This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chiều cuối năm, tui lấy 3 tuần nghỉ phép! Cày suốt cả một năm trời đăng đẳng; oải quá xá hè!
Nhưng chiều giáp Tết ở Footscray nầy buồn như dế kêu!
Bạn bè vốn thường xúm tụm nhau nhậu nhẹt tưng bừng đã tản lạc khắp bốn phương Trời. Đứa giàu thì đi Hokkaido, Nhựt Bổn để trượt tuyết; nhân tiện trốn luôn cái mùa hè cháy da, chảy mỡ của nước Úc. Đứa nghèo nghèo hơn thì bay về Việt Nam ăn Tết; nhân tiện đi uống bia ôm cho nó rẻ.
Tui thì thưa thiệt thuộc phân nửa dân trên địa cầu nầy, xếp vào loại nghèo mạt; nên không có tiền đi Nhựt Bổn. Còn về Việt Nam thì em yêu lại ra nghiêm lịnh, cấm tiệt, hỏng cho đi. Nên tui đi ngủ!
Nằm trên cái võng tòn ten sau vườn, nghe chim hót, tui lại mơ về những tiếng ‘chim’ ngày cũ; mà hỏng tốn một xu nào…Quá đã!
Đang làm một giấc quá đã như vậy thì thình lình có một thằng đến nắm cái chưn tui giựt giựt. Dụi mắt ra nhìn; té ra là anh bạn Mười Nổ của tui.
(Chớ gặp đứa khác, dám phá giấc ngủ của tui làm: giấc Nam Kha khéo bất bình! Bừng con mắt dậy thấy mình tay không…Thì tui đã cho nó một đạp rồi…)
Mười Nổ cười hè hè, hỏi tui rằng: “Sao ngủ hoài vậy cha nội! Hỏng lo đi làm. Hèn chi nghèo là phải!”
Tui dấm dẳn: “Đi làm để làm gì?” “Thì để kiếm tiền!”
“Kiếm tiền để làm gì?” “Kiếm tiền để đầu tư; tiền nó đẻ ra tiền”
“Rồi nhiều tiền để làm gì?” “Thì để tận hưởng cuộc sống!”
“Thì tui đang tận hưởng cuộc sống đây nè! Cần gì mà phải lao tâm khổ trí như anh vậy! Tối ngày chỉ tiền và tiền. Làm quá… chết; thằng khác nhào vô hưởng. Thì : tui và anh… ai ngu hơn ai? Thôi cha nội về lo kiếm tiền đi… để yên cho tui ngủ tiếp giấc mơ hoa!
Thưa! Khi bàn về cái vụ giàu nghèo hỏng biết bà con có bao giờ tự hỏi là: “Tại sao khi đi ăn nhà hàng hay đi nhậu nhẹt, người nghèo lại cho tiền ‘tip’ nhiều hơn người giàu?”
Câu trả lời là: “Người nghèo cho tiền ‘tip’ nhiều để người phục vụ không biết rằng mình nghèo. Còn người giàu cho tiền ‘tip’ bèo vì anh ta không muốn người phục vụ biết rằng mình giàu!”
Bài học rút ra là: Đời ai cũng có bí mật muốn giữ cho riêng mình. Sống để vậy! Chết đem theo! Chớ nhứt định không thèm hé môi cho thiên hạ biết!
Nhưng anh bạn nhậu Mười Nổ của tui giàu nứt đố đổ vách, trong khi thiên hạ dấu gần chết vì sợ bị ăn cướp hay bị bắt cóc đòi tiền chuộc thì ảnh tỉnh bơ, tỉnh như ruồi, hỏng thèm dấu gì hết ráo mà lại khoái khoe khoang, khoái nổ, giàu ít xổ thêm nhiều, nên mới có tên Mười Nổ đó chớ!
Sở dĩ tui nghèo rớt mồng tơi mà chịu khó muối mặt chơi với anh Mười Nổ là vì tui muốn học lóm cái bí quyết làm giàu của ảnh.
Ảnh đã từng dạy tui rằng: “Cho anh một con cá; anh chỉ ăn được một ngày. Dạy cho anh biết câu cá, tui biết chắc là anh sẽ ngồi trên xuồng câu và uống bia suốt buổi! Nên kết cục mèo vẫn hoàn mèo! Nghèo vẫn hoàn nghèo!”
Nghe thấy mà ghét!
Dù vậy phải công tâm mà nói: anh Mười Nổ ngày càng giàu vì tiền của ảnh là tiền cái, biết đẻ, biết sanh sôi nẩy nở. Còn tiền của tui là tiền đực!
Chính vì biết tui, nhà báo nghèo sặc máu như vậy nên nhậu nhẹt lần nào anh cũng móc xỉa, chi hết ráo làm tui cũng có phần áy náy!
Nhưng Mười Nổ gạt phăng đi: “Ái náy, ái ngại cái gì?! Đời mà bánh ít đi thì bánh quy lại. Đâu có ai cho không ai cái gì đâu?! Tình bạn nhậu của đôi ta cũng vậy! Tui tốn tiền; anh thì tốn thì giờ kể chuyện vui cho tui nghe! Phải thành thật khen là có duyên lắm làm bữa nhậu nào về tui cũng vui suốt tới một tuần giống như đi xem hài kịch của Hoài Linh và Chí Tài vậy đó!”
Thiệt là khẩu khí của một tay trọc phú làm một tay trọc lóc như tui nghe cũng tủi thân.
Vậy mà bấy lâu nay tui cứ tưởng bở là: Mười Nổ khoái giao lưu với nhà báo nói láo ăn tiền để chứng tỏ mình là một con người có học và biết đọc!
Ối! Hơi sức nào mà giận người dưng chớ! Chơi mà được đãi ăn, đãi nhậu thì ngu sao mà mình nghỉ…chơi?!
Nhưng bất ngờ thay Mười Nổ báo cái tin tui nghe giữa trời quang mà giống như sét đánh bên tai vậy!
“Chắc vài tháng tới đây, anh em mình ít có cơ hội mà bù khú nữa vì tui đã có một em yêu rồi… Sợ không còn thời giờ rảnh!”
Vậy là tui bắt đầu cuộc đời móc bọc! Rán không tin đó là sự thật bèn hỏi vặn lại rằng: “Thiệt chơi cha nội! Anh đã 72 tuổi rồi, bà xã anh đi bán muối đã lâu; sống độc thân sướng gần chết mà giờ đòi ăn mặn chi nữa vậy anh?”
Thì Mười Nổ móc cái ‘Apple iPhone 7 Plus’, sim tứ quý tận cùng 4 số 8; có mạ vàng ròng ra, kéo rẹt rẹt để khoe hình một người mẫu đồ lót, cũng là người trong mộng của ảnh cho đám bạn nhậu già khú đế như tụi tui thèm nhểu nước miếng và ghen tị với số đào hoa của một ông già 72 tuổi.
Té ra Mười Nổ và em yêu của ảnh cùng tuổi. Cùng số 2 và số 7. Nhưng Mười Nổ số 7 đứng đầu; còn em yêu của ảnh số 2 đứng đầu. Chỉ hoán vị (hàng chục qua hàng đơn vị) mà thôi. Nói trắng ra là ảnh 72 tuổi; em yêu của anh mới vừa 27 tuổi!
Hình hai người so le như đôi đũa lệch! Nàng chân dài tới nách và chàng lùn tè đứng chỉ tới nách của em. Đứng sóng đôi, nhằm má tựa vai kề mà với không tới; chỉ tựa được vào nách của em! Rồi cái lỗ mũi nào chịu cho thấu hỡi Trời?
Rồi Mười Nổ khoe thêm là chuyện tình tui được đưa lên mặt báo đó! Vì em yêu của Mười Nổ là một con người nổi tiếng mà! Người của quần… chúng!
“Mới tháng rồi nè, tui đi Hong Kong để nhập vài chục tấn đông trùng hạ thảo về Úc nầy đây để bán kiếm lời.
Hợp đồng thỏa thuận xong xuôi, tui bèn xuống phà qua sòng bài Ma Cau chơi cho nó biết. Tại đây, đêm đó, đời tui đã rẽ một khúc quanh!
Tui gặp em đang đánh bài! Người đâu gặp gỡ mà chi? Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Gương mặt nàng tròn dễ mến, đôi mắt tròn xoe, bờ môi xinh mọng, chân dài thẳng tắp quyến rũ trong chiếc sườn xám xẻ tới mông, làn da trắng mịn màng như sữa dê vậy đó!
Nàng như đóa hoa sen trắng, ngây thơ, thật thà. Thấy tui ‘cổ tại’, nàng không ngần ngại mà gọi đại tui là “anh dấu yêu” làm con tim tui đã vui trở lại.
Quan niệm luyến ái của nàng là: “Lấy chồng nghèo cạp đất mà ăn hả? Nên em chọn lấy chồng giàu; chứ mấy thằng trẻ trai chỉ được cái mã thôi, tình yêu mà gặp khó khăn về tài chánh thì cũng nên để cho ngày ấy lụi tàn”…
“Già một chút cũng đỡ lo chuyện chồng cặp bồ này nọ, mèo chuột lăng nhăng. Chỉ lo cho có mình em là ảnh đã hết xí quách, nhăn răng rồi! Thì em không phải lăng xăng, lo đi đánh ghen, mướn giang hồ xé quần xé áo tình địch chi cho nó lôi thôi cò bót!”
Nên em quyết yêu anh, yêu…cho đến khi… anh chết!”
“Đừng sợ là tuổi xuân đang phơi phới, khao khát tràn đầy, em sẽ cắm sừng anh? Không bao giờ! Em sẽ tiết dục bằng cách ăn hột vịt lộn với nhiều rau răm! Rau răm sẽ làm lửa lòng em, dẫu đang cháy phừng phừng, cũng tắt!”
“À anh nói tui 72 tuổi, già khú đế rồi nên em chỉ yêu tiền của tui thôi hả?!”
“Thì đã sao nè? Thử hỏi trên cõi đời này ai mà không ham tiền?”
“Cũng có đại gia như Donald Trump chẳng hạn, trẻ hơn tui hai tuổi, giàu hơn tui nhiều thì sao em lại không yêu?”
“Tui hòa hợp với em cả tinh thần và thể xác!” “Trai tài, gái sắc”
Em yêu tui là vì tài; vì tui biết làm ra tiền bằng cách nhập khẩu đông trùng hạ thảo từ Tây Tạng về Úc, để bán kiếm lời!
Tui yêu em về sắc; vì em đã và đang làm người mẫu nội y, lừng danh ba vòng, trên sàn catwalk (trình diễn thời trang) trên toàn thế giới!
Anh lại nói, tui già rồi, đèn leo lắt cháy, bình dầu sắp cạn, sao đáp ứng được tình em là anh càng lầm to nữa đó!
Bà con mình thường hay nói: “Càng già càng dẻo càng dai. Gừng già thì gừng mới cay”. Hơn em 45 tuổi! Chuyện nhỏ. Không có trở ngại gì hết ráo!
Tui còn khỏe lắm, có bệnh hoạn gì đâu! Nếu có! Chỉ cao máu, cao đường một chút thôi mà! Và đừng quên là tui có thủ sẵn bùa yêu là thần dược viên màu xanh hy vọng Viagra.
“Tui lại là nhà nhập cảng đông trùng hạ thảo nữa. Thì đừng lo con ‘trùng’ của tui quặt quà quặt quại nhe!”
Nghe Mười Nổ khăng khăng như vậy; nên tui chỉ còn biết nâng ly lên: “Xin chúc mừng hai em!”
Thiệt là: Không có cách nào tự tử, tự giết mình sung sướng hơn là một ông già 72 tuổi gần kề miệng lỗ mà đi yêu một em mới 27 tuổi xuân thì!
“Nhưng nè! Em tên gì? Để tui biết! Ra đường lỡ gặp, thì tui xưng hô cho phải phép, kêu bằng chị!”
Nghe hỏi! Mười Nổ bèn vò đầu bức tai một hồi lâu rồi hỏi lại: “Nè nhà thơ Kiên Giang có viết: “Tôi đã tương tư màu mực tím/ Từ ngày mới viết chữ A, B/ Cong queo dòng bút tình thơ dại / Chữ nghĩa đẹp trong nét vụng về?”
Là học trò nghèo không có tiền mua mực thì mình phải hái cái trái, cái trái gì để làm mực thay thế vậy?!”
“Ý anh muốn nói đến cái trái mồng tơi phải không?”
Mười Nổ bèn sung sướng vỗ đùi nghe cái đét: “Đúng! Đúng rồi!”Tên em là Mồng Tơi!”
“Còn họ của em hả?” Mười Nổ lại vò đâu bức tai một hồi lâu rồi hỏi lại:”Nè khi em không mặc áo gì ráo thì mình gọi là gì ha?”
Rồi anh Mười Nổ căn dặn tui rất kỹ càng: “Bất cứ giá nào cũng làm ơn nhớ kỹ tên em yêu của tui dùm một cái nhe! Để trong tương lai, anh có cơ hội diện kiến cùng em thì đừng có xớn xa, xớn xác tưởng em là con gà móng đỏ nào đó, rồi nhào vô dê sảng…làm mẻ đi cái tình bè bạn bấy lâu nay; thì buộc lòng tui phải đoạn tình thủ túc với anh đó! Nhớ kỹ nhe cha!”
Thưa chữ rằng: ‘’Ðồng bệnh tương lân!’’ Nghĩa là khi đồng bệnh thì mình cùng thương xót nhau! Như tui mỡ cao, gặp đứa cao mỡ thì khuyên nhau đừng ăn mỡ. Ðường cao khi gặp nhau thì khuyên có thèm bánh bông lan sinh nhựt nhớ đừng có ăn, vì đường nhiều lắm. Huyết áp cao gặp nhau thì khuyên con vợ mình có chửi chó mắng mèo gì đi nữa, lỡ có nghe đừng để bụng, kẻo giận, ‘tăng xông’ lên bất tử thì nhà quàn tụi nó lại ăn mừng… vì vô mánh!
Còn nghĩa bóng của đồng bệnh tương lân là cùng hoàn cảnh giống nhau thì người ta thông cảm với nhau.
Nên có chuyện vầy: Một anh chồng bữa đi làm về sớm. Con vợ đang tò tí với một đứa ở trong buồng. Em vội vã lôi người tình (phút giây) đứng tựa lưng vào tủ áo! Xong em bôi dầu xức em bé và phấn rôm… trắng cả cái đầu hói của nó.
“Ðứng yên đó! Giả làm pho tượng… đợi êm êm rồi vọt!”
Chồng bước vào: “Em yêu! Gì vậy em?”
“Ôi! Em thấy chị Ba hàng xóm mình nè! Mấy bữa trước có mua về một tượng người cũng hay hay… chưng trong phòng ngủ, em bắt chước cho đỡ cô đơn, quạnh quẽ đó mà!”
Hai giờ sáng, vợ ngủ say! Chồng lồm cồm bò dậy, xuống bếp mở tủ lạnh, rót ra ly sữa và một miếng bánh mì ‘sandwich’, xách lên lầu!
“Nè! Ăn chút đỉnh; rồi uống ly sữa nầy đi! Ông hên đó nha! Tổ cha nó! Tui đứng trong phòng ngủ thằng Ba hàng xóm suốt cả đêm mà có đứa nào từ tâm mời tui một ngụm nước đâu!”
Ðồng bệnh tương lân là vậy đó!
Thưa hôm tối Thứ Sáu rồi, em yêu dắt tui đi ăn tối với hội Phan Thanh Giản và Ðoàn Thị Ðiểm Cần Thơ (là trường cũ của em yêu), họp mặt.
Trường của em, tui chỉ tháp tùng, theo ké. Vì hồi xưa tui vốn là ‘trẻ trâu’; nên đâu có học hành gì mà làm cựu học sinh.
Ông bạn già tình cờ ngồi chung bàn hỏi nhỏ tui: “Ê! Bão nổi lên rồi. Phong trào lên quá. Ông có bắt chước làm theo không?”
Tui cứ tưởng phong trào tẩy chay không xài hàng độc hại của Trung Cộng, và vì nó lăm le chiếm Biển Ðông của mình. Ai dè ông anh thì thầm: “Phong trào bỏ vợ nhỏ (vợ cưới hồi nhỏ), về Việt Nam cưới vợ lớn (vợ cưới hồi lớn)!”
“Không! Không nhứt định là không! Tui không bao giờ bỏ em đâu!”
“Ủa bây giờ người ta bỏ vợ hà rầm để về Việt Nam cưới em trẻ, em khỏe, em thơm như múi mít! Sao ông khù khờ quá hổng chịu theo thời thượng gì hết ráo vậy ông?’’
Thưa tui hổng bỏ con vợ nhỏ của tui cũng có cái lý do của nó chớ!
Chẳng qua hồi nhỏ, quê tui, nạn tảo hôn vẫn còn hoành hành. Tui đi học, bị mấy thằng lớn con trong lớp giành đạn bắn culi, quánh tui u đầu, sứt trán. Ngày nào đi học về cũng khóc: ‘’Má ơi! Tụi nó quánh con!’’
Má xót con nên bàn với Tía tui rằng: “Cưới vợ cho thằng nhỏ đi, lớn hơn nó chừng năm, bảy tuổi thôi… để tiếp mình cơm bưng nước rót cho nó, rồi đưa nó đi học, chờ ngoài cửa, tan trường rước thằng nhỏ về. Em tin hổng có đứa nào dám quánh con mình nữa. Bằng không, để ở nhà, nó dốt, lớn lên, mù chữ như tui với ông, chỉ biết chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa thì tội nghiệp!”
Tía tui nói: ‘’Sợ lớn lên nó chê con vợ nó già háp, mèo mả gà đồng, vợ bé, vợ mọn, bồ nhí lung tung thì mặt mũi nào mình ăn nói với anh chị sui chớ?”
Má tui nói: “Ối nghèo mới sợ! Già sợ gì? Mặt nhăn, da nám thì gởi nó đi Hàn quốc giải phẫu thẩm mỹ, hút mỡ bụng, căng da mặt, gọt cằm… Trẻ lại mấy hồi!”
Trước khi cưới vợ cho tui, má tui cẩn thận đi coi thầy bói, thầy nói rằng: “Hè! Thằng Nam! Tuổi Mão, là con mèo ngao hay cấu hay cào ăn vụng thành tinh. Vì vậy không nên cưới vợ tuổi con Chuột, tức tuổi Tí. Tuổi nầy nó gặm nhấm, đục khoét còn dữ hơn nữa. Cưới về thằng Nam giành ăn không lại, tất đói! Không nên!
Kỵ tuổi Ngọ, tức con ngựa! Ngựa nó ‘ngựa’ lắm, sợ thằng Nam nầy cỡi không nổi, còn bị nó đá giò lái… cho thấy Tía!
Kỵ tuổi Dậu, tức con gà! Gà gáy hoài, vợ tuổi nầy nói suốt, thằng Nam không mở miệng tiếng nào, im lặng lâu… sợ nó câm luôn!
Chỉ nên lấy vợ tuổi Mùi, tức con dê. Con Dê nó ăn so đũa không giành ăn cá kho với thằng Nam nầy, nếu có vợ như vậy bảo đảm nó sẽ no!
Hoặc tuổi Hợi, tức con heo. Heo chỉ ăn cám hoặc ăn hèm. Cám hay hèm, Mèo cũng hổng thèm. Không giành ăn! Chắc chắn hai đứa nó sẽ sống đời hạnh phúc.
Nhưng đừng tưởng bở, hỏi cưới là em ưng liền đâu nha. Trước khi ưng, em còn làm một cuộc sát hạch bằng chữ Nho như vầy. Em hỏi rằng: “Thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời! Vua cha đạo trọng hay vợ chồng nặng hơn?”
Tui trả lời rót rót là: “Quân thần cang, phụ tử cang, phu thê cang. Tam cang đạo trọng (mà) đạo vợ chồng anh trọng hơn.”
Ðúng là cái thằng sợ vợ mà! Chưa lấy, nó đã ‘đội’ lên đầu rồi. Nghe khoái quá, em ưng tui. Nên: ‘’Cưới em từ thuở mười ba/ Ðến năm mười tám anh đà năm con/ Ra đường anh hãy còn ngon! Về nhà anh đã năm con với nàng!”
Thưa rồi sau nầy lớn lên tui cũng sợ thiên hạ cười tui có vợ già, nên cũng tính vui duyên mới đó chớ! Em nghe phong phanh lòng tui toan bội phản, nên thủ thỉ rằng: ‘’Vợ chồng một ngày cũng nghĩa, một ngày tình cũng trăm năm… Huống gì anh đã có 5 con với em rồi. Anh chê em, không còn yêu em nữa. Không tình thì cũng còn nghĩa phải không?”
Nên: “Dang tay dưới gió thiếp kể công khó cho chàng nghe/ Từ hồi chàng đau ban cua lưỡi trắng. Cháo đậu xanh chàng còn chê đắng./ Cháo trắng chàng còn chê hôi. Tiếc công thiếp dỗ đứng bồng ngồi/ Bây giờ chàng ở bạc, Ông Trời nào để chàng yên!’’
Nghe em rủa nếu bỏ em thì bị Trời đánh nên tui rét… thề thốt lung tung.
Thưa sau qua Úc, thằng Johnny, bạn cùng sở, nói: ‘’Ngày nào cũng của Trời. Yêu con nào lấy con đó. Khùng sao mà mê tín dị đoan, cưới vợ còn đi xem bói. Ðem tiền cho mấy tay thầy bói nó ăn!”
“Ờ! Mầy hổng tin đi nha… thì quả báo nhãn tiền liền hà!”
Tháng rồi, Johnny đột nhiên ngã đập đầu xuống thềm cửa dù không nhậu xỉn hay phê xì ke, ma túy gì hết ráo. Tỉnh rồi mê, mê rồi lại tỉnh suốt tháng trời. Vợ nó túc trực bên giường mỗi ngày.
Khi tỉnh lại, Johnny ra dấu cho em đến gần giường, thều thào: “Em đã sát cánh cùng anh suốt những thời điểm đen tối trong đời, lúc anh xui xẻo nhứt. Khi anh bị mất việc, em vẫn ở bên anh! Khi thương vụ của anh bên bờ khánh tận, em vẫn ở bên anh! Khi anh bị bắn què giò, em cũng vẫn ở bên anh! Khi anh bị ngân hàng xiết nhà, em vẫn ở bên anh. Khi sức khỏe anh sa sút, thập tử nhứt sanh, em vẫn ở bên anh!
Cuối cùng tổng kết lại, anh ‘’ngộ’’ ra: cả đời anh xui xẻo, chắc có lẽ vì em luôn ở bên anh!”
Bây giờ Johnny ‘bái’ tui làm sư phụ. Có gì rắc rối với con vợ, nó đều khệ nệ vác một thùng bia đến tui nhờ gỡ rối tơ lòng.
Tui lên mặt lớn lối (Mình là Thầy mà!). Ông chồng nào cũng đều ao ước vợ mình: Ðẹp nè! Sâu sắc, có suy nghĩ nè! Tiết kiệm tiền bạc nè. Và nấu ăn ngon!
Nhưng hỡi ơi luật pháp ở đây chỉ cho phép mình có chỉ một con vợ mà thôi. Nên đừng bao giờ cầu toàn. Vợ chú dù chỉ có được một trong những đức tính đó thôi là coi như chú trúng số độc đắc rồi đó.
Bài học thứ hai là đừng bao giờ tranh cãi với vợ. Hổng ăn thua gì đâu. Vợ có chỉ một cái lưỡi và hai cái lỗ tai nhưng nó đã quyết định cho hai cái lỗ tai về hưu từ lúc về làm vợ mình rồi.
Biết vậy đừng thuyết phục tranh cãi làm gì chỉ uổng công. Theo kinh nghiệm của ‘qua’ thì hôn nhân nào cũng vậy! Năm đầu chồng nói vợ nghe. Năm thứ hai vợ nói chồng nghe. Năm thứ ba cả hai đều nói và hàng xóm nghe!
Người ta nói chồng chúa vợ tôi! Xin lỗi nó đã là cổ tích là ngày xửa ngày xưa rồi. Còn bây giờ, dù bạn đổi bao nhiêu công việc… cuối cùng bạn chỉ có một ‘bà chủ’ mà thôi, không chạy đâu cho khỏi cả!
Kết luận là có vợ và không có vợ! Không có vợ tốt hơn nhiều!
Tuy nhiên Johnny cũng còn cố cứu vãn cuộc hôn nhân của nó bên bờ vực thẳm bằng cách dắt vợ nó đi xuống Geelong, cách Melbourne khoảng một giờ xe, đến một giếng cầu may.
Vợ nó tựa vào thành giếng, thì thầm ước nguyện rồi bỏ xuống một đồng xu. Johnny cũng thầm ước nguyện nhưng vì cúi người hơi sâu để bỏ đồng xu xuống, nó ngã tòm xuống giếng.
Vợ nó mừng quá, kêu lên: “Hổng ngờ cái giếng nầy nó linh thiệt! Ước gì có nấy liền hà!”
Hồi xưa, tui đâu có biết ngày Quốc Tế Phụ nữ, ngày mùng Tám, tháng Ba bao giờ. Chỉ thấy lễ Hai Bà Trưng tức ngày Phụ nữ Việt Nam do bà Trần Lệ Xuân, phu nhân của Cố vấn Ngô Ðình Nhu chủ tọa mà thôi.
Cũng có diễn hành của Thanh nữ Cộng Hòa mà cô Ngô Ðình Lệ Thủy mặc sắc phục, đeo súng lục (oai ra phết) đi diễn binh thôi. Rồi cũng có xe hoa của các trường Nữ Trung học nổi tiếng ở Sài Gòn mình như Gia Long và Trưng Vương. Hai em nữ sinh đẹp nhứt được hân hạnh đóng vai Trưng Trắc và Trưng Nhị, mặc hoàng bào, đầu đội mấn, ngồi trên lưng con voi, có cái vòi đàng hoàng, làm bằng bông gòn, tay cầm gươm chỉ chỏ vô mặt bọn Thái thú Tô Ðịnh.
Ngoài ra còn có những cuộc thi nữ công gia chánh, thêu thùa may vá, làm bánh bông lan, nuôi con khỏe, dạy con ngoan. Nói chung là công dung ngôn hạnh để lớn lên tồng ngồng, em có chồng, về cai quản chồng mình và một đàn cu tí…
Nhưng ở Việt Nam, ngày mùng Tám, tháng Ba bây giờ, mấy chú em mình đầu bù tóc rối, làm quần quật kiếm tiền để tặng hoa, tặng quà cho vợ lớn… và vợ bé!
Còn chưa kịp có vợ bé, vợ lớn gì ráo thì tặng người yêu, quần áo, son phấn, lụa là linh tinh gì đó. Rồi dắt em đi ăn tiệm một ngày cho thiệt no… cành hông (364 ngày còn lại thì để em đói, ốm o gầy mòn cũng được).
E rằng mấy ông anh mình trong nước hổng hiểu ý nghĩa của ngày mùng Tám, tháng Ba là gì cả! Ngày Quốc tế Phụ nữ, chớ đâu phải là Valentine’s Day (Ngày Tình yêu) của đôi lứa đôi ta, hay Mother’s Day (ngày Từ Mẫu) mà tặng quà lung tung vậy mấy cha nội? Chị em tổng công kích phe ta mà mấy cha đi mua quà chi vậy? Bộ tính hối lộ để mấy em bớt giận hay sao chớ?
Ngày mùng Tám, tháng Ba rồi, mới vừa bảnh mắt dậy, đang ngồi nhâm nhi cà phê cà pháo và đọc báo thì thấy em cầm cái điện thoại lên ‘alô’ ai đó!
Nói chuyện chỉ nửa tiếng đồng hồ làm tui cũng hơi ngạc nhiên sao cuộc điện đàm nầy ngắn ngủn vậy cà? Té ra em gọi lộn số! Cuộc điện đàm kế đó theo thông lệ, chấm dứt sau hai tiếng đồng hồ!
“Em mới nói chuyện với chị Tư Bự nè! Bữa nay anh nghỉ làm ở nhà, ngày mùng Tám, tháng Ba, ‘bổn phận sự’ anh là: nấu cơm, canh, kho thịt, rửa chén, giặt đồ, thay tã, cho con bú bình để em cùng chị Tư Bự đi biểu tình… đòi quyền sống!”
Hai cái lỗ tai tui giờ lãng ngãng sao đó? Tui lại nghe em đi biểu tình đòi quyền ‘sướng’ mới chết chớ!
Trưa, em bò về, mặt mày đỏ gay có vẻ rất phấn khích. Ngày phụ nữ vùng lên không phấn khích làm sao được? Tui lui cui dọn chén, dọn đồ ăn do chính tay tui nấu dâng lên!
“Em ăn có ngon không hả?” Em cười khẩy mà rằng: “Ngon lắm!”
“Em thích món nào nói? Ðể năm sau, tới ngày mùng Tám, tháng Ba, em mắc bận đi la, anh ‘bổn phận sự’ ở nhà, nếu em dám ăn là anh lại dám nấu cho em ăn hè!”
“Em thích món kia kìa! Nhưng thú thiệt, em không biết nên gọi nó là cháo hay là miến?”
Cơm xong, ra nhà sau, thấy một đống quần áo dơ, ế kinh luôn, tui bèn tẩn mẩn lựa đồ của em ra, để qua một bên. Tui dồn đống đồ của mình vô cho vừa một cối giặt.
“Hôm nay mùng Tám tháng Ba. Tui giặt dùm bà quần áo của tui!”
***
Rồi đến hẹn lại lên, năm nay, 2017, chị em người Mỹ chúng ta lại biểu tình, tổng đình công, la làng chói lói, gọi là: “A Day Without a Woman” (Ngày không có một người phụ nữ) tại thủ đô Washington D.C. để: Một ngày phụ nữ không đi làm, không mua sắm (cái thú đam mê khó từ nan nhưng mấy em sẽ ráng… nhịn), gây thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ đang èo uột, xỉu xỉu chỉ có 21 tỉ đô thôi.
Ðây là một cú tuyệt chiêu, quánh vào cái hầu bao, quánh vào túi tiền của mấy ông chủ, để đưa ra yêu sách: bình đẳng về giới tính ở nơi làm việc.
Trong sở, tay nào ‘dê’ mà mấy em không chịu là phải ‘sì tốp’ liền lập tức, nếu cứ tiếp tục, sách nhiễu tình dục là không có đặng. Mấy em nhứt định sẽ không câm lặng mà đi thưa ra tới ba Tòa quan lớn để đòi bồi thường tới cả triệu đô la nữa đó. (Còn mấy em ‘dê’ mình thì ‘welcome’! Ðàn ông đâu có đứa nào giả bộ ‘chảnh’ mà đi thưa. Hãnh diện vì được em dê còn không hết nữa là!)
Nói nào ngay quyền phụ nữ là nhân quyền mà! Mấy em đòi ở sở, làm việc như nhau; lương như nhau; thăng thưởng, đề bạt, lên chức cũng như nhau. Không phân biệt đàn ông hay đàn bà gì sất.
Sanh em bé, mấy em được nghỉ hộ sản có lương, phải cho ông chồng nghỉ (đẻ) để phụ chăm sóc con còn sơ sinh chớ một mình em làm không có nổi. Em đi sanh em bé mình được nghỉ ở nhà… nhậu. Quá đã nhe!
Mấy tay chủ hãng tư bản coi bộ hao, ngần ngừ chưa muốn chịu nhượng bộ thì mấy em lại tiếp tục biểu tình.
***
Ðòi hỏi quyền lợi chánh đáng cho quý chị em ta trong sở làm thì tui hoàn toàn ‘ẳm hộ’, vì nó đâu có văng miểng tới tui nhưng trong gia đình của đôi ta mà em yêu cứ miệt mài tranh đấu thì chắc tui sẽ bị trâu đánh vì không biết tránh đâu…
Ngày Phụ nữ quốc tế là ngày quý chị em ra lịnh chồng mình hãy đối xử với chị em chúng ta với lòng ‘kinh sắc kính’.
Ối cái chuyện ‘kinh sắc kính’ nầy, tui làm từ lâu rồi nhe, từ hồi tui cưới vợ lận mà! Tui còn hơn là ‘kinh sắc kính’ nữa, nói chính xác là ‘kinh sợ’.
Vì lọt vào tay em rồi: Em muốn mình đi là mình đi, muốn mình đứng là mình phải đứng. Muốn mình cười, là mình phải cười. Muốn mình khóc, là mình phải khóc.
Trong gia đình, em muốn chồng mình chia sẻ chuyện bếp núc, giặt đồ, rửa chén chớ không có vụ vợ lui cui dưới bếp mà chồng nằm ngửa trên cái ‘sofa’, tay cầm lon bia, vừa xem bóng đá, la ‘dzô, dzô’! Hãy để cho ngày ấy lụi tàn đi mới được!
Cuộc tranh đấu quyết liệt của quý chị em ta xảy ra ròng rã trên một trăm năm đã đơm hoa kết quả: Ở Mỹ, phụ nữ trong xã hội đứng hàng ‘dzách lầu’, là ‘number one’, là số một, (phụ nữ, con nít, chó rồi mới tới quý ông anh mình!).
Tui đã bao phen lòng hỏi lòng mình rằng: Quý em đang đội vòng nguyệt quế, ngồi trên đầu trên cổ quý anh rồi thì cần cái cái quái gì ngày mùng Tám, tháng Ba nữa chớ?!
Tui vẫn thường trộm nghĩ: ông Trời sanh ra đàn ông phụ nữ khác nhau về thể chất cũng như về tâm thần. Chuyện chồng cày, bừa (nặng) thì chồng làm! Còn chuyện nhổ mạ, cấy (nhẹ, chỉ hơi chịu khó chổng mông lên trời thôi), thì vợ làm!
Yêu nhau chín bỏ làm ‘bù’, thì so đo, nhỏ mọn làm gì chớ? Hạnh phúc là cho chớ không phải là nhận. Tui cho và em nhận!
Ai giỏi gì thì làm cái đó. Em giỏi bếp núc, thì bếp núc. Tui giỏi nhậu, thì nhậu. Thế thôi. Càm ràm chi cho nó nhức đầu, sổ mũi.
Ðặt chân tới nước Úc nầy đây, bị mấy con Úc tẩy não nên em yêu của tui đã bỏ quên câu ca dao ngày cũ (rất lọt lỗ tai tui) ở lại chốn quê nhà: “Ðem chiên con cá cho vàng! Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi!”
Nên khi thằng Cu, con tui, ngỏ ý: “Tía à! Con muốn vợ!”, thì tui dạy nó rằng: “Cu à! Nếu Cu không muốn giặt đồ rửa chén, thay tã cho con hay đẩy thùng rác ra lộ, dù trời mưa hay bão tuyết đêm thứ Năm, cho xe rác đến đổ vào rạng sáng thứ Sáu thì đừng có lập gia đình, cưới vợ đẻ con mà chi!”
Cu cưới vợ rồi là Cu thua chắc 72 phần dầu! Nó nắm được ‘Cu’ rồi, nó có cái bửu bối, tên cấm vận, rất là lợi hại!
Bởi có thơ rằng: “Hôm nay mùng Tám, tháng Ba/ Mấy em chộn rộn đi ra, đi vào/ Thiệt là ngứa mắt chúng ta/ Nhưng thôi cứ để mấy em ra, vào/ Không thì ‘cửa sắt’ em rào/ Ðố ‘Cu’ kiếm được lối vào, lối ra!”
Bằng ‘Cu’ cứ ngoan cố kiếm chỗ vào ra nơi khác, thì cuối cùng ‘Cu’ sẽ ra đi với cái mình không. Còn cái nhà, cái xe của ‘Cu’, cày sâu cuốc bẫm mới có được, sẽ mãi mãi ở lại cùng ‘Bu’ nó!
Khi nền kinh tế Iraq suy thoái, Tổng thống Saddam Hussein đổ lỗi cho Kuwait. Iraq tiến hành xâm lược Kuwait ngày 2 tháng Tám năm 1990, và bắt giữ các con tin phương Tây. Liên Hợp Quốc lên án hành động này, yêu cầu Iraq rút quân, áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Iraq và tiến hành cấm vận nước này. Tuy nhiên, dường như mục tiêu xâm lược tiếp theo của Hussein là Ả Rập Xê-út.
Ngày 7 tháng Tám, Chiến dịch Lá chắn sa mạc bắt đầu. Tàu sân bay và tàu chiến Mỹ tiến vào vùng vịnh Péc-xích. Quân đội được gửi tới Ả Rập Xê-út. Liên Hợp Quốc ra tối hậu thư yêu cầu Iraq rút khỏi Kuwait trước ngày 15 tháng Một năm 1991, nếu không sẽ sử dụng bạo lực để buộc họ rút quân. Mỹ thành lập một liên minh gồm 34 nước với sự hậu thuẫn về tài chính của Đức và Nhật.
Trung đội của tôi chuẩn bị trang thiết bị sẵn sàng triển khai tới Machrihanish, Scotland. Khi biết Lá chắn sa mạc sắp trở thành Bão táp sa mạc, chúng tôi bay tới Sigonella, Sicily. Trạm đường không Hải quân của chúng tôi đặt ở căn cứ của NATO, có vai trò là một trục dẫn ra Địa Trung Hải. Ở đó, chúng tôi đợi tàu đến.
Trong khi chờ đợi, tôi thường đi ăn ở một cửa hàng gần căn cứ. Món mì ống cuốn thịt của họ đặc biệt thơm ngon. Một buổi tối, tôi hỏi cô phục vụ cách chế biến món đó. Cô ấy quay vào trong bếp hỏi, sau đó đi ra và hướng dẫn cho tôi. Sau khi ăn ở đó thêm vài lần nữa và lần nào cũng hỏi cách nấu món này, cô nói: “Anh và bếp trưởng nói chuyện nhé.” Cô đưa tôi vào bếp. Tôi nhận ra rằng một gia đình đang điều hành nơi này. Bếp trưởng và tôi uống Chianti (rượu vang đỏ vùng Tuscany) trong khi ông chỉ cho tôi cách chuẩn bị thực phẩm và sau một vài lần viếng thăm, ông dạy tôi cách nấu món Sicilian với thịt viên, xúc xích, mì ống nướng và mì ống cuốn thịt tại gia. Ông có vẻ vui khi tôi thích giúp ông nấu nướng. Phần việc quan trọng nhất trong việc chế biến các món Italia là chế nước sốt, thứ nước chấm có thể phải mất vài ngày mới xong. Trước tiên phải băm nhỏ ớt, hành, tỏi, cà chua và nấm. Sau đó xào chúng lên. Dùng sốt cà chua để nấu một vài loại rau thơm cho sôi lên, sau đó giảm nhiệt và cho thêm rau. Thêm rượu vang. Việc này có thể mất cả ngày. Làm thịt viên và xúc xích trong khi món nước sốt đang được đun liu riu. Sau đó cho thêm thịt vào nước sốt. Nửa đêm phải thức dậy để cho nước sốt vào tủ lạnh. Hôm sau, bao giờ ăn thì lấy ra khỏi tủ lạnh. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn nấu món Sicilian. Vợ chồng tôi thường mời bạn bè và hàng xóm đến thưởng thức món này và hồi tưởng lại không khí mà tôi rất thích khi ở Sicily. Thỉnh thoảng khi tôi dắt chó đi dạo ở ngoài đường, một người hàng xóm lại hỏi tôi: “Howard này, khi nào anh sẽ lại nấu cái món Italia đó vậy?”.
