vietmessenger.com
Tủ sách Khoa Học Nhân Văn
Lê Thanh Hoàng Dân
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Post by Sơn râu 30 Aug 2026


Martin Caidin
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch
Trẻ Xuất Bản 1974

Ngày 3 tháng 8-1942, Rabaul gọi về hầu hết những phi công được chỉ định đến Lae trước đây. Việc thuyên chuyển này khiến chúng tôi hân hoan, vì nó hứa hẹn thoát khỏi các phi vụ tuần tiễu ở Buna và thoát khỏi cảnh bị oanh tạc hàng đêm. Chúng tôi không mang theo vật dụng gì, vì tin rằng sẽ sớm trở về. Chúng tôi sai lầm, bốn ngày đầu tiên ở Rabaul, chúng tôi phải thực hiện những phi vụ càn quét ở Rabi, phía Bắc Fiji. Màn lưới chiến đấu cơ đã được đối phương thiết lập nhanh chóng trên hòn đảo này, có thể so sánh với căn cứ Moresby.
Ngày 8 tháng 8, sau khi nhận lịnh tuần thám của Bộ Chỉ Huy, chúng tôi bước ngang qua phi đạo để tiến đến các chiến đấu cơ của chúng tôi. Lúc hầu hết 18 phi công đều ngồi trong phòng lái, nhiều liên lạc viên chạy ra la lớn rằng phi vụ bị bãi bỏ. Chúng tôi lập tức trở lại Bộ Chỉ Huy. Nơi đây đang lên cơn sốt. Liên lạc viên đưa tin chạy tới chạy lui. Các sĩ quan lướt qua chúng tôi với vẻ mặt đầy khẩn cấp. Trung tá Nakajima, cầm đầu phi vụ hôm nay, bước ra khỏi văn phòng của Phó Ðô đốc Kusaka, nói lớn với chúng tôi với vẻ tức tối: “Phi vụ bị bãi bỏ. Chúng ta sẽ đi nơi khác.” Ông chỉ một nhân viên đưa tin: “Anh, lấy cho tôi một bản đồ coi, mau lên!”.
Ông trải bản đồ lên một cái bàn rộng và bắt đầu vạch một đường thẳng với một chiếc compas. Ông cúi gằm trên bản đồ, không mảy may lưu ý đến bọn phi công chúng tôi. Tôi hỏi Ðại úy Sasai xem ông có biết việc gì xảy ra không. Sasai hỏi Nakajima và chỉ nhận mấy câu càu nhàu, rồi vị chỉ huy trưởng phi đoàn ba chân bốn cẳng vô văn phòng của Ðô đốc. Vài phút sau ông trở ra, và ra dấu cho các phi công tụ họp quanh ông. Những tiếng nói của ông không khác nào một trái bom: “Vào lúc 5 giờ 20 phút sáng nay, một lực lượng địch vô cùng mạnh mẽ bắt đầu đổ bộ lên Lunga, ở cuối bãi phía Nam của đảo Guadalcanal. Theo các báo cáo sơ khởi của chúng ta, quân Mỹ đã ném lên hòn đảo này một khối lượng người và trang bị khủng khiếp. Cùng lúc, họ cũng mở ra các cuộc tấn công ở Tulagi, trên đảo Florida. Tất cả thủy phi cơ của chúng ta tiêu hết không còn một chiếc. Khi Ðô đốc tư lịnh thảo xong kế hoạch, chúng ta sẽ cất cánh lập tức hướng đến Guadalcanal để tấn công các lực lượng địch trên bãi biển.”

Liên lạc viên phát bản đồ cho mỗi phi công. Chúng tôi xem xét và nghiên cứu hòn đảo còn xa lạ đó, nhưng bỗng nhiên trở nên quan trọng này. Nhiều người bàn tán: “Ở đâu lại hiện ra hòn đảo trời đánh này?” Một phi công nổi nóng la lên: “Ai đã từng nghe đến tên của một nơi chó chết như vậy chưa?”
Chúng tôi tính khoảng cách từ Rabaul đến Guadalcanal. Không tin nổi. Xa đến 1,040 cây số! Chúng tôi sẽ phải bay đi tấn công các đầu cầu đổ bộ của địch quân và trở về với khoảng cách đó. Khoảng cách chưa từng nghe nói đến. Ðiều này nghĩa là đường bay khứ hồi dài hơn 2,000 km, đó là không kể trường hợp gặp bão hoặc đụng độ giữa đường.
Như vậy cũng đủ để mọi suy luận ngưng lại. Chúng tôi lặng yên để nghe vị chỉ huy trưởng đưa ra lịnh mới. Vừa lúc ấy một liên lạc viên chạy ùa vô văn phòng Phó Ðô đốc Kusaka rồi trở ra với những báo cáo mới đưa về từ mặt trận. Chúng tôi nghe một binh sĩ đưa tin nói với Nakajima rằng tất cả liên lạc với Tulagi đều bị cắt đứt, và quân phòng ngự ở đó đã hy sinh đến người cuối cùng.
Nghe tin, mặt Sasai tái đi. Tôi phải hỏi năm lần bảy lượt xem có phải ông đau ốm hay không. Cuối cùng nhìn đăm đăm về phía trước, Sasai thì thầm: “Anh rể tôi chiến đấu ở Tulagi.” Nếu Tulagi bị địch quân chiếm đóng, anh rể của Ðại úy Sasai, Thiếu tá Yoshiro Tashiro không thể nào sống sót được. Ông ta sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. (Cái chết của Thiếu tá Tashiro được xác nhận sau đó).
Trung tá Nakajima ban lịnh: “Các anh sắp thực hiện một phi vụ chiến đấu dài nhất trong lịch sử.”, ông thông báo cho chúng tôi. “Ðừng trông chờ may mắn nào ngày hôm nay. Hãy hành động đúng theo lịnh đưa ra và quan trọng nhứt, đừng bay một cách liều mạng và phí phạm xăng nhớt của các anh. Phi công nào hết xăng trên đường từ Guadalcanal quay về, phải đáp xuống đảo Buka. Lực lượng Nhựt trên đảo này đã được chỉ thị phải theo dõi các phi cơ của chúng ta. Hiện tại, để bay đến Guadalcanal và trở về Buka có nghĩa là chúng ta sẽ thực hiện một không trình khứ hồi dài bằng không trình từ Ðài Loan đến phi trường Clark ở Phi Luật Tân trước đây. Tôi chắc chắn chúng ta có thể bay suốt khoảng cách này mà không gặp rắc rối. Nhưng sẽ có những chuyện bất ngờ, do đó tôi lặp lại lời cảnh cáo: Ðừng phí phạm nhiên liệu!”
Tại Ðông-Kinh sau chiến tranh, Trung tá Nakajima có nói với tôi rằng Phó Ðô đốc Jinichi Kusaka thay thế
Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara chỉ huy Không Hạm đội 11, muốn ông đưa hết chiến đấu cơ khả dụng ở Rabaul đến Guadalcanal vào ngày 7 tháng Tám. Nakajima phản đối, ông cho rằng chỉ nên mang theo mười hai phi công tài ba nhứt bên cánh của ông mà thôi. Bởi lẽ ông phỏng đoán phải mất ít nhứt phân nửa số phi công trong nhiệm vụ quá xa như vậy. Hai người thảo luận giằng co cho đến khi đạt được sự đồng ý với con số 18 chiến đấu cơ.
