Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 3 Mar 2026

Yakanov gọi lớn tên nàng – Angiya – và, như một làn gió, những cảm giác xưa cũ đã bị lãng quên trở lại như mới hoàn toàn làm cho tấm thân đàn ông trung niên, no đủ của y xúc động. Ngày đó y hai mươi sáu tuổi và nàng hai mươi mốt. 
Người thiếu nữ ấy không phải được sinh ra từ trái đất này. Nàng bất hạnh vì nàng có một linh hồn cao thượng và nàng đòi hỏi đến một mức độ nhiều không sao chấp nhận được. Đôi khi, trong lúc nàng nói, đôi mày và hai cánh mũi nàng rung động như những cánh chim bồ câu. Chưa ai từng nói những lời nghiêm khắc đến như nàng với Yakanov, nàng xét nét với một vẻ cực kỳ nghiêm trọng những hành động của Yakanov, những hành động mà y cho là rất thường. Mà rất lạ lùng, khó hiểu làm sao, nàng coi những hành động ấy là ti tiện, hèn hạ. Và nàng càng tìm thấy nhiều tội lỗi ở Yakanov chừng nào, y lại càng bị nàng hấp dẫn, càng muốn được gần nàng chừng ấy. Mối tình của họ thật là lạ kỳ. 
Người ta chỉ có thể nói chuyện với nàng một cách rất thận trọng. Nàng yếu đuối đến nỗi chỉ cần đi lên một ngọn đồi cũng đủ làm nàng kiệt sức, hoặc chỉ chạy vài bước. Ngay cả một cuộc nói chuyện hơi gay gắt cũng đủ làm nàng thở mệt. Người ta dễ dàng làm cho nàng phật lòng, buồn rầu. 
Tuy vậy, nàng vẫn có đủ sức đi trong rừng hết ngày này sang ngày khác và, đây cũng là sự lạ kỳ, không bao giờ nàng đem theo quyển sách nào vào rừng. Sách ngăn cản sự thông cảm giữa nàng và rừng cây, sách làm cho nàng xao lãng sự chú ý vào rừng cây. Nàng chỉ đi lang thang trong rừng cây và ngồi nhìn ngắm những huyền bí của rừng. Những khi Yakanov cùng vào rừng chơi với nàng, y ngạc nhiên vì những nhận xét của nàng: Tại sao thân cây lau chùng xuống mặt đất? Bằng cách nào màu sắc trên những lá cỏ trong rừng đổi màu khi chiều tối? Y chưa từng bao giờ để ý đến những điều ấy. Với y, rừng cây là rừng cây, không khí trong rừng mát dịu và tất cả mọi thứ trong rừng đều có màu xanh. Nhưng nàng, nàng phê bình cả những đoạn tả cảnh thiên nhiên trong tác phẩm của Turgenev, sự nông cạn của những đoạn ấy làm nàng bất mãn. 
“Suối Rừng” – đó là cái tên Yakanov gọi nàng trong mùa hè năm 1927, năm ấy họ ở gần nhà nhau. Họ đi với nhau, họ về với nhau và trước mắt tất cả mọi người, họ là hai người trẻ tuổi đã hứa hôn với nhau. 
Nhưng sự thực, khác hẳn như thế. 
Angiya không đẹp nhưng cũng không xấu, khuôn mặt nàng thay đổi luôn luôn: nàng có thể cười vui và đầy thiện cảm, nhưng nàng cũng có thể trình bày một bộ mặt dài thượt, mệt mỏi, thiếu hấp dẫn. Nàng cao hơn đa số đàn bà một chút, thân hình nàng mảnh mai và yếu đuối, bước đi của nàng nhẹ đến nỗi người ta tưởng như hai bàn chân nàng không hề chấm đất. Trong thời gian đó tuy rằng Yakanov đã có khá nhiều kinh nghiệm về đàn bà, tuy y đặt cao giá trị về da thịt trên thân thể đàn bà, một cái gì khác hơn nhan sắc và thân thể của Angiya vẫn hấp dẫn y tới nàng. Và bởi vì y bị nàng hấp dẫn, y tự nhủ rằng y yêu nàng vì nàng là đàn bà và rồi thân thể nàng sẽ nảy nở. 
Nhưng trong khi nàng vẫn vui vẻ đi chơi những ngày mùa hạ dài với Yakanov, đi với nhiều dặm sâu vào trong rừng, nằm với y trên cỏ, nàng vẫn tỏ ra không thích để cho y nắm tay. Mỗi khi y nắm tay nàng, nàng hỏi: “Tại sao lại cứ phải nắm tay nhau mới được?”, và nàng gỡ tay nàng ra. Thái độ này của nàng không phải có nguyên nhân là nàng mắc cỡ hay sợ người khác nhìn thấy, vì sau khi Yakanov đòi hỏi nàng phải để y nắm tay cho tự ái của y khỏi bị tổn thương, nàng vui vẻ để cho y nắm tay. 
Tự nghĩ rằng mình yêu nàng, Yakanov nói với nàng về tình yêu của y trong lúc y quỳ dưới chân nàng trên cỏ trong rừng. “Buồn biết chừng nào…” – nàng nói – “Em có cảm tưởng như em đang làm cho anh thất vọng. Em không thể trả lời được anh em có yêu anh hay không. Em không cảm thấy gì cả. Vì vậy em không muốn cả sống nữa. Anh thông minh, anh thật tốt, lẽ ra được anh yêu em phải thấy sung sướng mới phải chứ? Nhưng thật là em không muốn sống”. 
Nàng nói như thế nhưng mỗi buổi sáng nàng vẫn hồi hộp tìm xem có sự thay đổi nào hiện lên trên nét mặt y hay trên thái độ của y hay không. 
Nàng nói như thế nhưng nàng cũng nói: “Ở Mạc Tư Khoa có biết bao nhiêu là thiếu nữ đẹp. Đến mùa thu này anh sẽ gặp một cô thật đẹp và anh sẽ không còn yêu em”. 
Nàng để cho y ôm nàng và hôn nàng, nhưng những khi ấy, môi nàng và tay nàng bất động, vô hồn. “Khó quá đi”, nàng than thở. “Em tưởng rằng tình yêu đến phải sôi nổi ghê gớm lắm, nhưng anh yêu em và em sẽ không bao giờ còn gặp được ai tốt hơn anh, vậy mà sao em vẫn không thấy sung sướng, em chỉ thấy em không muốn sống”. 
Có một cái gì đó như rất lạc hậu ở nàng, một cái gì rất trẻ con. Nàng sợ hãi những sợi dây vô hình, bí mật buộc liền như một người đàn ông với một người đàn bà qua hôn nhân, với giọng nói tê tái, nàng thều thào hỏi: “Chúng mình có thể cưới nhau mà không làm việc ấy không?” Trong cơn khích động, Yakanov trả lời: “Vợ chồng đâu có phải chỉ lấy nhau để làm việc ấy? Đó chỉ là một cái gì phụ thuộc đi sau sự hòa hợp, cảm thông của hai tâm hồn”. Khi nghe y nói câu đó, lần thứ nhất môi nàng yếu đuối hôn y, và nàng nói: “Cám ơn anh. Nếu không có tình yêu, tại sao con người ai cũng muốn sống? Em nghĩ em đã bắt đầu yêu anh. Em sẽ cố gắng yêu anh”. 
Mùa thu năm ấy, một buổi chiều gần tối họ đi bên nhau trong một con phố vắng cạnh công trường Taganka, Angiya bỗng nói bằng giọng nói trong rừng của nàng, giọng nói khó nghe trong tiếng động của thành phố: 
“Anh có muốn em đưa anh tới coi một nơi đẹp nhất của Mạc Tư Khoa không?” 
Nàng đưa Yakanov lên một ngọn đồi, tới một hàng rào gỗ bao quanh một giáo đường nhỏ, sơn trắng và đỏ, tòa giáo đường có hậu đường và bàn thờ chính nằm dựa vào một con phố khúc khuỷu không tên. Bên trong hàng rào chỉ có một lối đi nhỏ vòng quanh giáo đường để rước Thánh giá, lối đi vừa đủ rộng cho ông cha sở và ông trợ tế cùng đi cạnh nhau. Qua khung kiếng mờ của những ô cửa sổ người ta có thể nhìn thấy, sâu trong lòng tòa giáo đường, những ngọn lửa nên lung linh bình yên và những ánh lửa đèn màu thắp dưới những pho tượng. Ở một góc nằm trong hàng rào có một cây sồi cổ thụ, cây sồi lớn và cao hơn mái giáo đường. Cành lá nó đã ngả vàng phủ lên trên cả nóc tròn trên mái giáo đường và con phố bên cạnh, làm cho tòa giáo đường đã nhỏ còn có vẻ nhỏ hơn. 
“Đây là giáo đường Jonh”. Angiya nói. 
“Nhưng đây đâu có phải là nơi đẹp nhất Mạc Tư Khoa?” 
“Chờ xem”. 

Nàng dẫn Yakanov đi qua cổng và trong sân giáo đường. Nền sân đá có những chiếc lá sồi màu vàng và màu cam bao phủ. Trong vùng bóng tối dưới vòm cành lá sồi có một lầu chuông cổ, hình cái lều. Lầu chuông và căn nhà nhỏ dính liền vào giáo đường ngăn chặn những tia nắng của mặt trời đang lặn. Cánh cửa sắt của hành lang phía bắc mở rộng và một người đàn bà nghèo đứng ở đó cúi đầu lễ và làm dấu thánh giá một mình trong tiếng ca cầu rực rỡ từ bên trong vọng ra. 
“Giáo đường này nổi tiếng vì đẹp và lộng lẫy, huy hoàng”. 
Angiya nói thì thầm, nàng để cho vai nàng sát vào vai Yakanov. 
“Giáo đường này được làm vào thế kỷ nào?” 
“Sao anh lại cần phải biết thế kỷ nào? Anh có thấy đẹp không?”
 
“Đẹp lắm, nhưng mà…” 
“Anh coi này…”
 
Angiya gỡ tay nàng ra và kéo y tới khung cổng chính của tòa giáo đường. Họ từ trong vùng bóng tối đi ra làn ánh sáng chan hòa của mặt trời hoàng hôn, và nàng ngồi xuống trên bậc đá thềm cửa. 
Yakanov hít vào một hơi thở dài. Họ như những người vừa từ một khu phố đông của thị trấn bước lên một đỉnh cao và phóng tầm mắt nhìn vào một khoảng xa, rộng. Những bậc thang đá trắng chạy dài từ chân thềm của giáo đường qua lưng ngọn đồi, xuống dòng sông Mạc Tư Khoa dưới kia. Mặt sông cháy rực dưới ánh nắng chiều. Bên trái là tòa nhà Zamoskvorechye với những khung cửa kiếng phản chiếu ánh nắng vàng đến chói mắt người nhìn và bên dưới, gần như ở ngay dưới chân họ, những ống khói đen của nhà máy điện Mạc Tư Khoa tỏa khói lên nền trời chiều. Dòng sông Yauza nhỏ hơn chảy vào dòng sông Mạc Tư Khoa. Gần chỗ hai dòng sông giao nhau là Bệnh viện Foundling. Sau bệnh viện này, những ngọn tường sắc của điện Kremlin nổi lên. Xa hơn nữa, năm tòa tháp tròn mạ vàng của Giáo đường Chúa Cứu Thế sáng rực trong nắng. 
Và trong ánh vàng rực rỡ ấy, Angiya, với chiếc khăn mỏng choàng trên đôi vai, toàn thân như được dát vàng, ngồi nhìn về phía mặt trời. 
“Người Nga này ngày xưa chọn chỗ để xây giáo đường và tu viện thật là khéo” – Nàng nói, giọng nàng như vỡ vụn – “Em đã đi xuôi dòng Volga, em cũng từng đi xuôi dòng Oka nữa, bất cứ chỗ nào giáo đường cũng được họ xây ở những chỗ đẹp nhất, trang nghiêm nhất…” 
Yakanov đáp lời nàng như một tiếng vang: 
“Đúng đấy. Mạc Tư Khoa là nhất…” 
“Nhưng những cảnh đẹp ấy đang mất đi”
– Angiya nói – “Mạc Tư Khoa đang bị tiêu diệt”. 
“Em nói bị tiêu diệt nghĩa là sao? Em nói vậy vô nghĩa”. 
“Họ sắp phá giáo đường này”. 
“Sao em biết là sắp phá?”
 
Yakanov hỏi lại. Y bắt đầu cảm thấy bực bội vì giọng nói có vẻ như kết tội của Angiya. 
“Đây là một kiến trúc cổ. Họ sẽ giữ nguyên nơi đây…” 
Y nhìn lên lầu chuông nhỏ xíu, nơi những cành lá sồi xuyên vào gần chạm cả tới chuông. 
“Họ sắp phá đi mà…” 
Angiya tiên đoán với vẻ biết chắc, nàng vẫn ngồi bất động với chiếc khăn choàng vàng trên vai, trong ánh vàng. 
Không những là gia đình Angiya không dạy dỗ Angiya để nàng tin ở Chúa mà trong dĩ vãng, khi tất cả mọi người đều phải đi lễ nhà thờ, bà mẹ nàng và bà ngoại nàng đều không đi lễ, không giữ những luật cấm, không rước lễ, họ luôn luôn làm cho tôn giáo trở thành lố bịch bởi vì tôn giáo đã chấp nhận nông nô một cách quá ư dễ dãi. Bà ngoại nàng, mẹ nàng và các dì, các cô nàng đều có một tật chung: họ luôn luôn đứng về phía những người bị đàn áp, bắt bớ, săn đuổi, hành hạ bởi chính quyền. Bà ngoại nàng được những người cách mạng trong Phong trào “Dân ý” biết mặt, biết tên vì bà cho họ trốn nấp trong nhà bà và giúp đỡ họ tất cả những gì bà có thể. Những cô con gái bà nối tiếp bà giúp đỡ, che giấu những người cách mạng Xã hội và Dân chủ Xã hội. Và cô bé Angiya bao giờ cũng đứng về phía những con thỏ bị người ta đuổi bắn, những con ngựa bị người ta đánh đập. Khi nàng lớn lên, mọi người trong gia đình nàng đều ngạc nhiên khi thấy nàng bênh vực Giáo Hội Gia Tô vì nàng cho rằng Giáo Hội này đang bị đàn áp, khủng bố. 
Không biết là vì nàng tự nhiên tin ở Chúa hay nàng cố làm cho nàng phải tin, Angiya nói rằng kẻ nào trốn tránh đi nhà thờ là hèn, và trước sự khó chịu của bà ngoại và mẹ nàng, Angiya đến nhà thờ rước lễ. Dần dần nàng cho chuyện đi lễ là quan trọng. 
Yakanov hỏi nàng với vẻ ngạc nhiên thực sự: 
“Tại sao em lại nghĩ rằng Giáo Hội Gia Tô đang bị đàn áp? Có những chuyện gì xảy ra làm cho em nghĩ thế? Các giáo dân vẫn được tự do đến nhà thờ. Không ai cấm linh mục làm lễ, kéo chuông, rước Thánh giá – họ chỉ không được quyền can thiệp vào những vấn đề công dân và giáo dục mà thôi”. 
“Rõ ràng là Giáo Hội đang bị đàn áp” – Angiya cãi lại bằng giọng nói ôn hòa, nhỏ nhẹ như mọi khi của nàng – “Khi người ta nói ra những lời kết tội Giáo Hội phản động, khi người ta in ra tất cả những gì người ta muốn để bôi xấu Giáo Hội họ không cho Giáo Hội được quyền trả lời, quyền tự biện hộ, khi người ta kiểm tra tài sản của Giáo Hội và lưu đày những linh mục – những việc đó chẳng phải là đàn áp thì còn là gì nữa?” 
“Em thấy những linh mục bị lưu đày ở đâu, hồi nào?” 
“Tất nhiên là không thấy ở trong những thành phố đó rồi”. 
“Dù cho họ có đàn áp thật đi nữa” – Yakanov nói – “họ cũng mới chỉ đàn áp có mười năm thôi. Em có biết Giáo Hội đàn áp con người đã bao lâu không? Từ 10 thế kỷ nay”. 
Angiya nhún vai gầy: 
“Thời đó chưa có em. Em đang sống ở thời này, em chỉ thấy những gì xảy ra trong đời em”. 
“Nhưng em phải biết lịch sử chứ! Em không thể viện lý do gì để bào chữa cho sự ngu dốt. Có bao giờ em nghĩ đến chuyện Giáo Hội đã làm cách nào để sống trong suốt 250 năm tổ quốc ta bị bọn Tatar đô hộ không?”
 
“Giáo Hội Gia Tô sống được có thể là vì lòng tin của giáo đồ mạnh. Cũng có thể là vì tinh thần Gia Tô mạnh hơn tinh thần những tôn giáo khác”. 
Nàng nói câu trên như một câu hỏi chứ không phải là một lời quả quyết. 
Yakanov nở nụ cười tha thứ: 
“Em tưởng tượng nhiều quá. Tổ quốc ta có bao giờ thực sự thấm nhuần tinh thần Thiên Chúa giáo trong linh hồn không? Em có thực nghĩ rằng suốt trong cả ngàn năm Thiên Chúa giáo có mặt ở đây người ta có thực sự tha thứ cho những kẻ đàn áp, bóc lột người ta không? Người ta có yêu thương được những kẻ thù của người ta không? Giáo Hội chỉ sống được là vì sau cuộc xâm lăng, trước hơn bất cứ một người dân Nga nào, Giáo chủ Cyril đã tới cúi đầu trước tên Khan của bọn Tatar xâm lăng và yêu cầu tên này bảo vệ cho hàng ngũ giáo sĩ. Với những lưỡi kiếm của bọn Tatar, giới giáo sĩ Nga đã bảo vệ được đất đai, những nông nô và những giáo đường của họ. Tuy vậy, ta cũng phải công nhận là Giáo chủ Cyril đã hành động đúng khi làm như thế, ông ta là một nhà chính trị thực tế. Lẽ ra ai khôn ngoan cũng phải làm như ổng. Chỉ có cách đó mới có thể thắng”. 
Khi Angiya bị dồn vào đường cùng, nàng không cãi nữa. Nàng chỉ mở rộng đôi mắt ngạc nhiên nhìn người thanh niên vị hôn phu của nàng: 
“Nhờ cách đó những giáo đường đẹp đẽ này mới được xây dựng trên những cảnh trang nghiêm, hùng vĩ này” – Yakanov nói lớn. “Trong khi những tín đồ ly khai bị đốt lửa đến chết, những giáo đồ của những tôn giáo khác bị đánh bằng roi gậy đến chết. Em thương hại những kẻ làm những việc đó ư? – Giáo Hội bị đàn áp? Giáo Hội nào bị đàn áp?” 
Y ngồi xuống cạnh nàng trên thềm đá ấm vì nắng: 
“Em bất công với những người Bôn-xê-vích về tất cả mọi mặt. Em không thèm cả đọc những quyển sách chính của họ. Họ rất kính trọng nền văn minh thế giới. Họ tin rằng không một ai có quyền độc đoán quyết định thay cho người khác hay bắt người khác phải nghĩ, phải làm theo mình, họ tin ở sự hợp lý, ở lẽ phải. Điều duy nhất mà họ muốn là: công bằng. Em thử tưởng tượng coi: công bằng hoàn toàn, công bằng tuyệt đối. Không ai được hưởng những đặc quyền mà người khác không được hưởng. Không ai được lợi thế hơn người khác về những điều kiện để sống. Còn có gì có thể tốt đẹp hơn một xã hội như thế? Xã hội ấy có đáng để chúng ta hy sinh hay không? 
Em phải biết những phản đối vô lý của em chỉ là những trở ngại chặng đường em vào đại học. Những phản đối của em sẽ có ảnh hưởng gì? Em có thể làm được gì?”
 