Một buổi tối vài tuần sau đó, tôi từ quán ăn trở về và dừng lại đài không lưu để xem vài chương trình ti vi. Trên CNN, họ chiếu hình ảnh những phát súng đầu tiên của chiến dịch Bão táp sa mạc. Tôi chạy ào tới Kho xử lý chất nổ, nơi trung đội của tôi đang ngủ trong các túi ngủ và đánh thức họ dậy: “Này, cuộc chiến bắt đầu rồi.” Mọi người bật dậy, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng rồi chúng tôi nhận ra một điều, Tất cả chúng ta đang háo hức cái quái gì nhỉ? Còn chưa có ai nói chúng ta phải làm gì mà. Thế là tôi túm lấy một cái túi ngủ và chui tọt vào trong. Sáng hôm sau, chúng tôi nhận được thông báo rằng chúng tôi sẽ đến tàu sân bay John F. Kennedy, nơi tôi đã trải qua kỳ huấn luyện Tìm kiếm và Cứu nạn. Khi con tàu từ biển Địa Trung Hải tới, chúng tôi chuyển trang thiết bị lên tàu: các thùng đạn chống tăng nhẹ bắn phát một 84mm (AT-4), mìn định hướng, đạn dược… nhiều đến mức tưởng như không bao giờ có thể chất hết lên tàu được. Vì không biết mình được giao nhiệm vụ cụ thể nào, chúng tôi đem theo đủ mọi thứ.
Tàu John F. Kennedy dài 320m và cao 60m tính từ mớn nước đến đỉnh cột buồm. Nó có thể chở theo
5.000 nhân viên và chạy với tốc độ 34 hải lý một giờ. Ngoài hơn 80 máy bay, con tàu còn được trang bị hai hệ thống phóng tên lửa có điều khiển Mark-29 dùng tên lửa Sea Sparrow, hai hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx để phá hủy tên lửa tấn công của đối phương và hai thiết bị phóng tên lửa Rolling Airframe Missile dùng để phóng đi các tên lửa đất đối không điều khiển bằng tia hồng ngoại.
Tôi gặp lại nhiều bạn cũ của mình ở trên tàu. Thậm chí có cả các phi công nữa. John F. Kennedy đi qua kênh đào Suez tới Biển Đỏ, hướng ra vịnh Péc-xích. Hầu hết mọi tàu đều không bố trí khu vực riêng cho đội SEAL. Chúng tôi ngủ và nhóm họp ở bất cứ chỗ trống nào mà chúng tôi có thể tìm thấy. May là chúng tôi có quan hệ rất tốt với nhân viên của tàu. Bất cứ khi nào họ nhìn thấy chúng tôi mặc đồng phục ngụy trang và đeo phù hiệu SEAL đi qua hành lang, họ đều nói: “Tránh đường nào, SEAL đang đi qua đấy.” Chúng tôi cảm thấy mình như là những người nổi tiếng vậy. Chúng tôi cũng cố gắng tôn trọng họ.
Ban đầu không có ai đến chỗ chúng tôi ở trong phòng ăn. Một vài lần sau, mọi người bắt đầu đến ngồi cạnh. Họ hỏi chuyện về BUD/S và những việc khác. Trong ngôi nhà nổi chứa máy bay khổng lồ này, chúng tôi rèn luyện thể lực vào mỗi buổi sáng. Một số nhân viên của tàu cũng đến và tham gia cùng chúng tôi.
Chúng tôi không theo trường phái Dick Marcinko kiêu ngạo và xa lánh mọi người. Marcinko là người thành lập Đội SEAL Số 6, từng ngồi tù vì tội lừa đảo chính phủ, từng viết cuốn tự truyện Rogue Warrior (tạm dịch: Chiến binh ma cà bông) và sản xuất một trò chơi video. Mặc dù tôi kính trọng ông vì đã thành lập ra Đội 6, nhưng Marcinko khiến chúng tôi coi thường vì ông không tôn trọng những người không phải là thành viên SEAL và những người SEAL không cùng nhóm với ông. Một lần đi máy bay, tôi thấy một viên phi công ngạc nhiên trước thái độ của chúng tôi khi so sánh với thái độ ồn ào, khó chịu, hợm hĩnh của những người lính SEAL của Marcinko. Tồi tệ hơn, Marcinko lừa rút tiền của chính phủ, đặt Đội 6 dưới đám mây u ám của sự nghi ngờ. Ông bị ngồi tù vì đồng lõa âm mưu với một nhà thầu dân sự tính giá cao các loại chất nổ cho chính phủ và bỏ túi số tiền đó. Trong nhiều năm sau đó, chúng tôi phải tìm cách thoát khỏi tai tiếng này. Đặc biệt là ở Đội SEAL Số 6, các chỉ huy kế nhiệm đã làm việc cật lực để xóa sạch những vết nhơ mà Marcinko để lại.
Trên con tàu John F. Kennedy, chúng tôi là khách ở nhà người khác. Họ là những người có trách nhiệm, chăm lo cho con tàu có thể làm cho chuyến đi của chúng tôi trở nên thú vị hay tồi tệ nếu họ muốn. Nếu con tàu bị rò rỉ, chúng tôi phải nhớ vào nhân viên của tàu để bít lỗ rò đó lại. Chúng tôi cư xử với thủy thủ đoàn rất tốt và họ coi chúng tôi như những thành viên của hoàng tộc vậy.
Tôi không có ý rằng chúng tôi phải nịnh bợ nhau, nhưng tất cả chúng tôi ở cùng một đội. Những người lính không thuộc lực lượng SEAL cũng cùng tuyên thệ lời thề Hải quân rằng “bảo vệ Hiến pháp của nước Mỹ trước tất cả mọi kẻ thù, trong và ngoài nước.” Đối xử với những người đồng ngũ như rác rưởi sẽ phải trả giá vì họ có thể quay lại tấn công mình. Nếu gặp Marcinko trên phố, tôi sẽ tỏ lòng kính trọng vì ông đã thành lập Đội SEAL số 6, nhưng nếu ông thể hiện rằng mọi việc tốt đẹp hơn khi ông còn là sĩ quan chỉ huy thì tôi sẽ nói với ông: “Ông hãy về chơi trò chơi video của mình và tiếp tục ảo tưởng đi.”
Trong suốt hơn một tuần, các phi công từ tàu chúng tôi cất cánh với máy bay chở đầy bom, bỏ lại chúng tôi ngồi xem bom của họ nổ trên CNN. Sau đó chúng tôi đứng lép một bên khi họ trở về với máy bay trống rỗng. Chúng tôi đã tập luyện và tập luyện cho thời khắc này. Đặc biệt là trong đợt tác chiến mùa đông, chúng tôi trượt tuyết hướng đến mục tiêu và dựng đèn hiệu để phi công trên máy bay quan sát được vị trí của chúng tôi. Sau đó chúng tôi sẽ “quét sơn” cho mục tiêu bằng tia laze để những trái bom tìm được điểm đến. Chúng tôi đang mất cơ hội đây. Đeo cặp kính phi công Ray-Ban, tôi đứng trên boong tàu cảm nhận luồng gió nhẹ thoảng qua và hướng mắt về phía đại dương tĩnh lặng, lung linh, nhìn về phía Iraq. Tôi nhìn thấy tàu USS San Jacinto (CG-56), một chiếc tàu tuần dương được trang bị tên lửa Tomahawk. Tàu USS America (CV-66) và tàu USS Philippine Sea (CG-58) cũng trong nhóm chiến đấu của chúng tôi. Tôi được trang bị đầy đủ mà không biết để làm gì cả. Các thành viên thuộc trung đội tôi không phải là những người duy nhất như vậy. Mặc dù Tướng Norman Schawarzkopf đã sử dụng lực lượng đặc nhiệm Anh, Quân chủng Không quân Đặc biệt (SAS), nhưng vào lúc bắt đầu cuộc chiến, ông không sử dụng lực lượng đặc nhiệm của Mỹ. Rõ ràng là ông thiên vị các lực lượng thông thường của Mỹ hơn là các lực lượng đặc biệt như SEAL hay Delta. Thật tệ quá!
Một chuyện bên lề khác, mặc dù SEAL đã luyện tập cẩn thận cách bảo vệ các giếng dầu ở Kuwait, Schwarzkopf vẫn không dùng chúng tôi. Sau đó, khi các lực lượng quân sự liên minh đánh đuổi quân đội Iraq khỏi Kuwait, quân đội của Saddam thực hiện chính sách tiêu thổ, phá hủy tất cả những gì có thể, trong đó có cả việc đốt hơn 600 giếng dầu của Kuwait. Kuwait mất chừng 5 đến 6 triệu thùng dầu mỗi ngày. Phần dầu chưa cháy hết tạo thành hàng trăm hồ dầu, làm ô nhiễm hàng ngàn hecta đất. Cát trộn lẫn với dầu tạo thành lớp “tarcrete” bao phủ 5% diện tích của Kuwait. Chỉ riêng việc dập tắt những ngọn lửa Kuwait cũng tiêu tốn đến 1,5 tỷ đô-la. Chúng cháy âm ỉ suốt hơn 8 tháng, làm ô nhiễm mặt đất và không khí. Nhiều người dân Kuwait và quân Liên minh mắc các chứng bệnh về đường hô hấp. Những cuộn khói đen dày đặc bao phủ vịnh Péc-xích và các khu vực lân cận. Gió thổi khói về phía đông bán đảo Ả Rập. Trong nhiều ngày, bầu trời đầy khói và những trận mưa đen trút xuống các nước láng giềng. Cho đến nay người ta vẫn còn chứng kiến những tổn thất về môi trường và con người do các đám cháy gây ra. Nếu không phải là do Schwarzkopf đã đánh giá thấp khả năng người Iraq phóng hỏa các giếng dầu, Đội chúng tôi tin rằng mình đã có thể tiêu diệt những tên xấu xa đó trước khi chúng tiếp cận được 600 giếng dầu, làm giảm mức thiệt hại mà chúng gây ra. Một hôm, vào khoảng nửa đêm, chúng tôi được đánh thức tập trung tại một trong những phòng chờ bên một cánh của chiếc máy bay phản lực. Tình báo cho biết một chiếc tàu hàng cải trang cắm cờ Hy Lạp đang đặt mìn ở Biển Đỏ. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải đánh chiếm con tàu đó. Đội SEAL số 6 đã thực hiện kiểu nhiệm vụ này với trực thăng Black Hawk và các thiết bị tiên tiến nhất. Đội SEAL số 2 chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ với những chú ong Sea King SH-3 và tài xoay xở của mình.
Chúng tôi bắt đầu lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ. Cần bao nhiêu trực thăng? Ai lên máy bay? Ai ngồi ở đâu? Chiếc trực thăng nào sẽ bay tới chiếc tàu đó trước tiên? Chiếc nào thứ hai? Chúng tôi bố trí vị trí bắn tỉa như thế nào? Kế hoạch rút lui và lẩn trốn nếu chúng tôi phải thoát ra? Trong khi chúng tôi tiếp tục tiếp nhận thông tin mới, chiếc tàu sân bay đưa chúng tôi gần tới vị trí tấn công hơn. Tiếng còi tàu vang lên − đã đến giờ ăn trưa. Chúng tôi ăn như thể không biết đến khi nào mời lại có cơ hội ăn nữa. Sau đó chúng tôi đi đến trung tâm thông tin để cập nhật tình hình và tìm hiểu chi tiết của con tàu chở hàng mà chúng tôi sẽ đánh chiếm. Có bao nhiêu tầng? Bao nhiêu phòng? Bao nhiêu thủy thủ? Lượng thông tin cần thiết để lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ là rất lớn.
Khi ở trên không, tôi chuẩn bị các thang cuốn thoát hiểm xách tay để leo trở lại trực thăng khi cần, chuẩn bị cuộn dây thừng bền chắc và các thiết bị khác liên quan đến hoạt động trên không. Tôi thắt một dây nylon dài 30m vào một cái chốt hình chữ U trên một thanh chắn cài vào trần bên trong của máy bay SH-3 − một chiếc trực thăng tác chiến chống ngầm hai động cơ. Do vốn không được thiết kế để thực hiện loại nhiệm vụ này, sau này nó được thay thế bằng Sea Hawk SH-60 − phiên bản hàng hải của Black Hawk. Đội SEAL số 6 có Black Hawk, nhưng chúng tôi, đội SEAL nước sâu, phải thực hiện nhiệm vụ với bất kể thứ gì có được. Tôi đặt một đoạn dây thừng ra gần cửa chiếc trực thăng.
Chúng tôi phân công nhiệm vụ. Là người đảm nhiệm vai trò dẫn đầu đội quản lý tù nhân, tôi phải mang thêm mười chiếc còng tay nhựa trong ba lô ngoài hai chiếc ban đầu theo quy định và xác định địa điểm giữ tù nhân khi chúng tôi đánh chiếm con tàu. Chúng tôi chuẩn bị trang thiết bị và mặc trang phục đen BDU. Chúng tôi đi giày chiến adidas GSG9 đế mềm và đế bám chắc như giày tennis vậy. Ngay cả khi bị ướt, bạn cũng có thể xỏ giày vào. Cho đến giờ đó vẫn là loại giày ưa thích của tôi. Chúng tôi bịt mũ đen kín đầu và ngụy trang phần người bị lộ. Còn với đôi tay, chúng tôi sửa những đôi găng tay hàng không màu xanh của mình bằng cách nhuộm đen rồi cắt đi hai trong số các ngón của chiếc găng tay bên phải: ngón bóp cò cắt đến đốt thứ hai và ngón cái cắt đến đốt thứ nhất. Cắt đi những ngón này sẽ dễ dàng hơn khi bóp cò, thay băng đạn, kéo chốt lựu đạn hơi cay… Những chiếc đồng hồ đeo tay giúp chúng tôi theo dõi thời gian. Ở dây thắt lưng chỗ eo gắn một chiếc mặt nạ phòng độc. Trong chiến dịch Bão táp sa mạc, mọi người đều chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với hơi độc và vũ khí sinh học; thông tin cho biết Hussein vẫn sở hữu vũ khí hoá học và sẽ không ngần ngại sử dụng chúng. Tôi cũng mang theo 2 hoặc 3 quả lựu đạn hơi cay.
Tôi mang theo súng tiểu liên Heckler và Koch MP-5 cùng với một khẩu SIG SAUER 9mm bên hông phải. Tôi để một băng đạn 30 viên trong khẩu MP-5. Một số người muốn mang hai băng, nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì có hai băng đạn sẽ làm hạn chế khả năng cơ động và khó khăn hơn khi thay băng đạn mới. Tôi đem theo 3 băng đạn bên đùi trái và 3 băng nữa trong ba lô. Chúng tôi thử vũ khí ở khu vực phía sau đuôi tàu. Mặc dù trung đội chúng tôi có 16 người nhưng vẫn sẽ để lại lính bắn tỉa trên hai chiếc trực thăng lượn vòng bên trên. Như vậy chỉ có 14 người chúng tôi đánh chiếm toàn bộ con tàu − hai chiếc trực thăng với 7 lính tấn công ở mỗi chiếc. Máy bay của tôi sẽ là chiếc dẫn đầu.
Các thành viên trong đội bay trên chiếc trực thăng đó là những gương mặt quen thuộc – tôi đã làm việc cùng với đội SH-7, trong những ngày đầu tiên khi tôi là một lính bơi SAR. Là người phụ trách những sợi dây, tôi ngồi bên trong cửa chiếc trực thăng, ở giữa những cuộn dây, đặt tay trái lên phần dây dẫn đến đỉnh cần trục và thò ra ngoài chiếc trực thăng. Khi ở trên không, tôi cảm thấy gió ở bên ngoài đang giằng kéo sợi dây ra khỏi tay tôi. Tôi nhắm mắt lại và nghỉ ngơi một chút. “15 phút”, giọng một thành viên phi hành đoàn vẳng đến tai nghe của tôi, truyền đi thông tin từ viên phi công.
Tôi mở mắt và chuyển thông điệp đó cho các thành viên trong Đội. “15 phút!” và tôi lại nhắm mắt lại. “10 phút.” Tôi đã quen với quy trình này. “5 phút.”
Đã đến gần rồi đấy. “3 phút.” Chúng tôi chầm chậm tiếp cận con tàu từ phía sau, từ 100 rồi 50 hải lý. “1 phút.” Chếch mũi chiếc trực thăng lên một góc, viên phi công kéo phanh. Khi chúng tôi bay là là lượn qua con tàu, ánh sáng còn lại của ngày đủ để tôi quan sát boong tàu. Chúng tôi vào vị trí. Tôi đá chiếc dây dài 30m ra ngoài cửa và hô: “Dây!” Chiếc dây chạm vào phần đuôi tàu – một khoảng trống không đủ lớn để trực thăng hạ cánh. “Đi!” Đeo đôi găng tay có những miếng đệm len dày dặn, tôi túm lấy chiếc dây thừng và tụt xuống như trượt trên một cây cột của lính cứu hỏa. Với hơn 50 kg quân tư trang trên lưng, tôi phải nắm thật chắc để không bị rơi bộp xuống boong tàu. Dĩ nhiên, với 6 người sau tôi đang đợi trong chiếc trực thăng, một mục tiêu lớn đang bay, tôi không muốn xuống quá chậm. Đôi găng tay của tôi quả thực đã “bốc khói” trong khi tôi tụt xuống. Thật may là tôi đã tiếp đất an toàn.
Nhưng không may là viên phi công không giữ yên được máy bay ở vị trí phía trên con tàu khi biển động dữ dội, bóng tối ập xuống và gió rít từng cơn. Khó khăn hơn nữa là vì những viên phi công thường không quen với việc bay lượn trên một mục tiêu trong khi một người nặng 100 kg với 50 kg quân trang của anh ta đang leo dây ra ngoài. Thế là chiếc trực thăng đột ngột bay lên cao. Viên phi công phải sửa sai bằng cách hạ thấp trực thăng cho từng người một tụt dây xuống. Mặc dù trước đó chúng tôi đã luyện tập với các phi công nhưng đó vẫn là một thao tác khó khăn. Nếu phi công không điều chỉnh được thì người đầu tiên sẽ tụt khỏi dây với khoảng 1m dây trên boong tàu, người thứ hai sẽ chỉ còn 1m và sợi dây của người thứ ba sẽ ở ngoài boong tàu. Rồi cũng chẳng mất nhiều thời gian để một anh chàng tội nghiệp rơi tự do không có chỗ bám từ độ cao 3m xuống sàn tàu chẳng lấy gì làm êm ái. Ngay cả đối với các viên phi công Black Hawk giàu kinh nghiệm hơn, đó vẫn là một thao tác khó khăn. Chiếc trực thăng lao đi. Chết tiệt. Tôi ở đó, giữa cuộc chiến, giữa Biển Đỏ, một mình trên con tàu địch xa lạ. Tôi cảm thấy trơ trọi. Nếu tình hình thật sự tồi tệ, tôi có thể chiến đấu theo cách của mình để vượt qua. Nếu tình hình thật sự, thật sự tồi tệ thì Mẹ Đại dương ngay ở đó. Nhảy xuống, sải nhịp bơi và lướt đi. Chiếc trực thăng phải bay vòng, xác lập lại tầm quan sát, tìm cách tiếp cận mục tiêu lần nữa và bay lơ lửng phía trên con tàu. Có lẽ việc đó chỉ mất hai phút thôi nhưng tôi cảm giác
cứ như là đã hai giờ trôi qua vậy.
Tôi đưa họng súng MP-5 quét xung quanh trong khi trung đội của tôi nhanh chóng tụt dây xuống. Khi tất cả đã cùng có mặt, chúng tôi vào đội hình chiến đấu. Đội trưởng Mark của chúng tôi, và thông tín viên DJ, dẫn một nhóm đi đến buồng lái để chế ngự và kiểm soát con tàu. Hai tay súng khác đi đến khu vực phía sau buồng lái để làm chết máy tàu – giữ cho nó bập bềnh trong làn nước. Đội của tôi đến cabin để bắt giữ thủy thủ đoàn.
Bên trong con tàu, chúng tôi tới cabin đầu tiên. Bạn cần mềm trước cứng sau. Giữ im lặng càng lâu càng tốt. Nếu nghe tiếng súng nổ hoặc tiếng một quả lựu đạn hơi cay, tôi sẽ phải hành động. A, khỉ thật. Bắt đầu nào. Và từ đó tôi sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Tung chân đá vào các cánh cửa và ném lựu đạn choáng vào các phòng. Kiểm soát mọi người. Sử dụng bạo lực thật nhanh và mạnh. Chúng tôi sẽ cố gắng để mức độ bạo lực phù hợp với tình huống. Không hơn, không kém.
Tôi mở cửa và bốn người chúng tôi bước vào trong thật lẹ khi hai người khác ở lại hành lang yểm trợ phía sau. Tốc độ là yếu tố quan trọng khi di chuyển cùng nhau. Hai chúng tôi đánh chiếm bên trái còn hai người kia đánh chiếm bên phải. Hai thủy thủ ở bên trong bị vô hiệu hoá. Chúng tôi đã chiếm được chỗ này. Họ không nói được tiếng Anh nhưng chúng tôi biết một ít tiếng Ả Rập: Xuống.Họ muốn nói đến vị trí.
Tôi và một đồng đội đứng nép vào tường để yểm trợ trong khi hai đồng đội khác thông báo: “Đi được không?” “Đi,” tôi trả lời, kiểm soát toàn bộ căn phòng.
Họ tóm được hai thủy thủ trên boong tàu. Tôi hét to, yêu cầu cho biết liệu phòng lớn bên ngoài có an toàn cho chúng tôi đi ra không: “Ra được không?”
“Ra đi,” một giọng đáp lại từ căn phòng.
Chúng tôi đưa các tù nhân qua hành lang và sang phòng bên cạnh. Đa số mỗi phòng có hai thủy thủ.
Một số phòng không có ai. Chúng tôi bước vào một phòng và bắt giữ các thủy thủ. Tôi hỏi: “Ra ngoài được không?” “Không,” hai tay súng trong hội trường trả lời. Bốn người chúng tôi ở lại với hai tù nhân và chờ đợi. Tôi nghe thấy tiếng tranh cãi trong hội trường. “Wasdin,” một người trong hội trường gọi.
Tôi men theo hành lang và thấy một thủy thủ đang đứng ở lối rẽ phía cuối căn phòng. Trong tay anh ta
là một bình cứu hỏa. Một lính bắn tỉa của chúng tôi định tóm lấy vì anh ta không phục tùng. “Chuyện gì vậy?” − tôi hỏi. “Gã này không nghe lời,” – Anh lính bắn tỉa nói.
Có thể anh ta nghĩ là chúng tôi đang phá hoại con tàu. “Bỏ xuống đi,” – tôi nói bằng tiếng Arập.
Viên thủy thủ đáp bằng tiếng Arập: “Không.” Tôi nhìn vào mắt anh ta. Dường như anh ta bối rối, có vẻ không phải anh ta tỏ ra thù địch chỉ vì muốn thù địch. Cho rằng việc này đơn giản là sự hiểu lầm, tôi hạ thấp khẩu tiểu liên MP-5 một chút. Anh ta ném thẳng chiếc bình cứu hỏa vào tôi. Chết tiệt.
Tôi né người sang một bên vừa khi chiếc bình cứu hỏa sượt qua đầu tôi. Ngày đó chúng tôi không đội mũ sắt. Nếu tôi không né được thì chiếc bình cứu hỏa đó đã lao thẳng vào mặt tôi rồi.
A, gã này suýt nữa thì đã giết chết tôi bằng một cái bình cứu hỏa. Lúc đó trông sẽ thế nào nhỉ? Tôi đã cố tử tế nhưng đổi lại thì bị đáp trả bằng cái bình cứu hỏa ấy. Tôi vô cùng tức giận. Tôi túm lấy gã và dí nòng súng MP-5 vào dưới tai phải, đẩy gã lùi lại rồi sút vào mông gã một cú cho bõ tức.
Người bạn của “Ngài Bình cứu hỏa”, một gã nhỏ bé gầy gò, giơ tay lên như định đánh tôi.
Một đồng đội của tôi định túm lấy hắn. “Không, tớ làm được.” Tôi dùng tay trái giáng cho người bạn của Bình Cứu hỏa một cú đấm ngay dưới mũi làm hắn lùi lại. Lực của cú đập đó đủ làm cho hắn phải đi nẹp lại răng. Gã nhanh chóng trở nên phục tùng, không dám ngo nghoe thêm gì nữa.
Ngay sau đó, Bình Cứu hỏa nhận được một cú đánh trời giáng: tôi vặn cánh tay gã ra sau gáy, túm tóc, khóa tay và nhấc lên cho đến khi cánh tay của gã suýt tuột khỏi khuỷu rồi đá đít gã xuống hành lang. Đồng đội của chúng tôi đưa gã và những tù nhân khác tới nơi giam giữ.
Máu chảy nhỏ giọt từ đầu xuống tai tôi. Bây giờ tôi mới ngấm mệt. Tôi đã cố gắng tử tế và mọi thứ diễn ra như vậy đó. Ngẫm lại, Bình Cứu hỏa lẽ ra phải nhận được hai cú vào người và một cú vào đầu. Xem ra tên đáng ghét này vẫn còn chút may mắn. Chúng tôi thấy nhiều người trên mạn tàu – khu vực rộng gấp hai lần phòng ăn và sự xuất hiện của chúng tôi làm gián đoạn tuần trà Thổ Nhĩ Kỳ và điếu thuốc của họ.
Chúng tôi rà soát con tàu gần như từng centimet, từ đỉnh tới đáy, từ đuôi đến mũi. Đội SEAL số 6 thường dùng 30 lính chiến để đánh chiếm một con tàu tương tự. Vì chúng tôi có ít người hơn và không
được chuyên môn hoá như Đội 6, chúng tôi phải mất đến 2 giờ. Nhóm của tôi ở lại mũi tàu trong bóng tối cùng với các tù nhân. Từ buồng lái, Mark truyền lệnh cho trung đội chúng tôi. Cậu DJ phụ trách thông tin ở cạnh ông. Không ai bị thương ngoại trừ cái tên ngu ngốc là tôi. Bây giờ con tàu thuộc về chúng tôi. Các tàu chiến vây quanh khi chúng tôi đứng bập bềnh trên biển. Những chiếc xuồng cao tốc RHIB dập dềnh bên cạnh chúng tôi chở theo Biệt đội Thực thi Pháp luật bảo vệ bờ biển (LEDET), một đơn vị huyền thoại nổi danh về truy bắt tội phạm buôn lậu ma túy tại các vùng biển xa. Xét về tổng thể thì giai đoạn nguy hiểm đã qua.
Chúng tôi gom các tù nhân lại. Thuyền trưởng của con tàu, ở trên buồng lái với Mark, cử người phụ trách kỷ luật xuống để đếm người. Chúng tôi phát hiện ra mình còn bỏ sót một thủy thủ. Có người đang lẩn trốn.
Chúng tôi hỏi các tù nhân xem họ có biết anh ta ở đâu không. Không ai biết gì cả.
Vì thế chúng tôi phải rà soát lại toàn bộ con tàu chết tiệt. Để lại bốn người canh giữ tù nhân, chúng tôi quay trở lại khu vực phía sau buồng lái và bắt đầu rà soát. Chúng tôi quá mệt khi phải quần thảo lại từng centimet của con tàu mà chúng tôi tưởng rằng đã kiểm soát được. Khi đang tìm kiếm, tôi nhận được điện thoại thông báo đã tìm thấy người kia. Anh ta đang rúc đầu vào giữa các ống dẫn của khoang động cơ để trốn và rất sợ hãi.
Chúng tôi đưa anh ta đến chỗ các bạn của mình ở mũi tàu và tháo còng tay cho tất cả các tù nhân, ngoại trừ Bình Cứu hỏa. Tôi bắt anh ta ngồi trên cái tời, trông giống như một ống cuộn cước có động cơ khổng lồ, một chỗ ngồi khó chịu nhất trên mũi tàu. Trong khi đó, Mark nói chuyện qua bộ đàm với một phiên dịch viên trên một trong những con tàu để trao đổi với viên thuyền trưởng đứng bên cạnh Mark.
“Các anh đang đặt mìn phải không? Đặt ở đâu? Các anh đang đi đâu? Các anh từ đâu tới?” “Chúng tôi không đặt mìn.”
“Nếu không, tại sao các anh lại không chở theo loại hàng hoá nào? Tại sao các anh đang trên hành trình rời khỏi Ai Cập trong khi lẽ ra các anh phải trở về nhà chứ?”
Những người này không cho chúng tôi câu trả lời xác đáng. Rõ ràng có điều gì đó rất khả nghi.
Bình Cứu hỏa than phiền: “Mông tôi bị đau.”
Đầu tôi vẫn đau nhức. Tên đáng ghét, may mắn là ngươi vẫn có cảm giác đấy. Một tù nhân trên mũi tàu luồn tay vào trong áo khoác tìm khẩu súng trong bao súng khoác vai. Các tay súng trên trực thăng chĩa tia laze cảm ứng hồng ngoại vào anh ta khi chúng tôi ấn nút an toàn của các khẩu MP-5, sẵn sàng bắn tung anh ta. Tuy nhiên không có khẩu súng hay bao súng nào cả, đó chỉ là một gói thuốc lá trắng mà thôi.
“Không, không, không, không,” người tù van vỉ. Mắt anh ta nhìn như hai quả trứng rán vậy. Anh ta may mắn vì chúng tôi có nguyên tắc nổ súng rất chặt chẽ, không giống như bốn viên cảnh sát ở New York, những tay đã bắn Amadou Diallo 41 lần khi anh này tìm kiếm chiếc ví của mình.
Một thủy thủ nói được tiếng Anh và chúng tôi trao đổi thông qua anh ta: “Không được di chuyển đột ngột. Không được đưa tay vào trong người vì bất cứ điều gì.”
Bình Cứu hỏa lại rên rỉ: “Mông tôi đau quá.” Tao đang mong mày cho tao cái cớ để nổ súng đây.
Lát sau, một thiếu niên chạy xồng xộc vào mũi tàu. Chúng tôi ngay lập tức quật ngã cậu ta. Sau khi gọi cho Mark, chúng tôi biết rằng cậu bé là người thuyền trưởng cử đến để lấy chìa khóa làm gì đó. Có lẽ là bất cứ khi nào thuyền trưởng ra lệnh, cậu ta đều vội vã làm ngay, nhưng chúng tôi nói rõ với cậu ta: “Không di chuyển nhanh và không chạy.” Tôi thấy thương cậu bé tội nghiệp bởi vì chúng tôi đã đánh cậu ta quá đau.
Thuyền trưởng và thủy thủ vẫn không cho chúng tôi câu trả lời đúng, vì thế những người lính LEDET, được trang bị súng bắn đạn ghém, lên tàu chào chúng tôi, rồi chúng tôi chuyển giao con tàu và tù nhân cho họ. Họ sẽ lái tàu cập bến ở một cảng biển phù hợp nào đó tại Biển Đỏ, nơi mà câu chuyện về những tù nhân này vẫn chưa kết thúc.
Bình Cứu hỏa vẫn bị còng tay khi LEDET tiếp quản. Tôi mong cho đến tận bây giờ anh ta vẫn cứ bị như vậy. Công việc của chúng tôi đã xong. Thời tiết trở nên xấu hơn, vì vậy chúng tôi không thể về bằng trực thăng. Thay vào đó, chúng tôi dùng các thang cuốn thoát hiểm để rời con tàu và xuống các xuồng cao tốc RHIB của LEDET. Các xuồng này đưa chúng tôi đến con tàu đổ bộ của LEDET.
Chúng tôi lên tàu vào buổi sớm, như vậy chúng tôi đã thức hơn 24 giờ liền. Lần cuối cùng chúng tôi ăn là bữa trưa ngày hôm trước. Không chỉ căng thẳng về thể xác và giảm lượng adrenaline, chúng tôi còn đói gần chết. Trong phòng ăn, mặc dù chưa đến giờ ăn sáng, họ đã mang cho 16 người chúng tôi một bữa ăn khổng lồ. Tôi không nhớ chính xác họ cho chúng tôi ăn những gì, nhưng có vẻ như họ cho chúng tôi ăn cả bữa sáng và bữa tối cùng một lúc: bánh trứng, thịt dăm bông xay, bánh kếp bơ sữa, nước cam, cafe nóng, bít tết, súp măng tây có kem, bắp cải luộc, khoai tây nghiền và bánh táo nóng.
Đầu bếp trưởng bước ra và bắt tay từng người chúng tôi: “Tôi vừa chế biến một số món ăn đặc biệt cho các cậu đấy. Hy vọng là các cậu thích nó.”
“Tuyệt quá,” tôi nói.
“Chúng tôi vừa mới biết là các cậu đến nên chỉ kịp làm thế này thôi.”
Cuộc trò chuyện diễn ra khi chúng tôi ăn. Hình như tất cả các sĩ quan trên tàu đều có mặt. Họ đối đãi với chúng tôi như là những ông hoàng vậy. Dường như tất cả những ai có thể vào được phòng ăn thì
đều đến cả. Mọi người muốn gặp gỡ, nói chuyện và trở thành một phần của đội chúng tôi. Sự thân thiện
của mọi người có ý nghĩa rất lớn đối với tôi, làm cho tôi cảm thấy mình thật quan trọng.
Gần đầu giờ chiều, những chú chim sắt đến đón chúng tôi hạ cánh xuống phần đuôi chiếc tàu lưỡng cư, chúng tôi vẫy chào tạm biệt và bay trở về tàu Kennedy.
Sau đó, tôi nhận được Bằng khen của Hải quân, trong đó ghi:
Bộ trưởng Quốc phòng hân hạnh trao Bằng khen cho Kỹ thuật viên Tàu thủy Hạng 1 Howard E. Wasdin, Hải quân Mỹ, vì kết quả công tác như sau: Có thành tích tốt trong thực hiện nhiệm vụ của một chuyên gia chiến dịch đường không của Trung đội SEAL số 2 Foxtrot khi được triển khai đến Biển Đỏ yểm trợ cho Chiến dịch Bão táp sa mạc từ ngày 17 tháng Một đến 28 tháng Hai năm 1991. Trong thời gian này, Hạ sĩ quan Wasdin đã không ngừng thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình với một thái độ mẫu mực và có tính chuyên nghiệp cao. Là một chuyên gia chiến dịch đường không chịu trách nhiệm tất cả các hoạt động sử dụng thang dây trên trực thăng của SEAL, nỗ lực làm việc không mệt mỏi của anh đã giúp Đội đột kích duy trì khả năng xâm nhập nhanh chóng và hiệu quả các mục tiêu được xác định. Trong một sứ mệnh của SEAL, anh đã khéo léo chỉ đạo một cuộc xâm nhập và là người đầu tiên đáp xuống tàu để yểm trợ hiệu quả cho đồng đội. Anh tiếp tục là người dẫn đầu nhóm canh giữ tù nhân và đã thể hiện kỹ năng chiến đấu giỏi, góp phần quan trọng vào thành công của sứ mệnh. Kỹ năng nghề nghiệp phi thường, sáng kiến và sự cống hiến hết mình cho nhiệm vụ của Hạ sĩ quan Wasdin thể hiện sự tín nhiệm cao đối với bản thân anh và với Quân chủng Hải quân Mỹ.
“Tôi nhận được yêu cầu chọn ba người cho một chiến dịch bí mật, nhưng tình báo không cho tôi biết chiến dịch đó là gì cho đến khi tôi chọn được người,” Mark nói.
Bên ngoài Trung tâm thông tin tàu sân bay (CVIC), Smudge, DJ và tôi đứng ở lối đi khi Mark đi khuất vào bên trong, một lát sau quay trở lại và nói: “Được rồi.”
Chúng tôi bước vào. Có một phòng nghỉ nhỏ bên phải, trong đó có một máy pha café và một tủ lạnh. Cửa bên trái mở ra căn phòng chính có một bàn họp và các ghế xếp xung quanh. Trên một bức tường treo một tấm bảng trắng và phía trước một bức tường khác đặt một chiếc ti vi và đầu video. Hai chiếc ghế dài bằng da màu đen đặt ở bên cạnh. Một viên sĩ quan thông tin của tàu đang đứng ở giữa phòng. Bên cạnh ông là một người mà chúng tôi chưa bao giờ gặp. Tôi không biết ông ta là ma hay quỷ nữa.
Không giới thiệu về mình, người đàn ông chào: “Chúc các qúy ông một buổi sáng tốt lành.”
“Xin chào Ngài.” Chúng tôi không biết chức vụ của ông, nhưng thà lịch sự quá mức còn tốt hơn là có thái độ bất kính.
“Một tên lửa Tomahawk được phóng đi nhưng không trúng mục tiêu và không nổ. Nó rơi xuống lãnh thổ của một nước bạn, nhưng lại có các lực lượng thù địch ở đó. Chúng tôi cần các anh phát nổ quả tên lửa để quân Iraq không thể lấy được công nghệ vô giá đó. Đồng thời, chúng tôi cũng không muốn họ chuyển số thuốc nổ đó thành các thiết bị nổ cải tiến (IED).”
Chúng tôi trở lại phòng ngủ, nơi đặt giường, tủ cùng một chiếc ghế dài và bắt đầu chuẩn bị quân trang. “Chuyện gì vậy?” Những đồng đội háo hức hỏi chúng tôi.
“Bốn người bọn tớ sẽ tham gia một chiến dịch. Thật tiếc là không thể kể chi tiết cho mọi người được.” Sự háo hức của mọi người giảm xuống khi họ biết rằng 12 người còn lại không được cùng tham gia.
Tôi dùng khẩu CAR-15 có báng nhỏ và ổ đạn 30 viên 5,56 mm. Bên trong tất, tôi đút vài tờ một trăm đô-la. Trong túi đựng đồ ở đùi trái, tôi để bộ đồ E&E: đèn pin, đồng hồ chống nước, com-pa, bản đồ, đèn chiếu thấu kính đỏ, chăn giữ nhiệt và khẩu phần ăn MRE. Trong túi bên phải, tôi để bộ dụng cụ sơ cứu: băng gạc 10 x 10 cm có dây buộc, một mảnh vải lụa và một cuộn băng gạc có vaseline dùng để băng các vết thương nhỏ trên ngực − tất cả đều được bọc trong túi nhựa hút chân không để chống thấm nước. Đây là bộ nhỏ nhất, chủ yếu dùng cho vết thương chảy máu do dính đạn. Mặc dù lính SEAL thường có trang phục khác biệt và đem theo nhiều vũ khí nhưng chỗ để bộ sơ cứu thì cũng giống như những lính khác. Như vậy, nếu một tay súng ngã xuống, chúng tôi sẽ không phải chơi trò phỏng đoán nơi để bộ sơ cứu đó để tiến hành băng bó cho anh ta. Dĩ nhiên là tôi cũng có thể dùng bộ của mình để băng bó cho đồng đội bị thương, nhưng sau đó nếu tôi cần cho chính mình thì không còn dụng cụ để làm nữa.
Bốn người chúng tôi lên chiếc máy bay SH-3 Sea King với khuôn mặt được ngụy trang bằng vệt kẻ và nốt chấm màu cát nâu nhạt. Smudge mang theo 2 kg thứ giống như đất sét màu trắng nhạt có mùi nhựa đường nóng − chất nổ dẻo C-4. Tôi mang theo các ngòi nổ chậm, kíp nổ và bộ phận kích nổ. C-4 không thể nổ tung nếu không phát hỏa một ngòi nổ chậm, đó là lý do tại sao chúng tôi tách biệt hai thiết bị này. Thiết bị mà Smudge mang theo an toàn hơn. Mặc dù chỉ riêng các ngòi nổ chậm thôi thì không đủ để làm nổ tung một bàn tay, nhưng chúng đã từng làm nổ tung một hoặc hai ngón tay bất cẩn rồi.