Ngay khi nhận lịnh, các phi công chia ra thành từng tổ ba người. Tôi nói với Yonekawa và Hatori, hai phi công bên cánh của tôi: “Các anh sẽ đụng phi công Hải quân Hoa Kỳ lần đầu tiên trong ngày hôm nay. Họ nắm hẳn ưu thế do khoảng cách mà chúng ta phải bay. Hai anh phải luôn luôn cẩn trọng trong mọi chuyển động của mình. Tốt hơn hết là các anh đừng bao giờ rời xa khỏi tôi. Mặc kệ những gì xảy ra, bất kể diễn biến xung quanh chúng ta như thế nào, cứ bám chặt lấy phi cơ của tôi được chừng nào hay chừng nấy. Hãy nhớ, đừng có bay ra xa.”
Chúng tôi chạy ra phi cơ và chờ phi đạo trống. 27 oanh tạc cơ Betty cất cánh trước chúng tôi. Trung tá Nakajima đứng trên phòng lái của ông ngoắc tay. Lúc 8 giờ 30 sáng, tất cả chiến đấu cơ đều ở trên không. Nhân viên bảo trì và các phi công ở lại xếp hàng hai bên phi đạo vẫy nón chào và chúc chúng tôi may mắn.
Thời tiết đẹp, nhứt là ở Rabaul. Ngay cả núi lửa cũng im tiếng. Nó ngưng phun phún thạch từ tháng Bảy, và chỉ còn nhả ra một giòng khói mỏng lả ngọn về phía Tây.
Chúng tôi giữ vị trí hộ tống phía sau nhóm oanh tạc cơ. Tôi đã ngạc nhiên khi biết mấy chiếc Betty này mang bom thay vì thủy lôi, vũ khí thông thường để tấn công tàu chiến. Ðiều này khiến tôi lo lắng. Tôi biết rõ là vô cùng khó khăn khi phải tấn công các mục tiêu di chuyển trên mặt biển từ trên cao độ. Hồi ở Buna, mặc dù các oanh tạc cơ B17 địch có tiếng là oanh tạc chính xác, nhưng chúng đã phí hầu hết số lượng bom thả xuống các tàu chiến Nhựt.

Chúng tôi gia tăng cao độ lên 3,900 thước rồi bay về phía Ðông đến đảo Buka. Ðây là hòn đảo xinh đẹp đặc biệt, cách Rabaul khoảng 60 dặm. Màu xanh tươi sáng, và giống như hình móng ngựa, hòn đảo san hô này có cái tên ghi trên bản đồ là Ðảo Xanh. Tôi không bao giờ nghĩ rằng quang cảnh đầy màu sắc và hấp dẫn phía dưới sẽ cứu mạng tôi sau này.
Trên không phận Buka, đội hình hợp đoàn xoay về hướng Nam, dọc theo bờ biển phía Tây đảo Bougainville. Mặt trời chiếu xuyên qua mây. Sự oi bức khiến tôi khát nước, và đây cũng là hiện tượng mà chúng tôi thỉnh thoảng cảm thấy khi tiến vô đất địch. Tôi lấy một chai sô-đa trong hộp thức ăn và, không suy nghĩ, tôi mở nút. Tôi quên khuấy độ cao. Ngay khi nút chai vừa bật, nước sô-đa vọt lên dữ dội, áp lực thoát ra trong không khí hiếm hoi. Trong nhiều giây, nước sô-đa bao phủ hết mọi thứ trước mắt tôi. Chất đường trong nước có ga khô lại trên kiếng đeo mắt khiến tôi không nhìn thấy gì nữa. Tôi chửi toang cho sự ngu đần của mình. Mất hết 40 phút tôi mới lau sạch hết mọi thứ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lố bịch hơn. May thay các huấn luyện viên của trường phi hành Tsuchiura không nhìn thấy! Cũng may là các đồng ngũ và cả Ðại úy Sasai không nhìn thấy… nếu không họ sẽ cười nhạo đến tối. Tôi tự hứa sẽ không kể với ai chuyện này, trừ ra với Hatsuyo. Chắc là Hatsuyo sẽ cười khúc khích. Cô em họ của tôi đã lớn, đã trở thành một thiếu nữ khả ái và kỳ lạ là tôi hay nhớ đến Hatsuyo tuy vẫn nhận thư của Fujiko đều đặn. Tôi sẽ không kể chuyện sô-đa với Fujiko vì cần giữ thể diện, nhưng với Hatsuyo, chung huyết thống, tôi thấy gần gũi. Tôi lau kiếng như một bà nội trợ lau bếp, cho đến lúc tôi có thể nhìn thấy mọi hướng, chúng tôi đã bên trên đảo Vella Lavella, nằm giữa đường Rabaul và Guadalcanal.
Bay ngang New Georgia, chúng tôi gia tăng độ cao và lướt qua Russell trên 6,000 thước. Cách năm mươi dặm trước mặt chúng tôi, Guadalcanal hiện ra lờ mờ trên mặt nước. Ngay cả ở khoảng cách xa này, chúng tôi cũng nhìn thấy ánh lửa vàng hực nổi bật lên nền trời xanh bên trên hòn đảo đang tranh chấp. Hiển nhiên các trận đụng độ đã xảy ra giữa những chiến đấu cơ Nhựt đến từ các căn cứ khác Rabaul với phi cơ bao che của địch quân. Tôi nhìn xuống bờ biển phía Bắc Guadalcanal. Trong eo biển nằm giữa Guadalcanal và Florida, hàng mấy trăm vệt trắng chạy ngang dọc trên mặt nước, là tàu chiến của địch. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều chiến hạm và dương vận hạm cùng một lúc như vầy.
Ðây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một cuộc hành quân không-thủy-bộ hỗn hợp của Hoa Kỳ. Một cuộc hành quân to tát không thể nào tin nổi. Có ít nhứt 70 chiến hạm đang tiến vào các bãi biển, hàng chục khu trục hạm bao quanh, và nhiều chiến hạm ẩn hiện phía chân trời, khoảng cách quá xa khó có thể phân biệt hoặc đếm được.
Lúc ấy các oanh tạc cơ Betty chầm chậm vung rộng ra để thả bom. Ngay phía trên các phi cơ này là những đám mây nhỏ treo lơ lửng ở cao độ 4,000 m. Phía bên phải và ở trên cao, mặt trời chói loà xoá nhoà mọi thứ trước mắt. Tôi cảm thấy bất an, vì chúng tôi không thể nào nhìn thấy được chiến đấu cơ Mỹ nhào xuống từ góc đó. Ðiều lo sợ của tôi đã sớm thành sự thật. Không một dấu hiệu nào báo trước, 6 máy bay địch thình lình nhô ra khỏi ánh sáng loé mắt. Chỉ cần liếc qua, tôi thấy ngay những phi cơ này to lớn hơn mọi loại chiến đấu cơ Mỹ mà chúng tôi thường chạm trán. Tất cả đều sơn màu ô liu, chỉ phía dưới cánh là sơn màu trắng. Ðó là loại chiến đấu cơ Wildcat, Grumman F4F lần đầu tiên tôi đụng độ.