“Một người đàn bà như em có thể làm gì được?” 
Nàng vừa nói vừa đưa tay hắt những lọn tóc của nàng về sau lưng – trong lúc không một thiếu nữ nào kết tóc cả, nàng kết tóc thành lọn, khi mọi người cắt tóc ngắn, nàng để tóc dài, nàng chỉ làm thế để phản đối mặc dù kiểu tóc dài không hợp với mặt nàng. Một lọn tóc rơi trên lưng nàng, lọn kia nằm trên ngực nàng – và nàng nói tiếp: 
“Một người đàn bà không làm được việc gì hết ngoài việc ngăn cản cho người đàn ông yêu mình làm những việc trọng đại, anh hùng. Ngay cả đến người đàn bà khác thường như Natasha Rostov cũng vậy. Đó là lý do vì sao em không chịu nổi được nàng”. 
Một lần nữa Yakanov ngạc nhiên: 
“Sao vậy?” 
“Bởi vì nàng không chịu để cho Pierre gia nhập vào nhóm “Tháng Chạp”. 
Giọng nói của nàng lại tan vỡ khi nàng nói câu trên. 
Nàng vẫn có những ý nghĩ dị kỳ như vậy. 
Chiếc khăn choàng mỏng rời khỏi đôi vai nàng rơi xuống mắc ở hai cánh tay nàng như đôi cánh vàng. 
Yakanov bọc nhẹ hai bàn tay y quanh bàn tay nàng như sợ bàn tay nàng có thể vỡ: 
“Nếu em là Natasha, em sẽ để cho Pierre đi?” 
“Vâng”.
 
Angiya trả lời bình thản như đó là chuyện tất nhiên. 
Yakanov không thể tưởng tượng ra một hành động quan trọng nào đó y có thể làm để cần phải có sự đồng ý của Angiya. Đời sống của y hoạt động, nhưng bình thường như mọi người. Y ham thích công việc đang làm và việc này càng ngày càng đưa y lên địa vị cao hơn. 
Trước mặt họ có những tín đồ đi dâng lễ muộn đi từ dưới chân đồi lên, họ làm dấu thánh giá trước cửa vào giáo đường. Vào tới trong sân, những người đàn ông bỏ mũ xuống. Dường như trong số những người đi lễ đàn ông ít hơn đàn bà, họ toàn là người già, không thấy một người trẻ tuổi nào. 
“Anh có sợ người ta thấy anh ở gần giáo đường không?” 
Angiya hỏi. Nàng không có ý chế nhạo Yakanov nhưng câu hỏi tự nó đã có sự chế nhạo. 
Trong những năm đó việc bị một người làm cùng sở nhìn thấy ở gần nhà thờ là một chuyện nguy hiểm. Tuy vậy ngài Yakanov tự cho là y không có sự nguy hiểm ấy. 
Không trả lời câu hỏi của Angiya, Yakanov nói, y bắt đầu thấy bực bội vì thái độ của nàng: 
“Cẩn thận đấy, Angiya. Ta phải biết có những gì mới xảy ra trong đời ta, biết kịp thời, biết trước khi quá muộn. Vì bất cứ ai không biết như thế nhất định sẽ lạc lõng sau lưng mọi người. Em bị Giáo Hội Gia Tô quyến rũ vì tinh thần của giáo lý này khuyến khích khuynh hướng lạnh nhạt với cuộc sống này ở trong em. Đây là lần cuối cùng khuyến cáo em: em phải tỉnh lại, em phải sống, em phải chú ý đến việc nào đó trong đời, chỉ có như thế em mới sống được”. 
Angiya cúi đầu xuống, bàn tay có ngón tay đeo chiếc nhẫn hứa hôn của Yakanov buông rơi, bất động. Tấm thân giống như thân trẻ con của nàng lúc này như chỉ có toàn xương là xương và rất mỏng: 
“Anh nói đúng. Đúng… Em cũng nhận thấy có nhiều lúc em không muốn sống. Cuộc đời không cần có những người như em”. 
Yakanov cảm thấy tình yêu tan tành trong tim y. Nàng làm tất cả những gì giết chết tình yêu ấy. Sự can đảm thực hiện lời hứa hôn và cưới Angiya làm vợ, sống với nàng suốt đời, yếu đi trong tim Yakanov. 
Nàng ngước mắt lên nhìn y, đôi mắt nàng lộ ánh tò mò, nàng không cười. 
Yakanov nghĩ: “Cô ả này tinh thần nông cạn quá chừng”. 
Nàng nói, vẻ mặt buồn và giọng nói buồn: 
“Danh vọng và thành công đang chờ đợi anh. Chắc chắn anh sẽ thành công, anh sẽ có danh vọng. Nhưng Anton, liệu anh có được sung sướng hay không? Rồi đời anh sẽ có hạnh phúc hay không? Anh cũng nên cẩn thận. Những người chú ý đến cuộc đời như anh… sẽ… sẽ mất… Em không thể nào nói rõ với anh được…” 
Những ngón tay gầy của nàng tìm lời cho môi nàng nói, sự khó khăn, khổ sở của cuộc tìm kiếm ấy hiện rõ trên nụ cười gượng trên môi nàng: 
“Đó, có tiếng chuông. Tiếng kinh cầu đã ngừng, tiếng ca đã mất. Những tiếng ấy sẽ không còn trở lại nữa. Tuy vậy, âm thanh vẫn còn văng vẳng quanh đây. Anh hiểu gì không?” 
Rồi nàng cố rủ y vào giáo đường. Dưới những vòm tường tròn một dãy cửa sổ nhỏ gắn kiếng mờ chạy quanh tòa giáo đường. Qua khung cửa sổ trên nóc tròn trên cao, ánh nắng chiều làm bên trong tòa giáo đường sáng lên, ánh vàng trải lên những pho tượng và những bức hình vẽ cổ. 
Tín đồ thưa thớt. Angiya đốt một cây nến gầy cắm lên cây cột đồng và nàng làm thoáng dấu thánh giá, rồi nàng đứng trang nghiêm, hai tay chắp lại trước ngực, mắt nhìn thẳng, xuất thần. Ánh vàng của trời chiều, ánh đỏ cam của những ngọn nến mang lại đời sống và hơi ấm cho hai má nàng. 
Chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày đản sinh Đức Mẹ. Trong nhà thờ, một bài kinh dài được cầu để ca tụng Đức Mẹ. Lời kinh thật hay, những danh từ ca ngợi Thánh Nữ Đồng Trinh nối tiếp nhau trôi đi như nước trong một dòng suối, và đây là lần đầu tiên Yakanov hiểu tính chất huyền diệu và thơ mộng của những lời cầu nguyện. Không phải là một nhà thần học vô hồn nào đó đã viết ra được lời kinh cầu này, người sáng tác phải là một thi sĩ lớn nhưng vô danh, một tù nhân trong một tu viện, và trong giây phút đó Yakanov xúc động. Y không xúc động vì sự hấp dẫn thoáng qua của những thân thể đàn bà mà là vì một cái gì đó cao thượng hơn, trong sạch hơn mà một người đàn bà có thể gợi cho đàn ông cảm thấy. 
Yakanov tỉnh lại từ cơn mơ mộng. Y đang ngồi trên thềm của Giáo đường Thánh Jonh, đống đất đá vụn trên thềm làm dơ vạt áo da của y. 
Đúng thật, không biết vì lý do nào, có khi không có lý do gì hết, người ta đã phá lầu chuông kia, người ta đã phá cả những bậc thang đá trắng từ đây đi xuống bờ sông. Không thể tưởng tượng được rằng ánh bình minh hôm nay cũng chiếu cùng trên khoảng đất ở Mạc Tư Khoa từng sáng ánh nắng vàng buổi chiều xa xưa, buổi chiều y và người thiếu nữ đó ngồi bên nhau. Nhưng ngọn đồi vẫn là ngọn đồi này, cảnh vật dưới chân đồi vẫn là cảnh cũ, và khúc sông quẹo được soi sáng bởi dãy đèn điện dưới kia vẫn là dòng sông ngày xưa. 
Ít ngày sau buổi chiều đó Yakanov lãnh công tác xuất ngoại khi y trở về, người ta bảo y viết một bài đăng báo – thực ra bài đó đã được viết sẵn y chỉ có việc ký tên vào đấy – bài báo viết về cảnh sa đọa, trụy lạc tan rã của xã hội các nước Tây phương đều tồi tàn: dân chúng đói khổ, nghèo nàn, văn hóa đồi trụy, luân lý xuống thấp, khoa học không có điều kiện tiến bộ. Những chuyện đó không đúng hẳn sự thật nhưng cũng không hẳn là bịa đặt hoàn toàn. Những sự kiện đó có thật nhưng cũng không được bài báo nói đến. Nếu Yakanov tỏ ra do dự, y có thể bị nghi ngờ. Và một bài báo như bài này làm hại được ai? 
Bài báo đó được đăng lên mặt báo. 
Angiya gửi trả lại chiếc nhẫn đính hôn buộc vào một tờ giấy nhỏ trên đó nàng viết: “Gửi cho Cyril”. 
Và Yakanov không buồn, y còn cảm thấy nhẹ người, dễ chịu. 
Y đứng lên và nhón gót cho thật cao, nhìn qua một khung cửa sổ gắn kiếng mờ nhìn vào bên trong giáo đường. Không khí có mùi gạch vụn, lạnh và ẩm. Y không thể nhìn rõ những vật bên trong, y chỉ lờ mờ thấy đó là những đống đá nhỏ và rác rưởi. 
Yakanov rời xa khung cửa sổ, nhịp đập của trái tim y chậm xuống và y dựa vai vào thành đá của khung cửa sắt han rỉ nhiều năm nay không được mở. 
Một lần nữa sức nặng của khối đe dọa lạnh như đá băng do Abakumov ném ra lại đập trúng ngực y. 
Lúc này Yakanov đang ở vị trí quyền hành cao nhất đời y. Y đang giữ một chức vụ quan trọng với một cấp bậc cao trong một Tổng Bộ mạnh nhất. Y thông minh, tài ba – và nổi tiếng là người thông minh, tài ba. Người vợ trẻ đẹp, khả ái của y chờ đợi y về ở nhà riêng của y. Những đứa con kháu khỉnh má đỏ hồng của y ngủ bình yên trên những chiếc giường của chúng. Y có một nơi ở đẹp trong một tòa chung cư ở Mạc Tư Khoa gồm nhiều căn phòng trần cao và một ban-công nhìn xuống đường. Lương tháng của y được tính bằng nhiều ngàn đồng. Một chiếc xe Popeda được dành riêng cho y bất cứ lúc nào y cần đi. Vậy mà trong buổi sáng lạnh này y vẫn đứng dựa vai vào thành đá chết và y không còn muốn sống lâu hơn nữa. Trong tâm hồn y chỉ còn có tuyệt vọng, tất cả đều vô vọng ở trong y đến nỗi y không còn cả sức để bước đi. 
Trời đã sáng. 
Không khí của buổi sáng tinh sương trong vắt. Sương đọng lại thành băng ở quanh gốc cây sồi bị chặt đổ, bám trắng những đầu mái giáo đường gần sụp đổ hoàn toàn, băng đá cũng bám trên những khung sắt cửa sổ, trên những sợi dây điện chạy ngang và trên hàng rào bao quanh khu sắp xây cất tòa nhà chọc trời dưới chân đồi.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Mar 2026

Dân tộc Việt Nam có phải là một dân tộc hiếu hòa hay không? Câu trả lời xin để dành cho những nhà nghiên cứu sử học. Ở đây chúng tôi chỉ thấy người Việt Nam, nói riêng nhất là ở hải ngoại là những người rất hiền lành, dễ thương, không muốn tranh chấp, gây gổ phiền hà đến ai, nhất là không muốn “vác chiếu ra tòa,” tuân thủ lời khuyên vì ông cha ta là “vô phước đáo tụng đình.” Cho nên ai bắt nạt cũng được, ai lường gạt cũng cho qua, “dĩ hòa vi quý.”

Tôi xin đưa ra một chuyện rất hiền hòa, dễ thương của người Việt tại Little Saigon. Hiện nay tại quận Cam, tuy người Việt chưa chưa đến 20%, nhưng các lớp học traffic school tức là lớp học xoá ticket, người Việt chiếm đa số, nghĩa là người Việt trong vùng Little Saigon lãnh ticket khá nhiều. Phải chăng là chúng ta bị kỳ thị nên quý ông bạn dân vẫn thường chớp đèn, hú còi sau lưng chúng ta, nhã nhặn viết cho chúng ta một tờ giấy phạt. Không! Đó là câu trả lời của một giảng viên trong một lớp học xóa ticket! Theo ông, đó là vì người Việt chúng ta quá “hiền lành”, không bao giờ muốn ra tòa theo ngày tháng đã được ghi rõ trong giấy tòa án. Không ra tòa án để đối chất với cảnh sát, để nói mình “not guilty”, hay để xin giảm tiền phạt. Người Việt Nam hầu hết khi lãnh giấy phạt, đóng tiền phạt và tiền học đủ cho tòa án trước “due date”, ghi danh đi học sớm cho xong, theo khẩu hiệu an ủi “của đi thay người” và coi đây như chuyện xui rủi của mình. Người Mỹ trắng chịu ra tòa để tranh cãi phải trái với cảnh sát, người Mễ chịu ra tòa để xin giảm tiền phạt, nếu không lấy đâu ra tiền nuôi con. Mỗi lần ra tòa, mất bao nhiêu thời giờ và tiền bạc cho tòa án. Chỉ riêng có người Việt, phạt đồng nào là ăn chắc đồng đó. Vị giảng viên cho biết trong lớp học xoá ticket có 35 người Việt, ai cũng đóng tiền đủ, không một ai chịu ra tòa, vậy thì nếu anh là cảnh sát, ngân sách đang thiếu hụt, anh sẽ phạt ai trong ba người, một Việt, một Mỹ trắng và một Mễ?

Nếu một người Việt bị gian lận trợ cấp y tế thì họ sẽ lý luận rằng, “tiền đó là tiền Mỹ”, “một sự nhịn chín sự lành”, “chín bỏ làm mười.” Nếu bị bác sĩ hay bệnh viện mổ lầm, định bệnh sai thì cũng cho là tại số, năm này xui xẻo. Đối với người Việt, đi khiếu nại đã thấy phiền phức, chưa nói chuyện phải kiện cáo, nhờ đến luật sư, vừa tốn kém, mất thời giờ hầu tòa mà kết quả chưa biết ra sao! Bị ganh ghét, vu cáo, tổn thương đến danh dự, thì cứ cho “hữu xạ tự nhiên hương,” mình ăn ở phải ai cũng biết, cần gì đôi co với kẻ tiểu nhân. Vì vậy, có tác giả in một cuốn sách, in hình người ta ở bìa , gọi đích danh người ta là “thằng ăn cắp” cũng không bị lôi ra tòa, vì tác giả biết người trong cuộc không có tiền, không có thế lực, bản chất lại hiền hòa, thì việc kiện tụng sẽ không bao giờ xẩy ra. Một mặt, những kẻ làm liều gây sự lại không có tiền, chẳng có danh dự, không hề sợ bị kiện làm cho người đi kiện nghĩ tốn công tốn của cũng chẳng ích lợi gì. Trong làng trong xã, có ai nghĩ đến việc vác đơn đi kiện Chí Phèo, dù thắng kiện thì cũng chẳng được gì hơn một cái khố rách!

Những vụ kiện trong trường hợp bị sách nhiễu tình dục, xâm phạm tiết hạnh thì người ta lại càng dè dặt, lo sợ hơn. Đưa những vụ này ra tòa, cả làng ai cũng biết, danh tiếng bị tổn thương, miệng người đời lại ác độc, thích đàm tiếu hơn là cảm thông, thương xót, nên thà chịu khổ đau nhục nhã một mình, hơn là đòi hỏi công lý cho phân minh.

Trong cộng đồng của chúng ta đã có bao nhiêu vụ lường gạt, giựt nợ, úp hụi được đưa ra ánh sáng, hay nạn nhân sợ mất hạnh phúc gia đình đành nín chịu thiệt thòi cho riêng mình! Cách đây không lâu, tôi được một bà cụ không quen biết ở một tiểu bang miền Đông là một khán giả của đài truyền hình mà tôi cộng tác, tin cậy, điện thoại than thở, cho biết, bà đã bị một văn phòng dịch vụ ở Bolsa lường gạt trong việc bảo lãnh cho con bà. Sau đó ít lâu, một buổi trưa, bà thình lình gọi cho tôi: “Cái con mà tôi nói với ông, nó đang quảng cáo ở trên đài số … kìa”. Thương hại, tôi nói bà có cần giúp đỡ gì không, ví dụ như viết một lá thư khiếu nại gửi đi cho các báo, bà đáp: “Tôi chỉ nói cho đỡ tức thôi, ai làm bậy, có ông Trời!” Thế thôi! Tiền già, dành dụm, vay mượn, mất $5,000 lại mang thêm chứng trầm uất, đau khổ, lên máu mỗi khi vô tình thấy mặt kẻ lường gạt trên đài. Nhưng thôi, “ai làm người ấy có tội,” nhưng Thần Thánh nào có đây mà phán xét!