Chúng tôi mang theo ít trang thiết bị bởi vì đây sẽ là nhiệm vụ chớp nhoáng. Chiếc trực thăng bay một vài cây số trước khi giảm tốc độ xuống còn 10 hải lý khi ở độ cao 3m so với mặt nước. Tôi bước ra cạnh máy bay, để bộ chân vịt hướng thẳng xuống dưới rồi rơi xuống xuyên qua những tia nước sắc buốt do cánh trực thăng khuấy lên. Tôi không nghe được tiếng rơi tõm của mình trong tiếng ồn ào của lưỡi cánh quạt chém vào không khí trên đầu.
Từng người một trong số chúng tôi nhảy qua cửa bên sườn máy bay xuống biển. Tương tự như việc tụt dây xuống, mỗi người nhảy xuống sẽ làm giảm trọng tải của trực thăng, khiến chiếc trực thăng vút lên cao − và phi công phải chú ý điều chỉnh lại. Người lính SEAL cuối cùng hy sinh tại chiến trường Việt Nam là trung úy Spence Dry. Anh nhảy từ trực thăng xuống, chiếc trực thăng đang bay với tốc độ hơn
20 hải lý một giờ bỗng bốc vút lên cao hơn 10m và làm gãy cổ Dry.
Vừa bơi tôi vừa nhìn xung quanh. Mọi người có vẻ đều ổn cả. Một ánh sáng nhấp nháy từ bờ biển − tín hiệu của chúng tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy lạnh. Chúng tôi xếp thành một hàng và hướng mặt về phía tín hiệu. Tôi bơi nghiêng, đạp nước dài, sâu và chậm để đẩy thân mình đi thật nhanh, cố gắng duy trì hàng ngũ với những người khác. Động tác bơi làm tôi ấm áp hơn. Khi đến vùng nước nông có thể đứng được, chúng tôi dừng lại quan sát bờ biển. Chưa có dấu hiệu nguy hiểm. Tôi gỡ chân vịt ra và móc vào một dây thun buộc quanh lưng. Sau đó chúng tôi trườn vào bờ biển. Smudge và DJ tản ra cánh trái và cánh phải. Tôi yểm trợ cho Mark bằng khẩu CAR-15 khi anh tiến đến chỗ ánh sáng, ở đó là một người Ả Rập có thân hình quả lê. Anh ta là người của chúng tôi. Họ trao đổi theo quy ước. Mark kéo tai trái. Viên mật vụ xoa xoa bụng bằng tay trái. Cho đến nay mọi việc vẫn tốt. Xoay lưng nhân viên này lại, tôi khóa tay anh ta và kiểm tra khắp người để tìm vũ khí, điện đài hay bất cứ thứ gì không thuộc về anh ta. Có vẻ như không có gì nghi vấn cả. Tôi mở khóa tay cho anh ta.
Mark ra dấu hiệu gọi Smudge và DJ đi vào. Sau khi họ vào cùng chúng tôi, tôi chú ý đến viên mật vụ trong khi chúng tôi di chuyển vào bên trong. Nếu anh ta tỏ ra bồn chồn một cách không bình thường khi chúng tôi đến gần mục tiêu, tôi sẽ biết liệu anh ta có thể đưa chúng tôi vào một trận địa mai phục nào đó không. Nếu anh ta đưa chúng tôi đến một vị trí mai phục, tôi sẽ là người đầu tiên găm một viên đạn vào đầu anh ta. Tôi chưa từng nghe thấy một điệp viên hai mang nào sống được khi dẫn lính SEAL vào trận địa mai phục. Trưởng nhóm Mark bám theo tôi và nhân viên mật vụ, tiếp đó là DJ cùng với chiếc điện đài. Smudge đi sau cùng.
Sau khi di chuyển thận trọng 800m trên cát, chúng tôi dừng lại ở một địa điểm cách một con đường đất
100m và nằm sấp xuống trong khi nhân viên mật vụ nhặt một hòn đá to, bước lên phía trước và đặt bên cạnh con đường. Sau đó anh quay trở lại và cùng nằm sấp xuống với nhóm của chúng tôi. Thân thể ướt sũng của tôi bắt đầu run rẩy. Sa mạc nóng vào ban ngày nhưng lạnh vào ban đêm và nếu bị ướt thì vấn đề càng thêm tồi tệ. Tôi muốn đi tiếp, nhưng không thích thú gì việc bị ăn đạn vì di chuyển quá sớm.
15 phút sau, một chiếc xe địa phương dừng lại bên lề đường (gần tảng đá). Chúng tôi chĩa các khẩu CAR-15 giảm thanh vào chiếc xe. Một người đàn ông mặc áo choàng trắng bước ra khỏi chiếc xe tải và bước đi 100m về phía chúng tôi.
“Dừng lại,” Tôi nói bằng tiếng Anh. “Quay đầu lại.” Anh ta làm theo.
“Bước lùi về hướng tôi.”
Khi anh ta đến chỗ chúng tôi, chúng tôi tóm lấy, trói lại và lục soát. Sau đó chúng tôi đi cùng người lái xe đến chỗ chiếc xe của anh ta và lục soát nó. Anh ta lái xe 20 phút đưa chúng tôi đến mục tiêu ở đâu đó giữa sa mạc. Anh ta dừng xe lại và đi bộ đoạn đường còn lại cùng với chúng tôi. Quả tên lửa nằm ở đó. Mặc dù nó đã tiếp đất rất mạnh, nhưng trông vẫn như còn nguyên. Chúng tôi lập một vòng cảnh giới bảo vệ trong khi Smudge chuẩn bị hai túi C-4. Mỗi túi vải xanh lớn đó chứa 1kg C-4 ở đáy. Cậu đặt một túi trùm lên đầu tên lửa và luồn dây khâu miệng chiếc túi vào một cái móc ở đầu túi, thít chặt lại. Cuối cùng, Smudge làm tương tự như vậy với đầu kia của quả tên lửa.
Cậu vỗ vai tôi rồi thế vào vị trí cảnh giới trong khi tôi ấn một ngòi nổ chậm vào mỗi khối C-4. Không kịp nghĩ ngợi điều gì, tôi chỉ cố gắng không giải quyết kém tình huống này. Tôi đút hai ngòi nổ chậm vào hai kíp nổ hẹn giờ, giữ cho chúng thẳng lên. Sau đó, tôi vặn chặt hai bộ phận kích nổ (M-60) vào hai kíp nổ. Một tay giữ bộ phận kích nổ, một tay tôi kéo đồng thời cả hai dây giật. Pop! “Sắp nổ rồi.” Tôi có thể ngửi thấy mùi cordite (một loại thuốc nổ không khói) khi các kíp nổ cháy. Có khoảng trên dưới
3 phút trước khi chiếc tên lửa nổ tung.
Tôi cùng đồng đội lao đi. Rất khẩn trương. Chúng tôi nấp sau một gờ cát tự nhiên trông giống như một con lươn giảm tốc khổng lồ. Bùm! Cát trút xuống đầu chúng tôi. Chúng tôi quay lại chỗ quả tên lửa để chắc chắn rằng nó đã biến thành những mảnh vụn. Mark ra dấu OK và chúng tôi trở lại xe.
Người lái xe đưa chúng tôi trở lại điểm dừng bên con đường có hòn đá, nhưng Mark bảo anh ta đưa chúng tôi đi xa hơn để tránh khả năng dừng lại ở trước một trận địa mai phục. Sau khi người lái xe cho chúng tôi xuống, đợi cho anh ta và viên mật vụ rời đi, chúng tôi quay trở lại bờ biển. Trên bờ biển, DJ gọi trực thăng vì biết chúng tôi đang trên đường về. Chúng tôi đeo chân vịt và xuống nước. Tôi thấy vui vì đã ra khỏi khu vực nguy hiểm và bơi rất nhanh. Ai cũng bơi nhanh. Bơi nhanh làm cơ thể chúng tôi ấm lên. Những gì chúng tôi được dạy ở BUD/S thật chính xác: Mẹ Đại dương là nguồn an ủi và là sự an toàn của bạn.
Khi trực thăng đến gần, chúng tôi xếp hàng cách nhau 5 m, để lộ ra tia thiết bị hồng ngoại được gắn vào các áo phao bơm phồng. Chiếc trực thăng lượn trên đầu, cánh quạt khuấy tung bọt biển. Nước biển mặn táp vào mặt nạ của tôi. Một chiếc thang cuốn được thả xuống, tôi móc khuỷu tay vào một thanh ngang leo lên. Khi chân tôi đặt lên chiếc thang, tôi chân đẩy người lên chứ không dùng cánh tay để
kéo, như vậy sẽ không làm cánh tay tôi rã rời. Khi lên đến đỉnh thang, tôi dùng tay đu người lên chiếc trực thăng.
Khi tất cả chúng tôi đã lên máy bay an toàn, một thành viên đội bay kéo chiếc thang lên và chiếc trực thăng đưa chúng tôi đi. Bên trong máy bay, chúng tôi vỗ lưng nhau và thở phào nhẹ nhõm. Chắc là do con tàu Kennedy đã đi gần chúng tôi hơn nên chuyến trở về không lâu như trước nữa. Chúng tôi đã hoàn thành một nhiệm vụ bí mật mà có người cho rằng vô cùng quan trọng.
Một vài ngày sau, tôi lại đứng ở bên ngoài CVIC. Lần này chỉ có DJ và tôi. Mark gọi chúng tôi vào và một lần nữa, chúng tôi gặp Người Không Tên.
Ông bắt tay chúng tôi và không lãng phí thời gian, ông nói: “Chúng ta vào chuyện luôn nhé?”.
Chúng tôi gật đầu.
Ông giải thích: “PLO lên tiếng ủng hộ cuộc xâm lược Kuwait của Saddam Hussein. Hiện họ đã bắt đầu làm ăn ở Iraq. Người Iran đang hợp tác với PLO để huấn luyện khủng bố tấn công các lực lượng liên minh. Gần đây, họ đã gài một thiết bị IED ven đường và một xe của ta đã vấp phải. Chúng tôi muốn các anh định hướng cho một tên lửa dẫn đường tấn công mục tiêu doanh trại PLO-Iran ở Đông Nam Iraq, sau đó gửi cho chúng tôi một Báo cáo đánh giá thiệt hại chiến trường (BDA).”
Mark thảo luận kế hoạch của ông với chúng tôi, sau đó DJ và tôi ra ngoài để chuẩn bị quân trang. Như mọi lần, chúng tôi phải chắc chắn rằng mình không có gì bắt sáng hoặc gây ra tiếng ồn trên người, do đó chỉ cần một lớp sơn hay một cuộn băng màu cát là mọi việc sẽ ổn. Sau khi chuẩn bị xong hành trang, cuối buổi chiều, chúng tôi lên chiếc máy bay Sea King từ sân bay của tàu John F.Kennedy. Tôi ngủ suốt và tỉnh dậy khi máy bay hạ cánh xuống căn cứ tiền tiêu. Trời đã tối hơn – thời khắc sắp điểm rồi. Một người dân tên là Tom với gương mặt chất phác, mặc quần bò xanh và áo phông xám đưa cho chúng tôi chìa khóa của chiếc Humvee: “Tôi vừa rửa xe bóng loáng rồi đấy.” Tôi nhìn chiếc xe cáu bẩn và mỉm cười. Tuyệt.
Vì trời không mây và có trăng khuyết, DJ và tôi có thể quan sát được trong bóng tối. Kẻ thù chắc cũng nhìn thuận lợi, nhưng bầu trời trong sẽ giúp tên lửa tìm được mục tiêu. Sau khi lái 48 km qua sa mạc
để tránh đường sá, nhà cửa, các khu vực đông dân cư và các bốt điện thoại, chúng tôi tới một địa điểm có địa hình hơi trũng xuống, khoảng 3m giống y như những gì chúng tôi đã thấy trên bản đồ vệ tinh ở CVIC. Sau khi tạo các dấu vết giả quanh vị trí của mình, chúng tôi dừng lại ở chỗ trũng và xóa dấu vết xâm nhập. Tiếp theo, chúng tôi bọc chiếc xe bằng lưới ngụy trang sa mạc. Chúng tôi nằm cạnh nhau dưới đất, mặt hướng ra các phía khác nhau, lặng lẽ quan sát và lắng nghe để phát hiện khi có người đến. Những phút đầu trôi qua thật căng thẳng. Đó có đúng là bụi rậm không? Có thể họ đang theo dõi chúng tôi. Họ có bao nhiêu người? Liệu chiếc Humvee có khởi động lại được không nếu chúng tôi cần thoát ra? Liệu chúng tôi có chạy kịp không? 30 phút sau, tôi lấy lại bình tĩnh và tiến về phía trước, sử dụng GPS để định hướng. Vì chỉ có hai người, hỏa lực của chúng tôi sẽ yếu hơn so với một thủy thủ đoàn và chúng tôi cần cẩn trọng hơn để không bị phát hiện. Thính giác của tôi trở nên nhạy bén với từng âm thanh nhẹ nhất. Chúng tôi cúi mình khi bước đi, chậm chạp và lặng lẽ, tránh khu đất cao có thể khiến bóng của mình nổi lên.
Sau gần 5 km, tới chân một quả đồi. Doanh trại PLO-Iran nằm ở phía bên kia. Tôi đi trước DJ và chúng tôi leo gần 200m cho đến khi tới gần một cái dốc. Khi đến gần đỉnh đồi, chúng tôi bò thấp người vòng sang phía bên kia đồi. Cách đó khoảng 1,6 km, tôi nhìn thấy bức tường của một doanh trại hình tam giác có tháp canh ở các góc bao quanh ba tòa nhà lớn bên trong. Tôi cũng nhìn thấy một người lính đối phương đang ngồi cách 60m về phía bên phải của quả đồi với ống nhòm quanh cổ và trên lưng là khẩu súng trường.
Tôi dừng lại và ra hiệu cho DJ bằng một nắm đấm giơ lên: Dừng lại. DJ dừng lại.
Người lính gác vẫn ngồi im.
Sau khi chỉ hai ngón tay vào mắt mình rồi chỉ về hướng người lính gác, tôi bò trở lại. DJ cũng rút ra. Chúng tôi đi vòng lại sau lưng đồi cho đến khi tìm thấy một cái dốc khác. Lần này khi đi ngang qua, chúng tôi thấy rõ mục tiêu không có lính gác ở gần đó. Mắt chúng tôi tìm kiếm khu vực xung quanh rồi nhìn ra xa hơn cho đến khi trại lính lọt vào tầm mắt. Chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy duy nhất những người lính bảo vệ trên các tháp canh.
Trong khi tôi cảnh giới, DJ gửi đi một thông điệp mã hóa qua chiếc đài mang theo để báo cho USS San Jacinto biết vị trí của chúng tôi. Chắc là có một thông điệp khẩn được hồi đáp vì DJ gật đầu, ra hiệu “tiếp tục” cho tôi.
Tôi lấy ra thiết bị chỉ thị mục tiêu hạng nhẹ (AN/PED-1 LLDR) (thực ra cũng không nhẹ lắm) và giá đỡ của nó trong khi DJ bảo vệ vòng ngoài. Sau khi đánh dấu vị trí của mình bằng một đèn hiệu, tôi vẽ tòa nhà giữa trong doanh trại PLO-Iran, đánh dấu nó bằng các nhịp ánh sáng vô hình đã được mã hóa của đèn laze. Ánh sáng này sẽ phản vào mục tiêu và chiếu lên trời để tên lửa Tomahawk phát hiện được.
Tên lửa hành trình dường như bay song song với mặt đất. Một vệt khói trắng vờn quanh cái đuôi đang cháy của nó. Tomahawk dần dần hạ xuống cho đến khi nó đánh trúng vào tòa nhà trung tâm, và 500 kg thuốc nổ phát nổ thành một quả cầu lửa kéo theo những đám khói đen mịt mù. Cơn chấn động và các mảnh vỡ rơi xuống làm vỡ toác tường của hai tòa nhà khác gần đó, gây ra vụ nổ thứ phát ở một tòa nhà − có lẽ là nơi chứa các chất nổ dùng để sản xuất thiết bị IED. Hai trong số ba tháp canh bị vỡ tung. Qua ống nhòm, tôi nhìn thấy rõ một lính canh văng ra khỏi tháp và bay trong không khí như một con búp bê bằng bông. Bức tường của trại lính chỉ còn là một đống đổ nát. Tôi không thấy ai chạy ra từ doanh trại. Từ ngọn đồi của chúng tôi, người lính gác chạy bổ về phía doanh trại, hy vọng tìm thấy người sống sót trong số bạn bè của anh ta.
Chúng tôi thu dọn và đi theo đường khác đến chỗ để xe. Người ta thường dễ trở nên thỏa mãn trên đường về, vì vậy quan trọng là chúng tôi phải thận trọng hơn. Sau khi gỡ bỏ lưới ngụy trang, chúng tôi nhảy lên xe và lái đi. Một lần nữa chúng tôi lại đi đường khác với đường vào lúc ban đầu.
Trên đường lái xe về nhà, tôi phát hiện một vị trí giống như một nửa boongke của địch trồi trên mặt đất. Tôi đi vòng để tránh nó và chiếc Humvee bị sa xuống cát. Khi tôi cố gắng tăng ga để đưa chiếc xe thoát ra thì bánh xe càng lún sâu xuống làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn.
Đúng lúc đó, một đám lính Iraq đi ra ngoài boongke.
DJ và tôi chĩa súng CAR-15 vào họ.
14 người bọn họ giơ tay lên trời và bước về phía chúng tôi. Tôi không nhìn thấy sự đe dọa trên gương mặt của họ. Họ bẩn thỉu và hôi hám. Da của họ như dính chặt vào xương; không biết là họ đã nhịn đói bao lâu rồi. Họ đặt tay lên miệng, cử chỉ thông dụng quốc tế biểu thị hành động muốn xin thức ăn. Trong cuộc chiến, một số lính Iraq thậm chí còn đầu hàng cả những nhóm quay phim, họ rất sẵn sàng đầu hàng và không muốn chiến đấu.
Trên mặt đất, những tấm vải rách được họ dùng để nút chặt các đầu súng trường nhằm ngăn cát lọt vào. Chúng tôi bước ra khỏi xe và yêu cầu họ dùng tay đào một cái hố. Sau đó chúng tôi ra lệnh thả vũ khí vào đó. Trong khi làm, dường như họ càng sợ hãi hơn, chắc là họ tưởng chúng tôi sẽ hành hình họ ngay sau đó. Chúng tôi ra hiệu cho họ phủ đất lên cái hố. Họ bớt sợ hãi hơn và tuân lời. Có lẽ trong số đó
có những người đã có vợ con. Đa số họ đều tầm tuổi tôi. Sự sống chết của họ hoàn toàn nằm trong tay tôi. Họ nhìn tôi như thể tôi là Chúa Trời vậy.
Lòng trắc ẩn dâng trào, tôi đưa cho họ hai khẩu phần MRE mà tôi đã chuẩn bị để làm khẩu phần ăn khẩn cấp trong trường hợp phải đào thoát và lẩn trốn. Với 14 người thì số thức ăn đó không phải là nhiều, nhưng họ chia đều cho tất cả. Một người thậm chí còn ăn cả Chiclets. Ồ, bạn biết đấy, đó thực sự là kẹo cao su bọc đường, nhưng ăn đi. Không sao đâu, cứ ăn đi. Chúng tôi cho họ gần hết số nước uống của mình. Họ khoanh tay và cúi đầu thành kính để cảm ơn chúng tôi. Họ đã rất khôn ngoan không tìm cách chạm vào người chúng tôi hoặc xâm phạm vào không gian cá nhân của chúng tôi.
Những tia nắng đầu tiên xuất hiện phía chân trời. Đã đến lúc phải đi. Chúng tôi yêu cầu đám tù binh đặt tay lên đầu. Tôi đánh dấu vị trí chiếc Humvee trên GPS và đi bộ phía trước trong khi DJ bám theo để bảo vệ phía sau. Nếu có viên phi công nào đó bay qua và phát hiện ra chúng tôi, anh ta sẽ rất ngạc nhiên khi thấy cảnh chỉ có hai người Mỹ cùng 14 tù binh bị bắt giữ đang đồng hành ở giữa sa mạc. Chúng tôi trông như là những vị thần chiến tranh vậy. Hai lính SEAL Hải quân bắt giữ 14 lính Iraq.
Khi chúng tôi tới căn cứ, Tom cự nự: “Các anh đem cho chúng tôi những gã này làm cái quái gì vậy?” “Ồ, thế anh muốn chúng tôi làm gì với họ?”
“Giữ họ lại.”
“Chúng tôi không thể giữ họ được.”
Không lâu sau trực thăng đến và chúng tôi để đám tù nhân của mình ở đó. Họ vẫn khoanh tay cúi đầu và cảm ơn chúng tôi. Chiếc trực thăng cất cánh đưa chúng tôi trở lại tàu John F. Kennedy.
Hồi ở BUD/S và cho đến tận lúc đó, tôi cứ nghĩ rằng tất cả những người mà chúng tôi chống lại đều là người xấu. Rằng chúng tôi đạo đức hơn họ. Tôi dùng ngôn ngữ để làm cho việc giết chóc trở nên đáng trân trọng hơn: “tàn phá”, “loại trừ”, “trừ khử”, “kết liễu”, “tống khứ”… Trong quân đội, đánh bom được gọi là “tấn công nhanh gọn mục tiêu quân sự” còn dân thường thiệt mạng thì gọi là “tổn thất phụ”. Thực hiện mệnh lệnh là lý lẽ giúp gỡ bỏ trách nhiệm giết chóc khỏi vai tôi và đặt nó vào một cấp độ cao hơn. Khi tôi ném bom khu doanh trại, tôi càng giảm tránh trách nhiệm của mình bằng việc chia sẻ nhiệm vụ: Tôi đánh dấu mục tiêu, DJ thông báo cho tàu và ai đó thì nhấn nút phóng tên lửa. Không có gì lạ khi những người lính chiến thường “vô nhân đạo hoá” kẻ thù − miệt thị những người Iraq thành “những cái đầu giẻ rách” và “những kẻ ngu dốt cưỡi lạc đà”. Trong văn hoá chiến tranh, ranh giới giữa nạn nhân và kẻ chiến rất mong manh. Tất cả những điều này giúp tôi thực hiện nhiệm vụ, nhưng cũng có thể bịt mắt không cho tôi thấy được nhân tính của đối phương.Dĩ nhiên SEAL đã huấn luyện chúng tôi phải xác định mức độ bạo lực phù hợp với yêu cầu của tình huống, phải được điều chỉnh tăng và giảm giống như điều chỉnh một công tắc đèn vậy. Không phải lúc nào bạn cũng muốn chùm đèn sáng lên. Nhưng đôi khi bạn lại muốn làm vậy. Cái công tắc đó vẫn ở trong tôi. Tôi không muốn, nhưng có thể bật nó lên khi cần. Tuy nhiên, việc huấn luyện không chuẩn bị cho tôi cách thức đánh giá nhân tính trong 14 con người cụ thể đó. Đó là điều mà bạn phải trực tiếp chiến đấu mới có thể cảm nhận được. Không thể là đánh trận giả. Có thể tôi nên găm một viên đạn vào đầu của mỗi người bọn họ và khoe khoang về việc tôi đã tiêu diệt được bao nhiêu tên. Một số người nghĩ về lính SEAL chỉ như là những cỗ máy kích động và giết người không cần suy nghĩ: “Ồ, anh là một kẻ ám sát.” Tôi không thích điều đó. Tôi không tán thành chuyện đó. Nhiều người lính SEAL hiểu rằng nếu bạn có thể thực hiện một chiến dịch mà không gây tổn thất về nhân mạng thì đó là một chiến dịch tuyệt vời.
Nhìn thấy 14 người đó, tôi nhận ra rằng họ không phải là kẻ xấu. Họ chỉ là những kẻ bần cùng gần như chết đói, thiếu trang thiết bị, không có súng, không có tư tưởng, đi theo kẻ người điên rồ nào đó, kẻ đã quyết định xâm lược một nước khác. Nếu họ không đi theo kẻ điên rồ đó thì Vệ binh Cộng hòa sẽ hành quyết họ. Tôi cho rằng họ đã mất ý chí chiến đấu. Và có lẽ họ thậm chí chưa bao giờ có ý chí chiến đấu ngay từ giây phút đầu tiên.
Họ cũng là chỉ là những con người giống tôi. Tôi khám phá nhân tính của mình và nhân tính của những người khác nữa. Đó là một bước ngoặt đối với tôi − đó là lúc tôi trưởng thành. Chuẩn mực của tôi về phải và trái trong chiến đấu trở nên rõ ràng hơn, được xác định bằng những gì tôi làm và không làm. Tôi đã cho 14 người lính Iraq thức ăn và đưa họ tới một nơi an toàn hơn. Tôi không giết họ. Bất kể bạn thắng trận hay thất trận thì chiến tranh vẫn là địa ngục.
Quay trở lại tàu Kennedy, trí óc tôi như đã sáng hơn. Mặc quần soóc và áo phông ngồi trên ghế lau súng, tôi suy nghĩ về cách mình đã gặp kẻ địch gần đến thế. Tôi biết rằng mình có thể đối chọi và đánh bại họ ở một mức độ bạo lực nhất định. Hơn nữa, tôi nhận ra rằng quan trọng là phải hiểu kẻ địch của chúng ta cũng là con người.
Chiến dịch Bão táp sa mạc chỉ diễn ra trong 40 ngày. Chúng tôi giận dữ vì không được đến Baghdad để tham gia kết thúc chiến dịch. Tàu Kennedy dừng lại ở Ai Cập, nơi chúng tôi đưa tất cả trang thiết bị khỏi tàu và nhận phòng một khách sạn năm sao ở Hurghada. Vì không phải là mùa du lịch và chiến tranh mới xảy ra nên chúng tôi là nhóm khách duy nhất. Khi chúng tôi đang ăn tối, trung đội trưởng bước vào và vỗ vào lưng tôi: “Chúc mừng, Wasdin, cậu đã lên Hạng.” Tôi đã được thăng từ E-5 lên E-6. Với Howard, cuộc đời mới thật thú vị làm sao! Chúng tôi đợi hai tuần để được bay trở lại Machrihanish, Scotland, kết thúc 6 tháng tham chiến.
Tôi không hồi tưởng, không gặp ác mộng, không khó ngủ, không mất khả năng tập trung, không suy nhược và cũng không tự coi thường bản thân vì đã tham gia vào một cuộc giết chóc lần đầu tiên − nhìn thấy người lính bị thổi bay khỏi tháp canh của PLO và rơi xuống đất tử vong. Những cảm xúc đó dường như ít bắt gặp hơn trong số binh sĩ các lực lượng đặc biệt. Có thể là do phần lớn những người nhạy cảm với trạng thái căng thẳng đó đã bị loại ra trong quá trình huấn luyện BUD/S và việc huấn luyện căng thẳng đã giúp binh sĩ sẵn sàng hoạt động với cường độ cao trong chiến tranh. Tôi bắt đầu lập cách kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc và nỗi đau của mình từ rất sớm − đó là vấn đề sống còn − và điều đó đã giúp tôi ứng phó được với những thách thức trong các đội. Tôi đã chịu đựng được những đau đớn từ sự ác nghiệt của bố dượng tôi, từ Tuần Địa ngục và các kinh nghiệm khác và đặc biệt, tôi đã trải qua chiến tranh.
Mặc dù vậy, thực ra thâm tâm tôi rất lo lắng khi lần đầu tiên giết chóc. Tôi lo lắng không biết liệu mình có làm đúng không. Trên ti vi hay các trò chơi video, dường như giết chóc không phải là chuyện gì to tát cả. Tuy nhiên, tôi đã buộc phải ra quyết định kết thúc sự sống của ai đó. Những người mà tôi giết sẽ không bao giờ gặp lại gia đình họ nữa. Sẽ không bao giờ được ăn hay sử dụng nhà vệ sinh nữa. Không bao giờ thở nữa. Tôi lấy đi mọi thứ mà họ có hoặc sẽ có. Đối với tôi, đó là một chuyện lớn. Tôi không thể coi nhẹ điều đó được. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không coi nhẹ nó. Trong một chuyến về thăm nhà, tôi nói chuyện với Cha Ron: “Khi chiến đấu, lần đầu tiên con đã giết người. Con làm có đúng không, thưa Cha?”.
“Con đã phụng sự đất nước đúng theo luật pháp.”
“Chuyện này sẽ ảnh hưởng như thế nào tới con khi thời gian qua đi thưa Cha?” “Điều đó sẽ không thể có tác động tiêu cực đến tiếng tăm của con đâu.” Lời lẽ của Cha đã an ủi tôi. Em gái út của tôi, Sue Anne, một nhà trị liệu tâm lý cho rằng tôi có gì đó không ổn. Tôi không thể xử sự bình thường được nếu không kìm nén điều gì đó. Sue chỉ không hiểu thực tế rằng tôi thực sự thoải mái với quyết định của mình và ổn định về tinh thần.Có một vài bí mật giữa những người lính SEAL với nhau. Chúng tôi thường xuyên quanh quẩn bên nhau và hiểu rất rõ nhau. Tôi biết màu tóc con gái của một người bạn, cỡ giầy của vợ anh ta và mọi việc đang diễn ra. Tôi biết chi tiết về bạn bè của mình nhiều hơn những gì mà tôi muốn biết. Tôi cũng biết ai muốn thử sức sang Đội SEAL số 6.
Smudge, DJ, 4 người khác từ các lực lượng SEAL ở trung đội Foxtrot và tôi nộp đơn xin gia nhập Đội SEAL số 6. Smudge, DJ và tôi vượt qua được vòng xét duyệt hồ sơ, nhưng những người khác thì không được chọn. Một người tỏ ra rất tức giận vì anh là lính SEAL thâm niên hơn tôi. Đơn xin gia nhập của chúng tôi đã được chấp nhận, và khi Chỉ huy trưởng của Đội 6 đến thăm đơn vị chúng tôi, ông phỏng vấn chúng tôi. Trớ trêu là lẽ ra đơn vị chúng tôi chỉ có một người được chấm qua vòng phỏng vấn và cạnh tranh cho vòng tiếp theo, nhưng cả ba chúng tôi đều đạt, điều đó có nghĩa là Đội nào đó khác sẽ có tỷ lệ trượt cao hơn.
Đơn vị cho chúng tôi một khoảng thời gian để tham gia cuộc phỏng vấn vào Đội 6 vốn thường chỉ diễn ra mỗi năm một lần. Tháng Năm năm đó, tôi được tham gia kỳ kiểm tra chính ở Dam Neck, Virginia, mặc dù Đội 6 thường yêu cầu những người xin gia nhập phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm ở SEAL. Những người lính SEAL xếp hàng để được phỏng vấn trông như những đứa trẻ hồi hộp chờ đợi được cưỡi xe trên Đỉnh Vũ trụ ở Disneyland. Những người như chúng tôi bay đến từ Scotland. Những người khác từ California, Puerto Rico, Phillippines và nhiều nơi khác. Đối với một vài người, đây không phải là lần đầu tiên họ được phỏng vấn.
Bên trong phòng kiểm tra, những người phỏng vấn tôi hầu hết đều là lính SEAL có thâm niên − những người lính SEAL thực thụ. Họ thể hiện phong cách rất chuyên nghiệp. Những người phỏng vấn hỏi tôi nhiều về nhận thức các sự vật. Về những trận đánh mà tôi đã tham gia. “Nhược điểm của anh là gì? Anh cần làm việc ở đâu?” Với một người lính SEAL trẻ, thật khó mà có câu trả lời rõ ràng. Nếu bạn không nhận thức được những điều đó và không có ý chí thực hiện chúng thì làm sao bạn có thể tiến bộ được?
Một người thử làm tôi bối rối một chút: “Anh có uống nhiều rượu không?” “Không.”
“Nhưng anh có đi ra ngoài uống rượu với bạn bè chứ?” “Vâng.”
“ Và anh uống hết mình?” “Không?”
“Anh có uống nhiều không?”
“Tôi không biết trả lời câu hỏi đó thế nào. Có điều tôi muốn nói rằng tôi không uống đến mức để lại hậu quả.” Tôi không uống đến mức đau đầu, chóng mặt hay say mèm. “Nếu bạn bè của tôi vào thị trấn và uống rượu, 99% là tôi đi với họ. Nếu có việc phải làm, chúng tôi không uống. Vì thế tôi không biết trả lời lại thế nào. Tôi không uống đến mức nguy hại. Tôi uống vì tình bạn.”
Ông ấy mỉm cười: “Tốt.”
Tôi rời khỏi phòng, băn khoăn không biết mình đã làm thế nào. Tiến trình kiểm tra và phỏng vấn là một kinh nghiệm lạ lẫm đối với tôi. Lát sau, một lãnh đạo cao cấp bước ra và bảo tôi: “Đó là cuộc phỏng vấn tốt nhất mà tôi từng tham dự.”
“Nhưng tôi mới chỉ phục vụ ở SEAL được hai năm rưỡi.”
“Anh đã có đủ kinh nghiệm thực tế. Tôi chắc là điều đó sẽ có ích đấy.”
Nếu tôi không tham gia chiến dịch Bão táp sa mạc, có lẽ tôi sẽ phải đợi hai năm rưỡi nữa.
Hai tuần sau, Chỉ huy trưởng Norm Carley gọi Smudge, DJ và tôi vào văn phòng của mình. Ông cho chúng tôi biết thời điểm trở thành người của Đội Em út Xanh lục (Green Team), việc chúng tôi được tuyển chọn và sẽ được huấn luyện để trở thành binh sĩ Đội SEAL Số 6. “Chúc mừng các anh! Tôi không muốn thấy các anh rời bỏ chúng tôi, nhưng ở Đội SEAL số 6 các anh sẽ gặp rất nhiều điều thú vị đấy.”
Sáng hôm sau, trời hãy còn tối đất, chưa đến giờ làm việc, đã thấy cửa buồng tôi mở.
Khi ra tới phòng cung, nhìn ra sân, dưới giàn nho, tôi thấy ở lối đi giữa, một chiếc xe Commanca đang đậu quay đầu hướng ra phía cổng Hỏa Lò. Tôi nhớ hôm nay là ngày 15 tháng 10. Như vậy, tôi đã bị bắt gần 4 tháng.
Trong phòng cung có 3 tên Thành, Đức và Nhuận. Tên Đức chỉ tôi ngồi ghế, rồi nghiêm giọng:
– Hôm nay, chúng tôi được lệnh dẫn anh vào chỗ anh đã đổ bộ, để lấy một số vật liệu tang chứng anh đã khai báo. Trên đường đi, hay về, anh phải tuyệt đối chấp hành lệnh của chúng tôi. Nếu anh tỏ ra một vài ý không tuân theo, anh sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Chúng tôi sẽ cương quyết xử lý. Nếu anh tỏ ra thành khẩn chấp hành, điều đó sẽ rất tốt cho anh sau này.
Tên Thành mở một gói giấy báo trên bàn: Một nắm xôi với một quả chuối. Hắn đưa cho tôi:
– Anh hãy ăn chỗ xôi này, rồi chuẩn bị đi.
Chừng 5 phút sau, ăn xong, tôi xin uống nước. Y nhìn quanh không thấy nước, đành sang phòng bên. Y lấy cái tích còn ít nước trà, chắc từ hôm qua, nước hơi thiu, nhưng tôi rót uống hết. Sau đó, tên Nhuận ra ngoài, một lát sau y vào cùng hai tên cảnh sát đồng phục và mang vũ khí. Y quay lại phía tôi tuyên bố:
– Theo nội quy đi đường, để đảm bảo an ninh, anh để các đồng chí đây làm thủ tục.
Hai tên cảnh sát bắt tôi đứng lên, đưa hai tay ra phía sau. Chúng khóa một cái còng số 8 ở cổ tay, rồi hai miếng khóa ngàm nối với nhau bằng một xích sắt lớn, mỗi miếng bóp khóa ở trên cánh tay tôi phía dưới vai. Trong khi đó, cả 3 tên Nhuận, Thành và Đức đều đeo súng ngắn.
Chẳng biết chúng sợ gì tôi, có thể chúng nghĩ tôi biết chút võ vẽ ngày xưa nên chúng đề phòng chăng. Phải khóa hai lần, và 5 tên có vũ trang áp tải.
Khi chúng dẫn tôi ra gần tới xe, tên lái xe mặc quần áo xám bộ đội quay lại, nói với chúng:
– Hãy khóa tay ra đàng trước cho người ta. Nếu không, khi đi đường xe xóc, ngã gẫy tay.
Đúng vậy, khóa phía sau, nếu ngã tôi chẳng làm sao đỡ được, sẽ như quả bí lăn long lóc. Tuy thế, không ai trả lời, và cứ như vậy lên xe. Chúng phải đỡ tôi lên xe, vì tôi không có tay để vịn. Tên Đức ngồi băng trên với tài xế, còn 4 tên ở phía dưới kém tôi vào giữa.
Xe bắt đầu chạy ra cổng Hỏa Lò, rồi qua thành phố, trở ra Quốc Lộ 1.
Mới hơn 4 tháng nằm trong Hỏa Lò mà tôi đã cảm thấy như lâu lắm, với bao nhiêu đau thuơng nặng nề âm u trong cùm kẹp, cũng như bao nhiêu bão tố vùi dập về cung kẹo. Từ tâm tư, nếp suy nghĩ đến cả con người của tôi cũng đã thay đổi hẳn. Thực vậy, cũng vẫn cảnh sinh hoạt ngược xuôi của phố phường. Cũng vẫn khung trời Hà Nội mây bay, gió thổi; nhưng, tôi nhìn nơi nào, cảnh nào, đâu đâu cũng chỉ một màu héo úa đau thương.. Những xe cộ, tôi thấy tất cả như xa lạ, thuộc về một thế giới khác, cái thế giới không có phần của tôi nữa. Tôi không còn một chút gì dính dáng đến cái vui, cái êm đềm của hạnh phúc, “nếu có”, của thế giới ấy. Một mình tôi tách rời ra, lầm lũi mò mẫm trên con đường chập chùng dẫn xuống địa ngục tối, lầm than.
Trên đường đi thật là gian khổ. Đường nhiều ổ gà, xe xóc, tôi như quả bí ngả nghiêng, lăn lộn. Tôi có gì để đỡ đâu, hai tay bị khóa chặt sau lưng, ngay ngồi yên cũng còn khó dựa lưng. Thân thể đau nhừ, tâm tư nặng trĩu ưu sầu. Suốt đường đi, tôi như người câm, âm thầm mím môi, đè nén đau thuơng uất hận vào tim.
Những lần xe phải qua phà. Chúng có lệnh đặc biệt nên chỉ tài xế và tên Đức phải xuống đi bộ. Tất cả mọi xe khác, dù bộ đội hay công an, ai ai cũng phải xuống xe. Riêng tôi và 4 tên áp tải vẫn ngồi trên xe. Vì thế, có nhiều con mắt tò mò rõi vào trong xe chúng tôi. Khi thấy một người bị hai lần khóa ngồi giữa 4 công an, con mắt họ thường mở to nhìn tôi. Tôi để ý, mỗi lần xe qua phà, hoặc cầu, một tên cảnh sát có một cái xích nữa mắc vào cái khóa xích phía trên của tôi. Hình như chúng sợ bất ngờ tôi lao xuống sông, để trốn hay tự tử.
Khi xe vào thị xã Thanh Hóa, những tên công an và cả tên lái xe cùng xuống hết cả. Lúc đó khoảng 12 giờ, chắc chúng đi ăn. Chỉ còn hai tên cảnh sát ngồi lại trên xe. Chừng nửa giờ sau, tụi công an trở về, tên Thành mang về cho tôi hai gói xôi, có lẽ mỗi gói hai hào. Điều phiền cho chúng là tôi không ăn được, vì tay khóa sau. Chúng hội ý với nhau một lúc, rồi tên Thành quay lại nói:
– Bây giờ chúng tôi mở khóa, và sẽ khóa ra phía trước cho anh ăn. Nhưng cần phải tuyệt đối chấp hành nghiêm chỉnh. Anh tỏ ý lộn xộn thì đừng trách chúng tôi.
