Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 7 Nov 2026



Những ngày làm báo Tiền Tuyến ở Sài Gòn, tôi có thói quen không ăn trưa. Vào khoảng 9, 10 giờ sáng ăn một bụng theo kiểu brunch (hoặc ở Pagode, Brodard hay Thanh Thế, vừa ăn vừa nghe ngóng tin tức, dư luận) rồi vô tòa soạn làm một hơi cho đến 3, 4 giờ chiều. Anh em phóng viên, thông dịch viên đến trưa là về hết rồi … tôi phải ngồi chờ xem trên bộ Thông Tin có “đục, đẽo” gì không rồi mớ “ký bông” cho nhà in chạy máy. Sau đó trong tiếng rì rầm của nhà in, tôi ngồi kiểm bài “trang trong” và bắt đầu viết Tạp Ghi cho ngày hôm sau. Tòa soạn lúc bấy giờ vắng vẻ. Có ông bạn Thanh Tâm Tuyền, sau khi dịch cho một số tin tiếng Pháp của hãng AFP, giúp tôi làm tin vedette 8 cột trong ngày, đang viết tiếp tiểu thuyết đăng feuilleton trên báo. Ở gần đó có lão trượng Lam Giang Nguyễn Quang Tr. đang nghiêng đầu cắm cúi viết bài. Ông không viết cho Tiền Tuyến mà ông đang viết bình luận cho đài phát thanh Sài Gòn. Bài cho Tiền Tuyến ông viết sẵn rồi – chữ đều tăm tắp như in, không gạch xóa … đến là đưa bài ngay. Phụ trách về biên tập như tôi phải lấy làm quý những cộng tác viên như thế. Không bao giờ sai hẹn, bài vở lúc nào cũng nghiêm túc. Thật ra tôi không được quen biết lão trượng Lam Giang trước đó. Anh là ban đồng song của chủ nhiệm Pham Xuân Ninh (thi sĩ Hà Thượng Nhân). Ngày xưa hồi đầu thập niên 40, Lam Giang, Hà Thượng Nhân, và Hữu Loan (tác giả “Màu Tím Hoa Sim”) là học trò từ Thanh Hóa, Bình Định ra Huế học. Đỗ tú tài “tây” xong là mỗi người đi một ngả. Hai ông tú Nga Sơn (Hữu Loan) và Hậu Lộc (Hà thượng Nhân) về quê hương Thanh Hóa dạy học. Còn Lam Dang ra Hà Nội vào Đại học Luật khoa. Sau đó là thời kỳ đầy biến động, Trung – Nhật chiến tranh rồi Đệ Nhị thế chiến. Nhật từ Trung Hoa kéo sang Đông Dương. Các đảng phái quốc gia trong và ngoài nước “đứng lên đáp lời sông núi”. Lam Giang vốn là Việt Quốc liền bỏ trường luật đi làm cách mạng. Sau Cách Mạng tháng 8-1945 và Hiệp định Genève chia đôi đất nước, năm 1954 Cách Mạng quốc gia gặp hồi điên bái. Bạn bè, chiến hữu mỗi người mỗi nơi. Hà Thượng Nhân, Lam Giang vào miền Nam, Hữu Loan ở lại miền Bắc dính vào vụ Nhân văn Giai phẩm. Mười mấy năm, ộng tú Nga Sơn (Hữu Loan) trở thành người đẩy xe cút kít, thồ gạch kiếm ăn. Học trò Thanh Hóa nhìn ông thầy cũ còng lưng đánh xe cút kít giữa trưa hè nắng gắt ở miền đồi núi Nga Sơn mà rơi nước mắt. Vào Miền Nam, Hà Thượng Nhân vào quân đội – Lam Giang đi dạy học và viết sách. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa Hà Thượng Nhân làm Tổng giám đốc hệ thống truyền thanh miền Nam, làm việc tại đài phát thanh Sài Gòn. Thời kỳ này Hà Thượng Nhân mời bạn học cũ là Lam Giang viết giúp bình luận tiếng Pháp cho đài. Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, Hà Thượng Nhân về làm chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến – còn Lam Giang ngoài việc viết sách vẫn phụ trách viết bình luận cho đài Sài Gòn. Mỗi tuần 2 lần Lam Giang đến Tiền Tuyến đưa bài nghiên cứu thời sự … rồi phone sang đài Sài Gòn xem cần phải viết đề tài gì? Nhận “com-măng” xong là Lam Giang nghiêng đầu ngồi viết. Tiếng Việt cũng như tiếng Pháp, Lam Giang có thói quen nghĩ sẵn trong đầu rồi mới viết ra. Viết một mạch là xong, không gạch xóa chữ nào. Tùy theo thời lượng, bài 5 phút viết 3 trang, 10 phút 6 trang. Viết xong đưa tùy phái Tiền Tuyến, từ đường Hồng Thập Tự gần cầu Thị Nghè sang đài phát thanh Sài Gòn đầu đường Phan Đình Phùng, xe đạp 5 phút là tới. Có khi viết bài xong … Hà Thượng Nhân và Lam Giang ngồi lại đánh cờ. Đánh cờ quên ăn trưa luôn. Hai ông tú, hai ông thầy giáo nghiêm túc một thời … bây giờ gần 60 tuổi mà cãi nhau như mổ bò. “Hạ thủ bất hoàn – không được gượm”. “Không – người ta đã đi xong đâu, chưa đi xong thì đi lại chớ.” Thường nhật, để cho gần gũi, anh em tòa soạn, chúng tôi gọi chủ nhiệm Hà Thượng Nhân là Hà Chưởng môn, Lam Giang là Lão trượng hay là “Ông đồ bùn chữ như trấu chát”. Thấy Chưởng môn và Lão trượng ồn ào quá tôi phải lên tiếng: “Vừa vừa phải phải thôi … xin đừng làm phiền hàng xóm”. Nhưng chỉ được một lát hai ông già lại ầm ĩ như thường. Hai ông vẫn cứ đối xử, ăn nói với nhau như hồi năm xưa đi học ở Huế.
Hồi đó thập niên 60, có phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) sang làm việc bên cạnh Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Theo phong tục Đông Phương ngày lễ, ngày tết, phái đoàn Trung Hoa thường có quà biếu và câu đối đem đến tặng Tổng Cục. Để đáp lễ Tổng Cục cũng phải có thơ hay câu đối chữ Nho tặng lại. Việc này bên Tổng Cục lại phải nhờ đến Hà Thượng Nhân. Ngày xưa hồi kháng chiến, đi vào khu 4 chợ Rừng Thông ở quê hương Thanh Hóa của họ Hà có một hàng phở mà dân “tạch tạch sè” (tiểu tư sản) chúng tôi, gọi là hàng phở “có ngay”. Vừa ngồi yên chỗ, gọi phở xong là có một tửu bảo đã lên giọng ới vào nhà bếp “cậu xơi phở tái nạm – có ngay”. Nếu muốn xin thêm ít hành trần tửu bảo lại tiếp theo “cậu xơi hành trần, có ngay”. Phở ăn cũng tạm được nhưng vui vì sự “có ngay” như thế. Hà Thượng Nhân bây giờ về việc thơ văn cũng hết sức là mẫn tiệp. Thơ văn đối với họ Hà, có sẵn nơi cửa miệng. Do vậy nên tôi mới đùa đùa mà gọi anh là thi sĩ “có ngay”. Anh cũng chẳng giận, chẳng hờn – nụ cười vẫn vô tư, hào sảng. Thơ “nộm” của họ Hà vừa nhẹ nhàng, vừa bay bổng nhưng còn thơ chữ Hán thì tôi chịu không hiểu nổi. Chữ Nho của tôi thuộc loại “Trên thì dán nhấm vứt đi – giữa khuất nhang án dưới gì gì xuân” (1). Nhưng phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc không biết vì lịch sự hay là vì cảm phục văn tài của Hà Thượng Nhân nên mang quà biếu lền khênh nào rượu Cao Lương, Mai Quế Lộ nào sâm Cao Ly – rồi ông Tổng Cục trưởng Tân Văn của Trung Hơa Dân Quốc (giống như Tổng trưởng Thông Tin của ta) còn đích thân mời họ Hà thăm Đài Loan nữa.
