Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 19 Oct 2024

4. Phần 4

Thời Gian Sống Tại Cam Bốt

“Tình Đồng Chı́?” Tương Tàn. Điềm Gở Báo Hiệu Rạn Vỡ Toàn Diện Khối Đoàn Kết Vô Sản Quốc Tế.

Thời Gian Sống Tại Cam Bốt.

(thời gian từ đầu năm 1982 tới tháng 9/1983)

Làm Thợ Phụ Trong Ga Ra Sửa Xe.

Mới đến xứ người, trong tay không có tiền, không có bằng cấp, không có giấy tờ, không nghề nghiệp, không thân nhân họ hàng thì cách kiếm sống dễ nhất, mau nhất là bỏ sức lao động ra đi làm thuê vác mướn. Vừa lương thiện, vừa có cơm ăn qua ngày. Nhưng cũng còn tùy vào chỗ hên xui, may rủi. Chủ có cần người làm hay không. Vài ngày đầu tiên, tôi đi lân la trong khu xóm nghèo của người Việt mình, coi có nơi nào muốn mướn người làm công không. May mắn ở khu vực nằm trên đường 310, cách xa khu phố tôi trú chừng 5 cây số, có hai, ba cái ga-ra sửa xe do người Việt làm chủ, đang cần ít thợ phụ. Làm thợ phụ trong ga- ra xe, chỉ là anh bị sai vặt.

Hết lấy chìa khóa lại tới mỏ lết, chạy lòng vòng trong ga-ra từ sáng tới trưa, từ trưa đến chiều. Một ngày được vài chục riel, (năm 1982, một chỉ vàng có chừng 3.000 riel, đến năm 1999, một Mỹ kim đổi được 3.800 riel!), buổi trưa được chủ cho ăn cơm. Thợ chính mới cần thiết, còn thợ phụ, nay thay, mai đuổi. Chủ không cần lắm, kẹt không có người thì chủ sai mấy đứa con nhỏ trong nhà làm tạm cũng được. Con đường 310, chạy theo hướng Bắc-Nam, không rõ nó bị hư hỏng từ hồi nào, chỉ biết vào năm 1982, lúc tôi đến đây làm thuê thì đã thấy con đường đầy bụi đất trong mùa nắng và lại nhiều sình lầy vào mùa mưa. Gần 20 năm sau, Cam Bốt trải qua hai chế độ, và nhiều chính quyền, nhưng khi tôi về tìm lại cảnh cũ người xưa, trông thấy con đường vẫn như năm nào. Có khác đi một chút, dọc hai bên con đường bụi bặm, nay đã có lác đác vài căn nhà lầu ba tầng chen giữa đám nhà ngói, nhà lá, nhà cây. Và dân số trong khu này đã gia tăng đông đúc. Gần đây nhất, vào năm 2004, con đường đãđươc làm mới lai hoàn toàn. Mừng cho những người dân sống trên con đường 310. Cái ga-ra chỗ tôi xin vào làm thuê nằm gần ngã tư 310 và đại lộ Monivong (một đại lộ trung tâm của Nam Vang, Monivong là tên vị Vua cai trị xứ chùa tháp trước Vua Sihanouk chừng vài đời). Chủ ga-ra là ông Ba Minh, một người Việt sinh đẻ trên đất Cam Bốt. Gia đình ông đông người, nói được hai thứ tiếng Việt và Khmer, riêng hai ông bà Ba Minh nói tiếng Việt rành rẽ hơn các con. Cả nhà đổ dồn vào việc làm ăn trong ga-ra. Hai thợ chính là ông và đứa con trai lớn, cô con gái tên Phụng làm thợ phụ. Còn bà vợ ông, một người đàn bà có thân hình tròn mập, luôn ăn bận theo kiểu mấy bà Miên, với giọng nói ồm ồm, hay chưởi rủa con cái và người làm, thì lo chuyện chợ búa, cơm nước trong ga-ra chuyên sửa loại xe bốn bánh này. Công việc khá nặng nhọc, làm thợ phụ, tôi phải dùng sức là chính và làm bất cứ chuyện gì mà chủ cần mỗi khi có xe vô ga-ra. Phần lớn là xe đò chạy liên tỉnh, lúc đó, các loại xe hơi, xe du lịch rất ít. Tôi đã từng sinh sống bằng nghề lao động chân tay, nhưng làm thợ phụ xe là một nghề mới, do vậy hơi bỡ ngỡ. Tôi lại không có ý thích các nghề kỹ thuật, nay vì miếng cơm thì cứ làm, nhưng đầu óc luôn nghĩ đến chuyện khác, vì thế làm hay bị chậm tay và lâu biết nghề. Ông Ba Minh thuộc dạng người miệng nói tay làm, miệng bằng tay, tay bằng miệng. Nhiều lúc miệng mồm ông lanh quá thành ra hơi lươn lẹo. Người Cam Bốt thật thà, đôi khi dường như chậm chạp, chỉ dễ cho những người như Ba Minh qua mặt. Ở xóm người Việt gần đấy, nhất là đối với các chủ ga-ra bạn, ông Ba Minh còn có hỗn danh là “Chín Búa”. Theo ông Tám Phánh, một chủ tiệm hàn ở sát cạnh nhà ông Ba Minh, nói với tôi rằng, sở dĩ gọi Ba Minh với cái tên “Chín Búa”, vì khó mà “đập” chết cái tính lường gạt trong con người của ông ta, mặc dù đã bị búa tới chín nhát rồi! Trong các chủ ga-ra ở khu vực 310 còn gọi là khu “Pết chanh” tức khu nhà thương Tàu, Ba Minh là nhân vật khá nổi tiếng vì lối làm ăn chụp giựt, mánh khóe. Các chủ xe khi mang xe đến ga-ra Ba Minh sửa thường hay bị ông ta gạt tiền. Có lúc chủ giao xe và tiền mua phụ tùng thay thế, một tuần sau trở lại ga- ra lấy xe ra như theo lời hứa của Ba Minh, nhưng đến ngày lấy xe, bộ phận máy hư vẫn chưa được sửa, còn Ba Minh đi đâu không biết. Hỏi vợ ổng, bả cũng không rõ ông ấy đi đâu. Đến lúc kiếm được Ba Minh, thì tiền đã mất. có chủ xe giận, hoặc gặp lính Cam Bốt thì Ba Minh bị nện nhừ đòn. Song, sau đấy, tính nào tật nấy!

Làm ăn kiểu ông Ba Minh nên ga-ra không đắt khách như các ga-ra kế bên, và ông thường bỏ nhà đi vì những hợp đồng lắt léo, luơn lẹo như vậy. Có mặt tại ga-ra mỗi ngày chỉ có thợ chính, Hoàng, con trai lớn của ông và thợ phụ là tôi. Việc làm ăn ế ẩm vì mất uy tín. Và chủ, hẳn nhiên, cũng không có tiền trả cho thợ. Hàng ngày tôi đến ga-ra ngồi chờ coi có chiếc xe đò nào hư được kéo vào ga-ra hay không, ngoài việc để được ăn buổi cơm trưa, tôi cũng lóng ngóng dò hỏi việc làm mới, vì trước sau sẽ phải rời nơi này mà đi thôi. Phần ông Ba Minh, bị những người lầm tin ông, đánh đập nhiều lần, do tiền mất ruột đau. Lúc đó chuyện thưa kiện cũng ít, vì chắc số tiền ông ấy lường gạt người ta không nhiều lắm đến độ phải dắt tay nhau lên tòa. Thứ nữa, chính quyền Cam Bốt thời đó đang dựa vào Hà Nội nên cách giải quyết của những người mất tiền (dân bản xứ chiếm đa số) là “thanh toán sòng phẳng” giữa hai bên. Và lối giải quyết “mạnh tay” như vậy kéo dài trong một thời gian dài, khiến Ba Minh sinh ra bịnh, sức khỏe yếu đi! Các dụng cụ dùng sửa xe trong ga-ra bị mất dần dần, do các chủ xe bị gạt tiền, lấy để trừ nợ. Vì vậy khi có xe vào sửa, thợ không có đủ dụng cụ làm, chủ xe thấy vậy mang xe đi nơi khác. Tình cảnh ga-ra ông ta cứ bế tắc từ từ.

Rời khỏi nhà ông Ba Minh, tôi qua tiệm hàn ông Tám Phánh ở ngay bên cạnh, công việc tại đây cũng mệt nhọc không thua gì khi làm trong ga-ra. Thông thường, ở gần các ga-ra sửa xe, có lẻ tẻ mấy anh thợ gò (thợ làm đồng), thợ hàn. Các tay thợ này nhận sửa các bộ phận khác, ngoài máy xe. Khác với Ba Minh, ngoài thân hình thấp mập, ông Tám có lối cư xử khôn khéo đối với khách hàng và người làm mướn cho ông. Tuy nhiên, không ai thương mình bằng chính mình, chủ tiệm hàn Tám Phánh có lối ăn chận, ăn bớt kín đáo hơn. Và không ngần ngại gì khi cần lạm dụng sức lao động của người làm thuê. Tôi âm thầm hiểu ra thực tế “bình thường” này, sau khi vào làm công trong tiệm hàn Tám Phánh được thời gian ngắn. Trong mấy tháng đầu khi mới đặt chân lên Cam Bốt, tôi đã vất vả làm lụng kiếm sống qua ngày. Từ mờ sáng phải đi bộ tới chỗ làm, trưa ăn cơm vừa xong thì phải làm tiếp, trời gần tối mới về đến nơi ngủ tạm ở tận lầu tư.

Làm mệt nhưng tiền kiếm được không bao nhiêu, và việc dò tìm manh mối, lần đường đi qua đất Thái vẫn chưa có tin tức gì đáng phấn khởi, khiến tôi muốn đổi một nghề mưu sinh thích hợp với khả năng và sức khỏe mình hơn, nên phải “trụ” lại xứ này một hoặc hai năm nữa. Gần nơi tôi làm mướn, có một xóm nhỏ chừng vài chục gia đình đồng bào mình mới từ Việt Nam trở về Nam Vang sinh sống được chừng 2 năm, sau khi chạy bỏ xứ này lúc quân “giải phóng” Khmer đỏ kéo vào PhnomPenh. Phần đông họ kiếm sống bằng nghề mua bán nhỏ dọc theo lề đường hoặc trong các căn nhà được thuê lại từ người Kampuchea, như bán cà phê, thuốc lá, bán bánh mì thịt, bán nước mía, làm thợ may v.v… Nhiều người gốc Việt sống ở đất Cam Bốt từ lâu, vì chiến tranh hay vì “cách mạng” hoặc vì tình trạng phân biệt chủng tộc buộc phải rời nơi đây về lại Việt Nam, thế nhưng khi có cơ hội, số đồng bào này lại tìm đường trở lại quê hương thứ hai vì đã quen thuộc cuộc sống nơi đây.

Trong cuộc đời, nhiều hình ảnh đến với ta phút chốc rồi bay xa, không để lại dấu vết gì, như khói như mây, đôi khi ngược lại có hình ảnh nào đó thoáng qua, nhưng sau đấy đọng mãi trong ta! Một buổi trưa, ở nhà ông Tám Phánh, khi ăn cơm xong, trời nóng nực, tôi ra sân đứng dưới bóng mát của cây vú sữa cao lớn gần đó, chợt thấy một cô gái vừa đi vừa giơ bàn tay phải lên che mặt, chắc vì ngại ánh nắng ăn vào làn da trẻ trung, cô đi gần chiếc xe đò hư đang nằm chờ sửa, cách nơi tôi đứng khoảng vài thước. Dáng cô thon thả, bước đi khép nép, pha ít bẽn lẽn trên gương mặt đẹp hiền hậu. Cô mặc chiếc áo bà ba dài tay đã được cắt sửa lại một chút theo thời trang cùng với cái quần sa-tanh đen không còn mới. Sự xuất hiện thoáng qua của cô gái tuổi đôi mươi mang dáng dấp rất Việt Nam trên miền đất xa lạ đang hừng hưc ̣ ánh nắng mùa hè này khiến lòng tôi xao động trong giây phút. Cái xao xuyến chợt đến nhanh chóng vì bị thôi thúc tìm về những hình ảnh gần gũi của quê hương Việt Nam. Hơn nữa với tâm trạng đang trống trải, cái vóc hình dễ thương đó làm tôi ngây ngất trong hương vị tình yêu chơt đến, mặc dù chỉ lần đầu nhìn thấy cô gái và chưa nói chuyện gì với nhau. Kể từ ngày đó, dù đang bận việc trong tiệm hàn Tám Phánh, mắt tôi cứ ngó chăm chú về phía căn nhà lá, nơi cô gái đã đi vào bữa trưa hôm ấy. Công viêc bi ̣xao lãng đi khá nhiều chı̉ vı̀ hı̀nh bóng môt nữ nhân. Sau nhiều ngày dò hỏi, tôi mới biết tên cô gái xuân thı̀ là Bích Ngọc. Gia đình cô gồm có bà mẹ và nhiều anh chị em. Như hầu hết gia đình đồng bào gốc Việt nơi đây, nhà Ngọc chỉ vừa xây dựng lại cuộc sống mới sau hơn 6 năm bỏ Cam Bốt chạy về Việt Nam tìm đất nương náu…

Cam Bốt Truớc Tháng 4/1975. Theo lời kể của Ngọc và bà mẹ cô, gia đình nàng vào khoảng năm 1970 sinh sống tại Nek Loeng bằng nghề buôn bán. Nhà có một tiệm bán cơm và nước giải khát khá lớn tại chợ Hố Luơng. Ông thân cô là người Hoa lai người Khmer, mẹ cô là người Việt sống lâu đời trên xứ chùa háp. Sau cuộc đảo chánh ngày 18/3/1970 tại Nam Vang do tướng Lon Nol và Hoàng thân Sirik Matak tổ chức nhằm lật đổ ông Sihanouk. Sirik Matak là người có quan điểm cực kỳ bảo thủ, vào năm 1941, ông bị thực dân Pháp gạt qua để chọn người anh em họ của ông là Hoàng thân Sihanouk lên ngôi Vua. Chiến tranh Quốc – Cộng ở Cam Bốt bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết. Hố Lương không còn là nơi yên lành để làm ăn buôn bán, đạn pháo kích của Miên cộng rơi vào thị trấn nhỏ này thường xuyên hơn. Người anh thứ ba của Ngọc đã bị chết vì đạn pháo, gia đình nàng rời Hố Lương về Nam Vang tìm cuộc sống mới.

Theo các nhân chứng còn sống và những số liệu ghi lại thời kỳ này cho thấy, từ tháng 3/1974, quân Khmer đỏ đã chiếm cố đô Odong ở hướng tây bắc Nam Vang, thẳng tay triệt phá mọi thứ ở nơi này. 20.000 cư dân ở Odong bị Miên cộng lùa về miền quê, nhiều công chức, nhà giáo bị hành quyết. Red Khmer, từ ngữ này do ông Sihanouk sử dụng từ những năm 1960 để chỉ chung những người cộng sản Cam Bốt sau này hai chữ Khmer Đỏ được dùng khi nói tới lực lượng do Pol Pot lãnh đạo. Thật ra đây là một bộ phận cực đoan nhất trong phong trào cộng sản Cam Bốt. Cũng trong cùng năm đó, tại làng Sar Sarsdam ở tỉnh Siêm riệp (Siemreab), quân Khmer Đỏ tấn công vào làng rồi mở cuộc tàn sát dân lành, 60 người bao gồm đàn bà, trẻ em đã bị giết thảm thương! Một biến cố tương tự như thế đã xảy ra tại thị trấn Ang Snoul, nằm về phía bắc thủ đô PhnomPenh. Đây quả là các cuộc khủng bố quy mô và “không phân biệt”. Điều này cũng đã xảy ra ở Phước Long, Buôn Mê Thuột vào những tháng đầu năm 1975 trước khi cộng quân cưỡng chiếm Sài Gòn.

Thực sự, bộ mặt đảng cộng sản Cam Bốt đã bị lột trần vào năm 1973 qua cuốn sách “Thương Tiếc Cho Linh Hồn Khmer” của ông Ith Sarin, một nhân viên quản trị trường học tại thủ đô. Trước đó, ông Ith Sarin bất mãn với nền cộng hòa non trẻ nhưng nhiều đồi trụy dưới quyền Tổng thống Lon Nol nên đã bỏ vào mật khu Khmer Đỏ, sau 9 tháng sống trong khu, ông trở thành đảng viên dự bị của đảng cộng sản Cam Bốt, nhưng sau đấy, ông Ith Sarin đã lại tìm đường quay về thành phố khi âm thầm phát hiện ra “sự thật”.

