Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

25 Post on 2011

Post by Sơn râu 29 May 2024

Kỳ 14
14. Chu Minh Toàn

Tôi nhờ trang mạng gửi câu hỏi sau đến nhà văn Trần Vũ:
“Chào tác giả Trần Vũ. Đọc một số tác phẩm của ông tôi thường thấy ông lấy cảm hứng từ các sự kiện, nhân vật lịch sử, tôn giáo… Tác giả có nghĩ mối quan hệ giữa tôn giáo (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hoà Hảo…) với nhau và với nhà nước có thể gợi hứng cho tác giả sáng tác không? Vì tôi thấy vấn đề này đã và đang là vấn đề thời sự không chỉ của riêng Việt Nam mà còn cả của Pháp (vấn đề nhà nước thế tục – la laïcité) nơi ông đang sống. Và một câu hỏi nhỏ là tác giả là người vô thần hay hữu thần hay nói nôm na là tác giả có tin vào Thượng đế hay không? Xin chào và cảm ơn.”

Nhà văn Trần Vũ trả lời
Chào anh Chu Minh Toàn.
Thứ ba tuần này, chúng ta đã nói chuyện “hữu thần” hay “vô thần”, hôm nay còn lại câu hỏi khó của anh là “mối quan hệ giữa tôn giáo với nhau và với nhà nước có thể gợi hứng cho tác giả sáng tác?”

Trước nhất, tôi có thể trả lời ngay là tôi sẽ làm anh thất vọng, vì tôi ít quan tâm đến lịch sử phát triển của những xã hội dân sự. Tôi quan tâm duy nhất đến chiến tranh. Hôm thứ ba, khi chúng ta trò truyện về “hữu thần” và “vô thần”, là lễ thánh Léa, nhưng với tôi chữ Léa gợi lên tức thì cuộc hành quân Léa năm 1947 của tướng Salan khi tái chiếm khu Việt Bắc và các trục đường Bắc Cạn, Cao Bằng… Ngoài chiến tranh, tôi ít tìm hiểu những lĩnh vực khác. Tuy vậy, tôi sẽ cố gắng “tản mạn”.
Hôm nay, chúng ta gặp nhau lần nữa, là thứ sáu lễ Annonciation, kỷ niệm ngày thiên thần Gabriel loan báo cho Maria hay biết, là tuy đồng trinh, Maria sắp làm mẹ thiên chúa. Đúng 9 tháng nữa là Jésus chào đời. 25 tháng 3 còn là ngày chết của Adam, người đàn ông đầu tiên. Trong ngày lễ thánh, bàn chuyện “thế tục” đã là phạm thánh. Dường như, trong câu chuyện của chúng ta đã tiềm ẩn một ước muốn “thế tục” ?

Như anh Toàn biết, tại Pháp nhà nước thế tục ( Laïque/ Secular ) cấm mọi biểu hiện tôn giáo nơi công sở, trường học và chốn công cộng. Nếu làm một tín đồ, chúng ta sẽ bàn về tính đúng sai của hiến pháp không cho phép quốc giáo. Làm một công dân chúng ta sẽ bảo vệ sự bình đẳng giữa các tôn giáo và để giữ sự bình đẳng này, không trưng bày các dấu hiệu tôn giáo chốn công cộng là cần thiết.

Chúng ta cũng có thể đi sâu vào những chi tiết kỳ lạ như chính phủ Pháp áp đặt nhà nước thế tục, mà quân đội Pháp lại không thế tục. Trong mỗi tiểu đoàn Nhảy dù, Lê dương, Thủy binh đều có một cha tuyên úy làm phép xức dầu khi binh sĩ tử thương, nhưng không hề có cha tuyên úy Hồi giáo như Quân đội Việt Nam Cộng hòa từng có tuyên úy Phật giáo. Các tiểu đoàn Tabor, Spahis, Tirailleurs Bắc Phi thuần lính Ả Rập thời kỳ tham chiến tại Việt Nam đã không có tuyên úy Imam đạo Hồi lo việc linh hồn cho họ.
Ngay chính trên đất nước Cộng hòa này, nơi thiết lập công xã đầu tiên và đã tách rời giáo hội ra khỏi chính quyền từ nhiều thế kỷ, thời gian lại không thế tục. Thời gian vẫn mang niên lịch của Jésus. Khi tôi đang viết những dòng này, dưới mái hiên của nền Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp, đang là 2011 năm và 2 tháng 25 ngày 23 giờ 14 phút từ khi Jésus sinh ra…

Thời gian của người, như một tựa tiểu thuyết của Nguyễn Khải, như thế, là những thời quán tôn giáo.
Ngay cả những chính ủy Sô Viết trung kiên, những giáo chủ Hồi giáo quá khích hoặc các rabbin Do Thái giáo không tin vào thiên chúa ngôi hai vẫn sống và thở với Jésus từng giờ, từng phút, mỗi khi họ đưa tay xem giờ. “Chúa hiện diện quanh ta”, câu này đúng vô cùng ― trong thời gian của người.

Con người không có thời gian thật của mình, vì không tự xác định được vị trí của mình. Vì thiếu điểm chuẩn, vì điểm chuẩn này thay đổi tùy theo đức tin: với dân Hồi giáo đang là thế kỷ 15 trong kinh Coran và trong kinh Coran một năm chỉ có 352 ngày… Cùng bị xem là Ả Rập, cùng theo đạo Hồi, nhưng với dân Berbères của Algérie thì đang là năm 2961, tức là đã gần hết thiên niên kỷ thứ 3… Với Phật tử, lịch Phật cũng khác. Tựa tiểu thuyết Trong một tháng, trong một năm của Sagan chỉ đúng với các nhân vật Công giáo. Với các Phật tử hay musulmans trong một tháng, trong một năm nữa sẽ rơi vào thời điểm khác.
Cảm hứng từ tôn giáo trong trung thiên truyện Giáo Sĩ tôi viết, đến một cách tự nhiên vì tôi sống trong thời quán tôn giáo. Chúa hiện diện chung quanh từng giờ phút, vậy Jésus hiện diện trong Giáo Sĩ trên từng trang giấy, là một bình thường, như đời sống… Còn đi sâu hơn nữa?
Anh Toàn đã hỏi: “quan hệ giữa tôn giáo (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hoà Hảo…) với nhau và với nhà nước có thể gợi hứng cho tác giả sáng tác không?”  Tôi hiểu trong câu hỏi này, anh Toàn muốn hỏi chủ ý viết về đề tài này mà không « tự nhiên » như tôi vừa trình bày.
Rất khó trả lời, ngay cả khi đã nghiên cứu sâu và kỹ tôn giáo. Vì sáng tác là một sự bất định khó dự báo. Cốt truyện thường đến bất chợt trong đầu người viết rồi “lặn” đi, tan mất để rồi từ từ mọc ra trở lại dưới một dạng thức khác như mạch ngầm của một mạch nước. Định trước đôi khi không thành, không định trước nhiều khi lại bật ra từ một chi tiết kéo theo toàn truyện. Bên cạnh, còn vấn đề gai góc của đề tài. Tất cả chúng ta cùng biết: Chính quyền – Tôn giáo – Chính trị luôn đồng nghĩa với Xà lim – Hầm chông – Mã tấu. Những đề tài lịch sử tầm cỡ cần suy nghiệm và cần một tâm thức sẵn sàng tuyệt đối. Cá nhân tôi chưa sẵn sàng.

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

Post on 22 Mar 2011

Post by Sơn râu 29 May 2024

Kỳ 13

Chu Minh Toàn

Tôi nhờ trang mạng gửi câu hỏi sau đến nhà văn Trần Vũ:
“Chào tác giả Trần Vũ. Đọc một số tác phẩm của ông tôi thường thấy ông lấy cảm hứng từ các sự kiện, nhân vật lịch sử, tôn giáo… Tác giả có nghĩ mối quan hệ giữa tôn giáo (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hoà Hảo…) với nhau và với nhà nước có thể gợi hứng cho tác giả sáng tác không? Vì tôi thấy vấn đề này đã và đang là vấn đề thời sự không chỉ của riêng Việt Nam mà còn cả của Pháp (vấn đề nhà nước thế tục – la laïcité) nơi ông đang sống. Và một câu hỏi nhỏ là tác giả là người vô thần hay hữu thần hay nói nôm na là tác giả có tin vào Thượng đế hay không? Xin chào và cảm ơn.”

* Nhà văn Trần Vũ trả lời:  

Chào anh Chu Minh Toàn. 

Câu hỏi của anh Toàn đem tôi về gian lớp học giáo lý của sư huynh Amédée. Gian lớp quạnh quẽ phía sau tấm đệm tập võ nhu đạo trông ra đường Gia Long của trường Lasan Taberd. Trường nam sinh nên chúng tôi hiếu động, mỗi giờ ra chơi chúng tôi chia phe vật lộn đến tả tơi trên tấm thảm to và đầy bụi này. Thập niên 70 thịnh hành phim võ thuật: trong lớp gọi tôi là « Vương Vũ » vì tôi tên Vũ, các bạn tôi lấy tên Địch Long, Trần Tinh, La Liệt… Trong tuần là những hỗn chiến, nhưng đến chiều thứ sáu chúng tôi bước chân vào gian lớp học giáo lý với tâm trạng kỳ lạ: thân thể ướt đẫm mồ hôi sau giờ ra chơi bỗng ngoan ngoãn. Chúng tôi im phắt trên những băng ghế gỗ của dẫy lầu tầng trệt âm u. Sư huynh Amédée với gọng kính đồi mồi đen tuyền và những câu chuyện trong Tân Ước và Cựu Ước biến gian lớp học thành một nơi chốn hoang đường.

