This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Những ngày đầu năm 2024 hay những cuối năm Quý Mão này, Thầy Thích Pháp Hòa về với Texas trong đợt rét kỷ lục phủ khắp nước Mỹ. Nhưng thời tiết chẳng ngăn được hàng ngàn người tại San Antonio và Dallas đổ về các tu viện để có dịp được tu học, thiền định và tận mặt gặp gỡ, rồi được nghe Thầy pháp thoại. Tôi cũng đã có cơ hội đến với Thầy trong đôi ngày tại Tu Viện Huyền Quang thuộc khu vực Dallas, Texas, được nghe Thầy thuyết giảng Phật pháp cùng những bài pháp thoại đầy ý nghĩa, dù đã không ít lần xem qua Youtube. Gặp gỡ, chứng kiến và hiểu hơn lý do tại sao hàng triệu người Việt đang kính mến, ngưỡng vọng Thầy Pháp Hòa.
Năm bảy năm trước, nghe được pháp thoại của Thầy Thích Pháp Hòa khi mở cho Mẹ tôi xem, tôi có giới thiệu đến một anh bạn Công giáo. Anh nghe thử đôi lần, sau đó có lần bảo tôi rằng, kể từ dạo đó anh thường nghe pháp thoại của Thầy mỗi khi lên xe. Không chỉ riêng anh mà tôi còn biết thêm vài người như vậy, dù họ vẫn là những người Công giáo ngoan đạo. Có lẽ họ tìm thấy những điều Thầy Pháp Hòa thuyết giảng chẳng đối nghịch hay khác biệt bao nhiêu với tôn giáo và đức tin của mình. Thầy chỉ giúp người nghe khai mở, học thêm cách sống tốt đẹp cho chính mình và gia đình, với tha nhân.
Mà thật, Thầy Pháp Hòa không thuyết giảng đức tin tôn giáo. Thầy dùng Phật pháp và những chánh niệm đạo pháp như phương tiện để chuyển tải những thông điệp ý nghĩa và lẽ sống bác ái, dạy người nghe biết tự chế ngự tâm tính mình. Người nghe như bị lôi cuốn những chánh pháp từ bi, hướng thiện, được truyền đạt bằng một ngôn ngữ Việt giản dị, chân thành lại dí dỏm nhưng đầy uyên thâm, trí tuệ. Chứa đựng đủ những điển tích, thi văn, lịch sử.
Phật tử nghe càng thấm nhuần, hiểu hơn lời Phật dạy để sống tịnh mặc với chân lẽ đó. Còn chẳng phải Phật tử, người nghe vẫn cảm nhận sâu xa con đường dẫn đến sự bình an tâm hồn. Đó là lý do hàng triệu người Việt trong và ngoài nước đã đến với Thầy Pháp Hòa trong vài năm qua và ngày càng đông đảo hơn.
Thầy Pháp Hòa và Thầy Chơn Tạng làm lễ
Sinh năm 1974, bước vào năm 2024 này, Thầy Pháp Hòa vừa tròn 50 tuổi nhưng đã có đến 35 năm xuất gia tu tập. Bên ngoài trông thầy nho nhã, tự tại và toát vẻ từ bi đạo hạnh, trẻ hơn cả trên màn hình truyền hình.
Như một thiện căn Bồ đề của những vị chân tu, Thầy kể năm lên 7 tuổi đã Quy y Tam bảo tại Tịnh xá Ngọc Thuận ở Cần Thơ và phát nguyện ăn chay mỗi tháng 10 ngày. Bạn bè con nít chơi đá cá, đá dế, còn thầy cắt hình Phật bà trên bao nhang về thờ, xin chuông xe đạp để tập gõ chuông đọc kinh, thường lấy hộp diêm hay nặn đất sét làm quan tài an táng, tụng kinh cho những con dế, con cá bị chết.
Năm 12 tuổi Thầy sang định cư tại Canada rồi đến năm 15 tuổi, năm 1989, Thầy dứt bỏ thế tục, chính thức xuất gia. Năm 1994, tròn 20 tuổi theo giới luật, Thầy thọ giới Tỳ-kheo tại Làng Mai với Thiền sư Thích Nhất Hạnh bên Pháp, quyết dành trọn cuộc đời cho đạo pháp và dốc lòng tu học để mang ánh sáng đạo pháp đến với chúng sanh. Thầy kể rằng đó là những tháng ngày tu học vất vả, mùa đông kê ván ngủ dưới đất trong các túi ngủ cá nhân và bữa ăn chỉ lưng bụng vì Làng Mai còn rất nghèo lúc bấy giờ.
Phật tử nghe Thầy giảng Pháp
Tiếp tục tu học và hoằng pháp, đến năm 2006 Thầy được trao trách vụ trụ trì Tu viện Trúc Lâm tại thành phố Edmonton bên Canada, là trung tâm tu học đầu tiên của Viện Phật học, rồi tiếp theo là Tây Thiên, những nơi thực hiện các chương trình tu học theo truyền thống Phật giáo Việt Nam. Thầy Pháp Hòa bắt đầu con đường hoằng pháp theo tâm niệm và con đường của riêng mình, mở các khoá tu học, pháp thoại, pháp đàm với đại chúng.
Các đoạn phim thu lại các bài pháp thoại của Thầy được đưa lên các trang mạng xã hội vào khoảng những năm 2010-2011. Những phim đầu tiên chưa có lượng xem đông đảo vì Phật tử chưa có duyên biết đến Thầy nhưng càng ngày càng đông đảo người xem. Đến nay, chỉ riêng kênh youtube “Vấn đáp Thầy Thích Pháp Hòa” đã có khoảng hơn 1.4 triệu người ghi tên theo dõi và có những pháp thoại có đến hàng vài trăm ngàn lượt, chưa kể số người theo và xem tại các trang chính thức hay không chính thức khác. Về mặt mạng xã hội, đó là những con số rất lớn với bất cứ vị tu sĩ hay các trang tôn giáo nào, thậm chí cả với giới ca sĩ, tài tử nổi tiếng của người Việt.
Thầy giảng gì mà người nghe đông như vậy?
Thầy Pháp Hòa làm lễ Quy Y Tam Bảo cho Phật Tử
Thưa Thầy giảng về đạo làm người, khai ngộ cho đại chúng con đường giữ cho tâm-thân-ý được bình an, chân thiện qua triết lý và đạo pháp dựa trên tư tưởng nhà Phật. Thầy giải thích các khái niệm, từ ngữ, nghi thức trong Phật giáo bằng ngôn từ đơn giản, dễ hiểu cho bất cứ người nghe có những nền tảng khác nhau.
Thầy dùng thi ca, từ kinh Pháp cú cho đến ca dao tục ngữ Việt, dùng văn chương, lịch sử, những câu chuyện dụ ngôn, thỉnh thoảng lồng vào những mẩu chuyện cười ý nhị để bài pháp thoại trở nên lôi cuốn, hấp dẫn và cho người nghe thêm bao nhiêu kiến thức. Đặc biệt là trong phần vấn đáp, khi trả lời các câu hỏi tức thời của đại chúng, sự dí dỏm và uyên tuệ của Thầy cho thấy sự thông thái của kho kiến thức phong phú cùng một trí nhớ siêu việt đến dường nào. Chỉ riêng ngôn ngữ và văn hóa Việt, một người rời nước từ năm 12 tuổi mà uyên bác như vậy quả phải rất dày công tu học, nghiên cứu công phu.
Cách trò chuyện của Thầy lại tự nhiên và chân thành, như cách chia sẻ một quan niệm sống đẹp nên gần gũi. Trong một vài pháp thoại, có khi Thầy còn ca vài câu vọng cổ hay bài hát về tình mẫu tử, quê hương hay liên quan đến lời giảng, nghe vừa vui vui nhưng lòng lại bồi hồi. Ngôi chánh điện các chùa và tu viện mỗi khi có duyên mời được Thầy pháp thoại, luôn chật cứng người ngồi chú tâm im lặng nghe lời dẫn giải, đôi lúc lại bật cười hay vỗ tay trước những lời ý nhị. Riêng tôi, ngồi nghe pháp thoại của Thầy gần hai tiếng đồng hồ mà lại thấy thời gian qua rất nhanh, học hỏi được không ít điều. Tôi cảm nhận như Thầy không chỉ là bậc tu hành đang thuyết giảng tư tưởng nhà Phật mà còn là một nhà tâm lý xã hội học đầy am hiểu.
Thăm hỏi nhà bếp
Ngày hôm trước, về lại Tu viện Huyền Quang sau vài ngày xuống San Antonio và sau một ngày dài Phật sự ngay tại Dallas, bước xuống xe thầy đã đến thăm hỏi từng người, vào tận nhà bếp xem cơm chiều cho Phật tử đã chuẩn bị ra sao. Cuối tuần trước đó, xem lịch không kỹ nên tôi đến tu viện sớm, chưa gặp được Thầy nhưng lại có duyên tiếp chuyện với Ni sư trụ trì Huệ Đức và Ni sư Lệ Thiên. Sư Lệ Thiên có kể tôi nghe rằng, thầy cứ áy náy khi tu viện còn nghèo mà mỗi lần Thầy về các Phật tử địa phương và các thành phố, tiểu bang lân cận lại đổ về tu học đông đúc, Thầy ngại không lo được chu đáo cho tất cả. Đó là tấm lòng của một bậc tu hành luôn quan tâm, lo lắng cho đại chúng.
“Pháp đã trao lòng từ vạn thuở
Hòa quang tiếp độ khắp quần sinh
Sen nở rạng ngời trần chẳng nhiễm
Độ hết muôn phương chúng hữu tình”.
Phật tử luôn bao quanh chào hỏi và chụp ảnh cùng Thầy
Sư ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh nhìn được đạo hạnh của người đệ tử tài ba có tấm lòng và hạnh nguyện Bồ Tát từ vạn thuở để độ muôn phương, muôn người nên đã viết bài kệ phú pháp truyền đăng bên trên trao cho Thầy Pháp Hòa vào năm 1999, với chữ của hai câu đầu là pháp hiệu của Thầy.
Thế giới nhiễu nhương, lòng người bất an và đạo giáo có đôi khi bị đàm tiếu vì dăm kẻ giả hình, thiết nghĩ sự hiện diện và con đường hoằng pháp của một bậc chân tu đạo hạnh và uyên thâm như Thầy Thích Pháp Hòa quả là sự may mắn cho giới Phật tử và Phật giáo Việt Nam.
Hà Thị Hùa – Sanh năm Mậu Dần (1878) ngày 19 tháng 8 giờ dần. (Tự Đức năm thứ 31 – Quang Tự năm thứ 4).
Tử năm Quý Sửu (1913) ngày 17 tháng 2 giờ Dần. (Duy Tân năm thứ 7. Trung Hoa dân quốc năm thứ 2).
Mẹ tôi mất sớm nên tôi nhớ mẹ tôi nhiều. Lúc ấy tôi vừa được mười một tuổi đầu. Mẹ con hủ hỉ quyến luyến không rời. Bỗng mẹ mất. Đồng xu miếng bánh nay phải hỏi Ba tôi, ông vốn có tánh nghiêm bình sanh tôi sợ lấm lét. Thét rồi cũng quen, nhưng trong thâm tâm hình dáng người mẹ không thay thế càng in sâu vào, không bao giờ quên.
Mẹ tôi gốc gác người làng Tài Sum, tục danh làng Xoài Cả Nả, nay là làng Đại Tâm. Làng nầy nay đã cải tiến, có nhà gạch, sân nóc bê-tông bằng phẳng, văn minh quá, nhưng làm sao đổi được mấy gian nhà lá dưới bóng xoài cổ thụ, từng che chở tuổi xanh vô tư lự, chơi giỡn dưới bóng nầy, lòng chưa bợn chút trần ai. Khi lấy chồng thì Ba chúng tôi được hai mươi lăm tuổi, mẹ tôi hai mươi hai tuổi năm ấy là năm 1900.
Lễ sính. Ba tôi nói lại gồm:
– Một cây kiềng cổ hằng vàng trơn một lượng năm chỉ;
– Một đôi vàng chạm bát tiên ky thú, kế bên mỗi ông tiên có một hàng chữ; (nay còn giữ được một chiếc làm dấu tích);
– Một bộ cà rá vàng năm chỉ;
– Một đôi bông dâu, một chỉ vàng;
Và bạc mặt để lo liệu đám cưới và đãi tiệc: “một trăm đồng bạc lớn” (100 Đ).
Những đồ nữ trang nầy đều do Ba tôi tự tay sáng chế.
Mẹ tôi nằm bếp cả thảy bảy lần, có một lần song thai, nếu còn sống đủ là tám mặt con, đều là trai, nhưng chỉ tôi còn sống sót, nên được cưng nhiều.
1 – Vương Cẩm, sanh năm Canh Tý (1900);
2 – Một trai sanh năm Tân Sửu (1901);
3 – Vương Hồng Sển, sanh năm Nhâm Dần, 27 tháng 9 ta, giờ Dần (bốn giờ rưỡi sáng).
4 – Một trai sanh ngày mồng 6 tháng 8 năm Mậu Thân (1908).
5 – Vương Tuyền, sanh ngày mồng 7 tháng 11 giờ Thân năm Kỷ Dậu (1909). Không dám nuôi ở nhà nên gởi cho một người Thổ ở Xà Lôn nuôi, người vú đó tên Thock, nên gọi Tuyền là “côn nặc Thock” (con ông Thock). Nuôi mạnh sân sẩn, tôi từng thấy chú nầy, rất sổ sữa. Được ba tuổi bỗng đau rồi chết, theo tôi vì lúc đó không biết cách nuôi hài nhi như ngày nay.
6 – Một kỳ tiểu sản. Tôi còn nhớ năm ấy, đương vây quanh mâm cơm buổi sáng, lối chín giờ ban mai, mẹ tôi mệt, bỏ đũa vô giường nằm. Chưa kịp kiếm bà mụ hay mụ đến chưa kịp thì sảo, làm mệt, trong nhà lăng xăng. Không biết làm cách nào cho người mệt dễ thở, chỉ có cách hơ lửa xoa bóp tay chân. Có người bàn kiếm mai rùa đốt xông cho có khói thì mau thấy khỏe. Bởi không có sẵn mai rùa nên trong lúc bối rối Ba tôi lấy cái xe cát của tôi chơi hằng bữa, đập nát cho vào lò, mà cái xe ấy vốn là mai con cần đước là giống rùa thật lớn; nhờ đó mẹ tôi thoát cơn nguy. Tôi không tiếc cái xe do tay Ba tôi chế, có tra bốn bánh cây và chở cát được nhiều, chơi rất thú, duy nhớ mãi tích nầy, cho đến nay tôi chưa thấy món đồ chơi trẻ con nào ngộ bằng cái xe mai cần đước nầy.
7. Lần sau rốt, năm 1913, nhơn sanh rồi mẹ tôi đau kiết. Thuở đó thuốc men lôi thôi, người sanh mà đau bịnh nầy là rất khó trị.
Thêm trong nhà còn tin nhiều dị đoan. Chỉ rước ông thầy đàn thổ là Cụ Lên đến đọc kinh làm phép giải tà. Uống thuốc Tàu rồi thuốc ta, không gặp thuốc nên mẹ tôi từ trần 1 .
Mẹ tôi chỉ có một lần lên Sài Gòn đi một chuyến với Ba tôi. Kỳ đó có sắm được một cái quả xách bốn ngăn bằng tre đan, sơn đen chạy chỉ vàng, nay tôi còn giữ kỹ, để trên bàn thờ làm kỷ niệm. Kỳ đi nầy trước năm sanh tôi, ắt lối năm 1901 gì đó. Thế là cái quả đến nay, đã trên bảy mươi năm.
Mẹ tôi, nước da trắng. Những người bạn gái sau nầy nói lại với tôi “má cháu lịch sự người lắm” 2 . Người dáng xinh xinh không cao không thấp, không mập cũng không gầy, tóc đen và dài chí gót. Ra chợ kết duyên với Ba tôi không đầy một năm mà nói tiếng Việt rất rành, pha thêm những thành ngữ Miên dịch lại cho nên lời nói có một hình dung lạ tai, các ý, các bà cùng xóm đều thích và mong kết làm chị em bạn. Có lẽ một phần nào tôi giống mẹ tôi về cách ăn nói, chớ Ba tôi ít cười ít nói, có tánh nghiêm và ngạo thầm nên câu chuyện có hơi buồn tẻ. Mẹ tôi rất giỏi về khoa nấu nướng hằng đổi bữa với các điệu Miên Việt và Tàu đi chợ ít tiền, mà món ăn lạ miệng. Có tánh khéo chiều chuộng chồng, còn đối với tôi thì cưng đáo để. Một tỷ dụ nhỏ là mẹ tôi lựa cá lớn miếng cho tôi ăn mà không dạy cách thức ăn cá có xương nhiều, cho nên ngày nay tôi không biết lựa xương cá. Mẹ tôi biết tôi có tánh thích những gì gọi là cổ điển cho nên thường hay ghẹo. Thậm chí món mắm lóc chưng nguyên con với thịt băm nhỏ là món tôi ghét và ít khi mó đũa vào. Một hôm mẹ tôi dọn trên mâm món đó và nói nhỏ với Ba tôi là mắm lạ của bà Phủ An biếu, mắm cũ để dành đã trên mười năm rồi. Tôi nghe làm vậy ráng nín thở ăn mắm chưng đến quen mùi, tôi biết ăn mắm từ đó; nhưng cũng từ đó mỗi lần dọn mâm lên mâm là mẹ tôi mỗi lần nhạo tôi tật ham đồ cổ.
Mẹ tôi về tướng diện không phải là người yểu số, nhưng không biết vì sao thọ chỉ có ba mươi lăm tuổi. Khi mẹ tôi mất, trong nhà cuộc làm ăn đang phấn chấn bỗng bị ngưng trệ, trong nhà vắng bóng người quán xuyến, buồn bã vô cùng. Tôi vì mê say tiểu thuyết truyện Tàu, lại có ý nghĩ viễn vông muốn tự tử để theo mẹ!
Cái buồn vu vơ nảy sanh từ đây.
Căn bịnh khởi nguyên từ sanh sản, rồi trong lúc nằm bếp, bịnh biến ra chứng kiết. Nếu ngay như bây giờ thì một là không lâm bịnh kiết, vì ăn uống đầy đủ, không nằm lửa nóng nực thì ất bịnh không sanh; hai là với khoa y học tối tân, bịnh dữ cách mấy cũng dễ trừ. Hại thay, thời buổi ấy, thuốc Tây không mấy ai tin dùng vì chưa đủ đảm bảo. Ban đầu mẹ tôi đau sơ sài, uống thuốc thầy Tàu không thấy bớt, tai hại nhứt là bên ngoại tôi một hai ép theo phương pháp cổ truyền trong Xoài Cả Nả rước thầy Miên là Cụ Lên, đưa đến nhà mỗi ngày hai bữa cơm tươm tất có món nhậu ngon lành, để thầy trưa và tối làm phép, đọc thần chú, bắt mẹ tôi ngồi trên bộ ván vạch trần lưng cho thầy vẽ bùa, phun nước phép và cúng bông hoa đèn sáp… Làm như vậy mà muốn con ma bịnh rút lui. Chỉ tốn gà giò, đầu heo luộc, cho sướng miệng thầy nhậu. Bịnh một ngày một nặng. Nằm lửa nóng quán đến lở lưng phải lót lá chuối mà nằm. Cụ Lên đã chạy, day qua rước con của lão, lại tốn thêm rượu trắng, cơm ngon.
Gần Tết, mẹ tôi còn rán ngồi dậy may cho Ba tôi một bộ áo quần lục soạn đen, nói pha lửng “e cho chưa kiếm được người mới” dè đâu đó là lời trối trăng để vĩnh biệt. Rồi còn gượng ăn Tết mua cam Tàu hồng khô, ra giêng thì nằm liệt. Mẹ tôi gọi tôi đến bên giường, căn dặn đủ điều, phải chăm học, coi trong coi ngoài, nữ trang để lại rán giữ để nữa cưới vợ, nói với tôi rất nhiều, nay mới biết đó là lời từ giã, lúc ấy tôi chỉ biết khóc. Ngày mười bảy tháng hai năm ấy, Quí Sửu (1913), mẹ tôi từ trần. Ba tôi là người chặt dạ, tôi không bao giờ thấy Ba tôi chảy nước mắt, thế mà tôi còn nhớ Ba tôi đứng bên giường, khóc lớn khi mẹ tôi tắt hơi: “Mình ôi! Mình bỏ tôi mà đi, sao mình?” Nhớ đến mà đứt ruột.
Mẹ tôi được tẩm liệm trong một cái hòm bằng gỗ sao, giá sáu, chục bạc, một số tiền khá quan trọng vào thời ấy, cho nên ngày nay còn danh từ thường thấy mà không ước lượng giá trị và nghĩa đúng của nó là “đồng bạc lớn”.
Khi liệm tôi cố ý khóc cho rơi nước mắt vào xác mẹ tưởng mong mẹ sẽ về báo mộng cho mình thấy trong giấc chiêm bao, nhưng nào thấy hình dáng mẹ lần nào? Khi động quan, tôi nằm hòm, tức nằm dài xuống đất cho khiêng quan tài đi ngang qua thân thể, gọi rằng báo hiếu theo tục xưa. Rồi phò gậy tang, một nhánh vông nhỏ suôn đuột không có mắt, tượng trưng cho tình mẹ thương con vô bờ bến. Mẹ tôi được an táng trong rẫy nhà, nơi nầy có người ở, không dám chôn ngoài đồng vì sợ quân phù thuỷ trộm đào luyện thiên linh cái. Ma chay làm theo tục cổ giữ đúng theo Thọ mai gia lễ, nhưng năm tôi được mười hai tuổi (1914), nhơn dịp bãi trường, bên ngoại tôi đưa tôi lên chùa Xà Lôn, gần Xoài Cả Nả, xuống tóc cạo luôn chơn mày 3 , cho mặc bộ áo vàng của sãi Miên, quỳ trước bàn Phật, có một ông lục Thổ quì kế bên, ông nói tiếng nào tôi nhái lại tiếng nấy, ấy là phép tụng kinh sám hối, cầu cho vong hồn mẹ được sớm siêu thăng. Tục ấy là tục tu tất, chỉ có hai mươi bốn giờ kể một ngọ, trai giới tỉnh túc, lễ cầu siêu theo phép Thổ. Báo hại khi nhập trường, lột nón chào thầy, cái vành nón ở lại trên đầu vì tóc mọc chưa kịp cản vành nón lại như có kim gút cài hay đinh đóng chặt. Miễn hồn mẹ được siêu sinh tịnh độ, mấy chị em bạn gái thấy tôi trọc đầu, nhạo cười tôi nào kể sá gì 4 .
Mẹ tôi rất thích truyện Tàu. Tối nào, trong lúc tôi học bài nơi bộ ván, Ba tôi đọc Tam Quốc hay Kim cổ kỳ quan trong nguyên văn chữ Hán, rồi dịch lại cho gia đình nghe, cảnh đầm ấm nầy, khi mẹ tôi chết thì không còn nữa.
Về sau mẹ tôi chắt mót mua truyện Tàu phiên âm ra quốc ngữ, giá mỗi cuốn bốn cắc bạc, lúc ấy chỉ có bán ở Sốc Trăng tại nhà thím bang Quảng Sen (Tchoan-seng) mua từ Sài Gòn về. Mẹ tôi tập đọc với thầy là Ba tôi, và rất sáng dạ, không bao lâu đọc được truyện quốc ngữ. Ngày nay những bộ truyện nầy tôi còn cất giữ trong tủ sách, đóng bìa tử tế nhưng giữ luôn tờ giấy bìa cũ có in năm xuất bản, nhờ vậy biết được truyện Tàu dịch ra quốc ngữ, trong Nam có trước hơn ngoài Bắc.
