phamhoangtung.blogspot.com
Phạm Hoàng Tùng
Post by Sơn râu 19 Oct 2024

3. Chương 3
Vượt Biên Qua Cam Bốt Lần Thứ 1, 1982
Di Ảnh “Thiên Đường!!!” Khmer Đỏ- PolPot.
Chế Độ Cộng Sản – Không Phải Mùa Xuân – Chính Là Địa Ngục Trên Trái Đất.
(Bắt đầu viết ngày thứ tư 8/11/2000)
Nhóm năm người chúng tôi khởi hành vào buổi tối, lúc đó chừng gần 8 giờ. Từ nhà ông Chín trưởng ấp, chúng tôi mang hành lý đi bộ đến phía tây cù lao, nơi đây có một bến đò nhỏ độ khoảng 10 chiếc ghe lớn nhỏ đang đậu. Nhờ những ánh đèn dầu hắt ra từ các mũi ghe, tôi quan sát thấy cạnh đấy có buổi chợ đêm lèo tèo vài hàng quán để bán cho khách vãng lai tại bến đò. Chúng tôi bước xuống một chiếc ghe khá lớn so với những chiếc đang đậu gần đó, ghe nhỏ có lẽ không đi xa được. Nhìn anh Tư Trung chuyện trò vui vẻ, thân mật với chủ ghe và mấy người đi buôn ngồi kế bên, tôi đoán anh quen khá nhiều người tại bến đò. Khoảng tiếng đồng hồ sau, ghe nổ máy chạy ra xa rồi quay mũi về hướng tây, ngược dòng Mekong đi về biên giới Cam Bốt. Ghe chạy suốt đêm, ngồi lâu trong khoang cũng bó chân, tôi chen mình lách ra sau ghe, đứng cho giãn gân cốt. Gió sông mát lạnh, trên bầu trời đêm ấy nhiều sao. Khi đến một đồn công an kiểm soát việc đi lại trên sông ngang biên giới hai nước, tôi nhìn thấy chủ ghe lên bờ nói chuyện với công an gồm cả người Việt lân Cam Bốt. Chắc là đưa họ tiền “mãi lộ”. Chủ ghe chạy tuyến đường sông này thường ăn chịu với công an cửa khẩu, dĩ nhiên tiền lo lót này lấy từ khách đi đò, vì giá cả đã được chủ ghe tính gồm vào giá tiền chuyến đi của mỗi khách đi đò. Thêm một chi tiết nữa khiến cho chuyến vượt biên của chúng tôi ít gặp khó khăn. Đó là các ngỏ đường qua biên giới Việt – Kampuchea, sau khi bộ đội Hà Nội đóng quân trên xứ chùa tháp, đã “buông lỏng” cho người Việt đi qua lại làm ăn buôn bán. Chính nhờ điểm này nên thời gian đó những người muốn vượt biên qua Cam Bốt sinh sống hoặc mượn đường này đi tới Thái, khá nhiều. Hẳn nhiên đoàn chúng tôi vượt trạm kiểm soát được là nhờ sự có mặt của anh Tư Trung. Anh Tư không những quen với các chủ ghe, nhưng anh còn quen với lính gác trạm, họ thấy anh Tư “vô hại”, vì anh lên xuống điểm biên giới này thường xuyên chỉ để mua bán mưu sinh. Thêm nữa, anh Tư từng đi bộ đội trên xứ Kampuchea rồi. Trong trường hợp bất thường, đoàn chúng tôi lại có thêm một người “cứu nguy“ là cựu Trung tá Ngô Hữu Phước. Ông Phước đóng vai ông già Kampuchea dẫn gia đình trở về thăm quê sau hàng chục năm sinh sống trên đất Việt. Nói như vậy, chứ thật ra, anh Tư Trung nắm rõ đường đi nước bước trên lộ trình và khá tự tin sẽ không có gì trở ngại khi đi đường! Phần nữa, anh nhận thấy việc giúp đỡ gia đình bà mụ đã giúp vợ anh sinh đẻ trước đây là chuyện có qua, có lại bình thường, và chúng tôi nói với anh việc tìm đường đến Nam Vang chỉ để kiếm việc làm sống qua ngày. Còn chuyện tiếp theo đó, tuy anh không hỏi, nhưng chúng tôi cũng đoán biết anh thừa hiểu. Song vốn tính tình hiền lành, chỉ muốn an phận làm