Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 25 Sep 2023

Người Nữ Tù Xà Lim II

Đặng Chí Bình

Bài 38

Cuối Xuân và trời đã bắt đầu sang Hè, không khí trở lên dìu dịu. Thỉnh thoảng vẫn còn những trận mưa Xuân lưa thưa phảng phất, như báo cho nhân thế chuẩn bị đón nhận những ngày nắng hạn.

Tối hôm đó, tôi đang ngồi đăm chiêu với bao nỗi đầy vơi của cuộc đời. Giữa cái vắng lặng đến lạnh lùng, sau khi cái loa cạnh xà lim đã tắt ngủm lúc 9 giờ tối. Đột nhiên, từ một cái loa phòng ngoài góc sân có giàn nho phía trước, tiếng một người miền Nam thong thả dõng dạc:

“Các anh em chiến sĩ trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa thân mến! Tôi là Phan Thanh Vân, Trung úy phi công thuộc phi đội “X” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã nghe theo lời phỉnh phờ dụ dỗ của Mỹ Diệm, lái chiếc C-47 xâm nhập bầu trời miền Bắc xã hội chủ nghĩa để thả gián điệp biệt kích, đã bị bộ đội phòng không của chính phủ cách mạng hạ…..tại Cồn Thoi, Ninh Bình. Tôi đã bị thuơng nặng, nhưng do chính sách khoan hồng của nhà nước cách mạng, đã tận tình cứu chữa cho tôi. Nay, tôi đã bình phục. Được sự giáo dục, đùm bọc của cách mạng, tôi đã thấy được tội lỗi phản dân hại nước của tôi, hiểu được đường lối nhân đạo thuơng yêu dân của đảng và chính phủ. Tôi kêu gọi tất cả các bạn thuộc binh chủng Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hãy vì độc lập của Tổ Quốc, vì hạnh phúc tự do của nhân dân. Các bạn hãy mạnh dạn đứng lên quay về với chính phủ cách mạng, về với nhân dân. Hãy lái máy bay về vùng Mặt Trận Giải Phóng, các bạn sẽ được đón tiếp nồng hậu như anh hùng. Các bạn sẽ góp sức mình cùng nhân dân tiêu diệt kẻ thù là Mỹ Diệm…”

Nguyên văn thì tôi không thể nhớ rõ, nhưng nội dung là như vậy. Tai tôi lắng nghe, mà lòng tôi rỉ máu dần dần, tên Tân đang nằm cũng bò dậy nghe. Mắt tôi hơi sượng sùng khi gặp ánh mắt y. Tôi hỏi một câu thăm dò, để giảm nét hổ lòng:

– Họ bắt Phan Thanh Vân phải đọc như vậy sao?

Tên Tân tỏ vẻ hiểu biết:

– Mỗi lần đọc một bản như vậy, được thù lao 5 đồng. Một phần do họ bắt đọc, phần khác, cũng do mình muốn tiến bộ.

Thấy y có vẻ hiểu biết thật, tôi hỏi tiếp để sáng tỏ:

– Bài viết do họ viết sẵn, hay do mình phải viết?

– Họ gợi ý cho mình viết, rồi họ sửa!

Tuy ngoài miệng hỏi chuyện Tân, nhưng trong đầu tôi liên miên với giòng suy tưởng. Nếu chúng thu thanh tiếng nói của Phan Thanh Vân, rồi đem về miền Nam, phát cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa nghe. Hoặc cho nhân dân nghe, thì có thể làm ruỗng lòng người có tinh thần, làm nghiêng ngả cho người không có chính kiến, khi những người này còn mơ hồ về Cộng Sản. Thật là tai hại!

Tên Tân còn nói tiếp là đã nghe Phan Thanh Vân đọc mấy lần rồi. Hiện nay Vân được ở trại thợ trong khu nhà bếp, tỏ ra rất tiến bộ, cán bộ chiếu cố rất nhiều mặt. Thảo nào, tôi nhớ tới hình ảnh Vân ngồi gốc cây bàng, hôm đầu tiên tôi bị bắt vào Hỏa Lò. Tôi im lặng, chẳng muốn hỏi nữa, về một câu chuyện mà trong lòng mình chẳng vui gì. Lòng tôi cứ bồng bềnh, lững lờ chảy về miền Nam xa xôi.

Hàng ngày, tiếng loa ở cổng trại chung cứ chọc vào tai tôi, tình hình Phật giáo sôi sục đấu tranh với chính quyến…Tôi chẳng lạ gì khi nghe đài truyền thanh của địa phương Hà Nội và phát thanh trên vô tuyến của Cộng Sản. Nhưng, với khả năng nghiệp vụ của tôi, cộng với kiến thức riêng, tôi cũng thâu nhận được một số tin tức qua từng khía cạnh của từng sự việc. Những người chịu suy nghĩ thấu đáo, ai cũng hiểu ở đây chính là do bàn tay máu của Cộng Sản. Cộng với cái tự do nhố nhăng không đúng chỗ, không đúng lúc của miền Nam. Với tác phong lề lối làm việc, mang sẵn tinh thần tắc trách nói chung của cán bộ cũng như chính quyền miền Nam. Cộng sản tha hồ, lợi dụng thao túng… Chúng gieo rắc lẫn thổi phồng, bóp méo, khích lệ mọi mâu thuẫn giữa chính quyền với nhân dân, với tôn giáo, với đảng phái. Rồi chờ, khi có điều kiện, có thời cơ, chúng chỉ cần cầm cái gậy chọc vào từng điểm.

Thí dụ “Vụ Phật Giáo”.. Chúng sẽ có hàng trăm cách, tùy theo từng nơi, từng lúc. Tôi cứ hình dung: Trong một đám rước đang diễn hành trang nghiêm trên đường phố ở Huế chẳng hạn, của một ngày lễ Phật giáo đặc biệt. Ngay trong đám Phật tử đang diễn hành này, thậm chí ngay trong các tiểu chức sắc ni tăng, chúng đã cài người của chúng vào, cùng làm việc với nhau mà cũng không biết, lợi dụng điều kiện lúc đông đúc, cũng như lúc thuận tiện, chúng dễ dàng bí mật thả truyền đơn chống và mạt sát chính quyền. Các cơ quan có trách nhiệm về an ninh như cảnh sát, mật vụ, v.v…lúc đó sẽ giải quyết thế nào? Khi chưa hiểu rõ đầy đủ những thủ đoạn tinh vi của Cộng Sản. Khi chưa có kinh nghiệm hữu hiệu để giải quyết những trường hợp phức tạp như thế, chỉ còn một phương pháp ngăn chặn, bằng cách tìm tòi, khám xét làm ngưng đọng đám rước. Đám rước đã rối loạn, Cộng Sản càng làm rối loạn hơn, hò la chính quyền Công Giáo phân biệt, đàn áp Phật tử, v.v… Mâu thuẫn chồng lên mẫu thuẫn, lòng căm hờn chồng lên lòng căm hờn. Lúc đó chỉ có trời mới giải quyết nổi.

Thân tôi đang chìm trong nỗi tăm tối ngục tù, giờ đây lại đắp thêm mối ưu tư cho quê nhà miền Nam thương yêu.

Hôm sau, chiếc loa ở cổng đã ngừng mồm mép, như vậy là đã 8 giờ, giờ bắt đầu làm việc của một ngày, thế mà vẫn không thấy tên trực xà lim đến cho tù ra đổ bô. Tên Tân ngồi chờ mãi, y đừng dậy đi đi lại lại, rồi không hiểu y nghĩ thế nào lại trở lên sàn, rồi lựa thế kiễng chân, nhìn ra phía cổng xà lim. Y tỏ vẻ phấn khởi, cúi xuống nhìn tôi:

– Cửa xà lim vẫn đóng!

Tên Tân quái lắm khi cửa xà lim đóng hay khép là an toàn. Y có thể nói chuyện với buồng khác, nhưng mắt vẫn để ý nhìn mép trên của cánh cửa xà lim, khi thấy hé ra là trong này tụt xuống rồi, vì thế ít khi bị bắt. Y cất tiếng gọi:

– Số 7! Số 7!

Im lặng một lát, y gọi nữa:

– Số 7!

Một giọng phụ nữ rất trong:

– Ai gọi đấy?

– Số 4 đây! Dạo này có khỏe không?

Vẫn giọng khi nãy:

– Cám ơn, khỏe!

– Bị bắt vì tội gì đấy?

Im lặng một phút, rồi giọng trong lại cất lên:

– Kéo chuông nhà thờ Nam Đồng báo cho giáo dân vì công an vào bắt Cha phó.

– Bao lâu rồi?

Bỗng Tân nhớn nhác tụt vội xuống, trong khi tôi không nghe thấy một tiếng đồng gì khác. Cửa con xịch mở, tên Tư mắt long sòng sọc:

– Anh nào trong buồng này vừa đứng lên nói chuyện?

Y hỏi để mà hỏi, chứ y thấy tôi ngồi cùm, làm sao mà đứng dậy được. Tên Tân nắm hai tay vào nhau, vặn vẹo:

– Thưa cán bộ…

Tân chưa nói hết câu, tên Tư đã cúi xuống rút xoạch chốt cùm ra, rồi quát:

– Bỏ chân vào!

Mặt tên Tân chảy dài. Y biết không còn cách nào khác, nên tự tay nhấc cùm và từ từ nhấc một chân bỏ vào. Tên Tư nhìn qua cử con theo dõi, y chốt cùm vào, không nói gì thêm. Như vậy, tên Tư cũng quái. Y chưa mở cửa, đứng ngoài im lặng nghe đã. Nếu khi y đến, dù đẩy khẽ cửa đi vào. Tân đã biết rồi. Tiếng nói của Tân, Tư còn lạ gì. Thế là tình cảm hay chẳng tình cảm gì, sai là vẫn cùm.

Tôi nghe tiếng mở cửa mấy buồng đổ bô, rồi tự nhiên thấy chốt cùm tôi rút ra. Tôi nhẹ tay nhấc cùm, nhấc chân. Cái chân ê đi, bước xuống đất cứ bì bì. Tôi tưởng đi cung, nhưng khi mở cửa, tên Tư không nói gì, tôi chợt hiểu, ôm vội bô vào nhà tắm để đổ, rửa. Tôi gõ nhẹ vào tuồng số 7 mấy cái như ý nói: “Các cô đã làm cho một người nữa bị cùm đấy nhé!”. Đến bữa cơm, tên Tư lại mở cùm cho tôi ra lấy cơm cho cả Tân. Tên Tân mặt rất buồn. Theo y, bị cùm là một chuyện, y còn sợ là vụ của y sắp xử, có thể bị ảnh hưởng xấu vì y đã không giữ tốt nội quy trại giam.

Trước đây, ngay khi mới tới xà lim II được mấy ngày, tôi đã biết buống số 7 có hai cô gái đều bị cùm. Tôi rất băn khoăn, dứt khoát đây không phải là tội hình sự rồi. Bởi vì, hình sự rất hiếm phải vào xà lim, cá biệt nào đó. Phải là những tội tương đối quan trọng, nhưng cũng chỉ đến một vài tuần hay một tháng là cùng. Hai cô phải là tội chính trị nặng ký mới phải vào xà lim, và còn bị cùm nữa. Mặc dù về lý trí, tôi tin là không phải, nhưng phần tình cảm trong lòng tôi, cũng lắng lo một cách phảng phất. Biết đâu, đây lại chả là chính “đối tượng” nhận tài liệu “M”? Cho mãi tới một hôm, tôi bắt Tân phải tả lại. Y nói dáng người đó như nhà tu, mới khoảng 20 tuổi, tôi mới yên tâm. Dù vậy, tôi vẫn để ý theo dõi với mọi khả năng có thể, kết hợp suy đoán dựa trên những điều kiện đã biết:

– Cùng một tội, hoặc cùng một tổ chức, không bao giờ chúng giam chung một buồng ở xà lim.

– Hai tội khác nhau, lại cùng bị cùm? Ngay phạm nhân nam ở xà lim, cũng ít khi cùng bị cùm, huống chi là nữ. Vậy nữ bị cùm là hạn hữu, ở đây lại cả hai!

Tại sao có sự trùng hợp kỳ lạ như vậy? Câu giải đáp chỉ có thể thỏa đáng là phải có một người thực, một người giả!

Với điều kiện của mình như thế này, muốn làm sáng tỏ vấn đề trên. Tôi chỉ còn cách duy nhất là phải lắng nghe những âm thanh, sự việc…..rồi từ đấy suy lý dần. Từ định tâm đó, tôi thấy cá biệt, lẻ tẻ vài lần thôi, còn hầu như cứ cô nằm phía trái, tức cô có dáng nhà tu đi cung. Sau đó, cô nằm bên sàn phải lại đi, rồi thông thường là về trước. Như vậy, nếu cô đi sau về trước này không nói, thì cô đi trước về sau không hề biết là cô sau có đi cung.

Lúc này, tôi đã có thể phân biệt được, tiếng động của chốt cùm nào rút, tiếng mở cửa buồng nào; mụ Hoa vào gọi cung hay Bằng, hay Kim già, hoặc lão Tư, họ chưa mở cửa tôi đã biết ngay là ai, qua cách bước sền sệt trên nền nhà, cách cầm chùm chìa khóa lắc, cách mở cửa buồng…..Còn những tật khịt mũi hay hắng giọng thì quá rõ. Óc tổng hợp ngay các âm thanh để ra lời giải đáp không khó khăn gì. Hơn nữa, trừ buồng tôi, cả xà lim chỉ có chiếc cùm buồng 1, và 2 cô gái bị cùm ở số 7. Như vậy, chỉ phân biệt 3 tiếng cùm thì hầu như không lầm. Vì thế, tôi đã nhận định được đến 80% là 2 cô ở buồng số 7: Một cô giả và một cô thật. Nếu chính mình không bị cùm, tôi có thừa khả năng để thử, cũng như mắt nhìn để kết luận. Ngay bây giờ, tôi muốn báo cho cô thật biết để cảnh giác. Không để ý thì khổ. Nhưng đành chịu vì cái chân trong cùm. Cách nào cũng có chỗ bất lợi cả. Vì người kia thường xuyên có mặt ở đấy. Chỉ còn cách chờ đợi một bữa nào bất ngờ cô bên phải đi cung, cô bên trái ở nhà, tôi sẽ lên tiếng nói bâng quơ. Thí dụ: “Chớ có tin người cùng buồng mình” chẳng hạn. Nếu cán bộ có đứng rình, mở cửa con hỏi, giả vờ nằm nhắm mắt ngủ, nằm mơ. Nó chẳng làm gì được mình.

Chiều hôm đó, tôi đang nằm vẩn vơ suy nghĩ, cửa con xoạch mở, tên Bằng chỉ tôi:

– Mặc quần áo đi cung!

Đã hơn một tuần nay không gọi. Hôm nay, không hiểu có gì khác chăng? Từ đêm đem tôi đi bắn tới giờ đã hơn ba tháng rồi, cứ một tuần hai, ba lần chúng gọi tôi đi cung. Vẫn những trò dụ dỗ phỉnh phờ, đe dọa, rồi lại tình cảm. Truy hết chỗ này, lại đến điểm khác. Có lúc, chúng bắt tôi viết hẳn lại một sự việc nào đó cho rõ ràng. Tôi vẫn trước sau như một. Có một vài chỗ do cái dốt của tôi đã bị bục, tôi đã phải lao đao vất vả. Bây giờ đã có thêm kinh nghiệm, đã nắm được những mánh khóe khai thác, những động tác thật, giả hầu như tôi đã thấy trước. Tuy vậy, tôi vẫn tỏ vẻ còn ngây thơ, hiểu biết kém. Đôi khi, tôi phải vờ sa vào những cái bẫy chúng đã giương ra, nhưng tôi vẫn chủ động lái nó thành vô hại, hoặc hại ít. Cũng có lúc tôi làm như hoang mang, dao động để chúng khó xét đoán, hoặc sẽ hiểu sai về con người thực của tôi.

Thí dụ: Một hôm 3 đứa hùng hổ đập bàn, xô ghế, nào là xin tha tội xử tử cho tôi, vì tôi còn quá trẻ, chưa suy nghĩ chín chắn; mong đường lối khoan hồng, nhân đạo của đảng sẽ thấm nhuần vào tim vào óc tôi, để tôi sẽ thành thật khai báo hết, v.v…..Nào ngờ, tôi vẫn là một tên ngoan cố ngu xuẩn, chuyến này, cho đi luôn…..Nào là cứu một người là để hy vọng nó sẽ trở nên tốt, chứ không phải cứu một người mà tật xấu vẫn cứ khư khư giữ trong mình, mười thằng như thế cũng bắn bỏ…..

Phải nói rằng, từ ngày chúng đưa tối đi bắn đến giờ, tôi chẳng sợ nữa; ngay dủ bây giờ chúng đem tôi đi bắn thật, tôi cũng vậy thôi. Dứt khoát, tôi không đến nỗi ngắc ngư con tàu đi vừa qua. Tuy thế, tôi vẫn vờ hoang mang lo sợ, xin chúng tha cho. Xin chúng là người trực tiếp với tôi, hiểu tôi đã thành khẩn khai báo mọi vấn đề ngay từ đầu.

Hôm nay, không biết chúng còn giở trò gì nữa đây? Vào tới phòng cung, tôi thấy mặt 3 tên: Nhuận, Đức và Đặng rất lạnh lùng. Trên bàn, trước mặt chúng, một chiếc cặp da đen dầy cộm. Thái độ của chúng hôm nay hơi khác thường. Chúng nhìn tôi rất lâu như muốn xét đoán một cái gì. Cuối cùng, tên Nhuận trang nghiêm:

– Từ ngày anh bị bắt vào đây đã bao lâu rồi?

Tôi nhìn y dè dặt:

– Thưa ông, hơn 10 tháng rồi.

– Anh có biết rằng, trong Nam chúng đã phái ra đây mấy tên để tìm anh không?

Tôi hơi ngỡ ngàng, xen lẫn chút lắng lo trong lòng. Dù thế, ngoài mặt, tôi vẫn xem như họ nói đùa:

– Chúng nó tìm tôi làm gì! Tôi quả quyết là không có ai ra tìm tôi cả. Ở trong Nam, tôi là loại vô danh tiểu tốt. Chẳng qua chúng trả mấy tháng lương, rồi tung ra ngoài Bắc để lấy tiếng vang là chính; còn bị bắt, sống hay chết, chúng đâu còn cần biết đến nữa.

Tên Đặng từ nãy vẫn cứ ngồi yên nhìn và nghe tôi nói, bây giờ đập bàn cái “thình!”, chỉ tay vào mặt tôi:

– Ngậm ngay cái mồm anh lại! Hôm nay tôi báo cho anh biết, và không cần giấu giếm gì cả. Người của chúng tôi từ trong Nam ra, đã báo cáo đầy đủ về anh. Chúng tôi đã thấy bộ mặt thật của anh. Anh là một tên ngoan cố đến cùng, muốn đem trứng chọi với đá, dám đội đá vá trời, dám đánh lừa cả Bộ Công An cách mạng!

Trong khi vừa sỉ vả tôi, y vừa mở cặp lấy ra một cái phong bì dầy cộm. Y chọn, rút ra một tấm ảnh cỡ 6×9, cố ý cho tôi thấy là còn rất nhiều ảnh nữa. Y vất tấm ảnh xuống bàn, trước mặt tôi, gằn giọng:

– Đây, hãy mở mắt ra nhìn. Khôn hồn khai báo lại ngay. Nếu không, lần này chúng tôi sẽ không nương tay với anh nữa, sẽ có biện pháp mạnh!

Tôi thoáng nhìn bức ảnh, dù chưa cầm, tôi đã thấy tim mình như thắt lại. Tấm ảnh Phan và tôi chụp ở góc đường Nguyễn Huệ, trông chéo sang rạp xi nê Rex. Phan cao lớn, mặc áo sơ mi ca rô bỏ ngoài quần, đeo kính đen đang quay chéo mặt về phía người chụp ảnh. Tôi, áo sơ mi trắng, bỏ trong quần, đeo kính trắng. Một tay đang cầm mấy cuốn sách, một tay đang chỉ về phía trước mặt. Mặt tôi nghiêng góc với mày ảnh khoảng 30 độ.

Tôi điếng hồn, suy nghĩ, phản xạ tổng hợp cấp thời. Chúng đã biết hết rồi chăng? Chúng còn nhiều ảnh nữa hay không? Tại sao chúng lại chụp ảnh ở ngoài đường? Có thể chỉ là một tấm duy nhất, bởi vì Phan đã bị lộ, chúng đã biết lâu rồi. Khi thấy tôi đi với Phan, lạ, chúng chụp một tấm, để sau này phòng hờ dùng trong tình huống áp lực về chứng cớ. Tại sao chúng phải cố ý cho tôi thấy, chúng còn nhiều ảnh nữa? Chính cái “cố ý” này cho thấy, đó chỉ là một động tác giả của chúng để gây áp lực tâm lý. Một điều tôi tin chắc, dù cho nằm ngay trong Cục Tình Báo Sài Gòn, nhưng nếu không cùng một công tác, chúng cũng không thể biết được sự việc. Và dù cho cùng một công tác đi nữa, cũng chỉ biết được từng khâu, từng phần, chứ không thể biết toàn bộ. Mấy phút tính toán, phản ứng nhậy lẹ, thành quyết định. Đầu tiên để thăm dò, tôi làm ra vẻ mạnh bạo, nét mặt tươi lên tin tưởng:

– Tôi càng tin tưởng cách mạng hơn. Đây là tên Hòa mà. Như thế này, sự việc của tôi càng được xác minh sớm hơn.

Tên Đức đứng bật dậy, xô lại sát tôi, chỉ tay vào mặt tôi, gầm lên:

– Anh đừng có già họng! Đấy là tên Hòa à?

Tôi mở to mắt ngạc nhiên, cầm tấm ảnh, chỉ khẳng quyết:

– Thưa ông, tôi bảo đảm với các ông, đây là tên Hòa mà! Hàng ngày, y đi với tôi, huấn luyện tôi, tôi còn lạ gì mặt y nữa!

Đây là một điểm tình cờ, mà lại may. Trước đây, khi tôi tả về ông Hòa, tôi thường lấy hình ảnh người cậu họ tôi, béo trắng, to lớn. Ông là chủ hãng xuất nhập cảng hàn vải Vĩnh An ở đường Hồng Thập Tự. Ông Phan cũng to lớn, chỉ có điểm khác là tôi tả cậu tôi da trắng, đỏ hồng, hay mặc áo sơ mi trắng, trong khi ông Phan da bánh mật, hay mặc áo sơ mi ca rô. Nhưng, trông ảnh làm sao phân biệt được da bánh mật hay da trắng! Còn áo sơ mi và trắng, có điều khoản nào bắt buộc ông Hòa cứ phải mặc áo sơ mi trắng mãi đâu. Còn tôi, tôi chỉ biết cái tên “Hòa”, tên “Phan” tôi không biết. Điều gì chứng minh bắt buộc tôi phải biết tên “Phan” khi mà trong tình báo, với mọi người đều dùng tên giả. Vì thế, tôi cứ khăng khăng hình người trong ảnh là tên Hòa. Điều tôi vẫn nơm nớp lo sợ là, nếu chúng đưa một tấm hình nào đó chụp tôi với Cẩn, hoặc với Hoàng Công An, lúc đó tôi chưa biết tính sao. Bởi vì từ trước, tôi chỉ khai tên Hòa duy nhất là người huấn luyện và đào tạo tôi mà thôi. An và Cẩn, người chỉ cao 1m62 là cùng.

Chúng tỏ vẻ tức tối lắm, nhưng xem ý chúng không làm gì hơn được. Qua thái độ tức bực của chúng, tôi càng yên tâm hơn. Nếu chúng có vài tấm ảnh nào khác, chắn chắn chúng sẽ lấy ra ném vào mặt tôi. Tôi cầm tấm ảnh đưa trả lại chúng, mặt tôi đầy vẻ hân hoan tin tưởng:

– Như thế này, tôi đoán cách mạng đã bắt được tên Hòa rồi, và cách mạng đã xác minh được sự việc của tôi. Tôi rất mong, một buổi nào đó, tôi sẽ gặp tên Hòa ở đây để thỏa phần nào lòng căm phẫn của tôi đối với y.

Tên Đặng cười nhạt! Tên Nhuận cầm tấm ảnh, giọng giễu cợt:

– Bình đeo kính trắng, đẹp trai, trông tư cách đấy chứ!

Tôi cười:

– Các ông còn lạ gì xã hội miền Nam! Một anh dốt đặc cán mai, nhưng ra ngoài, cứ ra vẻ ta đây là sinh viên, trí thức, tay luôn luôn ôm chồng sách ngoại ngữ dầy cộm. Hiển nhiên, tôi cũng lây cái nét giả tạo ấy. Mắt tôi có sao đâu, thế mà cũng đeo kính trắng gọng vàng, loại không độ. Bây giờ nghĩ lại, tôi còn thấy ngượng.

Hôm nay, chúng tưởng với tấm ảnh ấy, chúng sẽ làm tôi tan hoang, hoặc ít nữa cũng phải bục ra một số mảng. Nhưng cuối cùng, vẫn không giải quyết được gì, chúng bầm gan, tím ruột!

Tên Đặng cộc lốc:

– Đi về!

Tôi về xà lim, thật hú vía! Tuy thế, lòng tôi vẫn đầy lo lắng. Tôi hiểu sự việc chưa thể yên được.

Từ ngày tôi bị phát hiện, rồi bị theo dõi ở nhà thờ “X’ tôi đã nhiều đêm ngày suy nghĩ vì sao tôi bị phản gián phát hiện. Tôi tập trung tư tưởng: nhìn, xét, rọi, soi lại từng điểm. Từng khía cạnh, từng sự việc, từ điểm đổ bộ ở Kỳ Phương cho đến khi tới Hà Nội, những ngày vào Việt Đức, lúc sang Gia Lâm…..Tôi không thấy một điểm nào nghi ngờ để bị địch phát hiện. Như vậy, tôi bị địch phát hiện, chỉ có thể:

1) Từ nơi linh mục A. Linh mục đang bị Cộng Sản bí mật theo dõi. Tôi mò đến, nên chúng tìm về nhà trọ để xác minh. Mà đã xác minh, chân tướng tôi lòi ra ngay.

2) Từ Paul Lạng ở Paris. Có thể y là nhân viên “hai mang”. Để lấy tiền, y đã cung ấp cho phản gián Hà Nội biết rằng sẽ có một người xâm nhập Hà Nội, nhưng không biết đích xác ngày tháng cũng như nhiệm vụ. Nếu đúng như vậy, phản gián Hà Nội phải tìm ra là tất nhiên. Nhưng điểm này yếu khả năng hơn điểm trên.

Tôi mất bao ngày đêm nặn óc suy nghĩ, nhưng vì thiếu cơ sở để nhìn, để xét, cho nên tôi vẫn chưa thể khẳng quyết là do điểm một, hay điểm hai. Bây giờ, lại có thêm tấm ảnh của Phan và tôi. Với tấm ảnh trong điều kiện như hôm nay, tôi chưa thể có ý kiến gì, phải đợi những ngày kế tiếp mới sáng tỏ.

Tên Tân bị cùm đến ngày thứ tư, thì mụ Hoa vào gọi đi cung. Qua gần 2 tháng trò chuyện với tên Tân, tôi được biết y chỉ có một chấp pháp duy nhất tên là Châu. Cũng thuộc phòng 44, phòng hỏi cung chính trị. Vậy mà tôi, sao nhiều chấp pháp thế! Trước sau đã 6 người rồi. Mỗi buổi hỏi cung lại thường có từ hai, tới ba người. Có lẽ tại tôi là một điệp viên, có nghiệp vụ, được đào tạo huấn luyện bởi những cơ quan tình báo của một quốc gia, cho nên, để khai thác chúng phải mất nhiều tâm sức hơn?

Tên Tân đi cung gần hai tiếng đồng hồ đã về ngay. Tân đã vào buồng mà tên Tư vẫn chưa đóng cửa. Vẫn đứng ở ngoài, trong khi tên Tân vội vàng quấn chăn màn và quần áo. Tân quay lại tôi nói nhanh:

– Tôi được ra trại chung, vụ án của tôi sắp xử.

Y ôm các thứ ra tới cửa, quay lại gật đầu chào tôi. Cửa đóng, rồi khóa. Tôi thấy nhẹ hẳn người. Từ nay một mình, dù buồn hơn, nhưng không làm phiền toái ai, tôi cảm thấy dễ chịu, tự do hơn.

Ngày hôm sau nữa, tôi lại nghe cán bộ vào bảo cô gái bị cùm, phía trái của buồng số 7 mang chăn màn, quần áo ra trại chung. Cô đó đi được hơn một tiếng, rồi cô bị cùm phía phải cũng đi, rất im lặng. Tôi cố gắng nghe để phán đoán, nhưng cũng không hề nghe thấy một âm thanh gì. Như thế, sự nghi ngờ của tôi cô “phía phải” là tù giả cùng chắc đúng hơn nữa… Mặc dù mỗi người một buồng, họ ra đi, lòng mình cũng thấy mang mang vắng lặng.

Buồng số hai cũng một người ra trại chung, cùng với hôm Tân đi, có lẽ là người anh họ cùng “vụ” với Tân. Như thế, hiện nay xà lim chỉ còn có 4 người: Một ở buồng số 1, bị cùm một chân, một ở buồng số 2, không bị cùm; một ở buồng số 4 là tôi và một ở buồng số 5, không bị cùm.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 25 Sep 2023

Đổi xà lim bạn tù mới

Đặng Chí Bình

Bài 37

3 ngày trôi qua. Tôi vừa lại sức, lại hồn, một buổi chiều sau giờ làm việc, (5 giờ chiều thì hết giờ làm việc), cửa con bỗng mở, mặt tên cán bộ mắt lồi:

– Có gì mang hết đi, cả chăn chiếu!

Y rút cùm. Tôi vội vàng lấy chân ra, vơ gọn chăn chiếu. Tôi không quên đút cái gối bằng cuống chổi Thanh Hao vào trong chăn, cuộn lại và mang cả cái gáo nữa. Y mở cửa, tôi ôm đồ ra. Chợt nhớ tới đôi đũa, tôi quay lại xin y cho lấy đôi đũa thường treo ở đuôi chốt cùm phía ngoài.

Mọi hôm đi cung, thường ra cuối hành lang rồi rẽ tay phải. Hôm nay, lại rẽ phía trái, vào trong, tới một cái cửa, y mở. Chà, cả một cái sân to lớn, rộng thênh thang, với bao nhiêu dẫy nhà chung quanh. Có 5, 6 cây bàng to tướng, cành trơ trọi với những búp lá non mới nhú, trông khẳng khiu như những cánh tay gầy. Y dẫn tôi vòng theo mé sân, mở mấy lần khóa, rồi tới một khu toàn buồng. Một hàng chữ đỏ kẻ trên tường: Xà Lim II.

Hơn 7 tháng trời ở xà lim III, hôm nay tôi mới nhìn thấy xà lim II. Xà lim II ở ngay cạnh cổng phòng trực của trại chung, nên có cái loa, tiếng nói đang vang vang nghe rõ mồn một. Vào tới buồng, đã có một anh nằm đang đắp chiếc chăn bông, lồm cồm bò dậy. Trong khi tên cán bộ rút chốt cùm, tôi tự hiểu, nên nhấc cùm ra và cho một chân vào. Y đóng chốt cùm, khóa cửa. Tôi quay lại gật đầu chào anh bạn mới. Anh chàng này độ 26, 27 tuổi, trông có vẻ khỏe mạnh, tuy da vẫn xanh xao. Anh mỉm cười gật đầu chào lại tôi.

Tôi lục đục vừa trải chiếu vừa ngó chung quanh tường, lên cửa sổ. Không khí ở đây có vẻ khoáng đãng hơn xà lim III, cả ánh sáng nữa. Phía trên đầu nằm là một khung cửa sổ to, kích thuớc khoảng 1 mét x 60 phân, với những song sắt đường kính 2 phân, có lưới thép phía trong. Mép dưới cửa sổ chỉ cao hơn nền gạch khoảng 2 mét rưỡi. Do đấy, nếu đứng lên sàn, có thể nhìn ra ngoài được, phía giàn nho. Phía chân nằm, ngay trên cửa ra vào là một khung cửa sổ nữa nhưng bé hơn, khoảng 50 x 30 phân, cũng bọc lưới thép phía trong sát vào chấn song. Cùm và sàn cũng giống như xà lim III. Khác hẳn với cảnh vắng lặng tịch mịch của xà lim III, ở đây có một chiếc loa gắn ngay trên cửa lớn ra vào trại chung, chĩa ra sân phía trước có giàn nho, nơi tôi vẫn đi cung. Như vậy là ngay cạnh xà lim II, vì vậy nằm trong buồng, tôi nghe tiếng loa rất rõ.

Buổi chiều và tối đêm hôm đó, qua những câu chuyện thăm hỏi anh bạn mới cùng buồng, tôi được biết sơ lược về anh: Tên Phạm Huy Tân, nghề chuyên môn là y tá, phục vụ tại một xã ở Hà Nam, đã có vợ và một con. Anh tham gia hoạt động bí mật trong một đảng chính trị: “Tân Cách Mệnh Việt Nam Phong Trào” (gọi tắt là “Tân Phong”). Chủ tịch đảng tên là Chương (tôi quên họ), cũng là chủ tịch một xã thuộc Hà Nam.

Đảng Tân Phong đã hình thành hoạt động được gần 3 năm. Đảng kỳ nền vàng có một sao đỏ ở giữa, cũng có tôn chỉ, mục đích, cương lĩnh chính trị; số đảng viên vài chục; đã phát triển lên miền cao là Hòa Bình, Tuyên Quang. Về sau bị lộ, vì Cộng Sản đã cài được người của chúng vào trong Ban lãnh đạo. Vì thế, nhân một buổi họp đảng, (lợi dụng một đám cưới nhiều khách khứa các nơi ra vào, đảng họp bí mật ở giữa một gian nhà trong), bất ngờ, Cộng Sản tới vồ tất cả tại chỗ. Sự việc đã xẩy ra cách đây hơn 6 tháng.

Về phía tôi, tôi cũng nói thẳng là ở trong Nam ra. Tất cả những chuyện mà tôi nói chỉ nằm trong phạm vi tôi đã khai báo với chấp pháp. Đồng thời chỉ có khái niệm sơ lược.

Qua một số ngày, với một số thử thách của tôi, cùng với những hiện tượng, tôi biết chuyện đảng phái và anh ta bị bắt là có thực. Nhưng, anh ta thuộc loại khôn ngoan vặt. Trong tình thế này, để tự cứu mình, anh ta đã thở ra những hơi muốn “tiến bộ”. Như vậy, anh ta còn nguy hiểm hơn một tên cán bộ dùng khổ nhục kế. Vì mọi người cùng cảnh sẽ mất cảnh giác, dễ tâm sự thổ lộ những tư tưởng và quan điểm, cũng như những công việc mình đã, đang và sẽ làm. Tuy nhiên, dù sao y cũng còn non nớt, cho nên sau những buổi đi cung về, nhiều khi y lộ vui ra nét mặt. Đôi lúc không kìm được, y nói thành lời: Nào là chấp pháp rất tin tưởng và thương mến y, nào là nhiều lúc chấp pháp vỗ vai thân mật như anh em. Ngay ông cán bộ tên Tư người miền Nam trực xà lim cũng tỏ ra có thiện cảm với tên Tân, thường gọi y ra sai làm những việc vặt như làm vệ sinh, hoặc đôi khi sai quét đường đi ở giữa hai dẫy xà lim.