Tôi nhớ lại mẹ tôi là người có tay đổ bác, đánh bạc ít khi thua, và có linh tánh, bữa nào trong lòng hồi hộp thì ai mời cách mấy cũng không đi và bữa ấy nếu gượng đi thì thua là cái chắc. Nhưng mẹ tôi rất kính nể chồng, khi nào Ba tôi cho phép, mẹ tôi mới dám đi chơi bài, khi thì nhà Bà Phủ An (là bà nội sau nầy của cô Tư Tuyết, người vợ tôi đã ly dị), khi khác nhà ông Bang Tư (Lưu Liễu). Tôi còn nhớ một hôm mẹ tôi đi chơi nhà bà Phủ An về, cầm cho tôi năm ba trái bòn bon, khi khác năm ba trái buồn quân (chứ gọi ngộ quân), khi khác nữa một thẻ sô-cô-la hiệu Nestlé trong có nhân hột điều hạt dẻ, toàn là những thức ăn ngon mẹ lén giấu đem về cho con, khác với gương Lục Tích trong Tam Quốc là con đem về cho mẹ.
Mẹ tôi mất, Ba tôi thủ tang kể ba năm (hai mươi bảy tháng) rồi mới tục huyền. Trên cửa cái, lúc tang khó, có dán bốn chữ Hán giấy xanh kẻ chữ phấn “Tam niên thủ lễ”.
Tôi tuy hư nhiều nhưng tốt số. Mẹ tôi chỉ đánh tôi một lần hai roi nhẹ, vì tội làm biếng ở dơ, không chịu tấm. Tôi có cả thảy ba người dì nối tiếp nâng khăn sửa túi cho Ba tôi, nhưng không có dì, nào nói nặng tôi một tiếng chớ đừng nói chi là đánh đập. Vậy mà, mẹ tôi lo sợ nhứt lúc lâm chung là để con lại e người sau hành hạ.
Đồ nữ trang của mẹ tôi, trên mười lượng vàng, đều do Ba tôi tự tay chế tạo. Về sau Ba tôi đều có trao lại tôi đủ số. Tôi lấy đó cưới bà Tuyết. Không phải tôi nói xấu, nhưng ông nhạc tôi dạy tôi phong lưu tứ đổ tường.
Nhạc mẫu tôi mất năm 1928, tôi được đổi về toà bố Sa Đéc. Lạy cha vợ xin lãnh của hồi môn mười lượng vàng về, là cái hộp không. Cờ bạc thua cầm cố hết. Trao cho tôi ba cái giấy cầm đồ mà tôi làm sao mới ra đời, có tiền để chuộc? May thời sót lại một chiếc sáu chỉ Tuyết đeo trong tay nay đã trả về tôi. Lúc dựng nhà tại Gia Định, mấy phen đem cầm chiếc vàng nầy nơi tiệm nhưng dầu nghèo túng thiếu hụt đến đâu, cũng rán chạy tiền chuộc về vì là di tích duy nhứt của mẹ, các món vàng kia đã bị bên vợ trước cầm bán đánh bạc hết rồi.
Ngày nay trời cho được khác. Tiền tài mà chi? Sang giàu mà chi? Của cải sắm mới chứa đầy nhà thế mà mấy chiếc vàng của mẹ chúc ngôn để lại không gìn giữ được.
Mãi cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, mẹ tôi không biết cây son hộp phấn là gì. Cho đến nhiếp ảnh chụp hình lúc đó cũng kiêng vì sợ máy ảnh hớp hồn. Bởi vậy mẹ tôi không lưu ảnh để lại. Với cái đẹp dung dị tự nhiên của hoa mọc ngoài trời, sanh nơi thôn dã, mẹ tôi không sợ dầm sương dang nắng. Chết sớm thật là tức tối. Mẹ tôi mất, thọ ba mươi lăm tuổi. Còn trong tuổi Nhan Hồi (ba mươi ba), nên tục lệ cước thêm ba tuổi (một tuổi vua cho, một tuổi làng xã cho, một tuổi do ông bà cho), trên giá triệu đề thọ tam thập bát tục”, không phải có ý dối trời, thật sự cầu chúc con cháu khỏi nạn yếu số.
Tội nghiệp, tiếng mẹ tôi gọi đây là để viết vào sách. Khi sanh tiền, tôi gọi mẹ tôi hằng cô. Vì nhà có nuôi hai anh học trò học nghề thợ bạc với ba tôi, anh Diệp Hủi (Húc) và anh Hứa Siêu, vốn là cháu gỏi mẹ tôi là cô ruột, tôi bắt chước gọi theo. Gần đậy nắp quan, tôi khóc kể, huyên thiên, cũng réo “Cô ơi! Cô hỡi!”. “Con mà không gọi mẹ bằng mẹ, chữ Hiếu để đâu?”. Quả thật tôi là đồ hư.
Vương Kim Hưng – Sanh năm Ất Hợi (1875), ngày 21-11, giờ Sửu (Tự Đức năm thứ 28 – Quang Tự nguyên niên).
Tử: năm Canh Tý (1961), mồng hai tháng chạp (18-1-1961).
An táng trong rẫy nhà, gần mộ mẹ tôi, ngày mồng sáu (22-1 năm 1961).
Dẫn – Tiểu sử của Ba, tôi viết lúc Ba còn sanh tiền, năm Kỷ Hợi 1959 lúc ấy Ba tôi đã tám mươi lăm tuổi, đã ăn bát tuần cách bốn năm trước, và vẫn còn đủ trí nhớ, minh mẫn và sáng suốt, kể chuyện xưa tích cũ có mạch lạc không lẫn quên chút nào.
Chúng con mừng riêng có hạnh phúc lớn của trời dành lại, còn cha già khương kiện, và con xin phép Ba cho con viết cảm tưởng của con để nhờ Ba đọc và xem lại, như có chỗ nào chưa đúng sự thật, sẽ chỉ dạy cho con điều chỉnh lại, trong lúc Ba còn đủ minh mẫn xét đoán, con cố ý rán viết đúng như con được nghe thấy Ba từ nhỏ, không tô điểm văn hoa, hoạ chăng các em các cháu trong gia đình, khi đọc chương nầy, sẽ biết thêm lịch sử một người cha, một ông nội, một người trong kiễng họ Vương đáng tôn đáng kính.
Cẩn Tự
Sển
° ° °
NHẮC LẠI
Khi ông nội chúng tôi còn sanh tiền, ông có mua được một miếng đất thổ trạch toạ lạc đường Đại Ngãi, giá ba trăm đồng bạc lớn. Sở đất nầy diện tích lối ba trăm thước vuông, hiện có xây hai căn phố một từng lầu do gia đình em chúng tôi là Vương Minh Quan đang ở. Đất nầy thuộc quý địa vì ở ngay trung tâm châu thành trên một con đường thị tứ, thế mà vài năm sau người kế cận nài bán một sở đất y như vậy ở sái sở đất ông nội tôi, cũng định giá ba trăm bạc y như sở nọ, nhưng ông nội tôi không ham mua, nhiều viện lẽ rằng chánh phủ có lệ bỏ tù người thiếu thuế, sợ khi mua rủi hụt tiền trả thuế vào tù là oan uổng quá. Sở đất nầy chớ, chi mua lúc đó thì nới rộng miếng đất kia ra xấp hai, (và nay đã trở nên lai căn phố lầu, một là quán nước, hai là nhà cho vay bạc chetty nay bán lại cho một Huê kiều).
Lúc mua đất, thì ba tôi chưa trưởng thành, cho nên ông tôi khai cước tuổi Ba tôi lên mười tám để có quyền đứng bộ làm chủ đất.
Việc làm nầy có ba ý nghĩa: một là ông tôi thương Ba tôi là con trai trưởng nam; hai là ông tôi tránh đứng tên, e ngày sau có việc tranh tụng lòng dòng giữa hai dòng con chánh và thứ; ba là ông tôi đã có linh ứng không thọ, nên thà để Ba tôi làm chủ là một cách lo xa.
Ba năm sau, ông tôi mất. Ba tôi xiết bao bối rối, vì tuổi hai mươi mốt còn quá thơ, làm sao hiểu hết việc đời. Thêm tứ cố vô thân, không bà con họ hàng, không người chỉ dẫn. Giữa lúc ấy lại gặp nạn bị chủ đất đuổi nhà đòi đất lại. Đất nầy của ông Xường Há là thân phụ bà Năm Ky, bạn của mẹ tôi, vị trí ở ngã tư đường trưởng toà Xavary, nay là dãy phố cha sở họ đạo. Tang cha còn mang nặng trên đầu, vì không chỗ ở nên Ba tôi phải cương ra xây cất ba căn nhà trệt trên sở đất của ông nội tôi để lại. Ba căn nhà ngói nầy, tôi từng ở từ lúc ấu thơ cho đến năm đi học trường lớn Sài Gòn, ngót hai mươi năm trường. Nếu không xảy ra nạn làm đẹp thành phố, dỡ phố trệt xây phố lầu, thì đến nay ba căn nầy vẫn còn tồn tại và trở nên một cổ tích vì rất kiên cố, ít nữa đã từng che chở cho ba anh em chúng tôi, tôi và em Quan em Cảnh, vui sống những năm dài vô tư lự dưới mái ngói tuy thấp nhưng ấm áp và hạnh phúc nầy.
Năm Ba tôi cất nhà là năm Kỷ Dậu (1897). Năm ấy trong tỉnh Sốc Trăng đang bị nạn thất mùa và đói kém. Buôn bán ế nhệ khó khăn. Vì tình thế như vậy, cho nên ông bang Sáo, tên thiệt là Nham A Sao, vừa là bang trưởng bang Quảng Đông, vừa chủ một nhà hàng bán cơm Tây và rượu Tây rất đông khách, vừa là chủ một lò gạch, ông bang Sáo ấy ưng bán chịu vật liệu xây cất nhà cho Ba tôi, chi trả trước mớ nhắm còn lại lần hồi chừng nào có thì trả cũng được. Lại may thời lúc ấy có một nhóm thợ Triều Châu từ bên Tàu sang qua Sốc Trăng cất chùa và hiện đang lâm cảnh không công thất nghiệp, toàn là tay thợ mộc thợ hồ chuyên môn, nhóm nầy đến lãnh làm ăn công vừa hồ vừa mộc, vừa xây gạch lợp nóc vừa bao đồ mộc cửa nẻo hết thảy mà chỉ có một trăm mười hai đồng bạc lớn, thì đủ biết vào đời đó đồng bạc trắng cân nặng hai mươi bảy cà ram quả lớn và nặng đến bực nào. Ba tôi cắt nghĩa cho tôi nghe, trong lời giao kết với thợ: nếu trả một trăm đồng bạc tiền công (100$00) thì thợ khỏi phong tô trên nóc ngói, bằng trả đủ số ruột trăm mười hai đồng (112$00) thì ngói trên nóc phải phong tô lăn tròn như ống, y như nóc các chùa Tàu Chợ Lớn luôn cả con lươn trên nóc cũng phải phong tô chạy chỉ khéo léo.
Sở dĩ đoạn nầy tôi nói dài dòng là muốn cho thấy bạc tiền khoảng 1897 rất có giá trị, công tạo tác 112$00 lúc đó cũng vì bằng bạc triệu ngày nay chớ chẳng chơi.
Ba căn nhà trệt kiểu Tàu nầy rất kiên cố và rất đẹp, theo ý tưởng của tôi. Mỗi lòng căn có ba thước ba tấc bề ngang, bề sâu gần hai chục thước. Mặt tiền nhà, gần mười thước Tây, có một, hàng song cây bằng gỗ dầu vừa đưa ánh sáng vào nhà vừa tôn vẻ đẹp; uổng cho một vuông nhà xưa như vậy cũng như các nhà cổ, lớp trước, nay không còn cái nào để nhắc lai dĩ vãng chợ Sốc Trăng của đầu thế kỷ 20.
Vừa cất xong, qua trận bão to năm Giáp Thìn (1904), nhà của Ba tôi chịu nổi không hề hấn gì. Đầu hôm mưa rất lớn, rồi gió thổi một ngày một mạnh, càng về khuya gió càng to và chuyển hướng, thổi qua lại, đến nỗi gốc me to trồng nơi lề đường trước nhà trốc gốc và ngã luôn vừa tàn vừa nhánh lá, nằm gọn trên nóc, mưa càng lớn hột, gió thổi vù vù, nhà kêu răng rắc, Ba tôi và mẹ tôi đều thức, mẹ tôi ôm tôi vào lòng, đèn đuốc tối thui, bà nội tôi ôm cái mền trùm hết mình mẩy mà còn rên lạnh, cả nhà không dám nới đi đâu, ngồi một chỗ mà chịu trận, vì ngoài đường mưa gió càng ghê rợn hơn nữa. Mấy cánh cửa thông như muốn tốc ra khỏi ngạch; các chốt cây đập qua đập lại, gió chen kẽ khe vách cửa, thổi lòn vào nhà tiếng kêu kèn kẹt nghe như ai rên rỉ và nghiến răng. May sao khi trời gần sóng gió dịu bớt rồi êm luôn. Gần trưa mở cửa ra thì nhà không sao cả, nhưng ngoài đường cây cối nằm la liệt, nóc thiếc, mái hiên hai dãy phố bay tứ tung. Trận bão năm Thìn đến nay còn nhắc. Cả nhà xúm nhau mừng vì tải qua hạn. Một ngôi nhà chắc chắn như thế, vốn xây cất đồng một kiểu với toà công sở Quảng Đông và toà công sở Triều Châu cùng ở một con đường Đại Ngãi, nhưng ở không được suốt một đời người.
Lối năm 1918-1919, có tham biện lang-sa tên Antoine Bon, ông nầy thanh liêm và tử tế như tên đã đặt, cùng đi với một Uỷ ban ra thành phố xem xét từng dãy nhà và ra lịnh trọn phố hai bên con đường Đại Ngãi và đường trổ ra chợ thịt, phải triệt hạ tất cả để thay thế bằng phố có lầu, gọi chỉnh trang thành phố. Nay xin nói ra để thấy sự vị thân vị kỷ của thời đại nào cũng có. Nguyên trên đường đi ra chợ có ba căn nhà trệt của một ông huyện về hưu, ông nầy lại có người con gái đầu lòng gả cho một ông kỹ sư Việt, gốc người ở Sa Đéc 5 . Lúc ấy ông Trường tiền ở Sốc Trăng, tên Noncet, có ý tấn ơn quan thầy mình là ông kỹ sư, nên đề nghị chừa lại khỏi triệt hạ ba căn nhà ông huyện, lấy cớ ông là cựu công chức, thanh bạch nên không tiền xây cất nhà lại mới, và tình cảnh đáng nên cứu giúp. Nhưng không lý nội thành phố chỉ chừa có ba căn nhà ấy. Bởi thế, nên tham biện Antoine Bon, khi xét đến ba căn nhà của Ba tôi, thấy còn chắc chắn và mới, nên đề nghị chừa buôn ba căn nầy khỏi triệt hạ lập tức và được triển hạn thêm ba năm nữa, như vậy để tránh lời dị nghị, và đó cũng là công bình vì nhà Ba tôi còn chắc chắn và khá đẹp. Kỳ thật Ba tôi không có vận động và xin xỏ với ông nào cả. Nhưng mặc dầu được triển hạn, đến lối năm 1920-1921, trong lúc tôi lên học trường Chasseloup, Sài Gòn, thì Ba tôi dỡ nhà và cất lại hai căn phố lầu bằng xi măng cốt sắt. Hai căn nhà nầy, mỗi căn bốn thước hai bề ngang, hai chục thước bề dài, lúc xây dựng, chỉ tốn có tám ngàn đồng bạc (8.000$00 và nay mang số hiệu 31 và 33 đường Hai Bà Trưng. Với giá hiện thời, hai căn nhà nầy trị giá phỏng dưới hai chục triệu (bạc năm 1974). Nhưng năm 1920-1921, như đã nói, sở phí xây cất chỉ có tám ngàn bạc (8.000$00) vì lúc ấy sắt chỉ có năm xu một kí và xi-măng bán trong thùng cây một trăm kí, hiệu Port- lanh, sản xuất tại Hải Phòng, chỉ có năm đồng bạc ngoài mỗi thùng. Thợ mộc thợ hồ lành nghề, lãnh mỗi ngày công một đồng năm cắc (1$50) và nhơn công tay ngang tức cu-li thì trả năm cắc bạc một ngày công. Nhưng phải nói một đồng bạc thuở ấy lớn lắm, nên có câu “một đồng bạc xài một ngày không hết”, và có người từ nhỏ đến già, chết xuống lỗ, vẫn chưa thấy mặt tờ giấy một trăm.
Năm Ba tôi cất nhà đây là năm 1895. Lúc đó Ba tôi được hai mươi hai tuổi, kể vào tuổi ấy mà đã có nhà, tự mình bay nhảy với cánh lông của mình, thì cũng là hạnh phúc. Nhưng qua năm hai mươi bốn tuổi thì cô Hai, người chị xốc vác gánh gồng lại qui tiên, bỏ Ba tôi một mình bơ vơ không ai giúp đỡ. Năm hai mươi lăm tuổi thì Ba tôi cưới mẹ tôi.
Nay trở lại, nhà cất xong, khi dọn vô ở, để ăn tân gia, thì Ba tôi chỉ còn vỏn vẹn bốn đồng bạc trắng. Không dám mời ai để đãi đằng. Với bốn đồng bạc nầy, Ba tôi kể lại, thì Bà nội tôi dặn lấy ra một đồng mua một nan sáp trắng Cà Mau để xe cặp đèn lễ Phật; một đồng mua một mâm gạo trong cúng Phật; còn lại hai đồng thì sắm lễ vật rước ba ông Sãi trên chùa Nhâm Lăng đến tụng kinh cầu an theo phong tục Thổ cho trong nhà trong cửa được mát mẻ êm ấm, gọi là lễ “sott monn”. Gọi là sắm sanh lễ vật, nhưng khỏi tốn vì lấy của nhà đã có. Duy khi lễ cầu an tụng xong, sáng ngày tạ công đức ba ông sư Miên, kiếng ông sãi nhì chủ đám một đồng bạc và kiếng hai ông sãi nhỏ theo phụ sự, mỗi ông năm cắc bạc, thế là sau khi rước thầy về làm phép cầu lễ bình yên trong nhà rồi là hết sạch, không còn đồng bạc nào sót lại trong rương. (Mời được sãi nhì vì sãi cả giữ chùa ít đi làm đám).
Tuy vậy trời sanh trời dưỡng. Nhờ Ba tôi làm nghề thợ bạc được nhiều tin cậy nên đồng ra đồng vào cũng đủ chi tiêu. Ba tôi thuật tiếp rằng díp Tết năm đó, trong nhà còn hai phong xu đồng mỗi phong đếm được một trăm đồng xu, tức cả thảy là hai đồng bạc. Ba tôi định bụng sẽ xuất ra hai phong để rước một gánh hát chặp Triều Châu vào nhà hái chơi một chầu thì cũng chưa sao, vừa cầu hỷ cho năm mới, vừa mua vui đầu năm, vừa trút hết những khổ cực ưu tư năm cũ trong chầu hát nầy. Ngờ đâu tang tảng sáng bữa mồng một, cửa nhà vừa hé mở thì đã có một gánh hát chặp vào chảo chía 6 . Ba tôi để bọn nầy vào, chúng vừa leo lên bộ ván gõ bên tay mặt trong nhà, ngồi đờn chưa dứt một bản, thì bỗng đâu có một gánh khác nghe trong nầy có tiếng đờn, chúng nó làm như cào cào ăn lúa, chúng xô cửa khép ra vào và leo lên bộ ván bên tay trái ngồi đối diện với gánh kia không đợi mời và cũng bày đờn bày trống ra vừa ca vừa hát vừa chảo chìa, vừa chúc mừng năm mới cho chủ gia câu tân xuân đa thắng sự…”
Hai gánh hát chặp hát xong, Ba tôi thưởng mỗi gánh một phong một trăm đồng xu gói bằng giấy đỏ gọi tiền lì xì (và đây mới đúng nghĩa hai chữ nầy, tức là tiền thưởng công hát; ngoài ra đều lợi dụng và lì xì có nghĩa là hối lộ). Hai gánh hát vừa lui ra khỏi cửa, Ba tôi lật đật gài song đóng kín lại, vì hai đồng bạc (hai phong xu) để dành ăn Tết đã xài hết cả hai rồi. Trong nhà không còn một đồng một chữ nào, nếu cửa không đóng, rủi có một gánh nào đến chảo chìa, tiền đâu mà lì xì, chằng là đầu năm gặp xúi quẩy?
Chuyện tuy ti tiểu, nhưng tôi muốn nhắc lại để cho thấy đời nay hời hợt tiền ngàn bạc vạn chuốc lấy một tiếng cười không tiếc tay, tôi ân hận cho tôi mua đồ cổ quá nhiều tiền, tôi xót thương đời trước cổ nhân và ông bà tôi quá chật vật.
Nhắc việc ba căn nhà cũ, nay tôi thầm tiếc vì nếu không có việc kiến thiết canh tân, thì ắt đến nay vẫn còn tồn tại vì xây cất kỹ lưỡng chắc chắn lắm. Một việc vặt nhỏ xin lấy làm gương để chứng tỏ lòng hiếu hoà và cố tránh việc tranh tụng của Ba tôi, là khi dỡ nhà cũ để xây nhà mới, vào năm 1920-1921, khi đào đất nền để đổ bít-ton nơi vách sát căn phố tiệm hớt tóc của Xửng (Tường), vì đào sâu hơn bên kia thêm bỏ trống, chưa kịp đổ xà bần bít-ton, giữa lúc ấy bị mưa dai suối đêm đất thấm ướt, thêm vách phố chà không làm nền đủ sức khiến nên vách phố của Xửng bỗng rạn nứt tuy chưa đè chết ai nhưng sáng ngày chủ phố và người ở phố xin đòi tiền thiệt hại và hăm he đòi kiện Ba tôi ra toà.
Nhưng Ba tôi chịu điều đình, và không đợi kiện thưa, dạy thợ phá vách nứt xây lại vách mới, sở tốn hết bảy trăm đồng bạc. Ba tôi nói thà chịu tốn cho êm chuyện giữ được niềm hoà khí với láng giềng và khỏi đình trệ việc tạo tác. Tánh Ba tôi giỏi nhịn nhục, “thối nhứt bộ tự nhiên an”, không chịu cãi lẽ kéo dài, không trông mong nơi sự thưa kiện lôi thôi có khi xử hoà. Tánh Ba tôi ngay thẳng và không thích sự tranh tụng. Bây giờ tôi xin kể lại đoạn tiểu sử nầy để các em và các con cháu họ Vương biết rõ và thêm kính mến cha chúng tôi là ông Vương Kim Hưng.
NHỚ BA TÔI
Ba tôi tên là Vương Kim Hưng, ngoài ra còn gọi “anh Ba Kim Hên”, vì thuở ấy thích xen tiếng Tàu và xưng hô theo giọng Tàu. Tánh người rất hiền nhưng cộc. Ít ăn ít nói. Rất là cương trực và hễ nghe ai ăn nói phách lối thì ghét ra mặt. Cũng vì cộc, không dằn được tánh nóng thêm mau giận giỗi, mau buồn phiền nên Ba tôi có nhiều mối lo không đáng, cũng vì sắn tánh đa sầu đa cảm. Và có lẽ tôi cũng lây mối ưu tư vô căn cứ nầy cho nên không biết tận hưởng hạnh phúc trời dành. Lo nhiều vui ít, khi có việc thì sầu muộn lấy mình, thêm có tánh quan trọng hoá chuyện vặt, khiến cho tâm hồn ít được thơ thới. Trát đòi ra làm chứng đã mất ăn mất ngủ cả đêm ngày. (Cũng như tôi vừa rồi có giấy tờ cảnh sát miền Đông đòi đến điều tra lý lịch về việc tôi gia nhập hội Đông Dương hiếu cổ (Société des Etudes Indochinoises), khi nhận được giấy mời, tôi tưởng tượng đủ thứ trong óc và lòng chỉ toan muốn trốn hơn là đi trình diện?).