ăn nuôi vợ con, nên anh Tư rất dè dặt kín đáo khi nói tới các vấn đề xã hội! Hơn ba giờ sáng, ghe chúng tôi đến bến phà Hố Lương, lúc đó trời còn tối lắm, tôi không xác định được ghe đậu nơi nào ở Hố Lương. Sau này, mới biết ghe bỏ chúng tôi lên mạn bờ phía tây của Hố Lương. Vì nếu đi từ Nam Vang về quận Hố Lương (Nek Luong) thuộc tỉnh Prey Veng, trước khi đến quận lỵ, phải qua bắc Hố Lương. (Prey Veng giáp với tỉnh Đồng Tháp và một phần tỉnh Long An của VN, nếu đi từ Nam Vang về Prey Veng ta sẽ đi từ Tây sang hướng Đông – Nam.) Xuống ghe ở điểm này, tiện cho khách, vì gần đó có bến xe chạy về PhnomPenh, PhnomPenh là tên gọi quốc tế. Cư dân Việt ở Cam Bốt hay đồng bào mình ở trong nước quen miệng kêu Nam Vang. Thói quen lâu ngày, nên nhiều người lại ít nhớ tới chữ PhnomPenh. Nam Vang, tên gọi đã có từ lâu, nếu bỏ hai chữ Nam Vang mà chỉ gọi PhnomPenh thì người dân thường thấy ngượng miệng. Nhân nói chuyện một cái tên nhưng có hai cách gọi, người viết lại nhớ tới quê mình. Sài Gòn bị buộc phải đổi tên, một nơi lại “có hai cách gọi”. Đó là chuyện dân Sài Gòn bị buộc phải kêu thủ đô Sài Gòn bằng cái tên: “thành phố Hồ Chí Minh”. Ngoài miệng hay trên công văn giấy tờ của chế độ đương thời thì dân phải “ráng” làm theo lịnh nhà cầm quyền. Nhưng trong bụng dân đến bao giờ mới quên được hai chữ Sài Gòn quá quen thuộc, quá thân yêu, vì đầy ắp kỷ niệm! Ở đây người ta còn học thêm một bài học nhớ đời nữa. Tinh thần sùng bái lãnh tụ, thần thánh hóa lãnh tụ một cách phi lý, đến độ cuồng tín! Trong chu kỳ thịnh – suy, suy – thịnh của quốc gia dân tộc Việt, những ai có công với đất nước, hẳn nhiên dân tộc không phụ lòng. Đất nước, sử sách sẽ dành chỗ đứng xứng đáng cho người ấy, vị đó. Nhưng kẻ không có công, thậm chí phá hoại, đẩy dân tộc vào vòng binh đao khói lửa, khiến quốc gia lâm vào cảnh tương tranh để rồi phải đi tới chỗ tương tàn, nghèo nhục, nhưng chế độ hiên nay lại hao tốn ngân sách xây dưng bao tượng đài lăng miếu, huy động cả guồng máy thông tin to lớn, một chiều, cưỡng buộc dân chúng phải kính trọng, tôn thờ! … Vừa lên khỏi ghe, anh Tư Trung đưa chúng tôi vào một quán cà phê nhỏ, đối diện với bến xe đi Nam Vang, vì giờ đó còn sớm, chưa có đủ khách cho xe xuất bến. Trời bên ngoài chỉ mới hé rất ít những vầng sáng của buổi chớm rạng đông, không khí mát lạnh. Trong quán nhỏ, cây đèn dầu cũ tỏa thứ ánh sáng vàng nhạt, mờ đục. Những người đàn ông ngồi bên ly cà phê đen nóng, còn thân mẫu bạn tôi dùng một ly cà phê sữa, năm người trao đổi vài câu chuyện đi đường. Mọi người thở ra một hơi nhẹ, coi như đã vượt qua chặng đường quan trọng trên cuộc hành trình. Chuyến vượt biên đầu tiên của chúng tôi đã thành công hơn phân nửa, đoạn đường còn lại khá dễ, chỉ ngồi xe đò chạy thẳng tới ngoại ô Nam Vang. Tôi cảm thấy chút ít khoan khoái, pha lẫn nỗi bồn chồn, đây là lần đầu tiên ngồi uống ly cà phê đen nơi xứ người. Hố Lương, đêm đó, qua ánh đèn dầu lờ mờ, chỉ có vài con phố nhỏ lụp sụp, im lăng, nhẫn nại.