Chúng tôi hết nghịch ngợm, chăm chỉ lắng nghe sư huynh từng lúc cao giọng: ‘‘Lửa thiêng sẽ đổ xuống đầu các ngươi..’’ khi ông diễn tả cơn giận dữ của chúa Kitô khi khám phá ra đền thờ là nơi các con buôn Do Thái cho vay lấy lãi, gầy sòng và bầy các phản thịt họp chợ… Những giờ giáo lý này cùng với phim kiếm hiệp, là những huyền ảo đầu tiên tôi tiếp xúc. Cảnh Khương Đại Vệ phi thân cũng giống cảnh Jésus đi bộ qua biển Hồng hải… Tôi chăm chú nghe sư huynh kể bầy heo bị quỷ ám đâm đầu xuống sông, hay Đấng Cứu Thế lấy trong bao ra từng khoanh bánh mì phân phát cho ba ngàn người mà trong bao không cạn vẫn còn bánh, tuy ban đầu chỉ đủ cho 12 tông đồ…

Sau tám năm theo học trường dòng, từ tiểu học đến đệ ngũ, trừ một năm sau 75, tôi biết nhiều về Tân Ước và Cựu Ước hơn là triết lý nhà Phật. Nhiều thập niên sau tôi mập mờ nghĩ Tân Ước là quyển tiểu thuyết được viết bằng bút pháp hiện thực huyền ảo cực kỳ lôi cuốn. Với ý nghĩa nhân sinh về kiếp người, kiếp đời, sống chết, vay trả… Tất cả có thật trong Tân Ước, vì Jésus có thật, Maria Madeleine có thật, Ponce Pilate có thật, 12 tông đồ có thật, thêm phép màu huyền ảo… Còn Cựu Ước, là thể truyện cổ tích thần kỳ.

Trở về gian lớp cũ, một lần tôi xin với sư huynh Amédée thôi giờ giáo lý vì gia đình mình theo đạo Phật, ông đã giận dữ. Một lần khác, khi nghe kể đến khúc Judas trong một đêm chối chúa ba lần, tôi hỏi frère: “Nếu không có thiên đàng, là một khoảng trống không mây mù thì linh hồn đi đâu?” Tôi nhớ, sư huynh đã nhìn tôi kinh ngạc. Đôi mắt ông hấp háy sau gọng kính, ngọn roi trên tay ông đang nhịp, chậm lại rồi bất động. Chừng như tôi đã hỏi điều ông chưa bao giờ nghĩ đến hay tự cho phép hoài nghi. Một lúc lâu sau, sư huynh lập lại lời thiên chúa: “Phước cho những kẻ không thấy mà tin.”

Lên đệ thất, tôi biết: Tôi rất ít phước.

Đôi khi, tôi nghĩ: những người tin đạo sẽ thất vọng vô cùng, hụt hẫng ngày họ thất lạc sa mù không tìm thấy thiên đàng và cả địa ngục. Suốt một kiếp người đã tin để rồi hụt hẫng. Đừng tin, để không hụt hẫng.

Nhiều năm sau trong một cô nhi viện miền Bắc Pháp sát biên giới Bỉ, tôi lại đối diện với tượng Chúa.

Lần này, đấng Kitô trở nên gần gũi, thông cảm, gần như cùng một cảnh ngộ. Jésus cũng bị giam trong chủng viện, không thể ra ngoài. Tôi ngắm Người buồn rũ. Gương mặt Jésus muốn thoát ra ngoài, thoát khỏi bốn bức tường giam hãm, thoát khỏi cảnh thờ phượng, rước lễ, chuông thánh và cầu nguyện mỗi ngày… Tôi ngắm mão gai đâm làm Người chảy máu. Tôi khấn xin Người cứu chuộc tôi ra khỏi đây, tôi quá chán chủng viện này, hãy đem trả tôi về lại Sàigòn, giữa gia đình, giữa học đường, giữa bạn bè thân thiết, và nếu có thể, lui lại trước 1975… Vì sao đày tôi giữa những cánh đồng mù tạt này? Vì sao cô bạn tôi biến mất? Vì sao thượng đế thử thách nhân loại hoài? Thượng đế có chắc chắn là tất cả mọi người cùng muốn lên thiên đàng hay không? Còn những gia đình Phật tử thì sao? Tôi chỉ đến nơi nào cô bạn tôi đến. Cô bạn tôi theo đạo Phật, sẽ lên niết bàn, vậy tôi không vào thiên đàng. Hãy cho tôi gặp lại và đem chúng tôi về lại Việt Nam, trở về tuổi hoa niên mộng mị của mình.

Tôi đã cầu nguyện với nhiều băn khoăn như vậy. Tôi còn đi xa nữa trong suy nghĩ: Con người là sản phẩm của thượng đế, vậy nhìn vào con người tàn ác chừng nào thì chúng ta có thể hình dung ra thượng đế mang ít nhiều tư chất ấy. Giống như Văn là người; sản phẩm của con người làm ra mang hình ảnh của con người, vậy thì sản phẩm của thượng đế làm ra mang hình ảnh của thượng đế. Với thời gian, tôi đằm lại… Đã qua, những ngày bất mãn.

Điều kỳ lạ, là chính trong những ngày không đức tin này, tôi khám phá kho sách của chủng viện. Mỗi sáng chủ nhật tôi chọn những quyển sách mình muốn đọc rồi lên tháp chuông ngồi ở lan can đá trông xuống những ruộng mù tạt vàng cháy… Thư viện hầu hết là sách công giáo, thần học, rất ít tiểu thuyết nhưng lại nhiều sách chiến tranh. Từng dẫy sách lịch sử chiến tranh từ thời kỳ trung cổ sang đến thế kỷ 20, từ chiến tranh Thập Tự chống Hồi giáo đến thánh chiến Ả Rập-Do Thái. Tôi chưa biết thắc mắc vì sao tôn giáo luôn gây ra chiến tranh, vì sao các thầy tu trong chủng viện lại nghiên cứu chiến tranh, vì sao họ đặt mua sách chiến tranh nhiều vậy? Họ tìm gì trong những trận chiến? Tôi chưa biết đặt những câu hỏi khó này, nhưng giống khi còn ở Sàigòn trước 75 tôi từng mê mẩn tủ sách Adolf Hitler của nhà sông Kiên, tôi lại bị chiến tranh chụp bắt. Tôi ngã chúi vào những quyển 170 ngày tại Điện Biên Phủ, Đường Thuộc Địa số 4 – trận Đông Khê, Lê dương tác chiến của Erwan Bergot, Trận Điện Biên Phủ của Jules Roy, Y sĩ tại Điên Biên Phủ của Paul Grauwin, Điên Biên Phủ của Pierre Langlais, Cho một mẩu vinh quang của Marcel Bigeard và đặc biệt, tôi gặp lại Erich Maria Remarque và Paul Carell.

Tất nhiên là tất cả đều viết bằng tiếng Pháp. Tôi vừa đọc vừa tra tự vị. Những ai học sinh ngữ đều biết, phải thật say mê quyển sách mình mới đủ can đảm tra từng chữ vì mất một giờ đồng hồ mới đọc hết một trang sách. Lúc đó, tôi đã suy nghĩ giản dị là nên đọc lại những quyển tiểu thuyết của Remarque mình đã đọc trong tiếng Việt, mà mình thuộc lòng, sẽ giúp mình đọc nhanh, vì mình còn nhớ tình tiết, cốt truyện… Còn sách chiến tranh không ẩn dụ, không hoán vị, không cách tân cầu kỳ văn thể, luôn được viết rõ ràng mạch lạc sẽ giúp mau khá….

Lúc đó, tôi đã sung sướng vô cùng. Hơn một bất ngờ, gần như một định mệnh khi tôi tìm lại trong tủ sách cô nhi viện những quyển Tonnerre sur le Pacifique của Albert Vuillez mà tôi đã đọc qua bản dịch Sấm sét Thái Bình dương của Người sông Kiên và Lê Thị Duyên, hay La muraille d’Israel của Jean Lartéguy mà tôi cũng đã đọc qua bản dịch Bức tường thành Do Thái của Nguyễn Hiến Lê… Điều đặc biệt mà tôi muốn kể lại đây, là tôi đã tìm lại hai tác giả gối đầu giường của mình những ngày niên thiếu, là Erich Maria Remarque và Paul Carell. Hai tác giả đã khai mở trong tôi hai thế giới khác biệt nhưng đan quyện vào nhau: Tình yêu và Chiến tranh.

Tôi đắm chìm một lần nữa với Patricia Hollmann và Robert Lohkamp, tức Pat và Robby trong Chiến hữu. Đắm chìm với Hitler và mặt trận miền Đông, với các mặt trận Léningrad, Moscou và Stalingrad. Lần này qua bản Pháp văn Les Camarades và Barbarossa, l’Invasion de la Russie… Lúc đó, tôi không hiểu là Thiên Chúa đã hồi đáp những hoài nghi của mình về sự hiện diện có thật của thượng đế: bằng cách cho tôi tìm lại những trang sách kỷ niệm của mình, như tôi vừa cầu xin mang tôi về lại tuổi niên thiếu trước 75.

Nhiều thập niên sau, như hôm nay, khi Chu Minh Toàn đặt câu hỏi: “tác giả là người vô thần hay hữu thần hay nói nôm na là tác giả có tin vào Thượng đế hay không?”, tôi nhớ lại những ngày không đức tin này. Hy vọng là tôi đã không lạc đề xa. Thiên Chúa, hay nhà Phật, cùng giống nhau: cùng khuyên giữ lòng thiện. Còn những vong hồn đã khuất trong đạo Phậthay đức chúa thánh thần trong đạo công giáo là những vì tinh tú xoay vần trên đầu mình và vận hành định mệnh của mình. Họ là những thần linh gác cổng trời. Sống lòng thiện để mình không thấy hụt hẫng ngay cả khi không có thiên đàng, niết bàn. Giữ điều thiện, để mình không có gì tất trách. Khi ấy, không thiên đàng, không niết bàn cũng không sao. Đã cố gắng kiếp này.