Hắn mở một cái túi xách, chỉ vào trong và nói:
– Đáng lẽ chúng tôi phải xích cả chân anh nữa, nhưng để cho anh thoải mái. Vậy, anh phải biết điều!
Chúng khóa tay tôi ra phía trước. Tôi ăn xong, tên Thành hỏi:
– Anh có hút thuốc không?
Trời đất hỡi! Từ sáng, nhìn chúng hút, tôi thèm điên người. Đời tôi bây giờ đau thuơng tràn lối, còn quái gì nữa đâu, cho nên ước mong đuợc hút một điếu thuốc cho say sưa, thế là mãn nguyện rồi. Vì vậy, khi tên Thành hỏi, mắt tôi sáng lên và tỏ ý biết ơn. Tôi thèm nhưng nhất định không mở miệng xin chúng.
Chà, thật là ngây ngất đê mê. Mấy tháng trời, hôm nay tôi mới cảm thấy cái thú tuyệt vời. Dù hai tay còn đang bị khóa. Phải ai đó ở trong hoàn cảnh như tôi mới cảm nhận hết được cái thú ngất ngây đê mê đó.
Chờ tôi hút xong, chúng lại khóa tay tôi ra phía sau như cũ, rồi hai tên cảnh sát mới đi ăn.
Xe vào tới Hà Tĩnh thì đã chiều. Chúng đưa tôi vào trại giam của thị xã. Lúc đó đã 6, 7 giờ tối, tù đã vào hết trong buồng, nên sân trại giam không có một bóng tù.
Hai tên cảnh sát giong tôi xuống dưới bếp, mở khóa, rồi chúng nói với mấy tên cán bộ ở đấy. Hai tên nữ cán bộ ăn mặc kiểu nông dân (có thể hết giờ làm việc họ đã thay đồ) dẫn tôi vào bếp. Cơm nước của tù đã hết, hai tên nữ cán bộ bàn nhau một lúc, rồi chúng đi vào một phòng con, lấy nồi cơm nguội của chúng, và nồi thịt heo kho Tàu, chỉ còn nước và hai, ba miếng thịt nhỏ. Chúng đưa ra, đặt xuống đất, bảo tôi ăn đi.
Ôi chao, sao mà cuộc đời hẩm hiu của tôi lại có những phút sung suớng như thế này. Ăn miếng cơm nguội, chan với nước thịt kho Tàu, tôi nghĩ rằng trong đời tôi từ trước chưa có bữa cơm nào ngon như thế. Trong nồi còn đến 4,5 bát cơm thế mà tôi chén sạch trơn. Cảm ơn cuộc đời! Cảm ơn con người!
Sau đó, một tên cán bộ nam, có lẽ là trực trại, dẫn tôi vào một buồng, có thể cũng là xà lim, nhưng là một xà lim vùng quê nên bẩn thỉu và tối om. Ngọn đèn điện vàng khè đầy mạng nhện và bụi đất chỉ làm cho căn xà lim mờ mờ, chỗ sáng, chỗ tối. Ở giữa buồng, một chiếc sàn gỗ đầy như chiếc giường con, sứt sẹo nằm chơ vơ. Bên trên có cái cùm suốt với hai khoen bằng sắt tròn, loại đường kính 2 phân rưỡi.
Tên cán bộ rút suốt cùm, bảo tôi lắp hai khoen vào hai chân, y chốt lại rồi khóa. Không nói thêm một lời, y ra ngoài đóng cửa, khóa lại.
Chà, cùm kiểu này thật dễ chịu, cùm hai chân mà tôi thấy thoải mái hơn, cùm một chân ở Hỏa Lò. Tôi có thể đứng dậy, dịch chân sang chỗ nọ, chỗ kia, tha hồ đứng trên sàn vặn vẹo người tập thể dục, hít thở không khí. Cả ngày ngồi xe gò bó nên mệt, tôi ngả lưng cho cơ thể thoải mái, đồng thời thưởng thức cái dư vị của một bữa ăn ngon, mà giờ đây, nước miếng còn thấy ngọt. Hai chân tôi dạng ra chụm vào dễ dàng. Đêm khuya vắng lặng, thỉnh thoảng vang lên những tiếng xọc xạch cọ sát của hai khoen cùm khi tôi cử động đôi chân.
Bụng căng no tròn, chân tay thoải mái, có lẽ đêm nay tôi sẽ được một giấc ngủ ngon lành. Nhưng đột nhiên, lưng tôi ngứa ran, cái gì thế? Càng gãi, càng ngứa. Ngứa quá tôi phải bò dậy. Lưng tôi rộp sần hết lên. Duới ánh sáng mờ mờ, tôi chả nhìn thấy cái gì hết, nhưng trong lúc xoa gãi, tôi thấy mùi rệp hăng hăng. Tôi vội bò giật dậy, đứng lên, cởi áo soi dưới ánh đèn. Trời, một cái áo của tôi mà gần 20 con rệp, nhiều con bụng no tròn căng đỏ những máu. Cả mông, cả đùi cũng ngứa. Tôi tụt cả quần ra, vì vướng cùm, nên phải cho tay vào ống quần mà khua, giũ đuổi con rệp. Chả lẽ cứ đứng thế này suốt đêm? Mỏi chân và mệt, tôi lại đành mặc áo ngồi xuống, rồi ngả lưng nằm xuống. Lại ngứa quá, tôi nhổm dậy, căng mắt nhìn xuống sàn. Trong bóng mờ, lổn nhổn những chấm đen di chuyển. Kinh quá, sao nhiều rệp thế! Hình như chúng đói lâu ngày, hôm nay mới có món ăn, nên chúng rủ rê con cháu lũ lượt dũng cảm, xông vào con thịt. Tôi đành ngồi xổm, mỏi rồi lại đứng lên. Người mệt rã rượi, tôi chẳng còn tâm hồn đâu để thuởng thức lại bữa ăn lúc chiều. Bàn chân cũng ngứa. Chỉ còn hai bàn chân phải đứng trên sàn, thế mà chúng cũng rúc vào từng kẽ ngón chân để hút máu. Nếu không có hai cái khoen cùm, tôi đã lao xuống đất nằm, tôi mệt quá rồi.
Lũ rệp chó chết này, hình như cũng là đồng chí của lũ Cộng Sản khát máu. Cũng hút máu con người, nhưng chỉ hút và hành hạ những người cùng khổ. Đột nhiên, một tiếng nói của một người con gái vang lên, trong cái âm u vắng lặng của nhà tù; giọng thánh thót Hà Tĩnh từ một buồng bên:
– Anh Thời à!
Tiếng một người đàn ông, cũng Hà Tĩnh, từ một buồng phía khác:
– Nguyệt đấy hỉ! Có người mới vào à! Nhiều tuổi không?
Tiếng cô Nguyệt:
– Chừng 23, 23, có lẽ là cán bộ bị bắt!
Chà! Như vậy khi nãy, cô ả đã nhìn tôi qua một khe hở nào đó, mà tôi không biết. Im lặng một lúc, rồi giọng người đàn ông:
– Anh bạn!…Mới bị bắt hỉ? Bắt vì tội chi rứa?
Tiếng hỏi rơi vào vắng lặng của đêm thâu. Tôi đang bơ phờ mệt mỏi vì phải ngồi xổm và đứng mấy giờ rồi. Lòng lại nặng trĩu những suy tư tính toán, về ngày mai khi vào tới địa điểm chôn đồ, nên tôi im lặng, để họ tưởng tôi đã ngủ rồi.
Đứng và ngồi, vẫn còn phải đuổi muỗi nữa chứ. Hà Tĩnh cũng thực nhiều muỗi, có khi còn hơn ở Hỏa Lò. Quá nửa đêm vừa rã rời vừa nhím mắt lại, không còn cưỡng lại được nữa. Thôi, cũng đành xin hiến dâng những giọt máu loãng, của tôi cho các đồng chí của lũ cộng vậy. Tôi nằm vật ra và thiếp dần.
Sáng hôm sau, trại giam chưa tới giờ làm việc, chúng đã mở cửa, mở cùm gọi tôi ra. Tôi để ý, cũng là công an, nhưng những tên công an ở Hà Nội chỉ gặp tôi ở trên văn phòng. Còn giam ra sao, cùm ra sao, đều do những cán bộ của trại giam Hà Tĩnh đảm trách. Hà Nội chỉ giao người và hôm sau lấy lại người.
Khi ra tới một phòng làm việc, tôi đã thấy Thành, Đức, Nhuận và hai tên cảnh sát ở đấy. Họ đang nói chuyện với một tên đeo lon Trung Úy ở trong phòng. Khi tôi vào, tên Thành quay lại tôi:
– Anh để cho các đồng chí đây làm việc, rồi đi.
Làm việc quái gì đâu. Chúng nó lại lủng củng xích với khóa. Vẫn khóa tay tôi ra phía sau như hôm qua. Chúng giong tôi ra chiếc xe hôm trước đã đậu phía trong cổng trại giam. Chúng đỡ tôi lên, cũng cái thế ngồi như ngày hôm qua.
Càng đường trong này, càng xóc dữ dội. Người tôi lăn lộn, hai tên cảnh sát, mỗi tên một bên, phải giữ đỡ hai cánh tay của tôi. Trên người tôi, tay tôi, những nốt rệp cắn đêm còn lốm đốm đỏ. Một điều gây cấn cho tôi, những nốt đó bây giờ thật ngứa. Tôi muốn gãi cào thật mạnh cho đã, nhưng tay tôi bị xích thế này, làm sao mà gãi được. Như con trâu, tôi cứ xoay sở, vặn vẹo người cọ lung tung vào thành xe. Càng cọ, lại càng ngứa thêm. Chẳng lẽ lại nhờ những tên công an gãi cho? Chúng nó chẳng thèm làm, và tôi cũng chẳng thèm nhờ. Hơn nữa, chúng biết tôi ngứa chỗ nào mà gãi. Ôi, cuộc đời độc địa: ôi, loài người thương yêu.
Xe đi vào tới Kỳ Anh, rồi Kỳ Phương. Đến đây, chúng đưa tôi vào một căn nhà trong xóm. Cũng nhà tranh vách đất, nhưng có vẻ khang trang hơn những nhà chung quanh. Có thể là nhà của một công an xã. Chúng đỡ tôi xuống xe, dẫn đến một gốc cây soan ở mé sân, bảo tôi ngồi xuống. Hai tên cảnh sát đứng kèm hai bên. Ba tên Nhuận, Đức và Thành, có lẽ đi trao đổi vấn đề.
Chừng một lúc, có một số trẻ con, rồi một số dân trong xóm tò mò chạy đến thập thò nhìn tôi. Đột nhiên, mấy em nhỏ chừng 12, 14 tuổi nhặt những hòn đất, đá ném vào người tôi, rồi tiếp theo là mấy mụ đàn bà nhà quê, trong đó có một bà già, rống lên xỉa xói, chửi, nào là:
– Mày là biệt kích, ăn gan uống máu, làm tay sai cho Mỹ Diệm.
– Mày là tên Việt gian bán nước, phản nhân dân, phản cách mạng.
……….
Một bà khác cầm chiếc đòn gánh cứ xông vào định đánh tôi, mồm réo lên:
– Mày giết chồng tao, ngày nay cuộc đời tao góa bụa, con tao mồ côi. Tao đập vỡ đầu mày ra, cho mày chết!
Tôi đã nhìn thấy nhiều cảnh nhân dân miền Nam, sống ở thành phố cũng như ở nông thôn. Tôi cũng đã nhìn thấy nhiều cảnh nhân dân miền Bắc, sống ở nông thôn cũng như ở thành thị. Tôi so sánh, tôi tự thấy con đường mình đi là chính nghĩa, con đường mang ấm no, tự do, nhân bản cho mọi người. Vì thế, trước cảnh này, dù đôi tay bị khóa, tôi vẫn ngẩng cao đầu nhìn họ. Mắt tôi bình thản nhìn những thái độ thù nghịch, hằn học của họ, mà lòng tôi vẫn tự hào. Cũng khá khen cho tụi lãnh đạo miền Bắc, dùng chính sách ngu dân, bần cùng hóa con người, rồi từ đấy bịp bợm, khích lệ, ca ngợi, phỉnh phờ; khêu gợi lòng căm thù của những kiếp người cùng khổ, hướng về đối tượng kẻ thù của chúng. Nhìn thái độ, ánh mắt và lời nói của họ, tôi tự mỉm cười trong lòng.
Tôi, đã hy sinh cả tuổi trẻ, cả mạng sống, vào nơi hang hùm nọc rắn, để góp phần nhỏ bé của mình, hòng cứu họ thoát cảnh đời trâu ngựa lầm than, lê thê trong kìm kẹp của Cộng Sản, họ lại chửi bới, sỉ vả, hất hủi. Ngược lại, họ lại hoan hô, ca ngợi, kính yêu những người sẽ giết dần đời họ bằng những lời dụ dỗ phỉnh gạt tinh vi. Tôi nghĩ đến thời đại ngày nay, của con người mà rùng mình ngao ngán. Trắng, đen lẫn lộn!
Tôi tha thiết kêu gọi những nhà nước giầu có, các nhân vật tài ba lỗi lạc, hãy đem cái giầu của mình, cái tài của mình, làm cách nào đó, làm cho mọi người dân phân biệt được trắng, đen thực sự. Tôi nói “thực sự”. Vấn đề này, nghe nói đến, ai cũng thấy cũ xưa như trái đất. Tôi nói nó không cũ xưa ở hai chữ “thực sự”. Cộng sản đã, đang và sẽ còn gây cho nhân dân một số nước, một số chính phủ khốn đốn, chỉ vì người dân chưa phân biệt rõ trắng đen, giữa người làm hại và ngưòi làm lợi cho họ.
Có người sẽ nói: Điều này đã nói nhiều lần rồi, nhưng dân không tin.
Điều quan trọng ở đây là vì sao dân không tin? Vì sao dân không tin gồm nhiều mặt, nhiều vấn đề, đòi hỏi mất nhiều tiền của, nhiều tâm trí ngày đêm đào sâu xét kỹ, nhiều tâm, sức để lăn xả vào những việc làm quên mình. Sẽ không có hiệu quả, nếu thiếu một trong ba yếu tố trên. (Ở đây không phải là một tác phẩm lý luận, tư tưởng, vậy tôi chỉ trình bày một số khái niệm có tính cách phiến diện).
Chừng nửa giờ sau, tên Thành, Nhuận và Đức ra bảo tôi đi.
Ruộng đồng lúc này hãy còn khô, nên chúng cứ đi tắt, qua cánh đồng chiêm, thẳng hướng tiến bước. Khi gần tới nơi, xa xa tôi đã nhìn thấy chiếc cây to, tôi đã ngồi nghỉ lúc mới đổ bộ lên bờ; phía bên phải là làng xóm nơi có nhà của tên chủ tịch Phong. Tôi cố ý dẫn theo hướng khác, không đi vào làng, tôi bảo chúng đó là con đường tôi đã đi ra Quốc Lộ 1. Thử để xem trước đây đã có tên nào vào tìm chỗ tôi chôn đồ chưa, nên tôi cứ vờ lang thang ngơ ngác ở xa gốc cây. Lúc đầu, chúng cũng theo tôi, sau thấy tôi cứ lơ ngơ nhìn đây đó, như chưa tìm lại được những địa hình quen thuộc, tên Nhuận và Thành giơ tay làm hiệu:
– Theo như anh vẽ, thì đến phía này cơ mà!
Qua thái độ chỉ dẫn của chúng, trúng phóc, chỉ không thể xác định vị trí chôn chỗ nào gần gốc cây. Đây đó, đã có một vài lỗ nhỏ, đất cát còn lổn nhổn, chứng tỏ đã có người đào bới hàng nửa tháng, mươi ngày trước. Như thế, chúng đã cho người vào tìm, nhưng bới đào lung tung, vẫn không tìm ra. Điều đó,cũng đã nói lên một phần là trước đây, tôi đã chôn giấu tốt.
Đã hơn 5 tháng rồi, mưa gió đã làm cho mặt đất, chung quanh gốc cây, chỗ nào cũng tưởng như chưa hề có dấu chân người bước đến.
Cả 5 tên cùng đang chờ thái độ của tôi. Thực ra, ngay khi tới gốc cây, tôi đã nhận ra chỗ nào rồi, nhưng tôi chưa vội vàng. Thứ nhất, để chúng đỡ đánh giá cái óc còn tốt của tôi. Thứ hai, tôi đang liếc về chỗ bụi rậm, nơi có tổ kiến vàng và nhiều sâu róm, nơi đã che dấu tôi buổi đầu. Nhưng rồi, tôi đã chả làm nên trò trống gì, để bây giờ lọt vào tay kẻ thù. Tôi cũng thấy lòng thèn thẹn với cả bụi dây, mà giờ đây đã qua mùa Thu, mưa nhiều nên xanh um hơn trước. Liếc sâu vào trong bụi, nhìn ra con đường mòn và thửa ruộng đoàn người xuống gặt ngày ấy, lòng tôi xót xa đầy vơi cho kiếp đời gió mưa của mình. Nhìn ra xa xa, biển khơi một màu xanh ngắt. Nhớ đêm nào các anh đã bế tôi vào bờ. Bây giờ các anh, các bác đang làm gì, có bao giờ các anh, các bác ngồi nhớ lại cái đêm định mệnh đã làm tàn lụi, một đời người thanh niên không? Tự nhiên tôi thở dài nhè nhẹ, như trút dần những nỗi niềm đang buộc chặt trong lòng.
Trong lúc tôi đưa mắt nhìn đây đó như cố moi óc để xác định chỗ chôn dấu, tôi thoáng thấy từ xa, nơi một bụi cây cách tôi hơn 200 mét, mọc ở một chỗ hõm đồi cát, mấy cái đầu lố nhố thập thò. Tôi lại nhìn thấy một họng súng đen xì khuất chéo bụi cây. Lòng thầm ca ngợi sự cảnh giác đúng cỡ của Cộng Sản. Chúng đã chủ động ngày giờ đi, và tôi đang ở trong tay chúng, không có một tấc sắt mà còn bị khóa hai lần. Tất cả chỉ vì cái đa nghi phòng hờ của chúng. Tôi đã tả kỹ, vẽ rõ ràng sơ đồ, chỉ cho chúng vào lấy, chúng không tìm ra. Bây giờ phải dẫn tôi đi, có lẻ chúng đã nghĩ, biết đâu, đây lại chả là một kế hoạch có chủ trương của tôi; hoặc biết đâu, những mạng lưới hoạt động của tôi theo dõi, bám sát, đến nay, thấy tôi được dẫn về địa điểm hẹn, đã báo cho Sài Gòn để bất ngờ vài chiếc “máy bay lên thẳng” vũ trang xuất hiện bắn phá, rồi nhào xuống cướp tôi đi. Vì thế, chúng đã huy động du kích xã bố trí, chung quanh khu vực tôi chôn đồ. Phải công nhận Cộng Sản làm việc gì đều tính toán tỉ mỉ, phòng hờ những tình huống có thể xẩy ra. Nhưng, một điều chắc chắn là chúng không thể biết được, tôi đã thấy du kích bố trí, vì từ ánh mắt đến thái độ của tôi đều không có gì khác thường cả.
Sau một lúc nhìn khắp nơi cảnh vật, mắt cau cau như thể phải vận dụng óc để nhớ lại, tôi chỉ:
– Đào chỗ này!
Chúng có một cái xẻng nhỏ của bộ đội, chúng chỉ đào sâu chừng 20 phân đã thấy cả một cái ba lô mầu vàng, to tướng của Nhật và chiếc xẻng con của tôi đã chôn theo. Vải ba lô bây giờ đã trở thành mầu xám đen và đã mục vài chỗ. Rất nhiều rễ cây con mọc chằng chịt chui vào chiếc ba lô. Máy móc, tiền, thuốc Tây, bi đông, v.v… Và cả khẩu súng ngắn phòng thân, đem đi phòng hờ bị kẹt ở điểm đổ bộ chưa ra được đường. Vì được tôi bọc trong một miếng ny lông nên hãy còn nguyên.
Sau mươi phút, chúng lấy hết lên. Tất cả đều đúng như tôi đã kê khai trước đây. Một vài thứ đã mủn rách, chúng cũng cho tất cả vào một chiếc bao tải. Tên Thành vác lên vai. Khi lấy các thứ này, chúng vui vẻ ra mặt. Thái độ của chúng đối với tôi cũng bớt phần gay gắt. Tôi nhìn 200 đồng bạc, bây giờ mới thấy thèm, vì vậy, khi về tới xe, tôi lựa lời:
– Thưa các ông, số tiền ấy…tôi có được dùng không?
Chúng đều quắc mắt, tên Đức cao giọng, dõng dạc:
– Đó là tiền của Mỹ Diệm trang bị cho anh để đi hoạt động gián điệp, đâu phải tiền của anh. Hơn nữa, tiền đó còn để làm tài liệu, chứng cớ.
Tôi cũng hơi tiếc biết thế hôm đó mang tuốt cả đi, tiêu cho đã. Tôi đã phải dè sẻn tiêu pha. Bị bắt, trong túi còn 20 đồng, vẫn bị tịch thu khi chúng khám xét.
Tôi nhớ, trên đường trở ra Quốc Lộ 1, bây giờ đã đào được rồi, không có chuyện gì xẩy ra, chúng cũng hơi chủ quan. Cả 3 tên Thành, Nhuận và Đức đi đường nào tôi không biết, chỉ còn hai tên cảnh sát giong tôi. Ngay khi đào được đồ, tôi kêu tay tôi mỏi và ngứa quá không gãi được. Chúng thấy đã có kết quả, nên cũng dễ dãi đồng ý khóa tay tôi ra phía trước và chỉ một khóa số 8 thôi.
Khi di với hai tên cảnh sát ra tới giữa cánh đồng. Tôi nhìn suốt một giải chung quanh, cánh đồng rộng bao la, lại thỉnh thoảng có một ruộng đang có lúa. Vì ở giữa cánh đồng, không có nhà cửa cây cối, hai tên cảnh sát cũng chủ quan. Có lúc cả hai tên cùng đi trước tôi đến 7, 8 thước. Chắc chúng nhìn thấy tấm thân tôi xanh xao gầy gò, bước đi còn không nổi, tay lại còn bị khóa nên chúng cũng chả cần đề phòng gì. Tuy hai tay bị khóa, khi thấy một vũng nước nhỏ có con cua, hay con cá, tôi vẫn đứng lại nhìn, hoặc sà xuống lấy tay hất con cua lên chỗ khô.
Giữa cánh đồng, không khí trong lành, tôi đi lại được thoải mái nên người khỏe hẳn lên. Tôi chợt có ý nghĩ, nếu tay không bị khóa, đây là cơ hội đẹp biết bao. Không có cách gì để mở được chiếc khóa này! Tay tôi hơi nhỏ, bây giờ lại gầy nữa, nếu có xà bông, nhất định ra.
Tôi nói một cách có suy nghĩ tính toán là nếu tay tôi không bị khóa, hai tên cảnh sát ở giữa cánh đồng, dù có hai khẩu súng ngắn dắt trong bao đeo ở cạnh sườn, tôi sẽ vẫn giải quyết được trong 5 đến 10 phút. Với tình huống này, tôi có khả năng gây cho chúng chủ quan rất dễ. Mà đã chủ quan coi khinh tôi, chỉ vài thế đánh chớp nhoáng là chúng gục, nhất là lúc này lại là lúc tôi phải quyết tử, khác hẳn với lúc tôi chưa bị bắt. Âu cũng là nghiệp chướng của đời tôi!
Xe về tới Hà Tĩnh đã 5 giờ chiều. Tôi lại được xuống bếp, lại gặp hai nữ cán bộ hôm qua. Vẫn có nồi cơm nguội của các bà. Hôm nay, lại có hai con cá rô nhỏ kho và một bát con rau muống luộc. Rau muống luộc mà chấm với nước cá kho, thật là hồn bay tận mây xanh. Tôi cắm cúi ăn, lòng thầm biết ơn hai người. Suốt bữa ăn, cả hai đều ngồi đấy, một đọc sách, một khâu. Chả ai nói với ai một lời. Im lặng, chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng loong coong của đôi đũa chạm vào bát khi tôi và cơm. Ăn xong, tôi đứng dậy nhìn hai bà với ánh mắt dạt dào tình người. Một người ra ngoài một lúc, một tên công an vào, ra hiệu tôi đi theo y. Trên đường dẫn đến xà lim, bấy giờ tôi mới chợt nhớ đến rệp. Tôi thấy rùng mình. Cứ nghĩ đến đàn rệp lổm ngổm ở chiếc sàn gỗ. Vẫn là căn buồng xà lim hôm qua. Khi y chuẩn bị đóng suốt cùm, tôi nói như than vãn:
– Thưa ông, chiếc sàn này nhiều rệp quá!
Y nhìn tôi lừ lừ, chẳng nói một lời, bỏ ra, đóng của, khóa lại.
Đã có kinh nghiệm, cùm xong, tôi ngồi xổm ngay dậy. Tôi ngồi sầu, suy nghĩ miên man. Vô kế khả thi. Chẳng có cách gì để chống lại lũ rệp. Không lẽ, tôi cứ phải ngồi như vậy suốt đêm? Một ý niệm tràn vào óc tôi. Trong cuộc đời, nhiều khi vì cái thế, phải thua, phải hàng cả con …rệp. Cũng một con người ấy, nhiều khi hiển hách, hét ra lửa, bao kẻ phải cúi đầu lo sợ; nhưng, cũng có lúc vì cái thế. Óc tôi cứ chảy dài theo dòng suy ngẫm, bỗng giọng một người con gái nghe như thì thầm gần đâu đây:
– Sao anh không nằm nghỉ?
Tôi ngỡ ngàng, vểnh tai về phía tiếng nói, chẳng hiểu nói với tôi hay nói với ai! Im lặng, mấy phút trôi qua. Lúc này, rõ ràng là người con gái ấy nói với tôi, nghe khe khẽ như tiếng thì thào từ một khe nứt ỏ một tấm vách tường:
– Sao anh không trả lời?
Như vậy, hẳn cô nàng khi nãy có nghe loáng thoáng tôi nói chuyện với lão cán bộ rồi. Cũng với giọng khe khẽ tôi thì thầm:
– Xin lỗi, có phải cô Nguyệt?
Giọng hơi ngạc nhiên:
– Sao anh biết tên tui?
Tôi hơi cười:
– Tôi còn biết anh Thời nữa!
Rồi để đánh tan sự ngần ngại, ngạc nhiên, tôi tiếp:
– Có gì đâu, hôm qua tôi nghe anh chị gọi nhau.
Và để chủ động, tôi tiếp tục:
– Chị bị bắt lâu chưa, về tội gì?
– Hơn tháng rồi. Tôi là đoàn trưởng Đoàn Thanh Niên Lao Công của xứ đạo. Họ bắt tôi phải từ bỏ việc làm của tôi, để gia nhập Đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Tôi không đồng ý, nên họ ghép tội tôi là phần tử phản cách mạng, họ bắt.
Tôi thấy chị tỏ ra cởi mở, không giữ gìn, dễ tin người. Nhưng, cũng có thể chị đã có cái nhìn tinh tế về tôi, nên mới vậy chăng? Tôi tiếp tục:
– Còn anh Thời?
Chị nói nhỏ:
– Tôi không biết rõ lắm!
Tôi hơi cao giọng:
– Tôi có lời chào và thăm hỏi anh Thời!
Tiếng nói từ một buồng phía xa:
– Chào anh bạn, anh mới bị bắt vào hỉ?
Thấy xa xôi quá, phải nói to không tiện. Nói to trong đêm khuya là một điều bất lợi. Lại tiếng chị Nguyệt nho nhỏ:
– Anh bị bắt vì tội gì? Trông anh ốm lắm!
Tôi cũng hạ giọng:
– Xin cảm ơn sự quan tâm…Chị nhìn tôi có rõ lắm không? Thế mà tôi chả biết chị như thế nào?
Một tiếng cười khẽ:
– Người ta hỏi lại cứ tảng lờ!
Cô này có vẻ đáo để và khôn ngoan. Để khỏi phiền toái những hậu họa vô ích, tôi thủng thẳng:
– Tôi là giáo viên cấp II ở Hà Nội, tội vượt tuyến.
Một lúc im lặng, rồi với một giọng thắc mắc:
– Vượt tuyến gì mà lại cùm hai chân?
Ghê nhỉ! Phụ nữ cũng không vừa. Nghĩ vậy, tôi thản nhiên:
– Có gì đâu, trong lúc bị vây bắt, tôi đã đánh cán bộ.
Lại một tiếng cười khẽ:
– Dữ nhỉ! Anh hay đánh người lắm hỉ?
Để khỏa lấp chuyện đó, tôi hỏi:
– Ở đây có mấy buồng xà lim? Nói chuyện thế này, có khi nào bị cán bộ rình bắt cùm không?
– Ở đây có 8 buồng. Nói chuyện nhỏ thế này từ 10 giờ đêm trở đi, không sợ. Thỉnh thoảng nghe tiếng chân cán bộ đi kiểm tra, mình im luôn.
Tôi nghĩ bụng, nói chuyện thế này, những lúc hứng câu chuyện, làm sao nghe được tiếng chân. Hơn nữa, gặp phải một tên cán bộ quái, nghe tiếng chân sao nổi. Tuy vậy, tôi cũng không nói ra, tôi nói như than thở:
– Sao ở đây nhiều rệp thế, tôi không thể nằm được!
Lại tiếng cười xìn xịt. Sao hay cười thế! Hết cười, cô mới như an ủi:
– Ngày mai, anh báo cáo cán bộ trực xà lim, xin ít dầu lửa đổ vào các khe gỗ.
Tôi nghĩ thầm, ngày mai tôi có còn ở đây nữa đâu. Tuy vậy, tôi im lặng.
Cũng quá nửa đêm rồi, tôi đứng lên ngồi xuống nhiều lần đã mỏi quá. Thôi, cũng đành như đêm qua, đành mời mọc hiến dâng cho những con rệp, con muỗi một bữa no nê nữa.
Máu của tao, khổ cực đói khát quá, nên vừa hôi tanh, vừa loãng lắm. Lũ chúng mày chỉ có thể hút máu những người nghèo khổ cùng cực, chứ những loại máu thơm ngon bổ béo của những người giầu, chúng mày đừng hòng. Người ta có mùng mền sạch sẽ, và có nhiều loại thuốc để trị chúng mày! Giống như đồng chí của chúng mày vậy, chúng chỉ có thể hút máu mủ, những đám dân nghèo nàn lạc hậu, nhứ những nước giầu có văn minh, người ta có hở cơ ra, chúng mày cũng chỉ “khạp” được một miếng mà thôi.
Mới mờ sáng hôm sau, tên công an trực trại đã vào mở cửa, mở cùm bảo tôi ra. Có lẽ lúc này cô Nguyệt còn ngủ, hoặc có thức, tôi cũng không làm sao lên tiếng chào một người “chiến hữu hai đêm”. Lợi dụng lúc tên công an quay lưng đi ra, tôi gõ nhè nhẹ tay vào tường hai cái, gọi là để giã từ người bạn mới có lòng.
Cái buổi từ Hỏa Lò ra đi, đã ruột gan đòi đoạn từng cơn. Bây giờ trở về, dù được chúng thông cảm khóa tay ra phía trước, nhưng trong lòng tôi như không còn một chút nhựa sống. Xe long lóc, người tôi ngả nghiêng; vật vờ, rũ rượi, như những chiếc lá úa trước những trận Thu phong cuối mùa.
Xe càng chạy trở về, tôi thấy lòng càng quặn thắt, xa dần miền Nam thương yêu. Lần lượt, những hình ảnh bạn bè, họ hàng ruột thịt chan chứa, đầm ấm hiền hòa hiện ra trong óc tôi. Qua khe hở của chiếc mui xe, tôi rõi mắt nhìn một mảnh trời hình tam giác lệch, về hướng Nam. Một mảnh trời xanh xanh mơ hồ, vời vợi, rõ ràng nét mặt của mẹ tôi, với đôi mắt sầu ngấn lệ, nhìn tôi đăm đăm. Một âm vang rền rĩ trong óc:
Mẹ ơi! Cách trở ngàn trùng.
Hướng về nơi mẹ, ngập ngừng…lệ rơi!
Tôi nhắm mắt lại để ngăn giòng lệ khỏi trào ra, uất nghẹn dồn về trái tim đen thẫm.
Xe chạy qua Vinh, trên đường đi Thanh Hóa. Hai bên đường ngập lúa chín vàng. Những sóng lúa dập dờn theo chiều gió, những làn hương đồng nội ngất ngây phả ắp không gian, cũng không làm giảm được nỗi buồn héo hắt trong lòng tôi.
Xe từ từ ngừng lại ở mé đường. Tôi liếc nhìn ra khi hai tên Thành và Nhuận xuống xe. Nhìn theo con đường đất chạy dài mãi vào nơi làng xóm xa xôi. Mãi trong phía xa, khoảng 200 mét cách đường nhựa nơi xe đậu, tôi thấy có 3, 4 thanh niên và mấy em nho nhỏ, hầu hết là quần đùi, chân đất đang chạy ra phía chiếc xe. Khi các em chạy đến, qua một vài câu trao hỏi, tôi mới hiểu đây là quê hương của tên Thành. Chắc Thành đã viết thư từ trước. Lâu ngày đi làm việc ở Hà Nội xa, may có dịp công tác qua quê nhà, nên y hẹn các em, các cháu ra hỏi han tin nhà, và cũng là để vẻ vang với xóm làng.
Mấy thanh niên và các em nhỏ tò mò nhìn vào trong xe. Chẳng biết chúng sẽ suy nghĩ gì với những cái đầu óc bị bao vây trong lũy tre làng! Lũ thanh niên và Thành hỏi han nhau tíu tít, nào là:
– Anh Thành ơi! Anh A đã vào chiến trường B rồi (theo miền Bắc lúc ấy: Chiến trường “A” là miền Bắc, “B” là miền Nam và “C” là Lào).
– Chị B lên huyện làm y tá.
– Anh C đã làm tiểu đội trưởng du kích, v.v…
Đột nhiên, một thanh niên giọng háo hức:
– Anh Thành ạ, anh Luơng làng mình đã mua được một chiếc xe đạp rồi đấy. “Bình bầu” mãi! 280 đồng giá cung cấp. Hai cái tay “phanh” sáng loáng. Hôm nọ, nói mãi anh ấy mới cho em đi thử một vòng ở sân hợp tác xã, êm như ru, sướng lắm!
Tôi nghĩ thầm. Một chiếc xe đạp! Bao nhiêu lâu anh em mới gặp nhau có mươi, mười lăm phút, mà khoe “một chiếc xe đạp”, lại là của người khác cho mượn. Tôi cảm thấy, ở miền Nam, chuyện mua một chiếc ô tô cũng không đến nỗi chiếm vào cái thời giờ ngắn ngủi, mà bao nhiêu chuyện gia đình cần nói.
Sự việc này, cho phép tôi hiểu hơn một chút về cảnh sống của người dân miền Bắc. Đám thanh niên, trẻ con còn rờ, còn mó chiếc xe ô tô như một thứ kỳ vĩ lạ lùng. Với đầu óc ngây thơ hạn hẹp của họ, đúng là Liên Xô, Trung Quốc vĩ đại thực, vô địch thực! Nghĩ cho cùng, nếu tôi phải sống như họ, thì tôi cũng chẳng khác gì họ. Vậy, lỗi này đâu có phải tại họ!
Mười lăm phút sau, xe lại chạy, những đứa trẻ con còn cố chạy theo để rờ, mó chiếc xe như thể tiếc rẻ chưa rờ đã!
Cung kẹo bây giờ hàng ngày liên miên. Nhiều lúc chúng truy tôi rát quá, người tôi như không còn hồn. Tôi ì ra. Có lúc tôi chả biết đường nào tôi trả lời. Lâu lâu, tôi chỉ biết nói:
– Tôi thành khẩn khai báo mọi sự việc từ lúc bé tới bây giờ mà các ông vẫn không tin tôi. Nhiều đêm về nằm, giá ước gì có cách nào đó, để các ông nhìn rõ được trong lòng tôi, cuộc đời tôi không đến nỗi khổ đau như thế này.
Chúng đập bàn quát ầm lên:
– Anh đừng già mồm, không cần phải có cách gì, chúng tôi cũng đã thấy rõ anh là một tên phản động vô cùng ngoan cố, bao che đến cùng những âm mưu phản dân, phản nước của bè lũ Mỹ Diệm. Ngày đêm, anh tính toán mưu mô, hòng che mắt Bộ Công An của nhân dân. Tôi nói cho anh biết, anh sẽ chết dần, chết mòn trong đau thương khổ cực. Chỉ có một con đường duy nhất là anh tự cứu lấy anh. Đừng mơ hồ trông chờ bất cứ một thế lực, hay một kẻ thần thế nào có thể cứu được anh.
Tôi tỏ ra rất thành khẩn:
– Thưa các ông, được sự chỉ dạy của các ông, lòng tôi càng thêm phần khởi. Tôi thấy rằng, khi nhận nhiệm vụ ra ngoài Bắc, tôi đã có những hành động và những ý nghĩ đúng, là tôi đã chẳng làm gì cho địch, và khi bị bắt, tôi đã khai báo ngay hết mọi sự thật. Tôi tha thiết đề nghị với các ông, tôi nghe nói rằng trên thế giới hiện nay, người ta đã chế ra máy để biết rõ sự thật, hoặc có loại thuốc người ta uống vào sẽ nói ra hết sự thật, vậy nếu chính phủ ta có các thứ đó, xin hãy cho tôi được thực nghiệm. Tôi xin đội ơn cách mạng suốt đời.
Tên Nhuận cười rộ lên:
– Chúng tôi không cần những thứ đó cũng vẫn hiểu rõ được anh. Anh còn vì một điểm nào đó, nên đã không nói thật hết với chúng tôi. Nhưng, tôi tin rằng sớm muộn, rồi đây anh sẽ tự giác nói thực hết, mọi âm mưu thủ đoạn của địch với chúng tôi.
Tôi biết tỏng là làm gì chúng có loại máy nghe sự thật, hoặc loại thuốc uống vào rối loạn thần kinh, không chủ động được nữa để chúng hỏi gì nói thực cái ấy, v.v… Và dù có các loại máy đó, tôi vẫn tin là không giải quyết được vấn đề. Nhân tiện, tôi đánh một đòn sâu hơn nữa:
– Thưa các ông, tôi dám cam đoan trước các ông là, nếu sau đây, bất cứ thời gian nào. Các ông chỉ cho tôi bằng cụ thể, một sự việc gì chính yếu, tôi đã khai không đúng, tôi xin chịu mọi hình phạt của nhà nước cách mạng.Tôi vẫn phòng hờ gài vào hai chữ “chính yếu”. Sự việc chính yếu cao nhất thì tôi cho là chúng nó có người nằm trong Cục tình báo của Sài Gòn, hoặc Z-5 hay linh mục A bị bắt. Hay, chúng bắt được tài liệu “M”. Tôi tin là Z-5 hay linh mục A nếu họ bị bắt, cũng không khai. Và dù họ có khai, thiếu chứng cớ, tôi vẫn không nhận. Còn người của chúng dù có nằm trong Cục, trên nguyên tắc, nếu không cùng một công tác, không biết ai với ai. Nói chung, với sự hiểu biết của mình, tôi nói, tôi không sợ di họa sau này. Hơn nữa, đây là lúc liều rồi, chỉ có chết và sống thôi mà.