Tựa như các dãy phố nghèo mà tôi đã đi qua ở ngoại ô Long Khánh hay thị xã Gò Công quê xưa. Hố Lương, sau này nhiều năm, tôi mới biết được thêm, đây đã là địa điểm hẹn hò, liên lạc của Việt Cộng trên đường xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trước kia. Tại đây có vài trăm gia đình đồng bào Khmer gốc Việt, thời chiến tranh trước 1975, họ cũng đã từng trở thành các nạn nhân vô tội bởi những lời đường mật giả nhân giả nghĩa của cán bộ Mặt Trận Giải Phóng, do Luât sư Nguyễn Hữu Tho ̣cầm đầu, như môt cái bung xung đoản kỳ cho lanh đạo đảng ở Hà Nôi.̣ Cũng như một số đồng bào trong nước, các gia đình người Việt ở Cam Bốt, sau này đã đổ vỡ niềm tin một cách ê chề, chua xót, thống hân cả đời. Họ đã tiếc cho những tháng ngày mang thân đi làm “mẹ chiến sĩ”, làm “giao liên” cho “cách mạng”. Thời gian trôi qua, có tiếc nuối cũng không tìm lại được. Nhờ vào sự chân thật của con người lúc ấy mà cái ác tâm được phủ nhung của kẻ giả danh cách mạng mới được nuôi lớn lên để rồi ho ̣quay lưng lại báo oán cho dân lành! Ngồi hớp từng hớp nhỏ cà phê, câu chuyện giữa năm người đã thu ngắn thời gian, trời sáng dần, bến đã có lai rai khách, chúng tôi lên xe. Tài xế cho xe chạy sớm, vì dọc theo đường còn nhiều mối quen hàng ngày đang chờ để mang hàng lên bán ở chợ “Sầm pa ằm pư”, một ngôi chợ sầm uất vào những tháng ngày mới hồi sinh, nằm sát chân cầu phía đông. Cầu này là cửa ngỏ dẫn vào trung tâm thủ đô, cách đó chừng 5 cây số. Đồng bào mình ở Nam Vang thường gọi là chợ Cầu Sài Gòn. Đây chắc bộc lộ tâm tình nhớ quê cha đất tổ khi sống nơi xứ người. Và tôi không rõ cái tên cầu Sài Gòn có từ bao giờ rồi!? Có lẽ hai chữ gần gũi này đi theo gót chân di dân Việt đến đây từ vài mươi năm trước chăng?! Có một chi tiết nữa gắn liền với lịch sử xa xưa hơn 300 năm trước đây của hai miền đất Chân Lạp (ChenLa). Miền Nam ngày trước, chỉ tính từ Bà Rịa – Vũng Tàu kéo dài tới mũi Cà Mau, thuộc về vùng đất Thủy Chân Lạp của người Khmer. Còn Địa Chân Lạp là lãnh thổ lớn mà Cam Bốt hiện nay là một phần trong đó. Trong tiến trình xuôi Nam của người Việt, dần dần miền đất phì nhiêu, rộng lớn nhưng gần như hoang vu này đã có mặt đông đảo cư dân Việt hơn là người bản địa Khmer.
Ngày đó, theo người Khmer hiện nay vẫn nhớ, cha ông họ gọi vùng đất Sài Gòn bây giờ với cái tên “Prey NoKo”. Prey có nghĩa là rừng cây, còn NoKo là kinh thành. “Prey NoKo” là kinh thành giữa chốn sơn lâm. Cách đặt tên địa phương có ý nghĩa như thế ngày nay vẫn còn, thí dụ như tỉnh Prey Veng hiện thời trong hệ thống hành chính 20 tỉnh của Cam Bốt. Veng là dài, vậy Prey Veng là những cánh rừng dài. Có một điểm lưu ý rằng: khi quốc gia Chân Lạp bị người Hán chia thành Thủy và Địa Chân Lạp vào cuối thế kỷ thứ 7, thì địa Chân Lạp có dân cư tập trung ở miền Bắc Cam Bốt ngày nay, như vậy thủ đô có lẽ cũng gần khu vực đó. Đền Đế Thiên Đế Thích – một kinh đô hoành tráng lộng lẫy nổi tiếng mãi về sau này của Vương quốc Khmer – chỉ được người Khmer xây dựng sau đấy chừng 200 năm, cũng ở hướng bắc – tây – bắc Cam Bốt bây giờ. Còn Thủy Chân Lạp nằm về hướng Nam dọc theo vịnh Thái Lan. Cường quốc xuất hiện trước Chân Lạp ở vùng Đông Nam Á này là Phù Nam đã có một hải cảng lớn mang tên Óc-Eo nằm ở tỉnh Kiên Giang của Việt Nam hiện giờ. Như vậy có