Mấy chiếc Wildcat, không biết có sự hiện diện của các chiến đấu cơ Zéro, chúi xuống tấn công các oanh tạc cơ Nhựt. Nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi xông tới, và một số khai hoả ngoài tầm, hy vọng xua đuổi phi cơ địch. 6 chiếc Wildcat cùng lộn nhào tức thì và chúi xuống biến mất. Phía trên mặt nước cạnh đảo Savo, các oanh tạc cơ bắt đầu thả bom xuống nhóm chuyển vận hạm to lớn của địch quân. Tôi nhìn theo hướng bom rớt. Những cột nước dâng cao khỏi mặt biển, nhưng chiến hạm địch vẫn lướt tới, không hề rối loạn.

Hiển nhiên, cố gắng thả bom cho trúng các chiến hạm đang chạy từ độ cao 6,000 thước là một việc làm ngu dại. Tôi không thể nào hiểu được tại sao không sử dụng thủy lôi đã từng chứng tỏ sự hữu hiệu trong quá khứ. (Ngày hôm sau các oanh tạc cơ này quày lại, lần này mang theo thủy lôi để tấn công ở cao độ thấp. Nhưng bấy giờ thì đã trễ. Chiến đấu cơ địch đông như kiến bu quanh và nhiều chiếc Betty bị nhận đầu xuống biển trước khi tiến đến gần mục tiêu…) Sau khi trút hết bom, các oanh tạc cơ hai máy lạng qua trái và gia tăng tốc lực để trở về Rabaul. Chúng tôi hộ tống các oanh tạc cơ qua khỏi đảo Russell, ra ngoài tầm hoạt động của máy bay địch, và quày lại Guadalcanal. Lúc ấy khoảng 1 giờ 30 chiều. Chúng tôi lướt qua Lunga, tất cả 18 chiếc Zéro đều chuẩn bị lâm trận. Một lần nữa, trong ánh mặt trời chói chang gây mù loà, mấy chiếc Wildcat nhào xuống nhóm phi cơ của chúng tôi. Tôi là phi công duy nhứt phát hiện cuộc tấn công và lập tức, tôi chĩa mũi chiếc phi cơ của tôi thẳng đứng lên với những chiếc Zéro khác tiếp sau. Mấy chiếc Wildcat lại phân tán và chúi xuống theo nhiều hướng khác nhau. Chiến thuật lẩn tránh của đối phương không có vẻ rối loạn, và lối lẩn tránh này khá lạ. Có vẻ như phi công Mỹ không có ý định quyết chiến hoặc đang muốn dụ chúng tôi vào bẫy.
Tôi quay lại để kiểm soát các phi cơ bên cánh của mình. Nhưng, nhìn khắp nơi, tôi vẫn không thấy Yonekawa và Hatori ở đâu. Phi cơ của Ðại úy Sasai, với hai sọc xanh kẻ dọc theo thân, trở lại đội hình với nhiều chiến đấu cơ khác bay thành hàng phía sau ông. Nhưng vẫn không có hai phi cơ bên cánh của tôi.
Cuối cùng, tôi nhìn thấy họ bay khoảng 500 m phía dưới mình. Tôi há hốc miệng. Một chiếc Wildcat đơn độc truy đuổi ba chiếc Zéro đang cuống cuồng lẩn trốn. Chiếc Wildcat nhả từng tràng đạn. Tôi lắc cánh để báo hiệu cho Sasai và chúi xuống. Chiếc Wildcat đang bám sát, rót đạn vô cánh và đuôi của một chiếc Zéro. Trong lúc khẩn cấp, tôi bắn vội một viên đại bác. Lập tức chiếc Wildcat lảng ra bằng cách lộn nhào một vòng về phía phải, quành thật ngặt rồi vượt lên đâm thẳng vào phi cơ của tôi. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ địch nào bay mau lẹ và đẹp mắt như vậy. Mỗi giây các họng súng của nó mỗi chĩa vô sát bụng tôi hơn. Tôi lăn thật nhanh để tránh né. Chiếc Zéro rùng mình khi tôi hạ mạnh tốc độ xuống. Vồ trật, viên phi công địch lộn ngược trở lại. Tôi tăng gia tốc, lộn ngay về bên trái. Ba lần lộn nhào, tôi cho chiếc Zéro xoay tít để rớt xuống theo hình trôn ốc. Cả hai chúng tôi cùng giữ hai chiếc phi cơ xoáy hình trôn ốc này. Tim tôi đập liên hồi và đầu tôi như có sức mạnh ngàn cân đè lên. Mắt tôi nổ đom đóm. Tôi cắn chặt răng chịu đựng lực ly tâm. Nếu kẻ nào bỏ cuộc đầu tiên, lảng ra một hướng để giải toả áp lực, kẻ ấy sẽ đi đời. Ðến vòng xoáy thứ năm, chiếc Wildcat hơi lơi ra. Tôi sẵn sàng khai hỏa, nhưng đối thủ chúc mũi xuống, tăng gia tốc và, một lần nữa, viên phi công địch nắm vững cần lái. Ðáng nể!
Tuy nhiên, hắn sai lầm ngay phút kế đó. Thay vì tiếp tục vung trở lại vòng xoáy thứ sáu, hắn nhấn thêm ga, phá vỡ một góc vòng xoay và lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi chĩa mũi ngay phía sau, cắt ngang đường bay của hắn. Và tôi cứ cắt như vậy nhiều lần, khiến cho hình thắt nút dây của hắn càng lúc càng thâu hẹp lại. Khi hai phi cơ còn cách nhau 50 thước, chiếc Wildcat bỏ lối bay cũ để vượt thẳng lên. Một lối tránh né mạo hiểm! Ở khoảng cách hiện thời, tôi không cần sử dụng đại bác 20 ly. Tôi rót 200 viên đạn đại liên vô phòng lái, nhìn thấy đạn soi thủng lớp kim khí mỏng và phá tan kiếng chắn gió của chiếc Wildcat. Mảnh sắt văng lên không trung. Tôi không thể tin nổi vào đôi mắt của mình. Chiếc Wildcat vẫn tiếp tục bay như không có việc gì xảy ra. Nếu phòng lái lãnh đạn như vậy, một chiếc Zéro sẽ bốc cháy lập tức. Tôi không sao hiểu nổi. Tôi gia tăng tốc lực, tiếp tục áp sát đối thủ, vừa đúng lúc chiến đấu cơ địch mất tốc độ. Làm trong một thoáng, tôi đã trượt ra phía trước chiếc Wildcat mươi thước. Tôi đưa lưng, chuẩn bị ăn đạn của đối phương.
Không một viên đạn nào bay đến! Các khẩu súng của chiếc Wildcat vẫn im lặng. Tôi hạ tốc độ cho đến khi hai phi cơ bay song song. Tôi mở cửa buồng lái để nhìn. Tôi có thể nhìn thấy viên phi công địch rõ ràng. Một người khổng lồ với gương mặt bầu bĩnh, mặc quân phục ka ki nhạt, có vẻ đứng tuổi.
Chúng tôi bay song song nhiều giây trong đội hình kỳ quái. Ðôi mắt chúng tôi gặp nhau qua khoảng không gian nhỏ hẹp giữa hai chiếc phi cơ. Chiếc Wildcat như một đống sắt vụn. Nhiều lỗ đạn soi thủng ở thân và cánh từ bên này xuyên suốt qua bên kia. Bánh lái sau đuôi phi cơ te tua, những miếng kim khí chĩa ra giống như một bộ xương. Tôi có thể hiểu tại sao viên phi công không khai hoả: máu ướt đẫm vai và chảy thành nhiều vệt xuống ngực hắn. Vậy mà phi cơ của hắn vẫn còn bay, không thể tin nổi. Nhưng tôi không thể hạ sát một người bất động, mang đầy thương tích, trong một chiếc phi cơ chỉ còn là một đống sắt nát. Tôi giơ nắm tay trái lên lắc lắc la lớn, biểu hắn hãy đánh nhau thay vì bay giống như một con bồ câu đất, mặc dù tôi biết chuyện đó khó xảy ra. Viên phi công Mỹ nhìn tôi có vẻ hoảng sợ, hắn giơ tay phải lên vẫy vẫy một cách yếu ớt. Như hắn muốn phân bua.
