây giờ tất cả nhân viên người Mỹ, trừ các thành viên nào mà ông muốn giữ lại thường trực tại tòa đại sứ với ông …” .

Tướng Homer Smith thì được phép của Đô Đốc Gayler đi theo các phi cơ của người Việt Namvà người Mỹ. Bằng mọi giá, ông không muốn các tướng lãnh hay sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ bị rơi vào tay của cộng sản . Ông ra lệnh cho họ phải rời ngay Sài Gòn. Ông nhấn mạnh là tình hình quân sự rất là nghiêm trọng. Ông đã đọc được các điện tín của ông Polgar liên quan đến khả năng của một cuộc dàn xếp chánh trị: “Các tin tức mà tôi đã có hoàn toàn không phù hợp với quan điểm sảng khoái của ông Polgar”

Về ông Polgar, Đô Đốc dùng một từ ngữ cũ kỹ và khinh khỉnh hết sức thanh lịch:“Tôi có cảm tưởng là ông ta không thực tế”, ông ta không thực sự ở trong sự kiện, hoàn toàn không phải là người trong cuộc. Theo tin tức của Đô Đốc thì các anh bộ đội Bắc Việt đã ở cách phi trường Tân Sơn Nhất không đến 2 cây số. Họ xử dụng hỏa tiễn của họ rất có hiệu quả. “Họ đã bắn hạ 3 chiếc phi cơ trong hai giờ sau cùng.”

Pháo binh Bắc Việt tiếp tục bắn vào vùng phi trường.

Một sứ giả của Tổng Thống Dương Văn Minh trao một bức thơ cho tòa đại sứ Hoa Kỳ:

_ “Thưa ông Đại sứ thân mến,

Tôi kính cẩn yêu cầu ông ra lệnh cho các nhân viên văn phòng của tướng Smith phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ ngày 29 tháng 4 1975 để cho vấn đề hòa bình ở Việt Nam có thể được giải quyết nhanh chóng.”

Ông Martin đang đau vì những dị chứng viêm phế quản. Với một giọng khàn khàn ông đọc cho thơ ký một bức công hàm trả lời:

_ “Thưa Tổng Thống thân mến,

Tôi đã nhận được thơ của Ngài và xin báo cho Ngài rõ là tôi đã cho lệnh theo đúng công hàm vừa qua của Ngài”

Các tin tức từ Tân Sơn Nhất cho biết là đâu đó đã có một vài quân nhân Miền Nam Việt Nambắn bừa bãi vào người Mỹ. Do đó ông Martin cho viết thêm:

_ “Tôi tin là Ngài đã cho lệnh quân lực của Chánh Phủ bằng mọi cách sẽ hợp tác để cho sự ra đi của nhân viên của phòng Tùy Viên quân sự được dễ dàng, và hoàn toàn được an ninh.

Tôi cũng hy vọng là Ngài sẽ can thiệp với “phía bên kia” để giúp cho vị Tùy Viên Quân sự và cho nhân viên của ông ta được ra đi trong trật tự và an toàn tuyệt đối.

Kính chúc Ngài,

Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ

Ngay sau khi được biết tin này, có nhiều người xác nhận là việc này là một cuộc dàn xếp lòng vòng giữa hai ông Dương Văn Minh và Martin: tức là do tòa đại sứ yêu cầu ông Minh.

Ông Marton ra lệnh cho tướng Homer Smith có những biện pháp để di tản tất cả nhân viên của ông ta. Đây là lần đầu tiên mà tướng Smith nhận một lệnh tương tự từ hai cấp chỉ huy thuộc hai hệ thống quân giai của mình, Đại sứ Martin và Đô Đốc Gayler. Như vậy là chỉ có Thủy Quân Lục Chiến còn ở phi trường với nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho cuộc hành quân di tản mà thôi. Ông Martin khẩn cầu ông Kissinger cho ông được ở lại Sài Gòn “ít nhất trong một hai ngày để cho sự ra đi của chúng ta có một phẩm cách nào đó. “Ông đại sứ giữ lại hai trực thăng của Hàng không Air América để có thể đi nhanh, khi cần thiết. Sau đó tòa đại sứ Pháp sẽ là người đại diện cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Ông Martin thích có được một sự “chuẩn y nhanh chóng”.

Trong yêu cầu của ông Dương Văn Minh, ông Martin đã thấy được một lợi thế chánh trị- ngoại giao: người ta loan báo sự triệt thoái của người Mỹ  “theo thỉnh cầu của dân chúng Miền Nam Việt Nam” Do vậy ông tin rằng, cuộc hành quân di tản sẽ không tạo ra một sự hoảng loạn.

Ông Kissinger nhờ phụ tá đặc biệt của Bộ Ngoại giao, ông Lawrence Eigleburger, nghiên cứu tình hình. Ông này thảo ra một báo cáo không có nhặp nhằng. Nếu người ta để nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ ở lại Sài Gòn thì dù muốn dù không cũng có vẻ như là chúng ta nhìn nhận Chánh Phủ tương lai ở đó. Và vì thế ông Kissinger quyết định ngay: đóng cửa tòa đại sứ.

  • giờ 30, giờ Sài Gòn:

Ông Martin họp tất cả các cộng sự viên chính lại, trong đó có ông Wolfgang Lehmann, Thomas Polgar, Alan Carter, và đại tá George Jacobson, một phụ tá của tòa đại sứ.

Ông Polgar nghĩ rằng trên kế hoạch chánh trị chưa có gì mất mát hết. Ông nói với ông Snepp là cuộc dội bom ở phi trường là một “chỉ dấu quan trọng” thuận lợi. Một vài viên chức của cơ quan CIA cũng như ông Snepp đều nghĩ rằng “một chỉ dấu vừa quan trọng vừa có ý nghĩa là một viên đạn bắn vào đầu”

Người ta xem xét tình hình nhất là trên phương diện quân sự . Hôm qua, người ta dư trù là ngày hôm nay phải di tản được 10 ngàn người với trên 50 chuyến bay của vận tải cơ C.130. Làm sao thực hiện đây?

Pháo binh Bắc Việt đã giảm tác xạ trên phi trường. Người ta thấy có thể tiếp tục các chuyến bay được. Các viên chức Hoa Kỳ đã khám phá ra là người ta còn khiển dụng được một số xà lan có máy đang đậu ở bến cảng Sài Gòn, nhất là ở Tân Cảng.

Từ Tân Sơn Nhất, ông Homer Smith cho biết là bắt đầu từ giờ này các phi đạo không còn xử dụng được nữa cho các loại phi cơ cánh quạt, hay phản lực. Do đó ông ta đã cho nhiều đoàn xe buýt và trực thăng đi gom người Mỹ đến phi trường và tập trung người tỵ nạn Việt Nam ở nhiều điểm khác nhau. Ông Martin không chấp nhận những lời giải thích của người Tùy viên quân sự của mình. Các anh quân nhân hiện dịch này lúc nào cũng bi quan! Đâu có phải đây là lần đầu tiên mà người ta đáp xuống hay cất cánh lên dưới lằng đạn của pháo binh hay của bách kích pháo? Do đó ông Martin quyết tâm đi xem lại các đường bay. Ông xin một chiếc trực thăng của CIA. Không có chiếc nào khiển dụng được cả, vì vào giờ này tất cả trực thăng của Air America đều bận chuyên chở nhân viên CIA từ Cần Thơ đến các chiến hạm đang bỏ neo ngoài biển. Tại Tân Sơn Nhất các trực thăng không dự vào cuộc di tản trong thành phố đều bị trúng đạn pháo của Bắc Việt. Ông Polgar thú thật:

_ Chúng tôi không còn chiếc trực thăng nào, thưa Đại sứ.

Ông Martin lạnh lùng nhìn ông Polgar:

_ “Vậy là tôi sẽ đi ra phi trường bằng đường bộ. Nó có thể cho tôi thở được một ít không khí của thành phố. Nhờ gọi giùm tài xế và chiếc xe của tôi.

Đại tá Jacobson can thiệp vào:

_ “Thưa Đại sứ, rất là nguy hiểm. Theo một vài nguồn tin thì có vài đơn vị cộng sản đã đột nhập được vào Sài Gòn.

Chiếc xe Chevrolet (có chắn đạn) màu đen của Đại sứ đã sẵn sàng. Ngay như những người không thích ông Martin, những người đã biết ông là người có trách nhiệm đối với những người trể nải trong di chuyển, cũng phải tự nhủ: ông già này ngon thật!”

Chiếc Chevrolet chạy đi, không có mang cờ hiệu, có 2 chiếc xe hộ tống chở đầy Thủy Quân Lục Chiến súng cầm tay sẵn sàng nhả đạn. Xe phải ngừng lại ở bên ngoài Tân Sơn Nhất . Một ông đại sứ Hoa Kỳ mà cũng phải chờ đợi!. Các sĩ quan và hạ sĩ quan của Miền Nam xin lệnh thượng cấp bằng máy truyền tin cầm tay… Đoàn xe chạy qua.

Tưóng Trần văn Minh, Tư Lệnh Không Quân và một bộ phận Tham Mưu Không Quân Miền Nam Việt Namđang ở trong một căn nhà gạch. Gần 30 sĩ quan chạy đến tướng Homer Smith, súng lục cầm tay, yêu cầu được di tản. Trung tá Richard Mitchell, phó trưởng phòng Tùy viên quân lực đã giải giới họ một cách dễ dàng vì họ đã biết trung tá này từ lâu. Ông ta đã cho di tản gia đình của họ trước đây cả mấy tuần rồi.

Ở Honolulu, Đô Đốc Gayler sốt ruột, điện thoại về Hoa Thạnh Đốn.

_ “Sao đây? các phản lực tiềm kích hộ tống đâu? Có gởi tới hay không? Tướng Browne Chủ Tịch các ban Tham Mưu trả lời ngay:

_ Không có.

  • giờ 30, giờ Sài Gòn:

Một nhóm sĩ quan thuộc cơ quan tình báo Việt Nam trong đó có đại tá William le Gro và đại tá Lê văn Hưởng, đã làm một bản tổng kết tình hình cho ông Martin. Phi trường ngổn ngang đầy xác phi cơ và xe tải. Một nhóm binh sĩ Miền Nam đang làm lộn xộn trên đó. Ông Martin nói với đại tá Hưởng:

_ “Ông hãy điện thoại về Bộ Tổng Tham Mưu. Họ phải có biện pháp cần thiết để vãn hồi trật tự cho phi trường.

Tại Bộ Tổng Tham Mưu lại không có ai trả lời. Ông Eric Von Marbod xuất hiện, mặc bộ đồ bay, súng liên thanh trên vai, một quân phục không bình thường cho một ông phụ tá của Tổng Trưởng Quốc Phòng . Ông Martin hỏi:

_ “Eric, anh có nhiều bạn bè ở Bộ Tư Lệnh Không Đoàn số 7 ở Thái Lan phải không? Anh có thể xin cho vợ tôi một chiếc phi cơ hay không?

Ông Eric nổi giận:

_ “Không còn có vấn đề phi cơ nữa đâu. Vã lại, nếu bây giờ mà phi cơ có đáp xuống được thì tất cả người Việt Nam trên phi trường sẽ ùa lại ngay.

Ông Martin đi vào văn phòng của tướng Smith. Dùng chiếc điện thoại đặc biệt, ông gọi Nhà Trắng, nói chuyện với ông Kissinger và với tướng Brent Scowcroft. Sau đó ông trở lại nói với tướng Smith:

_ “Hoa Thạnh Đốn đã đồng ý. Nếu chúng ta có thể vãn hồi trật tự ở phi trường và giải tỏa được các phi đạo, thì chúng ta tiếp tục cho di tản bằng phi cơ. Còn nếu không được thì cứ mặc kệ. Bây giờ, anh phải biết là mọi người ở Ngũ Giác Đài, ông Schlesinger, các Tham Mưu Trưởng và Bộ Tổng Tư Lệnh Lực lượng Á Châu Thái bình Dương đều sắp đòi hỏi chúng ta phải cho đi nhanh chóng những người Mỹ và bỏ lại những người Việt Nam. Chúng ta có nhiều người Việt Nam có độ nguy cơ khá cao, hằng ngàn ở đây, chúng ta phải di tản họ tối đa, càng nhiều càng tốt..

Ngoài thành phố, các cuộc “bốc đi” bằng trực thăng không được trôi chảy lắm vì trực thăng phải tìm các địa điểm tập trung ở Sài Gòn. Các trực thăng lại không hoàn toàn sẵn sàng. Có 4 chiếc được phái cho lực lượng Dù Việt Nam. Còn lại 16 chiếc để làm con thoi thì bị trở ngại, vì các bãi đáp trên phi trường bị trúng bom đạn. Các xe buýt cũng bị trở ngại. Có nhiều chiếc không có tài xế, phải nằm bất khiển dụng tại ga ra của tòa đại sứ. Các chiếc khác thì di chuyển chậm trong thành phố để tìm các điểm tập trung.

Trên sân bay rộng lớn, cảnh sát và quân nhân Việt Nam nhìn vào sự hoạt động lăng xăng của trực thăng và các xe buýt vì tính tò mò hơn là cà khịa. Có một toán quân nhân đang sắp sửa lo phòng thủ phi trường. Viên hạ sĩ quan Lê văn Thường, 24 tuổi, da ngâm đen, thợ sửa chữa truyền tin từ 3 năm nay, đã không rời khòi phi trường được từ ngày 1 tháng 4 đến bây giờ. Các sĩ quan của anh đã cho biết là anh ta sắp phải chiến đấu đến nơi. Người ta trao cho anh một khẩu súng lục 45 ly, và sau đó một súng trường M.16 và cuối cùng là một vũ khí chống chiến xa M.72. Các sĩ quan giải thích cho binh sĩ của họ là vòng đai phòng thủ đã được lực lượng Dù bố trí chung quanh phi trường. Hạ sĩ quan Thường chỉ canh gác thôi.

Ở tòa đại sứ Hoa Kỳ, các nhà ngoại giao và các nhân viên lo đốt hồ sơ sau khi đã cho vào máy nghiền, phá hủy các máy đánh chữ, các máy thu thanh,, các máy thu và phát thanh. Cơ quan CIA có những hồ sơ lưu trữ trong văn phòng của ông Snepp, trong phòng kiểm thính truyền tin, và trong một căn nhà tiền chế ở ngoài. Không có một người nào nghĩ tới phải có bản thứ hai cho những hồ sơ này, trong những nơi làm việc của sở tình báo Việt Nam, hay ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát Quốc gia.

Ông Snepp tiếp tục tìm kiếm tin tức mới đến và làm một bản phân tích. Một sự thật hiển nhiên: cộng sản có ý định phải chiếm Sài Gòn, và chiếm nhanh. Trong các sân của tòa đại sứ, có nhiều người Việt Nam đi lang thang quanh hồ tắm, thành từng nhóm. Trong số này có nhiều nhân vật có tiếng tăm, nhưng cũng có gia đình của họ, và một số gia nhân như tài xế, đầu bếp, vú em, và giữ trẻ…

Ông Martin đã ra lệnh cho tất cả các chủ nhiệm phòng sở phải trở về tòa đại sứ. Ông Alan Carter không muốn hay không dám trở lại sở Thông Tin Hoa Kỳ. Ở đó, các nhân viên người Việt của ông đang chờ đợi các danh sách di tản mà chúng vẫn không thấy tới. Bây giờ thì những người Việt đó không còn thì giờ để đi bộ xuống bến tàu, nơi có những chiếc xà-lan đang tách bến, mà còn nhiều chỗ trống. Một không khí vô trật tự và quá tự do lạ lùng, bất lực và hèn nhát bao trùm khu này. Đây là sự hoảng loạn mà tòa đại sứ từng quá lo sợ trong mấy tuần nay.

Ông Martin có đường dây điện thoại trực tiếp với đồng nghiệp người Pháp của mình hoặc qua bức tường ngăn cách giữa hai tòa đại sứ. Ông gặp ông Mérillon. Ông này đang tiếp chuyện với ông Dương Văn Minh. Ông Minh có đem tin gì tốt đến không đó?

_ “Không có gì mới cả, ông Mérillon nói. Ông Minh đã thăm dò CPLTCHMN nhưng họ chưa có trả lời.

Ông Martin hỏi ông Mérillon xem ông ta, trong cương vị đại sứ Hoa Kỳ , có thể đến gặp người của CPLTCHMN được không?

_ Để tôi xem lại coi.

Ông Martin định cho ông Mérillon hay gởi cho ông này một món quà: một ngôi miếu bằng sành của Tàu. nhưng hai người hình như không hiểu nhau lắm.

  1. giờ, giờ Sài Gòn:

Đồng mỹ kim lên giá từ 4500 đồng đến 5000 đồng trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Dân chúng ở thủ đô Sài Gòn đã nghe được ông Thủ Tướng Vũ văn Mẫu lên tiếng đòi hỏi tất cả những người Mỹ phải ra đi, như ông Dương Văn Minh đã yêu cầu.

Sự hiện diện của Đại sứ Hoa Kỳ ngoài phi trường đã được báo cáo . Người ta tưởng rằng ông đã ra đi. Đám đông người chung quanh tòa đại sứ càng ngày càng đông thêm lên.

10 giờ 40:

Từ phi trường tướng Homer Smith điện thoại cho Đô Đốc Gayler ở Honolulu:

_ “Phi cơ không còn xử dụng các phi đạo ở phi trường được nữa.

_ “Việc này tôi đã tin chắc như vậy từ lâu rồi, Tôi sẽ gọi các trưởng ban Tham Mưu ở Ngũ Giác Đài để nói cho họ biết là phải qua “khả năng 4” Đô Đốc Gayler trả lời.

Khả năng 4, đó là kế hoạch di tản bằng trực thăng.

Một cuộc bàn cãi sôi nổi, phi lý và quá nghi thức đã diễn ra trên đường dây điện thoại trong Sài Gòn cũng như ở Thái bình Dương và Bắc Mỹ. Rất lễ độ, tướng Homer Smith cho ông Martin biết là mình được khuyên nên áp dụng “khả năng 4”. Bây giờ ông đại sứ mới chịu tin là khó tránh được vì sự mất trật tự sẽ ngăn cản mọi công tác bốc người đúng phương pháp.

_ “Không phải Chủ Tịch các Ủy Ban Tham Mưu quyết định về “Khả năng 4”, ông Martin xác nhận.

10 giờ 48, giờ Sài Gòn: (22 giờ 51 , giờ Hoa Thạnh Đốn:

Lệnh phát ra từ ông Kissinger: “thi hành kế hoạch Frequent Wind lúc 11 giờ 51”

Ngoài khơi Việt Nam, trên chiến hạm Blue Ridge, đề đốc Donald Whitemire, chỉ huy trưởng “lực lượng đặc nhiệm 76” cũng có nhiều vấn đề. Người ta có cả thảy là 85 chiếc trực thăng. Người ta phải tiến hành các cuộc kiểm tra thường lệ và vì các trực thăng không cùng ở trên một chiến hạm, nên người ta phải đưa Thủy Quân Lục Chiến qua trực thăng hay đưa trực thăng qua cho Thủy Quân Lục Chiến. Rồi phải phối hợp giờ cất cánh cho trực thăng và giờ cất cánh của các phi cơ tiềm kích hộ tống từ Thái Lan cho được đồng bộ.

Lúc ông Tổng Trưởng Ngoại giao ra lệnh bước sang kế hoạch của “Khả Năng Bốn” vào hồi 11 giờ 51, thì ông nghĩ đó là giờ Sài Gòn. Các vị chỉ huy quân sự khác nhau, Bộ Tư Lệnh Thái bình Dương, Bộ Tư Lệnh của đô đốc Whitmire, của Không Lực ở Thái Lan, của Tùy viên Quân sự ở Tân Sơn Nhất , của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn ..v.v.. đều tự hỏi đó là giờ nào: giờ của Hoa Thạnh Đốn theo kinh tuyến Greenwich hay giờ Sài Gòn? Các câu hỏi, các lệnh, rồi phản lệnh, chạy suốt trên điện thoại, trên điện báo và trên hệ thống truyền tin các đài phát tin.

11 giờ 30, giờ Sài Gòn:

Đài phát thanh Hoa Kỳ như đã dự trù, chơi liên tục bản nhạc “Tôi đang mơ về một Giáng Sinh trắng”

Giám đốc đài truyền hình Việt Nam, đại tá Hòa, thấy tất cả các nhân viên người Mỹ của mình ra đi cùng với các chỉ huy nhiệm sở người Việt. Đại tá thì quyết định ở lại tại chỗ. Có một đại đội Dù đóng chung quanh đài truyền hình.

11 giờ 30:

Ông Polgar không tin là có một giải pháp chánh trị. Ông đã nhận được nhiều cú điện thoại tất có ý nghĩa, trong đó có một là của Tổng Thống Dương Văn Minh:

_ “Tôi muốn yêu cầu Anh một ân huệ cuối cùng: di tản giùm một vài người thuộc gia đình

Tôi.

_ “Rất đồng ý”, Polgar trả lời.

Một cú điện thoại khác, của nhóm Hung gia Lợi thuộc Ủy Hội Kiểm soát Ngừng Bắn (CICS). Đã có rất nhiều tá người của họ bị kẹt ở phi trường Tân Sơn Nhất . Đạn pháo của Bắc Việt đã phá hỏng một số xe của họ. Một số xe khác đã bị binh sĩ Miền Nam đánh cắp. Còn lại một số thì lại không có xăng.

_ “Chúng tôi không có phương tiện chuyên chở. Chúng tôi muốn đi ra khách sạn ở Sài Gòn, họ nói.

Trong tòa đại sứ, người ta gặp nhan nhản các nhân vật người Việt. Cựu Cố vấn quân sự của Tổng Thống Thiệu, ông Đặng văn Quang, đang đi tới đi lui trên tầng thượng, trong chiếc áo mưa rộng thùng thình. Ông ngồi cách đại tá Toth của Hung gia Lợi chừng vài thước, vốn đến đây để yêu cầu di tản người của ông ta ở phi trường. Hoàng tử à?, ông Polgar áp dụng một nguyên tắ: Người nào yêu cầu tôi giúp đỡ thì đáng được giúp. Và sau đó, có qua có lại, người ta không bao giờ biết anh chàng Hung gia Lợi nào đó sẽ có gì hữu ích cho chúng tôi hay không trong một giờ, một tuần lễ hay một tháng nữa đây? Còn ông Lehmann thì có tâm hồn ít nhạy cảm hay thấy xa hơn ông trưởng cơ quan CIA. Nhân vật số 2 của tòa đại sứ từ chối không can thiệp có lợi cho những người Ba Lan cuối cùng vốn muốn được rời nhanh chóng khỏi Sài Gòn nên đến cầu cứu với ông. Ông Polgar tổ chức một đoàn 3 chiếc xe buýt đi bốc những người Ba Lan và Hung gia Lợi từ phi trường đưa họ về khách sạn Majestic ở thành phố.

Một phát súng ân huệ đối với ông Polgar: nhà báo Malcolm Browne, người chơi thân với các thành viên của CPLTCHMN ở trại Davis mà anh ta cứ điện thoại cách 2 hay 3 giờ một lần, đã cho ông chủ nhiệm cơ quan CIA biết là bọn Việt Cộng lần lần bớt đi sự “nhạy cảm”. Từ lịch sự, họ trở thành quạo quọ đến ủ ê. Đó cũng là ý nghĩ của 4 vị cố vấn do ông Dương Văn Minh gởi tới trại Davis. Các đại diện của ông Dương Văn Minh đề nghị với người của CPLTCHMN hai loại thương thảo. Một là vấn đề liên quan đến các bài toán quân sự, sẽ được giải quyết tại Sài Gòn . Hai là các bài toán về chánh trị nói chung sẽ được xem xét ở một cấp cao tại Ba Lê. Các đại diện của CPLTCHMN tránh né, tuyên bố một lần nữa là họ không có thẩm quyền để giải quyết các câu hỏi đó. Họ mời 4 vị khách uống trà và ăn chuối, còn nhấn mạnh là đây là chuối của họ đích thân trồng bên cạnh các dãy nhà.

Ông Snepp túc trực bên máy thu thanh, và kiểm thính được một lệnh của Bắc Việt mà hình như họ sẽ bắn vào dinh Độc Lập chiều nay, vào lúc 17 giờ, giờ Hà Nội , tức là 18 giờ giờ Sài Gòn . Hai trăm tràng ! Quá đủ để phá hủy tất cả ở trung tâm Sài Gòn, với các tòa đại sứ Hoa Kỳ và Pháp. Ông Snepp nhào tới ông Polgar:

_ “Đưa cái này ngay cho ông Martin.”

Ông đại sứ chuyển ngay điện tín đó cho tướng Timmes để ông này điện thoại cho ông Dương Văn Minh.. Liệu Tổng Thống có thể can thiệp với cộng sản để họ đừng có pháo vào Sài Gòn hay không?

Về chuyện này, ông Kissinger điện thoại ngay cho ông Martin:

_ “Ông phải di tản hết, hết tất cả. Đây là lệnh của đích thân Tổng Thống Ford, và phải di tản xong trước khi trời tối.”

Vị Tư lệnh phó của Hải Quân Việt Nam là đề đốc Diệp quang Thủy, đến gặp tướng Trần văn Minh Không Quân, không có điện ở các dãy nhà ở phi trường.

_ “Chúng ta đi thôi, tướng Homer quyết định như thế.

Ông ta đang chuẩn bị lên trực thăng thì có một toán người tỵ nạn cuối cùng xuất hiện. Họ lên chiếc trực thăng của tướng Smith và ông tướng này phải chờ đi chuyến khác.

Người ta rất cần được tăng cường ở tòa đại sứ. Sẽ lấy những người của thiếu tá Melton. Một trung đội của trung úy Jay Roach, được trực thăng vận đến tòa đại sứ.

12 giờ, giờ Sài Gòn:

Chưa thấy bóng dáng một trực thăng nào của cuộc hành quân di tản.

Xe buýt Mỹ cứ chạy khắp thành phố để bốc khách di tản. Muốn có được sự cộng tác của cảnh sát và công chức ở phi trường, người ta đã hứa là sẽ di tản họ luôn cả với gia đình.. Các xe buýt đầu tiên thuộc kế hoạch “đêm Giáng Sinh trắng” chở người tỵ nạn đến Tân Sơn Nhất hồi 12 giờ 10. Không khí ở phi trường còn quá căng thẳng hơn ở chung quanh các bến tàu vắng người. Có một vài vị thuyền trưởng Việt Nam bán vé lên tàu với giá từ 4 đến 12 ngàn mỹ kim một người.

12 giờ 15:

Tin tức quân sự hình như càng ngày càng xấu. Hai sĩ quan Bắc Việt, sư đoàn 70 và 968 đã đè bẹp sư đoàn 25 bộ binh ở gần Cũ Chi, chỉ cách Sài Gòn có 30 cây số về hướng Tây. Ba sư đoàn Bắc Việt , sư đoàn 3, 9 và 16 đã cô lập sư đoàn 22 bộ binh . Sư đoàn này giữ vững được vị trí nhưng không thể rút về thủ đô được . Chiến lược của tướng Dũng rất rõ ràng và linh động. Ông ta để các sư đoàn cầm chân bao quanh các đơn vị Miền Nam, nhưng dồn hết các sư đoàn khác tiến về Sài Gòn.

12 giờ 30

Ba mươi sáu (36) chiếc trực thăng vận tải loại lớn cất cánh từ chiến hạm Hancock, có trực thăng võ trang Cobra hộ tống.

Các trực thăng di tản này bay tới Sài Gòn làm 3 đợt, mỗi đợt 12 chiếc. Chúng bay ngang qua Biên Hòa ở hướng Đông Bắc. Mỗi đợt đều bay thành đội ngũ mỗi 3 chiếc hình chử V. Các phi công được lệnh trước tiên là làm con thoi giữa hạm đội và phi trường để chuyên chở Thủy Quân Lục Chiến thuộc toán an ninh bảo vệ. Tướng Richard Carey, chỉ huy trưởng Thủy Quân Lục Chiến đã đồng ý với tướng Homer Smith là phải tranh thủ thời gian, Tất cả các trực thăng đều bốc người tỵ nạn trên đường về hạm đội. Từ 3 căn cứ Không Quân ở Thái Lan, các phi cơ tiềm kích Phantom chuẩn bị để nhập vào các đợt trực thăng trong một hành lang giữa Sài Gòn và hạm đội. Tất cả các chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ đều nằm ở bên ngoài lãnh hải của Việt Nam, cách xa bờ biển 12 dậm. Cả một đại hạm đội được bố trí nằm thành vòng cung trên 160 cây số ngoài biển khơi.. Soái hạm neo ở cách bờ biển 17 dậm. Người ta chưa từng thấy một cuộc hành quân nào như thế từ sau trận triệt thoái khỏi Dunkerque vào năm 1940! 35 chiến hạm lớn có các tàu tiếp vận bao quanh với những tàu thám thính nhỏ. Có nhiều chiến hạm đã có mặt tại chỗ từ nhiều ngày trước, các tàu khác đến từ Okinawa (Nhật), từ Trân Châu cảng (Hawai), và các chiếc khác nữa từ cảng San Diego (California, Hoa Kỳ)

Từ Bộ Tư Lệnh này đến Bộ Tư Lệnh khác, từ chiến hạm này đến các phi cơ hay trực thăng… hệ thống truyền tin hết sức dày đặc, các điện thoại và điện báo hoạt động không ngừng nghỉ. Đô đốc Whitmire, Tư Lệnh lực lượng đặc nhiệm có một danh hiệu truyền tin được mã hóa rất bình dân là Jehovah.Tại Tân Sơn Nhất danh hiệu của tướng Homer Smith là Jacksonville Bravo. Danh hiệu của Thủy Quân Lục Chiến chung quanh tướng Smith là Baritone. Danh hiệu của Không lực số 7 ở Thái Lan là Blue Chip .Những nhân viên dân chính trong tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn có danh hiệu bình dị là Embassy.

Có nhiều tàu chiến của Miền Nam như tàu vớt mìn, tàu tuần, thuyền võ trang… theo dòng sông Cửu Long đi ra biển nên thường làm nhiễu các làn sóng điện truyền tin.

Một sự lộn xộn khác về giờ giấc: Các trực thăng do Thủy Quân Lục Chiến lái, muốn điều động họ thì phải dùng “giờ L” (giờ đáp). Đó là giờ mà chiếc trực thăng nào đó phải có mặt ở bãi đáp. Đối với Không Lực thì “giờ L” là giờ cất cánh. Công thức này đã được dùng trong cuộc di tản ở Phnom Penh. Người ta phải áp dụng một vài sự điều chỉnh cần thiết sau khi có một vài sự cãi vã.

Các phi công lái trực thăng gặp phải nhiều khó khăn bất ngờ. Người ta đã thông báo cho họ là thời tiết tốt, nhưng thời giờ làm hỏng hết. Từ 3 ngày qua, tầm nhìn xa bị thu ngắn lại. Người ta đã dự kiến di tản ban ngày, nhưng thực tế thì lại phải bay đêm, do đó đòi hỏi phải lanh lẹ, đối với chiến cụ.

Ít nhất có 2 hành lang trên không phận Sài Gòn: hành lang Michigan cho chuyến bay đi, với độ cao 6500 bộ Anh, và hành lang Ohio cho chuyến bay về với độ cao 5,500 bộ Anh. Hai hành lang này đều được đánh dấu bằng cọc tiêu. Người ta đã báo là có rất nhiều dơn vị Bắc Việt võ trang với súng liên thanh cao xạ cực mạnh và hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 được bố trí dưới hai hành lang này. Các phi cơ tiềm kích Hoa Kỳ phải bảo vệ hành lang. Vào giờ chót, người ta mới nhận thấy là các trái “bom 200 cân Anh có tia la-dze hướng dẫn” vốn được các phi cơ bảo vệ này mang theo, thì rất là hữu hiệu đối với các pháo đội 130 ly, nhưng không hữu hiệu đối với các súng liên thanh và hỏa tiễn. Các loại bom 500 cân Anh cũng vậy, chỉ để phá các lô cốt mà thôi. Do đó tốt hơn hết là nên dùng trực thăng chiến đấu AH-1J để xử dụng các hỏa tiễn và các khẩu đại bác 20 ly và để đánh dấu mục tiêu bằng đạn chiếu sáng cho phi cơ A.37. Rất may mắn là tất cả các phi công của trực thăng võ trang Cobra đều cũng là những kiểm soát viên Không lưu rất lành nghề, điều này giúp cho họ trong nhiệm vụ tuần tiểu, và giúp hướng dẫn các trực thăng vận tải.

Các phi công trực thăng đã được báo trước: từ đêm qua có nhiều trực thăng của Miền Nam chở đầy cứng gia đình để dư trù sẽ bay đến hạm đội ồ ạt một các vô trật tự.. Một chiếc trực thăng vận tải Chinook CH.47 đã đáp xuống bãi đáp phía sau của soái hạm Blue Ridge. Phi công trực thăng này là trung úy Trương mã Quới, đã tuyên bố với một phóng viên của tờ báo Newsweek là anh Ron Moreau:

_ “Các tướng lãnh, đại tá, thiếu tá, đại úy đã ra đi hết rồi. Tôi nghĩ là đến lượt các trung úy như chúng tôi cũng phải làm như vậy thôi.”

Các trực thăng lượn vòng chung quanh hạm đội. Đôi khi, mặc cho người ta cho lệnh phải chờ, các phi công Việt Nam vẫn cứ đáp để cho những người tỵ nạn xuống. Người ta yêu cầu họ bay ra bỏ trực thăng ngoài biển. Có nhiều người không chịu thi hành. Có một số khác đã trở thành chuyên viên cho loại hành quân này. Họ đáp trực thăng xuống mặt biển, nhanh chân nhảy ra và leo lên tàu cấp cứu. Các phi hành đoàn người Mỹ vỗ tay tán thưởng các phi công Việt Nam đã bất thần trở thành vô địch về môn thao diễn này. Có 2 chiếc đâm vào nhau trên soái hạm Blue Ridge, chiếc thứ ba đáp hụt, cấm đầu luôn xuống sàn tàu.

Theo dự tính của những nhà soạn thảo kế hoạch thì hầu hết các người tỵ nạn phải được bốc đi từ phi trường Tân Sơn Nhất. Lần lần tướng Carey mới hiểu ra là cần phải giải tỏa ngay số người đang ở tòa đại sứ từ 1000 đến 2000 người. Trước đó người ta bảo đảm là con số này không quá 200 người. Chỉ cần có 3 hay 4 chiếc trực thăng nhẹ, loại UH.1E thuộc Hàng Không Air America cũng đã là quá đủ cho con số này rồi. Bây giờ người ta phải xử dụng đến trực thăng nặng loại CH.53 ở tòa đại sứ như là ở phi trường vậy. Và tướng Carey cũng còn phải tăng cường thêm toán Thủy Quân Lục Chiến phụ trách về an ninh ở tòa đại sứ

13 giờ 12:

Tướng Không Quân Nguyễn cao Kỳ và trung tướng Lê Quang Trưởng, vốn đã về được Sài Gòn sau khi Đà Nẵng thất thủ, đã đáp trực thăng xuống chiến hạm Midway. Ông Martin sau đó cũng đáp xuống chiến hạm Denver.

14 giờ:

Điện tín của ông Kissinger gởi cho ông Martin xác nhận trao đổi cuối cùng giữa hai người qua điện thoại:

-“Chúng tôi đã nghiên cứu thỉnh cầu của ông nhằm giữ lại một toán nhỏ ở tòa đại sứ . Tổng Thống nhấn mạnh là phải di tản hết. Thân mến”

15 giờ:

Tại phi trường, Thủy Quân Lục Chiến bảo vệ cho 3 bãi đáp được chỉnh đốn rất hoàn chỉnh trên sân dã cầu, sân quần vợt và trên một bãi đậu xe trước dãy nhà phụ của Phòng Tùy viên Quân Lực. Có khoảng 3000 người dân tỵ nạn. Thủy Quân Lục Chiến đã chia họ ra từng toán rất có phương pháp, mỗi toán có từ 50 đến 70 người.

Thiếu tá William Melton đến phi trường với 3 trung đội của đại đội 3 tiểu đoàn 2 thuộc sư đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến và các trực thăng vận tải đầu tiên lúc 15 giờ 6 phút. Họ bay theo con sông Sài Gòn với cao độ 9000 bộ. Vì trên 10.000 bộ là người ta phải cần có dưỡng khí. Binh sĩ nhìn xuống dòng sông đều thấy có hằng trăm ghe , tàu, chiến thuyền… đang đổ về phía biển. Chiếc trực thăng đầu tiên bay đi với hành khách của mình. Các sự luân chuyển của trực thăng CH.46 và CH. 53 được tiến hành rất tốt. Người ta rất lo ngại về những tin tức từ tòa đại sứ. Để giữ an ninh cho tòa đại sứ, chỉ có một nhóm 44 Thủy Quân Lục Chiến mà thôi. Do đó tướng Carey mới quyết định rút ra ngay 130 binh sĩ từ nhân số 840 binh sĩ đang giữ an ninh tại phi trường.

Thiếu tá William Melton, sĩ quan lên từ hàng binh sĩ, 38 tuổi, 5 con, trên tay có xâm hình một con bướm với đầu lâu, ở tiểu bang California, 20 năm thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, là một trong những quân nhân Mỹ đầu tiên đã đổ bộ lên Đà Nẵng mười năm trước. Đối với ông,các chánh trị gia phải chịu trách nhiệm của cả “chuyện rối rắm này” Binh sĩ của ông nằm ở vị trí gần các dãy nhà thuộc văn phòng của tướng Homer Smith. Hầu hết họ là những người mới đặt chân lên Việt Nam lần đầu và cũng là lần chót. Họ là những người rất hoạt bát, rất có kỷ luật và dĩ nhiên cũng thông thường thôi là họ có vẻ sợ sệt. Thỉnh thoảng người ta nghe tiếng súng và tiếng nổ của đạn bách kích pháo. Lệnh rất là nghiêm: không được bắn trả lại, trừ trường hợp tối cần, bất khả kháng. Thiếu tá Melton nhìn những quân nhân và các người dân Việt Nam chạy đi chạy lại chung quanh châu vi thuộc vòng bố trí của binh sĩ. Ông Melton nghĩ:chúng ta đến đây chỉ với nhiệm vụ đóng hết cửa, tắt hết đèn, và trở về nhà. Và ông nói như vậy to lên cho các sĩ quan và binh sĩ của ông nghe. Ông nhìn lại hai lần ông đã đến Việt Nam năm 1965 và năm 1968 . Một đại tá Việt Nam đến gần ông, chào ông và trao cho ông khẩu súng lục 25 ly: và nói:

_ “Thiếu tá, đây là khẩu súng cá nhân của tôi…. Việc gì đã xảy ra? Không thể được, đây là chuyện có thật ư? Cách đây 20 năm, lúc còn là thiếu úy, tôi đã đánh nhau trong vùng ngoại ô Hà Nội .

Phải trả lời cho ông ra sao đây? ông đại tá này mặc đồ dân sự trước khi leo lên một chiếc trực thăng. Thiếu tá Melton nhìn cảnh binh sĩ của ông kiểm soát người tỵ nạn và hành lý của họ. Một nhóm các bà còn trẻ nói với ông:

_ Chúng tôi phải di hay sao?

_ Mấy chị có thân nhân ở Hoa Kỳ hay không?

_ Tôi có một “bạn trai” ở Chicago, một bà còn trẻ nói.

Ông Melton nghĩ không biết tại sao các bà lại đem chuyên đó ra hỏi ông? Không còn nghi ngờ gì nữa, ở đây có nhiều người muốn chạy trốn mà không thể ra đi như thế này được, nhưng trong số những người phải ở lại tại chỗ, có một số lớn phải đến với chúng tôi.