Ai đã từng ở xà lim một vài tháng trở lên mà được sai ra làm những công việc này, là một hình thức được chiếu cố, gia ân. Thứ nhất, sẽ được thoải mái, không bị gò bó ngồi một chỗ; hai nữa, điều đó nói lên lòng tin của cán bộ, không sợ anh có thể lợi dụng cơ hội để liên lạc, dưới nhiều hình thức, với các buồng khác, tuy rằng vẫn luôn luôn có cán bộ đứng coi anh làm.

Ngay thái độ tên Tân cũng có vẻ bợ đỡ, nịnh nọt cán bộ ra mặt. Thái độ ấy, và ý đồ ở trên, lòng tôi làm sao ưa y được. Dù vậy, tôi vẫn bình thường không tỏ một cừ chỉ nào quá đáng thể hiện là không ưa anh ta. Một lần, tôi hỏi thử:

– Liệu vụ án của Tân có đem ra xử không? Và xử thì Tân sẽ bị khoảng bao lâu?

Y có vẻ đắn đo, thận trọng, cuối cùng mới thổ lộ:

– Theo như một số hiện tượng, từ đấy tôi suy đoán, kết hợp với chấp pháp của tôi, có thể hơn một tháng nữa, vụ án của tôi sẽ được đưa ra xử. Ông Chương đầu vụ có thể bị từ 12 tới 15 năm. Còn tôi, nhiều hy vọng có khi không phải ra tòa. Nếu có ra, cũng chỉ từ 2 tới 3 năm.

Qua cách trả lời, cũng như sự suy lý của y, tôi nhận thấy: Tên này đang bị cái bùa tình cảm của chấp pháp, chắc rằng y đã phải tố nhiều người trong tổ chức của y. Y tin như vậy là một cách để tự cứu. Một loại người như vậy, nếu chấp pháp hỏi về tư tưởng, về tâm sự, v.v… của người cùng buồng, là tôi, tất nhiên y phải nói bằng hết. Rồi có khi y sẽ được giao nhiệm vụ gợi chuyện, tìm hiểu tư tưởng và công việc làm của tôi, với những lời hứa hẹn đẹp đẻ. Với tôi, dù có nhận định y không phải là loại người như trên đi nữa, cũng đừng hòng bao giờ tôi tâm sự chuyện riêng, huống chi tôi đã thấy y là một tên cơ hội rõ ràng. Tuy vậy, qua cái nhìn của tôi về y, chưa cho phép tôi nhận định chung về các đảng phái ở miền Bắc. Tuy tôi cũng thấy trong lòng không được vui, vì y là cán bộ chịu trách nhiệm về tuyên truyền, liên lạc mà trình độ như vậy, tư tưởng lại bấp bênh giao động như thế. Ngay bản thân cán bộ cốt cán, cũng không hề có lý tưởng thực sự! Ở đây, tôi lại nói “thực sự”, vì rất nhiều người chỉ có lý tưởng ở mồm, mà không phải ở tim, ở óc.

Tôi cũng rất tiếc không được gặp ông Chương nào đó, chủ tịch đảng Tân Phong, để tìm hiểu và học hỏi những khả năng và kiến thức của ông ta, để từ đó thấy được về đảng Tân Phong này. Tuy vậy, qua một cán bộ tuyên truyền, tôi cũng có một số khái niệm về đảng đó. Vì thế, tôi mới thấy trong lòng không có một niềm phấn chấn tin tưởng.

Theo Tân, vụ của y có hơn 10 người hiện đang ở trong Hỏa Lò, một số nhẹ ở trại chung. Ngay ở xà lim II này, buồng số hai có một người anh họ cùng vụ, chịu trách nhiệm về ngoại giao và tài chính, y là giáo viên Cấp hai.

Xà lim II gồm có 8 buồng, mỗi bên 4 buồng đối diện nhau, không bị cùm, đứng lên cái cùm có thể nhìn thấy từ trán của nhau trở lên. Nhưng, nội quy xà lim nghiêm cấm đứng lên sàn. Bất cứ lúc nào cửa con xoạch mở, nếu thấy anh đứng lên sàn, dù chỉ tựa lưng vào tường đứng chơi. Cùm sẽ được rút ra ngay và mời anh cứ tự nhiên bỏ chân vào, đừng nói gì thêm nữa, vô ích. Trong 8 buồng, chúng dành buồng số 8, bắt một vòi nước máy vào làm chỗ đỗ phân và tắm rửa.

Do điều kiện bị cùm, hơn nữa trong buồng không hề nhìn thấy gì bên ngoài, vì thế tất cả linh khí của thân thể, đều tập trung về thính giác, để phán đoán và xác định âm thanh. Càng ở xà lim lâu, thính giác càng bén nhậy, tinh vi. Tuy chưa bao giờ thấy một ai ở cùng xà lim, nhưng lúc đó tôi đã biết: Buồng 1 giam một người, buồng 2, hai người, không bị cùm. Buồng 3 không có người. Buồng 4 là buồng chúng tôi. Buồng 5, nhà tắm, buồng 6, một người. Buồng 7, sát nhà tắm, có hai người đều là nữ, bị cùm mỗi người một chân. Thỉnh thoảng ban đêm, tôi thường nghe tiếng phụ nữ khóc sụt sịt, nhiều khi thành tiếng nức nở thảm thiết ở phía đó.

Theo Tân kể chuyện thì do sự kích thích tò mò của đàn ông con trai, nên một lần đã liều, khi cán bộ vào gọi cung một cô, Tân đứng trên chiếc chăn bông gấp cuộn lại, y lén, nép nhìn. Cô đó khoảng 20 tuổi, trông như nhà tu, ở xà lim chừng độ gần tháng nay.

Tôi nghe chuyện cũng thấy lòng thương hại thông cảm. Tôi là đàn ông thanh niên, bị cùm đã thấy khổ sở khi ỉa đái, phụ nữ thì thật khó khăn. Nhất là đêm hôm, cán bộ đàn ông thường mở cửa con kiểm tra; có khi không mở, chỉ đứng rình qua cái khe của miếng sắt hơi bẻ cong, che cửa con. Ở ngoài nhìn vào thấy nửa buồng, còn ở trong nhìn ra chỉ thấy trần nhà. Chắc rằng, thôi thì thân gái, trong cảnh này cũng đành phó mặc!

Vì hai cô này, trong xà lim, tâm trạng hầu hết đều tò mò muốn biết người và sự việc. Hôm qua, buồng số 2 đối diện một anh đã bị bắt tại trận đang đứng trên cùm, kiễng chân thập thò nhìn khi tên Tư, cán bộ xà lim mở cửa số 7 cho ra rửa ráy. Cùm rút chốt luôn, và anh đó đã bị cùm.

Tên Tân rất khôn ngoan tinh quái. Y nắm được những quy luật giờ giấc, cùng những mánh khóe rình mò của cán bộ, nên y cũng đứng lên mà lão cán bộ không biết. Trong một ngày, ở xà lim II, giờ tương đối an toàn nhất là sau giờ tan tầm 5 giờ, nghĩa là từ 5 giờ 15 phút đến 6 giờ tối. Lúc đó, cán bộ vừa bàn giao thay ca, kiểm nhận người hết lượt xong, đi ăn cơm.

Tên Tân tỏ ra nhiều hiểu biết về các cán bộ ở Hỏa Lò, làm nhiều khi tôi phải ngạc nhiên suy nghĩ. Thì ra, lúc mới bị bắt, Tân cũng ở ngoài trại chung, mỗi ngày hàng trăm người, đủ mọi thứ tội. Được gần một tháng, không hiểu vì sự khai báo thế nào của những người trong cùng một tổ chức đảng, nên y bị đưa vào xà lim. Vì vậy, qua chuyện trò với y, tôi được biết giám thị trưởng của Hỏa Lò là tên Võ, người miền Nam tập kết. Tuy y chỉ là Thiếu Tá, nhưng đã già rồi, y rất có thanh thế, vì cùng lứa với y mà y quen biết, có nhiều người đã là cán bộ trung ương đảng. Qua đó, tôi đã đoán ra được, hôm đầu tiên tôi bị đánh và bị cùm mồm. Một ông già gần 60 tuổi đeo kính trắng vào tha cho tôi, chính là tên Võ giám thị. Còn hai phó giám thị, một là tên Trì, Trung úy người Quảng Bình, một là tên Lê, Trung úy quê ở Hưng Yên.

Hỏa Lò có hai y tá, một nam và một nữ. Nữ là mụ Dậu đã tiêm cho tôi mấy lần khi tôi bị sốt. Theo Tân biết, mụ là cán bộ lưu dung, vì có chồng là một cán bộ cách mạng nằm vùng nội thành. Nam y tá tên là Huệ, thường coi ở bệnh xá.

Ba tên cán bộ văn thư, thường gọi đi cung là lão Bằng, mụ Hoa và một lão già tên Kim cũng đeo kính trắng người Bắc, Thượng sĩ. Lão Kim này là cán bộ gần như lưu dung, vì thời Quốc Gia trước 1954, lão cũng là cai tù ở Hỏa Lò, nhưng là người của Cộng Sản cài vào. Còn mụ Hoa có một tiểu sử như sau: Mụ là gái Quảng Trị. Trước 1954, theo chỉ thị của đảng, mụ bán xôi chè cho binh lính ở những đồn bót tại Quảng Trị, rồi yêu đương và trở thành vợ chồng với một anh Trung sĩ Quốc Gia ở trong đồn đó. Cuối cùng, Cộng Sản dùng mụ này làm nội ứng, nên đã chiếm được đồn lính sau một đêm tấn công. Sau hội nghị Genève, mụ bỏ chồng, tập kết ra Bắc theo già Hồ, rồi làm công an ở Hỏa Lò.

Đầu năm 1961, một sự trớ trêu, chính người chồng mụ ngày xưa lại vào Biệt Kích và ra Bắc, rồi không may bị bắt đưa về Nghệ An. Lúc ấy, mụ còn là cán bộ ở đó, bất ngờ gặp lại người chồng năm xưa. Mụ đã mua cho một bánh chưng với một cái bánh mì, cùng với một giờ chưởi bới, giáo dục. Cuối cùng người chồng cũ uất hận và khổ đau, đã quẳng cả bánh chưng, bánh mì ra sân dù đói, và phải đi cùm vì hỗn láo với cán bộ.

Nghe tên Tân kể, tôi băn khoăn, làm sao mà y biết rõ thế? Y giải thích là, trong đám tù ở buồng y, có một cán bộ tập kết biết rỏ mụ ta, kể lại.

Sau khi nghe chuyện Tân kể, mỗi khi mụ Hoa vào gọi cung tôi, liếc nhìn cái dáng đi vặn vẹo và cái môi thâm xì của mụ. Một nỗi niềm vừa thương hại, lại vừa ghét trỗi dậy trong lòng tôi. Ghét, vì mụ đã làm cho bao nhiêu chiến hữu của tôi phải nằm xuống, trong đêm Cộng Sản cướp đồn. Thương hại, vì mụ quê mùa, ngu muội, nghe lời phỉnh phờ bịp bợm của tụi lãnh tụ Cộng Sản. Cố hy sinh tất cả, để tiến tới một thiên đàng Cộng Sản không bao giờ có thực. Cũng giống như những người lính của họ Tào, đã vượt núi, vượt rừng để tiến tới cái rừng mơ, mà thỏa chí, trong truyện Tam Quốc của Trung Hoa.

Vào một ngày thứ Bảy, tên Tân được gọi ra cổng kể nhận tiếp tế của vợ. Khi về, y xách theo một cái túi, gồm 2 cái bánh chưng, khoảng 2 lạng muối vừng đã giã, 3 lạng đường phên (mía), 3 cái bánh mì và 10 quả chuối; đặc biệt nhất là 2 gói thuốc lá Trường Sơn.

Ngay từ một vài ngày trước, tôi đã thấy y lấm la lấm lét, nằn nì lão Tư để xin chỗ cơm còn thừa của một buồng bị bệnh không ăn hết, để rồi tên Tư quát “Nhanh lên!” y vội vàng chạy ra cái chõng, lấy bát cơm thừa đổ lên cái khăn mặt của y, chừng độ một nắm cơm, khoảng 1/3 suất. Y hí hửng sung sướng ngồi ăn, không một chút ngượng ngùng gì với tôi cả. Với một người như vậy, thái độ của tôi càng tỏ ra coi thường miếng ăn. Thực ra, trong lòng tôi, tôi không cần biết y có cái gì cả. Nhưng, trong một căn buồng chật hẹp sát nhau như thế, chạy đi đâu được! Cái gì cũng đập vào tai, vào mắt mình!

Thấy y ăn quả chuối, y ăn vỏ trước rồi ăn ruột sau. Y vuốt ve, nâng niu những thứ đồ tiếp tế như cái gì quý giá nhất của đời y. Tôi chỉ còn cách duy nhất là lựa thế nằm xuống, đắp chăn để khỏi nhìn thấy cái cảnh không muốn nhìn. Nhưng, tới khi y đánh diêm để hút một điếu thuốc, tâm hồn tôi bị xáo trộn dữ dội. Trong một căn buồng quá nhỏ, khói thuốc quạt vào mũi tôi như gãi vào từng tế bào, làm cho hồn tôi như ngây ngất đê mê, và như thách thức lý trí, làm đầu óc tôi đầy vơi những nghĩ suy. Vô kế khả thi. Nhưng, bảo tôi mở miệng ra xin y một điếu thuốc, thà chết! Điếu thuốc của y hút làm bận rộn đầu óc tôi, nghĩ hết cách này đến cách khác, nhưng chẳng cách nào có thể thực hiện được. Để rồi, ngập ngừng di vào giấc ngủ muộn của đêm thâu.

Bị cùm mà ở chung với một người không bị cùm, người bị cùm lại thêm một nỗi khó khăn nữa. Nếu bị cùm một mình, tới bữa cơm, cán bộ phải mở cùm cho ra lấy cơm. Một ngày được cho ra đổ bô một lần. Đó, chính là lúc nghỉ chân vào thay đổi chân. Ở đây, hai ngày cán bộ mới mở cho ra một lần để đổ bô phân mình đi đại tiện.

Còn cơm, nước, cũng như khi trả bát, tên Tân được ra vào hai lần, mà mình lại phải mang ơn người khác.

Còn cơm, nước, cũng như khi trả bát, tên Tân được ra vào hai lần, mà mình lại phải mang ơn người khác. Nhưng, ở trường hợp này, lại chẳng muốn họ làm cho mình. Còn một vấn đề nữa là những khi đi giải, lúc đầu tôi thật ngượng ngùng lúng túng, chỉ có một cái thế đứng duy nhất, nếu anh kia đang ngồi, là phải vén quần ngay trước mặt anh đó. Rồi lúc đi ỉa, không thể kéo cái bô từ gầm sàn ra, mở nắp, rồi lựa thế lê đít ra cạnh mé sàn mà ngồi đi được. Trong lúc anh kia đang ngồi ở sàn bên cạnh, chỉ cách có 60 phân. Vì vậy, phải cố xách cái bô lên sàn, rồi lựa thế, một chân quỳ, một chân hơi nghiêng nghiêng trong cùm, để mông ngồi lên miệng bô. Như vậy, đỡ hôi cho người cùng phòng, nhưng mình phải chịu cạnh cùm nghiến vào chân. Mỗi lần ngồi khó khăn như thế, thường phải từ 20 đến 30 phút. Nhiều khi ê cả chân, ê cả đít, mỏi cả người. Tuy vậy, lúc rửa chỉ còn một cách duy nhất, là lại phải xách bô xuống nền, dịch đít ra mé sàn, lựa thế hai tay đưa ra phía sau, một rửa, một cầm gáo đổ.

Chưa hết, người bị cùm, người không, ở chung một phòng còn bị một khía cạnh tâm lý nhỏ nữa. Người ta nói, trong cuộc đời: Suớng, khổ, vui, buồn, một phần do môi trường chung quanh, nên mầu đen mà cạnh mầu trắng thì hai mầu càng làm rõ cho nhau. Trong khi chân mình lạnh buốt trong cùm, giở người, hoặc ngồi lên, nằm xuống cũng khó khăn; họ, sau bữa cơm, đi bách bộ, dù chỉ 4, 5 bước, đi đi lại lại hai tay chắp sau đít thật tự do. Sáng dậy, họ tập thể dục, chạy tại chỗ dăm phút cho khỏi tê chân. Mình, chân tê lại cắn rần rần cũng đành nằm im mà thèm.

Sáng hôm sau, khi Tân và tôi mỗi người một sàn đang cắm cúi ăn cơm, tự nhiên Tân lên tiếng:

– Anh Bình này, tôi thấy các anh ở miền Nam vẫn coi thường miếng ăn lắm!

Tôi quay sang nhìn y để phán đoán qua nét mặt, y hỏi như vậy là ý muốn gì? Vì chưa xác định rõ, nên tôi cũng lửng lơ:

– Miếng ăn thì cần thật, nhưng nhiều lúc chẳng coi ra gì cả.

Y cười, hơi ngượng ngùng:

– Tôi biết là anh không cần thiết ăn lắm… Anh có dám hút thuốc không?

Tôi đã nắm được ý của nó. Tôi sáng mắt lên: Nếu bỏ một bửa ăn để đổi lấy thuốc hút! Tôi đồng ý ngay! Y hơi gượng gạo:

– Bây giờ thế này nhé! Thuốc lá thì tôi không cần, tôi chỉ thích ăn thôi. Vậy, để cho công bằng: Một bao thuốc lá Trường Sơn, giá bên ngoài là 3 hào. Trong đây, tiêu chuẩn ăn, bao gồm cả thuốc men do nhà nước đài thọ, cho một phạm nhân là 12 đồng một tháng. Như thế, vị chi mỗi ngày là 4 hào, kể cả canh. Do đó, cơm là 3 hào, còn một hào là canh và thuốc men. Vậy thì, một suất cơm cả canh, 1 hào 8 hay 9, còn một xu chi cho thuốc. Tôi cứ rộng rãi, cho một suất cơm là 2 hào. Vậy nếu anh đồng ý, mỗi bữa tôi chỉ lấy nửa suất cơm thôi, còn canh phần anh. Tôi sẽ đưa cho anh 6 điếu thuốc. Hay một bao là một suất rưỡi. Nhưng mỗi ngày tôi lấy nửa suất thôi, kẻo anh đói quá!

Tôi im lặng ngồi nghe và nhìn y tính toán. Rồi y lại tỏ ra một người có lòng nhân ái nữa. Y sợ tôi đói quá, nên mỗi ngày chỉ lấy nửa suất cơm thôi!

Lòng tôi trỗi dậy một niềm tê tái lẫn oán thù. Tê tái vì tình người như nước ao bèo. Oán thù, vì một chế độ kinh khủng đã tạo ra một cuộc sống, cùng khổ cho người dân. Những nếp suy nghĩ tính toán vặt vãnh, làm tan hoang cái truyền thống nhân ái, đạo đức, đùm bọc tốt đẹp của dân tộc.

Tuy trong lòng nghĩ như vậy, nhưng trong cái thế và cảnh này, tôi sẽ đồng ý đổi nửa suất cơm thôi, và sẽ là lần đổi duy nhất đối với nó. Vì thế, tôi lạnh lùng:

– Tôi chỉ cần ăn để không chết thôi! Vậy, chiều nay tôi hãy đổi thử nửa suất thôi, xem sao đã.

Y ra trả bát, xong xuôi y lấy bao thuốc đưa cho tôi 6 điếu. Trông y có vẻ hưng phấn, thỏa mãn, cũng lấy một điếu thuốc phì phèo. Tâm tư của tôi thực nặng chĩu. Tôi cũng châm một điếu thuốc, rồi nằm đắp chăn, mắt nhắm nghiền cho hồn say sưa, mà lòng thì quặn thắt.

Ngay chiều hôm ấy, khi y lấy cơm vào. Sau khi quản giáo đóng cửa, tôi bảo y cứ xẻ lấy một nửa suất theo ý muốn, rồi đưa lại cho tôi.

Vì hút thuốc mà trong lòng lại chẳng vui gì, nên mỗi ngày, tôi chỉ hút một điếu vào lúc sắp đi ngủ. Y tỏ vẻ không được vui khi thấy tôi hút ít như vậy. Những ngày sau đó, lúc hút cũng như lúc thở khói, y cố ý gợi cho tôi thèm, nhưng tôi vẫn lạnh lùng. Thậm chí, y phải hỏi:

– Anh không hút thuốc lá nữa à?

Tôi thủng thẳng khô khan:

– Không thích hút nữa!

Một hôm, y còn gạ tôi trắng trợn:

– Tôi biết anh chỉ thích hưởng hương hoa tinh thần thôi! Vậy, tôi còn một cái bánh chưng, giá ở ngoài là 5 hào. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ lấy hai suất rưỡi, cũng mỗi ngày nửa suất thôi. Anh ăn một lần để thưởng thức cái ngon của bánh chưng?

Tôi lạnh lùng nhìn y, lòng căm phẫn:

– Cám ơn, tôi không thích!

Mặt y cứ trơ ra, không một chút ngượng ngùng. Điều làm tôi không hiểu được là tại sao, y ăn nhiều thế, mà vẫn còn đói dữ như vậy? Mới ngày hôm kia, buổi trưa y đã được quản giáo gọi ra, rồi mang vào một suất cơm thêm. Suất cơm của buồng số 6. Chẳng hiểu vì sao buồng đó, sau một lần đi cung về rồi bị cùm một chân, anh ta đã tuyệt thực, tới nay đã 4 ngày rồi. Vì tên Tân thỉnh thoảng quét dọn, nên tên Tư đã gọi ra cho một suất cơm.

Tôi nhìn cơ thể tên Tân, thấy y chỉ mập hơn tôi vì người tôi quá gầy thôi, chứ y làm sao khỏe, rắn chắc như lúc tôi chưa bị bắt. Vậy mà đồ tiếp tế với lại thỉnh thoảng được cán bộ cho ra vơ vét. Thế mà, nhiều lúc y như điên cuồng, đứng ngồi không yên vì đói.

Tôi chẳng hiểu buồng số 6 tội gì, phải tuyệt thực. Chỉ nghe thấy báo cáo xin nước uống, còn nhất định không ăn. Nhưng, cán bộ xà lim cương quyết, có ăn mới cho uống nước.

Một bữa sáng, sau khi các buồng đổ bô xong, tên Tư vào gọi tên Tân ra. Tôi nghe mở buồng số 6. Hôm nay cũng là ngày thứ 6 anh ta không ăn. Tôi nghe tiếng nước dội rửa và tiếng quét. Chừng 30 phút sau thì Tân về. Tôi hỏi, được biết: Buồng số 6, năm, sáu ngày nay đầy sàn cứt đái, bôi đầy lên tường. Vào buồng, cơm canh đổ lẫn với cứt, có mùi xông lên không chịu được. Anh ta cứ nằm ngửa, đắp chăn che mặt. Lợi dụng một lúc tên Tư quay ra, Tân hỏi anh ta tội gì, nhưng anh ta không trả lời. Tân nhấc cái chân xuống xem mặt, chừng 30 tuổi, trắng trẻo, anh ta vẫn nhắm nghiền mắt. Tân vội phải đậy chăn lại sợ tên Tư vào biết.

Theo Tân, tên Tư nói là, nếu anh ta tuyệt thực mà cho uống nước, chỉ từ 5 tới 7 ngày là chết thôi, bởi vì nước sẽ hòa loãng máu rồi theo nước đi giải ra. Còn nếu không cho uống nước, 20 ngày hay một tháng cũng không chết. Nhưng, có một điều quần áo, chăn của anh ta toàn cứt và cơm thiu nên dù quét dọn, buồng vẫn thối lắm.

Những ngày thứ bốn, thứ năm, tôi còn nghe tiếng đập cửa xin nước, nhưng từ ngày thứ 6 trở đi cứ thấy im lìm. Mãi tới đêm ngày thứ 9. Khoảng 10 giờ, nghe có tiếng mở cửa buống số 6, rối tiếng chân người khiêng đi sau khi, có tiếng rút chốt cùm. Tôi và Tân, trong buồng cố lắng nghe, nhưng không biết là anh ta chết hay sống, hay đưa đi đâu. Báo hại, sáng hôm sau tên Tân lại phải quét rửa buồng.

Tân về, nhăn nhó bảo là cái chăn cứt thối quá, mà tên Tư bắt giặt phơi ở phía buồng vãng lai. Tân lại kể, khi ra đấy, nhìn vào sân trại chung, y thấy bây giờ Hỏa Lò đầy tù, ngồi đầy cả sân. Cách đây hai tháng, khi Tân còn ở trại chung, trại chỉ có khoảng 4, 5 trăm người. Nhiều buồng chỉ 4, 5 chục người, có buồng để không. Y nói, y gặp người nhà tiếp tế, nói thầm cho biết, ngoài xã hội bây giờ dân chúng hoang mang lắm. Ở đâu, tỉnh nào cũng thế, các nhà tù chật ních. Đầu tháng Tư vừa rồi, có lệnh của Bộ Công An: Tất cả những ai từ lính trơn cho đến Thượng sĩ, mà hồi 1954 chỉ bị học tập và giáo dục tại địa phuơng mấy ngày rồi cho về (Chỉ có sĩ quan mới bị bắt đi học tập ở trại giam). Nay đều được mời vào “ấp” để lao động “xây dựng xã hội chủ nghĩa”.

Những người Hạ sĩ quan và lính tráng này, biết mình có tí đuôi với chế độ cũ, nên dù ở địa phương nào. Họ luôn luôn tỏ ra là những người tích cực, năng nổ trong mọi lĩnh vực với chế độ mới. Ở địa phương, hợp tác xã, nhà máy, công nông trường, v.v… đâu đâu cũng vậy. Chính vì thế, sau 9 năm nỗ lực công tác, nên ngày nay rất nhiều người đã được đảng hoặc chính quyền tín nhiệm, tin cậy. Có người đã trở thành đoàn viên, có người là tổ trưởng tổ lao động xã hội chủ nghĩa của, công trường hay nhà máy v.v…Thậm chí, có người do tinh thần hăng say, đã công tác, học tập ngày đêm quên mình, nên đã trở thành chủ nhiệm hợp tác xã, hay thư ký công đoàn… Họ tưởng rằng như vậy là cuộc đời từ nay yên lành, chỉ còn một lòng phơi phới yêu thương chế độ mới của mình. Nhưng, đùng một cái! Bây giờ tất cả được mời đi học tập, bất kể anh đang ở cương vị nào. Lý do: An ninh của Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa đang bị đe dọa!

Ngoài nhân dân có cái từ mới là: “Trót xỏ nhầm giầy” (đã đi lính hoặc làm việc với chính quyền Quốc Gia). Dù xỏ nhầm giầy một ngày cũng phải đi. Tỉnh nào vào trại giam tỉnh đó. Sau khi lập hồ sơ và xét hỏi qua loa, rồi được chuyển đi các trại trung ương.

Bao nhiêu người ngã ngửa ra. Không những bản thân người đi tù và gia đình người ấy, mà ngay các cán bộ địa phương cũng không thể nào ngờ được. Bởi vì, đã 9 năm trường dài đằng đẵng, trôi qua rồi!

Như thế, cho phép ta nhận định (sau tháng 4/1975). Nếu, Cộng Sản chưa hỏi tội đến những người đã từng cộng tác với “Địch” dù chỉ một ngày, là vì chúng còn muốn lợi dụng, hoặc vì chưa ổn định những công việc khác lớn hơn. Vì tình thế, điều kiện chưa cho phép, sợ hoang mang lòng dân, trong khi chưa ổn định xã hội, chưa nắm được chặt những tầng, loại người chúng nghi ngờ. Chứ trước sau, sớm muộn gì chúng cũng sẽ hỏi tội. Lúc đó chúng có đầy rẫy lý do hợp lý: Nào là Hạm Đội 7 tập trung về biển Đông, Trung Quốc chuyển quân, Thái Lan động đậy, v.v… và v.v…

Giã từ em đất cù lao!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Mỗi năm, cứ tháng Tư về là tui lại buồn trong tấc dạ! Nói nào ngay, xa xứ tháng nào tui cũng buồn hết ráo. Nhưng tháng Tư tui lại buồn nhứt hạng cho một mối tình vừa mới chớm nở đã vội dở dang hơn 40 năm rồi mà trái tim tui vẫn còn đang rỉ máu.

Chẳng qua chuyện vầy nè: quận Kế Sách, thuộc tỉnh Ba Xuyên tức Sóc Trăng.

Hồi xưa từ Cần Thơ muốn về Kế Sách thì có hai cách: đường bộ hoặc đường sông.

Đường bộ theo Quốc Lộ 4, rời Cái Răng qua Cái Tắc, tới Ngã Bảy, xã Đại Hải, (nơi bà con miền Bắc di cư vào năm 1954), rồi Ngã Ba An Trạch, quẹo tay trái vào quận Kế Sách, cách Cần Thơ khoảng 54 cây số và cách Sóc Trăng chỉ 6 cây số thôi.

Nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, người Sóc Trăng, cho biết: ‘Khsach’ (Giồng Cát) đọc trại thành Kế Sách.

Từ Ngã Ba An Trạch đến xã Phú Tâm (còn gọi là Phú Nổ hay Vũng Thơm, nổi tiếng với lạp xưởng, mè láo của người Tiều, mắm bò hóc của người Khmer). Qua khỏi Phú Tâm, hương lộ trải đá xanh, dọc bờ kinh, tới Na Tưng (chỗ nầy, xưa, VC phục kích bắn cả vào xe Hồng thập tự làm thằng bạn nhậu của tui, lúc đó, là tài xế bị đui hết một con mắt, và liệt một cánh tay).

Na Tưng có vườn dừa, sau ông Quận cho đóng một cái đồn nghĩa quân, ngoài ra là đồng lúa nên VC khó mà phục kích, giựt mìn bất tử như lúc trước.

Cuối cùng là tới quận lỵ Kế Sách. Chạy qua Cầu Sắt lên đến ấp Tập Rèn, xã Thới An Hội, đều là đất giồng.

Mà trên đất giồng mình trồng khoai lang nên bà con nông dân mình cuốc khoai nhiều lắm.

Còn đi đường sông thì từ Bến Ninh Kiều Cần Thơ, đò xuôi ra biển tới Cù Lao Quốc Gia, rẽ phải vào Vàm Nhơn Mỹ cũng tới được Kế Sách.

Kế Sách có đò Ngọc Diệp, chủ ở ngay chợ, nửa đêm, tài công ‘đề pa’, chuông giựt leng keng để bà con miệt vườn đi bán trái cây ở chợ Cần Thơ hay đi bổ hàng tạp hóa về bán lại, ra bến nước bờ sông, gọi đò, ra hiệu bằng đuốc lá dừa quơ quơ trong gió.

Tới Cần Thơ, khoảng 5 giờ sáng. Đò đợi bà con mình đi công chuyện xong khoảng 10 giờ sáng cùng ngày là đò Ngọc Diệp quay đầu về bến cũ.

Đò chạy cà rịch cà tang, tùy theo lớn ròng, con nước ngược xuôi, từ bờ bên nầy băng qua bờ bên kia, chạy hình chữ chi, ghé bến nầy bến nọ cho hành khách lên bờ; đôi khi chỉ có một người; nên mất tới khoảng 4, 5 tiếng đồng hồ.

(Má theo đò đi chợ Cần Thơ về, mua cho con mình ổ bánh mì và vài cục đường tán. Mấy đứa nhỏ mừng húm! Ôi những ngày thơ dại! Mừng má đi chợ về còn đâu nữa?!)

Đò qua cơ man nào là những dãy bần xanh. Ôi đất nước mình đẹp biết bao mà trong vận nước đảo điên, tổ cha nó, làm tan hoang hết ráo!

Đất Kế Sách ngoài giồng, còn mấy chỗ đất thấp hơn, phù sa sông Hậu bao đời bồi lấp, đất phì nhiêu, màu mỡ nên bà con lên líp lập vườn cây ăn trái đủ loại: cam, bưởi, mít, chôm chôm, măng cụt, sa bô chê, sầu riêng sai oằn nặng trĩu.

Ghe trái cây, dân Kế Sách, lên tận Chợ Cầu Ông Lãnh bán cho dân Sài Gòn.

Tất cả các loại trái cây nhiệt đới đó Cù Lao Quốc Gia đều có hết.

Dòng sông Hậu đổ ra gần tới biển, bình độ của lòng sông cao hơn mực nước biển hỏng bao nhiêu; nên nước chảy chậm, phù sa lắng xuống, bồi tụ lâu ngày, rồi bần mọc lên giữ lại cát, làm nhô lên Cù Lao Quốc Gia (sau nầy VC đặt tên là Cồn Mỹ Phước và Cồn Bùn (cách nhau cái Rạch Mọp) cách đây khoảng 150 năm.

Ban đầu mặt cồn còn thấp, là những bãi bùn năng lác, cỏ dại và cây bần, cây tạp cùng một số loài thú hoang và chim muông. Rồi bà con lưu dân mình từ Miệt Trên xuống khai phá, bao bờ trồng rẫy. Lấy ngắn nuôi dài; vì rẫy mau ăn. Trường vốn một chút thì lập vườn! Phẻ hơn làm rẫy!

Từ trên cao nhìn xuống, Cù Lao Quốc Gia, cách cửa biển khoảng 45 cây số, giống như một chiếc xuồng ba lá, nhọn hai đầu phình chính giữa, chồm ra biển. Chắc vì vậy mà bà con mình ở Cù lao Quốc Gia nầy, VC vô; hè nhau vượt biển vượt biên hết ráo?!

(Người viết có em học trò cũ, Lan Chi, từ độ ấy cũng ra đi; giờ em ở Sydney! Giáo Phèn viết về quê cũ của em có thiếu sót gì thì dạy lại cho Thầy nhe!)

Khi CS miền Bắc phát động cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam cộng với sự tiếp tay phá hoại của VC nằm vùng thì cả đồng bằng sông Cửu Long cũng chìm trong lửa khói. Nhưng vùng đất cồn nầy vẫn là những ốc đảo bình yên, xa rời cuộc chiến.

Nhà nào trên đất cù lao kha khá, có của ăn của để, sắm chiếc vỏ lãi gắn máy Yanmar 60 hay Kubota, làm máy đuôi tôm, lái bằng chưn nếu đứng hoặc bẻ lái bằng tay nếu ngồi.

Nhớ có lần được mời về Cù Lao Quốc gia ăn đám cưới một đứa học trò cũ giữa đường thôi học, em sang sông ‘chống lầy’ tức lấy chồng.

Vài đứa học trò gái, cùng lớp với cô dâu, vẫn còn đi học, trong chợ Kế Sách cũng được mời đi đám cưới, điệu đà xuống chung chiếc vỏ lãi. Giữa đường hết xăng, nước ròng, mũi chiếc vỏ lãi cắm vào một đám bần xanh, chạm phải tổ ong bần. Nó túa ra. Thầy trò mạnh ai nấy nhẩy xuống bờ kinh, núp dưới lườn chiếc vỏ lãi, né… trong khi đám ong bần vẫn u u quần ở trên đầu.