Tôi chưa bao giờ có cảm giác kỳ dị như thế này. Tôi đã giết nhiều người Mỹ trên không, nhưng đây là lần đầu tiên, trước một đối thủ kiệt lực mang đầy thương tích, tôi lại ngần ngừ. Tôi không biết có nên dứt điểm hắn hay không. Nhưng ý nghĩ của tôi rõ ràng là ngù ngờ. Bị thương hay không, hắn cũng là kẻ thù, một kẻ thù vừa hạ ba đồng bạn của tôi vài phút trước đây. Tuy nhiên, thật sự tôi muốn hạ chiếc phi cơ hơn là hạ viên phi công.
Tôi lùi lại và lướt đến sau đuôi chiếc Wildcat. Viên phi công cố thu hết năng lực cuối cùng để đưa chiếc phi cơ của hắn lướt lên. Tôi nhắm đầu máy và ấn cò đại bác. Một tiếng nổ bùng với lửa và khói túa ra. Chiếc phi cơ lật nhào và viên phi công nhảy dù ra ngoài. Phía dưới tôi, gần đúng trên bãi cát Guadalcanal, chiếc dù bung ra. Cuối cùng, tôi thấy viên phi công đáp xuống bãi biển.
Ba chiến đấu cơ Zéro khác đã trở về kết hợp bên cánh của tôi. Chúng tôi cùng vượt lên và quay trở lại Guadalcanal để kiếm phi cơ địch nữa.
Ðạn cao xạ bắt đầu nổ quanh chúng tôi. Những đốm đen khắp nơi. Chỉ vài giờ sau khi đổ bộ, các giàn cao xạ hạng nặng của địch quân đã được thiết lập trên bãi biển. Tôi biết rằng các lực lượng Nhật phải mất ít nhất ba ngày sau khi đổ bộ mới thiết dựng được các vị trí phòng không. Tốc độ di chuyển chiến cụ lên bờ của quân Mỹ nhanh chóng đến mức kinh ngạc.
Tôi trở lại cao độ 7,000 bộ với ba chiến đấu cơ phía sau. Chúng tôi bay xuyên qua những đám mây, và lần đầu tiên trong suốt mấy năm chiến đấu, tôi bị một phi cơ địch vồ mà không hay biết. Bất thình lình tôi sực nghe một tiếng phụp thật mạnh và một lỗ hổng nửa phân xuất hiện trên kiếng chắn gió bên trái của tôi. Lỗ hổng chỉ cách tôi vài phân. Tôi vẫn không nhìn thấy chiếc phi cơ nào khác trên không. Có lẽ viên đạn từ mặt đất bắn lên. Sau đó, tôi mới nhìn thấy loáng thoáng một oanh tạc cơ địch, không phải một chiến đấu cơ, đang lủi vô mây. Sự liều lĩnh của viên phi công địch đáng sợ. Với một chiếc oanh tạc cơ chậm chạp, hắn dám giỡn mặt với ba chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi.
Chớp mắt, tôi đã ở phía sau đuôi hắn. Không phải oanh tạc cơ mà là phóng pháo cơ đâm bổ. Chiếc Douglas SBD Dauntless nhô lên hụp xuống nhiều lần rồi thình lình chui vô một đám mây. Ðâu thể để mất con mồi dễ dàng như vậy, tôi đeo dính hắn. Khoảng một vài giây, tôi chỉ thấy một màu trắng xoá khi chúng tôi lướt xuyên qua một tảng mây dày đặc. Ðám mây giống một ổ bánh kem mà chúng tôi đâm sầm vào đó. Nhiều phút trắng ngợp mờ mịt. Kế đó, chúng tôi thoát ra khoảng trống, tôi tiến sát như chớp và khai hoả. Tên xạ thủ phía sau đuôi chiếc phóng pháo cơ ngã chúi trên khẩu súng của hắn. Một loạt đại bác nữa rót vô đầu máy. Chiếc Dauntless lộn về phía trái mấy vòng, rồi chúi xuống dữ dội. Yonekawa thấy viên phi công nhảy dù ra. Ðó là sát thủ thứ sáu mươi của tôi.
Trở lên 13,000 bộ, tôi tìm kiếm những phi cơ khác của chúng tôi nhưng không thấy. Một vài phút sau, bay trên bờ biển Guadalcanal, tôi phát hiện một nhóm phi cơ bay cách phía trước mặt nhiều dặm. Tôi báo hiệu cho hai phi cơ bên cánh và lướt đến. Không lâu, tôi đếm rõ tám phi cơ địch tất cả, bay làm hai nhóm. Tôi ra dấu đánh nhóm bên phải nhường nhóm bên trái cho ba chiếc Zéro theo sau tôi. Ðối thủ bay trong một đội hình phòng vệ rất chặt chẽ, hình như là chiến đấu cơ Wildcat. Tôi có thể lướt từ dưới lên đánh tập hậu, và có thể hạ hai chiếc trong loạt khai hoả đầu tiên. Tôi tiến sát được chừng nào hay chừng nấy. Khoảng cách còn 200 thước, rồi 100 – 70 – 60 thước…

Tôi đã lọt vô bẫy! Phi cơ địch không phải chiến đấu cơ F4F Wildcat mà là phóng pháo cơ hạng nặng. Loại Grumman TBF Avenger trang bị thủy lôi! Loại phóng pháo cơ kiên cố bọc thép dầy và võ trang tận răng mà tôi chưa từng thấy trước đây. Từ phía sau, Avenger trông giống như chiếc Wildcat, nhưng khi lại gần mới thấy kích thước bề thế đồ sộ của nó với tháp súng đôi trên lưng và dưới bụng đều trang bị đại liên 50. Giống những chiếc xe tăng trên không. Hèn chi chúng bay theo một đội hình chiến lũy như vậy. Mấy chiếc Avenger đang đợi tôi, và bây giờ tôi bị chụp ở cả hai phía bên phải và trái với 16 khẩu đại liên một lúc. Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp. Tôi không thể giảm tốc lực để quay lưng. Nếu tôi bỏ chạy hoặc lộn nhào tôi sẽ lãnh đạn vô bụng phơi trần tức khắc. Chỉ còn một cách, cứ lao đến và khai hoả tất cả vũ khí trong tay. Tôi ấn nút hoả lực, gần như cùng một lúc với tất cả súng của địch quân. Tiếng đại bác nện và đại liên dội lên lấn át mọi tiếng động khác. Khi hai phóng pháo cơ Avenger phựt bốc cháy, đối phương chỉ còn cách trước mặt tôi đúng hai mươi thước. Ðó là tất cả những gì sau cùng tôi nhìn thấy. Một tiếng nổ dữ dội long trời chà nát thân thể tôi. Tôi cảm thấy hai lỗ tai như bị muôn ngàn lưỡi dao chọc thủng. Vũ trụ bừng lên trong lửa đỏ. Cảnh vật rực lên, sáng lóa và rồi đôi mắt tôi như mù hẳn. (Ba phi công bay theo tôi về báo cáo với Trung tá Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, rằng họ đã nhìn thấy hai chiếc Avenger rớt xuống cùng một lúc với phi cơ của tôi. Họ còn cho biết thêm, hai chiếc Avenger địch kéo hai vệt lửa khói dài. Ðó là nạn nhân chánh thức thứ 61 và 62 của tôi. Nhưng một báo cáo khác của người Mỹ sau chiến tranh phủ nhận sự mất mát các phóng pháo cơ Avenger cất cánh từ ba hàng không mẫu hạm hoạt động ở phía Tây Nam Guadalcanal. Có lẽ hai phi cơ này đã trở về tàu được. Khi chiếc Zéro của tôi chúi xuống, với tôi hôn mê bất tỉnh trong buồng lái, cả ba chiếc Zéro cùng chúi xuống với tôi. Họ phải bỏ dở cuộc săn tìm khi tôi biến mất trong một đám mây sà thấp.)