Nhiều người nể tình, tin cậy “đồng hương,” bị nhà thầu xây cất, sửa sang nhà cửa“dỏm,” địa chỉ ma, lấy tiền xong cao bay xa chạy, trong tay nạn nhân không có bằng cớ, chẳng biết thưa gửi ai. Cùng đường thì họ năn nỉ, thương lượng, khóc lóc cho đến lúc nạn nhân mệt mỏi, thương hại, bỏ cuộc. Bọn này chỉ bắt nạt người Việt chúng ta, vì biết đồng hương dễ gạt, dễ lừa, “dễ ăn,” không bao giờ thưa kiện, nhiều khi cho rằng mất tiền là một điều may mắn, có phước trong quan niệm tiêu cực: “hữu phước tán tài, vô phước tán mạng!”

Những kẻ gian manh lường gạt trong cộng đồng chúng ta chỉ quen bắt nạt “đồng hương,” chứ không dám sờ tới cộng đồng người bản xứ ở đây! Cũng vì bản tính không ưa kiện cáo của hầu hết người Việt, chuyện hiếp đáp, lường gạt nhau xẩy ra trong cộng đồng gần như hàng ngày.

Tôi thật không có ý xúi người ta đi kiện, ra tòa để thưa gửi, mặc dầu công lý là phải để cho kẻ có tội phải bị trừng phạt, cho người hiền lương phải được minh oan. Luân lý Á Đông thường tin vào sự trừng phạt của đấng vô hình, của Trời Đất, ngồi chờ cái “quả” đến cho kẻ gieo “nhân,” nhưng những chuyện này có lẽ quá xa vời, con mắt trần tục của chúng ta không thấy được, chưa có gì gọi là “quả báo nhãn tiền” để đem lại sự công bằng. Những kẻ gian ác, lường gạt, gây tội vẫn nhởn nhơ, và cho mình là người khôn ngoan, lanh lợi, đạp lên người khác mà sống, cười vào mặt nạn nhân. Khôn lanh lừa lọc vẫn sống ngang tàng, kẻ hiền lương, thấp cổ, bé miệng chịu thiệt thòi đau đớn vì bản chất hiền lành. Những người này, không muốn đôi co, tranh chấp vì sợ phiền lụy, ngồi chờ sự phán xét của lương tâm, lương tâm thì đi vắng, chờ sự trừng phạt của Trời Đất, Trời Đất thì không hiện hữu.

Có lẽ các tổ hợp luật sư người Việt trong cộng đồng người Việt nên có những dịch vụ miễn phí giúp đỡ những nạn nhân thường có mặc cảm vì ngôn ngữ, sợ hãi trước các cơ quan công quyền, thường phải ôm mối hận mất mát tiền bạc, đau đớn thể xác và tổn thương tâm lý. Chúng ta đang sống trong một xã hội thượngtôn luật pháp, không phải ở làng xã ngày xưa để phải chịu đau đớn thiệt thòi mà không dám lên tiếng, đòi hỏi công lý!

HP

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 3 Mar 2026

Chúng tôi không hiểu người dân Sài Gòn quan niệm thế nào về hoạt động phá hoại của Việt cộng? Những vụ giật mìn, ám sát, khủng bố, súng nổ đầu xa lộ, phía bót quận 8… Có đủ cho người vùng Sài Gòn, Gia Định những ý niệm về chiến tranh, thứ chiến tranh phá hoại, không quy ước. Hay vụ nổ làm sập ngôi nhà đường Nguyễn Cư Trinh, người chết do mìn gài trước Tòa Đại sứ Mỹ cũng chỉ gây nên thắc mắc nhỏ… Việt cộng đã làm như thế nào để xem được những khối nổ kia? Tai ương chiến tranh đặt ngang điệp vụ của loại phim trinh thám. Người Sài Gòn có bao giờ biết, mỗi hoạt động phá hoại là kết qủa của một công trình nội, ngoại tiếp tay phối hợp với nhau thật tỉ mỉ và chính xác. Người dân ở Thủ đô có bao giờ biết mỗi lần biểu tình xuống đường lựu đạn chất nổ được đưa vào Thủ đô nhiều hơn, Việt cộng xích gần về phía Nhà Bè – xa lộ – phi trường Tân Sơn Nhất thêm một chút nữa… Một vụ tự thiêu, họp báo là du kích đặc công tiện dịp có mặt tại Sài Gòn với chất nổ đã gắn ngòi. Chung quanh Thủ đô có trung đoàn 165 A gồm những đơn vị đặc công, chuyên cận chiến trong thành phố. Tiểu đoàn 6 trung đoàn này xuất phát từ mật khu Lý Văn Mạnh hoạt động từ Bà Hom, Bà Quẹo (phần lớn của tiểu đoàn này bị tiểu đoàn 2 Dù đánh tan đầu năm 1967 tại ấp Vĩnh Hạnh). Tiểu đoàn này đưa một đại đội vào sát vùng hoạt động của chúng tôi để điều nghiên, thám sát, phối hợp với ba trung đội du kích ở các xã Bình trị Đông, Phú Lâm, Phú Thọ Hòa. Du kích ở đâu? Chính là dân chúng ở đây sau khi trốn ra bưng học tập trở về sống như người thường. Họ cung cấp tin tức và khả năng của các đơn vị giữ Thủ đô; dẫn đường lực lượng chính qui tấn công vào Sài Gòn; cầm chân quân đội Cộng hòa khi các đơn vị này rút đi. Những vụ pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất là kết quả cụ thể của phối hợp du kích địa phương và chính qui. Để đối phó lại, những hoạt động trên, ta có những đơn vị chủ lực và địa phương quân, những đơn vị tổng trừ bị trấn giữ, lục soát tảo thanh chung quanh ven đô. Nhưng hoạt động chính để bảo vệ Thủ đô thật sự nằm trên vai những người lính không đồng phục, không qui chế, không quân số… Những người lính từ lũy tre, sinh và sống trên đồng ruộng. Người lính Nghĩa Quân, kẻ nhận diện được mỗi du kích, biết tên Thảo chỉ huy du kích vùng Vĩnh Lộc con ai? Lấy ai? Trốn ở đâu? Người đối đầu với Việt cộng chính là những người lính, ngày gối đầu trên đôi dép ngủ dưới hàng cây bên đường làng, đêm họ tập họp lại thành tiểu đội, trung đội nếu cần, và đấy là nông thôn vùng lên, dành lấy quyền sống, làm người tự do không cần tuyên ngôn, không hội thảo, xuống đường. Anh Ba đi Nghĩa Quân từ năm 1962, một khẩu súng, vài trái lựu đạn, thế là anh mang lên mình bản án tử hình của Việt cộng -Làm tay sai cho Mỹ giết hại đồng bào – Với số lương 1.200 đồng mỗi tháng!
Tôi biết anh từ năm 1964, lúc Sài Gòn hỗn loạn hơn bao giờ hết giữa hai phe tôn giáo. Việt cộng ngưng hẳn hoạt động lớn, dồn lực định đánh về Thủ đô, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích thường xuyên. Áp lực địch đè nặng trên vùng này, anh theo đơn vị chúng tôi để chỉ dẫn từng địa thế, nhận diện những người tình nghi.
– Đằng sau cái nhà vuông có con đường, tụi nó hay gài mìn, thiếu uý coi chừng!
– Trong bản đồ tôi không thấy gì cả!
– Đường xe bò đi, bản đồ đâu có ghi. Nhà bà già sát bên quán nước trong ấp Vĩnh Hạnh có đứa con thoát ly!
– Nó đi lâu chưa?
– Đâu khoảng tháng tư năm ngoái, nó tên Long, có con chị thoát ly về rồi, về hôm tháng sáu.
Đại khái như thế anh cho tôi biết từng chi tiết quí giá mà không một cơ quan tình báo nào có thể cung cấp. Năm 64, 65, 66… đơn vị tôi thay đổi từng vùng chiến thuật, bị thương, bị chết, mất tích. Những người lính dưới quyền tôi thay đổi hết, nhiều lính mới về, những khuôn mặt quá trẻ so với già cỗi tàn ác chiến tranh. Đơn vị tôi gặp đại nạn, tôi sau lần dưỡng thương, làm việc nhẹ, nay tiếp tục đo chân trên chiều dài quê hương. Bây giờ tôi ởđơn vị mới, trở lại vùng này gặp anh Ba. Anh nhận ra tôi trước.
– Thiếu uý… A, Trung uý có nhớ tôi không? Tôi tưởng trung uý chết ở trận Đồng Xoài rồi chứ.
– Không chết, chỉ bị thương thôi.
– Mấy người lúc trước đi theo Trung uý đâu? Cái anh “tây lai” người nho nhỏ đấy.
“Anh tây lai nhỏ”, tôi kêu một tiếng trong lòng, Thái, thằng nhỏ theo tôi trong suốt thời gian dài, ích kỷ, nông nổi và trẻ con, thằng bé thường thủ thỉ với tôi những câu chuyện vu vơ sau những tối đã đóng quân xong… Bỏ quê hương miền Bắc vào Nam đi lính, thích đội nón đỏ mặc đồ saut… Chết không được xác định.
– Mấy người theo tôi chết hết cả rồi, bây giờ tôi đang ở tiểu đoàn mới. Còn anh… Có gì khác không?
– Cám ơn Trung uý, bây giờ tôi được lên trung đội trưởng.
Anh Ba bao giờ cũng vậy, sự gian khổ đến một lúc nào đấy không thể ảnh hưởng được trên anh; mặt anh không thể đen hơn, người không thể gầy hơn.
– Anh Heo bây giờ thế nào? – Heo, người nghĩa quân từng hạ hàng chục Việt cộng bằng súng cá nhân, gã lì lợm có thể uống đến mười xị đế.
– Heo nó bị thương một lần, Trung uý không biết đâu, khoảng tháng tám năm ngoái, cũng chiều chiều như thế này, tụi thằng Heo vừa đến ấp Vĩnh Tín thì bị đụng tụi nó. Ông quận đem quân lên bị đánh dội ra… Tụi thằng Heo có bảy thằng chết ba, bốn thằng bị thương cầm cự cho đến bốn giờ sáng!
– Anh có bị một lần nào như thế không?
– Có lai rai một lần ở Vĩnh Phước… – Anh bình thản nhắc lại đoạn thời gian và trận đánh. Vẫn là muôn ngàn trận đánh điển hình giữa nông dân và du kích, giữ từng tấc đất, từng bờ ruộng, không phi pháo yểm trợ. Chỉ có lòng yêu thôn xóm, một ý thức về bổn phận kèm thêm can đảm của con người muốn tồn tại. Đã bao lâu Việt cộng tối tăm hóa, ngu ngốc, hèn hạ, khêu gợi những bản năng căm thù, mặc cảm giai cấp và giòng giống để kéo dài chiến tranh, những người Việt Nam ở bên này không bị nung đỏ bởi hận thù, họ vẫn tiếp tục chiến đấu để làm sáng mắt người huynh đệ mù tối. Tôi chưa thấy trong lời nói của anh có dấu vết thù hận. Chỉ kiên nhẫn và chịu đựng.
Tôi bắt tay anh, hẹn ngày mai gặp lại, anh ngồi xuống vệ đường nhìn ra vùng đồng ruộng. Có mơ ước gì không, người trung đội trưởng nghĩa quân, một tháng một ngàn bốn trăm đồng bạc, một bao gạo hai thùng dầu ăn?!! Anh có cái gì để đãi ngộ xứng đáng? Trên đầu chiếc phản lực bay vút đi như cánh chim. Anh có so sánh và tị hiềm nào không?
Tôi biết rằng anh không biết thế nào là chủ nghĩa Cộng sản, nhưng anh tin chắc một điều, ngày nào vẫn còn loại người về ấp phát loa: “Đồng chí Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh… đã nói: Chúng ta phải quét Mỹ xâm lược ra khỏi thôn ấp”… Anh vẫn còn phải chiến đấu vì anh biết thằng Thảo, đội trưởng du kích đang ở vùng Xuân Thới Thượng đã cắt cổ ba ông Trưởng Ấp – Anh chiến đấu vì điều này làm anh phẫn nộ.
Thủ đô nhảy múa, hò hét, chuyển động ồn ào sau lưng anh, họ nhân danh người Lính, nhân danh Tổ Quốc. Mặc kệ, anh sống xây lưng về nó – Sài gòn – Thủ đô bạo động và dối trá. Thành phố đè lên vai anh.

Tháng 4-1966. Bà Điểm.

49

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted: 20/02/2016 

Post by Sơn râu 2 Mar 2026

Từ trái: Tô Thùy Yên, Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

bảy. bảy. bốn chín
giản lược chữ nhân
bỏ mất chữ lần
bảy lần bảy tuần
thất tuần đã tới
bốn chín ngày rồi sao
bài thơ ngủ giấc sâu
thôi còn được hiển thị

khi david bowie mất
chỉ vào tuổi 69
vợ ông viết trên instagram:
“đôi khi ta không biết
giá trị thực thụ của một thời khắc
cho tới khi nó trở thành quá khứ”.
abbé pierre nói:
“un sourire coute moins cher
que l’electricité mais donne
autant de lumière”.
một nụ cười
mắc mỏ có bao lăm
trong khi muốn thắp sáng
những bóng đèn
bạn phải tốn tiền điện

hèn gì khi khóc
ta thường cúi đầu trong bóng tối
hoặc bên ánh nến nhỏ
tim bấc thổn thức cùng
những giọt lệ ứa
ướt chăng câu thơ:
“vẫn sông, vẫn bãi bốn bề,
sang đêm, ai nữa đi về, gặp ai
”
có gặp lại anh đinh cường?
người từng đóng triện lòng tôi:
“mùa hạ nghiêm xuôi dòng ngọc bích”
và người đã bốn chín ngày
thôi còn nhìn lên kệ sách

có nhớ không trang phạm cao hoàng
có trống vắng chăng diễn đàn sáng tạo
chữ đinh cường giờ đã nằm im
trong bộ nhớ của đĩa cứng
nhờ google chỉ
tự điển về thơ ca hội hoạ:
“đom đóm loé sáng đêm mùa hạ
vườn xưa thành nội đốm nhang tàn
ta về nhặt trái mù u rụng
ngang cửa tam toà rẽ kiệt hai
”.

đã tuần thứ bảy rồi
anh đinh cường ơi
thơ mộng đã chết một hôm nào
“ôi đá địa đầu vần vụ mộng
ai xưa qua yểm lại tình sầu
thời gian rũ trắng xương làm nhớ
gió cát không nguôi khóc dãi dầu
”

ở đây có lotto 6/49
từ một tới bốn chín
lựa nhặt chỉ sáu con
giá hai đồng cho mỗi hàng may rủi
xổ số hàng tuần vào chiều thứ bảy
“kiến thiết quốc gia giúp đồng bào ta…”
để có kẻ trở thành đại gia
khi mà cao xanh vô tình chợt gọi
nào ai học được chữ ngờ
bị số phần khiến xui thế
đời có khi không đến hẹn
mà người vui chân lại lên
giúp tôi bay qua vùng trời ấm
phi trường dulles có trường giang đứng đợi
căn nhà ấy giờ giam giữ tịch lặng
con chim đỏ vẫn siêng về hót vu vơ
động tiếng còi tàu buồn
khuất mặt chạy những đâu
“cụm mây trôi rã trong trời lớn
như giấc chiêm bao thấy giữa chừng…
ai thở dài chi cho não ruột
cơn mưa hư tưởng mơ màng rơi
”.

lại lặng lẽ qua ngồi
starbucks quán cũ hư hao
cà phê đen đừng thêm nhiều đường có hại
sao ngọt ngào lại chẳng bằng đắng cay?
bốn chín ngày rồi sao?
vó câu trôi bên ngoài cửa
tiếng than van chừng
không kịp đuổi theo
“ly biệt chẳng từ hạt cát ngọc,
tuần hoàn đến cả giọt sương châu…
tưởng tượng ta về nơi bản trạch
là rồi một chuyện kể chưa xong
”.
ly cà phê vô vị vô lai
hừ bởi tại ngươi đang độc ẩm
thây kệ, anh đinh cường nhỉ
“thôi thì cho biết mưa và nắng
mới đó mà xa, ôi rất xa
”.

Hồ Đình Nghiêm

Mượn thơ anh Đinh Cường và thơ anh Tô Thuỳ Yên (chữ nghiêng).

100 năm trong cõi người ta

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 24 Apr 2022

Post by Sơn râu 2 Mar 2026

Lắm kẻ ở trong nước mặc nhiên xem bóng đá là môn thể thao vua. Cũng nhiều đứa gọi CR7, tiền đạo xứ Bồ Đào Nha là người ngoài hành tinh vì khả năng làm bàn cũng như những tuyệt chiêu anh ấy cống hiến trên sân cỏ. Tôi yêu football nhưng chưa đến nỗi cuồng tín hâm mộ các siêu sao tới mù quáng, khóc khi nghe các đôi chân vàng gặp chuyện buồn bên xứ lạ. Và thú thật rằng, hơi ốt dột, tôi đã bỏ ra 149 đô la chưa tính thuế để mua cho bằng được chiếc áo màu tím giống y trang Ronaldo. Chi vậy? Dạ thưa, sẽ có dịp tôi diện nó. Và dịp ấy đang tới.