Tên Nhuận cau mặt lại, nhìn tôi:
– Anh đừng nói nhiều nữa. Hãy nghe tôi hỏi đây. Anh tả kỹ lại chỗ anh chôn những vật dụng mang theo từ miền Nam ra!
Tôi lần lượt trình bày lại chỗ chôn giấu tài liệu. Tên Đặng chêm vào:
– Anh hãy nhớ kỹ, ngoài những thứ anh kể, anh có quên thứ nào mà anh đã cùng chôn không?
Tên Đức đưa một tờ giấy, bắt tôi phải vẽ sơ đồ địa điểm chôn giấu, ghi lại các thứ đã vùi lấp.
Từ lúc đó tới giờ, đã gần 5 tháng rồi, tôi phải cố moi óc vẽ sơ đồ các điểm, khoảng cách với Quốc Lộ 1, bụi cây, cây lớn và đường mòn… Chúng hỏi rất chi tiết. Tôi tưởng chúng sẽ cho người vào đào chỗ tôi chôn. Tên Đặng hỏi tiếp:
– Nếu anh chỉ cho một người, người đó có thể đào đúng chỗ chôn giấu được không?
Tôi nhanh nhẩu:
– Được! Tôi nghĩ rằng, tôi vẽ rõ ràng thế này, có đầy đủ các điểm chuẩn, thì ai vào đào cũng lấy được.
Bỗng dưng tôi thấy hoa mày, chóng mặt, tôi phải vịn vào bàn. Một nguồn lạnh run từ trong xương sống truyền ra, làm tay chân tôi nổi gai ốc. Chúng hỏi:
– Làm sao?
Tôi nói không ra hơi:
– Có lẽ tôi bị sốt…
Chúng cho tôi về. Lúc đó cũng đã gần hết giờ.
Khi về tới xà lim, tên Nhiễm qua bảo tôi cho chân vào cùm. Tôi cố cho chân vào, rồi người tôi run quá, từng đợt lạnh chuyển từ xương sống ra khắp người. Mọi khi, muốn gì thì muốn, đi cung về là tôi sà vào ngay bát cơm đã, nhưng hôm nay, tay chân run lẩy bẩy, gai ốc nổi đầy mình. Bát cơm vẫn để đấy. Lạnh quá, lại không có cái gì đắp ngoài bộ quần áo sọc đã cũ vẫn để gối đầu, tôi giở ra, chỉ đủ để quấn cổ và quấn bụng. Bây giờ cả người tôi run lên. Từ bé tới lớn, tôi chưa thấy cơ thể mình lạ lùng thế này. Tôi chẳng biết làm sao, chỉ biết gọi “Mẹ ơi!” Tiếng gọi thầm thì như tiếng rên nài nỉ thiêng liêng, tình Mẹ cứu con!
Tôi đang ngồi run lẩy bẩy thì cửa nhỏ xoạch mở. Mặt tên Nhiễm. Y rút chốt cùm và mở cửa lớn. Như thường lệ mọi khi, y phải thấy tôi nhấc chân ra khỏi cùm, đem bát ra trả và múc nước. Y đứng một tí, không thấy tôi ra, y nhòm vào, quắc mắt:
– Sao không đưa bát ra!?
Tôi nói với giọng giật giật vì run:
– Thưa ông… tôi sốt…
Y đi vào, đứng nhìn một lúc. Tôi nói:
– Thưa ông… tôi rét quá, ông… cho tôi cái chăn…
Y quát lên:
– Chăn, chiếu nào cho anh!? Ba ngày nữa, đến ngày 16 tháng 11 là đầu Đông mới cho mượn chăn, bây giờ đâu có!
Trời đất hỡi! Tôi lạnh quá! Cái mông, ngồi xuống sàn xi măng đã lạnh buốt. Hai vai dựa vào tường cũng lạnh buốt. Còn cái chân ở trong cùm nữa! Lạnh trong ra, lạnh ngoài vào. Bụng không có cơm, cũng không có thuốc. Chiếc chân chỉ còn da bọc xương, hai đầu gối của tôi chỉ là hai cục xương.
Tên Nhiễm đứng nhìn một lúc, rồi đi ra, đóng cửa lại. Y còn ghé trở lại đút chốt cùm khi nãy đã rút ra. Chân tôi vẫn để nguyên trong cùm.
Chừng 10 phút sau, cửa mở, mụ Dậu y tá vào, mang theo một cái khay. Mụ để cái khay ở sàn trống bên cạnh, rồi quay sang:
– Anh làm sao?
Tôi vẫn run rẩy cả người, hai tay khoanh chặt ép vào ngực, trả lời ngắt quãng:
– Tôi… bị… sốt…
Mụ đưa cho tôi một cái ống thủy, bảo cặp vào nách,. Trong khi tôi cặp ống thủy, mụ ngoái nhìn toàn buồng của tôi, rồi lại nhìn tôi. Ngoài bát cơm chơ vơ nguội lạnh ở đầu sàn, trong buồng trống trơn, chẳng có một cái gì.Những người tù ở miền Bắc, thường có chăn màn, quần áo, có khi còn được tiếp tế nữa. Nên trong xà lim, thường vẫn có một số đồ tối thiểu. Phần tôi, chăn mùng không, thậm chí quần áo cũng bị tịch thu, chỉ có một bộ quần áo sọc tù duy nhất. Tên Nhiễm vẫn đứng ở ngoài, một tay vịn cánh cửa nhìn vào. Hình như hắn cũng không tin cả người y tá. Mụ Dậu ra hiệu tôi đưa ống thủy cho mụ. Mụ soi ra ánh sáng. Tôi chả biết bao nhiêu độ.
Mụ quay lại nhìn tôi, rồi hất hàm về phía tên Nhiễm:
– Hãy đề nghị với ông cán bộ đây.
Cánh cửa đóng xầm, tiếng xọc xạch của then cửa như đập vào nỗi tuyệt vọng của tôi. Tôi mệt mỏi quá, nằm xuống, lại phải cố gắng bò dậy ngay, vì cái sàn xi măng lạnh buốt. Chẳng hiểu ngày xưa trong chuyện võ hiệp của Tầu, tập luyện nằm giường đá, thế nào tôi không biết, chứ tôi thấy cơ thể của một con người không có cách nào chịu đựng được. Nó buốt lên tới gáy, tới đầu. Tôi cũng đã bắt buộc… phải tập nằm từ mùa Hè qua mùa Thu cho đến bây giờ, vậy mà chả quen được.
Tôi cứ phải ngồi như vậy suốt đêm. Lúc mỏi quá, mệt quá, ngả xuống, lại phải bò dậy ngay, mấy lần. Tôi chỉ dựa vào tường thiếp đi từng chập. Cơn sốt đã giảm, mồm đắng nhổ không ra nước miếng.
Tôi cứ ngồi co ro, đầu ngục xuống. Hồn lãng đãng dật dờ tỉnh mê. Dòng suy nghĩ chập chờn về… lòng nhân ái, tình nhân loại, nghĩa đồng bào… Giữa đêm trường vắng lặng, thỉnh thoảng một tiếng mối kêu lanh lảnh: Chặc, chặc, chặc… kéo dài, vang vào đêm thâu như ngạc nhiên, băn khoăn, tại sao loài người lại hành hạ tàn nhẫn với nhau như vậy!?… Tôi thiếp dần đi, cho mãi tới khi tai nghe loáng thoáng những tiếng cãi cọ nhau, giành nước của những người tù nữ nơi tắm giặt phía sau xà lim, tôi mới giật mình mở mắt.
Vẫn cái dáng ngồi hai tay ôm trước ngực, dựa tường. Cả người đau như giần, mệt nhọc; nhưng, khi tôi nhìn thấy bát cơm, từ hôm qua vẫn còn nguyên như cũ, đang mời gọi. Vì sợ chốc nữa quản giáo đến mở cửa các buồng cho đổ bô, sẽ bắt đem bát cơm ra, nên tôi kéo bát cơm đến, ăn vội.
Đúng như vậy, tôi đã nghe tiếng lẻng xẻng chìa khóa mở buồng số 1, tiếng ào ào mở vòi nước, tiếng chổi cùn khua khoắng bô, vì bô bằng tôn. Không hiểu sao, bô nào cũng vậy, nước giải đóng thành cao vào chung quanh. Nếu chỉ đổ và tráng nước không, vẫn còn mùi khai thối, vì thế, thường ai cũng phải vội vàng dùng những cuống chổi thanh hao cùn, bó chừng một nắm tay, dài độ 20 phân, thường dựa ở góc bể nước con, khua và tráng cho sạch bô. Vì chính mình, khi đi ngoài phải ngồi vào đó. Nhiều miệng bô, do lâu ngày nước giải ăn mòn, lởm chởm sắc như răng cưa. Ngồi để mông vào một lúc đau không chịu được, phải xoay chỗ khác. Cho nên, khi còn lão Hoàn giam chung với tôi, khi hắn đi xong đứng lên, mông có rất nhiều khoanh tròn răng cưa hằn sâu vào thịt.
Đến lượt buồng tôi. Tôi trả bát, đổ bô xong, vừa tra chân vào cùm, lại thấy mở cửa. Mụ Hoa vào gọi tôi đi cung.
Hôm nay, ra phòng cung, tôi chỉ thấy Thành và Đức. Lâu lắm mới thấy tên Thành. Tôi nhớ y nhiều vì trong số 6, 7 tên chấp pháp hỏi cung tôi, chỉ có tên Thành này từ ánh mắt, cho đến lời nói, thái độ hỏi cung, tỏ vẻ rất có thiện cảm với tôi. Y tỏ ra một con người rất tình cảm. Có lúc, tôi thấy y cầm cuốn tiểu thuyết “DDoạn Tuyệt” của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Tôi hiểu, y được quyền xem, nghiên cứu vì y là chấp pháp chính trị. Hơn nữa, y đang theo hàm thụ năm thứ tư về Kinh Tế. Dù sao, tôi vẫn thấy y còn chất tiểu tư sản. Tên Thành chỉ chiếc ghế, tình cảm:
– Anh ngồi đi. Sao, dạo này anh có được khỏe không? Tôi bận chút công việc, lâu lắm mới gặp lại anh.
Tôi cũng mềm mỏng:
– Cảm ơn ông, lúc này tôi không được khỏe lắm.
Y vờ ngạc nhiên săn đón:
– Anh bị yếu đau sao? Anh có ăn được không? Có ăn hết suất cơm không? Sao trông anh gầy thế?
Theo cái hiểu của chúng, nếu cứ ăn hết suất cơm là không sao cả. Chúng không thể biết được, do cái đói cào cấu, thèm ăn triền miên hàng ngày, hàng tháng, nên dù sắp chết, tù vẫn thèm ăn. Vì vậy, tôi trả lời thủng thẳng:
– Hôm qua tôi bị sốt, nhưng vẫn ăn hết suất cơm.
Tên Đức hôm nay cũng có vẻ tươi tỉnh:
– Hôm nay chúng tôi gọi anh lên, không phải để hỏi cung anh. Gọi anh lên để nói chuyện… Này, anh Bình, tôi hỏi thực anh nhé! Khi còn ở Sài Gòn, anh có hay đi nhảy, đi chơi gái không?
Nhìn y, tôi hơi ngạc nhiên. Y vừa cười vừa hỏi, lại còn nhay nháy con mắt nữa chứ. Tôi nghiêm trang trả lời:
– Thưa ông, tôi không biết nhảy. Còn chuyện chơi gái, phần tôi chỉ chú ý đến học hành, phần khác, tôi không thích. Theo quan điểm của tôi, chuyện đó là một thứ cao đẹp của con người. Bỏ đồng tiền ra mua bán làm trò giải trí, thà đi xem xi nê, đọc sách, hoặc ngồi ngắm cảnh thiên nhiên còn thú hơn. Điều đó, vừa vô nghĩa lại vừa tỏ ra sự hèn kém, của người con trai.
Cả hai tên đều nhìn tôi cười rộ. Tên Thành tình cảm:
– Khi anh ra đi, bố mẹ và các em anh có khỏe không? Bố mẹ anh có biết không?
Nhắc đến gia đình, tự nhiên một mối xúc động len lén vào lòng tôi. Vì thế, khi tôi trả lời, niềm xúc động cũng tràn ra theo:
– Bố mẹ tôi khỏe. Bố mẹ tôi không biết gì về chuyến đi của tôi.
Thành tiếp tục gợi chuyện:
– Anh có nhớ bố mẹ và các em anh không? Anh thử nghĩ xem, bố mẹ anh đã phải tần tảo vất vả cả cuộc đời, để nuôi anh đi học, anh đã làm cái gì để đền đáp công lao trời bể ấy?
Niềm xúc động càng tràn vào đầy ắp trong lòng. Tôi miên man nhớ tới một hình ảnh không quên: Buổi chiều ấy, khi tôi còn ở trại học sinh di cư Phú Thọ, Chợ Lớn, thằng em trai đến bảo tôi:
– Tối nay, 7 giờ về chỗ sân nhà Tân Định, tan chầu ra, mẹ sẽ gặp anh để làm gì ấy!
Đã hai tuần liền, tôi không về nhà, vì ông bố mắng chửi là mải chơi không chịu học hành, nên thi phần 1 trượt. Tối hôm đó, trời mưa giăng ẩm ướt, tôi núp dưới một mái hiên trong sân nhà thờ chờ mẹ. Những hạt mưa nhỏ lấp lánh như những sợi chỉ bạc trong ánh đèn điện, hắt ra từ những cửa sổ nhà thờ, càng làm cho buổi tối thêm lê thê da diết. Người mẹ, hai tay thủ trong vạt áo dài vì lạnh, chiếc khăn trùm kín đầu, lò dò từ cửa hông nhà thờ ra sân, dưới mưa rơi, gặp con chỉ để nói:
– Hãy nghe lời mẹ. Chủ Nhật này về, bố mày hết giận rồi!
Và mẹ giúi vào tay tôi 100 đồng. Giờ đây, tôi trong cảnh tù đầy, hình ảnh ấy của người mẹ kính yêu, đã làm nước mắt tôi trào ra lúc nào không biết. Tôi thổn thức, nức nở như một cậu bé con.
Chính những tên chấp pháp cũng không ngờ được tôi khóc, và chúng phải im lặng tôn trọng cái phút thiêng liêng ấy.
Phải, con người tôi, tha hồ cùm kẹp hành hạ đừng hòng nước mắt tôi chảy ra, trừ mẹ tôi, tình cảm gia đình tôi.
Cũng từ đấy, chúng phát hiện được nhược điểm tình cảm của tôi. Và, với Cộng Sản, kinh nghiệm thực tiễn cho tôi thấy, anh càng yếu, càng sợ cái gì, chúng càng lấy cái đó để hành anh. Sau này, đầy dẫy những minh chứng.
Chúng để cho tôi hết cơn xúc động, rồi mới đẩy đưa:
– Đấy, anh xem, vì sao hiện nay anh lại bị như thế này. Nguyên nhân chính yếu là do bè lũ Mỹ Diệm, đã lợi dụng bầu nhiệt huyết của thanh niên và lòng bồng bột của anh, để đẩy anh vào chỗ chết. Trong khi hiện nay ở nhà, chúng vẫn phè phỡn xe hơi nhà lầu, tiệc tùng cười vui thoải mái hả hê, không cần biết hoặc không còn nhớ bây giờ anh sống hay chết. Anh phải biết căm thù chúng nó. Hãy tố giác mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng anh của chúng với cách mạng. Đây là con đường duy nhất, để tự anh cứu sống anh. Chính anh là người quyết định sẽ được hưởng lượng bao dung khoan hồng, của đảng và nhà nước hay không!
Tôi vẫn cúi đầu ngồi nghe chúng nói. Tôi thấy chúng lợi dụng sự yếu mềm của tôi với gia đình, để đẩy đưa sang vấn đề chính trị. Tôi suy nghĩ, tương kế tựu kế là sách lược hay nhất và hiệu quả cũng thường cao nhất. Vì thế, tôi tỏ nét mặt vui tươi và tin tưởng:
– Thưa các ông, các ông nói rất đúng. Càng suy nghĩ, tôi càng căm thù chúng. Nếu trước đây tôi không di cư vào Nam, thì bây giờ biết đâu tôi chẳng là một anh bộ đội, hiên ngang trong hàng ngũ cách mạng, cầm súng chống lại Mỹ Diệm.
Cả hai cùng cười rộ lên, tôi nghe đầy những mưu mô thủ đoạn ở trong. Hai tên cùng đứng dậy, tên Thành nhìn tôi:
– Bây giờ cho anh về nghỉ. Sáng mai, chúng tôi sẽ đưa anh vào Hà Tĩnh đào chỗ anh chôn những đồ vật dụng.
Về xà lim, đêm hôm ấy, tôi cố moi óc nhớ lại tất cả những gì tôi chôn theo hôm đổ bộ, nghĩ xem có điểm gì quan trọng tôi chưa khai thông. Vì đến nước này, trước hay sau tôi cũng phải vào chỗ chôn giấu. Trước đây, chúng bắt tôi vẽ sơ đồ, hỏi tỉ mỉ từng chi tiết đường đi, nước bước, tôi tưởng chúng đã cho người vào địa điểm tôi chỉ mà không tìm ra, nên bất đắc dĩ chúng bắt tôi đi. Hồi chiều, tên Nhiễm mở cửa bảo tôi ra cắt tóc. Khi ra tới chỗ bể nước nơi vẫn đổ phân, một anh đi chân đất, mặc quần nâu, tuy có vẻ mập nhưng nước da vẫn tai tái, tay cầm cái “tông đơ”, chỉ hè gạch, bảo tôi ngồi. Tên Nhiễm đứng ngay đấy.
Chỉ 3 phút, anh húi hết tóc, rồi râu của tôi, anh ta nói với tên Nhiễm:
– Báo cáo ông, tôi về.
Tên Nhiễm chỉ gật đầu. Hôm nay, đặc biệt, tên Nhiễm gọi thợ cắt tóc cho tôi, và lại đặc biệt cho vào gội đầu. Cũng chỉ vài phút cúi đầu vào vòi nước, vặn xòe xòe, vò một lúc xong!
Tôi hiểu, chẳng qua vì ngày mai tôi phải vào Hà Tĩnh, nên hôm nay mới được cắt tóc, chứ gần 4 tháng có cắt đâu. Chẳng biết tóc tôi y cắt thế nào, sờ thấy ngắn ngủn. Kệ nó, cần gì!
– Năm 1953, khi ở Hà Nội về quê, anh phao lên để người ta đồn anh bị điên, tại sao? Có phải tụi đế quốc đã phao tin cho anh như vậy không? Năm 1954, vào Sài Gòn, lại phao tin anh bị chẹt xe chết, như vậy phải chăng do Mỹ Diệm?
Tôi thật là bỡ ngỡ. Nghĩ lại, kỳ hè 1953, tôi về quê chơi, khi đó tôi mới 15 tuổi. Tôi rất yêu cảnh thiên nhiên đồng quê, thích nghe tiếng sáo diều ngân vang, tiếng chày giã gạo, tiếng gà gáy, tiếng chó cắn, tiếng cọt kẹt của tre làng, trong những chiều Hè gió lộng. Tôi thích thở hít mùi hoa bưởi, hoa cau, hoa soan, mùi nồng nồng của phân trâu với rạ ẩm, xen lẫn với mùi thơm ngây ngất của lúa chín vàng, từ ngoài đồng về. Vì thế, cứ mỗi chiều tàn, tôi thường hay lang thang ra cánh đồng rộng một mình. Tụi trẻ con ở nông thôn và cả người lớn làm sao hiểu được tâm tư ấy của tôi. Cụ thể, mỗi khi tôi ở ngoài đồng trở về, chúng vây đến hò hét , có đưa nói là tôi điên. Tôi bực mình đuổi chúng, chúng chạy và nhiều đứa la hò: “DDiên chúng mày ơi!” Rồi, họ đồn ầm cả huyện là con ông bà ấy, ra tỉnh vì học nhiều, hoặc thất tình nên điên rồ.
Còn vụ chẹt xe: Khi tôi vào Nam, bà Bảo Thịnh là bà cô của tôi có tiệm bán vàng ở mặt phố, trước cửa chợ Bến Thành. Như đã trình bày ở trên, tôi không ưa những người giầu có nên tôi không đến bà. Rồi một lần tình cờ, bà đọc một tờ báo nào đó, có một người trùng tên, họ với tôi bị chẹt xe, đưa vào đến bệnh viện thì chết. Bà viết thư về Bắc, báo cho bố mẹ tôi, khi đó chưa hết hạn 300 ngày của Hải Phòng. Làm bố mẹ tôi đã điên rồ khóc thương bao ngày. Tôi cũng trả lời y như vậy với chấp pháp.
Chúng không tin và vẫn cứ khẳng quyết là do đế quốc đã chuẩn bị dư luận cho tôi từ khi ấy. Tôi cũng chịu cho cái óc đa nghi của chúng thật là phong phú! Tuy vậy, nhờ đó mà tôi hiểu được một điều là chúng đã về tận quê tôi, để nghiên cứu điều tra kỹ càng về tôi và gia đình bố mẹ tôi. Còn những việc trong Nam, chúng chưa cho tôi thấy là chúng có thể tìm hiểu điều tra được. Dù thế, tôi vẫn thấy chờn sợ, cho sự truy hỏi đào sâu đến tận cùng chi tiết, của từng sự việc của chúng.
Truy đi hỏi lại một sự việc có khi đến 7, 8 lần. Hỏi bây giờ rồi bất chợt 8, 9 tháng hay một năm sau lại hỏi lại.
Tôi đã bị cùm hai chân hơn một tháng. Điều lạ lùng là không ai nhận cùm tôi cả, mà chân tôi vẫn cứ ở trong cùm. Hỏi chấp pháp thì họ bảo do bên trại giam. Hỏi trại giam, thì trại giam lại bảo bên chấp pháp. Một hôm trên đường đi cung về, thấy lão Trì, Trung úy Phó Giám Thị, tôi xông bừa đến:
– Báo cáo ban (tôi gọi theo những người tù), tôi bị cùm hai chân đã lâu mà không biết tội gì, xin ban xét!
Y nhìn tôi một lúc rồi hỏi tên, sau khi tôi nói lên, y bảo: Trại không cùm anh. Do ở trên cùm! Nói rồi lão đi luôn. Tôi chẳng hiểu trên là trên nào.
Trời đã vào cuối Thu, mấy hôm nay thỉnh thoảng đã có những đợt gió mùa Đông Bắc mò về sớm. Trời lạnh thì muỗi ít, nhưng cái cùm và cái sàn xi măng đã bắt đầu hành chân và lưng tôi. Cả đêm, hình như tôi chỉ thiếp đi từng lúc. Một buổi sáng hôm đó khi tên Nhiễm vào mở cửa sổ con, bảo tôi mặc quần áo đi cung. Khi y mở cùm, tôi không nhắc nổi chân ra. Tôi phải đưa tay xuống nhấc từng chân ra khỏi cái cùm. Khi đứng lên, chân tôi rã rượi như mất cảm giác, nên tôi phải ngồi ngay xuống. Mụ Hoa gọi cung đứng đấy, giục tôi đi nhưng tôi không đứng dậy nổi. Tôi đau đớn nhăn nhó, cố gắng chống tay xuống đất để đứng lên, nhưng vẫn không thể đứng được. Tên Nhiễm cau mày, tiến lại lôi tôi ra, tôi ngã nằm xoài, đầu đập vào cánh cửa, choáng váng. Y đỡ tôi ngồi lên sàn rồi đóng cửa lại.
Mụ Hoa đi ra, chừng nửa giờ sau, tên Nhiễm lại mở cửa đi vào, nói:
– Lệnh của Ban giám thị cho anh nghỉ một ngày hôm nay. Ngày mai sẽ cùm một chân!
Tôi cảm ơn rối rít. Tôi nhìn lão, hôm nay trông lão “không có vẻ” ác lắm! Mấy tuần đầu tôi ghét lảo cay đắng. Bây giờ, tôi đã hiểu là không phải lão cố ý cùm tôi. Chính do lệnh từ trên xuống, cố tìm cách để có lý do cùm, rồi cùm mãi. Khi mình đã là tù, họ muốn tìm cớ để trị, họ có muôn ngàn cớ.
Cửa đóng lại, tôi nhìn cái chân mình mà lòng thấy sầu khổ. Sống mà cái chân bị hỏng, đời sống thật là khổ nhục. Tôi vẫn nhớ ngày xưa, ở Đại Hội “khỏe” của trường Nguyễn Bá Tòng, tôi đã từng nổi tiếng về điền kinh: Bơi lội, leo dây, nhẩy… Vậy mà giờ đây chân tôi thế này ư? “Hãy nổ lực! Tự mình, chính mình phải cứu lấy mình!”, tôi tự nhủ thầm như vậy. Rồi thực hiện ngay ý định. Đầu tiên, tôi ngồi ngay trên sàn buông thõng hai chân xuống. Mới đầu, tôi phải dùng tay nắm hai chân lắc lắc, sau dần dần chính chân tôi tự lắc. Rồi từ từ hàng giờ sau, tôi đứng được xuống sàn nhà. Tôi chậm chậm đi lại trong cái khung 2 thước vuông ấy. Cứ đi, mệt nghỉ, một lúc lại đi. Bỗng cửa nhỏ mở, lão Nhiễm nhìn tôi tập đi, y mở luôn cửa to, nói:
– Ra lấy cơm!
Tôi với cái gáo, đi ra, không thể đi nhanh, nhưng đi được. Tôi múc gáo nước, cầm bát cơm đi vào. Nhìn mặt y, thấy như thoáng ánh lên một sự cảm thông vì tôi đã nỗ lực để sống. Chắc y đã nghĩ rằng, với cảnh lúc sáng, tôi chưa thể ra lấy cơm được; chứng cớ là y đã phải mở cửa coi trước để nhìn tôi xem thế nào.
Những thực tế tôi đã trải qua trong cuộc sống, đã hình thành trong tôi một quan điểm: “Hãy tin vào chính mình! Hãy nổ lực hết mình với những cái bản thân mình có! Không ỷ lại! Không trông chờ! Dù cho không đạt được kết quả theo ý muốn, ít ra về mặt tinh thần, cũng không phải đến nỗi thẹn thùng nhìn xuống”.
Qua thực tiễn nhiều thời đại của con người. Ở đâu cũng thế! Phương Tây có câu: “Aide toi, et le ciel t’aidera”; Mỹ, Anh cũng có câu: “Heaven helps those who help themselves!”; và Việt Nam chúng ta cũng có câu chuyện về một người nằm há miệng chờ sung rụng. Hãy trèo lên cây. Nếu vì lý do nào đó, không trèo được, phải tìm cách chọc cho quả sung mình muốn, rơi xuống. Nghĩa là, phải ăn những trái sung trên cây theo ý mình; nếu yếu đuối quá, ít ra cũng phải bò dậy mò mẫm nhặt, những quả sung rơi, như thế vẫn còn một chút chủ động, chọn được quả ngon hơn.
Ăn cơm xong, lúc đi ra trả bát, tôi vẫn còn thấy chân mình bì bì, căn cắn, đi lại còn ngượng ngập. Tôi lại vào ngồi sàn kiên trì tập nữa. Tôi phải tranh thủ ngày hôm nay, kẻo ngày mai lại bị cùm rồi. Lúc này, tôi mới thấy buồng khai và thối. Thảo nào, tên Nhiễm lúc buổi sáng, vừa vào buồng đã nhăn mặt lùi ra ngay.
Buổi chiều, sau khi ăn cơm xong, trả bát, tên Nhiễm rút chốt cùm ra, tôi hiểu đã hết giờ tự do. Tuy trong lòng thắc mắc là y đã nói cho tôi nghỉ một ngày, tôi vẫn tưởng đêm nay còn được tự do nữa chứ. Tuy thế, tôi không muốn hỏi. Nhưng tôi muốn xin đề nghị một chuyện khác. Khi y nhìn tôi, ý bảo tôi cho chân vào, tôi tỏ thái độ lễ phép:
– Thưa ông, buồng của tôi thối quá, xin ông cho tôi tranh thủ 2 phút. Xin ông cho tôi một bô nước, dội cái buồng một cái thôi cho đỡ hôi hám!
Y nhìn tôi với con mắt lừ lừ một lúc, rồi quát: “Mau lên!”
Tôi cố chạy lẹ, dù chân còn tập tễnh, tới chỗ bể nước, mở vội vòi, tráng qua nước giải, rồi lấy đầy bô nước vào đổ trên sàn. Hai tay vội vàng xoa xoa, vét nước xuống nền, lấy chổi thanh hao khua mấy cái, để cho nước chảy ra cái lỗ con ở chỗ chân tường phía đầu nằm. Xong xuôi, tôi ngoan ngoãn vội vàng tự mình nhắc cùm và cho một chân vào trước con mắt gườm gườm của y, trong khi y đang đứng lắc lắc chùm chìa khóa ở tay. Y đóng chốt cùm, rồi đóng cửa, khóa lại. Thế là hết một ngày.
Cùm một chân thật dễ chịu so với hai chân. Không phải chỉ bớt một nửa khó khăn, đau khổ, mà bớt được hai phần ba. Thực thế, với kiểu cùm này, nếu bị cùm hai chân, tôi nghĩ rằng không ai chịu nổi hai tháng. Con người tôi luôn luôn nỗ lực, từ bé nếu không tập võ, tôi cũng tập thể thao, thể dục; vì vậy, trong thời gian bị cùm hai chân, hàng ngày tôi vẫn cố nhúc nhích, cử động với những động tác có thể được, để hai chân và cơ thể lưu thông mạch máu. Thế mà, mới gần 40 ngày, hai chân tôi đã không đứng được nữa. Bây giờ, cùm một chân, tôi có thể xoay người, từ từ ngồi lên cái cùm để gập chân lại, hoặc có thể bước một chân xuống nền buồng để tập thể dục, vận động cơ thể.
Sau khi quản giáo đóng cửa, tôi lấy chiếc quần cũ hơn hì hục lau sàn, vừa khô được cái sàn, vừa đỡ hôi hám. Tôi có thể cúi xuống gầm sàn kéo cái bô ra, đàng hoàng mở nắp thùng đứng tồ, thoải mái. Mọi khi cùm hai chân, dù tôi cố gắng đến mấy cũng đành phải tè ra nhà, vì không dịch được ra mép sàn, đành từ giữa sàn nghiêng nghiêng nằm tè ra. May mắn thì vào bô được một ít, còn thường ra ngoài. Mà ra ngoài thì chính mũi mình ngửi, và khi được mở cùm thì cũng chính mình phải quét dọn. Bây giờ đêm ngủ, khi quá mỏi, tôi vẫn từ từ lựa thế giở mình được, nên thật dễ chịu.
Sáng hôm sau, chưa tới giờ Nhiễm đến, thế mà cửa sổ đã chợt mở. Mặt mụ Hoa, mụ chỉ một ngón tay:
– Mặc quần áo đi cung!
Rồi có tiếng chìa khóa, tiếng rút chốt cùm và cửa lớn mở. Ra tới phòng cung hôm nay, ngoài Nhuận và Đức, tôi thấy lại có thêm một người lạ nữa. Tên này người Huế, chừng 40 tuổi. Tôi lặng lẽ đi vào. Vẫn chiếc ghế đẩu để chơ vơ trước bàn của chúng.
Ngay khi mới tới cửa phòng, mắt tôi đã thoáng thấy một hộp điện lớn đen xì, với nhiều dây điện lổn nhổn, để trên cái bàn nhỏ ở góc phòng. Tôi hiểu ngay là hôm nay tôi sẽ phải đi tầu ngầm, hoặc máy bay mà lúc còn nhỏ, tôi thường nghe người ta nói đó là cách thực dân Pháp thường dùng để tra tấn, những người chống lại chúng. Tôi vờ như chưa nhìn thấy, vẫn ngồi cúi đầu như mọi khi.
Hôm nay, chúng tiếp tục nạt nộ, truy hỏi. Chúng đập bàn, đập ghế ầm ầm, nào là “Anh là một tên phản động từ trong máu, đã ăn nhiều bơ thừa sữa cặn của Mỹ Diệm”, nào là: “…lấy vải thưa che mắt thánh, dám lòe bịp cả bộ công an” v.v… Tôi chỉ biết lẳng lặng cúi đầu trước những lời sỉ vả, quát tháo của chúng. Trong thâm tâm, tôi vẫn lắng nghe, xét và nhận định từng lời, từng thái độ của chúng. Tôi thấy chúng chưa nắm được gì về tôi cả. Chúng đang tìm mọi cách để thọc cho ra những đầu mối, mà tôi không chịu khai. Lòng kiên trì che giấu của tôi như một cái đập ngăn giòng nước. Chúng đang loay hoay nghiên cứu, tìm tòi những lỗ rò. Nếu chúng thọc trúng, nhiều khi đập sẽ bục từng mảng, đôi khi cả đập.
Có những lúc tôi khai thật như: Luơng tháng của tôi 5000 ngàn mỗi tháng và đã viết giấy ủy quyền cho bố nếu tôi bị mất tích; hoặc thời hạn công tác của tôi ở ngoài Bắc là 25 ngày… Chúng vẫn không tin, truy đi hỏi lại nhiều lần, nào là vô lý, nói láo, đừng hòng lấy vải thưa che mắt thánh… Chính những điều này, cái thực mà chúng cũng không tin, đã cho tôi nắm chắc chúng chẳng biết điều gì rõ về tôi, ở trong Nam.
Trước đây, do những điều kiện tự do rởm, và tinh thần cán bộ thiếu ý thức ở Sài Gòn, nên tụi Cộng Sản nằm vùng có thể cài người vào, hầu hết mọi lãnh vực trong những cơ quan từ trung ương tới cơ sở địa phương. Vì thế, tôi cũng phòng hờ nghe ngóng và rất lo. Nhưng qua những sự việc trên, tôi cảm thấy yên tâm. Chúng nó chẳng nắm được gì quan trọng cả. Tuy vậy, cũng có thể vì vấn đề trở ngại thông tin Bắc Nam, chúng chưa đủ thời gian để thẩm tra về tôi chăng? Cho nên, tôi vẫn luôn đề cao cảnh giác, không dám quá chủ quan coi thường đối thủ.
Đến giờ, tôi hiểu thêm được một điều nữa là chúng làm việc có nghiên cứu tập thể. Mỗi một nghi vấn dù nhỏ, trong những sự việc của tôi, chúng đều về đào sâu, nghiên cứu mọi tình huống có thể. Điểm nào chưa sáng tỏ thỏa đáng, chúng đều ghi nhận, rồi gọi tôi lên truy hỏi lại những điều ấy cho tới cùng. Tôi thừa nhận bộ óc tập thể có ưu thế hơn hẳn một cá nhân. Dù vậy, trong trường hợp này, tôi cũng có cái ưu thế của tôi. Tôi chỉ cần có một bộ óc tỉnh táo, và một sự hiểu biết tuơng đối, kết hợp với lòng kiên trì, chấp nhận gian khổ, tôi mong là có thể đối ứng được.
Quát tháo, giận khùng chán chê, thấy tôi vẫn ngồi cúi đầu im lặng, bấy giờ tên người Huế chỉ vào mặt tôi, gọi đích danh:
– Bình! Anh muốn sống hay muốn chết?
Tôi ngửng đầu lên, tỏ vẻ lo sợ lẫn thành khẩn:
– Thưa các ông, giờ đây tôi không biết phải làm như thế nào để các ông tin. Tôi đã khai báo mọi điều tôi biết. Tha thiết mong cách mạng xét cho, tôi được nhờ.
Hơn một tiếng đồng hồ từ khi tôi bước chân vào phòng, chúng cố ý chờ xem thái độ của tôi như thế nào, khi nhìn thấy dụng cụ tra tấn. Nhưng tôi cũng cố ý coi như chưa nhìn thấy. Có lẽ quá lâu, nên chúng sốt ruột, tên Nhuận chỉ về phía cái bàn nhỏ trong góc phòng:
– Anh có biết cái gì kia không?
Tôi vờ như lần đầu tiên nhìn thấy, tôi hiểu rằng dù có sợ hãi xin chúng, chúng cũng không tha. Vả lại, vì chưa có kinh nghiệm và hiểu biết về chúng, tôi vẫn nghĩ một cách đơn giản là mình đã đi làm nghề nghiệp này, chỉ còn gồng mình chấp nhận. Trời đâu có thương nữa mà kêu, mà trách oán! Từ ý nghĩ đó, tôi đã trả lời rất thản nhiên:
– Thưa các ông, tôi hiểu về loại dụng cụ đó. Trước đây tôi đã ngu dốt đi làm nghề nghiệp này. Nay bị bắt, sớm muộn tôi vẫn bị nhiều hành hạ tra tấn. Vậy đây là toàn quyền của các ông. Các ông không tin tôi, tôi không biết làm gì hơn được nữa. Nhưng, có một điều là tôi đã nghĩ không đúng về các ông!
Tên người Huế quắc mắt:
– Anh nghĩ điều gì không đúng về chúng tôi?
Tôi có vẻ đăm chiêu:
– Tôi là một thanh niên sống dưới chế độ miền Nam mà các ông gọi là ngụy quân, ngụy quyền, tay sai của đế quốc Mỹ. Ở miền Nam, tôi thường biết có một số hình thức tra tấn để khai thác phạm nhân. Và tôi đã nghĩ rằng các ông thì khác…
Tên Đức ra vẻ sừng sộ, đứng bật dậy:
– Anh bảo khác, khác thế nào?
– Trước đây, tôi cứ nghĩ các ông là cách mạng. Một chế độ nhân dân, một nền dân chủ thực sự, thường lấy chính nghĩa chứ không dùng bạo lực để lôi kéo lòng người. Tôi vẫn đinh ninh trong lòng như vậy, nên ngay từ khi ra Bắc, tôi đã chẳng muốn hoạt động gì như lời chúng chỉ dậy tôi. Rồi sau khi bị bắt, tôi đã vội vàng thành khẩn khai báo hết với cách mạng. Thêm nữa, quan điểm sống của tôi là: Một là tôi sẽ được mọi người yêu tôi. Hai là tôi sẽ bị cay ghét, căm thù; chứ nhất định tôi sẽ không để ai khinh rẻ. Đặt giả thuyết, bây giờ vì tôi sợ tra tấn, nên mới phải khai báo với các ông, tôi sẽ đau khổ suốt đời vì tôi là một thằng hèn. Thà để thân mình bị tàn tật vì tra tấn, nhưng tinh thần được thảnh thơi hiên ngang nhìn mọi người, không bị tủi thẹn cấu xé. Hơn nữa, khai vì tra tấn, tôi cũng chả tốt gì với các ông…
Tên Nhuận và tên người Huế đều quát:
– Anh đừng già họng nữa!
– Câm ngay cái mồm lại, chúng tôi không phải trẻ con!
Tôi lại im lặng cúi đầu. Một lúc, tên người Huế đứng dậy:
– Bây giờ, chúng tôi cho anh về. Chiều nay lên, chúng tôi sẽ giải quyết.
Tôi chẳng hiểu chiều nay chúng sẽ giải quyết gì. Tôi đứng dậy, lúc đó cũng đã 12 giờ rồi.
Khi lão Bằng giong tôi về tới xà lim, tôi không thấy tên Nhiễm trực ở đấy. Tên Bằng mở cửa, tôi vào rồi y khóa lại. Vì y không trực xà lim nên y quên (hoặc giả y không biết) không bảo tôi bỏ chân vào cùm. Cảm thấy hơi mừng trong dạ, tôi ngồi ăn cơm. Mới chén được nửa bát, cửa sổ đã xoạch mở. Mặt tên Nhiễm. Y rút chốt, đứng ngoài cửa sổ bảo tôi bỏ chân vào cùm. Buồn thật! Thằng chó chết không cho nghỉ một tí để ăn cơm. Mười phút sau, tôi lại thấy rút chốt cùm. Đã quen lệ, tôi vội vàng nhấc cùm lên và rút chân ra. Cửa mở, tôi cầm bát và gáo ra lấy nước. Tôi để dành gáo nước cho việc đi ngoài và súc miệng, rửa mặt. Thường, tôi đã phải cố gắng uống no nước ngay tại chỗ. Điều này làm mãi, nên thành thói quen. Suốt hàng mấy chục năm trời, cho tới bây giờ, tôi cũng chỉ uống nước sau khi hai bữa cơm, còn hầu hết như không thấy khi nào khát nước. Tôi không cần phải uống nước những lúc không ăn.