Sau nhiều giây trôi qua tôi mới hồi tỉnh. Một luồng gió mạnh mát lạnh quất vào tôi, xuyên qua tấm kính chắn gió đã vỡ nát. Nhưng tôi vẫn còn mất cảm giác. Tôi không nhìn thấy và khó khăn suy nghĩ. Mọi vật đều mờ mờ ảo ảo. Cần điều khiển ngả nghiêng như một bánh lái trước sóng. Ðầu tôi ngoẹo hẳn về phía sau, ngoẻo trên miếng tựa đầu. Tôi cố nhìn, nhưng mọi vật lờ mờ chập chờn nhảy múa trước mắt. Phòng lái hình như đã vỡ tung, kiếng bể nát hết, gió ru tôi vào cơn mê nửa mơ nửa tỉnh. Tôi không cảm thấy gì khác hơn là một sự chìm đắm êm ả dịu dàng. Tôi muốn ngủ. Tôi cố gắng thức vì biết rằng tôi đã bị bắn trúng, rằng tôi đang hấp hối, nhưng tôi không hề cảm thấy sợ hãi. Nếu chết là như thế này, không đau đớn, thì có gì đáng lo… Tôi đang ở trong một thế giới đầy mộng mị. Một sự ngây ngất tràn đầy trong trí não. Ảo ảnh bơi lội phía trước tôi. Thấp thoáng nhiều hình ảnh từ từ sáng dần… Với sự ngạc nhiên, tôi nhìn thấy ánh mắt âu lo của Hatsuyo rồi khuôn mặt má tôi hiện ra rõ rệt. Bà kêu lên: “Xấu hổ chưa! Xấu hổ chưa! Thức dậy đi, Saburo, thức dậy đi! Con làm như đàn bà con gái không bằng. Con đâu phải là một tên hèn nhát! Thức dậy đi! Thức dậy!”.
Dần dần tôi cảm biết những gì đang xảy ra. Chiếc Zéro lao về phía Ðông giống như một hòn đá. Tôi cố mở mắt ra và nhìn quanh, thấy màu sáng chói hực của lửa. Tôi nghĩ rằng chiếc phi cơ đang bốc cháy. Nhưng tôi không nghe một mùi khói. Tôi vẫn choáng váng.
Tôi nháy mắt nhiều lần. Sao lại như vậy? Mọi vật đều màu đỏ hết! Tôi đưa tay sờ soạng. Cần lái! Tôi nắm lấy nó. Vẫn không thấy gì hết. Tôi kéo cần lái về phía sau. Nhẹ nhàng. Chiếc phi cơ bắt đầu gượng lại sức chúi xuống, lấy lại thăng bằng và vượt lên. Áp lực của gió giảm bớt, không còn quật mạnh vô mặt tôi nữa. Một ý nghĩ đầy kinh hãi bao trùm lấy tôi. Là tôi có thể bị mù! Tôi hết còn cơ hội trở về Rabaul!
Tôi hành động theo quán tính. Ðưa tay trái về phía trước để nắm lấy cần gia tốc. Nhưng tay tôi bất động. Tôi cố co mấy ngón tay lại. Không có một cảm giác nào cả. Ðúng là nó đã liệt hẳn. Tôi nhấn hai chân lên bàn đạp bẻ lái. Chỉ có chân mặt của tôi còn cử động và chiếc Zéro lạng qua một bên khi bàn đạp bị ấn xuống. Chân trái của tôi tê liệt. Tôi nghiến răng cố gắng cử động lại một lần nữa. Vô ích.
Nguyên thân bên trái của tôi hình như đã bị liệt. Trong nhiều phút tôi cố nhúc nhích chân và tay trái, nhưng không thể nào cử động. Tôi không nghe đau đớn. Thật khó hiểu.
Ðôi má tôi ướt đẫm. Tôi đang khóc. Hai hàng lệ chảy xuống. Khối nặng trĩu trong tròng mắt tôi bắt đầu trôi đi. Nước mắt đã lau sạch máu đọng trong mắt tôi. Tai vẫn còn điếc câm, nhưng mắt có thể nhìn thấy tuy chỉ một chút ít, nhưng màu đỏ đã loãng dần. Ánh sáng mặt trời chiếu rọi vô phòng lái cho phép tôi nhìn thấy lờ mờ những dụng cụ bằng kim khí. Dần dần tôi nhìn thấy những đồng hồ hình tròn, nhưng không thể nhìn thấy chi tiết. Tôi xoay đầu và nhìn ra ngoài buồng lái. Những khối màu đen vĩ đại lướt qua dưới cánh phi cơ với tốc độ khủng khiếp.
Những khối màu đen chắc chắn là chiến hạm địch. Ðiều này có nghĩa là tôi chỉ cách mặt nước khoảng 300 bộ, dưới 100 thước. Thế rồi tai tôi vang lên những âm thanh lùng bùng. Thoạt đầu là tiếng máy phi cơ kế đến là tiếng súng. Các chiến hạm đang khai hoả vào tôi! Chiếc Zéro chao lắc lư giữa những lằn chớp loé của đạn cao xạ phát nổ. Lạ lùng thay, tôi không hề có một phản ứng nào. Tôi bất động, không tìm cách né tránh. Tiếng súng rơi lại phía sau. Tôi không còn nhìn thấy những khối màu đen trên mặt nước nữa. Tôi đã ra khỏi tầm súng. Nhiều phút trôi qua, tôi vẫn ngồi bất động trong phòng lái với muôn ngàn ý nghĩ lẫn lộn. Tôi lại muốn thiếp ngủ. Trong cơn ngầy ngật, tôi cũng biết rằng tôi không thể nào bay trở về Rabaul, và ngay cả Buka gần hơn Rabaul. Một thoáng, ý nghĩ đâm thẳng xuống biển với hết tốc lực đã lôi cuốn tôi, như một cách giải quyết nỗi tuyệt vọng của mình. Tôi trở nên ngu muội. Tôi cố mở mắt ra. Tôi nguyền rủa mình: Chết như vầy không phải! Nếu phải chết, tôi nghĩ, tôi phải chết cho ra hồn. Tôi đâu phải là một tay mơ chưa từng biết chiến đấu là gì? Tư tưởng của tôi chợt ẩn chợt hiện, tôi biết rằng bao lâu mà tôi còn kiểm soát chiếc phi cơ, bao lâu mà tôi còn có thể bay, tôi sẽ làm mọi cách lôi theo một hai kẻ thù trước khi chết. Chiến đấu cơ địch ở đâu? Tôi chửi rủa và la hét: Ðến đây? Tôi đây! Ðến đánh với tôi!…
Trải qua nhiều phút, tôi thịnh nộ như một tên điên trong phòng lái. Dần dần tôi bình tĩnh trở lại và ý thức hành động đáng buồn cười của mình… Tôi bắt đầu nghĩ đến những may mắn vô song đã khiến tôi sống sót cho đến bây giờ. Tôi đã gặp nhiều hiểm nguy trước đây, nhưng chưa lần nào hiểm nguy hơn lần này. Những viên đạn chỉ cách đầu tôi mấy phân, và gây cho tôi nhiều vết sướt, nhưng không trầm trọng mấy. Tôi có may mắn, tại sao tôi quăng nó đi? Và bỗng nhiên tôi muốn sống, tôi muốn quay trở về Rabaul.