Trong tác phẩm “Thương Tiếc Cho Linh Hồn Khmer”, từ kinh nghiệm bản thân, ông Ith Sarin viết lại rằng: tại các phần đất đang bị Khmer Đỏ kiểm soát, người dân phải sống theo khuôn khổ chặt chẽ dưới quyền Angkar (tổ chức đảng). Angkar nắm trọn quyền hành ở các lãnh thổ này, kể cả quyền sinh sát mang ̣ dân! Dân cư trong khu được nhồi nhét lòng căm thù chế độ cộng hòa Lon Nol, Mỹ, và ngay cả “đồng chí Bắc Việt”. Và mọi người dân còn được giáo dục trở thành các tình báo viên, chỉ để theo dõi lẫn nhau.

Cuốn sách kết luận, đa số nhân dân ở vùng “giải phóng” đều không thích Angkar cùng lối sống tập thể mà tổ chức đảng áp đặt. Họ bày tỏ kín đáo sự ủng hộ chế độ Lon Nol. Nếu chế độ này thực hiện cuộc cải cách xã hội thực sự. Đây có thể được xem như lời tiên đoán trước cơn bão dữ mà cả dân tộc Khmer bị nó làm lung lay cội rễ và ngả nhào kể từ ngày 17/4/75.

Những câu chuyện tội ác do Khmer Đỏ, Việt Cộng gây nên trong cuộc chiến tranh xảy ra ở Nam Việt Nam và Cam Bốt lại được phần không nhỏ các nhà báo có trı̀nh đô ̣“quốc tế”, các nhà quan sát phương Tây “tiến bô”, ̣ những nhân định gia, bı̀nh luân gia thời danh coi đó là một lối tuyên truyền chống cộng. Mỉa mai thay, đáng khinh thay, nhuc nhã thay khi những “trí thức” này nhận chân ra được thì có hơn 1 triệu đầu lâu Khmer nằm rải rác trên các cánh đồng xứ chùa tháp. Hay trong những trại tù man rợ có hı̀nh bóng của trai tù thời trung cổ xa xăm. Và tại Việt Nam, hàng triệu người vượt biên, vượt biển ra đi tìm tự do. Còn những kẻ trong phong trào “phản chiến” một thời, nay quay ra ân hận! Nhưng chỉ bày tỏ vài lời ân hận thôi sao?

Nam Vang Rơi Vào Tay Giặc.

Vào cuối năm 1972, khi các sư đoàn chủ lực của Bắc Việt và “quân giải phóng miền Nam” rút ra khỏi chiến trường Cam Bốt, quân đội cách mạng Kampuchea, lúc ấy có chừng 50.000 tay súng, do Pol Pot thành lập hồi năm 1968. Đến đầu 1970, lực lượng võ trang này đổi tên là Lực lượng Võ Trang Giải Phóng Nhân Dân Kampuchea. Tới năm 1979, nó lại đổi thành Quân Đội Quốc Gia Kampuchea Dân Chủ. Đạo quân này được vũ trang bằng ba cách. Nhận viện trợ súng đạn từ các đồng chí lớn trong phe cộng sản, hai là tịch thu súng đạn từ đối phương sau những trận đánh, nhưng nguồn cung cấp thứ ba dồi dào hơn, đó là mua võ khí từ quân đội Lon Nol. Quân đội Cộng Hòa Lon Nol được cấu thành phần lớn từ Lực Lượng Võ Trang Quốc Gia Khmer. Tiền thân của đội quân này là Lực Lượng Võ Trang Hoàng Gia Khmer được thành lập sau khi Cam Bốt tuyên bố độc lập vào năm 1953. Quân đội Cộng Hòa Lon Nol vào đầu năm 1975, trên giấy tờ có khoảng 230.000 quân, nhưng thực tế chỉ có độ 150.000 quân. Tổng số tiền do Hoa Kỳ viện trợ, trang bị cho quân đội này lên tới 1.18 tỷ Mỹ kim. Khi lên tới đỉnh điểm của cuộc chiến tranh Quốc- Cộng, quân Khmer Đỏ có độ 68.000 người. Ngoài vũ khí, các chiến binh này còn được tổ chức đảng nhồi nhét một lòng cuồng nhiệt không giới hạn. Vào tháng giêng năm 1975, quân Miên cộng mở chiến dịch tấn công mùa khô nhằm đánh dứt điểm thủ đô Nam Vang đang bị bao vây. Lúc đấy, cộng quân đã kiểm soát các bờ con sông Mekong dẫn về thủ đô, tạo rất nhiều khó khăn cho việc cung cấp vũ khí, đạn dược, nhiên liệu và lương thực cho thành phố Nam Vang đang chết đói dần dần.

Đầu tháng 2/1975, Khmer Đỏ đã gần như kiểm soát hoàn toàn đoạn sông Mekong sát khu vực thủ đô PhnomPenh. Không quân Mỹ bắt đầu mở chiến dịch không vận để tiếp tế cho thành phố, nhưng nhiều rủi ro, nguy hiểm, vì hỏa tiễn của địch từ dưới đất bắn lên. Giống như Sài Gòn sau đấy gần nửa tháng, Khmer Đỏ đã rót liên tục, dồn dâp từng hàng loat đạn pháo vào thủ đô PhnomPenh, gây hoang mang, chết chóc cho cư dân tại chỗ cùng quá nhiều người tị nạn từ các tỉnh đổ về thủ đô tránh chiến tranh đang lan ra cực nhanh và ác liệt. Nhiều đơn vị quân chính phủ Lon Nol tuy hết đạn dược, nhưng vẫn anh dũng trụ tại chiến hào kháng cự cộng quân tới hơi thở sau cùng. Những anh hùng trong nỗi niềm cô đơn này đã gây một ấn tượng sâu đậm đối với nhiều nhà quan sát người Mỹ đang có mặt ở Nam Vang lúc đó. Mà vốn không ít người trong thành phần này thường có cái nhìn chưa chính xác – về sự chiến đấu gan dạ, lòng yêu nước, yêu tự do nồng nàn của quân đội chính phủ Lon Nol. Điều này cũng đã xảy ra cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Đây là bài học cho chính nước Mỹ! Một quốc gia đã hào hiệp gởi con em của họ đến xả thân chiến đấu giúp các quốc gia nhỏ bé ở tận Châu Á xa xăm hòng cứu nền Tự Do đang bị vây hãm, xâm lấn, triệt tiêu bởi sự duy ý chí thái quá, bởi lòng cuồng nộ, bởi niềm hoang tưởng phi lý của người cộng sản! Thế nhưng đáng tiếc thay, mâu thuẫn thay, có những chiến binh Hoa Kỳ đã anh dũng chiến đấu, và rất nhiều người đã nằm lại vĩnh viễn trên chiến trường Đông Dương, nhưng vẫn có không ı́t người Mỹ hiểu sai về cuộc chiến tự vệ của miền Nam Việt Nam hay của nền Cộng Hòa Khmer. Đó có phải vì sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Mỹ – Việt? Hay vì hệ thống tuyên truyền một chiều, tinh vi, mị dân của khối cộng đã lừa được không ı́t dân Mỹ? Đó có phải là vì chính miền Nam hoặc chính chế độ Lon Nol đã không làm sáng tỏ được chính nghĩa của chế độ của mình? Có lẽ sự thối nát, tham nhũng đầy tràn trong guồng máy cai tri, ṣự bất lương, bất tài, đê tiên c̣ủa lanh đạo chế đô ̣Công Hòa Lon Nol và nền Công Hòa ở miền Nam Viêt Nam đã góp phần cho sự trưởng thành của con quái vât c̣ông sản Khmer và Hà Nội. Người Việt chúng ta cũng nên tự rút tỉa bài học trong quá khứ trước 1975. Lịch sử bước đi không quay lại, nhưng mỗi chặng đường lịch sử đã qua đều chỉ ra cho chúng ta những kinh nghiệm cần phải khắc sâu. Tất nhiên kinh nghiêm vừa qua vào thâp niên 1970 là kinh nghiêm đầy máu. Và chắc rằng không ai yêu tự do của chúng ta bằng chính ta.

Cuộc tấn công vây hãm thủ đô Nam Vang của Khmer Đỏ đã bước sang đến tháng tư năm 1975. Vào ngày 1/4, Tổng thống Lon Nol từ chức và lên máy bay rời khỏi nước. Trong thời gian này, quân Khmer Đỏ đã lên án những nhà lãnh đạo chế độ Cộng Hòa là những tên “phản bội“. Ngoài Tướng Lon Nol còn có các ông: Hoàng thân Sirik Matak, ông Sơn Ngọc Thành, ông In Tam, Thủ tướng Long Boret, ông Cheng Heng (ông này đã từng giữ cương vị nguyên thủ quốc gia Cam Bốt ngay sau khi ông Sihanouk bị đảo chính), Tướng Sosthene Fernandez – tư lịnh Lực Lượng Võ Trang Quốc Gia Khmer, và ông Saukham Khoy – người nắm quyền Tổng thống thay cho Tướng Lon Nol, vừa ra đi khi quốc gia đang cơn biến loạn. Những cố gắng vào giờ phút cuối cùng của chính quyền Hoa Kỳ trong việc dàn xếp một thỏa hiệp hòa bình cho xứ chùa tháp có sự tham dự của Hoàng thân Sihanouk đã kết thúc trong thất bại. Ngày 12/4, các nhân viên làm việc tại tòa đại sứ Mỹ được lệnh di tản khỏi Nam Vang bằng trực thăng. Viên đại sứ Hoa Kỳ ở PhnomPenh lúc đó là ông John Gunther Dean đã mời các viên chức cao cấp của Cộng Hòa Khmer cùng lên trực thăng di tản ra nước ngoài với người Mỹ trước khi thành phố này bị giặc cộng tràn ngập. Thế nhưng các ông Sirik Matak, Long Boret, Lon Non (người anh em của Tổng thống Lon Nol) và hầu hết những thành viên trong nội các chính quyền Lon Nol đều đã từ chối lời đề nghị giúp đỡ ra đi. Những vị này đã chọn một giải pháp: ở lại để cùng chia xẻ với vận mệnh đen tối của dân tộc họ! Tất cả đều bị Khmer Đỏ hành quyết ngay sau khi chúng vào được Nam Vang ngày 17/4/1975!

Ôi! Hào hùng thay những người con trung hiếu với dân, với nước trong cơn đại nạn binh lửa! Ôi! Đáng khâm phục thay những người chọn cách hành động can đảm trong giây phút quyết định nhất, khi quyết tâm cứu vãn đại cuộc không thành! Đời người ta chỉ có một lần sinh, một lần tử. Khi được sống trên quê hương mình, sống cho quê hương mình và chết trong mảnh đất quê hương là niềm Hạnh Phúc lớn lắm vậy!

Khmer Đỏ Xây Dựng “Thiên Đường” Trên Xứ Chùa Tháp

Theo truyền thống dân tộc Khmer, ba ngày liên tiếp vào giữa tháng tư hàng năm là thời gian đón Tết dân tộc. Nhưng tháng 4/1975, mọi người dân chuẩn bị ăn Tết trong nỗi lo sợ cùng cực vì biến chuyển của chiến tranh. Ngày 17/4, sau cái Tết cổ truyền vừa đúng một ngày, từng đơn vị quân Khmer Đỏ với bộ đồ đen, khăn rằn đỏ quấn cổ, nét mặt chúng im lặng chứa đầy sát khí, kéo vào đường phố Nam Vang từ nhiều hướng chung quanh thủ đô. Ngay sau đó lệnh Angkar ban xuống cho tất cả dân cư trong thủ đô phải rời bỏ thành phố vì “đế quốc Mỹ sẽ trở lại bỏ bom”: Việc di tản chỉ xa thành phố chừng 2 hay 3 cây số và sẽ trở lại nhà cũ trong vòng 2, 3 ngày mà thôi!? Lịnh Angkar bên Cam Bốt sao giông giống lịnh của “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam” khi kêu gọi các sĩ quan miền Nam đi học tập cải tạo: Chỉ đi học tập 10 ngày, sau đó sẽ trở về sum họp với gia đình. Thế nhưng đau đớn, oán hận thay, có những vị sĩ quan ra đi từ ngày đó đến hơn 15 năm sau mới trở về với gia đình, có người đã nằm lại ở nghĩa trang tạm bợ, quanh hiu, hoang ̣vắng, điêu tàn trong các trại tù cải tạo.

Đúng là nhất quán trong đường lối chỉ đạo cách mạng của phong trào cộng sản thế giới. Nhưng liệu sự nhất quán này có giữ được mãi? Chưa đầy 4 năm sau, những điều thường tình nhất trong nhân sinh – mà “cách mạng vô sản” vì muốn lừa mị con người nên cố che dấu – đã xảy ra trong khối cộng. Cụ thể là cuộc chiến tranh giữa hai thành viên trong đảng cộng sản Đông dương: Cam Bốt và Hà Nội. Chỉ vì quyền lợi phe đảng. Chỉ vì tham vọng cá nhân. Chỉ vì sự sai lầm vốn có của con người mà ra. Nam Vang lúc ấy có chừng 2 triệu 500 người bao gồm luôn cả 1,5 triệu người tị nạn từ các nơi đổ về chạy trốn chiến tranh. Tất cả phải ra đi, không loại trừ một ai, kể luôn những bệnh nhân đang nằm trong bịnh viện điều trị! Nhà cửa, tài sản để lại đã có Angkar “chăm sóc”, không phải sợ mất mát gì hết. Từng dòng người đông nghẹt, nhốn nháo, ̣đầy lo âu, sợ sêt. Xe hơi có, xe bò có, xe đạp có. Nhưng phần nhiều là lội bộ, tay mang, lưng vác, vai gánh tất cả những thứ gì có thể sử dụng được trên đường đi, hoặc những gì còn cất dấu được, hoặc những gì có thể nuôi sống con người được. Moi người dân – nạn nhân muôn đời của bao cuộc chiến tranh phi lý, tàn nhẫn – hối hả, cuống cuồng đi nhanh ra khỏi thành phố, hướng về miền quê hay hướng về tương lai bất định? Hay hướng về cõi chết… cách trước mắt vài chuc cây số đường? Các lãnh đao Khmer đỏ trong thời kỳ nắm quyền lưc.̣ Pol Pot đứng bên trái tấm hình. Ngoài Nam Vang, nhiều nơi khác như Battambang, Kampong Cham, Siêm Riệp, Kompong Thom v.v… cùng chung số phận. Gia đình Ngọc vào trước năm 1975 đã có nhà cửa, tài sản tuy không giàu có lắm nhưng bảo đảm cho gia đình một cuộc sống đủ ăn, sung túc. Ông thân cô, một người Hoa pha dòng máu Khmer ngoài việc mở ra các cơ sở buôn bán nuôi sống gia đình, ông còn có nhiều quen biết với những người làm việc trong guồng máy công quyền trong thời Lon Nol. Gia đình Bích Ngọc năm đó gồm song thân nàng, sáu chị em gái và ba em trai, cô là thứ sáu trong nhà. Đứa em gái nhỏ nhất là Minh Nguyệt, năm ấy mới chừng 6 hay 7 tuổi, còn Ngọc độ 15 tuổi. Cả nhà đã khăn gói ra đi theo lịnh Angkar, hòa vào dòng người đang tuôn ra khỏi Nam Vang, đi qua cầu Sài Gòn, xuôi theo hướng Đông đến tỉnh Prey Veng, giáp với biên giới Việt Nam.

Theo lời Ngọc kể lại, lúc đó không ai còn tỉnh táo để chọn hướng đi, cứ ra khỏi nhà và nhập theo đoàn người trước mặt. Không ai dám ở lại, không ai dám chần chừ, nấn ná thêm thời gian ở trong thành phố thân quen, vì sát khí đằng đằng của kẻ chiến thắng mới tới. Đoàn người bị tân chính quyền trục đuổi di chuyển rất chậm chạp khi vừa ra khỏi thành phố, vì quá đông nhưng không ai biết rõ là bao nhiêu người đang đi trên con đường này. Lấy Nam Vang làm trung tâm điểm, có 5 quốc lộ chạy ra 5 hướng. Hướng Đông và Đông Nam đi về biên giới Việt Nam có hai con đường. Hướng Nam có một đường chạy về tỉnh KampongSom ở sát vịnh Thái Lan. Hướng Bắc và Tây – Bắc có hai đường chạy về tỉnh Kampong Cham và biên giới Thái Lan.