thể “Prey NoKo” ngày xưa là nơi thị tứ của người Khmer tại vùng đất Thủy Chân Lạp? Ngoài chữ “Prey NoKo”, người Khmer còn gọi đất Sài Gòn với tên “Prey DamKo”, DamKo có nghĩa: trồng xoài. Không hiểu vì lý do gì chữ “Prey DamKo” theo thời gian, lại được đọc thành chữ “Prey Ko”. Ko có nghĩa là gòn (bông gòn), “Prey Ko” có nghĩa là “Rừng Gòn”. Vậy có phải chữ Sài Gòn mà người Việt ta dùng trong 300 năm qua đã có liên hệ với chữ “Prey Ko” của người Cam Bốt trước đây? Và cái tên Sài Gòn, người Việt gọi cây cầu ở ngoại ô Nam Vang cũng bị đọc chạy ra từ chữ “Prey Ko” của người Khmer, khi người bản xứ xây cầu đặt tên? Cây cầu bắc qua giòng Mekong và hướng về miền đông, trưc chı̉ Viêt Nam. Và đó có phải là hoài niệm của dân tộc Khmer về một miền đất cũ khi đang đi trên chiếc cầu hướng đến phía đông!? Hoài niệm – nỗi nhớ – đi tìm về quá khứ của chính mình, chính dân tộc mình. Một nỗi niềm nhân sinh chứa nặng nhân tình và bất tận!
Dẫu sao những từ ngữ trên đều có ít nhiều liên hệ đến quá khứ tựa như quan hệ giữa hai đất nước, hai dân tộc Việt – Khmer trong chuỗi dài lịch sử vươn lên để tồn tại, có lúc tı̀m cách loai trừ nhau, có lúc nương tưa nhau, trong mấy trăm năm chung đụng vừa qua! Di Ảnh “Thiên Đường!” Khmer Đỏ- PolPot. Chế Đô ̣Công Sản – Không Phải Mùa Xuân – Chı́nh Là Đia Ngục Trên Trái Đất. Hơn tiếng đồng hồ sau, xe đò tới bến nằm gần chân cầu Sài Gòn, quang cảnh nơi đây nhộn nhịp hơn Hố Lương nhiều. Chợ cầu Sài Gòn là bến đậu của vài tỉnh miền đông Cam Bốt trước khi vào thủ đô Nam Vang. Xuống xe đò, chúng tôi đi bộ tới bến xe lôi gần đấy. Những năm đó, tại Nam Vang có hai loại xe lôi chở khách trong thành phố và ở khu vực ngoại ô, có khi xe lôi cũng chạy tới một số quận lỵ ở những tỉnh nằm gần PhnomPenh vài chục cây số. Hẳn nhiên tại các tỉnh xa, phương tiện vận chuyển trong phạm vi tỉnh cũng là xe lôi nhưng không nhiều bằng ở thủ đô. Nên nhớ rằng xe “lôi” ở đây không phải là kiểu: “người lôi người” như thường thấy tại Hương Cảng hay Thượng Hải ngày xưa, qua phim ảnh. Đầu tiên nói tới xe lôi đạp, đây là chiếc xe đạp nhưng có gắn thêm một “rờ mọc” ở phía sau xe. Cái “rờ mọc” (còn gọi là thùng xe lôi) này thường đóng bằng cây, bọc chung quanh, dưới lườn với vài miếng thiếc và được đặt trên hai bánh xe, cũng bằng cỡ bánh xe đạp. Sức chứa của “rờ mọc” chỉ chừng 4 người, thế nhưng khi cần bác xe lôi có thể nhét thêm. Khách ngồi ở ghế trong hay hai bên mép ngoài rờ của mọt. Còn gánh, thúng, thùng thì được máng đàng sau rờ mọt. Nếu chạy trên đường bằng, bác xe lôi chỉ mệt khi phải đạp xa. Nhưng khi chạy đường dốc hoặc lên cầu thì người đạp đổ mồ hôi, thở mệt, vì có mình ên mà phải đạp chở theo cả rờ mọt đàng sau. Khách đi xe găp phải người đạp xe đã lớn tuổi, khi lên dốc cầu, khách ngồi trên rờ mọt mà lòng không yên. Vì bác xe lôi đã nhảy xuống, một tay cầm lái, một tay cầm yên xe. Khom người, gồng bắp đùi, bắp chuối, co tay, rán sức “lôi”, kéo cái rờ mọt lên dốc cầu. Có người thấy vậy bị “cắn rứt” thế nào đó, nên đã nhảy xuống cho ông già đỡ mệt. Khi qua dốc, lại leo lên ngồi tiếp. Nhiều lúc đứng coi xe lôi đạp đang leo dốc, người ta có cảm tưởng thùng xe lôi sẽ bị sút khỏi yên sau xe đạp vào lúc nào không biết. Vì trong lượng quá tải cũng như cái mỏng manh dễ gãy của chiếc xe cũ mèm.