Việt Nam, Nước Việt Nam của ông, đã trở lại với ông với hằng tá kỷ niệm. Ông Melton không bao giờ có ý thù ghét những người Bắc Việt đang tràn đến Sài Gòn. Địch quân? bộ đội? Đối với ông, bọn Việt Cộng thì khác hẳn. Chung quanh Đà Nẵng các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cứ đạp vào lựu đạn do Việt Cộng gài bẫy. Người ta cứ đạp bẫy mà người ta không làm gì được hết vì người ta không thấy đâu là địch.. Còn bộ đội Bắc Việt, trên một nghĩa nào đó hay nói cho đủ nghĩa, họ là Quân đội chánh quy hơn. Cũng là binh sĩ như chúng ta. Cùng có những chuyện chung giống như chúng ta . Cả chúng ta và họ đều xa nhà. Còn Việt Cộng thì có đôi khi họ chỉ ở cách làng của họ chừng 100 thước thôi. Thủy Quân Lục Chiến cũng như các bộ đội Bắc Việt đã từng sống trong đất sình, các ruộng lầy lội vì nước mưa, với đàn kiến đen và đĩa. Ông Melton đã bắt được một tù binh là sĩ quan Bắc Việt bị thương, và ông đã bắt tay tù binh này. Chung quanh họ là binh sĩ Việt Nam đều tỏ ra công phẫn. Tại sao? người sĩ quan Bắc Việt này đã chiến đấu tốt, ông Melton không có gì tiếc rẻ về cái bắt tay của mình. Cũng như đã được đưa qua Việt Nam nhiều lần. Cũng như phải triệt thối về nước. Ông chỉ biết làm công việc của mình và chung quanh ông, các người lính trẻ đã xoay sở tốt lắm.

Với một số Thủy Quân Lục Chiến ông Martin đi về tư thất của mình, lấy một vài hồ sơ ra từ tủ sắt. Thủy Quân Lục Chiến đốt các hồ sơ này bằng một trái lựu đạn lửa. Ông Martin trở lại tòa đại sứ , đi bộ qua tòa đại sứ Pháp. Ông Mérillon nói với ông ta là CPLTCHMN không muốn gặp ông.

Tướng Timmes đến gặp ông Dương Văn Minh và ông ta luôn có cảm tưởng là ông Tổng Thống tin là có thể bàn cãi, thương thảo với những người cộng sản . Tuy nhiên vào giờ này ông ta đã mất hết ảo tưởng đó rồi. Cho đến cuối cùng, lịch sử của chiến tranh thứ hai của Việt Nam tựu trung chỉ là một sự chất chứa toàn là những chuyện hiểu lầm và những chuyện đau đầu.

  1. giờ 30:

Để di tản những người Mỹ và những người Việt Nam còn trong vòng rào của tòa đại sứ , ông Martin quyết định người ta sẽ ra đi theo một nguyên tắc giản dị:

_Ai tới trước thì được đi trước.

Tướng Carey nhận thấy là phương tiện di tản cũng như an ninh không được đầy đủ. Ông hiện có một bãi đáp trên sân thượng, một bãi khác trên bãi đậu xe vốn đã được dọn trống. Nếu số người quá đông ở trước cổng tòa đại sứ mà vào được bên trong, thì công tác di tản sẽ bị lộn xộn ngay. Cũng như người ta đã nói một cách lễ độ trong báo cáo quân sự là  “các thông số đã thay đổi”. Các trực thăng sẽ tiếp tục làm con thoi trong đêm. Và đáp trên nóc của tòa đại sứ là có nhiều nguy hiểm. Có cả ba người , ông Wolfgang Lehmann, đại tá John Madison thuộc Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên, và một mục sư, ông Thomas Steddins, đang lọc và gom các người tỵ nạn lại gần bãi đậu xe và hồ bơi. Trong các dãy nhà thì các người tỵ nạn, các nhà ngoại giao, các nhà báo.. cũng không chịu ngồi yên.

Một vài viên chức uống rượu mạnh như wuýt-ky và cỏ nhác, có một số lấy ra từ tủ lạnh … y tế.. Các nhà ngoại giao Ba Tư thuộc Ủy Hội Giám Sát đến bắng cách đi băng qua tòa đại sứ Pháp. Họ không còn nhớ số mật mã của họ nữa.

Điện thoại reo khắp nơi trong các từng lầu. Lại có nhiều tin đồn được tung ra: các đoàn xe buýt đã bị tấn công trong thành phố; còn quá nhiều chỗ trống trong các xà-lan và các tàu trên bến cảng. Lúc 16 giờ, có từ năm đến sáu ngàn người tỵ nạn bao vây tòa đại sứ .Họ đứng dồn cứng khoảng 30 thước bề ngang, sát từ hàng rào với những bao bị, những va ly, và những gói hàng ít nhiều được cột lại cẩn thận . Trong đám quá đông này, nhà văn Duyên Anh và gia đình ông ta đến từ sở Thông Tin Hoa Kỳ . Ông ta nhìn đồng bào đang hốt hoãng của mình , nhận biết được các tướng lãnh, nghị sĩ và dân biểu, thấy các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ xô đẩy những người tỵ nạn đang muốn leo qua rào, có đôi khi họ phải đánh nữa. Người ta cũng thấy có cả những người Nhật và Đại Hàn.. Nếu là người da trắng thì họ có thể được người ta đưa cao để qua khỏi rào. Các cảnh sát viên Việt Namthuộc quận cảnh sát kế cận cũng leo rào vô khuôn viên. Đã nhiều ngày qua, người ta đã thỏa thuận với nhau rằng; các cảnh sát viên phải duy trì trật tự và rồi họ sẽ được di tản. Người Mỹ có mặt ở đây đều biết rằng dù thế nào thì họ cũng sẽ ra đi. Ngoài đường các bạn trẻ ngồi trên mô tô hay xe xì cút tơ nhìn cảnh trực thăng bay lượn (nhảy múa) trên không. Đôi khi cũng có một người Việt Namcũng tìm cách vào được trong tòa đại sứ . Thường thì cha mẹ vợ con của anh chàng này còn ở ngoài. Người này kêu, người kia khóc van xin các anh Thủy Quân Lục Chiến và các viên chức Mỹ để cho họ vào theo.

Khoảng vài chục ngàn người Việt đã được di tản. Nhiều người khác cũng sẽ tự nguyên ra đi nhưng họ không thể nghĩ tới chuyện đó. Họ còn phải lo chuyên chú vào việc làm. Trong nhiều khu, trẻ em vẫn tiếp tục chơi trên vĩa hè, ngoài đường, còn có mấy cụ già ngồi tán gẫu.

  1. giờ 30:

Những người có trách nhiệm trong cơ quan CIA chợt thấy là 250 nhân viên người Việt của họ bị bỏ quên trong một trung tâm tiếp vận ở xa, và khoảng 100 ở khách sạn Đức. Bảy chục thông dịch viên không thể nào tới tòa đại sứ được. Một số trực thăng của hãng Air América không thể bay lên được vì bình điện của trực thăng bị mất cắp, Người ta cũng không tìm được xe buýt nữa. Do đó, các thông dịch viên và gia đình họ không có phương tiện và cũng không còn có thì giờ để đến bến cảng được.

Ở về hướng Đông Bắc của Sài Gòn , bộ dội Bắc Việt bắn một số hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 lên các phi cơ Phantom của Hoa Kỳ. Các phi cơ này có bắn trả lại bằng hỏa tiễn.

Nói chung thì bộ đội Bắc Việt vẫn tiếp tục tuân lệnh của tướng Văn Tiến Dũng– không được đụng tới các phi cơ Hoa Kỳ.

  1. giờ 15

Lúc này trời đã bắt đầu tối. Tướng Homer Smith ở phi trường và tướng Carey ở Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến ngoài biển, cùng xem xét lại tình hình. Còn chừng 1300 người phải di tản từ Tân Sơn Nhất . Người ta cần phải có 3 tiếng đồng hồ để đưa ra hết số người này, kể cả các toán Thủy Quân Lục Chiến đang giữ an ninh. Trong vòng có một giờ, giá một mỹ kim từ 6000 đồng vọt lên đến 7.000 đồng.

Tại tòa đại sứ công việc quá lờ mờ. Ông Martin đã trả lời cho đề đốc Whitmire về con số chính xác như sau:

_ “Còn đến từ 1.500 tới 2000 người”

Tướng Timmes lại điện thoại cho Tổng Thống Dương Văn Minh:

_ “Cộng sản đã có trả lời gì cho Ngài chưa? Liệu họ có sẵn sàng ngưng không bắn vào dinh Độc Lập lúc 18 giờ hay không? Không có câu trả lời nào.

17 giờ 30:

Tổng Thống Dương Văn Minh lại gởi một phái đoàn đến trại Davis , luật sư Trần ngọc Liễng, giáo sư Châu tâm Luân và linh mục Chân Tín, một người tranh đấu cho trung lập, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế. Sau buổi gặp phái đoàn này, người của CPLTCHMN gởi một bức điện cho Bộ Tư Lệnh Bắc Việt:

– “Đồng chí Võ đông Giang đã tiếp những người này. Một lần nữa đại tá đã nói rõ những điểm trong bản tuyên bố của chúng tôi ngày 26 tháng 4, nghĩa là: xoá bỏ hoàn toàn chính phủ Sài Gòn . Sau cuộc nói chuyện họ đã xin phép rời trại Davis. Nhưng khi chúng tôi đã nói với họ là pháo binh chúng tôi bắn vào Tân Sơn Nhất thì họ lại muốn tốt hơn là sẽ ở lại đêm với chúng tôi, họ đồng ý như vậy.”

Chung quanh các dãy nhà của tướng Smith ở phi trường, một số binh sĩ Miền Nam bắn súng. Thủy Quân Lục Chiến bắn trả lại ngay. Có một số đột nhập vào phạm vi trách nhiệm của Thủy Quân Lục Chiến đang giữ an ninh an ninh, làm cản trở sự di tản. Họ bị duổi ra ngay.

Cũng vào lúc đó ở trước tòa đại sứ Hoa Kỳ có các đám cháy bùng lên. Người ta tin là một trái đạn pháo binh đã rơi trên đường. Sự thật là có một người Việt Nam nào đó đã vất một cây diêm quẹt đang cháy vào bình xăng của một chiếc Wolkwagen làm cho xe phát nổ.

Cạnh văn phòng của tướng Smith ở phi trường, có những công chức Hoa Kỳ đang đốt hàng bó người triệu Mỹ kim.

Làn sóng người tỵ nạn tiếp tục tràn vào sát tường của tòa đại sứ . Có nhiều người Mỹ khóc, trong số đó ông Polgar . Ông không tìm thấy người Út, người tài xế của ông ở đâu. Các trực thăng của hãng Air America đã chở được hằng ngàn người trong ngày trong gần cả trăm chuyến bay. Các quân nhân Hoa Kỳ nhận thấy là càng ngày càng có nhiều người tỵ nạn phải bốc đi từ tòa đại sứ.

19 giờ:

Tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân trên bờ sông Sài Gòn, Đô Đốc Cang canh chừng cho các tàu chiến của mình tuần tự ra đi. Ông nhận được diện thoại từ Tổng Thống Phủ. Người ta muốn gặp đề đốc Than mưu trưởng Hải Quân ở nhà ông Dương Văn Minh. Ông Minh yêu cầu hộ tống đại tá Nguyễn hồng Đài, rể của ông, và tướng Mai hữu Xuân, người đã có công trong việc đảo chánh ông Diệm năm 1963.

– Phần tôi, tôi không thể đi được, ông Tổng Thống thở dài….

Tại Tổng Thống Phủ, ông Dương Văn Minh cứ ngồi chờ mãi tin tức của phái đoàn mà ông đã gởi sang để gặp CPLTCHMN. Các cố vấn của ông và nhất là Thủ Tướng của ông khuyên ông nên ra một bản tuyên bố đơn phương. Phải đầu hàng vô điều kiện mà thôi. Ông Minh từ chối. Chuyện đó sẽ không đi đến đâu cả, trên phương diện tinh thần, quân sự lẫn chánh trị. Đó là tự mình cho người ta thấy chỗ yếu của mình.

Rại tòa đại sứ Mỹ, các trực thăng được các đèn pha xe hơi rọi sáng, đã bốc đi mỗi chuyến khoảng từ 60 đến 80 người tỵ nạn. Trong công tác chuyển vận, người Việt Nam xếp thành hàng từ các cầu thang lên cho đến tận sân thượng. Máy điều hòa không khí không còn hoạt động nữa nên nóng nực kinh khủng và có một mùi hôi nước tiểu và giấy tờ bị đốt. Các Thủy Quân Lục Chiến đi tới đi lui, khá ngạc nhiên mà thấy là tất cả những người trẻ chỉ mặc sơ mi, thường có võ trang, đi dạo trong các hành lang, có vẻ thong dong và quyết tâm lắm, đó là các nhân viên tình báo của CIA , thường được gọi là nhóm “ma quỉ” (nguyên tác tiếng Anh: spooks).

Đoàn tàu chiến của Đô Đốc Cang xuôi theo Sông Sài Gòn . Đứng trên boong tàu các sĩ quan và binh sĩ đều thấy trực thăng Hoa Kỳ – hay của Việt Nam?- dùng hỏa tiễn đánh xuống các kho đạn.

19 giờ 15:

Tất cả dãy nhà trong phi trường đều không có điện: tai nạn hay bị phá hoại? – “Thôi chúng ta đi, tướng Smith quyết định.

Ông ta sửa soạn đi đến một trực thăng khi có một nhóm người tỵ nạn nữ vừa mới tới. Họ được phép lên trực thăng của thiếu tướng Smith, còn thiếu tướng thì ông ta đợi một chiếc khác.

Người ta cần tăng cường ở tòa đại sứ . Toán tăng cường được dự trù lấy ra từ những người của thiếu tá Melton. Một trung đội của trung úy Jay Roach đi đến tòa đại sứ bằng trực thăng. Thiếu tá Melton gọi người sĩ quan của ông:

_ “Jay, anh đến gặp đại tá, ông ấy sẽ hướng dẫn cho anh. Trong khi chờ đợi thì trung đội của anh hãy tập họp lại.”

Trung úy Jay đi tìm đại tá, khi anh trở lại thì trung đội của anh đã bay đi rồi.

_ “Vậy là tôi làm sao đi tới tòa đại sứ đây? trung úy la lên.

Không có một trực thăng nào hết, làm trung uy Roach cáu lên. Có nhiều sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến ấp u cơn nóng giận của mình một cách lạnh lùng, cố nén nó xuống ở phi trường, cũng như ở tòa đại sứ .. và trên 4 chiến hạm của hạm đội ở ngoài biển: lộn xộn như một nhà thổ. Những người dân chính không có một sự thận trọng nào. Mọi việc bắt đầu quá trể. Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Alan Broussard đã tham dự cuộc di tản ở Phnom Penh, có nhận xét là ở đó được tổ chức hoàn hảo hơn. Ở đó những người tỵ nạn được đeo thẻ màu khác nhau để phân biệt người nào đi trước người nào đi sau. Các sĩ quan đã quen những chuyện mất trật tự trong chiến tranh rồi, nhưng các cuộc hành quân loại này phải được chuẩn bị kỹ hơn.

_ “Vậy thì tôi phải làm gì bây giờ? trung úy Roach hỏi

_ “Làm sao anh có thể đi bộ lại tòa đại sứ được? Thiếu tá Melton nhún vai trả lời

Ngoài khơi Vũng Tàu, đại úy Cyril Moyer và 52 Thủy Quân Lục Chiến người của ông ta trong toán India đã bốc những người tỵ nạn đến chiếc Pionner Commander, một chiếc tàu vận tải dân sự thuê mướn. Các binh sĩ đã đặt các nhà vệ sinh và các thùng nước ngọt trên tàu. Trung úy đã cho tiêu lệnh cho binh sĩ của mình:

_ “Các anh sẽ giúp đỡ những người tỵ nạn, nhưng không có sự quá thân mật. Các anh phải kính trọng người lớn tuổi. Các anh phải giữ khoảng cách với họ. Các anh không được yêu thương tỏ tình với ai hết. Các anh là Thủy Quân Lục Chiến, là một loại kem hảo hạng đó.

Các anh Thủy Quân Lục Chiến được huấn luyện để phòng thủ cho chiếc Pionner Commander, trong trường hợp mà có các binh sĩ khác, bất cứ là của Bắc Việt hay Miền Nam mà có ý muốn chiếm chiếc tàu này. Dưới hầm tàu chất đầy gạo, bột sữa, cá mòi và cá ngừ đóng hộp.

Đứng ngay cầu thang, có 2 binh sĩ kiểm soát những người tỵ nạn bước lên tàu. Các Thủy Quân Lục Chiến này đều biết rõ các quân lệnh. Cái gì được cái gì không được . Để giữ trật tự cho những người tỵ nạn nên lúc nào cũng phải quan tâm đến vấn đề anh ninh. Phải báo cáo cho biết những ai nói được tiếng Anh và bất cứ người tình nghi nào. Không được sờ vào đầu người tỵ nạn, không được chấp nhận bất cứ một cử chỉ khiêu khích nào, không được để cho họ đánh nhau. Phải tịch thu hết tất cả vũ khí và chất nổ.

Những người tỵ nạn đã được khám xét rồi mà các Thủy Quân Lục Chiến còn khám phá ra những súng lục và dao găm. Hành khách được đưa đến các boong tàu. Có người thì đến từ Vũng Tàu, có người thì đến từ rds . Có người thì đã đi qua nhiều chặng nguy hiểm từ Đà Nẵng, hết tàu này đến tàu khác. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến thấy được trong đám đông tỵ nạn 3 bác sĩ, 7 người đầu bếp và một cấp tướng trong quân chủng Hải Quân, Và một nghị sĩ. Hai người này không muốn nhận bất cứ một trách vụ nào mặc dấu có yêu cầu của đại úy Moyer, người phải coi sóc nhiều ngàn người tỵ nạn.

Chung quanh chiếc Pionner Commander, có nhiều chiếc tàu, thuyền đang đến, có một số đang cháy.

Người Mỹ cũng đang di tản lãnh sự quán cuối cùng Hoa Kỳ ở Cần Thơ. Lãnh sự Francis McManara từ chối không nhận trực thăng . ông quyết định cho nhân viên của ông đi tàu. Cơ quan tình báo xác nhận là có nhiều toán Bắc Việt và Việt Cộng võ trang súng không giật đã có mặt ở dọc theo sông. Ông Mc Namara tập trung người của ông trên bến cảng. Ông đội một chiếc cát kết lớn có hàng chữ: “Hội Trưởng Hội Du Thuyền Cần Thơ”. Khi đến cảng ông không thấy tài công mà cũng không thấy nhân viên nào của CIA hết. Những người này đã được trực thăng của Air America bốc đi mặc dầu có bị một vài binh sĩ Miền Nam tấn công.

Khởi hành từ giữa trưa, đội chiến thuyền Mỹ bị một số tàu tuần Việt Namcập theo. Họ hỏi ông lãnh sự xem có thể chở giùm một số người Việt Nam đã đến tuổi quân dịch hay không ? Ông chấp thuận chở 298 người trong số đó có một số sĩ quan mặc thường phục.. Không đợi trả lời, sĩ quan chỉ huy đội tàu tuần cười nói:

_ “Tôi thấy là tất cả đều tốt hết rồi. Thôi hãy tiếp tục đi đi. Chúc ông thượng lộ bình an và may mắn.

Một vài ngày trước đó, ông Mc Namara đã có giúp di tản gia đình của đại úy tuần duyên này

Trong một phút cảm động, còn hình ảnh được lưu lại, một ông già đứng cạnh ông lãnh sự, đã nhận ra con trai của mình trong đội tuần duyên. Họ ôm nhau: một người đi một người ở lại.

  • giờ:

Từ sân thượng của tòa đại sứ được chiếu sáng rực, người ta thấy xa xa có những đường đạn chiếu sáng bắn thẳng lên trời, và những đám cháy trong cơn bão, và nghe được những tiếng súng đại bác. Các trực thăng lớn Cộng Hòa.53 đáp xuống sân, các trực thăng Cộng Hòa.46 nhỏ hơn thì đáp ở sân thượng. Mội hành khách được phép mang theo một va ly hành trang. Các phi công đội nón nhựa có dây nhợ lòng thòng giống như nhân vật của sao Hỏa trong tranh vẽ. Ông Allen Carter, vốn không di tản được nhân viên thuộc các cơ quan Thông Tin của mình, cùng cô thơ ký tòa đại sứ Eva Kim và nhà báo George Mc Arthur cả ba bước lên trực thăng. Bây giờ thì ở tòa đại sứ chỉ còn khoảng 12 nhân viên CIA. Họ đang còn phải phá hủy thiết bị truyền tin cuối cùng.

– “Người ta mất 4 triệu mỹ kim thiết bị, ông Polgar nói khẽ trong lúc ông đi tới đi lui, súng mang choàng ngang trên vai.

Ông FrankSnepp đi cùng với tướng Timmes trên một trực thăng khác. Và họ bay đi.. Lúc bay trên không phận Sài Gòn ông Snepp thấy một kho đạn đang nổ. Ông bàng hoàng khi thấy trên đường từ Xuân Lộc tới hàng ngàn đèn pha chiếu sáng: đó là đoàn xe vận tải quân sự và chiến xa chiến thắng của Bắc Việt.

  • giờ, giờ Sài Gòn, 10 giờ giờ Hoa Thạnh Đốn:

Tại Ngũ Giác Đài, người ta đang làm bản tổng kết về cuộc được tản. Ở Vũng Tàu, đã tiến triển khả quan, ở Cần Thơ cũng vậy. Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng tưởng là ở Sài Gòn người ta đi đến một thảm họa. Trước hết là người ta đã cho di tản quá nhiều người Việt Nam. Đối với ông Schlesinger thì cần nhất phải chấm dứt sự có mặt của người Mỹ, để ngừng di tản vào 12 giờ khuya giờ Sài Gòn , để ta vẫn có thể di tản tiếp người Việt Nam vào sáng ngày mai? Ông Schlesinger điện thoại Sài Gòn ra lệnh cuối cùng của ông ta. Ông yêu cầu Nhà Trắng và nhất là tướng Brent Sowcroft, vốn đã gởi cho ông Martin một bức điện tín trước đó 15 phút:

_ “Được biết là vẫn còn khoảng 400 người Mỹ trong tòa đại sứ. Ông phải bảo đảm là tất cả, tôi nhắc lại “là tất cả” những người Mỹ phải được di tản”

Ông Martin trả lời ngay tức khắc một cách giận dữ:

_ “Có thể nào ông nói cho tôi biết làm cách nào để tôi bắt buộc người Mỹ để họ bỏ những đứa con có nửa dòng máu Việt Nam? Hay Tổng Thống đã nghĩ gì khi ông cho lệnh tôi như thế?”

Ông Martin than phiền: Đã hơn 50 phút rồi, chúng tôi ở đây không có trực thăng CH.53. Chỉ có mỗi một chiếc CH.46.”

Khi nhận được công điện của Đô Đốc Whitemire, vốn muốn chấm dứt cuộc di tản vào lúc 23 giờ, giờ Sài Gòn và lại tiếp tục vào hồi 8 giờ sáng ngày hôm sau, ông Martin viết thêm:

_ “Tôi đã trả lời là tôi không muốn ở đây thêm một đêm nữa. Cách đây 4 giờ tôi đã cho Đô Dốc Gayler ở Honolulu biết là chúng tôi cần bao nhiêu chuyến trực thăng nữa. Bây giờ thì chỉ cần có 30 chuyến CH.53 nữa mà thôi.”.

Có nhiều công ty đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao hay Nhà Trắng can thiệp cho các nhân viên của họ ở Sài Gòn.

  • giờ:

Vẫn ông Martin báo là bên cạnh ông có một vị linh mục, người đứng đầu các cơ quan viện trợ công giáo Hoa Kỳ. Linh mục này không muốn đi nếu không có người Việt Nam của ông cùng đi với ông. Ông Martin tự hỏi về những sự liên hệ của Tổng Thống Ford với các Giám mục Hoa Kỳ , nếu ông ta bỏ linh mục này ở lại.

Ông Pierre Brochand đã yêu cầu ông Dương Văn Minh qua điện thoại để cho ngưng các cuộc chiến. Ông Minh trả lời là ông sẽ suy nghĩ lại.

Ông Bronchard nhớ lại là dự trử xăng cho máy điện được chất đống dưới bức tường của tòa đại sứ Mỹ. Ông đánh thức nhóm trẻ đang ở trong khuôn viên tòa đại sứ Pháp ( nơi các nhân viên đang tạm sống với con cái của họ cùng với một số gà vịt):

_ “Đi, đi lại chuyển hết các thùng dầu vào giữa vườn giùm và lấy tấm bạt ướt đậy lại. Ông giục to lên.

Thế là ông cùng nhóm trẻ lo dời các thùng dầu.

  • giờ 6 phút

Từ Nhà Trắng, ông Don Rumsfeld báo cho ông Martin biết là ông phải lo cho 150 nhân viên của hãng IBM đang ở đâu đó trong thành phố với gia đình họ.

_ “Mặc họ muốn đi đâu thì đi! ông Martin nói,

  • giờ 30 phút

Ở phi trường, Thủy Quân Lục Chiến đang phá hủy các dãy nhà và nhất là dụng cụ truyền tin, hai trăm máy truyền tin, 60 máy điện toán, một trữ lượng lớn dữ kiện, một đài dò tìm vệ tinh, một máy điện toán thật lớn của Quân đội Việt Nam được thiết trí ở trong dãy nhà thuộc trách nhiệm của Quân đội Mỹ . Người ta cũng đốt một số lớn hồ sơ. Tất cả đều diễn tiến đều rất tốt. Viên sĩ quan được chỉ định lo việc này đã đặt chất nổ từ sáu ngày trước. Và hôm nay là công việc cuối cùng. Người ta dùng ba thùng hỗn hợp nhiệt nhôm, một trăm trái lựu đạn và khoảng 20 dụng cụ dẫn hỏa. Người ta đã cho ngòi nỗ chậm, sau đó Thủy Quân Lục Chiến chạy ra sân quần vợt, ở đó trực thăng cuối cùng đang chờ họ..

Đây là nơi từ mười năm qua đã nổi lên một trung tâm, một trái tim, một bộ máy của quyền lực quân sự Hoa Kỳ tại Đông Dương. Nơi đây một Tổng Tư Lệnh Hoa Kỳ, tướng William Westmoreland, tiên liệu chiến thắng , đã công bố là “ánh sáng đã ló dạng ở cuối đường hầm”. Ánh sáng duy nhất ở cuối đường hầm của cuộc chiến quá dài này, là đám cháy lớn này, đám cháy của các dãy nhà đang đổ sụp xuống vì chất nổ, một đám cháy thật lâu với ngọn lửa trắng xanh của chất hóa học trộn lẫn với bột nhôm.

  • giờ 45:

Bức điện tín từ ông Martin gởi về Nhà Trắng:

_ “Từ sau điện tín sau cùng của tôi, mười chín, tôi nhắc lại 19 chiếc CH-46 đã đến và đi. Tôi đã nói là tôi cần một số tương đương với 30 chuyến CH.53. Tôi vẫn còn cần. Có thể cho tôi biết được không?”

Mười lăm phút sau, ông gởi cho tướng Gayler:

_ “… Không có gì trong vòng 20 phút qua.. Hình như là tôi phải bước qua một phần của ngày 30 tháng 4 ở đây rồi, tôi mong đây chỉ là một phần thật nhỏ. Chắc chắn là tôi không qua ngày 1 tháng 5 đâu.”

Ông Martin đã nói với ông Kissinger hơi khôi hài, là nếu tình hình trở nên xấu thì ông ta sẽ phóng xuyên qua tường đến tòa đại sứ Pháp để xin tá túc với ông Mérillon. Dĩ nhiên là ông sẽ không từ chối và ông Martin sẽ ngủ ở phòng bà Mérillon, “nếu bà còn ở đó chớ không phải ở Ba Lê”

Các Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng đã rời khỏi Tân Sơn Nhất vào khoảng gần nửa đêm. Khi họ phá hủy trung tâm truyền thông ở phi trường thì tòa đại sứ không còn có phương tiện truyền tin hết sức tối tân nữa

Bà Claudia Krich, một thành viên quắc-kơ, đã viết trong nhật ký vào buổi chiều ngày 29.

Vào trước nửa đêm, có hai người ở cạnh bên nhà đã đến thăm bà:

_ “Đó là 2 ông bà bác sĩ ở Đà Nẵng. Họ đã trốn khỏi Đà Nẵng, quá sửng sờ khi nghe được lịch sử liên quan đến những người cộng sản. Họ hỏi chúng tôi là chúng tôi có biết làm sao để họ có thể làm cho trực thăng chú ý đến họ được? Họ nghĩ cách vẽ 3 chữ SOS trên nóc nhà của họ. Chúng tôi đã bảo họ đừng nên làm gì cả, vì nếu có một trực thăng đáp xuống đường của chúng tôi thì có thể chúng tôi sẽ bị binh sĩ Việt Nam bắn chết ngay. Chúng tôi đã mời ông bác sĩ đến nhà nói chuyện chơi với chúng tôi một ít lâu. Chúng tôi đã an ủi ông, làm cho ông bình tĩnh trở lại và cuối cùng cũng giống như bao nhiêu người khách của chúng tôi trước đó, ông ta đã đi về với nhiều ý nghĩ mới trong đầu.”

Đại tá Hòa cho lệnh ngưng tất cả các chương trình truyền hình Việt Nam vào đúng nửa đêm. Các binh sĩ Dù giữ đài truyền hình cũng đi về luôn. Thủ Tướng đã nói với Giám đốc đài truyền thanh và truyền hình:

_ “Ngày mai là tướng Dương Văn Minh đầu hàng. Chúng tôi không muốn thấy binh sĩ Dù trong thành phố Sài Gòn nữa.

Bộ Tư Lệnh Bắc Việt cho lệnh tất cả các pháo đội của họ ngưng tác xạ. Tướng Dũng viết: “Vào nửa đêm ngày 29 tháng 4, tất cả lực lượng tấn công của chúng tôi đã sẵn sàng tiến vào Sài Gòn . “Không khí thật căng thẳng cũng như người ta đã đưa một lưỡi rìu thần diệu lên vậy.”

Thật là những ngày mệt nhọc cho các phi công trực thăng! Bộ máy quân sự tuyệt vời của Hoa Kỳ vốn tiên liệu hết tất cả, đã bỏ sót một điểm: mỗi chiếc trực thăng xử dụng đều có phi hành đoàn của nó. Không có một người nào nghĩ đến việc luân phiên cho họ hay ít nhất cho 3 trong 8 người của phi hành đoàn, nên các phi công và các xạ thủ súng máy đều làm việc suốt, không ngừng nghỉ.

Thiếu úy Richard Van de Geer thuộc “phi đoàn 217 hành quân đặc biệt”, ở căn cứ Nakhon Phanom tại Thái Lan. Anh ta đã tham gia vào cuộc di tản ở Phnom Penh. Anh viết cho Dick môt người của anh. Trước tiên thiếu úy đến căn cứ Utapao nằm về phía Nam 500 dậm. Ở đó người ta thuyết trình cho anh:

_ “Người ta nói là tôi phải đưa trực thăng của tôi… đến một hàng không mẫu hạm. Được rồi, đây không phải thật sự là một chuyện bất ngờ, và chúng tôi biết là ở đó hạm đội 7 làm nhiều chuyện kỳ lạ lắm. Nhưng tôi không biết là chiếc hàng không mẫu hạm quỉ đó nó neo ở 8oo cây số ngoài khơi bờ biển Miền Nam Việt Nam. Được rồi, dĩ nhiên là tôi đã tìm thấy được hàng không mẫu hạm Midway. Tôi bảo đảm với anh là các chiến hạm đó trên biển cả không quá lớn như lúc chúng đậu ở bến đâu. Tôi đã đáp xuống trên chiếc hàng không mẫu hạm và Thủy Quân Lục Chiến đã nhanh chóng tuyên truyền cho tôi. Tôi không thấy thích chuyện đó chút nào.”

Hằng ngày, trung úy đều có tham dự vào một buổi thuyết trình về tin tức:

_ “Chúng ta ở đây là để di tản các công dân Hoa Kỳ. Những người Việt Nam được chọn lọc rất kỹ và những người của các nước thứ ba khác, vào giờ chót, nếu tình hình tồi tệ đến độ người ta không còn xử dụng được phi trường Tân Sơn Nhất … Tôi đã bốn lần bay đến Sài Gòn . Tình hình với 150 ngàn quân Bắc Việt chung quanh thành phố, dĩ nhiên không được là những nơi sạch sẽ để bay một trực thăng to lớn cồng kềnh, và di tản những người chỉ có vũ khí để tự vệ… Tôi có thể nói với anh về nỗi lo sợ thật sự mà tôi cảm thấy, bởi vì sau khi chúng tôi đã đi qua vùng Đồng Bằng để đáp xuống Sài Gòn là chúng tôi đang ở trên đất địch. Súng cao xạ bắn lên chúng tôi . Những tên Việt Cộng đã lấy được các trực thăng Huey của hãng Air America để bay đi chỗ này chỗ nọ, họ bắt chúng tôi phải chơi một ván cờ thật là lý thú. Tôi muốn nói là chuyện đó thật sự không tốt đâu. Chúng tôi nghĩ là họ muốn phá hủy toàn bộ cuộc hành quân của chúng ta vào ban đêm, bởi vì chúng ta không thể đợi cho họ đưa chúng ta vào một tình hình được xem là quá xấu, ngay cả ban ngày. Nhưng như anh đã có thể thấy đó, nhiệm vụ đã được tiếp tục mãi cho đến 5 giờ sáng, Các chuyến bay về đêm thật là xấu bởi vì chúng tôi bay không đèn. Các lằn đạn chiếu sáng đã làm cho mọi người thêm kích động. Nhìn thấy một thành phố đang cháy đã cho mình một cảm giác lạ lắm về vấn đề không có an ninh. Phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo liên tục không ngừng. và khi nào tôi gặp anh tôi sẽ đưa ảnh cho anh xem. Bây giờ để tôi cho anh một vài sự kiện có thể mâu thuẩn với những gì mà anh đã đọc được qua báo chí. Tôi gọi đó là những sự kiện, bởi vì tôi đã thấy tất cả… Sáng ngàỳ.. một chiếc trực thăng Huey của Việt Nam đã bay là là trên biển, tìm thấy được một mẫu hạm. Anh ta gần như đã hết xăng rồi nên đáp đại xuống mẫu hạm . Bất cứ người nào biết lái biết bay đều tìm khắp nơi để lấy trục thăng, rồi họ chở gia đình con cái của họ… Trực thăng của anh ta đáp xuống cách trực thăng của tôi có 15 thước, và người bước xuống khỏi trực thăng đó đã nói trong tuần trước là người Việt Nam nào rời khỏi đất nước là hèn nhát, và tất cả mọi người đều phải ở lại Miền Nam để chiến đấu đến cùng. Người đó bây giờ lại là người đầu tiên đáp xuống mẫu hạm Midway, và theo tôi được biết , là người đầu tiên được hạm đội 7 cứu. Người đó là tướng Nguyễn cao Kỳ. Như vậy cá nhân tôi không có một cảm nghĩ gì về cuộc chiến ở đây hết. Còn ai đúng ai sai, đối với tôi sao cũng được, nghĩ làm chi cho mất thì giờ… Nhưng tôi tự nhủ thầm là muốn cho ông ta bị bắt Miền Nam rơi… Chúng tôi đã di tản ra khỏi Việt Nam được gần 2000 người. Và không thể di tản hơn được bởi vì như vậy là đã quá sức chịu đựng của một con người, nếu muốn bay đi nữa….” .

Những người thua trận.

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 11 Feb 2026

9. Khi người mù đòi ánh sáng

Người mù biết đòi hỏi ánh sáng,

Trong khi người sáng có mắt mà như mù.

Người mù đây, ai cũng biết, là Luật Sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng- sinh năm 1971), một trong những nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng nhất của Trung Quốc, cả thế giới đã biết đến ông trong tháng vừa qua, tháng mà tình hình ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc trở nên căng thẳng khi ông Trần Quang Thành trốn vào Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh. Người ta gọi ông là Luật Sư nhưng ông chưa hề học qua một trường luật nào, nhưng với kiến thức luật pháp tự học, ông đã thắng nhiều vụ kiện nổi tiếng. Trước hết, ông thắng kiện khi chống lại việc đánh thuế ông trong khi luật cho người mù miễn thuế. Ở địa phương, ông lãnh đạo dân chúng kiện một hãng công nghiệp thải chất bẩn xuống sông làm cho nông dân mất mùa.

Năm 2005, ông kiện chính quyền địa phương ép phụ nữ phá thai theo chính sách một con của Trung Quốc. Về vụ ép buộc phá thai này, nhóm “Libertarian Think Tank the Cato Institute,” cho biết trong năm 1999, từ 5 đến 10 triệu vụ phá thai đã được thực hiện theo chính sách, ép buộc phụ nữ phá thai ngay cả trong tháng thứ chín của thai kỳ, và thậm chí bắt buộc diệt sản. Rõ ràng vì mù ông không hề trông thấy, ông cũng không phải là nạn nhân trực tiếp của sự việc, nhưng ông nghe, ông biết. Vụ kiện phá thai này đã có tiếng vang quốc tế vì việc này ở Trung Quốc quá dã man.

Như phần lớn những người mù khác, ông được học nghề tẩm quất, là một nghề hèn mọn thường dành cho người khiếm thị. Nếu an phận, Trần Quang Thành sẽ là một người hành nghề tẩm quất suốt đời, vì nghề này có thể để nuôi sống ông và gia đình. Nhưng không, ông thích học luật và muốn có kiến thức về luật pháp để tranh đấu cho những người thấp cổ bé miệng. Vì mù, không thể vào trường luật, ông tự học và bắt đầu tranh đấu cho quần chúng yếu thế. Trong những vụ này, đương nhiên phải đương đầu với chính quyền.

Cũng như số phận những người tranh đấu cho nhân quyền, ở Việt Nam cũng như ở các nước độc tài, ông bị đánh đập, bỏ tù. Ra tù ông lại bị theo dõi, quản chế, hăm dọa. Nếu ông không đủ can đảm để trốn đi khỏi làng và không có nước Mỹ can thiệp, ông sẽ chết dần mòn ở một xó xỉnh nào đó. Điều quan trọng là một người tàn tật bất hạnh nhưông, ông lại tranh đấu kêu gọi cho quyền lợi không phải cho ông, mà cho những con người khốn khổ trong Câu chuyện của Trần Quang Thành làm cho chúng ta nhớ lại người nhạc sĩ mù trong “Chuyến Tàu Nổi Loạn” của nhà văn Ba Tây Alcantara Machado (1901-1935).

“Trong một buổi tối, một người nhạc sĩ mù cùng người dẫn đường lên một chuyến xe lửa chạy từ Magari đến Belem, nhưng vì mù, người này không hề hay biết là anh đang ngồi trong một chuyến tàu tối đen, không có đèn đuốc gì cả. Trong câu chuyện, khi tình cờ người mù biết rằng con tàu đang chạy trong đêm mà không hề có chút ánh sáng nào, anh đã ngạc nhiên lên tiếng:

– Trên toa tàu không có tí ánh sáng nào thật ư?

– Không!

– Con tàu chạy trong bóng tối à!

– Đúng! Người ngồi bên cạnh trả lời.

Một chuyện không thể hiểu được, một chuyến xe lửa chở hàng trăm người chạy trong đêm mà không có được một chút ánh sáng! Nỗi phẫn uất dâng lên, người mù nện mạnh chiếc gậy xuống sàn tàu và la lớn:

– Thật là nột sự nhục nhã đối với hành khách, một đất nước đầy bất công đối với con người. Con người không phải là thú vật. Sống trong bóng tối tức là phỉ nhổ lên sự tiến bộ của nhân loại. Hơn nữa, ánh sáng trên xe là một tiện nghi tối thiểu phải có và phải được duy trì luôn luôn tốt để phục vụ dân chúng. Ánh sáng được tính tiền trong tấm vé xe. Chính quyền đã không có biện pháp gì trong việc này ư? Quần chúng sẽ đòi hỏi những quyền lợi của họ. Người dân Ba Tây mong muốn hòa bình, yên ổn và được thỏa mãn nguyện vọng nhưng không vì thế mà cứ xem họ như là những con rối. Một ngày nào đó, họ sẽ vùng dậy!

Nghe lời hô hoán này, mọi người trên toa tàu bắt  đầu giận dữ, la ó và nổi loạn. Họ phẫn nộ, phá nát những chiếc ghế nhồi rơm, đập phá và vứt những đồ vật trên toa tàu xuống đất trong khi con tàu vẫn chạy băng băng trong đêm tối. Cuối cùng con tàu cũng đến ga cuối, nhưng những toa tàu chỉ còn trơ lại những sườn sắt.