Đã trả lời câu hỏi của Chu Minh Toàn về vô thần hay hữu thần. Còn câu hỏi ban đầu: “Tác giả có nghĩ mối quan hệ giữa tôn giáo (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hòa Hảo…) với nhau và với nhà nước có thể gợi hứng cho tác giả sáng tác không?”, là một câu hỏi không dễ trả lời. Nhưng đã lan man dông dài lâu, Toàn cho được hồi âm lần sau, kỳ 14.

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

Post on 19 Mar 2011

Post by Sơn râu 29 May 2024

Kỳ 12

Lữ Chân Vị

Chào nhà văn Trần Vũ, Nhà văn Hồ Trường An, trong một bài viết về Trần Vũ đăng ở Hợp Lưu 110, có nhận định “… Vũ không nhắm vào văn chương tư tưởng. Đó là những điều vượt cái vốn liếng kiến thức của anh. Vũ viết khơi khơi theo đà lôi cuốn của con quỷ bạo dâm và con quỷ loạn luân tiềm ẩn trong anh thôi thúc”. Ông có đồng ý với phát biểu này của nhà văn Hồ Trường An? Xin cám ơn.

Nhà văn Trần Vũ trả lời:  

Trước hết, viết truyện ngắn có nhất thiết phải lập thuyết như Hồ Hữu Tường hay không? Trên Wikipedia định nghĩa: « Trong văn học phương Đông, danh từ tiểu thuyết xuất hiện khá sớm nhằm phân biệt với hai thể loại cơ bản khác là đại thuyết và trung thuyết. Đại thuyết là kinh sách của các thánh nhân viết như Kinh Thư, Kinh Thi của Khổng Tử, đó là loại sách mang nặng tính triết học gần như chân lý, kiểu khuôn vàng thước ngọc và rất khó đọc. Trung thuyết do các hiền sư, sử gia thực hiện như Sử ký của Tư Mã Thiên. Còn tiểu thuyết, vốn chỉ những chuyện vụn vặt, đời thường. Những truyện ấy cùng với cổ tích, ngụ ngôn là những mầm mống của tiểu thuyết phương Đông. »

Người viết truyện không nhất thiết phải là triết gia, tâm lý gia, hay phải am tường xã hội học hoặc phân tâm học. Thậm chí các lý thuyết phê bình văn học cũng không cần thiết. Hắn tạo ra vũ trụ của mình như họa sĩ vẽ tranh trừu tượng, lập thể, ấn tượng, dã thú, cổ điển, hữu hình… Tìm kiếm tư tưởng của họa sĩ trong tranh là bổn phận của người xem tranh, tìm thấy, là một may mắn. Không tìm thấy, họa sĩ không mất gì. Người viết truyện cũng vậy. Tôi không khác.

Tư tưởng của tôi thiên nhiều về chiến tranh như tôi đã viết một số tiểu luận về đề tài này, còn truyện ngắn và trung thiên truyện chứa những nhân sinh quan mang dáng dấp nổi loạn, khiến Hồ Trường An cho là chứa những con quỷ trong mình. Về những con quỷ tiềm ẩn này, Jésus Christ đã chất vấn đám đông: « Ai trong các người nghĩ mình không có tội, thì hãy ném đá vào người đàn bà này. » Viết về những con quỷ, là một cách đặt câu hỏi ― Ai?

Có nhiều cách thể hiện tác phẩm và nhiều cách nhìn.

Nếu nhìn tác phẩm là một công trình xây cất: thì mỗi truyện ngắn phải có một suy nghĩ chủ đạo làm xương sống cho toàn truyện, rồi các nhân vật mọc ra từ xương sống đó như những xương sườn của xương sống đó. Suy nghĩ chủ đạo không nhất thiết là tư tưởng triết học cao siêu, nhưng phải có một tầm nhìn xuyên suốt nối liền các góc cạnh trong phạm vi sáng tác của mình.

Nếu hiểu Tư tưởng là Nhân sinh quan: Sau ba yếu tố Giọng văn, Khí hậu, Cấu trúc-kỹ thuật, chính nhân sinh quan quyết định mức độ cao thấp giữa những truyện cùng có kỹ thuật, tay nghề, giọng văn. Tôi tin cần thiết cho truyện của mình một chiều sâu tác phẩm, nhiều tầng đọc, sự phức tạp nhân vật và áp suất. Nén vào trong truyện những thông điệp mình cảm thấy cần thiết và mình muốn gửi đến. Rồi chọn góc nhìn nhân sinh như mình muốn.

Khác Nhất Linh tin tiểu thuyết chỉ cần tả thực bề trong lẫn bề ngoài, tôi tin tiểu thuyết cần bề dầy cốt truyện, cần mục đích đạt đến, cần cấu trúc bê tông cốt sắt và khung sườn đan lưới. Tâm lý có thể xem nhẹ, hiện thực có thể vất bỏ, nhưng Tứ truyện như Tứ thơ không thể vất bỏ. Nhân vật càng không. Tính chất lâm ly có thể gạt, nhưng cốt truyện nên xây dựng trên luận đề. Có vẻ ngược với Nhất Linh, tác giả của luận đề không còn tin vào luận đề, nhưng tôi dùng lại.

Nhìn về Nam Mỹ, tôi thấy từ Horacio Quiroga, César Vallejo, Miguel Asturias đến Amado, Cortazar, Fuentès… đều xây dựng cốt truyện cực kỳ vững chắc. Họ không phá cốt truyện, không vất nhân vật như phái Tân Tiểu thuyết của Alain Robbe-Grillet. Họ xây dựng tác phẩm trên những chi tiết hoang tưởng làm thành một câu chuyện tưởng như hoang đường mà cuối cùng tạo lập hẳn một vũ trụ quan có nhân sinh, có ý nghĩa cuộc đời. Phía Tây Ban Nha từ Les Nouvelles Exemplaires (Những Ấn bản Mới)của Cervantès đến trào lưu La Nouvelle Narrative (Cách Kể Chuyện Mới) cũng vậy.

Thập niên 80 bùng phát một lớp văn sĩ Tây Ban Nha, thế hệ sinh sau nội chiến 1936-1939 quyết định lập ra dòng văn học mới La Nueva Narrativa, với phương châm: « Ecrire des romans, c’est écrire des histoires intéressantes / Viết tiểu thuyết là kể những câu chuyện hấp dẫn. »

Cách nhìn này khác hẳn với lối nhìn “Viết tiểu thuyết không phải là kể chuyện” của phái Tân Tiểu thuyết của Alain Robbe-Grillet. Tuy vậy, giai cấp sáng tác này thành công với những gương mặt như Bernado Atxaga (Một sợi tóc trên lưỡi), Christina Fernandez Cubas (Năm của ân sủng) hay Blanca Andreu (Cây gậy của Babel), đến những gương mặt khá trẻ thời kỳ này như Jésus Ferrero (Thuốc phiện), Sonia Garcia Soubriet (Một Sonia khác), Almuneda Grandes (Những kiếp đời của Loulou) đã làm vỡ tung văn đàn Madrid; họ được chấp nhận, được xem Dòng Văn Chương Mới đã ghi lại được thời kỳ Movida – thời kỳ hậu độc tài Franco – không còn bất kỳ một đoàn kết nào nữa giữa các thế hệ, giữa các khuynh hướng chính trị hay giữa các tầng lớp xã hội. Nếu viết những câu chuyện hấp dẫn là đi tìm thị hiếu, thì cách đi tìm thị hiếu của trào lưu Cách Kể Chuyện Mới đã khắc họa được thời đại của họ, tức thời đại của độc giả họ mà không rơi vào sự phi văn học.

“Viết tiểu thuyết là kể những câu chuyện hấp dẫn” — trong Cách Kể Chuyện Mới — chúng ta đã tách xa cách nhìn quen thuộc, cách rất xa suy nghĩ văn dĩ tải đạo, văn chương hướng thượng, hoặc tiểu thuyết phải có tư tưởng triết học hiện sinh như các tiểu thuyết của Sartre, Camus… Khẳng quyết của Hồ Trường An, do vậy, là khẳng quyết từ một điểm nhìn trên những tiên đề rất khác với nền tiên đề tôi dùng. Khẳng quyết như vậy, cũng giống chúng ta khẳng định là hai dòng văn chương Châu Mỹ La tinh và Tây Ban Nha tuy mang phong cách huyễn ảo hấp dẫn nhưng không có tư tưởng. Các tác giả La tinh này chắc chắn là không đồng ý.

Truyện ngắn, như một tựa sách của Yoko Ogawa: The Diving Pool — là một hồ nước cá nhân sâu thẳm mà chỉ những chủ nhân của hồ nước khi trầm sâu biết mình thật sự tìm được gì.