Về hào phu thê Ba tôi có đến bốn đời vợ. Khi mẹ tôi mất thì Ba tôi tục huyền. Khi mẹ của hai em tôi là Quan và Cảnh qua đời thì Ba tôi cưới mẹ của em Vinh. Hai người kế mẫu nầy đều biết lo làm ăn và giúp ích cho gia đình chúng tôi rất nhiều. Đến khi mẹ của Vinh đau bịnh mà mất, thì Ba tôi chắp nối với mẹ của Phát (đã từ trần); bà nầy tuy hiền từ và biết nấu ăn khéo léo duy phải một tật là ham bài bạc, đánh nhỏ thôi chỉ cầu vui, nhưng đủ làm cho Ba tôi buồn phiền lúc tuổi già. Sự thật Ba tôi có bốn đời vợ nhưng đều tiếp nối nhau và không ai làm lẽ ai.
Bản tánh của Ba tôi không ưa sự lai vãng bạn bè. Ai đến nhà thì tiếp đãi trò chuyện niềm nở, nhưng Ba tôi ít khi tới lui nơi nhà người khác. Trong hàng anh em đồng nghiệp, duy có chú Ba Vị là người thường đến nhà Ba tôi nhiều nhứt. Cứ mỗi lần chú đi đánh bài, có khi cả tuần lễ mới về nhà. Nhà chú ở trước mặt nhà Ba tôi, vốn một căn phố nhỏ hẹp, nên chú Ba thường qua nhà Ba tôi mượn ghế trường kỷ nơi gian giữa làm chỗ đánh một giấc trừ bì, khi thì chú ngủ trọn cả ngày bỏ cơm nước. Khi khác chú ngủ như vậy cả ngày lẫn đêm, không thấy chú cơm nước hay đi tiêu, đi tiểu.
Ngoài chú Ba Võ Thế Vị thì có bác Tư Chữ và chú Tư Khánh cũng thường đến nhà đàm đạo với Ba tôi, nói tiếu lâm pha lửng pha trò cười nói giòn giã vang nhà, nhưng cũng không thấy tốn trà rượu bánh trái chi cả. Bác Tư Chữ, tên thật là Tự, nhưng vì huý vua Tự Đức nên anh em gọi bác là Chữ. Tuy Miền Nam đã bị Pháp chiếm, mà lòng dân còn tưởng niệm vua và trung với vua không đổi. Một điểm tôi cho là đặc biệt là bình sanh Ba tôi thường dặn con dặn cháu đừng dự chức hội tề và riêng Ba tôi thì rất sợ làm hương chức làng. Ba tôi có quan niệm là làm làng làm tổng có hại nhiều hơn có lợi. Không phải Ba tôi có ý khinh khi hương chức làng và thuở đó đâu dám nói là làm làng làm tổng tức làm việc cho Tây! Ba tôi là người thiệt thà, không chịu nói cái giọng chánh trị xu thời đó đâu. Dẫu cho nói như vậy, ngày nay sẽ đề cao rằng biết yêu nước. Sự thật Ba tôi có kinh nghiệm và quan niệm riêng là hương chức làng là người, vì nghề nghiệp và chức vị, phải phí tốn nhiều thì giờ tại nhà làng nhà vuông, nếu mình là người có lương tâm và hiểu biết trách nhiệm, và như vậy thì còn thì giờ đâu lo việc gia đình, tức nhiên phạm cái tội bỏ phế gia càng mà không biết. Thêm nữa làm làng khó tránh tật rượu chè, chén chú chén anh, mà hết rượu thì con đường đàn điếm đĩ thoã không xa, cờ bạc nợ nần, hút xách, chi cho khỏi chầy ngày vướng bịnh kín, lâm nợ, vay bạc chà, thiếu thuế quan, hễ ít thì làm khổ cho vợ con, khi quá nhiều thì đi đến tiêu tan thanh danh sự nghiệp. Bao nhiêu ấy cũng vì ham làm quan, ông làng vả chăng là một ông quan nhỏ trong làng chứ gì?
Bởi có ý nghĩ như vậy cho nên Ba tôi rất sợ được cử hay gọi ra lf làng. Thảm nỗi thời ấy hương chức làng Khánh Hưng, biết được chỗ yếu của Ba tôi là sợ làm làng, lại càng doạ bợm, thường điểm chỉ với tổng, quận, quyết lôi kéo ép ra phụ sự với họ trong việc làng, vì họ thấy toàn những lợi riêng cho họ. Ba tôi có điền sản dễ giúp họ đi hỏi đi vay bạc, mỗi khi trong làng thiếu hụt thuế má bạc công nho; Ba tôi lại là người thiệt thà án nói ít oi, dễ cám dỗ, dễ húng hiếp Giá thử ở vào đời bây giờ thì không đễ gì ai ép buộc ai. Nhưng vào đầu thế kỷ 20, xã hội ta còn kém mở mang, những người có máu mặt mà không có người che chở rất là khổ tâm với nạn bè đảng trong làng. Ba tôi có một cách làm cho khỏi được bầu cử ra làm làng mà không bao giờ có ai suy nghĩ đến hoặc dầu suy nghĩ đến cũng khó đem kế ấy ra để thực hành, số là mấy ông mấy thầy có vợ đến làm vàng với Ba tôi chỉ nước lén rằng hễ người nào có hồ sơ cá nhân không đặng tốt, tỉ như có án tù, thì không được làm hương chức làng. Vì Ba tôi nhớ như vậy nên rắp tâm làm cho có án tiết xấu xa để bị loại ra khỏi hội tề làng xã. Bản tánh của Ba tôi là lo làm ăn nuôi vợ nuôi con và rất ghét cờ bạc. Thế mà lối năm 1905, sau trận bão năm Giáp Thìn, người ta thấy Ba tôi ngồi sòng bạc đánh công khai để cho bị bất bị giam và bị phạt. Nhưng toà chỉ phạt vạ tiểu hình năm ngày tù và mười lăm quan tiền vạ vì mới phạm lần đầu. Khi nghe có người bảo án nhẹ như vậy thì chưa đủ điều kiện “được chê không cho vụ tất việc làng”. Nghe làm vậy Ba tôi lập tâm tìm cách vô ngay nhà bếp quan tham biện chủ tỉnh, để đánh me do một chủ cái người Tàu hốt, để rồi bị bắt và bị giải ra toà một phen nữa, hai phen cách nhau không đầy mấy tháng. Qua toà, có lẽ là ông Grimaud, sau thăng chưởng lý toà thượng thẩm Sài Gòn, lấy làm lạ nên ra lịch cho thông ngôn hỏi Ba tôi “duyên cớ nào, vừa bị phạt mới đây cũng vì ham mê cờ bạc, nay lại tật cũ không chừa, dám tái phạm một lần nữa như vậy?”. Ba tôi đành thú thật muốn có án tù để khỏi làm làng. Quan loà bèn kêu án phen nầy là mười lăm ngày tù ở vì tái phạm, cộng với phen trước năm ngày án treo, cả thảy là hai mươi ngày tù chẵn.
Xin hỏi mấy ai trên đời nầy lại muốn mắc vòng lao lý do nơi ý muốn của mình như Ba tôi vậy chăng? Và câu hỏi tức phải có câu trả lời: chính tôi ngày nay vẫn có ý nghĩ viễn vông thỉnh thoảng muốn làm khác hơn thiên hạ, để giống Ba tôi, và luôn luôn từ công chức đến đời tư, tôi vẫn làm hư cũng vì thế).
Về Ba tôi, cách đó ba năm thì vẫn chưa thoát khỏi nạn làm làng. Một lần ông hương chủ Trần Hữu Phương, sai mời Ba tôi lại nhà làng khuyên nhủ Ba tôi nên nhận một chức nhỏ trong làng để làm tròn phận sự công dân, vì cái án kia không kể và ai ai cùng biết Ba tôi không phải là người bê tha bài bạc. Một phen nữa là ông cai tổng ông Hưng Kỳ, là hàng anh cả của ông nội tôi, trước kia cũng người trong Thiên Địa Hội, đòi Ba tôi đến công sở làng, phủ uỷ và ép buộc phải nhận một chức việc với người ta. Phen nầy hết phương chạy chối, nên Ba tôi nhận làm hương tuần là chức làng nhỏ nhứt để có tiếng không cãi lệnh trên và để khỏi ba chỗ Ba tôi sợ nhứt là làm Xã trưởng, hoặc hương hào hay là hương thân là ba chức quan trọng lo về thuế vụ. Thường thường ba vị nầy đi chung nhau, ký chung nhau giấy tờ làng mạc, thâu thuế cũng ba ông mà bất lính bắt làm công sưu (xâu) sanh ra thù oán cũng ba ông, và cũng ba ông, dễ bị cám dỗ, sa ngã, không ngồi tù vì thâm lạm bạc công nho, thì cũng sạt nghiệp, vì bồi thường thuế thâu không đủ số, không kể ghiền gập vợ đôi vợ ba, bài bạc, đàng điếm và bịnh tật đủ thứ.
Lúc Ba tôi kẹt trong khám, tôi vừa được bốn tuổi ta ba tuổi Tây, nhưng tôi còn nhớ ràng ràng như chuyện vừa xảy ra ngày hôm qua, là tôi có từng theo chân mẹ tôi đến tại chỗ Đá Hàn, đường ngó ngay qua sở vọng thoàn, để dâng cơm cho Ba tôi ăn và để chứng kiến Ba nón tơi áo xanh quần cụt, đi chân không, đập đá và đẩy xe rùa, tức loại xe thùng sắt rất nặng, chạy trên đường ray sắt, thứ Pháp gọi matériel Decauville, ngày nay tù khổ sai cũng không làm công việc lao lực và nguy hiểm nầy. Mà hỏi vì tội tình gì? Thưa không tội gì khác hơn là tội muốn giữ trọn phận sự làm cha tốt làm chồng ngoan, muốn nuôi con nuôi vợ được ấm no, không muốn bỏ bê gia đình, muốn làm tròn phận sự con dân vì biết phận mình là thấp hèn, nhứt là không thuốn làm trò khỉ đội mão, tường mình ở trên đầu trên cổ đồng bào, ngày thường ăn xới ăn bớt của dân, và khi vô cửa quan thì vâng vâng dạ dạ, khúm núm lạy từ Tây mũi lõ đến lon-ton (planton) toà bố? Biết đâu chừng nhờ Ba chịu khổ nếm mùi tù mà ngày nay con cháu khỏi mắc nợ và có nhà che thân có cơm no dạ.
Thảm nhứt là ngày Ba tôi mãn tù ra về là trong nhà đang làm tuần thất thất (bốn mươi chín ngày) cho bà nội tôi và như vậy cũng vì tránh nạn làm làng mà Ba tôi không tròn chữ Hiếu. Ba tôi rất lành nghề thợ bạc, có thể nói trong tỉnh không ai giỏi hơn.
Ngày nay người chủ lò chỉ biết nấu vàng, thổi vàng cho chảy ra cục, rồi cân và giao cho thợ con trổ ra món đồ bán lấy tiền, biết bao nhiêu ấy đủ xưa là chủ hiệu kim hoàn. Đối với lớp xưa, nhứt là đối với Ba tôi thì khác:
1) Làm đồ ngang, tức là đồ nữ trang trơn bóng, tỉ như kiềng vàng trơn hay có chạm, hoặc như vòng trơn đeo cổ tay hay cổ cẳng, thì Ba tôi làm thật trơn bén, khéo léo, không sần sượng, và nếu có chạm thì không lủng lổ nhưng nét chạm phải thật sâu và tinh vi mới gọi là khéo.
2) Về đồ vàng chạm, ngày nay chỉ có thợ Bắc và thợ Huế còn giữ được cổ truyền. Hại thay vì ít người biết thường thức nên nghề chạm ngày càng mai một, thêm ăn tiền công mắc lắm nên ít ai dám đặt làm. Ba tôi thọ giáo với những người thợ có danh lớp trước do ông nội tôi rước về dạy, cho nên nội Sốc Trăng thợ chạm đều chạy mặt Ba tôi, kể về nghề nghiệp. Hiện tôi còn giữ một chiếc vàng sáu chỉ chạm kiểu bát tiên kỵ thú nhứt thi nhứt hoạ, dưới mỗi ông tiên đều có một hàng năm chữ nho giải thích, thiệt là một kỳ công xảo thủ. Chiếc vàng nầy là kỷ niệm duy nhứt của mớ nữ trang trên mười lượng của mẹ tôi để lại.
3) Về đồ đậu, tức là vàng đậu bông đậu trái như trâm cài tóc, nĩa cài đầu, móc tai, hoa tai, đồ trang sức nầy thuộc đồ nhỏ, đậu vàng, kết chỉ vàng thành chim phụng hay bông tai, cài trên đầu mỗi bước mỗi rung rinh, linh động, nhưng nay đàn bà phụ nữ cắt tóc ngắn, không thấy dùng nữa. Xưa Ba tôi học đủ nghề đồ đậu và đồ nghiêng. (Nghiêng là vàng cắt khứa từ sợi ra bình con cuốn chiếu, v.v… Vàng nghiêng nguyên miếng khác với vàng đậu do nhiều miếng ghép và đậu vào).
4) Nghề làm đồ dát, đồ bịt, Ba tôi đểu khéo. Ngày nay thợ Huế bịt tô xưa theo kiểu “lá hẹ” ba lá”, “giăm trống”, “bịt tam khí”. Những danh từ nầy thuộc chuyên môn ít ai hiểu. Bịt lá hẹ là giống lá hẹ cọng hẹ; bịt ba lá thì y như ba lá ghép lại có cạnh vuông vắn sắc sảo; bị giăm trống thì tròn như vành trống; (mấy nghề nầy ở Huế thợ còn giữ được cổ truyền). Bịt tam khí, chuyên môn của thợ Bắc, là bịt món đồ bằng ba kim khí khác nhau, một lớp đồng đỏ, một lớp bạc, một lớp thau Ngày xưa lối 1900, ở Sa Đéc có thợ Vĩnh bịt khéo, từng gởi nữ trang qua dự đấu xảo bên Pháp. Món chuyên môn là bịt chân voi cất thành ống để giắt bút, giắt quạt v.v…
5) Nghề vấn neo đặc kiểu chữ ngủn kiểu đuôi chục, v.v., lại có thứ neo bộng, bên trong có đổ đè cho đừng móp (đè là đá cà ra cắt mịn). Nghề vấn neo, Ba tôi làm rất khéo và rất mau. Mỗi cây neo tiền công là năm đồng bạc, làm ròng rã một ngày là xong, tính ra ăn sướng tiền hơn làm nghề thầy thông thầy ký, lương tháng không hơn hai chục đồng (không kể tiền trà nước).
Ba tôi rất sáng, lại có hoa tay, những món đồ gì kiểu lạ, miễn thấy một lần là nhái lại y hệt. Ba tôi rất thận trọng, vàng của ai đem lại đặt làm món khác thì không khi nào tráo đổi, tuổi vàng nào giữ y tuổi đó, còn số cân số lượng thì có chạm khắc vào món đồ không sai chạy ly nào. Thuở đó những lò kia như của chú Sáu Lâu, chú Ba Vị, bác năm Cài. Bác Thợ Đợt, chú Tư Khánh, vẫn thường cho vợ con đi các nhà quen vợ mấy thầy hay ỷ bang (vợ các bang trường), mấy bà chủ tiệm hàng xén, lãnh đồ về làm. Ba tôi rất ghét sự ấy, và một đôi khi mẹ tôi vị bụng chị em bạn tay bài lãnh đồ đặt làm đem về đều bị Ba tôi trách cứ. Kỳ thật Ba tôi ghét sự quảng cáo, theo ý Ba tôi, hễ nghề mình hay khéo thì tự nhiên tiếng lành đồn xa, “hữu xa lự nhiên hương”, hà tất phải đi lính mồi từng nhà cho chúng khinh.
Nhà cũ của Ba tôi, như đã nói, có ba căn mát mẻ. Căn giữa có lót bộ ghế trường kỷ đặc làm tại Vĩnh Long. Trận tản cư vô Thanh Thới An bị cướp Thổ đoạt đi một thời gian sau chuộc về (nay tôi đem về nhà tôi ở Gia Định). Hai căn hai bên thì bên tả để bộ ván gõ ba lấm thật dày kế một tủ áo gõ và sát vách buồng là bàn thờ ông bà, tổ tiên. Căn hữu trước hết có một bàn kê sát vách trên để những ống gõ đựng đồ nghề thợ bạc (búa, giũa, v.v…) kế đó là bộ ván ba gõ sừng bóng thây mặt, bên trong là bàn thờ mẹ tôi, dựa vách buồng day mặt tiền ra trước. Trên đầu bộ ván sừng có để một má y cán vàng do Ba tôi mua lại của hội đồng Thái Vãn Bổn. Bàn cán nầy ông Bổn mua tận Marseille trong một cuộc đấu xảo thủ công nghệ. Bán lại Ba tôi giá một trăm bạc. Bàn cán nầy vừa nhẹ, cán vàng rất khỏe, hai ống thép trụi rất kỹ, sáng ngời; xài mấy chục năm mà vẫn còn như mới, không hề hấn, những lò khác vẫn mua máy cán tân thời nhưng không sánh bằng, tiếc thay năm tản cư vô Thạnh Thới An bị giặc cướp của Quản Keo chiếm đoạt 7 .
Vì nhà Ba tôi rộng rãi và mát mẻ, thêm có hai bộ ván bằng phầng, nên nhóm chà chetty cho vay bạc lại là ai quen và trưa nào họ cũng kéo nhau lại đây nằm nghênh ngang như trâu nước, sau khi chà lết thì ngồi ăn trầu, mỗi lần ăn một hơi mười mấy lá trầu chớ không như ta một miếng là một lá, rồi châm với nhau nghe trân “hoạch ne nẹ?” Không một ai hiểu nổi. Buổi ban sơ vì tốt bưng Ba tôi không nói năng gì, nhưng về lâu Ba tôi thấm mệt, nhớ lại bọn nầy là bọn cho vay cắt cổ, mình vốn không thiếu nợ nó, nay hà cớ chúng tụ tập nhà mình chi cho khỏi chòm xóm dị nghị, và từ ấy Ba tôi từ chối không tiếp họ nữa. Có một lần lão tào kê mập nài nỉ muốn bán chịu cho Ba tôi một sở đất thổ trạch toạ lạc lại Đầu Voi dọc bờ kinh xàng, lúc đó vừa mới đào xong. Gặp người khác thì đây là một hoa lợi to về tương lai và một cơ hội ít có. Nhưng đối với Ba tôi là người sợ nợ và ăn chắc mặc dày, nên Ba tôi không khứng mua liều lĩnh như vậy.
Vào khoảng năm 1917-1918, tôi có theo Ba tôi qua tỉnh Rạch Giá dự cuộc bán đấu giá, cũng gọi bán phái mãi, ruộng làng Phước Long, dọc theo kinh xàng mới đào. Mỗi lô đất thuộc ra giá năm chực đồng bạc, và trung bình bán được từ bốn trăm đến năm trăm, mỗi sở ruộng mười mẫu Tây (10 ha). Ba tôi có mua được một lô sáu trăm bạc, vì là đất tốt, của ông già Mây khai khẩn và chịu nhượng quyền tiên mãi cho Ba tôi. Vài năm sau Ba tôi bán sở đất nầy, vì mỗi năm đi thâu lúa ruộng xa xôi quá. Ba tôi có xin xăm nơi chùa ông Bổn tại Châu Thành Số Trăng, cây xăm có câu rằng:
“Vân hoành Tần lãnh gia hà tại,
Tuyết ủng Lam quan mã bật tiền”.
Đây là dẫn tích ông Hàn Dũ vì can vua nên bị đày qua đất Triều Châu, Ba tôi cho là điều không tốt nên bán ruộng không tiếc.
° ° °
TRỞ LẠI BA TÔI
Ba tôi thôi làm nghề thợ bạc rất sớm, lúc chưa hơn bốn mươi lăm tuổi. Cũng tại chánh phủ bày ra sổ biên chép phiền phức, mỗi ba tháng phải ôm sổ đi trình cò bót duyệt ký, chờ đợi lôi thôi. Lại thêm môn bài lăng hoài chớ không bớt.
Ba tôi tánh không ưa câu thúc, bèn trả quách ba tăng (patente) và cũng vì năm 1919, khi đưa tôi lên Sài Gòn học trường Chasseluop, Ba tôi đem tiền theo mua năm chục lượng vàng hiệu Đồng Thạnh có đóng dấu nổi con ngựa, là vàng tốt hơn hết thời đó. Sở dĩ mua 50 lượng vàng là vì hãng buôn bán ra vàng mua lẻ thì gói giấy bạch, còn mua 50 lượng thì cho thêm một hộp đựng bằng trắc khéo lắm. Mỗi lượng mua tại Chợ Lớn đường Quảng Tống Cái (Quảng Đông Nhai nay là Triệu Quang Phục) giá năm chục đồng bạc. Đem về Số Trăng bán lại năm mươi mốt đồng, lời mỗi lượng một đồng. Nhưng lời đâu không thấy, từ ngày mua về giá vàng cứ sụt mãi, thét rồi tới năm kinh tế khủng hoảng lối 1933, giá vàng chỉ còn mười chín đồng một lượng, Ba tôi lại không biết phương pháp mua nhồi theo, giữ đúng số năm chục lượng mặc dầu trồi sụt, thành thử vốn một ngày một hao mòn, Ba tôi không thối chí và dẹp nghề làm sao được.
Ba tôi có nhờ người sang Trung Hoa lấy số Tử vi và lá số đoán Ba tôi tuổi không quá năm mươi. Lúc đó Ba tôi được bốn mươi hai, bốn mươi ba tuổi, bởi tin nơi lá số nên dạy tôi nghỉ học và ra làm thơ ký. Ngờ đâu Ba tôi thọ đến năm nầy là tám mươi lăm tuổi giận sách số trật, lấy ra xem lại, thì trong Tử vi có phê câu hớ:
“Phú quý song toàn, hiềm thọ đoản,
Đa hành thiện sự chuyển thiên cơ”
Giận sách không xong, chỉ nên mừng Ba tôi được thọ, và cái thuyết “an phận tuỳ duyên” là hay nhứt.
Tóm lại, Ba tôi càng cưng tôi nhiều, vì cho đến năm 1915, tôi là trai nhứt duy nhất:
1) Lúc tôi nhỏ, làm xe cát có bánh xe chạy được bằng mai con cần đước cho tôi chở cát chạy chơi trong nhà;
2) Khi tôi đã trọng còn nách tôi đi xem hát;
3) Khi tôi trưởng thành, ra làm việc, tôi có tánh thích chơi đồ cổ Ba tôi không nề hà cực nhọc, ra công bịt vàng bịt bạc và biến chế nhiều món xảo thủ không ai có. Mặc dầu trải qua nhiều cảnh thiếu thốn, tôi không dám bán ra và xin dặn con cháu nên giữ làm kỷ niệm: một thố lớn thợ Thiệu (xem sự tích nơi trang 177 cuốn “Sổ tay của người chơi cổ ngoạn”), nhiều bình vôi có nắp bằng vàng nạm ngọc, chính người dì của tôi, mẹ của Vương Tấn Phát (đã mất), mặc dầu không tiền cũng rán mua cho tôi nhiều món lạ tôi phải giữ gìn cho xứng ơn người kế mẫu hiền.
4) Một kỷ niệm khác là khi tôi vừa ra trường làm việc nơi trường máy đường Đỗ Hữu Vị, mỗi lần Ba tôi lên thăm, mướn phòng gởi hành lý rồi đến trường trao danh thiếp cho người tuỳ phái cầm vào cho tôi. Thưa Ba, con đâu phải ông lớn nào đâu mà Ba trịnh trọng thế, ngày nay nhớ lại con cảm động làm sao.