Lại đóng cùm, lại khóa cửa. Tôi nằm vẩn vơ nhẩm tính sự việc đi cung ban sáng. Chiều nay, chẳng biết có sự gì xẩy đến với tôi. Chưa được mươi phút, cửa nhỏ lại mở. Tên Nhiễm gọi đi cung. Lúc này đã bị bắt gần 4 tháng, râu tóc tôi mọc lung tung beng. Nhiều lúc ngồi không buồn tay cứ rờ rẫm từng sợi râu rồi giật. Cũng thấy đau. Thực ra, ngồi không chả làm gì, hay chả có cái gì để làm, cái tay cứ tự nhiên đưa lên cằm rồi giật, trong khi óc tôi thì cứ trôi theo đường riêng của nó. Bây giờ, gần kề cái chết, đâu cần biết mặt mũi mình ra sao?
Tới phòng cung, tôi vẫn thấy 3 tên lúc sáng. Chiếc hộp điện đen xì vẫn nằm im trên cái bàn nhỏ ở góc phòng. Sau khi tôi ngồi ghế, chúng truy tôi rất nhiều về đoạn đường khi qua sông Bến Hải. Chúng bắt tôi thường thuật tỉ mỉ: Lội sang làm sao, nấp thế nào, đi đường nào, cảnh vật ra sao v.v… Vì tôi đã có hai lần ra tận bờ sông Bến Hải và nghiên cứu kỹ khu phi quân sự Bắc (Vĩnh Linh) và toàn khu vực huyệnVĩnh Linh, từ những con đường mòn, đến những bờ suối… Nhất là lại dùng loại ống nhòm nhìn xa 10 cây số, nên chỗ này, tôi nói không khó khăn lắm. (nghĩa là chưa nhìn thấy trước cảnh đó, khó có thể che giấu chúng được).
Đến đây, tôi đã cảm thấy thâm ý của chúng khi chúng bắt tôi tả chi tiết tỉ mỉ, từ Vĩnh Linh ra tới Hà Tĩnh. Như vậy, phải ngửi thấy ngay là có vấn đề rồi! Đây là một cái dốt, cái sai của tôi! Vì thực tế, tôi chỉ đi từ Kỳ Anh ra Hà Nội. Còn từ Vĩnh Linh ra Kỳ Anh thì tôi có đi đâu, cho nên khi khai báo nhiều lần trước đây, tôi thường khai lướt đi. Hơn nữa, tôi tập trung nhiều vào những khóa học tập ở Sài Gòn, nhiệm vụ ra Bắc và khi ở Hà Nội. Còn con đường từ Vĩnh Linh tới Hà Tĩnh, tôi đã coi nhẹ, vì thế, chúng đã phát hiện ra chỗ đê rò của tôi.
Tên người Huế, sau khi nghe tôi kể lại đi từ Vĩnh Linh ra Hà Nội thế nào, liền hỏi tôi:
– Từ Vĩnh Linh ra Hà Tĩnh anh ngồi trên xe hàng, vậy có khi nào anh xuống xe không?
Tôi phỏng đoán, chắc xe phải ghé thị xã Quảng Bình, nên tôi trả lời: “Có, khi đến Quảng Bình, tôi mót giải nên xuống tìm chỗ đi giải”.
Y hỏi tiếp:
– Từ Vĩnh Linh ra Quảng Bình, có khi nào anh xuống xe không?
Tôi vờ như cố nhớ lại một chuyện không đáng nhớ, nhưng thực tế thì lúc đó trong lòng tôi đang bấn lên. Nó hỏi vậy, tất nhiên phải có vấn đề. Trước đây, tôi đã nghiên cứu bản đồ lớn, đường từ Vĩnh Linh ra Hà Tĩnh với Brown và Dale. Vì là bản đồ quân sự thời trước 1954, nên sau này có một số chi tiết thay đổi, mà tôi không biết. Hơn nữa, với tinh thần tắc trách, tuy Dale và Brown có chỉ từng điểm, từng con sông, cái cầu, v.v… nhưng thực tế, tôi đã chỉ ừ ào cho qua, chứ tôi không hề thực sự chú tâm, vì tôi cho là không quan trọng! Do đó, bây giờ tôi lúng túng. Sau một lúc ngẫm nghĩ, tôi mới quyết định nói:
– Thưa ông lúc đó, vì mới sang bờ Bắc, tôi rất lo sợ hoang mang, nên bây giờ tôi cũng không còn nhớ là có xuống hay không!
Y đập bàn:
– Anh nói láo. Ngồi trên xe, xuống hay không mà không nhớ! Anh muốn ngoan cố gan lì với chúng tôi hả?
Tôi nghĩ mình đành phải liều, vì vậy tôi trả lời:
– Tôi nhớ…hình như không…
Tên người Huế đứng giật dậy, quát ầm lên:
– Như vậy là anh nói láo hoàn toàn! Chúng tôi muốn thấy sự thành thật của anh, nhưng bây giờ, chúng tôi mới thấy là anh gan lì ngoan cố. Tôi nói cho anh biết, dù anh có ngủ gật, người ta cũng gọi anh dậy, để bắt anh xuống xe!
Thôi chết rồi! Như vậy là sông Gianh không có cầu, mà là qua phà, tất cả hành khách phải xuống xe. Tôi nghĩ thật nhanh. Nếu vì ngoan cố mà không biết phục thiện ở khâu nhỏ này, tôi sẽ chết ở những chỗ quan trọng khác. Vậy hãy thành khẩn:
– Thưa các ông, tôi đã suy nghĩ luẩn quẩn. Đã nhiều lần tôi muốn nói hết với các ông về việc này, nhưng tôi cứ loanh quanh lo sợ là các ông sẽ bắt tôi về điểm hẹn, để gọi người đến đón. Rồi các ông sẽ tìm mọi cách, để bắt hết những người đó. Như vậy, Sài Gòn họ sẽ biết ngay là tôi phản. Điều tất yếu là gia đình bố mẹ, các em tôi sẽ bị chúng trả thù. Bản thân tôi đã không làm gì được cho bố mẹ và các em nhờ cả, bây giờ nếu để liên lụy khổ đau cho gia đình, thì thà thân tôi bị đau khổ tan nát còn hơn. Chính vì điểm lo sợ ấy, nên tôi đã lúng túng không dám khai thật đường đi ra Bắc.
– Như vậy, anh ra Bắc bằng cách nào?
Ngay từ mấy hôm trước đó, căn cứ vào chiều hướng chúng truy hỏi, tôi đã linh cảm khâu từ Vinh Linh ra Kỳ Anh khó ổn, nên đã nhẩm tính: Nếu cùng quá, tôi đành phải nhận ra Bắc bằng đường biển. Tôi không hiểu, bật ra điều này, là kéo thêm một mảng. Xuất phát từ đâu? Thuyền nào đưa đi? Những thủy thủ thế nào, bao nhiêu người? Ngày giờ hẹn đón nhau? v.v… Bao nhiêu là chi tiết phải lắp vào, sao cho hợp lý về cả không gian, thời gian, sự việc và con người.
Tôi cũng đã tính, với tình huống những người thủy thủ đưa tôi đi như vậy, có thể họ còn đưa những người khác sau này. Biết đâu, một ngày nào đó, nếu họ không may bị bắt, họ sẽ nói đến thời gian đó đưa một người như vậy, như vậy dù một hai năm sau, tôi đang ở một trại giam nào, Cộng Sản cũng có đủ bằng chứng cớ để thấy là tôi nói láo. Lúc đó, chỉ có chết với chúng. Trước mắt, từ nay trở đi, tôi luôn luôn mang trong mình một mối lo âu bất ngờ bị chúng phát hiệu. Sau này, nếu chúng tìm ra được một điểm sai nào, tất cả các khâu khác sẽ vô phương cứu chữa. Thân tôi chắc chắn sẽ bị chúng hành đến tan nát.
Tôi sẽ phải khai báo sự việc đi hải thuyền ở Đà Nẵng, theo phương châm: “Càng đon giản, sẽ càng đỡ rắc rối cho sau này”. Tôi sẽ chỉ nói đến những việc phải nói, loại bỏ tất cả những điều gì có thể loại bỏ được. Trước sau, chỉ có một nhân vật Hòa, mọi vấn đề đều do ông ta lo liệu. Chỉ đi một lần. Không nói chuyến đi trước gặp bão phải quay về. Không nói thuyền rời bến ở Biệt Khu Hải Quân, mà từ một nơi vắng vẻ gần mé sông Bến Hải một lần, mới hợp lý việc gì sao lại biết rõ được chi tiết, cảnh vật hai bên bờ sông Bến Hải trong khu phi quân sự Bắc Nam. Như vậy, vẫn giữ kín được nơi xuất phát có lợi cho Sài Gòn sau này.
Để bảo vệ cho tên chủ tịch Phong, ở Kỳ Anh, tôi sẽ không nói gì đến y, chỉ tường thuật lúc đêm đổ bộ lên bờ, chôn giấu các vật dụng, sáng hôm sau tìm đường mò ra quốc lộ 1 rồi gặp Phùng Văn Trí, từ đấy về Hà Nội. Điều này, chúng phải tin, bằng chứng là các vật dụng tôi chôn tại chỗ. Những vật dụng này, cũng có lợi cho tôi ở một khía cạnh: Tôi có hai “vỏ bọc”: “buôn lậu thuốc Tây” và “Sư bà Đàm Hướng”. Nếu sau này phải khai ra, thì một trong hai “vỏ bọc” này, có bằng chứng là các loại thuốc Tây tôi đã chôn giấu đó, chúng phải tin lời tôi.
Tóm lại, dù có tính toán khai báo thế nào, đây cung là sự ngu dốt sai lầm của tôi. Từ điểm này, tôi có thể bị dẫn đến nhiều khó khăn về sau vì “Một sự bất tín, vạn sự không tin”. Nhưng tôi đành phải chấp nhận và chỉ có biết cố gắng với khả năng hiểu biết và tính toán giới hạn của mình. Đã có chủ đích rồi, tôi ngẩng đầu lên, trả lời:
– Tôi ra miền Bắc bằng hải thuyền.
Mặt chúng tuơi hẳn lên, mắt mở to, đồng thời chúng khích lệ mềm mỏng hỏi các chi tiết, khi chúng bắt tôi khai nhanh để chúng ghi. Đến bây giờ, tôi đã hiểu đó là một phương pháp của chúng. Bắt đối phương khai nhanh (nếu có mâu thuẫn thật rõ), sau đó lại bắt khai chi tiết, rồi bắt viết; cuối cùng mới truy hỏi, không những ở những điểm chúng nghi ngờ, mà ngay cả điểm thật cũng bị cật vấn ráo riết mọi mặt.
Như tôi đã trình bày ở trên, sự việc này bục ra một mảng. Tôi phải cố lắp ghép, ngăn chận sao cho hợp lý, những gì dính dáng về hải thuyền cho tới điểm đổ bộ. Còn từ khi ra Quốc Lộ 1 ở xã Kỳ Phương, cho tới khi bị bắt, dứt khoát phải không có gì thay đổi, trước sau dù bão tố cũng chỉ như một.
Thời gian này, tôi lại bị gọi cung liên tục ngày 3 buổi, hơn một tuần lễ. Sau đó, đến giai đoạn căng thẳng tột cùng. Chúng truy lại hết mọi vấn đề trong Nam ngoài Bắc, thậm chí, nhiều lần chúng sừng sộ định bạt tai tôi nữa.
Bây giờ, phần vì cùm kẹp, đói khát; phần khác tinh thần căng thẳng ngày đêm, người tôi rã rượi, run rẩy; ngay đi từ xà lim ra phòng cung, nhiều lần tôi muốn ngã, phải ngồi xuống. Có lẽ cũng thấy thân xác tôi có thể lúc nào đó sẽ chết vì kiệt sức, nên dạo này thỉnh thoảng chúng cho tôi một cái bánh bao, hoặc một cái bánh mì. Bánh bao cũng chỉ có nhân hành, còn bánh mì cũng lẫn bột ngô, nhưng ăn, thật tuyệt vời. Tôi nghĩ rằng bánh bao nhân lạp xưởng trứng, bánh mì “Pa gô đa” của Sài Gòn còn thua xa. Những lần ăn được như vậy, đêm ấy, tôi cảm thấy như cơ thể được truyền vào một sức mạnh; thậm chí, ngày hôm sau đi đại tiện cũng thấy trơn tru sảng khoái. Cứ ba, bốn ngày chúng mới cho một lần, và cũng chỉ được 5 lần là chấm dứt.
Dạo này, trời chuyển sang Thu, không khí trở lên dễ chịu. Tôi đỡ khổ với cái nóng, cái hôi hám của cơ thể, nhưng muỗi thì vẫn hành tôi. Dù đêm nào tôi cũng phải chập chờn đập, đuổi muỗi, nhưng tay, chân và những chỗ hở quần áo không che được trên người tôi, luôn luôn có vết muỗi đốt mới. Vết cũ mờ dần, còn mặt vì không có gương, tôi chả làm sao nhìn ra được.
Tôi viết khoảng 26, 27 ngày thì xong. Được gần 90 trang giấy. Hai ngày sau khi viết xong, tôi lại bị gọi lên cung.
Hôm nay có Đức và một người lạ, sau này tôi được biết tên y là Nhuận, da đen đen chừng hơn 30 tuổi. Ngay sau khi vừa bước chân vào phòng, thái độ của họ nhìn tôi như kẻ thù. Tôi chỉ biết ngồi xuống chiếc ghế đẩu trước bàn chúng như mọi khi, cúi đầu, chờ đợi. Tên Đức đập mạnh tập giấy tôi viết xuống bàn.
– Anh viết thế này à!? Anh coi công an là trò đùa với anh đấy à?
Tên Nhuận đập bàn đánh cái rầm một tiếng, quát:
– Anh muốn sống hay muốn chết? Với cái trò trẻ con này, anh muốn qua mặt công an ư? Chúng tôi tỏ lượng khoan hồng cho phép anh ngồi viết, anh viết láo thế này à?
Chúng nó đập bàn xô ghế, quát tháo, nạt nộ, xỉ vả ầm ầm. Tôi cứ lặng lẽ ngồi yên cúi đầu, mặc cho chúng nổi trận lôi đình. Mãi tới khi chúng quát:
– Anh câm à? Trả lời đi!
Tôi ngửng đầu lên nhìn chúng với ánh mắt sợ sệt buồn khổ:
– Thưa các ông, tôi chỉ biết thành thật viết hết những điều chính về cuộc đời tôi, và tất cả những cái gì Mỹ Diệm đã huấn luyện tôi, cũng như những việc tôi đã làm khi ra ngoài Bắc…
Tên Đức đập tập giấy tôi viết xuống bàn, trước mặt tôi:
– Anh tuởng anh ở trong Nam, chúng tôi không biết được anh à? Anh ra ngoài Bắc làm gì, đi những đâu, chúng tôi biết từ lúc anh chuẩn bị ra đây cơ. Nhiệm vụ anh ra ngoài Bắc, anh khai hoàn toàn láo toét hết.
Tôi tỏ thái độ thành khẩn:
– Thưa các ông, tôi hiểu cách mạng lắm. Ngay ở trong Nam, các ông không thiếu gì người nằm trong chính quyền. Tôi tin rằng, ngay trong cơ quan tình báo của miền Nam cũng có người của các ông, vì thế tôi đã rất thành thực khai báo sự thật. Hơn nữa, tôi cũng chẳng thích chế độ Mỹ Diệm, nên khi ra tới Hà Nội, tôi đã chẳng làm gì cho chúng cả, tôi chỉ đi chơi thôi…
Tên Nhuận chỉ vào mặt tôi:
– Anh câm cái miệng anh lại, đừng bịp chúng tôi. Ngay từ khi anh di cư vào miền Nam, cách mạng đã biết anh rồi! Anh làm cái gì, ở đâu, giao thiệp với những ai. Anh tưởng, anh che giấu được à? Tôi hỏi anh có biết tên Nghĩa không?
Tôi vờ mở to mắt ngạc nhiên:
– Có phải Nghĩa ở trại sinh di cư Phú Thọ, học đệ tứ Chu Văn An phải không ạ?
Nó đập bàn gắt:
– Đừng vờ vịt. Thằng Nghĩa Trung Úy Bình Xuyên, anh có biết không?
Tôi vờ tái mặt, giật mình sợ sệt:
– Dạ có!…
Trong lòng tôi thầm nghĩ, thì ra là thằng già Lê Văn Hoàn chó chết đây mà. Tao đã biết trước, và bây giờ thì kết luận về mày được rồi đây! Tên Đức hý hửng ra mặt:
– Đấy, anh giấu chúng tôi sao được! Còn bao nhiêu việc khác nữa. Tôi cho phép anh khai báo lại. Không thì anh sẽ biết, anh sẽ chết một cách khốn nạn, đau đớn!
Tôi tỏ ra rất hoang mang, sợ sệt, nét mặt ủ rũ như cố nhớ lại một điều gì, rồi như chợt nhớ ra, tươi lên:
– Thưa các ông, tôi không ngờ các ông lại biết rõ thế. Thực sự trước đây, tôi thấy không cần nói đến tên Nghĩa ở Bình Xuyên. Bởi vì trước đây tôi vào Bình Xuyên chỉ có mươi ngày, mà lại là do tính trẻ con tò mò của mình, không liên quan gì đến chính quyền Ngô Đình Diệm, nên tôi đã không nói. Vừa qua, tôi đã rất thành khẩn khai báo, tôi cứ lo âu không biết cách mạng có hiểu rõ cho sự thành khẩn của tôi không. Nhưng, thế này, tôi rất mừng, cách mạng đã hiểu hết tôi không lo gì nữa.
Chúng nó nhìn đăm đăm, nét mặt cau cau lại, miệng nhếch mép cười:
– Anh đừng già họng nữa, nghe tôi hỏi đây…
Chúng giở tập tôi viết và tập hồ sơ của chúng. Thằng thì hỏi:
– Thời gian ở trại định cư Hà Nội Hố Nai, anh quan hệ với linh mục Loan, trưởng trại thế nào???
Thằng thì hỏi:
– Tên Hòa là người Bắc hay Nam? Anh hãy tả lại người nó tôi xem? Nó hay mặc quần áo gì?…
Trả lời câu này, tôi cứ hình dung ra bóng dáng của ông cậu tôi hiện đang sống ở Pháp để tả.
Lúc thì tên này hỏi:
– Anh ở đoàn võ Đinh Bộ Lĩnh thường đi với ai?
Lúc thì tên kia cật vấn:
– Năm anh học Đệ Nhị, trường Hưng Đạo, Cống Quỳnh, những giáo viên nào dậy anh?
Chúng nó hỏi lung tung. Đầu óc tôi quá mệt mỏi. 12 giờ trở về xà lim, người tôi đờ đẫn. 1 giờ chiều lại tiếp tục, 5 giờ về, 6 giờ lại đi đến 9 giờ tối. Cứ như vậy kéo dài hơn một tháng trời. Có hôm 3 thằng hỏi, quát nạt, đe dọa; thậm chí có một vài ngày đến 4 thằng thay phiên hỏi, truy. Ban ngày, tụi công an hành hạ. Ban đêm, muỗi đua nhau hút máu.
Chỉ có một thời gian ngắn, chân tay tôi đã khẳng khiu, xanh tái. Hơn nữa, tôi càng ngày càng thấy đói nhiều, dần dần mỗi ngày mỗi thiếu. Cơ thể tôi còn chút nào dự trữ, chắc đã bóc ra hết. Tôi nhớ lại, từ lúc mới vào, tuần đầu ăn không hết suất cơm. Hai tuần sau, chén ngon lành. Bây giờ, tôi ước gì được 2 suất ăn cho no một bữa, nhưng không có.
Ngày nào cũng vậy, dù đầu óc căng thẳng vì cung kẹo, nhưng khi về buồng, thấy bát cơm là vồ vập ăn ngay, vừa mới ăn đã hết rồi. Bát cơm không còn một mẩu hạt cơm dính, canh húp đến khô cả bát, thế mà mồm vẫn còn thòm thèm, mắt còn nhớn nhác tiếc rẻ nhìn hai cái bát đã sạch trơn.
Mỗi lần ngồi xuống đứng lên, tôi đã mắt hoa đầu váng. Thế mà những con muỗi ác ôn, đêm đêm vẫn cứ rủ nhau hút máu của tôi mãi. Hình như chúng toa rập với lũ cộng dã man, để hành hạ tấm thân chỉ còn xương với da của tôi tới chết. Móng tay, móng chân của tôi dài ra, tôi cũng chưa biết làm sao cắt được. Trong những lần đi cung, trên đường đi, một hôm tôi bất chợt thoáng thấy một cái đinh dài chừng 4 phân. Hai ba lần tôi định nhặt, nhưng chưa có thời cơ nào thuận tiện. Rồi một bữa, mụ Hoa dẫn tôi về ngang qua đấy, may quá có một cô tù chạy ra báo cáo gì với mụ. Tôi ngồi xuống, lẹ tay vớt một cái. Thế là được rồi. Những buổi sau đó, tôi ngồi mài mãi đinh xuống sàn xi măng. Mài vài buổi, giờ tôi đã có một con dao nhỏ xíu, nhưng đủ để giải quyết những cái móng tay móng chân, đôi khi còn… ngoáy tai nữa.
Bất ngờ một hôm, cửa sổ nhỏ xịch mở, tôi đang ngồi cắt móng tay, không giấu kịp. Thế là tên Nhiễm quát, bắt đưa cho y. Sau đó, y mới mở cửa lớn. Tên này thật tinh quái, y sợ rằng trong lúc loay hoay mở cửa lớn, tôi có thể ném cái đinh vào một góc buồng rồi chối biến đi, nên y đã bắt tôi đưa cái đinh rồi mới mở cửa. Y vào lục lọi khám xét hết cả người tôi. Mọi xó xỉnh, kể cả kẽ cùm, không có gì nữa, y ra và đóng cửa lại. Chừng 30 phút sau, tôi nghe tiếng dép trở lại, rồi động ở đầu cùm, và chốt cùm rút ra kêu cái xoạch. Tôi hết hồn. Cửa lớn mở, y vào cầm theo tờ giấy, đọc:
– Lệnh của ban giám thị kỷ luật: Tên Đặng Chí Bình phạt 7 ngày cùm hai chân. Kể từ ngày… đến ngày… vì đã đưa kim khí vào buồng xà lim.
Tên Nhiễm nhìn tôi, ra lệnh:
– Anh hãy chấp hành lệnh kỷ luật.
Tôi thật buồn khổ, biết có xin cũng chả được, đành phải nhắc hai cẳng cho vào cùm. Trong lòng rất hận tên Nhiễm chó chết này. Thế là lại hai chân trong cùm. Đêm hôm đó thật là cay đắng cuộc đời. Hai đầu gối mỏi dừ, muốn co người lại, phải lựa thế từ từ tụt người xuống chỗ cùm một lúc, rồi lại từ từ lựa để lết người lên. Bởi vì cạnh cái cùm rất sắc. Cũng may, kỳ này tôi gầy đét nên hai chân trong lỗ cùm cũng lỏng. Thế nhưng ban đêm, lúc mệt quá thiếp đi, trong khi mê ngủ, quen như mọi bữa mỏi chân thì co mạnh lên, lại bị trầy da chảy máu. Ngồi nhìn máu chân chảy ra trong đêm khuya vắng lặng dưới ánh đèn điện một mình, lại chẳng có gì để rịt, tôi chỉ biết lấy ngón tay quệt; lại chảy, lại quệt…Ôi, thân phận lao tù! Sao giữa loài người với nhau mà tàn ác với nhau như thế này!
Có tiếng rên văng vẳng đâu đây, ở một buồng nào đó? Thỉnh thoảng một tiếng rúc dài chặc… chặc… chặc… của một con mối, ngoáy vào trong đêm trường nghe như lời than vãn xót thương, cho những kiếp người cùng khổ! Tôi cứ ngồi như thế mãi trong đêm thâu, một tay đuổi muỗi, và một tay thỉnh thoảng lại quệt giòng máu vẫn rỉ ra. Máu tôi bây giờ, quá loãng không đông lại được. Bụng róc rách cồn cào, chẳng hiểu trong bụng tôi có giun nào không? Nếu có, chú mày phen này cũng phải nằm liệt! Một sự an ủi tương đồng chợt nhú lên trong óc tôi. Tôi đói, một sinh vật nữa (biết đâu lại vài con thì sao) cũng đang không nằm yên được, cũng dẫy dụa… thèm ăn như tôi. Chẳng đâu xa, ở ngay trong tôi. Tôi đang miên man trong rừng sầu, chợt cửa nhỏ mở, tối mò không trông rõ là bộ mặt ai:
– Sao không ngủ, ngồi làm gì?
Cũng tiếng hỏi như mọi khi, nhưng hôm nay như ẩn tàng một niềm xót xa giữa người với người. Tôi dịu giọng chỉ vào chân:
– Chân tôi bị cạnh cùm làm chảy máu, nó không cầm!
Một lúc, tôi nghe tiếng:
– Rịt chỗ thuốc này vào.
Một ngón tay thò vào, trên đầu ngón có ít thuốc lào. Tôi xố xoay người tìm thế với tay ra. Một bàn tay run rẩy chơi vơi, vì cạnh cùm nghiến vào chân, đang cố dướn tới. Một ngón tay ráng sức thò vào, chỉ cách nhau có 2 phân. Hai bên cùng cố, tôi gắng liều, dù chân có bị cứa ở chỗ khác nữa. Rồi cuối cùng cũng được. Tôi xoay thế để ngồi lại, rịt chỗ thuốc lào đó vào chỗ đang rỉ máu. Cửa nhỏ đóng lại. Tiếng dép trong đêm dài xa dần.
Một người nào đó có trách nhiệm đi tuần đêm? Như vậy, dưới đáy con tim của người này vẫn còn một chút chất người! Một niềm tin tưởng dậy lên trong tôi: Cộng sản không thể nhuộm đỏ hết được tâm hồn mọi người.
Sáng hôm sau vẫn đi cung. Phải nói là lúc này tôi sợ đi cung quá rồi. Tôi chỉ muốn được nằm yên, nhưng bây giờ, đi cung thì tuy bị chưởi bới, nhiếc móc, nhưng cái cái chân lại được nghỉ. Cho nên, giữa hai cái cùng khổ cả, tôi phải thích cái khổ ít hơn vậy.
Vào buồng hỏi cung, cũng tên Nhuận da chì và tên Đức. Tôi không thể ngờ chúng lại truy kỹ như vậy. Nhiều lúc tôi cũng không biết trả lời sao, dù việc đó là sự thật. Thí dụ, một lần nó hỏi:
– Anh nói anh vào nhà thờ “X”, vậy anh gặp những ai?
– Tôi chỉ thấy mấy ông bà già…
– Vào để làm gì?
– Tôi là người Công giáo. Vì hoàn cảnh bắt buộc phải ra Bắc. Tôi sống chơ vơ, heo hút lang thang một mình, chả biết ngày mai ra sao nên tôi tìm vào bất cứ một nhà thờ nào có linh mục để xưng tội. Lỡ có sao, thì mình chết vô tội…
Tên Đức đập tay vào bàn nghe cái “thình”, rồi y đứng giỗ dậy sừng sộ:
– Anh nói láo thế à! Anh định bịp chúng tôi à! Anh đã lợi dụng xưng tội để nói gì với linh mục đó, chúng tôi đã biết hết, biết hết! Anh hãy khai ra đi để chúng tôi thấy được tư tưởng của anh với linh mục đó! Chúng tôi đã ghi âm cả…
Tôi thót tim, lo lắng, chúng nó đã biết hết rồi chăng? Nhưng, tôi chợt nhớ và suy lý, nếu chúng biết sao chúng không hỏi một tí gì về việc tôi trao thư tay cho linh mục? Để thăm dò, tôi vờ ngờ ngác trả lời:
– Tôi chẳng hề biết linh mục đó là ai. Tôi cũng chả để ý nhìn người, thế thì tôi nói chuyện cái gì?
Chúng cứ khẳng quyết là tôi đã nói gì với linh mục đó. Rồi không sao được, chúng bắt tôi tường thuật tỉ mỉ chi tiết đã xưng tội những gì… Phần vì, tôi sợ là chúng sẽ lấy lời khai của tôi rồi vào bịp Cha A, khó cho cha trả lời; phần khác, tôi đã nắm được chuyện ghi âm của chúng là chuyện không thực, cho nên tôi mạnh bạo:
– Chuyện xưng tội chỉ là lấy lệ của người Công giáo. Vì thế, tôi không quan tâm nhiều, nên tôi chả nhớ những tội vặt của tôi.
Đến đây, tôi biết là vừa rồi chúng chỉ trộ tôi. Tôi ý thức sẽ lợi về sau, nên tôi cũng không hề nhắc hay đòi nghe cuốn băng ghi âm. Cuối cùng, mãi không được, tên Đức xẵng giọng:
– Lúc trở ra anh gặp ai?
– Tôi chỉ thấy xe cộ và người đi lại…
– Người đi lại đó, ăn mặc thế nào?
– Tôi chẳng để ý nên không biết.
Nó lại đập bàn:
– Mắt anh nhắm hay mở mà nói không biết!?
– Tôi không biết thực, ông cứ bảo tôi biết thì làm sao tôi nói?…
Hoặc nó hỏi:
– Cơ quan tình báo của and ở đâu?
– Tôi không biết, hàng ngày tên Hòa đến dạy tôi, chứ tôi không biết.
– Anh nói láo! Anh nói thế mà tai anh nghe được à! Đi làm mà không biết cơ quan ở đâu, không biết cơ quan gì!?
– Thưa các ông, thực sự tôi không hề biết. Tôi nhiều khi muốn biết, nhưng trong bài học, ông đã biết đấy, tôi không được hỏi hoặc tìm hiểu những gì không có liên quan.
– Nhà thằng Hòa ở đâu? Nó thường đi với ai? Thường đi xe gì? Ngoài lúc dậy, thường thấy nó đi đâu?
Suốt cuộc đời tôi, chỗ nào chúng cũng truy. Huấn luyện môn gì, từng môn, thời gian đi học, ở nhà quê, Hà Nội, đi lính ở sư đoàn 7… Cứ miên man, chúng dẫn tôi vào mê hồn trận. Hơn nữa bây giờ, đêm lại bị cùm kẹp, chân tôi tê dại, nhiều lúc chúng đang hỏi cung tôi xỉu, chúng phải cho tôi về.
Tôi đã bị cùm chân nửa tháng, mà không thấy chúng tha. Một hôm, tôi hỏi quản giáo xà lim:
– Báo cáo ông, hôm trước ông đọc biên bản kỷ luật 7 ngày. Bây giờ đã 15 ngày đề nghị ông xét!
Nó cười:
– Anh cứ suy nghĩ đi!
Tôi chẳng hiểu:
– Thưa ông, tôi suy nghĩ gì ạ?
– Suy nghĩ gì thì anh biết, đừng hỏi tôi!
Rồi nó đóng xầm cửa khóa lại. Tôi hiểu rằng đây là tại chấp pháp cho lệnh cùm tôi. Chứ đã có lần tôi thoáng nghe, ở buồng bên cạnh có tù bị cùm, một chân, nghe tiếng đọc biên bản một tuần, thì đúng một tuần là tha, người tù đó cũng vi phạm nội quy. Tôi cũng vậy, mà chỉ là cái đinh con, cắt móng tay, nặng lắm là một tuần cùm một chân. Bây giờ lại bị cùm những hai chân, mà 15 ngày rồi. Tôi giận lắm, nhất định phải làm sao cho rõ vụ này. Tính như vậy, nên hôm sau lên cung tôi hỏi:
– Thưa, có phải các ông cho lệnh cùm tôi, vì tôi khai báo không tốt, phải không ạ?
Chúng nó nói:
– Anh hỏi để làm gì?
– Để tôi xác định rõ vấn đề!
– Chúng tôi không biết anh bị cùm. Đây là do bên trại giam. Anh nói để xác định rõ vấn đề gì?
Tôi nhìn thẳng chúng nó:
– Tôi theo và tôi thích xã hội chủ nghĩa nên tôi mới thành khẩn khai báo. Vậy, tôi khai báo đây là do tự nguyện lòng tôi. Nếu như vì tôi sợ cùm kẹp mới khai báo sự thật, sự khai báo đó cũng chẳng tốt gì. Hơn nữa, đối với tôi, như vậy thà chết còn hơn là sự đau khổ làm một thằng hèn.
Chúng nó quắc mắt:
– Chúng tôi nói là chúng tôi không cùm anh. Để chúng tôi hỏi lại bên trại giam xem thế nào.
Cứ thế ngày tháng trôi qua. Cơ thể tôi cũng dần dần tàn lụi. Tôi nghe trong thân thể mình có nhiều triệu chứng lạ. Hai chân tôi gần như mỗi khi đứng lên không vững nữa. Hai mu bàn chân hình như sưng to lên. Những lúc ỉa đái thật là vất vả đau đớn. Cũng may, hai ba ngày tôi mới đi ngoài một lần, do ăn ít, do không có sức vận động nên thành kiết, táo. Mỗi lần đi ngoài, tôi phải cúi xuống gầm sàn kéo bô ra, mở nắp, đặt sao cho đúng chỗ, rồi tôi lựa nằm nghiêng, đưa mông ra ngoài sàn. Cứ nằm thế mà rặn. Đang đi mà mót giải thì ôi thôi, đành để cho nó chảy qua đùi rồi xuống sàn. Ướt cả quần cũng kệ nó. Chân tê dại, đau nhức, người tôi không còn sức để xê dịch, mỏi dừ, rã rượi. Nằm như vậy, vừa đau, vừa mỏi, vì rất khó khăn, mắt nhiều khi hoa lên, quay cuồng. Lắm lần, đi hai ba tiếng đồng hồ nên tôi thường phải đi vào lúc đêm.
Lúc này, cái sống và cái chết gần kề, tôi chẳng còn biết ngượng ngùng bẩn thỉu là gì nữa. Đang nằm ỉa, có ai mở cửa nhỏ cũng mặc. Đi ra được một hòn phân, có khi cũng chẳng rơi đúng bô, nó văng ra ngoài nền xi măng, cũng để đến mai khi gọi cung, hoặc khi cho đổ, lấy tay nhặt vào. Có cái gì khác nữa đâu, khi đi ngoài xong, cố lựa tay đổ gáo nước, rửa từ từ. Một tay dưới vai lại bị thân mình đè chặt, nên chỉ có mấy ngón tay với lên ngó ngoáy cử động. Nhiều khi nước đổ một chỗ, mà tay lại móc một chỗ khác. Hết cả nước rồi, tay vẫn còn đầy phân, đành cố với tay xuống sàn gầm sàn mà quệt. Đỡ bẩn chút nào hay chút nấy, để còn lựa xoay người lại cho đỡ mỏi tê.
Một đêm, tôi đang mơ màng, bỗng nghe tiếng khè khè ư ử ở buồng bên cạnh, không rõ số 6 hay số 7. Đêm khuya vắng lặng, tôi lắng nghe. Tiếng ư ử tiếp tục, nhiều khi như tắc nghẹn. Tôi đã xác định được tiếng đó từ phòng số 7. Phòng đó cũng bị cùm, mà cùm một chân. Cùm sau tôi chừng 10 ngày, chả biết vì sao.
Tôi suy đoán qua tiếng khò khè: Đó là một người sắp chết vì thắt cổ tự tử. Nhưng, thắt cổ phải có dây, và phải có chỗ treo. Riêng tôi trong nghề biết một cách, chì cần chỗ đuôi cùm trên sàn, nghĩa là chỉ cần cao hơn mặt đất 60 phân, là có thể tự tử được rồi, nhưng với điều kiện không bị cùm chân.
Tôi tò mò nghe ngóng. Nỗi niềm của thân mình cũng đang không muốn sống nữa và một người có thể đang đi dần đến chỗ tắt thở làm tôi cứ thức mãi.
Đêm thâu vắng lặng, thậm chí nghe rõ tiếng muỗi vo ve, tiếng khò khè càng ngày càng yếu dần. Các chú mối lâu lâu lại rống lên một hồi dài (hình như không thích ngủ ban đêm). Mải miên man theo giòng lệ tưởng, tiếng khè khè im bặt tự bao giờ không biết. Mãi sau, tôi nghe tiếng xẹp xẹp rất nhẹ đi vào xà lim, rồi tiếng mở một vài cửa nhỏ. Khi mở tới cửa sổ của tôi, tôi vờ nhắm mắt ngủ. Rồi tới buồng số 7. Nghe tiếng chân chạy ra mạnh hơn. Khoảng 15 phút sau, ba bốn người đi vào.
Tiếng chìa khóa, rồi cửa lớn số 7 mở, tiếng mở cùm. Tôi cố lắng nghe:
– Còn sống không?
– Lâu rồi, máu khô rồi!
Rồi nghe thấy như khiêng một người đi qua buồng tôi. Bất chợt, cửa sổ tôi lại mở, tôi nhắm mắt lẹ nằm im, nghe tiếng cửa nhỏ đóng. Một lúc sau, nghe thấy tiếng nước máy chảy mạnh vào bô. Tiếng nước dội và tiếng chổi quét dưới nền bên buồng số 7.
Sáng hôm sau, lúc đi cung, tôi liếc mắt vẫn còn một ít nước màu đỏ sậm, sót ở vỉa hè trước buồng số 7. Như vậy là một người đã may mắn thoát được cảnh khốn cùng này. Xin chúc mừng và ca ngợi sự dũng cảm của bạn. Có thể rồi đây tôi sẽ xin theo vết chân người.
Sau đợt huấn luyện đường không, tôi đến nhận nhiệm vụ ở Đội SEAL của mình. Các đội số lẻ (1,
3, 5) đóng ở Bờ Tây, Coronado, California và các đội số chẵn (2, 4, 8) đóng ở Bờ Đông tại Little Creek, Virginia. Mặc dù còn có sự tồn tại của Đội SEAL tuyệt mật mang số hiệu Đội SEAL số 6, nhưng tôi chưa biết gì về nó cả. Tôi nhận công tác tại Đội SEAL số 2 ở Little Creek.
Trong một buổi tập chạy vượt chướng ngại vật vào thứ Tư, một lính SEAL gần 60 tuổi tên là Rudy Boesch chạy cùng chúng tôi. Tôi nghĩ mình có thể thư thả vì không có huấn luyện viên nào bên cạnh hò hét chúng tôi cả. Cuối buổi tập, Rudy kéo tất cả chúng tôi − những người về đích sau ông − qua một bên và nói: “Gặp tôi ở đây chiều nay nhé.”
Chiều hôm đó, những người về chậm hơn ông, trong đó có tôi, chạy lại vòng vượt chướng ngại vật. Đó thực sự là tiếng chuông cảnh tỉnh. Ngay cả khi đã ở trong các Đội, bạn cũng phải nỗ lực để trở thành người chiến thắng. Sau đó, tôi đã trở thành một trong số những người chạy vượt chướng ngại vật nhanh nhất ở Đội 2.