Công an mở một cuộc điều tra rộng lớn, khẩn cấp,nhân viên công lực thẩm vấn tất cả mọi hành khách có mặt tối hôm ấy trên con tàu, để truy tìm nguyên nhân vụ nổi loạn và nhất tìm ra ai là kẻ “phản động” chủ mưu trong vụ này. Nguyên nhân chính là đoàn tàu không có đèn, không có tí ánh sáng nào trên toa xe. Và kẻ phát động cuộc nổi loạn? Không ai ngờ rằng, người phát động và lãnh đạo cuộc nổi loạn, đòi ánh sáng lại là một người mù!”

Người mù thì đâu có cần ánh sáng.

Một người mù còn biết đòi hỏi ánh sáng, trong khi người sáng có mắt mà như mù!

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

Phần 3 – Phân đoạn 2

Ba Cuốn Sách,

Không Đủ

Một Nửa Sự Thật

Truong Nhu Tang

JOURNAL OF A VIETCONG

Judith Radiguet

MAMAN LA GUERRE EST FINIE

Nguyen Khac Vien

VIETNAM UNE IONGUE HKIOTE

Dẫn nhập

Nay chúng tôi trở lại vấn đề sau rất nhiều đề cập, tranh luận mà vẫn chưa (và cũng chưa bao giờ) giải quyết một cách chung nhất, để có thể đạt được một kết luận thoả đáng, cuối cùng. Đấy là: Vấn đề đối với người cộng sản – Nói rõ hơn, về những người Việt Nam theo đuổi, tin tưởng chủ nghĩa, chế độ cộng sản; phục vụ, thực hiện một chế độ chuyên chế đã hình thành, đang củng cố trên đất nước Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ, cụ thể là từ 30 tháng 4, 1975. Thật hay giả, đúng hay sai là vấn đề của họ, không là của chúng tôi – Thành phần đã hoàn tất sự phân định, chọn lựa dứt khoát từ một thuở rất lâu – Ngày còn rất trẻ.

Đấy là câu chuyện về, của những người gọi là “Việt cộng”. Danh xưng này nay không do những “Người Việt Không Cộng Sản” tùy tiện đặt nên bởi mục đích chính trị, sử dụng trong tiến trình đấu tranh chống lại chủ nghĩa, chế độ kia, nhưng do chính tác giả của một trong ba cuốn sách sắp đề cập tự xác nhận. Phải, người viết cuốn sách có tiêu đề: “Nhật Ký của một Việt cộng”, tự xác nhận vị trí chính trị của mình – Một Việt cộng – với tất cả tận hiến vinh hiển lẫn thảm bại khắc nghiệt của thân phận con người qua tư thế ấy.

Chữ và Nghĩa của, từ những người cộng sản Việt Nam, những Việt cộng – đã lộ nguyên bản chất là những tiếng lời dối trá, ngụy danh, không nội dung, mất sức sống được chứng nghiệm qua hơn nửa thế kỷ (từ năm 1930, năm Đảng cộng sản Đông Dương thành lập) và ngay hôm nay nơi đất nước Việt với những người chuyên sử dụng chúng với ý, tình thiết tha, nhiệt thành nhất (trong nghĩa văn học, cũng như mục đích chính trị – Những Hoàng Minh Chính, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng phủ Ngọc Tường …) Cũng trên toàn bán đảo Đông Dương và cả thế giới nếu muốn nói rộng ra.

Và cũng chính họ – Những người gọi là “Cộng sản Việt Nam” – chứ không ai khác đã tìm ra “lời giải đáp” cuối cùng của hoài bão “ngây thơ một cách đáng thương hại và cũng đáng oán hận” kia. Bởi chính niềm mong ước ấy đã “là đầu mối” của chuỗi đau thương đọa đày không có dấu hiệu chấm dứt mà toàn thể các dân tộc sống trên vùng Đông Dương (Người Việt là nạn nhân đầu tiên, chính yếu) đồng gánh chịu từ ngày chế độ “bất nhân một cách tự nhiên kia” được thành lập ở Hà Nội, ngày 2 tháng 9, 1945. Cụ thể hơn là một trong số ba nhân sự sắp kể ra chính là “kẻ thụ nạn thê thảm” do hành vi tự hiến, hy sinh của chính bản thân và gia đình người ấy.

Ba cuốn sách đang đề cập do ba cá nhân khác nhau về giới tính, chủng tộc, địa phương sinh quán, môi trường sinh hoạt, vị trí xã hội viết nên. Nhưng tất cả đồng có chung một mẫu số – Đấy là những “trí thức thiên tả”, được đào tạo, sinh hoạt, hành nghề từ, trong môi trường văn hóa Pháp Ngữ, ở thủ đô Paris, nước Pháp. Nói như thế hắn đã đủ để chúng ta bắt đầu vào câu chuyện.  Cũng bởi hôm nay, qua thế kỷ 21, loại “nhà tù của Thiệu” mà tác giả Judit Radiguet mô tả trong cuốn sách thứ nhất sẽ không đáng bao nhiêu so với những nhà tù của cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (người viết không thể nào viết hoa danh xưng này vì phải giữ tự trọng của người cầm bút khi đề cập đến một đối tượng quá đỗi xấu xa, tệ hại) với những người tù rất trẻ, rất mới, những sản phẩm thuần thành của chế độ mà nhân sự gọi là “bác Hồ” đã xây dựng nên từ đầu thế kỷ 20.

Đấy là những Bùi Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiêm, Lê Thị Công Nhân, blogger Điếu Cày … Điển hình với Tạ Phong Tần, nhân vật được chính phủ Mỹ tuyên xưng là “Một Trong 10 Người Đàn Bà Can Đảm Nhất Thế Giới”, cũng là một cựu nữ Đại úy ngành Công an của nhà nước Hà Nội. Cũng nói thêm mà thiết nghĩ cũng không thừa: Rudit Radiguet nếu còn có đủ lương tri và lương năng của một con người bình thường nên tìm đọc Bên Thắng Cuộc của Huy Đức để biết rõ: Cộng sản là gì? Cộng sản Việt Nam là như thê nào ở Hà Nội?

1. Cuốn sách Thứ Nhất:

Judit Radiguet,

“Mẹ ơi, chiến tranh đã chấm dứt”

Nhà Xuất Bản Rocher, Paris,

France 1995

Tác giả là một người nữ, ký giả những bài viết  đoạt Giải thưởng Phóng Sự Ondas (của giới truyền thông quốc tế, phổ biến trên đài Vô Tuyến số 3 Pháp) về tình hình trẻ con, phụ nữ bị bức hại ở những nước thuộc Thế giới thứ Ba. Cô đã có mặt ở Việt Nam từ 1963, cùng một đứa con nhỏ và chồng, René, cũng là một ký giả do lời mời của luật sư Tân (?) (Trong sách ghi là Tan – “Một luật sư người Việt xuất sắc, tài năng và thông thái, chủ nhân một biệt thự tráng lệ với những bữa ăn thân mật, thịnh soạn” – Đánh giá của Judit).

Luật sư Tân đề nghị cùng cô nhiệm vụ xướng ngôn phần tiếng Pháp cho đài phát thanh. Cô ký giả trẻ (tính theo tuổi ở năm 1963) chấp thuận với ý định, qua việc làm, cô sẽ tìm hiểu về một xứ sở rối rắm đang trong tình trạng chiến tranh. Công việc của cô làm những giới chức chỉ huy quân sự trẻ (Là những ai? PNN) ở địa phương Đà Lạt không hài lòng vì cô “đã khám phá ra sự giả dối” ở những con số người chết, bị thương được ngụy tạo trong các bản tin. (1)

Cuộc đảo chính quân sự 1 tháng 11, 1963 chấm dứt chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cũng chấm dứt luôn công việc ở đài phát thanh của cô ký giả. Sau đó vài ngày, luật sư Tân bị ám sát nơi nhà để xe. Vợ chồng cô ký giả đến thăm, bà vợ viên luật sư gào ngất: “Bọn người mặc đồ lính giết chồng tôi! Tôi sợ chúng giết cả tôi nữa”. Từ sự kiện luật sư Tân, Judit có kết luận: “Chúng tôi không bao giờ biết được kẻ nào đã giết Giáo sư Tân, một luật sư xuất sắc và trung chính. Ông hẳn có thể trở nên một lãnh tụ chính trị của thành phần mà sau này gọi là “thành phần thứ ba” (2). Ông Tân là một trong muôn vàn những nạn nhân dân sự của chế độ quân nhân – Ông là một trong những nhân vật hàng đầu của nhóm người trung lập. (Radiguet, trg191-196).

Năm 1970, Judit trở lại Việt Nam lần thứ nhất với một tâm lý chín chắn, trưởng thành hơn. Cô quyết tìm hiểu “cuộc cách mạng nhất định phải có do (xã hội) bị áp bức. (Radiguet trg11) trong dòng sinh mệnh của một quốc gia có liên hệ với lịch sử Pháp, văn hóa Pháp – Mà cô là “đại diện cho giới nhà văn, nhà báo trung chính” của nền văn hóa cao cả này, cũng do “tinh thần (vô sản) chiến đấu” từ mẹ, cha cô truyền lại. Đêm đầu tiên lần trở lại Sài Gòn, cô chứng kiến  một vụ phá hoại nổ một rạp hát cải lương (Trong sách, “Nhà hát Tàu”); từ phòng khách sạn, cô băng mình chạy xuống diễn trường và bản thân tham dự, chứng kiến. “Người mẹ của một nạn nhân nắm tay cô đặt lên thi thể đẫm máu với lời nói thất thần đau đớn: “Bà bạn ơi, con tôi, chết rồi … (Không nói vì sao mà chết. Chết bởi vì ai? PNN) Con tôi là diễn viên đóng tuồng” (Radiguet, trg 9).

Những ngày sau, Judit đi thăm một trại mồ côi, thấy cảnh tượng xót xa của những em bé không cha mẹ, tàn tật nơi những căn nhà tan hoang, rách nát. Lòng cô cũng tương tự như cảnh vật, phận người phải chứng kiến giữa thành phố Sài Gòn ầm vang tiếng động, xe nhà binh, hàng quà, lính tráng và chuẩn bị hứng chịu hỏa tiễn “từ một phía người Việt” khác dội vào để trở nên một nơi chốn tràn đầy chết chóc. (Radiguet trg7-12).

Tính đến những dòng chữ vừa kể ra, chưa hề thấy xuất hiện danh tự “cộng sản; người cộng sản; Việt cộng”. Thế nên, nếu không phải là người Việt Nam (ở trong nước, mà dẫu cho ở tại Sài Gòn, có được mấy người hiểu thấu – PNN) người đọc bình thường (nếu là người ngoại quốc, ở Pháp, Mỹ …) ắt sẽ được dẫn đến kết luận: “Cái chết của luật sư Tân, vụ nổ rạp cải lương, cảnh sống tang thương tại trại mồ côi … Tất cả hẳn có chung một mẫu số nguyên nhân đấy là: Chế độ quân nhân của Sài Gòn chứ không đâu khác”.

Điều này được sẽ nói rõ ra ở những trang sau. Năm 1973, Judith trở lại Sài Gòn lần thứ hai, trước và sau Hiệp định Paris ký kết (27 tháng Giêng, 1973). Cô tìm đến một “bậc thầy”, Ni sư Huỳnh Liên. Và sau đây là những lời giảng dạy từ “người thầy”:

– Chúng tôi thành lập phong trào đòi quyền sống cho người thấp cổ bé miệng chung cho cả nước. Những phụ nữ bần hàn, những em bé mồ côi. Hiện tại chúng tôi đang chăm sóc, dạy dỗ cho khoảng 60 em, từ đứa bé đến đứa lớn. Khi chúng bị bệnh chúng tôi đưa tới bệnh viện, nhưng chẳng có bác sĩ nào trông nom, chữa chạy. Ở nước này người ta có chủ trương trồng rau cỏ mà đòi hái cây có trái!

Người (gọi là) Thầy dạy tiếp:

– Phong trào có các Tiểu ban khắp nơi, miền Trung cũng như miền Nam; năm 1970 chúng tôi tổ chức “Ủy ban đòi cải thiện chế độ lao tù”; mỗi ngày ủy ban đến thăm một nhà tù, cho tù nhân bánh kẹo, trái cây. Một ngày đến thăm trại Tân Hiệp (Biên Hòa, cách Tây – Bắc Sài Gòn 30 cây số. PNN); người ta xua đuổi chúng tôi bởi muốn che giấu vết tích tra tấn tù nhân. Tháng 3, chúng tôi phát động cuộc biểu tình phản đối, một phụ nữ bị bắn chết, xác quàng tại nhà thương Chợ Quán. Chúng tôi mang xác về chùa làm lễ cầu siêu và biểu tình trước Quốc hội; chính quyền ra lệnh thiết quân luật và các cuộc bắt bớ càng gia tăng.

Các cuộc xuống đường phản đối chính phủ được “thầy” mô tả sống động như sau:

– Trong những lần biểu tình, những người đàn bà lớn tuổi được xếp hàng đầu với khẩu hiệu dính sát trên ngực. Khi cảnh sát cố giật những tấm khẩu hiệu thì đám đàn bà la lớn với đám đông: “Này đồng bào nhìn đây, tôi già quá rồi nên không còn tóc, bọn cảnh sát còn đòi sờ vú tôi”. (Radiguet trg138-149). Cảnh sát bó tay và đành để yên cho đám người (đàn bà) biểu tình; hơn nữa những người này còn gọi cảnh sát là “con của mẹ ơi!!”.

Nếu mô tả như thế này thì quả thật không có một đội quân dẹp biểu tình, bạo loạn nào nhân ái và dễ thương như lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến của chế độ miền Nam. Cuối cùng, “ni sư” đề cập đến phạm vi chính trị, xã hội. Người “giáo dục” tiếp cho cô ký giả:

– Bọn nhà binh ăn cắp ở mức độ lớn, hằng ngày chúng lấy những xe bồn chở xăng khổng lồ; nhưng lại áp dụng biện pháp kiểm soát gắt gao đối với dân chúng, những người bán xăng lẻ ở dọc đường. Chưa hết, chúng lại bắt lính đóng mỗi tháng một trăm đồng vào cái gọi là Quỹ Tiết kiệm Quân đội” (Radiguet trg 150).

Lẽ tất nhiên, “người” không quên kết luận về tội ác của Mỹ Ngụy bằng một hoạt cảnh ở Gò Công:

– Chính quyền địa phương bày những cái xác Việt cộng bị chết trong một cuộc công đồn để thân nhân đến nhận về đem chôn. Còn một xác vô thừa nhận; viên chỉ huy đồn gắn một điếu thuốc lên xác người chết để tỏ ý khinh miệt, đùa cợt!

Câu chuyện kể trên của “ni sư Hỳnh Liên” tạm chấm dứt nơi đây với so sánh của chúng tôi:

– Vào cao điểm vượt biên trong thập niên 80-90, người miền Nam (chưa tính tới miền Bắc) ra đi bất cứ nơi đâu với những con thuyền nhỏ có thể cập bến (để đưa người ra thuyền lớn ngoài vùng biển). Điển hình tại bến Bình Đông (Chợ Lớn); cầu Rạch Chiếc (trên xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa); Phước Hải, Vũng Tàu, Bà Rịa …

Các cuộc vượt biên phần đông bị lộ vì tổ chức kém cẩn mật; công an thuộc đơn vị “biên phòng”được lệnh tàn sát không nương tay (Công an bắt vượt biên/Công an bán bãi vượt biên cũng là MỘT). Sau đó, xác các nạn nhân phần lớn là đàn bà, trẻ con (do đàn ông, người lớn hầu hết đã ở trong trại tập trung) kéo lên bờ phơi nắng, gió với tấm bảng viết hàng chữ: “Kẻ phản bội Tổ quốc, bỏ nước ra đi bị trừng trị”. Thân nhân muốn nhận về chôn phải “học tập nhận tội” trước toà án nhân dân địa phương sau khi đóng “tử phí: xác người lớn 1,000 Đồng; trẻ con 600 đồng”. Thời giá năm 80, “lệ phí xác chết” kia tương đương với 2-3 đô-la Mỹ.

Nhà nước cộng sản có quy định coi dịch vụ này như một “biện pháp kinh tế, tăng cường nền tài chánh của xã hội – xã hội chủ nghĩa”. Câu chuyện này được Trần Mạnh Hảo kể lại qua bài thơ: “Ngày giỗ Nguyên Hồng, thấy xác người vượt biên trên Bãi Trước, Vũng Tàu”.

Đi tiếp đoạn đường tìm hiểu sự thật, cô ký giả người Pháp tìm đến những nhân vật “lớn”. Và đây là “Cha” Chân Tín dịch cho cô một đoạn báo Điện Tín, số ngày11 tháng 4, 1970:

Ngày 9 tháng 4, Thẩm phán Tòa án Mặt trận ra lệnh bắt giữ đám sinh viên tranh đấu vào “Trung Tâm Cải Tạo”. Trong các buổi học tập (trong trại giam, giữa các sinh viên – PNN), sinh viên tố cáo những vụ hành hung khi hỏi cung, như bị đánh bằng gậy gỗ teck, roi điện, đổ nước xà phòng vào mũi, dùng xăng dầu đốt cháy bộ phận sinh dục và đầu vú. (Radiguet trg 158).

Buổi Hội thảo có một nhân chứng sống, mẹ của Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch sinh viên y khoa Sài Gòn; người mẹ tố cáo: “Con tôi bị bắt giữ từ ngày 20 tháng 3, 1970, nhưng hai tháng sau chính quyền mới xác nhận. Ngày 30 tháng 3, lúc 5 giờ sáng, Mẫm bị khảo cung bằng tra điện để bắt anh ký một tuyên bố giả mạo; anh từ chối “đòi phải có bằng chứng cụ thể” (Về việc cáo buộc anh có hoạt động cho phía cộng sản – PNN).

Người ta phải đưa anh ta vào nhà thương ba lần, chính thuốc tê liệt thần kinh nửa mê nửa tỉnh. Mẫm bị tra tấn bằng bóng đèn sáng đến 100 watts đặt trước mặt, nên hiện tại hai mắt như bị mù, da mặt bị đốt cháy, phải điều trị hằng hai mươi ngày mới lành … (Radiguet trg 157-158).

Câu chuyện về hành hạ tù nhân được kèm thêm một nhân chứng, vợ chồng Vũ Hạnh. “Nhà văn” tố cáo: “Ông bị bắt giam oan ức (nghĩa là không phải cán bộ cộng sản nằm vùng – PNN) vì chỉ viết những bản văn phê phán chế độ; chế độ Sài Gòn cũng đã bắt giam con trai, con gái ông vì những bài viết, bài hát ca ngợi ‘hòa bình’ của họ”.

Chúng tôi có thể kể thêm rất nhiều về “tội ác” của chế độ Sài Gòn mà người ký giả “trung thực” Judith Radiguet đã viết nên trong hơn 200 trang sách. Nhưng nghĩ rằng, cuốn sách cần thêm những chi tiết mà do từ “cơ duyên khổ nạn”, bản thân chúng tôi đã chứng kiến, tham dự, sống cùng. Ngày 23 tháng 7, 1973 người viết hướng dẫn một phái đoàn gồm hai chiếc trực thăng đưa một số “nhân vật thuộc thành phần thứ ba” đi Lộc Ninh để trao trả cho “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (số phận và trị giá của chính phủ này, phần bài viết thứ ba sẽ đề cập đến). Trong đám người trao trả có Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Long và Huỳnh Tấn Mẫm. Mẫm tươi cười, khoẻ mạnh, áo trắng, quần xanh tươm tất. Mẫm nói chuyện cùng chúng tôi và Phạm Đức Vượng (Bác sĩ Y khoa, hiện ở San José), do quen biết từ trước ở Đại học Xá Minh Mạng, trường Y khoa.

Cuối buổi trao trả, tôi đưa Mẫm về lại Sài Gòn vì anh nêu lý do: “Anh không là thành viên mặt trận, cán bộ cộng sản, anh chỉ là ‘sinh viên tranh đấu’ cho “hòa bình – độc lập dân tộc – hạnh phúc nhân dân”.

Nội dung và hình ảnh buổi nói gặp gỡ này được in và kể lại trong Tù Binh và Hòa Bình, (NXB Hiện Đại,

Sài Gòn 1974 trg133-159). Câu chuyện về Huỳnh Tấn Mẫm chưa chấm dứt. Trong giai đoạn đi tù ở Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, tiếp chuyển về trại 5 Lam Sơn, Thanh Hóa (25/8/1978), người viết ở cùng phòng giam với Nguyễn Văn Phấn, Đại úy truyền tin Sư đoàn 5 Bộ binh đóng tại An Lộc trong những năm 70. Phấn kể chuyện:

Anh suýt bị thủ tiêu bởi toán biệt động thuộc tỉnh đội Bình Long nếu không chịu trao những mã khóa truyền tin cho chúng. Âm mưu được thực hiện, điều động bởi Huỳnh Thị Bạch Yến, em gái Mẫm, con ông Huỳnh Tuấn, thầy xu (surveillant) đồn điền cao su Quản Lợi, An Lộc. Và “người bị chế độ Sài Gòn bắt oan” Vũ Hạnh, là một trong những người lập nên danh sách, quyết định vận mạng toàn bộ những người viết văn, làm thơ, văn nghệ sĩ trình diễn, giáo sư, trí thức Sài Gòn sau 30 tháng 4, 1975. Các huynh trưởng, văn hữu Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường … phải chịu những cái chết oan khốc; hằng mười, hai mươi năm tù của Doãn Quốc Sỹ, Như Phong, Đoàn Viết Hoạt, Hoàng Hải Thủy, Duy Trác … và hằng trăm, ngàn người cầm bút, sinh hoạt trong lãnh vực giáo dục, văn hóa bị lăng nhục, ngược đãi mà hậu quả đến hôm nay vẫn đang tiếp diễn với Hòa thượng Quãng Độ, Linh mục Nguyễn

Văn Lý, Thượng tọa Tuệ Sỹ, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo sư Nguyễn Đình Huy …

Những chi tiết trên Judith không thể biết được vì cô đã rời khỏi Việt Nam sau ngày 27 tháng 1, 1973 với “tấc lòng yên ổn” do đã “hoàn tất sứ mệnh trao gởi thông điệp tình thương lại cho những kẻ khốn cùng ở Việt Nam – Những người bị bách hại trong những nhà tù của Thiệu … “.

Uổng quá! Cô chỉ cần ở lại lâu hơn chút nữa, sau 30 tháng 4, 1975, cô sẽ thấy ra “Nhà tù của Thiệu không nghĩa lý gì so với Hỏa Lò của Hà Nội! Nhà tù của Thiệu có là bao so với hàng trăm, hàng ngàn trại tù khắp miền Nam, của cả Việt Nam” – Không đâu xa, ngay tại những nơi chốn mà “ni sư” Huỳnh Liên đã đề cập

– Cũng không xa ngôi chùa của “người thầy” này: Nhà tù Phan Đăng Lưu tức Toà Tỉnh Trưởng Gia Định cũ.

Và nếu muốn viết tiếp cuốn sách cho đầy đủ hơn, cô hãy đến hỏi những Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Hữu Luyện, Nguyễn Văn Lý, Tuệ Sĩ, Nguyễn Đình Huy … Và rất nhiều người nữa, con số sẽ lên đến vạn, triệu – Cả một Dân Tộc Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ chứ ít gì. Cụ thể và chính xác hơn, cô chỉ cần hỏi một người nữ bình thường: Chị Cả Bống – Người đàn bà hoa điên nơi bến đò Đuôi Cáo ở miền Bắc, nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (3) – Người Mẹ có đứa con bị mổ bụng lấy mật ngâm rượu thuốc cho “anh Sáu”, Ủy viên Trung ương Đảng cộng sản ở khu Ba Đình, Hà Nội.

Ghi chú:

(1) Đài Phát thanh Đà Lạt (Pháp Ngữ) giai đoạn 1960-1963 chỉ là một đài chuyển tiếp của Đài Pháp Á Sài Gòn (vào buổi trưa) chuyên về ca nhạc, tin tức xã hội địa phương (liên quan với dân cư sử dụng Pháp ngữ). Đài không là một đài Trung ương để có tiết mục bình luận chính trị, quân sự. Đà Lạt của thời điểm kia cũng không hề (không bao giờ) là bản doanh quân sự quan trọng với những nhân sự chỉ huy cao cấp như Judit Radiguet mô tả. (PNN)

(2) Thành phần thứ Ba: Tập hợp của những người “làm chính trị” ở miền Nam (1960-1975). Thành phần này được kể ra một lần trong văn bản Hiệp định Paris 1973. Bị vất bỏ sau 30 tháng 4, 1975 cùng lần với cái gọi là “Chánh phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” do chính nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội. (Xem rõ chi tiết với cuốn thứ ba của Trương Như Tảng)

(3) Chị Cả Bống: Chuyện ngắn Phạm Lưu Vũ (Hà Nội), thế kỷ 21, CA, USA, số tháng 8, 2005.

2. Cuốn sách thứ Hai:

Nguyễn Khắc Viện,

“vietnam une Longue Histoire”

L’ Harmanttan, Paris, France 1999

Tại sao? Vì đâu cuốn sách đã hình thành? Trước khi nói về cuốn sách thứ hai – Sách do một người được đánh giá là “trí thức năng động nhiệt thành, tham dự một cách khách quan vào một giai đoạn lịch sử” viết nên và cuốn sách được trao giải thưởng cao nhất của Hàn Lâm viện Pháp dành cho Khối Pháp Thoại (Grand Prix de la Francophonie 1992). Ông cũng là người Việt độc nhất được Hàn Lâm viện Pháp phong tước – Chúng tôi thiết nghĩ nên nhắc lại vài sự kiện có liên quan đến nhân sự viết cuốn sách này.

Năm 1985, Tố Hữu, đệ nhất “văn lại” Hà Nội, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản, Bí thư Ban văn hóa tư tưởng, được xung thêm chức vụ mới: Trưởng Ban cải cách công- nông-thương nghiệp. Bởi ngoài tài làm những câu “tụng ca” đại loại: “Hoan hô Sít-ta-lin! Vững bền cây đại thọ. Rợp bóng mát hòa bình. Ngọn hải đăng vô sản … “.

Tố Hữu, tiểu danh Lành còn có khả năng điều hành, tổ chức sản xuất, cách mạng công-nông nghiệp (cũng với, bằng … lời thơ) qua những câu: “Với sức người, sỏi đá cũng thành … cơm!”; hoặc liên quan ngành công chánh xây dựng với: “Đường ta rộng thênh thang … tám thước!”. Để vận động “thơ” của Tố Hữu thành “cơm ăn, đường đi, của cải cho xã hội”, toà soạn báo Nhân Dân (Cơ quan có chức năng chính trị như một Ban, lớn hơn một Bộ) được huy động để quảng bá tài làm thơ của quý thủ trưởng, chế biến thơ nên thành sản phẩm nông nghiệp, vật liệu sản xuất và xây dựng công nghiệp. Tòa báo bày ra cuộc thi thơ với hai câu của “người” làm chuẩn: Bốn cống, năm cầu, ba cửa ô. Cùng nhau ta xây dựng cơ đồ … Nghĩa là, sau, từ hai câu thơ “chuẩn” của Tố Hữu, thần dân toàn nước Việt có bổn phận phải tìm ra thêm hai câu thơ nữa có tính chất vừa hay, vừa thơm, vừa tốt (Chữ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi ra “chỉ tiêu” cho Đề cương văn hóa Việt Nam, vận động vào năm 1948) để làm khẩu hiệu thi đua cho cả nước tiến công lên mặt trận công-nông  ghiệp, quyết tâm xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa tiên tiến, văn minh và giàu mạnh”.

Nhưng chỉ sau một năm, 1986 cuộc cách mạng (qua thơ ca, khẩu hiệu của do Tố Hữu chỉ đạo) biến thành trò thảm hại. Cả nước đứng sẵn bên bờ vực chết đói kiểu 1945; miền Nam sau ba trăm năm mở nước, lập quốc cũng rơi vào tình trạng ăn cơm độn … thực phẩm gia súc! Trước tình trạng “khẩn trương” của cả nước sau vận động “Văn hóa Công-Nông nghiệp” thất bại, người trí thức Nguyễn Khắc Viện từ Pháp được Đảng gọi về giúp nước. Viện được mời đi “tham quan” để sau đó viết bài động viên nhân dân làm cách mạng xã hội bằng phát triển nông nghiệp theo “mô hình hợp tác xã tiên tiến – hợp tác xã hội xã hội chủ nghĩa!”.

Nguyễn Khắc Viện viết một loạt bài “rất trí tuệ” gồm những “dữ kiện có tính cách thuyết phục” với nội dung như sau (xin lưu ý, những chữ trong ngoặt kép hoặc viết nghiêng thuần là của báo Nhân Dân; của Úy viên trung ương Tố Hữu; của trí thức vô sản Nguyễn Khắc Viện):

Nhân một buổi về tham quan hợp tác xã vùng đồng bằng sông Hồng, Viện được chứng kiến một hoạt cảnh sinh động, điển hình tiên tiến. Một chị đội trưởng hợp tác xã vừa thổi cơm bằng rơm, vừa thuyết minh “cơ cấu tố chức” hợp tác xã, chế độ vần công, cách thức điều hành xã viên, phân chia nông phẩm, phân phối phân bón, thuốc trừ sâu, thực hiện nghĩa vụ thuế nông nghiệp.

Chị vừa trình bày vấn đề trọng đại, vừa thổi mồi rơm; lửa hắt ánh hồng lên khuôn mặt tươi trẻ, hiện thực vẻ đẹp cao quý của người lao động trong chế độ ưu việt – chế độ xã hội chủ nghĩa – chế độ triệt tiêu “hiện tượng người-bóc lột-người” mà trí tuệ siêu việt Karl Marx, Engel hằng tiên tri, nay Bác Hồ hiện thực trên đất nước Việt Nam giàu đẹp, sau cuộc chiến thắng trời long đất lở, đánh bại hai tên đế quốc sừng sỏ, ghê gớm nhất của nhân loại, thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Ông đề nghị một cách khôn ngoan trong loạt bài báo (có tính khoa học cao): “Người Việt nên thay đổi “cơ cấu bữa ăn cổ truyền với thuần gạo tẻ” (và thay vì gọi là “cơm độn” mà nên gọi là “cơm trộn”) bằng:

“cơ cấu mới: gạo-ngô-khoai-sắn” – vì ngô-khoai-sắn có nhiều chất sắt hơn trong một hàm lượng so với gạo tẻ”.

Viện trích dẫn nghiên cứu của Tiến sĩ Nông học Phạm Hoàng Hộ: “Mười cân rau muống bổ dưỡng bằng một cân thịt bò”. Viện vạch rõ, cũng từ một nghiên cứu khoa học, “rau muống có nhiều chất sắt hơn thịt bò!”.

Đấy là câu chuyện của 20 năm trước. Nay, thành quả nghiên cứu nghiêm túc của Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện, điển hình “trí thức xã hội chủ nghĩa” được hệ thống hóa và nâng cấp qua cuốn sách: VietNam, Une Longue Histoire.  Lịch sử quả thật đang trên đà tiến tới nhưng hình như cũng luôn được lặp lại – Lặp lại nhiều lần với những sai lầm, hư hại bởi những con người ác độc, nhẫn tâm, hiện diện qua những chế độ cai trị độc hại. Sự độc hại của những chế độ ấy chỉ được thay thế, hoặc được hạn chế nếu nhà nước cầm quyền thực hiện được một căn bản pháp trị – Nói rõ hơn, khi Kẻ Sĩ, Người Lập Thuyết cho chế độ giữ đúng lương tri và hành xử đúng lương năng của mình. Với quan niệm tổng quát này, cuốn sách của Nguyễn Khắc Viện có thể kết luận trước tiên mà không sợ sai lầm: Là một tường trình ngang ngược biện minh cho chế độ làm hư, xấu con người đang tồn tại một cách dai dằng ở Hà Nội, Việt Nam. Bởi cuốn sách (lại là một sách về lịch sử) được viết trên một cơ sở lập luận không hợp lý: Chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (1883-1945); chính quyền Quốc Trưởng Bảo Đại (1948-1954); hai kỳ Cộng hòa ở miền Nam (1954-1975) có rất nhiều khuyết điểm trong một giai đoạn lịch sử dài. Vậy nay (nếu) như chế độ chuyên chế Hà Nội có sai phạm thì cũng chỉ là (sản phẩm tất yếu) của lịch sử mà thôi.

Sự thật ở đâu?

Năm 1985, Nguyễn Khắc Viện về nước, viết loạt bài huy động cải cách nông nghiệp với mục tiêu:

“Tiến đến thực hiện chỉ tiêu xuất cảng ‘1 triệu tấn gạo’ do Đại Hội VI của Đảng đề ra”. Trong phần “Việt Nam Thời Kỳ Hiện Đại”, tiểu mục “Sự bóc lột kinh tế của thực dân (Pháp)” của cuốn sách, Viện trích dẫn phần tài liệu: “… Trước năm 1918 (năm chấm dứt  Thế Giới Chiến Tranh lần 1), hầu như toàn thể đất đai của Đông Dương bị thực dân Pháp trưng dụng đều được trồng lúa. Chỉ riêng Nam Kỳ, đã phải nhận một chỉ tiêu cung cấp vượt trội xuất khẩu gạo: Từ 800,000 tấn cho năm 1900, lên tới 1,200,000 tấn cho thập niên 1920 (Nguyễn Khắc Viện, trang 179)”.

Như thế là thế nào? Chẳng lẽ cố công thực hiện một cuộc chiến tranh tiêu hao với giá máu của cả một dân tộc, đầy ải hàng triệu sinh linh vào biển máu lửa với cuộc chiến kéo dài hơn ba thập kỷ (1945-1975); phóng tay mở đầu giai đoạn cách mạng toàn cầu; giải phóng lãnh thổ Đông Dương ra khỏi ách thực dân (cũ lẫn mới) chỉ cốt để tiến tới một “mục tiêu mà người Pháp thực dân đã thực hiện hơn sáu mươi năm trước hay sao?! “.

Nhưng mục tiêu chính của cuốn sách không phải chỉ để trình bày sự kiện bóc lột về kinh tế, mà hơn ba phần tư cốt nói về những hoạt động chính trị, quân sự, khởi loạn theo quan điểm duy vật lịch sử. Từ khởi nghĩa của Trương Quyền (con Trương Định) năm 1863, có sự tham dự của Lục Sãi người Miên Pokumbo được đánh giá nên thành “kết hợp giữa nhân dân hai nước chống chủ nghĩa Đế quốc Tây phương.” (NKV trang 158).

Lần thành lập Đạo Cao Đài được giải thích: “Tổ chức tôn giáo này đã bị “lũng đoạn do thành phần nhân sự lãnh đạo đã bị nhà cầm quyền thực dân ngấm ngầm điều hành” (NKV trang 212). Cuộc vũ trang nổi dậy tại Yên Bái (9, 10 tháng 4, 1930) do Quốc Dân Đảng lãnh đạo thất bại được quy ra, “khuyết điểm thiếu tính quần chúng”, dẫn đến hậu quả những thành phần yêu nước tích cực đồng tìm đến một tổ chức cách mạng hữu hiệu khác (tức là Đảng Cộng sản Đông Dương); đám còn lại trốn qua Tàu, gia nhập Quốc dân Đảng Trung Hoa “biến chất thành phản động, mất hẳn trên vũ trường chính trị”. (NKV trang 213-214) …

Tất cả cuối cùng nêu bật một điều: “Đảng cộng sản kiểu Lê-nin do Bác Hồ thành lập, huấn luyện, Tổng bí thư Trần Phú chỉ đạo là đáp số cuối cùng và chung nhất bởi đã tập trung được giai cấp công nhân làm thành phần chủ đạo chiến lược”. Tuy nhiên, Nguyễn Khắc Viện cũng có phần chân thật khi xác nhận rằng: “Lúc Đảng thành lập (3 tháng 2, 1930) theo thống kê năm 1929, tổng số công nhân toàn bộ Đông dương không quá 200,000 người, trong đó có 80,000 vừa bỏ đồng ruộng miền Bắc di cư vào Nam hành nghề cạo mủ cao su tại các đồn điền chủ Pháp” (NKV trang 201). Xuyên qua tất cả luận lý, dữ kiện nêu trên, chúng ta có thế đặt nên những câu hỏi với tổ chức Đảng kia: “Vậy tìm ở đâu ra một giai cấp công nhân tiên tiến’ theo định nghĩa của Karl Marx, Lénine để làm lực lượng nòng cốt sẵn sàng cho ‘đêm hôm trước cuộc cách mạng vô sản’ ở Việt Nam – Một nước với nông dân chiếm 90% dân số của vùng bán đảo Đông Dương, toàn cõi Châu Á, buổi đầu thế kỷ 20?! “.

Tuy nhiên, cuộc cách mạng vẫn được khởi dậy với khí thế dũng mãnh, bởi vì người dân được kích thích, hứa hẹn: “Từ đấy hồn tôi bừng nắng hạ. Mặt trời chân lý chiếu qua tim … “. Khi Tố Hữu đã viết như thế thì lịch sử tất yếu phải đi theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa vậy (NKV trang 240). Sự sa đọa của chữ nghĩa do những “trí thức cách mạng” thực hiện càng ngày càng tệ hại. Hãy nghe Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện của Viện Hàn lâm Pháp tố cáo thành tích tàn ác của thực dân Pháp đối với “đồng bào ta”: “Năm 1929: Bắt giữ 1,490 người; bắt nhốt 300; tuyên án tử hình 3. Năm 1930: Nhốt 2, 963; kết án tử hình, 83; chung thân khổ sai, 543 … ” (NKV trang 227). Màn hài hước nhân đạo ái quốc rởm bất cận nhân tình trên nỗi thống khổ của con người (lại là người chung huyết thống) phải ngưng tại đây nếu chúng ta được biết như sau:

“Khu nhà tù Hỏa Lò do người Pháp dựng nên sau khi bình định được nước Việt là trại giam Trung ương của Miền Bắc. Ngay sau khi bộ đội cộng sản vào Hà Nội 10 tháng 10, 1954, nhà tù nhận thêm nhiều đợt tù mới (nhiều gấp bội so với tù của thực dân Pháp) để từ đây chuyển đi các trại Trung ương từ biên giới Việt – Trung đến Nghệ An, Hà Tĩnh, các trại tập trung dọc vùng thung lũng sông Mã, Thanh Hóa, Hòa Bình, hậu thân của hệ thống trại Lý Bá Sơ, đã thành danh hiệu một Tây Bá Lợi Á của cộng sản Việt Nam.

Chiếc cùm chân cùm Trường Chinh ở phòng giam Hỏa Lò nay vẫn được giữ lại như một chứng tích lịch sử của ‘thời thực dân tàn ác’ thật không thấm vào đâu so với khối cùm hộp kẹp vỡ xương ống chân của những con người trong câu chuyện sắp kể ra dưới đây. Thế nên, phải nói một điều tưởng chừng như vô lý: Nhà tù Hỏa Lò thời thực dân Pháp đã là một thiên đường so với thời tập trung cải tạo xã hội chủ nghĩa theo lời dạy của Bác Hồ vô vàn kính yêu!”.

Chúng ta cần nêu một so sánh để khỏi bị cáo buộc đã nói điều vô bằng cớ. Khi xây khám, người Pháp dự trù chỉ để giam cứu cho vài ba trăm người với những dãy nhà dài rộng. Sau 1954, công an Hà Nội chia thành bốn khu chính với những phòng giam ngăn cách bởi những dãy tường đá, trên thả kẽm gai và mảnh chai vỡ. Một nhân vật của câu chuyện kể (vốn là Đại úy Quân đội Quốc Gia trước năm 1954) tháng 8, 1961 bị đưa vào tù theo “Nghị Quyết Tập Trung Cải Tạo” (Ban hành trước khi thành lập Mặt trận Giải phóng, quyết định thanh toán miền Nam bằng vũ lực sau Đại hội 3 của Đảng, tháng 5, 1960) có danh số tù là 4257. Điều này giúp cho chúng ta biết, chỉ mới đến tháng 8 lượng tù đã quá số 4,000, cuối năm, theo nhịp tập trung bắt giữ như đã xảy ra, ắt hắn sẽ có khoản 6,000 lượt người vào và chuyển dần đi. Hỏa Lò nhận một số tù gấp mười lần số lượng dự trù.  Trong khi ấy, diện tích phòng giam bị co rút lại, thế nên, các phòng giam dẫu treo khẩu hiệu, “Ăn sạch. Ở sạch. Nội vụ sạch”, sinh hoạt “điển hình tiên tiến” nơi phòng số 14 đã diễn ra như sau:

250 con người trong căn phòng (dự trù chỉ 20 người) kia có những nhu cầu cấp kíp trong đêm, họ phải đi tiểu, đại tiện. Kẻ đi vào phòng vệ sinh phải trở thành một diễn viên xiếc thượng thặng giữa đám người nằm nêm cứng. Vào được phòng vệ sinh, lại phải thêm một phen chen chúc. Một tên ngồi gục đầu trên hố xí, úp mặt xuống lỗ hố thối thủm, một tên khác ngồi ở bệ bước lên, nhưng dù sao đấy cũng là “hai chỗ ngủ tốt”. Có tên nằm co quắp trong bệ tiểu tiện, phải đánh thức tên này dậy mới đi tiểu được, vừa tiểu tiện xong, bệ tiểu đã có một tên nhảy vào ngồi trám chỗ. Từ cửa phòng vệ sinh, lão (người tù có danh số 4257) nhìn ra. Căn phòng im lặng lềnh đặc mùi tanh tưởi của máu, mủ, mồ hôi, mùi phân người bốc lên ngầy ngật. Mấy trăm bộ xương da khẳng khiu, lở loét ngập tràn, nằm ôm cứng la liệt như đống xác chết như một nấm mồ tập thể, lộ thiên chưa lấp đất. (Nguyễn Chí Thiện, Hỏa Lò, Nhà Xuất Bản Cành Nam, VA, USA, 2000 trg 48-88).