Đoàn người bị chế độ xua đuổi di chuyển chậm chạm không phải chỉ vì quá đông không thôi, mà còn vì bàng hoàng, kinh sợ. Những người dân thành thị này chưa từng phải đi bộ trên quốc lộ dài hun hút, lê thê, trong cảnh đói ăn. Nước uống phải kiếm dọc theo đường, trong thời tiết tháng tư đang mùa nắng gắt. Đêm phải chen chúc nhau ngủ trên bãi cỏ, nương rẫy hay cạnh gò đất. Không chăn mền, không giường chiếu, chỉ có chiếc mùng trời. Thuốc men trị bịnh lại không thể kiếm được. Rời khỏi thủ đô mấy ngày, gia đình Ngọc mới đi tới xã Kiên Svai cách Nam Vang khoảng 15 cây số về hướng đông. Tại đây ông thân cô ngã bịnh vì già yếu, lại uất ức bị mất trắng cả tài sản mà cả đời ông làm lụng vất vả mới tạo nên được. Mới ngã bịnh, gia đình còn dìu ông đi được, nhưng sau đó mấy ngày, bịnh tình nặng thêm. Ông cụ không còn sức bước tiếp được nữa, thuốc men điều trị lại vô cùng hiếm. Sau cùng, ông đã ra đi giữa cảnh hỗn loạn, tuyệt vọng của đám người di tản! Bà mẹ Ngọc cùng các con đã vội đào một lỗ huyệt sơ sài bên đường chôn cất ông. Rồi lại vội vãlên đường cho kịp với đám đông đang hấp tấp rời xa thành phố một cách miễn cưỡng. Sau hơn 15 năm, theo như lời Ngọc kể lại cho tôi biết, cô có trở lại nơi ông cụ nằm xuống trước đây, nhưng khó nhìn ra địa điểm, vì dân cư giờ đây sinh sống đông đúc ngay trên nấm mồ được đào quá cạn bên lề đường.

Cái chết của người cha Ngọc chỉ là một trong vô số những cái chết khác của người dân Khmer trong những ngày bị lùa ra khỏi thành phố. Dẫu sao gia đình Bích Ngọc và nhiều gia đình gốc Việt cũng còn may mắn hơn những người Khmer khác, vì nhờ biết tiếng Việt, nên còn tìm đường đi đến biên giới Việt Nam để nương náu ở nơi đây trong gần 5 năm. Trong khi đó đại đa số cư dân thành phố mà Khmer Đỏ định nghĩa là thành phần “dân mới” bị cưỡng ép phải làm việc trong các trại lao động khổ sai để rồi phần lớn gục ngã do kiệt sức trên những cánh đồng hợp tác theo mô hình xã hội chủ nghĩa, mà “lãnh tụ“ PolPot đã kính cẩn cố học từ các đàn anh cộng sản!

Những lời hứa với dân chúng khi mới vào thành phố Nam Vang: “Di tản để tránh bom Mỹ và sẽ trở lại trong vòng ba ngày” mãi mãi không bao giờ được tân chế độ thực hiện. Bởi vì đây là chủ trương của phe cứng rắn trong đảng cộng sản Miên do PolPot cầm đầu. Đối với phe này, dân cư trong thủ đô, cũng như tại các thành phố khác trên lãnh thổ quốc gia là loại dân không đáng cho “cách mạng” tin cậy, do vậy phải trục đuổi họ ra xa thành phố để nhường chỗ lại cho thành phần dân cư ở nông thôn đáng tin cậy về mặt chính trị hơn, bởi phần lớn nông dân đã từng sống trong vùng giải phóng, nên đã qua sàng lọc từng đối tượng. Ngoài ra, theo quan điểm của phe cứng rắn, việc trục đuổi thị dân còn có mục đích quét sạch các “ổ gián điệp do Mỹ – ngụy” cài lại nhằm chống phá “cách mạng”. Lý do sau cùng, không kém quan trọng đối với suy nghĩ của những đồng chí ở trong cùng phe PolPot: làm thay đổi, xáo trộn đời sống cư dân tại thủ đô nhằm tiêu diệt bớt vây cánh của phe ôn hòa hơn trong cùng một đảng. Hàng ngàn đầu lâu của những nạn nhân Khmer Đỏ đươc chất chồng trong khu vưc̣ tưởng niêṃ tai c̣ánh đồng chết mang tên Choeung Ek ở ngoai ộ PhnomPenh. Vừa khi tân chế độ “tiếp quản” các “vùng giải phóng mới” rất nhiều công chức, sĩ quan, binh lính trong chế độ Lon Nol bị chính quyền mới bắt giữ và sau đấy họ bị hành quyết. Do vậy, nhiều người có liênhệ gần gũi với chế độ cũ hoặc là thị dân có tiền đã phải cải trang thành nông dân để che mắt “cách mạng” hầu tránh khỏi cái chết oan ức. Mấy ngày sau khi thành phố Nam Vang rơi vào tay giặc, hơn 300 sĩ quan quân đội của chế độ Cộng Hòa Khmer bị chính quyền mới kêu gọi tập hợp lại để đi gặp Hoàng thân Sihanouk, nhưng thực ra số sĩ quan cũ này bị Khmer Đỏ lùa đi tới một khu rừng rậm thuộc tỉnh Battambang và rồi…tất cả đã bị bắn hay bị đập gậy vô đầu cho tới chết!!

Như thế đã thôi đâu, vợ con những người từng làm việc cho chế độ cũ cũng không được chính quyền mới tha cho. Câu nói “nhổ cỏ phải nhổ cho tận gốc” đã được Khmer Đỏ thực thi nghiêm chỉnh để tránh “hậu hoạn” cho chế độ. Những cảnh giết chóc trên chỉ là màn sơ khởi khi Khmer Đỏ mới bước chân vào PhnomPenh. Khi chế độ đã thiết lập xong, trại tù mọc tràn lan khắp đất nước, những cuộc lùng giết được thực hiện một cách kỹ lưỡng và quy mô hơn. Những người dân thường hay gọi theo cách của Khmer Đỏ là “thành phần dân mới” bị tập trung lao động trong các trại cải tạo đã bị cưỡng bức làm việc quá mức. Và sau cùng nhận bản án tử vì những lý do vu vơ do bọn cai ngục, đám quản giáo trại cải tạo tìm đủ mọi cách nại ra. Thành phần trí thức, có học là thành phần rất dễ bị chế độ mới mang ra xử tội.

Để tiết kiệm đạn, súng ít khi được xài tới. Nạn nhận thường bị đập bằng cuốc, xẻng, búa, cây. Sau đó thi hài được bỏ vào bọc ni long. Đây là quang cảnh hàng ngày, diễn ra bình thường trong các trại tập trung lao động. Dưới sự giám sát chặt chẽ của đám tay chân được Angkar tín nhiệm, hạng “dân mới” đang lao động khổ sai sẽ bị “mời đi” (từ ngữ này trong thời đó đồng nghĩa với bản án tử) hay khi nhận lời cảnh báo, vì đã không làm việc chăm chỉ theo lệnh Angkar, vı̀than phiền điều kiện sống, vı̀đi kiếm hay ăn cắp thực phẩm để ăn một mình, vı̀dám mang vòng vàng chuỗi hột (đồ trang sức) trong mình, vı̀ có liên hệ tình dục, vı̀ tỏ lòng thương tiếc thân nhân bè bạn đã chết. Hay vì đã dám bày tỏ lòng tin tôn giáo khi đang sống trong vòng tay Angkar. Và bản án này không cần qua một thủ tục xét xử pháp lý sơ đẳng nhất. Bởi vì sinh mệnh con người thuộc về quyền lực tuyệt đối của Angkar. Đảng phán chết thì phải chết, tổ chức thương hại cho sống thì may mắn cho người đó. Dân đen không làm chủ vận mệnh, cuộc đời mình trong xã hội do Angkar, do đảng cầm quyền. Đây quả là điều hết sức khốn nạn cho nhân dân ba nước Đông dương từ tháng 4 /1975!!

Con số ước lượng những nạn nhân bị giết chết dưới thời Khmer Đỏ cầm quyền rất lớn nhưng lại chênh lệch từ mỗi nơi đưa ra. Hà Nội, kẻ đã dựng lên chính quyền bù nhìn Heng Sam Rin – Chia Sim – Hun Sen sau khi lật đổ Pol Pot, trưng ra con số 3 triệu người chết trong thời gian từ 1975 tới 1979. Con số do Hội Ân Xá Quốc Tế đưa ra là có chừng 1 triệu 4. Về phía Hoa Kỳ ước lượng khoảng 1.200.000 người bị giết.

Hai sát thủ hàng đầu của chế độ: Pol Pot và Khieu SamPhan lại đưa ra các con số chỉ từ một triệu xuống tới 800.000 người vô tội bị sát hại trong lúc họ còn cầm quyền. Chế độ Kampuchea Dân Chủ đã trực tiếp hành quyết chừng một triệu người dân. Số còn lại chết là do bị bỏ đói, bị kiệt sức trong các trại lao động tập thể, bị sốt rét mà không có thuốc chữa trị, bị chết khi đang trên đường di tản khỏi thành phố, bị chết do thú dữ sát hại do chế độ lùa người dân vào sống gần rừng núi, bị chết trong cuộc chiến giữa hai cựu đồng chí Hà Nội – Pol Pot vào thời gian 1978 – 1979. Trực tiếp hay gián tiếp, sinh mạng của gần hai triệu sinh linh Khmer phải do chế độ Kampuchea Dân Chủ chịu trách nhiệm! Cần nhớ lai rằng vào năm 1962 qua đợt thống kê dân số lần cuối trước khi Cam Bốt bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh Đông Dương, quốc gia này đã có khoảng 5 triệu 700 ngàn người. Mười năm sau, tức vào năm 1972 dân số trong cả nước leo lên tới 7,1 triệu. Nếu chúng ta dùng con số “khiêm nhường“ nhất do Pol Pot đưa ra là 800.000 người, thì trong thời gian Khmer Đỏ cầm quyền từ 1975 tới 1978, chế độ đã ra tay sát hại hết 11% dân số trong nước! Còn nếu chúng ta dùng con số 1 triệu 400 ngàn do Ân Xá QuốcTế đưa ra thì số lượng người dân bị chết chiếm tới 20% dân số quốc gia! Đây là một cuộc cách mạng man rơ, đ̣ ẫm máu nhất trong lịch sử Châu Á hiện đại. Tham vọng, đúng hơn là cuồng vọng của Pol Pot, là biến đất nước Cam Bốt thành một quốc gia cộng sản không đi qua một giai đoạn chuyển tiếp như các đàn anh Liên sô, Trung cộng, Hà Nội đã làm. Nói tới từ “cuồng vọng” tôi lại nhớ đến một buổi tối đầu tháng 5/1975, khi đi lang thang buồn chán trước tòa nhà Quốc Hội cũ nằm trên đường Tự Do – Sài Gòn, tai tôi nghe loa phóng thanh đặt ở thân cây gần đó phát đi bài nói chuyện của Trần Văn Trà, Thượng Tướng Việt Cộng kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Tôi còn nhớ như in lời hăm dọa của ông Trà đối với các thế lực ủng hộ hay còn sót lại của Miền Nam “Đừng hòng nuôi cuồng vọng chống phá hay lật đổ chính quyền cách mạng”.

Giờ đây ông Trà đã nằm yên dưới lòng đất lạnh như bao con người khác, để không được biết (thực ra lúc ông này còn sống đã biết nhưng muốn lờ đi vı̀ cố ý chứ không phải ngu si) ước vong, khát vọng chứ không phải cuồng vọng của dân tộc Việt Nam là muốn được sống trong Tự Do – Phú Cường và thanh bình, yêu thương nhau. Những điều này các dân tộc khác đã thụ huởng từ lâu mà không cần phải chọn con đường cách mạng vô sản long trời lở đất như ông Trà và các đồng chí của ông từng nuôi cuồng vọng thực hiện trên quê hương Việt Nam.Nghèo nhất và nhỏ bé trong thế giới cộng sản, thế nhưng Pol Pot lại muốn phát động cuộc cách mạng vô sản triệt để hơn các đồng chí khác. Trong hiến pháp Kampuchea Dân Chủ ghi rõ: Cam Bốt trong thời tiền cách mạng bao gồm 5 giai cấp trong xã hội là nông dân, công nhân, tiểu tư sản, tư bản và phong kiến, sau cách mạng, xã hội Cam Bốt chỉ còn lại 3 thành phần: nông dân, công nhân và các thành phần lao động khác. Cũng trong hiến pháp Kampuchea Dân Chủ, Cam Bốt không đồng ý cho phép các thành phần địa chủ và tư sản yêu nước thể hiện vai trò của họ trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc đã làm. Trong một đoạn tài liệu do ông Sihanouk viết: vào năm 1975, ông Sihanouk, Khieu Samphan và Khieu Thirith đã tới Bắc Kinh viếng thăm Chu ân Lai, lúc đấy đang bị bịnh nặng. Trong buổi họp mặt đó, họ Chu cảnh báo là chớ có nên mong muốn tiến đến chủ nghĩa cộng sản một cách đột biến bằng “bước đại nhảy vọt”, không thông qua giai đoạn trung chuyển, như Trung Quốc đã thử nghiệm mà sau đấy đã dẫn tới các hậu quả xấu không lường vào cuối thập niên 1950.

Cũng theo đoạn tài liệu của ông Sihanouk viết, khi nghe họ Chu già cả bịnh hoạn khuyên nhủ, Khieu Samphan và Khieu Thirith (người vợ lớn của Pol Pot) chỉ mỉm miệng cười một cách hợm hĩnh, hoài nghi. Về sau này, Khieu Samphan và Son Sen đã phách lối nói với ông Sihanouk rằng: “Chúng ta sẽ là quốc gia đầu tiên tạo ra một xã hội cộng sản hoàn toàn mà không lãng phí thời giờ vào các giai đoạn trung gian.”!? Những Cuộc Thanh Trừng Trong Nội Bộ Đảng Cộng Sản Cam Bốt. Bằng chiến thắng ngày 17/4/1975, Pol Pot và những người cùng phe hắn đã chiếm giữ hầu hết các chức vụ quan yếu trong đảng cộng sản Kampuchia, thường viết tắt là KCP (Kampuchea communist party), cũng như các đẳng cấp cao khác trong chính quyền. Sự phân chia giữa đảng và chính quyền chỉ là mặt hình thức, bởi vì những kẻ nắm các chức vụ cao trong chính quyền đều do đảng chỉ định và thường phải là những đảng viên cộng sản trung thành với lãnh đạo đảng. Khieu Thirith, người vợ lớn của Pol Pot nắm giữ tổ chức thanh niên trong đảng. Lực lượng trẻ nồng cốt, hiếu chiến này bảo đảm cho Pol Pot thực hiện những “tư tưởng cách mạng” của y.