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 29 May 2024

4. Chương 4

Con đường Chi Lăng xưa, nay là đường Phan Đăng Lưu, phía trước Lăng ông Bà Chiều, có tòa Bố của tỉnh Gia Định, thời chế độ Cộng Hòa thành tòa tỉnh trưởng. Bên cạnh tòa tỉnh trưởng có trại giam, sau này cũng vẫn là trại giam, có bí số bao nhiêu đó tôi quên mất rồi. Tôi chỉ nhớ gọi là số 4 Phan Đăng Lưu, hầu hết văn nghệ sĩ của chế độ cũ sau ngày 30-4-75 bị giam ở đó, trước khi bị đưa đi học tập cải tạo ở các vùng xa xôi. Tôi từng biết nơi đó, từng lêu bêu từ nhà giam này tới nhà giam khác trước khi tới trại giam Z30A, thuộc miền đông, dưới chân núi Chứa Chan mà ở đó có “Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ”. 
Bây giờ khi đi qua con đường Chi Lăng xưa hằng ngày tôi không thể không nhớ nhung, những kỷ niệm và những bằng hữu tôi. Trên con đường Chi Lăng có con đường chạy xuyên ngang ra Suối Đen ấp Đông Ba gọi là đường Nguyễn Huệ, nay là đường Thích Quảng Đức. Con đường Thái Lập Thành, nay là đường Phan Xích Long, hồi xưa có quán ốc, chuyên nấu cơm lá sen của tài tử điện ảnh Văn Giai, quán cơm của anh bị trúng pháo kích ngày 29-4-75 gia đình anh bị mạng vong gần hết. Tôi đã đứng với anh trên đống tro tàn, anh ngẩn ngơ như người mê sảng. Phía đầu đường Nguyễn Huệ Chi Lăng, các bạn bè tôi từng thuê nhà ở đó, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Viên Linh, Nguyễn Khắc Nhân, cả họa sĩ Phạm Hoán. Tôi nhớ tựa đề một bài thơ của Trần Dạ Từ nói lên sự khổ cực của anh em bạn bè “Chi Lăng! Chi Lăng! Tiếng ai hò reo.?” Nếu tôi nhớ không lầm đó là tên bản hùng ca của Lưu Hữu Phước. 
Căn nhà tôi ở trọ cũng gần với nhà thuê của Trần Dạ Từ – Nhã Ca. Thuở mới vào đời chúng tôi nghèo khổ lắm. Tôi là chú lính đất làm việc ở phi trường Tân Sơn Nhất, các bạn tôi đeo đuổi nghề báo nghề văn, nhưng cũng bữa đói bữa no, hoặc phải kiêm luôn nghề kèm trẻ tư gia để kiếm ăn. 
Sự thật là như thế. Nhưng vẫn ngoan cố coi mình là văn sĩ, thi sĩ. Tôi thì mới mơ thành văn sĩ. Thời gian ấy cũng xa xôi lắm rồi, dễ chừng phải 40 năm trước. Một buổi chiều trời sẩm tối tôi di dạo dưới hàng eây sao bên lề đường Chi Lăng, bỗng gặp Viên Linh đi lang thang một mình. Tôi hỏi: 
– Sao cậu không ở nhà? 
– Nhà bé bằng cái lỗ mũi đông đảo bạn bè quá Thôi mày cũng đừng sang bây giờ, đi với tao ra cà phê Bằng. 
Cà phê Bằng ở khu nhà mười căn bên cạnh cư xá Chu Mạnh Trinh, đầu ngã tư Phú Nhuận. Trong khu cư xá đó, nhiều văn nghệ sĩ đã có danh cư ngụ. Cà phê Bằng có căn nhà dưới và trên lầu. 
Tôi thích ngồi trên lầu nhìn ra cái cửa sổ rộng, nhìn cái cột điện có những ống sứ mắc dây chằng chịt. Không biết sao tôi lại nghĩ cái cột điện ấy trông thật cô đơn. Những chiều mưa, dây điện đọng nước võng xuống nhỏ từng giọt, những dòng nước khác tiếp tục chạy đến làm thành những giọt khác, những giọt liên tiếp nhau nối thành chuỗi… 
Buổi tối hôm ấy, Viên Linh vừa uống cà phê vừa đọc thơ anh mới làm cho tôi nghề, những bài thơ đã đăng báo, anh có vẻ tâm đắc, mấy câu thơ, mà tôi cũng thuộc đến bây giờ: 
Sáng ở đầu sông nhớ núi. 
Đêm về trong núi nhớ sông 
Có tin về hôm giáp Tết 
Sống bây giờ long đong 
Đồng thời anh nói với tôi về đức Zehova và chuyện thánh thần trong thánh kinh Cựu ước. Quyển thánh kinh Cựu ước đó tôi thấy trong căn nhà thuê ở đường Nguyễn Huệ, không biết do ai mang về. Trước lối đi vào căn nhà đó có bụi tre gai, những cơn điên loạn của Nhã, cô ta lao đầu vào đó. Trên lối cửa vào phòng có ai đó đề hàng chữ L enter des hommes”. 
Con đường Chi Lăng ở tỉnh Gia Định xưa ngắn ngủi, có thể coi bắt đầu từ tòa tỉnh trưởng Gia Định chạy dài đến ngã tư Phú Nhuận là dứt. Con đường giữa dành cho xe hơi, hai bên có đường phụ dành cho xe đạp. Trên hai con đường phụ đó trồng cột điện và hàng cây sao rợp bóng mát. 
Ấp Đông Ba, Đông Nhì là những xóm ngoại thành, cây cối la đà. Những căn nhà tranh vách đất, những ngôi chùa ẩn mình dưới rặng tre xanh. Những ngọn điện vào được những căn nhà trong xóm đó còn rất hiếm hoi. Đường đất như những lối mòn trong xóm làng. Cái ồn ào của phố thị chỉ huyên náo ngoài lộ chính. 
Tôi sống ở đó hơn nửa đời người, có ngắt quãng một vài điểm thời gian, nhưng cuối cùng tôi lại về đây. Đổi khác nhiều rồi dó, nhà cửa mọc san sát làm mất đi nhắc cảnh xưa cũ. Nhưng tôi vẫn còn nhớ như in. Khó mà quên được vì có những kỷ niệm đậm nét trong cuộc đời Tôi ghi nhận, quan sát, đôi khi cũng có chút hư cấu để viết lên khá nhiều tác phẩm, truyện ngắn, truyện dài, liều thuyết. Kể cả những kỷ niệm với bạn bè, vì rằng căn nhà tôi mua hồi ấy qui tụ khá đông bằng hữu văn nghệ. Cũng từ căn nhà ở ấp Đông Ba xưa, tôi làm nên tác phẩm rồi chính thức bước vào nghề viết văn làm báo. Thành ra những kỷ niệm tội nghiệp cứ luôn trùng điệp trong tôi. Tôi nhàn nhã quá trong những đêm trường thao thức trên căn gác bút, những kỷ niệm đến với tôi bất cứ lúc nào. Tiếng ễnh ương kêu y uổng ở ao hồ nào đó còn sót lại trong xóm tôi, thường thì gây ra những kỷ niệm buồn. 
Bây giờ tháng Bảy mưa ngâu, những con mưa đêm chợt đến chợt đi, tôi nghe tiếng ễnh ương kêu ở một vũng nước nào đó bên vườn chùa trong đêm. 
Tháng này là tháng xá tội vong nhân. Nhiều nhà sửa soạn cúng cô hồn, những quán cơm chay bên đường Nguyễn Văn Đậu (Ngô Tùng Châu cũ) bắt đầu đông khách. Những tay nghề bẫy chim đem bán làm chim phóng sinh ở cổng lăng ông Bà Chiều hoạt động mạnh. Khách thập phương giầu lòng nhân ái bỏ tiền ra mua bầy chim tội nghiệp ấy thả bay lên trời xanh để rồi chúng lại bị bắt trở lại ở mẻ lưới khác Lại được bầy bán ở cổng lăng, cổng chùa. Người ta vê mãi mà vẫn không tròn quả phúc. Nếu có người nào đó đánh dấu vào chân những con chim chim mình phóng sinh sẽ thấy rằng chúng trở lại lồng của người bán chim để được bán nữa. Vẫn có người mua để phóng sinh cầu phước, tỏ với Trời Phật lòng nhân đức của loài người. 
Buổi chiều hôm nay đứng trên gác bút, tôi chứng kiến chú tiểu trong chùa chạy ra xua đuổi lũ chim tham ăn, đậu vào màng lưới rộng trải trên mặt đất. Chú tiểu bị bọn côn đồ bẫy chim đánh cho một trận nhừ tử. Tệ hại hơn nữa chú bị chúng nhét thịt chim nướng vào miệng khiến chú phạm giới. Bọn côn đồ bẫy chim say rượu cười hộc lên như một bầy linh cẩu. Chú tiểu vừa chạy vừa khóc, chùi miệng nhổ phì phì. 
Một cảnh như thế mà cười được đấy. Sư cụ trụ trì chắp tay niệm câu “mô phật”. 
– Hôm nay không trúng mánh mà vui? 
Tôi chứng kiến cảnh tượng đó, thấy mình hết ý. Nhưng sao đêm nay vẫn cứ suy nghĩ vẩn vơ Bao nhiêu là điều, bao nhiêu là chuyện đế nói đc viết. Tiếng ễnh ương kêu ở vũng nước vườn chùa buồn bã thế vẫn không đưa nổi tôi vào giấc ngủ. 
Tiếng ễnh ương kêu buồn bã trong đêm gây buồn gây nhớ. Nhớ lắm, thương lấm, hỡi những người bạn của tôi. Các anh thoắt hiện thoắt biến trên cõi đời. Còn lại những kỷ niệm, những cái các anh để lại, mà tôi không thể nào quên. 