Cảnh tượng trên chỉ là một phòng giam số 14 của Hỏa Lò, đã vượt xa, xa hơn hẳn nhà tù thực dân Pháp của gần một thế kỷ trước. Và nếu Nguyễn Khắc Viện, theo chúng tôi, chỉ cần qua 14 trại của vùng Hoàng Liên Sơn thuộc quyền quản lý của Đoàn 776 đã cũng đếm đủ gần ba chục ngàn tù của tổng số 130,000 (một trăm ba chục ngàn) người Nam bị lùa vào trại cải tạo đem ra Bắc sau năm 1975 – Con số được đọc lên do Lê Hữu Qua, Cục trưởng Cục trại giam ở trại Phong Quang, khi Qua chủ toạ buổi thả tù do chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng (năm 1976) – Để có chỗ đủ chỗ nhốt tù từ miền Nam đưa ra trong mùa Hè cùng năm.

Nguyễn Khắc Viện sống lâu năm ở Pháp, hắn đã có cơ hội để gặp và biết về Người Chết Bất Tử trước nòng súng kẻ nghịch – Trần Văn Bá.

Bá không chết một mình, ngày 8 tháng 1, 1985, anh linh hiển về trời với Lê Quốc Quân và Hồ Thái Bạch – Tổng số ba người chết vì chế độ cộng sản Việt Nam bách hại trong một vụ việc bằng số lượng người bị thực dân Pháp đưa ra pháp trường trong toàn năm 1929 xưa kia. Số lượng mà Nguyễn Khắc Viện nại dẫn để tố cáo chính sách giam giữ, toà án xét xử bất công của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam. Có hai điều khả thể xảy ra qua vụ án năm 1929 kia: Hoặc là chế độ thực dân Pháp đầu thế kỷ quá khoan hồng nhân đạo so với chế độ xã hội chủ nghĩa sau này của Hà Nội; Hoặc ba kẻ bị kết án tử hình năm 1929 kia là bọn sát nhân can tội giết người đoạt của. Và bênh vực chúng tức mặc nhiên về hùa với hành động của bọn vô lại, lưu manh. Chúng tôi muốn nói nhiều hơn nữa về cuốn sách và người viết cuốn sách, nhưng cuối cùng biết ra: Cuốn sách là bản in lại từ bản gốc của Nhà Xuất Bản Thế Giới, Hà Nội, Việt Nam 1993. Và Nguyễn Khắc Viện thì đã chết từ 1997. Hóa ra, cuốn sách chỉ là phó bản sao chép về một nội dung tuyên truyền của Trung ương Đảng cộng sản nơi Hà Nội. Và tác giả của nó đã là một thây ma. Chúng ta còn có thể nói gì hơn!

3, Cuốn sách Thứ Ba:

Trương Như Tảng,

Journal of A vietcong

(CO Translators: Chanoff David & Đoàn văn Toại)

Johnathan Cape, London,

England 1986

Đây không là một cuốn sách thông thường, với nội dung là một tác phẩm văn học, hoặc hồi ký hoạt động của một nhân vật chính trị nào đó. Nhưng qua đấy, chúng ta sẽ nhận thấy ra sự tai hại chính trị – đúng ra là thảm họa chính trị (không phải xảy ra riêng đối với mỗi cá nhân đã gây nên sự kiện, hoặc trách nhiệm thuộc về một tập thể đặc biệt nào) mà là BI KỊCH CHUNG CHO TOÀN DÂN TỘC VIỆT – THỰC HIỆN BỞI THÀNH PHẦN GỌI LÀ “TRÍ THỨC ƯU TÚ” – NHỮNG NGƯỜI HIẾN DÂNG HẾT CUỘC ĐỜI (với hậu quả không chỉ tác động giới hạn trên cá nhân bản thân họ, mà liên hệ trực tiếp đến gia đình, những người chung huyết thống, giới thân cận, bạn bè, người cộng tác) VỚI MỤC TIÊU CAO THƯỢNG: ĐỘC LẬP DÂN TỘC – HẠNH PHÚC TOÀN DÂN.

Chúng ta hãy cùng xem lại một hành trình thảm hại và tai họa trong sáu-mươi năm dài từ 1945-2005, mà mỗi người chúng ta hẳn cũng đã chia phần trách  nhiệm gánh vác, hoặc chịu đựng sự khốn cùng gâynên từ bộ máy bạo lực gọi là chế độ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lập lại thêm một lần cũng không thừa – Trường hợp Trương Như Tảng là một điển hình sắc nét, cụ thể nhất – Đến hôm nay, thế kỷ 21 vẫn còn giá trị của một lời cảnh cáo nghiêm trọng nhất đối với cái gọi là “thành phần trí thức khoa bảng trẻ tuổi yêu nước”. Biết đến bao giờ mới đủ cho một tấm gương phản tỉnh cho những người gọi là “trí thức thiên tả”? Hở biết đến bao giờ?

Màn Một.

Trương Như Tảng đến với chủ nghĩa cộng sản, chiến đấu cho phía chế độ chuyên chế sau một quá trình tham gia lâu dài, với căn bản hiểu biết, kinh nghiệm kết tập của một trí thức khoa bảng miền Nam. Với tình yêu nước sâu sắc, thêm tìm hiểu, phân tích, đánh giá thời cuộc theo cùng chuỗi biến chuyển của vận mệnh quê hương suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, nơi địa bàn Quốc nội, cũng như tại một trung tâm chính trị thế giới, Paris, nước Pháp. Trương Như Tảng tiến tới “chủ nghĩa yêu nước” từ vị thế một đại gia họ Trương (người Việt gốc Hoa), sở hữu một căn lầu ba tầng đường Lê Thánh Tôn, con đường và vị trí cơ sở có giá trị thương mại số một của Sài Gòn ở thời điểm trước kia cũng như hiện nay. Tài sản họ Trương không chỉ có thế, họ còn có đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một (Bình Dương), nhà in tại Sài Gòn, nhà nghỉ mát Đà Lạt cho mùa Hè, biệt thự Vũng Tàu cho mùa Đông. Vị thế nhà giáo của  người cha nơi Trường Chasseloup Laubat (Sài Gòn,trước 1954) chỉ cốt tăng thêm phần “trí thức” chứ không phải là nguồn lợi kinh tế để sinh sống, vì gia đình bên ngoại hằng tặng biếu cho tổ chức Đạo Cao Đài ba trăm mẫu đất để xây Toà Thánh Tây Ninh. Từ dòng dõi giàu sang, phú quý như kia, sáu anh em trai (không con gái) nhà họ Trương đồng được theo học các trường dành cho trẻ con Pháp tại Sài Gòn, đại học Hà Nội và tiếp theo các đại học tại Thủ Đô Paris, hoặc các nước Tây Âu để thành bác sĩ, kỹ sư. Nhưng dẫu có đời sống vật chất đầy đủ thế kia, (mỗi cậu nhà họ Trương có một có một á mẫu người Hoa chăm sóc đời sống vật chất; có có gia sư chuyên dạy học, đờn, ca…), cậu ấm Tảng vẫn mang nặng mặc cảm “ghét Tây” – Mặc cảm thời niên thiếu nảy sinh do bị các trẻ con phương Tây cùng trường gọi một cách khinh miệt là bọn “nhaque – nhà quê”, hoặc là lũ mọi rợ “Annamite – An-nam mít”.

Mặc cảm ngày nhỏ này là động cơ đầu tiên thúc đẩy cậu dấn thân vào đường cách mạng một cách sớm sủa vì cậu xem đấy là một xúc phạm trầm trọng (TNT trg 5). Người thanh niên 22 tuổi lên đường cách mạng thật sự vào tháng, ngày lịch sử, 2 tháng 9, 1945 khi nghe lời kêu gọi từ Công trường Ba Đình, Hà Nội: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng … Họ được đấng tạo hoa trao gởi cho những quyền hạn không thể phủ nhận … “. Người nói lời hàm xúc cao quý này ngừng lại để hỏi câu thắm thiết: “Đồng bào có nghe tôi rõ không?“(TNTg trg 6). Từ thúc giục hứng khởi này, Tảng có mặt ngay tại đội ngũ đầu tiên của đoàn Thanh Niên Tiền Phong với khẩu súng săn của người anh để lại (không hề có lắp đạn), nhận lãnh nhiệm vụ (được chỉ định) người chỉ huy, vì sức học cao của cậu so với đám thanh niên cùng lứa. Một thanh niên của đoàn Tiền Phong bị bằn hạ khởi động làn sóng phẫn nộ khắp thành phố, đoàn người tràn vào các khu vực Pháp kiều trú ngụ để trả thù.

Anh thanh niên Tảng chứng kiến cảnh tượng đoàn biểu tình hành hung một Pháp kiều cô thế – Anh có nghi vấn:“Cách mạng đâu phải là bạo lực, ‘vinh quang’ giải phóng dân tộc đâu phải cần đến máu người vô tội?! “. Anh giao khẩu súng lại cho người bạn thân Albert, để người này tiếp tục làm cách mạng và đáp tàu tới Paris, kinh đô nước Pháp – Nơi đây anh gặp một người gây nên ảnh hưởng quyết định đối với sinh mệnh chính trị bản thân – Bác Hồ, Hồ Chí Minh. Cũng cần nói thêm chi tiết, người bạn thân tên Albert kia là Phạm Ngọc Thảo, em Phạm Ngọc Thuần, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam Bộ. Toàn là những người trẻ tuổi trí thức, cách mạng yêu nước (TNTg trg 7).

“Bác” dạy cho cậu thanh niên Trương Như Tảng nhiều điều quý giá, kỳ lạ với cung cách cha dạy con (Bác gọi Tảng: “Này, con ạ ..”) về văn học, ngôn ngữ, lịch sử và cuối cùng (lẽ tất nhiên), chính trị. Trước tiên, bác chỉ cho Tảng việc tên của anh có điều nhầm lẫn:

“Tên anh phải là ‘Toản’ chứ không là ‘Tảng’. Vì tên ấy viết theo chữ Hán thuộc bộ “Ngọc”, chỉ loài ngọc quý, chứ nếu là ‘Tảng’ chỉ là một cục đá tầm thường”. Bác hình như không biết, hoặc cố ý không biết để tránh rơi vào việc xúi cậu thanh niên làm một việc vô lễ: Lấy tên một bậc cha, chú làm tên mình. Vì đại tộc Trương (gốc Minh Hương) đã có một người tên Toản, Trương Duy Toản, viết báo Lục Tỉnh Tân Văn (1907), liên lạc viên của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Bác dạy tiếp cho Tảng về chiến công giữ nước của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Quang Trung; bác chỉ cho Tảng sự kết hợp giữa thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam trong quá trình bóc lột nhân dân; bác giải thích về “Cách Mạng Tháng Tám” và cuộc chiến đấu không những chỉ chống xâm lược, nhưng còn chống dốt nát, nghèo đói … Cuối cùng, bác kết luận: “Không có gì quý hơn độc lập – tự do”.

Lần đầu tiên cậu thanh niên Trương Như Tảng nghe được lời quý giá này, đời cậu đã có hướng đi quyết định: Vì độc lập, tự do chứ không còn gì khác. (TNTg trg 14-15). Trước ngày rời đất Pháp, bác gọi Tảng và một nữ sinh viên người Việt (cô Lý) đến nhà riêng vùng Montmorency, cho Tảng tấm ảnh với lời:

“Tặng cháu ‘Toản’ với tất cả lòng thương mến”. Qua hai lần gặp gỡ, Tảng (nay đúng ra là Toản như tên bác sửa lại) đánh giá: “Bác là tổng hợp của nhiều tính chất tương phản. Quốc gia, Nhân chủ, Mác-xít, Lê-nin-nít, Mác-chi-ven-li-an và cả Khổng Tử! Bác quả thật hơn hằn nhiều lãnh đạo thế giới khác!” (TNTg trg 16-17).

Tất cả sự việc kể trên có một nghi vấn về thời điểm: Hồ Chí Minh (thật ra đang là Nguyễn Tất Thành) đã rời Paris từ 1923 với tư cách là Đảng viên cộng sản Pháp đi Mạc-Tư-Khoa để dự Hội nghị Nông Dân Quốc tế dự trù khai mạc ngày 10/10/1923. Sau một thời gian dài được huấn luyện ở Nga, ông về hoạt động ở Đông – Nam Á. Có chăng, là “Bác gặp cháu Toản” trong thời đoạn ngắn ngủi khi qua dự Hội nghị Fontainbleau (7-9/1946). Một hội nghị bế tắc toàn diện vì không ai tương nhượng ai. Hồ Chí Minh phải ký Tạm Ước Sống Chung với Bộ Trưởng Thuộc Địa Marius Moutet để mua thời gian. 19/9 ông Hồ Về nước. 19/12, chiến tranh Pháp – Việt Minh bùng nổ. Vậy trong thời hạn ngắn ngủi, giữa tình thế căng thẳng của hội nghị, và thời cuộc, chắc chắn “Bác không thể dạy cho cháu Toản” điều gì nhiều hơn ngoài đôi ba câu chuyện giữa hai người mới lần đầu gặp mặt. Từ căn bản chính trị, hướng dẫn chỉ đạo nhận trực tiếp từ bác, Trương Như Tảng là thành viên năng động nhất trong phong trào chống “Chiến tranh bẩn thỉu – La sale guerre” ở Đông Dương trong giai đoạn sau 19 tháng 12, 1946 – Ngày chiến tranh Pháp – Việt Minh bùng nổ. Anh cùng những đồng bạn trong cộng đồng người Việt tiếp xúc, vận động những “trí thức tiến bộ” tại Pháp, Tây Âu ủng hộ cuộc chiến đấu cao cả kia, đối tượng (vận động) chủ yếu là tập thể người cộng sản Pháp.

Nhưng Tảng không thể không nhận ra tính “không thực của những người bạn chiến đấu này”, điển hình qua lời tuyên bố (mang tính thực dân phản động) của Maurice Thorez, Tổng thư ký Đảng cộng sản Pháp: “Nếu chúng ta không đạt được nhượng bộ, thoả thuận với họ (những người Việt có tinh thần dân tộc – Ở đây chỉ người cộng sản Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo), thì chúng ta buộc phải nói chuyện với họ bằng nòng súng.” (TNT trg 23).

Cho dẫu Tảng đã một lần sử dụng ngay đến người vợ mới cưới của mình tự thân trao tặng bó hoa cho Bà Jeannette Versmersch (vợ Thorez) trong một đại hội để thắt chặt thêm tình chiến đấu của hai đảng, giữa những người (cộng sản) tiến bộ đấu tranh cho Tự Do – Bình Đẳng – Huynh Đệ! Sự kiện cô vợ của Tảng tặng hoa cho vợ Thorez gây phẫn nộ đối với hai người cha ở Việt Nam; ông thân sinh Tảng (cùng ông sui gia) quyết định: Tảng và vợ phải trở về nước. Cuối cùng hai vợ chồng trẻ phải chọn một biện pháp đầy tính bi kịch: Chỉ cô vợ trở về (đang mang thai đứa con đầu lòng), Tảng ở lại tiếp tục việc học và nhất là đi đến cùng con đường cách mạng cứu nước (theo hướng cộng sản). Hai người cha quyết liệt hơn:

Cắt yểm trợ tiền bạc, hiện thực dứt bỏ tình phụ tử, buộc người vợ trẻ phải ký giấy ly dị. Không nao núng, sờn lòng, Tảng đi rửa chén, lột khoai ở nhà hàng, quyết định sống tự lập, thực hiện hoài bão chính trị “cứu nước dành độc lập” của mình. Anh đã bỏ ngành Dược để theo học Đại học Quốc gia về Khoa học Chính trị. Cao thượng thay và cũng bi thảm thay. Bi kịch của cá nhân người có tên Trương Như Tảng mới trình diễn màn đầu. (TNT trg 20- 24).

Màn Hai.

Năm 1951, Trương Như Tảng tốt nghiệp cao học chính trị, ghi danh học luật và có những vấn đề được đặt ra bởi trong nước xảy ra những biến chuyển quan trọng: Chiến trận quân sự bùng vỡ lớn với sự tăng cường của hai phía, phía người Pháp nhận thêm nguồn quân viện của chính phủ Mỹ; phía Việt Minh được yểm trợ trực tiếp do biên giới Hoa – Việt thông thương sau khi quân đội Mao Trạch Đông thâu tóm Hoa Lục, 1949. Về mặt chính trị, chính phủ Bảo Đại được tăng cường củng cố qua hiện diện của chế độ Quốc Gia Việt Nam được cộng đồng thế giới công nhận (Tháng 2, 1950); chính phủ Hồ Chí Minh cũng được Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu thừa nhận sau chuyến công du của Hồ qua ngã Tàu (tháng 3, 1950).

Tảng có những chọn lựa: Về chiến khu dưới quyền lãnh đạo của Việt Minh để chiến đấu trực tiếp kháng Pháp – Nhưng ý niệm, dự định này bị gạt bỏ ngay, vì người trong Hội Người Việt (tố chức ngoại vi của cộng sản Việt Nam nhằm vận động Việt kiều ở Pháp) có nhận định: Tảng sẽ gây gánh nặng cho kháng chiến hơn là góp phần vào cuộc chiến đấu. Tảng cũng tự đánh giá: “Mình chỉ là người có khả năng tổ chức cho cuộc đấu tranh chính trị nơi hậu trường, ở đất Pháp, chứ không là một chiến sĩ nơi rừng rậm”. Nhưng cuối cùng, Tảng về Sài Gòn để giúp cha gầy dựng lại các cơ sở kinh doanh bi hư hại, suy thoái qua chiến tranh, cũng để cho các anh, em được tiếp tục việc học (ở những đại học Tây Âu) (TNT trg 25-27).

Về đến Sài Gòn, để tránh lệnh động viên của chính phủ Bảo Đại, Tảng xuống Châu Đốc (vùng châu thổ sông Cửa Long, nơi có nhiều người gốc Hoa sinh sống) lập trường dạy học. Nhưng tiếng gọi cách mạng không hề tắt: Thầy giáo Trương Như Tảng bắt liên lạc với tổ chức cộng sản địa phương để đưa anh vào chiến khu.

Và thêm một lần, Tảng được trông thấy tận mắt cảnh tượng tàn sát của lực lượng cộng sản phục kích đoàn tàu người Pháp trên kênh Châu Văn Tiếp và anh lại hiểu rõ thêm một lần: Chỗ đứng của anh không phải nơi tuyến chiến đấu với những du kích. Anh đã có liên hệ chặt chẽ với trường học, môi trường giáo dục, các học sinh, và nhất là cơ sở thương mãi, hệ thống kinh tài của gia đình ở Sài Gòn mà nay anh đã thay mặt cha quán xuyến tất cả, bởi các anh, em vẫn còn ở ngoại quốc chưa về. Mối lợi lớn do cơ sở giáo dục ở Châu Đốc, hệ thống kinh tài đồn điền ở Sài Gòn, miền Đông Nam bộ hồi phục, giúp phát triển lại tình trạng tài chánh của tộc họ Trương. Để tránh tình trạng chiến tranh đang mở rộng, lệnh trưng binh khẩn cấp, một lần nữa, Trương Như Tảng trở lại đất Pháp với vị thế sinh viên sĩ quan trường Hàng Hải Toulon. Tháng 7, 1955 Tảng trở về Sài Gòn, các anh, em đồng tốt nghiệp sau nhiều năm du học ở Anh, Đức, Pháp … Trương Như Tảng trở về lại quê hương với hãnh diện do chiến thắng của lực lượng cộng sản ở mặt trận Điện Biên Phủ và sự khinh miệt giới cầm quyền Việt Nam hiện tại. Tảng đánh giá: “Vua Bảo Đại chỉ là một tay chơi được biết tên ở những sân golf, sòng bài, bởi những tay pha rượu; Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thì hoàn toàn không có một khả năng nào cả” (TNT trg 27-32). Quả thật, chế độ Thực dân Pháp “gian ác bóc lột”, và những chế độ “bù nhìn, hư hại” của Miền Nam trong các thời kỳ từ 1945 đến 1975 đã rất rộng lượng, hào hiệp đối với rất nhiều người, nhiều giới người – Gia đình và bản thân “người cách mạng Trương Như Tảng” là kẻ thụ hưởng nhiều nhất, đủ nhất và lâu dài nhất. Chẳng cần đợi đến phần cuối của cuốn sách, đến đây chúng ta đã có thể xác định như thế mà không sợ nhầm lẫn. Giai đoạn về nước lần thứ hai sau 1955, người thanh niên Trương Như Tảng đã hoàn toàn trưởng thành về mọi mặt. Ông đã có một tư thế chính trị, sở học, và bằng cấp chuyên môn – Trên cơ sở này thái độ chống đối chính quyền của Thủ Tướng, hoặc sau đó của Tổng Thống Ngô Đình Diệm càng thêm dứt khoát, mãnh liệt.

Chế độ mới với nền cộng hòa đối với ông là bất khả dung hợp do phạm những lỗi: Không kết hợp được “thành phần thân Pháp – Điển hình là giai cấp quan lại, đại điền chủ, tư sản miền Nam như gia  đình ông”; người quốc gia kháng chiến chống Pháp (những thành phần giáo phái, Cao Đài (bên ngoại ông là những chức sắc cao cấp), Hòa Hảo …); nhất là thành phần theo Việt Minh (mà theo kinh nghiệm bản thân là toàn thế nhân dân có mặt trong kháng chiến chống Pháp vừa qua). Ông chủ trương không nên khơi động hận thù Bắc – Nam mà nên mở rộng dân chủ như theo chiều hướng của cộng hòa Pháp. Tóm lại, chỉ còn Hồ Chí Minh với chủ trương nhận viện trợ của Nga và Tàu nhưng vẫn giữ nguyên tính chất của một người quốc  gia là giải pháp cuối cùng cho vấn đề Việt Nam. Một ngày tháng Giêng năm 1956, sau mười năm xa cách Trương Như Tảng gặp lại người bạn thiết từ thuở thiếu niên, Albert Phạm Ngọc Thảo. Lần gặp gỡ và những câu chuyện sau sau đó có tác động như đặt xuống viên đá tảng bắt đầu cho một sự nghiệp lớn:

LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN MIÊN NAM – Tuy cả hai không nói ra (sẽ nói thành lời vào một thời điểm thuận tiện sau này) nhưng ngầm ý với nhau rằng: Chúng ta luôn là bạn thiết của thời thơ ấu, và bây giờ cùng đi một đường, tuy hai phương tiện, và vị thế khác nhau. Ngay từ lần đầu tiếp xúc này Phạm Ngọc Thảo đã tiết lộ với Trương Như Tảng về “âm mưu nằm vùng trong Dinh Độc Lập qua việc chiếm lòng tin của Tống Giám Mục Ngô Đình Thục, Tổng Thống Diệm, Cố Vấn Nhu, kể cả của Bác sĩ Tuyến, Giám đốc sở Nghiên Cứu Chính Trị” (TNT trg 42-50). Gần hết một đời người, thật tình chúng tôi chưa hề nghe, biết được một cán bộ cộng sản (loại chiến lược) nào mau mắn, cả tin, và thẳng thắn như hai người bạn này – Ngay buổi gặp mặt đầu tiên đã nói cho nhau nghe về những dự mưu chết người (không phải chỉ một vài người mà cả miền Nam, toàn dân tộc). Chúng ta có thể tạm chấm dứt phần liên hệ giữa Trương Như Tảng và Phạm Ngọc Thảo ở nơi đây qua sự kiện Tảng bị bắt vào khám Chí Hòa (tháng 1, 1965) do có liên hệ mật thiết với người bạn, “Chuyên viên tình báo số 1″ đánh giá của Tảng đối với Thảo, người bạn thân. Riêng phần những hoạt động lật đổ, đảo chánh, chống đảo chánh của Phạm Ngọc Thảo trong suốt năm 1965 – Hành động mà ông ta đã thực hiện từ bước đầu dự mưu đảo chánh của biến cố 1 tháng 11, 1963 – Tất cả được Trương Như Tảng nhận định nằm trong mục đích mà hai người đã một lần cùng nhau bàn định:

“ .. Điều tốt nhất là làm sao mà thống nhất đất nước bằng lối hoà bình và nếu ai có thể làm công việc ấy thì tôi sẽ cộng tác … “ (TNT trg 44). Ý niệm này được nói lại rõ ràng hơn qua trao đổi thân mật, kín đáo, ngắn gọn giữa hai người:

– “Ba!”, Thảo gọi tôi bằng tên tộc với giọng nói có chủ ý. “Tôi nhận thấy bồ vừa có ý gì? Bồ có với trong bưng phải không?”.

– “Albert”, Tôi đáp: “Tôi cũng thấy cái điệu ấy nơi bạn” (TNT trg 55).

Trương Như Tảng nghe tin về cái chết của Phạm Ngọc Thảo khi đang còn bị giam ở Chí Hòa (tháng 7, 1965) và ông có kết luận: Thất bại lớn nhất của Thảo – Cũng như của Mặt trận Giải phóng vào những năm đầu

60 – là không lường được quyết định tham chiến của Mỹ. Cũng không thể trách ông ta (PNThảo) đã không

vạch rõ ra đủ sự bất lực trầm trọng của hệ thống chính trị Nam Việt Nam – Để từ đó, chính phủ Mỹ áp dụng

toàn bộ chiến lược mới mẻ của họ. (TNT trg 62) Chúng tôi có nhận định hoàn toàn khác hẳn quan điểm trên. Phạm Ngọc Thảo bị bức tử do không phải đã đánh giá không đủ về người Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa – Những nhân sự và sự việc ông ta hằng coi thường bởi đã biết tường tận. Ông đã từng gọi Nguyễn Khánh là “thằng chó đẻ” qua lần nói chuyện với Nguyễn Cao Kỳ (có mặt của Trương Như Tảng) từ một phòng điện thoại công cộng ở đường Hàm Nghi dẫu đang ở thời kỳ lẩn trốn truy lùng của Nguyễn Khánh. (TNT trg 60).

Nhưng Phạm Ngọc Thảo quả đã chết vì KHÔNG LƯỜNG ĐƯỢC SỰ ÁC ĐỘC TÀN NHẪN CỦA NHỮNG

NGƯỜI ĐỒNG CHÍ CỦA ÔNG – GIỚI LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN TRIỆT ĐƯỜNG TRỞ VỀ KHI MỘT CÁN BỘ TÌNH BÁO ĐÃ HOÀN TOÀN BỊ LỘ.

Sinh mệnh của Mặt trận Giải phóng miền Nam, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng thành phần nhân sự lãnh đạo (gồm bản thân Trương Như Tảng) cũng sẽ được quyết định theo một cách thế tương tự. Và chương kế tiếp sẽ là câu trả lời chính xác cho vấn nạn vừa nêu.

Màn Ba.

Cao điểm bi kịch của Trương Như Tảng là buổi chiều ngày 16 tháng 6, 1967 khi ông trở về từ văn phòng bị một chiếc xe của mật vụ văn phòng Tướng Nguyễn Ngọc Loan chận lại. Ông bị đưa về trung tâm thẩm vấn đặc biệt của Tổng Nha Cảnh Sát ở Chợ Lớn để đối mặt cùng Ba Trà, liên lạc viên mà Mặt trận Giải phóng bố trí để làm việc với ông trong buổi họp của Phong Trào Tự Quyết ở Thủ Đức từ tuần trước. Trong giai đoạn này Trương Như Tảng đang là Chủ tịch của Liên Hiệp Thanh Niên, một tổ chức ngoại vi của Mặt trận. Ba Trà là em rể của Bác sĩ Phùng Văn Cung, thành viên trong Chủ tịch đoàn của tổ chức này. Nhân viên thẩm vấn (có sự hiện diện của Ba Trà), buộc Tảng phải thú nhận: “Ông là Đảng viên Đảng cộng sản”. Lời thú nhận thừa thãi và vô nghĩa lý này không được xác nhận. Toán thẩm vấn ra tay như nghề nghiệp cho phép. Tảng vẫn giữ nguyên ý chí: “Ông là người của Mặt trận, không phải là Đảng viên cộng sản!”.

Cuộc hỏi cung không kéo dài, một hôm vợ ông vào thăm và được phép nói chuyện riêng. Người vợ nói:

“Ông cứ nhận là Đảng viên đi có khác gì nhau (!); bà đã có những đường dây để lo riêng (theo ngã hối lộ). Làm sao phải ra khỏi phòng giam đặc biệt này để được trả về giam chính thức bên Tổng nha, vì nơi đây có thể bị thủ tiêu bởi là chỗ hỏi cung, thẩm vấn đặc biệt”. Ông theo lời người vợ, phần cũng biết có dàn xếp giữa Trần Bạch Đằng (Bí thư thành ủy Sài Gòn ở giai đoạn 1967-68) và Toà Đại sứ Mỹ để trao đổi mật những nhân sự (tình báo) cao cấp. Phía cộng cộng sản có Tảng và vợ của Trần Bạch Đằng. Cũng trong những ngày này, mật vụ Tướng Loan đã ra tay thủ tiêu Trần Văn Kiều, Bí thư công đoàn thành phố và Lê Thị Riêng, Hội Trưởng hội phụ nữ. Trước một nguy hiểm như thế, nhận hay không nhận (một vấn đề hiển nhiên) thì nào có nghĩa lý gì!

Một ngày cuối tháng 2, 1968, Tảng cùng hai người khác, Sáu Nổ, Duy Liên ra khỏi nhà giam Tổng nha, được chở lên Tân Sơn Nhất, nằm đợi trong một căn phòng đẹp như khách sạn bốn sao, hai ngày sau được trực thăng Mỹ chở đến một sân bay ở Trảng Bàng, Hậu Nghĩa. Ớ đây, có một viên Đại úy quân đội miền Nam đợi sẵn với một chiếc xe Lambretta ba bánh. Xe chạy đến quán cà phê có một chiếc khác đợi sẵn, viên Đại úy trở lại. Cuộc trao trả hoàn tất. Tảng và hai người kia được đưa về Cục R (Trung ương Cục miền Nam) gặp Trần Nam Trung, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Mai Chí Thọ …

Để làm báo cáo cuộc trao đổi và hoạt động vừa qua – Thuần là cán bộ Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam – Không có một chức sắc nào của Mặt trận Giải phóng có mặt trong buổi “hỏi cung” ngụy danh này. Ngày 8 tháng 6, 1969, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam được thành lập để “hợp thức hóa” sự có mặt tại Hòa hội Paris (khai diễn chính thức vào tháng 10, 1968), Trương Như Tảng nhậm chức Bộ Trưởng tư Pháp – Bộ trưởng của một chính phủ không có hệ thống toà án, hành chánh, tài chánh, bởi không thể kiểm tra dân chúng, không đất đai quản trị, kể cả không có một địa vực gọi là thành phố, thủ đô. Chúng ta không hề thắc mắc về tính cách và khả năng của chính phủ cách mạng này, nhưng những người đặt vấn đề đối với ông và các thành viên trong chính phủ lâm thời lại là những “giảng viên” của đợt học tập chính trị theo lệnh của Lê Duẩn tiến hành trong ba tháng của mùa Thu 1971.

Đợt chính huấn để tẩy rửa tính chất phản động của lớp tiểu tư sản thành thị được nuôi dưỡng từ chế độ thực dân cũ và mới ở miền Nam. Đứng trước cao trào cách mạng mạnh mẽ. Thành phần trí thức thuộc giai cấp tư sản dân tộc phải có những tiến bộ, biết tách rời khỏi giai cấp của mình và thúc đẩy con em mình cũng phải chấp hành như thế. “Lê Duẩn răn đe dạy dỗ không che dấu.” (TNT trg 197) Không chỉ một mình Lê Duẩn lên mặt dạy dỗ mà ngay cả đám cán bộ trường Đảng Nguyễn Ái Quốc thực chất chỉ là những “lý thuyết gia” hạng thứ yếu, chỉ biết lặp đi lặp lại những từ ngữ sáo rỗng vô nội dung của Đảng cộng sản Liên Xô viết từ đầu thế kỷ: “Tiến bộ nhất định; triệt để tầy rửa tính giai cấp phản động; nhiệt liệt thành tâm tin tưởng vào giai cấp vô sản … “ (TNT trg 197). Hành vi thô bạo trắng trợn của “giới cầm quyền Hà Nội” không chỉ giới hạn trong buổi học tập, về những lý thuyết, chúng được “chuyển biến thực tế” bằng cách cắt cử một người miền Bắc thuần gốc, Ba Cấp (không rõ tên thật) thay thế Chín Chiến (người Nam) làm Ủy viên điều hành Liên minh Dân tộc Dân chủ Tranh Thủ Hòa Bình – Một cơ quan lập nên do ý đồ của Hà Nội muốn cột chặt Mặt trận Giải phóng vào sự chi phối trực tiếp của họ. Trịnh Đình Thảo được chỉ định giữ chức chủ tịch tổ chức này nhưng quyền hành thực sự nằm ở tay Ba Cấp, nhận lệnh trực tiếp từ Lê Duẩn. Người có khí tiết trong mặt trận như Huỳnh Văn Nghi (chồng Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Bộ Trưởng Y tế của chính phủ lâm thời) phải nói lên lời cay đắng, phẫn uất: “Nếu chúng tôi nhận sự chỉ đạo chính trị của đảng Lao Động là bởi đến nay đảng đã theo đúng con đường độc lập dân tộc. Chúng tôi tham gia kháng chiến là do trái tim, lý trí, lòng yêu nước thúc giục đáp ứng lời kêu gọi của Tổ quốc – Không là lời kêu gọi của cách mạng vô sản” (TNT trg 197)

Lời phẫn uất của Huỳnh Văn Nghi không được hưởng ứng, bởi Bùi thị Nga (vợ Huỳnh Tấn Phát) đã lu loa kể khổ: “Chúng tôi đội ơn Đảng một món nợ không trả được” (TNT trg 198) Nga thuộc về một gia đình quan lại phong kiến miền Bắc trước 1945.

Màn Cuối

Sáng 15 tháng 5, 1975, Lần trả lời trọn vẹn đối với màn kịch dài của Mặt trận Giải phóng miền Nam, của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, của Liên minh Dân chủ Tranh thủ Hòa Bình, lẽ tất nhiên cũng đối với chính cá nhân Trương Như Tảng …Và hằng ngàn (có thể là vạn, triệu) người đã từ một thuở thanh xuân đi theo tiếng gọi “cứu nước”, những người “vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng … “, kể cả những kẻ “đi B – xẻ dọc Trường Sơn chống Mỹ, diệt Ngụy” – Tất cả những người chiến đấu dưới ngọn cờ hai màu “Đỏ – Xanh với Ngôi Sao Vàng” của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Trên lễ đài được thiết lập trước Dinh Độc Lập (nay đổi tên là Thống Nhất) với Lê Đức Thọ chiếm giữ vị trí trung tâm đoàn chủ tịch nhìn xuống những đơn vị quân đội duyệt binh. Đạo quân vừa “thâu giang sơn về một mối”, lực lượng vừa “giải phóng miền Nam” theo như câu hát hàm súc hứng khởi của mặt trận. Các đơn vị lần lượt đi qua. Bộ binh, chiến xa, thiết giáp, tên lửa, pháo binh, hải, lục, không quân của bộ đội miền Bắc hiện diện đủ. Nhưng, dần đến tàn cuộc lễ, những viên chức lãnh đạo của “mặt trận, của chính phủ lâm thời” đưa mắt hỏi thầm nhau …

Những “đơn vị của mình”, những “công trường của chúng ta”, những Sư đoàn 5, 7, 9 … của miền Đông Nam Bộ, của đồng bằng sông Cửu Long, tất cả bây giờ ở đâu? Ở đâu?

Cuối cùng, không thể chịu đựng thêm, Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Tư pháp Chính phủ Lâm thời nghiêng vai hỏi Văn Tiến Dũng, đứng cạnh ông: “Những Sư đoàn của chúng tôi đâu rồi, những Sư đoàn 1, 3, 5, 7 và 9?” Dũng đưa mắt nhìn Tảng như nhìn một thứ, vật quái dị: “Hả, mấy thứ đó hả … Bộ đội đã biên chế thống nhất rồi!”. Xong Dũng quay đầu nhìn xuống đường khoé miệng trề xuống khinh miệt. (TNT sđd trg 264-265)

Sự cay đắng lập lại lần thứ hai, tàn nhẫn và lạnh lùng hơn. Tháng 6, 1976 Trương Như Tảng trở lại Hà Nội để dự lễ phê chuẩn Văn kiện Hội nghị Hiệp thương “Thống nhất Nước Nhà về mặt Nhà Nước” (Kể ra cách chơi chữ sống sượng tàn nhẫn đến thế này là tối đa). Trong buổi tiếp tân, có một người vỗ vai Tảng. Ông quay lại. Trường Chinh. Chinh nhìn Tảng với cách nhìn của Văn Tiến Dũng hôm tháng 5 năm trước trên lễ đài ở Sài Gòn: “Tôi trông đồng chi có vẻ quen quen?! “. Đồng chí “Bộ Trưởng Tư pháp Chính phủ Cộng hòa miền Nam” ngớ người … Mới năm ngoái, trước khi trở lại miền Nam (sau ngày 30 tháng 4), toàn bộ viên chức “Chính phủ Lâm thời miền Nam” đã được chiêu đãi, chào mừng cũng ở căn phòng này, với những con người này, những “đồng chí lãnh đạo”, Trường Chinh, Lê Đức Thọ. Trương Như Tảng ấp úng: “Tôi là Bộ Trưởng Tư pháp của miền Nam!”. Mắt Trường Chinh sáng lên khoái trá: “Thế à … Thế tên là gì? Bây giờ đồng chí làm cái gì?” (TNT sđd trg 286). Viết hồi ký mà thực đến thế quả là “đạt tiêu chuẩn”.

Chúng ta có thể chấm dứt câu chuyện không mấy vui trên bằng cách nhắc lại vài điều phấn khởi. Cuối cùng, chịu không nổi cách “xách mé đểu cáng cộng với kỹ thuật ăn cướp công khai xã hội chủ nghĩa” của những “đồng chí” đến từ Hà Nội, Trương Như Tảng với Tôn, một người bên vợ đường quyết định vượt biên từ Long Xuyên. Trong lòng chiếc ghe dơ bẩn, chật chội, Tảng có ý nghĩ: “Nếu bị bắt lại thì nhảy xuống biển trầm mình thà chết chứ không để bị bắt”.

Ông nhớ lại chặng đường cách mạng mấy mươi năm đi qua từ thuở còn trai trẻ. Hồi ức dừng lại nơi lần gặp gỡ với cha ông ở Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn (1967, năm ông bị bắt vì hoạt động trong phong trào Liên Hiệp Thanh Niên). Cha ông đã nói: “Con ơi, cha không thể nào hiểu được. Con đã bỏ tất cả: Gia đình êm ấm, hạnh phúc, giàu sang để theo bọn cộng sản. Rồi đây, chúng sẽ không trả lại cho con một chút gì so với những gì con đã hiến dâng. Rồi con sẽ thấy. Chúng sẽ phản bội con và con sẽ đau khổ suốt đời … “.