Nước đưa chiếc vỏ lãi xuôi dòng xa dần cái tổ ong cái tổ ong mắc dịch nầy, Thầy trò mới lóp ngóp leo lên. Bộ đồ vía ướt hết trơn hết trọi hè.

Đám học trò gái mặc áo dài, bị thấm nước, vải mỏng tanh như dính vô da thịt trắng nõn nà, dầy dầy đúc sẵn một tòa thiên nhiên, mắc cỡ lấy nón lá che ngang. Ai có thấy gì đâu hè?!

Từ xã Nhơn Mỹ băng sông Hậu chừng cây số rưỡi, tấp vô bến đò giữa, lội chừng trăm thước là gặp cái bảng Vu Quy kết bằng bông đủng đỉnh với cọng lá dừa. “Trăng treo thềm cổng vu quy. Ai vui trong đó sầu bi ngoài nầy!”

Ai sầu thì sầu đi… còn tui, làm giáo, được trưởng tộc bên đàng gái mời lên bàn thượng hạng đặt ở nhà trên. Đèn ‘măng xông’ sáng choang hè. Mà buồn 5 phút. Vì ngồi chung với mấy ông già; Sao bằng ngồi với đám học trò 17, 18 tuổi vui hơn, nói chuyện hợp hơn, ăn rơ hơn; hơn là ngồi với mấy bô lão cổ lỗ sĩ: “Nhân bất học bất tri lý. Mời thầy giáo làm một ly!” Chán chết!

Từ đám cưới của Huệ Chi, cành huệ trắng mà bị ong bần đánh… đêm nhóm họ, vu quy đó, thời gian sau, thằng học trò, nhà có giỗ quảy gì thì kính mời thầy ra nhậu với Tía em. Ổng nhắc Thầy hoài hè… Cái gì cái! Mời đi ăn giỗ là không có cái vụ từ chối bao giờ.

Ăn giỗ năm lần bảy lượt mới biết ông phụ huynh nầy có đứa con gái sắc nước hương Trời đã gả đi Chợ Bãi Xàu, ông còn một đứa nữa so phần tài sắc lại là phần hơn.

Tên con gái ổng đặt đều đẹp vì ổng khoái đọc truyện Tàu mà Tàu Đài Loan, ổng đọc Quỳnh Dao… Cô chị đã lấy chồng tên Huệ Chi, một cành hoa Huệ. Cô em chưa chồng tên Quỳnh Chi, tên một nhánh hoa Quỳnh.

Tui yêu hoa Quỳnh lắm vì nó đẹp và thơm mà lại nấu cơm… ngon!

Đó là bữa ăn cuối cùng của đêm tôi giã từ Kế Sách cách đây 40 năm. Bữa cơm đó em đãi chàng thi sĩ lăn lóc gió sương ba ngày đêm nổi lên sình chương món canh chua cá ngát và cá ngát kho tộ ăn với cơm trắng, gạo mới lúa mùa.

Cá đồng như cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặc ở trong đồng. Cá ngát, cá bông lau, cá mè vinh, cá phèn, cá bống mú, cá lòng tong, cá chốt, là một loại cá sông ở trong sông… Cắt nghĩa như vậy là khỏi cãi.

Sông thì nước ngọt vào mùa khô và mưa, từ tháng Tư cho tới tháng Chạp.

Từ đầu tháng Giêng cho tới cuối tháng Ba nước lợ, hai phần nước ngọt và một phần nước từ biển chảy ngược vào sông mùa nước kiệt!

Cá Ngát thích nước lợ, hay rúc vào trong những đống chà; hay trú ẩn trong hang ở bãi sông.

Cá ngát hơi giống cá trê trắng! Đầu có 3 ngạnh, sắc bén và cứng, đâm rất nhức. Thịt không dai như cá trê trắng, dẻo và dẻ hơn cá bông lau. Chắc nhờ lội tới lội lui như tập thể thao?!

Khoảng tháng 5 đến tháng 9 âm lịch là mùa cá ngát sinh sản, thịt ngon.

Cá ngát làm sạch và cắt khúc để ráo, ướp tỏi chiên sơ. Bắc nồi nước lên, cho ít muối vào, khi nước sôi cho bần chín vào khoảng 5, 6 trái, năm phút sau, vớt bần ra tô, cà nhuyễn ra lấy nước chua.

Nước dùng đun sôi liu riu bỏ đầu, đuôi cá vào, khúc giữa dành kho tộ để ăn cơm. Cá vừa chín tới, nêm nếm vừa miệng, thêm ngò om, cần dầy lá, khóm, giá, bông so đũa, bông súng, bạc hà, rau nhút, rau muống,… bông điên điển, thêm ít ớt hiểm còn xanh xắt lát.

Ăn nóng! Giẽ cá, chấm với muối ớt hoặc nước mắm y, kẹp thêm lát ớt. Bưng ly hột mít rượu đế sủi tăm, quất nghe cái ót là toát mồ hôi mồ kê, nó ròng ròng đầy mặt như là mới tắm hơi xong. Chết cũng đành lòng!

***

Mất nước được hai năm, tui vẫn còn nấn ná ở Kế Sách; vì thú thiệt tui không biết phải đi đâu, về đâu; rồi làm sao mà sống? Nhà không có được một cục đất chọi chim.

VC giải tán Luật, Văn Khoa Cần Thơ chuyển mấy em sinh viên qua Sư Phạm, học chỉ 6 tháng, rồi đưa về trường! Để chúng nắm đầu mấy thằng Giáo Ngụy, gốc quân nhân biệt phái ra đuổi cổ. Tui nằm trong số đó. Nó đuổi thì tui đi… Và tui đi luôn ra biển…

Tui còn bỏ lại bên Trời một cành hoa Quỳnh năm ấy. Quỳnh Chi, người năm cũ đã nấu cho tôi ăn canh chua cá ngát ngày xưa ấy! Tui mang kỷ niệm xưa đi cuối đất cùng trời!

Đôi lứa chúng ta như hai chiếc lá, lạc lìa nhau giữa một dòng sông trong một thời bão loạn. Tui lỗi thề cùng em cũng bởi vì đời chớ nào phải tại tui đâu!

đoàn xuân thu

melbourne

Già là… xuân tới!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Thưa đầu tháng Chín là ở Đông Nam Úc Châu nầy, thành phố Melbourne vừa vươn vai thức dậy sau giấc ngủ Đông dài ba tháng.

Cây mai trước hiên nhà người viết, mà hổng biết em yêu xin được ở đâu về trồng cho đỡ nhớ quê, đã trổ những nụ bông vàng. Như vậy cây Mai nầy hổng cần coi dương lịch hay âm lịch gì ráo trọi mà chỉ căn theo mùa Đông vừa bớt lạnh, ấm dần lên chào Xuân tới là nở những nụ hoa dâng hiến cho người.

Ôi thời gian như bóng câu cửa sổ! Lẹ thiệt nhe! Hết Xuân, Hạ, Thu rồi Đông và mùa Xuân lại tới. Mà mình già thì thấy nó càng nhanh, càng lẹ!

Thưa xuân tới là già thêm một tuổi. Hồi tuổi dậy thì, em yêu như trái bầu, trái bí lớn từng ngày! Hồi nào mặt mũi tèm lem, ăn cà rem còn dính mép, vậy mà, tui đi học xa mới vài tháng, ngày quay về thăm nhà… chợt thấy em yêu (lúc đó chưa cưới, chưa phải là vợ yêu) kiều diễm, phổng phao.

Còn bây giờ, tuổi già chỉ thêm một năm thôi, chu choa, nó héo hắt không còn bắt mắt, mặt xếp li từng vạch… thấy mà rầu. Dù có bơm ‘botox’ cả lít mà nhăn là nó vẫn cứ nhăn!

Tuổi già tui và em yêu đâu có ai muốn đâu, hổng bao giờ mời mà nó cũng xồng xộc tới. Ai cũng sợ tuổi già! Xem nó cũng là con ngáo ộp nhát mình. Sáng thức dậy soi gương ấy bây giờ ra sao? Thấy thêm vài cọng tóc bạc là buồn thôi suốt buổi.

Buồn chi vậy? Cái gì mình không né, không tránh được thì phải tìm cách sống chung, vui vẻ hòa bình với nó rồi tới đâu hay tới đó có phải hay hơn không?

Thưa nước Úc với nền y học khá hiện đại và tân tiến nên bây giờ dân Úc sống lâu hơn! Đàn ông Úc hy vọng sống tới 80.1 năm; còn đàn bà Úc còn sống dai hơn tới 84.3 tuổi lận.

Cuối cùng thằng chồng Úc cũng bỏ con vợ  của mình mà đi trước! Và có điểm rất ngộ là không phải chỉ riêng nước Úc không đâu, mà ở bất cứ nước nào, đàn ông cũng đều chết trước đàn bà mặc dù được mệnh danh là phái mạnh. Chắc có lẽ ta nợ nần em thôi nhiêu đó ta đà trả đủ thì đã đến lúc ta “bái bai’” nhe! Xin không hẹn kiếp sau!

Còn chẳng may nếu con vợ Úc chết trước thì chồng Úc rất thực dụng, hà tiện, vắt cổ chày ra nước thấy thương luôn! Vợ bái bai, đi Hỏa tinh để làm “chằn tinh” vì nghe nói trên đó có nước rồi, nghĩa là có sự sống, em lên trước giành chỗ chờ anh… Kẻo chậm chân, mấy thằng Tàu Cộng tham nhũng, trốn chiến dịch đả hổ đập ruồi của Tập Cận Bình, tụi nó vọt lên trước, đầu cơ tích trữ thì giá đất sẽ lên! Em lo xa dễ thương như vậy đó mà ai dè thằng chả tỉnh bơ nói: “Ối già, ai mà không chết hả?” Bèn gọi đến tờ báo xin đăng cáo phó! Đăng hai chữ thôi cho nó đỡ tốn tiền: ‘Samantha chết’!

Nhưng tòa báo nói ít nhứt phải năm chữ nó mới đăng và mỗi chữ giá 10 đô la!

Tới 50 đô lận à! Thôi đăng vầy đi: “Samantha chết! Bán chiếc Volkswagen!”

Thấy chưa, khi mình già mình chết… thì cứ an tâm mà chết! Còn vợ hay chồng còn sống nó có khóc, có thương hay nó thản nhiên làm gì thì kệ nó! Thắc mắc làm chi cho thêm tức! Tức là hổng tiêu diêu miền cực lạc được!

Thưa quý anh thân mến! Tụi mình đã đi gần hết đường hoa mộng rồi, đã tà tà bóng ngả về Tây. Giờ nhìn lại, nếu có ai cắc cớ hỏi có tiếc gì không? Ai thì tui không biết! Chớ tui là không tiếc gì hết ráo. Không tiếc, không hối hận là tại sao hồi còn trẻ ham bay nhảy bậy bạ quá! Hết bông nầy tới hoa nọ, làm cho con vợ tui nó buồn ‘nẫu’ ruột luôn!

Chuyện xảy ra lâu rồi mà, bụi thời gian đã phủ mờ năm tháng, dẫu đập cổ kính ra tìm bóng cũ, xếp tàn y lại để dành hơi cũng không được, mà vẫn tiếc sao xưa mình hiền quá, ngây thơ quá, bay ít quá… uổng quá xá… thì cũng đâu có sửa đổi được gì. Nên tiếc mà chi!

Có người lại tiếc là mình hồi xưa sao hay lo lắng quá, sợ đói, sợ khổ, sợ không có gạo, có cơm, có áo, sợ không cửa, không nhà, sợ cù bơ cù bất… sợ đủ thứ! Rồi cày như trâu!

Mà quên cái quý nhứt của cuộc đời là thời gian. Tại sao cứ để mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm trôi qua trong nỗi sợ hãi đói cơm, rách áo hoài? Nhứt là đã đặt chưn lên được cái hòn đảo khủng long, tức đất nước Úc phúc địa nầy đây. Xưa giờ Úc nầy chưa từng có ai chết đói mà cũng vẫn sợ là sao?

Thưa thời gian! Thời gian mới là điều quý nhứt đó bà con ơi! Chơi đi kẻo trễ  nha! Có người hổng chịu nói:  Già rồi… Hết xí quách rồi… Thôi nghỉ cho ‘phẻ’!

Không! Cho dù quý ông anh nào dù trên 60, 70 hay ngay cả 80 tuổi rồi thì cũng còn trẻ chán, còn là thiếu nhi nếu so với ông Bành Tổ bên Tàu!

Thiên hạ đồn rằng ông Bành Tổ sống tới 800 tuổi lận. Có người cho rằng ổng sống dai là vì ông chỉ thích tĩnh mịch, không thiết gì công danh phú quý. Vua kêu ra làm quan, ông than bịnh quá hè, dễ  lên “tăng xông” máu, thôi cho đứa khác làm đi! Nên ông mới sống lâu đến vậy.

Ông Bành Tổ tối ngày chỉ ngồi câu cá bên bờ Vị Thủy! Ngồi rất lâu, ngồi đến nỗi tảng đá lõm thành hình cái ‘mông đít’ mà sao chẳng thấy ông ấy chết?

Thiên hạ “còm len” như vậy, nên Nam Tào, Bắc Đẩu dở sổ hộ tịch ra xem lại. Té ra hai cha làm ăn cẩu thả, quên điền tên trong sổ sinh và sổ tử nên coi như Bành Tổ là người ‘Rơm’ ở lậu trên chốn trần gian. Bèn sửa chữa lỗi lầm bằng cách làm giấy khai sanh và giấy chứng tử cho Bành Tổ cùng một lúc. Giấy chứng tử làm xong, đóng dấu chưa ráo mực là Bành Tổ đang ngồi câu ngã lăn ra chết ngắc.

Nếu không có ai cà chớn hay “còm len” chuyện thiên hạ như mấy thằng Úc đây, thì tui e ông Bành Tổ dám sống tới bây giờ lắm đa!

Chuyện Nam Tào Bắc Đẩu quên ông Bành Tổ thì cũng tốt thôi vì Bành Tổ không làm hại ai. Chỉ tối ngày ngồi câu cá suốt cả 800 năm.

Như cái vụ quên Mao xếnh xáng chẳng hạn. Xếnh xáng nhậu cũng dữ, hút cũng nhiều, gái gú, á xẩm, ôi cơ man nào mà nói; xí quách làm gì còn mà sống mãi tới 83 tuổi mới hui nhị tì thì thiệt là bất công !

Hay Đặng Tiểu Bình đi Mỹ cỡi ngựa, đội nón cao bồi coi mắc cười hết biết cũng tới 93 tuổi mới xí lắt léo! Nghe nói Tiểu Bình sống dai là nhờ uống rượu, hút thuốc như cái ống khói tàu và đánh bài mạt chược đó!

Chắc tại do tui “còm len” hai xếnh xáng nầy ác lắm, giết người không gớm tay, sao sống dai như vậy, hử? Nên Nam Tào Bắc Đẩu mới cho hai giả hui nhị tì đó.

Thưa còn người hiền là tui mong họ sống hoài hè cho vui! Chẳng hạn như nhà thơ Đỗ Phủ, cũng bên Tàu: “Áo bông gán nợ qua ngày/ Quán ven sông, rượu khướt say mới rời/ Vẫn thường uống chịu đấy thôi/ Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi!”

Chính vì học tập và làm theo lời Đỗ Phủ nên anh bạn nhà thơ của tui mới dạy đời tui rằng: “Ngày xưa thất thập lão làng/Ngày nay thất thập là chàng thanh niên/ Về hưu chàng bỗng nổi điên/ Chơi bời gái gú liên miên đêm ngày…”

Vì háp như tui cũng chưa thể gọi là già nên cứ thoải mái chơi đi kẻo lúc bị lẫn là thua đó nha!

“Tuổi già khởi sự từ đâu?/ Tuổi già khởi sự khi nào ta quên/ Quên chồng, quên vợ, quên tên/ Quên người, quên bạn, quên mình là ai?” Lúc đó muốn chơi cũng hổng có gì vui hết ráo!

Rồi mới đây thôi! Có 3 thằng bạn ở tuốt trên Bankstown, Sydney, tụ bè tụ đảng nhậu đã, còn gởi cái hình cười hí hí bên chai rượu xịn để chọc tức tui chơi!

Chẳng qua có một người bạn, sáng đi tập thể dục, bỗng ngã xuống, đột ngột về bên kia thế giới khi tuổi đời chưa tới mức “cổ lai hy” nên ba ông thần nầy rét. Đi đám về, ‘tâm tư’ quá mạng bèn xúm lại, lục trong tủ rượu, chai nào xịn nhứt, ngon nhứt thì đem ra uống sạch không còn một giọt. Bởi nếu lỡ có bề nào, thằng khác, nó ở đâu nhào vô uống là uổng lắm! Phải chơi xả láng kẻo muộn màng!

Thưa, tui có cái tật xấu là nhậu mà hổng có ai kêu tui đó là tui giận. Nên khi nhận được cái hình ba tửu hữu khề khà bên chai XO, là tui ‘chơi’ lại bài thơ như vầy để đỡ cái buồn rầu.

Mail bạn gởi, gởi hình đang nhậu/Hennessy vàng ánh, lưng lưng/ Xịn XO, tưởng chừng như quá đã/ Vui quá mà, sao mắt lệ rưng rưng?

Bởi rượu rót xuống chiều nhạt nắng/ Râu tóc buồn, râu tóc bạc phơ/ Vầng trán nhăn xẻ dốc đời đi xuống/ Nhưng gặp nhau, còn uống, đã là mừng!

Mai mốt đây, ông già chống gậy/ Sóng sánh ly, rượu cứ đổ hoài/ Gặp bạn cũ, thấy ông hình quen quá!/ Chắc tụi mình có gặp ở đâu đây?!

Say ngà ngà, nhớ toàn chuyện nhỏ/ Đời lưu vong sót lại bạn già/ Cũng một câu, hỏi hoài… cứ hỏi/ Đã uống rồi hay chưa uống đây ta?/ Say hết biết, nhớ hoài chuyện lớn/ Đời lưu vong sót lại bạn già/ Cũng một câu, hỏi hoài… cứ hỏi/ Tại sao mình lại lạc lối đến đây?

Tưởng hỏi khó, câu trả lời dễ ợt/ Tại mình thua… chạy tuốt ra đây/ Thân mất nước bạn sầu nên bạc tóc? Ta cũng sầu đứt ruột, xỉn… rồi say!

Thưa, ngoài cái vụ già… Tửu rồi sắc thiệt tui thấy cũng hay hay! Nên hạ quyết tâm sẽ “cọp dê” y chang như vậy!

Thưa! nói để quý ông anh mình nghe cho vui thôi! Chớ đừng có làm. Kẻo mấy ‘chỉ’ lại rầy tui là cái thằng ở không chuyên môn đi xúi bậy thì tội nghiệp tui lắm nhá!

Chúc Mừng Năm Mới!

Gà móng đỏ!

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Phải rất thông minh mới được làm Thầy Bói. Đã gọi là Thầy thì ngu đâu có được hè. Phải có học đàng hoàng. Làm Thầy giáo đã là khó mà làm Thầy Bói càng khó hơn! Khó vì phải đoán mò… cho trúng kìa. Đoán trật, ế khách là đói rã họng luôn nhe Thầy!

Tui vốn máu 35, chảy trong huyết quản kể từ khi tui mới bước vào tuổi dậy thì! Thấy gái lạ như quạ thấy gà con!

Tui ở xóm trên; em xóm dưới, cách một độ đồng. Mấy bữa em đi chợ bán hàng bông, tui nằm tòng teng trên chiếc võng giăng ngoài hàng ba: “Cha con nhỏ nầy con cái nhà ai mà ngộ quá ta?”

Nên tui mới tìm cách xít lại gần, gặp mặt mà ve vãn tức là dê. Nhưng thiên hạ đồn là Má em khó quá! Nhà em chó cũng dữ quá; đám trai tơ trong xóm sợ chó cắn nên dạt ra hết ráo!

Còn tui lì, em cắn mới sợ… Chớ chó cắn nhằm nhè gì? Nên nghĩ ra một cái kế: “Thương em không dám vô nhà! Đi qua đi lại (hỏi) có gà bán không?”

Bữa đó hên hay phần số duyên nợ chi đó mà má em tối qua nằm mơ thấy con gà! Nên má em kêu tui vô bán mấy con gà trống thiến để lấy tiền đi ghi số đề.  Đánh vài ngàn bạc, theo ông bà cho thai đề trong mơ, chắc chắn là sẽ trúng; là sẽ đổi đời từ nghèo sang… mạt?

Em rải lúa kêu túc túc cho mấy con gà bu lại mổ, rồi tui rình chụp! Ôi! Mồ hôi mô kê tươm ra đầy mặt mới bắt được ba con! Chắc em thấy vậy cũng thương hại nên rót đại nước trà mời tui một chén!

“Mấy con gà nầy thiệt là tốt số mới được chính tay cô em chăm sóc. Nên nó ú nu hè! Em mát tay lắm! Ai được em đồng ý về nâng khăn sửa túi là cũng ú nu như vậy đó!”

“Theo anh bấm độn, số em là số vượng phu ích tử. Nghĩa là lấy chồng thì khiến chồng làm ăn thịnh vượng, còn có con là tụi nó làm toàn là điều hữu ích cho gia đình, cho xã hội, làm nở mặt nở mày với bà con giòng tộc; chớ không phải là đồ nghịch tử!”

Em nghe tui nịnh sảng nhưng tưởng thiệt bèn: “Bộ anh biết coi bói hả?”

“Sao không? Nè! Bói cho một quẻ trong nhà! Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên”.

Em xít xoa: “Trời hay quá! Ngay chóc hè. Anh bói nhà em rồi giờ anh bói tới em đi! Xủ một quẻ về tình duyên gia đạo đi!  Vì thú thiệt với anh nữa lập gia đình, em không biết thằng chồng em nó có tánh mèo mả gà đồng, trăng hoa tí tọe gì không? Hay cờ bạc rượu chè, say xỉn tối ngày thì lại khổ cho đời con gái trót trao thân nhầm bến đục!”

“Vậy thì xin em cho anh coi cái chỉ tay!”

Ôi! Rờ cái bàn tay búp măng, trắng hồng hồng mà khoái khoái!

Con nhỏ nầy mà về làm vợ mình thì mình phải nấu cơm giặt đồ thấy Tía mình luôn!

Nhưng hỡi ơi vì: “Một thương tóc bỏ đuôi gà; Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”nên tui nghĩ hỏng sao, chuyện nhỏ mà!

Nấu cơm là có nồi cơm điện; còn giặt đồ là có máy giặt rồi… thì đâu có cực khổ gì đâu mà ngán chớ?!

Nên cầm tay con nhỏ tóc đuôi gà mày lá liễu nầy lên, tê mê, tui lim dim nhắm mắt lại, giả bộ như chờ ông lên bà xuống (nhưng thực sự là tui câu giờ vì rờ càng lâu càng khoái mà!).

Xong tui phán: “Số cô chẳng giàu thì nghèo/  Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà “

Em xít xoa: “Giời ơi! Trúng! Trúng quá!”

Xong: “Số cô có mẹ, có cha/ Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông!”

Em lại xít xoa: “Giời ơi! Trúng! Trúng quá!”

Rồi sau nầy vầy duyên can lệ, đêm hợp cẩn giao bôi, phòng hoa chúc, đuốc hoa còn đó, tui mới hỏi em rằng: “Em thấy tài bói toán của anh đã đạt tới trình độ thượng thừa như Quỷ Cốc tiên sinh chưa?”

Em chu cái mỏ cong cong, xong phán một câu, tui nghe thiếu điều ngã ngửa.

“Em biết anh xạo ơi là xạo; giả bộ bói toán để được nắm tay em thôi. Em giả bộ tin… vì em cũng thích tay em được anh nắm. Chứ em đâu có khờ như anh tưởng đâu nhe. Cái đồ be he!”

Thưa rồi đoạn kết là: “Số cô có vợ có chồng! Sinh con đầu lòng hỏng gái thì trai!”Cũng ngay chóc luôn!

Em sản xuất cho tui chừng nửa chục con, vừa trai vừa gái. Con đông, cày bờm đầu, nên không có thời giờ rỗi rảnh, tui quên phứt đi chuyện tu luyện! Nên con đường chiêm tinh học đành phải dở dang!

***

Thưa bà con xin hãy khoan cho tui là cái thằng ba xạo biết khỉ khô gì về chiêm tinh học mà chỉ chuyên ăn ốc nói mò!

Tui xin thi thố tài bói toán nhân dịp Xuân về nầy cho bà con coi có linh nghiệm hay không rồi hãy đưa ra kết luận!

Năm nay là năm Đinh Dậu; năm của con gà. Còn giờ Dậu là giờ của con gà; bắt đầu từ 5 giờ chiều tới 7 giờ tối.

Giờ gà lên chuồng, tụi nó chét chét rùm cho tới khi đi ngủ! Giống hịt như em yêu của tui, sanh năm 1957, cũng tuổi Đinh Dậu đó, vừa tròn 60 cái xuân xanh! Chét chét tới giờ đi ngủ mới thôi!

Tuổi Dậu, con gà siêng năng vì phải bận rộn từ sáng đến tối. Nhưng rảnh cái là ‘cục tác’ hè… ai mà chịu đời cho thấu?!

Em tuổi Dậu, màu lông sặc sỡ, khoái chưng diện quần nầy áo nọ, rồi son phấn lòe loẹt tùm lum! Làm tui muốn mạt.

Cầm tinh con gà, không có tài năng nào đặc biệt! Chỉ biết tối ngày bươi móc cái túi tiền của tui thôi!

Công danh, sự nghiệp cũng không lớn. Vì vậy em phải tìm và lấy một người chồng đại trượng phu như tui, có kinh tế vững chắc để bảo đảm đời em.

Dẫu mấy lần, tui tính chạy theo con gà móng đỏ khác, chân dài tới nách; cho em độc lập chi kê, con gà cô đơn chơi; nhưng tui không đành lòng vì em cũng biết lo lắng cho chồng con, là một người mẹ hiền, vợ đảm!

Phải chi hồi xưa em đừng chịu ưng tui, già hơn đúng một con giáp, sanh năm 1945, tuổi Ất Dậu mà em lấy chồng tuổi Tỵ tức con rắn; nó bò tứ tung!

Hay em lấy chồng tuổi Thìn, tối ngày nó cứ bay trên Trời!

Ít gặp mặt nhau thì  khỏi cãi, chắc đời em hạnh phúc hơn và cũng đỡ khổ cho cái lỗ tai của tui nhiều!

Vợ chồng cùng tuổi Dậu, xung khắc dữ lắm, vì chữ có câu rằng: “Hai con gà ghét nhau vì tiếng gáy!”

Rồi cùng mạng Hỏa nữa, tánh như lửa, không ai chịu nhịn ai hết trơn hết trọi hè. Mạng Hỏa phải lấy đứa nào mạng Thủy mới phải. Bởi em cháy là nó tát nước vô; là em tắt đài thôi!

***

Thưa bà con! Mới năm ngoái đây, tui lễ phép xin em cho tui về Việt Nam!

“Tối qua anh nằm mộng thấy bà cố kêu về hốt cốt và xây lại mả cho bả!

Vì xưa chôn trên gò, cách bờ sông cũng không xa; giờ cát tặc hút cát dưới lòng sông gây nên sạt lở!

Không di dời, bà văng tuốt xuống sông… thì con cháu sau nầy dẫu làm ăn cực khổ như gà cũng không thể nào ngóc đầu lên nổi!”

Nghe tui ỉ ôi như thế em cũng xiêu… xiêu lòng! Không phải là cháu dâu mấy đời hiếu thảo gì đâu mà do em tin dị đoan.

Cái mả ngay long mạch nên gia đình con cháu mới thành rồng bay được qua tới đây! Giờ án binh bất động e cái long mạch nầy nó rớt tỏm xuống sông là sẽ mang họa lớn!

Nên em buộc lòng ký ‘sự vụ lịnh’ cho tui đi dù lòng em lo ngay ngáy.

“Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu! Hỏi ngày về ước nẻo uyên ca!”

“Anh đi cuối xuân, một tháng, đầu hè sẽ quay về tổ ấm của đôi ta!”

Dâng cho tui chung rượu tiễn hành, em thỏ thẻ dặn rằng: “Tiện thiếp nghe quê mình giờ có rất nhiều con gà móng đỏ. Khuyên chàng nên bảo trọng. Có khoái chân dài tới nách thì hãy ăn gà đi bộ chớ đừng có ăn gà đi xe gắn máy mà chi! Vì nghe nói cúm gà, cúm chim ở Việt Nam giờ dữ lắm nhe phu quân!”

Bởi chữ có câu rằng: “Cúm gà chỉ chết mình gà! Cúm chim sẽ chết cả bà lẫn ông!”

“Anh biết chớ! Bạn anh có thằng đã chết rồi; nên anh cũng sợ lắm!

Xin phu nhân đừng lo lắng chi mà hao mòn vóc ngọc. Chuyến nầy anh đi chỉ một tuần trăng là quy về cố thổ Melbourne!”

“Trong thời gian hải ngoại thương ca, nếu anh có thèm thịt gà thì anh sẽ ăn: canh gà Thọ Xương, tiếng Úc của anh rất siêu, nên anh dịch là “chicken soup” đó phu nhân!”

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Đội đặc nhiệm số 6

Bài 8

Chúng tôi bước vào huấn luyện ở đội Em út Xanh lục. Đây là khóa tuyển chọn vào Đội số 6. Sau khóa huấn luyện, một số người sẽ bị loại. Đa số chúng tôi đều đã ở tuổi ba mươi. Khi đó, tôi vừa tròn ba mươi tuổi. Các huấn luyện viên bấm thời gian ghi thành tích chạy và bơi của chúng tôi. Chúng tôi thực hành huấn luyện tác chiến trên bộ, nhảy dù và lặn. Tất cả các khoa mục này đều ở mức độ khó hơn trước. Chẳng hạn, với khoa mục nhảy dù, chúng tôi phải thực hiện khoảng 150 lần nhảy trong bốn tuần, gồm các nội dung: rơi tự do, mở dù ở độ cao thấp (HAHO), nhảy dù xếp chồng… Chương trình huấn luyện của chúng tôi còn có các nội dung: trèo bằng tay không, chiến đấu tay bo, lái xe phòng thủ và tấn công, nội dung học cách tồn tại, lẩn trốn, rèn luyện khả năng chịu đựng và tẩu thoát (SERE). Mặc dù chúng tôi dành khá ít thời gian học các kỹ năng như làm thế nào để đột nhập vào ô tô và khởi động động cơ chỉ bằng một chiếc tuốc nơ vít nhưng chúng tôi lại dành khá nhiều thời gian học cách điều khiển xe và bắn súng trong quá trình xe chạy. Các huấn luyện viên sẽ đánh giá và xếp hạng mỗi nội dung huấn luyện. Cuối cùng là đưa ra tổng số điểm và thứ hạng của mỗi cá nhân.

Với tôi, dễ nhất là khóa huấn luyện vượt vật cản, còn khó nhất là khóa huấn luyện cận chiến trong thành phố do huấn luyện viên John Shaw phụ trách. Không chỉ dừng ở việc học cách mở khóa, chúng tôi còn phải học cách phá các bản lề cửa. Mỗi ngày, số lượng đạn chúng tôi tập bắn lên tới hàng nghìn viên. Theo tôi biết, chỉ riêng số tiền mua đạn loại 9 ly dành cho Đội đặc nhiệm SEAL số 6 hàng năm còn nhiều hơn số tiền mua đạn dành cho toàn bộ Lực lượng lính thủy đánh bộ cộng lại.

Tôi trải qua khóa huấn luyện cận chiến trong thành phố ở một cấp độ khó hơn rất nhiều so với trước đó. Mặc dù đã là thành viên của đặc nhiệm SEAL nhưng tôi không áp dụng được nhiều kiến thức đã học trước đó. Trong một bài huấn luyện, chúng tôi phải đột nhập vào một căn phòng, bắn đón đầu mục tiêu, vừa di chuyển zíc zắc vừa bắn, chạy nước rút và bắn hạ mục tiêu cản đường. Các huấn luyện viên liên tục thay đổi cấu trúc của căn phòng. Khi thì là phòng lớn, lúc lại phòng bé; khi là phòng hình vuông, lúc lại hình tam giác và bố trí địch ta lẫn lộn. Thậm chí họ còn thay đổi cả nội thất của căn phòng. Chúng tôi luôn luôn phải cẩn thận và tỉ mỉ. Kết thúc khóa huấn luyện, các huấn luyện viên cho chúng tôi xem lại đoạn ghi hình của mỗi học viên.

Tôi luôn sát cánh bên cạnh Bobby Z, một chàng trai cao lớn có mái tóc màu đồng. Đôi khi, chúng tôi gần nhau đến mức tôi cảm nhận được cả luồng gió phát ra từ nòng súng của Bobby Z thổi vào tóc tôi mỗi khi bắn. Chúng tôi đã tạo ra khoảng cách rất lớn với những người còn lại. Sau khi xem lại đoạn ghi hình, chúng tôi thấy cả Bobby và tôi đều không giảm tốc độ khi bắn chạy đổi bên. Đa số mọi người đều di chuyển chậm lại để đón đầu mục tiêu nhưng chúng tôi thì không. Trong nội dung chạy và bơi, Bobby về đích ngay sau tôi.

Trong khóa huấn luyện tại Đội Em út Xanh lục, Bobby và tôi luôn thay nhau dẫn đầu. Kết thúc khóa huấn luyện, tôi xếp vị trí thứ hai. Khi chúng tôi ở trường bắn của John Shaw, một số thành viên của đội Anh cả Đỏ, đội Anh hai Vàng và Đội Anh ba Xanh của Đội đặc nhiệm SEAL số 6 đến xem chúng tôi tập. Lính SEAL liên tục phải hoạt động trong môi trường nguy hiểm, nhưng Đội đặc nhiệm SEAL số 6 còn hoạt động trong môi trường nguy hiểm hơn nhiều. Năm đầu tiên sau khi thành lập Đội số 6, trong quá trình huấn luyện khoa mục cận chiến trong thành phố, một thành viên của đội đã vô tình bóp cò và trúng vào lưng Roger Cheuy. Sau đó, Cheuy chết trong bệnh viện do nhiễm khuẩn cầu chùm, loại khuẩn tạo ra các độc tố giống với những độc tố có trong những người bị ngộ độc thực phẩm. Thành viên này không chỉ bị đuổi khỏi Đội số 6 mà còn bị đuổi khỏi SEAL. Trong một sự cố khác, cũng trong quá trình huấn luyện khoa mục cận chiến trong thành phố, một viên đạn xuyên qua vách ngăn của nhà tập bắn và trúng vào chỗ nối trong chiếc áo chống đạn của Rich Horn. Viên đạn đã giết chết Horn. Trong một tai nạn ở mục nhảy dù, Gary Hershey cũng đã thiệt mạng.

Sau sáu tháng huấn luyện, khoảng bốn đến năm người bị loại trong tổng số ba mươi người tham gia. Mặc dù chúng tôi bị một số chấn thương, nhưng không ai thiệt mạng cả. Đội Anh cả Đỏ nhặt tôi ngay từ vòng đầu. Logo của Đội Anh cả Đỏ là hình một người Mỹ da đỏ. Một số nhà hoạt động xã hội coi logo này là hình ảnh xúc phạm nước Mỹ. Nhưng căn nguyên của việc lựa chọn logo này là biểu lộ ý muốn mọi người trong đội phát huy lòng gan dạ và kỹ năng chiến đấu của những người Mỹ da đỏ.