Có nhiều người không ưa lọt vào cõi người ta, đơn giản vì họ từng trải qua một cuộc bể dâu. Tôi không hiểu câu “lạ gì bỉ sắc tư phong”, tôi nào là phận má hồng, vì vậy tôi quyết tâm chui đầu vào cõi người ta, “đã xi-đa mà xông pha hiến máu”. Cứ xem một năm chỉ có một cái rằm. Chết bỏ bể bỏ! “Tôi về không gặp nàng, má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối…” Thơ Hữu Loan đè nặng lòng tôi khi xuống tới phi trường và hành lý bị rạch nát tan hoang như ai kia đã giải toả sè sè nắm đất bên đàng. Thiếu lắm thứ và bay mất tiêu chiếc áo màu tím “ăn nói” giá không bèo của tôi. Tôi người Huế, cũng như tôi là thẳng con rể của trường Đồng Khánh. Răng chơi chi mà ác nghiệt rứa mấy ôn? Về đây nghe anh, về đây chẳng nhẽ anh ở trần! Thà mà để anh dối mẹ qua cầu gió bay cho được đôi phần loãng moạn! Anh hải quan nào đã thương tôi tới mức soán đoạt lấy tư trang. Người về ta cho người về, ta nắm vạt áo đề huề mạng không.

Ngày 3 tháng 3 năm nay, ở Huế người ta bỏ công tổ chức đình đám lễ hội kỷ niệm 100 năm trường Đồng Khánh. Hoành tráng ra phết. Rất máu, mấy mệ, mấy bác, mấy mạ, mấy thím, mấy dì, mấy o, mấy chị lưu lạc ta bà bốn phương trời hẹn hò rậm rật về Hương giang luận kiếm. Níu tay níu chưn chọc ghẹo mắc cỡ làm duyên tạo dáng y như tuổi học trò thèm ăn khế xanh. U 70 có, U 60 có, mà ngũ thập tri thiên mệnh cũng hằng hà. Nhan sắc tàn phai, võ công thì bị phế bỏ sau 1975, bây giờ đầu bạc răng long nghe tình quê hối thúc vui được chút mô hay chút nớ. Chống gậy sụm bà chè yếu lòng thổn thức khi dẫm chân lại “con đường xưa em đi buồn vương mái tóc thề ngõ hồn nghe tái tê”. Trời Huế tím rịm một màu áo dài. Tiếc đứt ruột chẳng có tôi mặc áo cộc tay chẳng đụng hàng. Những cánh bướm tím bay chập chờn giữa cố đô, nơi mà năm 1968 quý vị nữ lưu kia từng thắt quanh đầu một vành khăn tang. Cha mạ ơi, vì răng mà phải chịu cảnh đoạ đày! Mưa trút ròng rã cả tháng trời nhăn nhó trần mây ám núi Ngự Bình trước tròn sau méo.

Năm 1941, Nguyễn Bính viết:

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy.

2017, cảnh vật tuồng y hệt, cứ rứa mà buồn. Mô có, anh cứ nói lừng lựng, tại vì mọi con đường đều dẫn về trường Hai Bà Trưng, chỗ ni lao xao thì chốn tê quạnh vắng, ấy là lẽ thường. Tui nhớ không lầm ở Huế e tuồng chẳng có ngôi trường nào mang tên nớ? Chao, mệt anh lắm, ngẵng nghịch ghê nơi, Đồng Khánh là xưa rồi diễm, là tiền nhiệm của Hai Bà Trưng. Mấy ôn nói: Đồng Khánh là thằng vua phản động nên chôn cái tên hắn đi, đổi thành Hai Bà nghe ngon cơm uy tín hơn đó nà, mặc dù mấy ôn nỏ biết hai bà Trưng đánh thắng bọn giặc nào. Kỳ khôi quá! Chuyện chi eng? Trước, Đồng Khánh là trường dành riêng cho con gái, răng hai bà giờ ni chứa chấp luôn cả bọn con trai? Dễ lửa gần rơm quá! Chà, anh hỏi cái mới ngặt, nghe bức xúc hung! Rứa khi xưa anh ở mô? Dạ thưa chị, tui ở trong nhà. Lạt lát chưa nợ! Vỹ Dạ Kim Luông Thành Nội Tả ngạn hay Hữu ngạn? Tuy mênh mông chi xứ nhưng chí ít phải có nơi làm sổ hộ khẩu chớ! Tui nói tui ở trên đò thì chị tin không? Ái dà, Việt kiều ni rắn mắt quá, nghe dễ nổi xung. Rứa để tui thiệt thà khai báo: Kẻ hèn ni sinh ở điện Thái Hoà, lớn học Quốc Tử Giám, vịnh thơ ở Ngọ Môn Lầu mà lấy vợ là hoa khôi trường Đồng Khánh. Nghe giựt chắc, lát con mắt luôn. Nì, cho tui hỏi ngu tí, muốn ôn kỷ niệm bữa ni chui xuống ngủ đò e bất khả? Người chi mà chẳng có chút đạo đức cách mạng, có ưa đồi truỵ thì thiếu cha chi chỗ trên bờ, quận một quận hai quận ba, phường này huyện nọ ra tới ngoại ô. Sóng nước dập dìu thì có thuyền rồng, bỏ trăm đô mặc long bào ăn cơm cung đình mà tuyệt đối đừng tơ tưởng tới món thuốc nhất dạ lục giao sanh ngũ tử của vua Minh Mạng. Cám ơn chị rộng lòng trao thông tin, để tui bắt xe ôm chạy u qua Đồng Khánh, í lộn, Hai Bà Trưng, kẻo người ta chờ người ta mong người ta xù người ta chảnh.

Một tà áo dài tím đi thơ thẩn trước cổng trường vôi hồng, áo may cực gấp ở chợ Đông Ba, may hối may hả hay răng mà tôn vinh số đo ba vòng gần bằng nhau, bắt mắt hơn đòn bánh tét lá chuối gói u nần kém mỹ thuật. Ủa, chơ đi mô mà xăm xăm vô đây? Thích làm hoa lạc giữa rừng gươm sao? Rõ là con cháu của hai bà, ưa nạt nộ. Thiếu voi, thiếu lọng, thiếu quân hầu. Thiếu đao kiếm, thiếu múa roi đi quyền nhưng cũng đủ làm khó cho đứa nào ưa nuôi mộng bành trướng. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau, chưa kể là gà trống ni cũng gáy cùng giọng Huế, phe mình cả. Ủa, răng ngó quen quen ri hè! Năm 72 mùa hè đỏ lửa học đệ nhất Quốc Học? Nói chí phải, Ngọc đó hả? Trời, ấy tên Long, đúng không? Rứa thì ngọn gió nào xô Long tấp về đây? Gió Bắc cực chớ gió mô nữa? Mền ở Canada mới về hôm bữa. Ngọc thì răng? Ngọc từ Đà Lạt xuống được hai ngày rồi, mai lại lên núi. Nghe ghê, làm như môn đệ phái Nga Mi. Rứa túi ni kiếm chỗ để mền nhổ lông mày cho. Xì, chưa có thằng Việt kiều nào ăn nói sống sượng như huynh đài. Bản cô nương là Chu Chỉ Nhược chớ mô phải Triệu Minh. Già dê gì đâu á! Hề hề, ở Đà Lạt hèn chi da trắng môi hồng má mũm mĩm với hai đồi thông một mộ phần, nhớ ngày nớ dại khờ chưa kịp ôm hun.

Tà áo dài vùng vằng đứng dậm cẳng một hồi, ra vẻ bất bình. Lông mày ta vốn đã sắc lẻm rồi, việt gian ngươi có ưa rửa chân cho ta thì ô kê. Không nói không rằng, làm thinh nhưng cả hai tuồng như đi guốc vào bụng nhau. Thời nớ hắn doạ đằng ấy không cho tớ thơm tí thì tớ sẽ đầu quân đi Biệt Động cọp nhe nanh bên tay áo trận. Chưa kịp hôn nhau thì biến động bùng lên ngoài cổ thành Quảng Tri. Đại lộ kinh hoàng dẫn tới người đi muôn lối để bặt tin nhau. Xa mút cần câu như rứa đó mà qua dâu bể vẫn còn nhìn ra nhau, cảm động chẳng có bút mực nào tả xiết. Tình cũ có khi không rũ cũng tới như thường. Vì răng Ngọc thiên di lên xứ Hoàng triều cương thổ? Đời sống dư dả cơm áo gạo tiền tới mức mô mà trông khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang điện nước thừa mứa thế kia. Ưa khám phá quá. Hoa mới nhú có cái đẹp e ấp riêng, hoa mãn khai có vẻ đẹp tràn nhựa sống và hoa sắp tàn úa cũng chôn ở đó thì thầm không ít một gợi cảm. Khi đôi đứa chào đời, cùng thời điểm Tế Hanh đã viết bài thơ “Vườn Xưa” với nhiều câu hợp tạng cho hậu bối:

một ngày xuân em trở lại nhà
nghe mẹ nói anh có về hái ổi
em nhìn lên vòm cây gió thổi
lá như môi thầm thì gọi anh về

lần sau anh trở lại một ngày hè
nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt
nước như gương soi lẻ bóng hình anh.

Bọn mình lớn lên chịu nhiều thua thiệt đổ vỡ quá. Càng đi gần tới hiện đại, chiến tranh và sự đố kỵ của lòng người đã dìm xã hội này xuống những đớn đau bất lực một tỏ bày. Chịu đựng trong câm nín. Thú thật với Ngọc là mền có mua một ít quà mang về nhưng không may đã rơi vào tay thảo khấu Lương Sơn Bạc. Gặp bạn cũ ở đây mà cứ đứng thu lu ngó chán mới gớm!

Cô cựu nữ sinh Đồng Khánh cúi đầu thỏ thẻ, giọng phai nhạt ít nhiều bởi sương xuống điệp trùng vây bọc chốn cao nguyên. Tóc thề đã cắt, xót đời chẳng nối vuông tròn một mộng ước. Bao giờ ngó lui quá vãng cũng tìm nhặt được những hình ảnh đẹp. Khi Ngọc đặt chân về lại cố đô, răng tự nhiên thơ của Tường Linh vụt hiện trong đầu. Thơ làm năm 1959 nghĩa là khi Ngọc còn nằm trong nôi:

hôm qua có người quen về Huế
đi chuyến tàu đêm
ga buồn, mưa nặng
anh nghĩ về em nhưng không gì gửi tặng
còn rất nhiều sầu nâu nỡ gửi cho em

chừ còn gì đâu gửi ra Huế nữa
mất hết từ ngày đi
mất hết từ hôm bắt đầu nỗi nhớ
đường ra như có lắm biên thuỳ!

Khuôn viên trường mỗi lúc một thu bé khoảng cách bởi lắm người xưa rộn ràng tìm về thăm thú, ôn cố mà không tri tân. Bọn ấy thảy thấp kém bạc lòng, chúng vừa cạo sạch bao dấu tích văn hoá từng khắc ghi vào bia Quốc Học. Mới hay là muốn nhớ lại cảnh cũ người xưa, chúng sinh đã phải chín bỏ làm mười, chấp nhận và cố nén bao ngược ngạo mãi chạy bên đường Lê Lợi dựng biển trang trí rối mắt như sân khấu một gánh hát cải lương. Nơi đây có trường Mỹ Thuật đắc địa và cũng chính nó xuôi tay, minh chứng rõ nét sự xuống cấp tai hại, như không muốn xiển dương vẻ đẹp thuần khiết. Khi anh đi gần tới sự đơn giản, chính là lúc nghệ thuật được thăng hoa. Chiếc nón bài thơ, tà áo dài bây giờ cũng đã đổi khác, rắc rối, màu mè, kiểu cọ và kệch cỡm. Em đường em tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Ngay cả vật thể cũng khó khắng khít sắc son sánh đôi đi cùng người. Tao loạn!

Người từ vạn dặm về lạc hồn đứng với những khó hiểu. Đội tuyển Huế có mời được Ronaldo số 7 làm thủ quân e chàng cũng quờ quạng chạy như một anh nghiệp dư chuyên đá chân đất, chưa biết xỏ giày. “Mất hết từ ngày đi, mất hết từ hôm bắt đầu nỗi nhớ!”.

Đứng rục cẳng cũng chẳng nhìn ra một hình bóng cũ. Tình ngay bắt được tay day được cánh Ngọc đây thì cũng chẳng cần tơ tưởng một ai khác. Hai tay dùng ôm một người, sức nghỉn nào để bắt cá hai tay? Mền trú tại khách sạn Hương Giang, Ngọc thì răng? Ngọc ở nhà bà con gần Bến Ngự. Mền thèm cơm hến quá mạng, 35 năm rồi chưa hề xơi qua, Ngọc đi ăn với mền hí? Long không sợ đau bụng à? Ông Tào Tháo đã ngôn một câu thậm hay: “Cuộc đời ta chỉ thích rượt mỗi thằng Lưu Bị, vậy mà giờ nầy thằng nào tiêu chảy cũng oán trách ta!”. Hề hề, Lưu Bị này đã cụ bị sẵn một bịch thuốc Tây, gì cũng có, kể cả Viagra. Tên nghe nửa lạ nửa quen, nó trị bệnh chi rứa? Mền ăn nói bổ bã sợ Ngọc bạt tai lắm. Đi hí, trong túi mền có cuốn cẩm nang ghi đủ những hàng quán cần ghé qua nếu bạn tới Huế. Hay Ngọc thích ăn bánh ướt thịt nướng ở Kim Long? Hay qua Thượng Tứ thời bánh khoái? Răng cũng được, tuỳ ở Long cả. Mền dị đoan không thích ghé quán cơm Âm Phủ. Đi ăn cơm hến cho tiện đường vì ăn xong tụi mình tạt qua quán cà phê Vỹ Dạ Xưa.

“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa…” Nói thiệt nghe, mền đã nửa hồn thương đau khi Ngọc đi xa mà chẳng biết lạc tới chốn nào. Nhức nhối dễ sợ! Nói nghe chảy nước mắt. Phải mà sân trường khi hè về, vắng như chùa bà Đanh thì Ngọc dám hun Long lắm. Hun một miếng thôi thế cái bắt tay với định mệnh.

Người ta bảo khi về già, bạn giống như con nít, câu ấy tin được mấy phần? Hai đứa mình thử làm con nít một lần, Ngọc thấy răng? Ngọc đâu đã già mà tính giở trò dụ khị. Có thích đi ăn thì nên rời bỏ hiện trường sớm, chứ đứng hồi lâu thế nào cũng có kẻ nhận diện thêm xôi hỏng bỏng không. Kỳ cục, kỷ niệm 100 năm trường Đồng Khánh mà cũng treo cờ búa liềm, ca ngợi đảng quang vinh với dựng đầu thạch cao cha già dân tộc cho bằng được. Thời trước mô có dính dáng chi tới ba cái thứ đầu Ngô mình Sở kia! Áp đặt và tra tấn người ta cũng chừng mực nào thôi chứ. Cựu học sinh toàn cả bọn Việt kiều phản động có cha anh là nguỵ quân nguỵ quyền cả đấy. Thiệt ngó gai con mắt!

Mền kêu xích lô chở hai đứa đi cho oai phong. Thôi, dị òm, mặt trân mày tráo bắt người ta đạp hộc gạch toé khói. Gọi taxi thì kín đáo và mau lẹ hơn. Mền thương Ngọc quá. Chuyện chi nữa đó? Cách suy nghĩ, sự cảm nhận của Ngọc về buổi lễ màu mè này. Thôi đi, bộ hết chỗ thương rồi hay răng? Thằng Việt kiều có quốc tịch Canada ngó người sở hữu chiếc áo dài tím chật chội muốn sứt chỉ đường tà: Sau cơm hến, đòn bánh tét là thứ cũng khiến mền thèm rỏ dãi. Xa quê hương không nhớ mẹ hiền mà cứ nhớ toàn đồ tào lao, tính luôn con yêu bánh nậm cho đủ bộ sậu. Nghĩ tới chuyện lột lá đã thấy run tay, thấy rít rát. Đồ quỷ gì đâu không á! Taxi kìa, đứng thét nghe run chân.

Tôi về dụ được nàng, má còn sống chắc thương con dâu. Sau ăn cơm hến mà chẳng chộ mặt Tào Tháo, tôi cà kê dê ngỗng dắt tay nàng vào quán cà phê nhà vườn Vỹ Dạ Xưa phát toàn nhạc họ Trịnh. “Cuộc đời đó có bao lăm mà hững hờ”. Hãy uống cốc cà phê để kích hoạt chất xám. Tuy bên bến sông chẳng có hoa bắp lay và đò dứt khoát từ chối chở trăng về kịp tối nay. Cảnh sắc huyền ảo hiện thực ùn dâng sương khói tự dưng khiến lòng mềm cách chi. Về Bến Ngự thì xa trong khi khách sạn Hương Giang đang nằm kề. Nàng ngồi bên giường nhiều bóng tối, tôi ở phương tây ôm nàng rồi lại xa, nàng cười xinh xinh nhìn tôi ực viagra , về cố đô mấy người đi trở lại, đừng đổ hô quất ngựa truy phong. Trời xui đất khiến giao duyên cùng tình xưa nghĩa cũ, sau cùng tôi cũng lột được ba bốn miếng lá chuối. Ui, thơm quá mùi nếp chín, ui bánh nậm nhân tôm giã nhuyễn đỏ au chẳng hư bột hư đường, ui lá rơi đường lá mủ nhờn tay, mút qua mút lại thêm mặn mòi. Ăn sống ăn sít chứ chẳng thèm chan nước mắm. Cá sông hồ biển hẹp ngắt ngoải thì ắt nước mắm cũng phiêu bồng.

Mền cứ rứa hay mền phải sắm áo mưa? Tối lửa tắt đèn có mưa rơi cũng mặc, đã gọi là cựu học sinh thì Ngọc bây chừ đã tới hạng tuổi tắt kinh, cho tha hồ dập liễu vùi hoa xem được mấy phần hoả hầu mà cứ eo ót. Boa cho cậu tiếp tân có hậu hỉ? Cho ít quá hắn đi trình công an đường đột vào xét giấy thêm mất vui. Mấy chục năm mới được đền bồi, phút giây này mà nghe tiếng gõ cửa thì xong om. Nước tới chân mới nhảy thì chịu răng nổi với xả lũ đúng quy trình. Ôi độc lập chửa có thì vin đâu mà đòi tự do hạnh phúc! Từ từ thôi nghe dục tốc bất đạt, rồi thở hào hển trách móc đêm dài lắm mộng người ơi. Bu như sam kẻo ngày qua rất vội, nì muốn sang thăm xứ tuyết có khó không? Ra ngoài phường làm giấy đăng ký kết hôn người đời thêm dị nghị, chơi trò bảo lãnh đoàn tụ gia đình thì di trú hẳn nghi ngờ. Thôi xin người cứ án binh bất động, mền bên nớ tắt quạt khi cày bừa, hàng năm dành tiền cứ đúng xuân về thì lên Đà Lạt sân trước một cành mai vui vầy không quên nhiệm vụ, làm Việt kiều cũng có nỗi khổ tâm riêng chớ giỡn chơi chi nơi! Ngọc đang tính sửa sang mái tranh nghèo mà chưa biết thở than cùng ai, không ấy Long cho Ngọc vay chút đỉnh. Khúc ruột ngàn dặm ơi, thương quá, đi vô người Ngọc đi kẻo mai này than ngồi trên giếng mà khát nước. Cái gàu mô rồi, ui tới rồi đó, khỏi cần nối thêm dây.

