Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương

Tameichi Hara

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

TRẺ xuất bản 1974

Post by Sơn râu 18 Sep 2026

1

Tôi được thăng cấp Đại tá vào ngày 1 tháng 5 năm 1943. Hạm trưởng của Shigure, Thiếu tá Kimio Yamagami, tổ chức buổi tiệc mừng tôi được tân thăng. Và tôi là khách danh dự của buổi tiệc này. Sĩ quan chật ních phòng, chúc tụng tôi nồng nhiệt và thi nhau mời tôi uống rượu sake. Sau hai tuần rượu, Thiếu tá Yamagami lên tiếng với vẻ lưỡng lự: “Suốt 40 ngày ròng rã khổ nhọc, toàn thể thủy thủ đoàn đã làm việc không phút nào nghỉ ngơi. Tôi thấy rằng nên để họ được xả hơi một chút. Tối nay trên tàu sửa chữa Akashi có một buổi chiếu phim, kính thưa Đại tá, Đại tá nghĩ rằng tôi có nên cho phép họ đi xem hay không?”

Từ chối lời đề nghị hợp lý này thật khó cho tôi, nhưng tôi giải thích: “Tôi biết chúng ta đang phải chịu đựng một thời gian gò bó. Ở trên tàu bảy ngày một tuần tuy quá nhiều nhưng rất cần thiết. Các anh đừng nghĩ rằng tôi nghiêm khắc với các anh. Tình thế đòi hỏi chúng ta không được nghỉ ngơi một phút nào cả. Tôi mong các anh hiểu cho.”

Yaganami đúng là một con người trầm lặng, ông ta không nói gì thêm. Nhưng Đại úy Toshio Doi, sĩ quan ngư lôi trưởng lên tiếng: “Kính thưa Đại tá, tôi nghĩ thủy thủ đoàn khó có thể làm việc hữu hiệu nếu họ không được một phút nghỉ ngơi, giải trí nào. Tôi nghĩ họ cần có những giây phút thoải mái.”

Tôi đáp: “Việc gò bó này có vẻ sai lầm thật đấy, nhưng cũng nên biết rằng toàn thể thủy thủ đoàn của chúng ta chưa lần nào ra trận, nơi mà chỉ vấp phải một sai lầm nhỏ thôi, cũng đủ gây ra sự mất còn của chiếc tàu, của thủy thủ đoàn và của chính sinh mạng chúng ta. Các thủy thủ sẽ nghĩ rằng tôi quá nghiêm khắc và chắc họ sẽ oán trách tôi, nhưng tôi mong rằng các anh, những vị sĩ quan của họ, hiểu rằng tôi phải áp dụng một cuộc sống gò bó như vậy, bởi vì thà chịu đựng sự khổ nhọc trong thời gian tập luyện còn hơn là phải thiệt mạng với địch quân.” Bầu không khí nặng nề chợt phá tan khi Đại úy Hiroshi Kayanuma, cơ khí trưởng, lên tiếng: “Thưa quý vị, tôi đồng ý những gì mà Đại tá Hara vừa nói. Trong những tháng vừa qua, rất nhiều khu trục hạm của chúng ta bị đánh chìm, và chính Đại tá Hara đã chứng kiến tận mắt cảnh tượng đó. Chúng ta rất may mắn được chỉ huy bởi một người đã có nhiều kinh nghiệm quý báu. Chúng ta phải biết lợi dụng tài năng và kinh nghiệm này của Đại tá Hara, để áp dụng cho chính bản thân mình. Ai chưa biết rõ Đại tá Hara ở hiện tại thì tôi mong rằng trong những ngày sắp tới sẽ hài lòng để nhìn thấy sự lỗi lạc của ông.”

Thiếu tá Yamagami cùng với các sĩ quan nâng ly mời tôi tuần rượu chót. Sau buổi tiệc, tôi nói với Thiếu tá Yamagami: “Tôi cảm thấy có lỗi với Thiếu tá về việc tôi đã nghiêm khắc thái quá đối với thuộc cấp của Thiếu tá. Đúng ra, một vị chỉ huy trưởng hải đội phải trao toàn quyền điều khiển chiếc tàu cho hạm trưởng. Tôi không biết giải thích làm sao để mọi người hiểu rằng tôi buộc lòng phải nắm trong tay việc điều khiển chiếc Shigure. Tôi nhìn nhận tinh thần hợp tác của Thiếu tá và hy vọng rằng một ngày nào đó Thiếu tá sẽ hiểu.”

Thiếu tá Yamagami gật đầu một cách khiêm tốn. Giả sử ông ta là một người ương ngạnh và bướng bỉnh thì với tư cách hạm trưởng của Shigure, ông ta sẽ gây ra cho tôi không biết bao nhiêu là nỗi bực bội. May mắn thay, ông ta đã chứng tỏ là một cộng sự viên rất đắc lực và biết tuân lệnh.

Sau sáu tuần huấn luyện khổ nhọc, Shigure được chỉ định vào công tác phòng duyên ở Truk. Công tác này bao gồm việc bảo vệ những chuyển vận hạm ra vào hải cảng và ngăn ngừa tiềm thủy đĩnh của địch quân len lỏi tấn công. Công tác nhẹ nhàng này không hề làm cản trở chương trình huấn luyện của chúng tôi.

Trong khi đó, tình hình chung của cuộc chiến không mấy sáng sủa đối với Nhật Bản. Sau khi triệt thoái khỏi Guadalcanal, lực lượng Nhật rút về trú đóng tại một chuỗi đảo khác nằm ở phía trên quần đảo Solomon. Nhưng khả năng tấn công của địch càng lúc càng mạnh mẽ và nhanh chóng hơn khả năng phòng thủ của Nhật Bản.

Đô đốc Mineichi Koga, kế nhiệm Đo đốc Yamamoto trong chức vụ Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp vẫn tiếp tục theo đuổi chiến thuật của vị tiền nhiệm. Ông đã áp dụng chiến thuật tấn công lẻ tẻ, bằng cách phân tán các tuần dương hạm và khu trục hạm ra từng nhóm nhỏ. Chiến thuật “tiêu hao” này được tung ra cả ngày lẫn đêm, đã gặt hái được một số chiến thắng nhỏ, nhưng vẫn không xoay nổi dòng thủy triều của cuộc chiến.Cùng với việc triệt thoái ra khỏi vùng Guadalcanal, những lực lượng tinh nhuệ của Nhật đóng tại quần đảo Solomon rút về New Georgia. Tại đây, Nhật có những căn cứ trên hòn đảo chính Munda và các đảo phụ cận Kolombangara. Trong khu vực này, Nhật có khoảng chừng 10.500 quân. Ngày 30 tháng 6 năm 1943, lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ đã chĩa một mũi dùi vào khu vực này, qua các cuộc đổ bộ lên phía Bắc hai đảo Rendova và Vangunu. Các cuộc đổ bộ này là mối đe dọa trầm trọng cho những căn cứ của Nhật Bản trong khu vực, do đó Đô đốc Koga đã phải ra lệnh tăng cường đến mức tối đa cho các đạo quân trú phòng. Các khu trục hạm của chúng tôi được chỉ định vào công việc chuyển quân tăng cường này. Những chiến hạm vừa chở đầy người và đồ tiếp liệu, vừa phải đối đầu với địch quân vượt trội trong những trận đánh dữ dội xảy ra vào những ngày 4,6,12 và 19 tháng 7. Tưởng rằng với sự cách biệt rõ rệt giữa lực lượng hai bên, phần thất bại sẽ nghiêng về phía chúng tôi. Nhưng trái lại, những chiến hạm nhỏ bé nhưng can đảm này đã gặt hái được những thành tích lớn. Đặc biệt nhất là chiến công sáng chói của 5 khu trục hạm tại Vịnh Kula vào đêm 12 tháng 7.

Trong cuộc quần thảo tại Vịnh Kula, lực lượng Nhật gồm có tuần dương hạm hạng nhẹ Jintsu và các khu trục hạm Yukikaze ( đồng đội cũ của tôi) , Hamakaze, Mikazuki, Ayanami và Yugure chống lại với một lực lượng địch gồm đến 3 tuần dương hạm hạng nhẹ, hai của Hoa Kỳ và 1 của New Zealand, và 10 khu trục hạm. Trận chiến bắt đầu lúc nửa đêm, khi tuần dương hạm Jintsu đáp nhầm lại tín hiệu cho một tàu Hoa Kỳ và bị đánh chìm ngay lập tức bởi một hỏa lực tập trung mãnh liệt.

Trận chiến tiếp diễn, tuần dương hạm Leander của Hoa Kỳ bị chiến hạm Nhật phóng ngư lôi loại ra khỏi vòng chiến. Lực lượng Đồng Minh vấp phải một sai lầm khi chia lực lượng ra làm hai nhóm vào lúc ấy. Một trong hai nhóm đã thất bại nặng khi lâm chiến với các khu trục hạm Nhật. Năm khu trục hạm Nhật đã lướt sóng tung hoành giữa nhóm tàu thứ hai này của địch quân, và đã loại ra khỏi vòng chiến hai tuần dương hạm St Louis và Honolulu, đồng thời đánh chìm khu trục hạm Gwim. Trong cơn hỗn loạn của trận chiến, hai khu trục hạm của Hoa Kỳ là Woodworth và Buchanan va chạm nhau. Các chiến hạm Nhật quay mũi về căn cứ, tuy bị thiệt hại, nhưng là thiệt hại trong chiến thắng.

Đối với Nhật, việc mất mát tuần dương hạm Jintsu, so với sự thiệt hại mà khu trục hạm Yukikaze và các đồng đội gây ra cho ba tuần dương hạm và 3 khu trục hạm Đồng Minh, có vẻ đắt giá hơn nhiều.

Tại Truk tôi cảm thấy có một chút ganh tị khi nghe được chiến công của khu trục hạm Yukikaze. Chiếc Yukikaze cùng hạ thủy một lượt với chiếc Amatsukaze của tôi hồi cuối năm 1942, nhưng nó chưa đạt được một chiến công hiển hách nào trước đó, chỉ được thành tích là chiến hạm duy nhất còn tồn tại trong trận hải chiến Bismarck mà không hề mang một thương tích nào. Nhờ trận hải chiến tại Vịnh Kula chiếc Yukikaze trở thành một trong những khu trục hạm nổi tiếng. Tôi định tâm cho chiếc Shigure của tôi ganh đua chiến công với chiếc Yukikaze khi chúng tôi được lệnh di chuyển đến Rabaul vào ngày 20 tháng 7.

Tôi rất sung sướng nhận được lệnh di chuyển. Từ trước đến sau, tôi chỉ là một Chỉ huy trưởng Hải đội trên danh nghĩa, vì tất cả các chiến hạm của tôi đều phân phối cho các bộ chỉ huy khác, ngoại trừ chiếc Shigure. Hai trong số khu trục hạm của tôi là chiếc Yugure và Ariake bây giờ đang ở Rabaul. Do đó khi nghĩ đến ba chiến hạm dưới quyền tôi sẽ gặp nhau, tự nhiên tôi thấy phấn khởi. Tôi cũng biết được chiếc Yugure vừa trở về từ trận đánh vinh quang ở Vịnh Kula với nhiều thành tích đáng kể. Với kinh nghiệm đã qua, chiếc tàu này sẽ là một tài sản quý giá của Hải đội.

Toàn thể thủy thủ đoàn Shigure đều chia sẻ cảm giác này với tôi, và tinh thần của họ lên cao khi nghe tin những thành tích mà chiếc Yugure đã gặt hái được.

Chịu đựng sự huấn luyện gian khổ trong suốt bốn tháng trời ròng rã, tất cả mọi người đều mệt mỏi, nhưng trước viễn tượng sẽ được dịp thử sức với địch quân ngoài mặt trận, nỗi mệt mỏi này đã tan biến.

Chất đầy những bộ phận phi cơ mà Rabaul rất cần đến, chiếc Shigure hướng về phía Nam với tốc độ đều đặn 18 hải lý. Tôi không thể nào tưởng tượng được rằng chỉ qua bốn tháng huấn luyện, đã làm biến đổi một thủy thủ đoàn thiếu tinh thần, làm việc rời rạc trước đây, trở thành một thủy thủ đoàn làm việc hăng say, có tinh thần đồng đội cao độ. Trong suốt thời kỳ huấn luyện, tôi tiết kiệm những lời khen thưởng, nhưng họ cũng đã thi hành bổn phận một cách tốt đẹp. Kinh nghiệm thực tế đã dạy cho tôi hiểu rằng hành động thật sự sẽ giúp cho ta hiểu biết nhiều hơn là hàng ngàn lần thao dượt. Có lẽ tôi cần phải tiết kiệm lời khen thưởng cho đến lúc nào họ thật sự chịu đựng được một cách can đảm trước khói lửa, và tôi cũng hy vọng nhờ vào những thử thách cam go, sự yếu kém của họ sẽ được điền khuyết. Bây giờ tôi thèm khát được chiến đấu. Khu trục hạm Yukikaze đã thành công, Shigure cũng sẽ thành công.

Đoạn hải trình đến Rabaul không có gì xảy ra, và chúng tôi cập bến vào ngày 23 tháng 7. Tôi lập tức trình diện Tổng hành dinh ở đây. Một sĩ quan tham mưu đã lặng lẽ trao tôi một bản tin. Tôi xem vội vã và chết điếng người. Bản tin cho biết hai khu trục hạm Yugure và Kiyonami đã bị đánh chìm tại phía Nam Choiseul vào ngày 20. Hai chiếc tàu này nằm trong thành phần các khu trục hạm có nhiệm vụ vận chuyển đồ tiếp tế đến Kolombangara, bị gián đoạn một tuần lễ trước đó và đang được cố gắng thực hiện lại. Toàn thể thủy thủ đoàn mất tích, gồm 228 người của chiếc Yugure và 240 người của chiếc Kiyonami. Như vậy, tính ra địch quân đã phục thù được tổn thất của họ tại Vinh Kula trong vòng có một tuần lễ.

Ngay sau khi chiếc Shigure đổ hàng xong xuôi, tôi báo cho thủy thủ đoàn biết câu chuyện đã xảy ra cho hai chiếc khu trục hạm bất hạnh trên. Toàn thể thủy thủ lắng nghe một cách im lặng, và theo tôi ghi nhận, họ đã bắt đầu cảm thấy tất cả những gì mà họ đã phải chịu đựng trong lúc tập dượt không phải là vô ích.

Hải đội 27 Khu trục hạm vẫn còn đặt dưới quyền chỉ huy của tôi, dầu chỉ trên danh nghĩa. Nhưng khu trục hạm Ariake cùng với hai chiếc khác trở về vào ngày 21, sau khi thành công trong nhiệm vụ chuyển vận đến Kolombangara kế tiếp chuyến đi thất bại của Yugure và Kiyonami. Cả ba đã chọn hải trình Vịnh Vella để di chuyển thay vì Vịnh Kula. Lực lượng hùng hậu của địch, gồm 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm, vẫn còn lảng vảng tại Vịnh Kula, nhưng không sao phát giác được tung tích của 3 khu trục hạm Nhật, cho mãi đến khi chúng tiến được vào mặt này và ra đi ở mặt kia của đảo Kolombangara.

Rabaul, căn cứ tiếp liệu cho tất cả lực lượng Nhật Bản trấn đóng trên quần đảo Solomon và New Guinea, là địa điểm đã xảy ra những trận đánh khốc liệt nhất vào mùa hè 1943. Khu trục hạm Shigure được phép tạm nghỉ xả hơi, nhưng tất cả thủy thủ đoàn luôn luôn nằm trong tình trạng ứng chiến trong suốt 6 ngày, và sau đó được lệnh cùng 3 chiến hạm khác, thuộc Phân đội 4 Khu trục hạm, lãnh nhiệm vụ chuyển vận đồ tiếp tế đến Kolombangara lần nữa.

Chúng tôi bắt buộc phải sử dụng hải trình xuyên qua Vịnh Vella mà cách đây 10 ngày chiếc Ariake đã di chuyển. Hải trình này rất “an toàn” như Tổng hành dinh Rabaul đã cho chúng tôi biết.

Tuy nhiên chúng tôi phải dè dặt bởi vì, theo như nhận xét của riêng tôi, việc lặp lại thường xuyên một phương thức đã từng được sử dụng thường rước lấy thảm họa. Chúng tôi không tin được các tuần dương hạm và khu trục hạm của địch quân có thể lại phí phạm một cách vô ích thời gian và nhiên liệu tại Vịnh Kula. Thảm kịch đã xảy đến cho hai chiếc Yugure và Kiyonami có lẽ là một bằng chứng khá đủ để không cho phép chúng tôi xem thường khả năng của đối phương một cách khờ khạo như thế.

Ngày 1 tháng 8, chúng tôi rời hải cảng Rabaul ra khơi theo đội hình hàng dọc. Chiếc Amagiri lãnh nhiệm vụ hướng dẫn và thám báo nên không chở theo gì cả. Ba khu trục hạm theo sau, Hagikaze, Arashi và Shigure, đều chất đầy người và hàng hóa. Tổng số lên đến 900 binh sĩ và 120 tấn tiếp liệu. Chuyến ra khơi thực sự lần đầu tiên trong năm này, tôi cảm thấy âu lo. Trong thời gian tôi vắng mặt, các hải vực thuộc miền trung Solomon này là nơi nhận chìm rất nhiều khu trục hạm nổi tiếng của Nhật. Ba khu trục hạm Kagero, Huroshio và Oyashio, từng tạo những chiến công oanh liệt ngoài khơi đảo Savo cho Đề đốc Tanaka, đã bị phi cơ địch và mìn nhận chìm vào ngày 8 tháng 5 năm 1943. Nagatsuki, chiếc tàu đã cùng tham chiến với tôi tại biển Java, và chiếc Niizuki đã vùi sâu trong hải vực này hồi tháng 7. Hatsuyuki, người hùng của trận Savo vào tháng 10 năm 1942, đã nổ tan xác và chìm sâu xuống biển cả mênh mông gần Bougainville vào ngày 17 tháng 7 năm 1943.

Mải suy nghĩ về những chuyện đã xảy ra mà tôi quên rằng mình đang đứng trên đài chỉ huy của chiếc Shigure. Nhìn đại dương bao la và đen thẫm trước mặt, tôi tự hỏi không biết bao nhiêu chiếc, và chiếc nào trong số 4 khu trục hạm do tôi chỉ huy, có thể vượt thoát được cơn sóng gió sẽ xảy đến trong lần ra khơi này? Khi đêm xuống hẳn, tôi cảm thấy nhẹ người. Với màn đêm đen như mực này, hy vọng phần lợi thế sẽ nghiêng về phía chúng tôi.

Chúng tôi tiến vào eo biển Blackett. Đoạn nằm giữa Kolombangara và ba đảo nhỏ hơn, đến tận phía Tây Nam của eo biển này rất hẹp, đầy dẫy đá san hô và nhiều chỗ rất nông kéo dài cả Km. Tôi ra lệnh cho tàu tắt máy trước khi đến điểm hẹn. Ba chiếc tàu chở đầy nghẹt hàng hóa và binh sĩ lặng lẽ lướt tới.

Hàng chục chiếc tàu nhỏ từ trong bờ chạy nhanh ra để nhận hàng và người. Công việc diễn ra chỉ trong vòng 20 phút, tất cả hàng tiếp tế và binh sĩ đều được chuyển đi. Chúng tôi nhẹ hẳn người khi nhận được đèn hiệu của chiếc Hagikaze: “Quay trở về.”

Khu trục hạm Amagiri đã thoát chạy trước dẫn đường trong khi 3 chiếc khác còn lo cho máy chạy lại. Trong vòng 5 phút, chúng tôi rời khỏi điểm đổ hàng, chạy ngược trở lại đoạn hải trình nguy hiểm, đầy dẫy chướng ngại vật của eo biển Blackett. Tôi đã lưu ý đài chỉ huy và các quan sát viên của chiếc Shigure phải cẩn thận. Trong khu vực này địch quân đã giăng một mạng lưới tình báo rất chặt chẽ, có thể họ đã biết được những hoạt động của chúng tôi. Họ có thể xuất hiện để tấn công chúng tôi, tại bất cứ khoảng nào thuộc vùng đá ngầm của eo biển Blackett này.

Di chuyển hơn 10 phút, chúng tôi bắt đầu cho tàu chạy 30 hải lý một giờ để lướt nhanh qua đoạn hải trình nguy hiểm, mà ngay cả trong thời bình cũng không có một chiếc nào dám di chuyển ban đêm với tốc độ quá 12 hải lý một giờ, dầu mở sáng tất cả các đèn. Dĩ nhiên, hiện thời chúng tôi phải di chuyển âm thầm. Khí trời ban đêm thật oi bức, nhưng mồ hôi lạnh lại lấm tấm trên trán của mọi người. Chúng tôi di chuyển qua Arundel, Wana-Wana và đến ngang Gizo thì bắt kịp khu trục hạm Amagiri. Chúng tôi tiếp tục di chuyển theo đội hình hàng dọc, mỗi chiếc cách nhau 600m. Mắt tôi, nhìn rất rõ trong đêm tối, chợt nhìn thấy một vật nhỏ màu đen đang di chuyển khá nhanh trên mặt biển, ở mạn trái con tàu. Vật màu đen này di chuyển về hướng chiếc Ammagiri, đang chạy phía trước chiếc Shigure chừng 1.500m.Chưa xác định rõ vật đen đó là gì, nhưng tôi tự nói với mình “tàu địch mò đến”và cố trấn áp hồi hộp.

Vật đen mờ dần trong đêm tối, và biến mất hẳn. Không một tiếng nổ, không một ánh đèn, không một tiếng súng nào. Thật là kỳ quái. Ngay lúc đó, hoạt động trên Amagari có vẻ rộn ràng, và từ chiếc tàu này, một tín hiệu bằng đèn được gửi đi: “Gặp các ngư lôi đĩnh địch. Một chiếc bị đụng và chìm.”

Súng trên hai khu trục hạm Hagikaze và Arashi bắt đầu khai hỏa. Tôi nhận thấy hàng loạt đạn như mưa tuôn ra từ tả mạn của hai chiếc tàu này. Hai ngư lôi đĩnh địch bốc cháy dữ dội, soi sáng cả quang cảnh xung quanh hai khu trục hạm Arashi và Hagikaze. Tôi cũng ra lệnh cho chiếc Shigure khai hỏa. Toàn thể thủy thủ đoàn nãy giờ vẫn kìm súng, bắt đầu ra tay thật chính xác. Hai ngư lôi đĩnh địch bốc cháy dữ dội hơn, và dần dần biến mất trong dòng nước đen ngòm. (Thật ra, đây chỉ là hai phần của chiếc PT-109 bị Amagari đụng và cắt rời ra.)

Những tiếng cười hân hoan vang lên trên các khu trục hạm Nhật, lúc chúng tôi tiếp tục xả hết tốc lực trên đoạn hải trình còn lại để trở về căn cứ. Cảm thông được niềm vui của mọi người, nhưng tôi không thể hòa mình cùng với họ, vì đầu óc của tôi vẫn còn lảng vảng hình ảnh của chiếc PT-109 lúc tàu tôi lướt ngang qua.

Chiếc tàu này đã làm tôi nhớ đến chiếc Terutsuki bị đánh chìm vào tháng 12 năm 1942, bởi các trái ngư lôi do hai ngư lôi đĩnh địch có trọng tải 50 tấn phóng ra. Có lẽ chúng tôi cũng chịu chung số phận với chiếc khu trục hạm Terutsuki đêm nay, nếu địch quân nhận ra chúng tôi và phản ứng trước một vài phút sớm hơn.

Chúng tôi giảm tốc độ lại khi ra khỏi Vịnh Vella, và sau đó trở về căn cứ Rabaul an toàn. Thủy thủ đoàn của chúng tôi vẫn còn phấn khởi với chiến công vừa qua, nhưng tôi thì rất dè dặt và lo ngại. Sự lo ngại thật sự đã đến với tôi, khi tôi đến trình diện tại tổng hành dinh và nhận một tin tức chính thức.

“Khu trục hạm Mitkazuki (thuộc Hải đội 30 Khu trục hạm) và Ariake (thuộc Hải đội 27 Khu trục hạm) trong lúc thi hành sứ mạng chuyển vận đến Tuluvu, New Britain. Đã mắc cạn gần mũi Gloucester vào ngày 27 tháng 7, và hôm sau cả hai đã bị các oanh tạc cơ B-25 oanh kích hủy diệt hoàn toàn, nhưng chỉ có 7 thủy thủ thiệt mạng.”

Tôi buồn bã quay trở về khu trục hạm Shigure. Một lần nữa, tôi lại trở thành vị hải đội trưởng chỉ có một khu trục hạm dưới tay. Tai biến dồn dập biết bao. Không đầy một tháng, năm chiến hạm đã từng tạo nên những chiến công lẫy lừng chỉ còn lại hai chiếc.

Hai chiếc Mikazuki và Ariake vụng về, đần độn đến bậc nào mà cho đến nỗi phải bị mắc cạn? Mệt mỏi và mất tinh thần, đêm đó tôi đã nốc cạn rất nhiều chai sake, Thiếu tá Yamagachi đã cùng tôi đối ẩm để chia sẻ nỗi đau buồn cùng cực với tôi. Nhưng ông ta chỉ lưu lại một giờ đồng hồ, và sau đó tôi độc ẩm suốt đêm.

Hai ngày sau, lúc sáng sớm ngày 4 tháng 8, Đại tá Kaju Sugiura, chỉ huy trưởng Hải đội 4 Khu trục hạm, đạt giấy mời Yamagachi và tôi đến soái hạm của ông để dự một phiên họp.

Đó là một buổi sáng đầy nắng. Chúng tôi dùng ca nô chạy đến khu trục hạm Hagikaze. Bàn ghế của buổi họp đặt trên sàn tàu, phía trên căng một tấm vải nhỏ để che nắng.

Hai chúng tôi đến muộn hơn hết. Các hạm trưởng và sĩ quan thuộc các khu trục hạm khác có mặt trên tàu tiếp đón chúng tôi một cách thân mật.

Đại tá Sugiura, huynh trưởng của tôi ở Eta Jima và đã tốt nghiệp Trường Tham Mưu Cao Cấp, sau khi chào hỏi mọi người, ông bắt đầu ngay phiên họp, Ông nói: “Thưa toàn thể quý vị, tôi rất vui mừng thông báo cùng quý vị rõ, chúng ta đã thành công mỹ mãn trong sứ mạng chuyển vận đến căn cứ Kolombangara vừa qua. Sự thành công này sở dĩ đạt được là nhờ sự cộng tác chặt chẽ của quý vị. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Lục quân và Hải quân rất hài lòng, và nhờ tôi chuyển đến quý vị lời khen nồng nhiệt nhất. Đồng thời, thượng cấp ra lệnh tiếp tục công tác chuyển vận vào ngày mốt. Khu trục hạm Kawakaze sẽ thay thế khu trục hạm Amagari bị móp ở mũi vì chạm phải ngư lôi đĩnh của địch quân. Tôi yêu cầu quý vị cho biết ý kiến, và điều cần đề nghị tôi cũng rất mong quý vị nêu ra.Nhìn chung quanh bàn họp, tôi nhận thấy toàn thể các hạm trưởng thuộc quyền Sugiura lắng nghe một cách bình thản. Không một ai đứng lên phát biểu ý kiến nhằm chống lại Đại tá Sugiura. Trong buổi họp, tôi là người duy nhất mang cùng một cấp bậc Đại tá, và cũng là một Hải đội trưởng, dù chỉ một chiếc, như Sugiura, nên tôi đứng dậy và lên tiếng:

“Thưa Đại tá, tôi hiểu Đại tá muốn nói gì khi bảo rằng chúng ta cần phải tiếp tục thi hành sứ mạng của chúng ta. Điều đó, thưa Đại tá, có phải Đại tá muốn nói rằng chúng ta cần phải thi hành công tác theo cùng một hải trình mà chúng ta đã sử dụng trong chuyến vừa qua?”

“Đúng vậy, thưa Đại tá Hara. Chúng ta cũng sẽ đi ngang qua Vịnh Vella và eo biển Blackett. Chúng ta xuống hàng tại căn cứ Kolombangara vào lúc 23h30 ngày mốt, y như lần trước chúng ta đã thực hiện.”

“Xin lỗi Đại tá, tôi nghĩ rằng lặp lại một phương thức mà chúng ta đã sử dụng là một hành động không mấy khôn khéo. Chúng ta đã sử dụng hải trình ngang qua Vịnh Vvella hai lần rồi. Tôi tự hỏi chúng ta không thể sử dụng một hải trình khác được sao? Riêng eo biển Blackett đã là hải trình không an toàn, vì nó đầy dẫy đá ngầm và có những khoảng rất nông, đó là chưa nói đến chuyện phải qua eo biển Gizo như thế nào trước khi vào được Blackett mà không bị địch quân phát giác?”

“Thưa Đại tá Hara, tôi đồng ý quan điểm của Đại tá, nhưng tôi đã lỡ ban theo chỉ thị của thượng cấp. Do đó, việc thay đổi hải trình theo như Đại tá vừa nói, sẽ đưa đến việc thay đổi toàn bộ hệ thống liên quan đến công tác mà chúng ta đảm nhận, nhất là về phương diện liên lạc. Như Đại tá đã rõ, hệ thống liên lạc của Lục quân chúng ta vô cùng yếu kém. Nếu eo biển Blackett bất lợi đối với chúng ta thì nó cũng nguy hiểm đối với địch quân. Các ngư lôi đĩnh của địch có thể chạm vào đá ngầm trước khi chúng đương đầu với chúng ta.”

Ba hạm trưởng của Đại tá Sugiura gật đầu nhè nhẹ, tỏ ra họ đồng ý những điều mà vị chỉ huy của họ vừa phát biểu. Những phản đề nghị của tôi rõ ràng đều bị tất cả mọi người có mặt trong buổi họp chống đối, ngoại trừ Yamagami. Tôi cảm thấy hơi choáng váng. Bên tai tôi lại văng vẳng những câu trong quyển tự truyện của Musashi Miyamoto”

“Lập lại một phương thức đã từng sử dụng quả là tệ hại, và còn tệ hại hơn nữa nếu lặp lại lần thứ ba……. Khi đối phương nghĩ mình đánh cao, mình đánh thấp. Khi đối thủ nghĩ thấp, mình sẽ đánh cao. Đó là bí quyết của kiếm thuật.”

Đại tá Sugiura không phải là người xa lạ gì với tôi. Chúng tôi đã là bạn nhau từ nhiều năm nay. Ông được thượng cấp tín nhiệm và có nhiều biệt nhãn đối với ông. Có nhiều dấu hiệu cho thấy ông sẽ được thăng cấp Đề đốc. Một người có tương lai như vậy thì khi nào lại dám cãi lại mệnh lệnh của cấp trên đưa xuống.

Đại tá Sugiura phá tan sự im lặng và tiếp tục lên tiếng một cách rất hòa hoãn:

“Đại tá Hara, nếu Đại tá bằng lòng thì tôi sẵn sàng giao nhiệm vụ thám báo cho chiếc Shigure. Như vậy Đại tá sẽ được rảnh tay và khỏi phải lo lắng về vấn đề chuyển vận nặng nhọc. Nhiệm vụ này trước đây do chiếc Amagiri đảm trách và hiện được chiếc Kawakaze thay thế, nhưng thủy thủ đoàn của chiếc tàu này lại thiếu kinh nghiệm. Tôi mong rằng với tài khéo léo và kinh nghiệm sẵn có của Đại tá, Đại tá sẽ hoàn tất công tác một cách tốt đẹp trong nhiệm vụ thám báo.”

Đây lại là một lời đề nghị chứng tỏ sự khôn khéo của Đại tá Sugiura. Ông ta muốn đẩy tôi, kẻ duy nhất chống đối lệnh hành quân, vào thế không thể từ chối trước một trách nhiệm quan trọng như vậy trong cuộc hành quân này.

Tất cả mọi người đều nhìn về tôi chờ xem sự phản ứng. Tôi trả lời một cách chân thành: “Tôi cảm ơn sự lưu tâm của Đại tá đối với tôi, nhưng rất tiếc tôi không thể nào chấp nhận sự đề nghị của Đại tá.”

Tất cả những người tham dự trong buổi họp đều ngạc nhiên. Các hạm trưởng có mặt đều áy náy lúc nghe tôi trả lời như vậy. Tôi tiếp tục: “Khu trục hạm Shigure, một chiếc tàu chậm chạp, cũ kỹ, nhiều tuổi nhất trong số 4 khu trục hạm tham dự cuộc hành quân này. Bộ máy 42.000 mã lực của Shigure đã đến thời kỳ phải sửa chữa, do đó tôi sợ nó không đạt nổi tốc độ 30 hải lý. Giao nhiệm vụ thám báo cho nó thật không thích hợp chút nào. Tôi đề nghị nên giao nhiệm vụ này cho Trung tá Koshichi Sugioka, hạm trưởng khu trục hạm Arashi. Chiếc tàu của ông còn mới, và với dàn máy 52,000 mã lực, nó có thể đạt đến tốc độ 35 hải lý dễ dàng.”

Trong lúc bầu không khí im lặng bao trùm buổi họp, Sugiora vẫn ngồi lặng lẽ và đôi mắt của ông ngó lặng chỗ khác. Cuối cùng, nột cách trầm tĩnh, Đại tá Sugiora đã phá tan bầu không khi im lặng với ý kiến nhân nhượng:

“Được rồi, thưa toàn thể quý vị, soái hạm Hagikaze sẽ đi đầu và lãnh nhiệm vụ thám báo. Tuy nhiên vẫn phải chia sẽ gánh nặng trong nhiệm vụ chở binh sĩ và đồ tiếp liệu. Ba chiếc Arashi, Kawakaze và Shigure theo sau, chiếc nọ cách chiếc kia 500m. Bằng lòng chưa, thưa Đại tá Hara?”

Tôi bằng lòng với sự xếp đặt này, vì nhận thấy Đại tá Sugiura chiều lòng tôi như vậy đã là quá mức. Buổi họp chuyển sang bàn cãi những vấn đề khác thuộc về chuyên môn.

Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ rời khỏi Rabaul vào sáng sớm để có thể đến được vùng luôn luôn nằm dưới mắt của trinh sát cơ địch xuất phát từ căn cứ Russells khi đêm xuống. Đại tá Sugiura cho biết rằng tầm hoạt động của phi cơ Hoa Kỳ tại căn cứ này là 300 dặm.

Tin tức của Đại tá Sugiura có lẽ đúng trước đây một tuần, nhưng chúng tôi không thể nào cứ cho rằng bây giờ những chiến đấu cơ địch không thể xuất phát từ căn cứ tiền phương của chúng ở Rendova. Căn cứ này bắt đầu hoạt động từ tháng 7. Ngoài ra, lực lượng chúng tôi còn có thể bị các tiềm thủy đĩnh địch phát giác. Tuy nhiên, điều này không đáng quan tâm mấy.

Cuộc họp này kéo dài 2 giờ. Tôi giữ thái độ im lặng và lo âu khi rời buổi họp về Shigure. Yamagari nói với tôi:

“Thưa Đại tá, tôi rất lấy làm khâm phục sự can đảm của Đại tá, qua những ý kiến mà Đại tá đã phát biểu trong buổi họp. Nhưng tôi e rằng tất cả những sĩ quan thuộc hải đội 4 sẽ không bao giờ lưu tâm đến quan điểm của Đại tá.”

“Đây không phải chỉ là vấn đề can đảm mà tôi phải phát biểu trong buổi họp, như ý nghĩ của mọi người. Nhưng chính vì mạng sống của nhiều người mà tôi phải nói lên những điều đó. Cuộc hành quân thật ra rất vô lý, nhưng bây giờ tôi chỉ biết làm một việc đơn giản là cầu nguyện cho chúng ta được nhiều may mắn trong sứ mạng mà cấp trên giao phó.”

Tôi luôn nghĩ đến buổi họp vừa qua với nỗi buồn sâu xa. Tôi sẽ không bao giờ khuất phục trước chính sách điên rồ của giới chỉ huy tối cao. Giả sử mà quan điểm của tôi được họ lưu ý đến thì hàng ngàn mạng người sẽ được cứu sống ở cuộc hành quân đang phát động và những cuộc hành quân sắp được phát động sau này.

Tuy nhiên, tập đoàn chỉ huy tối cao của binh chủng Hải quân có khi nào lại chú ý đến quan điểm của tôi. Sau đó, tôi biết được những lời chống đối rất hữu ích của tôi trong cuộc họp kể trên còn tạo nên rất nhiều chỉ trích trong giới sĩ quan tại căn cứ Rabaul.

Vào 3h sáng ngày 6 tháng 8, chúng tôi rời căn cứ Rabaul tiến về hướng Nam. Mặt biển lặng sóng, bầu trời nhiều mây, thỉnh thoảng những cơn mưa luồng chợt đến, và xen vào đó là ánh nắng chiếu loáng thoáng từng khoảnh trên đại dương.

Lúc 14h30, chúng tôi di chuyển ngang qua đảo Boka. Một trinh sát cơ địch xuất hiện, nhưng rồi mất hút trong mây. Truyền tin của tôi cho biết vừa chặn bắt được một công điện được mã hóa. Có lẽ đây là công điện của phi cơ địch báo cáo hướng tiến của chúng tôi về bộ chỉ huy. Thật ra, cuộc hành quân này không làm cho địch quân phải ngạc nhiên.

Tôi tiếp tục theo dõi soái hạm Hagikaze, để xem Đại tá Sugiura đối phó với tình hình như thế nào. Tôi rất buồn lòng khi thấy chúng tôi vẫn tiếp tục đi theo một lộ trình, và với tốc độ như cũ, dầu rằng địch quân đã phát hiện chúng tôi. Tôi nghiến chặt răng và thi hành nhiệm vụ.

Lúc 19h, chúng tôi tiến vào eo biển Bougainville, xoay hướng 140 độ và gia tăng tốc độ lên 30 hải lý. Hai giờ hai mươi phút sau đó, chúng tôi tiến thẳng vào mặt Đông Bắc của đảo Vella Lavelle. Chiếc Shigure rơi về phía sau, chứng tỏ nó không đủ sức chạy mãi với tốc lực 30 hải lý. Sĩ quan hoa tiêu là Trung úy Toshiro Tsukihara báo cáo với tôi: “Thưa Đại tá, chúng ta ở mãi tuốt đằng sau chiếc Kawakaze đến 1000m, Làm thế nào gia tăng tốc độ để giữ khoảng cách 500m?”

“Không,” tôi lớn tiếng, “như thế này được rồi. Thật là điên khùng để giữ khoảng cách 500m. Đừng bắt máy chạy nhanh hơn nữa.”

Căn cứ Kolombangara hiện ra thấp thoáng ở mạn phải chiếc Shigure, với ngọn núi cao ngút bao phủ toàn mây đen. Ở mạn trái, tôi không nhìn thấy gì cả ngoài một màu đen kịt mà từ đó địch quân có thể xuất đầu lộ diện bất cứ lúc nào. Tôi cảm thấy hơi nao núng.

Tôi lớn tiếng ra lệnh: :”Sẵn sàng chiến đấu. Tất cả trọng pháo và ngư lôi nhắm về mạn trái, đặt súng ở tầm 3.000m, ngư lôi ở tầm sâu 2m, giác độ 20. Tăng cường gấp đôi các vị trí quan sát.”

Mười phút năng nề trôi qua, tôi vẫn nhìn chăm chú về mạn trái xem coi có dấu hiệu hoặc chuyển động nào của địch quân hay không. Tầm nhìn của tôi không xa hơn 2.000m. Sự căng thẳng trên tàu chợt bị xé tan khi tiếng nói từ phòng kiểm soát vang lên qua ống liên lạc nội bộ. Đó là tiếng nói của Đại úy Doi hỏi tôi xem tất cả những ống phóng ngư lôi có phải di chuyển hết từ mạn phải sang mạn trái theo lệnh hay không?

Tôi la lên: “Không”.

Và tiếp đó tôi giải thích rõ hơn: “Không di chuyển Doi, ở mạn phải nhìn rất rõ, chúng ta có thể nhìn thấy cả những lớp san hô của đảo Vella Lavella. Nhưng ở mạn trái, chúng ta không thể nào nhìn xa quá 2.000m, chúng ta không biết địch quân ở đâu mà mò. Hãy cứ giữ vị trí các ngư lôi như cũ và riêng hướng tả mạn, sẵn sàng phóng bất cứ lúc nào.”

Tiếng nói của tôi chưa kịp dứt, quan sát viên Yamashita la lên: “Những làn sóng trắng! Những vật đen xuất hiện!… Rất nhiều chiếc tàu đang tiến về phía chúng ta!”

Lập tức, tôi ra lệnh cho tàu xoay hẳn về phía phải, đồng thời ra lệnh phóng ngư lôi vào các mục tiêu ở mạn trái. Bây giờ thì những vệt sóng trắng đã hiện rõ trên mặt đại dương. Tôi cảm thấy hơi nao núng, liếc nhìn về phía ba khu trục hạm dẫn đầu. Cả ba đang tiếp tục tiến về phía trước, như không để ý gì những chiến hạm địch đang đâm thẳng đến.

Tôi chửi thề! Shigure của tôi vẫn còn lẽo đẽo tận mãi phía sau, cách chiếc Kawakaze đến 1500m. Khoảng 45 giây sau lệnh đổi hướng, Shigure vung sang mạn phải, ngay khi những quả ngư lôi được phóng ra và lướt nhanh trên mặt nước. Lúc đó là 21h45. Khi sắp ra lệnh phóng thêm 8 quả ngư lôi nữa, tôi chợt thấy nhiều quả ngư lôi xé nước chạy về phía chúng tôi. Quả ngư lôi gần nhất chỉ cách tàu chúng tôi 800m. Tôi ra lệnh cho chiếc tàu xoay cấp tốc về phía phải. Ngay lúc đó, tôi nhìn thấy một cột lửa bốc lên từ khoảng giữa khu trục hạm Arashi, và 2 cột lửa khác từ khu trục hạm Kawakaze. Riêng chiếc tàu dẫn đầu Hagikaze ở mãi tít đằng xa và chạy cùng hàng với hai chiếc tàu phát hỏa, nên tôi không hiểu được tình trạng nó ra sao.

Lúc quay nhìn xuống mặt nước, tôi nín thở. Ba quả ngư lôi lướt thẳng đến trước mũi Shigure, lúc chiếc tàu vừa quay về mạn phải. Tôi gần như muốn quỵ xuống, nhưng đã kịp nắm chặt vào tay vịn của đài chỉ huy. Quả ngư lôi đầu chỉ cách mũi tàu khoảng 20m, quả kế gần hơn, và quả thứ ba chắc chắn trúng chiếc tàu. Tuy nhiên, nó không trúng, hoặc nếu có trúng thì chỉ phớt nhẹ vào vỏ tàu lúc chiếc tàu đang xoay hướng nhanh chóng. Tôi mơ hồ nghe một tiếng động nhẹ phát ra từ phía sau chiếc tàu, nhưng không đoán ra là tiếng động gì. Nhìn chung quanh, một lần nữa tôi phát hiện nhiều quả ngư lôi đang lướt ngang phía trước mũi chiếc Shigure, cách chừng 30m hay xa hơn chút ít, lúc nó vừa xoay vòng tròn để tránh né một cách tuyệt vọng.

Tôi ra lệnh cho chiếc tàu xoay ngược: “Bẻ lái sang trái, nửa vòng!”

Khi một khu trục hạm đang chạy với tốc lực 30 hải lý một giờ, muốn guồng lái đáp ứng với tay lái phải mất một phút. Tôi nhìn quanh đầy lo ngại. May mắn thay, tôi không còn nhìn thấy quả ngư lôi nào nữa. Lúc này tôi mới có dịp nhìn đồng hồ. Bây giờ là 21h47. Hai phút ngắn ngủi vừa trôi qua là hai phút nghẹt thở nhất trong cuộc đời tôi.

Quan sát viên Yamashita thông báo một cách hân hoan là một trong số những quả ngư lôi do chúng tôi phóng đi đã nổ giữa đám tàu của địch quân. Đây là loạt khai hỏa đúng vào lúc mà toàn thể thủy thủ và sĩ quan thuộc khu trục hạm Shigure đang lo lắng không biết lúc nào chiếc tàu thân yêu của mình bị trúng ngư lôi địch.Tuy nhiên, niềm vui này không dài lâu khi chúng tôi nhận thấy hình như không một chiến hạm nào của địch bị trúng ngư lôi của chúng tôi.

Sau đó, mọi người đoan chắc rằng sở dĩ quả ngư lôi phát nổ vì chạm phải sóng mạnh do tàu địch gây ra, bởi lẽ loại ngư lôi Oxygen rất bén nhạy.

Đêm đó, địch quân đã tránh né loại ngư lôi tối tân của Nhật một cách tài tình. Tôi đinh chắc thế nào một số ngư lôi mà chúng tôi phóng ra cũng trúng đích, nhưng các khu trục hạm địch đã kịp thời quay 90 độ hướng về phía Đông thật đúng lúc để lẩn tránh.

Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ đang hoạt động gần Bougainville này là lực lượng đặc nhiệm 312 do Trung tá Frederick Moosbrugger chỉ huy, bao gồm Hải đội 12 Khu trục hạm với các chiếc Dunlap, Craven và Maury, cùng Hải đội 15 Khu trục hạm với các chiếc Lang, Sterrett và Stack.

Tôi liên lạc với phòng truyền tin hỏi xem có tin tức gì của các khu trục hạm Nhật khác hay không. Tôi được trả lời ngay: “Tin nhận được cho biết khu trục hạm Arashi và Kawakaze đã trúng ngư lôi địch. Không biết tin tức gì về khu trục hạm Hagikaze.”

Sau khi ra lệnh phải cố giữ liên lạc thường xuyên với các tàu bạn, tôi cho Shigure phun một màn khói để che dấu hoạt động của chúng tôi. Tôi phân vân không biết phải làm gì nữa đây. Trong lúc đó, chiếc Shigure đang chạy thẳng về hướng Tây bắc, rời khỏi khu vực chiến đấu. Kiểm điểm lại tình hình, tôi nhận thấy địch quân đã mở một cuộc phục kích chúng tôi rất thần tình, và vào lúc ấy chiếc Shigure ở vào một tình thế bất lợi thấy rõ. Tôi nhớ lại cái đêm ở Guadalcanal trước đây, một mình chiếc khu trục hạm của tôi đương đầu với cả một đoàn tàu địch, và đã đánh chìm khu trục hạm Barton. Bây giờ thì tình thế đã đổi khác. Địch quân đã tiến thẳng vào tàu tôi và không phải một mình chiếc tàu tôi chống trả địch quân. Xét đoán hướng tiến của các ngư lôi địch, tôi nhận thấy các chiến hạm địch đã khai hỏa trong sự phối hợp chặt chẽ. Hai khu trục hạm Arashi và Kawakaze bị trúng đạn đã gây sửng sốt cho tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ thấy chiến hạm nào của địch quân phóng ngư lôi tài tình như vậy. Ngẫu nhiên, tôi đã khám phá ra kỹ thuật phóng ngư lôi của địch quân.

Đêm nay, lực lượng Hải quân Hoa Kỳ đã nắm được đầy đủ lợi thế. Tôi không thể nào tháo chạy, bỏ mặc các tàu bạn, cho dù tôi biết không thể nào chống chọi lại với một lực lượng địch quân vượt trội như vậy. Khu trục hạm Hagikaze biệt tăm, chỉ mong rằng may ra nó vẫn còn nổi được trên mặt biển. Tôi ra lệnh chuẩn bị lại các dàn ngư lôi, và cho thủy thủ đoàn biết Shigure sẽ quay lại để đánh tiếp. Đúng 21h51, chúng tôi quay tàu lại. Một phút sau đó, một màn hỏa lực giăng cách phía trước chúng tôi khoảng 3 dặm. Những ánh đèn pha và đèn rọi tìm địch rực sáng cả bầu trời. Địch quân đang pháo kích các khu trục hạm đã thấm đòn của chúng tôi.

Trong lúc chiếc Shigure tiến về phía trước, nơi đang xảy ra cuộc pháo kích, tôi gọi phòng truyền tin hỏi xem có liên lạc được với các khu trục hạm hay không và đồng thời ra lệnh cho mọi người sẵn sàng tham chiến, nhưng không một ai lên tiếng. Ngay lúc đó, tôi nhận ra hướng tiến của chiếc Shigure không được chính xác. Tôi nhớ chực lại tiếng động khác lạ mà tôi đã nghe trước đó. Mãi đến 4 tháng sau, khi chiếc Shigure vào ụ nổi để sửa chữa, tôi mới hiểu nguyên do gây ra tiếng động này. Gần buồng máy của chiếc tàu có một lỗ thủng khoảng chừng 2 tấc: một quả ngư lôi Mỹ đã chọc thủng, nhưng không nổ, và dính luôn vào đó.

Trên đài chỉ huy, tôi đang sống trong một trạng thái cực kỳ lo lắng. Với số lượng 250 binh sĩ và nhiều tấn dụng cụ chất lên boong tàu, làm sao chiếc Shigure có thể đơn thân độc mã chống trả với một kẻ thù vượt trội còn nguyên vẹn? Tại Guadalcanal, tôi đã vấp phải 3 lỗi lầm khiến cho 43 thủy thủ thiệt mạng. Không biết tôi sẽ phạm thêm bao nhiêu lỗi lầm trong tình cảnh này? Và sẽ có bao nhiêu người thiệt mạng vì những lỗi lầm đó?

Shigure vẫn tiếp tục tiến tới khu vực chiến đấu. Hỏa lực của địch thình lình ngưng hẳn vào lúc 22h10. Khu vực chìm khuất trong bóng tối. Dường như cả ba khu trục hạm đã biến mình vào lòng đại dương rồi. Kẻ chiến thắng chắc chắn đang nằm chờ trong bóng tối để bất thần nhảy ra vồ lấy chiếc Shigure. Ngay sau khi cố tạo lần liên lạc cuối cùng với các khu trục hạm bạn nhưng không được trả lời, tôi ra lệnh rút lui vào lúc 22h15. Đây là một quyết định rất đau lòng, nhưng không có sự chọn lựa nào tốt hơn.

Tôi thông báo về căn cứ Rabaul rằng chúng tôi đã rút khỏi địa điểm xảy ra trận chiến và yêu cầu ở đây cho chỉ thị. Tổng hành dinh trả lời tức khắc: “Quay về căn cứ. Yêu cầu lực lượng ở Kolombangara tìm cách tiếp cứu những người còn sống sót.”

Như vậy là trận đánh đã kết thúc và địch quân đã chiến thắng vẻ vang. Ba khu trục hạm Nhật bị đánh chìm, 700 thủy thủ và 820 binh sĩ bộ binh có mặt trên 3 chiếc tàu này chỉ còn sống sót 310 người, trong số đó có Đại tá Sugiura. Hơn 30 giờ sau khi tàu chìm, ông ta trôi dạt vào bờ và đi lạc trong rừng rậm suốt một tuần lễ trước khi được toán tìm kiếm giải cứu.

Vào ngày 20 tháng 8, tôi rất đau lòng và hổ thẹn khi thấy Sugiura trở về căn cứ Rabaul trong một thân xác gầy yếu. Những người sống sót đã thuật lại cảnh tượng khủng khiếp của trận đánh mà họ đã tham dự. Hai quả ngư lôi đã trúng vào chiếc Hagikaze, hệ thống liên lạc của chiếc tàu này bị cắt đứt ngay lập tức. Chiếc Arashi lĩnh 3 quả ngư lôi và chiếc Kawakaze lĩnh hai quả. Đó là một trong những thành tích phóng ngư lôi chính xác nhất của người Mỹ trong lịch sử các trận hải chiến.

Quả ngư lôi thứ tám của địch quân trúng vào phòng máy của khu trục hạm Shigure. Cũng nhờ vào sự may mắn chứ không thì nó cũng chịu chung số phận với 3 khu trục hạm bạn thuộc Hải đội 4 Khu trục hạm. Trận chiến kể trên chứng tỏ lực lượng Hải quân Hoa Kỳ đã tiến bộ rất mau lẹ trên mọi phương diện, gây kinh ngạc cho tất cả chuyên viên của Nhật Bản, những người từ trước đến nay tỏ ra xem thường sự hữu hiệu của ngư lôi địch quân.

Không cần phải đợi mãi đến sau khi chiến tranh chấm dứt , được đọc những bài viết về trận đánh này, tôi mới hiểu tại sao địch quân đã chiến thắng. Tất cả khu trục hạm của chúng tôi đã chui vào cái bẫy được địch quân khéo léo giăng ra, lợi dụng vào địa thế của dãy núi Kolombanga.

Hoa Kỳ đã biết được chúng tôi sẽ lên đường vào sáng sớm và đã theo dõi chúng tôi suốt ngày hôm đó. Sáu khu trục hạm của họ đã rời khỏi căn cứ Tulagi lúc 9h30. Các khu trục hạm này đã được trinh sát cơ thông báo đầy đủ diễn tiến hoạt động của chúng tôi. Địch quân biết chúng tôi hướng về Vịnh Vella. Từ Vịnh họ đã thấy chúng tôi trên màn hình radar ở khoảng cách đến 10 dặm. Lúc đó chiến hạm địch bèn chia thành hai nhóm, mỗi nhóm 3 chiếc. Ba chiếc Dunlap, Craven và Maury có nhiệm vụ ra tay trước, còn 3 chiến hạm khác chờ đợi để khi nào cần sẽ tiếp tay đồng bọn dứt điểm mục tiêu. Nhưng 3 chiếc tàu trước đã phóng ngư lôi một cách rất chính xác nên nhóm thứ nhì không cần phải hành động.

Chiến thắng của Hoa Kỳ có lẽ sẽ được trọn vẹn hơn nếu họ tiếp tục truy đuổi chiếc Shigure. Nhưng vì màn khói đen do chúng tôi tạo ra khá hữu hiệu, đến nỗi khiến cho địch quân tưởng lầm chiếc Shigure đã trúng ngư lôi và chìm rồi. Sau chiến thắng này của Hoa Kỳ, Bộ Tư Lệnh Tối Cao Nhật không bao giờ còn dám sử dụng ngõ Vịnh Vella để tiến đến căn cứ Kolombangara nữa.

Khu trục hạm Shigure trở về căn cứ Rabaul vào đêm 7 tháng 8. Lúc đó Tổng hành Dinh ở đây rất náo động.

Chiến bại của chúng tôi tại Munda vào ngày 4, và tiếp liền sự thảm bại không ai ngờ tại Vịnh Vella đã làm mọi người xúc động. Từ Munda xuyên qua eo biển Blankett nhỏ hẹp là khu vực phòng ngự chính của Nhật Bản bảo vệ quần đảo Solomon và căn cứ Kolombangara. Tôi có thể hiểu được tại sao các khu trục hạm của địch quân đụng đầu với chúng tôi ở Vella đã quyết đánh tan chúng tôi. Họ không muốn chúng tôi sử dụng hải trình này nữa, và họ đã thành công.

Phó Đô đốc Tomoshige Samejima, Tư lệnh Đệ Bát Hạm Đội đã tiếp đón chúng tôi với khuôn mặt dầu dầu, nhưng ông đá động gì đến công tác vừa qua của tôi. Ông tỏ ra hối hận đã đưa các khu trục hạm của Hải đội 4 Khu trục hạm vào bẫy, vì đã điên rồ lặp đi lặp lại lần thứ hai một chiến thuật đã được sử dụng.

Lúc tôi quay trở về thì 250 bộ binh và đồ đạc của họ đã chuyển hết lên bờ. Hầu hết số binh sĩ này đều đau ốm trầm trọng sau 40 giờ chen chúc nhau ở dưới hầm tàu. Họ la lên vui mừng khi được đặt chân xuống đất liền. Họ biết vừa thoát khỏi tay tử thần trong đường tơ kẻ tóc, nên trước khi ra đi tất cả đều cung kính chào giã biệt chiếc Shigure và thủy thủ đoàn. Điều này khiến tôi nghĩ rằng quyết định mà tôi đã chọn lựa là một quyết định đúng.

Tôi cho các thủy thủ được nghỉ ngơi qua hết ngày hôm sau, và cho phép họ lên bờ mỗi lần một phần ba tổng số thủy thủ đoàn. Đây là lần nghỉ ngơi thật sự và đầu tiên của họ. Khi nhìn thấy Trung sĩ Yamashita, quan sát viên đã phát hiện tàu địch, trong nhóm thủy thủ đầu tiên được phép lên bờ, tôi gọi anh ta vào phòng. Tôi trao anh ta chiếc đồng hồ đeo tay bằng bạc của tôi và nói: “Anh đã làm được một việc lớn. Tôi muốn anh nhận cái này. Nó không đáng giá bao nhiêu, tôi đã mua nó cách đây 20 năm tại thương xá Wanamaker ở thành phố NewYork.”

Trung sĩ Yamashita từ chối: “Thưa Đại tá, tôi không dám nhận một vật có nhiều ý nghĩa đặc biệt đối với Đại tá. Tôi chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Nếu hành động của tôi được khen thưởng thì tôi mong rằng sự khen thưởng đó phải do Bộ Tư Lệnh Tối Cao.”

“Nhận chiếc đồng hồ này và đừng bàn cãi gì thêm nữa Yamashita. Bộ Tư Lệnh Tối Cao sẽ không bao giờ cho anh cái gì đâu. Ngay cả quả ngư lôi của chúng ta đã trúng tàu địch mà họ còn không tin, bởi lẽ việc này chỉ có anh là nhân chứng duy nhất mà thôi.”

“Ồ, thưa Đại tá, họ không tin là sai. Tôi thấy quả ngư lôi đã trúng ngay khi tàu địch vừa tiến đến chúng ta. Trong suốt đời tôi, tôi chưa hề biết nói láo, và tôi sẽ đánh vào mặt kẻ nào cho tôi là nói láo.”

“Nào lại đây, Yamashita. Bây giờ anh biết phải làm gì. Quên chuyện đó đi. Hãy lên bờ và vui chơi thỏa thích.”

Tôi nhét chiếc đồng hồ vào trong túi Yamashita. Anh ta hơi bối rối một chút, nhưng sau đó nở một nụ cười trên môi, và cáo từ.

Tôi buông mình xuống ghế. Một công việc khó khăn đang chờ tôi. Tôi phải viết một bản báo cáo với đầy đủ chi tiết về trận hải chiến tại Vịnh Vella. Tôi muốn viết một cách ngay thẳng đồng thời tôi muốn bênh vực cho các đồng nghiệp tôi. Tôi phải mất nhiều giờ mới viết xong bản báo cáo.

Tôi bước ra boong tàu để nghỉ xả hơi. Toán thủy thủ lên bờ đầu tiên đang lần lượt trở về. Tôi thấy trung sĩ Yamashita đứng riêng rẽ, quần áo nhàu nát, mặt sưng vù và đôi mắt bầm tím. Tôi gọi Yamashita hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Anh ta ấp úng nói: “Thưa Đại tá, Không có gì cả. Tôi trượt chân và té nhào xuống đất.”

“Anh đã nói với tôi sáng nay rằng anh không hề nói dối, vậy thì anh đừng làm tôi giận .”

“Xin lỗi Đại tá, đây là lần đầu tiên tôi nói dối. Tôi gây lộn với một vài người ở trên bờ, nhưng không ai đánh tôi cả.”

“Anh vào phòng tôi ngay, tôi muốn biết chuyện gì đã xảy ra.”

Gã trẻ tuổi lòng đầy tự phụ này bước theo tôi như một con cừu non. Vào phòng, tôi yêu cầu anh ta giải thích đầy đủ chuyện vừa xảy ra.”

“Thưa Đại tá, tôi uống đâu được vài ly và có lẽ đã chuếch choáng nên tôi khoe chiếc đồng hồ mà Đại tá vừa thưởng tôi. Lúc đó, có mấy thằng chó đẻ bảo rằng chiếc khu trục hạm Shigure đã rút lui một cách nhục nhã và hành động này làm mất thể diện cho binh chủng Hải quân. Lại có thằng vào hùa nói rằng Hải đội 27 Khu trục hạm gồm toàn một lũ biếng nhác không làm nên trò trống gì cả. Lúc đó tôi giận run người và tôi đã dần chúng một trận nên thân. Đồ quân đẻ hoang.”

“Thật tội cho anh, Yamashita. Anh không nghĩ những gì mà chiếc khu trục hạm Shigure đã làm là sai lầm sao?”

“Không, thưa Đại tá. Tôi luôn luôn tin rằng những quyết định của Đại tá là hoàn toàn đúng. Đó chính là lý do tại sao mấy thằng chó đẻ đó đã làm tôi điên tiết lên.”

“Anh phải lờ đi, đừng để ý gì đến họ cả. Nhiệm vụ của chúng ta đến đây là đánh kẻ thù chứ không phải đánh người cùng quê hương xứ sở với chúng ta. Đừng bận tâm đến việc này nữa. Hay lo săn sóc vết thương của anh đi. Lần sau anh sẽ hiểu biết hơn.”

Kể từ sau trận đánh ở Vịnh Vella, bầu không khí trên khu trục hạm Shigure hoàn toàn thay đổi. Sau đêm đó, tinh thần của thủy thủ đoàn lên cao, họ tỏ ra kiêu hãnh và đoàn kết. Trên mọi khuôn mặt không còn thấy những nét khờ khạo và ngu đần nữa. Họ đã chứng tỏ rằng họ có đầy đủ sự can đảm và tin tưởng để sẵn sàng tham dự trận đánh khác. Và trận đánh này xảy ra không lâu sau đó.

Người Mỹ tiếp tục bước tiến của họ. Họ thực hiện một cuộc hành quân đổ bộ mới vào ngày 15 tháng 8 tại Biloa, nằm gần cực Nam Vịnh Vella. Cuộc đổ bộ mới này xảy ra cùng với cuộc đổ bộ khác tại Munda trước đó đã tạo thành một gọng kềm xiết chặt 12.000 quân trú phòng của chúng tôi ở Kolombangara. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Nhật đã phản ứng bằng cách tung toàn bộ không lực vào vùng Biloa, đồng thời tăng cường lực lượng trên bộ tại Horaniu, trên Vịnh Vella Lavella, để phản công bất kỳ cuộc đổ bộ mới nào của quân địch.

Vào sáng sớm ngày 16 tháng 8. Yamagami và tôi tham dự một phiên họp trên khu trục hạm Sazanami, dưới quyền chủ tọa của Tư Lệnh Hải đội 3 Khu trục hạm, Đề đốc Matsuji Ijuin. Trong phiên họp này, Ijuin tuyên bố sẽ đích thân chỉ huy cuộc hành quân Horaniu.

Đề đốc Ijuin nói: “Khi được lệnh chỉ huy cuộc hành quân này, tôi đã van nài Bộ Tư Lệnh Hải quân hãy đình chỉ sử dụng các khu trục hạm vào công tác chuyển vận. Theo đó, các khu trục hạm của chúng ta chỉ sử dụng đơn thuần vào nhiệm vụ hộ tống mà thôi. Lực lượng hộ tống kể từ một năm nay không bao giờ dưới 8 khu trục hạm, nhưng hiện tại chúng ta phải chấp nhận sử dụng 4 chiếc, bởi vì những cuộc đụng độ trong những tháng vừa qua đã khiến cho con số hao hụt gia tăng quá cao. Nhưng tôi đã hài lòng với 4 khu trục hạm xuất sắc này, vì tôi biết rằng khả năng chiến đấu của chúng tương đương với khả năng chiến đấu của 8 khu trục hạm.”

“Ijuin yêu cầu tôi kết thúc phần họp bằng cách trình bày sơ lược các diễn biến xảy ra tại Vịnh Vella. Ông và các sĩ quan khác ngồi nghe chăm chú. Khi tôi dứt lời, ông ta tiếp:

“Tôi sẽ hết sức lưu ý những nhận xét của Đại tá Hara vừa nêu ra, và tôi cũng mong toàn thể quý vị hiện diện ở đây hãy học hỏi những kinh nghiệm quý báu mà Đại tá Hara đã thu thập được trong trận chiến vừa qua, và hãy ghi nhớ sự thận trọng và mềm dẻo của ông trong lúc thi hành công tác. Trong cuộc hành quân sắp phát động, nhiệm vụ của chúng ta là phải bảo vệ đoàn tàu chở tiếp liệu chứ không phải đi tìm tàu địch để đánh. Tôi không chấp nhận sự ương ngạnh đã từng gây ra những thiệt hại cho binh chủng Hải quân của chúng ta.

Không ai dám bàn ra tán vào khi Đề đốc Ijuin cho rằng 4 khu trục hạm sắp tham dự vào cuộc hành quân là những chiếc tốt nhất tại Rabaul. Chiếc Shigure của tôi là chiếc tàu duy nhất thuộc hẳn vào lớp cũ. Còn khu trục hạm Hamakaze, người hùng của trận chiến ngày 13 tháng 7 tại Vịnh Kula, là một trong nhữn tàu chiến hiếm hoi của Nhật Bản trong thời gian này được trang bị radar. Hamakaze cùng với chiếc đàn chị Isokaze họp thành hải đội 17 Khu trục hạm do Đại tá Toshio Miyazaki chỉ huy. Cả 3 khu trục hạm vừa nói và soái hạm của Đề đốc Ijuin, chiếc Sazanami, là lực lượng hộ tống trong cuộc hành quân. Lực lượng nhỏ bé này có thể hãnh diện vì được cả một vị Đề đốc tài giỏi và 2 vị Đại tá điều động. Hơn nữa, Đề đốc Ijuin đã mềm dẻo trao toàn bộ quyền hành đông cho các Đại tá của ông ta, để họ tự do thu xếp công việc. Và Đề đốc Ijuin cũng được Bộ Tư Lệnh Hải quân cho phép hành động tự do, việc này chứng tỏ rằng thượng cấp rất quan tâm đến sự thất bại vừa qua tại vịnh Vella.

Bốn Khu trục hạm rời khỏi căn cứ Rabaul vào lúc 3 giờ sáng ngày 17 tháng 8 chạy về hướng Nam, tiến đến điểm hẹn với đoàn tàu vận chuyển gồm 20 chiếc cỡ nhỏ. Những tàu chuyển vận này đã khởi hành cùng ngày, lúc 10h27, từ căn cứ Buin và Bougaville, mang theo 400 quân tăng cường cho căn cứ Horaniu.

Khi chúng tôi rời khỏi căn cứ Rabaul khoảng 100 dặm thì truyền tin chủa chúng tôi bắt được một công điện phát ra từ một chiếc phi cơ bay gần đó. Như vậy là địch quân đã biết động tĩnh của chúng tôi, Ijuin tức khắc liên lạc về căn cứ không quân tại Buin yêu cầu tăng cường gấp đôi số phi cơ.

Lúc 11h30, khi chúng tôi nhìn thấy Bougainville thấp thoáng ở chân trời Tây Nam, một trong những trinh sát cơ gửi báo cáo đầu tiên về cho chúng tôi: “ Ba khu trục hạm lớn của địch rời khỏi eo biển Gizo trực chỉ Biloa.”

Nguồn tin này được chúng tôi cảm nhận với nhiều cảm nghĩ lẫn lộn khác nhau. Riêng tôi đã thấy nhẹ nhõm, vì ít ra chúng tôi cũng biết được chút ít địch tình. Như vậy là khá hơn cuộc hành quân lần trước của chúng tôi nhiều. Trong cuộc hành quân vừa qua, chúng tôi đã tiến mà không biết một chút gì thế trận của địch thủ.

Tất cả chiến hạm của chúng tôi đều gia tăng tốc độ đến 28 hải lý, hướng về eo biển Bougainville. Chúng tôi phải tiến mau, vì e rằng lực lượng của địch sẽ làm thịt đoàn tàu chuyển vận không có hộ tống đang tiến chậm chạp dọc theo bờ biển Choseul.

Mặt trời lặn đúng lúc chúng tôi vượt qua eo biển Bougainville. Thời tiết xấu đã che khuất vầng trăng tròn. Mây sà thấp ở cao độ 1.600 bộ, cách ba dặm không nhìn thấy gì cả. Thời tiết này nghiêng phần lợi về phía đối phương, vì họ có hệ thống radar tối tân. Chúng tôi đã từng biết qua khả năng siêu việt của loại radar này.

Lúc 21h, Vịnh Vella Lavella hiện ra lờ mờ ngay phía trước mặt. Chúng tôi đang tiến gần đến đích. Sự im lặng đầy căng thẳng chợt bị vỡ tan bởi tiếng hét của quan sát viên Yamashita: “Phi cơ địch xuất hiện.” Bóng dáng chói lòa của chiếc phi cơ vượt ngang qua nền trời và mất hút trong những đám mây tầm thấp. Thình lình, một chiếc phi cơ khác, hình như là loại oanh tạc cơ Avenger, chui ra khỏi cụm mây và thả một trái pháo sáng ngay trên chiếc Shigure.Chúng tôi lập tức tách khỏi đội hình và phân tán trong khi tất cả mọi loại súng đều nhả đạn lên phi cơ địch. Tôi cho tàu chạy chữ chi với vận tốc 30 hải lý, đồng thời tạo màn khói bao che. Các khu trục hạm chạy sau cũng làm giống như Shigure.

Một oanh tạc cơ khác của địch lại rời khỏi đám mây, chúi mũi thẳng xuống chiếc Sazanami, đến nỗi gần như đụng các tháp khi lướt ngang qua. Nhiều quả bom được thả xuống.

“Oanh tạc nhảy”, tôi nghĩ thầm trong bụng, và nắm chặt tay một cách bối rối. Trong suốt 5 tháng vừa rồi, kể từ ngày tôi nghe đến phương thức tấn công mới này bằng phi cơ, tôi như sống thường xuyên trong những cơn ác mộng. Tôi moi óc tìm phương cách chế ngự các cuộc tấn công như vậy, nhưng tôi đã phí công vô ích.

Tuy nhiên, những quả bom nhắm vào chiếc Sazanami không nhảy. Chúng rơi xuống theo lối thông thường, nghĩa là giữ nguyên vị trí được thả xuống chứ không nhảy đến mục tiêu. Nhiều cột nước trắng xóa tung lên quanh chiến hạm Sanazami. Súng đặt trên chiến hạm này phản ứng kịp thời, tất cả đều nhắm vào chiếc oanh tạc cơ nhưng không trúng. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi nhận thấy không chiến hạm nào của chúng tôi bị thiệt hại. Phi cơ địch bay đi mất. Nhưng biết đâu nhóm phi cơ khác không bay đến tấn công chúng tôi một lần nữa? Xa phía trước, chúng tôi nhìn thấy đoàn tàu mà chúng tôi phải bảo vệ. Có lẽ phải mất chừng một giờ nữa chúng tôi mới tiến được gần đoàn tàu đó. Tôi cố nghĩ cách chống lại nếu một khi các phi cơ địch đến nhiều hơn. Nhưng những ý nghĩ này bị đứt đoạn bởi tiếng la khác của quan sát viên Yamashita. Lần này hai phi cơ địch xuất hiện.

Một oanh tạc cơ hai cánh quạt chúi mũi xuống soái hạm Sanazami chạy dẫn đầu, và chiếc còn lại nhắm vào khu trục hạm Shigure chạy sau cùng. Tất cả mọi loại súng đều cất tiếng chào mừng viên phi công gan dạ khi hắn bay qua giữa những tháp của chiếc Shigure để thả những “quả trứng giết người”. Một số đạn cao xạ của chúng tôi đã trúng chiếc phi cơ này. Cánh trái của chiếc phi cơ tóe lửa và không thấy xuất hiện lại nữa.

Khi các quả bom đều tránh né chiếc Shigure, tôi quay nhìn về phía soái hạm Sazanami. Chiếc tàu này đã tạo một màn khói bao che dày đặc. Tôi biết nó cũng đã thoát khỏi cú đấm của mấy tên phi công gan lì. Tính ra, trên đoạn hải trình vừ chạy vừa đánh này, chúng tôi đã phải chịu đựng tất cả 8 oanh tạc cơ tấn công, kéo dài cho đến lúc chúng tôi tiến vào Vịnh Vella. Sau khi chiếc cuối cùng trong các oanh tạc cơ địch bay khỏi, bóng dáng đen thẫm khác thường của quần đảo Kolombangara hiện ra ở phía Đông, ngay trước mặt chúng tôi. Mọi vật lại chìm trong màn đêm kỳ dị. Có lẽ chúng tôi bước vào bẫy rập khác chăng?

Phòng truyền tin thông báo: “Soái hạm Sazanami ra lệnh xoay 180 độ về hướng Tây, vì hướng hiện thời không thấy rõ Kolombangara.”

Tôi tuân theo lệnh một cách hài lòng, và cho chiếc Shigure xoay hướng tức khắc. Ba khu trục hạm của chúng tôi chạy sát nhau, cùng tiến về hướng Tây. Chúng tôi di chuyển được khoảng 30 dặm thì chiếc Sazanami báo hiệu cho chúng tôi biết: “Bốn chiến hạm địch đang di chuyển ở hướng 190 độ, cách xa 15.000m.”

Lệnh xoay hướng của Đề đốc Ijuni đã cứu chúng tôi thoát khỏi cuộc phục kích của địch quân.

Soái hạm Sazanami vẫn tiếp tục ra lệnh bằng đèn hiệu: “Chạy theo đội hình chiến đấu. Chuẩn bị một cuộc tấn công bằng ngư lôi ở mạn trái.”

Sau này Đề đốc Ijuin đã nói với chúng tôi rằng ông rất vui mừng lúc biết được địch quân đang truy đuổi chúng tôi. “Sau chiến thắng ngày 6 tháng 8. Tôi chắc chắn địch quân đã quá tự tin nên sẽ không bao giờ để ý đến những chiếc tàu không có hộ tống của chúng ta. Họ muốn so tài tay đôi với các chiến hạm Nhật. Tôi ra lệnh tiến về hướng Bắc là nhằm để lừa địch quân phải chấp nhận một cuộc chiến cách xa đoàn tàu chuyển vận của chúng ta.”

Lúc 22h32, tất cả khu trục hạm của chúng tôi xoay 45 độ, và tiến về phía Tây Bắc, trong lúc mọi cặp mắt đều chăm chú quan sát mọi động tĩnh của đối phương. Lệnh đổi sang “đội hình chiến đấu” khiến cho vị trí của các khu trục hạm cũng thay đổi. Bây giờ khu trục hạm Hamakaze có trang bị radar chạy ở vị trí gần địch quân nhất, với sự bao che của hai chiếc Hamakaze và Shigure ở mạn bắc, cách 1.000m.

Địch quân vẫn tiến về phía Đông Bắc, chứng tỏ họ chưa phát giác việc đổi hướng bất ngờ của chúng tôi. Khoảng cách giữa chúng tôi và đối phương càng lúc càng rút ngắn lại. Lúc 22h40, một trái pháo sáng rực rỡ hai màu xanh và trắng, treo lơ lửng trên đoàn tàu của địch quân. Đây là ám hiệu của một trong những trinh sát cơ của chúng tôi, có ý nghĩa: “Tàu của địch quân là loại khu trục hạm.”

Đoàn tàu của đối phương bắt đầu đổi hướng một cách mau lẹ để chạy về hướng Tây. Điều này khiến cho Ijuin kinh ngạc, vì ông biết như vậy là địch quân đã hủy bỏ cuộc truy đuổi các khu trục hạm của ông. Điều này có nghĩa là địch quân đổi ý xoay sang tấn công những chiếc chuyển vận hạm không được bảo vệ của chúng tôi.

Lập tức, Ijuin ra lệnh cho tất cả các chiến hạm của ông xoay 90 độ về hướng Tây Nam và thi đua tốc độ với chiến hạm của địch quân. Vài phút sau, mọi người đều hiểu rằng tất cả các khu trục hạm của chúng tôi không tài nào bắt kịp chiến hạm địch trước khi chúng “phóng hỏa” đốt những chiếc tàu không có lực lượng yểm trợ của chúng tôi.

Ijuin ra lệnh: “Phóng tất cả ngư lôi tầm xa.” Ông đã ước định khoảng cách giữa soái hạm Sanazami và lực lượng đối phương chừng 8.000m. (Nhưng, theo tôi, khoảng cách có thể xa hơn 10.000m. Qua khoảng cách xa như vậy , ngư lôi được phóng ra khó có thể trúng đích.) Tất cả chiến hạm Hoa Kỳ gần như chạy song song, với tốc độ 30 hải lý có hơn. Do đó, tai họa thế nào cũng sắp xảy ra. Ijuin vội vã ra lệnh phóng tất cả ngư lôi. Vào lúc 22h52, tất cả ngư lôi đều hướng vào mục tiêu với tốc độ kinh hồn, cách sâu 2m dưới mặt biển. Một trong 23 quả ngư lôi Oxygen được phóng ra trên nửa đường đến mục tiêu bỗng nhảy vọt cao lên khỏi mặt nước, làm tung lên những cuộn sóng trắng xóa có thể nhìn thấy rõ trong màn đêm, giống như tia sáng của đèn hiệu trên boong tàu. Nhóm chiến hạm địch cũng đã trông thấy những cuộn sóng nên vội vàng xoay qua mạn phải. Do đó, tất cả ngư lôi của chúng tôi đều sai đích.

Qua ống nhòm, Đề đốc Ijuin bình thản nói: “Tránh né tài tình! Nhưng dù hoang phí ngư lôi, ít ra chúng ta cũng đã lôi địch quân xa khỏi đoàn convoy.”

Vào lúc 22h55 phút, soái hạm Sanazami phóng tất cả 8 quả ngư lôi còn lại. Bảy ngàn mét vẫn còn là khoảng cách khó có thể trúng đích, nhưng Đề đốc Ijuin đâu cần để ý chuyện trúng trật. Địch quân phản ứng bằng cách xoay nhanh về phía phải, và một lần nữa, các ngư lôi của chúng tôi thành hoang phí.

Ijuin ra lệnh: “Mọi loại súng đều khai hỏa.”

Hai khu trục hạm Sanazami và Hamakaze tiến về phía trước như vũ bão và đồng loạt khai hỏa mọi loại súng. Nhưng vì không sử dụng đèn rọi tìm địch, tất cả hỏa lực đều không thể nào nhắm trúng đích được. Hơn nữa khoảng cách quá xa đối với loại súng 127mm nhỏ bé của Nhật.

Isokaze và Shigure cũng tiến về phía trước, nhưng không khai hỏa. Hai lực lượng đối nghịch càng lúc càng sáp gần lại nhau. Lúc 22h59, tôi ra lệnh: “Sẵn sàng 4 quả ngư lôi, mục tiêu mạn trái,”

Ngay lúc đó, chiếc Shigure bị đạn trọng pháo của địch bao vây, rơi nổ cách khoảng chừng 20 đến 40m. Những cột nước dâng cao và trải rộng. Vài giây sau đó, vòng rào hỏa lực thứ hai của địch xiết chặt hơn, và tới vòng rào thứ ba thì hầu như chạm vào tàu của chúng tôi.

Tôi cố nhướng cổ, mở to mắt tìm kiếm các họng súng rực lửa của đối phương nhưng không thấy đâu. Lúc đó tôi mới biết được rằng chúng tôi đang nhận lãnh những quả đạn loại mới, không phát ra các tia lửa khi bắn. Loại đạn này chúng tôi từng nghe đồn đãi nhưng chưa thấy tận mắt. Loại đạn này cộng với các trọng pháo điều khiển bằng radar là một mối lo ngại lớn lao cho chúng tôi. Bỏ lệnh tấn công ngư lôi mà tôi vừa ban hành, tôi ra lệnh tạo màn khói bao che và cho tàu chạy theo hình chữ chi.

Shigure chạy tới chạy lui trong màn khói dày đặc với tốc độ tối đa 30 hải lý. Nhưng dù chạy như vậy, chúng tôi vẫn không thể nào tránh xa những viên đạn rơi xuống chung quanh cứ cách mỗi sáu bảy giây rời rạc như đánh nhịp. Sự căng thẳng tăng lên cực độ, vì tôi biết rằng bất cứ lúc nào chiếc tàu cũng có thể trúng đạn.

Sĩ quan ngư lôi và pháo thuật đều xin phép được khai hỏa, nhưng tôi biết cần phải chờ đợi cho đến khi nào có cơ hội thuận tiện nhất. Chúng tôi vẫn không khai hỏa khi đạn địch tiếp tục rơi xuống. Các chiến hạm địch đang tiến tới ở hướng 60 độ. Tôi muốn phóng ngư lôi trước, rồi mới cho khai hỏa các loại súng trên tàu, vì nếu không làm như vậy, sức giật của chúng sẽ làm sai lạc sự chính xác của ngư lôi.

Đạn đại bác của địch quân càng lúc càng tiến sát đến nỗi nước văng vào mặt tôi tung tóe. Khi các chiến hạm đối phương còn cách chúng tôi chừng 5.000m, tôi ra lệnh phóng ngư lôi và xoay hướng chiếc tàu để chạy ra xa. Tôi nhìn theo những quả ngư lôi lướt nhanh trên mặt đại dương và đồng thời chờ đợi cho chiếc tàu xoay đúng hướng. Một loạt đạn của địch quân lại rơi xuống cách xa chiếc tàu, nhưng loạt kế tiếp lại nhích gần hơn.

Tôi ra lệnh khai hỏa mọi loại súng. Chiếc tàu rung lên như một chiếc lá khi loạt đạn đầu tiên được bắn đi. Tiếng nổ đinh tai nhức óc. Từ lúc chúng tôi và đối phương khởi diễn cuộc đấu súng, không có quả đạn nào của họ trúng tàu chúng tôi. Khi đôi tai làm quen được với tiếng nổ chát chúa của mọi loại súng trên tàu, tôi nghe tiếng hét của quan sát viên đứng trên cột buồm: “Một quả ngư lôi trúng chiếc tàu thứ nhì, và đạn pháo kích của chúng ta cũng trúng chiếc tàu thứ ba của địch quân.”

Trong khói lửa mù mịt của trận chiến đang tiếp diễn, tôi chưa dám vội kiêu hãnh nhưng tin đó đã mang phấn khởi cho các thủy thủ trên boong tàu. Một tin khác, một tin bất ngờ và gây ngạc nhiên nhất trong ngày, do khu trục hạm Hamakaze cho biết. Theo đó, radar trên chiếc tàu này đã phát hiện một lực lượng hùng hậu của đối phương đang tiến về phía chúng tôi. Đại tá Toshio Miyazaki đề nghị rút lui về Tây Bắc. Đề đốc Ijuin chấp nhận ngay lời đề nghị này. Tôi cũng tức tốc chuyển lời hoàn toàn đồng ý đề nghị của Đại tá Toshio Miyazaki.

Lúc 23h, chiếc Shigure của tôi xoay qua hướng Tây Bắc, theo sau là các khu trục hạm Isokaze, Sanazami và Hamakaza. Cả 4 chiến hạm đều sử dụng tốc lực rút lui. Đạn trọng pháo vẫn rơi quanh chúng tôi, kéo dài chừng 10 phút. Không có trái đạn nào trúng chiếc Shigure, nhưng chiếc Isokaze kém may mắn hơn. Sau khi trúng đạn, khu trục hạm này vội vã phóng 8 quả ngư lôi vào chiến hạm địch đang truy đuổi. Tàu địch vung sang trái để tránh né ngư lôi rồi tiếp tục cuộc truy đuổi. Vào lúc 23h12 phút, trên chiếc Isokaze gần như hỗn loạn. Một đám cháy nhỏ và một số thủy thủ của chiếc tàu này bị thương. Khu trục hạm Hamakaze cũng bị thiệt hại nhẹ, riêng hai chiếc Sazanami và Shigure là còn nguyên vẹn. Đây là trận đụng độ dàn mặt lần thứ hai mà chiếc Shigure và toàn thể thủy thủ đoàn không hề bị một thương tích nào cả.

Trong khi 20 chuyển vận hạm tiến chậm chạp dọc theo bờ biển, các khu trục hạm của chúng tôi đã lừa các khu trục hạm của Hoa Kỳ chạy ra hướng biển. Đó là 4 khu trục hạm Nicholas, O’Bannon, Taylor và Chevalier.

Trước khi trời tối một vài giờ, 400 binh sĩ phải nằm lại trên các chuyển vận hạm đậu dọc theo bờ biển. Khi màn đêm buông xuống, tất cả đã đổ bộ lên bờ biển Horaniu. Như vậy, cuộc hành quân đổ bộ đã thành công trọn vẹn. Và như vậy, có thể kết luận rằng các khu trục hạm của Đại tá Thomas J.Ryan đã thất bại, và trong thất bại này có nhiều điều khúc mắc không thể giải thích được.Tất cả các chiến hạm của Ryan chạy cùng một hướng với chiến hạm của chúng tôi mãi cho đến 23h32, và sau đó bỗng xoay hai lần 90 độ để hướng về các chuyển vận hạm Nhật. Một vài báo cáo cho biết sở dĩ ông ta đã từ bỏ cuộc săn đuổi các khu trục hạm chạy với vận tốc 35 hải lý của chúng tôi bởi lẽ các khu trục hạm của ông ta chỉ có thể chạy với tốc độ 30 hải lý mà thôi.

Nhưng sự thật lúc ấy tốc độ tối đa của khu trục hạm Shigure chỉ đạt đến 30 hải lý là cùng. Hơn nữa bánh lái của Shigure lại không được chính xác nên chắc chắn tàu này và Isokaze chạy không quá 28 hải lý. Mặt khác, hướng tiến của các chiến hạm Hoa Kỳ và hai chiến hạm Nhật , tôi được kiểm chứng lại qua các bản báo cáo của 2 bên sau này, cho thấy Đại tá Ryan không hề săn đuổi chúng tôi.

Lực lượng của Đại tá Ryan cũng không chủ tâm săn đuổi các chuyển vận hạm Nhật. Theo báo cáo, tất cả các khu trục hạm của ông ta đã bắn hết đạn nhưng vẫn còn lại một số đại đại liên, có thể đủ sức tấn công vào đoàn tàu chuyển vận không có vũ trang của chúng tôi. Nhưng theo kết quả đã thấy, chỉ có 2 chuyển vận hạm bị đánh chìm và không ai trên các tàu này thiệt mạng.

Qua những sự kiện này, cho thấy Đại tá Ryan có lẽ đã nghĩ đây là một trong các chuyến chuyển vận quen thuộc mà khu trục hạm Nhật thường đảm trách vai trò chính trong nhiệm vụ chuyên chở lực lượng đổ bộ, vì vậy khi các khu trục hạm của chúng tôi rút lui thì ông ta đã mãn nguyện, cho rằng cuộc hành quân đổ bộ của chúng tôi đã bị bẻ gãy, không cần phải truy đuổi xa hơn nữa.

Trong suốt trận đánh vừa qua, tôi cũng như tất cả các đồng nghiệp khác không hề nhìn thấy một quả ngư lôi nào được phóng đi. Điều này cũng gây thắc mắc cho chúng tôi, bởi vì cuộc đụng độ này xảy ra, chỉ cách có 10 ngày sau cuộc chiến thắng bằng ngư lôi của Mỹ tại cùng một khu vực. Sau này, Đề đốc Ijuin đã nói với tôi: “Tôi tin rằng các chiến hạm địch phải là tuần dương hạm chứ không phải khu trục hạm, bởi vì các chiến hạm này chỉ tham chiến bằng súng từ đầu đến cuối.”

Lời ghi nhận của một quan sát viên trên khu trục hạm Shigure về việc một trong những quả ngư lôi của chúng tôi đã trúng tàu địch không bao giờ được kiểm chứng. Đó có thể là do sự quan sát lầm lẫn. Hình như quả ngư lôi phát nổ là do chạm phải các làn sóng do một chiếc tàu địch gây ra. Lối điều động không mấy hăng hái của địch quân sau báo cáo của quan sát viên, khiến cho tôi nghĩ nhận xét sau của tôi có lẽ đúng. Như vậy, có thể nói không có quả ngư lôi nào của Nhật chạm mục tiêu, nhưng một số đã gây chút ít rối loạn cho hàng ngũ đối phương.

2

Ijuin, sinh ra trong một dòng họ quý tộc và có những thói quen gia hệ, luôn luôn giữ trạng thái lạc quan. Ông ta không hề để tai đến những ngờ vực có tính cách bi quan của tôi. Do đó, trong bản báo cáo gửi cho Bộ Tư Lệnh Tối Cao Hải Quân Hoàng Gia, ông viết: “Chiếc khu trục hạm xuất sắc nhất thuộc phân đội của tôi là chiếc Shigure . Nó đã sử dụng ngư lôi đánh chìm một tuần dương hạm của địch quân.

Điều đáng phê phán nhất của toàn bộ trận đánh là việc Nhật Bản bất thình lình ngưng hướng tiến để xoay về hướng Tây Nam. Lý do là radar của chiếc Hamakaze đã khám phá ra một lực lượng địch quân hùng hậu trong khu vực phụ cận. Đây là một sự sai lầm, và chỉ có một cách giải thích sự sai lầm này: radar của Nhật Bản lúc đó không thể nào tin tưởng được, vì vậy lực lượng địch mà radar của chiếc Hamakaze phát hiện được thật ra là các chiếc tàu thuộc đoàn chuyển vận của chúng tôi.

Từ khi cuộc chiến chấm dứt, tôi đọc tất cả những lời đả kích mạnh mẽ của Hoa Kỳ nhắm vào hành động rút lui của Ijuin, bỏ mặc đoàn chuyển vận mà ông có nhiệm vụ bảo vệ. Tuy nhiên, một điều hơi lạ là dường như không có một lời chỉ trích nào nhắm vào vị chỉ huy Hoa Kỳ về việc ông ta không xúc tiến việc truy đuổi chúng tôi.