Không lâu sau, Rudy trở thành cố vấn cao cấp đầu tiên của Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt Mỹ (USSOCOM) mới được thành lập, chỉ huy các đơn vị tác chiến đặc biệt Hải, Lục, Không quân và Lính thủy đánh bộ, trong đó có các đơn vị ở JSOC như Đội SEAL số 6 và Delta. Sau hơn 45 năm phục vụ trong Hải quân, phần lớn thời gian với tư cách là lính SEAL, Rudy nghỉ hưu. Ở tuổi 70, ông tiếp tục thử sức trong chương trình truyền hình Người Sống sót.
Một vài người trong Đội 2 trở về từ một chiếc tàu chở dầu tên là Hercules, một trong hai chiếc có mặt tại vùng vịnh Pec-xích. Họ là một phần trong Chiến dịch Praying Mantis. Khi tàu khu trục Samuel B.Roberts của Mỹ dính ngư lôi của Iran, một trong những nhiệm vụ của SEAL là đánh chiếm giàn khoan của Iran được sử dụng để thực hiện những cuộc tấn công tàu bè trong vùng Vịnh. Theo kế hoạch của SEAL, một chiếc tàu khu trục hải quân sẽ bắn vào giàn khoan bằng đạn chống tăng để tiêu diệt quân Iran, sau đó lính SEAL sẽ đáp xuống sân bay dành cho trực thăng và chiếm giàn khoan. Đen đủi là lính trên tàu khu trục lại nạp đạn cháy và đạn hỏa lực cao. Khi chiếc tàu khu trục khai hỏa, quả thực đó là “khai hỏa.” Thay vì án binh bất động, quân Iran lại nhanh chóng nhảy ra khỏi giàn khoan đang bốc cháy. Giàn khoan dầu cháy nóng đến mức lính SEAL không thể đáp máy bay trực thăng xuống. Rồi con tàu từ từ chìm xuống biển. Chúa ơi!
Dick, Mike H., Rob và tôi không tham gia chiến dịch đó vì chúng tôi vẫn phải huấn luyện thêm, nhưng điều đó không ngăn chúng tôi muốn chào mừng những người bạn trở về an toàn. Sau giờ huấn luyện, chúng tôi ra khỏi doanh trại Đội SEAL số 2 qua Cổng số 5 của căn cứ Little Creek và đi đến một câu lạc bộ múa thoát y nhỏ có tên là Body Shop. Vì Body Shop rất gần doanh trại Đội SEAL số 2 nên nhiều người chúng tôi thường tiêu khiển ở đó. Nhân viên bảo vệ là một người mới đang ngồi đợi Bob − một thành viên của SEAL. Một người trong nhóm chúng tôi bảo với anh ta: “Một số người chúng tôi vừa trở về từ vịnh Pec-xích. Anh có thể chúc mừng họ không?” Anh ta làm ngay: “Chúng ta hãy nói lời cảm ơn sâu sắc với những người lính Mỹ vừa trở vì từ vùng Vịnh Pec-xích.” Tiếng vỗ tay hoan hô tràn ngập căn phòng.
Chúng tôi hân hoan đập tay nhau chúc mừng và uống bia.Ở chiếc bàn phía cuối căn phòng có bốn người Tuynidi, một người nói trôi chảy tiếng Anh: “Tại sao đám người Mỹ lại không quan tâm đến việc của chính họ đi đã?”Dick không vòng theo lối đi mà tiến thẳng đến chiếc bàn đó qua chỗ các cô gái đang khiêu vũ. Tôi thì đi vòng và khi đến được chiếc bàn đó thì đã thấy Dick đang siết chặt cổ của kẻ lắm mồm đó. Khi chúng tôi đang gây lộn, ba người đi cùng gã lắm mồm lại quay ra chửi rủa hắn. Bốn người chúng tôi bỏ đi trong khi bốn người bọn họ chất thành một đống.
Khi chúng tôi tìm cách ra ngoài, người bảo vệ ngăn lại: “Các anh vừa đánh nhau ở đây. Các anh không thể đi đâu cả.”Chúng tôi đánh anh ta ngã xuống quầy rượu.Khi đến cửa trước, một sĩ quan cảnh sát xuất hiện. Chắc anh ta ở đâu đó trong câu lạc bộ vì trận ẩu đả chỉ mới bắt đầu có năm phút.“Thôi nào, các quý ông, chúng ta hãy ngồi xuống với nhau một phút đi.” Chúng tôi làm theo. Anh bạn này có vẻ điềm đạm đây.
Người bảo vệ đứng dậy và xen vào: “Các anh này là lính SEAL Hải quân. Họ vừa mới vào đây và phá phách nơi này.”
Ồ không. Hắn ta nhắc đến từ có chữ S rồi.
Viên sĩ quan hoảng sợ, gọi vào máy điện đàm: “Những người lính SEAL đang phá phách ở đây, tôi cần hỗ trợ!”Chúng tôi đã ngồi xuống bình tĩnh nói chuyện với anh ta. Vậy là đủ rồi. Chúng tôi đứng dậy để đi. “Đợi đã, các anh không thể đi đâu cả.” Phớt lờ anh ta, chúng tôi đi ra cửa trước. Ở bên ngoài, một quầng sáng xanh chiếu vào chúng tôi từ điểm đỗ xe. Đội yểm trợ gồm một xe tải cảnh sát lớn có ghi đơn vị K-9 ở bên sườn. Những sĩ quan đầu tiên bước ra khỏi xe.Chúng tôi bắt đầu giải thích.
Viên cảnh sát từ trong nhà bước ra bất ngờ trở nên dũng cảm, cắt ngang lời giải thích của chúng tôi: “Xin lỗi, nhưng các anh phải đi với tôi.” Anh ta túm lấy ống tay áo của Mike.
Dick tung một cú đấm trời giáng vào cằm viên cảnh sát làm hắn ta ngã phịch xuống.
Thế là các sĩ quan cảnh sát cầm dùi cui đối đầu với bốn người tay trần chúng tôi. Chúng tôi đánh nhau trong khoảng 10 – 15 phút. Trên tivi, những chiếc dùi cui có thể đập người ta ngã xuống vỉa hè, nhưng với chúng tôi, chúng chỉ đập vào rồi lại nảy ra. Một con chó nghiệp vụ của cảnh sát nhảy lên cắn Dick.Anh túm đầu con chó, bẻ quặt nó, đè nó xuống và thụi cho một cú đấm. Con chó kêu ăng ẳng và bỏ chạy.
Khi đang đánh nhau với hai viên cảnh sát ở trước mặt, tôi cảm nhận được một cú phang vào lưng mình. Quay người lại, giơ nắm đấm ra, tôi nhận ra người vừa dùng dùi cui tấn công tôi là một nữ sĩ quan cảnh sát nhỏ bé. Tôi cảm thấy cú đánh của cô ta chỉ như là muỗi cắn so với những cú đánh của các cảnh sát khác. Vì đó là phụ nữ, thay vì tẩn cho một trận, tôi nhấc bổng cô ta lên và giúi cô ta lên trên mui xe.
Lúc này đã có gần 30 cảnh sát đánh nhau với 4 người chúng tôi. Cuối cùng chúng tôi thua và bị còng tay. Chúng tôi kể cho họ nghe chuyện xảy ra. Những gã Tuynidi bước ra khỏi Body Shop và lại nói những lời lăng mạ Mỹ. Thế là nhóm cảnh sát phát bực với viên sĩ quan trong câu lạc bộ: “Anh nghĩ gì vậy? Anh có điên không?”
Việc gì đến thì đã đến rồi. Chúng tôi đã tấn công cảnh sát. Họ tách chúng tôi ra và đưa lên hàng ghế phía sau xe tuần tra. Nữ cảnh sát nhét số điện thoại của cô vào túi áo tôi và nói: “Này, lúc nào đó gọi tôi nhé.”
Ở đồn cảnh sát, họ xử lý sự việc và hẹn chúng tôi ngày ra tòa. Họ liên lạc với chỉ huy của chúng tôi ở
Đội SEAL số 2 và không thả chúng tôi cho đến khi Đội SEAL số 2 cho xe đến đón.
Đến ngày ra toà, tôi cảm thấy lo cho công việc của mình. Tất cả chúng tôi đều mới đến Đội SEAL và sự nghiệp có nguy cơ bị hủy hoại. Trên hàng đầu của phòng xét xử là những viên cảnh sát đang đeo nẹp cổ. Một người bị bó bột ở tay. Một người khác thì chống gậy. Họ trông thật thiểu não. Còn chúng tôi trông tươi tỉnh trong bộ đồng phục màu xanh.Được các bạn đồng đội cử trình bày, tôi tường thuật lại câu chuyện. Mọi người trong phòng xét xử có vẻ thông cảm với chúng tôi bởi vì những gì đã xảy ra và cách mà chúng diễn ra.Vị thẩm phán hỏi: “Tại sao ba người này bị bắt và được thả ngay, còn viên hạ sĩ (Dick) lại được thả muộn hơn?”
Viên sĩ quan K-9 giải thích: “Anh ta bị chó cắn và chúng tôi phải đưa anh ta đi kiểm tra.” “Làm kiểm tra mất bao lâu?” − Vị thẩm phán hỏi.“Thưa Ngài, con chó của tôi cắn phải anh ta, vì vậy tôi cũng phải đưa con chó của tôi đến bác sĩ thú y để kiểm tra.” Cả phòng xét xử phía sau tôi phá lên cười.
Viên sĩ quan K-9 giải thích: “Thưa Ngài, thật sự không có gì buồn cười cả. Tôi đã phải mất nhiều tháng để huấn luyện nó và đến giờ vẫn phải dành 16 giờ mỗi tháng để huấn luyện. Nhưng do bị hạ sĩ (Dick) đánh nên con chó không làm việc được nữa.”Tiếng cười càng ầm ĩ hơn.
Vị thẩm phán gõ búa: “Trật tự. Giữ trật tự tại Tòa!”
Ngoại trừ đôi ba tiếng cười khúc khích ở cuối phòng, tiếng ồn đã lắng lại. “Bây giờ xin mời bốn anh bước lên bục”, vị thẩm phán nói. Chúa ơi. Mất việc rồi. Bước thẳng vào tù. Không kiếm được 200 đô-la nữa. Chúng tôi lo sợ.Vị thẩm phán hơi rướn người về phía trước và nghị án một cách nhẹ nhàng và điềm tĩnh:
“Thưa quý vị, tôi sẽ bác vụ này do nhiệt tình tuổi trẻ và lòng yêu nước của các anh, nhưng đừng bao giờ để tôi gặp lại các anh trong phòng xét xử này nữa.”
Tôi nghe thấy tiếng vỗ tay ở phía sau.
Quay người lại, tôi nhìn những viên cảnh sát ngồi hàng đầu. Họ trông như là vừa bị trộm đột nhập vào nhà vậy. Trên đường về, tôi đi ngang qua viên cảnh sát đeo nẹp cổ và viên cảnh sát chống gậy. Tôi nháy mắt với viên cảnh sát bị bó bột ở tay. Chúng tôi rời khỏi phòng xét xử.
Trở lại Đội SEAL số 2, chúng tôi báo cáo những gì xảy ra với Norm Carley, đội trưởng Đội 2, một người Công giáo Ai-len thấp lùn đến từ Philadelphia, tốt nghiệp Học viện Hải quân và là đội phó thứ nhất (chỉ đứng sau đội trưởng) của Đội SEAL số 6. Norm Carley vừa trở về từ Chiến dịch Praying Mantis ở vịnh Pec-xích. Ông nhìn chúng tôi một lát: “Đã từng có thời chúng ta rất hay ra ngoài và gây lộn với cảnh sát. Nhưng giai đoạn đó kết thúc rất nhanh. Quân đội đang thay đổi.”
Ông để chúng tôi đi và lời tiên tri của ông đã thành sự thực − quân đội hiện đại đã thay đổi. Ngày 31 tháng Ba năm 2004, Ahmed Hashim Abed, tên khủng bố thuộc nhóm Hồi giáo Al-Qaeda người Iraq, bố trí một trận mai phục các xe tải rỗng đang đi nhận đồ dùng nhà bếp ở sư đoàn không quân 82 của Lục quân Mỹ. Nhóm khủng bố của Abed đã giết chết bốn nhân viên hộ tống xe, rồi đốt xác, phanh thây, kéo lê họ trên đường phố và treo hai thi thể lên cầu Euphrates. Một trong số bốn người đó là Scott Helvenston − một cựu lính SEAL. Ngày 1 tháng Chín năm 2009, SEAL đã tóm được Abed. Ba người lính SEAL bị đưa ra tòa án quân sự với cáo buộc là làm chảy máu lưỡi của hắn. Mặc dù cuối cùng họ vẫn được xác nhận là vô tội nhưng người ta cho rằng lẽ ra không bao giờ nên đưa những cáo buộc kiểu như vậy ra tòa quân sự. Nếu đơn giản là những người lính SEAL đã giết chết Abed thì không còn gì để nói nữa. Bạn khó mà có thể kiện ai ra tòa nếu như bạn đã chết.
Trong cùng một tòa nhà với Body Shop có cửa hàng bán lẻ 7−Eleven. Nhà tôi cách đó hơn 3 km. Một lần sau bữa tối, khi đó Blake đã 4 tuổi, tôi lái xe đưa con đến cửa hàng 7−Eleven để mua sữa và bánh mì. Ngay lúc đó, Smudge lái chiếc xe tải nhỏ Ford Bronco với những bánh xe và bộ phận giảm xóc kềnh càng vượt qua xe tôi. Chúng tôi làm bạn sau khi tôi cùng cậu ấy phục vụ trong trung đội Foxtrot ở Đội SEAL Số 2. Smudge bước đến và như thường lệ, nhấc bổng Blake lên và ôm lấy cu cậu.
Khi Smudge đang bế Blake, tôi bảo Smudge: “Mình chạy vào mua ít sữa và bánh mì. Mình sẽ ra ngay.” Khi tôi quay lại với đống thực phẩm trên tay, hai người đã biến mất. Tôi nhìn vào trong Body Shop. Bạn gái của Smudge là một vũ nữ ở đó. Ồ không, không được. Khi tôi lao vào, người bảo vệ chào: “Xin chào Howard.”
“Bob này”, tôi nói, “tôi muốn xem con trai tôi có ở đây không.” Anh ta mỉm cười, cho tôi đi qua mà không phải trả phí vào cửa.Đi vào trong, câu lạc bộ gần như tối đen ngoại trừ ánh sáng từ sân khấu trung tâm nơi một vũ nữ đang lắc lư người. Smudge đang ngồi bên một chiếc bàn, đặt một chân lên sân khấu trong khi Blake ngồi trong lòng cậu ta. Cô bạn gái ngực trần của Smudge đứng cạnh họ, khom người, vuốt tóc của Blake và xoa cằm của cháu: “Con thật là kháu khỉnh quá.” Bộ ngực của cô ta thật khổng lồ, tôi ngạc nhiên là cô đã không làm mắt của con trai tôi lồi ra.
Tôi túm lấy Blake và hét lên với Smudge khi bỏ đi: “Ôi trời, cậu điên à? Cậu sẽ khiến tôi bị giết đấy.” Cậu ta không thể hiểu có chuyện gì xảy ra: “Tôi chỉ muốn giới thiệu bé với Cassandra thôi mà.”
Tôi đưa Blake vào xe và hỏi han con trên đường về nhà. Chuyện là thế này. Smudge là một trong những người bạn tốt của tôi và cậu ta yêu Blake − nhưng nếu Laura phát hiện ra, tôi sẽ không bao giờ được phép cho Smudge đến gần cậu con trai của mình nữa.
Đến nhà, thật may là Laura đang bận bịu trong bếp. Tôi đưa Blake về phòng và để cho con say sưa với trò chơi Nintendo Duck Hunt. Sau đó tôi cất gọn chỗ sữa và bánh mì mà tôi chọn mua ở 7-Eleven. Tôi vào phòng khách và như thường lệ nghiên cứu một số chiến thuật hoạt động và các tài liệu huấn luyện SEAL, nhưng mắt tôi cứ canh chừng chiếc đồng hồ, chờ đến giờ đi ngủ của Blake. Nếu tôi là người đưa con đi ngủ, tôi sẽ không bị nghi ngờ ít nhất là đến sáng mai. Thông thường thì tôi vẫn là người đưa con trai lên giường và tối hôm đó khi đến giờ đi ngủ của con, tôi chủ động vào phòng và đưa con đi ngủ. Sau đó ít hôm, Laura, Blake và tôi lái xe ngang qua Body Shop trên đường đến Đội SEAL Số 2. Quỷ thần ơi, liệu nhìn thấy nơi này Blake có nhớ lại và kể gì với Laura không đây? “Mẹ này, con gặp mấy người ở đó buồn cười lắm đấy.” Đến cả mấy tuần sau, tôi vẫn lo lắng. May là Blake đã không kể gì cho đến khi thằng bé 12 hoặc 13 tuổi. Và tôi không bao giờ quay trở lại Body Shop nữa.
Blake uống ngụm bia đầu tiên khi một anh bạn trong Đội của tôi mời nó. Khi Blake lớn hơn, tất cả chúng tôi cùng chơi golf với nhau. Bài học lái xe đầu tiên của Blake là trên một chiếc xe golf với một trong số những người bạn say ngất ngưởng của tôi, một bài học vô cùng thú vị với cậu nhóc. Sau này Blake tâm sự với tôi rằng: “Những điều con nhớ nhất về Virginia là được đi chơi lang thang với nhiều chú bác khác nhau.” Đó là những người bác, người chú của Blake ở Đội SEAL, những người thích nghe bài “The Boys Are Back in Town” (Những chàng trai trở lại thị trấn) của Thin Lizzy và thỉnh thoảng cho phép cậu làm những điều mà lẽ ra không nên làm.
Sau vài tháng làm mấy việc vặt vãnh ở doanh trại Đội SEAL Số 2, cuối cùng tôi đã được phép tham gia khóa huấn luyện chuyên sâu về tác chiến trên biển, trên không và trên đất liền, được gọi chung là Huấn luyện Chiến thuật SEAL (STT). Trong khi BUD/S tập trung vào sàng lọc và huấn luyện sinh tồn thì STT tập trung chủ yếu vào huấn luyện. Trong 6 tháng STT, chỉ có 2 người bị loại vì tập không đạt. Chúng tôi học lặn và chiến đấu trên đất liền theo cấp độ tăng cường, trong đó có kỹ thuật cận chiến (CQC).
Khi tôi hoàn thành STT, đội trưởng Đội SEAL Số 2, Norm Carley, mang đến các phù hiệu và gắn một cái cho tôi. Tấm phù hiệu có hình một con đại bàng đang giữ chặt một cái mỏ neo, đinh ba và súng lục của Hải quân Mỹ. Vì nó trông giống một con đại bàng giống Budweiser già nua nên chúng tôi thường gọi phù hiệu của mình là “Budweiser.” Không theo thông lệ của Hải quân là tân binh thì đeo phù hiệu màu bạc, cả sĩ quan và tân binh SEAL đều đeo phù hiệu màu vàng. Phù hiệu này vẫn là một trong những loại to nhất, lòe loẹt nhất của Hải quân. Người chỉ huy giúi mạnh nắm đấm tay lên tấm phù hiệu trên ngực tôi. Sau đó từng thành viên trong trung đội tôi bước đến và đeo phù hiệu vào. Tấm phù hiệu lún sâu vào da ngực tôi, đến mức viên hạ sĩ trưởng nhóm phải giật nó ra khỏi da cho tôi. Những vết hằn vẫn còn sau đó nhiều tuần trời. Bây giờ tôi có thể chính thức chơi với các “bậc tiền bối” rồi.
Trung đội trưởng đầu tiên của tôi là Burt. Trong Hải quân, một “người cha biển cả” có trách nhiệm hướng dẫn cho thủy thủ. Mặc dù tôi chưa bao giờ thực sự cần một “người cha biển cả” vì tôi luôn nghe theo lời chỉ dạy của một số người, cả trong công việc và các vấn đề cá nhân, nhưng tôi biết ơn Burt vì ông đã nhận tôi vào trung đội tác chiến mùa đông của ông ngay sau khi tôi rời STT. Thông thường, lính SEAL phải phục vụ ở các trung đội chính quy trước khi tham gia một trung đội tác chiến mùa đông, nhưng Burt đã sớm tin tưởng tôi.
Giống như gần 50% các sĩ quan SEAL − một tỷ lệ rất cao trong quân đội, Burt đã từng là một binh nhì trước khi trở thành sĩ quan, điều mà chúng tôi gọi là “sĩ quan gốc lính.” Có lẽ đây là điều khiến tôi rất có cảm tình với ông. Ông không bao giờ đề nghị chúng tôi làm điều gì mà chính ông sẽ không làm. Ông rất giỏi lập, đánh giá kế hoạch và kết quả thực hiện các chiến dịch. Ông thực sự là người luôn giúp đỡ người khác và một nhà ngoại giao khéo léo. Burt yêu mùa đông − trượt băng, trượt tuyết và nhiều hoạt động khác – và hướng dẫn các Đội sử dụng các thiết bị chiến tranh mùa đông công nghệ cao. Ví dụ, chúng tôi thử nghiệm và đánh giá chất lượng các trang bị viễn chinh của Gore-Tex.
Nhân vật thứ hai sau Burt là Mark, người có chiều cao hơn 1m80. Bố mẹ của Mark di cư từ một nước vệ tinh của Nga. Là người không phô trương, ông không kể cho mọi người về việc ông đã tốt nghiệp MIT, nói được tiếng Nga, tiếng Séc, tiếng Ba Lan và cả tiếng Đức. Mặc dù rất thông minh và biết nhiều ngoại ngữ, ông không bao giờ lên giọng kẻ cả với chúng tôi. Mark xây dựng những kế hoạch lớn và có thể giải trình chúng một cách đơn giản và rõ ràng, đủ để mọi người ai cũng hiểu được. Tuy nhiên, ông nói hơi ngọng và chúng tôi nhại giọng của ông trong khi ông tóm tắt nhiệm vụ. Sau khi công việc xong xuôi, chỉ cần đưa cho ông vài cốc rượu và mỗi bên một cô gái xinh đẹp thì sẽ không thể hiểu được Mark nói gì nữa.
Ở Đội SEAL Số 2, chúng tôi thực hành huấn luyện thể lực mỗi ngày một tuần và tập chạy vượt chướng
ngại vật vào thứ Tư. Còn những ngày khác, chúng tôi chạy bền (PT). Một số người dành thời gian này để chơi bóng rổ hoặc sa vào những trò tiêu khiển vô bổ, nhưng Mark khuyến khích chúng tôi tập đến mệt bã người với những bài tập chạy-bơi-chạy cự ly dài hoặc nhiều bài cực hình khác. Ông có khả năng chạy như linh dương và bơi như cá, làm cho những người trong số chúng tôi ức chế vì không thể đuổi kịp ông, mặc dù chúng tôi vẫn thích làm việc cùng với Mark.
Ở Đội SEAL Số 2, chúng tôi bắt đầu nghe tiếng đồn về Đội SEAL tuyệt mật số 6. Sau thất bại năm
1980 trong nỗ lực giải cứu các con tin Mỹ tại Đại sứ quán Mỹ ở Iran, Hải quân yêu cầu Richard Marcinko thành lập một đội chống khủng bố chuyên nghiệp. Là sĩ quan chỉ huy đầu tiên, Marcinko đặt tên cho đơn vị mới là Đội SEAL Số 6. Ông tuyển nhân sự chủ yếu từ hai đơn vị chống khủng bố của SEAL là Đội cơ động 6 (MOB 6) của Đội SEAL Số 2 ở bờ Đông và Trung đội Tiếng vang (Echo) ở Đội SEAL 1 ở bờ Tây. Họ mặc thường phục, không phải tuân theo quy định lễ tiết khi để tóc dài và râu ria. Các sĩ quan và binh sĩ gọi nhau bằng tên thường và biệt danh, không chào kiểu quân sự. Họ chuyên giải cứu con tin từ tàu, giàn khoan dầu và các vị trí khác trên biển. Bên cạnh đó, họ hỗ trợ an ninh cho các sứ quán và căn cứ quân sự. Trên hết, Đội 6 cũng yểm trợ các chiến dịch của CIA.
Cuộc thử lửa đầu tiên của Đội 6 là vào năm 1983. Sau khi những người Cộng sản liên minh với Cuba và Liên Xô lật đổ chính quyền Grenada trong một cuộc đảo chính đẫm máu, Mỹ phát động Chiến dịch Urgent Fury để khôi phục chính quyền Grenada. Nhằm hỗ trợ Chiến dịch, 12 tay súng của Đội SEAL Số 6 sẽ nhảy dù vào bờ biển của Grenada. Nhiệm vụ đầu tiên này quả là một thách thức lớn ít nhất vì ba lý do. Một là, mặc dù Đội SEAL Số 6 đã được huấn luyện tăng cường về một số chiến thuật chống khủng bố nhưng họ chưa được huấn luyện kỹ năng xuống nước vào ban đêm, một kỹ năng mà nếu dùng thuyền thì thậm chí còn khó hơn nữa. Sứ mệnh này đáng lẽ nên được giao cho Đội SEAL Số 2, những người đã sẵn sàng chiến đấu, nhưng thay vào đó lại được giao cho Đội SEAL Số 6. Hai là, thông tin tình báo còn rối mù. Nhiệm vụ này được vạch ra mà không xem xét đến việc quy ước giờ mùa hè (DST). (Quy ước này thường được thực hiện tại các nước ôn đới hay gần cực, nơi mà vào mùa hè, ban ngày bắt đầu sớm hơn so với mùa đông vài tiếng đồng hồ. Nó có ý nghĩa thực tiễn là giúp tiết kiệm năng lượngchiếu sáng và sưởi ấm, khi tận dụng ánh sángban ngày của ngày làm việc từ sớm, giảm chiếu sáng ban đêm nhờ ngủ sớm), hậu quả là sai lệch hàng giờ khiến cho việc nhảy dù xuống nước vào ban ngày trở thành nhảy vào ban đêm. Ngay cả ánh trăng cũng không có. Không ai thông báo cho người của Đội 6 về những cơn sóng biển cao hơn 3 m, về gió lớn và mưa to. Ba là, có lẽ do các phi công của Không quân không có kinh nghiệm nhảy dù xuống nước nên chiếc máy bay thứ hai đã thả lính SEAL sai địa điểm và xa những người khác.
Kết quả là khi 12 người lính chạm nước, gió tiếp tục thổi bay những chiếc dù và kéo họ theo. Vì mang theo quá nhiều thiết bị và không đủ lực nổi, một vài người chìm dần. Mặc dù khi luyện tập họ sử dụng dù công nghệ cao, nhưng lúc này họ lại dùng loại dù MC-1 cũ. Những người lính tuyệt vọng giữ cho dù khỏi kéo họ tới những địa ngục đại dương. Không có đèn, việc tập hợp mọi người trở nên bất khả thi. Một lính SEAL không ngừng gào thét và nổ ba phát súng vào bóng đêm nhưng không ai đến được với anh. Có tất cả bốn người lính SEAL mất tích. Những người sống sót tìm kiếm nhưng không bao giờ tìm thấy đồng đội của họ là Kenneth Butcher, Kevin Lundberg, Stephen Morris và Robert Schamberger. Vô cùng đau đớn, nhưng những người lính còn lại vẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ của mình.
Trực thăng Black Hawk bay một tiếng đồng hồ trong bóng tối rạng sáng để tới giải cứu Toàn quyền
Paul Scoon trong khu biệt thự của ông. Không quân Liên Xô vạch thành những đường sáng xanh trên bầu trời. Trên một trong những chiếc trực thăng, 15 người lính SEAL vẫn bình tĩnh cho đến khi đạn pháo của Liên Xô bắt đầu khoan thủng máy bay. Denny “Snake” Chalker và những người chưa bao giờ tham chiến đã không còn bộ mặt phớt lờ nữa. Viên sĩ quan chỉ huy SEAL Wellington T. “Duke” Leonard − một cựu chiến binh Việt Nam, Bobby L., Timmy P. và JJ mỉm cười: “Trúng đạn thì sao nào?”. Sau một hồi căng thẳng, Denny và những người khác mỉm cười − họ còn có thể làm gì khác được? Chiếc trực thăng chở đội trưởng Đội SEAL Số 6 Bob Gormly (người thay cho Dick Marcinko) bị trúng đạn nặng nhất, buộc phải tách ra để cố gắng quay về tàu sân bay trước khi nó rơi khỏi bầu trời.
Chiếc máy bay của Duke và Denny chếch đầu lên tới điểm dừng cao 30m trên không phía trước khu biệt thự trong khi một chiếc khác vòng lại phía sân quần vợt. Một phi công trúng đạn nhưng vẫn tiếp tục lái. Hỏa lực AK-47 từ khu biệt thự dội vào họ. Một người lính SEAL ngả người ra và bắn trả.Rich cũng đã trúng đạn nhưng anh căng thẳng đến mức không nhận thấy điều đó. Denny tung cuộn thang dây ra và lao nhanh qua những cành thông xuống phía sau khu biệt thự. Duke và những người khác theo sát phía sau, lao qua những cành cây mà Denny chưa làm gãy.
Khi Denny tiếp cận khu biệt thự, từ một cánh cửa, một khẩu AK-47 chĩa nòng vào hướng đi của anh. Denny khai hỏa khẩu súng trường CAR-15 (nguyên mẫu của M-4) cho đến khi anh xác định được mục tiêu − viên toàn quyền Scoon. Duke, mang theo một khẩu súng ngắn giao cho toàn quyền Scoon. Những người lính tiếp quản được tòa biệt thự, nhưng chỉ có viên toàn quyền, gia đình ông và các nhân viên ở bên trong. Họ thiết lập một vành đai bảo vệ. Đạn súng chống tăng (RPG) bay qua đỉnh mái mà không phát nổ.
Đài truyền thông vệ tinh (SATCOM) của họ đã chung số phận với chiếc máy bay chỉ huy bị trúng đạn, khiến họ bị hạn chế về thông tin liên lạc, vì vậy họ phải tiết kiệm pin của các điện đài cầm tay của mình.
Duke nói với mọi người: “Đừng thách thức ai trừ khi họ vào trong khu vực này.” Họ không muốn bắt đầu một cuộc chiến mà họ không thể kết thúc. Giải cứu vị Toàn quyền là ưu tiên hàng đầu.
Khi màn đêm buông xuống, 30 lính và 4 xe thiết giáp tám bánh chở quân của Liên Xô (BTR- 60PB) bao vây khu biệt thự. Duke dùng điện đàm cầm tay MX-360 nhỏ của mình để liên lạc với hạ sĩ Dennis Johnson ở sân bay Port Salines. Viên hạ sĩ chuyển thông điệp của Duke tới một chiếc máy bay chiến đấu AC-130 đang bay phía trên: “Nổ súng 360 độ quanh lâu đài.” Chiếc Spectre cho khẩu súng 40 mm phát hỏa, tiếng nổ khủng khiếp vang lên: bùm, bùm. Kết quả là cuộc tiến công đã tiêu diệt hết đối thủ đang bao vây xung quanh, ngoại trừ hai tên chạy trốn. Không lâu sau chiếc điện đàm MX-360 nhỏ hết điện. Duke dùng điện thoại của viên toàn quyền để duy trì liên lạc.
Hai người Cuba trang bị AK từ ngoài đường tiến vào. Họ nâng vũ khí lên. Thế là những người lính nổ súng: súng ngắn, CAR-15, súng máy nhẹ Heckler & Koch 21, súng máy M-60 và một khẩu súng bắn tỉa a .50 RAI 500. Một người Cuba cố gắng leo qua tường, nhưng anh ta và người đồng đội đều bị hạ gục.
Sáng hôm sau, Lực lượng Viễn chinh của Thuỷ Quân Lục Chiến giúp lính SEAL, viên Toàn quyền và gia
đình ông ta thoát ra. Họ thấy tro tàn của xe tải, vũ khí và máu bị đốt cháy ở nơi mà máy bay Spectre tấn công và nhận thấy có ai đó đã thu gom thi thể. Trên đường thoát ra, những người lính SEAL tìm thấy một lá cờ Grenada, thế là họ thay vào đó một lá cờ Đội SEAL Số 6, lá cờ luôn được mang theo để dự phòng cho những dịp như vậy. Sau đó, lính SEAL sẽ treo cờ Grenada ở Đội SEAL Số 6 khi họ quay về. Cả đoàn tiến đến khu vực đậu trực thăng. Tại đó một chiếc trực thăng đón tất cả mọi người.
Để thực hiện một nhiệm vụ khác ở Grenada, 12 lính SEAL, dẫn đầu là Trung úy Donald Kim Erskine, đi trực thăng đến một trạm phát thanh để đảm bảo an ninh cho khu vực này cho đến khi Toàn quyền Scoon vào và phát đi một thông điệp tới cư dân trên đảo. Khi đang bay trên bầu trời, lác đác một vài phát súng từ các khẩu súng cầm tay bắn về phía họ, nhưng khi họ tiếp đất, đối phương đã bỏ trống trạm phát thanh. Điện đàm của nhóm Erskine bị trục trặc, không thể liên lạc được với đài chỉ huy − ai đó đã thay đổi tần số mà không thông báo cho lính SEAL biết.
Một lúc lâu sau khi lính SEAL triển khai xong vành đai phòng vệ, một chiếc xe tải chở 20 lính Cuba tiến đến. Lính SEAL lệnh cho họ bỏ vũ khí, nhưng họ không làm theo. Vì vậy những người lính SEAL nổ súng, hết khoảng 1/3 số đạn và tiêu diệt được 10 người. Họ bắt 10 người còn lại làm tù binh và sử dụng gần như tất cả các dụng cụ sơ cứu để băng bó cho những đám tù binh này. Không người lính SEAL nào bị thương.
Một chiếc xe thiết giáp BTR-60PB và ba xe tải leo lên đồi tiến đến trạm phát thanh. Khoảng 40 đến
50 tên địch lao ra. Viên sĩ quan người Cuba quất cây gậy chỉ huy vào mông lính của mình và ra lệnh: “Tấn công”. Erskine và đồng đội phòng thủ trong nhà. Kẻ địch cố gắng đánh thọc sườn họ trong khi chiếc BTR lăn bánh đến cửa trước và khai hỏa pháo 20 mm. Khẩu pháo khoan thủng các bức tường bê tông cứ như là tòa nhà làm bằng giấy vậy.
Một người lính SEAL nạp một viên đạn hỏa tiễn vào nòng súng CAR-15 của mình và giật chốt an toàn. Anh nhằm vào chiếc BTR và bóp cò, phóng quả đạn đi. 1 kg thuốc nổ có sức công phá lớn đánh thẳng vào chiếc BTR.Tránh né đạn hỏa lực vượt trội của đối phương, Erskine và những người lính SEAL khác đặt thuốc nổ tại trạm phát thanh và mau chóng chạy ra cửa sau. Đối phương cho rằng lính SEAL chết hết rồi, nhưng họ đã lao qua đồng cỏ phía sau trạm. Đối phương tiến đến gần từ phía sau và từ cả hai sườn. Erskine bình tĩnh dẫn người của mình rút lui theo cách nhảy ếch qua khu vực phòng ngự để tới bãi biển. Anh và một nửa số đồng đội nằm xuống và nổ súng vào đối phương trong khi những người khác rút về phía sau. Sau đó những người phía sau lại nằm xuống và bắn đối phương để Erskine và số người trước rút chạy. Đạn pháo trút xuống đầu họ, một viên thổi bay bi-đông của Erskine; mặc dù Erskine cao hơn 1m80 và nặng hơn 100 kg nhưng viên đạn vẫn khiến anh ngã lăn xuống đất. Những người trong nhóm của anh ngay lập tức nằm rạp xuống. Họ quay lại và nổ súng trong khi nhóm kia rút lui. Khi họ tiếp tục nhảy ếch như vậy, một viên đạn khác xé toạc gót giày của Erskine làm anh gục xuống đất. Khi anh đứng dậy và chạy, một viên đạn nữa trúng vào ổ đạn ở thắt lưng của anh và bật ra, anh lại ngã xuống. Viên đạn thứ tư đáng sợ hơn. Nó xé toạc một phần thịt khuỷu tay phải của Erskine, làm anh bật lên khỏi mặt đất trước khi rơi xuống trong bụi mịt mù. Anh có cảm giác toàn bộ cánh tay đã bị thổi bay. Đến cuối đồng cỏ, lính SEAL cắt một hàng rào mắt cáo và bò qua. Khi Erskine đếm người của mình, anh gặp phải một cơn ác mộng tồi tệ nhất của một người chỉ huy SEAL − thiếu mất một người. Rồi họ phát hiện ra đồng đội − một nhân viện điện đàm – bị lạc. Erskine và đồng đội nổ súng vào đối phương trong khi cậu nhân viên điện đàm đang kéo lê chiếc đài
SATCOM vô dụng qua cánh đồng. “Vứt cái của nợ ấy đi!” − Erskine hét lên.Nhân viên điện đài tháo bỏ chiếc đài ra và dùng khẩu SIG SAUER 9mm đeo bên sườn bắn vài phát vào các bộ phận mã của chiếc đài. Sau đó anh lao theo các đồng đội của mình.
Họ trốn chạy đến một rừng cây. Mặc dù đã hạ được vài người của đối phương, nhưng quân số lính SEAL vẫn ít hơn và cũng gần hết đạn. Họ tiếp tục lần theo một lối mòn và hướng ra biển. Bơi thẳng ra biển có thể khiến họ trở thành mục tiêu cho đối phương. Erskine ra lệnh: “Bỏ tất cả đi, chỉ để lại các dụng cụ cần thiết và bơi dọc bờ biển.” Họ ném súng, ba lô và gần như mọi thứ trừ súng ngắn, đạn súng ngắn và bộ dụng cụ dùng để đào thoát và lẩn trốn. Họ bơi dọc bờ biển và ẩn nấp dưới những vách đá nhô ra biển để tránh đối phương ở bên trên.Các lực lượng đồng minh, không biết rằng họ vẫn còn sống, đã nổ súng thổi tung người của đối phương gần nơi họ ẩn nấp. Những người lính SEAL đợi cho đến khi đối phương rút đi hết, rồi mới bơi ra biển. Họ trôi nổi trên biển sáu tiếng đồng hồ cho đến khi được một chiếc máy bay cứu nạn phát hiện và gọi một chiếc tàu hải quân đến đón. Tính đến thời điểm đó, họ đã không ngủ liên tục trong 48 giờ. Sau khi chắc chắn rằng tất cả đồng đội đã lên tàu, Erskine bất tỉnh. Sau đó anh đã hồi phục. Hải quân trao cho anh Huân chương Anh dũng bội tinh với Ngôi sao bạc.
Năm 1985, những tên khủng bố của Tổ chức giải phóng Palestine (PLO) cướp tàu tuần tra Achille Lauro và sát hại hành khách Leon Klinghoffer. Chúng lẩn trốn ở Ai Cập. Khi Ai Cập bí mật đưa chúng lên một chuyến bay đến đại bản doanh của PLO ở Tuynidi, các máy bay chiến đấu của Hải quân Mỹ buộc chiếc máy bay này phải hạ cánh xuống căn cứ của NATO ở Italia. Đội SEAL Số 6 bao vây bọn khủng bố trên đường băng, nhưng phía Italia không cho phép SEAL tiếp cận chiếc máy bay và yêu cầu chuyển 5 tên khủng bố đó cho họ. Sau một hồi thương thảo với quân đội và lực lượng thực thi pháp luật Italia, phía Mỹ đồng ý chuyển những kẻ khủng bố cho phía Italia. Không may là sau đó chính quyền Italia đã trả tự do cho tên cầm đầu Abu Abbas (người sau này bị bắt ở Iraq năm 2003). Mặc dù những tên khủng bố khác phải vào tù nhưng một tên trong số đó được ban cho một vài ngày nghỉ và đã trốn thoát (hắn bị bắt lại ở Tây Ban Nha). Một tên khác đã trốn khỏi Italia khi được phóng thích với cam kết là sẽ không chạy trốn.