Tôi viết hay tôi đang gậm nhấm những kỷ niệm? Tôi tự do trong tôi, tôi vẫn nghĩ thế. Đọc một quyển sách, một bài thơ, nghe lại một đoạn nhạc, một lời ca, do các anh sáng tác tôi lại nhớ đến các anh, lại nhớ nhung, lại ngậm ngùi. Như thấy các anh còn hiện diện. Những người bạn nghệ sĩ của tôi, nếu chứng kiến cái chết từ từ của anh, như cây nến cháy tự ăn mình để tồn tại, tôi càng thêm chua xót. Không gì đau bằng ngồi bên giường bệnh của anh, nhìn anh lịm dần vào giấc ngủ ngàn thu. Tuy nhiên không phải cái chết nào cũng giống nhau, có cái chết thanh thản với nụ cười trên môi thì cũng có cái chết oằn oại vì đau đớn, cái chết còn đọng giọt lệ trên hố mắt. Vâng tôi đã thay, đã thấy nhiều lắm rồi. Có cái chết đến là ngỡ ngàng, tiếc nuối hay bức xúc vì còn dở dang một điều gì đó chưa trọn vẹn trên cõi đời. Có cái chết cô đơn, còng queo trong nhà giam, không ai nghe thấy lời cuối cùng của kẻ bạt mạng như cái chết của nhà văn Dương Hùng Cường. Nghe tin anh chết, tôi ngỡ ngàng và nhớ đến những tác phẩm của anh. Từ Buồn vui phi trường đến tên tác phẩm cuối cùng của anh, Vĩnh biệt phượng. Có phải lời trăn trối của anh không, gửi cho vợ hay người yêu. Tôi bỗng như thấy cái nghênh ngang của con người anh qua bút hiệu Dê Húc Càn. Cái nghênh ngang ấy đi vào trí nhớ của tôi. Mới ngày nào anh còn tưng tửng giữa đời, mà nay anh đã là người thiên cổ. Đã bao nhiêu người bạn tôi nằm xuống. 
Một đêm tôi nằm gục trên bàn viết, cây bút không gác lên mà rời khỏi tay, lăn lóc trên mặt bàn. 
Tiếng ễnh ương kêu y uông trong vũng nước, xưa kia nguyên là một hố pháo kích sau vườn chùa Húc Nghiệm đánh thức tôi dậy, đánh thức cả kỷ niệm đang ngủ trong tôi. Tôi nhớ lại bản nhạc thuở nào: Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy nào Bây giờ anh ở đâu con ễnh ương vẫn gọi tên anh… 
Đó là lời bài hát mở đầu cho phim Người tình không chân dung của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Bài hát buồn đến ray rứt nói về cuộc chiến, một cuộc chiến đau khổ cho Việt Nam từ mấy chục năm trước mà mọi người Việt Nam ở miền Bắc, miền Nam, dù không trực tiếp tham gia thì cũng vẫn ở trong cuộc. Họ đều có những người thân ngã xuống, hay thương tật. Bài hát buồn bã đọng trong đầu tôi từ bao lâu rồi. thỉnh thoảng lại nổi lên như những câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm: 