Trương Như Tảng nhói đau trong hầm chiếc ghe khi nhớ lại “lời tiên tri” của người cha. Chỉ có điều an ủi khi ông nghĩ đến Loan, cô con gái đầu lòng hiện nay (năm 1978) đang ở Mỹ. Cô Loan đi Mỹ trước 1975 do bà Nguyễn Văn Thiệu bảo lãnh vì Loan học cùng lớp với con gái bà ở Đà Lạt từ tấm bé. Năm 1967, khi Trương Như Tảng vào tù, Ông Thiệu, Tổng Thống “chế độ phản động Mỹ -Ngụy” có nói riêng với Loan: “Cháu yên tâm, ba cháu với tonton là kẻ đối nghịch. Nhưng, cháu luôn luôn được coi như là con cháu trong nhà này, chuyện kia không ăn nhằm gì cả … ” (TNT sđd trg 260-261). À, hóa ra chế độ và con người (ở miền Nam) bị cả thế giới chê trách, bêu xấu lại tốt đẹp gấp vạn lần so với người và chế độ ở Hà Nội. Sự việc đơn giản này mấy người nào hay?

Sau Mười hai năm ở Mỹ

Cũng để hiểu đôi điều của Việt Nam.

Santa Ana, 11/ 2005

Phan Nhật Nam

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

4.Boogie – Woogie 

Phòng nghiên cứu âm thính là một căn phòng rộng, trần cao có nhiều cửa sổ. Trong phòng bừa bộn và đầy chật những dụng cụ điện tử đặt trên những tấm ván, quầy sắt, bàn ráp máy, trong những ngăn tủ ván ép được chế tạo từ một công xưởng ở Mạc Tư Khoa đem đến, máy móc, dụng cụ cũng đặt đầy cả trên mặt tất cả những chiếc bàn trong phòng. 
Những bóng đèn điện nằm trong những lồng kiếng mờ trên trần tỏa một làn ánh sáng dễ chịu khắp phòng. 
Trong góc phòng có một vật trong như cái tủ đứng, bốn mặt đều có kiếng. Đó là phòng ghi âm kín, tiếng động bên ngoài không lọt vào được. Phòng ghi âm này có vẻ như chưa được hoàn toàn. Ở dưới chân ba mặt phòng ghi âm có xếp những bọc rơm để ngăn tiếng động. Lúc này cánh cửa kiếng dầy của phòng được mở rộng, tấm màn len che cửa được gạt sang bên để cho phòng thoáng khí. Bên cạnh phòng ghi âm những hàng cốt đầu dây điện bằng đống sáng lên trên một phiến đá đen. 
Một thiếu nữ nhỏ nhắn, gầy gò, khuôn mặt hơi dài có những nét nghiêm trọng, ngồi ở cái bàn gần với phòng ghi âm nhất. Lưng nàng quay vào cửa phòng, đôi vai gầy gò của nàng được choàng một chiếc khăn len. 
Ngoài thiếu nữ này, trong phòng có chừng mười người nữa, tất cả đều là đàn ông, tất cả đều bận những bộ y phục đậm màu giống nhau. Được soi sáng bởi những bóng đèn điện trên trần và thêm nhiều bóng đèn nữa trên bàn, họ bận rộn làm việc. Họ đi lại, nối dây điện, ráp những bộ phận máy vào nhau, hàn điện, vặn kềm, gõ búa, ghi chép… 
Ở ba chỗ khác nhau trong phòng có ba dàn máy radio, cả ba dàn máy thâu thanh này đều không có vỏ bao ngoài, cả ba dàn đều đang phát thanh những chương trình nhạc khác nhau. Ba tiếng nhạc hòa lẫn, mâu thuẫn, đối chọi nhau trong phòng; nhạc jazz, nhạc dương cầm hòa tấu và nhạc dân ca miền Đông. 
Rubin bước chậm qua phòng để đi đến bàn làm việc của anh, hai tay anh cẩn thận ôm trước ngực quyển từ điển Mông Cổ – Phần Lan và quyển tiểu thuyết Hemingway. Trên bộ râu quai nón rậm và đen của anh còn vưỡng những mẩu bánh vụn. 
Dù tất cả những bộ y phục phát cho tù nhân đều được may cắt cùng một kiểu giống nhau, những người đàn ông ở đây vẫn bận chúng khác nhau. Bộ áo trên người Rubin có một nút áo ngực bị mất, dây lưng áo không được gài chặt, những nếp áo thùng thình quanh bụng anh. Trái lại, người thanh niên có mái tóc màu nâu gụ dài và bồng, người đứng chặn đường đi của Rubin, lại bận bộ quần áo trên người anh như một chàng công tử hào hoa. Dây lưng áo được chàng gài sát vào vòng bụng thon làm nổi bộ ngực nở và đôi vai lớn của chàng. Bên trong chàng bận chiếc áo sơ mi màu xanh, tuy màu áo đã bạc vì giặt quá nhiều lần nhưng trông vẫn còn sang và hợp với màu chiếc ca vát chàng mang trên cổ. Người thanh niên này chặn mất lối đi của Rubin. Tay phải chàng cầm cây hàn điện, chân trái chàng đặt trên một cái ghế đẩu. Cúi mình trên đầu gối, chàng đang chú tâm vào việc ráp một bộ phận thâu phát thanh theo một đồ hình trên tờ tập san Wireless Engineer mở trên bàn, miêng chàng hát khẽ: 
Boogie-woogie… boogie-woogie 
Samba! Samba! 
Boogie-woogie… boogie-woogie 
Samba! Samba! 
Rubin không thể đi qua được và anh đứng lại đó với vẻ mặt giả vờ sợ hãi, bối rối. Người thanh niên có vẻ như không hay biết có anh đứng đó. 
“Valentulya…” – Rubin nói – „Anh làm ơn nhích giùm cho tôi đi nhờ.” 
Valentine, người thanh niên tóc hạt dẻ, không nhìn lại Rubin, chàng nói bằng một giọng nhát gừng: 
“Lev Grigovich! Anh làm rộn tôi trong lúc tôi đang làm việc. Anh làm rộn mọi người. Anh làm mất thì giờ. Anh tới đây ban đêm làm chi? Ở đây đâu có chuyện gì cho anh làm?” 
Chàng quay lại và đôi mắt sáng, trẻ trung của chàng lại để lộ ý ngạc nhiên khi chàng nhìn Rubin: 
“Một nhà ngôn ngữ học có thể làm được việc gì ở đây? Ha… Ha… Ha… Anh không phải là kỹ sư. Thật xấu hổ.” 
Rubin dẩu môi ra như một anh bé con bị đời chế nhạo và đôi mắt trợn lên: 
“Chú em… Chú nên biết rằng trong xã hội này kỹ sư của chú không có giá trị gì cả. Chú không thấy có những kỹ sư đi bán nước ngọt, sô đa ngoài đường, đi làm bồi nhà hàng đó ư?” 
“Những kẻ thất bại đó không liên can gì đến tôi. Tôi không ở hạng kỹ sư đó. Tôi là kỹ sư hạng nhất. Ông già râu dê nên nhớ kỹ điều quan trọng đó.” 
Valentine đặt cây hàn điện xuống bàn và đứng thẳng người lên. 
Valentine có cái vẻ sạch sẽ, tươi tắn của tuổi trẻ. Cuộc đời chưa in hằn một vết nhăn nào trên mặt chàng. Nhìn chàng, người ta khó có thể tin rằng chàng đã tốt nghiệp đại học trước cuộc đại chiến, chàng đã nhập ngũ chiến đấu trên mặt trận, đã bị bắt làm tù binh và sống sót từ trại tù binh của Đức Quốc Xã, chàng từng sống ở Âu châu và giờ đây chàng đang sống năm tù thứ năm ở ngay trên tổ quốc của chàng. 
Rubin thở dài: 
“Rất tiếc. Vì đồng chí không có giấy tờ chứng minh nên tôi không thể tin được lời đồng chí…” 
“Giấy tờ chứng minh là cái quái gì?? Anh tin ở con người hay anh tin ở giấy tờ?” 
Người hỏi câu này là Pryanchikov: 
“Ha… ha…” – Pryanchikov cười lớn và nói tiếp – “Quên giấy tờ đi chứ. Các bạn có tin không khi tôi nói ằng tôi yêu đàn bà lắm, tôi yêu mê đàn bà đến điên dại.” 
Người thiếu nữ có khuôn mặt nghiêm trang không thể ngăn môi nàng thoáng nở nụ cười. 
Một tù nhân khác ngồi ở cái bàn cạnh cửa sổ ngừng tay làm việc để gật đầu tỏ ý tán đồng với Pryanchikov. 
“Trên lý thuyết, lời bạn vừa nói có thể tin được.” Rubin nói với vẻ mặt suy nghĩ. 
“Tôi thích tiêu tiền nữa.” 
“Bạn có thể thích tiêu tiền nhưng bạn không tiêu được, vì bạn không có tiền.” 
Pryanchikov nhún vai: 
“Nếu tôi yêu đàn bà, nếu tôi thích tiêu tiền, nhất định tôi không thể là một kỹ sư xoàng. Này nhé… để có thể yêu được đàn bà và được đàn bà yêu – tôi nói yêu nhiều đàn bà chứ không phải yêu một ạ – tôi cần có tiền. Không phải chỉ cần có tiền mà thôi, tôi còn cần có nhiều tiền nữa. Và để có nhiều tiền, tôi cần làm việc nhiều. Nói cách khác, muốn có nhiều tiền, tôi phải là tay xuất sắc, tay cự phách trong ngành chuyên môn của tôi. Tôi không thể xuất sắc được nếu tôi không có tài, nhất là nếu tôi không yêu nghề. Ha… Ha… Đúng chưa? Lý luận chính xác của tôi làm bạn ngán chưa? Hình như bạn xanh mặt thì phải.” 
Tuy là nói rỡn chơi cho vui nhưng sự tin tưởng cũng sáng lên trên mặt Valentine. Chàng ngừng lại chờ đợi Rubin trả lời. 
“A ha…” 
Người tù ngồi ở cái bàn đối diện với bàn thiếu nữ mặt buồn đột nhiên la lên: 
“Lev… Lại đây nghe… Tôi vừa thâu được tiếng nói của Valentuya. Rõ lắm, tuyệt lắm. Tiếng nói nghe như tiếng chuông. Trong như tiếng chuông. Tôi phải ghi ngay điều này vào báo cáo của tôi mới được. Đúng là như tiếng chuống. Ta có thể nhận ra ngay tiếng nói này của ai bất kể những tiếng động khác.” 
Người tù này mở vội một quyển sổ lớn bìa cứng, trên những trang giấy trong quyển sổ này vẽ chi chít những hình kỷ hà tượng trưng cho đặc tính của tiếng nói từng người. 
Valentulya lại cầm cây hàn điện lên, chàng chỉ nói: 
“Việc của anh làm chỉ là việc lẩm cẩm, không thể tin được.” 
Chàng đứng sát vào bàn nhường lối cho Rubin đi qua. Rubin đi tới đứng cạnh bàn kỹ sư Gleb Nerzhin, người vừa gọi anh đến để nghe tiếng nói trong như tiếng chuông. 
Lev Rubin và Gleb Nerzhin là hai người bạn thân, thông cảm nhau trong nhà tù này. Họ cùng yên lặng nhìn xuống trang giấy. 
“Tiến bộ nhiều rồi đấy, Gleb” – Rubin nói nhỏ đủ cho một mình bạn anh nghe – “Cùng với ấn bản âm thanh, chúng ta sẽ có thể đi tới việc phát hiện những đặc tính của tiếng nói qua máy điện thoại.” 
Chợt Rubin giựt mình: 
“Cái chi vậy?” 
Tiếng nhạc jazz lớn nhất trong phòng nhưng giữa những âm thanh kèn đồng rộn rịp ấy họ nghe thấy một tiếng nhạc khác. Tiếng nhạc này trong vắt như lúc có lúc không, phát ra từ chiếc radio nhỏ do họ làm lấy đặt trên thành cửa sổ sau lưng Nerzhin. 
“Đó là một phép lạ” – Nerzhin nói – “bản Sonata thứ bảy trên D thứ của Beethoven. Không biết vì sao, chưa bao giờ… Nghe đi. Đừng nói.” 
Hai người ghé tai vào chiếc radio nhưng tiếng nhạc jazz quá lớn làm họ khó chịu. 
“Valentine…” – Nerzhin nói – “Làm ơn cho chúng tôi nghe. Chìu chúng tôi một chút.” 
“Tôi đã chìu các anh nhiều quá rồu” – Valentine đáp – “Tôi đã ráp dây vào máy cho các anh. Nếu tôi tháo dây ra các anh sẽ không biết đường nào mà mò.” 
Người thiếu nữ duy nhất trong phòng nhướng đôi lông mày: 
“Valentine Martunich… Tắt máy của anh đi. Làm sao nghe được cả ba cái radio phát thanh cùng một lúc.” 
Nàng nói câu này mặc dù nàng cũng thích nghe nhạc jazz như Valentine. 
“Serafima Vitalyevna… Không thể được…” 
Valentine buông cây hàn điện xuống bàn, chàng đứng vịn tay lên thành ghế và nói như người đang diễn thuyết trên diễn đàn: 
“Một người trẻ tuổi, yêu đời như cô nhất định phải thích nghe nhạc jazz, điệu nhạc khỏe mạnh, bổ dưỡng tinh thần. Cô không nên thương hại vô lý những anh già bệnh hoạn. Cô phải nghĩ đến cô trước đã. Cô chưa bao giờ nhảy bản Blue Tango hay sao? Cô chưa bao giờ được nhìn thấy những bước lướt đi tuyệt diệu của Arkady Raikin? Nghĩa là cô chưa được biết những cái gì đẹp nhất mà loài người có thể tạo ra được. Đáng buồn cho cô hơn nữa là cô chưa từng bao giờ được sống ở Âu châu. Không ở đâu trên trái đất này cô có thể học sống thanh thoát bằng ở Âu châu. Tôi chân thành khuyên cô: cô nên yêu một người nào đó. Thật mà. Cô yêu ai cũng được, nhưng cô phải yêu. Yêu ai tùy cô, nhưng nhất định là phải yêu trước đã. Rồi cô sẽ thấy ánh sao sáng trong trời đêm mặc dù đêm không có sao, tiếng nhạc êm đềm trong không gian mặc dù quanh cô không có nhạc…” Chàng say sưa nói và không để ý gì đến vành môi cay đắng mím chặt của người thiếu nữ. “Hắn lại bốc đồng rồi” – Rubin nói – “Mình bắt buộc phải dùng đến sức mạnh.”
Và Rubin thò tay ra vặn tắt chiếc radio sau lưng Valentine. 
Valentine quay phắt lại: 
“Lev Grigorich… Ai cho phép anh…?” 
Chàng cau mày và cố gắng làm ra vẻ đe dọa. 
Tiếng nhạc sonata thứ bảy bay vút lên trong như tiếng suối. Trong phòng chỉ còn tiếng nhạc dân ca phát ra từ chiếc máy ở tít đầu kia. 
Rubin xịu mặt xuống trước vẻ đe dọa hung hăng của chàng thanh niên, bộ râu đen còn vướng những vụn bánh của anh run run khi anh hỏi: 
“Kỹ sư Pryanchikov. Anh có còn thắc mắc gì về Hiến chương Liên minh Đại Tây dương không? Anh đã viết di chúc chưa? Anh từ chối không chịu để lại cho ai đôi giày vải cũ của anh?” 
Lời nhắc đến cái chết chung đó là một ước lệ bất thành văn của những tù nhân ở đây. Mỗi lần có người nổi nóng là người khác có bổn phận hỏi y một câu tương tự. Quả nhiên câu hỏi này có mãnh lực làm cho Pryanchikov dịu lại. Chàng nhìn vào mắt Rubin và dịu giọng: 
“Anh làm tôi phát điên. Dù ở tù, ít nhất mình cũng phải có một chút tự do chứ.” 
Có một người cất tiếng gọi Pryanchikov. Chàng lặng lẽ bỏ đi, nét mặt vẫn u buồn. 
Rubin cũng lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế sau bàn làm việc dành riêng cho anh cạnh bạn của Gleb Nerzhin. Anh vội vã chú tâm nghe nhạc nhưng tiếng nhạc đang êm đềm bỗng tắt ngang, mất hẳn không ngờ, như một bài diễn văn bị cắt đứt ở giữ một tiếng. Bản sonata thứ bảy tiêu tan luôn. 
Rubin thốt ra một tràng chửi thề trong bộ râu, những tiếng chửi thề này chỉ có một mình Gleb Nerzhin nghe hiểu. 
“Làm ơn đánh vần giùm, tôi nghe không kịp.” 
Gleb nói đùa nhưng không cười. Gleb Nerzhin và Lev Rubin ngồi đâu lưng vào nhau. Họ quen nói nhỏ với nhau mà không ai quay lại. Họ có thể nói với nhau cả tiếng đồng hồ mà người ngồi xa họ vẫn không hiểu. 
“Tôi thật không may…” – Rubin dằn giọng – “Thế là tôi mất dịp nghe bản nhạc tôi chưa từng được nghe bao giờ.” 
“Đó lại tại vì anh sống không có tổ chức. Đã bao lần tôi nói với anh điều ấy?…” 
Gleb Nerzhin nói như người nói một mình. Trước đó vài phút anh hào hứng, hăng hái thâu tiếng nói của Pryanchikov để thí nghiệm, nhưng bây giờ anh âu sầu và mệt mỏi: 
“Bản sonata của Beethoven là một bản nhạc tuyệt vời. Nhưng tại sao nhạc sĩ không đặt cho nó một cái tên như tất cả những bản nhạc khác? Như “Nhạc khúc rực rỡ” chẳng hạn. Đúng lắm chứ. Tất cả những gì chứa đựng trong nó sáng lên, long lanh – tốt và xáu, vui lẫn buồn, như trong cuộc đời. Và cng như cuộc đời… nó không có đoạn kết… Có thể gọi là “Nhạc đời” Anh làm gì mà đến muộn vậy?” 
“Tôi dự lễ Giáng sinh với những người bạn Đức.” 
“Tốt”, Gleb nghĩ thầm và nói: 
“Tôi mến thái độ của anh đối với bọn họ. Hay lắm. Tôi biết anh vẫn dành nhiều thì giờ để dạy chàng Max học tiếng Nga trong lúc anh có đủ các lý do để thù hận họ.” 
“Thù hận? Không, tôi không thù hận gì họ nhưng tôi cũng phải nói rằng cảm tình trước đây của tôi đối với họ đã mờ đi nhiều. Ngay cả anh chàng Max, dù trước đây không biết gì đến chính trị, cũng phải chịu chung trách nhiệm với bọn giết người. Ít nhất chúng ta cũng đã không làm gì để ngăn cản bọn giết người.” 
“Cũng như chúng ta giờ đây, chúng ta không làm gì hết để ngăn cản Abakumov và Shishkin – Myshkin.”
“Anh nghe tôi… lần này là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng… tôi là người Do Thái nhưng tôi cũng là người Nga. Và tôi tuy là người Nga nhưng tôi cũng là một công dân của thế giới!” 
“Hay lắm. Công dân thế giới. Nghe có vẻ hiền lành và không khát máu chút nào.” 
“Vì là công dân thế giới, họ có lý khi họ bỏ tù chúng ta.” 
“Tất nhiên là họ có lý rồi. Vậy mà anh vẫn cứ cố gắng làm cho Hội đồng Xô Viết tối cao thấy rằng họ sai.” 
Chiếc radio trên thành cửa sổ đang loan bản tin thành tích thi đua gia tăng năng suất trong ngày. Gleb Narzhin đưa tay ra lạnh lùng vặn nút radio, làm mất đi giọng nói khàn khàn của xướng ngôn viên. Khuôn mặt mệt mỏi của Gleb có màu xanh tái. 
Valentine Pryanchikov lúc này đã đặt hết tâm trí vào một công việc mới. Chàng vừa làm việc vừa hát như một kẻ tự do, không ưu tư và bất cần đời… 
Boogie-woogie… boogie-woogie 
Samba! Samba!

——————————–

1Boogie – Woogie, tên một điệu nhảy phổ thông phát sinh từ Hoa Kỳ sau trận Thế chiến thứ hai.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

Chương 20 – Cùng là anh em một nhà

Ông Eric von Marbod đi một vòng quanh Việt Nam với một chủ đích, cứu vãn chiến cụ được bấy nhiêu hay bấy nhiêu, và phá hủy những gì không thể di tản được . Ông đến căn cứ lớn nhất của Biên Hòa sáng ngày 27 tháng 4. Không có một hoạt động nào hết hoặc đang ở trong tình trạng bối rối, các hạ sĩ quan và binh sĩ Miền Nam đi lang thang ngoài phi đạo. Không thấy có một sĩ quan nào ở đâu hết.

Dụng cụ điện tử của Bộ Chỉ Huy Không Quân Việt Nam, các cơ xưởng sửa chữa máy móc và điện, các thiết bị vô tuyến, các dụng cụ đo đạc tối tân nhất…, tất cả đều còn nguyên vẹn. Muốn thu nhặt hết cũng phải tốn vài ngày. Tức giận quá, ông Eric trở lại Sài Gòn. Ông cực lực phản đối với tướng Đồng văn Khuyên đang thay thế tướng Cao văn Viên trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng vốn đã xin Tổng Thống Hương được từ chức. Sợ bị ám sát, ông thay đồ dân sự để kín đáo ra đi. Ông von Marbod nói chuyện với các phi công, trong số đó có tướng Kỳ để biết xem liệu họ có thể phá hủy được các chiến cụ đã được bỏ lại hay không? Họ trả lời rằng hệ thống phòng không của Bắc Việt, nhất là các hỏa tiễn Strella, rất là chình xác và rất là nguy hiểm, nếu muốn phá hủy mục tiêu thì phi cơ phải bay thật thấp, rất là nguy hiểm vì sẽ bị bắn rớt ngay.

Ngày hôm sau, ông Von Marbod đến gặp đại sứ Martin. Ông này coi thường những hoạt động của Von Marbod. Ông cho rằng lại có thêm một người đến làm tăng thêm sự hoảng loạn nữa đây. Ông Martin chưa có hủy bỏ một trong những lệnh của ông, nhằm cấm di tản tất cả mọi phi cơ hay trực thăng của Miền Nam Việt Nam. Cũng giống như những người có trách nhiệm ở Ngũ Giác Đài, ông Von Marbod vốn là một người bi quan; nhưng ông Martin thì không. Ông Martin cho ông Von Marbod biết là người ta đang hướng đến một cuộc “hưu chiến tại chỗ” và một Chánh Phủ Liên Hiệp của tướng Dương Văn Minh. Ông Martin tin chắc là người Mỹ còn thì giờ, ít nhất là một tháng, để kiểm kê, phân loại, dán nhãn, và chở đi các chiến cụ quân sự, trong an toàn sau lằn ranh ngừng bắn.

Ông Von Marbod không chú ý đến những cảm tưởng của ông đại sứ. Ông ta yêu cầu Bộ Chỉ Huy của Không Lực Hoa Kỳ ở Thái Lan hãy chuẩn bị để tiếp đón tại phi trường một số lớn trực thăng hay phi cơ của Miền Nam Việt Nam. Khoảng 200 chiếc sẽ đến các phi đạo ở Thái Lan.

Càng ngày lệnh lạc càng mâu thuẫn nhau, giữa người Mỹ và người Việt Nam. Ở phi trường Tân Sơn Nhất , hai ngàn dân tỵ nạn người Việt Nam đang sẵn sàng để được bốc đi. Trong số này có cả các công chức và quân nhân mặc thường phục. Tuy nhiên Tổng Thống Trần văn Hương chẳng những cấm không cho họ đi mà còn bắt buộc các quân nhân và công chức ở ngoại quốc phải trở về Việt Nam trong vòng 30 ngày. Tỉ mỉ hơn, ông còn cho biết là nếu họ không thi hành lệnh này thì những người Việt Nam đó sẽ mất hết quốc tịch Việt Nam và tài sản của họ sẽ bị tịch thu. Tổng Thống Hương còn cho bắt đầu thiết quân luật lúc 6 giờ thay vì 7 giờ như trước.

Qua đài truyền thanh và truyền hình, ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Trần văn Đôn đã cùng các tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu và thuộc Vùng III Chiến Thuật ở Sài Gòn đã lên tiếng triệu tập một buổi họp của các nghị sĩ và dân biểu.

Trước một trăm ba mươi tám thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội , ông Đôn trình bày tình hình quân sự rất là chi tiết. Các tin tức đã quá chính xác đến độ người ta phải tự hỏi xem liệu Bộ Tham Mưu Bắc Việt có cố ý gởi các điện tín bằng bạch văn hay không, để gây hoang mang cho Bộ Tham Mưu của Miền Nam Việt Nam?:

– Ở đây, về phía Đông Nam của Tây Ninh, chỉ để đối diện với sư đoàn 25 của chúng ta thôi, Bắc Việt đã có tới 4 sư đoàn, các sư đoàn 320, 316, 70 và 968.

…………Và cứ lần lượt đến các mặt trận khác chung quanh Sài Gòn. Tổng kết quá thảm: 5 sư đoàn phải chống cự với ít nhất 18 sư đoàn. Đường đến Vũng Tàu bị cắt đứt. Người ta không thể điều động binh sĩ ở đó được. Ngay như các đoàn xe của dân tỵ nạn cũng không qua được Đêm hôm qua, các hỏa tiễn 122 ly đã rơi vào vùng ngoại ô của Sài Gòn.

Ông Chủ Tịch Thượng Viện chấp nhận là ông Dương Văn Minh có thể nắm lấy quyền hành, tất cả quyền hành. Lại bàn cãi thêm nữa ở Quốc Hội. Vẫn luôn luôn có mặt ông Brochand ở đó. Ông ta giúp ông Lý quý Chung, cố vấn của ông Minh, để hoàn chỉnh một vài phương thức. Đưa ra lấy biểu quyết ở Quốc Hội cũng là một điều rất có ích. Người ta biểu quyết lúc 20 giờ 30.

Câu hỏi được đặt ra là: Liệu các nghị sĩ và dân biểu có đồng ý cho Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chuyển giao tất cả quyền hành cho tướng Dương Văn Minh để ông này tìm phương tiện lập lại hòa bình ở Việt Nam hay không?

Có 136 phiếu thuận và 2 phiếu trắng, như vậy là nghị quyết được chấp thuận. Chỉ có một chút khó khăn đó mà đã tốn quá nhiều thì giờ. Tổng Thống Hương mong rằng buổi lễ bàn giao quyền hành sẽ được tiến hành ngay ngày mai, chớ không phải ngay bây giờ. Lúc đó thì thời gian ngồi ở ghế Tổng Thống của ông sẽ được đúng một tuần tròn.

Thế là đường lối ngoại giao của Pháp đã đạt được mục đích. Ông Martin điện về ông Kissinger:

-“Cũng như người Ba Lan và người Hung gia Lợi, người Pháp đã chuyển tiếp tất cả những tin tức cần thiết cho cộng sản để “phía bên kia” ngừng tấn công”

Để chứng tỏ rằng ông không phải là người Mỹ lạc quan duy nhất, ông Martin còn viết thêm:

– “Tất cả mọi nhân viên cấp cao của tòa đại sứ đồng nghĩ rằng Sài Gòn sẽ không bị tấn công”

Điều này mặc nhiên cho thấy là các nhà ngoại giao cấp thấp không có ý nghĩ khích lệ như vậy Hơn nữa các cơ quan tình báo từ Honolulu đã cho biết là họ đã bắt được nhiều điện tín bằng bạch văn của Bắc Việt, nhiều tiêu lệnh liên quan đến tác xạ của pháo binh nhằm vào sân bay Tân Sơn Nhất . Chuyện đó không gây xúc động cho ông Martin chút nào. Các chuyên viên về kiểm thính truyền tin đã giải thích cho ông Martin rằng trong vòng 15 năm cuối cùng, chưa bao giờ các lệnh lại rất quan trọng như thế này lại được chuyển thẳng bằng bạch văn. Từ đó ông Martin cho rằng đây là một đòn đe dọa của Bộ Tham Mưu Bắc Việt.

Đại sứ Martin báo cáo về sự tiến triển của kế hoạch di tản:

“Nhìn chung diễn tiến rất tốt. Đến trưa ngày 27 tháng 4, đã có 35 ngàn 425 người đã được di tản, Chỉ còn chờ lễ nhận chức của ông Dương Văn Minh mà thôi.”

Ông Kissinger cho phép liên lạc với những người trong trại Davis, nhưng chỉ duy nhất để giải quyết “tình hình ở địa phương” mà thôi. Những người của trại Davis họ rất là giữ kẽ. Không có việc gì quan trọng hết, tất cả chuyện đó sẽ phải được giải quyết ở cấp cao. Tại Ngũ Giác Đài ở Hoa Thạnh Đốn cũng như ở Bộ Tư Lệnh Lực lượng Thái bình Dương ở Honolulu, người ta không hề bị ý định của Hà Nội ru ngủ. Chỉ có những người làm chánh trị , những người như ông Martin mới tin vào cuộc hưu chiến. Không cần phải hỏi ý tòa đại sứ, Ngũ Giác Đài lấy một quyết định căn bản:

_ “Ngay sau khi sân bay Tân Sơn Nhất bị tấn công, tất cả mọi cuộc di tản bằng phi cơ đều được đình hoãn. Trực thăng sẽ bốc những người tỵ nạn ra các tàu ở ngoài khơi. Và chính tướng Homer Smith – chớ không phải người chỉ huy trực tiếp của ông là đại sứ Martin- sẽ là người ra lệnh di tản các nhân viên quân sự Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn”.

Trong một vài ngày nào đó, những quân nhân có trách nhiệm ở Honolulu đã tưởng rằng sẽ có một cuộc hưu chiến. Nhưng một bức điện tín gởi cho ông Martin ngày 27 tháng 4 đã cho thấy rõ là không hề có chuyện đó:

_ “Lực lượng cộng sản đã bắt đầu một cuộc hành quân có thể được xem là cuộc tấn kích cuối cùng vào Sài Gòn”

Đối với tướng Homer Smith thì thật là tế nhị, bởi vì theo hệ thống quân giai ông cũng phải trực thuộc với Bộ Tư Lệnh quân sự ở Honolulu.

Ông Martin ngồi suy luận về một bức điện tín dài của ông Kissinger:

_ “Về diễn tiến chánh trị ở Sài Gòn tôi nghĩ rằng sau khi ông Minh thành lập Chính Phủ, thì không chóng thì chầy sẽ có những cuộc thương lượng có thể dẫn đến một thỏa hiệp cho một Chánh Phủ Liên Hiệp 3 thành phần…. mà hai phần ba là cộng sản và một phần ba còn lại do cộng sản giật dây…. Như vậy, câu hỏi được đặt ra là phải cần biết xem tòa đại sứ của chúng ta sẽ làm cái gì? Có thể sau đó Bắc Việt sẽ cố gắng ngăn cản mọi cuộc di tản của người Việt Nam. Khi chuyện đó xảy ra, tôi tin rằng chúng ta phải giảm xuống tối đa nhân số, chỉ cần giữ lại một số người thật sự tối cần thiết ở tòa đại sứ mà thôi. Lúc bấy giờ câu hỏi được đặt ra là: phải biết xem liệu chúng ta phải rút đi hoàn toàn, hay phải ở lại, để giữ sự có mặt tượng trưng với một vài nhân viên của tòa đại sứ…?. ”

Hoa Kỳ có quyền lợi gì để giữ lại một tòa đại sứ? Trong hiện tại chỉ duy nhất có một, đó là: sự giao hoàn hài cốt của quân nhân Mỹ và tìm người Mỹ còn bị xem là mất tích.

Ông Martin không chấp nhận ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng Hòa bị hoàn toàn sụp đổ trên cả hai phương diện chánh trị và quân sự . Người Pháp thì sẽ ở lại. Tại sao những Mỹ sẽ không ở lại tại chỗ ? Ông Martin không thấy có gì mà phải đánh bóng sự ra đi khỏi Phnom Penh của ông bạn đồng nghiệp của mình là Đại sứ John Dean. Ông Martin tin tưởng – hay giả bộ tin tưởng- vào giải pháp Dương Văn Minh.

Trong buổi tối ngày 27 tháng 4, ông Eric von Marbod ngồi uống trà xanh và rượu mạnh ở nhà tướng Kỳ. Xa xa có tiếng nổ của đạn pháo và có tiếng còi hụ trong thành phố. Tướng Kỳ cho rằng người ta đang lo gom các đơn vị quân sự lạ:

_ “Chúng tôi có thể chiến đấu ở đồng bằng sông Cửu Long, và có thể giữ vững một vài tháng. Liệu Chánh Phủ Hoa Kỳ có yểm trợ cho chúng tôi được hay không ? không phải về nhân sự mà chỉ là về súng đạn?

_ Rất tiếc là không,” ông Marbod trả lời

Ông khuyên tướng Kỳ nên rời khỏi Việt Nam với ông ta trong hai hay ba ngày nữa. Tướng Kỳ có thể định cư ở Hoa Kỳ. Nhưng gia đình của Kỳ là phải nên cho đi tức khắc.

Ông Trần văn Hữu, cựu Thủ Tướng, người đã đến Bộ Ngoại Giao Pháp hôm tháng giêng, đã có gởi đại diện đến Sài Gòn trong số này có ông Lê quốc Túy và viên cựu phi công Hành . Họ đến tiếp xúc với Đô đốc Chung tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam. Không thông báo cho Bộ Tổng Tham Mưu, Đô đốc Cang chuẩn bị cuộc triệt thoái của các đơn vị khả dụng để ra biển. Ông cho chở dầu, lương thực, đạn dược và gia đình của sĩ quan, binh sĩ Hải Quân. Ông nghĩ là phải tạm đổ đàn bà, trẻ con và người lớn tuổi lên đảo Phú Quốc trong vịnh Thái Lan. Ở đó có một căn cứ Hải Quân Việt Nam hoàn toàn dễ phòng thủ. Sau đó ông Cang sẽ đưa đoàn tàu và các thủy thủ về đồng bằng sông Cữu Long. Ông sẽ đặt bản doanh trên một trong những chiếc tàu tuần duyên, chiếc HQ.03, một loại hộ tống hạm cũ của Hải Quân Pháp.

Đô đốc Cang và hai sứ giả của ông Hữu cùng đi đến nhà ông Dương Văn Minh.

“Ở Ba Lê chúng tôi đã có gặp người của Hà Nội và của CPLTCHMN . Họ đồng ý để thành lập một Chánh Phủ chuyển tiếp. Lê quốc Túy còn nói thêm:

_ “Phải mời ông Trần văn Hữu trở về nước và trao quyền cho ông ta để ông ta thương lượng với cộng sản.

Ông Minh thấy dự án này không hấp dẫn. Đô đốc Cang hỏi:

_ “Có được một tiến triển nào trong vấn đề bàn thảo với “phía bên kia” không?

Ông Dương Văn Minh đáp:

_ “Những người đại diện ở trại Davis không có muốn thương thuyết đâu. Họ nói họ chỉ làm một nhiệm vụ quân sự của phái đoàn quân sự mà thôi và họ không có quyền thương lượng những vấn đề chánh trị.

_ “Như vậy tại sao ông đã nhận lấy quyền hành, mà không có một bảo đảm nào không chắc chắn là Bắc Việt họ muốn gì? Bây giờ phải mời ông Trần văn Hữu về để tìm một giải pháp, ông Túy nói.

_ “Đó là vì Chánh Phủ Pháp đã thúc đẩy việc này và họ đã chuẩn bị tất cả. Hai ông Mérillon và Trần văn Đôn luôn luôn nói với tôi là đã có sẵn một kế hoạch, và rằng tôi sẽ có sáu tháng để dàn xếp. Và bây giờ thì không có gì hết ! Tôi biết các ông đại diện cho ông Trần văn Hữu, và tôi tin rằng ông ta có thể làm được một vài việc…. Tôi kính trọng ông ta…. Làm thế nào để yêu cầu ông giúp chúng ta bây giờ?

Đô Đốc Cang:

_ “Ông khỏi cần lo gì hết, tôi sẽ lãnh làm việc này cho. Tôi có nhân viên. Trong khi chờ đợi, dù có chuyện gì xảy ra, mình cũng phải cầm cự đến cùng. Trường hợp tình hình quá nghiêm trọng, tôi đề nghị với Tổng Thống phải rời Sài Gòn và lui về ở Cần Thơ, là thủ đô của vùng đồng bằng. Tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Vùng 4, đã vừa điện thoại cho tôi chiều hôm qua để nói với tôi là tình hình ở đó rất là bình thường. Ông có trong tay 3 sư đoàn tốt, một Không lực và tất cả lực lượng hải quân. Ngoài ra còn có lực lượng Phật Giáo Hòa Hào và Cao Đài, và Nhân Dân Tự Vệ nữa Chúng ta có thể kháng chiến và bàn thảo ở vị thế mạnh. Tướng Minh:

_ “Bây giờ thì các ông hãy về đi. Khi các sự bố trí kỹ thuật đã hoàn tất, thì tôi sẽ tuyên bố trên đài phát thanh, trong một giờ nữa đây.

Đô Đốc Cang:

_ “Vậy là kế hoạch của ông như thế nào?

Tướng Minh:

_ “Tôi không có kế hoạch nào hết.

Đô Đốc Cang cố nhấn mạnh:

_ Lúc nào mà chúng ta còn ở Sài Gòn, thì chúng ta sẽ bị bao vây. Chúng tôi …. Ông có dự trù một cuộc điều động nào hay không trong lúc Hải Quân chúng tôi còn ở lại đây. Phải tuyên bố bỏ ngỏ Sài Gòn và sau đó chuyển Chánh Phủ về Cần Thơ. Ở đó, vị thế của ông không mạnh lắm, nhưng ít nhất cũng là một vị thế. Và mình có thể tận dụng được truyền thanh truyền hình để cho lệnh tất cả các đơn vị hãy tập họp nhau lại ở thủ đô lâm thời.

Tướng Minh đáp lời một cách mệt mỏi:

_ “Chiến tranh! Lúc nào cũng chiến tranh! Với chiến tranh thì chừng nào người ta mới chấm dứt được nó đây?

Thật quá rõ ràng là ông Dương văn Minh không thích dự án này. Đô Đốc Cang đặt một câu hỏi chót:

_ “Như vậy thì mỗi người chúng ta đều chuẩn bị cho kế hoạch riêng của mình?

_ “Ông muốn làm gì đó thì làm.

Tính kiên trì của giới hành chánh thật đáng khen. và đây là bằng chứng: nền hành chánh vẫn tiếp tục chạy đều, ông tổng thơ ký Tổng Thống Phủ loan báo là “các cơ quan công cộng sẽ làm việc ngày 1 tháng 5”.

Đồng mỹ kim hiện có giá là 4000 đồng.

Các cộng sự viên của tướng Kỳ khuyên ông ta nên liên lạc với tướng Dương Văn Minh. Ông Kỳ điện thoại cho trung tá Đẩu, tùy viên của tướng Minh. Trung tá Đẩu trả lời:

_ “Xin cám ơn thiếu tướng đã gọi, nhưng bây giờ thì Tổng Thống không thể nói chuyện với ông được. Ông đang bận lo thành lập Chánh Phủ. Chúng tôi sẽ gọi lại ông sau.

Từ giã tướng Minh, Đô đốc Cang và hai đại diện của ông Trần văn Hữu trở về Bộ Tư Lệnh Hải Quân.. Giải pháp Trần văn Hữu xem ra cũng hay hay. Ông này không thể bị Hà Nội cáo buộc là nằm trong “tập đoàn của ông Thiệu” được. Và ở Sài Gòn hồi xưa người ta nhắc lại là ông suýt trở thành Chủ Tịch của MTGPMN. Ông cũng từng là ứng viên đắc ý của Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN.

Đô Đốc Cang và hai người của ông Hữu chờ ông Minh. Ông không đến và Đô Đốc cũng không thể đến ông Minh được . Đô Đốc gọi thử ông Mérillon để nhờ ông gởi về Ba Lê một điện tín của ông Minh, nhưng vô ích. Ông đành phải nhận xét:

_ “Tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể làm được, nhưng hiện giờ chúng ta không còn có một nhân vật chánh trị nào có giá nữa hết. Ngay như người ta lật đổ ông Minh xuống, cũng là một chuyện dễ thôi vì tướng Minh không còn chỉ huy ai nữa cả, thì tôi thấy cũng không có giải pháp nào. Tôi còn một nhiệm vụ phải làm : di tàn và cứu vãn ba chục ngàn người với các tàu chiến của tôi.

Do đó giải pháp Trần văn Hữu bị chết trong trứng nước.