Dầu sao xe lôi đạp còn khá hơn xe đạp ôm. Phương tiện chuyên chở thứ hai này không có thùng xe chở khách gắn đàng sau. Thay vào đó, chỉ có cái “ghế” sau, được quấn chung quanh bởi tấm nhựa cũ, hơi dầy, để khách ngồi cho êm… Xe đạp ôm này chỉ đèo có một khách. Bác xe đạp ôm chắc chắn phải nghèo hơn bác xe lôi đạp, vì đóng một cái rờ mọt không phải ít tiền vào thời buổi xã hội con người chỉ mới vừa hồi sinh sau đại họa diệt chủng của cộng sản Kampuchea. Thứ nữa mỗi chuyến chạy, xe đạp ôm chỉ kiếm được có một khách, trong khi đó xe lôi đạp có thể kiếm tới 4, 5 người. Trông thấy chiếc xe đạp ôm và xe lôi thùng của một xã hội chỉ vừa sống dậy sau cuôc ̣ “cách mạng” của tâp đoàn công sản Polpot, mới nhận thức được sức mạnh của chiếc xe ngựa thời phong kiến! Thêm một loại lôi nữa, hiện đại hơn, ít tốn sức lao động, đó là xe lôi được kéo bằng một chiếc Honda. Ở loại xe này, rờ mọt được đóng chắc hơn, lớn hơn và được sơn phết màu mè hơn. Dĩ nhiên khách đi xe này có chỗ ngồi thoải mái hơn một chút, đi nhanh hơn nhưng cũng tốn tiền hơn vì giá xăng không rẻ. Vào các năm 1976, tại quận Đinh Quán nằm trên quốc lộ 20, cách Sài Gòn về hướng đông bắc 113 cây số, phương tiện chuyên chở trong quận ngoài những chiếc xe lam còn sót lại sau 1975, dân chúng còn thích sử dụng xe lôi, hình dạng chúng không khác gì mấy so với xe lôi được kéo bằng Honda như ở Nam Vang vào các năm 1980.Tuy ba loại xe lôi vừa kể trên ở xứ chùa tháp khác nhau một chút về lượng khách chuyên chở và tốc độ, nhưng chúng có một điểm giống nhau, đó là không có xe nào gắn mui như xe lam ở Việt Nam. Do đó hành khách đi xe lôi đươc ḅác tài cho phơi nắng, phơi mưa. Xứ Cam Bốt Vào mùa nắng, trời nóng hơn Sài Gòn.

Wall of Remembrance in Memory of the Victims of the Khmer Rouge
50 photos, 50 faces, 50 victims killed by the Khmer Rouge, Toul Sleng Prison, 1975 – 1979. 50 out of 1,7 million dead.
Ghi Chú: Bên trên là 50 tấm hình chụp 50 nạn nhân già trẻ bé lớn, nam nữ, dân thường hay lı́nh tráng bi ̣giam, bi ̣tra tấn, thảm sát trong trung tâm thẩm vấn Toul Sleng khét tiếng, ở thủ đô Phnompenh trong thời kỳđảng công sản Kampuchea cầm quyền từ tháng 4/1975 đến tháng 1/1979. Ghi chú: Những quy đinh về an ninh viết bằng tiếng Anh đăt trong nhà tù Tuol Sleng dành cho nạn nhân của chế đô ̣diêt chủng. Mỗi tù nhân pham vào quy đinh khắc nghiêt, độc đoán, ngu xuẩn này sẽ bi cán bô ̣quản giáo Khmer đỏtrừng tri thẳng tay. Sinh mang con người trong thiên đường chủ nghĩa xã hội rẻ rúng hơn mạng một con ruồi. Xuống bến xe lôi ở chợ O’Russey nằm ngay trung tâm thủ đô, chúng tôi đi bộ tới nhà người dì của anh Tư Trung gần đó, nằm phía sau đường Sok Hok, trên lầu ba của một chung cư. Sok Hok là con đường nằm lọt trong khu phố Tàu tại Nam Vang, nơi đây tập trung số di dân người Hoa ở xứ chùa tháp. Khu phố này sầm uất. Người Hoa quả có khiếu làm ăn buôn bán, ở Việt Nam ngày trước có khu Chợ Lớn, người Việt thông minh, chịu khó nhưng đôi khi trong thương trường, cạnh tranh khá vất vả với Hoa kiều ngay trên
chính đất nước mình.