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi 
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi 
Chinh phu tử sĩ mấy người 
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn 
Máu đổ, nước mắt rơi, bao nhiêu là tử sĩ, bao nhiêu chinh phụ, bao nhiêu những bậc mẹ cha già. Nước mắt người mẹ khóc con, vợ khóc chồng, cha khóc con, đứa trẻ khóc cha đều ai oán như nhau. 
Dù bất cứ ở nơi đâu, thuộc phe phái nào, cũng buồn lắm, đau khổ lắm. 
Hình ảnh ấy được ghi lại trong băng hình điện ảnh, con ễnh ương tạm trú trong cái mũ sắt thủng của người chiến binh nào đó bỏ lại trên chiến trường. Có thể chiến binh đó còn sống hay đã tử trận, xác thân đã rã, nhưng dấu chiến tích vẫn còn kia, làm nơi trú ẩn cho con ễnh ương ngồi khóc than ảo não trên chiến trường đìu hiu. Hình ảnh đó mở đầu cho cuốn phim chiến tranh Người tình không chân dung kèm theo lời ca buồn đến não lòng làm nền cho cả cuốn phim. Nét tài hoa của một nghệ sĩ, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, là ở đó. Anh khai thác nổi từ một hình ảnh nhỏ bé, tầm thường để làm nên cái vĩ đại trong nghệ thuật. Dù rằng điện ảnh Việt Nam thời gian đó còn trong phôi thai. 
Trước năm 1975, tôi quen biết đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, nhưng chỉ là chỉ sơ giao, vì tôi vừa là nhà háo, nhà văn. 
Do chú ý đến phim ảnh nên tôi không thể không làm quen một đạo diễn tài ba như Hoàng Vĩnh Lộc. Anh có nét vượt trội hơn nhiều đạo diễn khác, từng được đào tạo qua trường lớp ở nước ngoài. Khán giả nhìn thấy trong phim anh những nét phóng khoáng, hào hoa. Tôi được biệt trước khi làm phim, anh từng là diễn viên trong phim Bến Cũ năm 1950, từng là lực sĩ có thể hình đẹp từng là ca sĩ, kể cả làm liếp viên Hàng Không. 
Một buổi tối, trước năm 1975, tôi được mời đến dự tiệc trà ở một nhà hàng, không nhớ rõ là ở Majestic hay Continental. Buổi ra mắt hãng phim Giao Chỉ của hai nghệ sĩ tài danh. Đạo diễn điện ảnh Hoàng Vĩnh Lộc và nữ minh tinh màn bạc Kiều Trinh. Cũng là ngày đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc khởi đầu làm cuốn phim Người tình không chân dung. Chưa tới ngày bấm máy, nhưng đã được báo chí loan tin từ một hai tuần trước 
Các hãng phim hồi đó thì nhiều, mà làm thất vọng khách mộ điệu cũng không ít vì trình chiếu những cuốn phim quá gây thất vọng. Khán giả vẫn mơ ước có một cuốn phim coi được. 
Trong điện ảnh, Hoàng Vĩnh Lộc, theo anh nói, không xuất thân trong trường lớp nào. Nhưng nhiều người thấy anh có tài, có khả năng. Người ta đánh hơi thấy anh là người làm được và có thể làm hay vì anh có nhiệt tình. Anh đã cho ra mắt mấy cuốn phim trước khi anh thành lập hãng phim Giao Chỉ. 
Buổi tiệc trà tối hôm ấy khá đông đủ mặt văn nghệ sĩ. Kịch bản truyện phim, dĩ nhiên là về chiến tranh rồi. Một cuộc chiến đau thương. Giọng nói dễ thương của Dạ Lan hằng đêm gửi người chiến sĩ ở khắp 4 vùng chiến thuật để chia xẻ mọi nỗi niềm. 
Có lẽ Hoàng Vĩnh Lộc dựa vào chi tiết ấy để làm nên Người tình không chân dung. Cuốn phim có giá trị nào cũng nên có một bản nhạc nền. Người tình không chân dung cũng vậy Hoàng Vĩnh Lộc cũng mong mỏi có một bản nhạc nền phản ánh cho kịch bản truyện phim, nói lên được điều gì đó sâu thẳm của kịch bản mà tác giả, đạo diễn ấp ủ. Hoàng Vĩnh Lộc nghĩ đến điều đó và anh đã nhờ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhưng nhạc sĩ họ Trịnh lấy cớ chưa nắm vững kịch bản nên chưa làm được. 
Khi cuốn phận trình chiếu, tôi thấy bài hát “con ễnh ương”. Lời ca hay và hình ảnh cũng đẹp Khi đó hỏi ra mới biết chính Hoàng Vĩnh Lộc đã sáng tác bản nhạc nền cho cuốn phim của mình, và kiêm cả soạn kịch bản. 
Năm 1975, sau ngày “đứt phim”, tôi gặp lại Hoàng Vĩnh Lộc. Tôi hơi ngạc nhiên vì anh kẹt lại. Bạn bè chúng tôi còn lại thưa thớt nên dễ thân nhau, thân nhau qua những kỷ mềm và thân phận kẻ đồng cảnh ngộ. Buồn chán thì cùng nhau cụng ly rượu “nước mắt quê hương”. Chúng tôi thường xuyên gặp nhau, chia xót với nhau những gì mình có, rủ rê nhau cùng lao vào một điều gì hoặc cho nhau một mối làm ăn nào đó, béo bở hay không hạ hồi phân giải. 
Thuở đó miền Nam Việt Nam đã bại trận, nhưng đất nước chưa thống nhất để có tên gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Miền Nam Việt Nam có chính phủ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, quốc kỳ nửa xanh nửa đỏ có ngôi sao vàng ở giữa. Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh và tôi thường đến Alpha Film của đạo diễn “con nhà giàu Thái Thúc Nha ở đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu) sắp sửa trao lại cho nhà nước toàn quyền sử dụng. 
Sau này tôi gặp lại Thái Thúc Nha ở một tiệm ảnh nhỏ trên đường Tạ Thu Thâu. Nhà nước đổi cả cơ ngơi điện ảnh của anh để anh lấy tiệm ảnh nhỏ bé này kiếm sống qua ngày. Alpha Film xưa nay có tên xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu. Sau này tôi nghe tin Thái Thúc Nha đã chết. Tại Alpha film, chúng tôi gặp đạo diễn Mai Lộc, một đạo diễn của miền Bắc, từng đạo diễn phim Vợ chồng A Phủ. Khi ấy ông làm Cục trưởng Cục Điện ảnh. Ông mời chúng tôi về làm việc tôi nhớ ngôi nhà ấy ở đường Lê Quí Đôn. Tôi lo phần kịch bản, qua sự góp ý của hai đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc và Minh Đăng Khánh. Một tháng qua, chúng tôi thật tình vẫn chẳng làm được gì vì công việc viết lách không khó khăn mà phức tạp, đủ mọi khuôn phép, đầy những tính nọ tính kia. 
Một buổi chiều, ba người chúng tôi gom những đồng tiền rủ nhau ra quán nhậu nốc nước mắt quê hương”, sau một cuộc khẩu chiến với ngài biên tập. Rõ ràng là chúng tôi sai trái vì chúng tôi không đi đúng đường lối chính sách. Chúng tôi đồng ý với nhau là phải ngưng ngay lối làm việc này vì chỉ công toi. Chúng tôi là những người cầm bút chưa “xuyên suốt được sợi chỉ hồng”. Chúng tôi cám ơn sự giúp đỡ và xin phép được ra về. 
Hôm ấy cả ba chúng tôi say la đà. Rượu vào thì lời ra, chúng tôi ăn nói linh tinh, chẳng nhớ nói gì đến lúc sẩm tối. Ba tên chất nhau lên chiếc xích lô của người anh em chở về miễn phí. Hình như trong cảnh bần cùng tất cả mọi người đều hào phóng. Tôi không ngờ sau buổi chiều ấy Hoàng Vĩnh Lộc bị tố, tôi bị vồ hụt ở nhà Minh Đăng Khánh Trong mẻ lưới ấy hầu hết văn nghệ sĩ chế độ cũ đều bị thu gom vào nhà đá, rồi đi các trại học tập cải tạo. Tôi may phước biến được xuống Cà Mau làm cu li, vì ở Sài Gòn, tôi đã bị vợ đuổi ra khỏi nhà, lý do đơn giản vì vợ tôi là con nhà liệt sĩ, tôi không biết, trước kia nàng gá nghĩa vợ chồng với tôi là một sai lầm lớn, dù chúng tôi đã có hai mặt con chung. Tôi là đối tượng để căm thù, tôi mang biết bao nhiêu là xấu xa của một vở cải lương tố Ngụy rẻ tiền. 
Công việc làm cu li của tôi ở Cà Mau lại không xuôi chèo mát mái. Bởi chủ tôi, ông chủ nhiệm Tổ Hợp Việt Nam Kỹ Thuật phạm một sai lầm lớn là mưu đồ vượt biên trốn đi nước ngoài. Ông không thoát, bị tó. 
Tôi lại phải biến về Sài gòn. Về lại chốn này dĩ nhiên tôi tìm gặp lại anh em. Hoàng Vĩnh Lộc ra khỏi tù, một khoảng thời gian ở tù được coi là ngắn ngủi. 
Tôi hỏi Lộc: 
– Ông làm cách nào ra khỏi tù sớm vậy? 
– Tớ học lập tốt nên sớm được về xum họp với gia đình. Vả lại tớ bị bệnh xuyễn kinh niên, thêm bệnh tim nữa nên rất dễ chết. Ông cụ thi sĩ Vũ Hoàng Chương được tha rồi. Khiêng được về nhà thì chết. Thằng bạn chúng ta là thằng nhà báo Sao Biển vẫn phải chạy chợ trời kiếm thuốc cho tớ trong đấy. Thuốc hay đáo để, cứ tọng vào họng một viên tớ chết rồi là sống lại liền. 
– Này, ông được tha có giấy tờ chứ? 
Hoàng Vĩnh Lộc móc lúi đưa tôi xem giấy tờ có một chữ ký đàng hoàng: 
– Đây là giấy tạm tha, chỉ tạm tha thôi, lúc nào người ta muốn vồ lại thì cứ vồ. Trong đợt tha về với tớ đều là giấy tạm tha hết. 
– Cụ Vũ Hoàng Chương được tạm tha rồi chết thì tính sao? 
– Thì quịt nợ chứ sao nữa, có lẽ tớ cũng sẽ như vậy. 
Tôi vỡ nhẽ ra. 
Tôi lang thang chợ trời kiếm sống và tiếp tục lui tới nhà Hoàng Vĩnh Lộc chơi. Thời gian này, tài tử xi la ma hết thời Huy Cường cũng thường lui tới với anh. Huy Cường rất quí mến anh. Minh Đăng Khánh thì chưa ra khỏi tù. Hoàng Vĩnh Lộc thường xuyên lên cơn bệnh, vợ anh, chị Hồi Hương phải đưa anh vào bệnh viện Nguyễn văn Học (nay là bệnh viện Nhân Dân Gia Định). Anh cũng thường xuyên chết đi sống lại. Có lần anh đã bị đưa xuống nhà xác nhưng lại sống lại. Anh vẫn tếu như thường. Máu con nhà báo khiến tôi vốn dĩ tò mò, bây giờ lại tò mò đến chuyện khoa học huyền bí. Điêu gì tôi không biết, tôi hỏi cho biết: 
– Này ông, ông có chết thật không đấy? 
– Chết thật chứ giả sao được, tớ đã từng bị khiêng đi bỏ vào nhà xác rồi. 
– Ông thấy thế nào khi chết? 
– Nhẹ nhàng lắm, hệt như một giấc ngủ có mơ. 
– Ông kể cho tôi nghe được không?. 
Sao lại không được, lần nào tớ cũng thấy mình đi đến một bến đò, chỉ đến đấy thôi là tỉnh dậy, vì lý do gì đó, quên cái gì hay lỡ chuyến đò không chừng. 
– Lần sống lại cuối cùng này thì sao? 
– Cũng vậy thôi, khi tỉnh dậy tớ thấy mụ Hồi ngồi ngay cạnh tớ… Suýt nữa thì tớ la mụ ấy cản đường làm tớ lỡ chuyến đò. Tớ biết mình sống lại không hiểu có phải nhờ thuốc hay ông trời bắt tớ phải liếp tục sống để trả nợ đời. Cậu quên là tớ mới chỉ được tạm tha sao. Tớ còn nợ nhiều lắm, hình như chạy nợ không thoát. Không thể biết được chuyện bí mật của trời đất. Biết đâu chuyến sau tớ mới gặp chuyến tàu suốt để thoát nợ. 
Hai mươi năm sau tôi còn nhớ rành rọt từng lời nói của Hoàng Vĩnh Lộc. 
Cuối mùa mưa năm ấy tôi nghe tin Hoàng Vĩnh Lộc đi chuyến tàu suốt. Tôi đến nhà Hoàng Vĩnh Lộc trong lúc tang gia bối rối mà lòng vẫn nửa tin nửa ngờ. 
Gặp Sao Biển ở đó, tôi hỏi: 
– Anh ta chết thật chưa mà đã khâm liệm? 
– Thật rồi, lần này anh ấy đi chuyến tàu suốt quên lấy vé khứ hồi. Hồi chiều tớ mới đi sắm được cái sơ mi gỗ cho anh ta. Gớm, người gì mà dài quá, cái chân anh ta hơi khèo một chút. Nhưng vẫn còn hơn chết bó chiếu. 
Anh em bạn cũ còn nhớ đến anh lác đác đến. Tất cả đều khóc thương anh. Nổi bật nhất là Huy Cường, anh khóc gào thật tình không phải diễn xuất đóng phim: 
– Anh Lộc ơi, sao anh bỏ anh em, anh không chờ em đi với, em cũng chán sống rồi. Tôi thường thấy Huy Cường khóc những lúc ngồi uống rượu một mình. Huy Cường uống rượu khan và uống như hũ chìm, không bao giờ dùng đồ mồi, dù chỉ một hạt đậu phong đưa cay. Một người nghiện rượu chân chính. 
Một năm sau, khi tôi ở trong nhà tù, nhận được mảnh báo gói đồ thăm nuôi, có cáo phó đăng tin Huy Cường tử nạn, tức Vũ Minh Chính bị tai nạn chết bất đắc kỳ tử. Tôi tự hỏi có phải ngày nào anh đã nói gở không? 
Huyệt chôn Hoàng Vĩnh Lộc ngập nước mưa. Chuyến ra đi của anh thật ướt át. Tôi lại nhớ hình ảnh con anh ương nằm trong nón sắt vẫn gọi tên anh. 
Hoàng Vĩnh Lộc đã trốn thoát nợ đời hơn hai chục năm qua. Biết bao vật đổi sao dời, không biết phần mộ của anh còn không? Vợ con anh đã xa biệt Việt Nam. ở tại Việt Nam, anh còn người thân nào? Tôi không biết. Nghĩa địa trong thành phố hoặc ven đô từng bị đào xới, di dời. Tôi thường nghe nói những phần mộ, những nắm xương tàn vô thừa nhận được xử lý có tình có lý. Tôi chỉ nghe nói như vậy. Ngày cuối năm, tôi muốn đến phần mộ Hoàng Vĩnh Lộc cắm cho anh nén nhang. Nhưng không biết anh nằm đâu, xương cốt anh giờ cũng phiêu linh. 
Đêm khuya ngồi với bầy muối đói, tôi đốt một điếu thuốc Bastos, tưởng nhớ đến bạn xưa. Tôi nghĩ đến cái mũ sắt bị bỏ rơi trên chiến trường, bên bờ lau sậy, con ễnh ương cô đơn ngồi làm tổ không ngớt gọi tên anh. 
Đêm nay trời mưa bão, tôi nhớ hai mươi mấy năm trước, Hoàng Vĩnh Lộc đã nằm xuống vào mùa mưa bão này. Tôi không còn thớ được chính xác ngày tháng anh em bạn bè nằm xuống như Minh Đăng Khánh, Dương Hùng Cường, Huy Cường và nhiều anh em khác nữa. Nhưng tôi nhớ đến họ và viết về họ để cốt nói lên cái chất của họ. Họ như còn sống mãi bên tôi, tiếng cười câu nói của họ vang mãi trong đầu tôi.