Bây giờ tôi là người của một tổ chức bình phong có cấp trên, có địa chỉ và có cả trợ lý trả lời điện thoại. Khi điền những thông tin để xin cấp thẻ tín dụng, tôi không thể công khai với họ tôi làm việc cho Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Thay vào đó, tôi phải cung cấp cho họ thông tin về tổ chức bình phong của mình. Khi công tác, tôi phải mặc quần áo dân sự thay vì quân phục. Từ “Đội đặc nhiệm SEAL số 6” không còn được nhắc đến nữa.

Ngay cả sau khi hoàn thành khóa huấn luyện có quân xanh và được nhận vào Đội số 6, chúng tôi vẫn tiếp tục trau dồi kỹ năng bắn súng tại Học viện Bắn súng tự vệ Mid South ở Mississippi do John Shaw huấn luyện. Trường bắn ở đây rất rộng, các mục tiêu ở cả bên trái, bên phải, có mục tiêu ẩn hiện và nhiều loại mục tiêu khác nữa. Tám chúng tôi rời Đội Anh cả Đỏ đến đó huấn luyện. Đêm thứ Sáu, đêm đầu tiên ở đó, cả tám chúng tôi rủ nhau đến câu lạc bộ thoát y bên kia sông ở Tennessee để xem biểu diễn. Chúng tôi có lái xe riêng. Người lái xe này không phải là người của SEAL, vóc dáng thấp bé và rất thích nghe đài phát thanh. Anh ta tên là Willie nhưng chúng tôi đùa vui gọi anh ta là Wee Wee. Anh ta thích đọc mọi thứ nhưng lại là người ít nói. Wee Wee không vào trong với chúng tôi mà ngồi trong xe đọc sách đợi ở bên ngoài. Chiếc xe tải nhỏ chở chúng tôi có màu đen và các cánh cửa cũng màu đen. Chiếc xe mang biển số của Virginia và các nhíp xe vừa được thay mới. Ghế ngồi được lắp theo yêu cầu của khách hàng, đủ thoải mái cho tám người ngồi. Đội số 6 thường đi những chiếc xe có cửa kính chống đạn, có khả năng chạy khi bánh xe hết hơi, có lắp đèn và còi hú của cảnh sát và có các ngăn đựng vũ khí trong xe. Tuy nhiên, chiếc xe này chỉ đơn thuần là một chiếc xe tải chở người và thiết bị ở Mỹ. Sau khi rời khỏi quán, Wee Wee lái xe đưa chúng tôi về.

Tại một cột đèn giao thông, ba tên đi chiếc xe con bốn bánh, hai ống xả dừng ngay cạnh xe chúng tôi. Chúng thấy Wee Wee đeo kính Clark Kent khi anh kéo cửa kính xuống nhưng lại không nhìn thấy tám chúng tôi ngồi trong xe. Một trong ba tên gào lên: “Này tên khốn da đỏ. Lái xe về nhà ngay! Đừng bao giờ lái chiếc xe mang biển số của Virginia, cái bang chết tiệt đã từng gây chiến với các bang miền Nam trong cuộc Nội chiến. Đây là vùng đất của Tướng Robert E. Lee”.

Một người trong nhóm chúng tôi hét to: “Mẹ kiếp, bọn khốn này!”

Đèn giao thông chuyển sang màu xanh. Wee Wee lái xe tiến lên phía trước đến cột đèn đỏ tiếp theo và dừng lại. Ba gã đó cũng dừng xe lại cạnh chúng tôi. “Này, cái thằng nhỏ thó kia. Mày vừa chửi đổng phải không?”. Chúng tưởng Wee Wee chửi chúng. Một người trong số chúng tôi đáp trả: “Này, bọn khốn. Chúng mày cảm thấy như thế nào khi biết bố mẹ chúng mày là anh em của nhau?”.

Lúc này, ba tên đó vô cùng tức giận và hét lên: “Táp vào lề đường ngay, chúng tao phải dạy cho mày một bài học mới được”.

Mồ hôi trên trán Wee Wee bắt đầu túa ra. Anh kéo kính xe lên cao quá mũi. Chúng tôi cố nín thở để khỏi cười phá lên làm ba tên khốn này sợ và biết chúng tôi ngồi sau xe. Một người trong nhóm nói nhỏ với anh lái xe “Wee Wee, hãy lái xe vào bên đường và dừng xe lại.”

Wee Wee lái xe thêm khoảng hai, ba cây số nữa và dừng lại trước khi đến điểm nút giao các đường cao tốc giữa các bang. Ba tên khốn cứ lặng lẽ bám theo và dừng cạnh xe chúng tôi. Chúng nhạo báng để Wee Wee tức giận ra khỏi xe. Chúng tôi đứng ngay sát chiếc cửa đẩy bên hông xe sẵn sàng nhảy ra ngoài tiếp chiến. Tôi để tay lên tay nắm cửa. Ngay khi tôi mở cửa, ba người sẽ nhảy ra chặn bên trái, ba người khác sẽ nhảy ra chặn bên phải. Sau khi bố trí xong, chúng tôi bảo: “Wee Wee, dụ bọn chúng đến cửa hông đi”. Wee Wee đã thuyết phục được bọn khốn ra cửa hông để tránh ảnh hưởng đến giao thông.

Bọn khốn đi một vòng quanh xe đến bên cửa chúng tôi đang nấp. Ngay khi chúng vừa đến, tôi mở bung cửa ra. Như một phép lạ, sáu người trong chúng tôi đã đứng thành một vòng tròn vây ba tên khốn vào giữa. Mắt bọn chúng trợn trừng lên cứ như con ngươi sắp lòi ra khỏi mắt đến nơi vậy.

Một trong ba tên khốn nhổ miếng thuốc lá đang nhai trong miệng ra và nói: “Thấy chưa John, tao đã bảo mày rồi. Có ngày cái mồm của mày sẽ làm hại bọn tao. Tao nói có sai đâu.”

Trước tiên tôi dạy chúng bài học về lịch sử, “Này, câm mồm ngay! Thứ nhất, bọn tao không phải là những người da đỏ. Thứ hai, Virginia không phải là một bang của người da đỏ. Thứ ba, Tướng Robert E. Lee là người đến từ Virginia.”

Ba tên khốn đã bình tĩnh trở lại và tên John bắt đầu lớn tiếng. Chúng tôi quyết định dạy cho chúng bài học về cách cư xử, không ỷ mạnh bắt nạt yếu. Nói chung, chúng tôi đã đánh cho chúng một trận thừa sống thiếu chết. Để cho chúng nhớ, một người trong số chúng tôi ra lệnh “Cởi quần ngoài ra ngay”.

Bọn chúng nhìn chúng tôi đầy vẻ ngỡ ngàng. Tuy nhiên, để không bị đánh nữa, chúng ngoan ngoãn tụt quần ra.

Chúng tôi lấy chìa khóa, khóa cửa xe của chúng lại, ném chìa khóa xe vào bụi cây và thu hết quần và giày dép của chúng. “Hãy đến lối ra phía trước, dừng xe tại cửa hiệu 7–Eleven ở bên tay phải và chúng mày sẽ tìm thấy đồ của chúng mày trong phòng tắm.”

Sáng hôm sau, chúng tôi đang ngồi ở thao trường bắn của huấn luyện viên Shaw nhâm nhi ly cà phê trước khi bắt đầu buổi tập bắn thì một sĩ quan cảnh sát, vốn là một trợ lý huấn luyện của Shaw, lái xe đến và bước ra khỏi xe cảnh sát. Ông đi đến phía chúng tôi. Chúng tôi biết rõ ông vì chúng tôi thường xuyên huấn luyện cùng nên chúng tôi ra đó uống cà phê cùng ông. Ông cũng là một tay đua của dòng xe Harley-Davidson, rất giống chúng tôi. Ông nói: “Lúc một giờ ba mươi sáng nay, tôi nghe được một câu chuyện buồn cười nhất từ trước tới nay”.

Chúng tôi ngây thơ hỏi: “Chuyện gì vậy?”.

“Tôi nhận được một cuộc gọi từ cửa hiệu 7–Eleven báo có ba thanh niên mặc quần đùi đi bộ đến cửa hiệu. Người thu ngân đã khóa cửa lại không cho họ vào. Ba thanh niên này nói họ phải vào bên trong để lấy quần áo của họ. Khi chúng tôi đến, một nửa số cảnh sát trong đồn cũng đi cùng. Tôi thề đấy, đúng là có ba thanh niên mặc quần đùi đang đứng ở đó. Chúng tôi nghe hết câu chuyện lạ kỳ của họ. Chuyện là thế này: có một chiếc xe tải màu đen mang biển số Virginia, loại xe trông giống chiếc xe đang đậu đằng kia kìa – ông giơ tay chỉ vào chiếc xe tải của chúng tôi – đậu bên cạnh xe của họ. Bất thình lình, tám gã khốn, giống hệt các cậu, vây lấy họ và đánh cho họ thừa sống thiếu chết mà không nói lý do. Nghe xong chuyện, chúng tôi để ba thanh niên này ở trong cửa hiệu 7–Eleven và tìm đồ cho họ khoảng chừng hai mươi phút nhưng chúng tôi chẳng tìm thấy quần áo của họ ở đâu cả.

Đêm hôm đó, chúng tôi buồn cười quá nên đã quên béng chuyện dừng lại ở cửa hiệu 7–Eleven. Quần áo và giầy dép của chúng vẫn còn nguyên trong xe của chúng tôi.

Viên cảnh sát tiếp tục: “Trước khi tôi ra về, một trong ba thanh niên đó nói: ‘John, thấy chưa. Tao đã bảo mà. Cái mồm của mày thể nào cũng có lúc hại bọn tao mà.’ Sau đó, hai tên trong bọn còn đấm tên John ngay trước trạm xăng. Chúng tôi ra can họ và hỏi: “Cái mồm gây ra rắc rối” có nghĩa là gì thì bọn chúng đều im lặng. Viên cảnh sát lắc lắc đầu và hỏi: “Các cậu có tin vào câu chuyện điên rồ này không?”

Tất cả chúng tôi đều im lặng. Sau một phút bối rối, chúng tôi cùng đứng dậy và bắt đầu buổi tập bắn. Cuối buổi chiều hôm đó, viên cảnh sát nói: “Đối với những kẻ mất dạy đó, cũng cần người đánh cho một trận. Cho dù những người đi trên xe là ai đi chăng nữa thì họ đã cứu ba tên mất dạy đó khỏi những người không giữ được bình tĩnh với những lời nói của chúng.”

Chúng tôi gật đầu đồng tình. Mặc dù chưa có kinh nghiệm thực tiễn, tôi luôn để tâm vào mục tiêu tiếp theo: trở thành lính bắn tỉa. Theo quy định, phải là thành viên của Đội số 6 ít nhất ba năm thì mới được nộp đơn đăng ký thành lính bắn tỉa.

Mùa thu năm 1992, tôi nộp đơn xin học tại Trường đào tạo lính bắn tỉa. Chỉ huy trưởng của Đội Anh cả Đỏ Denny Chalker bảo tôi: “Cậu là một đặc nhiệm giỏi nhưng thời gian công tác chưa đủ. Cậu phải phục vụ ở đây ba năm trước khi vào học tại Trường đào tạo lính bắn tỉa, đó là luật bất thành văn. Hơn

nữa, chỉ huy nhóm của cậu không muốn mất cậu.”

Mặc dù Đội Anh cả Đỏ phải cần từ bốn đến sáu lính bắn tỉa nhưng hiện tại mới chỉ có hai lính bắn tỉa. Một tuần sau đó, Denny nói: “Cậu đã biết tin gì chưa? Chúng tôi thay đổi quyết định rồi − cậu có thể đi học. Chúng tôi sẽ cử cậu và Casanova đến học ở Trường đạo tạo lính bắn tỉa.”

Mặc dù chúng tôi vẫn ở Đội Anh cả Đỏ nhưng chúng tôi cũng trở thành thành viên của Đội Áo đen (Black Team) bao gồm các tay lính bắn tỉa. Casanova và tôi có quyền lựa chọn theo học ở một trong ba trường. Đặc nhiệm SEAL bắt đầu mở trường đào tạo bắn tỉa riêng. Lục quân có tổ chức Khóa học đánh chặn mục tiêu trong các chiến dịch đặc biệt ở Fort Bragg, Bắc Carolina. Lực lượng Lính thủy đánh bộ có trường đào tạo bắn tỉa ở thành phố Quantico, Virginia. Tôi biết học ở trường của Lính thủy đánh bộ là rất vất vả nhưng đây là trường có truyền thống lâu đời nhất, uy tín nhất và quan trọng hơn cả là trường danh giá nhất trên toàn thế giới.

Do vậy, tôi quyết định đến Căn cứ của Lính thủy đánh bộ ở thành phố Quantico để theo học chuyên ngành bắn tỉa. Căn cứ này có diện tích gần 160 km², ngay gần con sông Potomac, Virginia. Học viện Quốc gia FBI và Học viện Phòng chống Ma túy cũng đặt trụ sở tại đây. Nằm ở góc của căn cứ, cạnh đường cao tốc Carlos Hathcock là Trường đào tạo lính bắn tỉa, một trường có những yêu cầu cao nhất. Trong số rất ít những người được nhận vào học thì chỉ có 50% số họ được tốt nghiệp.

Khóa học kéo dài 10 tuần, chia thành ba giai đoạn. Ngày đầu tiên của giai đoạn I: Thiện xạ và các kỹ năng cơ bản trên chiến trường, chúng tôi phải trải qua đợt kiểm tra thể lực. Những ai không vượt qua lần kiểm tra này đều bị trả về đơn vị chủ quản ngay lập tức mà không có cơ hội kiểm tra lại lần hai.

Sau khi các cán bộ đưa ra danh sách những học viên đỗ, chúng tôi vào ngồi trong tòa nhà màu đen với các cửa sổ bị bịt kín được gọi là nhà trường. Ở đây, chúng tôi được phổ biến những nội dung chính của khóa học. Ngày hôm sau, một Trung sĩ lên lớp cho chúng tôi. Trông anh ta độ ngoài bốn mươi với mái tóc cắt ngắn. Anh ta là thành viên trong Hiệp hội các xạ thủ hàng đầu nước Mỹ. Đây là tổ chức gồm 100 xạ thủ có điểm số cao nhất trong cuộc thi bắn súng trường và súng lục được tổ chức hàng năm. Các huấn luyện viên của chúng tôi gồm cả các cựu chiến binh, các chuyên viên hàng đầu và các nhân viên có năng lực nhất.

Trung Sĩ nhấn mạnh: “Lính bắn tỉa có hai nhiệm vụ. Thứ nhất là hỗ trợ các hoạt động tác chiến bằng cách bắn chính xác, hạ gục các mục tiêu đảm nhận từ vị trí ẩn nấp. Lính bắn tỉa không được phép rời vị trí ẩn nấp để bắn mục tiêu. Việc hạ gục các mục tiêu đảm nhận sẽ góp phần quan trọng vào chiến thắng của cuộc chiến. Nhiệm vụ thứ hai là quan sát và thu thập tin tức. Đây là nhiệm vụ tốn nhiều thời gian.”

Trên trường bắn, Casanova và tôi là một cặp huấn luyện cùng nhau. Chúng tôi luân phiên thay đổi vai trò làm tay súng bắn tỉa và người chỉ thị mục tiêu (tính toán tốc độ gió). Đối với súng trường, chúng tôi buộc phải sử dụng loại súng M-40 của lực lượng lính thủy đánh bộ, súng bắn tỉa Remington 700 cỡ nòng 0,308 caliber với băng đạn năm viên. Gắn trên khẩu súng trường này là chiếc kính ngắm loại Unertl 10. Tôi là người bắn trước nên cẩn thận chỉnh thước ngắm. Sau đó, tôi chỉnh độ bù đường đạn do ảnh hưởng của lực hút trái đất ở cự ly bắn 300m. Nếu thay đổi cự ly bắn, tôi sẽ phải chỉnh lại độ bù của đường đạn.

Casanova nhìn qua kính ngắm điểm loại M-49 được đặt trên giá đỡ ba chân. Nếu không có giá đỡ, độ lệch có thể sẽ lớn do tay cầm kính ngắm bị rung. Casanova sử dụng kính ngắm điểm để đo tốc độ gió. Đây thường được xem là thách thức lớn nhất của các tay súng bắn tỉa.

Thông thường, các tay súng bắn tỉa thông qua lá cờ để tính toán tốc độ của gió dựa vào góc bay. Nếu một lá cờ có góc bay 80 độ, lấy con số đó chia cho hằng số 4 thì sẽ ra tốc độ gió là 20 dặm/h (32 km/h). Tương tự, nếu góc là 40 độ thì lấy 40 chia cho 4 ra tốc độ gió là 10 dặm/h (16 km/h).

Trong trường hợp không có cờ, lính bắn tỉa phải dựa vào kỹ năng quan sát. Nếu người lính bắn tỉa chỉ cảm nhận là có gió thổi và gió có thể làm làn khói chuyển động thì tốc độ gió dưới 3 dặm/h (4,8 km/h). Nếu gió thổi nhẹ thì tốc độ từ 3 – 5 dặm/h (4,8 – 8 km/h). Nếu gió thổi làm lá rung rinh thì tốc độ từ 5 – 8 dặm/h (8 – 12,8 km/h). Nếu bụi và rác bị thổi bay lên thì tốc độ gió từ 8 – 12 dặm/h (12,8– 19,2 km/h). Nếu các cây lắc lư thì tốc độ gió từ 12 – 15 dặm/h (19,2 – 24 km/h).

Một lính bắn tỉa cũng có thể sử dụng phương pháp dùng kính ngắm điểm. Khi mặt trời đốt nóng trái đất, không khí gần bề mặt trái đất gợn lên thành các làn sóng. Gió đẩy các làn sóng nóng này di chuyển theo hướng gió. Để thấy được các làn sóng nóng này, các tay súng bắn tỉa cần tập trung vào một vật gần mục tiêu. Xoay ống kính một góc 45 độ theo chiều ngược kim đồng hồ, rồi tập trung vào vùng phía trước vùng mục tiêu để có thể nhìn thấy làn sóng nóng. Gió thổi với tốc độ chậm sẽ tạo ra các làn sóng nóng lớn, còn gió thổi nhanh mạnh sẽ làm tan các làn sóng nóng. Phương pháp xác định tốc độ gió kiểu này đã được áp dụng vào thực tiễn.

Gió thổi trực tiếp từ trái sang phải hoặc phải sang trái có ảnh hưởng lớn nhất đối với đường đạn. Loại gió này được gọi là gió ảnh hưởng trực tiếp. Gió thổi xiên từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái được gọi là gió ảnh hưởng gián tiếp. Gió thổi từ trước về sau hoặc từ sau lên trước thì ít ảnh hưởng nhất.

Casanova thông báo cho tôi tốc độ gió: “5 dặm/h (8 km/h), ảnh hưởng trực tiếp, từ trái qua phải”. Cự ly 300m nhân với 5 dặm/h bằng 15; 15 chia cho hằng số 15 bằng 1. Tôi điều chỉnh ô kẻ ngang trên kính ngắm sang trái một khấc. Nếu trong trường hợp số chia là hai từ bên phải thì tôi phải chỉnh sang phải hai khấc trên kính ngắm.

Tôi bắn phát đầu tiên vào bia cố định – trúng. Sau khi bắn tiếp hai bia cố định và hai bia di động nữa, tôi đổi vai trò sang làm người tính tốc độ gió còn Casanova sang vai trò bắn. Sau đó chúng tôi thu gọn trang bị và chạy lùi lại vạch bắn ở cự ly 500m. Tại cự ly bắn này, chúng tôi tiếp tục lần lượt thay nhau bắn ba bia cố định và hai bia di động. Sau đó chúng tôi lùi xuống bắn ở cự ly 600m. Thật khó khăn để giữ hơi thở và nhịp tim chậm lại sau mỗi lần chuyển vị trí. Tại cự ly bắn 700 m, chúng tôi một lần nữa bắn ba bia cố định nhưng hai bia di động không chuyển động liên tục mà lúc chuyển động, lúc lại đứng im. Tại cự ly 800 m, hai bia di động không di chuyển nữa mà lắc từ trái sang phải và ngược lại ở một vị trí cố định. Tại cự ly 900m và 1.000 m, cả năm bia đều cố định. Với tổng cơ số đạn là 35 viên thì ít nhất phải có 28 viên trúng bia mới đạt yêu cầu. Ở nội dung này, rất nhiều người không đạt yêu cầu và bị loại. Sau khi kết thúc nội dung bắn trên thao trường, chúng tôi trở về nhà bắn và lau chùi, vệ sinh vũ khí trước khi bước vào nội dung vẽ phác thảo địa hình. Các huấn luyện viên đưa chúng tôi đến một khu vực và nói: “Hãy phác thảo địa hình khu vực từ mép rừng phía bên trái đến tháp nước phía bên phải. Các anh có 30 phút để thực hiện nhiệm vụ.” Chúng tôi cố vẽ cho bằng hết các chi tiết quan trọng trong khả năng của mình theo thứ tự từ gần đến xa: các vật ở gần phải to hơn các vật ở xa. Ở phía dưới bản phác họa, chúng tôi ghi rõ những thứ chúng tôi nhìn thấy. Các huấn luyện viên xếp hạng chúng tôi dựa vào sự rõ ràng, chính xác và giá trị tình báo của bản phác họa. Cứ đạt được 70% trở lên thì đỗ. Sau đó, họ rút ngắn thời gian của chúng tôi xuống còn 15 phút thay vì 30 phút.

Lính bắn tỉa cũng luôn giữ bên mình một cuốn sổ ghi chép để sử dụng cùng với bản phác họa. Điều này có nghĩa là người lính bắn tỉa phải ghi chép những thông tin cần thiết về địa hình, tọa độ, bụi cây, vật cản và đường cơ động để bổ sung cho bản phác họa.

Chúng tôi cũng tham gia nội dung Ghi nhớ nhanh. Huấn luyện viên đặt lên trên bàn từ 10 đến 12 đồ vật: vỏ đạn 9 ly, đèn hiệu, túi đựng đồ loại Ziploc, bút mực, một chiếc kính hỏng, ảnh của một ai đó và một số đồ vật khác nữa. Trong vòng từ 10 đến 15 giây, chúng tôi phải ghi nhớ được mọi thứ ở đúng vị trí đặt trên bàn. Sau đó, chúng tôi vào lớp học, lấy một mảnh giấy và vẽ những thứ chúng tôi nhìn thấy. Cuối cùng, chúng tôi phải mô tả bằng lời những đồ vật này. Đôi khi, chúng tôi phải nói chính xác kích thước đồ vật mà chỉ nhìn chúng bằng kính ngắm hoặc ống nhòm. Nếu tôi không thể nhớ được 70% số đồ vật này thì sẽ bị loại. Chúng tôi cũng phải chui rúc trong các bụi cây, bụi cỏ − tìm một vị trí quan sát trong tình trạng các bụi cây làm cản tầm nhìn của chúng tôi − sử dụng cây cối để che dấu khỏi bị phát hiện.

Trong Giai đoạn II “Trinh sát mục tiêu và bắn súng không biết trước cự ly”, những người đã vượt qua Giai đoạn I có nhiệm vụ bắn hạ 100 mục tiêu ở khoảng cách từ 300m đến 800m. Do chúng tôi không biết chính xác khoảng cách từ vị trí đứng đến mục tiêu nên chúng tôi phải ước lượng. Nếu bắn trúng bia mục tiêu ở viên đạn thứ nhất thì được 10 điểm, ở viên đạn thứ hai được 8 điểm. Chúng tôi không được phép bắn ba viên cho một mục tiêu. Khi khi hoàn thành, Casanova và tôi sắp xếp lại các mục tiêu và thực hiện lại một lần nữa sau khi đổi vai cho nhau. Chúng tôi phải đạt được trên 70% số mục tiêu cần bắn hạ thì mới đạt điểm chuẩn để được ở lại trường.

Ngoài kỹ năng bắn súng, trường đào tạo lính bắn tỉa cũng dạy chúng tôi nghệ thuật ngụy trang. Chúng tôi phải tự chế tác trang phục ngụy trang cho riêng mình. Trước tiên, chúng tôi chuẩn bị quần áo: chỉ lấy phần trên và phần dưới của bộ quần áo dã chiến. Tiếp theo, sử dụng loại dây chỉ bền như loại cước câu cá lớn nặng hơn 5kg, chúng tôi buộc bộ lưới (chẳng hạn như: võng quân sự hoặc lưới đánh cá) vào lưng và khuỷu tay của bộ quần áo dã chiến. Sử dụng keo dán giày Shoe Goo dễ dàng hơn sử dụng kim chỉ rất nhiều. Tiếp theo chúng tôi cắt một vài miếng vải rộng khoảng 2,54 cm, dài 22,8 cm và buộc vào điểm nút ở phần trên của chiếc áo dã chiến buộc với lưới. Chúng tôi kéo theo chiều dọc từ dưới lên trên để cọ miếng vải sờn đi. Dùng một bình sơn phụt, sơn màu cho miếng vải. Casanova và tôi buộc lá cây từ phần đầu gối trở xuống, đây là bộ phận lính bắn tỉa phải di chuyển. Lá cây xòe ra trong quá trình người lính bắn tỉa bò trên mặt đất. Chúng tôi rất cẩn thận không buộc bất kỳ một vật nào quá dài vào để tránh nó lắc lư sẽ dễ bị phát hiện. Lá cây là tốt nhất vì chúng bền màu. Cỏ bị úa nhanh nhất − chỉ trong vòng khoảng 4 giờ đồng hồ. Xung quanh báng súng trường, chúng tôi quấn vải màu vàng và buộc thắt nút vuông. Chúng tôi cũng làm tương tự như vậy với phần nòng súng và kính ngắm. Sau đó, chúng tôi dán miếng vải màu xanh đậm đã được cắt trước đó ra bên ngoài. Tương tự, chúng tôi cũng làm như vậy với khẩu M-49, ống nhòm và các trang bị khác. Vào cuối tuần, lúc được nghỉ, Casanova và tôi tập luyện nghệ thuật giấu mình. Chúng tôi làm các bộ quần áo ngụy trang. Sau đó, mặc vào và nằm ở các địa hình khác nhau, thử tìm cách phát hiện ra nhau. Hầu hết thời gian rỗi, chúng tôi chỉ thực hành kỹ năng giấu mình này.

Phần Trinh sát mục tiêu làm nhiều học viên bị loại nhất. Vị trí của mỗi lần Trinh sát mục tiêu đều khác nhau và chúng tôi phải thay đổi bố cục màu sắc và kết cấu quần áo ngụy trang để hòa lẫn với môi trường xung quanh. Lúc nào trong tay cũng phải cầm theo kính ngắm quang học. Mắt thường được sử dụng để nhìn bao quát địa hình. Ống nhòm được sử dụng để nhìn các vật cận cảnh hơn, tuy nhiên vẫn giúp có được cái nhìn bao quát. Kính ngắm của lính bắn tỉa cho phép quan sát kỹ năng nhất các vật nhưng lại không nhìn bao quát được.

Càng tiếp cận gần mục tiêu, lính bắn tỉa càng phải di chuyển chậm. Khi cách mục tiêu khoảng 3 km, lính bắn tỉa cần di chuyển nhanh nhưng phải êm. Sau khoảng 1 km phải cẩn thận hơn, phải điều chỉnh lớp ngụy trang cho phù hợp với địa hình. Khi còn cách mục tiêu chưa đầy 1 km, lính bắn tỉa phải chú trọng khi di chuyển – bò sát xuống mặt đất. Mỗi lần tay chỉ di chuyển về phía trước khoảng 30 cm và cứ 30 giây mới thực hiện một hành động này. Đôi khi người đi trinh sát phía trước đánh dấu đường đi. Việc làm này tạo khá nhiều thuận lợi cho người đi sau.

Trong vòng ba đến bốn giờ, chúng tôi phải vượt qua chặng đường từ 800 đến 1.200 m, đến cách vị trí quan sát khoảng 200m. Nếu người ở đài quan sát phát hiện ra chúng tôi trước khi chúng tôi đến cách vị trí quan sát 200 m, chúng tôi chỉ được 40 điểm trên thang điểm 100. Với kết quả như vậy, chúng tôi trượt.

Nếu người Quan sát nhìn thấy bụi cây chuyển động, anh ta sẽ dùng vô tuyến điện gọi báo cho giám sát viên (Walker): “Giám sát viên, sang trái 3 thước. Dừng lại. Sang phải 1 thước. Dừng lại. Một lính bắn tỉa ở ngay dưới chân”. Bất kỳ lính bắn tỉa nào ở trong vòng bán kính 30 cm đều bị bắt giữ. Những người bị bắt giữ thường là chưa đến được vị trí cách người Quan sát 200m. Lính bắn tỉa bị lộ sẽ đứng dậy và đi bộ về xe buýt, đạt 50 điểm và trượt. Khi đến vị trí bắn, cách người Quan sát trong vòng 200 m, chúng tôi phải lấy súng ra và bắn vào một khoảng trống ở chỗ người Quan sát. Nếu người lính bắn tỉa không phát hiện ra người Quan sát, không đưa ra tốc độ gió hoặc độ cao chính xác hay không bắn từ bệ bắn chắc chắn, sẽ chỉ đạt được 60 điểm và bị đánh trượt.

Nếu chúng tôi làm được tất cả những điều trên nhưng lại để người Quan sát phát hiện ra tiếng nổ, anh ta sẽ chỉ cho giám sát viên vị trí của chúng tôi và đến bắt chúng tôi. Trường hợp này được 70 điểm và đỗ vớt.

Nếu người Quan sát không phát hiện ra tiếng súng từ đâu, giám sát viên sẽ hô vang ở nơi anh ta nghi ngờ có lính bắn tỉa: “Hãy bắn phát thứ hai!” Đa số học viên đều bị lộ bởi người Quan sát đã nhìn thấy bụi cây di chuyển từ phát nổ thứ hai. Trường hợp này được 80 điểm. Phần cuối cùng của nội dung trinh sát mục tiêu là kiểm tra xem lính bắn tỉa có nhìn thấy tín hiệu từ người Quan sát hay không. Nếu lính bắn tỉa không bị phát hiện ở phát bắn thứ hai nhưng vẫn không quan sát được tín hiệu phát ra từ người Quan sát thì được 90 điểm.

Tôi nói: “Mục tiêu đang đập đập tay xuống đỉnh đầu.”

Giám sát viên nói qua vô tuyến điện với người Quan sát “Các lính bắn tỉa nói anh đang đập tay xuống đỉnh đầu.”

“Đúng, rất tốt. Đứng lên. Tới xe buýt. ‘Trinh sát mục tiêu chính xác, được 100 điểm’. Chúng tôi cần ít nhất hai lần trinh sát chính xác trong tổng số 10 lần ngoài việc đạt được mức điểm trung bình từ 70 trở lên.

Ngay cả vào mùa thu, nhiệt độ là 21 độ C, nhưng Quantico vẫn nóng như địa ngục khi chúng tôi phải khoác trên người bộ quần áo ngụy trang, kéo theo túi đựng trang thiết bị và bò sát mặt đất. Mọi người đều bị mất nước. Sau khi kết thúc nội dung Trinh sát mục tiêu, chúng tôi phải quay trở lại và sục sạo các bụi cây tìm những người bị ngất để đưa họ trở về doanh trại.

Casanova và tôi ở tại một khách sạn bên ngoài căn cứ trong khi lực lượng lính thủy đánh bộ ở trong doanh trại đối diện Trường đào tạo lính bắn tỉa phía bên kia đường. Chúng tôi vẫn đang trong chế độ trực chiến. Nếu máy nhắn tin của chúng tôi đổ chuông và phải thực thi nhiệm vụ, chúng tôi sẽ phải kín đáo rời khỏi nơi ở đi thực hiện nhiệm vụ mà không được phép để cho nhiều người biết điều gì đang diễn ra. Chúng tôi được hưởng những dịch vụ tốt nhất – đi máy bay hạng nhất và thuê xe ô tô chỉ dành cho hai người. Sau mỗi lần thực hành nội dung Trinh sát mục tiêu tại phòng khách sạn, tôi phải giúp kiểm tra một số vùng trên cơ thể của Casanova mà anh ấy không thể tự xem xét, xem có con bọ chét nào không để phòng tránh bệnh Lyme. Nếu không được chữa trị, bệnh Lyme sẽ tấn công vào hệ thần kinh trung ương. Casanova cũng làm tương tự như vậy với tôi. Không có việc nào tế nhị và thân mật hơn việc dùng chiếc nhíp để gắp bọ chét ra khỏi hậu môn của đồng đội mình.

Phải sau ba hay bốn lần thực hành nội dung trinh sát mục tiêu, tôi mới hiểu hàm ý sâu xa của việc làm trên: Giờ đây tôi hiểu điều họ muốn tôi làm là nhằm mục đích gì. Đó là để giúp chúng tôi không được để hoàn cảnh tác động, không giận dữ và mờ mắt vì ánh hào quang. Trong một lần trinh sát mục tiêu trước đó, tôi bò qua một cánh đồng lúa mạch. Một cậu lính trẻ bò ngang qua tôi rất nhanh.

Tôi thầm thì: “Này, cậu đang di chuyển quá nhanh đấy.” “Qua ống nhòm, tôi đã nhìn thấy người Quan sát. Anh ta vẫn chưa chuẩn bị xong. Tôi đang chuẩn bị hoàn tất phần thi trước khi người Quan sát tìm kiếm chúng ta.” Đồ ngu.

Cậu lính trẻ di chuyển quá nhanh cắt qua mặt tôi trong tư thế bò thấp. Chó chết thật.

Một giám sát viên hét to: “Tất cả các tay súng, nằm im!” Chúng tôi nằm im.

Người Quan sát nói với giám sát viên đứng ngay trước mặt tôi 30 cm. Lúc này, cậu lính trẻ ở phía trước tôi 1,5m vì cậu ta bò quá nhanh. Người Quan sát nói qua vô tuyến điện với giám sát viên “Có một lính bắn tỉa ngay dưới chân”. “Chính xác. Nào Wasdin, đứng dậy”.Chó chết thật. Liệu tôi có thể làm gì trong tình huống này? Chẳng nhẽ tôi lại quay trở lại nói với huấn luyện viên rằng “Đó thực sự không phải là tôi mà là cậu lính trẻ”.

Bốn mươi điểm. Điều này làm tôi tổn thương ghê gớm, đặc biệt trong những lần trinh sát mục tiêu đầu tiên. Điểm số là vấn đề rất quan trọng. Tôi đã nghĩ đến khả năng tôi có thể trượt vì điểm lần này. Trở về đơn vị ở Dam Neck, Virginia và nói với mọi người rằng tôi vừa bị loại khỏi Trường đào tạo lính bắn tỉa thì thật xấu hổ biết chừng nào.

Mặc dù về mặt lý thuyết, chiến thuật của cậu lính trẻ hoàn toàn ổn nhưng làm tôi phải chịu trận thay là không chấp nhận được. Không cần thanh minh gì với huấn luyện viên, tôi gặp riêng cậu ta ở sau doanh trại và nói: “Cậu có thể nghĩ đó là chiến thuật tốt bởi cậu thấy người Quan sát vẫn chưa chuẩn bị xong, cậu tranh thủ tiến nhanh. Nhưng nhớ đừng bao giờ bò sát bên tôi hoặc trước mặt tôi như thế. Nếu cậu làm tôi trượt một lần nữa, chúng ta sẽ nói chuyện kiểu khác chứ không phải nhẹ nhàng như lần này đâu.”