Ghi chú: Đây là giàn cây dùng để treo cổ nạn nhân trong trạị tùTuol Sleng. Một hình phạt giống như thời Trung Cổ dành cho các vua chúa xử tôi nạn nhân. Còn ở xứ Cam Bốt, người Hoa qua mặt dân bản xứ một cách dễ dàng. Những người giàu có ở xứ này, nếu là dân làm ăn, thì phải là người Cam Bốt gốc Hoa (dân bản xứ gọi người Cam Bốt gốc Hoa là “Chanh”). Còn người giàu lên trong xã hội khốn khó này mà không qua con đường kinh doanh, chắc chắn phải là người Khmer có quyền thế. Vì họ dùng quyền lực, địa vị để làm giàu cho cá nhân gia đình, còn những người thanh liêm, coi trọng danh dự cá nhân, dân tộc, thường bi ̣lấn ép. Khu chung cư nơi dì anh anh Tư Trung trú ngụ là một trong nhiều chung cư thời ấy. Thế nhưng tới 20 năm sau vẫn không thay đổi mấy về kiến trúc các khu dân cư trong thủ đô Nam Vang. Măc dù , về sau (năm 2004) có khá nhiều chung cư cao ráo, khang trang, tân thời, đep ṃắt đã đươc xây cất. Các dãy chung cư tại Nam Vang có lẽ đã được xây vào những năm 1950 -1960, chúng hợp nên cấu trúc chính trong thành phố, đan thành những mạng ngang, dọc, chéo. Chỉ các đại lộ mới có nhiều dinh thự cổ, đứng riêng biệt, không nằm gần các chung cư, đươc dùng làm công s ̣ ở. Nhiều biệt thự nằm trên những con đường yên tĩnh, xây theo kiến trúc của người Pháp, lúc họ còn cai trị ba nước Đông Dương.
Gia đình dì anh Tư Trung ở trong căn nhà nhỏ nhưng gọn gàng ngăn nắp. Dì có ba đứa con còn nhỏ, không thấy chồng dì đâu, nhưng nghe nói, gia đình dì có thân nhân đang sống tại Pháp. Giống như nhiều người gốc Việt cư ngụ lâu đời trên đất nước này, dì không sử dụng tiếng Việt nhiều, lại thêm tính nhỏ nhẹ khiêm tốn, khiến buổi đầu gặp gỡ ít huyên náo nhưng không kém phần thân mật. Sau này khi đã có thời gian cư trú trên đất chùa tháp, tôi mới hiểu ra nguyên nhân cay đắng vì sao người gốc Việt nơi đây lại không muốn dùng tiếng mẹ đẻ ở chỗ đông người!
Tạm gởi mấy bọc đồ gồm ít bộ quần áo và vài quyển sách, chúng tôi đi theo anh Tư đến khu xóm gần đấy tìm mướn một căn nhà nhỏ để trú đỡ thời gian ngắn rồi sẽ tính thêm. Tiền nào của đó, nhà thuê giá rẻ, nhưng cũng bệ rạc. Cửa trước, cửa sau chỉ là mấy tấm ván cũ đóng ghép lại sơ sài. Nếu bọn gian muốn vô nhà ban đêm thì chỉ cần một hoặc hai cái đạp mạnh là có thể phá toang cửa xông vào nhà. Nhưng chủ nhà quá nghèo, cũng chẳng có gì cho chúng cướp. Nền gạch bông lại lỗ chỗ, miếng còn miếng không, vì bị đào bới lên tìm vàng! Vết đào đã lâu, thế nhưng bà chủ nhà vẫn không mua xi măng trám lại cho nền nhà được bằng phẳng, dễ coi. Có lẽ chỉ một mình thân già cô quạnh, đứa con nuôi bà thỉnh thoảng mới tạt qua thăm. Người Khmer có thói quen dấu vàng ở dưới nền hay sân nhà trong thời Khmer đỏ. Khi chế độ này bị sụp đổ, người dân nào về thành phố trước thì tìm lại được nhà của mình hoặc giành được căn nhà vô chủ hay đến nhà người khác đào nền, bới sân lên để tìm vàng. Và nhà cửa trong thời gian đó thường bị hoán đổi, vì chủ nhà đã chết hay bị mất tích khi bị chế độ xua đuổi ra khỏi thành phố. Còn gia đình nào chờ cho tình hình thật yên ổn rồi mới dám về thành phố thì phải chịu cảnh mất nhà. Cầu tiêu phía sau nhà chúng tôi mướn được dùng chung với một gia đình khác gồm sáu