Theo tôi nghĩ, các vị chỉ huy của cả hai bên đều có sự bận tâm và bối rối riêng trong khi điều động trận đánh này. Sự thất bại ngày 7 tháng 8 tại Vịnh Vella hiển nhiên là có ảnh hưởng nặng nề đối với Ijuin, giống như trận Kolombangara vào ngày 12 tháng 7 đối với Ryan. Trong trận Kolombangara, Ryan chỉ huy một hải đội khu trục hạm khi một trong bốn chiếc tàu của ông bị đánh chìm, ba chiếc còn lại đã xoay hướng bỏ chạy một cách hỗn loạn, nhưng cũng bị các lực lượng vượt trội của Nhật đuổi theo và giáng cho các đòn chí tử. Tuy nhiên, các sử gia và phê bình gia thường không chú ý đến trạng thái tinh thần của các vị tư lệnh trong việc phê phán một trận đánh trên bộ hoặc trên mặt biển như thế này.

Bốn khu trục hạm của chúng tôi trở về Rabaul vào ngày 18 tháng 8. Qua ngày sau, thủy thủ đoàn sung sướng và hãnh diện của chiếc Shigure được nghỉ ngơi.

Trong giai đoạn tiêu hao khá cao của cả cuộc chiến này, một khu trục hạm trải qua 2 trận đánh liên tiếp mà không mang một vết thương nào thì thật là một điều đáng ngạc nhiên.

Trong chuyến trở về trước đó của chúng tôi, thiên hạ đã nhìn một cách điềm nhiên bởi vì họ cho rằng Shigure là chiếc tàu duy nhất của Nhật còn tồn tại trong trận đánh chỉ do may mắn mà thôi. Bây giờ thì không còn ai tỏ vẻ nghi ngờ về tài năng và sự kiêu hùng của nó.Đề đốc Ijuin dùng cơm trưa với Đại tá Miyazaki và tôi tại CLB sĩ quan . Cả hai đều hết lời ca tụng chiến công của chiếc Shigure đến nỗi tôi cảm thấy bối rối nhưng pha lẫn chút ít sung sướng. Ijuin ghi nhận rằng từ ngày được tôi chỉ huy, khu trục hạm Shigure có nhiều thay đổi lớn lao, và ông kết luận:

“Tôi rất tiếc, Hara, mang tiếng là chỉ huy trưởng Hải đội mà anh chỉ có trong tay một chiếc tàu duy nhất, và chiếc tàu này lại còn lâu đời hơn chiếc Amatsukaze trước đây của anh. Nhưng hãy kiên nhẫn, không lâu nữa số tàu dưới quyền sẽ có đầy đủ cho anh.”

Đề đốc Ijuin là một mẫu người rất dễ thân cận và hòa hợp. Mặc dù ông thuộc giai cấp quý tộc, sinh ra trong nhung lụa, nhưng ông đã tạo được một tiếng tăm lừng lẫy trong Hải quân như là một hoa tiêu xuất sắc.Thật đáng hài lòng khi thấy một người có khả năng và giai cấp như vậy lại chú tâm đến sự an vui của người khác.

Căn cứ Rabaul tương đối yên tĩnh vì không có những trận oanh kích xảy ra, do đó sau khi dùng cơm trưa xong, chúng tôi thả bộ quanh một vòng. Từng cơn gió nhẹ, từ hướng Đông Nam lướt đến, lay động hàng dừa rợp bóng trên đầu. Căn cứ vùng nhiệt đới này chỉ có vẻ nhộn nhịp tí chút ở bề ngoài. Chúng tôi đều mặc áo ngắn, vận quần tây ngắn và đội nón rơm. Ăn mặc như vậy thích thú hơn vì không ai chú ý và khỏi phải phiền phức đáp trả những cái chào của thủy thủ đi ngang qua chúng tôi.

Các cửa hàng trên hòn đảo vẫn mở cửa buôn bán như thường lệ, và hầu hết do người Trung Hoa làm chủ. Một dân tộc nhẫn nại và cần cù biết bao. Trong lúc Đồng Minh và Nhật Bản đang đụng độ một cách tàn khốc thì họ, những người Trung Hoa trầm tĩnh này, chỉ biết tìm cách gia tăng sức mạnh kiểm soát kinh tế địa phương của họ.

Khi băng qua một ngõ hẹp, chúng tôi bị một đám đông tụ tập trước sân của một lữ quán lôi cuốn. Đó là một đám khán giả của một nhóm vũ công địa phương khoảng chừng 40 người. Bốn mươi vũ công này không trang điểm gì khác hơn là vắt những chiếc lông chim trĩ lên tóc, vận sà rông màu sắc sặc sỡ và thân thể trần trùi trụi, rám nắng của họ được tô son vẽ phấn lòe loẹt. Họ múa may cuồng nhiệt đến nỗi thân thể ướt đẫm mồ hôi. Tiếng trống là âm điệu duy nhất phụ họa với điệu vũ này. Một số khán giả phụ nữ lâu lâu ném vài quả chuối hoặc các loại trái cây khác vào nhóm vũ công, và họ chụp lấy vừa ăn vừa nhảy múa. Thỉnh thoảng họ la lên, âm thanh giống như tiếng vịt kêu. Chúng tôi không hiểu được nguyên nhân nào mà dân địa phương tổ chức buổi khiêu vũ này, nhưng phải công nhận đây là một điệu vũ rất lôi cuốn. Gần nửa giờ, chúng tôi đứng quan sát nhóm vũ công trẻ tuổi hoa chân múa tay trong khi đầu lắc qua lắc lại liên hồi. Chỉ chừng bao nhiêu động tác ấy, nhưng hấp dẫn kỳ lạ.

Mayazaki nói: “Những người này họ bằng lòng với đời sống sơ khai của họ, họ ăn uống đạm bạc, ở trong những căn nhà tồi tàn, ăn vận thô sơ và họ không mơ ước gì hơn nữa. Đối với cuộc sống hiện đại của chúng ta, xem ra họ có vẻ biếng nhác. Nhưng thật ra ai là kẻ hạnh phúc hơn?”

Cuối cùng, Ijuin đề nghị đi chỗ khác, ông nói: “Tôi thích cuộc khiêu vũ này, nhưng tôi lại muốn đến viếng nơi tắm ở suối nước nóng mà hồi nãy chúng ta nhìn thấy. Các anh có bằng lòng theo tôi không?”Lời đề nghị của Ijuin làm Miyazaki và tôi sửng sốt. Hồi nãy khi đi ngang qua suối nước nóng, chúng tôi có nói với Đề đốc về sự tuyệt diệu của chỗ tắm này. Bây giờ, khi nghe Ijuin nói, tôi định lên tiếng thì Miyazaki đã cướp ngang: Xin lỗi Đề đốc, suối nước nóng đó ở ngay ngoài trời. Tôi chưa thấy một vị Đề đốc nào đến đó tắm bao giờ.”

Ijuin đáp: “Nhưng mà anh đã từng tắm ở đó rồi, phải không Đại tá thân mến của tôi? Và một khi anh có thể tận hưởng cuộc tắm ngoài trời sảng khoái như vậy được, tại sao tôi lại phải bằng lòng với cái buồng tắm chật hẹp và thiếu tiện nghi của tôi ở trên tàu?”

Không ai dám lý luận với một vị Đề đốc, nhất là khi ông ta nói rất hữu lý. Hải quân Nhật đã cho xây nhiều nhà tắm lộ thiên trên các suối nước nóng do núi lửa New Britain tạo thành. Ở đây có đặt những cái thùng bằng kim khí rộng lớn dùng để chứa nước . Ai muốn tắm thì đổ đầy nước trong và ấm vào thùng, rồi tắm theo lối Nhật , nghĩa là ngâm cả thân thể vào chiếc thùng đầy nước này. Tắm theo kiểu này thân thể sẽ đỏ hồng và cảm thấy khỏe khoắn hoàn toàn.

Bất cứ thủy thủ nào từng ghé Rabaul đều biết đến địa điểm tắm nước nóng ở đây. Nếu có giấy phép lên bờ, thủy thủ có thể đến tắm tự do, khỏi phải trả một khoản phí nào hết. Sau những ngày lênh đênh trên mặt biển, không hề biết đến việc tắm rửa là gì, đây là một địa điểm mà họ không thể nào quên được. Nhưng các sĩ quan cao cấp thì đã có nơi tắm riêng trên tàu, do đó, thật là đáng ngạc nhiên, khi nhìn thấy một vị Đề đốc, cũng là một vị Nam tước ngoài đời, lại lần mò đến những nơi tắm công cộng thế này.

Khi chúng tôi bắt đầu hứng nước nóng vào thùng, hai thủy thủ trẻ tuổi nhảy ra khỏi thùng của họ, chào chúng tôi và dành lấy công việc này. Phản ứng tự nhiên, chúng tôi chào trả lại họ, nhưng Ijuin nhanh miệng: “Được rồi, các chú, việc này có khó khăn gì đâu, chúng tôi có thể làm được mà. Trần truồng như thế này thì còn phân biệt giai cấp cái quái gì được nữa?”

Nhưng hai chàng thủy thủ trẻ tuổi dường như không nghe. Khi đổ nước đầy mấy cái thùng của chúng tôi xong, họ lặn khỏi địa điểm ngay lập tức.

Đề đốc Ijuin thở dài: “Dường như chúng ta đã quấy rầy cuộc vui của họ. Từ rày tôi sẽ không đến đây nữa.”

Buổi tắm tuyệt thú. Sau khi tắm xong, chúng tôi kỳ lưng cho nhau và xếp thành hàng giống như ba con khỉ đột. Thật ra, đây là cái trò không lấy gì làm đứng đắn lắm đối với các sĩ quan Hải quân, nhưng chúng tôi cũng không để ý đến điều đó. Trong lúc đang hưởng sự thoải mái, Ijuin nói: “Sư tổ phóng lôi Hara, tôi muốn anh cho tôi biết ý kiến về hành động của tôi trong trận chiến vừa qua. Tám con cá của khu trục hạm Sanazami đã phí phạm một cách vô ích. Sao chúng ta không thể làm tốt hơn?”

“Thưa Đề đốc, theo tôi nghĩ, các ngư lôi đó thật sự không phí phạm một chút nào hết. Loạt phóng đầu tiên của chúng ta bị đối phương phát giác kịp thời, bởi lẽ có một quả ngư lôi đi sai hướng và bị gió thổi ngược trở lại. Nếu điều đó không xảy đến thì tôi tin rằng thế nào chúng ta cũng bắn trúng tàu địch.”

Ijuin đồng ý lý luận của tôi, và ông nêu ý kiến thêm rằng khoảng cách của mục tiêu quá xa, nên dầu cho các ngư lôi có tầm xa cũng không thể nào trúng đích được. Tôi tiếp lời: “Đúng vậy, thưa Đề đốc, với sự tiến bộ về tầm phát hiện của radar địch, họ có thể bắn chúng ta từ xa, trong khi chúng ta khó mà có thể đến gần họ trong tầm 3.000m”

Ijuin nói: “Đó là sự thật. Địch quân hiện thời đã trên chân chúng ta. Điều khôn ngoan nhất cho chúng ta là cố gắng làm sao đừng gắng công đạt cho được chiến thắng mà phải chịu hao tổn quá nhiều. Không nên trả giá đắt về người và chiến hạm chỉ để đánh đổi một chiếc tàu địch.”

Các cuộc tấn công của Đồng Minh ngày càng gia tăng nhanh chóng và mạnh mẽ, khiến Nhật Bản xoay trở khó khăn. Ngay chính vào ngày chúng tôi quay trở về và nghỉ ngơi tại Rabaul. Lực lượng bộ binh của Nhật bắt đầu triệt thoái khỏi căn cứ Santa Isabel, một hòn đảo có chiều dài nhưng không có chiều ngang thuộc quần đảo Solomon, nằm song song phía chính Đông của các đảo Vella Lavella, Kolombangara và New Georgia.

Ba ngày được nghỉ ngơi tại Rabaul, Miyazaki và tôi được lệnh sử dụng 3 khu trục hạm để đến di tản càng nhiều càng tốt số binh sĩ đồn trú trên đảo Rekata nằm ở phía Đông Bắc Santa Isabel. Trước đó, 600 trong số 3.400 binh sĩ trú đóng trên đảo Rekata đã được một số khu trục hạm khác di tản.

Thêm một lần nữa, chiếc Shigure lại ra khơi với chiếc Hamakaze. Khu trục hạm hư hại Isokaze được chiếc Minazuki thay thế. Cả 3 khu trục hạm lên đường vào sáng ngày 22 tháng 8. Tàu của chúng tôi chất đầy thức ăn và đồ tiếp tế cho số binh sĩ còn kẹt lại trên đảo không di tản hết trong chuyến đi này vì tàu của chúng tôi mỗi chiếc chỉ có thể chở 250 người là cùng.

Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, nhiệm vụ giao phó cho chúng tôi đều gian nan vất vả. Cuộc di tản trước được thực hiện cách nay đúng 4 hôm, khiến cho công tác của chúng tôi trở nên khó khăn thêm. Địch quân đã được đặt trong tình trạng báo động. Chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng để đối phó nguy cơ trước mắt.

Hành trình đến căn cứ Retaka thật nguy hiểm với hằng hà sa số đá ngầm và nhiều nơi đáy biển không được đánh dấu. Hải đồ của chúng tôi sao y hải đồ của người Anh, thực hiện năm 1939 kèm theo lời ghi chú như sau: “Những hòn đảo này chỉ được nghiên cứu có một phần, và phần lớn còn lại vẫn chưa biết được. Tốt hơn nên cẩn thận khi di chuyển trong khu vực này.”

Lúc chúng tôi rời khỏi căn cứ Rabaul chưa đầy 100 dặm thì 3 phi cơ địch xuất hiện ở độ cao 20.000 bộ (khoảng 7.960m). Súng cao xạ đặt trên các khu trục hạm của chúng tôi khai hỏa tức khắc, nhưng ở cao độ như vậy súng của chúng tôi làm sao với nổi. Quả thật đáng lo.

Phi cơ địch không bỏ một quả bom nào, nhưng cứ quấy phá bằng cách bay vòng tròn trên đầu chúng tôi. Lối chọc tức này thật đáng chửi thề. Khoảng chừng 10 phút sau, 6 chiến đấu cơ Zero cất cánh từ căn cứ Buka xuất hiện trên không phận của khu vực. Sáu chiến đấu cơ Nhật đâm thẳng vào các oanh tạc cơ địch và khai hỏa. Nhưng phi cơ địch, dường như là loại oanh tạc cơ B-24, vẫn tiếp tục bay, hoàn toàn không có vẻ gì là rối loạn cả. Mọi loại súng của chúng tôi đều quay mũi lên trời sẵn sàng khai hỏa, nếu phi cơ địch bay vào tầm.

Quấy phá chúng tôi chùng 20 phút, các phi cơ địch bỏ đi. Sáu chiến đấu cơ của chúng tôi tiếp tục bay về hướng Nam, phía trên các chiến hạm của chúng tôi, cho đến chiều tối mới quay trở về căn cứ. Nhưng chúng tôi vẫn sống trong những giờ phút bất an, vì vậy chúng tôi vẫn phải duy trì tình trạng báo động. May mắn là không còn chiếc phi cơ nào đến quấy phá chúng tôi nữa. Chúng tôi tiến một cách chậm chạp dọc theo bờ biển Bougainville và luôn luôn phải đề phòng bất trắc trên đoạn hải trình nguy hiểm này.

Chúng tôi len lỏi tiến vào khu vực đầy đá nhọn và đáy biển nông, bao quanh đảo Choiseul. Ngay lúc đó, một công điện hỏa tốc được gửi đến từ căn cứ Rekata. Không một ai trong chúng tôi quên được khi đọc nội dung của công điện này: “Bốn tuần dương hạm và rất nhiều khu trục hạm địch được nhìn thấy lảng vảng gần cửa khẩu vào hải cảng Rekata.”

Tôi la trời. Tất cả các chiến hạm của chúng tôi đều chạy một cách nặng nề và chậm chạp, với vận tốc tối đa 10 hải lý. Như vậy chúng tôi sẽ trở thành mấy con bồ câu bằng đất sét vĩ đại, làm mồi cho phi pháo và ngư lôi của địch quân.

Trong khi tôi rối trí trong tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, đèn trên chiếc Hamakaze nhấp nháy một tín hiệu: “Xoay hướng tức khắc, chạy trở ra biển với tốc độ 24 hải lý cho đến khi nào chúng ta hiểu rõ địch tình.”

Rời bờ biển để chạy ra khơi như vậy chúng tôi sẽ trở thành mục tiêu rất rõ cho radar của địch quân. Chúng tôi chạy theo hướng mới chưa đầy 10 phút, truyền tin của chúng tôi bắt được một công điện xuất phát từ một trinh sát cơ địch, báo cáo về sự xoay hướng của chúng tôi. Chúng tôi phải làm gì để kháng cự lại với một đối thủ đầy đủ tai mắt như vậy?

Sau khi xem xét hải đồ, chúng tôi biết rằng địch quân chỉ cách chúng tôi 30 dặm. Có thể nào chúng tôi tiến vào bờ để đánh lạc hướng radar địch hay không?

Sau khi xem xét hải đồ, chúng tôi biết rằng địch quân chỉ cách chúng tôi 30 dặm. Có thể nào chúng tôi tiến vào bờ để đánh lạc hướng radar địch hay không? Chạy trốn? Tấn công? Tấn công chắc chắn chúng tôi sẽ chỉ hạ gục một hay hai chiến hạm địch là cùng, và sau đó, những chiến hạm còn lại của địch chắc chắn sẽ nuốt sống chúng tôi. Đèn hiệu màu xanh sau lái của chiếc Hamakaze bắt đầu nhấp nháy: “Rabaul ra lệnh trở về căn cứ ngay lập tức, không được chạm trán với địch quân. Rút lui với tốc độ 30 hải lý.”

Tôi thở phào nhẹ nhõm và cúi nhìn đồng hồ, lúc đó gần nửa đêm. Chúng tôi xoay hướng chạy thẳng về Rabaul và đến nơi vào trưa ngày 23 tháng 8. Nhưng chúng tôi chỉ có chút ít thời gian để phục hồi sức khỏe sau mấy đêm mất ngủ. Hai ngày sau đó, chúng tôi lại được lệnh đến căn cứ Retaka một lần nữa. Lần đi này, chúng tôi gặp may mắn, vì thời tiết ảm đạm, có nhiều mây mù, do đó phi cơ địch không phác giác ra chúng tôi. Mưa trút xuống từng cơn trên hải trình tiến về hướng Nam, khiến cho chúng tôi chỉ nhìn thấy cách xa chừng vài trăm mét vào ban đêm.

Tình trạng thời tiết vẫn không thay đổi khi tàu chúng tôi tiến đến Santa Isabel. Kể từ lúc không có dấu hiệu nào cho thấy chiến hạm địch lảng vảng xung quanh, chúng tôi mong ước bầu trời trong sáng trở lại. Chúng tôi hạ tốc độ xuống còn 6 hải lý để len lỏi qua các khoảng nông dẫn vào hải cảng Retaka, và cứ mỗi một trăm mét phải dừng lại để kiểm soát lại vị trí. Đây cũng là một điều làm điên đầu chẳng khác nào bị địch quân quấy phá.

Chúng tôi cứ dò dẫm như vậy suốt gần 2 giờ, cho đến lúc một ánh đèn lờ mờ xuất hiện. Đó là đèn hiệu của một binh sĩ thuộc lực lượng trú đóng Nhật báo cho chúng tôi biết đã đến cửa khẩu gần hải cảng. Cả 3 chiến hạm của chúng tôi đều băng qua vùng biển cạn nguy hiểm một cách an toàn. Chúng tôi cảm thấy nhẹ hẳn người khi cho tàu lướt vào hải cảng nhỏ bé này.

Lúc 1h đêm ngày 25 tháng 8, chúng tôi bắt đầu cho cất đồ tiếp tế lên bờ, trong khi trên cầu cảng hàng trăm binh sĩ xếp hàng chờ đợi lần lượt xuống tàu. Nhưng màn đêm yên tĩnh chợt bị phá tan một cách cuồng bạo. Hai chiếc oanh tạc cơ của địch gào thét trên các tháp, và biến mất vào những đám mây sà thấp trên nền trời, sau khi thả xuống một loạt bom. Những cột nước dâng cao quanh chúng tôi. Không một thiệt hại nào được ghi nhận, nhưng chính những quả bom không trúng đích này đã thúc đẩy chúng tôi xúc tiến nhanh chóng công việc chuyển hàng và nhận binh sĩ.

Khi đồ tiếp liệu đã được dọn sạch. Binh sĩ chờ đợi chạy như bay xuống tàu. Chớp mắt, các khu trục hạm của chúng tôi đầy nghẹt đám hành khách nhốn nháo. Chúng tôi lập tức quay tàu ra khơi. Tuy trời vẫn còn tối đen như mực, nhưng bây giờ chúng tôi có thể điều khiển chiếc tàu băng qua những vùng biển cạn mà không cần phải dừng lại để mò mẫm như trước đây. Ngay lúc nhìn thấy đèn báo hiệu của binh sĩ ở cửa khẩu, chúng tôi gia tăng tốc độ. Vào lúc 2h30 phút, tốc độ của chúng tôi lên đến 30 hải lý. Chắc chắn phi cơ địch sẽ quay lại tìm chúng tôi với số lượng nhiều hơn. Chúng tôi hy vọng rời khỏi hải cảng càng xa càng tốt trước khi trời sáng.

Trước bình minh một giờ, chúng tôi đã thoát ra khỏi đại dương bao la. Sau đó, chúng tôi cho tàu chạy dọc theo bờ biển Choiseul. Một giờ nữa trôi qua, chúng tôi tiến vào eo biển Bougainville, và cũng là lúc phi cơ địch xuất hiện.

May mắn cho chúng tôi là sớm trông thấy phi cơ địch bay đến nên tạo ngay một màn khói bao che và phân tán mỏng. Khu trục hạm Hamakaze và Minazuki tăng tốc độ tối đa 35 hải lý. Chiếc Shigure già nua mệt mỏi chỉ đủ sức chạy đến 30 hải lý là cùng. Phi cơ địch ít ra là hàng chục chiếc, dường như xuất hiện mọi nơi trên vòm trời. Chúng bay xuống bắn phá xung quanh chúng tôi. Tất cả mọi loại súng của chúng tôi đều chĩa lên trời bắn liên hồi nhưng không trúng mục tiêu nào cả. Lúc phi cơ trút bom, chúng tôi cho 3 chiến hạm xả hết tốc lực, chạy theo hình chữ chi và đan chéo nhau. Lúc đó, bánh lái của chiếc Shigure lại không sử dụng được như ý muốn.

Năm phút căng thẳng trôi qua. Tất cả các oanh tạc cơ của địch bay mất. May mắn thay, chiếc Shigure không bị trúng bom. Các bộ phận trên tàu báo cáo không thiệt hại cũng không có thương vong. Các quả bom đều rơi nổ cách xa chiếc Shigure.

Khi màn khói do Shigure tạo ra tan dần. Chúng tôi nhận thấy 2 khu trục hạm bạn chạy phía trước chừng 3.000m. Và khi màn khói của tất cả các chiến hạm khác biến mất, tôi mới biết chiếc Hamakaze đang lâm nạn. Sàn tàu của khu trục hạm này bốc cháy và đang di chuyển với một tốc độ giảm sút rõ rệt. Chiếc Manazuki vô hại, và đang chạy cặp kè chiếc Hamakaze để bảo vệ. Trong lúc chiếc Shigure tiến đến gần hai đồng đội, chiếc Hamakaze sử dụng tín hiệu bằng cờ báo tin: “Một quả bom rơi trúng sàn tàu, 36 thủy thủ thương vong. Tốc độ chỉ giới hạn 20 hải lý. Tôi muốn tiến về Shortland. Hạm trưởng Miyazaki.”

Shortland là căn cứ gần chúng tôi nhất, cách khu vực này không đầy 30 dặm. Nhưng tôi biết rằng Shortland không phải là nơi an toàn cho tàu chiến, vì không có sự bao che bề mặt trên không.

Tức khắc, tôi ra lệnh cho nhân viên truyền tin vẫy một công điện bằng cờ: “Đại tá Hara chống lại ý định của anh. Căn cứ ở Shortland không phải là nơi an toàn. Chúng ta hãy cứ quay về Rabaul, với tốc độ 20 hải lý. Nếu có rắc rối gì xảy ra, chiếc Shigure sẵn sàng kéo anh. Yêu cầu phúc đáp.”

Miyazaki lập tức chấp nhận lời đề nghị của tôi. Ngọn lửa trên chiếc Hamazaki được dập tắt. Chúng tôi vầy đoàn tiếp tục chạy về hướng Bắc. Chúng tôi thâu ngắn đoạn hành trình còn lại chậm chạp một cách thảm thương, nhưng may mắn là không có một phi cơ địch nào bay đến tấn công chúng tôi nữa. Sau đó, chúng tôi tiến vào cảng Rabaul. Mọi người đứng trên cầu tàu đã sững sờ khi nhìn thấy khu trục hạm Shigure chạy dẫn đầu, theo sau là các chiếc Hamakaze và Minazuki. Bởi vì, đối với họ, nếu bất kỳ một trong số ba khu trục hạm này lâm nạn, chắc chắn phải là chiếc khu trục hạm yếu ớt Shigure, không thể nào là chiếc tàu mới tinh và chạy nhanh như chiếc Hamakaze được. Thủy thủ đoàn Shigure cảm thấy sung sướng và hãnh diện. Chúng tôi không sao quên được những lời đàm tiếu và khinh thị mà họ đã nhắm vào chiếc Shigure của chúng tôi trước đây.

Ngày hôm sau, khi gặp nhau tại Tổng Hành Dinh, tôi ngỏ lời chia buồn cùng Miyazaki. Một vị chỉ huy trưởng khu trục hạm lỗi lạc và tài giỏi như ông ta, một người đang được đề nghị thăng cấp Đề đốc, trong khi mới 40 tuổi, bây giờ trở thành một vị chỉ huy trưởng bất hạnh của một hải đội khu trục hạm với tất cả chiến hạm dưới quyền (Yukikaze, Isokaze, Hamanaze) đều bị hư hại nặng cần phải sửa chữa. Việc thăng cấp của ông hiện tại đã thành xa vời. Lúc gặp Miyazaki, tôi nhận thấy ông có vẻ buồn bã và hổ thẹn.

Ijuin đã đưa cho Miyazaki một mảnh giấy và nói: “Đừng ủ rũ nữa, Miyazaki. Hãy đọc mảnh giấy này và vui vẻ lên.”

Đôi tay Miyazaki run run khi lướt mắt qua các dòng chữ, và sau đó trao cho tôi với nụ cười thoáng buồn. Đây là công điện gửi từ Shortland, cho biết phi cơ địch đã ồ ạt tấn công gây thiệt hại nặng nề cho căn cứ này. Miyazaki bắt tay tôi và nói: “Hara, anh đã cứu tôi cùng chiếc Hamazaki và thủy thủ đoàn cùng hàng trăm binh sĩ trên tàu. Nếu tôi không nghe lời anh, cứ cho chiếc tàu chạy đến Shortland, chắc chắn giờ này chúng tôi tan thành mảnh vụn rồi.”

Bốn ngày sau đó, Đề đốc Ijuin cho mời tôi và hạm trưởng khu trục hạm Shigure đến văn phòng của ông. Vị tư lệnh phân đội của chúng tôi tỏ ra lo âu và có vẻ ngần ngừ trước khi nói: “Khu trục hạm Shigure phải đơn độc đảm nhận một công tác chuyển vận đến Tuluvu. Tôi không muốn giao cho các anh nhiệm vụ này. Nhưng tôi đã ra lệnh cho toàn thể các khu trục hạm khác cùng đi với tôi đến di tản các binh sĩ tại đảo Retaka. Shigure đã được chọn để đảm nhận công tác này một mình, bởi vì, Hara, tôi biết có mặt anh trên chiếc tàu. Tôi tin rằng nếu một người nào có thể đảm nhận công tác này, với một chiến hạm duy nhất, thì người đó phải là anh. Đây là một công tác khó khăn, và tôi hứa rằng ít nhất sẽ có hơn một chiếc khu trục hạm nữa gia nhập vào hải đội của anh, khi anh trở về.”

“Thưa Đề đốc, tôi sung sướng được Đề đốc giao phó nhiệm vụ. Được chỉ huy chiếc Shigure trong chuyến đi đơn độc này, đó là một vinh dự to lớn đối với hạm trưởng Yamagami và tôi.”

Gương mặt của Ijuin trở nên tươi tắn hẳn ra, ông tiếp, bằng một giọng đầy khôi hài: “Hara, anh đã tạo ra nhiều kinh ngạc với chiếc Shigure. Nó đáng mang danh hiệu “Khu trục hạm kiên cố” trong hàng ngũ hạm đội Nhật Bản. Chiếc tàu này lại nằm trong phân đội của tôi, đó là một điều đáng cho tôi hãnh diện. Tôi hy vọng chúng ta sẽ cùng đi chung với nhau trong một chuyến công tác khác.”

Trên đảo Tuluvu, nằm ở cực bắc mũi Gloucester thuộc đảo New Britain, Nhật Bản có thiết lập một căn cứ không quân nhỏ. Mặc dầu địch quân đã nắm ưu thế trên không trong các vùng phụ cận, Tuluvu vẫn được xem là cứ điểm quan trọng, một tiền đồn quan sát của Rabaul. Không có một con đường nào nối liền Rabaul và Tuluvu ngoài đường biển. Do đó, tất cả đồ tiếp tế cho đảo này đều được vận chuyển bằng tàu thủy. Trong khoảng thời gian ngắn vừa qua, căn cứ nhỏ bé này thiếu thốn thực phẩm và đạn dược, những lời yêu cầu tiếp tế lập đi lập lại vẫn không được đáp ứng, vì lúc ấy gặp phải áp lực nặng nề của địch quân tại quần đảo Solomon. Bây giờ đã đến lúc Tuluvu không thể bị quên lãng được nữa, nếu Nhật Bản muốn giữ quyền kiểm soát hòn đảo này.

Tuluvu, cái tên âm vang như một lời đe dọa đối với tôi. Nó nằm tại cửa khẩu phía Tây vùng biển Bismarck, nơi mà đầu tháng ba vừa qua địch quân đã phóng ra những cuộc “oanh tạc nhảy”, nhận chìm bốn trong số tám khu trục hạm và toàn thể tám chiếc chuyển vận hạm, thuộc đoàn convoy 16 chiếc của chúng tôi. Cũng chính cạnh bờ biển Tuluvu, chiếc Ariake thuộc hải đội của tôi cũng bị đánh chìm bằng phương pháp oanh tạc nhảy, cùng với chiếc Mikazuki, vào ngày 28 tháng 7. hai chiếc khu trục hạm này đã chạy rướn lên đá ngầm trong lúc cố né tránh cuộc oanh kích của phi cơ địch và sau đó bị triệt hạ luôn.

Tuluvu là một căn cứ nằm trong các cuộc tuần thám hàng ngày của phi cơ Đồng Minh. Bất cứ chiếc tàu nào của Nhật Bản bén mảng đến đây đều có thể hy vọng được oanh tạc cơ Đồng Minh tiếp đón nồng hậu, có khi bằng những trận oang tạc nhảy. Tôi phải cố gắng bằng mọi cách tìm cho ra một giải pháp chống lại hình thức tấn công này, mà chắc chắn chúng tôi phải đối diện. Nhưng, cho đến hiện tại, đầu óc tôi vẫn mù mịt, nếu không nói là bó tay.

Những người sống sót trong trận đánh ở biển Bismarck đẽ kể lại chiến thuật tránh né theo lối xưa cũ của các chiến hạm Nhật đã thất bại như thế nào. Tôi nghĩ có lẽ lúc bị oanh tạc nên quay mũi hướng thẳng về chiếc phi cơ địch, như vậy mức độ chính xác về thời gian được tính toán để thả bom sẽ bị sai lạc hẳn. Nhưng không có cách gì để kiểm chứng xem ý niệm này có đúng không, ngoài cách thử thách ngay trong trận đánh. Nhưng thử thách như vậy có khác nào đùa giỡn trên mạng sống của chiếc tàu và hơn 200 thủy thủ đoàn của chúng tôi. Vào trưa ngày một tháng 9, khu trục hạm Shigure rời căn cứ Rabaul trực chỉ Tuluvu. Chúng tôi cho tàu chạy dọc theo bờ biển phía Bắc đảo New Britain với tốc độ 18 hải lý. Hải vực tại đây cũng nguy hiểm không thua gì tại quần đảo Solomon, đầy dẫy đá ngầm, và nhiều nơi đáy biển rất nông không được ghi chú trên bản đồ.

Đêm xuống khi chúng tôi tiến vào Vịnh Hollmann, nằm ở cực Bắc của bán đảo Willaumez, khoảng nửa đường giữa Rabaul và Tuluvu. Khu trục hạm Shigure đang tiến vào vùng nguy hiểm.

Phòng truyền tin cho biết đã bắt được làn sóng vô tuyến của một phi cơ địch lảng vảng đâu đây. Tin tức này đã đến sớm hơn sự dự đoán của chúng tôi. Tôi ra lệnh cho các quan sát viên trông chừng phi cơ địch, cho dù mây mù và trời tối đen, khiến thị độ quan sát rất yếu kém.

Một giờ sau, nhân viên truyền tin báo cáo: “Một phi cơ địch lại gửi công điện. Ngay trên đầu. Chúng tôi không thể giải đoán công điện mã hóa này, nhưng hình như phi cơ địch báo cáo vị trí, hướng đi và tốc độ của chúng ta.” Chúng tôi tiếp tục chạy về hướng Tây. Thời tiết đột nhiên xấu hơn không thể nào nhìn thấy vật gì trước mặt được nữa. Không khí trở nên oi bức. Mồ hôi rịn đọng trên mặt tôi. Vài phút trôi qua, phòng truyền tin lại gọi: “Một phi cơ địch tiếp tục theo dõi hướng tiến của chúng ta.”

Lặng yên và căng thẳng gia tăng trên đài chỉ huy. Tôi lấy khăn tay ra lau mặt. Chưa lần nào không khí lại ngưng đọng như thế này. Đại úy Tsukihara, sĩ quan hoa tiêu cho biết sắp có một trận mưa. Anh ta đã tiên đoán đúng. Lúc 20h, cơn mưa trút xuống, ngăn hẳn tầm nhìn trong vòng một hai mét. Chúng tôi cho tàu giảm tốc độ, quay mũi về hướng Tây Nam và tiến vào bờ biển đầy đá tảng.

Phòng truyền tin báo cáo không còn bóng dáng một phi cơ nào của đối phương được ghi nhận. Đại úy Tsukihara nói: “Tốt, thời tiết quỷ quái này đã làm cho địch quân nản chí.”

Bầu không khí căng thẳng trên đài chỉ huy đã được giải tỏa. Sĩ quan và thủy thủ bắt đầu nói chuyện lao xao. Họ ngáp dài và duỗi tay chân, sau khi mươi phút trôi qua mà không có liên lạc vô tuyến nào của địch quân được ghi nhận trong vùng lân cận.

Tuy nhiên, những cánh tay bỗng hóa tê cứng trong không khí, những cái miệng chợt há hốc sững sờ trước tiếng động đinh tai nhức óc của các oanh tạc cơ chúi xuống trút bom. Mọi người đều bò càng. Với một tiếng rít lạnh xương sống, một chiếc phi cơ chúi mũi thẳng xuống đài chỉ huy và tiếp theo đó là tiếng nổ đồng loạt của nhiều quả bom. Một phi cơ khác đang gầm thét trên cột buồm.

Tôi lảo đảo đứng dậy, tự hỏi phi cơ địch ở hướng nào? Tôi nhìn thấy Yamagami đang sờ soạng tìm nút báo động và ấn mạnh. Tiếng còi báo động vang lên một cách muộn màng. Chiếc Shigure xoay hẳn về phía tả. Một cột nước mọc lên ngay trong nửa vòng tròn của chiếc tàu vừa xoay, cách không đầy 10m. Cột nước chụp lên tháp canh và đổ ập xuống đài chỉ huy. Tôi vừa giũ nước vừa hét: “Cố bẻ lái qua bên phải! Tốc độ tối đa! Gia tăng tức khắc!”

Trung úy Tsukihara nhìn tôi một cách sửng sốt, và hỏi lại: “Gia tăng tốc độ tối đa tức khắc?”

“Tức khắc!” Tôi gào lên. Tsukihara, mặt tái xanh và tay run lẩy bẩy, ấn mạnh nút liên lạc phòng máy, và nhắm nghiền mắt lại. Cùng lúc, Yamagami gọi phòng máy ra lệnh gia tăng tốc độ tối đa tức khắc và kêu lên nho nhỏ: “Trời ơi!”

Phản ứng của họ hoàn toàn tự nhiên. Trước đây, tôi chưa bao giờ ra một mệnh lệnh như vậy, và cũng có thể nói hầu hết sĩ quan Hải quân trong suốt cuộc đời binh nghiệp của họ cũng chưa ai từng ra mệnh lệnh này. Dưới các điều kiện thông thường, một chiếc tàu muốn gia tăng vận tốc từ 12 hải lý lên vận tốc tối đa 30 hải lý phải mất nửa giờ. Dưới các điều kiện chiến đấu, việc gia tăng vận tốc như vậy cũng mất ít nhất 16 phút.

Lệnh gia tăng vận tốc “tức khắc” của tôi đã vượt qua tất cả các phương thức thông thường, và có thể làm nổ turbin cùng guồng máy chiếc Shigure thân yêu của chúng tôi. Lệnh này đã gây ra sự náo động không thể tưởng tượng được dưới hầm tàu. Mối lo âu lớn của toán phòng máy là làm sao thi hành được mệnh lệnh này mà tránh cho các sợi dây của turbin khỏi bị đứt tung khi những cái van trong máy nở ra. Tất cả mọi người đều thi hành mệnh lệnh một cách khẩn cấp nhưng trong thâm tâm đều nghĩ tai họa chắc chắn sẽ xảy ra.

Những người đứng trên đài chỉ huy chờ đợi phi cơ địch tái xuất hiện không biết phút giây nào. Yamagami, đang hướng mặt về phía sau lái bỗng la to và đưa tay chỉ ống khói tàu. Từ miệng ống khói đang tuôn ra những dòng lửa có ngọn kéo dài theo chiều gió. Nhiên liệu dư quá nhiều, máy đốt không kịp nên tuôn ra ống khói và bốc cháy. Ngọn lửa sáng rực cả phần sau chiếc tàu.

Các oanh tạc cơ địch không bao giờ bỏ bom trật một mục tiêu như thế này. Sự lo âu chỉ kéo dài trong vài phút, nhưng đối với mọi người như kéo dài hàng nhiều giờ, và ngay lúc đó, phòng truyền tin báo cáo: “Sử dụng ngôn ngữ thông thường, phi cơ địch báo cáo đã oanh tạc vào ngay giữa một khu trục hạm. Chiếc tàu bốc cháy và đang chìm.”

Tôi sợ tai mình nghe lầm, tôi yêu cầu đọc lại công điện một lần nữa. Khi nghe xong công điện đáng kinh ngạc này, Yamagami và Tsukihara reo lên vui mừng.

Không khí háo hức bị phá tan, một tiếng nói từ phòng máy vọng lên, hỏi xem có cần phải tiếp tục thi hành lệnh gia tăng tốc độ cấp tốc nữa không? Tôi sung sướng trả lời rằng lệnh này không còn cần thiết nữa, và bây giờ có thể giảm tốc độ xuống 12 hải lý trở lại. Ngọn lửa ở miệng ống khói tàu hạ xuống mau chóng, và chúng tôi tiếp tục di chuyển trong bóng đêm một cách bình yên.

Không còn chiếc phi cơ nào theo đuổi chúng tôi nữa. Đối phương xem ra đã xóa tên chiếc Shigure trên biển cả. Đoạn hải trình còn lại của chúng tôi thông suốt và thoải mái sau những phút giây dựng tóc gáy. Chúng tôi đổ hàng tiếp tế xuống Tuluvu và quay ra khơi trong không khí vui mừng náo nức của binh sĩ đồn trú trên đảo.

Một lần nữa, chúng tôi trở về căn cứ Rabaul bình an. Ngày hôm sau, tôi trình diện Đề đốc Ijuin. Ông cũng trở về bình an và thành công trong chuyến đi Retaka của ông.

Lúc tôi kể chuyện với ông về những việc đã xảy ra, ông cười muốn đứt hơi, và nói: “Xem ra bây giờ chúng tôi có thể gọi anh là Đại tá Hara Huyền diệu. Hara, ngoài anh, không ai có thể nghĩ ra chiến thuật kỳ dị và thành công đến như vậy trong giờ phút nguy nan đó.”

Tôi sung sướng trước lời khen tặng của ông. Tôi nói: “Chiến tranh dường như có liên quan đến thế giới huyền nhiệm. May mắn cũng là một phần lớn trong sự huyền nhiệm này. Tôi nghĩ rằng sử dụng cùng mưu mẹo đó sẽ khó thành công trong kỳ khác.”

Ngay sau khi Đề đốc Ijuin đọc bản phúc trình của tôi về chuyến đi Tuluvu, ông ra lệnh xem xét lại chiếc Shigure. Là một chuyên viên hoa tiêu, ông lo ngại những hậu quả gây ra từ việc gia tăng tốc độ cấp tốc mà chiếc tàu phải chịu đựng.

Sau khi đã chạy thử và xem xét cẩn thận, các kỹ sư bảo trì đã đệ lên Ijuin một báo cáo hoàn toàn đúng với điều lo ngại của ông. Theo đó, chiếc Shigure không còn đủ khả năng để dự trận được nữa. Bản báo cáo ghi nhận rằng chiếc Shigure bỏ qua kỳ hạn tu bổ quá lâu, máy móc đã đến mức tồi tệ, bánh lái và tay lái sai lệch. Thân tàu đóng đầy vỏ sò hến, và các cơ quan cần phải có sự chính xác khác đều không thể sửa chữa hoặc điều chỉnh được. Bản báo cáo kết luận: “Xin cho phép sửa chữa tạm thời tại Rabaul để khu trục hạm Shigure có thể di chuyển sớm chừng nào hay chừng ấy đến Sasebo để hoàn tất công việc tu bổ.

Khi một phó bản của báo cáo được gửi đến chiếc Shigure, mọi người đã chuyền tay nhau để xem. Phản ứng của thủy thủ đoàn mỗi người một khác, nhưng đều giống nhau trên căn bản: Không người nào muốn trở về Nhật.

Sau khi tham dự nhiều trận đánh mà không một ai thương vong, tinh thần của thủy thủ đoàn Shigure lên cao tột đỉnh. Tất cả đều la lên giận dữ khi đọc qua bản báo cáo. Họ reo hò phản đối, hết lời thóa mạ và có người còn vung tay đe dọa “mấy tên thợ máy to đầu” ám chỉ mấy viên kỹ sư. Tất nhiên, Đề đốc Ijuin chấp thuận khuyến cáo của các viên kỹ sư.

Khi những chuyên viên sửa chữa lên tàu, thái độ của thủy thủ đoàn thay đổi mau chóng. Họ tỏ ra thân thiện và vui vẻ, vui lòng hợp tác với các chuyên viên trên mọi phương diện. Đại úy Hiroshi Kayanuma, cơ khí trưởng của Shigure, còn tỏ ra một cách thân thiện đặc biệt hơn.

Với bộ râu dài, Kanayuma giống như một người tiền sử, nhưng trái lại anh ta là một người khôn khéo và thông minh, và cũng là một tay uống rượu cừ khôi nhất trên tàu. Kanayuma bắt bồ ngay với mấy viên cai trông coi toán sửa chữa, lôi họ đi nhậu nhẹt mỗi ngày, cố gắng tán tỉnh để họ xúc tiến công việc sửa chữa nhanh chóng. Anh ta nói với họ: “Rabaul đang thiếu tàu chiến. Ngay cái chậu cũ kỹ xộc xệch này xem ra còn xài được hơn mấy cái chậu mới, chỉ biết đưa lưng ra đỡ đạn. Chúng tôi muốn chiến đấu. Xin giúp chúng tôi cơ hội nhận chìm tàu địch càng sớm càng tốt.”

Thái độ đó cũng là thái độ chung của thủy thủ đoàn Shigure. Chỉ trong vòng 6 tháng qua mà họ đã thay đổi biết bao! Hiện thời họ đã khiến cho tôi kiêu hãnh. Với tinh thần cao như vậy, tôi biết nếu tham dự bất kỳ trận đánh nào họ cũng đều có thể gặt hái thành công dễ dàng.

Công việc sửa chữa mất nhiều ngày giờ hơn dự tính của chúng tôi. Vì có thêm nhiều chỗ hư hỏng cần phải sửa chữa thật cẩn thận.

Trong tuần lễ đầu tiên ăn không ngồi rồi tôi ngã bệnh. Suốt tháng 8 đầy sôi động, tôi không bao giờ được nghỉ ngơi lâu dài sau các trận đánh dữ dội. Qua các trận đánh kéo dài nhiều giờ này, cộng thêm nhiều đêm không chợp mắt, khiến bao nhiêu sức lực của tôi đều tiêu tán. Trong giai đoạn nghỉ ngơi như thế này tôi lại uống quá nhiều rượu. Vào cuối tháng 8, tôi đã tiêu thụ cả thùng sake mỗi đêm trước khi ngủ. Sau một tuần nhàn rỗi và quen thói quen nhậu nhẹt, tôi sợ mình trở thành một con sâu rượu nên cố gắng giảm xuống. Nhưng sức khỏe tôi giảm sút khủng khiếp, không đủ trầm trọng để tôi nằm liệt giường, nhưng nó đủ sức gây cho tôi tính khí thất thường và hay tức bực.

Tôi ngẫm nghĩ về tình thế của cuộc chiến. Tại sao Nhật Bản không chịu thương lượng hòa bình trước khi việc này quá trễ tràng? Tôi không thể nào ngủ yên giấc. Mỗi khi tôi chợp mắt, những cơn ác mộng ùa đến và tôi bừng dậy, mồ hôi lạnh toát đầy thân.

Nghĩ lại, tôi nhớ ơn Đề đốc Ijuin. Ông biết tôi cần phải nghỉ ngơi, nên ông đã dành cho tôi thời gian này. Nhiệm vụ chỉ huy một chiếc tàu trong thời chiến là một nhiệm vụ đầy mệt mỏi, đó là không nói giữa lúc tôi còn khỏe mạnh, tuổi mới trên 40. Chỉ cần tưởng tượng tôi cũng thấy các vị sĩ quan cao cấp hơn đã gặp phải biết bao khó khăn. Các sử gia, những người thường hay chỉ trích những sĩ quan chỉ huy, phải nhìn một cách thích đáng những căng thẳng và những trách nhiệm nặng nề của một vị chỉ huy chiến đấu.

Thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi làm cho tôi hồi sinh. Hai tuần lễ này đã khôi phục đầy đủ năng lực tiêu tán của tôi. Vào giữa tháng 9, khi công việc sửa chữa chiếc tàu của chúng tôi xong xuôi, tôi mạnh hẳn về cả thể xác lẫn tinh thần.

Trong khi đó, tình thế cuộc chiến về phía Nhật Bản trở nên tồi tệ. Do đó, Bộ Tư Lệnh Tối Cao quyết định một cuộc hành quân triệt thoái khác. Lực lượng Nhật ở Kolombangara được di tản.

Tôi hoạt động trở lại đúng thời gian có cuộc hành quân chuyển vận Buka. Hòn đảo thuộc quần đảo Solomon này nằm gần Rabaul nhất. Đề đốc Ijuin cho rằng cuộc hành quân dễ dàng này sẽ lấy lại phong độ cho tôi.

Cuộc di tản ở khu vực Kolombangara bắt đầu vào ngày 21 tháng 9. tất cả binh sĩ Nhật trấn đóng trên hai đảo Arundel và Gizo, ở mạn phía Nam và Đông Nam của Kolomban gara, được rút hết cùng ngày. Vào ngày 27, cuộc hành quân chuyển vận Buka hoàn tất, tôi gia nhập vào cuộc di tản gần 10.000 binh sĩ trú phòng ngay trên đảo chính là Kolombangara. Cuộc di tản này thành công hoàn toàn vào đầu tháng 10, chỉ có 66 binh sĩ thương vong.

Chương trình triệt thoái kế tiếp là Vella Lavella. Từ đây giống như từ các địa điểm di chuyển khác, binh sĩ được rút đi đều mang hết về Bougainville. Ijuin được lệnh điều khiển cuộc di tản 600 binh sĩ ở đảo Horaniu, thuộc Vella Lavella.

Để thực hiện cuộc hành quân triệt thoái này, Ijuin đã vạch một kế hoạch công phu, đòi hỏi 3 nhóm hộ tống gồm 9 khu trục hạm. Nếu so sánh với tổng số 25 khu trục hạm được sử dụng trong cuộc di tản 10.000 binh sĩ ở Kolombangara, cuộc di tản nhỏ bé này đã quy tụ một lực lượng hộ tống vượt mức.

Ijuin giải thích rằng mặc dù các cuộc hành quân ở Kolombangara không gặp phải sự ngăn trở nào đáng kể, nhưng với các cuộc hành quân sau này, địch quân đã hiểu chiến lược của chúng tôi, nên phải chuẩn bị sẵn sàng để đương đầu với sự ngăn cản mạnh mẽ hơn.

Sự buồn cười có lẽ là đặc tính nổi bật nhất của cuộc hành quân quá tỉ mỉ này, bởi sự thật, 600 binh sĩ ở Horaniu không được di tản đâu xa hơn là Buin, nằm ở phía Nam Bougainville, nghĩa là cách xa địa điểm di tản không quá 50 dặm. Hơn nữa, và là một sự mỉa mai, 400 trong số 600 binh sĩ được di tản lại do chính Ijuin hộ tống đổ bộ lên Horaniu một tháng trước đó.

Trận đánh khu trục hạm xảy ra vào hai ngày 6 và 7 tháng 10 là một trong những trận đánh hỗn loạn nhất của cuộc chiến Thái Bình Dương. Ngay khởi đầu, cuộc xung đột được điều động bởi những người khư khư ôm lấy ảo tưởng và những sai lầm, nhưng có một vài điểm khá chính xác: Người Mỹ đã đánh giá đúng sức mạnh của Nhật ở Horaniu, và họ biết Nhật sắp đưa ra một nỗ lực để triệt thoái lực lượng bị cô lập trên hòn đảo này. Người Mỹ cũng biết rằng sau một năm của cuộc chiến tiêu hao, sức mạnh trên mặt biển của Nhật đã sút giảm nghiêm trọng, nhưng họ không bao giờ tưởng tượng Hải quân Nhật đã tung đến 9 khu trục hạm, 4 tàu săn ngầm và 20 chuyển vận hạm vào một cuộc hành quân nhỏ bé như vậy.

Đề đốc Ijuin đã đảm trách quá nhiều nhiệm vụ trong những tháng vừa qua, vì vậy ông đã mỏi mệt. Trong khi sức khỏe của tôi có dịp phục hồi, tinh thần và thể xác căng thẳng của ông qua các cuộc chiến đấu liên miên không có một dịp nào khác để nghỉ ngơi. Vấn đề này là một yếu tố quan trọng trong cuộc đụng độ sắp xảy ra.

Lực lượng đảm trách cuộc di tản ở Vella Lavella Đề đốc Ijuin, xuất phát từ Rabaul vào sáng sớm ngày 6 tháng 10, tổ chức như sau:

I. Nhóm khu trục hạm hộ tống, Đề đốc Ijuin tổng chỉ huy, chia thành 2 nhóm nhỏ:

Nhóm A: Khu trục hạm Akigumo, Isosake, Kazegumo, Yugumo do Đại tá Miyazaki chỉ huy.

Nhóm B: Khu trục hạm Shigure, Samidare do Đại tá Hara chỉ huy.

II. Nhóm khu trục hạm chuyển vận do Đại tá Kunizo Kanaoka chỉ huy bao gồm 3 khu trục hạm Fumizuki, Matsukaze và Yunagi.

III. Nhóm tàu chống ngầm và chuyển vận hạm do Đại tá Shigoroku Nakayama chỉ huy bao gồm 4 tàu chống ngầm và 20 chuyển vận hạm.

Tất cả đều dưới quyền tổng chỉ huy của Ijuin, soái hạm của ông là chiếc Akigumo, kế đó là Đại tá Miyazaki đầy đủ kinh nghiệm với chiếc Isokaze của ông, và thành phần còn lại tiếp theo sau. Chọn chiếc Akigumo làm soái hạm, có lẽ Ijuin không muốn Miyazaki mó tay vào các quyết định mặt trận quan trọng của ông. Trên chiếc Akigumo, với vị hạm trưởng và các sĩ quan ít kinh nghiệm. Ijuin sẽ mạnh miệng hơn khi tạo ra các quyết định riêng của ông.

Trái hẳn ý kiến của một số người Mỹ từng tham dự vào trận đánh sắp xảy ra – họ cho rằng Ijuin không muốn chạm trán với họ. Sự thật, Ijuin mong muốn và rất sẵn sàng để đánh. Số lượng chiến hạm mà ông mang theo đã chứng tỏ điều này.

Từng là một chuyên viên hoa tiêu, ông tránh dàn binh theo đội hình phức tạp, và sự thành công của đội hình từng gây bối rối cho đối phương trong cùng một khu vực bảy tuần lễ trước đây vẫn còn trong ký ức ông. Hiện tại ông lại mệt mỏi, ý niệm điều quân mới mẻ không thể hy vọng sẽ có nơi ông.

Bốn chiến hạm thuộc nhóm đầu tiên của ông đều có khả năng đạt được tốc độ đến 35 hải lý. Do đó, trong một phiên họp chiến thuật, Ijuin có nói với chúng tôi rằng ông sẽ điều quân để nhử địch vào vị trí chọn lựa, nơi đây hai khu trục hạm của tôi có thể đưa ra một cú đấm gây sửng sốt cho địch quân, để nhờ vậy, nhóm khu trục hạm thứ ba của chúng tôi có thể tiến đến đoàn tàu chuyển vận suôn sẻ. Chín khu trục hạm của chúng tôi cũng triển khai thành nhiều nhóm riêng rẽ để địch quân không thể đoán nổi sức mạnh thật sự của chúng tôi. Quả thật, địch quân đã khinh thường lực lượng của chúng tôi, nhưng họ lại không đánh theo sự sắp xếp của Ijuin.

Ngày đó trời đầy mây và mưa sa từng chặp. Lướt vào những cơn mưa, chúng tôi tìm thấy chốn ẩn thân tuyệt hảo. Khi chạy men theo bờ biển phía Đông Bougainville vào buổi trưa hôm đó, truyền tin của chúng tôi chặn bắt được một công điện viết bằng những con số của địch quân. Công điện này do trinh sát cơ hoặc một số quan sát viên bí mật được địch quân cài trong rừng rậm Bougainville gửi đi. Chúng tôi không có cách nào để biết có phải công điện này đã báo cáo đầy đủ hay chỉ từng nhóm tàu chiến riêng rẽ của chúng tôi. Nên biết, hiện tại các chiến hạm của chúng tôi chia ra làm 3 nhóm chạy riêng rẽ và cách xa nhiều dặm. Nhưng dù thế nào, công điện này cũng chứng tỏ sự hiện diện của chúng tôi đã bị địch quân sớm phát hiện.

Sau khi bắt được công điện, khoảng cách giữa các khu trục hạm của chúng tôi được nới rộng thêm từ 1000m, nhằm chuẩn bị đón nhận một cuộc tấn công của phi cơ địch.

Khoảng 15h, đúng ngay lúc chúng tôi đang chống trả với một cơn mưa ào ạt, nhiều phi cơ địch từ hướng Choiseul bay đến. Cơn mưa bão đã bảo vệ chúng tôi hữu hiệu. Bầu trời thẩm tối trong nửa giờ, phi cơ địch không biết chúng tôi ở đâu mà mò, nên đành bỏ cuộc săn đuổi.

Lúc mặt trời lặn, chúng tôi nhận được một công điện của Đề đốc Ijuin cho biết nhóm tàu của ông đang tiến thẳng đến Vella, và chỉ thị thành phần còn lại “hãy giảm tốc độ xuống còn 9 hải lý, và chờ ở phía Đông đảo Shortland để gặp đoàn tàu chuyển vận”, mà ông hy vọng sẽ đến sớm. Sau khi gửi chỉ thị, nhóm tàu gồm 4 chiếc của Ijuin chạy với tốc độ 26 hải lý, hướng mũi vào eo biển Bougainville. Eo biển này ban ngày di chuyển đã khó khăn, trong đêm tối còn khó khăn hơn nữa, nhưng các chiến hạm của ông không gặp tai nạn nào. Một hoa tiêu xuất sắc, tiếng tăm của Ijuin không có gì quá đáng.

Hai khu trục hạm của tôi chạy chầm chậm ngang qua eo biển và đã gặp các chuyển vận hạm ở phía Đông Shortland theo như sự sắp xếp. Sau đó, chúng tôi tiếp tục chạy về hướng Đông Nam, với vận tốc nhàn nhã 9 hải lý.

Giữa lúc hầu như đã đặt chân đến Horaniu, Ijuin phát hiện 4 khu trục hạm địch xuyên qua đêm tối.

Một cơn bão đến bất thình lình che phủ mọi vật. Lần này cơn mưa nghiêng phần lợi thế về phía địch quân, lúc ấy vẫn chưa phát hiện các khu trục hạm của Ijuin. Mò mẫm trong bóng tối như bưng, và chợt nghĩ đến các khẩu súng có radar hướng dẫn của đối phương, Ijuin đã lưỡng lự. Ngay lúc đó, phòng truyền tin trao ông một công điện: “Một trinh sát cơ Nhật phát hiện 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm địch từ hướng Tây tiến về phía Bắc Vella Lavella.”

Ijuin gật mạnh đầu, và bình thản ra lệnh cho nhóm tàu của ông xoay hướng. Báo cáo này hoàn toàn sai lầm, và đã dẫn đến hầu hết những sai lầm tiếp theo khác của Nhật Bản trong trận đánh này. Làm sao báo cáo này được tin tưởng và được phổ biến? Câu hỏi chưa bao giờ có giải đáp dứt khoát. Theo tôi phỏng đoán, viên phi công của trinh sát cơ là một tay mới vào nghề. Hắn ta có thể đã nhìn thấy nhóm 3 khu trục hạm Hoa Kỳ thấp thoáng qua các cụm mây, hắn ta bay qua vị trí khác và hướng khác, rồi lại quan sát. Cứ như vậy, hắn ta đã nhìn một nhóm tàu địch thành hai hoặc thành ba, và nhắm mắt báo cáo bừa. Đó là một sai lầm nghiêm trọng và tai hại thật sự.

Nếu báo cáo quan sát đầu tiên này chính xác, toàn thể quanh cảnh của trận đánh sẽ khác biệt hẳn. Theo báo cáo, lực lượng đối phương gồm 4 tuần dương hạm. Một tuần dương hạm mang hỏa lực gấp 10 lần một khu trục hạm và loại tàu này còn được trang bị những pháo khẩu điều khiển bằng radar rất hữu hiệu. Mặc dù Ijuin biết trong tình trạng đêm tối và mưa gió radar sẽ hoàn toàn vô dụng, nhưng các chiến hạm của ông không thể nào đương đầu nổi với lực lượng đối phương hùng hậu như vậy. Do đó, ông chỉ còn một cách lựa chọn mà thôi: Xoay hướng.

Khi công điện chuẩn bị đổi hướng đến chiếc Shigure, tôi đã tỏ ra kinh ngạc về sự xuất hiện quá sớm của địch quân, nhưng tôi không có lý do nào để ngờ vực sự chính xác của báo cáo do trinh sát cơ cung cấp. Tôi chỉ thoáng hình dung vẻ mặt u sầu của Ijuin khi bỏ ngang kế hoạch đã được sắp xếp của ông. Ông đang ở vào một tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Ông sẽ có 2 đường để chọn, đình chỉ hẳn hoặc cố gắng tiếp tục nhiệm vụ được giao phó. Lực lượng hùng hậu hiện thời của ông không tương xứng chút nào với nhiệm vụ di tản nhỏ bé được giao phó. Do đó, bỏ ngang nhiệm vụ, ông sẽ không còn mặt mũi nào mà nhìn thiên hạ. Hơn nữa, không có lý lẽ nào để tin tưởng cuộc hành quân di tản này được hoãn lại để thực hiện lần sau sẽ gặp một lực lượng địch quân yếu kém hơn.

Trong khi Ijuin bị dày vò với muôn ngàn ý nghĩ và nhóm tàu của ông tiếp tục chạy về hướng Nam với vận tốc 26 hải lý, Đại tá Walker trên soái hạm Selfridge, dẫn đầu một nhóm 3 khu trục hạm Hoa Kỳ, đã phát hiện những gì mà ông ta đoán quyết là một đoàn chuyển vận hạm của Nhật Bản. Lúc đó là 23h31 (giờ địa phương). Và trong khi Walker ra lệnh cho các chiến hạm thuộc quyền của ông gia tăng tốc độ lên 23 hải lý để chạy đua với “đoàn chuyển vận hạm” Nhật, ông đã gọi thêm một nhóm 3 khu trục hạm Hoa Kỳ khác, hiện đậu ở cạnh bờ biển phía Bắc New Gerorgia, cách 20 dặm phía Tây vị trí của ông.

Có thể đêm đẹp trời này là đêm của biến cố, đêm của đổi thay. Thời tiết bỗng trong sáng đến nỗi có thể nhìn thấy các mục tiêu cách xa trên 15.000m, Nhưng thỉnh thoảng các đám sương mờ và hơi nước bốc lên che khuất hẳn tầm nhìn. Đại tá Walker, qua radar, đã nhìn thấy các chiến hạm Nhật, trong khi Ijuin không hay biết gì đến sự có mặt của các khu trục hạm Hoa Kỳ.

Lực lượng của Walker nhanh chóng tiến sát đến các khu trục hạm Nhật trong khi Ijuin đánh đi công điện kế tiếp của ông, ra lệnh cho “hai chiếc tàu của tôi kết hợp với ông càng nhanh càng tốt.” Tôi nhận công điện này vào lúc 20h10 và cấp tốc đáp ứng lệnh đưa ra bằng cách xả hết tốc lực 30 hải lý, trực chỉ về hướng nhóm tàu của Ijuin.

Ijuin vẫn chưa biết gì về vị trí và động tĩnh của đối phương. Mối đe dọa này đã bị sương mù của đêm che khuất. Nhưng, trong cố gắng nhằm để các khu trục hạm của tôi gặp ông dễ dàng, Ijuin đã xoay hướng nhóm tàu của ông về phía tây vào lúc 20h29. Sáu phút sau, tôi đánh đi một công điện kêu cứu: “Không thể nào tìm thấy anh, bởi lẽ sương mù quá dày đặc. Yêu cầu khu trục hạm Yugumo bật đèn lái màu xanh.” Ngay lúc đó, 20h35, Ijuin lại xoay hẳn hướng các chiến hạm của ông sang trái trong khi chiếc Yugumo cho biết đã bật đèn lái theo lời yêu cầu của tôi.

Nhóm tàu của Ijuin lại nhanh chóng xoay trái hai lần nữa, lần xoay sau cùng thực hiện vào lúc 20h38, khi tôi đã nhìn thấy đèn hiệu màu xanh của chiếc Yugumo. Một phút sau đó, Ijuin phát hiện lực lượng địch đang tiến đến từ hướng Đông. Cấp tốc 4 khu trục hạm Nhật gia tăng tốc độ lên 35 hải lý chạy về hướng Nam. Hơi nước lúc ấy bốc lên mù mịt, che khuất hẳn tầm nhìn. Ijuin đăm đăm nhìn về phía địch quân, nhưng ông vẫn chỉ thấy lờ mờ và vẫn tin rằng lực lượng địch bao gồm 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm theo như báo cáo của phi cơ. Xuyên qua màn hơi nước, ông ước lượng khoảng cách của các chiến hạm ẩn hiện như bóng ma của địch quân độ chừng 10.000m, và ông quyết định lặp lại chiến thuật mà ông đã từng sử dụng vào ngày 17 tháng 8.

Theo đó, Ijuin dự định quay về hướng Tây Tây Nam với tốc độ cao để vừa chạy vừa phóng ngư lôi. Nhưng, một việc thường thấy ở biển, mục tiêu xuất hiện thường thấy gần hơn là khoảng cách thực sự của nó. Vì vậy, Ijuin đã sai lầm khi ước lượng khoảng cách giữa ông và địch quân.

Ông cho tàu vung nhẹ sang hướng Nam Đông Nam, tức hướng 235 độ, và vào lúc 20h40 ông xoay về hướng tây tây Nam. Chỉ huy trưởng 4 chiếc tàu săn ngầm, Đại tá Nakayama gửi công điện báo cáo đoàn chuyển vận hạm đã hướng thẳng đến Horaniu. Tin này khiến Ijuin vui mừng, vì như vậy là đoàn tàu sẽ di chuyển an toàn ngang qua phía sau lực lượng đối phương.

Vào lúc 20h45, Đề đốc Ijuin khám phá ra sự sai lầm của ông. Lực lượng địch vẫn duy trì hướng tiến cũ, nhưng khoảng cách giữa ông và họ xa hơn ông tưởng. Ông lập tức xoay về hướng Nam Đông Nam trở lại và, sau đó, khi đã điều chỉnh lại sự ước lượng khoảng cách sai lầm và sắp xếp một kế hoạch tấn công bằng ngư lôi, vào lúc 20h48, ông ra lệnh cho các tất cả các chiến hạm của ông đồng loạt xoay về bên phải 45 độ.

Tới đây, Ijuin lại tạo ra một lỗi lầm khác. Đồng loạt xoay hướng là một hành động vô cùng khó khăn. Việc này đòi hỏi sự chính xác của thời gian, đó là không nói đến sự rắc rối khi thi hành, bởi lý do các khu trục hạm đang chạy trong một đội hình hàng dọc khít khao. Muốn thi hành sự xoay hướng này, điều kiện tuyệt đối là soái hạm phải biết đầy đủ tình trạng và vị trí chính xác của từng chiếc tàu một trong đội hình. Nhưng ở hiện tại, các đường liên lạc vô tuyến của soái hạm chỉ liên lạc được với 3 khu trục hạm, còn liên lạc với chiếc Shigure của tôi, bị cắt đứt hoàn toàn.

Sau sự sai lầm ước lượng khoảng cách của địch quân, tiến đến sự sai lầm trong lệnh xoay hướng đồng loạt, Ijuin cho nhóm chiến hạm của ông kết hợp thành đội hình hàng dọc tạm thời tiến về hướng Nam. Nhìn qua tình hình này, Ihuin có vẻ lo ngại, vì ông hiểu rằng các chiến hạm của ông hiện thời đã trở thành mục tiêu lộ liễu cho địch quân. Ông nhớ lại hình ảnh xoay hướng về bên phải khéo léo và thần tốc của 4 khu trục hạm Hoa Kỳ trong trận đánh ngày 17 tháng 8 trước đây. Nếu lúc này địch quân cũng làm như vậy, lực lượng của ông sẽ lãnh một cú đấm tàn khốc, để rồi tiếp sau đó, chiến hạm địch sẽ đổ xô về phía Nam và dọn sạch đoàn tàu chuyển vận. Ám ảnh mạnh mẽ bởi mối đe dọa này, cộng thêm với thể xác mệt mỏi vì chiến trận, và cái thói quen không chịu lưu ý hoặc nghe theo khuyến cáo của các thuộc cấp đầy kinh nghiệm, Đề đốc Ijuin đã tạo nên một sai lầm thứ ba, một sai lầm vĩ đại nhất trong cuộc đời ông. Ông ra lệnh cho tất cả chiến hạm của ông đồng loạt xoay hướng một lần nữa, lần này xoay về bên trái. Bây giờ các chiến hạm Nhật nằm trong đội hình hàng ngang so le, từ phía Nam tiến về phía Đông, và như vậy càng khiến cho lực lượng của Ijuin trở thành mục tiêu dễ nuốt đối với địch quân hơn.

Ijuin không bao giờ đưa ra bất kỳ lý lẽ nào khác để bào chữa cho hành động này ngoài việc thừa nhận lỗi lầm của ông. Nhưng theo tôi tin tưởng, sở dĩ ông đưa ra hành động này là cố ý nhử địch quân bỏ hướng tiến về phía Nam của họ, nhằm để cứu đoàn chuyển vận hạm thoát khỏi một cuộc tấn công.

Lúc 20h56 nhóm tàu 4 chiếc của Ijuin lại đồng loạt xoay hướng qua phải, để chạy về phía Nam, với đội hình hàng dọc như cũ, nghĩa là quay lái vào mạn tàu địch quân. Do đó, chiếc Yugumo, chạy cuối cùng, chỉ cách các họng súng điều khiển bằng radar của địch quân có 3.000m.

Ngay khi 4 khu trục hạm vừa xoay hướng xong, các chiến hạm địch lập tức khai hỏa và phóng ngư lôi. Trúng một loạt 5 quả đại pháo, chiếc Yugumo liền lách qua trái để tách rời khỏi đội hình, các pháo khẩu bắn trả địch quân và đồng thời bắn 8 quả ngư lôi. Chiếc Kazegumo, chạy kế phía trước, cũng khai hỏa nhưng không dám phóng ngư lôi vì sợ trúng đồng đội đã bị hư hại của mình. Xạ trường bị hai khu trục hạm đang lâm chiến án mất, hai chiếc Isokaze và Akigumo không bắn được phát nào. Khu trục hạm Yugumo lĩnh thêm nhiều quả đạn nữa, tay lái hoàn toàn tê liệt, trôi dạt dần về hướng Đông Nam. Lúc 21h03, mạn trái của chiếc tàu này hứng trọn một quả ngư lôi địch, lảo đảo nhiều phút rồi sau đó biến mất trên đại dương. Toàn thể thủy thủ đoàn 241 người của Yugumo không còn ai sống sót. Ba chiếc tàu còn lại của Ijuin tháo chạy toán loạn, mất 10 phút sau mới vầy đoàn, và sắp xếp lại đội ngũ di chuyển về hướng Tây.

Ba khu trục hạm Hoa Kỳ, được điều động một cách tài tình, hiện tại có vẻ như đã hả hê với chiến thắng, nên vội bỏ rơi các nạn nhân còn tồn tại. Lúc 20h56, sau khi khai hỏa và phóng ngư lôi đanh chìm chiếc Yugumo, các chiến hạm Hoa Kỳ vung sang bên phải.

Nếu các chiến hạm này cứ chạy theo đúng hướng mới này thì niềm vui chiến thắng của chúng sẽ được trọn vẹn. Nhưng sau khi chạy được một phút rưỡi, ba chiến hạm địch phát hiện 2 khu trục hạm khác của Nhật (tức hai chiếc Samidare và Shigure của tôi) chạy ngay phía trước, cách 13.000m. chiến hạm địch vội vã xoay hướng để chạy song song với hai mục tiêu mới này, và chuẩn bị tấn công. Cách điều binh của địch quân như vậy là rất đúng, nhưng khi làm như vậy, địch quân lại không chịu để ý đến cú đấm ngư lôi cuối cùng trước khi dãy chết của chiếc Yugumo. Phấn khởi với dịp may hiếm có, ba chiến hạm Hoa Kỳ đã cấp tốc vung sang phải và tất cả trọng pháo được nâng lên nhắm thẳng vào hai nạn nhân mới mà không hề hay biết các quả ngư lôi Oxygen vô hình vô ảnh của Nhật Bản đang lướt về phía chúng.

Lúc 21h, một trong các quả ngư lôi do chiếc Yugumo phóng đi trúng thẳng vào buồng chứa đạn của khu trục hạm Chevalier của Hoa Kỳ. Chiếc tàu này nổ tung và chìm trước chiếc Yugumo hai phút. Nhiều tin tức loan đi trên báo chí Hoa Kỳ nói rằng chiếc Chevalier bị trúng ngư lôi trong lúc đang chuẩn bị “đấu súng” với một số ngư lôi đĩnh Nhật Bản. Các tin tức này hoàn toàn tưởng tượng hoặc có tính cách câu độc giả. Không hề có một chiếc ngư lôi đĩnh nào của Nhật hoạt động trong khu vực này vào thời gian đó.

Vào lúc 21h5, đúng ngay lúc chiếc Yugumo biến mất trên mặt đại dương, lực lượng Hoa Kỳ nhận lĩnh thảm họa thứ hai. Khu trục hạm O’Bannon đụng dữ dội vào chính giữa mạn của chiếc Chevalier đang giãy chết. Sự đụng chạm này có lẽ là do tín hiệu cấp cứu sai lầm của chiếc Chevalier. Cũng có thể giải thích là do màn khói dày đặc giữa hai chiến hạm hoặc sự xoay hướng bất thình lình của chiếc tàu khi bị trúng ngư lôi, nên sự đụng chạm không sao tránh khỏi.

Selfridge, khu trục hạm thứ ba của Hoa Kỳ, chiếc tàu duy nhất còn nguyên vẹn, vẫn tiếp tục thẳng tiến đến hai chiếc chiến hạm Nhật Samidare và Shigure. Tất cả các họng súng trên chiếc tàu này đều rực lửa, nhưng không hiệu quả. Cảnh tượng này xảy ra vào lúc 21h4, và chỉ kéo dài hai phút rưỡi. Chiếc Selfridge nhận lĩnh một quả ngư lôi ngay mũi. Đây là một trong số 16 quả ngư lôi tầm xa do Shigure và Samidare phóng đi.

Đó là tất cả những chi tiết thực sự đã xảy ra cho 4 chiếc tàu của Ijuin trong trận đánh này. Bây giờ tôi xin thuật những chi tiết này dưới mắt nhìn riêng của tôi khi đứng trên đài chỉ huy của chiếc Shigure.

Vào lúc 20h38, ba phút sau khi chiếc Yugumo báo cho biết đã bật đèn tín hiệu theo lời yêu cầu của tôi, tôi nhìn thấy một ánh đèn xanh lờ mờ cách trước mặt khoảng 15.000m nên ra lệnh xả hết tốc lực chạy về đó.

Một khối màu đen bỗng xuất hiện ở mạn trái, giống như một hòn đảo nhỏ. Nhưng trong khu vực này không có đảo gì cả. Trong lúc tôi còn đang tự hỏi khối màu đen đó là cái gì, quan sát viên Yamashita la to: “Nhiều vật không nhận diện được, ở 50 độ mạn trái. Hình như là các tuần dương hạm và khu trục hạm, rõ ràng là của địch quân, đang tiến đến.”

Tôi dùng ống nhòm khổng lồ 20 tấc để quan sát. Chúng kia kìa, các chiến hạm, tôi không thể nào đếm được, vì chúng chạy theo đội hình hàng dọc thật thẳng, tiến về phía chúng tôi. Một ánh đèn chớp lên từ phía Samidare vào lúc 20h40, cho biết chiếc tàu này cũng đang theo dõi các mục tiêu: “Chiến hạm địch, ở hướng 115 độ”.

Tàu địch tiến sát thật nhanh chóng. Tôi vẫn quan sát qua ống nhòm và tìm cách xem phải phản ứng ra sao. Khoảng cách đôi bên ở hiện tại là 13,000m. Tôi quyết định tốt nhất là nên tấn công bằng ngư lôi tầm xa. Hướng tiến của chúng tôi là Nam Tây Nam, trong lúc hướng tiến của địch quân là Tây Nam, nghĩa là từ hướng Đông tiến đến, bây giờ khoảng cách còn chừng 11.000m. Như vậy, hai bên gần như chạy cùng hướng, chỉ xê xích khoảng 10 độ. Mục tiêu ở một góc độ phóng ngư lôi khó trúng. Do đó, để thích hợp, tôi ra lệnh xoay hướng từ từ về phía trái.

Vào 20h55, khoảng cách của đôi bên chì còn 10.000m và hiện tại chúng tôi đang nằm trong tầm súng điều khiển bằng radar của đối phương. Tôi không thể kéo dài cuộc tìm kiếm ánh đèn màu xanh của chiếc Yugumo lâu hơn nữa. Khi khoảng cách sinh tử thâu ngắn lại còn 9.000m, cho thấy một cách rõ ràng ý định của địch quân là cố đẩy một cái chốt vào giữa 4 chiếc tàu của Ijuin và 2 chiếc tàu của tôi. Lúc 20h56, tôi ra lệnh xoay hướng cấp tốc sang phải. Chiếc Samidare cũng xoay hướng giống như chúng tôi. Sở dĩ tôi phải làm như vậy là nhằm để tránh sự đe dọa của các mũi súng địch, đồng thời cải đổi góc độ phóng ngư lôi khác thích hợp hơn.

Khi Shigure và Samidare đang bận xoay hướng, chúng tôi không nhìn thấy các quả ngư lôi trao đổi giữa chiếc Yugumo và đối phương. Hơn nữa, thời tiết quá xấu, chúng tôi cũng khó có thể quan sát rõ từng chi tiết một của cuộc đụng độ này.

Tôi cảm thấy hai khu trục hạm của tôi bị áp lực nặng nề. Làm sao chúng tôi có thể chống trả nổi lực lượng địch “mạnh mẽ” (mà lúc ấy chúng tôi vẫn tin tưởng bao gồm 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm, theo như dự báo của các trinh sát cơ). Nếu để địch quân nắm phần chủ động họ có thể đập tan chúng tôi. Nhưng làm sao chúng tôi nắm được phần chủ động? Hơi thở tôi dồn dập vì hồi hộp.

Vào lúc 20h58, nhìn thấy tàu địch xoay sang phải, tôi cũng ra lệnh cho chiếc tàu của tôi xoay nhanh sang phải. Các mục tiêu bây giờ ở khoảng cách 8.500m như dự trù của tôi. Lối chạy song song và cùng hướng với đối phương là một trong những công thức nằm trong lý thuyết phóng ngư lôi của tôi. Lối chạy này làm dự tính tung ra một cuộc tấn công bằng ngư lôi của địch trở nên ngỡ ngàng và cho phép tôi chọn lựa thời gian, góc độ để ra tay.

Tôi ra lệnh cho chiếc Samidare bằng đèn hiệu và vô tuyến: “Hãy chuẩn bị các pháo khẩu và ngư lôi nhắm vào mục tiêu ở mạn phải.” Trong lúc đó, mạn trái của tàu địch hướng về phía chúng tôi, do đó tất cả súng ống của họ đều chĩa vào chúng tôi. Biết được điều này, tôi ra lệnh xoay phải một lần nữa vào lúc 20h59, để tiến sát vào địch quân càng nhanh càng tốt, nhằm để loại bỏ điểm nhắm và thời gian đã chuẩn bị của họ. Tôi phát khùng khi hạm trưởng của chiếc Samidare đã ngu dại sử dụng vô tuyến hỏi tôi xem có phải lần xoay hướng này chúng tôi sẽ tấn công đối phương hay không? Cố dằn cơn nóng giận xuống, tôi ra lệnh cho truyền tin: “Hãy nói với ông ấy là chúng ta sẽ lại xoay sang trái trước khi khai hỏa vào địch quân.”

Tiến sát vào lực lượng Hoa Kỳ khoảng 500m nữa, tôi ra lệnh xoay sang trái và phóng ngư lôi. Lúc ấy là 21h30. Địch quân ở ngay 50 độ và cách 7.000m mạn phải chúng tôi, một góc độ phóng ngư lôi lý tưởng. Từ hai khu trục hạm Nhật, 16 con cá chạy xuyên dưới mặt nước, và các thủy thủ bắt đầu đưa vào ống những con cá khác.

Ngay khi loạt ngư lôi đầu tiên của chúng tôi đang trên đường hướng đến mục tiêu, nhiều cột nước mọc lên cả hai bên tàu của chúng tôi. Đó là loạt đại pháo đầu tiên của địch quân. Những quả đạn bắn dang chân này hiển nhiên là do các pháo khẩu có điều khiển nên trông rất đẹp mắt, nhưng không trúng chiếc tàu nào của chúng tôi. Lối bắn “dang chân” này vẫn tiếp tục trong khi các thủy thủ của chúng tôi nạp các quả ngư lôi khác vào ống phóng một cách vụng về bối rối. Chớ cho công việc này hoàn tất, tôi nhận thấy loạt phóng thứ hai đã mất đi thời gian tính, nên ra lệnh cho các pháo khẩu khai hỏa.

Chiếc Shigure chao đi chao lại khi các pháo khẩu 127mm của nó gầm thét dữ dội. Các họng súng không ngớt rực lửa khiến đôi mắt của mọi người hầu như mù lòa, hiện tượng này rất quen thuộc trong những trận dạ chiến xảy ra trong bóng đêm mù mịt của đại dương. Các cột khói đã ngăn hẳn tầm quan sát trên đài chỉ huy của tôi trong chốc lát. Tiếng đầu tiên vang lên trong cảnh náo động và âm u là tiếng la to của quan sát viên Yamashita. Hắn cho biết ngư lôi của chúng tôi đã trúng mục tiêu.

Khi mắt tôi quen với quanh cảnh hiện tại, tôi có thể xác nhận một tiếng nổ phát ra từ chiếc tàu dẫn đầu đoàn tàu của địch quân, nhưng ngoài chiếc tàu này ra không còn chiếc tàu nào khác. Hai chiếc tàu địch còn chạy theo sau chiếc tàu dẫn đầu chỉ một vài phút trước đây không còn thấy đâu nữa. Hỏi lại các quan sát viên, họ xác nhận chỉ còn nhìn thấy một chiến hạm địch duy nhất mà thôi. Việc này khiến chúng tôi tin rằng cà 3 chiếc tàu đều trở thành nạn nhân của các quả ngư lôi của chúng tôi. Đây là ý kiến của tàu bạn Samidare đưa ra. Nhưng chúng tôi không thể nào tưởng tượng được hai khu trục hạm địch bị mất tích này, tức hai chiếc Chevalier và O’Bannon, đang thả trôi lênh đênh cách 6.000m phía sau chiếc tàu dẫn đầu. Lý do sự quan sát kém cỏi của chúng tôi vào lúc ấy là bởi hỏa lực và khói súng che phủ tầm mắt.

Vẫn còn tin tưởng sự hiện diện của các tuần dương hạm theo như báo cáo của phi cơ, tôi đã tự hỏi hiện tại chúng lảng vảng ở đâu. Tôi ra lệnh cho tất cả súng ống đều hướng về mạn phải và đưa ống nhòm lên, mở to mắt ra tìm kiếm mấy tuần dương hạm không có thực này. Cuối cùng, xuyên qua bóng đêm và sương mù, tôi thấy hai chấm đen nhỏ bé. Tôi vội cho ngay đó là các tuần dương hạm địch chứ không còn gì khác. Hai chấm đen này không tiến đến chúng tôi vì vậy tôi cho rằng tàu địch đang bỏ chạy. Thật ra, đây là hai chiếc khu trục hạm địch: Chiếc O’Bannon đã què quặt và chiếc Chevalier sắp chìm.

Nhằm kiểm soát kết quả của cuộc tấn công ngư lôi vừa qua của chúng tôi, tôi ra lệnh cho 2 khu trục hạm Shigure và Samidare quay sang phải. Sự quan sát hiện thời rất khó khăn, chúng tôi không thể nhìn thấy vật gì hết. Khoảng 10 phút tìm kiếm vô hiệu quả, tôi ra lệnh xoay 90 độ về phía tả và trực chỉ căn cứ.

3.

Báo cáo sai lầm của trinh sát cơ tiếp tục truyền nhiễm nhóm chiến hạm của Ijuin. Chúng đã chạy toán loạn trong nhiều phút sau khi đồng đội Yugumo bị đánh chìm. Đến khi gặp hai chiếc Chevalier và O’Bannon, ba chiến hạm Nhật vẫn còn ngơ ngác và bối rối trước sự mất mát đồng đội một cách bất ngờ, nên đã nhìn thấy hai chiếc tàu chạy quờ quạng này thành ra 4 tuần dương hạm địch, và cho rằng chúng tiến đến để dọn dẹp chiến trường.

Vào lúc 21h19, ba khu trục hạm của Ijuin phóng một loạt 24 quả ngư lôi nhắm vào 4 đối thủ ảo tưởng của chúng. Xuyên qua đêm tối đầy sương mù, thủy thủ Nhật hân hoan ngắm nhìn ngọn lửa bốc cao trên hai chiếc O’Bannon và Chevalier, và báo cáo rằng các ngư lôi của họ đã đánh chìm hai tuần dương hạm (hoặc hai khu trục hạm lớn) của địch quân. Lại một sự ảo tưởng khác nữa.

Với “chiến quả” này, Ijuin ra lệnh cho các chiến hạm của ông xoay hướng Bắc để trở về căn cứ. Trong lúc đó, đoàn tàu chuyển vận của Nhật đã đến Horaniu mà không gặp bất kỳ một sự ngăn chặn nào của địch quân. Trong vòng 2 giờ, toàn thể 589 binh sĩ trú đóng trên hòn đảo đều được di tản.

Một nhóm khu trục hạm thứ hai của Hoa Kỳ gồm ba chiếc Ralph Talbot, Taylor và La Vellette, chạy từ hải phận New Georgia tiến vào khu vực xảy ra trận đánh ngay khi chiến hạm cuối cùng của Nhật Bản vừa rời khỏi. Không tìm thấy đối thủ, chiếc La Vellette xoay sang ban cho chiếc Chevalier một quả ngư lôi “ân huệ”. Ba khu trục hạm địch tiếp cứu những người còn sống sót, và sau đó dìu dắt hai chiếc Selfridge và O’Bannon bị hư hại về căn cứ Tulagi.

Như vậy, trận đánh kết thúc, Hoa Kỳ bị đánh chìm một khu trục hạm và hai chiếc khác bị hư hại nặng nề. Nhật thiệt hại mất một khu trục hạm. So sánh về thương vong, Hoa Kỳ nhẹ hơn Nhật Bản, vì phần lớn thủy thủ đoàn của chiếc Chevalier được cứu thoát trong khi toàn thể thủy thủ đoàn của chiếc Yugumo đều thiệt mạng. (Nhưng lúc ấy chúng tôi không hay biết việc khoảng một phần ba thủy thủ đoàn của chiếc Yugumo được các khu trục hạm Hoa Kỳ tiếp cứu). Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là mặc dù vấp nhiều sai lầm, nhiệm vụ hộ tống của Ijuin đã diễn tiến đúng như kế hoạch một cách tốt đẹp, và điều này cũng là sự chiến thắng của ông.

Theo ý kiến của tôi, Hoa Kỳ có thể chiến thắng trong trận đánh này nếu các khu trục hạm của Walker xoay về hướng Nam thay vì xoay về hướng Bắc. Ông sẽ có một ngày tròn để truy đuổi ba khu trục hạm mất tinh thần của Nhật Bản. Một cuộc truy đuổi như vậy không cần phải sử dụng ngư lôi mà chỉ cần sử dụng đại pháo có radar hướng dẫn là có thể tiêu diệt được các khu trục hạm đang trốn chạy của Ijuin. Nhưng ý kiến này chỉ có tính cách ước đoán, và các trận đánh trên biển luôn luôn đầy dẫy sự sai lầm, ảo tưởng và kinh ngạc.

Khi trở về Rabaul, tôi nhận thấy Ijuin xao xuyến và hổ thẹn. Ông không bị quở trách công khai, nhưng Bộ Tư Lệnh Tối Cao đã chứng tỏ sự lượng xét hành động của ông bằng cách tổ chức một buổi lễ trao tặng trường kiếm cho tôi và đoản kiếm cho Thiếu tá Kimio Yamagachi, hạm trưởng khu trục hạm Shigure, và Thiếu tá Yoshiro Sugihara, hạm trưởng khu trục hạm Samidare. Không một người nào thuộc nhóm chiến hạm của Ijuin được ân thưởng hoặc tuyên dương công trạng nào trong cuộc chiến thắng đầu tiên của Hải quân trong khoảng thời gian 3 tháng trở lại đây.

Mừng chiến thắng ngày 6 tháng 10 của Hải quân được tổ chức vào ngày kế đó, qua một buổi lễ trao kiếm và một bữa tiệc. Bữa tiệc mở ra tại CLB dành cho sĩ quan cao cấp, với sự tham gia của tất cả sĩ quan hàng đầu của Hải quân ở Rabaul, trong đó có Phó Đô đốc Jinichi Kusaka – Tư Lệnh Hạm Đội Khu Vực Đông Nam kiêm Tư Lệnh Không Hạm Đội thứ 11, và Phó Đô đốc Tomoshige Samejima, Tư Lệnh Hạm Đội Thứ 8.

Khối lượng sake vĩ đại được tiêu thụ, buổi tiệc diễn ra thật vui vẻ với sự có mặt của một số nữ tiếp viên. Thường thường thì các nữ tiếp viên đều thuộc giới Gheisa, được Bộ Chỉ Huy Hải quân chỉ định đến các căn cứ tuyền tuyến quan trọng với nhiệm vụ gây phấn khởi cho tinh thần binh sĩ.

Mặc dù là khách danh dự của buổi tiệc, tâm tư tôi vẫn nặng trĩu, không cảm thấy vui vẻ như những người khác. Tôi muốn được say, nên đã uống liên tu bất tận.

Kusaka đọc một bài diễn văn ca ngợi khu trục hạm Shigure. Ông nói: “Hy vọng tồn tại của các khu trục hạm đóng tại Rabaul chỉ trung bình có 2 tháng. Nhưng có một chiếc tàu cũ kỹ đã chiến đấu dũng mãnh gần 3 tháng ròng rã mà không hề mang thương tích hay mất mát một thủy thủ nào. Hãy nâng ly để chúc mừng Đại tá Hara, Thiếu tá Yamagachi và tất cả thủy thủ đoàn của chiếc Shigure vĩ đại.”

Tâm tư của tôi mỗi lúc càng nặng trĩu thêm. Đáng ra bữa tiệc này phải dành cho toàn thể 240 thủy thủ sáng chói của tôi hơn là dành riêng cho mấy sĩ quan chỉ huy của họ. Trong khi tôi đang suy nghĩ, buổi tiệc trở nên ồn ào náo nhiệt, và sau đó một sĩ quan tham mưu lên tiếng: “Kính thưa Đô đốc Kusaka, từ lâu tôi có nhiều vấn đề nhưng không bao giờ dám hỏi. Bây giờ, thưa Đô đốc, tôi có thể mạn phép nêu lên được không?

Bữa tiệc rơi vào yên lặng sau câu hỏi đột ngột này. Phó Đô đốc Kusaka gật đầu, và viên sĩ quan trẻ tiếp tục: “Thưa Đô đốc, Đô đốc vừa ghi nhận hy vọng tồn tại ngắn ngủi của một khu trục hạm. Có phải chúng tôi đã chấp nhận một số phận như thế? Tại sao tất cả các tàu lớn của chúng ta đều nằm lì ở Truk? Có phải buổi lễ mà chúng ta sẽ tổ chức vào ngày 26 tháng 10 tới đây là buổi lễ kỷ niệm trận đánh cuối cùng trong lịch sử có sự tham dự của các hàng không mẫu hạm Nhật hay không? Trong suốt năm qua, các khu trục hạm của chúng ta không những được giao phó các nhiệm vụ chuyển vận không mấy phấn khởi mà chúng còn nhận lĩnh tất cả các gánh nặng chiến đấu trong hải phận này. Xin Đô đốc tha thứ câu hỏi vụng về của tôi. Câu hỏi này không nhằm chỉ trích Đô đốc, nhưng mà tất cả chúng tôi đều biết rằng không chỉ Không Hạm Đội thứ 11 của Đô đốc đã nằm miết ở bờ biển từ khi cuộc chiến bắt đầu. Trong giai đoạn khủng hoảng này, tại sao các khu trục hạm phải gồng gánh tất cả các sức nặng mà không được các hàng không mẫu hạm, thiết giáp hạm và tuần dương hạm chia sẻ?”

Các câu hỏi dồn dập này thật là ngoài sức tưởng tượng, những đều là cảm nghĩ chung của hầu hết đám đông hiện diện trong phòng. Những lời có vẻ vô lễ của viên sĩ quan say rượu khiến cho một số bạn bè của anh ta lo âu. Phó Đô đốc Kusaka không nói tiếng nào. Phó Đô đốc Samejima phá vỡ bầu không khí căng thẳng: “Tôi biết Tổng Tư Lệnh Koga đang chuẩn bị một trận đánh hải quân quyết định, trong trận đánh này tất cả đại chiến hạm của chúng ta sẽ tham dự.”

Viên sĩ quan trẻ tuổi không đắn đo, lớn tiếng hỏi: “Khi nào? Khi nào các đại chiến hạm sẽ hành động? Chúng đã đứng ngoài trận chiến một năm tròn nay, và một năm đó với các khu trục hạm chúng tôi lâu bằng một thế kỷ. Trong thời gian này địch quân đã đuổi kịp và vượt qua chúng tôi.”

Một sĩ quan cố gắng ngăn cản không cho đồng bạn lên tiếng nữa, anh ta cho rằng đã quá muộn, nên đi về thì hơn. Nhưng viên sĩ quan đã ngà ngà say vẫn tiếp tục nói: “Và những gì mà Bộ Tư Lệnh Tối Cao đang làm ở Tokyo? Chỉ là những thông báo vang lên như tiếng kèn mỗi ngày, theo đó, Nhật Bản đã đánh cho địch quân phải kéo cờ trắng trên quần đảo Solomon. Nếu có kéo cờ trắng thì kẻ kéo đó là chúng ta, không phải địch quân.”

Hai sĩ quan bạn phải đứng dậy lôi kéo viên sĩ quan trẻ ra khỏi phòng. Đôi mắt hắn ta đầy nước mắt và bật khóc nức nở. “Yugumo bị chìm, chiếc Yugumo khốn khổ đã mang theo nhiều bạn bè của tôi.”

Đoạn bị kịch đã gây một ảnh hưởng kỳ dị trong tôi. Tôi cũng đã say, nhưng tôi cố giữ vững đôi chân trong buổi lễ lĩnh trường kiếm do Phó Đô đốc Samejima trao tặng. Tôi bước đến trước mặt ông và nói: “Kính thưa Đô đốc, tôi muốn trả lại thanh kiếm này, vì tôi xét thấy không xứng đánh nhận lãnh nó. Ngay cả tôi có xứng đáng đi nữa, tôi sẽ sử dụng một thanh kiếm vào việc gì trên chiến hạm?”

Quả bom của tôi đã gây kinh ngạc cho mọi người. Đại tá Miyazaki lộ hẳn sự xúc động, ông bước đến bên tôi và nói: “Anh đã mệt mỏi, Hara. Chúng ta nên đi về nghỉ ngơi.”

Tôi vừa đẩy nhẹ ông ta sang một bên vừa nói: “Không, cám ơn Miyazaki.” Và tiếp tục: “Tôi muốn đổi thanh kiếm này để lấy rượu sake cho thủy thủ đoàn tuyệt vời của tôi. Nếu có ân thưởng thì họ chính là những người xứng đáng được ân thưởng. Không phải tôi. Thưa Đô đốc, hãy mua rượu cho các thủy thủ của tôi.”

Tới đây, Đề đốc Ijuin, chỉ huy trưởng trực tiếp của tôi, tiến đến bên cạnh tôi cố gắng khuyên lơn: “Anh hoàn toàn đúng, Hara. Tôi sẽ mua rượu cho thủy thủ của anh, nhưng hiện giờ tất cả chúng ta đều mệt mỏi, tốt hơn chúng ta nên chấm dứt buổi tiệc.”

Sáng hôm sau thức dậy, tôi cảm thấy rã rời thân thể. Trung tá Yamagami với vẻ mặt dầu dầu, đã kể lại tỉ mỉ cho tôi nghe về quang cảnh hai vở bi kịch ngoạn mục do viên sĩ quan trẻ và tôi thủ diễn đêm rồi ra sao, Đề đốc Ijuin và Đại tá Miyazaki đã cố gắng bịt miệng tôi như thế nào. Hành vi như thế chưa bao giờ được nghe nói đến trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp thuộc Hải quân Hoàng Gia, và hậu quả sẽ không thể nào lường được. Tôi cảm thấy bất an.

Nhưng lạ lùng thay, hành vi vô hạnh kiểm của tôi không bị khiển trách. Sau đó, tên tuổi của tôi trở thành quen thuộc với họ. Hậu quả không xảy ra cho tôi, đã chứng tỏ thượng cấp của tôi cùng chia sẻ sự bất mãn chung đối với Bộ Tư Lệnh Tối Cao.

Bộ Tư Lệnh Hải quân ở Tokyo đã ra lệnh cho chúng tôi triệt thoái đến Bougainville, và xem nơi đây như là phòng tuyến cuối cùng. Việc này càng gây bi quan trong khu vực chiến đấu. Bougainville rộng gần gấp ba Guadalcanal. Với bờ biển quá dài và chưa được điều nghiên sâu rộng, hòn đảo này sẽ cung cấp nhiều điểm đổ bộ thuận lợi cho địch quân. Nhiều hộp thức ăn khô của Mỹ đã được tìm thấy trong rừng rậm cho biết có sự hoạt động của địch trên hòn đảo, và dĩ nhiên các điểm đổ bộ tốt nhất đã được họ chọn lựa.

Bộ Tự Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp ở Truk không làm được gì thêm cho chúng tôi. Các vị tân chỉ huy đầu não cũng không xuất sắc hơn những vị tiền nhiệm của họ. Đô đốc Mineichi Koga, nắm quyền Tổng Tư Lệnh sau cái chết của Yamamoto vào tháng 4 năm 1943, hầu như khoanh tay ngồi yên. Riêng Phó Đô đốc Jisaburo Ozawa, từ khi thay thế Nagumo trong chức vụ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm vào tháng 11 năm 1942, không hề đạt được một chiến thắng đáng kể nào. Và Phó Đô đốc Jisaburo Ozawa, Tư Lệnh Đệ Nhị Hạm Đội, mệt mỏi và bất thường, vừa được Phó Đô đốc Takeo Kurita thay thế vào tháng 8 năm 1943.

Ba vị tân tư lệnh này chịu khó và siêng năng làm việc, nhưng họ không thể nào tạo ra các phép lạ. Sự khiếm khuyết căn bản nằm ở Tokyo, trong Tổng Hành Dinh Hải quân Hoàng Gia, hiện vẫn còn được Đô đốc Osami Nagano điều khiển.

Kể từ khi Yamamoto thiệt mạng, nửa năm đã trôi qua, vậy mà các chính sách của ông vẫn còn được theo đuổi. Trong trận hải chiến ở biển Java vào tháng 2 năm 1942, tôi nhận thấy mặt trận đã dạy nhiều bài học hơn cả ngàn buổi thao luyện. Chẳng may, các vị Đô đốc Tư Lệnh đã không chia sẻ quan điểm này. Họ giữ sức mạnh chính yếu của Hải quân ở Rabaul hoặc, tồi tệ hơn nữa, ở các hải phận Nhật Bản, nhằm để “bảo tồn chiến hạm và huấn luyện thủy thủ”. Kết quả, cả tàu và người đều chứng tỏ không thích hợp khi được tung ra mặt trận.

Bước tiến của đối phương không bao giờ ngừng nghỉ. Trở về trong chiến thắng, giống như chiến thắng của chúng tôi trong Vịnh Vella, hiếm khi xảy ra. Điều này cho thấy tình thế đã ngặt nghèo đến mức độ như thế nào. Vào ngày 12 tháng 10, một cuộc không tập ở Rabaul do 349 phi cơ xuất phát từ các căn cứ trên đất liền của đối phương thực hiện. Tuy nhiên, một cuộc không tập với cao độ quá cao không mấy chính xác và chỉ một chuyển vận hạm bị đánh chìm….

…: Đó là chuyển vận hạm Keisho Maru, 5.879 tấn, của Hải quân. Ngoài ra cuộc không tập này còn đánh chìm 3 chuyển vận hạm của Lục quân là Tsukinada -526 tấn, Kamoi Maru -513 tấn, Fuku Maru -132 tấn và tàu tuần tiễu Mishima Maru của Hải quân. Ba khu trục hạm, ba tiềm thủy đĩnh, một tàu chở dầu và một tàu kiểm soát bị hư hại.

Một cuộc không tập quy mô nhắm vào một căn cứ chính của Nhật Bản là một việc gây nhiều chú ý và xúc động với Tổng Hành Dinh Truk. Nhưng Đô đốc Koga vẫn còn lưỡng lự. Nếu đối phương có thể tung nhiều phi cơ đóng trên các căn cứ ở đất liền để tấn công Rabaul như vậy, hải vực quanh quần đảo Solomon sẽ bất lợi đối với lực lượng Nhật nếu xảy ra đụng độ.

Vào ngày 18 tháng 10, một loạt không tập quy mô khác xảy ra ở Rabaul và Buin, căn cứ không quân chính ở Bougainville. Cuối cùng, Koga ra lệnh cho 2 tuần dương hạm hạng nặng và một phân đội khu trục hạm tiến từ Truk đến Rabaul. Đây là hành động rập khuôn theo lối tăng viện nhỏ giọt của Yamamoto, sẽ gây cho Koga sự hối tiếc sau này.

Các cuộc không tập mạnh mẽ lại xảy Rabaul năm ngày sau đó, và tiếp tục hàng ngày cho đến khi Buin trở thành đống gạch vụn. Trong lúc đó, các đơn vị trên mặt biển đến Rabaul vào ngày 21 tháng 10. Trong số các khu trục hạm đến căn cứ này có chiếc Shiratsuyu, tức khu trục hạm tăng phái, bây giờ trở lại kết hợp với hải đội của tôi. Cuối cùng, tôi lấy làm phấn khởi được nắm trong tay 3 khu trục hạm, nghĩa là sáu tháng sau khi tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng hải đội. Trong thời gian này, có rất nhiều hải đội bao gồm không quá 3 chiếc tàu.

Shiratsuyu, 1.980 tấn, là một chiếc tàu đàn chị của Shigure và Samidare. Mặc dù được đóng từ 1933, chiếc tàu này có vẻ còn mới. Bị phi cơ địch oanh kích gây hư hại nặng nề gần Buna, New Guinea, vào tháng 11 năm 1942, chiếc Shiratsuyu được tu bổ lại ở Truk.

Mặc dù phấn khởi, tôi đã lo ngại cho chiếc tàu này, bởi vì hầu như tất cả thủy thủ đoàn còn thiếu kinh nghiệm, và tôi không tin sẽ giữ nó lâu dài trong hải đội của tôi.

Vào ngày 23 tháng 11, tôi mang cả 3 khu trục hạm của tôi tham dự vào một nhiệm vụ vận chuyển đến Iboki, cách phía Đông mũi Gloucester khoảng 50 dặm. Ngày đó, cuộc không tập đầu tiên, nằm trong một loạt không tập hàng ngày của địch quân, xảy ra ở Rabaul và Buin, nhưng các chiếc tàu của tôi cũng được phi cơ địch đón tiếp nồng hậu trong nhiều giờ trước bình minh. Ba chiếc tàu phải phân tán để chạy riêng rẽ, và khi ngày lên hẳn, phi cơ địch bỏ săn đuổi chúng tôi. Các chiến hạm đã tụ họp một cách có trật tự, và tôi hài lòng khi nhận thấy tất cả còn nguyên vẹn. Chiếc Shiratsuyu đã chứng tỏ có nhiều hứa hẹn hơn là tôi tưởng.

Sáu ngày sau đó, tôi thực hiện một chuyến chuyển vận đến đảo Gavore, nằm ở phía Bắc đảo Willaumez, với 2 chiếc Shigure Shiratsuyu. Vài phi cơ địch bay đến tấn công chúng tôi một cách qua loa. Tuy nhiên, Shiratsuyu đã thi hành nhiệm vụ khá đẹp, do đó, tôi xem như chiếc tàu này thuộc hẳn vào “tài sản của hải đội”. Tôi đã sai lầm biết bao.

Trong khi đó, vào ngày 27 tháng 10, địch quân đã thực hiện một cuộc đổ bộ lên đảo Mono, một căn cứ nhỏ của Nhật cách phía Nam Bougainville 20 dặm. Ngày hôm sau, lực lượng nhảy dù của địch quân cũng được thả xuống Choiseul, và Đô đốc Koga nhận thấy thời gian quyết định đã đến, dù ông muốn hay không. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Hoàng Gia yêu cầu ông, bằng tất cả mọi giá, phải giữ Bougainville cho đến ngày 30 tháng 10.

Koga lập tức Rabaul lệnh cho 3 hàng không mẫu hạm của Đề đốc Ozawa, bao gồm 173 phi cơ, đến Rabaul. Đồng thời, ông ra lệnh cho Rabaul mở các cuộc phản công quanh Bougainville.

Nhưng thời khóa biểu điều binh của Hoa Kỳ không chờ đợi Koga. Khi lực lượng hùng hậu của địch quân đổ bộ lên mũi Torokina, nằm ở bờ biển phía Tây Bougainville thì 3 hàng không mẫu hạm Zuikaku, Shokaku và Zuiho vẫn còn cách phía Bắc Rabaul khá xa, Cuộc đổ bộ diễn ra vào lúc 7h sáng ngày một tháng 11, hiển nhiên là không gặp một sự đề kháng nào. Phó Đô đốc Kusaka tung tất cả phi cơ thuộc không hạm đội thứ 11 của ông đến Torokina. Nhưng 104 chiến đấu cơ và 16 oanh tạc cơ này không thể nào ngăm chặn được địch quân như cơn thủy triều dâng ngập hòn đảo. Ba hàng không mẫu hạm của Ozawa, ban đầu còn dè dặt, sau đó đã cho 173 phi cơ cất cánh khi còn cách phía Bắc 200 dặm.

Ở Truk, Đô đốc Konga muốn tránh các sai lầm của 15 tháng trước đây khi địch quân đổ bộ lên đảo Guadalcanal, qua việc Đề đốc Mikawa hướng dẫn 7 chiến hạm của ông đến một chiến thắng ngoạn mục, nhưng ông lại không tiếp tục rượt đuổi đoàn tàu chuyển vận của địch quân. Do đó, hiện tại Koga quyết định tung tất cả chiến hạm khả dụng đến Torokina và tiếp liền theo sau là một đoàn tàu chuyển vận lực lượng Nhật để mở một cuộc đổ phản công.

Koga chỉ định Đề đốc Sentaro Omori chỉ huy cuộc hành quân này. Omori vừa mới đến Rabaul với 2 tuần dương hạm 12.374 tấn Myoko và Haguro của ông. Mặc dù trước đây Omari chỉ ở Nhật hoặc ở Truk, nhưng lại được Konga hy vọng ông ta sẽ vượt qua chiến công Mikawa. Có nghĩa là ông ta không chỉ nhận chìm chiến hạm mà còn quét sạch tàu chuyển vận của địch quân.

Hai tuần dương hạm hạng nặng của Omori được yểm trợ bởi hai đơn vị bao che. Sườn trái của ông bao gồm tuần dương hạm hạng nhẹ 5.595 tấn của Ijuin và 3 khu trục hạm của tôi – đây là đơn vị duy nhất của lực lượng có kinh nghiệm trận mạc. Đơn vị bao che sườn bên phải, dưới quyền của Đề đốc Hiroshi Matsubara và Wakatsuki, cũng bao gồm một tuần dương hạm nhẹ và 3 khu trục hạm – không có chiếc nào trong 4 chiếc tàu này hoạt động chung với nhau trước đây, và Đề đốc Matsubara chưa từng biết đến dạ chiến là gì.

Trong một cuộc thuyết trình hành quân ngắn ngủi mở ra trên soái hạm Myoko, Đề đốc Omori đã nói: “Trước đây chúng ta chưa từng bao giờ hoạt động chung với nhau, điều đó có thể gây bất lợi trầm trọng trong chiến đấu. Nhưng Đề đốc Mikawa, đã xúc tiến nhiệm vụ thành công với các chiến hạm không hề có sự huấn luyện phối hợp trước đó của ông. Do đó, hiện tại chúng ta cũng có thể làm được như vậy. Tôi vững tin vào tài năng của mỗi sĩ quan chỉ huy và khả năng của mỗi thủy thủ dưới quyền. Tôi tin tưởng chúng ta sẽ chiến thắng.

Khi buổi thuyết trình chấm dứt, Ijuin vỗ vào vai tôi nói: “Hara, một công tác khó khăn đó nhe. Tôi sẽ tựa vào anh.”

Tôi cười: “Vậy thì tôi phải chuẩn bị bơi và phải bơi như cá voi mới được.” Nhưng tôi nhận thấy ngay là Ijuin không có vẻ gì là đùa cợt cả.”

Ông tiếp, có vẻ buồn bã: “Tôi không thích chiếc tuần dương hạm Sendai. Nó già nua và chạy chậm như rùa.”

Tôi biết ông muốn nói gì rồi, nhiều tháng nay ông không sử dụng tuần dương hạm 9 tuổi này, mặc dù nó là soái hạm của Phân đội 3 khu trục hạm do ông chỉ huy. Ông thích đặt soái kỳ trên khu trục hạm.

Ijuin thêm: “Nhưng chiếc Sendai còn nhỏ tuổi hơn chiếc Shigure của anh. Cuộc hành quân này tôi thấy bất an, tôi đặt hy vọng vào các chiến hạm vừa từ Truk đến, chúng sẽ thi hành nhiệm vụ tốt đẹp hơn. Mặc dù thủy thủ đoàn của các chiến hạm này thiếu kinh nghiệm, nhưng họ đều còn trẻ và chưa mệt mỏi như chúng ta.”

Chúng tôi đi im lặng cho đến cầu thang của soái hạm Myoko, Ijuin bắt tay rồi nói: “Phiền muộn không tốt với chúng ta, Hara. Chúng ta phải chiến đấu và chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Nhật Bản sẽ sụp đổ nếu Bougainville thất thủ.”

Trở về chiếc Shigure, tôi không thể nào xua đuổi sự phiền muộn. Tôi không hiểu tại sao Koga có thể chọn Omori chỉ huy một cuộc hành quân quan trọng như thế này. Ông ta mới vừa được huấn luyện chiến thuật ở trường ngư lôi và chưa bao giờ tham dự một trận hải chiến quan trọng nào.

Vào lúc 15h20 phút ngày một tháng 11, mười chiến hạm của chúng tôi rời khỏi Rabaul. Ngay khi ra khỏi hải cảng, chúng tôi lập tức di chuyển theo đội hình đã được vạch ra. Chiếc Sendai của Ijuin chạy dẫn đầu, tiếp theo là 3 khu trục hạm Shigure, Samidare, Shiratsuyu của tôi – trong đội hình hàng dọc chặt chẽ ở bên trái và hơi nhích về phía trước của 2 tuần dương hạm Myoko và Haguro. Ở bên phải của 2 tuần dương hạm là tuần dương hạm hạng nhẹ Agano của Matsubara và theo kế đó là 3 khu trục hạm Naganami, Hatsukaze và Wakatsuki. Đoàn chuyển vận binh sĩ gồm 5 chiếc, được 5 khu trục hạm hộ tống, chạy cách khoảng nhiều dặm ở phía sau.

Ban ngày trời lạnh lẽo, và mưa phùn u ám, tầm quan sát rất giới hạn. Ngoài cơn gió Đông Nam thổi lao xao, mặt đại dương hoàn toàn lặng yên. Lực lượng chúng tôi chưa qua khỏi eo biển St. George, truyền tin của chúng tôi chặn bắt được các công điện chuyển đi của địch quân quanh quẩn đâu đó. Chúng tôi không nhìn thấy gì hết, nhưng công điện này rõ ràng của các trinh sát cơ địch có trang bị radar đã phát hiện chúng tôi từ trong những đám mây dày đặc…

…: Đây là hai oanh tạc cơ có trang bị radar SB-24 thuộc Không đoàn 5 oanh tạc cơ Hoa Kỳ, bay cách phía Đông mũi St. George khoảng 15 dặm, đã thông báo từng giây từng phút hướng tiến về Vịnh Empress Augusta của các chiến hạm Nhật cho hai Đề đốc Halsey và Macrill.

Vào lúc 19h45, một trong hai oanh tạc cơ SB-24 thoát ra khỏi đám mây, chúi xuống chiếc Sendai và thả nhiều quả bom, nhưng không quả nào trúng đích. Cũng vào thời gian này, các trinh sát cơ của Nhật báo cáo tình hình của đối phương phía Nam: “Ba thiết giáp hạm, nhiều tuần dương hạm và khu trục hạm đang ở Vịnh Empress Augusta, gần Torokina.” Lực lượng địch này mạnh mẽ hơn tiên đoán của chúng tôi, và dường như họ đã chuẩn bị sẵn sàng để đón tiếp chúng tôi.

Omori hội ý với Tổng Hành Dinh Rabaul, và lúc 21h30, Đô đốc Kusaka ra lệnh cho đoàn tàu chuyển vận thối lui. Ông kết luận rằng một cuộc đổ bộ phản công trực diện với một lực lượng địch mạnh mẽ như vậy khó thể thực hiện. Nhưng ông vẫn ra lệnh cho các chiến hạm của Omori tiếp tục tiến về phía trước để hạ các chiến hạm của địch quân.

Mười chiến hạm Nhật chia ra làm 3 nhóm tiếp tục lướt xuyên qua mây mù dày đặc với khoảng cách quan sát không đầy 5.00m. Các tàu của tôi nằm trong nhóm chạy gần quần đảo Bougainville nhất, nhưng không phân biệt được gì dọc theo bờ biển đen thẫm. Tôi nghĩ tình trạng này không khác với tình trạng ở Vịnh Vella vào ngày 6 tháng 8. Tốc lực của chúng tôi vẫn giữ nguyên 18 hải lý. Tôi vẫn lo lắng khi nhìn quang cảnh gần như đui mù ở phía trái chúng tôi. Các chiến hạm địch đều được trang bị radar, nhìn ban đêm cũng như ban ngày, nên có thể tấn công chúng tôi dễ dàng.

Vào lúc 23h24 , một chiếc SB-24 khác lộ diện khỏi bóng tối, nhào xuống oanh tạc tuần dương hạm Haguro, nhưng không trúng trái nào. Kẻ thù luôn luôn bám sát biết rõ vị trí cũng như hướng tiến của chúng tôi. Khi cuộc oanh tạc chấm dứt, Haguro tung lên một trinh sát cơ, và 14 phút sau đó phi cơ báo về: “Phát hiện một tuần dương hạm và 3 khu trục hạm địch cách mũi Mutupina 50 dặm, hướng 330 độ.”

Vị trí này chỉ cách phía Nam đoàn tàu của chúng tôi 20 dặm. Omori chỉ thị trinh sát cơ tiếp tục tìm kiếm thêm sự hiện diện của các tàu địch khác, và ra lệnh cho tất cả chiến hạm của ông đồng loạt xoay hướng từ từ để chờ đợi một báo cáo mới của trinh sát cơ. Mười chiến hạm Nhật, với đội hình chặt chẽ, xoay 180 độ, lướt tới trước khoảng 10.000m, và xoay một lần nữa để nhắm hướng chuẩn bị tiến về phía Nam. Cách điều động này, nhằm để chờ đợi báo cáo của trinh sát cơ, rất hữu hiệu vào năm 1942, nhưng từ năm 1943, nó tỏ ra vô hiệu trước một địch quân được các dụng cụ radar thông báo liên tục và chính xác động tĩnh của chúng tôi.

Trong suốt vòng quay tròn này, chúng tôi nôn nóng chờ đợi các báo cáo khác của trinh sát cơ, nhưng vô ích. Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng lực lượng của Đề đốc Hoa Kỳ Merrill, gồm 4 tuần dương hạm và 8 khu trục hạm, được phi cơ thông báo đầy đủ diễn tiến hoạt động của chúng tôi, đang cấp tốc lướt về phía Nam để chặn đánh chúng tôi.

Hai mươi lăm phút sau nửa đêm, khi chúng tôi chuẩn bị hướng tiến sau vòng xoay thứ hai, tôi nhìn thấy một trái chiếu sáng màu đỏ lập lòe trên nền trời ở 70 độ mạn trái, phù hợp với hướng vị trí địch quân do trinh sát cơ của chiếc Haguro báo cáo. Trái chiếu sáng nhìn thấy lờ mờ, chứng tỏ khoảng cách xa ít nhất 20.000m, và biến mất sau 2 hoặc 3 giây. Tôi mãi lo nhìn mục tiêu xa này mà không biết có những thay đổi gần. Đây là một lỗi lầm của tôi.

Nếu tôi nhìn gần hơn trong thời gian này, tôi sẽ nhận thấy đội hình của các chiến hạm Nhật đang rối loạn và ép sát vào nhau một cách nguy hiểm. Đó là hậu quả mấy lần xoay hướng phức tạp mà chúng tôi thực hiện. Chiếc Samidare chạy ra khỏi đội hình về mạn phải và 3 chiếc tàu khác chạy sát vào nhau trong vòng 300m thay vì 500m bắt buộc.

Tôi đoan quyết trái chiếu sáng là do một trong những trinh sát cơ của chúng tôi thả xuống để đánh dấu vị trí của địch quân. Tôi gửi ngay một công điện khẩn cấp cho tất cả các chiến hạm Nhật. “Phát hiện địch quân 70 độ mạn trái., và ra lệnh chuẩn bị để chuyển cấp tốc một chỉ thị thứ hai cho các khu trục hạm thuộc hải đội của tôi.

Không có một ai trong lực lượng chúng tôi tưởng tượng rằng lực lượng chính của đối phương đang từ phía Nam tiến tới và nhắm thẳng vào mặt trước của chúng tôi. Khi quan sát viên của tôi la to: “Bốn chiến hạm địch, 70 độ mạn trái”, tôi ra lệnh chuyển ngay chỉ thị thứ hai của tôi. Lúc đó là 0h45 ngày 2 tháng 11.

Tôi đoán 4 chiến hạm địch, từ vị trí của trái chiếu sáng hồi nãy, vẫn tiếp tục thẳng tiến. Tuy nhiên, 4 trong số 8 khu trục hạm thuộc lực lượng này đã xoay hướng để tiến từ Nam đến Bắc. Chúng tôi chỉ phát hiện 4 chiến hạm này sau khi chúng đã xoay xong hướng nhắm để phóng ngư lôi.

Thám sát viên của tôi báo cáo: “Lực lượng địch chia thành hai nhóm. Một nhóm chạy lảng ra xa, một nhóm chạy song song với hướng tiến của chúng ta. Đó là các khu trục hạm, khoảng cách 7.000m.” Tôi rùng mình, vì hiểu rằng tàu địch đang phóng ngư lôi. Tầm quan sát hiện thời nằm trong tay đối phương với radar của họ.

Tôi ra hai lệnh liên tục: “Phóng ngư lôi! Bẻ hẳn tay lái về bên phải.”

Lệnh được lập tức thi hành. Chiếc Shigure xoay về bên phải đồng lúc với 8 quả ngư lôi xé nước lướt đến các mục tiêu trong vòng hai giây. Tôi bình tĩnh lại, chắc chắn đã tránh thoát tất cả các ngư lôi do tàu địch phóng ra. Nhìn theo hướng tiến của mấy quả ngư lôi do Shigure phóng ra, thân thể tôi lạnh toát khi nhận thấy chiếc Sendai đang hướng thẳng mũi vào chiếc tàu của tôi. Cùng lúc với chiếc Shigure, chiếc tuần dương hạm này cũng xoay sang phải, nhưng xoay thật mạnh và gấp rút vượt hẳn quy tắc, đoạn tiến sát vào chiếc Shigure đến nỗi làm tôi xanh cả mặt mày vì sợ hãi. Chiếc tuần dương hạm khổng lồ này, lớn gấp 3 lần chiếc Shigure, đâm thẳng mũi vào mạn trái chúng tôi.

Tôi hét: “Bẻ lái về bên phải! Xả hết tốc độ!”

Mồ hôi lạnh chảy dài xuống, và hơi thở của tôi như một người sắp chết đuối khi thân xác nặng nề của chiếc Sendai lướt ngang qua phía sau lái của chiếc Shigure, chỉ trong đường tơ kẽ tóc.

Giây phút hiểm nghèo đã trôi qua, tôi lo lắng hướng mắt về chiếc Samidare, mặt tôi xanh xám một lần nữa. Chiếc khu trục hạm này đã xoay hẳn về phía phải, chắn ngang hướng tiến điên cuồng của chiếc Sendai, và chạm vào cạnh của chiếc Shiratsuyu đang chạy cùng hàng. Vỏ mạn trái và sàn tàu của chiếc Shiratsuyu vỡ vụn ra từng mảnh, tất cả pháo khẩu và ống phóng ngư lôi hầu như bị nghiền nát.

Chiếc Shiratsuyu mới gia nhập chưa hề mang một lợi ích nào cho hải đội của tôi mà đã hư hại rồi. Nhưng điều gây xúc động cho tôi nhất là việc đổi hướng thình lình của chiếc Sendai mà không đưa ra một dấu hiệu nào để lưu ý các chiến hạm chạy theo sau. Bối rối vì chiếc tàu dở chứng. Ijuin ra lệnh cho tàu trở ngược tay lái ngay sau khi vừa thoát khỏi va chạm với chiếc Shigure trong gang tấc. Chiếc tàu đảo sang trái và chạy tụt về phía sau.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhưng hơi thở lại bế tắc ngay khi tôi nghe thấy tiếng của một loạt đại pháo bay đến, và cho dù chạy quờ quạng, chiếc Sendai đã lãnh trọn một trái ngay giữa tàu. Tôi chưa từng chứng kiến cảnh pháo kích nào đạt đến mức chính xác một cách ngoạn mục như vậy.

Chiếc Sendai tiếp tục hứng loạt pháo kích thứ hai và thứ ba, với mức chính xác kỳ dị không thua gì loạt đầu, và bùng cháy như một bó đuốc khổng lồ. Mạch sống của chiếc tàu đã ngừng đập, nhưng vẫn gom hết sức tàn phóng một loạt 8 quả ngư lôi nhắm đại khái vào kẻ tử thù.

Cột khói khổng lồ của chiếc Sendai, lan rộng 500m, ngăn hẳn tầm mắt khiến tôi không thể nhìn thấy nới xuất phát các quả đạn của đối phương. Nhưng chiếc Samidare, chạy ngoài vòng 500m, có thể định vị trí của các chiến hạm địch. Hạm trưởng đầy kinh nghiệm của chiếc Samidare là Thiếu tá Yoshiro Sugihara đã phóng một lượt 16 quả ngư lôi vào lúc 0h52.

Bốn tuần dương hạm Hoa Kỳ không nhìn thấy trước đó, bây giờ xuất hiện cách chúng tôi khoảng 15.000m. Vào lúc 0h51, tất cả các chiếc tàu này đảo mạnh về bên phải, tránh thoát 16 quả ngư lôi của Samidare. Tuy nhiên, khu trục hạm Foote, chạy cuối cùng trong nhóm khu trục hạm thứ hai của Hoa Kỳ, hơi chậm chân nên lĩnh một quả ngư lôi vào lúc 1h08. Chiếc tàu bị loại khỏi vòng chiến nhưng không chìm.

Nhưng chiến công này không lấy gì làm chắc, sự vui mừng trên các khu trục hạm thuộc hải đội của tôi không trọn vẹn, trong lúc đó, sự hỗn loạn và kinh hoàng đã xảy ra trong hai nhóm chiến hạm khác của chúng tôi.

Thời gian tôi báo cáo phát hiện địch quân, lúc 0h45, Đề đốc Omori lại không nhìn thấy gì cả. Năm phút sau đó, ông mới thấy chiếc Sendai bao trùm trong lửa đỏ và ông đồ chừng chiếc tàu đang cháy này ở ngay phía trước, cách ít ra là 1000m và cùng một hướng tiến với soái hạm Myoko của ông. Nhưng thật ra chiếc tàu này nằm ở ngay phía trái của ông.

Sau đó, Omori đã phải sửng sốt khi nhận ra sự sai lầm này. Phản ứng của ông – ảnh hưởng bởi tư tưởng bảo thủ đang thịnh hành trong giới chỉ huy – thay vì điều chỉnh các chiến hạm của ông cho đúng lại với đội hình nguyên thủy, ông vội vã ra lệnh quay đầu.

Qua hành động này, Omori đã bị chỉ trích mạnh mẽ sau đó, nhưng ông không bao giờ đưa ra một lý luận nào để biện minh. Quay đầu là một việc có thể làm được với điều kiện là tất cả các chiến hạm đều phải đáp ứng nhịp nhàng. Nhưng hai nhóm trong số các nhóm tàu của Omori lại do các sĩ quan thiếu kinh nghiệm hoạt động ban đêm, và kết quả đã đưa đến sự rối loạn. Nhóm tàu thứ ba của Đề đốc Matsubara còn tạo ra một sai lầm khác.

Mặc dù thiếu kinh nghiệm chiến đấu, Matsubara nổi tiếng là một tay hăng hái và bướng bỉnh. Khi nghe báo cáo phát hiện địch quân của tôi, ông ra lệnh cho nhóm tàu của ông xả hết tốc độ đổ xô về hướng mà tôi đã báo cáo. Nhưng chạy liên tục như vậy trong 10 phút, ông vẫn không tìm thấy địch quân ở đâu. Cuối cùng, khi nhìn thấy hai tuần dương hạm hạng nặng Myoko và Haguro xoay hướng, ông đâm ra bối rối, vội vã ra lệnh cho các chiến hạm của ông xoay theo một cách vụng về, phạm phải điều cấm kỵ nhất khi di chuyển vào ban đêm. Sau khi xoay hướng, tuần dương hạm Agano, soái hạm của Matsubara, và 4 khu trục hạm nối đuôi nhau chạy về phía Bắc, Matsubara không lưu ý đến việc các chiến hạm của ông lúc này chạy xiên ngang qua hướng tiến của hai chiếc Myoko và Haguro ở một góc thẳng. Kết quả, tuần dương hạm Myoko lướt ngang phía trước khu trục hạm Hatsukaze, chiếc tàu chạy hàng thứ ba trong đội hình hàng dọc của Matsubara, và chạm nhẹ vào mũi chiếc khu trục hạm 2.500 tấn này. Hai chiến hạm chạy theo sau Myoko và Hatsukaze là tuần dương hạm Haguro và khu trục hạm Wakatsuki, vội vã né tránh nhưng lại đụng nhau dữ dội gấp mấy lần hai đồng đội phía trước.

Cực kỳ bối rối, Matsubara cho tàu của ông quay lại chiếc khu trục hạm hư hại nặng của ông. Chỉ cần xem sơ qua, ông hiểu ngày là không thể làm gì kịp cho chiếc tàu này trong lúc địch quân đã đuổi theo đến nơi, một lần nữa, ông quay tàu để chạy song song với 2 tuần dương hạm hạng nặng.

Vào lúc 1h15, đạn đại pháo Hoa Kỳ bắt đầu rơi dọc theo cả mạn trái và phải của hai chiếc Myoko và Haguro. Các khẩu đại pháo của hai tuần dương hạm này đều khai hỏa khái quát vào những mục tiêu không nhìn thấy và phóng một loạt 24 quả ngư lôi vài phút sau đó. Dĩ nhiên, tất cả đều hoang phí một cách vô ích.

Radar của địch quân đã đè bẹp ưu thế hoạt động đêm của Nhật Bản trước đây.

Trong lúc Omori và Matsubara đang trải qua những giờ phút vất vả này, tôi cũng lâm vào tình cảnh khó khăn không kém gì họ. Tuần dương hạm Sendai bốc cháy và đang giãy chết đã cầm chân chúng tôi. Pháo của địch vẫn tiếp tục dập chiếc tàu này không ngừng nghỉ. Khiến chúng tôi muốn sáp lại để giải cứu thủy thủ đoàn nhưng không thể nào làm được. Hai chiếc Samidare và Shiratsuyu hư hại đã rút lui theo lệnh của Omori. Các khu trục hạm Hoa Kỳ đã chứng tỏ tài năng của chúng. Ba chiến hạm Nhật bị loại ra khỏi vòng chiến chỉ trong một cú đấm.

Quan sát viên trên đài chỉ huy của tôi ghi nhận tín hiệu đèn nhấp nháy những lời kêu cứu lặp đi lặp lại đầy thảm não của chiếc Sendai: “Shigure, hãy tiến lại tôi… Shigure, hãy tiến lại tôi… Shigure, hãy tiến lại tôi…”

Tàu của tôi vẫn còn cách mạn phải của chiếc Sendai 500m. Không có quả đạn nào của địch rơi gần chúng tôi, mà chỉ liên tục nhằm thẳng vào nạn nhân đang hấp hối. Người bạn tốt nhất của tôi, Ijuin, đang cần sự giúp đỡ, nhưng chiếc Shigure khó mà trở về khi lọt vào hỏa ngục đó. Tôi đứng chết lặng trên đài chỉ huy. Bóng dáng 43 thủy thủ của chiếc Amatsukaze thiệt mạng dưới hỏa lực tập trung của tuần dương hạm Helena, do một lỗi lầm của tôi vào năm trước, như hiện ra trước mắt. Tôi đã thề với linh hồn của những người này là tôi sẽ không bao giờ phạm phải lỗi lầm như vậy nữa.

Hạm trưởng của Shigure hết kiên nhẫn rồi nên la to: “Tiến đến, Đại tá Hara! Tiến đến Sendai! Chỉ huy trưởng Phân đội đã ra lệnh cho chúng ta.”

Giọng nói khẩn khoản của Thiếu tá Yamagami đã gây ảnh hưởng nơi tôi, trái ngược hẳn những gì mà anh ta hy vọng. Dẹp hẳn sự lưỡng lự sang một bên, tôi đáp: “Không, Yamagami, tôi quyết định không tiến đến. Nếu chúng ta tiến đến chiếc Sendai, hỏa lực của địch quân sẽ ghìm chúng ta như nó. Chúng ta có thể giải cứu một vài thủy thủ, nhưng tất cả thủy thủ đoàn của Shigure sẽ bị tiêu diệt.”

“Nhưng chúng ta có lệnh của Đề đốc là phải tiến đến.” Yamagami lớn tiếng một cách nóng nảy.

Tôi phẫn nộ: “Lệnh? Anh đúng! Tôi đồng ý hoàn toàn! Lệnh sơ khởi ban cho chúng ta là đánh địch quân. Công việc tiếp cứu trên mặt biển luôn đứng hàng thứ yếu. Hãy đi cho rồi!”

“Nhưng các bạn của chúng ta đang yêu cầu giúp đỡ.” Yamagami van nài: “Họ đang chết trước mắt chúng ta.”

Câu nói này càng gây thêm sự tức giận nơi tôi, tôi hét to: “Im ngay! Đây không phải là nơi để nói chuyện tình cảm và tranh luận. Tôi có trách nhiệm với chiếc tàu này. Đừng có lấn quyền!”

Yamagami nín lặng. Tôi ra lệnh: “Xoay sang trái! Xả hết tốc lực chạy về phía trước. Chúng ta tấn công!”

Máy của chiếc Shigure rồ mạnh và cấp tốc vọt lên tốc độ tối đa 30 hải lý. Với hành động này, tôi muốn kết hợp với bất kỳ chiến hạm Nhật nào vẫn còn khả năng chiến đấu để sau đó quay lại phản công đối phương. Nhưng tôi không gặp Omori mà cũng không gặp Matsubara, và họ cũng không báo cho tôi biết hoạt động của họ như thế nào. Tôi xoay sang tìm kiếm các mục tiêu, bằng cách theo dấu hỏa lực của địch quân, nhưng tôi đã phí công vô ích. Súng của đối phương đã im tiếng hẳn. Sau đó, của Shigure chạy về hướng Nam, và đến 1h34, chúng tôi nhận được lệnh rút lui để trở về Rabaul của Omori.

Omori quyết định chấm dứt cuộc hành quân, bởi vì ông tin rằng chúng tôi đã đối đầu với hai lực lượng địch, bao gồm 7 tuần dương hạm và 9 khu trục hạm, và hai lực lượng này đang tiến về phía Nam, cùng một hướng tiến với ông. Sự xét đoán sai lầm này phát xuất từ báo cáo sơ khởi về lực lượng địch và báo cáo sai lầm của các trinh sát cơ.

Hai tuần dương hạm hạng nặng đã chiến đấu với một ảo ảnh chỉ hiện hữu trong tâm trí của các vị chỉ huy trên hai chiếc tàu này. Sự thật, chỉ có 4 tuần dương hạm Hoa Kỳ đang chạy về hướng Nam, bỗng quay đầu để chạy về hướng Bắc vào lúc 1h01 và sau đó đã pháo kích vào 2 tuần dương hạm Myoko và Haguro. Hai tuần dương hạm Nhật cũng bắn trả và phóng ngư lôi. Trận đụng độ này đưa đến kết quả ảo tưởng là Omori đã đánh chìm cấp kỳ một tuần dương hạm và gây hư hại cho 2 khu trục hạm địch. Omori không ý thức rằng hai chiếc tàu của ông đã chạy quờ quạng như 2 kẻ đui mù, chỉ phí đạn và nhiên liệu mà thôi.

Tim tôi trĩu nặng khi chiếc Shigure nối đuôi một cách mệt nhọc theo sau 5 chiến hạm có vận tốc nhanh phía trước. Dõi mắt về hướng mà chúng tôi nhìn thấy soái hạm Sendai lần cuối cùng, lòng tôi cảm thấy quặn thắt. Cùng lúc, tôi nghĩ đến hai chiếc Samidare và Shiratsuyu, cả hai đã bị loại ra khỏi vòng chiến do sự va chạm với chiếc Sendai, tôi độ chừng một số chiến hạm địch thế nào cũng truy đuổi ráo riết hai chiến hạm què quặt này, nên sự sống sót của chúng chỉ hy vọng vào sự may mắn. Trong sự yên lặng trên đài chỉ huy của chiếc Shigure, những người hiện diện đã chia sẻ ý nghĩ tang tóc của tôi.

Trên hải trình xuôi về phía Bắc, tôi nhớ lại chuyến trở về từ Guadalcanal đầy âu sầu của Đề đốc Abe trước đây. Các chiến thuật mà Abe đã áp dụng trong trận đánh Guadalcanal đã bị chỉ trích mạnh mẽ chưa bao giờ thấy vào thời gian đó. Và bây giờ, hơn một năm sau, Omori đã lặp lại những sai lầm của Abe. Cả hai vị Đề đốc cũng điều binh theo đội hình phức tạp và bám riết lấy đội hình này, cho đến nỗi phải rước lấy thảm bại trước chiến thuật nghi binh của đối phương. Nhưng Đề đốc Abe còn có cái may là đối thủ của ông cũng mắc phải nhiều sai lầm không kém gì ông. Trái lại, đối thủ của Omori hành động một cách hoàn hảo.

Trong trận đánh Guadalcanal, tôi đã mang khu trục hạm Amatsukaze trở về cùng với xác 43 thủy thủ và chiếc tàu bị hư hại nặng. Bây giờ, trong trận đánh Empress Augusta, chiếc Shigure còn nguyên vẹn và thủy thủ đoàn không một ai thương vong. Do đó, tôi như được an ủi một phần nào, vì nghĩ rằng ít ra tôi đã không lặp lại những sai lầm cũ. Điều này nhắc tôi nhớ lại chiếc Samidare cũng đã sống sót trong chuyến đi một năm trước đây của Abe, tôi hơi khuây khỏa khi nghĩ chiếc tàu đầy kinh nghiệm chiến đấu đang mất tích này sẽ tồn tại để trở về với hải đội. Trái lại, đối với chiếc Shiratsuyu, tôi xem nó như đã bị xóa tên rồi. Nếu không xảy ra sự va chạm, ba khu trục hạm của tôi có thể gây nhiều bối rối cho địch quân, giống như tôi đã làm ở Guadalcanal trong chuyến đi với Abe. Bốn khu trục hạm địch chúng tôi chạm mặt lần này tỏ ra còn vụng về hơn 4 khu trục hạm địch mà chúng tôi đối đầu ở vịnh Vella vào ngày 6 tháng 8 năm 1943.

Trong trận vừa rồi, mặc dù địch quân nắm ưu thế, tất cả ngư lôi do họ phóng ra đều sai đích rất xa, cho đến nỗi chúng to lớn như vậy mà không một ai trong chúng tôi nhìn thấy bóng dáng quả nào lướt qua.

Nhìn lại, tôi cũng công nhận phần lợi thế trong trận đánh này nằm ở phía Hoa Kỳ, riêng phía Nhật Bản không mấy hy vọng đạt được chiến thắng, nhưng tôi cũng công nhận đáng lẽ ra chúng tôi có thể làm tốt hơn những gì mà chúng tôi đã làm.

Ijuin phải chịu trách nhiệm về việc đã để cho nhóm chiến hạm của ông rối loạn hàng ngũ. Ông là một người đã mệt mỏi, kiệt sức và chán nản. Và qua sự mất mát của khu trục hạm Yugumo một tháng trước đây, ông không còn mảy may tin tưởng vào khả năng của ông nữa. Một người thuộc giai cấp quý tộc khi gặp nghịch cảnh thường sụp đổ tinh thần một cách mau lẹ như vậy.

Nhưng Đề đốc Omori là người phải gánh chịu phần trách nhiệm lớn hơn. Qua lệnh xoay hướng về phía sau của Omori, tức là đưa lưng về phía địch quân, chẳng khác nào ông ta trói tay Ijuin, giới hạn một cách nghiêm trọng các hành động đang diễn tiến.

Về phía Hoa Kỳ, hình như họ đã chiến đấu một cách không mấy hăng hái trong trận đánh này. Nếu họ không chấm dứt hành động ngay sau khi hai chiến hạm Nhật bị què quặt do sự đụng chạm gây ra, họ có thể đánh chìm thêm nhiều chiếc tàu của chúng tôi hơn nữa. Tôi không hiểu tại sao màn pháo kích tiêu diệt của họ nhắm vào chiếc Sendai không được họ lặp lại với các chiến hạm khác đang nằm trong tình trạng bối rối như thế? Trong nhiều năm sau trận đánh, câu hỏi này vẫn lảng vảng trong tâm trí tôi.

Máy móc của chiếc Shigure trở nên yếu kém, có thể đây là hậu quả của một giờ chạy hết tốc lực trong trận đánh vừa qua. Hiện thời tốc độ của chiếc tàu giảm còn 18 hải lý. Nhưng điều này không làm tôi mảy may bận tâm. Tôi đang bực bội vì lệnh bỏ dở trận đánh giữa chừng, với tốc độ chậm chạp này, tôi hy vọng một số chiến hạm địch sẽ đuổi kịp chúng tôi, chừng ấy chiếc Shigure sẽ quay lại quần thảo với họ một chập nữa. Dù vậy, tôi cũng gọi vô tuyến báo cáo cho Đề đốc Omori biết tình trạng của chúng tôi và yêu cầu thêm là ông hãy sắp xếp công việc giải cứu những người còn sống sót của chiếc Sendai.

Omori đáp ngay: “Chúng tôi đang chạy với tốc độ 12 hải lý, do đó tàu của anh có thể bắt kịp. Tôi đã yêu cầu Rabaul phái một tàu ngầm đến vớt các thủy thủ của hai chiếc Sendai và Hatsukaze.” Lần đầu tiên, qua câu đáp của Omori, tôi mới mỉm cười được sau nhiều giờ căng thẳng. Xem ra Omori cũng là một mẫu người thận trọng.

Sau đó, chiếc Shigure bắt kịp chiếc Myoko. Với tốc độ giảm xuống, máy móc của Shigure có vẻ chạy êm thắm.

Vào lúc 20h ngày 2 tháng 2, chúng tôi tiến vào cảng Rabaul. Tôi yên lòng khi nhìn thấy hai khu trục hạm khác của tôi đang buông neo trong hải cảng Simpson (tức hải cảng của Rabaul). Chiếc Shiratsuyu hư hại không bao nhiêu, nhưng chiếc Samidare được xem là tồi tệ.

Ngay khi nhìn thấy Shigure, Samidare đã dùng đèn hiệu báo cáo các hoạt động của mình. Vào lúc 1h45 phút, chiếc tàu này bắt đầu đụng độ với các khu trục hạm của đối phương trong một trận chiến lưu động. Kéo dài một giờ đồng hồ. Kết quả, 5 thủy thủ của Samidare thiệt mạng và 5 bị thương do hai quả đạn pháo trực xạ gây ra. Hai quả đạn này cũng gây hư hại cho guồng lái của con tàu. Sau đó, Samidare phải sử dụng sức người để bẻ lái trở về Rabaul. Viên hạm trưởng kết luận: “Chúng tôi đã bắn trả và phóng 6 ngư lôi vào đối phương, và chúng tôi tin tưởng đã phục thù được những cú đấm mà chúng tôi đã nhận.”

Qua báo cáo, hạm trưởng của chiếc Shiratsuyu có vẻ hối tiếc vì đã để cho chiếc tàu va chạm, và câu sau cùng đã làm cho những người hiện diện trên chiếc Shigure cười ồ: “Chúng tôi tháo lui dễ dàng. Máy móc của chiếc tàu tỏ ra còn tốt, không một quả đạn nào của địch quân bắt kịp chúng tôi.”

Một công điện từ soái hạm Myoko gửi đến đã gây buồn vui lẫn lộn: “Tàu ngầm I-104 cho biết đã tiếp cứu được Đề đốc Ijuin và 37 thủy thủ khác của tuần dương hạm Sendai, nhưng tất cả thủy thủ đoàn của chiếc khu trục hạm Hatsukaze không được tìm thấy.”

Sáng sớm hôm sau, hạm trưởng của Shigure đề nghị chúng tôi lên soái hạm Myoko để phúc trình đầy đủ chi tiết trận đánh cho Đề đốc Omori. Tôi nói: “Việc này chúng ta có thể làm sau, Yamagami. Rời tàu ngay bây giờ không ổn đâu, bởi vì Rabaul không còn là nơi an toàn nữa. Hôm nay đối phương có thể tung ra một cuộc không kích quy mô, chúng ta phải ở lại tàu để chào đón phi cơ họ. Hãy chuẩn bị đầy đủ cho chiếc Shigure đối phó với của tấn công mạnh mẽ từ trên không.”

Trong tuần lễ vừa qua,phi cơ Hoa Kỳ đã tấn công Rabaul bốn lần. Sáng ngày 3 tháng 11, nhìn thấy thời tiết quang đãng, tôi có linh cảm là các phi cơ địch sẽ ào đến. Với ý nghĩ này, tôi cũng đã chỉ thị cho 2 khu trục hạm Samidare và Shiratsuyu chuẩn bị chiến đấu với tất cả năng lực có thể.

Toàn thể thủy thủ đoàn trên ba chiếc tàu của tôi hăng hái thi hành mệnh lệnh một cách hoàn bị. Phi cơ địch đến như thác lũ từ phía Bắc, bay ở một cao độ không quá 50m tính từ mặt biển. Các cuộc không tập Rabaul trước đây đều được phi cơ địch thực hiện với cùng một cao độ và cùng một chiến thuật, nhưng hôm nay chiến thuật này có sự thay đổi. Trận chiến đang diễn tiến có lẽ là trận chiến ngoạn mục nhất đời tôi.

Shigure là chiến hạm Nhật đầu tiên nhảy vào vòng chiến, kế đó Samidare và Shiratsuyu. Mọi loại súng ống của chúng tôi đều chĩa lên trời, và khi làn sóng phi cơ đầu tiên ùa đến, các pháo thủ đã hoạt động chẳng khác nào những kẻ điên khùng. Họ bắn không ngừng nghỉ, hình những để giải tỏa nỗi uẩn ức sau chuyến trở về đầy thất vọng từ Vịnh Empress Augusta. Ngày hôm đó, có tất cả 80 oanh tạc cơ B-25 và 80 chiến đấu cơ P-38 tấn công Rabaul, và hầu hết đều bu quanh trên các tháp của 3 khu trục hạm do tôi chỉ huy. Ba chiến hạm nhỏ đã thoát chạy kịp thời ra ngoài vòng của hải cảng. Đó là việc mà các phi công Hoa Kỳ không thể nào tiên đoán được.

Ho đuổi theo ngăn chặn chúng tôi, nhưng hiển nhiên các oanh tạc cơ Hoa Kỳ không sẵn sàng hoặc không trù tính sử dụng các quả bom của chúng nhắm vào ba chiến hạm nhỏ bé. Một vài trái bom đã trúng thẳng vào ba chiếc tàu, nhưng chỉ gây thiệt hại nhỏ trên chiếc Shiratsuyu. Hỏa lực của chúng tôi lên tiếng dữ dội. Đội hình phi cơ địch bị cắt ra từng mảnh khi lướt ngang qua chúng tôi.

Kết quả cuộc không tập, 18 phi cơ Nhật bị tiêu diệt, chỉ có hai tàu buôn nhỏ và một tàu săn ngầm bị đánh chìm. Với một cuộc tấn công quy mô như vậy, kết quả này không đúng như ý muốn của đối phương. Hơn nữa, Hoa Kỳ còn phải giá: 8 oanh tạc cơ B-25 và 9 chiến đấu cơ P-28 bị bắn rơi cùng nhiều chiếc hư hại khác đã lê lết được về đến căn cứ, nhưng bị vỡ tan hoặc bốc cháy khi đáp xuống.

Hỏa lực từ các chiến hạm đang chạy trên mặt biển khó thể nào bắn trúng phi cơ bay nhanh. Nhưng ngày hôm đó lại khác hẳn, phi cơ địch hình như tìm họng súng của chúng tôi để chui đầu vào. Tôi nhìn thấy tận mắt chiếc Shigure đã bắn hạ ít nhất 5 phi cơ địch. 1

Xế trưa hôm đó, các khu trục hạm của tôi quay vào quân cảng Rabaul, toàn thể thủy thủ đều lộ vẻ kiêu hãnh và hớn hở. Tình trạng căng thẳng của buổi sáng trôi qua hẳn. Sĩ quan cũng như thủy thủ lại cười nói ồn ào. Vào chiều tối, tôi bước lên soái hạm Myoko và cảm thấy dễ chịu hơn khi làm nhiệm vụ phúc trình lại chi tiết về trận đánh vịnh Empresss Augusta mà tôi không mấy hài lòng trước đó.

Đề đốc Omori vẫn đón tiếp tôi một cách thân mật như thường lệ. Sau khi nghe các chi tiết do tôi tường trình liên quan đến nhóm chiến hạm của Ijuin, ông nói: “Tôi nghĩ hành động của anh rất đúng. Trong khi chiếc Sendai bị hỏa lực tập trung của địch quân, anh chạy tránh xa nó là phải. Về các điểm khác, tôi muốn cảm ơn công điện phát hiện địch quân của anh gửi cho tôi lúc 0h45. Lúc bấy giờ ngoài anh ra không ai khác nhìn thấy tàu địch. Không có báo cáo của anh, cả nhóm tàu của tôi sẽ rước lấy thảm họa.”

Khi tôi cáo từ và xoay lưng bước ra cửa, Đề đốc Omori gọi tôi lại. Ông rút bóp lấy một số tiền đặt trên bàn, mỉm cười nói: “Đây là 30 yên (khoảng 90.000 đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa vào thời giá năm 1974, còn so với tiền Việt Nam bây giờ thì…. Heo hổng có biết). Số tiền không nhiều nhỏi gì, anh hãy nhận để mua rượu cho thủy thủ của anh chơi, và xem đây như là món quà kỷ niệm của tôi.”

Tiếng cười to của ông khiến tôi giật mình. Tôi nhận tiền bắt tay ông, và cả hai cùng cười to với nhau. Đoạn bi hài kịch trả kiếm và đòi tiền mua rượu của tôi chắc hẳn đã đến tai ông. Câu chuyện này xảy ra lúc ông chưa đến Rabaul.

Trận hải chiến vịnh Empress Augusta kết thúc. Hoa Kỳ đã đạt chiến thắng trên mọi phương diện. Khu trục hạm Foote đã nhận lĩnh một quả ngư lôi của Samidare, hư hại khá nặng, nhưng vẫn trở về căn cứ được. Trong trận đánh quan trọng này, chỉ có khoảng 40 thủy thủ Hoa Kỳ thương vong.

Phía Nhật Bản đã thiệt mất tuần dương hạm Sendai với 335 người trong số thủy thủ đoàn, và khu trục hạm Hasukaze với toàn thể thủy thủ đoàn 240 người. Nhiều quả đạn trúng thẳng vào hai tuần dương hạm hạng nặng Myoko và Haguro, và khu trục hạm Samidare, gây nhiều thiệt hại cho ba chiếc tàu này, nhưng về nhân sự chỉ có 6 thủy thủ thiệt mạng và 7 bị thương.

Ngay sau trận đánh, Omori rời khỏi chức vụ hiện thời, và được chuyển về trông coi Trường Ngư Lôi. Matsubara cũng mất chức, và được chỉ định vào một nhiệm vụ trên bờ.

Vào ngày 3 tháng 11, chiếc tàu ngầm I-104 về đến Rabaul với các thủy thủ sống sót của tuần dương hạm Sendai. Tôi đứng đón chờ những kẻ may mắn trở về. Nhìn Đề đốc Ijuin bước lên cầu tàu không ai là không động lòng. Tôi bước ngay đến ông và cất lời xin lỗi đã không đáp ứng lời yêu cầu giúp đỡ của ông.

Trong sự xúc động lớn lao, ông nói: “Đừng nói như vậy, Hara. Hành vi của tôi vừa qua đã khiến tôi xấu hổ. Đừng bao giờ lặp lại những lời mà anh vừa nói. Anh đã hành động đúng.”

Vài ngày sau Ijuin trở về Tokyo. Sau một vài tháng nghỉ ngơi, ông quay lại Nam Thái Bình Dương và chiến đấu rất dũng cảm. Vào ngày 24 tháng 5 năm 1944, ông thiệt mạng trong khi chỉ huy lực lượng hộ tống một đoàn tàu chuyển vận. Chiếc soái hạm của ông bị tàu ngầm Raton của Hoa Kỳ phóng ngư lôi đánh chìm

Nếu mọi người tỏ vẻ nghi ngờ khả năng chiến đấu của Đề đốc Ijuin, lời tiên đoán của ông về việc Nhật Bản sẽ sụp đổ sau khi để cho Bougainville rơi vào tay địch lại tỏ ra chính xác một cách lạ lùng.

Vì thời tiết, cuộc không kích Rabaul của đối phương vào ngày 2 tháng 2 chỉ gây chút ít thiệt hại, nhưng 3 ngày sau đó tai biến mới thực sự xảy ra. Nhười Mỹ đã xem cuộc không kích Trân Châu Cảng của Nhật như là một thảm họa đối với họ, nhưng cuộc không tập vào ngày 5 tháng 11 của họ lại là một thảm họa to lớn hơn đối với Nhật. Một hạm đội bao gồm đa số tuần dương hạm, được giữ gìn như báu vật hơn một năm nay, bỗng tan tành chỉ trong một ngày. Làm sao một việc như vậy có thể xảy ra?

Sự sụp đổ ngày 5 tháng 11 của Rabaul đã làm lu mờ trận đánh đầy bi thảm ở Vịnh Empress Augusta, khiến cho không còn ai nhắc nhở đến nó nữa. Trận đánh bị lãng quên này đã dạy cho người Nhật nhiều bài học quý giá mà họ không biết. Các sai lầm được lặp lại, và lặp lại cho đến khi trở thành tự sát.

Đáng lẽ qua trận đánh Empress Augusta. Nhật Bản phải biết rằng các nỗ lực thám thính của mình đã vấp phải nhiều khiếm khuyết. Không phải chỉ phóng một vài chiếc phi cơ lên trời với các mục đích thám thính là đủ, mà cần đòi hỏi các phi công đầy đủ kinh nghiệm lái các phi cơ đó. Bộ Tư Lệnh Tối Cao chắc hẳn phải biết điều này, nhưng chỉ vì tình thế không cho phép cải thiện.

Nếu các phúc trình chi tiết liên quan đến trận hải chiến ở Vịnh Empress Augusta không bị thêm thắt để đánh lừa Bộ Tư Lệnh Tối Cao, chúng tôi sẽ không bao giờ dám đổ lỗi sự sụp đổ Rabaul cho thượng cấp. Còn nhiều yếu tố lừa dối khác sau trận đánh. Chẳng hạn như tàu ngầm I-104, trong phúc trình về công cuộc tiếp cứu những thủy thủ sống sót của chiếc Sendai đã viết: “Chúng tôi thấy nhiều thủy phi cơ và chiến hạm địch bận rộn trong các hoạt động tiếp cứu, điều này chứng tỏ một số tàu địch đã bị đánh chìm trong trận Empress Augusta.” Và một điển hình khác: Đoàn tàu chuyển vận bị đình hoãn trước đó của chúng tôi cuối cùng đã rời khỏi Rabaul vào ngày 2 tháng 11, chỉ có 4 khu trục hạm hộ tống, và thành công trong việc đổ bộ 930 binh sĩ lên Torokina. Chỉ huy trưởng đoàn tàu chuyển vận đã báo cáo một cách vui vẻ: “Chúng tôi không hề gặp một sự chống đối nào trên mặt biển, hiển nhiên là hạm đội địch đang lo chắp vá các vết thương do lực lượng của Đề đốc Omori gây ra.”

Tuy nhiên, sự thật Hoa Kỳ đã chọn để giăng một cái bẫy trên đất liền nhắm vào lực lượng bộ binh sau khi họ đã đổ bộ, và cái bẫy này công hiệu hoàn toàn. Nhưng đây là vấn đề riêng của Lục quân, không dính dáng gì đến Hải quân.

Cả chục điều tệ hại do lực lượng Omori gây ra vì vậy mà đã không được sửa chữa chút nào. Do đó khi trở về Tokyo sau cuộc hành quân, Omori không cảm thấy một chút hổ thẹn nào hết, và hơn thế nữa, ông được thăng cấp, và được tái bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy trưởng Trường Ngư Lôi của Hải quân.

Đô đốc Koga, Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp, chấp nhận giá trị phúc trình của Omori. Koga cảm thấy đã thu hoạch được các dữ kiện mà ông kiên nhẫn đợi chờ, và cho rằng cơ hội “dứt khoát” với địch quân tại quần đảo Solomon đã đến. Do đó, dựa trên căn bản các phúc trình của Omori, vào ngày 3 tháng một, ông ra lệnh cho 7 tuần dương hạm khởi hành từ Truk tiến về hướng Nam. Cả Koga lẫn bộ tham mưu của ông không một ai ra trận trong thời gian gần đây để biết sức mạnh gia tăng của địch quân. Bởi vậy, tính tự phụ tự mãn đã mọc rễ trong họ.

Ở Rabaul, Đô đốc Kusaka đã giật mình khi nghe kế hoạch cho các tuần dương hạm xuất quân của Koga, và ông đã cố gắng ngăn cản hành động này. Nhưng ông không thể nào giải thích sự nghi ngờ của ông về các chi tiết nằm trong phúc trình của Omori. Hơn nữa, chỉ một đôi lời của ông không thể nào đầy đủ ý nghĩa thuyết phục được Koga. Và do đó, 7 tuần dương hạm Nhật vẫn tiếp tục tiến về phía Nam, dưới sự dòm ngó từng bước một của các trinh sát cơ Hoa Kỳ.

Phó Đô đốc Takeo Kurita, thay thế Kondo trong chức vụ Tư Lệnh Đệ Nhị Hạm Đội, cũng là một tay tự mãn không kém gì Koga. Tính tự mãn này là do các tin tức về các cuộc không tập liên tục của địch quân ở Rabaul vào thời gian gần đây đến tai ông. Theo đó, không có một phi cơ địch nào oanh tạc trúng thẳng được vào một chiến hạm Nhật. Nên biết, hơn một năm nay Kurita không ra trận lần nào, vì vậy ngay cả chiến đấu cơ Nhật Bản mà ông nghĩ đến là các chiến đấu cơ của năm 1942, tức thời gian Nhật Bản vượt trội Đồng Minh cả hai mặt phi cơ và phi công. Sự khinh thường khả năng của không lực Đồng Minh vào thời gian đó là rất đúng, nhưng hiện tại sự khinh thường đó không còn đứng vững.

Sáng sớm ngày 5 tháng 11, lực lượng của Kurita đến Vịnh Simpson, Rabaul. Tôi đã kinh ngạc khi thấy soái hạm Atago chậm rãi buông neo trong hải cảng nhỏ hẹp mà hiện tại gần như nứt ra, vì phải chứa đựng cả 7 tuần dương hạm và khoảng 40 tàu yểm trợ khác nữa. Những chiến hạm mới đến này đã gây cho tôi sự băn khoăn và suy nghĩ.

Vào lúc 7h sáng cùng ngày, một phi cơ tuần tiễu báo cáo phát hiện một lực lượng địch gồm 5 tuần dương hạm hạng nặng, 7 khu trục hạm và 2 chuyển vận hạm tại ví trí cách mũi St.George 150 dặm, hướng 140 độ. Tổng Hành Dinh Rabaul kết luận rằng các chiến hạm này có vẻ như sắp thực hiện một cuộc đổ bộ. Đó là phản ứng đã trở thành thói quen đối với các sĩ quan tham mưu ở Rabaul trong những tháng gần đây. Không một ai tưởng tượng được rằng hai “chuyển vận hạm” chính là hai hàng không mẫu hạm Saratoga và Princeton.

Nhiều tháng nay các phi cơ Nhật Bản không được nhìn thấy hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Ngay cả trong trận đánh ở Biển San Hô vào tháng 5 1942, nhiều phi cơ đầy đủ kinh nghiệm của chúng tôi còn nhận diện sai lầm các hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ. Nhưng mà không một ai ở Rabaul nhớ lại việc đó. Kusaka ra lệnh cho các trinh sát cơ cố gắng theo dõi động tĩnh từng bước một của đối phương. Các phi cơ này đã cố gắng, nhưng các báo cáo đều không đúng lúc, thành thử lực lượng đặc nhiệm Nhật không thể hành động chính xác.

Lúc 9h sáng, còi báo động phi cơ địch tấn công ở Rabaul vang rền. Khu trục hạm Shigure của tôi luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng nên đã tham chiến nhanh chóng, và thoát ra hải cảng nhỏ hẹp trong khi nhiều chiến hạm khác vẫn buông neo. Lúc 9h15, khi các tuần dương hạm to lớn vẫn còn loay hoay nhổ neo, phi cơ địch xuất phát từ hai “chuyển vận hạm” ùa đến oanh tạc. Khoảng 50 chiến hạm Nhật nằm phơi lưng làm bia cho 23 phi cơ Avenger phóng ngư lôi, 22 oanh tạc cơ Dauntless và 42 chiến đấu cơ Hellcat của Hoa Kỳ.

Chiếc Shigure vừa chạy ra khỏi hải cảng vừa khai hỏa mọi loại súng vào các mục tiêu lướt nhanh qua. Hỏa lực của chúng tôi đã hạ 4 phi cơ địch. Thảm họa đã không xảy ra, nếu tất cả chiến hạm Nhật đều thoát chạy được ra ngoài hải cảng như chiếc Shigure. Nhưng ngày hôm đó, ngoài chiếc Shigure, không có một chiếc tàu nào nhúc nhích được. Hai khu trục hạm Samidare và Shiratsuyu không có mặt ở Rabaul, ngày trước đó cả hai đã lên đường đi Truk để sửa chữa.

Khoảng 10h, chiếc Shigure quay vào hải cảng. Cảnh tượng trước mắt làm tôi choáng váng cả giờ. Tôi nhớ lại cảnh đổ vỡ xảy ra vào tháng Giêng năm 1942, khi các phi cơ Hoa Kỳ gây hư hại cho tuần dương hạm Myoko tại Vịnh Malalag. Và bây giờ, nơi đây, chỉ trong vòng hai năm sau, chúng tôi đã vấp phải cùng một lỗi lầm. Thật đáng tủi hổ biết bao.

Soái hạm Atago đang bùng cháy, hai tuần dương hạm Maya và Takao bị hư hại nặng nề. Cả 3 tuần dương hạm hạng nặng này, sau một năm được giữ gìn cẩn thận, chưa đụng độ với địch quân bao giờ, đã nằm phơi mình như ba xác chết dưới cuộc không tập. Hai tuần dương hạm hạng nặng Mogami và Chikuma, hai tuần dương hạm hạng nhẹ Agano và Noshiro, cũng như hai khu trục hạm Fujinami và Amagiri đều bị thiệt hại. Tôi nhắm mắt lại và tự hỏi cảnh tượng này lại có thể là sự thật được sao?

Đó là sự thật, một sự thật hoàn toàn. Tại Tổng Hành Dinh Rabaul, như thường lệ, Kusaka nổi nóng. Ông chửi rủa hết người này đến người khác.

Trong lúc đó, các phi trường Rabaul lên cơn sốt, giống như một tổ ong bị chọc phá. Mọi phi cơ khả dụng đều được tung lên để truy đuổi những kẻ tấn công. Cuối cùng, khoảng 100 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Nhật tìm thấy vị trí lực lượng đặc nhiệm đối phương, cách Rabaul khoảng 235 dặm, hướng 145 độ. Sau đó, các phi cơ báo cáo đã đánh chìm một hàng không mẫu hạm lớn, hai tuần dương hạm và một khu trục hạm, cũng như gây hư hại cho một hàng không mẫu hạm hạng trung khác.

Báo cáo này hoàn toàn có tính cách thêu dệt. Khi một người đang choáng váng thì người đó khó có thể nhìn sự việc một cách bình tĩnh và khách quan. Kiểm soát lại các phúc trình đáng nghi ngờ trong cuộc chiến chỉ được thực hiện đối với một kẻ đang chiến thắng. Do đó, báo cáo tưởng tượng vừa nêu đã đi ngay vào tủ hồ sơ chính thức mà không hề được đánh giá lại. Đô đốc Kusaka, còn sống sót sau cuộc chiến, đã giải thích: “Thật sự tôi đã ngờ vực các chi tiết nằm trong bản báo cáo, cũng như đa số các bản báo cáo khác của Nhật Bản trong thời gian đó, khi tôi biết được không quân của chúng ta khiếm khuyết các phi công giỏi. Nhưng nếu đặt vấn đề ra, hoặc yêu cầu kiểm soát lại các bản phúc trình, sẽ gây chán nản và bực bội cho những người đã cố gắng thi hành nhiệm vụ với tất cả khả năng mà họ có thể làm.”

Ngày hôm sau, 6 tháng 11, các tuần dương hạm Atago, Takao và Mogami, được hai tuần dương hạm không bị hư hại hộ tống, rời khỏi Rabaul chạy khập khiễng trở về Truk, thật là đau buồn khi đứng nhìn theo bóng dáng của 5 tuần dương hạm này, người ta có thể xem đây là chuyến hải xuất vô dụng nhất trong toàn thể cuộc chiến của Hải quân Nhật Bản. Chỉ cách 3 ngày trước đó, tôi cũng đã từng đau buồn chứng kiến cảnh tuần dương hạm của Omori và 2 khu trục hạm của tôi ra đi với những vết thương trầm trọng.

Tuần dương hạm hạng nặng Maya vẫn còn ở lại hải cảng Rabaul, vì tất cả máy móc đều hư hại, không thể di chuyển được. Chiếc Agano, tuần dương hạm hạng nhẹ nằm gần đó cũng không khác gì đống sắt nổi. Những mất mát vô ích và sự ngu dốt của cấp chỉ huy khiến tôi tiêu tán hết nghị lực. Tôi hết lời thóa mạ, và tự hỏi Nhật Bản có thể làm gì nữa đây?

Trưa ngày hôm đó tôi đến Tổng Hành Dinh . Phó Đô đốc Samejima có vẻ bồn chồn khi tiếp tôi. Ông nói: “Tôi muốn đêm nay anh thi hành một nhiệm vụ với khu trục hạm Shigure và tuần dương hạm Yubari – chiếc tuần dương hạm duy nhất của chúng tôi còn hoạt động được ở đây. Tình thế tồi tệ lắm rồi. Có lẽ chúng ta bắt buộc phải bỏ hẳn Bougainville, nhưng chúng ta phải bám vào căn cứ Buka, nằm gần Rabaul. Do đó, công việc tăng cường cho các cơ cấu phòng thủ Buka đã được quyết định.

Quyết định này không làm cho tôi ngạc nhiên. Tôi chào và xoay lưng, nhưng Samejima gọi lại: “Tôi cũng cần nói với anh, Hara, đây sẽ là nhiệm vụ cuối cùng của anh được cắt đặt dưới quyền hạn chỉ huy của tôi. Quả thật, tôi không bao giờ muốn để anh đi, đặc biệt trong lúc này, nhưng chỉ vì chiếc Shigure đã tới giai đoạn cần phải sửa chữa trên ụ nổi, và tất nhiên, trong thời gian sửa chữa anh được nghỉ ngơi.”

Buka là hòn đảo thuộc quần đảo Solomon gần với Rabaul nhất. Shigure và Yubari tấp vào bãi của hòn đảo này trong đêm đó để đổ 700 binh sĩ thuộc sư đoàn 17 bộ binh và 25 tấn tiếp liệu lên bờ.

Cuộc hành quân tuy ngắn ngủi nhưng cũng gây căng thẳng tột độ trên cả hai chiến hạm. Chúng tôi không gặp ngăn trở nào của địch quân. Trở về Rabaul vào ngày hôm sau, tôi trình diện Tổng Hành Dinh và chào từ biệt Phó Đô đốc Samejima.

Tôi lưu ý ông: “Cuộc hành quân xúc tiến rất dễ dàng. Nhưng nếu cuộc hành quân kế tiếp vẫn áp dụng giống như vậy, tôi sợ không suôn sẻ. Những chiến thuật cứ lặp đi lặp lại mãi sẽ gặp phản ứng ngược.”

Samejima gật đầu: “Tôi tán thành sự lưu ý của anh, và tôi sẽ không để cho các chiến hạm khác thi hành nhiệm vụ giống như vậy. Hara, anh đi lần này chúng tôi biết là sẽ mất anh. Hiện thời chúng tôi khiếm khuyết các sĩ quan có đầy đủ kinh nghiệm như anh. Tôi rất muốn được trông thấy anh quay trở lại đây.”

Cuối cùng ông hỏi tôi có thể sắp xếp thế nào để thi hành một “nhiệm vụ ngoại lệ” hay không? Nhiệm vụ ngoại lệ này là chiếc Shigure sẽ hộ tống hai chuyển vận hạm và trên đường sẽ ghé Kavieng. Ông giải thích rằng Rabaul, sau trận không tập vào tháng 11, đã thiếu chiến hạm để thi hành các công tác, nên ngay cả chiếc Shigure cần phải sửa chữa mà còn phải lưu dụng trong cuộc hành quân đổ bộ vừa qua. Nhiệm vụ ngoại lệ xem ra dễ dàng hơn bất cứ một nhiệm vụ nào tôi đã từng thi hành trong những tháng vừa qua, do đó tôi đã chấp thuận lời yêu cầu của Samejima một cách vui vẻ.

Vào lúc 2h30 sáng ngày 7 tháng 11, khu trục hạm Shigure rời Rabaul với hai chuyển vận hạm Ontakesan Maru và Tokyo Maru. Khi ngày lên hẳn, tôi đứng phía sau tàu mơ màng ngắm nhìn các miệng núi lửa đang tỏa khói. Rabaul là một hòn đảo hẻo lánh và ảm đạm. Nhưng, đặt chân đến đây từ tháng 7, bây giờ bỗng chốc rời xa hòn đảo này, bỗng nhiên tôi cảm thấy xúc động sâu xa. Rabaul không có gì hấp dẫn, nhưng mỗi lần ra khơi, chúng tôi đều mong mỏi được trở về để nhìn lại nó. Bây giờ, chúng tôi ra đi, để trở về quê nhà, và rất có thể không bao giờ chúng tôi nhìn thấy lại Rabaul nữa.

Trong ba tháng ngắn ngủi, chúng tôi đã mất hết hòn đảo này đến hòn đảo khác thuộc nhóm đảo Solomon, và đến hiện tại, Nhật Bản chỉ còn lại hòn đảo Buka. Hòn đảo này sẽ rơi vào tay địch quân không biết giờ phút nào, và sẽ đến lượt Rabaul. Không phải chỉ một mình tôi, mà tất cả mọi người đều nghĩ đến việc này.

Tôi hồi tưởng đến bạn bè, chiến hữu của tôi đã ra đi vĩnh viễn trong các trận đánh đẫm máu ở vùng biển này, và rồi còn nhiều người khác sẽ tiếp tục nối bước ra đi như vậy, mắt tôi bỗng dưng đầy lệ. Nhìn quanh, tôi thấy nhiều người khác trên chiếc Shigure cũng chia sẻ cảm nghĩ của tôi. Những thủy thủ đứng trên boong tàu đã vẫy tay từ biệt những kẻ đứng trên bờ dõi mắt trông theo. Chỗ nào đó, một giọng hát cất lên: “Sabara, Rabauru Yo, mata kuru made ma … ( Tạm biệt Rabaul, chúng tôi sẽ sớm trở về…) Bài ca đầy sầu thảm này đã từng dội trên sóng nước Thái Bình Dương một thời, nhưng không một ai biết rõ xuất xứ của nó.

…

Chúng tôi nhanh chóng tiến ra mặt biển bao la. Một ngày tràn ngập ánh nắng, đại dương lặng sóng. Cảnh sắc vui tươi, không khí như đổi mới trên chiếc tàu, chẳng khác nào một chuyến rong chơi mùa hạ. Tôi mơ màng nhớ đến những nhiệm vụ và hàng loạt hải xuất mà tôi đã thực hiện trong thời gian ở Rabaul vừa qua. Tôi cũng nhớ lại khi đặt chân đến Truk vào ngày 21 tháng 3, và qua cuộc hội kiến Đô đốc Kondo, tôi được biết chúng tôi đang đối diện với nhiều vấn đề khó khăn. Hai trong số những vấn đề chính yếu nhất là các pháo khẩu có trang bị radar và chiến thuật oanh tạc nhảy của đối phương.

Tôi tạm hài lòng với vấn đề đầu tiên, vì xem như tôi đã tìm được phương pháp chống trả hỏa lực có radar điều khiển trên các chiến hạm địch. Shigure là chiếc tàu không thiệt mất một thủy thủ nào. Vấn đề thứ hai là làm cách nào để đối phó với chiến thuật oanh tạc nhảy thì tôi đành bó tay. Nhiều lần chiếc Shigure chống trả với địch, nhưng không lần nào chúng tôi được nhìn thấy tận mắt chiến thuật oanh tạc nhảy này được áp dụng.

Hoàng hôn. Chúng tôi vẫn chạy dọc theo bờ biển phía Đông Nam New Ireland. Phải mất nhiều giờ chúng tôi mới vượt qua đoạn hải trình 250 dặm, vì tốc độ của các chuyển vận hạm rất chậm chạp, chỉ đạt đến 12 hải lý. Thời tiết quang đãng. Dưới hàng vạn tinh tú chiếu lấp lánh trên bầu trời, chúng tôi tiến vào eo biển Isabel, và khi ba chiếc tàu xoay về hướng chính Đông để chạy đến Kavieng, phòng truyền tin báo cáo đã nghe được các công điện mã hóa được đánh đi gần đâu đây. Điều này chứng tỏ phi cơ địch đang hoạt động trong khu vực phụ cận chúng tôi. Như vậy là “kỳ nghỉ hè trên mặt biển” đã bị phá đám. Tôi nhớ lại lần tăng tốc độ khẩn cấp từ 12 hải lý lên 28 hải lý để tránh né một chiếc oanh tạc cơ tấn công trước đây. Hiện tại, chiếc Shigure với máy móc đã bệ rạc, không thể nào làm như vậy một lần nữa. Vả lại, lúc đó chiếc tàu chỉ tự bảo vệ lấy thân, còn bây giờ nó phải bảo vệ thêm hai chuyển vận hạm.

Tôi cho gia tăng tốc độ lên 18 hải lý, và ra lệnh tạo một màn khói bao che hai chuyển vận hạm trong khi mọi quan sát viên đều phải dõi mắt lên trời. Hai chuyển vận hạm chạy chầm chậm về hướng Tây với tốc độ tối đa 16 hải lý. Tôi ra lệnh cho Shigure gia tăng tốc độ thêm nữa, và chạy theo hình chữ chi xuyên qua xuyên lại giữa hai chiếc tàu chạy chậm như rùa bò, thoạt ẩn thoạt hiện trong màn khói dày đặc.

4

Một quan sát viên thình lình lớn tiếng cho biết hai phi cơ xuất hiện ở mạn phải, hướng 50 độ. Tôi đã nhìn thấy chúng. Đó là 2 oanh tạc cơ, đang bay thẳng đến của Shigure. Tôi nghĩ chắc phi cơ địch sẽ không tấn công vào hai tàu chuyển vận. Cả hai chiếc phi cơ thình lình đổi hướng, đảo ngang, bay chiếc trước chiếc sau, ngược chiều với Shigure và mất hút về phía sau lái. Lúc tôi còn đang tự hỏi không hiểu đối phương định làm gì, quan sát viên đã la to: “Các phi cơ quay lại bên mạn trái.”

Bây giờ cả hai phi cơ sà thật thấp và đâm thẳng vào hông chiếc tàu. Tôi hiểu ngay là chiến thuật oanh tạc nhảy sắp được áp dụng. Cuối cùng, tôi cũng đối mặt với vấn đề không giải đáp nổi. Trong tình cảnh khẩn cấp này, một giải pháp bỗng nhiên lóe sáng trong tâm trí tôi, tôi hét thật to: “Tất cả cao xạ chuẩn bị khai hỏa ở hướng 150 độ mạn trái.”

Và xoay qua Đại úy Tsukihara, hoa tiêu trưởng, tôi nói: “Không chạy theo hình chữ chi. Chúng ta tiếp tục chạy thẳng.”

Kinh ngạc, Tsukihara ấp úng hỏi: “Cái gì… cái gì? Thưa Đại tá, chúng ta không né tránh?”

“Hãy thi hành mệnh lệnh, tôi sẽ giải thích sau.”

Chiếc Shigure đã gia tăng tốc độ gần 30 hải lý. Hai phi cơ chỉ còn cách một vài trăm mét. Tôi ra lệnh khai hỏa. Một màn hỏa lực căng ra dày đặc. Giữa tiếng nổ đinh tai nhức óc, tôi nghe tiếng hỏi to của Tsukihara: “Chúng ta vẫn chạy thẳng?”

Giây phút hiện tại chỉ còn một trong hai lối để chọn lựa, là giết địch hoặc bị địch giết, không thể nào giải thích rõ cách chống trả cấp thời phát sinh trong trí tôi cho hắn ta hiểu. Tôi chỉ đáp hai tiếng cộc lốc: “Chạy thẳng!”

Bây giờ, nhiều năm sau cuộc chống trả đáng ghi nhớ này, phương pháp oanh tạc nhảy không có gì khó giải thích: Các phi cơ địch tiến sát đến chiếc tàu, ở một khoảng cách tối thiểu, trước khi khi thực hiện phương pháp oanh tạc nhảy. Trước đây, lối né tránh thông thường của một chiếc tàu khi bị phi cơ tấn công bằng bom là chạy theo hình chữ chi, càng nhặt càng tốt. Nhưng chạy theo hình chữ chi khiến cho tốc độ của chiếc tàu có những khoảng chậm lại, và các oanh tạc cơ sẽ canh đúng khoảng chậm này để cắt bom. Tôi đã suy nghĩ hiện thời guồng lái và tay lái của chiếc Shigure không chính xác, không chạy theo hình chữ chi chẳng những khiến cho tốc độ của tàu nhanh hơn, mà còn khiến cho sự lượng định oanh tạc của phi cơ trở nên khó khăn hơn. Chạy thẳng còn có một lợi ích khác là các súng cao xạ trên chiếc tàu sẽ bắn chính xác hơn.

Với hai tiếng rít đinh tai nhức óc. Hai oanh tạc cơ lướt ngang qua các tháp từ mạn trái sang mạn phải. Hai quả bom rơi xuống và nhảy vọt đến, nhưng chiếc tàu đã lướt qua được khoảng bảy tám mét nên không trúng. Lúc đó, chiếc Shigure đã chạy hết tốc lực. Bom nổ, hai cột nước dâng cao. Phi cơ địch xuyên qua màn hỏa lực dày đặc và bay thẳng về hướng Nam.

Năm phút căng thẳng trôi qua. Phi cơ địch mất dạng hẳn. Sau đó, phòng truyền tin báo cáo: “Phi cơ địch đang chuyển báo cáo thẳng qua vô tuyến.”

Chuẩn úy Hiroshi Chosa, chuyên viên Anh ngữ của chúng tôi, nhảy dựng lên và nói: “Được rồi, để tôi đến nghe xem mấy em bé này nói cái gì.” Anh ta rời khỏi đài chỉ huy, một hai phút sau Chosa cho biết qua ống nói: “Một phi cơ địch báo cáo các hệ thống kiểm soát bị hư hại và cho vị trí bằng mật mã. Một phi cơ khác cho biết cánh trái bị trúng đạn và đang đáp xuống mặt biển.”

Mọi người trên đài chỉ huy đều hớn hở. Tsukihara, lộ vẻ lo lắng tột độ trước đó, bây giờ nhảy nhót như trẻ con.

Chosa tiếp tục: “Căn cứ của địch quân đáp rằng một chiếc thủy phi cơ sẽ được phái đến để giải cứu những phi công lâm nạn. Tọa độ không thể nào mò ra, vì đều được cho bằng những con số khó hiểu. Hãy chờ.. À, bây giờ các phi cơ nói cảm ơn và cho biết đang chúi xuống.”

Tôi thở dài nhẹ nhõm. Tôi không bao giờ nghĩ phương thức chống trả oanh tạc nhảy mới mẻ của tôi lại công hiệu đến mức ấy. Chiếc Shigure giảm tốc độ và hợp đoàn với hai chuyển vận hạm. Chúng tôi lại tiếp tục “cuộc dạo chơi trên mặt biển” hướng về Kavieng. Sau khi hai chuyển vận hạm xuống hàng, không còn nhiệm vụ nào khác ở đây. Vào sáng ngày 8 tháng 11, chúng tôi khởi hành về Truk.

“Cuộc dạo chơi” lại bị phá đám một lần nữa vì máy sonar chống tàu ngầm trang bị cho chiếc tàu bỗng dưng ngưng hoạt động. Các chuyên viên kỹ thuật của chúng tôi sửa chữa suốt ngày nhưng cũng không thể nào làm cho chiếc máy hồi sinh. Theo tin tức, tàu ngầm địch quân thường lảng vảng trong vùng biển này, do đó máy sonar bị hư là cả một vấn đề. Làm cách nào chiếc khu trục hạm câm điếc này hy vọng bảo vệ hữu hiệu hai chuyển vận hạm chạy như rùa bò suốt một hải trình ba ngày nữa? Các tàu ngầm địch chắc chắn sẽ được tung ra tìm kiếm chúng tôi để phục thù cho 2 phi cơ bị bắn hạ.

Tôi ra lệnh cho tất cả thủy thủ phụ trách bom chìm chuẩn bị đối phó với mọi trường hợp bất ngờ. Tôi cũng ra lệnh cho hai chuyển vận hạm chạy cách xa chúng tôi 1500m. Shigure chạy bên phải hai chuyển vận hạm này. “Cuộc dạo chơi trên mặt biển” trở nên căng thẳng.

Suốt ngày hôm đó không có gì xảy ra. Ngày hôm sau cũng yên tĩnh. Thủy thủ của tôi mệt nhừ sau hai ngày trực chiến. Nếu sự yên tĩnh này kéo dài thêm một ngày nữa, chúng tôi sẽ tiến vào Truk an toàn.

Suốt buổi sáng kế, tôi ra lệnh chuẩn bị các hoạt động chống ngầm ráo riết hơn, vì thời tiết xấu, bầu trời đầy mây và biển gợn sóng. Lúc 11h30, tôi cho giải tỏa các hoạt động này.

Ngay khi các thủy thủ nằm dài trên sàn tàu để nghỉ ngơi, tôi nhìn thấy một quả ngư lôi xé nước lướt ngang qua phía trước mũi chiếc Shigure, từ mạn phải qua mạn trái. Thay vì phản ứng cấp thời, tôi đã đứng lặng nhiều giây để nhìn theo quả ngư lôi hướng về chuyển vận hạm Tokyo Maru, bây giờ chạy hơi chếch về phía trái, cách trước mũi chiếc Shigure khoảng 700m. Tiếng nổ gây náo loạn trên chiếc Shigure và lôi tôi trở về thực tế. Tôi ra lệnh cho chiếc tàu đạt tốc độ chiến đấu 24 hải lý, các thủy thủ phụ trách bom chìm chờ đợi, và xoay hướng tiến về phía quả ngư lôi xuất phát. Sau đó, chúng tôi thả sáu quả bom chìm, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy đã đạt kết quả.

Tàu ngầm địch đã bay cao xa chạy. Không có gì đáng ngạc nhiên, tôi nghĩ, với một hạm trưởng giỏi thì một quả ngư lôi cũng đủ để ghi điểm. Tôi đứng chôn chân và phẫn nộ trên đài chỉ huy. Phản ứng chậm của tôi khiến cho chiếc tàu ngầm chạy thoát.

Chiếc Shigure vẫn tiếp tục chạy vòng quanh hai chuyển vận hạm , nhưng chiếc tàu ngầm không quay lại để tung một đòn dứt khoát. Chuyển vận hạm Tokyo Maru không bốc cháy, chỉ có phòng máy bị nước tràn vào thông qua lỗ thủng do quả ngư lôi gây ra. Chiếc tàu còn nổi nhưng hoàn toàn bất động. Chuyển vận hạm thứ hai. Ontakesan Maru, kéo đồng bạn phía sau, và một lần nữa, chúng tôi hướng về Truk, với tốc độ 7 hải lý.

Trong lúc đang di chuyển, chiếc Tokyo Maru bỗng dưng gia tăng độ nghiêng nhanh chóng. Sau 8 giờ, ai cũng nhìn thấy rõ ràng là nó sắp chìm, viên hạm trưởng ra lệnh bỏ tàu. Vừa khi Shigure nhận xong 70 sĩ quan và thủy thủ, chuyển vận hạm 6.486 tấn này biến mất giữa những làn sóng.

Tôi buồn rầu trước sự việc xảy ra. Đây là lần đầu tiên tôi đã để thiệt mất một tàu chuyển vận dưới trách nhiệm hộ tống của tôi. Nếu cuộc tấn công chỉ đến chậm một vài giờ, chiếc tàu dù hư hại cũng kéo về được tới Truk. Nhưng không có một thủy thủ nào thương vong, và trước đó chiếc tàu đã xuống tất cả hàng ở Kavieng, đó là sự an ủi với tôi.

Trong nhiệm vụ này, chiếc Shigure đã bắn rơi hai oanh tạc cơ, đánh đổi một chuyển vận hạm bị đánh chìm. Nếu xét trên giá trị vật chất, cán cân có phần nghiêng về chúng tôi, nhưng trong thời gian này một chuyển vận hạm lớn vẫn có nhiều ý nghĩa đối với Nhật Bản hơn là việc bắn rơi hai oanh tạc cơ địch.

Suốt nhiều ngày, càng nghĩ đến chiếc tàu ngầm tôi càng nổi nóng. Nhưng hiện thời, sau nhiều năm trôi qua, tôi phải ngả nón cúi đầu thán phục trước chiếc tàu này và viên hạm trưởng của nó. Tiến đến, phóng ngư lôi và biến mất, quả thật tài tình. 2

Vào khoảng trưa ngày 11 tháng 11, khu trục hạm Shigure và chuyển vận hạm Ontasekan Maru cập vào hải cảng Truk. Một vài giờ sau đó, tôi đến tuần dương hạm Atago, soái hạm của Đệ Nhị Hạm Đội, trình diện Phó Đô đốc Takeo Kurita để báo cáo sự việc xảy ra. Tôi cũng muốn gặp Tham mưu trưởng của ông là Đề đốc Tmoiji Koyanagi. Tôi vẫn nhớ cuộc đàm thoại giữa Koyanagi và tôi tám tháng trước đây, vào tháng ba, cũng chính trên soái hạm Atago, liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng. Hiện tại tôi muốn trình lên ông những giải đáp của một số vấn đề này.

Soái hạm Atago từng bị hư hại nhẹ trong cuộc không tập vào ngày 5 tháng 11 ở Rabaul, và hiện tại đã được tàu sửa chữa Akagi hoàn tất việc sửa chữa. Hoạt động trên soái hạm rộn rịp. Các sĩ quan tham mưu đều ba chân bốn cẳng, không ai lưu ý đến sự hiện diện của tôi. Họ nói Kurita bận rộn nên không tiếp ai cả, còn Đề đốc Koyanagi thì lại đang đứng cạnh vị Tư lệnh. Cuối cùng tôi cũng làm gan gọi Koyanagi khi thấy ông đi phía trước. Chúng tôi bắt tay, và ông ta vừa cười vừa nói: “Hân hạnh được gặp lại anh, Hara.”

Lập tức, tôi trình bày sơ lược với ông về cuộc đụng độ với 2 phi cơ địch gần Kavieng, và tôi tỏ ý hối tiếc vì đã để mất chuyển vận hạm Tokyo Maru. Koyanagi xua tay và nói: “Việc đó đúng, hoàn toàn đúng. Anh đã làm một việc phải nói là kỳ diệu. Không ai khác làm tốt hơn thế. Anh không để mất một người nào, đó là điều khiến tôi hài lòng hơn hết.”

Tiếp đó, tôi trình bày các chi tiết về kỹ thuật chống lại radar tầm hướng và phương thức đối đầu với phương pháp chống oanh tạc nhảy của đối phương. Nhưng Koyanagi có vẻ không mấy chú tâm đến những điều tôi trình bày. Tấm trí ông như để tận đâu đâu. Tôi ngừng nói, tự hỏi không biết điều gì đã xảy ra. Thình lình, ý thức tình trạng đang đối thoại với người điếc của tôi, ông nói gần như ấp úng: “Ồ, xin lỗi anh… Tôi quấy thật… Được, để tôi giải thích nguyên do sự vô tâm của tôi cho anh. Địch quân lại oanh kích Rabaul, sáng hôm nay, lần này họ đã đập khá nặng tay. Đó là lý do tại sao chúng tôi đều ba chân bốn cẳng, và…. Đúng là sụp đổ rồi.”

Có tất cả 128 phi cơ, xuất phát từ các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ Essex, Bunker Hill, Independence, gào thét trên không phận Rabaul vào lúc 8h30. Kasuka đã sớm phát hiện cuộc không tập nên đã tung 68 chiến đấu cơ Zéro lên ngăn chặn, và phi cơ của hai phía đã gặp nhau tại mũi St. George, nhưng phi cơ địch vẫn thoát được đến Rabaul. Kết quả cuộc không tập, khu trục hạm Suzunami bị đánh chìm, khu trục hạm Naganami và tuần dương hạm Agano bị hư hại nặng. Sau đó, hơn 100 phi cơ Nhật cất cánh truy đuổi địch quân, và theo báo cáo, các phi cơ này đã gây hư hại cho hai hàng không mẫu hạm và một tuần dương hạm Hoa Kỳ, đổi lại 41 phi cơ Nhật bị hạ. Hiển nhiên báo cáo kết quả của Nhật hoàn toàn thêu dệt quá sự thật.

“Xin lỗi Hara, tôi phải trở lại vào trong phòng họp. À này, Đề đốc Kurita muốn anh hộ tống hai tuần dương hạm Myoko và Haguro về Sasebo. Cả hai sẽ rời khỏi đây vào sáng mai. Chúc anh may mắn. Mong gặp lại anh.” Chỉ nói bao nhiêu đó, Koyanagi quày quả bỏ đi.

Tôi đứng lặng yên một lúc, đôi tai tôi lùng bùng. Suzanami bị đánh chìm ở Rabaul. Sỉ nhục biết bao! Và càng đáng ngạc nhiên hơn khi tôi biết được một trong những khu trục hạm nổi danh nhất của Hải quân Nhật, chiếc Naganami cũng bị hư hại nặng. Naganami từng là soái hạm của Tanaka khi ông hướng dẫn phân đội gồm 8 khu trục hạm lâm chiến và đạt được thắng lợi vẻ vang ở Tassafaronga vào tháng 11 năm 1942.

Tôi nhìn thấy tận mắt nhiều tuần dương hạm bị bom và ngư lôi địch loại ra khỏi vòng chiến trong hải cảng nhỏ bé Simpson chỉ cách đây một tuần lễ. Các chiến hạm to lớn không thể điều động trong hải cảng nhỏ hẹp này đã đành, nhưng không hiểu tại sao các khu trục hạm nhanh nhẹn lại trở thành nạn nhân của cuộc không tập một cách dễ dàng vậy được.

Với trái tim trĩu nặng, tôi quay về soái hạm Shigure, và ra lệnh chuẩn bị khởi hành cấp tốc vào lúc 6h ngày 12 tháng 11. Chúng tôi rời khỏi Truk trong nhiệm vụ hộ tống hai tuần dương hạm hạng nặng Myoko và Haguro. Chuyến đi Sasebo này của chúng tôi đồng lúc với quyết định di tản các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ còn tồn tại ở Rabaul của Koga. Các phi cơ này do ba hàng không mẫu hạm mang đến Rabaul chỉ cách 3 tuần lễ trước đây. Koga từ bỏ hẳn ý định thử sức với Hải quân Hoa Kỳ ở quần đảo Solomon. Điều này chứng tỏ Koga đã ý thức được các chiến thuật được hình thành “trong phòng họp” của ông đã thất bại.

Ở Truk, các kỹ thuật viên của tàu sửa chữa Akashi đã bó tay trong việc hồi sinh cho sonar của Shigure. Cuối cùng, họ “phán quyết” rằng các bộ phận bị hư hại của chiếc tàu săn ngầm này chỉ còn có cách thay thế ở Nhật Bản. Điều này không làm tôi lo lắng, vì tôi biết tất cả sonar trang bị cho 2 tuần dương hạm vẫn hoạt động bình thường, và chiếc Shigure có thể theo bén gót hai chiếc tàu này với tốc độ 18 hải lý. Trong nhiệm vụ hiện thời, tôi cảm thấy dễ dàng hơn nhiệm vụ vừa qua, bởi vì không như các chuyển vận hạm, các tuần dương hạm đều được vũ trang hùng hậu.

Năm ngày hải trình hoàn toàn yên tĩnh. Shigure buông neo ở hải cảng Sasebo vào ngày 17 tháng 11 năm 1943. Lần trở về Kure này tôi cảm thấy vui vẻ hơn lần trở về cùng với chiếc Amatsukaze vào tháng 12 năm rồi, vì lúc ấy chúng tôi có mang theo thi hài 43 thủy thủ. Trong tám tháng phục vụ ở Truk và Rabaul, chiếc Shigure không mất một người nào. Thủy thủ của chúng tôi đã nhảy nhót vui mừng khi chiếc tàu tiến vào hải cảng nhà. Trong các trận chiến đẫm máu quanh quần đảo Solomon, chúng tôi thường không mang một chút hy vọng nào được nhìn thấy lại hải cảng quê hương này.

Sau hai ngày lo thủ tục, chiếc Shigure được đưa vào ụ nổi để sữa chữa. Khi nước được bơm ra khỏi ụ, lườn tàu lộ hẳn, mọi người đứng xem đều tỏ vẻ kinh ngạc. Ngay giữa bánh lái chiếc tàu có một lỗ thủng rộng hơn 6 tấc đường bán kính. Sau khi xem xét cẩn thận, các kỹ sư đã cho biết lổ thủng bám đầy vỏ sò hến này la do một quả ngư lôi gây ra ít nhất ba tháng trước đây.

“Ồ, phải rồi,” tôi nhớ lại, “Lỗ thủng này chắc chắn có từ trận đánh tại Vịnh Vella vào hai ngày 6 và 7 tháng 8. Chỉ trong trận đánh đó chúng tôi mới thấy ngư lôi địch lướt gần chiếc tàu hơn hết.

Một trong các viên kỹ sư hỏi: “Nhưng, trong tình trạng này, ông làm sao có thể điều khiển chiếc tàu từ đó cho đến đây được?”

Tôi đáp: “Trong những tháng gần đây, bánh lái chiếc tàu có vẻ trì trệ. Nhưng, chúng tôi vẫn tiếp tục thi hành hàng chục công tác, và như các ông đã biết, tất cả đều trôi chảy hết.”

Sáng hôm sau, nhà báo và phóng viên nhiếp ảnh vậy quanh chiếc Shigure. Tôi gần như bị họ tràn ngập. Họ phỏng vấn thủy thủ đoàn Shigure và viết bài liên quan đến các hoạt động của chúng tôi để đăng tải trên các nhật báo phát hành trên toàn Nhật Bản.

Kể từ lúc đó, chiếc Shigure được xem như là khu trục hạm nổi tiếng nhất trong Hải quân Hoàng Gia Nhật. Các nhật báo địa phương đã dành trọn một trang để đăng toàn những bài viết về chiếc Shigure. Tôi hơi áy náy khi đọc một số bài có những chi tiết thêu dệt thái quá, và tôi cho đây chẳng qua là một loại “bom tinh thần” không hơn không kém. Tuy nhiên các câu chuyện về chiếc Shigure lại đầy ý nghĩa đối với dân chúng trong thành phố hải cảng này.

Tối hôm đó, một buổi dạ tiệc khoản đãi thủy thủ đoàn của chiếc Shigure được tổ chức ở nhà hàng Manriko, nơi thường lui tới của giới Hải quân, chủ nhân là một người đàn bà lớn tuổi mà chúng tôi thường gọi là Oseki-san. Tính tình bà này thật thà chất phác. Bà ta đối đãi với bọn thực khách chúng tôi giống như với lũ trẻ con, gọi ngay cả tên tộc của các vị Đô đốc. Nhưng không ai bắt bẻ sự vụng về có vẻ vô lễ này, vì mọi người đều biết tính tình và tấm lòng nhân ái của bà ta. Khi bước vào nhà hàng, tôi đoán chừng bà ta cũng sẽ lớn tiếng gọi tên, và đưa tay đập mạnh vào vai tôi, như bà ta vẫn thường làm mỗi lần tôi trở về sau một thời gian vắng mặt lâu ngày. Vì vậy, tôi đã kinh ngạc khi thấy Oseki-san, trong bộ y phục đẹp nhất, tiến ra và nghiêng mình xuống để tiếp đón tôi. Bà ta đã dùng những lời lẽ mà tôi chưa bao giờ nghe trước đây.

“Đại tá Tameichi Hara, tôi xin có lời chào mừng ngày trở về của Đại tá. Được chọn để mở tiệc mừng ngày trở về của thủy thủ đoàn vĩ đại dưới quyền chỉ huy đáng kính phục của Đại tá, đó là một danh dự lớn lao cho chốn thô lậu này. Kính xin Đại tá nhận nơi đây những lời lẽ ngưỡng mộ của một kẻ dốt nát như tôi.”

“Bà làm sao vậy? Oseki-san? Bà có vẻ khác lạ. Có bị bệnh hoạn gì không? Hay bà muốn xỏ lá tôi?”

“Tôi có dám chế giễu đâu, thưa Đại tá. Đại tá đã làm cho chúng tôi kiêu hãnh. Đại tá nổi tiếng, tôi chưa bao giờ tưởng tượng có ngày Đại tá trở thành một sĩ quan vĩ đại như vậy. Những cử chỉ, những lời lẽ vô lễ của tôi trước đây xin Đại tá bỏ qua.”

“Bà đang nói gì đó, Oseki-san? Tôi vẫn là Tameichi, tên uống rượu không bao giờ ngã, và thường quên tính toán sòng phẳng với bà đây mà. Cái điệu này là dám chắc tôi vẫn còn thiếu bà một khoản tiền, phải không?”

“Ồ, Đại tá Tameichi, bây giờ chính Đại tá đang chế giễu tôi. Từ giờ phút này, bất kỳ khoản tiền thiếu nào của Đại tá hay của các thủy thủ dưới quyền Đại tá đều kể như xóa bỏ. Và đêm nay, buổi tiệc của Đại tá tôi cũng kể như của người trong nhà.”

Tôi cười to: “Chắc tôi có làm điều gì sai quấy với bà đây. Chứ chẳng không…”

“Đại tá vẫn còn chưa hiểu. Tôi biết có nhiều khu trục hạm bị địch quân đánh chìm, nhưng riêng chiếc Shigure của Đại tá vẫn còn sống sót và không mất một thủy thủ nào. Việc này đối với tôi chẳng khác nào một phép lạ. Tôi từng giao dịch buôn bán với Hải quân hơn 50 năm, ngoại trừ Đô đốc Heihachiro Togo, người đã ca khúc khải hoàn ở eo biển Tsuhima vào năm 1905, tôi chưa từng thấy sĩ quan Hải quân nào vĩ đại như Đại tá.”

“Bây giờ tôi biết rồi, Oseki-san! Tôi chắc bà đã đọc báo. Bà đừng tin mấy bài báo đó, không đúng với một nửa sự thật đâu. Chiếc Shigure sở dĩ tồn tại là nhờ thủy thủ đòan các cấp chịu khó làm việc, và nhất là nhờ vào sự may mắn. Hoặc giả là nhờ bà siêng năng cầu nguyện cho chúng tôi trở về. Xem ra món nợ mà chúng tôi còn thiếu bà cũng là một sự may mắn.”

Cả hai chúng tôi cùng cười to tiếng, nhưng bà ta vẫn không quên nhắc lại cho tôi biết buổi tiệc này thủy thủ của chiếc Shigure sẽ không phải trả một đồng xu nào hết. Khi dẫn tôi vào bàn tiệc, bà nói khẽ: “Tất cả Geisha ở Sasebo tình nguyện tiếp đãi miễn phí cho buổi tiệc này. Họ nói với tôi là dù cho được trả bất cứ giá nào họ cũng sẽ không phục dịch cho thủy thủ đoàn của hai tuần dương hạm Myoko và Haguro, nếu hai chiếc tàu này mở tiệc.”

Không cần phải nói cũng hiểu bữa tiệc đêm đó là buổi tiệc vui vẻ và hoàn toàn thỏa mãn đối với mọi người.

Ngày kế đó, tôi sắp xếp cho thủy thủ đoàn thay phiên nhau về nhà nghỉ phép, mỗi người 10 ngày. Tôi cảm thấy vui lây khi nhìn thấy 80 thủy thủ đi phép đầu tiên rời khỏi Sasebo vào sáng hôm sau.

Nhưng thời gian vui vẻ của tôi chỉ có tính cách từng ngày. Vào ngày 25 tháng 11, một sĩ quan tham mưu ở căn cứ Hải quân ở Sasebo trao cho tôi những bản phúc trình mới nhất. Một trong số những bản phúc trình này liên quan đến cuộc đại bại khu trục hạm được xem là nhục nhã nhất của Hải quân Nhật Bản. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần.

Năm khu trục hạm, dưới quyền chỉ huy của Đại tá Kiyoto Kagawa, khởi hành từ Rabaul vào lúc 15h30 ngày 24 tháng 11 trong nhiệm vụ chuyển vận lần thứ hai đến Buka. (Lần đầu tiên do tuần dương hạm Yubari và khu trục hạm Shigure của tôi thực hiện, và không gặp cản trở nào của địch quân).

Kagawa không phải là sĩ quan chuyên môn về khu trục hạm, và cũng chưa từng biết đến đánh ban đêm là gì, tuy nhiên ông ta đã lượng định gần đúng mức nguy hiểm của chuyến đi. Ông đã chia 5 khu trục hạm ra thành hai nhóm: soái hạm Onami của ông và chiếc Makinami lo nhiệm vụ thám sát chiến đấu. Và ba chiếc còn lại chỉ thuần túy đảm trách nhiệm vụ chuyển vận.

Lượt đi, đoàn tàu không gặp sự ngăn trở nào, và 3 khu trục hạm chuyển vận – Amagiri, Yugiri, Uzuki – đã đổ 920 binh sĩ và 35 tấn tiếp liệu lên đảo Buka một cách êm thắm trước nửa đêm ngày hôm đó. Sau đó, 3 khu trục hạm này nhậm 300 binh sĩ bệnh tật để mang về Rabaul.

Kagawa , với hai chiếc Onami và Makinami, chạy cách phía trước 3 khu trục hạm chuyển vận khoảng 8 dặm, thình lình bị 5 khu trục hạm Hoa Kỳ (dưới quyền của Đại tá Arleigh Burke) tấn công bằng ngư lôi. Chiếc Onami chìm tức thì, không bắn được viên đạn nào. Chiếc Makinami bị đạn pháo địch chẻ làm hai, và cũng chìm không lâu sau đó.

Các khu trục hạm Hoa Kỳ truy đuổi ba chiếc tàu Nhật còn lại. Chiếc Yuguri, chạy cuối cùng, xoay lại chống đỡ với kẻ truy đuổi, nhưng vướng ngay vào hỏa lực tập trung của địch quân, và cùng chịu chung số phận với hai chiếc tàu bạn đã chìm trước đó. Hai khu trục hạm còn lại là Amagiri và Uzuki đã chạy thoát.

Kết quả của trận đánh này làm tôi đau buồn tột độ, bởi vì hạm trưởng của chiếc Onami, Trung tá Kiyoshi Kikkawa, là bạn thân của tôi. Kikkawa cùng với Kagawa và toàn thể thủy thủ đoàn đã đi theo chiếc tàu xuống biển sâu. Kikkawa không phải là một sĩ quan ngu dốt hoặc thiếu kinh nghiệm. Tiếng tăm gặt hái được sau trận Guadalcanal. Lúc còn làm hạm trưởng khu trục hạm Yudachi, đã chứng tỏ tài năng của anh ta. Nhưng ngay cả một hạm trưởng dũng cảm và đầy kinh nghiệm, vẫn phải bó tay trước một đối thủ được trang bị các kỹ thuật tối tân, đạt đến kỹ thuật cao độ nhất, có thể nhìn và nhắm trong đêm tối một cách chính xác.

Khi tôi quay lại với nhiệm vụ chiến đấu, không hiểu khả năng của địch quân và khả năng của tôi như thế nào? Câu hỏi này đã gây cho tôi nhiều lo âu. Tôi trở lại ụ nổi và thúc giục ở đây sửa chữa chiếc Shigure càng nhanh càng tốt. Những người phụ trách việc sửa chữa cho biết họ sẽ tận lực, nhưng ít ra phải mất một tháng chiếc tàu của tôi mới thích hợp với nhiệm vụ chiến đấu.

Vào ngày 26 tháng 11, tôi vừa ngạc nhiên vừa vui mừng khi Phó Đô đốc Chuichi Nagumo gọi điện thoại và mới tôi dùng cơm với ông. Tôi hân hoan nhận lời.

Lúc còn giữ chức vụ Tổng Tư Lệnh Đệ Nhất Không Hạm Đội. Nagumo đã chỉ huy lực lượng tấn công Trân Châu Cảng và các cuộc hành quân hàng không mẫu hạm liên tục sau đó dẫn đến trận đánh Midway. Cho đến tháng 7 năm 1942, ông được thuyên chuyển qua nắm giữ Đệ Tam Hạm Đội. Tháng 11 năm 1942, ông được bổ nhiệm vào chức Tổng Tư Lệnh hải khu Sasebo, và tháng 6 năm 1943, ông lại được thuyên chuyển đến hải khu Kure. Hiện tại, tôi vừa biết ông được tái bổ nhiệm vào chức Tổng Tư Lệnh Đệ Nhất Hạm Đội ( Hạm đội đảm trách nhiệm vụ huấn luyện của Nhật Bản). Lời mời của ông khiến tôi cảm kích đồng thời gây ra cho tôi sự ưu tư sau khi biết được các quan điểm và kế hoạch của ông.

Sức khỏe Nagumo đã phục hồi. Xem ông có vẻ tươi tắn hơn lần tôi gặp ở Truk cách một năm trước đây. Nhưng qua câu chuyện, tôi thấy ông mất tinh thần rõ ràng. Trong suốt bữa ăn kéo dài khá lâu, ông thúc giục tôi kể lại nhưng kinh nghiệm mà tôi đã trải qua. Ông ngồi nghe chăm chú , và cuối cùng ông nói: “Những giai đoạn huy hoàng của các khu trục hạm đã chấm dứt cùng với trận đánh ở mũi St.Goerge. Tình trạng có thể đổi khác ở hiện tại và tương lai, nếu Nhật Bản có chừng một chục hạm trưởng tài năng như anh.”

Tôi không biết lới ông nói có đúng không, nhưng theo tôi thấy, dù sức khỏe đã được khôi phục, vị sĩ quan cao cấp già nua này đã ngã lòng. Nhiều lúc tôi nghĩ rằng sự phá sản tinh thần của ông cũng là sự phá sản của Hải quân Nhật Bản.

Đó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Vào tháng 3 năm 1944, ông lại được thuyên chuyển đến Saipan kiêm nhiệm hai chức vụ Tổng Tư Lệnh Khu vực Trung Thái Bình Dương và Không Hạm Đội thứ 14. Ở đây, ông tiếp tục chiến đấu và thiệt mạng vào tháng 7 cùng năm.

Ngày hôm sau, tôi về nhà cùng lúc với 80 sĩ quan và thủy thủ được hưởng 10 ngày phép. Khoảng thời gian nghỉ phép này không giống với những lần nghỉ phép trước của tôi. Sáng, chiều và tối, các sĩ quan và thủy thủ của tôi lần lượt đến nhà, lẻ tẻ từng người hoặc từng tốp 3,4 người, người nào cũng tay nách xách mang rượu sake. Nhiều người ở gần, nhưng cũng có nhiều người ở xa, phải vượt hàng mấy giờ xe lửa, đổ xô về Kamakura, nơi mà gia đình của tôi hiện đang sinh sống. Trong tình cảnh ấy, tôi phải ngồi thù tạc tiếp họ cả ngày lẫn đêm.

Họ luôn miệng xin lỗi vợ tôi về sự quấy rầy và những lời nói vụng về, thô tục của họ. Họ giải thích: “Chúng tôi đã thoát chết khỏi các trận đánh đẫm máu nhất. Đó là một phép lạ, và có thể phép lạ này do Đại tá ban cho chúng tôi. Ông là một sĩ quan vĩ đại nhất của Hải quân Hoàng Gia. Chúng tôi phải chia bớt thời gian nghỉ phép cho gia đình của vị sĩ quan chỉ huy đáng kính của chúng tôi. Mong bà thông cảm.”

Bất kỳ công việc gì của gia đính tôi họ cũng mó tay vào. Họ chơi đùa và dẫn lũ con tôi chạy lang thang khắp nơi. Qua một vài ngày “đấu tửu lượng”, có thể nói thân thể tôi đẫm ướt sake. Tôi không bị chết đuối cũng là một điều lạ. Bà vợ, đặc biệt là cô con gái, đã “bí mật tuyên bố” rằng đây là kỳ nghỉ phép khủng khiếp nhất của tôi. Riêng đứa con trai tôi lại khoái mấy ông khách này.

Vào ngày 6 tháng 12, tôi trở lại Sasebo với thể xác uể oải vì uống rượu quá độ, cho đến cả một tuần lễ sau tôi mới tỉnh táo lại. Công việc sửa chữa chiếc Shigure hoàn tất vào ngày 20. Sau hai ngày chạy thử, chiếc tàu chứng tỏ đã đầy đủ năng lực chiến đấu, tôi báo cáo cho Bộ Tư Lệnh Tối Cao biết chúng tôi sẵn sàng quay trở lại Thái Bình Dương. Tôi được lệnh chờ đợi.

Ba ngày ăn không ngồi rồi trôi qua một cách lê thê, tôi được gọi đến Tổng Hành Dinh Sasebo. Vị tư lệnh phó đích thân trao lệnh chỉ định tôi vào nhiệm vụ huấn luyện viên ở Trường ngư lôi.

Tôi nổi khùng ra mặt: “Nhiệm vụ trên bờ cho tôi? Có thể nào như vậy được chứ? Phó Đô đốc Samejima cho biết là ông cần tôi và mong tôi quay trở lại. Tôi muốn đi! Tôi xin lặp lại: Tôi muốn đi.”

“Anh nói đúng, Hara, nhưng hãy bình tĩnh, tôi sẽ cho anh biết một việc. Sự chỉ định anh vào nhiệm vụ mới này không dính dáng gì đến hồ sơ phục vụ của anh đâu, như có nhiều trường hợp xảy ra trước đây. Vấn đề này vẫn trong vòng tối mật, nhưng tôi có thể tiết lộ cho anh biết là anh sẽ được giao phó thành lập một trường huấn luyện ngư lôi đĩnh mới. Bộ Tư Lệnh Tối Cao cho rằng ngoại trừ anh không ai có thể đảm trách nhiệm vụ sinh tử của Hải quân này. Đó là nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ trở thành chuyên viên ngư lôi. Đừng nhăn nhó nữa. Bây giờ anh biết rồi, anh sẽ gánh vác một trong những kế hoạch đặc biệt và quan trọng nhất của Hải quân.”

Qua lời vị Đề đốc, tôi vỡ lẽ, và công nhận công việc tôi sắp làm của tôi quả thật quan trọng. Công việc này Hải quân đã bàn đến từ lâu, nhưng bây giờ mới được chấp thuận.

“Hara,” vị Đề đốc tiếp, “anh đã gây ra cuộc cách mạng lý thuyết ngư lôi trong Hải quân Hoàng Gia, bây giờ là giai đoạn anh có hy vọng áp dụng lý thuyết này một cách tích cực hơn. Thời gian này có lẽ anh là người biết rõ về khu trục hạm hơn ai hết. Sở dĩ anh được chọn vào nhiệm vụ tối mật này là do sự tiến cử nồng nhiệt của Đề đốc Ijuin ở Tokyo, của Phó Đô đốc Nagumo, Tổng Tư Lệnh Đệ Nhất Hạm Đội và của Phó Đô đốc Omori, chỉ huy trưởng Trường ngư lôi. Chúc anh gặp may mắn.”

Trở về chiếc Shigure, tôi tập họp thủy thủ đoàn trên sàn tàu và nói với họ: “Các bạn, tôi xin báo cáo cho các bạn biết là tôi phải rời khỏi chức vụ Chỉ huy trưởng Hải đội 17 khu trục hạm và lên đường đến Yokosuka ngay lập tức. Trong 10 tháng qua, chúng ta cùng sống và cùng chiến đấu với nhau, đó là thời gian hạnh phúc nhất và hài lòng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Các bạn đã làm tôi kiêu hãnh, và hiện tại, tôi dám mạnh miệng tuyên bố rằng tôi chưa bao giờ được chỉ huy một thủy thủ đoàn nào tài giỏi như thế này. Hãy giữ vững tinh thần và sự khép léo của các bạn. Tôi biết là các bạn sẽ tiếp tục đạt thắng lợi với vị tân chỉ huy trưởng của các bạn. Chúc các bạn gặp nhiều may mắn. Từ đây có thể tôi sẽ không gặp lại các bạn nữa, nhưng trong thâm tâm tôi sẽ luôn luôn cầu mong cho các bạn đều an lành.”

Tôi bắt tay từng người một. Một số ấp úng nói vài lời từ biệt, một số đứng lặng yên, nhưng những giọt lệ đã long lanh trên đôi má, trong đôi mắt của tất cả mọi người.

Tôi sắp xếp hành trang trong nửa giờ và đi vòng quanh trên chiếc Shigure lần cuối cùng. Tôi đứng thật thẳng khi chiếc ca nô chở tôi rời xa chiếc tàu đã từng làm tôi kiêu hãnh. Quang cảnh đầy ủy mị trước mắt tôi chua bao giờ được nghe nói đến trong kỷ luật lạnh lùng và phũ phàng của Hải quân Hoàng Gia. Thủy thủ đoàn đứng dài theo song sắt trên tàu và bám víu vào bất cứ vật gì để nhìn theo, vẫy tay la lớn những lời từ biệt. ôi muốn đứng dậy để vẫy tay đáp trả lại họ, nhưng tim tôi bỗng dưng trĩu nặng. Tôi ngồi yên và đôi mắt ứa lệ.

——————————–

1          Đại tá Hara đã nói đúng về các thành quả mà súng phòng không trên các khu trục hạm của ông đã đạt được trong ngày này. Tài liệu lịch sử chính thức của Không quân và Lục quân Hoa Kỳ đã ghi: “Hai khu trục hạm Nhật nằm cạnh cửa sông Warangoi đã đối đầu trực tiếp với hướng tiến của các phi cơ Hoa Kỳ. Hỏa lực của 2 chiếc tàu này đã gây nhiều xáo trộn cho cuộc không tập, ngăn chặn hẳn các chiến đấu cơ hộ tống, khiến cho các oanh tạc cơ B-25 phải phá vỡ đội hình để thi hành nhiệm vụ oanh tạc và không kích từng cặp, hoặc từng chiếc riêng rẽ.

2 Đây là tàu ngầm Scamp của Hoa Kỳ, hạm trưởng là Thiếu tá Walter G. Ebert (sau này là Đề đốc) đã báo cáo phóng 7 quả ngư lôi và một quả đã trúng chuyển vận hạm 7.000 tấn của Nhật Bản.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 18 Sep 2026

Lâu lắm rồi, tôi không gặp anh Tô Kiều Ngân, mặc dù chúng tôi cùng ở chung một thành phố Sài Gòn. Được tin anh từ trần vào ngày 20-10 vừa qua khiến tôi ngỡ ngàng. Sau khi xác nhận, tôi gọi điện thoại cho Huy Sơn ở Mỹ trước tiên vì Huy Sơn và Tô Kiều Ngân cùng tôi từng có thời gian dài cùng làm việc trong tòa soạn 3 tờ báo của Quân Đội là bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa, nguyệt san Phụng Sự và tuần báo Thông Tin Chiến Sĩ. Sau này Huy Sơn được chuyển sang Bộ Tư Lệnh Không Quân làm tờ Lý Tưởng với Hoàng Song Liêm. Sau khi ở tù cải tạo ra, Huy Sơn đi Mỹ theo diện HO.

Tô Kiều Ngân và tôi không đi theo diện HO, mỗi người có một lý do riêng. Tô Kiều Ngân ở lại, có gia đình vợ con, có nhà cửa đàng hoàng. Còn tôi lông bông ở trọ, ở chui hết chợ Bàn Cờ đến Trương Minh Giảng rồi đến chợ An Đông, cuối cùng về cái chung cư Nguyễn Thiện Thuật và là “dân ABC đi ở thuê” với bốn năm cái “không”. Vợ con đi tuốt hết nên trở thành độc thân thứ thiệt, không đồng xu dính túi, không bạn bè, không nghề ngỗng gì — mặc dù qua 12 năm, 2 tháng 26 ngày ở “trại cải tạo”, tôi trồng rau muống rất giỏi. Khối đội phải nhờ tôi đến gieo hạt rau muống cho khu ruộng mới. Tôi gieo hạt đều lắm và… có tay nên ruộng nào cũng tốt. Thế mà về Sài Gòn thất nghiệp nặng.

Tôi cứ nhìn mấy cài hè phố mới được đào xới lên để lát gạch mới, và ước ao chỗ đó cho tôi trồng rau muống thì thành phố không thiếu rau. Cái ước mơ thật ngu xuẩn, vậy mà khi còn ở trong cái gọi là “trại cải tạo”, đôi khi tôi lại cho điều đó có thể thành sự thật! Bởi 12 năm, người ta dạy chúng tôi được có thế thôi và thành phố vào những năm đó toàn dép lốp, nón cối làm chuẩn thì việc trồng rau ở hè phố gọi là “tăng gia sản xuất” cũng có thể được lắm chứ. Hè phố là sự “lãng phí của bọn tư sản”. Ý nghĩ chưa hẳn là hoàn toàn ngu xuẩn.

Tôi không rõ Tô Kiều Ngân được tha về năm nào và cũng không biết anh ở đâu. Cái ngõ Phan Văn Trị, nơi anh ở trước kia, tôi có đến một hai lần, nhưng không chắc anh còn ở đó. Sau này tôi mới biết tin anh ở mạn Bình Thạnh và rất ít khi lên trung tâm thành phố gặp bạn bè. Anh có những nơi vui chơi riêng ở miền “ngoại ô”. Cho đến khi vợ chồng Trần Thiện Hiệp tổ chức kỷ niệm lễ thành hôn vàng bạc 40 hay 50 năm gì đó, khoảng năm 2007-2008 tôi mới gặp lại Tô Kiều Ngân. Anh có vẻ khỏe mạnh hơn lần cuối chúng tôi gặp nhau trong “trại cải tạo” ở Sơn La, khoảng năm 1977-78.

Mừng Cho Người Chết Trong Tù “Cải Tạo”

Tô Kiều Ngân không ở cùng trại tù với tôi, anh đi “lao động” bị ngã gãy tay, phải đưa về trạm xá gần trại giam tôi ở từ năm 1976 khi được đưa ra Sơn La “học tập”. Dịp đó, nhạc sĩ Thục Vũ, tên thật là Vũ Văn Sâm, ở cùng đội trồng rau với tôi, anh bị đau thận đến vàng mắt. Ban đầu còn được ở lại trại, không phải đi lao động. Tôi có nhiệm vụ “thó” một ít rau sống, cung cấp cho anh hàng ngày. Nhưng khi bệnh tình quá nặng, Thục Vũ được đưa sang bệnh xá. Nói là bệnh xá, chứ ở đây cũng chẳng có thuốc men gì chữa chạy cho bệnh nhân. Mỗi lần lên khám bệnh, anh y tá bôi cho tí dầu cù-là vào tay rồi bảo về uống đi hoặc nằm ngửa cổ ra để “cán bộ y tế” nhỏ cho vài giọt nước củ tỏi vào mũi. Thế là xong. Bệnh nhân nặng chỉ còn việc nằm chờ chết. Thục Vũ ở trong trường hợp ấy.

Một buổi sáng sớm, tôi đang lúi húi trồng luống xu hào, bỗng thấy bên mình có cái gì kêu phần phật. Từ từ ngước lên, tôi thấy một mảnh quần trây-di rách bị gió thổi bay lắc lư làm nên tiếng động nghe cũng… vui tai.

Tôi nhận ra Phan Lạc Phúc, khoác chiếc áo trây di tả tơi “đồng bộ” với cái quần rách. Nước mắt ông Phúc chảy rất chậm trên mặt, ông nghẹn ngào cất tiếng:

– Thằng Sâm chết ở bệnh xá đêm qua rồi.

Tôi lặng người, bởi mới hôm qua, tôi lẻn sang bệnh xá thăm, Thục Vũ đưa cho tôi hai gói thuốc lào nhỏ, anh nói: “Tôi mệt không hút thuốc được nữa”. Ngồi nói chuyện vài phút, Tô Kiều Ngân ở trạm xá này cũng đến ngồi chơi. Tôi thấy Thục Vũ vẫn còn khỏe, vậy mà đêm qua đã ra đi.

Sau đó, Tô Kiều Ngân nói với tôi lời an ủi đúng nhất, ngắn nhất và cũng bi thảm nhất: “Mừng cho nó, từ nay nó không còn biết đói rét và không ai hành hạ được nó nữa”.

Đám Tang Thục Vũ, Hình Ảnh Bi Thảm Nhất Trong Đời Chúng Tôi

Một buổi chiều năm 1977, khi đồi núi Sơn La bắt đầu chạng vạng, chúng tôi đang làm những việc cuối cùng ở vườn rau thì bất chợt nhìn sang lối ra từ bệnh xá, một khung cảnh hết sức đau lòng.

Trên con đường đá cũ nhỏ, vòng theo sườn núi cao vút chập chùng, cách vườn rau là cái ao, đám tang bắt đầu di chuyển chậm chạp. Hai anh cai tù vác súng AK đi đầu, theo sau là một anh tù cầm vài nén nhang, đến 4 anh tù khiêng cỗ quan tài mộc. Sau cùng lại là 2 anh cai tù vác súng AK. Suốt con đường dài âm u đó, chỉ có đám người ấy lặng lẽ chuyển động như những bóng ma.

Ở vùng đồi núi bóng tối đổ xuống rất nhanh, mang theo sương mù mỏng dăng ngang triền dốc dựng đứng như những bức tường đá của nhà giam thiên nhiên, chẳng cách nào thoát ra được. Chúng tôi biết chắc đó là đám ma Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ. Tất cả hơn ba chục tù nhân trong đội rau đứng ngẩn ra, dán măt vào cái đám ma thê thảm ấy.

Phan Lạc Phúc đến bên tôi, không nói lời nào, quay mặt đi giấu nước mắt. Nhìn sang phía bên trạm xá, Tô Kiều Ngân và mấy anh bác sĩ trẻ cũng là tù, đứng sau hàng rào kẽm gai cùng ngơ ngẩn. Ngân vẫy tay cho tôi và Phan Lạc Phúc chẳng biết để làm gì. Là một sự cảm thông tận cùng hay nói lời từ biệt.

Mấy tay coi tù cũng đứng lặng nhìn chúng tôi và họ hiểu lúc đó dù bắt chúng tôi thu dụng cụ về trại cũng chẳng ai chịu về, dù có bị bắn tại chỗ. Tất cả đứng như tượng gỗ dõi theo đám tang đi trong buổi hoàng hôn lạnh ngắt, dần khuất vào cuối con đường cong phía chân núi.

Sương mù bắt đầu tỏa xuống. Ai đó bỗng cất tiếng hát “Sơn La âm u núi khuất trong sương mù. Đoàn tù tha hương cất bước lê trên đường…” Bài hát xưa của những nhà cách mạng thương tiếc những chiến sĩ bị giặc bắt cầm tù ở Sơn La. Sao lúc này nó hợp với chúng tôi thế.

Hình ảnh cái đám ma Thục Vũ còn in đậm trong tâm khảm chúng tôi cho đến bây giờ. Tôi chắc Tô Kiều Ngân, đến cuối đời cũng chưa quên hình ảnh này. Nó trở thành kỷ niệm rất riêng và cũng rất chung của những ai từng sống dở chết dở qua những cái được gọi là “trại cải tạo”.

Tô Kiều Ngân Và Cuộc Đời Binh Nghiệp

Có lẽ nhiều thính giả và độc giả biết đến Tô Kiều Ngân qua “Tiếng sáo Tao Đàn” hơn là biết đến “đời lính” của anh. Tôi thì khác, tôi biết anh từ khi cùng làm chung trong mấy tờ báo của quân đội.

Trở lại chuyện xưa, khi tôi mới được lệnh về Nha Chiến Tranh Tâm Lý lúc đó trực thuộc Bộ Quốc Phòng sau này mới đổi tên thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu từ năm 1957, khi tôi bắt đầu về làm Trưởng Ban Báo Chí (hồi đó chưa được gọi là Phòng), phụ trách điều hành chung ban báo chí. Hồi đó Tô Kiều Ngân phụ trách tờ báo có tên Quân Đội, sau này cụ Ngô Đình Nhu yêu cầu đổi tên nên chúng tôi đề nghị và được chấp thuận đổi thành Chiến Sĩ Cộng Hòa ra nửa tháng một kỳ. Báo dành chung cho mọi quân nhân. Tờ nguyệt san Phụng Sự, dành cho sĩ quan, do Huy Sơn phụ trách. Tòa soạn chỉ có chừng 10 người, việc in ấn do nhà thầu đảm nhiệm hàng năm. Chúng tôi chịu trách nhiệm biên tập. Ngoài 3 người chúng tôi còn các anh Viêm Hồng, Lý Quảng, Phy Phy… Sau này, khi Cục Tâm Lý Chiến về đường Hồng Thập Tự mới có thêm Huy Vân, Tường Linh, Vũ Công Uẩn. Rồi còn có anh Đỗ Tốn trong Tự Lực Văn Đoàn, tác giả Hoa Vông Vang cũng về Ban Báo Chí. Nhưng vị “công tử con quan” đó chỉ đến cho có mặt rồi phóng xe đi. Anh lớn tuổi, là nhà văn thuộc hệ đàn anh, vả lại anh về đó khi sắp đến ngày giải ngũ. Sau nữa có thêm Thanh Nam tái ngũ về làm tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa cùng chúng tôi. Mới bước chân vào “nghề báo”, tôi chỉ là anh viết lách, chưa hề quen với nghề này. Công việc tuy hợp với khả năng và mong đợi của tôi, nhưng thật ra nghề báo chẳng giống nghề viết lách tí nào. Nghề đọc văn người khác, chọn bài và sửa bài không dễ dàng.

Bạn có biết bài học đầu tiên trong nghề báo của tôi là gì không? Đó là sửa morasse tức làm “thầy cò”. Những năm ấy, tất cả báo chí còn in typo, sắp chữ bằng tay rồi làm bản kẽm, hình ảnh làm clicher cho vào khuôn. Báo Quân Đội không phải kiểm duyệt nên không bị “đục bỏ”. Tuy nhiên làm thầy cò không dễ. Phải biết các ký hiệu thay chữ nghĩa. Ngoài ra phải biết “dàn trang”, biết trình bày bài dài ngắn sao cho đúng khuôn khổ tờ báo… Đó là chút xíu về “kỹ thuật” mà tôi học qua Tô Kiều Ngân và Huy Sơn. Tôi và hai anh ấy cùng sửa morasse nhưng đến dernière morasse cho nhà in chạy máy thì tôi phải ký.

Tô Kiều Nân Rời Khỏi Báo Quân Đội

Đời binh nghiệp của Tô Kiều Ngân khởi thủy từ khi làm tờ Tiếng Kèn của Địa Phương Quân ngoài Huế. Năm 1953, anh được đồng hóa và đưa gia đình từ Huế vào Sài Gòn. Chúng tôi cùng làm chung trong Ban Báo Chí từ năm 1957, lúc đó anh mang cấp chuẩn úy đến khi dọn về Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè. Một năm sau, tôi được lệnh đi Quân Khu 3 thành lập Đại Đội Văn Nghệ cho quân khu này dưới quyền tướng Đỗ Cao Trí. Đại đội này có cả sự đóng góp rất quan trọng của nhạc sĩ Anh Bằng. Khi đại đội thành lập xong, đi trình diễn ở các tỉnh thuộc quân khu, tôi trở lại Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Lúc đó Phòng Tài Liệu do Vũ Quang Ninh làm trưởng phòng đang thu thập tài liệu làm cuốn Trăm Hoa Đua Nở về vụ án Nhân Văn Giai Phẩm tại miền Bắc. Tôi được lệnh về đây phụ anh Ninh thu thập và phân tích các tài liệu này.

Bỗng một buổi sáng năm 1960, tôi được lệnh trở lại Ban Báo Chí ngay. Khi trở lại tòa soạn, tôi mới biết Tô

Kiều Ngân vừa thuyên chuyển đi đơn vị khác, cũng trong ngành Chiến Tranh Chính Trị. Tôi không biết vì lý do gì. Có thể vì nhu cầu công vụ và cũng có thể vì những lý do khác. Tôi không thể tìm hiểu rõ hơn. Anh đến tuổi giải ngũ năm 1974 khi mang cấp thiếu tá phục vụ tại Phòng Chiến Tranh Chính Trị trường Võ Bị Đà Lạt.

Lúc đó, để đáp ứng quân số tăng, quân đội có hơn một triệu quân nhân, tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa phát hành 200.000 số một kỳ, tính ra mỗi tiểu đội được 1 tờ. Sau đó vì nhu cầu ngày một cao, chúng tôi phải thêm tờ Thông Tin Chiến Sĩ, ra khổ lớn hơn, tuần 1 kỳ gồm 8 trang.

Đến “Cuộc Chơi” Ở Ban Tao Đàn

Khoảng thời gian tôi và Tô Kiều Ngân làm việc với nhau chừng hơn 3 năm và cũng có khá nhiều kỷ niệm của thời trai trẻ. Tô Kiều Ngân rất tài hoa và cũng đào hoa, nhưng anh rất ít khi đi cùng chúng tôi. Anh hơn tôi 6 tuổi, đã có gia đình nên chơi khác với cánh “xê-li-bạt”. Tôi nhớ hồi đó Huy Sơn, Nguyễn Ái Lữ và tôi, đều rách như cái mền, nhưng Thứ Bảy, Chủ Nhật lại ngứa chân muốn đi nhảy. Nguyễn Ái Lữ hiền như bụt, vài lần rủ Tô Kiều Ngân, anh cũng không đi. Anh dành thì giờ cho ban Tao Đàn. Đó là thời gian 1957-1960, Tô Kiều Ngân là một trong các nhân vật chủ chốt của Ban Tao Đàn ở Đài Phát Thanh Sài Gòn. Với hơn 20 năm trong cuộc đời quân ngũ (1953-1974) thì Tao Đàn đối với anh chỉ là một cuộc chơi. Nhưng cuộc chơi ấy để lại dấu ấn đậm nét nhất, đáng giá nhất trong cuộc đời anh và thi ca Việt Nam.

Theo Phan Lạc Phúc, sự khai sinh và công việc của Ban Tao Đàn rất đa dạng. Xin lược trích bài viết sau về ban Tao Đàn của Phan Lạc Phúc tức ký giả Lô Răng:

Những Nhân Vật Then Chốt Của Ban Tao Đàn

“Người khai sinh và điều khiển chương trình Tao Đàn, như cả nước đều biết, là thi sĩ Đinh Hùng.

Chương trình Tao Đàn có thể chia ra làm 3 bộ phận.Bộ phận quan trọng nhất là ban biên tập và diễn đọc gồm Đinh Hùng, Thanh Nam, Thái Thủy, vài năm sau có Huy Quang Vũ Đức Vinh từ Nha Trang vào cộng tác.

Bộ phận thứ ba là ban ca ngâm gồm những tài tử nam, nữ trình diễn thường xuyên hay tùy hứng. Người “đa năng” nhất trong ban Tao Đàn là Tô Kiều Ngân. Anh vừa là tài tử diễn ngâm, vừa biên tập, vừa trong ban nhạc. Tiếng sáo Tô Kiều Ngân réo rắt thường được coi là “indicatif” của Tao Đàn, hợp cùng tiếng đàn thập lục trầm bổng của Bửu Lộc, tiếng piano trầm ấm — trước của Ngọc Bích, sau của Phạm Đình Chương. Về giọng ngâm nam, ngoài họ Tô, còn có Hoàng Thư; một thời giọng ngâm Thanh Hùng cũng góp tiếng trên đài. Tô Kiều Ngân tuy giọng không khỏe nhưng anh là người ngâm “khéo” nhất, ngâm giọng Bắc, giọng Trung đều nhuyễn. Hoàng Thư có chất giọng say sưa, mạnh mẽ được đời nhớ mãi trong “Bài

Ca Ngư Phủ” của Vũ Hoàng Chương. Thanh Hùng với giọng thổ pha kim, xuất sắc trong những tác phẩm bi hùng. Có những giọng ngâm không có mặt lâu năm trên đài nhưng vẫn được đời ghi nhớ như Quách Đàm trong những bài lục bát hay Thiếu Lang trong Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác. Về giọng ngâm nữ, lúc khởi đầu phải nhắc tới giọng ngâm ngọt ngào của Giáng Hương nhưng các tay sành điệu đều không thể quên giọng ngâm đổ hột đặc sắc của bà Đàm Mộng Hoàn, một danh tiếng vang lừng tại Khâm Thiên tiền chiến trong Tỳ Bà Hành. Giọng ngâm nữ nhiều năm làm thổn thức trái tim thính giả là Hồ Điệp trong những bài thơ nức nở của TTKH. Về sau có một giọng nữ như sương như khói làm khởi sắc những vần ca dao dân tộc và những bài ca huyền sử. Đó là giọng ngâm Hoàng Oanh…”

Tiếng Sáo Của Những Cảm Xúc

Tô Kiều Ngân hoạt động trong nhiều lãnh vực như làm báo, viết văn — tác phẩm đầu tay của anh là tập truyện Người Đi Qua Lô Cốt — làm thơ, ngâm thơ, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là tiếng sáo Tao Đàn. Bài sáo anh thổi ở Tao Đàn do chính anh sáng tác và đã xuất bản.

Bây giờ người ta nhớ đến tài năng tuyệt vời của anh vì tiếng sáo đó và giọng ngâm thơ mang âm điệu Huế hơn tất cả những thứ khác. Nếu so với tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa, theo nhận xét của tôi, mỗi người có một nét hay riêng. Tiếng sáo Tô Kiều Ngân cất lên theo cảm xúc từ bài thơ của tác giả và phong cách của người ngâm thơ nên bay bổng, dễ làm rung động lòng người hơn. Tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa hay về bài bản. Nếu anh thổi một bài như Thiên Thai, rất điêu luyện. Nhưng nhiều thính giả vẫn nhớ họ Tô hơn.

Từ Biệt Tô Kiều Ngân, Người Cuối Cùng Của Tao Đàn Ra Đi

Nhận được tin Tô Kiều Ngân mất, sau khi điện thoại cho Huy Sơn và Hoàng Song Liêm, tôi gọi cho Hàm Anh — còn có bút danh Sài Gòn Cô Nương — bởi Hàm Anh là con gái nhà phê bình Thượng Sỹ, trước đây ở cùng xóm Phan Văn Trị với gia đình Tô Kiều Ngân. Chúng tôi mang vòng hoa tới căn nhà khá đẹp của gia đình anh ở một xóm nhỏ thuộc quận Bình Thạnh.

Người đón tiếp chúng tôi rất vồn vã chính là bà quả phụ Tô Kiều Ngân. Nhưng tôi đã đọc bản Cáo Phó của gia đình trên một tờ báo hải ngoại và thấy một sự… hơi lạ. Đó là có tới hai bà cùng ký tên chung là vợ. Một bà là Phạm Thị Thìn, một bà là Lê Thị Kim Hoa. Một sự “chính danh” ít thấy trên bản cáo phó nào. Tôi phải ghi sự kiện này cho đúng, xin chia buồn đến cả 2 gia đình.

Tôi phải lựa lời gợi lại chuyện cũ xem có đúng bà này là “đệ nhất phu nhân” thời xưa tôi đã gặp không. May quá, đệ nhất phu nhân Tô Kiều Ngân nhận ra tôi ngay. Chị ân cần nắm tay tôi thân thiết. Các con trai, con gái anh, cả dòng trước dòng sau, cũng thân mật như vậy. Con gái lớn của anh là vợ của nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan — mất cách đây 2 năm — cũng tới thăm hỏi. Tôi có cảm tưởng như gia đình anh và tôi chưa xa nhau bao giờ.

Tôi và cháu Hàm Anh cùng vào trước linh cữu anh, từ biệt người bạn cũ. Anh là người cuối cùng cộng tác thường xuyên, là trụ cột của ban Tao Đàn ra đi.

Nhà văn Tạ Quang Khôi tính nhẩm rằng thi sĩ Đinh Hùng, trưởng ban Tao Đàn của đài Sài Gòn, mất năm 1969 vì ung thư bao tử. Hoàng Thư, giọng ngâm nam rất truyền cảm, mất cách đây khoảng 10 năm ở Sài Gòn. Hồ Điệp mất tích trên đường vượt biên. Thanh Nam qua đời năm 1985 ở Seattle (tiểu bang Washington) vì ung thư cuống họng. Huy Quang Vũ Đức Vinh mất cuối năm 2005 vì tai biến mạch máu não trong khi bác sĩ đang giải phẫu để làm bypass ở Seattle. Thái Thủy ra đi vì ung thư phổi ở Nam Cali cách đây gần 3 năm.

Từ biệt Tô Kiều Ngân, từ biệt nhóm Tao Đàn — nhưng tiếng sáo, giọng ngâm của Tao Đàn còn mãi mãi trong đời sống thi ca Việt Nam và trong lòng người Việt yêu thơ khắp nơi.

(Sài Gòn, 26-10-2012)

Con đường kỷ niệm

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on November 11th, 2021

Tranh Bảo Huân

Những năm đầu thập niên 1860s, khi người Pháp đặt chân lên đất Sài Gòn chỉ có 26 con đường bắt đầu từ số 1. Ngày 1-2-1865, Phó Ðô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đặt tên cho 26 con đường nầy. Như ở quận Ba, đường Legrand de la Liraye thời Tây, thời VNCH của mình là Phan Thanh Giản và thời CS là Ðiện Biên Phủ.

Trải qua hơn 300 năm, thương hải tang điền, biển xanh hóa thành nương dâu, Sài Gòn hiện có hơn 1,500 con đường lớn, nhỏ. Tên đường trùng lắp nhau, làm thiên hạ không biết đâu mà rờ. Giao thông Sài Gòn rối như canh hẹ. Vì đứa nào cướp được chánh quyền là đòi làm cha, muốn làm gì thì làm. Tên đường muốn giữ hay loại bỏ là tuỳ hỉ, vui buồn mưa nắng.

Sau 1975, hầu hết những con đường mang tên các nhân vật lịch sử có liên quan đến triều đình nhà Nguyễn (Chúa Nguyễn Ánh), từ các vị vua như: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức… đến các quan văn võ như: Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Trương Tấn Bửu, Trương Minh Giảng, Ðỗ Thành Nhân, Petrus Ký, thậm chí cả Phan Ðình Phùng, Trần Quý Cáp đều bị gỡ xuống. Thay vào đó là những cha căng chú kiết, công trạng với nước Việt Nam như thế nào thì không ai biết.

Hồi VNCH, vùng Tân Ðịnh, có đường Hiền Vương (thời Tây là Mayer) sau CS đổi tên thành Võ Thị Sáu. Hiền Vương là Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền, 1648-1687); là người có công rất lớn trong việc cho người Minh Hương nhập cư, chung sức khai khẩn miền Nam. Nhưng chúa Hiền vẫn bị CS kêu đi chỗ khác chơi. So với công trạng của Hiền Vương, Võ Thị Sáu chỉ là một thiếu nữ khủng bố giết người.

Nhưng đường Paul Blanchy, thời VNCH là đường Hai Bà Trưng chạy ngang qua mặt tiền chợ Tân Ðịnh và đường Mã Lộ phía sau chợ, CS không dám đụng tới. Vì chúng sợ Hai Bà hiện về vặn cổ từ trước ra sau, và chúng sợ ngựa đá cái bụp, không còn cái răng mà ăn cháo bào ngư hay chăng?

Mà nhắc tới đường Mã Lộ là buộc tui phải đề cập tới chợ Tân Ðịnh trước. Vì hai cái đó, nó xà nẹo với nhau. Chợ Tân Ðịnh là một trong 5 ngôi chợ xưa nhất tại Sài Gòn: Bến Thành, Tân Ðịnh, Bình Tây, An Ðông và Bà Chiểu.

Khởi công năm 1926, năm Bính Dần. ‘Khai thị’ năm 1927, năm Ðinh Mão. Năm sau, Mậu Thìn 1928, là năm chào đời của tía tui. Như vậy tui phải kêu chợ Tân Ðịnh bằng bác.

Chợ Tân Ðịnh xây sau chợ mới Bến Thành 13 năm, Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse đã đến dự lễ ‘khai thị’.

Tờ Công Luận Báo ngày 25.7.1927 đưa tin: “Sớm mai ngày 26 Juillet vừa rồi, lối 9 giờ Sở Ðốc lý thành phố Saigon có bày cuộc lễ khai thị ở Tân-dinh. Thiên hạ đến coi đông như kiến, lính tráng khó bề dẹp được. Giữa chợ treo cờ xí đủ màu coi đẹp lắm. Các quan và Sở Ðốc lý phải đến bày cuộc lễ này, đứng nơi trong, đợi quan Nguyên soái Nam kỳ, chính giữa để một cái bàn có để rượu sâm-banh, mấy người nấu ăn đứng xung quanh coi ngộ lắm. Bước vô bên tay mặt một tấm vải giăng ra và một dàn (sic) máy chớp bóng. Tám giờ đúng, một cái xe hơi đưa quan Nguyên-soái Nam kỳ đến, đậu trước chợ, gần hàng rào. Quan Nguyên soái Nam kỳ bước xuống bắt tay quan Ðốc lý (thị trưởng) thành phố Saigon, Lefebvre và ông Héraud Hội trưởng Hội đồng quản hạt, rồi bước thẳng vô chợ. Kế, quan Ðốc lý đọc một bài diễn văn tỏ ý cho trước là quan Nguyên soái Nam kỳ, sau các chức việc biết rằng cái chợ nầy mà cất thành đây là nhờ Sở Ðốc lý ham muốn mở mang hầu cho thành phố Saigon nầy có nhiều nơi tốt đẹp. Bởi vậy Sở Ðốc lý không dụ dự chút (sic) nào mà xuất tiền cất chợ và cũng là nhờ quan Nguyên soái Nam kỳ dự vào nữa. Ông Hội trưởng Hội đồng quản hạt đã ở Saigon lâu rồi có thể biết những điều cần ích, nên muốn Saigon này đứng hàng ngũ cho xứng đáng ở cõi Viễn Ðông nầy vậy. Rốt hết quan Ðốc lý mời quan Nguyên soái Nam kỳ dùng rượu và chúc cho thành Saigon nầy sung thạnh…”.

Bản tin nầy, xin chép lại nguyên văn, cách đây gần một thế kỷ, mà ông phóng viên tường thuật một cách gọn gàng nhưng đầy đủ và dễ hiểu.

***

Từ đó, chợ Tân Ðịnh bán đồ tươi ngon, giá có cao hơn các chợ khác một chút, nên gọi là  chợ nhà giàu. Trong chợ Tân Ðịnh, sạp thịt, chỗ bán cá ở giữa. Xung quanh là sạp bán rau cải, sạp bán giày dép. Sạp bán trái cây thì nằm ngay mặt tiền, số 336 đường Hai Bà Trưng. Ai có sạp cố định trong chợ thì đóng tiền mỗi tháng. Ai ngồi quanh chợ phía ngoài thì đóng hoa chi, ngày mua một vé, y như vé xe buýt.

Mỗi sạp rộng chừng 1.5 mét. Người bán vải tệ lắm phải mướn tới 2 sạp mới đủ chỗ. Thời CS, Ban Quản lý chợ Tân Ðịnh chơi láu cá, rút chiều ngang mỗi sạp chỉ còn 1.2 mét. Diện tích chợ vẫn thế nhưng số sạp tăng lên để bọn chúng hốt thêm tiền.

Bên tay trái chợ là đường Bà Lê Chân, thời Tây là đường Alexandre Frostin. Bà Lê Chân (20-43) là nữ tướng của Hai Bà Trưng thì đặt tên đường có dính với đường Hai Bà Trưng thì cũng có lý.

Bên tay phải chợ thời VNCH là đường Trần Văn Thạch (1905-1945), thời Pháp là Vassoigne. Thời CS đổi tên là đường Nguyễn Hữu Cầu (1712 – 1751), thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa nông dân Ðàng Ngoài vào giữa thế kỷ 18.

Ông Trần Văn Thạch là ai? Tội gì mà bị CS đuổi nhà? Té ra ông Trần Văn Thạch chỉ có cái tội là yêu nước. nhưng ông không phải là Việt Minh. Ðậu tú tài Pháp hạng ưu ở Sài Gòn năm 1925, ông Trần Văn Thạch qua Pháp du học năm 1926. Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Văn chương Ðại học Sorbone (Paris) ngày 2-11-1929. Về nước đầu năm 1930, ông Trần Văn Thạch không làm quan cho Pháp, mà chỉ đi dạy tư thục, xuất bản và viết cho tờ “La Lutte” (Tranh đấu) bằng Tiếng Pháp.

Sau khi cướp được chánh quyền vào tháng 8, năm 1945, Việt Minh bắt giết hết các nhà hoạt động chính trị khác tổ chức. Và ông Trần Văn Thạch bị giết ngày 23-10-1945 tại Bến Súc, Thủ Dầu Một.

Ðường Trần Văn Thạch ngày xưa (đường Nguyễn Hữu Cầu ngày nay), có xe đẩy bán sâm bổ lượng và hủ tiếu, có rạp chiếu bóng Mô-đẹc. Sau 75, chợ trời bán thuốc Tây ì xèo trên đường Nguyễn Hữu Cầu, kéo dài tới đường Trần Quang Khải. Sáng mang ra sạp bán, chiều lại dọn vô. Sau, CS cho xây sạp có mái tôn rộng chừng 1 mét. Ðược một thời gian, thằng khác lên dẹp. Những sạp này bị đập đi để trả lại đường cho xe cộ.

Mặt sau chợ Tân Ðịnh là đường Mã Lộ ngang chừng 14m, dài chừng 120m, bắt đầu từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Bà Lê Chân. Thời Pháp thuộc, đường này tên Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955, chánh quyền Ðệ Nhứt Cộng Hoà đổi là đường Mã Lộ cho đến ngày nay.

Tại sao gọi là Mã Lộ? Vì hồi xưa lúc chưa có xe lam, xe xích lô máy, xe ba gác (gắn máy Sachs), bà con mình chở hàng hóa toàn bằng xe ngựa. Sáng sớm từ vùng ngoại ô: Hóc Môn, Gò Vấp, Tân Bình… lóc cóc, “xe nhịp đằm khơi” ngừng sau chợ để xuống hàng bông. Nhiều xe ngựa đi nên được gọi là Mã Lộ (đường của ngựa).

Nghe không nên thơ chút nào, nhưng Mã Lộ là con đường tình sử của một người sa cơ thất thế như tui. Tù cải tạo ở Suối Máu được thả về, tui đi làm khu khuân vác. Rồi tui “chớp chớp” được em bán hàng bông quê ở Hóc Môn cám cảnh người lỡ vận. Tình yêu thời mất nước. Duyên tình cháo đậu nước cốt dừa, tép rang, hột vịt muối mỗi ngày. Vô mánh thì đôi ta rượu đế, rau răm hột vịt lộn có nhau. Ðời dẫu thiếu điều muốn mạt nhưng nên thơ hết biết.

Nhưng rồi “gió đưa cây cải về trời; rau răm ở lại chịu lời đắng cay”, tui nỡ lòng ngựa phi, ngựa phi đường xa, dông thuyền ra biển, dông luôn; bỏ em lại bên kia trời lận đận tới tận bây giờ?

Ôi em Hai ơi, chỉ vì CS ác tâm, chớ lòng “qua” nào có muốn phụ em đâu!

ĐXT

Cổ vật

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 18 Sep 2026

Tuyết vừa tan đâu chừng non tháng, nắng vàng lên lộng lẫy khoảng mươi hôm. Xuân cựa mình trong đôi chân em bước, chiếc váy hoa xô động một hương mùi.

Đông khiến ta nguỵ trang những y phục, lâu hơn một mùa lạnh mãn nhãn thịt da em bày nuột nà. Váy chỉ cốt đậy đằng vùng chí tử, rộng lượng khúc đưới “lộ hàng” dễ xúi ai “tâm tư”. Từ đầu gối xuống ngón chân lạ lẫm, quen chộ thuở nào áo dài đồng phục hiền hơn cả ma-xơ. Da bầng quân là của con yêu bánh nậm, chớ còn em, ui, trắng quá nhìn không ra.

Ở chốn lạ em mang nguyên thành quách, dắt bên lưng hưng phế một ngai vàng. Xứ Huế nào anh thấy riêng trong mơ, có nằm chộ cũng không tin em sờ sờ ra đó. Chừ ốt dột cũng lầm lì chai mặt, đẹp trai mô nữa nước chảy qua cầu. Ôn mệ ơi nhớ ai mà đầu bạc, cam lòng đau tẳn mẳn đếm tóc sâu, một hai ba bốn năm và em, ở nhà tên bé Sáu, ai khiến xui thứ bảy mình va nhau bên lề đường. Gió ma mị xoắn vào tóc rối lạc, đổi đường ngôi hương bồ kết thổi bay rồi, mái tóc thề lúc nớ đẹp dễ sợ, đành đoạn quá em chơi kiểu một nửa con trai. Ngắn như chia tay một quá vãng, ngắn như thơ ai kia cố viết dài cũng không xong. Ngắn như đường tình nó vốn vậy, có dài chăng khi gặp lại nhau giữa tinh cầu này?

Chơ bây chừ em ở nơi mô? Dạ thưa anh em ở trong nhà. Rứa chồng con cũng qua hết cả? Ui chào anh ni răng ốt ác tra khảo kiểu lạ đời. Mất lòng trước được lòng sau, chừ già rồi việc chi phải trẽn, nhớ nhau hung noái một trận cho đã nư, lâu ngày chầy tháng ai cũng tra có hột, đất lạ lâu ni cây quýt trồng cứ chua le, bị tra khảo là hạnh phúc dứt hạng, anh mở lòng cho em mược sức mà làm hoanh. Ai biểu hồi nớ cứ ưa làm trạng, bên hàng rào dâm bụt réo tên Sáu đến náo động thiên cung, may mà lúc nãy không chào: Dạ lâu ngày thưa thím.

Mụ o dọn mồm ưa làm đày làm láo, cái mặt, coai phách tấu a rứa thê. Tha phương gặp cố tri, thẳng ruột ngựa mới nói, em làm anh nhớ nhà mới gớm. Bên kia đường sẵn có quán Ly Hương, tuy không mặn mòi nhức nách bằng Mụ Rớt nhưng anh mời em quá bộ thời chơi tô bún bò trớt. Chính cái lúc như ri miệng mình nên nương nhờ vô ớt cay để xuýt xoa bao tâm sự, mồ hôi tuôn sống lưng để chứng nghiệm phía sau mãi còn đó bể dâu. Hãy cho anh làm bộ tịch lăng xăng một bận, gặp em đây nên đèo queo bu như sam cho bỏ những ngày cơ cực đắng lòng. Thiệt bụng anh chúa ghét câu “chiều chiều ra đứng ngõ sau”, mai kia mốt nọ em lặn mất tiêu e rồi phải bổn cũ soạn lại. Ui chao có lần anh tưởng tới em mà ruột đau chín chiều, noái láo ra đường xe cán.

Nghe chảy nước mắt, anh được tài ba lơn là nhất hạng. Thời nớ mạ nói răng anh biết không? Mi mà theo trai thì đừng có mạ con chi nữa cả, hai lối đi thì chỉ lựa một thôi con nợ. Cho mi toàn quyền quyết định để sau khỏi bù lu bù loa: “Xưa kia ai cấm duyên bà, bây giờ bà già bà cấm duyên tôi”. Em vẫn nghĩ: Chùa nát nhưng có Bụt vàng, tuy rằng miếu đổ thành hoàng còn thiêng.

Sinh ra em là ba mạ em mà người thương em hung chính là anh đọ. Răng mà khi nớ ngu ngơ khù khờ ông trời chẳng độ, cái tay không biết cầm cái chân chẳng biết nắm cái miệng nỏ biết hun. Thôi, đưa tay đây anh cầm cho chắc ăn khỏi sợ thất tung giữa xứ người, băng qua đường xe tông thì cũng ngậm cười chín suối vì thác có đôi chơi xổ số trúng lô độc đắc.

Anh ni cái miệng ăn mắm ăn muối, tơ tưởng bún bò giò heo mà mần chi, liệu thần hồn chặt đứt sân si lo ăn chay trường là vừa đó ông nội.

Cái váy hoa em mặc rất ăn với người, chừng mô em diện cái mini-jupe thì lúc nớ anh tụng kinh gõ mõ cũng chưa muộn đó nợ.

Đồ quỉ sứ chi mô rứa không biết!

Kinh cong phong linh gắn sau cửa kêu tiếng trong như giọng ai cười. Tâm dợn sóng vì lâu quá chừng quá đỗi mới bắt gặp được niềm vui. Một người con gái phát âm chuẩn mực giọng nói Thần Kinh: Dạ anh chị dùng chi cuối tuần đặc biệt chúng tôi có bánh nậm bánh bèo cháo lòng bánh khoái.

Rứa thì tráng miệng có chè đậu ngự không em?

Ui chao anh hỏi cái mới ngặt, chừ em biết thắp đuốc tìm mô cho ra đây?

Chè bắp chè đậu ván đặc thì răng hè?

Dạ, thì bù trất. Sĩ tượng đều tang hoang, anh mà chiếu tướng thì có nước em đầu hàng.

Cho tui tô bún chay vì người ni nói tui cần tu tâm dưỡng tánh.

Dạ mở quán mà nấu đồ chay thì có ma mới ăn, nhiều người xơi thức mặn mà tâm lành như Bồ tát thì răng anh hè?

Thấy chưa, tui tuy khẩu xà mà tâm phật, miệng hùm mà gan sứa, nói tào lao xịt bộp cốt để che đậy vết thương lòng, vui tới lúc mô hay lúc nấy bởi sông thì bèo hợp mà trời thì mây tan. Gặp nhau đây rồi chia tay ắt phải diễn, biết cách xuôi tay xem đó là chuyện chẳng may thì coi như đã đạt đạo từ khuya.

Làng nước ơi, bún bò mà ăn kèm với rau húng quế, bưng làm chi dĩa giá sống ngó trật chìa. Có người chê tô bún ngó không thanh cảnh, chừ thêm làm chi cảnh râu ông nọ cắm cằm bà kia.

Anh nói nhỏ kẻo mất lòng mất bề người mua kẻ bán, mình vào ăn chỉ cốt mượn cớ để ôn bài. Học không thuộc bao đổi thay thuở nọ, ăn nhai nuốt toàn kỷ niệm trớt quớt đắng cay.

Em nói cũng phải bởi miệng lưỡi mình chừ đã hỏng, cao lương mỹ vị ê hề dộng vô cũng mất ngon. Cứ thòm thèm của ngon vật lạ là thời còn đi học, lâu ba đời vương còn chi mô nữa mà đoái hoài.

Rứa cái vụ kia thì răng?

Vụ chi em hè, phải nói rõ kẻo mà chập chộ.

Sức lực anh độ rày có ngon cơm? Chồng em thì bày miếng mỡ mà làm mèo biếng nhác, dâng tận miệng mà bày đặc ỏng ẹo ngó lơ. Phong độ nhà ngươi đâu tá, thiếu đường nói trắng đồ cù lơ xít xụi cho đã nư!

Có lẽ một phần ăn cơm nguội hoài chàng cũng nản, phở hàng cháo chợ e chàng đổi lốt linh hoạt xung phong. Tỷ như ngồi gần em anh nghe mình trẻ nhỏ, thanh niên trai tráng chạy về thấy nhựa sống đang bóp con tim. Lý ra em phải thông bài toán dễ ẹc nớ, chữ hồi xuân không phải vô cớ người ta đặt điều. Chết cha mệ nội ba vạn cũng bỏ, đưa đầu trần chạy theo con ngựa thượng tứ đứng bóng lọng chừng.

Bún đây nấu ăn cũng được anh hí? Để chứng tỏ mình chưa già thì nên cởi bỏ tính khó khăn. Băng hăng bó hó như khỉ ăn ớt thì nên buông xả, tướng anh lăng xăng như gà mắc đẻ thì em ưa hơn. Sông Saint Laurent muôn đời không bằng dòng Hương cũ, thức ăn ngon do một phần phong thuỷ vùng miền. Người miền Nam dễ thương vì đất đai trù phú, anh để tâm chuyện bao đồng tứ tung bát giác tự làm khổ thân vì lỡ chịu làm người đất cày sỏi đá, có đúng không?

Luận chuyện địa lý với con người muôn năm không rốt ráo, đúng sai đầy rẫy ở giữa những ví von. Ở trong Nam bị tình phụ chắc họ không chín đỏ trái sầu mạnh miệng “Sức mấy mà buồn. Bỏ đi Tám”, chớ người Trung như anh thì biến cố nọ có thể ví như mùa xuân đại bại. Nói thiệt nghe gặp lại em anh mừng húm, như kiểu vượt biển tới được đất liền. Nôm na anh hồi sinh, diễn nôm anh thấy ánh sáng cuối đường hầm. Nì, anh ước chi mình được trốn sau cái bông mãi rung động trên ngực áo em. Bu hoài, gỡ không ra, đi tới mô theo luôn tới chốn nớ, áo sờn cũ áo phai nhàu cũng còn lưu dấu vết, ngoại trừ…

Ngoại trừ cái chi?

Ngoại trừ em cởi áo ra, dấm dúi đâu đó mới chịu cảnh xa mặt cách lòng.

Lâu ni anh có đụng tới thuốc thang chi không?

Không, nói cho đúng là chưa tới hồi, chưa lật trang.

Tiểu đường, cao huyết áp, tiền liệt tuyến, đau lưng mỏi chắc, gối lỏng chân run?

Chưa nghe rục rịch chi cả, ba cái thứ chết tiệt ấy còn ngủ, chưa thức giấc mè nheo. Em hỏi chi rứa, nghe như bác sĩ gia đình. Em mà làm bác sĩ anh sẽ nguyện bôi trơn tuần khám hai lần trút bỏ xiêm y cho lương y như từ mẫu săm soi lật sấp lật ngửa.

Ăn xong anh tính mần chi?

Dụ khị em đi bát phố.

Rồi răng nữa?

Mình ghé một cửa hàng thời trang nào đó để ngắm một cái váy bắt mắt chẳng hạn.

Tính móc hầu bao mua tặng em?

Không, để làm cuộc đổi chác. Em mặc chiếc áo mới còn cái đang bận trên người xin hãy trao cho anh. Về nhà anh lộng kiếng anh treo tường anh làm viện bảo tàng anh trưng bày “tội ác của Mỹ Nguỵ”. Anh thôi tơ tưởng tới thi ca: Người về ta chẳng cho về, ta nắm vạt áo ta đề câu thơ.

Ui chào, thi nhân thảy đều dại khờ, ghi lại tang chứng vật chứng rành rành như rứa đó thì làm răng dối mẹ qua cầu gió bay, chạy trời cách chi cho khỏi nắng? Xem chừng lời đề nghị của anh có vẻ hợp lý hơn, nhưng mà…

Lại nhưn với nhuỵ, lại kiếm cách lui quân lại kiếm cớ hoãn binh. Đàn bà luôn thông minh hơn đàn ông ở cái khoảng họ luôn có ngàn lẻ một phương án để chạy làng, để ra đi trong trật tự, để xuống thuyền mà nước mắt không như mưa, cười nắc nẻ là đằng khác.

Anh ngồi quây lưng với đời sống đang luân lưu trôi chảy bên ngoài cửa kính, cái gì đang đọng vô mắt anh?

Gần là ảnh chụp cầu Trường Tiền, xa là mũi tên chỉ bày đâu là nhà vệ sinh, đề huề trai bên trái gái bên phải.

Răng anh chẳng hỏi em thấy những gì bên ngoài cảnh giới hoang đường? Một trạm đợi xe buýt, một tiệm bán thuốc Tây và một mũi tên sơn đỏ có ghi chữ Hotel. Ăn xong anh có thích ngậm tăm vào đó không?

“Giờ đứng lại và bây giờ rất lạ
Phút trùng lai là ngó vội nhau và”.

Bùi Giáng vẫn có những câu thơ thần sầu như rứa đó. Chữ “ngậm tăm vào đó” của em cũng tám lạng nửa cân. Rõ chẳng hàm oan, em đã mang nguyên một Huế di dời xao động đặt để trước mặt anh. Em tựa một cổ vật nhà Nguyễn còn sót lại đợi bước sang thế kỷ mới, mới trao tay anh. Cổ vật không có giá, nó vô giá. Nó khiến anh phải nhìn nhận bao hao hụt của một thứ “hoang phế tà dương”, bao suy suyễn gấp nếp tàn phai và anh ôm nó trong đôi tay với tất cả những chân tình anh có được. Cảm động làm người ta dại khờ, người ta bấn loạn và người ấp úng: Cám ơn em Công Tằng Tôn Nữ Cố Đô.

Em băng ngang lòng đường không đợi chờ đèn xanh đèn đỏ, mắt anh chỉ thấy ngọn tỏ ngọn lu. Chiếc váy hoa rộn ràng hớn hở theo chân bước thuỷ chung xô động một hương mùi. Đó là chân đi về miền quá khứ dắt anh lộn lui một ước nguyện không thành. Em sẽ bước vào hành lang thâm u trong khách sạn, chiếc váy cởi ra nhăn nhàu những nụ hoa in sơn đủ loài này tường vi nào thược dược nào cẩm chướng…

Làm chi mà như rùa bò. Em nói. Những bậc cấp đâu nhiều, tầng một đâu cao mà sao anh đi chậm lụt như qua một chiếc cầu gãy nhịp. Địa ngục phía dưới, thiên đường thường phải bước lên. Giữa đôi chân em, trên cao, lấp ló chiếc quần lót màu xanh trong váy rộng. Đêm trăng vườn cũ nội thành đang hiện về giữa giấc trưa. Mê mệt. Rồi hai con thú tật nguyền sẽ ráng sức đền bồi cho nhau. Chết bỏ bể bỏ. Trăng lặn khuất và người mãi ôm giữ vết rạn trong tim, ngờ vực.

Hồ Đình Nghiêm

Mme Nhu – Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 18 Sep 2026

Năm 1943, Tống Mỹ Linh, vợ của Thống chế Tưởng Giới Thạch, đi dọc nước Mỹ, từ Bờ Tây sang Bờ Đông, New York đến California. Hành trình của bà rất giống với hành trình của bà Nhu hai mươi năm sau. Người ta cũng gọi bà Tưởng là Rồng Cái – vì sự quyết tâm, bạo dạn, và cố tình quyến rũ. Và giống như bà Nhu, bà Tưởng cũng tham gia cuộc viễn chinh chống lại mối đe dọa đen tối do Chủ nghĩa Cộng sản đặt ra cho đất nước bà.

Nhưng bối cảnh thì khác. Chuyến đi thăm năm 1943 của bà Tưởng diễn ra chưa đầy hai năm sau vụ tấn công Trân Châu Cảng. Người phụ nữ Trung Hoa yểu điệu này xuất hiện ở phòng họp Thượng Viện Mỹ khắc họa nên một dáng vẻ thu hút; bà là nhân vật gây nhiều cảm hứng cho người Mỹ – họ đã chiến đấu chống kẻ thù chung trong Thế chiến thứ hai: Nhật Bản. Nếu bà Tưởng nói Cộng sản là một mối đe dọa khác đối với an ninh của Trung Hoa, nước Mỹ sẵn sàng tin bà. Công chúng Mỹ say mê cách ăn mặc của bà, cách bà phát biểu, và thậm chí vấn đề vệ sinh và trang điểm hàng ngày của bà. Báo chí cập nhật từng chi tiết chuyến đi của bà.

Dù vẻ ngoài lạ lẫm, với đôi mắt hình lưỡi liềm, tóc đen mượt, và dạng người nhỏ thanh mảnh, bà Tưởng vẫn khá quen. Bà từng đi học ở Wellesley. Bà biết cách nói chuyện với người Mỹ. Đây không phải là chuyến đi đầu tiên của bà đến nước Mỹ, và bà đã quen với văn hóa của nó.

Bà Tưởng hiểu một nghịch lý của Mỹ đã khiến bà hoài nghi một cách tự nhiên về cách mình được đối xử. Trong kinh nghiệm của bà, người Mỹ có thể thú nhận bị mê hoặc bởi câu chuyện lãng mạn phương Đông nhưng vẫn giữ thái độ phân biệt chủng tộc và trịch thượng. Bà Tưởng nổi giận với bất kỳ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay thái độ trịch thượng mặc nhiên nào vì bà là người Trung Hoa, và bà nhất định đòi hỏi phải có những nghi thức long trọng trong suốt chuyến thăm Hoa Kỳ của bà. Giống như bà Nhu, về lý thuyết bà Tưởng không phải là vợ của quốc trưởng danh nghĩa: Tưởng Giới Thạch là người có nhiều chức vụ, nhưng chức chủ tịch Trung Hoa không nằm trong số đó. Bất chấp điều đó, đích thân Tổng thống và Phu nhân Roosevelt chào đón bà Tưởng khi chuyến tàu lửa của bà dừng bánh trên sân ga ở Washington, D.C. Bà ngồi trên xe của họ chạy tới Nhà Trắng. Tại đây có một lần vợ chồng Roosevelt mời bà qua đêm tại Phòng Hồng và chuẩn bị giường cho bà với những tấm trải lụa cho hợp với làn da nhạy cảm của bà. Trong suốt chuyến đi, gần như mỗi tháng một đêm, vợ chồng Roosevelt lại mời bà Tưởng đến ăn tối với họ. 1

Trái ngược hoàn toàn, bà Nhu vẫn đang nhận sự đối xử lạnh lùng từ bộ máy hành chính Kennedy và toàn bộ chính phủ Hoa Kỳ.

Bà Nhu đến Washington, D.C ngày 15 tháng Mười năm 1963. Bà đã nói chuyện với sinh viên Đại học Princeton ở bang New Jersey sáng hôm đó, và ngày hôm trước ở Đại học Cambridge, Massachusetts, trường Luật Harvard và Radcliffe College. Bà sẽ mất thêm một tuần nữa ở Bờ Tây, ở giữa và chung quanh thủ đô của quốc gia này, trước khi bay đến Chicago. Một lịch trình mệt nhoài. An ninh tăng cường đã được thực hiện; có lẽ do dự báo những cuộc biểu tình phản đối sẽ còn tệ hơn ở Washington so với ở New York. Do đó bà Nhu có cả đoàn tùy tùng theo sát bà đi qua Hạt Columbia và các vùng phụ cận. Bà cùng con gái đi trên chiếc xe dẫn đầu, một chiếc limousine dài màu đen, được cảnh sát mở đường, chặn xe cộ; thậm chí đoàn xe hộ tống của Tổng thống Hoa Kỳ cũng phải ngừng lại, chờ bà đi qua. Nghe cách bà Nhu tự hào nhớ lại điều đó năm mươi năm sau, bạn sẽ nghĩ bà là Moses rẽ Biển Đỏ để đi qua.

Bà Nhu bước lên thềm nhà cha mẹ bà vào tối thứ Tư, một ngày sau khi đến Washington. Ngôi nhà mới của vợ chồng ông Chương thật khiêm nhường. Sau khi bỏ lại sau lưng những phù hoa của Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa hồi tháng Tám, người cựu đại sứ và vợ mình lui về sống ở một con phố cây xanh hai bên đường trong một khu dân cư của vùng Đông Bắc Washington. Ngôi nhà gạch kiên cố có hai tầng và chỉ có năm phòng. Nó là một ngôi nhà khá thoải mái, nhưng đối với đôi vợ chồng mang dòng máu hoàng tộc trong người đã quen sống có kẻ hầu hạ và xa hoa tột bậc, thì ngôi nhà trung lưu kiểu Mỹ này chắc hẳn là sự xuống dốc thê thảm.

Không phải nỗi nhớ nhà đã đưa bà Nhu đến trước cửa nhà họ, tuy bà biết rằng cha bà, trong diễn văn từ chức chứa đầy danh dự, đã nghẹn ngào khi nhắc đến con gái mình. Bà nghi ngờ cảm xúc của cha bà. Giữa công chúng ông Chương chỉ nhắc đến bà là Madame Nhu. Ông nói với các phóng viên rằng ông đơn giản là “không muốn biết tin cô ta”. Thực vậy, ông và vợ ông cảm thấy có bổn phận nói lên quan điểm của mình để “đánh tan mùi hôi thối” mà con gái họ đã gây ra. Cựu Tổng thống Harry Truman, mà con gái ông bằng tuổi bà Nhu, nghe nói đã nồng nhiệt khen tặng ông Chương đã đối phó xuất sắc với đứa con gái dữ dội của mình. 2

Ông Chương tìm cách xem thường con gái mình trong vai trò Đệ nhất Phu nhân. Cô ta “không có thứ quyền lực mà người ta nghĩ là cô có”, ông sụt sịt khi được hỏi về sự vận hành bên trong của chính quyền Sài Gòn. Trong buổi phỏng vấn của CBS được phát trên truyền hình mạng lưới, ông trình bày chi tiết hơn. Người sếp chín năm của ông, Tổng thống Ngô Đình Diệm, chỉ là người đứng mũi chịu sào. Quyền lực thực sự ở Việt Nam thuộc về em trai ông và là con rể của ông Chương: Ngô Đình Nhu. Bà Nhu có thể đã bị tiêm nhiễm căn bệnh “cuồng điên quyền lực” như chồng mình, nhưng cô ta “chỉ là cái bóng”. 3

Ông Chương đang tìm cách làm cho con gái mình trở nên tầm thường, nhưng ông đã thất bại.

Thay vào đó ông tái xác nhận những gì người Mỹ đã đi đến chỗ nghi ngờ và sợ hãi: rằng kết hợp với nhau vợ chồng ông Nhu có quyền lực cực kỳ lớn so với ông Diệm. Điều đó khiến cho bà Nhu có thêm, chứ không bớt, ảnh hưởng.

Những lời sỉ nhục vẫn còn gây kích động. Khi một nhà báo người Ý hỏi ông Nhu về cha vợ của mình, ông Nhu bày tỏ quan điểm của ông và vợ ông. Chỉ có lần này ông mới để rơi mặt nạ, và lời lẽ của ông thể hiện sự bạo lực trả thù vốn dường như hoàn toàn xa lạ với một người quản thủ thư viện thận trọng mà ông từng chứng tỏ. Nếu ông Chương trở về Sài Gòn, ông Nhu thản nhiên nói, như thể nhận xét thời tiết, “Tôi sẽ cho cắt đầu ông ta. Tôi sẽ treo cổ ông ta và để ông ta lơ lửng giữa quảng trường. Vợ tôi sẽ thắt nút sợi dây thừng vì cô hãnh diện là người Việt Nam và cô là người yêu nước thực sự”. 4

Ngôi nhà tối om khi chiếc limousine tấp vào bờ tường. Lệ Thủy rung chuông cửa nhà ông bà ngoại trong khi mẹ cô đứng ngay sau lưng. Bà Nhu đứng chống nạnh, khuất tầm nhìn của người trong nhà khi nhìn qua khe lỗ khóa. Có thể nhìn thấy một ống quần lất phất qua khe tà áo dài, chân giày cao gót gõ nhẹ – vẻ nôn nóng và căng thẳng. Bà Nhu đóng vai đứa con gái hờn dỗi rất hoàn hảo. Chỉ hai ngày trước bà thậm chí đã là một người như vậy khi bà rên rỉ với các phóng viên NBC trong chương trình Meet the Press về cách mà cha bà đã thể hiện chống lại bà từ thuở nhỏ.

Bực bội vì chờ đợi, bà Nhu kéo Lệ Thủy qua một bên, rồi cong mấy ngón tay gõ cửa. Vẫn không có hồi đáp. Bà Nhu nhạy bén biết có khoảng hai chục phóng viên theo sát bà đến đây đang chăm chú từng cử động của bà. Đèn lóe lên, hắt ánh sáng lên những đường viển màu trắng của ngôi nhà, bắt lấy hình ảnh Đệ nhất Phu nhân đang khiêm nhường đứng đó. Giờ này bà Nhu đang phẫn nộ vì bị phớt lờ – và lại bị phớt lờ trước đám đông. Bà xoay lưng lại và đi nhanh ra sân sau. Chọc những cái lỗ trên bãi cỏ bằng đế giày nhọn, bà rảo bước về phía cổng sau, ở đó bà băng lên mấy bậc hiên và nhìn chăm chú vào trong nhà qua cửa sổ.

Những căn phòng tối om và những bức tường bên trong gần như trống trơn. Bà có thể nhận ra những chiếc ghế mượn tạm mà cha mẹ bà đang sử dụng hay căn phòng không trải thảm. Tấm ảnh chụp hai vợ chồng dựa vào cái chụp đèn, và họa phẩm duy nhất là bức tranh lụa thanh nhã vẽ đôi bàn tay của bà Chương. Có lẽ còn có những cái hộp chưa mở. Khi vợ chồng ông Chương rời khỏi Tòa Đại sứ, chắc chắn họ đã đem theo nhiều thứ hơn chứ không phải chỉ thế này – như bộ sưu tập sách, bình lọ và họa phẩm Á châu. Tấm ảnh chụp gia đình từng treo ở vị trí nổi bật trong Tòa Đại sứ, tấm ảnh chụp bà Nhu khi còn là cô bé nắm tay cha mẹ, giờ không thấy đâu nữa. Có một cái máy quay đĩa nhỏ mà ông Chương từng để bên cạnh bàn làm việc của mình ở Tòa Đại sứ. Ồng dùng nó thường xuyên để nghe các vở kịch của Shakespeare. Chúng “đầy minh triết”, ông nói; ông Chương thích nghe những câu chuyện kể hàng thế kỷ trước và tìm cách làm cho những thức nhận của chúng thấm sâu vào trong hành vi con người. Vở bi hài kịch tự nó đang diễn ra trong đời thực trên bãi cỏ trước nhà ông có tất cả sự khẩn thiết – và tiềm tàng sự hủy diệt – của màn chót một bi kịch Shakespeare. 5

Đó là tất cả những gì mà người làm báo ở Washington có thể làm để bám sát Đệ nhất Phu nhân khi bà lẻn vào cơ ngơi của cha mẹ bà. Bà Nhu cảm thấy khó chịu. “Thật không hiểu nổi. Mới hồi nãy tôi còn gọi điện nói chuyện với ai đó ở đây”. Nhưng giây phút đó đã qua, và giờ đây vợ chồng ông Chương không có ở nhà hoặc họ đã làm một việc tuyệt vời là làm bộ không có ở nhà. Bà Nhu và Lệ Thủy thu người chui vào băng ghế sau chiếc limousine, và chiếc xe lao đi. Nó băng qua những đường phố vắng lặng của thủ đô cho đến khi đột ngột dừng lại trước Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa. Khi bà Nhu đi vào trước cửa và gõ mạnh, một dáng người mặc trang phục màu trắng mở cửa gần như ngay lập tức. “Châu!”, bà Nhu kêu lên. Sau đó, theo các phóng viên đến đúng lúc để chứng kiến cảnh đó, bà Nhu gieo người vào hai cánh tay của người đàn ông nhỏ thó. Sau này có người giải thích với báo chí rằng Châu là người đầu bếp của gia đình bà trong nhiều năm. Ông ta dẫn bà Nhu và Lệ Thủy vào trong tòa nhà, tránh xa đám báo chí soi mói. Tân đại sứ Việt Nam Cộng hòa từng nói với người Mỹ một cách tự tin rằng ông không quan tâm nhiều đến Đệ nhất Phu nhân, nhưng ông đủ khôn ngoan để thết đãi một bữa ăn tối đàng hoàng – công việc của ông, nếu không muốn nói là của cả đời ông, đã gặp nhiều hiểm nguy nếu làm khác đi. Và bởi vì nhà ngoại giao mới nhận chức để ông Châu tiếp tục làm việc sau khi vợ chồng ông Chương ra đi, bếp núc ở đây có lẽ vẫn đầy sẵn những nguyên liệu để làm ra những bữa ăn mà bà Nhu từng ưa thích khi còn nhỏ – có thể là món phở bắc đuôi bò vị cây hồi hay những viên chả heo nướng bọc lá diếp thơm mùi bạc hà. Hương vị gia đình sau cùng của bà Nhu không đến từ cha mẹ bà, những người bỏ bà đứng trong giá lạnh, mà từ người đầu bếp họ từng thuê. Đó là một gợi nhớ cay đắng dù cũng quen thuộc, như tuổi thơ của bà quay lại lần nữa từ đầu, khi cha mẹ bà bỏ bà trong trang viên của ông bà nội và giao cho hai người vú nuôi chăm sóc.

Khi bà Nhu còn ở châu Âu trước khi đến Mỹ, mẹ bà đã gọi một cố vấn thân cận của Tổng thống Kennedy đến ngôi nhà mới của bà dự một cuộc họp “sống còn”. Khi ông ta đến, bà nói thẳng: Yêu cầu ông Kenney loại bỏ anh em họ Ngô. Ông Diệm bất lực; em trai ông, ông Nhu, là un barbare (tên man rợ). Về đứa con gái của bà, bà Chương nói rằng bà đã khuyên mọi người trong cộng đồng người Việt ở New York và Washington “lấy xe hơi” tông bà Nhu khi bà ấy đến. Nếu họ không dám làm việc đó, thì nên ném cà chua và trứng thối. Liếc qua vành tách trà, bà thề với ông cố vấn Tổng thống Kennedy rằng nếu Nhà Trắng không làm gì để bịt miệng bà Nhu, thì bà, bà Chương, hoàn toàn có thể tổ chức “một cái gì đó chống lại con quái vật này”.

Cuộc trò chuyện đó được ghi lại đẩy đủ và xếp vào loại “mật”. Một viên chức có óc mỉa mai đã viết nguệch ngoạc bên cạnh tài liệu này: “Tình thương của mẹ”. 6

Trong mấy ngày tiếp theo ở Washington, bà Nhu đi ngược lại lời khuyên mà bà tiếp nhận từ Marguerite Higgins, phóng viên của tờ New York Herald Tribune. Người Đệ nhất Phu nhân này đã quay lại chỉ trích chính phủ Mỹ, một sự công kích dự tính sẽ cản trở và làm tổn hại đến chính quyền Đảng Dân chủ, mà bà buộc tội là mềm mỏng với Cộng sản. Một số người tự do giấu tên vây quanh Kennedy, bà nói, “chưa đỏ, nhưng hồng”.

Hơn nữa, đám đông có vẻ cảm thông với bà Nhu. Năm trăm người ngồi chật kín ở Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia để được nhìn thấy bà hôm thứ Sáu, ngày 18 tháng Mười. Cử tọa đó đã làm gián đoạn bài phát biểu của bà hơn hai chục lần bằng những tràng pháo tay – trung bình ba phút một lần khi bà Nhu ở trên sân khấu. Đáp lại, bà rừ rừ trong miệng và mỉm cười duyên dáng. Bà ngợp trong thiện chí của dân chúng Mỹ, bà nói. Tuy nhiên, bà vẫn còn chút buồn phiền và bất an. Chính quyền Kennedy tiếp tục đối xử lạnh nhạt với bà. Bà nói bà hiểu rằng đây không phải là chuyến công du cấp quốc gia. “Nhưng vẫn có cách thức để thực hiện những điều này”. Bà Nhu chọn giọng điệu “đau khổ thay vì giận dữ” và gợi ý chính quyền Kennedy có thể xử lý toàn bộ vấn đề, thực chất là toàn bộ chính sách liên quan đến Việt Nam Cộng hòa, tốt hơn một chút. Bà hàm ví rằng chính quyền này không thực sự biết nó đang làm gì và đang đối phó với ai. Những lời nói bóng gió của bà hẳn đã làm ông Kennedy điên tiết. Nhưng, như mọi khi, bà Nhu không sai.

——————————–

1Những chi tiết về cuộc viếng thăm Hoa Kỳ vào mùa xuân 1943 của bà Tưởng được mô tả trong Madame Chiang Kai-shek: China’s Eternal First Lady của Laura Tyson Li, (New York: Atlantic Monthly Press, 2006), 197-198.
2Về Trần Văn Chương nghẹn ngào trong diễn văn từ chức của ông, xem “Sad-dened Diplomat”, New York Times, 23 tháng 8, 1963.
3Về lời trích dẫn rằng bà Nhu “không có cái quyền lực mà người ta nghĩ là bà có”, xem Henry Raymont, “Diems US Envoy Quitsin Protest, “New York Times, 23 tháng 8, 1963. Về lời dẫn cho rằng ông Nhu là một lãnh tụ đứng mũi chịu sào và bà Nhu là cái bóng của ông, xem Joseph Wershba, cuộc phỏng vấn Trần Văn Chương trên CBS, New York Post, 18 tháng 10, 1963.
4Câu “Tôi sẽ cho cắt đầu ông ta” trích từ cuộc phỏng vấn của ông Nhu với tuần báo Ý Espresso; xem “Điện tín từ Lodge ở sứ quán Sài Gòn gởi đến Bộ Ngoại giao, 7 tháng 10, 1963, 7 p.m.”, Document 186, FRUS, 1961-1963, 4:385-386.
5Những mô tả về ngôi nhà và đổ đạc của ông Chương, xem Nan Robertson, “Ex-Saigon Envoy”, New York Times, 22 tháng 9, 1963.
6Cuộc trò chuyện của người hầu cận Kennedy với bà Chương về việc đã tông xe hơi vào bà Nhu, xem Document 18, September 17, 1963, FRUS, 1961-1963, vol. 4.

Đại tá Lục quân Anh H. Hà (gốc Việt), Sĩ quan điều hành chương trình Chiến binh Lực lượng đặc biệt (SOF Warrior), Bộ Tư lệnh lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ (USSOCOM)

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on January 26, 2024 by dongsongcu

22/01/2024

Post by Sơn râu 18 Sep 2026

Đại Tá lục quân Anh Hà (ảnh của tacticaldefensemedia.com).

Đại tá Lục quân Anh H. Hà chỉ huy điều hành chương trình chiến binh lực lượng đặc biệt (SOF Warrior) thuộc Bô tư lệnh hành quân đặc nhiệm Hoa Kỳ (USSOCOM) từ tháng 7 năm 2021. Ông mang cấp Thiếu úy năm 1996 qua một phần trong giai đoạn đầu của chương trình thụ huấn tại Học viện Quân sự Marion. Sau đó ông hoàn tất Văn bằng Cử nhân mỹ thuật tại Đại học tiểu bang Louisiana năm 1999 và được chuyển sang Lục quân với chức vu Sĩ quan bộ binh. Tháng 7 năm 2008, ông được thuyên chuyển sang Quân đoàn mãi dịch Quân đội Hoa Kỳ ( US Army Acquisition Corps )*, và là thành viên của chương trình huấn luyện công nghiệp Quân đội Hoa Kỳ, ông được thăng cấp Đại tá năm 2020.

Chương trình chiến binh lực lượng đặc biệt (SOF Warrior) thuộc Bô tư lệnh hành quân đặc nhiệm Hoa Kỳ (USSOCOM), một tổ chức của Quân đội đặc trách mua sắm các loại vũ khí công nghệ cao (SOF AT&L) được thành lập vào năm 1991, là trung tâm tiếp vận vũ khí công nghệ cao của lực Lượng tác chiến đặc biệt. SOF AT&L chịu trách nhiệm cho tất cả các hoạt động nghiên cứu, phát triển, mua sắm các loại vũ khí và chiến cụ công nghệ cao của Bô tư lệnh hành quân đặc nhiệm Hoa Kỳ. Ngoài ra, SOF AT&L còn hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, Học viện kỹ thuật và ngành công nghiệp nhằm đáp ứng nhiệm vụ cung cấp hỗ trợ tiếp nhận vũ khí công nghệ và tiếp vận nhanh chóng tập trung các loại vũ khí công nghệ cho các Chiến binh đặc nhiệm, mang lại năng lực hiệu quả cao nhất cho các Lực lượng tác chiến dặc biệt của Quân đội Hoa Kỳ.

Trong một năm, SOF AT&L chuyển giao hơn 100 phi cơ; 700 xe chiến thuật; 4.000 hệ thống vũ khí; 20 triệu đạn dược; 3.000 máy vô tuyến; 2.000 máy tính C4 chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc và tình báo; và 600 máy ISR tình báo, giám sát và trinh sát cho các đơn vị Lực lượng đặc biệt SOF.

SOF AT&L mua sắm và cung cấp vũ khí công nghệ cao trang bị cho các lực Lượng tác chiến dặc biệt của Quân đội Hoa Kỳ (ảnh của ndiastorage.blob.core.usgovcloudapi.net).

Đơn vị đầu tiên trong binh nghiệp của Đại tá Hà là làm Trung đội trưởng Trung đội bộ binh kiêm Đại đội phó Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 7, Sư đoàn 3 bộ binh tại Fort Stewart, GA. Năm 2000, đơn vị ông được điều động đến Kosovo. Nhiệm vụ tiếp theo, ông phục vụ tại Schofield Barracks, HI, Sư đoàn 25 bộ binh, nơi ông giữ chức vụ Sĩ quan kế hoạch ban 3 tham mưu, tiếp liệu Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 35 bộ binh tại Afghanistan năm từ 2004 đến năm 2005, sau đó ông làm Đại đội trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 35 bộ binh tại Irag năm từ 2006 đến năm 2008.

Khi được chuyển sang phục vụ tại Quân đoàn mãi dịch quân đội Hoa Kỳ, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ quan trọng của ngành bao gồm: Phó phòng phản ứng nhanh TARDEC tại Detroit Arsenal, MI; Phụ tá Giám đốc sản xuất loại xe địa hình chống phục kích bằng mìn (MRAP) (M-ATV) tại Detroit Arsenal và Afghanistan, chuyển tiếp các hoạt động ở Kandahar bộ phận xe MRAP, điều phối viên hệ thống Quân đội (DASC) tại Ngũ Giác Đài; Phụ tá Giám đốc điều hành tiền phương của Quân đội (ASA(ALT) tại Kuwait; Phó Giám đốc mải dịch và quản lý hệ thống (DASM) của ASA(ALT); Giám đốc chương trình USSOCOM về chống phổ biến vũ khí hạt nhân tại căn cứ Không quân MacDill; Chỉ huy phó ASA(ALT) tại Ngũ Giác Đài kiêm Chỉ huy phó sản xuất và phân phối cung cấp cho chiến dịch Warp Speed tại Washington DC.

Đại tá Anh Hà trả lời cuộc phỏng vấn của SOF Week (ảnh của militaryembedded.com).

Đại tá Anh Hà tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân mỹ thuật Học viện quân sự Marion; Văn bằng Cử nhân triết học và xã hội học-Đại hoc-Louisiana State University A&M; Văn bằng Cao học**quản trị kinh doanh và quản lý hợp đồng-trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School in Monterey, CA); Văn bằng Cao học nghiên cứu chiến lược- truòng Đại học Lục quân Hoa Kỳ (US Army War College in Carlisle Barrack, PA). Ngoài ra ông còn thụ huấn các khoá học chuyên môn quân sự khác như: khoá căn bản sĩ và cao cấp Sĩ quan bộ binh; Trường Combined Arms and Services Staff School; Khoá học Chỉ huy chống chiến xa; Khoá học cao cấp sinh học hạt nhân và hoá học; Khoá học chỉ huy xe chiến đấu bộ binh Bradley; Khoá học căn bản và trung cấp về mãi dịch; Khoá học giáo dục quân sự chuyên nghiệp cấp I&II.

Đại tá Anh Hà được ân thưởng các loại huy chương: Huy chương Bronze Star Medal***, huy chương Defense Meritorious Service Medal, huy chương Meritorious Service Medal, 3 huy chương Army Commendation Medal; 2 huy chương Army Achievement Medal, huy chương Iraq Campaign Medal, huy chương Afghanistan Campaign Medal, huy chuong Kosovo Campaign Medal, huy chương Global War on Terrorism Expeditionary & Service Medal, huy chương NATO Medal và huy chương Humanitarian/Armed Forces Service Medal, cùng với các huy hiệu bằng biệt động quân, bằng tác chiến bộ binh, bằng chuyên nghiệp bộ binh và bằng nhảy dù.

Đại tá Anh Hà là 1 trong 28 Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm, 25 vị hồi hưu****. Riêng về tướng Lục quân gốc Việt hiện có 2 vị, đó là là Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia và Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021. Hy vọng sẽ có thêm Đại tá Lục quân gốc Việt được đề cử thăng cấp Chuẩn tướng trong thòi gian tới.

Chúc Đại tá Anh Hà thăng tiến trên đường binh nghiệp.

Chú thích: *tương tự như Cục mải dịch, Tổng cục tiêp vận Quân lực VNCH; **Văn bằng thạc sĩ; ***Bronze star Medal là huy chương cao quý hạng thứ tư, dành để trao tặng cho những Quân nhân dũng cảm.****có thể hơn 25 Đại tá Lục quân gốc Việt hồi hưu

Nguồn: tacticaldefensemedia.com; sofweek.org; smgconferences.com; asc.army.

Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương

Tameichi Hara

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

TRẺ xuất bản 1974

Post by Sơn râu 17 Sep 2026

Cuộc đổ bộ đảo Christmas đánh dấu sự kết thúc giai đoạn đầu tiên các cuộc hành của Nhật Bản ở Đông Nam Á. Mặt trận Thái Bình Dương cũng lắng dịu hơn một tháng sau ngày đổ bộ.

Vào ngày 3 tháng 4, chúng tôi được lịnh rời bỏ nhiệm vụ hộ tống soái hạm Naka gần Surabaya và kết hợp với hạm đội ở biển Java. Ngày kế, chúng tôi đến Batavia và trưa đó lên đường đến Macassar. Nơi đây chúng tôi lưu lại năm ngày để kiểm soát lại máy móc và vũ khí. Thành phố nầy nhộn nhịp, cửa hàng buôn bán tấp nập với mọi loại nhu yếu phẩm khó tìm thấy ở Nhựt trước đây.

Đa số dân chúng Nhựt đều tin tưởng Nhật Bản sẽ tự tìm kiếm một nền hòa bình vào mùa xuân năm 1942, thay vì cho đợi các điều kiện hòa binh do Đồng Minh đưa ra sau khi chúng tôi vẫy những lá cờ trắng. Nhưng những tháng đầu năm 1942 trôi qua và Chánh Phủ Nhật không hề mưu tìm một nền hòa bình nào hết. Thật vậy, các chính trị gia và các nhà lãnh đạo quân sự Nhựt đều khăng khăng tin tưởng việc chiếm đóng Đông Nam Á trở thành vĩnh viễn, với nguồn tài nguyên vô tận của khu vực vĩ đại nầy, Nhật Bản sẽ không thể nào bị đánh bại.

Từ Macassar chúng tôi chạy đến Surabaya, và cuối cùng vào ngày 17 tháng 4, chúng tôi được lịnh quay về Nhật Bản. Mọi người đều hớn hở, những thủy thủ bị động viên mơ mộng được giải ngủ. Họ cũng hy vọng chiến tranh chấm dứt. Nhiều sĩ quan có thể không nhìn thấy các viễn cảnh màu hồng nầy, nhưng được dịp trở về quê hương đã khiến họ vui mừng không kém gì binh sỹ.

Chúng tôi rời khỏi Surabaya để trở về Macassar và ngày hôm sau chúng tôi kết hợp với một nhóm khu trục hạm hộ tống một đoàn tàu chuyển vận đồng, dầu hỏa và thực phẩm về Nhựt. Chuyến đi bình thường nhưng đầy hân hoan. Khi tiến vào hải phận của xứ sở, và nhìn thấy bóng dáng các hòn đảo Nhật Bản thấp thoáng ở chân trời, mọi người đều nhảy nhót vui mừng. Ngày 2 tháng 5, Amatsukaze và các khu trục hạm khác lặng lẽ chạy vào hải cảng Kure. Biển Nhật Bản với nhiều trăm hòn đảo lấm tấm là một quang cảnh chào đón đầy êm ả. Lũ hải âu dậy tiếng như chào mừng ngày chúng tôi trở về.

Nhật Bản không giống những xứ nóng khác. Vùng biển ở phía Nam như một rừng hoa rực rỡ dưới ánh nắng nung nấu và vạn vật đều óng ả. Trở về quê hương, tất cả màu sắc có vẻ dịu dàng, ve vuốt. Chúng tôi mất dịp ngắm mùa hoa anh đào nở vào đầu tháng 4, nhưng những lá non xanh mướt trên cành đối với chúng tôi chẳng khác nào những nụ hoa.

Ngày hôm sau, tôi ra lịnh mở rộng quầy hàng trên tàu, và mọi người muốn mua sắm bao nhiêu tùy ý. Đại úy Noro Iwabuchi, phụ tá của tôi, lên bờ để sắp xếp một bữa tiệc cho thủy thủ đoàn. Sau khi đặt 240 phần ăn ở nhà hàng Morisawa. Iwabuchi báo cáo với tôi rằng: “Nhà hàng cho biết là không chắc cung cấp đầy đủ phần ăn cho tất cả chúng tôi, bởi nhiều chiếc tàu bạn cũng mở tiệc tại các nhà hàng trong thành phố khiến thực phẩm trở nên khan hiếm, nhưng bù lại nhà hàng có rất nhiều rượu ngon.”

Khi bữa tiệc nầy được thông báo, thủy thủ đoàn Amatsukaze đều nhảy nhót vui mừng. Chỉ mười thủy thủ đoàn kém may mằn vì phải ở lại tàu đảm trách việc canh gác, tât cả số còn lại lên bờ vào lúc 17 giờ. Thành phố Kure phồn thịnh đầy dẫy thủy thủ, các nẽo đường hầu như bị họ dẫm nát.

Để hổ trợ nhà hàng, chúng tôi mang theo nhiều đồ ăn hộp. Chỉ có năm geisha phục dịch cho cả bữa tiệc hơn 200 người của chúng tôi, nên họ phải chật vật lắm mới cung phụng thức ăn và uống đầy đủ. Một vài cô geisha trong số nầy cũng đem vui vẻ thêm cho bữa tiệc qua các màn ca múa của họ. Rượu uống tự do làm bừng chí thực khách, nhiều thủy thủ của tôi nhảy ra tiếp tay bưng dọn với năm cô geisha, và họ còn ca múa nữa.

Tôi được mỗi thuộc cấp mời một ly rượu. Tôi không từ chối một ai. Tôi không biết mình đã uống bao nhiêu ly sake từ đầu cho đến khi bữa tiệc chấm dứt vào lúc nữa đêm, nhưng tôi cảm thấy còn đứng vững.

Ngày hôm sau, mỗi thủy thủ được cấp từ ba đến sáu ngày phép. Đi phép đợt ba, tôi đáp chuyến xe lửa đêm để về nhà. Tim tôi đập rộn ràng khi xe lửa tiến vào thành phố Kamakura vào sáng ngày 4 tháng 5. Những rặng thông bao phủ thành phố cổ 800 năm nầy đang thì thầm trong gió biển. Vợ tôi và ba con ra chờ đón tôi ở sân ga. Tất cả đều hân hoan thấy tôi trở về. Nhà tôi chỉ cách ga xe lửa 20 phút đi bộ, nhưng tôi cảm thấy lần trở về nầy là lần trở về vinh quang, và tôi gọi ngay một chiếc taxi.

Vào nhà, tôi mở ngay gói quà mà tôi đã mua từ miền Nam. Nhưng sô cô la làm cho các con tôi hớn hở vì ở đây hiếm khi có loại nầy. Buổi chiều hôm đó, ông bạn láng giềng lâu năm của chúng tôi là Tanzan Ishibashi sang thăm. Chúng tôi nhận lời mời dùng cơm tối với ông. Ishibashi là chủ nhiệm kiêm Chủ Bút Tạp Chí Toyo Keizai. Theo tôi, ông là một người thông thái và khôn khéo hiếm có, nhưng tôi không bao giờ tưởng tượng có một ngày ông cầm đầu Nội Các Nhật Bản.

Bữa cơm hoàn toàn vui vẽ. Sau đó, tôi với ông ngồi nhấm nháp sake. Là một kinh tế gia, ông muốn nghe tình hình ở Đông Nam Á. Ông hỏi: “ hải quân của chúng ta có đủ khả năng kiểm soát khu vực rộng lớn nầy và bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú ở đó, để cung ứng cho các cơ xưởng kỹ nghệ Nhật Bản hay không?”

Với một người nhìn xa hiểu rộng như ông, tôi không thể che đậy sự thật được. Tôi đáp: “chúng ta đã đạt được một số chiến thắng, việc nầy đơn giản là địch quân đã không biết yếu điểm của chúng ta. Cũng như tôi, chức ông biết khả năng sản xuất vô tận của Đồng Minh. Không có một chổ nào dành cho sự lạc quan của Nhật Bản trong cuộc chiến nầy.”. Ông chú ý những gì tôi thành thật trình bày. Chế độ kiểm duyệt hiện thời khiến ông không hiểu biết những sự thật của cuộc chiến nầy.

Vào năm 1956, ngay trước khi trở thành Thủ Tướng, cuốn sách viết về kinh nghiệm trong cuộc chiến của tôi ấn hành ở Nhựt đã được ông đề tựa với những lời khen tặng mà tôi nghĩ không xứng đáng nhận lãnh. Trong đó ông viết rằng cuộc đàm đạo buổi chiều vào năm 1942 đã khiến ông xem tôi như là một sĩ quan hải quân phi thường.

Sáu ngày phép trôi qua nhanh chóng. Có lịnh gọi tôi trở về tàu lập tức, để chờ đợi nhận sự bổ nhiệm mới không biết vào lúc nào. Để kéo dài thời gian gần gũi với gia đình, tôi mang tất cả đi theo tôi đến Kure vào ngày 10 tháng 5. Các con tôi tỏ ra thích thú vì được đi xa lần đầu tiên, nhứt là khi chúng tôi vào ngụ trong một khách sạn. Sắp xếp công việc xong xuôi, chúng tôi đi dạo phố hoặc leo núi.

Các bửa ăn ở câu lạc bộ sĩ quan thuộc căn cứ hải quân Kure đã làm cho cả gia đình tôi hài lòng, vì ở đây có những món ăn không thể tìm thấy trong thành phố, và nhiều năm sau nầy các con tôi vẫn còn nhắc nhở, đặt biệt vào những ngày thiếu thốn khi Nhật Bản đầu hàng.

Tôi về Kure được 4 ngày thì có lịnh thuyên chuyển hầu hết các thủy thủ đoàn của tôi. Tất cả các sĩ quan cùng phân nữa hạ sĩ quan và binh sỹ rời khỏi chiếc Amatsukaze. Mỗi ngày, các sĩ quan và binh sỹ đầy kinh nghiệm của tôi lần lượt lên đường sang các tàu mới, nhường tàu cũ cho các sĩ quan vừa ra trường và binh sỹ tân tuyển. Những cuộc hoán chuyển nầy thường xảy ra trong hải quân.

Tôi không hiểu Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã nghĩ như thế nào khi cho thi hành việc nầy. Thủy thủ đoàn đã được huấn luyện thuần thục của tôi bị chia manh xẻ mún, thật là một điều đáng tiếc. Các hạm trưởng khác cũng cảm thấy như tôi. Phải mất ít nhất hai tháng mới mong khép những tay lính mới nầy vào qui cũ, những kẻ chưa hề biết làm việc tập thể là gì. Và những gì sẽ xảy ra nếu ngay bây giờ họ được giao phó nhiệm vụ chiến đấu?

Khi kế hoạch hành quân Midway được tiết lộ vào ngày 20 tháng 5, tôi nghĩ Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã mất hẳn khôn ngoan. Tin tức gây ngạc nhiên nầy, tôi đã được đề đốc Raizo Tanaka cho biết riêng ở căn cứ hải quân Kure. Tôi lấp bấp hỏi: “Thưa Đề Đốc, như vậy nghĩa là sao? Chúng tôi sẽ tham dự hành quân với thủy thủ đoàn nầy à?”

Tanaka có vẻ chán nản: “Hừ…! Tôi mong chuyện nầy không có thật.”

Phân đội của Tanaka, gồm một tuần dương hạm và sáu khu trục hạm, lặng lẽ rời Kure vào ngày 21 tháng 5. Với tốc độ 20 hải lý, chúng tôi hướng về Saipan, nơi đây những “lịnh đặt biệt” đang chờ đợi chúng tôi. Ngày kế đó, tôi nghe tiếng la hét giận dữ và tiếng vật gì đó va chạm nên tôi bước lên sân tàu để xem. Tôi thấy Đại úy Kazue Shimizu, tân sĩ quan pháo thuật, đang to tiếng với một thủy thủ có lẽ đã phạm phải lầm lỗi, và sau đó Shimizu cung tay thoi anh nầy. Tôi tức giận hỏi: “Gì đó?.”

Shimizu xoay lại tôi, đôi mắt vẫn còn hằn học: “Thưa Trung Tá, tên nầy thấy tôi không chào. Tôi trị nó.”

Tôi hỏi tên thủy thủ: “Đúng như vậy không?”

“Đúng, thưa Trung Tá.” Hắn ấp úng đáp. Mặt hắn sưng phù vì nhận lãnh cái thoi vừa rồi.

Tôi hơi xúc động khi thấy thủy thủ nầy là Ikeda, quan sát viên được ban thưởng vì đã khám phá ra chiếc tiềm thủy đỉnh địch gần Surabaya. Tôi mạnh mẻ cảnh cáo anh ta và yêu cầu Shimizu theo vào phòng riêng của tôi. Hắn thoáng ngơ ngác nhưng vẫn im lặng đi theo tôi. Sau đó, tôi đóng cửa phòng và mời Shimizu ngồi trên chiếc ghế đẫu.

Tôi rất bực cảnh vừa rồi, nhưng tôi đã cố dằn xuống. Tôi nói:

“Shimizu, anh có thể hút thuốc, đây là câu chuyện giữa một người và một người, không phải giữa hạm trưởng và sĩ quan pháo thuật.

Tôi không muốn chỉ trích anh hoặc bảo vệ người lầm lỗi. Nhưng tôi phải trình bày rõ với anh là tôi không chủ trương duy trì kỷ luật bằng hình phạt thể xác. Tôi không hiểu phương pháp chỉ huy của hạm trưởng trước đây của anh như thế nào, nhưng tôi tin rằng một thủy thủ khu trục hạm phải hoàn toàn duy trì việc làm có tánh cách đồng đội. Đó là lối chiến đấu hữu hiệu nhứt. Tất cả 250 người trên chiếc tàu nầy phải làm việc như một người. Tất cả phải chung lưng đấu cật trong tình chiến hữu và sự hòa thuận”

Shimizu chăm chú lắng nghe, hình như hắn không hài lòng nhưng không nói ra.

“Duy trì việc làm đồng đội tốt và một trật tự thích đáng không phải dễ dàng. Nhưng tôi đã từng làm được mà không cần phải áp dụng hình phạt thân xác. Việc khó, nhưng phải làm cho được. Nếu thấy khó khăn, lần sau gặp trường hợp vừa rồi hãy báo cáo cho tôi biết để tôi quyết định.”

Shimizu im lặng nhìn xuống. Tôi nhấn chuông và yêu cầu ba sĩ quan cầm đầu ba ngành khác đến gặp tôi. Tất cả đều là người mới. Đại úy Shigeo Fujisawa, cơ khí trưởng, Trung úy Masatoshi Miyoshi, sĩ quan thủy lôi trưởng, và Đại úy Kinjuro Matsumoto, hoa tiêu trưởng, đến phòng tôi nhanh chóng. Mặt cả ba có vẻ khẩn trương, dĩ nhiên là do lịnh gọi bất thình lình của tôi. Tôi nói ngay: “Tôi vừa thấy Shimizu đánh một thủy thủ một cách ngang nhiên. Đây là lần đầu và cũng là lần cuối, tôi không muốn cảnh nầy tái diễn trên chiếc Amatsukaze. Tôi không cho phép đánh đập thủy thủ đoàn của tôi. Đó là lịnh cho quí vị.”

Tất cả rút lui, và lưỡi tôi như có vị chua chát. Tôi cảm thấy bực bội vô tả. Với một thủy thủ đoàn vá víu thế nầy, tôi làm sao đủ thời giờ khép họ vào qui cũ để tham dự một cuộc hành quân quan trọng sắp xảy ra? Tôi nhớ lại những kinh nghiệm đã trải qua ở Eta Jima những năm trước đây, và tôi vẫn không thể quên được những tên bịnh hoạn được trao quyền tự do đánh đập tôi.

Đánh đập người như đánh đập súc vật trên một chiếc khu trục hạm không khác nào tước đoạt sáng kiến của thuộc hạ. Trên một khu trục hạm, mỗi người đều phải đâu lưng làm việc, vì chỉ như vậy mới có thể đòi hỏi một thủy thủ khu trục hạm tận dụng năng lực của mình, thường thường gấp đôi, trong các cuộc hành quân.

Tôi quyết định dành nhiều thời giờ đích thân theo dõi công việc trên tàu. Tôi luôn luôn nghe la hét giận dữ, nhưng không thấy sĩ quan nào đánh đập thuộc cấp nữa.

Chuyến đi dài 1.400 dậm hoàn toàn yên tỉnh, và sáng ngày 25 tháng 5 chúng tôi đến Saipan. Mười sáu tàu chuyển vận khởi hành từ Truk chất đầy 3.000 binh sỹ bộ binh và 2.800 thủy thủ cũng đã đến. Trong hải cảng nầy còn có hơn chục chiếc tàu săn tiềm thủy đỉnh, tuần tiểu đỉnh, trục lôi hạm và tàu chở dầu. Ngày hôm sau, trong một cuộc hợp chiến thuật gồm các vị hạm trưởng, cuộc hành quân Midway được chánh thức công bố. Lịnh hành quân chi tiết được trao cho mỗi sĩ quan. Theo đó, chiếc Amatsukaze lãnh nhiệm vụ hộ tống lực lượng đổ bộ Midway.

Kế hoạch hành quân Midway có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 5 năm 1942. Ngày kế đó, Lực Lượng Đặc Nhiệm của Phó Đô Đốc Nagumo rời khỏi biển Nhật Bản trực chỉ đến Midway.

Từ Saipan, lực lượng đổ bộ được các khu trục hạm hộ tống lên đường vào ngày 28 tháng 5. Độ chừng tiềm thủy đỉnh địch thế nào cũng theo dõi, chúng tôi giả vờ chạy về hướng Tây, sau đó quay sang hướng Nam. Đồng thời với cuộc khởi hành của chúng tôi, phân đội của Đề Đốc Takeo Kurita, gồm ba tuần dương hạm và hai khu trục hạm cũng rời khỏi đảo Guam.

Thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp do chiếc siêu thiết giáp hạm tối tân Yamato, soái hạm của Đô Đốc Yamamoto, dẫn đầu rời khỏi biển Nhật Bản vào ngày 29 tháng 5. Ngày trước đó là ngày kỉ niệm thứ 37 cuộc chiến thắng hạm đọi Nga Sô ở eo biển Tsushima vào năm 1905 của Nhật Bản. Một điềm lành báo trước, nhưng qua linh tính, tôi cảm thấy có một cái gì sai lầm trong cuộc hành quân nầy và tim tôi như chùng xuống.

Sáu ngày nồi tiếp trôi qua đều đặn. Khoảng 6 giờ sáng ngày 3 tháng 6, một thủy phi cơ địch xuất hiện vài dậm phía trước đoàn tàu chốc lát rồi biến mất. Nhưng chắc chắn chiếc phi cơ nầy đã ghi nhận đoàn tàu của chúng tôi đang hướng về Midway, lúc đó chỉ còn cách phía Đông Nam hòn đảo nầy 600 dậm.

Vào xế trưa, nhiều phi cơ địch bay đến từ phía Nam. Soái hạm Jintsu của Tanaka khai hỏa. Phi cơ địch tránh ra xa, chờ khi tiếng súng dứt chúng quay lại. Jintsu vẫn khai hỏa, nhưng không trúng, và cuối cùng những phi cơ nầy bay mất dạng. Vì không được sự bao che của không quân, nên đoàn tàu của chúng tôi có vẻ nao núng. Nhá nhem tối phi cơ địch quày lại, và lần nầy bay xà thấp nên chúng tôi có thể nhận ra đó là 9 chiếc pháo đài bay B.17.

Tất cả các khu trục hạm đều khai hỏa. Không một phi cơ địch nào trúng đạn, và trước khi bay đi, các oanh tạc cơ 4 máy thả nhiều trái bom, rớt nổ cách chúng tôi 1.000 thước. Quá nữa đêm, bốn oanh tạc cơ địch lại xuất hiện và thả nhiều trái thủy lôi. Một trong những trái thủy lôi trúng ngay chiếc tàu chở dầu Akebono Maru, gây cho 11 người thiệt mạng và 13 người khác bị thương. Nhưng chiếc tàu không chìm vì khu vô nước được ngăn lại kịp thời, và có thể di chuyển theo đoàn tàu chuyển vận chạy chậm chạp.

Chúng tôi hiểu rõ đang phải đối đầu với một địch quân đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng các cố gắng ngăn chặn trước đoàn tàu của chúng tôi như vậy được xem là yếu kém và vụng về. Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo có thể nghiền nát địch quân với các quả đấm ngàn cân của nó.

Bình minh ngày 5 tháng 6, thời tiết u ám, mây giăng kín bầu trời, nhưng đứng gió. Đứng trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, mí mắt tôi nặng trĩu sau một đêm không ngủ. Với thời tiết nầy, nếu phi cơ địch thình lình từ trong các đám mây bay thấp xuất đầu lộ diện tấn công, thật khó cho chúng tôi chống đỡ. Tôi thức tỉnh qua tiếng nói từ phòng truyền tin phát ra: “Trung Tá, Lực Lượng Đặc Nhiệm chánh của chúng tôi gởi đi nhiều công điện khẩn cấp.”

“Mang tất cả lên đây cho tôi.” Tôi ra lịnh.

Vài giây sau, tôi nhìn chăm chú vào một mãnh giấy, tim tôi như ngừng đập. Công điện gởi đi của hàng không mẫu hạm Kaga: “chúng tôi bị bốc cháy.”

Những công điện kế tiếp báo cáo các cuộc tấn công có hiệu quả của địch quân vào hai hàng không mẫu hạm Soryu và Akagi, soái hạm của Phó Đô Đốc Nagumo. Sân tàu của ba hàng không mẫu hạm bốc cháy cùng một lúc! Tôi đang đọc những gì đây? Có phải tôi nằm mơ không? Tôi lắc đầu. Không, tôi hoàn toàn tỉnh táo. Tôi kêu trời và trao công điện cho các sĩ quan của tôi. Tay Đại úy Shimizu run rẩy khi lướt mắt trên các giòng chữ. Mặt Đại Úy Matsumoto xanh như tàu lá, trung úy Miyoshi có vẻ nghi ngờ.

Tôi nhìn quanh, đoàn tàu của chúng tôi đang lướt theo hình chữ chi. Tôi chắc các hạm trưởng và sĩ quan trên mấy chiếc tàu khác đã đọc những tin tức gây xúc động nầy. Dù choáng váng, chúng tôi vẫn phải tiếp tục kế hoạch đã sắp xếp, vì chúng tôi không hề nhận được lịnh thối lui.

Tin tức tiếp tục đến, và trong chúng tôi không còn ai nghi ngờ về sự thật đã xảy ra. Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo đã bị cắt nát ra từng mảnh. Nhưng chúng tôi đang muốn gì đây? Cơn buồn rầu của tôi vì sự mất mát ba hàng không mẫu hạm biến thành cơn thịnh nộ. Chúng tôi sẽ rơi vào bẩy nhu lực lượng chánh của chúng tôi?

Cuối cùng lịnh hành quân mang số 154 đến lúc 9 giờ 20 sáng, chỉ thị đoàn tàu chuyển vận của chúng tôi “tạm thời quay mũi về hướng Tây Bắc” và “tất cả các chiến hạm tấn công địch quân từ hướng Tây Bắc Midway.”. Các hộ tống hạm nhỏ và 16 chuyển vận hạm xoay chầm chậm theo đội hình, và chạy thẳng về hướng Bắc. Sáu khu trục hạm và một tuần dương hạm thuộc phân đội của chúng tôi gia tăng tốc độ lên 30 hải lý, trực chỉ Midway.

Cho dù hôm nay trời đứng gió, với tốc độ hiện thời, chiếc Amatsukaze lướt sóng ào ạt, tạo một màn mưa và bọt nước che mờ đài chỉ huy. Bây giờ tôi không còn cảm thấy lưỡng lự nữa. Lúc 10 giờ 10, lịnh hành quân 156 công bố “hoãn lại” kế hoạch chiếm đóng đảo Midway, và chỉ thị cho chúng tôi tiến sát vào bờ biển để pháo kích san bằng hòn đảo nầy.

Chúng tôi vẫn còn cách Midway 300 dậm, còn 10 tiếng đồng hồ nữa chúng tôi mới đến mục tiêu. Hình như đó là một thời gian khá dài, đủ để địch quân kịp thời chuẩn bị. Chúng tôi tiếp tục tiến tới, và vẫn tiếp tục nhận được các tin tức không mấy lạc quan. Lúc 14 giờ 30 ngày 4 tháng 6, báo cáo của chiếc Hiryu, hàng không mẫu hạm cuối cùng còn hoạt động của Nagumo, cho biết: “chúng tôi bị oanh tạc và bốc cháy.” Và lúc 16 giờ 15, Đô Đốc Isoruku Yamamoto ban ra lịnh thứ ba trong ngày, chỉ thị thành phần còn lại thuộc lực lượng của Nagumo tấn công địch quân vào ngay đêm đó. Lịnh nầy không những không đề cập đến sự mất mát tất cả các hàng không mẫu hạm của Nagumo, nhưng còn nhấn mạnh rằng “ hiện thời hạm đội địch đã bị tiêu diệt và tàn quân đang rút về phía Đông.”

Cho dù với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi về các biến cố trong trận đánh nầy, tôi cũng thấy lịnh của Yamamoto vừa ban ra có vẻ khó hiểu. Tôi nghĩ là ông đã mất sự sáng suốt. Nhưng ngay sau đó tôi hiểu ra, sở dĩ Yamamoto đã ban lịnh nầy đó chỉ là vì ông đang cố gắng ngăn chận sự sụp đổ tinh thần của các lực lượng dưới quyền của ông.

Lúc 21 giờ 30, Nagumo gọi vô tuyến báo cáo một tin tức khiến cho các lịnh đánh lừa của Yamamoto trở thành mỉa mai: “lực lượng của địch quân bao gồm 5 hàng không mẫu hạm, 6 tuần dương hạm và 15 khu trục hạm đang di chuyển về hướng Tây. Chúng tôi đang hộ tống chiếc Hiryu rút lui về hướng Tây Bắc.” Hai giờ sau đó, Yamamoto đưa ra một lịnh nữa, và ông vẫn chủ tâm tấn công địch quân. Lịnh nầy đến tay tôi khi toi đang nhìn thấy một chiếc tàu đang bốc cháy dữ dội, cách chiếc Amatsukaze khoảng 5.000 thước về phía Tây.

Tôi xem lại hải đồ và xác định chiếc tàu đang bốc cháy là hàng không mẫu hạm Akagi. Tôi nhớ lại quang cảnh một chiến hạm địch bốc cháy ở Java. Bây giờ đây là soái hạm của chúng tôi. Trái ngược biết bao. Trong trận hải chiến ở biển Java, cả hai, Nhật Bản và Đồng Minh đều vấp phải lổi lầm, nhưng ở Midway chỉ có một mình Nhật Bản lổi lầm mà thôi.

Trước nửa đêm không lâu, chúng tôi nhận được lịnh chấm dứt cuộc hành quân Midway, và chỉ thị chúng tôi sáp nhập vào lực lượng chánh của Yamamoto.

(Trận hải chiến Midway Nhật Bản bị đánh chìm 4 trong tổng số 6 hàng không mẫu hạm lớn nhất và hiện đại nhất của Hạm Đội Hổn Hợp các chiếc Akagi, Kaga, Soryu và Hiryu và một tuần dương hạm hạng nặng Chikuma.

Chiếc Kaga tiền thân là một thiết giáp hạm cùng nhưng vì các hiệp ước với Đồng Minh trong thập niên 20 nên được biến cải thành một hàng không mẫu hạm trọng tải 38.000 tấn, thủy thủ đoàn 2016 người. Về trang bị nó vẫn giữ được một phần võ trang của thiết giáp hạm gồm 10 khẩu đại bác 200 ly, 8 khẩu 127 ly và 22 khẩu phòng không 25 ly, nó có thể đạt tốc độ tối đa 29 hải lý, mang được tối đa 90 máy bay gồm 18 Zero, 37 Val và 37 Kate số lượng máy bay có thể thay đổi tùy theo các cuộc hành quân.

Hàng Không Mẫu Hạm Akagi, soái hạm của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo trong suốt các cuộc hành quân của Lực Lượng Đặc Nhiệm từ Trân Châu Cảng đến Midway, tiền thân là một kiểu thiết giáp tuần dương hạm lớp Amagi nhưng cũng vì hiệp ước với Đồng Minh nên cả hai được biến cải thành hàng không mẫu hạm nhưng chiếc Amagi bị động đất chôn vùi năm 1923. Chiếc Akagi hoàn tất vào năm 1935 như là một hàng không mẫu hạm hiện đại của Nhật Bản lúc đó, trọng tải 37.000 tấn, thủy thủ đoàn 2.000 người, võ trang giống như chiếc Kaga và cũng mang được tối đa 90 máy bay.

Hàng không mẫu hạm Soryu, đây là kiểu tàu trọng tải lớn được thiết kế đúng với tính năng của một hàng không mẫu hạm hiện đại, nó chỉ nặng 20.000 tấn quá bé nhỏ so với 2 chiếc Kaga và Akagi nhưng đây là hàng không mẫu hạm chạy nhanh, năm 1935 nó được trình làng và được xem là hàng không mẫu hạm chạy nhanh nhất thế giới lúc đó, nó đạt tốc độ đến 35 hải lý, thủy thủ đoàn 1100 người, võ trang gồm 12 khẩu 127 ly dùng để phòng không lẫn tự vệ chống tàu bé như khu trục hạm chẳng hạn, 26 khẩu phòng không 25 ly và 15 khẩu đại liên 13 ly phòng không, mang theo 57 máy bay nhưng có thể mang tối đa đến 80 chiếc.

Hàng không mẫu hạm Hiryu, chiếc tàu đàn em của Soryu, được cải tiến trên kiểu Soryu, trọng tải 20.000 tấn, nó cũng có những tính năng như Soryu nhưng trang bị đến 31 khẩu phòng không 25 ly và vẫn như Soryu nó cũng mang theo 57 đến 80 máy bay gồm Zero, Val hoặc Kate.

Nhật Bản cũng lên kế hoạch đóng tiếp 6 chiếc hàng không mẫu hạm thuộc lớp Soryu nhưng không hoàn tất được chiếc nào, ngoại trừ chiếc Unryu bị tàu ngầm Redfish đánh chìm trên chuyến hải trình đầu tiên của nó từ Manila về Kure vào ngày 12 tháng 9 năm 1944, vì lúc đó Hoa Kỳ đã tấn công vào Luzon mà công việc hoàn tất Unryu vẫn chưa xong. Unryu chìm mang theo hạm trưởngĐại Tá Kaname Konishi và 1318 sĩ quan và thủy thủ đoàn. Chỉ có 146 người được khu trục hạm hộ tống Shigure cứu sống, lúc nầy Hara đã hết làm hạm trưởng của chiếc Shigure. Các chiếc khác không hoàn tất được là Amagi (khác với Amagi đã bị động đất chôn năm 1923), Katsuragi, Kasagi, Aso, Ikoma vẫn còn nằm trên xưởng và bị phá bỏ vào năm 1946, trừ chiếc Katsuragi hoàn tất tháng 8 năm 1944 và nhận nhiệm vụ tháng 10 năm 1944 nó chở một số oanh tạc cơ B7A và B6N thực hiện nhiệm vụ Kamikaze và sau đó được dùng như là một tàu vận tải lớn để chở binh sỹ vì Nhật Bản đã mất hẳn ưu thế trên biển, sống sót sau chiến tranh và bị phá bỏ ngày 22 tháng 12 năm 1946, chiếc Karuma thì bị hủy bỏ từ năm 1943. Trong suốt cuộc Nhật Bản chỉ hạ thủy được thêm một mẫu hạm hạng nặng và tối tân nhất thế giới lúc đó, chiếc Taiho nhưng cũng bị đánh chỉ chỉ bởi 1 phát thủy lôi ở trận Leyte do thủy thủ đoàn quá thiếu kinh nghiệm điều khiển. Và một con quái vật trên biển nữa nhưng cũng chưa hoàn tất, siêu mẫu hạm Shinano, biến cải từ lớp thiết giáp hạm Yamato, Shinano được đóng ở Đài Loan nhưng tình hình bất lợi cho Nhật Bản nên nó được di dời về Nhật Bản để hoàn tất tiếp trên đường về thì bị tàu ngầm Archer-Fish của Hoa Kỳ đánh chìm ngày 28 tháng 11 năm 1944. Chiếc Shinano, trọng tải 70.000 tấn mang được tối đa 140 máy bay, trang bị cả rừng phòng không 16 khẩu 127 ly, 145 khẩu 25 ly và 12 ống rocket 127 ly. Tiếc là nó chưa có cơ hội chứng tỏ.

Tuần dương hạm Chikuma, 14.000 tấn, đây là một trong hai chiếc thuộc lớp Mogami, tuần dương hạm hạng nặng hiện đại nhất của hải quân Nhật Bản, nó đạt tốc độ 37 hải lý, trang bị 10 trọng pháo 203 ly trong 5 tháp súng, 8 khẩu 127 ly, 8 dàn 25 ly và 4 dàn 13 ly phòng không và 12 ống phóng thủy lôi 610 ly. Bị các oanh tạc cơ SBD của Hoa Kỳ đánh chìm trong trận Midway, Chikuma trúng trực tiếp 6 bom 750 cân Anh, chỉ có 240 người được các khu trục hạm cứu sống gồm có cả hạm trưởng Đại Tá Shakao Sakiyama bị thương nặng và thiệt mạng 3 ngày sau đó trong tổng số 850 thủy thủ đoàn.

Bốn hàng không mẫu hạm Nhật chìm trong trận Midway mang theo 250 máy bay và 400 phi công đầy kinh nghiệm của Nhật Bản qua các trận đánh không hải chiến lớn ở Thái Bình Dương, và hơn 2.000 thủy thủ được tôi luyện trong các chiến dịch lớn trước đó. Thiệt hại nầy không thể bù đắp được.

Về phía Mỹ, chỉ mất một hàng không mẫu hạm và một khu trục hạm cùng 175 phi cơ. Hàng không mẫu hạm Yorktown đóng năm 1934 và hoàn tất năm 1937, 25.000 tấn, chở được 90 máy bay các loại, tốc độ 33 hải lý, thủy thủ đoàn 2217 người. Hàng không mẫu hạm Yorktown đã bị thương trong trận hải chiến ở biển San Hô và đưa về Trân Châu Cảng sửa chửa cấp tốc trong ba ngày và quay lại tham chiến ở Midway, đây là một điều bất ngờ dành cho người Nhựt.

Khu trục hạm Hammann, hạ thủy năm 1938, đây là lớp khu trục hạm mới của Mỹ, trọng tải 2.200 tấn, trang bị 4 khẩu 127 ly, tốc độ 35 hải lý, thủy thủ đoàn 192 người. Khu trục hạm Hammann tham dự hầu hết các trận đánh lớn ở Thái Bình Dương và bị đánh chìm ở Midway bởi các thủy lôi do tàu ngầm I.168 phóng đi, một trong những trái thủy lôi đó đã kết thúc luôn chiếc Yorktown đang hấp hối sau cuộc oanh tạc của Nhật Bản và đã di chuyển hết thủy thủ đoàn sang các tàu khác. Trận Midway Mỹ chỉ thiệt mất 307 người trên các chiến hạm, bao gồm cả phi công.)

Trận đánh Midway là điểm xoay chiều giòng thủy triều của cuộc chiến Thái Bình Dương chảy xuôi về phía Đồng Minh. Nagumo bị đánh tơi tả ở Midway, điều nầy ai cũng công nhận, nhưng không có nghĩa là toàn hải quân Nhật Bản sụp đổ. Hạm Đội Hổn Hợp của Yamamoto chưa hề hấn gì, và Nhựt vẫn còn ít nhất bốn hàng không mẫu hạm, đủ sức đương đầu trên phương diện nầy với hải quân Hoa Kỳ.

Những gì sụp đổ thật sự cho Hải Quân Hoàng Gia theo xét đoán của tôi, chính là một loạt sai lầm về chiến thuật và chiến lược do Yamamoto đưa ra sau trận Midway, và qua những cuộc hành quân được Nhựt phát động khi Hoa Kỳ đổ bộ lên Guadalcanal vào đầu tháng 8 năm 1942.

Sau khi bắt buộc kết thúc cuộc hành quân Midway, Yamamoto đưa Hạm Đội Hổn Hợp của ông đến Truk và sau đó trở về xứ. Khi Hoa Kỳ tiến đánh Guadalcanal, lực lượng chánh của hạm đội Yamamoto đang buông neo gần Kure ở bờ biển Nhật Bản, cách mặt trận 2.700 dậm. Trong suốt các cuộc hành quân có tánh cách quyết định quanh Guadalcanal, Yamamoto đã tung hết đơn vị nhỏ nầy đền đơn vị nhỏ khác. Chiến lược của ông có vẻ không mấy sáng suốt. Chiến lược nầy đã phát triển như thế nào?

Tôi lại kết hợp với đoàn tàu chuyển vận vào ngày 10 tháng 6 tại hải vực phía Bắc đảo Midway 600 dậm, trong nhiệm vụ hộ tống đoàn tàu nầy đến Truk. Ngày 15, chúng tôi hoàn tất nhiệm vụ. Hai ngày sau đó, tất cả chiến hạm trở về Nhật Bản. Chúng tôi đến Yokosuka vào ngày 21 và ba ngày sau di chuyển đến Kure. Mọi người không được phép nói về trận Midway. Các chi tiết thật sự của trận đánh nầy được giữ “Tối mật” ngay đối với các sĩ quan chỉ huy. Một thông cáo chung của Tổng Hành Dinh Quân Lực Hoàng Gia Nhựt được đưa ra, đã thêu dệt quá mức con số thiệt hại của Hoa Kỳ, nhưng không đá động gì đến những mất mát của Nhựt, và thông cáo còn nhấn mạnh rằng trận đánh kết thúc trong sự thắng lợi của Nhật Bản.

Hạm đội hổn hợp đã trở về biển Nhật Bản nhưng không phải để tu bổ. Bởi vì, phải công nhận Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo đã mang những vết thương trầm trọng, nhưng các đơn vị quan trọng khác vẫn còn nguyên vẹn. Yamamoto muốn rèn luyện lại tinh thần binh sỹ của ông, sau khi họ đã nhận một cú đấm choáng váng mặt mày vào tháng trước đó.

Yamamoto và Bộ Tư Lịnh Tối Cao hải quân ở Đông Kinh không hề có chút hồ nghi nào về việc người Mỹ sẽ tung ra một cuộc tấn công quan trọng, nhắm vào Guadalcanal trong vòng hai tháng sau trận đánh Midway. Họ tin rằng Hoa Kỳ nếu có muốn tấn công thì sớm nhứt cũng phải giữa năm 1943 họ mới đủ sức.

Từ ngày 28 tháng 6 cho đến ngày 5 tháng 8, tôi lãnh nhiệm vụ giữ an ninh cho các tàu buôn Nhựt trong khu vực vịnh Đông Kinh. Công việc nầy dễ dàng, và nhờ đó tôi có dịp huấn luyện thủy thủ đoàn mới của tôi.

Việc rút Hạm Đội Hổn Hợp của Yamamoto về hải phận Nhật Bản ở thời gian nầy, quả thật là một sai lầm quá mức. Hầu hết các lực lượng của Hạm Đội nầy bị cầm chân ở Truk. Tuy nhiên chiến lược của Yamamoto không phải hoàn toàn dở. Hầu hết 104 khu trục hạm của ông có thời giờ nghỉ ngơi và tái huấn luyện. Đây là vấn đề tối cần thiết, bởi vì tất cả những khu trục hạm nầy sẽ tham dự vào hàng loạt các trận đánh dữ dội và đẩm máu kéo dài thêm hai năm nữa. Trong các trận đánh nầy, khu trục hạm đã nắm vai trò tiên phong lần đầu tiên, và có thể cũng là lần cuối cùng trong lịch sử.

Một sai lầm to tát khác là việc xé lực lượng khu trục hạm ra từng mảnh nhỏ để sử dụng ở quần đảo Salomon, và thường thường không có sự hổ trợ của các phi cơ hoặc các chiến hạm lớn hơn.

Dù vậy, các khu trục hạm nầy vẫn chiến đấu dũng mãnh trước các địch thủ vượt trội. Thêm vào nhiệm vụ chiến đấu, khu trục hạm còn lãnh nhiệm vụ chuyển vận binh sĩ. Những khu trục hạm được xưng tặng là “Chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh” thực sự là những con ngựa hùng hục kéo xe trên Nam Thái Bình Dương, và cũng vì vậy mà sự hao mòn không sao tránh khỏi. Từ khi cuộc hành quân Guadalcanal của Hoa Kỳ phát khởi vào ngày 7 tháng 8 năm 1942, cho đến trận “Dunkirk” của Nhật Bản (tức trận đánh quyết định trên hòn đảo nầy) vào ngày 7 tháng 12 năm 1943, 12 khu trục hạm Nhựt đã bị địch quân đánh chìm.

Riêng các cuộc hành quân liên tục ở hải phận quần đảo Solomon từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1943, tôi có tham dự trong tư cách hạm trưởng khu trục hạm Shigure, con số mất mát của loại tàu này cao hơn 6 tháng trước đó, vì địch quân càng lúc càng nắm ưu thế trên không và ra da của họ cũng được cải tiến. Chiếc Shigure của tôi là “Chuyến Xe Lửa Tốc Hành Đông Kinh” duy nhứt còn tồn tại mà không mất một thủy thủ nào qua các trận đánh ở hải phận nầy. Ba mươi khu trục hạm khác đều bị loại khỏi vòng chiến.

Các chiến hữu hải quân của tôi đã gọi chiếc Shigure (Xuân Vũ) là “Khu Trục Hạm Ma Quái” hoặc “Khu Trục Hạm Kiến Cố” và tôi có biệt danh “Hạm Trưởng Huyền Diệu”. Đây có lẽ là giai đoạn thực sự vẻ vang nhất trong đời binh nghiệp của tôi.

2.

Trung Hoa có câu tục ngữ: “Một con sư tử dồn hết sức mạnh để tấn công một con thỏ.” Hải quân Hoa Kỳ không khác nào con sư tử trong câu tục ngữ nầy, khi nó cố xé Guadalcanal và Tulagi vào bình minh ngày 7 tháng 8 năm 1942. Điều mỉa mai là phi trường Nhựt ở Tulagi vừa thiết lập xong ngày trước đó. Lực lượng phòng thủ của Nhựt trên đảo Tulagi ngoài 800 binh sĩ hải quân, được trang bị một vài pháo khẩu và một số đại liên, ở đây chỉ có 9 thủy phi cơ chiến đấu và 12 thủy phi cơ quan sát không võ trang.

Lực lượng Hoa Kỳ đã làm cỏ quân phòng thủ Nhựt ở Tulagi trong vòng hai tiếng đồng hồ, và chỉ với một tiểu đoàn quân của họ, quân Nhựt ở Guadalcanal cũng nhanh chóng chịu chung số phận. Lúc đó “Con Sư Tử” Nhật Bản tức Hạm Đội Hổn Hợp đang ngủ kỷ trên biển Nhật Bản cách hòn đảo nầy 2.700 dậm. Nhưng Yamamoto có một “con chó giữ nhà” nằm ở Rabaul. Đó là Đệ Bát Hạm Đội của Phó Đô Đốc Gunichi Mikawa.

Lực lượng của Mikawa, bao gồm 5 tuần dương hạm hạng nặng, 3 tuần dương hạm hạng nhẹ và một khu trục hạm, rời khỏi Rabaul lúc 15 giờ ngày 7 tháng 8, và tấn công lực lượng của Hoa Kỳ vào giữa đêm 8 tháng 8. Các chiến hạm của Mikawa đã đánh chìm 4 tuần dương hạm hạng nặng và gây thiệt hại nặng nề cho một tuần dương hạm và hai khu trục hạm của Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi trong một trận đánh kéo dài 30 phút. Mikawa chỉ thiệt mất tuần dương hạm Kabo (bị tiềm thủy đỉnh S44 của Hoa Kỳ đánh chìm hai ngày sau đó, khi các chiến hạm của ông đang di chuyển gần Kavieng). Mikawa đã đạt được một trong những chiến thắng trên mặt biển vang lừng nhất của cuộc chiến. Tuy nhiên, ông đã sai lầm khi bỏ qua không tìm cách tấn công các đoàn tàu tiếp tế cho Guadalcanal của Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, sự sai lầm nầy của Mikawa vẫn còn bị cả hai phía Đồng Minh và Nhật Bản bàn tán chê bai. Tuy nhiên theo tôi, Mikawa đã làm tròn nhiệm vụ “giữ nhà” của ông, và Yamamoto chính là người phải chịu trách nhiệm phần lớn lỗi lầm nầy, vì ông đã trói chân Hạm Đội Hổn Hợp của ông trong hải phận Nhật Bản.

Khi cuộc xâm chiếm của Hoa Kỳ được báo cáo về Nhựt, hai tai của “Con Sư Tử” bị quào, nhưng nó chưa chịu thức dậy. Thiên Hoàng Hirohito, đang nghỉ hè tại dinh thự mùa hè của Ngài ở Nikko, nghe được tin nầy đã lập tức chuẩn bị trở về Đông Kinh, nhưng Đô Đốc Osami Nagano, Tổng Tham Mưu Trưởng Hải Quân, địch thân đến Nikko để bệ kiến.

Nagano giải thích với Thiên Hoàng: “Tâu bệ hạ, chuyện nầy không đáng để bệ hạ lưu tâm.” Và ông cho biết, theo tin tức “tình báo” của Tùy Viên quân sự Nhựt ở Mạc Tư Khoa gởi về, chỉ có 2.000 địch quân Guadalcanal. Nhiệm vụ của nhóm quân nầy là phá hủy các sân bay và sau đó đã rút lui khỏi đảo.

Tôi không biết có bao nhiêu loại báo cáo ngu xuẩn như thể đã được cung cấp. Nhưng dù cho có nhận được các báo cáo ngu xuẩn, các sĩ quan cao cấp cũng phải đánh giá bằng cách đối chiếu các nguồn tin tình báo khác mới phải. Cuối cùng, vào ngày 10 tháng 8, ba ngày sau khi cuộc hành quân được phát động, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia Nhựt mới ra lịnh cho 5.800 quân từng tham dự trận đánh Midway, đang nằm chờ ở Truk, tiến về Guadalcanal.

“Con sư tử” Yamamoto lại khép đôi mắt ngủ tiếp sau khi nghe tin cuộc “chiến thắng phi thường” của Mikawa, và nó chỉ từ từ mở mắt ra sau khi biết được lịnh của Bộ Tư Lịnh Tối Cao. Ngày kế đó, 11 tháng 8, Đệ Nhị Hạm Đội của phó Đô Đốc Nobutake Kondo tách rời Hạm Đội Hổn Hợp, di chuyển 2.700 dậm đến Guadalcanal. Lực lượng của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo nằm lại, với lí do những phi công trên hàng không mẫu hạm mới của ông chưa sẵn sàng tham chiến, nhưng với sự thúc giục ông đã gấp rút chuẩn bị để ra đi với lực lượng chánh của Yamamoto vào ngày 16 tháng 8. Vào thời gian nầy các lực lượng của Hoa Kỳ đã đổ bộ lên Guadalcanal.

Qua các thay đổi vào phút chót, chiếc Amatsukaze của tôi được đặt dưới quyền sử dụng của Nagumo, người bạn cũ của tôi. Amatsukaze và 14 khu trục hạm gia nhập phân đội 10, quanh tuần dương hạm Nagara (trở thành soái hạm của Nagumo từ khi chiếc Akagi bị đánh chìm ở Midway). Phân đội do một chuyên viên khu trục hạm chỉ huy, Đề Đốc Susumu Kimura.

Với vận tốc 18 đến 20 hải lý, chúng tôi tiến về phía Nam. Tất cả các khu trục hạm nầy đều có vận tốc tối đa 33 hải lý, nhưng nếu vận tốc càng cao mức độ tiêu thụ nhiên liệu của chúng càng nhiều. Theo chương trình, chúng tôi sẽ đến Truk vào ngày 20 tháng 8, nghĩa là trên hải trình dài 2.000 dậm trong vòng 5 ngày. Sau đó chúng tôi sẽ tiếp tục tiến đến Guadalcanal.

Nửa đường đến Truk, chúng tôi nghe tin Nhật Bản đã mắc một lỗi lầm khác ở Guadalcanal. Vào đêm 18 tháng 8, sáu khu trục hạm Nhựt đã đổ 800 khinh binh lên bờ biển phía Đông Guadalcanal. Những lúc đó không có một ai trong Bộ Tư Lịnh Tối Cao biết được việc người Mỹ đã đổ 20.000 Thủy Quân Lục Chiến với trang bị tối tân của họ lên hòn đảo nầy rồi. Lực lượng Nhựt sau khi đổ bộ đã tiến như vũ bảo xuyên qua rừng rậm, và chỉ sụp bẩy của địch quân hai ngày sau đó. Kết quả, hơn phân nữa lực lượng nầy bị tiêu diệt, thành phần còn lại bỏ chạy tán loạn.

Tin tức nầy đưa đến làm nao núng Yamamoto. Ông lập tức đình chỉ kế hoạch tiến đến Truk và ra lịnh cho hạm đội chỉa mủi thẳng về Guadalcanal. Nhưng hành động nầy đã quá trể. Và Bộ Tư Lịnh Lục Quân Nhựt lúc đó còn nói chuyện hoang đường khi cho rằng hàng ngủ địch đang lung lay vì tinh thần xâm lăng của họ.

Sau khi trung đoàn thứ nhứt dưới quyền của Đại Tá bộ binh Kiyanao Ichiki bị đánh tan, Lục quân quyết định tung thêm một trung đoàn nữa. Lực lượng nầy, dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Seiken Kawaguchi, cũng bị đánh tan. Như vậy mà Lục Quân vẫn còn chần chừ rất lâu trước khi tung hẳn một sư đoàn lên hòn đảo nầy.

Tánh tự phụ của Yamamoto hoàn toàn biến mất vào ngày 20 tháng 8. Sáng ngày nầy, một phi cơ quan sát bay cách phía Tây Bougainville 500 dậm đã phát hiện một lực lượng đặc nhiệm của địch quân, gồm có ít nhất một hàng không mẫu hạm và hai khu trục hạm, chạy hướng về phía Bắc với vận tốc 14 hải lý.

Việc các lực lượng Nhựt ghé lại Truk đã được Yamamoto bải bỏ, nhưng lúc ấy tất cả các chiến hạm của ông đều gần cạn nhiên liệu, và phải tái tiếp nhận từ các tàu chở dầu ngay trên mặt biển trước khi di chuyển tiếp. Lấy nhiên liệu trên mặt biển là một việc làm khó khăn và dễ gây sự đụng chạm, và đặt biệt rất nguy hiểm trong thời chiến. Cả hai tàu chở dầu và tàu chiến phải chạy thật chậm, khoảng 6 hải lý và phải tung nhiều khu trục hạm để bảo vệ, đề phòng tiềm thủy đỉnh hoặc phi cơ địch tấn công vào mục tiêu gần như chết đứng. Chúng tôi thực hiện việc tiếp nhiên liệu nầy kéo dài đến 4 giờ sáng ngày 23, ngày lúc chúng tôi tiến vào hải vực cách phía Bắc Guadalcanal 400 dậm.

Hai tàu chuyển vận mang 1.500 binh sỹ khác dưới quyền Đại Tá Ichiki, chạy phía trước chúng tôi 50 dậm với sự hộ tống của 1 tuần dương hạm và 6 khu trục hạm thuộc phân đội 2 khu trục hạm. Theo kế hoạch, phân nữa lực lượng của Ichiki sẽ tấn công Guadalcanal và phân nữa còn lại sẽ tiếp liền theo sau đó, sau khi lực lượng trước đã đổ bộ xong. Thêm vào đó, các đơn vị tăng viện thuộc Lữ Đoàn của Tướng Kawaguchi được chuyển vận từ Truk đến.

Vào ngày 23 tháng 8, Phân đội 2 khu trục hạm báo cáo rằng các chiến hạm thuộc Phân đội bị phi cơ thám thính của địch phát hiện. Do đó, Yamamoto phải tìm cách đối phó. Một giải quyết hợp lý nhứt là tạm đình chỉ cuộc đổ bộ theo thời gian sắp xếp, để nhường hành động quyết định cho hải quân. Tuy nhiên, Yamamoto vẫn ra lịnh cho Phân đội 2 khu trục hạm tiếp tục chuyển trung đoàn của Ichiki đến mục tiêu đúng theo kế hoạch, nhưng ông không đưa ra một lịnh nào cho đoàn tàu chuyển vận Lữ Đoàn của Kawaguchi. Yamamoto quyết định hạ gục lực lượng đặc nhiệm nhỏ của Hoa Kỳ, sau đó sẽ tiếp tục cuộc hành quân đổ bộ theo ngày giờ đã định.

Có những điểm trong quyết định của Yamamoto cần phải giải thích, và nếu giải thích theo sự việc xảy ra vào lúc đó thì không bao giờ lượng định được gánh nặng của người đưa ra quyết định nầy. Từ cuộc chiến tranh Hoa – Nhựt, vấn đề Lục Quân khởi xướng kế hoạch và Hải Quân tiếp tay thi hành đã trở thành truyền thống. Thoạt đầu, theo ý kiến của Lục Quân trong cuộc hành quân Guadalcanal là đổ bộ một tiểu đoàn, sau đó là một trung đoàn và kế nữa là một lữ đoàn. Vì vậy, dù biết là sai lầm, nhưng nếu hải quân yêu cầu sửa đổi lại ý kiến nầy tức là phá bỏ truyền thống.

Tuy nhiên, Yamamoto biết được sức mạnh của địch quân trên đảo Guadalcanal, ông sẽ không ngần ngại phá bỏ truyền thống, nhưng không hiểu sao tình hình thực sự đã không đến được tay ông. Quan tâm ưu tiên của ông lúc ấy là làm cách nào lực lượng bộ binh thiếp lập một đầu cầu ở bờ biển phía Đông Guadalcanal, việc nầy hình như chỉ là vấn đề thời gian, và tìm hết cách giữ cho được đầu cầu đó.

Yamamoto đã vội vã thành lập một lực lượng để đánh lừa địch quân, bao gồm hàng không mẫu hạm nhỏ nhất của Hạm Đội Hổn Hợp chiếc Ryujo 10.150 tấn, tuần dương hạm hạng nặng Tone và hai khu trục hạm Amatsukaze và Tokitsukaze. Bốn chiếc tàu nầy do Đề Đốc Chuichi Hara chỉ huy, giả vờ tấn công Guadalcanal và ngăn lực lượng đặc nhiệm của Hoa Kỳ tiến Bougainville. Lực lượng đặc nhiệm của Nagumo với thành phần chủ chốt là hai hàng không mẫu hạm 40.000 tấn (Shokaku và Zuikaku) được chỉ thị xoay về hướng Đông – Nam, và tấn công vào cạnh sườn các chiến hạm địch truy đuổi lực lượng chim mồi của Đề Đốc Hara.

Chúng tôi xuất quân vào 2 giờ sáng ngày 24 dẫn đầu với tuần dương hạm hạng nặng Tone, một chiếc tàu thoạt nhìn giống một con quái vật với 8 khẩu 203 ly chỉa mũi tua tủa. Theo sau là hàng không mẫu hạm Ryujo, được Amatsukaze hộ vệ bên phải và Tokitsukaze hộ vệ bên trái. Chúng tôi hướng về Guadalcanal với tốc độ 26 hải lý.

Nhiệm vụ không phải dễ dàng và nhiệm vụ quan trọng thực sự đầu tiên của tôi trong cuộc chiến. Tôi đứng trên đài chỉ huy với đầu óc căng thẳng. Đề Đốc Hara, ở soái hạm Tone, là một trong những Tư Lịnh tài ba nhứt của hải quân. Tôi biết ông từ những ngày còn học ở Hàn Lâm Viện hải quân. Lúc đó ông là một huấn luyện viên và tôi đã nể phục sự hiểu biết của ông. Trong trận Trân Châu Cảng, Hara chỉ huy một hải đội hàng không mẫu hạm thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo.

Điều đáng quan tâm hơn hết là chiếc Ryujo. Nhìn chiếc hàng không mẫu hạm 10 tuổi nầy tôi thấy bất an. Các phi công tài ba không bao giờ được bổ nhiệm phục vụ trên một chiếc tàu già nua, và sau khi được nhìn khả năng của các hàng không mẫu hạm trận Midway, chiếc Ryujo đối với tôi thật đáng bi quan. Tôi xem “con chim mồi” nầy chắc không sống sót nổi qua phát đạn đầu tiên.

Lúc 7 giờ 13, khi bình minh tỏa rộng trên Nam Thái Bình Dương, kẻ thù đầu tiên chúng tôi nhìn thấy là một chiếc thủy phi cơ, nó đã bay theo sau chúng tôi nhiều dậm nhưng cuối cùng bỏ đi, chứng tỏ nó đã đếm xong lực lượng của chúng tôi. Theo kế hoạch, chúng tôi tiếp tục tiến về phía trước và trong vòng 4 tiếng đồng hồ không thấy phi cơ nào khác của địch quân xuất hiện. Biển lặng như tờ. Thời tiết rất thích hợp cho phi cơ tấn công, nhắc tôi nhớ lại trận đánh ở Midway. Một ngày bất lợi biết bao, tôi thầm nghĩ.

Lúc 11 giờ, chúng tôi cách phía Bắc Guadalcanal 200 dậm.

Ryujo tung lên 6 oanh tạc cơ và 15 chiến đấu cơ hướng đến hòn đảo theo kế hoạch. Khi chiếc Ryujo xoay về hướng Tây, tiến đến điểm hẹn với các phi cơ nầy, tàu của tôi chạy song song theo phía tả mạn của nó, cách 1.000 thước. Tôi biết 21 phi cơ vùa cất cánh chưa đủ con số mà hàng không mẫu hạm Ryujo chuyên chở, và tôi tự hỏi tại sao lại không cho chín chiến đấu cơ còn lại bay lên để bao che chúng tôi. Nhìn các đám mây dày đặc, tôi độ chừng thế nào phi cơ địch cũng phóng ra những cú đấm chết người giống như ở Midway. Càng nghĩ tôi càng bồn chồn.

Một giờ trôi qua, vẫn không một phi cơ nào của chúng tôi trở về. Tôi không hiểu tại sao, và điều nầy khiến tôi càng thêm bồn chồn. Lúc 12 giờ 30, từ phòng truyền tin gọi tên tôi: “Thưa Trung tá, một phi cơ của Ryujo gởi báo cáo về cho biết cuộc oanh tạc Guadalcanal thành công.” Tôi nhẹ nhõm, nhưng tự hỏi với chừng ấy phi cơ thì làm sao thành công được. Tôi ăn trưa ngay trên đài chỉ huy. Vừa ăn xong, tôi nghe một trong số thủy thủ quan sát la lên: “Một phi cơ, hình nhừ của địch, hướng 30 độ tả mạn.” Xuyên qua ống dòm, tôi nhìn thấy một phi cơ ẩn hiện trong các đám mây.

Cờ báo động được kéo lên, còi tàu rít vang, và các khẩu cao xạ chuẩn bị sẵn sàng. Khi chiếc phi cơ đến gần, chúng tôi nhận ra đó là một pháo đài bay B17, giống mấy “người bạn cũ” của chúng tôi ở Davao. Tôi nhìn về phía hàng không mẫu hạm Ryujo, không thấy động tỉnh gì hết, tôi nghĩ viên hạm trưởng chắc đang nằm ngủ.

Để báo động Ryujo, tôi ra lịnh khai hỏa, mặc dầu phi cơ địch còn nằm ngoài tầm súng cao xạ. Tone và Tokitsukaze lập tức đáp ứng. Cuối cùng, hai chiến đấu cơ cất cánh từ Ryujo. Phi cơ địch trở hướng và biến mất trong đám mây khi hai chiến đấu cơ bay đến. Hai phi cơ Nhựt bay lộn về và quần trên hàng không mẫu hạm.

Tôi hết tin tưởng. Nếu phi cơ địch ồ ạt bay đến, thì Ryujo, với tình trạng vừa qua, sẽ không làm sao chống đỡ nổi. Tôi thảo một công điện và gọi sĩ quan truyền tin của tôi: “Gởi lập tức công điện nầy cho Ryujo bằng hiệu kỳ.”

Một nhân viên truyền tin chạy lên sân tàu và vẩy các lá cờ: “Trung tá Tameichi Hara, hạm trưởng Amatsukaze, gởi Trung tá Kishi, hạm phó Ryujo: biết là quá đáng, nhưng tôi bắt buộc phải gởi sự lưu ý nầy đến Trung Tá. Phi của Trung Tá đã thiếu hẳn sự chuận bị. Tại sao lại có vấn đề nầy?”

Công điện có vẻ thô lổ và chắc chắn không làm hài long người nhận. Tôi không biết có một sĩ quan nào khác đã làm như tôi hay không. Tôi gởi công điện nầy chi Kishi dựa vào việc chúng tôi cùng xuất thân ở Eta Jima. Kishi không chịu trách nhiệm các cuộc hành quân trên không, nhưng ý định của tôi là muốn thức tỉnh viên hạm trưởng của Ryujo và phi công có trách nhiệm.

Vừa tự hỏi Kishi sẽ có phản ứng như thế nào, tôi vừa nhìn đăm đăm chiếc Ryujo, và thấy cờ hiệu trả lời: “Kishi gởi Trung Tá Hara: rất tán thành vấn đề đã lưu ý. Chúng tôi sẽ cải thiện và ghi nhận sự hợp tác của ông.” Ryujo lập tức hành động. 7 chiến đấu cơ được đưa lên sàn tàu và mọi chong chóng đều xoay để sẵn sàng cất cánh. Nhưng đã quá trể. Lúc đó các quan sát viên của tôi la lên: “nhiều phi cơ địch bay đến.”

Khi chiếc Ryujo xoay theo hướng gió để các phi cơ cất cánh thì các oanh tạc cơ Hoa Kỳ chúi xuống tấn công. Tôi nhìn Ryujo lo lắng. Các hàng không mẫu hạm khác của Nhựt có thể dọn dẹp phi cơ trên sàn tàu chỉ trong một vài phút, nhưng chiếc Ryujo không đủ khả năng làm như vậy.

Tôi phải lo nhiệm vụ của tôi. Tàu của tôi, cũng như tuần dương hạm Tone và khu trục hạm Tokitsukaze chạy xa khỏi Ryujo 5.000 thước để chống với các phi cơ địch đang bay đến. Ryujo gọi vô tuyến cho 21 phi cơ tấn công Guadalcanal ra lịnh cho chúng bay đến phi trường Buka nằm giữa Guadalcanal và Rabaul, thay vì trở về hàng không mẫu hạm. Tại sao không gọi về một số để đương đầu với phi cơ địch?

Tôi không đủ thời giờ để suy nghĩ. Các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ địch đang xà xuống Ryujo, các phi cơ nầy xuất phát từ hàng không mẫu hạm Saratoga (CV3) của Hoa Kỳ. Có trên hai mươi chiếc oanh tạc cơ xoay tròn quanh hàng không mẫu hạm và nhiều chiến đấu cơ xà thấp xuống nước trước rừng hỏa lực phòng không của chúng tôi. Mười hai súng cao xạ của Ryujo đồng loạt khai hỏa nhưng không trúng một chiếc phi cơ nào. Hai hoặc ba trái bom đã trúng phía sau và sân bay của hàng không mẫu hạm. Những cột lửa rực đỏ bốc lên đồng thời với những tiếng nổ vang dội. Nhiều trái bom khác lại trúng thẳng, chiếc tàu bị che phủ bởi những cột nước và màn khói đen dày đặc. Bồn chứa xăng của Ryujo bốc cháy. Nó đang chìm hoặc đã chìm?

Các phi cơ địch bây giờ bỏ Ryujo xoay sang tấn công các chiến hạm khác của chúng tôi. Tất cả súng đều khai hỏa khi phi cơ xà thấp. Khu trục hạm của tôi gia tăng tốc độ 33 hải lý và chạy theo hình chữ chi rất nhặt, khiến nước biển tung như xối lên đầu tôi trên đài chỉ huy. Chiếc Amatsukaze chịu đựng 30 phút tấn công, nhưng rất may các trái bom đều tránh né nó.

Tôi thở phào khi phi cơ địch bay đi. Tôi xoay sang nhìn chiếc Ryujo. Khói đen bắt đầu tan loảng và chiếc tàu hiện ra lờ mờ. Xuyên qua ống dòm, tôi thấy Ryujo đã chết, hoàn toàn bất động, và đang từ từ sụm xuống. Nó nghiêng hẳn về hữu mạn, không còn là một hàng không mẫu hạm nữa, đó là một chiếc lò khổng lồ có nhiều miệng, và tất cả đều phựt lửa đỏ rực.

Soái hạm Tone báo hiệu: “Các khu trục hạm tiến đến Ryujo để tiếp cứu.”

Tàu của tôi lập tức chạy về phía hàng không mẫu hạm đang chìm, nhưng ngưng lại ngay khi thấy ba chiếc phi cơ thình lình nhô ra khỏi các đám mây. Khi chúng bay đến gần, mới biết đó là 3 chiến đấu cơ Nhựt trở về. Chúng bay quân trên chiếc tàu chìm, như để chào vĩnh biệt. Một phi cơ đáp xuống biển gần tàu của tôi, và hai chiếc kia gần Tokitsukaze. Cả ba phi công đều được cứu thoát, nhưng các phi cơ thì đành bó tay.

Công việc tiếp cứu đã mất nhiều thời giờ, tôi tưởng chiếc Ryujo đã biến mất trên mặt đại dương rồi. Nhưng thật kì lạ, mặc dù có nhiều lổ hỏng, chiếc tàu vẫn nổi và ngay cả các miệng lửa cũng hạ xuống.

Chúng tôi lại tiến đền chiếc Ryujo, nhưng rồi phải ngưng nửa chừng. Lần nầy 2 chiếc B.17 xuất hiện. Hai khu trục hạm và tuần dương hạm Tone gia tăng tốc độ chạy theo hình chữ chi và tất cả cao xạ đều khai hỏa vào hai oanh tạc cơ địch. Nhưng hai phi cơ nầy chỉ tấn công qua loa, hoặc chúng không quen tấn công các mục tiêu di động nhanh trên biển. Tất cả các trái bom thả xuống đều không trúng đích.

Khi các oanh tạc cơ bay đi, sương mù bổng trùm lấp mặt biển. Chúng tôi bắt tay vào công việc tiếp cứu. Nhờ trời chiếc Ryujo vẫn chưa chìm, nhưng hoàn toàn bất động. Có lẽ chúng tôi phải kéo nó về Truk để sửa chữa. Lửa cháy xém khắp nơi, tất cả vũ khí và vật dụng khác đều bị thiêu hủy. Xác chết rãi rác khắp nơi trên tàu. Chiếc tàu nghiêng về hữu mạn khoảng 40 độ, và có thể chìm bất cứ lúc nào.

Một nhân viên giải cứu gởi tín hiệu bằng cờ: “chúng tôi bỏ chiếc tàu sắp chìm. Các tàu khác hãy đến tiếp tay giải cứu thủy thủ đoàn.” Lúc ấy tàu của tôi chay đến bên tả mạn còn nổi của chiếc Ryujo. Nếu chiếc tàu chìm, việc nầy không biết xảy ra lúc nào, chiếc Amatsukaze có thể bị lôi cuốn và chôn vùi theo với nó. Không thể chần chờ được nữa, tôi quyết định bắt tay vào việc lập tức.

Đại dương lúc đó đang yên tỉnh, nhưng thỉnh thoảng các luồng sóng dài bổ đến, khiến cột cờ của chiếc Ryujo chao đi chao lại, có khi chạm cả vào đài chỉ huy của khu trục hạm nhỏ bé của tôi. Mồ hôi lạnh ướt đẩm lưng tôi. Hàng chục thủy thủ khỏe mạnh dung sào dài để chống đở cột cờ của chiếc Ryujo. Khi chiếc cầu được bắt nối người bị thương được di tản trước, kể đó là những xác chết và tài liệu quan trọng còn sót lại. Cuộc tiếp cứu nhanh chóng và gọn ghẻ. Hơn 300 người sống sót được đưa sang chiếc Amatsukaze.

Độ nghiêng của Ryujo thình lình gia tăng. Bây giờ nó đang chìm “Chấm dứt di tản” tôi la lên. Một sĩ quan đứng phía bên kia cầu gật đầu và đáp: “Đúng, thưa Trung tá! Phải chấm dứt ngay. Nguy hiểm lắm rồi.”

Máy của Amatsukaze vẫn chạy đều, nó lập tức dang ra xa chiếc Ryujo, và không đầy 350 thước, chúng tôi nhìn lại thấy hàng không mẫu hạm đã biến mất trong làn sóng. Sức chìm của chiếc tàu đã tạo ra một vực nước xoáy khổng lồ, ghì chặt lấy chiếc Amatsukaze và cuốn chạy như một mảnh rác. Nhưng rất may là vực nước đó không đủ sức nhận chìm tàu của tôi. Tôi còn đang thở muốn đứt hơi thì một giọng nói thật nhỏ phía sau lưng tôi : “Trung tá Hara. Tôi … tôi không biết nói gì để cảm ơn ông…”

Tôi bổng thấy buồn cho vị sĩ quan nầy, ông ta không phải là một chuyên viên hàng không mẫu hạm, và tôi thấy tức giận Đô Đốc Yamamoto đã chọn một người như thế nầy để thi hành kế hoạch “chim mồi” của ông. “Ông không cần phải cảm ơn tôi, Đại tá Kato,” tôi nói. “Xem ông không được khỏe! ông có bị thương không?”

“Không, Hara, tôi không bị một vết trầy nào cả. nhưng … nhiều thuộc cấp của tôi đã chết, và cả chiếc tàu!.” Ông ta đưa tay ôm lấy mặt, khóc nức nở như một đứa trẻ. Tôi sợ ông ta có hành động nông nổi nên lên tiếng gọi: “Y ta, mau lên dìu Đại tá Kato vào ca bin của tôi.”

Kato phản đối: “Ồ! Không, Hara! Hãy để tôi ở chung với thủy thủ của tôi, nếu việc nầy không làm ngăn trở nhiệm vụ của ông.”

Tôi để ông ta làm theo ý thích. Trên tàu của tôi lúc ấy không có chổ nào là không có thủy thủ của chiếc Ryujo. Tôi xúc động khi nhìn vị Đại tá già lê bước về phía cầu thang để rời khỏi đài chỉ huy. Tôi gọi: “Đại tá Kato, xin chờ một chút. Tôi muốn hỏi người bạn thân của tôi là Kashi, phụ tá Đại tá, hắn ta có được bình yên không?”

Kato xoay lại, không thốt nên lời nào, khuôn mặt của ông ta đau khổ tột cùng. Tôi hiểu và gật đầu. Kato cúi đầu và bước xuống cầu thang.

Tôi đứng lặng. Anh bạn tôi của tôi đã chết. Kashi, một chuyên viên hàng không đã gặt hái được nhiều thành tích sáng chói. Anh ta từng đỡ tay cho viên hạm trưởng ngù ngờ nầy biết bao. Tôi lắc đầu. Tôi còn nhiều việc phải làm, đau buồn hãy chờ sau khi nhiệm vụ hoàn tất.

Tàu của tôi kết hợp với khu trục hạm Tokitsukaze và soái hạm Tone, và tôi vui mừng khi thấy hai chiếc tàu nầy, như chiếc Amatsukaze của tôi, không bị tổn hại gì cả. Cả hai cũng đang bận rộn cứu vớt một số thủy thủ của Ryujo đã nhảy xuống biển để thoát thân. Trong lúc đó, 14 phi cơ của hàng không mẫu hạm trở về sau nhiệm vụ ở Guadalcanal và đang bay quần trên trời. Bảy chiếc, trong số có một chiếc duy nhứt trang bị hệ thống liên lạc bị địch quân bắn rơi, thành thử các chiếc còn lại không nhận được lịnh đáp xuống Buka. Số còn lại nầy bây giờ bắt buộc phải đáp xuông biển, các chiến hạm cứu vớt hết phi hành đoàn nhưng tất cả các phi cơ đều vùi sâu dưới đáy biển.

Ba chiến hạm còn lại của chúng tôi được lịnh Phó Đô Đốc Nagumo chạy về hướng Tây để kết hợp với lực lượng chánh của ông. Ngày nầy, 24 tháng 8 năm 1942, mặt trận trên các đảo phía Đông Salomn vẫn còn tiếp diễn. Sau khi vượt 50 dậm về điểm hẹn, chúng tôi nhìn thấy một số chiến hạm Nhựt tất cả đều mở đèn chạy chầm chậm về phía Nam. Các chiến hạm nầy đang tìm kiếm một số phi công bắt buộc phải hạ cánh trên mặt biển.

(Hàng Không Mẫu Hạm Ryujo, theo thiết kế ban đầu là một tàu chở thủy phi cơ nhưng sau đó sửa đổi thành một hàng không mẫu hạm nhẹ trọng tải dưới 10.000 tấn tuân theo các điều khoản của Hiệp Ước năm 1922 của Nhật và Đồng Minh. Nó được đóng năm 1922 và hoàn tất trang bị vào năm 1931, trọng tải tối đa có thể lên đến 13.000 tấn nhưng thông thường nó chỉ mang đến 10.600 tấn. Nó được mang ra sử dụng trong cuộc chiến Hoa Nhật năm vào năm 1937 với nhiệm vụ yểm trợ cho Lục Quân, lúc nầy nó trang bị 12 chiến đấu cơ Nakajima A4N và 17 oanh tạc cơ Aichi D1A cả hai loại đều là phi cơ hai lớp cảnh cổ lổ. Năm 1940 nó được tái trang bị các phi cơ và sửa chửa nâng cấp để mang được tối đa 37 phi cơ hiện đại. Khi đệ nhị thế chiến bắt đầu Ryujo hoạt động ở Philippine cung cấp cây dù không quân cho các đoàn chuyện vận đổ bộ lên Davao. Và sau đó nó hoạt động suốt từ Philippine cho đến tận vịnh Bengal. Tháng sáu năm 1942, Ryujo tham gia cuộc hành quân Midway nhưng trong thành phần lực lượng tấn công quần đảo Aleutian, trong suốt cuộc hành quân này một chiến đấu cơ A6M Zero do hạ sỹ Tadahito Koga lái đã rơi xuống quần đảo nầy, Koga thiệt mạng nhưng chiếc Zero còn nguyên vẹn, đây là chiếc Zero đầu tiên lọt vào tay của Đồng Minh, nhờ vào đó mà Đồng Minh cho ra đời một loạt chiến đấu cơ mới để chọi lại chiếc chiến đấu cơ đáng sợ nầy. Ngày 24 tháng 8 năm 1942, Ryujo tham dự trận đánh ở Guadalcanal trong thành phần dụ địch và bị các oanh tạc cơ SBD và Avenger của hàng không mẫu hạm Saratoga đánh chìm, trong số 924 thủy thủ đoàn chỉ có 127 người thiệt mạng số còn lại được cứu sống.

Hàng không mẫu hạm Sarotoga của Hoa Kỳ, cùng loại với chiếc Lexington đã bị chìm ở trận San Hô, trọng tải 38.500 tấn chở được 90 phi cơ các loại, thủy thủ đoàn 2.200 sĩ quan và binh sỹ, chiếc nầy cũng là một thiết giáp tuần dương hạm biến cải thành hàng không mẫu hạm nên vẫn còn mang theo những khẩu đại bác lớn 8 khẩu 200 ly, và trang bị các loại phòng không từ 76 ly đến 12,7 ly. Nó đã tham chiến suốt từ đầu đệ nhị thế chiến cho đến hết chiến tranh, có thể nói đây là hàng không mẫu hạm lì đòn nhất của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Nó bị đánh chìm ngày 25 tháng 7 năm 1946 bởi cuộc thử bom A của Mĩ, chung số phận với nhiều tàu chiến khác như Prinz Eugen của Đức và Nagato của Nhựt).

Đêm tối như bưng. Nhiều giờ trôi qua, tiếng bom và tiếng súng không còn nghe vọng đến.

Tôi bắt đầu cảm thấy rã rời trong suốt một ngày một đêm chiến đấu không ngừng nghỉ. Tôi định đi nằm thì sĩ quan truyền tin của tôi cho biết hàng không mẫu hạm Shokaku (tức soái hạm của Nagumo) gởi một công điện đến Amatsukaze: “Phó Đô Đốc Nagumo chỉ thị cho Trung tá Hara giải cứu hai phi công của hàng không mẫu hạm Zuikaku bắt buộc phải đáp xuống biển. Thi hành lập tức tại vị trí KIN.21.”

Tôi vội vã trả lời: “Trung tá Hara gởi Đô Đốc Nagumo. Amatsukaze sẽ tiến ngay đến KIN.21 và giải cứu các phi công của Zuikaku.”

Quay sang hải đồ, tôi ghi tọa độ được cho là KIN.21 cách 98 dậm chánh Bắc vị trị hiện thời của tôi, và tọa độ nầy nằm sâu trong khu vực của lực lượng đặc nhiệm địch 60 dậm. Sở dĩ tôi biết được khu vực của địch quân là do tin tức đưa đén vào lúc chiếc Ryujo đang chìm. Nhưng lịnh là lịnh, và nhiệm vụ quá cấp bách không thể chần chờ. Cơn buồn ngủ tiêu tan, tôi triệu tập ngay bộ tham mưu để bàn thảo.

Chúng tôi không thể nào dám để cho một sai lầm nhỏ nào xảy ra trong nhiệm vụ nầy. Tôi không dám chắc tọa độ được cho có chánh xác hay không, nhưng nếu co một sai chạy nào thì công việc giải cứu của chúng tôi vô hy vọng.

Phó Đô Đốc Nagumo đã đặt biệt chọn tôi thi hành nhiệm vụ nầy, tôi biết ông đã đặt nhiều hi vọng vào tôi. Tôi quyết định không để ông thất vọng. Chúng tôi đang hút đầu vào miệng cọp, nhưng thuộc cấp của tôi lại tỏ ra thích thú và hăng hái khiến tôi cũng phấn khởi.

Chạy với tốc độ 24 hải lý, bốn tiếng đồng hồ sau chúng tôi có mặt trên khu vực phỏng định. Tôi ra lịnh chiếc tàu giảm tốc độ xuống chỉ còn 6 hải lý. Khi thiếu úy Hideo Shoji báo cáo chúng tôi đang ở ngay trên vị trí đã được cho, tôi gọi tất cả thủy thủ nào không bận việc lên boong tàu để quan sát, và tôi tuyên bố là ai phát hiện hai viên phi công trước tiên, người đó sẽ được thưởng. Mọi người hưởng ứng nồng nhiệt.

Tôi nghĩ nếu hai phi công Nhựt rơi xuống khu vực nầy thì phi công địch cũng có thể rơi xuống, và họ cũng đang được đồng bọn tìm kiếm. Do đó, dù trời tối đen như mực, tôi cũng không cho sử dụng đèn rọi, vì khu trục hạm lúc đó chỉ chạy có 6 hải lý một giờ, tiềm thủy đỉnh địch có thể phát hiện ánh đèn và tấn công chúng tôi.

Sau hơn một giờ tìm kiếm vô vọng, tôi lo ngại thiếu nhiên liệu. Hơn nữa, Amatsukaze của tôi đã tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu trong nhiệm vụ chim mồi vừa qua và cần phải dự trữ để quay về Rabaul cách xa đây 500 dậm. Để cho công tác mau lẹ, tôi ra lịnh bật đèn rọi nhỏ. Vài phút sau, một thủy thủ bổng la lên: “Một vật nổi ở hữu mạn, giống như một cái chai.” Tôi nghiêng mình ra ngoài đài chỉ huy và nhìn thấy cái chai loáng thoáng qua ánh đèn, tôi nói: “Đúng rồi, họ ở gần đây chứ không xa!” tôi cho bật đèn hiệu tên chiếc tàu của hai viên phi công: “Zuikaku! Zuikaku!”

Nửa giờ trôi qua, bình minh sắp đến, và lúc hy vọng sắp tan, tôi bổng thấy một đóm sáng thật nhỏ chợt lóe lên ở phía trái chiếc tàu cách khoảng 2.000 thước. Đóm sáng lại lóe lên một lần nữa rồi tắt hẳn, nhưng tôi đã xác định được vị trí. Chiếc tàu tiến thẳng đến, và tôi cho thả một chiếc xuồng xuống khi nhìn thấy hai người đang bám vào một cái phao. Thiếu úy Hideo Shoji cầm đầu xuồng giải cứu. Khi chiếc xuồng còn cách cái phao 50 thước, anh ta báo cáo rằng hai người đeo cái phao nầy giống người Mỹ.

Tôi quan sát bằng ống dòm và thấy đúng như lời Shoji, nhưng tôi ra lịnh: “người gì cũng mặc, hãy cứu cái đã.”

Tôi nao núng, nếu đây là hai người Mỹ thì công cuộc tìm kiếm của phe họ cũng quanh quẩn đâu đây. Nhưng tôi đã quyết tâm thi hành nhiệm vụ, cho dù kéo dài đến bình minh đi nữa. Khi xuồng cấp cứu vớt hai người dưới nước lên và báo cáo cho biết đây là hai phi công mà chúng tôi tìm kiếm, bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhỏm.

Sau khi tất cả lên tàu, chúng tôi hướng về phía Bắc với tốc độ 24 hải lý, và tôi thoải mái lần đầu tiên sau nhiều giờ căng thẳng. Công cuộc giải cứu hoàn toàn thành công.

Mặt khác, cuộc hành quân chim mồi của chúng tôi dù gặp vận xấu ở phút cuối cùng, nhưng chưa hẳn là một thất bại. Sự hi sinh của Ryujo đã đánh lạc hướng địch quân, không chú tâm vào lực lượng chánh của Nhật Bản, và cho phép Phó Đô Đốc Nagumo tập trung đầy đủ sức mạnh không quân của ông để chống lại hàng không mẫu hạm Enterprise của Hoa Kỳ. Nhưng chiếc Enterprise chỉ bị hư hại, nó được sửa chửa và hoạt động lại trong vòng hai tháng, trong khi đó hàng không mẫu hạm Ryujo bị đánh chìm hẳn. Nếu có thất bại là thất bại ở điểm nầy.

Mặt khác, các phi thuộc hải quân Hoa Kỳ đã oanh tạc các tàu chuyển vận trung đoàn của Đại tá Ichiki và gây hư hại cho tuần dương hạm Jintsu, soái hạm của phân đội khu trục hạm hộ tống. Sáu khu trục hạm Nhựt tiến sát vào Guadalcanal và pháo kích dữ dội lên đảo nầy suốt đêm, nhưng sáng hôm sau các oanh tạc cơ B.17 của Hoa Kỳ bay đến và gây xáo trộn cho các chiến hạm Nhựt nhiều tiếng đồng hồ. Đoàn tàu chuyển vận thoát được đến Bougainville, nhưng khu trục hạm Mutsuki và tàu chuyển vận Kinryu Maru bị đánh chìm. Trong lúc đó, đoàn tàu chuyển quân của tướng Kawaguchi nhận thấy kho đi suông sẽ nên đã quay về Truk.

Vì vậy, toàn thể cuộc phản công lần thứ nhì của Nhựt ở quần đảo Solomon kết thúc với sự thất bại trên cả hai phương diện chiến thuật và chiến lược. Và việc nầy đã chứng minh quyết định của Yamamoto là sai lầm.

Hai ngày sau cuộc hành quân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đưa ra một thông cáo chung. Theo đó, trận đánh kéo dài từ 23 đến 25 tháng 8, Nhật Bản đã gây thiệt hại nặng nề cho địch quân, với một hàng không mẫu hạm lớn và một hàng không mẫu hạm trung, cùng với một thiết giáp hạm của Hoa Kỳ. Phía Nhựt chỉ bị đánh chìm một khu trục hạm và một hàng không mẫu hạm nhỏ hư hại nặng.

Về phía Hoa Kỳ, một công bố cho biết các phi cơ của họ đánh chìm một hàng không mẫu hạm, gây thiệt hại cho một tuần dương hạm và một khu trục hạm Nhựt. Công bố cũng nói đến việc hàng không mẫu hạm Enterprise bị hư hại, nhưng bù lại phi cơ của hải quân Hoa Kỳ cũng đã đánh chìm một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm nhỏ của Nhựt.

Chiếc Ryujo đã chìm ngay trước mắt tôi, nhưng không còn chiếc tàu nào khác thuộc lực lượng chim mồi của chúng tôi bị đánh chìm, ngay cả một vết đạn cũng không. Có lẽ phi công Hoa Kỳ đã báo cáo lầm chiếc tàu chuyển vận Kinryu Maru thành ra một thiết giáp hạm và khu trục hạm Mutsuki thành ra một tuần dương hạm.

Từ đó trở về sau tôi không còn tin vào các công bố liên quân đến cuộc chiến, kể cả hai phía Nhật Bản và Đồng Minh.

Khi khu trục hạm Amatsukaze kết hợp với lực lượng đặc nhiệm của Nagumo, ngày 25 tháng 8, tôi nhận được một mạng lịnh mới đầy thích thú, gởi đến từ hàng không mẫu hạm Shokaku.

“Đô Đốc Nagumo thành thật ngọi khen Trung Tá Hara đã hoàn thành nhiệm vụ một cách hoàn hảo, và chỉ thị cho ông di chuyển lập tức đến Truk để đưa những người được giải cứu lên bờ.”

Một lần nữa, Amatsukaze lại tách rời khỏi lực lượng đặc nhiệm và đơn thân độc mã đến Truk. Ngày hôm sau, chúng tôi tiến vào hòn đảo san hô nầy.

3.

Lưu Bang đánh Đông dẹp Bắc và khai sáng triều đại nhà Hán vào năm 102 (trước Thiên Chúa Giáng Sinh). Sau khi lên ngôi, một hôm Lưu Bang hỏi nguyên soái của ông là Hàn Tín: “Nhà ngươi nghĩ sức trẫm có thể cầm được bao nhiêu quân?” Hàn Tín đáp: “Theo hạ thần nghĩ, bệ hạ chỉ có thể điều động một đạo quân vài ba chục ngàn người mà thôi.” Lưu Bang hỏi: “Còn sức của nhà ngươi thì sao?” Hàn Tín đáp: “Nhiều quân chừng nào hạ thần càng điều động hữu hiệu nhiều chừng nầy.” Lưu Bang cười: “Vậy tạo sao trẫm làm Hoàng Đế còn nhà ngươi chỉ là một vị tướng dưới trướng?” Hàn Tín đáp: “Đó là do mạng trời, bệ hạ sanh ra là để chỉ huy những người chỉ huy.”

Lưu Bang là một trong những vị vua vĩ đại nhứt, còn Hàn Tín là một trong những vị tướng tài ba và nổi tiếng nhứt lịch sử Trung Hoa. Trong thời đệ nhị thế chiến nhiều vị Đô Đốc cũng tài ba và gây được tiếng tăm như thế. Đô Đốc Isoroky Yamamoto của Nhựt là một. Ông là nhân vật tài ba, nhưng tôi nhận thấy tiếng tăm của ông có vẽ phóng đại hơn là những gì mà ông đáng được hưởng thực sự. Tôi không có ý so sánh ông với Lưu Bang, nhưng với sự kính trọng khả năng có thật của họ, tôi bắt buộc phải so sánh.

Mặc dù cuộc chiến Thái Bình Dương, Nhựt bại trận một cách đau thương, quốc gia vẫn xem Yamamoto như là một vị anh hùng. Sau chiến tranh, biết bao nhiêu chỉ trích nhắm vào các nhà lãnh đạo Hải Quân và Lục Quân Nhựt, nhưng riêng Yamamoto không hè được đá động tới. Nếu những nhận xét của tôi về Yamamoto có vẻ nghiêm khắc, thì chẳng qua tôi chỉ nhận xét theo công tâm. Đây có lẽ là lần đầu tiên một quân nhân Nhựt viết ra sự thật tất cả những gì mà người khác đã tránh né.

Đối với tôi, Đô Đốc Yamamoto là một người sanh ra để chỉ huy những người chỉ huy, và trên phương diện nầy sự kính trọng phải được dành cho ông. Nhưng ông, như Lưu Bang, không có khả năng điều động hàng mấy ngàn chiếc tàu và hàng mấy trăm ngàn thủy thủ dưới tay một cách hữu hiệu. Chọn ông để cầm đầu Hạm Đội Hổn Hợp, nghĩa là cầm đầu toàn thể lực lượng tham chiến của Nhựt trên mặt trận Thái Bình Dương, đó là một sự lựa chọn bi thảm.

Nhiều đồng nghiệp của tôi đều tin rằng Yamamoto là một vị Bộ Trưởng Hải Quân lý tưởng nhứt, và có nhiều cuộc vận động trong hàng ngũ sĩ quan Hải Quân Nhựt để đưa ông lên chức vụ nầy. Và theo ý kiến họ, Đô Đốc Mitsumasa Yonai mới xứng hợp với chức vụ Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp. Nhưng cuộc vận động nầy thất bại, vì Mitsumasa Yonai, một nhân vật chống đối chiến tranh mạnh mẽ, đã từ chối. Ông đã nói: “Tôi không phải là một Đô Đốc chiến đấu, do đó tôi sẽ gây “nguy hại” cho những gì mà Lục Quân đang theo đuổi. Hơn nữa, nếu một người cứng đầu như Yamamoto mà trở thành Bộ Trưởng Hải Quân, không sớm thì muộn ông ta sẽ bị Bộ binh cuồng tín sát hại.”

Lục Quân Nhựt là binh chủng gây rắc rối nhiều nhứt. Khi chiến tranh bắt đầu, Nội Các Nhựt dưới quyền lãnh đạo của Đại Tướng Hedeki Tojo, Bộ Trưởng Hải Quân là Đô Đốc Shigetaro Shimada chỉ là một anh hề của Tojo. Tổng Tham Mưu Trưởng Hải Quân, Đô Đốc Osami Nagano, lại không đủ mạnh để chống đối các kế hoạch của Lục Quân. Nếu muốn chỉ trích những gì mà Yamamoto đã làm hoặc không làm, các yếu tố vừa nêu cần phải được xét đến, vì các yếu tố nầy đã bó tay ông phần nào.

Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Yamamoto nổi tiếng là một tay “đỏ đen” vào hàng siêu đẳng. Bất cứ trò chơi nào, ông cũng đều vượt trội, nhứt là đánh xì phé. Quyết định tấn công Trân Châu Cảng là một ván bài vĩ đại nhứt của ông, gây tối tăm mặt mủi cho một đối thủ tiền rừng bạc biển. Tuy nhiên có một điều lạ, là khác với một tay đỏ đen thật sự, Yamamoto không bao giờ lập lại “canh bạc xã láng Trân Châu Cảng” một lần nào nữa. Các bài học ở biển San Hô cũng không được ông mang ra áp dụng lại ở trận Midway, trận đánh mà Yamamoto đã hành động một cách sai lầm, là chia lực lượng của ông ra nhiều mục tiêu nhỏ mà không dồn hết nổ lực vào mục tiêu quyết định. Sau nầy, Yamamoto lại cứ mãi bận tâm với vấn đề bảo toàn lực lượng.

Khu trục hạm Amatsukaze, chở đầy những người còn sống sót, lặng lẽ tiến vào hải cảng Truk vào ngày 25 tháng 8 năm 1942. Tôi chắc chắn sẽ nhận được lịnh trở lại nhiệm vụ ngay khi đổ xong người. Nhưng, không một ai trong chúng tôi ngờ rằng Amatsukaze phải đậu ở Truk một tháng trời, trong lúc trận chiến nằm trong giai đoạn ác liệt nhứt. Ở đây, tôi đã thâu thập được nhiều chi tiết về trận hải chiến ở biển San Hô ngày 7 và 8 tháng 5 trước đây, tức là trong thời gian tôi đi phép.

Trận hải chiến nầy bùng nổ là do hậu quả kế hoạch đổ bộ của Nhựt nhằm chiếm giữ hải cảng Moresby, một cứ điểm then chốt của Đồng Minh nằm trên bờ biển phía Nam New Guinea. Trận đánh đã làm Nhựt chìm một hàng không mẫu hạm hạng nhẹ Shoho, và hai hàng không mẫu hạm hạng nặng là Shokaku và Zuikaku bị hư hại đến nỗi không thể tham dự và trận đánh ở Midway xảy ra một tháng sau đó. Qua công bố, Hải Quân Hoàng Gia không đề cập đến sự thiệt hại của Nhựt, chỉ cho biết là Nhựt đã đạt được chiến thắng qua việc đánh chìm được ba hàng không mẫu hạm địch trong trận đánh nầy. Nhưng mất mát thật sự của địch quân gồm có: hàng không mẫu hạm Lexington CV2 36.000 tấn, hàng không mẫu hạm Yorktown bị thiệt hại nhẹ, tàu dầu Neosho và khu trục hạm Soins bị đánh chìm. Mặc dầu các công bố đều nói đến hai tiếng chiến thắng, nhưng rõ ràng Nhựt đang bắt đầu thoái bộ.

Một tháng sau, Nhựt bị đánh tơi bời ở Midway, thiệt mất các hàng không mẫu hạm Akagi, Kaga, Hiryu và Soryu cùng với tuần dương hạm hạng nặng Mikuma, và với sự tham chiến của hàng không mẫu hạm Yorktown của Hoa Kỳ (hư hại trong trận đánh biển San Hô được sữa chữa lại) đã khiến cho Nhật Bản ngẩn ngơ, nhưng cuối cùng nó cùng với khu trục hạm Hammann bị Nhựt đánh chìm trong trận nầy.

Vào thàng 7, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhật Bản lại vấp thêm một lỗi lầm nữa qua cuộc đổ bộ một sư đoàn bộ binh vào Buna, nằm ở bờ biển Đông Papua. Sư đoàn nầy sau khi đổ bộ đã vượt qua dãy nũi Owen Stanley, mưu tấn công hải cảng Moresby. Nhưng con số binh sĩ thiệt mạng do núi non, rừng rậm hiểm trở và khí hậu độc địa gây ra dọc lộ trình di chuyển nhiều hơn là do địch quân gây ra.

Một việc có ý nghĩa là Đồng Minh đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal vào ngày 7 tháng 8, đúng ngày lực lượng Nhựt sa lầy ở Papua. Yamamoto đã đánh giá một cách sai lầm các cuộc hành quân ở Papua và Guadalcanal. Hồi ở Midway ông đã phân chia lực lượng của ông để tấn công cùng một lượt vào các hòn đảo vô giá trị Aleutian, ở Guadalcanal ông cũng chia jai lực lượng, một tấn công hòn đảo nầy và một vào bán đảo Papua. Các cuộc tấn công phân tán đã không kết quả mà còn đưa đến hậu quả tàn khốc.

Vào đêm 24 tháng 8. trong lúc chiếc Amatsukaze đang giải cứu hai phi công, 7 khu trục hạm Nhựt đã đột kích Guadalcanal một cách gần như phí công. Vào hai ngày kế, các phi cơ Nhựt lại tấn công hòn đảo nầy, nhưng cũng không đạt được kết quả là bao. Trong khi đó thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp dàn quanh các đảo Solomon, nhưng lại không nhắm vào một mục đích nào hết. Sự do dự của Yamamoto hiển nhiên ai cũng thấy.

Bốn ngày sau đó, đoàn tàu vận chuyển quân của Đại tá Ichiki một lần nữa cố gắng tiến về Guadalcanal.

Hai mươi khu trục hạm hộ tống đoàn tầu nầy bị phi cơ Đồng Minh tấn công, đánh chìm chiếc Asagiri và gây thiệt hại nặng cho ba khu trục hạm khác là Shirakumo, Yugiri, Amagiri. Yamamoto chần chờ khá lâu mới tung 30 chiến đấu cơ và 30 oanh tạc cơ của hai hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku để yểm trợ đoàn tàu bị tấn công. Nhưng khi các phi cơ nầy đến nơi thì đoàn tàu đã xuôi hướng trở về quần đảo Shortland. Trong khi đó, tiền quân thuộc trung đoàn của Ichiki, nằm kẹt cứng ở một góc đảo Guadalcanal đã lên tiếng kêu cứu. Do đó, sáng ngày 29 tháng 8, binh sĩ lại được đưa xuống 6 khu trục hạm để lên đường tăng viện. Lực lượng 1.000 người nầy đã đổ bộ thành công lên mũi Taivu, nằm giữa bờ biển phía Bắc Guadalcanal, ngay trong đêm.

Lữ đoàn của Trung tướng Seiken Kawaguchi, thoạt đầu dự định đổ bộ lên Papua, đã khởi hành từ Truk để tăng cường thêm cho cánh quân của Ichiki. Trên đường, Lữ đoàn ghé Bougainville, và ngày 30, tiểu đoàn đầu tiên thuộc Lữ đoàn nầy được 3 khu trục hạm vận chuyển đến đảo Guadalcanal. Tiếp theo đó, vào ngày 31. tám khu trục hạm khác đã vận chuyển thêm 1.200 quân nữa. Và vào ngày 1 tháng 9, đơn vị thứ ba của Lữ đoàn xuống 4 khu trục hạm và sau đó đổ bộ lên phía Nam hòn đảo. Ngày kế, 20 chiến đấu cơ và 18 oanh tạc cơ Nhựt tấn công Guadalcanal. Cuộc đổ bộ của toàn thể Lữ đoàn Kawaguchi hoàn tất và ngày 4 và 7 tháng 9.

Trong suốt giai đoạn xảy ra các hoạt động tăng viện nầy, chiếc Amatsukaze của tôi nằm bất động ở Truk, nhưng tôi cũng hình dung được mọi diễn tiến. Tôi biết lực lượng được các khu trục hạm đổ lên bờ chỉ có thể mang các vũ khí nhẹ, và điều nầy khiến cho tôi lo ngại. Bởi vì, cho dù lực lượng Nhựt đông đảo đi nữa, ho cũng không thể nào chịu đựng nổi trước sức đề kháng của lực lượng Hoa Kỳ, được trang bị vũ khí nặng, đã nằm sẵn trên đảo.

Truk hoàn toàn yên tỉnh, sau khi đoàn tàu chở lữ đoàn của Kawaguchi ra đi. Mặt nước hải cảng lặng như tờ. Khung cảnh bình an làm tiêu tan cơn mệt mõi của thủy thủ đoàn Amatsukaze.

Quanh hòn đảo san hô nầy đầy dẫy mọi loại hải sản. Mỗi ngày thuyền chài đều mang cá tươi về. Đó là một cơ hội tốt để đổi món ăn cho những kẻ quanh năm chỉ biết đồ hộp như chúng tôi.

Trong lúc đó, thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp chấm dứt mười ngày “lang thang” vô ích và tiến vào hải cảng Truk ngày 5 tháng 9. Hải cảng rộng lớn nầy bổng nhiên hẹp lại khi 50 chiến hạm, với thiết giáp hạm Yamato, 69.100 tấn dẫn đầu lần lượt ùa vào.

Suốt ba ngày liền thay phiên trên các soái hạm đơn vị, toàn thể hạm trưởng và sĩ quan chỉ huy hội họp để bàn thảo các chi tiết chiến thuật. Cuộc họp cuối cùng mở ra trên soái hạm Yamato, dưới sự chủ tọa của Yamamoto. Các cuộc bàn thảo sơ khởi trước đó đều xoay quanh các phương cách đối phó với những vấn đề không quan trọng. Không thấy ai đề cập đến những khiếm khuyết đã gặp phải trong các cuộc hành quân trước đây. Sự thật, nếu ai mang các vấn đề nầy ra bàn thảo thì không tránh khỏi đụng chạm đến thượng cấp. Do đó, các cuộc bàn thảo sơ khởi không đi đến đâu.

Chủ tọa buổi họp cuối cùng nầy, Đô Đốc Yamamoto ngồi im lặng nghe, và sau cùng để kết thúc buổi họp, ông lên tiếng cảnh cáo sự khinh thường khả năng chiến đấu của Hoa Kỳ và đưa ra chỉ thị đơn giản:

— Phải che đậy hành tung của các hàng không mẫu hạm Nhựt

— Ưu tiên tận dụng sức mạnh không lực để chống lại địch quân

Tôi trở về tàu với tâm hồn trống rỗng, cảm thấy các buổi họp hoàn toàn vô bổ. Gặp Đại úy Shimizu, thấy mặt ông bí xị tôi hỏi: “Gặp rắc rối gì rồi, phải không?”

“Chúng tôi vừa để xẩy một con cá. Ba ngày nay, hạm đội siêu đẳng của chúng ta đã làm lũ cá quanh hòn đảo san hô nầy khiếp đảm.”

Vào ngày 9 tháng 9, Hạm Đội Hổn Hợp rời khỏi Truk, và khu trục hạm Amatsukaze gia nhập trở lại lực lượng đặc nhiệm Nagumo. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ tiến công xả láng Guadalcanal vào ngày 12 tháng 9, đồng lúc với cuộc tấn công của tướng Kawaguchi trên bộ. Tuy nhiên, chúng tôi phải nằm chờ qua đêm 12 để đợi tin tức dứt khoát xem có phải các phi trường ở Guadalcanal hiện nằm trong tay quân Nhựt hay không. Ngày kế đó, chúng tôi lại tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi, cho đến quá nửa đêm, Tổng Hành Dinh Hải Quân ở Rabaul gọi vô tuyến báo tin: “Theo các phi cơ thám thính, các phi trường ở Guadalcanal dường như nằm trong tay các lực lượng của chúng ta.”

Sáng sớm ngày hôm sau, bảy phi cơ thám thính của chúng tôi trở về với đầy đủ các báo cáo trái ngược hẳn với tin tức của Rabaul. Cuối cùng, vào ngày 15, công điện mong đợi cũng đã đến tay chúng tôi, do Kawaguchi gởi. Theo đó lực lượng của ông đã gặp sức chống cự dũng mãnh của địch quân, chịu đựng thiệt hại nặng nề, và bắt buộc phải bỏ rơi các phi trường.

Buổi chiều cùng ngày, phi cơ tuần thám và các tiềm thủy đỉnh của chúng tôi báo cáo một lực lượng đặc nhiệm hùng hậu của địch quân, gồm nhiều hàng không mẫu hạm và thiết giáp hạm, ở cách Đông Nam Guadalcanal 260 dậm. Thiếu tá Takaichi Kinashi, hạm trưởng của tiềm thủy đỉnh I.19, qua một “công điện vui vẻ đầu tiên” trong tuần lễ đầy đen tối nầy, cho biết tàu của ông đã phóng thủy lôi đánh chìm hàng không mẫu hạm Wasp của Hoa Kỳ. (Wasp bị trúng 3 trái thủy lôi của I.19 vào ngày 16 tháng 9, hư hại trầm trọng, nên sau khi di tản thủy thủ đoàn, chiếc tàu được khu trục hạm Lansdowne của Hoa Kỳ ban thêm nhiều phát thủy lôi “ân huệ” để nhận chìm hẳn).

Lực lượng của chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng và nôn nóng chờ đợi thử sức với hạm đội của địch quân. Nhưng sau một tuần chạy lang thang, tất cả chiến hạm Nhựt đều gần cạn nhiên liệu. Chúng tôi phải lấy thêm nhiên liệu từ các tàu chở dầu ở một hải vực cách phía Bắc Guadalcanal 200 dậm. Công việc nầy đã mất hết ba ngày, vì vậy hi vọng đụng độ với địch quân của chúng tôi tiêu tan.

Trong lúc đó, Đô Đốc Yamamoto cuối cùng cũng quyết định cần phải có một sư đoàn đầy đủ quân số để tăng viện cho các lực lượng Nhựt bị kẹt ở Guadalcanal. Do đó, sau khi tiêu thụ một số nhiên liệu khổng lồ mà không thâu hoạch được một lợi lộc gì cả, Hạm Đội Hổn Hợp quay trở lại Truk để chờ đợi quân.

Cũng trong thời gian nầy, Yamamoto ra lịnh cho Đề Đốc Kakuji Kakuta, hiện đang đảm trách về việc huấn luyện 3 hàng không mẫu hạm mới trong hải phận Nhựt, đem các tàu của ông đến Truk càng sớm càng tốt. Yamamoto cũng quyết định ngưng các cuộc hành quân để chờ đợi Đệ Nhị Hạm Đội của Kakuta. Cho mãi đến ngày 9 tháng 10, hạm đội nầy mới đến được Truk. Do đó, sau khi địch quân đổ bộ lên Guadalcanal, Nhật Bản mất hai tháng tròn mới chuẩn bị được một lực lượng phản công đầy đủ.

(Hàng Không Mẫu Hạm Hiyo và Junyo, cả hai chiếc đều biến cải từ tàu vận tải lớn vào năm 1940, sau khi hoàn tất trang bị và thử nghiệm nó được đưa sang tham gia chiến dịch ở Guadalcanal, chiếc Hiyo hư máy phải về Nhật sửa chữa và hoạt động động lại vào đầu năm 1943, chiếc nầy bị đánh chìm trong trận Leyte, nó thuộc hạm đội “chim mồi” của Đô Đốc Ozawa. Junyo thì may mắn hơn, tham gia trận đánh Santa Cruz sau Guadalcanal và các chiến dịch lớn khác, và ngoạn mục nhất là sống sót qua trận Leyte trong khi các mẫu hạm hiện đại nhất Taiho và hai mẫu hạm vinh quang Zuikaku và Shokaku cùng các tiểu mẫu hạm khác đều bị đánh chìm. Cả hai chiếc Hiyo và Junyo đều được trang bị pháo khẩu 130 ly để tự về và hơn 80 khẩu phòng không 25 ly, sang năm 1944 nó còn được trang bị các dàn rocket 130 ly và có khả năng mang theo 53 máy bay các loại, thông thường là 12 Zero, 18 Val và 18 Kate. Hàng không mẫu hạm Zuiho, đây là mẫu hạm nhẹ cùng loại với chiếc Shoho bị đánh chìm ở trận hải chiến biển San Hô, 14.200 tấn, nguyên thủy là một tàu dầu hạ thủy năm 1934 đến năm 1940 được sửa đổi thành một tàu chở tiềm thủy đỉnh tốc độ cao, nhưng sau đó vì mục đích xây dựng lực lượng hàng không mẫu hạm quan trọng hơn nên nó được chuyển đổi một lần nữa thành mẫu hạm hộ tống hạng nhẹ mang được 30 máy bay, trang bị súng 130 ly và 56 khẩu phòng không 25 ly. Zuiho tham chiến ở các chiến dịch tấn công Phi Luật Tân và cuộc hành quân Midway nhưng không đụng độ với Mỹ nhiệm vụ của Zuiho là hộ tống. Tháng 10 năm 1942, Zuiho tham gia trận đánh Santa Cruz và bị trúng bom từ các oanh tạc cơ SBD, sức nổ phá tan gần như đường băng sân bay và nó bị loại khỏi vòng chiến, tuy nhiên sau khi sửa chưa tháng 1 năm 1943 Zuiho quay lại Guadalcanal một lần nữa kết hợp với Zuikaku và Junyo tấn công Guadalcanal. Sau chiến dịch ở Guadalcanal, Zuiho bị đánh chìm trong trận đánh ở vịnh Leyte.)

4

Một nhà quân sự tài ba của Trung Hoa đã viết: “Một chiến thuật gia khôn khéo có thể ví như một con rắn: đầu bị đánh thì đuôi sẽ dậy, còn đuôi bị đánh thì đầu sẽ dậy. Còn nếu bị đánh ở giữa thì đầu và đuôi của nó đều dậy.”

Tháng 10 năm 1942, Hạm Đội Hổn Hợp của Đô Đốc Yamamoto lần đầu tiên áp dụng “xà trận” nầy. Đầu của con rắn là Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo, thân con rắn là phân đội riêng của Yamamoto, và đuôi của con rắn là các chiến hạm mới đến, dưới quyền chỉ huy của Đề Đốc Kakuta.

Hàm răng sắt của Nagumo là hai hàng không mẫu hạm Zuikaku và Shokaku (29.800 tấn mỗi chiếc và tổng số trang bị và chuyên chở lên đến 40.000 tấn). Đây là hai hàng không mẫu hạm tối tân nhất của Nhựt Bản thời ấy, gồm toàn thủy thủ đoàn và phi công chọn lọc. Thêm vào đó còn các hàng không mẫu hạm biến bải Hiyo, Junyo (mỗi chiếc 27.500 tấn) và Zuiho (13.100 tấn) của Đề Đốc Kakuta. Các chiếc tàu sau gồm thủy thủ đoàn và phi công mới huấn luyện, nhưng dưới bàn tay trui rèn của Kakuta, sự thiếu kinh nghiệm của họ cũng được bù đắp phần nào. Kakuta là một vị Đề Đốc trẻ tuổi nhứt dưới quyền của Yamamoto, và là một tay chiến đấu chưa hề biết lùi bước. Ông đến Truk với ý định phục thù cho hàng không mẫu hạm Ryujo, chiếc tàu mà ông từng chỉ huy trước đây. Theo Kakuta, Ryujo sở dĩ bị đánh chìm trong trận hải chiến ở Đông Solomon là do sự cẩu thả của giới chỉ huy cao cấp của Hải Quân Nhựt. Ông cũng tỏ ra tức tối cuộc đại bại ở Midway. Lúc đó ông đang bận chỉ huy lực lượng 2 xung kích tấn công các đảo Aleutian, nên không rảnh tay để nhảy vào tham chiến. Trong trường hợp nầy ông không khác nào cái đuôi con rắn bị kéo đi quá xa, nên không thể nào quật được khi cái đầu của nó bị đánh.

Vào tháng 9 năm 1942, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia ở Đông Kinh ý thức được tình thế nghiêm trọng nên đã cho phép Yamamoto tập trung nổ lực vào cuộc hành quân Guadalcanal và “bỏ rơi” cuộc hành quân ở Palau. Do đó, ông có cơ hội trở thành “một chiến thuật khôn khéo” như lời của nhà quân sự tài ba Trung Hoa, nhưng ông không thực sự tự do để khai thác đầy đủ cơ hội nầy. Lục Quân vẫn giữ các quyết định tối hậu.

Lục Quân đã chuyrn sư đoàn 2 Bộ Binh của họ đóng ở Java đến Rabaul và đòi hỏi “một cuộc hành quân phối hợp Hải Lục ở Guadalcanal”. “Hành quân phối hợp Hải Lục” có nghĩa là lục quân cung cấp binh sĩ và vũ khí, còn hải quân chỉ có nhiệm vụ chuyển vận và yểm trợ mà thôi. Lục quân có trong tay phân nửa tổng số phi cơ chiến đấu của Nhật Bản, nhưng họ không cung cấp một chiếc nào cho cuộc hành quân nầy. Như vậy, ý niệm về một cuộc “hành quân phối hợp” của Nhựt khác xa của Hoa Kỳ.

Khi cuộc hành quân đổ bộ Guadalcanal được chuẩn bị, các chiến hạm được mang danh là “Chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh”(tức các khu trục hạm) lãnh nhiệm vụ chuyên chở sư đoàn 2 Bộ Binh. Đây là các khu trục hạm thuộc Đệ Bát Hạm Đội của Đề Đốc Gunichi Mikawa ở Rabaul.

Lực Lượng Đặc Nhiệm của Đề Đốc Kakuji Kakuta rời khỏi Truk vào ngày trước đó để bắn phá đảo Ndeni, thuộc nhóm phía Bắc Satan Cruz, vì chúng tôi cho rằng các thủy phi cơ của Hoa Kỳ hiện đóng tại đây. Nhưng trước khi chúng tôi đến địch quân đã rút đi hết. Chúng tôi quay lại phía Bắc quần đảo Solomon vào ngày 15 tháng 10, để kết hợp với lực lượng đặc nhiệm Nagumo đã rời Truk ngày 11.

Các “chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh” của Đề Đốc Mikawa, qua tám chuyến chuyên chở vào những ngày từ 2 đến 11 tháng 10, đã đổ 10.000 binh sĩ của Sư Đoàn 2 lên Guadalcanal một cách suông sẽ và thành công đến nỗi gây kinh ngạc cho Đồng Minh.

Trong thời gian nầy chỉ có một cuộc đụng độ nhỏ vào ngày 11 giữa hải đội 6 tuần dương hạm của Đề Đốc Aritomo Goto và Lực Lượng Đặc Nhiệm 64 của Đề Đốc Hoa Kỳ Norman Scott. Nhóm chiến hạm hộ tống bị lực lượng của Scott phục kích ở eo biển nằm giữa Savo và nhóm đảo Guadalcanal, và trận đánh nầy thường gọi là trận đánh Cape Esperance. Lực lượng Hoa Kỳ gồm 4 tuần dương hạm và 5 khu trục hạm trong khi Nhựt chỉ có 3 tuần dương hạm và 2 khu trục hạm. Cuộc quần thảo dữ dội kết thúc với hai chiến hạm Nhạt là Furutaka bị đánh chìm và tuần dương hạm Aoba bị hư hại nặng, phía Hoa Kỳ có khu trục hạm Duncan chìm, khu trục hạm Farenholt và hai tuần dương hạm Salt Lake City và Boise hư hại nặng. Sự thiệt hại to tát của Nhật Bản trong trận đánh nầy là cái chết của Đề Đốc Goto, nhưng cũng có cái lợi là đuổi sạch tàu chiến của Hoa Kỳ trong hải vực nầy. Do đó, phó Đô Đốc Takeo Kurita có thể đưa hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna của ông tiến sát vào bờ biển Guadalcanal vào đêm 13 thán 10 để mở các cuộc pháo kích và cánh sườn của địch quân.

Đây là bước đầu phế bỏ chánh sách “cất giữ” thiết giáp hạm do Yamamoto chủ trương trước đây. Trong các cuộc hành quân đã qua, ông luôn luôn từ chối đưa các thiết giáp hạm đến gần các khu vực chiến đấu. Và trong cuộc hành quân nầy, Yamamoto cũng tận dụng không yểm, phát xuất từ một phi trường ở Bougainville, cho thấy là bài quyết định đã được ông đánh xuống.

Lúc 23 giờ ngày 13 tháng 10, hai thiết giáp hạm, mỗi chiếc 27.500 tấn, tiến vào cách bờ biển trong vòng một dậm, với vận tốc trung bình 18 hải lý, và cả 16 khẩu trọng pháo đồng loạt nả 918 trái đạn và phi trường của địch quân. Phi trường bốc cháy suốt 24 tiếng đồng hồ. Trước màn ngoạn mục nầy, tất cả binh sĩ đã đổ bộ lên Guadalcanal đều phấn khởi và thúc giục Yamamoto “trình diễn” một lần nữa. Yamamoto đồng ý, và đêm sau hai tuần dương hạm Chokai và Kinugasa của Đề Đốc Mikawa chạy dọc theo bờ biển, dập phi trường địch thêm 753 trái đại pháo nữa.

(Thiết Giáp Hạm Kongo và Haruna cùng lớp, trọng tải 27.500 tấn, hạ thủy năm 1915, lớp thiết giáp hạm nầy gồm 4 chiếc Kongo, Hiei, Haruna và Kirishima, nguyên thủy được xem là thiết giáp tuần dương hạm, trang bị 8 đại pháo 350 ly, 16 đại pháo 150 ly và nhiều loại vũ khí khác, nó đạt tốc độ 30 hải lý (sau khi cải tiến lại trong thập niên 30), thủy thủ đoàn 1437 người, cả 4 chiếc đều bị đánh chìm trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Hiei và Kirishima bị đánh chìm ở Guadalcanal, Kongo mất trong trận Leyte còn Haruna sau khi đào thoát được về quân cảng Kure và buông neo trốn trong quân cảng cũng không thoát các phi cơ của Lực Lượng Đặc Nhiệm 58 của Hoa Kỳ, nó bị đánh chìm vào ngày 28 tháng 7 năm 1945, chưa đầy một tháng sau Nhật đầu hàng).

Trong các ngày nầy hải quân đảm trách những công việc nhẹ nhàng, và chỉ có một nhiệm vụ được xem là quan trọng, đó là nhiệm vụ tải võ khí nặng để trang bị cho quân đổ bộ. Trong khi đó, lực lượng của Hoa Kỳ đã bắt đầu phản công. Vào ngày 15 tháng 10, phi cơ Hoa Kỳ đã đánh chìm hoặc gây hư hại cho 6 tàu chuyển vận của Nhật Bản. Và sáng sớm ngày 17, hai khu trục hạm Hoa Kỳ đã pháo kích cháy nhiều tàu tiếp tế của Nhựt, và buổi trưa cùng ngày, 7 oanh tạc cơ trở lại “dọn dẹp” thêm một lần nữa.

Vì thiếu phương tiện cơ động để nhanh chóng chuyển đồ tiếp tế từ tàu lên bờ cất dấu tại những nơi an toàn, Nhật Bản đã phải chịu đựng sự thiệt hại nặng nề. Chúng tôi chỉ biết nhìn ngọn lửa bốc cao mà lắc đầu.

Các chiến hạm Hoa Kỳ sau khi hoàn tất nhiệm vụ đã rút lui và bị phát hiện cách phía Nam Guadalcanal 110 dậm, nhưng lực lượng Kakuta lại nằm cách phía Bắc hòn đảo 200 dậm, thành thử không thể nào truy đuổi được.

Khi Yamamoto tăng cường trong khu vực, địch quân đã hành động đúng theo Tôn Tử binh pháp:

“Khi đương đầu với một lực lượng địch quân mạnh mẽ, phải chờ lúc tinh thần của lực lượng đó suy vi mà đánh… một lực lượng vừa phất cờ giống trống ra quân bao giờ cũng hăng hái, chúng ta nên tránh né. Lực lượng nầy sẽ mệt mõi và biếng nhác hẳn khi trên đường trở về điểm xuất phát, đây là lúc nên đánh.”

Hai lực lượng đặc nhiệm hải quân Nhựt đã ở trên hải vực phía Nam quần đảo Solomon hơn một tuần lễ mà không hề đụng một trận nào có thể gọi là dữ dội với địch quân, thành thử đã bắt đầu uể oải, tinh thần hăng hái trước đó tan biến dần.

Đồng thời, đến ngày 20 tháng 10, chúng tôi cũng đã hết kiên nhẫn trong việc chờ đợi các lực lượng đổ bộ ở Guadalcanal mở một cuộc tấn công toàn diện. Sư đoàn 2 Bộ binh, hiện có mặt trên đảo Guadalcanal, chính là sư đoàn chiếm đóng Nam Kinh trong cuộc chiến tranh Hoa Nhựt trước đây, và gây nhiều tai tiếng không tốt cho Nhật Bản qua các hành động dã man và hãm hiếp của họ trong thành phố nầy. Mới đây, sư đoàn nầy cũng đã đánh chiếm Java một cách dễ dàng. Nhưng ở Guadalcanal sư đoàn đành phải bó tay một cách không ngờ trước khí hậu độc địa và địa thế hốc búa trên hòn đảo. Hiện tại, với hơn phân nửa trang bị vừa mới đưa đến đã bị chiến hạm và phi cơ của Hoa Kỳ thêu rụi, sư đoàn đang chiến đấu trong tình cảnh nguy ngập thực sự.

Nhưng mặc dù tình thế của bộ binh nguy ngập như vậy cuộc phản công dự định vào ngày 20 tháng 10 lại đình hoãn trong lúc hải quân đã thấy chán nãn vì bị chôn chân một chổ. Và không may hơn nữa, hàng không mẫu hạm Hiyo, soái hạm của Đề Đốc Kakuta, bị trục trặc máy móc vào ngày 22 tháng 10, sửa chửa cách nào cũng không được. Hàng không mẫu hạm nầy nguyên thủy sử dụng kiểu máy móc của một chiếc tàu vận tải, vì vậy trước đó nó cũng không đầy đủ khả năng của một hàng không mẫu hạm. Kakuta đã dời bộ chỉ huy sang hàng không mẫu hạm Junyo và ra lịnh cho chiếc Hiyo trở về Truk. Trên hải trình trở về chiếc Hiyo không thể nào chay nổi quá 6 hải lý một giờ.

Một cuộc tấn công dữ dội đang được Hoa Kỳ sắp xếp nhằm vào hải quân Nhựt hơn là nhắm vào các lực lượng Nhựt đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal. Hiện thời Lực Lượng Đặc Nhiệm của Kakuta chỉ còn một hàng không mẫu hạm. Chiếc Zuiho được chuyển đến cho lực lượng đặc nhiệm của Nagumo trước đó. Như vậy khúc đuôi của “con rắn” đã mất hết hai phần ba sức mạnh. Các lực lượng hăng hái và khỏe mạnh của Hoa Kỳ đang trong tư thế sẵn sàng khai chiến.

5

Quá trưa ngày 24 tháng 10, Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo ngồi trầm ngâm trong cabin trên hàng không mẫu hạm Shokaku.

Sau cuộc chiến ở Midway, ông trở nên cằn cổi. Tóc ông đã ngã sang màu muối tiêu, mặt mày hốc hác và luôn luôn cau có. Ông liếc nhìn hai mảnh giấy trên bàn. Ông đã đọc hàng trăm lần để cố gắng hiểu ý nghĩa của những dòng chữ chứa đựng trong hai mảnh giấy nầy. Một mảnh để ngày 20 tháng 10 cho biết hải quân Hoa Kỳ đang chuẩn bị một trận đánh Hải Không hổn hợp quan trọng ở Nam Thái Bình Dương. Nagumo tự hỏi không hiểu có đúng hay không, hay là một tin tức đánh lừa?

Mảnh giấy thứ hai là con số những chiến hạm của địch quân được phi cơ thám thính của Nagumo phát hiện trong thời gian lực lượng của ông có mặt trong khu vực, theo đó từ 12 đến 24 tháng 10, hàng không mẫu hạm của địch quân vắng bóng, ngoại trừ hai chiếc liên hiệp vào ngày 13. Thiết Giáp Hạm của địch cũng ít ỏi, hai ba chiếc và nhiều nhứt là 5 chiếc vào ngày 24. Con số tuần dương hạm nhiều hơn, nhưng nhiều nhứt là 8 chiếc vào ngày 16. Riêng khu trục hạm của địch có con số đáng kể, 15 chiếc vào ngày 16 và 19 chiếc vào ngày 24.”

“Như vậy các hàng không mẫu hạm địch vắng bóng trong khu vực suốt một tuần lễ.” Nagumo lẩm nhẩm. “Sự vắng mặt nầy có ý nghĩa gì?”

Ông đứng dậy đi qua đi lại trong phòng. Ông chợt dừng lại và mỉm cười. Ông nghĩ đến lời khuyên của Tôn Tử: “Một lực lượng địch quân hăng hái nên né tránh, hãy chờ cho lực lượng nầy chán nãn và trễ biếng rồi sẽ đánh.” Một tiếng gõ cửa, và một trong những sĩ quan tham mưu của Nagumo bước vào.

Đó là Trung tá Toshitane Takada. Sau khi chào, ông ta lên tiếng: “Thưa Đô Đốc, truyền tin báo cáo là thình lình họ đã bắt được một số công điện dồn dập, mà họ không hiểu nghĩa, nhưng rõ ràng đó là những công điện trao đổi giữa tiềm thủy đỉnh và phi cơ của địch quân lai vãng đâu đây.”

Nagumo gật đầu: “Tốt! Hãy gọi Tham Mưu Trưởng Kusaka lập tức.”

Đề Đốc Ryunosuke Kusaka, một người hăng hái và nặng kí ba chân bốn cẳng từ phòng chỉ huy chạy đến.

Nagumo hỏi: “Vấn đề tiếp tế xăng nhớt cho tàu bè chúng ta như thế nào?”

Kusaka đáp: “Thưa Đô Đốc, tất cả đang nhận từ các tàu chở dầu.”

Nagumo gật đầu: “Tốt! Báo cho tất cả hạm trưởng biết họ sắp sửa nhận một nhiệm vụ quan trọng. Các chiếc tàu đã lấy dầu xong thì phải trở về đội ngũ ngay.”

Cũng khoảng thời gian nầy, trên hàng không mẫu hạm Junyo, Đề Đốc Kakuji Kakuta, đang nghe tin tức của đài phát thanh Hạ Uy Di. Theo đó, một trận đánh Không Hải quan trọng sắp xảy ra gần Salomon được xác nhận của xướng ngôn viên địch. Kakuta cũng đã xem qua hai mảnh báo cáo giống như của Nagumo. Kakuta khịt mủi và day lại sĩ quan không quân của ông, Thiếu tá Masatake Okumiya: “Tốt! Masatake, anh nói gì?”

Viên sĩ quan thông minh và hoạt bát, đôi mắt long lanh trên khuôn mặt bị nám đen do một tai nạn rớt phi cơ gây ra trước đây, hắng giọng và nói một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Đề Đốc, ngày 27 tháng 10 là ngày của hải quân Hoa Kỳ.”

Kakuta, một tay chiến đấu không biết mệt, nhảy dựng lên và cất tiếng cười to: “Tuyệt diệu, tuyệt diệu. Hay chuẩn bị gấp mấy món quà Ngày hải quân hậu hỉ cho mấy tên Yank tự phụ nầy.”

Trên soái hạm Shokaku, Nagumo vẫn hội hợp với Kusaka. “Thế trận của chúng ta hiện tại đã dàn như thế nào?” Nagumo hỏi. Kusaka đáp: “Hai thiết giáp hạm Hiei và Kirishima, tuần dương hạm Chikuasa và 7 khu trục hạm của Đô Đốc Kiki Abe, cách phía trước chúng ta 60 đến 80 dậm tức hướng Nam. Tuần dương hạm Tone và khu trục hạm Terutsuki của Đề Đốc Chuichi Hara ở hướng Đông cách đây 200 dậm. Lực lượng của Đề Đốc Kakuta cách 300 dậm hướng Tây.”

“Có tin tức gì về các hàng không mẫu hạm địch không?”

“Dạ không!”

Một khoảng im lặng ngắn ngủi được Nagumo phá vở với một câu nói có hơi lưỡng lự và nghĩ ngợi: “Ở Midway, địch quân đã chọn lựa thời gian để đánh chúng ta. Hiện tại chắc họ cũng làm như vậy, những mục tiêu mà họ nhắm vào chúng ta đã rõ như ban ngày, nhưng chúng ta vẫn đui mù.”

Trung tá Takada, một sĩ quan tham mưu, lên tiếng: “Xin lỗi, thưa Đô Đốc, tôi có thể mạn phép đề nghị gởi một công điện cho Yamato (tức soái hạm của Yamamoto lúc đó ở Truk) để xin các chỉ thị?”

Nagumo im lặng. Kusaka nhắm mắt một lát, sau đó mở bừng ra nói: “Phải, Takada, hãy chuyển một công điện như sau: Kusaka, Tham Mưu Trưởng Đệ Nhứt Không Hạm Đội gởi Phó Đô Đốc Matome Ugaki, Tham Mưu Trưởng Hạm Đội Hổn Hợp. Tôi xin mạn phép đề nghị ngừng bước tiến về phía Nam của chúng ta cho đến khi nào chúng ta nhận được tin tức dứt khoát cho biết Lục Quân đã chiếm giữ các phi trường ở Guadalcanal. Hình như chúng ta càng lúc càng chui đầu vào rọ nếu chúng ta cứ tiếp tục dấn bước thêm.”

Nagumo chăm chú lắng nghe và gật đầu để chứng tỏ sự đồng ý của ông. Công điện được gởi đi và ca bin chìm trong nổi lặng im trĩu nặng. Nagumo và bộ tham mưu quyết định bất động để chờ hồi đáp.

Khu trục hạm Amatsukaze lúc đó đang chạy cách tả mạn soái hạm Shokaku của Nagumo 2.000 thước. Tàu của tôi, một tuần dương hạm và 9 khu trục hạm là nhóm chiến hạm bao quanh chiếc Shokaku và hai hàng không mẫu hạm Zuikaku và Zuiho thuộc Hải Đội 1 Hàng Không Mẫu Hạm. Nagumo và Kusaka cùng học hỏi được một bài học cay đắng và đắc giá ở Midway, nên cả hai không dám khinh suất trong thời gian nầy.

Vừa bước qua nửa đêm, phúc đáp đến từ Truk: “Ugaki gởi Kusaka: lực lượng của ông tiếp tục tiến nhanh về phía địch quân. Các lịnh hành quân vẫn duy trì.”

Kusaka bậm môi. Takada kêu trời. Nagumo khịt mủi, và sau đó nói một cách trầm tỉnh: “Được, ra lịnh cho các hàng không mẫu hạm lấy thêm nhiên liệu.”

Ba hàng không mẫu hạm chạy chầm chậm để lấy nhiên liêu trong bóng đêm. Bình minh ngày 25 tháng 10, mọi việc đang xúc tiến đều đặn thì một báo cáo bay đến ca bin của Nagumo làm đảo lộn tất cả. Nagumo lúc đó còn đang ngủ.

Mọi người đều bàng hoàng, và hiểu là chúng tôi đã thoát bẩy của địch quân chỉ trong đường tơ kẻ tóc. Nếu chúng tôi tiếp tục tiến về hướng Nam ma không xoay hai lần để chạy về hướng Bắc, lực lượng Hoa Kỳ có thể đánh tập hậu chúng tôi, và chúng tôi sẽ rước thêm thảm bại nhục nhã.

Trên đài chỉ huy của soái hạm Shokaku, Phó Đô Đốc Nagumo mỉm cười lần đầu tiên sau nhiều giờ lo âu. Ông ra lịnh cho phi cơ cất cánh. Mọi người đã học được bài học ở Midway, nếu vì ngần ngừ một chút thì thảm họa có thể xảy ra. Hai hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku tung 40 oanh tạc cơ và 27 chiến đấu cơ lên trong vòng 15 phút. Sự nhậm lẹ nầy trái ngược hẳn với sự chậm chạp như rùa của chiếc Ryujo cách hai tháng trước đây cũng trong khu vực nầy.

Hai phi cơ tuần thám của Hoa Kỳ bổng xuất hiện, bay vượt qua đầu chúng tôi và bỏ vài trái bom xuống ngay hàng không mẫu hạm Zuiho. Một trái bom nổ tung trên sân bay và phát hỏa. Ngọn lửa được dập tắt ngay, nhưng sân bay của Zuiho bị thiệt hại nặng.

Hạm trưởng của Zuiho cho biết phi cơ của ông vẫn còn cất cánh được nhưng không thể trở về. Sau khi cho cất cánh tất cả chiến đấu cơ, Nagumo ra lịnh cho chiếc Zuiho rút lui.

Những chất dẫn hỏa trên sân tàu của tất cả chiến hạm được lịnh dọn dẹp, và mọi thùng đựng nước để chửa cháy đều mở nắp. Địch quân đã biết vị trí của lực lượng chúng tôi và ồ ạt xuất hiện không biết lúc nào.

Một làn sóng tấn công thứ nhì của Nhật Bản, bao gồm 16 chiến đấu cơ, được tung ra vào lúc 6 giờ sáng. Hiện tại, tất cả hàng không mẫu hạm không còn được một chiếc phi cơ nào bao che. Chúng tôi phải ra tay trước, đánh phủ đầu địch quân.

Trong lúc đó, trên hàng không mẫu hạm Junyo, Đề Đốc Kakuta đã tỏ vẽ tức tối khi biết địch quân còn cách ông đến 300 dậm. Ông ra lịnh cho các chiến hạm của ông xả hết tốc lực về hướng Đông Nam. Chiếc Junyo, một hàng không mẫu hạm biến cải, đã chạy với tốc độ 26 hải lý thay vì 20 hải lý như thường khi bức xa 3 khu trục hạm hộ tống chạy phía sau. Đây là lần đầu tiên các thủy thủ khu trục hạm nhìn thấy soái hạm chậm chạp nầy rời bỏ họ khá xa như vậy, cho đến cả tiếng đồng hồ sau họ mới đuổi theo kịp. Mục tiêu cách 330 dậm không phải quá xa. Kakuta có thể xử dụng phi cơ quày lai Shokaku hay Zuikaku để chỉ huy. Nhưng ông muốn mặt đối mặt với quân địch.

Lúc 7 giờ 14 phut, Kakuta tung 29 phi cơ làm ba đợt để tấn công địch quân. Sau đó, các phi cơ báo cáo: “Nhìn thấy hàng không mẫu hạm địch… tất cả phi cơ đều nhào xuống.” Bốn mươi oanh tạc cơ và các phi cơ trang bị thủy lôi đã tập trung bom vào hàng không mẫu hạm Hornet của Hoa Kỳ, kéo dài 10 phút. Nhiều trái bom đã trúng thẳng mục tiêu.

Tôi đã tạm quên các tin tức đầy phấn khởi nầy, khi một oanh tạc cơ quay trở về và cố đáp trên chiếc Shokaku, nhưng vì hỏng máy nên chiếc phi cơ đã chúc xuống biển, phía sau hàng không mẫu hạm. Khu trục hạm Amatsukaze chạy đến vớt phi công. Trong khi công việc đang xúc tiến, phi cơ địch bay đến. Báo động toàn thể, và tất cả mọi người đều xoay sang chiến đấu. Tôi liếc nhìn nhận thấy khoảng một chục oanh tạc cơ địch thoát ra khỏi mây, bay thấp ở độ cao 2.000 thước. Tôi tiếp tục công việc giải cứu phi công lâm nạn, vì tin rằng phi cơ địch sẽ chọn hàng không mẫu hạm Shokaku để tấn công hơn là chiếc tàu bé nhỏ của tôi.

Trong khi Amatsukaze quay lại, với hai phi công được giải cứu, tất cả chiến hạm khác của Nhật đều khai hỏa vào nhóm phi cơ địch đang bay đến. Cùng lúc sáu chiến đấu cơ của chúng tôi lập tức cất cánh. Amatsukaze nhảy ngay vào vòng chiến. Hành động phản công nhanh nhẹn của Nhựt khác xa hai tháng trước đây khi hàng không mẫu hạm Ryujo chịu đựng cuộc không kích biết bao.

Hai phi cơ trang bị thủy lôi địch trúng đạn của chiến đấu cơ Nhựt, bốc khói và nổ tung. Một chiến đấu cơ của chúng tôi đâm thẳng vào một oanh tạc cơ địch gây ra một tiếng nổ kinh hồn, và cả hai tan ra từng mãnh. Hai oanh tạc cơ khác của địch trúng đạn cao xạ, đâm đầu xuống biển. Một việc lạ lùng là chúng tôi không nhìn thấy một chiến đấu cơ nào của địch quân. Tôi tự hỏi tại sao địch quân lại không cho loại phi cơ hộ tống nầy bay theo?

Con số phi cơ địch giảm xuống nhanh dần. Hỏa lực phòng không của chiến hạm Nhựt tạo một màn lửa dầy đặt trên không. Có thể xem như chúng tôi đẩy lui cuộc tấn coogn với sự thiệt hại ít ỏi. Amatsukaze chạy theo hình chữ chi với vận tốc 33 hải lý để chiến đấu, nhưng luôn luôn dòm chừng chiếc soái hạm Shokaku, vì nó cần được bảo vệ tối đa.

Tôi nhìn thấy hai oanh tạc cơ chui xuyên qua màn hỏa lực của chiếc Shokaku và đâm thẳng vào chiếc tàu nầy từ một độ cao khoảng 7.000 thước, nhưng cuối cùng nó bổng bay vượt lên và biến mất trong mây. Cùng lúc hai hoặc bốn vệt sáng trắng giống như các làn chớp, rơi xuống khoảng giữa chiếc soái hạm, trúng một nơi gần đài chỉ huy và bùng cháy. Khói lan tỏa ra mọi phía, bao phủ toàn thể sàn tàu. Vào giây phút cuối cùng của cuộc tấn công, soái hạm Nhựt lãnh 4 trái bom.

Shokaku xoay hướng, vẫn chạy với tốc độ 30 hải lý, hiển nhiên máy móc của nó không hề hấn gì, và bắt đầu rút lui với hai khu trục hạm hộ tống. Trước khi rời khu vực, Nagumo chỉ thị cho tôi bảo vệ Zuikaku, hàng không mẫu hạm duy nhứt còn hoạt động của ông. (Còn hàng không mẫu hạm Junyo, nằm trong lực lượng tiền phương của Kondo, nhưng không nằm dưới quyền chỉ huy của Nagumo).

Tôi vẫn còn ngơ ngác, không hiểu tại sao Shokaku, với các phi công tài ba và thủy thủ đoàn kinh nghiệm, lại tỏ ra yếu kém như vậy? Việc chiếc Ryujo bị đánh chìm không làm tôi ngạc nhiên mấy, vì kinh nghiệm chiến đấu nghèo nàn của nó, nhưng chiếc Shokaku bị loại ra khỏi vòng chiến mới gây xúc động thật sự cho tôi. Tuy nhiên, tôi không có thời giờ để nghĩ vẫn vơ.

Làn sóng tấn công của phi cơ địch đã chấm dứt, nhưng các làn sóng khác sẽ ào đến không biết lúc nào để tấn công hàng không mẫu hạm duy nhứt còn lại. Hơn nữa, chiếc Zuikaku phải nhận tất cả các phi cơ của ba hàng không mẫu hạm khác đang hoạt động trở về. Dĩ nhiên, có một số phi cơ bắt buộc phải đáp xuống biển vì một mình chiếc Zuikaku không đủ chổ chứa. Khu trục hạm Amatsukaze xả hết tốc lực chạy lại gần chiếc Zuikaku.

Một giờ trôi qua, không thấy cuộc tấn công nào mới của địch quân.

Các phi cơ của hàng không mẫu hạm Zuikaku trở về từng nhóm nhỏ. Theo báo cáo của các phi công chúng tôi mới biết tại sao oanh tạc cơ địch không có chiến đấu cơ bay theo bảo vệ. Phi xuất đầu tiên của Nhựt bao gồm 40 oanh tạc cơ và 27 chiến đấu cơ đã đụng đầu với nhóm phi cơ tấn công thứ nhứt của địch quân trên không. Một sự đụng độ ít thấy xảy ra trước đây. Phân nữa con số phi cơ Nhựt mở ngay một cuộc không chiến dữ dội với phi cơ địch trên Thái Bình Dương. Tám chiến đấu cơ địch bị bắn rơi, nhưng chúng đã cầm chân được các phi cơ Nhựt để cho oanh tạc cơ thoát đi và tấn công, loại soái hạm Shokaku ra khỏi vòng chiến. Đồng thời, nửa nhóm phi cơ Nhựt còn lại vẫn tiếp tục bay đến tấn công mục tiêu là hàng không mẫu hạm Hornet của Hoa Kỳ. Nhưng lực lượng tấn đã giảm đi sức mạnh nên gặp nhiều khó khăn. Kết quả 7 oanh tạc cơ Nhựt bị bắn hạ nhưng cũng gây thiệt hại nặng cho chiếc Hornet. Địch quân đã bỏ rơi hàng không mẫu hạm nầy sau đó.

Như vậy, nhóm 27 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của hàng không mẫu hạm Hornet đã tấn công đơn vị tiền phương của chúng tôi, còn nhóm phi cơ ít hơn của hàng không mẫu hạm Enterprise tấn công soái hạm Shokaku. Tại sao nhóm phi cơ lớn hơn lại chọn mục tiêu là các tuần dương hạm đi đầu thay vì hai hàng không mẫu hạm của chúng tôi, cho đến bây giờ tôi cũng không thể đoán ra. Các tuần dương hạm tiền phương lúc đó đang chạy cách 120 dậm phía trước chúng tôi, thay vì 60 dậm như trước đây. Việc nầy là do hai lần đổi hướng của Nagumo. Trong cuộc oanh kích chỉ có tuần dương hạm Chikurma bị tổn hại do 7 trái bom gây ra, và được hai khu trục hạm hộ tống về Truk. Cuộc taasnc ông của các phi cơ địch thất bại đã làm cho thế cờ lật ngược. Trong khi chiếc Hornet bị bỏ rơi, chiếc Enterprise bị các đợt phi cơ mới tung lên của Nhựt tấn công vũ bảo nên Đề Đốc Kinkaid đã ra lịnh cho tất cả lực lượng của ông rút lui.

Sau cuộc tấn công, năm khu trục hạm, bao gồm chiếc của tôi, chạy quanh hàng không mẫu hạm Zuikaku để giải cứu các phi công đâm đầu xuống biển. Amatsukaze vớt được hai phi công oanh tạc cơ. Kế đó, một oanh tạc cơ trang bị thủy lôi hạ cánh xuống sân tàu nhưng không thể ngừng lại được nên đã chạy vượt ra phi đạo và đâm đầu xuống biển. Chiếc tàu của tôi chạy nhanh đến giải cứu nhưng không kịp, cả phi công và phi cơ đều chìm sâu dưới đáy biển.

Một chiến đấu cơ khác đâm đầu xuống biển, song song với Amatsukaze. Tôi ra lịnh xả hết tốc lực chạy đến và ngừng lại để giải thoát phi công trước khi chiếc phi cơ chìm xuống. Phi công nầy bị thương nặng, khi chúng tôi mang lên tàu, hắn chỉ kêu được một tiếng “Mẹ” nho nhỏ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Hôm đó, chúng tôi giải cứu được tất cả 13 phi công, 3 người đã chết ngay khi mang lên tàu.

Hai hàng không mẫu hạm còn lại hoạt động manh mẽ. Trước trưa ngày hôm đó, hai chiếc Junyo và Zuikaku phối hợp, đã tung ra một làn sóng tấn công thứ nhì với 15 phi cơ vào lúc 11 giờ 6 phút. Năm phút sau, Zuikaku lại cho cất cánh thêm 13 phi cơ nữa. Chiếc Junyo của Đề Đốc Kakuta vẫn giữ hướng đâm thẳng về phía địch quân và cho cất cánh tất cả phi cơ còn lại.

Nhưng không phải mọi vị tư lịnh Nhựt đều “dữ dội” như Kakuta. Phó Đô Đốc Nobutake Kondo, Phụ tá Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp nắm trong tay một lực lượng bao gồm hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna, với hàng chục khu trục hạm và tuần dương hạm bao quanh, một lực lượng có thể đè bẹp địch quân dễ dàng như vậy mà ông lại nhút nhác không đưa ra một hành động ngoạn mục nào.

Một kẻ rụt rè khác là Đề Đốc Koki Abe, chỉ huy một đơn vị tiền vệ gồm hai thiết giáp hạm và năm kht, đã chân trước chân sau rời khu vực chiến đấu với soái hạm Chikuma và hai khu trục hạm hộ tống. Ông nầy quả là một người quá cẩn thận.

Vào buổi trưa, khi mạng lịnh đưa đến từ Truk bắt chúng tôi săn đuổi và tiêu diệt địch quân đang tháo chạy, thì đã quá trể. Dù cho các chiến hạm của Kondo xả hết tốc lực cũng không thể nào nuốt trôi khoảng cách 300 dậm giữa ông và địch quân.

Trong đêm, hai khu trục hạm Makigumo và Akigumo tiến đến hknh Hornet. Hai chiến hạm Hoa Kỳ lảng vảng gần chiếc hàng không mẫu hạm bất động nầy đã quay đầu bỏ chạy. Hai khu trục hạm Nhựt thiêu rụi “mục tiêu” với 4 trái thủy lôi.

Trên khu trục hạm Arashi, Nagumo đã trở lại khu vực vào sáng sớm ngày 27 tháng 10. Lửa bốc cháy trên hàng không mẫu hạm Shokaku đã được dập tắt ngay trưa hôm đó. Nagumo chuyển soái kỳ của ông từ chiếc Arashi sang chiếc Zuikaku. Nhiều phi cơ của hàng không mẫu hạm Zuikaku và Junyo cất cánh tìm tung tích địch quân tháo lui, nhưng không thấy bóng dáng nào trong vòng bán kính 300 dậm. Lúc 6 giờ 30 ngày 27 tháng 10, Nagumo ra lịnh chấm dứt các hoạt động nầy. Tất cả chiến hạm tụ hội suốt ngày, và sau đó quay mủi trở về Truk.

Tổng kết trận đánh vừa qua, được mệnh danh là trận Santa Cruz, phía Nhựt hư hại 6 chiến hạm mọi loại trong đó có hàng không mẫu hạm Shokaku, và mất 66 phi cơ. Phía Hoa Kỳ chìm hàng không mẫu hạm Hornet và hư hại năm chiến hạm mọi loại và mất 74 phi cơ.

Vì vậy, nếu so sánh con số, có thể nói Nhật Bản đã chiến thắng. Địch quân bước vào trận đánh với các lợi thế tâm lý và chiến thuật, nhưng đã phải trả một giá khác cao. Địch quân dọn chiến trường với thời gian và không gian do họ chọn lựa. Nhưng họ đã phải kinh ngạc. Họ không ngờ đầu và đuôi “con rắn Nhật Bản” đã biết ứng biến và rất mềm dẽo, trái ngược hẳn trận Midway và kết quả gậy ông đập lưng ông.

Mặc dù qua sự so sánh thiệt hại, Nhựt xem như đã chiến thắng, nhưng địch quân thật sụ đã nắm phần thắng về mặt chiến lược. Khi trận đánh nầy kết thúc, Hoa Kỳ có được một khoảng thời gian quí giá cho phép họ tăng cường lực lượng và chuẩn bị hành động kế tiếp. Sự chiến thắng chiến lược của địch quân phải qui trách nhiệm cho lực lượng trung ương của Nagumo, dưới quyền chỉ huy của Đề Đốc Kondo, đã thiếu tinh thần diệt địch. Nếu lực lượng của Kondo tận lực như đầu đuôi đã làm, lực lượng địch quân có thể bị tiêu diệt hoàn toàn.

6

Niềm vui chiến thắng Santa Cruz không kéo dài được bao lâu. Mạng lệnh đang chờ đợi Đô đốc Nagumo ở Truk. Ngày 2 tháng 11, ông rời khỏi chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Hạm Đội, tức Lực Lượng Đặc Nhiệm, và trở về Nhật đảm nhiệm chức vụ mới, Chỉ huy trưởng Căn cứ Hải quân Sasebo.

Nghe tin việc thuyên chuyển này, tôi đã đến gặp ông, nhưng không biết nên ngỏ lời chia vui hay chia buồn với ông. Trước mặt tôi, Nagumo chỉ là một ông già tiều tụy. Hình như trong vòng sáu tháng qua, ông đã già thêm 20 tuổi. Khi thấy tôi, ông thoáng cười: “ Hân hạnh được gặp anh, Hara. Những việc anh làm khiến tôi kiêu hãnh.”

Tôi đỏ mặt vì lời khen tặng này, và sau một vài giây yên lặng đầy bối rối, tôi lên tiếng: “Thưa Đô đốc, tôi thấy Đô đốc dường như không được khỏe?”

“Ồ! Bệnh cúm sơ sài thôi.” Ông mau mắn đáp. “Trở về quê nhà ít hôm sẽ khỏi ngay, và tôi sẽ sớm trở lại đây để chiến đấu với anh.”

“Dạ đúng, thưa Đô đốc, khí hậy ở Sasebo sẽ khiến Đô đốc mau bình phục. Đô đốc xứng đáng được nghỉ ngơi một thời gian, vì Đô đốc đã liên tục một năm ngoài mặt trận rồi. So sánh với nhiệm vụ của Đô đốc, nhiệm vụ của tôi không khác nào kẻ đi ngao du một cách nhàn nhã trên mặt biển.”

“Nhưng từ đây anh không còn nhàn nhã nữa đâu, ngoại trừ chiếc Junyo, tất cả hàng không mẫu hạm sẽ về Nhật để tu bổ. Và trong các trận đánh vừa qua, chúng ta đã thiệt mất một số phi công giỏi, các phi công mới chắc còn lâu mới thích hợp được với nhiệm vụ của họ.”

“Xin lỗi Đô đốc, như vậy là các hàng không mẫu hạm Shokaku, Zuikaku, Zuihu và Hiyo, tất cả sẽ vượt 2500 dặm để trở về quê hương, và chỉ còn lại một mình chiếc Junyo yểm trợ về mặt trên không cho chúng tôi hay sao?”

“Phải, Hara. Các chiến hạm của chúng ta chỉ bị thiệt hại nhỏ trong trận Santa Cruz, nhưng chúng ta đã mất một số phi công kinh nghiệm và những người chỉ huy tài giỏi về ngành bay. Đối với chúng ta , trận đánh vừa qua Nhật đã chiến thắng trên phương diện chiến thuật, nhưng trên phương diện chiến lược lại là một thất bại to tát. Như anh đã biết, tôi đặc biệt nghiên cứu tiềm năng chiến tranh của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tôi du học bên ấy. Đoán biết khả năng kỹ nghệ của địch vượt bậc, trong mọi trận đánh chúng ta phải hạ gục họ ngay mà không để cho bị thiệt hại. Nhưng không may, trong trận đánh vừa qua, chúng ta đã không làm được như vậy.”

Người thay thế Nagumo là Phó đô đốc Jisaburo Ozawa, một chuyên viên khu trục hạm đáng chú ý, nhưng tài năng trong tư cách một Tư lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm của ông thì không ai biết ra sao. Tin tức của việc thay đổi này gây nhiều cảm giác lẫn lộn. Chúng tôi biết sức khỏe của Nagumo yếu kém, không thích hợp với nhiệm vụ chiến đấu. Mọi người hy vọng tân tư lệnh sẽ tạo ra “phép lạ” và dẫn dắt chúng tôi đến các chiến thắng vĩ đại.

Kế đó, tôi đến viếng thăm Kakuta để chúc mừng ông vừa được tân thăng. Vị tân Phó Đô đốc này luôn luôn hăng hái, nhưng xem ra ông có vẻ nao núng khi chúng tôi thảo luận về việc lực lượng của ông chỉ còn lại một hàng không mẫu hạm duy nhất hoạt động ở Tây Nam Thái Bình Dương.

Tôi cũng ghé tạt qua Tổng Hành dinh Hạm Đội Hỗn Hợp của Đô đốc Yamamoto và nhận thấy không khí ở đây có vẻ căng thẳng. Từ khi sư đoàn 2 Bộ Binh thảm bại, Lục quân yêu cầu Đô đốc Yamamoto cung cấp đầy đủ các phương tiện chuyển vận. Ông chỉ biết làm theo các yêu cầu này mà không được bàn ra tán vào.

Yamamoto biết tất cả các đơn vị của ông đều quá mỏi mệt sau trận đánh Santa Cruz. Nhưng ông bắt buộc phải đưa các đơn vị này ra đại dương một lần nữa, và lần này hầu như không được bao che về mặt trên không. Yamamoto đã có lý khi cho rằng trong trận Santa Cruz địch mất mát bao nhiêu thì ông cũng kiệt quệ bấy nhiêu. Khoảng đầu tháng 11 hình như nhận xét này có vẻ không mấy đúng khi 20 khu trục hạm Nhật thành công trong việc đổ bộ toàn thể Sư đoàn 38 vào những ngày 2,7,8 và 10 mà không gặp bất kỳ sự ngăn trở nào của địch quân. Nhưng hải quân Hoa Kỳ, giống như trước đây, đang chờ đợi đúng lúc để ra tay. Chiến hạm Hoa Kỳ trở lại, và một loạt chạm trán đẫm máu đã xảy ra cạnh hải phận Guadalcanal vào những ngày 12 đấn 15 tháng 11.

Tôi tham dự ngay trận đầu của loạt hải chiến này, và nhận thấy sự tiên đoán của Nagumo hoàn toàn đúng. Đây là trận đánh dữ dội hơn bất kỳ trận đánh nào tôi đã từng biết qua trước đây. Chiếc Amatsukaze của tôi đã phóng ngư lôi đánh chìm tuần dương hạm Juneau và khu trục hạm Barton, đồng thời gậy thiệt hại nặng nề cho soái hạm San Francisco của Đề đốc Hoa Kỳ Daniel T.Callaghan. Hai quả đại pháo của tuần dương hạm Helena đã đốn ngã 43 người trong số thủy thủ đoàn của tôi trong lúc tôi đứng chung với họ mà không xây xát gì cả. Tôi còn sống trong trận này chỉ nhờ vào sự may mắn.

Đây là một trong những trận hải chiến kỳ dị nhất của lịch sử hiện đại, hầu như là một cuộc loạn đả giữa 14 chiến hạm Nhật Bản và 13 chiến hạm Hoa Kỳ. Trong trận này, Nhật mất một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm, phía Hoa Kỳ chỉ còn tồn tại 3 khu trục hạm và một tuần dương hạm không mấy nguyên vẹn. Một số sĩ quan chỉ huy của Hoa Kỳ thiệt mạng. Có thể nói đây là một trong những cuộc bại trận tồi tệ nhất của Hoa Kỳ trên mặt trận thái Bình Dương. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng không được hài lòng trọn vẹn với những chiến tích đạt được. Vị tư lệnh Nhật, chỉ huy trận đánh này, bị đưa ra tòa án và bị cách chức về tội làm “ô danh cấp lãnh đạo.”

Giống như một cuộn chỉ rối. Người ta không thể nào biết được các chi tiết thật sự liên quan đến trận đánh. Sau đây tôi cố gắng vẽ lại trận đánh này một cách vô tư, xác thực và đầy đủ bao nhiêu hay bấy nhiêu. Đề đốc Kobi Abe, một chuyên viện khu trục, và một tay có kinh nghiệm chiến đấu, đã chỉ huy 14 chiến hạm Nhật tham dự vào trận đánh này. Ông nổi tiếng là người rất thận trọng, vì vậy mà ông thường bị chỉ trích là rụt rè, nhút nhát. Trong trận Santa Cruz, Abe chỉ đơn vị tiền phương và đã kháng cự hữu hiệu trước các cuộc không kích của Hoa Kỳ, nhưng khi địch quân rút lui ông không chịu truy đuổi đến cùng.

Đề đốc Abe tỏ vẻ nồng nhiệt khi nhận lệnh của Yamamoto cầm đầu phận đội 14 chiến hạm mở các cuộc pháo kích dọn đường lên Guadalcanal, như Kurita đã làm một tháng trước đó. Abe không tin là người Mỹ ngu dại đến nỗi cho Nhật áp dụng cùng một phương thức tấn công đã từng được sử dụng.

Tình trạng sức khỏe củng Abe sa sút, nhất là sau trận đánh gần đảo Savo vào ngày 11 tháng 10, đưa đến cái chết của người bạn cố tri của ông, Đề đốc Aritomo Goto. Trước khi trút những hơi thở cuối cùng, Goto có những lời trối trăng cho thấy ông bị giết chết bởi hỏa lực bạn, và cho rằng hành động can đảm của ông là ngu dại. Đó là một cái chết đầy tăm tối. Abe buồn bã khi nghe việc này, và ông quyết định không dẫm lên dấu chân của Goto. Abe có lý khi cho rằng cuộc đổ bộ êm thắm của Sư đoàn 38 chỉ là một sự êm thắm giả tạo. Tình hình này giống như trước khi xảy ra trận đánh Santa Cruz. Và tâm trạng của ông là đón chờ những gì tồi tệ nhất xảy ra.

Vào ngày 9 tháng 11, chiếc Amatsukaze của tôi nằm trong một nhóm 8 khu trục hạm cùng với tuần dương hạm hạng nhẹ Nagara rời khỏi Truk, và sáng sớm ngày 12 chúng tôi kết hợp với hai thiết giáp hạm và thêm ba khu trục hạm của Đề đốc Abe gần đảo Shortland.

Lúc 8h30 cùng ngày, khi còn các phía Bắc mục tiêu 300 dặm, chúng tôi bị một pháo đài bay B-17 phát hiện. Hàng không mẫu hạm Junyo của Phó Đô đốc Kakuta cho các phi cơ cất cánh để chống lại chiếc B-17 này, nhưng nó đã lẩn tránh mất dạng mà không hề thả một trái bom nào. Nhưng chắc chắn chiếc B-17 đã thu thập đầy đủ những gì cần biết về hoạt động của chúng tôi. Cuộc tiếp xúc quá sớm này càng khiến cho tính thận trọng cố hữu của Abe gia tăng hơn nữa, và nhất là ông lại nhận được những báo cáo về các nỗ lực tăng viện thành công của địch quân vào hai ngày 11,12 tháng 11.

Lúc 13h30 bỗng nhiên Abe ra lệnh thay đổi hẳn đội hình di chuyển. Từ đầu chúng tôi di chuyển một hàng dọc, bây giờ chuyển thành đội hình xen kẽ như sau: Năm khu trục hạm trải rộng ra thành hình vòng cung, chạy cách phía trước tuần dương hạm Nagara 8000m. Kể từ chiếc Nagara, sáu khu trục hạm khác trải phân nửa đội hình cánh quạt, mỗi chiếc cách nhau 2000m. Hai thiết giáp hạm Hiei ( soái hạm) và Kirishima chạy phía sau chiếc Nagara, mỗi chiếc cách nhau 2000m.

Đội hình vững chãi này hoàn tất vào lúc 14h, khi chúng tôi chỉ còn cách Guadalcanal trong vòng 200 dặm. Tôi nghĩ, mục đích cũa đội hình này là nhằm ngăn ngừa tiềm thủy đĩnh hoặc phi cơ địch tấn công bất thần trên đường tiến đến mục tiêu của chúng tôi. Tôi không bao giờ tưởng tượng Abe vì sự quá cẩn trọng này mà phải lâm vào cảnh bối rối trong suốt cuộc hành quân. Còn bối rối hơn một cuộc tấn công bất thần của địch quân.

Trong khi chúng tôi vẫn tiến về phía Nam với tốc độ 20 hải lý, soái hạm Hiei cho một trinh sát cơ cất cánh. Một giờ trôi qua, phi cơ của chúng tôi không gửi báo cáo về mà cũng không có một chiếc phi cơ nào của địch xuất hiện. Thời tiết thình lình u ám. Những đám mây dày đặc tụ đến nhanh chóng và một cơn mưa bão dữ dội trút xuống, che mờ mọi vật cho đến nỗi không nhìn thấy cả những chiếc tàu chạy gần nhau nhất. Trên chiếc Amatsukaze, chúng tôi bồn chồn mong đợi lệnh cho các chiến hạm chạy chậm lại, và thay đổi một đội hình ít phức tạp hơn. Nhưng không có một lệnh nào như vậy được ban ra.

Đối với Abe, cơn mưa bão hiện tại là một thiên ân. Ông biết rằng được ẩn trong cơn mưa bão này, phận đội của ông không còn sợ các cuộc tấn công của địch từ ba mặt trên không, trên mặt biển và dưới biển. Khi các sĩ quan của Abe khuyên ông nên cho các chiến hạm giảm tốc độ, ông đã gạt đi: “Chúng ta phải duy trì tốc độ này để tiến đến mục tiêu đúng lúc.”

Mưa bão trên các vùng biển nhiệt đới thường giới hạn trong một khu vực nhỏ và hiếm khi kéo dài hơn một vài phút. Nhưng cơn mưa bão này đã làm chúng tôi kinh ngạc, vì nó có vẻ kéo dài triền miên. Chúng tôi tiếp tục với vận tốc 18 hải lý. Hai giờ trôi qua, mưa vẫn đổ xuống như thác.

Mặc dù nước mưa thấm ướt chư chuột lột, thân thể và mặt mày chúng tôi rướm ướt mồ hôi. Trong thời bình, không có vị tư lệnh lực lượng hải quân nào dám cho các chiến hạm của ông ta chạy xuyên qua cơn mưa bão mù mịt, với tốc độ cao và một đội hình phức tạp, bởi lẽ thời gian này chưa có dụng cụ nào để di chuyển an toàn trong tình trạng như vậy. Nhưng chúng tôi đã di chuyển suốt bảy tiếng đồng hồ trong tình trạng đui mù này mà không xảy ra tai nạn nào. Điều đó đã chứng tỏ tài đi biển của các thủy thủ Nhật bản, cũng như vào sự lão luyện cao độ đã tránh được tình trạng bắn lầm giữa các chiến hạm chúng tôi, trong trận đánh hỗn loạn sắp xảy ra. Một số tin tức của Hoa Kỳ liên quan đến trận đánh đã cho rằng chiến hạm Nhật khai hỏa vào nhau, điều này hoàn toàn sai.

Trên đài chỉ huy của chiếc Hiei, Abe có vẻ khoái trá. Ông nói với các sĩ quan ướt như chuột lột của ông đang đứng xung quanh: “Cơn mưa bão trời giúp này đang di chuyển cùng một tốc độ và cùng một hướng với chúng ta.”

Báo cáo đầu tiên của phi cơ thám thính: “Phát hiện hơn một chục chiến hạm địch quân gần đảo Lunga.”

Abe cười: “Nếu Trời tiếp tục chạy song song với chúng ta như thế này, chúng ta sẽ khỏi phải bận rộn với các chiến hạm đó.”

Phân đội tiếp tục tiến. Nhiều giờ nữa trôi qua, nhưng mưa bão không ngừng mà có phần dữ dội hơn. Trong suốt những năm trong đời binh nghiệp của tôi, tôi chưa từng thấy cơn mưa bão nào như vậy. Nó dần chúng tôi mệt nhừ. Các sĩ quan của tôi đều tỏ vẻ bực bội. Thiếu úy Shoji nói: “Hết chịu nổi rồi. Trận mưa này đang giết tôi. Tôi muốn điên lên. Chúng ta chống lại bọn Mỹ còn tốt hơn là chống với cơn mưa này.”

Lúc 22h, chúng tôi đã tiến đến gần mục tiêu, với điều kiện là chúng tôi di chuyển chính xác. Trên soái hạm Hiei, Abe đang cắm cúi trên hải đồ. Từng là một chuyên viên khu trục hạm, ông biết rõ khả năng từng hạm trưởng một của ông, và ông cũng biết rõ Đề đốc Susumu Kimura ở trên chiếc Nagara là một trong những chuyên viên hàng hải ưu tú nhất của Nhật Bản.

Đồn quan sát của Lục quân ở Guadalcanal vừa gửi Abe một công điện: “Ở đây hiện giờ thời tiết rất xấu.” Phí cơ thám thính của Hiei, sau báo cáo ở Lunga, đã bay thẳng về Bougainville, vì không thể đáp xuống chiếc tàu mẹ đang chạy trong mưa bão. Đề đốc Abe biết rằng một cuộc pháo kích của các tàu chiến không thể chính xác trong tình trạng như thế này, ông quyết định thoát khỏi cơn bão ở mạn phía Nam. Sau đó, Hiei truyền lệnh qua siêu tần số: “tất cả các chiến hạm sẵn sàng để đổi hướng 180 độ cùng một lúc.” Như vậy có nghĩa là chúng tôi quay lưng về phía mục tiêu.

Tôi đáp lập tức: “Amatsukaze gửi Hiei, đã sẵn sàng để đổi hướng 180 độ.” Thông thường, khoảng cách liên lạc để đổi hướng đội hình phải mất 30 giây, như vậy mới chuẩn bị kịp để tránh sự va chạm.

Tôi bồn chồn nhìn đồng hồ. Một phút trôi qua. Lệnh đổi hướng vẫn chưa đến. Một phút ba mươi giây, vẫn im lặng. Tôi chạy vào phòng truyền tin hỏi: “Có lệnh chưa?”

“Chưa, thưa Đại tá. Các khu trục hạm đi đầu là Yudachi và Harusame cũng chưa được lệnh.”

Ba phút trôi qua, phòng truyền tin báo cáo: “Thưa Đại tá, Hiei đang dùng tần số trung bình để liên lạc với yadachi và Harusame.”

Tôi kêu lên: “Sao lại có chuyện đó? Hiei điên rồi à?” Bởi vì sử dụng tần số trung bình có thể bị địch quân chặn bắt dễ dàng. Như vậy lợi thế của chúng tôi nhờ cơn mưa bão đã bị Hiei phá tan rồi.”

Lúc 22h, hiệu thính viên báo cáo: “Lệnh đổi hướng 180 độ cho tất cả chiến hạm.”

Tôi ra lệnh: “Xoay 180 độ.” Khu trục hạm của tôi thi hành một cách gọn gàng. Tôi nhìn quanh một vòng, chỉ sợ các tàu đụng chạm. Không có việc gì xảy ra. Sự đổi hướng kỳ dị trong một đội hình phức tạp như vậy mà êm thấm mới là chuyện khác thường.

Lệnh kế của soái hạm Hiei: “Tốc độ của tất cả chiến hạm giảm xuống còn 12 hải lý.” Abe không bao giờ làm việc cầu may. Qua nhiều năm kinh nghiệm, ông biết đội hình trước đó, chạy như đui mù, sẽ không còn giữ đúng nữa. Abe cho xoay 180 độ là hữu lý. Và đội hình hiện giờ chắc chắn đã phân tán. Tôi đã nhìn thấy, ngay cả trước khi có lệnh giảm tốc độ, đội hình vòng cung của năm khu trục hạm, chạy phía trước tuần dương hạm Nagara 8000m, đã phải xoay hẳn một vòng tròn thay vì 180 độ, để quay lưng về phía Guadalcanal. Vì vậy, năm chiếc tàu này bị vỡ làm hai nhóm, một nhóm hai chiếc và một nhóm ba chiếc. Và do đó, đội hình của toàn thể đoàn tàu gia tăng thêm một phần nữa. Yếu tố bất ngờ này lại có một giá trị quan trọng đối với trận đánh sắp xảy ra.

Mưa bão chấm dứt lúc 22h40, hơn 30 phút kể từ khi chúng tôi bắt đầu xoay hướng. Abe lại ra lệnh xoay thêm 180 độ nữa, tức xoay mũi các chiến hạm trở lại phía hòn đảo. Tôi độ chừng Abe bây giờ sẽ thành lập một đội hình duy nhất. Đội hình phức tạp chỉ thuận lợi để chống lại các cuộc tấn công của loại ngư lôi đĩnh nhỏ, nhưng nếu gặp phải một cuộc tấn công quy mô, chúng tôi sẽ lâm vào cảnh rối loạn ngay.

Abe, với tính cẩn thận cố hữu của ông, vẫn cương quyết giữ lại đội hình cũ. Và đây là lần đầu tiên tôi nghi ngờ sự khôn khéo của ông. Lúc chiến đấu mà nghi ngờ khả năng của cấp chỉ huy là không tốt. Nhưng tôi không thể nào cho rằng việc giữ đội hình cũ là thích hợp một khi soái hạm Hiei đã dùng tần số vô tuyến trung bình để liên lạc. Địch quân chắc chắn đã định được ví trí của chúng tôi và sẵn sàng đánh.

“Đảo nhỏ, 60 độ tả mạn.” Tiếng la của một quan sát viên chấm dứt dòng tư tưởng của tôi. Sau đó, nhiều tiếng la cùng lúc: “Dãy núi cao án trước mặt.”

Tôi quay sang trái, nhìn thấy hình dáng đen sậm của đảo Savo thấp thoáng trong bóng đêm. Phía trước tàu của tôi là dãy núi Guadalcanal cao chớn chở, đỉnh như lẩn khuất trong mây. Tôi có linh tính cuộc đụng độ sắp xảy ra. Tôi thấy kích động và hít một hơi dài không khí êm mát của đêm. Tôi ra lệnh: “Chuẩn bị trọng pháo và ngư lôi tấn công ở hữu mạn. Tầm súng 3000m. góc phóng ngư lôi 15 độ.”

Im lặng trở lại trên tàu của tôi sau khi mọi người đã vào vị trí chiến đấu. Trên soái hạm, Abe đang cắm cúi với các báo cáo. Thủy phi cơ quan sát cất cánh từ Bougainville cho biết mưa vừa dứt ở Guadalcanal và không còn thấy một chiến hạm nào của địch gần đảo Lunga. Năm mươi phút sau khi chúng tôi xoay hướng lần thứ hai, phân đội chỉ còn cách bờ biển Guadalcanal 12 dặm. Abe vẫn chưa quyết định, chỉ ta lệnh một cách uể oải” “Hiei và Kirishima chuẩn bị loại đạn số 3 cho các pháo khẩu chính.” Đây là loại đạn lửa, nặng một tấn, mang một khối lượng chất nổ mạnh hàng trăm trái bom.

Lúc 23h42, tuần dương hạm Yudachi báo cáo: “Nhìn thấy địch quân.”

Abe hét: “Địch quân ở phía nào, và bao xa? Còn vị trí Yudachi ở đâu?”

Abe chấm dứt cơn thịnh nộ khi quan sát viên của Hiei đứng trên tháp cao la to: “Bốn điểm đen phía trước…. Nhìn giống như các chiến hạm, ở 5 độ hữu mạn. Khoảng cách 8.000m…. nhưng không chắc. Nhìn không rõ.”

Abe xụ mặt: “Yadachi ở chếch về bên phải chúng ta 10.000m. Hỏi lại các quan sát viên xem các điểm đen khoảng cách bao xa.”

Trung tá Masakane Suzuki, Tham mưu trưởng của Abe bước ra và lớn tiếng hỏi: “Có đúng 8.000m không? Phải xác định.”

“Có lẽ 9.000m thưa Trung tá.”

Abe, hình như xao xuyến, giọng nói ấp úng: “Ra lệnh cho các pháo thủ ở Hiei và Kirishima thay tất cả loại đạn lửa bằng đạn xuyên phá giáp và xoay các pháo khẩu về phía trước.” Abe ngồi yên trên ghế, ông đang phân vân. Đáng lẽ ông phải lệnh cho hai thiết giáp hạm xoay mũi chạy lùi về phía sau trong hki thay loại đạn khác, nhưng ông cân nhắc, và cuối cùng không đưa ra lệnh này.

Trên sàn tàu của hai thiết giáp hạm bỗng nhiên hoang vắng. Hầu hết mọi người đều phải bỏ vị trí chiến đấu để tiếp tay mang loại đạn xuyên phá giáp được chứa từ hầm sâu lên thay thế loại đạn lửa. Trong khi đó loại đạn vĩ đại này vẫn còn chất đống như núi trên sàn tàu. Như vậy, ở tầm 9.000m, chiếc tàu sẽ bị bắn trúng dễ dàng, và sẽ trở thành một que diêm khổng lồ.

Các sĩ quan truyền tin của Hiei bận rộn liền tay. Tần số trung bình và ngắn đều được tận dụng để loan báo diễn tiến của địch quân. Vấn đề an ninh truyền tin không còn được lưu ý nữa.

Các quan sát viên của tôi vẫn chưa thể nhìn thấy một chiếc tàu nào của địch quân nên tỏ vẻ sốt ruột. Tôi nói lớn: “Không thấy thì có sao đâu, chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ rồi, chỉ chờ địch quân đến trong khoảng cách dưới 3.000m là ra tay.”

Một việc lạ lùng là đã 8 phút trôi qua nhưng địch quân không bắn một quả đạn nào. Theo phi cơ quan sát, tốc độ di chuyển của địch quân là 40 hải lý, như vậy có nghĩa là mỗi một phút hai lực lượng tiến gần nhau 1.200m. Trên hai chiếc Hiei và Kirishima, mọi người đã vào các vị trí trở lại. Tất cả các loại đạn lửa đã được di chuyển hết, và các pháo khẩu sẵn sàng khai hỏa với loại đạn xuyên phá giáp.

Tại sao địch quân cứu thoát chúng tôi khỏi cảnh bi thảm bằng cách dành cho chúng tôi 8 phút để hai thiết giáp hạm hoàn thành việc thay thế đạn? Không làm sao giải thích được, dù tôi đã đọc nhiều tài liệu sau chiến tranh của Hoa Kỳ ghi lại trận đánh này. Không còn ai đủ thẩm quyền để dọ hỏi, bởi vì hầu hết sĩ quan cao cấp thuộc lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ tham dự trận đánh đều thiệt mạng trong khi thi hành nhiệm vụ. Tất cả những giả thuyết mà tôi được xem qua đều căn cứ trên từng câu chuyện rời rạc, và thường trái ngược nhau, do những người còn sống sót kể lại. Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu riêng của tôi, địch quân sở dĩ không khai hỏa trong suốt 8 phút khủng hoảng của chúng tôi là do thế trận đã dàn ra không thích hợp, và do vấn đề chỉ huy phức tạp của họ.

Vào lúc 23h41, khi khu trục hạm Yudachi báo cáo đã phát hiện địch quân, lực lượng địch đang tiến đến trong đội hình hàng dọc duy nhất, nhằm chống lại đội hình phân tán của chúng tôi. Với đội hình như vậy, chỉ có chiếc tàu dẫn đầu của địch quân mới có thể khai hỏa được mà thôi. Nhưng điều khó có thể giải thích được là tại sao những chiếc tàu khác không rẽ về phía phải để xoay tất cả các họng súng của họ về hướng chúng tôi? Tại sao họ không chọn phương thế khác, chẳng hạn như tiến từ bờ biển ra để đánh vào hữu mạn chúng tôi? Những câu hỏi này vẫn luôn luôn ám ảnh tôi.

Trong trận đánh này cũng còn nhiều điều bất thường khác. Một trong những điều này là hoạt động cũa khu trục hạm Yudachi, hạm trưởng là Trung tá Hiyoshi Kikkawa, một người bạn rất thân của tôi. Sau trận đánh, kikkawa đã giải thích với tôi:

“Lỗi lầm của tôi là quá cẩn thận. Tôi đã từng tham dự trận đánh ở biển Bali tháng Hai trước đó. Trong trận này, chiếc khu trục hạm Mitsushio của tôi bị trúng ngư lôi vào cạnh sườn và thiệt hại khá nặng, giữa lúc tôi đang điều khiển hỏa lực của chiếc tàu ngắm vào mục tiêu ở hướng khác. Đây là một bài học đắt giá cho tôi.”

“Vào ngày 12 tháng 11, chiếc Yudachi của tôi cùng với chiếc Harusame đang đi tìm ba khu trục hạm khác cùng nhóm thất lạc. Trong cuộc tìm kiếm này, chúng tôi không bao giờ ngờ rằng đội hình phức tạp trước đây đã xoay hai lần 180 độ, khiến cho ba chiếc tàu cùng nhóm với chúng tôi đã tụt lại phía sau, thay vì ở vị trí tiền đội như khởi thủy.”

“Tôi đã kinh ngạc khi nhìn thấy một khu trục hạm địch từ bóng tối nhô ra thình lình, và đang chuẩn bị đánh vào cạnh sườn chiếc Yudachi. Thảm họa Bali chợt hiện trong đầu tôi. Tôi không thể nào chống trả kịp thời, vì hỏa lực không nằm trọng tình trạng sẵn sàng. Tôi quyết định quay tàu bỏ chạy và thông báo về soái hạm, nhưng không thể nào định vị trí tàu địch, bởi vì tôi không biết chính tàu tôi hiện đang ở đâu.”

“Tôi chạy được được một vài phút thì tàu địch khai hỏa. Tôi lâm vào tình cảnh bối rối và hổ thẹn, vì lúc đó thủy thủ đoàn đã giận sôi lên, lý do là tôi không cho họ thử sức với địch quân. Tôi quyết định quay tàu lại và hướng thẳng tới đoàn tàu của địch quân. Và từ đó, Yudachi đã dũng cảm chiến đấu cho đến khi bị đánh chìm.” (chỉ một mình Kikkawa thoát chết)

“Trong thời gian Yudachi đơn độc đối đầu với địch quân, chiếc Harusame cùng đi chung đã trở về kết hợp với tuần dương hạm Nagara.” Kikkawa tiếp, “Hiển nhiên là chiếc tàu này lạc dấu chúng tôi trong đêm tối, vì lúc đó chiếc Yudachi đã chạy với tốc lực tối đa 35 hải lý.”

Không chỉ có các đơn vị tiền phương tan vỡ đội hình mà cả thành phần chính cũng không tránh khỏi. Bảy tiếng đồng hồ chạy như đui mù, và qua hai lần xoay hướng 180 độ, cho dù đội hình nào đi nữa cũng phải tan vỡ huống chi là đội hình phức tạp của Abe.

Lúc 23h50, soái hạm Hiei sử dụng đèn rọi và nhận thấy tuần dương hạm Nagara chạy cách phía trước không đầy 2.000m. Chiếc tuần dương hạm này tiếp tục chạy khoảng 5.000m nữa rồi đổi hướng sang trái để chạy phía trước khu trục hạm Yukikaze và kế đó khoảng 2.000m là chiếc Amatsukaze của tôi. Và khi đèn rọi của soái hạm Hiei phát hiện tuần dương hạm Atlanta của Hoa Kỳ, cách xa chừng 5.000m, tàu địch lập tức khai hỏa, nhưng vì nhắm vội vã nên tất cả 12 quả đạn 125mm rớt nổ cách soái hạm đến 2.000m.

Ba mươi giây sau khi vung về tả mạn, soái hạm Hiei khai hỏa một lượ tám khẩu 250mm. Với mục tiêu ở tầm 5.000m, loại đại pháo này bắn không thể trật. Tất cả các quả đạn 1 tấn được bắn ra đều trúng chiếc Atlanta. Đề đốc Hoa Kỳ Norman Scott và tất cả sĩ quan đứng trên đài chỉ huy đều chết tức khắc. Như vậy là Abe đã phục thù cho người bạn thân của ông, Đề đốc Goto. Đây là một trong những cuộc pháo kích hạm-hạm chính xác nhất của toàn thể mặt trận Thái Bình Dương.

Nhưng Hiei đã phải trả một giá rất cao cho việc sử dụng đèn rọi của mình. Bốn khu trục hạm chạy phía trước tuần dương hạm Atlanta đã tập trung vào soái hạm Nhật ở các khoảng cách từ một vài trăm mét đến 2.000 mét. Khu trục hạm Cushing dẫn đầu đã rót nhiều loạt đạn đại pháo và mưa đạn đại liên vào đài chỉ huy của Abe. Tuy nhiên, pháo thủ của địch quân quá tệ khiến tất cả đạn của họ đều vung vẩy chung quanh chiếc Amatsukaze của tôi, Quang cảnh này được lặp đi lặp lại nhiều lần, và tôi như kẻ đứng trước những tấm màn lửa. Cũng may, không có viên đạn nào trúng chiếc tàu của tôi.

Tiếp theo đó, khu trục hạm Cushing đã phóng 6 quả ngư lôi vào soái hạm Hiei, nhưng không quả nào trúng đích. Tôi hét lớn: “Xả hết tốc lực, xoay về phía trái, rời khỏi địa ngục này ngay lập tức.”

Chiếc Amatsuzake tách rời khỏi soái hạm Hiei nhanh chóng, kế đó là khu trục hạm Yukikaze, và cả hai chạy vượt qua tuần dương hạm Nagara. Tôi nhìn thấy một số chiến hạm địch như hồn ma bóng quế chập chờn dọc theo bờ biển Guadalcanal ở phía phải. Tôi ra lệnh: “Xoay hẳn về phía phải, tốc độ chiến đấu.”

Tôi quyết định tung một cú chớp nhoáng vào địch quân trước khi tiến đến khu vực chiến đấu. Nhưng hình bóng chập chờn của các chiến hạm địch biến mất. Tôi mở bét mắt nhìn đăm đăm phía trước mặt. Ba khu trục hạm Nhật thình lình từ cạnh sườn phía phải của soái hạm Hiei chạy ra án ngang tầm súng chiếc tàu của tôi.

Ý định của tôi hết hy vọng tiếp tục, tôi quay nhìn chiếc Hiei. Nó đang bốc cháy. Khu trục hạm Laffey của Hoa Kỳ đã lập được thành tích này. Ba khu trục hạm của chúng tôi chạy về phía trái, hiển nhiên là để bao che mặt sau của chiếc Hiei. Đó là ba khu trục hạm Akatsuki, Inazuma và Ikazuchi, mới hơn những chiếc tàu khác và nhanh hơn chiếc Amatsuzake của tôi. Tôi cho tàu chạy theo sau ba chiếc tàu bạn này.

Bấy ngờ hai trái chiếu sáng vượt lên không và tỏa rộng phía trước. Sau đó, tôi biết được hai quả pháo sáng đó do tuần dương hạm Nagara của Đề đốc Kimura phóng lên.

Năm hoặc sáu chiến hạm địch chạy theo đội hình hàng dọc lộ hẳn trên đại dương. Chiếc tàu địch gần nhất, chạy song song với chiếc tàu của tôi, cách 5.000m. Tim tôi đập rộn rã. Đây là dịp may để chứng minh lý thuyết phóng ngư lôi của tôi. Mặc dù được Hải Quân Hoàng Gia chấp nhận, nhưng lý thuyết này vẫn chưa được chứng minh bằng hành động cụ thể với một mục tiêu thật sự.

Đại úy Masathshi Miyoshi, sĩ quan ngư lôi trưởng của tôi, không còn kiên nhẫn được nữa: “Cho mấy con cá thoát ra, thưa Trung tá.”

“Bắt đầu đây,” tôi đáp và ra lệnh: “Mục tiêu di động 30 độ mạn phải. Giác độ khai hỏa điều chỉnh 15 độ. Xoay tàu về phía phải, tiến sát mục tiêu và tạo ngay một đường lượn cong.” (hyperbole)

Lệnh của tôi lập tức được thi hành. Cả hai chiếc tàu cùng tiến đến có vận tốc chung lên đến 69 hải lý, nên khoảngca1ch thâu hẹp trong nháy mắt. Đại úy Miyoshi liếc nhìn tôi lo ngại, tôi tảng lờ đi. Điều lấy làm lạ là địch quân không khai hỏa. Nhưng nếu họ có khai hỏa đi chăng nữa thì cũng không thể nào trúng được chiếc tàu đang chạy theo hình vòng cung của tôi, cho dù khoảng cách giữa đôi bên chỉ 3.000m. “Ngư lôi, chuẩn bị……. Phóng!” Tôi hét lên.

Tám con cá lớn vọt ra và lướt đến mục tiêu. Tôi hồi hộp theo dõi. Lúc đó là 23h54 phút. Trên đài chỉ huy, từng luồng gió quất mạnh như những cái tát, và chiếc tàu chạy nhanh tung đầy bọt nước lên mình chúng tôi. Khi chiếc tàu xoay về phía trái và giảm tốc độ, hai quả pháo sáng nữa được bắn lên trời, soi rõ hình dáng bốn khu trục hạm chạy hàng dọc của địch quân. Khoảng cách giữa tàu chúng tôi với tàu địch đâu chừng vài trăm mét. Ngay lúc ấy, khu trục hạm Yudachi xuất hiện, các họng súng đều rực lửa, đâm ngang vào phần trước của đoàn tàu Hoa Kỳ. Chiếc tàu địch, bị Yudachi chạy đâm thẳng vào là chiếc Aaron Yard, đã xoay như chớp để tránh né.

Chiếc tàu thứ hai, Barton, giảm ngay tốc độ vị sợ đụng chạm với chiếc Aaron Yard. Ngay lúc đó, hai phút sau khi các ngư lôi của chúng tôi được phóng ra, hai cột lửa bắn cao lên trên không. Chiếc Barton bị trúng ngư lôi. Diễn biến nhanh chóng đến nỗi mắt tôi được nhìn nhưng vẫn hồ nghi. Chiếc Barton bị cắt ra làm hai, biến dạng vào làn nước trong chớp mắt.

Tôi thở phào,. Một cuộc hủy diệt thật ngoạn mục. Thủy thủ đoàn của tôi reo hò ầm ĩ, nhưng tôi không để ý đến. Mục tiêu bị hạ đối với tôi là chuyện hiển nhiên. Cảm giác của riêng tôi là sự hài lòng hơn là vui mừng ồn ào. Đây là lần đầu tiên lý thuyết phóng ngư lôi của tôi mới được thực hiện ngay trong cuộc chiến, và bây giờ không còn một chút ngờ vực nào về sự chính xác của nó nữa.

Các trái sáng rơi thấp dần và tắt hẳn, Trong màn đêm vừa phủ lại, chiếc Amatsukaze chấm dứt hình vòng cung và xoay mũi chạy trở về hướng Tây. Tôi nhìn thấy chiếc Hiei chập chờn trong lửa đỏ. Tàu của tôi tiến thẳng đến. Một vài phút sau, tôi phát hiện những tia sáng thoạt ẩn thoạt hiện trong đêm tối, ở mạn trái của chiếc tàu. Những tia sáng này, là do ánh lửa phản chiếu vào một chiếc tàu sơn bóng với bốn cột. Nhất định là tàu địch, có thể là một tuần dương hạm.

Tôi ra lệnh: “Ngư lôi, sẵn sàng! Mục tiêu 70 độ mạn trái.”

“Ngư lôi sẵn sàng! Thưa Trung tá.” Đại úy Miyoshi đáp lại, như một anh học trò trả lời với thầy giáo, trong giọng nói không còn dấu hiệu nào cho thấy anh ta mất tin tưởng như trước đó.

“Xong rồi thì chờ đó. Mục tiêu đang di động phía trước. Dễ ăn… dễ ăn hơn mục tiêu vừa rồi. Miyoshi, lần này chỉ cần bốn trái thôi, tám trái sẽ phí đi. Chú ý! Chú ý… Phóng!”

Trong khoảng lặng yên như tờ, bốn con cá thoát ra khỏi ống vào lúc 23h59. Ba phút, và bốn mươi giây sau, một cột lửa đỏ ối vĩ đại từ mục tiêu vượt lên nền trời. Nạn nhân là tuần dương hạm Juneau của Hoa Kỳ, từng đấu súng với chiếc Yudachi. Thủy thủ đoàn của tôi cất tiếng reo hò vang dậy.

Đại úy Shimizu, sĩ quan pháo thuật, muốn pháo kích nhồi lên mục tiêu để dứt điểm luôn. Tôi nói: “Thôi, Simizu, hãy để cho ông bạn Yudachi của chúng ta làm việc này. Đừng có bồn chồn. Chúng ta còn nhiều mục tiêu khác nữa. Trọng pháo của chúng ta lên tiếng chẳng khác nào chỉ điểm vị trí của chúng ta cho địch quân.”

Amatsukaze chạy thẳng về phía trước. Trong lúc đó, các cuộc quần thảo dữ dội đang tiếp diễn tại những nơi khác. Sau này, hạm trưởng của Hiei, Trung tá Hideo Sekino có kể lại với tôi các chi tiết liên quan đến cuộc chiến đấu của soái hạm này. Theo đó, khu trục hạm Cushing, sau khi tấn công Hiei, đã nhận lãnh hỏa lực phục thù của khu trục hạm Terutsuki. Chiếc Terutsuki tiến lên từ mạn trái của chiếc Hiei, rọi đèn pha thẳng vào chiếc Cushing, và dứt điểm mục tiêu bằng một loạt đại pháo trực xạ.

Khu trục hạm thứ nhì của Hoa Kỳ là chiếc Laffey, hầu như cận chiến với soái hạm Hiei. Hai chiếc tàu chạm vào nhau và ngay khi lướt ra, chiếc Laffey đã rót một loạt đại liên vào cột chính của chiếc Hiei, gần đài chỉ huy. Đại tá Suzuki chết tức khắc và nhiều người khác bị thương, trong đó có đề đốc Abe. Các khẩu đại pháo của Hiei và ngư lôi của Terutsuki đẩy chiếc Laffey ra xa, và nhận chìm ngay trong vài phút.

Khu trục hạm Sterett, chạy kế chiếc Laffey, phóng một loạt ngư lôi vào soái hạm Hiei, nhưng không trúng, và khu trục hạm O’Bannon tiếp liền ngay sau đó, rót một loạt đại pháo vào Hiei, nhiều trái trúng đích. Hệ thống liên lạc trên soái hạm bị cắt đứt hẳn, và chiếc tàu bắt đầu rời khỏi khu vực chiến đấu. Lúc đó, vào khoảng nửa đêm, trận chiến trở thành loạn đấu. Khu trục hạm Akatsuki từ trước vẫn cách 2.000m mạn phải của Hiei, sau khi soái hạm rút lui, đã lướt tới và giáng cho tuần dương hạm Atlanta nhiều trái ngư lôi. Chiếc Akatsuki lại xoay ngang đấu súng với soái hạm San Francisco và một khu trục hạm khác của Hoa Kỳ. Kết quả, khu trục hạm Nhật bị cả hai hỏa lực tập trung chôn vùi xuống đáy biển toàn thể thủy thủ đoàn. Chiếc San Francisco vẫn còn đang bắn bồi thêm vào mục tiêu thì thiết giáp hạm Kirishima xông tới với các trọng pháo 250mm và hạ gục ngay chiếc soái hạm này. Sau đó, chiếc Kirishima tuân lệnh của Abe đã vội vã rời khỏi khu vực chiến đấu.

Trung tá Kikkawa, hạm trưởng của Yudachi, đã thuật lại các hoạt động của ông trong đêm đó.

“Khi chúng tôi quay lại và đâm vào nhóm tàu địch quân, tôi thấy một khu trục hạm địch chạy ngay lại tàu của tôi. Không có thời gian để ngắm ngư lôi, và trong lúc hai bên đang đấu súng, tôi cho chiếc tàu đảo mạnh về bên phải cố ý làm sai lạc hướng ngắm của địch quân. Sau khi chạy được một vài phút, tôi lại thấy tuần dương hạm Juneau của Hoa kỳ ở mạn phải, chạy song song với tàu của tôi, tôi ra lệnh phóng tám quả ngư lôi, nhưng không trúng. Tuần dương hạm địch nã trọng pháo dữ dội vào chiếc Yudachi. Tôi đáp trả ngay, nhưng chỉ với các loại súng nhỏ. Hỏa lực đôi bên chênh lệch rõ ràng, tôi kể như tiêu đời rồi. Một khu trục hạm đấu súng với một tuần dương hạm là liều mạng. Nhưng, thật bất ngờ, tuần dương hạm địch bốc lửa, các khẩu trọng pháo đều im tiếng. Chiếc Yudachi tạo một màn khói và thoát chạy ra khỏi khu vực chiến đấu. Ngư lôi của khu trục hạm Amatsukaze đã cứu chúng tôi.”

Khi Akatsuki bị đánh chìm, hai khu trục hạm chạy phía sau chiếc tàu này đã tiến lên tấn công hai chiếc San Francisco và Portland. Chiếc Portland đang đấu súng với hai chiếc khu trục hạm Nhật – Inazuma và Ikazuchi – thì Yudachi tiến đến từ phía trái tàu địch. Kikkawa nói: “Hara, chúng tôi đã bắt chước chiến thuật của anh, phóng ngay tám trái ngư lôi vào tuần dương hạm địch đang mắc bận chiến đấu với hai khu trục hạm bạn. Portland bốc cháy, tất cả ngư lôi của tôi đều trúng đích. Nhưng sự vui mừng của chúng tôi chấm dứt ngay khi những trái đạn địch rơi vãi xuống. Chúng tôi trở thành nạn nhận của chiến thuật đánh chớp nhoáng mà chúng tôi vừa sử dụng, và bây giờ chỉ còn mỗi mình tôi sống sót, thật là một điều đáng hổ thẹn. Chính khu trục hạm Aaron Ward của Hoa kỳ lập được thành tích này.”

Trong khoảng thời gian đó, chiếc Amatsukaze của tôi di chuyển về phía Tây bắc, hướng đến soái hạm đã bị loại khỏi vòng chiến. Quang cảnh trước mặt yên tĩnh lạ lùng, nhưng phía xa xa chúng tôi thấy những tia lửa xẹt lên trời như pháo bông. Đó là một cuộc đụng độ, nhưng khó có thể biết là giữa lực lượng nào với lực lượng nào. Tôi không lưu ý, và quyết định sẽ tìm soái hạm Hiei, với sàn tàu bị cháy, nó sẽ dễ nhận ra trong đêm tối. Tôi hỏi phòng truyền tin xem có công điện nào quan trọng hay không? Một nhân viên truyền tin đáp: “Dạ không, thưa hạm trưởng, nhưng chúng tôi cũng không còn nghe tiếng của Hiei nữa. Hệ thống liên lạc của nó chắc đã tê liệt rồi.”

Tôi nhìn xuống đồng hồ, 0h13, xa về hướng Tây là một khối lửa đỏ rực, chứng tỏ một chiếc tàu đang bốc cháy. Đó là khu trục hạm Yudachi. Lúc ấy, một chiếc tàu to lớn bỗng nhiên nhô qua bóng tối, ngay phía trước chiếc Amatsukaze. Tôi hét to Đại úy Kijuro Matsumoto, hoa tiêu trưởng, xoay mạnh tay lái về phía bên phải. Tất cả những người hiện diện trên đài chỉ huy đều chết đứng khi hai chiếc tàu xáp lại gần hơn. Đúng khi một sự va chạm không thể nào tránh khỏi, chiếc Amatsukaze lách sang phải, và thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc.

Tôi tự hỏi đây là loại tàu gì? Cả hai chiếc đã xáp gần với nhau đến nỗi tôi không thể nào nhìn trọn hình dung của chiếc tàu lạ, nhưng rõ ràng đây là chiếc tàu không người. Nó không có tháp pháo nào, nhưng không phải là một chiếc tàu buôn. Hình dáng chiếc tàu có vẻ quen thuộc nhưng tôi không thể nào nhận ra. Tôi biết mọi loại tàu, bây giờ trong bóng tối, tôi độ chừng đây là loại tàu vận chuyển tiếp tế nên không có tháp pháo. Sau đó tôi biết sai lầm, nhưng dù thế nào, chiếc tàu này chắc chắn là tàu địch. Tôi la to: “Xạ thủ! Nhân viên ngư lôi! Sẵn sàng bên mạn trái.”

Khi Đại úy Miyoshi đáp đã sẵn sàng tôi bỗng nhiên lưỡng lự. Tôi phải rõ lai lịch chắc chắn của chiếc tàu để khỏi bắn lầm vào tàu bạn. Tôi ra lệnh rọi đèn. Không còn sợ lầm nữa. Đây là một tuần dương hạm địch. Tôi ra lệnh khai hỏa mọi loại vũ khí.

Bốn quả ngư lôi được phóng ra, và sáu khẩu 120mm đồng loạt khai hỏa lần đầu trong trận đánh này. Tất cả đạn đều trúng vào mục tiêu. Tiếng nổ đinh tai nhức óc. Nhưng thật đáng kinh ngạc là tàu địch không hề có một phản ứng nào.

Hai mươi giây sau khi chúng tôi khai hỏa, chúng tôi phát hiện bốn tiếng động rõ rệt dưới nước. Tôi nín thở, tiên đoán những tiếng nổ dữ dội sẽ xảy ra. Nhưng 20 giây nữa trôi qua, không có một tiếng nổ nào hết. Và khi thấy chiếc tàu lạ vẫn đung đưa qua lại, tôi biết là mình đã quên lãng một cách khờ khạo. Tất cả ngư lôi của Nhật Bản đều có một bộ phận an toàn, nếu phóng vào mục tiêu trong vòng 500m ngư lôi không thể nào nổ được. Mục tiêu hiện tại không hơn 500m. tôi tự rủa thầm. Trong lúc bối rối, tôi đã ra lệnh sử dụng ngư lôi một cách hoang phí

Sai lầm này thường kéo theo sai lầm khác. Trong lúc tức giận, tôi quên ra lệnh tắt đèn rọi tìm địch. Kikkawa đã từng nói với tôi là đèn rọi thường hấp dẫn cặp mắt địch quân. Tôi đã quên mất bài học này. Chiếc tàu địch vung sang bên trái, dĩ nhiên là để tránh khỏi đụng vào chiếc tàu của tôi, nhưng lối di chuyển của nó có vẻ bất thường.

Trong khi đó, hỏa lực của chúng tôi vẫn tiếp tục rót ngay vào mục tiêu. Chiếc tàu ma quái nghiêng qua ngả lại. Khói và lửa bắt đầu bao trùm toàn thể chiếc tàu này. Chúng tôi nhận ra đây là chiếc San Francisco, mà chúng tôi đã từng chạm mặt ngay sau khi Đề đốc Callaghan và bộ tham mưu của ông, cũng như thủy thủ đoàn, bị các chiến hạm khác của Nhật tiêu diệt gọn. Các pháo tháp của chiếc tàu này sở dĩ biến mất là do các trọng pháo 250mm của thiết giáp hạm Kirishima thổi bay đi.

Bất ngờ, ngay lúc đó, nhiều quả đạn rơi xuống quanh chiếc tàu của tôi. Tôi nghĩ là những người đã chết trên chiếc San Francisco sống lại để ra tay phục hận. Một vài quả đạn trúng Atmasukaze. Tôi hét lớn: “Các xạ thủ giữ yên vi trí. Hạ gục chiếc tàu ma quái ngay lập tức.” Tôi đã sôi máu. Súng của chúng tôi tiếp tục mưa đạn vào tàu địch. Nhưng đó là sai lầm thứ ba của tôi.

Hiển nhiên các quả đại pháo rót xuống chúng tôi không phải từ chiếc San Francisco. Một tiếng kêu xé tai đến nổi át cả tiếng súng nổ dữ dội. Đó là tiếng kêu của Chuẩn úy Shigeru Iwata, đứng ở tháp quan sát ngay phía trên đài chỉ huy: “Hạm trưởng, một tuần dương hạm khác ở 70 độ mạn trái đang bắn lén chúng ta.”

Tôi xoay nhìn về hướng Iwata vừa nói, quả thật, có một tuần dương hạm khác. Tôi lạnh toát cả thân thể, nhưng sau cùng vẫn la được: “Tắt đèn, ngưng bắn, tạo màn khói!” Tôi chưa nói hết câu, một loạt đạn thứ ba từ tàu địch bay đến. (Sau đó tôi nhận ra đó là chiếc Helena của Hoa Kỳ). Hai quả đạn nổ gần, đẩy tôi ngã chồm về phía trước, suýt chút nữa bay ra khỏi đài chỉ huy. Tôi gượng dậy được, nhưng đầu óc tối tăm mất nhiều giây. Tôi sờ nắn khắp toàn thân, nhưng không tìm thấy thương tích nào.

Nhìn quanh, tôi yên dạ khi thấy các sĩ quan của tôi đều không sao cả, Nhưng còn những người khác?

Tôi nhìn ra ngoài. Iwata nằm sóng soài trên tàu. Tôi la lên: “Iwata, Iwata, anh sao vậy?” Hắn bất động, máu đấm ướt mặt mày. Một mảnh đạn trúng vào sọ, và Iwata chết tức khắc. Một quả đạn đã rơi ngay vào tháp quan sát của Iwata. “Shimizu, Shimizu! Anh có sao không?” Tôi gọi qua máy liên lạc nội bộ. Không có tiếng đáp lại. Tôi lại gọi to: “Phòng truyền tin! Nghe không?” Nhưng cũng hoàn toàn yên lặng.

Một quả đạn khác đã trúng ngay phòng truyền tin, tất cả nhân viên đều thiệt mạng. Chiếc tàu còn xoay về phía phải và đang bắt đầu quay vòng tròn. Tôi hét: “Matsumoto, bẻ tay lái lại!”

Tiếng đáp: “Thưa Trung tá, tay lái đã liệt rồi!”

Khói bốc lên từ dưới đài chỉ huy, hiển nhiên là phòng truyền tin. Đạn địch lại bay đến. Helene quyết trấn nước chúng tôi. “Phản pháo đi!” Tôi kêu to.

Một pháo thủ chạy lên đài chỉ huy, máu thấm ướt một bên vai. “Thưa Trung tá, các pháo tháp của ta bị loại rồi. Các hệ thống thủy lực của ta cũng bất động.”

Một nhân viên liên lạc của phòng máy chạy đến: “Cơ quan bánh lái không còn sử dụng được nữa. Hệ thống thủy lực đã hỏng.”

Tôi hỏi: “Đại úy Shimizu có sao không? Máy móc như thế nào?”

“Đại úy Shimizu đang lo sửa chữa những bộ phận hư hỏng của chiếc tàu. Máy móc không sao cả!”

Tôi nói với Đại úy Matsuto: “Anh xuống phòng máy kiểm soát và cứ mỗi ba phút báo cáo cho tôi biết.”

Chiếc Amatsukaze đã xoay trọn một vòng trên mặt biển và lại bắt đầu vòng thứ hai. Pháo kích của chiếc Helene vẫn như mưa xuống quanh chúng tôi, nhưng chỉ một vài quả đạn trúng đích. Hỏa lực địch ngày càng gia tăng, nhưng thủy thủ đoàn của tôi đang mắc bận tâm với những phần hư hại của chiếc tàu, các pháo khẩu của chúng tôi đều im tiếng, và không còn quả ngư lôi nào để phóng. Nếu tàu địch tiến sát, chúng tôi sẽ không khác nào con bò đực đứng trước lò sát sinh.

Di chuyển của Amatsukaze càng lúc càng thiếu chính xác, và toàn thể chiếc tàu bao bọc trong màn khói mù mịt khi nó bắt đầu xoay vòng thứ hai. Cuối cùng, cơn mưa đạn chấm dứt và chiếc tàu địch dần lãng ra xa. Nhưng chắc nó chưa chịu bỏ con mồi dễ dàng như vậy đâu.

Một liên lạc viên viên của Matsumoto chuyển một báo cáo: “Hệ thống thủy lực hoàn toàn không sử dụng được nữa. Chúng ta sẽ phải dùng sức người để bẻ lái chiếc tàu. Xin chỉ thị!”

“Được rồi, nói với ông ta cho ngừng tàu lại để cắt đặt thủy thủ làm công việc này ngay lập tức.”

Đại úy Miyoshi, hoa tiêu trưởng, nhăn nhó hỏi tôi: “Chúng ta ngừng ở đây, thưa Trung tá? Ngừng ngay trước mũi súng của địch quân?”

“Chắc chắn như vậy rồi! Chúng ta ngừng tàu trước khi đánh nữa.”

Một giọng nói vang to qua hệ thống liên lạc nội bộ, đó là giọng nói của Matsumoto: “Thưa Hạm trưởng, chúng tôi đã sữa chữa được một vài nơi hư hại do đạn địch gây ra.”

“Tốt, Matsumoto. Hãy ngừng tàu lại, và cắt đặt người lo bẻ lái chiếc tàu.”

Khi chiếc tàu từ từ đứng lại, súng của địch cũng im tiếng hẳn. Hiển nhiên là tàu địch đã bỏ đi, có lẽ nghĩ rằng sự trừng phạt dành cho chiếc Amatsukaze như vậy là quá đủ.

Tôi không thể nhìn thấy tàu địch chạy về hướng nào, vì quanh tôi khói che dày đặc. Nhưng tôi không ngờ lúc đó chiếc Helena gặp nhiều bối rối hơn chúng tôi. Ba khu trục hạm Nhật bất thần xuất hiện. Đó là ba chiếc Asagumo, Murasame và Samidare – thuộc đơn vị tiền phương với hai chiếc Yudachi và Harusame. Cũng do đội hình rắc rối của Abe, cả ba chạy rơi lại phía sau trước khi trận đánh bắt đầu, và di chuyển lang thang để cuối cùng nhảy vào vòng chiến khi trận đánh sắp tàn.

Tuần dương hạm Helena đã sửng sốt khi thấy ba chiến hạm Nhật xuất hiện. Trước khi nhận ra lai lịch ba chiếc tàu, Helena bị đánh phủ đầu. Khu trục hạm Murasame phóng nhiều quả ngư lôi trúng đích, nhưng kỳ lạ thay, cả mấy giờ sau tuần dương hạm này mới chịu chìm.

Asagumo, đồng đội của Murasame, xoay các họng súng về phía một chiến hạm khác của địch đang tiến đến từ hướng Tây. Đó là khu trục hạm Monssen, sở dĩ chúng tôi biết được lý lịch là do ám hiệu bằng đèn của chiếc tàu này. Monssen tưởng ba chiến hạm Nhật là cùng bọn. Ám hiệu bằng đèn của Monssen không khác nào một hành động tự sát, giống như đèn rọi của chiếc Amatsukaze đã kêu gọi chiếc Helena tìm đến. Nhiều quả đại pháo rơi ngay vào chiếc Monssen, và tiếp liền theo Agasumo đã dứt điểm mục tiêu bằng mấy trái ngư lôi. Chiếc tàu địch chạy phía sau Monssen là tuần dương hạm Fletcher không còn lòng dạ nào đối đầu với khu trục hạm Samidare, nên đã quay đầu bỏ chạy.

Chiếc Sterrett, một trong những khu trục hạm còn sống sót của địch quân cho rằng chính nó đã đánh chìm một khu trục hạm Nhật trong trận đánh này bằng hai quả ngư lôi. Nhưng thật ra đây là một thành tích tưởng tượng, khu trục hạm Akatsuki đã bị đánh chìm từ trước, còn chiếc Yudachi lúc đó vẫn còn đang bốc cháy cách nhiều dặm ở phía Tây. Hiển nhiên là Sterrett đã đánh chìm lầm một chiếc tàu bạn, hoặc giả nạn nhân của nó là chiếc San Francisco đã nổi trôi bềnh bồng sau khi bị hỏa lục và ngư lôi Nhật vùi dập.

Một số giả thuyết của Hoa Kỳ cho rằng chính súng của Nhật bắn vào các chiến hạm nhật lúc trận chiến gần kết thúc. Sau khi phối kiểm với tất cả các đồng đội tham dự trận đánh, và xem xét các vết hư hại của một số khu trục hạm, tôi có thể đoán quyết các giả thuyết này đều không đúng. Trái lại, nhiều đồng đội của tôi đã thuật lại rằng chính các chiến hạm Hoa Kỳ đã đấu súng với nhau trong trận đánh này.

Sau khi guồng và bánh lái của Amatsukaze không còn sử dụng được nữa, vì hệ thống thủy lực hỏng, chúng tôi bắt đầu sử dụng nhân lực. Cũng may, máy móc của chiếc tàu còn chạy tốt, chúng tôi gia tăng tốc độ lện 20 hải lý. Dùng tay điều khiển guồng lái với một chiếc tàu 2.500 tấn là cả một vấn đề. Số thủy thủ đảm trách công việc này đã tháo mồ hôi hột. Chiếc tàu chạy như người say rượu, hết xỉa bên này lại đâm sang bên kia. Sau một vài phút nhìn tình trạng xảy ra, tôi biết phải làm cái gì rồi. Tôi ra lệnh: “Matsumoto, tôi sẽ chỉ huy. Việc này đòi hỏi kinh nghiệm. Bây giờ tôi đứng ở đài chỉ huy để đưa ra các lệnh điều khiển cho anh, anh chuyển đến cho thủy thủ phía dưới guồng lái.”

Mười thủy thủ đang điều khiển guồng lái mình ướt đẫm mồ hôi, chứng tỏ công việc rất nặng nhọc. Nhưng công việc của tôi lúc ấy trên đài chỉ huy cũng không phải dễ dàng. Tôi luôn phải hét thật to hướng đi của chiếc tàu cho Matsumoto nghe, đến nỗi giọng khàn hẳn và mồ đổ xuống mặt tôi như tắm. Chiếc tàu vẫn còn chạy xiên xẹo, nhưng có phần giảm đi chút ít.

Lúc 3h chiều, Đại úy Miyoshi cho biết tất cả lửa cháy do địch gây ra trên tàu đều đã được dập tắt. Một vài phút sau, tôi nhìn thấy soái hạm Hiei ở mạn trái.

Lửa không cháy nữa nhưng chiếc tàu hoàn toàn bất động. Không có một chiến hạm Nhật nào hiện diện xung quanh nó để lo việc tiếp cứu. Nghĩ đến các đồng đội trên chiếc tàu bất hạnh này, tôi cảm thấy đau buồn, hưng tôi bó tay, vì chính chiến tàu của tôi đang lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Việc duy nhất tôi phải làm là cố giữa cho chiếc Atmasukaze chạy đúng về hướng Bắc. Công việc này không phải dễ dàng đối với hải trình nhỏ hẹo xuyên qua eo biển Indispensable. Tập trung hết hơi sức, tôi hét lớn qua ống nói tiếp tục điều khiển chiếc tàu tiếp tục di chuyển. Khi ánh sáng đầu ngày vừa lóe lên, thiếu úy shoji la to: “Ba phi cơ địch đang bay đến!”

Tôi ra lệnh: “Miyoshi, nắm quyền chỉ huy các pháo khẩu. Hãy ráng hết sức anh.”

Sĩ quan ngư lôi xuống đài chỉ huy, và không lâu sau báo cáo: “Không còn khẩu cao xạ nào xoay nòng được, riêng khẩu số 4 chỉ có thể xoay theo hướng lên xuống mà thôi.”

Khẩu súng duy nhất còn sử dụng được này đã khai hỏa nhanh chóng khi các phi cơ địch bay đến gần. Ba phi cơ đã ước lượng tốc độ Atmasukaze quá cao, thành thử những quả bom thả chận đầu đã rơi xuống một khoảng cách khá xa. Trái bom gần nhất đã rơi xuống cách chúng tôi 300m. các phi cơ địch chỉ lướt qua một lần rồi bay thẳng về hướng Guadalcanal. Có thể phi cơ địch sẽ bay đến nữa, nhưng chúng tôi chỉ còn biết chịu đựng, và không còn việc gì khác hơn để làm là cố giữ cho chiếc tàu chạy thẳng về phía trước.

Hình như may mắn đã bỏ chúng tôi đi mất rồi. Thiếu úy Shoji lại báo cáo: “Nhìn thấy một chiếc tàu địch cách 9.000m ở trước mặt, chạy thẳng về phía chúng ta. Phải làm gì đây, thưa Hạm trưởng?”

Thay vì đáp lời Shoji, tôi gọi qua ống nói: “Matsumoto, một chiếc tàu không rõ của ai, nhìn thấy ở phía trước. Hãy gia tăng tốc lực tối đa. Nếu nó là chiến hạm địch, chúng ta không còn biết làm gì hơn là húc mạnh vào nó.”

Shoji chạy lo sắp sếp thủy thủ đoàn để sẵn sàng với hành động liều mạng này. Tôi lại liếc về phía tàu địch. Nó đang tiến sát chúng tôi với tốc độ hơn 30 hải lý có dư. Sau chừng một phút nghẹt thở, tôi đã thở khì như trút được gánh nặng, và cho người chạy đi gọi Shoji. “ Đó` là một khu trục hạm Nhật… Phải, chiếc Yukikaze, không còn lầm lẫn gì nữa.”

Shoji vừa đi vừa nhảy nhót vui mừng. Còn cách khoảng 3.000m, một nhân viên truyền tin của Yukikaze đã vẫy tín hiệu bằng cờ, nhìn thấy rất rõ dưới ánh nắng ban mai: “Gửi Atmasukaze lời chào nồng nhiệt nhất. Chúng tôi đang chạy đến để đi kèm chiếc Hiei. Các bạn có cần chúng tôi giúp đỡ gì không?”

Nhân viên truyền tin lập tức chuyển lời đáp của tôi: “Cám ơn các bạn. Đừng lo lắng cho tôi, hãy chạy về phía trước hết tốc lực. Phi cơ đã phát hiện chúng tôi, và cũng rất có thể chiếc Hiei đã bị phát hiện. Nên chuẩn bị sẵ sàng để chống trả. Chúc bạn may mắn.”

Chúng tôi vượt ngang phía trái của chiếc Yukikaze ở khoảng cách 1.000m. Những thủy thủ đứng trên boong trao nhau lời chào hỏi. Mặc dù hai chiếc tàu đã cùng chạy trên một hải trình dài dằng dặc, nhưng đây là lần đầu tiên, kể từ sáng hôm qua, cả hai mới gặp nhau.

Yukikaze chạy ở ngay phía trước Amatsukaze trong đội hình phức tạp của Đề đốc Abe, nhưng cả hai không thể nhìn thấy nhau, vì di chuyển trong mưa bão. Trong trận đánh, Yukikaze và tuần dương hạm Nagara là hai chiếc tàu đầu tiên rút lui ra khỏi khu vực chiến đấu. Yukikaze không bị trúng một phát đạn nào.

Lời cảnh báo tôi vừa nói với Yukikaze chứng tỏ đã đúng. Hàng chục oanh tạc cơ Hoa Kỳ đã bay đến cấu xé chiếc Hiei. Đề đốc Abe ra lệnh tự đánh đắm tàu trước khi bỏ soái hạm để thoát sang khu trục hạm Yukikaze vừa mới đến. Lệnh phá hủy tàu này đã có cái giá trách nhiệm mà Abe và đại tá Masao Nishida, Hạm trưởng của Hiei, phải trả một vài ngày sau đó.

Sau khi vượt ngang chiếc Yukikaze, chiếc tàu của tôi chạy với tốc độ 20 hải lý như trước. Chúng tôi thoát ra khỏi eo biển nguy hiểm và chạy vào một hải vực bao la. Nỗi sợ gặp đá ngầm và san hô của chúng tôi không còn nữa, nhưng nỗi lo sợ khác lại hiện đến. Đối với một chiến hạm què quặt chạy giữa ánh sáng ban ngày thật bất lợi, nhất là trong một khu vực đầy dẫy tàu ngầm địch như thế này.

Trang bị sonar trên các khu trục hạm Nhật như đã nói, không mấy hữu hiệu. Khi một khu trục hạm chạy đến tốc độ 20 hải lý hoặc cao hơn, sonar này hầu như mất hẳn sự nhạy cảm. Hiện tại sonar của Amatsukaze bất động hoàn toàn. Tôi ra lệnh: “Matsumoto, tốt hơn là cứ mỗi giờ anh nên thay đổi toán thủy thủ bẻ lái. Chúng ta cần những cánh tay khỏe mạnh trong trường hợp cần thay hướng con tàu gấp rút. Tiềm thủy địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.”

Nhưng cũng lạ, 12 giờ trôi qua mà vẫn không xảy ra một cuộc tấn công nào. Khi biết rằng chiếc tàu đã tiến vào khu vực an toàn, tôi bỗng nhiên thấy mình như kiệt lực. Kỹ thuật hải hành chính xác đã đưa chúng tôi đến một địa điểm cách phía Bắc Guadalcanal khoảng 250 dặm, nơi mà hạm đội của Phó Đô đốc Takeo Kurita đang chuẩn bị để ra khơi vào đêm hôm đó. Khi tàu của chúng tôi tiến đến gần, tôi nhìn thấy khu trục hạm Terutsuki, thuộc hạm đội của Đề đốc Abe. Nhân viên truyền tin của chúng tôi gửi một công điện yêu cầu chiếc Terutsuki cho biết qua tình hình tổng quát.

Chúng tôi nhận ngay một công điện hồi đáp: “Mừng đón Amatsukaze trở về với những lời nồng nhiệt nhất của chúng tôi. Anh đã bị báo cáo mất tích một vài giờ trước đây, nhưng một số chúng tôi vẫn hy vọng anh trở về. Hạm đội của chúng ta chiến đấu hữu hiệu. Chỉ hai chiếc Hiei và Yudachi bị đánh chìm. Không ai nghe tin tức của chiếc Akatsuki. Xem như nó đã mất tích. Marusame và Ikazuchi trúng nhiều quả trọng pháo, nhưng không ai thiệt mạng. Chào mừng anh một lần nữa. Anh đã làm một việc đáng kinh ngạc, khiến cho chúng tôi hãnh diện.”

Sự lựa chọn Kondo để đặt vào nhiệm vụ, chứng tỏ Đô đốc Yamamoto đã sai lầm. Tôi vẫn không hiểu tại sao Đô đốc Yamamoto lại nghĩ quá cao về Kondo, mặc dù ông ấy đã có nhiều hành vi nhút nhát trong hai trận hải chiến gần đây. Lần này, lực lượng của Kondo gồm có ba thiết giáp hạm , hai tuần dương hạm nhẹ và chín khu trục hạm, đối đầu với một lực lượng địch yếu kém rõ rệt, dưới quyền của Đề đốc Willis Augustus Lee, chỉ có hai thiết giáp hạm và bốn khu trục hạm. Mặc dù nắm lợi thế về số đông, Kondo đã để cho địch quân đánh chìm thiết giáp hạm Kirishima và một khu trục hạm, trong khi Lee chỉ mất ba khu trục hạm.

Hai tuần dương hạm của Kondo vẫn chưa chạm địch, nhưng ông đã ra lệnh cho cả hai rút lui, và ngay cả sự cố gắng truy đuổi địch quân ông cũng không hề nghĩ đến.

Trong vòng bốn tháng, đây là lần thứ ba Kondo đã có hành vi không mấy nhiệt tình như thế.

Đô đốc Yamamoto đã nổi giận trước sự thất bại của Aba, nhưng đối với Kondo ông lại tỏ ra rộng lượng lạ lùng. Nhiều sĩ quan của Kondo đã lấy làm hổ thẹn dùm cho ông cũng như cho chính họ. Họ tránh đề cập đến trận đánh, Kondo là một mẫu người lịch sự theo phong cách của nhười Anh. Ông tỏ ra nhân ái và rộng lượng với tất cả thuộc cấp, và ông cũng là một vị Đô đốc có kiến thức uyên bác. Đối với tôi, ông là một người tốt và tôi luôn kính nể ông. Nhưng tôi phải nói rằng Yamamoto đã vấp phải một sai lầm to tát nhất, đó là việc ông đã đánh giá quá cao khả năng chiến đấu của Kondo. Kondo có thể là một vị chỉ huy giỏi ở Hàn Lâm Viện Hải Quân, nhưng ông không thể là một vị chỉ huy thích hợp ở một đơn vị chiến đấu.

Khi chúng tôi tiến sát chiếc Terutsuki, hầu hết thủy thủ đoàn của chiếc tàu này đã ra đứng cạnh lan can và vẫy tay reo hò chào mừng một lần nữa. Nhiều chiếc tàu khác cũng làm như Terutsuki. Nhưng tôi không cảm thấy vui vẻ hoàn toàn. Những lỗi lầm đã vấp phải khiến tôi trĩu nặng.

Chiếc Amatsukaze chạy vòng vào bên trong đội hình đã sắp xếp của các chiến hạm dưới quyền Phó Đô đốc Kurita. Soái hạm của ông, tức thiết giáp hạm 27.500 tấn Kongo, giống như một pháo đài nổi. Nhân viên truyền tin của soái hạm gửi chúng tôi một công điện: “Phó Đô đốc Kurita gửi trung tá Hara: “Tôi xin kính chào cuộc trở về can đảm của anh, và xin thông báo cho anh biết tôi đã ra lệnh sắp xếp khu trục hạm của anh vào chuyến ra khơi hiện tại. Có mặt anh trong lần hải xuất này là niềm hãnh diện cho chúng tôi.”

Cộng điện này đã làm tôi ngạc nhiên. Tôi gửi ngay một công điện hồi đáp: “Trung tá Hara gửi Phó Đô đốc Kurita: Không xứng đáng nhận những lời khen cũa Phó Đô đốc. Chuyến về què quặt của tôi với sự thiệt mất 43 thủy thủ, bao gồm sĩ quan pháo thuật. Chúng tôi cần phải sửa chữa. Hiện tại chúng tôi đang phải điều khiển guồng lái bằng sức người.”

Công điện kế tiếp của soái hạm đã đến vài phút sau đó: “Phó Đô đốc Kurita ra lệnh cho anh quay về Truk lập tức, Những lời khen tặng của Phó Đô đốc không thay đổi. Chúc anh thượng lộ bình an và gặp nhiều may mắn. Mong gặp lại.”

Hình ảnh của soái hạm nhạt nhòa trong dòng lệ khi tôi đọc xong những lời ưu ái này. Tôi cố dằn xúc động để ra lệnh: “Matsumoto, xoay hướng phải. Chúng ta trở về Truk.”

Matsumoto đáp: “Tuân lệnh, thưa Trung tá. Nhưng dường như trung tá mệt mỏi. Tại sao trung tá không đi nghỉ? Trung tá đã hò hét 15 giờ ròng rã rồi, bây giờ tôi nhận thấy không cần thiết điều khiển con tàu bằng phương pháp vừa rồi nữa.”

“Cám ơn Matsumoto. Anh nói phải, vậy anh hãy thay tôi.” Tôi ngồi xuống, đây là lần đầu tiên trong 24 giờ qua, nhưng chỉ được một vài phút tôi vùng dậy khỏi ghế. Tôi đã quên khuấy một việc, “Miyoshi Shoji! Chúng mình phải cử hành lễ hải táng cho những người chết trước khi trời tối.”

Bốn mươi ba cái xác được mang lên sàn tàu. Mỗi xác chết đều được đồng đội tắm rửa bằng nước nóng và dùng vải bọc lại. Nước, được xem là quí giá trước đây không hề hạn chế trong buổi lễ này. Những cái xác bọc vải có kèm theo vật nặng được thả xuống biển, trong lúc các thủy thủ thổi kèn đồng tấu bài vĩnh biệt và những người khác đứng chào đưa tiễn.

Một cuộc hải táng luôn buồn bã. Tôi đã tham dự không biết bao nhiêu buổi lễ như thế này, nhưng không lần nào cảm thấy buồn như lần này. Cuối cùng, khi Miyohi và Shoji buông chiếc chăn với các xác của Đại úy Kazue Shimizu, sĩ quan pháo thuật xuống biển, tôi đã khóc thành tiếng. Shimizu, một tay cứng đầu thường hay cãi lý, nhưng anh ta là một người tốt, một sĩ quan giỏi. Nếu tôi nghe theo ý kiến của Shimizu thì tôi sẽ không vấp phải nhiều lỗi lầm cho đến nỗi phải trả bằng mạng sống của anh ta.

Kế đó, Miyoshi và Shoji bước đến cái xác của Chuẩn úy Itawa và cẩn thận nâng lên. Iwata, sĩ quan quan sát đã phát hiện tuần dương hạm Helena kịp thời khiến chiếc tàu của chúng tôi thoát khỏi bị tiêu diệt.

Tôi bước xuống đài chỉ huy. Thủy thủ nhìn tôi chăm chú. Đây là lần đầu tiên tôi rời khỏi đài chỉ huy từ khi bắt đầu cuộc hành quân vừa qua. Tôi nói: “Iwata, bạn của tôi. Cái chết của bạn sẽ thức tỉnh tôi, để tôi thận trọng hơn!” Tôi cởi chiếc áo khoác và đắp lên xác chết. ”Iwata, vĩnh biệt, anh hãy an nghỉ.” Lệ dâng đầy mắt tôi lúc đứng nghiêm và chào người quá cố. Tôi lê gót nặng nhọc lên đài chỉ huy. Nhiều thủy thủ bật khóc như trẻ con, nhiều người khác đưa tay bưng mặt.

Tôi ngước nhìn vầng kim ô to lớn và đỏ ối dần khuất, tôi đã nguyện với lòng không vấp vải những lỗi lầm như vừa qua nữa. Khi buổi lễ hải táng chấm dứt, đêm đã xuống hoàn toàn.

Chiếc Amatsukaze chạy vòng quanh khu vực hải táng một lần, trong lúc toàn thể thủy thủ còn lại cúi đầu cầu nguyện lần cuối cùng cho những người bạn ra đi vĩnh viễn. Sau đó chiếc tàu quay mũi về hướng Bắc.

Matsumoto, nguyên là một sinh viên xuất thân từ trường Hàng Hải Thương Mại, đã thích ứng với công việc điều khiển guồng lái chiếc tàu bằng tay rất mau lẹ. Chiếc tàu tiếp tục chạy về phía trước với một tốc độ tối thiểu, và 24 giờ sau, ngày 14 tháng 11, Amatsukaze buông neo trong hải cảng Truk, hòn đảo san hô yên tĩnh. Ở đây, tôi nghe tin tiềm thủy đĩnh I.26 của Nhật đã phóng ngư lôi đánh chìm một tuần dương hạm chạy lẻ loi của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nhiều năm sau này tôi mới được biết đó là tuần dương hạm Juneau, từng bị chiếc Amatsukaze bắn phá gây hư hại nặng nề trước khi bị hạ hẳn.

Trận đánh kết thúc, phần thắng lơi nghiêng về phía Nhật Bản, nhưng chỉ là thắng lợi thuần túy chiến thuật. Thắng lợi chiến lược đã nghiêng về phía địch quân, vì lực lượng của Abe bị ngăn chặn, phải bỏ rơi cuộc pháo kích vào các phi trường ở Guadalcanal như đã định. Chín chiến hạm Hoa Kỳ đã bị đánh chìm, nhưng không gây thất lợi hẳn cho địch quân, và việc này càng làm cho họ lưu tâm đến hòn đảo hơn nữa.

Ở Truk, Đô đốc Yamamoto đã nổi giận khi nghe tin nhiệm vụ của Abe thất bại. Hiei là thiết giáp hạm đầu tiên của Nhật chìm trong cuộc chiến. Điều này đã khiến cho Yamamoto nổi khùng, cho dù là trước đây ông luôn luôn được tiếng là rộng lượng và khoan dung với lỗi lầm của thuộc cấp.

Bộ Tư Lệnh Tối Cao ở Tokyo cũng tỏ ra giận dữ. Cơn giận dữ của các vị Đô đốc đầu não đã biến thành cơn thịnh nộ khi nghe họ nghe thêm tin sự thất bại của Phó Đô đốc Nobutake, tiếp liền sau sự thất bại của Abe. Một ủy ban gồm nhiều vị Đô đốc được thành lập để điều hành một tòa án xét xử kín nội vụ. Abe và Đại tá Nishida, hạm trưởng của thiết giáp hạm Hiei được gọi ra chấp cung. Cả hai đều không đưa ra lời bênh vực nào về những hành vi hoặc lỗi lầm của họ. Tòa án phán xét cho hai sĩ quan “về hưu” vì đã có những hành vi “bất xứng”, được hưởng trợ cấp hưu bổng, nhưng không được giữ bất cứ chức vụ công nào.

Vào đêm 13 tháng 11, phân đội gồm ba tuần dương hạm và bốn khu trục hạm của Đề đốc Shoji Nishiruma tiến sát bờ biển Guadalcanal, và mở những cuộc pháo kích vào các phi trường trên đảo. Nhưng vào sáng hôm sau, phi cơ Hoa Kỳ vẫn cất cánh được từ các phi trường này. Chứng tỏ cuộc pháo kích của Nishimura vô hiệu. Các phi cơ trên đảo phối hợp với các phi cơ của hàng không mẫu hạm Enterprise đến xâu xé một đoàn tàu chuyển vận 11 chiếc của Nhật, gây thiệt hại và đánh chìm đến 7 chiếc. Phi cơ địch cũng đánh chìm tuần dương hạm Kinugasa và gây hư hại nặng cho ba khu trục hạm thuộc lực lượng hộ tống.

Phó Đô đốc Kondo, phụ tá Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp, được lệnh thay thế Kiruta cầm đầu cuộc hải xuất kế vào đêm 14 tháng 11. Hai tuần dương hạm 13.000 tấn Atago và Takao, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Kondo, thình lình được gia nhập vào hạm đội của Cựu Đề đốc Abe ( Cựu Đề đốc? Cay đắng quá – Heo ý kiến chút ), hạm đội này đã thiệt mất một thiết giáp hạm Hiei và ba khu trục hạm trong trận đánh vừa qua.

7

Ở Truk, khu trục hạm Amatsukaze đậu cặp kè với chiếc tàu sửa chữa Akaski. Viên kỹ sư trưởng lên ngay chiếc tàu của tôi để xem xét các nơi bị hư hỏng. Tôi đã cho rằng sự hư hại của chiếc tàu không có gì đáng kể, và nó có thể trở lại với đồng đội chỉ trong vòng một tuần lễ hoặc mười ngày là cùng.

Viên kỹ sư cười và nói: “Trung tá Hara, hầu hết các hạm trưởng đều xem thường sự hư hại của chiếc tàu do họ chỉ huy, và khi lâm chiến họ đã bắt những chiếc tàu làm những việc không thể nào làm nổi ngay cả với một chuyến đi thông thường. Tôi biết ông rõ từng đường tơ kẽ tóc của chiếc tàu này. Hãy đi một vòng xem, và ông hãy giải thích cho tôi xem những điểm nào gọi là tốt đẹp của chiếc tàu?”

Thật vậy, Amatsukaze không khác nào đứa con của tôi. Đầu năm 1940, tôi đã xem xét tỉ mỉ chiếc tàu trước khi nó được hạ thủy, và ròng rã sáu thánh sau đó, tôi đã trông coi việc trang bị cho chiếc tàu. Có thể nói đây là khu trục hạm đẹp nhất vào thời đó. Chiến hạm 2.500 tấn này tôi biết từng đường tơ kẽ tóc, đúng như lời viên kỹ sư đã nói.

Viên kỹ sư và tôi đã bỏ ra một ngày để xem xét qua các chỗ hư hại của Amatsukaze. Sự lạc quan của tôi đã tan biến ngay sau cuộc xem xét này. Toàn thể vỏ tàu, chúng tôi đếm được tất cả 32 lỗ thủng với đường kính rộng cả tấc. Thêm vào đó, có năm lỗ thủng nhỏ hơn, do mảnh đạn gây ra. Còn các lỗ thủng nhỏ thì vô số, sau khi đếm đến con số 40, tôi đã ngưng không đếm nữa. Quả thật, chiếc tuần dương hạm Hoa Kỳ đã làm được việc. Viên kỹ sư đã nói đúng. Amatsukaze hiện giờ chỉ là một đống sắt nổi, không còn giá trị của một chiếc khu trục hạm nữa.

Sau khi đi một vòng xong, chúng tôi bước vào phòng,. Tôi đã buông rơi tấm thân xuống ghế, chán nản và buồn hiu. Viên kỹ sư an ủi: “Tôi thành thật chúc mừng tài điều khiển tàu tài giỏi của Trung tá. Mang được chiếc tàu này trở về, đầy đủ như vậy, Trung tá đã làm một việc giống như có phép lạ, nhưng tôi chắc phép lạ này không xảy ra lần thứ hai.”

Tôi công nhận lời nói của viên kỹ sư, nhưng trong lúc chán nản tôi chỉ ngồi lặng yên. Hắn ta nói tiếp: “Chắc Trung tá biết, chúng tôi không thể tập trung tất cả thời gian vào chiếc Amatsukaze. Nhiều chiếc tàu khác cũng cần phải sửa chữa. Ước chừng phải mất một tháng, tôi sẽ làm chiếc tàu của Trung tá đủ sức chạy về Nhật. Ở đó sẽ có đủ phương tiện sửa chữa, và hy vọng trong vòng một tháng chiếc tàu này sẽ đủ khả năng phục hồi như cũ.”

“Nhưng tôi từng nghe địch quân có thể sửa chữa chiến hạm hư hại nhiều hơn của họ không mất quá 60 ngày. Tại sao chúng ta không làm được như vậy?”

Tôi biết câu giải đáp sẽ liên quan đến khả năng kỹ thuật của địch quân, nó vượt trội hơn Nhật Bản, và tôi cũng hiểu ngay câu hỏi của tôi sẽ gây phiền phức như thế nào. Một khoảng im lặng nặng trĩu, cuối cùng tôi lên tiếng: “Xin ông hãy làm những việc ông cho là thích hợp. Tôi sẽ ở đây với chiếc tàu. Thủy thủ của tôi sẽ tiếp tay với nhân viên của ông trong việc sửa chữa, nếu xét thấy có thể.”

Viên kỹ sư lại ngỏ lời tán tụng tôi thêm một lần nữa, rồi mới chịu cáo từ. Tôi dẹp bỏ sự lo nghĩ, đứng dậy ra khỏi phòng, và đi qua đi lại trên sàn tàu. Nhìn lại những lỗ thủng không đếm xuể do đạn đại liên gây ra, tôi nghĩ cũng may mà chúng tôi chỉ thiệt hại có 43 nhân mạng.

Công việc sửa chữa chiếc tàu bắt đầu vào sáng hôm sau. Tuần lễ kế đó, tôi phải bận rộn đón một số khách viếng thăm đến từ thiết giáp hạm Yamato và một số chiến hạm khác buông neo ở hải cảng Truk.

Tôi có nhiệm vụ giải thích với họ về “phép lạ” mà chiếc Amatsukaze đã được hưởng. Ai ai cũng cho rằng chiếc tàu còn tồn tại là một việc phi thường. Nhiều khách viếng ngỏ lời khen tặng tôi, nhưng không ai hỏi ý kiến tôi làm sao để tránh nếu họ gặp một số phận như vậy trong tương lai. Và cũng không một sĩ quan nào thuộc bộ tham mưu của Hạm Đội Hỗn Hợp khi đến viếng thăm chiếc tàu mang đầy thương tích của tôi ngỏ lời hỏi han ý kiến, hoặc yêu cầu tôi đưa ra những lời khuyên. Sự khiếm khuyết đáng chú ý này kéo dài một tuần, khiến tôi bắt đầu nghi ngờ khả năng của những người này. Tôi đã băn khoăn lo nghĩ rằng họ – những người đã góp tay vào việc sắp xếp kế hoạch hành quân – họ thấy không cần thiết rút tỉa những kinh nghiệm của trận đánh vừa qua. Dĩ nhiên, điều này cho thấy họ tắc trách trong nhiệm vụ, và gây cho tôi sự âu lo về những kế hoạch mà họ sẽ đặt ra trong tương lai.

Tại Truk, tôi nhận được hai lá thư gửi từ Nhật Bản. Trong một lá thư đề ngày 13 tháng 11, vợ tôi sau khi nói sơ qua về tình trạng của gia đình đã chấm dứt với câu sau đây:

“Đêm hôm qua thằng nhỏ Mikito bỗng nhiên thức giấc và hét lớn. Thoạt đầu em nghĩ là con bị bệnh, nhưng khi gạn hỏi, thì nó nói cho biết đã mơ thấy anh đang gặp nguy hiểm. Nó còn nói anh đã nhìn nó với khuôn mặt xanh xao và sợ hãi. Em tự hỏi không biết đêm qua anh ở đâu và đang làm gì? Báo chí hàng ngày đều loan tin nhiều trận đánh dữ dội xảy ra ở phía Nam. Em lo cho anh vô cùng.”

Theo đề ngày của bức thư, đêm đứa con tôi nằm mơ là đêm 12 rạng sáng ngày 13 tháng 11. Đó là đêm tôi lâm vào tình trạng hiểm nguy thật sự. Mặt tôi xanh xao, và chắc chắn là sợ hãi, khi tàu của tôi bị chiếc tuần dương hạm địch dập pháo liên hồi. Làm sao đứa bé này lại thấy được hình ảnh của cha nó?

Bức thư thứ hai là của mẹ tôi, lúc ấy đã 82 tuổi. Cuối thư, mẹ viết:

“Mỗi sáng và mỗi đêm mẹ đều quỳ trước bàn thờ để cầu nguyện tổ tiên và Đức Phật từ bi phù hộ cho con. Hãy bảo trọng lấy thân để trở về với mẹ.”

Đọc thư này, mắt tôi đầy lệ, Tôi nghĩ đến gia đình của những thuộc cấp đã ra đi vĩnh viễn. Tôi bật khóc thành tiếng. Tôi phải viết thư phân ưu gửi cho 43 gia đình của những người đã chết trước khi hồi âm cho mẹ và vợ tôi. Tám giờ đồng hồ ròng rã trước khi tôi chấm dứt lá thư cuối cùng. Mặt trời đã lặn, tôi bước ra sàn tàu. Xa xa một chiếc xuồng máy chạy về Amatsukaze. Một kẻ tò mò lại đến nữa đây, nhưng dù sao cũng phải tiếp đón lịch sự. Tôi bước đến thành tàu khi chiếc xuồng cập vào. Người khách đã la to vui mừng khi vừa đặt chân lên cầu thang. Tôi nhận ra Trung tá Yasumi Toyama, Tham mưu trưởng phân đội 2 khu trục hạm của Đề đốc Rajio Tanaka, hiện trú đóng ở Rabaul. Trước kia tôi thuộc phân đội này nên tôi chơi thân với Toyama. Hắn ta đến Truk tham dự các phiên họp chiến thuật mở ra trên soái hạm Yamato của Đô đốc Yamamoto.

Vừa thấy tôi, Toyama hỏi ngay: “Anh coi bộ bị bệnh? Sao vậy? Bị thương à?”

“Không, không trầy một mảnh da nào hết. Nhưng tôi muốn kiệt sức. Bất kỳ người nào có chiếc tàu bị dập tơi tả như thế này đều cảm thấy như tôi.”

“Không, Hara, làm sao mà anh lại cảm thấy như vậy được! Anh đã làm một việc kinh khủng. Từ xa, tôi nhìn thấy chiếc Amatsukaze có hề hấn gì đâu. Tôi biết anh là sĩ quan ngư lôi ACE của Hải quân, nhưng tôi không ngờ tài lái tàu của anh đạt đến mức như vậy. Nếu gặp hạm trưởng khác thì chiếc tàu này tiêu rồi.”

“Tôi không đồng ý với anh, Toyama. Đúng ra chúng tôi đã gặp may mắn. Anh xem đây, các vết đạn không đếm xuể này đã tránh né máy móc và bồn chứa nhiên liệu của chiếc tàu. Thôi, anh hãy nói cho tôi biết tình trạng của phân đội như thế nào đi.”

“À,” hắn kêu lên. “Hiện tại chúng tôi trở thành một đoàn tàu chuyển vận hàng hóa hơn là một phân đội chiến đấu. Chúng tôi chuyển hàng đến hòn đảo chết tiệt đó (tức Guadalcanal), và lệnh được cấp trên ban xuống cho chúng tôi là bỏ chạy tốt hơn chiến đấu. Thật, cái lệnh không ra gì. Lệnh này có vẻ hồ nghi khả năng chiến đấu trong bất kỳ hoàn cảnh nào của bọn khu trục hạm chúng ta. Đồ tiếp liệu chở đến Guadalcanal cao như núi trên sàn tàu, khiến cho đạn dược của mỗi chiếc tàu đều bị cắt giảm phân nửa. Hàng hóa được xếp vào thùng kín và buộc dính chùm với nhau, tàu chở đến gần hòn đảo rồi xô đại xuống biển và quay đầu bỏ chạy. Các thùng này sẽ trôi nổi trên mặt nước, cho đến khi binh sĩ trên đảo của chúng ta bơi ra để kéo vào. Đó là một công việc chán không thể tả. Bây giờ tôi muốn nghe anh kể lại trận đánh mà anh đã tham dự và luôn tiện tôi được học hỏi thêm kinh nghiệm của anh. Hãy nói tất cả cho tôi nghe đi.”

Đó là một yêu cầu thông minh mà tôi được nghe lần đầu trong suốt tuần lễ qua.

Tôi phấn khởi kể lại từng chi tiết trận đánh vừa qua. Tôi vạch ra những thất bại của chúng tôi lẫn của địch quân, và phân tích thật tỉ mỉ. Để kết luận, tôi nói: “Dù cho thi hành bất cứ nhiệm vụ nào, chúng ta cũng phải luôn luôn sẵn sàng để chiến đấu. Tôi nghĩ thật sai lầm nếu xem thường việc sẵn sàng chiến đấu. Cẩn thận bao giờ cũng cần thiết, nhưng cẩn thận thái quá thì sẽ trở thành nhút nhát. Xin anh hãy khuyên Đề đốc Tanaka không nên vấp phải những lỗi lầm “cẩn thận thái quá” này một lần nữa. 1

Toyama rời khỏi tàu của tôi và leo lên phi cơ bay trở về Rabaul. Chuyến đến Truk vội vã, và những điều Toyama đã nói về các phương pháp tiếp tế khác thường của chúng tôi chứng tỏ rằng địch đã nắm ưu thế trên không phận Guadalcanal. Ngay cả khu trục hạm cũng trở thành tàu chở hàng hóa, cho thấy lực lượng Nhật trên đảo đã thiếu thốn tiếp liệu các loại đến mức độ trầm trọng. Hai món tiếp tế mà họ kêu cứu hàng ngày chính là thực phẩm và thuốc men.

Đề đốc Tanaka đã được giao phó nhiệm vụ cứu đói nhóm quân Nhật sa lầy ở Guadalcanal. Trong nhiệm vụ này, hàng đêm mỗi khu trục hạm đều mang hơn 100 thùng tiếp liệu chạy vào bờ cách bờ biển Guadalcanal từ 200 đến 300 mét để thả xuống. Sau đó, binh sĩ Nhật lớp bơi xuồng, lớp lội từ trong đảo ra kéo các thùng tiếp liệu vào bờ, và mang chôn dấu trong rừng rậm để thánh phi cơ địch phá hủy.

Tám khu trục hạm của Tanaka rời khỏi Rabaul vào ngày 27 tháng 11, trực chỉ hướng Nam, đến quần đảo Shortland. Chuyến đi phải lén lút. Nương bóng đêm ngày 29, phân đội lại rời khỏi Shortland vào lúc 22h45, để đi tiếp đoạn hải trình còn lại của nhiệm vụ. Bằng mọi cách, phân đội giả vờ di chuyển đến hòn đảo Ramos. Sau đó sáng ngày 30 tháng 11, tám khu trục hạm trong đội hình hàng dọc xoay mũi về hướng chính Nam, trực chỉ Guadalcanal.

Một trinh sát cơ của địch quân đã bắt gặp phân đội vào lúc 8h sáng. Đề đốc Tanaka biết rằng hoạt động lén lút của ông đã bị khám phá. Không lâu sau đó, một trạm quan sát Nhật trên đảo Guadalcanal báo cho Tanaka biết khoảng một chục khu trục hạm địch rời khỏi mũi Lunga. Cùng lúc, các trạm quan sát khác đã xác nhận lực lượng địch vừa nói đã chạy quanh hòn đảo.

Lúc 15h, Tanaka ban chỉ thị cho phân đội của ông: “Chúng ta có thể chạm trán với một lực lượng địch trong đêm nay. Mặc dù nhiệm vụ của chúng ta là đồ tiếp liệu, nhưng nếu cần đánh thì cũng sẵn sàng để đánh. Nếu cuộc đụng độ xảy ra, chúng ta phải dốc tâm chiến đấu và tiêu diệt địch.”

Lúc 21h, Phân đội tiến đến điểm hẹn ở Tassafanga. Tất cả chiến hạm đều giảm tốc độ xuống còn 12 hải lý, chạy theo đội hình hàng dọc, với chiếc Takanami dẫn đầu cách khoảng 3.000m, và mạn trái chiếc tàu này là soái hạm Naganami. Đây là một đội hình có tính cách co giãn của khu trục hạm, có nhiều lợi thế hơn đội hình hàng đôi quá cẩn trọng mà Đề đốc Abe đã sử dụng trong đêm 11 rạng ngày 12 tháng 11 trước đây.

Lực lượng Hoa Kỳ đối mặt với lực lượng của Tanaka được đặt dưới quyền của Đề đốc Carleton H. Wright, đã sử dụng đội hình giống như của Callaghan Scott. Đó là đội hình hàng dọc duy nhất với 4 khu trục hạm giữ nhiệm vụ tiền vệ, kế đó là 5 tuần dương hạm và cuối cùng là 2 khu trục hạm. Dẫn đầu toàn thể đội hình này là khu trục hạm Fletcher, có trang bị radar tối tân, (Hai tuần trước đây, trong cuộc bại trận của Callaghan, chiếc Fletcher nhờ chạy ở phần đuôi của đội hình nên không bị thiệt hại.)

So sánh hai lực lượng, phía Đề đốc Wright vượt trội hẳn Đề đốc Tanaka. Ngoài sự chênh lệch về quân số, các khu trục hạm của Tanaka đều chất đầy tiếp liệu và do đó, đạn dược mang theo của các chiến hạm này cũng giảm còn phân nửa. Thêm vào số đạn dược bị cắt giảm, mỗi khu trục hạm của Tanaka chỉ trang bị 8 quả ngư lôi thay vì 16 quả đúng như cấp số.

Sau khi được trinh sát cơ báo cáo, Phân đội của Đề đốc Wright rời khỏi Esititu Santo thật sớm để đón đầu các khu trục hạm của Tanaka. Cho đến 21h606 cùng ngày, radar của soái hạm Mineapolis đã khám phá lực lượng Nhật từ khoảng cách 25km. Mười phút sau đó, trên màn ảnh radar của Fletcher cũng hiện lên một mục tiêu cách 7km phía trước, hơi chếch về phía mạn trái và khu trục hạm này đã chuẩn bị phóng ngư lôi. Nhưng, một vài phút quý báu đã trôi qua, trước khi Fletcher, cũng như hai khu trục hạm Perkins và Drayton, được lệnh khai hỏa. Vì vậy, hai mươi quả ngư lôi do các tàu này phóng đi không có quả nào chạm mục tiêu.

Trong khi đó, Đề đốc Tanaka bận túi bụi bên các hải đồ để định vị các tàu chiến của ông. Khi điểm “đổ hàng” của ông chỉ còn cách 5.000m. tàu tuần thám Takanami báo cáo: “Tàu địch ở hướng 100 độ. Hình như là ba khu trục hạm.”

Báo cáo xong, Takanami phóng ngay 8 quả ngư lôi vào các mục tiêu này, đồng thời khai hỏa tất cả các pháo khẩu. Đây là hành động tự ý của Takanami, không chờ đợi lệnh khai hỏa của thượng cấp.

Cho đến khi 5 tuần dương hạm Hoa Kỳ đồng loạt bắn trả khu trục hạm Takanami, Đề đốc Tanaka mới biết sự hiện diện của địch quân quá gần, ông ra lệnh khẩn cấp: “Tạm ngưng xúc tiến nhiệm vụ chính! Tất cả khu trục hạm chuẩn bị chiến đấu.”

Một phút sau đó, lúc 21h22 phút, Tanaka ban lệnh khác: “Mọi chiến hạm xả hết tốc lực chiến đấu.”

Các xạ thủ Hoa Kỳ hình như chỉ nhắm vào một chiếc Takanami, và kết quả, khu trục hạm này bị trúng đạn nhiều nhất. Nhiều quả đại pháo trực xạ đã làm cho chiếc tàu bốc cháy dữ dội và sau đó chìm lỉm, mang theo toàn bộ thủy thủ đoàn 211 người.

Lúc Takanami bốc cháy, khói và lửa trở thành một bức màn che, Tanaka ra lệnh các chiến hạm còn lại của ông xoay 180 độ, để chạy song song cùng hướng với nhóm tàu của địch quân. Sau đó, ông ra lệnh gia tăng tốc độ để tiến sát vào địch quân, và soái hạm Naganami vung sang mạn trái sau khi đã phóng một loạt 8 quả ngư lôi vào tuần dương hạm Minneapolis dẫn đầu. Sáu khu trục hạm khác của Nhật cũng bắt chước theo Nagami. Loạt ngư lôi của chúng tôi đều nhắm vào cạnh tàu của địch quân, nên chính xác hơn lối phóng thẳng vào phía trước như chiếc Fletcher và các đồng đội đã làm. Điều này kông có gì đáng ngạc nhiên khi các ngư lôi của địch đều sai đích. Hơn nữa, phóng ở một góc độ khó trúng như vậy, tàu địch lại còn thiếu sự ước định chính xác qua nhiều yếu tố liên quan, điều này cho thấy xạ thủ địch khọng được huấn luyện kỹ thuật phóng ngư lôi hữu hiệu.

Trái lại, hai trong số các ngư lôi của chiếc Naganami đã trúng ngay tuần dương hạm Minneapolis, khiến chiếc soái hạm dẫn đầu này bốc cháy, và hầu như đứng chựng lại. Tuần dương hạm New Orleans, chạy ở hàng kế, khi né tránh đụng chạm với Minneapolis, đã lãnh ở mũi một quả ngư lôi của chiếc Mikinami. Sức nổ đã thổi bay cả tháp pháo số 2 của chiếc tàu này.

Tuần dương hạm Pensacola, chạy sau chiếc New Orleans, trong khi cố tránh né đụng chạm cũng lãnh một quả ngư lôi ngay bồn chứa nhiên liệu và biến thành cây đuốc. Tuần dương hạm hạng nhẹ Honolulu, chạy sau chiếc Pensacola. May mắn hơn đã nhanh chân xoay sang trái ngay khi chiến hạm Nhật bắt đầu phóng ngư lôi, và khi nhìn thấy đồng bọn bốc cháy, chiếc tàu này lại xoay sang phải, chạy theo hình chữ chi về phía Tây Bắc để tránh tầm trọng pháo của Nhật.

Northhampton, tuần dương hạm cuối cùng còn lại của địch quân, từ đầu trận đánh đã tỏ ra ít hoạt động, sau khi thấy ba đồng đội bị bao phủ trong lửa đỏ, chiếc tàu này định quay đầu chạy theo chiếc Honolulu, nhưng khi thấy các chiến hạm Nhật xoay về hướng Tây, nó cũng xoay theo và khai hỏa với các trọng pháo 200mm. Các quả đạn được bắn vội vã nên không có quả nào trúng đích.

Chiến hạm Nhật phóng hai quả ngư lôi vào mạn trái của Northhampton, gây hai tiếng nổ dữ dội. Tàu địch bốc cháy và chìm cấp kỳ.

Phân đội của Tanaka vung về phía Tây bắc và xả hết tốc lực, vừa chạy vừa phóng ngư lôi, bỏ mặc cho địch quân gấu ó với nhau ở phía sau. Honolulu, tuần dương hạm duy nhất của địch không bị hư hại, đã lầm hai khu trục hạm hậu vệ Lamson và Lardner của Hoa Kỳ là chiến hạm Nhật nên khai hỏa bắn đuổi, bắt buộc hai chiếc tàu này phải xoay hướng và bỏ chạy.

Cách Guadalcanal khoảng 50 dặm, soái hạm Naganami chạy chầm chậm. Và Đề đốc Tanaka kiểm điểm lại lực lượng của ông. Ngoài khu trục hạm Takanami bị đánh chìm, trong 7 khu trục hạm còn lại không có chiếc nào bị mang thương tích, cũng không có thủy thủ nào thiệt mạng. Nhật đã gây thiệt hại nhiều cho địch quân mà chỉ trá giá bằng một chiếc khu trục hạm, nhưng Đề đốc Tanaka không cảm thấy vui vẻ. Chiếc Takanami bị đánh chìm đã khiến ông rầu rĩ và ngồi trầm ngâm trên suốt hải trình rút lui. Ông muốn trở lại khu vực chiến đấu để giải cứu những thủy thủ của chiếc tàu chìm còn sống sót và tái chiến với địch quân. Nhưng sau khi kiểm điểm, bốn trong số 7 khu trục hạm Nhật không còn một quả ngư lôi nào. Ba chiếc kia, một chiếc mới chỉ phóng phân nửa, và hai chiếc khác vì nằm ở một góc độ không thuận lợi nên không phóng được quả nào, do đó số ngư lôi mang theo vẫn còn nguyên vẹn. Tính ra, trong trận đánh vừa qua, các chiến hạm Nhật đã phóng ra 44 quả ngư lôi. Trong tình trạng đó, Tanaka đã nghĩ rằng lực lượng của ông không có hy vọng thắng lợi một khi tái chiến với lực lượng của địch quân. Vì vậy, vào lúc 22h30, ông cho lệnh rút lui về Rabaul.

Quyết định này khiến Bộ Tư Lệnh Tối Cao không hài lòng, cho dù Tanaka nêu ra chiến công của ông là đã đánh chìm một thiết giáp hạm và hai tuần dương hạm, còn gây thiệt hại nặng cho bốn tuần dương hạm khác của địch quân mà chỉ thiệt hại có một khu trục hạm. Nhưng thật sự, thượng cấp của Tanaka không cần biết đến những chiến công này, họ không hài lòng bởi vì Tanaka đã thất bại trong việc đổ tiếp liệu cho lực lượng Nhật ở Guadalcanal.

Sự không hài lòng này trở thành xác thực khi Tanaka bị thuyên chuyển sang Singapore sau trận đánh này không lâu, và sau đó ông lại phải khăn gói sang Miến Điện. Qua hai lần thuyên chuyển, tài năng của ông đã được sử dụng một cách hoang phí, nhưng nhờ vậy mà ông xa hẳn mặt trận, và chắc chắn cũng do đó mà mạng ông được cứu sống.

Từ đó cho đến cuối cuộc chiến, Tanaka không bao giờ được giao phó nhiệm vụ chỉ huy trên mặt biển nữa. Mười lăm năm sau trận đánh Tassafaronga, tôi đến thăm viếng Tanaka tại nông trại của ông gần Yamaguchi. Khi thảo luận về trận đánh này, ông đã nói với tôi: “Tôi có nghe một số chuyên viên Hải quân Hoa Kỳ đã khen ngợi tài chỉ huy của tôi trong trận đánh đó. Nhưng tôi nghĩ tôi không đáng nhận vinh dự như vậy. Phải nói nhờ vào tài năng và ý chí của thuộc cấp đã giúp tôi đạt được thắng lợi đó.”

“Nói như vậy, không phải là tôi từ chối danh dự mà tôi có quyền hưởng nhằm trốn tránh sự chỉ trích. Tôi chấp nhận sự chỉ trích chính yếu do các sĩ quan đồng liêu đưa ra. Tôi phải chịu trách nhiệm trong việc không đưa tiếp liệu đến nơi đến chốn theo đúng kế hoạch. Đáng lẽ tôi phải quay lại để hoàn thành nhiệm vụ, nhưng tôi phải bỏ rơi. Việc này không có gì khó hiểu, bởi vì lúc ấy tôi không nắm trong tay tin tức chính xác về sức mạnh của địch quân. Tôi cứ đinh ninh đội hình của Đề đốc Wright sẽ giống như đội hình của hai Đề đốc Callaghan và Scott trong trận đụng độ với Đề đốc Abe hai tuần lễ trước đó. Có nghĩa là đội hình của địch quân gồm có bốn khu trục hạm đi đầu và bốn tuần dương hạm tiếp theo sau. Khi trận đánh xảy ra, bảy khu trục hạm Nhật chất đầy các thùng tiếp liệu, và đạn dược bị cắt giảm phân nửa, đã phải lâm chiến với tám khu trục hạm địch, đó là điều tôi không bao giờ nghĩ đến. Tôi chỉ nghĩ lực lượng lâm chiến thật sự của chúng ta là một tuần dương hạm và bốn khu trục hạm mà thôi.”

Khi nói về khu trục hạm Tanakami, đôi mắt Tanaka đầy lệ: “Trong trận đánh đó, sở dĩ chúng ta đánh bại Đề đốc Wright là nhờ chiếc Takanami. Nó đã nhận lãnh tất cả sự trừng phạt của địch quân trong những phút giây đầu của trận đánh và đã làm cái mộc che đỡ cho chúng ta. Vậy mà chúng ta phủi tay bỏ đi, không giải cứu thủy thủ đoàn của chiếc tàu này.”

Tuy nhiên, Đề đốc Tanaka chắc đã cảm thấy sự nỗ lực vượt bậc của ông ở Tassafaronga, khi ông đọc qua những nhận xét vô tư sau đây của sử gia Hải quân Hoa Kỳ, đề đốc Samuel Eliot Morison, về trận đánh này: “Trận đánh Tassafaronga luôn luôn gợi sự an ủi rằng địch quân đã đánh bại các bạn là những kẻ tài giỏi thật sự, và Đề đốc Tanaka tài giỏi hơn những kẻ tài giỏi. Ngoài chiếc soái hạm Jintsu, các khu trục hạm lâm chiến của ông đều chất đầy hàng hóa cồng kềnh, vậy mà ông đã đánh chìm một tuần dương hạm của Hoa Kỳ và loại ba chiếc khác khỏi vòng chiến gần một năm. Trong khi ông chỉ thiệt mất một khu trục hạm. Qua nhiều trận đánh xảy ra trong cuộc chiến, phía hoa Kỳ gặp nhiều lỗi lầm mà địch quân đã tránh khỏi. Ở Tassafaronga, mặc dù có ít bối rối lúc đầu, nhưng Đề đốc Tanak không phạm một lỗi lầm nào cả.”

Trước khi Đề đốc Tanaka bị thuyên chuyển sang Singapore, ông vẫn tiếp tục chỉ huy nhiều công tác chuyển vận đến Guadalcanal. Vào ngày 3 tháng 12, ông điều động một lực lượng gồm bốn tuần dương hạm và 11 khu trục hạm chuyển 1.500 thùng tiếp liệu đến Guadalcanal. Nhiệm vụ thành công mỹ mãn. Trong thời gian này, Tanaka chuẩn bị để đương đầu với một trận Tassafaronga thứ hai, nhưng phía Hoa Kỳ lại không sẵn sàng. Cuộc chiến thắng phi thường của Tanaka đã khiến Hải quân Hoa Kỳ choáng váng.

Không hề có một cuộc đụng độ nào trên mặt biển, chỉ một số phi cơ địch bay đến quấy rầy nhóm tàu chuyển vận và bỏ vài trái bom gây hư hại nhẹ cho một khu trục hạm. Nhưng các cuộc chuyển vận này gặp phải một sự thất bại đầy chua chát: Lực lượng Nhật trên đảo chỉ vớt được vỏn vẹn 500 thùng tiếp liệu trong số 1.500 được thả xuống biển.

Bốn đêm sau đó, Tanaka quay lại hòn đảo với 11 khu trục hạm. Sự lặp đi lặp lại một phương thức trong chiến tranh trước sau gì cũng vấp một vố nặng. Chuyến đi này, hai khu trục hạm của Tanaka bị các phi cơ Hoa Kỳ cất cánh từ phi trường Henderson hủy diệt. Cùng đêm, Tanaka đã đối đầu với một loại địch thủ mới, các ngư lôi đĩnh. Tám chiếc PT nhỏ bé và nhanh như cắt này đã quấy phá lực lượng của ông đến nỗi ông phải bãi bỏ cuộc chuyển vận và các khu trục hạm phải quay về căn cứ.

Vào đêm 11 tháng 12, Tanaka lại cố gắng lên đường một lần nữa với 9 khu trục hạm. Lần này ông đã đổ 1.200 thùng tiếp liệu một cách thành công. Sau đó, phi cơ đến tấn công, nhưng vô hiệu, và đến phiên các PT nhảy vào vòng chiến, soái hạm Teruzuki lãnh hai quả ngư lôi và bốc cháy. Thủy thủ đoàn cố gắng cứu chiếc tàu nhưng bó tay khi ngọn lửa bắt qua hầm chứa bom chìm. Tanaka bị thương, ông chuyển soái kỳ cho người khác và trở về Rabaul. Tanaka rất buồn khi nghe tin 1.200 thùng tiếp liệu được tàu ông thả xuống chỉ có 220 thùng đến tay binh sĩ Nhật trên hòn đảo.

Tanaka vào nằm trong bệnh viện Rabaul. Nơi đây, ông đã viết một thỉnh nguyện thư yêu cầu Bộ Tư Lệnh Tối Cao triệt thoái các lực lượng Nhật trên đảo Guadalcanal. Đáp lời yêu cầu này là lệnh bổ nhiệm ông sang Singapore. Lời yêu cầu của Tanaka bị bác bỏ một cách thẳng tay thật sự là một sự nhầm lẫn, vì ai cũng thấy hòn đảo này không còn hy vọng giữ lâu dài hơn nữa. Các tiềm thủy đĩnh và khu trục hạm đều được trưng dụng để vận chuyển hàng tiếp liệu, nhưng cho dù cả hai loại tàu này đã nỗ lực và phối hợp chặt chẽ cách mấy đi nữa, tiếp liệu đến tay 20.000 binh sĩ trên đảo chỉ có tính cách cầm hơi.

Suốt quãng thời gian sôi động này, tôi nằm ru rú ở Truk. Tôi cảm thấy buồn cho Tanaka, nhưng không biết làm cách nào để giúp ông. Không còn chiếc khu trục hạm mới nào để tôi chuyển sang chỉ huy, vì vậy tôi chỉ còn biết ngắm nhìn những bàn tay khéo léo đang vá lại các lổ thủng do đạn xuyên phá thiết giáp của tuần dương hạm Helena chạm trổ trên chiếc khu trục hạm của tôi.

Sau khi tạm băng bó các vết thương, Amatsukaze rời khỏi hải cảng Truk vào ngày 15 tháng 12 để về Nhật, và nơi đây chiếc tàu có thể hy vọng được sửa chữa hoàn hảo hơn. Khi chạy ngang qua đảo Saipan, tôi nhìn thấy khoảng 10 phi cơ Nhật trên không. Tôi tự hỏi, không hiểu những phi cơ này sẽ phản ứng như thế nào khi nhìn thấy chúng tôi. Nhưng đã thất vọng, tất cả đều bay lướt qua, ngay cả đến việc tìm hiểu lý lịch của con tàu cũng không có. Sự hờ hững này, có thể cho là như vậy, trong khi Nhật mất sạch quần đảo Salomon, chứng tỏ tình trạng suy đồi tinh thần trầm trọng trong hàng ngũ chúng tôi.

Tuy nhiên, tôi hầu như quên hẳn cuộc chiến khi tàu của chúng tôi chạy vào hải cảng Kure. Bầy hải âu bay lượn trước mũi tàu như chào đón, trong lúc chúng tôi mải mê ngắm nhìn quang cảnh lặng lẽ của hải cảng thân yêu và an bình này. Quang cảnh khác xa hải vực đẫm máu quanh quần đảo Salomon. Có thể nào lại có những nơi trái ngược hẳn nhau trong cùng một khoảnh trời nhỏ bé đến mức đó.

Khi đưa chiếc Amatsukaze vào ụ sửa chữa và sắp xếp mọi công việc khác, tôi về nghỉ phép tại nhà một tuần lễ.

Tôi bước chân vào nhà ở Kamakura vào ngày 27 tháng 12. Sống quây quần vui vẻ với gia đình, tôi thấy sao một tuần lễ trôi qua nhanh hơn chớp mắt. Kamakura là một trong những thành phố đẹp nhất của Nhật Bản. Thật là thích thú cho tôi khi cùng với các con thăm lại những phong cảnh ngoạn mục quen thuộc trước đây. Chúng tôi lang thang trong thành phố hết chỗ này đến chỗ nọ, nhất là leo lên những ngọn đồi bao quanh thành phố này, hoặc đi vẩn vơ dưới ngàn tiếng thông reo trong làn gió hiu hiu của Thái Bình Dương. Tôi thật như sống trong mơ, và may mắn cho tôi hơn nữa, những ngày nghỉ phép này lại rơi vào dịp Tết Nguyên Đán.

Mặc dù vui thú với gia đình, tôi không thể nào quên hẳn chiến tranh được. Một hôm gia đình chúng tôi dự định thực hiện một buổi dạo chơi và ăn cơm ngoài trời, nhưng vợ tôi lại không đi được. Nàng phải đến tham dự một buổi họp gồm các bà nội trợ quanh xóm để thảo luận về việc đóng góp cho quân đội các vật dụng làm bếp bằng đồng và sắt. Cha con chúng tôi vẫn thực hiện buổi ăn cơm ngoài trời và dạo chơi trên các đồi thông. Khi chúng tôi về, vợ tôi vẫn chưa có mặt ở nhà. Con gái của tôi nói: “Ba đừng có nóng ruột. Dạo này mẹ cứ phải đi hội họp lằng nhằng như vậy luôn. Ba nên nhớ bây giờ là thời chiến mà.”

Buổi chiều hôm đó, ông bạn cũ là Trung tá Ko Nagasawa từ Tokyo gọi điện thoại cho tôi. Nasagawa hiện đang phục vụ ở Phòng nhân viên. Hắn ta nói: “Hãy bình tĩnh, đây chỉ là một cú điện thoại không chính thức. Đêm mai, một nhóm bạn đồng khóa tụ họp tham dự một buổi Bonenkai (tiệc Tân niên). Chúng tôi chọn Isogo ở Yokohama để làm nơi họp mặt. Đó là một tiệm ăn tuyệt hảo, nằm giữa Tokyo và Yokosuka. Nơi này gần nhà anh, nên chúng tôi kể chắc như anh có mặt đêm mai.

Chiều tối hôm sau chúng tôi đến địa điểm họp bạn. Tôi được Nasagawa và Trung tá Enpei Kanooka đón tiếp. Kanooka là tùy viên liên lạc Hải quân của Thủ tướng _Đại tướng Hideki Tojo. Tôi ngạc nhiên khi thấy Kanooka đã xếp chức vụ bận rộn và quan trọng của anh lại để tham dự vào một cuộc họp không chính thức. Ở một nơi xa xôi như thế này. Ngồi kế anh ta, tôi hỏi: “Những rắc rối xảy ra ở phía Nam trong những ngày gần đây có lẽ làm nhiệm vụ của anh trở nên bù đầu?”

Kanooka nhăn nhó đáp: “Không, Hara, tôi hoàn toàn không bận rộn gì hết. Đó là sự thật. Trong vòng năm tháng qua, tướng Tojo không hỏi đến tôi lấy một lời. Hình như ông ta không xem các hoạt động của Hải quân vào đâu. Trong thời gian này, nhiệm vụ của tôi là hằng đêm đến tham dự các tiệc tùng khoản đãi quốc khách. Tôi không thích nhậu nhẹt. Tôi cảm thấy bị phiền nhiễu đến chết được, và sự nhàm chán cũng đang giết lần mòn tôi. Hara, tôi thấy tửu lượng của anh cũng có hạng lắm, xem ra anh có thể thay thế chức vụ của tôi được.”

Giọng nói nhỏ nhẹ thường khi của của Kanooka bỗng nhiên cất cao một cách đáng chú ý trong câu nói sau cùng này. Trong lúc đó, Nasagawa yên lặng ngồi nghe với một gương mặt thật bình thản. (Không lâu sau đó, Kanooka được lệnh rời khỏi Tokyo để nhận chức vụ Hạm trưởng tuần dương hạm Nachi. Hiển nhiên là Nasagawa, phục vụ ở Phòng nhân viên, có nhúng tay giúp vào vụ bổ nhiệm này.)

Cuộc họp đã diễn ra trong bầu không khí lặng lẽ và nghiêm trang, khác với các buổi họp mặt đầy ồn ào của chúng tôi lúc còn trẻ. Có khoảng 20 người thuộc khóa chúng tôi tụ họp trong đêm hôm đó, đều mang cấp bậc Trung tá và Thiếu tá, hầu như chỉ bàn những chuyện quanh quẩn về cuộc chiến. Khi được yêu cầu mô tả tình thế tại cuộc chiến quần đảo Solomon, tôi nói:

“Tôi không hiểu các bạn, những người ở đây, đã nhìn sự việc như thế nào, nhưng riêng tôi có thể nói các đảo ở Salomon là địc ngục ở tuyền tuyến.Cùng là những tay chuyên nghiệp cả, tôi chắc các bạn đều biết rõ, căn cứ trên sự phán xét của mình về những công bố chính thức có vẻ ghê gớm của Tổng Hành Dinh ở Tokyo. Thật ra, chúng ta đã gặt hái được một số chiến thắng chiến thuật, nhưng về phương diện chiến lược, chúng ta hoàn toàn thất bại. Các khu trục hạm và tiềm thủy đĩnh của chúng ta ở quần đảo Solomon hiện tại được sử dụng vào công việc chuyển vận. Nhưng công việc này cũng không đạt được kết quả là bao.”

Tất cả những người hiện diện đều chăm chú nghe tôi thuật lại các trận đánh mà tôi đã tham dự. Tôi thấy rất cần thiết để trình bày sự thật, nhưng có một số người khác nhắc nhở tôi rằng đây là một buổi họp mặt để nhậu nhẹt, không nên nói đến chuyện công việc hay dính dáng đến nghề nghiệp.

Do đó, thay vào câu chuyện của tôi là một vài câu pha trò có tính cách chọc cười. Có người còn kể ra sự dan díu của hắn với một cô vũ nữ ở Sasebo. Nhưng tất cả đều không gây được không khí vui tươi, bởi vì mọi người trong chúng tôi đều đoán trược được viễn cảnh đen tối của tương lai.

Thật sự, tôi muốn cho họ biết những gì mà tôi từng trải qua ở miền Nam, các phản ứng và ý kiến riêng của tôi như thế nào. Tôi biết rằng một buổi họp mặt ăn uống như thế này không thích hợp để mang các vấn đề thời sự ra để nói, nhưng ngoài dịp này thì chắc khó có dịp khác. Tôi đã thất vọng khi thấy các bạn đồng khóa của tôi chỉ toàn là một bọn yếm thế, buông xuôi với số phận.

Rượu rót cũng khá nhiều, nhưng không ai say. Buổi họp mặt tan sớm. Bên ngoài trời đêm đầy sao. Những lời chào từ giã được thốt lên một cách yếu ớt. “Mong gặp lại anh.” Câu này nằm trên đầu môi mọi người, nhưng không có vẻ gì gọi là xác tín. Những kẻ hội tụ về đây đêm đó chỉ một vài người còn sống sót sau chiến tranh.

Tojo có thể không để tâm đến viên sĩ quan liên lạc hải quân nhỏ nhoi của ông, nhưng đối với các đại diện bề thế thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân thì ông không thể nào không để tâm được. Hàng ngày các sĩ quan cao cấp của Lục Quân và Hải Quân vẫn mở ra các phiên họp mật về chiến lược ở Tokyo. Để kết thúc, một loạt các phiên họp cuối cùng mở ra vào ngày 31 tháng 12 ở Hoàng Cung dưới sự chủ tọa của Nhật Hoàng Hirohito, và đưa đến quyết định nhất trí triệt thoái toàn thể lực lượng Nhật trên đảo Guadalcanal.

Những ngày sống hạnh phúc bên gia đình của tôi đã trôi qua nhanh chóng. Tôi trở lại Kure vào ngày 7 tháng Giêng. Ba ngày sau đó, tôi nhận được lệnh rời khỏi chức vụ Hạm trưởng khu trục hạm Amatsukaze để nhận nhiệm vụ mới ở Căn cứ Hải Quân Yokosuka. Nhiệm sở này chỉ cách nhà tôi một vài dặm. Tôi lại được sống êm ấm với gia đình. Nhưng không lâu sau đó tôi ngã bệnh. Theo bác sĩ, chứng bệnh của tôi là do những tháng ngày phục vụ không ngừng nghỉ trên mặt biển nên đã kiệt lực. Tôi phải nằm bẹp trên giường suốt hai tuần lễ. Trong thời gian này, vào ngày 25 tháng 12, tôi lại nhận được lệnh khác, chỉ định tôi giữ chức Chỉ huy trưởng Hải đội 19 Khu trục hạm, và theo lệnh, tôi phải nhận ngay bốn chiếc tàu loại mới nhất để ra khơi hai ngày sau đó. Tôi gọi điện thoại báo cho Nasagawa biết tôi không thể nhận nhiệm vụ vì tình trạng đau ốm hiện thời. Thông cảm, và để an ủi, Nasagawa bảo đảm rằng sẽ còn nhiều chức vụ quan trọng khác dành cho tôi một khi đã bình phục.

Thời gian dưỡng bệnh đối với tôi dài thăm thẳm. Khi chiến đấu, tôi chưa bao giờ thấy mệt mỏi. Trên biển, chỉ một vài giờ chợp mắt là tôi thấy khỏe khoắn ngay. Bây giờ, tôi mới hiểu những ngày phục vụ trên mặt biển đã làm cho tôi kiệt sức như thế nào, và tôi cũng hiểu tại sao dáng vẻ của Phó Đô đốc Nagumo lại sa sút như vậy , khi tôi gặp ông ở Truk vào tháng 11 vừa qua.

Cuối tháng 2, tôi bình phục hẳn. Tôi gọi điện thoại cho Nasagawa, yêu cầu được bổ nhiệm. Lời đáp có vẻ mù mờ của hắn ta làm tôi lo ngại. Hải quân đã quên khuấy tôi mất rồi. Tôi gọi hàng ngày, nhưng không nhận được phúc đáp nào gây phấn khởi. Sự chờ đợi này kéo dài cho đến tháng 3, Nasagawa mới báo cho tôi biết tôi được chỉ định giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Hải đội 27 Khu trục hạm.

Tôi kêu lên sửng sốt: “Cái gì? Tại sao lại Hải đội 27?”

“Đừng có nóng, Hara, nghe tôi nói đây. Tôi biết Hải đội 27 tồi tệ, nhưng sự chỉ định này chứng tỏ Hải quân đã đặt tin tưởng hoàn toàn vào anh. Thượng cấp cảm thấy chỉ một vị chỉ huy đầy đủ khả năng và kinh nghiệm như anh mới mong uốn nắn Hải đội này thành một đơn vị chiến đấu thật sự.”

Phản ứng của tôi là sự xúc động. Thật sự, tôi không hề bối rối. Nghĩ cho cùng, khi một sĩ quan lần đầu tiên được chỉ định chỉ huy 4 chiến hạm, hắn phải xem đó là một vinh dự, còn loại tàu gì mà hắn sẽ được giao không thành vấn đề. Tôi cũng không còn tiếc rẻ đã bỏ mất dịp may trong lần bổ nhiệm trước đó.

Hải đội 27 bao gồm 4 khu trục hạm già nua, mỗi chiếc 1.700 tấn, tốc độ tối đa là 30 hải lý. Thủy thủ đoàn của các khu trục hạm này, đứng hạng nhì đúng nghĩa, chính là mục tiêu chế nhạo của thủy thủ đoàn thuộc các chiến hạm khác. Nhiệm vụ trước mắt đối với tôi chẳng phải ngon ăn.

Tôi trả lời Nasagawa: “Anh đừng hiểu lầm tôi. Tôi vui lòng nhận nhiệm vụ và sẽ tận lực làm mọi cách cho Hải đội trở thành đơn vị tốt nhất của Đệ Nhị Hạm Đội. Được bổ nhiệm vào chức vụ này, tôi lấy làm vinh hạnh. Tôi trình diện ở đâu và khi nào?”

“Tôi rất vui mừng khi nghe anh nói như vậy. Ba khu trục hạm của anh đang đậu ở Truk, còn chiếc soái hạm Shigure (Mưa Thu) đang chờ anh ở Sasebo. Bao giờ anh có thể đi được?”

“Có phương tiện lúc nào thì tôi đi lúc đó.”

“Tốt. Anh sẽ có một chỗ dự phòng trên chuyến xe lửa tốc hành rời nhà ga Tokyo vào lúc 13h30 phút ngày mai.”

Tôi đến Sasebo vào ngày 9 tháng 3, và lập tức leo lên soái hạm Shigure quan sát một vòng. Thoạt nhìn thủy thủ đoàn, tôi hiểu ngay là tôi đang bước vào một công việc nặng nhọc thật sự. Tôi nhớ lại những kinh nghiệm khó khăn qua việc huấn luyện thủy thủ đoàn của chiếc Amatsukaze trong thời gian có cuộc hành quân Midway. Thủy thủ đoàn của Shigure giống như một bọn vô kỷ luật chưa từng biết qua một chút kinh nghiệm đi biển là gì. Nhưng tôi đã nhìn sự vụng về và ngu dốt của họ với nhiều cảm giác lẫn lộn. Tôi tin là có thể huấn luyện họ trở thành những thủy thủ chiến đấu. Tóm lại, tôi không thấy chán nản, vì tôi nghĩ tình trạng này cũng giống như tình trạng trên chiếc Amatsukaze sáu tháng trước mà thôi.

Tôi đã từng làm việc trên nhiều chiếc khu trục hạm mới hơn, tôi nhận thấy chiếc Shigure hoàn toàn yếu kém. Chiếc tàu này già nua một cách đáng thương, và có lẽ nó không thể nào đạt tốc độ tối đa 33 hải lý. Đó là điều tồi tệ nhất. Tốc độ tối đa của các khu trục hạm mới nhất ít lắm cũng phải 38 hải lý, và chiếc Amatsukaze dày dạn chiến trận của tôi, hiện đã hoạt động trở lại, cũng chạy được 34 hải lý.

Nhưng tôi đã gạt ngang những suy nghĩ vơ vẩn này, và hy vọng của tôi là chiếc Shigure có thể sẽ chứng tỏ giá trị của nó trong lúc chiến đấu, cho dù nó có nhiều khuyết điểm trong lần làm quen đầu tiên này. Nhưng ngay cả cao vọng đi nữa, lúc ấy tôi cũng không bao giờ dám mơ mộng chiếc Shigure đã chứng tỏ giá trị đến mức được mang biệt danh “Kiên cố”, và với tiếng tăm vang dội, có thể nói Shigure là khu trục hạm được biết đến nhiều nhất trong cuộc chiến Thái Bình Dương.

Sau khi hộ tống 2 cuộc chuyển vận, Shigure rời Sasebo đến Truk để kết hợp với 3 khu trục hạm khác thuộc quyền chỉ huy của tôi. Khi tiến vào hòn đảo san hô to lớn này, tôi cảm thấy cảnh vật không có gì thay đổi trong thời gian tôi vắng mặt.Chiếc tàu sửa chữa cũ kỹ Akashi vẫn đang hoạt động rộn rịp, và vẫn đậu ngay chỗ mà nó đã đậu bốn tháng trước đây. Khi chiếc Amatsukaze lếch thếch từ quần đảo Solomon chạy về.

Nhưng tôi đã lầm. Truk quả thật không thay đổi, nhưng tình hình của cuộc chiến ở phía Nam đã chịu đựng những thay đổi nghiêm trọng trong giai đoạn bốn tháng ngắn ngủi, như tôi đã biết được ngay sau đó.

Tàu vừa buông neo, tôi đến trình diện Phó Đô đốc Nobutake Kondo trên chiếc Atago, soái hạm của Đệ Nhị Hạm Đội. Bước vào cabin của ông, tôi xúc động khi nhìn thấy dáng vẻ tiều tụy của vị tư lệnh này, nhân vật luôn luôn được giới hải quân nhắc nhở đến tài ba đức độ. Sự xúc động của tôi ở hiện tại không kém lần tôi gặp Nagumo năm tháng trước đây. Kondo ra dấu cho tôi ngồi xuống ghế. Giọng nói của ông khàn khàn, nhỏ và chậm chậm như hụt hơi: “Hara, tôi hoàn toàn đồng ý với thượng cấp về việc chỉ định anh vào nhiệm vụ mới này. Đó là một nhiệm vụ khó khăn. Anh hãy thận trọng, tôi chỉ có thể nói với anh như vậy. Hãy thận trọng nhiều chừng nào hay từng ấy.”

Chắc chắn không bao giờ tôi hy vọng được vị Phó Đô đốc chỉ huy của tôi tiếp đón bằng những câu nói như vậy. Câu nói của ông khiến tôi bỡ ngỡ đến nỗi không biết đáp lại như thế nào.

Ông tiếp tục nói, với dáng vẻ mệt nhọc: “Mặc dù anh là chỉ huy trưởng hải đội, nhưng vì chúng tôi thiếu tàu, nên ba trong số bốn khu trục hạm của anh được đặt dưới quyền sử dụng của các chỉ huy trưởng khác. Nếu anh nhận nhiệm vụ sớm hơn vài tháng, hải đội dưới quyền anh sẽ đủ cấp số.”

Ông dừng lại và thoáng nghĩ ngợi. Tôi ngồi lặng yên một cách bồn chồn. Sau đó, ông tiếp: “Hara, dù sao đi nữa anh cũng nên kiên nhẫn. Tôi dự định lưu anh ở đây ít nhất ba tháng, như vậy anh có thể tìm hiểu và huấn luyện các thuộc cấp của anh, và luôn tiện chính anh cũng sẽ thích ứng với tình hình biến đổi nhanh chóng của cuộc chiến.”

Kondo là một nhân vật đáng chú ý, và đối với tôi, ông là một vị chỉ huy kỳ diệu. Do đó, trong các trang trước của quyển sách này tôi đã phải miễn cưỡng đưa ra sự chỉ trích khả năng chiến đấu của ông. Tuy nhiên, qua lần tiếp xúc trực tiếp này, tôi đã kinh ngạc và choáng voáng khi rời khỏi ca bin của ông.

Theo đề nghị của Kondo, tôi đã nghiên cứu các hồ sơ trên soái hạm của ông, liên quan đến cuộc chiến trong vòng 5 tháng qua. Biến cố nổi bật nhất là cuộc triệt thoái khỏi Guadalcanal. Ở ngôi nhà Kamakura, trong thời gian tôi bình phục, tôi có nghe các công bố trên đài phát thanh về một cuộc chiến thắng hoàn toàn và ngoạn mục. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Hoàng Gia đã tránh sử dụng hai tiếng “rút lui” và thay vào đó là ba chữ “xoay hướng tiến”, nhưng xoay hướng tiến như thế nào thì không thấy bản công bố đề cập đến.

Theo quyết định của phiên họp cuối cùng ở Hoàng Cung vào ngày 31 tháng 12, ngày 4 tháng Giêng năm 1943, Bộ Tư Lệnh Tối Cao Hoàng Gia ban lệnh triệt thoái toàn bộ lực lượng Nhật khỏi Guadalcanal, và công cuộc triệt thoái bắt đầu vào hạ tuần tháng Giêng. Các kế hoạch được thảo ra tuần tự và kín đáo khi tìm mọi cách đánh lừa bề ngoài để địch quân lầm tưởng Nhật quyết tâm bám lấy hòn đảo.

Tình báo Hoa Kỳ đã từng tỏ ra hữu hiệu trong việc khám phá ra các kế hoạch trận đánh Midway của Nhật Bản, nhưng hoàn toàn không hay biết gì về kế hoạch triệt thoái khỏi Guadalcanal. Một kế hoạch được duy trì bí mật đến tận cùng như thế, đối với tôi chẳng khác nào những phép lạ của cuộc chiến. Càng phi thường hơn nữa, nếu người ta biết rằng vào thời gian này toàn thể các vùng phụ cận Guadalcanal địch quân đã nắm ưu thế tuyệt đối về mặt trên không.

Vào ngay giữa tháng Giêng, hoạt động của không quân Nhật gia tăng mạnh mẽ trong khu vực. Vào ngày 30, một lực lượng đặc nhiệm gồm hai hàng không mẫu hạm, hai thiết giáp hạm và cả chục chiến hạm khác rời khỏi Truk trực chỉ Guadalcanal. Cuộc di chuyển này có tính cách nghi binh, nhằm gây sự chú ý của Hải quân Hoa Kỳ. Trong khi trước đó, suốt buổi chiều ngày 28, 300 binh sĩ đã đổ bộ lên đảo Russell, nằm ở phía chính Tây của Guadalcanal.

Không cần nói cũng hiểu lực lượng Nhật trên đảo Guadalcanal cũng nức lòng với các tin tức về cuộc rút lui đang được sắp xếp như thế nào. Thời gian trước đó, họ đã chiến đấu với sự quyết tâm đáng kinh ngạc cũng như không bao giờ lùi bước trong nỗ lực đẩy lui các lực lượng tăng viện của địch quân. Tóm lại, trong tình cảnh tuyệt vọng và đáng thương hại, họ đã chiến đấu dũng mãnh cho đến ngày rời đảo.

Vào các đêm 1, 4 và 7 tháng 2, 22 khu trục hạm Nhật đã chạy vào các bãi biển quanh hòn đảo để chở 12.198 binh sĩ Lục quân và 833 binh sĩ Hải quân. Thủy thủ đoàn của các khu trục hạm đã kinh hãi khi nhìn thấy nhóm quân này. Nhiều ngày qua họ đã không ăn uống gì hết, thân thể suy nhược cho đến nỗi ngay cả sự vui mừng khi được giải cứu họ cũng không đủ sức biểu tỏ.

Cuộc triệt thoái đã thành công vượt bậc. Chỉ có khu trục hạm Makigumo bị đánh chìm và ba chiếc khác hư hại. Cuộc triệt thoái này cĩng đánh dấu sự kết thúc của một cuộc hành quân kéo dài 6 tháng, với 16.800 binh sĩ Nhật vùi thân trong rừng rậm nhiệt đới cùng với hàng chục chiến hạm bị vùi sâu dưới đáy biển, mang theo nhiều ngàn thủy thủ, quanh hòn đảo hóc búa này. Nhiều bản phúc trình liên quan đến cuộc hành quân đều đưa đến 1 kết luận thật sự: Nhật Bản đã bị đánh bại ở Guadalcanal.

Kế đó, tôi xoay sang tìm hiểu các cuộc hành quân ở New Guinea, và nhận thấy hầu hết đang sa lấy. Lục quân cố gắng điều động một sư đoàn ở Buna, nằm trên bờ biển phía đông Papua, xuyên qua rặng núi Owen Stanley để tiến đến hải cảng Moresby. Hầu hết binh sĩ đã bỏ thây trong rừng núi. Trong khi Hải quân gặp nhiều rắc rối quanh hòn đảo Guadalcanal, lực lượng viễn chinh của Lục quân thiếu thốn lương thực đến nỗi chết đói ở Papua. Trong lúc địch quân tiến như vũ bão qua các vùng rừng rậm Papua ở New Guinea, quân Nhật tuần tự rút lui khỏi Gona ngày 9 tháng 12 năm 1942, Buna ngày 14, Madang và Wewak bốn ngày sau đó.

Tuy nhiên, trận hải chiến Bismarck đã gây xúc động cho tôi hơn là hàng loạt các khu vực bị bỏ rơi này. Chiến bại Bismarck của Nhật là một chiến bại hầu như không thể nào tin được.

Hai phi trường chính của Nhật là Lae và Salamana, ở phía Đông New Guinea, được giao cho Lục quân vào ngày 15 tháng 11. Lục quân quyết định tăng cường hai phi trường này bằng cách chuyển 1 lực lượng ở Rabaul đến. Lực lượng này được đưa xuống 8 tàu chuyển vận, với 8 khu trục hạm hộ tống, khởi hành vào ngày 28 tháng 2.

Vị chỉ huy đoàn tàu chuyển vận, Đề đốc Masatomi Kimura, đã trù tính yêu cầu không quân bao che đoàn tàu của ông. Nhưng trước khi việc này được thực hiện, liên tiếp hai ngày 2 và 3 tháng Ba, hơn 100 phi cơ địch ào đến tấn công đoàn tàu chuyển vận giữa thanh thiên bạch nhật.

Kết quả, tất cả các chuyển vận hạm và 4 trong số các khu trục hạm hộ tống bị đánh chìm. Vào ngày thứ hai của cuộc không kích, 26 phi cơ Hải quân Hoàng Gia Nhật bay đến để bao che cho đoàn tàu chuyển vận, nhưng vì bay quá cao nên không kịp ngăn chặn các phi cơ sà thấp của địch. Hơn 3.500 binh sĩ bị chôn vùi dưới đáy biển trong trận đánh này.

Một cuộc đại bại chưa từng thấy. Nó hoàn toàn trái hẳn cuộc triệt thoái thành công ở Guadalcanal. Bây giờ tôi có thể hiểu tại sao Phó Đô đốc Kondo mang dáng vẻ tiều tụy như vậy khi tiếp tôi.

Ngay lúc tôi còn suy nghĩ xem tại sao một việc như vậy có thể xảy ra, Đề đốc Kan Takama bước vào phòng tài liệu. Vì muốn tìm hiểu thêm, tôi yêu cầu ông giải thích rõ hơn về cuộc bại trận khủng khiếp ở biển Bismarck. Ông nói: “Cuộc hành quân chuyển vận được thi hành với tất cả sự thận trọng đúng mức, nhưng sự bao che của không quân hoàn toàn khiếm khuyết. Ở Guadalcanal, kế hoạch của chúng ta thích đáng, cuộc triệt thoái được giữ bí mật từ đầu đến cuối, địch quân không thể nào đánh hơi được. Sự thành công ngoạn mục của cuộc triệt thoái này có lẽ đã khiến cho các nhà lãnh đạo Lục quân nghĩ rằng họ có thể liều lĩnh thực hiện một cuộc chuyển quân mà không cần phải có sự chuẩn bị và yểm trợ đầy đủ. Một điều chắc chắn nhất đưa đến thảm bại: Lục quân không cung cấp cái ô không quân thích đáng cho đoàn tàu chuyển vận trên biển Bismarck.”

Đề đốc Takama rời khỏi phòng tài liệu. Tôi tiếp tục đọc các hồ sơ ghi lại những biến cố quan trọng khác. Vào ngày 5 tháng 3, hai khu trục hạm là Minegumo và Murasame bị đánh chìm ở Vịnh Kula mà không bắn được phát đạn nào hết. Địch quân đã sử dụng hỏa lực có radar điều khiển để hạ hai chiếc tàu này.

Tôi rời khỏi soái hạm Atago với tâm tư trĩu nặng. Khi đặt chân lên bờ,tôi mới nhận thấy có biết bao nhiêu đổi thay đã xảy ra trong vòng 5 tháng qua. Trong Câu Lạc Bộ Sĩ Quan , tôi gặp Đại tá Tomiji Koyanagi, Tham mưu trưởng của Phó Đô đốc Kurita. Chúng tôi ngồi chung bàn. Thảm kịch biển Bismarck vẫn còn lảng vảng trong tâm trí tôi, và không do dự, tôi hỏi ý kiến của Konayagi về cuộc đại bại này.

Ông ta nói: “Đề đốc Kimura đã thuật lại là các oanh tạc cơ đã sử dụng phương pháp oanh tạc mới để tấn công đoàn tàu chuyển vận của ông. Theo đó, các oanh tạc cơ khổng lồ đã lướt tới như làn sóng rồi thả bom xuống mặt nước, và mấy quả bom này sẽ nhảy đến đâm vào cạnh sườn của các chiến hạm. Những phương thức tránh né cổ điển của các chiến hạm Nhật đều tỏ ra không còn hữu hiệu với chiến pháp được mệnh danh là ‘oanh tạc nhảy’ này nữa. Ban đầu Kimura nghĩ rằng địch đã sử dụng một loại ngư lôi trang bị cho phi cơ để thực hiện phương pháp oanh tạc mới này. Lối thả bom từ trên cao xuống các chiến hạm đang di động trên mặt biển không đạt kết quả mấy, do đó địch quân đã phát triển phương pháp oanh tạc mới này cốt ý đương đầu với các nỗ lực tránh né xưa nay của chúng ta. Hiện tại chúng tôi đang lo nghĩ, không biết làm cách nào để chống lại phương pháp oanh tạc nhảy. Anh có ý kiến gì không?”…

Ngày hôm nay bao nhiêu chuyện dồn dập đầy kinh ngạc khiến tôi phải vắt hết tim óc ra để suy nghĩ. Tôi cảm thấy như một tên học trò ngày đầu tiên bước chân vào trường.

Tôi quay lại chiếc Shigure với cơn đau đầu như búa bổ. Sau khi sắp xếp cho thủy thủ lên bờ, tôi rã rời bước vào cabin, và ròng rã 24 tiếng đồng hồ, không lúc nào ngừng nghĩ tìm các câu giải đáp cho các vấn đề mới mẻ vừa nổi lên trong cuộc chiến. Cuối cùng, tôi gạt tất cả sang một bên, vì nhận thấy vấn đề này quá xa vời nếu so sánh với vấn đề trước mắt: Một thủy thủ đoàn chưa được huấn luyện để chiến đấu của tôi. Tôi phải bắt đầu từ căn bản. Sau ngày thủy thủ đoàn được cho lên bờ rong chơi, tôi bắt đầu huấn luyện họ liên tục trong hải vực quanh Truk. Tôi đã biết ơn Phó Đô đốc Kondo, nhận thấy ông quá cao kiến khi dành một khoảng thời gian cho tôi thực hiện việc này. Bởi vì cũng cần ít ra khoảng ba tháng mới khép thủy thủ đoàn vụng về của tôi vào quy củ.

Theo kế hoạch huấn luyện, tháng đầu tiên tôi kiên nhẫn chỉ họ các căn bản đi tàu, và nếu điều chỉ dạy nào xét thấy họ không lĩnh hội được, tôi đích thân chứng minh và điều khiển cuộc tập dượt, nhiều khi lập đi lập lại hàng chục lần. Thoạt đầu họ có vẻ chán nản nhưng dần dần ham thích và hăng hái thi hành các mệnh lệnh tôi đưa ra. Họ không đến nỗi tồi tệ như tôi tưởng. Nhưng trong suốt thời gian huấn luyện này, tôi thường hay bị ám ảnh về tình hình thật sự của cuộc chiến, qua các hồ sơ mà tôi đã được xem trên soái hạm Atago.

Một tháng trôi qua, tôi bắt đầu cảm thấy gặp phải một vấn đề không thể nào hiểu nổi. Do kinh nghiệm thu thập được trong các trận đánh của năm qua, tôi nhận thấy có nhiều hành động đã được lặp đi lặp lại với cùng một phương thức. Khi một chiến thuật được áp dụng thành công thì y như là nó sẽ được Hải quân Hoàng Gia áp dụng lại, không thay đổi một chút nào, và kết quả thường là thảm họa.

Cuộc pháo kích dữ dội vào Guadalcanal vào tháng 10 năm rồi, do hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna của Phó Đô đốc Kurita thực hiện là một thành công lớn. Một tháng sau đó, Đề đốc Abe được lệnh tái sử dụng phương pháp tấn công này với hai thiết giáp hạm Hiei và Kirishima. Nhưng với lần ăn quen này, Hải quân không những chạm được một quả đạn nào vào hòn đảo mà còn khiến cho thiệt mất cả hai tàu chiến.

Với thảm họa biển Bismarck vào tháng hai, 12 trong số 16 chiến hạm của Đề đốc bị đánh chìm, làm tan hẳn cố gắng chuyển quân tăng viện đến Lea và Salamaua của ông. Kế hoạch chuyển quân này rõ ràng giống hệt như kế hoạch chuyển quân thành công đến Buna trước đó. Nhưng sự lặp lại này được xem là không biết suy xét, và thời gian sáu tháng sau cuộc chuyển quân đến Buna, sức mạnh không quân địch trong khu vực đã gia tăng.

Đề đốc Tanaka đã thực hiện một loạt cuộc hành quân vận chuyển đến Guadalcanal vào hai tháng 11 và 12 năm 1942. Sau đó, một nhóm khu trục hạm khác được các sĩ quan thiếu khả năng cầm đầu, đã cố gắng lặp lại hành động của Tanaka, nhưng chỉ đưa đến các thảm bại, như cuộc thảm bại Vịnh Kula ngày 5 tháng 3 chẳng hạn.

Khăng khăng như vậy là ngu dốt. Qua các sự việc vừa nói, có vẻ như Hải Quân Hoàng Gia cho rằng địch quân là những kẻ luôn luôn bị đánh lừa trước trò chơi của chúng tôi. Và qua các sự việc vừa nói, bắt tôi nhớ lại những dòng được ghi trong quyển truyện ký của Mishashi Miyamoto, một kiếm khách siêu việt mà tôi từng đề cập đến:

“Trong khi chiến đấu mà lặp lại một phương thức từng được sử dụng quả là một điều tệ hại, và còn tệ hại hơn nữa nếu lặp lại lần thứ ba. Khi mà một cố gắng thất bại, có thể cố gắng lần thứ hai. Nhưng nếu cố gắng này thất bại nữa, phải lập tức đổi thay phương thức, và cứ tiếp tục thay đổi như thế. Khi đối thủ nghĩ cao, mình đánh thấp, khi đối thủ nghĩ thấp, mình sẽ đánh cao. Đó là bí quyết của kiếm thuật.”

Tôi có ấn tượng lời khuyên này có thể ứng dụng cho tình thế hiện tại của chúng tôi. Tôi quyết định chuyển các ý kiến của tôi lên Đô đốc Isoroku Yamamoto.

Tôi không thể nào tự tiện bước vào văn phòng của Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp và trực tiếp trình bày các ý kiến này với ông. Do đó, vào ngày 24 tháng 4 năm 1943, tôi đến soái hạm Mushashi để giải thích các ý kiến của tôi với Tham mưu trưởng của Yamamoto là Phó Đô đốc Matome Ugaki.

Chỉ có một chuẩn úy đó tiếp tôi tại cầu thang của chiếc thiết giáp hạm khổng lồ này. Đây là một việc khác thường, không đúng nghi lễ đón tiếp một vị chỉ huy trưởng Hải đội, Khi tôi cho biết muốn gặp Phó Đô đốc Ugaki, viên chuẩn úy nhìn tôi trừng trừng, đôi mắt có vẻ đờ đẫn. Im lặng hồi lâu, hắn yêu cầu tôi theo hắn. Chúng tôi đi qua nhiều đường lối quanh co và lên xuống các cầu thang trong chiếc soái hạm khổng lồ. Tôi không gặp các sĩ quan nào hết, còn các thủy thủ thì hình như có vẻ ngơ ngác và chán nản.

Khi chúng tôi đến căn phòng bên ngoài đề hàng chữ “Tổng Tư Lệnh”, viên chuẩn úy mở cửa và nhường lối cho tôi bước vào. Trong căn phòng vừa đủ sáng, mùi nhang đốt xông ra ngào ngạt, và chính giũa căn phòng này, trên một chiếc bàn rộng lớn có trải thảm, 7 chiếc hòm được xếp thành hàng. Tôi xoay sang viên chuẩn úy dọ hỏi. Hắn cúi đầu và đáp thật nhỏ: “Ngày Chủ Nhật vừa qua, từ Rabaul, Đô đốc Yamamoto và Bộ tham mưu của ông sử dụng hai chiếc oanh tạc cơ để bay đi miền Nam. Khi hai chiếc phi cơ đến gần không phận Buin thì bị các chiến đấu cơ P-38 của Hoa Kỳ đột kích và bắn rơi. Các chiến đấu cơ này chắc chắn cất cánh từ phi trường Guadalcanal. Bảy chiếc hòm này đựng thi hài của Tổng Tư Lệnh và sáu người khác trong số các sĩ quan tham mưu của ông. Phó Đô đốc Ugaki và những người khác bị thương trầm trọng.”

Một việc không thể nào tưởng tượng được, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Mắt tôi đã thấy và tai tôi đã nghe. Lệ dâng đầy đôi mắt khi tôi cúi đầu cầu nguyện cho sự yên nghỉ của những người đã chết.

——————————–

1          Ý của lời khuyên trên dịch hơi rối rắm. Theo Heo thì có lẽ Hara muốn nói đến sự cố gắng tránh né chiến đấu với hạm đội Mỹ của Abe. Và đội hình phức tạp để đề phòng tàu ngầm với các tàu nhỏ phóng lôi của Mỹ, đội hình đã rối loạn khi không gặp tàu ngầm hay tàu phóng lôi mà gặp chính hạm đội Mỹ.

Sài Gòn- Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 17 Sep 2026

Sáng Thứ Sáu vừa qua, tôi được một ông bạn điện thoại rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt.

Mỗi lần đi qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia…

Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy… cái gọi là “trại cải tạo.”

Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn còn ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bị tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Givral đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hỏa thiêu, không bao giờ gặp lại. Ông bạn thấy tôi khựng lại, ông giải thích:

– Nó mở lại Givral hôm qua, 10-10-2012, ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.

Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay, dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhớ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy.

Cái “Trục Văn Hóa Không Tên”

Nói đến Givral là nhớ đến La Pagode, Brodard… Chắc chắn những người từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên, nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 1960-1975 cũng hay lui tới nơi này.

Một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking”, tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Givral rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi, Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường.

Givral, La Pagode, Brodard đã trở thành cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn. Sau năm 1975, Givral vẫn sống sót đến khi khu này bị “giải tỏa”, nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả, và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ”.

Givral Ngày Ấy..Bây Giờ

Trong khi ông bạn tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Givral mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi – Đồng Khởi, mấy cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng có thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong.

Điều đáng tiếc là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.

Chúng tôi bước vào nhà hàng với vẻ lạ lẫm. Những bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang vẻ sang trọng như bất cứ nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở các thành phố lớn.

Khoảng 9 giờ sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai.

Không khí ấy khiến tôi không thể quên ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai. Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa say sưa bàn về “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp… Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là linh hồn của Givral trước 1975.

Bây giờ không tìm lại được nữa.

Cái “Trục Văn Hóa” Từ La Pagode, Givral Đến Brodard Khác Nhau Thế Nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu rồi hành lang Eden trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi… hoàng đế Bảo Đại mới lên ngôi. Góc đường này là Givral đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (Nhà Hát Lớn cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Caravelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard. Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100 mét và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau. Nhưng nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại — chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

Trước hết là nhà hàng La Pagode, theo tôi, “cổ kính” nhất. Từ năm 1953, khi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi miền Bắc chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó La Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ngoài hành lang, theo lời Nguyên Sa thì giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, là “nhà vô địch” về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi.

Từ Đâu Có “Radio Catinat”?

Khách hàng của La Pagode hầu hết là văn nghệ sĩ. Vào buổi chiều sau giờ tan sở, họ tụ tập tại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư, và đến đây thường gặp Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài tin văn nghệ, thời sự cho vui. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi các tin tức ấy là “radio Catinat” — bởi con đường Tự Do, thời Pháp đặt tên là đường Catinat. Tuy vậy cũng có các nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh các nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó. Vậy tạm gọi La Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.

Quyền Lợi Hỗ Tương Giữa Phóng Viên Và Các Ông “Nghị”

Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các dân biểu thường ra ngồi giải lao và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị v.v…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”: anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Ngoài số phóng viên Việt Nam còn một số phóng viên Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang cùng một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền thông nước ngoài.

Nhà Thơ Hàng Đầu Thường Hẹn Hò Ở Givral

Một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là Đinh Hùng thường hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 1950. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là các nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3, 4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa, dù ngoại ngũ tuần nhưng trái tim rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng ông giống các cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang nét óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt nguồn cho những cánh thơ thăng hoa cảm xúc này.

Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài Đời Chưa Trang Điểm, tiêu đề này đã mượn từ câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi, anh Đinh Hùng ơi!

Nhà hàng Brodard xưa.

Brodard Với Những “Dân Chơi”

Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng” là nơi lui tới của “dân đi chơi đêm”. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng vài em vũ nữ loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức người Sài Gòn.

Một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi gặp gỡ của các ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số nhà báo miền Nam.

Chuyện Bây Giờ Và Chuyện Ngày Xưa

Nhắc đến Givral và gần đây có câu chuyện về tin “siêu hot” trên nhiều tờ báo Việt Nam, tôi chợt nhớ đến câu chuyện “tai nạn nghề nghiệp” tương tự xảy ra giữa mấy phóng viên ngay tại Givral hồi xưa. Xin ghi lại chuyện vừa xảy ra trước.

Hẳn bạn đọc còn nhớ câu chuyện “tin không nổi” xảy ra vài tuần trước. Ngày 18-9-2012, VOV online, một trang tin mạng của Việt Nam, loan một tin với nội dung rất kỳ cục về “quan hệ” bố chồng nàng dâu. Sau khi VOV online đăng tin này, nhiều báo và trang tin điện tử đã trích lại, có báo còn vẽ rắn thêm chân cho tăng phần “thật” và tăng độ “gay cấn” lên cao. Câu chuyện có thể kể là ly kỳ quái đản nhất thế kỷ tại Chân Trời Tím.

Trang mạng này đưa tin nguyên văn như sau: “Bố chồng “yêu” con dâu, cùng phải đi cấp cứu”:

“Ông A. 58 tuổi, có quan hệ tình dục với cô con dâu 36 tuổi. Trong khi thực hiện hành vi vô đạo đức này, người con dâu bị chứng co thắt âm đạo làm cho bố chồng không tách rời ra được

Chiều 18-9, phó giáo sư, tiến sĩ Tạ Văn Trầm phó giám

đốc Bệnh Viện Đa Khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang xác nhận vừa quyết định chuyển 2 bệnh nhân — cư ngụ ở xã Tân Trung, thị xã Gò Công — lên tuyến trên điều trị trong tình trạng “dính” nhau. Điều đáng nói là 2 bệnh nhân này là bố chồng và con dâu. Trước đó, trong lúc người con trai đi làm ở TP. Hồ Chí Minh, ông A.58 tuổi có quan hệ tình dục với cô con dâu 36 tuổi. Trong khi thực hiện hành vi vô đạo đức này, người con dâu bị chứng co thắt âm đạo làm cho bố chồng không tách rời ra được, được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Đa Khoa trung tâm tỉnh”.

Thật ra đây chỉ là tin do bác sĩ Tạ Văn Trầm, phó giám đốc bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm Tiền Giang nói vui với bạn bè thôi. Hoàn toàn không có thật. Sau đó vài ngày, sáng 22-9 trang báo VOV online đã xin lỗi:

“Ngày 18-9, VOV online đã đăng tải thông tin với nội dung về quan hệ bố chồng nàng dâu. Tuy nhiên qua xác minh, phóng viên viết tin này đã có sai sót khi chỉ dựa trên một nguồn tin không chính xác, thiếu thẩm định, dẫn đến tin đưa không đúng sự thật. VOV online chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc”.

Chuyện Ở Givral Thời Xưa

Chuyện này làm tôi nhớ đến chuyện có thật ở Givral hồi xưa, do Hồng Dương kể lại. Khi đó anh là phóng viên của Đài Quân Đội phụ trách tin nghị trường. Hầu như ngày nào anh cũng ngồi với nhóm phóng viên ở Givral. Trong số phóng viên có một ông, lớn hơn vài tuổi, thích “mần văn nghệ đủ thứ”, làm thơ, viết văn, nghiên cứu, phê bình văn học kiêm luôn nghề săn tin. Ông lại thích tỏ ra hiểu biết hơn người, coi mình là cái rốn của vũ trụ nên anh em không ưa. Ông nói và viết nhiều hơn những gì ông biết. Ông chỉ đọc chừng 10 cuốn sách nhưng phê bình cả trăm văn nghệ sĩ. Chứng tỏ ông chỉ nghe lỏm thôi. Một lần anh em đang tán dóc, thấy ông X.Y — xin gọi tên như vậy — đi tới.

Mọi người đều im bặt. Ông X.Y đoán chắc có tin gì hay, tụi nó giấu. Ông hỏi, nhưng không ai nói gì, ông càng nghi. Sau cùng ông lựa một anh có vẻ “thật thà” nhất gặng hỏi cái tin “bí mật” kia. Anh phóng viên “thật thà” bèn bịa ngay một “tình sử” tiết lộ cho đàn anh X.Y. Tôi không nhớ rõ chuyện gì, nhưng đại khái là tin động trời như tin “bố chồng dính lẹo với nàng dâu”.

Ông X.Y tức khắc viết bản tin đăng trên tờ báo hàng ngày. Chủ nhiệm bị thiên hạ gọi đến tòa soạn hỏi tới tấp và có nhiều phản ứng gay gắt. Chủ nhiệm báo này cũng như ông chủ nhiệm VOV phải đi xác minh. Cánh phóng viên nói không hề có tin ấy. Chủ nhiệm đành đăng lời “cáo lỗi cùng bạn đọc” và cho XY nằm nhà làm việc vặt.

Cái Bẫy Của Mấy Ông Bác Sĩ

Trở lại chuyện ngày nay trên VOV, tôi thấy có dư luận trách bác sĩ Tạ Văn Trầm phó giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa Tiền Giang nói bậy. Nhưng nghĩ cho cùng thì có thể bác sĩ Trầm thấy anh phóng viên kia hay nghe lóm, viết văng mạng, nên ghét mặt, bèn dăng cái bẫy, bịa chuyện “bố chồng nàng dâu” cho anh ta nghe lỏm giống như cái bẫy của mấy anh phóng viên ở Givral hồi xưa thôi. Chẳng có lý do gì để một bác sĩ phó giám đốc bệnh viện lại kể một chuyện không hề có như vậy. Thiếu gì chuyện để mấy ông tu-bíp dỡn với nhau, sao lại nhè lúc anh phóng viên có mặt mà “khui” chuyện kỳ quái kia? Bài học này quả là đắt giá cho người cầm bút chuyện nghiệp và không chuyên nghiệp. Kể lại chuyện cũ, chuyện mới để bạn đọc dễ dàng so sánh hai chuyện có thể cùng một nguyên nhân không?

Không Thể Tìm Lại Dĩ Vãng

Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn gửi đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa thành phố Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên Việt Nam. Nó sẽ chỉ thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua thành phố này. Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.

(Sài Gòn, 19-10-2012)

Con đường cũ

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 17 Sep 2026

Thưa cách đây gần 50 năm, nghĩa là nửa thế kỷ, nghĩa là lâu lắm rồi, ngày tui mới về với em, nghĩa là em mới cưới tui.

(Hi hi! Xin mở ngoặc ở đây một chút về tiếng Việt sau nầy trong nước!

Tui thường đọc thấy mấy ông nhà báo quốc doanh viết rằng: Hoa hậu X, Y gì đó cưới chồng?!

Thưa tiếng Việt mà tui học hồi năm nẳm, Thầy, cô tui dạy rằng: “Trai cưới vợ; gái lấy chồng!” Chớ tui chưa hề thấy gái cưới chồng bao giờ cả!

Hay là tại vì xa quê đã lâu, tiếng Việt của tui giờ đã rỉ sét, đã lạc hậu hết rồi chăng? Không theo kịp với trình độ của những nhà văn thời ôn dịch?!)

Thôi thì cho rằng em cưới tui đi, để cho tui lên giá một chút… Chớ già rồi cái gì cũng xuống hết trơn hết trọi hè!

Lấy chồng dạy giáo; cho dù mình dốt đặc cán mai, hổng biết chữ Nhứt một, đám học trò ra đường gặp mình, bao giờ cũng giở nón cúi đầu: “Thưa cô! Bộ hổng khoái hay sao?”

Hai là vì tui dạy Sử, Ðịa… nghĩa là chuyện hồi xưa không hà. Giáo sư Sử Ðịa ai cũng bị bịnh nghề nghiệp, mê cổ vật; nên cho dù sau nầy em yêu trở thành bà già, già háp, xấu, má hóp da nhăn! Hề gì? Càng già tui lại càng yêu, càng trân quý! Bộ hổng khoái hay sao?

Hổng thấy Vương Hồng Sển tiên sinh, chuyên sưu tầm cổ vật, sống với em yêu là Bà Năm Sa Ðéc suốt 4, 5 chục năm mà tình đôi ta vẫn còn nồng như hồi mới cưới hay sao?

Em yêu của tui thông minh hết sức nhe! Vậy mà bấy lâu nay tui cứ tưởng là em lù khù; ai dè em vác cái lu mà chạy…

Thưa bà con!

Tết nghe câu vọng cổ Út Trà Ôn: Gánh nước đêm trăng để nhớ con bồ cũ mà tui từng gánh nước dùm em mấy trăm ‘đôi’ rồi sau đó em cặp ‘đôi’ với thằng khác!

…Nghe vọng cổ đã rồi qua nghe tân nhạc:

“Ðêm nhớ về Sài gòn… thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi, những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi, đường im nghe quá khứ trong sầu, đường chia ly vẫn ngóng tin nhau, tình lẻ loi canh thâu…”

Mấy ông nhà nhạc nầy nhớ Sài Gòn, là nhớ phố nhớ phường; vì xưa tối ngày mấy ổng cứ đi long nhong ngoài đường, rồi vô quán cà phê nghe nhạc của chính mình viết mà người khác hát để… “Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa, ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa, ai sầu trong quán úa…

Ðể...  bóng mẹ hiền mờ mờ bên song, mắt người tình một trời mênh mông, gợi bao nhiêu cho cùng…”

Thưa tui cũng nhớ Sài Gòn như mấy ổng vậy; nhưng nhớ vì tò mò…

Tui nhớ nhứt là cái đường Da Bà Bầu mà trên đường đó, ông Nhạc trẻ Trường Kỳ hồi xưa, sau qua Canada viết báo, từng nói nhà tui ở đấy đó nhe…

Chu choa người ta ở mấy con đường đẹp và thơ như Duy Tân, Tự Ðức hoặc giàu như ở Tú Xương, người ta khoe là quá phải. Ổng ở đường Da Bà Bầu mà ổng cũng khoe?

Song, nghĩ cho kỹ! Mấy ông viết báo phải có cái đề tài gì độc nhứt vô nhị trên chốn giang hồ, bài viết mới ăn khách, không lo đụng hàng hay chôm của người khác trên web…

Cả ngàn ông ký giả, chỉ có Trường Kỳ là ở đường Da Bà Bầu thì khoe là cũng phải quá rồi…!

Dà xin tầm chương trích cú để thỏa mãn cái óc tò mò của một tay nhiều chuyện như tui, Da Bà Bầu hổng phải là da của bà bầu đâu.

Mà là quán của một bà tên Bầu (hay đang có bầu) dưới gốc một cây Da.

Bà con miền Nam mình gọi là cây Da; bà con miền Bắc 54 mình, như ông Trường Kỳ gọi là cây Ða…

Nếu cho ổng đặt tên thì Da Bà Bầu nó sẽ thành Ða Bà Bầu (để thiên hạ tưởng rằng đàn bà con gái trên đường nầy ai cũng ôm một bụng bầu hết ráo… thì càng thêm báo…)

(Cây Da trốc gốc trôi rồi! Em xa người nghĩa đứng ngồi không an. Hay cây Da trước miễu, ai biểu cây Da tàn… Bao nhiêu lá rụng thương chàng bấy nhiêu! Dù sau 75, cây Da tàn và chàng đã bỏ nàng, vọt mất tiêu rồi!).

Cây Da thân lớn, tàn lớn, chống mưa bão phẻ re hè! Nếu cây Da không nằm cạnh bến sông là khó lòng trốc gốc lắm; nên bà Bầu mở cái quán dưới tàn cây Da nầy vừa mát vừa phẻ trong cái nóng, bức của cái đất Sài Gòn.

Thưa xa quê từ độ đứt phim nên bà con mình lúc buồn tình hay đem cuốn phim cũ ra mà chiếu lại…

Mấy tay to mặt lớn, có trách nhiệm nhiều về cái vụ mất nước nầy thì viết hồi ký để phủi trách nhiệm: “Hổng phải tại tui! Mà tại Trời xui khiến nên đôi mình mới xa?!” Còn bà con nào hơi ‘bèo’ bởi con nhà ‘nghèo’, không chức tước danh phận gì ráo thì chiếu lại tuồng cũ như Vàm Kinh Cũ, nếu em xưa ở gần một bến sông…

Con anh nào dân chợ, đi đường lộ đá xanh đã quen chưn, thì viết Con Ðường Cũ.

Nên tui cũng bắt chước quý ông anh viết về con đường tình ta đi, cho nó có tụ, vui với người.

Vui đâu hổng thấy, tui chiếu phim cũ, vô tình, sót một khúc là bị rầy:

Chẳng qua khi viết bài về: “Ðề ơi lúc chiều về mình đánh con dê . Mà sao đề lại xổ con kê (tức con gà) hỡi đề!” tui có nhắc tới đường Trần Hưng Ðạo B mà bị rầy quá xá.

Ông bạn văn của tui vốn là bà con, cháu chít chừng mấy mươi đời vương của Trần Thượng Xuyên, ở Cù lao Phố, Biên Hòa! Vì ủng hộ Nguyễn Ánh nên bị nhà Tây Sơn dợt cho một trận lên bờ xuống ruộng. Ðại Phố điêu tàn phải chạy về Chợ Lớn làm ăn buôn bán tiếp.

Vừa là tác giả vừa là độc giả mà thằng chả khó dàng trời mây đi.

Giả bắt lỗi là tui viết Trần Hưng Ðạo B là hổng có được.

Con đường nầy là do ‘Vi Xi’ nó đặt ra năm 1976; hổng phải thời mình, nên ảnh hổng có chịu…

con-duong-cu-3Trần Hưng Ðạo B nầy là cái đường Ðồng Khánh, thời Việt Nam Cộng Hòa mình, chạy từ đường An Bình mút chỉ vô tới Chợ Lớn.

“Tui sanh đẻ ở đó nè ông Nội!” Ảnh nói với tui như vậy đó bà con ơi!

Anh muốn đem tên con đường xưa em đi, đường Ðồng Khánh, vô bài viết của tui mới được. Bạn bè mà! Muốn là chiều!

Thế là tui lại tầm chương trích cú từ ông Vương Hồng Sển, ông Bình Nguyên Lộc tới ông Sơn Nam. Toàn là những ‘bồ’ kiến thức về đường phố Sài Gòn mà ngộ cái là… hổng có ông nào sanh đẻ tại Sài Gòn hết ráo?!

Ông Vương Hồng Sển dân Sóc Trăng! Ông Bình Nguyên Lộc dân Ðồng Nai, Biên Hòa (Lộc của ổng là con nai đó bà con ơi)! Còn ông Sơn Nam (không ở trên núi) mà tuốt miệt Gò Quao, Rạch Giá!

Thưa trở lại thời Tây chiếm đóng! Sài Gòn và Chợ Lớn bị ngăn cách bởi một vùng đầm lầy. Từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, đi đường Route Haute (Ðường Cao) tức đường Hồng Thập Tự, chạy trên đồi cao, nối với Route Basse (Ðường Thấp), chạy ven đầm lầy, tức đường Nguyễn Hoàng vào những năm 60.

Mãi tới ngày Mùng 9 Tháng Chạp năm 1913, Tây lục lộ mới xây xong con đường thứ hai, đặt tên là Ðại lộ Sài Gòn- Chợ Lớn băng qua vùng đầm lầy…

Cuối năm 1916, Ðại lộ nầy đổi tên là Ðại lộ Galliéni, tên một viên tướng Tây có công trạng với Thực dân Pháp vừa mới đi chầu ông bà ông vải.

Ðại lộ Galliéni bắt đầu từ đại lộ Bonnard (tức đường Lê Lợi, trước chợ Bến Thành), chạy tới đường An Bình, nối với đường des Marins, tên thời Tây, sau đó chánh phủ mình đặt tên là đường Ðồng Khánh!

(VC không khoái Vua Ðồng Khánh nhà Nguyễn nên đổi tên khúc đường nầy là Trần Hưng Ðạo B) để tiếp tục đi vào Chợ Lớn.

Do đó nếu anh bạn văn Tàu lai của tui hổng chịu tên Trần Hưng Ðạo B thì anh cự tụi nó! Sao lại quay qua cự tui hè?

Thưa tụi nó bây giờ đặt tên đường phố lôm côm lắm! Tui đâu có dám binh mấy cái chuyện ngu ơi là ngu nầy đâu.

Chớ hồi xưa chánh phủ VNCH mình đặt tên đường đâu ra đấy, lớp lang thứ tự, hợp lý chớ đâu có loạn xà ngầu như bây giờ…

Chẳng hạn từ Bến xe Miền Tây vô Chợ Lớn trước, mình có Hồng Bàng, An Dương Vương, Triệu Ðà… Bà Triệu… rồi thì có Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục…

Cứ thế vào càng gần trung tâm thì càng gần hiện tại như Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Trãi…

Nhà Nguyễn mới vãn hát không lâu, lại càng gần trung tâm hơn nữa như: Nguyễn Hoàng, Minh Mạng, Tự Ðức cùng chư tướng như Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Lê Văn Duyệt…

Các bến sông thì có Vạn Kiếp, Hàm Tử… lớn nhất tên Bạch Ðằng… Nơi mà quân ta đã thủy chiến mấy trận làm Tàu phù… phù mỏ hết ráo!

Thưa! Tên đường là chuyện lớn, chuyện quan trọng, chớ không phải là chuyện giỡn chơi. Vì nó có cất giữ biết bao nhiêu là kỷ niệm của những người con xa quê, viễn xứ như chúng ta.

Anh bạn văn, đường Ðồng Khánh, hỏi tui Tết nầy có về Sài Gòn ăn Tết hay không?

Tui trả lời: “Tui chỉ về khi nào không còn đường Trần Hưng Ðạo B nữa mà phải là đường Ðồng Khánh mới được!”

Chi vậy? Vì tên đường năm cũ, tui mới quen, mới thuộc, mới biết đường lại nhà anh, kiếm tiền lì xì và nhậu chơi…

Còn cầm bằng tên đường cũ mất rồi vẫn không phục hồi trở lại, mà tui ham vui về, sợ đi lạc, bị xe bắt chó bắt thì tội nghiệp cho con vợ của tui lắm nhe!

DXT

Cỏ trên đất lạnh

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Sep 2026

Jean thích ăn chả giò, tôi tính bữa nào mời ông tô bún bò. Tôi không biết dịch sang tiếng Pháp chữ tâm hồn ăn uống, thức ăn Việt hình như thứ gì ông cũng muốn thử qua, có vẻ hợp khẩu vị, khen rối rít.

Tạng người Jean nhỏ thó, ngó không ra Tây. Đứng thấp thua tôi, nhưng hơn ở chỗ ông sở hữu một cơ thể ngó rắn rỏi. Tôi chẳng mặn bơ sữa vậy mà “phát tướng”. Hợp phong thổ, cây trồng đúng đất mầu mỡ, cứ nghĩ vậy. Jean phát biểu, rồi thêm: Tại toa ít vận động chăng?

Jean độ sáu chục, là hạng tuổi chưa được nghỉ hưu, cứ như con gà sớm tối vòng vo sân trước vườn sau. Làm concierge cho chung cư kề cận nơi tôi mướn, khoảng cách là vuông sân mà cỏ ở đó rất chóng mọc cao. Hoặc nó chưa mấy phồn thịnh thì đã nghe tiếng máy cắt cỏ dày xéo gầm thét tới lui. Jean ưa vận động mà hình như ông rất chuộng việc cày bừa trên khoảng sân nọ. Xét ra, đó là thứ công việc ồn ào bắt mọi người phải chú ý. Những ai muốn tu tâm dưỡng tánh ngồi diện bích với thế kiết già hẳn sẽ lầm bầm nguyền rủa thằng cha chuyên viên âm thanh say sưa gây nhiễu loạn kia. Tôi đồ rằng ông muốn kêu gọi tôi bằng cách thức ấy, chứ đứng quét lá rụng hoặc cầm vòi phun nước lai láng hai hàng hoa thì có vẻ tịch lặng, chả ai hay biết.

Jean ngụ trong căn apt. nhỏ nhất của chung cư, có gắn số 1 nơi cánh cửa gỗ sơn xám. Ông nói, moa không việc gì phải trả tiền mướn thuê, lão chủ bảo cứ ở vậy mà quán xuyến trông nom, làm ổn những vấn nạn khi chúng sinh trong toà nhà cũ kỹ này gặp phải. Moa không có nhu cầu gì để ép buộc thức khuya dậy sớm ra ngoài tranh sống, đời mình va chạm đã nhiều đến độ trầy trụa xác thân, thôi thì cứ an phận thủ thường ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Tôi có cảm tình với thứ triết lý sống nọ, kinh qua sáu mươi mùa lá rụng ta cũng nên thu vén bớt sân si mà liệu cơm gắp mắm, chắp tay sau đít nhàn cư vi có việc. Cả đống việc chứ chẳng đùa, giết chuột trừ gián trét lại vôi thay ổ khoá, siết cứng vòi nước nơi bồn rửa chén mãi nhỏ giọt tỉnh táo suốt canh trường. Tôi lại chẳng tường khi dịch chữ lu bu thượng vàng hạ cám ra tiếng tây tiếng u.

Jean luôn bận quần jeans bạc phơ nơi hai đầu gối, nếu cần ông thắt nịt có cái túi da chứa cơ man nào là kềm búa tuốt-nơ-vít thước cuộn băng keo dao kéo lủng củng lảng cảng như lính mang quân trang quân dụng. Dáng đi thong thả gần như lãng đãng kiểu thi nhân, thoạt trông là vậy nhưng thoắt cái ông có thể biết môn khinh công, chợt biến chợt hiện. Một đứa có da thịt đường bệ như tôi không dễ học ma thuật phân thân cách đó.

Tôi chẳng tò mò để riết róng dóng hỏi vợ toa đâu? Mãi quen mắt nhìn ông cu ki một mình, và ngạc nhiên thay, dường như cái lẻ bóng kia không mảy may gây phương hại gì sất để khiến Jean phải lộ diện vẻ sầu thảm. Có vợ một bên lưng, không chắc điều đó khiến người ta “thản nhiên” như Jean được. Đôi khi, qua Jean, tôi thoáng nhớ tới cha mình, cái cách ông sống thầm lặng sau khi mẹ tôi vắn số bỏ cuộc chơi. Jean có con trai không? Nó ở đâu giờ này? Có những dấu hỏi vụt đến vụt đi trong đầu, tôi chẳng ưa làm đứa mỗi khi nói ra đều khiến người nghe phải bận lòng sanh căng thẳng. Tôi là thằng người tị nạn, hơn ai hết, thằng người đó không ưa bị ai dồn hỏi linh tinh. Tôi là căn hộ trống trải nên chuột và gián chả mấy ưa ghé vào sục sạo. Một kẻ bình thường, hầu như kẻ ấy phải ghét những vị khách không mời cứ siêng vào ra.

Trưa hôm ấy, cắt cỏ xong, Jean bắt ghế ngồi ở bao lơn hẹp té mơ màng cùng khói thuốc. Máy và dây nhợ lòng thòng còn nằm giữa vuông cỏ trọc. Mắt ông không nhìn xuống thành quả lao động mà ngó mông ra đường, đôi mắt vô hồn và lần đầu, tôi nhìn ra dung mạo ông váng vất phủ một nỗi buồn lặng. Tôi mang bia và mấy cuốn chả giò gói trong giấy nhôm băng qua biên giới. Trời đẹp, đúng không? Tôi hỏi. Jean sửa lại dáng ngồi. Thì cũng vậy. Moa đã không nghĩ ra một việc làm gì khác. Như thông lệ, ngồi thu nhỏ người ở đây, một cách thầm lặng, vô tội vạ. Tranquillement, chữ Jean ưa dùng.

Ông mở ra chiếc ghế xếp dựng trong góc và tôi nghĩ chỉ có tôi là đứa duy nhất đặt đít vào đó, nói cách khác, ông sắm nó để dành riêng cho tôi. Có mang cả bia nữa à? Rất rất tốt. Ông dùng hai lần chữ rất. Ba tôi không hút thuốc không rượu bia, sống khắc khổ và qua đời trong đạm bạc. Ba tôi cũng giỏi tiếng Pháp vì có thời ông làm việc với Tây, ở Kho Bạc. Hình như dạo đó chữ ngân hàng chưa được phổ thông, đôi khi họ nói: Ra ngân khố lĩnh tiền. Hai ngày trước , thứ năm lãnh lương, tôi đã tới nhà băng đổi ngân phiếu, tôi ghé chợ mua bia và tôm thịt để về làm chả giò. Tôi không quen ai ở thành phố này, tôi giống Ba tôi, giống Jean, tranquillement. Cái yên ả kia có vẻ như đi ngược với quan điểm sống của dân tị nạn. Đa phần họ quần quật chí thú kiếm tiền, họ kèn cựa, đành hanh và xét đoán kẻ khác qua bề ngoài, qua xe cộ và nhà cửa. Lạy Chúa, nhờ trời tôi chẳng liên hệ, dính dáng tới bọn người đó.

Jean khởi sự ăn, có vẻ để tâm khi nhai nuốt cuốn chả giò. Ngon, có thể do bởi chính tay toa làm, hàng quán thì họ trộn lắm thứ vào đó nên không thơm bằng. Jean nhìn tôi, đôi môi thôi khô. Moa có thể hỏi một câu? Cớ sao toa có được cái tử tế đến nhường ấy? Có thể gần ông tôi muốn học hỏi một đôi điều, giao tiếp giúp tôi giỏi tiếng Pháp chẳng hạn. Chỉ vậy thôi sao? Qua đó tôi còn học cách đối phó với đời sống khi quanh mình chẳng có ai. Jean chà hai bàn tay vào chiếc quần sờn bạc. Nắng bắt đầu lấn chiếm vào chỗ ngồi nhưng cái vết cắt sắc sảo đó tuyệt không làm hai chân phải nóng rát bắt chúng tôi xê dịch. Người ta khuyến cáo rằng trong nắng có tia hồng ngoại cực tím dễ gây ung thư da và người ta vẫn mình trần nằm phơi la liệt trên những vùng cỏ chan hoà sắc lửa mặt trời. Bất động như xác những con cá bị biển cả xô giạt vào nằm phơi bụng trên bờ bãi.

Khi một người đàn bà tìm ra được lý do để phụ rẫy mình, toa sẽ chống đối kháng cự bằng phương thức gì? Moa nói với vợ rằng, hy vọng anh chẳng gây lầm lỗi, mong cho em có được cuộc sống tốt đẹp ở chỗ mới. Đã hơn ba năm. Hôm qua đứa con gái moa có gọi điện thoại, mẹ đang nằm trong bệnh viện, thăm hay không là quyền của bố, nếu quyết định xong thì con lại chở đi. Dứt câu, Jean ngửa cổ tu hết chai bia. Gương mặt chưa tìm bắt chút tươi tỉnh. Jean nhón mông để moi từ túi quần ra cái ví da. Marie, vợ moa. Đây là Juliette, con gái. Nếu đó là ảnh mới nhất mà Jean thu cất, thì cũng đã hơn ba năm trôi qua rồi, không chắc họ còn giữ được nụ cười tươi như trong hình chụp. Sát phòng tôi có tên người Ý mướn, nó mua chiếc xe đúng ba năm và nó than phiền băng tuyết chốn này đã khiến cho chiếc xe biến dạng tới độ đáng ngờ. Con người chẳng thể hơn sắt thép được nhất là con người có một gia cảnh chẳng mấy vui. Vào nằm viện là một minh chứng xác thực cho lối so sánh kia.

Qua một đêm, hẳn ông đã có quyết định? Tôi hỏi Jean. Moa vẫn chưa gọi phone cho con Juliette. Nán đôi ba hôm thì thấm gì trong khi moa chờ đợi trong câm lặng gần bốn mùa tuyết đổ. Ừ, thì chung cuộc cũng phải đi thăm hỏi nhau thôi. Phải kiểu cách mua một bó hoa cầm tay, phải thay đổi một bộ áo quần cho ra vẻ tươm tất và có thể sẽ nói ra những điều không thật lòng. Xét cho cùng thì đâu có vui thú gì? Ông phải nên hiểu tâm lý của người nằm trên giường bệnh, họ luôn mong cầu một sự vấn an. Jean vung tay như thể xua đuổi một con ruồi mãi chờn vờn trước mặt. Hôm nào moa đổ bệnh toa có vào thăm không? Nếu có xin đừng mua hoa mà tốn tiền, một chục cuốn chả giò ăn chùng vụng thì hạnh phúc biết chừng nào mà kể! Tôi nói tôi hứa mặc dù bệnh viện là khung cảnh quy tụ toàn cả sắc xám và không hẳn ông già sáu chục tuổi thì phải vào đó trước một đứa trung niên. Gió hiu hiu lùa nhẹ, mùi cỏ ẩm vừa bị xén gây nhột trong mũi. Tôi hắt hơi: Mai chủ nhật, thay vì tới nhà thờ ông nên vào thăm bả đi Jean ạ. Đã là đàn ông, tôi nghĩ ai cũng có lối sử sự như vậy cả. Sự có mặt của ông phút giây đó nặng ký hơn ngàn lời nói ra. Hiểu ý tôi không? Jean chẳng ư hử, ông đang ngốn cuộn chả giò cuối cùng.

Juliette có đứa con ngoài giá thú với một thằng thợ mỏ khai quật dầu hoả ở tận Calgary. Thằng nhóc năm tuổi ấy không nhớ mặt bố đẻ, từ miền tây tạt về cố thổ của mẹ và gọi Jean bằng ông ngoại. Tôi hiểu loáng thoáng vậy, qua những thăm hỏi họ dành cho nhau. Jean hỏi cha mày đâu? Dĩ nhiên đứa nhóc tì bỏ ngoài tai. Năm tuổi thôi mà, nếu 15 thì hoạ may tìm được câu trả lời: Tui đéo biết! Juliette ngó tôi, ảnh có chút công chuyện lát mới quay lại đón. Rắc rối ở chỗ là Juliette neo thuyền sang bến mới và tên đàn ông mà thằng nhóc năm tuổi mặt khờ câm kia âu yếm gọi bằng papa lại là người da màu. Không như cột nhà cháy, nâu chứ đen thui thì tui đã hổng ham. Juliette trần tình với bố. Jean có vẻ là người thủ cựu, mặt lộ trầm tư, một lát ông thả giọng trầm, đôi khi e vàng hơn hẳn đen nâu các thứ. Là sao? Tôi không hiểu. Là rắc rối cuộc đời đã khiến moa chẳng có cơ duyên gặp mặt toa sớm.

Tôi ngó chùng vụng Juliette, cô không thay đổi mấy so với tấm ảnh nằm trong ví Jean, có nghĩa là hiển hiện ở đấy một dung mạo hơi ngổ ngáo, hơi khuôn trăng đầy đặn, hơi chịu nhiều nếp nhăn. Sum họp này đã chịu đánh đổi với ba năm lừng lững trôi qua. Mất ngoẻn chừng đó tháng ngày hẳn nó sẽ tàn phá không chừa một ai. Nó làm cho con nít biết lật sấp ngửa, biết ê a rồi thoắt cái biết đi biết chạy, biết theo mẹ về nhìn nhận ông bà. Thằng nhỏ coi mòi sống cô đơn đã quen nên chẳng ưa chộn rộn, nó cứ bấu chặt chân cẳng mẹ rồi trương mắt ra ngó Jean xong thì đảo qua dòm chừng thằng da vàng mũi tẹt. Tôi cũng hổng mặn cảnh tùng tam tụ ngũ, đứng xớ rớ ở hiện trường vì Jean gọi qua, ông loan báo tin vui “bả” đã bình phục, đã xuất viện và cái giang sơn bé nhỏ này mai hậu sẽ chứa năm bảy người tới quây quần làm bữa tiệc đoàn viên lá rụng về cội. Như thế này nhé, moa nói điều không phải thì toa bỏ qua cho, làm giúp moa khoảng trăm cuốn chả giò, bao nhiêu tiền moa gửi lại sau, có ô kê không nè? Đâu có sao đâu, nói trước bốn tám tiếng để tôi sắm sửa các thứ. Có cần moa gọi con Juliette sang phụ một tay không? Cho nó mở rộng tầm nhìn, học cách làm món ăn khoái khẩu kia. Tôi làm thinh, kịp lúc tiếng chuông điện thoại hối thúc dóng tiếng inh ỏi vang rân cả căn phòng khiến mọi người cùng ngoái cổ, “chuông gọi hồn ai” đã cứu chuộc tôi, kéo tôi ra khỏi những tính toan, đẩy tôi xuống vuông cỏ, đi nhanh về chỗ trọ.

Bữa tiệc gia đình dự trù đầm ấm đã không diễn ra. Cha ruột của đứa nhỏ 5 tuổi từ chốn xa tìm về đúng chỗ tỏ ăn năn lầm lạc một hai đòi nối lại sợi dây phu thê đứt đoạn. Vụng dại, nóng nảy khiến hắn xô xát với người tình da nâu của vợ cũ, cả hai chửi thề cùng thương tích trầy trụa dẫn đến sự can thiệp của cảnh sát. Jean cho hay, chưa khi nào moa thấy lòng ghen tuông của con người nó kỳ cục và khôi hài đến mức đó. Còn con Juliette, lý ra phải tỏ có chút bản lãnh thay vì ngậm hột thị ôm đứa bé mặt xanh như búp xà-lách. Cứng người như phổng đá, tựa hồ đang tự tìm lấy quyết định, đứa nào mạnh đứa ấy sẽ đi trọn đường tình với tui, chẳng lý lẽ phải trái chi cho ốm người.

Nắng lung linh trên tàn lá thưa, nắng vẫn chưa vào liếm chân. Gió có mang theo chút gai lạnh như thể Bắc cực đang vào mùa tan vỡ băng sơn. Nó thổi về để ai kia nghiệm ra cái hữu hạn của mùa hè và chỉ đôi ba tháng hâm nóng thôi, người ta lại co quắp chịu đựng bao cơ hàn đổ ập xuống. Tôi nhìn con đường khuất bóng xe, đôi ba bộ hành đội nắng mờ nhân dáng ở xa như họ đang cút bắt những ảo ảnh. Vợ ông thì sao? Tôi hỏi. Bả vẫn dật dờ, chưa lại sức và từ khi xuất viện đến giờ bả chẳng nói với moa lời nào cả. Trong muôn một, đàn bà vẫn tượng trưng cho một thứ gì thật khó hiểu. Ở apt. số 7 có vấn đề gọi moa lên chỉnh sửa nhưng moa bảo: Dẹp, đi đâu mà vội, hãy cho tao tìm lại chút quân bình cái đã. Ông đã lấy lại quân bình được chưa? Thức ăn cay ông xơi có đặng không? Jean ngó chăm tôi, hồ nghi đọng chật trong hai tròng. Tròng mắt bắt đầu mất vẻ tinh anh, như ba tôi ngày ấy, như bất kỳ một người đàn ông từng đi qua cuộc đời này với cái bóng tối luôn đeo cứng bên hông, song hành cùng vạn điều chẳng giải thích được. Niềm vui hiếm muộn, điều đó dần dà làm chất xúc tác để phủ bọc đồng tử một lớp màn đục. Có người đã gọi, ấy là bụi trần. Qua bụi trần, năm xưa mắt ba tôi mãi dõi tìm đứa cháu nội ở bến tàu với loạn thị sự hỗn mang. Tàu xô sóng trôi giạt khỏi bờ vất ba tôi ở lại trong cô thân cùng cực, ông không tài nào ngờ được đứa cháu đã có một chỗ ngồi bó thân trên tàu, cũng như gia đình nó chẳng tưởng được ông nội vẫn lạc hồn bước xiêu giữa thành phố sắp thay đổi chủ. Lòng ông là bãi bờ khi nước rút đi, khô kiệt một tuổi già hoang lạnh. Một cách thầm lặng, chữ Jean ưa dùng, có thể áp đặt toàn bộ lên người ba tôi. Thời điểm kia tôi hẳn còn non dại, tôi khờ khạo không biết ngoài ba tôi ra đã có ức triệu những bức rời đớn đau khác. So ra gia cảnh của Jean không nên gọi đó là niềm bất hạnh, ông dư sức qua cầu để dọn lòng tìm gặp lại cái trầm ngâm cố hữu. Tranquillement, tĩnh lặng đến yên hàn vô sự.

Nếu không ngán nồng cay tôi sẽ mời ông tô bún bò. Soup buộc phải cay vì đã là truyền thống thì chẳng thể gia giảm pha chế hoán đổi cho mất linh, mất tính cách, mất hương mùi, mất địa phương. Nó tuy xa nhà nhưng nó vẫn ủ nồng phong thuỷ chốn xưa. Jean rùn vai, cay cỡ nào moa cũng nên thử qua, bất quá chỉ toát mồ hôi chảy nước mắt thôi chứ thấm béo gì. Đã lâu moa chưa biết khóc, toa có tài cán thì cứ làm cho moa đổ lệ một phen. Rất rất tốt.

Tôi vẽ ra một giới hạn và tôi nói không lâu đâu, cuối tuần mình sẽ ăn chung nếu điện thoại nhà ông chẳng rộn ràng lên tiếng. Chỉ rỗi hai ngày thứ bảy chủ nhật và tương lai thì luôn rình rập những cái không ngờ. Nếu chuông điện thoại ré thì chỉ có con Juliette nghịch tay, nếu nó giải quyết ổn thoả mọi thứ đâu ra đó thì toa có sẵn lòng cho nó ghé mông để khóc theo? Tôi làm thinh, tôi chẳng biết hoán chuyển cụm chữ “nói trước bước không rời” ra tiếng Pháp. Jean phải nên hiểu là thời gian vận hành luôn không êm, chúng ta đã tuân theo luật chơi của nó, ít nhất một lần, nhớ không? Bữa tiệc có trăm cuốn chả giò chiên dòn đã “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, đã chẳng vẹn toàn ra cơm ra cháo.

Chúng tôi ngồi yên, như thể mặc niệm hối tiếc một cái gì vừa vụt qua, không nắm bắt được. Nắng vẫn vàng, cỏ vẫn xanh. Bao lâu rồi Jean đã nhác chơi? Không phát hiện ra sao? Cỏ mọc cao có thể chôn vùi mắt cá chân. Cỏ thì ở đâu cũng hệt nhau, tôi từng nằm ngủ mê trên đồi cỏ phương ấy, đất mát lạnh và tấm bia khắc tên ba tôi đã ngăn che tia lửa mặt trời đâm thẳng mặt. Lâu lắm rồi, lâu như thể tuần trước hoặc tháng kia. Đâu, mới có ba chục năm chứ mấy! Rồi tháng nọ năm nào Jean cũng thực sự xuôi tay, tôi đoan quyết một chuyện sẽ diễn ra trước phân lìa, là Jean sẽ ăn được món cơm Âm phủ do chính tay tôi nấu. Không rủ rê Juliette nhập mâm. Ăn đi Jean, ăn một cách thầm lặng. Cơm thương chứ chả có ai thương!

Hồ Đình Nghiêm