Bở hơi tai hai ngày thì diễn tuồng chia tay. Trăm năm trong cõi người ta, chữ tiên liền với chữ tiền mới ra. Mấy mợ cựu học sinh trường Đồng Khánh mượn sân Hai Bà Trưng hội ngộ giờ ni e cũng đã tan đàn sẩy nghé hồng nhan đa truân bị trời đánh ghen rơi về lại chốn trú thân phồn vinh giả tạo. Ngày tôi ra phi trường Phú Bài để bay vào Sài Gòn trời Huế buồn câm nín chực mưa rơi.

Mấy chục năm trước đi chui một đêm không trăng sao trời sầu đất thảm. Ra đi không mang ba-lô cũng chẳng có quần áo cắp nách, vác mạng không thách đố thương đau sóng cao biển cuồng nộ. Bây giờ mang tiếng Vịt kìu cũng cứ rứa thuỷ chung trên răng dưới dái hai hòn một gậy may chưa rụng sợi lông. Vì răng? Vì vật dụng cá nhân tư trang giá trị cộng thêm năm trăm đô tiền mặt chêm cho ấm đít đã giao khoán cho bạn hiền. Ngọc lau nước mắt giọng ráo hoảnh: Hy vọng năm sau tui sẽ trả cả vốn lẫn lời, cần thề không? Tui mà nói láo thì sẽ bị ung thư dú. Tôi hôn Ngọc: Em nói chi tiếng thâm trầm, đêm nằm nghĩ lại anh nát bầm lá gan. Lạ, chắc mền không duyên nợ với Huế, ngay phút đầu cái áo thể thao bóng đá tím cả chiều hoang biền biệt cũng bị chúng nó moi đi, đoạt mất. Ngọc ơi, túi nớ ham vác cày qua núi để mang em lên đỉnh thì giờ ni mới nghe mỏi gối chồn chân. Thiệt là già dịch, già dê và già mà chẳng chịu lượng sức như lời em quở yêu. Cựu học sinh Đồng Khánh chê ỏng chê eo thì huống chi đám học trò 9x con cháu hai bà Trưng nhỉ. Haizz, sức lực nhà ngươi bao tá? Tưởng Việt kiều Canada là ngon hả? Mắc cười. Ốt dột. Hổ ngươi. Trẽn. Rút lẹ cho em nhờ! Ừ, xin vĩnh biệt cõi người ta.

Hồ Đình Nghiêm

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3rd Jun 2021
Post by Sơn râu 2 Mar 2026

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 6

Trung úy Trần Văn Phước, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82 và cả chục Biệt Ðộng Quân dưới quyền anh đang quây quần bên một vò rượu cần, vò rượu chiến lợi phẩm. Trự nào cũng xiêu vẹo bước tới, bước lui. Trự nào cũng lè nhè, la hét ồn ào. Tiếng họ cười nói oang oang giữa rừng khuya.

Với tôi, thì uống rượu không là một cái lỗi; nhưng say rượu thì tôi không tha; dù người đó thân cận như chú Phước.

Tôi rút súng bắn tan vò rượu. Những ma men tỉnh rượu ngay lập tức.

“Cuốn lều! Ðại Ðội 3 cuốn lều! Hướng hai ngàn bốn trăm dzu lu! Làm ngay!”

Trung úy Phước và “tòng phạm” riu ríu thi hành lệnh.

Mười phút sau một khoảng rộng lớn trên tuyến phòng thủ của tiểu đoàn bị bỏ trống. Ðại Ðội 3/82 bị phạt phải dạ hành mở đường. Mãi nửa giờ sau tôi mới bớt giận. Tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 3/82 dừng lại tấp vào rừng ngủ.

Trong tiểu đoàn này Trung úy Trần Văn Phước là người thân cận nhất của tôi. Tháng 11/1972 khi tôi còn giữ chức Trưởng Phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 thì Chuẩn úy Trần Văn Phước về trình diện.

Vì Chuẩn úy Trần Văn Phước có bằng Tình Báo Căn Bản từ Trường Cây Mai, nên đầu năm 1973 tôi đã cho Phước vào Plei M’rong làm Sĩ quan Ban 2 của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân. Nhưng chỉ được ít lâu, Thiếu tá Phạm Duy Ánh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã chịu không thấu cái tật rượu vào là rút súng của ông chuẩn úy nên vội hoàn trả chú Phước về cho tôi. Chỉ có mình tôi là biết cách kiềm chế con ngựa chứng này. Chú Phước đã theo tôi từ đó cho tới ngày tàn cuộc chiến.

Tới cuối năm 1973, sau khi Phước lên thiếu úy thì thầy trò tôi vào Pleime.

Chú Trần Văn Phước và chú Nguyễn Công Minh, sĩ quan truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, là hai sĩ quan sau cùng còn ở lại bên tôi, rồi bảo vệ tôi thoát hiểm trong kẽ tóc đường tơ, khi vị trí của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bị địch tràn ngập trưa 15 tháng Tư năm 1974.

Rồi cũng chính Thiếu úy Trần Văn Phước là người đầu tiên cùng tôi đặt chân trên Căn cứ 711 sau khi chúng tôi vất vả hai ngày phản công tái chiếm căn cứ này. Trận đó tiểu đoàn của chúng tôi bị 6 tiểu đoàn của Sư Ðoàn 320A/ Ðiện Biên xa luân chiến.

Trong hai năm sau cùng của cuộc chiến, không có trận đánh nào mà không có mặt Phước bên cạnh tôi.

Sau trận Pleime, Thiếu úy Trần Văn Phước được đặc thăng trung úy. Lên trung úy, chú Phước bỏ nghề Quân Báo, trở lại đời tác chiến làm đại đội trưởng.

Ðây là lần đầu, tôi nặng tay với Phước. Tôi vào máy gọi cho Phước,

– An Bình đây Thái Sơn! Stop được rồi! Nghe rõ chưa?

Ðầu máy bên kia, tôi nghe tiếng người đàn em sụt sịt,

– Em xin lỗi Thái Sơn! Em xin lỗi anh Hai!

Tôi cũng thấy mủi lòng, xốn xang,

– Thôi! Ngủ đi! Chờ mai anh lên với chú!  

Tôi lấy điếu Lucky ra hút. Tiếng muỗi đêm vo ve bên tai. Tiếng suối reo rì rào trong khe. Tiếng gió lùa ù ù sau đồi. Trên poncho, lá cây rơi lộp độp. Quanh tôi đủ loại tiếng rừng. Chưa lần nào tôi cảm thấy rừng đêm buồn như thế!

Ðêm 27 tháng Ba năm 1975, trăng sáng như ban ngày.

Gần chín giờ khuya, Trung tá Liên đoàn phó cho người tới lều mời tôi lên gặp riêng.

Tôi nghĩ ông Liên đoàn phó sẽ rầy la tôi về vụ ồn ào của Ðại Ðội 3/82.

Tôi đã chuẩn bị tâm tư nhận lỗi với ông chỉ huy mới của liên đoàn về sự vô kỷ luật của đàn em. Nhưng tôi không ngờ ông Trung tá Liên đoàn phó muốn gặp tôi lại vì mục đích khác chứ không vì chuyện lính tráng say sưa.

Cho tới giờ này tôi mới nhìn thấy dung nhan ông Trung tá Liên đoàn phó, tên ông ấy là Ðào Ðức Châu.

Thì ra trong quá khứ, hơn một năm về trước, tôi và ông ta, đã giáp mặt nhau một lần, chỉ vài phút, ở Bồng-Sơn, Tam- Quan, Bình- Ðịnh, ngày đó ông Châu còn mang lon thiếu tá, giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân.

Hôm đó, nhân dịp lễ Giáng – Sinh năm 1973 tôi có lệnh tháp tùng Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng/ Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa bay trực thăng tới Bắc Bình-Ðịnh để ủy lạo các đơn vị Biệt Ðộng Quân đang tham chiến ở vùng này.

Tại phi trường Bồng Sơn, Ðại tá Nguyễn Kim Tây, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân đã nài nỉ tôi hoán đổi vị trí cho Thiếu tá Ðào Ðức Châu để ông Châu lên Vùng 2, còn tôi sẽ thay ông Châu giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34 Biệt Ðộng Quân.

Tôi dư điều kiện để xin đổi vùng, vì tôi đã ở Pleiku, Vùng 2 trong thời gian gần mười năm rồi. Nghe Ðại tá Nguyễn Kim Tây đề nghị, tôi vui vẻ đồng ý ngay.

Ðại tá Nguyễn Kim Tây và tôi quen biết đã lâu. Hơn thế nữa, đầu năm 1972 tôi là người đã bay liên tục cả giờ đồng hồ trên trời Pleiku để sẵn sàng xuống cứu một phi công lâm nạn theo lời yêu cầu của ông Tây.

Hôm đó có một chiếc oanh tạc cơ Skyraider đã bị Việt-Cộng bắn trúng càng trong một phi vụ yểm trợ hành quân ở Kontum mới bay về. Tôi cũng vừa thả xong một toán viễn thám và đang chuẩn bị đáp trước bộ chỉ huy, nhưng Trung tá Nguyễn Kim Tây lại có mặt ở đây và đã yêu cầu tôi bay cover cho chiếc Skyraider bị nạn.

Lý do ông Tây quan tâm tới chuyện này chỉ vì viên phi công lái chiếc Skyraider là một người em ruột của ông Tây.

Dự trù khi máy bay cạn nhiên liệu, phi công sẽ nhảy dù xuống vùng Tây Pleiku và bỏ cho tàu rơi tự do trong rừng, trực thăng của tôi sẽ xuống cứu ông ta.

Nhưng bay tới khi hết xăng, người phi công đã không nhảy dù, bỏ tàu, mà cố gắng đáp bằng bụng. Cú đáp đã thành công ngoài dự liệu của mọi người.

Sau này, năm 1973, ông Nguyễn Kim Tây trở thành Ðại tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân nên ông muốn tôi về làm việc với ông.

Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai không phản đối chuyện hoán chuyển này, nhưng Ðại tá Phạm Duy Tất thì có vẻ không vui.

Nhìn tôi, ông Tất nói,

– Anh có làm gì phật lòng Long không mà Long bỏ anh?

Nghe Ðại tá Tất nói, tôi đã mềm lòng, xin hủy bỏ chuyện đổi vùng.

Tôi đã phụ lòng Ðại tá Nguyễn Kim Tây. Tôi đã ở lại với Ðại tá Phạm Duy Tất, với Vùng 2, và tôi đã làm được nhiều điều mà những thiếu tá khác không làm được. Vậy mà qua bao trận đánh, qua bao chiến công, tôi vẫn là thiếu tá.

Tôi hơi ngỡ ngàng, khi nhận ra ông Trung tá Liên đoàn phó của tôi lại chính là ông Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 34 Biệt Ðộng Quân ngày nào.

Ông Châu mới tới Liên Ðoàn 24 một thời gian rất ngắn. Ông ta chưa hề đi thăm các đơn vị tiền tiêu, do đó tôi chưa từng gặp mặt ông ta.

Chính vì chưa giáp mặt, chưa quen cách điều binh khiển tướng của Trung tá Châu mà tôi đã thề sẽ bắn nát óc ông ta nếu ông ta cắt đứt pháo yểm của tôi cách đây vài ngày.

Ông Trung tá Châu thuộc lớp sĩ quan sống lâu lên lão làng, nên cách chỉ huy của ông ta cũng khác xa cung cách chỉ huy của lớp sĩ quan trẻ chúng tôi.

Ông Liên đoàn phó thân thiện mời tôi vào lều; ông trung tá ngồi trên võng, còn tôi thì ngồi trên khúc gỗ đối diện với ông.

Ông nói với tôi rằng cuộc họp “bí mật” này ông chỉ muốn có mặt mình tôi thôi; ông không cho hai vị chỉ huy tiểu đoàn còn lại là Thiếu tá Ðàng và Thiếu tá Tài biết chuyện ông sẽ bàn tính với tôi.

Ông tự giới thiệu, ông là dân Bắc Di Cư, tốt nghiệp Khóa 12 Võ Bị Quốc Gia. Ông ta vừa học xong khóa tu nghiệp gì đó sau khi lên cấp trung tá thì được lệnh về giữ chức Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Ông Châu mở ba lô lấy bao thuốc lá Salem đầu lọc, mời tôi,

– Long hút thuốc đi! Hút một điếu cho ấm!

Tôi xua tay,

– Cám ơn Niên Trưởng! Tôi không hút thuốc đầu lọc!

Ông Châu im lặng một phút, rồi với một giọng đầy thảm não, ông bắt đầu tâm sự,

– Long ơi! Anh sinh ra để làm chính trị. Chỗ của anh là Thượng Viện, Hạ Viện chứ đâu phải chỗ này? Anh có muốn làm nhà binh đâu? Anh sinh ra không phải để làm lính! Quyết định đi lính của anh là một quyết định sai lầm! Giờ này anh không còn chút hứng thú nào ở quân đội nữa!

Tôi sốt ruột, phang ngang,

– Bây giờ Trung tá có lệnh gì cho tôi thì nói ngay đi! Nếu không, tôi phải về ngủ để mai còn sức mở đường! Liên đoàn đang lui binh, tôi không rảnh ngồi nghe chuyện cổ tích.

Thấy tôi có vẻ không muốn cà kê, dài dòng, ông Châu vội khẩn khoản,

– Long có uy tín với quân đoàn, mai Long xin trực thăng tải thương cho anh về Ðà Lạt được không?  Anh…

Tôi ngạc nhiên, trợn mắt, ngắt lời ông Châu,

– Trung tá đừng đùa lúc này!

Ánh sáng từ cái bóng đèn nhỏ mắc vào cục pin PRC 25 cho tôi thấy đôi mắt ráo hoảnh của vị sĩ quan khóa đàn anh,

– Anh nói thật chứ có đùa đâu?

Bây giờ thì tôi biết ông trung tá nói thật, không đùa. Tôi cứ ngồi ớ ra mà không biết phản ứng ra sao. Thấy thế, ông Châu năn nỉ tiếp,

– Long à! Thương anh thì ngày mai Long xin trực thăng cho anh ra khỏi đây, anh sợ chiến trận rồi!

Tôi nhấp nhỏm đứng dậy thì ông Châu vội cầm tay tôi,

– Anh đâu có tình nguyện lên Vùng 2 (?) Anh đâu có quen địa thế ở đây(?) Anh có ở lại cũng chẳng giúp gì cho anh em. Long ở Vùng 2 lâu rồi, quen biết nhiều, ngày mai Long xin trực thăng cho anh ra khỏi đây đi! Mình là anh em cùng trường. Long cố gắng giúp anh! Anh cám ơn Long nhiều lắm!

Thế là hết chuyện! Bộ mặt bỉ ổi của một kẻ tham sống sợ chết đã lộ ra quá nhanh và quá trơ trẽn. Tôi thẫn thờ đứng lên, bước ra khỏi căn lều của tên vô loại.

Ðêm đó tôi ngồi hút hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác mà lòng thì buồn vô cùng, cứ nhớ về Trường Mẹ Ðà-Lạt không nguôi…

Mờ sáng 28 tháng Ba năm 1975, một công điện khẩn được gởi cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2/ Hành Quân, xin trực thăng tản thương.

Trước khi máy bay tới, Ðại úy Trần Dân Chủ, Ban 3 Liên đoàn đến xin tôi cho phép anh ta theo chân Trung tá Liên đoàn phó rời vùng.

Tôi trả lời anh ta rằng,

– Trực thăng chưa tới thì ông Trung tá Châu còn là người chỉ huy liên đoàn. Anh phải trình diện ông ta, xin ông ta cho phép anh rời nơi đây.

Tôi nói thêm,

– Nếu tôi là người chỉ huy liên đoàn, tôi sẽ không cho bất cứ sĩ quan nào rời vùng. Trong những tình thế hiểm nghèo, người lính trông nhờ vào sĩ quan. Chỉ có sĩ quan mới có khả năng dắt dìu những người lính dốt nát thoát khỏi cơn khốn đốn. Sĩ quan biết sử dụng bản đồ, địa bàn, biết phương hướng. Ði trong núi, trong rừng mới cần sĩ quan dẫn dắt binh lính. Trong thành phố không ai cần các anh dẫn dắt! 

Ông Ðại úy Ban 3 dạ dạ, vâng vâng. Nhưng khi máy bay tải thương tới, thì Ðại úy Chủ đã nhanh chân theo bén gót Trung tá Châu lên tàu. Có hai hạ sĩ quan khai bệnh sốt rét tới xin đi, tôi cho đi luôn.

Hóa ra chuyến đi này của Trung tá Ðào Ðức Châu cũng là chuyến bay giã từ quân ngũ của ông ta. Ông ta vắng mặt từ đó, rồi trở thành một trong những người đầu tiên di tản khỏi Việt-Nam ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Trưa ngày 28 tháng Ba năm 1975, khi hai sĩ quan và hai hạ sĩ quan vừa yên chỗ trên sàn trực thăng thì dưới bãi bốc xảy ra cảnh lộn xộn, ồn ào.

Có một người đàn bà nhất định không chịu lên máy bay. Chị ta vừa khóc thút thít vừa co rụt người lại khi mấy anh lính an ninh bãi đáp tìm cách đẩy chị ta lên cửa trực thăng. “Em không về đâu! Em không nỡ bỏ anh ấy giữa rừng!”

Người đàn bà này đã theo đoàn quân của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân từ ngày đầu di tản. Chị không chịu bỏ người thân. Tay chân chị giãy giụa, miệng chị la bài hải:

“Em không sợ chết đâu! Cho em ở lại đi! Các anh ơi!” 