Thế nhưng bàn tay thống trị đảng của Pol Pot đã không được hoàn toàn như ý. Tại địa phương, nhất là các tỉnh thuộc khu miền Đông do Hà Nội ủng hộ và những cựu chỉ huy lực lượng Khmer Issarak đã lú mầm mống không tuân phục trung ương. Do các chính sách thù địch nhắm vào Hà Nội và khủng bố cách mạng của Pol Pot. Ngay cả trong hàng ngũ đảng ở thượng tầng cũng có những đảng viên che dấu bất đồng với Pol Pot. (Khmer Issarak hay Free Khmer, đây là một phong trào dân tộc thống nhất, thành lập vào năm 1945, bao gồm nhiều đảng phái, có mục đích chống thực dân Pháp với sự giúp đỡ từ người Thái. Nhưng sau đấy không lâu bị chia ra thành nhiều phe phái hoạt động độc lập và chỉ có một tổ chức bị sáp nhập vào cấu trúc chính trị của Hoàng thân Sihanouk. Địa bàn hoạt động của Khmer Issarak ở miền Tây Cam Bốt, cho tới sau năm 1954, lực lượng quốc gia yêu nước này suy yếu dần. Còn lại duy nhất một nhóm dưới quyền lãnh đạo của Sơn Ngọc Thành mà sau này thường được nghe nói là phong trào Khmer Serei tức Khmer Tự Do. Phong trào Khmer Tự Do hoạt động ở vùng đông nam Cam Bốt. Từ năm 1959, tổ chức này được vũ trang để chống lại sự lãnh đạo của Hoàng thân Sihanouk. Nhưng sau cuộc đảo chính lật đổ ông Sihanouk do tướng Lon Nol thực hiện trong năm 1970, phong trào Khmer Serey thu nhỏ lại. Tới những năm 1999, dưới thời cai trị của thủ tướng Hun Sen, phong trào này vẫn còn hoạt động nhưng rất yếu. Cạnh đó có một phong trào khác mới nổi lên là Tổ Chức Chiến Sĩ Tự Do Cam Bốt đặt cơ sở ở Mỹ, nơi có nhiều Miên kiều sinh sống, như tại Long Beach thuộc tiểu bang California.)Tương tự như Joseph Stalin của cộng sản Liên Sô vào cuối những năm 1920 và trong thập niên 1930, lãnh tụ Pol Pot đã phát động một cuộc thanh trừng đẫm máu nhắm vào các đối thủ, các đối thủ này vừa có trong thực tế lại vừa chỉ có do đầu óc Pol Pot bị ám ảnh mà ra. Xét về mức độ thanh trừng đối với số dân trong mỗi nước, người ta cho rằng “cuộc cách mạng cộng sản” của Pol Pot đẫm máu hơn ở Liên Sô dưới thời thống trị của Stalin. Từ sau khi chiếm được PhnomPenh trở đi, đảng cộng sản Kampuchia đã bị chấn động bởi những cuộc đấu tranh nội bộ, trong thời gian này đã xảy ra biến động quân sự nhằm lật đổ Pol Pot, song không thành công. Đỉnh điểm của các cuộc thanh trừng là vào các năm 1977 – 1978, theo đó hàng trăm ngàn người, bao gồm cả nhiều đảng viên cao cấp bị hành quyết. Theo Etcheson, tác giả quyển “The Rise and Demise of Democratic Kampuchia” (Kampuchea Dân Chủ: Nổi dậy và Diệt Vong), có sáu phe trong đảng cộng sản Kampuchea. Thứ nhất là phe Pol Pot, phe này gồm những người ủng hộ đường lối Stalin. Thứ nhì là phe gồm những phần tử ủng hộ Hà Nội, đa số những người theo phe này đã đến Hà Nội sau 1954, và họ trở về nước sau khi FUNK được tuyên bố thành lập vào năm 1970. (FUNK: Front Uni National du Kampuchea hay là National United Front of Kampuchea tức Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc Kampuchea do Hoàng thân Sihanouk thành lập ở Bắc Kinh thời gian ngắn sau khi ông bị đảo chính. Liên Hiệp quân sự – chính trị này có mục đích đánh đổ chế độ Lon Nol).

Thứ ba là các cựu chiến binh thuộc nhóm cánh tả trong phong trào Khmer Issarak. Thứ tư gồm những người trong đảng Pracheachon (đảng Nhân Dân) được thành lập hồi năm 1954, đảng này đã hoạt động tranh cử công khai với đảng Sangkum của Hoàng thân Sihanouk cho tới khi rút vào bí mật trong những năm 1960. Thứ năm gồm các phần tử theo Mao hay ủng hộ Trung Quốc, bao gồm luôn nhóm trí thức ở Paris của hai ông Hou Youn và Hu Nim. Và phe thứ sáu là Khmer Rumdo (Liberation Khmer) hay còn có tên là Sihanoukist tức phe bao gồm những người theo Hoàng thân Sihanouk được tuyển mộ từ các tỉnh miền đông Cam Bốt và được Hà Nội huấn luyện, vũ trang. Nhưng theo ông Ben Kiernan, một nhà phân tích khác về lịch sử chính trị Cam Bốt, lại cho rằng chỉ có ba phe: Phe Pol Pot, Phe ủng hộ cộng sản Việt Nam và Phe thứ ba có đường lối trung thành với kiểu mẫu của cuộc cách mạng văn hóa bên Trung Quốc. Nguyên nhân chính của các cuộc thanh trừng trong đảng không phải là sự khác nhau về lý thuyết hay quan điểm chính trị, mà vı̀ là tham vọng cá nhân và nhất là sự trung thành với một thế lực chính trị – quân sự mạnh hơn. Một hiện thực thường thấy trong chính trường Cam Bốt!!!

Mặc dù Quân Đội Cách Mạng Kampuchea (Revolutionary Army of Kampuchea – RAK) đã được tái củng cố vào tháng 7/1975 nhằm giúp cho trung ương quyền kiểm soát chặt chẽ hơn, thế nhưng quyền kiểm soát thực tế các đơn vị võ trang ở cấp Khu lại nằm trong tay những bí thư khu ủy. Trong các địa phương, lộ mầm mống chống đối chính quyền trung ương do Pol Pot thống trị mạnh nhất là ở Khu Đông. Khu này gồm những tỉnh nằm sát biên giới với Việt Nam như: Prey Veng, Svay Rieng, Kadal, Kampong Cham. Vị lãnh đạo Khu Đông là ông So Phim, một người theo đường lối quốc tế cộng sản và thân Hà Nội. Sự không đồng nhất trong “Lực lượng võ trang cách mạng” đã xảy ra từ năm 1975. Lúc đó, các đơn vị quân sự theo Pol Pot thường mặc quần áo bà ba đen, còn các đơn vị võ trang thuộc Khu Đông lại mặc đồng phục màu xanh, giống như quần áo bộ đội Hà Nội.

Vào tháng 7 và tháng 9/1975, đã có 2 cuộc đảo chính do những người chống đối Pol Pot tiến hành nhưng không thành công. Vụ xảy ra hồi tháng 9/75 có liên hệ tới các đơn vị võ trang ở Khu Đông. Sau tháng 4/75, ông Hou Yuon, một người trong nhóm cộng sản Cam Bốt ở Paris trước đây, đột nhiên biến mất không ai biết tăm tích ông ta ở đâu. Một đồng chí của Hou Yuon là ông Hu Nim bị bắt và phải chịu cảnh tra tấn đến chết trong nhà tù khét tiếng của chế độ là Toul Sleng. Theo lời khai của ông Hu Nim lúc bị giam tại Toul – Sleng cho thấy, ông Hou Yuon đã bị chế độ thanh toán vì tỏ sự chống đối chính sách cực đoan của Pol Pot.

Vào năm 1975, Pol Pot đã tạo sự liên kết chặt chẽ với viên bí thư Khu ủy Khu Tây Nam là Ta Moc. Ta Moc nguyên là một cựu thành viên (thuộc nhóm cánh tả) trong phong trào Khmer Issarak. Ta Moc cũng là người có đường lối chống Hà Nội mạnh mẽ. Trong khoảng thời gian từ năm 1975 tới 1978, viên bí thư đảng ủy Khu Tây Nam đã giúp đỡ cho Pol Pot ra tay thanh trừng những kẻ chống đối trong đảng cộng sản Kampuchea và các chính sách khủng bố đối với người dân trong Khu Tây Nam. Vào tháng giêng năm 1977, các cán bộ đảng viên thuộc Khu ủy Tây Nam được điều động đi đến các Khu Đông, Khu Bắc và Khu Tây nhằm thanh trừng những đảng viên ở các Khu này có tư tưởng chống lại Trung ương. Bốn tháng sau “công tác” này lại được thực hiện tại Khu Tây Bắc Cam Bốt.

Khi Nam Vang lọt vào tay Khmer Đỏ không lâu, viên phụ tá của Ta Moc, có bí danh là Deuch, được chỉ định vào chức vụ trưởng cơ quan an ninh chìm đồng thời là giám đốc trung tâm tạm giam – thẩm vấn Toul Sleng. Trung tâm Toul Sleng hay nhà tù Toul Sleng khét tiến, trước kia là một trường trung học mang cùng tên, cách trung tâm thủ đô PhnomPenh chừng 1 cây số. Trước 1975, trường trung học Toul Sleng có tiếng tại thủ đô, tạm so sánh như các trường trung học Võ trường Toản và Trưng Vương ở Sài Gòn ngày xưa vậy. Kiến trúc của ngôi trường trung học này đơn giản, bước vào sân trường, người ta sẽ nhìn thấy ba dãy phòng học hai tầng, xây theo hình chữ U, hướng ra con đường nhỏ chạy ngang cổng trường. Khi bị biến thành nhà tù Toul Sleng, các dãy phòng học này trở thành những dãy xà lim tối tăm, ẩm thấp và tanh hôi mùi máu, mùi xác người!

Trong hai năm 1975 – 1976, những con số ghi chép tỉ mỉ của nhà tù Toul Sleng cho thấy, 2.404 “phần tử chống đảng” đã bị tra tấn và hành quyết ở đây. Tới năm 1977, các vụ khủng bố gia tăng lên 6.630 vụ. Và chỉ trong 6 tháng đầu năm 1978, những nạn nhân bị giết tại trung tâm thẩm vấn Toul Sleng lên tới 5.675 người, đó là chưa tìm ra số nạn nhân bị giết trong 6 tháng còn lại của năm đó. Sau cùng, tổng số nạn nhân oan ức bị chế độ xét xử theo kiểu của họ tại nhà tù Toul Sleng từ giữa năm 1975 tới tháng 1/1979 đã lên tới khoảng 20.000 người! Trại tù Toul Sleng còn có mật danh là S.21, nơi đây chỉ là một trong tổng số gần 20 nơi như thế được chế độ Pol Pot dựng lên nhằm thực hiện cuộc thanh trừng triệt để nhất trong đảng cộng sản Kampuchea. Môt ṭấm bản đồ đươc ḳết lai ̣bằng những so ̣người đã bi ̣giết trong thời Khmer Đỏ, đươc trưng ̣ bày trong Viện Bảo Tàng Diệt Chủng TuolSleng (TuolSleng trước đây là môt trường Trung Hoc tại tḥủ đô PhnomPenh).Tại Battambang, một tỉnh nằm ở hướng Tây-Bắc thủ đô, cuộc lùng giết các cấp ủy đảng tại địa phương được bắt đầu khi những đảng viên nồng cốt trung thành với Pol Pot từ miền Nam được đưa lên vùng này. Sa la Som Niat, ngôi trường đảng của đảng bộ tỉnh, trước đây là nơi dùng để giáo dục chủ trương đường lối đảng cho đảng viên, nhưng sau đó trường đảng trở thành trung tâm tàn sát đảng viên trong địa phương. Khuôn mẫu “hành động” tại các trung tâm tàn sát con người này đều giống nhau, các nạn nhân bị tra tấn, sau đó bị ép cung phải khai theo lệnh của bọn cai ngục, giai đoạn cuối cùng là bị hành hình theo kiểu thời trung cổ: nhấn cổ xuống nước cho nạn nhân chết ngộp, treo cổ, đập đầu bằng búa v.v…thật dã man, vô nhân đạo!!!

Một nhà giáo trẻ tuổi người Anh, bị Khmer Đỏ bắt được trên du thuyền ở ngoài khơi phía Nam Cam Bốt, anh này bị ép cung tại Toul Sleng là làm việc cho cơ quan tình báo trung ương Mỹ từ hồi 12 tuổi. Sau đấy là bản án tử dành cho kẻ dám đi lảng vảng gần khu vực này, trong những ngày tháng mà nền tự do non nớt ở Đông Dương vừa bị khép chặt. Giữa lúc làn sóng thanh trừng rộ lên nhiều nơi trên toàn quốc, thì tại Khu Đông, đến tháng 5/1978 không khí chết chóc mới lan tới nơi đây sau cuộc nổi dậy chống đảng của viên bí thư Khu ủy là So Phim. Hậu quả cuộc nổi dậy này, gần 100.000 người bao gồm những đảng viên trong Khu Đông và thường dân tại địa phương, trong đó có nhiều người Việt Nam hay người gốc Việt đã bị giết hại bằng nhiều cách. Những nạn nhân ở Khu Đông bị đảng quy cho tội danh “mình Khmer, đầu Việt Nam”. Còn viên thủ lĩnh Khu là So Phim, để tránh bị bắt, ông đã chọn cách tự xử. Các phụ tá của ông bao gồm cả Heng Sam Rin, người sau này trở thành chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Kampuchea sau năm 1979, đã bỏ chạy trốn qua Việt Nam.

Thêm một yếu tố cũng nên chú ý, đó là ảnh hưởng từ Trung Quốc trong các chính sách nội bộ của đảng cộng sản Kampuchea. Theo các tác giả Etcheson và Kiernan phân tích về chính tình Cam Bốt trong thời kỳ này cho rằng: Phe chủ trương “cấp tiến” trong đảng cộng sản Trung Quốc có lẽ muốn ủng hộ phe thân Hà Nội trong đảng cộng sản Cam Bốt, bởi vì họ muốn gìn giữ mối quan hệ tốt với Hà Nội. Nhưng vào tháng 10/1976, một tháng sau khi Mao Trạch Đông chết, phe “cấp tiến” bị mất quyền lực, thay vào đó là phe “ôn hòa “trong đảng, tiêu biểu là Đặng tiểu Bình lên nắm quyền. Trong cùng thời gian này tại PhnomPenh, Viên Ḅảo Tàng Diêt Chủng Tuol Sleng Museum, trước17/4/1975 là trường trung hoc Tuol Sleng ̣tai thủ đô PhnomPenh. Tác giả đã vào đây để coi các di tı́ch con người bi tḥú vâṭ hóa trong chế đô ̣công̣ sản bạo ngươc.̣ Pol Pot đã nắm lại quyền lực vào ha ̣tuần tháng 10/1976. Ngày 22/10/1976, Pot đã lên tiếng kết án mạnh mẽ hành động “phản cách mạng của lũ bốn người” ở Bắc Kinh do Giang Thanh cầm đầu. Trước đó vào ngày27/9/1976, Pol Pot xin từ chức Thủ Tướng “vì lý do sức khỏe”, Noun Chea, một phó thủ tướng thân Hà Nội lên làm quyền Thủ Tướng. Sự thay đổi quyền lực tại PhnomPenh chứng tỏ giới cầm quyền nơi đây bị ảnh hưởng nặng nề từ Bắc Kinh.

Thời gian đầu của triều đại họ Đặng, sự rạn nứt giữa quan hệ hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam lộ ra thấy rõ. Họ Đặng cho rằng, Hà Nội là chư hầu của chủ nghĩa bá quyền do Liên Sô cầm đầu. Cũng từ quan điểm này, nên phe thân Hà Nội trong đảng cộng sản Cam Bốt dần dần bị thất thế, nhường chỗ cho sự thống trị hầu như tuyệt đối của phe Pol Pot bên trong đảng. Trên mặt tư tưởng, óc thực dụng của họ Đặng và chủ nghĩa cộng sản cực đoan của Pol Pot dường như là hai cực khác nhau. Nhưng xét về mặt địa lý chính trị, khi Pol Pot được vũ trang tốt thì trở thành một cái gai nhọn ghim vô sườn kẻ thù Bắc Kinh là Hà Nội. Ngay sau bài diễn văn ngày 27/9/1977, bộc lộ quan điểm của Pol Pot ngả theo giới lãnh đạo mới ở Bắc Kinh, một phái đoàn cộng đảng Kampuchea do Pol Pot và Ieng Sary cầm đầu đã rời Nam Vang đi thăm Trung Quốc. Đầu năm 1978, khối lượng lớn viện trợ quân sự gồm: xe thiết giáp, trọng pháo, và súng chống tăng, từ Trung Quốc đổ vào Cam Bốt.

Những diễn biến này khai màn cho các cảnh đấu đá ác liệt giữa tình đồng chí anh em trong nội bộ đảng cộng sản Đông Dương. Thực tế bình thường này còn nói lên một chân lý muôn đời rằng: quyền lợi cá nhân và quyền lợi xã hội cùng tồn tại, nhưng mỗi lúc, có cái này vượt lên lấn áp cái kia, song không thể phủ nhận quyền lợi của cá nhân hay xã hội trong cuộc sống. Nhân đó suy rộng ra, khi lý thuyết cộng sản muốn tiêu diệt cá thể quốc gia nhằm xây dựng thế giới đại đồng, trong đó không còn biên giới nhà nước, một hình thức liên kết tuyệt đối dưới sự lãnh đạo của một đế quốc cộng sản, quan điểm hoang đường này đã chết non trong lúc khối cộng sản chưa chiếm được quả đất!