5) Những bức thơ của Ba tôi viết và gởi cho tôi từ khi còn đi học Chasseloup trải qua các tỉnh tôi đã làm thơ ký mướn. (Sa Đéc, Cần Thơ, Sài Gòn) đều đượm nhuần một giọng yêu thương, vì tôi là con trai trưởng, tôi hưởng nhiều tình thương và ân huệ của Ba tôi hơn các em Quan, Cảnh, Hạnh, Vinh và Phát. Những thơ nầy tôi kết thành một tập, sau nầy sẽ trao lại cho con tôi, là Bảo.
Tiếc thay tôi là một đứa bất hạnh bất tài. Hai phen trước cưới vợ đều gặp người chẳng chung tình. Một chị vừa chín tháng đã hồ tan keo rã, không phải lỗi về tôi. Một chị sau, thề thốt đủ điều, ở với nhau mười chín năm trường rồi cũng bước sang thuyền khác.
Tôi quả là hư. Phen thứ ba không làm hôn thú, chỉ làm tội cho người tình thật. Ngày nay Ba tôi đã già, tôi biết thương thì quá muộn. Chiến tranh kéo dài, tôi không ở được tỉnh nhà để thần tỉnh mộ khang, trăm sự đều trông cậy vào Quan, tôi lãnh phần bất hiếu. (Từ Nhớ Ba tôi đến đoạn nầy, viết trước ngày 14-7-1959 là ngày gởi tập nẩy cho Quan cầm tay về cho Ba duyệt lại nhưng sau rõ ra Ba tôi không đọc được vì bản chép tay, mắt già đọc nhức mất, nên không đọc)
Qua nầy 20-2- 1961 (mồng sáu tháng giêng Tân Sửu) viết tiếp:
Ngày 1-1-1961 (rằm tháng chạp Canh Tý), nhân được nghỉ lễ Tết tây, vợ chồng chúng tôi và Bảo, đồng về Sốc Trăng, được thấy mặt Ba lúc còn khỏe mạnh. Đây là vì nhớ thương mà về chớ không có thơ báo trước, ngờ đâu đó là mười bảy ngày trước khi Ba tôi lâm chung, cha con thấy mặt nhau lần nầy rồi vĩnh biệt. Lúc ở nhà tại Gia Định, tôi thấy trong lòng xốn xang bứt rứt như có linh tánh báo điềm. Về nhà thấy Ba tôi ốm hơn kỳ viếng thăm mấy tháng trước, khi đi đứng lưng thấy khòm hơn ngày thường. Tôi đề nghị rước bác sĩ, nhưng Ba tôi nói: “Thầy thuốc rước cũng vô ích. Họ cũng là người họ cũng chết và không cãi trời được. Chỉ tốn tiền cho con cháu. Ba nay như đèn hết dầu, chừng nào tất cứ để cho nó tắt, vậy thôi!”.
Tôi hẹn ngày hai mươi ba tháng chạp sẽ về, hay đâu ngày mồng một tháng chạp, Ba đứng trên cầu thang định bước xuống lừng dưới nhưng không được, chợt có đứa cháu nội đi lên, Ba nhắn bảo “Quan lên Ba biểu”, nhưng nhà đèn tắt, Quan là em tôi sửa được rồi chạy lên mới hay lúc nãy trong mình Ba thấy mệt, định đánh dây thép gọi tôi về, nhưng nay đã khỏe và Ba tôi đổi ý kiến sợ gọi tôi về mà không có việc gì thì tốn hao nên không muốn. Quan thuật lại lúc ấy thấy Ba khóe mắt ướt tròng. Đêm mồng một rạng mồng hai, Ba ho suốt đêm không ngủ. Ba tôi nói với Quan bữa đó là ngày đại hàn, nên trời lạnh hơn mọi khi. Sáng mồng hai đúng bảy giờ rưỡi, ở dưới phố tiếng nhạc chào quốc kỳ trỗi vang, nơi phòng thông tin thì trên lầu Ba tôi thở hơi cuối cùng. Chỉ có mặt Quan bên gối. Mỗi lận Quan đỡ Ba nằm dựa lưng vào gối. Ba đều day mặt ngó về hướng bàn thờ tổ tiên. Quan hỏi xin giắt mùng, Ba còn gặc đầu ưng chịu. Quan hỏi thêm: “Trong mình Ba có khỏe chăng?”. Ba cũng gặc đầu, nhưng răng đánh bò cạp nhiều. Mắt Ba đổ ghèn, Quan lấy khăn ấm lau mặt cho Ba, kế Ba tắt thở.
Lúc gần lâm chung, vợ Quan hỏi Ba có trối lại gì không, thì Ba lắc đầu, kê một lát rán nói: “Các con rán lo mà trả nợ!”. Quan tiếp, hỏi thì Ba còn nhắn rõ: “Trong rương Ba còn ba ngàn bảy trăm đồng của Sển cho, hãy lấy lên cất kỹ, lo việc tống táng, kẻo mất”.
Lời nói chí tình tỏ ra cho đến phứt chót Ba không lẫn lộn, vẫn minh mẫn sáng suốt cho đến khi tắt hơi. Tiền nầy tôi dâng đã nhiều năm, té ra Ba tôi không dám sử dụng, và vẫn lấy ra có ba trăm xài vặt cho chác mấy đứa cháu nội thường níu áo xin tiền ăn bánh. Ba tôi có tánh kỹ lưỡng, trong rương những mảnh giấy con để ghim xấp bạc, Ba tôi cũng không đành bỏ ra. Bạc Ba để trong ô thau là vật duy nhứt sót lại của cái gia tài Ba mất trọn trong điền Xã Lớn, anh vợ của Quan, trong làng Thạnh Thới An, năm tản cư 1946, sau tìm lại được mớ nhấm và cái ô thau nầy.
Tám giờ sáng, Quan đến sở bưu điện đánh dây thép lên tôi, mười một giờ tôi nhận được tin dữ tại Viện bảo tàng. Lật đật viết thơ để trên bàn xin phép nghỉ vài ngày tang chế. Về nhà lấy mớ y phục, dắt vợ con chạy ra bến xe, thời may chuyến xe chót về Sốc Trăng, xe Nhơn Hoà vừa sắp chạy. Hai mươi giờ xe tới Số Trăng.
Hai mươi giờ bốn mươi lăm về tới nhà, lên lầu quì dở khăn đậy mặt thì mất Ba nhắm hi hí, không khít. Khóc, lạy, lấy tay vuốt mí: “Xin Ba nhắm mắt yên lòng, và đừng nuối Cảnh, lúc ấy còn trong lao tù ở Phú Lợi”. Vái rồi quì lạy. Độ hai chục phút sau khi dở khăn đắp mặt lần cuối cùng để từ giã giờ phút chót thì mất Ba nhắm khít rịt, ôi thiêng liêng thay. Mặt Ba tươi như người ngủ, da trở lại hồng hồng, không tái mét như bữa hội ngộ một tháng giêng Tây. Miệng Ba nở một nụ cười, bằng lòng. Mười một giờ khuya tẩn liệm. Quàn linh cữu năm ngày. Cái thọ bằng cây trai sắm sẵn từ lâu.
Ngày mồng sáu tháng giêng tây 1961, đưa linh cữu về an táng trong rẫy nhà gần bên mộ tổ tiên và gần mả của mẹ tôi.
Suốt một đời lêu lổng, chỉ làm khổ tâm cho cha già, xa thì nhớ thương, khi đến gần thì cãi lẽ, xung khắc cha tuổi hợi con tuổi dần, Ba nằm yên nơi đây, có tha tội hư của con chăng?
Đoạn nói về phong cảnh chùa Xà Lôn, xin xem trong tập Hậu Giang Ba Thắc nơi chương nói về chim diệc làm ổ chung quanh chùa và nín lặng khi sãi lụng kinh sáng, (chương sân chim Rạch Giá]
Mấy chục năm về trước, tại Sốc Trăng có một gánh phát Tiều, vì thùng đựng y phục của họ sơn đen nên gọi là gánh thùng đen (ô láng]. Mỗi dịp Tết họ tổ chức nhiều tốp đi hát dạo, gọi hát chặp và nói theo tiếng Tiều là hát chào chía. Hai tiếng này dịch ra là “tẩu thực”, tức hạt chạy gạo, hát cho mau cho lẹ rồi chay đi chỗ khác hát nữa, đó là chảo chía
Cũng mất luôn trong kỳ chạy giặc nầy: một bắp trầm ngà trước mua của chà Châu Giang tên Tằng Khạo Keo, một ngà ung tối cổ, một nanh heo đạc, một nanh cọp bộng, một nanh sấu đặc và một sừng nai ung lâm cán dao ăn trầu, những món nầy nay kể ra nghe buồn cười, nhưng đó là đấu tích kỷ niệm gia bảo trong gia đình chúng tôi riêng quý trọng. Chính tên thổ Keo trước làm hương quản đến năm đảo chánh ra mặt ăn cướp làm khổ cho đồng bào ta một lúc, chính nó chiếm đoạt những vật nầy, xin chuộc lại không được. Sau tên Keo cũng bị thủ tiêu vì tàn ác quá.
Thời ấu thơ như đã nói rồi trong bài tựa, tôi sanh năm Nhâm Dần (1902), ngày 27 tháng 9 ta, nhưng trong khai sanh chánh thức cũng như trên giấy tờ nạp quan lại đề sanh ngày 4-1-1904, tức năm Giáp Thìn (1904). Nay đã về hưu, giã biệt kiếp trâu cày công chức, xin trở lại tuổi thiệt năm Dần, để dễ dò thăm lá số Tử vi, và giỗ quải theo ngày nầy mới phải.
Nguyên nhà của Ba tôi vốn ở tại Châu Thành Sốc Trăng, nhưng khi sanh, mẹ tôi lại về quê sanh tôi tại làng Xoài Cả Nả.
Cái tên Sốc Trăng vốn là do tiếng Giêng hai chữ “Srock-Khléang” nói trại. Srock là xứ, cõi. Khléang là kho vua Thổ, chỗ chứa bạc vàng. Srock-Khléang là xứ có kho chứa bạc nhà vua.
Về sau, âm ra Tiếng Việt, trước kia viết Sốc-kha-lăng, sau nữa viết Sốc Trăng. Qua triều vua Minh Mạng, đổi lại tên chữ là “Nguyệt Giang tỉnh”, “Nhiêu Khánh tổng, Khánh Hưng xã”, từ “sốc” biến thành “sông” (Sông trăng: Nguyệt Giang) đến đời ông Diệm, lại gọi tỉnh Ba Xuyên và châu thành Khánh Hưng.
Xin hãy trở lại cái làng con con, quê bên mẹ. Làng nầy nôm na là làng Xoài Cả Nả. Nay muốn hỏi thăm, xin hỏi làng Đại Tâm mới được. Tên cũ đã mai một lui vào dĩ vãng hoặc theo bọn tôi chạy lên Sài Gòn hay đi xa hơn nữa mất hết rồi. Đừng hỏi người mới theo lên cũ, họ không biết đâu. Lớn lên tôi truy tầm lâu lắm mới biết. Chính mắt tôi thấy lối năm 1908, trong làng hai bên lộ quan, còn nhiều gỗ xoài cổ thụ, mỗi mùa trái rất sai. Lớp mẹ tôi người nào ở chợ ở thành vô đây, thế nào bận về cũng mang xoài về nhà cho con cháu. Mà thuở ấy, người trong xứ phần đông là con cháu khách, vợ chức, ý bang (vợ bang trưởng), nên họ không biết cầm bóp đầm như các cô tân thời, đi đến đâu họ chỉ dùng cái ná, cái nả, tức là cái giỏ xách tay, dáng tròn đương đát bằng vỏ tre già, trên có nắp đậy, ngoài nả có phết một lớp sơn bằng dầu trong cho mưa đừng thấm và có vẽ hoa hòe bông mẫu đơn xanh đỏ đẹp mắt, nả ấy đựng xoài đầy óc nhóc, nên gọi xứ “xoài cả nả” gọi thét, nói líu lại là “Xoại nả” rồi “Xại ná” là cũng do tiếng Miên biến thể nữa. âm ra tiếng Việt là “Tài Sum”, Miên gọi “Xoai chrum”, biến ra Xoài Chum, rồi Tài Sum? Gần đây vì chỉnh trang hương thôn, làng Tài Sum sáp nhập với làng Trà Tâm (do Xà Tim, Trà Tim biến ra) và hoàn toàn Việt hoá với tên mới là làng Đại Tâm.
Trong làng Tài Sum cũ, cách bốn năm mươi năm về trước, con gái trong làng cùng một trang lứa đâu có nhan sắc dễ coi. Theo lởi Ba tôi thuật lại, hồi đó ai ai cũng tin trong làng nầy có phong thuỷ.
Thuở ấy trước chợ làng có một rãnh nước con chảy ngang, lúc ấy có một lão xinh xe (tiên sanh) Tàu, quả quyết cuộc đất đó địa thế con cua, tức là đất linh có mỹ nhân, quý nhân xuất hiện. Ngày nay vì mở rộng đường phố, trải đá cao ráo, nên rãnh con cua đã tắc nghẹt, gái làng đua đòi theo gái chợ, mải lo làm dáng bất chước phấn son mà mất vẻ thiện nghiêng “đoá hoa sứ cài áo tầm vông” đã bớt thấy.
Mẹ tôi sanh tôi tại nhà bà ngoại. Ít ngày sau cô bác hội lại lựa tên đặt giùm. Ban đầu, dượng tôi là ông Trầm Chức, bang trưởng Phước Kiến ở Nhu Gia đề nghị: Wòng Xí Dện (Vương Tứ Thành) ngụ ý đứa trẻ về sau sẽ giàu sang, có bốn thành trì che chở. Nhưng Dì út tôi nghe đến chữ “xí” thấy đồng âm với chữ “tứ” là chữ cũng đọc “xí”, nên vội xin lựa chữ khác. Dượng tôi vốn thâm Nho nhưng không nói được tiếng Việt, bèn đổi tên tôi thành “Thạnh” (Sển) và cho chữ lót là “Hồng” để đối chiếu với chữ lót của Ba tôi là “Kim” (Vương Kim Hưng) (Hưng đối với Thạnh). Dượng tôi nói phải dùng chữ Hồng (viết bộ thuỷ) vì bấm số, mạng tôi thiếu nước, nên phải tiếp tế bằng cách nầy. Lựa chọn xong rồi, dượng tôi viết ba chữ Hán vào giáy hồng đơn, gấp lại, giao cho Ba tôi đi làm khai sanh. Ba tôi đến làng Tài Sum, thì làng chỉ qua nhà lục bộ. Qua nhà nầy thì ông chủ nhà, tức ông lục bộ, đang mắc kẹt. Ông bị bốn ông tướng hành tội và vây ông trong một sòng “xí xệt” (tứ sắc) một đồng xu một lện, tức bằng năm chục hay một trăm đồng bạc một lện ngày nay, chứ không phải nhỏ. Nước bài ông đang xui, ông thấy Ba tôi đến nhờ việc, định bắt Ba tôi gỡ nên đòi cho có sáu cắc bạc (0$60) lì xì. Ba tôi đã ghét sẵn hội tề làng Khánh Hưng ngoài chợ, nay vô làng quê nầy lại gặp lục bộ Thổ đòi tiền trà nước. Ba tôi không trả lời, trao tấm giấy đỏ có biện danh tánh và ngày tháng sanh bằng chữ Nho, bước qua bàn giấy ký lẹ vào ba cuốn sổ bộ đời, rồi bỏ ra về, còn tờ danh tánh đã được ông lục bộ nhét gọn vào túi sợi dây nịt da đựng cả xấp tài liệu thứ nầy, vì ông lục bộ có lệ một tuần lễ chẵn ông mới trút dây nịt chép vào sổ cái một lần, chánh tả không màng trúng trật (sự thật ông ghi sai họ Vương ra họ Dương), và sẵn cái thù xin sáu cắc không cho, ông để luôn tên tôi theo giọng Tàu, mới sướng tai sướng nhĩ cho đến nay.
Mà tôi không trách ông chút nào vì việc đã qua. Trình độ học thức ông thấp kém, ông viết sai họ Vương ra Dương, là việc khác.
Đáng trách là tôi đây. Năm 1915, Ba tôi định làm khai sanh lại trước toà, tại sao tôi không thừa dịp ấy mà đổi ra tên Việt? Không, Ba tôi hỏi ý kiến tôi lúc ấy, tôi nhứt định không đổi. Tên cha mẹ đặt làm sao, tôi xin để y làm vậy. Mẹ tôi biết tôi với tên nầy, thì xin để vậy để dễ nhìn dưới Huỳnh tuyền.
Người ta tốt phước có cái tên rồng tên phượng, mình gặp tên như vầy lại mấy có sao? Bây giờ về già tôi lại càng thích nó một phần nào, vì tên đặc biệt không trùng với ai, và bưu phiếu, ngân phiếu lãnh trót lọt. Không ai mạo tên mà lãnh của tôi được (Duy mới đây, lần đầu tôi gặp trở ngại là thấy tên tôi có vẻ Ba Tàu, có một người chận một ngân phiếu do bộ Giáo Dục trả tiền cho tôi, nhưng nay tôi đã lãnh rồi, tuy có trễ).
Theo tôi, tên xấu hay tốt, thanh hay không thanh, nó cũng là của cha mẹ cô bác lựa chọn đặt cho, vốn là một kỷ niệm không phải mình có quyền chối từ hay chỉ trích, chê bai.
Nơi nhà tôi có một cuốn sách nhan là “Thành ngữ biên lục do ông Trương Minh Biện, giáo sư dạy chữ Nho tại trường Nguyễn Xích Hồng (bản in năm 1918 tại nhà in Joseph Viết, Sài Gòn), nơi chương 69 có ghi rằng: “Danh tử giả: bất dĩ Quân Quốc, bất dĩ Nhứt Nguyệt, bất dĩ Sơn xuyên, bất dĩ Ẩn Tật” Nghĩa là: Đặt tên con chẳng nên dùng chữ Quân chữ Quốc; chẳng nên dùng chữ Nhứt chữ Nguyệt; chẳng nên dùng chữ Sơn chữ Xuyên; chẳng nên dùng chữ Ẩn Tật.
Quân Quốc là vua, Nước; Như Nguyệt là mặt trời, mặt trăng; Sơn, Xuyên là Núi, Sông. Còn Ẩn Tật là mấy chỗ kín trong thân mình (tục tĩu). Người xưa giữ theo lễ cấm, không đặt lên con như mây chữ đã nói.
Thật là chí lý, vì e rủi sau nầy con mình không xứng đáng thì có tội với đất trời. Nhưng ngày nay những tên ấy thấy tràn đồng. Xét ra lớp trước không phải không biết chọn tên tốt mà đặt cho con, nhưng vì kỵ huý rất nhiều, thêm nữa vì dị đoan kiêng những danh từ xinh đẹp, sợ quỷ thần ganh ghét theo bắt hồn đứa trẻ.
Phong tục ngày trước trong Nam do người Tàu truyền sang, những nhà có máu mặt chờ bói Tử vi tính toán theo ngày giờ sanh đẻ, thiếu thuỷ thiếu hoả mà gia giảm thêm thắt: Vương Kim, Vương Hồng, Huỳnh Thuỷ Lê, Khúc Kim Thổ, v.v…
Một lớp khác không quan trọng hoá sự đặt tên, và vướng ít nhiều mê tín, cho rằng tên xấu sống dai, nên đặt nhiều tên quái ác: Khu, Cu và còn tục hơn nữa cà. Có một nhà con cả bầy, từ lớn đến nhỏ: Thằng Xá Xíu, thằng Xíu Mại, thằng Lạp Xường, đứa chót hết vốn là gái: con Bánh Mì. Thật là đủ bộ.
Còn thiếu gì tên lễ nghĩa nhưng vẫn thô: Nguyễn Địch Choái, Đái Văn Đường.
Cái tên Lê Bình Tích, làm sao chọc gái? (Bình Tích viết số nhiều, phải thêm chữ “s” nơi sau hay không? Les Binh Tichs?
Một tên Huỳnh Kim Long thấy trong bộ điền tỉnh Sốc Trăng, nghe rất thanh, thấy lạ đòi cho giáp mặt thì té ra là một đồng bào người Miên, đen như cục than hầm mà vẫn xưng Rồng Vàng chói. Anh Tống Nhạc Phi học lớp chót, thầy kêu lên đánh ba roi, sửa lại Tống Cao Phi, chẳng là nghe hay và ít hỗn hơn nhiều.
Bởi kiêng huý lắm, nên không viết trúng chữ và nói trại ra:
Thiềng Đước thay vì Thành Đức, vì cữ tên ông Nguyễn Văn Thành và ông Nguyễn Huỳnh Đức!
Vãng Luông thay vì Vĩnh Long vì huý hiệu vua Gia Long và tước ông Vĩnh lại quốc công.
Chữ Nghĩa trong Nam ít nói, vì khi ngâm nga kéo dài, nghe tục. Đổi lại Ngãi (như Đại Ngãi), Ngời (như thầy thuốc Ngỡi) nghe thanh hơn. Chữ Nghĩa hát lớn lên như điệu hát bội trở nên “nghi..ĩ…a”, kéo dài nữa thì biết!
Duy từ ngày Bắc Nam thông thương, tiểu thuyết bán chạy cùng khắp, thì tên họ cũng văn minh theo, nhứt là phái đẹp, thích có tên như nhân vật trong truyện kiếm hiệp: Tố Tâm, Lệ Thuỷ, Ngọc Ánh, Ngọc Sương. Đen như lọ xưa là “Bạch Tuyết”, trong dễ coi mà gọi “Huyền Trân”.
Anh bạn quá cố Chiêm Hải Yến, tác giả bài “Theo Vân Tiên tìm Đồ Chiểu” trong tập kỷ yếu hội Khuyến Học, cũng có tên tự là Hải Đường.
Anh Trần Hà Thanh, bạn cũ trường Sốc Trăng có tên trùng với tên thầy, là ông Nguyễn Trung Thanh, nên ông đổi là Trần Hà Thành, nhưng lên Sài Gòn anh lấy lại tên cũ và chọn thêm biệt tự “Hải Yến” (Cố chủ nhân sáng lập hãng dầu Cao Thiên).
Một nhà thợ bạc ở tỉnh Sốc Trăng năm xưa, lừng nếm cay đắng mùi đời, khi làm ăn tấn phát, sanh con đặt: Phú, Quý, Đa, Nhơn, Hội. Nhưng đến chị Hội vẫn chưa thôi và còn sanh nữa. Không lý tiếp câu sau: Bần cùng thân thích ly. Vì vậy chị Hội trở nên chị Hợi. Và cả gia đình ngày nay vừa trai vừa gái là: Phú, Quý, Đa, Nhơn, Hợi, Tý, Sửu, Dần.
Không được như nhà kia có lẽ biết máy hạn chế sanh đẻ, nên ngừng kịp lúc. Người cha tên Công, sanh con đặt: Thành, Danh, Toại, Phỉ, Chí, Nam, Nhi, Bìa, Truyền, Tạc, Đề. Thiệt là một nhà hạnh phúc, biết được máy trời.
Một nhà khác đông con không kém nhưng không biết tự lượng.
Đến cô gái thứ mười, hai ông bà thấm mệt, muốn chấm dứt nên khai vào bộ đời: Nguyễn Thị Út. Dè đâu lòng người muốn vậy mà trời nào cho. Cái máy sanh vân còn tốt và đến năm đảo chánh 1945, Phụ nữ tiền phong tỉnh nhà vẫn có bốn chị em cùng một cha một mẹ gia nhập kháng chiến chống giặc Pháp: Út On, Út Đơ, Út Toa; Út Cát.
Thuở gần đây, chữ quốc ngữ chưa thống nhứt, mạnh ai nấy viết theo ý riêng của mình, nên có nhiều tên xốn mắt:
Nguyễn Thị Lon (thay vì Loan).
Hình Thái Thông thay vì Huỳnh tức họ Hoàng ngoài Bắc.
Một nhà nọ, người cha vốn là nhà giáo, nên viết theo lối chánh tả riêng: Siêu viết Sheou; Dần viết Yann.