Đến gần nửa đêm, gần 20 người có trách nhiệm ở tòa đại sứ họp nhau lại. Người ta phải xem lại các danh sách của người Việt Nam bắt buộc phải cho di tản, nhất là những người sẽ gặp nhiều nguy cơ trong trường hợp cộng sản Bắc Việt chiếm được Sài Gòn. Phải di tản ít nhất mười ngàn người ngày mai. Không thể được ư? Vậy thì là hai ngàn…

Trong lúc đó, ở Hoa Thạnh Đốn, ông đại sứ Liên Xô, Dobrybine xem xét các câu hỏi mà ông Kissinger đã yêu cầu ông chuyển cho Hà Nội:

1.- Bắc Việt có sẳn sàng thương thảo với tướng Dương Văn Minh không?

2.- Bắc Việt có sẳn sàng chấp nhận sự hiện diện tối thiểu của người Mỹ ở Sài Gòn không?

3.- Bắc Việt có sẳn sàng để cho cuộc di tản của người Mỹ được dễ dàng không?

a)- một hành lang không phận đến Sài Gòn

b)- quốc lộ từ Sài Gòn đến Vũng Tàu phải được lưu thông tự do.

Những câu trả lời thẳng thắng và trực tiếp đã được nghe. Sau đó không lâu Đài phát thanh giải phóng xác nhận trong một bản tin là: “Giữ lại tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, dù là với nhân số tối thiểu, không có nghĩa là một sự bất can thiệp của Hoa Kỳ” Nói như vậy là có ý nghĩa gì đây?

Ở Hoa Thạnh Đốn cũng như ở Sài Gòn người ta gợi lên một sự “tắm máu” trong tương lai. Dường như ở Đà Nẵng các cảnh sát đã bị chặt đầu, ở Ban Mê Thuột thì các công chức bị xử bắn. Còn các chỗ khác nữa, các sĩ quan của Miền Nam bị trói tay và bị hành quyết bằng lựu đạn.

. Các công chức cao cấp nhận xét là trong thập niên 50, sau khi làm chủ được Miền Bắc, cộng sản đã hành quyết trên năm chục ngàn người. Ông Wolfgang Lehmann thì nghĩ rằng các cuộc hành quyết hay thanh toán đó sẽ được cộng sản thi hành trong dài hạn.

Trong những ngày sau cùng này, tòa đại sứ đã nặng tay đối với báo chí. Các ký giả của tờ Newsweek đã phỏng vấn nhiều người dân tỵ nạn và đã đi đến một kết luận rằng người ta thấy rất ít nhân chứng trực tiếp của những hành động tàn bạo này. Để cho họ thấy sự thật, ông Martin ra lệnh cho họ xem những công điện trong đó có nêu rõ các cuộc hành quyết ở Đà Nẵng, ở Ban Mê Thuột và ở các nơi khác. Các nhà ngoại giao thú thật với các nhà báo là người ta đã chọn cho họ những điện tín có tính gây lo sợ. Có người lại còn nói họ có hơi nghi ngờ đề tài của các bức điện tín đó. Dù sao thì hiển nhiên là phải di tản những người Việt Namđã từng làm việc với người Mỹ ở Sài Gòn và ở Cần Thơ và nhất là những cộng tác viên của Trung Ương Tình. Báo CIA. Hình như không có gì dự trù cho nhân viên ngành Thông Tin. Ông Alan Carter tỏ ra rất lo ngại cho 50 nhân viên người Việt Nam của ông.

Trừ tòa đại sứ Pháp, các tòa đại sứ khác đã dọn trống, hầu hết đều dùng phi cơ. Ông John Bushell, đại sứ Anh Quốc, muốn ở lại tại chỗ, sau khi đã di tản hết nhân viên và khoảng 12 binh sĩ hoàng gia đã từng giữ an ninh cho tòa đại sứ của mình. Thủ Tướng Anh, ông James Callaghan đã thân mật bảo ông phải chuồn đi. Ông John yêu cầu cho ông một tàu phóng ngư lôi. Thật là quá phù phiếm!. Nhưng nếu người ta đánh chìm chiếc tàu này trên sông Sài Gòn thì hậu quả sẽ rất là tai hại. Người ta gởi cho ông 4 phi cơ Hercules của Không Lực Hoàng Gia Anh, được quá cảnh ở Tân gia Ba. Được bỏ trống, tòa đại sứ Anh được xử dụng như chỗ trú của các công chức Miền Nam và cảnh sát. Có một số tòa đại sứ đã bỏ quên nhân viên người Việt Nam của họ lúc nào cũng mong muốn được ra đi, họ đã xử sự không tốt như một số công ty tư nhân ngoại quốc. Những công ty này đã tỏ ra lo lắng cho nhân viên người Việt của mình, đó là các cơ quan báo chí, truyền hình và truyền thanh, các nhật báo và các tuần báo. Những người có trách nhiệm đã có biện pháp thận trọng, từ tháng 2 /75. Có nhiều người đã thuê bao phi cơ của công ty công Eckes, Hảng Dịch Vụ Hàng Không Continental. Các công ty thuộc giới thông tin rất cần phi cơ chẳng những để thu hình hay gởi ra ngoài những hình ảnh đã rửa hoặc chưa rửa, mà cũng còn để di tản nhân viên của mình vào giờ chót. Họ không hề bỏ nhân viên của mình hay gia đình của nhân viên ở lại. Các hãng CBS, ABC, NBC đã dự trù một cầu không vận để đưa họ về Tân Gia Ba hay Hong Kong. Hãng Associated Press đã gởi một phi cơ loại nhỏ đến Phnom Penh, để bốc các phóng viên người Cam Bốt của họ, lúc Cam Bốt bị thất thủ. Một vị Phó Chủ tịch của hãng NBC đã đích thân lo lắng cho một anh tài xế và cả gia đình đông con của anh ta.

Tại phi trường, tất cả các người có thiện chí đều được hoan nghênh. Những người tình nguyện như ông Jim Eckes, đã lên danh sách, đưa những người tỵ nạn ra tận phi cơ vốn phải cất cánh từng 45 phút một. Khi những người tỵ nạn không có đủ giấy tờ hợp lệ thì có những người tình nguyện và ngay những công chức hộ tống họ đến các phi cơ bay đi Guam hay đi bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Hoa Kỳ . Như vậy một khi được đến nơi rồi thì họ không thể nào bị đuổi về lại Việt Nam được. Thí dụ như khi đến Phi luật Tân, người tỵ nạn sẽ gặp nhiều nguy cơ sẽ có nhiều vấn đề mới được vào nước Mỹ.

Trong ngày 28 tháng 4, các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có nhiệm vụ phải bảo vệ cuộc di tản, đã có cảm tưởng là đã bị tòa đại sứ quan trọng hóa vấn đề .Một toán Thủy Quân Lục Chiến gồm có một trung úy, một hạ sĩ quan , 36 binh sĩ và 2 y tá đến Tân Sơn Nhất theo lệnh của Ngũ Giác Đài.. Từ lúc đến phi trường, các Thủy Quân Lục Chiến này rất lấy làm thất vọng. Mấy ngày trước đó, 4 sĩ quan và 1 hạ sĩ quan thuộc nhóm tiền đạo đã thấy tại chỗ là những sự chuẩn bị cho cuộc di tản rất là “mù mờ”. Thủy Quân Lục Chiến thì chỉ biết có một việc di tản thôi, và họ trực thuộc thẳng Bộ Tư Lệnh của họ về mặt quân sự . Nhưng tòa đại sứ thì phải chịu trách nhiệm về sự di tản nhân viên của họ. Ông Martin lại không muốn tạo ra một cảm tưởng triệt thoái để tránh tình trạng hoãng loạn cho dân chúng Việt Nam. Có rất nhiều cuộc bàn thảo giữa tòa đại sứ và các sĩ quan này, rất là cần thiết, để Thủy Quân Lục Chiến có thể chuẩn bị những bãi đáp trực thăng ở Tân Sơn Nhất , như phá bỏ các sân quần vợt, và bố trí lại các hàng rào kẽm gai. Ông Martin thì lại ngăn cản. Từ lâu rồi, Bộ Tư Lệnh tối cao ở Honolulu đã soạn sẳn nhiều đường lối hành động.(1)

Lệnh di tản ồ ạt những người Mỹ bằng phi cơ đã được ban hành ngày 22 tháng 4. Thủy Quân Lục Chiến phải dự trù một cuộc di tản, căn cứ duy nhất trên việc xử dụng trực thăng mà thôi: đó là phương thức có tên là “Cánh Thông Thường”. Tên mật mã cũ “Như Gót Chân” đã được thay đổi vì đã bị tiết lộ. Kế hoạch khuyến cáo nên có 13 điểm tập trung trong thành phố, để bốc đi những người Mỹ cuối cùng và đưa họ ra phi trường. Là những người chuyên môn nên Thủy Quân Lục Chiến họ muốn gắn những cọc tiêu chiếu sáng trên các nóc nhà liên quan đến 13 điểm bốc đó. Tòa đại sứ phản đối cũng luôn luôn chỉ vì vấn đề sợ dân chúng hoãng loạn. Trong một bản phúc trình cuối cùng của mình, tướng Richard Carey, chỉ huy trưởng toán lực lượng Thủy Quân Lục Chiến này đã viết:

“Có nhiều việc đã được thực hiện mà không có sự phê chuẩn chánh thức” (nguyên tác: được diễn dịch ra là không có phép của ông Graham Martin). Có một chi tiết quan trọng, đó là kế hoạch di tản không lúc nào có dự trù là các trực thăng loại lớn sẽ đáp xuống nóc tòa đại sứ. Người ta dự trù tiến hành cuộc di tản như thể các đường bay ở phi trường còn xử dụng được trong dài hạn, tức là xử dụng phi cơ.”

Người ta có cảm tưởng rằng ông Martin, bị dính cứng vào ý nghĩ của một cuộc hưu chiến, nên ông ta tưởng rằng cuộc di tản sẽ được bảo vệ, do lực lượng an ninh trật tự chung gồm có Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ , binh sĩ của Miền Nam Việt Nam và  tại sao không, luôn cả cảnh sát và bộ đội Bắc Việt?

Ông Dương Văn Minh cho người gọi điện thoại báo cho tướng Kỳ.

_ “Đại tướng Minh muốn gặp Thiếu tướng vào sáng ngày mai ở Dinh Tổng Thống.”

Tướng Kỳ đã đổi ý. Hầu hết các sĩ quan của ông đều khuyên ông không nên đến Dinh Độc Lập theo lời mời đó. Vì nếu họ muốn bắt giữ để cô lập ông thì sao? Hay nếu họ muốn trao ông cho Bắc Việt thì sao? Thật ra, tâm địa của tướng Minh và tướng Kỳ hoàn toàn khác nhau để hai người có thể nghe lẫn nhau. Bốc đồng và sôi sục, tướng Kỳ luôn nghĩ về một sự chiến đấu hơn là một sự thương thảo mà ông không bao giờ tin. Còn ông Minh thì huởn đãi và hay tránh né, nên nhắm vào một cuộc hưu chiến. Trong giới có nhiều thủ đoạn chánh trị ở Sài Gòn, hai ông Minh và Kỳ nương nhau, người trẻ thì kính nể người lớn tuổi hơn mình, nhưng không người nào ưa người nào. Họ còn nghi ngờ nhau đến tuyệt đỉnh. Do vậy ông Kỳ sẽ không có đến gặp ông Dương Văn Minh.

Lễ bàn giao quyền hành giữa Ông Trần văn Hương và ông Dương Văn Minh được dự trù vào 9 giờ sáng. Nhưng theo lời yêu cầu của Tổng Thống Hương, buổi lễ được dời lại vào buổi trưa. Ông muốn buổi lể được tổ chức một cách trọng thể, nên ông đã nói là gần như hai người còn có nhiều tuần lễ trước mặt họ vậy:

_ “Người ta không thể bàn giao trách nhiệm và quyền hạn như trao một khăn tay được” (nguyên tác: pas comme un mouchoir)

Ở các vùng ngoại ô của Sài Gòn, binh sĩ còn dựng lên những bức tường phòng thủ bằng bao cát, và bố trí các ổ súng liên thanh và bách kích pháo. Dân tỵ nạn tràn vào thành phố ngàn này sang ngàn khác. Trên quốc lộ Sài Gòn- Biên Hòa các đoàn xe quân sự và dân sự lẫn lộn với các xe bò, đã làm tê liệt lưu thông. Các đơn vị quân cảnh, vốn chưa hề hấn gì, nhận được quá nhiều lệnh, lệnh này mâu thuẩn với lệnh kia..

Các tiệm buôn bán nữ trang ở đường Tự Do đã đóng cửa. Vàng lá càng ngày càng khó tìm. Ở phi trường, những Mỹ đi dạo chơi, tay lo le cầm hằng xấp tiền và mỹ kim để tán tỉnh các lính gác và cảnh sát. Việc phân phát thư từ vẫn còn rất bình thường.

Ở tư thất của ông Dương Văn Minh, điện thoại cứ reo không dứt. Hồi 15 giờ, ông Minh nói với tướng Timmes rằng ông nghĩ là cộng sản sẽ thương thảo với ông ta. Sau đó không lâu, ông Minh nhận được điện thoại từ Băng Cốc của Ngô công Đức, chủ nhiệm báo Tia Sáng, cho biết là anh ta từ Ba Lê về mà không đến Sài Gòn được:

_ “Ông đừng nên nhận ghế Tổng Thống, đã quá trễ rồi. Cộng sản không có một ý định nào về chuyện thương thảo đâu.”

Buổi lễ bàn giao được tổ chức vào lúc 17 giờ. Cổng rào của Dinh Độc Lập được mở rộng, và gần như không có lính gác. Các dân biểu, nghị sĩ, các quân nhân, nhà báo vào thong thả, không có bị kiểm soát . Trên hàng ghế đặt trước khán đài người ta thấy sự có mặt của các sĩ quan , các cựu Tổng Trưởng và công chức cao cấp, hàng giáo phẩm Công Giáo, và các lãnh đạo Phật Giáo, với đồng phục rất chỉnh tề đầy màu sắc… Đại tá Hòa đích thân coi về công tác thu hình của các toán nhân viên truyền hình.. Trời đang nóng bức bắt đầu có vẻ ẩm ướt. Cơn gió mạnh thường thổi trước khi có giông bão làm lay chuyển các cây dừa nước ngoài bãi cỏ và những tấm màn trắng treo ở cửa sổ của phòng tiếp tân ..

Ông Trần văn Hương, tay chống gậy, được một cộng sự viên dìu ra, lên tiếng đầu tiên lác 17 giờ 15 phút. Ông nói:

_ “Tuổi tác và sự bệnh hoạn của tôi không cho phép tôi điều khiển được đất nước trong giờ phút khó khăn này…

Trời đã bắt đầu mưa. Hướng về ông Dương Văn Minh, ông nói tiếp:

_ “Thưa Đại tướng, nhiệm vụ của ông rất nặng..

Sau đó là một sự yên lặng kéo dài. Khán đài vẫn trống, Không một ai nhúc nhích. Mọi việc diễn tiến gần như không có dự trù trong nghi thức của buổi lễ. Ông Dương Văn Minh thì vẫn ngồi yên tại chỗ. Tất cả cử tọa nhìn nhau. Một nhân sĩ người của ông Minh đứng dậy và đi đến khán đài. Một người lính trẻ gỡ cờ hiệu cũ của nền đê nhị Cộng Hòa xuống, thay vào đó một tấm biển trên đó có khắc tượng trưng một hoa mai nở trên hai cánh âm dương kiểu Tàu -hai lực đối trọng nhau của Trời Đất- , với ý nghĩa là 2 lực lượng chống đối nhau của Việt Nam trên con đường hòa hợp hòa giải chăng?

Ông Dương Văn Minh đứng dậy, và với một giọng cứng cỏi hơn của ông Hương, ông nói:

_ Chúng ta không hề có một ý định trả thù, và không có một lý do nào cấm cản những anh em cùng trong một nhà hòa giải với nhau…. Tôi có trách nhiệm tìm kiếm một sự hưu chiến…. Luật sư Nguyễn văn Huyền trong chức vụ Phó Tổng Thống là người đã chấp nhận sẽ giúp tôi trong công tác thương lượng. Ông Vũ văn Mẫu sẽ giữ ghế Thủ Tướng… Thưa đồng bào và anh chị em, trong những ngày cuối cùng này tình hình quá trầm trọng nên đã có nhiều nhóm Tôn Giáo và nhiều tướng lãnh đã yêu cầu tôi đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống …. Một trong những quyết định chánh trị cấp thiết là trả tự do cho tất cả các tù nhân chánh trị và ngừng tất cả mọi kỳ thị phân biệt ngay trong giới truyền thông báo chí.

Ông Minh cất cao giọng lên để át tiếng sấm sét và tiếng mưa rơi nặng hột bên ngoài cửa sổ đang được mở rộng:

_ “Sự thành công của Chánh Phủ sẽ tùy thuộc vào sự bình tĩnh và sự ủng hộ của đồng bào. Tôi kêu gọi tất cả những đảng phái chánh trị và tất cả các Giáo Hội Tôn Giáo. Hãy quên đi sự hận thù và sự nghi kỵ….Anh em binh sĩ, tôi đã dâng gần hết cuộc đời của tôi cho Quân đội . Hơn tất cả mọi người, tôi biết rõ những khó khăn của các anh trong những tuần lễ sau cùng này. Bây giờ thì trang sử cũ đã được lật qua. Các anh có một bổn phận mới, gìn giữ lãnh thổ để bảo vệ hòa bình… Đừng buông bỏ vũ khí của mình và hãy tuyệt đối tuân lịnh cấp chỉ huy của mình. Mọi hành động vô kỷ luật sẽ bị trừng phạt ngay tức khắc.

Bây giờ một vài câu nói với các bạn ở “phía bên kia”, CPLTCHMN:

Ông Minh tránh nói tới Hà Nội hay những sư đoàn Bắc Việt bởi vì cộng sản Việt Nam chưa bao giờ công nhận sự có mặt của họ ở Miền Nam. Không nên làm mất lòng họ.

_ “…. Thật tình, chúng tôi muốn hòa giải. Các anh cũng biết là hòa giải đòi hỏi mỗi người chúng ta trong đất nước này đều phải tôn trọng quyền lợi của nhau…

Thưa đồng bào, thưa các bạn, trong những ngày sau cùng này, chúng ta tự hỏi tại sao có quá nhiều người đã lặng lẽ bỏ nước ra đi . Tôi muốn nói với các bạn là đừng bỏ đất nước thân yêu của chúng ta . Tôi van xin các bạn hãy can đảm lên. Hãy ở lại đây và hãy chấp nhận định mệnh đã được Thượng Đế an bài. Tôi yêu cầu các bạn hãy ở lại và sống đoàn kết với nhau. Hãy cùng nhau xây dựng một Miền Nam Việt Namđộc lập, dân chủ và thạnh vượng để người Việt Nam có thể sống cùng chung với nhau trong tình anh em huynh đệ.”

Tổng Thống Dương Văn Minh đã nói trong vòng 20 phút.

Đối với nhiều khán thính giả Việt Nam của đài truyền thanh và truyền hình, cơn mưa và sấm sét trước gió mùa, là những điềm bất tường.

Cũng có một số người cố lấy lại sự can đảm. Kỹ sư Văn tự nhủ: về phương diện quân sự thì chúng ta đang ở thế yếu, nhưng cộng sản mà chiến thắng thì biết đâu họ sẽ tỏ ra nhân đạo hơn.

Ông Minh chấm dứt diễn văn của ông hồi 17 giờ 48 phút.

Một giờ sau đó, trong khi các nhà ngoại giao, các chánh trị gia và các nhà báo còn đang phân tích bài nói chuyện của ông thì đài Giải Phóng đã bình luận về buổi lễ bàn giao này như sau:

_ “Sau khi tên phản quốc Nguyễn văn Thiệu ra đi, thì những người lên thay ông ta, được biết là tập đoàn Dương Văn Minh, Nguyễn văn Huyền và Vũ văn Mẫu, vẫn khăng khăng muốn vừa tiếp tục chiến tranh để giữ lãnh thổ hiện có, vừa hô hào thương thuyết. Rõ ràng là tập đoàn này tiếp tục ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh để duy trì chế độ thực dân mới của Mỹ. Nhưng tập đoàn này không gạt được ai hết. Chiến trận chỉ sẽ chấm dứt khi nào tất cả binh sĩ của Sài Gòn buông súng xuống hết và các tàu chiến của Mỹ đã rời hết khỏi lãnh hải của Miền Nam Việt Nam. Hai điều kiện này của chúng tôi phải được thi hành thì mới có được ngừng bắn.”

Con trai của Dương Văn Minh cố gắng liên hệ với tòa đại sứ của CPLTCHMN ở Ba Lê, nhưng vô ích.

Lần đầu tiên, đài gải phóng đã tuyên bố rất rõ ràng là Dương Văn Minh và các cộng sự viên của ông ta không phải là những người lãnh đạo được lực lượng thứ ba chấp nhận:

_ “Các thành viên thuộc lực lượng thứ ba phải suy nghĩ kỹ lại lời kêu gọi của CPLTCHMN

… và tìm ra mưu mô của các tay sai của đế quốc Mỹ… Họ phải gia nhập vào lực lượng cách mạng …”Diễn dịch, và mọi người đều hiểu: không có một người nào ở Miền Nam Việt Nam ủng hộ Dương Văn Minh như là kẻ được CPLTCHMN hay Hà Nội nhìn nhận như một người đối thoại.

Ông Trần văn Hương gọi điện thoại cho tướng Kỳ:

_ “Chúng nó buộc tôi phải ra đi. Bây giờ thì ông muốn làm gì đó thì làm.”

Như vậy những đề nghị chua chát này có ý nghĩa gì đây? Một người như ông già Hương, hay bắt bẻ có thể nào lại chính là người đi xúi giục một cuộc đảo chánh?

Vào lúc 18 giờ 15, sau buổi lễ trao quyền Tổng Thống cho Dương Văn Minh, có 5 chiếc phi cơ loại A.37 (của Miền Nam) được phát hiện trên trục các đường bay chánh của Tân Sơn Nhất. Đài kiểm soát không lưu hỏi:

_ “Các anh thuộc phi đội nào đây?

Một phi công trả lời lạ lùng:

– Các phi cơ này đều được sản xuất ở nước Mỹ.”

Các phi cơ bổ nhào xuống và thả bom gần khu thể thao và những văn phòng của tướng Homer Smith, nơi có 3000 người tỵ nạn Việt Nam đang chờ để được xe đưa lên phi cơ di tản, gây một phen hoảng sợ.

Ông Jim Eckes lúc đó đang dứng gần dảy hăng-ga của hãng Dịch Vụ Hàng Không Continental. Ông đã gọi một phi cơ loại nhỏ từ Băng Cốc đến, chiếc Baron, và đang sửa soạn ra đi. Ông phải nhảy xuống một hầm trú ẩn đầy nước. Ở đâu cũng có tiếng súng nổ, có những tràng đại liên ròn rã. Từ Dinh Độc Lập và từ các chiến hạm đậu ở bến Bạch Đằng, các cao xạ phòng không đang bắn lên. Phi công của chiếc Baron giục ông Eckes lên phi cơ.

– “Jim, ta đi thôi!

Ngoài phi trường, có nhiều thiệt hại quan trọng. Có cả những trực thăng và phi cơ quân sự, 3 chiếc AC-119 và 4 chiếc C.47 bị phá hủy. Chiếc Baron đang đậu trên một đường bay nhỏ gần hăng-ga của hãng Hàng Không Air America. Ông Eckes và viên phi công lên xe chạy thẳng đến chiếc Baron. Có nhiều binh sĩ Việt Nambắn vào họ. Họ tưởng rằng bộ đội Bắc Việt tấn công phi trường. Các phi cơ địch bay trở lại. Chiếc Baron cất cánh bay lên cao, đạn phòng không nổ chung quanh họ. Phi cơ bay vút lên cao và lấy hướng trường đua ngựa để vào Chợ Lớn.

Hai phi công Việt Nam đã bay lên với 2 chiếc F.5A để săn đuổi các phi cơ địch, nhưng họ đã bay đi mất hút. Ông Dương Văn Minh vừa mới yêu cầu ngừng bắn, là Bắc Việt đã leo lên thêm một nấc thang chiến tranh, vì giờ đây họ đang xử dụng phi cơ. Phi tuần tấn công được một phi công Miền Nam Việt Nam đào ngũ hướng dẫn, người phi công này đã bay vào thả bom xuống dinh Độc Lập cách đây mấy ngày. Tướng Văn Tiến Dũng nói:

_ “Một cuộc tấn công được phối hợp rất tốt, một cuộc hành quân liên quân rất là hoàn hảo do tất cả các lực lượng của chúng ta thực hiện”.

Tướng Tư Lệnh quân Bắc Việt đã nói quá lời. Có rất nhiều trái bom đã rơi trên đồng ruộng. Nhưng người trung úy phi công đào ngũ cũng đã dạy các phi công lái những chiếc MIG của Bắc Việt cách xử dụng các chiếc phi cơ A.37. Cuộc hành quân này được đặt tên là “Quyết định để thắng”, có cả 2 mục tiêu chánh trị và quân sự . Rất rõ ràng cho những ai còn nghi ngờ: đó là không bao giờ có chuyện thương thuyết. Bây giờ thì tướng Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam đã đồng ý với ông Eric Von Marbod, ra lệnh cho tất cả phi cơ của Việt Nam Cộng Hòa bay hết sang Thái Lan.

Vài giờ sau bài diễn văn của ông Dương Văn Minh, đại diện của CPLTCHMN ở Ba Lê loan báo rằng “dân chúng ở Sài Gòn đã đồng loạt nổi dậy…. Binh sĩ Sài Gòn đã buông súng xuống và đã đầu hàng…”

Phịa và Phịa lại gặp nhau: ở Sài Gòn đã có nhiều người quả quyết là binh sĩ người Pháp đã đổ bộ.

Tại thủ đô nước Pháp, đại sứ Bắc Việt Võ văn Sung và đại diện của CPLTCHMN Phạm văn Ba được ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Jean Sauvagnargues tiếp. Vừa ra khỏi Thủ Tướng Phủ, người ta hỏi đại sứ Bắc Việt tại sao ông Dương Văn Minh không được xem là một người đối thoại có giá. Một nhà báo ghi nhận là ông Minh đã thỏa mãn hai điều kiện tiên quyết đã được CPLTCHMN đưa ra từ 48 giờ trước , “thi hành đúng theo Hiệp Định Balê, và bãi bỏ chánh quyền Sài Gòn”.

_ “Không phải là trường hợp đó”, đại sứ trả lời cụt ngủn, vô nghĩa Ông TổngTrưởng Ngoại Giao Pháp buộc miệng phát biểu:

_ “Tất cả các điều kiện cho một giải pháp chánh trị hình như đã được thực hiện. Chúng tôi rất ngạc nhiên là giải pháp đó không được tiến hành…

Các đơn vị thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở chung quanh Sài Gòn và ở Đồng Bằng sông Cửu Long đã liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn để yêu cầu được đặt trực tiếp dưới sự chỉ huy cùa Bộ. Trong các đơn vị này người ta nhận thấy họ thuộc các binh chủng Thiết Giáp Biệt động Quân, Nhảy Dù.

Về phía Bắc của thủ đô, các kho đạn và kho xăng đang bốc cháy với những ngọn lửa cao màu đỏ và tím…

Bộ máy hành chánh còn đang chạy. Các sĩ quan thuộc cơ quan hành chánh tài chánh của tướng Homer Smith đang họp. Để thanh toán hết các chương mục, vị sĩ quan tài chánh cần có 300 triệu đồng bạc Việt Nam. Phải đến nhận số tiền này ở tòa đại sứ. Biết rằng phải cho các nhân viên Việt Nam thuộc các cơ quan của tướng Smith nghỉ việc, người ta đã sẳn sàng mọi thủ tục hành chánh về chuyện bồi thường cho nghỉ việc. Nhưng một phần của sở tài chánh đã được chuyển về Honolulu năm ngày trước rồi với một số hóa đơn chưa được thanh toán và những giao kèo đang thực hiện. Hóa đơn chót nhất ký ngày 17 tháng 4 về 45 ngàn chiếc áo mưa với trị giá là 220.500 Mỹ kim.

Vào buổi chiều, ông Martin quyết định là “ngày mai sẽ di tản mười ngàn người. Ông ta đã nhận được một công điện từ Hoa Thạnh Đốn của ông Kissinger:”

_ “Sáng nay, trong buổi họp của toán “hành động đặc biệt” (2), tất cả các đại diện của các cơ quan, ngành đều nghĩ rằng chúng ta chỉ còn tối đa từ một đến 3 ngày trước sự sụp đổ hoàn toàn về quân sự và trước khi phi trường Tân Sơn Nhất không còn xử dụng được nữa.”

Ông Kissinger mong muốn đích thân ông Martin phải rời khỏi Sài Gòn trên chuyến bay cuối cùng “chuyến 130 chót”. Ông Tổng Trưởng lo lắng cho số phận của các nhân viên tòa đại sứ Hoa Kỳ. Ông không phải là người thích giữ lại một sự hiện diện quan trọng dưới một chính phủ bị cộng sản thống trị. Các nhà ngoại giao và các nhân viên nào bị kẹt ở lại đều có thể “biến thành con tin”. Phải hết sức thận trọng:Tôi nghĩ là chúng ta không thể phí thì giờ khi mà Sài Gòn sắp rơi từ một thể chế trung lập vào tay của người cộng sản…. Đến lúc đó, chúng ta sẽ không còn một nghĩa vụ nào nữa hết, và chúng ta phải nhìn tất cả sự việc với một nhãn quan mới.”

Tối hôm đó, cũng hơi khuya, có nhiều chiếc phi cơ vận tải C.130 chở đầy vũ khí đạn dược đáp xuống Tân Sơn Nhất. Trên đường về mỗi chiếc chở theo 180 hành khách, tất cả đều là dân tỵ nạn người Việt Nam.

Tại Băng Cốc ông Jim Eckes cùng đến với những người Mỹ khác, sau khi đã tránh không bay qua ngang không phận Cam Bốt. Ông sực nhớ tới tất cả những người Việt Nam, hằng trăm người , mà ông không thể giúp cho di tản được. Nhất là ông nhớ đến Tân Sơn Nhất là một trong những sân bay có nhiều hoạt động tích cực nhất trên thế giới, nhớ tới những công trường mà thợ thuyền còn đang làm việc cách đó vài phút trước cuộc tấn công của các phi công Bắc Việt, nhớ tới những dãy nhà và những công trình đang được xây, nhớ tới những cảnh sát viên, những nhân viên hải quan luôn tươi cười nhưng lãnh đạm, nhớ đến những hồ sơ đầy bụi, nhớ cái điện thoại và cả cuộc đời mấy tháng dài sống ở đó.

Cũng giống như hằng ngàn, hằng trăm ngàn người Mỹ khác, cả dân sự và quân sự đã từng đến ở Việt Nam, ông Jim Eckes tự hỏi bây giờ làm thế nào để ông có thể đưa đi một người bạn này hay một người bạn Việt Nam khác, những người đã không kịp trốn đi khỏi đất nước Việt Nam?

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

Cái Chết, Nghĩ Cho Cùng!

” … là gió xin về cùng gió

là mây xin trở lại cùng mây … “

Người đang đi du lịch xa thành phố năm bảy ngày, buông thả tất cả những công việc bận rộn trong cuộc sống hàng ngày, họ không còn ngồi trước máy

computer, không còn để ý đến tiếng điện thoại reo hay chờ người mang đến một đống thư từ cần giải quyết. Nhưng người đang đi du lịch chắc chắn mình sẽ trở lại những thói quen này trong vài ngày nữa, như cuộc sống này đã ràng buộc khó có thể trốn chạy. Nhưng đối với một người, giữa đêm khuya, được đưa lên một chiếc xe cấp cứu đến bệnh viện, thân thể chằng chịt bởi những dụng cụ y tế, giữa tình trạng nửa mê nửa tỉnh, có còn hăm hở với những công việc ngày mai tới, những dự tính trong tương lai … hay trong một phút nào đó, như mọi thứ đều phải ngừng lại, tất cả đều ngoài tầm tay, không còn tính toán, mơ ước. Nói mộtcách lãng mạn thì: “những hẹn hò từ nay khép lại, thân  nhẹ nhàng như mây … (TC)”nhưng thực tế là họ đang trên những giờ phút cuối cùng của cuộc sống. Không thất vọng, không luyến tiếc, tuổi tác và bệnh tật, cái chết, nghĩ cho cùng rồi cũng đến!

Nhiều người đã từ nursing home không còn có hy vọng trở lại nhà, trong bệnh viện đã có người ra đi đêm nay, đi một mình, tay không, nghĩa là cô đơn và không có gì “mang theo,” nếu có chăng, đó là những điều “để lại.” Cũng có thể là họ để lại rất nhiều điều hữu ích cho đời, nhiều hào quang danh vọng, tiền của, hay không có gì ngoài một ngôi nhà và những đứa con, mà họ đã gầy dựng và sinh ra theo quy luật của đời sống, hay tệ hơn nữa với mấy đồng tiền lẻ, cái lon bia không đã bị bóp méo và đống chiếu chăn ố bẩn như một người vô gia cư chết trong cái giá lạnh của mùa Đông mỗi năm. Nói về cái chết và sống trong cuộc đời này người ta thường dùng chữ vô thường, đó gọi là sự vô thường của một thực thể sanh diệt trong Phật Giáo. Chắng có thứ gì trên đời gọi là vĩnh cửu. Từ Công Phụng đã hy vọng rằng: “Nếu có điều gì vĩnh cữu được thì em ơi đó là tình yêu chúng ta, “nhưng đó chỉ là lời thơ hoa mỹ dànhcho tình yêu mà có lẽ trên đời này không có thật!

Chúng ta từ đâu đến và khi chết sẽ đi về đâu, có lẽ là một câu hỏi khó trả lời, nếu có, cũng khó có thể cho nhân loại ai cũng đồng ý. Con người trong cái vô cùng của đất trời cũng chỉ là hạt bụi, dễ so sánh hơn là một hạt cát trong sa mạc mịt mùng, hay cụ thể hơn là một hạt cát của con sông Ganges dài 2,500 cây số của Ấn Độ (Hằng hà sa số), cho nên những ai tự cho mình là cái rốn của vũ trụ đều có tâm bệnh hoang tưởng. Trên địa cầu này chỉ tính phút thôi, đã có 173 đứa trẻ ra đời khóc oe oe nhưng cũng có 151 người từ giã cuộc sống này. Chúng ta đã đến và đi như những con người đó thôi!

Trong số gần 150.000 người chết mỗi ngày trên toàn cầu, khoảng 66% chết vì các nguyên nhân liên quan đến tuổi già, ở các nước công nghiệp, tỷ lệ này là cao lên đến 90%. Nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển là bệnh tật, tại các quốc gia này, điều kiện vệ sinh kém và vì thiếu thuốc men, dụng cụ y tế nên các bệnh truyền nhiễm tác hại hơn. Bệnh lao phổi, một bệnh do vi khuẩn giết chết 1,7 triệu người vào năm 2004, bệnh sốt rét gây ra từ 1 đến 3 triệu tử vong mỗi năm. Số người chết vì bệnh AIDS ở châu Phi có thể đạt 100 triệu vào năm 2025. Theo các chuyên viên lương thực của Liên Hợp Quốc nghiên cứu từ năm 2000 đến tháng 3 năm 2008, tỷ lệ tử vong do suy dinh dưỡng chiếm 58% tổng tỷ lệ tử vong của thế giới trong năm 2006. Thuốc lá đã giết chết 100 triệu người trên thế giới trong thế kỷ 20 và có thể giết chết 1 tỷ người trên thế giới trong thế kỷ 21, theo một cảnh báo của tổ chức Y Tế Thế Giới …

Rất nhiều người từ bỏ cuộc sống đột ngột bất kể tuổi tác, giàu nghèo khắp mọi nơi trên thế giới vì chiến tranh, tù đày, diệt chủng, thiên tai … thân xác tan biến không hề được một nấm mồ, vậy thì một người nào đó được chết trên giường trong ngôi nhà của họ đêm nay, hẳn phải là hạnh phúc hơn những người xấu số khác.

Không ai sống được “bất tận” thì sự chết là lẽ đương nhiên, trẻ hay già, bằng cách này hay cách khác.

Dù cuộc đời của bạn đã làm thay đổi cả thế giới này thì ra đi của bạn cũng chẳng có gì là quan trọng. Cũng không ai nên cho mình là người quan trọng, vì thật sự chẳng có ai quan trọng hay có việc gì quan trọng cả.

Trên thế giới này có ai danh vọng và quyền lực bằng vị Tổng Thống của nước Mỹ, trước một nhiệm kỳ, ông có nhiều kế hoạch, dự tính, lo toan, tưởng như không ai có thể thay thế một con người quan trọng như thế, nhưng nếu định mệnh bắt ông phải ra đi, thì mọi việc rồi cũng sẽ an bài, vậy thì bạn cũng đừng sợ một ngày nào đó bạn phải giả từ cõi đời này, mà trái đất sẽ trống vắng hơn.

Tổng thống thứ 9 của Hiệp Chủng Quốc, William Henry Harrison chỉ làm Tổng Thống trong 30 ngày, 12 giờ và 32 giây. Ông đắc cử Tổng Thống Mỹ năm 1840 khi đã 68 tuổi. Trong buổi lễ nhậm chức trước tiền đình Quốc Hội vào một ngày mưa lạnh, không mang áo khoác cũng như đội nón, William Henry Harrison đã đọc một bài diễn văn nhậm chức dài 8,444 chữ, trong hai tiếng đồng hồ, chiếm kỷ lục dài nhất trong các bài diễn văn nhậm chức của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ. Cơn lạnh của Washington DC trong ngày hôm đó đã đốn ngã vị Tổng Thống này và ông đã qua đời sau đó đúng một tháng vì bệnh viêm phổi. Ông mất đi thì đã có vị Phó Tổng Thống John Tyler thay thế, rồi nước Mỹ vẫn tồn tại cho đến hôm nay.

Trong chúng ta rất ít người chọn được cái chết cho mình.

Có nhiều vị tướng lãnh chết lẫm liệt giữa trận tiền nhưng cũng có nhiều người chết trong sự quên lãng của mọi người, mòn mỏi, phai nhạt trong một căn nhà già nào đó ở trên đất khách. Nhiều người chết trẻ trong

khi còn muốn cống hiến nhiều lợi ích cho đời, nhưng cũng có những cái chết già tẻ nhạt. Chúng ta không ai mang theo được gì những có nhiều người để lại thương tiếc cho mọi người, vì sự vắng mặt của họ.

Lúc từ giã cuộc đời, xin đừng tiếc nuối là đã không mang theo được gì nhưng hãy tiếc là không có gì để lại.

Tuần lễ này chúng ta mất đi hai người, một nhà văn và và một nghệ sĩ. Họ ra đi không mang gì theo nhưng những điều để lại thì nhiều.

Xin thương yêu, sống hết mình, tận tụy với đời, rồi ra, một lúc nào đó thì:

“… là gió xin về cùng gió,

là mây xin trở lại cùng mây …! “

Đại tá Thomas Nguyễn, Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on March 12, 2016 by dongsongcu

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

Huy hiệu Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân.

Tháng 8 năm 2015, Đại tá Thomas Nguyễn được chính thức bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ/Bộ tư lệnh các lực lượng Lục quân chiến lược (U.S. Army Space and Missile Defense Command/Army Forces Strategic Command). Ông là Đại tá Lữ đoàn trưởng duy nhất trong tám Đại tá Lữ đoàn trưởng pháo binh phòng không lục quân được chọn về làm Tham mưu trưởng cho Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân. Ông là cấp chỉ huy ở vị trí thứ ba sau Trung tướng David L. Mann, Tư lệnh và Chuẩn tướng Gregory S. Bowen, Tư Lệnh phó hành quân.

Trong vai trò Tham mưu trưởng, Đại tá Thomas Nguyễn thực hiện nhiệm vụ của Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân là tiến hành các hoạt động phòng thủ hỏa tiễn bảo vệ không gian và cung cấp kế hoạch, liên kết, kiểm soát và phối hợp với các lực lượng lục quân, tăng cường khả năng trong các nhiệm vụ phòng thủ yểm trợ cho Bộ tư lệnh chiến lược Hoa Kỳ, như đề nghị hiện đại hóa lực lượng lục quân trong nhiệm vụ bảo vệ không gian và phòng thủ hỏa tiễn trên toàn cầu, xúc tiến nghiên cứu trong lãnh vực liên quan đến yểm trợ và phát triển lực lượng phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân.