“Tınh Đồng Chı́” Tương Tàn. Điềm Gở Báo Hiêu Rạn Ṿỡ Toàn Diện Khối Đoàn Kết Vô Sản Quốc Tế. Hà Nội Xâm Lược Cam Bốt. Giữa hai dân tộc Việt và Khmer đã có nhiều điều không thuận thảo từ lâu đời do quá khứ Nam tiến của tộc Việt từ mãi thế kỷ 16, cũng như sự hèn yếu của một số vị vua chúa Khmer đã tạo nên bối cảnh hiềm thù, lúc ngấm ngầm, lúc bột phát. Mặc dù sự căng thẳng về biên giới giữa Hà Nội và Khmer Đỏ chỉ xoay quanh vụ tranh cãi về đường biên Brévié do chính quyền thực dân Pháp vẽ từ năm 1939. Nhưng xét cho tận cùng , vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa hai bên chắc chắn không thoát khỏi cái nền chung của quá khứ xa xưa.Người Pháp rời khỏi Đông Dương từ lâu, thế nhưng đường biên Brévié do Pháp vẽ từ năm 1939, đối với Hà Nội, đây là biên giới chính thức giữa hai nước trên phương diện quốc tế. Còn về phía Kampuchea, nhiều chính quyền trước thời kỳ Khmer Đỏ đã cố gắng thảo luận với Việt Nam (lúc đó là các chính quyền ở Miền Nam Việt Nam) nhằm lấy lại vùng đất Cochichina, tức là vùng Kampuchea Krom. Trong tiếng Khmer chữ Krom có nghĩa là phía dưới, miệt dưới. Kampuchea Krom là miền đất Kampuchea dưới, ý nói tới vùng Thủy Chân Lạp ngày trước, mà ngày nay bao gồm phần lớn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Còn Kampuchea Leu, Leu là ở trên, tức lãnh thổ Cam Bốt hiện giờ.

Phía Cam Bốt lập luận rằng, đất Kampuchea Krom là thuộc địa của Pháp và người Pháp có hứa sẽ trả vùng đất này lại cho Cam Bốt. Những cuộc thảo luận nhằm tìm cách giải quyết tranh chấp giữa hai phía từ năm 1975 tới 1977 đã không đạt được kết quả và sau cùng thì bị đình hoãn. Mặt khác, Cam Bốt nhận thấy “sự không chân thật trường kỳ” của người đồng chí cũ, Hà Nội. Trên cái nhìn từ phía Cam Bốt, người đồng chí cũ này không bao giờ từ bỏ quyết tâm muốn sáp nhập Cam Bốt vào Liên Bang Đông Dương do Hà Nội thống trị.

Những trận đụng độ giữa bộ đội Hà Nội và quân Khmer Đỏ đã thật sự bắt đầu từ năm 1970. Lúc đó theo nhiều báo cáo, một số đơn vị Khmer Đỏ bắn vào bộ độ Hà Nội. Tình hình như thế tiếp tục gia tăng, đặc biệt vào năm 1973. Phía Bắc Việt do nhu cầu khẩn cấp trong việc sử dụng đất Cam Bốt như là nơi ẩn náu, an toàn để mở các cuộc tấn công vào Miền Nam Việt Nam, nên đành chọn giải pháp tam lãng quên. ̣ Cạnh đó Hà Nội vẫn tiếp tục giúp cho lực lượng Khmer Đỏ công binh cùng trọng pháo trong chiến dịch cộng quân đánh dứt điểm thành phố Nam Vang hồi tháng 4/1975. Sau khi Gài Gòn và PhnomPenh rơi vào tay giặc cộng, những cuộc đụng độ giữa Hà Nội và Nam Vang tập trung tại biên giới. Trong thời gian này Hà Nội quy cho Khmer Đỏ định chiếm lấy đảo Phú Quốc và tạo nhiều cuộc đột kích vào bên trong phần đất của vài tỉnh biên giới Việt Nam. Cũng trong thời gian này, có xảy ra một vụ đụng độ giữa Thủy Quân Lục Chiến Mỹ và quân Khmer Đỏ tại vùng biển Kompongsom, ở phía Nam Cam Bốt. Trận chạm trán này không liên hệ gì tới sự căng thẳng biên giới ngày càng gia tăng giữa Hà Nội và Cam Bốt.

Vào ngày 12/5/1975, chắc là do khí thế “hồ hởi phấn khởi” sau chiến thắng giải phóng PhnomPenh, một viên tư lịnh vùng của Khmer Đỏ đã phách lối, tùy tiện mở rộng (bằng miệng) hải phận Cam Bốt. Kết quả này đã dẫn tới việc Khmer Đỏ bắt giữ chiếc thương thuyền mang tên Mayaguez của Mỹ, lúc đó đang đi gần hòn đảo Wai. Sự hiện diện của thương thuyền Mayaguez trong khu vực này vào một thời điểm không thuận lợi, tiếp tục là nghi vấn chưa được trả lời rõ ràng? Ngay sau đó, do không thể tạo được cuộc nói chuyện nhằm tiếp cứu thủy thủ đoàn gồm 40 người trên tàu Mayaguez, Washington đã thông báo tình trạng này cho Liên Hiệp Quốc và viện dẫn điều 51 trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc về quyền tự bảo vệ để tổ chức cuộc tấn công. Trước khi các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến thực hiện cuộc đổ bộ lên đảo Kohtang vào ngày 15/5/1975, Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ mở cuộc tấn công vào cảng Kampongsom và căn cứ Hải Quân Ream nằm cách cảng vài mươi cây số.

Tuy nhiên kế hoạch đổ bộ lên đảo Kohtang (tính từ ngoài khơi vào đất liền thì đảo Kohtang nằmgiữa đảo Wai và cảng biển Kampongsom) không được chuẩn bị chu đáo nên dẫn tới thất bại không nhỏ sau 14 giờ chiến đấu, 18 quân nhân Thủy Quân Lục Chiến Mỹ bị mất tích, trong đó có 3 quân nhân bị đơn vị bỏ lại do không liên lạc kịp, sau đó bị Khmer Đỏ bắt giữ và đem vào giam ở một địa điểm gần cảng Kampongsom, rồi bị hành hình. Trước cuộc đổ bộ vài giờ, toàn bộ thủy thủ đoàn thương thuyền Mayaguez đã được quân Khmer Đỏ phóng thích!!! 26 năm sau, tính tới tháng 2/2001, đã có nhiều đợt khai quật tìm hài cốt quân nhân Mỹ tại thành phố cảng Kampongsom, thế nhưng chính quyền Mỹ vẫn chưa tìm được hết các hài cốt của những người lính mất tích trong trận đổ bộ lên đảo Kohtang.

Trở lại với tình hình căng thẳng giữa hai nước cộng sản láng giềng, những lời cáo buộc lẫn nhau về việc xâm phạm biên giới của Hà Nội và PhnomPenh đã suy thoái tới cực điểm. Vào ngày 31/12/1977, đài phát thanh PhnomPenh tố cáo Hà Nội mở cuộc tấn công “xâm lược tàn bạo” vào Kampuchea Dân Chủ và đặt quan hệ ngoại giao hai bên trong tình trạng “cắt đứt tạm thời”. Mùa hè – thu 1978, các trận đánh rải rác ở cấp khá quy mô đã xảy ra giữa hai phía. Những trận đụng độ lớn nổ ra ở Mỏ Két thuộc tỉnh Svay Rieng và hai nơi khác nữa ở tỉnh Kampong Cham và Ratanakiri. Tháng 9 /1978, bộ ngoại giao Kampuchea Dân Chủ cho công bố “Black Book” trong đó ghi lại các sự kiện, chứng cớ về chủ trương xâm lấn, muốn thôn tính, nuốt chửng Cam Bốt của cộng sản Hà Nội. Tài liệu ngoại giao này cũng tố cáo trước thế giới về “bản chất thật sự của kẻ xâm lấn Hà Nội”. Tình đồng chí anh em đã qua rồi một thời môi hở răng lạnh, nhường lại cho thời kỳ hung hăng cấu xé nhau.

Tra cứu các tài liệu về giai đoạn này, tôi lại nhớ đến câu chuyện do một người bạn thuở thiếu thời kể lại. Lúc xảy ra các sự kiện, anh bạn cũ của tôi là một trong nhiều nhân chứng tại chỗ. Nguyễn Văn Nghĩa, tên người bạn tôi lúc còn nhỏ, hai đứa cùng rong chơi trong con xóm tĩnh lặng, thanh bình đầy ắp kỷ niệm. Chúng tôi thường gọi anh là Sáu lớn, vì anh là con thứ sáu trong một gia đình khá giả. Chữ “lớn” đi kèm theo sau để phân biệt với Sáu nhỏ là tôi. Hai đứa cùng thứ sáu, nhưng tôi sinh sau anh hai năm. Vào năm 1973, lúc cuộc chiến ở miền Nam thân yêu đầy sôi động, thì Sáu lớn đã lấy xong bằng tú tài hai Pháp ngữ và rời khỏi trường trung học Lasan Taberd nằm trên đường Gia Long gần khu xóm chúng tôi. Sau đấy, anh lại thi bên chương trình tiếng Việt để lấy bằng tú tài tương đương. Cùng năm đó anh Sáu lớn lén gia đình ghi tên thi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh đậu ở hạng thứ hai mươi mấy (tôi không nhớ rõ) trong số trên 100 thí sinh trúng tuyển. Nhưng người anh thứ năm của anh là một sĩ quan tình báo trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa biết được việc này, không đồng ý cho anh Sáu lớn nhập học, vì gia đình anh có 3 anh em trai, nhưng hai người anh lớn đã phục vụ trong quân đội rồi, do vây người anh thứ năm muốn Sáu lớn ở lại Sài Gòn học hành để chăm nom người mẹ già sau này. Không học được ở trường Võ Bị, anh Sáu thi vào đại học kỹ thuật Phú Thọ, và đậu khá cao, học tại đây được hơn một năm. “Giải phóng” xong, anh bị đuổi học, vì lý lịch anh có ghi những hoạt động thân phe quốc gia trong những ngày còn là sinh viên tại trường đại học. Chán nản vì không gian tù túng ở Sài Gòn, thứ nữa không tìm được việc làm trong những ngày tháng sau 30/4/1975, anh Sáu đành để cho nhà nước lùa vào Lực lượng thanh niên xung phong. Thời đó ở Sài Gòn có mấy tổng đội thanh niên xung phong, phần lớn là thanh niên nam nữ ở độ tuổi 20. Đối với hầu hết các bạn trẻ ở Sài Gòn hồi ấy, tham gia lực lượng thanh niên xung phong, chính yếu là để giải quyết khó khăn kinh tế của gia đình mình. Đi thanh niên xung phong thì không có lương, nhưng ít nhất cũng tránh cho gia đình mình một miệng ăn lúc thời thế quá đổi bẩn chật khi đổi đời…đi lui. Còn phía nhà nước thì lại tô son trát phấn cho đội ngũ trẻ này, nào là thanh niên xung kích của chế độ, nào là tuổi trẻ Bác Hồ lên đường đi xây dựng quê hương v.v…công viêc của lưc lượng này, chính yếu là lao động trên những công trường xây dựng thủy lợi, đào kinh, vét mương, xây dựng khu kinh tế mới, trồng trọt v.v…

Khi cuộc chiến tranh biên giới mới nổ ra giữa Hà Nội và PhnomPenh, đội ngũ trẻ này đã bị chính quyền cộng sản lùa đi ra mặt trận để làm đường cho xe tăng, xe nhà binh chạy, bắc cầu, khiêng đạn, tải thương, tiếp vận, hậu cần, tức là hầu hết những công việc ở tuyến sau của chiến trường. Nói vậy chứ đôi khi cũng bị đẩy lên phía trước để làm bia đỡ đạn cho bộ đội, mà thực ra bộ đội cũng là một loại bia đỡ đạn cho chế độ hoặc đám con cháu của bọn đảng viên cao cấp rồi. Đơn vị thanh niên xung phong của anh Sáu gồm nhiều nam nữ thanh niên, bị nhà nước điều lên tỉnh Tây Ninh, sát biên giới Cam Bốt, để phục vụ cho cuộc chiến tranh mới bột phát. Theo lời anh Sáu kể lại cho tôi nghe khi chúng tôi gặp lại nhau ở Sài Gòn hồi năm 1979, lính Pol Pot thường mở cuộc tấn công vào các làng xóm ở sát biên giới để trả đũa Hà Nôi. Đi tới đâu, chúng bắn giết đốt phá với sự căm hờn. Đơn vị anh Sáu có lần bị Khmer Đỏ tấn công vào ban đêm, chúng bắt được mấy cô thanh niên xung phong, sau khi hãm hiếp, chúng thường dùng dao đâm sâu vào cửa mình của cô gái khiến nạn nhân chết một cách đau thương tức tưởi. Sau khi mãn hạn trong lực lương thanh niên xung phong, anh Sáu quay về quê hương ở tỉnh Sa Đéc, làm ăn sinh sống và nuôi người mẹ già. Còn tôi cũng rời Sài Gòn tìm đường qua Cam Bốt. Con xóm nhỏ ngày xưa với tuổi thơ nhiều mộng ước, giờ đây chắc vắng lặng những khuôn mặt bạn bè ngày trước. Ngày nay chúng tôi đều đã ở lứa tuổi 45, và mỗi người mỗi ngả. Buồn thay cho dòng đời nhiều biến đổi mà cục diện đất nước vẫn không thay đổi theo chiều hướng tốt là bao. Đám tham tàn đảng trị vẫn bám chặt quyền lực. Đại đa số dân trong nước vẫn cứ nghèo đói, lam lũ, chật vật với cái ăn, cái mặc. Và bọn cầm quyền cứ thản nhiên, phè phỡn, ung dung chia chác tài sản quốc gia cho phe cánh, dòng họ, thân nhân, bạn bè chúng. Buồn thay cho nước Việt!! Có phải dân ta hèn nên mới ra nông nỗi này? Hào kiệt nước Việt đâu? Kiếm mãi chưa thấy được bao nhiêu. … Đến tháng 11/1978, cuộc khẩu chiến giữa hai bên xem như đã chấm dứt, nhường lại cho giai đoạn mở ra các cuộc tấn công toàn diện do Hà Nội thực hiện để chuẩn bị cho các chiến dịch quân sự sau này nhắm vào chế độ Kampuchea Dân Chủ. Đầu tiên Hà Nội tung ra cuộc tiến công vào hai địa điểm Snoul vàMemot thuộc tỉnh Kracheh (người Việt thường gọi là tỉnh Cần Ché). Hành động này nhắm mục đích chiếm lấy một vùng an toàn để tạo nơi dung thân cho một lực lượng chính trị – quân sự chống lại Khmer Đỏ do Hà Nội dựng lên và nuôi dưỡng. Không lâu sau đó, vào ngày 2/12/1978, tại một đồn điền cao su nằm trong khu vực do Hà Nội tiến chiếm trước đó, một Mặt Trận ra đời có tên là: Mặt Trận Thống Nhất Kampuchea để Cứu Nguy Dân Tộc (KNUFNS). Và được gọi tắt là Mặt Trận Cứu Nguy – Salvation Front. Buổi lễ công bố Mặt Trận này đã được bảo vệ an ninh nghiêm ngặt bởi những đơn vị bộ đội Hà Nội có trang bị hỏa tiễn phòng không.

Vào ngày 25/12/1978, nhân lúc nhiều nước trên thế giới đang đón mừng lễ Giáng sinh. Hà Nội phát động đợt tấn công với quy mô lớn bao gồm từ 12 tới 14 sư đoàn chủ lực, trong đó có sự tham dự của 3 trung đoàn lính Khmer. Lực lượng này sau trở thành lực lượng nồng cốt cho Lực Lượng võ trang của Cộng Hòa Nhân Dân Kampuchea (KPRAF). Tổng quân số của “Liên Minh Quân Sự” này gồm 100.000 người. Như vậy lực lượng tiến đánh Khmer Đỏ phần lớn dựa vào nhân lực của cộng sản Hà Nội. Theo sự chỉ đạo rất thống nhất từ quân ủy trung ương, quân chủ lực Hà Nội chia thành năm mũi tiến công vào xứ chùa tháp, quyết tâm đánh quỵ tên đồng chí dám phá vỡ thế liên hiệp Đông Dương mà Hà Nội đã ấp ủ từ những năm 1930.

a- Hướng tiến công thứ nhất xuất phát từ Buôn Mê Thuột thuộc tỉnh Đắc Lắc theo đường số 13 và 14 đánh vào tỉnh lỵ Cần Ché (Kracheh).

b- Hướng tiến công thứ hai xuất phát từ phía tây Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum theo quốc lộ 19 uốn khúc đánh vào tỉnh lỵ Stoeng Treng. Cả hai mũi tiến công đầu tiên đều nhắm vào các tỉnh miền đông bắc Cam Bốt. Khi vượt qua tỉnh Ratanakiri để đánh vào Steong Treng và khi vòng qua Modulkiri để tấn công vào Kracheh, chủ lực Hà Nội có ý định cô lập 4 tỉnh vùng đông bắc – bao gồm nhiều rừng núi, caonguyên – với miền đồng bằng Cam Bốt. Sự cô lập chiến lược này mang những mục tiêu rõ rệt:

* Làm cho Khmer đỏ mất đi sự hậu thuẫn có được từ những vùng căn cứ cũ ở miền đông bắc, vùng này có thể xem như là “cái nôi cách mạng” của đảng cộng sản Cam Bốt trong thời chiến tranh.