Việc có ý thức đầu tiên của tôi là xem xét các thương tích. Tay trái tôi vẫn tê liệt, tôi đưa tay mặt lên rờ đầu một cách e dè như sợ những gì sẽ tìm thấy. Mấy ngón tay rờ nón phi công, cảm thấy nhớp nháp. Tôi biết đó là máu. Rồi tôi gặp một lỗ thủng trên nón, tôi thọc nhè nhẹ một ngón tay vô. Ðể coi bao sâu? Có vật cưng cứng chạm vô ngón tay tôi. Tôi sợ hãi chấp nhận sự thật. Ngón tay tôi lọt hẳn vô bên trong chiếc nón! Vật cứng đó không gì khác hơn là xương sọ của tôi do đạn phá ra. Có lẽ là hộp sọ bể. Ý nghĩ này làm tôi lặng người. Viên đạn có thể chui vô trong óc, nhưng chắc chắn không sâu. Tôi nhớ lại những gì đã từng học hỏi về thương tích trong lúc chiến đấu. Tôi không cảm thấy đau đớn, nhưng có lẽ vết thương đã làm tê liệt phần thân thể bên trái của tôi. Những ý nghĩ này đến chầm chậm. Làm sao có thể ngồi trong phòng lái chiếc phi cơ hư hại, nửa phần đui mù, nửa phần tê liệt, thọc mấy ngón tay qua lỗ hủng trên đầu của mình và tìm hiểu sự việc xảy ra một cách sáng suốt? Tôi ý thức những gì đã xảy ra, tôi cảm được chất máu nhớp nháp và lỗ hủng trên đầu của tôi, nhưng không ý thức sự nghiêm trọng thật sự của vết thương. Tôi biết tôi bị thương, chỉ có vậy thôi.
Tôi lại di chuyển mấy ngón tay trên mặt tôi. Nó sưng phù lên, nhiều vết sướt, và cũng có máu. Chiếc Zéro tiếp tục bay đều. Ðầu óc tôi dần dần sáng suốt thêm. Cử động của tôi chính xác hơn. Tôi hít một hơi thở thật mạnh. Không có mùi dầu khét, như vậy là cả máy lẫn thùng xăng không bị trúng đạn. Sự nhận biết này là nỗi vui mừng lớn nhất trong đời tôi. Với thùng xăng còn nguyên vẹn và máy móc không hư hại, chiếc phi cơ có thể nuốt hết khoảng không trình còn lại. Gió luồng vô chỗ thủng trên sọ vẫn còn rỉ máu. Tôi có thể bất tỉnh trở lại vì mất máu.
Bỗng nhiên đau đớn bao trùm lấy tôi. Mắt phải của tôi bắt đầu mờ dần khi cơn đau gia tăng kịch liệt. Tôi đưa tay dụi mắt. Cơn đau đến không chịu đựng nổi. Tôi lại dụi mắt. Tôi mù rồi!
Tất cả phi công Nhựt đều mang theo trong túi bốn mảnh băng vải hình tam giác. Tôi lôi ra một mảnh và phun nước miếng lên đó. Miệng tôi khô khốc và cảm thấy khát nước kinh khủng. Tôi đưa mảnh băng lên miệng để nhai cho đến khi một góc của nó trở thành ẩm ướt. Chồm về phía trước để tránh gió, tôi lau mắt với góc băng ướt. Có hiệu quả, tôi nhìn thấy chút ít. Một vài giây sau, khi tôi ngồi ngay ngắn trở lại, đầu tôi lại đau dữ dội, như có một chiếc búa gõ lên sọ. Tôi đắp ngay mảnh băng vô lỗ hủng trên đầu, nhưng khi tôi vừa lấy tay ra, gió thổi mảnh băng bay mất ra ngoài cửa kiếng bể.
Thất vọng tột cùng! Làm cách nào tôi có thể cột mảnh băng quanh đầu? Tôi phải cầm máu lại. Tay trái tôi tê liệt, tôi chỉ có thể sử dụng tay mặt để giữ mảnh băng, nhưng tay này phải giữ cần điều khiển. Tôi kéo mảnh băng thứ hai để đắp, nó lại bay mất khi tôi vừa lấy tay ra. Mảnh thứ ba và bốn cũng vậy. Tôi phải làm gì đây? Tôi hầu như rối loạn. Cơn đau gia tăng dữ dội hơn.
Tôi còn một chiếc khăn quàng bằng lụa quấn quanh cổ. Tôi tháo ra và đè một chéo dưới đùi bên mặt để gió khỏi cuốn đi. Sau đó tôi rút con dao bỏ túi dùng răng kéo lưỡi dao ra. Tôi cắn chặt một chéo của khăn quàng và cắt một đoạn, nhưng bị gió cuốn bay mất lập tức. Tôi không biết làm sao. Tuyệt vọng. Tôi cuống cuồng tìm giải pháp. Chỉ còn một đoạn khăn quàng.
Tôi khom người về phía trước để tránh gió, và bắt đầu nhét đoạn khăn vô bên trong chiếc nón phi hành ngay chỗ vết thương. Thành công. Tôi ngồi thẳng dậy và đưa chiếc phi cơ vượt lên. Cơn đau dịu xuống nhanh chóng. Máu ngưng chảy. Nhưng cơn buồn ngủ lại ập đến, tôi xô đuổi cách mấy cũng không được. Hơn một lần tôi chợp mắt, cằm gục xuống ngực. Tôi lắc lắc đầu, hy vọng cơn đau sẽ làm tôi tỉnh táo. Chiếc phi cơ đâm đầu xuống mấy lần. Cơn buồn ngủ vẫn không xua đuổi được khiến tôi nổi giận. Tôi đưa tay tát vào má thật mạnh nhiều lần. Tôi không thể tiếp tục lối này mãi được. Tôi sớm cảm chất máu mằn mặn. Má tôi sưng phù thêm, không khác nào ngậm một trái banh trong miệng. Nhưng không có cách nào khác hơn, tôi tiếp tục tát vào má nữa. Có lẽ thức ăn sẽ thắng cơn buồn ngủ. Tôi lôi hộp thức ăn ra và nhét bánh mặn đầy miệng. Tôi lại cảm thấy buồn ngủ hơn bao giờ hết. Tôi nhét thêm thức ăn vô miệng nữa, nhai thật kỹ trước khi nuốt.