Hương chủ làng Tài Sum là người Việt gốc Miên. Ông họ La, vì tổ tiên là người Tàu. Thay vì đặt tên cho con là Cao Thăng, ông ghi vào bộ là La Mông Tê (la monter) ngụ ý chúc con đăng cao mãi mãi, và ông nói: đặt tên theo Tàu được, tại sao không cho đặt theo Tây, vì mông-tê là monter là lên cỡi, trèo leo, tức đồng nghĩa với Cao Thăng chớ gì? Đã rành tiếng Pháp thêm được cao vọng tân thời. Thăng lên mãi mãi, còn muốn gì hơn?
Để kết luận tên tôi vẫn hoàn như cũ “Vương Hồng Sển” không đổi. Còn Phước Lộc Nhi là gì? Xin thưa đó là tên tặng cho tôi của thím đồng hồ lối xóm. Lúc tôi được hai ba tuổỉ, thím thường qua nhà ẵm chơi. Thím không con, vốn là người Quảng Đông, không nói được tiếng Việt, thấy tôi tròn trịa, gọi chơi là thằng “Fóc lóc Chảy” thét rồi trong nhà cũng gọi Fóc Lóc Chảy theo. Lâu lắm tôi mới biết ba chữ Quảng ấy có nghĩa là Phước Lộc Nhi. Thuở đó trong giới người Tàu thường đặt tên con Thằng Heo (à Tư Kìa) thằng Chó (à Cảo Kìa). Đây là giọng Tiều (Triều Châu). Thím đồng hồ, chồng là ông Lục Đăng, nói theo giọng Quảng là Lậu Tửng.
Quê Bến Tre, Cao Bình Minh tên thật Tô Văn Minh sinh năm 1953 học trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, rồi đại học Văn Khoa Sàigòn khóa 71-73 và Quốc gia Hành chánh khóa 71-74. Trước 75 từng viết cho các báo Tuổi Ngọc, Tuổi Hoa, Cao Bình Minh vượt biên đến Hoa Kỳ năm 1980 và học Nhiếp Ảnh ở Pasadena City College, California. Cộng tác thường xuyên với các nguyệt san Văn, Văn Học, Làng Văn trong hai thập niên 80-90, bút hiệu khác: Sao Y.
Ưu điểm của Cao Bình Minh là cách kể chuyện với tiết điệu nhanh của một giọng văn tinh nghịch vui nhộn nhiều duyên ngầm. [Trần Vũ]
Kỳ 1
Quen nhau gần hơn một năm, tôi mới biết được số tuổi của Thiện. Cũng là do chàng vô tình tiết lộ trong một buổi cả hai – tôi với chàng – đi ăn sáng. Vừa ăn vừa nói chuyện lòng vòng một hồi tôi bỗng nhớ và khoe tuần lễ ông đi công tác, ở Susanville, ở nhà em đi ăn đám cưới của người chị họ, đi ăn đám cưới của chị Trinh. Thiện hỏi Thứ Bảy chứ gì… hèn gì anh phone về hai ba bận mà không có ai nhấc ống… Tôi gật đầu đi hết nhà mà… tới gần một giờ sáng mới về lận. Ðám cưới lớn quá trời, vui quá trời. Có nhạc sống, có nhảy đầm đủ thứ hết. Bên đàng trai giàu lắm, sộp lắm. Chú rể là nha sĩ còn ông bà già chồng có tiệm vàng cỡ bự ở trên San Francisco mà. Cái bà Trinh đó thiệt là mạng Tào, phần số lúc nào cũng hồng hào, đỏ thắm hơn thiên hạ hết. Người ta nói “nam Nhâm nữ Quý” coi vậy mà đúng ghê. Con mẻ là Quý Tỵ đó. Thiện chợt la lên vậy sao, vậy là bà chị họ của em nhỏ hơn anh đúng một con giáp đó nghe. Tự nhiên tôi giật mình, ngó Thiện rồi lầm thầm tính trong bụng, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, bà Trinh năm nay ba sáu vậy thằng cha đã bốn tám. Trời đất vậy mà hồi nào tới giờ mình cứ đinh ninh thằng cha khoảng ba tám ba chín là cùng… đâu dè cũng đã già khù khú đế rồi. Ðâu dè thằng cha lớn hơn mình tới gần hai con giáp. Rồi tôi bỗng nhớ tới mấy câu kích động nhạc – qua giọng hát õng ẹo của Mai Lệ Huyền “…năm anh hai mươi, em mới sinh ra đời… ngày anh bốn mươi, em mới vừa đôi mươi. Khi em còn trong nôi, anh đã lo chuyện đời…”
Và có lần ngồi với nhỏ bạn trong tiệm kem, nghe bài hát này tôi đã trề môi sức mấy! Mấy thằng cha nhạc sĩ cũng giống như mấy thằng cha văn sĩ chuyên môn bày đặt, chuyên môn tưởng tượng ra mấy cái vụ tình yêu lẩm cẩm tréo cẳng gà, thấp cao chênh lệch trong mọi mặt kể cả mặt tuổi tác để mà dụ dỗ độc giả, thính giả chứ sức mấy mà có chuyện đi thương ông cụ. Bộ thanh niên trai tráng chết hết hay sao mà phải đi cặp với mấy ông già giết giặc chớ. Vậy bây giờ cái chuyện yêu nhau với tuổi tác một trời một vực lại trúng vô tôi ngay chóc. Tôi đang “yêu nhau” với một nhân vật lớn hơn mình tới gần hai con giáp. Mình đang yêu một… ông già giết giặc. Tôi lẩm bẩm.
Thiện ngó tôi hỏi đang lẩm bẩm cái gì trong miệng vậy? Tôi đáp cái bài hát… em đang nhớ tới cái bài hát. Thiện ngạc nhiên sao khi không đang ăn mà lại nhớ cái bài hát, mà bài gì mới được chớ? Tôi nhớ lại nên trớ là bài Lý Ngựa Ô. Hôm đám cưới của chị Trinh có cô mặc skirt đen bằng da ngắn ngủn, áo kim tuyến đỏ chót khoe gần hết cặp ngực lên cầm micrô nhún nhảy hát tặng cô dâu chú rể bài Lý Ngựa Ô. Ăn mặc như vậy mà lên đứng uốn éo hát dân ca thiệt coi ngược mắt quá trời. Thiện cười lớn hỏi nhưng cô ta hát nghe hay không, nghe được không? Tôi gật gật… à… à… nếu dễ tánh một chút, chịu khó tưởng tượng cho nhiều một chút thì giọng cũng hao hao như Tuyết Hằng. Thiện nói vậy thì hãy nghe hát thôi chứ đừng ngó người hát, hãy ngó dĩa chân vịt xào hải-sâm hay dĩa bồ câu quay. Bởi có những trường hợp như em nói nên anh chủ trương mua tape về bỏ vô máy nghe ca sĩ hát chứ không chủ trương tới các phòng trà hay coi tivi. Anh không muốn giọng ca đẹp bị bể khi ngó thấy người có giọng ca không được đẹp. Thiện khiến tôi nhớ bao nhiêu bận ráo nước miếng đòi chàng dắt đi phòng trà, đi nghe nhạc mà không được nên trề môi… xì… nói như ông vậy chắc mấy cái phòng trà dẹp tiệm sớm… còn mấy cô ca-sĩ mầm non ở đây không cách gì ngóc đầu lên nổi. Ông phải biết qua tới đây và trong lúc này mấy cô ca-sĩ phần lớn hát bằng mình mẩy bằng động tác hơn là hát bằng giọng, bằng lời. Băng nhạc cũng vậy, bán bằng bìa, bằng hình chụp ở bìa băng hơn là bằng bài bản bên trong. Ông không thấy cái cô ca-sĩ mỗi khi hát hay chụp hình làm bìa băng nhạc đều kéo trịch cái phéc-mơ-tuya quần xuống để phô rún khoe bàng quang rồi thì vừa hát vừa chà lết mình mẩy uốn éo, oằn oại như bị động kinh nên được báo chí thiên hạ xúm lại vỗ tay ào ào đó sao. Thiện nhún vai cái con nhỏ đó ngu lắm. Tại sao không chịu làm vũ nữ múa sexy cho nó khỏe hơn. Cũng bày da bày thịt cũng làm những động tác vặn mình vặn mẩy như vậy nhưng lại khỏi phải gân cổ lên mà la mà rống mà gào.
Sau lần nói chuyện đó, tôi bỗng bị ám ảnh một cách vô duyên về chuyện tuổi tác, vì khoảng cách chênh lệch hơi nhiều giữa tôi với Thiện. Nói vô duyên cũng phải vì từ hồi nào cho tới giờ đây không phải là điều tôi để tâm tới. Không phải là cái quan trọng để tôi phải đặt thành một vấn đề. Bằng cớ là quen nhau thời gian như vậy coi như cũng đã lâu nhưng tôi chưa từng thắc mắc xem Thiện đã bao nhiêu niên kỷ. Chưa từng hỏi chàng đã được… mấy xuân xanh. Cho tới khi không Thiện tự mình cung khai làm chi để nó bỗng cứ vướng víu trong đầu tôi hoài. Cứ ấm ách trong bụng không chịu tiêu hóa mất. Thiệt là vô duyên hết sức. Tôi nhăn nhó, cằn nhằn mình hoài nhưng hễ gặp mặt Thiện thì đâu lại vô đó. Tôi cứ ngầm ngầm quan sát, im lặng chú ý để thấy được vô số điểm chứng tỏ Thiện đã… bốn tám. Ðã bắt đầu… tuổi già. Ðã lớn hơn tôi gần hai con giáp.
Trước tiên là vô số nếp nhăn trên trán, hai bên đuôi mắt cùng nơi khóe miệng của chàng. Thấy rõ nhứt là những khi Thiện nói, cười hay nheo mắt ngó ra xa – những lần nằm chơi ngoài biển. Tóc của Thiện – coi bộ – cũng bắt đầu hơi thưa, rụng nhiều – điệu này chàng bị chứng sói đầu lúc về già – và nhú ra vô số những sợi tóc bạc hai bên thái dương và sau ót. Dễ ngó thấy nhứt là mỗi lần Thiện mới hớt tóc khiến tôi cứ ngứa tay muốn nhổ chỉ tiếc là không có cái nhíp sẵn trong tay. Trên mu hai bàn tay – lớn và cứng cáp vì phải cầm súng ròng rã – thấy xuất hiện lốm đốm những chấm đồi mồi, da tay cũng thấy bắt đầu khô để sửa soạn nhăn nheo. Ngực Thiện vẫn nở nang nhưng – hình như – tôi cảm thấy bắt đầu mềm, bắt đầu nhão chứ không săn chắc như thời gian trước nữa. Tôi vuốt vuốt bụng Thiện nói bụng ông bắt đầu có triệu chứng phình ra, phệ ra rồi đó nghe. Thiện thót lại vì nhột nói thôi cô ơi đừng có chê lính. Tôi bực tức lăn ra mép giường vói tay lượm cái quần Jockey trên thảm vạch coi con số nhỏ đính kèm chỗ nhãn hiệu và la lên trời đất ơi size ba mươi mốt! Nguy quá, bụng ông bắt đầu bự rồi, lớn rồi. Thiện cười ha ha lăn theo ôm choàng ngang eo tôi lấy ngón tay vẽ lòng vòng quanh khoảng rún nói bụng em mà lớn mới nguy chứ bụng anh mà lớn thì nên ăn mừng. Ðó là dấu hiệu bắt đầu phát tướng. Không nghe người ta nói phát tướng thì sẽ phát tài đó sao. Sự tỉnh bơ bơ của Thiện cùng câu nói vô duyên – xui xẻo – khiến tôi tức mình thêm nên buông cái quần âm ấm trở xuống thảm, vùng vằng phát tài đâu không thấy chỉ thấy bụng ông chang bang như bụng mấy ông Chệt bán thịt heo quay thì có nước em trốn luôn cho khỏi bể với mấy đứa tụi nó. Câu nói coi bộ làm Thiện bị quê nên vòng ôm của chàng chợt lỏng ra, giọng hơi gằn nói vậy là sao chớ? Ngón tay Thiện thôi không đi vòng vòng trên khoảng bụng tôi nữa nhưng nó đã đánh thức da thịt tôi trở lại, tôi không muốn chọc cho Thiện giận lúc này nên vội xoay qua úp mặt vô ngực chàng. Mình mẩy Thiện khi nào cũng hâm hấp như vừa phơi nắng vô. Tôi cắn nhẹ ngực chàng giả lả thì tại em sợ ông mập ông phì như mấy xì thẩu ngó không đẹp chứ bộ, lo giùm cho không cám ơn còn làm bộ cự nữa à… ghét. Thiện chồm qua nhận lún tôi xuống nệm, giọng gấp rút phải hôn đó, nghi lắm, nghi lắm. Rời nhau ra Thiện nói trong hơi thở phập phồng, đợi anh tắm rồi mình đi ăn bò bảy món. Chàng xuống giường quơ mớ quần áo vung vãi trên thảm nùi trong tay đi vô nhà tắm. Tôi nằm ngó theo hơi trề môi thiệt tình là thằng cha đang phát phì, mông đã bắt đầu xệ tuốt, nhứt định bắt thằng cha đi gym, bắt thằng cha thể dục thẩm mỹ để níu kéo phong độ, để đỡ thấy già. Nhưng còn mặt mày, da dẻ không lẽ xúi thằng chả đi mỹ viện bơm mặt căng da hay sao?
Ngoài những cái… già tìm ra ở mặt mày, vóc dáng của Thiện, tôi còn tìm thấy ở tánh tình chàng nữa. Tôi kết luận hồi nào tới giờ mình cứ thấy thằng cha tánh tình kỳ cục không giống ai nhưng giờ rõ ra rất là bình thường. Ðó là thứ tánh tình vẫn thường có (?) ở những người đã bắt đầu có tuổi, đang sửa soạn… xế chiều: ngại hoạt động, không ưa ồn ào, tránh né đám đông và… làm biếng! Ngày Thứ Bảy muốn gặp Thiện đừng lùng sục ở những quán ăn, tiệm cà phê, các Hội quán làm chi cho mất công. Cứ đi thẳng tới nhà – trăm lần hết chín mươi chín lần – sẽ thấy Thiện nằm thù lù một đống ở sofa hoặc trên giường để hoặc nghe nhạc – tới lui hoài mấy cái băng mấy giọng ca đã cũ xì hoặc đọc báo, lớp mua năm, mua tháng, lớp lượm free ở mấy quán mấy chợ, hoặc coi tivi chuyên môn chương trình xì-pọt hoặc coi sách thứ này thì khỏi nói, tôi chỉ đọc nổi có cái tựa sách. Và Thiện có thể nằm như vậy cho hết cả một ngày luôn trừ những lúc ăn uống hay vô restroom, dĩ nhiên. Bao nhiêu bận tôi phone tới đòi Thiện chở đi shopping hay rủ chàng đi coi xi-nê. Lần nào Thiện cũng ừ hử như đồng ý khiến tôi tưởng bở vội trang điểm, chưng diện kỹ lưỡng hớn hở tới gặp chàng. Gặp mặt nhau rồi thì lại khác. Thiện dềnh dàng câu giờ, dụ dỗ thuyết phục đủ thứ để sau rốt tôi bị xiêu lòng – quả là gái tơ nhẹ dạ – nằm lại với chàng quên mất tiêu cái phim hay thiên hạ đang đổ xô đi coi hay kiểu áo mình đang mơ ước mấy tháng trời Robinson’s mới chịu đại hạ giá. Thậm chí tôi còn hăng hái xuống xe lục lấy mấy cái băng nhạc mới đem lên thay mấy cái băng cũ xì, cũ mốc của Thiện, bài bản giọng ca nghe thiệt chán đời thiệt là buồn ngủ.
Và cứ nằm nghe nhạc vừa nói chuyện tào lao trên trời dưới biển vừa – đôi khi – yêu nhau cho tới khi tôi chợt nhớ ra than đói bụng Thiện mới chịu ngồi dậy mặc quần áo – có khi chàng chỉ tròng cái quần jean xanh bạc xuống dốc, khu chung cư chàng mướn nằm trên một cái dốc khá cao như một ngọn đồi con – để băng qua bên kia đường mua cơm, mua thức ăn tại tiệm Chinese Food. Tiệm này tiếng là bán đồ Tàu nhưng lại nấu theo gu Mỹ nên cơm chiên Dương Châu khi ăn lại nghe phảng phất mùi cheese còn món gà hấp xì dầu vị không khác mấy món gà nướng của tiệm El Pollo Loco. Tôi vừa ăn vừa khen ngon chê dở. Thiện nói thôi mà có một tiệm cơm Tàu sát nách như vậy, là hên rồi nếu không muốn ăn đồ Mỹ. Nhà độc có món mì gói thì em chê ớn, chê ngán không chịu ăn, không chịu rờ tới mà. Tôi trề môi ông làm như con đường này không còn tiệm ăn nào khác bán đồ ăn Á châu vậy. Tại ông làm biếng không chịu băng qua thêm một block nữa có tiệm cơm chay nữa… Thiện nhăn mặt thôi cô ơi nhà thơ của cô đã ngưng hành nghề lâu rồi, sang tiệm rồi đừng có mê ngủ nữa, với lại tóc tai người ngợm anh ăn mặc như vầy mà bắt diễn hành hết con đường cho thiên hạ ngắm hay sao. Tôi nguýt vậy sao ông không chịu ăn mặc cho đàng hoàng một chút. Thiện nói đi khoảng mười phút mười giây mà phải tròng đủ thứ vô mình rồi về lại mất công lột ra nữa, mệt lắm, mệt lắm. Tôi ngó khoảng ngực lấm tấm mồ hôi của Thiện – chàng có tật khi ăn nóng hoặc ăn cay là mồ hôi tuôn ra đầm đìa – nhún vai em dám cá là kiếp trước của ông không phải là Thạch Sanh cũng là Trần Minh khố chuối nên kiếp này ông có khuynh hướng khoái cởi trần vấn khố. Thiện cười nói còn kể thiếu một nhân vật nữa là Chữ Ðồng Tử.
Khen chê gì rồi mấy món cũng được thanh toán sạch bách. Thiện gom mấy cái hộp giấy, khăn giấy, đũa tre đem nhét vô thùng rác. Sẵn trớn chàng quơ hết đống quần áo dơ khệ nệ đem xuống phòng giặt ở tầng dưới để giặt. Tôi lại leo lên giường nằm lơ tơ mơ nghe nhạc, ngủ gà gật chờ Thiện trở lên. Chiều xuống, tắm rửa xong, Thiện mới chịu ra khỏi nhà chở tôi qua khu Alhambra hoặc cao hứng chạy tuốt xuống Bolsa đi ăn ở mấy tiệm Việt Nam hay tiệm Tàu. Sau khi ăn, tôi hay trổ tài nhõng nhẽo, dụ khị Thiện dắt đi nghe nhạc, đi nhảy đầm nhưng lần nào chàng cũng lắc đầu. Thấy tôi giận làm mặt lớn mặt nhỏ, Thiện cười dỗ vô làm chi trong đó để phải hít mùi khói thuốc, mùi mồ hôi thiên hạ cho khó chịu. Tại sao mình không về nằm nhà để ngửi mùi của nhau cho tình hơn.
Ðó là ngày Thứ Bảy. Chúa Nhật thì khá hơn một chút, hoặc Thiện phone tới hoặc đích thân tới chở tôi đi ăn sáng tại một tiệm phở nằm trong khu Plaza Tàu. Tại đây không chỉ có tôi với chàng mà còn vài người bạn thân của Thiện. Họ ăn một tô phở, một dĩa bánh cuốn, một tô bún thang nhưng uống nhiều lần cà phê hoặc nước sinh tố. Ðặc biệt có một nhân vật tướng tá dềnh dàng râu ria rậm rạp coi rất… ngầu nhưng thức uống toàn là các món chè ngọt như sâm bổ lượng, chè ba màu, đậu đỏ bánh lọt. Ngó ông ta nhâm nhi từng muỗng bo bo, nhãn nhục, phổ tai, hay nhai nhóc nhách những muỗng rau câu, xương xáo tôi bỗng thấy ngược mắt, thấy kỳ kỳ. Bữa ăn sáng của cả đám kéo dài tới gần mười hai giờ trưa mới chịu chấm dứt. Những người bạn của Thiện hấp tấp bỏ đi. Hai ông làm nghề bán Furniture, một ông bán nhà cửa và một ông vừa bán bảo hiểm vừa làm phụ tá cho một văn phòng luật sư. Còn lại tôi và Thiện. Tôi trề môi bằng hữu của ông toàn là những mày râu, nam tử hán nhưng miệng mồm thì rộng rãi còn hơn là đàn bà. Ngồi nghe mấy ổng nói tin tức đầy đủ hơn Tin Sinh hoạt Cộng đồng đọc trên tivi sáng Thứ Bảy nhiều. Nhứt là cái ông Văn làm phụ tá cho văn phòng luật sư. Cũng may thằng cha chỉ làm nghề bán bảo hiểm chứ không làm thêm nghề viết tiểu thuyết nếu không hồ sơ của mấy thân chủ sẽ là cái kho đề tài lớn cho thằng cha tha hồ khai thác, tha hồ tiểu thuyết hóa. Chuyện kiện tụng, thưa gởi của người ta mà thằng cha đem vô quán ăn kể thao thao như tường thuật bóng đá thì nguy hiểm quá. Còn cái thằng cha Ðặng bán bàn ghế… Thiện chận tôi lại thôi tốp tốp giùm cho tui nhờ… Em đúng là dân Bến Tre, đúng là con gái xứ dừa sử dụng bàn nạo thiệt là điêu luyện… ai ai cũng bị em đem ra nạo hết… Bạn bè anh, em không tha một mống. Tôi vênh váo sức mấy mà nạo… em chỉ nói ra sự thật thôi. Như cái thằng cha Mai-cồ mặt mày coi bặm trợn, tướng tá như Tạ Tốn mà ăn uống như đàn bà, ăn bánh cuốn, ăn chè ba màu, ăn thạch. Thiện trợn mắt thôi chớ ai không biết cô là dân Ðồng Khởi nữa mà cứ khoe bàn nạo hoài như vậy. Tôi kênh Thiện ê cấm đụng chạm địa phương nghe bạn… bộ xứ sở bạn không có “huyền thoại” hay sao… Nghe kể đây… trên một chuyến xe lửa đi Phan Thiết có một cô punk-rock ngồi đối diện với một anh hết sức đẹp trai đeo kiếng đen. Anh chàng bị mù nên đeo kiếng nhưng cô nàng không biết nên tìm đủ mọi cách để gây chú ý, để mê hoặc. Thiện đứng lên cú nhẹ đầu tôi hết nói nổi con gái con gung mà bày đặt nói chuyện tiếu lâm, bày đặt nói xầy. Rồi để tôi khỏi phải tiếp tục Thiện lôi tôi ra quầy trả tiền và đẩy vô thang máy xuống chỗ đậu xe.
Chun vô xe Thiện hỏi giờ muốn đi đâu đây? Những chỗ tôi muốn tới thế nào cũng bị Thiện bàn ra, biết vậy cho nên tôi đề nghị để lấy chút… tưởng tượng rằng mình được theo ý ra biển chơi đi. Dĩ nhiên là Thiện bằng lòng liền. Tôi thở dài trong bụng đúng là dân biển lúc nào cũng biển biển… nhưng thôi chẳng thà theo thằng cha ra đó nằm còn ngó được thiên hạ đi qua đi lại, còn thấy được trời trăng mây nước hơn là theo thằng cha về nhà nằm chỉ ngó thấy bốn tấm tường dán giấy cũ xì. Trong khi Thiện vùng vẫy dưới nước, tôi chun vô mấy tiệm bán đồ lưu niệm, bán quà tặng săm soi mấy cái áo thun, mấy món đồ chơi làm bằng vỏ ốc, san hô hay qua chỗ chơi game ngó thiên hạ thảy banh, bắn súng đổi lấy mấy con thú nhồi gòn xấu ỉn lông xù xì màu lòe loẹt. Khi tôi trở lại, Thiện đang nằm dài phơi nắng. Tôi ngồi xuống bên chàng ngắm người qua kẻ lại trầm trồ:
– Coi cái thằng Mỹ mặc cái quần tắm màu cam kìa, bụng nó đẹp ghê chưa, sáu múi đàng hoàng chứ ai như bụng ông vậy.