* Nhanh tay chiếm đóng vùng xa xôi này trước, giúp cho bộ đội Hà Nội tổ chức tuyến phòng ngự khá vững chắc trong trường hợp quân Khmer Đỏ thực hiện cuộc phản công giành lại đất.

* Mục tiêu thứ ba mà Hà Nội muốn đạt tới khi tung ra hai mũi tiến công vào cao nguyên đông bắc Cam Bốt, đó là gây lúng túng cho sự nhận định chiến lược trong ban lãnh đạo Khmer Đỏ. Tuy nhiên các viên tư lịnh quân sự Khmer Đỏ đã không bị mắc bẫy Hà Nội qua hai mũi tiến công vào Steong Treng và Cần Ché, đồng thời Khmer Đỏ cũng không tổ chức phản công nhằm lấy lại khu vực rừng núi cao nguyên này. Thay vào đó, quân Khmer Đỏ lại xây dựng một tuyến phòng thủ hình vòng cung bao bọc vùng đông nam Cam Bốt gồm các tỉnh đồng bằng với những cánh đồng rộng lớn, như để mặt đối mặt với quân chủ lực Hà Nội có thể tấn công từ hướng này. Sự tính toán chiến lược của Ban lãnh đạo Khmer Đỏ đã chính xác so với ý đồ quân sự của Hà Nội.

c- Hướng tiến công thứ ba, từ tỉnh Tây Ninh, bộ đội Hà Nội với trang thiết bị quân sự dồi dào di chuyển theo đường số 7, đánh vào tỉnh Kampong Cham. Một tỉnh giàu có về nông nghiệp bậc nhất ở xứ chùa tháp.

d- Mũi tấn công thứ tư có sự trợ giúp của lực lượng phòng không, theo quốc lộ 1 đánh vào Hố Lương (Neak luong), đây là cửa ngõ đi vào thủ đô PhnomPenh.

e- Hướng tiến công chiến thuật sau cùng xuất phát từ phía tây tỉnh Hà Tiên đánh thốc vào hai tỉnh miền Nam của Cam Bốt, sát với Vịnh Thái Lan là tı̉nh KamPot và tı̉nh Kampong Som. Hướng đánh này nhằm khóa chặt đường cung cấp từ cảng biển Sihanouk về cho thủ đô cũng như cho chế độ Kampuchea Dân Chủ. Vì Cam Bốt chỉ có duy nhất một cảng biển Kampong Som này mà thôi. Quân Khmer Đỏ trước đấy một thời gian ngắn được coi như là hung thần của chế độ. Chúng cầm quyền sinh sát trong tay, đàn áp, giết hại người dân trong nước không chút thương tiếc. Nhưng khi đối đầu với quân xâm lược Hà Nội, các cuộc kháng cự chỉ được tổ chức ở vài địa phương. Những trận đánh lớn giữa cộng sản Cam Bốt và cộng sản Hà Nội trong lúc này chỉ diễn ra tại tỉnh Kampong Cham, Hố Lương và tại Tami, một vị trí nằm sâu trong đất liền tính từ bờ biển tỉnh KamPot. Cạnh đó những viên chỉ huy quân sự nhiều kinh nghiệm của Khmer Đỏ đã biến mất sau các cuộc thanh trừng nội bộ đã góp phần rất nhiều cho sự tan rã nhanh chóng của quân đội cộng sản Cam Bốt. Đến ngày 5/1/1979, các mũi tiến công của lực lượng Hà Nội đã áp sát tới bờ phía đông của con sông Mekong. Theo môt số nhà phân tích quân sự về tình hình lúc đó, có thể lúc ban đầu, sự tính toán của giới lãnh đạo Hà Nội không có ý định tiến sâu vào lãnh thổ xứ chùa tháp, thế nhưng khi đứng trước sự thất bại nhanh chóng, nhiều nơi, nhiều địa phương chưa đánh đã tự tan rã, nên sau khi ngừng quân trên bờ sông Mekong thời gian ngắn để chờ đợi công binh, thanh niên xung phong bắc cầu, làm đường và cũng để chờ quyết định mới nhất từ Hà Nội trước khi mở đợt tấn công sau cùng vào sào huyệt của Khmer Đỏ. Diễn biến chiến dịch đánh lấy thủ đô Nam Vang khá nhanh chóng, quân Khmer Đỏ bỏ chạy khỏi thủ đô và sau đó tái tập họp ở miền tây Cam Bốt.

Sau khi chiếm được thủ đô PhnomPenh, bộ đội cộng sản Hà Nội tiếp tục tung hai cánh quân về hướng tây, nhằm chiếm giữ hai tỉnh Battambang và Siemriep, hai mũi tấn công sau đó đã hội quân tại quận Sisophon và tiến về sát biên giới Thái. Tại đây đã xảy ra những cuộc chạm súng dữ dội giữa đôi bên trong tháng 3, 4. Phía Khmer Đỏ sau thất bại tại Nam Vang đã cố gắng phối trí lại đội hình và bung ra vài cuộc phản công trước khi rút sâu vào vùng rừng núi. Nơi đây, các thủ lĩnh Khmer Đỏ lại nhen nhúm cuộc chống đối mới tương tự như những năm 1960, lúc họ tổ chức chiến tranh du kích chống lại nhà cầm quyền PhnomPenh. Trên mặt trận ngoại giao, Hà Nội, dĩ nhiên theo cung cách cố hữu từ thời chiến tranh Việt Nam, tuyên bố với thế giới rằng: Hà Nội không có quân đội hiện diện trên đất chùa tháp, chiến thắng mới giành được là do công của Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc Khmer. Sự có mặt tràn lan của bộ đội ngoại nhập trên đất nước chùa tháp, tạo ra tình hình hỗn loạn chưa từng có ở vùng biên giới Thái – Cam Bốt, khi nhiều đơn vị Khmer Đỏ bị mất chỉ huy bỏ chạy vào biên giới Thái. Cạnh đó làn sóng dân cư sợ hãi, chạy trốn chiến tranh đã vượt biên giới Cam Bốt vào đất Thái ngày một đông. Trong tình hình ngày càng rối loạn đó, vào năm 1979, hai phong trào chính trị chống cộng sản Hà Nội của người Khmer được thành lập. Tổ chức thứ nhất mang tên là Lực Lượng Võ Trang Giải Phóng Dân Tộc của Nhân Dân Khmer, đây là cánh quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia. Tổ chức này trung thành với lãnh tụ Son Sann, một người chống cộng, đồng thời là thủ tướng dưới thời quốc trưởng Sihanouk. Tổ chức thứ nhì có tên Quân Đội Dân Tộc Sihanouk. Đây là cánh quân sự của Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc Vì Độc Lập – Trung Lập – Hòa Bình Và Hợp Tác cho Cambodia (Front Uni Natinonal pour un Cambodge Indépendant, Neutre, Pacipique et Coopératif) thường được gọi tắt là Mặt Trận FUNCINPEC. Mặt Trận này trung thành với Hoàng thân Sihanouk.

Cả hai phong trào quốc gia kháng chiến này hoạt động độc lập với nhau. Như vậy vào thời điểm đó tại vùng biên giới Thái – Cam Bốt, kể cả Khmer Đỏ, có ba tổ chức kháng chiến chống sự chiếm đóng của Hà Nội tại xứ chùa tháp. Những diễn tiến liên quan đến các phong trào kháng chiến của Cam Bốt sẽ được nhắc tới trong phần sau một cách thật chi tiết. Vì những sự kiện này có liên hệ tới phong trào đấu tranh vì dân chủ, tự do của người Việt Nam trong bối cảnh Đông Dương bị cộng sản thống trị. Trong năm 1979, sau khi Khmer Đỏ bị đánh chạy khỏi Nam Vang, và quân đội Hà Nội mở ra thời kỳ chiếm đóng nước cộng sản đàn em. Thời kỳ này còn đánh dấu một khúc quanh đặc biệt trong lịch sử các nước cộng sản Đông Dương, đồng thời nó còn chỉ rằng: cộng sản cũng có thể trở thành thực dân đế quốc chớ không phải chỉ có các cường quốc tư bản!! Khi Hà Nội tiến hành cuộc xâm lược và thôn tính Cam Bốt xong, vấn đề Cam Bốt trên chính truờng quốc tế đã gây nhiều tranh cãi. Vào tháng 9 năm 1979, đại hội đồng LHQ đã phản đối các cố gắng của Liên sô, Congo và Panama trong việc phủ nhận tính hợp pháp của Kampuchea Dân Chủ, và quyết định rằng Khmer Đỏ tiếp tục có đại diện tại LHQ!? Quyết định này được thông qua bằng một cuộc bỏ phiếu. Kết quả cho thấy: có 71 trên 35 phiếu ủng hộ quyết định của LHQ giữ lại ghế cho Khmer Đỏ, cạnh đó có 34 phiếu trắng. Hoàng thân Sihanouk, lúc đó đưa ra ý kiến: Nên bỏ trống chiếc ghế đại diện Cam Bốt, bởi vì không có phe nào được sự ủy thác từ nhân dân Cam Bốt.

Vào tháng 10 năm đó đại hội đồng LHQ đề ra nghị quyết được sự ủng hộ của khối Asean, quyết định này kêu gọi Hà Nội rút quân ra khỏi xứ chùa tháp ngay lập tức. Nghị quyết này được chấp thuận bởi 81 trên 21 phiếu và có 29 phiếu trắng. Nội dung bản nghị quyết tháng 10/1979 của LHQ cũng kêu gọi tất cả các quốc gia nên kiềm chế sự can thiệp và hành động xâm lược chống lại Cam Bốt và những nước láng giềng của Cam Bốt trong vùng Đông Nam Á. Đại hội đồng LHQ đã ủy thác cho Tổng thư ký LHQ tìm kiếm cơ hội có thể có để triệu tập một hội nghị quốc tế về vấn đề Cam Bốt, đồng thời khẩn cầu sự giúp đỡ nhân đạo của thế giới đối với nhân dân Cam Bốt bao gồm cả những người tị nạn Cam Bốt đã bỏ chạy sang Thái Lan để tránh cuộc chiến xâm lược của Hà Nội. Sau khi tràn quân qua xứ chùa tháp, Hà Nội nhanh chóng thiết lập chế độ bù nhìn bản xứ. Vị lãnh đạo mới của Cam Bốt là Heng Samrin, ông này là cựu thành viên trong phong trào Khmer Đỏ. Lúc Pol Pot tiến hành những đợt thanh trừng đẫm máu trong nội bộ đảng, Heng Samrin đã bỏ chạy qua Việt Nam lánh nạn. Chế độ mới tại Cam Bốt dưới sự lãnh đạo của Heng Samrin có sự chi phối tuyệt đối của Hà Nội qua hệ thống các chuyên gia Việt Nam ( một hình thức cố vấn đầy quyền hành được thiết lập từ cấp hành chính nhỏ nhất tới trung ương) đã xây dựng một chuơng trình phục hồi đời sống kinh tế, xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, chính quyền mới còn gặp quá nhiều khó khăn khi đề ra kế hoạch quy mô xây dựng lại đất nước hoang tàn. Bộ máy chính quyền dân sự thiếu nhân sự trầm trọng, vì những người có học hoặc có phẩm chất đã bị giết chết, hay vì hoảng sợ đã bỏ chạy khỏi xứ. Vào tháng 8/1979, sau gần nửa năm thành lập chính quyền Heng Samrin, hẳn nhiên qua chỉ thị của Hà Nội, đã mở phiên tòa xử tội ác Khmer Đỏ (Một công việc mà hơn 20 năm sau LHQ vẫn chưa thực hiện được do sự thiếu cộng tác của chính quyền Hun Sen, tính đến thời điểm viết chương sách này là tháng 4 năm 2001.) Tại “tòa án cách mạng của nhân dân” này, hai sát thủ của chế độ tàn bạo nhất trong lịch sử Cam Bốt là Pol Pot và Ieng Sary với tội danh diệt chủng đã bị tòa xử tử hình khiếm diện. Trong những khó khăn vô vàn của thời kỳ hồi sinh sau đại họa diệt chủng, chế độ bù nhìn tại PhnomPenh lại phải đương đầu với khó khăn mới. Đó là sự ra đời và lớn mạnh của phong trào Kháng chiến tại biên giới Thái – Cam Bốt, trong đó gồm luôn cả lực lượng kháng chiến của Khmer Đỏ, nhằm chống lại sự chiếm đóng Cam Bốt của bộ đội Hà Nội.

… Trong lúc Cam Bốt đang bước vào năm thứ tư của giai đoạn “sống lại” sau thời kỳ diệt chủng, thì tôi cũng vừa mới đến xứ này như đã nói trong phần đầu của chương 4. Qua mấy tháng kiếm sống bằng nghề thợ phụ trong các gara sửa xe của người gốc Việt tại PhnomPenh, tôi đã quen nhiều gia đình người Việt nhờ đó đã xin được một chân dạy kèm.

Dạy Học Và Rồi Tìm Đường Vượt Biển Qua Thái Lan

Đi dạy là một nghề mới đối với tôi, nhưng lại ít bỡ ngỡ, vì khung cảnh trường lớp, thầy trò khá gần gũi. Nó gợi nhớ lại những tháng ngày êm đềm trong quá khứ lúc tôi còn học ở trung học. Nói đi dạy, tức có học trò và được kêu bằng thầy. Nhưng tình thầy trò ở xứ chùa tháp, cụ thể là tại các lớp học do tôi đảm nhận, cách đối xử với nhau thân mật và tình nghĩa. Tình thầy trò ở đây dầu đơn sơ nhưng chưa bị đảo lộn, dù rằng con người nơi đây do chiến tranh, kỳ thị chủng tộc và diệt chủng nên không có điều kiện học chữ Việt nhiều như người Việt trong nước! Nói đến sự liên hệ thầy trò, tôi nhớ lại vào năm 1974, khi còn học tại trung tâm lớp đêm Võ Trường Toản ở Sài gòn, một anh bạn học cùng trường, người này cũng ở chung xóm với tôi, vì tức giận viên giáo sư giám hiệu phê điểm xấu cho anh, nên đã mạnh tay đánh vào lưng vị giáo sư lớn tuổi này khi y tình cờ gặp người thầy đang chạy xe trên đường. Cú đánh này, khiến ông giáo già ngã chúi nhủi trên chiếc Honda cũ. Các lớp tôi phụ trách giảng dạy thường là cấp tiểu học, và chương trình dạy do tôi soạn ra, không giống với các chương trình trong trường học của nhà nước lúc bấy giờ. Việc dạy học chỉ căn cứ vào trình độ học sinh mà thành phần theo học lại không đồng nhất: lớn có, nhỏ có, trai có, gái có. Ai cần học thì tôi dạy và tùy theo sự hiểu biết của từng cá nhân. Nhưng thường là các lớp vỡ lòng abc, cũng có vài người biết được một ít chữ Việt, và muốn học thêm vài chữ trong Anh ngữ.

Lúc mới đi dạy, chỉ lèo tèo vài học trò, tiền dạy học chỉ vừa tạm đủ. Có tháng thiếu, đời sống hơi bấp bênh, tuy nhiên được tự do hơn và không nhọc xác như lúc đi làm công. Các lớp học ở rải rác trong thành phố, nên tôi phải đi bộ từ nơi này sang nơi khác. Có lớp học vào 1 giờ trưa, trời nắng chói chang, nhưng phải lội bộ tới nhà học trò và đôi khi lớp học đó chỉ có một người. Dần dần có đông người học hơn, tiền thu vào cũng đỡ nhưng vẫn không dư. Thời kỳ đi dạy, tôi có thời giờ tới thư viện quốc gia trong thành phố tìm thêm sách đọc. Ông quản thủ thư viện là người đàn ông lớn tuổi nhưng còn khỏe mạnh, biết một ít chữ Việt. Theo lời ông kể lại, thư viện này thời Pol Pot bị biến thành chỗ nuôi heo, sách vở quý hiếm của quốc gia bị đốt bỏ hoặc bị liệng ra ngoài đường. Ông thoát chết trong thời Pol Pot nhưng phải chịu cảnh lao động khổ sai trong trại cải tạo. Thư viện quốc gia Cam Bốt là một dinh thự bề thế, mang nét kiến trúc thời thực dân Pháp. Chung quanh thư viện là khu vườn mát nhiều bóng cây và bông hoa. Mỗi tuần, lúc rảnh rỗi sau giờ dạy học, tôi thường đi bộ tới thư viện tìm mượn sách đọc. Có lúc mang sách về nhà trọ, nhưng có khi nhìn thấy không gian yên tĩnh chung quanh thư viện gợi nhiều hứng thú, nên tôi lấy sách ra ngoài khu vườn cây, tìm lấy một băng đá ngồi đọc. Tình cờ một hôm, khi tới thư viện mượn sách, tôi thấy nhiều người nước ngoài tới thăm thư viên, ̣ nhìn thấy họ là người da trắng nhưng không biết rõ ở quốc gia nào, Pháp hay Liên xô hay môt nước Đông Âu nào đó. Khi tôi đang ngồi ở góc sân bên cạnh tượng đá, cúi đọc từng trang sách, bỗng nghe tiếng động trước mặt, ngước lên gặp ngay người khách nước ngoài đang cầm máy ảnh chụp cảnh tôi đang ngồi đọc sách. Tôi cười và chào vị khách tình cờ, nhưng khách hơi lúng túng vì có ý chụp lén lại bi ̣bắt gặp. Có thể lúc ấy, người chụp ảnh nhìn thấy tôi đang ngồi đọc một cách bình yên, chăm chú là môt ̣hình ảnh khá khác thường ở đất nước vừa thoát khỏi cơn đai nhân họa. Cũng có thể khách không biết tôi là một người Việt vì hoàn cảnh mà phải trôi nổi qua xứ chùa tháp.