Cuối cùng, toán giữ trật tự bãi đáp đành chịu thua người đàn bà.

Chợt không ai bảo ai, tất cả Biệt Ðộng Quân có mặt trên bãi bốc ngày hôm ấy đã đồng loạt vỗ tay hoan hô người phụ nữ can đảm.

Chờ một lúc không thấy ai lên máy bay nữa, tôi ra dấu cho chiếc trực thăng cất cánh.

Chiều đó, khi dừng quân, tôi nhận được một công điện từ Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2/ Hành Quân chỉ định Thiếu tá Hiện Dịch Vương Mộng Long, Khóa 20 Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam tạm thời giữ chức vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Tôi mời Thiếu tá Ðàng và Thiếu tá Tài lên gặp tôi để phân nhiệm. Theo đó, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ mở đường, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đi giữa, Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân có nhiệm vụ đoạn hậu.

Ðối với Thiếu tá Nguyễn Hữu Tài, tôi không gặp trở ngại gì về vấn đề chỉ huy, vì anh Tài là Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi trước khi thuyên chuyển qua Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân làm Tiểu đoàn phó cho Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 2 Mar 2026

Khi Đại tá Kỹ sư Yakonov ra khỏi Bộ An ninh bằng khung cửa sau mở ra đường Dzhernhinsky và đi vòng tòa nhà dưới những thân cột đá ở công viên Furkasovsky, y không còn nhận ra chiếc xe Podeba của y đậu ngay trước mặt, y toan mở cửa xe của người khác để ngồi vào đó. 
Đêm vừa qua và vào giờ này, sắp hết, là một đêm sương mù dày đặc. Tuyết rơi từ lúc chặp tối lập tức chảy tan ra nước ngay và ngừng rơi ngay. Giờ đây, trước khi trời bình minh, sương mù che kín mặt đất và dòng nước chảy trong rãnh cống được phủ trên mặt bằng một làn băng mỏng. 
Trời trở lạnh. 
Mặc dù đã gần 5 giờ sáng, nền trời tối đen như mực. 
Một sinh viên năm thứ nhất, đứng với cô bạn gái của chàng suốt đêm trong một vòm cổng, nhìn Yakanov bằng đôi mắt ước muốn, thèm thuồng khi y chui vào lòng chiếc xe ấm. Chàng sinh viên thở dài nghĩ đến chuyện không biết chàng có thể sống đủ lâu để có một chiếc xe hơi hay không. Không những chưa bao giờ chàng có điều kiện đưa cô bạn của chàng đi chơi bằng xe hơi, chiếc xe duy nhất mà chàng từng được ngồi trong đời chàng chỉ là chiếc xe vận tải đưa chàng tới làm công tác lao động ở một nông xã. 
Nhưng chàng không biết rõ về người đàn ông mà chàng đang ao ước, thèm muốn được giống. 
Gã tài xế của Yakanov hỏi: 
“Đại tá về nhà?” 
Yakanov trố mắt nhìn gã. Y cầm chiếc đồng hồ ở tay nhưng y không nhìn thấy kim đồng hồ chỉ mấy giờ. 
“Gì? Không…” 
“Đại tá về Mavrino?”
 
Gã tài xế ngạc nhiên hỏi câu thứ hai. Tuy gã có bận áo da cừu với mũ da che kín đầu mặt, cuộc thức chờ gần hết đêm cũng làm cho gã run rẩy và gã mong được về giường nằm. 
“Không…” 
Ông Đại tá Kỹ sư lại đáp, bàn tay đặt lên ngực như để chặn trái tim. 
Gã tài xế quay lại nhìn vào mặt chủ gã dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn đường chiếu qua khung kiếng đầy sương trắng vào trong lòng xe. 
Gã thấy người đàn ông ngồi đó như không phải là ông chủ gã. Vành môi của Yakanov lúc nào cũng mím chặt với vẻ kiêu ngạo, lúc này đang run rẩy. 
Yakanov vẫn cầm chiếc đồng hồ trên tay. Y như người không còn hiểu gì cả. 
Và mặc dù gã tài xế đã phải vất vả chờ suốt đêm và bực bội rủa thầm Yakanov trong khi gã nhớ lại những hành động tàn nhẫn, quái ác của Yakanov trong vòng hai năm trôi qua, gã vẫn mở máy cho xe chở đi không chủ đích trong thành phố. Dần dần việc lái xe làm cho thần kinh gã dịu đi, cơn hờn giận trong gã cũng biến đi. 
Đêm đã quá khuya để có thể gọi là trời đã sáng. Thỉnh thoảng chiếc xe chở Yakanov chạy lang thang gặp một chiếc xe cô đơn khác trong những đường phố vắng của thủ đô. Thành phố không có cảnh sát, không có người đi bộ, không có trộm cướp. Chỉ lát nữa thôi những chiếc xe chuyên chở công cộng sẽ bắt đầu chạy. 
Vừa lái xe, gã tài xế vừa nhìn lại ông chủ, gã phải tự quyết định cho xe chạy đi đâu, một việc mà ít khi nào gã phải làm. Gã đã cho xe chạy qua Myasnitsky, chạy suốt hai đại lộ Sretensky và Rozhdesvensky tới công trường Trubny rồi từ đó quẹo về Neglinnaya. Nhưng gã không thể cứ lái xe chạy như vầy mãi cho đến sáng. 
Yakanov nhìn ngây ra trước mặt, đôi mắt của y là đôi mắt thất thần, bất động và hoàn toàn vô cảm thụ. Y có mở mắt nhìn nhưng không thấy gì hết. 
Yakanov cư ngụ ở đường Bolshaya Serpukhovaka. Gã tài xế, nghĩ rằng khung cảnh quen thuộc của khu này có thể gợi cho chủ nhân của gã tỉnh lại và quyết định đi về nhà nên gã cho xe chạy qua cầu để quay về khu đó. Xe chạy xuống con đường Okhotny Ryad đổ dốc, quẹo ở Manège và đi ngang Công trường Đỏ lạnh lẽo, vắng tanh. 
Những nền đá của những bức tường quanh điện Kremlin và đỉnh những ngọn tháp nhô lên trên đầu tường bám đầy băng giá. Mặt đường xám và trơn trợt. Sương mù như biến mất ở đầu xe. 
Xe chạy cách xa bức tường chừng ba trăm thước, trong những bức tường đó, như hai người trong xe có thể tưởng tượng – bậc Vĩ nhân vĩ đại nhất của trái đất đang ngủ những giờ phút cuối cùng của một đêm dài và lạnh. Nhưng họ đi qua đấy và không ai nghĩ đến Vĩ nhân. 
Khi xe chạy ngang Giáo đường Basil và hướng về phía bờ sông Mạc Tư Khoa, gã tài xế cho xe giảm tốc độ và hỏi lớn:
“Đồng chí Đại tá… Đồng chí về nhà chưa?” 
Đáng lẽ ra Yakanov nên về nhà. Trong thời gian gần đây y sống ở nhà quá ít, nhưng như một con chó già thường tìm đến những nơi vắng vẻ để chết một mình, Yakanov có thể đến khắp mọi nơi trừ nhà y. 
Chiếc Pobeda ngừng lại. Nắm lấy vạt áo da dày trong khi chui ra khỏi xe, Yakanov nói với gã tài xế: 
“Chú đem xe về nhà ngủ đi. Tôi đi bộ về.” 
Y thường gọi gã tài xế bằng tiếng “chú” thân mật, nhưng lúc này giọng nói của y rầu rĩ, não nề quá làm cho câu nói rất thường của y thảm đạm như một lời vĩnh biệt. 
Một bức màn sương bao phủ mặt sông Mạc Tư Khoa kín lên tận tới bờ. 
Không gài nút áo, với cái mũ lông thú của sĩ quan cấp Tá đội hơi lệch sang một bên, Yakanov, đôi lúc loạng choạng vì mặt đường trơn, đi dọc theo bờ sông. 
“Gã tài xế muốn cất tiếng gọi chú, gã nghĩ đến chuyện lái xe đi theo ông chủ nhưng sau đó gã lại nghĩ: “Với cấp bậc ấy chẳng đời nào ổng lại nhảy xuống sông tự tử.” Gã bèn quẹo xe trở lại và yên chí về thẳng nhà gã. 
Yakanov lần bước đi trên mặt con đê dài, con đê này không có những đường phố cắt ngang, bên trái y là một hàng rào gỗ dài như vô tận, bên phải y là dòng sông. Y đi giữa con đê, mắt nhìn ngây về những ánh đèn đường trước mặt. 
Khi đã đi được một quãng khá xa, Yakanov cảm thấy cuộc đi bộ theo kiểu đi đưa đám ma này gợi lên trong y một sự thoải mái mà từ lâu lắm rồi y không được hưởng. 
Hồi đêm, khi bộ ba bị gọi trở lại trước mặt Tổng trưởng Abakumov, tình hình đã đi đến độ không còn cứu vãn gì được. Yakanov có cảm giác như vũ trụ đổ ụp xuống đầu y. Abakumov nổi cơn điên như một con thú rừng hóa dại. Hắn giẫm lên chân ba người bị hắn gọi trở lại để sỉ nhục, đe dọa, hắn đuổi họ chạy vòng vòng trong căn phòng, hắn chửi rủa họ, hắn khạc nhổ và thiếu chút nữa thì đờm rãi trong miệng hắn bay trúng vào mặt họ. Rồi với mục đích gây đau đớn rõ rệt, hắn đấm vào mũi Yakanov. Kết quả là Yakanov bị chảy máu mũi. 
Abakumov đã gầm gào lên rằng Sevastyanov sẽ bị lột lon, giáng xuống cấp Trung úy và đày đi phục vụ trong những cánh rừng ở Bắc bán cầu, Oskolupov sẽ chỉ còn là lính gác cửa như trước kia và sẽ bị phái đến phục vụ ở nhà tù Butyrskaya, nơi y đã bắt đầu sự nghiệp vào năm 1925. Riêng với Yakanov, vì tội gian dối và tội “phá hoại tái phạm”, sẽ bị bắt và bị gởi đến nhà thù Mavrino như một tên tù thường để làm việc trong phòng sống bẩy dưới quyền điều khiển của Kỹ sư Bobynin, ở đó Yakanov sẽ phải làm việc bằng chính hai tay y chứ không còn sai khiến được người khác. 
Sau cùng, Abakumov đã nín thở và cho họ một dịp may cuối cùng, một kỳ hạn tối hậu: Ngày 22 tháng giêng, ngày kỷ niệm Lênin từ trần. 
Cảnh vật trong văn phòng rộng trang hoàng chướng mắt, quay cuồng trước mắt Yakanov. Y cố gắng dùng khăn tay thấm máu mũi. Y đứng đó yếu đuối và hoàn toàn không có một phương tiện nhỏ nào tự vệ trước Abakumov và trong lúc đó y nghĩ đến ba người, một người đàn bà và hai đứa trẻ, những người mà trong những tháng gần đây y chỉ được sống gần nhiều nhất là một tiếng đồng hồ một ngày, những người mà y đã khổ sở tranh đấu bảo vệ, để giữ cho được an toàn, sung sướng, những người đó là hai đứa con nhỏ của y, đứa lớn lên chín, đứa thứ nhì lên tám, và Varyusha, vợ y, Yakanov thương yêu vợ vì y kết hôn với nàng quá muộn. Năm nay y ba mươi sáu tuổi, y mới cưới nàng. Y cưới vợ sau khi y ở tù ra. Và giờ đây nắm đấm tàn nhẫn của Ông Tổng trưởng của y lại đe dọa đẩy y trở lại nhà tù. 
Từ văn phòng Tổng trưởng ra, Sevastyanov bắt Oskolupov và Yakanov vào văn phòng của lão và ở đây, lão đe dọa sẽ tống hai người vào tù, lão nhất định không chấp nhận tình trạng lão bị giáng xuống cấp Trung úy và bị đi phục vụ ở Bắc cực. 
Từ văn phòng Sevastyanov, Oskolupov bắt Yakanov vào văn phòng Va. Ở đây với những lời lẽ thẳng thắn đến thô tục, Oskolupov cho Yakanov biết rằng Va sẽ làm một báo cáo buộc y vào tội phá hoại, bằng chứng là kỳ đi tù trước đây của y. 
Yakanov đi tới cây cầu xi-măng cao bắc ngang sông Mạc Tư Khoa. Y không đi vòng để đi lên cầu, y đi dưới chân cầu, ngang chỗ có một viên cảnh sát đang đi tuần. 
Viên cảnh sát nghi ngờ nhìn gã đàn ông say rượu đang đi loạng choạng đầu đội cái mũ lông thú đặc biệt của những sĩ quan cấp tá. 
Đây là khúc dòng sông Yauza đổ vào sông Mạc Tư Khoa. Yakanov đi qua dưới chân cầu nhưng y vẫn không biết là y đang ở đâu, y sẽ đi đâu. 
Một cuộc tranh đấu sống chết đang diễn ra và sắp đến hồi kết thúc, Yakanov nghĩ đến cuộc tranh đấu gay cấn ấy và y cảm thấy cái vội vã, cuống quýt chạy chết của một kẻ bị trói chặt cả tay lẫn chân. Hơn lúc nào hết y ghi nhận sự vô lý, độc đoán, tàn ác của những hạn kỳ thời gian. Đó là một tình trạng thúc đẩy, dồn ép ghê gớm, ác liệt, làm nhanh hơn, nhanh hơn nữa, hết hạn rồi, tranh thủ thời gian, làm xong trước giờ ấn định. Và khi mọi việc được làm theo cách này, những tòa nhà được xây lên sẽ không đứng vững, những cây cầu sẽ sụp, những công thự sẽ đổ, những vụ mùa thật thu và những mầm giống được gieo sẽ nhất định không chịu nhô lên khỏi mặt đất. Nhưng cho đến khi nào sự thật nổ ra trước mắt mọi người, những kẻ nào chẳng may bị cuốn hút vào cơn giông bão tranh thủ thời gian ấy không có lối nào thoát ra được trừ lối đau ốm, lối tự đút tay vào guồng máy để bị thương, gặp một tai nạn – và để được nằm chờ trong một bệnh viện hay một nhà dưỡng đường. 
Từ trước cho đến bây giờ luôn luôn Yakanov nhảy ra được những tình trạng cấp bách một cách an toàn để lẻn vào ở trong những tình trạng khác yên bình hơn, chắc chắn hơn hoặc còn lâu mới đến hồi kết thúc. 
Nhưng lần này, lần này, y cảm thấy y không sao thoát ra được. Y không thể nào thực hiện xong dự án chế tạo máy điện thoại bí mật trong thời hạn ngắn ngủi ấy. Y không thể làm được gì hết. 
Và y cũng không thể thoát ra được bằng cách cáo ốm. 
Y đứng vịn tay vào thành cầu và nhìn xuống. Sương mù nằm trên mặt nước sông lạnh đóng thành đá nhưng không che kín mặt sông. Ngay dưới chỗ y đứng, nơi đá tan, Yakanov nhìn thấy một hố đen nước chảy. 
Hố đen như miệng giếng – cái hố đen của dĩ vãng – nhà tù – một lần nữa lại mở ra trước chân y, một lần nữa kêu gọi y trở xuống. 
Yakanov coi khoảng thời gian sáu năm y sống ở đó, trong hố đen đó, là khoảng thời gian đến đủi nhất, xui xẻo nhất, là thất bại nặng nhất đời y. 
Y bị vào tù năm 1932 khi y là một kỹ sư vô tuyến điện trẻ tuổi, tuy trẻ nhưng y đã được xuất ngoại vì công tác hai lần (chính vì những cuộc xuất ngoại này mà y bị bắt). Y là người tù thứ nhất trong những tù nhân đầu tiên sống là làm việc trong những nhà tù theo quan niệm của Dante. 
Y muốn quên đi cái dĩ vãng tù đày đó biết là chừng nào! Y muốn quên và muốn những kẻ khác cũng quên. Muốn cho định mệnh quên. Y từng cố gắng bằng đủ mọi cách xa lánh những kẻ nào gợi cho y nhớ lại dĩ vãng đen tối ấy, xa lánh những kẻ nào từng biết y bị tù. 
Đột ngột Yakanov lùi phắt lại. Y lùi xa thành cầu và đi qua đường đê leo một con dốc lên ngọn đồi. Một con đường mòn lách qua hàng rào gỗ của một dự án xây cất nào đó ở chân đồi, con đường mòn đầy đá băng nhưng không đến nỗi quá trơn. 
Chỉ có cơ quan Mật vụ MGB Trung ương là biết rõ, nhờ những phiếu lý lịch hồ sơ trong phòng lưu trữ, những tên tù cũ nay được bận đồ đồng phục của nhân viên MGB. 
Có hai tên cựu tù nhân, ngoài Yakanov, có mặt ở Viện Mavrino. 
Yakanov vẫn cẩn thận tránh gặp, tránh gần hai tên ấy. Y cố giữ để khỏi phải trò chuyện với càng ngoài khi bắt buộc phải nói về công việc chung, nhưng không bao giờ y chịu ở lại một mình trong văn phòng với hai tên ấy, để cho người khác khỏi thấy và khỏi suy luận. 
Một trong hai tên ấy là Kynazhetsky, giáo sư hóa học. Lão này đã bảy mươi tuổi. Trước kia lão là học trò ưu tú của Giáo sư Mendeleyev. Lão bị án tù mười năm và đã sống hết hạn tù. Nhờ một số những thành quả khoa học, lão được gửi đến làm việc ở Viện Mavrino với tư cách là nhân viên tự do và lão đã làm việc ở đó yên lành được ba năm sau chiến tranh cho đến ngày ban hành Luật Củng cố hậu phương quật lão ngã lần thứ hai. Lần này có lẽ là lần ngã cuối cùng trong đời lão. Vào một buổi trưa, có lệnh bằng điện thoại từ Bộ An ninh gọi lão về Bộ trình diện. Lão về và không thấy lão trở lại nữa. Hak nhớ kỹ hình ảnh Knyazhetsky khi lão đi xuống trên tấm thảm đỏ trải trên những bực thang của Viện, vừa đi vừa lắc lắc mái tóc bạc, không hiểu vì sao người ta lại gọi lão về Bọ để hỏi về một vấn đề gì đó trong “nửa tiếng đồng hồ”. Trong khi đó ở sau lưng lão, trên tầng lầu trên, Thiếu tá Shikin, sĩ quan an ninh của Viện, đã dùng con dao bỏ túi cạy tấm hình ra khỏi bản danh sách nhân viên danh dự của Viện. 
Người thứ hai là Altynov. Lão này không phải là một khoa học gia nổi tiếng, lão chỉ là một chuyên viên làm những công tác khoa học như buôn bán kiếm lời. Cũng giống như trường hợp của Giáo sư Knyazhetsky, Altynov từng ở hết hạn tù và nhờ thành tích đạt được trong thời gian phục vụ trong tù, lão được cho làm nhân viên tự do đến làm việc ở Viện Mavrino. Bề ngoài Altynov có vẻ ham lam và hơi ngu nhưng lão hơn người ở điểm lo xa và nhất là lão nghi ngờ. Lão nghi rằng người ta có thể sẽ không để cho lão được yên ổn sống nốt những năm còn lại trong nhà lão. Lão bèn giả vờ đau tim. Khi Luật Củng cố hậu phương được ban hành sau chiến tranh, lão đã nằm trong một bệnh viện chuyên trị bệnh đau tim. Lão giả vờ đau tim hữu hiệu đến nỗi bác sĩ điều trị cho lão đều hết hy vọng cứu sống được lão. Và lão cứ sống vật vờ mãi cho đến bây giờ. 
Và Yakanov, đoạn đời trước đen tói vì thời gian ở tù, đoạn đời sắp đến đen vì tội phá hoại. Cả dĩ vãng và tương lai y đều khốn khổ. 
Hố thẳm tù đày vừa lên tiếng kêu gọi y trở lại. 
Yakanov đi qua bãi đất trống nhưng y vẫn không biết la y đi đâu, đến đâu, y cũng không nhận thấy mặt đất thoải dốc và y đang vất vả lần bước lên dốc. Sau cùng, y phải đứng lại vì hụt hơi. Hai chân y mỏi, hai cổ chân y nhức nhối vì mặt đất không được phẳng. 
Đứng trên đỉnh cao nơi y vừa trèo lên, giờ đây Yakanov mới phóng tầm mắt nhìn ra chung quanh. Mắt y bây giờ mới ghi nhận cảnh vật và mới tìm hiểu nơi này là nơi nào. 
Trong khoảng thời gian một tiếng đồng hồ vừa qua kể từ lúc y ra khỏi xe hơi, đêm đã lạnh hơn và đêm đã gần hoàn toàn trôi qua. Sương mù đã bắt đầu tan và tan đi rất mau. Mặt đất dưới chân y đầy những mảnh gạch vụn đá nhỏ, thủy tinh vỡ, gần chỗ y đứng có một căn nhà gỗ nhỏ xíu. Bên dưới là một hàng rào gỗ vây quanh khu đất chưa được khởi công xây cất. Không có tuyết rơi nhưng tất cả đều nằm dưới một làn băng mỏng. 
Trên ngọn đồi trung tâm quá gần thành phố này, ngọn đồi có nhiều dấu vết của sự tàn phá, y nhận thấy có những bực đá trắng sót lại của một lối đi bằng đá. Y lẩm nhẩm đếm. Có bảy bực thang đá tất cả. 
Ký ức của Yakanov gợi lên một ghi nhớ mơ hồ nào đó khi y nhận thấy những bực thang đá trắng trên lưng đồi xác xơ. Y đi tới và bước lên những bực đá, tâm trí vẫn hoang mang chưa nhớ đây là đâu và tại sao y lại có vẻ quan thuộc với những bậc đá này. Y đi lên, đi lên mãi và sau cùng, y thấy một tòa nhà ẩn hiện trong màn sương và bóng tối. Tòa nhà có hình thể thật lạ. Tòa nhà như đã đổ nát, hoang tàn nhưng vẫn còn giữ nguyên được hình thể bên ngoài. 
Phải chăng đây là một nơi đổ nát vì trúng bom đạn trong thời chiến tranh? Chắc không phải. Chiến tranh đã qua lâu rồi. Tất cả những nơi bị bom đạn tàn phá trong thủ đô này đều đã được xây cất lại. Nơi này dường như bị tàn phá vì một cái gì khác bom đạn. 
Một thềm đá lớn ngăn cách những bậc thang đá Yakanov vừa đi qua với những bậc thang khác. Rồi khối đá lù lù che tầm mắt y. Những bậc đá trên cao này dẫn tới cửa tòa nhà như lối dẫn lên cửa một nhà thờ. 
Yakanov tới trước một khung cửa sắt lớn. Cửa sắt đóng kín, gạch đá vụn chặn kín dưới ch ân cửa cao tới nửa thước. 
Đúng rồi, đúng rồi, Yakanov đã nhớ ra đây là đâu. Y nhìn quanh để kiểm soát lại. Dòng sông dưới kia nằm như một đường sáng lượn vòng, chìm mất dưới chân cầu và chảy mãi, chảy xuôi về điện Kremlin. 
Nhưng còn tháp chuông? Không thấy có tháp chuông. Những tảng đá xếp đống này? Phải chăng đây là những gì còn sót lại của tháp chuông ngày xưa? 
Hai mắt Yakanov bỗng nong nóng, cay cay, như khi y chảy nước mắt. Y nhận ra, y nhớ lại và toàn thân y bủn rủn. 
Yakanov nhè nhẹ ngồi xuống bậc đá ở trước cửa nhà thờ. 
Trước đây hai mươi hai năm có lần y đã ngồi trên thềm đá này với một người thiếu nữ tên là Angiya.