Cậu ta không bao giờ mắc lại lỗi đó nữa và tốt nghiệp Trường đào tạo lính bắn tỉa cùng khóa với tôi. Ngay cả sau khi đã đủ điểm đỗ nhưng nếu một lính bắn tỉa lặp lại lỗi đã phạm trước đó, các huấn luyện viên sẽ đánh trượt mà không cần xét đến điểm số. Một số lính bắn tỉa bị trượt bởi họ không làm được những bộ quần áo ngụy trang hòa vào môi trường xung quanh.

Này, chúng ta đã bắt đầu nội dung này được một tháng. Chúng ta đã học cách làm các bộ quần áo ngụy trang từ trước khi bắt đầu nội dung này. Tại sao các cậu không chịu ra ngoài quan sát địa hình và làm những bộ quần áo có thể hòa lẫn vào địa hình ở đó?

Một số học viên có thể làm được các bộ quần áo rất giống với môi trường xung quanh nhưng lại không nằm im được. Tôi thấy nhiều bụi bay lên ở những nơi họ ẩn nấp. Những học viên này bò đến cạnh một cái cây nào đó và nghĩ chiếc cây sẽ giúp họ không bị phát hiện. Các huấn luyện viên gọi đó là “các khối u của cây”. Các huấn luyện viên sẽ đưa mắt nhìn các cây từ trên xuống dưới. Khi phát hiện thấy gốc cây có một khối u. Tất nhiên, tay lính bắn tỉa đó trượt.

Một lính bắn tỉa không chỉ đơn thuần khả năng bắn súng cự ly xa. Một vận động viên bắn súng ở Thế vận hội Olympic có thể bắn súng chính xác ở cự ly xa nhưng không biết cách trinh sát mục tiêu thì cũng không thể trở thành lính bắn tỉa. Ở lần trinh sát mục tiêu thứ bảy, tám và chín, các huấn luyện viên gọi tên một học viên bất kỳ. Nếu các học viên này không đạt điểm tối đa, họ sẽ không đủ điểm để tốt nghiệp. Chúng tôi không bao giờ được gặp lại họ nữa.

Tôi đã kết thúc nội dung này với tổng số điểm là 800 hay 850 gì đó, tính cả lần tôi bị 40 điểm do sự thiếu kiên nhẫn của cậu lính trẻ tuổi.

Giai đoạn III: Các kỹ năng nâng cao ngoài thực địa và thực thi nhiệm vụ, bao gồm cả phần thực hành chiến đấu. Không cần biết chúng tôi đã hoàn thành tốt như thế nào ở các nội dung: bắn súng các cự ly, phác họa địa hình, ghi nhớ nhanh, trinh sát mục tiêu, chúng tôi buộc phải vượt qua phần thực hành chiến đấu kéo dài ba ngày. Ở nội dung này, các huấn luyện viên kỳ vọng ở chúng tôi sự chín chắn và khả năng độc lập tác chiến. Lính bắn tỉa thường hành động theo cặp đôi mà không nhận được chỉ dẫn trực tiếp. Lính bắn tỉa phải có khả năng tự ra quyết định, bao gồm cả quyết định tự điều chỉnh để thích nghi với môi trường xung quanh.

Lợi dụng màn đêm, trong nội dung thực hành chiến đấu, Casanova và tôi tiếp cận thành công vị trí ẩn nấp. Trước tiên, chúng tôi đào sâu khoảng 10 đến 15 m, cẩn thận đánh cỏ và lớp đất bề mặt thành những mảng to rồi đặt sang một bên. Tiếp theo, chúng tôi đào một chiếc hầm hình vuông có kích thước 6 x 6m và sâu 5m. Ở đáy hầm, Casanova và tôi đào một hố để đi vệ sinh dài khoảng 2 m, rộng 1,5m và sâu 1 m, dốc 45 độ để thoát nước mưa và phòng khi lựu đạn rơi vào thì cả hai vẫn lăn được ra ngoài. Cũng để tránh nước mưa làm sập lở hầm, chúng tôi cố định phần mái hầm bằng các bao cát. Tiếp theo, chúng tôi dọn sạch khu vực trước hố bắn để tì khuỷu tay trong khi ngắm bắn. Sau đó, chúng tôi dùng các thanh gỗ, áo mưa, đá, đất, các mảng cỏ (chúng tôi vừa đánh lúc trước) che chắn phía ngoài hố bắn. Cuối cùng, chúng tôi làm một lỗ thoát hiểm phía sau, được ngụy trang bằng các cành cây. Phía trong lỗ thoát hiểm, chúng tôi gài một quả mìn sát thương phòng khi có người đột nhập.

Chúng tôi ghi chép mọi diễn biến xảy ra ở khu vực mục tiêu, một ngôi nhà nằm trơ trọi với những xe chiến đấu bao bọc xung quanh. Một người tuần tra đi ngay trên đầu chúng tôi nhưng không phát hiện ra chúng tôi. Cứ sau một giờ, Casanova và tôi đổi vai bắn tỉa và chỉ thị mục tiêu cho nhau. Chúng tôi ăn uống, ngủ nghỉ và vệ sinh cá nhân ngay trong hầm. Khó khăn đối với chúng tôi là phần một người gác để người còn lại ngủ. Vào ban đêm, chúng tôi phải ra ngoài và quan sát diễn biến ở ngôi nhà mục tiêu. Qua bộ đàm, chúng tôi nhận được mệnh lệnh tiêu diệt mục tiêu bên cửa sổ: “Một người đàn ông đội mũ đỏ sẽ xuất hiện bên cửa sổ ngôi nhà vào ngày 8 tháng Mười một. Hạ gục mục tiêu.” Nếu người đàn ông đội mũ xanh xuất hiện. Không được bắn.

Trước khi bước vào nội dung này, Casanova và tôi đã chuẩn bị một chiếc thẻ ghi khoảng cách. Khi đến vị trí trú ẩn, chúng tôi thêm vào thẻ một số chi tiết như đặc điểm địa hình và các địa vật khác. Chúng tôi chia thẻ ra thành ba khu vực: A, B và C. Dùng cánh tay và bàn tay đã quy ước từ trước, Casanova ra hiệu mục tiêu của chúng tôi đã đến khu vực B, kim đồng hồ chỉ 12 giờ, cách 500m. Sau đó, Casanova chỉ vị trí ở trên thẻ.

Tôi giơ ngón cái lên hàm ý đã chỉnh thước ngắm vào mục tiêu. Điểm cắt ngang trên kính ngắm nằm đúng ngực mục tiêu đội mũ đỏ đứng bên cửa sổ. Nếu bắn trượt, tôi sẽ không tốt nghiệp. Casanova vẫn còn cơ hội để hạ gục mục tiêu nhưng tôi thì sẽ trượt. Tôi cẩn thận bóp cò. Trúng mục tiêu. Sau khi bắn,

chúng tôi bí mật rút lui ra điểm đón. Quá trình rút lui này chỉ cho phép sử dụng bản đồ và la bàn để xác định hướng, chứ không được sử dụng hệ thống định vị GPS.

Khi trở lại nhà bắn, Casanova và tôi thuyết trình lại những gì chúng tôi thấy trên đường vào và trên đường rút lui và cả thời điểm chúng tôi nhìn thấy. Chúng tôi sử dụng hình ảnh và bản phác họa địa hình trong quá trình thuyết trình. Nguy cơ bị trượt vẫn lơ lửng trên đầu chúng tôi.

Huấn luyện viên mang quân hàm Thiếu tá nói với chúng tôi: “Hai cậu đã có bài thuyết trình hoàn hảo. Hầm ẩn nấp của các cậu rất tốt. Đích thân tôi đã đi bộ phía trên hầm ẩn nấp đó. Kỹ năng thuyết trình của các cậu thật tuyệt vời.” Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Tất nhiên, kỹ năng thuyết trình của chúng tôi rất tốt bởi chúng tôi đã từng thuyết trình khi còn theo học ở Trường đào tạo các kỹ năng cơ bản dưới nước – BUD/S.

Thật không may cho các học viên bắn tỉa khác, chúng tôi là cặp thuyết trình đầu tiên và bài thuyết trình của chúng tôi lại quá tốt. Tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng và các học viên thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ không hào hứng lắm với bài thuyết trình của mình. Một cậu lính khá trẻ thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ có khả năng bắn súng tuyệt hảo nhưng người thiếu tá chỉ trích họ rất gay gắt và tôi thấy cậu lính thật đáng thương. Cả cậu và đối tác của cậu đều bị bắt sống khi đang ngủ trong khi lẽ ra một người phải thức canh cho người kia ngủ. Quá trình rút lui ra điểm đón họ cũng để bị lộ. Kỹ năng thuyết trình của họ thật tồi. Nếu một lính bắn tỉa không thể nói rõ được cái anh ta nhìn thấy, thông tin anh ta đưa ra không có giá trị. Trong giới bắn tỉa, chúng tôi gọi hai cậu lính trẻ này là “những người bóp cò giỏi”. Nhiều người có khả năng bắn súng giỏi nhưng như thế chưa đủ để trở thành lính bắn tỉa. Tất nhiên, chúng tôi không gặp lại họ ở buổi lễ trao bằng tốt nghiệp.

Sau khi tốt nghiệp, tôi trở về Đội Anh cả Đỏ nhưng chỉ có rất ít thời gian ghé thăm gia đình. Tại đơn vị, tôi nhanh chóng bắt tay vào học cách bắn súng bắn tỉa 300 Win Mag với kính ngắm Leupold. Việc chuyển từ bắn loại súng bắn tỉa cỡ nòng 7,62 ly của lính thủy đánh bộ sang loại súng Win Mag của Đội Đặc nhiệm SEAL số 6 chẳng khác gì việc chuyển từ đua xe buýt sang đua xe Ferrari.

Chúng tôi vẫn sử dụng loại kính nhìn đêm KN-250. Kính nhìn đêm khuếch đại ánh sáng có sẵn từ mặt trăng và các vì sao, chuyển hình ảnh thành màu xanh và xanh trắng thay vì màu đen trắng. Nhờ đó, lính bắn tỉa có thể nhìn được vào ban đêm.

Sau đó, chúng tôi được đưa đến Fort Bragg, Bắc Carolina học cách sử dụng súng bắn tỉa có lắp ống giảm thanh CAR-15 trong khi vẫn ngồi trên trực thăng.

Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss và tôi còn bay sang Australia tập huấn cùng đơn vị đặc biệt của Lực lượng Không quân (SAS) nước này. Chúng tôi mua vé máy bay hạng nhất và đi hàng không dân dụng từ bờ Đông nước Mỹ đến bờ Tây nước Mỹ. Sau đó, chúng tôi bay đến Hawaii. Từ Hawaii, chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Sydney ở bờ phía Đông của Australia. Từ đó, chúng tôi bay qua lục địa để đến Perth, nằm trên bờ phía Tây. Đó là chuyến bay dài nhất trong đời tôi.Tại Perth, phía ngoài trụ sở chính của đơn vị đặc biệt thuộc lực lượng Không quân Australia có một tượng đài vinh danh những binh lính của đơn vị này thiệt mạng trong quá trình huấn luyện hoặc chiến đấu. Có khoảng 40 lính được vinh danh ở đây, chủ yếu là thiệt mạng trong quá trình huấn luyện. Sau khi vào doanh trại, chúng tôi để vũ khí vào kho và họ đưa chúng tôi đi tham quan đơn vị. Buổi tối, chúng tôi nghỉ tại một khách sạn bên bờ sông Swan. Perth không nổi tiếng như Sydney, nhưng chi phí rẻ hơn và phong cảnh ở đây đẹp hơn.

Việc thành lập lực lượng SAS của Australia và Anh đều chịu ảnh hưởng của lực lượng SEAL và Delta. SAS có nhiệm vụ chống khủng bố và do thám cả trên biển, trên không và trên bộ. SEAL bắt đầu hợp tác với SAS của Australia từ thời chiến tranh Việt Nam.

Khi chúng tôi ra thao trường tập bắn, lính Australia chủ yếu được huấn luyện hạ gục các mục tiêu di chuyển nhanh ở cự ly 200m. Chúng tôi được huấn luyện hạ gục các mục tiêu cố định ở cự ly xa hơn. Lính Australia sử dụng súng bắn tỉa bán tự động còn chúng tôi sử dụng súng bắn tỉa phát một Win Mag. Khi bộ bốn mục tiêu bay qua, chúng tôi vận hành bằng tay khẩu Win Mag phát một cho mỗi mục tiêu và kết quả chúng tôi chỉ hạ gục được một nửa số mục tiêu cần tiêu diệt. Trong khi đó, lực lượng SAS liên tục bóp cò và hạ gục tất cả các mục tiêu. Chúng tôi đã rút ra bài học quý báu ở nội dung này. Tôi nhận ra rằng, trong môi trường phải cơ động nhanh như tác chiến trong thành phố, tốt nhất nên sử dụng loại súng bán tự động đối với các cự ly từ 200 đến 400m. Khẩu CAR-15 tự động của chúng tôi chỉ bắn chính xác tối đa ở cự ly 200m.

Khi chúng tôi đi ra bắn mục tiêu ở cự ly 500m và 700 m, lực lượng SAS lại rút ra bài học quý giá cho mình. Bởi khẩu súng trường bán tự động của họ không còn chính xác ở cự ly xa hơn 200 m, trong khi đó những khẩu súng trường bắn phát một của chúng tôi vẫn bảo đảm được độ chính xác cao.

Tôi thử bắn mục tiêu ở cự ly 725m. Một lính SAS gọi qua vô tuyến điện: “Phát đó, anh ta bắn có trúng không?”.

“Có.”

Tôi bắn thêm một lần nữa. “Anh ta bắn có trúng không?” “Có”.

Quá trình này lặp đi lặp lại thêm một vài lần nữa và kết quả đều giống những lần trước đó. Tay lính này lắc đầu thè lưỡi tỏ vẻ thán phục. Tối hôm đó, chúng tôi đến một quán bar, cậu lính này mua cho tôi một chai bia Red Back. Đây là loại bia làm từ lúa mạch của Australia. Loại bia này được đặt tên theo tên loài nhện độc ở Australia. Nhện cái ăn thịt nhện đực sau khi giao phối. Loài nhện này còn cắn người và tiêm nọc độc gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương của người. Đây là loại bia được lực lượng SAS rất ưa dùng. “Một lính bắn tỉa cừ khôi, anh bạn”, anh ta nói với tôi trong sự ngưỡng mộ.

Vài ngày sau, mang theo súng CAR-15, chúng tôi đi thám hiểm vùng xa xôi hẻo lánh ở Australia khoảng 10 ngày. Một đêm, tại một trang trại rộng 8.000 héc ta, chúng tôi leo lên xe tấn công Rang Rover của lực lượng SAS. Mỗi chiếc xe có một chiếc pít tông đặc biệt ở phía trước lưới tản nhiệt. Ở đó, người ta gắn một gói thuốc nổ để sẵn sàng cho nổ tung chiếc cửa khi cần. Sau đó, các đặc nhiệm có thể nhảy ra khỏi xe và tấn công tòa nhà − một cách thức tấn công thật ấn tượng. Chiếc xe Rang Rover còn có thể phụt khói ra phía sau để cản đối tượng đuổi theo trên đường rút chạy. Trong quá trình lái xe, chúng tôi bắn các mục tiêu di động: các con chuột túi. Chuột túi thường ăn cỏ trên vùng đất ở các nông trang, đe dọa sẽ làm hỏng cây trồng và chỉ để lại rất ít thức ăn cho gia súc và còn lây lan bệnh dịch. Ngược lại với hình ảnh một chú chuột túi nhồi bông, đặc biệt khi bị chọc tức hoặc bị dồn vào đường cùng, một con chuột túi hoang dã có thể vồ người bằng bộ móng vuốt trước và phanh bụng kẻ xấu số bằng bộ móng sau cứng chắc.

Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss và tôi đều sử dụng thiết bị cảm quang nhìn đêm và thiết bị laze gắn trên khẩu CAR-15. Bắn mục tiêu di động trên xe đang chạy vô cùng khó khăn. Tôi di tia laze vào những con chuột túi. Trên xe chở các đặc nhiệm SEAL, súng của chúng tôi nổ pằng-pằng-pằng-pằng- pằng-pằng.

Bốn lính thuộc lực lượng SAS đi trên xe của họ chỉ nổ có một phát súng duy nhất: Pằng. Cứ mỗi lần chúng tôi bắn sáu phát, phía lính Australia chỉ bắn một phát.Lực lượng SAS nghĩ rằng chúng tôi đã quá lãng phí đạn khi bắn sáu viên đạn cho một con chuột túi. Chỉ đến khi đi kiểm tra số chuột túi chết và khi họ nhìn thấy xác chuột túi nằm ngổn ngang quanh chúng tôi, họ mới hiểu số chuột túi chúng tôi bắn chết nhiều gấp sáu lần họ. Họ thốt lên: “Chà, các anh có các thiết bị hỗ trợ xịn thật.”

Ngày hôm sau, chủ trang trại đi ra và nhìn thấy xác chết của đám chuột túi, họ tỏ vẻ biết ơn: “Các anh đã làm một công việc vô cùng hữu ích. Cám ơn các anh!”

Trở về doanh trại, chúng tôi ngồi trong một phòng họp khang trang. Các đặc nhiệm rót cho chúng tôi một loại rượu dán nhãn của Trung đoàn SAS lấy từ dưới hầm rượu lên. Khi đã ngà ngà, một người lính thuộc lực lượng SAS nói với chúng tôi anh ta từng tham gia cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất với nhiệm vụ giống đơn vị Bravo 20 thuộc lực lượng SAS của Anh. Nhóm Bravo 20 là một nhóm gồm tám người được phái đến hoạt động trong lãnh thổ đối phương, có nhiệm vụ phát hiện, báo cáo các vị trí đồn trú của đối phương, phá hủy các mục tiêu như các tuyến thông tin liên lạc cáp quang. Ngày thứ hai của chiến dịch, một người nông dân lái chiếc xe ủi đã phát hiện ra họ. Nhóm này đã để cho người nông dân đi thay vì bắt giữ hay giết chết ông ta.

Một vài ngày sau, nhóm Bravo 20 sống sót sau một vài cuộc giao tranh trước khi tan rã. Lực lượng dân quân của Iraq giết chết Robert Consiglio. Vincent Phillips và Steven Lane chết vì bị hạ thân nhiệt. Binh lính Iraq bắt giữ Andy McNab, Ian Pring, Malcolm MacGown và Mike Coburn (lực lượng SAS của New Zealand), người sau này được trả tự do. Chris Ryan lẩn trốn quân Iraq khoảng tám ngày, đi bộ chặng đường hơn 300 km để đến Syria. Sau 30 phút nói chuyện, các đặc nhiệm SAS rơm rớm nước mắt. Thông điệp họ gửi tới chúng tôi là “Nếu bạn bị lộ, tốt nhất hãy giết hoặc bắt giữ người đã nhìn thấy bạn chứ đừng để người đó đi.”

Binh lính SAS đối xử với chúng tôi rất tốt. Họ dạy chúng tôi cách sử dụng một số trang thiết bị và chúng tôi cũng làm vậy với họ. Chúng tôi đều tiến bộ hơn nhiều sau đợt huấn luyện này. Tướng George Patton từng nói: “Chuẩn bị kỹ lưỡng chính là tự mang lại may mắn cho mình.”

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Thủ Tiêu Trong Đêm

Đặng Chí Bình

Bài 36

Mụ Hoa đưa tôi về xà lim. Ngoài trời âm u xám xịt, chắc đang mưa, nhưng lòng tôi còn đen tối om. Nhớ lại, trên đường về, nhìn hình ảnh một con chim sẻ ủ rũ một mình, đang đứng nép tránh mưa rét trong mái hiên nhà bếp, tôi liên tưởng tới những vụ thủ tiêu của Cộng Sản trước đây: Hình ảnh hai chiếc thây, một của ông trùm và một của thanh niên Công Giáo một họ đạo. Bị trói giặt cánh khuỷu bập bềnh, rữa nát trôi trên sông Đáy ngày nào năm 1952 vẫn còn rõ nét trong trí ôi. Hình ảnh Đại Tá Hoàng Thụy Năm, Trưởng đoàn quân sự Việt Nam Cộng Hòa, giao thiệp với Hà Nội theo hội nghị Genève. Cũng bị trói giặt cánh khuỷu, lưỡi bị cắt, đầu và đầu gối bị những chiếc đanh 10 phân đóng ngập, bồng bềnh trôi trên sông Đồng Nai, gần cầu Bình Lợi năm xưa cũng chưa phai mờ… Đó là những hình ảnh tôi đã trông thấy. Còn biết bao nhiêu những vụ thủ tiêu dã man tán khốc của lũ Cộng Sản khát máu đồng bào mà tôi đã nghe.

Bây giờ, tôi trong tình thế này, không còn cách nào khác, cũng vui lòng theo các bậc Cha Anh. Trong giấc ngủ chập chờn đêm khuya vắng lặng, tôi thấy tụi nó hai người, mặc quần áo đen, bịt mặt, trói tay và chân tôi đem ra cạnh sông Hồng, chỗ gần Phà Đen. Chúng đâm tôi hơn 10 nhát dao, rồi đẩy tôi xuống sông. Tôi cố vủng vẫy vì ngạt thở, tìm cách hất đầu mình lên khỏi mặt nước. Tôi giật mình tỉnh dậy. Đó chỉ là một cơn ác mộng! Trời lạnh mà tôi cũng toát mồ hôi ra.

Hai ngày trôi qua trong đợi chờ lo lắng, thấp thỏm, vẫn không có gì xảy ra. Sáng ngày thứ 3, lão Bằng mắt lồi lại vào gọi tôi đi cung. Khi ra tới phòng cung, tôi thấy chỉ có một mình Thành, bộ mắt buồn xo, đỏ rừ, như mới uống rượu. Nét mặt của Thành hôm nay làm tôi liên tưởng đến Cao Đình Tiệu, cũng một tuổi, báo cho tôi biết sẽ bị An Ninh Quân Đội bắt và tra tấn khai thác ở 365 Phú Lâm.

Thành nói, giọng rười rượi buồn:

– Bình ngồi đi!

Tôi ngồi, Thành vẫn im lặng. Những phút im lặng, nặng nề trôi. Thành vẫn nhìn ra phía cửa sổ, rồi như đắn đo, ngập ngừng:

– Lẽ ra tôi không thể gặp Bình, nhưng tôi cố gắng để gặp Bình. Một lần nữa. Từ ngày tôi và một số đồng chí trong cơ quan có trách nhiệm hỏi cung Bình, không hiểu sao dần dà tôi thấy lòng mến Bình. Nhiều lúc, tôi coi Bình như em trai tôi, một người thanh niên bị bắt còn quá trẻ, chưa được biết gì về cuộc đời. Hôm nay, tự đáy lòng tôi, tôi nói với Bình thế này: Bình hãy nghe tôi, dù Bình muốn làm gì, Bình muốn như thế nào đó theo quan điểm của Bình, tôi không có ý kiến. Nhưng, tôi muốn nói với Bình là, tất cả, hãy cần giữ lấy cái đầu đã. Đó mới là người khôn! Chết rồi, vô nghĩa hết, cái gì cũng không làm được. Chết, thiệt thân thôi! Bất cứ muốn làm cái gì, Bình phải tồn tại đã. Bình còn quá trẻ, nên chỉ nhìn cuộc đời từ một góc cạnh nào đó, trong khi cuộc đời muôn mặt. Tôi thuơng Bình, Bình giúp tôi, tôi giúp Bình, tôi sẽ bảo đảm rất tốt cho Bình.

Một niềm xúc động len lén vào lòng tôi. Dù ở một khía cạnh nào đó, những lời nói của Thành cũng có những nét thực tế. Tôi xúc động ra mặt:

– Thưa ông, tôi rất biết ơn ông. Phải nói rằng trong quá trình, tôi cũng cảm nhận thấy tình ông đối với tôi. Nhưng, bây giờ…Tôi giúp ông được gì?…..

Y xua tay, gạt ngang:

– Không! Không, Bình đừng nói gì với tôi bây giờ cả. Tôi muốn Bình về đêm nay, suy nghĩ kỹ, cân nhắc mọi mặt cho thấu đáo. Trong ngày mai, nếu Bình muốn gặp tôi, hãy báo cáo với quản giáo trực xà lim là “Muốn xin gặp ông Thành”. Tôi sẽ chờ Bình, nếu không thấy, có nghĩa là Bình không muốn giúp tôi, và lúc đó, tôi cũng đành mặc cho cuộc đời, vì khả năng và quyền hạn của tôi chỉ có một góc nhỏ.

Y đứng dậy, ra ý bảo tôi về. Trên đường về xà lim, lòng tôi đầy vơi bao nỗi niềm. Tôi hiểu đây là những vấn đề sống và chết. Chết thì danh dự, mà sống thì cúi đầu. Tôi miên man nghĩ đến bao tấm gương cương cường, bất khuất của các bậc cha ông trong lịch sử. Những nhân vật hèn hạ, hại bạn, hại thầy trong “Tam Quốc Chí”, trong sách báo, trong phim ảnh…Người con trai sống ở đời, phải có tam cương, ngũ thường, phải có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Tôi nghĩ đến Công Giáo, đến Chúa, đến các linh mục. Cha Quỳnh và bao nhiêu người trong Cục đã đặt niềm tin nơi tôi.

Qua thái độ hỏi cung, từ lời nói, từ cử chỉ, từ hiện tượng, chúng mới chỉ nghi tôi, chứ chưa nắm được gì về tôi cả. Nếu chúng đã biết rõ về tôi, và trong hoàn cảnh này, tôi phải khai ra?

Tôi nghĩ tới hai trường hợp khác hẳn nhau mà lại rất liên quan đến nhau: Chúng biết rồi mà mình khai, đã còn có chỗ hèn, chỗ kém. Huống chi, chúng chưa biết gì, mình đã khai, vừa hèn hạ, lại còn là một tên phản thầy lừa bạn nữa, chưa nói gì về lý tưởng. Ôi, là một tên lừa thầy phản bạn, thì làm sao tôi sống? Hơn nữa, dù chưa có nhiều kinh nghiệm về Cộng Sản lắm, tôi cũng hiểu là nếu chúng đã định giết, có khai ra, lại bị chúng hành hạ khai thác một thời gian, rồi cũng sẽ bị giết. Bao nhiêu điều tai nghe mắt thấy, kết hợp với nguyên tắc tổ chức của Cộng Sản.Tôi biết, chúng không bao giờ tin dùng một người nào, nếu người đó không phải tự tay chúng đào tạo. Có chăng, vì lợi ích nhất thời nào đó, chúng chũng chỉ dùng có tính cách giai đoạn, rồi không tiêu diệt, cũng tìm cách phế thải sau này.

Còn với tên Thành! Nó là ai? Là một tên Cộng Sản. Nó có nhiệm vụ gì? Khai thác tôi.

Điều này rõ ràng như ban ngày. Với một tên Cộng Sản, bằng mọi cách, mọi giá, dù có phải kết nghĩa anh em, dù có phải viết giấy cam kết sẽ không bỏ tù anh, nó cũng chỉ quanh một mục đích hoàn thành nhiệm vụ khai thác; rồi sau đó, có hàng trăm ngàn lý do để xé lời cam kết, bỏ nghĩa anh em.

Bao nhiêu suy nghĩ, cân nhắc, đắn đo, cuối cùng chỉ làm cho tôi nâng cao quyết tâm “Cứ đi theo con đường mình đã đi!”. Vì vậy, ngày hôm sau, tôi đắp chăn nằm ngủ để bù vào một đêm thao thức.

Mấy ngày im vắng trôi qua, nhưng trong lòng tôi lại là cả một trận cuồng phong. Thấp thỏm, lo lắng, đợi chờ, không biết cái gì rồi sẽ đến với mình. Trời đã vào Xuân, nhưng trong ngục tối này, nàng Xuân cũng sợ, nên chẳng thấy dáng nàng đâu. Ba ngày, rồi năm ngày vẫn lặng lẽ trôi đi. Nỗi ưu tư trong lòng tôi cũng xẹp xuống dần.

Đêm nay, không hiểu sao mà tôi cứ bồn chồn trong lòng, không ngủ được. Như có linh lính về một điều chẳng lành sắp xẩy đến cho mình, tôi cứ xốn xang quằn quại mãi không yên, lịch kịch dậy đi giải mấy lần. Có lẽ phải khoảng quá nửa đêm, tôi mới cố đi vào được giấc ngủ…

Tôi đang mê mệt với giấc ngủ muộn, bỗng nghe thấy tiếng ầm ầm. Tôi vội vàng hất chăn che đầu xuống, nhìn ra. Cửa buồng đã mở, lố nhố ba, bốn người. Toàn người lạ mặt, lại còn thoáng thấy bóng người phía bên ngoài cửa nữa. Thái độ của họ rất lạnh lùng, ai cũng súng ngắn cạnh sườn. Một người cầm chăn tôi kéo mạnh ra, vất sang sàn bên cạnh, quát:

– Bò dậy!

Tôi hoang mang chưa kịp phản xạ để hiểu chuyện gì, thì một giọng miền Trung nặng, rắn đanh:

– Chúng tôi có lệnh đưa anh đi! Hãy chấp hành!

Chưa mở cùm, một tên đã khóa hai tay tôi ra phía sau. Một tên khác, khóa lại xích phía trên cánh tay tôi. Rồi chúng lấy một miếng vải đen dài bịt kín mắt tôi. Tiếng mở chốt cùm, tiếng nhấc cùm. Hai tên xốc hai bên cánh tay tôi, quát:

– Đứng dậy!

Tôi hoang mang tột cùng. Tôi đã đoán trước số phận mình cũng phải tới lúc, nhưng tôi không hình dung nổi cảnh này. Vì nghĩ là không sớm như vậy, nghĩa là chúng còn phải khảo tra tôi một thời gian nữa đã. Vì vậy, tôi vẫn bị bất ngờ. Hơn nữa, trước đây suy nghĩ thì chuyện còn là tưởng tượng, bây giờ là thực tế. Người tôi rủn ra, lòng tôi tái tê, hình như chúng xách người tôi đi, chứ chân tôi như vật vờ trên mặt đất. Mãi tới lúc này tôi mới thấy là dưới chân mình không có đôi dép. Như vậy, chúng không cho tôi đi dép nữa.

Chân tôi lệt xệt bước cao, bước thấp. Có lẽ ra cổng Hỏa Lò. Đang đi chúng dừng lại, có tiếng thì thào chúng nó nói chuyện gì đó với nhau. Rồi tiếng xe “Commanca” rồ máy. Chúng đẩy, phải nói là chúng xách tôi lên xe, vì lúc này chân tôi nhẹ tênh chỉ có da bọc xương. Xe chạy, có lẽ ra khỏi cổng, người tôi lạng qua phía trái, vậy xe quẹo về bên phải.

Trên đường im vắng, chỉ có tiếng động cơ của chiếc xe tôi đang ngồi. Không ai nói với tôi một lời. Vì quá đột ngột nên trí óc tôi cũng đơ ra, chỉ còn nghĩ mình sắp chết. Tôi không còn tinh thần để kịp hỏi chúng đưa tôi đi đâu. Hồn tôi lãng đãng như không còn trong người tôi.

Chừng 20 phút, có lẽ bây giờ xe đã đi ra ngoài thành phố, bởi vì xe đi thẳng và gió lạnh thêm. Xe đi chừng nửa tiếng nữa thì dừng lại. Hai tên xách mạnh hai cánh tay tôi. Một tiếng quát lạnh băng:

– Đi xuống!

Tôi đứng lên, rồi chúng phải nhấc tôi xuống. Chân tôi đạp xuống đất có cỏ ướt. Chúng kéo tôi đi, chân tôi vẫn lướt thướt trên cỏ và đất gập ghềnh. Tai tôi nghe tiếng ễnh ương và tiếng côn trùng rên rỉ. Như thế, chung quanh đây là ruộng đồng. Đi chừng 10 phút, chúng dừng lại. Một giọng en ẻn miền Bắc đột nhiên nổi lên:

– Báo cáo đồng chí, đã đào xong!

Tiếng miền Trung nói nhỏ hơn:

– Có mang vôi không hỉ?

Tiếng báo cáo “Có” nghe lẫn vào tiếng gió, có lẽ vì đã đi xa. Chúng kéo xềnh xệch tôi đi, buộc hai tay vào một chiếc cột. Tay tôi chạm, như là một cái cây vì còn cả vỏ. Mấy phút im lặng. Một giọng miền Trung chắc nịch:- Tên Bình nghe đây: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc. Bộ Công An. Tên Đặng Chí Bình, 24 tuổi, quê quán… Can tội gián điệp làm tay sai cho Mỹ Diệm, đã xâm nhập miền Bắc phá hoại cách mạng. Y vô cùng ngoan cố, vẫn kiên trì một lòng bao che những âm mưu hại dân, hại nước, không chịu khai báo sự thật. Nay quyết định xử tử. Theo truyền thống nhân đạo của cách mạng, Bộ cho phép tội phạm 5 phút để suy nghĩ, tự cứu mạng sống của mình, bằng cách khẩn cấp xin khai báo lại sự thật. Bộ Công An Nhân Dân. Ngày 27 tháng 01 năm 1963…”

Đêm thâu vắng lặng, chỉ có tiếng gió lào xào lẫn với tiếng nỉ non re re re… của côn trùng. Tiếng lên đạn của mấy khẩu CKC nghe rõ mồn một.

Giọng miền Trung lại nổi lên dõng dạc:

– Tên Bình! Bây giờ giữa sống và chết, cho mi 5 phút… Bắt đầu!

Tai tôi ù lên. Đầu tôi như đông đặc lại. Tim tôi như không đập nữa. Tôi nghe như có tiếng o-o kêu ran ran chung quanh. Một thoáng hình ảnh mẹ tôi, một thoáng ân hận về việc Trí. Hình ảnh mẹ tôi, hình ảnh Trí hẫng lên, loãng dần. Trời vào Xuân còn lạnh buốt, vậy mà ở sống lưng tôi như có giòng nước chảy. Hai bàn tay tôi cũng ướt đẫm mồ hôi. Một tiếng quát rổn lên, tim tôi như thắt lại:

– Bốn phút rồi; còn một phút nữa!

Tiếng gì đó kêu ran trong đầu, tôi chờ, tôi lắng nghe mấy tiếng nổ. Người tôi tê đi như không còn cảm giác. Chân tôi như muốn khuỵu xuống, nếu không có cái cột chắc tôi không thể đứng được.

Tôi thấy như hết hơi, không thở được nữa. Chết! Một tiếng “Chấp hành!” dội lên. Tôi tưởng là tiếng súng nổ. Tôi thấy cắn, buốt ở hai bên ngực. Bỗng dưng im lặng, một phút, rồi hai phút, tôi cố lắng nghe, dường như có tiếng thì thào…?! Có người đến cởi dây trói buộc tôi vào cây cọc ra, rồi một giọng người Bắc vang lên:

– Số anh còn sống ít ngày nữa, có lệnh hoãn…..