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy long
Post by Sơn râu 29 May 2024

3. Chương 3

Đã từ lâu rồi, cư dân Sài Gòn, không kể Bắc, Trung, Nam, lâu ngày bỗng nhiên gặp nhau. Thế rồi tay bắt mặt mừng, thăm hỏi nhau, cuối cùng phải có sự hỏi han về chính thân phận của nhau: 
-Thế nào lâu nay ông làm gì? 
Tức là một câu hỏi dành riêng cho công ăn việc làm của anh. Câu trả lời của người hóm hỉnh, thất nghiệp kinh niên rất tiêu cực: 
– Làm thinh? 
Chỉ một chúi sững sờ, nhưng rồi sẽ hiểu ngay thôi, người bạn được trả lời bèn cười xòa, sự đời cay cú thế đó. Động từ làm thinh được coi như là công việc nghề nghiệp, danh từ. Nghề gì lại là nghề làm thinh. Làm thinh để mà sống. Anh sống thế nào thì mặc kệ anh, sự sống quí giá như thế đấy Ngược lại câu khẩu hiệu mà người dân Sài Gòn nào cũng được nghe từ hơn hai mươi năm trước: Lao động là vinh quang, Lang thang là chết đói. Hai chữ làm thinh phản bác thẳng vào câu khẩu hiệu có tính cách đe dọa kia. Như một câu gắt gỏng quen thuộc của cụ cố trong tác phẩm Số Đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng: Biết rồi khổ lắm nói mãi! Người nhận được câu trả lời chẳng thèm bực mình khi được người bạn trả lời như thế còn lấy làm thú vị khoái trí. Hiểu hoàn cảnh bạn rất rõ, vặn vẹo bạn theo kiểu tam đoạn luận chỉ vô ích mà thôi, chỉ cần hai chữ đã nói lên tất cả, có biết bao nhiêu người làm thinh mà sống mãi. Chẳng chết thằng Tây nào suất cả. Người kia bèn hỏi bạn: 
– Còn anh? 
– Cũng làm thinh như anh. 
– Bậy nào! 
– Tôi có là nhà giáo thật, nhưng mất dậy rồi nên vô lương. Hớp không khí mà sống. Chúng ta đồng hội đồng thuyền hiểu nhau quá mà. 
Hai nhà trí thức hết thời, đồng nghiệp làm thinh chơi chữ với nhau một lát rồi “giung giăng giung giẻ ” dắt nhau đi. Cái lắt léo của ngôn ngữ Việt Nam nó thế đấy! 
Tôi tiếc là hai chục năm qua tôi không ghi lại được biết bao nhiêu bài đồng dao, bao nhiêu là từ quái dị, bao nhiêu câu vè câu thơ, những chuyện tiếu lâm thời đại, truyền tụng trong dân gian. Đó là sở trường của người Việt Nam. Chính tôi cũng bị nhiễm những từ ấy mà không biết. Tôi từng dùng hàng ngày. Có thể đột xuất hoặc cố ý. Tôi đã từng trả lời ai đó hỏi tôi làm nghề gì. Tôi trả lời làm thinh cho yên. Cho đỡ sốt ruột, đỡ phải nói quanh co mất thì giờ, sự thành thật là đáng quí: “Báo cáo anh lâu nay tôi làm thinh.”. Thế có phải là ngắn gọn không nào. Con người tôi vốn dĩ đã nhiều sai trái rồi, mà càng nói thì càng sai. Tốt hơn hết dù có không câm cũng nên nói ít đi. Tôi có thú vui riêng của tôi, đời sống riêng, cứ việc tưng tưng giữa cuộc đời. 
Tôi đang ở trong cuộc đời mà nhớ Sài Gòn da diết. Nhớ từng góc phố, từng con đường, nhở hình bóng từng người bạn đi qua trong đời tôi. Người tình xa, người tình gần, nhớ tuốt luốt. Người còn sống và người đã chết. Dĩ nhiên phải có giới hạn với tôi, tôi không thù không ghét ai cả. Anh em như thể tay chân. Những kỷ niệm đó giúp tôi có thể viết hồi ký được. Tôi nhạy cảm nên dễ đau xót, khi nghe tin một người bạn tôi ở nơi xa nằm xuống vì chứng bệnh nan y. Mừng vui khi nghe bạn thành công, dù tôi chẳng ăn cái giải gì. 
Thời tiết Sài Gòn mùa mưa mùa nắng đều gợi nhớ đến những kỷ niệm, xót xa có, mừng vui cũng có vậy. Nhiều khi tôi lẩn thẩn tự đếm xem những người bạn của mình ở Sài Gòn đã bao nhiêu người nằm xuống bao nhiêu người đã ra đi, bao nhiêu người còn phải bon chen trong đời sống. Mỗi bước chân di chuyển là mỗi kỷ niệm. Những kỷ niệm đó trong sáng thôi, chẳng hại ai, nói chung là vô hại. Mỗi bước chân đi là gợi nhớ dĩ vãng. Bước chân càng chậm chạp càng gợi nhở sâu đậm hơn. Tôi đã có những bước chân như thế trong hai mươi năm qua. Vâng, từng góc phố, từng con đường. Nhớ những người quen, những người bạn, những người thoắt hiện và thoắt biến khỏi cuộc đời, những người đi xa rồi lại trở về.
Trong ngày đưa đám Trần Lê Nguyễn, tôi gặp lại họa sĩ Hồ Thành Đức, sau đó gặp lại họa sĩ Bé Ký, vợ anh Đức. Lại có dịp đi lên trung tâm Sài Gòn nghĩ đến chị Bé Ký trên những con đường tôi đã đi qua trước đây. Con đường Tự Do xưa, đường Lê Lợi, hai con đường ở trung tâm thành phố Sài Gòn, khách nước ngoài ở nhiều. Sau những năm di cư 1954. Một hình ảnh đập vào mắt tôi nhiều nhất là hình ảnh nữ họa sĩ Bé Ký. Khi ấy chị chưa được gọi là họa sĩ mà chỉ là một thiếu nữ còn ít tuổi, sống bằng nghề bán tranh, những bức tranh “hàng chợ”, cũng vẽ trên lụa trên nhung, bàng phấn tiên hay sơn dầu, nhưng quả thật không mấy có tính cách nghệ thuật. Những đường nét vụng về của các tay thợ vẽ vẽ cảnh chiều tà, con đò lênh đênh giữa dòng. Mái tranh nghèo tỏa khói lam có mục đông cưới trâu trở về làng, cánh đồng và cánh cò bay, đại khái như thế, v.v…và v. v…. 
Bé Ký ngày đó còn rất trẻ, có lẽ tuổi chỉ trên dưới hai mươi, nhưng người chị nhỏ bé, tóc bỏ xõa, quần áo bà ba giản dị, tay ôm xấp tranh đi bán dạo trên những đường phố quen thuộc. Chị trông thật đơn giản, như những cô gái bán tranh, bán đồ lưu niệm khác ở Sài Gòn thuở ấy. Thu nhập kinh tế chắc cũng không nhiều. Nhưng những ghi nhận của chị trên đường phố chắc hẳn phải phong phú lắm cho sự nghiệp hội họa của chị sau này. Tôi là người yêu hội họa, đã từng mơ ước đeo đuổi hội họa, nhưng không thành công, nên không dám lạm bàn sâu. Ngắm tranh của Bé Ký chỉ biết tranh chị đẹp, đường nét đơn sơ và rất sống động, gần gũi với những cảnh diễn ra hằng ngày trên đường phố. Một chút đòi thường được ghi nhận qua hội họa, mà ai cũng nhìn ra ngay qua tranh của chị. 
Tôi chưa từng biết tên thật của chị, cho đến bây giờ cũng vậy. Tôi chỉ biết họa sĩ Bé Ký chính là cô gái bán tranh dạo trên đường phố. Lần đầu tiên tôi xem chị triển lãm tranh ở Alliance Francaise. Bé Ký, nữ họa sĩ Bé Ký. Vẫn con người đơn giản như thế, có hơn chút xíu chăng là chiếc áo dài Việt Nam, một chút phấn thoa mặt, khi chị đứng ở phòng triển lãm cùng với quan khách, người xem tranh. Báo chí khi đó nói về tài năng hội họa của chị nhiều, như một hiện tượng. Tôi chỉ nhớ được chừng đó thôi, thành ra nói về chị cũng thật đơn giản. Tôi không thể có cái sâu sắc của người trong nghề hay chú tâm theo dõi, nghiên cứu. Một thời gian sau, tôi nghe tin chị Bé Ký và họa sĩ Hồ Thành Đức kết hôn, tấm thiệp hồng của đôi vợ chồng ấy chỉ có tên họa sĩ này tự thành hôn với họa sĩ kia, không có tên bố mẹ, hoặc bậc bề trên nào của hai người làm chủ hôn. Thật đơn giản hơi có chút sách mé của người nghệ sĩ. 
Thời tôi làm xuất bản ở Sài Gòn, đúng ra là tự in lấy sách của mình. Tôi đến nhà đôi vợ chồng Bé Ký, Hồ Thành Đức nhờ vẽ bìa. Căn nhà đó tôi nhớ là trong con hẻm đường Trường Tấn Bửu, nhà cửa còn lụp xụp lẩm. Cũng là xưởng vẽ của vợ chồng Hồ Thành Đức – Bé Ký. Chị luôn luôn say mê với nghiệp hội họa của mình. Tôi nhớ câu chị nói: 
– Tôi nhìn đâu cũng thấy những đường nét biến thành những bức tranh, miếng giẻ rách vứt ở cuối nhà kia hoặc khoảng vôi quét nham nhở trên tường tôi cũng nhìn thấy có những đường nét của một bức tranh. Tôi muốn vẽ, nó có hình tượng… 
Bây giờ tôi nhớ và ghi lại những lời này, tôi tin rằng mình không nhớ sai. 
Sau 30-4-75, tôi gặp lại vợ chồng Hồ Thành Đức, Bé Ký. Tôi lại đến thăm vợ chồng nhà ấy, nhưng ở một căn nhà khác trên đường Phan Thanh Giản cũ ở Dakao, nay là đường Điện Biên Phủ. Vẫn là để xem những bức họa và hỏi thăm nhau. 
Khi ấy vợ chồng Hồ Thành Đức mới đi thăm miền Bắc về. Chị Bé Ký vẽ một bức tranh thật to rộng, có lẽ bức phác họa cho tranh sơn mài. Tôi nhớ nội dung bức tranh là đám cưới ở thôn quê Việt Nam thuở xa xưa. Có những đứa trẻ tóc để trái đào giăng dây ngang đường cô dâu chú rể đi qua. Tinh thần phong tục rất Việt Nam, có chút phiền nhiễu đó, nhưng chẳng ai buồn lòng. Cái phiền nhiễu cần có trong tình nghĩa lứa đôi tôi nhìn thấy nụ cười ở cô dâu chú rể và tất cả mọi người. Ngọt ngào như khi đọc một bài về phong tục Việt Nam của Toan ánh. Vì là bức phác họa nên chưa có màu sắc. Khi có màu sắc rồi tôi nghĩ cũng rất đơn giản như những bức tranh khác của chị đã từng sáng tác. 
Nói về tranh Bé Ký, tôi hoàn toàn nói trong trí nhớ từ hơn hai mươi năm trước, thực tình cho đến nay tôi chưa được xem thêm một bức tranh nào của người họa sĩ đường phố ấy. Hai vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức – Bé Ký lên đường sang Hoa Kỳ rồi. 
Tôi gặp lại họ trước ngày lên đường được một buổi, không có dịp hàn huyên nhiều. Tôi chỉ biết chúc các bạn tôi thành công trong nghiệp hội họa. Khối người mơ ước trong ngành nghề mình từng đeo đuổi mà không được thành công đấy. Sự xót xa ấy mới cay đắng làm sao. Biết nói gì đây, coi như không nói gì hết, làm thinh. Nhưng khổ lắm, tôi làm sao làm thinh được.
Tôi còn thấy quá nhiều, quá nhiều kỷ niệm chưa nói tới, ở thân phận tôi, thân phận bằng hữu ở khắp mọi nơi, những người bạn đã nằm xuống trên quê hương mà số phận đã an bài, ở ngay trong thành phố này. Những người vẫn còn sống, họ sống thế nào, ra sao? Tôi biết khá rõ đấy ở từng góc phố, từng con đường. Ra khỏi nhà là gặp dĩ vãng, gặp kỷ niệm, ai cũng vậy cả thôi chẳng riêng mình tôi. Chỉ khác nhau là làm thinh và không làm thinh thôi. 
Thú vui của người lớn tuổi là nhớ lại kỷ niệm, dĩ vãng. Tôi cũng vậy và còn bày đặt viết hồi ký, dù tôi chẳng là cái thá gì, cũng chẳng một chút mưu đồ gì. Chiếc xe đạp và chiếc xe solex vẫn cứ đưa tôi đi. Tốc lực càng chậm tôi càng nhớ nhiều. Kìa, tôi nhìn thấy hình ảnh đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh. Cơn khùng điên bất thường của thi sĩ Bùi Giáng trên đường phố. Những người đó đã nằm xuống rồi. 
Quán rượu Mười Hai Bến Nước ở đường Trương Minh Giảng, bạn tôi, nhà văn Dương Hùng Cường ngồi ngất ngưởng ly rượu thuốc khề khà chuyện trời đất. Anh đã “đứt bóng” trong nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu, tức Chi Lăng xưa. ở góc đường Ngô Quyền, Vĩnh Viễn miệt Chợ Lớn kia, nhà văn Lê Xuyên đã ngồi bán thuốc lá lẻ suốt hai mươi năm trời. Người ta đã quên anh, nhưng cũng có người chưa quên anh. 
Khi gặp anh, anh nói với tôi được một câu, nghe mà chán chường: 
– Gặp cậu, tớ mới nhớ ra mình là Lê Xuyên. Nhớ anh em gọi mình là chú Tư Cầu. 
Tôi đã toan ngừng viết hồi ký sau hai tập hồi ký đã viết rồi. Nhưng tôi như cái xe bị đứt thắng cứ tuồn tuột trôi đi, lại đang đổ dốc, con dốc dài… 
Ngày mai tôi đi xe đò lên Bảo Lộc, thăm bạn thi sĩ Tú Kếu. Tôi ngồi trước người bạn bị bệnh quên, bệnh Alzheimer, đến độ không còn nhớ mình là ai. Nhưng có điều duy nhất anh không quên anh là thi sĩ. Theo như chị Phượng, vợ anh, nói lại như thế. 
Đó là điều mừng, tôi phải tới thăm anh xem thực hư ra sao. Buổi tiếp xúc này tôi phải đế ngấu trong tôi, lên men rồi tôi mới viết được.