– …
– Trời cái ông Mỹ đó già rồi tóc bạc hết rồi mà thân hình còn thon còn săn chắc hết sức không có một chút mỡ… ai như ông.
(còn tiếp)
(*) Ảnh minh họa người mẫu Liu-Wen “New Silk Road World Model” từ tạp chí Elle và các trang web Thatsthelook, Craig McDean, MyFaceHunter, Femina, Asiatorialist.
11. John Tang: Càng ngày càng có nhiều cây bút nữ, càng ngày số tuổi của họ càng nhỏ, văn của họ càng bạo, những cuộc làm tình trong tác phẩm của họ càng ngoạn mục, kinh hoàng … Hiện tượng gì vậy, ông có nghĩ đến không?
Nhà văn Trần Vũ trả lời:
Chào John Tang. Câu hỏi của anh làm tôi nhớ về thời gian trước 75, vài tác phẩm mang chút tính dục duy nhất tôi đọc là cảnh đêm trong khách sạn diễn ra giữa Kitty và Ari Ben Canaan gần cuối tiểu thuyết Về miền đất hứa của Léon Uris do Thế Uyên dịch. Một thoáng ngắn vài giây, Ari kéo áo Kitty xuống để lộ vai và một bên ngực rồi Ari giận dỗi bỏ đi… Một cảnh khác trong Thần điêu đại hiệp là khi Tiểu Long Nữ khỏa thân áp lưng mình vào lưng Dương Quá luyện công…
Tiểu thuyết miền Nam và tiểu thuyết dịch thời kỳ này rất chay tịnh: Nhất Linh trong Xóm Cầu Mới cho Siêu và Mùi mân mê duy nhất cổ chân; Cô Hippy lạc loài của Nhã Ca chịu tiếng thác loạn nhưng tôi đọc không thấy gì hết. Vài ngón tay của cô giáo Hoàng nắm ngón tay của học trò tên Minh trong Vòng tay học trò rồi dừng lại ở những ý nghĩ thầm mà không động tác. Tôi nhìn tôi trên vách của Túy Hồng cũng vậy, chỉ có những chiếc bóng chao động trên vách tường rồi là im lặng. Trong Nhà có cửa khóa trái của Trần Thị Ngh tuy khí hậu ẩm, ngoài những tiếng động hô hấp của một lồng ngực ướt mồ hôi không có gì khác. Thung lũng tình yêu của Lệ Hằng tuy loạn luân vẫn chỉ là đồi thông lãng mạn. Phải đến Gần 17 tuổi của Mai Thảo, tôi mới khám phá ra Karen, nữ nhân vật Thụy Điển để ngực trần nở nang đi lại trong nhà trước cửa sổ không đóng kín và những thân mình đàn ông đàn bà trên mặt đệm sau chiếu mạt chược… nhưng vẫn chỉ là đối thoại. Mai Thảo thay thế hành động bằng đối thoại.
Đến Võ Phiến, trong Thác đổ sau nhà đoạn văn này tiêu biểu:
“Khi tôi khép hai đùi lại, dùng dằng, ông ta không hấp tấp vội vàng. Ông đặt một bàn tay lên bắp đùi trần của tôi làm tôi rùng mình; ông ngừng lại một chút, rồi vỗ nhè nhẹ vào phía trong bắp vế, nói nho nhỏ: “Em! Em!” Giọng ông ta nửa như than phiền trách móc, nửa như dỗ dành nài nỉ. Ông ta lại đặt yên bàn tay, ngừng lại, và chờ đợi. Tôi dạo ấy mới hăm hai hăm ba tuổi… Vắng đàn ông lâu ngày… Đêm khuya vắng vẻ… Chậc!”
Nhân vật chậc lưỡi là ưng thuận. Nhà văn chậc lưỡi là hết đoạn gây cấn. Còn người đọc? Người đọc chậc lưỡi vì muốn đọc tiếp…
Dường như thời kỳ này, tuổi trẻ miền Nam hầu hết khám phá tình dục qua truyện chưởng Kim Dung và sách gián điệp của Người Thứ Tám. Tôi trong số họ, nhớ mình đã ngượng nhiều khi đọc Bóng ma trên công trường đỏ, cảnh Z-28 ân ái với Z-33. Tôi lên 12, với tôi Bí mật Hồng Kông, Hận vàng Ấn độ, Nữ thần ám sát, Mèo xiêm cọp thái, Đoàn vũ khỏa thân là cả một thế giới bí mật. Nhưng Z-28 là một phó sản, chưa phải sách văn học. Những Kiều Giang, Đỉnh gió hú, Tầng đầu địa ngục, Chuông gọi hồn ai, Cuốn theo chiều gió hay Lụy tình chưa dứt rất chay tịnh. Kể cả Đoàn nữ binh mùa thu của Nhã Ca và Tiền đồn của Thế Uyên không có gì khiến tôi phải ngượng. Tôi mê Erich Maria Remarque và càng khám phá là Remarque vinh danh tình bạn và tình yêu mà không vinh danh tình dục. Mối tình của Pat và Robby trong Chiến hữu, hay của Ruth và Ludwig trong Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống là những mối tình trong sáng.
Nhưng đời sống không chỉ có sự trong sáng. Ngay cả những mối tình trong sáng nhất, đến một lúc vẫn phải va chạm thực tế: tình dục của thân thể, ham muốn hòa quyện làm một.
Năm 1986 hay 1987, tôi đọc trên Làng Văn bản dịch Lòng Ái quốc của Nguyễn Vạn Lý. Mishima tiếp cận thân xác không tránh né: “Thân thể Reiko trắng ngần và tinh khiết; bộ ngực nở to của nàng bày tỏ một lòng trong sạch về dục vọng; nhưng, khi yêu chồng thì cặp vú ấy thật là quyến rũ trong gối chăn ấm áp và thân mật. Ngay cả lúc ân ái hai người hết sức trang trọng một cách đáng sợ. Giữa những giây phút dục vọng cuồng nhiệt, trái tim của họ lại rất thanh tịnh và trịnh trọng.“ Văn Mishima trực tiếp mà vẫn giữ được cho thân xác sự quý trọng thanh sạch. Dụng văn thân xác, nhưng Mishima đưa người đọc vào lĩnh vực tinh thần: Hiến dâng và thâu nhận là một hành động tinh thần. Mishima là một bậc thầy.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa phải viết như Mishima. Anaïs Nin ngay từ thập niên 1940 đã cho xuất bản nhiều tập nhật ký về những mối tình khiêu dâm của chính mình với những câu chuyện ham muốn thầm kín của đàn bà. Mối tình nhiều dâm tính của Anaïs Nin với Henry Miller không còn là bí mật trong kho tàng văn học. Tây phương luôn đi trước Việt Nam trong lĩnh vực văn xuôi, nên khi các nhà văn Việt khảo sát rồi trải nghiệm đề tài này, là hoàn toàn bình thường.
Năm 1998, Christine Falkenland sinh 1967 cho xuất bản tiểu thuyết Le marteau et l’enclume, miêu tả hành trình tự tìm kiếm mình của một thiếu nữ mà thân thể giống bị nghẽn giữa búa và đe, cứ phải dẫy vùng tự xé rách để thoát ra… Thiếu nữ yêu người tình của mẹ ruột, làm tình với người tình của mẹ. Đến khi mẹ mất, thiếu nữ đợi phu đòn khuân xác mẹ ra khỏi phòng và lập tức nằm lên mặt đệm vừa đặt xác, để những vết tích của mẹ nhập vào cô, hóa thành cô. Falkenland miêu tả chỗ kín của mình như phủ một lớp rong ướt run rẩy và uyển chuyển, chao lượn mỗi khi cô nhìn chúng… Với Búa đe, Christine Falkenland được xem là niềm hy vọng của văn chương Bắc Âu, giọng văn phong vị nhất của Thụy Điển.
Năm 1996, Florence Dugas được 28 tuổi, đang là nữ giáo sư kịch nghệ của hàn lâm viện kịch nghệ tại Pháp, cho xuất bản tiểu thuyết Dolorosa Soror nhanh chóng trở thành best seller. Khác Mishima xem chiếm hữu và dâng tặng là một hành động tinh thần, Dugas xem tình dục là một hành động thuần thân xác, của bản năng và nhu cầu tự thỏa mãn, bằng bất kỳ phương tiện nào. Khác Christine Falkenland nhấn thân thể vào trong văn học, Florence Dugas không che đậy dục tình bằng văn học, thẳng thừng tuyên bố là mình viết truyện dâm dục vì mục đích của da thịt là nhục cảm. Văn của Dugas tự nhiên và kích thích: “Anh ấy vuốt vai, miết gáy, hôn tôi thật lâu. Môi anh vẽ vệt trên lưng, lưỡi trôi dọc theo cột sống, đổ xuống trũng lưng, len vào giữa mông. Như mèo mẹ nựng nịu con, anh dướn lên, cắn vào vai tôi, day khoảng gáy rồi lại chuồi xuống vùng hông. Tôi thắt người lại khi anh lấy tay vạch mông; rồi cái cảm giác vừa buồn cười vừa thèm muốn cứ cồn cào gan ruột, khuyến khích tôi mở rộng ra hơn nữa.”
Dolorosa Soror được dịch ra nhiều thứ tiếng, quảng cáo, điểm sách, phê bình… Đi đâu tôi cũng thấy tên Dugas và Falkenland dạo ấy. Bản dịch Thống Muội của Cổ Ngư và Búa Đe của Mạch Nha trên Hợp Lưu là hai bản dịch khá sát bản Pháp văn. Điều tôi vẫn tự hỏi, là làm sao một nữ giáo sư hàn lâm như Florence Dugas dám viết về tình dục kinh dị như vậy: trắng trợn và dung tục. Dugas không ngại khoa trưởng khoa kịch nghệ hay sinh viên của mình đọc, khi cô tự nhận là viết tự truyện về chính đời sống tình dục của mình.
Rồi tôi hiểu: Phụ nữ da trắng xem thân thể họ thuộc về họ mà không thuộc về gia đình hay xã hội. Họ muốn làm gì thân thể họ, trong giới hạn luật pháp, họ toàn quyền. Ngược lại, phụ nữ phương Đông chưa có toàn quyền này… Các thiếu nữ Việt Nam sau vượt biên, khi đặt chân đến các lục địa Âu Mỹ va chạm tức khắc với lối sống buông thả dục tình Âu Mỹ. Họ phải chọn lựa: Sống thân thể của họ hay giữ thân cho cha mẹ, gia đình, anh chị mình không xấu hổ? Đa số gìn giữ, ngay cả khi viết truyện, tuy câu trả lời ngầm là tư tưởng sẽ thay đổi với thời gian và môi trường.
Rồi thời gian đến và môi trường đã sẵn.
Shan Sa, một nữ văn sĩ Trung Hoa sinh 1972 di sân sang Pháp sau biến động Thiên An Môn, trong tiểu thuyết Thiếu nữ chơi cờ gô [bản dịch của Mai Ninh] sau câu nhập tuyệt hay: “Mỗi quân cờ là một bước đi xuống linh hồn. Tôi yêu cờ gô vì những mê lộ của nó…”, Shan Sa đã không ngần ngại cho đại úy Nakamura vào xóm nhà thổ dâm lạc trước khi bắn vỡ đầu người yêu là Dạ Khúc, rồi tự sát. Thiếu nữ chơi cờ gô có những đoạn tác giả viết mê man: “Tình yêu biến thành một đòi hỏi thú vật. Trong những đêm dài mất ngủ, tựa một người khát bỏng uống cho đã một thứ nước ảo tưởng, đôi lần do tưởng tượng quá đáng, tôi đã chạm vào làn da cô ấy. Không mỏi mệt, tôi vẽ gương mặt, cần cổ, đôi vai, bàn tay, và sáng chế ra đồi ngực, vành háng, cặp mông, hai cánh đùi mở. Tôi tưởng tượng ngàn thể điệu ôm ấp, kiểu này man dã hơn kiểu kia. Tôi tự mân mê. Nhưng dương vật chế nhạo sự thèm muốn. Nó không cho tôi được thoả mãn khoái lạc, nó từ chối làm nhẹ nỗi đau.”
Shan Sa là một tác giả được đón nhận nồng nhiệt tại Pháp.
Câu hỏi: Vì sao chúng ta chấp nhận Kim Bình Mai, Mishima hay Báu vật của đời của Mạc Ngôn hoặc Haruki Murakami làm tình liên tục trong tiểu thuyết Rừng Na Uy mà không chấp nhận các tác giả Việt Nam viết về tình dục? Vì họ còn trẻ? Vệ Tuệ, Shan Sa còn rất trẻ khi viết tác phẩm đầu tay.
Điều John Tang nhận xét: “càng ngày số tuổi của họ càng nhỏ, văn của họ càng bạo, những cuộc làm tình trong tác phẩm của họ càng ngoạn mục, kinh hoàng …”, là một chuyển động không tránh khỏi.
Làm nhà mô phạm, chúng ta có thể nghĩ vì tuổi trẻ Tây phương ngày nay không có lý tưởng nào khác ngoài âm nhạc, thể thao và tình dục. Họ rất khác tuổi trẻ Tây phương của thế kỷ 18, 19 mang lý tưởng chinh phục các lục địa xa xôi, rao giảng phúc âm và khai trí các dân tộc họ cho là bán khai… Tuổi trẻ toàn thế giới đã chạy theo tuổi trẻ Tây phương đến tận bây giờ. Tuổi trẻ Việt Nam, sau 30 năm chiến tranh, còn lý tưởng nào ngoài hưởng thụ và Tây hóa?
Làm một nhà mô phạm chúng ta có thể chê trách như vậy.
Không mô phạm, chúng ta nhìn cách khác: Tình dục thuộc về sinh lão bệnh tử, là đề tài muôn thuở như tình yêu, tôn giáo, chiến tranh, lịch sử… Vấn đề là viết hay hoặc không hay. Văn hay, không nhất thiết cần dâm tính và thuần dâm tính chưa chắc là văn hay. Chất hay, nằm nơi khác: trong nhãn quan thẫm mỹ toàn diện của người viết, trong cách thức trục xuất suy nghĩ của con người ra trang giấy. Tạp bút của tro tàn của Ban Mai, trung thiên truyện Miền Vĩnh Phúc của Vũ Quỳnh Hương, tự truyện Mưa qua sân thượng của Trầm Hương, truyện ngắn Bản kinh thánh cuối cùng của Đặng Thơ Thơ, Đến Đồng Gai của Nguyễn Hương, Florence của Phạm Thị Ngọc, Lòng trần của Nguyễn Thị Thụy Vũ, Tòa binh đinh bỏ không của Nhã Ca, Mùa hè một nơi khác của Phan Thị Trọng Tuyến, Mưa đất lạ của Trần Diệu Hằng chứng minh điều này: Dâm tính, là một yếu tố mà không là tất cả.
Điều này không ngăn mỗi nhà văn, trong từng chu kỳ của văn nghiệp, có quyền tìm đến và khai thác. Như Lê thị Huệ có truyện gợi cảm và có truyện không. Nguyễn thị Ngọc Nhung, Trân Sa, Đỗ Lê Anh Đào, Mai ninh cũng vậy. Văn chương, trước nhất là sự tự do cá nhân. Các thế hệ nhà văn sau Mai Thảo, Võ Phiến, Tùy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng… ít chịu sự nghiêm khắc của xã hội như trước đây, nên văn bản của họ toát ngời tự do này.
Có người cho rằng thi sĩ thì không nên kiêm thêm là nhà văn, vì thường họ làm thơ hay, không có nghĩa họ viết văn sẽ hay và ngược lại. Ông nghĩ gì về quan điểm này.
Nhà văn Trần Vũ trả lời:
Chào Hồng Hạnh. Nếu chúng ta đặt câu hỏi này cho Tagore, Aristote, Thalès và Léonard de Vinci?
Tagore, Aristote, Thalès và Léonard de Vinci vừa là nhà toán học, vật lý gia, thi sĩ, triết gia, họa sĩ và không bộ môn nào họ kém.
Thanh Tâm Tuyền viết Liên đêm Mặt trời Tìm thấy và các tiểu thuyết Bếp Lửa, Một Chủ nhật khác.
Nhã Ca vừa thắt Giải Khăn sô cho Huế,vừa làm thơ Nhã Ca Mới, cả hai tác phẩm này đều xuất sắc.
Chateaubriand là gương mặt tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn, những thi phẩm Buổi chiều trên bãi biển, Buổichiều trong thung lũng của Chateaubriand nổi tiếng ngang với Ký ức ngoài mộ…
Vậy “thi sĩ thì không nên kiêm thêm là nhà văn” hay là nên?
Từ vị trí cầm bút, dường như Võ Phiến đã trả lời câu hỏi này. Vào đầuVăn học miền Nam Tổng quan, Võ Phiến nêu lên niềm tin của mình:‘‘Sách, hễ thích thì viết; từ hồi nào tới giờ tôi vẫn yên trí thế nên thấy không việc gì phải phân trần tại sao viết cuốn này tại sao viết bài nọ.’’ Với Võ Phiến, như vậy là tùy hứng.
Với cá nhân tôi, không khác. Đi sâu hơn nữa, đằng sau cảm hứng: Viết, trước hết là khai phá tâm hồn mình. Hay nói như Trầm Hương trong Mưa qua Sân thượng: “Viết là một hành động thao thức. Viết thành truyện là mang trả cho đời sống những gì đời sống đem đến: sự khắc khoải của chính mình.”
Có nghĩa, là một nhu cầu và nhu cầu này vượt lên trên nỗi băn khoăn thể loại: Thơ hay truyện ngắn? Thơ hay văn xuôi? Và ngay trong thơ: Thơ tự do hay thất ngôn? Còn trong văn xuôi: Truyện ngắn hay tùy bút? Tự truyện hay Ký? Thể loại luôn đến sau — sau khi cảm xúc và tâm trí người viết đã hòa quyện lại thành một khối — cần “trục” ra giấy.
Có thể nhìn một cách khác: chính những tư ẩn trong đầu người viết làm nên thể loại. Vì “hắn”, thi sĩ hay văn gia, không thể tháo ráp khung sườn xe Honda gắn qua xe lam ba bánh. “Hắn” suy nghĩ xe máy, sống với xe máy trong đầu, nên khi “hắn” viết ra sẽ thành xe máy, mà không thể thành hình xe ba gác hay xe lôi, xe lam, xe hỏa, v.v.. Tất cả định hình trong đầu “hắn” từ những chữ đầu tiên mọc ra từ thao tác của tiềm thức. Hắn nhuần những chữ này lại bằng lý lẽ, cho chúng một dáng dấp lô gích và một văn phạm mạch lạc, thực chất chúng đã thành hình trong lòng hắn, hắn chỉ sắp xếp lại chút ít. “Hắn” đến với thể loại ấy, vì chính “hắn” bị quyến rũ phải ăn nằm với thể loại này mà không phải do “hắn” chọn hàng, như cách Đài Loan, Đại Hàn chọn thiếu nữ Việt Nam. Thi sĩ không chọn Thơ, chính Thơ chọn thi sĩ.
Điều này vẫn đúng cho những người viết văn xuôi.
Tôi luôn nhận ra ở những người bạn cùng sáng tác của mình, là họ mang linh hồn của một người viết truyện. Thiếu linh hồn này, họ không cấu thành nhân vật và cốt truyện được. Đây cũng là điểm khác biệt căn bản với thi sĩ. Thi sĩ không mang linh hồn của người viết truyện. Thi sĩ mang vũ trụ trong lòng và phô diễn cái tôi thân xác cùng cái tôi trí tuệ của thi sĩ, nhưng rất ít nhân vật, trong lúc truyện — đồng nghĩa nhân vật — và nhân vật không nhất thiết là tác giả.
Người viết truyện không đi tìm trung tâm của vũ trụ mà tìm những chi tiết trong một thế giới đông đúc con người mà mỗi con người là một trung tâm ràng buộc và nối kết với những trung tâm khác. Khác biệt, nên khi phóng từ bộ môn này sang bộ môn khác, là một thách thức đối với từng người viết. Có thành công và có những thất bại.
Hồng Hạnh sẽ hỏi thêm một lần nữa: Vậy “nên” hay không “nên”?
Sống với đam mê xảy đến và không từ chối đời sống, tôi muốn trả lời như vậy. Tuy tôi muốn thêm: Một người viết, nếu bị hấp lực của một thể loại khác trong một khoảnh khắc, người viết ấy vẫn sẽ thủy chung với thể loại đã chọn mình từ đầu.
Nếu Hồng Hạnh hỏi thêm là: Còn những Tagore, Thalès, Aristote, Léonard de Vinci thì sao? Họ ăn nằm với thể loại nào?
Phụ nữ Á Đông, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam nói chung, so với những phụ nữ khác tại Á Châu, Âu châu, hay trên thế giới thì không những đẹp hơn về vóc dáng mảnh mai, khuôn mặt thanh tú, mà còn hơn hẳn về phương diện đức hạnh tức là cái đẹp ẩn tàng bên trong và cũng vựơt xa hơn về tình thương yêu vô bến bờ dành cho chồng con mình.
Cái đẹp này đã không mất đi mà còn thể hiện đậm nét hơn và tô đẹp hơn hình ảnh của người phụ nữ trong vai trò người vợ dù bao nhiêu cuộc chiến điêu tàn và thảm khốc đã diễn ra trên quê hương chúng ta.
Sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản dưới chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì xã hội đã bị đảo lộn, trật tự không còn, căn bản đạo đức bị những người Cộng Sản làm băng hoại và phẩm giá con người, nhất là người phụ nữ, đang bị hủy diệt.
Trong khi chồng con bị giam giữ trong các trại tù mọc lên khắp nước thì một lần nữa, người phụ nữ, người vợ trong gia đình đã phải gánh vác trách nhiệm nặng nề là nuôi con cái và nuôi cả người chồng còn trong vòng tù tội và đọa đầy.
Các chị đã phải hứng chịu bao phũ phàng và kỳ thị mà kẻ chiến thắng đã phủ lên gia đình họ như là một hình thức trừng phạt.
Con cái thì không được tiếp tục con đường học vấn lên đại học dù là các cháu học rất giỏi và khi đi tìm việc làm thì bị đẩy ra vì lý lịch của người cha, nhưng các chị vẫn vững bước trên con đường mình đi để kiếm cách mưu sinh nuôi con cái trong lúc người chồng đã ra đi mà không biết ngày nào có thể trở lại.
Đa số các chị trước năm 1975 đều là nội trợ, chân yếu tay mềm sống vào đồng lương ba cọc ba đồng của chồng, nay phải đương đầu với bao khó khăn trong cuộc sống đảo điên của chế độ XHCN và còn phải chắt chiu dành dụm từng đồng một để thăm nuôi và tiếp tế cho chồng mình trong tù. Qủa là một cơn ác mộng dài.
Người chồng trong tù đã phải chịu đựng những sự trả thù tàn bạo của kẻ chiến thắng trên thân hình còm cõi của họ, nhưng người vợ ở nhà cũng không được yên thân với bao nhiêu là hạch sách nhiễu nhương bởi phường khóm, bị đuổi nhà và đầy đi vùng kinh tế mới, bị đánh tư sản, bị công an địa phương rình rập ngày đêm để tìm cách gây khó khăn và hãm hại.
Thế rồi khi được thư của người chồng báo tin là trại giam bắt đầu cho thăm nuôi thì người vợ vừa mừng vừa lo.
Mừng vì sau bốn năm trường bặt tin, bây giờ sẽ có cơ hội được gập mặt người chồng yêu thương nhưng lại lo lắng vì tìm đâu ra một số tiền lớn để mua vé xe lửa và chi phí trong chuyến đi ba ngày trời theo con tầu Thống Nhất ra tận ngoài Bắc mà thăm nuôi ? Chưa kể những trở ngại mà phường khóm và công an địa phương cố tình gây ra về giấy tờ thủ tục rườm rà để cản trở việc thăm nom đó với mục đích làm tiền một cách trắng trợn.