Chúng lại xốc nách tôi ra xe. Người tôi như không hồn, mềm nhũn ra, mặc chúng lôi kéo, đẩy đưa tôi đi. Trên đường về, trong lúc ngồi trên xe, một giọng nói quen quen, nhưng tôi không thể xác định được là ai: “Vì một sự việc đặc biệt, anh còn được sống thêm ít ngày nữa…” Hồn tôi vẫn bồng bềnh, tôi không nói một lời.

Lại về xà lim. Chúng cùm chân tôi xong, mới mở khóa trên, khóa dưới tay tôi. Cuối cùng chúng mới cởi khăn bịt mắt của tôi. Mắt tôi hoa lên với đầy những vòng tròn to nhỏ trước mắt. Tôi chỉ thấy lố nhố mấy người. Tới khi tôi nhìn rõ lại cảnh vật, chúng đã ra ngoài và đóng cửa lại rồi.

Trời vẫn chưa sáng. Tôi cố lựa chân đứng xuống đất, để với lấy hai cái chăn chúng đã ném ở sàn bên. Thấy lành lạnh ở dưới đùi, tôi sờ quần, thấy ướt. Như vậy, đã đái ra quần mà tôi không biết.

Mệt và căng thẳng, tôi nằm xuống đắp chăn. Hồn tôi vẫn lềnh bềnh như đang còn trong một cơn ác mộng. Như vừa từ cõi chết trở về. Tự nhiên, tôi thò tay vào trong áo sờ hai bên ngực. Một nỗi buồn phảng phất, vướng vít trong óc tôi. Sự việc vừa xẩy ra, tôi thấy mình vẫn chỉ là một tên hèn, sợ… chết.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Phùng Văn Trí, đòn phép “phản gián”?

Đặng Chí Bình

Bài 35

Kể từ ngày tôi lên gặp Nghĩa về, trời ngày càng lạnh hơn. Với một chiếc chiếu con, một chăn đơn, hai bộ quần áo vải sọc cũ, không một đêm nào tôi ngủ được. Cái sàn xi măng lạnh buốt như nước đá. Ngón chân ngón tay càng sưng buốt, nhức suốt đêm ngày. Chỉ ban ngày, mệt quá tôi mới thiếp đi được một lúc. Ngay hàng ngày đi ra đổ thùng, rửa mặt, tôi cũng không ra được nữa. Chân tôi không bước đi được. Mỗi lần bước xuống như có hàng chục cái kim cắm ngược vào chân. Lúc này, tôi nghĩ là mình sắp chết. Một đêm nào đó hay bất cứ lúc nào đó, tôi sẽ nằm luôn, và không còn biết một chuyện gì về cuộc đời này nữa.

Tôi vẫn không sợ chết, trong cảnh đau đớn như thế này tôi cũng mong tử thần đến với tôi càng sớm càng hay, vì chết là hết mọi đớn đau, chết là giải thoát mọi cực hình của một kiếp tù cùng khổ. Suốt ngày đêm, lúc nào tôi cũng nghĩ đến những người đã chết. Từ những ngưòi thân thuộc như ông tôi, bà tôi, bác Hạnh anh ruột của bố tôi chết năm 1948; đến một thằng bạn thân lúc còn nhỏ chết vì lạc đạn của thực dân Pháp…Tôi nghĩ đến các ngôi mộ ở nghĩa trang, những nấm mồ hoang ở ven đường mà tôi đã nhìn thấy…

Nhưng, bây giờ mà tôi chết đi, chắc chẳng có những ngôi mồ như thế, sẽ chỉ là một cái bao tải hay một chiếc chiếu rách vùi nông ở một chỗ nào đó, rồi mưa gió và năm tháng sẽ xóa đi, không có ai và chẳng còn ai nghĩ đến tôi nữa, tôi sẽ biến tan vào cõi mờ mịt hư vô.

Có lẽ tên Nhiễm trực xà lim cũng nhìn thấy tôi có thể chết, nên y báo cáo lên trên thế nào đó, và ở trên, chúng thấy còn cần ở tôi một số sự việc, chưa thể để cho chết. Nên một hôm, tên Nhiễm mở cửa đưa vào cho tôi một cái chăn nữa và một cái trấn thủ cũng may vải sọc của tù.

Ngay từ hàng tháng trước, trên đường đi cung cũng như khi về, đôi khi tôi thấy một vài người tù nữ cũng như nam có mặc áo trấn thủ. Tôi nghĩ là áo tư, hoặc họ có tiêu chuẩn đặc biệt nào đó. Thế mới biết chúng ác thật! Chứng tỏ, chúng chủ trương lấy cả cái lạnh rét, của trời đất để hành con người. Cho tới lúc tôi gần chết, chúng chưa muốn tôi chết ngay, mới phát cho áo lạnh của tù. Ngoài ra, y tá còn xách lên cho tôi một xô nước nóng pha muối, bảo tôi ngồi trên sàn, cúi xuống ngâm tay chân vào. Tên Nhiễm vào tuyên bố, cho tôi nghỉ cùm hai ngày để y tá chữa chân. Tôi tưởng nó tha cùm tôi, nhưng thôi, hai ngày cũng được. Mỗi ngày hai lần, y tá xách xô nước muối cho tôi ngâm chân tay.

Vừa có áo ấm lại thêm chăn, chân tay được ngâm nước muối, đêm hôm ấy tôi ngủ một giấc ngon lành. Ngay ngày hôm sau, chân tay đỡ nhức hẳn. Tôi đã có thể ra đổ bô, mặc dầu đi chưa vững. Thật là lạ, mấy hôm đầu có thêm chăn, thêm áo trấn thủ, thấy dễ chịu, ấm hẳn lên. Thế mà, mấy ngày sau lại vẫn thấy lạnh dữ. Đêm nằm, một chiếc chăn gấp đôi, như vậy là 3 lượt chăn, vậy mà nằm trong chăn vẫn run. Sờ tay chân, đùi, vai vẫn lạnh giá, lưng vẫn buốt như áp vào cây nước đá.

Tuy chân tay được ngâm muối hai ngày đã đỡ, nhưng bây giờ, vẫn còn sưng, và vẫn ngứa vẫn nhức. Tại sao lạ vậy? Hay vì trời càng lạnh thêm? Nằm ở đây, thực âm u tịch mịch, nếu không gọi cung, chẳng biết ngày tháng thế nào, bên ngoài ra sao, mù tịt. Hôm nay, có lẽ đã gần cuối tháng 12, không biết là 24, hay 25. Tôi nhớ đến Noel năm ngoái, tôi với anh bạn thân Nguyễn Hữu Lợi, 2 đứa đóng bộ đèo nhau Vespa chạy tung trời Sài Gòn. Thế mà năm nay, hẳn các bạn bè ở phía bên trời ấy, đang nhởn nhơ bay lượn khắp phố phường, để khoe hương sắc của một thời hoa mộng. Riêng mình tôi tách ra, đi một con đường gian khổ, lầm than trong ngục tối âm u.

Sáng hôm sau, mụ Thơ vào gọi tôi đi cung sớm. Hàng tuần lễ không đi cung, không hiểu bữa nay có vấn đề gì? Khi còn nằm trong tay chúng, và vẫn trong giai đoạn điều tra khai thác, trong lòng tôi vẫn luôn luôn lo lắng. Biết đâu, một ngày nào đó, chúng có những đường dây của cô gái nhận tài liệu “M” hoạt động bị chúng vồ được. Rồi họ tả lại người đã trao tài liệu cho họ, thời gian họ gặp gỡ… Như vậy thì thật là không còn gì để nói nữa về đời tôi.

Ở phòng cung hôm nay là tên Thành và Nhuận. Sau khi chỉ ghế cho tôi ngồi, dăm ba câu hỏi xã giao về sức khỏe, tên Nhuận vừa giở cặp hồ sơ, vừa gườm gườm nhìn tôi:

– Hôm nay, anh khai lại cho rõ ràng giai đoạn chúng huấn luyện anh về các loại mực bí mật, loại thông thường và loại đặc!

Tôi lại phải ngồi trình bày chi tiết, cách sử dụng các loại thông thường như: Chanh, hành, phèn chua, muối, nước tiểu, v.v… phát hiện bằng sức nóng. Loại đặc biệt, gồm hai ba loại như thuốc viên, máu, v.v…

Gần 2 tiếng đồng hồ, thằng thì ghi chép, thằng thì hỏi. Bổng nhiên, chiếc cửa thông sang buồng bên cạnh mở ra. Tôi nhìn sang, tim tôi bóp lại như rỏ máu: Trí! Phùng Văn Trí!

Trời ơi! Sao Trí lại bị bắt ở đây? Trông anh xanh xao, nhìn tôi bằng đôi mắt đại tang, trắng dã. Lòng tôi bấn loạn, nhìn theo. Mãi cho tới khi một tên công an dẫn Trí ra lối cửa sau, Trí còn ngoái lại nhìn tôi. Bao nhiêu nỗi niềm thắc mắc, băn khoăn cuồn cuộn dâng đầy trong óc, trong tim tiếp tục rỏ máu của tôi. Chúng có hỏi gì đó tôi cũng không biết nữa. Lòng tôi như bị vặn xé, dứt rời. Trí vì tôi mà bị bắt ư! Hình ảnh bố mẹ Trí già lão, hiền lành! Hình ảnh vợ con Trí nhỏ dại, lam lũ quê mùa! Một cơn đau ập vào lòng tôi, giầy vò cấu xé trái tim đầy ắp khổ đau, ân hận.

Đời tôi thà tan tành, thân tôi thà bị cắt, chặr từng mảnh, tôi cũng không đau khổ quặn thắt bằng “Trí vì tôi mà bị bắt”. Cái đau này là cái đau trong tim, trong óc, chết đi, kiếp khác vẫn còn đau. Tôi quay lại Nhuận và Thành, gào lên:

– Tôi xin lấy danh dự thiêng liêng của cả đời tôi cam đoan rằng: Anh Trí không hề dính dáng gì với tôi cả! Anh và bố mẹ anh rất quê mùa hiền lành. Tôi chỉ gặp anh hoàn toàn trên đường đi, như tôi đã khai báo và viết nhiều lần trước đây!

Tên Nhuận cười khẩy:

– Anh điên à! Trí bị bắt vì tội khác chứ có phải vì anh đâu!

Tôi không tin được. Tôi hiểu, chúng thấy tôi đau đớn, điên rồ nên chúng nói vậy để trấn an tôi. Chúng tiếp tục truy hỏi tôi nữa. Tôi không còn sợ nữa, tôi nói thẳng:

– Xin các ông giết tôi đi. Tôi sống mà đau về luơng tâm, cũng héo đi mà chết. Bây giờ các ông đừng hỏi tôi nữa. Tôi không còn nhớ cái gì, biết cái gì nữa, vì hình ảnh Trí như vậy đã tràn ắp lòng tôi rồi.

Thấy tôi như vậy, chúng rất buồn cười, chúng cứ nhìn nhau cười mãi. Cuối cùng tên Nhuận nghiêm mặt, đập bàn:

– Anh bị bắt vì tội của anh! Còn Trí bị bắt vì tội khác! Tôi cấm anh không được nói đến Trí nữa!

Sự đời nhiều lúc buồn cười thật. Mục đích của chúng là cho tôi và Trí thấy mặt nhau, để hai bên bị áp lực nhau. Chúng cần mỗi người phải nói với chúng về nhau. Thế mà bây giờ chúng lại cấm tôi không được nói về Trí. Ngược lại, lẽ ra (ý gian) tôi càng cố tránh không nói tới Trí mới hợp lý. Nhưng ở đây, mặc chúng cấm, mặc chúng đập bàn la hét, tôi vẫn lải nhải nói về Trí, với nỗi sầu héo không thiết gì đến đời sống của mình nữa. Cuối cùng, chúng cho tôi về với lời đe dọa:

– Ngày mai anh lên đây tiếp tục khai báo!

Hôm ấy tôi về xà lim, ngồi ăn cơm mà nuốt không nổi. Hình ảnh Trí lúc sáng cứ lởn vởn trong đầu tôi. Đêm hôm đó, tôi cũng không ngủ được, cứ ngồi suy nghĩ về Trí. Làm thế nào để cứu Trí đây? Nói gì chúng cũng không tin. Đời mình bây giờ trước sau cũng chết, dù có phải vì cứu Trí mà chết sớm hơn, tôi cũng vẫn sẵn sàng. Vì vấn đề lương tâm, tôi không còn tính toán thiệt hại hay lợi cho đời tôi nữa. Nếu tôi bị thiệt hại, mà minh oan được cho Trí, tôi làm liền.

Tôi suy nghĩ, một vài ngày tới, tùy theo tình hình, tôi sẽ nói thẳng với chúng là tôi đã biết có người theo dõi rồi, nên tôi không dại gì đến chỗ Trí, nếu Trí thực sự là người có liên quan đến màng lưới hoạt động của tôi. Nhưng, nếu như thế, cả một vấn đề lớn sẽ đổ bể hết. Tất cả những khai báo, tất cả những công trình khôn khéo đánh lừa chúng trong suốt 6 tháng nay, chúng sẽ không tin nữa. Thật là một vấn đề sinh tử cam go. Tôi nát đầu! Tôi vẫn hiểu, người làm việc lớn đôi khi phải hy sinh những cái nhỏ một cách phũ phàng. Nhưng, lúc này tôi đâu đã có kinh nghiệm, hơn nữa, bản chất con người tôi, thà chịu thiệt thòi, bỏ lỡ thời cơ tiến thủ còn hơn tình cảm, danh dự bị xâm phạm.

(Kính thưa quý vị độc giả: Sự việc xẩy ra đã 40 năm rồi! Vì phải tái bản, tôi đang ngồi đánh máy lại tập hồi ký Thép Đen này. Đến đoạn anh Phùng Văn Trí đây, lòng tôi càng lúc càng dâng lên tran ắp nổi niềm đầy vơi, ngang dọc, ngược xuôi. Ngoại lệ của hồi ký! Là tác giả, xin phép quý vị, tôi được nói lên một tâm ý: “Một người có những hành xử như đoạn này, thất bại là đúng! Và, suốt đời người đó cũng chẳng làm cái gì nên”.

Boston Dec. 2002).

Hôm sau, chúng lại gọi tôi ra. Lần này là Đức và Nhuận. Tôi vừa mới bước chân vào phòng, chúng đã ầm ầm nổi trận lôi đình:

– Anh là một thằng hoàn toàn nói láo. Nhiệm vụ anh ra miền Bắc 25 ngày là để anh theo dõi sư đoàn 308 như anh đã khai báo. Vậy, chúng nó dậy anh về các loại mực bí mật để làm gì? Chúng tôi biết, anh ra đây với nhiệm vụ khác! Anh không chịu khai báo sự thật, đợi chúng tôi phải đưa nhân chứng cụ thể ra, chắc chắn anh không sống được.

Tha hồ cho chúng dọa nạt, chửi bới, tôi cứ khăng khăng nói là tôi đã hoàn toàn khai báo sự thật hết cả rồi. Mặt khác, tôi vẫn nói về Trí. Tôi nói thẳng là trong lúc này, ngày cũng như đêm, lúc nào tôi cũng nghĩ đến anh Trí, nghĩ đến bố mẹ, vợ con anh. Lương tâm tôi bị dày vò, xin các ông hãy minh xét cho anh Trí, v.v…

Buổi chiều, chúng lại tiếp tục truy hỏi tôi về điểm mực bí mật ấy mãi. Tôi trả lời chúng:

– Tôi không biết vì sao tên Hòa lại dạy tôi như vậy. Tôi nghĩ đây là bài học cơ bản, vỡ lòng cho tất cả mọi người mới vào ngành, để hoạt động tình báo mà thôi. Rồi sau đó, tùy theo công tác gì, sẽ huấn luyện thêm riêng về công tác đó.

Nghĩ lại, tôi cũng dại thật. Biết thế, trước đấy tôi không nên khai gì về loại mực bí mật và viết thư mật cả. Chúng đã suy ra khá hợp lý rằng: Để gây mạng lưới hoạt động thì mới cần học những món ấy!

Nhưng trong thực tế, tháng đầu. Cẩn đã huấn luyện tôi về môn đó, cũng nói đó là bài học cơ bản của một người hoạt động tình báo, như đi học thì mới đầu phải học vần ABC vậy.

Gần về chiều, tên Nhuận mở cặp rút ra một tờ giấy viết tay, cùng một loại giấy tô vẫn khai cung, đưa cho tôi. Tôi nhìn thoáng cũng biết là nét chữ của anh Trí. Tôi đọc, chắc chúng đang theo dõi nét mặt của tôi. Đây là tờ giấy một đoạn, anh Trí đã khai. Trong đó, anh Trí bị bắt về tội vượt biên giới theo lối Lào để định trốn về Thái Lan.

Lương tâm tôi như được vuốt ve, xoa nắn sau những ngày quặn thắt, dày vò. Tuy vậy, một ý khác đã nổi lên trong óc tôi là dù sao, chúng vẫn nghi anh Trí có vấn đề với tôi, chứng cớ là chúng cố tình để anh Trí và tôi nhìn thấy nhau, để trộ anh Trí, anh không thể che dấu được nữa, vì đã bắt được tôi rồi! Cũng có thể chúng nghi tôi đã giao nhiệm vụ gì đó cho anh Trí, anh Trí trốn sang Thái Lan, rồi về miền Nam báo cho Sài Gòn chẳng hạn. Nghĩa là sự việc anh Trí trốn đi Thái Lan, có liên quan đến việc anh Trí và tôi quen nhau. Vì nghĩ như thế, khi trả lại tờ giấy cho Nhuận, tôi liền làm ra vẻ hân hoan:

– Cảm ơn ông, nếu tôi không được đọc tờ khai này của anh Trí, cho đến chết lương tâm tôi vẫn bị cắn rứt, dày vò.

Tên Nhuận cười rổn rang:

– Tôi đã nói, anh không tin.

Rồi hắn nghiêm mặt:

– Anh đã giao nhiệm vụ gì cho Trí, và Trí đã nói gì với anh. Trí đã khai báo hết rồi. Anh không tin, tôi sẽ đưa tờ khai của Trí cho anh xem.

Chà, biết ngay mà. Y còn định lấy chuyện này lòe chuyện kia. Dù có, tôi cũng không mắc, huống chi ở đây tôi thực không có gì. Tôi chỉ cười trả lời:

– Thưa ông, làm gì có chuyện ấy. Tôi đã thưa với các ông là anh Trí không hề biết gì về tôi, anh chỉ biết tôi là một học sinh lớp 10 ở Vĩnh Linh, ra Hà Nội chữa bệnh tim.

Chúng nó dứt khoát không tin. Dứt khoát chuyện Trí vượt biên với chuyện của tôi có liên quan.

Phần tôi, tôi không sợ. Chúng nghi hay chúng không tin, tôi tù, vẫn tù. Điều làm tôi băn khoăn là anh Trí. Chúng không tin anh, chúng còn giam hãm anh lâu dài, khổ anh và khổ vợ con anh. Như vậy lương tâm tôi vẫn không yên ổn được. Nghĩ như vậy, tôi đã mạnh bạo nói:

– Thưa các ông, tôi nói thật, ngày tôi trở vào Vinh; khi xe ra bến xe Kim Liên, có một anh cụt chân đưa vé đến cho tôi, tôi đã nghi anh ấy là công an theo dõi tôi (chỗ này, tôi không nói đến người ngồi trước và sau tôi). Rồi dưới đường, tôi cũng nghi một chiếc Commanca theo tôi, vì thế, không đời nào tôi lại vào nhà anh Trí, nếu anh là một cơ sở hoạt động của tôi. Hơn nữa, ông đã biết anh Trí, tôi không dám có ý coi thường anh, nhưng anh Trí như thế thì hoạt động tình báo làm sao được. Anh quá hiền lành, và trình độ lại chỉ biết đọc biết viết.

Chỉ vì cái ngu xuẩn tình cảm của tôi, cứ muốn thanh minh cho anh Trí, vì thế lý trí tôi không còn đủ sáng suốt, đã quên đi cái nguyên tắc mà chính tôi đã tự khẳng quyết “không bao giờ nói đến, biết bị theo dõi” trước đây. Bởi vậy, vừa nghe tôi nói là nghi ngờ bị theo dõi, mắt chúng sáng ngay lên, chúng vồ vập hỏi:

– Anh thấy thế nào? Tại sao anh nghi? Hãy tả kỹ những người anh nghi, những xe anh nghi, và nghi từ bao giờ? v.v…

Tôi trình bày như vừa khai, nghĩa là tôi chỉ nghi một mình anh cụt chân và một chiếc Commanca, và nghi từ bến xe Kim Liên đi vào Vinh. Hết gjờ, chúng cho tôi về.

Sáng hôm sau, chúng gọi đi cung sớm. Hôm nay, có 3 tên là Đức, Nhuận, và tên Đặng người Huế. Thật tôi không ngờ. Như sấm sét, bão bùng. Thái độ của chúng hôm nay khác hẳn, mặt tên nào cũng lạnh như tiền. Chúng truy lại tôi hết mọi sự việc. Những điều trước đây chúng không hề nhắc lại, bây giờ chúng lại sừng sộ hỏi ra, xắn tay, xắn chân, chúng làm tôi rối mù lên. Chúng dứt khoát gán ghép tôi đã biết bị theo dõi từ lâu, và đã gây hỏa mù cho công an, v.v…

Tôi không ngờ sự việc diễn tiến đến chỗ căng thẳng như vậy. Dù tôi có tính trước, nhưng ngoài sự dự đoán của tôi. Cung kẹo lại lia lịa ngày đêm. Tôi cảm thấy quá mệt mỏi, đầu óc như không chịu nổi nữa. Tôi như người mất hồn. Ngày nào, chúng cũng đối xử với tôi như một tên tử thù. Thậm chí, có lần chúng giận quá, tên Đặng đã đứng dậy đạp tôi ngã ngửa về đằng sau. Y quát:

– Mày sẽ chết, mày biết không!? Số phận mày là một tên gián điệp, mày đã biết, từ trước đến nay một tên điệp viên nào bị bắt, khai thác được hay không, sớm muộn đều bắn bỏ. riêng chế độ xã hội chủ nghĩa đã mở ra cho mày một sinh lộ, nhưng mày ngoan cố không muốn được khoan hồng, mày sẽ đi con đường của mày.

Nói rồi, y bỏ về.

Tôi ân hận vì việc làm thiếu suy tính, để tình cảm lấn át lý trí của tôi. Chỉ lẩn quẩn vì vấn đề tình cảm mà bây giờ tôi sống dở chết dở. Hai tên Đức và Nhuận còn ở lại, tiếp tục vặn lý, truy hỏi lại nhiều sự việc. Tai tôi ù đi, người tôi xây xẩm nhiều lần suýt ngã xuống nền gạch. Mặc, chúng vẫn bắt tôi phải trả lời từng điểm chúng hỏi. Tôi nói trong hơi đứt đoạn:

– Thưa…tôi hoa mày…chóng mặt…xin cho về…..

Chúng nó đứng lên đe dọa:

– Được, cho về! Ngày mai khôn hồn thì khai lại hết. Không, đi ngủ với giun sớm!

Tôi về. Đói, mà cơm không muốn nuốt. Phen này chắc không thể sống được. Thái độ chúng ghê gớm quá!

Gần một tuần lễ sau, sáng trưa, chiều, tối, chúng làm như nước sôi, lửa bỏng. Chỉ có tên Thành, ánh mắt của y từ lâu tôi nhìn vẫn thấy như có một chút tình người. Nhiều lần, y thường có thái độ dịu dàng tình cảm đối với tôi. Dạo này, y có vẻ buồn, ít nói. Thỉnh thoảng y cũng ngồi hỏi cung, tôi vẫn bất chợt bắt gặp ánh mắt thăm thẳm của y khi thấy tôi bị mê tơi rũ rượi, như chiếc giẻ rách vì bị 3 tên quần thảo liên tục từ sáng tới tối.

Một hôm, tên Đức hỏi tôi:

– Năm nay anh bao nhiêu tuổi?

Tôi dè dặt nhìn y:

– Thưa ông, 24.

Y nghiêm trang, lạnh lùng:

– Anh có người yêu chưa? Và có hứa hẹn với ai không?

Tôi không hiểu tại sao y lạo hỏi đến chuyện riêng tư của tôi làm gì, vì thế, tôi nhìn y như dò hỏi:

– Trong thời gian còn đi học, chỉ có yêu thầm, yêu vụng, chứ không hẹn hò với ai…

– Bố mẹ chỉ có mình anh là con trai?

– Thưa ông, tôi còn một người em trai, năm nay học Đệ Tam.

Y gật đầu, vẫn lạnh lùng:

– Anh cương quyết không khai báo gì thêm nữa phải không?

Trong khi tên Đức hỏi, tên Nhuận vẫn ghi. Tôi trả lời:

– Thưa các ông, tôi đã khai báo hết cả rồi. Điều nào chưa rõ, xin ông cứ hỏi. Tôi nguyện xin cố gắng, điều gì tôi iết, tôi sẽ nói hết.

Nó hỏi ngay:

– Vậy, nhiệm vụ anh ra ngoài Bắc này làm gì?

– Thưa ông, tôi đã khai báo rõ ràng nhiều lần rồi.

Y đập bàn, quát:

– Thôi! Cho về, tôi hết trách nhiệm với anh!

Trên đường về xà lim, tôi rất lo lắng sầu héo. Thái độ của các chấp pháp dạo này khác thường. Tôi chưa hiểu chuyện gì nữa sẽ đến với tôi.

Sáng hôm sau, khi tôi ra phòng cung, chỉ có mình Nhuận. Nhuận chỉ ghế tôi ngồi, rồi nói:

– Hôm nay, có lẽ buổi cuối tôi gặp anh, vì vậy, tôi muốn anh nói thật với tôi một số vấn đề. Trước đây, và từ ngày anh ra Bắc tới bây giờ, với cái nhìn của anh. Anh thấy xã hội chủ nghĩa còn điểm nào chưa tốt, và điểm nào anh không đồng ý?

Y ngừng lại một tí, rồi nói tiếp, như tâm tình:

– Tất nhiên, chúng tôi cũng còn nhiều điều chưa tốt. Nhưng tôi muốn nghe chính anh, một người ở xã hội khác, cái nhìn có giá trị khách quan hơn. Vậy, anh được toàn quyền nói sự thật, dù sự thật ấy như thế nào. Tôi bảo đảm với anh, anh không bị ảnh hưởng gì cả.

Tôi nghe y nói, tôi nhìn y, rồi dè dặt:

– Thưa ông, tôi ra miền Bắc, tuy là đi hoạt động, nhưng thực tế tôi không thích chế độ miền Nam, cho nên, tôi đã chẳng làm gì cho họ cả. Tôi chỉ chủ trương thăm lại cảnh cũ thời thơ ấu, nên không để ý nhiều về xã hội. Do đó, tôi có nói cũng khó chính xác…

Y có vẻ săn đón, khích lệ:

– Không sao, dù không chính xác. Anh cứ nói đi! Như vậy mới thể hiện anh thật lòng.

– Thưa ông, nói thực với ông, tôi mới lớn lên, hơn nữa tôi là người ít học, nên chẳng hiểu vấn đề chính trị ra sao. Làm thế nào biết đúng hay sai. Đi ngoài phố, tôi thấy dân chúng đâu đâu cũng nổ lực lao động. Họ làm việc có ý thức trách nhiệm, chứ không như miền Nam. Chỉ có điều là dân ta còn nghèo, còn có người phải kéo xe ba gác. Nhưng, tôi tin rằng vài năm nữa sẽ khá hơn…

Y hỏi tôi:

– Còn gì nữa?

– Tôi chỉ thấy như vậy thôi!

– Còn điểm gì anh không đồng ý với xã hội chủ nghĩa?

– Tôi thấy cái gì cũng tốt cả…Hay có thể vì sự hiểu biết của tôi kém, nên tôi thấy như vậy chăng!

Y cười nhạt, lặng lẽ ghi hết ý của tôi. Rồi tiếp:

– Vậy, cụ thể anh đồng ý với xã hội chủ nghĩa ở những điểm nào?

Tôi suy nghĩ, nói phải có sách, mách phải có chứng. Tôi phải tìm ra một điểm gì để nó có thể tin được. Tôi ngẩng đầu lên tỏ vẻ tin tưởng:

– Trước đây, tôi rất không ưa người giầu, người giầu thì giầu quá, người nghèo thì quá nghèo. Vì vậy, tôi rất vui khi về phố Hàng Bạc, tôi nhìn thấy anh Kỳ chồng cô Thuận đi đôi guốc lộc cộc ngoài phố. Ngày xưa họ giầu lắm, họ hách dịch lắm, không bao giờ đi đôi dép ra đứng trước của hiệu cả.

Y ra vẻ dìu dịu:

– Tôi hỏi thực anh, sao anh quyết tâm không khai sự thật? Hay anh cho rằng chúng tôi không có biện pháp nào bắt anh phải nói sự thật hay sao?

– Thưa ông, không bao giờ tôi dám nghĩ như vậy. Tôi tin tưởng tuyệt đối là với cách mạng, không cái gì cách mạng không biết cả. Còn sự thật, tôi đã khai ngay từ đầu. Tôi rất đau khổ, không hiểu vì sao cách mạng vẫn không tin tôi. Tôi cũng không biết cách nào để cách mạng tin tôi cả.

Nó đứng dậy cười gằn:

– Thôi, cho anh về! Anh cứ ôm cái quyết tâm, cái ngoan cố ấy của anh sang thế giới khác, rồi Mỹ Diệm chúng sẽ trả công cho anh!

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Nghĩa “Bình Xuyên”

Đặng Chí Bình

 Bài 34

 Để làm sáng tỏ phần nào cuộc đời của Nghĩa. Tôi xin tường thuật lại sự việc cũng dính dáng đến một đoạn đời của tôi và một góc bối cảnh ngang ngửa của quê hương…

Sự việc xẩy ra vào khoảng tháng 8 năm 1954 tại Bệnh Viện Bình Dân, khi ấy là đường Général Lizé (đường Phan Thanh Giản Sài Gòn sau này). Giai đoạn đó, bệnh viện vừa mới xây xong nên chính quyền, tạm thời dùng làm trại tiếp đón đồng bào di cư từ Bắc vào Nam theo hội nghị Genève.

Như tôi đã nói đến phần đầu. Tôi, một thanh niên 16 tuổi mới vào thành đô. Ngay ngày đầu, sống giữa cái ồn ào, hỗn tạp, xô bồ của giòng người đủ mọi thành phần tại bệnh viện này, chẳng biết cuộc đời mình sẽ trôi dạt về đâu.

Lúc đó, tuy mới 16 tuổi, nhưng nhờ thích thể dục thể thao, nên người tôi trông cũng nẩy nở cứng rắn. Tôi cũng đã đấm đá nhiều, vì bị ảnh hưởng của phong trào “càn” của học sinh Hà Nội thời 53-54. Khi vào Sài Gòn, tôi mang theo một lạng vàng, đúc thành một cục. Tôi luôn luôn để trong một cái túi nhỏ, khâu kín ở bên trong quần lót. Giữa lúc đó, tôi gặp một “băng” 3 cậu cũng là học sinh “càn” ở Ngõ Huyện Hà Nội: Tuyển, Luân, An, độ 16, 17 tuổi, trốn nhà vào Sài Gòn, và cũng chẳng quen biết ai như tôi. Trông cậu nào cũng ngổ ngáo, dữ tướng, tay to, ngực nở. Thôi thì cùng hội, cùng thuyền, 4 đứa thường nằm chung với nhau một chỗ. 3 cậu kia thuộc loại không cần ngày mai, có đồng nào tiêu hết đồng ấy, lần lượt đồng hồ, rồi quần áo cũng bán dần.

Giai đoạn này, theo nguyên tắc từ Tổng Ủy Di Cư. Mỗi đồng bào, mỗi ngày được cấp phát 4 đồng rưỡi, nhưng tên trưởng trại Nhuận, cũng giống như nhiều người khác, mang sẵn trong mình dòng máu tham nhũng, thối nát của một bối cảnh lịch sử đất nước lúc bấy giờ, nên y đớp hết. Gia đình đồng bào nào không có thân nhân ở ngoài, không có tiền riêng mang theo, đều lâm vào cảnh thiếu đói. Cũng vì thế, khi Tuyển, Luân và An gặp tôi, các cậu đang ngang ngửa từng ngày, nằm queo từ sáng đến chiều, không có gì trong bụng. Tôi thông cảm, nên lúc thì tôi nói có 200 đồng, lúc thì bảo mới gặp người quen xin được 100 đồng… để các cậu có cái ăn. Khốn một điều là các cậu thuộc loại tiêu tiền không cần tính. Hai trăm đồng nếu mua cơm bữa ăn, 4 người dè xẻn cũng được cả tuần lễ, hoặc mươi ngày. Đây lại vào hiệu gọi phở xào, uống bia, nên chỉ một ngày là nhẵn. Tôi thấy cứ như thế này thì làm sao mà kham cho nổi, nên cũng đành nhiều khi phải nhịn đói cùng nhau, dù tôi có tiền. Họ biết thế, nên tôi đi đâu họ cũng không bỏ rời. Nhiều lúc, chính tôi cũng đói quá không chịu được, tôi lại phải vờ gặp được người quen cho tiền.

Giữa cảnh sống dở chết dở đó. Mà đồng bào lại cứ kéo vào ùn ùn. Nằm la liệt đầy cả lối đi, lẫn trong nhà xí, bẩn thỉu, hôi thối, nhưng không còn chỗ. Vì là bệnh viện mới xây, chưa có giường, phản nên tất cả đều nằm xuống nền nhà. Có chiếu, có vải trải ra thì tốt, nếu không, phủi sạch nền mà ngả lưng, chật như nêm cối.

Buổi sáng ra, 4 tên, trông ngoài thì có vẻ ‘cậu”, nhưng trong bụng cậu nào cũng có cuộc biểu tình kịch liệt. Chưa biết lấy cái gì cho vào, để dẹp các cuộc biểu tình này. Giữa phòng người đầy ắp chen ra, chen vào. Bất chợt tôi nhìn thấy một anh Trung Úy, quần áo là thẳng tắp, đội mũ sĩ quan, huy hiệu vàng chóe hình nước Việt Nam. Trông anh đầy phong độ, hồng hào đẹp trai, cao khỏe. Mắt tôi chạm mắt anh sĩ quan đó, cùng sáng lên ngỡ ngàng. Tôi ngỡ ngàng vì đây là Nghĩa. Tôi nhớ không lầm, chỉ mới cách đó 6 tháng trước, Nghĩa còn đứng gác soát vé cho rạp hát Kim Chung ở Hàng Bạc Hà Nội. Thường vẫn nể “pha vơ” cho tôi vào xem “cọp”; thế mà giờ đây lại đeo lon Trung Úy, loại Trung Úy rất hách.

Nghĩa lúc đó khoảng 28, 29 tuổi. Trước thế và cảnh này, thôi mình tạm thời làm đàn em vậy! Tôi và Nghĩa cùng chạy lại bắt tay nhau rối rít. Tôi mừng khác, và Nghĩa mừng khác, nhưng cuối cùng hai cái mừng đều gặp nhau ở một điểm: “Giải quyết cái mình muốn”. Nghĩa vồn vã:

– Bình vào bao giờ đấy? Bố mẹ có vào không?

Tôi hân hoan:

– Em vào một mình, ông bà “bô” sẽ vào sau.

Nghĩa chỉ về phía Tuyển, Luân, An:

– Bạn của Bình đấy à! Cũng như Bình chứ?