Sách trong thư viện nghèo nàn, những người đến tìm đọc thường là học sinh, sinh viên người Khmer, rất ít người Việt đến đây. Thế nhưng sách ở đây phần nhiều là sách của Hà Nội tặng cho nhà nước Cam Bốt. Sách nước ngoài lại hiếm, nếu có thì phần nhiều được viết bằng Pháp ngữ. Ngoài vài cuốn tiểu thuyết viết về “chiến tranh chống Mỹ” của bộ đội Hà Nội, còn lại là sách mang nội dung tuyên truyền cho chế độ. Tôi có lúc ôm mấy cuốn trong “Tuyển Tập Lê Nin” về nhà trọ nằm đọc, vì nghe nói Lê Nin là “thiên tài cách mạng”, thì chắc sẽ có nhiều bổ ích trong quyển sách do một thiên tài viết. Nhưng đọc đi, đọc lại cũng không hiểu gì. Sự khô khan nhàm chán không kích thích nổi sự tò mò của trí tuệ thanh niên vốn luôn háo hức tìm cái mới lạ trong bể kiến thức mênh mông của con người.

Đời có nhiều hội ngộ ngoài ý muốn. Năm 1982, thư viện quốc gia Cam Bốt là nơi tôi thường lui tới trong những ngày chờ vượt thoát ra nước ngoài. 20 năm sau, khi vượt tù cải tạo, tôi lại đến xứ chùa tháp, đi ngang khung cảnh cũ của thư viện, tôi bùi ngùi nhớ lại khoảng thời gian ngày trước. 20 năm với biết bao thay đổi, tôi từ một thanh niên nhiều uớc vọng, nay trở thành một trung niên với lòng trĩu nặng vì tình đời, tình người!!! Đứng trầm ngâm trước những chậu bông do vài người Việt bày bán ở bên ngoài cổng thư viện, tôi chưa muốn nhìn vào nơi cũ vì sợ lòng mình dấy lên nỗi buồn mênh mang. Nhưng rồi vì muốn xem khung cảnh cũ thay đổi bao nhiêu sau 20 năm, tôi cố ngó vào bên trong để tìm lại dấu vết ngày xưa. Chắc chắn người quản thủ thư viện tốt bụng năm xưa không còn ở đây nữa. Ông đã đi khỏi nơi trần gian buồn phiền nầy, hay là đang sống cho những ngày còn lại ở một góc nhỏ nào đấy, trên xứ sở chùa tháp nghèo nàn lắm tai ương. Khung cảnh cũ hầu như không thay đổi mấy, cũng khu vườn chung quanh thư viện, cũng mặt tiền dinh thự mang nét kiến trúc kiểu thời thực dân. Và cái sân nhỏ phía trước tràn đầy ánh nắng vẫn vắng lặng yên tịnh như năm nào tôi tới đây!!!

Ngoài thư viện quốc gia Cam Bốt, thành phố Nam Vang lúc đó có lác đác mấy tiệm sách nằm trên đại lộ chính. Các tiệm sách đều là của nhà nước, nhưng sách ở đây mới hơn và có nhiều sách bằng Anh ngữ. Thời gian này đã xảy ra cuộc chiến tranh biên giới giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Tình nồng thắm “đất liền đất, sông liền sông” đã qua đi, thay vào đó là sự cấu xé nhau. Đây có phải là chân lý muôn đời? Sách Anh ngữ ở đây đa phần nói về tình hình nội bộ đảng cộng sản Trung Quốc. Rất nhiều chi tiết thú vị đã được giữ kín trong thời kỳ hai đảng còn đoàn kết, nay không còn cần gìn giữ nữa, nên đem ra bêu xấu nhau và nói tốt cho đảng mình. Tôi có đọc về lịch sử đảng cộng sản Trung Quốc trong thời gian thành lập và giai đoạn mở cuộc trường chinh về căn cứ địa Diên An. Chắc rằng họ Mao là con người thủ đoạn, sâu độc qua những hành động trong việc sắp xếp hội nghị đảng với tên gọi “Tuân Nghĩa”, nhằm mục đích thâu tóm quyền lực trong đảng qua hàng loat cuộc thanh trừng đồng chı́ mı̀nh, vừa phải đối phó với quân quốc gia, giữa lúc đạo quân “cách mạng” đang trên đường trường chinh. Nhưng qua ngòi bút tuyên truyền của đảng anh em, họ Mao không những thủ đoạn, tàn ác, còn là người đa tình tham lam quyền lực. Những điều này không lạ trong một thế giới mở rộng thông tin (chuyện trong phòng kín của một vị tổng thống cũng có thể bị công luận đàm tiếu, nếu tác phong của người đại diện dân cử không xứng đáng), nhưng sẽ rất lạ trong thế giới cộng sản khi lãnh tụ luôn được coi như “thần thánh” không bao giờ sai phạm và người dân bị nghiêm cấm nói đến đời tư của lãnh tụ mặc dù họ cũng “người” như mọi người dân khác. Khả năng Anh ngữ của tôi không xuất sắc gì, hồi ở trung học, một tuần theo quy định của Bộ giáo dục ở Sài Gòn, chúng tôi chỉ được học 6 giờ một tuần. Giáo sư Anh văn là người Việt và học trò học đọc, viết, nói một cách căn bản. Nhưng giờ học quá ít và không có điều kiện đàm thoại trực tiếp với người nước ngoài, vì vậy khả năng Anh ngữ cũa học sinh trung học thường bị giới hạn. Sau khi miền Nam bị sụp đổ, tôi không còn dịp nào tới trường nữa, nhưng lòng hiếu học không mất, do đó đi đến đâu, tôi cũng kiếm sách học thêm. Không có trường, không có thầy, tôi tự học. Việc học như thế phải kiên nhẫn, nhiều tự tin trong nhiều hoàn cảnh dễ gây chán nản lòng người. Cho tới năm 44 tuổi, sau hơn 8 năm ra khỏi tù, dĩ nhiên tôi không nói thành thạo Anh ngữ, song với cố gắng tự học liên tục, tôi có thể tra cứu các tài liệu bằng Anh ngữ, đặc biệt là các bản văn chính trị. Nhờ đó mà công việc viết lách sau này gặp nhiều thuận lợi.

Vượt biển đi Thái

Nghề thầy giáo không hẹn lại gặp, đã tạo nên nhiều cái vui buồn đáng nhớ trong cuộc đời. Tôi đi dạy từ giữa năm 1982 tới tháng 9/1983. Trong năm 1983, có một gia đình người Khmer gốc Tàu biết nói chút đỉnh tiếng Việt, thuê tôi đến nhà dạy vài câu chữ Anh cho con cháu họ. Gia đình này có ý định rời Nam Vang đi ra ngoài sinh sống từ lâu nhưng vẫn giữ kín. Tôi may mắn biết tin họ sẽ ra đi, chỉ vài ngày trước khi cuộc khởi hành bắt đầu là do người học trò cho biết. Lúc đó phong trào bỏ xứ ra đi của người Cam Bốt đã lan rộng. Ngoài việc sử dụng đường bộ vượt ngang biên giới Thái – Kampuchea để vào các trại tị nạn dọc theo biên giới, những người có tiền hơn còn tham dự vào các chuyến vượt biển từ các tỉnh miền Nam Cam Bốt nằm ven vịnh Thái Lan. Những hoạt động vượt biển này do một số người Cam Bốt lai Việt tổ chức.

Mục đích tôi đến Cam Bốt chỉ để mượn đường đi qua Thái tìm tự do. Nhưng thực tế đời sống nơi đây buộc tôi phải dừng lại chưa thể thực hiện ý định. Khi biết được tin này tôi rất mừng, nhưng tiền đâu để thực hiện ý định, bởi vì nghe bà mẹ người học trò nói những kẻ tổ chức chuyến vượt biển đòi mỗi người từ vài lượng vàng trở lên tùy theo sự quen biết với chủ ghe. “Ngộ biến phải tùng quyền”, vì thời gian còn quá ít, tôi không thể chạy đâu ra số tiền lớn như thế, nhưng nếu có đủ thời giờ, tôi cũng bất lực, vì một thầy giáo nghèo rớt mồng tơi như tôi lại không quen biết nhiều ở xứ sở này thì đào đâu ra vài cây vàng. Để không bị lỡ cơ hội tôi đã phạm tội nói dối, đúng hơn là tội lường gạt người – mặc dù kẻ bị tôi lường gạt đang có ý định lường gạt những người khác!!!

Sau nhiều suy nghĩ, tôi nhờ người học trò nói lại với bà mẹ anh ấy là tôi muốn thưa chuyện với bà. Vì qua bà, tôi có thể nói chuyện và tạm thời tạo tin cậy ban đầu với những người tổ chức chuyến vượt biển. May mắn trong thời gian dạy học tại gia đình này tôi tạo được cảm tình, nên mẹ anh học trò đồng ý nói dùm là tôi sẽ giao vàng cho những người tổ chức sau khi được cho lên ghe và đã rời khỏi bờ sông một đoạn. Dĩ nhiên tôi giấu không cho mọi người biết là tôi không có vàng. Do nể lời gia đình người học trò nên chủ ghe đồng ý cho tôi đi cùng. Có thể chủ ghe nghĩ rằng tôi có liên hệ bà con với chủ nhà hoặc là vì nhóm tổ chức đã trúng mối lớn nên không chấp chi những thiệt hại nhỏ nếu có. Hơn nữa, chủ ghe hơi ngại nếu không đồng ý nhận lời cho tôi đi “thiếu”, có thể tôi sẽ làm lộ chuyện. Thật ra đây là cái may khó nói được, bởi vì trong chỗ làm ăn mua bán, tiền trao thì cháo múc, chứ làm gì có chuyện dễ tin như thế. Nhưng dù sao nó cũng đã xảy ra đối với tôi. Khi viết đến cảnh ngộ biến phải tùng quyền của tôi trong chuyến vượt biển tháng 9/1983, tôi lại nhớ tới đề thi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt vào những năm 1971, 1972, mà tôi đọc được trong một tạp san Đa Hiệu của trường. Đề thi viết rằng: Bạn nghĩ thế nào về câu nói: “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nội dung đại khái là như thế, tôi không còn nhớ là có thêm chi tiết nào nữa không, nhưng ở đây tôi chỉ muốn nhắc tới câu: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Lúc đầu đọc đề thi trong tạp san, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của câu nói này, tuy nhiên phải nhìn nhận rằng, đây là một đề thi hay.

Câu nói “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” xét trong trường hợp của tôi khi thực hiện hành động lường gạt người chủ ghe, xem ra “có vẻ hợp lý”. Vì tôi là anh thầy giáo nghèo, lương thiện, chỉ muốn rời Cam Bốt đi tìm tự do, không muốn làm hại ai. Sự lương thiện của cá nhân tôi được gia đình người học trò làm chứng, như vậy mục đích của tôi là tốt, mặc dù phương tiện nhắm tới mang bản chất xấu, nhưng cái xấu này có thể biện minh bởi cứu cánh tốt đẹp?! Thế nhưng câu nói này từ lâu đã dẫn tới nhiều hành động phi đạo đức trên một bình diện đáng sợ vì các phương tiện thực hiện tốt (chỉ ít) hay xấu đã chui vào núp kín đáo dưới lớp áo dày “cứu cánh” để rồi không cần biết đến hậu quả của hành động thực hiện. Đôi khi cứu cánh không bao giờ đạt tới nhưng lại có quá nhiều những phương tiện xấu, và chính điều đấy đã nói lên một mục đích xấu rồi. Nhưng kẻ thực hiện vẫn không bao giờ chấp nhận mình đang đeo đuổi một mục tiêu xấu! Ở đây chỉ dựa vào kinh nghiệm đã xảy ra để lượng định giá trị của câu nói. Khi xét về mặt luận lý, có thể lúc ban đầu, câu nói này chưa gây ra những hậu quả tồi tệ!? Hoặc có thể một nhà luận lý học (hay nhà chính trị) nào đó đã dùng câu nói này để mở đường cho những vi phạm đạo đức có hệ thống. Hoặc câu nói đã được đúc kết hay được khai sinh từ thực tế với không ít xương máu bị đổ xuống.

Luận lý trên, không chỉ xét trong phạm vi những người cộng sản, mà nó cũng đã diễn ra thật phổ biến trong phạm vi con người nói chung. Nhất là về lĩnh vưc chính trị, một lĩnh vực luôn chi phối đời sống con người, mặc dù nhiều người không muốn can dự vào đời sống chính trị, nhưng vẫn bị nó chi phối, ảnh hưởng.

… Các khách đi vươt biên, đư ̣ ợc chủ sắp xếp di chuyển từ Nam Vang về tỉnh lỵ Kam Pot, một tỉnh ở miền Nam Cam Bốt nằm ven vịnh Thái Lan, sát cạnh tỉnh Hà Tiên, sau đó khách được “ém” vào một ngôi xóm nhỏ yên lặng gần bờ biển. Khi nhá nhem tối, từng nhóm nhỏ vài người khách từ vài địa điểm khác nhau

ở gần đó được dẫn ra nơi ghe đậu, rồi lần lượt lên ghe, chuẩn bị cho chuyến hành trình xa. Cách tổ chức khá chu đáo, vì người của họ có mặt tại nhiều địa phương và hẳn nhiên có ăn chịu, nhưng không rõ đường dây như thế nào. Khi tôi di chuyển từ tỉnh lỵ Kam Pot về con xóm nhỏ thì bị du kích địa phương chận lại, trong số các khách hàng thì chỉ có tôi là có nước da trắng và không nói tiếng Khmer rành. Nhưng lại thêm may mắn, vì nhóm đưa đi vẫn theo chúng tôi từ xa, khi nhìn thấy du kích chận đường, và có thể nhận thấy chưa có gì nghiêm trọng, nên họ đã nhanh chóng đến cứu giúp.

Chuyến ghe tôi đi có tất cả 30 người, đa số là người Khmer gốc Hoa (hình có tính cách minh họa). Người tổ chức không đi, sau khi thu vàng, ông ta, một người Cam Bốt gốc Chàm, đã giao ghe lại cho anh tài công người Khmer. Ở đây xin nói thêm một chi tiết, chủ ghe đi trên chiếc ghe nhỏ hơn với những người cùng nhóm, gọi là ghe taxi. Tính toán như thế, chủ ghe có thể dễ trốn một khi ghe chở khách bị bắt. Hai là vì chủ không muốn vượt biển vì còn ở lại tổ chức nhiều vụ làm ăn hái ra vàng, nên dùng ghe nhỏ chạy theo để thu hết số vàng còn lại của khách còn thiếu, rồi trở lại bờ. Tài công dẫn vợ và một đứa con còn nhỏ vượt biên, anh từng lái ghe đi buôn trên tuyến đường Kampot – Kohkong – Trat (Trat là một tỉnh miền biển của Thái Lan, nằm sát cạnh Cam Bốt). Anh được chủ cho đi không, vì có công lái chiếc ghe này. Mặc dù quen đường, nhưng trong chuyến đi đó tài công đã lạc đường. Đúng ra tuyến đường chạy từ Kampot đến tỉnh Trat chỉ một hai ngày, nhưng ghe chúng tôi đã lênh đênh trên biển hơn 5 ngày.