Chị Lãm là một trong những người vợ đang trong tâm trạng ấy.
Bốn năm qua, chị sống trong tình trạng khắc khoải lo âu vì không biết họ giam giữ chồng mình ở đâu và anh ấy còn sống hay đã chết?
Bây giờ được thư của anh Lãm thì chị bàng hoàng cả người vì không ngờ họ đã đầy ải anh ra tận ngoài Bắc trong khi ra đi thì anh có đem theo một cái áo ấm nào đâu?
Rồi không biết làm sao anh chịu nổi cái lạnh khủng khiếp của mùa Đông băng giá ngoài đó trong tình trạng thiếu ăn thiếu mặc?
Cầm lá thư của chồng trong tay mà hai hàng nước mắt thương chồng của chị lăn dài trên hai gò má xanh xao và nhỏ xuống thấm ướt cả lá thư.
Hai đứa con mới hơn mười tuổi nhìn chị hỏi có thư của Ba hả Mẹ làm chị lại càng đau xót, chị ôm hai đứa con và cả ba mẹ con đều ôm nhau khóc cho vơi đi bao nỗi tủi nhục từ ngày mất nước và cho vơi đi bao niềm thương nhớ chất chứa bấy lâu trong lòng.
Chị đâu có thể nào kể cho hai con nghe vì chúng còn nhỏ quá cũng không hiểu được rằng ngày ba nó ra đi để bước chân vào con đường tù đầy trong trại tập trung “cải tạo”, thì ba nó đã mang theo cả bao nhiêu thương nhớ và cả nửa phần hồn của mẹ rồi. Thời gian sau, mẹ trở nên xanh xao qua bao nhiêu cuộc biển dâu của cái xã hội mới này, nhưng một phần cũng vì trằn trọc hằng đêm thương cho người chồng hiền hậu không biết có sống nổi hay không trong cái hoả ngục trần gian ấy.
Thế rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi và công việc mỗi ngày của chị là phải đi giao hàng những đồ nan tre rổ rá thúng mủng cồng kềnh được máng vào và cột trên chiếc xe đạp đã mòn cả đôi lốp để kiếm từng đồng nuôi hai đứa con tại Sàigòn.
Nhiều khi các hàng tiểu thủ công nghệ bằng nan tre này hầu như muốn che khuất luôn cả con đường trước mặt và che mất luôn cả con người của chị, nhưng chị vẫn kiên nhẫn leo lên chiếc xe đạp cũ kỹ và nắm vững tay lái để giao từng chuyến hàng, từng chuyến hàng một để qua ngày đoạn tháng và nhất định không đầu hàng số phận nghiệt ngã đã phủ xuống gia đình của chị cũng như của hàng trăm ngàn gia đình viên chức sỹ quan chế độ cũ sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản tháng Tư năm 1975.
Anh Hoàng Lãm là một đại úy trong QLVNCH và được biệt phái sang Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo thuộc Phủ Tổng Thống, cho nên anh cũng như các anh em tù nhân chính trị khác trong ngành tình báo, an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt, đều bị cho vào danh sách các thành phần nguy hiểm cho chế độ và bị tập trung hết đưa ra Bắc để qua con đường lao động mà “cải tạo bản thân để trở thành người công dân tốt”.
Bốn năm tập trung lao động trong một thứ xã hội phát triển ngược chiều, đưa con người ta trở lại thời kỳ sơ khai đồ đá như chế độ Cộng Sản tại miền Bắc đã làm anh kiệt sức nhưng tinh thần anh thì vẫn vững vàng.
Khi đặt bút viết lá thư đầu tiên sau bốn năm xa cách về cho người vợ yêu dấu, anh cũng trong tâm trạng vừa mừng vừa lo và không khỏi đắn đo vì anh biết bên ngoài người dân trong đó có vợ anh cũng đang chật vật gian khổ từng ngày để kiếm sống và đề sinh tồn trong một cái xã hội mà nó cũng chỉ là một nhà tù rộng lớn hơn mà thôi.
Chị Lãm cũng chỉ là một trong hàng trăm ngàn người vợ của tù “cải tạo”, những người vợ chịu đựng bền bỉ bao đắng cay vùi dập sau khi Cộng Sản xâm chiếm miền Nam, nhưng sao tôi thấy ở chị một cái gì rất là đặc biệt.
Dù sống trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và vật lộn với đời sống hàng ngày nhưng lúc nào chị cũng tỏ ra lạc quan, ít nhất cũng là trong thời gian lúc thăm gập người chồng và gập những bạn của chồng khi họ đang lao động hay trong khu thăm nuôi, và không bao giờ chị hé môi cho chồng mình biết về những gì bên ngoài để người chồng bớt phần lo lắng cho vợ con.
Những khi mà chị không thể ra thăm anh Lãm được thì chị gửi các bưu kiện để anh có thêm thức ăn và thuốc men hầu giữ gìn sức khỏe chờ ngày đoàn tụ.
Sau đó các chị liên lạc được với nhau và thành lập như một cái hội của các người vợ có chồng đi “cải tạo” để giúp đỡ nhau, thông báo cho nhau hay cùng nhau đi thăm chồng hoặc đem dùm các thùng hàng thăm nuôi nếu có chị nào không đi được chuyến đó ngõ hầu các người chồng trong tù không bị thiếu thốn về thực phẩm và thuốc men.
Nhờ có chị và các chị khác thay phiên nhau đi thăm nuôi chồng và tải đồ tiếp tế cho các bạn của chồng mà chúng tôi có được thêm thức ăn khô và thuốc men thường xuyên hơn.
Ngoài ra việc đến thăm chồng trong trại giam, các chị còn đem những tin vui về việc phái đoàn Hoa Kỳ thương thuyết với Hà Nội để sớm trả tự do cho những tù nhân chính trị và nhờ đó mà tinh thần các người tù được lên cao và sức khỏe cũng khả quan hơn.
Mỗi lần nghe tin chị đến thăm là hầu như cả khu giam bên tù chính trị đều vui mừng vì chị thường đem theo vài chục thùng hay giỏ quà tiếp tế cho hàng hai ba chục người bạn của chồng mình nữa.
Chúng tôi vui vì vừa đỡ được một buổi lao động cuốc đất ngoài nắng, vừa được ra khu thăm nuôi gập chị, mà lại được biết thêm tin tức về gia đình của mình và những gì chúng tôi cần nhắn nhủ lại gia đình thì chị đều chuyển về đầy đủ.
Chỉ nghĩ đến cảnh chị đã vất vả khuân bao nhiêu là thùng đồ bao nhiêu là giỏ quà từ Sàigòn lên tầu hỏa và phải canh giữ chúng ba ngày đêm trên tầu sợ mất cắp, rồi lại kiểm soát từng thùng từng giỏ một để khuân chúng xuống tầu và thuê xe chở vào đến trại mất bao nhiêu công sức chúng tôi không khỏi xúc động và cám ơn chị nhưng lúc nào chị Lãm cũng xua tay và nở một nụ cười thật tươi.
Từ khi chị Lãm bắt được lá thư của chồng gửi về thì chị cứ như con thoi đi lên xuống từ Nam ra Bắc thăm nuôi anh ròng rã suốt 12 năm trời không biết mệt mỏi theo các chuyến xe lửa từ Nam ra Bắc và cho đến khi anh được chuyển vào Nam năm 1988 thì chị lại cho hai con đến thăm anh tại trại Hàm Tân Z-30 thường xuyên hơn nữa.
Nhiều lúc tôi cũng rất phục chị Lãm và những người vợ có chồng đi tù như chị vì ở nhà chị đã phải đóng vai người Mẹ và cả vai người cha bươn chải ra ngoài kiếm tiền nuôi con và nuôi chồng nữa trong một xã hội bị cai trị bởi những con người Cộng Sản vô nhân tính đang tìm cách trù dập những gia đình có thân nhân theo chế độ cũ.
Tôi tin rằng Trời Phật đã nhủ lòng thương xót mà độ trì và che chở cho các chị để được mạnh khỏe và bôn ba được trong cái xã hội mới đầy hận thù ấy mà nuôi chồng nuôi con mình.
Tại trại Ba Sao, Nam Hà ở ngoài Bắc cũng như trại Hàm Tân trong Nam, không những tên của chị Lãm trở thành quen thuộc với chúng tôi mà tên của các chị Trần Q. Lựu, chị Trương V. Thụy, chị Trần T. San, chị Lê V. Hoan, chị Nguyễn H. Trân, chị Huỳnh T. Nhơn, v.v., cũng không còn xa lạ với chúng tôi trong trại vì các chị không những thay phiên nhau đi thăm nuôi chồng mình mà còn tải hàng cho các gia đình bạn chồng nữa.
Các chị cũng liên lạc thường xuyên với Mẹ và các em tôi trong những lần thăm nuôi để cùng hỗ trợ nhau và nối kết với nhau trong một tấm chân tình thật là hiếm có trong khi mà các giá trị đạo đức và nền tảng gia đình của người Việt Nam từ nghìn xưa đang bị những “con người mới” và các đảng viên của xã hội chủ nghĩa này chà đạp và chối bỏ.
Khu thăm nuôi nhờ có các chị và gia đình đến thăm nom thường xuyên nên khởi sắc, như sống lại và đã làm tan biến đi phần nào sự u ám nặng nề của trại giam.
Sau một thời gian tiếp xúc, các cán bộ phụ trách khu vực này cũng dần dần tỏ ra nhiều thiện cảm với những gia đình tù nhân chính trị và tỏ vẻ cảm động trước tình nghĩa vợ chồng bền chặt và gắn bó của những gia đình tù nhân chính trị từ trong Nam chuyển ra Bắc.
Họ cũng rất thành thật nói rằng so với phụ nữ trong Nam thì đàn bà ngoài Bắc ngày nay không thể sánh bằng được, chưa nói đến chồng vào tù một thời gian thì đã bỏ đi lấy chồng khác chứ chẳng chờ đợi năm tháng dài đằng đẵng như các chị trong Nam đâu.
Trong suốt 12 năm chị Lãm đi thăm anh từ ngoài Bắc vào đến trại giam trong miền Nam, thông thường thì cứ khoảng ba tháng là chị lại vào trại thăm anh một lần hay gửi quà qua bưu điện, qua xe đò hay qua các chị bạn và bao giờ cũng kèm một lá thư thăm hỏi anh.
Bẵng đi một thời gian cả sáu tháng, chúng tôi không thấy chị đến thăm anh tại Hàm Tân và cứ ngỡ là chị đã vượt biên? Anh cũng thao thức không yên cho đến một hôm chị lại xuất hiện nhưng gầy ốm hơn tuy miệng lúc nào cũng tươi cười khi gập anh em chúng tôi.
Tối hôm đó, ngồi uống trà và hàn huyên với anh Lãm thì tôi mới hay hung tin là chị Lãm đã bị chứng bệnh nan y là ung thư bao tử và đang chờ mổ và điều trị. Một điều may mắn là bác sỹ phẫu thuật lại là một bác sỹ quân y ngày trước của VNCH cho nên khi biết tình cảnh của chị thì ông hứa sẽ hết sức giúp đỡ.
Tôi thấy hai mắt anh đỏ hoe và anh thẫn thờ như người mất hồn và chỉ biết an ủi anh là có bác sỹ giỏi thì không sao đâu mà thôi, rồi nín lặng vì ai cũng đang theo đuổi ý nghĩ riêng của mình.
Tôi chợt nhớ đến bài hát “Mầu Tím Hoa Sim”: “Sao không chết người trai khói lửa mà chết người em nhỏ hậu phương?” mà thấy ông Trời sao bất công quá.
Chị đã vượt qua không biết bao nhiêu là khó khăn gian nan để đeo đuổi không mỏi mệt việc thăm nuôi anh trong 12 năm ròng rã từ năm một chin bẩy chín đến một chín chín mốt để anh có sức khỏe và sống còn trong tù với một ước vọng chính đáng duy nhất là vợ chồng sẽ sớm có ngày đoàn tụ. Nhưng khi mà trái cây sắp chín và ngày đoàn tụ gần kề thì chị lại ngã bệnh. Quả thật chúng tôi không bao giờ ngờ được đó là sự thực.
Khi gia đình báo tin qua khu thăm nuôi là chị vừa mổ xong và đang nằm trong bệnh viện Sàigòn thì một sự kiện lạ lùng xẩy ra lần đầu tiên và duy nhất trong tù. Đó là tay cán bộ phụ trách khu thăm nuôi đã đề nghị với trại, lúc đó Thiếu Tá Nhu là một trưởng trại có đầu óc rất cấp tiến, để cho anh Lãm được đặc biệt về Sàigòn một ngày để thăm chị và đề nghị đã được chấp thuận.
Anh về thăm chị trong ngày rồi lại trở vào trại nhưng rất may mắn là chỉ vài tháng sau thì anh có tên trong đợt thả sau mười sáu năm bị giam giữ trong các trại tập trung. Anh là một trong số hơn một trăm người tù cuối cùng tại trại hàm Tân Z-30D.
Khi tôi được thả về một năm sau đó, tôi lại thăm gia đình anh chị và vẫn thấy tinh thần lạc quan ở con người đang mắc phải căn bệnh hiểm nghèo nhất của thế kỷ. Chị vẫn tươi cười dù là gầy ốm nhiều hơn trước.
Khi về thì anh làm thủ tục cho gia đình đi theo chương trình H.O và qua định cư tại Los Angeles, California một năm sau khi ra tù.
Sau khi cắt bao tử tại Sàigòn, chị Lãm lúc qua Cali đã được các bác sỹ Mỹ tận tâm chữa trị bằng Chemotherapy. Tôi đến thăm anh chị trong căn phòng apartment trên Los Angeles và không ngăn đựoc niềm xúc động vì sau vài năm chữa trị chị chỉ còn như bộ xương với làn da trắng trước kia bây giờ là xám đen vì hóa chất.
Vài năm sau khi qua được miền đất Tự Do thì chị trút hơi thở cuối cùng.
Rất đông bạn bè, nhất là những người đã cùng ở tù với anh Lãm đều đến phúng điếu và đưa chị ra nghĩa trang hoa hồng để an giấc nghìn thu.
Nhìn chiếc quan tài của chị đang hạ dần xuống để lấp đất, tôi chào vĩnh biệt chị lần cuối và nói khẽ với chị rằng chị là một trong những người phụ nữ Việt Nam, một người vợ của bạn mình mà tôi vô cùng mến phục.
Chị không những đã làm tròn bổn phận của một người vợ tù “cải tạo”, không những đã làm cho kẻ thù phải cảm động vì tình nghĩa vợ chồng trong xã hội của miền Nam ngày xưa, mà chị cũng đã làm bao nhiêu công đức giúp đỡ cho các bạn của chồng mình nữa trong suốt hơn một thập niên.
Nhờ có chị mà anh đã phục hồi được sức khỏe, lên tinh thần và đã sống sót sau mười sáu năm tù đầy. Gia đình chị đã được đoàn tụ trên vùng đất Tự Do, hai cháu bây giờ đã khôn lớn và đều có gia đình rồi cho nên chị hãy yên tâm an nghỉ.
Con người ta có sinh thì có tử nhưng con người ta không dễ gì mấy ai làm nổi những nghĩa cử như chị, không mấy ai có được một tấm lòng Bồ Tát như chị.
Năm đó đột nhiên Trời nắng hạn, cây cỏ đều ủ rũ vì thiếu nước, trâu bò thì phì phò mệt nhọc trong đám ruộng thưa và cái nóng như gia tăng theo với cái khô khan trong không khí làm con người như muốn nghẹt thở, nhất là trong các buồng giam chật hẹp và chật ních người.
Tất cả đều tìm một bóng mát của một tàng cây rợp lá hay chút mát lạnh của ao nước bờ sông hay nhớ lại những ngày mưa bão. Nhiều người thì nghĩ sắp có thiên tai hay dịch bệnh vì chưa bao giờ mà nóng đến như vậy.
Thế rồi sau cơn hạn hán nắng cháy đó bỗng nhiên Trời đổ cơn mưa.
Nghe nói mưa rất lớn từ trên thượng nguồn và đổ về miền Trung Du và làm mực nước sông Hồng dâng cao tới mức báo động đỏ.
Trại giam nằm cạnh một con sông nhánh của sông Hồng và sau một tuần nước trên nguồn đổ về thì con đê bị vỡ ra một mảng và nước tràn vào làng xóm hai ven bờ sông và ngập luôn các buồng giam. Muốn đi đâu thì cũng phải lội bì bõm trong nước đục ngầu đầy rác rưởi tới đầu gối.
Thời Pháp thuộc hệ thống đê điều còn được sửa chữa và bảo quản thường xuyên nhưng từ khi Việt Minh cướp chính quyền thì các con đê bị xuống cấp rất nhanh và mỗi mùa mưa bão là dân chúng lại lo sợ con đê sẽ vỡ.
Người dân làng thì vốn đã nghèo xác xơ lo chưa xong hai bữa ăn hàng ngày, nhiều gia đình không đủ tiền đóng tiền học phí cho con đi học mà con đê không giữ được làn nước lũ tràn vào làng thì không những sinh mạng con người bị đe dọa mà trâu bò gia súc và ruộng nương sẽ không còn.
Trở lại với con đê đang bị nước lũ tràn qua và có nguy cơ cả vùng chung quanh sẽ bị ngập lụt trong mưa lũ thì bất ngờ một buổi sáng vừa thức dậy, tôi nghe tiếng kẻng trong trại đánh đồn dập và bên ngoài thì phèng la inh ỏi chưa biết chuyện gì thì ba tay cán bộ trại bước vào và ra lệnh cho chúng tôi đi hộ đê.
Từ bé đến giờ, tôi chỉ ở thành phố nên chẳng hay hộ đê là làm sao, bây giờ mới hiểu cách họ hộ đê là làm như thế nào ở một nước giật giải quán quân về nghèo và lạc hậu nhất thế giới.
Chúng tôi được dẫn ra tới bờ sông thì thấy mực nước đã mấp mé tràn qua con đê và khoảng cứ sáu người xuống một chiếc thuyền chèo ra ngoài xa bờ chỗ nông một chút rồi nhẩy xuống dùng mai và xẻng xúc từng cục đất lớn một đổ lên thuyền. Nước thì ngập lên đến ngực mà mỗi lần xúc được một tảng đất lớn thì mừng lắm nhưng khi kéo nó lên trên mặt nước thì đất tan rã dần chỉ còn vài nắm tay nên họ yêu cầu phải ngụp lặn xuống mà xúc đất lên cho nhiều. Chúng tôi thay phiên nhau lặn xuống xúc đất lên mãi mới được gần lưng chiếc thuyền rồi chèo vào bờ đổ lên đắp vào con đê. Tôi sực nhớ tới ngày xưa thời Bắc thuộc, ông cha chúng ta cũng phải xuống biển mò ngọc trai san hô cho quân Tầu đang đô hộ thì mới thấy thương tổ tiên ông cha mình ngày trước. .
Nhìn thành quả của hai tiếng đồng hồ mà chỉ như muối bỏ biển, ai cũng ngao ngán, một phần vì ngâm nước quá lâu nên ai cũng bắt đầu thấm lạnh và run lập cập. Suốt một ngày quần thảo với mấy cục đất ngụp lên lặn xuống mà chỉ được có bốn chuyến đổ đất lên đắp con đê cũng chẳng làm cho nó chắc hơn được chút nào nhưng mà công tù có mất gì đâu.
Khi về đến buồng thì ai nấy đều mệt rã người ra và lạnh cóng.
May mắn năm đó nước lũ chỉ tràn vào có một lần, nếu nước sông Hồng dâng cao lên nữa làm vỡ đê thì không biết chuyện gì sẽ xẩy ra.
Trước đó, trong những ngày đi lao động bên ngoài trại dọc theo con đê, chúng tôi thường thấy mấy em bé trai gái đi chân đất, áo quần xốc xếch cắp sách đi ngang qua trên đường đến trường.
Một hôm khi mấy anh đại tá tù chính trị đang cuốc đất thì thấy một em bé gái khoảng độ bẩy tám tuổi đi qua khu vực lao động của đội vừa đi vừa khóc. Mấy anh mới hỏi thăm thì được biết là em vừa bị đuổi học vì thiếu tiền đóng học phí cho trường.
Thấy vậy, mấy anh bèn bảo cháu là ngày mai cũng giờ này ra đây sẽ có tiền đóng học phí.
Tối hôm đó về buồng, mấy anh đại tá quyên góp được một số tiền và quần áo và sáng ngày hôm sau đem ra cho cả cô bé và Bố mẹ cô ta nữa giỏ quần áo, một số tiền và nhờ đó mà cô bé ấy đã được quay trở lại trường.
Ít hôm sau cô bé học sinh đó đem ra nào là đủ thứ trái cây trồng trong nhà và cả chục trứng gà nói là Bố Mẹ cháu biếu mấy bác mấy chú nhưng không thể ra gặp để cám ơn được, và gia đình cô bé ấy đã lan truyền ra cả ngôi làng về tấm lòng nhân ái cuả mấy người tù chính trị.
Mấy anh từ chối và nói rằng thấycháu được đi học lại như những đứa trẻ khác là vui rồi và bảo Bố Mẹ các em đừng bận tâm.
Từ đó đội các anh còn nhận cô bé đó làm con nuôi nữa và thấy cô bé đã ăn mặc tươm tất hơn và luôn nở một nụ cười thật tươi mỗi khi đi học qua khu vực lao động của các Bố nuôi. Các anh vẫn tiếp tục trợ giúp gia đình bé gái ấy và vài gia đình nữa cho đến khi vài năm sau chuyển trại.
Trên một tờ báo Nhân Dân xuất bản tại Hà Nội, tôi có đọc một bài viết của Nguyễn Khắc Viện, giáo sư đại học bấy giờ về “Giấc Mơ Năm 2000” và rất là ngạc nhiên bởi vì sau 45 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người sống tại Hà Nội vẫn còn những ước mơ rất là giản dị mà không bao giờ thực hiện được.
Ông Nguyễn Khắc Viện viết lên một giấc mơ về một Hà Nội đến năm 2000 thì sẽ khang trang sạch sẽ và sẽ không còn bị ngập lụt mỗi khi một cơn mưa lớn đổ xuống thành phố. Tôi lúc đó cứ thắc mắc mãi là sau khi cướp được chính quyền năm 1949 rồi thì Việt Minh họ đã làm được những gì cho nhân dân khi mà 45 năm sau người dân tại ngay thủ đô vẫn còn mơ ước một Hà Nội không bị ngập lụt sau mỗi cơn mưa? Người dân bên ngoài còn nhiều khắc khoải như vậy thì tù nhân trong trại tập trung sẽ sống còn được hay không?
Chế độ “tập trung cải tạo” (TTCT) là bắt chước y khuôn các trại tập trung lao tù của Nga Sô và một phần được “tô điểm” thêm từ Trung Cộng cho nên khi nó du nhập vào miền Bắc sau năm 1954 thì đã gieo kinh hoàng cho dân chúng ngoài Bắc để cho người dân phải sợ hãi đến tê liệt hết ý chí không còn dám chống đối Nhà Nước Cộng Sản nữa.
Sau khi xâm chiếm miền Nam tháng Tư 1975 thì kẻ chiến thắng đã dùng ngay con bài này để vừa trả thù vừa trừ khử những sĩ quan và viên chức chế độ VNCH cũ trong các trại TTCT này, và là đòn răn đe cho những ai còn mang lý tưởng chống đối lại chế độ vô sản chuyên chính của họ.
Đòn đầu tiên quật ngã ý chí của người tù là giam giữ không có bản án nghĩa là sau ba năm bị giam trong tù thì tự động chồng lên ba năm nữa không cần xét xử hay công bố, để khủng bố tinh thần những người tù mà họ gọi một cách mỵ dân và lường gạt dư luận là “cải tạo viên”.