Chủ trương của Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân là cung cấp huấn luyện để các lực lượng phòng thủ hỏa tiễn và không gian sẳn sàng tác chiến và tăng cường năng lực chiến đấu để bảo vệ quốc gia hôm nay. Và xây dựng các lực lượng phòng thủ hỏa tiễn và không gian tinh nhuệ cho ngày mai, đồng thời nghiên cứu, thí nghiệm và nối kết không gian, phòng thủ hỏa tiễn, an ninh hệ thống mạng, nâng cao chuyên môn kỷ thuật quân sự cho hôm nay và ngày mai.

Đại tá Thomas Nguyễn, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 35 tường trình cho Thiếu tướng Jim Richardson về chiến thuật phòng thủ hỏa tiễn tại Bộ chỉ huy Lữ đoàn 35 vào đầu tháng 6 năm 2015 (US Army photo).

Đại tá Thomas Nguyễn rất nổi bật trong binh chủng pháo binh phòng không lục quân (Air Defense Artillery Branch) qua thời gian ông làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, Trung đoàn 44, Lữ đoàn 108 pháo binh phòng không, Sư đoàn 101 Nhảy dù vào năm 2009. Và Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 35 Pháo binh Phòng không Lục quân.

Đại tá Thomas Nguyễn được thuyên chuyển về làm Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 35 pháo binh phòng không vào tháng 7 năm 2013, Lữ đoàn 35 trú đóng tại phi trường Osan Nam Hàn. Nhiệm vụ của Lữ đoàn là phòng thủ và quan sát tất cả các hoạt động của hỏa tiễn trên bán đảo Triều Tiên, và là đơn vị hỏa tiễn phòng không yểm trợ cho Đệ thất không lực (7th Air Force) và Bộ tư lệnh lục quân thứ tám (Eight Army) và các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Nam Hàn. Nỗ lực của Lữ đoàn là bảo đảm huấn luyện tác chiến, bảo trì vũ khí, và sẵn sàng chiến đấu là ưu tiên hàng đầu của đơn vị. Trong suốt nhiệm kỳ chỉ huy Lữ đoàn 35, Đại tá Thomas Nguyễn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Lữ đoàn trưởng, chỉ huy các đơn vị trực thuộc gồm Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 52 pháo binh phòng không với các Pháo đội cơ hữu trang bị Hỏa tiễn phòng không Patriot, tạo thành một Lực lượng tinh nhuệ phòng thủ chống phi đạn bảo vệ bầu trời Nam Hàn. Ngày 24 tháng 6 năm 2015, ông bàn giao chức Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 35 Pháo binh Phòng không lại cho Đại tá Mark Holler, tân Lữ đoàn trưởng, sau đó ông được thuyên chuyển đên nhiệm sở mới tại Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ.

Cần biết thêm, trong Lục quân Hoa Kỳ có 3 vị Sĩ quan cấp tá gốc Việt có cùng họ và tên Thomas Nguyễn đó là Trung tá Thomas Văn Thọ Nguyễn, Sĩ quan kế hoạch và huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện quốc gia (National Training Center); Trung tá Thomas Nguyễn, Product Manager at JPM Force Protection Systems; và Đại tá Thomas Nguyễn, Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ.

Đại tá Thomas Nguyễn, Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ (USASMDC/ARSTRAT PHOTO).

Đại tá Thomas Nguyễn sinh tại Sài Gòn. Gia đình ông tỵ nạn tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1975. Ông tốt nghiệp Đại học Towson năm 1991, và thụ huấn khóa Sĩ quan trừ bị qua chương trình quân sự tại trường Đại học Loyola College of Baltimore, tiểu bang Maryland. Trong thời gian phục vụ quân đội, ông tiếp tục hoàn tất các văn bằng Cao học Khoa học nghiên cứu chiến lược tại Trường Cao đẳng Lục quân Hoa Kỳ (US Army War College) và văn bằng bằng Cao học Quản trị tại Đại học Central Michigan.

Đại tá Thomas Nguyễn được thăng cấp Thiếu tá năm 2001, Trung tá 2006, Đại tá 2012. Hơn 26 năm phục vụ quân đội ông được ân thưởng nhiều loại Huy chương cao quý như: the Legion of Merit; the Bronze Star Medal; the Defense Meritorious Service Medal; the Meritorious Service Medal (three oak leaf clusters); the Joint Service Commendation Medal; the Army Commendation Medal (one oak leaf cluster); the Army Achievement Medal(three oak leaf clusters); the National Defense Service Medal with Bronze Star; the Armed ForcesExpeditionary Medal; the Afghanistan Campaign Medal with Campaign Star; the Global War On TerrorismService Medal; the Korean Defense Service Medal; the Joint Meritorious Unit Award; the Meritorious UnitCitation; the NATO ISAF Medal (second award); the Spanish Cross Medal; the U.S. Army Senior ParachutistBadge; theAir Assault Badge; the British Army Parachutist Badge, and the German Armed ForcesProficiency Badge (gold).

Từ nay cho đến hết nhiệm kỳ, trên phương vị Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ/Bộ tư lệnh các lực lượng Lục quân chiến lược, Đại tá Thomas Nguyễn có rất nhiều cơ hội và hy vọng được chọn thăng cấp Chuẩn tướng, vì ông là một Đại tá xuất sắc, có tài lãnh đạo chỉ huy trong binh chủng Pháo binh phòng không Lục quân. Tính theo thời gian thâm niên cấp bậc, ông hội đủ các điều kiện để có thể được chọn thăng cấp Chuẩn tướng vào năm 2016-2017, và nếu được thăng cấp thì ông sẽ là vị Tướng Lục quân gốc Việt thứ ba sau Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Đại tá Lapthe. C. Flora sẽ được chính thức thăng cấp Chuẩn tướng vào tháng 6 năm 2016.

Trần Anh, September 2015.

Tài liệu: USASMDC/ARSTRAT; 35th ADA Brigade-Homepage-8th Army; dvidshub-35th Air Defense Artillery Brigade; 35th Air Defense Artillery Brigade (Official)-Facebook; October officer promotions released-Army Times; U.S. Air Defense doctrine release marks ‘cornerstone’ in South Korea/U.S. interoperability; Unit History-The 94th Army Air and Missile Defense; Nguyen takes command of 2nd Battalion, 44th ADA; Congress.gov; Những vị Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai; Vietnamese-American Uniformed Services Association; Đại tá Lục quân Hoa Kỳ Thomas Nguyễn; SBTN: Tiệc Họp Mặt Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Vùng Hoa Thịnh Đốn.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

3.Một lễ giáng sinh Cơ đốc

Cây Nô en của họ là một cành thông cắm vào một cái khe trên cái bục gỗ. Một dây bóng đèn nhỏ, ánh sáng yếu ớt được quấn hai vòng quanh thân cây, đầu dây cắm vào bình điện nhỏ đặt dưới sàn. Cây Nô en được đặt trong một góc phòng, giữa hai dãy giường từng, một tấm nệm giường được dựng lên để che ánh ngọn đèn điện trên trần và chiếu vào đó. 
Sáu người đàn ông bận những bộ quần áo binh sĩ Nhảy dù dầy, màu xanh đậm, đứng xúm xít quanh cây Nô en tí hon. Họ chụm đầu vào nhau và cúi mặt yên lặng. Max Richman, một người trong bọn họ, đọc khẽ bàn kinh cầu nguyện đêm Giáng sinh của đạo Cơ đốc. 
Không còn ai khác ngoài sáu người này trong căn phòng rộng chỉ có những chiếc giường hai tầng đứng xếp hàng. Tất cả đều là giường sắt. Sau bữa ăn tối và một giờ đồng hồ đi bộ ngoài sân, mọi người đều đi làm việc đêm. 
Max đọc xong bài kinh và sáu người cùng ngồi xuống. Năm người trong bọn họ đang ngẩn ngơ vì tâm hồn dạt dào những kỷ niệm vừa dịu ngọt vừa cay đắng về quê hương họ – những Đức mến yêu, những Đức trật tự của họ, ở đó dưới những mái nhà lợp ngói đá đen, cuộc lễ đêm nay được cọi là lễ quan trọng nhất trong năm, cuộc lễ được cử hành ở đó trong không khí thiêng liêng, tin tưởng vui vẻ và ấm cúng biết là chừng nào. Người thứ sáu trong bọn họ là một người đàn ông vóc dáng lực lưỡng với một bộ râu quai nón đen nhánh như những nhà tiên tri trong Thánh Kinh – tên anh là Lev Rubin, anh là người Do Thái và anh là một đảng viên Cộng sản. 
Số mệnh của Lev Rubin liên hệ nhiều đến nước Đức cả trong thời chiến và thời bình. 
Trong thời bình, anh là một nhà ngôn ngữ học chuyên về Đức ngữ, anh có thể nói tiếng Đức thông thạo không sai một âm thanh, đôi khi cầ đến anh còn có thể nói được cả những thổ ngữ của miền núi nước Đức. Anh có thể nói đến bất cứ một văn thi sĩ người Đức có tác phẩm xuất bản như nói đến một người bạn quen. Anh có thể tả cảnh những thị trấn nhỏ nhất hai bên dòng sống Rhin như anh từng sống ở những nơi đó nhiều năm. 
Nhưng thực ra, Lev Rubin chỉ mới đặt chân lên đất Áo – rồi từ đó anh lên mặt trận. 
Trong trận đại chiến thế giới, anh là một thiếu tá Sô Viết trong đoàn đặc biệt mệnh danh là “Lực lượng phá hoại tinh thần chiến đấu của binh sĩ địch”. Anh tới những trại giam tù binh tuyển chọn những tù binh Đức nào chịu giúp anh thi hành công tác. Anh đem những tù binh này ra khỏi trại giam, anh huấn luyện và cấp cho họ những vật dụng cần thiết. Vài người trong bọn này vượt được những chiến tuyến bằng những bộ quân phục giả, phù hiệu giả, căn cước quân nhân giả, giấy tờ giải ngũ giả và những bánh thuốc nổ TNT thật. Họ đặt thuốc nổ phá hoại những cây cầu ở sau lưng quân Đức Quốc xã và tìm đường về nhà để sống cho đến ngày họ bị bắt. Với nhiều người khác, Lev Rubin thảo luận về Goethe và Schiller và những tờ truyền đơn tuyên truyền, sau đó anh cho những người này lên những chiếc xe phóng thanh đi ra mặt trận dùng loa kêu gọi những chiến hữu của họ hãy quay súng bắn lại Hitler. Với một số ít người khác, anh vượt qua mặt trận, và chỉ dùng lời thuyết phục, anh chiếm được nhiều cứ điểm của quân Đức, cứu được nhiều tiểu đoàn Xô Viết. 
Nhưng Lev Rubin không thể thuyết phục được những người lính Đức nếu anh không trở thành một người như họ, nếu anh không yêu thương họ chân thành, và bắt đầu ngày quân Đức bại trận, anh không thể không thương hại họ. Chỉ vì việc sau cùng này, anh bị bắt. Sau cuộc tấn công tháng Giêng năm 1945, anh bị kết tội phản bội, vì anh đã chống lại chiến dịch trả thù “máu trả máu, chết trả chết” do Hồng quân Xô Viết phát động trên đất Đức chiến bại. 
Lời kết tội đúng, Lev Rubin không hề nói là anh oan. Xong sự thật phức tạp hơn, tế nhị hơn, rắc rối hơn nhiều những gì được đăng tải trên các báo hồi đó và ghi trong bản án kết tội anh. 
Hai chiếc bàn nhỏ được kê sát vào nhau cạnh cây Nô en làm thành bàn ăn. Họ bắt đầu thưởng thức món đồ hộp mua được từ những Hợp tác xã thực phẩm – (tù nhân ở những nhà tù đặc biệt được quyền gửi mua thức ăn ở những tiệm bán thực phẩm ở Mạc Tư Khoa nếu họ có tiền) – Sau đó họ chia sẻ nhau chiếc bánh Nô en do họ làm lấy và cà phê lạnh. Cuộc nói chuyện bình thường của những cuộc họp mặt anh em nổi lên. Max hướng dẫn cuộc nói chuyện về những đề tài hòa bình: những phong tục, tập quán xưa cũ, những câu chuyện cảm động về đêm Giáng sinh. Alfred, mang kiếng trắng, một sinh viên không được học hết khoa vật lý ở Vienna, nói chuyện rất vui với giọng nói người Áo của anh. Gustav, một đoàn viên đoàn Thanh niên Hitler, bị bắt một tuần lễ sau ngày chiến tranh kết liễu, một thanh niên còn quá trẻ, má bầu, tai hồng, ngồi mở lớn cặp mắt xanh nhạt nhìn cây Nô en, không dám tham dự vào cuộc nói chuyện của các bậc tiền bối. 
Tuy vậy, cuộc nói chuyện rồi cũng quay về với chiến tranh. Một người trong bọn nhớ lại lễ Giáng sinh năm 1944 năm năm trước đêm nay, khi tất cả những người Đức đều kiêu hãnh vì trận tấn công ở miền rừng núi Ardennes, y như những chuyện đã xảy ra thời thượng cổ, trong trận tấn công này, kẻ thua đuổi theo kẻ thắng. Họ nhớ lại trong đêm Giáng sinh năm ấy, toàn thể nước Đức đã lắng nghe tiếng nói của Goebbels. 
Rubin, những ngón tay rứt nhẹ những sợi trổ ra ngoài bộ râu đen nhánh của anh, công nhận chuyện này. Anh nhớ rõ bài diễn văn đêm Giáng sinh năm xưa của Goebbels nói với một sự xúc động sâu xa như y đích thân gánh chịu tất cả gánh nặng đang làm cho nước Đức gục ngã. Có thể trong đêm đó Goebbels đã có linh tiánh biết trước cái chết của riêng y. 
Reinhold Zimmel, cựu Quận trưởng SS, vì quá cao nên phải ngồi khom lưng để đầu khỏi chạm thành giường, bất mãn vì câu nói lịch sử của Rubin. Y không thể chịu nổi việc gã Do Thái kia dám lên tiếng phê bình Goebbels. Y không bao giờ thèm ngồi chung bàn với gã Do Thái đó nhưng đêm nay là đêm Giáng sinh, nếu y không chịu thì y sẽ không được dự cuộc họp mặt với đồng bào của y. Y không bằng lòng những bốn người Đức kia quyết định phải mời Rubin đến dự cho bằng được. Vì với nhóm người Đức nhỏ xíu lạc lõng, chìm mất vì số mệnh trong nhà tù này, người duy nhất có thể hiểu được họ là viên Thiếu tá của cái quân đội đã đánh bại quân đội họ, người đã sống qua cuộc chiến với việc gieo rắc nghi ngờ và phá hoại quanh họ. Chỉ có người này mới có thể giải thích cho họ biết những phong tục, tập quán của giống người xa lạ ở đây, chỉ cho họ cách xử sự như thế nào là đúng và dịch cho họ những tin tức thế giới từ tiếng Nga sang tiếng Đức cho họ nghe. 
Với mục đích nói ra một câu gì đó làm cho Rubin phải khó chịu đến tối đa, Zimmel nói rằng Đức quốc thời đó có cả trăm diễn giả tuyệt vời như Goebbels và y vẫn lấy làm lạ không hiểu tại sao những người Bôn Sơ Vích chỉ thích đọc những bài diễn văn đã được viết trước và được cấp trên chấp thuận cho đọc. 
Đúng như ý muốn của Zimmel, lời nhận xét có tính cách chê bai này làm cho Rubin khó chịu, anh càng khó chịu hơn khi thấy sự chê bai đó đúng. Nhưng anh không thể giải thích những lý do lịch sử của việc ấy với tên sát nhân này. Rubin ghê tởm Zimmel. Cảm giác ghê tởm vẫn mạnh như ngày đầu. Anh nhớ lại lần đầu tiên anh nhìn thấy y đến đây từ khám đường Butyrshkaya trong chiếc áo da đã rạn hãy còn dấu vết huy hiệu SS thường dân – bọn SS thường dân là bọn tàn ác, dã man nhất hạng. Ngay cả nhà tù và những năm tù đày vẫn không xóa được những nét tàn ác trên mặt Zimmel. Dấu hiệu riêng của những tên hành hạ người đã được đóng xâu trên bộ mặt ấy. Sự có mặt của Zimmel trong bữa ăn này làm cho Rubin mất vui nhưng nhóm người Đức lẻ loi này khẩn khoản mời anh đến dự, và anh thương hại họ cô đơn và lạc lõng ở đây, anh thấy anh không thể nào làm cho ngày lễ của họ trở thành đen tối vì sự từ chối của anh. 
Nén giận, Rubin nói bằng tiếng Đức lời khuyên của Pushkin 1cho một số người: Đừng đưa ra lời xét đoán, nào cao hơn mũi giầy của mình. 
Max, hoảng hốt và vội vàng dẹp sự mâu thuẫn đang nhen nhúm như ngọn lửa sắp bốc lên. Max là người, dưới dự hướng dẫn của Lev Rubin, đã đọc được từng vần thơ của Puskhin bằng tiếng Nga. Tại sao, Max hỏi, Reinhold lại không ăn bánh với bơ? Và Lev Rubin ở đây trong ngày Giáng sinh năm 1944? 
Reinhold phết một chút bơ lên miếng bánh và Lev Rubin nhớ lại rằng ngày Giáng sinh năm ấy anh ở trong một pháo đài trên chiến tuyến Narew gần Rozan. 
Và trong lúc năm người đàn ông Đức tưởng nhớ, mơ về những Đức bị giày xéo, chia xẻ, tan nánt của họ với những màu sắc rực rỡ nhất do tưởng tượng của họ đắp lên đó, Rubin đột ngột nhớ lại tuyến đầu Narew và những khu rừng ẩm ướt quanh hồ Ilmen. 
Ánh đèn xanh đỏ trên cây Nô en sáng lên trong mắt của sáu người ngồi dưới gốc cây. 
Sau đó, Rubin được hỏi về những tin tức mới. Anh cảm thấy xấu hổ, ngượng ngùng vì những sự kiện xảy ra trong tháng Chạp này ở trên đất Nga cũng như trên khắp trái đất. Nhưng anh vẫn không sao có thể xử sự như một kẻ không phải là người Cộng sản và từ bỏ hy vọng truyền bá chủ nghĩa cho những người này. Xong, anh vẫn không sao có thể giải thích cho họ hiểu được rằng trong chế độ xã hội phức tạp này sự thật nhiều khi tiến diễn theo đường lối quanh co và biến dạng. Vì vậy anh tuyển lựa cho họ – cũng như anh từng tuyển lựa cho chính anh – những sự kiện nào có tính cách chứng tỏ chủ nghĩa xã hội sẽ thắng, anh quên đi những sự kiện nào trái với điều ấy, kể cả những sự kiện làm cho người ta khó hiểu. 
Nhưng trong tháng Chạp đặc biệt này, ngoài cuộc hội thảo Nga Xô Viết – Trung Hoa cộng sản vẫn kéo dài và ngày kỷ niệm sinh nhật thứ bảy mươi của vị Lãnh đạo Nhân dân, không còn sự kiện gì đáng để nói cả. Thực ra còn có nhiều chuyện có thể nói về vụ xử án Traicho Kostov, nhưng nếu nói đến vụ xử này, anh sẽ bắt buộc phải kể rằng đó là một trò hề sống sượng, vụng về, rằng những phóng viên nhà báo đến dự phiên tòa xử đã được, sau một chậm trễ khó hiểu nhiều tiếng đồng hồ, phát một bản thú tội giả mạo nói rằng do chính tay Kostov viét trong khám tử tội – những chuyện này làm cho Rubin cảm thấy nhục và anh thấy rõ là chúng không thể có lợi cho việc tuyên truyền chủ nghĩa. 
Do đó Rubin chỉ nói với họ về những chiến thắng lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Hoa. 
Max chăm chú nghe Rubin nói. Thỉnh thoảng y lại gật đầu tỏ vẻ đồng ý, tán thành. Đôi mắt nâu nhìn trái ô liu của Max biểu lộ sự tin tưởng ngây thơ. Trước đây Max hoàn toàn tin tưởng và trung thành với Rubin, nhưng từ ngày xảy ra cuộc phong tỏa Bá Linh, y bắt đầu nghi ngờ về sự đứng đắn của những nguồn tin Rubin vẫn liều mạng sống để nghe trộm những bản tin của hai đài phát thanh BBC và Colonge phát đi bằng tiếng Đức bằng một cái máy thâu thanh tí hon do chính tay y chế tạo bí mật. Mỗi ngày Max đều ráp cái máy thâu thanh này, nghe tin xong lại tháo rời ra từng bộ phận cất đi dù rằng đó là một cái máy thâu thanh. Với cái máy này không những Max chỉ biết rõ rằng Traicho Kostov đã lên tiếng tố cáo ở giữa tòa việc mình bị bắt buộc phải ký vào những bản thú tội viết sẵn trong những kế hoạch của Liên minh Bắc Đại Tây dương và những tin tức kinh tế của Tây Đức. Tất nhiên là Mã đều nói lại tất cả những tin tức này cho những người Đức ở tù với anh cùng biết. 
Tuy vậy, tất cả năm người vẫn chăm chú nghe Rubin với những vẻ mặt tin tưởng. 
Bây giờ Rubin thấy rằng đã đến lúc anh nên từ biệt họ. Đêm nay cũng như mọi đêm, anh vẫn phải đi làm việc đêm. Rubin thốt ra vài câu ca ngợi cái bánh ngon và chàng sinh viên Vienna, người tạo ra cái bánh, sung sướng nhận lời khen ngợi. Sau đó Rubin xin kiếu từ. Năm người Đức giữ anh lại theo phép lịch sự trước khi để anh đi. Sau khi Rubin đi khỏi phòng, họ chuẩn bị nho nhỏ những bài ca Giáng sinh. 
Lev Rubin đi ra hành lang, tay ôm một quyển từ điển Mông Cổ – Phần Lan và một quyển tiểu thuyết của Hemingway bằng tiếng Anh. 
Hành lang rộng, đường đi lát bằng những phiến gỗ lớn, hai bên vách không có cửa sổ và ở đây đèn điện được thắp suốt đêm. Cũng trong hành lang này trước đây hơn một tiếng đồng hồ, Rubin cùng nhiều tù nhân cũ đứng xúm xít hỏi chuyện những tù nhân mới đến. Một cánh cửa từ chân thang lầu mở ra hành lang này, tiếp đó là nhiều cánh cửa phòng khác. 
Cửa phòng và cửa xà lim. Được gọi là phòng vì cánh cửa không có khóa, bị gọi là xà lim vì tên cánh cửa có lỗ lắp kiếng để lính canh có thể đứng ngoài hành lang nhìn vào bên trong. Bọn lính canh ở đây ít khi dùng đến những lỗ nhìn này nhưng người ta vẫn cứ cho đục chúng trên những cánh cửa như trong một nhà tù thực sự theo đúng quy chế nhà tù, vì trên giấy tờ chính thức, nơi này vẫn được gọi là “nhà tù đặc biệt”… 
Qua một lỗ nhìn một cánh cửa đó, đêm nay người đi qua hành lang có thể nhìn thấy một cuộc lễ Giáng sinh nữa. Đó là cuộc lễ của nhóm tù nhân Latvia, nhóm người này cũng xin được phép nghỉ làm việc đêm nay để hành lễ. 
Tất cả những tù nhân khác đều đi làm việc. Nghĩ đến chuyện này Rubin hơi lo lắng rằng anh có thể bị đưa tới Thiếu tà Shikin để giải thích về sự vắng mặt của anh. 
Hai đầu hành lang là hai cánh cửa lớn. Một cửa hai cánh gỗ dẫn vào một nơi trước kia, khi tòa nhà này còn là một giáo đường miền quê chưa bị biến thành nhà giam, là tầng lầu ở trên bàn thờ. Nơi này bây giờ trở thành phòng giam người. Cửa thứ hai bọc sắt kín từ trên xuống dưới, có lính canh và người đứng ngoài không thể tự mở ra để bước vào. Tù nhân gọi cửa này là “Cửa thánh”… 
Rubin đi tới trước cánh cửa bọc sắt đó và gõ nhẹ lên khung cửa sổ nhỏ trên đó. Bên trong, khuôn mặt chăm chú, bất động của người lính canh hiện ra sau mặt kiếng. 
Chìa khóa xoay nhẹ trong ổ khóa. Người lính này là một ông dễ tính và điều này là một may mắn cho Rubin. Người lính này có thể không cho anh vào phòng làm việc vì đã quá giờ và đưa anh tới gặp thiếu tá Shikin. 
Rubin đi lên thang lầu. Hai đường thang làm thành một vòng cung và gặp nhau ở tầng trên. Anh rảo bước dưới cây đèn đồng cổ lỗ đã từ lâu rồi không còn xài được nữa và tới đẩy cánh cửa phòng nghiên cứu đề hàng chữ: ÁM THÍNH.

——————————–

1Alexandr Sergeyevitch Pushkin, thi sĩ Nga nổi tiếng, sinh 1799, mất 1837.



Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

Chương 19 – Bán hạ giá 50 phần trăm

Ông Phạm văn Ba, đại diện của CPLTCHMN tại Ba Lê, thông báo cho Tổng Thống Phủ Pháp:

_ một giải pháp chánh trị đưa ông Dương Văn Minh lên làm nguyên thủ quốc gia có thể được chấp nhận, với điều kiện là ông phải trình diện một chính phủ có tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc. Chỉ cần chọn các nhân vật có thể chấp nhận được. “Được CPLTCHMN chấp nhận” liệu có nghĩa là “được Hà Nội chấp nhận hay không”?

Tổng Thống Phủ Pháp chuyển tin tức này cho tòa đại sứ Mỹ ở Ba Lê để họ chuyển tiếp về Hoa Thạnh Đốn và từ đó chính ông Kissinger sẽ gửi đến cho tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn . Cũng theo lời của chính ông Phạm văn Ba này, “Hoa Kỳ phải giải quyết các vấn đề của Miền Nam Việt Nam với CPLTCHMN chớ không phải với Hà Nội. Về phần mình CPLTCHMN sẳn sàng mở ra một cuộc đối thoại.”

Theo những người đã gặp ông Phạm văn Ba này thì ông ta có vẻ cởi mở. Người ta xì xào rằng Ông là một người “ôn hòa”. Tại Ba Lê, ông thường trò chuyện với ông Bùi kiến Thành, phó bí thư đặc trách về các vấn đề quốc tế của một đảng nhỏ, ít được người ta nhắc tới, gắn liền với Đệ Nhị Quốc tế , đó là đảng Xã Hội Việt Nam. Các đảng Xã Hội ở Âu Châu không bao giờ để ý đến ông Thành này. Ông Thành đề nghị với CPLTCHMN một thành phần Chánh Phủ có đủ mặt các vị lãnh đạo Tôn Giáo chính. Ông Thành nói:

_ “Riêng những nhân vật Tôn Giáo này đã đại diện cho phần lớn dân chúng Việt Nam. Không có một chánh trị gia nào, không một nguyên thủ quốc gia nào, cũng không phải ông Dương Văn Minh hay những người khác, không thật sự đại diện cho ai hết. Chỉ có những đại diện của các Tôn Giáo lớn mới có thể đại diện cho dân chúng để nói chuyện với CPLTCHMN, những người thuộc đảng Xã Hội Việt Nam đã xác nhận như vậy.

Hình như ở Ba Lê ông Thành cho ý kiến này rất là hay. Do vậy, các đảng viên đảng Xã Hội Việt Nam rất cảm động với buổi lễ cầu nguyện mấy ngày trước ở Nhà Thờ Chánh Tòa ở Sài Gòn nên đã gởi một điện tín cho Đức Cha Nguyễn văn Bình. Nhưng ông này không nhận được. Họ cũng đã gởi cho tòa đại sứ Mỹ ở Ba Lê: ở đây có thể nào thiết lập liên lạc được với các vị lãnh đạo Tôn Giáo hay không?

Các đại diện của CPLTCHMN ở Ba Lê khuyến khích họ, nhưng đã bắn tiếng cho biết là họ không thể hứa là có ngừng bắn, ngay cả nếu có một Chánh Phủ được chấp nhận được thành lập tại Sài Gòn.

Trong một số trung tâm chánh trị ở Ba Lê, người ta cho biết là có nhiều bất đồng giữa CPLTCHMN và Hà Nội và ngay trong nội bộ CPLTCHMN cũng vậy.

Trước hết ông Mérillon tưởng là một trò đùa. Từ trung tâm điện thoại của Sài Gòn nữ xướng ngôn nói:

_ Tổng Thống muốn nói chuyện với ông. Không phải Tổng Thống của chúng tôi mà là Tổng Thống của ông.

Ông Valéry Giscard d’Estaing khuyến khích ông Mérillon:

  • Việc ông đã làm rất tốt. Tôi khen ngợi ông. Nhưng đừng có lãnh lấy quá nhiều nguy hiểm đó!

Ông Giscard thân mật nói thêm:

  • “Tất cả những sáng kiến của ông đều là sáng kiến tốt.
  • Tôi không có sáng kiến đâu, tôi làm theo các sự chỉ dẫn của ông thôi.

Đúng là chánh trị trung gian: ở Ba Lê cũng như ở Sài Gòn người ta chánh thức công bố câu chuyện trao đổi trên điện thoại trên đây của Tổng Thống Pháp để cho thấy là Ba Lê đã chọn quân bài Dương Văn Minh. Đường lối ngoại giao của Pháp là cố gắng trồi lên hàng đầu. Ông Jean Sauvagnargues bảo đảm rằng “hành động của nước Pháp hoàn toàn vô tư.”

Ông Mérillon được ông Tổng Thống Hương tiếp kiến và ông ta khuyên ông Hương nên nhường chỗ cho Dương Văn Minh. Miền Nam Việt Nam đang hấp hối, cần phải mổ xẻ ngay. Vị Tổng Thống già nua cố bám, viện cớ có nhiều khó khăn về mặt Hiến Pháp. Ông Hương tiếp ông Trần văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện. Ông này tuyên bố sẵn sàng lèo lái con thuyền quốc gia đúng như Hiến Pháp đã qui định, trong trường hợp ông Hương từ nhiệm. Ông Lắm nói với báo chí:

_ “Ông Tổng Thống Hương có thể từ chức. Ông không thể trao quyền hành lại cho bất cứ người nào hết. Nếu ông trao quyền lại cho ông Dương Văn Minh là ông đã xem thường Hiến Pháp.

Người ta hỏi ông về vai trò của nước Pháp. Ông Lắm trả lời một cách ỡm ờ:

_ “Tôi hy vọng rằng nước Pháp có thể ảnh hưởng được với phía bên kia…. Vai trò của họ là có thể can thiệp với các cường quốc và đặc biệt hơn hết là các cường quốc cộng sản.

Ông Lắm đã từng là Tổng Trưởng Ngoại Giao năm 1973 và là thương thuyết gia của Hiệp Định Ba Lê. Cũng giống như các chánh trị gia ở Sài Gòn ông tin vào những sự can thiệp của Mạc tư Khoa hơn là thiện chí của Hà Nội.

Tại Hoa Thạnh Đốn, Hạ Viện khi tranh cãi lại về vấn đề Việt Nam, đã chấp thuận ngân khoản 327 triệu mỹ kim viện trợ nhân đạo, nhiều hơn 77 triệu của bên Thượng Viện. Cả hai viện đều cho phép Tổng Thống Ford xử dụng quân lực Hoa Kỳ để bảo vệ cuộc di tản.

Tại Nhà Trắng, trước sự hiện diện của các doanh gia bảo trợ cho những chiến dịch quảng cáo về quyền lợi của dân chúng, ông Ford tuyên bố:

_ “Hoa Kỳ sẽ bắt đầu một bước đi mới. Hoa Kỳ sẽ tiến tới phía trước.”

Phi công Nguyễn cao Kỳ và linh mục Thanh nói chuyện với khoảng mười ngàn người trong một cuộc mết tinh ở một vùng ngoại ô Sài Gòn. Các diễn giả nói đủ thứ chuyện : họ kêu gọi thành lập một Chánh Phủ mới, kêu gọi kháng chiến, kêu gọi ngừng bắn và kêu gọi thương thuyết…

Ở tòa đại sứ Hoa Kỳ, trong khi ông Martin thì chọn quân bài Trần văn Hương thì ông Polgar lại chọn ông Dương Văn Minh. Cố vấn Lehmann thì làm yên lòng khách khứa: Tất cả rồi cũng sẽ tốt thôi. Khi tiếp ông Lucien Hébert, vị xử lý thường vụ Gia nã đại, khi ông này đến từ giã đề về nước ngày mai thì ông Lehmann phản đối:

_ “Không, đừng có đi. Chúng tôi đây, chúng tôi ở lại. Bắc Việt không có chiếm Sài Gòn đâu, sẽ có một cuộc dàn xếp…

Sau đó, sau một lúc lưỡng lự, ông nói tiếp:

_ “Dù sao đi nữa, nếu xảy ra chuyện gì thì vẫn có chỗ cho ông kia mà.” Có nghĩa là, trong phi cơ Hoa Kỳ của chúng tôi.

Ông Polgar tự thấy mình được khích lệ, khi ông lại gặp được đại tá Hung gia Lợi thân thích của ông tại nhà của mình. Đại tá Toth bảo đảm với ông Polgar là tất cả các điện tín của tòa đại sứ Hoa Kỳ đã được nhanh chóng chuyển tiếp đến “phía bên kia và cả thủ đô Budapest của Hung gia Lợi, và – ông giả thuyết- đến cả những người khác nữa”.

Theo ông Toth, thì những người của CPLTCHMN và của Bắc Việt ở trại Davis, đã cho rằng diễn tiến chánh trị trong mấy ngày qua đã có một “tính chất xây dựng”. Họ rất lạc quan, và ước tính rằng người ta có thể sẽ tìm được những giải pháp “tốt cho cả đôi bên”. Còn dè dặt, Toth đã nhấn mạnh: ông ta không phải là phát ngôn viên của Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay của CPLTCHMN . Tuy nhiên, ông cũng có thể cung cấp cho ông Polgar những mẩu tin tức từ “phía bên kia”. Vì ông có gặp khó khăn về các tên của người Việt Nam nên ông đã có ghi chú. Ông ta lấy cuốn sổ tay ra.

Theo “phía bên kia” thì không có một nhân vật nào được xem là chính yếu trong triển vọng của một cuộc diễn tiến hòa bình. Có nhiều nhân vật của Miền Nam sẽ được chấp nhận. Tướng Dương Văn Minh là một trong số những người đó. Ông cũng không phải là người duy nhất. Nhất là CPLTCHMN muốn rằng những người không đáng được chấp nhận không nên có một vai trò nào nữa ở Miền Nam Việt Nam. Ông Toth nói tiếp:

_ “Không dính dáng gì đến người sẽ lãnh đạo Tân Chánh Phủ, cũng là một chuyện tốt nên để cho họ vào cuộc – thí dụ như – bà Ngô bá Thành, linh mục Chơn Tín.

CPLTCHMN có thể hợp tác với rất nhiều người. Ông Toth còn đọc ngay tên của Thủ Tướng xử lý thường vụ Nguyễn bá Cẩn, người rõ ràng đã ở trong “tập đoàn Nguyễn văn Thiệu”. Nhất là CPLTCHMN muốn có một lời tuyên bố của Hoa Kỳ. Tuyên bố này phải nói rõ là Hoa Kỳ không xen vào chuyện nội bộ của Miền Nam Việt Nam nữa và chấm dứt mọi viện trợ quân sự cho Chính Phủ Sài Gòn.

Hai bản nhạc khác nhau của CPLTCHMN: ở Ba Lê thì các đại diện của họ không bảo đảm sẽ có ngừng bắn. Và ở trại Davis thì các đại diện của họ lại nói là sẵn sàng chấp nhận ngừng bắn nếu có một sự “tiến bộ tốt của quá trình chánh trị ” Ít ra, đây là một truyền đạt không chánh thức đã được ông Toth chuyển tiếp cho ông Polgar. Ông nói là những người đối thoại ở trong trại Davis cũng muốn biết có phải là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ ở Vũng Tàu hay không? Nếu có thì tại sao? ông Polgar đính chánh ngay.

_ “Tại sao còn có quá nhiều tàu chiến Hoa Kỳ, trong khi người ta đã di tản một số lớn người Việt Nam từ hơn hai tuần lễ? ông Toth hỏi.

  • Ông Polgar trả lời rằng các tàu chiến đó chỉ duy nhất dùng cho các cuộc hành quân di tảÔng Polgar muốn ông Toth nói cho “bên kia” hiểu rằng Chánh Phủ của ông Hương, cũng như Chánh Phủ sẽ thay thế ông ta, có nhiều “bài toán tâm lý dễ xúc cảm”. Không nên tiến tới nhanh quá. Phải nghĩ tới tất cả những người của Miền Nam Việt Nam, nhất là các binh sĩ, họ đang nhìn những diễn biến chánh trị mới với con mắt không tốt.
  • “Chúng tôi không muốn thấy các phi công của những chiếc F.5 bỏ bom vào Dinh Độc Lập để phản đối lại những gì mà dưới nhãn quan của họ sẽ là một sự phản bội lại chánh nghĩa quốc gia.

“Thật là kỳ lạ! “Chúng tôi”! Chúng tôi, những người Mỹ, những người Hung gia Lợi, Hà Nội và CPLTCHMN. Ông Polgar tiếp tục nói, dựa trên chủ đề thường được hai ông Martin và Mérillon nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

_ ‘Chúng tôi không muốn thấy luật lệ và trật tự ở Sài Gòn bị sụp đổ. Phải cố tránh những sự bạo động cá nhân và những vận động của quần chúng.”

Ông Polgar không còn nghi ngờ gì nữa là Cảnh sát sẽ áp dụng những chỉ thị của Tân Chánh Phủ. Người ta không biết đến bao giờ Chánh Phủ mới này được thành lập xong, Dù sao thì trước đó Chánh Phủ của ông Hương đã công bố những biện pháp cốt “chỉ rõ là vấn đề hòa giải dân tộc đã là chương trình nghị sự rồi”. Bằng chứng là vài giờ trước đây, Thủ Tướng Xử Lý Thường Vụ Nguyễn bá Cẩn, đã tuyên bố là có vài trăm tù nhân chánh trị sẽ được thả ra. Các cơ quan an ninh của Miền Nam lợi dụng chuyện này để thanh toán nhiều cán bộ quan trọng của Bắc Việt mà họ đang giữ. Do đó Nguyễn văn Tài, một trong những tay gộc bị các cơ quan này tóm được, sẽ được thả xuống từ trực thăng.

Với sự thỏa thuận của ông Martin, ông Polgar yêu cầu ông Toth cho những người ở trại Davis biết là tòa đại sứ muốn bàn cãi một vài vấn đề với một đại diện của CPLTCHMN một cách chánh thức nhưng bí mật. Ông Toth ghi nhận, mong sẽ nhanh chóng cung cấp câu trả lời. Có thể ngay chiều hôm nay.

Được báo cáo đầy đủ về cuộc gặp gỡ này, ông Kissinger vẫn ghi nhận những lời này, nhưng không bao giờ tin. Thật vậy, một cuộc ngừng bắn với những người cộng sản Việt Nam không thể tùy thuộc vào những sự vận động của một ông đại tá Hung Gia Lợi. Ông Kissinger ra lệnh cho ông Martin rằng tất cả những cuộc thương thuyết với CPLTCHMN phải được thực hiện ở Ba Lê chớ không phải ở Sài Gòn.

Đối với một số người, trong đó có ông Mérillon. thì vấn đề của ông Minh đang tiến triển tốt. Ông Martin cũng bắt đầu “o bế” giải pháp này. Tòa đại sứ Mỹ tự nhiên nghĩ rằng người Pháp muốn có mặt lại ở Đông Dương nhưng họ có vẻ tin tưởng ông Mérillon. Tại sao không chơi lá bài Dương Văn Minh? Theo chỗ ông Martin biết thì ông Minh này vẫn là một tướng hồi hưu, làm việc rất ít. Ông ta đã làm được gì trong những năm qua? Ông ta chơi quần vợt, chăm sóc vườn lan và nuôi cá.. Ô hay! muốn thành công về chánh trị, không cần thiết phải quá thông minh. Nhưng phải cần có đức tính lẫn nghị lực. Ông Minh có tánh tốt, nhưng ông ta tính tình ra sao? Nhiều người nói ông Minh là “một con voi với bộ óc của chim se sẽ”. Hai ông Martin và Mérillon đồng ý trên một điểm: giải pháp hoàn toàn (100 %) của cộng sản sẽ là một giải pháp tệ hại nhất trong các giải pháp. Nếu Quân đội Bắc Việt chiếm Sài Gòn , thì tiếp tục chiến tranh sẽ đưa đến việc Bắc Việt sẽ chiếm toàn thể lãnh thổ của Miền Nam.