Những người tua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 Mar 2026

Trong nước càng ngày chúng ta thấy sự quan hệ giữa chính quyền cai trị và dân chúng càng ngày càng tồi tệ, và đảng đẩy quần chúng vào thế đối nghịch, coi dân như kẻ thù. Mặt nạ “nhân dân làm chủ” mị dân của cái thời xa xưa đã rơi xuống, phơi bày một sự thật, đó là, sự quan hệ giữa “dân-nhà nước” bây giờ được xem như là giữa con cái và cha mẹ, thậm chí là chó với chủ. Có hai người đàn bà tương đối có chức sắc, và cũng khá “sắc sảo” luôn luôn muốn tâng công với đảng nhà nước, nhưng đôi khi lại đi quá đà, “bảo hoàng hơn nhà vua,” là hai bà Nguyễn Thị Hồng Ngát, Tôn Nữ Thị Ninh, muốn đem Khổng Tử ra để coi chính quyền là cha mẹ dân: “dân chi phụ mẫu,” đi ngược lại khẩu hiệu “nhân dân làm chủ” mà đảng Cộng Sản vẫn thường rêu rao.

Nguyễn Thị Hồng Ngát, hồi còn là Cục phó Cục Điện ảnh VN, trả lời cuộc phỏng vấn của phóng viên Evan Williams đài truyền hình ABC tại Úc đã nói về những sự bất đồng của dân Việt nam đối với chính phủ bằng câu: “Con cái không chê cha mẹ khó … “ (cho nên không được chê trách, hỗn hào!). Câu nói này lại được Trương Ngọc Ninh, Phó Giám đốc sở VH-TT Hà Nội, phụ họa: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”  Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của VN tại Liên hiệp Châu Âu (EU), Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Việt Cộng, tại buổi họp báo tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ hồi tháng 10 năm 2004, đã biện bác rằng về tình trạng nhân quyền tồi tệ ở Việt Nam bằng một câu nói khá hỗn xược: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”. Có nghĩa là những nhà tranh đấu cho dân chủ, cho sự bảo toàn lãnh thổ, những người dân kêu oan là những đứa con hỗn láo, bướng bỉnh mà đảng có quyền trừng trị riêng của đảng (đánh đập, đạp vào mặt, lôi đi như con chó, bắt bớ, tù đày … ), người ngoài chớ có xía vô. Thành ngữ Việt Nam có câu “mồm loa mép dãi” dùng trong trường hợp của hai phụ nữ này quả là đúng chỗ. Blogger Đinh Tấn Lực ở trong nước đã cho rằng mối tương quan “cha mẹ- con cái”, “chó- chủ nhà,” theo lối nói này là thứ “tương quan mất dạy.”

Nguyễn Thị Hồng Ngát là “biên kịch” cuốn phim “Nhìn Ra Biển Cả” nói vể tuổi trẻ của Hồ Chí Minh, đoạt giải nhì cuộc thi sáng tác kịch bản điện ảnh hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, kỷ niệm 120 năm ngày sinh của “bác” vào năm 2010, thì chúng ta cũng thấy tầm

vóc nhai lại của một tay văn nô như thế nào, đã tâng bốc một thứ “đạo đức mắm tôm”, mà người có liêm sỉ phải lấy làm ngượng. Những cuốn phim như loại này chỉ dùng để báo cáo thành tích hằng năm, chứ phát vé đi xem không cũng chẳng ai thèm. Tôn Nữ Thị Ninh từng du học ở Pháp, Anh, dạy học ở Pháp. Trước năm 1975, bà dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn và là người liên lạc giữa Viện Đại Học Saigon với Tòa Đại Sứ Mỹ, nhưng không biết vì sao vào giờ phút chót bà lại không có tên trong danh sách dược di tản. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, Tôn Nữ thị Ninh đã chạy đôn đáo nhưng không kiếm được ra đường đi, đành phải kẹt lại. Số phận tình cờ, bà gặp Xuân Thuỷ, lúc đó là Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, người đã từng biết bà trong thời gian hội nghị Paris (1968-1972) nên được kéo về làm việc tại Ban Đối ngoại Trung ương. Nhờ vốn liếng sinh ngữ, có cơ hội gần gũi với các cấp lãnh đạo trong đảng Cộng Sản, công danh của Tôn Nữ Thị Ninh thăng tiến vượt bực. Hà Nội khen ngợi bà đã có một số những “phản bác tương đối mạnh mẽ trước một số cáo buộc về vấn đề nhân quyền” từ phía Hoa Kỳ, như lối nói “để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó” như ở trên. Dù là mị dân, trong khi đảng kêu gọi đảng viên “trung với đảng, hiếu với dân” là đã công nhận nhân dân là cha mẹ, bây giờ quý ông, quý bà lại theo đảng, quay ngược theo thời thế, gọi dân là “hỗn láo”, “bướng bỉnh” cần phải đóng cửa để “trừng trị,” xem ra cái thời theo dân để xin gạo, xin vàng, xin nơi trú ẩn đã qua, bây giờ nắm quyền lực trong tay, đảng làm gì chẳng được. Tệ hơn nữa, người dân dưới mắt chế độ, như nhà văn Võ Thị Hảo ở trong nước đã nhận định: “ … họ coi dân, những người nuôi nấng, làm vinh thân phì gia cho họ, như kẻ thù phải triệt hạ?”

Kinh Thi có câu “khởi đễ quân tử, dân chi phụ mẫu”, theo nghĩa thường đã có nhiều người giải thích đại ý là “quân tử là cha mẹ của dân”. Người chăm sóc, lo lắng cho dân thì được dân xem như cha mẹ, là người quân tử. Tư tưởng này truyền đến đời sau, cho nên những quan lại trị dân được gọi là “quan phụ mẫu,” xem mình như cha mẹ trị dân. Người trị dân nào mà có đức độ như cha mẹ dưỡng dục con mới được coi là quân tử, chứ không phải là loại người “bóp họng, nặn hầu” dân, vô lại, xem dân như cỏ rác mà được xưng tụng là cha mẹ dân. Ngày trước khi còn nằm trong hầm bí mật, chưa nắm chính quyền trong tay thì đảng mị dân, tự nhận là người đầy tớ trung thành, là công bộc dân, nhưng khi có quyền lực rồi thì cướp nhà, chiếm đất, gieo oan khuất cho dân, sao tự cho mình là cha mẹ được. Câu nói của Tôn Nữ Thị Ninh là một câu nói của bọn nha sai, nịnh bợ đám quan lại, đánh mất lòng tự trọng của một người trí thức, mà có lẽ ngay cả những người được Ninh coi là cha mẹ cũng lấy làm ngượng.

Còn như câu nói của một Ninh khác, Trương Ngọc Ninh, loại chức sắc nhỏ “vô văn hóa”, ví von dân với chính phủ như chó với chủ bằng một giọng miệt thị trong câu “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!” thì không thể bình luận gì hơn. Dân chưa cam tâm làm chó để cho chủ đánh đập, nhưng những loại cán bộ “ăn cơm Chúa múa tối ngày” này đã cam tâm vẫy đuôi lấy điểm với chủ. Thì cũng được đi, nhưng bọn này lại đem ví quần chúng ngày nay với đảng của chúng nó như chó với chủ thì quá xấc xược, khinh mạn.

Đó là số phận thằng dân trong chế độ hiện nay ở quê nhà. Quê nhà hiện nay phải chăng là một nhà tù lớn, nói như Henry David Thoreau, một sử gia và cũng là một nhà thơ Mỹ vào thế kỷ XIX: “Dưới một chính phủ mà họ bắt giam bất cứ ai một cách vô lý thì ngay chỗ ngồi của kẻ xử án cũng là một nhà tù rồi!”

HP

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 2 Mar 2026

Bây giờ tôi đang ở Trung Tâm Huấn Luyện tân binh, công việc không có gì khó khăn, nhưng hai tháng qua đã làm cho tôi mệt thật sự — Sự mệt nhọc không phải ở công việc, nhưng ảnh hưởng của những việc làm nhỏ nhặt nơi trung tâm này gây nên một sự khốn khổ kỳ lạ. Tôi thấy rõ nghề nghiệp này quả là đáng sợ, kéo con người xuống hố sâu tuyệt vọng không cùng.
Tôi dạy lính về kỹ luật, làm đại đội trưởng khóa sinh, dẫn tân binh đi học, đi ăn, cho đi phép, dạy tập chào, tập đi, tập đứng. Nếu tôi chỉ làm ngần ấy thứ với một sự bình thường thì chẳng nói làm gì, đằng này tôi chỉ huy với một nhiệt tâm được hướng dẫn bởi tàn ác kinh khiếp ngụy trang một cách khéo léo. Có thể nói chắc chắn rằng tôi không phải loại người có ác tính và cũng không bao giờ trở nên tàn ác được dù dưới một ảnh hưởng nào. Suốt hai năm chỉ huy vừa qua tôi chỉ đánh lính một lần, người bị đánh chính là thằng bé đi theo tôi bị đánh vì tội đánh bạc. Tôi đánh nó mấy roi kiểu anh đánh em. Nhưng những ngày ở trung tâm này thì khác, tôi tàn bạo một cách hiểm độc, tôi nghĩ ra những hình phạt quái lạ, mới mẻ, ảnh hưởng đến trí não cùng thân thể người bị phạt đến vô cùng. Tân binh vắng mặt bất hợp pháp hai ngày, tôi phạt hai giờ “bó chả” — Tên lính thọ phạt được nhét vào trong một lồng sắt, tay và chân đút vào trong bốn lỗ thủng của chiếc gông, xong trùm lên cái poncho. Người lính bị đóng khung trong bốn chiếc lỗ, không nhúc nhích vào đâu được, và độc hại nhất là hơi nóng dưới lớp áo mưa. Tinh quái hơn nữa, tôi đặt trước mặt kẻ bị phạt cái đồng hồ, người bị phạt có cảm giác như bị đè nặng dưới một cực hình không giới hạn.
Tôi biến chế ra những hình phạt để áp dụng cho từng loại người một, tôi khôn ngoan thâm hiểm một cách bệnh hoạn y như những tên có nhiệm vụ tra tấn tù nhân trong các trại tập trung. Kinh khủng hơn hết là tâm trạng bình thản lạnh lùng, vẻ sáng suốt tàn ác mà tôi có được khi ra lệnh phạt. Tôi lý luận một cách thông minh — Phạt thật nặng một số ít để làm gương cho số đông, tập cho tân binh chịu đựng những cứng rắn và tàn bạo của đời lính, đau đớn ở quân trường chỉ là những bước đầu để tôi luyện tâm hồn người lính mới, chiến trường của tương lai gần sau đó sẽ bi thảm và tàn khốc gấp bội! Tôi tin tưởng vào định đề này. Chỉ huy trưởng trung tâm cũng nghĩ như thế và nhất là tân binh, kẻ thọ nạn trong cuộc phiêu lưu của lý luận tàn bạo trên lại chấp nhận tích cực hơn ai hết. Tôi không phạt oan một người nào, không cau có nổi giận, hình phạt không xảy đến như kết quả của cơn giận dữ, nhưng là một khôn ngoan sâu độc, để bắt kẻ có lỗi phải nhận hình phạt kèm mặc cảm phạm tội nặng nề.
Nhưng không phải là như vậy, dù có lý luận khôn ngoan, né tránh đến tuyệt kỹ, đằng cuối đường của sự tàn bạo kể trên, tôi thấy được khuôn mặt của thù hận. Đúng, tôi thù hận! Sau trận Đồng Xoài khi nhìn xác chết của những người bạn, những kẻ đã từng cười, từng nói, đã sống với tôi trong hai năm, những người đó đột nhiên chết đi, không phải chết lành lặn, nhưng chết tàn bạo và bi thảm. Họ chết ghê tởm như những xác chết qua ngày thứ bảy, thân thể đầy dòi bọ lúc nhúc; mùi thối đọng lại trên từng mỗi chân lông, trên mọi dây thần kinh của khứu giác nằm lì lợm trong trí nhớvà hơi thở. Suốt mười ngày liên tiếp của tháng Sáu, tôi chỉ ăn được bánh ngọt, và từ những ngày ấy cho đến giờ tôi uống rượu như một tên bợm chính cống. Thù hận mọc khu rừng xum xuê theo cơn tàn phá của cơn say hàng ngày. Người ở thành phố, những người lính không đi hành quân, và gần gũi nhất là đám tân binh ngu ngơ hỗn độn dưới quyền, tất cả đều có khả năng khêu gợi thù hận bệnh hoạn khi tôi nghĩ đến cảnh chết khốn nạn của bạn bè — Nỗi thù hận nhìn thấy những người có hạnh phúc vì được sống! Ly rượu không phải là nguyên nhân nhưng là một tính chất, một cách diễn tả sự cuồng nộ. Tôi không say nhưng men rượu giúp những cảm xúc biến thành cực đoan hung bạo lạ lùng. Tôi đã đứng ở đường Trần Quốc Toản để đợi giết một người. Suốt hai ngày dưới mưa và nắng Sài Gòn, người bị nung chín bởi y định giết người — Cơn giải thoát phải có cho một giấc mơ hãi hùng. Lòng tôi không thoáng xúc động khi nghĩ đến cảnh chiếc đầu của người ấy vỡ nát dưới viên đạn của tôi. Kết quả không thực hiện được ý định vì một sự xô xát xảy ra tại địa điểm đứng rình. Thế giới bên ngoài với những trận đánh lộn hàng ngày không đủ sức giải tỏa niềm hung hăng ẩn dấu trong lòng, tôi trở về trung tâm với đám tân binh, được yểm trợ lý luận khôn khéo của bổn phận — Tôi tàn bạo như cơn mộng du đỏ lửa.
Nỗi ngụy tín cùng với sự tàn bạo lạ lùng trên không thể kéo dài. Những buổi chiều mưa ở trên căn gác tồi tàn đường Kỳ Đồng, khi lũ bạn đã đi vắng, tỉnh giấc sau cơn ngủ trưa nồng hơi rượu, chợt rùng mình vì gió lùa qua hàng cửa trống trải. Những lúc cô đơn đó, cơn tỉnh ngủ mở ra sự hiền hậu cố hữu của tâm hồn. Tôi sợ hãi như một người có bộ óc vàng chỉ còn sót lại một chút dính tay. Những lúc sực tỉnh này, tôi quyết định xin ra tiểu đoàn tác chiến để tìm thấy lại những biểu lộ tình thương ấm áp như trong những chiều nơi sườn đồi, người lính tơi tả gầy gò đang cố gắng nấu cho tôi một bữa cơm dưới chiếc lều đơn sơ. Những lúc sực tỉnh này tôi mới thấy tình yêu là một vật cao quý và mầu nhiệm — Kết quả như một quá trình nẫy nỡ của tình thương và hy vọng. Tình yêu, một phẩm vật đã lâu tôi không có.
Những ngày ở trong trung tâm này, tôi còn hiểu thêm được một điều: Khi chỉ huy một đám đông phải quên con người ở trong đó. Lính xin đi phép vì con đau nặng; tân binh trên nguyên tắc không được đi phép, tổng số trăm người, tôi là sĩ quan kỹ luật chỉ trông nom họ trong vòng hai tháng làm sao kiểm soát được tình trạng của mỗi người, thế nên phải từ chối. Nhưng nếu nhỡ con người lính đau nặng thật và chết không thấy mặt bố… Lỗi ở ai? Tôi không chịu đựng được sự tham gia vào tội ác vô tình tàn ác đó. Cái nghề này đưa tôi đến chỗ khổ sở như tình cảnh của một nhà độc tài, phải nghiêng hẳn về phía của đa số. Cứng rắn, độc đoán, hình như đấy là những đức tính cần thiết của một người chỉ huy tốt. Tôi từng nhìn một vài ông lính già; đầu hớt cao cử chỉ gò bó, ăn nói cộc lốc, năm tháng nhà binh đã ngấm vào người tạo thành một lối sống không chuyển dịch. Hạ sĩ nhất hay trung sĩ từ mười năm lính trở lên đều có một linh hồn phẳng lì như phiến gạch, sau đôi mắt u tối của họ, đố ai biết nỗi vui buồn giận dữ trong lòng. Kêu lên trình diện để rầy la vì tội không kiểm soát lính. Người đứng im không nhúc nhích; nghe hay không nghe? Phản đối hay đồng ý với lời buộc tội? Chào, quay đằng sau, đi về. Tôi chưa đến nỗi vậy, nhưng tâm hồn bây giờ giống như một mảnh đất nóng đỏ đang nguội tàn dần. Đằng sau những ồn ào tôi thấy được nỗi buồn rì rầm có thật.

Tháng 11-1965. Sài gòn. 

31 Tháng 4

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 31 Apr 2022

Post by Sơn râu 1 Mar 2026

Hướng Tây Bắc mây mù quần tụ trên những ngọn đồi trọc. Âm u đè nặng một vùng không nắng, cô lại cái im sững điếng người. Tĩnh lặng bị xé toạt ba chừng bảy đỗi bằng chuỗi tiếng nổ lục bục bên kia núi vọng về, cơ hồ đó là sấm sét ấm ức ho sau trần mây đục, báo hiệu một cơn giông, gần kề. Nháng lửa.

Hướng Đông gió yếu hơi chẳng tải về mùi muối mặn biển. Sóng tuồng cũng hấp hối thôi hăm hở vào bờ vỗ về. Tuy xa, nhưng muôn năm đụn cát trắng chập chùng làm biên giới kia vẫn làm đau mắt khi nhìn ra, nó tựa một tấm gương nằm ngửa mình để thu cất ánh mặt trời rồi phản quang, cay nghiệt giữa những trưa hè có gió Lào sạm mặt thổi qua. Đôi khi bất bình điều gì, dù trời yên biển lặng, cát trắng ngoài đó vẫn luôn tuồng vào rãi cái bạc màu của nó lấm lem con lộ hắc ín mỏi mòn trong hoang vu.

Hướng Nam lùi sâu hai mươi cây số là thành phố đang hoảng loạn đếm không xong bao thất thoát thiệt thòi. Bài toán trừ đơn giản nhưng kết quả vẫn là đổ vỡ chẳng tài nào nắm bắt. Thành phố đó tự hào là nơi có nhiều trường học nhất và tính đổ đồng, cứ mười cư dân thì trong đó có tới bảy người liên hệ tới chuyện sách đèn. Thống kê kia đã đổi thay khi mà phương Bắc chẳng khi nao im tiếng súng. Phương trình toán học vẽ ra chữ cung và cầu mà văn chương gọi là xếp bút nghiêng theo việc binh đao. Hiện tại tất cả trường học trong kia đều đã đóng cửa, những chiếc xe đò chạy suốt đã nêm cứng người lần lượt Nam tiến chẳng mong ngày trở lại. Quốc lộ 1 oằn thân hứng chịu cơn địa chấn bất thường, đèo cao núi cả hoảng loạn chim muông, cây cối run thân và người chạy qua mặt cắt không ra giọt máu.

Ở giai đoạn này, đường sống chỉ duy một lối: Xuôi Nam. Toàn cả đi vô mà không có đi ra. Luật lệ giao thông thôi hiện hữu, tuy vậy đoạn đường một chiều kia vẫn còn lắm kẻ điếc không sợ súng phá lệ. Họ đi ngược chiều trong đơn lẻ và đón nhận những cánh tay vẫy, những trông lui với môi cười thầm lặng, những mắt nhìn đong đầy lời tiễn biệt vô ngôn. Khăn ai đang chặm nước mắt cay bụi đường vụt dong lên, vung vẫy tựa lá cờ trắng nhỏ nhoi, yếu đuối trước cuộc chơi sớm nhìn nhận một cháy túi.

GMC được lệnh dừng lại bên ruộng lúa nức nẻ màu hoàng thổ. Đoàn xe nằm ụ để lính tráng đổ quân. Tiểu đoàn vừa làm bài toán cộng và kết quả thắt lòng tất yếu là chẳng đủ số quân. Xin hãy đừng làm bảng báo cáo tổn thất, chúng tôi đã nhặt nhạnh đã tom góp đã thu vén đã hốt bạc lẻ để chơi cho tới ván bài cuối. Chơi hết rác, chơi tapis. Hãy hiểu thế. Nhiệm vụ của chúng tôi là thế. Bởi chúng tôi sống với thứ định nghĩa chẳng giống ai: Súng là vợ, đạn là con.

Sau khi kiểm tra lại vợ con, chúng tôi ôm vợ con vào lòng để dàn trải đội hình ra. Tiểu đoàn có hơi ô hợp nhưng do quen với áo trận giày saut chúng tôi thích ứng nhanh với hoàn cảnh. Xập xám chướng thì bạn được chia 13 lá bài nhưng chúng tôi có cách “binh” với 10 lá. Trung đội trưởng nói: Liệu cơm mà gắp mắm nghe em út. Em út thưa: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi! Và em út khom lưng đi hàng dọc bên hai vệ đường. Đường trống trải, đường không gió, đường nắng nôi, đường im vắng. Chó không chạy rong, gà thôi tục tác, heo chẳng ụt ịt, trâu bò cũng hoà lẫn trong dòng người tìm về đất sống phương Nam.

Những viên đạn thảy đều lên nằm chờ một kích hoả để thoát khỏi những đường kinh tuyến xoắn trong nòng. Nấc an toàn đã thôi khoá, từ vạch bán tự động được chuyển qua ngấc tự động. Con vợ M16 chưa một lần ngoại tình nhưng giờ đây em đã nhan sắc tàn tạ. Đâu lạ gì khi chính anh cũng đang đầu bù tóc rối. Tới bao giờ thì đôi ta ly dị nhau? Một đôi khi tình yêu mà sắc son thuỷ chung quá cũng đáng phàn nàn. Em ơi, có ai ăn đời ở kiếp với súng đạn đâu? Máu lửa thế có nước phá hại hạnh phúc của kẻ khác. Nhưng em ạ, trong giờ phút này đây chúng ta mong cầu một gắn bó không dời đổi. Đi qua độc đạo trước mắt chúng ta sẽ phải như hình với bóng, anh sẽ nâng niu em cho tới lúc sức tàn lực kiệt. Một trong hai, kẻ phản bội chính là anh chứ em vô can. Hãy tha thứ nếu anh sớm bỏ cuộc. Buông em ra mà lòng anh vô vàn đớn đau, xin em hiểu thấu.

Đến chiều tiểu đoàn dừng lại, trú quân vào những vị trí xét thấy vững chãi. “Ông thầy” nói: Bọn mình nằm đợi bắt tay với Thuỷ quân lục chiến ngoài kia rút vào mới nắm được tình hình. Trước mắt phải bảo đảm là trong vòng chu vi 5 cây số vuông luôn “sạch sẽ”. PRC-25 nấc lên từng hồi, rè rè tần số liên lạc kêu nhát gừng sau lưng thằng truyền tin. Thằng Một ra ngoài kia nằm trông chừng, thằng Hai ém phía này… Giọng ông thầy đục, mất vẻ quả quyết. Một tấm bạt dùng che nắng mưa và chủ nhân hiểu thấu cái tạm bợ vá víu nọ chẳng đủ ấm đầu. Mưa sẽ tạt, nắng sẽ rọi chiếu, xuyên thâu. Đành vậy, kẻ nghèo khó vẫn biết cách cầm cự với bao nỗi cơ hàn.

Chỗ thằng Một nằm là con đường đất thẳng góc quốc lộ, nó sẽ dõi mắt dòm ngó động tĩnh những gì có thể hiện ra sau luỹ tre làng bởi tiểu đoàn không muốn bị chọc nhột ở mạn sườn. Mùi đất thì ở đâu cũng giống nhau, ở cái độ ấm nó mơn man trao gởi đi kèm với mùi nồng cố hữu. Đất ở đây khác, lạnh tanh, khô nhám và thỉnh thoảng nó dấy lên cơn động kinh, run bần bật.

Tôi nhập ngũ như vậy là đúng một năm. Một thằng lính lầm bầm. Tôi chưa từng đụng trận, chưa đánh đấm cho thật đàng hoàng. Điều nó phân trần được chứng thực qua quân phục sạch nước cản tựa mới lấy ra từ kho quân nhu. Mày vợ con gì chưa? Đứa nằm bên cà khịa. Thời giờ đâu ra, eo hẹp mọi thứ. Con vợ tao vẫn rủa xả: Đồ ăn không trông nồi, ngồi không trông hướng. Đù mẹ, chả biết giờ này em ẳm con thơ trôi giạt tới đâu rồi!

Thằng thứ ba ngứa miệng: Khi lòng mình vướng bận nhiều điều e súng cũng trở ngại tác xạ. Mày nói vậy là có ý gì? Ý của tao là Bắc quân chúng luôn hơn mình ở chỗ máu lạnh. Một đứa hiếu thảo gia đình đông vui liệu có thắng được thằng bụi đời cù bơ cù bấc chăng? Câu hỏi ném ra thu về được một khoảng lặng. Họ không nói có lẽ vì bận moi thuốc lá ra mời nhau. Súng là vợ đạn là con, vậy thì rượu và thuốc lá? Chưa nghe ai định nghĩa nó, bởi bảo đó là thần dược thì chắc vấp phải sai lạc. Thôi, cứ khoanh vùng và yên trí điều này: Thuốc lá là người bạn đồng minh không bao giờ tháo chạy. Nó giúp ta lắm thứ mà đơn giản nhất, ta đỡ nhạt mồm khi hoá thân làm một con ma.

Ông như kiểu người Bắc di cư? Ừ, bố mẹ tôi vào Nam năm 54 và giấy thế vì khai sinh của tôi ghi chú sanh ở Sài Gòn. Sẵn, tôi cũng nói ra cái ý nghĩ vẫn đến trong tôi, nếu tôi bắn chết người anh ruột của mình có mặt trong toán quân đối phương, điều đó có bình thường không? Địt mẹ có gì bất bình thường ở đây đâu? Chia phe ra đánh nhau, cái kết quả duy nhất là một trong hai phải chết, nguyên tắc là vậy, diễn tiến là thế, chuyện đời nào có éo le! Ừ, nói cho ngay chúng tôi tuy là anh em cật ruột mà đâu có biết mặt mũi nhau. Thấy nón cối thấy tai bèo ắt phải nổ súng. M-16 mà ngu ngơ thì bị thằng AK-47 nó lia cho. Chết, làm sao hiểu ra “đời là gì”?

Đời không là gì cả khi tôi nằm đây. Đầu óc tôi từng gấp nếp rối nùi nhưng giờ này nó bị ủi thẳng ra, sạch lau ly như trang giấy trắng. Thảng hoặc ảnh hình một người con gái thoáng vụt qua trong trí, có vẻ diễu cợt khiến tôi hoài nghi, mình còn tơ tưởng tới cô ta sao? Người con gái đó đã phụ bạc quay lưng, tôi thi hỏng tú tài một, tôi vào quân trường và giờ này tôi làm tiểu đội trưởng. Tôi nghe ba thằng lính thuộc cấp trò chuyện, nghĩ tới một định luật mà thượng đế đã bày ra, rằng chúng ta mỗi người phải khác biệt kẻ khác, từ vóc dáng mặt mày tính tình lý trí cho tới hoàn cảnh sống, những rủi may mà chúng hứng chịu, chẳng trùng lẫn. Ngay cả khi về đích cuối, cái chết đón chào cũng đơn lẻ cá biệt, không ai giống ai. Chỉ một viên đạn bắn sẻ khi cắm vào đích, có đứa vật mình nằm úp mặt, có đứa dang tay ngửa mặt lên trời, có đứa chết ngồi, có đứa vắt thân qua giao thông hào, có đứa tự chôn mình dưới bụi cây, có đứa gào lên hai tiếng vĩnh biệt “Má ơi”. Có đứa chưa chết hẳn, nó van xin: Ông thầy có thương em thì xin bắn một phát vào tim em. Đại bàng run tay, đại bàng phẫn uất: Đù mẹ mày, rán chút xíu đi con, thằng cứu thương đang tới, mày nghe tiếng phần phật của cánh quạt trực thăng không?

Chỉ là liều thuốc an thần, giúp nhau có khi phải tìm cách dối gạt nhau. Muôn đời trực thăng không bay về phương ấy. Nhận lệnh phi trình đổi hướng, bỏ rơi những đồng đội đang kêu trời không thấu ở vùng địa đầu. Thuỷ quân lục chiến rút lui, mặt trận phía Bắc bỏ ngõ. Tiểu đoàn xớn xác. Tôi hỏi anh em, bọn bây tính sao? Đứa nào bỏ chạy xin hãy để lại súng đạn cho tao. Chẳng những đi mạng không, có đứa cẩn tắc tự trút bỏ quân phục trên đường, lộ bày cái hình nhân lành lặn từ thuở mẹ sinh ra làm người. Nhưng dưới con mắt đồng đội, thằng người đang chạy chẳng dám quay đầu kia nào khác gì một con thú tật nguyền. Nhân danh một tiểu đội trưởng, giờ đây tôi chẳng có quyền trách cứ anh em, tôi chỉ hy vọng anh em nên hành sử như cách thế của một người lính, dù cho người lính ấy đã buông súng. Anh em còn điều gì chưa hoàn thành thì cứ việc quay lưng đi lo cho xong chuyện.

Nắng nôi lẩn trốn trong mây dày nhưng bầu trời lúc ấy nóng bức. Màu xám của nó thường hằng chứa đựng những bất toàn khô kiệt. Đổ xuống tử lộ luồng gió lạ từ hướng Tây Bắc tràn về chen cài tiếng hò reo tuồng bất tận. Có ba người lính chịu ở lại bên tôi, ngạc nhiên thay một trong ba là thằng đã có vợ con.

Tao nghĩ mày nên đi vào trỏng tìm vợ con thất lạc thì đúng đắn hơn. Không, tôi quyết định ở lại. Tôi muốn chứng minh cho vợ con tôi hiểu, tôi là đứa biết ăn xem nồi ngồi xem hướng. Còn mày? Tôi hỏi đứa trẻ nhất. Nó hất mặt lên: Quân trường dạy tôi chữ huynh đệ chi binh. Đã xem nhau là anh em, em không thể bỏ anh cô đơn ở đây được. Mày có đọc truyện Tàu không? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ? Nhưng truyện Tàu cũng ghi câu, có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh.

Tôi ôm ba thằng đệ tử lạc loài. Tôi nói, đây mới đúng nghĩa của chữ huynh đệ, anh em trong nhà có khi còn muối mặt chơi nhau, bôi xoá ân tình. Bắc quân lộ diện hăm hở đi trên quốc lộ thênh thang chẳng rào cản. Chúng tôi ngồi xuống quây quần tạo thành một vòng tròn liền lạc. Một thằng chửi đù má mày. Một thằng kêu Amen. Một thằng niệm A di đà Phật. Và một thằng tôi thì thầm Vĩnh biệt. Trái lựu đạn rút chốt, mỏ vịt bung ra. Bốn đứa nhắm mắt đợi tử thần kêu tiếng trời long đất lở.

Hồ Đình Nghiêm