Lát sau, tôi nôn mửa dữ dội làm chiếc phi cơ mất kiểm soát khi tôi vặn vẹo thân thể trong cơn nôn. Thức ăn tung toé đầy trên chân tôi và trên tấm bửng dụng cụ. Ngay cả sự khổ sở mới này vẫn không xua đuổi nổi cơn buồn ngủ ùa đến. Tôi lại tát má liên hồi cho đến khi không còn cảm giác nào nữa. Trong lúc tuyệt vọng, tôi đưa tay đập lên đầu, nhưng cũng vô ích. Tôi muốn ngủ! Ồ! Hãy cứ ngủ đi, quên mọi chuyện…
Chiếc phi cơ chao qua chao lại, bay xiên xẹo. Tôi cố giữ cần lái một mực, không biết rằng nhiều khi tay tôi rớt xuống bên trái hoặc bên phải khiến cho phi cơ xoay vòng dữ dội. Tôi sẵn sàng bỏ cuộc. Tôi biết không thể giữ mãi tình trạng này mãi mãi. Nhưng tôi nguyện với lòng sẽ không chết như một tên hèn nhát, bằng cách chúi xuống biển, ít ra tôi phải chết như một Samurai. Cái chết của tôi phải lôi theo nhiều kẻ thù.
Một chiến hạm. Tôi cần một chiến hạm địch để lao xuống. Thoát ra khỏi cơn tuyệt vọng tràn ngập, tôi quay chiếc Zéro hướng về Guadalcanal. Nhiều phút sau đó tôi tỉnh táo trở lại. Không còn buồn ngủ nữa. Không còn đau đớn nữa. Tôi hiểu hành động của mình. Nhưng tại sao lại chết bây giờ, nếu tôi có thể bay đến Buka hoặc ngay cả Rabaul? Tôi lại quay hướng chiếc Zéro và bay về phía Bắc. Một vài phút sau đó tôi lại muốn thiếp ngủ. Trí óc tôi u mê. Thế giới quanh tôi mù mịt. Tôi lại quày phi cơ, hướng về Guadalcanal. Quày đi quày lại năm lần như vậy. Tôi bắt đầu la khan nhiều lần. “Hãy thức tỉnh!”. Dần dần cơn buồn ngủ biến mất. Tôi nhắm hướng Rabaul. Hiển nhiên là nếu cứ bay về phía Bắc thì không gì bảo đảm tôi sẽ về tới căn cứ. Nhưng tôi không định nổi vị trí. Tôi chỉ biết nhắm hướng Rabaul một cách tổng quát. Tôi biết tôi ở phía Bắc Guadalcanal, nhưng không biết khoảng cách bao xa. Tôi nhìn xuống biển, nhưng không tìm ra một hòn đảo nào trong chuỗi đảo trải dài đến Rabaul. Chỉ chân mặt của tôi còn đạp bàn đạp điều khiển bánh lái được, như vậy chiếc phi cơ có thể đã xoay về phía Ðông của quần đảo Solomon.
Tôi rút tấm hải đồ dưới ghế ngồi. Nó vấy đầy máu. Tôi nhìn hồi lâu, chà tấm hải đồ lên quần để tẩy mấy vết máu, nhưng vô ích. Tôi cố định vị trí bằng cách nhìn mặt trời nhưng vô ích. Cả ba mươi phút trôi qua vẫn không có một hòn đảo nào xuất hiện. Có cái gì không ổn? Tôi hiện ở đâu? Bầu trời trong sáng hoàn toàn và đại dương trải dài vô tận.
Một hòn đảo! Cuối cùng, một hòn đảo, ngay trước mặt tôi. Nó ở mãi phía chân trời, nổi lờ mờ trên mặt nước. Phấn kích, tôi cười khan. Bây giờ, mọi việc yên rồi, tôi có thể định vị trí và chắc chắn tôi đang hướng về Rabaul. Tôi bay và tiếp tục bay, bồn chồn dõi mắt tìm kiếm bờ biển.
Hòn đảo biến mất. Nó đâu rồi? Tôi không nằm mơ chớ? “Hòn đảo” đang trôi qua bên phải tôi, đó là một đám mây sà thấp!
Tôi cố gắng xem lại la bàn. Tôi không thể nào đọc được những con số. Tôi cúi mọp về phía trước, mũi hầu như chạm vô mặt kiếng la bàn. Cuối cùng tôi đọc được. Tôi đang bay ở hướng 330 độ. Gần hai tiếng đồng hồ tôi không nhìn thấy hòn đảo nào cũng phải. Chiếc Zéro đang tiến ra trung tâm Thái Bình Dương! Soát lại hải đồ, tôi biết vị trí của tôi cách phía Ðông Bắc quần đảo Solomon 60 dặm. Chỉ phỏng đoán, nhưng đó là điều tốt nhất mà tôi có thể làm. Tôi xoay chiếc phi cơ về phía trái 90 độ và hướng đến một nơi mà tôi hy vọng là đảo New Ireland, nằm phía Ðông Bắc New Britain và Rabaul.
Những lượn sóng buồn ngủ lại phủ chụp lấy tôi. Nhiều lần làm tôi hoảng hốt giữ thăng bằng khi chiếc phi cơ đảo cánh hoặc lộn ngược. Tôi bay chập choạng xuyên qua bầu trời, lâu lâu cúi về phía trước xem la bàn, điều chỉnh hướng bay cho đến khi tôi chắc chắn phi cơ đang tiến đến New Ireland.
Nhưng bỗng nhiên cơn đau trên đầu gia tăng khiến tôi không còn buồn ngủ nữa. Rồi thình lình tôi tỉnh táo hẳn. Không một dấu hiệu báo trước, chiếc phi cơ tắt máy. Tôi biết bình xăng chánh đã cạn. Tôi còn một bình xăng phụ, nhưng phải mất một thời gian ngắn để chuyển qua. Khi mở nút chuyển tiếp xăng phải làm nhanh chóng và chính xác. Thông thường, công việc này tôi sử dụng tay trái và không có gì khó khăn. Nhưng hiện thời tay trái tôi đã liệt hẳn. Tôi phải sử dụng tay mặt, nhưng với qua phía bên kia phòng lái không tới.
Chiếc Zéro tắt máy rớt xuống biển chầm chậm và êm ái. Tôi cố gắng hết sức cuối cùng mở được.
Xăng không chảy qua ống, vì ống quá lâu nên đã thoát hết không khí. Tôi vội vã sử dụng bơm tay, dự trù cho trường hợp bất ngờ. Hiệu quả tức khắc. Với một tiếng rồ nhẹ, máy chạy trở lại và chiếc Zéro lướt êm về phía trước. Không phí một giây nào, tôi trở lên cao độ 500 thước.
Phi cơ bay chầm chậm. Tôi chỉ còn trong tay không đầy hai giờ nhiên liệu để đáp xuống hòn đảo do Nhựt chiếm đóng. Không đầy hai giờ, tôi sẽ sống hoặc chết.
Một giờ trôi qua… Trước mắt tôi vẫn chỉ là biển cả bao la và bầu trời xanh thăm thẳm. Thình lình tôi thấy một vật gì nổi trên mặt nước. Một hòn đảo! Lần này không lầm nữa, không phải là một đám mây trước mắt. Nhứt định là một hòn đảo. Hòn đảo Xanh, hòn đảo san hô có hình móng ngựa mà tôi đã để ý trên đường bay đến Guadalcanal sáng nay. Tôi soát lại bản đồ. Hy vọng tràn trề… Tôi chỉ cách Rabaul 110 km!