Tôi gật và nhìn lên lon, lên mũ của Nghĩa. Hiểu ý, Nghĩa hạ giọng:

– Nói thực với Bình, tôi có ông chú làm Đại Tá trong Bình Xuyên, vì thế, tôi vào, được đề bạt đặc biệt. Tôi đã biết Bình, ngang tàng như Bình ở đấy rất hợp. Bình Xuyên là một đảng lớn. Sài Gòn, Chợ Lớn hầu như do toàn quyền kiểm soát của Bình Xuyên. Cảnh sát, công an đều do Bình Xuyên nắm giữ. Quân Đội Quốc Gia, không có một cá nhân nào, từ Tướng trở xuống dám ho he nói động đến Bình Xuyên. Nói động đến là “củ” liền. Riêng với Bình, tôi sẽ về nói với chú tôi trả cho Bình Thiếu Úy. Chúng ta là người Bắc, phải có “băng” với nhau. Khi Bình đã vào Bình Xuyên mang lon Thiếu Úy rồi, sẽ được phát cho một cái đầu hổ, dấu hiệu của đảng.

Nghĩa vạch luôn trong ve áo cho tôi nhìn. Một cái đầu hổ bé tí, đường kính độ 2 phân, bằng đồng, sơn màu xanh xám, đúc rất sắc sảo; cái mồm há ngoác đỏ lòm, giơ mấy cái răng nanh trắng hếu. Nghĩa nói tiếp:

– Bất cứ Bình căm tức, thù ghét thằng nào bên quân đội Quốc Gia, từ Đại Úy trở xuống, Bình cứ “nốc ao” nó tự do. Nếu thua Bình chỉ lật ve áo giơ dấu hiệu của đảng, sẽ có nhiều người chung quanh (người của đảng) xông vào đánh thằng đó chết tươi ngay. Còn nếu Bình cảm thấy không đủ sức đánh nó, hãy vờ rủ nó về gần cầu chữ “Y”, Bình rút súng ra cho nó một phát, rồi chạy sang bên kia cầu, sẽ bảo đảm an toàn.

Nghe Nghĩa nói, và với cái nhìn thực tế của tôi lúc đó ở Sài Gòn, tôi thừa nhận lời Nghĩa nói có giá trị. Ngay trong bảng đá khắc tên những ân nhân tặng tiền xây bệnh viện Bình Dân, cũng thấy tên Lê Văn Viễn đứng đầu. Đâu đâu, người Sài Gòn, Chợ Lớn cũng nể sợ Bình Xuyên. Tướng, Tá của quân đội Quốc Gia cũng nể, bởi vì Bình Xuyên có đoàn ám sát cảm tử khát máu.

Lúc đó, tôi chỉ là một thanh niên mới lớn, nhìn cuộc đời còn đầy ấu trĩ; hơn nữa, vì cái tính ngang tàng thích đấm đá, phải nói Bình Xuyên là đất dụng võ. Do đấy, tôi đồng ý ngay. Nghĩa rất hớn hở:

– Thế còn mấy người bạn của Bình thì sao?

Muốn có thời gian bàn thảo, trước khi quyết định, tôi nói:

– Để em hỏi, chắc các bạn cũng thích như em.

Nghĩa nói có việc bận một chút và bảo tôi nửa giờ nữa, ra gặp Nghĩa ở trước bệnh viện.

Tuyển, Luân, và An khi biết sự việc đã mừng quýnh, trước hết giải quyết cái dạ dầy đã. Thế là cả 4 tên đều đồng ý lát nữa ra gặp Nghĩa.

Khi gặp Nghĩa, 3 cậu cũng cứ rối rít anh anh, em em coi như đây là một cơ hội ngàn năm đổi hướng cuộc đời. Theo hẹn ước, 8 giờ sáng hôm sau, Nghĩa sẽ đem xe tới đón. Ngày và đêm hôm đó, chúng tôi bàn tán ồn ào. Lòng tôi cũng hân hoan phấn chấn, cho nên, tôi vờ vào nhà cầu. Khi ra, tôi đưa ra một tờ 200 đồng, mặt dầu dầu tình cảm:

– Tao chỉ còn duy nhất 200 đồng này, tao định cất kỹ phòng hờ. Vậy, chúng ta phải ăn dè, tối nay 50 đồng, sáng mai 50 đồng, còn 100 đồng thì đưa cho thằng Luân, ở lại trên này, giữ 2 cái va-li: một của tao, và một của 3 chúng mày.

Quay lại phía thằng Luân, tôi căn dặn:

– Chúng ta chưa biết rõ Bình Xuyên thế nào, vậy cứ xuống người không đã. Nếu có gì không thích, chuồn ra dễ dàng hơn; còn nếu thấy “hẩu”, ba bốn ngày sau, chúng tao sẽ ra đón mày vào.

Tôi bàn như vậy, chúng nó thấy hợp lý nên đồng ý ngay, Vả lại, từ ít lâu nay chúng nó vẫn thường nghe theo ý kiến của tôi.

Sáng hôm sau, mãi 8 giờ Nghĩa mới lái xe “díp” đến, theo sau là một xe Dodge 4, do một Trung sĩ lái. Khi chỉ thấy có 3 chúng tôi, Nghĩa nhìn tôi hỏi ngay:

– Còn anh kia nữa đâu?

Đã dự trù trước nên tôi tình cảm:

– Anh Nghĩa à, lẽ ra 4 chúng em cùng đi một lượt, nhưng vì còn 3 người bạn nữa ở Hà Nội sắp tới, chúng em để Luân ở lại chờ, đón rồi cùng vào luôn.

Nhìn thấy tôi vẻ hoan hỉ, Nghĩa cũng tin tưởng, nên y gật đầu:

– Được!

Từ hôm qua tới nay, tôi đã hiểu Nghĩa lên các trại đón tiếp đồng bào di cư, để dụ dỗ người vào Bình Xuyên. Tùy theo tầng lớp và loại người, Nghĩa hứa hẹn nào phát ruộng, cho đi học, vào hãng xưởng làm việc, làm văn phòng, vào Bình Xuyên có nhiều quyền lợi v.v… Mục đích càng đón được nhiều người, càng tốt. Nhất là những gia đình, có vợ chồng con cái. Dân có đông, thế mới mạnh, lực mới lớn.

Cùng lên xe Dodge 4 với chúng tôi, có hai gia đình của mấy anh Địa Phương Quân, bồng bế cả vợ con. Nghĩa đặt tay lên vai tôi:

– Bình và các anh em về trước, tôi bận chút việc, sẽ về sau.

Xe Dodge chuyển bánh, chúng tôi chưa hề biết gì về chung quanh Sài Gòn. Nhất là vùng Bình Xuyên, và ngay cả hai tiếng “Bình Xuyên” cũng đầu tiên trong cuộc đời nghe thấy. Chúng tôi thấy xe chạy vòng vèo mãi. Khi xe qua một chiếc cầu, mà sau này tôi biết là cầu chữ “Y”. Tôi thấy ngay giữa cầu, một chòi gác rất xinh xắn, một Quân Cảnh cũng giầy, ghệt, găng tay, mũ sắt trắng, nhấc cây chặn đường xe qua. Xe đi qua một khu phà lớn gồm nhiều phố xá với cái cổng to mang 3 chữ lớn: “TỔNG HÀNH DINH”. Nhìn thoáng bên trong, cũng cột cờ, lính tráng đi lại. Hai khẩu đại bác 105 ly còn mới toanh, với hàng dẫy xe GMC. Tôi có cảm nghĩ, như thế này có khác gì quân đội Quốc Gia! Xe đi qua khu Tổng Hành Dinh, rồi đi mãi qua một số phố xá, đến khu ruộng đồng. Tới chỗ có mấy căn nhà to, có hàng rào giây thép gai, có lính gác, xe đi tuột vào trong.

Chúng tôi xuống xe. Mấy gia đình, hòm xiểng chăn màn, bồng bế nhau vào ngồi một chỗ, còn chúng tôi đi lang thang trong sân chờ Nghĩa về. Điều đầu tiên làm cho tôi suy nghĩ mãi, là ở giữa sân có hai cột cờ cao, sơn trắng với hai lá cờ đang tung bay phất phới: Một lá cờ ba sọc Quốc Gia, còn lá cờ kia là cờ đỏ sao vàng. Chỉ khác với cờ Việt cộng là có một nền vuông mầu xanh bọc chung quanh ngôi sao. Tại sao cờ Bình Xuyên lại như vậy?

Tôi băn khoăn và muốn tìm hiểu. Tôi lân la làm quen với một anh lính nhỏ. Được biết anh là liên lạc của Trung úy Tư, Trưởng đồn, người miền Nam, và Trung úy Nghĩa là phó. Anh có tên là “Ba Nhỏ”. Qua một số chuyện trò, Ba Nhỏ rất thích chúng tôi. Anh tỏ vẻ hiểu biết, chỉ ra phía cột cờ:

– Mới cách đây mươi bữa, ở chỗ đó xử tử hai tên do thám của Hòa Hảo!

Tôi mở to mắt ngạc nhiên. Anh nói tiếp như chứng minh:

– Ở đây, bắn chết người là thường!

Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng những điều Ba Nhỏ nói chuyện đã làm cho tôi suy nghĩ không ít. Gần trưa cũng không thấy Nghĩa về. Một người lính ra gọi chúng tôi vào một ngôi nhà lớn. Trong nhà rộng thênh thang, những tranh ảnh treo chung quanh tường, chứng tỏ là một nơi huấn luyện quân đội. Mãi trong cùng, nơi một số bàn làm việc, có một Trung úy, một Chuẩn úy và một Trung sĩ. Tên Trung úy hỏi tên chúng tôi. Sau khi biết chúng tôi là người của Nghĩa, chờ Nghĩa về giải quyết, y chỉ ghi tên chúng tôi để làm sổ ăn. Cuối cùng, một tên Trung sĩ ra hiệu:

– Bây giờ các anh ra ngoài chờ. Trung úy Nghĩa có thể chiều mới về. 12 giờ trưa các anh ra Câu Lạc Bộ Sĩ Quan ăn cơm.

Chúng tôi ra sân, mắt nhìn nhau đều sáng lên, nhất là Tuyển và An. Hai cậu được giải quyết ngay cái khâu dạ dầy, mà lại ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan cơ. Đúng trưa, theo Ba Nhỏ chỉ, chúng tôi đến Câu Lạc Bộ ở gần mé sông. Câu Lạc Bộ gì mà làm tôi ngạc nhiên. Một cái nhà lá dài, trống trơn, không vách, dọc theo ở giữa nhà là những tấm gỗ ghép lại thành một cái bàn dài. Một thúng cơm nhỏ để chỏn vỏn trên bàn, bên cạnh là một bát canh to đầy nước, trong có ba con cá mòi nhỏ, nấu muối. Tôi thử một tí nước tanh đến buồn nôn. Cơm vàng lợt, nguội tanh, có mấy vừng cơm nhão như cháo đặc. Tôi không thể ăn nổi. An và Tuyển vì đói nên cố gắng ăn. Phần tôi, vì trong người vẫn còn tiền, hơn nữa, lúc lang thanh trong trại, tôi đã nhìn thấy nơi gia đình binh sĩ có một hàng cơm nhỏ, nấu ngon lành. Nên, tôi bảo An, Tuyển hãy thông cảm, tôi ra ăn mấy đồng cơm hàng. Buổi chiều cũng không gì hơn, Tuyển và An vẫn phải cố gắng nuốt, vì cơm còn khê nữa.

Chúng tôi cứ lang thanh trong khu vực trại. Để xem thế nào, một lần, chúng tôi coi như không để ý, thả bước về phía cổng trại để ra đường. Một anh Trung sĩ chạy ra, lịch sự:

– Các anh thông cảm, hãy đi vào trong. Khi làm giấy tờ xong tha hồ muốn đi đâu cũng được.

Như vậy là chúng tôi coi như bị giam lỏng rồi. Mãi gần tối, Nghĩa mới về, chúng tôi tíu tít chạy lại đón ngay khi xe díp vào sân, còn chưa tắt máy. Nghĩa cũng tỏ ra rất hưng phấn, tươi tỉnh. Nghĩa cũng hiểu rằng, tuy chúng tôi nhỏ tuổi, nhưng là người đang đi học, có ít nhiều hiểu biết, và cũng ngang tàng bạt mạng. Vậy, nếu thu phục được chúng tôi, cũng có nhiều điều lợi. Nghĩa nói là bận lắm, dù vậy tối nay Nghĩa sẽ xuống ngủ với chúng tôi, để gọi là anh em hàn huyên tình nghĩa.

Chúng tôi được dẫn vào một căn nhà lớn khác. Trong trại, có hai căn nhà to. Theo Ba Nhỏ, đây là hai cái kho của tụi Nhật ngày trước. Căn nhà chúng tôi ở có 4 dẫy sàn rộng thênh thang. Ở mỗi góc, lèo tèo dăm gia đình, hoặc là Địa phương quân hay nông dân miền Bắc. Vì biết có Trung úy Nghĩa xuống ngủ, nên mấy tên lính chuẩn bị quét dọn phía đàng góc này, rồi trải chiếu v.v…

Trời đã tối, mãi 8 giờ Nghĩa mới xuống. Tên Ba Nhỏ vì thấy vui cũng xuống nằm. Nghĩa huênh hoang chuyện trò có vẻ rất tự mãn về mình, chúng tôi cũng đẩy đưa câu chuyện cho qua. Tôi hiểu, hiện nay đồng bào di cư đang vào nhiều, Nghĩa có trách nhiệm mời đón, càng được nhiều, uy tín càng lớn.Trong lúc Nghĩa nói chuyện, thỉnh thoảng trên mái ngói cao tít, tiếng một con cắc kè rống vang lên trong căn nhà rộng, làm cho câu chuyện cũng ngập ngừng. Một ngọn đèn 60 watts treo lủng lẳng ở giữa, toàn căn nhà vẫn tối om, chỉ có một đốm sáng lửng lơ là ngọn đèn. Vì thế, nghe tiếng cắc kè kêu, chúng tôi đều cảm thấy hoang vắng gợi sầu. Tỏ vẻ bực bội, Nghĩa sai tên Ba Nhỏ lên phòng cầm cho y cái đèn “pin”. Một lúc sau Ba Nhỏ cầm đèn pin về. Chờ lúc cắc kè kêu, Nghĩa chiếu lên mái, nó nằm chếch ở một cái xà gỗ. Nghĩa đưa đèn cho tôi rọi, rồi rút khẩu súng ngắn ở bên hông, lên đạn. Mọi người đều đứng hết cả dậy hồi hộp theo dõi. Một tiếng nổ chát chúa vang ngân lên trong đêm khuya, làm giật mình mọi người. Đạn chả trúng cắc kè, nhưng làm tung ra mấy viên ngói, rơi xuống sàn gỗ rào rào.

Từ đấy, chú cắc kè cũng im bặt; nhưng Nghĩa thì tỏ ra nghênh ngang, truớc sự thán phục của Tuyển, An và Ba Nhỏ. Đối với tôi, nhìn việc này, tôi thấy đây là một việc làm hỗn độn, chỉ có trong một cái đảng lộn xà ngầu.

Sáng hôm sau, 8 giờ, một tiểu đội bồng súng, một Thiếu úy người Bắc hô chào cờ. Có cả Nghĩa và chúng tôi. Hai người lính đều trang nghiêm kéo hai lá cờ lên. Tên Thiếu úy vừa hô nghỉ xong, chưa kịp hô giải tán, Nghĩa đã tiến đến người Thiếu úy:

– Yêu cầu Thiếu úy đưa trả cái “permission” cho tôi!

Người Thiếu úy trẻ, nhưng thấp hơn Nghĩa, quay lại:

– Tôi đã nói với anh là “permission” do Đại tá cấp cho tôi. Chỉ Đại tá mới có quyền thu lại.

Nghĩa chỉ tay vào mặt người Thiếu úy, sừng sộ:

– Anh có đưa “permission” cho tôi không?

Người Thiếu úy, mặt tím bầm lại, hai hàm bạnh ra gằn giọng:

– Nghĩa à, mày đừng lên chân, vì trên vai mày có hai vạch…

Mắt long lên sòng sọc. Nghĩa cởi phăng ngay áo ra, phô bộ ngực và cánh tay nở nang, quay lại quẳng chiếc áo về phía tôi, lẹ tay tôi bắt lấy. Nghĩa đi đến gần người Thiếu úy, chỉ tay:

– Khánh! Một, mày có đưa không? Hai, mày có đưa không?

Khánh liếc nhìn chung quanh, 12 người lính và chúng tôi, rồi nhìn Nghĩa, nghiến răng lắc đầu:

– Không thể…

Y mới nói được hai tiếng “không thể” thì “bốp”, một cái “crochet” ghim ngay vào quai hàm. Tôi chỉ thấy Khánh đưa một tay lên bịt miệng, rồi đổ nằm dài xuống sân cát.

Nghĩa rút khẩu súng ngắn đeo bên hông ra, lên đạn, chĩa vào Khánh đang nằm im lìm giữa sân. Y đi chung quanh, môi bậm lại. Trước những con mắt mở to của 12 người lính và 3 chúng tôi, chừng 3 phút sau, Khánh từ từ bò dậy, mở tay ra, máu đầy tay, chảy dài đỏ thắm chiếc áo lính. Y quay lại Nghĩa, nói trong tiếng gầm gừ:

– Nghĩa à, đời còn dài!…

Rồi cứ để máu chảy như vậy, chậm chạp y đi ra khỏi cổng.

Nghĩa đến tôi lấy áo, rồi quay lại phía 12 người lính hô: “Giải tán!”. Nghĩa đi về phía văn phòng trước cái mồm còn há hốc của An.

Sau đó, qua Ba Nhỏ tôi được biết: Khi hội nghị Genève ký kết, Khánh đang học dở lớp sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức. Khánh cùng một số sinh viên sĩ quan khác đã trốn ra khỏi trường khi đất nước chia đôi. Rồi thì, tình hình biến đổi, Khánh muốn trở lại trường sợ sẽ bị ghép vào tội đào ngũ. Giữa lúc lông bông trên các ngả đời, thì Khánh gặp Nghĩa, quen cũ từ Hà Nội. Trước đây Khánh vẫn khinh Nghĩa là thằng vô học, nhưng bây giờ, cờ đến tay Nghĩa, Khánh đành theo lời hứa hẹn của Nghĩa về Bình Xuyên làm Thiếu úy. Được Đại tá cấp cho một giấy phép đi về giữa Sài Gòn và Bình Xuyên. Khánh từ đó, đi về thả cửa không cần có ý kiến của Nghĩa nữa. Nghĩa tức, muốn thu lại giấy phép nhiều lần, nhưng Khánh nhất định không đưa.

Cái điều chính yếu là Khánh, ngưòi có học, cứ nhìn Nghĩa bằng con mắt coi thường người kém học. Nghĩa thì đã mặc cảm từ trước, nên thường hậm hực nhau. Với tôi, đó cũng là một sự việc nữa đã nói rõ về Bình Xuyên. Giai đoạn này, trong khu vực BX, thì tất cả mọi người từ lính tới quan, tới dân chúng, mỗi khi nói tới Lê Văn Viễn, đều kêu là “Ngài”: “Ngài đã đi Pháp rồi!”, “Ngài đã ký lệnh rồi!”, v.v…

Được biết. Ở đây thanh toán nhau là chuyện cơm bữa. Mạng người ở BX chẳng có giá trị gì. Chính ngay buổi chiều ấy, Nghĩa đã nói thẳng với tôi, khi thấy tôi lửng lơ không chịu đưa giấy tờ để làm thủ tục:

– Các anh có tài, chúng tôi rất hoan nghênh và rất cần sự góp sức góp tài của các anh. Ngược lại, các anh lừng khừng ương ngạnh, bắn bỏ ngay, chúng tôi ở đây không thiếu đạn.

Khi ấy, phần còn ít tuổi, phần khác tôi đã hiểu gì rõ ràng về đất nước đâu, cho nên tôi có ý niệm: Một thanh niên, nếu có lý tưởng với quê hương, dân tộc, vào bưng biền theo Việt Minh; nếu chỉ vì tiền tài và danh vọng, hãy vào lính Quốc Gia. Còn dứt khoát, không thể ở với Bình Xuyên, tôn thờ cá nhân của Lê Văn Viễn, của một đạo quân hổ lốn, coi mạng người rẻ như bèo. Tôi quyết tâm, dù Tuyển và An vừa dỗ dành vừa đe dọa tôi:

– Thôi, anh em mình đã vào đây, chúng tao cũng vì theo mày. Bây giờ chúng tao đã đưa giấy tờ rồi, mày hãy ở lại cho có anh có em.

– Đó, mày thấy anh Nghĩa đấy, mày mà để anh ấy ghét thì thật là nguy hiểm. Chúng tao cũng chẳng vui gì…..

Chúng nó đã đưa hết giấy tờ cho Nghĩa rồi. Phần tôi, tôi nói giấy tờ để trong va-li, vài ngày nữa, tôi sang Sài Gòn đón Luân sẽ đưa sau.

Ba, bốn ngày sau, một buổi chiều, bỗng một chiếc GMC đi vào sân trại, chở theo đầy xe người lố nhố người lớn trẻ con. Chúng tôi chạy ra nhìn lên, thấy thằng chó chết Luân với cả hai chiếc va-li.

Tên Nghĩa đi xe díp theo sau, chỉ tay bảo Luân đưa va-li của tôi xuống, rồi y ra hiệu cho tôi mở ra lấy giấy tờ. Quá bất ngờ, lúng túng, tôi đành phải mở va-li. Tơi cứ vờ lục lọi tìm kiếm trước con mắt lừ đừ của Nghĩa. Một lúc, tôi quay lại hỏi to Luân:

– Trên đó, mày có mở va-li của tao không? Sao không thấy giấy tờ của tao?

Thấy thái độ của tôi như vậy, Nghĩa nghiêm giọng:

– Tôi rất quý Bình, nhưng với điều kiện là Bình phải nghe lời tôi. Tôi cho Bình đến sáng mai 8 giờ, nếu không có giấy tờ cho tôi, lúc đó đừng trách gì tôi cả!

Tôi xách va-li vào trong nhà về chỗ nghỉ, lòng ngập đầy giận uất thằng Luân. Hỏi nó, nó bảo:

– Nghĩa nói là chúng mày bảo đưa va-li vào. Tao biết gì!

Chính tôi đã dặn nó, khi nào tôi lên đón nó mới đi. Nhưng thôi, trách nó làm gì. Tối hôm đó, tôi thật lo lắng. Cả 3 đứa đều khuyên tôi, đã trót thế này thì cứ đưa giấy tờ, rồi tính sau. Tôi nghĩ, không đơn giản như vậy. Đưa giấy tờ, nghĩa là tôi đã đồng ý gia nhập đảng Bình Xuyên. Hôm trước, Nghĩa đã nói thẳng là đã vào đây rồi, chỉ có cách duy nhất là phục tùng gia nhập, sẽ có mọi quyền lợi. Muốn ra bây giờ, không được nữa, vì đã biết nhiều chuyện của họ. Nó cũng đã nói thẳng, đã bao nhiêu thằng vào đây rồi trốn, đều không thoát. Rồi nó trừng mắt, khoa tay trước chúng tôi:

– Nếu muốn trốn, hãy nhớ kỹ, đừng ở Việt Nam, dù ở đâu Bình Xuyên cũng tìm ra. Có trốn ra ngoại quốc, thì đừng đến nước Pháp, ở Pháp BX cũng tìm ra thanh toán.

Mấy ngày trước, tôi đã lân la nói chuyện với 4 người lính gác bốn góc trại. Có người nói bên kia con sông này là Chợ Lớn; nửa tháng trước đây có bắn chết một người, đang đêm bơi qua sông để trốn sang Chợ Lớn. Dù bao nhiêu đe dọa, tôi vẫn nâng cao quyết tâm. Trong mấy ngày lang thang trong trại, tôi đã mò mẫm và tìm hiểu được về đảng BX này như sau:

Xuất thân là một đảng cướp, chuyên môn bắt cóc tống tiền những ngưòi có máu mặt, và cũng biết ve vãn chính quyền cai trị. Nhờ thời thế và khả năng khôn ngoan, dưới thời Pháp thuộc, Viễn đã có hàng trung đoàn quân sĩ tay chân trong địa thế sâu hiểm Rừng Sát. Pháp không thể tiêu diệt được, đành chiêu hồi và chịu điều kiện là Viễn vẫn cứ ở cứ khu BX và Rừng Sát. Nhật đảo chính Pháp, cũng chưa hoặc không đủ thời gian để tiêu diệt BX, nên vẫn chấp nhận để BX ở cứ khu cũ.

Nhưng tới Việt Minh, con hổ mang bành Hồ Chí Minh núp sau chiêu bài: Độc Lập, Hạnh Phúc, Tự Đo, Cách Mạng, Nhân Dân, Tổ Quốc, v.v…những danh từ mới lạ đó có sức hấp dẫn cuốn hút mọi người, nên đã lôi cuốn được Viễn. Viễn lúc đó trong tay có gần 2 trung đoàn với vũ khí đầy đủ, đã đi theo tiếng gọi cứu nước của cái gọi là “chính quyền cách mạng” để chống Pháp. Với Cộng Sản thì trước sau tất cả mọi đảng phái, tổ chức cũng như cá nhân phi Cộng Sản, dần dần chúng đều tiêu diệt; nhưng, với âm mưu thủ đoạn tinh vi, lúc nào trước tiên Cộng Sản cũng ve vãn mồi chài liên kết, hoặc cô lập kẻ thù “phụ” để diệt kẻ thù “chính”, sau đó, dần dần lần lượt mới hỏi đến các chú ngu xuẩn là kẻ thù…”phụ”.

Trong giai đoạn liên kết, Cộng Sản ca tụng hết lời, hứa hẹn cam kết mọi vấn đề.

Nếu Viễn tỉnh táo, tự hỏi mình có thể trở thành một tên Cộng Sản được hay không? Dù cho Viễn lúc đó có quyết tâm bằng mọi giá để nhập hàng ngũ Cộng Sản, theo nguyên tắc của Cộng Sản, chúng cũng không bao giờ tin. Chúng không bao giờ tin dùng một ai, nếu người đó không do chính chúng đào tạo khi cón tay trắng, chưa có một việc làm nào ngược lại với chúng, chưa được hưởng những thú ăn chơi nhàn hạ của xã hội tư bản, v.v… Nói cho cùng, trách Viễn cũng là trách oan, vì cho tới ngày nay, sau gần 40 năm, vẫn còn đầy rẫy những đảng phái, tổ chức, cá nhân, những học giả uyên thâm, những nhà tu lỗi lạc,…Thậm chí, ngay những quân nhân Tướng, Tá đã từng vào sinh ra tử, hàng chục năm cầm súng chống cộng, mà vẫn còn mơ hồ với Cộng Sản nữa là Viễn thời đó.

Cộng sản khi ấy thổi Bình Xuyên lên tận mây xanh. Chú bé con bị người lớn xui ăn cứt gà đã đem hết khả năng, xông pha nơi hòn đạn mũi tên đánh Pháp để lập công. Khoảng 1946-47, Cộng Sản có bài hát thổi Bình Xuyên: “Bình Xuyên, … Bình Xuyên oai hùng muôn năm!…”

Nhưng, có thể lúc đó kinh nghiệm lãnh đạo của Cộng Sản chưa được tinh vi lắm, nên đã để tình huống gây ra một vấn đề. Vào thời đó, trong Nam và Trung có hai đơn vị nổi tiếng với những chiến công đánh Pháp là đơn vị của tướng Nguyễn Bình và của tướng Viễn. Lúc đó, Cộng Sản chỉ có Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà chưa có Trung tướng. Để khích lệ và dụ dỗ, tuy không tuyên bố, nhưng Cộng Sản vẫn ngầm để cho Bình và Viễn hiểu mình sẽ là Trung tướng với điều kiện, phải có những chiến công diệt Pháp ai hơn ai. Với đầu óc và bản chất là một tên tướng cướp, lại luôn có một ám sát đoàn rành nghề. Có thể theo suy lý của Viễn, Viễn cho rằng, sở dĩ Bình lập được nhiều chiến công chống Pháp là vì dưới tay có nhiều người tài. Vậy, không gì bằng, một mặt vẫn công đồn, hoặc phục kích để đánh Pháp, mặt khác hoàn toàn bí mật, cứ tìm những ngưòi tài ba dưới quyền của Bình để thủ tiêu. Giai đoạn này, bên phía Bình, hết ông tiểu đoàn Trưởng này mất tích, lại đến ông Tham Mưu phó kia biến mất; tình báo lắm mới phát hiện xác đã rữa thối trong rừng. Những chiến sĩ thủ túc của những người bị mất tích dần dần đã hiểu chính Bình Xuyên là thủ phạm. Họ căm phẫn tột độ. Đã có một số chứng cớ cụ thể, Bình cũng vô cùng căm phẫn, đã bí mật báo cáo với trung ương.

Chúng ta đã biết, Bình là con ruột của Cộng Sản, trong khi Viễn chỉ là loại kẻ thù “phụ”, nhưng giai đoạn đó, Hồ già và trung ương cũng đang điên đầu với Pháp và nhiều vấn đề nội bộ cũng như ngoại giao khác; nếu giải quyết vấn đề này, vừa mất đi một lực lượng chống Pháp, lại còn mất thêm một lực lượng đi đánh Bình Xuyên, cho nên Hồ già rất lúng túng, cứ khất lần hòng tìm ra phương kế tốt hơn. Trong khi đó, tình trạng những cán bộ tài năng dưới quyền Bình bị mất tích cứ tiếp diễn. Những chiến sĩ dưới quyền Bình bị mất tích cứ tiếp diễn. Những chiến sĩ dưới quyền Bình không thể chịu đựng được sự chờ đợi mãi trung ương giải quyết nữa. Họ đòi phải trả thù, nếu không, họ không chịu đi chiến đấu. Trước lòng sục sôi hận thù của các chiến sĩ, Bình dù là người nghiêm túc chấp hành trung ương, trong lòng cũng bầm gan tím ruột. Nên, một đêm âm u tịch mịch, trời không trăng sao, chính Viễn và hầu hết quân lính duới quyền Viễn cũng không thể ngờ, đơn vị của Bình đã bất ngờ công kích một trận với ngọn lửa sục sôi, đã diệt sạch đơn vị của Viễn. Viễn chỉ còn hơn 100 tàn quân, vượt bao nhiêu cửa thần sầu chạy thoát thân. Không còn đường thứ hai, Viễn chỉ còn con đường duy nhất là trở về đầu Pháp. Pháp đã hiểu, và cũng cần, vì thế lại cho Viễn về cứ điểm Rừng Sát và Bình Xuyên. Sau đó, Bình trở thành Trung tướng.

Chuyến này, kẻ tử thù của Viễn là Bình. Nhưng, trước hết Viễn phải gây dựng lại cơ đồ, sau mới tính giải quyết mối thù bất cộng đái thiên. Nhưng may thay, Nguyễn Bình đã bị giết bí mật trên đường trở về Hà Nội theo lệnh của Hồ Chí Minh. Cũng từ đó, ngọn lửa hận thù của Viễn mới nhỏ dần, và Viễn quay ra “cũng” làm chính trị, nhưng là chính trị kinh tế xôi thịt, mà chúng ta đã thấy…

Một vài ngưòi lính có lần nói với tôi:

– Trong Rừng Sát hiện nay (1954), đôi khi chúng tôi đi hành quân, gặp Cộng Sản là thường. Nhưng, hai bên mặc kệ nhau, không xâm phạm đến nhau.

Như đã trình bầy về lá cờ ở trên, cái hình vuông mầu xanh là để chỉ sự việc rời trong rừng ra. Cũng qua lá cờ, ta thấy tên Viễn từ trong đáy lòng y hãy còn mơ tưởng già Hồ là chính nghĩa.

Xin trở lại vấn đề của tôi và Nghĩa. Đêm hôm đó, lòng tôi đầy lo lắng, nên giấc ngủ cũng không yên. 8 giờ sáng ngày hôm sau, sẽ là giờ hẹn cuối cùng của Nghĩa ra cho tôi. Cả đêm suy nghĩ mà vô kế khả thi, đành để sáng mai, ra sao thì ra, trong khi các bạn chỉ muốn tôi ở lại.

Mãi 7 giờ sáng hôm sau, tôi mới dậy, lấy khăn mặt và thuốc đánh răng ra mé sông rửa mặt như mọi sáng. Vì rửa mặt nên tôi cởi đồng hồ tay bỏ lại va-li. Tôi đang rửa mặt, lúc đó khoảng 7 giờ 30, một chiếc GMC từ ngoài cổng vào đỗ ở sân. Một người ra hô gọi tất cả mọi người mới vào đi lên Tổng Hành Dinh để trình diện và khám sức khỏe. Tôi không còn kịp cất khăn mặt và bàn chải, bèn đút luôn vào túi quần, rồi trèo lên xe vì Tuyển, Luân và An đang ở trên xe gọi, vời rối rít.

Xe đến Tổng Hành Dinh. Mọi người ngồi chờ đông chật một cái phòng rộng, lần lượt đợi khám. Tôi lửng lơ ra chỗ chuồng hổ, xem con hổ đang ăn. Cùng đứng xem với tôi có một anh tên là Hiệu, nghe anh nói chuyện. Anh cũng ở trường sĩ quan Thủ Đức trốn ra, nghe theo Nghĩa vào BX, nhưng bây giờ, anh không muốn nữa. Thấy thời cơ có thể, tôi nháy anh Hiệu theo tôi, lững lờ lân la ra phía cổng. Ở cổng có một người lính gác, nhưng đứng trong chòi, phía sau không nhìn thấy y. Tôi nhìn trước sau, chưa biết tính kế gì đi ra, sợ nó hỏi giấy. Còn đứng lớ ngớ ngoài này, bất ngờ mà Nghĩa ở trong phòng ra nhìn thấy, Nghĩa sẽ biết ngay là chúng tôi định chuồn. Lúc ấy, chưa biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Giữa lúc tiến thoái lưỡng nan, tôi chợt thấy ngoài cổng, phía bên kia đường có một hàng bán mía và mấy lọ kẹo, tôi rút túi lấy ra 5 đồng đưa cho Hiệu (Hiệu chả có đồng bạc nào), nói to cốt để người lính gác nghe thấy:

– Này, từ sáng chưa ăn, đói quá, cậu chạy ra hàng mua hai tấm mía đi!

Hiệu cầm tiền chạy ra (có ý với tên lính gác là còn một người nữa trong này, nếu nó nghi ngờ, hỏi giấy), chọn một tấm. Khi Hiệu cầm tấm thứ hai, tôi nói to, vọng sang bên kia đường:

– Lấy tấm kia cơ mà!…

Tôi cứ bảo “tấm kia, tấm kia!”, hai bên nói ra, nói vào, tên lính gác ở giữa. Cuối cùng, tôi vừa chạy ra vừa nói:

– Cóc khô, lấy tấm này!…

Khi tôi ra đến hàng mía, hai thằng mắt la mày lém, liếc ngang, liếc dọc, vừa lúc đó may sao một chiếc xích lô máy chạy tới đổ một người khách ở chéo một góc. Liếc nhìn về phía chòi gác, người lính thờ ơ, đang nhìn đi đâu, chúng tôi chạy ngay đến chỗ bác xích lô máy:

– Chạy sang Chợ Lớn!