Đòn thứ hai là cưỡng bức lao động khổ sai nhưng chỉ cho ăn thật thiếu thốn cả về chất lượng và số lượng để những người tù này phải đói khát, giá lạnh, khổ cực triền miên hàng ngày, hàng tháng, hằng năm mà … không chết được.
Họ phải chịu cái giá lạnh vì một năm Nhà Nước chỉ cung cấp mỗi người hai bộ quần áo tù và một cái chăn mền dù là họ đang bị giam tại những vùng nhiệt độ ban đêm có thể xuống tới zero độ C.
Nhưng nếu họ không lao động cật lực để qua lao động cải tạo bản thân họ thì nhà kỷ luật, thùng Connex, nhà biệt giam sẵn sàng mở cửa tiếp đón.
Lao động thế nào là tốt hay xấu là tùy theo sự phán xét của tay quản giáo và của trại giam và người tù không được có ý kiến.
Trên thế giới từ cổ chí kim có lẽ chưa có một quốc gia nào, một đất nước nào bắt người tù phải đóng tiền cơm để vào tù như chế độ Cộng Sản sau khi chiếm đóng miền Nam năm 1975.
Rồi sau đó loan báo là Nhà Nước sẽ nuôi các “cải tạo viên” nhưng khi giam giữ họ một thời gian thì ra lệnh cho tất cả trại giam đều phải tự túc lương thực có nghĩa là những người tù phải lao động cật lực để tạo ra của cải vật chất làm giầu cho trại và tự nuôi lấy mình hay nói một cách khác Nhà Nước giam giữ tù mà không hề tốn một xu nào cho ngân quỹ.
Thực tế, nhiều trại không những tự túc được về lương thực mà còn làm ra nhiều tiền nữa để trại đem nộp lên cấp trên của họ tuy nhiên khẩu phần ăn của tù nhân thì vẫn như cũ.
Mức quy định cho mỗi tù nhân còn sức khỏe đi lao động một tháng là 15 ký chất bột còn người nằm bệnh xá hay bệnh tại buồng chỉ còn 13 ký rưỡi.
Chất bột có nghĩa là nếu không có gạo thì thay bằng bo bo, sắn, khoai lang, khoai tây, bột mì quy ra bột. Nhiều trại cả năm chỉ vào những ngày Tết hay lễ lớn thì mới thấy nhà bếp phát cơm và ít thịt heo hay chỉ chút canh có mỡ màng, còn thì quanh năm suốt tháng chỉ có khoai sắn và bo bo.
Nhiều khi khoai sùng và sắn mốc xanh trong kho cũng được nhà bếp nấu cho ăn, chính vì chế độ ăn uống thiếu thốn và suy dinh dưỡng và thiếu vệ sinh như vậy đã làm cho người tù dần dần kiệt sức hay ngã bệnh.
Có anh đã cho tôi xem thư gia đình trong đó viết vợ và bẩy đứa con của anh hiện nay không biết sẽ xoay sở ra sao vì nhà đã hết gạo. Tôi nhìn đôi mắt đỏ hoe của anh mà trong lòng như bị xát muối. Người tù vốn đã cùng cực rồi còn phải chịu thêm nỗi đau cho vợ con ở nhà, không biết Ông Trời ở nơi đâu?
Hình như sau khi quê hương mất vào tay Cộng Sản thì toàn thể dân chúng miền Nam đều hứng chịu nỗi khổ đau phong ba bão táp, nhưng có lẽ những gì thiệt thòi nhất vẫn dành cho những người tù như trong lá thư của Phượng, người con gái Sàigòn sau này đã dành cho tôi bao tình cảm khi đến thăm tôi tại trại Hàm Tân.
Trong tình hình khó khăn như vậy nhưng có nhiều anh đã rất can trường và oai hùng đã thẳng thắn từ chối sự bảo lãnh của thân nhân ở phía bên kia và chấp nhận sự lưu đầy và lao động, nhưng cũng có nhiều người đã vượt quá sức chịu đựng của họ và trở nên lãng trí hay mất trí luôn.
Đại tá Luân, chỉ huy trưởng của đơn vị 101 có kể cho tôi nghe rằng Ba của anh đến trại thăm và ngỏ ý sẽ bảo lãnh cho anh sớm được thả.
Anh đã qùi xuống xá ông ba cái để trả ơn công sinh thành ngay tại nhà thăm nuôi nhưng nói rằng mỗi người có một lý tưởng khác nhau. Lý tưởng Tự Do của người Quốc Gia trong anh không bao giờ thay đổi, anh chào từ biệt Ba anh và thanh thản bước vào trại.
Anh Bửu Uy, một bạn thân của tôi cũng có người cha đi tập kết ra Bắc và vào thăm anh để tiến hành thủ tục bảo lãnh nhưng anh cũng thẳng thắn từ chối. Anh cũng là một trong hai mươi người cuối cùng bước chân ra khỏi trại giam Hàm Tân năm 1992 sau mười bẩy năm tù.
Quả thật là như trong Kinh Dịch nói “Cùng thì tất Biến”, trong những lúc đói khổ thiếu thốn như vậy thì xui khiến cho chính bà vợ của tay trưởng trại lại là người cung cấp thức ăn tươi cho tù nhân chúng tôi mới là điều nghịch lý.
Trại nơi tôi ở có bà vợ ông trưởng trại rất là độc đáo. Phải nói là bà ta có nhiều cái độc đáo thì mới đúng.
Trong khi chồng bà là Thiếu Tá Dũng luôn tỏ ra nguyên tắc thì bà ngược lại chỉ nghĩ rất thực tế là buôn bán, móc ngoặc làm giầu qua việc bán hàng cho tù nhân, đặc biệt là tù chính trị.
Bà ta là người có đầu óc phóng khoáng, phi chính trị, cho nên thường vẫn nói một cách tỉnh bơ với anh em chúng tôi là: “Các anh là tù quốc tế mà, việc gì mà phải sợ chúng nó, cứ mua bán ăn uống vào cho khoẻ”. Chúng nó đây là đám cán bộ trực trại thỉnh thoảng lại tịch thu các món hàng anh em chúng tôi mua của bà ta khi gánh hàng qua cổng trại.
Phải công nhận rằng thời gian đó nhờ vào các thức ăn tươi rau trái mua được từ nguồn cung cấp là bà ta, cho nên sức khoẻ anh em tôi cũng đỡ phần nào.
Tuy giầu có như vậy, nhờ buôn bán với tù nhân trong trại, nhưng đi đâu cũng là chân đất. Hôm nào chúng tôi đang lao động mà thấy bà ta xỏ vào đôi guốc là có đại sự hoặc là lên tỉnh hay lên Hà Nội đi cất hàng.
Có hôm chúng tôi không nhịn được cười khi bà ta khoe rằng:” Các anh không biết chứ ngày xưa tôi là hoa khôi trong làng nên ông ấy mới mê mà lấy đó!” trong khi bà ta thì gầy đét như que củi và bộ răng như một hàng hiên mái nhà che mưa mà lúc nào cũng cứ tự khen mình là hoa khôi ngày xưa.
Ngoài ra, rất nhiều anh có hoa tay nên đã biến những cái sừng trâu thành bao nhiêu là cái lược sừng khắc tên cho vợ con ở nhà, bao nhiêu là tượng Phật, tượng Chúa rất đẹp và quan trọng nhất là cái lò nấu bằng dầu hôi chế tạo từ những lon sữa bò hay hộp cá mòi. Chính nhờ cái lò dầu hôi này mà mùa Đông chúng tôi có thể nấu ít nước trà nóng hay ít canh rau để giữ ấm được thân nhiệt. Các anh có đầu óc sáng chế và tài hoa này phải kể anh Quát, anh Quang Sừng, v.v.
Nội quy do trại đặt ra thì nghiêm cấm đủ mọi thứ vì vi phạm là kỷ luật, và mục đích của nó là đóng khung người tù trong điều kiện sống khắc khổ nhất để họ chết dần chết mòn.
Bởi vậy, tuân theo nội quy cứng ngắc đó không khác gì cho cổ vào dây thòng lọng bởi vì nó chỉ áp dụng cho tù nhân mà thôi còn cán bộ họ muốn làm gì thì làm cũng giống y như luật pháp bên ngoài xã hội vậy.
Trại giam cũng như một xã hội thu nhỏ lại, tù nhân là dân chúng bên ngoài đã bị tịch thu hết tài sản còn bị tròng vào cổ bao nhiêu tầng áp bức trong khi cấp lãnh đạo Nhà Nước thì làm giầu trên xương máu nhân dân nhưng lúc nào thì cũng hô hào nhân dân làm chủ, cũng phô trương lừa bịp với thế giới rằng chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn chế độ tư bản ngàn lần.
Vào mùa Xuân năm ngoái, không bao lâu sau khi bắt đầu đại dịch ở New York, Herman James đã thu dọn bộ dụng cụ hớt tóc của mình và đến hành nghề tại Central Park, New York, Hoa Kỳ. Herman James tự chuyển đổi chỗ làm và trở thành người thợ hớt tóc đầu tiên tại công viên nổi tiếng nhất ở New York.
Herman James đang hớt tóc cho một khách nam
Một năm sau, công việc làm ăn tiến triển tốt đẹp đối với chàng trai 33 tuổi này, tạo ra điểm hấp dẫn mới cho công viên có biệt danh là lá phổi xanh nổi tiếng mà giới nhạc sĩ, vận động viên trượt patin và các loài chim quý hiếm đều biết và thường xuyên đến.
Ngồi trên chiếc ghế xếp dưới gốc cây gần Strawberry Fields, nơi tưởng niệm John Lennon tại Central Park, Herman James nói: “Tôi thích trở thành người đi tiên phong trong công việc làm ăn độc quyền”.
Mỗi ngày, nếu thời tiết cho phép, Herman James ngồi tàu điện ngầm 45 phút từ nhà ở Brooklyn đến lối vào công viên Central, phía Upper West Side. Và anh lấy bộ đồ nghề ra từ chiếc vali có bánh xe: kéo, tông đơ cắt tóc, gương… rồi móc chúng vào hàng móc được anh bắt vào giàn cây hình vòm. Sau đó anh xếp vài ảnh mẫu tóc, đặt áo choàng lên ghế và treo tấm áp phích có nội dung “Central Park Barber”.
Herman James đang hớt tóc cho một khách nữ
Hầu hết mọi người, đặc biệt là cánh đàn ông, nhưng cũng có phụ nữ, miễn là họ không yêu cầu “bất cứ thứ gì quá cầu kỳ”, gởi cho Herman James tiền tip từ 20 đô la đến 30 đô la, tương đương với giá trung bình cho một lần hớt tóc ở thành phố New York. Số tiền biếu tặng dao động từ 1 đến 200 đô la.
Herman James bắt đầu cung cấp dịch vụ cắt tóc trong công viên vào tháng 5 năm 2020, khi các tiệm hớt tóc buộc phải đóng cửa do đại dịch.
“Tôi nảy ra sáng kiến ra công viên Central hớt tóc”, Herman James nói với AFP. Anh hy vọng sẽ giúp nâng cao tinh thần của người dân New York, và những người đến hớt tóc sẽ trả công cho anh ấy để thể hiện lòng biết ơn.
Bộ dụng cụ hớt tóc móc vào giàn cây hình vòm
Anh kể lại: “Thoạt đầu, tôi đặt một cái ghế xếp, bày ra bộ đồ nghề hớt tóc… để xem mọi người phản ứng như thế nào. Khoảng mười phút sau, một anh chàng đến ngồi vào ghế”.
“Khi mọi người nhìn thấy tôi đang làm tóc, họ bắt đầu chú ý và đến đứng chung quanh xem tôi hành nghề. Ðã 90 ngày trôi qua, kể từ khi đại dịch bắt đầu hoành hành và hớt tóc hiển nhiên đã trở thành một nhu cầu cấp thiết của nhiều người”, Herman James nói.
“Ban đầu, những người quản lý công viên rất ngạc nhiên và lúng túng. Ðó là lần đầu tiên họ nhìn thấy một sự việc như thế này diễn ra trong công viên. Không có giấy phép, không có quy định hay thủ tục nào để giải quyết sự việc. Họ không biết phải làm gì với tôi”, Herman James nói tiếp.
Herman James đang hớt tóc cho khách
Các bài báo đăng trên các phương tiện truyền thông địa phương đã giúp điểm hớt tóc của Herman James được nhiều người biết đến.
Herman James chấp nhận cho khách “book” trước ngày giờ hớt tóc thông qua ứng dụng điện thoại thông minh Schedulicity. Nhiều khách vãng lai như người đi bộ hay chạy bộ trong công viên cũng ghé chỗ anh để hớt tóc.
Vào thời cao điểm của đại dịch, Herman chăm chút được từ 20 đến 25 mái tóc cho khách mỗi ngày. Hiện nay, trung bình anh hớt tóc cho từ 10 đến 15 khách/ngày.
Herman James bên chiếc vali đồ nghề và ghế xếp
“Ở công viên ngoài trời, gần gũi với thiên nhiên, đối với những người đi dạo và chụp ảnh quả là một việc hoàn toàn mới mang lại sự thích thú cho mọi người”, anh nói. “Và nó cũng ít rủi ro hơn rất nhiều so với ở trong nhà. Ở ngoài trời không khí trong lành vì có thể lưu thông dễ dàng”.
Ðiểm hớt tóc ngoài trời này giúp tiết kiệm nhiều chi phí vốn có trong một phòng với bốn bức tường bao quanh như tiền thuê nhà… “Quả thật là một điều may mắn”, Herman James nói.
Hạn chế chính của “phòng hớt tóc” ngoài trời là thời tiết xấu. Thời tiết quy định giờ làm việc, và thời gian làm việc vào mùa Ðông tất nhiên là phải giảm đi.
Một hạn chế khác nữa là chiếc ghế xếp của anh không thể nâng lên hay hạ xuống được khiến cho anh bị đau lưng khi hớt cho trẻ em. Herman James cho biết thêm: “Ngoài ra cũng không có ổ cắm để cắm máy sấy tóc, nhưng mặt trời và gió công viên làm rất tốt việc này”.
Strawberry Fields, nơi tưởng niệm John Lennon tại Central Park. ngucut60.blogspot.com/
Ngoài ra, Herman còn phải giải quyết số tóc cắt rơi vãi xuống đất. “Một khách hàng mang đến cho tôi một bộ đồ hốt rác. Tôi hốt tóc rơi dưới đất và bỏ vào thùng rác”.
Bất chấp việc cho phép mở cửa trở lại các tiệm làm tóc và dỡ bỏ hầu hết các hạn chế ở New York mới đây, Herman James không có ý định trở lại làm việc trong một tiệm hớt tóc truyền thống.
“Nhu cầu vẫn còn đó. Và tôi là người đầu tiên trong lịch sử hành nghề hớt tóc ở công viên Central. Giờ thì tôi không còn cảm hứng quay trở lại làm việc cho người khác”, Herman James nói.
Cảm tưởng của khách đến hớt tóc như thế nào? Joel Linchitz, 72 tuổi, một vị khách đã đến Central Park hớt tóc hôm thứ Năm tuần trước cho biết: “Thật sự tuyệt vời được hớt tóc ở công viên, ngoài trời. Tôi sẽ tiếp tục lại đây hớt tóc”.
Chỉ mới 13 tuổi, nhà lực sĩ tí hon này là ngôi sao sáng trong làng trượt băng nghệ thuật của Mỹ, và là niềm hy vọng cho Hoa Kỳ tại Thế Vận Hội 2022 ở Bắc Kinh.
Tân quán quân Hoa Kỳ – nguồn US Figure Skating Fan Zone
Năm 1997, tức 8 năm trước khi Alysa Liu ra đời, Tara Lipinsky đã đoạt huy chương vàng tại giải U.S. Championship khi mới 14 tuổi và trở thành nữ lực sĩ trẻ tuổi nhất đạt được thành tích này. Hai mươi hai năm sau, kỷ lục của Lipinsky đã bị qua mặt bởi một cô bé người Mỹ gốc Hoa với chiếc răng khểnh, mặt búng ra sữa. Nhưng hành trình của Alysa Liu không giống bất cứ một nhà lực sĩ di dân nào khác từ trước tới nay.
Khi nghe tên Alysa Liu lần đầu, có lẽ nhiều người Việt liên tưởng ngay đến một cô gái sanh trưởng trong một gia đình người Mỹ gốc Hoa tiêu biểu, với một người cha đi làm nuôi gia đình và một người “Mẹ Cọp” [Tiger Mom] luôn luôn lo lắng cho con mình từng li từng tí. Bà ta sẽ chở con đi tập mỗi ngày, giúp con học bài buổi tối, có thể ngoài thể thao còn cho con mình học đàn piano hay violin v.v. Thế nhưng, gia đình của Alysa Liu hoàn toàn không giống như vậy.
Alysa (trái) cùng cha, Arthur Liu, và cô em – nguồn resourceintel
Alysa là trưởng nữ trong một gia đình năm anh chị em, tất cả đều không biết mẹ mình là ai. Bố cô, Arthur Liu, là một người cha đơn thân, không có vợ. Các con của ông đều thụ thai nhân tạo từ những người phụ nữ hiến trứng “vô danh”. Những chiếc phôi đã thụ tinh của Arthur bèn được cấy vào bụng các bà mẹ “mang thai hộ” [surogate mother] để thành thai nhi. Trong số năm người con của ông có ba đứa bé sinh ba (một gái hai trai). Alysa có tất cả hai em gái và hai em trai, nhưng chỉ mỗi mình cô là có năng khiếu và đam mê môn trượt băng.
Hai nhà vô địch nước Mỹ: Nathan Chen và Alysa Liu – nguồn: theoaklandpress.com
Arthur Liu xuất thân từ Tứ Xuyên, Trung Quốc, nơi ông ta từng dạy đại học môn Anh Văn. Năm 1989, khi vụ Thiên An Môn nổ ra, Arthur Liu sang Mỹ tị nạn; lúc ấy ông mới 25 tuổi. Ðầu tiên ông lấy bằng thạc sĩ về Quản Lý Kinh Doanh (MBA) tại trường Cal State East Bay. Sau đó ông nhảy sang học Luật và ra trường UC Hastings College of Law ở San Francisco.
Arthur Liu hiện có một văn phòng luật sư ở Oakland, nhưng nhà ông thì ở vùng Richmond của San Francisco. Khi Alysa còn bé, cô được cho đi học tại một trường Tàu gần nhà được ba năm. Hồi nhỏ Alysa thường hỏi Bố tại sao mình không giống những đứa trẻ Tàu khác, và Mẹ của mình là ai. Cuối cùng thì Arthur cũng phải giải thích cho con mình biết là cô đến từ một người mẹ vô danh. Ta không biết người đàn bà đó thuộc chủng tộc gì, nhưng nhìn nét mặt và màu da của Alysa ta có thể phỏng đoán người hiến trứng cho cô có lẽ là một phụ nữ gốc Âu (và biết đâu cũng giỏi môn trượt băng?) Một hôm khi đi ngang một sân trượt băng nọ, Arthur chợt có ý nghĩ ghi danh cho Alysa học chơi cho biết. Không ngờ Alyse, lúc đó vừa 5 tuổi rưỡi, mê liền môn này. Ít lâu sau, nhận thấy con mình có thiên khiếu, Arthur bèn mướn thầy cho con. Từ đấy Alysa ngày càng tiến bộ. Mới đầu Arthur dời con mình từ trường Tàu sang học trường công, nhưng sau cùng phải cho Alysa học ở nhà (homeschool) vì lịch trình thi đấu của con gái buộc phải đi khắp nơi, giờ giấc vô cùng lộn xộn.
Liu và HLV Lipetsky phản ứng khi biết vừa đoạt huy chương Vàng – nguồn: teamusa.org
Một ngày bình thường của Arthur bắt đầu từ 4:30 sáng. Ông tự tay làm bữa ăn sáng cho các con. Xong ông đưa chúng đi học, trừ Alysa là được đưa đến sân băng để tập với huấn luyện viên Laura Lipetsky. Rồi ông mới đi làm. Sau vài tiếng tập dượt, Alysa được đưa đến văn phòng Luật của bố mình. Tại đây cô bé có một góc biệt lập để học bài và làm bài. Ðến chiều Alysa lại được đưa trở lại sân để luyện tập thêm vài tiếng. Arthur Liu cho biết tiền mướn HLV cho Alysa là $120/giờ. Ông nói nếu muốn cho con mình đủ giỏi để tranh tài ở các cấp cao, thậm chí tại Thế Vận Hội, thì buộc phải đầu tư thôi. Không có gì là “free” cả. Khi lên 10 thì Alysa bắt đầu tham gia tranh tài. Năm 2016 Alysa Liu là nữ lực sĩ nhỏ tuổi nhất đoạt huy chương Vàng toàn quốc ở cấp hạng Intermediate [chuẩn bị]. Sang năm 2017 Alysa tranh tài ở cấp Novice [tập sự] và đứng hạng tư tại giải quốc gia U.S. Championship, chỉ thua suýt soát huy chương đồng trong gang tấc. Tiếp theo đó Alysa thắng huy chương Bạc giải Á Châu Mở Rộng tại Tokyo. Năm 2018 cô là lực sĩ nhỏ nhất trong giải U.S. Championship hạng Junior [thiếu nhi], và đoạt huy chương Vàng mặc dù bị cảm cúm tuần lễ tranh tài. Người về nhì thua sau cô cả 18 điểm! Dầu là quán quân của Mỹ, Alysa vẫn không được phép tham dự giải Junior Thế Giới năm 2018 vì … chưa đủ tuổi!
Nam Nguyễn trong đêm Olympic Gala 2010 – nguồn: digitalcitizen
Tuy nhiên, ở Mỹ thì Alysa vẫn có thể tranh tài ở cả hai cấp Junior và Senior. Do vậy mà Alysa Liu mới được tham dự giải U.S. Championship, hạng Senior [người lớn], tại Detroit hồi tháng Giêng vừa qua và, như đã nói ở trên, phá kỷ lục quán quân nhỏ tuổi nhất lịch sử.
Trượt băng nghệ thuật – Figure Skating, là một trong những bộ môn thể thao thích hợp với tạng người Á Châu tương đối nhỏ con, dễ thực hiện các động tác bay nhảy múa lượn, tương tự như Gymnastics (thể dục dụng cụ) hay Diving (nhảy cầu). Thế hệ trẻ người Việt rất có thể thành công trong bộ môn FigureSkating nếu được huấn luyện và đầu tư từ bé. Canada đã có một thanh niên Việt khá giỏi môn này tên là Nam Nguyễn.
Cô bé còn quá nhỏ để leo lên bục nhận huy chương Vàng. – nguồn: digitalcitizen
Con của hai vợ chồng thuyền nhân, Nam Nguyễn (năm nay 21 tuổi) hiện đứng hàng thứ 25 trên thế giới. Riêng ở Canada, Nam Nguyễn từng là quán quân trẻ tuổi nhất tại giải quốc gia hạng Junior năm 2011. Kỳ Thế Vận Hội vừa rồi tại Nam Hàn, Nam đã không vào được đội tuyển Canada vì đứng hạng ba trong giải toàn quốc năm 2018, sau Patrick Chan và Keegan Messing. Hy vọng đến năm 2022 chúng ta sẽ có dịp xem Nam Nguyễn tranh tài tại Thế Vận Hội ở Bắc Kinh.
Tuy nhiên, như trong bất cứ môn thể thao nào, chẳng có gì là chắc chắn cả vì các lực sĩ luôn luôn có rủi ro bị chấn thương. Ðến như Alysa Liu, còn bé tí vậy mà cũng đã bị thương nhiều lần, phải ngưng luyện tập một thời gian để hồi phục. Khi được tin mình chưa đủ 15 tuổi để tranh giải quốc gia 2019 và 2020, Alysa chỉ mỉm cười trả lời:
“Dạ không sao! Vậy con sẽ có thêm thì giờ để chuẩn bị cho Olympics!”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.