Sáu chục hải lý. Thông thường chỉ là một cái nhảy ngắn. Nhưng tình trạng hiện thời đầy bất thường và đang tồi tệ thêm. Tôi chỉ còn đủ xăng để bay trong vòng 40 phút. Chiếc Zéro lại bị hư hại trầm trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến tốc lực. Tôi bị thương nặng, tê liệt một nửa thân, mắt bên mặt mù hẳn và mắt trái nhìn thấy không rõ lắm. Tôi đã kiệt sức, và tôi phải tận dụng hết năng lực để giữ chiếc phi cơ thăng bằng.
Một hòn đảo khác, ngay trước mắt tôi. Ðây là đảo New Ireland, và phía xa xa là rặng núi cao 2,400 bộ. Vượt qua phía bên kia rặng núi đó, tôi có thể về tới Rabaul.
Tôi đã đâu mặt với hàng loạt chướng ngại vật phía trước khi tiến vô căn cứ nhà. Những đám mây dầy đặc tụ quanh các đỉnh núi, và đột ngột một cơn mưa bão thật dữ dội trút xuống. Dường như khó có thể vượt qua nổi. Kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể xác, nửa đui nửa sáng, và trong một chiến đấu cơ hư hại trầm trọng, làm sao tôi có thể vượt qua một cơn mưa bão, nguy hiểm tột cùng ngay cả dưới những tình trạng bình thường?
Tôi đành bay vòng. Kim đồng hồ chỉ mực xăng của tôi càng lúc càng hạ thấp. Tôi chỉ còn vài mươi phút trên không. Tôi bặm môi và quay về hướng Nam. Chiếc phi cơ bay chầm chậm xuống eo biển George nằm giữa Rabaul và New Ireland. Hai vệt trắng xoá lướt trên mặt nước phía dưới cánh tôi. Tôi thấy hai chiến hạm Nhựt, có vẻ là hai tuần dương hạm hạng nặng, đang xả hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Guadalcanal.
Tôi hầu như ứa nước mắt khi nhìn thấy hai chiến hạm. Tôi muốn chúi phi cơ xuống biển, một trong hai tuần dương hạm có thể cứu tôi. Hy vọng tràn ngập trong tôi. Rabaul lúc ấy hình như cách xa hàng triệu cây số. Tôi quần mấy lần trên hai chiến hạm, sẵn sàng đáp xuống mặt nước.
Tôi không thể thực hiện ý định của mình. Hai tuần dương hạm đang trên đường đến Guadalcanal để chiến đấu. Nếu chúng ngừng lại để vớt tôi lên, việc này không chắc lắm, nhiệm vụ thúc bách của chúng sẽ trì trệ. Không thể đáp xuống biển. (Nhiều tuần lễ sau này tôi mới biết đó là hai tuần dương hạm Aoba và Kinugasa, mỗi chiếc 9,000 tấn đang hướng đến Guadalcanal với tốc lực hơn 33 hải lý một giờ. Cùng với nhiều chiến hạm khác, Aoba và Kinugasa tấn công đoàn công-voa của Ðồng Minh ở Luga, đánh chìm bốn tuần dương hạm cùng gây hư hại cho một tuần dương hạm và hai khu trục hạm khác của địch quân).
Một lần nữa, tôi quay về hướng Rabaul. Ðồng hồ chỉ mực độ xăng cho thấy chỉ còn hai mươi phút bay nữa mà thôi. Tuy nhiên nếu không tiến về Rabaul được, tôi có thể đáp trên bãi biển. Thế rồi hòn núi lửa quen thuộc hiện ra ở chân trời. Ðã đến nơi rồi, Rabaul đã nằm trong tầm mắt.
Tôi phải đáp xuống. Việc này thật khó khăn vô cùng, với một nửa thân thể hoàn toàn tê liệt của tôi. Tôi cố đảo quanh phi trường, do dự, không biết làm gì. Tôi không biết rằng tôi đã bị báo cáo mất tích, tôi cũng không biết rằng tất cả các phi cơ khác đã đáp xuống hai giờ trước đó, ngoại trừ hai chiếc bị hạ ở Guadalcanal. Sau này Ðại úy Sasai nói với tôi ông không tin hai mắt của mình khi nhận ra chiếc Zéro của tôi xuyên qua ống dòm. Ông la tên tôi thật lớn, và tất cả các phi công khác túa ra khắp nơi trên phi đạo.
Lúc này tất cả những gì tôi nhìn thấy được là phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Tôi quyết định đáp xuống mặt nước cạnh bờ biển. Chiếc Zéro xuống chầm chậm. Tám trăm bộ, bảy, bốn rồi một trăm bộ, tôi chỉ còn cách mặt nước năm mươi bộ. Là 15 thước. Tôi lại thay đổi ý kiến. Cảnh máy bay vỡ tan trên biển và cái đầu bị thương của tôi đập về phía trước, là hình ảnh đáng sợ. Tôi khó mà sống sót được.
Tôi vượt lên và quày lại phi đạo ở cao độ 500 m. Lần này hoặc là tôi đáp xuống hoặc là không bao giờ nữa. Chiếc Zéro hạ chầm chậm khi tôi đẩy cần điều khiển về phía trước. Tôi thả bánh xe. Tốc lực chiếc phi cơ giảm xuống. Tôi nhìn những dãy chiến đấu cơ xếp dài hai bên phi đạo đang xô chạy về phía tôi. Tôi phải tránh đụng các phi cơ đó. Tôi vượt trở lên, vì nhận thấy tôi đã xuống lệch quá xa về phía trái.
Sau khi quần đến lần thứ tư, tôi cố đáp xuống một lần nữa. Dù cho xăng còn rất ít trong bình, chiếc phi cơ vẫn có thể nổ nếu nó va chạm. Hàng dừa trồng ở đầu phi trường lờ mờ trước mắt tôi. Tôi lướt phía trên và cố điều chỉnh độ cao của tôi bằng những ngọn dừa này. Bây giờ… tôi đã ở trên phi đạo. Một cái xóc thật mạnh khi bánh xe chạm mặt đất. Tôi kéo ngược cần điều khiển và ghì chặt với tất cả sức mạnh để giữ cho chiếc phi cơ khỏi chạy xiên vẹo. Chiếc Zéro lao bánh và ngừng lại gần Bộ Chỉ Huy. Tôi cố mỉm cười, một làn sóng đen thẫm phủ chụp lên tôi.
Tôi cảm thấy như bị rớt chìm xuống đáy một hố sâu vô tận. Mọi vật hình như đều xoay tít dữ dội. Tôi nghe những tiếng thét gọi tên tôi vang lên xa xa. “Sakai! Sakai!” Tôi rủa thầm. Tại sao họ không giữ im lặng? Tôi muốn thiếp ngủ.
Màu đen biến mất. Tôi mở mắt ra nhìn thấy nhiều khuôn mặt bao quanh. Tôi đang nằm mơ, hay tôi đã thật sự trở về Rabaul? Tôi không biết. Mọi thứ đều không thật. Tất cả đều là mộng mị. Tôi chắc vậy. Những gì tôi đang thấy không thể là sự thật. Mọi thứ lại tan thành những lượn sóng màu đen sẫm trộn với những tiếng la lớn.
Tôi cố gượng dậy. Tôi bám vào buồng lái và cố đứng lên. Ðây là “Rabaul”. Cuối cùng, không phải là mộng mị. Thế rồi tôi ngã quỵ xuống hẳn. Không còn sức lực. Những cánh tay mạnh mẽ nhấc bổng tôi ra khỏi phi cơ.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.