Post by Sơn râu 14 Mar 2024
C-Chân dung bạn tù văn nghệ sĩ 1976-1990














Post by Sơn râu 14 Mar 2024
C-Chân dung bạn tù văn nghệ sĩ 1976-1990














baotreonline.com
Post on November 3rd, 2020
Post by Sơn râu 13 Mar 2024
Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã gần kề! Không khí càng sôi động, sùng sục như chảo nước sôi dùng để cạo lông heo. Bên ‘Cuồng Trump’ lẫn bên “Cuồng Chống Trump” gấu ó, chửi nhau ỏm tỏi! Bên tám lạng; đằng nửa cân, sùi bọt mép, chí chóe với nhau như hai bà bán rau cải ở chợ Cầu Ông Lãnh!
Nhưng quyết định cuộc đua, ai thắng ai thua lại là thành phần thứ ba, đứng chàng hảng chê hê. Ðám nầy được gọi là ‘The Quiet American’ (Người Mỹ thầm lặng). The Quiet American nầy hổng cuồng đứa nào hết ráo! Họ chỉ vểnh lỗ tai lên nghe và dùng đôi mắt kèm nhèm của mình để đọc. Ðọc xong thì lại hỏi nhà báo một câu rất lý thú là: “Ðôi khi tui nghe hoặc thấy trên ‘Facebook’ hoặc ‘Twitter’ một bài phát biểu chính trị – hoặc một bản tin – mà tui không chắc nó có đúng hay không? Làm thế nào tui có thể tìm ra được sự thật?”
Lo như vậy là quá xá đúng! Vì trong thời buổi vàng thau lẫn lộn, tin tức tùm lum, tà la, bay tá lả, bay lả tả trên ‘net’, ma quỷ và người! Thì làm sao mình biết ai là người? Ai là quỷ, là ma? (Nếu nó không có đi hổng hai chưn trên mặt đất?)
Vì vậy cho nên Fact-checkers (Người kiểm tra sự thật) là kiếng chiếu yêu, xài cũng tốt, vì soi tới đâu là tin giả nó hiện nguyên hình hè. Fact-checkers là cái hải bàn giúp cho thủy thủ biết được hải trình trong cơn sóng cả đầy những tin giả. Tin giả tràn lan vỗ miết mạn thuyền, kêu ‘oàm oàm, oạp oạp’, toan nhấn luôn đầu óc của người đọc chìm sâu vào biển ngu tăm tối!
Dà con xin trả lời ông (bà) Nội con nít như vầy: “Kiểm tra sự thật, ai nói thiệt ai nói dóc, là một chuyện rất quan trọng. Nó không chỉ giúp ông (bà) Nội đoan chắc rằng việc nghiên cứu để làm luận án ở trường Ðại học của mình không bị sai lệch, không chính xác, mà còn bảo đảm rằng ông (bà) Nội là một người có suy xét, có hiểu biết. Ngoài ra nó còn giúp cử tri mở mắt ra trao tráo, mở mắt ra thao láo, với cái đầu minh mẫn như vừa uống xong một tách ‘cà phe’ đen thật đậm vào buổi bình minh.
Ðầu óc sáng suốt để chọn lựa được người tài đức (họng), người sẽ làm đầy tớ cho mình trong vòng 4 năm sắp tới! Bằng không, mình sẽ vò đầu bứt tóc, nhéo lỗ tai, đấm ngực, than rằng: “Ta đã lầm đưa nó vô Tòa Bạch Ốc”. Ðể nó ăn trên ngồi trốc, ăn ốc bắt ta đổ vỏ ốc; bằng cách bốc, rồi lủm tiền đóng thuế của ta!

Tranh Bảo Huân
Dạ! Tui xin trình cho ông (bà) Nội con nít một số trang ‘web’ kiểm tra sự thật nổi tiếng, có uy tín, thường công bố kết quả của họ trực tuyến để ông (bà) Nội con nít có thể tham khảo một cách nhanh chóng:
(Huyền thoại tức là đặt dóc, như bài ‘Huyền Thoại Mẹ’ (bợ đít CS) của nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công Sơn vậy!)
Xin chúc may mắn! Good Luck! các ông (bà) Nội con nít, quởn, ở không nên nhiều chuyện, khoái xen vào chánh sự nước Mỹ như tui vậy. He he!
o O o
Khuya nay, khi tui leo lên ghế, ngồi khỏ bàn phím lốc cốc để viết bài nầy, thì trên Fox News của Trùm truyền thông thế giới, ‘mông xừ’ Rupert Murdoch (người Mỹ gốc Úc chớ không phải gốc cây) đồng hồ nhích từng ngày, giờ phút giây cho biết: Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ chỉ còn 15 ngày, 11 giờ 49 phút, 43 giây nữa là tan sòng đánh cá ngựa, hên xui may rủi, biết ai thắng ai thua?
Bà con cử tri Mỹ cũng như nhân dân toàn thế giới, trong đó có cả tui, sẽ biết hai con ngựa già: Joe Biden (78 tuổi), đảng Dân Chủ và Donald Trump (74 tuổi), đương kim Tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa, con ngựa nào sẽ ‘lết’ về tới đích trước.
Sỡ dĩ tui dùng động từ ‘lết về tới đích’ vì cả hai ông nầy đều già háp, gần hết xí quách, gần đất xa trời. Nhưng vì lòng yêu nước Mỹ dạt dào, bao la quá xá nên nhứt định hy sinh, thân nầy kể bỏ. Leo lên leo xuống cầu thang máy bay, hai tay run run nhưng vịn thật chắc để mà bay kiếm phiếu tùm lum, tà la vòng vòng nước Mỹ. Nhứt là ở các tiểu bang chiến trường miền Trung Tây nước Mỹ đang ngang ngửa, nhứt chín nhì bù giữa đôi bên. Cả hai ứng viên đối địch sẽ khóc than: “Ông đi qua; bà đi lại làm ơn, làm phước bỏ phiếu cho tui. Hu hu!” Thiệt thấy thảm thương luôn! Ôi Cái vòng danh lợi cong cong, Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào?!
o O o
Vừa bước ra khỏi chiếc ‘Air Force One’, Ông Trump tuyên bố với đám đông cuồng nhiệt tại tiểu bang Georgia, đang la ó um sùm để ủng hộ ông, rằng “Nếu tui mà thua ứng cử viên dở ẹc nhứt trong lịch sử chính trường là ‘Joe ngủ gật’; thì tui sẽ vĩnh biệt nước Mỹ dấu yêu nầy để bay ra nước ngoài, bay về nơi gió cát! Bạn sẽ không còn nghe tui đàn và hát”
Tui thì ngược lại! Xin đừng đi! Ông Trump ơi! Ðừng dắt Melania đi mất! Xin đừng bắt chước Chú ba Phạm Lãi dắt á xẩm Tây Thi lặn mất vào Ðộng Ðình Hồ hồi thời Việt Vương Câu Tiễn nhe ông!
Mất ông, tui buồn một! Nhưng mất Melania tui buồn tới một (trăm). Vì Melania là Hoa hậu trong những ‘The First Lady’ già khú đế của nước Mỹ. Nước Mỹ và tui tim sẽ vỡ tan, sẽ buồn rầu, sẽ rờ râu râu rụng; rờ rún rún rung rinh. Nước Mỹ buồn thỉu, buồn thiu! Buồn như Sa mạc Nevada hoặc Sa mạc Sahara chiều lên cơn bão cát! Cát bay làm rát hai con mắt, khóc người một con! Hu hu!
“Yêu người như thế đó. Người bỏ người ra đi. Lời thề bay theo gió. Gió ơi gió bay cao. Thôi từ nay còn nói năng gì?” Con vợ bé của tui, mới vừa lãnh từ Việt Nam qua, một thành viên trong đám chị em ta, thuộc nhóm ‘Cuồng Trump’, vừa nước mắt, nước mũi lòng thòng (thấy mà gớm), vừa khóc than như vậy đó. Sao ông nỡ bỏ đi cho đành lòng?
o O o
Sau một hồi bình tâm nghĩ lại, tim bớt đập mạnh, bớt xúc động vì nghe tin Trump sẽ bỏ nước Mỹ ra đi, nếu thất cử vào ngày mùng 3, tháng Mười Một tới! Vì tui chợt ngộ ra rằng ông Trump chỉ xuống ‘xề’ để chỉ giỡn chơi thôi. Ông muốn chọc quê ca, nhạc sĩ lừng danh Springsteen, 71 tuổi, vốn đã thề rằng ông sẽ lên chuyến bay tiếp ngay sau khi kết quả bầu cử được công bố, để bay đến Úc, nếu Trump tái đắc cử”.
Rồi tay trống cũng lừng danh, Tommy Lee, thề có Chúa: ‘Tôi sẽ ra khỏi đây. Tôi sẽ trở về đất mẹ, trở về Hy Lạp và kiếm một ngôi nhà nằm chơi vơi trên một đảo hoang nào đó, nếu Trump tái đắc cử”
Thôi mấy ông ơi! Cho tui xin can! Mấy ông bỏ nước Mỹ đi hết ráo thì cũng được đi! Nhưng cái tui sợ nhứt là Melania sẽ bắt chước mấy ông đòi trở về đất Mẹ, Tiệp Khắc, Slovenia, là cuộc đời của dân Mỹ sẽ buồn lắm đó mấy cha!
ĐXT
Melbourne.
baotreonline.com
Post on March 3rd, 2021
Post by Sơn râu 13 Mar 2024
Thủ hiến, từ Hán Việt, nghĩa là Cụ lớn, (xin nhớ bỏ dấu nặng) Daniel Andrews tiểu bang Victoria, Úc Châu rất khoái ‘hiện hình’ trên TV.
Tuy nhiên cứ 10 giờ sáng mở Truyền hình ra mà tui thấy mặt Cụ lớn là tui ớn chè đậu hè! Ớn vì lần nào cũng là thông điệp cà lăm nhưng rất quan trọng của chính phủ tiểu bang Victoria.
“Vì có hai ca nhiễm COVID-19 trong Cộng đồng nên toàn tiểu bang sẽ bị cô lập, sẽ bị giới nghiêm bắt đầu lúc 11:59 pm), ngày 12, tháng Giêng, năm 2021.
Ðứa quờ quạng là bị phạt 1,652 đô Úc đó nhe! Hỏi có tức hông chớ? Mới xả cảng đâu có bao lâu; sao mấy ông lại nhốt tụi tui vô chuồng hết ráo vậy hè?
Chẳng qua dân Úc từ hải ngoại trở về, hổng biết chư vị có mang theo con Covid-19 (biến thể của nước Anh lây lan rất nhanh qua không khí) để làm quà hội ngộ người xưa hay không? Nên ‘cẩn tắc vô áy náy’ mấy chả bèn đem nhốt hết ráo 14 ngày ở ba khách sạn Grand Hyatt, Park Royal và Holiday Inn.
Giới nghiêm lần thứ ba nầy, dù chỉ 5 ngày, nhưng buồn nào hơn đêm nay, nó lại rớt ngay vào ngày Mùng Một Tết ta. Hậu quả là đồ ăn, trước Tết, tui mua đầy một cái ‘trolley’, để dành đãi con cháu; đồ nhậu để đãi bạn hiền còn cả đống. Nhiều đến nỗi tui và em yêu dù có ráng mở cái mồm ra, khẩu độ tối đa như nòng pháo 105 ly, ăn tới Tết năm sau còn chưa có hết!
Ðồng tình với tui, một Chú Kangaroo la làng là: “Tui ngán tới cần cổ cái chính phủ vô dụng này. Tui kinh hoàng thấy họ chuyển người bị cách ly đi nơi khác mà trên đầu em lại trùm cái bao đựng rác!”.
Chính phủ Victoria phải đứng ra chịu trách nhiệm. Ðừng có thầy đổ bóng; bóng đổ thầy, đổ vòng vòng xong, rồi huề cả làng!
Tại sao chỉ cần búng tay cái chóc, trước 24 giờ để dân ngu khu đen chuẩn bị. Hậu quả là các nhà hàng tiệm bán bông chết cha hết ráo. Họ chỉ còn biết ngồi chửi đổng rồi khóc ròng vì hàng họ cho Tết Âm Lịch và Ngày Lễ Tình nhân vào cuối tuần coi như kể bỏ. Ðồ ăn để lâu hư, phải đem hiến cho Từ thiện. Hoa đã rũ tàn héo chỉ còn nước vụt vô thùng rác.
Lỗi đâu phải của họ đâu? Chính phủ Lao động Andrews phải bồi thường cho người ta chớ!
o O o
Vì 24 giờ qua, gần 40,000 xét nghiệm khắp tiểu bang Victoria không có thằng Coronavirus COVID-19 nào bị phát hiện hết ráo. Nên chánh phủ Victoria ‘giãn’ giới nghiêm, bắt đầu vào 11:59 pm tối ngày 17, tháng Hai, năm 2021 (mùng 6 Tết năm Tân Sửu).
‘Giãn’ giới nghiêm chớ chưa có bỏ hết à nha! Nghĩa là đã trói chặt tụi tui, không cho ăn Tết gì ráo; giờ thằng chả chỉ nới bớt dây trói mà thôi.
Cụ lớn Daniel Andrews đa nghi như Tào Tháo, chỉ cho mở cửa he hé mà thôi! Vì biết đâu con COVID-19 (và biến thể quái quỷ gì đó) còn núp lùm đâu đó trong cái Cộng đồng 6 triệu dân, nhỏ bằng cái lỗ mũi nầy.
Mở cửa hé hé có nghĩa là:
o O o
Sầu đời, tui nằm gác chưn lên trán mà tự hỏi rằng: “Tại sao chánh phủ không chở cha con mấy đứa từ hải ngoại về ra một đảo dành cho du khách nào đó ngoài khơi, nơi khí trời thoáng mát, ‘virus’ ít lây lan. Chánh phủ trả tiền cho tụi nó đi chơi chắc mẻm là đứa nào cũng khoái. (Cũng còn đỡ tốn tiền hơn là nhốt cả 6 triệu người dân Victoria, làm nền kinh tế cứ mỗi ngày thiệt hại tới 100 triệu đô la.)
Tại sao lại đưa mấy đứa phải cách ly nầy lại sống chung đụng, tù túng trong một khách sạn ở ngay trung tâm thành phố rồi lây nhiễm tùm lum, tà la vậy mấy cha?
Với một dàn chuyên gia bằng cấp đầy mình, Giáo sư, Tiến sĩ cố vấn hổng lẽ cái chánh phủ nầy lại ngu như con bò tót? Cuối cùng tui tự phát giác ra rằng: bất cứ biến cố nào xảy ra và phải giải quyết như thế nào thì các chánh trị gia bao giờ cũng nghĩ tới hai chuyện danh và lợi cho cá nhân nó trước.
Còn quyền lợi của người dân thì mấy chả chỉ nói nghe bùi hai cái lỗ tai, để xin phiếu mà thôi.

Tranh Bảo Huân
o O o
Kiểm dịch tào lao bắc đế như thế mà Cụ lớn Andrews vui mừng vui quá vui, đánh trống cắc cắc, tùng tùng như múa lân, thổi kèn ò e í e như đám ma để tự khen mình hay quá là hay.
Nói vậy mà hổng biết mắc cỡ gì mới báo!
Mất ăn Tết ta, năm chỉ một lần, làm tui giận xanh râu, phải tìm cách báo thù chớ! Bỏ qua sao được nè! Tui giờ chỉ chờ cuộc bầu cử Quốc hội Tiểu bang lần tới, tui sẽ dùng lá phiếu của mình để cho ‘băng đảng’ của ông ta biết thế nào là lễ độ!
Giờ thì đã xả ‘xú páp’ bớt cơn thịnh nộ, kẻo lên máu ngã lăn ra chết, bỏ em yêu cho thằng khác làm nô lệ cho em, thì uổng lắm, tui xin kể một câu chuyện kinh dị cho ‘quý vị’ nghe để giựt gân chơi. (Chớ không có cái vụ: ‘Chào mọi người’ như VC trong nước xài tiếng Việt một cách hỗn láo đâu nhe).
Một chú ‘Kangaroo’ bước vào một cửa hàng bán đồ cổ nhìn xung quanh. Ðột nhiên, Chú thấy bức tượng một con mèo Xiêm bằng đồng đen tuyệt đẹp.
“Ông chủ bức tượng Mèo Xiêm nầy giá bao nhiêu?”
“Bức tượng giá 200 đô la. Câu chuyện đi kèm với nó giá 2,000 đô la”
“Tôi không quan tâm đến câu chuyện, tôi chỉ muốn mua bức tượng.”
“Ðược rồi, nhưng tôi bảo đảm à ông bạn sẽ quay lại mua câu chuyện đó”
Chú Kangaroo mang theo bức tượng Mèo Xiêm bước ra khỏi cửa hàng, đi xuống phố. Khi đến chỗ dành cho người đi bộ qua đường, tình cờ Chú liếc nhìn về phía sau và thấy 3 hoặc 4 con mèo đang ngồi cách đó khoảng 5 mét, đang chăm chăm nhìn mình.
Chú nhún vai rồi tiếp tục đi qua vài dãy nhà khác, lại nhìn ra phía sau. Lần này có khoảng 30 con mèo đang ngồi đó chăm chăm nhìn Chú. Phát hoảng, Chú đi nhanh hơn, rồi chạy… càng lúc càng nhanh tới Bến Tàu ở cuối con đường. Chú ta phải chạy vì mỗi lần quay lại nhìn, càng ngày càng có nhiều con mèo ở phía sau đuổi theo. Khi đến Bến Tàu, Chú Kangaroo quay lại một lần nữa và thấy ít nhất 3,000 con mèo đang ngồi đó chăm chăm nhìn mình. Có rất nhiều mèo đến nỗi không có cách nào để xuống tới Bến Tàu mà không phải đi qua bọn chúng.
Trong cơn hoảng loạn như trong phim của Hitchcock, Chú quay về phía mặt nước và ném bức tượng Mèo ra càng xa càng tốt. Thật ngạc nhiên, tất cả những con mèo chạy vượt qua mặt Chú và nhảy ùm xuống nước nơi bức tượng đã chìm xuống.
Vẫn còn run rẩy, ngay lập tức, Chú chạy trở lại cửa hàng. Khi xông vào, chủ cửa hàng nhìn Chú và nói:
“Tôi đã nói với ông bạn rằng ông sẽ quay lại để nghe tui kể chuyện!”
Chú Kangaroo thở hổn hển: “Dẹp Mẹ câu chuyện Mèo kèm theo của ông đi! Tui hỏi ông có bán tượng của Cụ lớn ‘Daniel Andrews’, Thủ hiến tiểu bang Victoria hay không?”
ĐXT
sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted 15/06/2018
Post by Sơn râu 13 Mar 2024

Hôm qua mưa gió tơi bời, giữa tháng 6 mà có khi lạnh tái tê như đầu tháng giêng. Qua một đêm sầu thảm, nói như người đọc tin tức dự báo thời tiết ở trong nước: “Ngày mai trời có khả năng ấm áp đột xuất”.
Lôi thôi nhỉ? Gì mà phải “khả năng” mí lị “đột xuất”? Đương đại ra phết! Đơn giản chẳng ưa, cứ thích làm cho sự việc rối rắm hẳn lên. Chúng nó quên lời bác dạy: Hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Và bản thân bác từng viết: Kách Mệnh. Hậu duệ trung thành của bác nói: Ma-dzê in Việt Nam. Cộng đồng đảng viên mặt tỉnh như ruồi, không một ai “bức xúc” cho “sự cố”, thảy dựa cột mà nghe.
Nếu có nhân tai thì bàn qua chuyện mưa nắng ắt không “lạc hậu”, đã có một “bộ phận không nhỏ chủ trương ăn chơi không sợ mưa rơi”. Trong mấy món “ăn chơi” món bóng đá là chất gây nghiện gần ngang với xì-ke ma tuý. Tuyệt đại các lời bình phẩm sáng suốt đều xem nó là vua trong các bộ môn thể thao. Huống hồ là World Cup 2018 vừa khai diễn ở Nga. Mua được bản quyền để trình chiếu trực tiếp thì ắt chúng sẽ quên đi chuyện biểu tình, biển đảo hoặc đặc khu hoặc an ninh mạng xem ra chẳng gây sôi máu bằng khi trái bóng lăn trên sân cỏ có hai mươi đứa chạy theo dành giật và hai đứa đứng trong khung thành cố truy cản bóng lăn vào “đặc khu”.
Sáng nắng, chiều mưa? Suy ra ông bà Trời có hơi cực đoan, nhỉ? Tính khí anh chị ấy quả thất thường. Mới hăm bốn giờ trước sụt sùi ngấn lệ chưa khô mà bi chừ đã dàng trời màu nắng chan hoà mọi ngõ ngách. Và nóng rát. Và mùa hè “có khả năng” giải phóng sạch những lạnh lùng mưa xuyên thâu ướt dầm lá hẹ, anh sợ ông kẹ nên chẳng dám thăm dù em bảo kệ mẹ, làm thân trai mà đi thè thẹ, cái lông hồng nó vốn nhẹ, sang em cho ăn ghẹ. Đù, dụ khị bắt mỏi miệng! Trời nắng đẹp, thật quá tiện. Qua mình bàn công chiện.
Đối đáp nọ là thuở còn sung, mùi mẫn chuyện gái trai. Lịch sử sang trang và sách đời giở lật theo làm cả anh lẫn em, chúng ta đều dẫm chân vào vùng cấm địa của nhi nhĩ thuận với cổ lai hy. Dâu bể từng nếm trải nên bi chừ hạt lệ như sương, mọi con đường đều dẫn về La Mã, cái gì của César thì hãy trả lại cho César, nên thuận lòng phiên dịch chữ thành Rome ra nhà dưỡng lão. Đã bảo, ấy là đặc khu mà chúng ta sẽ thuê. Hôm qua anh ngại vì đường xa ướt mưa, hôm nay trời nắng đẹp cỏ cây hớn hở xanh um nên anh sẽ đeo răng giả, nốc hai viên Viagra, đi xe buýt miễn phí sang thăm em chốn ngoại ô đèn mờ.
Tự thuở nào giờ em vẫn mặn chuyện thơ văn. Em lên án con mẹ đã bỏ chồng vì lý do thằng chả tối ngày cứ ham làm thơ. Làm nhiều đến nỗi có nhà phê bình kêu rằng: Hén lồm thơ cứ y như đi đái! Và một vị tai to mặt lớn ngôn: Trong phây bút toàn cả thơ rác. Đó là chuyện nội địa, ở biển ngoài em có cảm tình với một ông ở bang Texas: Vì chuyện đặc khu, từ nay tôi không làm thơ kiểu tán gái nữa. Em kết luận: Em ưa đi bộ dưới hàng cây, ưa mặc bộ bà ba màu trắng và em cũng yêu anh. Dù anh có làm thơ rác nhưng thơ ấy còn bày tỏ chút chia ngọt sẻ bùi với người thấp cổ bé miệng cách một đại dương. Anh tuy già khú đế nhưng anh chưa mất đi sự vô cảm, thấy người ta khổ thì mình buồn, đó là thứ tuy nhỏ nhoi nhưng em vẫn cảm ơn anh. Mông lung siêu thực cách tân hậu hiện đại đương đại lắm khi chẳng sánh bằng thơ rác. Rác cũng tuỳ vào mỗi dạng loại. Ý tưởng ấy em vay của nhà thơ Tô Thuỳ Yên, bởi vì “lịch sử qua đường đã cải trang”:
ta về dẫu phải đi chân đất
khắp thế gian này để gặp em
đau khổ riêng gì nơi gió cát
thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.
Em làm anh nhớ nhà thơ Trần Vấn Lệ:
em nói… bây giờ em tuổi lớn
chân tê, tay mỏi, khớp xương đau
em cầm cái lược, em buông xuống
tóc biếc còn mô! đã bạc đầu!
Em dẫn anh đi “tham quan” đặc khu em vừa ký gửi chương cuối phận người. Ôi, sao nó “hoành tráng” quá. Cao ốc gồm 17 tầng lầu và cao chót vót là nơi dùng làm chỗ thù tiếp thức ăn ngày ba bữa, sạch như lau ly. Tôn trọng người đứng tuổi nên cửa thang máy chốn này cũng đặc biệt đóng mở thật từ tốn, chậm lụt cho khớp với cách di chuyển khoan thai dục tốc bất đạt của quý vị cao niên. Anh đưa cảm tưởng cho em nghe, rằng anh quá an tâm khi vào bấm nút, dãy con số tuyệt không có 13. Em nói anh chúa dị đoan, kiểu như ghét số 70 với số 99 mà bọn chúng áp đặt vào thời hạn vay mướn đặc khu.
Một ông già mắt hom hem lịch sự chào bằng tiếng Pháp: Buổi sáng an lành, thưa bà Chen. Em trả lễ: Chào ông Jacque. Tôi là Rose, đừng trông gà hoá cuốc, tôi nào phải bà người Tàu ở cạnh phòng ông. Jacque mang thêm chứng lãng tai thành thử nụ cười móm mém của đương sự vẫn chưa chịu tắt đi. Kệ đi mà, kính lão đắc thọ, đừng dội nước lạnh vào thành ý của người cùng ở đặc khu, cứ để ông ta ngộ nhận về một bóng hồng lân cận đầy tình hữu hảo.
Lên xuống lòng vòng cho biết sự tình, thực ra thì em ngấp nghé “định vị” sẵn cho anh một nơi an lành đặng mai này gửi thân làm chòm xóm láng giềng với em cho qua cơn hạn cuối đời. Em là thềm nhà mà anh là bụi chuối thức thâu đêm. Cả hai hổ tương vào một hình ảnh coi hợp tình hợp cảnh hơn là bụi trúc với mái đình. Còn đâu nữa “em xinh em đứng một mình cũng xinh”! Bây giờ chữ xinh nọ đã truyền ngôi cho con em. Cô gái hơn cả “ba đảm đang” đã bỏ công đứng ra lo cho mẹ hiền một nơi trú thân “trên cả tuyệt vời”. Bất hạnh cho những ai không có truyền nhân nai lưng đứng ra cán đáng mọi chuyện sinh tử hoặc có mà chúng lại đi khiếp sợ ngoại nhân, khốn nạn như phải bị đẻ ra chục hột vịt lộn.
Đặc khu là chữ anh khôi hài chứ thật ra chốn này nào khác gì một khách sạn 5 sao. Xuất, nhập khá nghiêm ngặt, phải thông qua hai bà ngồi trực ở phòng information, để nhỡ có vị nào xa quê hương nhớ mẹ hiền buồn chân đi lạc ra đứng ngõ sau thì họ còn biết đường mà lần, huy động người đi cứu hộ. Oh, mon Dieu! Cảnh quang tiêu điều là thế mà sao cụ lại vác mặt ra ngó mông. Kíp trở vào cho yên thân cụ. Giời ạ, nói mãi mà không chịu cảnh tỉnh. Bụi môn cũng không, bụi chuối cũng chẳng có, há lẽ lại ưa ngó cây xương rồng đầy gai nhọn. Cơ khổ!
Anh đã mỏi gối chồn chân chưa? Trở lên phòng em pha cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc cho mà giải lao thông cuống họng. Bột starbucks đàng hoàng chớ không phải cà phê Ban Mê pha than pin con ó đâu nghen. Uống đặc sản nọ thì không đủ sức để dọ dẫm vô nhà dưỡng lão đâu, hưởng dương là cái chắc! Ừ, mình trở về đi em, lên lại chỗ điện nước đầy đủ. Coi thử trí nhớ anh còn tốt không nè. Mở cửa thì phía tay mặt có phòng tắm cùng nhà vệ sinh, lấn sâu chút nữa thì góc bếp nhỏ sạch bong vì không ai dụng công nấu nướng. Phía tay trái là phòng ngủ coi bộ mênh mông chi xứ mà em đặt lưng ngủ ngáy, xong tới phòng khách ngó xuống dòng sông mùa này con nước chảy êm qua. Gió bờ sông rù quến thổi mơn man ngoài cửa lầu 14, những chùm lá cây bên dưới xao động từng bóng tròn diệp lục tố đan xen.
Anh quên tả những bức ảnh Phật em lộng kiếng. Rồi cái ti vi. Ờ giờ này có thể chúng nó đã mang giày ra sân. Mình có thể xem trực tiếp đội Nga chủ nhà gặp đội tuyển Saudi Arabia. Anh biết không, cả hai đội đều nằm ở mức thấp nhất trong bảng xếp hạng của FIFA. Nga đứng vị trí 70 trong khi Saudi Arabia xếp thứ 67. Vì lẽ đó một phần mà huấn luyện viên Juan Antonio Pizzi tin rằng đội banh của ông sẽ làm khó đội tuyển Nga. Phía Nga thì cựu danh thủ Andrei Kanchelskis đưa cảm nghĩ: Đây là một đội tuyển tồi tệ nhất mà tôi từng biết đến. Ngày xưa, bộ môn túc cầu của Liên Xô được tổ chức tốt hơn. Sau khi Liên Xô tan rã thì bóng đá Nga cũng theo đó mà tuột dốc thê thảm. Giờ này, cầu thủ chơi được đã già, số tuổi trung bình là 38 tuổi và toàn bộ họ đều không được tham gia thi đấu ở các câu lạc bộ nước ngoài, tầm nhìn của họ bị giới hạn, một vài người có tài năng thì không thích khoác áo đội tuyển quốc gia vì bất đồng với huấn luyện viên.
Sao em giỏi việc nắm bắt thông tin toàn cầu đến thế. Cà phê được rồi nè. Trước khi khai diễn trận mở màn, tháng trước em xem tin cảnh báo từ hai cơ quan hàng đầu về an ninh mạng của Mỹ và Anh. Họ bảo là nguy cơ smartphone bị hack tại world cup 2018 là rất lớn. Nếu bạn dự định dùng điện thoại di động, máy tính xách tay hoặc các thiết bị điện tử khác, hãy cẩn thận khi đến Nga xem world cup, bởi tất cả những dữ liệu chứa trong các thiết bị đó cũng có thể bị truy cập bởi chính phủ Nga hoặc các tội phạm mạng. Cách tốt nhất là dùng một chiếc hoàn toàn mới và tháo pin lúc không sử dụng khi đến Nga xem đá banh.
Nghe em kể làm anh nghĩ tới luật an ninh mạng của xứ Việt tiêu điều. Lạ thật, cái gì dính líu tới bọn cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa đều liên hệ tới trộm cắp hoặc dòm ngó hoặc quấy rối khủng bố tinh thần người ta. Anh cũng đồ rằng có sự “đi đêm” lương lẹo của Putin khi đội tuyển Nga được lọt vào bảng A, là bảng dễ thở nhất so với 7 bảng tranh đua gay cấn còn lại.
Đặc khu này luôn chìm trong tĩnh lặng. Một nỗi yên hàn rất già nua. Còn chút lửa lòng thì hãy cố mang ra, tìm đến nhau hàn huyên tâm sự trong quạnh quẽ. Cả anh lẫn em, chúng ta hầu như chưa có ai trở lại cố quận từ dạo dấy lên ngọn sóng đỏ tuôn tràn. Dạo đó, mình cứ tiếc nuối là chẳng được rộng cẳng đi thăm thú đó đây trên địa bàn an lành của 9 tỉnh miền Trung, 6 tỉnh miền Cao nguyên, 4 tỉnh miền Tây, 6 tỉnh miền Đông. Sông Bến Hải cầu Hiền Lương trở vào tận Cà Mau gồm 25 tỉnh mà chúng mình nào biết qua mặt dọc mặt ngang. Thật là một thiệt thòi đáng ân hận! Một lần, nó đã bị người ta giải phóng; rồi mai này biết đâu người ở đó đều nói thứ ngôn ngữ khác mình.
Anh đang ngậm đắng nuốt cay đó hở. Chiều nay con em sẽ tới thăm, biết có bác Hồ không râu lại chơi với mẹ nên nó có nhã ý xắn tay áo vào bếp chiên xào nấu nướng cho đôi bạn già thưởng thức món quốc hồn quốc tuý. Mà lỡ có quá chén, mẹ biểu bác ấy ở lại đắp chung chăn xem thử đêm về có bị rệp cắn không. Cho anh làm đội tuyển Nga đó, thử so giày một trận xem sao. 90 phút đã đủ bở hơi tai chưa, hở con bồ câu đi lạc.
Hồ Đình Nghiêm
sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted 15/08/2017
Post by Sơn râu 13 Mar 2024

“Đời không Facebook, đời nghe chơi vơi!” Một cô gái trẻ đẹp đã viết thế. Đăng kèm bức ảnh chụp nửa người ngó mát mắt, thông thoáng. Cô có gần 500 người bạn, không rõ có bao nhiêu kẻ thù mà bên dưới hiển thị lắm lời bàn, theo đúng thuật ngữ phổ thông của tín đồ facebook: “Sự thặc là em thít lộ hàng, phại hông?” “Em đang ở đâu vại? Hăm mún gặp nhao sao?” “Kiếm chiện hen. Òi, thì thoy!”…
Tôi rất chơi vơi, lòng nghe hụt hơi, những muốn ra khơi, bơi vào facebook. Muốn thiền đạo tu tập cũng bị rớt mạng, mất sóng. Ngày qua rất chóng, dù thời tiết đang nóng, lắm chuyện để hóng. Chẳng giàu kinh nghiệm gì, nhưng tôi mang nhận xét là ở thế giới facebook, bạn chớ mất công theo dõi những gì mà các ông bà cụ tuổi trên 50 đưa lên, chán lắm, tẻ nhạt lắm, chả học hỏi được gì mới lạ cả! Từ 50 trở xuống, cách suy nghĩ, tầm nhìn, lối viết bộc trực của họ khiến mình “đã”, chưa kể họ biết lấy nguồn hình từ đâu đó về minh hoạ thêm. Vui đáo để! Một người nữ tuổi 35, có nghĩa là sanh sau 1975 đăng dòng tâm trạng, chữ trắng trên khung hình đen:
“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam nhớ bác nổi da gà!”
Cô ta chua thêm hàng chữ bên dưới: “Bổn cô nương không mang hậu ý gì to lớn đâu, chỉ nhắn gửi mấy em nên lưu tâm chớ viết sai chính tả. Nỗi nhớ nhà khác với nổi da gà”. Có 320 like. Qua hôm sau, đọc thấy đôi dòng vấn đáp cũng chính nhân vật ấy treo lên (triết lý đầy mình):
-Tại sao phụ nữ xem phim khiêu dâm thường theo dõi cho tới hồi kết thúc? – Bởi vì họ luôn muốn nhìn thấy một cái đám cưới sẽ diễn ra.
Thanh niên khác thanh nữ. Thanh niên ưa cập nhật thời sự hơn. Một cậu đăng tin: “Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ khẳng định: “Ngành sư phạm phải học tập kinh nghiệm từ ngành công an và quân đội…” Người mang nick name Sung Rụng ở Hà Nội trải tâm tư: “Không cứ là ở lãnh vực giáo dục, mọi ngành nghề khác nên nhập chung vào hai bộ phận không nhỏ ấy (Công An & Quân Đội). Có thế bọn bành trướng phương Bắc mới hãi sợ. Chết òi! Chúng làm éo gì mà tập trung nhân lực đông vãi. Hăm mún gặp nhao đâu! Kính nhi viễn chi thoy”.
Một cậu trẻ khác mang tên Thik Bia Ôm ngụ ở Sài gòn chụp lại hình ở báo Tiền Phong: “Phạm Trọng Luật- Cục trưởng cục chống tham nhũng tuyên bố: Nói đến tham nhũng là ta nghĩ tới những người có chức vụ và quyền hạn. Như thế, chống lại họ có khi chúng tôi phải chết trước!” Bạn Thích Bia Ôm viết: Một Like cho ông quan sáng suốt này. Chế độ ta không mấy ai có tầm hiểu biết sâu rộng và “sai qui trình” như thế cả!
Lại thêm anh bạn trẻ người Huế đăng đàn: “Nhắc tới Huế thì nghĩ ngay tới sông Hương núi Ngự, tới nón bài thơ và tà áo dài, tới bún bò và con đò, tới lăng tẩm đền đài miếu mạo chùa chiền… Như thế e còn thiếu sót lắm thứ, bởi thời bi chừ nói về Huế thì buộc phải nói tới nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân. Bà con xứ Thần Kinh sinh từ năm 1968 đều phải khắc dạ tên ôn. Sau 75, gia đình ôn ở bên Đập Đá đã xảy ra lắm chuyện cười ra nước mắt, vì có tính riêng tư nên tôn trọng chớ kể ra “làm gì cho tốn giấy”, chỉ nhắc lại chút gì dính dáng tới “Huế học”. Một người sinh viên nhảy núi năm 1966. Hai năm sau, về “ăn Tết” ở Huế xuân Mậu Thân, ôm AK-47 bắn vung vãi thay đốt pháo mừng giải phóng bà con ra khỏi sự kềm kẹp ác ôn của bọn Mỹ Nguỵ. Phải đợi tới 1975 mộng ước mới tựu thành. Một kẻ theo phong trào “đấu tranh đô thị”, nói theo phương ngữ người miền Nam: “Ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” đã sớm lộ rõ hành vi tráo trở bằng động thái vào nhà người thầy khả kính Phan Văn Dật để soán đoạt tủ sách quý của thầy. Nón tai bèo cùng đôi dép râu chưa cởi xong ôn đã chóng mang được chức vị: Nhà Huế học. Thủ lợi một tủ sách đồ sộ bên lưng vậy mà ôn tuồng như đã phụ rẫy văn hoá. Mới đây ôn viết trên facebook: “Từ năm 1945 tới 1954, ở Huế không thấy bóng dáng sách của Tự Lực văn đoàn đâu cả!”. Sông Hương học, núi Ngự học, Đồng Khánh học, chợ Đông Ba học e phải nên tìm gặp nhà Huế học một phen để giao lưu tình cảm xem thử ôn noái như rứa thì có phải ôn quen “nói vậy mà hổng phải vậy”? Ôn nớ năm nay nghe đâu đã 81 tuổi rồi, chưa đếm từng ngày như ôn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhưng xem chừng đã bị “ma đưa lối quỉ dẫn đường” để phải phát ngôn linh tinh. Một nhà Huế học, sao khi về già chẳng ngồi bình tâm viết hồi ký kể lại chiến dịch trận chiếm đóng 30 ngày đêm ở Phú Xuân? Như thế có phải hách xì xằng hơn không, để lưu danh thiên cổ”.
Tôi rất chơi vơi. Và thú thật tôi hơi bị cao huyết áp. Vì vậy trước sau tôi đành làm đứa lạc hậu không dám mở cho tôi một khoảnh đất Facebook. Tổn hại sức khoẻ và thời giờ đã đành, mở ra thì biết lấy gì mà treo lên? Trời sinh chân tôi thuộc loại thiếu thước tấc, không được dài miên man. Lẽ nào ăn gian lấy hình nữ giới làm ảnh đại diện, photoshop cho thành điện nước đầy đủ xong rồi câu like: Được tới 500 “em” sẽ cởi áo nịch dzú. Mún vại hông? Hehehe.
Hoặc có thể nghĩ ra trường hợp hai: Tôi sẽ bị chúng hack. Cho mày chết, thằng phổi bò. Sao mày đã thôi ăn cơm quốc gia mà còn ưa chửi con ma cộng sản thế? Đao thì lỡ bị đoạn lìa mà cứ đòi rút đao tương trợ. Bạn bè mày sinh hoạt vào ra chốn nọ vẫn tịnh khẩu như bình, tự xem đó là chốn vui chơi thoải mái tha hồ khoe ảnh dĩ hoà vi quý kính lão đắc thọ. Sao mày chứng nào tật nấy, cứ ưa lo bò trắng răng?
Nếu có facebook đời tôi chơi vơi, tôi sẽ bỏ bút. Bịt tai nhắm mắt, dại khờ như Bùi Giáng bảo, đời một giấc chiêm bao!
Hồ Đình Nghiêm
Post by Sơn râu 13 Mar 2024
Một số hí họa trên các báo sau 1990


B-6 bức vẽ tham gia cuộc triển lãm “Phụ nữ nước tôi” tại Nhật năm 1995





quanvan.net
Hoàng Long Hải
Posted on 14 Aug 2016
Post by Sơn râu 6 Mar 2024

Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới
Và về đây nghe lại tiếng xưa,
Để nhớ trong tiếng vỡ bờ!
(thơ A-Khuê, nhạc Trần Quang Lộc)
tác giả (Hoàng Long Hải) trước bia cụ Phạm Đăng Hưng, do vua Thành Thái dựng, Lăng Hoàng Gia, Gò Công, tháng 6/ 2016
Trước 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết một cuốn sách về đất Gò Công. Ông cũng có viết thêm mấy cuốn sách về các tỉnh khác.
Sách của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên, có nói tên chữ của xứ Gò Công là “Khổng Tước Nguyên”. “Khổng tước” là con công, còn “nguyên” là cái gò. Nôm na gọi là Gò Công.
Thật tình, sách của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên không có gì hay, ngoài cái tên chữ “Khổng Tước Nguyên” còn lại trong trí tôi mà thôi.
Tháng 6 vừa rồi, về thăm Việt Nam, tôi lại về thăm Gò Công, đi với một người mà tôi là “người cũ”, hiểu theo câu thơ của Tản Đà là “Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay, Gió đưa người cũ lại về đây!”
Tháng Sáu, dĩ nhiên không có “hơi thu lạnh lẽo” như Tản Đà nói; mà về, thì tôi tự về, nhớ “người cũ” thì tìm về, chẳng có gió nào đưa cả. Thành ra, lòng thì vui lắm, bởi vì, trước 1975, tôi phục vụ ở Gò Công một năm chẳn chòi. Mà kỷ niệm thì nhiều lắm, buồn vui, hạnh phúc và khổ đau cũng nhiều lắm. Chuyện cũ khó quên, nên tôi nói tôi “tự về” là vì vậy.
Chuyện riêng thì xin cho tôi khỏi kê khai vô đây, như kiểu làm bản tự khai hồi mới vô trại Cải Tạo vậy. Còn chuyện chung, thì xin nói ra, cho độc giả biết ít nhiều về Gò Công cho vui.
Về tính cách “hành chánh”, tôi cũng xin khỏi bàn tới, chẳng hạn như Gò Công là “đất Hoàng Gia”, nói rõ ra là “quê ngoại” vua Tự Đức, nên Gò Công không thống thuộc “Trấn Gia Định”, cũng không thuộc “Nam Kỳ Lục Tỉnh”, chỉ khi Triều Đình Huế bị Tây buộc phải giao Nam Bộ lại cho Tây cai trị, thì Gò Công không tránh khỏi cái số phận “xa lìa đất Mẹ” mà thuộc vào đất “Nam Kỳ thuộc địa” – Nam Kỳ thuộc địa có nghĩa là đất nầy của Tây, không còn dính dáng gì tới nước An Nam hay Việt Nam nữa cả.
Cái hoàn cảnh “xa lìa đất Mẹ” nầy làm cho nhiều nhà yêu nước chống Tây cho tới cùng, hy sinh cả tài sản và thân mình, để giành lại mảnh đất nầy cho Tổ Quốc.
Rồi có người tử trận, tử hình: Ông Trương Định, ông Nguyễn Trung Trực, ông Nguyễn Duy Dương… Nhiều lắm, xin kể sau.
Dĩ nhiên, cũng không ít kẻ “theo Tây”. Giấy mực công khó đâu mà viết tên những người nầy.
Trong thời gian một năm “phục vụ” ở Gò Công, tôi đi khắp cả tỉnh nầy. Tôi dám chắc có người sinh đẻ ở Gò Công, nhưng chắc chi đi “khắp tỉnh” như tôi!
Hồi ấy, “ngoài” thị xã, cũng thuộc quận Hòa Lạc, tỉnh Gò Công có bốn quận: Hòa Lạc, Hòa Tân, Hòa Bình, Hòa Đồng. Hòa nào tôi cũng có tới, và dĩ nhiên tôi cũng không lạ gì với các “đám lá tối trời”. Tuy nhiên, người “xứ lạ” như tôi, cũng ít có ai qua tới cù lao Phú Thạnh Đông. Phú Thạnh Đông là một xã, thuộc quận Hòa Bình.
Cù lao Phú Thạnh Đông nằm giữa hai “sông”cửa Tiểu và cửa Đại, nhưng mà chỗ chút mút của nó nữa kia, tôi cũng tới rồi.
Tên nghe hơi lạ: “Ấp Phào Đài”.
Chẳng lạ gì đâu, chẳng là hồi Tây cai trị, Tây dựng ở đây một cái pháo đài, có ngọn hải đăng ở trên chót vót, để ngăn ngừa “quân xâm lăng” hay hải tặc Hải Nàm. Dân Hải Nàm chuyên nghề cướp biển giỏi lắm – Nếu độc giả nào có đọc cuốn hồi ký của tôi, do nhà Văn Mới xuất bản – nhan đề là “Hương Tràm Trà Tiên”, còn có cái tên phụ là “Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng”, sẽ thấy tôi bàn không ít tới nạn hải tặc – dân Hải Nàm – bọn cướp nầy “lộng” dữ lắm, cả mấy trăm năm trước trong vịnh Thái Lan. Ai ai cũng ngán.
Bạn đọc cũng có thể biết chút ít về bọn hải tặc nầy khi đọc “Kho vàng Hòn Tre” của Sơn Nam. Hòn Tre ở ngay cửa vịnh Rạch Giá đấy, xa xôi gì đâu!
Cây hải đăng trên “Ấp Pháo Đài” cũng có mục đích chỉ đường cho ghe tàu ra vào cửa Tiểu cửa Đại của Tiền Giang.
Nói dông dài như vậy, cũng để thưa với độc giả rằng, tôi từng đi khắp Gò Công. Đã tới “Ấp Pháo Đài” rồi thì sá chi “Bãi biển Tân Thành”, “Vàm Láng” (dân địa phương gọi là “Dzàm” Láng đấy, tiếng Nam Bộ mà.
Còn như Đồng Sơn, thì lạ lắm. Lạ chẳng qua Đồng Sơn nằm trên con đường ghe thuyền từ miền Tây Nam Bộ, từ Hà Tiên, Rạch Giá chở hàng lên Saigon thì đi qua kinh Chợ Gạo, ghé Đồng Sơn trước khi lên Saigon.
Độc giả có ai thắc mắc khi tôi viết “ghé Đồng Sơn”?
Bên kia kinh Chợ Gạo, ngang Đồng Sơn là Bình Phước của tỉnh Long An: lúa gạo, cây trái, rau củ là thổ sản phong phú. Bên nầy là Gò Công, ruộng không nhiều bằng bên kia kinh Chợ Gạo, nhưng gạo Gò Công thì ngon nổi tiếng: Gạo Chợ Đào, gạo Móng Chim, gạo Nàng Hương.
Năm tôi về Gò Công, lương tiền không bao nhiêu, mà cũng chẳng có “tư lợi” chi, nên khó ghé vào ăn ở những nơi cao lương mỹ vị. Tiệm Chú Cưng ở kế bệnh viện Quân Dân Y cũ, lâu lâu tôi mới tới.
Vậy mà người dân thường Gò Công thì tới đều đều, chứng tỏ họ không nghèo, và mấy ông “quan to” thì vừa nhiều tiền vừa muốn đến “nghía” con gái Chú Cưng thường ngồi “két”. Cô ta cười với khách một cái, tuy chưa “nghiêng nước, nghiên thùng (đúng chữ là thành đấy), thì cũng đủ cho mấy quan chết mê chết mệt.
Lương nhỏ, tôi ăn cơm tháng ở mấy quán bình dân. Bình dân nhưng xong bữa ăn cũng đả lắm. Cơm gạo thơm, ăn với cá kèo. Tuyệt! Mấy chục năm rồi, nhắc tới còn thấy ngon!
&
Nói dông dài, vậy “phong thủy” Gò Công có gì khác với xứ sở người ta?!
Dễ thấy lắm!
Nếu độc giả đồng ý với tôi, rặng Trường Sơn là cái xương sống của nước Việt Nam thì “đầu” của nó là các dãy núi hình nan quạt ở phía Bắc: Rặng Đông Triều, Rặng Hoàng Liên Sơn, v.v…
Vậy thì cái “đuôi” của nó là ở đâu?
Cái đuôi của nó là Cao Nguyên Trung Phần. Ngó xuống nữa, là những ngọn núi cuối cùng, coi như cái đuôi của rặng Trường Sơn là các núi Bà Đen (Tây Ninh), núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy).
Những ngọn núi nầy đều “linh thiêng” cả đấy. Núi nào cũng có sự tích huyền bí, như dân Nam Bộ ưa chuyện huyền bí vậy.
Núi Bà Đen có “Sự tích Bà Đen”, có dịp sẽ kể sau. Núi Đồng Long là “chứng nhân” của “Bình Long Anh Dũng”. Núi Bà Rá là “chứng nhân” của trận đánh mở màn cho cái gọi là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Núi Chứa Chan là nơi tôi ở tù Cải Tạo.
Năm 1977, tôi bị “biên chế” về trại Xuân Lộc. Trại không xa núi Chứa Chan. Đỉnh núi bằng phẳng, ngay ngọn là một cái hồ khi nào nước cũng đầy. Hồ đó là miệng núi lửa đã tắt đâu từ cả triệu năm trước.
Hồ có nước khi nào cũng đầy nên núi mới có tên Chứa Chan.
Nhưng kể từ cuộc Nam Tiến mấy trăm năm trước, người Việt đi tìm đất sống, đã đến định cư nơi nầy. Họ có nhớ quê hương “ngoài kia” không mà đã thấy lòng không những Chứa Chan mà Chan Chứa một mối tình sầu. Từ đó mà Chan Chứa đẻ ra:
Chứa Chan! -Chán Chưa? hay lòng còn:
Chan Chứa! nên –Chưa Chán.
Nếu bạn đọc muốn biết thêm câu chuyện về núi Chứa Chan nầy, xin hãy đọc “Vết Nám”, Hồi ký Cải Tạo, cũng do tôi viết và nhà Văn Mới Xuất Bản.
Đó là những ngọn NÚI cuối cùng.
Thấp hơn núi là GÒ. Nếu đó không phải là “GÒ” Công thì còn có gò nào nữa?
Do đó, các nhà địa lý phong thủy thấy rằng: Gò Công là “điểm chót”, điểm cuối cùng của rặng Trường Sơn.
Gò Công còn bao gồm cả sông Tiền (Tiền Giang) với hai cái cửa biển đầu tiên trong 9 cửa (Cửu Long) là Cửa Tiểu, cửa Đại.
Cửa Tiểu, Cửa Đại cũng là điểm cuối cùng của sông Cửu Long, là con sông “chấm dứt” ở đó. Sông bắt nguồn từ Tây Tạng.
Cửa là Cuối song; nguồn là đầu sông, tuy rằng ở đây chẳng có chàng và nàng để hát câu“Quân tại Tương Giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ” như trong Chinh Phụ Ngâm.
Bạn đọc chắc phải đồng ý với tôi Gò Công là điễm hội tụ của hai cái cuối cùng, một của núi (Trường Sơn) và một của sông (Cửu Long).
Theo cách nhìn phong thủy, Gò Công là điểm hội tụ cuối cùng của sơn và thủy. Sơn thì có Kim (mỏ vàng, bạc, sắt, thép… ở trong núi), mộc (cây rừng) hỏa (lửa trên núi, Trường Sơn từng có hỏa diệm sơn, nên có đất đỏ, đồn điền đất đỏ như Phú Giềng), Sơn nào lại chẳng có Thổ, là đất và đá. Vậy thì Gò Công là nơi hội tụ có đủ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, mà cái nào cũng Đại, cũng Trường, cũng Vĩ, phong phú, đa dạng, nhiều vô sô kể… Tiền rừng bạc biển là đây!
Có lẽ, dựa tên nhận định đó, độc giả không phản đối khi tôi nói rằng, Gò Công là vùng đất có nhiều cái đặc biệt, rất đặc biệt là khác.
Đó là địa linh.
Công không thuộc hang “tứ linh” (long, lân, qui, phụng), nhưng không phải là loại chim thường. Dân nhậu thì khoái thịt công, ngon hơn thịt gà, cũng thuộc loài “cầm”. Lông công được dùng trong làng hát bội. Các ông “tướng phường tuồng” (không biết ngày xưa trong đời thực người ta có làm như vậy không?!) Các ông tướng cắm lông công trên lưng, trên mũ. Trước khi múa kiếm hay long đao, hay nói tuồng, các ông vói tay vuốt cái lông công, làm “điệu bộ” (phường tuồng)
Trước khi tìm hiểu về “nhân kiệt”, chắc tôi phải nói một chút ít về “nhân văn” Gò Công. Nói “nhân văn” là nói cho to chuyện mà thôi, không phải để “hù” ai về cái công việc tìm hiểu dân tình Gò Công; nhưng dù sao, đó cũng là nếp sinh hoạt của một vùng đất mà nếu không nhìn vào bản đồ, người ta có thể nghĩ rằng xứ Gò Công nằm lọt ra ngoài biển Đông.
Hôm nhận sự vụ lệnh xong, sáng sớm ra bến xe Trương Vĩnh Ký, – hồi ấy chưa có bến xe Miền Tây -, thấy mấy chiếc xe đò chạy đường Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Rạch Giá… ra bộ xôm tụ, đông vui lắm. Chiếc xe đò thì dài, loại trên năm chục chỗ ngồi, mấy chú lơ mời gạch, gọi hàng inh ỏi. Một chiếc thì đang đón khách lên xe, chất hàng, cột hàng rộn rịp… Chiếc bên cạnh thì đã nổ máy, chờ tới phiên mình.
Tới chỗ xe đò đi Gò Công, thấy “êm” hơn. Chiếc xe đò thì nhỏ hơn, nhiều lắm thì cũng trên ba chục chỗ ngồi, khách khứa lên xuống ít hơn. Tôi lên xe tìm một chỗ, ngó quanh. Khách về Gò Công đang bỏ xách, túi lên kệ, mà hình như người nào cũng có một hay hai… ổ bánh mì.
Tôi tự hỏi, ưa ăn bánh mì là phải mua tận Saigon hay sao? Nhắm bộ Gò Công nhỏ quá nên không có lò bánh mì hay sao? Hay bánh mì Gò Công không ngon? Quả thật, khi về Gò Công ít lâu rồi, tôi đâu có thấy lò bánh mì ở chỗ nào đâu?!
Trình diện xong, lo về cho sớm vì sợ… hết xe. Té ra, xe đò Gò Công đi Saigon hay ngược lại, ngày nào tối đa là hai chuyến, khi tới mùa cherry chín, bạn hàng chở cherry lên Saigon; còn không thì mỗi ngày chỉ một chuyến, bởi vì khách Gò Công đi về Saigon, đâu có bao nhiêu!
` Đấy! Điều mà các ông nhạc sĩ gọi là “Nỗi buồn tỉnh lẻ” chính là nỗi buồn của tôi khi mới về Gò Công vậy.
Gò Công cũng “đi năm phút đã về chốn cũ” và cũng có “em (Pleiku) má đỏ môi hồng”, nhìn, hay “nghễ” một chút, cũng đỡ buồn cho một người lính xa nhà như tôi.
Khi trời chiều đã xuống, ngồi ở bến xe, vắng hoe – nơi sau nầy, khi trời tối, tôi từng thấy “mấy anh mấy chị” hẹn nhau ở đây, giữa hai chiếc xe đò đậu kế nhau, để kín đáo hôn nhau, hay làm gì nữa, ai mà thấy được, không thì sợ thiên hạ, “Người ta thấy kìa, kỳ chết.” thì một người từng đi nhiều như tôi, “trên bốn vùng chiến thuật”, “tôi thường đi đó đây…” hỏi thử có buồn không nhỉ?
Từ thời niên thiếu, bạn bè đã gọi tôi là “thằng lãng tử”, bởi vì ngay hồi còn là học sinh Đệ Thất, Đệ Lục, súng đạn đang rền rĩ, vậy mà tôi đã đi khắp Quê Ngoại Quảng Trị tôi rồi: Phía bắc thì Vĩnh Linh, Gio Linh, Bến Hải; phía đông thì Cửa Tùng, Cửa Việt; phía tây thì Nhà Thờ La Vang, và xa hơn nhà thờ La Vang nữa kia, sát chân núi Trường Sơn, là nhà thờ Phước Môn, và “Rừng thông hai mộ.” Rừng thông có ngôi mộ hai ông bà Quận Công Nguyễn Hữu Bài.
Tôi từng ngủ qua đêm ở đồn Diên Trường, một nơi ít ai biết nhưng đó chính là “Cây Đa Bến Cộ” (Cây đa bến cũ) nơi xảy ra câu chuyện tình dang dở, từng được người Huế, và cả người miền Trung kể lại qua ca dao, và sau nầy, còn được phổ nhạc nữa đấy.
Đó là bến đò Diên Trường, trên sông Diên Trường, trong trận chiến năm 1972, báo chí miền Nam gọi đó là “Đại Lộ Kinh hoàng”, với câu ca dao:
Trăm năm “diều” (nhiều) nỗi hẹn hò.
Cây đa bến cộ (cũ) con đò khác đưa!
Cây đa bến cộ (cũ) còn lưa (lại)
Con đò đã thác năm xưa tê (kia) rồi.
_____________
“Xuân đã đem mong nhớ trở về,
Lòng cô gái ở bến sông kìa!
Cô hồi tưởng lại ba năm trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề
Rồi:
Bỏ thuyền, bỏ lái, bò dòng sông
Cô lái đò kia đi lấy chồng
(Thơ Nguyễn Bính-
Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc)
Yêu đương, hẹn hò! Thế là xong.
Nhưng trong lòng tôi thì mãi không xong… Vì tôi buồn khi thấy ai bạc tình với ai! Tôi là người đa cảm mà!
“Thằng lãng tử” quê ở ngoài Trung xa xôi, bây giờ lạc bước tới Gò Công. Và rồi cuộc đời còn đưa đẩy tôi đi đâu nữa? Ba năm sau, khi miền Nam thất thủ, tôi đang “phục vụ” ở một vùng đất, từ đó, ngó ra là Hòn Phụ Tử chẳng bao xa! Trong đời lính, tôi đi “đầu trời cuối biển” rồi chớ còn chi nữa!
&
Về địa lý, Gò Công có những cái do người ta xây dựng và những cái do bàn tay Tạo Hóa.
Nếu ở Saigon, thấy một cái gì đó do Tây dựng lên, ít ai thấy lạ, suy nghĩ: Dinh Norodom, sau nầy là Dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà hay Sở Thú, phố Catinat là chuyện thường.
Còn ở Gò Công, bỗng nhiên tôi thấy lạ vì ở đó có cây “Cầu Tây Ban Nha” và “Ao Trường Đua”.
Khi Tây mới xâm lăng Nam Bộ, năm 1862, có liên minh với quân Y-Pha Nho. Y Pha Nho cũng là Tây Ban Nha. Vậy thì sau khi chiếm Ba Tỉnh Miền Đông Nam Phần, bọn xâm lược Y Pha Nho có đóng ở Gò Công? Họ xây cầu để đi nên mới có tên cầu Tây Ban Nha hay bởi một lý do nào khác, không thấy ai nói tới?
Và cả nơi giải trí của họ nữa chứ: “Ao Trường Đua”.
Đây là một cái ao hình chữ nhật, gần như hình vuông. Giữa là ao, chung quanh là bốn con đường ngựa chạy đua quanh cái ao.
Năm tôi về Gò Công, 1971, cầu Tây Ban Nha gần muốn hư mà không thấy sửa chữa, còn tệ hơn “Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi”.
“Ao Trường Đua” thì còn nhưng ngựa đua thì tuyệt nhiên không thấy, cả những nhà nuôi ngựa đua cũng không còn, còn khách đánh cá ngựa, chắc đã cuốn gói về Tây.
Cảnh cũ không còn thường làm cho người ta buồn, nhưng khi những cuộc đua ngựa không còn nữa, tôi không chắc dân Gò Công có người buồn. Chiến tranh tàn khốc lan khắp tỉnh. Dân miệt quê sợ súng đạn, chạy lên thành phố, dựng nhà quanh “Ao Trường Đua”. Nhà thì cái nhỏ, cái to, cái thấp, cái cao, cái lợp tôn, cái lợp lá. Nhà nầy sát nhà kia, làm cho “Ao Trường Đua” trở thành một xóm nhà bình dân, mà vui, thân cận, hài hòa và “thương nhau” hơn. Có lẽ ở đó cũng có những cô hàng xóm, tuy ở nhà mình, nhưng cũng gởi hồn cho cánh bướm bay qua nhà bên cạnh, để có người than thầm:
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây
Cho ta nhắn gởi câu nầy chút thôi!
&
Như đã nói, việc hình thành đất Gò Công là từ những cái lạ, là sự kết hợp giữa Trường Sơn, là ngọn núi “xương sống” của nước Việt Nam, và sông Cửu Long là con sông nổi tiếng trong “địa lý địa cầu”.
Trong viễn tượng đó, đất Gò Công có gì lạ chăng?
Thiếu nước ngọt, vì không đào được… giếng.
Không đào được chỉ là một cách nói. Đào được đấy, nhưng không tới mạch ngầm, chỉ có nước hôi bùn. Nôm na, như người dân quê Việt Nam thường nói thì Gò Công là đất không “chưn”, có nghĩa là đất Gò Công thay vì “nằm” trên một lớp đất đá thì nó lại nằm trên… bùn, mà lại bùn than, có màu đen, bùn lưu niên, hàng triệu năm, còn mùi hôi nên nước giếng không xử dụng được.
Về địa lý, Gò Công có hai phần rõ rệt: Phần phía Đông, phía biển, và phần phía Tây, giáp ranh với Long An.
Dựa trên sự quan sát về tính cách địa lý trước 1975, kể từ con đường từ thị xã Gò Công đi Bắc Cầu nổi, người ta thấy từ vùng nầy ra tới biển thì “nền của đất” chỉ là bùn, nói theo địa lý thì đó là bùn trầm tích, nên “không đào giếng được”. Tuy nhiên, bên cạnh con đường nầy, ra khỏi thị xã Gò Công khoảng hai ba cây số, phía bên trái là khu “Lăng Hoàng Gia”.
Cái “Hoàng Gia” nầy ảnh hưởng đến Gò Công nhiều là đương nhiên, nhưng cái ảnh hưởng đó ra tới Huế, cựu kinh đô và ngược lại.
Xin thông cảm, lại phải “dông dài” một chút về “Hoàng Gia” nầy. Trước hết là ông… Ba Bị.
Theo quan điểm thông tục thì “ông Ba Bị” là “ông Kẹ”, là những “ông” thường hay bắt cóc trẻ con, v.v… và v.v…
Những ngưòi già, cố cựu của Huế, giải thích “Ông Ba Bị” chính là thân phụ Bà Từ Dũ. Ông Ba Bị người Gò Công, thường lang thang các vùng quê ở miền Trung, Thừa Thiên, Quảng Trị, v.v… Sau nầy, cái danh của “Ông Ba Bị” mới lan ra nhiều nơi ở trong nước.
Sau khi Gia Long lên ngôi (1802), rồi đến đời Minh Mạng (1920-40), chiến tranh đã chấm dứt, đất nước ổn định; kinh tế, nhất là ở phía Nam phát triển. Trong nông nghiệp, nhiều giống lúa được đem thử nghiệm, gieo trồng. Giống lúa Thần Nông, là giống lúa của Xứ Chùa Tháp, được các sư huynh một dòng tu Thiên Chúa Giáo, đem về giới thiệu cho dân Long Xuyên. Đất Long Xuyên rộng, phải gieo trồng bằng “sạ”, không cấy như các nơi khác. Ruộng lớn quá, cấy làm sao nổi. Sạ nhanh hơn.
Nhìn chung, miền Nam đất rộng, phì nhiêu, trồng lúa rất thích hợp. Và cũng từ đó, trong Nam có nhiều giống lúa khác nhau: ngắn ngày, sản lượng cao, hay nhiều giống lúa ngon, lúa thơm, v.v…
Ông Phạm Đăng Hưng là người có công lớn với Nguyễn Vương khi Vương đang chống nhau với nhà Tây Sơn, khôi phục mảnh đất miền Nam. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, ông được chọn giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng. Khi ông mất, 1825, thọ 60 tuổi, đời Minh Mạng, nhà vua phong tặng ông hàm Vinh Lộc Đại Phu, Trụ Quốc Hiệp Biện Đại Học Sĩ, thụy Trung Nhã. Vua Thành Thái lại truy tặng ông là Đặc Tấn Vinh Lộc Đại Phu, Thái Bảo, Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ, tước Đức Quốc Công.
Vốn yêu nông nghiệp, ông Phạm Đăng Hưng, thân phụ Bà Từ Dũ muốn đem các giống lúa đang phổ biến ở miền Nam giới thiệu với nông dân miền Trung, nhất là vùng Trị Thiên. Ông thường tới các làng để “giới thiệu” cho nông dân những giống lúa đang thịnh hành ở trong Nam. Ông đeo bên mình ba cái bị, đựng ba thứ giống lúa khác nhau. Ai xin giống nào thì ông bốc cho một nắm, để nhân giống mà trồng.
Ông vốn dĩ tính tình hiền hòa (dân Nam Bộ mà), bình dị, làm quan nhưng cũng áo nâu, quần nâu, lang thang từ làng nầy qua làng khác, nhìn qua, cũng hơi quái dị. Vả, ai ai cũng sợ ông? Sợ là vì ông là quan to trong triều. Và vì cái sợ đó, mà Ông Ba Bị bị “đồng hóa” với ông Kẹ, để các bà mẹ dọa những đứa con nít hay khóc hay vòi.
Có thể khi còn sống, ông đã chọn một “cuộc” đất đẹp nhất ở Gò Công để làm nơi an nghĩ ngàn năm. Chỗ đó, như tôi đã nói ở trên là “Giồng Sơn Qui”, tức khu “Lăng Hoàng Gia”.
“Giồng Sơn Qui” có hình dạng một cái mai rùa. Tôi không rõ đầu của mai rùa quay về hướng nào, nhưng đó là một “cuộc” đất cao, không cao lắm, khá đẹp và có hai cái đặc biệt:
Ở Gò Công (đông) không đâu đào được giếng thì “Giồng Sơn Qui” có một cái giếng khá lớn, hình vuông, bốn mùa đều có nước, và nước rất ngọt, dùng rất tốt.
Từ cổng vào, người ta thấy có một “Nhà bia” bên phải. Đây là tấm bia bằng đá ở Núi Non Nước, Đà Nẵng. Bài văn bia do Phan Thanh Giản viết. Khi tấm bia nầy được đưa từ miền Trung vào để dựng ở mộ ông Phạm Đăng Hưng thì bị Pháp cướp mất (1860) để bọn chúng làm bia cho đại úy Barbé, bị quân của Nguyễn Trung Trực giết chết. Mãi đến năm 1999, bia nầy mới được đưa về lăng, đựng ở nhà bia bên phải.
Trong khi tấm bia cũ bị Tây cướp mất, (cướp nước, cướp dân và cướp cả bia), nên năm 1899, vua Thành Thái sai làm một tấm bia khác, với nội dung như tấm bia bị cướp và dựng nên ở “nhà Bia” bên trái.
Tháng 6 vừa qua, tôi và Vân cùng con trai Hải Bằng, trên đường đi Gò Công về, ghé vào thăm lăng, nơi tôi và Vân, 45 năm trước, từng đưa nhau đi chơi ở đây.
Trong khi người giữ lăng, giới thiệu về ngôi mộ cụ Phạm, giải thích ngay trên mộ có xây một cái tháp nhỏ, tượng trưng cho Thiên – Địa – Nhân, thì Vân chỉ cho tôi xem cái hình bát quái ngay dưới cái tháp nhỏ. Đó là việc “yểm bùa” sau khi mộ xây xong. Yểm bùa, theo cách nghĩ của người Việt Nam là để mộ không bị phá. Phá mộ để lấy vàng ngọc được chôn theo người chết hay để dòng dõi họ Phạm không còn được “truyền đời” về chức phận, quan cách, v.v…
Nhà thương hộ sinh lớn nhất Saigon, và cả Việt Nam, được đặt tên là “Bệnh Viện Từ Dũ”, đúng ra là Thái hậu Từ Dụ, tên là Phạm Thị Hằng, mẹ vua Tự Đức.
Bà là người dạy con rất nghiêm. Một số người Huế còn nhớ câu chuyện một năm gần đến ngày “đại kỵ” (kỵ vua cha, tức Thiệu Tri), vua Tự Đức đi săn chưa về. Quá lo lắng, bà liền sai quan binh đi tìm. Được nửa đường quan binh thấy vua Tự Đức đứng ở mũi thuyền đốc thúc binh lính chèo gấp vì nước lũ đang về, mà thuyền đang đi ngược sông Hương. Trời đang mưa lớn, nhà vua ướt đầm.
Về đến kinh đô, biết tội mình, vua Tự Đức để nguyên quần áo ướt, qua dinh của mẹ, nằm xuống sập, đặt lên mông một cây roi mây, chờ mẹ đánh. Làm vua rồi mà vẫn còn chờ mẹ đánh!
Bà Từ Dụ giận con, ngồi quay mặt vào tường. Sau một hồi lâu, bà xoay mặt ra, đưa tay hất cây roi mà ban rằng:
“Có một mẹ một con, con đi đâu lâu, thời mẹ ở nhà trông đợi lắm. Sao con không báo cho mẹ hay trước? Thôi tha cho. Đi chơi để quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta.”
Vua Tự Đức khấu đầu lạy tạ lỗi: “Từ nay con không dám như vậy nữa”.
Người Huế còn biết nhiều chuyện về đức hạnh, nhân ái, mẫu mực của Bà Từ Dụ. Có lẽ vì vậy nên năm 1948, tên bà được đặt cho một bệnh viện phụ sản lớn nhất Việt Nam.
Về Giồng Sơn Qui, thường gọi là Gò Rùa, tức “Lăng Hoàng Gia”, sách “Gò Công Xưa và Nay” của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Minh có ghi lại câu:
Lệ thuỷ trình tường ngoại,
Quy khâu trúc phước cơ.
Nghĩa là:
Nước ngọt trổ điềm lành,
Gò Rùa vun đất phước!
Khu lăng mộ nầy gồm có:
-Bình Thành Bá Phạm Đăng Dinh, tổ ngoại (3 đời?) vua Tự Đức. Phạm Đăng Dinh sinh ở Quảng Ngãi vì gốc gác ở ngoài đó.
-Phước An Hầu Phạm Đăng Long. (con P. Đ Dinh, và lăng vợ Phạm Thị Tăng)
-Quốc Công Phạm Đăng Hưng. (thân phụ Bà Từ Dụ)
và lăng vợ Phạm Thị Du).
Người Việt làm nghề biển thường có tục “Thờ Cá Ông”, vì cá ông thường cứu ghe thuyền bị bão ngoài khơi! Vì vậy, dọc theo bờ biển Việt Nam, có nhiều làng biển lập đền thờ cá ông, khi “ông lụy”, có nghĩa là xác cá ông chết, tấp vào bờ, dân làng đem chôn, lập miếu thờ.
Miếu thờ ở Vàm Láng là lớn nhứt, mỗi năm cúng kỵ rất linh đình. Việc nầy có liên quan đến lịch sử. Có lần Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đánh đuổi, chạy ra biển, lại gặp bão, nhờ cá ông cứu, đưa vào Vàm Láng. Thành ra, Vàm Láng trở thành nơi “cứu vua”. Miếu không to, giỗ không lớn thế nào được!
&
Gò Công thuộc đất “Nam Kỳ Thuộc Địa”, nên cũng không ít “dân Tây”, tức là người có “quốc tịch Pháp”.
Nhận việc xong, thấy tôi là kẻ xa nhà, Trưởng Ty Vũ Như Bách mách nước: “Phía sau ty, có ngôi nhà từ đường. Có mấy anh em đang ở tại đó. Anh sang đó, xin bà cụ chủ nhà mà ở với họ.”
Nhà nầy đâu lưng với Ty, dài ba gian hai chái – kiểu nhà xưa, lợp ngói. Sân trước rộng, trồng cây kiểng, nằm kế bên con đường từ hông chợ ra phía cầu Tây Ban Nha. Bà cụ đã già, ở với con gái và cháu ngoại ở ngôi nhà mới xây bên cạnh.
Bà dễ tính. Khi tôi xin “tạm trú” thì bà ừ liền. Con gái bà là Chị Hoa (tôi không chắc đúng tên). Chị có thằng con trai lớn, tên Khôi, con một ông đại úy. Không thấy ông đại úy đâu cả. Có lẽ ông đã “cởi ngựa truy phong” chạy mất dạng như Sở Khanh trong truyện Kiều rồi. Kế Khôi là hai đứa em gái, – đầm lai – Mỹ lai thì đúng hơn – Mắt xanh mũi lõ – chưa tới tuổi đi học. Mẹ chúng làm sở Mỹ.
Một tối, tôi lấy cái kèn Melodica của tôi ra ngồi ở hiên nhà thổi chơi cho đỡ buồn. Tôi đang “say sưa” với các bản classique, từ “Đã quên hết sầu chưa?Lời người là ý thơ…” Sérénate, đến “Thôi buồn làm chi, Nhớ tiếc làm chi, bao nhiêu sầu nhớ sẽ tan đi…” (Tristesse) và “Về đây mái tóc còn xanh xanh, Về đây khi…” (Come back Sorento) thì bà cụ đến ngồi cạnh lúc nào tôi không hay!
Tôi ngưng thổi khi bà cụ bảo:
-“Tôi còn mấy dĩa của “Tino Rossi”, khi nào xuống nhà (của cụ) tôi cho “cậu” nghe!”
(Tino Rossi là danh ca người Pháp, gốc đảo Corse, nổi tiếng khắp Âu Mỹ khoảng giữa Thế kỷ 20).
Vậy đấy! Âm nhạc là một nghệ thuật không biên giới. Những bản classique là sản phẩm của Tây Phương hồi thế kỷ 17, 18. Nó theo chân Thực dân Pháp mà qua Việt Nam hồi thế kỷ 19. Bây giờ, nó trở thành “nhịp cầu thông cảm” giữa hai người Việt Nam, một già một trẻ.
Nghĩ vậy, tôi hỏi:
-“Mấy người cùng ở tại đây, có ai chơi loại classique nầy cho cụ nghe chưa?
-“Mấy chục năm nay, từ khi Tây rút về Tây, lần nầy là lần thứ nhất, tôi nghe “cậu” chơi loại nhạc nầy.” Bà cụ trả lời.
Tôi lại hỏi:
-“Cụ không đi Saigon, nghe nhạc ở “QueenBee”, “Đêm Màu Hồng” sao?
-“Tôi có đi với con gái, nhưng ở đó không ai hát nhạc nầy.”
-“Phải! Tôi nói. Thỉnh thoảng người ta mới chơi “Nhạc Cổ Điển Tây Phương”, nhưng chỉ trong đám bạn bè thân thiết mà thôi. Mấy bài nầy chơi Piano thì hay lắm.”
-“Cậu từng nghe chưa?” Bà Cụ hỏi.
-“Dạ! Có nghe rồi, mà nghe từ một người bạn thân.” Rồi tôi kể:
-“Năm cháu học lớp Đệ Nhất, một lần tới thăm một cô bạn gái cùng lớp, tên cổ là Hoàng Thị Ngọc Trâm. Đang ngồi chơi thì cô ta bảo: “Tiếp “nhà văn” thì phải có quà đặc biệt.” – Cháu lúc đó, còn đi học nhưng đã viết chơi cho nhiều báo ở Saigon, ở Huế, kiếm “chút tiền còm nhuận bút” uống cà-phê, chớ có là “nhà văn nhà veo” gì đâu! Tuy nhiên, bạn bè ai cũng biết tôi có bài đăng báo.
Thế rồi cô bạn gái đến mở nắp cây đàn dương cầm của cô ra, và bắt đầu đánh mấy bản nhạc cổ điển. Tôi đứng sát bên, nhìn cô ta đánh đàn.
Đánh xong vài bản, cô ta ngưng lại, hỏi tôi: “Hải nghe được không?”
Tôi tinh nghịch trả lời:
-“Hải có nghe đâu! Hải chỉ nhìn!”
-“Âm nhạc mà nhìn? Nhìn cái gì?” Cô ta hỏi.
-“Nhìn bàn tay Trâm chạy trên phiếm đàn, đẹp không thể tưởng tượng được!” Tôi nói.
Trâm cười to:
-“Các bạn thấy không? “Ông” Hải nầy ga-lăng số một. Kiểu đó thì dù “ông” không yêu người ta, người ta cũng yêu “ông.”
Cả bọn cùng cười: “Có cả Trâm đấy!”
Nghe nói vậy, Trâm cũng cười luôn.
Tôi không nghĩ cô ta yêu tôi. Con gái Huế thường nhìn cao hơn. Cô nào có bằng tú tài thì phải lấy chồng kỹ sư, bác sĩ. Cô nào có bằng cao nhứt, tiến sĩ, bác sĩ thì đành chịu… ở góa.
Nghe xong câu chuyện, Bà cụ cũng cười, nói với tôi: “Chắc “cậu” đắc đào lắm”.
Tôi đùa: “Nam mô A-di-“Đà Lạt”, “bần tăng” là kẻ tu hành!
Bà cụ là con nhà điền chủ, “dân Tây”, học “trường đầm”, “văn hóa Pháp”, có lấy chồng Tây không thì tôi không biết. Chị Hoa, con gái cụ, không có nét giống Tây.
&
Không bao lâu sau, tôi rời căn nhà đó, về “Yêu Luôn”. Tiếng tôi gọi đùa tên xã Yên Luông!
Cảnh cũ, người cũ cũng đã bao lần đổi thay mất rồi!
Bà cụ thì “Quốc tịch Pháp”, con cháu bà thì đã về Mỹ. Không ở được “quê mẹ” thì đành về “quê cha” vậy!
Ở Yên Luông, lại có một “ông Tây” khác: “Ông Một Lục”.
Một hôm, xã trưởng Nguyễn Thành Thông, rủ tôi: “Tới nhà Ông Một Lục ăn giỗ đi.”
Tôi ngần ngại:
-“Ông ta không mời tôi mà!”
Xã Thông giải thích:
-“Ông ta có nhờ tôi nói lại. Nghe nói anh là giáo sư lịch sử mà. Tới nói chuyện cho vui.”
Nhà “Ông Một Lục” là nhà ngói. Nôm na là “nhà cao cửa rộng”, vườn tược rộng, cây lá hoa quả sum suê, chứng tỏ đây nhà giàu, có lẽ không phải “Ông Một Lục” đi lính Tây mà giàu. Gốc nhà “điền chủ” thì đúng hơn.
Ba người chúng tôi ngồi ở phòng khách, bộ xa-lông gỗ, màu đỏ, đẹp. Chúng tôi uống rượu vang. Sau khi chào hỏi, tôi hỏi:
-“Ông Một có biết ông Phan Tử Lăng không?
Ông Một Lục trả lời cộc lốc: “Không.”
Tôi trả lời, không trực tiếp vào người tôi hỏi:
-“Ngoài tui, đi lính Tây, loon lá lên tới adjudant (thượng sĩ) là cao nhất. Không ai được đóng loon quan một, quan hai (thiếu úy trung úy). Mãi khi Pétain đầu hàng Hitler, Tây ở Đông Dương cần sĩ quan mà người bên Tây không qua được. Bấy giờ, Tây mới cho người Việt Nam học sĩ quan ở trường quân sự Ton. Vậy mới có quan Tây người Việt. Ở Huế, nổi tiếng nhứt là “ông Quan Một” Phan Tử Lăng, lính Khố Đỏ. Ra trường ông đậu thủ khoa. Sau khi Nhựt lật đổ Pháp, ông theo Phong Trào Thanh Niên Xung Phong của bộ trưởng Phan Anh, chính phủ Trần Trọng Kim. Rồi ông theo Việt Minh. giỏi thì giỏi nhưng chỉ tới quan “tá” mà thôi. Gốc “tạch tạch sè” mà.
“Ông Một Lục” không hiểu “tạch tạch sè” là gì, tôi phải giải thích là “tiểu tư sản.”
Ông Một Lục nói:
-“Trong Nam, phải vô “dân Tây” mới được đi học làm quan (sĩ quan). Hồi Pháp-Đức bắt đầu đánh nhau, Tây bắt dân trong Nam đi lính bên Tây. Tôi cũng vậy. Lên tới quan một thì hết giặc, tôi xin về nước.”
Tiệc xong, trên đường về, xã Thông cười nói với tôi:
-“Ông nầy dâm lắm, thỉnh thoảng ông đi chơi đĩ ở…
(Tôi không nhớ địa điểm xã Thông nói, hình như trên con đường đi Hòa Lạc, phía bên nầy Cầu Đúc.”
-“Sao ông biết?” Tôi hỏi.
-“Khi nào ông thấy chiếc xe đen của ông đậu ngoài đường là ông đi “vô xóm” với “chị em” đó.
“Ông Một Lục” có chiếc xe Traction Avant, kiểu “onze legère”, tự ông lái xe lấy.
“Dân Tây” ở Gò Công thì có dòng họ “Nguyễn Hữu” ở Hoà Đồng nữa, tôi sẽ viết khi nói tới “Bà Hoàng Hậu Nam Phương.”
Mùa Hè năm 1972, người ta gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Lửa thì cháy ở Bình Long, Kontum, Trị Thiên. Gò Công thì yên lắm, không có “binh lửa” nhưng không có nước. Ngày 8 tháng Tư Âm Lịch đến rồi mà trời vẫn không mưa. Ca dao có câu:
“Mồng Tám Tháng Tư không mưa,
Chị em bán cả cày bừa mà ăn.”
Lúa thì đã cấy xuống ruộng rồi, mà ruộng thì không có nước. Trời không mưa! Hạn đấy! Ruộng nứt nẻ như hình mu rùa. Mấy cái hồ nước ngọt trong làng cạn tới đáy. Người dân thường chứa nước mưa trong mấy cái “mái” (lu, vại, nói theo cách người Trung, người Bắc), “mái” nào cũng hết nước. Nhà Tây xây, như dinh tỉnh Trường, Ty Công An, nền nhà là cái bồn chứa nước mưa. Chỉ những nhà đó mới không ca câu: “Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy Ruộng tôi cày…”
Tới ngày rằm thì “Trời đổ cơn mưa” lớn. Cả tỉnh ai cũng mừng, đi đâu, ở đâu, cũng chỉ nghe dân chúng bàn tới chuyện mưa.
&
Ở quán Chú Cưng, mỗi sáng, các cụ già ở thị xã hay gần đâu đó, thường đến tụ tập nhau, uống càphê, bàn chuyện đang đánh nhau đâu đó ở ngoài Trung, trên Cao Nguyên. Từng là một thời theo Nam Bộ Kháng Chiến, nhưng vì một lý do nào đó, bỏ Việt Minh mà về, nhưng trong lòng mấy cụ, vẫn còn vấn vương một chút oai hùng của thời trai trẻ, nên khi bàn chuyện đánh nhau đâu đó, “Phe ta” thì thường “rút lui”, mất đất dần dần, như cái bánh tiêu mấy cụ đang ăn sáng, bánh bị cắn dần dần, như phía Nam mất lãnh thổ vậy. Vậy mà mãi tới 30 tháng Tư, 1975, mấy cụ già mới ăn hết cái bánh tiêu. Khi họ ăn xong, thì chính con cháu mấy cụ “đi trình diện học tập cải tạo.” Bánh thì hết, nhưng “Học Tập Cải Tạo” tới “mút mùa Lệ Thủy” mà chưa thấy về.
Cái tình trạng ngồi uống xàphê, nói “dốc theo kiểu Nam Bộ” đó làm cho ông Trung Tá Tỉnh trưởng Lê Trọng Nghĩa thấy nóng ruột. Một hôm, trong một “buổi họp toàn tỉnh”, ổng tuyên bố: “Nói với mấy cụ già uống càphê sáng ở quán Chú Cưng, có ngày tôi hốt hết thì đừng trách tôi.”
Nghe dọa, mấy cụ cũng sợ đấy. Nhân khi có trận mưa to, mấy cụ bàn qua chuyện… mưa. Mưa để có nước uống uống, và để làm ruộng, không phải để “Em đến thăm anh một chiều mưa!” Đây là chuyện của tôi và Vân.
Khi tôi ở Gò Công, cũng có một lần “Đồng Khởi”.
Cái “Đồng Khởi” nầy chỉ là mượn cái danh từ của Bà Nguyễn Thị Định. Ở đây thì “toàn tỉnh” đi hành quân, đồng khởi. Lính tráng thì hành quân đâu đó, lùng sục ở các “Đám lá tối trời”, còn “Nhân Dân Tự Vệ” thì tập họp, đặt chốt canh ở các ngã ba, ngã tư đường, ở các cây cầu, các bến đò, bến xe, v.v… Ban ngày, làm gì có “mấy chả” ra tới đó mà canh gác cho mệt. Thế là người ta tụ họp nhau lại mà nhậu: Canh chua, cá lóc, cá kèo, lại kể cả cá thòi lòi, nếu thiếu mồi, và… cá hộp nhà binh.
Ông tỉnh Trưởng lại tuyên bố: “Đi “Đồng Khởi” mà Nhân Dân Tự Vệ cũng đòi cá hộp. Có cá rồi, hễ cứ thấy nhà nào có trồng me thì vô nhà đó trải chiếu ra “Đồng Khởi”, hết “ít ly” đến “y lít”.
Ở Gò Công có nhiều nhà trồng me, và cả trồng so đũa nữa. Đâu phải để nuôi dê, mà để dành cho dân nhậu đấy! Me hay bông so đũa nấu canh chua thì hết sẩy!
&
Gò Công có tới hai bà hoàng hậu. Nói cho đúng thì một bà Thái hậu (Mẹ vua) là bà Từ Dụ. Nhà Nguyễn, kể từ đời Minh Mạng, không có hoàng hậu, chỉ có chánh phi, thứ phi, v.v… Thành ra, bà Từ Dụ không phải là “hoàng hậu đời Thiệu Trị”; mãi đến khi Hồng Nhậm lên ngôi vua, hiệu Tự Đức, thì bà Từ Dụ được phong làm Thái hậu.
Bà Nguyễn Hữu Thị Lan thì “cứng” hơn. Khi vua Bảo Đại cầu hôn, bà ưng thuận nhưng với điều kiện: Phải phong bà làm hoàng hậu, tức là phá lệ nhà Nguyễn, và chỉ một vợ một chồng, không có chánh phi, thứ phi gì cả. Vua Bảo Đại chấp thuận, nhưng về sau thì ông “phạm lời hứa”, có những ba bà thứ phi.
Bà Nguyễn Hữu Thi Lan quê ở Đồng Sơn.
Trên liên tỉnh lộ Gò Công – Mỹ Tho, gần tới cầu Chợ Gạo, quẹo phải là đi vào con đường lớn, xe hơi chạy được. Chạy được một đổi, khoảng vài ba cây số, người ta thấy hai ngôi nhà lầu lớn, kiểu Tây Phương, xây cạnh nhau, có hàng rào bao quanh. Nhìn qua, người ta có cảm tưởng như khung cảnh thôn quê bên Pháp, chớ không phải Việt Nam. Đó là hai nhà lầu của dòng họ Nguyễn Hữu Hào.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt, đây nơi là bị chiếm, đóng đồn. Dĩ nhiên, hai bên có đánh nhau nhiều trận nên mái hư, vách loang lổ vết đạn, cửa nẻo không còn. Bây giờ bị bỏ hoang. Cô Xuân, làm thông dịch viên cho Mỹ, nói với tôi đây là nhà của Bà Tám Đào và Chín… (tôi không nghe rõ). Vì chiến tranh, hai bà nầy đã tỵ nạn bên… Tây. Họ là “dân Tây” mà!
Ông Nguyễn Hữu Hào là đại điền chủ ở Đồng Sơn, có Tây học, đậu tú tài Pháp. Đã là đại điền chủ, ông còn kinh doanh ngành trồng trà, cao su ở miền Đông Nam Bộ và có cả ngàn mẫu ruộng ở Long Mỹ, tỉnh Rạch Giá (tên cũ). Vì vậy, khi ông rể Bảo Đại phong “quận công” cho cha vợ, thì ông Nguyễn Hữu Hào lấy tước hiệu là “Long Mỹ Quận Công”.
Vợ ông, tên là Lê Thị Bính, con gái Huyện Sĩ, tức Lê Phát Đạt, cũng là một đại điền chủ ở Gia Định.
Hai ông bà Nguyễn Hữu Hào chỉ sinh được có hai con gái, người con lớn lấy chồng Tây, Didelot, làm “Khâm mạng Hoàng triều Cương thổ” (đất của nhà Nguyễn, nhưng mà Tây “quản lý”) và cô em là Mariette Jeannette Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 4.12.1914 tại Gò Công.
Năm 1932, sau khi học ở Tây về, vua Bảo Đại ngồi lại trên ngai vàng, ngai nầy được vua cha Khải Định truyền cho năm 1925, khi Khải Định qua đời.
Vua còn trẻ, chưa vợ. Ông Đoàn Thêm, tác giả “Việc Từng Ngày” kể: Khi nhà vua ra thăm đất Hà Thành, con gái Hà Nội nô nức đón vua, mong được làm hoàng hậu. Hà Thành con gái nổi tiếng đẹp và thanh lịch. Cuối cùng, Bảo Đại chọn Nguyễn Hữu Thị Lan, cũng du học ở Pháp về. Đây là một cuộc tình duyên có sắp đặt vì âm mưu… chính trị.
Khi trở lại Việt Nam, ngồi trên ngai vàng, vua Bảo Đại muốn đem cái sở học của mình ở bên Tây, để cải cách đất nước. Ông lập một nội các mới, gồm những người trẻ, đòi Tây phải thi hành đứng đắn các hiệp định đã ký với Triều Đình Huế. Vua còn lập một “Ủy ban Cải cách” để thực hiện ý định cải cách đất nước của nhà vua.
Tây chỉ muốn Bảo Đại làm vua bù nhìn, bèn chặt hết “vây cánh”, cải tổ nội các, buộc ông Ngô Đình Diệm từ chức thượng thư. Ông Ngô Đình Diệm không từ chức cũng không được, và Tây trói tạy ông vua lại bằng một sợi giây… tình.
Nguyên khâm sứ Eugène Charles, cha nuôi Bảo Đại, đã về hưu, được gọi qua Việt Nam, lo việc cưới vợ cho Bảo Đại. Charles tổ chức một party ở Dinh Đốc Lý Đà Lạt, Bảo Đại đến dự, và Nguyễn Hữu Thị Lan đến bái yết nhà vua. Hôm đó, cô Nguyễn Hữu Thị Lan mặc một bộ đồ đen, áo dài Việt Nam, đến ra mắt vua, quỳ trước mặt vua và hôn nhẫn trên tay vua.
Một cuộc sắp đặt, làm như tình cờ, cộng thêm với một triệu đồng Đông Dương làm của hồi môn nên Bảo Đại rơi ngay vào cái bẫy “Sắc bất ba đào”.
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách,
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
(Nguyễn Giản Thanh, lúc còn đi học, một hôm tan học, gặp trời mưa, bọn học trò đứng đợi mưa dưới hiên nhà. Thầy đồ ra câu đối: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mưa không then khóa mà giữ được khách) Giản Thanh đối lại: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Sắc đẹp phụ nữ, không phải sóng nổi, nhưng dễ nhận chìm người)
Bảo Dại bị “nịch nhân” tuy sắc đẹp bà Nam Phương không bằng con gái Hà Thành. Tuy nhiên, nhà vua giải thích rằng các tiên đế thường lấy vợ gốc miền Nam, nên ông cũng chọn một cô miền Nam và đặt tên là Nam Phương (Hương thơm của miền Nam). Phương là hương thơm, như “Mượn chùm “phương thảo”, hú vía thuyền quyên” trong “Bài Tựa Truyện Kiều” của Chu Mạnh Trinh vậy.
Người Pháp và các ông giáo sĩ theo Đạo Thiên Chúa La Mã, nghĩ rằng đã “gài” được Bảo Đại: Tây thì trói được Bảo Đại, còn Giáo hội Thiên Chúa La Mã thì đạt được ý đồ từ đời Bá Đa Lộc. Người nối ngôi ông Bảo Đại sẽ là người có đạo Thiên Chúa, đưa “thần quyền” vào “thế quyền” như các nước Châu Âu trước khi có những cuộc “cách mạng tư sản”.
Tháng 8 năm 1945, Bảo Dại thoái vị, giáo hội Thiên Chúa vuột mất ý đồ một ông vua theo dạo Thiên Chúa, vì ông Bảo Đại trao ngai vàng lại cho ông… Hồ Chí Minh, và bà Nam Phương Hoàng Hậu lại à người yêu nước hơn yêu chúa, mặc dù bà là người của Nam Kỳ thuộc địa, dân Tây, học trường đầm.
Trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyên ở Huế, cũng như mọi người dân Huế, bà tham gia tích cực các phong trào dân chúng, nhất là trong các “Tuần lễ vàng”.
“Tuần lễ vàng” ở Huế do ông dược sĩ Phạm Doãn Điềm làm chủ tịch, lấy danh nghĩa là để giúp chính phủ có tiền mua súng đạn chống Tây tái xâm lăng nước ta. Bà Cựu Hoàng Hậu tham gia.
Có người kể, hôm ấy, tham gia “Tuần lễ vàng”, bà Nam Phương lấy hết nữ trang đeo vào người. Tới chỗ hành lễ, trước mặt mọi người, bà gở bỏ hết các nữ trang để đóng góp cho nhà nước. Hành động của Bà như là một gương mẫu, khuyến khích mọi người noi theo.
Học vấn mở mang trí óc con người ta đấy!
Tôi không rõ nguồn gốc ông Nguyễn Hữu Hào như thế nào, chỉ nghe nói ông là một đại điền chủ, có học, nhưng không nghe ai nói dòng dõi ông ta.
Tuy nhiên, về bà Hoàng Hậu Nam Phương, dư luận nói tới ông ngoại bà, ông Huyện Sĩ nhiều hơn.
Huyện Sĩ là một trong bốn người giàu nhứt Nam Kỳ hồi bấy giờ, theo câu tục ngữ: “Nhất Sĩ, nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa.” Đó là các ông: Huyện Sĩ, Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, Bá Hộ Xường (tên thật là Lý Tường Quan, bố vợ tướng André Trần Văn Đôn), Hui Bon Hoa, dân chúng thường gọi là “Chú Hỏa”.
Huyện Sĩ có tên là Lê Phát Đạt, thuở nhỏ, nhà nghèo lắm, làm nghề chăn vịt. Sau vô làm bồi cho một ông “cha Tây”. Ông nầy thương tình cho đi học trường dòng ở Pénang, Mã Lai. Sau khi tốt nghiệp, ông về nước làm thông ngôn cho Tây, nhằm lúc Tây đang đánh chiếm ba tỉnh miền đông Nam Phần. Thời thế tạo “anh hung?”
Khi Tây đánh tới, dân chúng chạy trốn cả. Khi tình hình tạm ổn, Tây gọi dân chúng về, làm ăn như cũ. Bấy giờ, phần đông dân chúng không về, không nhận lại ruộng. Người ta tin tưởng ít lâu đuổi xong giặc Tây, sẽ về lại nhà cũ, khỏi đắc tội với triều đình vì theo giặc. Ruộng bỏ hoang, Tây bèn cho bán đấu giá. Huyện Sĩ tìm cách mua hết, giá chỉ bằng 1% giá thường. Mấy năm sau, Huyện Sĩ lại trúng mùa, trở nên giàu có nhất nhì thời bấy giờ.
Giàu có rồi, để “vẻ vang” với đời, ông mua chức huyện, thường gọi là “huyện hàm”.
Ông có công lớn trong việc xây dựng các nhà thờ ở Saigon và vùng phụ cận, có công lớn trong việc truyền bá đạo Thiên Chúa ở miền Nam.
Khi bà Nguyễn Hữu Thị Lan về làm hoàng hậu, bà được bên ngoại tặng cho một triệu đồng Đông Dương để làm của hồi môn. Có phái vì số tiền hồi môn lớn quá, nên người dân thường nhắc đến Huyện Sĩ chăng? Trong cuộc đời làm vua, Bảo Đại “tiêu tiền của vợ” nhiều hơn “tiêu tiền của triều đình”.
Gò Công còn có nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa. Sau đây tôi chỉ kể tên. Độc giả muốn biết thêm, xin đọc sách của ông Hứa Hoành:
Nhân vật nổi dậy chống Tây:
–Trương Định: Quê vợ ở Gò Công. Ông được triều đình Huế giao nhiệm vụ khai khẩn đất hoang ở đây. Trong thời gian nổi dậy chống Pháp, căn cứ của ông ở trong các “đám lá tối trời” Gia Thuận, thuộc Gò Công.
-Nhà văn tiên phong Nam Bộ, nổi tiếng khắp nước là ông Hồ Văn Trung, tự là Hồ Biểu Chánh, quê ở Bình Thành, Gò Công.
-Nhà báo Viên Hoành Hồ Văn Hiến, em ông Hồ Biểu Chánh.
-Nhà văn Lê Sum, tự Trường Mậu.
-Giám mục Nguyễn Bá Tòng.
–Huỳnh Văn Khiêm, phủ hàm Khiêm, người rất yêu thích thơ văn, hào hiệp, được coi như một Mạnh Thường Quân xứ Gò Công.
-Công tử Georges Phước, tương tự như Hắc Công Tử (Sadec) hay Bạch Công Tử (Bạc Liêu), con đốc phủ sứ Lê Công Sủng. Ông Huyện Đậu là bố vợ Công tử Georges Phước.
-Ông Huyện Huỳnh Đình Nguồn, một nhà thơ yêu nước.
-Ông Huyện Hiểu, không rõ họ, vừa giàu có vừa hào hiệp.
–Lê Quang Liêm, một công chức nổi tiếng của Tây.
-Người nổi tiếng nhất là Luật sư Vương Quang Nhường, quê ở xã Yên Luông Đông (xã của Vân), tốt nghiệp luật sư ở bên Tây, từng làm Bộ trưởng Giáo Dục thời Bảo Đại làm Quốc Trưởng, rể vua Thành Thái (mệ 16, tên Cưới – Linh ?, em vua Duy Tân), tức là “phò mã”. Ông cậu tôi, Bác sĩ Phan Văn Hy là chồng mệ 14. Vua Thành Thái có 22 công chúa, cùng có tên chữ đầu là Lương, như Lương Lang, Lương Linh,v.v …
Khi vua Thành Thái bị đày, chính ông Vương Quang Nhường vận động chính phủ Pháp cho cha vợ “qui cố hương”. Vua Thành Thái được về nước, sau đó băng hà ở Vũng Tầu nam 1953.
Ở Gò Công cũng có “Thiên Địa hội”, “phản Thanh phục Minh”, nhưng hoạt động không mạnh.
-Giáo sư Nguyễn Văn Bông, thạc sĩ Công Pháp Quốc Tế, Viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, lãnh tụ đảng Tân Đại Việt và chủ tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, quê ở Gò Tre, Gò Công. Ông bị ám sát chết ngày 10 tháng 11 năm 1971 tại Saigon.
Hiện nay, Gò Công có hai nhận vật nổi tiếng, còn sống, một là “Út Bạch Lan”. Không phải cô đào hát Út Bạch Lan mà một “đực rựa”, là anh hùng Quân Đội VNCH. Ông là đại đội trưởng Trinh Sát Dù, tốt nghiệp cùng khóa 22A trường Võ Bị Quốc Gia với “Hùng móm” (Hoàng Ngọc Hùng) là em út của tôi. Tháng 7 năm 1972, khi “Hùng móm” tử trận ở Quảng Trị, Út Bạch Lan khóc bạn: “Dambe, Charlies mày không chết, ai xui mầy về chết ở Quê Hương. Đau lắm Hùng ơi!”
Khi tôi bị chuyển về trại Cải Tạo Long Giao thì được “biên chế” vào một khối với Út Bạch Lan, nhưng Út đã trốn trại một cách thần kỳ một hôm trước đó rồi. Câu chuyện nầy tôi có kể trong hồi ký “Vết Nám” do Văn Mới xuất bản.
Thứ hai là Bà Trương Mỹ Hoa, từng là Phó Chủ Tịch Quốc Hội, bây giờ là Phó Chủ Tịch Nước. Bà quê ở Gò Công, cách ăn mặc bị người ta chê: diêm dúa, hơi quê. Bà không tập kết Bắc, hoạt động nằm vùng ở miền Nam từ 1960. Bà bị chính quyền miền Nam giam tù 11 năm (từ 1964 đến 1975), trước khi Dương Văn Minh đầu hàng thì bà được tha ra khỏi tù.
Và, có lẽ không ai không biết “Con nhạn trắng Gò Công”: Phương Dung, với “Những đồi hoa sim” làm say đắm biết bao nhiêu người.
Vài lời kết:
Xin nói hai điều:
1)-Phong cách Gò Công.
Đi khắp miền Nam, người ta sẽ thấy cách sinh hoạt, tôi gọi là “phong cách” cho văn vẽ một chút, của người dân Gò Công giống phong cách người Huế, tuy không nhiều.
Mỗi gia đình đều biết gìn giữ “nếp nhà”, trọng lễ nghĩa, coi trọng việc học của con cái, giống như những gia đình trung lưu của Huế. Nhiều người thuộc họ Phạm, dòng dõi ông Phạm Đăng Hưng, nhưng họ không khoe khoang rằng mình “con vua cháu chúa” như người Huế.
Khi tôi còn sống ở ngôi nhà từ đường như tôi kể ở đoạn trước, mỗi chiều, khi tôi ngồi thổi Mélodica chơi ở trước hiên nhà thì thấy phía nhà đối diện thấp thoáng có bóng một cô gái cũng… ngồi chơi! Không biết cô có lắng tai nghe “Tiếng đàn tôi” hay không! Sau đó, hỏi chuyện cô, tôi mới biết cô tên Phạm Thị Hồng, dòng dõi cụ Phạm Đăng Hưng. Bất chợt cô hỏi tôi: “Trong các tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn, anh thích nhân vật nào?”
Tôi trả lời: “Dũng của Đôi Bạn”. Cô ta cười: “Đó là nhân vật tiểu thuyết hóa, Trương mới là người thực hơn chớ.” Trương là nhân vật chính trong “Bướm Trắng”. Tôi hơi giật mình, học trò lớp Đệ Nhị mà có nhận xét như thế là tinh tế lắm, khác con gái Huế đấy!”
2)-Giai cấp thống trị.
Khi Tây xâm lăng nước ta, bọn chúng đã “dựng” một tầng lớp làm tay sai cho chúng. Những người được chọn làm tay sai là những người có đạo, tức là người trung thành với Giáo hội Thiên Chúa La Mã. Trong việc xâm lăng nước ta, quyền lợi của Thực dân và quyền lợi của Giáo Hội đan chéo vào nhau. Thực dân và “những tên thực dân mặc áo thầy tu” cũng chỉ là một mà thôi. Trong viễn tượng đó, một lớp người “yêu chúa hơn yêu nước” xuất hiện. Họ cùng một lập trường phản quốc như linh mục Hoàng Quỳnh: “Thà mất nước, không thà mất Chúa”. Lê Phát Đạt hay Nguyễn Hữu Hào là ở trong trường hợp nầy.
Sau đó, Tây thực dân mở rộng việc đào tạo tay sai, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn, những người có Tây học, để giúp người Pháp trong việc cai trị. Hàng ngũ “trí thức mới” miền Nam. Đó là trường hợp các ông Diệp Văn Cương, Bùi Quang Chiêu, v.v…
Vì ảnh hưởng văn hóa Pháp, là môi trường họ xuất thân, ý thức thế nào là Bình Đẳng, Tự Do, Bác Ái (như trên lá cờ Pháp ba màu xanh trắng đỏ) và thế nào Dân Chủ, Độc Lập, chính tầng lớp trí thức mới nầy lại hoạt động chống Tây. Đảng Lập Hiến của ông Bùi Quang Chiêu, và các vị trong nhóm “Đệ Tứ Quốc Tế” và cả Hoàng Hậu Nam Phương.
Sau hiệp định Genève 1954, ngay một số linh mục du học ở Pháp về, cũng không phải là những nhà tu hành “ngoan ngoản” với Giáo hội Thiên Chúa La Mã. Họ muốn xây dựng một Giáo hội độc lập với La Mã.
Miền Nam VN trở thành nơi tập trung và phát triển tầng lớp Tây học, phần đông thuộc giai cấp tiểu tư sản. Trong khi đó thì Cộng Sản cũng nổi lên, từ sau “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” và Nam Bộ Kháng Chiến, thuộc thành phần vô sản.
Hàng trăm năm qua, trong hoàn cảnh đất nước phân ly “chống Tây và theo Tây”, tiếp sau đó là “chống Cộng và theo Cộng”. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam ly tán, tranh giành, và thù ghét nhau sâu sắc như bây giờ!
Có phải đó là “con đường tiêu vong” của Dân tộc?
quanvan.net
Hoàng Long Hải

Theo tổ chức hành chánh triều Nguyễn, Ninh Thuận, tên chánh thức, không được coi là một tỉnh vì diện tích nhỏ, dân ít. Tỉnh lớn, hoặc hai ba tỉnh gom lại, đứng đầu cơ quan hành chánh là Tổng Đốc (hàm thượng thư), tỉnh nhỏ là Tuần Vũ. Ninh Thuận cũng như Đà Lạt, “tỉnh” nhỏ nhất thì gọi là Đạo. Đứng đầu đạo là “Quản Đạo”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, năm 27 tuổi, trước khi làm thượng thư, từng giữ chức vụ “Quản Đạo Ninh Thuận.”
Một ít về lịch sử:
Thời Bắc Thuộc, ranh giới giữa Cửu Chân của Giao Châu và nước Chiêm Thành là đèo Ngang? Đời Lý, năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để xin chuộc tội.
Đó là cuộc xâm lăng và chiếm đất Chiêm Thành đầu tiên của người Việt Nam.
Theo học giả Thái Văn Kiểm, những cái tên như Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, còn lại trong các vùng đất như huyện Bố Trạch, thuộc tỉnh Quảng Bình, và Vĩnh Linh, Gio Linh, thuộc tỉnh Quảng Trị.
Cuộc Nam Tiến của người Việt được tiếp nối với vua nhà Trần, “đổi” Công Chúa Huyền Trân để lấy đất hai châu Ô và Rí (sách viết là Lý. Viết Lý là sai, nhưng chữ Nho không có chữ Rí nên phải viết trại là Lý). Cũng theo cách suy luận như trên, tên châu Ô nay còn lại ở địa danh sông Ô-Lâu, ranh giới Quảng Trị Thừa Thiên, một trong ba con sông đổ nước vào phá Tam Giang, và Nam Ô (phía nam châu Ô), nơi sản xuất nước mắm nổi tiếng ở phía nam đèo Hải Vân.
Chính sách xâm lăng của “Đại Việt” trong cuộc Nam Tiến không thiếu phần độc ác và tàn nhẫn.
Sai khi Bình Định Vương đánh đuổi quân Minh về Tầu, Vương giành được quyền tự chủ, thì Chiêm Thành cũng không còn bóng quân Tầu, lại chịu ảnh hưởng Đại Việt. Chiêm Thành lại bị chia thành hai nước: Vijaya (Đồ Bàn) Panduranga (vương quốc).
Chia để trị vẫn là chính sách xưa nay trên toàn địa cầu.
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành. Sau khi thắng trận, để tận diệt nước Chiêm, vua Thánh Tông chia Chiêm Thành thành ba nước: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, đặt ba nước có ba ông vua “mâu thuẫn nhau”. Tự ba ông vua nầy chống nhau, để “tự diệt”. Từ đó về sau, người Chiêm chỉ có thể thực hiện những cuộc nổi dậy nho nhỏ, chứ vua Chiêm không thể đem quân đánh phá Đại Việt như trước kia, và dân tộc Chiêm dần dần tiêu vong.
Ba nước Chiêm nầy ở phía Nam đèo Cả.
Để ghi lại công trạng của mình, vua Lê Thánh Tông lên “Núi Đá Bia”, tên chữ là “Thạch Bi Sơn”, cho khắc một bài thơ vào cái bia đó. Ngày nay, Thạch Bi Sơn vẫn còn bài thơ.
Dân tộc Chiêm bấy giờ chia làm ba: Một số còn bám lại đất tổ ở phía nam đèo Cả, chính yếu là ở Phan Rang và vùng phía tây xứ nầy, một số khác di cư về Châu Đốc, lập thành một xứ người ta gọi là “Chà Châu Giang” và một số chạy qua Cam-Pu-Chia. Trước vụ “cáp Duồn” ở Campuchia năm 1970, thời Sihanouk còn làm quốc trưởng, báo chí Saigon có nhắc đến Kasem, trưởng phòng Nhì của quân đội Miên, nổi tiếng tàn ác đối với người Việt bên xứ ấy. Y là người Miên gốc Chàm. Sự tàn ác của y có phải từ lòng hận thù người Việt đã tiêu diệt nước Chiêm?
Khi Nguyễn Ánh và Tây Sơn chống nhau, người Chiêm theo Nguyễn Vương. Vì vậy, sau khi lên ngôi, để trả ơn, vua Gia Long không có chính sách cai trị khắc nghiệt như dưới thời Minh Mạng.
Khi Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, vua Chiêm là Po Saong Nyung Ceng từng phò trợ Chúa Nguyễn. Vì vậy, khi lên ngôi, Gia Long cho Po Saong làm vua nước Chiêm.
Khi Minh Mạng làm ngôi, vì sự mâu thuẫn với Lê Văn Duyệt, nhà vua kiểm soát chặt chẽ xứ Chiêm, bắt Phó Vương là Po Klan Thu (tên Việt là Nguyễn Văn Vĩnh) về giam ở Huế cho đến khi ông nầy qua đời.
Sự mâu thuẫn giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt đưa tới chính sách cai trị có mục đích tiêu diệt văn hóa Chiêm Thành, xóa bỏ hoàn toàn “Vương Quốc Chiêm”, biến lãnh thổ nước Chiêm thành một tỉnh năm 1832. Nước Chiêm không còn, vua Chiêm cũng không còn và dân tộc Chiêm trên đường tiêu vong. Kinh đô nước Chiêm cuối cùng ở Phan Rang cũng không còn.
&
Phan Rang là thủ đô cuối cùng của dân tộc Chiêm.
Văn hóa Chiêm như ngọn đèn sắp hết dầu, bừng lên một chút ánh sáng rồi tắt ngấm. Có phải vì vậy nên ở Phan Rang có nhiều di tích tháp Chàm đẹp và hùng vĩ. Đó là tháp Po Klong GiaRai, Po RôMê xây dựng vào thế kỷ 17, Tháp Mỹ Sơn, Po Nagar… Tháp Po RoMe được coi là một “bản sao” của tháp Pô Klong Giarai.
Sau khi triều đại Chàm sụp đổ, hình ảnh và lịch sử cũng như dân tộc Chàm để lại nhiều dấu ấn trong lòng người Việt. Ông Lê Đình Khởi, – thầy giáo dạy lớp nhì của tôi, niên khóa 1949-50 -, trước 1945, ông từng làm việc nhiều nơi ở Đông Dương: Phan Rang và cả Phnom Pênh, từng nói với bọn học trò chúng tôi: “Khi đứng trước một cái tháp Chàm, lòng mình bỗng thấy buồn và như tiếc nhớ một cái gì đấy! Có phải trong dòng máu của mình có dòng máu của người Chàm. Trong quá trình Nam Tiến, không hẳn cha ông chúng ta không có việc pha tạp dòng giống giữa người Việt và người Chàm!”
Tuy nhiên, tập thơ “Điêu Tàn” của Chế Lan Viên,
“khóc than” cho dân tộc Chàm, thì nhà thơ không phải là một người Chàm chính gốc như Chế Linh. Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, một thời ông làm thông phán ở Phan Rang. Có phải vì từng làm việc ở Phan Rang mà ông thấy “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.”
Phan Rang là nơi có vũ độ thấp nhất Việt Nam, vì vậy, đây là “vùng đất khô”, chỉ thích hợp cho những loài cây chịu khô, ít nước. Do đó, Phan Rang có một ít phẩm vật nổi tiếng, nhất là tỏi.
Giống như Bình Định, xuống xe ở ngay trung tâm thành phố, nhìn quanh, du khách chỉ thấy bốn bề là núi, không biết hướng nào là biển, hướng nào là núi, phải định thần một lúc mới nhận ra; nó hoàn toàn khác với Huế, nhìn về phía Tây, người ta thấy ngay dãy Trương Sơn, ngược với hướng Tây là hướng biển Thuận An.
Vậy mà người Huế và người Qui Nhơn đổ thừa cho nhau câu nói “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ da dâm”. Cho tới bây giờ, nói cho ngay tình, tôi không biết câu nầy ám chỉ nơi nào. Phan Rang cũng bốn bề là núi như Qui Nhơn, nhưng không nghe ai dùng câu trên để ví với vùng đất Phan Rang.
Trên con đường đi về phía Nam, qua khỏi đèo Cả, du khách đôi khi cảm thấy lòng buồn, bang khuâng, và cảm thương cho thân phận người di dân trong cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày xưa.
Thử nghe vài câu:
Mũi Nậy bảy bị còn ba,
Mũi Dinh chín bị không tha bị nào.
Đi ghe qua Mũi Nậy (nậy có nghĩa là lớn), ở Phú Yên, mang theo bảy bị gạo, ăn hết ba bị là qua được. Qua Mũi Dinh, ở Ninh Thuận, bảy bị gạo, ăn hết cả bảy, chưa chắc qua được. Vậy thì qua Mũi Dinh khó khăn và nguy hiểm hơn mũi Nậy nhiều. Mũi Dinh được xem như điểm “Cực Đông” của vùng bờ biển nước ta.
Tiếng ai trên núi véo von,
Phải chăng chú lính trên hòn Cù Mông,
Xa xa em đứng em trông,
Hỏi thăm chú lính thử chồng em đâu?
Đèo Cù Mông ở Bình Định.
Câu ca dao có vẻ gì như Chinh Phụ Ngâm vậy: Người vợ đi tìm chồng ở ngoài biên ải.
Vùng đất nầy, ngày xưa đáng sợ lắm đấy: “Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận” đấy. Ma Bình Thuận cũng là Ma Hời.
Năm 1964, sau khi làm giám thị kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp ở Quảng Ngãi, một số giáo sư chúng tôi, vô làm giám khảo ở Hội Đồng thi Nha Trang. Chúng tôi bèn họp nhau thuê xe hơi đi theo quốc lộ. Cho tới bây giờ, tôi còn nhớ những cảm tưởng u buồn về chuyến đi ấy, nhất là khi đi qua đoạn đường Đèo Cả, lòng người lẫn lộn với những ý tưởng về cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày trước. Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, gian nan, khốn khổ còn hơn cả cuộc Tây Tiến của người Mỹ khi họ di cư về phía Tây.
Phan Rang là quê hương của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.
Theo cách kê khai lý lịch của người Việt Nam từ xưa, quê quán hay bản quán của một người, phải kể tử nơi sinh cơ lập nghiệp của cha ông. Các Chúa Nguyễn phần đông sinh ra và lớn lên ở phía nam sông Gianh, nhưng quê quán của họ là Gia Miêu, Ngoại trang Thanh Hóa, phía bắc sông Gianh.
Nếu tính theo cách đó, thì Phan Rang chỉ là nơi sinh, nơi cư trú (khi còn trẻ) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Vậy quê hương bản quán của Tổng Thống ở đâu?
Thân phụ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là cụ Nguyễn Văn Trung, gốc là một kép hát của một gánh hát rong nào đó, quê quán ở Cái Bè hay Cai Lậy. Xưa, có những gánh hát bội nhỏ, tương tự như kiểu “Gánh Hát Giữa Rừng” trong “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam. Đó là những gánh hát bội – hồi đó cải lương chưa phát triển như sau nầy, di chuyển bằng ghe, từ xã nầy qua xã khác ở thôn quê. Nơi nào trù phú thì ghé lại hát ở đình chợ, đình làng năm ba nữa. Nơi nào vắng vẻ thì tối hát, sáng “dông”. Có khi tới mùa lúa, gặt hái xong rồi, thì chủ điền kêu gánh hát về, hát năm ba bữa cho tá điền coi chơi, miễn mua vé.
Gánh hát, trong đó có cụ Trung, khi ấy cụ còn trai trẻ, ghé lại làng Tri Thủy, rồi “nghe theo tiếng gọi tình yêu”, như cách nói của “văn nghệ cải lương”, kép Trung bỏ gánh, lấy vợ, lập nghiệp quê người.
Sau nầy, khi đã nên danh phận, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có cho người về Cai Lậy, Cái Bè tìm lại tổ tiên, nhưng không tìm được. Thời gian lâu dài và chiến tranh loạn lạc, không ai còn nhớ anh kép hạt có quê quán xiêu lạc nơi xứ người đã lâu.
Như vậy thì “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu, như ông thường nói, ở đâu? Không chắc ở Cái Bè Cai Lậy, có huyệt đế vương, nhưng đó cũng là nơi sản sinh ra “Vua Hề Trần Văn Trạch”. Làng hề cũng dễ lên ngôi vua. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Saigon ít ra có những “Năm ông vua hề”.
Vậy chính đất Phan Rang là “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu chớ gì nữa!
Ông sinh trưởng là làng Tri Thủy. Nơi nầy, đúng là “địa linh nhân kiệt”. Trước khi vô làng, người ta phải đi theo một con đường đất, sau nầy được mở lớn, có một “bãi đá”, tên thường gọi là “Bãi Đá Dao” vì ngay chính giữa bãi là một tảng đá lớn, có hình mũi nhọn như mũi dao.
Bên kia “Bãi Đá Dao”, qua một cái vịnh nhỏ, là một ngọn đồi, có mấy tảng đá, dân làng gọi là “Đá Mặt Quỉ”, mặt mũi giống người, nhưng trông có vẻ ác như mạt quỉ.
Một bên là “Ông Thiện”, một bên là “Ông Ác”. Dân làng nói vậy. Dĩ nhiên, người dân gần gũi với ông Thiện và sợ ông Ác.
Hòn Đá Dao ngàn năm như vậy, “vững như bàn thạch”, bỗng đầu năm 1975, hòn đá “tự nhiên” nghiêng sang một bên! Tại sao nó nghiêng được? Người ta không thể hiểu được! Có điềm lành dữ gì hay chăng?
Trong đời có những “Điềm Lạ” hay có khi người ta gọi là “Điềm Trời”. (Xem “Điềm Trời” cùng tác giả trên VănTuyển.net)
Chẳng hạn như ở Vịnh Hà Tiên, “Hòn Phụ Tử” có cả triệu năm nay, bỗng mấy năm trước đây, “Hòn Phụ” bỗng đổ ùm xuống nước, khiến dân Rạch Giá “sáng tác” câu ca dao:
Than ôi “Hòn Phụ” đổ rồi,
Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than!
“Dũng” là Nguyễn Tấn Dũng đấy!
Lại bỗng nhiên, cũng thời gian với “Đá Dao” bị nghiêng, trên Quốc Lộ 1, đoạn ngang qua Phan Rang, một đàn sâu đen, bò ngang qua đường, hết con này đến con khác, liền một dây cả ngày không dứt. Xe đò thấy vậy, e ngại điềm linh thiêng, không dám chạy qua, sợ cán nhằm sâu, làm cho xe bị kẹt một hàng dài.
Cựu Thiếu tá Nguyễ Văn Tiếp, một “bạn tù” của tôi ở Trảng Lớn, khi ấy làm Chánh Sở Tâm Lý Chiến, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quân Khu II, kể lại với bạn tù rằng chính anh lãnh nhiệm vụ điều tra việc “Sâu bò qua đường”, xác nhận việc ấy là có thật.
Vậy rồi Tổng Thống Thiệu từ chức ngày 21 tháng Tư năm 1975. Người ta coi ông như vị “Tổng Thống cuối cùng” của Việt Nam Cộng Hòa, vì Tổng Thống Trần Văn Hương hay Tổng Thống Dương Văn Minh, có làm đúng thủ tục hiến pháp hay không, thì mấy ông nầy chưa cầm quyền cho vững đã phải xuống chức.
&
Nhìn lại lịch sử, người ta có thể coi Phan Rang như là một nơi chấm dứt của hai triều đại: Sự chấm dứt của các vua Chiêm. Tại đây nước Chiêm Thành biến mất trên bản đồ, và sự chấm dứt của nước Việt Nam Cộng Hòa có vị tổng thống sinh quán ở vùng đất nầy.
Điều bí ẩn, – nếu người ta tin như vậy -, thì bí ẩn ấy là ở Phan Rang, vùng đất cuối cùng, chớ không phải ở Saigon, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Đại Tướng Dương Văn Minh, ra lệnh đầu hàng.
Sự chấm dứt của một triều đại, dù oan ưng, dù tốt hay xấu như thế nào, cũng để lại trong lòng người một nỗi buồn, khi “tấn tuồng lịch sử” qua đi.
Có điều đáng buồn, tháng Sáu vừa qua, khi tôi đến Phan Rang vì việc nhà, không hiểu tại sao tôi không cảm nhận được “Hồn thu thảo” như của Bà Huyện khi Bà trở về thăm lại “Thăng Long thành”. “Tâm hồn chai đá” cũng là điều đáng tiếc cho những ai thấy đời người là đáng thương!
hoànglonghải
quanvan.net
Hoàng Long Hải
Posted on 20 Aug 2016
Post by Sơn râu 6 Mar 2024
“Khôn chết, dại chết, biết sống”
(Khổng Tử)
Khôn cho người ta nhái, dại cho người ta thương)

Chuyện cũ:
Dương Tu là người có tài đời Tam Quốc.
Một hôm, Tào Tháo đi thăm một cái phủ mới xây. Tháo bèn viết lên cửa chữ “Hoạt”. Hoạt là “trơn”. Những người làm chính trị, nay phò ông nầy, mai theo ông kia , người ta gọi là kẻ “hoạt đầu”. Nghĩa là cái đầu trơn. Đầu trơn nên “chui đâu cũng lọt”.
Chẳng ai hiểu Tào Tháo muốn nói gì! Biết Duơng Tu là người hay chữ, nên có người hỏi Tu. Tu bảo: “Thừa Tướng chê cái cửa hẹp đấy.”
Lần sau đến thăm, thấy cửa bây giờ sửa rộng ra. Tháo hỏi: “Ai biểu làm rộng ra?”
Bẩm Thừa Tướng, Dương Tu ạ!” Có người trả lời.
Tháo không vui. Tháo là người đa nghi, không muốn ai biết rõ mình. Thấy Dương Tu biết rõ bụng dạ mình, Tháo không ưa.
Lại có lần, Tào Tháo được tặng một hộp bánh. Tháo ăn thử một miếng, rồi viết chữ “ngon” lên nắp hộp. Thấy vậy, Dương Tu đem cho gia nhân biểu ăn hết. Khi về, biết chuyện, Tháo tức giận, nhưng Tháo hiểu, chữ “ngon” cũng có nghĩa là chia cho mỗi người một miếng.
Lại một lần nữa, Tháo đem quân đánh Lưu Bị, mấy trận rồi mà bất phân thắng bại, “tấn thoái lưỡng nan”. Tháo muốn rút quân về, nhưng còn phân vân lắm.
Bấy giờ, buổi tối, có tướng vào xin “mật khẩu”. Tháo bảo: “Kê cân”. Kê cân là gân gà.
Chuyện đến tai Dương Tu, Dương Tu bảo với lính: “Chuẩn bị, mai về!”
Nửa đêm, Tháo đi tuần, thấy binh lính chuẩn bị rút về, Tháo hỏi: “Ai ra lệnh?” Binh lính bảo, “Chỉ nghe Dương Tu nói.”
Tháo giận lắm, lại biết Dương Tu nói, hơi lo! Ăn thịt gà, gặp cái gân, bỏ thì tiếc, nhai thì nhai mãi không ra, như tình trạng Tháo hiện tại vậy.
Thấy Dương Tu khôn quá, biết rõ cả tim óc mình nên Tháo biểu đem chém để trừ hậu họa, mà cũng thỏa cái lòng ghen. Tháo lấy cớ là “làm loạn lòng quân.”
Dĩ nhiên người đời chê Tháo hẹp bụng, ganh tị, thấy ai hơn mình thì không ưa. Tâm lý đó cũng thường tình. Người đời cũng chê Dương Tu “khôn quá hóa ngu”, đúng như câu nói của Không Tử trích dẫn ở đầu bài. Ở đời, quả thật là “Khôn chết, dại chết, biết sống”.
Người khôn, có khi sinh ra vị kỷ, chẳng hạn như tục ngữ nói: “Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau.” Như vậy là mình chỉ biết mình. Ăn cổ mà giành đi trước thì để cho người đi sau “dọn chén bát” hay sao? Còn như lội nước đi sau, thì người ta chết, còn mình sống mà vui được sao?
Có người nói Bà Hillary khôn!
Dĩ nhiên, ai không thấy bà ta khôn! Nhắm bộ khôn như thế, không bị người đời ghét hay sao?
Trong những người chê bà, chắc cũng không thiếu gì người thấy bà ta khôn mà ghét, không bằng như Tào Tháo ghét Dương Tu thì cũng ít nhiều có cái tâm lý đó vậy thôi. Đó là…đời!
Nói như thế nầy, có ngưòi sẽ giẩy nẩy lên đấy: “Không! Tôi không phải là Tào Tháo, tôi chỉ sợ bà ta khôn quá, thì bà ta dễ khuyến dụ người dễ tin hay phỉnh gạt người ta mà thôi.” Đấy cũng là môt cách nói. Tâm lý người ta đâu có dễ thấy để mà nhận xét, phê bình! Vả lại, mình nghĩ rằng người ta ngu, dại nhưng chắc gì người ta đã dại, đã ngu. Ai biết ai ngu dại khôn lanh hơn ai!
Trên truyền hình, nhiều khi người ta thấy mặt bà Hill “tỉnh bơ”. Ví dụ như mấy chuyện lăng nhăng của ông Bill. Báo chí, truyền thanh, truyền hình, Quốc Hội điều tra, ông Bill ra điều trần… Vậy người ta thấy bà Bill tỉnh lắm. Coi như không có chuyện gì xảy ra.
Ấy là bà ta khôn lắm! Bả nói gì bây giờ? Không nói gì cả, không tuyên bố, tuyên cáo gì cả, mới là người khôn.
Thái độ đó, làm cho người Việt Nam nhớ tới Hoạn Thư. Có lẽ bà Hill cũng ghen nhhu Hoạn Thư. Ngoài mặt thì “tỉnh bơ” nhưng chắc trong long thì sóng ngầm sóng nổi dữ lắm. “Lửa tâm càn giập càng nồng”(Kiều). Bà Bill thì để cho chồng đối phó. Trong nhà, bà có “tham mưu” gì cho ông Bill thì người ngoài cũng khó biết.
Hoạn Thư cũng vậy. Hoạn cũng giấu kỷ lắm. Nhà quan mà, cần phải “giữ danh dự” (?) cho gia đình. “Con quan lại bộ tên là Hoạn Thư.”
Tham vọng của bà Bill lớn lắm. Ông Bill làm tổng thống được. Bả cũng làm tổng thống được vậy. Ông Bill còn dại (gái); chắc gì bà Bill dại (trai – mê trai). Nội chừng đó cũng thấy bả hơn ông rồi.
Để đạt cái tham vọng lớn đó, bả phải giữ cái “danh dự” cho ông cho bả chớ! Cho nên báo chí, truyền hình, đối lập… ai nói gì cứ nói, còn bà Bill thì
Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.
Còn chuyện trong nhà thì:
Trong ngoài kín mít như bưng.
Nào ai còn dám nói năng một lời!
Vậy mà cũng có người biết đấy!
Không biết phóng viên báo chí hay ai, một hôm hỏi bà Bill, khi thấy trên trán ông Bill có dán miếng băng keo (first aid), có phải bả lấy cái gì đó ném vào trán ông hay không?
Bà Bill trả lời: “Nếu tôi ném thì tôi không ném dở như vậy!”
Câu chuyện nầy, làm người ta nhớ tới cái lẹo lưỡi của bà Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng bộ Ngoại Giao của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” trong hội nghị Paris.
Khi nói về lãnh thổ, cái chính phủ ma do Hà Nội dựng lên không có một cái thủ đô nào cả, ngay cả trong rừng cũng không nên báo chí hỏi: “Lãnh thổ của chính phủ của bà là những chỗ nào?”
Bà Bình trả lời: “Nơi nào mà chính quyền Saigon bắn súng tới là lãnh thổ của chúng tôi.”
Người thì cho trả lời như thế là khôn, người thì cho là “Miệng lưỡi sắc như dao!” Dù nhận xét như thế nào thì cũng phải nhận bà Bình trả lời như thế là khôn, chớ không thì phải nói sao, không lý nói “Lãnh thổ của chúng tôi là ở bắc Vĩ Tuyến 17!”
Khôn có hai cách: Khôn ác và khôn thiện. Dùng cái khôn để làm việc ác thì người đời chê! Dùng cái khôn để làm việc thiện thì người đời khen. Vì vậy, tổ tiên chúng ta có câu tục ngữ: “Khôn cho người ta nhái, dại cho người ta thương.”
Chẳng qua, theo quan điểm sống của người Việt Nam, sống có Đức là hơn hết!
Bài nầy viết ra không phải để khen chê ông Bill, bà Bill hay ông Trump hay “vận động bầu cử” cho họ. Chuyện đó để cho người đời phán xét. Tôi không muốn làm “tài khôn”. Chẳng qua thấy việc tranh cử cũng vui, mà xứ “Ố-Nàm ta” thì chắc cả trăm năm nữa chưa chắc đã có, mà người Tầu, dù gọi người nước ta là “Ố Nàm” thì chắc chắn dân Tàu không thể nào hơn dân ta được./
Còn lâu!
hoànglonghải
sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted 15/08/2019
Post by Sơn râu 6 Mar 2024

Ở xứ lạnh dai dẳng ai cũng mong hè về, thế rồi khi nó tới, như chân đi một lữ khách đã mỏi mòn cần tìm nơi ngồi nghỉ. Nó ở tạm chẳng lâu, hiện ra mà không cần phải đón nghe những thành tâm đưa lời cầu xin quá bộ. Nó nóng quắt quay và khiến lắm kẻ lại manh tâm quay mặt khước từ. Họ bày ra những chia tay, họ đi xa, họ bảo cần thay đổi không khí.
Như vậy, nghỉ hè mang ý nghĩa của những cuộc lên đường. Vé máy bay lên giá, lập luận rằng tại rơi vào mùa cao điểm. Người ở núi cao bay về vùng biển, người ở phố phường tìm ra bình nguyên vắng tiếng động. Sống nơi cô quạnh bèn vượt biên mong quây quần chung đụng tiếng cười hiền hữu. Tựu trung họ tìm nhặt sự quân bình, bồi đắp những thiếu hụt, hoán đổi một môi trường, một cảnh sắc. Quen, lạ.
Vì mấy chục năm nhớ tiếng ve râm ran giữa giấc trưa nồng, nhớ cành phượng ươm đầy hoa đỏ đến oằn cành, đã có người chịu ngồi bó thân trên chuyến bay dài mất gần hai mươi bốn giờ để về nhìn nhận, lòng say bao kỷ niệm cũ “ngày đó chúng mình”. Ngày mình đi ve con Phượng ở trong xóm, mình ngang trang lứa cùng Phượng mà mình cả gan tán “anh thấy em nhỏ xíu anh thương”. Em gái kế của Phượng, bé như cây kẹo rắc thêm đường: Thương sao không lo gửi gạo ngay từ bây giờ?
Cái khắc nghiệt của thời tiết, của địa hình bất an không làm kẻ hoài hương nao núng. Nhưng thứ phân trần “ngoạn cảnh” ấy nghe chẳng mấy thuyết phục. Ve kêu phượng nở rồi sao nữa? Anh ung dung cả tháng trời, anh phải tìm cách hưởng thụ thứ khác chứ, cho bõ những ngày cơ cực? Một lần đi một lần khó, không tới bến ngó sao đặng? Câm lặng. Có những phương cách “trả thù đời” anh chẳng tiện nói ra. Bởi nó sai quấy rành rành, không đành lòng; chưa kể người đón nghe tâm sự sẽ lên giọng: Thôi đi cha, bộ hết cách chơi rồi sao? Mày khác tao, tao áo vải cơ hàn, mày áo gấm về làng thì sinh đổ đốn, cứ thích điệu võ dương oai!
Nghỉ hè, bầu đoàn thê tử làm cuộc đi xa, mút chỉ à nha, phấn khởi hát ca mà số phận chẳng tha. Bà vợ luôn đưa hình ảnh lên Facebook, cập nhật từng đoạn di chuyển, thời tiết, đặc sản hàng quán. Trả lời những người bạn chốn cũ, bà cho hay dự tính ở đó ba ngày, tới chỗ kia cũng vậy, chỗ nọ thì dài lâu hơn, mình rộng cẳng những ba tuần cơ mà. Cứ thật thà khai báo, cứ hồn nhiên vô ngại mà chẳng ngờ “niềm vui đã nằm trong tai ương”. Kẻ gian nắm được toàn bộ tin tức, kẻ gian tỉnh rụi mang xe van tới dọn hết đồ đoàn giá trị, rõ là thong dong như vào chốn không người. Chuyến nghỉ hè toàn thân rám nắng hết hạn kỳ, quy cố hương mà muốn sụm bà chè. Bố thằng cu ơi, khi đi anh có khoá kín cửa nẻo không đó? Hu hu hu, con khóc vợ nhằn chồng dậm cẳng thẩn thờ trông thiên ngó địa. Nhà ta đó sao giờ này trông y như chùa bà Đanh? Y như phút đầu trắng tay tới định cư hồi nẵm, vào thế kỷ trước.
Ở cõi Pha-xê-bốc, nơi tồn trữ bao chuyện buồn vui rắn mắt nực gà luân phiên đổi mới từ thành đến tỉnh với chó cán xe, vào đó biết thêm một từ mới: Ủn. Cần nói ngay là ủn này chẳng liên hệ bà con gì tới đồng chí Kim Jong Un ba nhăm tuổi đầu làm lãnh đạo xứ Triều Tiên, mỗi khi ngài đi đâu, đồng bào làm màn khóc la thắm thiết và thê thảm, Nhớ thương quặn ruột thì mần răng ăn cho ngon ngủ cho yên đây ngài? Trên facebook thấy ảnh chàng cười suốt. Chàng thấp người, chàng mập ú, chàng đủng đỉnh. Ai làm chàng mất lòng thì chàng cho kẻ to gan nọ đi tàu suốt liền khi.
Người Việt nghe tới ủn, hình dung tới chữ dùng đặc tả loài lợn, ví như heo trông ủn ỉn lạ thường, gục đầu xô cám chúng dường tạp ăn. Lại sai nốt. Ủn này do các chiến hữu bàn phím ở thế giới Facebook khai sinh, nó hoá thân từ chữ Unfriend, hàm hồ và hầm hố để hiểu là “mình hết còn bồ tèo của nhau nữa nha, anh đường anh tôi đường tôi tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”. Ủn rất căng chứ đừng đùa. Có thằng trẻ người non dạ hớn hở đi cắt đầu tóc giống anh Ủn phương xa, chụp hình selfie đưa lên phây khoe, chỉ ba mươi giây cô bạn gái liền “ủn” hắn, viết tuyệt bút: Điên vừa thôi, cha nội! Mặt trông ngố méo chịu được! Ủn với xù cũng một nghĩa như nhau.
Một đứa trần tình: Mình kết giao được tới 108 bạn khắp năm châu bốn bể, nhìn qua ngó lại hơn chục vị lương sơn bạc bỏ mình đi mất tiêu, ủn không khoan nhượng. Có thể vì họ đọc bài “lần đầu làm chuyện ấy” của mình, rồi thêm bài “chuyện bây giờ mới kể”. Họ hổng thèm chơi với mình vì mình lỡ dại nói thẳng nói thật, đụng chạm những lon những lu. Lại thêm họ đăng ảnh mát mẻ của vợ họ, bồ họ, con gái họ mà mình không like nên họ cạy mặt, họ ủn mình. Bá nhân bá bao tử, mình làm mất lòng bá tánh mà mình nào hay.
Ai ủn thì ủn nhưng Phượng vẫn cứ rứa, cứ như xưa, cứ tình trong như đã mặt ngoài còn e. Tuy nhuốm chút tàn phai, màu phượng thôi thắm tươi nhưng bộ nhớ trong đầu Phượng vẫn chưa suy hao tổn thất. Phượng giỏi môn toán đố, Phượng viết: Vậy là mình làm đồng chí đã hai năm trên phây-bút nhưng mùa hè ni thì đánh dấu tình bạn của chúng mềnh đã đi suốt chặng đường 50 bó. Anh trả lời, quá hơn tiều phu đi gánh củi, gậy gộc que cành nặng nề quá xá làm răng ôm cho xuể? Bỏ thì tội mà mang thì nghe long đầu gối. Phượng đổi qua làm chuyên gia tâm lý: Chuyện ấy thì sao? Chuyện ấy là chuyện chi? Đồ con quỷ, biết còn giả ngộ ngây thơ. Anh ngậm hột thị chả giả nhời, anh đánh trống lãng đổi sang mưa gió đầy giời. Chơ cớ làm sao cao nguyên Đà Lạt mà cũng bị ngập lụt? Quê mình dường như là chốn hội tụ đủ đầy những thứ khó tin? Hơn bốn mươi năm ra đường cứ đụng mặt toàn “con ma nhà họ Hứa”. Vui nhất là bà con gặp công an cảnh sát thì mặt mày liền biến dạng u nần. Bị sao dzậy? Ừa, mình vô ý va đầu vào đùi cui anh ấy mờ, hổng sao đâu, chiện nhỏ. Ừa, ngộ lắm nghen, đang đi ngon ơ bỗng nhiên cái mình tự té.
Hè về, trốn nóng, trốn cảnh vô cớ bị dập mặt làm nhân diện chợt vẹt hư hao, lại sợ nhìn phượng đỏ ve kêu đinh tai nhức óc, có kẻ mang hia bảy dặm tìm sang xứ tuyết thăm thú sự tình, có chết cũng hả dạ. Qua pha-xê-bốc, nghe rõ tiếng thở dài thậm thượt của Phượng: Số mình lận đận, cứ làm công chúa ngủ trong rừng miết, đâu được như đứa em gái mình. Còn nhớ nó không? Bữa nào nó sang đó làm ơn dắt nó đi ngoạn cảnh giùm. Ô kê, chuyện ấy mình ngon lành lắm. Chuyện gì? Đừng có chuyện nọ xọ sang chuyện kia nha, dễ hư bột hư đường, đừng làm rách việc cha nội! Xớ rớ thì tui ủn cho bỏ ghét.
Chị tên Phượng mà em thời tên Mai. Chị ra đời vào mùa hạ mà em đẻ vào mùa xuân. Luận vào thời tiết để đoán tính tình thì chị nóng nảy very hot mà em xem chừng mát mẻ ẩm ướt đầy sức sống, chưa kể phận làm em thì buộc phải nhỏ tuổi thua chị, Mai mới có bốn bó lẻ mấy que. Ngày xưa bé như cây kẹo thì hiện tại vóc vạc bộn bề như thùng đựng bia. Một loại thùng đặc biệt có ba vòng tử tế. Mai nói: Chế độ ăn uống em tuân thủ dữ lắm mới được vậy. Người ở bển quen dùng chữ lạ tai: Cái máy này em gài chế độ tự động tắt, mở… Sao Mai chẳng hỏi cái đáng hỏi: Chế độ dân chủ xứ này có cảnh người bóc lột người không anh?
“Chế độ” sinh hoạt của Mai rất lâm ly bi đát, rất hiện thực huyền ảo: Mai kết hôn giả với một tay Việt kiều. Mai bán nhà, bán ruộng vườn, tom góp được một gia tài kha khá và trích riêng ra mười ngàn đô dùng trao qua tay John Pham chừng nào nó bảo lãnh được Mai sang đây. Trên mặt pháp lý em là dzợ nó, nhưng trong hợp đồng ký kết giữa song phương tụi em hổng là gì của nhau cả, chung mái nhà nhưng phòng ai nấy chốt cửa lại, tóm gọn là em vẫn theo chế độ độc thân. Còn anh thì sao? Sao là sao? Anh làm con trâu cày bừa tắt quạt chứ sao nữa. Giờ này anh gửi gạo cho em thì đã muộn màng chưa? Xời, người ta mới chân ướt chân ráo qua, chưa nắm được tình hình, cho người ta một thời gian ngồi thở cho lại thần hồn đã chớ, gấp chi anh, chuyện gì cũng còn có đó. Bà Phượng mà nghe được hổng chừng bả hát bài tình chị mà duyên em. Dù sao chăng nữa thì mình nên chụm đầu vào nhau đặng “tự sướng” một tấm ảnh, anh đăng lên pha-xê-bốc hù bả chơi. Ô kê, phần ghi dòng tâm trạng thì giao cho Mai viết nha. Chiện nhỏ.
Mai đi học nghề làm móng tay. Mai doạ, coi chừng mai này em kêu anh lợi ngồi đếm tiền giúp em. Chừng tháng sau Mai kêu thật, nhưng trong điện thoại nghe tiếng khóc ấm ức như đứa bị cướp giật mất hết tiền. Đêm qua thằng chồng giả nó vào phòng em nó trấn lột em không khoan nhượng, nó vũ phu xé rách nội y em, nó hùng hục đi vào người em. Làm gì nhau nào? Cô có giỏi thì đi kiện tụng xem, chồng làm tình vợ là chuyện thường ngày ở huyện. Con dao cô bỏ mười ngàn đô để mua thì kẻ hèn này đang nắm ở đằng đuôi. Hắn thở hào hển nói trong lúc tới đỉnh. Hu hu em đứt tay rồi anh ơi, anh từ bỏ chế độ độc thân là vừa, chắc em xin tị nạn ở nhà anh thôi. Anh có khi con Mai này không?
Mùa hè, mùa của những cuộc dọn nhà. Người ta thuê xe van hì hục chạy nhiều chuyến tới lui giữa hai địa chỉ cũ, mới hòng thanh toán hết đồ đoàn lỉnh kỉnh. Mai thì không, ra đi chẳng mang ba lô quần áo cứ thế cắp nách. Đi như dân vượt biên, ngựa thì cất lạc người thì ngậm tăm, có nghĩa là mong êm ru bà rù, chớ gây âm thanh, đừng để ai biết. Anh sang đây đã bộn tháng năm mà sao ngụ ở chỗ nhỏ như cái lỗ mũi? Có lý nào hai ta ngủ chung một giường năm canh gặp toàn ác mộng? Nhưng thà mà vậy chớ em sợ chung đụng với hạng vũ phu ưa dày xéo đàn bà. Em thấy anh củ mỉ cù mì em để ý em thương. Số em cực quá, biết khi nao mới có được chồng thật như người ta! Cứ lộng giả mà chưa thành chân, khổ thế!
Chỗ làm nails Mai nghe có chị gì đó kể về người chồng có mèo, chỉ theo dõi đường đi nước bước rồi chỉ thuê ba thằng xã hội đen đi xin tí huyết đôi gian phu dâm phụ. Chị nói rẻ rề à, mất có năm trăm đô chứ nhiêu mà thằng chồng chiêu hồi một phép. Mai kết luận, không ấy có ngày con Mai này thuê chúng tới uýnh dằn mặt thằng John, mày đụng tới cái móng tay con Mai là chết ngay tắp lự, nghe mậy.
Anh biết chuyện kể về người sói không? Đang bình thường vậy không dưng ngó lên bầu trời đêm tròn trăng thì người đâm mọc lông ngừa ngáy, biến dạng thành sói cất mõm lên hú trước khi gây tội ác.
Sao Mai nhắc tới chuyện giả tưởng ấy, làm gì có người sói giữa thời buổi văn minh này?
Có chứ anh, em đang thấy ngứa ngáy đây, em đang muốn hoán đổi sự tẻ nhạt này, em thích thay chế độ sống. Nè, có thấy lông lá của người sói chưa? Em sẽ lấy thịt đè người, bắt anh thành thật khai báo là anh có thực bụng thương em không? Hãy công khai điều đó lên phây bút, hãy nói Phượng ơi tui hổng thích màu đỏ của Phượng đâu. Tui mến con ve sầu xa xứ tên Mai mà thui. Mở phây bút mà cứ thầm thà thậm thụt chả dám động đến sự thật thì chán bỏ mẹ. Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ mạnh miệng gào ghét. Gào thét đi anh, sợ chi bà Phượng ở xa, hơi đâu ngán bả ủn mình. Nằm yên, em lột truồng anh đây, con heo bé nhỏ của em.
Hồ Đình Nghiêm