Ghe chúng tôi đi cũng đụng hải tặc Thái như bao chiếc ghe khác của đồng bào Việt Nam rời quê hương đi tìm tự do sau ngày 30/4/1975. Nhưng đây không phải là “hải tặc chính hiệu”. Các tên cướp biển mà tôi gặp trong chuyến vượt biển này là các ngư phủ Thái, nhưng khi “cơ hội” đến, dân đánh cá đã biến thành các tên cướp biển một cách dễ dàng. Chỉ tộ̣i cho những người ra đi tìm cuộc sống khác ở ngoài quê hương, đã trở thành những nạn nhân ngon lành cho những tên cướp tham lam không có lòng nhân. Vụ cướp trên chiếc ghe có tôi đi trong đó, diễn ra khá êm thấm vì không có sự chống cự nào. Khi ghe chạy được tới ngày thứ ba của cuộc hành trình, tôi quan sát thấy khu vực chung quanh có nhiều đảo nhỏ, chứng tỏ ghe đang đi trong vùng biển không xa bờ mấy, điều này hợp lý, vì lúc rời bến tôi nghe tài công nói anh chỉ chạy cặp theo bờ biển để vào đất Thái. Trong lúc ghe đi lạc thì anh tài công lại bị bịnh, anh có thân hình to cao nhưng lại mau ngã bịnh vì mưa nắng, gió sương trong mấy ngày lênh đênh trên sóng nước. Buổi chiều hôm đó, ghe chúng tôi gặp một tàu đánh cá Thái không lớn lắm, chúng tôi vẫy tay ra hiệu xin cứu giúp, tàu Thái chạy quanh quan sát, sau đó họ quăng dây qua ghe và ra hiệu cột dây vào đầu ghe để họ kéo đi. Lúc đó tàu Thái cũng chuyền theo dây qua ghe một vài thùng (bằng nhựa chừng 20 lít) nước uống cho đỡ khát. Những giúp đỡ ban đầu này làm cho mọi người trên ghe mừng rỡ, nghĩ rằng có thể cặp bến ở đất Thái để xin tị nạn.

Ghe chúng tôi được tàu đánh cá Thái kéo đi một đổi, nhân lúc ấy, một vài thanh niên trên ghe phụ nhau tát nước ra khỏi ghe. Đáy ghe bị lủng mấy lỗ và nước tràn vào, tuy không nhiều, nhưng để lâu có thể làm chìm ghe. Và cũng nhân lúc được tàu Thái kéo giúp, anh tài công cố gắng sửa lại máy ghe, vì lúc bị lạc đường, ghe bị hư máy. Trong lúc ghe có nhiều việc phải đối phó và đa số khách trên ghe là thường dân, nên họ lo sợ cho tính mạng, tài sản của gia đình thân nhân họ đang đi trên ghe, một không khí hoảng hốt bao trùm, mặc dù chưa tuyệt vọng, nhưng nhìn mỗi người ai cũng lộ vẻ lo lắng. Giữa lúc ấy, tôi vẫn theo dõi chiếc tàu Thái đang kéo chiếc ghe đi, và nhận thấy lộ trình tàu đi không nhất định, dường như đang dò tìm địa điểm. Điều này làm tôi ngạc nhiên, vì đây là vùng đánh cá tuy có hơi xa bờ, nhưng chưa phải ở tận ngoài hải phận quốc tế. Và ít gì họ cũng đã quen thuộc lối đi đường về, như vậy tại sao lại phải đi dò đường? Thứ nữa, tôi thấy xuất hiện trên tàu Thái những gã có dáng điệu hung dữ, có người đang rút ra một khẩu súng ngắn, chưa biết có ý định gì. Tất cả những hình ảnh này tôi đã không thấy khi chiếc tàu này chạy quanh chiếc ghe chúng tôi để quan sát trước khi quăng giây cột kéo.

Khi mặt trời lặn và màn đêm buông xuống nhanh, làm cho không gian chung quanh tınh mịch một cách đáng sợ, tàu Thái kéo ghe chúng tôi vào trong một cụm đảo nhỏ, lúc ấy không còn trông thấy rõ nữa hình ảnh xanh đậm của rừng cây bao phủ quanh đảo, giờ nhường lại cho một hình ảnh đen xù xì phía trước qua ánh đèn vàng duy nhất trên chiếc tàu tỏa ra. Ở nơi đây khá kín đáo vì ít có ghe tàu đánh cá khác đi lại như tôi thấy vào ban ngày. Lúc vào sâu trong cái vịnh nhỏ này, chiếc tàu đánh cá ngưng lại và rút dây cho ghe chúng tôi cặp sát vào đuôi tàu. Lúc đó, bọn họ mới ra tay. Ba tên khỏe mạnh, mặt mày hung ác, nhảy xuống chiếc ghe, trong đó có một tên cầm một cây súng ngắn và một tên cầm cái chỉa ba, cây chỉa này chắc hàng ngày để xúc hay đâm cá. Những tên cướp phất tay ra hiệu mọi người ngồi im, chúng đi từ đầu ghe tới cuối ghe tìm kiếm, sau đó ra lịnh cho một người đàn bà và một thiếu nữ còn rất trẻ, cô gái đó độ 16 tuổi, đi qua ghe chúng. Mặt khác, bọn cướp dí súng và chỉa ba bắt mọi người phải nộp tiền, vàng và các thứ mà chúng cần. Có tên lấy cả sợi dây nịt của một thanh niên, khiến tôi tự nghĩ ở Thái không lẽ không có, và không lẽ các tên cướp này nghèo tới độ đó hay sao!? Chưa đủ, chúng còn chui xuống hầm ghe để lục lạo thêm, nhưng trong cái hầm ghe nhỏ chỉ có một ít than và gạo. Trong bóng đêm lờ mờ, tôi thấy ông thân sinh của anh học trò đang quì xuống van lạy bọn cướp tha mạng cho ông. Vì quá sợ bị giết, ông đã lần tay vào trong cái sà rong dùng làm khăn đang quấn quanh mình, lấy ra 1 lượng vàng dâng nộp cho chúng. Phần hai phụ nữ bị bắt qua tàu – trên ghe của tôi có 5 phụ nữ nhưng chỉ có hai người còn trẻ bị bắt – tôi thấy chúng đưa hai người này đến một tên có vẻ là chủ tàu, hay đàn anh của chúng. Sau đó hai nạn nhân bị dẫn vào trong khoang tàu. Hơn một tiếng đồng sau, người đàn bà và cô gái được đưa trở lại ghe, lúc ấy tàu Thái nổ máy chạy sau khi ném lại cho chúng tôi một cái mỏ lết để sửa máy ghe, cái mỏ lết này có được là do tài công xin bọn chúng. Sau này khi đã lên tới trại tị nạn Sikhiu, tôi được biết cô gái trẻ nhất tìm lên văn phòng cao ủy trình bày lại sự việc cô bị hành hung và làm xấu ở dưới tàu. Công việc này, cao ủy tiến hành kín đáo và tế nhị, vì có nhiều người do lòng e ngại hay xấu hổ đã không muốn những người sống cùng trại biết được chuyện riêng tư của họ khi còn trên ghe, bởi vì những sự việc đó có thể sẽ đeo đuổi, ám ảnh họ trong suốt cuộc đời tị nạn ở nước ngoài. Còn người đàn bà thứ hai độ hơn 20 tuổi, đã có chồng, một người đàn ông làm nghề bán vàng tại Chợ Lớn, đi cùng ghe với vợ. Người phụ nữ này có chút đỉnh nhan sắc, khi mới lên ghe tại Kam Pot, cô đã khéo léo cải trang thành một phụ nữ mặt mày lem luốc để tránh những tên háo sắc, nhưng cố gắng của cô không thành công. Những trường hợp phụ nữ bị hãm hiếp trên đường vượt biển là một câu truyện dài, lắm thương tâm. Mỗi một thành công đều có cái giá của nó. Đây có phải là một đánh đổi với giá quá cao cho sự trốn chạy tìm tự do? Cũng có rất nhiều người đã bị hải tặc làm nhục rồi bị giết trên đảo hoang hay bỏ xác trên biển cả. Chính những người cộng sản Việt Nam tạo nên những thảm cảnh này khi chúng dồn những người dân Việt trốn chạy khỏi quê hương để tìm sự tự do cho bản thân và gia đình. Và mặc dù Thái Lan đã dung chứa không ít người Việt trên đường trốn chạy, thế nhưng bọn cướp biển người Thái, dù là bọn cướp biển rặt ri hay đám cơ hội, cũng góp phần làm cho chương sử vượt biên, vượt biển của người Việt thêm bi thảm.

Đó là chưa nói chuyện số người Thái phục vụ trong các trại tị nạn và những người Thái có liên hệ tới công việc này đã làm giàu thêm vì sự ăn chận, ăn bớt tiền của Cao Ủy tị nạn giúp đỡ cho người Việt Nam! Đây là mặt trái hiển nhiên của lòng nhân đạo con người, đây là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống, đây cũng là quy luật hành xử trên quan điểm quyền lợi của từng quốc gia. Chỉ buồn rằng dân Việt lại là nạn nhân trong cái quy luật thực tế và cay đắng đó!!!

Sau vụ ghe bị cướp chừng một ngày, chúng tôi tấp vào bờ trong một đêm chủ Nhật. Nơi ghe cặp bến là một cảng cá thuộc quận Laem Ngop, tỉnh Trat của Thái. Khi ghe chạy từ từ vào cảng, dưới bóng đèn bến cảng, tôi thấy có vài công nhân làm ca đêm, chính những người này đã thông báo cho cảnh sát địa phương đến tạm giữ chúng tôi. Sau đấy tất cả 30 người được cảnh sát đưa về trú tạm tại nhà xe của cơ quan cảnh sát quận. Khá nhanh chóng, chỉ hơn ngày sau, đại diện Cao Ủy Tị Nạn từ thủ đô Băng Cốc đã xuống tới. Liền theo đó, thực phẩm như gạo, thịt hộp, rau, cá hộp, thuốc men, mùng mền được phân phát cho từng người từng gia đình. Viên cảnh sát trưởng của quận Laem Ngop là một sĩ quan trẻ, trong ghe chỉ có mình tôi lấp bấp, lõm bõm mấy câu tiếng Anh, nhưng nó lại đem cho tôi nhiều cơ hội làm quen và người quen đầu tiên của tôi tại đất Thái là anh sĩ quan trẻ này. Anh sĩ quan cảnh sát chỉ định tôi làm “thông dịch” cho số người trên ghe với cơ quan cảnh sát quận. Trong mấy ngày tạm trú tại Laem Ngop, có một phái đoàn các quân nhân Thái đang đi tu nghiệp gần đó, nghe tin có những nạn nhân tị nạn cộng sản Việt Nam hiện có mặt tại quận nhà, nên họ kéo nhau tới thăm nhân ngày nghỉ làm việc. Trong đoàn có một quân nhân tuổi độ hơn 40, chức vụ có lẽ là thượng sĩ, anh biết khá nhiều tiếng Anh. Nghe giới thiệu tôi biết chút đỉnh tiếng Anh trong nhóm người tị nạn, nên anh đến trò chuyện. Anh quân nhân này trình bày rõ lập trường chống cộng của anh, thái độ rất nồng nhiệt. Đây có thể là người đầu tiên và duy nhất mà tôi gặp trên đất Thái có thái độ tích cực như vậy.

Tôi và anh quân nhân đó ngồi nói chuyện về một tương lai sắp sụp đổ của thế giới cộng sản, không biết tôi và người lính đó dựa vào dữ kiện nào mà có một quyết tâm khẳng định như vậy giữa lúc khối cộng đang bành trướng thế lực của họ trên khắp thế giới, hay là chỉ vì một niềm tin trong lòng nên phát ra những lời nhằm tạo sựcân bằng về tâm lý mà thôi. Chúng tôi khẳng định chỉ trong vòng 10 năm nữa, khối cộng sẽ tan rã vì lòng dân không theo. Trong lúc đó, viên sĩ quan cảnh sát quận đi ngang qua nghe chúng tôi nói như thế đã cười lớn và phủ nhận. Vị sĩ quan khoát tay và nói câu “one hundred years more”. Ý anh muốn nói phải đợi một trăm năm nữa thế giới cộng sản mới sụp đổ. Nhưng chỉ không đầy 8 năm sau, con người trên quả đất này chứng kiến sự rung chuyển dữ dội của cách mạng Đông Âu và sự nổi dậy của người dân Liên sô – đưa gần hết khối cộng đi tới chỗ tan rã nhục nhã!Không phải tôi và người lính bình thường nhưng nồng nhiêt ṿới lý tưởng tự do tại quận Laem Ngop năm nào là hai “nhà tiên tri” hay “dự báo chính trị” hoặc là các phân tích gia “tiên đoán thời cuộc”, nhưng sự sụp đổ của khối cộng vào những năm 1989-1990 là hậu quả tự nhiên, tất nhiên, phải đến của một hệ thống phản luận lý, không luôn thích nghi với quy luật đa dạng, thường xuyên biến đổi môt c̣ách năng đông của cuộc sống con người. Nó chết vì nó không thực tế, nó chết vì nó không bao giờ đáp ứng được nguyện vọng bình thường của người dân, nó phải chết vì trong nó không chứa sự sống tự nhiên.

Không biết khi xảy ra sự kiện Đông Âu và kế đó là sự sụp đổ của đế quốc cộng sản Liên Sô, vị sĩ quan cảnh sát ở quận Laem Ngop có còn nhớ tới buổi nói chuyện vào tháng 9/1983, giữa tôi và người lính Thái, ở khu nhà xe của văn phòng cảnh sát quận hay không? Còn tôi, sinh ra và lớn lên trong một quê hương bất hạnh triền miên, lúc ấy đang bị giam cầm trong trại T. 82 tại Sài Gòn, chờ ngày bị đưa đi ra trại cải tạo ở miền Trung xa xôi, cằn cỗi, dù thân đang bị nhốt trong ngục, nhưng niềm tin vào ngày tươi sáng hơn trên quê hương chưa bị mất.

Trong những ngày ở Laem Ngop, hai vợ chồng tốt bụng của viên sĩ quan cảnh sát đã giúp đỡ cho đám người tị nạn khá nhiều. Có lúc thực phẩm cung cấp của Cao Ủy Tị Nạn cạn và hàng phân phối chưa tới kịp, vị sĩ quan vui vẻ bỏ tiền túi ra mua giúp cho chúng tôi ít rau tươi. Nhìn thấy cuộc sống hạnh phúc của hai vợ chồng vị sĩ quan cảnh sát, tôi đâm thèm thuồng một cách thầm kín không khí ấm cúng gia đình đó. Laem Ngop cũng để lại trong tôi những hình ảnh đầu tiên về nước Thái, như con đường quê tráng nhựa, thẳng tắp chạy ngang cơ quan cảnh sát với những hàng quán sạch sẽ ngăn nắp. Hàng hóa thực phẩm không dồi dào lắm nhưng nhiều và hấp dẫn hơn thành phố Nam Vang, dù chỉ là một quận lỵ nhỏ mà thôi. Ngôi trường tiểu học khang trang với những em học sinh vóc hình khỏe mạnh, quần áo gọn gàng, tóc hớt cao, ngày hai buổi đến trường trong khung cảnh thanh bình của xã hội Thái không có chiến tranh từ lâu. Sau khu vực nhà xe cảnh sát là những cánh đồng lúa với những hàng dừa xanh um. Dừa ở đầy nhiều quá, tôi thấy rụng đầy nhưng lại ít ai lượm. Vài thanh niên trong nhóm chúng tôi đã xin cảnh sát đi lượm dừa rụng về đập ra lấy nước uống còn cùi dừa thì nhai ăn chơi. Không khí trong lành, nếp sinh hoạt yên tĩnh của một địa phương nhỏ như Laem Ngop gây cho tôi một cảm giác yêu mến miền quê vùng biển này. Và lòng ước ao quê mình cũng được như thế để tôi không phải rời quê hương đi kiếm sống ở xứ người. Thế nhưng đó chỉ là mơ ước mà thôi, tiếc thay!

Ngày tôi rời Nam Vang đi xuống tỉnh lỵ Kam Pot nhằm ngày 3/9/1983, sau hơn 5 ngày đêm lênh đênh trên sóng nước, ghe chúng tôi cặp vào bờ biển của Thái Lan. Bị giữ tại quận Laem Ngop thuộc tỉnh Trat ở miền Nam Thái hết 11 ngày đêm. Sau cùng cảnh sát quận Laem Ngop đã chuyển giao cho chúng tôi tới trại tị nạn Sikhiu thuộc tỉnh Nakhon Ratchasima hay còn gọi là tỉnh Kho – Rạt ở hướng bắc đông bắc của thủ đô Băng Cốc, Thái Lan.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment