“Con đường tình ta đi!”

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 20 Sep 2026

Thưa quý độc giả thân mến!

Cuối năm xin kính mời quý độc giả thân mến cùng người viết điểm lại con đường tình ta đi năm vừa qua, (Có tham khảo chuyện Chú Ba và Chú Kangaroo), coi nó có trật chìa chỗ nào hay không? Để mình ra tay cùng sửa chữa, trước khi nó bể bạc hết trơn!

Chú Ba cà chớn hàng xóm của mình theo chế độ phụ hệ! Chồng làm cha! Là dách lầu; là số một! Chú Ba được quyền bỏ vợ, nếu Thiếm Ba lạng quạng! Thiếm Ba phạm bảy tội nầy là phải ‘xin cho thiếp đò ngang thiếp về’… để Chú Ba rước em khác.

Bảy cái tội đó gọi là ‘Thất xuất’:

– Một là hổng tọt ra được thằng ‘cu’ nào để nối dõi tông đường! Sau nầy khoa học chứng minh rằng lỗi nầy không phải chỉ do em. Nên gán tội nầy cho Thiếm Ba không mà thôi là Chú Ba dốt, hổng biết khoa học gì hết ráo!

– Tội thứ hai là dâm dật! Mà dâm dật với ai mới được chớ? Dâm dật với chồng mình thì đốt đuốc đi tìm chưa chắc có! Mừng hết lớn còn bày đặt nói ‘Hổng được!’ Bộ khoái tình em như nước Bắc Băng Dương hay sao? Còn nếu Thiếm Ba dâm dật với xì thẩu khác thì phải mời Thiếm Ba đi chỗ khác chơi gấp gấp! Bằng không có ngày Chú Ba quất xong tô bò vò viên rồi sùi bọt mép. Xuống Diêm Vương giở sổ ra, chưa tới số mà; xuống đây làm chi thì biết trả lời sao?

– Tội thứ ba là không thờ cha mẹ chồng, coi Tía Má Chú Ba hổng ra cà ram nào hết trơn! Hổng có Tía Má mình, đồng tác giả xuất bản, thì làm sao có mình để em nâng khăn sửa túi. Hổng biết ơn mà còn ‘hỗn ẩu’… Đuổi đi là phải! Kẻo mấy tiểu muội nóng mũi, chê làm Ca ca (xin đừng hiểu theo tiếng Tây nhe!) gì mà cái mặt gà mái, thờ bà, thì quê lắm đó!

– Tội thứ tư là lắm lời! Nói hoài miệng hổng chịu kéo da non! Tội nầy thấy nhẹ nhưng thực ra là nghiêm trọng ngang với tội ‘khủng bố tinh thần’ đó!  Nghe nhiều, nghe hoài một chuyện, băng nhão hết trơn, nhức đầu làm sao mà chịu nổi. Thôi là phải!

– Tội thứ năm là trộm cắp, tiền của chồng chôm hết ráo, tuồn cho Tía Má em xài hổng biết sao cho đủ; thì sức trâu nào cày cho thấu. Nghỉ chơi cũng phải luôn! (Nên có chuyện rằng: “Con lấy tiền của Tía hả?” “Con không có lấy!” Thiếm Ba nói: “Em lấy đó!” Ủa sao còn sót lại vài đồng bạc lẻ?”)

– Tội thứ sáu là ghen tuông! Trai năm thê bảy thiếp là thường vậy mà tối ngày xem nè tui với nó có khác gì đâu mà anh mê con quỷ đó? Ghen là tánh nữ nhi thường tình! Nhưng ghen cho trúng khía kìa; còn ghen gió… ghen bóng là tui đóng cửa sổ cho hết gió; tắt đèn luôn là hết bóng! Hết ghen!

– Tội thứ bảy, tội cuối cùng, là Thiếm Ba mắc bệnh hiểm nghèo. Cái nầy bậy bạ quá, vợ lỡ có bệnh thì lo chạy chữa chớ đòi thôi, đòi bỏ… thì thiệt là cái thằng chồng ác nhân thất đức. Chú Ba… ‘Made in China’ là đáng bị la lắm!

Sau nầy thời cuộc đẩy đưa, lưu lạc quê người tới đây; thấy mấy Chú Kangaroo cũng theo phụ hệ. Con nó đẻ ra nhưng mang họ của mình! Cái khác với mấy Chú Ba là mấy Chú Kangaroo đây bỏ vợ không cần bày đặt kiếm chuyện nầy chuyện nọ. Hổng khoái nữa là thôi. Nhưng Thiếm Kangaroo cũng có cái quyền ‘y’ như vậy. Bản mặt thằng chả thấy ghét là em thôi cho bỏ ghét!

Thưa quý độc giả thân mến.

Chuyện rằng: Tèo, 32 tuổi mà chưa vợ! Bạn bè hỏi: “Bộ chưa kiếm được đứa nào hợp nhãn hay sao?” Tèo nói: “Có nhiều đấy chớ! Nhưng dắt em nào về nhà Má tớ đều không chịu!” “Thì tìm em nào tánh tình giống hịt Bà Già là xong ngay!” “Có dắt một em về giống hịt Má! Má thích lắm! Nhưng ngặt nổi là tới phiên Ông Già tớ; Ổng phản đối quá chừng!”

Ông bà mình xưa có tâm sự rằng: “Ví dầu nhà dột cột xiêu! Muốn đi cưới vợ sợ nhiều miệng ăn!” nên Tèo trước khi ‘chim vào lồng; cá cắn câu’ bèn hỏi: “Cưới vợ tốn bao nhiêu Tía?” “Tía không biết! Chưa tổng kết được vì Tía vẫn còn đang phải trả!”

Làm gan, coi tiền bạc là chuyện nhỏ, cưới vợ về rồi mà muốn tình ta bền lâu, phải nhớ ông bà có dạy rằng: “Dạy con dạy thuở còn thơ! Dạy vợ dạy thuở bơ vơ mới về!” Phải đề ra ‘quân lịnh’ đàng hoàng mới được!

“Anh sẽ về nhà bất cứ lúc nào anh muốn, và anh muốn… ‘ẹ …ẹ’ bất cứ lúc nào anh muốn!” Anh muốn khi về bữa ăn tối phải có sẵn trên bàn; trừ trường hợp anh báo trước rằng tối đó anh không về!” “Anh sẽ đi săn, đi câu cá, đi nhậu, đi đánh bài cùng những người bạn cũ của anh bất cứ lúc nào anh muốn và không mong đợi em sẽ làm khó làm dễ anh chút nào!” “Em có ý kiến gì không?”

“OK! Vậy cũng được! Chỉ cho anh biết rằng:  Em sẽ ‘đốt nóng lửa lòng em với bạn tình’ mỗi đêm, ở nhà nầy lúc 7 giờ, trong phòng ngủ của đôi ta… dù có mặt anh hay không cũng được!” OK?

Anh có vợ rồi mà vẫn còn muốn chơi! Nên em cũng vậy!

Rồi sau đó, tuần trăng mật vui hết biết nha! Hai đứa ăn ở không rồi bắt ‘chí’ cho nhau là vui?  Nhưng ngày vui sẽ qua mau. Cởi áo cưới ra, lau hết phấn son, đôi ta trở lại đời thường. Cơm áo gạo tiền!

Qua xứ Úc nầy, xứ của Nữ Hoàng Anh, khi hầu chuyện là mình phải khụy một đầu gối xuống! Về nhà với vợ mình cũng làm y hịt như vậy; đôi khi còn lễ phép  gấp đôi… không phải một mà là… cả hai đầu gối…

Qua xứ Úc nầy, xứ của Nữ Hoàng Anh, khi hầu chuyện là mình phải khụy một đầu gối xuống! Về nhà với vợ mình cũng làm y hịt như vậy; đôi khi còn lễ phép  gấp đôi… không phải một mà là… cả hai đầu gối… Chữ gọi là “Phụ xướng phu tùy!” “Trong nhà, tui làm sếp! Vợ tui chỉ là người phát biểu sau cùng mà thôi!”

Bằng không chịu chấp nhận sự thực phũ phàng đó thì ngay việc dạy dỗ con cái cũng đủ sanh giặc rồi!

“Nhân loại từ đâu mà ra? Tía nói: “Adam và Eve có con. Con lớn lên lập gia đình và có con. Cứ thế!” Thằng nhỏ hỏi Má nó cùng câu hỏi. Má nói rằng: “Tổ tiên chúng ta là khỉ; tiến hóa dần trở thành con người!” Thằng nhỏ quay lại: “Sao Tía nói dóc con chi vậy?” Tía trả lời: “Má con nói về phía bên dòng họ của bả ấy mà!”

Thưa quý em yêu! Mỗi lần đay nghiến, xì nẹt chồng mình nên suy nghĩ kỹ! Lời nói như mũi tên bắn ra là không mong lấy lại!” Cuối năm rồi, chúng ta hãy cầu nguyện cho vợ chồng không bao giờ lớn tiếng với nhau… Trừ trường hợp cháy nhà!”

Nhưng câu hỏi bự tổ chảng đặt ra là: “Tại sao, chung sống chỉ một thời gian chẳng bao lâu mà hai người không còn yêu nhau tha thiết nữa?” “Có phải là tại nhan sắc em đã hoa tàn nhụy rữa hay tại anh giờ đem bụng ở đời, vì ‘tộng’ quá nhiều gà nướng Kentucky (KFC) hay không?”

Em khỏa thân đứng trước gương soi! “Cha lóng rày em già, mập, trông xấu quá! Anh có thấy vậy không?” “Mắt của em còn tỏ lắm đó!” Và cuộc cãi lộn lại bắt đầu!

Em gởi tin nhắn cho chồng: “Truyền hình nói Cảnh Sát vừa tìm được một cái xác mập như con heo, răng sún lại ngậm xì gà, trên tay còn chai rượu. Em lo cho anh quá! Hãy gọi cho em nhé! Anh yêu!”

Hỡi ơi! Tình ta mới đầu như ly cà phê sữa nồng ấm uống vào buổi sớm mai trời sương thu lành lạnh… Sau thành ly cà phê đá mà phải uống giữa mùa đông rét mướt!

Anh không nói gì hết mà chỉ dán mắt vô cái máy truyền hình coi phim diễu ‘Big Bang Theory’ hay đọc báo mà thôi!

“Đời tui cô đơn nên yêu anh cũng cô đơn, ước gì em là tờ báo để em có thể trong tay anh suốt ngày!” “Anh cũng ước em là tờ báo để mỗi ngày anh lại có một tờ báo mới!”

Chu choa! Ông Thần nầy gan thiệt!  Nói như vậy là em sẽ nổi máu Hoạn Thư lên; sẽ điều tra coi tờ báo mới đó là tờ báo nào? Và khi ghen tuông, em điều tra, theo dõi chồng mình còn hay hơn cả FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ)

“Sam và Becky được mời đi ăn tiệc Giáng Sinh, lễ hội hóa trang. Sam hóa thành Ông Già Noel. Bất ngờ Becky nhức đầu không đi nhưng cũng khuyến khích cho ông Xã mình thư giãn. Quất vài viên thuốc nhức đầu Panadol, nằm nghỉ một lát! Thuốc Panadol “Made in Australia” hay thiệt là hay nhe! Cơn nhức đầu biến mất; nên em cũng tới chơi nhưng giữ bí mật không cho anh yêu biết… để theo dõi coi vắng chủ nhà gà có mọc đuôi tôm không?

Em bèn hóa trang thành nữ tài tử xinh đẹp Nicole Kidman! Em rề rà đến, má tựa vai kề với ông Già Noel. Rồi rủ chàng chui ra sau vườn! Em lẳng, em lơ như trái mơ… coi thằng chả có nhểu nước miếng và cư xử ra sao?

Được bật đèn xanh khuyến khích, chàng bèn ‘chơi’ tới bến luôn. Thiệt là con Dê già háo sắc! Tới lúc tiệc gần tàn, thiên hạ sắp cởi mặt nạ hóa trang thì Becky lẳng lặng chuồn trước về nhà để định quạt cho ‘Đức ông chồng’ một trận nên thân về tội không nên nết. Thấy ‘nó’ là tươm tướp hè!

Khi Sam bước vào phòng ngủ. Becky hỏi: “Sao dạ vũ hóa trang có vui không anh?” “Cũng được! Anh gặp thằng Harry nữa! Nhưng râu của ông Già Noel làm anh nhột lỗ mũi, ách xì hoài… nên anh đổi trang phục hóa trang của mình với nó!

Ráng ráp lại tình ta mà bị chuyện nầy làm đôi ngã đôi ta nên: “Sao anh đi làm về sớm vậy?” “Tại ông chủ bảo anh hãy về lại cái địa ngục của anh đi!” (Go to the Hell!)

“Thưa Luật Sư, suốt 6 tháng trời nay, vợ tui không mở miệng ra nói với tui một tiếng nào. Tui muốn ly dị!” Viên Luật sư: “Xin ông hãy suy nghĩ kỹ lại. Vợ như vậy là khó kiếm lắm đó!”

Không ly dị được thì cuộc chiến tranh giữa vợ và chồng lúc nào ‘ục ục’ trong nồi súp de chờ ngày cái bùm nó nổ!

“Tía đi săn, bắn được một con nai. (Con nai tiếng Anh là deer cùng âm với dear là anh yêu!) vác về nhà xẻ thịt, làm bữa tối. Con hỏi thịt gì? Tía nói: “Tên của nó là chữ mà Má tụi con đôi khi gọi Tía đó! ”Đứa em gái nhỏ thét lên với anh trai mình: “Đừng có ăn! Thịt đó là Chó đấy!”

Vậy là thôi rồi “Anh đường anh em đường em; tình nghĩa đôi ta có thế thôi!

Ra Tòa giành quyền nuôi con cái. “Thưa quý Tòa! Tui đẻ chúng ra, chính tui là người mang chúng vào cuộc đời ô trọc… lóc nầy… nên tui phải được quyền nuôi dưỡng!”

Tòa quay qua ông chồng! “Thưa quý Tòa! Nếu tui nhét một đô vào máy bán kẹo. Viên kẹo ló ra. Thì nó thuộc về tui hay thuộc về cái máy?!”

Thưa quý độc giả thân mến!conduong-tinhtadi-1Riêng người viết với em yêu là: ‘Thương lắm mình ơi!’ Vì ngay từ đầu yêu em, người viết đã yêu theo chủ nghĩa ‘bình ắc quy’!

Mình là điện dương; còn em yêu là điện âm. Bao nhiêu sức lực, tiền bạc từ điện dương đều được điện âm hút qua hết ráo… bình ắc quy mới ‘quớt’ (work) và chiếc xe tình yêu của đôi ta mới êm đềm lăn bánh ‘bon bon’ tới bến hoàng hôn mà nào có ‘khục khặc’ gì đâu!

Muốn tình ta đầu bạc răng long chỉ còn duy cách đó mà thôi! Thưa quý độc giả thân mến!

ĐXT

Cõi miền chịu chơi

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Sep 2026

(Yêu cầu cô bán cho tôi, một bó rau muống chịu chơi quê nhà– BG)  

Biết mình thích thơ Bùi Giáng, họa sĩ Đinh Cường từ Virginia gửi tặng cuốn “Đười Ươi Chân Kinh” do nhà xuất bản Nhã Nam mới phát hành trong nước. Sách đến vào ngày Montréal đổ tuyết đột ngột, tuyết lạ thường chẳng lạnh một mảy may. “Hờn phố thị để lạc hồn cõi lạ, sầu phố xanh từ bữa nọ em đi, tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì”.

Tuyết rơi đầy và mình có nguôi lãng điều gì không? Bao giờ nhận được sách cũng thoáng cảm động, mình hình dung lộ trình anh đi tới bưu điện nhỏ, sau khi lội bộ ra quán Starbucks bằng lối mòn âm u cây lá của vùng Burke tĩnh lặng, xa khuất hồi còi tàu cất mệt tiếng âm u. Cám ơn nhà họa sĩ trầm lặng, mình vẫn thích danh xưng “Thích Từ Từ” ai đó đùa cợt gọi. Một thứ Vui Chân Kinh?

Bùi Giáng, với mình, danh từ riêng ấy như con đường rộng từng mở ngõ cho vô vàn những bàn chân ngang qua. Là bóng lá (hoa cồn) che im trên đầu kẻ lữ thứ. Con đường khai mở giữa cõi miền phiêu hốt và khi dẫm bước ta phải bàng hoàng nỗi buồn vui trước nhiều chướng ngại. Hoa thơm cỏ lạ hoặc gai nhọn cào xước kia vẫn thường hằng tên gọi riêng tây: Bình nguyên đìu hiu, mép rià lưu tồn, vén xiêm cố quận, phố thị song trùng, cảo thơm mơ mòng, ngẫu nhĩ phiêu bồng, chiêm bao tuyệt trù, thập thành rất mực, ngàn thu hỗn mang, đoạn trường rớt hột… Vì thế, trước sau, lạm bàn về thơ ông là điều chẳng dễ. Một cánh cửa khép hờ và mình nghĩ đó là khung cửa hẹp. Mình chưa thấy ai xô nổi cánh cửa ấy dạt rộng thêm ra. Ánh sáng từ khe cửa kia đã làm đôi kẻ hoa cả mắt, để cũng lắm người vì vậy vô hình trung, trong thơ họ tiêm nhiễm ít nhiều thứ khí hậu cầu chứng cõi miền riêng ông. Xa nhau chừng đó cũng vừa, gió trần gian lạnh có chừa ai đâu. Chỉ một, không hai. Đông phương bất bại hay Độc cô cầu bại thì cũng rứa cả. Kể từ khởi sự mọc răng, đến bây giờ vẫn thường hằng chiêm bao.

Mình vẫn nghĩ ông luôn chọn phiá cô đơn. Lẻ bóng trên đường bởi dường như cái sự hiểu vẫn chưa hiện hình, do vậy ông chẳng rao giảng điều gì sất, lời thơ ấy gần là một độc thoại. Hoặc thứ tâm sự chưa bao giờ mình nghe ra điều xót lòng. Ông vui với thảy những chuyện buồn đau, trái khuấy. Ông than thở và khiến người nghe phải bật cười. Mình nói, viết về Bùi Giáng không hề là điều giản đơn do lẽ ấy.  

Hồn nhiên?  Hãy mang tôi tới giậu rào, cho tôi ngó vịt thì thào với chim.

Ưa bỡn cợt? Suốt đời phải thức suốt đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người.

Chẳng xem điều gì là quan trọng giữa cuộc đời? Mai sau còn lại tý gì, ấy là khu vực nhu mì của em.

Ưa nói tới những chuyện nó vốn đã là như thế, tự nhiên như nhiên: Thưa Em nước uống bây giờ, là trong thiên hạ có từ trăm năm. 

Thích định nghĩa: Môi là môi của môi hôn, mà không hôn để cho mòn mỏi môi. 

Hay nhắc tới những người nữ, gần là một ám ảnh dục vọng: Em đi bên ấy chân tròn khép, hai ống mơ hồ mỏi một hang. 

Xem động vật châu chấu chuồn chuồn gấu beo gà vịt chim nai thảy đều thân thích? Nai nhìn nhắm mắt u minh, này trăng cổ độ xô mình lang thang… Từ đây đổi vịt thay gà, chán chường đến thế là ta ngậm lời.

Và cây lá: Ghé thăm cây cối phen này, nhớ phen nọ đã từng phai nhạt lần. 

Và ẩm thực: Sáng nay bao tử mơ mòng, cà phê bên nọ cháo lòng bên kia.

Mình chẳng dám thưa thốt nhiều lời, bởi mình nhát gan, không thể Em về có hỏi răng ri rứa, nhắm mắt đưa chân có bận liều. Sẵn có sách trong tay, dưới đèn mình lật giở và chép ghi ra đây đôi ba bài thơ của Bùi Giáng mà mình nghĩ có bài bạn vẫn chưa đọc thấy, để lần nữa ghi nhận lối đùa cợt thật tài hoa của thi sĩ. Mình xin cám ơn các anh chị trong ban biên tập, cũng như nhà xuất bản Nhã Nam đã cất công truy tầm, tom góp thơ và phát hành cuốn “tinh tuyển” cần thiết này. 

Mình chẳng có dụng tâm, nhặt ghi sau đây đôi ba thể loại, đường ngang nét dọc mong vẽ ra chút đỉnh một chân dung, một Hoàng Tử bé có tên (lớn) Bùi Giáng đã hồn về Chín Suối.

Bài 1. Tóc Bạc Thưa Rằng 

Một bữa trăng sao

Xuống rừng rú dại

Một bữa trời trăng

Buồn không thể nói

Cầm gương lên hỏi

Tóc bạc thưa rằng

Trời đất cách ngăn

Đừng mê con gái

Bực quá liền quăng

Tấm gương xuống đất

Vẫn nghe mãi rằng

– Đó là sự thật.

Bài 2. Ở Trong Rừng

Đây là Ở Trong Rừng

Chẳng có con ma nào ngó thấy đâu

Xin Hoàng Hậu

Hãy cởi áo quần ra tắm khe nước

Có con ma nào đâu mà sợ

Sao Hoàng Hậu thẹn đỏ mặt?

Có tôi?

Nhưng tôi đâu phải là con ma.

Bài 3. Ông Trời Chịu Thua 

Bây giờ tôi rất có quyền

Hỏi ông trời: chớ thuyền quyên là gì?

Mà nhân gian nhớ li bì

Từ thiên thu tới tám kỳ càn khôn

Trời rằng: ngươi rất có quyền

Hỏi như rứa đó… nhưng…

Nhưng sao?

Nhưng ta không đủ thẩm quyền đáp đâu.

Bài 4. Có Lẽ

Người nằm ngủ thấy gì

Thấy rất nhiều nắng lạ

Những chùm bông rất xanh

Có lẽ bông là lá

Người nằm ngủ thấy gì

Chắng thấy gì hết cả

Ngài thử nằm ngủ đi

Đừng hỏi gì hết cả.

Bài 5. Tái Tặng Tử Thần 

Tử Thần ạ quả nhiên tao chẳng muốn

Chết làm gì cho lạnh cóng tấm thân

Nhưng nếu mày cứ liên miên gõ cửa

Đòi hội đàm một trận thiết như thân

Thì tao cũng thử một phen hội diện

Với mày xem chút ít một thành phần

Và chút nhiều dù rất mực phân vân

Mày mấy tuổi Tử Thần ôi thế hử

Tao trung niên mày chẳng nể nang gì

Làm thi sĩ suốt bình sinh xuôi ngược

Gieo lộn vần sầu não thật lâm ly

Tử thần ạ! Tao không bằng lòng thế

Bài thơ còn dang dở một hoạt sinh

Một biển dâu cũng dơ dáng dại hình

(Tử Thần ạ! Tao không bằng lòng thế).

Bài 6. Kỷ Niệm Chín Suối 

Mùa hè tương đối chịu được

Ba mùa kia

Nhất là mùa Đông

Lạnh lẽo quá mức chịu đựng

Không còn đâu sức lực làm thơ

Nhà xuất bản đóng cửa

Im ỉm suốt bốn mùa

Ôi Chín Suối!

Bài 7. Trời Mưa Trên Đầu

Trời mưa lộp độp trên đầu

Thì xin Thượng Đế chia sầu với tôi

Thuở còn trẻ dại rong chơi

Thì sung sướng với mưa rơi trên đầu

Bây giờ cái sướng đi đâu

Cái gì ở lại ra màu dở dang

Chiêm bao rớt hột hàng hàng

Từ xiêm trắng xuống hỗn mang trên đầu.

Bài 8. Huế Làm Thơ 

Tôi vào Sài Gòn lúc đầu

Thật là bỡ ngỡ mối sầu thừa thiên

Rồi sau đó thật tuy nhiên

Quen vui với chị thuộc phiền với em

Bây giờ tôi nhớ thừa thiên

Nhớ thôi chút ít chứ phiền thì không

Mỗi mùa xuân lá trổ bông

Quên tờ cung chúc cũng không hề gì

(Chiến tranh nghĩ cũng li kỳ

Những thằng thi sĩ còn kỳ li hơn).

Mình nhớ trong bài “Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng”, Mai Thảo viết: “…Nhiều người cho rằng Bùi Giáng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu. Mất Bùi Giáng, thơ ta lại trở về với cái hữu hạn đời đời của thơ”.

Cuốn sách “Bùi Giáng Đười Ươi Chân Kinh” dày 530 trang, tập hợp gồm Thơ, đoản văn và tiểu luận, ảnh và thủ bút. Lại có trích hai hồi bản dịch “Kim Kiếm Điêu Linh” nguyên tác của Ngọa Long Sinh. Ngần ấy tạm xem như đủ đầy cho những ai muốn vọng tưởng chân đi xiêu lạc của nhà thơ, người mà mình đã chẳng thành tựu một ao ước được gặp gỡ. Ông sinh năm 1926. 1933 bắt đầu đi học a, b, c. 1939 ra Huế học. 1940 về Quảng Nam chăn bò. 1949 nhập ngũ làm lính công binh. Giải ngũ sau hai năm. 1952 vào Sài Gòn. 1965 nhà cháy mất trụi bản thảo…(tiểu sử tự thuật gửi ở chùa Pháp Văn Gia Định Sài Gòn ngày 10-11-1993).

Bước qua phần Đoản văn và tiểu luận, như cách bói Kiều, mình nhắm mắt hú họa giở nhằm trang có in bài “Đốn Tre”:

“Khó nhất là đốn tre, khó nhì là ve gái”. Người thường dân thường khuyên bảo dạy dỗ con cái như thế. Thấy thằng con sỗ sàng ve gái, họ không trực tiếp ngầy ngà. Họ không nói: “Ve gái khó lắm lắm. Con phải chậm rãi từ từ…” Họ nói quanh: “Khó nhất là đốn tre khó nhì là ve gái”.

Lời nói ấy về sau sẽ khiến đứa con suy nghĩ. Nó tự nhủ: Bố bảo khó nhất đốn tre? Nhưng mỗi ngày ta có thể đốn được năm mươi gốc tre một cách dễ dàng. Khó nhì là ve gái? Sao suốt mấy tuần lễ nay ta ve con Mận mà nó vẫn dửng dưng chưa có bề nào ngã ngũ?

Từ đó cái câu “khó nhất đốn tre, khó nhì ve gái” đã giúp đứa con thể hội chân lý ngược lại. Ấy là: khó nhất ve gái, khó nhì đốn tre. 

Đi vào cõi tư tưởng, chúng ta phải luôn luôn lưu ý tới cái lối ăn nói nghịch lý của người tư tưởng. Họ nói một đường để ta suy ra một ngả. “Ngựa trắng không phải là ngựa”. Đó là lời Công Tôn Long. Ông này là nhà tư tưởng Trung Hoa bị đam ngộ nhiều nhất”. 

Lại nhảy sang trang khác: “Mẫu Thân Hà Thanh”

– Hỡi mẫu thân Hà Thanh, mẫu thân tên thật là gì? 

– Tên thật của tao là Lục Hà.

– Hỡi mẫu thân Lục Hà! Lúc mẫu thân đẻ con ra đời, mẫu thân cảm thấy thế nào? 

– Tao cảm thấy rất đau lòng. 

– Tại sao đau lòng?

– Vừa mới sinh mày ra đời, mày đã già nua đến thế, làm sao tao còn có thể ẵm mày vào lòng cho mày bú, hử con!”

Và bài “Khổng Tử Bảo Rằng”

Phàm bọn nào làm thơ quá hay. bọn đó không thể nào sống tới tuổi trung niên. Nếu có một thằng trung niên thi sĩ nào thật sự thiên tài, thì ấy có lẽ rằng nó là ma chăng? Là quỷ chăng? Là chèng đét toi đâm chăng? Ta muốn chẳng nói. Dư dục vô ngôn. Nhưng nhà ngươi đã hỏi, thì lẽ nào ta giả điếc giả câm?

Ông đã cà rỡn trong bài “Giọng Quảng Nôm nói ngọng: Bùi deng Doáng”

Doáng booao diêu tuổi Doáng giòa

Điêng booao diêu tuổi gọi lòa điêng non

Người còn thì của hãy còn

Còn thèng Bùi Doáng hãy còon cái điêng.

Ông đã không còn nhưng người còn thì vẫn còn mãi nhắc đến tên ông, đến những câu thơ “vui buồn huê dạng chẳng có bút mực nào tả đủ”.

Đã bảo không bút mực nào tả xiết thì hà cớ gì mãi vòng vo?

Chẳng cho lần khân thì sau rốt thưa thốt hơi cuối. Ấy là mượn đỡ bài “Viết Thư” để cửa đóng then cài vậy:

“Viết thư cho em 

Viết rằng mỗi tháng

Có một đêm rằm

Mỗi năm có bốn mùa 

Và có nhiều chuyện 

Ly kỳ trên mặt đất”.

Hồ Đình Nghiêm

Trung tá Quang Tran, Sĩ quan Bộ Tư lệnh Không quân, Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on September 19, 2026 by dongsongcu

19/09/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 20 Sep 2026

Trung tá Quang Tran (hình của LRAFB, armoneyandpolitics.com)

Trung tá Quang Tran được thuyên chuyển về phục vụ Bộ Tư lệnh Không quân Hoa Kỳ trong Ngũ Giác Đài (Pentagon) sau khi ông hoàn thành nhiệm kỳ làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn* 19 Truyền tin tại căn cứ Không quân Little Rock vào tháng 6 năm 2026.

Trung tá Quang Tran sinh ra tại Sài Gòn, Việt Nam, ông cùng gia đình trốn thoát khỏi Việt Nam đến được một Trại tị nạn ở Phi Luật Tân lúc đó ông còn nhỏ. Gia đình ông ở Trại tị nạn sáu tháng và nhân được sự bảo trợ từ Lincoln, Nebraska chuyển gia đình ông đến Hoa Kỳ định cư. Tại Hoa Kỳ Trung tá Quang Tran học Trung học rồi lên Đại học tốt nghiệp Văn bằng kỹ sư xây dựng, sau đó ông quyết định gia nhập quân đội. Ông là người có nhiều hoài bão, và coi quân đội là môi trường mang lại cho ông cơ hội thực hiện nhiều công việc đa dạng.

Nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp của ông là được chỉ định làm Sĩ quan an ninh mạng tại Maryland năm 2008. Sau đó, ông được điều đến phục vụ các đơn vị Không quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, Vương quốc Anh, Nữu Ước, Ngũ Giác Đài và Phi đoàn 19 Truyền tin tại căn cứ Không quân tại Little Rock, trước khi được điều về phục vụ Bộ Tư lệnh Không quân, Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ.

Trung tá Quang Tran trao hiệu kỳ đơn vị cho Thiếu tá Kimberly Marshal lrong buổi Lễ bàn gian quyền chỉ huy Phi đoàn 19 Truyền tin tại căn cứ Không quân Little Rock (hình của facebook.com/LittleRockAirForceBas)

Là Sĩ quan Không quân, ai cũng cố gắng vươn lên để trở thành cấp chỉ huy, Trung tá Quang Tran chưa bao giờ nghĩ ông sẽ có cơ hội đó vì ông chỉ là một sĩ quan bình thường. Vậy mà ông được cấp chỉ huy tín nhiệm, bổ nhiệm ông giữ chức Chỉ huy trưởng Phi đoàn 19 Truyền tin tại căn cứ Không quân Little Rock. Nhiệm vụ của Phi đoàn do ông phụ trách tại căn cứ Không quân Little Rock vô cùng quan trọng. Mọi hoạt động đều vận hành dựa trên máy tính, vì vậy các hệ thống này cần được cập nhật, duy trì hoạt động ổn định và bảo đảm an toàn để các Quân nhân khác có thể hoàn thành công việc của họ. “Chúng tôi hiện diện ở khắp mọi nơi,” Trung tá Quang Tran cho biết. “Không ai có thể thực hiện nhiệm vụ của mình nếu thiếu đi hệ thống máy tính và hạ tầng CNTT mà chúng tôi cung cấp.” Ông điều hành đội ngũ của Phi đoàn dựa trên nguyên tắc “4 chữ P”: Con người (People), Quy trình (Process), Thái độ tích cực (Positivity) và Sự chủ động (Proactiveness). Vào những ngày nghỉ, ông cố gắng dành thời gian cho vợ và hai con, nhưng ông cũng thường “giải quyết công việc” đơn vị ngay cả vào cuối tuần.

Trung tá Quang Tran được Hội đồng thăng cấp Không quân (Officer Promotion Boards – ARPC – Air Force) chọn đề cử thăng cấp Trung tá và đã được Uỷ ban Quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services) bầu chọn ngày 1 tháng 8 năm 2022.

Trung tá Quang Tran là 1 trong 60 nam, nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân Hoa Kỳ (không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá). Một số Trung tá Không quân gốc Việt được ghi nhận gồm có: Nữ Trung tá Anh Minh Pham, Sĩ quan điều hành an ninh không gian mạng Không quân Hoa Kỳ; Nữ Trung tá Theresa Nguyen, Y sĩ nhãn khoa, Quân y Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Quoc V. Vo, Sĩ quan tình báo Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Hien Vinh Nguyen, Chỉ huy Phó, Phòng phục vụ học tập, Cục tác chiến và truyền thông, Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Timothy Truong (gốc Việt), Giảng viên khoa học chính trị, Học viện Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Trung Nguyen, Cố vấn phó chính trị khối NATO; Trung tá Duc Bui, Sĩ quan quản lý dự án ETHEREAL FORGE, Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền tin tác chiến 149, Không đoàn tác chiến 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, Hoa Kỳ, Trung tá Tuan U Tran, Không quân Hoa Kỳ, Sĩ quan Chương trình liên hợp Chiến đấu cơ F-35 Lightning II và còn rất nhiều nam nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt chưa tiện cập nhật.

Chú thích: *Phi đoàn=Squadron, Không quân tương đương với Tiểu đoàn -Battalion, Lục quân và Thuỷ quân lục chiến,

Nguồn: armoneyandpolitics.com; facebook.com/LittleRockAirForceBa; congress.gov

Mme Nhu – Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 20 Sep 2026

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Chương cuối.

Bà Nhu và con gái vẫn còn nán lại ở California qua những ngày khủng khiếp đầu tiên sau vụ đảo chính. Ba đứa trẻ kia đã đến Rome, nhưng bà Nhu vẫn chưa thể theo chúng. Bà không thể chấp nhận được những tin tức đến từ Nam Việt Nam nói rằng ông Diệm và ông Nhu đã chết và quân đội đã kiểm soát chính quyền. Bà Nhu vẫn hy vọng vào một dấu hiệu nào đó cho thấy chồng bà và anh rể bà vẫn còn sống. Một cái chết ngụy tạo có thể là một phần trong những mưu tính tài tình của chồng bà. Những tấm ảnh chụp hai thi thể đổ gục không thuyết phục được bà. Hai cái xác đó bị dập nát quá mức để có thể nhận diện. Bà sẽ mất thêm ba năm nữa để hoàn toàn chấp nhận cái chết của họ và chấp nhận rằng bà sẽ không bao giờ còn là Đệ nhất Phu nhân của Việt Nam Cộng hòa nữa. Trong những ngày sau đảo chính, bà Nhu dựa vào sự tức giận và phẫn nộ để tiếp tục sống.

Vào ngày 5 tháng Mười Một, bốn ngày sau đảo chính, bà tổ chức họp báo tại một phòng cách xa sảnh khách sạn Beverly Wilshire. Bà Nhu mang kính đen, một chuỗi ngọc đơn giản, và chiếc áo dài sáng dịu, mà màu sắc của nó được nhà thơ Lawrence Goldstein mô tả là “màu của ánh trăng”.

Giọng bà Nhu như nghẹn lại khi bà cố gắng đọc một bài phát biểu chuẩn bị sẵn. “Bất cứ ai có người Mỹ là đồng minh thì không cần kẻ thù nào nữa”. Bà cáo buộc Hoa Kỳ phải nhận trách nhiệm về vụ đảo chính và, vò cái khăn giấy, trấn tĩnh đủ để đưa ra một lời dự báo kỳ dị: “Tôi có thể nói trước với các bạn rằng câu chuyện ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu”.

Cha bà, ông Trần Văn Chương, người đã không lúc nào chịu gặp bà trong chuyến đi dài cả tháng của bà đến Hoa Kỳ, leo cầu thang hậu lên phòng suite khách sạn của bà Nhu ở tầng tám. Cha và con gái gặp lại nhau trong khung cảnh riêng tư, và sau đó ông Chương nói với báo chí rằng không có “nhu cầu phải hòa giải”; họ đã xếp qua một bên những khác biệt khi cùng nhìn vào thảm kịch. Bà Nhu kể cho Clare Booth Luce một câu chuyện hoàn toàn khác, và đáng tin hơn nhiều. Cha bà đến thăm bà, bà nói, vì ông muốn trở về Việt Nam tham gia chính phủ mới, nhưng rõ ràng ông không thể làm điều đó mà không được sự cổ vũ của con gái. Không, ngay cả khi ông Chương có thể xoay xở nói về cách thức vượt qua xì-căng-đan chính trị loại đó. Ồng không thể đơn giản gia nhập vào lực lượng của những người đã giết con rể ông mà không có vài lời giải thích hoặc sự giúp đỡ của bà Nhu. Ông đến khách sạn của bà ở Beverly Wilshire để hỏi liệu ông có thể nói với công chúng rằng người con gái góa chồng của ông đã tha thứ cho ông.

Nhưng bà Nhu không làm một việc như thế. Bà sẽ không tha thứ cho ông vì đã bỏ rơi chế độ hồi tháng Tám, và bà sẽ không tha thứ cho ông vì đã không tiếp bà và Lệ Thủy ở thềm nhà ông. Bà sẽ không bao giờ, không bao giờ tha thứ cho ông hoặc mẹ bà vì đã khiến tuổi thơ của bà, đứa con gái thứ bị bỏ bê, khốn khổ đến vậy.

Có lẽ bà Nhu biết rằng ông Chương và vợ ông đã làm xói mòn chính phủ ông Diệm trong nhiều năm, nhưng có thể bà không biết tất cả chi tiết. Wesley Fishel, người đứng đầu Nhóm Cố vấn Việt Nam của Đại học Michigan State về sau chỉ còn tư vấn cho chế độ ông Diệm, trở thành bạn thân của ông Diệm trong những năm đầu nhiệm kỳ Tổng thống của ông. Nhóm của ông khuyên bảo mọi thứ từ hành chính công và nhân sự đến kinh tế học và các quyết định thương mại, và nhiều đề xuất của họ đã định hình nên cách điều hành quốc gia của ông Diệm. Nhưng dường như ông Diệm không nói gì nhiều khi trả lời lá thư chân thành của Fishel năm 1960, một lời cảnh báo về “những tham vọng [rõ ràng] muốn leo lên vị trí cao hơn” của ông Chương. Fishel bảo ông Diệm rằng ông Chương “gần như thành công trong việc phá hoại tổ chức những người bạn của ngài ở Mỹ” từ giây phút ông ta đến Washington với tư cách đại sứ. 1 Không ai có thể trả lời tại sao ông Diệm giữ ông Chương ở lại, nhưng ít nhất sau đảo chính bà Nhu có thể cảm thấy ít nhiều an ủi khi biết rằng cha mẹ bà sẽ không giành được lợi ích gì từ sự phản bội của họ. Vụ đảo chính mà cha mẹ bà góp phần đặt nền tảng sẽ bắt họ phải sống cuộc sống lưu đày.

Bà Nhu không thể biết rằng cuộc sống của họ sẽ kết thúc vì bị sát hại hai mươi ba năm sau. Bà không thể biết rằng đứa con trai cưng quí mà vì nó họ đã bỏ rơi bà sẽ là người giết họ. Những vở kịch Shakespeare mà cả đời ông Chương rất thích lắng nghe, những chuyện kể về sự điên rồ, phản trắc, bi kịch gia đình, và báo thù, khi nhìn lại đều là những chuyện kể báo trước định mệnh của ông.

Đột nhiên bà Nhu thấy mình có những lo lắng thực tế – như tiền bạc. Phòng khách sạn của bà tốn 98 đô một đêm. Một người gần gũi với bà Nhu tiết lộ với tờ New York Times rằng bà đến Hoa Kỳ với 5.000 đô tiền mặt cho một chuyến đi dự kiến ba tuần. Người đó cũng thì thầm rằng gia tài của bà ở Nam Việt Nam đã được thổi phồng – tất cả tiền bạc đều chạy vào quỹ của đảng chính trị của chồng bà. Không có tiền tiết kiệm và chỉ có một ít cổ phần nước ngoài. “Tiền bạc chắc chắn là một mối lo”, người thân cận đó nói riêng với New York Times. Trong khi liệt kê những việc phải làm sau đảo chính, bà Nhu tiếp tục mắc nợ – và bà không còn chính phủ để gởi hóa đơn tính tiền về. Allen Chase, nhà kinh doanh tài chính ngụ ở cuối con đường riêng dài quanh co chạy vào tận nhà, để nghị bà trả phòng khách sạn để đến làm khách của ông. Chase và vợ ông để bà Nhu sử dụng phòng ngủ của họ trong khi họ dời ra phòng khách.

James McFadden, chủ tạp chí bảo thủ National Review, là một trong số ít người đến thăm bà Nhu, và báo chí tường thuật rằng bà đã thương thảo với các nhà xuất bản và giới làm phim, dù đang ở Los Angeles, để bàn về việc bán câu chuyện của bà. Nhưng giá trị lớn nhất của bà Nhu có thể được nhìn ra nếu bà ở lại Hoa Kỳ đủ lâu để gây ảnh hưởng đến năm bầu cử sắp tới. Trong một cuộc trò chuyện qua điện thoại, Clare Booth Luce và Richard Nixon chia sẻ cảm tưởng rằng bà Nhu thực sự có khả năng gây tổn hại cho Tổng thống Kennedy. Luce nói với Nixon bà tin chắc “Jack Kennedy muốn có một nền hòa bình qua thương thuyết!” và một khi người Mỹ nhận ra những ý định thật của ông, một Việt Nam Cộng hòa trung lập, ông sẽ không được bầu lại. Bà Nhu, người góa phụ đang khổ đau, “vẫn là một khuôn mặt bí ẩn”.

Nhưng rốt cuộc bà Nhu không có chọn lựa thực sự nào. Bà không có tiền, và những người bạn phe Cộng hòa cũng không thể giúp đỡ bà mãi. Bà để lại một nửa hóa đơn 1.000 đô chưa thanh toán ở khách sạn Beverly Wilshire, và bà rời Hoa Kỳ đến Rome để được đoàn tụ với ba người con của mình. Trước khi đi, bà Nhu đọc bài phát biểu từ biệt ở sân bay. “Giu-đa đã bán Giê-su để đổi lấy 30 đồng tiến vàng. Anh em nhà họ Ngô đã bị bán chỉ vì vài đô la”.

Trong khi bà Nhu đổ trách nhiệm cho Hoa Kỳ về vụ đảo chính, những người khác cũng đổ tội cho bà. Tổng thống John F. Kennedy không phải là người duy nhất đổ lỗi cho bà Nhu về vụ đảo chính ở Sài Gòn. Viên chức Sở Thông tin Hoa Kỳ Everett Bumgardener gọi bà Nhu là “điểm va chạm” giữa người Mỹ và chế độ họ Ngô. Bà lập ra “đủ thứ mà tôi nghĩ là tai hại đối với chính quyền ông Diệm để rồi cuối cùng dẫn đến sự suy sụp của ông”. 2 Sử gia về Việt Nam Joseph Buttinger cũng không nhẹ nhàng hơn trong công trình lịch sử hai tập của ông về Chiến tranh Việt Nam: Ông mô tả bà Nhu như hòn đá tròng trên cổ người chết đuối. 3

Nhưng rốt cuộc, bà Nhu đúng về nhiều chuyện mà bà không bao giờ nhận được lời khen. Bà đúng khi nói rằng hàng triệu đô la đổ vào Nam Việt Nam gây tổn hại cũng nhiều như giúp ích trong cuộc chiến chống Cộng sản. Sự “Mỹ hóa” Việt Nam Cộng hòa đã khiến nhiều người quốc gia hướng đến Cộng sản, những người cảnh báo rằng chủ nghĩa tư bản chỉ che đậy ý định thực dân của Mỹ. Bà Nhu từng nói rằng người Mỹ đang mưu tính chống lại chế độ này, và thực vậy, từ vị đại sứ ở Sài Gòn đến Tổng thống ở Nhà Trắng, họ đang làm vậy. Về việc Cộng sản “đầu độc” các tín đồ Phật giáo – chà, bà cũng lại đúng về chuyện đó. Các nguồn tin Cộng sản sau chiến tranh tiết lộ rằng các đặc vụ của họ thực sự đã xâm nhập vào Phật giáo và thúc đẩy cuộc nổi dậy mùa hè năm 1963. Bằng cách loại bỏ ông Diệm, người Mỹ hình như đã mắc mứu Cộng sản.

Bà Nhu cũng buộc tội báo chí đã bị Cộng sản “đầu độc”, và một lần nữa bà đúng. Sau chiến tranh, một người đàn ông Việt Nam tên là Phạm Xuân Ẩn được chính quyền Hà Nội phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang, tặng thưởng bốn huân chương quân công, và thăng cấp lên thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông Ẩn từng là điệp viên của Bắc Việt. Ông từng làm việc cho Reuters, Time, Christian Science Monitor, và New York Herald Tribune. Những người như David Halberstam của New York Times, Charlie Mohr của tạp chí Time, Robert Shaplen của New Yorkers, và ngay cả Stanley Karnow, tác giả của cuốn sách nhiều thẩm quyền Vietnam: A History, đã tìm đến ông Ẩn như một nguồn thông tin và nhà phân tích chính trị. Không nghi ngờ gì, ông Ẩn đã giúp những nhà báo này định hình quan điểm về Việt Nam, và những quan điểm của họ định hình ý kiến của người Mỹ và thậm chí – như trong trưởng hợp của ông Diệm và vợ chồng ông Nhu – định hình chính sách của chính quvển Mỹ.

Những lời nói từ biệt của bà Nhu tại buổi họp báo ở Beverly Wilshire – “Tôi có thể nói trước với các bạn rằng câu chuyện ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu” – cũng trở thành sự thật. Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy muốn rút ra khỏi Việt Nam. Nhiều tư liệu cho thấy ông có ý định hủy bỏ những cam kết quân sự của Mỹ đối với Việt Nam Cộng hòa. Các học giả nghĩ rằng Kennedy có thể xúc tiến cuộc đảo chính chống ông Diệm và ông Nhu trong nỗ lực sai lầm muốn thúc đẩy sự rút lui đó, nhưng dĩ nhiên họ chỉ có thể suy đoán khi Kennedy bị ám sát ba tuần sau hai anh em họ Ngô. Vì chết sớm, Kennedy thoát được trách nhiệm tối hậu về Việt Nam.

Ngày 24 tháng Mười Một, 1963, bà Nhu gởi thư chia buồn từ Rome đến Jacqueline Kennedy, bày tỏ “niềm cảm thông sâu sắc đến bà và các con nhỏ của bà”. Nhưng bà không thể không thêm vào một lời nhắc nhở nhức buốt về những thống khổ mà bản thân bà đang chịu đựng. “Những vết thương trên người Tổng thống Kennedy giống hệt những vết thương của Tổng thống Ngô Đình Diệm, và của chồng tôi, và chúng [đến] chỉ hai mươi ngày sau thảm kịch ở Việt Nam”. Bà Nhu muốn nói rằng, cách nào đó bà thấy mình mạnh mẽ hơn hay được trang bị tốt hơn để đối mặt với thảm kịch so với bà Kennedy khi bà viết, “Tôi càng thông cảm hơn nữa vì tôi hiểu rằng thử thách này đối với bà có vẻ như không thể chịu nổi vì bà đã quen sống một cuộc sống được chở che an lành”. Nói cách khác, giờ thì bà thấy nó như thế nào rồi đó.

Ngay sau khi tuyên thệ nhậm chức trên chiếc máy bay phản lực Air Force One vào tháng Mười Một, 1963, tân Tổng thống Mỹ, Lyndon Johnson, xem xét việc leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Ông nói, ông sẽ không là “vị Tổng thống nhìn thấy Đông Nam Á đi theo con đường Trung Hoa đã đi”; ông cũng sẽ không để Hoa Kỳ thất bại trước Bắc Việt, “một quốc gia tiêu điều, xơ xác”. Trong năm tiếp sau đó, Johnson bật đèn xanh cho các cuộc đột kích Bắc Việt, tăng sự hiện diện của quân đội Mỹ từ 12.000 đến 75.000 quân, và sử dụng các cuộc tấn công được nghe báo cáo lại vào một tàu Mỹ ở Vịnh Bắc bộ để biện minh cho việc gây chiến của Tổng thống. Mọi sự chỉ có tồi tệ thêm từ đó. Các đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ được triển khai vào năm 1965, và chiến tranh ở Việt Nam chuyên thành cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và phe Cộng; Trung Hoa và Liên Xô cũng bắt đầu gởi viện trợ giúp Bắc Việt. Đến trước năm 1969, có hơn 500.000 quân nhân Hoa Kỳ đồn trú ở Việt Nam, nhưng họ vẫn không thể cứu quốc gia này thoát khỏi tay Cộng sản. Hoa Kỳ rút quân năm 1973, và ngày 30 tháng Tư, 1975, những chiếc xe tăng Cộng sản tiến vào Sài Gòn. Việt Nam cuối cùng đã được thống nhất, nhưng phải trả giá nhân mạng quá đắt. Có đến 2 triệu dân thường Việt Nam, 1,1 triệu quân Bắc Việt và quân Cộng sản ở Nam Việt Nam, cùng gần 250.000 quân nhân Việt Nam Cộng hòa thiệt mạng; năm 1982 Bia tưởng niệm Cựu chiến binh Việt Nam ở Washington, D.C, khắc tên hơn 58.200 thành viên của Quân lực Mỹ chết hoặc được ghi nhận mất tích trong chiến tranh. Những bài học tỉnh ngộ về Việt Nam vẫn còn ám ảnh chính sách của Mỹ ở Iraq và Afghanistan.

Khi chiến tranh ở Việt Nam nổ ra và thế giới tập trung vào Vịnh Bắc bộ, rồi Tết Mậu Thân và Mỹ Lai, những trận ném bom Hà Nội mùa Giáng sinh, bà Nhu lùi dần vào hậu cảnh. Cuộc sống của bà ngày càng lạ lùng và buồn thảm. Bà được tặng, từ ai đó giấu tên sau đảo chính, một căn hộ chung cư ở Paris. Bà Nhu không thắc mắc về món quà; suy cho cùng, bà cho rằng người Mỹ nợ bà nhiều hơn một căn hộ, ngoài ra bà còn quá bận rộn trong việc chống lại những nỗ lực đòi dẫn độ bà. Chính quyền mới ở Nam Việt Nam đang kiến nghị chính phủ Pháp tuân thủ hiệp định về công ước tư pháp 1954 cho phép dẫn độ những người bị cho là tội phạm, và Hội đồng lãnh đạo quân nhân đã phát lệnh bắt giam bà. Họ muốn bà Nhu ra trước tòa ở Sài Gòn vì “hủy hoại nền kinh tế quốc gia” và “vi phạm các qui định về ngoại hối”. Nếu người Pháp gởi bà về lại Nam Việt Nam, bà có thể dễ dàng biết được điều gì sẽ xảy ra sau đó. Em rể của bà, Ngô Đình Cẩn, vẫn còn ở Việt Nam sau đảo chính. Ông Cẩn tự mình chạy đến lãnh sự quán Mỹ tại Huế với hy vọng sẽ được bảo vệ. Nhưng người Mỹ đã giao nộp ông Cẩn cho Hội đồng quân nhân, họ kết án ông điều hành các hoạt động của ông Diệm ở Huế. Ông Cẩn bị giam trong khám Chí Hòa tại Sài Gòn mấy tháng trước khi bị kéo lê ra sân, đứng trước đội hành quyết. Ông Cẩn bị bệnh tiểu đường mà không được điều trị nên người ta phải tìm cách đỡ dựng ông lên để ông lãnh đạn.

Cho thuê căn hộ bốn phòng mới toanh, ánh sáng tràn ngập và hướng ra tháp Eiffel, là thu nhập tiềm năng duy nhất của bà Nhu – và nó sẽ giúp bà ra khỏi nước Pháp trước khi chính phủ mới quyết định liệu có dẫn độ bà hay không. Người Mỹ khuyên người Pháp nên đồng thuận với chính phủ mới ở Nam Việt Nam. Nóng lòng muốn ra đi, bà Nhu chấp nhận mức giá thuê nhà đầu tiên, thấp hơn nhiều mức 3.000 francs mà bà hy vọng nhưng cũng đủ trang trải những chi phí thiết yếu. Bà chuyển đến một mảnh đất khô cằn ở ngoại ô Rome, miếng đất mà chồng bà đã tậu với hy vọng ngày nào đó sẽ xây dựng một nơi ẩn dật Công giáo cho các công chức trong chính quyền Ngô Đình Diệm.

Người anh cả của họ Ngô, Tổng Giám mục Thục, giúp bà Nhu có được quyền lĩnh canh trên mảnh đất Rome trước khi ông chuyển sang công việc tu hành mới của ông ở xứ đạo miền Nam nước Pháp. Năm 1981, ông trở thành một người kỳ cục. Ông tách khỏi Giáo hội Công giáo chính thống và bắt đầu phong chức giám mục mà không được sự phê chuẩn của Vatican. Ông Thục dính líu đến một âm mưu chọn các giám mục vào một hội đồng ở Mexico, sau đó họ sẽ chọn giáo hoàng mới để lật đổ giáo hoàng ở Vatican. Khỏi phải nói là động thái đó không được giáo hội chuẩn thuận. Ồng Thục chết năm 1984, không một đồng xu dính túi và ít người hay biết, thọ tám mươi bảy tuổi tại một tu viện ở Carthage, Missouri.

Mọi chuyện cũng không dễ dàng gì cho bà Nhu. Vào ngày 12 tháng Tư, 1967, đứa con gái yêu của bà, Lệ Thủy, chết vì tai nạn xe hơi ngoại ô Longjumeau, Pháp. Cô chỉ mới hăm hai tuổi. Bà Nhu luôn tin rằng con gái bà bị sát hại. Lệ Thủy đang học để lấy bằng cử nhân luật. Tâm hồn nhiều đam mê và cảm thức báo thù, Lệ Thủy viết trong nhật ký rằng cô sẽ giết những kẻ đã gây tổn hại cho đất nước cô và giết cha cô. Khi bà Nhu nói với tôi về những nghi vấn của bà xung quanh cái chết của Lệ Thủy, tôi thấy lý lẽ của bà thật khó hiểu, nhưng bà nói đến bốn chiếc xe tải cùng châu đầu xông vào chiếc xe của Lệ Thủy trên con đường làng ngoằn ngoèo, một sự kiện khó xảy ra đến mức, trong tâm trí bà Nhu, nó phải được sắp đặt. Chứng cứ kết tội rõ nhất của vụ án mạng Lệ Thủy, và một âm mưu trùm lên nó, là việc luật sư riêng của bà Nhu sau đó đã xin bà tha thứ; nếu ông ta làm hết sức mình, bà Nhu lý luận, ông ta hẳn đã không cần điều đó. Những kết luận của bà về cái chết của Lệ Thủy rất ghê gớm – tuy vậy có thể hiểu được. Dĩ nhiên bà Nhu nghĩ về cái chết của con gái như một tình tiết nữa trong một bi kịch trinh thám đã tàn phá cuộc đời bà.

May thay, theo ý bà Nhu, ba đứa con còn lại của bà không quan tâm đến việc trải nghiệm lại lịch sử. Trác, Quỳnh, và Lệ Quyên đang cố gắng tự tạo cho mình hình ảnh mới của những công dân châu Âu. Họ vào học các trường danh giá, và hai người có việc làm trong các tổ chức quốc tế: Quỳnh làm cho một tập đoàn sản xuất lớn của Mỹ ở Brussels, còn Lệ Quyên làm cho tổ chức cứu trợ Caritas của Ý về các vấn đề người tỵ nạn và di trú. Có vẻ như sau vụ đảo chính ở Sài Gòn và cuộc thảm sát cha và bác của họ năm 1963, cái chết của người chị năm 1967, và vụ sát hại ông bà ngoại mà người cậu là thủ phạm năm 1986, ba đứa trẻ họ Ngô có thể vượt qua được di sản khủng khiếp của họ. Nhưng vào ngày 16 tháng Tư, 2012, đứa con gái út của bà Nhu, Lệ Quyên, bị tử nạn trên một xa lộ ở Rome khi chiếc xe Vespa của cô đụng đầu với một xe buýt. Kênh thông tin Roma Uno của Ý đưa lên Youtube một đoạn băng video quay hiện trường tai nạn, máu vẫn rỉ ra từng dòng qua tấm vải trắng trải trên đường. Trong mấy tháng sau tai nạn đã có 50.000 lượt người xem đoạn băng này. Tôi không thể không so sánh với Lời nguyền Kennedy khét tiếng: Tôi nghĩ đến gia đình Kenndey, một danh gia vọng tộc duy nhất khác mà các thành viên của nó dường như phải gánh chịu những số phận bi thảm không tương xứng.

Bà Nhu tránh được nỗi thống khổ phải chôn cất thêm một đứa con. Bà thọ tám mươi sáu tuổi và ra đi nhẹ nhàng, con trai bà trấn an tôi, tự an ủi với niềm tin rằng bà sẽ được đoàn tụ với chồng bà và con gái trên thiên đàng.

Có lẽ là lần cuối cùng được là chính mình, bà Nhu thu hút sự chú ý của báo chí toàn thế giới. Những tấm ảnh của bà từ nửa thế kỷ trước nằm cạnh lời cáo phó; từ đó, chúng được tải lên blog và được ráp nối thành những đoạn phim mờ, nhiều hạt. Cái chết của người được mệnh danh là Rồng Cái của Việt Nam Cộng hòa được đưa lên trang nhất báo New York Times. Bà được “like” trên Facebook, Tweeted, và Tumblred. Mảnh dẻ, nham hiểm và đầy mưu mô – tất cả những từ ngữ sáo mòn cũ kỹ đó lại dậy lên ầm ĩ. Truyền thông báo chí nấn ná với tính cách rồng cái gần như chế giễu của bà Nhu khoảng một tuần – một chung cuộc khá huy hoàng cho một người đã sống trong bóng tối bốn mươi năm qua. Nhưng sự trỗi dậy của bà Nhu không thể kéo dài. Cuộc đột kích ngoạn mục và sau đó là cái chết của Osama bin Laden đã chuyển sự chú ý từ những gì xảy ra ở Việt Nam năm 1963 trở lại với các cuộc chiến hiện thời của Mỹ.

Cảm thấy quá đơn độc khi trở lại góc căn hộ mà tôi vẫn gọi là văn phòng của mình. Tôi nghĩ đến bà Nhu mỗi lần chuông điện thoại đường dài reo lên. Tôi phải nhắc tôi đừng cuống lên tìm giấy bút – không phải điện thoại từ bà đâu. Đính trên tường là vô số tấm ảnh của bà Nhu. Tôi vẫn không thể bắt tôi lấy chúng xuống; tôi thậm chí không biết làm sao xử lý đống báo nằm vương vãi trên sàn nhà. Những mẩu báo cắt ra và những thư báo nội bộ của Bộ Ngoại giao và những bức thư cá nhân vẫn còn trải ra theo thứ tự thời gian, và tôi cứ quay mặt đi để khỏi nhìn vào tập hồi ký của bà Nhu đè nặng lên mé tây bàn làm việc của tôi. Trước khi bà qua đời, tôi đã khởi sự một tiến trình nặng nhọc sắp xếp theo để mục “ai, chuyện gì, và khi nào”, gắn một cầu vồng màu sắc những miếng Post-it kèm theo. Không có bà, chồng giấy trắng kia trông như không thể giải quyết nổi.

Vậy mà, cảm thấy thật tệ hại và bất kính khi công khai nói ra điều này, cái chết của bà Nhu không hiểu sao lại có tính giải thoát. Tôi sẽ không làm tổn thương tình cảm của bà, và bà không còn ngồi đó nữa để phán xét những nỗ lực của tôi. Khi nhìn lại hiểu ra, thấy điều đó có vẻ hiển nhiên. Bà Nhu cứ từ chối gặp tôi vì bà biết rằng làm vậy sẽ phá vỡ một phần bí ẩn – và sự bí ẩn đó sẽ khiến tôi trở lại với bà. Một khi bà bộc lộ tất cả, bà sẽ không còn làm chủ tình hình nữa. Và bà sẽ không bao giờ làm vậy – ít nhất là không, với chủ đích. Cho đến khi bà không còn giữ được cái bà muốn giữ.

Tôi trăn trở không biết phải làm gì đây. Bà Nhu đã tin tưởng giao cho tôi hồi ký và những tấm ảnh của bà, và sau khi bà qua đời, tôi nhận thấy rõ hơn trách nhiệm đó. Tôi không thể cứ thế để cho những lời nói sau cùng bà nói với riêng tôi bám bụi thời gian; suy cho cùng, bà từng nói đi nói lại với tôi rằng bà muốn có một cơ hội cuối cùng được lắng nghe. Tuy vậy, trong hồi ký của mình, bà chỉ muốn kéo dài phiên bản của riêng bà về huyền thoại Rồng Cái. Bà viết như thể bà đã xa rời hoàn toàn với hiện thực. Chẳng hạn, trong hồi ký của mình, bà Nhu tự cho mình là trung tâm và tự phóng đại mình khi viết, “Do đó đối với tôi, chính vì sự tò mò cá nhân muốn phơi bày cuộc đời dài đằng đẵng của mình mà tôi cố gắng nhớ lại, từng chút một, chặng đường của tôi với tư cách là đứa con nhỏ bé tiền định của Chúa cha… Tôi nghĩ tôi sẽ được thông cảm nhiều hơn, và có thể giúp người khác trên hành trình của họ, bằng cách nhớ lại hành trình của mình”. Bà cũng tự tin nghĩ rằng mình hoàn toàn có thể định nghĩa lại khái niệm người phụ nữ Việt Nam hiện đại: “Tôi không bao giờ ngừng đổi mới suy nghĩ, dựa trên những qui luật của cái hiện đại, về cái được gọi là cuộc đời một người phụ nữ”.

Bà Nhu lý tưởng hóa bản thân và lịch sử gia đình bà trong những trang hồi ký của mình, chưa bao giờ đặt câu hỏi về mặt tối nằm sau những ý định tốt của gia đình. Lỗi lầm duy nhất mà bà gần như thừa nhận với tôi thì bà chỉ nói thầm qua điện thoại: “Lẽ ra tôi nên khiêm tốn hơn một chút khi nói về sự cao cả của gia đình tôi”.

Nhưng trong bối cảnh quan hệ của chúng tôi, điều mà tôi sẽ gọi là tình bạn, tôi thấy bà Nhu là người đàn bà phức tạp và nhạy cảm hơn cả những gì bà tự nguyện thể hiện qua những trang viết bà gởi cho tôi. Tôi đã tìm ra cách để tôn trọng bà vì sự kiên định của bà mà không bỏ qua lối xử tệ của bà, và giờ đây tôi cảm thấy như mình được trao cơ hội đánh thức một nơi chốn xa xôi, lạ lẫm trong lịch sử mà bà từng hiện diện.

Tôi nằm mơ thấy bà Nhu không lâu sau khi bà qua đời. Tôi ở trong một biệt thự ở Rome, đứng trước một mái ngói trông giống một thứ gì đó có trong cuốn sách chữ La-tinh năm lớp tám của tôi. Từ đó tôi được dẫn tới một cái ghế dài bọc nhung bên cạnh cô gái duyên dáng mà tôi cho là Lệ Thủy, đứa con đã chết từ lâu của bà Nhu. Cô ghẻ lạnh với tôi, và tôi chợt lo sợ sẽ phải nghe những lời mắng nhiếc từ bà Nhu. Tôi buộc phải đứng chờ, chờ mãi, cho đến khi một bà già tóc bạc gầy nhom hiện ra nơi ngưỡng cửa. Tôi cảm thấy một thôi thúc kỳ lạ muốn đi tới vòng tay ôm bà, nhưng bà phẩy tay bảo tôi về lại chỗ ngồi. Bà không bao giờ đi vào phòng, nhưng tôi có thể nghe rõ tiếng bà như thể bà đang nói vào tai tôi: “Giờ này tôi bận lắm, không tiếp cô được”. Rồi người đàn bà già nua đó quàng vai cô gái, hai người đi khuất. Họ đang gần như biến mất vào một ngách tối của tiền sảnh thì người đàn bà nhỏ thó đó quay lại mỉm cười thật tự nhiên với tôi. Tôi thấy bà vui vẻ. Dĩ nhiên tôi biết rõ tất cả những trò tinh quái mà vô thức có thể bày ra, nhưng tôi thức dậy với sự tin chắc hết sức kỷ lạ rằng bà Nhu đã an nghỉ. Bà không còn quan tâm những gì tôi nói hay làm nữa.

Sau cái chết của bà Nhu, khi cuốn nhật ký của bà xuất hiện ở Bronx, tôi tìm thấy trong những trang viết đó sự xác nhận một tính cách hấp dẫn, đầy mâu thuẫn mà tôi đã biết đến qua điện thoại. Tôi chắc rằng bà không muốn cuốn nhật ký đó được khai thác. Tại sao, bà hẳn sẽ mắng mỏ, mọi người lại quan tâm đến những cuộc cãi cọ vặt vãnh của một cuộc hôn nhân không may? Ai còn muốn nghe những chuyện độc ác nhỏ nhặt này khi họ bị rúm ró trước bóng ma lù lù ngày càng lớn từ không khí chính trị Chiến tranh Lạnh và cuộc chiến chống Cộng sản. Bà không thể thấy rằng câu chuyện cực kỳ riêng tư về những bất hạnh trong hôn nhân của bà là cánh cửa mở ra thế giới tâm lý của một người phụ nữ có tham vọng rèn đúc bản sắc cá nhân và tất cả những hệ lụy mà bà gây ra.

Ngay ở đoạn đầu cuốn nhật ký, viết ngày 28 tháng Một, 1959, bà Nhu, ba mươi bốn tuổi, vẫn còn trẻ trung và chưa bị mắc kẹt trong những thất vọng của một chế độ chịu số phận bi đát, dẫu vậy bà vẫn tự hỏi, chẳng phải ngay sau khi được rửa tội là thời điểm tốt nhất để chết hay sao? Sự phiền muộn sâu xa của bà trái ngược hoàn toàn với hình ảnh tự tin mà bà luôn thể hiện một cách rất cẩn thận trước mọi người. Vài ngày sau, bà viết rằng bà đã đi đến một quyết định khó khăn. Bà dứt khoát rằng bà sẽ không bao giờ là thứ gì khác ngoài chính bản thân bà. Những dòng mô tả về quyết định này khá mơ hồ, “từ bỏ những giấc mơ hồng tươi”, có thể hiểu là chấm dứt những hy vọng và mơ tưởng trẻ con, nhưng đoạn khó hiểu mang tính dứt khoát rõ ràng. “Tôi không thể có gì hơn nữa, tôi sẽ không còn gì hơn nữa”.

Trong nhật ký, bà Nhu tỏ ra là một phụ nữ lúc nào cũng lo nghĩ đến cuộc hôn nhân của mình. Bà viết rằng ông Nhu lại đi săn. Ông Nhu khó chịu vì đang cố gắng bỏ hút thuốc. Ông Nhu lỡ chuyến bay về nhà với bà – cố tình, bà nói bóng gió. Chỉ có một lần bà nhớ lại ông đã làm bà ngạc nhiên khi tỏ ra ân cần với bà – mua cho bà một chùm đèn treo thủy tinh nhân kỷ niệm ngày cưới của họ. Cho dù ông Nhu có thể vẫn nhìn bà đăm đăm hoặc đặt bàn tay lên làn da mát lạnh của bà, bà Nhu vẫn than thân trách phận: “Anh ấy không còn đủ trẻ để làm gì hơn”. Khi ông tỏ ra biết nắm bắt cơ hội, ông lại không biết làm chuyện đó như thế nào và lúc nào như bà muốn. Bà Nhu cay đắng với ý nghĩ rằng ông Nhu đã xài hết thời trẻ trung theo ý mình, cho người nào ông thích, và ở tuổi ba mươi bốn, bà bị kẹt với chút ít còn lại của ông. Không khó để đoán bà muốn gì. Bà Nhu viết rằng bà phải tìm nhiều cách để “làm dịu ngọn lửa dục vọng”.

Dù bà muốn tránh né bằng mọi cách, cuốn nhật ký vẫn cho thấy rõ những nhu cầu tình cảm của bà Nhu đã không được thỏa mãn cho đến khi bà tìm thấy một chỗ đứng trong chính trường. Tôi không thể không cảm thông với người đàn bà tự thổ lộ mình qua những trang viết riêng tư. Bà thất vọng bởi thời gian, bởi không gian, và những truyền thống xung quanh bà. Bà bị bóp nghẹt từ từ trong cuộc hôn nhân không đam mê và bị bao vây bởi những kẻ thiếu tinh thần và khát vọng. Tương lai hẳn là cô đơn khủng khiếp.

“Mình ngày càng bớt yêu anh ấy”, bà đau khổ viết cho chính mình đọc. Song, như đã từng thể hiện trước đây trong những phút giây thất vọng, bà Nhu sẽ mạnh mẽ trở lại. Bà sẽ tìm thấy chỗ đứng cho chính mình bên cạnh chồng, là cách duy nhất bà có thể làm, bằng cách đòi hỏi bà phải được thừa nhận. Nhờ sự kiên gan của loài sư tử, bà Nhu đi lại một mình ở Hoa Kỳ suốt trong thời gian đảo chính. Bà không sụp đổ khi anh em họ Ngô ngã xuống; bà không bao giờ bỏ cuộc khi những người chung quanh đào thoát, và bà sống lâu hơn tất cả bọn họ: Những ông tướng phản bội, những quan chức Mỹ lá mặt lá trái, và ngay cả những kẻ âm mưu giả trang ẩn nấp trong bóng tối.

Thậm chí dường như bà đã nếm mùi vị tình yêu ít nhiều qua vài cuộc ngoại tình. Trong nhật ký bà viết về ba người đàn ông chỉ bằng tên viết tắt của họ: L, K, và H. Lời lẽ mơ hồ đủ để tôi phải tự hỏi bà có lần nào thực sự làm theo thôi thúc của mình không: “Thật sung sướng là chưa gặp ai có tất cả những cái đó”, “những cái đó” là kết hợp mong muốn của sự ngay thật, ngưỡng mộ, và tôn sùng – những phẩm chất xứng với những phẩm chất của bản thân bà. Nhưng H có vẻ là gần gũi nhất, với những gì bà mô tả như là động lực và cách ve vãn khác thường, mặc dù bà không cung cấp chi tiết nào khác mà chỉ nói ông là một Don Juan thứ thiệt. Bà rụt rè hỏi H, “Anh lúc nào cũng như vầy với phụ nữ à?” và câu trả lời của ông làm bà vui sướng không dứt: “Em có thực sự nghĩ mọi phụ nữ đều giống em không? Anh đã phải vượt qua cả đại dương mới tìm ra em”. Người đàn ông H ẩn danh hiểu bà Nhu. Tôi phần nào thông cảm với ông ta, mặc dù tôi không biết, đằng sau chữ viết tắt đó, ông là ai. Ông yêu Lệ Xuân, bà Nhu, bởi vì con người của bà: Đẹp đến sững sờ, kiêu hãnh, ngang ngạnh, một người đàn bà sẽ không bị nhốt vào một chỗ mà những người đàn ông chung quanh bà ngăn ra cho bà. Bà tranh đấu với các đế chế, những kẻ cướp, và các thế lực của lịch sử trước khi đời bà hoàn tất. Bà sẽ đứng giữa câu chuyện, là trung tâm của thiên sử thi mà bà được ném vào, và sẽ không ai có thể quên được bà. Quả thực, bà xứng đáng để vượt qua đại dương tìm kiếm, và tôi vui sướng vì mình đã làm điều đó.

Lòng tri ân sâu sắc nhất của tôi xin gởi, tất nhiên, đến bà Nhu, vì đã sống cuộc đời lạ thường như vậy và đã chia sẻ với tôi câu chuyện đời bà. Nhưng quyển sách này sẽ không thể có được nếu không có sự giúp đỡ của nhiều người khác.

Bà Nhu ắt hẳn sẽ còn xa lạ với chúng ta biết mấy nếu không nhờ sự hiếu khách của ông John Phạm và tấm lòng hào hiệp của Đại úy James Văn Thạch, những người mà tôi muốn gởi đến lời cảm ơn chân thành.

Tôi đã học tập với nhiều giáo sư và nhà giáo lỗi lạc trong nhiều năm qua. Giáo sư Jack Harris ở Đại học Hobart and William Smith đã dẫn dắt tôi trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên, và giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm tại Đại học Harvard nổi bật với sự uyên bác lỗi lạc của bà về lịch sử Việt Nam. Ngô Như Bình, người hướng dẫn tiếng Việt của tôi tại Harvard, là người thầy tận tâm nhất tôi có may mắn được học. Xin cảm ơn giáo sư Edward Miller tại Dartmouth đã cho tôi những lời khuyên sáng suốt về học thuật của ông, mặc dù không phải là một giáo sư trực tiếp hướng dẫn tôi.

Tôi đã được hưởng lợi ích to lớn từ sự chân thật và rộng lượng của những người mà tôi phỏng vấn. Nhiều người trong số họ đã sống qua một cuộc chiến mà tôi chỉ có thể viết về nó, và tôi thấy mình kém cỏi so với sự hiểu biết của họ. Cảm ơn ngài đại sứ Jim Rosenthal, bà Mauterstock, Phạm Ngọc Lan, Lan Dai Do, bà Bourdillion, và Dominique Matthieu. Xin gởi lời tri ân vô cùng đến nhiều nhà văn và ký giả đã viết về chiến tranh Việt Nam – và những người đã qua đời khi tôi đang viết quyển sách này, bao gồm Stanley Karnow và Malcolm Browne. Là một lính mới, tôi thấy mình may mắn được coi là thành viên của một nhóm mệnh danh là “Old Hacks”. Cảm ơn các bạn đã cho phép tôi tham gia vào những cuộc trò chuyện của các bạn.

Tôi nợ ơn nhiều vị quản thủ thư, chuyên viên lưu trữ văn thư, và những nhân viên đã làm cho cuộc nghiên cứu của tôi trở nên hữu ích hơn tại các cơ sở sau: Thư viện Tổng thống John F. Kennedy và thư viện Tổng thống Dwight D.Eisenhower, Học viện Hoover, Đại học Virginia, Đại học Syracuse, Đại học Tiểu bang Michigan, Thư viện Quốc hội, và Văn khố Quốc gia tại College Park ở Maryland. Xin gởi những lời cảm ơn đặc biệt đến Steve Denneye tại Đại học California, Berkeley, đã chụp và gởi rất nhiều tấm hình và Margaret Harman tại Thư viện Tổng thống LBJ đã định vị những bức ảnh chụp da hổ của bà Nhu. Cảm ơn các chuyên viên lưu trữ văn thư Pháp ở Trung tâm Văn khố Hải ngoại của Pháp ở Aix và Văn khố SHAT ở Vincennes.

Xin đặc biệt cảm ơn MalgorzataLabno và Jessica Martino vì đã đào sâu cuộc nghiên cứu và những bài viết. Và cảm ơn người bạn tài năng của tôi JessicaTampas đã chụp tấm hình tác giả cho tôi. Với Abby Lewis và Laura Phạm Lewis, cảm ơn các bạn đã biến thế giới trở thành một nơi dường như nhỏ bé hơn. Xin gởi lời cảm kích bao la đến Suzanne Santos, Marjorie Elliott, và Sue Kelly vì đã đọc bản thảo kỹ lưỡng và Ted Moore vì cách diễn đạt phù hợp.

Cảm ơn Katherine Sanford và song thân của cô, Peter và Susan Osnos, những người đã khuyến khích tôi trong những nỗ lực đầu tiên. Tôi vô cùng may mắn đã gặp được đại diện Lindsay Edgcombe ở Levine Greenberg LiteraryAssociates. Chị đã đưa tôi đến với một đội ngũ tuyệt vời tại Public Affairs, và tôi chân thành cảm ơn mọi người ở đó đã ra sức cho quyển sách này, nhất là Rachel King và Jen Kelland. Biên tập viên của tôi và là chủ bút của Public Affairs, Clive Priddle, xứng đáng với lời cảm tạ sâu sắc nhất của tôi với việc đã chăm chút từ đầu đến cuối quá trình và cải thiện từng trang viết.

Công việc nhiều năm nghiên cứu và viết lách của tôi sẽ không bao giờ hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình tôi. Xin tri ân mọi người, đặc biệt là cha mẹ: mẹ tôi, Marie Catherine, và chồng bà, Richard; cha tôi, Gary, và vợ ông, Suzann; và bố mẹ chồng tôi, Carol và Tom. Tôi mang ơn họ, cùng với các em tôi, Tally và Tama, và gia đình họ, vì lòng kiên nhẫn và tình yêu dành cho tôi xuyên suốt dự án này. Tôi mắc nợ một lời cảm ơn đặc biệt đến đôi mắt tinh tường của mẹ; cảm ơn mẹ đã dành thời gian. Trên hết, tôi cảm ơn tình yêu và sự sáng tạo của các con tôi, Tommy và CC, và người chồng tuyệt vời của tôi, Tom; cảm ơn những người đã luôn tin tưởng và truyền cảm hứng cho tôi.

1802: Hoàng đế Gia Long thống nhất một nhóm lãnh thổ gắn kết lỏng lẻo với nhau thành một quốc gia với tên gọi Việt Nam và chọn Huế làm kinh đô.

1859-1880: Pháp chiếm Việt Nam, Campuchia, và Lào – những quốc gia lúc bấy giờ được gọi là Đông Dương – làm thuộc địa.

1910: Ngô Đình Nhu chào đời ở ngoại ô thành phố Huế.

1924: Trần Lệ Xuân sinh ra ở Hà Nội.

1940: Chính quyền Vichy ra lệnh cho chính quyền thực dân ở Đông Dương cộng tác với người Nhật.

1943: Trần Lệ Xuân kết hôn với Ngô Đình Nhu và trở thành bà Nhu.

1945: Nhật đầu hàng, và Thế chiến thứ hai kết thúc. Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam là một quốc gia độc lập nhưng ngay lập tức gặp phải sự kháng cự của Pháp đang có ý định tái chiếm thuộc địa của họ.

1946-1954: Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, một cuộc chiến giành độc lập của Việt Minh, có tầm chiến lược quan trọng trong suốt Chiến tranh Triều Tiên và phân chia sự ủng hộ quốc tế theo các bên trong Chiến tranh Lạnh; Trung Hoa và Liên Xô ủng hộ Việt Minh, Hoa Kỳ ủng hộ Pháp.

1954: Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ. Hiệp định Genève chia Việt Nam thành hai quốc gia dọc theo vĩ tuyến mười bảy. Thủ đô của miền Bắc Cộng sản ở Hà Nội; thủ đô của miền Nam, Việt Nam Cộng hòa, ở Sài Gòn.

1954-1963: Ngô Đình Diệm đứng đầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa mới thành lập. Em dâu ông, bà Nhu, được ban cho địa vị và quyền lực của Đệ nhất Phu nhân Việt Nam Cộng hòa.

1960: Chính quyền Cộng sản ở Hà Nội thành lập Mặt trận Giải phóng Dân tộc, một lực lượng quân sự du kích chống ông Diệm, chống Mỹ ở Nam Việt Nam, mà về sau người Mỹ gọi là Việt Cộng.

1963: Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và em trai Ngô Đình Nhu bị sát hại trong một cuộc đảo chính do Mỹ bật đèn xanh. Bà Nhu bắt đầu cuộc đời lưu vong.

1964: Biến cố Vịnh Bắc bộ xảy ra. Quốc hội Mỹ trao cho Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson quyền khai chiến, và sự can dự của quân đội Mỹ ở Việt Nam chính thức bắt đầu.

1973: Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.

1975: Sài Gòn thất thủ vào tay người Cộng sản, và quốc gia Việt Nam được tái thống nhất.

1995: Quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được bình thường hóa, và lệnh cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam được dỡ bỏ.

2011: Bà Nhu qua đời trong một bệnh viện ở Rome, Ý.

Chuyến đi đầu tiên của Monique Brinson Demery đến Việt Nam năm 1997 như một phần của chương trình du học của hai đại học Hobart và William Smith. Cô đã nhận được học bổng VASI của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ để theo học tiếng Việt tại Hà Nội, và năm 2003, cô nhận bằng Thạc sĩ về Đông Á học của Đại học Harvard. Những cuộc phỏng vấn khởi thủy của Demery với bà Nhu năm 2005 là lần đầu tiên cựu Đệ nhất Phu nhân Việt Nam Cộng hòa dành cho một người phương Tây trong gần hai mươi năm. Demery sống ở Chicago.

Public Affairs là một nhà xuất bản được thành lập năm 1997. Nó là hiện thân của những chuẩn mực, giá trị, và sự tinh tế của ba con người đã phụng sự như những vị cố vấn thông thái của vô số ký giả, nhà văn, biên tập viên, và tất cả mọi người trong giới sách vở, trong đó có tôi.

I.R Stone, chủ sở hữu I.E Stones Weekly, kết hợp sự tận tâm với Tu chính án thứ nhất và lòng nhiệt thành doanh nhân và kỹ năng tường thuật. Ông trở thành một trong những ký giả tự do vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ. Ở tuổi tám mươi, Izzy cho ra mắt tác phẩm The Trial of Socrates, vốn là một quyển sách best-seller toàn quốc. Ông đã viết quyển sách sau khi tự học tiếng Hy Lạp cổ.

Benjamin C. Bradlee trong gần ba mươi năm là tổng biên tập đầy uy tín của The Washington Post. Chính Ben là người đã mang lại cho Post một tầm vóc và sự can đảm để theo đuổi những vấn đề lịch sử như Watergate. Ông ủng hộ các phóng viên của mình với sự kiên định khiến họ dấn thần một cách không sợ hãi và chẳng phải ngẫu nhiên mà rất nhiều người trong số họ đã trở thành tác giả những quyển sách best-seller đầy thanh thế.

Robert L. Bernstein, giám đốc điều hành của Random House trong gần một phần tư thế kỷ, đã dẫn dắt một trong những nhà xuất bản hàng đầu quốc gia. Bản thân Bob có công cho ra đời nhiều quyển sách bất đồng quan điểm và tranh luận chính trị để thách đố những chính thể bạo ngược trên toàn cầu. Ông cũng là nhà sáng lập và chủ tịch lâu đời của Human Rights Watch, một trong những tổ chức bênh vực nhân quyền được kính trọng nhất trên thế giới.

Trong năm mươi năm, ngọn cờ của Public Affairs Press đã được giương cao bởi chủ nhân Morris B. Schnapper, người đã xuất bản Gandhi, Nasser, Toynbee, Truman, và khoảng 1.500 tác giả khác. Năm 1983, Schnapper đã được The Washington Post mệnh danh là “một kẻ châm chọc đáng gờm”. Di sản của ông sẽ còn tồn tại trong những quyển sách sắp ra mắt.

Peter Osnos, Nhà sáng lập và Biên tập viên độc lập

——————————–

1“Thư giáo sư Wesley R. Fishel của MSU gởi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, (Diệm”, FRUS, 1958-1960, 1:426-433. Xem thêm về tính cách ông Chương trong Hammer, A Death in November, 303.
2“Phỏng vấn Everett Bumgardener [2], 1982”, 24 tháng 8 năm 1982, WGBH Media Library &Archives.
3Buttinger, A Dragon Embattled, 2:956-957.

Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương

Tameichi Hara

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

TRẺ xuất bản 1974

Post by Sơn râu 19 Sep 2026

Tôi trình diện phòng nhân viên của căn cứ Hải quân Yokosuka vào ngày 27 tháng 12 năm 1943. Ở đây cho biết việc bổ nhiệm của tôi chưa được sắp xếp và yêu cầu tôi quay trở lại sau các ngày nghỉ tết. Công việc duy nhất mà tôi thấy đang làm ở căn cứ này là dọn dẹp bàn giấy, hiển nhiên là nhân viên phụ trách đang chuẩn bị nghỉ lễ. Làm sao họ có thể chú tâm đến các ngày nghỉ lễ trong giai đoạn khủng hoảng này của cuộc chiến?

Viên sĩ quan tiếp tục tán tỉnh: “Đại tá vừa nghỉ phép, bây giờ Đại tá có thể kéo dài những ngày nghỉ phép này dễ dàng. Được ở nhà trong mấy ngày tết thật là tuyệt diệu, phải không Đại tá? Tôi đoán chừng đây là “tặng phẩm” của Bộ tư Lệnh dành cho các chiến công của Đại tá!”

Thái độ của viên sĩ quan này gây cho tôi sự xúc động và oán ghét. Tôi muốn mắng vào mặt bọn người này và lớn tiếng nhắc lại cho họ nhớ những “cuộc chạy dài” của Hải quân tại quần đảo Solomon, nhưng tôi dằn được, và xoay lưng bước khỏi phòng.

Trường ngư lôi Hải quân ở Oppama, phía chính Bắc Yokosuka. Tôi đi thẳng đến đó, bước vào phòng vị chỉ huy trưởng, và không còn dằn được nữa, tôi đã để hết cho cơn giận dữ bùng nổ trước mặt Phó Đô đốc Omori. Ông có vẻ khó chịu, nhưng sau khi kiên nhẫn ngồi nghe tôi nói xong, ông lên tiếng: “Tôi hiểu anh, Hara, nhưng những người ở đây, ở tại quê hương, họ không bao giờ biết được cuộc chiến đã đến giai đoạn sinh tử như chúng ta, những người đã từng ở mặt trận. Anh phải biết, cũng như tôi, rằng chúng ta không thể nào làm thay đổi thế giới, nhưng chúng ta bắt buộc phải kiên nhẫn và làm tất cả những gì chúng ta có thể làm.”

Từ Oppama, tôi quay về gia đình ở Kamakura, khoảng lộ trình dài đúng 20 phút xe lửa, với một dư vị đầy chua chát trong miệng. Trải qua nhiều tháng lần đầu tiên tôi mới được nhìn ngắm kỹ lại đường phố của thị trấn này. Lòng tôi cảm thấy bồi hồi, Kamakura, một trong những nơi đẹp nhất của Nhật Bản, một thành phố thần thánh. Không một quả bom nào rơi xuống Kamakura, nhưng các cửa hàng đều trống rỗng. Dân chúng đi lại bên đường có vẻ mệt lả và đói kém. Việc mất mát các khu vực quanh quần đảo Solomon đang bắt đầu ảnh hưởng đến quê hương chúng tôi, vì các hải trình thông thương và nhập cảng của Nhật Bản tùy thuộc vào khu vực này.

Cơn tức giận của tôi đã giảm bớt, thay vào đó là sự mệt mỏi chán chường. Tôi bước vào nhà với nhiều cảm giác lẫn lộn, nhưng khi vợ con đổ xô đến mừng, tâm hồn trĩu nặng của tôi như được giải tỏa.

Vào ngày 10 tháng Giêng năm 1944, cùng với ngày Đô đốc Koga quyết định di chuyển Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp từ Truk đến Palau, tôi trở thành huấn luyện viên cao cấp của Trường Ngư Lôi.

Một việc lạ lùng là Nhật Bản không sử dụng các tàu phóng lôi vào những ngày đầu của cuộc chiến. Mãi bận tâm với các loại đại chiến hạm, Bộ Tư Lệnh Hải quân không còn thì giờ đâu lo đến việc phát triển loại tàu phóng lôi và chiến thuật của chúng. Các sĩ quan Nhật Bản đã phải nếm mùi sự nhanh nhẹn của các tàu phóng lôi Hoa Kỳ ở quần đảo Solomon. Trong tình thế hiện tại, việc phát triển tàu phóng lôi và huấn luyện thủy thủ sử dụng loại tàu này là phản ứng tự nhiên, nhưng đã quá trễ.

Những sai lầm của Hải quân Nhật Bản không chỉ trên phương diện tàu phóng lôi mà thôi. Ngay cả các dự án huấn luyện phi công và phát triển radar cũng bị bỏ lửng quá lâu. Vào cuối năm 1943, các cơ xưởng điện tử của chúng tôi đã hoạt động cả ngày lẫn đêm trong việc sản xuất radar, lý do là vào thời gian đó chiến hạm Nhật Bản bị chiến hạm Hoa Kỳ có trang bị radar đánh chìm quá nhiều tại quần đảo Solomon.

Trước chiến tranh, trong số hàng nhiều ngàn thanh niên xin theo học các khóa huấn luyện phi công, nhưng Hải quân chỉ chọn lựa một vài người là cùng. Cho đến cuối năm 1943, Hải quân vẫn không thay đổi chính sách này. Khi hầu hết phi công bị cuộc chiến thiêu rụi, Hải quân mới hối hả huấn luyện ồ ạt, nhưng các cơ sở sản xuất phi cơ lại không thể nào đáp ứng đủ nhu cầu đòi hỏi.

Tất cả 100 sinh viên sĩ quan thụ huấn ở Trường Ngư Lôi đều xuất thân từ các trường đại học hoặc cao đẳng, thoạt đầu đã tình nguyện theo học các khóa huấn luyện phi công và các nhiệm vụ liên quan đến phi hành. Sau ba tháng huấn luyện sơ khởi về ngành bay, tất cả những sinh viên sĩ quan này đột nhiên bị chuyển sang học các khóa huấn luyện nhiệm vụ trên mặt biển. Lý do đơn giản là nếu họ có tiếp tục theo đuổi cho hết các khóa học theo sở nguyện đi nữa, Hải quân cũng không có phi cơ đâu mà cho họ lái.

Các sinh viên sĩ quan của tôi, tất cả đều khoảng trên 20 tuổi, rất nhiệt tâm và đứng đắn, nhưng tất cả đều thuộc thành phần trừ bị nên có vẻ tài tử, hoàn toàn khác biệt với các sĩ quan xuất thân từ Hàn Lâm Viện mà tôi đã từng giảng dạy về lý thuyết phóng ngư lôi của tôi ,cũng chính tại quân trường này vài năm trước đây. Tôi hiểu với những tay tài tử này, tôi cần phải kiên nhẫn rất nhiều.

Trong nhiệm vụ giảng dạy, tôi rất cứng rắn và không ngần ngại chỉ trích các lỗi lầm của sinh viên. Phương diện kỷ luật cũng phải áp dụng chặt chẽ, nhưng nhóm sinh viên trừ bị hiện thời của tôi giống như các sinh viên dân sự. Tôi nhận thấy không thể nào áp dụng lối quở trách mà không giải thích tỉ mỉ các lỗi lầm của họ. Làm cách nào biến các tay tài tử này thành các thủy thủ tàu phóng lôi đầy đủ khả năng trong vòng 3 tháng huấn luyện? Vì quá chán nản, nhiều lần tôi đã nghỉ đến việc từ chức.

Chiếc tàu phóng lôi mới đến trường vào tháng hai và khả năng của nó đã làm tôi thối chí. Sau khi chạy thử chiếc tàu 20 tấn này, tôi quay vào cầu tàu và mạnh miệng tuyên bố: “Đây không phải là một tàu phóng lôi. Nó chỉ là loại du thuyền không hơn không kém. Cái ngữ này vô dụng trên phương diện chiến đấu thật sự.”

Omori và các huấn luyện viên dưới quyền tôi đứng lặng lẽ, mặt mày tiu nghỉu. Anh chàng kỹ sư phác họa đồ án chiếc tàu mặt mày xanh xám, bước lên và giải thích có tính cách biện hộ rằng chiếc tàu này được trang bị động cơ là một động cơ máy bay cũ! Việc này không có gì khó hiểu, bởi lẽ chúng tôi không thể nào sản xuất máy móc mới đúng mức đòi hỏi của loại tàu này. Có quá nhiều trở ngại, và thiếu thốn dụng cụ là trở ngại quan trọng nhất.

Bực mình và chán nản vô tả, tôi im lặng bỏ đi.

Một vài “tàu phóng lôi “mới khác được đưa đến, nhưng đó cũng chỉ là “du thuyền”.

Mức độ sản xuất, dưới kế hoạch khẩn cấp thời chiến, theo tôi biết, chỉ có khoảng 200 tàu phóng lôi tải trọng từ 15 đến 30 tấn được hạ thủy kể từ đầu năm 1943. Tất cả các tàu này đều trang bị với máy phi cơ cũ và không chiếc tàu nào đạt được tốc độ hơn 25 hải lý. Vỏ của loại tàu này được làm bằng gỗ hoặc thép, dài khoảng 12,5m đến 15,5m, thủy thủ đoàn gồm 7 người, trang bị hai ngư lôi nhỏ và một đại liên 13mm. Nhưng không chiếc nào đạt đến phẩm chất theo mong muốn của tôi. Một quốc gia có thể sản xuất được những thiết giáp hạm lớn nhất thế giới mà lại không thể nào sản xuất được một chiếc tàu phóng lôi vừa ý, đó là một việc thật đáng buồn.

Chương trình huấn luyện một khóa học gồm 100 sinh viên của tôi kéo dài một vài tuần lễ và kết thúc vào tháng 11 năm 1944. Những điều tôi nêu ra sau đây để lưu ý các sinh viên tốt nghiệp đã khiến cho Omori và các huấn luyện viên khác không hài lòng: “Các tàu phóng lôi của chúng ta, thật không may, đều có khả năng dưới chân bất kỳ chiếc tàu nào cùng loại của đối phương. Như tôi đã từng lặp đi lặp lại hàng ngàn lần với các bạn, rằng chiến thắng của các bạn sẽ nhờ cậy vào sự vụng trộm, bởi lẽ các bạn sẽ không mong gì tồn tại nếu mặt đối mặt chiến đấu với địch quân. Các bạn sẽ phải lợi dụng mọi phương thức che dấu hoặc đánh lừa mới mong thành công. Nói một cách khác, các bạn không bao giờ nên tạo cho chiếc tàu của các bạn trở thành những mục tiêu lộ liễu trước họng súng của địch quân.”

Giảng dạy là một công việc rất dễ chán nản. Các khung cửa sổ của lớp học nhìn ra hải cảng trầm lặng Yokosuka. Quang cảnh trước mắt đã gợi trong lòng tôi những tiếng kêu gọi thì thầm của đại dương. Đời sống trên một khu trục hạm là một đời sống đầy căng thẳng và nhọc nhằn, nhất là những ngày hoạt động quanh quần đảo Solomon, nhưng tôi đã nhìn lại như nhìn bóng dáng hạnh phúc đã mất, cho dù hạnh phúc đó mong manh, hòa hợp lẫn lộn với vui mừng. Tất cả những cảm giác đó hoàn toàn thiếu vắng ở nơi đây.

Những tin tức từ tiền tuyến đưa về hậu phương thường rất muộn màng và thêm bớt. Thỉnh thoảng tôi đến Tổng Hành Dinh Yokosuka để dò hỏi các tin tức, và biết được chút ít về tình trạng của các chiếc tàu do tôi chỉ huy trước đây.

Trong suốt năm 1943, khu trục hạm Amatsukaze đã đi đi lại lại giữa quê hương và Đông Nam Thái Bình Dương trong nhiệm vụ hộ tống các đoàn chuyển vận mà không gặp tại nạn nào. Nhưng khi tôi đến trường này không lâu, tôi đã xúc động mạnh khi nghe tin Amatsukaze bị trúng ngư lôi cách phía Bắc đảo Spratly ( là đảo gì đây các bồ tèo? ) 250 dặm vào tháng Giêng năm 1944 và 80 người thuộc thủy thủ đoàn thiệt mạng. (Do khu trục hạm Hoa Kỳ Redjin, hạm trưởng là Trung tá King phóng 4 quả ngư lôi, mà theo King, đã trúng 4 chiến hạm Nhật nhưng chỉ một chiếc chìm.)

Mặc dù bị hư hại nặng, khu trục hạm Amatsukaze vẫn ráng lết đến cảng Sài Gòn. Ở đây, chiếc tàu được sửa chữa khẩn cấp trước khi chạy qua Singapore để sửa chữa toàn diện, cho đến tháng 3 năm 1945 mới hoàn tất, và sau đó trở lại tham chiến trên đại dương.

Khu trục hạm Shigure vẫn là soái hạm của vị tân chỉ huy trưởng hải đội, được sử dụng vào nhiệm vụ hộ tống sau khi tôi rời khỏi Sasebo. Tôi buồn hơn hết khi nghe tin chiếc tàu bị trúng bom vào ngày 17 tháng 2 năm 1944, chỉ hư hại nhẹ nhưng có đến 21 thủy thủ thiệt mạng. Và gây ra xúc động cho tôi hơn nữa, khi biết chiếc tàu bị trúng bom ngay hải cảng Truk, mà tôi từng xem như là một nơi an toàn và được phi cơ địch miễn trừ. Tôi xúc động mạnh mẽ, bởi chiếc Shigure đã từng tồn tại sau các cuộc tấn công dữ dội của phi cơ địch ở quần đảo Solomon và Rabaul, lại trở thành nạn nhân của một cuộc không tập ngay ở Truk.

Nhiều tin tức khủng khiếp khác dồn dập bay đến. Vào ngày 30 tháng 3, một lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ, dưới quyền của Đô đốc Raymond A. Spruance, tấn công quần đảo Caroline, đập tan các hệ thống phòng thủ của Nhật Bản trên đảo Palau. Chiều ngày đó, Đô đốc Koga rời khỏi đảo Babelthuap với toàn bộ Bộ Tham Mưu của ông đến Davao, thuộc Philippines, và từ đó không nghe tin tức gì về ông nữa. Koga và Bộ Tham Mưu sử dụng hai thủy phi cơ và đã gặp bão khi vào không phận Philippines. Chiếc chở Koga đã rơi, riêng chiếc thứ hai, có Phó Đề đốc Shigeru Fukudome, bay ngoài rìa của trận bão, hiển nhiên là không nhìn thấy phi cơ của Koga rơi, đã cố gắng đáp xuống đảo Cebu. Cái chết của Koga được giấu kín cho đến ngày 3 tháng 5 năm 1945, khi Đô đốc Soemu Toyoda được công bố kế nhiệm ông. Thời gian trước đó, Phó Đô đốc Shiro Takasu, Tổng Tư Lệnh Hạm đội Khu vực Đông Nam, tạm thời điều khiển Hạm Đội Hỗn Hợp.

Trong lúc đó, tôi được lệnh đến Kawatana, gần Sasebo, ngay sau khi khóa huấn luyện của tôi kết thúc. Nhiệm vụ của tôi là thiết lập một trường huấn luyện tàu phóng lôi mới ở đây, bởi lẽ Oppama không còn thích hợp với số sinh viên sĩ quan càng ngày càng gia tăng. Chuyển động này sở dĩ xảy ra có thể là do việc tôi luôn luôn than phiền về tình trạng học tập và trang thiết bị bết bát ở Oppama.

Cho dù lý do nào đi nữa, sự thay đổi này vẫn được tôi tiếp nhận nồng nhiệt. Phiền não làm tôi mệt mỏi, nhưng viễn ảnh được chỉ huy một quân trường độc lập khiến tôi tươi tỉnh ra.

Kawatana là một làng đánh cá nhỏ nằm cạnh bờ biển của Vịnh Omura. Nhiều năm trước, Hải quân có một căn cứ thí nghiệm ngư lôi nhỏ ở đây, nhưng hiện thời cơ sở này không còn được sử dụng. Đến Kawatana vào ngày 3 tháng 5, tôi nhận thấy nhà cửa tại căn cứ thí nghiệm ngư lôi cũ đều đổ nát. Tôi gặp khoảng mươi nhân viên bảo trì còn lưu lại đây. Khi biết tôi xem qua cảnh hoang tàn trước mắt này với ý định đặt cơ sở huấn luyện cho một chiến thuật “cách mạng” trên mặt biển của Hải quân, họ vừa kinh ngạc vừa có vẻ chế giễu tôi. Thái độ này cũng khiến tôi buồn cười.

Viên sĩ quan chỉ huy nhóm nhân viên bảo trì nói cho tôi biết Đô đốc Koga xem như đã mất tích, và Đô đốc Soemu Toyoda được chỉ định kế vị ông trong chức vụ Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp.

Tin này khiến tôi kinh ngạc còn hơn khi thoạt đầu nhìn thấy cảnh hoang tàn của ngôi trường tương lai do tôi chỉ huy. Tôi cảm thấy Đô đốc Toyoda không thể nào là nhân vật thích hợp trong chức vụ mới này. Khi tôi rời Oppama, ông còn chỉ huy căn cứ Hải quân Yokosuka. Thoạt tiên ông ta là một Ủy viên trong Hội Đồng Chiến Tranh Tối Cao, và trước đó, vào những ngày đầu cuộc chiến, ông giữ chức vụ Tổng Tư Lệnh Hải khu Kure. Do đó, Toyoda chưa bao giờ nhìn thấy tận mắt bất kỳ trận đánh nào trong cuộc chiến. Giống như trường hợp Koga được chỉ định kế nhiệm Yamamoto, giữa lúc ông chỉ nằm ru rú tại các hải phận yên tĩnh của Trung Hoa, người kế nhiệm ông cũng là một người không có kinh nghiệm chiến đấu. Vào thời gian khủng hoảng này, tại sao Bộ Tư Lệnh Tối Cao lại đặt một nhân vật mà hầu hết các thủy thủ ở tiền tuyến không biết đến thành tích vào chức vụ Tổng Tư Lệnh? Câu hỏi này cứ ám ảnh trong tôi suốt thời gian bắt tay vào công việc tổ chức ngôi trường mới của tôi.

Một tuần sau đó, 200 sinh viên sĩ quan nhập học. Như khóa huấn luyện tàu phóng lôi của tôi ở Oppama, tất cả sinh viên này đều được chuyển sang từ các trường huấn luyện phi hành. Cùng với 6 sĩ quan phụ tá, ba trong số này lấy từ các sĩ quan vừa tốt nghiệp ở Oppama, tôi lại bắt đầu nghề thầy dạy đáng chán của tôi.

Tiên liệu của tôi về Toyoda đã sớm được chứng minh bằng một sự thật đau buồn. Chức vụ mới quá lớn đối với ông ta. Vào hai ngày 19 và 20 tháng 6, lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm của Phó Đô đốc Jisabura Ozawa phải chịu đựng một cuộc đại bại đầy bi thảm, trong một trận đánh thường được gọi chế giễu là “Cuộc bắn gà ở Marianas”. Ozawa cố sử dụng các chiến đấu cơ có tầm hoạt động xa của ông để chống lại lực lượng Hoa Kỳ. Nhưng các vị Đô đốc Toyoda, Ozawa và Kurita, những người đã vạch ra kế hoạch hành quân này, đã không đo lường đúng sự hữu hiệu của radar, tài năng của phi công và khả năng của phi cơ đối phương ngày càng gia tăng. Họ cũng không nắm vững trình độ của các phi công Nhật Bản ở hiện tại như thế nào. Kết quả, Ozawa mất ba hàng không mẫu hạm và 500 phi cơ. Lực lượng đặc nhiệm cuối cùng đầy đủ thực chất của Hải quân tan tành. Bốn tháng sau đó, Ozawa mang ba hàng không mẫu hạm khác nhưng không có phi cơ thực hiện một nhiệm vụ “chim mồi” ở Philippines và cũng mất luôn cả ba mà không đạt được thành quả nào.

Hầu như mỗi ngày đều có những tin tức gây bàng hoàng đến nỗi chúng trở thành quen thuộc và gần gũi với chúng tôi. Một bản tin truyền thanh phát đi vào chiều ngày 10 tháng 7 cho biết Saipan rơi vào tay địch quân trong ngày trước đó và Phó Đô đốc Nagumo đã tuẫn tiết. ( Nagumo dùng súng ngắn để tự sát vào ngày 6 tháng 7, nghĩa là trước khi Saipan thất thủ 3 ngày.) Tôi đứng chết lặng trong phòng khi nghe tin này. Ngay lúc đó, một công điện từ Yokosuka gửi đến, chỉ thị tôi từ đây trở về sau, công việc huấn luyện sinh viên hãy nhắm vào mục đích chính là dự trù chống lại địch quân đổ bộ lên các bờ biển Nhật Bản.

Phản ứng của tôi đối với lệnh này là một cái gì mà tôi sẽ không bao giờ hiểu được, chỉ biết rằng nó gây cho tôi sự xúc động kỳ dị. Tay tôi run rẩy và mặt tôi đỏ bừng lên vì giận dữ. Tôi xé nát bức công điện, quăng vào sọt rác và ngồi xuống bàn thảo một thỉnh nguyện thư dâng lên Nhật Hoàng Hirohito. Đó là một hành động phạm thượng, nhưng lúc ấy tôi không thể nào tự kềm chế mình được.

Tôi viết rằng Nhật Bản đang bại trận, và tôi kêu gọi Nhật Hoàng hãy nhìn thẳng vào tình thế thật sự. Tôi nêu ra tất cả các chức vụ then chốt trong Lục quân và Hải quân đều do các sĩ quan già nua, không quen với loại chiến tranh hiện đại, và các cuộc cãi cọ cứ tiếp tục xảy ra giữa Lục quân và Hải quân khiến cho hiệu năng hoạt động của cả hai lĩnh vực quân sự và kỹ thuật ngưng trệ, như sự xuống dốc thảm hại trong công việc sản xuất phi cơ và tàu phóng lôi chẳng hạn. Và tôi thúc giục Nhật Hoàng hãy mưu tìm phương cách chấm dứt chiến tranh, và, xem như là bước đầu tiên, cách chức tất cả các vị Đô đốc và tướng lĩnh không đủ năng lực đảm đương nhiệm vụ.

Tôi đã trở thành một tay cách mạng cuồng tín. Đó có lẽ là hậu quả của những nổi bực dọc kéo dài quá lâu trong nhiệm vụ giảng dạy của tôi. Việc làm của tôi không chỉ có tính cách bất phục tùng mà còn có tính cách phản động. Và – theo các luật lệ của Hải quân – tôi có thể bị đưa ra tòa án quân sự. Nhưng tôi không hề nghĩ đến những điều này. Tôi quên mọi thứ, tôi chỉ biết quốc gia của tôi hiện đang bước dần đến miệng vực.

Khi viết xong thỉnh nguyện thư, tôi đáp xe lửa lên Tokyo. Vào ngày 12 tháng 7, tôi đi thẳng vào Bộ Hải Quân, và người đầu tiên mà tôi gặp là Đề đốc Hoàng thân Takamatsu, bào đệ của Nhật Hoàng Hirohito. Tôi vồ ngay lấy ông.

“Hoàng thân Takamatsu, Ngài có thể tiếp riêng tôi được không?”

Hoàng thân nhìn tôi, có lẽ ông nghĩ tôi là một tên dở khùng đở điên, nhưng ông đã gật đầu. Tôi bước theo Hoàng thân Takamatsu vào văn phòng riêng của ông. Nơi đây, tôi trao thỉnh nguyện thư cho ông, yêu cầu ông dâng lên Nhật Hoàng.”

Ông hỏi: “Tôi có thể đọc trước hay không?”

Tôi đáp: “Dạ được, thưa ngài.”

Ông ngồi xuống mở tờ giấy ra và chăm chú đọc. Chân mày ông nhíu lại có vẻ xao xuyến. Đọc xong, ông quay lại nhìn tôi, hình như ông muốn xác định xem có phải tôi là một tên điên thật hay không, và ông xếp tờ giấy bỏ vào túi áo.

“Hoàn toàn đúng, Hara.” Ông vừa nói vừa đứng dậy. “Hãy bảo trọng lấy thân.”

Tôi không nhìn thấy rõ rệt những gì mà Hoàng thân Takamatsu thực hiện theo lời yêu cầu của tôi, nhưng có điều ông giữ rất kín hành động của tôi trong giới Hải quân. Nếu các lời lẽ tôi viết đến tai Bộ trưởng Hải quân, hoặc Bộ Tư Lệnh Hải quân, chắc chắn tôi sẽ không được yên thân.

Sau khi trao thỉnh nguyện thư cho Hoàng thân Takamatsu, tôi lập tức đón xe lửa trở về Kawatana để chờ phản ứng của Nhật Hoàng. Khi không thấy động tịnh gì hết, tôi dần dần định tâm và ý thức rằng hành động của tôi hoàn toàn vô nghĩa, nếu không nói là bị lăng nhục. Không Nhật Hoàng mà cũng không có bất kỳ nhân vật nào khác trong Hoàng tộc đưa ra các hành động dựa trên thỉnh nghuyện thư của tôi. Hơn nữa, dưới thể chế hiện thời, Nhật Hoàng không có thực quyền, vì vậy, ngài không thể đưa ra bất kỳ hành động có tính cách quyết định nào. Tuy nhiên, Nhật Hoàng đã lấy lại chút ít quyền hành hơn một năm sau đó, khi Ngài tự quyết định sự đầu hàng của Nhật Bản.

Đành chịu thua với số phận, tôi chăm chú với nhiệm vụ, và khóa học bao gồm 200 sinh viên sĩ quan của tôi kết thúc vào tháng 7. Đầu tháng 8, các căn trại trong quân trường của tôi bị 400 tân sinh viên sĩ quan tràn ngập. Như khóa đàn anh, những người mới đến đều được chuyển từ các trung tâm huấn luyện bay. Khi nhìn thấy họ, một số thiếu mền một số thiếu chiếu, nằm ngủ sắp lớp như cá mòi trên mặt đất, tôi quyết định dẹp bỏ tất cả phiền muộn để trở về với bổn phận của một ông thầy tận tụy. Những thanh niên này đều là những người yêu nước nhiệt thành, họ xứng đáng với sự tận tụy của tôi.

Gần cuối giai đoạn huấn luyện 400 sinh viên sĩ quan này, mặt trận Philippines bộc phát. Các cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ ở Leyte vào ngày 20 tháng 10 đưa đến một loạt đụng độ trên mặt biển, làm tiêu tán tất cả những gì còn lại trong tay Hải quân Hoàng Gia. Vào ngày 27, một thông cáo đầy bất ngờ cho biết việc thành lập phi đội Thần Phong, một đơn vị không kích tự sát gồm toàn những người tình nguyện.

Tin tức gây choáng váng này đã khuấy động ngôi trường Kawatana một cách khủng khiếp. Nó cũng là một cú đấm thẳng vào tôi, vì từ lâu tôi vẫn luôn chủ trương sinh mạng của con người phải được bảo vệ. Từng nuôi nấng hy vọng ra đi và trở về cho các sĩ quan của tôi, chiến thuật mới này đối với tôi quả thật phi nhân tính và không thể dung thứ được. Tuy nhiên, tư tưởng chống đối của tôi đã lắng xuống, khi tôi được đọc những báo cáo chi tiết về các cuộc tấn công “chắc trúng nhưng cũng chắc chết” này do các phi công tình nguyện thực hiện. Trong căn phòng lặng lẽ, tôi đã bật khóc.

Vào cuối tháng 10, 400 sinh viên của tôi tốt nghiệp, qua một buổi lễ mãn khóa, và cũng là buổi lễ tiếp đón 400 tân sinh viên khác. Trong tuần đó, một ông khách “không chờ đợi” đã đến viếng thăm ngôi trường của chúng tôi. Đó là người bạn cũ của tôi hồi còn ở Rabaul, Đại tá Toshio Miyazaki, nguyên chỉ huy trưởng hải đội 17 khu trục hạm, và hiện thời là huấn luyện viên cao cấp của Trường Ngư Lôi ở Oppama.

Sau khi tuyên bố cuộc viếng thăm với tư cách riêng, Miyazaki đã tiết lộ cho tôi biết ông đã đến đây bằng chuyến xe lửa đặc biệt có chở một món hàng lạ, và yêu cầu tôi đi theo ông để xem qua. Bước vào sân ga, ông dẫn tôi thẳng đến một toa hàng được một nhóm lính vũ trang canh gác cẩn thận. Nhóm lính này đi theo xe lửa từ Yokosuka đến đây. Các món hàng được mang đến sở thí nghiệm ngư lôi cũ và mở ra. Đó là 3 tàu phóng lôi nhỏ và nhiều dụng cụ để lặn dưới mặt nước.

Các tàu phóng lôi, đóng bằng ván ghép và chạy bằng máy xe hơi, trông giống như loại xuồng máy thông thường. Điều mới lạ trong loại tàu phóng lôi này là phía trước chứa đầy chất nổ cực mạnh. Khi Miyazaki khẽ nói: “Đây là các Kamikaze trên mặt biển,” tôi thấy tim như nhói lên.

Để phá tan bầu không khí nặng nề, tôi hỏi về các dụng cụ lặn. Miyazaki giải thích: “Những cái đó để người nhái sử dụng. Với bình dưỡng khí, họ sẽ mang một khối chất nổ lặn xuống đáy biển để gắn vào chân vịt hoặc bánh lái tàu của địch quân.”

Ông ta cùng tôi lặng lẽ trở lại trường, và ở đây, ông đã giải thích rõ từng chi tiết. Ý kiến về các tàu phóng lôi nhỏ bé chỉ một hoặc hai người sử dụng và người nhái này là do Bộ Tư Lệnh Tối Cao đưa ra trong thời gian tôi đến Kawatana. Chiến thuật tự sát là đề tài đã từng được tranh luận sôi nổi và giằng co cho đến khi các đơn vị Kamikaza được thành lập ở Philippines, và hiện thời chiến thuật này đã được quyết định dứt khoát với tất cả sự ưu tiên dành cho nó.

Miyazaki nói: “Biết rõ anh, Phó Đô đốc Omori đã phái tôi đến đây để giải thích với anh về chiến thuật này và xin ý kiến. Và tôi cũng biết rõ anh, tôi ý thức được nhiệm vụ này sẽ gây phiền lòng cho anh. Tôi sẽ nghe theo bất kỳ điều gì anh chỉ dạy nhưng tôi cũng cần nhắc anh lại một lần nữa, rằng chiến thuật này đã được Bộ Tư Lệnh Tối Cao xem như là chiến thuật hàng đầu.”

Tôi ngẫm nghĩ sự lưu ý của ông ta, và sau khi đắn đo, tôi đáp: “Tôi biết cảm nghĩ của anh như thế nào, Miyazaki, và tôi cũng biết tốt hơn tôi không nên tranh luận với anh về vấn đề này. Nhưng anh cũng như tôi đều biết rằng huấn luyện gấp rút cho các sinh viên sĩ quan của trường này thì sẽ chẳng khác nào đút thịt vào miệng cọp, khi họ thi hành nhiệm vụ với những chiếc du thuyền chậm chạp được gọi là tàu phóng lôi này. Tôi thấy rất rõ là họ sẽ có rất ít dịp may để sống sót trở về. Kế hoạch đưa ra đã đành là phải thi hành, nhưng yêu cầu người khác cam tâm chịu chết, cho dù chịu chết trước những đối thủ vượt trội mọi mặt, lại là một việc hoàn toàn khác biệt. Làm sao chúng ta có thể yêu cầu những con người trẻ tuổi đó tự sát được?

Miyazaki nói một cách nghiêm nghị: “Hara, suốt 50 giờ mất ăn mất ngủ trên các toa xe chở mấy món hàng này từ Yokosuka đến đây, tôi không lúc nào không suy nghĩ về vấn đề anh vừa nói. Chúng ta chỉ còn biết một cách duy nhất là thành thật giải thích cho họ hiểu tình thế tuyệt vọng ở hiện tại. Tôi sẽ đích thân kể lại cho các sinh viên của anh trường hợp thiệt mạng của những thủy thủ thuộc hải đội khu trục hạm của tôi, mặc dù những thủy thủ này khéo léo và có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. Tôi cũng sẽ nói với họ rằng hiện thời chúng ta đang hấp hối ở Philippines, tất cả binh sĩ của chúng ta đang đối mặt với tử thần. Tôi nghe tin các phi công Thần Phong đều nhất trí tình nguyện thực hiện các phi vụ tự sát bất thường sau khi nghe tin 500 đồng nghiệp từng trải qua hàng ngàn giờ bay đã bị giết như ruồi ở Marianas. Đây là những dữ kiện hợp lý nhất để trình bày với họ. Anh từng nổi tiếng là có phép lạ trong việc mang thuộc cấp trở về một cách an lành, ngay cả trong các trận đánh đẫm máu ở Solomon, do đó Phó Đô đốc đã gửi tôi đến anh để bàn thảo nhiệm vụ khó nuốt này. Một lẽ nữa, tôi biết và tôi hiểu anh, vì vậy, tôi thật sự muốn đến đây.”

Miyazaki, thường thường là một loại anh hùng rơm, nông nổi và thờ ơ, bây giờ chẳng khác nào một kẻ thua trận đáng thương. Sau khi suy nghĩ cẩn thận, tôi nói:

“Cám ơn anh, Miyazaki, quả thật anh đang lâm vào tình trạng bối rối khi đến đây. Tôi đã suy nghĩ kỹ những gì anh vừa nói. Tôi tán thành ý kiến khôn khéo của anh. Riêng tôi, tôi sẽ kể lại những câu chuyện xoay quanh các khu trục hạm thuộc hải đội của tôi trước đây, chẳng hạn như chiếc Samidare dày dạn chiến trận của tôi. Tôi vừa nghe nói chiếc tàu này, mặc dù lập biết bao thành tích to lớn, đã bị trúng ngư lôi và chìm gần Palau, mang theo phân nửa thủy thủ đoàn. Nó bị tàu ngầm địch tấn công! Đó là một con chuột ăn một con mèo! Thật mỉa mai làm sao!

“Khu trục hạm Shiratsuyu còn gặp phải tai nạn tồi tệ hơn nữa. Chiếc tàu này trước đây đã va chạm với chiếc Samidare ở vịnh Empress Augusta, hồi tháng 6 vừa qua tôi nghe nói nó lại đụng nhau với một chiếc tàu chở dầu gần đảo Mindanao và chìm lỉm cùng với toàn thể thủy thủ đoàn 224 người.”

“Soái hạm cũ của tôi, chiếc Shigure, được mệnh danh là “khu trục hạm kiên cố”, đó là chiến hạm duy nhất thuộc lực lượng Nishumure còn sống sót sau trận đánh ở Vịnh Leyte. Nhưng tôi chắc rằng số phận chung cuộc của nó không còn bao lâu nữa. Chiếc tàu đáng yêu này, với tất cả thủy thủ cũ của tôi … Đó là định luật chung trong một cuộc chiến.”

Tới đây, tôi và Miyazaki không còn gì để nói với nhau nữa. Chúng tôi bắt tay và đi ngủ.

Sáng hôm sau, tôi ra lệnh tập họp toàn trường. Miyazaki lên tiếng đầu tiên, giải thích về các tàu phóng lôi mới, dụng cụ lặn và công dụng của chúng. Không khí trong sảnh đường căng thẳng, nhóm thính giả ngồi yên lặng nghe với thái độ không tin tưởng mấy.

Khi Miyazaki dứt lời, tôi chậm rãi bước lên bục gỗ và lên tiếng: “Các bạn đến đây để học hỏi về các loại tàu phóng lôi thông thường, nhưng vừa rồi các bạn đã nghe qua hai loại vũ khí mới do Đại tá Miyazaki trình bày. Chúng sẽ nằm trong chương trình giảng dạy của trường này. Bắt đầu từ ngày mai, ba lớp huấn luyện sẽ được mở ra cho các bạn. Các bạn có quyền tự do chọn lựa một trong ba lớp học này, nếu xét thấy thích hợp với khả năng và khuynh hướng của các bạn. Tôi muốn sự lưa chọn của các bạn không do áp lực hoặc ảnh hưởng của bất kỳ người nào. Sự lựa chọn này phải do ý thức của các bạn. Đây là quyết định của tôi. Trưa và chiều hôm nay, hoặc nếu cần, thời gian sẽ kéo dài hơn nữa, tôi sẽ ở tại văn phòng của tôi, để mỗi người trong các bạn đến trình riêng với tôi về sự lựa chọn của mình. Sẽ không có bất kỳ tra hỏi hoặc yêu cầu giải thích nào được đưa ra nhằm tìm hiểu xem tại sao các bạn lại chọn lựa như vậy. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói với các bạn.”

Bốn trăm sinh viên sĩ quan, từng người một, bước vào văn phòng của tôi. Người cuối cùng rời khỏi văn phòng lúc 4 giờ sáng. Sau đó, tôi gọi Miyazaki, và chúng tôi phân loại các mảnh giấy có đề tên sinh viên cùng lớp học mà họ đã lựa chọn. Có 200 sinh viên chọn lớp tàu phóng lôi bình thường, 150 chọn lớp tàu phóng lôi tự sát và 50 người chọn lớp người nhái.

Miyazaki, đã kiệt sức sau nhiều đêm mất ngủ, đã thở khì nhẹ nhõm. Tôi cũng không khác gì ông ta.

Các tàu phóng lôi tự sát được đặt tên rất thơ mộng – Shinyo – có nghĩa là “kẻ lay động đại dương”. Người nhái mang tên Fukuryu, có nghĩa là “con rồng bò”…

Hàng chục cơ xưởng Nhật Bản đã đóng khoảng 6.000 loại tàu nhỏ bé này. Mỗi chiếc có chiều dài từ 4.5 đến 5.5 mét, nặng từ 1,35 đến 2,15 tấn, hầu hết đều được gắn một động cơ có thể đạt được tốc độ 26 hải lý. Chỉ một vài chiếc vỏ bằng thép còn lại đều làm bằng gỗ nên rất dễ vỡ.

Xét trên mục đích tấn công, những “kẻ lay động đại dương” tỏ ra rất bết bát. Sau khi 3 tàu phóng lôi được đưa đến Kawatana không lâu, tôi yêu cầu căn cứ Không Hải quân ở omura phái một chiến đấu cơ tham dự vào một cuộc tấn công thực tập. Một huấn luyện viên lái một tàu phóng lôi ra khơi, nhưng khi phi cơ sà thấp ngay trên đầu, hắn ta đã bỏ chiếc tàu để nhảy xuống biển. Phi cơ quần lại lần thứ hai và xả súng đại liên bắn vào con tàu mong manh, nghiền nó ra thành từng mảnh.

Trang bị cho những “con rồng bò” lại còn tồi tệ hơn nữa. Hơn 50 sinh viên, toàn là những tay bơi lội tài giỏi, đã gặp nhiều rắc rối trong suốt thời gian thụ huấn. Ngay cả các bình dưỡng khí cung cấp cho nhà trường, không có cái nào là hoàn hảo. Nhiều sinh viên ngã bệnh khi lặn xuống biển vào ngay ngày đầu tiên của lớp học.

Những nỗ lực có tính cách hấp tấp như vậy có thể nào chống trả nổi địch quân mạnh mẽ, được trang bị toàn thiết bị khoa học tân tiến nhất hay không? Niềm bi quan bao trùm tâm hồn tôi. Mỗi ngày ở tại ngôi trường này là thêm mỗi sự chán nản đến với tôi. Tôi bắt đầu uống rượu nhiều trở lại.

Khoảng 100 sinh viên tốt nghiệp lớp tàu phóng lôi thông thường được gửi sang Philippines và Okinawa, đa số đã thiệt mạng mà không có được bất kỳ kết quả có ý nghĩa nào. Tất cả sinh viên khác được giữ lại để chuẩn bị chống trả với địch quân, mà theo dự đoán có thể đổ bộ lên Nhật Bản. Được biết hầu hết sinh viên ưu tú của tôi, thuộc lớp tàu phóng lôi đặc biệt và người nhái, không phải làm vật hy sinh trong các nhiệm vụ tự sát, đó là một an ủi lớn với tôi.

Vào ngày 20 tháng 12 năm 1944, Miyazaki thay thế tôi để điều khiển quân trường đáng chán Kawatana, và tôi được chỉ định vào một nhiệm vụ trên mặt biển, hạm trưởng tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi. Đó là một ngày sung sướng nhất trong một năm “không sung sướng” của tôi.

Một vị sĩ quan chỉ huy hớn hở bước lên cầu thang của tuần dương hạm Yahagi đang buông neo ở Sasebo vào ngày 22 tháng 12 năm 1944. Tôi đã trở lại với nơi mà tôi thuộc về, trở lại với những ngày chiến đấu, vĩnh biệt những muộn phiền ở Kawatana. Được chỉ định vào nhiệm vụ này là một vinh dự to lớn đối với tôi.

Các sĩ quan của chiếc tàu tụ họp chào đón tôi. Trung tá Shinichi Uchino, sĩ quan phụ tá, tuyên bố một cách đầy hứng khởi: “Khi biết tân hạm trưởng của Yahagi là Đại tá, thủy thủ đoàn đã vô cùng mừng rỡ. “Hạm trưởng kỳ diệu”, một số thủy thủ đã bắt đầu gọi Đại tá một cách hãnh diện như vậy.”

Sau khi nhấn mạnh sự may mắn đầy thích thú được bổ nhiệm chỉ huy chiếc Yahagi, tôi nói: “Chưa từng được chỉ huy một chiến hạm lớn như thế này. Tôi sẽ có nhiều điều cần học hỏi ở quý vị.”

Những lời thành thật của tôi được đón nhận một cách hài lòng, và mọi người đều tỏ ra phấn khởi. Thúc đẩy tinh thần của chiếc tàu, đó là một việc làm cần thiết.

Yahagi vừa trở về từ trận thảm bại ở Vịnh Leyte. Trong trận đánh này, Yahagi là soái hạm của một nhóm chiến hạm yểm trợ thuộc Đệ Nhị Hạm Đội của Phó Đô đốc Takeo Kurita. Nhiều chi tiết của trận đánh này vẫn còn nằm trong bóng tối. Ngay cả những người tham dự cũng không am tường đầy đủ. Nhưng ai cũng biết Nhật Bản đã lãnh một cú đấm nặng nề, và Hoa Kỳ đã lật ngược tình thế trên quần đảo Philippines sau trận đánh này.

Vào ngày 25 tháng 10, sau khi lực lượng hộ tống hàng không mẫu hạm bị thiệt hại nặng nề, Phó Đô đốc Kurita tạo ra cuộc rút lui đầy tai tiếng của ông, mặc dù ông đã làm đình trệ cho các cuộc đổ bộ của đối phương ở Vịnh Leyte, tuần dương hạm Yahagi và các khu trục hạm tháp tùng vẫn còn cách xa trận đánh khoảng 10 dặm. Từ khoảng cách quá xa như vậy, Yahagi và đồng đội đã vội vã phóng ngư lôi, dĩ nhiên, tất cả ngư lôi đều hoang phí. Hành động chậm chạp của nhóm chiến hạm này đã gây chán nản cho mọi người.

Đề đốc Susumu Kimura, Tư lệnh Phân đội 10 khu trục hạm, bao gồm Yahagi và 6 khu trục hạm, đã phải rời khỏi chức vụ sau trận đánh. Ông ta nguyên là một chuyên viên hoa tiêu, không phải là một tay chiến đấu. Việc tránh né đụng độ của Kimura sớm chứng tỏ một cách rõ rệt vào tháng 10 năm 1942 trước đó. Khi tuần dương hạm hạng nhẹ Nagara của ông đã không truy đuổi địch quân ở vùng biển Guadalcanal. Tuy nhiên, hầu hết các chiến hạm Nhật khác có mặt trong trận đánh này đều chiến đấu dàn mặt với địch quân. Việc sử dụng Kimura một lần nữa vào trận đánh quan trọng như trận đánh ở Vịnh Leyte chẳng hạn, đã không được giải thích tại sao. Điều này chỉ có Bộ Tư Lệnh Tối Cao mới biết mà thôi.

Ngay cả việc lưu dụng hai Phó Đô đốc Kurita và Ozawa trong các chức vụ chỉ huy then chốt cũng là một sai lầm nghiêm trọng. Cả hai đều tồn tại sau cuộc chiến và hiện thời vẫn còn sống. Tôi không thích đưa ra những lời chỉ trích toàn diện về họ, nhưng phải nói hai vị Đô đốc già nua và mệt mỏi này phải chịu trực tiếp trách nhiệm cuộc thảm bại ở Vịnh Leyte.

Kurita đã nói với tôi: “Tôi đã tạo ra sai lầm đó (tức ra lệnh rút lui), không ngoài vấn đề lúc ấy tôi quá mệt mỏi về thể xác.”

Khi bàn đến trận đánh Leyte, Ozawa thú thật với tôi rằng “ông thấy xấu hổ vì vẫn còn sống sót sau trận đánh đó.”

Trận đánh Vịnh Leyte là một trong những trận đánh lớn nhất trong lịch sử Hải quân đã được viết đi viết lại nhiều lần. Có nhiều ý kiến nêu ra đã khiến tôi không hài lòng, nhưng tôi đã hoàn toàn đồng ý với tác giả C. Vann Woodward khi ông kết luận quyển sách “Trận hải chiến Vịnh Leyte” của ông: “Những gì gọi là cần thiết trên đài chỉ huy của soái hạm Yamato vào buổi sáng ngày 25 không phải là một Hamlet mà là một Hotspur – một Halsey của Nhật Bản thay vì một Kurita.”

2

Kurita đã từng chứng tỏ sự vụng về quá mức khi ông đưa Đệ Nhị Hạm Đội của ông đến Rabaul vào tháng 11 năm 1943. Nhưng ông, cũng như Ozawa, vẫn còn được lưu dụng, ngay cả hai người chỉ huy các lực lượng Nhật đã đưa đến sự thảm bại trong trận đánh Marianas vào ngày 19 tháng 6 năm 1944. Lý do của việc lưu dụng này. Tôi không thể nào hiểu nổi. Cả hai đều tỏ ra mỏi mệt từ lâu rồi, vì vậy đưa họ đến Vịnh Leyte không khác nào đưa họ vào tai họa, đặc biệt giữa lúc mà các lực lượng của họ đều không được bao che hữu hiệu về mặt trên không.

Tuy nhiên, Đô đốc Soemu Toyoda, Tổng Tư Lệnh Hạm đội Hỗn Hợp, phải chịu những phần trách nhiệm lớn hơn hết. Từ Formosa trở về Nhật Bản vào ngày 18 tháng 10, ông nằm ở Yokosuka để điều động trận đánh đầu tiên, và sau đó, ông di chuyển 30 dặm trên đất liền để tiếp tục điều hành nhiệm vụ. Dó đó, cuộc hành quân không thực tế này được thảo kế hoạch và điều động ngay trên nội địa bởi một vị Đô đốc chưa bao giờ tham dự một trận hải chiến nào trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Có nhiều nguyên nhân gây ra sự thảm bại của Nhật trong trận đánh Vịnh Leyte, nhưng các nguyên nhân đầu tiên phải đề cập đến là sự khiếm khuyết về phi cơ, radar và hệ thống liên lạc. Hạm đội Nhật đã đành là chiến đấu rất dũng cảm, nhưng không được bảo vệ hữu hiệu về mặt trên không, hoặc không được cung cấp đầy đủ những thiết bị hỗ trợ khác, do đó, trận chiến của họ không khác nào kẻ mắt mù tai điếc.

Với việc Saipan thất thủ, cuộc chiến trong tay Nhật Bản xem như đã mất. Điều này còn rõ rệt hơn nữa, sau khi nhiều thiết giáp hạm và tuần dương hạm hạng nặng, được gìn giữ từ lâu, đều bị trận đánh ở Leyte thiêu rụi.

Phó Đô đốc Seiichi Ito thay thế Kurita trong chức vụ Tư Lệnh Đệ Nhị Hạm Đội vào ngày tôi bước chân lên tuần dương hạm Yahagi. Giống như nhiều quyết định thay đổi nhân sự cao cấp vào thời gian đó, việc thay đổi này cũng gây cho tôi nhiều ngạc nhiên. Ito ngồi trong phòng Bộ Tổng Tham Mưu Hải quân từ khi cuộc chiến Thái Bình Dương bắt đầu. Ông chưa từng lãnh nhiệm vụ trên mặt biển bao giờ, và cũng chưa từng biết qua kinh nghiệm chiến đấu nào trong suốt cuộc chiến.

Phòng Nhân Sự của Tổng Hành Dinh Hải quân hình như không còn sáng suốt trong thời gian đó. Kurita, với tất cả sai lầm trong cuộc đời binh nghiệp của ông, lại được chỉ định vào chức vụ chỉ huy trưởng Hàn Lâm Viện Hải quân ngay khi ông vừa rời khỏi Đệ Nhị Hạm Đội sau trận Leyte. Ozawa được thăng cấp Đô đốc và trở thành Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp vào tháng 5 năm 1945. Một việc đáng lưu ý là hầu hết các sĩ quan còn sống sót sau trận đánh Leyte đều được thăng cấp.

Trong lúc đó, tàn quân của Đệ Nhị Hạm Đội lê lết về Nhật từng nhóm hai hoặc ba chiến hạm. Vào giữa tháng Giêng, Yahagi kết hợp với thiết giáp hạm Yamato và 5 khu trục hạm đang buông neo ở Hashirajima, gần Hiroshoma. Quang cảnh hiện tại đã gợi tôi nhớ lại quanh cảnh nhiều trăm chiến hạm tụ hội trong hải cảng rộng lớn này đúng bốn năm trước đây. Tôi đau buồn khi nhìn thấy những gì còn sót lại của Đệ Nhị Hạm Đội – một hạm đội mà hiện thời không còn một chút tư cách nào.

Trong khi chúng tôi thao dượt, tôi luôn luôn liếc chừng các chiến hạm ngày trước của tôi, có thể sẽ đến để gia nhập hạm đội này. Chiếc Shigure nằm trong một thành phần thuộc lực lượng của Nishimura khi ông hướng dẫn hai thiết giáp hạm, một tuần dương hạm và 4 khu trục hạm của ông, bí mật và không phối hợp, tiến vào Vịnh Leyte vào ngày 25 tháng 10 năm 1944. Ngoại trừ Shigure, tất cả chiến hạm của lực lượng này đều bị đánh chìm. Do sự sống sót lẻ loi, chiếc Shigure trở thành mục tiêu bị kích bác và các tin đồn đầy ác ý mà tôi không thể nào tin được. Tôi muốn tiếp xúc với thủy thủ đoàn của Shigure để tìm hiểu sự thật.

Tuy nhiên, thay vì chiếc tàu này sẽ đến như mong đợi, một tin tức cho biết nó bị trúng ngư lôi của một tàu ngầm địch và chìm ở khu vực phía Bắc Singapore vào ngày 24 tháng Giêng. Thật đáng tủi nhục biết bao: Một chiếc tàu dày dạn chiến trận như vậy mà lại là nạn nhân của một chiếc tàu ngầm. Không lâu sau đó, một tin tức khác cho biết khu trục hạm Amatsukaze đang ở trong hải phận Trung Hoa, vì vậy nó không thể nào đến gia nhập Đệ Nhị Hạm Đội.

Nhưng không phải tin tức nào cũng xấu cả. Trang bị và vũ khí mới được đưa đến cho tuần dương hạm Yahagi của tôi gần như hàng ngày. Trong số đó có nhiều đầu đạn nổ kíp điện, ngư lôi tầm hướng và quan trọng nhất là loại radar mới khá công hiệu. Xạ thủ bắt đầu học sử dụng hỏa lựa theo hướng dẫn của radar. Mặc dù nhiều bộ phận của loại radar này vẫn còn nằm trong vòng thí nghiệm, nhưng chúng cũng chứng tỏ Nhật Bản đã tiến một bước khá xa trên phương diện kỹ thuật. Quá trễ để có dịp so tài với địch quân trước đây, nhưng loại radar mới này có tính cách thúc đẩy tinh thần mạnh mẽ vào những ngày khủng hoảng cao độ này.

Tuy nhiên, công việc huấn luyện chỉ giới hạn trong biển Nhật Bản nhỏ hẹp. Tôi đã hỏi tại sao chúng tôi không được chạy ra ngoài biển rộng để thực tập với tốc độ chiến đấu, và được trả lời rằng tình trạng tiếp tế nhiên liệu khiếm khuyết không cho phép chúng tôi thực hiện việc này. Tôi được biết vấn đề tiếp tế nhiên liệu thấp kém, nhưng không ngờ lại thấp kém đến độ không đủ cho công việc huấn luyện căn bản nhất.

Sau cuộc pháo kích sơ khởi dữ dội, lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ bộ lên đảo Iwo Jima vào ngày 19 tháng 2 năm 1945. Không có một chiến hạm nào của Nhật Bản được gửi đến để chống lại cuộc đổ bộ chỉ xảy ra cách Nhật Bản 700 dặm này.

Trong lúc đó, siêu pháo đài bay B-29 Hoa Kỳ, cất cánh từ các căn cứ ở Marianas, liên tục gia tăng cường độ oanh tạc trên các thành phố Nhật Bản. Bộ Tư Lệnh Tối Cao quay lại công thức giữ gìn cũ rích của họ, lần này là các chiến đấu cơ. Chúng sẽ được che dấu hoặc dời đến những nơi an toàn để tránh các cuộc không tập, phó mặc cho phi cơ địch làm mưa làm gió trên đất nước.

Tại Bộ Tư Lệnh Tối Cao Hoàng Gia, cuộc bàn luận đầy sôi nổi kéo dài nhiều ngày xoay quanh vấn đề: Những gì có thể làm được với thành phần còn lại của Hạm Đội Hỗn Hợp. Vào ngày một tháng 3, Phó Đô đốc Ito báo cáo rằng công cuộc tái huấn luyện đã hoàn tất và lực lượng của ông, bao gồm một thiết giáp hạm, một tuần dương hạm, và 10 khu trục hạm, sẵn sàng tham chiến. Nhưng Bộ Tư Lệnh Tối Cao vẫn chưa quyết định được xem có nên sử dụng Đệ Nhị Hạm Đội rách nát vào nhiệm vụ tấn công ở hiện tại, hay là để duy trì phòng thủ trong nước nhằm chống lại cuộc xâm chiếm của địch quân trong tương lai.

Trong lúc các cuộc tranh luận đáng bực mình này tiếp tục ở Tổng Hành Dinh Tokyo, Đệ Nhị Hạm Đội tiến vào Kure và bắt đầu phân phối nhiên liệu một cách dè xẻn. Phía Hải quân cho rằng nên để hạm đội này ở lại trong nước vì khả năng yếu kém của nó. Phía Lục quân đã đề cập đến trận đánh ở Vịnh Leyte, nhằm vạch ra cho Hải quân thấy việc bo bo giữ gìn chiến hạm là điên cuồng, chỉ làm mồi cho phi cơ địch tấn công. Vào ngày 19 tháng 3, lý luận cuối cùng của Lục quân đắc thắng.

Bởi vì vào ngày đó, một lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ tiến sát vào bờ biển Nhật Bản và tung nhiều trăm phi cơ tấn công các chiến hạm đậu ở Kure và Kobe. Không có chiến hạm nào của chúng tôi bị đánh chìm, nhưng 17 chiếc mang đầy thương tích, bao gồm 6 hàng không mẫu hạm và 3 thiết giáp hạm, trong số đó có hai thiết giáp hạm Isa và Hyuga, tồn tại trong trận đánh ở Vịnh Leyte, đã bị trúng bom trong khi nằm sửa chữa tại xưởng tàu ở Kure.

Các tướng lĩnh của Lục quân đã gật gù một cách khoái trá trước những thiệt hại của Hải quân, và nhất là những thiệt hại này gia tăng trong các cuộc tấn công tiếp tục của phi cơ địch vào ngày 20. Đệ Ngũ Không Hạm Đội mới thành lập hồi tháng 2 năm 1945, đã tung hàng trăm phi cơ Thần Phong lên để phản công. Tư lệnh lực lượng này, Phó Đô đốc Matome Ugaki – nguyên Tham Mưu Trưởng của Yamamoto – sau đó đã báo cáo: “Cuộc tấn công do các phi cơ đặc biệt của chúng ta thực hiện đã gây cho 7 hàng không mẫu hạm, 2 thiết giáp hạm và một tuần dương hạm của đối phương lớp chìm, lớp hư hại nặng.” Báo cáo thêu dệt này đã giúp khôi phục uy thế của Hải quân ở Tổng Hành Dinh Tokyo, nhưng lại bị đá hậu. Các chiến lược gia đầu não đã nhẹ dạ tin tưởng vào bản báo cáo này, và họ kết luận không hề đắn đo rằng sau một đòn nặng như vậy, lực lượng đặc nhiệm của địch quân sẽ phải chạy dài về Ulithi để bổ sung và sửa chữa trước khi có thể quay lại trận đánh lần nữa.

Nhưng ba ngày sau đó, vào ngày 23 tháng 3, hàng trăm phi cơ xuất phát từ các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ bắt đầu rải bom lên Okinawa hết ngày này sang ngày khác. Các cuộc không tập này được trọng pháo của chiến hạm Hoa Kỳ tiếp tục ngay sau đó. Các sĩ quan tham mưu Nhật choáng váng, nhưng không đưa ra một hành động cụ thể nào. Thay vào đó, họ tiên đoán, gần như khẳng định, rằng các cuộc đổ bộ của địch sẽ không xảy ra. Nhưng lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ không phải đến “thăm viếng xã giao” vùng biển Okinawa. Họ đến và muốn ở luôn.

Vào ngày một tháng 4 lực lượng Hoa Kỳ đặt chân lên bờ biển Okinawa mà không gặp bất kỳ sự đề kháng nào. Đại tướng Mitsuru Ushijima, Tư Lệnh Binh đoàn 23 đảm trách nhiệm vụ phòng thủ hòn đảo, đã nhận thấy một cách khôn ngoan rằng phòng thủ có chiều sâu sẽ hữu hiệu hơn là cố gắng tiêu diệt địch ở cạnh bờ biển. Hải quân thấy như vậy vội vã la lên: “Tại sao Lục quân không chịu đề kháng?” Lục quân vặn lại: “Tại sao chiến hạm của Hải quân không chịu nhận chìm lực lượng của đối phương?”

Loại lời đi tiếng lại không đi đến đâu cả, nhưng Đô đốc Toyoda, từ 5 tháng nay đã nhẫn nhục trước lối lải nhải của Lục quân, cuối cùng ông phải chịu thua. Vào ngày 5 tháng 4, ông quyết định sử dụng Đệ Nhị Hạm Đội, đúng 4 ngày sau khi của đổ bộ của Hải quân xảy ra.

Ngày đó có hai biến cố đáng chú ý, gây nhiều hậu quả trầm trọng cho Nhật Bản: Thủ tướng (Đại tướng) Kuniaka Koiso từ chức và được Đô đốc hồi hưu Kantaro Suzuki thay thế; và Liên Bang Xô Viết báo cho Nhật Bản biết rằng họ sẽ không kéo dài Hiệp Ước Bất Tương Xâm nữa.

Bấy giờ tôi không biết những chi tiết chuyển động hậu trường của các biến cố này. Vào buổi sáng đầy sương mù đó, Đệ Nhị Hạm Đội buông neo gần Tokuyama trong biển Nhật Bản. Trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Yahagi, tôi đưa mắt nhìn một vòng thẫn thờ nhìn thiết giáp hạm khổng lồ Yamato và 8 khu trục hạm đang buông neo ( hai khu trục hạm khác phải nằm lại Kure để sửa chữa vì trục trặc máy móc).

Tổ chức của lực lượng này như sau:

Đệ Nhị Hạm Đội

Tư lệnh: Phó Đô đốc Seiichi Ito

Thiết giáp hạm Yamato ( cũng là soái hạm của Ito) hạm trưởng là Đề đốc Kosaku Ariga.

Phân đội 2 khu trục hạm , Đề đốc Keizo Komura, chỉ huy trên tuần dương hạm Yahagi.

Hải đội 17 khu trục hạm, Đại tá Kiichi Shitani, bao gồm các khu trục hạm Isokaze – Trung tá Saneo Maeda, Hamakaze – Trung tá Isami Mukoi, Yukikaze – Trung tá Masamichi Terauchi.

Hải đội 21 khu trục hạm, Đại tá Kotaki, bao gồm các khu trục hạm Asashimo – Trung tá Yoshiro Sugihara, Kasumi – Trung tá Hiroo Yanama, Hatsushimo – Trung tá Shigetaka Atamo.

Đệ Nhị Hạm Đội với lực lượng hùng hậu vào những ngày đầu của cuộc chiến hiện thời chỉ còn lại bấy nhiêu chiến hạm này. Cơn mơ màng về nỗi thịnh suy của quá khứ và hiện tại của tôi bị tiếng động của một chiếc thủy phi cơ bay đến từ hướng Đông Nam cắt đứt.

Chiếc phi cơ này nhanh nhẹn và nhẹ nhàng đáp xuống mặt biển, và lướt đến đậu bên cạnh soái hạm Yamato. Tôi nhìn thấy nhiều người leo lên cầu thang của chiếc thiết giáp hạm khổng lồ này. Ngay khi tôi tự hỏi họ là ai, soái hạm đã phất tín hiệu bằng cờ: “Cuộc hành quân Ten-Go có hiệu lực từ giờ phút này.”…

Lập tức, hoạt động trên các chiến hạm trở nên nhộn nhịp, vì cuộc hành quân Ten-Go tức là cuộc tổng phản công của Hải quân ở Okinawa. Đề đốc Keizo Komura, vừa thay thế Kimura, đặt soái kỳ lên tuần dương hạm Yahagi của tôi, được triệu tập đến soái hạm Yamato. Ông vội vã nhảy xuống ca nô và ra đi. Chuyển động này chứng tỏ chiếc thủy phi cơ đã mang đến nhiều nhân vật cao cấp với những tin tức quan trọng.

Tôi đăm đăm nhìn chiếc thiết giáp hạm trong nỗi lo âu, và sau hai giờ không thấy dấu hiệu nào xảy ra, nỗi kiên nhẫn của tôi tiêu tan hẳn. Vào lúc 11h30, Yamato phát tín hiệu: “Đề đốc Komura gửi tất cả các chỉ huy trưởng hải đội và hạm trưởng. Hãy lập tức đến họp trên soái hạm Yahagi.”

Cùng lúc đó, Komura trở về Yahagi, trông có vẻ căng thẳng, nhưng ông không nói với tôi một điều gì cả. Khi tôi dọ hỏi, ông chận lời: “Đừng có bồn chồn, Hara. Hãy chờ cho mọi người đến đầy đủ đã.”

Lời nói của ông khiến tôi giật mình, bởi vì Komura là một người vô tư lự, ít khi dấu diếm những cảm xúc của mình. Tôi để ông một mình, và đưa mắt nhìn 8 chiếc ca nô đang lướt về phía soái hạm Yahagi.

Cuộc họp mở ngay vào giữa trưa. “Quý vị”, Komura nói, “chắc tất cả quý vị đều nhìn thấy tín hiệu cho biết cuộc hành quân Ten-Go có hiệu lực ngay từ bây giờ. Phó Đô đốc Ryuosuke Kusaka, Tham mưu trưởng của Hạm Đội Hỗn Hợp vừa từ Kanoya đến để hội họp với các sĩ quan hàng đầu thuộc hạm đội chúng ta.”

Các thính giả của ông gồm 4 Đại tá và 8 Trung tá yên lặng ngồi nghe. Sau khi ngưng một lúc Komura tiếp:

“Kế hoạch hành quân do Phó Đô đốc Kusaka mang đến là một kế hoạch không bình thường. Bộ Tư Lệnh Tối Cao muốn Đệ Nhị Hạm Đội tiến đến Okinawa, không có phi cơ bao che và với số nhiên liệu vừa đủ cho lượt đi. Tóm lại, Bộ Tư Lệnh Tối Cao muốn chúng ta thực hiện một nhiệm vụ tự sát.”

“Không, nhiệm vụ này đúng ra không phải là một “nhiệm vụ tự sát”, vì “nhiệm vụ tự sát” bao hàm ý nghĩa nhắm vào và thu hoạch được kết quả trên một mục tiêu có giá trị lớn hơn. Tôi đã nói với Kusaka rằng hạm đội yếu kém của chúng ta không có một dịp may nào chống nổi với lực lượng hùng hậu của đối phương, và một cuộc hành quân như vậy sẽ là một “chuyến đi tự sát” với đúng nghĩa tầm thường của nó. Hai Đề đốc Agura và Morishita đã đồng ý với tôi. Phó Đô đốc Ito im lặng, do đó tôi không hiểu ý kiến của ông về lời nói của tôi như thế nào.”

“Như tất cả quý vị đều biết, tôi từng là Tham mưu trưởng của Phó Đô đốc Ozawa khi ông thi hành nhiệm vụ nhử địch ở Philippines và thiệt mất 4 hàng không mẫu hạm. Tôi nhận thấy việc sát hại người của chúng ta là đã quá đủ rồi. Tôi không quan tâm đến mạng sống của tôi, nhưng tôi muốn giảm bớt sự đùa cợt trên mạng sống thuộc cấp tôi bằng cách đẩy họ vào một chuyến đi tự sát đúng nghĩa. Theo đó, tôi đã yêu cầu Ito và Kusaka tạm ngưng phiên họp để tôi trở về hội ý với quý vị.”

Sau những lời này, Komura nghiến chặt răng và nhắm nghiền đôi mắt đầy nước mắt của ông lại. Sự yên lặng nặng nề bị phá vỡ khi Đại tá Kiichi Shitani, thay thế ông bạn Miyazaki của tôi trong chức vụ Chỉ huy trưởng Hải đội 17 khu trục hạm trước đây, cất tiếng: “Đô đốc Kusaka đến đây để cắm những lệnh này vào cổ chúng ta?”

Komura đáp: “Không ai có thể ra lệnh cho người khác tự sát được. Kusaka không liên quan gì đến mấy lệnh lạc này. Nếu có đi nữa, ông ta cũng không thể ra lệnh cho chúng ta như vậy.”

Shintani đỏ mặt tía tai, hít một hơi thở thật dài, và lớn tiếng: “Tôi đã có đi với Kurita tham dự trận đánh ở Vịnh Leyte sau ngày quân Mỹ đổ bộ. Nếu Bộ Tư Lệnh Tối Cao muốn chúng ta đẩy địch quân ra khỏi đầu cầu đã được củng cố của họ ở Okinawa thì không khác nào tiếp tục theo đuổi phương thức giết người ở Leyte. Tuy nhiên, nỗ lực của Kurita còn tỏ ra thực tế hơn, vì ít ra ông ta còn có Ozawa làm nhiệm vụ nhử địch. Không có lực lượng chim mồi, chúng ta sẽ không có bất kỳ hy vọng nào để chiến thắng. Cuộc hành quân của chúng ta sẽ làm trò cười cho đối phương. Nếu chúng ta cố làm một việc như vậy, tất cả chúng ta sẽ bị tiêu diệt, và lúc ấy ai sẽ bảo vệ quê hương? Tôi chống đối cuộc hành quân này.”

Đại tá Hisao Kodaki, Chỉ huy trưởng Hải đội 21 khu trục hạm tiếp lời: “Tôi đồng ý với Shintani. Bộ Tư Lệnh Tối Cao đã lặp lại sai lầm của nhiều tháng trước đây. Tại sao chúng ta, những người đã từng trải qua biết bao nhiêu chiến trận, lại để cho một bọn lãnh đạo ngu xuẩn và bất tài dẫn dắt như kẻ đui mù? Tại sao chúng ta không có tiếng nói căn cứ trên kinh nghiệm thực tế của chúng ta?”

Các hạm trưởng dưới quyền Shintani và Kodaki lần lượt lên tiếng và tán thành ý kiến của chỉ huy trưởng của họ. Việc này nhanh chóng biến phiên họp trở nên sôi động nhất mà tôi chưa từng thấy. Nhưng Komura hoàn toàn lặng yên và bất động, đôi mắt ông vẫn khép lại.

Tôi cảm thấy đến lúc phải lên tiếng, tôi nói: “Vấn đề thực tế mà chúng ta phải làm là tấn công các đường tiếp tế của địch quân. Tôi thích thi hành các sứ mạng đơn độc. Hiện thời chiếc Yahagi đã được trang bị radar và sonar, tôi nghĩ rằng nó có thể ra đi một mình, và ít ra nó cũng sẽ đánh chìm năm ba chiến hạm địch trước khi bị hạ. Làm như vậy có ý nghĩa hơn, vì theo tôi, toàn thể hạm đội đến Okinawa chẳng khác nào mang trứng chọi đá.”

Đại tá Masayoshi Yoshida, Chỉ huy trưởng hải đội 41 khu trục hạm lên tiếng kế đó: “Ý kiến của Hara phù hợp với ý kiến của tôi. Hai khu trục hạm Fuyutsuki và Suzutsuki của tôi là những khu trục hạm được trang bị cao xạ tối tân nhất. Hai khu trục hạm này được tạo nên bằng máu, nước mắt và thuế má của quốc gia nghèo khổ của chúng ta, nhưng cả hai chưa từng được giao phó một công việc có giá trị nào. Tôi tin chắc nó có thể thi hành nhiệm vụ riêng rẽ một cách tốt đẹp, như Hara vừa nói.”

Trung tá Yoshiro Sugihara, nguyên hạm trưởng khu trục hạm Samidare bị đánh chìm vào tháng 8 vừa qua và hiện thời là hạm trưởng khu trục hạm Asashimo, nhiệt liệt ủng hộ ý kiến của Yoshida. “Tôi đã sống an nhàn quá lâu,” hắn nói, “nên tôi chuẩn bị chết bất kỳ lúc nào, nhưng không phải là một cái chết vô nghĩa, như sự đòi hỏi của thượng cấp. Chiếc Asashimo của tôi là một chiến hạm 2.520 tấn, tôi muốn được cơ hội để chứng tỏ chiếc tàu này có lợi ích thiết thực cho quốc gia.

Phiên họp dừng lại khi đầu bếp dọn bữa ăn trưa nhưng thức ăn không có mùi vị gì với mọi người. Trong suốt bữa ăn, các hạm trưởng khu trục hạm bàn đi tán lại mấy ý kiến vừa qua. Lúc 13 giờ, Komura quay lại soái hạm Yamato. Các sĩ quan vẫn ở lại trên chiếc Yahagi chờ đợi một cách nôn nóng. Lúc 16h, Komura trở về.

Ông bước chậm chạp vào phòng khách, gương mặt đầy khổ não. Ông nói một cách mệt mỏi và chán nản: “Tôi chấp nhận lệnh của thượng cấp. Lệnh này có hiệu lực từ 15h30.”

Sau câu này ông như trút được gánh nặng. Ông lướt mắt quanh phòng, nhìn từng người một, sau đó tiếp tục nói:

“Tôi mất một giờ để trình bày ý kiến của quý vị và sự đồng ý của tôi về các ý kiến này. Kusuka và những người khác lắng nghe một cách chăm chú. Khi tôi dứt lời, Kusuka giải thích rằng chuyến đi này là một nhiệm vụ nhử địch. Ông nhấn mạnh đây không phải là kế hoạch của ông, nhưng nó đã được sắp sếp trong lúc ông viếng thăm Kanoya. Theo kế hoạch này, trong khi các hàng không mẫu hạm của đối phương mắc bận đối phó với hạm đội của chúng ta, Kanoya – phi trường nằm ở cực nam Kyushu – sẽ cho nhiều trăm phi cơ Thần Phong tấn công Okinawa. Kusaka bảo đảm với tôi rằng hải xuất chim mồi này sẽ không kết thúc một cách vô ích như hải xuất ở Vịnh Leyte.”

“Sau đó, Kusaka đã xoay sang Morishita và giải thích rằng Bộ Tư Lệnh Tối Cao và đặc biệt là thành phần Lục quân, đã tỏ ra chán nản về sự thất bại của soái hạm Yamato, nhưng theo cảm nghĩ của ông ta, đó không phải là lỗi lầm của Morishita ( lúc ấy là hạm trưởng của Yamato), vì ông đã làm được một việc đáng kinh ngạc là tránh né được tất cả ngư lôi của đối phương, trong khi chiếc Mushashi lại trở thành nạn nhân của những quả ngư lôi này. Tuy nhiên, Kusaka nói rằng Tokyo không hài lòng khi biết soái hạm Yamato đã rút lui mà các khẩu trọng pháo 350mm của nó không bắn được một phát đạn nào vào địch quân. Morishita đã tỏ ra bẽn lẽn với những lời ghi nhận này.”

“Kế đó, Kusaka nói với Agura (thay thế Morishita sau trận Leyte) rằng cả nước Nhật Bản sẽ oán ghét hải quân nếu cuộc chiến này chấm dứt mà chiếc Yamato không bị một vết trầy nào. Từ trước đến nay Agura không vấp phải lỗi lầm nào, do đó ông ta tin rằng chiếc Yamato sẽ không bỏ chạy như trong chuyến ra quân đầu tiên ở Leyte sau 3 năm được giữ gìn, và thiết giáp hạm khổng lồ này sẽ không còn bị mang danh là “khách sạn nổi cho các vị Đô đốc vụng về và lười biếng”.

“Tới đây, Ito phá vỡ sự im lặng quá lâu của ông: Tôi nghĩ là chúng ta được trao cơ hội để chết một cách thích đáng. Một Samurai phải sống một đời sống như vậy, hắn luôn luôn chuẩn bị để chết. Sau lời nói của Ito, cuộc tranh luận hoàn toàn chấm dứt. Morishita và Agura đều nhượng bộ. Tôi cũng không thể làm khác hơn họ.”

Komura cúi đầu thật thấp sau câu nói cuối cùng này, như để thay lời tạ lỗi. Chúng tôi ngồi bất động. Khi những giây phút lê thê như hàng giờ trôi qua, tôi quyết định đấu mặt với thực tế. Tôi nói: “Thưa Đề đốc, việc Đề đốc vẫn giữ vững quan điểm của chúng ta, tôi rất tán thành. Nhưng lệnh vẫn là lệnh. Hiện thời chúng ta chỉ còn biết cố gắng hết sức của chúng ta để cải thiện tình thế.”

Đề đốc Komura nhìn tôi với đôi mắt biết ơn: “Cảm ơn anh, Hara!”

Ba chỉ huy trưởng hải đội – Kodaki, Shintani, Yoshida – chấp nhận mệnh lệnh, và xoay sang hỏi ý kiến các hạm trưởng dưới quyền. Cả tám Trung tá đều đồng lòng tán thành.

Việc thay đổi ý kiến một cách nhanh chóng như vậy chắc khiến cho các độc giả ngoại quốc lấy làm khó hiểu. Sở dĩ Kusaka cố gắng thuyết phục các vị sĩ quan cao cấp để họ chấp nhận mệnh lệnh, bởi lẽ mệnh lệnh này chưa bao giờ được đưa ra trước đây, và chỉ được thi hành hữu hiệu một khi có sự chấp nhận của kẻ thi hành mệnh lệnh. Nhưng trên nguyên tắc, chúng tôi không có quyền phản kháng bất kỳ mệnh lệnh nào do thượng cấp đưa ra, hơn nữa chúng tôi đều biết mệnh lệnh của Hải quân Hoàng Gia là các mệnh lệnh tuyệt đối. Do đó, sau khi ý kiến bị bác bỏ, dù muốn hay không, chúng tôi vẫn phải thi hành nhiệm vụ.

Sau chiến tranh, Kusuka đã nói với tôi rằng đó có lẽ là lần đối phó khó khăn nhất trong đời ông. Ông giải thích thêm : “Khi nhận chức vụ Tổng Tư Lệnh Hạm Đội , một hạm đội hữu danh vô thực, Ito đã chuẩn bị sẵn cái chết. Từng giữ chức vụ Tham Mưu trưởng khá lâu, ông ta cảm thấy có trách nhiệm về những trận thảm bại liên tục của chúng ta. Vào thời gian đó chỉ còn một vài người giữ được tâm trí bình thường, và tinh thần Kamikaze đã thâm nhập vào hầu hết binh chủng Hải quân.

Sau khi chấp nhận mệnh lệnh, sĩ quan các cấp đều tề tựu về thiết giáp hạm Yamato để tham dự một buổi thuyết trình. Phó Đô đốc Ito đã kết thúc buổi họp với những lưu ý: “Vì nhiệm vụ này khác thường, các vị chỉ huy trưởng nên di chuyển tất cả các sĩ quan thực tập, những người đau ốm và… bất kỳ người nào xét thấy không thích hợp. Đây là một vấn đề thuộc quyền cân nhắc của quý vị.”

Trở về Yahagi, tôi cho sĩ quan và hạ sĩ quan tụ họp khẩn cấp trên tàu. Tôi giải thích mệnh lệnh vừa nhận được và nhìn chăm chú khuôn mặt từng người để xem phản ứng. Không khí căng thẳng, nhưng tôi ngạc nhiên và thở phào nhẹ nhõm khi nhận thấy không ai tỏ vẻ phản đối.

Để kết luận, tôi nói: “Đây là một sứ mạng không bình thường, tôi cần phải nói cho quý vị biết, nếu bất cứ người nào trong quý vị thấy mình sẽ phục vụ tốt hơn nếu bỏ qua chuyến đi này, quý vị đó sẽ rời khỏi tàu cùng với các sĩ quan thực tập, những thủy thủ đau yếu và những người khác xét thấy không thích hợp cho nhiệm vụ. Tôi yêu cầu quý vị nào muốn như vậy, hãy đến phòng báo cho tôi biết sau cuộc họp này.”

Tôi đã diễn dịch rộng rãi các chỉ thị của Phó Đô đốc Ito hơn, nhưng tôi cảm thấy sự diễn dịch này nằm trong ý định của ông. Trong phòng riêng, tôi nhìn tấm ảnh chụp chung toàn thể gia đình như nói lời vĩnh biệt, và nghĩ đến hầu hết thủy thủ đoàn Yahagi đều là những người đã có gia đình, tôi tự hỏi có bao nhiêu người sẽ nêu ra lý do này để ở lại? Hơn 1000 người chắc chắn sẽ thiệt mạng nếu họ không đáp ứng lời kêu gọi của tôi. Tôi chờ đợi tiếng gõ cửa, nhưng tôi đã kinh ngạc khi phụ tá của tôi là Trung tá Uchino bước vào:

“Thưa Đại tá, chỉ có 22 sĩ quan thực tập, và 15 thủy thủ đau yếu.”

“Chỉ có bao nhiêu đó thôi sao, Uchino? Không còn ai khác muốn rời khỏi tàu?”

“Dạ không, thưa Đại tá. Mọi người khác đều bằng lòng thi hành nhiệm vụ.”

Tôi bước ra sàn tàu, đến trước mặt 37 người đang chờ đợi, tôi nói với họ: “Các bạn được lệnh rời khỏi chiếc tàu này ngay bây giờ. Tôi biết rằng tất cả các bạn sẽ có một cơ hội tốt đẹp hơn để chiến đấu cho quê hương sau này.”

Khi tôi quay lưng, một thanh niên nhảy ra khỏi hàng và la to: “Thưa Đại tá, xin Đại tá cho phép tôi ở lại. Tôi xét mình vô dụng, nhưng nếu Đại tá để tôi ở lại, bất kỳ việc gì tôi cũng làm hết.”

Một gã khác bật khóc: “Tại sao lại dựa vào lý do chúng tôi là những người vừa mới ra khỏi Hàn Lâm Viện để loại bỏ chúng tôi? Chúng tôi có thể làm công việc vệ sinh không đến nỗi mà?”

Tôi than thầm khi một số khác làm dữ hơn. Để dập tắt sự ồn ào này, tôi hắng giọng, và nói: “Các bạn bước chân lên tàu này chỉ mới hai ngày. Ngay cả một vòng thực tập sơ khởi các bạn cũng chưa hoàn tất. Các bạn là những hạm trưởng tương lai, sinh mạng của các bạn không được phí phạm. Các bạn phải lên bờ, đó là lệnh của tôi.”

Tôi dứt lời, quay lưng và rảo bước một vòng để xem qua các hoạt động hối hả trên chiếc Yahagi. Mọi người bận rộn kiểm soát vũ khí và dụng cụ. Khoảng 100 thủy thủ được trang bị lưỡi lê để sử dụng sau khi đổ bộ lên Okinawa.

Thiết giáp hạm Yamato 72.400 tấn tiến sát vào bờ để nhận nhiên liệu tại các ống dẫn dầu chuyển từ kho dầu Tokuyama. Các bồn chứa của kho dầu trung ương khổng lồ này bị hút cạn trong nháy mắt.

Trong lúc ba xà lan cập dọc theo chiếc Yahagi để cung cấp nước uống, tôi hỏi Uchino về tình trạng thực phẩm.

Hắn đáp: “Chúng ta đã nhận đầy đủ ở Kure, hiện thời thực phẩm trên tàu có thể dùng ít nhất 20 ngày cho 1000 thủy thủ đoàn.”

Tôi hỏi: “Trong nước hiện đang lâm vào tình trạng thiếu thốn thực phẩm, tại sao chúng tôi không chuyển hết lên bờ, chỉ chừa lại 5 ngày? Đối với chuyến hải xuất chỉ một lượt đi của chúng ta, tôi nghĩ không cần phải mang theo một số lượng thực phẩm quá thừa thãi như vậy.”

Uchino nói: “Tôi đồng ý với Đại tá! Để tôi yêu cầu các xà lan mang những vật dụng thừa thãi đi hết cho rồi.”

Viên chỉ huy xà lan có vẻ ngơ ngác trước yêu cầu nhận khối hàng hóa khổng lồ của chúng tôi. Tôi và Uchino không thể giải thích rõ các lý do cho hắn hiểu, do đó chúng tôi phải tìm hết cách để nói và dỗ dành cho đến khi hắn đồng ý mới thôi. Khi đồ dư đã được chuyển đi hết, chiếc Yahagi đã đến đậu cạnh soái hạm Yamato để lấy nhiên liệu lần cuối cùng. Sau đó, chúng tôi chạy ra xa để buông neo. Ba Chỉ huy trưởng hải đội và 3 hạm trưởng được mời lên chiếc Yahagi để tham dự một buổi tiệc rượu vĩnh biệt.

Đề đốc Komura, chủ nhân của buổi tiệc này, không thể ngồi ủ rũ lâu hơn sau khi khối lượng sake vĩ đại được tiêu thụ. Mọi người cố vui vẻ. Những câu pha trò cũ kỹ nhàm chán vẫn gây được tiếng cười. Một số sĩ quan ca hát hoặc biểu diễn các trò kỹ xảo nhanh tay lẹ chân, hay dở gì cũng được tung hô vang dậy. Số lượng sake giảm sút nhanh, nhưng chưa có ai say khướt. Chất rượu không công hiệu. Ai ai cũng đều cố gắng chứng tỏ dũng khí của mình, nhưng mà có một cái gì không được tự nhiên trong giọng nói tiếng cười. Buổi họp mặt tan trước nửa đêm một vài giờ, bỏ lại 30 chai sake loại lớn không còn một giọt nào. Khi bước xuống cầu thang và leo lên ca nô đang chờ đợi để trở về tàu, mọi người đều tỏ ra tỉnh táo và vững vàng.

Khi khách đã đi hết, Trung tá Uchino mời Đề đốc Komura và tôi tham dự một bữa tiệc khác trong phòng ăn của chiếc Yahagi. Ở đây đã có khoảng 20 sĩ quan trung cấp tụ tập. Chúng tôi mời rượu, chúc tụng lẫn nhau, cất tiếng hát những bài hát của Hải quân và cười đùa với những sĩ quan trẻ này. Không giống như mấy viên sĩ quan hạm trưởng lớn tuổi, những người ở đây đều vui đùa buông thả.

Sau đó, Komura, Uchino và tôi bước sang phòng kế bên. Nơi đây cũng có một bữa tiệc cuối cùng dành cho các sĩ quan cấp thấp. Chúng tôi lại uống rượu và ca hát với họ. Các bữa tiệc vĩnh biệt trên soái hạm Yahagi chấm dứt vào lúc 23h30. Khi chỉ còn lại Komura, Uchino và tôi, tôi biết họ đã cùng chia sẻ mối ưu tư của tôi. Đó là vấn đề chiếc Yahagi sẽ tìm cách đối phó với nhiệm vụ trước mặt như thế nào. Về phần các sĩ quan thì có thể tạm yên, nhưng còn hàng binh sĩ thì sao? Chúng tôi quyết định đi một vòng qua các nơi nghỉ ngơi của họ. Trong những khoảng trống nhỏ hẹp trên chiếc tàu, hàng ngàn chiếc võng giăng mắc tứ phía. Ngoại trừ tiếng ngáy của những người nằm trên võng, không còn một tiếng động nào khác. Họ đều ngủ một cách bình thản.Chúng tôi nhón gót trở lên sàn giữa, và Uchino lên tiếng: “Họ ngủ như những đứa trẻ. Sở dĩ họ bình tĩnh được như vậy là vì họ đã đặt sự tin tưởng vào Đại tá. Họ biết rằng Đại tá sẽ bảo vệ họ, dù cho nhiệm vụ hiểm nghèo như thế nào.”

Niềm vui tràn ngập đồng thời khối lượng rượu quá mức trong thân thể tôi bắt đầu công phạt. Tôi cảm thấy mặt mày choáng váng, đôi chân lảo đảo, và cơn say ùa đến thình lình. Những giọt nước mắt trào ra va chảy xuống đôi má khi tôi bám vào một cây cột trên tàu và hét to: “Nhật Bản bất diệt, Yahagi bất diệt..”

Tiếng hét này là những gì cuối cùng mà tôi còn nhớ được của cái đêm khó quên đó. Uchino đỡ tôi vào phòng, và tôi rũ xuống trên giường.

Ngày hôm sau là thứ Bảy, 6 tháng 4, tôi thức dậy vào lúc 6h sáng. Thời tiết trong sáng. Tôi bước lên sàn tàu, hít một hơi thở thật dài. Tôi lắc mạnh đầu và ngạc nhiên thấy cơn say tối qua không để lại dấu vết nào hết.

Một cơn gió nhẹ lướt qua, sóng gợn lăn tăn trên mặt biển Nhật Bản êm đềm. Xa xa, dọc theo bờ biển, hoa anh đào ánh lên một màu rực rỡ, và sau quanh cảnh này là những rặng núi nổi bật dưới bầu trời sáng chói. Sự hy sinh của chúng tôi cho quê hương tuyệt mỹ này không có gì đáng tiếc.

Uchino bước lên chào tôi. Tôi chào lại anh ta và nói: “Một ngày đẹp trời, phải không Uchino?”

“Quá đẹp, thưa Đại tá. Một chiếc B-29 bay phía trên chúng ta vào lúc 1h khuya, và 2 chiếc khác vào lúc 4h sáng. Địch đang bám sát động tĩnh của chúng ta.”

Tôi im lặng gật đầu. Việc này đúng với dự đoán của tôi. Sau một vài phút đứng nhìn về quê hương lần cuối, tôi quay vào phòng. Lúc 10h, một thủy thủ giúp việc bước vào phòng và nói: “Thưa Đại tá, 15 phút nữa tàu đưa thư cuối cùng sẽ rời khỏi đây để chạy đến Tokuyama. Đại tá có gì để gửi đi không?”

“Không, không có gì cả.” Khi tên thủy thủ biến dạng, tôi lại cảm thấy cần phải gửi một bức thư vĩnh biệt cho vợ tôi. Chỉ cần một vài hàng, vì thời gian gấp rút quá rồi, tôi viết vội vã:

“Trong vòng hai năm qua, kích thước của Hạm Đội Hỗn Hợp đã rút nhỏ lại một cách không thể tưởng tượng được. Hiện tại, anh là hạm trưởng của tuần dương hạm duy nhất còn lại của hạm đội này – chiếc Yahagi 8.500 tấn. Anh sắp thi hành một nhiệm vụ đặc biệt ở Okinawa. Đó là trách nhiệm và cũng là một vinh dự to lớn được chỉ huy một chiếc tàu trong chuyến hải xuất này. Em chỉ cần hiểu rằng anh rất sung sướng và hãnh diện được có mặt trong dịp may này.

Vĩnh biệt!”

Tôi bỏ bức thư vào phong bì và dán lại, đoạn cầm chạy ra cầu thang, ngay lúc chiếc tàu đưa thư sắp sửa lên đường. Trở vào phòng, tâm hồn tôi cảm thấy thanh thản. Tôi nhìn 8 khu trục hạm đậu gần đó, nghĩ đến thời gian qua và những gì xảy ra quanh các chiến hạm này.

Yukikaze (Tuyết Phong) đã tham dự nhiều trận đánh dữ dội nhưng vẫn tồn tại. Chiếc tàu này cũng nổi tiếng không thua gì chiếc Shigure của tôi. Tôi nhớ lại bài hát đã từng quảng bá ở Truk và Rabaul trước đây:

Shigure của Sasebo, Yukikaze của Kure.

Hai khu trục hạm kiên cố và bất diệt.

Phép lạ trong mơ của muôn ngàn thủy thủ.

Luôn luôn trở về sau chiến trận vinh quang.

Bài hát đã từng là một thúc đẩy tinh thần mạnh mẽ đối với thủy thủ của tôi. Bây giờ Shigure đã ra đi vĩnh viễn, nhưng Yukikaze chắc chắn sẽ tiếp tục chứng tỏ phép lạ của nó.

Tôi nhìn sang khu trục hạm Suzutsuki (Lãnh Nguyệt), 3.470 tấn, và nghĩ đến thành tích đáng ngạc nhiên của tàu này. Hạ thủy vào cuối 1912, Suzutsuki đã từng bị một tàu ngầm địch phóng 2 quả ngư lôi vào ngày 16 tháng Giêng năm 1944, gần Shikoku, eo biển Bungo. Mũi và lái bị vỡ, nhưng “Lãnh Nguyệt” không chịu chìm và tìm mọi cách lết về Kure. Chín tháng sau, “Lãnh Nguyệt” lại lĩnh thêm một quả ngư lôi của địch ở trước mũi, cũng gần Shikoku, và giống như lần trước, chiếc tàu này vẫn ráng lết về Kure và được sửa chữa lại. “Việc gì đã xảy ra hai lần thì thế nào cũng xảy ra lần thứ ba,” tôi nghĩ và thoáng mỉm cười, nhưng lần này không thể hiểu được số phận của Suzutsuki như thế nào.

Còn chiếc Hibiki, đáng lẽ nó phải có mặt trong lực lượng này, nhưng nó bị trúng một trái mìn nổi vào sáng sớm ngày 5 tháng 5, và đã khập khễnh về Kure. Tôi cảm tình đặc biệt với chiếc khu trục hạm nhỏ bé 1.980 tấn này. Sự vắng mặt của nó thật đáng tiếc. Khi nghe tai nạn xảy ra, tất cả chúng tôi đều tức bực. Một khu trục hạm Nhật bị hư hại vì trúng một quả mìn ngay trên biển Nhật Bản là một điều nhục nhã. Thời gian đó, các pháo đài bay B-29 của Hoa Kỳ đã rải rất nhiều mìn trên mặt biển này và ngay các thủy phận khác của Nhật Bản cũng không an toàn. Vấn đề này đã ảnh nhưởng rất nhiều trong quyết định tung tất cả chiến hạm còn lại của chúng tôi vào Okinawa.

Nhìn đến chiếc Hatsushimo, tôi không thể tin là nó sẽ tồn tại trong chuyến đi không có lượt về này. Sự thật lại trái ngược nhưng chiếc Hatsushimo trở về chỉ để nhận lãnh một quả ngư lôi trong biển Nhật Bản vào ngày 30 tháng 7 và trở thành chiến hạm thứ 129, cũng là khu trục hạm cuối cùng của Nhật, bị đánh chìm trong Thế Chiến II.

Lệnh nhổ neo ban ra vào lúc 16h. Hải xuất “tấn công đặc biệt” của 10 chiến hạm thuộc Hạm Đội Hỗn Hợp đã phát động. Tuần dương hạm Yahagi chạy dẫn đầu, kế đó là 3 khu trục hạm Isokaze, Hamakaze, Yukikaze và tiếp theo là thiết giáp hạm Yamato, các khu trục hạm Asashimo, Kasumi và Hatsushimo chạy nối đuôi phía sau.

Khi chúng tôi tiến với tốc độ 12 hải lý chậm chạp, nhằm để tránh mìn, tôi liếc qua đội hình khiêm nhường của lực lượng, tôi hiểu rằng đây quả thật là hải xuất cuối cùng của Hải quân Hoàng Gia, đồng thời tôi cảm thấy hãnh diện khi được dẫn đầu chuyến đi định mệnh này.

Hai giờ sau, chúng tôi tiến vào eo biển Bungo, nằm giữa Kyushu và Shikoku. Bên trái chúng tôi, bờ biển chạy dài ở phía Bắc Shikoku chỉ còn lờ mờ trước tầm mắt. Tôi đứng lặng yên để chào vĩnh biệt hòn đảo sinh quán này.

Qua khỏi eo biển nhỏ hẹp, hải vực đầy mìn đã nằm phía sau lưng, chúng tôi gia tăng tốc độ. Nhưng những rắc rối mới đã xuất hiện trước mắt. Hai chiếc B-29, bay cao khỏi tầm cao xạ, thả một loạt bom xuống ngay đoàn tàu của chúng tôi. Không một quả bom nào trúng mục tiêu, nhưng thách thức này đã báo trước hiểm nguy đang chờ đón chúng tôi. Tôi thấy bất an khi nghĩ đến 10 chiến hạm, chỉ một chiếc Yamato và 2 khu trục hạm là có trang bị radar phòng không. Radar của chiếc Yahagi chỉ hữu dụng trong việc chống lại các mục tiêu trên biển mà thôi.

Nhưng hiện thời không có thời gian nhiều để quan tâm đến những vấn đề như vậy. Mỗi chiến hạm đều tập họp thủy thủ trên sànn tàu. Trên chiếc Yahagi, giữa sàn tàu rộng bao la, 1000 thủy thủ đứng im phăng phắc để nghe tôi trình bày tóm lượt nhiệm vụ của chúng tôi và đọc một thông điệp đặc biệt của Đô đốc Soemu Toyoda gửi đến:

“Hải quân Hoàng Gia đang phát động một cuộc tổng phản công chống lại địch quân ở Okinawa, với sự phối hợp của tất cả lực lượng không hải bộ của Lục Quân, dồn hết nỗ lực vào cuộc hành quân này nhằm lật ngược tình thế của cuộc chiến.

“Hy vọng rằng mọi đơn vị và mọi binh sĩ đều nêu cao tinh thần chiến đấu và diệt địch, nhờ vậy, quốc gia của chúng ta mới mong trường tồn, vì vận mạng của quốc gia đều nằm trong cuộc hành quân này.”

Không một tiếng động nào khác ngoài tiếng chạy rì rầm của máy tàu, tiếng vỗ của sóng và tiếng phần phật của lá cờ Mặt trời mọc đang tung bay trên cột. Tôi tiếp tục:

“Các bạn vừa nghe thông điệp đặc biệt của Tổng Tư Lệnh. Tôi muốn thêm một đôi lời về nhiệm vụ tấn công đặc biệt của chúng ta.”

“Như các bạn đã biết, hàng nhiều trăm chiến hữu của chúng ta đã thực hiện những chuyến bay không trở về để chống lại đối phương và hàng ngàn phi công tự nguyện thi hành cùng một nhiệm vụ này đang chờ đợi trên khắp các phi trường. Hàng nhiều trăm chiến hữu khác đã sẵn sàng trên các tàu ngầm tự sát. Hàng nhiều ngàn chiến hữu khác nữa sẽ lái tàu phóng lôi chứa chất nổ hoặc đích thân mang chất nổ lặn sâu xuống đáy biển để hủy diệt chiến hạm địch quân.”

“Công việc của chúng ta, trong nhiệm vụ này, là chia sẻ sự dũng cảm của các chiến hữu đó. Nhiệm vụ của chúng ta có vẻ như là tự sát, và sự thật nó là như vậy. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng đó không phải là mục đích của chúng ta. Mục đích của chúng ta là chiến thắng.”

“Đừng ngần ngại trong việc bảo vệ mạng sống của mình. Chúng ta bắt buộc phải chống trả bất kỳ nỗ lực nào của địch quân nhằm ngăn trở nhiệm vụ của chúng ta, nhưng không vì vậy mà chúng ta xem thường mạng sống của mình.”

“Chúng ta không phải là những con cừu non dùng để tế thần. Chúng ta là những con sư tử được thả ra đấu trường để nuốt tươi đấu thủ. Chúng ta không phàn nàn hối tiếc khi phải hy sinh cho quốc gia.”

“Lập tức, khi chiếc tàu này bị hư hại nặng hay bị đánh chìm, các bạn đừng lưỡng lự trong việc tự cứu mình, bởi lẽ thua keo này sẽ bày keo khác. Tôi nhắc lại, nhiệm vụ giao cho các bạn không phải là tự sát, mà là đánh bại đối phương.”

Thấp thoáng trong mây, ánh trăng xuân phủ một màu nhợt nhạt lên đám thính giả yên lặng và bất động như những pho tượng của tôi. Sự im lặng đầy căng thẳng này kéo dài cho đến khi một sĩ quan đứng ở hàng đầu lên tiếng:

“Thưa Đại tá, xin Đại tá cho phép tôi hỏi một câu?”

Tôi gật đầu đồng ý cho Đại úy Kenji Hatta hỏi. Anh ta tiếp tục: “Trong suốt 4 năm theo học ở Hàn Lâm Viện, chúng tôi được dạy dỗ rằng phải sống chết với chiếc tàu, có nghĩa là chúng tôi không được bỏ rơi chiếc tàu của chúng tôi trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đại tá có thể giải thích rõ hơn về những lưu ý của Đại tá, theo tôi, hình như phủ nhận những gì mà chúng tôi được dạy dỗ.”

Câu hỏi này hiển nhiên nằm trong đầu của các sĩ quan hiện diện. Tôi đáp: “Câu hỏi rất có lý. Tôi sẽ cố gắng giải đáp. Nếu chiếc tàu sắp chìm các bạn phải lập tức bỏ rơi, không chần chờ một giây phút nào. Việc này có vẻ trái ngược với những gì các bạn đã từng được dạy dỗ trong quá khứ, nhưng tôi sẽ giải thích.”

“Chúng ta đã tiến đến một điểm bối rối nhất trong cuộc chiến này. Vật lực của địch quân đã đành là ghê gớm nhưng điều quan tâm hơn hết của chúng ta là vấn đề thiếu nhân sự giỏi, bởi vì chúng ta đã thiệt mất quá nhiều ngoài mặt trận. Phải mất 5 năm mới đào tạo được một sĩ quan, do đó sự mất mát này không thể thay thế mau lẹ được. Nhiều thủy thủ rành nghề đã thiệt mạng vì họ xem rẻ mạng sống của họ. Nếu nhiệm vụ của chúng ta là chiến thắng cuộc chiến này, chúng ta phải kiên nhẫn.”

“Trong thời phong kiến, mạng sống của con người bị phí phạm một cách vô ích, nhưng chúng ta là những con người của thế kỷ 20, chúng ta không thể làm như vậy. Giáo điều Bushido (tâm niệm của giới võ sĩ đạo) dạy rằng một Samurai phải sống một đời sống như thể hắn luôn luôn chuẩn bị để chết. Câu này thường bị lạm dụng và diễn giải sai lầm. Nó không có nghĩa là một Samurai phải tự sát, nếu hắn vấp phải những sai lầm không đáng kể. Đúng ra, nó có nghĩa là một Samurai đã chọn một đời sống như vậy, hắn sẽ không hối tiếc khi phải chết. Bushido chỉ kêu gọi tự sát khi chúng ta vấp phải những sai lầm to lớn. Cái chết đến với một người bất kỳ lúc nào, không cần biết đến người đó đã sống một đời sống ra sao. Cái chết chỉ khác nhau ở ý nghĩa mà thôi. Câu hỏi của anh được giải đáp như vậy có ổn chưa, Hatta?”

“Ổn lắm, thưa Đại tá!” Anh ta nói lớn. “Tôi đồng ý với Đại tá hoàn toàn. Cám ơn Đại tá rất nhiều.” Và hắn ta đưa tay chào tôi.

Tôi lớn tiếng: “Tất cả chúng ta hãy tận lực để xoay dòng thủy triều của cuộc chiến.”

Cuộc họp chấm dứt bằng những tiếng hoan hô Nhật Hoàng và Yahagi đồng loạt như sấm dậy của toàn thể thủy thủ đoàn.

Một cuộc thực tập tấn công cuối cùng đã diễn ra trên hải trình của chúng tôi. Soái hạm Yamato được xem là địch quân và tất cả các chiến hạm khác vừa chạy vừa tấn công vào mục tiêu này. Đây là lần đầu tiên chiếc Yahagi có cơ hội đạt đến tốc độ tối đa 35 hải lý. Nhưng thời gian thực tập này rất ngắn ngủi, chúng tôi phải chạy về đội hình để tiến về phía Nam.

Truyền tin của chúng tôi đã bắt được công điện chuyển đi từ một chiếc tàu ngầm địch quanh quẩn đâu đó. Yamato ra lệnh quay về hướng phải để tiến sát vào Kyushu nương tựa bờ biển phía Đông của hòn đảo này. Trăng lên, đại dương đen thẫm, và thời tiết đột nhiên trở xấu. Các quan sát viên mở hết mắt nhưng cũng không nhìn thấy gì cả. Mọi người căng thẳng, nhưng tàu ngầm địch không tấn công.

Tôi không biết vào ngày hôm đó khu trục hạm cũ của tôi là chiếc Amatsukaze bị phi cơ địch oanh tạc tan tành ở Đông Hải của Trung Hoa, thảm họa nhỏ này mở màn cho thảm họa lớn hơn giáng xuống hạm đội của chúng tôi. Nhưng cho dù biết được tin tức không tốt lành của chiếc Amatsukaze, tôi cũng không cho đây là một điềm dữ báo trước. Bởi vì, như tôi đã nói với thủy thủ đoàn của chiếc Yahagi, tôi vẫn luôn luôn nghĩ của hành quân hiện tại sẽ thành công. Trong đầu tôi cũng không có một nơi nào dành cho sự chiến bại.

Một hàng dọc, chạy theo hình chữ chi, với tốc độ 20 hải lý, hạm đội của chúng tôi tiến dọc theo bờ biển phía Nam Kyushu. Lúc 7h sáng ngày 7 tháng 4, một lần nữa, chúng tôi xoay sang hướng 210 độ, giả vờ tiến tới Sasebo, nằm ở phía Tây Nam Kyushu. Trên đoạn hải trình nghi binh này, 10 chiến hạm từ từ tạo một đội hình vòng tròn bao quanh soái hạm Yamato, với một đường bán kính 2.000m.

Vị trí của chiếc Yahagi ở ngay trước mũi Yamato. Tính theo chiều kim đồng hồ, (tức bên trái Yahagi) ví trí của 8 khu trục hạm nằm trong phần vòng tròn còn lại như sau: Asashimo ở hướng 7 phút rưỡi, Kasumi 15 phút, Fuyutsuki 21 phút, Hatsushimo 27 phút, Yukikaze 39 phút, Hamakaze 45 phút và Isokaze ở hướng 52 phút rưỡi.

Ngay sau khi vòng tròn này lập xong, các chiến hạm gia tăng tốc độ lên 24 hải lý và chạy theo hình chữ chi trở lại. Nét đầu tiên của chữ chi xoay hướng tiến của đoàn tàu 45 độ, Asashimo trở thành chiếc tàu dẫn đầu. Nét thứ hai mang chiếc Isokaze về phía trước, và cứ tiếp tục như vậy. Đội hình di chuyển này đòi hỏi sự điều động phải tuyệt đối chuẩn xác, rất hữu hiệu trong việc chống lại các cuộc tấn công của tàu ngầm, nhưng lại khó đương đầu với phi cơ nhanh nhẹn, có thể nhắm vào bất kỳ góc độ tấn công nào cũng được.

Đội hình và lối chạy vừa nói đã được quyết định trong một cuộc họp cuối cùng của Ito trên soái hạm Yamato. Quyết định này sẽ sớm chứng tỏ sự sai lầm của nó.

Thời tiết tốt đẹp suốt ngày hôm đó và cho đến sớm hôm sau thì hoàn toàn thay đổi. Mây che kín bầu trời và như bay là đà trên mặt biển.

Không một tia nắng nào xuyên nổi qua những lớp mây dày đặc này. Mưa không biết đến lúc nào. Một ngày đáng lo ngại.

Bờ biển Kyushu biến mất nhanh chóng khi chúng tôi xoay sang hướng Nam để chạy ra Đông Hải. Từ khi khởi hành, lần đầu tiên tôi cảm thấy bất an. Thời tiết hiện tại đầy bất lợi cho một cuộc đi biển. Giữa ban ngày, tầm nhìn giới hạn chỉ 20.000m. Được trang bị radar tối tân, với khoảng cách quan sát này, phần lợi sẽ nghiêng hẳn về phía địch quân. Một cơn mưa bão mù mịt sẽ che chở chúng tôi rất nhiều, nhưng đó chỉ là hy vọng hão huyền mà thôi. Tôi tự hỏi tại sao chúng tôi không chọn một ngày thời tiết thuận lợi hơn cho nhiệm vụ tuyệt vọng này.

Các quan sát viên của Yahagi hớn hở báo tin 20 chiến đấu cơ Zero bay đến từ hướng Bắc. Chúng lướt ngang thật thấp trên đầu chúng tôi và quay lại một lần nữa, lần này ẩn hiện trong những lớp mây dày đặc. Uchino hỏi có phải những chiến đấu cơ này đến để bao che cho lực lượng của chúng tôi hay không?

Komura bình thản đáp: “không, Uchino, mấy chiếc phi cơ này không dính dáng gì đến lực lượng chúng ta. Chúng ta không được bao che trên không. Đây là một phi xuất huấn luyện thường lệ. Có lẽ Kusaka ra lệnh cho mấy tên phi công non nớt này bay trên đầu chúng ta để nói lời vĩnh biệt.”

Sự im lặng kéo dài trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Yahagi cho đến khi Yamato báo tin một trong hai chiếc phi cơ còn lại trên soái hạm này sẽ cất cánh bay về căn cứ không quân Ibusuki, và đồng thời ra lệnh cho Yahagi gửi đi một trong hai chiếc phi cơ của mình. Yamato thường mang theo 7 phi cơ, nhưng 5 chiếc đã được bỏ lại ở Kure. Chiếc thứ sáu vừa cho cất cánh, cùng lúc với chiếc của Yahagi, bởi lẽ Ito không muốn chúng bị phí phạm vô ích trong chuyến đi cầm chắc cái chết trong tay của chúng tôi.

Trước khi cất cánh, viên phi công của Yahagi đã đến trình diện tôi . Anh đứng nghiêm và nói: “Tuân lệnh, tôi sẽ về Ibusuki ngay bây giờ, nhưng ở đó tôi sẽ tình nguyện thực hiện một phi vụ tự sát và sẽ sớm gặp lại Đại tá.”

Khi đã ở trên không, chiếc phi cơ bay tuần trên đầu chúng tôi ba vòng và sau đó trực chỉ Kyushu.

Trong khi Yamato và Yahagi chuẩn bị cho cất cánh hai chiếc phi cơ cuối cùng, chúng tôi phát hiện hai phi cơ không nhận rõ lai lịch ở phía Bắc, nên công việc này được đình chỉ. Các trinh sát cơ của chúng tôi không thể nào chống lại các chiến đấu cơ địch.

Uchino càu nhàu: “Tại sao các chiến đấu cơ hồi nãy của chúng ta không được giữ lại để chống với phi cơ địch?”

Komura đáp một cách điềm tĩnh: “Hãy bình tĩnh, Uchino, anh cũng biết mấy viên phi công non nớt của chúng ta làm sao chống nổi với mấy tên phi công kinh nghiệm của đối phương.”

Mây sà thấp hơn, thời tiết càng tồi tệ, và vào lúc 8h, mưa phùn bắt đầu rơi xuống. Các chiến hạm của chúng tôi, cũng trong đội hình vòng tròn, vẫn tiến thẳng về hướng định mệnh, dưới sự dòm ngó liên tục của các phi cơ quan sát địch. Trong lúc đó, các chiến đấu cơ Nhật vẫn bình thản tiếp tục nhiệm vụ huấn luyện. Tôi đã gặp nhiều loại hành quân, nhưng chưa có loại nào như vậy. Đây là một cuộc hành quân kỳ quái.

Lúc 9h, khu trục hạm Asashimo, chạy phía phải Yahagi, bỗng nhiên giảm tốc độ. Xuyên qua ống dòm, tôi nhận thấy rõ khuôn mặt ông bạn Sugihara của tôi , hạm trưởng của chiếc Asashimo đang đứng trên đài chỉ chuy, đang lộ vẻ bối rối. Tín hiệu bằng cờ của chiếc tàu này cho biết nó bị trục trặc máy móc. Nhìn Asashimo rơi dần lại phía sau, tách rời khỏi đội hình, tôi lo lắng, nên gửi ngay một thông điệp yêu cầu cho biết tin tức rõ hơn.

Asashimo đáp: “Đang nỗ lực sửa chữa. Hy vọng bắt kịp đồng đội sớm.” Nhưng chiếc tàu càng lúc càng rơi lại phía sau, vào lúc 10h thì không còn thấy tăm dạng đâu nữa. Komura ra lệnh cho khu trục hạm Kasumi điền vào khoảng trống và bốn khu trục hạm kế phía sau đôn lên. Việc điều chỉnh này khá dễ dàng cho dù đoàn tàu vẫn tiếp tục chạy theo hình chữ chi.

Nhưng đối với tôi không dễ dàng, khi tôi biết rằng vị trí của chiếc Asashimo, yểm trợ cạnh sườn phải của tôi, hiện thời được một chiếc tàu nhỏ nhất trong lực lượng thay thế. Đó là một điều bất lợi.

Truyền tin của chúng tôi vừa chặn bắt thêm được một công điện của địch quân, lần này do phi cơ bay rất gần đoàn tàu của chúng tôi chuyển đi. Việc này chứng tỏ hướng tiến giả vờ của chúng tôi không ích lợi gì cả. Địch quân đã biết người biết ta rồi.

Lúc ấy, có 3 tàu buôn 2.000 tấn lướt qua, tạo một không khí vui vẻ phần nào cho chúng tôi . Có nhiều thủy thủ nói rằng họ không ngờ Nhật Bản còn có những tàu buôn to lớn đến như vậy.

Vào lúc 11h30, một thủy phi cơ được phát hiện cách 20.000 ở phía Đông. Chiếc phi cơ bay ngoài tầm súng, xoay vòng tròn quanh đoàn tàu, và gửi đi báo cáo chi tiết về hoạt động của chúng tôi. Điều đáng tức giận là chúng tôi không có một chiến đấu cơ nào để cho cất cánh và bắn kẻ đang đe dọa đến sự an toàn của chúng tôi. Trong khi tôi đang nhìn chiếc thủy phi cơ bay ngoài tầm cao xạ một cách thèm thuồng, phòng truyền tin báo cáo: “Căn cứ quan sát ở Omami Oshima cho biết 150 phi cơ địch đang hướng về phía Bắc.”

“Chúng đến đây rồi.” Komura nói với một nụ cười méo mó…….

Omami Oshima là hòn đảo nằm giữa Kyushu và Okinawa. Không cần nhìn hải đồ, mọi sĩ quan trên đài chỉ huy đều biết rằng các phi cơ này sẽ đến trên đầu chúng tôi trong vòng một giờ nữa.

Yamato ra lệnh gia tăng khoảng cách các chiến hạm lên 5.000m, một khoảng cách căn bản để chống không kích. Yahagi và 7 khu trục hạm khác gia tăng tốc lực, và các xạ thủ vào vị trí chiến đấu.

Sáu khẩu đại pháo 150mm, 4 khẩu phòng không 80mm và 40 khẩu đại liên của Yahagi đều chĩa thẳng lên trời. Trưa đến, không có một dấu hiệu nào cho thấy sắp xảy ra một cuộc tấn công, đầu bếp mang bữa ăn trưa đến các vị trí chiến đấu. Mọi người ăn uống vội vã. Tôi rất hài lòng khi nhìn thấy sự chuẩn bị chu đáo như vậy. Sự lo lắng của tôi biến mất và tôi biết chiếc Yahagi sẽ ghi điểm thắng lợi đầu tiên.

Vào lúc 12h20, radar của Yamato phát hiện “rất nhiều phi cơ địch còn cách 30.000m ở hướng 35 độ mạn trái,” và ra lệnh cho tất cả các chiến hạm hướng về phía trước với tốc độ tối đa và chuẩn bị chống phi cơ.

Mệnh lệnh được thi hành chu đáo. Tất cả chiến hạm đều đạt tốc độ gần 30 hải lý. Với Komura và các sĩ quan khác, tôi leo lên đài chỉ huy tác xạ nằm phía sau đài chỉ huy chính. Những cuộn sóng khổng lồ nổi lên sau khi soái hạm Yamato lướt ào ạt trên mặt biển với tốc lực tối đa. Chiếc thiết giáp hạm 72.000 tấn này đã thu hút muôn ngàn cặp mắt đổ dồn vào nó.

Yamato đã trở thành niềm tin thần thánh với toàn thể binh chủng Hải quân. Niềm tin này càng dâng cao khi Yamato trở về an toàn sau trận đánh ở Vịnh Leyte mà không bị một vết sướt nào, trong khi chiếc thiết giáp hạm cùng lớp Musashi bị đánh chìm. Đề đốc Nobuei Morishita, từng chỉ huy Yamato trong trận Leyte, hiện là tham mưu trưởng của Ito, do đó theo tôi nghĩ, chắc chắn ông sẽ mang đến may mắn cho chiếc tàu này một lần nữa. Nhưng ai có thể tưởng tượng chiếc thiết giáp hạm vĩ đại này sẽ bị đánh chìm trong vòng hai giờ nữa?

Ngay cả đứng trên đài chỉ huy tác xạ, chúng tôi vẫn không thể nhận thấy chiếc phi cơ nào bay đến. Mây sà thấp trên mặt biển ở cao độ 1500m, và một cơn mưa luồng thình lình trút xuống bao phủ mọi cảnh vật chung quanh chúng tôi. Thời tiết tồi tệ như thế là cùng. Hiện thời phi cơ địch chắc chắn đã ở trên đầu, nhưng vì mây che phủ nên chúng tôi không nhìn thấy. Mặc dù hỏa lực của Yahagi được loại radar mới hướng dẫn, nhưng chỉ hữu hiệu với các mục tiêu trên mặt biển mà bất lực trước các mục tiêu trên không. Nếu một phi cơ địch bất thần chui ra khỏi các đám mây, tôi biết rằng mọi loại súng thông thường của chúng tôi bó tay, ngay cả thời gian để nhắm vào mục tiêu cũng không có đủ.

Một quan sát viên la lớn: “Hai phi cơ địch ở trước mũi tàu, chếch về mạn trái.”

Tôi nhìn lên trời. Không phải hai mà là hai mươi, bốn mươi và có thể nhiều phi cơ hơn nữa chui ra khỏi đám mây. Khi tôi ra lệnh khai hỏa, đồng hồ chỉ đúng 12h32.

Thay vì chúi xuống tấn công chúng tôi ngay lập tức, các phi cơ bay vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, ngay phía dưới những cụm mây. Sau đó, một trong ba nhóm phi cơ này tách ra, bay vòng tròn ngược lại với chiều kim đồng hồ. Diễn biến lạ lùng này đã gây rối loạn cho chúng tôi. Các xạ thủ đã cố gắng điều chỉnh tầm súng, nhưng hình như không thể nào khai hỏa kịp.

Địch quân chắc hẳn đang ngắm nghía nạn nhân của họ để lựa chọn tấn công vào các mục tiêu đặc biệt. Một vài chiến hạm của chúng tôi khai hỏa lẻ tẻ khi các phi cơ vừa xuất hiện và sau đó bắt đầu khai hỏa toàn diện. Chín đại pháo 460mm bắn một vài trái đạn loại số 3 – tức loại đạn nổ trên không – nhưng còn cách mục tiêu quá xa. Thình lình, tất cả các phi cơ đảo cánh và chúi xuống như sấm sét, nhắm vào các mục tiêu đã được chọn lựa, trong lúc đa số súng trên các chiến hạm Nhật vẫn còn loay hoay định hướng.

3

Nhóm phi cơ đầu tiên chúi xuống tuần dương hạm Yahagi là 4 oanh tạc cơ Avenger (TBM). Tất cả mọi loại súng trên tàu đều khai hỏa, nhưng chỉ nhắm đại khái, cùng lúc với loạt bom được thả xuống hướng vào mạn trái của chiếc tàu. Tôi ra lệnh bẻ hết tay lái về phía phải. Chiếc Yahagi đáp ứng lệnh này một cách hoàn mỹ. Mấy quả bom rơi xuống cách tàu 500m, tạo ra những cột nước thật cao.

Nhóm phi cơ thứ hai đâm đầu thật sát vào chiếcYahagi là các chiến đấu cơ F-6F Hellcat. Tôi nhìn thấy cả gương mặt của một viên phi công Hoa Kỳ khi hắn ta cho phi cơ lên cao trở lại, vượt ngang qua phía trước chúng tôi. Đạn đại liên bắn như vãi trấu, chạm trổ dọc theo thân chiếc tàu, nhưng rất may là không có thủy thủ nào trúng đạn. Các xạ thủ vẫn giữ vững vị trí và bắn không ngừng nghỉ, nhưng đều phí công vô ích.

Tôi liếc mắt một vòng, nhận thấy tất cả các chiến hạm đều chạy với tốc lực tối đa, gây những làn sóng trắng xóa trên đại dương đồng thời mọi loại hỏa lực đều lên tiếng. Nhìn xuống mặt nước, tôi phát hiện nhiều làn bọt sủi lên một cách bất thường. Tôi hiểu ngay đó là ngư lôi do phi cơ địch thả xuống đang lướt đến tàu chúng tôi.

“Xoay phải lập tức! Tốc độ tối đa!” Tiếng hét của tôi cùng lúc với hàng chục chiếc phi cơ đang chúi đầu xuống. Những quả bom màu đen tạo nên những tháp nước màu trắng vượt cao lên không có cả trăm mét. Sau loạt bom, các chiến đấu cơ quay lại và sà thấp xuống quạt đại liên vào chúng tôi. Mọi loại súng trên Yahagi giăng một tấm màn lửa trên không. Cả hai phía vẫn chưa ai ghi được điểm.

Một quan sát viên la chói lói: “Thêm nhiều oanh tạc cơ mới đến.” Tôi hét: “Bẻ lái sang phải lập tức!” Xoay gấp rút, chiếc tuần dương hạm 8.500 tấn hơi lảo đảo, khiến cho hướng nhắm của tất cả súng trên tàu đều sai lạc, nhưng phi cơ địch cũng phải điều chỉnh lại góc độ oanh tạc.

Khi nhóm phi cơ thứ tư đã đến trên đầu chúng tôi, phòng truyền tin báo cho biết chiếc Asashimo đang bị tấn công. Không có thời gian để nghĩ đến chiếc tàu hỏng máy đơn độc này, chúng tôi còn mắc bận lo bảo vệ lấy thân. Cho Yahagi lướt xuyên qua tấm màn lửa bom đạn, và một lần nữa, chúng tôi thoát khỏi. Bây giờ tôi mới nghĩ đến chiếc Asashimo. Với máy móc trục trặc, chiếc tàu này khó có thể tồn tại trước cuộc tấn công. Đối phương đã dồn hết nỗ lực để đánh lực lượng chính của chúng tôi trong khi vẫn còn thừa một số phi cơ để truy đuổi một kẻ chạy lang thang ở khoảng cách xa hơn 20 dặm, đó là một việc kỳ dị không thể tưởng.

Thiết giáp hạm Yamato vẫn lao hết tốc lực về phía trước. Các khu trục hạm chạy quanh quẩn đây đó, thoạt ẩn thoạt hiện trong làn sóng bủa cao trên mặt đại dương, được tô điểm thêm bằng những chiếc nấm khổng lồ do những quả bom tạo nên. Nhiều quả bom lạc xa, gần trúng hoặc trúng mục tiêu, khiến quanh cảnh thay đổi liền liền, từ ngoạn mục sang hồi hộp và đến khủng khiếp.

Nhiều phi cơ khác lại ùa đến quyết nhận chìm chiếc Yahagi, nhưng nó vẫn thoát khỏi. Điều này khiến tôi yên tâm, vì nhận thấy lối chạy uốn éo và xoay trở nhanh chóng không ngờ lại tránh né phi cơ địch một cách hữu hiệu. Nếu có đầy đủ thời gian để cân nhắc, tôi sẽ không bao giờ cho tàu chạy theo lối này.

Một làn nước trắng xóa chĩa thẳng vào chiếc tàu: ngư lôi của địch quân. Tôi ra lệnh bẻ lái, nhìn xuống, và thở hổn hển….

Một làn nước trắng xóa chĩa thẳng vào chiếc tàu: ngư lôi của địch quân. Tôi ra lệnh bẻ lái, nhìn xuống, và thở hổn hển. Ba quả ngư lôi chỉ chạy các chiếc tàu chỉ vài mươi mét. Đó là ngư lôi do các oanh tạc cơ địch vừa thả xuống. Không theo dõi những kẻ tấn công đang vượt qua như sấm động trên đầu, tôi nhìn chăm chăm theo những làn nước sủi bọt. Một lần nữa, chiếc Yahagi vẫn đứng vững trong cơn bão tố. Nhưng ngay lúc đó, chiếc tàu bỗng rùng mình. Một quả ngư lôi trúng ở mạn trái, chính giữa thân tàu, ngay dưới mực nước.

Và một biến cố kế tiếp mà ngày này tôi không sao tin được nó có thể xảy ra. Chiếc Yahagi chạy một cách lừ đừ, chậm chạp đâu khoảng vài phút rồi khựng lại thình lình và dừng hẳn. Một chiến hạm to lớn như thế này mà bỗng nhiên chết đứng chỉ vì một quả ngư lôi duy nhất chạm phải là điều không thể nào chấp nhận được. Nỗi ngẩn ngơ của tôi càng gia tăng khi tôi nhìn xuống đồng hồ : 12h46. Nghĩa là chúng tôi mới chiến đấu có được 12 phút.

Tôi yêu cầu phòng máy báo cáo tình trạng hư hại. Không ai trả lời. Tôi gọi lại, nhưng vẫn như lần trước. Bây giờ tôi hiểu ngay là quả ngư lôi đã trúng ngay phòng máy. Tôi than trời, nhưng đối phương không cho phép than thở. Sáu chiếc phi cơ khác chúi mũi xuống để thả bom. Tôi nhìn thấy rõ ràng một quả bom trúng ngay sàn giữa và nổ tung, đốn ngã ít nhất 10 thủy thủ, và có sáu cái xác bay tung lên không. Tiếp theo một tiếng nổ ở phía sau lái khiến toàn thân chiếc Yahagi rung chuyển dữ dội.

Một thoáng, tôi nhớ lại hình ảnh chìm dần của chiếc tàu chuyển vận Tokyo Maru, nạn nhân của một quả ngư lôi duy nhất trúng ngay buồng máy. Cùng lúc, tôi nhớ lại hình ảnh hai tuần dương hạm khổng lồ Repulse và Prince of Wales của Anh quốc, cả hai đã bị đánh chìm bởi một số lượng phi cơ Nhật Bản nhỏ hơn số lượng đang đối đầu với chúng tôi rất nhiều. Niềm tin từ lâu trong lòng tôi bỗng tiêu tan.

Một thủy thủ chạy việc hối hả leo lên tháp báo cáo: “Ngư lôi phá vỡ ngay buồng máy và nước đã tràn vào đầy cả rồi!”

Tôi hỏi: “Các vách ngăn để nước khỏi tràn qua các buồng khác thì sao?”

“Các thủy thủ đang làm công việc này, thưa Đại tá.”

Chiếc tàu nghiêng về mạn phải ở một mức độ đáng ngại. Tôi nghe Komura nói: “Hamakaze tiêu rồi.” Tôi nhìn sang phía trái, về phía Komura đang nhìn trừng trừng, tôi chỉ kịp thấy cái bụng sơn màu đỏ chói của chiếc Hamakaze trước khi nó biến mất giữa những lượn sóng.

Chúng tôi chưa kịp đắp điếm vết thương thì một cuộc tấn công mới lại ùa đến. Uchino chạy xuống cầu thang để ra lệnh cho các xạ thủ. Đó là lần cuối cùng tôi thấy viên phụ tá xứng đáng của tôi. Tất cả mọi loại súng đều khai hỏa, và lần đầu tiên trong trận đánh này, Yahagi đã bắn hạ hai phi cơ địch.

Chiếc tàu, đã chết đứng trên mặt nước, nhận lãnh bom đạn của hết loạt phi cơ này đến loạt phi cơ khác. Phi công địch can trường đâm thẳng vào hàng rào hỏa lực của chúng tôi. Đuôi chiếc tàu lại trúng bom và rung chuyển dữ dội. Tôi nhìn ngoái lại, và nhận thấy ba xác người tung lên cao có gần 20m. Cùng lúc, Yahagi lĩnh thêm một quả ngư lôi vào trước mũi nữa.

Chiếc tàu rung động như một tờ giấy căng trước gió. Bám chặt vào chấn song của pháo tháp chỉ huy, tôi thấy rõ lỗ thủng vĩ đại ở trước mũi Yahagi do quả ngư lôi gây ra. Độ nghiêng của chúng tôi gia tăng nhanh chóng. Một nhóm oanh tạc cơ và chiến đấu cơ khác lại bay đến, và tất cả đều dồn hết hỏa lực vào chiếc mũi đã bị vỡ tan của chiếc Yahagi. Những tràng đại liên đinh tai nhức óc của phi cơ địch được chấm câu bằng tiếng nổ dữ dội của một quả bom trúng thẳng vào pháo tháp số 1, thổi bay toàn thể pháo thủ và nghiền nát những người đứng ở sàn giữa. Một điều lạ lùng là không có quả bom nào trúng đài chỉ huy chính hoặc tháp chỉ huy tác xạ. Nhưng tất cả đinh tán đều long ra hết, khiến hai nơi đây rung động liên hồi, không biết sụp xuống lúc nào. Sườn của pháo tháp số 1 vẫn còn nguyên nhưng áp lực của quả bom 250 cân Anh thổi bay tất cả vách thép dày bao chung quanh. Khói màu vàng cay nồng len lỏi qua các lổ thủng bay lên. Giữa cảnh tàn phá, tôi sửng sốt khi nghe một tiếng la to của sĩ quan pháo thuật, Đại úy Hatta, ra lệnh tháo nước vào kho chứa đạn của pháo tháp số 1 . Khói màu vàng tan dần vì lửa bị dập tắt. Nếu kho đạn này nổ, chiếc tàu sẽ chìm nhanh chóng, những kẻ còn lại không mong gì sống sót. Nhưng kho chứa đạn đầy nước sẽ khiến cho độ nghiêng của chiếc tàu càng trầm trọng thêm.

Phi cơ địch vẫn tấn công không ngừng nghỉ, và nhóm kế tiếp đã oanh tạc trúng đích nhiều đến nổi tôi không thể nào đếm xuể. Khi những tiếng nổ chấm dứt, tôi rùng mình khi nhận thấy nhiều ụ súng và các xạ thủ đều biến mất. Một viên chỉ huy có thể chịu đựng bao lâu trước cảnh thuộc cấp của mình lần lượt bị xé tan thành từng mảnh? Vẫn chưa trái bom nào trúng đài chỉ huy chính hoặc đài chỉ huy tác xạ.

Tôi bừng tỉnh khi phòng ngư lôi gọi tên tôi. Đó là Thiếu Tá Takeshi Kameyama, yêu cầu cho phép phóng tất cả ngư lôi trong ống. Ông ta nói: “Nếu các quả ngư lôi này nổ, chiếc tàu sẽ bị phá tung.”

Tôi chấp thuận. Lập tức , một loạt 16 quả ngư lôi được phóng ra. Tôi tưởng tượng đến cảnh hư hại mà những quả ngư lôi này có thể gây ra cho lực lượng địch quân. Đó là tưởng tượng ở giây phút cuối cùng của định mệnh.

Hành động của Thiếu tá Kameyama không sớm quá một giây. Quả ngư lôi cuối cùng vừa thoát ra mặt nước, nhiều quả bom rơi xuống phá tung các ống phóng và đốn ngã tháp sau của Yahagi. Vẫn an toàn trên đài chỉ huy tác xạ, tôi nhìn về phía cuối tàu và nhận thấy chiếc máy phóng phi cơ của chúng tôi đã tan ra thành từng mảnh. Chiếc phi cơ duy nhất, một phút trước đây vẫn còn toàn vẹn, hiện tại là một đống sắt vụn. Một vài khẩu súng vẫn còn lên tiếng và nhiều thủy thủ mình mẩy đẫm máu vẫn chưa chịu rời bỏ vị trí chiến đấu của họ.

Hàng loạt oanh tạc cơ Avenger tiếp tục ùa đến như những làn sóng, và hàng loạt ngư lôi được thả xuống. Tôi không thể nào biết rõ bao nhiêu quả đã trúng vào chiếc tàu. Tiếng nổ hàng loạt khiến cho con tàu đang hấp hối của chúng tôi rung lên từng cơn. Cuối cùng tiếng nổ chấm dứt, nhưng độ nghiêng vẫn tiếp tục gia tăng trong lúc sóng biển bắt đầu tẩy sạch những vũng máu trên sàn tàu và những xác chết lần lượt lăn long lóc xuống mặt biển.

Và bây giờ làn sóng cuối cùng của khoảng 100 phi cơ địch đã thi hành xong nhiệm vụ và bay đi. Tôi nhìn quanh. Tất cả pháo tháp đều bị thiêu rụi. Chiếc tuần dương hạm đầy hãnh diện của tôi bây giờ chỉ còn là một đống sắt nổi trên mặt nước, nhưng lạ lùng thay, tôi nghĩ, không hề có một đốm lửa nào. Nhìn cảnh tượng kỳ quái này, tôi chực nhớ lại hình ảnh tuần dương hạm San Francisco của Hoa Kỳ, chiếc tàu giống như ma quỉ đó đã khiến cho chiếc Amatsukaze suýt tan tành trong đêm tối bưng ở gần Santa Cruz. Hiện thời Yahagi cũng là một chiếc tàu ma. Không vật gì còn động đậy trên sàn tàu. Đa số thủy thủ đoàn của nó bị tiêu diệt.

Nhưng trên đài chỉ huy mọi người đều lành lặn. Đề đốc Komura nói: “Hara, tôi đề nghị tốt hơn là chúng ta nên rời khỏi đây ngay bây giờ, nếu không tôi sợ sẽ lỡ dịp. 250 phi cơ địch hình như đã làm xong nhiệm vụ của chúng.”

Tôi không biết nói sao. Tôi cúi đầu và sau đó ấp úng nói: “Thật đáng tiếc, thưa Đề đốc.”

“Chúng ta hãy chuyển soái kỳ sang một trong những khu trục hạm, và cố gắng tiến đến mục tiêu của chúng ta ở Okinawa. Anh nghĩ thế nào?”

Tôi nghĩ thế nào? Để mất chiếc tàu và thủy thủ đoàn. Gánh nặng này đang oằn xuống vai tôi.

“Hãy nhìn kìa, Hara, khu trục hạm Isokaze vẫn còn hoạt động!” Thật là đáng ngạc nhiên khi tôi nhận thấy Isokaze vẫn còn nằm đúng vị trí của đội hình vòng tròn trước đây, cách phía trái chúng tôi khoảng 3.000m. Chiếc tàu hình như không bị hư hại gì cả và đang hướng mũi chạy về phía chúng tôi. Đó là một vài giây phấn khởi được tìm thấy trong trận đánh.

“Phải rồi, thưa Đề đốc, chúng ta đánh bỏ rơi Yahagi.” Và tôi gọi: “Nhân viên truyền tin, yêu cầu Isokaze tiếp cứu khẩn cấp!”

Sau lệnh của tôi, đèn hiệu cực mạnh được chớp lên và đồng thời một nhân viên truyền tin cũng sử dụng tín hiệu bằng cờ. Chúng tôi nói truyền miệng cho các thủy thủ còn sống sót của Yahagi chuẩn bị bỏ tàu, Isokaze đáp lại tín hiệu của chúng tôi, và xả hết tốc lực chạy về phía Yahagi. Còn cách khoảng 1000m, Isokaze giảm tốc lực và từ từ tiến sát vào chúng tôi. Tôi ra lệnh bỏ tàu.

Nhưng một quan sát viên la lên: “Phi cơ địch.” Một phút sau, một làn sóng oanh tạc cơ và chiến đấu cơ ùa đến trên đầu chúng tôi. Chiếc Isokaze chỉ còn cách chiếc Yahagi 200m. Nhiều phi cơ đang tấn công soái hạm Yamato đã tách ra một số để đuổi theo chiếc khu trục hạm di chuyển chậm chạp này. Isokaze đã xả hết tốc lực để lẩn tránh, nhưng khi phi cơ địch xuất hiện mọi lúc mọi nơi, cùng với bom đạn rơi xuống như mưa. Tiếng nổ này đến tiếng nổ khác, cho đến khi chiếc Isokaze biến mất trong một cột khói màu đen.

Yahagi đã gây họa cho chiếc khu trục hạm của mình. Trường hợp vừa xảy ra không khác với trường hợp chiếc Shigure của tôi khi tuần dương hạm Sendai bị tấn công ở Vịnh Empress Augusta trước đây, nhưng lúc ấy tôi đã từ chối lời yêu cầu tiếp cứu của chiếc tàu này.

Sau khi thanh toán xong Isokaze, phi cơ địch quay lại Yahagi, những gì còn lại trên tuần dương hạm này lại bị đạn đại liên cày thêm một lượt nữa. Tôi chỉ biết bám vào song sắt của đài chỉ huy một cách tuyệt vọng.

Khi cơn quằn quại của Yahagi hạ xuống, tôi ngẩng đầu lên, và kinh ngạc nhận thấy chiếc Isokaze nhô ra khỏi bức tường khói dày đặc bao quanh. Mang thương tích, nhưng vẫn còn sống, chiếc tàu đang cố gắng tháo chạy. Phi cơ địch quay lại, chúi mũi xuống, và một lần nữa, chiếc tàu biến mất trong màn khói.

Sau khi đảo cánh rời khỏi khu trục hạm Isokaze, mỗi phi cơ cảm thấy cần phải chào từ giã chiếc tuần dương hạm đang hấp hối của chúng tôi. Chúng tôi không còn biết làm gì khác hơn là bám vào song sắt để chịu trận. Nhưng hiện thời bom đạn không làm chúng tôi sợ hãi bằng những cơn giật nẩy mình trước khi tắt thở của chiếc tàu.

Trung úy Yukio Matsuda, sĩ quan hoa tiêu, đã gom được hơn một chục thủy thủ bị thương và đang cố gắng mang họ xuống một chiếc xuồng cấp cứu. Hành động này đã chọc tức 3 chiến đấu cơ địch. Cả ba đã tập trung hỏa lực, đập tan chiếc xuồng ra thành từng mảnh vụn và nhận 13 xác chết xuống khoảnh biển đẫm máu.

Các thủy thủ còn lại trên tàu đều nhảy xuống nước. Địch quân không cho họ kịp thở. Một làn sóng của khoảng 100 phi cơ ào đến dội bom và bắn vào tất cả những gì còn động đậy. Kỳ lạ thay, Komura cùng một vài sĩ quan khác và tôi đứng trên đài chỉ huy tác xạ, giữa cảnh đổ nát của chiếc tàu mà vẫn không hề hấn gì.

Nhìn ra xa xa, tôi nhận thấy chiếc Isokaze gần như bất động, và mặc dù không bốc cháy, chiếc tàu lắc lư không khác gì say rượu. Cách đó không xa, chiếc Suzutsuki đang bốc cháy, tuôn ra từng cụm khói đen mù mịt. Và chiếc Kasumi chạy xiêu vẹo, tín hiệu bằng cờ cho biết bánh lái của nó bị trục trặc.

Thiết giáp hạm Yamato thoạt nhìn có vẻ như vẫn còn trong tình trạng an toàn. Ở một khoảng cách 3 dặm, tôi không làm sao biết được đại chiến hạm từng là niềm kiêu hãnh của Hải quân này đang lâm vào tình trạng tồi tệ không kém gì tuần dương hạm Yahagi. Hai khu trục hạm Yukikaza nà Fuyutsuki chạy lướt qua lướt lại nhanh như thoi đưa trong nỗ lực dũng cảm nằm bảo vệ chiếc soái hạm khổng lồ.

Vẫn chưa hài lòng với một Yahagi trong cơn hấp hối, làn sóng thứ 5 với hơn 100 phi cơ nữa lại ùa đến. Đạn bay veo véo quanh tôi. Không còn biết sợ là gì nữa, tôi nghiến chặt răng: “Phải rồi, mấy tên Yankee quỉ quái này, tụi bay hãy dứt điểm đi.”

Như để đáp lại lời tôi, tiếng rít của một viên đạn bay đến trúng vào cánh tay trái và đẩy tôi ngã chúi. Lúc ngã xuống, tôi lại càng kinh ngạc hơn khi nhận thấy những lượn sóng đã mấp mé trên mặt đài chỉ huy tác xạ, nơi mà hiện tại chỉ còn mình tôi và Đề đốc Komura.

“Bây giờ, Hara, chúng ta nên đi chưa?” Komura hỏi một cách bình tĩnh.

“Đi!” Trong lúc chúng tôi tháo bỏ giày vớ, tôi vẫn kịp nhận ra lúc ấy là 14h06. Phi cơ địch lại gầm thét trên đầu. Sóng bủa lên đầu gối lúc chúng tôi nhảy ra khỏi đài chỉ huy tác xạ. Bơi đâu được khoảng một vài thước, tôi cảm thấy một sức mạnh khổng lồ lôi tôi mạnh xuống đáy biển.

Tôi chòi đạp, vùng vẫy, nhưng vực nước xoáy do một chiếc tàu chìm tạo ra có một hấp lực không thể nào chống trả nổi. Tôi chịu thua, không vùng vẫy nữa, chấp nhận cái chết….

Bỗng nhiên tôi cảm thấy cánh tay khổng lồ đã buông tôi ra. Tôi lại chòi đạp. Quanh tôi bao phủ một màu đen thẫm, nhưng có vẻ nhợt nhạt dần. Sau đó, trước mặt tôi những nhóm bọt nước thấp thoáng trồi lên. Đó là không khí còn sót lại trong quần áo và buồng phổi của tôi. Đau đớn vì nghẹt thở, tôi há miệng và nuốt một bụng nước biển, nhưng thình lình đầu tôi trồi lên khỏi mặt nước. Tôi thở liên hồi, đầu óc trống rỗng. Trong cơn choáng váng, tôi không biết phải làm gì, tôi thả trôi bập bềnh theo dòng nước.

Dần dần mắt tôi nhìn rõ trở lại, và tôi biết lúc đó là vào giữa ban ngày. Một âm thanh lao xao do tiếng nói của nhiều người gây ra. Nhìn quanh, tôi thấy nhiều cái đầu nổi trên mặt nước, và tất cả đều màu đen. Trong trạng thái mê hoảng, tôi có cảm giác đây là bãi tắm của những người da đen, và tôi đang bơi lội thỏa thích với họ. Trí não của tôi hồi tỉnh. Nhưng rất chậm chạp.

Tôi vẫn còn ngơ ngác. Mệt mỏi và căng thẳng trong trận đánh kéo dài hai giờ đồng hồ, tiếp theo là sự đổ vỡ và xúc động, tất cả đã vượt sức chịu đựng của một con người. Bây giờ tôi nghe tiếng gọi: “Hara, anh bình yên chứ? Hara! Anh nghe tiếng tôi không?”

Tôi thả trôi về hướng phát ra tiếng nói. Một người có khuôn mặt đen thui đang vẫy gọi tôi. Tôi nhận ra Đề đốc Komura. Khuôn mặt sạm nắng của ông, và ngay cả khi dầu đen bám đầy, tôi cũng có thể nhận ra ở khoảng cách 10 m.

“Tôi bình yên, Komura.” Tôi đáp và hỏi: “Còn Đề đốc thì sao?”

“Tôi hoàn toàn bình yên.”

Những người da đen chung quanh tôi chính là các thủy thủ của tôi. Tôi vuốt mặt và cảm thấy mặt tôi dính đầy dầu nhớt. Mặt nước cũng bao phủ dầu do chiếc Yahagi tuôn ra. Nhiều thủy thủ bám vào những mảnh ván vụn, điều này khiến tôi ngạc nhiên, vì tôi đã nghĩ là toàn thể thủy thủ của tôi đã bị tiêu diệt.

Khi mắt tôi nhìn rõ trở lại, tôi tìm kiếm chiếc Yamato. Chiếc tàu vẫn vĩ đại và hấp dẫn cho dù cách tôi đến 6 dặm, và đang bị một số phi cơ địch đông như đàn muỗi bu quanh.

Trong lúc thả trôi bập bềnh, không biết số phận ra sao, tay tôi bỗng chạm một khúc gỗ trôi ngang qua. Tôi bám ngay lấy khúc gỗ và có thể tạm yên lòng để suy nghĩ xem phải làm gì để thoát thân.

“Ê, bạn, xê ra, nhường tôi một chỗ coi!” Tiếng nói vang lên phía sau tôi. Một thủy thủ trẻ đang cố bơi về phía khúc gỗ. Tôi bám vào một đầu và nhường đầu kia cho hắn. Sau khi bám được vào đầu khúc gỗ, hắn nhìn tôi vẻ biết ơn.

“Anh là ai? Anh tên gì?” Hắn hỏi sau khi lấy hơi thở xong.

“Tên của tôi là Hara. Tôi ở trên tuần dương hạm Yahagi.” Người láng giềng mới của tôi há hốc miệng, nhìn tôi trừng trừng một lát rồi ấp úng nói: “Xin thứ lỗi cho sự vô lễ của tôi, thưa Đại tá. Tôi là thủy thủ I Daiwa… Tốt hơn là tôi nên đi tìm một khúc gỗ khác. Khúc gỗ này nhỏ không đủ sức cho 2 người bám vào.”

Hắn nhìn quanh một cách lo lắng. Tôi nói: “Đừng có điên, chú nhỏ ơi! Hãy bám vào cho chắc. Cả hai chúng ta có thể tạm dùng được. Anh bị thương phải không?”

“Dạ không, không có một vết trầy nào cả, thưa Đại tá. Anh bạn Asamo của tôi và tôi quyết định chết theo Yahagi. Chúng tôi lẻn vào kho đạn số 3 và cùng nằm ở đó để đợi giờ phút tan thành từng mảnh, nhưng Trung sĩ Yamada đến ra lệnh cho chúng tôi lên sàn tàu. Ông ta nói: “Đây là chỗ của tôi.” Hắn làm hùng làm hổ khiến chúng tôi phải nhảy lên cầu thang. Tôi trặc chân và trẹo xương mắt cá, nhưng không ăn nhằm gì. Tôi không hiểu tính mạng của Yamada và anh bạn Asamo của tôi ra sao?”

“Đừng lo lắng nữa, Daiwa. Bây giờ chỉ nghĩ đến sự sống sót mà thôi. Anh sẽ thoát khỏi tình cảnh này nếu anh không bỏ cuộc.”

…

Chúng tôi nhìn quanh, nhận thấy soái hạm Yamato vẫn còn hoạt động. Thình lình khói trắng tuôn ra ngang mực nước của thành tàu. Và cả hai chúng tôi đều kêu to lên khi khói trắng càng lúc càng tuôn ra như sóng cuộn cho đến khi bao phủ toàn thể chiếc thiết giáp hạm khỗng lồ, trông giống như là đỉnh tuyết của ngọn núi Fuji. Kế đó là khói đen lẫn lộn với khói trắng, tạo thành hình một chiếc nấm khổng lồ, cao đến 2.000m. Khi chiếc nấm này tan dần, chúng tôi nhìn lại mặt biển, và không còn thấy gì cả. Yamato đã biến mất. Những tiếng nổ khủng khiếp vào lúc 14h23 của ngày 7 tháng 4 đó đã chấm dứt hình ảnh tượng trưng “Không bào giờ chìm” của Hải quân Hoàng Gia Nhật Bản.

Bỗng nhiên tôi cảm thấy buốt lạnh. Lúc ấy trời đang mưa. Khi nghĩ đến Yamato, nước mắt của tôi hòa lẫn với nước mưa và nước biển.

Sau chiến tranh, ông bạn của tôi là Đề đốc Nobuei Morishita, một trong số 269 người của Yamato còn sống sót, đã kể cho tôi nghe các chi tiết xảy ra vào những giây phút cuối cùng của chiếc thiết giáp hạm khổng lồ này.

Vào lúc 12h40, Yamato nhận lãnh nhiều quả bom trực tiếp đầu tiên, và một quả ngư lôi ở mạn trái 10 phút sau đó. Tính ra, mạn trái của chiếc tàu trúng 10 quả ngư lôi và mạn phải trúng hai quả tất cả.

Đại tá Jiro Nomura, sĩ quan phụ tá của Hạm trưởng Yamato, vào lúc 14h05 đã xác định rằng công việc sửa chữa cấp thời cho chiếc tàu không thể nào xúc tiến. Do đó, Phó Đô đốc Ito, đứng trên đài chỉ huy suốt trận đánh, đã đình chỉ cuộc hành quân và ra lệnh: “Bỏ tàu.”

Khu trục hạm Fuyutsuki được gọi đến để đảm trách việc di tản, nhưng chiếc tàu này khó có thể chạy nhanh hơn sức chìm của Yamato. Trung tá Hidechika Sakuma, hạm trưởng của Fuyutsuki, sợ chiếc tàu nhỏ bé của mình bị chiếc tàu khổng lồ lôi theo xuống đáy biển nên không dám tiến lại gần.

Ito bắt tay các sĩ quan hiện diện trên đài chỉ huy và lui vào phòng riêng để chết theo chiếc tàu. Hạm trưởng của Yamato, Đề đốc Kosaku Aruga, tự trói vào đài chỉ huy. Đề đốc Morishita, tham mưu trưởng của Ito, phải tranh luận sôi nổi với các sĩ quan trên đài chỉ huy muốn đi theo Ito, Aruga và Yamato, để cuối cùng ông thuyết phục được họ cùng đi với ông rời bỏ chiếc tàu. Độ nghiêng về mạn trái của chiếc tàu gia tăng nhanh chóng khi trúng quả ngư lôi cuối cùng vào lúc 14h17 phút. Ba phút sau, độ nghiêng tiến đến 20 độ, và những tiếng nổ xảy ra đã nhận chìm chiếc tàu này xuống đáy biển cấp tốc. Những tiếng nổ này đã cứu Morishita và những người khác, đẩy họ văng ra khỏi chiếc tàu.

Vẫn bám vào khúc gỗ, nhưng trải qua nhiều phút sau khi chiếc Yamato chìm, tâm trí tôi hoàn toàn trống rỗng. Tuần dương hạm của tôi mất, tôi buồn bã, nhưng nỗi buồn này không bằng phân nửa, đối với sự mất mát chiếc thiết giáp hạm lớn nhất thế giới. Nhìn quanh, tôi không còn thấy bóng dáng Đề đốc Komura đâu nữa, và ở đầu bên kia khúc gỗ, anh bạn trẻ Daiwa cũng mất tăm. Quanh tôi không còn một người nào. Hình như tôi đang ở trên một dòng nước đẩy tôi rời ra xa những người khác. Như vậy là tôi sẽ chết một cách cô độc? Bây giờ tôi nghe nhiều tiếng hát, lẩn quất đâu đây.

Tôi nhớ lại huấn lệnh dành riêng cho những người sống sót và trôi nổi trên đại dương: không nên la hét, mà phải bất động để gìn giữ năng lượng. Những người đang ca hát này, có thể, đã cho rằng họ không mong gì được giải cứu, và cũng có thể, họ muốn khôi phục tinh thần qua tiếng hát của họ. Thêm nhiều người kết hợp, tiếng hát càng mạnh mẽ hơn. Đó là những câu hát phỏng theo bài Chiến Sĩ Ca, bài ca nằm lòng của các chiến sĩ Nhật Bản từ nhiều thế kỷ trước đây.

Nếu tôi rời xa biển cả,

Tôi sẽ trở về như xác chết nổi trôi.

Nếu nhiệm vụ gọi tôi lên núi,

Đồng cỏ xanh sẽ là áo khoác thân tôi.

Vì đã nguyền hiến thân phục vụ cho Thiên Hoàng,

Tôi sẽ không chết bình yên giữa thê nhi yên ấm.

Khi bài ca được lặp lại, chính tôi cũng bị lôi cuốn vào. Thỉnh thoảng, xen vào âm thanh bi tráng này, là những tiếng la to” “Tenno Heika Banzai.” (Thiên Hoàng Vạn Tuế) Chứng tỏ có một số người đang hát bị thương nặng hoặc kiệt lực nên đành bỏ dở giữa chừng bài hợp xướng của họ, và xuôi tay vĩnh viễn. Tôi nhắm mắt. Tiếng hát chỉ còn phảng phất bên tai tôi.

Tôi biết mình cũng đang đi dần vào cõi chết. Bây giờ âm điệu tiếng hát trở thành du dương mơ hồ, như tiếng hát ru con, mang tôi trở lại ấu thời với tiếng hát ru của mẹ tôi, và lần lượt hiện lên hình ảnh ông nội tôi, những ngày đi học, những ngày ở Hàn Lâm Viện, chuyến đi vòng quanh thế giới, lúc tôi bước chân vào một thương xá ở New York, những ngày mới ra trường của một sĩ quan trẻ, thời gian dính líu tình cảm giữa tôi và một cô Geisha.

Chiếc kính vạn hoa này lại chuyển sang hình ảnh sống động của mẹ tôi, thoáng qua hình ảnh của vợ tôi, và kế đó là chân dung lúc tôi đã trở thành một sĩ quan chín chắn, và cuối cùng là gương mặt của đám con tôi.

Ảo ảnh tan biến trước mắt tôi với những dòng nước mắt chảy dài xuống má. Tôi nghĩ đến lần nghỉ phép cuối cùng tại nhà, đúng bốn tháng qua, và tôi nghĩ đến vợ con. Tôi thấy trước những gian nan vất vả mà vợ con tôi sẽ gặp một khi tôi ra đi vĩnh viễn. Tôi muốn tất cả hãy quên tôi, và cố gắng hiểu hoàn cảnh của tôi. Đối với Chizu, tôi là một kẻ ích kỷ, kết hôn với tôi, nàng đã xa rời hẳn đời sống yên ấm của những thời thơ ấu. Bây giờ tôi không bao giờ về lại với người vợ và 3 đứa con thơ. Hãy quên anh, Chizu!”

Tiếng hát im bặt hẳn. Nước trời bỗng nhiên lạnh lẽo hơn. Tôi rùng mình, cảm thấy thân thể giá buốt. Đôi tay tôi dần dần tê liệt, bám giữ khúc gỗ một cách khó khăn. Một vật gì trôi lờ đờ trước mắt, tôi cố đưa tay vớt lên. Không gì khác hơn một mảnh giấy nhớp nhúa dầu cặn. Định bỏ xuống, nhưng không hiểu sao, tôi nhét mảnh giấy vào túi áo mưa. Tay tôi chạm phải một vật khác lạ trong túi áo. Tôi lôi ra. Đó là một đoạn dây nhỏ, dài khoảng một mét rưỡi. Tôi không nhớ tại sao đoạn dây này lại ở trong túi áo, nhưng nó đã làm thay đổi hoàn toàn tình huống hiện tại của tôi.

Tôi dùng đoạn dây tự trói vào khúc gỗ. Như vậy, cho dù buông tay, tôi vẫn không bị chìm. Và luôn luôn gặp may mắn, biết đâu tôi sẽ trôi tấp vào một bờ biển Nhật Bản?

Phi cơ địch quay lại, có thể đây là làn sóng tấn công cuối cùng. Nhưng trí óc của tôi càng lúc càng trì độn, cho nên mặc dù đạn đại liên bắt đầu trút xuống mặt biển như mưa, tôi cũng không thấy liên quan gì đến tôi. Hỏa lực của phi cơ tập trung vào những nhóm thủy thủ đông đảo còn sống sót, cách tôi khá xa, nhưng nhiều viên đạn bay lạc rơi lèo xèo quanh tôi. Không một viên đạn nào trúng tôi, nhưng tiếng kêu lèo xèo của mấy viên đạn rơi xuống nước khiến tôi tức giận, và phản ứng tự nhiên, tôi hụp đầu xuống nước. Cơn tê dại của tôi bỗng nhiên biến mất.

Sau đó, phi cơ địch bay mất dạng, nhưng tôi sửng sốt khi nhìn thấy một chiếc thủy phi cơ Martin PBM sà thấp và đáp trên mặt nước, cách tôi khoảng 300m. Tôi lại hụp đầu xuống nước. Nhưng chiếc Martin không chú ý đến tôi, nó lướt thẳng đến một khoảng nước được nhuộm màu xanh để đánh dấu một viên phi cơ Hoa Kỳ đang trôi lềnh bềnh trên một cái phao cấp cứu rồi cất cánh bay lên. Tôi theo dõi hoạt động tiếp cứu này với những suy nghĩ đầy đố kỵ.

Nhưng cảm nghĩ của một người khác thuộc chiếc Yahagi còn sống sót, Thiếu úy Shigeo Yamada, cũng trôi nổi gần nơi chiếc thủy phi cơ đáp xuống, lại hoàn toàn khác hẳn tôi. Yamada sinh ở Hawaii, rất giỏi Anh ngữ, là sĩ quan liên lạc của Yahagi, sau đó đã nói với tôi : “Tôi sợ bị bắt làm tù binh, nên lúc ấy tôi vội vã xé tất cả phù hiệu cấp bậc trên bộ đồng phục và quăng ra xa. Nhưng chiếc máy bay không đến gần tôi.

Yamada không thiệt mạng, và vào năm 1958, anh ta làm việc trong văn phòng của hãng JAL (Hàng Không Nhật Bản) ở Chicago, Illinois – một công việc không hề được dự tính vào cái ngày đầy khiếp sợ vào tháng 4 năm 1945 đó.

Toàn thể khu vực dần dần yên tĩnh trở lại. Lần đầu tiên, tôi cảm thấy dễ chịu, và bắt đầu nhìn lại những gì xảy ra trong trận đánh vừa qua. Tôi đã tỏ ra vụng về khi điều động Yahagi chống lại phi cơ đối phương. Trên một chiếc khu trục hạm, tôi sẽ điều động mọi việc một cách trôi chảy, không hề bối rối, bởi lẽ kinh nghiệm thực sự của tôi chỉ là kinh nghiệm của một hạm trưởng khu trục hạm, không hơn không kém.

Tôi đã sai lầm khi áp dụng lại cách điều động chiếc Shigure từng gây rối loạn cho 2 oanh tạc cơ địch gần Kavieng trước đây. Nhưng Yahagi có tốc độ cao và lanh lẹ hơn Shigure rất nhiều, tại sao tôi lại cho chiếc tuần dương hạm này chạy theo hình chữ chi lỗi thời để đến nỗi ngư lôi địch đuổi kịp nó?

Vâng, tôi đã sai lầm, bởi vì tài năng của tôi đã cùn đi sau một năm phục vụ trên bờ. Đáng lẽ ra Bộ Tư Lệnh Hải quân nên giao phó cho tôi nhiệm vụ trên mặt biển, thay vì công việc trên bờ không phù hợp với khả năng học hỏi của tôi. Hơn nữa, tất cả những gì tôi được huấn luyện và thực hành – ngư lôi tầm hướng, đầu nổ kíp điện và trọng pháo có radar điều khiển – không thề nào sử dụng để chống lại phi cơ địch trong trận đánh vừa rồi. Mọi thứ chúng tôi làm đều sai lầm hết. Ngay cả chính cuộc hành quân này, không có bất kỳ loại bảo vệ nào từ trên không, đó là một sai lầm khổng lồ.

Từ lúc chiếc Yahagi chìm, tôi không biết thời gian đã trải qua bao lâu. Trời đã đêm và gió đang thổi. Tôi lạnh run và bắt đầu buồn ngủ, nhưng tôi cố gắng chống lại, vì biết rằng ngủ quên sẽ có nhiều sơ suất chết người xảy ra. Nhưng, bây giờ đã đến lúc một Samurai chuẩn bị để chết. Tôi có thể bình tĩnh đợi chờ cái chết, không than van, không hối tiếc.

Quanh tôi không còn tiếng gì khác hơn là tiếng nước vỗ vào khúc gỗ. Tôi nhắm mắt lại, đầu tựa lên khúc gỗ, và thiếp ngủ. Hình ảnh những ngày qua lại hiện lên trong mộng mị. Lần đầu tiên tôi đi tàu đò từ Shikoku đến Honshu để dự thi vào Hàn Lâm Viện Hải quân. Tiếng máy của chiếc tàu đò có một âm thanh độc đáo, tôi có thể nghe lại một cách rõ ràng, hình như không giống như trong mơ chút nào.

Tôi mở bừng mắt, và âm thanh vẫn tiếp tục. Không phải là âm thanh trong mơ. Đó là tiếng máy của một chiếc khu trục hạm, chạy cách chừng một dặm. Tôi nghĩ là chiếc tàu này vẫn còn chống chọi với các phi cơ địch đeo đuổi, tôi lại tựa đầu lên khúc gỗ, nhắm mắt ngủ nữa. Nhưng tiếng động cơ vang to hơn bên tai đã quấy rầy giấc ngủ chập chờn của tôi. Tiếng động cơ này quá gần, không phải của chiếc khu trục hạm. Tôi nhìn lên, và thấy một chiếc ca nô! Chiếc ca nô nhỏ bé này, thường trang bị cho khu trục hạm, cách tôi không hơn 200m, nhìn thấy rất rõ giữa các đỉnh sóng. Tôi tự hỏi không hiểu nó quanh quẩn ở đây làm gì?

Chiếc ca nô biến mất. Tôi cố rướn lên để nhìn. Sau một vài phút, nò xuất hiện trở lại, lần này chỉ cách tôi khoảng 50m, và đang chạy vòng quanh để tìm kiếm những người còn sống sót. Bỗng nhiên tôi hoảng hốt. Tôi muốn sống nhưng đã tuyệt vọng. Và bây giờ tôi sợ chiếc ca nô không tìm thấy tôi. Tôi gom hết tàn hơi la lên thật to, nhưng vô ích.

Trong cơn tuyệt vọng, tôi tháo dây buộc và dùng chân tay chòi đạp mặt nước dữ dội. Chiếc ca nô nhìn thấy, xoay mũi chạy về phía tôi. Khoảng cách giữa tôi và kẻ tiếp cứu hình như dài vô tận. Khi chiếc ca nô sáp đến, tôi kiệt sức đến nổi không thể giơ tay để bám vào cạnh của nó, nhưng 4 cánh tay mạnh mẽ đã tóm lấy và nhanh nhẹn lôi tôi lên.

Thật kỳ lạ, ngay khi tôi chạm chân lên sàn ca nô khô ráo, năng lực tiêu tán của tôi phục hồi mau lẹ. Tôi ấp úng thốt lời cảm tạ những người đã tiếp cứu tôi, và tôi ngạc nhiên khi thấy ngoài tôi ra không còn kẻ sống sót nào khác để trở về khu trục hạm, và đây là chuyến tiếp cứu cuối cùng.

Sau đó, chiếc ca nô tiếp tục quần tìm 15 phút nữa, nhưng không có kết quả nên quay về khu trục hạm Hatsushimo. Năng lực vừa phồng lên của tôi bỗng nhiên xẹp xuống khi tôi cố gắng leo lên thang tàu. Chân tôi không thể nào cất lên nổi, hai thủy thủ phải đưa tay đẩy mạnh tôi lên sàn tàu.

Hạm trưởng của Hatsushimo, Trung tá Masazo Sako, chào đón tôi: “Mừng Đại tá thoát nạn. Chúng tôi tìm kiếm Đại tá gần như đã tuyệt vọng. Đề đốc Komura đang nghỉ trong phòng tôi.”

Tôi cám ơn Sako, và đi vào phòng để trút bỏ bộ quần áo đẫm ướt nước biển và dầu nhớt của tôi. Được nhân viên y tế chích thuốc và xoa bóp, tôi phục hồi sức khỏe mau lẹ. Tôi cám ơn họ và xin một ly sake.

Viên bác sĩ đứng gần đó đã cười to và nói: “Có ngay, Đại tá Hara. Thường thường tôi đã từ chối đòi hỏi như thế này, nhưng tôi chắc sake là phương thuốc chữa bệnh cho Đại tá.”

Trong khi tôi nhấm nháp, viên bác sĩ kể lại vắn tắt những diễn biến mà hắn ta thấy được từ chiếc tàu này.

“Chiếc Hatsushimo đóng góp vào trận đánh này không bao nhiêu. Vì quyết tâm tấn công soái hạm Yamato, phi cơ địch chỉ lướt ngang qua chúng tôi. Do đó, chiếc tàu của chúng tôi không hề bị trực tiếp một phát đạn nào và thủy thủ đoàn không ai thiệt mạng, chỉ hai người bị thương nhẹ. Hatsushimo có lẽ là chiến hạm duy nhất thuộc lực lượng còn nguyên vẹn. Đó là lý do tại sao chúng tôi quanh quẩn ở đây tìm kiếm những người còn sống sót. Ba khu trục hạm Fuyutsuki, Suzutzuki và Yukikaze đều thiệt hại và đã chạy về Sasebo cách đây hai giờ. Chiếc Fuyutsuki hầu như an toàn mặc dù trúng hai hỏa tiễn, nhưng hàng chục thủy thủ đã thiệt mạng do đạn đại liên gây ra. Chiếc Yukikaze cũng hư hại nhẹ, và có 3 thủy thủ thiệt mạng. Chiếc Suzutzuki cũng bị trúng một quả bom vào ngay mũi, hư hại nặng nhất và phải bỏ cuộc để chạy về Sasebo đầu tiên.

Chiếc Isokaze kém may mắn hơn những khu trục hạm vừa nói. Chiếc tàu này không hề nhận lãnh một quả bom trực tiếp nào, những các mảnh bom nổ gần đã phá nhiều lỗ thủng, khiến cho buồng máy ngập nước và 100 thủy thủ thiệt mạng.

Lúc ấy không còn hy vọng sửa chữa cấp thời. Isokaze được khu trục hạm Yukikaze nhận chìm sau khi di tản hết những người còn sống sót. Giống như trường hợp của khu trục hạm Kasumi, chiếc tàu này bị hư hại nặng và có 17 thủy thủ thiệt mạng, đã được chiếc Fuyutsuki ban “phát súng ân huệ” sau khi giải cứu tất cả những người còn lại.

Sau khi cảm ơn viên bác sĩ đã cho biết những tin tức này, và không còn điều khác để bàn, tôi hỏi: “Quý vị có giải cứu một thủy thủ tên là Daiwa không?”

Một viên y tá dò danh sách và đáp: “Có, thưa Đại tá, tên hắn đây. Hắn đã hỏi thăm tin tức Đại tá ngay khi được đưa lên tàu hai giờ trước đây.” Viên y tá gọi một liên lạc viên: “Hãy nói với Daiwa là Đại tá Hara vẫn bình yên.”

Khu trục hạm Hatsushimo chất đầy cả ngàn người sống sót của thiết giáp hạm Yamato và tuần dương hạm Yahagi, về đến Sasebo vào buổi trưa ngày 8 tháng 4. Một liên lạc viên gõ cửa phòng hạm trưởng ngay khi tàu vừa buông neo và trình một công điện cho Đề đốc . Ông cúi xuống đọc , nhăn mặt, và đưa tờ giấy cho tôi. Đây là một tuyên dương công trạng do Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp gửi cho Đệ Nhị Hạm Đội, ngợi khen lực lượng chúng tôi đã dũng cảm xả thân, nhờ vậy các phi cơ tấn công đặc biệt đã thu hoạch được một kết quả vĩ đại trong trận chiến.”

Kết quả vĩ đại trong trận chiến này là những gì? Ngày đó, nỗ lực tấn công không quân của chúng tôi, bao gồm 114 phi cơ, 60 chiến đấu cơ, 40 oanh tạc cơ và 14 chiếc Thần Phong – chỉ gây hư hại cho hàng không mẫu hạm Hancock, thiết giáp hạm Maryland và khu trục hạm Bennett, nhưng cái giá phải trả là gần 100 phi cơ bị bắn hạ.

Kết quả, phía Hoa Kỳ có 12 phi cơ thiệt mạng và 10 phi cơ bị bắn rơi do súng phòng không của chúng tôi. Phía Đệ Nhị Hạm Đội chỉ còn 3 khu trục hạm tồn tại, và 2,498 người của Yamato, 446 người của Yahagi và 721 người của các khu trục hạm khác thiệt mạng.

Câu chuyện về kẻ chiến thắng và chiến bại trong cuộc đụng độ không hải cuối cùng của một chiến thuật đơn giản, nhưng đã gây sửng sốt cho những nhà thống kê. Lực lượng Hải quân hùng mạnh, đã từng phát động đầu tay cuộc chiến Thái Bình Dương, qua trận tấn công Trân Châu Cảng, cuối cùng đã bị hạ gục.

Vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, thiết giáp hạm Yamato bị đánh chìm. Hải quân Hoàng Gia Nhật Bản cũng chìm theo.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 19 Sep 2026

Rất bất ngờ, cuối năm 2012, các ông Nhất Giang và Vi Túy từ Úc điện thoại cho tôi với một câu hỏi rất “giật gân”: “Anh có muốn về Thái Bình không?”

Tôi nghĩ hai ông định giỡn mình đây và còn phân vân tìm cách đối phó để khỏi rơi vào bẫy thì Nhất Giang nói ngay: “Thật đấy, chuyến này báo Văn Nghệ sẽ đi làm từ thiện ở Thái Bình, quê hương anh đấy. Anh thấy thế nào?”

Tôi trả lời không cần suy nghĩ:

– Các anh làm từ thiện từ đồng bằng sông Cửu Long đến Campuchia, rồi Huế, Pleiku, Kontum, chỉ còn thiếu miền Bắc. Đồng bào đói khổ thì ở đâu cũng là người Việt mình cả. Sao lại không ra miền Bắc một chuyến nhỉ.

Vi Túy hỏi rất thành thật:

– Theo anh, miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo lắm không?

– Ở đâu cũng có người nghèo trên khắp dải đất Việt

Nam này. Miền Bắc, họ hàng tôi còn nhiều, nhất là ở tỉnh Thái Bình mà các anh vừa đề cập. Người “trên không chằng, dưới không rễ”, nói rõ ra là không có người thân, không có họ hàng hang hốc với chính quyền địa phương, phần đông nghèo khó là cái chắc, chẳng khác gì người ở vùng quê miền Nam đâu. Chưa nói đến trường hợp như mấy đứa cháu tôi, sự nghèo khổ còn thê thảm hơn, kéo dài suốt từ năm 1954 tới bây giờ. Tôi kể lại sơ lược sự thật đó để các anh hiểu rõ hơn.

Nổi Khồ Từ “Muôn Năm Cũ”

Năm 1954, sau khi gia đình tôi vào Nam, anh cả tôi ở lại miền Bắc bởi anh theo kháng chiến chống Pháp từ năm 1949.

Như tôi đã có lần tường thuật về cái chết oan uổng của ông anh cả tôi. Anh đang là chính trị viên, nhưng bị sốt rét nên sau khi đi bệnh xá, được nghỉ phép về làng dưỡng bệnh. Gặp ngay đợt Cải Cách Ruộng Đất, phong trào đấu tố “phát huy” lên đỉnh điểm. “Chỉ tiêu” của làng tôi là phải đấu tố 3 địa chủ. Thế là anh tôi vốn là con chánh tổng, bị lôi ra đấu tố rồi xử bắn. Để lại vợ và 3 đứa con nhỏ, có cháu mới 2 tuổi, cháu lớn nhất mới 6 tuổi. Vợ anh không chịu nổi cảnh nhục nhã đã đâm đầu xuống ao nhà tự tử. Mấy đứa nhỏ bị đuổi ra ở một túp lều lá trong khu vườn chè nhà tôi. Cả làng, kể cả người thân trong họ, cũng không dám giúp đỡ bất cứ thứ gì cho các cháu. Một lần các cháu mò cua bắt ốc, bắt được mấy con cá nhỏ ngoài đồng, mang về đến gần nhà, vô phúc gặp một anh dân quân du kích bắt đứng lại khám xét. Thấy mấy con cá, anh dân quân quả quyết hai đứa ăn cắp cá, mang đổ ngay mấy con cá xuống ao làng. Mấy đứa cháu tôi sống nheo nhóc trong cảnh đó. Nỗi nghèo khổ theo đuổi các cháu từ năm 1954 đến nay. Một cháu đã mất tại Nam Định, một cháu bỏ làng ra Hà Nội sống lầm than đến nay.

Tôi kể lại chuyện này để các anh hiểu ở miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo khổ, cái nghèo “tích lũy” từ bao năm, đôi khi hơn cả miền Nam. Ở các làng quê Thái Bình không thiếu gia đình như thế. Các anh đại diện cho bà con người Việt ở nước ngoài phát quà cho bất cứ tỉnh nào ở miền Bắc cũng sẽ gây xúc động cho bà con nghèo trong nước và gây một tiếng vang đáng kể đấy. Một việc nên làm và không phải ai cũng làm được.

Nhất Giang kết luận bằng một câu hỏi gọn lỏn:

– Vậy anh có đi không? Bọn tôi lấy vé máy bay nhé. Tôi “nóng máy” gật ngay: “Đi thì đi”.

Kinh Kha Qua Sông Dịch

Thế là chuyến đi bất ngờ của tôi về quê được ấn định từ ngày 25 đến 27 tháng 12. Thật ra từ mấy năm trước, mỗi lần báo Văn Nghệ về tặng quà, tặng nhà tình thương cho đồng bào nghèo, tôi vẫn đủ sức “chiến đấu” với anh em, từ Lộc Ninh đến Biển Hồ Campuchia, đến Tiền Giang, Đà Lạt đều có mặt. Nhưng mỗi năm tuổi một cao, sức yếu không còn đủ sức “trường chinh” nữa. Năm nay đã 80, tưởng anh em sẽ cho yên thân “dưỡng già” trong cái chung cư mục nát này. Nhưng tiếng gọi của quê hương, của những người nghèo khó lại bất ngờ bật dậy, nói theo kiểu chữ nghĩa linh tinh ở đây là nó bật dậy “đột xuất”!

Tôi theo dõi tin thời tiết trên truyền hình, miền Bắc đang vào đợt rất lạnh, có hôm dưới 13 độ C, tôi hơi lo cho “cái thân già”. Nhưng nhớ lại thuở nằm trong trại tù Sơn

La, lạnh 3 độ C mà chiều vẫn tắm nước suối lạnh buốt còn chịu được thì xá gì cái lạnh Hà Nội. Thế là thêm “dũng khí” ra đi, cứ như Kinh Kha qua sông Dịch. Đi chuyến này rồi về có “bỏ mạng nơi sa trường” cũng đáng.

Xin đừng cho là tôi “quan trọng hóa” chuyến đi. Ở tuổi tôi, nhiều bạn đã ra đi, nhiều bạn mới năm trước còn dong chơi đây đó, nay đã nằm bẹp, muốn đi đâu cũng không đi nổi. Bây giờ, tôi đi bộ chỉ 15 phút đã thở “bở hơi tai”. Biết mình sức yếu rồi, chỉ còn điều an ủi cuối cùng là “làm được cái gì thì cứ làm, đi được đến đâu thì cứ đi”. Chẳng có điều gì báo trước cho cỗ máy xài đã 80 năm, không hư chỗ nọ cũng hỏng chỗ kia, lắp vá lung tung, đến lúc nó “bung” là hết lết nổi. Do vậy chuyến đi của tôi là ngoài dự tính và ngoài cả ý muốn, nhưng phải “liều”. Bạn đã đọc câu chuyện vui tôi gửi bạn tuần trước: Ở Việt Nam “không liều thì không sống được”. Tôi đi chuyến này cũng là liều. Bởi tôi biết rất rõ, đi với “cánh văn nghệ Úc” là đi liên miên, ngồi xe vào đường làng xóc như nhảy mambo, cuốc bộ đường ruộng nhiều cây số, đi liên miên để đến được nhiều nơi.

Đầu năm, cho tôi tâm sự đường dài với bạn thế thôi. Năm sau chẳng biết còn đủ sức, đủ minh mẫn để hầu chuyện bạn nữa không.

Người Sài Gòn Tiết Kiệm Cả Đêm Giáng Sinh

Đêm 24-12, tôi đón Giáng Sinh ở Sài Gòn, vốn lười đi và tiết kiệm nên nằm nhà coi ti-vi. Từ ngày phố Lê Lợi, Nguyễn Huệ trang hoàng đón Giáng Sinh và Năm Mới, tôi chưa bước đến mấy con phố rộn ràng đó. Dường như người già ở thành phố này, vẫn nghĩ năm nào cũng như nhau thôi, có đi xem cũng chẳng thấy gì khác. Vả lại năm nay đời sống quá khó khăn, những thứ đèn đóm xa hoa, năm nào cũng có cho đủ “lệ bộ” thôi, chứ khó mà vui nổi khi còn trăm thứ lo bù đầu. Vô tình, các thứ đó chỉ dành cho người giàu, hay ít ra cũng đủ ăn đủ mặc. Dân nghèo lo chạy gạo, lo thất nghiệp, tiết kiệm cả đến một cuốc xe đi hưởng thú vui không mất tiền, tức là không mất “phí”. Cái gì chứ nghe đến “phí” là dân nghèo hết hồn rồi. Mất tiền đổ xăng, rồi uống ly nước mía! Thôi, thà ở nhà, tiết kiệm được cho gia đình bữa ăn sáng, để dành tiền nộp phí xử dụng đường bộ.

Đấy là một sự thật, ít ai nghĩ đến.

Tôi chỉ dám thức đến 11 giờ đêm, bởi hôm sau, 5 giờ đã phải thức dậy ra máy bay. Coi như phải “bỏ quên đêm Giáng Sinh”. Chuyến Jestar cất cánh từ Tân Sơn Nhất lúc 7 giờ 30, sau 1 giờ 45 sẽ đến sân bay Nội Bài. Jestar là hãng hàng không rẻ nhất tại Việt Nam. Nếu lấy vé trước 1 tháng hoặc 1 tuần, giá sẽ rẻ hơn nhiều. Chỉ bằng nửa giá AirVN, chỉ ngang giá xe lửa có giường nằm. Khoảng hơn 1 triệu đồng 1 lượt Sài Gòn – Hà Nội. Tất nhiên lấy vé khứ hồi còn được bớt thêm nữa. Máy bay lớn, khoang hành khách chật chội, tất nhiên không “sang” bằng các hãng khác, nhưng cũng không tệ.

Khi máy bay sắp hạ cánh, phi hành đoàn thông báo nhiệt độ tại Nội Bài là 14 độ C. Cô gái ngồi cạnh tôi lè lưỡi rùng mình. Cô vận chiếc quần soọc để khoe cặp đùi dài trắng nhễ nhại. Có lẽ cô ra Hà Nội lần đầu. Tôi “trang bị” khá kỹ, áo khoác dầy cộm, khăn len quàng cổ, các thứ hàng “son” mua ở chợ Đà Lạt từ mấy năm trước, nằm kỹ trong đáy tủ, bây giờ mới “phát huy tác dụng”.

Từ sân bay Nội Bài, chiếc xe 16 chỗ chạy thẳng một lèo về Thái Bình. Đường khá dài, ngồi ê ẩm mới tới nơi tôi đã sinh ra và lớn lên rồi bỏ xứ ra đi. Gần 3 tiếng sau chúng tôi tới giáo xứ Phục Lễ. Ngôi nhà thờ rất lớn, với những hàng cây được nắn tỉa công phu quanh các khu vườn sạch sẽ làm tôn thêm vẻ trang nghiêm của nơi này. Người đón tiếp chúng tôi là cha Thao, rất lịch lãm, trẻ và đẹp trai không kém tài tử màn bạc. Cha đãi đoàn một bữa cơm thịnh soạn. Mọi chương trình đã được hoạch định từ trước cả chỗ ăn chỗ ngủ. Nhưng để khỏi làm phiền nơi tôn nghiêm và có tự do hơn, chúng tôi xin phép cha cho ra nghỉ ở khách sạn bên ngoài.

Đó là một kiểu “nhà nghỉ” ở giữa những con đường lớn. Có nơi treo bảng là “nhà ngủ” cho tiện việc sổ sách. Phòng chật hẹp, cũng có máy lạnh, toilet nhưng có vẻ hơi bầy hầy, bạn kiếm miếng xà bông cũng không ra. Đêm giữa đồng quê nghe ếch nhái kêu cũng vui tai. Tôi chợt nhớ ra là tôi rời quê ra đi năm 1950, đến nay đã hơn 60 năm mới được ngủ lại ở chính quê hương mình. Nhìn khung cảnh đồng quê trước mặt mơ hồ trong ánh đèn đêm, dường như vẫn vậy, không có gì thay đổi. Thay đổi chăng là con người. Tôi thật sự xúc động khi nhớ lại những con đường, những mái nhà, những ngôi trường tôi đã từng ê a học và những khuôn mặt từ xa xưa. Tất cả như còn đang lẩn khuất đâu đây và đang chờ đợi ngày chúng tôi trở về. Nhưng đồng thời với cảm tưởng ấy là ý nghĩ thực tế hơn, có lẽ đây là lần cuối tôi nghỉ lại nơi này.

Niềm vui và nỗi buồn đan xen trong cái đêm “hội ngộ” hi hữu này. Đêm đó dù rất mệt nhưng tôi vẫn không tài nào nhắm mắt ngủ yên được.

Sáng hôm sau trở lại nhà thờ Phục Lễ, nghe các giáo dân nói chuyện tôi mới biết giáo sứ này thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Vậy mà từ hôm qua tôi cứ tưởng giáo sứ thuộc huyện khác, mãi đến lúc đó tôi mới biết xã này thuộc huyện mình. Cách huyện lỵ Quỳnh Côi có 4 km, tức là cách làng An Hiệp của tôi 9 km. Bỗng dưng tất cả trở nên thân thuộc quá.

Buổi Phát Quà Tại Giáo Xứ Phục Lễ

Đúng 9 giờ sáng buổi phát quà bắt đầu ngay tại sân sau nhà thờ Phục Lễ. Chúng tôi thấy việc tổ chức phát quà cho đồng bào nghèo ở một nơi như thế này là rất phù hợp. Nếu tổ chức ở một trụ sở hay ủy ban nào cũng bất tiện vì khẩu hiệu cờ quạt lung tung… Buổi phát quà cho cả đồng bào theo đạo Thiên Chúa và đạo Phật, không hề có sự phân biệt nào.

Hơn 100 người đã tề tựu đông đủ, vài người “giàu lắm” cũng chỉ có chiếc xe đạp cũ. Phần quà gồm 2 gói thực phẩm và 100 ngàn tiền mặt. Đến nhận quà, hầu hết là các cụ già, các cô gái và em nhỏ vừa đủ tuổi xách được gói quà khoảng 4 kg. Quan sát những người dân ở đây, tôi không thấy điều gì khác biệt với những người dân ở các địa phương miền Nam mà tôi đã từng đi qua. Có lẽ người nghèo ở đâu cũng giống nhau cả thôi, quần áo “thời đại si đa” đủ mốt, đủ màu, đủ quốc tịch, chữ Ăng-lê trên ngực áo đủ kiểu kể cả kiểu “I ♥ you” trên áo các em nhỏ chưa đủ lớn khôn. Khác một chút là mùa lạnh nên ai cũng mặc vài ba chiếc áo chằng đụp nên có vẻ có da có thịt hơn.

Tôi cũng được anh em cử ra đứng phát tiền sau khi các cụ đã lãnh quà. Có cụ bê không nổi, rớt lung tung, người khác phải tới “khuân” giúp. Có cụ quên cả lãnh tiền, dù đã được nhắc nhở, tôi phải kéo áo cụ lại mời cụ lãnh giùm cho. Có cụ nói “các ông cho nhiều quá, chưa có “ông” nào cho nhiều như thế”.

Tiếng gọi nhau í ới, vài người xúm lại “thồ” mấy phần quà trên chiếc xe đạp cũ. Họ vẫn còn quen với kiểu phương tiện vận chuyển thời chiến tranh đi tản cư, di cư.

Ngay hôm đó đoàn lại tiếp tục đi đến 4-5 nhà thờ khác nằm trong địa phận cai quản của cha Thao ở giáo xứ này. Đường làng nhỏ hẹp như bờ ruộng, có nơi xe gắn máy đi còn chật. Chúng tôi cuốc bộ từng chặng chừng 1-2 cây số. Thú thật, nếu không có mấy ông bạn mang giúp hành lý, tôi không đi nổi. Ở nơi nào bà con cũng có vẻ lạ lẫm với đoàn làm từ thiện từ nước ngoài về. Thậm chí có nhiều người chẳng biết nước Úc ở đâu, nếu không giải thích, họ vẫn cứ nghĩ rằng đó là nước Mỹ. Bà con ở miền này biết đến nước Mỹ và đồng đô-la Mỹ chứ quả tình không biết đồng đô-la Úc hoặc đô-la Canada. Xin bạn hiểu là rất nhiều người biết có đồng đô-la chứ chưa nhìn thấy hoặc chưa được cầm đến bao giờ. Đó là điều ngược hẳn với dân Hà Nội, ai cũng biết giá trị của từng đồng đô-la và nhiều người định giá trị nhiều món hàng bằng đô-la và tiêu bằng đô-la mạnh tay hơn các cụ từ nước ngoài về Việt Nam đấy. Suy ra từ đấy, ở miền Bắc sự cách biệt về giàu nghèo giữa thành thị và thôn quê quá xa. Xa hơn cả miền Nam.

Trở Lại Nơi Chôn Nhau Cắt Rốn

Cây đa và lối vào nhà cũ.

Buổi chiều chúng tôi lên đường trở về Hà Nội. Trên đoạn đường đó, chúng tôi qua huyện Quỳnh Phụ và qua cầu Hiệp. Đúng ra tên huyện cũ của tôi là Quỳnh Côi, nhưng sau này, “nhà nước mới” sát nhập hai huyện Phụ Dực và Quỳnh Côi là một, đổi thành huyện Quỳnh Phụ. Rồi nhiều huyện, nhiều tỉnh thấy sự cai trị bất tiện nên lại tách các tỉnh huyện như cũ… Nguyên cái việc sửa tới sửa lui này cũng tốn biết bao tiền của công sức của nhân dân. Giấy tờ đều phải làm mới để rồi làm lại như cũ. Sự thiếu nghiên cứu, thiếu kinh nghiệm, với những bộ óc thích “đổi mới vô tội vạ” đã làm điêu đứng người dân không ít.

Ngày nay, cái phố huyện nhỏ xíu được nâng thành thị trấn và đặt lại cái tên Quỳnh Côi quen thuộc, nhưng huyện thì vẫn là huyện Quỳnh Phụ. Đi qua con đường đúng 5 cây số từ thị trấn về phố Bến Hiệp, tôi bồi hồi nhớ đến những ngày từ phố tôi đi học trường huyện.

Con đường trải đá đã mòn nhẵn, mỗi ngày có hai chuyến xe đò chạy từ Bến Hiệp đến tỉnh lỵ Thái Bình. Con đường in đậm thuở ấu thơ của tôi, thuở mới tập và thích làm người lớn, bắt đầu biết yêu vụng nhớ thầm cô hàng xén hoa khôi phố Hiệp. Bốn năm dài như thế, mỗi ngày đạp xe đi trên con đường cái quan này.

In đậm trong khối óc trẻ thơ của tôi là năm 1944, hai bên bờ cỏ, dọc theo con đường này có rất nhiều người chết đói, nằm la liệt bên đường. Có những xác chết, vì không chôn kịp, đã cháy đen vì nắng như bị hỏa thiêu. Hầu hết họ là những người từ phương xa đến xin ăn ở huyện tôi. Nhà tôi đã bắt tôi phải nghỉ học cả tháng để tránh bệnh tật lây lan từ quãng đường kinh hoàng này. Bây giờ trở lại, đó là những hình ảnh bi đát nhất vẫn còn như trước mắt tôi.

Chùa Làng Sơn Đồng Và Ông Sư Tự Thiêu

Đi gần hết quãng đường này, chúng tôi vì tò mò ghé vào làng Sơn Đồng thăm ngôi chùa có vị sư mới tự thiêu cách đây hai tháng. Làng này cách làng tôi vài cái bờ ruộng và một lũy tre thưa. Bà chị ruột tôi lấy chồng ở làng Sơn Đồng. Anh chị tôi có 7, 8 đứa con hiện ở cả bên Mỹ. Các cháu đề nghị tôi ghé qua chùa thăm lại cảnh xưa có đúng như bức ảnh đã được đưa lên internet không và lý do nào nhà sư đã tự thiêu.

Chúng tôi đến ngôi chùa Sơn Đồng vào buổi quá trưa “trời không nắng cũng không mưa, chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung”. Không khí chùa ngoài vắng lặng, không một bóng người. Tôi lần ra phía sau chùa vãn cảnh, bất ngờ gặp được sư thầy, có lẽ là vị sư tạm thời trụ trì ở chùa này sau khi vị sư chính tự thiêu. Tôi gợi lại vài kỷ niệm cũ chứng tỏ mình là người cũ của địa phương. Hồi đó bố tôi thường sai tôi sang chùa mời cụ sư Hinh sang nhà tôi đàm đạo. Cụ sư Hinh rất phóng khoáng trẻ trung nên tôi nhớ mãi tính cách đặc biệt của cụ. Vị sư trụ trì mới nhận ra ngay tôi là “người nhà”. Vị này tự giới thiệu tên thật là Phạm Tiến Hường.

Sư thầy ra gặp anh em trong đoàn và thuật lại chuyện vị sư đã tự thiêu. Thầy nói khá chi tiết. Tôi chỉ có thể tóm tắt vài điểm then chốt. Vị sư tự thiêu là thầy Thích Thanh Hoằng, tên tục là Nguyễn Văn Mười. Thầy viết thư tuyệt mệnh nói rằng “Thầy không oán trách Phật tử, tự thầy oán trách thầy”. Nhưng theo thầy Phạm Tiến Hường thì một buổi sáng thức dậy, thầy Thích Thanh Hoằng bị “người ta” lấy hết toàn bộ đồ dùng của thầy, trong đó có cả máy vi tính và nhiều sách vở. Thầy buồn lắm nên tự thiêu.

Tôi không thể suy luận hai chữ “người ta” đây là sư thầy Hường đã ám chỉ nhân vật nào hay cơ quan nào. Vì một lý do nào đó, thầy Hường cũng chỉ nói hai tiếng “người ta”, nhưng bạn có thể hiểu đó là ai và tại sao thầy Hường không nói rõ hơn được. Thầy Hường chính là người đã ở bên và giúp đỡ săn sóc cuộc sống cho thầy Thích Thanh Hoằng từ 10 năm qua nên biết rất rõ. Thầy Hoằng đã đổ 10 lít xăng lên người để tự thiêu vào buổi sáng. Sau đó vài ngày, chùa định làm một đám tang lớn nhưng phường xã đề nghị đám tang chỉ đi vòng theo con đường phía ngoài chùa rồi an táng thầy phía sau miếng đất chùa Sơn Đồng.

Cây Cầu Hiệp Mới, Nối Liền Hải Dương – Thái Bình

Chúng tôi dừng tại chùa Sơn Đồng hơn 1 giờ, buổi chiều anh tài xế trẻ đưa đoàn ra Bến Hiệp. Đây chính là nơi tôi đã sống thời thơ ấu. Dãy phố có vài chục căn nhà lầu, nơi có một số gia đình người Hoa làm ăn buôn bán cùng người Việt. Ngày nay chỉ còn lại những dẫy nhà tranh hai bên đường. Chỉ có cây cầu Hiệp mới làm xong, đó cũng là đặc điểm nổi bật nhất của tỉnh Thái Bình.

Cầu Hiệp bắc qua sông Luộc, nối liền đường bộ giữa 2 tỉnh Hải Dương – Thái Bình, cầu này thuộc 2 xã Hưng Long huyện Ninh Giang, Hải Dương và Quỳnh Giao huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình, được khởi công xây dựng từ năm 2008. Cầu Hiệp có chiều dài 542,5 mét, rộng 12 mét. Buổi chiều trời mưa dăng nhẹ như mưa phùn mùa đông, cây cầu uốn cong nổi lên trên nền trời khá hùng vĩ giữa vùng quê nghèo. Tôi nhớ đến những lần bọn nhóc chúng tôi trần như nhộng, bơi qua sông Luộc giữa mùa nước lớn, dòng phù sa đỏ quạch chảy cuồn cuộn, sang bên kia sông ăn trộm vài trái bắp với cái lý do ngây ngô rằng bắp Hải Dương mới ngon. Và chỉ bơi qua sông chạy trốn về bờ nhà khi có người đuổi theo hô hoán, đứng trên bờ chửi theo. Tuổi trẻ ngỗ nghịch có vài phút sống lại.

Cây cầu khiến tôi nhớ tới cây cầu Bo, lối bắt đầu vào tỉnh lỵ Thái Bình, nơi bà ngoại tôi sinh sống. Mỗi lần tôi được “lên tỉnh”, nhìn thấy cây cầu Bo như nhìn thấy môt thiên đường mới. Đó mới là ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi về quê ngoại. Tôi nhớ đến mấy câu vè của bọn học trò vẫn hát om xòm: “Thái Bình có cái Cầu Bo. Đêm đêm trai gái lại bò lên chơi. Cứ 5 mét lại một đôi”.

Bây giờ Thái Bình có 2 cây cầu Bo, một mới và một cũ, nằm song song, nhưng chuyến đi này tôi không đi qua cầu

Bo. Chiếc cầu Hiệp đã thay thế, nhiều xe chạy đường Hà Nội đã thay đổi lộ trình chạy qua đường cầu Hiệp sang Hải Dương ngắn hơn và đường xá tốt hơn.

Buổi tối về đến Hà Nội, chúng tôi quá mệt mỏi chỉ còn nước lăn ra ngủ. Trong chuyến đi của đoàn có một ông bạn từ Cali cũng tháp tùng. Ông Tiến, tục gọi là Tiến râu, người nằm chung phòng với tôi và mang vác hành lý, giúp đỡ tôi rất nhiếu suốt cuộc hành trình này. Thế là có cả bạn từ Mỹ về cùng làm từ thiện. Hà Nội với tôi chỉ là trạm dừng chân đợi tàu xe. Nhưng cũng có nhận xét rất “vô tư” rằng người Hà Nội giàu hơn người miền Nam. Có rất nhiều nguyên nhân lý giải điều này sau khi tôi tìm gặp vài người bà con, kẻ giàu nứt đố đổ vách, người nghèo kiết xác như đứa cháu tôi ở giữa lòng Hà Nội.

Buổi tối chúng tôi trở về Sài Gòn trên chuyến bay cất cánh lúc 19 giờ 30, hoàn tất chuyến đi làm từ thiện lần đầu tiên ở miền Bắc.

Thưa thật với bạn, ba hôm sau hai đùi tôi vẫn còn đau, leo lên cầu thang lầu 1 chung cư không muốn nổi. Thế mới thấy rõ mình đã “quá đát” và ngồi tiếc nuối thời trai trẻ. Nhưng dù thế nào tôi cũng bằng lòng với mình vì đã “làm được gì cứ làm, đi được đến đâu cứ đi”. Đó chính là cuộc sống “có lý” của tuổi già, phải không bạn?

(Sài Gòn, 4-1-2013)

Con đường tình ta đi

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Sep 2026

Chuyện rằng: Trùm Sò đi thưa Thị Hến về tội oa trữ đồ của Ốc ăn trộm ở nhà mình. Thầy Đề đòi cả hai đến công đường chờ huyện quan thẩm tra và phán xử.

con duong tinh ta di 02Huyện Trìa hỏi Thị Hến “Đã có chồng hay chưa?” Thị Hến vân vê hai ngón tay, mắt lúng liếng, long lanh mặt hồ thu đang yên bỗng nhiên gợn sóng, bồi hồi, tim đập rộn ràng nhớ ngày năm cũ, rồi cúi mặt thở dài thườn thượt…. Huyện Trìa bảo thầy Đề ghi vô lý lịch: “Chồng chết!”

Huyện Trìa hỏi Trùm Sò: “Đã có vợ hay chưa?” Trùm Sò, bấm đốt ngón tay, rồi cũng thở dài thườn thượt. Huyện Trìa bảo Thầy Đề ghi vô lý lịch là: “Đã có vợ!”

Thị Hến không còn ba sinh hương lửa, rêu mọc đầy thềm cũ bởi chẳng có dấu chưn ai… đột nhiên bị Huyện Trìa nhắc lại cái thời giựt giựt; nên em buồn cũng phải. Vì buồn nào hơn đêm nay khi bão loạn đầy trời! Nằm trên giường mình ên, dẫu đắp hàng chục cái mền điện, sao ấm bằng cái lò sưởi 37 độ rưỡi chạy bằng beer phải không nào?

Ngược lại, Trùm Sò là đại gia, tiền bạc rủng rỉnh đầy hầu bao, muốn lao vào ăn chơi trác táng, muốn sống mình ên, để lênh đênh nay con nầy, mai con nọ cho nó đã; ngặt đã có con Hà Bá ở nhà; nên tiếc đời trẻ trai, trai trẻ, bướm bay, bay bướm; nên thở dài thườn thượt, buồn cho kiếp chim hót trong lồng.

Thuở nhỏ muốn chơi thì không có tiền. Giờ có tiền rồi muốn chơi… lại có vợ!

Nghĩa là ai không có thì tiếc sao không có? Ai có rồi cũng tiếc tại sao mình lại có?

***

Mà không có thì than khóc nghe áo não làm sao như: “Tui nghèo, em cũng chẳng cao sang, sao em nỡ bỏ qua cho đành?!”

Em bỏ mình tưởng xui chớ thiệt ra là hên; là tiền hung hậu kiết đó!

Ngày ấy, mình hẹn nàng ra công viên Bạch Đằng sát bờ sông Sài Gòn. Đêm đầy sao. Lung linh và lãng mạng; mình lạng quạng, quỳ xuống cầm tay nàng run run như con thằn lằn bị đứt đuôi, lập bập nói: “Em về làm vợ anh nhá?” Nàng nói “Không!” Và sau đó hai người đều sống trong hạnh phúc.

Nếu chẳng may em cười mỉm chi cọp: “Anh có thương em thì thủng thẳng em ừ! Anh đừng thương em mẫu từ em hay…” là chết Tía tui rồi!

***

Tuy nhiên tìm được người mình yêu và để người yêu mình không phải dễ nó gian nan lắm bà con ơi. Đôi khi lỡ yêu một người khác hệ khác băng tầng là xôi hỏng bỏng không.

Chuyện rằng: Một ông bước vào quán rượu kêu người phục vụ cho mười ly rượu mạnh, rượu whiskey. “Có chuyện gì thế anh bạn?” Người phục vụ hỏi.  “À tui mới vừa phát hiện ra là thằng em trai của tui đồng tính và nó vừa làm đám cưới với thằng bạn thân nhứt của tui hôm qua.”

Hôm sau, cũng người đàn ông đó bước vào quán và kêu tới 12 ly rượu mạnh, rượu whiskey. “Lần nầy lại có chuyện gì nữa đó anh bạn?” “À tui vừa phát hiện ra thằng con trai của tui cũng là người đồng tính!”

Ngày hôm sau nữa, cũng người đàn ông đó đến quán rượu và kêu tới mười lăm ly rượu mạnh, rượu whiskey. Người phục vụ hỏi: “Bộ trong gia đình anh bạn không có ai thích đàn bà con gái hết hay sao?” Ông ta thở dài và trả lời: “Có chớ! Vợ của tui!”

Đó là chuyện bên Tây; Việt Nam mình cũng thế thôi! Xuân Diệu vốn sanh bất phùng thời, nhà thơ thuộc thành phần thứ ba, vào thời ấy phải che giấu giới tính thật của mình,nếu vào thời nầy xin cứ ‘vô tư’; ông yêu ông bà yêu bà cũng là chuyện thường xảy ra trong ta bà thế giới.

Mà đôi khi tình yêu đồng tính lại mãnh liệt hơn là tình yêu một trai một gái.

“Yêu nhau đi chiều hôm tối rồi” và giục giã: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ! Em, em ơi! Tình non sắp già rồi.”Vi dau tinh bau 04Vì tình yêu là trái chín của mọi mùa. Xuân, Hạ, Thu, Đông đều có trái chỉ cần anh và em cùng giơ tay ra mà hái. Đó là giành cho ai khoái ăn, còn chỉ khoái hửi hửi chơi thôi thì tình yêu đôi lứa khác nào một vườn hoa đang có nhiều hoa đâm nở trong mùa Xuân!

Còn ai vốn đam mê vàng bạc, hột xoàn, kim cương thì: lời nói là bạc và im lặng là vàng thì tiếng kêu của con tim là một hạt kim cương muôn màu muôn sắc.

Mà nói tới kim cương là mấy em ham hè nên cắm đầu nhào vô bởi khi đã yêu là mơ mộng nhiều, không một trở ngại nào làm cho người ta lo sợ!

Bởi đời không tù ti tú tí, quả là đời vô vị; kiếp sống không yêu, kiếp sống thừa!

Sống mà không có tình yêu không có cái đó là sống trong một bầu trời đầy gió âm u! Rồi khi ngỏm củ từ, thiên đường sẽ chẳng mở cửa để đón chào những người cằn cỗi, thiếu tình yêu!

Chỉ cần yêu, cần tình, đừng để tiền bạc chen vô hư bột hư đường hết ráo. Lỡ yêu mà có bị em gạt lấy hết tiền trong tài khoản ngân hàng thì cũng nên vui vẻ mà ‘ngu’ đi. Chớ thưa tới ông Trời ổng cũng chịu thua thôi.

Dẫu “bắt thang lên hỏi ông Trời! Lấy tiền cho gái có đòi được không? Ông Trời ngoảnh mặt lại trông. Tao đòi chưa được; huống chi là mày!”

Nếu quý anh mình coi đồng tiền bằng bánh xe bò, chỉ sợ thiên hạ cười mình dại gái thì hãy yêu em lúc mình áo vũ cơ hàn, nhà tranh vách đất, vì tình yêu như ngọn đũa thần, biến túp lều tranh thành lâu đài bằng vàng 24 ca ra trong đó có con tim của đôi ta; chỉ có một điều không thể rứt nó ra mà đem đi cầm hay đi bán lúc mình bị ‘viêm’ túi…

***

Đàn ông nào cũng biết đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ. Phải cầu nguyện một lần trước khi ra trận mạc, phải cầu nguyện hai lần trước khi bước chân xuống tàu ra biển khơi, nhưng phải cầu nguyện đến những ba lần trước khi… cưới vợ!

Vì lấy vợ không khác nào thọc tay vào một cái bao trong đó có đựng chín con rắn độc và một con lươn, xác xuất mà bắt được trúng con lươn khó lắm!

Anh nào cũng biết phải luôn luôn sống trong tình yêu. Đó chính là lý do chớ bao giờ nên kết hôn cả. Bởi vì kết hôn là bản án tử hình cho một thời để yêu và… để chết ngắc ngoải…rồi chết ngắc!

Khi chưa lấy nhau, nhà thơ Nguyên Sa bảo: “Em là con mèo ngái ngủ trên tay anh”. Lấy nhau rồi, em biến thành sư tử Hà Đông. Gầm gừ tối ngày hè!

Vì trong thâm tâm em lấy anh là muốn làm anh thay đổi nhưng anh vẫn vậy! Anh cưới em về mong em đừng thay đổi; hãy cứ ‘xí xọn’ như thời con gái nhưng em lại đổi thay mới chết!

Anh thề hứa lúc yêu anh sẵn lòng xuống địa ngục cũng bởi vì em. Cưới em về rồi anh quả là đang sống trong địa ngục.

Vì lúc đầu em yêu ở trong vòng tay ta, một ngày kia ở trên cánh tay và ngồi trên lưng ta; sau rốt là em ngồi trên đầu như con chí. Con chí leo lên đầu mình còn bắt xuống được nhưng con vợ thì vô phương!

Hôn nhân thì nồng nàn như cái chết vì người anh hùng trong quyển truyện tình đã chết ngắc ngay chương đầu tiên. Sự khác nhau giữa hôn nhân và cái chết là: người chết sẽ được tự do.

Ai nói có vợ sống lâu hơn còn độc thân là nói bậy, không trúng đâu. Thời gian nó có vẻ dài vô tận đấy thôi! Vì tình yêu giống như món súp, những muỗng đầu thì quá nóng, những muỗng cuối lại quá lạnh. Lạnh bởi nhiều nguyên do. Một nguyên do là: cánh đàn ông chúng ta rất căm ghét những ai bĩu môi chê mình hết xí quách, đi chợ chưa tới chợ đã hết tiền; nếu là thằng nào thì mình nổi máu du côn lên đục cho nó phù mỏ nhưng nếu phát ra từ miệng vợ nhà thì mình phải xót xa mà cam chịu vì nó có thử rồi nên nói hỏng có sai.

Bà Nội được năm đứa cháu gái rồi chờ hoài một đứa cháu trai để nối dõi tông đường, giục “Khi nào hai đứa bây sinh nữa đây?” “Ảnh bị “liệt” cha rồi; còn làm ăn gì đâu mà đẻ chửa nữa Má!””

Một câu mắng vốn cay nghiệt nhắm ngay vào người đã sanh đẻ ra ta thì làm sao không xót xa cho được chớ?

Thế nhà thơ nước Anh, Milton sau khi cưới vợ đã viết tác phẩm ‘Thiên đường đã mất.’ Rồi đến khi vợ ông qua đời; ông viết cuốn ‘Thiên đường trở lại’

Viết vậy nên bị mấy ông có máu thờ bà, sợ vợ, chửi bới tưng bừng hè. Lên mặt đạo đức ‘giả’ rầy xối xả: người đầu ấp tay gối nói vậy mà nói cho được hè?

Riêng tui, dẫu biết là con gái là nho tươi; còn về già là nho khô… nhưng nho tươi hay nho khô cũng là nho; chỉ khác một điều nho tươi là nhiều nước nho khô là khô…  nhưng cả hai đều ngọt hết mà. Thì than vãn chê bai mà chi chớ?

***

Còn ở với nhau, chịu đựng nhau, thì của chồng công vợ. Thôi nhau thì chia hai. Án lệnh bất thành văn này có trước án lệnh thành văn của quan tòa Tây cả mấy trăm năm.

Nhưng phụ nữ mình hồi xưa dễ thương lắm cà! Lỡ có xa chàng, vàng vòng, bông tai, hột xoàn, cà rá… cũng hỏng thèm, chỉ xin mang con theo, để mẹ con em về với má. Hu Hu!!!

Giờ cũng vậy! Em yêu có đòi bỏ tui thì chắc tui chẳng có tốn cắc nào bởi có đâu mà tốn chớ? Nên tuần rồi nè, giận cái cái vụ tui sáng xỉn chiều say, tối ôm chai mà ngủ; nên em bèn xách gói ra đi.

Tui nói vói theo em bằng tiếng Tây đàng hoàng nhe: “Merci pour ce bon moment!”(Cám ơn thời hạnh phúc ấy!). Ai dè em nói: “Thấy người ta đi mà hổng chạy theo cản hả?” Và em ôm gói đi trở vô. He he!!!

Sống với nhau đã gần nửa thế kỷ tình ta rồi mà tui đành phải kết luận một cách đau đớn là: Em yêu hổng biết cách yêu tui! Dù yêu nó dễ òm hè!

con duong tinh ta di 03Yêu là tôn trọng cái tự do của nhau mới hạnh phúc bền lâu; chớ cứ theo chủ nghĩa độc tài toàn trị, biến tui thành một con rối theo bàn tay em, đặt đâu tui ngồi đó, cấm hó hé gì hết ráo thì làm sao mà hạnh phúc?

Hãy học tập cách giữ tình ta như lửa cháy ‘riu riu’ hoài, cháy ‘leo lét’ mãi là phải nghe lời tư vấn miễn phí của cựu Tổng thống Huê Kỳ, George W. Bush: “Bí quyết nào khiến cuộc hôn nhân của ông được lâu dài?”. Ông Bush trả lời rằng: “Chúng tôi thường thoải mái đi tới nhà hàng hai lần một tuần. Ăn nhậu có thắp đèn cầy cho lãng mạn, sau đó nhạc nhẹ, ôm sát vào nhau, tình tứ nhảy đầm theo điệu “Cha Cha Cha”. 

Điều quan trọng là: Em yêu đi vào những ngày thứ Ba. Còn tôi đi vào những những ngày thứ Sáu!”

đoàn xuân thu.

melbourne

Cốc chủ

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 18 Nov 2016

Post by Sơn râu 19 Sep 2026

Khuôn mặt – Tranh mộc bản Võ Đình

  1. Lạ chỗ, tôi ngủ không tròn giấc. Đêm cũng như ngày, chốn này đều chìm trong tĩnh lặng. Yên ả tới độ cố dóng đôi tai đợi chờ một tiếng động chợt khuấy lên, để biết mình đang tỉnh thức, không mê muội. Độ mười giờ sáng, tôi gặp chút mừng vui khi nghe có tiếng còi tàu xe lửa gọi về từ chốn xa, trốn tìm trong cánh rừng chen chúc rậm lá thu nhỏ tiếng thì thào. Chừng khoảng trưa thiêm thiếp nắng vàng nặng trĩu cành tôi nghe đôi ba tiếng chim hót giọng thanh cao. Tiếng lãnh lót ngọt ngào kia muôn đời làm lòng người chùng xuống, tái tê. Nó bay đi, điền thế một khoảng lặng dây dưa chút bàng hoàng, biền biệt.

Dạ Thường thức giấc hồi nào tôi chẳng hay. Cô luôn làm sẵn bình cà phê và thông thường mỗi ngày tôi uống tới ba bình. Tôi xem thời sự trên TV thấy có ông bác sĩ bảo uống cà phê rất tốt, nhưng dẫu chất nước đen kia chứa lắm thứ độc hại thì thứ dung dịch tôi mãi dung nạp vào người không vì thế mà thuyên giảm đi. Sự vắng lặng, ly cà phê đen, cây viết xanh, vuông giấy trắng; hình như gom chúng lại một cách hài hoà để tôi an lòng cúi mặt tiêu pha khoảng thời gian chờ Dạ Thường xuất hiện.

Có lẽ là một thói quen, pha cà phê cho tôi xong thì Dạ Thường mang đôi giày Nike vào chân và cô chạy bộ gần cả giờ quanh những con đường tuyệt chẳng có bóng người, lòn lách dưới thâm u bóng cây độ lượng phủ che. Sau đó, êm thắm mở nhẹ cánh cửa sau nhà rồi tiếng mưa rào rơi xuống, từ phòng tắm, vắng xa. Thay đổi áo xống, trang điểm nhẹ lên khuôn mặt chẳng buồn vui, Dạ Thường chu toàn công việc một hướng dẫn viên chở khách đi thăm những nơi cần ghé xem ở thành phố này. Hơn một tuần thời khoá biểu ấy bị ngưng lại vì thôi tìm ra đích tới. Bảo tàng, hoa rộ công viên, tranh ảnh trưng bày, tượng danh nhân, sông dài biển rộng cũng như suối khe róc rách đều thưởng lãm xong. Thậm chí cả hai đã chui vào khu thương xá lớn rộng vui tay xáo tung từng đống áo quần đang giảm giá mất tới hơn nửa ngày. Hàng quán thì ăn gần hết những nhà hàng ngon nức tiếng. Và xong mười ngày giờ đây tôi ngồi yên cùng trang giấy trắng, cùng cái nặng ngàn cân của nỗi vắng lặng bủa vây. Mỗi ngày tôi cố viết xuống được hai trang giấy. Vẩn vơ để khỏi ngứa năm ngón. Ngưng lại khi có tiếng phong linh reo, gió không đủ mạnh để đánh thức nó. Nó phát tiếng mừng vui khi Dạ Thường tập xong bài “Suối nguồn tươi trẻ” và vung tay đánh hết bài quyền căn bản của Dịch chân kinh.

Đợi chủ nhà đi lo những điều lặt vặt nhưng riêng tư cần thiết của một người đàn bà, tôi lẻn ra ngoài khoảng sân trồng lắm hoa tìm chỗ thích hợp để hút thuốc. Nếu bảo Dạ Thường là người đại diện mẫu mực của bộ y tế thì tôi, đích thực là kẻ tội đồ phá hoại bao cản ngăn, lân la với độc dược. Người xem sức khoẻ là báu vật kia sẽ tha thứ tôi và Dạ Thường tôn trọng cách tôi quan niệm về đời sống. Bằng chứng là cô đã trao vào tay tôi cái lọ thuỷ tinh để làm gạt tàn thuốc. Tôi nhìn nhãn hiệu mắm ruốc Huế thượng hảo hạng made in Hong Kong mà chẳng dấu một nụ cười. Người Huế đi đâu cũng cố truy lùng ra ruốc, ớt. Và tôi, những ngày đến thăm người bạn cũ, ăn đậu ở nhờ đã được bạn cho cái gạt tàn chẳng đụng hàng, giú bên bờ cây bụi cỏ để nhìn “khói huyền bay lên cao”. Cái lọ thuỷ tinh đã được rửa sạch và mai này Dạ Thường có nhăn mặt không khi ngó ra một kỷ niệm chẳng mấy thơm tho? Tôi đã ăn bún bò do Dạ Thường nấu cũng như những thức cao lương mỹ vị khác. Cô bảo, để mình rửa chén bát cho, ra ngoài mà hút thuốc cho khỏi tanh miệng. Tôi ngó vành môi phai nhạt màu son và ra vườn tìm tới lọ ruốc chôn cạnh cây hoa thạch thảo.

Hôm nay mình nên ăn chay một bữa. Thịt thà hoài cũng ngán, đổi qua xơi toàn rau cho có chất xanh. Dạ Thường nói có bà người Việt trồng đủ loại rau trong khu vườn rộng, mình sẽ tới cái địa chỉ đầy sức thu hút ấy. Giá rẻ đã đành, nó tươi rói khi vừa bức hái lìa cành mơn mởn. Và thích ở điểm khác, mình được dầm thân dưới bóng dâm ngập sắc xanh màu diệp lục tới mát lạnh, đôi ba cánh bướm bay chập chờn quanh quất và rồi nghe được tiếng sốt sắng chuyện trò của người đồng hương kia.

Dạ Thường phải dùng máy định vị chỉ bày đường tới. Tuy cùng thành phố nhưng nó nằm ở quận hạt khác, khá xa. Cô nói khi cho xe chạy ra con đường lớn. Kinh nghiệm hơn ba mươi năm, bằng lái sạch chưa phạm một lỗi lầm nhưng Dạ Thường điều khiển xe như một kẻ ngày đầu vật lộn với chiếc Lexus. Ở con người cô, chẳng biểu lộ thứ gì nôn nả, sôi nổi, bồn chồn, dục tốc. Cô từ tốn, chậm rãi, đằm thắm tới mức khó hiểu. Cô biết cách chôn chặt những muộn phiền tận đáy lòng và khi cô nói thật vui khi gặp mặt tôi, đón về nhà cô ở mà chẳng lộ ra sự vồn vã. Tôi dấu cái ý nghĩ là bạn tôi nên đổi tên thành Lạ Thường. Căn nhà nhỏ, trống trải, quạnh vắng mà bạn ở là một điều khó hiểu khác.

2.

Trong các bộ truyện võ hiệp kỳ tình giả tưởng của văn chương Hong Kong, Đài Loan thỉnh thoảng gặp phải đôi ba hình ảnh của Tuyệt Tình Cốc, U Hồn Cốc, Cực Lạc Cốc… 

Ngoài đời, ở chốn này, bỗng dưng hiện lên tấm bạt phập phồng lấn chiếm bờ lề che chắn lưu giữ được một bóng dâm nhỏ có tên gọi Cà Phê Cốc. Khai sinh ra nó là người sớm xa lánh chẳng mặn mà với sách truyện, chị Sim tầm 35 tuổi nói về nguồn cơn: Ban đầu thì cà phê bụi, chữ bụi cũng hay, nhưng sau đổi thành cốc vì em nghe ra lời quyến dụ của khách ngồi quán nói trong điện thoại: Hãy tới Cà Phê Cốc làm một cốc cà phê. Em mết chữ cốc từ buổi ấy, nghe phê. Lúc nhỏ học dốt cũng bị thầy đưa tay cốc vào đầu, u một cục. Chữ cốc còn đi vào bài hát đồng dao của bọn trẻ con: Lốc cốc leng keng con gà mô béo để riêng cho thầy! 

Nói tới cốc, nghĩ ra một nơi chốn vắng tẻ, cô quạnh, sơn lâm cùng cốc. Nhưng, như một định luật tự nhiên, ở đâu có cà phê ở đó đâm chộn rộn lắm kẻ vào người ra. Đi lại trên giang hồ thời buổi này đa phần là phường bàng môn tả đạo, hắc bạch khó phân minh, tất thảy đều từng một lần tạt vào Cà Phê Cốc; lại có hạng người tuồng không màng thế sự ngồi so vai thu mình trong góc mãi lặng câm nhìn đời hiu quạnh trôi bên ngoài con đường thảng hoặc dấy lên đám bụi mờ. Khách dừng chân ghé thưởng thức chất nước đắng ngó tạp nhạp là thế nhưng toàn bộ ở chúng lộ hình sự đồng thuận: Cô Sim chủ quán khoác lên người một vẻ gì thật đáng yêu. Ba nhăm tuổi đầu mà nói chuyện cứ tự nguyện xưng em, ngọt hơn ba muỗng đường tộng cố xá vào cốc cà phê đen mà khuấy liên hồi kỳ trận, chừng hồ nghi bốn chữ mật ngọt chết ruồi. 

Chủ quán có giữ ý tứ cách mấy, dần dà bọn phàm phu tục tử kia cũng lần khân hay biết điều hệ trọng: Chị ấy chửa chồng. Sim có đứa em bà con không màng gian khó loay hoay kề cận giúp việc. Hắn mang tật cà lăm và có lẽ bọn khách háo sắc sẽ khai thác tin tức qua môi miệng ấp úng trầm trầy trầm trật của đứa con trai đang độ tuổi có thể đầu quân vào đội ngũ thanh niên xung phong. Đâu cần thanh niên có đâu khó có thanh niên. Một đứa có cái lưỡi chưa được uốn cong như nó có muốn làm vẹt cũng khó. Khó tồn tại trong một tập thể của loài sáo từng được lột lưỡi. Thanh niên nọ biết chạy đôn chạy đáo phục vụ cà phê cà pháo là đã giỏi rồi. Khéo ăn khéo nói lanh miệng lanh mồm thì hẳn đã có chị Sim bao thầu, làm phát ngôn viên chính thức trong Cà Phê Cốc.

Địa điểm nằm không xa với dòng sông mùa này đang hạn nước, sông hư hao thấp xuống như nhan sắc một người đàn bà mãi vô duyên chốn tình trường, Sim chẳng hạn, 35 tuổi chưa chồng nào khác gì khúc sông đang cực lòng chuẩn bị lao vào biển cả mặn muối. Con nước dùng dằng lưu lượng với bề mặt lăn tăn sóng nhăn. Sông cạn kiệt đổ xuôi nhưng người có thể ngoi đầu để đắm đuối mộng tới một sự đắp bồi. Không hôm nay thì mai hậu thế nào cũng tìm gặp cái cụng đầu để cùng trôi về một hướng. Trai khôn tìm vợ chợ đông mà Cà Phê Cốc ắt hẳn là cái chợ thu nhỏ chẳng hề vắng khách.

Chen giữa dòng sông và quán cà phê của Sim có cái công viên khá rộng diện tích. Qua bao dâu bể bãi cỏ xanh um vuông vắn ấy vẫn chưa hề có được một danh xưng. Thời trước người ta dựng nên bức tượng người chiến sĩ với nón đồng với ba lô với băng đạn với súng ống đặt ở giữa công viên không tên. Thời nay bức tượng đó đã bị bứng nhổ, xoá sổ và cỏ ở đấy vàng vọt một chu vi như tưởng tiếc cái vắng bóng oan uổng nọ. Chứng bệnh cà lăm nói vấp có thể chữa lành, nhưng một khi nó ám vào miệng lưỡi thằng em họ cô Sim thì vô phương. Nó vẫn lắp bắp diễn đạt một tình huống chỉ có xẩy ra trong những trang sách Liêu Trai Chí Dị: Đêm khuya thanh vắng có khi tai nghe tiếng quân trang quân dụng phát động khi bức tượng người chiến sĩ kia cắm cúi đi lùng sục quanh quẩn như kẻ mãi tìm thời gian đánh mất ở bờ cây bụi cỏ. Một ngày kia… một ngày kia… chị sẽ… chị sẽ… Hắn nói chẳng tròn câu và Sim bỏ ngoài tai tất thảy những thứ dính dáng tới chuyện dị đoan hồn ma bóng quế. Cực miếng ăn đã tối mặt tắt mày đâu thể cực lòng tưởng tới thứ hoang đường ngoài choáng váng đời thường.

Một tháng hai lần, hai tuần một bận, Sim phải moi ruột tượng ra đếm, vuốt thẳng những tờ giấy bạc cóp nhặt từ bá tánh cho vô phong bì để trao tay anh Tám. Luật bất thành văn, anh Tám là người đứng mũi chịu sào về sự tồn vong của Cà Phê Cốc. Anh Tám bỏ đi hay “bỏ đi Tám” thì mưu sinh của Sim cũng tợ như đời tàn trong ngõ hẹp. Kẻ sính thơ văn có thể cà khịa tới vấn nạn kia: “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen, lòng Sim đẹp nhất có tên Tám tàng”. Câu thơ rắn mắt nọ vấp nhiều sai lạc: Sen mọc ở Đồng tháp mười chưa hẳn đẹp nhất. Lòng Sim nào có ưa gì gã có thế lực ấy. Và Tám, hắn đâu có điên mảy may để gán ghép chữ tàng cho hắn. Một con cáo, người ta không nên ví với đứa tàng điên. Một con gà thì hoạ may bởi người đời từng vô cớ gọi là “tốc kê”: Gà điên!

Tám đi xe gắn máy có phân khối lớn, tiếng máy nổ rậm rật thị uy khó đụng hàng. Tám bước chân vô bóng im mát và quán dẫu đang chộn rộn hẳn phải ngưng bặt tiếng chuyện trò trong một khoảnh khắc. Sim biết thứ cà phê đặc biệt mà Tám thường uống và Sim ưu tiên giải quyết ngay cho ảnh khỏi phải ngồi đợi lâu. Nhưng tật của ảnh thì ưa cà kê, ảnh là người có vẻ không biết cách tiêu thời gian. Mỗi khi tới ảnh hút cả nửa gói thuốc có cán mới chịu rời đít. Ảnh chẳng buông lời trêu chọc tiếng ong ve tới Sim, ảnh ngồi lâu để lượng định số khách vào ra hòng qua đó ảnh đề xuất một con số thu nhập mới.

Kỳ kèo lời qua tiếng lại một đôi lần. Sim từng hụt hơi: Ép dầu ép mỡ sao anh nỡ ép em. Tay làm hàm nhai là việc đủ sống hôm nay, hôm sau theo quy định của anh thì con Sim này e phải tuyệt tích giang hồ, gỡ bảng hiệu xuống mà chí thú về quê cày sâu cuốc bẫm. Xa quê hương nhớ mẹ hiền đã lâu, anh chơi kiểu này chắc là tạo cho em một cái cớ để đoàn viên chăng? Tám có hơi nhíu mày trước sự đối kháng bất ngờ của Sim, ngồi rít khói thuốc ra chiều trầm ngâm nghĩ ngợi: Em liệu hét giá có được không? Từ 11 K một cốc cà phê nay ta hô là 15 K nhắm có ổn không? Sim cao giọng: Không, trăm lần không vạn lần không. 11 K mà đã có đứa cạy mặt hổng tới huống hồ 15 K. Con Sim này tuy vô học nhưng cũng biết chút đạo nghĩa giang hồ nghe anh Tám. Bán buôn mà rắp tâm đi mài con dao cho bén ngót thì đó không phải là nghề của nàng. Tám ngó vô dung mạo Sim: Sao đằng quán chị em cô chủ mồ côi ly cà phê đá có chút xíu nó tính tới 16 K? Í, mèn đét ơi, bị cả chị cả em nó khi bưng cà phê ra chúng thảy ở trần mát mẻ. Khi lộ hàng, chúng núp cái ô dù nào mà coi trời bằng vung?

3.

Tôi để trên bàn, gần bình pha cà phê, cái truyện ngắn viết dang dở trên cho Dạ Thường như lời cô đề nghị. Bà bán rau có khu vườn đầy trái ngọt đã kể cho tôi nghe chút chuyện đời đã trải và tôi viết lại có thay đổi chút ít. Dạ Thường hứa cô sẽ là người chung tay viết nốt phần sau. Cô sẽ bắt nhân vật Tám bị đày ải theo cách nhìn của cô. Bạn tôi sẽ thêm thắt về hoàn cảnh cô chủ quán Sim, lý do nào Sim sang đây, sống với một người nào đó và xắn tay làm chủ khoảng vườn đầy hoa màu, sống an nhàn với lợi nhuận thu nhập. Hôm ấy, khi gặp mặt nhân vật Sim tôi đã đùa cô bằng hai câu thơ của Bùi Giáng: “Yêu cầu cô bán cho tôi, một bó rau muống chịu chơi quê nhà”. Đùa mà không ngờ cô đã vui miệng kể về khoảng đời mưu sinh cũ. Và bó rau xanh kia giá chỉ bằng phân nửa so với giá mà mấy cái chợ sầm uất ngoài phố phường đề ra. Sim cũng chịu chơi rót nước trà mời uống, mắt long lanh ngó Dạ Thường lẫn khuất dưới giàn bầu, bí, mướp đắng, mướp ngọt, mồng tơi…

Dạ Thường chở tôi ra phi trường. Đổi vé lên máy bay xong hai đứa đứng ôm nhau trong khoảnh khắc. Mười ngày sống chung đụng gần nhau dưới một mái nhà yên hàn vô sự đây là lần đầu tiên chúng tôi để cho trái tim này nghe được nhịp đập của trái tim kia cách ngăn chỉ qua hai lớp vải mong manh che đậy. Tôi không ngợi ca Dạ Thường hẳn còn trẻ đẹp bởi cô từng cho hay khi chuyên cần tập luyện những bài thể dục kia nó sẽ trao cho mình những điều mầu nhiệm. Tôi chẳng khen tài bếp núc củi lửa của bạn mình bởi tôi sợ những lời nói kia sẽ xúi dục tôi đưa ra mệnh đề cuối: Tại sao bạn kén cá chọn canh để thui thủi đi về lẻ bóng mình ên?

Dạ Thường nói nhỏ bên tai tôi: Sẽ cố lắng lòng để viết xong đoạn cuối. Sẽ gửi cho đọc để xem mạch văn có được ăn ý và trôi chảy. Tôi tính nhờ một lữ hành đơn lẻ kéo hành lý ngang qua chụp giúp hai đứa một tấm hình nhưng đã trễ. Dạ Thường dùng tay đẩy vào lưng và tôi đi về cánh cửa mở hé dùng cách ly kẻ ở người đi. Tình bạn của chúng tôi trước sau vẫn có một đường ranh ngăn chia, không một bàn tay đan ngón, dùng dằng lôi kéo nấn ná. Và rồi thì máy bay nhấc mình lên cao đâm bổ vào đám mây mù, quánh đặc. Yêu cầu quý vị cài dây an toàn như quy định. Người tôi chao đi.

4.

Mất hơn hai tuần Dạ Thường gửi kèm email cái truyện chung đôi, sự hợp tác của hai đứa như ý tưởng Dạ Thường đề ra. Tôi đọc, sửng sốt bởi tài dụng văn của bạn và không khí cô dàn dựng hư thực khó lần ra. Tôi xin tóm gọn lại: Dạ Thường là tình nhân của cô Sim, ma đưa lối quỉ dẫn đường họ tình cờ gặp gỡ, cuốn hút nhau chẳng nghi ngại. Sim đã ghen tuông khi Dạ Thường chở tôi đến bữa đó. Để giải quyết bao vấn nạn, Dạ Thường sẽ treo bảng bán nhà rồi ôm đồ đoàn về khu vườn “kỳ hoa dị thảo” sống chung. Đoạn cuối cô cho hay gã đàn ông tên Tám bị dân giang hồ xử, bị thương tật nặng đành nghỉ hưu sớm. Đứa em họ Sim, mang tật cà lăm thì bị xe điên tông đến trào máu họng, chẳng ấp úng nói lời vĩnh biệt thế gian. Tất cả mọi người, ai trong chúng ta cũng đều giữ riêng cho mình một vở bi kịch. Dạ Thường chấm câu. Chúng tôi (Dạ Thường và Sim) sẽ bỏ công sang sửa để nới rộng chốn này làm nơi cung cấp rau quả xanh tươi an toàn thực phẩm cho toàn thành phố. Và chúng tôi quyết định dựng bảng hiệu: Âm Thịnh Cốc.

Tôi ngồi nhớ lại toàn bộ khung cảnh chốn ấy. Nhớ thể hình nuột nà cân đối của Dạ Thường, nhớ vẻ dửng dưng và chẳng quan ngại khi bạn cho tôi ăn ở trong căn nhà quạnh vắng dễ phát sanh bao tạp niệm ám tối. Tôi buồn bởi từ nay tôi mất đi cái địa chỉ êm đềm kia. Tôi buồn vì nghĩ e hai đứa tôi sẽ chẳng còn cơ hội gặp lại nhau. Tôi chẳng trả lời bức điện thư nọ và cũng chẳng đưa ý kiến về cái kết thúc lạ thường trong câu chuyện kia. Một lời chúc “hai người mãi hạnh phúc” cũng không tiện viết ra. Dạ Thường làm vợ hay cô ấy đóng vai chồng? Một người chồng công dung ngôn hạnh và sắc nước hương trời. Tôi đóng sập máy lại, đầu hè chẳng gợn chút gió heo may. Không tiếng mưa rào. Vắng tiếng phong linh reo ngoài hàng hiên. Không vọng tiếng còi tàu. Và tuyệt chẳng một con chim nào hót.  

Hồ Đình Nghiêm

Trung tá John D. Nguyen (gốc Việt), Giáo sư Khoa học Quân sự Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Đại học Minnesota.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyển Quân

Posted on December 18, 2024 by dongsongcu

10/12/2024

Trung tá John D. Nguyen (ảnh của arotc.umn.edu).

Trung tá John D. Nguyen* sinh ra và lớn lên tại Richmond, Virginia, ông thụ huấn chương trình Quân sự tại Đại học James Madison University và tốt nghiệp năm 2005. Tháng 6 năm 2022, Trung tá John D. Nguyen nhậm chức Giáo sư Khoa học Quân sự Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị (ROTC) thuộc Đại học University of Minnesota. Trong cương vị Giáo sư, kiêm Sĩ quan huấn luyện cao cấp, ông phụ trách huấn luyện, cố vấn và hướng dẫn Tiểu đoàn khóa sinh với hơn 140 Sinh viên Sĩ quan, những Sĩ quan tương lai của Quân chủng Lục quân Hoa Kỳ. Ngoài ra, ông còn chịu trách nhiệm tuyển chọn và phát triển tài năng cho các Sinh viên Sĩ quan để chuẩn bị cho họ sẳn sàng phục vụ Quốc Gia.

Đơn vị đầu tiên Trung tá John D. Nguyen phục vụ trong binh nghiêp là Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 32 Pháo binh, Lữ đoàn 4 (Dragon), Sư đoàn 1 bộ binh tại Fort Riley, Kansas. Ông phục vụ tại Lữ đoàn 4, mang cấp bậc Thiếu uý Sĩ quan pháo binh, Trung đội trưởng kiêm Sĩ quan yểm trợ Pháo đội tham dự cuộc hành quân Operation Iraqi Freedom V năm 2007. Sau đó ông thụ huấn khóa học Pháo đội trưởng và được thuyên chuyển về làm Sĩ quan phụ tá hành quân Tiểu đoàn (BN A/S3). kiêm Sĩ quan tác xạ (BN FDO), Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 5 pháo binh thuộc Lữ đoàn 1 (Devil), Sư đoàn 1 bộ binh. Trong suốt thời gian phục vụ tại Lữ đoàn 1, Trung tá John D. Nguyen được bổ nhiệm làm Trưởng ban an ninh Lữ đoàn, kiêm Pháo đội trưởng, Pháo đội Delta Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 5 pháo binh tham dự yểm trợ cuộc hành quân Operation New Dawn năm 2011.

Chỉ huy một Pháo đội**, Trung tá Nguyen đảm nhận vai trò Sĩ quan quan sát viên, Sĩ quan chỉ huy huấn luyện (OCT) tại Trung tâm phối hợp các Quốc Gia Đồng minh (JMRC), Hohenfels, Đức Quốc. Sau thời gian chỉ huy Pháo đội, Trung tá Nguyen phục trong vai trò sĩ quan là Quan sát viên tuyền tuyến, Sĩ quan huấn luyện (OCT) tại Trung tâm đa quốc gia (JMRC), Hohenfels, Đức Quốc trong Đội OCT của Tiểu đoàn Fires. Trọng tâm chính của Trung tá Nguyen trong nhiệm vụ này bao gồm đào tạo và huấn luyện các đơn vị khai triển để hỗ trợ OEF, Lực lượng gìn giữ hòa bình Kosovo và các cuộc thao dợt của đối tác trên khắp lục địa Châu Âu. Sau khi kết thúc nhiệm vụ Sĩ quan huấn luyện OCT, Trung tá Nguyen theo học Khóa Sĩ quan Chỉ huy và Tham mưu (CGSOC) tại Leavenworth, Kansas. Nhiệm vụ tiếp theo, ông phục vụ với tư cách là Sĩ quan yểm trợ hỏa lực Lữ đoàn (FSO), Sĩ quan ban 3 hành quân (S3), Tiểu đoàn Pháo binh và Sĩ quan hành quân (S3) Pháo binh Sư đoàn cho Đội tác chiến Lữ đoàn 3 Bộ binh (Bronco) và Pháo binh Sư đoàn 25 bộ binh (Tropic Thunder).

Năm 2018, Trung tá Nguyen được chọn làm Sĩ quan Tham mưu Liên hợp của Lực lượng Hoa Kỳ-Đại Hàn (USFK) tại Bộ Chỉ huy hành quân phối hợp (J-3). Các vai trò của Trung tá Nguyen bao gồm: Tham mưu phó (J-33) và Sĩ quan điều hành của Đội hoạt động USFK. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Trung tá Nguyen rời Nam Hàn để tham dự Chương trình nghiên cứu Quân sự cao cấp (AMSP) tại Trường Nghiên cứu Quân sự cao cấp (SAMS) nhằm nâng cao kiến thức về lịch sử, lý thuyết và học thuyết Quân sự qua các cuộc chiến tranh Thế giới.

Trước khi nhận nhiệm vụ Giáo sư Khoa học Quân sự Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị (ROTC) Đại học Minnesota – Twin Cities, Trung tá Nguyen từng giữ chức Tham mưu phó Quân đoàn III Thiết kỵ tại Fort Hood, Texas, là sĩ quan tham mưu, ông góp phần tập trung vào quá trình chuyển đổi của Quân đội sang mô hình hiện đại hóa và sẵn sàng liên kết theo khu vực và tiếp tục năng lực chiến đấu như một Quân đoàn Lục quân chiến thuật có khả năng phản ứng toàn cầu.

Trung tá Nguyen hoàn tất Văn bằng Cử nhân Khoa học (B.S.) Quản trị Công cộng, Đại học James Madison; Văn bằng Cao học Quản trị Công cộng (M.P.A.), Đại học Villanova và Văn bằng Cao học Nghệ thuật và Nghiên cứu Hoạt động (MOA.S) của Trường nghiên cứu Quân sự cao cấp (SAMS). Ngoài ra Trung tá Nguyen cũng đã hoàn tất thụ huấn và tu nghiệp chương trình đào tạo quân sự chuyên nghiệp của bao gồm: Khóa đào tạo Sĩ quan chỉ huy căn bản; (BOLC), Khóa Sĩ quan Pháo binh dã chiến (FAOBC); Khóa Đại úy Bộ binh (ICCC); Khóa Sĩ quan Chỉ huy và Tham mưu (CGSOC), Khóa lập kế hoạch phối hợp và Chương trình nghiên cứu Quân sự cao cấp của Trường nghiên cứu Quân sự cao cấp (SAMS).

Trung tá Nguyen đã được ân thưởng các loại huy chương: Huy chương Bronze Star***, huy chương Defense Meritorious Service Medal, 3 huy chương Meritorious Service Medal (3 oak leaf clusters), huy chương Joint Service Accommodation Medal, 3 huy chương Army Commendation medal (3 oak leaf clusters), huy chương Joint Service Achievement Medal, 2 huy chương Army Achievement Medal (2 oak leaf clusters), huy chương National Defense Service Medal, 2 huy chương chiến dịch bội tinh Iraq Campaign Medal (2 campaign stars), huy chương Overseas Service Ribbon; huy chương Global War on Terrorism Service Medal, bằng huy hiệu Combat Action Badge, bằng nhảy dù Basic Parachutist Badge, và bằng huy hiệu the Air Assault Badge.

theo tài liệu lưu trữ trên các trang Congress.gov và HRC – U.S. Army. Trung tá John D. Nguyen là 1 trong 60 Trung tá gốc Việt đang phục vụ tại các binh chủng trong quân chủng lục quân Hoa Kỳ, không tính nhiều vị đã hồi hưu.

Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo, tuy nhiên, có một số chi tiết nhạy cảm không thể đề cập; *Ghi theo họ và tên từ tài liệu; **Pháo đội tương đương với cấp Đại đội bộ binh; ***Huy chương Bronze Star Medal là huy chương cao quý hạng tư, dành để trao tăng cho những quân nhân anh dũng. có công trạng trong phục vụ chiến trường, được xếp hạng thứ chín trong các loại huy chương của Quân đội Hoa Kỳ.

Nguồn: arotc.umn.edu; linkedin.com.

Mme Nhu – Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 19 Sep 2026

Gần một năm đã trôi qua kể từ khi bà Nhu và tôi không còn liên lạc với nhau nữa. Khi tôi bắt đầu gọi lại vào mùa hè năm 2010, có vẻ như không có chuyện gì xảy ra. Tôi làm bộ vồ vập, như bà hoàn toàn kỳ vọng, nhưng rồi sự sẵn lòng của tôi đến thật bất ngờ. Tôi thấy ngồ ngộ là mình đã nhớ bà rất nhiều nhưng lại sợ quay lại trong ê chề.

Giọng bà Nhu nghe trầm sâu. Lần đầu, giọng bà nghe đúng như người đàn bà tám mươi tuổi. Bà bệnh lâu nay, bà nói; bà đã phải mổ chân và đi khỏi Paris. Tôi đoán có chuyện gì đó đã xảy ra với bà. Khi tôi gọi bà ba tháng sau ngày bà không nói chuyện với tôi nữa và dứt khoát sẵn sàng xin lỗi vì sự bộc phát của mình, tôi nhận được một giọng nói chuẩn quốc tế cho biết số điện thoại ấy không còn hoạt động nữa. Thoạt tiên tôi lo lắng một chuyện tồi tệ đã xảy ra. Tôi lướt qua các cáo phó hằng ngày, nín thở rồi thở ra nhẹ nhõm khi không thấy tên bà với phông chữ đậm. Tôi không hình dung được rằng bà sẽ thay đổi số điện thoại chỉ vì những bất hòa của chúng tôi. Nhưng tôi cũng không tưởng tượng được rằng bà đi đâu xa lâu như vậy mà không gọi cho tôi. “Quá đủ để làm thiên thần của bà rồi, và quá đủ để nói về những hồi ức đó rồi – hay đại loại vậy”, tôi nghĩ.

“Các con tôi”, bà nói để giải thích sự im lặng của bà, “chúng muốn tôi gần gũi hơn. Hiện tôi sống ở Rome”. Bà nói huyên thuyên về những tin tức mấy tháng qua, những vấn đề về sức khỏe của bà, và nói thêm, gần như để giải thích thêm, nhân tiện cuốn hồi ký đã hoàn thành. Bà sẵn sàng gởi cho tôi.

Có một số khó khăn về kỹ thuật giữa cuộc trò chuyện đó và việc tôi nhận được những hồi ức qua hộp thư điện tử của tôi, một cái gì đó liên quan đến các con bà và những công việc toàn thời gian của họ và, tôi đoán, lòng kiên nhẫn của họ đang cạn kiệt đối với dự án làm hồi ký của mẹ. Về lý trí, tôi không thể giải thích nỗi ám ảnh của tôi đối với việc lấy được câu chuyện của bà Nhu, nhưng cho đến năm 2010, có lẽ chính vì tôi đã bỏ quá nhiều thời gian, gần năm năm, hy vọng và chờ đợi đã trở thành một thói quen khó từ bỏ. Tôi hy vọng những hồi ức đó sẽ lấp đầy trí tò mò của tôi về bà Nhu. Tôi sẽ hiểu bà, tôi sẽ đưa được bà vào đúng bối cảnh, và tôi có thể đặt cái dấu kiểm gọn gàng bên cạnh tên bà trên bảng kiểm kỷ cục, đầy ám ảnh của tôi, và có thể đi tiếp.

Thay vì vậy, hai tập hồi ký gởi đến hộp thư của tôi làm tôi bối rối. Cái tựa đề chẳng giúp được gì: Le Caillou Blanc, hay Viên sỏi trắng. Sau này mẹ tôi làm rõ một chút ý nghĩa cái tựa đó cho tôi. Ở Pháp, người ta nói về một sự kiện quan trọng rằng ngày tháng của nó được đánh dấu bằng một viên sỏi trắng. Nhưng khi cuộn dần xuống các trang thì như là đang đọc một cái gì đó viết bằng mật mã. Có những mẫu tự và con số đặt trong ngoặc đơn, những tham chiếu từ kinh thánh bằng những đề mục viết chữ đậm, và những phụ đề viết nghiêng được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Có vẻ như bà Nhu đã có một danh mục lớn những biến cố về đời bà, nhưng nó là một mê cung khó có thể giải mã được – chưa nói đến trở ngại để có được cái đại tự sự của bà Nhu.

May mắn thay, bà đã gởi những tấm ảnh. Tôi nhìn chúng thật kỹ, ước gì mình có thể nghe các nhân vật cất lên tiếng nói. Có một tấm ảnh chụp bà lúc mười tám tuổi, trước ngày cưới của mình, khoảnh khắc trước khi mọi thứ thay đổi. Ngắm kỹ chân dung bóng loáng của chồng bà, lần đầu tiên tôi nhận thấy ông Nhu, người được mệnh danh là Rasputin của Việt Nam, có cái mũi hạt nút hơi hếch lên. Thay cho cái vẻ lạnh lùng và đầy đe dọa, may quá, ông dễ mến.

Các phần trong văn bản của bà Nhu vốn giống với một hồi ký thông thường được phân bố rải rác trong gần hai trăm trang, nhưng những phần có giá trị tự thuật thì rất đáng đọc. Đây dứt khoát không phải là hồi ký mà nghe nói bà đã bán cho tờ Saturday Evening Post trong những ngày sau vụ đảo chính 1963; cũng không phải là hồi ký mà bà Nhu đang viết khi bà quá bận rộn để trả lời phỏng vấn báo chí vào những năm 1960 và 1970 với giá không ít hơn 1.000 đô la một lần. Tôi không tin rằng những trang viết này đã tồn tại đâu đó dưới dạng bản thảo giấy. Nếu bà đã từng viết chúng thì bà viết ở trong đầu. Hai tập gởi bằng email đến tôi hình như đã được khởi thảo gần đây, thậm chí có lẽ trong những tháng từ sau lần nói chuyện gần đây nhất cùa chúng tôi. Tôi đã không biết nhiều chuyện.

Bà Nhu tự mô tả mình đang viết ở bàn viết; bà viết về những lần té ngã và u đầu. Thật đau lòng khi đọc về tình trạng dễ tổn thương và già nua của bà. Bà nói về những cuộc cãi cọ về đất đai ở Ý giữa Trác, con trai bà, và những người láng giềng, những người đang tìm cách lấn chiếm cơ ngơi của họ. Nhưng khi bà quay về chìm sâu vào vùng đất màu mỡ của ký ức, bà gợi lại những chi tiết lấp lánh, như cơn mưa nặng hạt ở Đà Lạt làm ướt sũng cái ba lô của Lệ Thủy trên đường cô đến trường. Hay chiếc xe ngựa kéo dễ thương của bà, với những cái bánh xe to đến mức tôi có thể dễ dàng hình dung mình ngồi vào chỗ của bà, nhún nhảy dọc con kênh ở Huế, có gì đó giống như cô bé Lọ Lem trên đường đến dạ tiệc khiêu vũ. Tuy nhiên cách viết của bà không theo tuyến tính; có lúc gần như không mạch lạc. Nhưng nếu chúng ta không bị cuốn đi theo dòng chảy gấp gáp của các sự kiện, thì nó rất hấp dẫn. Tôi gợi ý với bà rằng nếu bà hy vọng có nhiều người đọc, tập bản thảo này cần phải biên tập nhiều, nhưng đó sẽ là những phần bổ sung hấp dẫn cho hồ sơ lịch sử.

“Không”. Giọng bà gay gắt và hơi thở bà mệt nhọc, bà hết sức cương quyết và lạnh lùng cắt đứt những lời huyên thuyên của cuộc trò chuyện buổi sáng lẽ ra vui vẻ giữa hai chúng tôi. “Tôi tuyệt đối tin tưởng giao cho cô cuốn hồi ký này. Cô hoàn toàn chịu trách nhiệm. Nhưng sẽ không được biên tập gì cả. Không được thay đổi gì hết. Chúng phải được xuất bản đúng như đã được viết ra. Tập một trước, tập hai sau. Và…”, bà nói thêm, “tôi nóng lòng muốn in nó càng sớm càng tốt. Tôi không còn nhiều thời gian”.

Tôi hoang mang. Tôi đã tiếp cận được những tư tưởng sâu xa của một trong những người ẩn dật nổi tiếng nhất thế giới. Tôi thấy mình gần gũi đến trêu ngươi nhưng vẫn phải tìm cách gắn lại những mảnh rời của trò ráp hình. Tôi thấy mình giống một nhân vật trong truyện cổ tích Việt Nam đi tìm kho tàng mê hoặc. Mỗi lần tôi muốn đi sâu để hiểu rõ hơn bà Nhu, bà lại hơi thu mình lại, tính cách khó nắm bắt của bà khiến bà luôn là đối tượng chú ý của tôi.

Lần sau cùng chúng tôi nói chuyện, bà Nhu nghe chừng tệ hẳn, giọng bà khàn đục. “Có những hôm tôi chỉ muốn nhắm mắt lại và ra đi trong an bình. Nhưng cái đánh thức tôi dậy là cảm giác rằng có một điều gì đó mà tôi phải làm, và tôi còn có điều phải nói”. Ước mong cuối đời của bà Nhu là tự mình bày tỏ. Bà muốn tôi giúp bà, nhưng tôi không còn biết cách nào nữa.

Bà Nhu nói chuyện với chồng lần sau cùng vào ngày 27 tháng Mười, 1963. Từ khi bà ra khỏi nước, cứ vài ngày họ lại nói chuyện với nhau, lần đâu ở châu Âu và sau đó ở Hoa Kỳ. Đó là một chuyến đi dài. Bà Nhu và Lệ Thủy rời Sài Gòn sáu tuần trước đó, và giờ đây gần như đã đến lúc quay về. Họ dự định bay từ California về Việt Nam với một chặng dừng ở Nhật. Ông Nhu sẽ gặp họ ở Tokyo để đi cùng họ chặng đường còn lại, và bà Nhu đang tìm cách hoàn tất lộ trình qua cuộc điện thoại đường dài bằng giọng kim kết nối bà từ San Francisco tới Sài Gòn.

Có một cái mụn mỡ trên mí mắt bà, bà giải thích với ông Nhu. Bà muốn đi khám, nhưng bà nghĩ có thể đợi thêm vài ngày cho đến khi bà đến Tokyo. “Vậy được không?”, bà hỏi ông. Nếu khám ở Nhật, bà lý sự, “sẽ rẻ hơn!”. Bà Nhu đang cố gắng làm dịu nhẹ lòng mình. Thật khó để hiểu được một người qua hàng ngàn dặm dây cáp xuyên Thái Bình Dương, nhưng giọng nói ông Nhu nghe yếu và lạ lẫm đối với bà. “Anh sẽ không đến Nhật nữa. Anh ở lại Sài Gòn”. Bà Nhu không muốn nài nỉ. Bà không muốn gây bất hòa trên điện thoại, nên bà bặm môi. “Cũng được”. Bà sẽ phẫu thuật trước khi bay về nhà. Ở Los Angeles, tại sao không? Các bác sĩ ở đó đã quen chăm lo cho các khuôn mặt đẹp nổi tiếng. Bà sẽ ở lại thêm mười ngày nữa.

Sau Washington, D.C, các chặng dừng chân của bà Nhu bao gồm các thành phố và trường đại học ở Bắc Carolina, Illinois, và Texas. Bà tham gia Ngày Hiệp Chủng Quốc (US Day) 23 tháng Mười tại Nhà Tưởng niệm Dallas, nơi bà được mời lên sân khấu để nhận một bó hoa. Ngày Hiệp Chủng Quốc là một cuộc tuần hành phản đối được tổ chức đặc biệt diễn ra một ngày trước Ngày Liên Hiệp Quốc (UN Day) nhằm chào mừng Hoa Kỳ là thành viên Liên Hiệp Quốc ở cùng địa điểm. Các biểu ngữ “Hãy đưa Hoa Kỳ ra khỏi Liên Hiệp Quốc” và “Hãy đưa Liên Hiệp Quốc ra khỏi Hoa Kỳ” được trương lên. Cuộc tập họp chống Liên Hiệp Quốc huy động những người cực bảo thủ vốn chống lại chính quyền Kennedy ở Washington – những thành viên của Hội John Birch, The Minutemen, và The National Indignation Convention. Một người đàn ông tên là Lee Harvey Oswald cũng ở đó. Bà Nhu đứng gần Oswald ở Dallas trong Ngày Hiệp Chủng Quốc, kết hợp với chuỗi biến cố bi thảm sắp xảy ra ở Sài Gòn, khiến bà Nhu trở thành nhân vật chính trong một vài thuyết âm mưu điên cuồng ám sát Kennedy. 1

Các cáo buộc là vô căn cứ – cái chết chưa hề có trong đầu bà Nhu khi bà ở Texas. Bà quá bận rộn thưởng thức những giờ phút làm khách mời VIP của tỉ phú dầu lửa Dudley Dougherty tại nông trại ngổn ngang trải dài, San Domingo, ngay bên ngoài Beeville ở Nam Texas. Ông khuyến khích bà Nhu tự do nói lên suy nghĩ của mình với báo chí và cho bà và con gái hương vị hiếu khách vùng Texas.

Lệ Thủy đặc biệt thích thú, ở nông trại cô trút bỏ bộ áo dài cô mặc khi theo mẹ trong chuyến đi diễn thuyết để thay bằng quần dài, giày bốt đế thấp, áo len dài tay, rồi hoàn chỉnh bộ cánh châu Âu bằng cái mũ cao bồi. Lệ Thủy lần đầu tiên đeo súng săn trên trường bắn, bắn hạ những con bồ câu đất sét bằng loại súng 12 ly với tỉ lệ chính xác ấn tượng, sáu trên mười. Đó không phải là may mắn của người tập sự – Lệ Thủy đã có nhiều buổi tập súng máy trong tổ chức bán quân sự của mẹ cô ở Nam Việt Nam – nhưng cô vẫn gây ấn tượng cho các chủ nhà và câu được một bạn trai “thực” đầu tiên của cô, đứa cháu hăm bốn tuổi của Doughtery, Bruce B. Baxter III, ở thành phố biển Corpus Christi.

Anh chàng Baxter theo Lệ Thủy và mẹ cô từ Texas đến California. Tình yêu đam mê của anh không hề nao núng bởi Thống đốc bang California Pat Brown, người đã làm điều mà tạp chí Time coi là “lời nói dối trong tháng”. Thống đốc Brown nói trước khi họ đến, “Bà Nhu là một nhân vật gây tranh cãi. Bà không phải là người đầu tiên đến thăm California, cũng sẽ không phải là người cuối cùng. Tôi kêu gọi mọi người dân California hãy hành xử như những người Mỹ văn minh và để cho quí bà này nói điều mình muốn nói”. Baxter chắc hẳn đã hành xử như một người lịch sự. Anh mời mẹ con bà đi ăn tối với anh tại một tiệm ăn Tàu ở San Francisco, và đó là lúc Baxter tạm biệt, có lẽ để quay lại Texas trong vài ngày, anh không thể đi xa lâu. Anh gặp lại Lệ Thủy tại khách sạn của cô ở Los Angeles. Hai người đi dạo quanh khu hồ bơi Beverly Wilshire trước khi về thị trấn, rong chơi hai tiếng ở các hộp đêm Hollywood, nhưng lúc nào cũng có hai người đàn ông trung niên đi cùng để trông chừng. 2

Cách xa mười mấy ngàn cây số, ở Sài Gòn, Ngô Đình Nhu có nhiều chuyện lớn hơn để ưu tư so với câu chuyện tình lãng mạn đầu tiên của con gái hay phí tổn phẫu thuật mụn mỡ trên mắt vợ ông. Vì bất chấp sự chú ý của báo chí đến bà Nhu và những người bạn mới quyền thế của bà, mọi chuyện ở Sài Gòn vẫn tiếp tục xấu đi. Ông Nhu tỏ ra xa lạ trên điện thoại với bà Nhu vì lúc đó ông biết rằng mọi chuyện gần như vô vọng.

Cuộc tấn công của ông Nhu vào chùa chiền hồi tháng Tám đã đầu độc mọi thiện chí còn lại trong quan hệ của ông với người Mỹ. Trước đó ở Washington mọi người nghĩ rằng Hoa Kỳ đơn giản là “không đủ cứng rắn” trong khi đối phó với ông Diệm và ông Nhu ở Sài Gòn, nhưng sau những cuộc càn quét và việc ông Nhu trắng trợn coi thường chỉ thị của Mỹ yêu cầu giải quyết căng thẳng với Phật giáo, chính sách của Washington thay đổi hoàn toàn. Hai anh em họ Ngô là hết thuốc chữa, và họ sẽ phải bị thay thế.

Vào ngày 24 tháng Tám, một bức điện tín tối mật gởi đến Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge ở Sài Gòn ra lệnh cho ông đi gặp ông Diệm kèm theo các đòi hỏi khó chịu và ngay lập tức: Cho Phật giáo những gì họ muốn, và loại bỏ ông Nhu. Nếu ông Diệm không đồng ý hay không hành động nhanh chóng, “chúng ta phải đối mặt với khả năng bản thân ông Diệm cũng không thể được bảo toàn”. Ồng Lodge được bật đèn xanh tìm kiếm những người lãnh đạo thay thế. Mặc dù các lãnh đạo Mỹ ở Washington không xử lý những chi tiết tế nhị của việc thay đổi chế độ, bức điện tín đó trấn an Lodge rằng “chúng tôi sẽ ủng hộ ngài tối đa về những hành động mà ngài thực hiện để đạt được những mục tiêu của chúng ta”. 3

Dĩ nhiên, một đại sứ Mỹ không thể đòi biết chính xác thông tin về chuyện thay đổi chế độ. Đó là việc của Fred Flott. Là một viên chức Sở Ngoại vụ Mỹ ở Trung Đông, Flott hiểu công việc của ông là làm cái việc dơ bẩn mà bản thân ngài đại sứ không thể làm – liên hệ với các đối thủ của chế độ Ngô Đình Diệm và hướng sự hậu thuẫn của Mỹ vào việc lật đổ chính phủ của một quốc gia bạn bè.

Anh em họ Ngô có thể không biết tất cả những gì đang diễn ra trong Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, nhưng họ có một ý tưởng khá thông minh. Một người trung thành với gia đình họ Ngô đã lắp đặt các thiết bị nghe lén nhỏ xíu trong Tòa Đại sứ mà không bị phát hiện cho đến khi biến cố gia đình họ Ngô đi qua hẳn. 4 Nhưng ngay cả không có công nghệ do thám, thì sự chuyển đổi cũng đã hiển nhiên đối với ông Diệm và ông Nhu. Ngày 2 tháng Chín, 1963, Tổng thống Kennedy trả lời phỏng vấn của Walter Cronkite đài CBS National News rằng “chính quyền [của anh em họ Ngô] đã mất hết liên hệ với dân chúng” Việt Nam Cộng hòa. Kennedy tiếp tục, “Giờ đây tất cả những gì chúng ta có thể làm là nói rõ rằng chúng ta không nghĩ đây là cách để chiến thắng”, và ông kêu gọi “những thay đổi về chính sách và nhân sự”, một phát biểu được nhiều người diễn dịch là lời đe dọa yêu cầu ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu.

Đại sứ Lodge giữ lập trường cứng rắn với anh em họ Ngô trong Dinh Sài Gòn ngay từ đầu. Thay vì làm vừa lòng ông Diệm và dùng lời lẽ ngoại giao để ông bớt tức tối, ông đại sứ vẫn giữ khoảng cách. Nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ biểu lộ sự “thù địch không chút suy giảm” đối với ông Diệm và ông Nhu, và thái độ của Lodge rất gây gổ và hống hách. Khi một phóng viên hỏi Lodge tại sao ông không vào thăm Dinh nhiều tuần qua, ông trả lời, “Họ không làm bất kỳ cái gì tôi yêu cầu. Họ biết tôi muốn gì. Tại sao tôi cứ phải yêu cầu chứ?”. 5

Thay vì tổ chức những cuộc họp tay đôi với ông Diệm, Lodge cho rò rỉ thông tin với báo chí Mỹ rằng ông sẽ giữ những đồng đô la viện trợ Mỹ làm con tin nếu ông Diệm không làm những gì ông ta được yêu cầu, và ông Lodge công khai chỉ trích bất cứ ai trong chính phủ Mỹ quá tử tế với anh em họ Ngô. Một trong những mục tiêu của ông ta là Trưởng trạm CIA Sài Gòn John Richardson. Nhiệm vụ của Richardson là làm việc với ông Nhu và tiếp cận với hy vọng tác động đến ông ta. Tuy nhiên, vì ông không cho thấy có bất cứ tác động gì, Lodge coi Richardson như một thất bại. Trong bức thư riêng gởi Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, Lodge khéo léo tiến hành một chiến dịch tấn công-thụ động để Richardson bị sa thải, ngụ ý rằng chưa từng “có ý định không trung thành”, ông ta quá a tòng với “những kẻ mà chúng ta tìm cách thay thế”. Richardson là biểu tượng cho sự ủng hộ của Mỹ. Việc ông ta rút lui vào tháng Mười, 1963 là thêm một dấu hiệu nữa cho ông Diệm và ông Nhu thấy rằng thời của họ gần như đã hết. 6

Hai anh em họ Ngô không thể thể hiện công khai sự bực bội của họ với người Mỹ, nên có vẻ như họ trút lên đầu dân chúng Nam Việt Nam. Lệnh giới nghiêm đã được gỡ bỏ, nhưng hàng ngày cảnh sát của ông Nhu vẫn bắt giam hàng chục “người bất đồng chính kiến”. Người nào bị phát hiện đang phát tán truyền đơn chống chính phủ hoặc viết vẽ nguệch ngoạc lên tường lời lẽ chống chế độ họ Ngô đều bị bắt; thậm chí học sinh cũng có thể bị giam.

Anh em họ Ngô ở Sài Gòn không biết được rằng sự nhiệt tình ủng hộ đảo chính của Washington lúc lên lúc xuống. Bản thân Nhà Trắng cũng rối trí trước những lời khuyên trái ngược nhau mà họ nhận được. Giám đốc CIA John A. McCone trước sau như một chỉ trích mạnh mẽ một cuộc đảo chính. Tại cuộc họp của Nhóm Đặc biệt về Việt Nam, McCone nói rằng thay ông Diệm và ông Nhu bằng những kẻ không tên tuổi là “cực kỳ nguy hiểm” và chắc chắn sẽ dẫn đến “thảm họa toàn phần” cho Hoa Kỳ. Ông cũng nói riêng với Tổng thống Kennedy rằng cuộc đảo chính này “sẽ là cuộc đầu tiên trong những cuộc đảo chính khác sau này”. 7 Nhưng ngược lại, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng kiên quyết ủng hộ một cuộc đảo chính. Hoa Kỳ chia rẽ nhưng đã vượt qua giới hạn không quay lại được nữa rồi. Đại sứ Lodge tin chắc rằng: “Tiến trình của chúng ta không thể đảo ngược được nữa”.

Bản thân Tổng thống Kennedy vẫn không chắc chắn trong suy nghĩ về một cuộc đảo chính chống lại hai anh em họ Ngô ở Sài Gòn. Tháng Mười, 1963, ông cử một phái đoàn đi tìm hiểu sự thật trong chín ngày do Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, và Chủ tịch Liên quân, Tướng Maxwell Taylor, dẫn đầu. Chuyến đi mang danh nghĩa kiểm tra sự tiến bộ của cuộc chiến chống Việt Cộng, và mọi người phải giữ nghi thức ngoại giao bằng một cuộc hội kiến Tổng thống Diệm tại Dinh trong hơn hai giờ. Tuy nhiên, không xuất hiện trong nghị trình chính thức là ván tennis với Đại tướng Dương Văn Minh.

Tướng Minh còn được gọi là Minh Lớn vì hai lý do: Để phân biệt ông với một tướng khác cùng tên và cũng bởi vì tầm vóc bất thường của ông – ông cao gần một mét tám và nặng chín chục kí.

Ông Minh cao vượt các đồng nghiệp Việt Nam của mình và theo nghĩa đen, ông cúi nhìn hai anh em họ Ngô, hai sếp của mình. Tốt nghiệp Học viện Quân sự ở Paris và là cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất, chiến đấu bên cạnh người Pháp chống Việt Minh, ông đã ủng hộ ông Diệm chiến đấu chống lại các giáo phái và băng đảng đe dọa những năm đầu nhiệm kỳ Tổng thống Diệm. Giờ đây ông Minh đang âm mưu chống lại ông Diệm và ông Nhu. Theo ý kiến của nhà báo Stanley Karnow, ông không phải là người mưu tính chủ chốt, “nhưng với tư cách một tướng lĩnh cao cấp, ông là người hợp nhất các phe cánh khác nhau có cùng âm mưu chống lại ông Diệm”.

Mặc dù dáng vóc to lớn, ông Minh chơi tennis khá đẹp mắt. Các quan chức Mỹ, McNamara và Taylor, dường như không chịu nổi cái nóng thiêu đốt ở Sài Gòn, họ xoay xở vượt qua ván đánh đôi trên sân cỏ của câu lạc bộ Cercle Sportif. Sau đó cả nhóm lui vào căn phòng gỗ ván màu gụ trong câu lạc bộ để nói chuyện tào lao “về ván đấu”. Khi nghe nói về trận banh và cuộc trò chuyện riêng tư này, ông Nhu và ông Diệm chỉ có thể suy luận rằng những người đó cũng đang nói chuyện âm mưu. Thực ra họ không nói chuyện ấy. Ông Minh rất sợ rò rỉ tin tức ngày hôm đó. Nhưng ông Diệm và ông Nhu biết rõ những đường dây kết nối ông ta với những kẻ âm mưu và Tòa Đại sứ Mỹ và CIA. 8

Trong lúc tuyệt vọng, ông Nhu tìm cách sử dụng các chiến thuật khác, như tung tin ông đã tiếp xúc với chính phủ Cộng sản ở Bắc Việt. Vào cuối tháng Tám, 1963, ông Nhu tiếp nhà ngoại giao Ba Lan Mieczyslaw Maneli. Cuộc gặp gỡ bí mật với một đại diện Cộng sản khiến Hoa Kỳ tò mò muốn hiểu: Nếu quả thực ông Nhu sẵn sàng thỏa thuận với miền Bắc và tiến tới một nền hòa bình qua thương thuyết, thì liệu điều đó có biện minh cho hành động khẩn cấp để thành lập một chế độ mới, hay liệu nó có buộc Hoa Kỳ tỏ ra phải chăng hơn với ông Diệm và ông Nhu? Hồ sơ cho thấy trong cuộc gặp gỡ đó, ông Nhu đã nói về việc “dọn đường cho sự trao đổi thương mại với miền Bắc”, và ông nói về sự giận dữ của ông với người Mỹ nhưng ông không muốn cắt hoàn toàn quan hệ với Hoa Kỳ. Không có hồ sơ nào nói các buổi nói chuyện dự định khởi xướng với Bắc Việt là hoàn toàn có tính sơ bộ. Đơn giản là không có thời gian. 9

Vào ngày cuối cùng của tháng Mười, ông Diệm và ông Nhu chỉ còn một biện pháp tối hậu để giữ cho chế độ còn tồn tại. Đó là mưu đồ “khói và gương” (một thủ thuật của ảo thuật gia chuyên nghiệp nhằm đánh lừa người xem – ND), mang nhãn hiệu ông Nhu: Ông và ông Diệm sẽ ngụy tạo một cuộc đảo chính. Sẽ có nhiều rủi ro, nhưng đó là hy vọng duy nhất của họ. Một cuộc đảo chính giả nhằm làm cho người Mỹ hoảng sợ phải nối lại sự hậu thuẫn cho chế độ Ngô Đình Diệm. Những người lãnh đạo cuộc đảo chính giả được chọn lựa kỹ sẽ làm bộ “trung lập”, giống như cuộc đảo chính trung lập bất ngờ năm 1960 ở Lào đã gây thiệt hại nặng nề cho các lợi ích của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á. Đánh mất Việt Nam Cộng hòa vào tay những người trung lập sẽ là một vụ sụp đổ domỉno khác – một cú đánh hủy diệt vào chiến lược Chiến tranh Lạnh của Mỹ.

Đối với người quan sát ngẫu nhiên, ngày 31 tháng Mười, 1963 có vẻ cũng giống như những ngày khác ở Sài Gòn. Sáng hôm đó, Tổng thống Diệm trao đổi với Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge và Tư lệnh Quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, Đô đốc Harry Felt. Felt tạt ngang Sài Gòn trong một động thái giống như kiểm tra thường kỳ về sự trợ giúp quân sự của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa, nhưng trên thực tế các tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa đang âm mưu chống lại ông Diệm đã dàn dựng sự xuất hiện của ông ta, đặc biệt sắp đặt để chuyến viếng thăm của Felt giữ ông Diệm ở trong Dinh suốt buổi sáng hôm đó. 10 Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cảnh báo các vị khách rằng họ có thể đã nghe những tin đồn về một cuộc đảo chính nhưng đừng nên để ý đến. Vào buổi trưa, những cánh cửa chớp được hạ xuống trước các gian hàng. Xe máy, xe xích lô, và taxi Renault đưa mọi người về nhà, thoát ra khỏi cái nóng giữa trưa để có hai giờ ăn cơm và nghỉ ngơi. Thành phố vẫn yên tĩnh.

Dinh cũng yên tĩnh. Những đứa con nhỏ của vợ chồng ông Nhu đã đi Đà Lạt chơi, chúng đang nghỉ hè, và mấy cậu bé đòi cha cho chúng đi săn. Ông hẳn vui lòng khi thấy các con trai theo đuổi niềm đam mê của ông. Ông cho phép chúng đi săn nhưng yêu cầu phải có mười lăm thành viên phòng vệ Dinh đi theo chúng. Đứa con út của ông, cô bé Lệ Quyên bốn tuổi, không biết săn bắn, nhưng cô cũng đi lên cao nguyên cùng các anh và vú nuôi. Cô sẽ được chạy nhảy tung tăng trên núi đồi, thoải mái hơn so với những gì cô được làm trong sân vườn của Dinh. Ông Nhu có thể không biết rằng khi cho phép chúng rời khỏi Sài Gòn, ông đã cứu mạng sống của chúng.

Vài phút sau 4 giờ chiều, nhiều tiếng súng đại bác nổ vang. Tiếng súng nổ nghe như gần doanh trại của lực lượng phòng vệ Dinh. Nổ súng vào sát Dinh chắc chắn không phải là một phần của kế hoạch. Cho đến khoảnh khắc đó, hai anh em họ Ngô vẫn bình thản đánh giá việc tăng cường chậm chạp quân đội và xe tăng trong nội thành Sài Gòn. Họ theo dõi những diễn biến trong thành phố từ một chỗ kín đáo tại văn phòng của họ. Thay vì giương cờ cảnh báo, sự di chuyển quân lính và xe tăng lại làm ông Diệm và ông Nhu yên tâm. Họ tin vào kế hoạch của mình, bí hiệu Bravo Hai, sẽ khởi đầu trót lọt. Ngay trước khi bộ chỉ huy cảnh sát rơi vào tay các tướng lĩnh, một sĩ quan cảnh sát sợ hãi gọi điện cho ông Nhu biết họ đang bị tấn công.

“Không sao”, ông Nhu nói. “Tôi biết cả rồi”. 11

Ông Nhu tỉnh bơ vì ông vẫn nghĩ rằng, theo kế hoạch, các lực lượng của ông sẽ dập tắt “cuộc nổi loạn”, rồi ông và ông Diệm sẽ được chào mừng như những anh hùng. Lường trước sự hỗn loạn xảy ra sau đó, ông Nhu còn dự định tiến hành một cuộc tắm máu kín đáo. Các lực lượng đặc biệt và bọn du côn được thuê mướn của ông Nhu sẽ thủ tiêu các tướng lĩnh của quân đội Việt Nam Cộng hòa và các quan chức cao cấp. Những người Mỹ gây rắc rối cũng được đánh dấu; nhà báo Stanley Karnow cho biết Đại sứ Lodge và nhà tình báo CIA lão làng Lucien Conein nằm trong danh sách phải thanh toán.

Đây không phải là mưu đồ đảo chính giả đầu tiên mà ông Nhu vạch ra. Vụ đầu tiên, bí hiệu Bravo Một, buộc phải dừng lại hồi tháng Mười sau khi lực lượng đặc biệt của ông Nhu nghe phong phanh có một âm mưu nổi loạn trong hàng ngũ quân đội. Bravo Hai, cuộc phản đảo chính dự kiến diễn ra hôm nay, có gần như đấy đủ mức độ lừa lọc hơi giống biếm họa: Nó sẽ là một cuộc đảo chính bên trong một cuộc đảo chính khác. 12

Nhưng hai anh em sớm nhận thấy rõ có cái gì đó đã hỏng bét. Họ đứng quanh máy điện đàm trong văn phòng Tổng thống, vẫn không có tín hiệu. Họ gọi cho các tỉnh trưởng lân cận, tất cả đều là sĩ quan quân đội. Họ cũng gọi cho các tư lệnh quân đoàn và tư lệnh sư đoàn. Không ai động đậy. Vào lúc ông Nhu nhận thức được những gì đang thực sự xảy ra thì đã quá muộn. Không còn cách nào thoát ra khỏi thành phố và không có ai để tin cậy. Những kẻ phản bội đã bao vây Dinh, đang siết chặt dây thòng lọng. Ông Nhu chộp ống điện thoại. “Chuẩn bị chiến đấu”. Ông thét lên, ra lệnh cho niềm hy vọng cuối cùng còn lại của hai anh em, những chàng trai của Thanh niên Cộng hòa và các Sư đoàn Phụ nữ bán quân sự của vợ ông.

Sự im lặng của họ là bản án tử hình.

hinh

Các kế hoạch của ông Diệm và ông Nhu đã bị đánh cắp. Người mà họ tin tưởng giao cho thực hiện cuộc đảo chính giả, Thiếu tướng Tôn Thất Đính, đã quay lưng với họ. Là vị tướng trẻ nhất trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ông Đính được những người quen biết mô tả như một người lính nhảy dù lớn lối, hay uống whisky. Ông Đính bù đắp cho sự thiếu thông minh của mình bằng tham vọng ghê gớm, và ông không đi đâu mà không có người chụp ảnh riêng. Trong số các nỗ lực của ông để lấy lòng chế độ Ngô Đình Diệm có việc ông cải sang đạo Công giáo và gia nhập đảng chính trị mơ hồ của ông Nhu. Các chiến thuật của ông Đính phần nào đó đều hiệu quả. Tổng thống Diệm đối xử với ông như con nuôi. Nhưng tính tự cao tự đại của ông đã khiến ông trở thành miếng mồi ngon cho các đối thủ của ông Diệm. Những kẻ mưu toan đã thuyết phục Tướng Đính rằng ông lẽ ra phải nằm trong nội các của Tổng thống. Khi ông Diệm từ chối ban cho ông vị trí ấy, lòng kiêu hãnh bị tổn thương của ông Đính biến ông thành một thứ trái cây chín mùi chờ người ta hái xuống. 13

Los AngeLes đi sau Sài Gòn mười lăm giờ, và Đệ nhất Phu nhân đang nằm hồi phục trong phòng khách sạn ở Beverly Wilshire. Bà đã phẫu thuật cắt mụn mỡ trên mắt vài giờ trước đó; cặp kính đen và băng gạc làm bà khó chịu. May là có Lệ Thủy ở đó giúp bà, đọc sách báo cho bà nghe, và trò chuyện với bà.

Bà Nhu và Lệ Thủy được đánh thức vào nửa đêm bởi một cú điện thoại ầm ĩ từ tùy viên của Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa. Trong cơn hoảng loạn, ông ta mô tả cuộc khủng hoảng đang diễn tiến ở Sài Gòn. Ông nói các rào chắn đang được giăng ra khắp các con đường lớn chạy từ thành phố đến sân bay. Hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến nổi loạn đeo khăn đỏ ngồi trên xe tiến vào trung tâm thành phố. Các sự kiện diễn tiến hết sức chính xác. Đâu ra đấy. Đài phát thanh, bưu điện, và bộ chỉ huy cảnh sát đều bị chiếm đóng, Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng cũng vậy.

Bà Nhu lắng nghe trong vô vọng từng chi tiết của cuộc khủng hoảng đang xảy ra cách bà hàng ngàn cây số. Bà viết “Ước gì tôi có mặt ở đó” nhiều lần trong hồi ký. Bà tự nhủ rằng bà sẽ ngăn không cho chế độ sụp đổ, như bà đã làm vào năm 1955, 1960, và một lần nữa vào năm 1962. Bà cho rằng lần này sự vắng mặt của bà đã làm suy yếu tai hại cho chế độ họ Ngô. Dĩ nhiên, một người duy lý sẽ nói rằng không có cách nào để bà có thể sống sót, và có ít lý do để nghĩ rằng nếu bà Nhu có mặt ở Sài Gòn, bà có thể làm được cái gì để ngăn chặn mọi chuyện xảy ra. Nhưng về mặt lý trí, bà sẽ không bao giờ sống sót được nếu băng ngược trở lại cây cầu kia vào năm 1946.

Tồi tệ nhất là bà không liên lạc được với các con, Trác mười lăm tuổi, Quỳnh mười một, và bé Lệ Quyên mới lên bốn. Câu chuyện mà sau này chúng kể lại cho mẹ rất rùng rợn. Khi cuộc đảo chính bắt đầu, chúng vẫn còn ở Đà Lạt. Ở trên đó, ở giữa những người bảo vệ mang súng, họ không còn biết tin ai. Những đứa trẻ trốn chạy vào rừng phía sau nhà và qua đêm ngoài trời mưa lạnh. Chúng đi bộ suốt ngày hôm sau đến một làng miền núi, ở đó chúng xin được một ít cơm và thịt rừng. Và chờ đợi.

Anh em họ Ngô chạy trốn vào Chợ Lớn, khu người Hoa ở Sài Gòn. Có một số người nói họ dùng một đường hầm bên dưới nền nhà Dinh để đào thoát. Một số người khác lại nói chiếc xe Citroën màu đen dừng trước cổng Dinh, và hai anh em, mặc com lê xám đen, cứ thế đi tới và chui vào. Dù bằng cách nào thì họ cũng là những người lánh nạn. Sẽ mất vài giờ nữa trước khi các lực lượng đảo chính nhận ra họ đang đánh vào một dinh phủ trống không. Lúc bấy giờ hai anh em đang ẩn nấp trong nhà của một nhà buôn tên là Mã Tuyên.

Chạng vạng ngày 1 tháng Mười Một, 1963, cuộc bao vây chung quyết Dinh bắt đấu. Các đội hình chiến đấu của lính biệt kích Nam Việt Nam đi thành hàng phía sau những chiếc xe tăng. Họ nhắm các bức tường Dinh và bắt đầu nhả đạn. Chẳng bao lâu sau cuộc tấn công trong tầm đạn bắn thẳng khoan phá được một lỗ thủng lởm chởm. Các nhà báo Mỹ Ray Herndon và David Halberstam tuyên bố họ là người thứ ba và thứ tư đi vào Dinh, ngay sau hai trung úy người Việt chui qua cái lỗ trên tường. Một lá cờ trắng sau cùng cũng được giương lên từ cửa sổ tầng một ở góc Tây Nam của Dinh, báo hiệu cho những người lính khác và các nhân viên dân sự đang co rúm rằng mọi sự đã qua. Đã đến giờ phút hôi của tại Dinh.

Mọi người ùa vào, băng qua sân bãi và chạy lên lầu. Những tấm màn lụa tơi tả, và gương đèn trang trí của Dinh, những thiết kế cố định trong nhà có từ thời Pháp thuộc nằm rải rác trên sàn. Những người lính biệt kích, đám lính trẻ, và các nhà báo lục lọi đống đổ nát. Họ tìm thấy rượu whisky của ông Nhu và, nằm trên bàn làm việc của ông, cuốn sách có cái tựa khéo đặt mà ông chưa tìm ra thì giờ để đọc xong: Shoot to kill (Bắn giết), của Richard Miers, một cuốn hồi ký kể về thành tích chống Cộng của ông ở Malaya. Và trong khi ai cũng biết sở thích đọc của ông Diệm là những câu chuyện phiêu lưu về miền Tây nước Mỹ, những cậu lính háo hức đầu tiên mân mê những cái áo ngủ lụa mỏng của bà Nhu nên bỏ sót cuốn sách bìa nâu trong ngăn kéo của bà. Cuốn nhật ký của bà sau cùng cũng được tìm thấy, được cẩn thận nhét vào cạp quần, và được giữ mấy chục năm như món gia bảo và vật kỷ niệm.

Tại Dinh ngày hôm đó, Fred Flott, viên chức Sở Ngoại vụ của Tòa Đại sứ, tận mắt nhìn thấy thành quả lao động của mình trong việc lật đổ chính phủ này: “Thi thể người đàn ông số một tôi từng nhìn thấy bị bắn vào đầu bằng súng tiểu liên M-16 và nó giống như trái cà chua mà người ta giẫm lên. Lúc ấy ông ta bị kéo lê xuống cấu thang. Và có những người lính đang lặng lẽ hôi của, nhưng tình hình cũng có vẻ kỷ luật”. Bản thân Flott cũng bỏ túi mấy cái gạt tàn thuốc lấy ở Dinh để làm kỷ niệm và gật đầu chào David Halberstam khi họ đi ngang qua nhau trên cầu thang. Người làm việc ở Tòa Đại sứ này nhớ rằng hai tay của nhà báo bị che khuất bởi cặp ngà voi dài tới ba mét. Nhưng Halberstam thừa nhận chỉ lấy một thanh gươm Lào, có lẽ trong bộ sưu tập của ông Nhu.

Thanh gươm trang trí này đã không giúp gì được cho ông Nhu thời điểm đó. Hai anh em biết số phận của họ đã được định đoạt, nên họ không tìm cách trốn lâu hơn. Họ chuyển từ nhà Mã Tuyên đến một địa điểm khác ở Chợ Lớn, Nhà thờ Thánh Francis Xavier (Nhà thờ Cha Tam) trát vữa hai màu vàng trắng. Ông Diệm gọi điện cho Bộ Tổng Tham mưu và yêu cầu được tiếp xúc với các tướng lĩnh để thu xếp đầu hàng. Quân đội bắt đầu kéo đến ngay sau đó. Các sĩ quan đi đến trước nhà thờ và chào người đã từng là Tổng thống của họ trong chín năm. Sau đó họ dẫn ông và em trai ông ra và đẩy họ vào phía sau chiếc xe tải nhỏ, bọc vải bạt hai bên hông. Sau đó, không ai biết rõ lúc nào, hai anh em được chuyển đến một chiếc xe bọc thép. Họ sẽ không còn sống để ra khỏi đó nữa. 14

Sài Gòn hỗn loạn.

Những kẻ phiến loạn ăn mặc ngụy trang bắn đạn tiểu liên lên trời để chào mừng. Đám đông hỗn tạp xé nát bất cứ thứ gì dính dáng đến chế độ họ Ngô. Văn phòng của tờ Times of Vietnam bị đốt cháy; hiệu sách Công giáo của Tổng Giám mục Ngô Đình Thục bị đập phá. Một đám người hùng hổ kéo nhau đi xuống bến cảng. Một đám đông mạnh mẽ dùng mấy chục mét dây thừng kéo đổ tượng Hai Bà Trưng, một người mà vẻ mặt trông rất giống bà Nhu. Một trong hai cái đầu vỡ nát và lăn lông lốc trên đường – như cái đấu của con quỉ cái bị máy chém cắt lìa.

Bà Nhu bị kẹt trong cảnh xa hoa yên ổn của Beverly Wilshire, với những căn phòng trải thảm, những tấm màn cửa lê thê và ánh nắng California, nhưng bà nóng lòng muốn đưa các con bà ra khỏi Việt Nam. Bà gọi điện cho Marguerite Higgins, nhà báo mà bà đã gặp ở Sài Gòn và trở thành bạn. Bà Nhu nức nở hỏi, “Bạn có thực sự tin là họ [ông Diệm và ông Nhu] đã chết? Liệu họ có giết các con tôi không?”. Higgins giúp đỡ bằng cách gọi điện thoại đến những chỗ quen biết của cô trong Bộ Ngoại giao ở Washington.

“Gấp đi”, bà Nhu van vỉ. “Làm ơn gấp gấp giùm”.

Higgins gọi cho Roger Hilsman, cố vấn thân cận của Tổng thống Kennedy và trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề Viễn Đông, lúc 2 giờ sáng.

“Chúc mừng, Roger”, bà chào ông. “Thấy thế nào khi máu ở trên tay bạn?”

“Ổ, thôi nào, Maggie” – Hilsman đáp. “Các cuộc cách mạng đều dữ dội. Nhiều người bị tổn thương”. Nhưng giọng nói của Higgins trên điện thoại nửa đêm hỏi về những đứa trẻ trong gia đình họ Ngô hẳn là một nhắc nhở bất ngờ về quyền lực của báo chí. Phản ứng đầu tiên của Hilsman nhanh chóng quay ngược lại khi ông nhận ra rằng Hoa Kỳ không thể đứng một bên và để cho một điều gì đó tệ hại xảy ra với những đứa trẻ, bất kể cha mẹ chúng là ai. Việc chính đáng và hào hiệp phải làm là đưa bọn trẻ ra khỏi đất nước đó càng nhanh càng tốt. Hilsman bảo đảm với bà rằng Tổng thống Kennedy sẽ làm mọi thứ có thể để bảo vệ những đứa trẻ và hứa sẽ đưa chúng đến một nơi an toàn. 15 Chỉ trong ba ngày, bọn trẻ đã được an toàn ở Rome.

Người Mỹ hạnh phúc được ra tay giúp đỡ. Họ biết rằng nếu những đứa trẻ họ Ngô chết trong cuộc đảo chính, thì điều đó sẽ mang lại tiếng xấu khủng khiếp cho chế độ mới mà người Mỹ sắp sửa phải cộng tác. Mọi thứ đã khởi đấu tệ hại, có thể nói như vậy. Câu chuyện chính thức, rằng anh em họ Ngô tự sát, đã bị dập tắt khi hai tấm ảnh lọt ra ngoài cho thấy ông Diệm bị bắn xuyên qua đầu và thi thể ông Nhu vằn vện dấu vết của hơn hai chục nhát lê đâm. Một tấm ảnh cho thấy cả hai thi thể nằm trong vũng máu trên sàn xe bọc thép, hai tay bị trói ngoặt ra sau lưng. Một tấm ảnh khác cho thấy cái xác đầy máu của ông Diệm nằm trên cáng trong khi người lính mỉm cười nhìn vào ống kính. Một sĩ quan nghe nói là chịu trách nhiệm về hai cái chết của anh em họ Ngô, Đại úy Nguyễn Văn Nhung, được phát hiện bị siết cổ chết trong Bộ Tổng Tham mưu ba tháng sau đó. Cái chết của ông chưa bao giờ được sáng tỏ.

Hồ sơ Ngũ Giác Đài, lịch sử dính líu về chính trị và quân sự ở Việt Nam của chính quyền Mỹ, kết luận về cuộc đảo chính năm 1963, “Khi sự cai trị chín năm của ông Diệm đi tới một kết cục đẫm máu, sự đồng lõa của chúng ta trong việc lật đổ ông làm tăng trách nhiệm và cam kết của chúng ta vào một Việt Nam về cơ bản không có lãnh đạo”. Các tướng lĩnh đứng sau cuộc đảo chính bắt đầu dàn xếp để có một chính phủ dân sự. Tướng Minh Lớn trở thành Tổng thống, và sau khi trì hoãn trong một thời gian được coi là giai đoạn thích hợp, chính phủ Hoa Kỳ công nhận chính phủ mới của Việt Nam Cộng hòa vào ngày 8 tháng Mười Một. 16

Sự hài lòng của người miền Nam Việt Nam và người Mỹ vì đã tìm ra giải pháp thay thế cho ông Diệm và ông Nhu không được bao lâu. Một vị tướng khác lật đổ chính quyền của ông Minh chỉ hai tháng sau, vào tháng Một, 1964. Nối tiếp nhau nhanh chóng, có thêm bảy chính phủ ở Việt Nam Cộng hòa lên rồi đổ. Làm trầm trọng thêm sự hỗn loạn chính trị, Việt Cộng đã hình thành một quân đội có năng lực, và sự cân bằng quân sự bắt đầu nghiêng về phía họ – dù còn phải mất một thời gian dài nữa Hoa Kỳ mới chính thức thừa nhận điều đó.

Fred Flott, viên chức Sở Ngoại vụ ăn cắp gạt tàn thuốc và là người liên lạc không chính thức giữa Tòa Đại sứ Mỹ và những kẻ âm mưu đảo chính, được chọn làm đại diện chính thức của chính phủ Mỹ để hộ tống những đứa trẻ họ Ngô. Trác, Quỳnh, và Lệ Quyên đã được tắm rửa sạch sẽ sau lần trốn tránh khổ ải trong rùng rậm Đà Lạt. Bạn của mẹ chúng, ông Nguyễn Khánh, vị tướng nghênh ngang với chòm râu dê mà bà đã mất hết tin tưởng trong âm mưu đảo chính năm 1960, mang ba đứa trẻ về Sài Gòn trên máy bay riêng của ông. Ông không có gì để sợ hãi từ chính quyền quân sự mới, họ biết ông ở về phía họ một cách đáng tin cậy, nên ông có điều kiện để cứu giúp bọn trẻ. 17 Người Mỹ làm phần việc tiếp theo, đưa bọn trẻ lên chiếc máy bay quân sự C-54 của Hoa Kỳ bay đến Thái Lan. Sau đó Flott hộ tống “ba cục nợ” này đến Ý. Họ ngồi ở hạng nhất trên chuyến bay Pan Am được gọi là “chuyến bay dừng nhiều nơi”, quá cảnh ở Rangoon, Calcutta, Delhi, và Karachi, trước khi hạ cánh sau cùng ở Rome. Flott ngồi cạnh cậu Trác mười lăm tuổi trong suốt chuyến đi.

“Tôi thực sự rất nể cậu ta, vì cậu rất biết nắm lấy cơ hội. Cậu không khóc, ít nhiều cho thấy sự cam chịu hay sự điểm tĩnh bề ngoài của người châu Á về chuyện đó [cuộc đảo chính]… Và cậu bé đọc tin tức về hoàn cảnh cha cậu và ông bác được tìm thấy phía sau chiếc xe chở lính, đầu họ bị dập nát bởi những báng súng tiểu liên đập vào, mọi loại vết thương do lê đâm trên người họ, và nhiều chỗ khác, tất cả đều bị cắt xé. Cậu ta đọc những chi tiết này với sự bình thản hoàn toàn. Cậu đọc tiếng Anh khá tốt, dù chúng tôi trao đổi bằng tiếng Pháp. Nhưng cậu không hiểu từ “bị dập nát”, nên hỏi tôi bằng tiếng Pháp, “Bị dập nát tiếng Pháp nói sao?”. Tôi đáp, “Ecrabouille”. Tôi nói thêm, “Nó có nghĩa là bị dập nát, nhưng cháu không cần chú ý quá nhiều đến các chi tiết, bởi vì có thể các nhà báo thậm chí không nhìn thấy cảnh đó, và đó là cách họ viết mọi thứ”. Và cậu ta đón nhận điều đó một cách bình tĩnh, tiếp tục trò chuyện và cuối cùng tôi đưa chúng đến Rome”.

Ông bác của chúng, Tổng Giám mục Thục, đang đợi những đứa trẻ ở Rome. Bà Nhu vẫn còn ở Los Angeles. Flott cay đắng nhớ lại giây phút bàn giao những đứa trẻ cho ông Thục:

“Tổng giám mục Thục gặp chúng tôi ở đó, bên cạnh máy bay. Ồng tỏ vẻ thù địch, vì ông biết tôi được [Đại sứ] Cabot Lodge cử đi hộ tống bọn nhỏ. Có khoảng 150 phóng viên Ý và các nhà báo khác ở đó. Tôi đến gần người Tổng Giám mục đó để tỏ ý tôn trọng, để chia buồn, và nói rằng tôi được Đại sứ Lodge yêu cầu giao những đứa trẻ này cho ông, để chúng có thể gặp lại mẹ, và để mẹ chúng được gặp lại chúng. Ông không nói gì vời tôi, không bắt tay, không gì hết. Một hành xử hoàn toàn xa cách, lạnh lùng. Thu xếp bọn nhỏ lên xe hơi, không một lời cám ơn, không gì hết…

Chúng tôi bảo vệ những đứa nhóc này khỏi mọi nguy cơ chấn thương tâm lý; đã không có tranh cãi gì, không có ai xuất hiện và nói gì với chúng trong suốt chuyến đi. Nhưng không một lời cám ơn đến Lodge, đến tôi, đến Pan Am, hay bất kỳ ai. Tổng Giám mục Thục sắp xếp chúng vào chiếc limousine to đùng của ông và phóng đi”. 18

Khó có thể nghĩ rằng Flott cảm thấy được quyền đòi một lời cám ơn từ gia đình họ Ngô. Suy cho cùng, ông đã góp phần dàn dựng việc lật đổ họ. Toàn bộ sách vở đều đã phân tích mức độ Hoa Kỳ trực tiếp gây ra cuộc đảo chính 1963 ở Nam Việt Nam và, nói rộng ra, sự sát hại hai anh em họ Ngô. ít người nói về điều đó cô đọng hơn Tổng thống Lyndon Johnson, khi ông càm ràm trong cuộc điện đàm ngày 1 tháng Hai, 1966 với Thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, “Chúng ta giết ông ấy [ông Diệm]. Tất cả chúng ta xúm lại, tập hợp một lũ côn đồ rồi xông vào sát hại ông ta. Từ đó đến giờ chúng ta thật sự không có sự ổn định chính trị”. Liệu sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm có thực sự làm cho cuộc chiến tranh tồi tệ hơn nhiều so với giả định nếu ông Diệm còn cầm quyền? Cựu Giám đốc CIA William Colby nghĩ vậy. Ồng nói, “Việc lật đổ ông Diệm là sai lầm tệ hại mà chúng ta mắc phải”. Nếu Hoa Kỳ duy trì được sự hậu thuẫn cho ông Diệm, và nếu ông ta không bị giết, Colby nghĩ, người Mỹ “có thể đã tránh được hầu hết phần còn lại của cuộc chiến tranh này, đó mới là điều chúng ta mơ tới”. 19

Rõ ràng, người Mỹ dính líu vào cuộc đảo chính ở Sài Gòn. Một số người ủng hộ, một số người chống đối, nhưng mọi người có thể đồng thuận rằng, ít nhất đã có một ngụ ý cho thấy Hoa Kỳ, từ Tổng thống Kennedy trở xuống, đều ủng hộ một cuộc đảo chính chống ông Diệm. Vì điều đó, Mỹ đã phải lãnh trách nhiệm.

Theo lời nhiều người kể lại, Tổng thống Kennedy đã rất hốt hoảng khi nghe tin hai anh em họ Ngô bị sát hại. Trong phòng nội các của Nhà Trắng, Tướng Maxwell Taylor nhớ lại “Kennedy nhảy dựng lên rồi lao ra khỏi phòng với vẻ mặt sửng sốt và thất vọng, điều tôi chưa từng thấy trước đây”. Nhà tình báo CIA Colby xác nhận phản ứng đó, nói rằng Tổng thống “mặt mày trắng nhợt, bước nhanh ra khỏi phòng để trấn tĩnh”. 20 Nhưng nhiều người khác thắc mắc làm sao mà Tổng thống có thể kinh ngạc đến như vậy. Ông thực sự đã không hiểu rằng một cuộc đảo chính thì sẽ có những hậu quả ghê gớm sao?

Như Red Faye, bạn của Kennedy nhớ lại, Tổng thống không chỉ tự trách mình vì hai cái chết của ông Diệm và ông Nhu. Ông còn đổ lỗi cho bà Nhu. “Đồ chó chết. Bà ta phải chịu trách nhiệm về cái chết của người đàn ông tử tế đó [Diệm]. Anh thấy đó, hoàn toàn không biện minh được khi để người đàn ông tử tế đó chết chỉ bởi con chó cái đó chĩa mũi vào và làm mọi thứ ở đó sôi sục lên hết”. 21

Một ngày sau vụ đảo chính, Tổng thống Kennedy đọc một thông báo ngắn để ghi âm. Ông gọi hai cái chết của ông Diệm và ông Nhu là “hết sức ghê tởm” và nhận trách nhiệm vì đã “khuyến khích Lodge lao theo một tiến trình mà bất luận điều gì xảy ra ông ta vẫn không từ nan” 22 . Những suy nghĩ trên cương vị Tổng thống của ông về vụ thảm sát ở Sài Gòn sau đó bị gián đoạn vì cậu bé John Jr. ba tuổi và Caroline sáu tuổi, chúng vào văn phòng hò reo một lúc với bố. Phía sau những sợi băng nhăn nhíu, bạn có thể nghe thấy hai đứa bé nói “Hello” vào máy ghi âm của Kennedy. Ngay sau đó người bố hỏi hai đứa bé mọi thứ về sự chuyển mùa: Vì sao lá cây có màu xanh? Tuyết rơi trên mặt đất thì thế nào? Mấy câu trao đổi này càng gây thêm xúc động nếu bạn nhớ rằng những đứa bé này sẽ không bao giờ thấy sự chuyển mùa với cha chúng lần nữa. Kennedy sẽ bị ám sát chỉ ba tuần sau đó.

——————————–

1Về chuyện bà Nhu ở Dallas vào ngày đến Mỹ, xem Peter Dale Scott, Deep Politics and the Death of JFK – Đời Sống Chính Trị Khó Lường Và Cái Chết Của JFK (Berkeley: University of California Press, 1996), 214. Về việc bà Nhu hiện diện trong những lý thuyết âm mưu, xem Bradley S. O’Leary và L. E. Seymour, Triangle Of Death: The Shocking Truth about the Role of South Vietnam and the French Mafia in the Assassination of JFK – Bộ Ba Chết Chóc: Sự Thật Gây Sốc về Vai Trò Của Nam Việt Nam Và Mafia Pháp Trong Vụ Ám Sát JFK (Washington DC: WND Books, 2003), và radio show của Michael Cohen về việc bà Nhu chủ mưu vụ ám sát JFK trong “JFK Assassination Specia lX” của ông, Coast to Coast AM with George Noory, 21 tháng 11 năm 2012, http://www.coastto-coastam.com/show/2012/11/21.
2Về trò bắn bồ câu đất ở nông trại Dougherty và những mô tả về Bruce Baxter là bạn trai của Lệ Thủy, xem Life, ngày 8 tháng 11 năm 1963, và Victoria Advocate (Beesville, Texas), 28 tháng 10 năm 1963. Về lời trích dẫn của thống đốc California Pat Brown, xem Time, 1 tháng 11, 1963.
3Quyết định hệ trọng loại bỏ Diệm và Nhu, với tất cả những hệ lụy của nó đối với cuộc chiến, đã được an bài trong vòng vài giờ chiều thứ bảy. Tổng thống nhận được bức điện tín ngụ ý Mỹ ủng hộ một cuộc đảo chính trong khi ông vẫn đang cùng vợ và hai con ở Cảng Hyannis, đang thương tiếc sự ra đi của đứa con trai còn đỏ hỏn Patrick của họ mới hai tuần trước đó. Trợ lý ngoại trưởng đặc trách Viễn Đông Roger A. Hilsman và Thứ trưởng Ngoại giao W. Averell Harriman đã viết bức điện. Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara không liên lạc được, và Tổng thống Kennedy hỏi “Chúng ta không thể đợi tới thứ hai, khi mọi người trở về sao?”. Nhưng khi bảo các sĩ quan hầu cận cần giải quyết cho xong bức điện tín, JFK chốt hạ bằng câu nói, “Suy nghĩ xem các anh có thể làm gì để kết liễu chuyện đó”. Ngoại trưởng Dean Rusk, Thứ trưởng Ngoại giao George Ball (người lúc bấy giờ đang ở trên sân gôn), và Trợ lý đặc trách Chống Bạo Loạn thuộc Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Victor “Brute” Krulak, tất cả đều gật đầu đồng ý khi họ nghe thấy Tổng thống đang bật đèn xanh, cũng như Thứ trưởng Quốc phòng Roswell Gilpatric, người đã tóm tắt cái sức ì đã khiến ông ký, nói rằng, “Tôi cảm thấy không nên ngăn chuyện đó lại, vì thế tôi đồng ý với nó cũng như khi bạn ký xác nhận một chứng từ vậy thôi”. (Jones, Death of a Generation, 315-316). Xem Thư viện John F. Kennedy, Kennedy Papers, National Security File: Meetings and Memoranda Series, box 316, folder “Meetings on Vietnam 8/24/63-8/31/63”.
4Về việc Nhu nghe lén trong sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, xem Karnow, Vietnam, 311-312.
5Thái độ hống hách của Lodge được mô tả chi tiết trong Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War in Vietnam, 1950-1963 của Seth Jacobs, (Lanham, MD: Rowman & Littlefield, 2006), 158.
6Những mô tả chi tiết về việc kết liễu sự nghiệp CIA của John Richardson ở Việt Nam, xem lời cáo phó trên New York Times của ông, 14 tháng 6 năm 1998; Blair, Lodge in Vietnam; và Richardson, My Pather, 193.
7Harold P. Ford, “CIA and the Vietnam Policymakers – CIA và các nhà làm chính sách ở Việt Nam, Episode 2, 1963-1965” Trung Tâm Nghiên Cứu Tình Báo, CIA Books and Monographs.
8Ford, “CIA and the Vietnam Policymakers”.
9Những chi tiết về cuộc nói chuyện của Nhu với người miền Bắc, xem biên bản cuộc nói chuyện giữa Eisenhower và John McCone, ngày 19 tháng 9 năm 1963, Thư viện Dvvight D. Eisenhower, Special Name Series, box 12. Xem thêm Margaret K Gnoiska, “Poland and Vietnam, 1963: New Evidence on the Secret Communist Diplomacy and the Maneli Affair” (Working Paper 45, Cold War International History Project, Woodrow Wilson Center for International Scholars, Washington, D.C, 2005).
10Những tình tiết về cuộc gặp gỡ với Lodge và Felt, xem Joseph Buttinger, A Dragon Embattled (Westport, CT: Praeger Publishing, 1967), 2:1005; và “Revolution in the Afternoon” Time, 8 tháng 11, 1963.
11Về câu “Ổn cả thôi” của Nhu, xem Karnow, Vietnam, 44.
12Về những kế hoạch đảo chính giả, xem Neil Sheehan, A Bright and Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam (New York: Vintage Books, 1989), 367-369; và Karnow, Vietnam, 316-320.
13Mô tả về sự phản bội của Đính, xem Buttinger, A Dragon Embattled, 2:1003-1004.
14Về việc Diệm và Nhu lần cuối cùng được nhìn thấy bởi Mã Tuyên, xem Fox Butterfield, “Man Who Sheltered Diem Recounts ’63 Episode”, New York Times, ngày 4 tháng 11 năm 1971, 5.
15Higgins, Our Vietnam Nightmare, 225.
16“The Over throw of Ngo Dinh Diem – Lật Đổ Ngô Đình Diệm, Tháng 5-11, 1963”, trong The Pentagon Papers: The Defense Department History of United States Decision Making on Vietnam, ed. Mike Gravel (Boston: Beacon Press, 1971), 2:201-276.
17Khánh đóng một vai trò trong vận động quân sự ngầm đưa đến vụ đảo chính năm 1963, nhưng ông đã không được chọn làm người thứ mười hai trong Hội đồng Quân sự Cách mạng dẫn đầu bởi Minh Lớn. Vào tháng 1 năm 1964, Khánh câm đầu cuộc lật đổ Minh Lớn “mà không phải bắn một viên đạn” và trở thành lãnh tụ tiếp theo của Nam Việt Nam – nhưng triều đại của ông ta chỉ tồn tại vẻn vẹn một năm. Vào tháng Hai năm 1965, ông ta bị lật đổ bởi bốn vị tướng trẻ.
18Fred Flott, The Foreign Affairs Oral History Collection of the Associationfor Dipỉomatic Studies and Training (Washington DC: Library of Congress, Manuscript Division, July 22 tháng 1984).
19Về đánh giá của Colby rằng vụ đảo chính lật đổ Diệm là sai lầm tồi tệ nhất của Mỹ, xem “Transcript, William E. Colby Oral History Interview II, 3/1/82”, by Ted Gittinger, Internet Copy, Thư viện Tổng thống LBJ, 32-33.
20Về phản ứng của Kennedy với cái chết của Diệm và Nhu, xem Jones, Death of a Generation, 425-436.
21Lời rủa của Kennedy “Đổ chó chết” được diễn giải lại bởi bạn thân của ông Red Fay; xem Thư viện John F. Kennedy, Paul B. Fay Jr., Oral History Interview – JFK #3, 11 tháng 11 năm 1970.
22John F. Kennedy, Telephone Recordings: Dictation Belt 52.1. Dictated Memoir Entry, November 4, 1963, Papers of John F. Kennedy, Presidential Papers, President’s Office Files, John F. Kennedy Library.