Năm 1989, Đội SEAL Số 6 đến Panama để truy bắt ông trùm buôn bán ma tuý Manuel Noriega. Noriega trốn trong một nhà thờ Công giáo, nhưng vì không có đường vượt biên, cuối cùng ông ta đã phải đầu hàng.
Grenada, Achille Lauro và Panama chỉ là ba trong số nhiều chiến dịch mà Đội SEAL Số 6 tiến hành trước khi tôi gia nhập.Tôi tham gia hoạt động đầu tiên với Đội SEAL số 2 ở Machrihanish, Scotland − vùng đất tổ tiên Kirkland (quê hương của mẹ tôi), những người đã đổi tên thành Kirkman khi nhập cư vào Mỹ. Người dân địa phương Scotland đặt cho Smudge một biệt danh theo tên của một cầu thủ bóng đá nổi tiếng người Anh. Chúng tôi đi cùng với một vài người tới Bảo tàng Tartan ở Edinburgh. Ở đó, tôi phát hiện
ra rằng gia tộc của tôi đến từ vùng cao nguyên.
Smudge trêu chọc việc tôi tìm thấy nguồn gốc Tartan của mình: “Ồ, Howard là người cao nguyên.” “Tuyệt không, chỉ có một người như vậy mà thôi!” Tôi kêu lên.Ở Scotland, chúng tôi cùng huấn luyện hoặc phối hợp với một số đơn vị tác chiến đặc biệt của nước ngoài như: Lực lượng đặc công nước của Anh, Đơn vị Đặc công Hubert của Pháp, Đơn vị đặc công nước của Đức, Cảnh sát biển Thụy Điển, Bộ Tư lệnh biệt động Hải quân Na Uy và nhiều lực lượng khác. Trong một buổi diễn tập thâm nhập cảng biển ở Đức, tôi đổi một túi MRE lấy khẩu phần ăn của một đặc công Hubert. Đơn vị người nhái đặc công của anh ta khi thành lập đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn của một sĩ quan hải quân từng tham gia Chiến tranh Thế giới II tên là Jacques-Yves Cousteau, người nổi tiếng với chương trình tivi của mình về thế giới dưới nước. Khẩu phần ăn của người Pháp gồm có rượu, pho mát và patê. Tôi thấy ngạc nhiên khi họ rất thích thức ăn khô lạnh và món cà phê Maxwell House − chỉ cần thêm nước vào − của chúng tôi. Khi tôi quay về doanh trại ở Scotland, gần như ai cũng xin tôi chút rượu, pho mát và patê đó.
Trong đợt huấn luyện tác chiến mùa đông, tôi có một tháng vui vẻ với các cảnh sát biển Thụy Điển, những người đảm nhiệm trinh thám tầm xa, phá hoại và tấn công kẻ địch xâm phạm bờ biển Thụy Điển. Mặc dù tất cả thanh niên Thụy Điển đều phải đi lính nghĩa vụ một năm nhưng vẫn có nhiều người mong muốn trở thành cảnh sát biển.Burt, DJ, Steve và tôi bay tới Stockholm, thủ đô của Thụy Điển. Các nhà thờ, cung điện và lâu đài lịch sử cùng với những công viên xanh và các con lạch làm cho Stockholm trở thành một Venice của Bắc Âu. Còn các tòa nhà mới hơn thì có sự kết hợp của thiết kế sinh thái với công nghệ cao và thuyết chức năng. Những người đón tiếp, sắp xếp cho chúng tôi nghỉ tại một khách sạn tuyệt đẹp. Một buổi tối, sau khi huấn luyện, chúng tôi thấy một người đàn ông thấp lùn, gầy guộc, tóc bông xù đang ngồi ở tiền sảnh với hai “chân dài” ngồi trên hai đùi và một phụ nữ khác ngồi trong lòng. Ai vậy? Hai chúng tôi bước lại gần hơn để xem đó là ai: đó là Rod Stewart. Những gã xấu xí ở nơi nào cũng vậy, đều có thể nuôi hy vọng trở thành một ngôi sao nhạc rock.
Buổi sáng, Burt lái chiếc xe thuê đưa chúng tôi qua một con phà đến căn cứ của Cảnh sát biển thuộc Quân đoàn đổ bộ Thụy Điển có tên hiệu là Trung đoàn Lính thủy đánh bộ 1 tại Berga. Các chiến dịch đầu tiên của chúng tôi bắt đầu ở quần đảo Stockholm. Trong số hàng nghìn hòn đảo ở biển Baltic, đây là một trong những quần đảo lớn nhất. Tôi và bạn chiến đấu khởi hành trên một chiếc thuyền gấp kayak nhẹ hai chỗ ngồi và không có kim loại để tìm kiếm tàu ngầm Liên Xô. Tôi đeo kính Vuarnet − tên được đặt theo vận động viên trượt tuyết người Pháp đạt huy chương vàng Olympic An-pơ − để chống nắng. Chúng tôi đi lên các đảo và tìm kiếm các dấu vết của con người − một trò chơi mèo bắt chuột với người Liên Xô. Đi xuồng kayak từ đảo này tới đảo khác trong khi phải đem theo tất cả các trang thiết bị là một công việc tẻ nhạt và vất vả.
Gần một tuần sau, chúng tôi đi cùng với vài viên cảnh sát biển bằng mấy chiếc xe buýt thuê. Họ mang các túi thức ăn lên xe. “Chúng ta sẽ lại đi bao xa nữa?” – tôi hỏi.“61 dặm.” Những Cảnh sát biển nói tiếng Anh rất tốt. “Tại sao lại phải mang tất cả thức ăn?” “Chuyến đi dài mà.”Chỉ có 61 dặm thôi mà – tôi có trồng cây chuối cũng đi được.Sau 3 tiếng trên đường, tôi nói với một cảnh sát khác: “Tôi nghĩ chỉ như vậy đã là 61 dặm rồi.” “Vâng, 61 dặm.”“Chúng ta đã đi quá 61 dặm rồi.”
Một cảnh sát khác mỉm cười: “61 dặm Thụy Điển.” Tôi nhăn mặt: “Là bao xa vậy?”
“Ồ…! Khoảng ba trăm tám mươi dặm Mỹ.”
Các anh chơi khăm tôi rồi. Tôi thấy vui mừng vì đã không đề nghị thi chạy 4 dặm với họ.
Chúng tôi đi qua một biển chỉ dẫn “Có nai băng qua” trước khi đến một thị trấn nhỏ đầy tuyết có tên là Messlingin, gần hồ Messlingin đang bị đóng băng. Không thể tìm thấy bất kỳ tấm bản đồ du lịch nào, Messlingin nằm ở khoảng 200 km về phía tây nam của Östersund, miền trung Thụy Điển. Bốn người chúng tôi làm thủ tục nhận phòng tại một khách sạn bằng gỗ có mái nghiêng và những mái hiên nhô ra trông như một biệt thự nhỏ. Một lát sau, những viên cảnh sát đưa chúng tôi đi dầm mình xuống một hố băng. Mặc dù không bắt buộc nhưng mọi người đều nhảy xuống dòng nước gần như sắp đóng băng. Chúng tôi phải gương mẫu. Đó là truyền thống ngớ ngẩn kiểu “Tôi có thể chịu được kể cả khi có bị sút vào hạ bộ” của Đội SEAL. Chúng tôi quấn dây vào cổ để đeo một dụng cụ phá băng hạ xuống tầm ngang ngực. Tay cầm của dụng cụ này làm bằng gỗ, vừa một nắm tay, còn mũi nhọn của nó dài khoảng 2,5 cm. Chúng tôi phải nhảy xuống hố băng, giữ nguyên tình trạng và xin phép ra khỏi nước. Nếu được phép, chúng tôi sẽ tiến lên, dùng dụng cụ để phá băng và thoát ra. Lần thử đầu tiên, thanh quản của tôi thậm chí không hoạt động được, nó quá lạnh − tôi liền nhảy phắt ra. Đến lần thứ ba, tôi trấn tĩnh hơn để cho thanh quản đủ thời gian hồi phục chức năng. Tôi rít lên: “Xin phép cho tôi ra”. Sau khi ra khỏi nước, việc cấp thiết đầu tiên là phải làm ấm người.
Tôi nhớ lại thời gian huấn luyện tác chiến mùa đông ở Alaska. Kevin và tôi trở thành bạn chiến đấu của nhau. Anh là một lính SEAL to con, dễ chịu với mái tóc và đôi mắt đen. Được đào tạo để trở thành một y tá quân y, anh có thể đảm nhiệm nhiều tình huống y tế khẩn cấp trong chiến đấu cho đến khi người bị thương được chuyển tới bệnh viện (sau đó, tôi nghe nói anh rời SEAL và trở thành một bác sĩ hải quân đóng ở Tây Ban Nha). Kevin và tôi chọn một con đường khôn ngoan để đi trượt tuyết, đó là con đường qua khu vực mà chúng tôi cắm trại. Sau đó chúng tôi đi đường vòng quay lại trại. Bằng cách này chúng tôi có thể phát hiện từ xa những người đến chỗ chúng tôi. Chúng tôi dựng một cái lều của hãng North Face dành cho hai người, đặt ba lô xuống trước lều, đánh tuyết thành đống bên ngoài lối vào để có thể rã đông thành nước uống, trong đó có cả nước uống cho buổi trượt tuyết ngày hôm sau. Người ta cần uống nhiều nước hơn vào mùa đông vì phổi dùng nhiều hơi ẩm để làm ấm hơi thở. Chúng tôi cũng dùng nước uống cho các bữa ăn khô lạnh của mình. Khi qua cửa, chúng tôi cởi bỏ quần áo ướt ra, chỉ để lại quần áo lót polypro, rồi nhóm lò MSR WhisperLite để đun nước. Nhiệt độ tỏa ra từ chiếc lò nhanh chóng làm chiếc lều ấm lên. Kevin có đôi chân khổng lồ − đôi giầy ngoại cỡ của anh không vừa với giày trượt tuyết. Trong khi chúng tôi chờ tuyết tan, Kevin tháo giày và tôi kẹp các ngón chân của anh vào nách mình cho ấm. Những người khác chỉ mong được vào lều, nhưng tôi thì không. Suốt mười đêm, tôi giúp ủ ấm những ngón chân lạnh như đá đó trong nách của mình trước khi nằm đất ngủ trong chiếc túi ngủ.
Thật may là ở Thụy Điển, cách hố băng chỉ khoảng 50m có một phòng tắm hơi và có cả bia nữa. Cũng ở Thụy Điển, lần đầu tiên tôi được biết đến xe ủi tuyết − một chiếc xe bọc thép chở người chạy
theo các lối mòn trên tuyết. Từ bên trong, những người lính có thể nhằm bắn kẻ địch. Họ gắn một dây
thừng ở phía sau xe để kéo theo 10 hoặc 12 người lính đi trên ván trượt tuyết. Móc một cây gậy trượt tuyết vào dây thừng, tôi giữ lấy tay cầm khi chiếc xe kéo tôi đi. Nhiều cảnh sát biển nhờ đó đã trượt tuyết rất thành thạo. Trong số họ có một vận động viên Olympic môn nhảy xa trên tuyết. Dĩ nhiên ở quê hương Nam Georgia của tôi không có dốc trượt tuyết. Thế là tôi bị ngã. Các viên cảnh sát biển trượt phía sau tôi phải cố gắng di chuyển qua tôi. Bốn người trong số họ cuối cùng cũng vấp ngã chồng lên tôi. Sau một hồi, họ bắt đầu tranh luận. Tôi không hiểu hết các từ, nhưng tôi biết họ đang cãi nhau xem ai sẽ phải trượt phía sau tôi. Ba người bạn trong đội của tôi và tôi ngã quá nhiều, làm cho những cảnh sát biển cũng bị ngã theo như những quân bài domino vậy, vì vậy họ chuyển chúng tôi xuống cuối đoạn dây thừng. Nếu có thể quay phim những người lính SEAL trong buổi trình diễn trên băng đó cho chương trình Các đoạn phim tự chuyện hài hước nhất của Mỹ thì có lẽ chúng tôi sẽ chiến thắng.
Do chúng tôi đến đó với tư cách là thành viên hỗ trợ huấn luyện lính nghĩa vụ trẻ nên họ phục vụ chúng tôi như là các sĩ quan, lau và đánh bóng ván trượt tuyết trong khi chúng tôi ăn tối. Vào buổi tối, nếu chúng tôi để giày ngoài cửa, họ sẽ lau và đánh bóng xong trước buổi sớm ngày hôm sau. Họ thậm chí còn lau cả vũ khí cho chúng tôi nữa.
Một điều thú vị nữa là chúng tôi đã học được cách đào hang tuyết. Đối tác cảnh sát biển của tôi là người cao dong dỏng. Anh ta có thể dễ dàng trượt vòng quanh tôi. Chúng tôi đào thẳng vào một đống tuyết, mở rộng lên phía trên và sâu vào trong, tạo một khoảng trần lớn để hơi ấm bốc lên đó khi nhiệt độ giảm xuống. Viên cảnh sát biển và tôi đặt ba lô ở lối vào để ngăn gió nhưng đưa rìu vào bên trong đề phòng trường hợp phải đào tuyết thoát ra ngoài. Từ khoảng trần đó, chúng tôi tạo một mái hình vòm để nước không nhỏ giọt thẳng xuống người.
Chúng tôi cởi đôi ủng bên ngoài trước khi bước vào bên trong. Vì chỉ có bốn lính SEAL nên đối tác của tôi có vẻ thấy hân hạnh khi được làm việc cùng tôi. Anh ta cố gắng lau sạch đôi ủng giúp tôi.“Không, nó không sao đâu. Tôi làm được mà,” tôi nói.Anh ta nhìn tôi lạ lùng. Sau đó, anh ta có vẻ vui vì không phải phục vụ tôi.
Chỉ cần một hoặc hai cây nến cũng đủ làm cái hang ấm lên. Bên ngoài, nhiệt độ là -41oC. Ở bên trong, tôi ngồi trên một cái túi ngủ, chỉ mặc quần áo lót dài polypro xanh của Hải quân. Chúng tôi không để
cho nhiệt độ trong hang cao hơn 0oC, nếu không cái hang có thể tan chảy, trút nước xuống và sau đó đổ sập lên đầu chúng tôi. Chênh lệch giữa nhiệt độ bên ngoài và bên trong hang khoảng hơn 40 độ làm cho người ta cảm thấy như đang sống ở Bahamas vậy. Nhiệt độ trong hang làm mềm tường và trần hang, vì vậy chúng tôi phải vỗ nện cho đến khi chúng cứng trở lại.
Sau khi sống trong cái hang tuyết đó hai tuần, dùng nơi này để triển khai các hoạt động, chúng tôi đã vỗ tường và trần nhà nhiều đến mức bên trong hang dường như sắp trở thành một ngôi nhà tuyết vậy. Người Thụy Điển rất biết cách đương đầu trong một cuộc chiến − khẩu phần ăn của họ bao gồm rượu cô nhắc và hỗn hợp socola nóng ngon nhất mà tôi từng được ăn cùng với các món như mì Bolognese
và bánh mì lúa mạnh đen. Thấy tôi ngạc nhiên, đối tác Thụy Điển đề nghị đổi khẩu phần ăn của anh lấy món MRE của tôi. Tôi đoán là anh đã phát chán vì lúc nào cũng ăn những món đó. Chúng tôi sung sướng thưởng thức đồ ăn của nhau trong cái hang tuyết của mình.
Thực ra một điều thú vị khi huấn luyện với các đơn vị tác chiến đặc biệt nước ngoài là được trao đổi đồ dùng. Từ Mỹ, tôi mang theo nhiều thanh thịt bò lớn không có gia vị để cắt lát và bổ sung năng lượng cho khẩu phần ăn của mình trong thời tiết lạnh giá. Các chàng cảnh sát biển rất thích món đó.
Tôi cũng mang theo một chiếc bật lửa Zippo và một viên cảnh sát biển đổi con dao Laplander xinh xắn của mình để lấy nó. Con dao có một tay cầm bằng gỗ, lưỡi dao hơi cong, vỏ dao làm bằng da có hai dây bằng da sống để buộc vào ba lô của tôi. Trong giá lạnh, chiếc bật lửa Zippo sẽ tiện dụng hơn so với chiếc bật lửa Butan, nhưng tôi thích con dao hơn.
Vào ngày cuối cùng, hai chúng tôi dùng sơn bôi mặt để sơn trắng những điểm nhô ra trên khuôn mặt, nơi có thể tạo ra điểm tối và bóng xám trên mặt như trán, má, mũi, lông mày và cằm. Tất cả chúng tôi rời hang tuyết để tham gia một chiến dịch lớn. Khoảng 100 đến 150 người chúng tôi móc gậy vào dây kéo phía sau các xe ủi tuyết để được kéo tới khu vực mục tiêu của mình. Chúng tôi trượt tuyết đến nơi xa nhất có thể, rồi cởi bỏ ván trượt và ba lô bên trong hàng cây. Chúng tôi ở cách mục tiêu khoảng 300m.
Tôi đi đôi giày đi tuyết NATO được thiết kế cồng kềnh và vụng về. Còn cảnh sát biển có giày đi tuyết nhỏ gọn làm bằng kim loại tổng hợp nên họ vẫn chạy được. Ồ, trang thiết bị tác chiến mùa đông của các anh hiện đại hơn chúng tôi. Để lấy một đôi giày như thế, tôi đổi bộ dao đa năng Swiss Army cũ và cái vòng đeo bằng da đã rách mà tôi thường dùng để gài bộ dao vào thắt lưng (vì để nó trong túi quần rất vướng víu). Một cạnh bằng nhựa của bộ dao đã bị vỡ nhưng vẫn còn chiếc cưa, dụng cụ đánh vảy cá và gỡ lưỡi câu, cái kìm bằng da có lỗ xâu kim, kính lúp, lưỡi dao dài, lưỡi dao ngắn, kéo, kìm nhỏ, cái mở nút chai, tăm và nhíp. Có người cho rằng vì Thụy Điển gần Thụy Sỹ hơn Mỹ nên con dao Swiss Army không phải là thứ đáng giá lắm, nhưng thực tế không phải vậy. Cùng với đôi giày đi tuyết, viên cảnh sát biển thậm chí còn cho tôi thêm một chai rượu sơ-náp. Anh ta rất vui sướng, có vẻ rất quý tôi vì đã đổi chác như vậy. Sau đó anh mang đi khoe với bạn bè. Bạn bè chỉ trích là anh đã lợi dụng tôi. Nếu anh ấy mang cho tôi đôi giày đi tuyết đó khi tôi đang huấn luyện tác chiến mùa đông ở Alaska, chắc tôi sẽ đổi cả 5 con dao Swiss Army để lấy nó. Khi trở lại Mỹ, tôi sẽ mua một con dao mới.
Chúng tôi tiến lên theo đội hình chữ V ngược với một người ở giữa phía trước và những người còn lại ở hai bên cánh. Một đơn vị khác tiến đến khu vực mục tiêu từ sườn trái. Vừa bắn vào đích, sườn trái và đội hình chữ V phía trước chúng tôi vừa tấn công một công sự giả gồm 10 tòa nhà. Một đơn vị SEAL cơ sở thường giống như một đội thủy thủ với 7 hoặc 8 người. Trong cuộc tấn công quy mô đại đội với hơn 100 lính này, chúng tôi chỉ phải đi theo đội hình.
Cảnh sát biển Thụy Điển và các đơn vị Bắc Âu khác, trong đó có Biệt đội Hải quân Na Uy, dành nhiều thời gian tập trượt tuyết và tác chiến trong môi trường mùa đông hơn lính Mỹ, vì vậy họ vượt trội hơn chúng tôi. Tuy nhiên, công nghệ Mỹ giúp cân bằng thế trận. Bạn có giỏi trượt tuyết thế nào cũng không quan trọng nếu tôi phát hiện ra bạn bằng kính ngắm ban đêm từ khoảng cách 400m. Bạn cứ trượt mà xem.
Tôi nghe kể lại rằng khi tôi đang huấn luyện ở Thụy Điển, nhiều đêm Laura đã đi chơi đến khuya và tiệc tùng với một vài người vợ lính SEAL khác. Khi tôi hỏi, Laura trả lời: “Ồ, chỉ là một hoặc hai lần thôi mà. Em chẳng thấy thích gì.” Tôi tin lời Laura bởi vì tôi tin tưởng cô ấy − tôi không muốn tin vào điều gì khác. Chúng tôi tới nhà thờ vào các ngày Chủ nhật và mọi thứ dường như đều ổn cả.
Con trai Blake của tôi rất thích lang thang với những người lính trong Đội SEAL và họ cũng yêu quý nó, nhất là sau một sự kiện đặc biệt khi Blake 4 tuổi. Một hôm, sau buổi làm việc, tôi trở về nhà, thấy Laura ở trong bếp đang vô cùng hốt hoảng.“Chuyện gì vậy em?” − tôi hỏi.
“Con nhỏ Debbie sang đây chơi và chúng cùng vào bể lội của Blake. Trần truồng!” Debbie bé nhỏ là cô con gái 6 tuổi của người hàng xóm.
“Vậy đấy.”“Em đã gọi mẹ con bé và kể cho cô ấy. Cô ấy nghĩ điều đó buồn cười. Anh nên nói chuyện với con đi.”Tôi liền đi xuống hành lang vào phòng con.Blake đang chơi trò Săn Vịt trên máy Nintendo, bắn những con vịt đang bay bằng khẩu Nintendo Zapper Light Gun.
“Con trai, hôm nay con thế nào?” “Tốt ạ,” thằng bé trả lời. “Hôm nay con làm gì?” “Chơi ạ.”
Tôi để thằng bé chơi tiếp và quay trở lại với Laura trong bếp: “Thằng bé ổn mà. Thậm chí còn không thèm nói đến chuyện đó. Đó không phải là chuyện gì to tát đâu.”
“Ồ không. Anh phải nói chuyện với con. Có lẽ thằng bé cảm thấy khó chịu đấy.”
Tôi liền quay trở lại phòng của Blake. Trên màn hình, một con chó phát hiện những con vịt chết trên cỏ và chúc mừng Blake.
Tôi hỏi trực tiếp hơn: “Hôm nay con có đi bơi không?” “Có ạ.”
“Vậy à, có ai đi cùng con không?” “Có ạ, Debbie đi bơi cùng với con.”
“Con và Debbie cởi hết quần áo ra khi ở trong bể à?”
“Debbie cởi quần áo bơi của mình và bảo con cởi quần áo bơi của con ra.” “Con có biết là con không nên để mọi người nhìn thấy chim của con không?” “Có ạ, mẹ bảo con là không để cho mọi người nhìn thấy chim của con.” “Ồ, vậy Debbie có nhìn thấy con chim của con không?” “Có ạ, Debbie nhìn thấy chim của con.” Thằng bé cười to. “Con có nhìn thấy chim của Debbie không?”
Thằng bé ngừng chơi và đặt khẩu súng xuống, giọng nói có âm sắc lo lắng: “Bố biết gì không? Debbie không có chim.” Thằng bé có vẻ lấy làm tội nghiệp cho Debbie: “Bạn ấy có mông ở đằng trước.”
Tôi cố nhịn để không cười đến nổ tung đầu ra. Tôi gọi kể cho Smudge và cậu ta cười suýt nữa thì vỡ cả ruột.
Ngày hôm sau, vào buổi chiều, Blake cùng tôi đến phòng nghỉ của Trung đội Foxtrot, Đội SEAL Số 2.
Chúng tôi nói về câu chuyện ‘mông phía trước,’ và mọi người đều cười như pháo.
Những năm sau đó vẫn có người lính bông đùa: “Anh bạn, anh có biết gì không? Tối nay tôi sẽ vào thị trấn, hãy tìm cho tôi một cái “mông phía trước” nhỏ bé nào đó đi.” Con trai tôi đã trở thành một giai thoại của Đội.
Khi tôi đang công tác ở Đội SEAL Số 2, bác Carroll của tôi qua đời vì một cơn đột quỵ khi đang câu cá. Tôi vô cùng đau đớn khi trở về nhà dự đám tang ở nhà thờ First Baptist, nơi tôi đã đánh Timmy tơi bời trước đây. Họ hàng, bạn bè và nhiều người tôi không biết đã có mặt bên trong nhà thờ. Bác Carroll đã yên nghỉ trong quan tài. Ông luôn yêu thương tôi, dành thời gian cho tôi và giúp tôi trưởng thành.Tôi không rành thủ tục của đám tang lắm: hát Thánh ca, cầu nguyện, đọc Kinh thánh, nghe lời tiễn biệt của Cha Ron và một bài ca ngợi. Tôi thấy không thể kiềm chế được. Tôi đứng lên và nặng nề bước ra cửa trước. Tôi đứng trên bậc cửa và khóc nức nở. Đây là lần tôi khóc nhiều nhất. Ai đó vòng tay qua người và ôm lấy tôi. Tôi ngước lên nghĩ rằng mình sẽ thấy gương mặt của Cha Ron, nhưng người đang ôm tôi không phải là Cha. Đó là bố tôi. Đây là lần thứ hai ông ôm tôi, không giống như cái ôm miễn cưỡng trước khi tôi lên xe buýt đi học chuyên nghiệp: “Howard à, bố cũng sẽ nhớ bác ấy lắm. Bác ấy luôn dành thời gian chơi với con bởi vì bác ấy biết cách dạy dỗ con hơn bố. Bác ấy kiên nhẫn hơn. Vì vậy bác Carroll luôn dành thời gian với con.”
Sau đó, tôi cố gắng tĩnh tâm trở lại và theo đoàn xe tang đến nghĩa trang an táng bác Carroll. Ngày 6 tháng Sáu năm 1990, con gái tôi, Rachel, chào đời tại một bệnh viện dân sự ở bờ biển Virginia. Mẹ vợ tôi từ Nam Georgia đến. Tôi đang ở đồi Fort A.P., Virginia − một trong số những trường bắn đạn thật lớn nhất Bờ Tây. Tôi lái 224 km theo hướng đông nam để gặp Laura và con gái nhỏ. Tôi vô cùng hạnh phúc khi nhìn thấy Rachel. Mặc dù vậy, thời gian tôi gắn bó cùng Đội cũng nhiều như tình yêu của tôi dành cho con gái tôi vậy. Một số người lính SEAL có thể cân bằng giữa Chúa, gia đình và các Đội. Tôi thì không thể. Các Đội là tất cả. Sau khi ở bệnh viện một hoặc hai ngày, tôi lại đi.
Nhưng bất cứ khi nào trở về nhà, Rachel lại quấn quýt bên tôi. Con bé thích ở cùng tôi và tôi thích được gần con bé. Một lần, khi Rachel lớn hơn một chút, Blake đẩy ngã con bé ở sân sau nhà.
“Blake, vào tủ và lấy thắt lưng ra đây!”
Thằng bé biến vào trong tủ rồi quay lại, trên tay cầm chiếc thắt lưng da lớn nhất của tôi. “Con trai, tại sao con mang cái thắt lưng to nhất mà con tìm thấy?” Thằng bé nhìn vào mắt tôi: “Bố, con đã làm một việc tồi tệ. Vì thế con nghĩ con đáng bị tét bằng cái dây lưng to này.”
Có lẽ là thằng bé chỉ đang đùa với tôi. Nhưng tôi không đánh Blake lần đó và cũng không đánh bất cứ lần nào khác sau đó. Nếu có gì không ổn thì đó là việc tôi đã quá nuông chiều Blake. Có lẽ số lần tôi bắt thằng bé nằm lên giường và tét cho một cái thắt lưng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Tôi để cho Rachel đi chơi với Blake nhiều hơn. Con bé là cục cưng của tôi, còn thằng bé là bạn thân của tôi.
Tôi tiếp tục nghe nhiều hơn về Đội SEAL Số 6, đơn vị chống khủng bố bí mật. Mọi người nói rằng Đội 6 là Đội Mơ ước. Số hiệu 6 là đơn vị bậc nhất, chỉ tuyển những người lính SEAL ưu tú nhất − như Pro Bowl của Liên đoàn bóng đá Quốc gia vậy. Họ làm nhiệm vụ giải cứu con tin và được trả rất
nhiều tiền. Lính của họ có thể đến học ở bất cứ trường nào họ muốn. Tiêu hàng nghìn đô-la để tham gia khóa đào tạo lái xe hai tuần ư? Không vấn đề gì. Muốn đi đến trường đào tạo bắn súng của Bill Roger ư? Lại nữa à? Được thôi. Họ sử dụng những trang thiết bị tiên tiến nhất. Họ được yểm trợ cao nhất − một trung đội toàn trực thăng được giao cho họ. Không phải suy nghĩ, tôi muốn được tham gia Đội SEAL Số 6. Khi có điều gì xảy ra, tôi sẽ là người được ra chiến trường đầu tiên.
Cách đây hơn 300 năm, ông bà mình tại Bồng Sơn, Tam Quan, Bình Ðịnh, tuốt ngoài Trung, đi ghe bầu vào đất Bến Tre.
Người đến trước vào cửa Ðại, ngược lên cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh, nơi Tiền giang nước ngọt quanh năm để lập vườn dừa, vườn cây ăn trái xum xuê như quê mình ngoài ấy. Chính vì thế Bến Tre còn gọi là xứ dừa…
Ai đến sau đành phải khai khẩn đất vùng gần biển, nước lợ. Ðất phèn, xấu; chỉ trồng rẫy được trên những giồng cát, phải đào giếng lấy nước, cực khổ hơn Miệt vườn trên ấy nhiều.
Ðược cái là miền Nam mình mưa thuận gió hòa, sáu tháng mùa khô và sáu tháng mùa mưa, mùa nước nổi từ sông Mekong, Biển Hồ bên Campuchia tràn về, bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch hàng năm; mang theo cá linh, cá kèo… rửa trôi các nguồn sâu bệnh gây hại cây trồng, rồi còn cung cấp phù sa màu mỡ cho vụ mùa sau.
Mùa khô, nước kiệt, nước biển mặn lấn vào tận các xã ở giữa cù lao An Hóa như Lộc Thuận, Vang Quới… nên đất còn hoang hóa, dân gọi là đồng Bưng Lớn.
Dân Bình Ðại làm rẫy, lập vườn trên giồng cát, làm ruộng, và đánh cá.
“Tư bề Thừa Ðức nội thôn. Ðất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”. Còn mãng cầu dai Thới Thuận, trồng trên đất cát pha, ăn ngọt như ăn đường cát trắng và bí đỏ Giồng Giếng. Có bốn làng: Thừa Ðức, Thới Thuận, Thọ Phú, Phước Thuận làm nghề đánh cá, dân khá giàu so với các xã miệt trên.
***
Sáng hôm 27, tháng Giêng, năm 1973, chiếc GMC phát xuất từ Bình Ðại thả ba ‘thằng’ SVSQ khóa 4/72 SQTBTÐ, mới 21 tuổi, xuống một cái đồn nghĩa quân nằm sát lộ, thuộc xã Tân Phú Trung để đi chiến dịch Hiệp định Paris.
Nón sắt, giày sô, áo trận, dây ba chạc, súng AR15, bảy băng đạn, hai trái lựu đạn da láng M67, dao găm, gà mên, bình toong nước… đứng ngơ ngơ ngáo ngáo giữa trời quê hiu quạnh.
Quận Bình Ðại năm ấy có hai Xã trưởng rất nổi tiếng về đánh giặc. Một là Xã Tắc ở Thừa Ðức; hai là Xã Bốn ở Tân Phú Trung.
Xã Tắc là một con người gan dạ, nghe VC lén về là vác súng carbine M2, lội sông qua rượt! Còn Xã Bốn ở Tân Phú Trung lại là người đa mưu túc kế; để ý bữa nào dắt một trung đội nghĩa quân vô ấp Tân Phú, kề sông Ba Lai, giáp với quận Ba Tri, chiều đi thấy bàn thờ ông Thiên của một ngôi chùa trong xã bóng đèn màu đỏ; sẩm tối rút lính về, bóng đèn chuyển qua xanh, làm ám hiệu báo ‘an’ cho VC.
Vậy là một chiến thuật phục kích bừa rụng răng được đặt ra. Cả trung đội rút về đồn, còn ém lại hai anh nghĩa quân chỉ trang bị lựu đạn mà thôi để chờ du kích mò vô; ‘đôi’ cho tụi nó vài trái; rồi chạy ‘riết’ về đồn.
***
Xã Tân Phú Trung tên gom lại của ba ấp: Tân Ðịnh, Tân Phú và Bình Trung thuộc tỉnh Kiến Hòa êm ru bà rù hè. Cho dù lúc đó ba ‘Kiến’ có tiếng nhiều VC là: Kiến Phong (Cao Lãnh), Kiến Tường (Mộc Hóa) và Kiến Hòa (Bến Tre).
Xã Tân Phú Trung cũng có vài nhà theo VC! Mấy lần đi xuống ấp, tui thấy trước cửa nhà dân có vẽ một vòng tròn xanh lá cây (là thuộc phe mình), màu đỏ (là thuộc phe nó), còn màu vàng (là lừng khừng cầu an). Nên mới có cái khẩu hiệu của bên Dân vận Chiêu hồi là: “Lừng khừng cầu an là đầu hàng CS”.
Vô trình diện được ông Xã trưởng chỉ cho qua trụ sở Hội đồng nhân dân xã cạnh đồn nghĩa quân mà ở. Phải đặt cơm tháng, do vợ của một trung đội trưởng nghĩa quân nấu ngày hai bữa, tốn hết 3 ngàn, mà SVSQ chỉ lãnh lương trung sĩ khoảng bốn ngàn rưỡi; nên đành tự mượn bếp, nồi nấu cơm vậy.
Nhiều bữa nấu cơm xong, mà hổng biết nấu canh, kho cá ra làm sao; đành để bụng đói meo, mặt rầu rầu như người vừa bị em nào phụ phàng duyên kim cải.
Chắc thấy tội nghiệp nên ông Ba Xồm, Phó Chủ tịch Hành chánh xã kêu ông ‘Thượng sĩ’ quan về nhà ổng ăn cơm.
Bác Ba Xồm chừng 45 tuổi, người cố cựu, có học, tới lớp biết đọc, biết viết, biết làm bốn phép tính cộng trừ nhân chia nữa đó.
Ông nội của bác Ba Xồm họ Hoàng ở đàng ngoài khi vào đàng trong phải đổi thành họ Huỳnh, bởi vì chúa Nguyễn đầu tiên là Nguyễn Hoàng.
Bác Ba Xồm nói: “Hồi mới sanh ra, tía tui tính đặt là Huỳnh Văn Giỏi (cho tui đừng có dở); nhưng bữa ra Nhà việc làm khai sanh, ông Chánh lục bộ bận đi ăn đám giỗ, nhậu quắc cần câu, về quên mất cái tên, bèn viết đại tên Xồm, sanh năm Mùi, cầm tinh con Dê; cho biết cái tuổi luôn!”
Bác Ba Xồm có người con gái thứ hai tên Bông, 17 tuổi, chưa chồng. Tính đặt tên Hoa đó chớ; nhưng cũng cữ tên bà lớn nên gọi trại là Bông.
Hoa hoặc Bông! Cái nào cũng được; cũng thơm hết ráo mà.
***
Nhà bác Ba Xồm, cách đồn Nghĩa quân chừng 500m, có hàng rào bằng cây keo, cổng vô nhà bằng tre gai. Ngoài sân có bàn thờ ông Thiên, chiều tối nào cũng phải thắp nhang.
Trước khi vào nhà phải qua một cái sân khá rộng, để phơi lúa. Có cối xay lúa, ở nhà sau, đặt trên một chân cối có bốn chưn. Chàng xay là đoạn tre hơn một mét, hình chữ T, có mấu xỏ vào tay cối ở thớt trên. Phần đầu chữ T được buộc dây treo lên xà nhà; đẩy tới kéo lui làm cái cối xoay tròn, chà xát bóc vỏ trấu để lòi ra hạt gạo vẫn còn vỏ cám bám ngoài.
Muốn gạo trắng phải cho vào cối; giã xong, đổ vào cái sàng mà tách ra trấu, gạo. Trấu để chụm lò; gạo để nấu cơm.
Góc sân nhà có cây xoài. Lá lụa, non, chấm cá kho hoặc cuốn bánh xèo ở cái đất quá hẻo rau sống. Xoài sống chấm nước mắm đường giằm ớt.
Có cây me, lá non và trái nấu canh chua với cá kèo… Cây chuối hột, bắp chuối xắt mỏng trộn gỏi gà rau răm, chuối chát ăn với thịt luộc, mắm chưng.
Nhà có ba căn hai chái, cột gỗ kê tảng đá xanh. Nhà trên, giữa bộ ván dầu có bình trà, bình vôi để trên bàn, nơi tiếp bà con xóm giềng.
Trên cột treo đồng hồ quả lắc là sang lắm. Chớ bà con mình đêm canh giờ bằng nghe tiếng gà gáy rộ. Ban ngày vịn vào mặt trời lên hai sào, ba sào, mặt trời đứng bóng hay xế chiều.
Nhà dưới có giàn bếp để ba cái cà ràng, dưới chân là củi. Kề bên nhà bếp là chuồng trâu, cây rơm cho trâu nhơi quanh năm. Bác Ba Xồm có sáu chục công ruộng trồng lúa mùa, từ gieo đến gặt hái mất tới khoảng 6 tháng, mỗi công được chừng 4, 5 giạ. Ðược cái là lúa mùa, gạo ăn ngon hơn lúa Thần nông nhiều.
Tui rất thích ăn chực nhà bác Ba Xồm. Một là khoái nghe ổng kể chuyện hồi xưa của cái đất nầy, rất là hấp dẫn, Nhưng hấp dẫn hơn nữa là em Hai Bông, con gái lớn của bác Ba Xồm, chu cha đẹp ơi là đẹp!
“Bông nè! Con gái Bến Tre, có tắm bằng nước dừa hông mà trắng như trứng gà bóc vậy?” He he!
***
Có bữa em đi chợ xã, họp chỉ một tiếng vào sáng sớm, mua con cá lóc về nướng trui chấm nước mắm me; thêm miếng thịt luộc ăn với chuối chát chấm mắm nêm để Tía em, bác Ba Xồm, lai rai vài ly hột mít rượu đế với tui.Rượu vô là gan, là liều, tui lủi xuống bếp, nói thơ: “Ðôi mình mới gặp hôm nay. Cho hun một cái, em hai đừng phiền!”“Có hun thì hun cho liền. Sàng lui sàng tới xóm giềng cười em.” Sao mà tôi thương chữ ‘hun cho liền’ này biết bao nhiêu mà kể!
Bốn tháng trời đi chiến dịch rồi cũng hết! Buổi sáng cuối cùng, cụ bị ba lô, súng đạn lên xe lôi đi Bình Ðại để trở về trường Bộ Binh Thủ Ðức. Em Bông quẹt nước mắt, tiễn tui đi.
Bùi ngùi quá mạng, tui thề là: “Rồi có một ngày, sẽ một ngày, chinh chiến tàn… Anh trở về dựng căn nhà xưa… Rồi anh sẽ sang thăm nhà em… với miếng cau với miếng trầu… ta làm lại từ đầu!”
Nhưng đó là niềm mơ ước đã vỡ tan. Sau 75, không còn gió đưa gió đẩy bông trang; bông búp về nàng, (đám hỏi); bông nở (đám cưới) về anh; tù cải tạo về, tui dông luôn ra biển! Bỏ em Hai Bông lại ở bên trời lận đận! Phần số thì đành vậy Bông ơi! Bởi vì VC; chớ lòng anh nào có muốn phụ em đâu!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.