Người Pháp nhất là ông Pierre Brochand thật tình rất thích ông Dương Văn Minh. Không giống như nhiều tướng lãnh khác được đào tạo thời Mỹ, ông Minh là người thân Pháp như những người thân cận của mình. Là một tướng lãnh, ông Minh có thể được binh sĩ nghe lời.

Còn ông Hương thì không được như vậy. Miền Nam Việt Nam còn khiển dụng được 4 hay 5 sư đoàn . Trong trò chơi chánh trị, ông Minh cũng còn một ít chủ bài. Phải cho ông ta một dịp may để đoàn kết hai lực lượng chánh trị và tôn giáo lại. Nếu CPLTCHMN nghĩ rằng ông ta có thể được chấp nhận thì tại sao chúng ta không yểm trợ tối đa cho ông? Các nhà ngoại giao người Pháp cảm thấy thích thú khi nhận thấy rằng ông Polgar và ngay cả con diều hâu Martin cũng lần lần đi theo giải pháp của người Pháp. Trường hợp xấu nhất, một Chánh Phủ liên hiệp lâm thời sẳn sàng thương thuyết cũng có thể tránh được cuộc chiến trong thủ đô Sài Gòn, một thủ đô mà tướng Kỳ kêu gọi phải cố thủ. Những nhà ngoại giao Pháp không quá ngây ngô như người Mỹ đã tưởng, họ không có quá nhiều ảo tưởng trong dài hạn. Họ thừa biết là từ 30 năm nay, cộng sản Việt Nam đã có ý muốn thống nhất nước Việt Nam và từ 45 năm nay đã từng muốn thống nhất Đông Dương .. Người Pháp ngày hôm nay cũng như ông Kissinger ngày hôm qua, đều nghĩ đến tính cách hợp lý của quốc gia Việt Nam: Hà Nội lúc nào cũng muốn, ít nhất trong một giai đoạn chuyển tiếp từ một đến năm năm, chấp nhận một Chánh Phủ dưới màu cờ của lực lượng thứ ba mà người cộng sản chưa hoàn toàn thống trị được. Một chế độ “dễ coi” ở Sài Gòn , dân chủ hơn chế độ ở Miền Bắc có thể làm cho Hà Nội có điểm tốt ở Á Châu, lại có thể giúp họ giữ được khoảng cách đối với Mạc tư Khoa và Bắc Kinh . Người Pháp còn nghĩ tới những sự cạnh tranh cố hữu giữa Miền Nam và Miền Bắc. Ông Dương Văn Minh sẽ thật sự là người của tình thế này. Cộng sản Hà Nội đến một lúc nào đó sẽ được độc lập đối với cộng sản Mạc tư Khoa. Như vậy tại sao Miền Nam Việt Namsẽ không được như vậy đối với Hà Nội, ít nhất trong một thời gian nào đó?.

Nghị sĩ Paul d’Ornano đến Sài Gòn. Ông nói cho những người này và những người kia về tiêu lệnh của Tổng Thống Pháp: ở lại tại chỗ! Gần như nhờ đó mà cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn loan truyền ra một niềm lạc quan nào đó. Người Mỹ, trong đó có ông Snepp, có cảm nghĩ là thái độ đó gây ảnh hưởng rất nhiều cho người Việt Nam. Nếu người Pháp không đi, điều đó có nghĩa là sẽ có một cuộc dàn xếp nào đó, có thể là một mầm móng của một quốc gia không cộng sản ở Miền Nam Việt Nam. Một loại giải pháp Nam Kỳ. Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn hoạt động trong chiều hướng này. Tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội thì không tin như vậy.

Ngày 25 tháng 4

Tại trại Davis tướng Hoàng anh Tuấn biết là sẽ không có thương thuyết, và biết là thời điểm chót của “sức mạnh cách mạng” đã đến. Trong trận chiến cuối cùng đó, phi trường Tân Sơn Nhất sẽ bị pháo kích.

Tướng Tuấn gởi cho Hà Nội một công điện ngày hôm nay, theo đúng “mốt” anh hùng tính của những phim ảnh Bắc Việt:

_ “Xin Bộ Tham Mưu đừng nghĩ gì đến sự hiện diện của cá nhân tôi và những người của tôi ở trại Davis. Chúng tôi sẽ đào hầm núp để giữ vị trí của chúng tôi đã chiếm đóng. Nếu quân địch phản ứng mạnh, xin pháo binh của chúng ta cứ tăng cường pháo mạnh, đừng lo nghĩ gì đến chúng tôi. Đây là một danh dự cho chúng tôi khi được hy sinh cho chiến thắng của chiến dịch và cho chiến thắng của cách mạng”

Danh dự hay không khi tự hiến mình cho sự hy sinh, các sĩ quan, hạ sĩ quan và bộ đội Bắc Việt hay Việt Cộng ở trại Davis đều không thấy bao giờ được an toàn trong những dãy nhà bằng cây lợp tôn. Họ dùng xẻng, cuốc hoặc đôi khi dao găm và cọc sắt để đào hầm núp, với những bao mà họ làm để đựng đất. Các biện pháp này không thể che chở họ được khi mà trái đạn pháo rơi ngay vào hầm núp, nhưng có thể giúp họ tránh được những mảnh đạn pháo.

Trong kế hoạch tấn công, tướng Dũng rất chú ý đến sự hiện diện của các phái đoàn cộng sản ở trại Davis. Tướng Tổng Tư Lệnh Bắc Việt này viết:

_ “Trong tiến trình soạn thảo kế hoạch tác xạ vào căn cứ Tân Sơn Nhất, chúng tôi nhiều lần nhấn mạnh với những người có trách nhiệm để họ nhớ đến sự hiện diện của phái đoàn chúng ta để tránh tổn thất cho chúng ta.”

Các binh sĩ của Miền Nam thường xuyên và lặng lẽ canh gác cho các phái đoàn Bắc Việt và Việt Cộng ở trại Davis. Hai phái đoàn cộng sản này có vũ khí cá nhân và một vài khẩu liên thanh. Không đủ để chống trả được một cuộc tấn công nghiêm trọng. Một vài đại đội Dù của Miền Nam cũng có thể chiếm trại Davis một cách nhanh chóng.

Tổng Thống Hương cho gọi đại sứ Martin. Ông giải thích rằng ông Thiệu làm cho cuộc sống của ông không được thoải mái. Ông Thiệu cứ tiếp tục cố vấn cho ông quá nhiều. Ông có cảm nghĩ là sự hiện diện của ông Thiệu ngăn cản ông trong việc thương thuyết. Ông thích được thấy ông Thiệu ra đi.

_ Hoa Kỳ có nhận ông ta hay không?

_ Có, tôi chắc chắn như vậy, ông Martin đáp.

Cũng như phần đông các tướng lãnh, ông Thiệu cũng có một tư dinh ở phi trường Tân Sơn Nhất. Ông ta có thể đến đó ở. Ông Martin nghĩ rằng ít nhất ở đó ông sẽ được an toàn hơn chỗ khác. Sau khi ông Thiệu đã từ chức, ông Martin không muốn thấy một ông Thiệu bị ám sát.

Ông Martin cho gọi một phi cơ từ Băng Cốc đến, một phi cơ cánh quạt lúc nào cũng được đặt dưới quyền xử dụng của ông ta. Theo lệnh của ông Martin, tướng Timmes đề nghị ông Thiệu nên rời khỏi Việt Nam. Ông Thiệu chấp thuận. Ông sẽ đến Đài Loan, nơi đó có anh của ông đang là đại sứ. Vào hồi 19 giờ 30, lúc trời vừa tối, ông cựu Tổng Thống rời khỏi Dinh Độc Lập trong chiếc xe Mercédès, và thay vì đến tư dinh của mình, ông lại đến thẳng tư thất của cựu Thủ tướng Khiêm cùng ở căn cứ Tân Sơn Nhất. Ông Martin giao cho ông Polgar phải cho các người đi theo ông Thiệu điền vào những tài liệu được Tổng Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ chứng thực, được phát ra theo lệnh của Tổng Thống Ford. Những tờ khai này sẽ cho các đương sự quyền được ở trên nước Mỹ với tư cách là người tỵ nạn. Trong lúc hấp tấp, ông Polgar quên những tài liệu đó. Bà Thiệu cũng như bà Khiêm đã đi trước mấy ngày rồi. Ông Thiệu ra đi với 15 người. Lúc 20 giờ 30, tướng Timmes, Frank Snepp và hai viên chức khác đi đến nhà ông Khiêm. Ông Timmes giới thiệu Snepp cho ông Thiệu:

_ “Đây là một phân tích gia của Trung Ương Tình Báo (CIA). Ông ta là một tài xế lành nghề.

Mọi người đều cười. Ông Thiệu, ông Khiêm và ông Polgar cả ba đều lên xe. Trước khi đi qua phi trường quân sự ông Timmes khuyên ông Thiệu nên cúi xuống:

_ “Thưa Tổng Thống, chỉ để giữ an toàn cho Tổng Thống.

Ông Timmes hỏi ông Thiệu về tin tức của bà Thiệu và con gái của ông

_ “Họ đang ở Luân Đôn, chắc đang đi mua đồ cổ.

Các bản ngoại giao giúp cho xe qua hàng rào cản dễ dàng. Ông Martin đứng chờ ông Thiệu cạnh phi cơ. Ông đại sứ ghi nhận là chung quanh hai ông cựu Tổng Thống và cựu Thủ Tướng, chỉ có vài người sĩ quan mà ông ít biết. Quý vị hành khách này không có nhiều hành lý, chỉ có vài chiếc va ly, vài xách tay, các máy ảnh. Ông Martin cho lệnh phi công tắt hết đèn trên phi cơ.

Lúc bấy giờ ông mới nói cho phi công biết là phải đi đến đâu: Đài Bắc, ở Đài Loan. Ông Thiệu thân mật vỗ vai cám ơn ông Snepp và bước lên phi cơ. Ông Martin bước theo ông Thiệu.

Rất bình tĩnh, ông Thiệu nói:

_ “Cám ơn”

_ “God speed, xin Thượng Đế giữ gìn ông, ông Martin dùng một thành ngữ rất đẹp và rất cổ nói với ông Thiệu.

Chiếc phi cơ cất cánh. Ông Martin lên xe, không còn lo lắng gì nữa. Ông đã làm xong một việc rất tốt. Ông Thiệu vẫn được bình yên vô sự. Bây giờ làm sao để các đứa con của Hà Nội cho ông Martin một chút ngơi nghỉ đây? Để cho ông hoàn tất được cuộc di tản. Cũng như ông Polgar, ông Martin đi đến một khu cư xá ở phía Tây của Sài Gòn, ở đó trong một biệt thự, người Ba lan đang đãi rượu. Đại sứ Ryssard Fijalkowski gặp riêng ông Martin. Ông Martin hỏi đại sứ Ba Lan câu hỏi với một trăm ngàn Mỹ kim:

_ “Sau ông Hương, Hà Nội có chấp nhận ông Dương Văn Minh không?

Đại sứ Ba Lan phải đi hỏi lại. Nhưng ông hỏi lại một câu mà cộng sản Việt Nam đang lo lắng:

_ “Tất cả chúng ta đều nhắm vào chuyện thương thuyết để làm việc. Ông cho tôi biết coi tại sao có quá nhiều tàu chiến Hoa Kỳ ở phía Nam của biển Trung Quốc?

_ “Tôi hết sức hy vọng là cả ông và tôi đểu phải hiểu tại sao, ông Martin trả lời.

Trên thực tế ông có thể nói cho tôi biết, ông đây, tại sao có quá nhiều dàn hỏa tiễn Bắc Việt được đặt quá gần Sài Gòn? Nhờ ông cho các bạn của ông ở Hà Nội biết là nếu họ muốn chống lại cuộc di tản của chúng tôi thì tức khắc họ sẽ biết tại sao có hạm đội của chúng tôi ở đó.

Ông Martin nghĩ rằng vị đồng nghiệp Ba Lan của ông sẽ mau chóng chuyển ngay về Hà Nội tin tức này. Ông Martin không thích cái thú ăn chơi kiểu thượng lưu ở đây và ông ra về ngay. Tóm lại ông đã có được một ngày khá tốt. Đã có trên một ngàn người Mỹ, cùng vợ con, bè bạn của họ đã được ra đi, dù có hay không có đầy đủ giấy tờ.

Và cả một ông Tổng Thống.

Để thực hiện tốt cuộc hành quân di tản của mình, ông thấy cần nhất là ông phải có thì giờ Bị nhốt trong một căn nhà, linh mục Jean Mais nghe một phụ nữ trẻ thét lên:

_ “Ngày nào như ngày nấy, bà ta tắm rửa trong một bồn tắm đầy bia 33. Ông ta đã đi ra ngoại quốc rồi với nhiều tấn vàng. Bọn họ hay lắm, người này cứ thay thế cho người kia, chúng tôi phải chiếm Sài Gòn thôi.”

Người đàn bà trẻ này nói về bà Thiệu. và về ông Tổng Thống , về những người thay thế ông ta. Linh mục Mais và người đệ tử của ông được đưa đi từ nhà này đến nhà khác. Bây giờ thì người ta đã gọi linh mục là “anh” để chứng tỏ rằng ông không có gì cao hơn người đối thoại với mình.

_ “Anh, tôi phải trói tay anh lại.

_ “Tại sao?”

Người ta không trả lời cho ông. Người đệ tử của ông thì không bị trói tay. Trên sàn nhà cạnh linh mục có hai người ngồi. Một người thì bị trói tay, người kia thì không bị trói. Không còn chiếc chiếu nào nữa, cũng như giọng nói cũng đã thay đổi.. Tất cả đều chờ. Một ngày, hai đêm…. Họ nghe tiếng xích của chiến xa trên đường. Xuyên qua kẻ ván, linh mục quan sát cuộc di chuyển. Ông thấy nhiều hỏa tiễn SAMM được xe Molotova kéo. Đối với linh mục, ông thấy Miền Nam Việt Nam không có phản công nữa, và không phải CPLTCHMN nắm lấy chánh quyền ở Miền Nam.

Bắc Việt sẽ chiếm Miền Nam

Mặc dù tiếng đồn khắp Sài Gòn cũng như ở các vùng của cộng sản, nhưng thực sự ông Thiệu không phải ra đi với số vàng của Ngân Hàng Việt Nam.

Dĩ nhiên là mọi người đều quan tâm, chánh quyền ở Sài Gòn cũng như chánh quyền ở Hoa Thạnh Đốn . Nếu cộng sản chiếm được thủ đô Sài Gòn, người ta muốn thấy rằng họ sẽ không chiếm được số vàng này. Có hai người theo dõi vấn đề này rất sát ngày 26 tháng 4. Đó là ông Nguyễn văn Hảo, cựu Phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh Tế, và một cố vấn của tòa đại sứ Hoa Kỳ, ông Dan Ellerman. Số vàng này có thể sẽ được ký thác ở Thụy Sĩ, vào Ngân Hàng Quốc Tế, hay ký thác ở Hoa Kỳ ở Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang. Ông Hảo không muốn gởi số vàng này ở Hoa Kỳ dưới sự kiểm soát của người Mỹ. Ông Martin nhấn mạnh để các thỏi vàng này phải được di tản. Ông đến dinh Tổng Thống. Ông Hương dường như lãng trí.

Ông Martin ra về với sự tin tưởng là ông Hương chấp thuận chuyện di tản số vàng này.

Cùng ngày, ông Kissinger điện qua: Chuyện “gởi đi” này – (người ta không hề nói đến vàng) – có thể phải được bảo hiểm cho nhiều tỷ mỹ kim., phải lên đến hai trăm bốn mươi triệu mỹ kim (240 triệu) . Bảo hiểm chỉ có giá trị khi nào sự “gởi đi” phải trước ngày 27 tháng 4. Ông Hảo lo việc chuyển đi, nhưng có nhiều nghi vấn và ông phải cho Tổng Thống biết. Hoặc ông Hương còn là Tổng Thống hoặc ông Dương Văn Minh lên cầm quyền. Nếu số vàng được gởi đi, những người này hay người kia có thể sẽ bị cáo buộc là phản bội. Cần phải suy nghĩ lại. Người Mỹ dự trù là sẽ chuyển đi những thùng đựng các thỏi vàng trên một phi cơ quân sự , như thế sẽ giải quyết được vấn đề bảo hiểm. Các quân nhân không cần thiết phải có nhiều biện pháp phòng ngừa. Công tác chuyển hàng này được dự trù ngay đêm nay.

Tòa đại sứ nhận được điện thoại của ông Hảo: Ông Hảo tuyên bố là Tổng Thống Hương không cho phép chuyển vàng đi. Như vậy là số vàng đã đóng thùng vẫn còn được cất giữ ở ngay chỗ cũ, dưới hầm của Ngân Hàng Quốc gia.

Bị giao động vì quá nhiều lời khuyên của những người này người khác, Tổng Thống Hương, người luôn luôn tôn trọng Hiến Pháp, đã triệu tập Lưỡng Viện Quốc Hội Việt Nam Thượng Viện. Ông đặt với họ một câu hỏi rất nghiêm trọng:

“Liệu tôi có thể từ chức và giao quyền hành lại cho tướng Dương Văn Minh được không?

Để ông ta bắt đầu các cuộc thương thuyết với địch?”

Các nghị sĩ và dân biểu tranh luận với nhau suốt 10 tiếng đồng hồ.

Trong lúc ở ngoài hành lang, ông Pierre Brochand của tòa đại sứ Pháp theo dõi cuộc tranh luận. Buổi họp bị ngưng nhiều lần với những pha cãi cọ qua lại và những bài diễn văn bi thảm, buồn cười và giật gân.

Cuối cùng các nghị sĩ và dân biểu cũng bỏ phiếu cho một quyết nghị:

_ “Họ tái xác nhận lòng tin của họ đối với Tổng Thống Hương. Họ để cho vị Tổng Thống này được trọn quyền quyết định, kể cả quyết định trao quyền lại cho “một nhân vật nào đó được ông lựa chọn”.

Quyết nghị này vi hiến, nhưng nhìn chung, nó cũng giữ được một hơi hướng bàn bạc của pháp chế.

Vào buổi trưa, trong lúc cuộc thảo luận còn đang tiếp tục ở Thượng Viện, đại tá Võ đông Giang họp báo ở trại Davis. Không có gì khích lệ cho lắm về triển vọng thương thuyết. Ông ta chỉ nói:

_ “Các đơn vị của chúng tôi tiếp tục tiến quân, sẽ không có ngừng bắn.”

Ông ta nêu ra 9 điều kiện mà người Mỹ phải thi hành. Trong số đó đại tá Giang bắt buộc:

_ Tất cả các thành viên của CIA phải ra đi hết,

_ Rút hết tất cả các tàu chiến Hoa Kỳ đang lảng vảng trong vùng lãnh hải của Việt Nam cũng như 6000 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trên hạm đội đó.

_ Rút hết tất cả 200 phi cơ Hoa Kỳ mà theo ông ta đang sẵn sàng can thiệp,

Ông ta còn nêu thêm 7 điều kiện tiên quyết cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Bảy điều kiện này chung quy chỉ nhằm triệt tiêu hoàn toàn Chánh Phủ này.

Trong khi đại diện của cộng sản đang thao thao bất tuyệt ở trại Davis, thì ông Pierre Brochand điện thoại cho ông Polgar. Theo ông thì các chánh trị gia của Sài Gòn chậm chạp và viển vông đã làm mất quá nhiều thì giờ:

_ “không còn nghi ngờ gì nữa, đã quá trễ cho việc thương thuyết.”

Những người Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế cũng nghĩ như vậy. Cơ quan CIA biết rằng một chiếc phi cơ Ilyouchine sẽ đáp xuống Tân Sơn Nhất trong vài giờ nữa để bốc 280 nhân viên Ba Lan về Varsovie (Ba Lan) qua ngả Băng Cốc. Chuyện di tản này chỉ có một ý nghĩa: người Ba Lan thấy trước một cuộc tiến chiếm Sài Gòn của Bắc Việt và họ không có một hứng thú nào ở lại tại chỗ để chờ đón giải phóng quân. Đây là lần duy nhất người Ba Lan không hề trao đổi tin tức của họ cho ông Snepp hay ông Polgar.

Cuộc di tản đang được tiếp tục rất có tổ chức và trong vòng trật tự. Vị Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương đã cho ông Martin biết về những cảm tưởng của ông ta:

  • “Tinh thần của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã xuống thấp vì gia đình của họ không được di tản cùng với những người tỵ nạn khác..Tại Đà Nẵng mười thành viên thuộc cơ quan tình báo của sư đoàn 1 Không quân của Miền Nam Việt Nam đã bị hành quyết… Người Việt Nam tin rằng họ sẽ bị hành quyết nếu người ta không giúp cho họ trốn thoát.”

Ông Martin giận lắm: các cơ quan tình báo ở Honolulu đã có hoạt động, nhưng ông ta, đại sứ Martin, thì có cần gì đến những tin tức mãi từ xa, tận Honolulu như vậy đâu, về những chuyện đang xảy ra ngay cạnh ông ta, ở Việt Nam.

Ông Kissinger lo âu. Làm gì mà ông Martin cấp giấy phép đi như vậy? Có phải thật sự các phi công Miền Nam Việt Namđang chuẩn bị bắn hạ các phi cơ di tản của Hoa Kỳ hay sao? Từ đâu mà họ biết là cộng sản đã có danh sách những người phải hành quyết, đến hàng triệu người?

Ông Martin trả lời ngay. Rất tự tin, đại sứ Martin nói rõ:

_ “Phải biết lọc kỹ các tin đồn”. Càng ngày càng có nhiều bằng chứng là Hà Nội “mặc nhiên đồng ý sự di tản… trong khi sự di tản chánh trị ở Sài Gòn tiếp tục theo một đường hướng thuận lợi cho họ.” Bằng chứng thiện chí khác của Hà Nội: Họ có thể chiếm cảng Vũng Tàu, cách thủ đô Sài Gòn 80 cây số về phía Nam, nhưng họ không chiếm. Tướng Homer Smith có đi thám sát Vũng Tàu. Người ta sẽ cho 2 chiếc phi cơ vận tải C.130 để di tản gia đình của 250 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam theo yêu cầu của vị Tư Lệnh của họ. Tất cả các thủ tục đều đã làm xong và rất đầy đủ. Các phi cơ sẽ đáp xuống và sẽ cất cánh trong vòng vài phút. Không có phi cơ nào của Miền Nam Việt Nam ở khu vực đó. Như vậy là sẽ không có một nguy cơ nào từ một sự can thiệp bắn phá của các phi công Việt Nam. Cuộc di tản này coi như một cuộc hành quân thí nghiệm. Người ta sẽ thấy đề đốc Bùi thế Lân thật sự có thể bảo vệ được phi trường ở Vũng Tàu hay không”.

Các nhà ngoại giao Pháp bám sát Tổng Thống Hương suốt ngày. Riêng hai ông Mérillon và Brochand thì lộ rõ vẻ lo lắng. Họ bắt đầu nghi ngờ rằng người ta có thể nhận cả một sự đầu hàng trong thương thuyết. Họ tỏ vẻ tin tưởng một cách công khai. Bây giờ thì ông Polgar có thể tin tưởng hơn người bạn đồng nghiệp Brochand của ông về giải pháp Dương Văn Minh.

Tờ báo Tin Tức Viễn Đông, gần như là tờ báo bán chánh thức của tòa đại sứ Pháp, đưa lên hàng đầu 4 tin tức, ngày thứ bảy 26 tháng 4:

“(1).-Tổng Thống Giscard d’Estaing đã nói chuyện với đại sứ Pháp ở Sài Gòn qua điện thoại.

“(2).- Ông Jean- Marie Mérillon đã được Tổng Thống Trần văn Hương tiếp kiến lần thứ ba.

“(3).- Nghị sĩ M. Paul d’Onano đã đến Sài Gòn , mang theo một thông điệp của Tổng Thống Pháp cho các công dân Pháp ở Việt Nam“(4).- Sẽ có một cuộc hưu chiến…”

Diễn dịch: những cuộc vận động của người Pháp đang tạo dựng tình hình cho một cuộc ngừng bắn, để đi tới một giải pháp chánh trị qua thương thuyết.

Tờ báo này cũng cho biết nhiều tin đồn ở Sài Gòn: 5 sư đoàn Bắc Việt trở về Hà Nội , và một lần nữa, một cuộc đảo chánh đã nổ ra trong thủ đô Bắc Việt.

Báo chí Việt Nam thay đổi danh từ. Họ dùng chử “đối phương” hay “anh em” thay vì “quân cộng sản” như họ đã thường dùng.

Các công ty hàng không ngoại quốc như Pan Am, Hàng Không Singapore, Thái International, Hàng Không Trung Hoa, Cathay Pacific … không còn ghé lại Sài Gòn nữa. Trái lại hàng không Air France và hàng không UTA nghiên cứu khả năng để tăng thêm các chuyến bay phụ trội cho ngày chúa nhật 27 và thứ hai 28 tháng 4. Hai Ngân Hàng Mỹ là Chase Manhattan và First National City Bank, đóng cửa mà không báo trước cho khách hàng của họ. Người ta nghĩ rằng Ngân Hàng “Bank of America” cũng sẽ đóng cửa theo. Tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ cho biết ý định của ông là ủng hộ Dương Văn Minh, nếu ông này thay thế Tổng Thống Hương. Có nhiều tin trái ngược mâu thuẩn nhau về tình hình ở tỉnh, nhất là ở phía Nam của thủ đô Sài Gòn.

Thông báo trong tờ “Tin Tức Viễn Đông” “Đính Chánh”

Trong những ngày gần đây, có nhiều tin đồn có ác ý do một vài người xấu miệng loan truyền, nhằm làm hại thanh danh và danh dự của gia đình chúng tôi, về những chuyện gọi là “cướp bóc và hiếp dâm” đã xảy ra tại quán trọ Roches Noires, ở Bãi Dứa, Vũng Tàu.

Để trả lời cho những chuyện bép xép này vốn chỉ là những chuyện ngồi lê đôi mách đốn mạt không đáng của những người đứng đắn, nhân danh gia đình của mình, tôi cực lực đính chánh và tuyên bố là không hề có xảy ra chuyện cướp bóc hay hiếp dâm nào trong quán trọ. Chúng tôi vẫn còn ở tại đây trong hiện tại như bao nhiêu người khác trong quý vị, trong an ninh và hoàn toàn an ninh đúng nghĩa của danh từ này.

Dù trong tình huống nào, dù có sự dàn dựng kể trên, quán trọ của chúng tôi vẫn hoạt động bình thường và vẫn tiếp tục phục vụ cho khách hàng thân mến của chúng tôi.

Là một người đứng đắn, tôi tha thứ hết những luận cứ không xác thật được tung ra trong thời điểm lệch lạc và yêu cầu tác giả (hay những tác giả) của chúng hãy có một chút lương tri và nhất là liêm sĩ để rút lại những lời xảo trá đó vốn nhằm hãm hại gia đình chúng tôi và phá hoại việc làm ăn của chúng tôi.

Lâm văn Hỗ Gustave

Vũng Tàu (Cap Saint Jacques)

Một chỉ dấu quá rõ ràng cho dân chúng Sài Gòn: đó là siêu thị P.X (Post Exchange) một siêu thị rộng lớn không đánh thuế của người Mỹ, đã loan tin là sẽ đóng cửa. Người ta dọn trống hết các kệ, đóng thùng hết các loại rượu mạnh. Tất cả các thứ còn lại như thuốc lá, thức ăn đóng hộp, các bọc khoai tây chiên dòn, máy thu băng.. v.v. đều được bán đại hạ giá năm chục phần trăm (50 %).

Ngoài thành phố, người ta bắt đầu biết được là có rất nhiều binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vốn không phải là binh sĩ từng canh gác tòa đại sứ trước đây, đã đến từ tối hôm qua tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Một vài chánh trị gia người Việt Nam không hề tin có giải pháp thương thuyết. Ông Bùi Diễm điện thoại cho ông Martin:

_ “Tôi không còn có thể làm được gì cho đất nước tôi nữa. Tôi đã quyết định phải rời khỏi Việt Nam. Ông có thể giúp được tôi gì không? Tôi muốn đi với bà mẹ già của tôi.

Một nhà ngoại giao (ông Phó đại sứ Josiah Bennett) đến tìm ông Bùi Diễm. Ông Martin cho xử dụng một chiếc phi cơ nhỏ loại 8 chỗ ngồi của Hải Quân Hoa Kỳ . Đài kiểm soát Không Lưu không cho phép cất cánh. Một ông đại tá Mỹ sốt ruột:

_Phải liều thôi. Cất cánh đi!

Và phi cơ bay đến Băng Cốc (Thái Lan)

Các tướng Văn Tiến Dũng và Trần Văn Trà cho lệnh các người có trách nhiệm ở trại Davis hãy đào hầm núp. Tướng Trà đã nghĩ là phải gởi các đơn vị đến để đem người của họ ra khỏi trại này. Nhưng rồi ông phải bỏ ngay ý định đó, sợ rằng sẽ có nhiều “tổn thất đáng tiếc”. Những người ở trại Davis lo tăng cường các hầm núp của họ nhằm tự bảo vệ, tránh đạn pháo của địch và cả pháo nặng 130 ly của họ nữa. Tại Tân Sơn Nhất, trong trại Davis này vốn có 12 chòi canh được binh sĩ Miền Nam dựng lên chung quanh, đại tá Bắc Việt Ngô văn Sương lo tăng cường hệ thống trú phòng. Binh sĩ và sĩ quan lo đào sâu thêm nữa, dùng những tủ thiếc đổ đầy đất đặt trên nấp hầm. Họ có một bệnh xá nhỏ ở dưới hầm và có một hệ thống giao thông hào nối liền các dãy nhà của hai phái đoàn của họ.

Tướng Trà sẽ đưa các sư đoàn của ông ta tiến chiếm Sài Gòn .cuộc dàn quân đã hoàn tất: về phía Tây Bắc thì có quân đoàn 3 Bắc Việt, về phía Bắc thì có quân đoàn 1, về phía Đông thì có quân doàn 4 và quân đoàn 2, về phía Tây Nam thì có lực lượng chiến thuật 232 (xem bản đồ đính kèm). Tất cả là 18 sư đoàn.

Cũng vô ích như chuyện đóng cửa các ngân hàng ở Sài Gòn , đó là thông điệp của Tổng Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ ngày 26 tháng 4.

Ông Tổng Trưởng James Schlesinger gởi một vài lời trấn an đến các nam nữ quân nhân thuộc quân lực Hoa Kỳ,

_ “Trong lúc thực hiện cuộc triệt thoái cuối cùng các quân nhân Hoa Kỳ khỏi nước Việt Nam, đối với nhiều người trong các bạn, tấn thảm kịch ở Đông Nam Á đã là một biến cố xa xôi và vô nghĩa. Các bạn đã từng chiến đấu ở đó. Các bạn đã từng mất đi bè bạn ở đó, các bạn đã từng đau khổ ở đó. Trong chiến trận, các bạn đã từng chiến thắng và các bạn rời chiến trường trong danh dự… Người ta sẽ nói chiến tranh quá phù phiếm. Trong một khía cạnh nào đó, người ta có thể nói chuyện đó như là nỗ lực quốc gia nào cuối cùng cũng không thành công. Nhưng việc tham chiến của chúng ta có một mục đích…. Tôi xin ngả mũ chào các bạn. Dù thế nào thì các bạn có quyền được kính trọng, được hoan nghênh, và được biết ơn…”

Gần như một lời cầu nguyện! Quân dội Hoa Kỳ luôn luôn được đặt dưới quyền lãnh đạo dân sự. Vào năm 1975 cũng không hơn gì năm 1973 đã có một phản ứng dữ dội trong nội bộ Quân đội . Không có chuyện nổi dậy nếu so sánh với cuộc nổi dậy của Quân đội Pháp ở Algérie. Một số lớn các sĩ quan hiện dịch Mỹ đã khẳng định là họ bị quyền lực dân sự trói tay. Có nhiều quân nhân hiện dịch đã giải ngũ một cách lặng lẽ.

Cả thế giới đều biết là sẽ không còn có một quân nhân Hoa Kỳ nào nữa ở Việt Nam. Nhiều người Mỹ có quan điểm khác nhau về chánh trị cũng không nghĩ rằng Quân đội Hoa Kỳ đã “chiến thắng”! Hay là họ đã ra đi “trong danh dự”!

Với một ít may mắn nào đó, tốt nhất là cuộc ra đi cuối cùng sẽ đúng phương pháp và xứng đáng!

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

Trở Lại Trường

Mỗi năm sau những ngày hè, mỗi lần trời chớm sang Thu, ngoài các cửa hiệu trong gia đình các bậc cha mẹ và các em học sinh, chuẩn bị mua sắm cho ngày trở lại niên học mới, nói như Thanh Tịnh, thì “lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường … “

Ý nghĩ của con người, theo thời gian, mỗi năm mỗi khác, nhưng niềm luyến tiếc của một đời người ngắn ngủi là sau một mùa hè nào đó, chúng ta không bao giờ có thể trở lại trường nữa. Sau này khi đã ra đời, đôi khi chúng ta cũng còn có dịp cắp sách trở lại, nhưng còn đâu là sự hồn nhiên và tuổi thơ có thể mang vào trong lớp học như những ngày xưa. Ai cũng công nhận tuổi học trò là tuổi vui tươi, đẹp đẽ, trong sáng nhất của một đời người. Có người hưởng trọn vẹn được một thời cắp sách đầy đủ hạnh phúc, nhưng cũng có người không có được một tuổi học trò, nghĩa là chưa bao giờ được đến trường học hay bị gián đoạn vì nhiều nguyên nhân. Trong nhiều đất nước nghèo đói lạc hậu, trẻ em sinh ra lớn lên có chút trí khôn đã phải lăn ra đời kiếm sống, bắt ốc, hái rau. Chiến tranh gây đổ nát, tang tóc, làm nhiều gia đình ly tán. Hoàn cảnh khốn cùng của nhiều gia đình không cho các em có cơ hội đến trường.

Tuổi trung học, vào một ngày tựu trường nào đó, trong những khuôn mặt mới, bỗng dưng chúng ta thấy mất đi nhiều người bạn cũ. Nhiều bạn nữ sinh đã “theo chồng, bỏ cuộc chơi” như là một quy luật của cuộc đời, nhiều bạn trai đã “xếp bút nghiên, lên đường tranh đấu”, nhiều anh em đã ra đời sớm vì nợ cơm áo nhọc nhằn. Nhà trường đôi khi còn trở thành bãi chiến trường, bom đạn, di tản hay tan hoang, kẻ còn người mất. Chúng ta còn lại, nhưng rồi mai kia chúng ta cũng ra đi, nhà trường chỉ là nơi gặp gỡ của những buổi đầu, và phải chăng, người thầy là nhân vật đã chứng kiến những sum họp và chia lìa như thế?

Tôi cũng có một thời đi học vui tươi nhưng không được song suốt, vì mấy năm chiến tranh và phải từ giả nhà trường ra đời mưu sinh sớm. Tôi còn nhớ một buổi tựu trường cha tôi đèo tôi trên chiếc xe đạp “giàng” của ông cho tôi đỡ một đoạn đường đi bộ. Ngồi trên xe với ông, tôi khóc sụt sùi, vì phải đội một cái nón cối cũ vừa được sơn lại: “Cha ơi! tụi nó cười con!” Nhà nghèo đông con, ăn không đủ no, áo quần còn thiếu thốn, mùa Đông xứ Huế lạnh buốt, những ngày mới hồi cư, anh em chúng tôi chỉ đắp bằng những manh chiếu mà không có chăn, hở đầu lòi chân. Tôi có được một chiếc quần tây cũ đã sờn do người anh họ tôi ở Saigon mang cho, người thợ may đã lộn trái và may lại cho tôi thành một chiếc quần mới. Bộ đồ tươm tất nhất của tôi có lẽ là bộ đồ “short” bằng vải kaki vàng, ưu tiên cho tôi, mà cha tôi đã mua được nhờ tem phiếu dành cho công chức.

Dù vậy những ngày đến trường cũng là những ngày hồn nhiên mà muộn phiền, khổ sở mau quên. Dù vậy, ngày phải bỏ học có lẽ là ngày buồn nhất của đời tôi, vì tôi biết tôi không bao giờ có thể trở lại trường.

Tôi biết thứ lớp, giai cấp trong xã hội cũng thường căn cứ trên học vấn, khoa bảng chia nhau quyền lực của giai cấp thống trị, trừ thời ly loạn, nhưng quả không được học hành là một điều thiệt thòi lớn nhất của nhân loại.

Tôi không danh giá được như ông Nicolas Carnot của nước Pháp trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, trở lại thăm trường cũ để hãnh diện, ân cần nói với các em học sinh nhỏ tuổi rằng: “Ta có được ngày hôm nay là nhờ công lao dạy dỗ của thầy giáo!” Tôi cũng không đủ tiếng tăm để tặng cho ngôi trường trung học cũ

Đồng Khánh một học bổng như nhà văn Nhã Ca đã làm. Tôi cũng không là danh tướng như Nguyễn Khoa Nam để trường Khải Định hãnh diện đã sinh sản ra một bậc anh hùng. Tôi thường có mặt một cách bất đắc dĩ trong các buổi họp “bạn cũ- thầy xưa,” có thể thu mình trong một góc nào đó với những thằng bạn không hề là niềm hãnh diện của thầy cùng của bạn chút nào, trong khi trên sân khấu những tay khoa bảng hãnh diện vái chào, tâng bốc nhau!

Trong quân đội tôi đã được nhìn ánh mắt của một người bạn cũ tốt nghiệp sĩ quan với một người bạn cũ “hỏng tú tài anh đi trung sĩ.” Ở ngoài đời, người ta phân biệt ông bác sĩ với một công nhân, tính trên số năm được cắp sách đến trường, phải chăng đó là nỗi đau đớn của hoàn cảnh và số phận nghiệt ngã của con người. Loài người đã phân biệt đen trắng, giàu nghèo, gái trai và lớn lao nhất trên đời này, có lẽ là học vấn.

Vào mùa hè, chúng ta đã đi qua nhiều ngôi trường đóng cửa, chỉ có những chiếc lá khô rụng trong sân trường và tiếng con chim nhỏ hót ở đâu đây. Ngôi trường chờ đợi một ngày để hội ngộ lại những khuôn mặt quen thân. Trong thời loạn, sau mỗi mùa hè, nhà trường tận hiến cho tổ quốc bao nhiêu người trai tuấn tú cho chiến tranh để sân chơi phía sau, trẻ em có những khoảnh khắc bình yên và thong dong trên những con đường cho những tà áo trắng.

Thật không hiểu vì sao, dù ở đâu, quê hương hay đất khách nghìn dặm, lòng tôi lại buồn thấm thía thời gian của những ngày tựu trường, mà đáng lẽ là niềm vui của tất cả mọi gia đình. Ở đây, chưa lúc nào sự ly tán hiện rõ bằng những ngày sum họp. Bạn có nhớ chăng, những ngày giỗ gia đình là những ngày ta nhận thấy có người vắng mặt, ngày Tết đoàn tụ cũng là ngày nhớ lại những người ra đi không bao giờ về. Ngày tựu trường mỗi năm chính là ngày chúng ta kiểm điểm lại bạn bè mất mát, thầy cô giáo qua đời và nhìn thấy rõ những thay đổi lớn lao của cuộc đời mọi người.

Bao nhiêu mùa tựu trường trở lại, nhưng chúng ta không bao giờ còn có thể trở lại trường cũng như trở về tắm trong dòng nước mát của tuổi ấu thơ. Thời gian như cơn nước lũ, cuốn phăng đi bao nhiêu tháng ngày, còn chăng chỉ là những mảnh vụn trong ký ức, trong sáng hôm nay hiện về. Ôi ngày tựu trường, nghe như có tiếng trống trường văng vắng đâu đây, tiếng trống vọng về ở một nơi chốn xa xuôi, không hề có trong hiện thực:

“Gió thổi sân trường chiều chủ nhật – Ôi! Thời thơ bé tuổi mười lăm … “(HC)