Bác quay lại:

– Mười đồng!

Tôi nói trả bác 15 đồng, với điều kiện bác chạy thật nhanh và chạy về phía dưới, nghĩa là trở lại phía trại của tôi, bởi vì phía cầu chữ “Y” xe nào ra cũng bị hỏi giấy tờ, đó là Tổng Hành Dinh.

Xe chạy bụi mù, lại không có mui, tôi cứ phải vờ lấy khăn mặt lau mắt để che mặt, sợ bất ngờ gặp tên lính quen, nhất là lúc xe qua trại cũ, anh lính gác thế nào cũng biết mặt. Tôi cứ kêu bụi quá, cúi gầm xuống, lấy khăn mặt ngoáy lỗ tai để che phía bên. Xe chạy qua, thoát nạn! Qua sông là ổn rồi, mới thấy tiếc cái va-li, cái đồng hồ, nhất là bao nhiêu tấm ảnh kỷ niệm, cả phim từ hồi bé ở Hà Nội. Nhưng chọn giữa cuộc đời ở lại u tối và các thứ đó, đành phải xa lìa chúng.

Xe sang tới Chợ Lớn, Hiệu cảm ơn và chia tay với tôi. Tôi vào ngay tiệm phở chén một bát. Bây giờ tay không, chả biết đi đâu, chẳng một ai quen biết. Lang thangmãi gần tối, Sài Gòn rộng bao la, nhưng tôi chả có chỗ nào dung thân. Tôi lại nghĩ đến bệnh viện Bình Dân, nơi đó đông đúc đầy người, tối cứ vể đấy ngủ, ban ngày sẽ chuốn nơi khác.

Tối hôm đó tôi về bệnh viện Bình Dân thực, vì chẳng còn chỗ nào để đi. Tôi vào mãi phía trong, lại gặp một số thanh niên và đồng bào đang bàn tán, ngày mai họ vào Bình Xuyên. Từ chuyện mình vừa trải qua, tôi nghĩ đến các thanh niên khác, không thể để họ chôn vùi vào một nơi đen xấu như vậy, cho nên tôi nói thẳng cho họ biết là tôi vừa ở Bình Xuyên trốn ra, mất hết cả va-li quần áo, v.v… Ai nghe cũng sợ hết hồn, anh nào cũng lắc đầu lè lưỡi, cảm ơn tôi.

Được hai ngày không có gì xảy ra, tôi bắt đầu chủ quan. Mọi khi dậy là đi sớm, tối 9 giờ mới mò về. Tôi cũng tin vào mắt mình, nếu thoáng thấy Nghĩa là tôi lủi vội. Sáng hôm nay, tôi dậy muộn, cũng nằm gần mấy anh bạn mới. Mải chuyện vui với mấy anh, đột nhiên, tôi nhìn thấy trước mắt mình (lúc đó, tôi đang ngồi dựa tường, nhìn xuống nền, giữa hành lang đầy người) một đôi giầy đen bóng loáng, đôi ống quần vàng ka ki Mỹ là thẳng tắp. Tôi từ từ nhìn lên, tim tôi bóp lại; Nghĩa! Nghĩa đang đứng chống hai tay cạnh sườn nhìn tôi bằng đôi mắt lạnh băng. Tôi liếc sang mấy anh bạn mới, họ đều lủi mất, chắc họ cũng biết ngay đấy là Nghĩa. Tôi đứng bật dậy, tỏ vẻ mừng rỡ, một tay cho vào túi quần sau như lấy ví:

– À, anh Nghĩa! May quá, em cứ sợ không có giấy tờ đưa cho anh, anh sẽ giận, em nhớ là đã gửi một người bạn, nên phải lên đây lấy. Em đã lấy được rồi. Bây giờ, anh cho em về dưới đấy với.

Nghĩa cứ lừ lừ nhìn tôi, không nói một lời. Một lúc, Nghĩa nhìn ra phía ngưòi cảnh sát đang gác như định gọi vào để bắt tôi (cảnh sát cũng của Bình Xuyên). Tôi vội nói:

– Không cần thiết anh Nghĩa à! Chính em thích Bình Xuyên lắm. Nhất là gần anh, bây giờ em đi theo anh về ngay mà.

Y nhìn tôi một lúc, rồi ra ý bảo tôi đi trước, y theo sát ngay sau. Đành vậy! Khi gần ra tới cửa bệnh viện, tôi thấy từ trong một căn buồng chéo phía trước mặt tôi đang đi tới, trên một chiếc ghế bố xanh, một cô gái chừng 20, 21 tuổi, có sắc đẹp căng đầy, đang ngồi chải, hong mái tóc đen huyền nhìn ra. Vô tình gặp mắt Nghĩa, cũng đang nhìn về phía cô, cô nàng cười. Nghĩa cũng toét miệng ra. Thôi thì trai anh hùng, gặp gái thuyền quyên! Bốn mắt nhìn nhau, hai lòng mở cửa. Thế là Nghĩa bảo tôi đứng đó chờ y một tí. Tôi cũng nháy mắt ra vẻ tán đồng. Nghĩa rẽ vào, tôi đứng cạnh đấy. Cô ả thấy Nghĩa vào, lại e thẹn cúi đầu, Nghĩa lại càng ngất ngây. Tôi thấy vẻ mặt Nghĩa đờ đẫn. Dịp may một thuở ngàn năm, thôi thì 36 chước, chước nào tối ưu? Tôi lủi lẹ!

Như vậy, giai nhân ấy, vô tình đã cứu tôi một hướng đời!

Từ đấy cho tới khi tôi phải lên tít trại định cư Hà Nội, Hố Nai Biên Hòa, chẳng bao giờ tôi dám bén mảng đến bệnh viện Bình Dân nữa. Mãi khi Bình Xuyên bị đập tan tành, tôi cũng không hiểu số phận Nghĩa ra sao, và các bạn tôi: Tuyển, Luân và An thế nào?

Cho tới 1960, tình cờ tôi gặp lại An, bây giờ là cán bộ thẩm cung ở Bình Dương. An có nói, Nghĩa lên Đại úy, và sau vụ Bình Xuyên, Nghĩa bị mất tích, không biết sống chết thế nào. Còn Tuyển, hiện nay đang làm ở tòa báo VNTP. Tôi định đến thăm Tuyển nhưng chưa có dịp nào.

………….

Riêng sau ngày tôi gặp Nghĩa ở Hỏa Lò, đến khi tôi phải đi các trại trung ương, tôi vẫn có ý thăm hỏi về Nghĩa. Mãi về sau, đến năm 1976, khi đó tôi ở trại trung ương số II Phong Quang, Yên Bái, tôi gặp hai thanh niên tội hình sự đã từng sống với Nghĩa gần 3 năm ở trại giam Vĩnh Quang. Theo họ nói, Đại Úy Nghĩa là một người lao động nổi tiếng khỏe nhất trại. Nghĩa thường gánh mỗi bên quang 40 viên gạch thô (gạch chưa nung), như vậy sức nặng thường từ 90 ký đến một tạ. (Chắc Nghĩa cũng bị cuốn hút vào sự thúc đẩy, khích lệ thi đua cải tạo là mê hồn trận của Cộng Sản). Vào năm 1972, Nghĩa bị ho lao, thỉnh thoảng cứ nôn ra máu, kiệt sức dần mà không có thuốc, không có gì bồi bổ, nên Nghĩa đã chết vào một đêm Đông mưa dầm gió Bấc, chấm dứt một kiếp đời xuôi ngược nổi trôi.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 24 Sep 2023

Nguời mong không gặp – Người gặp không mong

Đặng Chí Bình

Bài 33

Về tới Hà Nội đã 5, 6 giờ chiều. Trời đã lành lạnh buổi đầu Đông. Khi xe vào cổng Hỏa Lò, trời đã chập choạng. Vào phòng, sau khi mở khóa, tên Thành mở cặp lấy ra hai gói thuốc lá “Trường Sơn” và một bao diêm:

– Đây là tiêu chuẩn tiền ăn đi đường 2 ngày của anh, còn thừa 5 hào, tôi bỏ thêm hai hào để mua cho anh.

Tôi sáng mắt cám ơn. Tên Thành thật tâm lý. 7 hào bạc, bất cứ nó mua cho tôi thứ gì cũng không quý bằng thuốc lá. Tôi thấy trong lòng hân hoan hẳn lên. Một số ngày sắp tới như được hứa hẹn có một người bạn hiền, thật chung thủy, gắn bó, chia sẻ, an ủi thông cảm với tôi trong những lúc đắng cay cùng khổ của một kiếp …tù.

Tên Bằng dẫn tôi về xà lim, vẫn trở về buồng cũ, buồng số 5 xà lim III. Giờ này, tên Nhiễm trực đã nghỉ, vì thế tên Bằng mở cửa buồng. Trong buồng, ngoài bộ quần áo sọc cũ của tôi, bây giờ đã có chăn chiếu. Thật là mừng! Đã cuối tháng 11, trời lạnh nhiều, các cán bộ ở Hỏa Lò đã thay đổi quần áo mùa Đông. Sau khi cùm xong, tên Bằng ra khóa cửa lại.

Trong lòng còn đang mải mê niềm hân hoan với thuốc lá, với chăn chiếu, tôi quên bẵng không báo cáo với tên Bằng là chiều nay, tôi chưa ăn cơm. Thật là lú lẫn đáng trách. Từ 11 giờ sáng, ăn hai nắm xôi, mỗi nắm 2 hào ở Vinh, tới bây giờ chả có gì trong bụng cả. Tôi lục đục trải chiếu, cái cùm hôm nay thật lạnh buốt. Đói, lạnh thế này không thể ngủ được. Hơn nữa, mất suất cơm lúc này là cả một vấn đề. Tôi phải dũng cảm! Khi đó, chắc khoảng 7 giờ. Tôi lựa thế đứng một chân xuống nền, cố với miệng ra gần cửa nhỏ, tôi hô to:

– Buồng số 5 báo cáo cán bộ!

Một lần, im lặng. Hai lần, rồi lần thứ ba, vẫn im lặng. Tôi thấy ngần ngừ, nhưng cái bụng bắt buộc tôi phải dũng cảm tiến lên. Tôi cố hô thật to một lần nữa. Vừa hô được nửa câu thì cửa sổ nhỏ xịch mở, làm tôi giật mình. Chắc rằng, tôi hô từ nãy, y đã từ đâu mò đến, khe khẽ nghe ngóng, tôi đâu có biết, y quát:

– Báo cáo cái gì?

Tiếng la của một người lạ, tôi không nghe giọng quen. Tôi dõng dạc:

– Báo cáo ông, chiều nay tôi chưa được ăn cơm.

Y gằn giọng:

– Sao không được ăn cơm?

– Tôi đi từ Hà Tĩnh mới về, từ sáng tới giờ chưa ăn.

Cửa sổ nhỏ đóng lại. Chừng 15 phút sau, cửa sổ lại mở. Lần này là tên Bằng. Y còn hỏi:

– Anh chưa ăn cơm à?

Tù bây giờ vào hết trong buồng rồi. Y đi mươi phút, có lẽ xuống bếp. Một lúc sau, y mở cửa, đưa vào cho tôi một bát đầy cơm, với một bát con có ít muối trắng. Y nói có vẻ dìu dịu:

– Canh không còn, anh ăn với muối vậy.

Tên này mắt lồi, trông dữ tướng, vậy mà tử tế tệ. Tôi mừng hết chỗ nói. Bát cơm gấp rưỡi mọi khi. Chẳng cần đũa, dùng 10 chiếc đũa trời cho mà tuyệt vời. Vừa ăn, vừa ngẫm nghĩ, nếu mình không dũng cảm lên tiếng, cứ do dự ngại ngần, làm gì có cơm ăn. Vậy trong cuộc đời, nhiều khi phải liều mới đạt kết quả. Hôm nay, tôi thấy lòng vui hẳn lên. Nhiều cái may, thuốc lá này, chăn chiếu này, bây giờ lại bát cơm đầy. Thế mới biết, hạnh phúc của con người chẳng có tiêu chuẩn quái nào cả. Vì thế, Cộng Sản đã triệt để lợi dụng khía cạnh này, để du hoặc lòng người.

Khoảng 15 phút sau, tên Bằng trở lại mở cùm, tôi đem bát ra trả và múc gáo nước. Theo quy định ở xà lim, không được để bát trong buồng. Cùm xong, tôi loay hoay tính toán.Cái chân trong cùm lạnh quá, mình sẽ chiếu cố đặc biệt cho nó. Tôi lồng hai ống một chiếc quần cũ lại, lựa luồn lách vào lỗ cùm, vừa lót, vừa cuốn cho cái chân ngăn cách với sắt. Trải chiếu ra, nằm vẫn buốt lưng, tôi phải gấp lại làm tư, chỉ lót từ mông đến vai. Tôi mặc hai áo, lấy chăn cuộn để hai chăn giáp chéo sang nhau ở dưới lưng (như vậy cũng như nằm lên hai lượt chăn). Nằm xuống, thấy tương đối dễ chịu, tuy sờ hai vai và từ đùi trở xuống vẫn lạnh, nhưng với mức độ lạnh thế này vẫn chịu được. Chỉ còn cái đầu, không có cái gì để gối lên một tí. Khó khăn đẻ ra sáng kiến! Lục lọi, tìm tòi trong óc, cuối cùng tôi nhớ tới mấy bó cuống chổi thanh hao, vẫn thường cọ rửa thùng phân, dựng ở mé tường chỗ vòi nước. Để ngày mai, tôi tính cả một kế hoạch, cho làm sao để có “một chiếc gối đầu”.

Mỗi sáng, tôi được 5 phút làm vệ sinh với những động tác sau: chạy lẹ đem bô đổ vào một cái lỗ chỗ đi ỉa; chạy về mở nước đổ tráng lần một, lần hai cho chổi vào cọ sơ, đổ; tranh thủ rửa hai cái tay, vuốt lên mặt mấy cái, rồi ôm bô vào. Ngày mai, tôi sẽ bỏ rửa tay, rửa mặt, để rửa hai đoạn cuống bó chổi thanh hao, vì các buồng họ làm vội, nhiều khi còn vướng những cục phân nhỏ vào những chạc cành phía trong. Tháo một cái lạt, tất cả đút vào bô, đậy nắp, vào buồng là ổn.

Đêm ấy, tôi nằm ngủ tương đối dễ chịu, những chú muỗi đành đứng ngoài khóc. Mùa Đông, càng lạnh càng ít muỗi. Thật là kỳ cục. Giá đổi lại mùa Hè ít muỗi, mùa Đông nhiều muỗi, tôi hạnh phúc biết bao!

Sáng hôm sau, kế hoạch đã tính kỹ, tôi cứ thế thực hiện. Khi vào buồng, tôi gỡ ra, tỉ mẩn bó lại thành một bó tròn đường kính độ 5 phân, dài chừng 20 phân. Tuy là chổi cọ thùng phân, nhưng tôi rửa kỹ nên chỉ hôi mà không thối. Còn ướt quá, tôi cố với người dựng vào phía trong của gầm sàn, tối nay sẽ ráo.

Một lúc, mụ Hoa vào gọi đi cung. Hôm nay lên, tôi gặp tên Nhuận và một tên lạ mặt. Sau một vài câu hỏi xã giao thường lệ, tên Nhuận mở cặp:

– Hôm nay, để thấy được sự thành khẩn của anh với cách mạng, chúng tôi sẽ hỏi anh một số vấn đề.

Y có chừng 20 cái ảnh đen trắng, loại hình 4×6 mà ai mới bị bắt cũng phải chụp để làm hồ sơ. Y đưa từng cái một, hỏi tôi có biết ai không. Trong khi đưa ảnh cho tôi xem, cả hai đứa đều theo dõi nét mặt và ánh mắt của tôi.

Kể cả 20 tấm ảnh gầy ốm, chứng tỏ là ảnh người tù. Tôi không biết một ai. Những dù cho có biết, tôi cũng tảng lờ ngơ ngác không biết. Qua một số thái độ, cách hỏi, cách đưa ảnh, tôi đã ngửi thấy vấn đề. Tôi hiểu trong số 20 tấm hình này, sẽ có từ một đến vài cái là ảnh của những người từ miền Nam ra, nằm trong một màng lưới tình báo nào đó của Sài Gòn đã bị bắt ở miền Bắc. Số còn lại, hầu hết là ảnh của tù hình sự, hoặc của tù nhân không liên quan đến tình báo. Những người trong tình báo của Sài Gòn bị bắt, hoặc còn ở một trại giam tỉnh nào đó, hay ở ngay trong Hỏa Lò, nhưng giam riêng biệt nên không biết nhau. Có rất nhiều điều chúng không biết, chúng cần thẩm tra. Vậy, đây cũng chỉ là một trong những phương pháp chúng thăm dò.

Tùy theo sự hiểu biết, cũng như quan điểm của những người đã bị bắt, biết đâu, do vô tình, hoặc do thành khẩn, thấy ảnh người quen, nói quen. Chúng sẽ tìm hiểu, điều tra quan ở đâu? Trường hợp nào? Bao nhiêu lần? Đã thấy làm những gì? Hay đi với ai? Thường đến chỗ nào? Thường đi xe gì? Mặc quần áo gì? v.v… Từ đấy, chúng có thể phanh phui ra những điểm mà đối tượng kia còn dấu, hoặc xác nhận chiều hướng chúng có thể tin. Chúng sẽ lấy người này thọc người kia, lấy người kia lại thọc người này. Vì những sự kiện tù nhân khai xảy ra ở trong miền Nam, chúng không thể nắm được trong việc thẩm tra, nên chúng chỉ còn dùng những cách như vậy. Với tôi, những trò đó, đừng hòng. Nhiều khi tôi lại tương kế tựu kế, làm cho chúng rối mù thêm, đưa chúng vào cái mối tơ vò cho chúng tha hồ gỡ. Thời gian ở Hỏa Lò, cũng như sau này đi trại trung ương, tôi thấy chúng thường đột xuất diễn cái trò ấy. Tôi biết, chúng đã đưa ảnh của tôi đi những nơi nào đó mà quá trình khai báo có trùng hợp một không gian, một thời gian, v.v… để chúng nghi người đó có thể biết tôi.

Kỳ này, có khi 2, 3 ngày mới gọi cung. Lúc chúng truy tôi điểm này, lúc điểm khác, lúc sự việc này chưa rõ, lúc việc kia là vô lý, nói láo, v.v…

Trời bước sang tháng 12 càng lạnh dữ, lúc đó cũng là tháng 11 Âm lịch. Một chăn, một chiếu nhưng nằm trên đá và sắt, về mùa Đông bụng càng đói ghê gớm. Không có “ca lô ri” để chống lạnh, suốt đêm hầu như tôi không ngủ được, cứ ngồi co ro. Bốn lượt chiếu, hai lượt chăn mà cái lạnh của sàn xi măng vẫn thấu lên lưng không nằm được. Lúc này tôi, ngày đêm, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới ăn thôi. Nghĩ đến bất cứ cái gì cũng thèm chảy nước dãi ra. Mà quái làm sao, bất cứ nghĩ gì, rồi dần dần cuối cùng lại ra chuyện ăn. Nhiều lần tôi đã giận khùng ngay chính với tôi, tại sao lại chỉ nghĩ đến ăn cho nó thèm. Tôi cương quyết dứt khoát bắt óc tôi không được nghĩ đến ăn nữa. Tôi nghĩ đến một anh bạn thân là Nguyễn Văn Nhượng, anh học khóa 10 Thủ Đức. Cuối tuần, tôi lên trường đón anh xuống Sài Gòn, đi chơi khắp thành phố, để rồi xuống chợ Ông Tạ ăn bún chả, thế là cứ nuốt nước miếng ừng ực. Thậm chí, tôi nghĩ đến những ngày còn nhỏ ở Hà Nội, tôi và một người bạn đạp xe vào Hà Đông, rồi chùa Trầm chơi, ghé vào một quán quê bên đường ăn hai gói xôi đậu đen, nước miếng lại chảy ra đầy mồm. Đôi khi từ một cuộc duyệt binh, một đám đánh nhau, một buổi tập võ…nhưng thế nào rồi cũng đến chỗ ăn.

Ôi! Thằng Marx đã phát hiện ra cái huyệt của thời đại, cái huyệt của con người, nên nó đã nghiên cứu viết tập “Tư Bản Luận”. Học trò của tên Marx chỉ cần nghiên cứu thực nghiệm, lại nghiên cứu bổ sung, cuối cùng sao cho thật tinh vi hết cỡ, làm thế nào đó để khi nó thọc vào huyệt là con người dúm lại, dù người đó là ai, chỉ trừ không phải là… người.

Những ai chưa từng bị đói, dứt khoát không thể cảm nhận hết được cái đói đã đành, nhưng kể cả những người đã đói hàng tháng, hàng năm mà còn có một cứu cánh tinh thần như ta sắp hết án, trở về sẽ no; vợ sắp ra tiếp tế cho ta, sẽ có bữa no; tội của ta không có gì, sắp được tha, sẽ no. Ngoài biển khơi, cố gắng chịu đựng vào bờ, sẽ no, v.v… Những người đó vẫn chưa cảm nhận hết cái ghê gớm của đói nên hãy còn có tính cương cường, danh dự, tư cách… Chỉ có những ai đã đói triền miên, năm này qua năm khác, ngửng nhìn khắp 4 phương trời, không còn một hy vọng gì có một ngày sẽ no, lúc đó mới thấy được cái ghê gớm của cái đói ở mức độ nào. Sau này, những thiên tới sẽ có nhiều sự việc, nhân chứng sinh động về vấn đề trên.

Mùa Đông, thường suốt ngày âm u, không có mặt trời. Trong buồng ngồi nhìn chiếc cùm còn không rõ, ở bên ngoài chắc trời âm u xám xịt, như lòng tôi lúc này. Từng đợt, từng đợt gió mùa Đông Bắc theo nhau tràn về, gây lên cái lạnh tái tê. Gió ào ào luồn qua khung cửa sổ bé tít mãi trên trần, gió lách qua những khe hở của những viên ngói trên mái tạo nên những âm thanh vi vu, rên rỉ, nghe càng thê lương ảm đạm trong chốn ngục tù. Những đầu ngón chân, ngón tay của tôi không hiểu sao sưng lên ngứa buốt không chịu nổi. Tôi không hiểu, tôi mắc bịnh gì? Quái lạ! Từ nhỏ tôi không thấy bệnh này, nó sưng đỏ mọng lên, nhức buốt suốt đêm ngày. Nhất là về đêm, nó nhức tôi không thể ngủ được. Tôi cứ ngồi gục đầu xoa nắn ngón chân, ngón tay, lòng hoang mang lo sợ không biết là bệnh gì. Đêm thâu vắng lặng, chỉ nghe có tiếng gió gầm gừ lồng lộn ngoài trời. Lâu lâu, chiếc cửa sổ con lại xịch mở. Tôi ngửng lên, cửa đóng lại. Tôi hiểu đây là cán bộ tuần tra ban đêm, cứ một hoặc hai tiếng lại mở cửa sổ kiểm soát. Sao mà trời già cũng cay độc, toa rập với lũ người khát máu, hành hạ trăm chiều những kiếp người cùng khổ lầm than! Nỗi niềm chảy dài mãi vào đêm thâu tịch mịch. Lúc này, chắc hẳn cũng 2, 3 giờ đêm. Đột nhiên, cửa nhỏ lại xịch mở. Tôi ngửng lên, qua ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn điện trên trần, tôi chỉ thấy một cái mũi và hai đốm mắt long lanh. Lần này, cửa không đóng lại ngay. Một giọng nói phụ nữ chưa bao giờ nghe: “Sao anh không nằm xuống ngủ?”

Giữa cảnh âm u, vắng lặng, giọng hỏi han như chứa đựng tình người cảm thông. Tôi trả lời trong một chút xúc động:

– Không hiểu sao ngón chân và tay tôi sưng đỏ lên và buốt lắm, tôi không ngủ được.

Tôi giơ cả mười ngón tay ra chỗ sáng gần cửa sổ. Giọng nói nho nhỏ như tiếng thì thào:

– Anh bị cước đấy!

Tôi chợt nhớ ra ngày xưa khi còn bé, nghe người ta nói trâu bị cước chân, khi đã long móng thì chết. Thế mà các móng chân của tôi, tôi cảm thấy nếu mình kéo mạnh, cũng sẽ bong ra, bởi quanh rìa móng chân mọng đỏ lên như có nước, chỉ vì cơ thể thiếu chất dinh dưỡng, không có sức đề kháng, vì thiếu quần áo và chăn ấm, vì phải nằm trên cái lạnh của sắt và đá, vì thiếu một ngọn lửa… Nghĩa là, nếu tôi chỉ cần có một trong những thứ trên, chân tay của tôi sẽ không bị như vậy.

Cửa sổ vẫn mở. Vẫn hai đốm mắt long lanh và chiếc mũi lúc rõ, lúc mờ. Im vắng nặng nề. Hai thái cực, hai trận tuyến nhưng có cái chung cùng là … con người.

Giọng nói êm êm lại cất lên:

– Mai anh báo cáo y tá, xin một tí nước muối rồi ngâm chân tay anh vào.

Ôi, người này không phải thường xuyên ở Hỏa Lò rồi. Nếu như vì lý do nào đó, anh chết thì thôi, chứ làm gì có chuyện cho nước muối để ngâm chân! Hơn nữa, muối lại là điều tối kỵ trong xà lim. Hoặc, có thể người đó cũng hiểu như vậy, nhưng trước cảnh này phải nói thế cho qua chuyện. Dù sao, giọng nói ấy, hai đốm mắt ấy như ẩn tàng một tình người chân chính, cũng vuốt ve phần nào cõi lòng lẻ loi, cô đơn heo hút đang tràn ngập lòng tôi.

Cửa đã đóng rồi. Người đã đi rồi. Chỉ còn tiếng gió gào trên mái. Tôi chợt nhớ đến một bài ca: “Mùa Đông gió, lạnh lùng, gió lạnh lùng. Chim thôi bay, ngoài mưa gió… hãi hùng. Gió hú chi cho thêm đau lòng người chiến sĩ… Trong đêm trường…”

Gió vẫn lồng lộn thét gào, xà lim vẫn âm u, vắng lặng. Tôi thiếp dần vào đêm kinh hoàng.

Bẵng đi 5, 6 ngày không gọi cung. Hôm nay tên Bằng mắt lồi lại gọi. Khi mở cùm, cả bàn chân tôi cũng mọng đỏ lên, vô cùng nhức buốt. Tôi cho chân xuống, xỏ vào đôi dép Thái Lan cũng thấy đau. Tôi đứng dậy, cố gắng khập khiễng đi như người què. Tên Bằng hỏi giọng thờ ơ:

– Chân anh sao thế?

Tôi trả lời nhát gừng:

– Chẳng hiểu sao ngón chân, ngón tay của tôi sưng buốt.

Mỗi bước chân tôi đi như dẫm vào đống mảnh sành. Tôi cố gắng khật khưỡng. Có thể vì máu nóng dồn xuống chân, mặt khác, các mạch máu và những tế bào chân, trước nằm im, bây giờ chuyển động, vì vậy tôi thấy đỡ đau buốt dần.

Hôm nay, tên Bằng lại chỉ đường sang phía dẫy nhà bên kia sân của giàn nho. Dẫy này, tôi chưa hề bao giờ tới. Tên Bằng dẫn tôi đến một căn buồng lớn ở đầu dẫy. Vào buồng, tôi thấy 6, 7 người ngồi. À, đây là phòng giám thị trại, vì tôi thấy Thượng úy Trì, Phó giám thị, người miền Trung, ngồi ở một ghế cạnh “buya rô” lớn, trên có rất nhiều hồ sơ và một là cờ đỏ sao vàng nhỏ.

Ngồi ghế chính giữa là một tên chừng 45 tuổi, mặc một cái áo “vét tông” gần cạnh đấy, là tên Đức và một số người lạ nữa mặc đồ dân sự.

Trong phòng treo một ảnh Hồ Chí Minh lớn ở chính giữa tường, cùng với nhiều khẩu hiệu: đảng, tổ quốc, cách mạng, v.v… đỏ loẹt cả văn phòng. Trước buya rô, vẫn chiếc ghế đẩu chơ vơ của tội nhân. Tên Đức chỉ tay bảo tôi ngồi. Xong, hắn nói tiếp, vẻ trang trọng, đưa mắt về phía người mặc áo “vét”…

– Đây là Đồng Chí Hồng, Trưởng phòng “44”, Phòng chấp pháp Chính trị. Đồng chí có nhã ý gặp anh. Vậy, anh có điều gì cần, cứ đề bạt.

Tên Hồng cười xã giao:

– Anh có khỏe không? Anh có cần gì, tôi cho phép anh phát biểu.

Tôi nghĩ bụng: Tôi cần gì ư? Một điều mà tôi cần, nếu anh mà thực hiện, anh không còn chỗ ngồi này đâu! Tôi liếc nhìn tấm ảnh Hồ Chí Minh lớn treo trên tường, phía sau lưng y. Tôi chăm chú nhìn vào đôi mắt chó sói của tấm ảnh. Con ngươi vàng ửng như đang đong đưa đổi màu nhìn tôi. Tự nhiên hai mắt tôi nóng rát lên như có lửa, làm cho hai con ngươi của tấm hình như thu nhỏ lại, cụp xuống. Một ý nghĩ ngắn gọn: “Tôi cần cái đầu của người trong tấm hình kia!”. Cuối cùng, tôi nói:

– Xin cảm ơn ông, tôi không cần gì cả. Chỉ đề nghị ông giải quyết sớm sự việc của tôi.

Y cười nửa miệng:

– Anh không chịu khai báo sự thật. Anh không khai báo tốt thì giải quyết sớm thế nào?

Tôi hiểu, điều chính là nó muốn xuống nhìn trực tiếp con người của tôi mà thôi. Còn, chỉ là những câu nói phất phơ.

Giữa lúc ấy, tôi thoáng thấy một bóng người đi vào cửa, phía ngang chéo sau lưng tôi. Tôi quay lại nhìn ra, một người mặc quần áo nâu cũ và một tên công an áo vàng đi phía sau. Tên công an lùi ra. Tên Đức đứng dậy chỉ cho người áo nâu đến một chiếc ghế dài cạnh tường ngồi, quay mặt về phía tôi và buya rô. Người áo nâu dáng to khỏe, nhưng nước da xám tái, đi chân đất, gấu quần nâu lua tua rách mướp.

Khi tôi vừa thoáng quay ra cửa nhìn, tim tôi hơi bóp lại. Người áo nâu cũng nhìn thoáng tôi. Phản xạ cấp thời, tôi chỉ thấy bộ mặt quen quen. Khi người áo nâu vào ngồi ghế nhìn tôi, và nhìn các người ngồi ở bàn giấy, tôi đã nhận ra.

Chắc rằng lúc đó mắt tôi phải đờ đẫn vì ngạc nhiên. Tôi không thể tưởng tượng nổi con người tiều tụy, khúm núm, rụt rè, lấm lét ngồi gần tôi kia là …Trung Úy Nghĩa. Con người mà hình ảnh đó đã in sâu trong óc tôi, đẹp trai, khỏe mạnh ngang tàng, hiển hách một thời của Bình Xuyên 1954-1955 bây giờ là đây.

Không khí im lặng, không ai nói một lời. Tôi biết chúng đang bám sát thái độ của Nghĩa và tôi. Chừng 3 phút sau, tên Đức ra hiệu, tên công an bên ngoài vào dẫn Nghĩa ra. Sau đó, chúng nhìn tôi như hỏi bằng ánh mắt. Tôi cúi đầu xuống, im lặng và suy nghĩ với bao nhiêu hỗn loạn trong đầu.

Nghĩa là một người trước đây 8 năm tôi thù hận. Suốt 8 năm trường, sau khi Bình Xuyên tan hàng rã đám, tôi đã nhờ bạn bè và chính tôi cố ý đi tìm Nghĩa để trả mối hận thù mà Nghĩa vẫn biệt vô âm tín. Ai ngờ đâu, chỉ vì một sự thử thách vô tình của tôi với tên Lê Văn Hoàn, bây giờ tôi mới được gặp Nghĩa trong cảnh ngộ này. Phải nói, tôi không ngờ được, mà cả ngay Nghĩa cũng không thể biết trước được, có một ngày chúng tôi lại gặp nhau, trong cái giây phút chết lòng. Lòng tôi dâng lên một chút ân hận giầy vò. Dù muốn hay không, giờ đây Nghĩa cũng là một chiến hữu của tôi. Người chiến hữu cùng trong một cảnh ngộ sa cơ, rơi vào tủi cực của cả một kiếp người. Càng hình dung đến hình ảnh tiều tụy của Nghĩa lúc nãy, lòng tôi càng xáo trộn vừa tình thuơng yêu chiến hữu, vừa lòng ân hận lay lắt, đã xóa tan hoang mối hận thù lâu dài, vẫn nằm trong một ngách nhỏ của con tim.

Thấy tôi cứ cúi đầu, tên Đức lên tiếng:

– Thế nào, anh có nhận ra ai không?

Tôi chậm chạp:

– Dạ… Nghĩa Bình Xuyên…

Tên Đức vừa cười nhạt, vừa hỏi tiếp:

– Anh thấy thế nào?

Tôi có vẻ hí hửng:

– Tôi không ngờ!…

Y bóng gió đe dọa:

– Anh sẽ còn gặp nhiều chuyện không ngờ nữa!

Rồi y đứng dậy:

– Thôi, bây giờ cho anh về!

Một người ngồi ghế phía sát cửa đi ra một lúc, mụ Hoa rảo bước vào. Tôi theo mụ về xà lim.

Trên đường về, đầu tôi đầy những suy nghĩ, tính toán nên quên cả đôi bàn chân sưng buốt. Cứ tập tễnh bước đi mà lòng nặng trĩu tơ vò.

Tôi nghĩ, Nghĩa ở trong một toán biệt kích, hoặc đi cá nhân như tôi. Nghĩa đã ra Bắc từ lâu, và cũng bị bắt từ lâu, hiện đang ở trong một trại giam Trung Ương nào đó để lao động cải tạo. Có thể trước đây, Nghĩa không khai báo đến thời gian ở Bình Xuyên. Bây giờ, mãi 1962, tôi mới ra, do một sự vô tình tôi đã nói đến Nghĩa ở đó. Như vậy, chúng cho rằng Nghĩa còn che giấu nhiều vấn đề. Vì thế, Nghĩa bị lấy về Hỏa Lò để điều tra lại và cho tôi trông thấy, nhưng không cho hai bên nói chuyện với nhau. Vậy là chúng đã gián tiếp đe dọa cả Nghĩa và tôi: “Các anh còn những điều gì nữa mà chưa khai, thì các anh tự liệu”. Bất cứ một ai, khi đã ở trong tay chúng rồi, điều chúng đã biết mà anh không khai, chỉ còn một cách là anh tự tử ngay đi mới thoát. Tôi nghĩ, Nghĩa đang lo sốt vó, và có thể đang oán hận tôi nữa, nếu Nghĩa không hiểu quán triệt sự việc. Ngược lại, tôi chả có cái cóc khô gì phải lo cả. Nghĩa có biết gì về tôi đâu. Còn giai đoạn ở Bình Xuyên, tôi đã khai thật. Câu chuyện đó không tiền, khoáng hậu đối với cuộc đời hoạt động của tôi mà.