người, cửa cầu tiêu không có, chỉ được che tạm bằng một miếng ni long cũ đã ngã màu vàng đục, còn nước thì phải mướn gánh từ dưới đất lên tận lầu tư. Hệ thống nước trong thành phố Nam Vang sau ngày Khmer Đỏ bị đánh đổ đã bị phá hủy gần như hoàn toàn và đến 4 năm sau (1983) mới phục hồi được phần nào. Những ngày mới hồi sinh, người ta phải đào tìm đường ống dẫn nước cũ được chôn dưới đất hoặc đào một giếng nước khác, sau đó nối với máy bơm bên trên bằng ống cao su dầy, tạo thành một địa điểm bơm nước công cộng. Nơi nào không có máy bơm thì cột dây vào thùng thả xuống giếng múc, lối làm này rất lâu nhưng đành chịu. Các dịch vụ này thường do tư nhân làm, và trong thành phố có hàng trăm địa điểm bơm nước như thế để phục vụ nhu cầu sinh hoạt ăn ở, tắm giặt hàng ngày của cư dân. Hẳn nhiên, nước không cho không, nhưng bán cũng không mắc quá, vì đây là thứ hàng phải tiêu thụ hàng ngày, và dân thì đa số còn nghèo. Mỗi buổi sáng sớm, tại các địa điểm bơm nước, có tới hàng trăm thanh niên hay ông già còn sức gánh, ngồi chung quanh với đòn gánh, thùng thiếc, tán dóc cho qua giờ trong lúc chờ chủ máy bơm nước lên. Sau đó gánh tới phân phối cho các gia đình đã dặn từ hôm trước. Đa số những người gánh thuê này đều có mối quen. Giá cả từng gánh nước khác nhau tùy gánh xa hay gần, trên lầu cao hay dưới đất. Muốn hành nghề gánh nước mướn chỉ bỏ tiền ra mua một cặp thùng, cái đòn gánh và hai cái móc! Nếu lúc đó mà đất nước Cam Bốt có quyền thành lập nghiệp đoàn chắc hẳn tại PhnomPenh sẽ ra đời một nghiệp đoàn của những người thợgánh nước mướn! Chủ nhà chúng tôi thuê là một bà già người Khmer gốc Việt ốm yếu, bịnh hoạn. Hàng ngày bà kiếm cơm bằng nghề vấn thuốc lá, bà có đứa con nuôi, một anh bộ đội quê ở miền Bắc đang đi làm “nghĩa vụ quốc tế ở Cam Bốt!”. Cam Bốt vừa thoát khỏi cơn tàn phá của chế độ diệt chủng PolPot. Một chế độ “ưu việt” trong…sách vở, lý thuyết và nhất là ở đầu môi chót lưỡi của những con người sống bám vào nó! Không đầu môi chót lưỡi sao được khi nó mang lại quá nhiều quyền lợi cho những ai nhân danh nó! Nhưng thậm thối nát, lạc hậu và hoang tưởng trong thực tế xã hội con người. Xã hội Cam Bốt hầu như trống rổng, thoi thóp, mọi thứ đều khởi đầu lại bằng hai bàn tay con người! Những năm đó, rất nhiều gia đình trong thủ đô Nam Vang kiếm sống hàng ngày bằng nghề vấn từng điều thuốc lá, vấn xong đem tới một nơi khác vô bao, đóng gói. Tiền công vấn thuốc được tính theo số lượng điếu thuốc đã vấn trong ngày. Đôi khi thuốc được vấn xong nhưng bi ̣chủ trả về cho người vấn, vì điếu thuốc nhìn chưa được tròn, đầy đặn. Rời khỏi nhà bà dì anh Tư trong ngày hôm đó với lời cám ơn chân tình, chúng tôi mang đồ đạc đến căn nhà trọ nghỉ ở đây một đêm. Sáng hôm sau trước khi về lại Long Xuyên, ông Phước muốn đi ra Thành Vua (hoàng cung Nam Vang), nơi cư ngụ của hoàng gia Norodom ngày trước, để xem lại cảnh cũ. Đứng chống cây gậy vào bờ đá bên bờ sông Bassac chảy lững lờ, êm lặng, không xa trước mặt cổng hoàng thành, ông Phước chậm rãi kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện quá khứ. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được chính mắt ngắm nhìn nơi các vị vua Cam Bốt từng trú ngụ và cai trị thần dân họ. Tôi chưa có dịp đi Huế. Kinh đô Huế chỉ có trong tôi qua sách vở, báo chí, phim ảnh. Các bức tường thành của hoàng cung PhnomPenh có lẽ không cao bằng các bức tường thành của cố đô Huế. Mặt ngoài những bức tường thành ở đây được quét bởi lớp vôi màu vàng, nhà cửa bên trong hoàng thành cùng một màu quý phái đó. Chu vi hoàng thành không rộng lớn lắm, nhưng có nét bề thế của một thành quách đền đài. Kiến trúc cung điện, chùa trong thành Vua, mái ngói, cổng hoàng cung mang đường nét từ nền văn minh Ấn Giáo xa xưa. Vài đường phố nhỏ, yên tỉnh chạy bên hông hay phía sau hoàng cung được che mát bởi những hàng me cao, các cây me này chắc do người Pháp trồng trước đây. Đi dưới hàng me mát rượi, lay động trong cơn gió nhè nhẹ, gợi trong tôi nỗi bồi hồi, nhớ lại con đường Gia Long gần xóm nhỏ của tôi thời thơ ấu xa xăm, cũng được phủ kín bóng mát bởi những cây me xanh lá đầy trái chua, ngọt lẫn lộn! Sau ngày các thủ lĩnh Khmer đỏ trốn chạy khỏi thủ đô bởi những cuộc rượt đuổi từ những người một thời là đồng chí vô sản anh em, hoàng cung Nam Vang trở thành một nơi cho công chúng thưởng ngoạn, ai vào xem cũng được. Chỉ vài trăm riel vào năm 1982, người ta được ngắm đã mắt nào ngai vàng, võng vua nằm, kiệu vua đi, nơi hậu cung của Vua Sihanouk cùng Hoàng hậu Monineath ăn, nghỉ. Và nào tượng Phật ngọc, chùa vàng! “cách mạng vô sản” không cộng tồn với nền quân chủ dù là quân chủ chuyên chế hay quân chủ lập hiến. Đó có phải là sự đối nghich không cùng giữa cái ác và cái thiện? Chúng ta không quên rằng: hình thức tổ chức chính quyền, xã hội, bộ máy cai trị của nền chuyên chính vô sản còn cực chuyên chính hơn cả nền quân chủ chuyên chính, chính thống thời phong kiến tập quyền!
Cộng sản đến thì Vua phải ra đi. Vì làm sao có hai Vua trong một nước! “cách mạng” kéo về hoàng cung đã không còn uy nghiêm như thuở nào và còn phải chịu cảnh cướp bóc của bọn “cướp nước” nữa. Khi các thủ lĩnh Khmer đỏ bỏ chạy khỏi thủ đô, các cố vấn Tàu công của họ đã ra đi trước đó với không ít bảo vật, vàng bạc lấy từ hoàng cung. Chưa hết, những kẻ làm nhiệm vụ trong “đạo quân tình nguyện “ tiếp theo đó, “giúp cho” nhân dân Khmer thoát khỏi họa diệt chủng, cũng đã thu tóm một mớ của cải trong chốn cung đình. Nhân dân Cam Bốt, các chứng nhân của những trận cướp bóc lịch sử này hãy còn đang sống đấy với niềm đau dân tộc dai dẳng!
Khi đã tạm yên ở chỗ trú mới trong một hai ngày, thân mẫu bạn tôi cùng ông Phước lại quay trở về Long Xuyên trên chuyến mang hàng về của anh Tư Trung. Mẹ lúc nào lại không thương con, mặc dù chuyến đi đó: tôi, anh bạn và anh Tư Trung, ba người cùng nhau đi Nam Vang là được rồi. Nhưng bà mẹ người bạn cứ coi con mình còn quá nhỏ phải đi kèm mới an tâm.
Thế là tạm xong một giai đoạn trong cuộc hành trình tây tiến tìm tự do. Giờ đây còn lại hai người, tôi và anh bạn phải tự lập mưu sinh vì đồng tiền mang theo trong mình rất giới hạn. Và ngày tháng cho chuyến đi sắp tới qua đất Thái thì còn chưa định được, do tùy vào cơ hội tạo được hay không, khi lưu trú trên đất Cam Bốt.
Viết xong chương 3 vào thứ tư, ngày 22/11/2000.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.