Có bữa thấy hai ông già đánh cờ mê mải, không kịp ăn uống gì cả, tôi mới bảo tùy phái xuống câu lạc bộ mua cà ri, bánh mì, giò chả về cho mấy ông già ăn tạm. Sẵn có rượu Cao Lương của phái đoàn Trung Hoa biếu tặng, chúng tôi mở ra uống luôn. Rượu vào ngà ngà lão trượng Lam Giang mới nói với Hà Chưởng Môn: “Kể ra cậu cũng khá. Thơ văn chữ Hán ào ào. Phái đoàn Trung Hoa chịu lắm nên mình mới có rượu Cao Lương uống bữa nay. Nhưng mà thật ra vốn chữ Nho của cậu có bao nhiêu đâu !… “. Hà Chưởng Môn nâng ly rượu lên vừa uống vừa cười: “Đúng, cậu nói đúng. Chữ Nho của tôi ông cụ truyền cho được chữ nào hay chữ đó. Nhưng mà tri túc, tiện túc. Có đâu như cậu, chữ nghĩa một bụng mà có rặn ra được bài nào ra hồn đâu”. Lão trượng Lam Giang đặt ly rượu xuống bàn mà phân bua: “Để coi chưa chắc thơ cậu hay hơn thơ tôi đâu à”.
Con Nhà Nho
Một bữa, ngồi một mình với lão trượng Lam Giang, tôi mới hỏi: “Theo tôi thơ văn của Hà Thượng Nhân “đỡ” lắm chứ. Tại sao anh lại bảo lưng vốn chữ Hán của họ Hà không có bao nhiều?”. Lam Giang gật đầu mà rằng: “Bỡn cợt nhau một chút cho vui vậy mà. Thơ Hà Thượng Nhân phơi phới … Nhưng tôi học với họ Hà từ ngày nhỏ tôi biết. Nó là tài tử … không có học kỳ khu theo kiểu như thiết như tha, như trác như ma (1).
(1) Một câu đối 14 chữ, người đọc chỉ biết được một chữ Xuân cuối cùng.
Ca dao biếm nhẽ người biết chữ lõm bõm.
(1) Như thiết như tha, như trác như ma: như cắt như gọt, như giũa như mài
Tôi tiếp lời:
“Hán văn của anh chắc là thâm hậu lắm?” Lam Giang ngừng lại nhìn tôi rồi mới nhẩn nha:
“Nói chuyện với cậu về Việt văn, Pháp văn thì còn được. Về Hán văn thì … xin lỗi phải có cụ Nghè Giác thì tôi mới thưa chuyện được” (cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác thời ấy giảng ở Văn Khoa). Xưa nay lão trượng Lam Giang vốn “quái chiêu” – Anh lại hơn tôi chừng 9, 10 tuổi, tôi trọng như bậc đàn anh nên tôi nghĩ thầm trong bụng “ông có nổ một chút cũng không sao”. Nhưng ở gần tôi phải công nhận lão trượng Lam Giang có một “sức nhớ” kỳ lạ. Ông là người chuyên viết sử nên sử Ta, sử Tàu, sử Tây gì ông cũng thuộc nằm lòng. Ngày ấy có những nước mới được độc lập ở Phi Châu (sau một thời gian dưới quyền ủy trị của Liên Hiệp Quốc) tên tuổi mới toanh, làm báo mình không biết đằng nào rờ, ví dụ như nước Zimbabuê. Tra tự vị hay Almanach cũng không thấy. Chỉ hỏi lão trượng Lam Giang là ra ngay. Nước đó ở đâu – giáp với nước nào, giống dân gì, thuộc địa cũ của nước nào … vân vân và vân vân. Những truyền thuyết về Trung Hoa … từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế đến thời khuyết sử … Lam Giang đều nhớ. Còn nói gì đến Lục Tài Tử thư hay là thơ Đường, Tống … Lam Giang đầy một bụng. Có một bữa viết Tạp Ghi tôi mới tán thưởng câu thơ của Thâm Tâm:
Nửa đêm hẹn lại sai rồi
Con cờ gõ nhảm cho rơi hoa đèn …
Lam Giang nghe tôi nói vậy bảo rằng câu thơ đó rất hay, nhưng không phải là thơ sáng tác của Thâm Tâm mà là dịch từ thơ Trung Hoa:
Hữu ước bất lai qua dạ bán
Nhàn sao kỳ tử lạc đăng hoa …
Trong những tháng năm viết Tạp Ghi ở tòa báo Tiền Tuyến tôi có những người bạn thật là quý ngồi ở bên. Hỏi về sử địa, về Đông Phương có lão trượng Lam Giang, hỏi về Triết sử Tây Phương thì có Thanh Tâm Tuyền, người đọc sách rất sâu và không ngừng nghỉ, hỏi về thơ văn tiền chiến thì có Hà chưởng môn. Bây giờ ở miền Nam bán cầu này, ngồi viết lại Tạp Ghi một mình một bóng, nhiều khi có điều muốn hỏi mà không biết hỏi ai. Mình đọc chuyện xưa – mấy ông già mùa thu hanh hao ngồi uống trà một mình thấy vắng liền chống gậy dắt đứa cháu sang làng bên thăm bạn già. Bây giờ mình ngồi đây mà “bạn mình” ở tận đâu đâu. Người thì ở tận Minnesota gần Canada – người ở Cali nước Mỹ, người còn ở một con hẻm ở Hàng Xanh – Sài Gòn.
Dạo tiếp thu Bình Định (liên khu 5) hồi đầu năm 1955, tôi thuộc cánh quân đổ bộ ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) rồi theo đường quốc lộ 1 tiến về Quy Nhơn qua Bồng Sơn, Tam Quan, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước. Chừng giữa năm 1955, tôi từ biệt đơn vị cũ, tiểu đoàn 6 VN sang làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 14 VN đóng ở Phù Mỹ. Ngày ấy chính quyền quốc gia vừa mới thiết lập ở miền này nên chỉ có Tòa tỉnh ở Quy Nhơn, còn các quận, huyện, quân đội kiêm nhiệm phần hành chánh. Chưa bao giờ mà tôi lại “nhiều việc” như thế. Vừa làm tiểu đoàn trưởng, quận trưởng, rồi mở một cái trường cho trẻ con học mà thiếu thầy giáo, tôi làm “hiệu trưởng” luôn. Có một sự trùng hợp kỳ thú là lão trượng Lam Giang vốn người Phù Mỹ – Bình Định. Ngày ấy (1955) tôi chưa được quen anh, nhưng sau này ở tòa soạn những khi tửu hậu trà dư tôi với anh thường nói chuyện địa danh, nhân danh Phù Mỹ. Quê anh ở miền An Lương gần Đề Di làm muối, nhìn ra biển. Anh cho biết là cái trường gỗ lá tôi xây dựng ở quận lỵ Phù Mỹ vẫn còn – bây giờ đã được lợp ngói. Ở khu này có một nơi gọi là Gò Bồi. Trước khi quân đội Quốc Gia về tiếp thu, Vi Xi có hành quyết “5 tên phản động”. Lam Giang cười cười mà nói: “Nếu bắn đến người thứ 6 là đến tôi”. Anh giơ tay cho tôi coi. Dù bao nhiêu năm tháng đã qua đi, trên cổ tay Lam Giang còn in dấu còng chỗ đen, chỗ trắng. Lam Giang bảo rằng: “Tụi nó đã bịt mắt đem tôi đi rồi – nhưng tôi bấm tử vi thì thấy mình chưa tới số. Quả nhiên là chưa đến lượt tôi. Từ đó tôi mới thấy ông Trần Đoàn có lý”.
Ở Sài Gòn ít người biết Lam Giang. Nhưng ở miền Trung nhất là miền Nam Ngãi Bình Phú, Lam Giang là một thứ kỳ nhân dị sĩ. Truyện kể rằng thời Pháp, Lam Giang đại diện kỳ bộ miền Trung đi họp Hội nghị Trung ương ở miền Bắc. Đọc nghị quyết xong là Lam Giang đốt bỏ. Về địa phương, Lam Giang nhớ lại hết, không sai một chữ. Mới đây ở Mỹ, nhà văn Võ Phiến cũng người Phù Mỹ, Bình Định, trong một bài hồi ký có kể lại rằng người có ảnh hưởng lớn đến nhà văn Võ Phiến khi mới vào nghề chính là Lam Giang Nguyễn Quang Tr. Cũng vì ông Lam Giang, ông Võ Phiến cùng người Phù Mỹ mà ở Sài Gòn sau đó tôi “xung phong” vào Hội Bình Định Tương Tế. Ở gần tôi thấy Lam Giang là một người hoài cổ. Sống ở hậu bán thế kỷ 20 mà quan niệm văn chương của anh vẫn hết sức xưa cũ. Những bài nghiên cứu về chính trị, kinh tế, xã hội mà anh gọi chung là tuyên văn (một cách nói của Việt Quốc) anh viết rất uẩn súc. Anh cùng đứng tên với VTP xuất bản mấy cuốn biên khảo về lịch sử. Tôi xin lỗi vì lâu ngày quá không còn nhớ được tên tác phẩm nhưng tôi biết chắc chắn rằng những cuốn ấy đều được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật (bộ môn biên khảo) thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Một bữa anh đưa tôi đọc một cuốn sơ thảo về phê bình văn học. Nhớ lại cuối thập niên 30, khi nổi lên phong trào tranh luận về thơ mới – thơ cũ. Lam Giang lúc đó còn đi học ở Huế, đã nghiêm chỉnh bảo vệ cho thơ cũ. Gần 40 năm đã trôi qua, nhưng Lam Giang vẫn là Lam Giang – vẫn như cụ Đồ Chiểu cuối thế kỷ 19, viết văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Anh vẫn đem những tiêu chuẩn đạo đức ra phê bình thơ, văn. Tôi mới nói: “Anh hiểu biết về văn học Pháp như vậy, tại sao anh lại đồng hóa nghệ thuật với luân lý?
Lam Giang liền hăm hở trả lời: “Học Pháp văn là làm một cuộc thám hiểm để hiểu văn học của họ ra sao. Còn sống và nghĩ thì mình vẫn là mình, họ vẫn là họ, làm sao mà giống nhau được”. Đối với Lam Giang, văn thơ vẫn phải có bổn phận “tải đạo”. “Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ. Không quân, thần, phụ, tử đếch ra người”.
Anh không những hoài cổ về cách nghĩ mà anh còn hoài cổ về cách sống. Một bữa gần Tết, tôi xuống nhà Thanh Tầm Tuyền sau Tòa Bố Gia Định và sau đó ra Hàng Xanh, thăm lão trượng Lam Giang, nhân tiện đưa tặng anh một chút quà Tết. Nhà anh ở một con hẻm gần chùa Long Vân. Tới nhà, gặp chị Lam Giang đang quanh quẩn dưới bếp. Lão trượng ở trên lầu, một căn gác ọp ẹp nhìn ra một cái ao nho nhỏ. Đây là “Nghênh phong các” của anh – chung quanh sách vở tùm lum, một cái chiếu trải giữa phòng mà không có bàn ghế gì. Một cái kệ nhỏ ở giữa chiếu và một cái “rề sô” đun nước để gần bên. Lam Giang kéo tôi ngồi xuống chiếu, giọng ân cần: “Ngồi xuống đây, mình đun nước uống”. Trên cái kệ thấp còn thấy trang giấy đang viết dở. Như vậy là Lam Giang, khi viết vừa ngồi, vừa bò trên chiếu … kiểu mấy ông đồ lều chõng đi thi từ đầu thế kỷ. Anh đun nước rồi đi xuống dưới nhà dặn dò một cái gì đó. Trà vừa pha xong chưa kịp uống thì Lam Giang kéo tôi đi xuống dưới nhà. Ở đó đã thấy bà Lam Giang áo dài tề chỉnh và mấy người con anh, y phục đàng hoàng đứng xếp hàng một dọc. Anh liền giới thiệu: “Đây là bà nó nhà tôi – Đây N. con gái đầu lòng đang học trường Dược. Đây là B. con trai đang học tú tài … “. Rồi chỉ tôi anh nói: “Còn đây là chú PLP, các con chào chú đi”. Giọng anh ân cần, thoải mái. Tôi lại nhớ đến bữa mời anh lên nhà tôi chơi lần đầu, mẹ cháu ra chào, anh cũng rất tự nhiên “chào thím”. Tôi cũng hơi rét vì mời bạn đến nhà mà “nội tướng” không bằng lòng là hỏng bét. Nhưng nhà tôi rỉ tai tôi nói nhỏ:
“Anh Lam Giang anh ấy thật thà, tự nhiên quá nhỉ”. Sau đó mỗi khi lão trượng Lam Giang đến nhà đánh cờ hay đọc sách với tôi, mẹ cháu đặc biệt quý trọng. Con gái anh, N., học rất giỏi ở trường Dược. Còn B. con trai anh vào khoảng giữa năm 72, đi thi tú tài 2. Một bữa Lam Giang đến tòa soạn dáng điệu âu sầu, mặt sa chữ “nãi”. Tôi mới hỏi: “Đã có kết quả tú tài rồi. Thằng B. ra sao?”. Lam Giang không nói, thở dài sườn sượt. Tôi gặng: “Nó đậu không?”. Lam Giang từ từ trả lời: “Nó đậu bình” – “Như vậy là mừng lắm rồi, tại sao mà anh mặt mũi lại thảm thê như vậy” – Lam Giang thoáng nhìn tôi rồi quay đi chỗ khác lẩm bẩm: “Mình cái gì cũng thua người ta, công danh, tiền tài, có gì đâu, mình chỉ hơn người ta chữ nghĩa …mà con mình đi thi chỉ đậu bình mà không đậu ưu thì mình phải buồn chớ”.
Người Nông Dân
Vào cuối năm 72, Lam Giang rời khỏi Sài Gòn ra Cam Ranh, trông nom một trường trung học tư thục ở ngoài đó. Anh thôi không viết bình luận cho đài Sài Gòn nhưng vẫn tiếp tục viết biên khảo cho Tiền Tuyến. Bài anh gửi xe đò đều đặn về hàng tuần. Việc trông nom trường học … có lẽ chỉ là bề mặt. Lam Giang vẫn có những sinh hoạt đảng phái riêng của anh, tôi không tiện hỏi. Đầu năm 73, anh gửi thư mời tôi ra chơi. Ra giêng ngày rộng tháng dài, tôi bay ra Cam Ranh vừa thăm bạn vừa muốn viết một loạt bài về quân cảng lớn nhất Đông Nam Á, cũng là căn cứ chiến lược của Mỹ khi Hiệp định Paris vừa ký kết. Tình hình miền Nam VN đang ở một khúc quanh quan trọng. Đến nơi, trong một phòng trên lầu dành cho giám học Lam Giang … tôi ngồi uống nước một mình. Lam Giang đang ở dưới nhà có nhiều người tới lui, người đi xe hơi, người đi xe lambretta, xe đạp. Một lát Lam Giang lên lầu hỏi tôi:
“Anh em muốn tiếp đãi khách phương xa trọng hậu, bạn muốn ăn thứ gì: cua, ghẹ, cá biển, cá đồng hay thịt cầy … ”. Đang phân vân chưa biết tính sao thì có xe cảnh sát chạy tới theo sau có xe Falcon màu đen. Từ trên xe Falcon bước xuống là một đại tá Nhảy Dù, mũ đỏ. Một ông bạn nhà binh của tôi, Vũ Thế Quang anh em thường gọi là “Quang dù” đã ra làm thị trưởng Cam Ranh được mấy năm nay. Không biết vì sao ông lại đánh xe xuống tìm tôi ở khu trường tư thục này. Ông nhà binh lên lầu gặp ông bạn già Lam Giang của tôi và nói: “Điều này thì phải xin thất lễ với cụ. Chúng tôi bữa nay có thết tiệc phái đoàn Mỹ và nhân sĩ trong tỉnh. Sẵn ông bạn tôi PLP ra đây, xin phép được mời ông bạn tôi và cụ cùng tham dự. Xin cụ tha lỗi cho sự đường đột này”. Mục đích của tôi ra đây là thăm ông bạn già, nhưng ông bạn mũ đỏ lại mời kiểu vừa thân tình vừa “tiên lễ hậu binh” như thế này cũng khó mà từ chối. Ông Quang dù lại gần tôi: “Ra đây thì ông phải ở với tôi chứ”. Tôi nói với ông bạn già Lam Giang: “Có lẽ chúng ta phải chiều ý ông quan đầu tỉnh này một chút”. Ông bạn già liền đi xuống dưới nhà, sai người đi báo anh em địa phương đình hoãn bữa rượu khoản đãi khách Sài Gòn. Ông Thị trưởng Cam Ranh muốn cho “chắc ăn” ngồi đợi chúng tôi mặc quần áo rồi lên xe đi luôn. Khi đã sẵn sàng lên xe thì thấy ông bạn già Lam Giang, vẫn đi dép lẹt xẹt, quần lá tọa. Tôi phải vội kéo ông vào buồng mà nói: “Người ta mời đi dự tiệc với phái đoàn Mỹ từ Cam Ranh và chính quốc sang mà anh ăn vận thế này coi sao được. Anh ít nhất phải đi một đôi giày và thắt cái ca vát”. Lam Giang nói:
“Giày thì may ra có nhưng tôi có thắt ca vát bao giờ đâu”. Tôi lại phải lấy cái ca vát của tôi mang theo, thắt sẵn rồi quàng vào cổ ông bạn già. Ông lên xe đi mà không bằng lòng ra mặt.
Bữa tiệc mà ông đại tá Thị trưởng Cam Ranh thết đãi quan khách Mỹ- Việt là một bữa tiệc theo kiểu self-serve. Mỗi người cầm một cái dĩa, sắp hàng rồi tự lấy thức ăn cho mình. Lam Giang chưa bao giờ tham dự tiệc kiểu này nên cứ ngồi ì một chỗ. Tôi mới hỏi anh đi lấy thức ăn đi chứ. Lam Giang trả lời: “Mình được mời đến dự chứ có đi ăn xin đâu mà sắp hàng một dọc thế kia”. Biết không thể giải thích thế nào cho ông già này hiểu, tôi phải đi lấy thức ăn, lấy rượu về cho Lam Giang ăn uống. Ăn kiểu này Lam Giang cũng chê: “Ở nhà mình ăn ghẹ luộc, hoặc cua rang muối hay thịt cầy rượu đế ngon biết chừng nào – ăn kiểu này không ra sao cả”. Bữa tiệc có ca hát, ảo thuật, khiêu vũ, đèn chớp tắt liên hồi. Lam Giang thở dài phào phào, ngồi một đống. Đến chừng 9 giờ tối, nhạc đang bốc lửa cuộc vui đang hấp dẫn thì Lam Giang bảo: “Tôi nhức đầu quá, không chịu được thứ âm nhạc này cho tôi đi về”.
Anh xăm xăm đứng dậy. Tôi phải đi tìm ông đại tá Thị trưởng, lấy cớ rằng ông già bạn tôi bị đau bất thần nên xin kiếu. Trên xe ra về Lam Giang nói: “Tôi là nông dân, không thưởng thức nổi thứ văn minh kiểu này”. Rồi anh nói một câu tiếng Pháp: “Mais je suis fier d’être paysan (nhưng tôi lấy làm hãnh diện được là nông dân).
Ở tòa soạn Tiền Tuyến, tôi vẫn thường nói với Hà Thượng Nhân: “Tôi với anh sống bên nhau được vì dù có bắng nhắng đến đâu chăng nữa, chúng ta vẫn là một anh nhà quê ra tỉnh – vẫn là nông dân”. Hà Chưởng Môn gật đầu chịu lắm. Nhưng xét ra Hà Chưởng Môn và tôi cốt nông dân nhưng đã đô thị hóa ít nhiều. Còn Lam Giang thì vẫn là nong dân “chăm phần chăm” như thời cu đồ Chiểu.
Sau đó, cũng đầu năm 73, tôi được đề cử sang Đài Loan, theo lời mời của Tổng cục Tân Văn đi nghiên cứu về tổ chức Cựu chiến binh trên hòn đảo này. Giáo sư C. người hướng dẫn và tôi đi suốt từ Đài Nam, lên Đài Trung, Đài Bắc thăm hết nơi này nơi khác. Hết chỗ đi rồi, một bữa giáo sư C. và tôi tới thăm viện đại học Đài Bắc. Nơi đây tôi bất ngờ gặp một nhà nghiên cứu VN đang làm luận án tiến sĩ tại đây, Trần Quang Huy một người bạn cũ. Khi Trần Quang Huy ra Đài Bắc bù khú với tôi, anh cho hay là anh đang thiếu tài liệu về phía Việt Nam trong luận án:
***
“Mối tương quan văn hóa Việt – Trung qua các thời đại”. Tôi vốn yếu về mục này nhưng tôi nghĩ đến ông bạn già lão trượng Lam Giang của tôi, người nhiều năm nghiên cứu về sử Việt Nam, về Đông Phương Học. Ông thường nói với tôi về những bài văn bia (văn khắc trên bia đá) những khảo cứu về Kinh Dịch và những giả thuyết của ông về nguồn gốc Việt Nam thời khuyết sử. Ông thường nói với Hà Thượng Nhân: “Mình phải lùi thật sâu trước Công Nguyên nhiều nghìn năm, may ra mới tìm thấy những dấu vết của tiền nhân người Việt chúng ta, từ trước nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hòa Bình nữa”. Trần Quang Huy nghe tôi nói vậy nhờ tôi về nói với Lam Giang gửi cho những tài liệu ấy. Khi về nước kể lại chuyện này, Lam Giang nói: “Thời buổi này người ta đi Mỹ, đi Pháp học về văn minh Tây Phương – ít người xuất ngoại học về Đông Phương như ông này – để tôi gửi”. Tôi nhận từ lão trượng, hay “ông đồ nát Lam Giang chữ như trấu chát” hai lần chừng 150 trang vừa Việt, vừa Hán gửi sang cho Trần Quang Huy. Nhà nghiên cứu này chịu lắm. Năm 1974, Trần Quang Huy tiến sĩ Đông Phương Học về nước. Vừa tới, anh yêu cầu cho được gặp Lam Giang. Cũng một bữa nhậu bất ngờ xẩy ra ở tòa soạn. Ông tiến sĩ tân khoa nói chuyện rất lâu với nhà nho gốc nông dân. Khi Trần Quang Huy ra về tôi mới hỏi ông già của chúng tôi ra sao? Trần Quang Huy gục gặc đầu mà nói: “Bội phục, bội phục”. Như vậy câu nói phải có cụ Nghề Nguyễn Sĩ Giác thì mới thưa chuyện được của ông Lam Giang trước đây xét ra là có cơ sở, không phải là ông “nổ bậy”.
Trong cơn quốc biến 30 tháng 4-1975 Lam Giang bị đi cải tạo 5 năm. Khi về rồi, anh lại dính vô một vụ án đảng phái Việt Nam Quốc Dân Đảng, đi tù một đợt hơn 3 năm nữa. Năm 1985 tôi được tha về thì hơn 2 năm sau Lam Giang mới mãn hạn tù lần 2. Năm 1988 tôi 60 tuổi. Gần Tết Lam Giang xuống Hốc Môn chơi với tôi mang theo một bài từ Hán văn, chữ vàng viết trên giấy đỏ. Bạn già nghèo tặng phẩm như vậy là rất quý. Nhưng ngày 13 tháng 10 năm 1990, bạn Tô Thùy Yên bị bắt. Con trai bạn hối hả lên Hóc Môn báo tin. Tôi vội vàng “hỏa táng” những thơ văn của bạn bè trong đó có bài từ của lão trượng Lam Giang. Bây giờ nghĩ lại thật vô cùng đáng tiếc. Vì thời thế lúc đó nên khi bạn hữu về thăm, tôi phải trình với an ninh phường khóm là họ hàng bà con gần xa, không dám khai là bạn. Phải nghĩ cho ra mối liên hệ họ hàng hữu lý, an ninh mới chấp nhận. Trong mối liên hệ mới, bà Lam Giang là chị họ nhà tôi. Do vậy nên để cho được việc Lam Giang liền gọi tôi là “dượng ba” còn nhà tôi là “dì ba”. Gọi thét rồi quen, ông già nông dân gọi chúng tôi là “dượng ba, dì ba” rất ngọt. Dạo đầu năm Mão, ông già từ Hàng Xanh – Sài Gòn viết thư cho chúng tôi nói rằng: “Nói cho dì ba, dượng ba hay là bản sư vẫn được 2 chữ bình an, vẫn kiếm ăn được bằng lấy số tử vi, làm văn bia. Bản sư cũng làm câu đối cho con cái khắc sẵn chờ ba chúng nằm xuống vào năm 2001. Đến đấy là bản sư hết số rồi. Nhưng năm nay (1999) bản sư đã 81 tuổi. Không ngờ mình lại thọ hơn Khổng phu tử nhiều năm. Chỉ mới tính sơ sơ đến năm nay đã thọ hơn Đức Thầy 8 năm rồi đó. Chúc dượng ba, dì ba năm mới an khang … “.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.