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 29 May 2024

Phần 10

Sức Người Trong Vòng Xoay Định Mệnh

(Phần X của thiên hồi ký này là một chương đặc biệt mà tác giả ghi lại để kính dâng lên hương linh của tất cả các quân dân cán chính của VNCH đã vị quốc vong thân và dâng lên hương linh của tất cả các đồng bào tử nạn trong cuộc chiến tranh trước năm 1975 và sau khi Sàigòn sụp đổ.)

Khi xâm chiếm xong miền Nam và nhuộm đỏ toàn bộ đất nước, và cái ngày mà Sàigòn sụp đổ thì nhà cầm quyền Bắc Việt đã hoạch định sẵn một kế hoạch khổng lồ và âm mưu thâm hiểm nhằm diệt trừ hết những mầm mống của chế độ cũ VNCH trên con đường đưa miền Nam vào hẳn trong quỹ đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Một mặt họ tập trung “cải tạo” hàng triệu viên chức sĩ quan chế độ cũ theo chế độ “học tập 10 ngày” hay “học tập 1 tháng” trong khi hàng triệu người khác phải theo học một khóa ngắn hạn ba ngày tại địa phương.

Mặt khác họ “cải tạo” lại xã hội bằng cách xua đuổi nhân dân trong các thành phố, nhất là tại Sàigòn ra khỏi nơi đang cư trú để đi vùng “kinh tế mới” mà thực tế là những vùng hoang dã chưa khai phá hay nơi rừng thiêng nước độc vắng bóng người, để chiếm đoạt nhà cửa và tài sản của người dân trong mục tiêu củng cố thế lực và triệt tiêu các lực lượng “thù địch”.

Mấy năm sau thì họ đổi tiền và mỗi gia đình chỉ được đổi tối đa lúc ban đầu là khoảng 200 đồng mà thôi, nếu có nhiều tiền hơn thì nó sẽ trở thành tờ giấy trắng vô giá trị. Mục đích của đổi tiền là nhằm “bần cùng hóa” nhân dân để cho dân chúng trong miền Nam vốn giầu có hơn miền Bắc sẽ phải trắng tay và nghèo đói như nhân dân ngoài Bắc để có thể dễ bề cai trị hơn.

Một Định Mệnh cay nghiệt vừa phủ xuống miền Nam từ thành phố về đến ruộng vườn nông thôn sau tháng Tư năm một chín bẩy lăm. Cả miền Nam bị đắm chìm trong đau thương sau những chính sách và biện pháp trục xuất dân đi kinh tế mới, rồi đổi tiền và đánh tư sản của cái chế độ mới tự xưng là chính quyền của nhân dân.

Mọi người dân lành chất phác của một miền Nam hiền hòa phút chốc rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi thương, thẩy đều ngơ ngác bởi từ ngàn xưa đến nay chưa từng xẩy ra trên đất nước và quê hương này bao giờ – chính người Việt đang tiêu diệt người Việt vì ý thức hệ Tư Bản đã bị thay thế bằng thể chế Cộng Sản.

Những con người của chủ nghĩa Vô Sản đang giáng những đòn chí tử vào chính nhân dân họ và reo rắc những nỗi kinh hoàng khắp nơi để làm tê liệt ý chí đối kháng nếu có còn rải rác trong xã hội.

Trong khi đó thì trại giam mọc lên khắp ba miền đất nước để giam giữ, trả thù và đầy đọa những người trước kia đã từng chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của miền Bắc vào miền Nam, và cũng để cô lập các viên chức sĩ quan chế độ cũ khỏi gia đình và ra khỏi xã hội.

Cái chế độ “khoan hồng nhân đạo” và “học tập cải tạo” thực chất chỉ là một nhà tù tập trung vô nhân đạo nhất trên thế giới nhằm giết dần mòn những tù nhân chính trị này từng ngày, từng tháng và từng năm với một cuộc sống tù tội, xúc phạm nhân phẩm con người, lao động khổ sai hàng ngày ngoài nắng mưa của mùa Hè hay sương gió giá lạnh của mùa Đông mà đói khát, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men, và phải sinh sống trong những điều kiện vệ sinh hết sức tồi tệ của các trại giam.

Rồi trong các mùa viêm nhiệt tại miền Bắc thì các tù nhân phải hứng chịu các dịch bệnh tiêu chảy và kiết lỵ do vấn đề thời khí quá oi bức, buồng giam chật ních tù nhân, cộng với việc nấu ăn trong nhà bếp không vệ sinh và bảo quản không tốt.

Những dịch bệnh nhất là kiết lỵ tại nhiều trại đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng của tù nhân chính trị với lý do đơn giản là không có thuốc điều trị. Kiết lỵ là một bệnh rất đễ chữa trị nếu có thuốc trụ sinh vì là bệnh nhiễm trùng đường ruột vậy mà nhiều người đã chết vì nó một cách dễ dàng và oan uổng. Thực tế mà nói thì chính ngoài dân chúng cũng còn không có thuốc men thì làm sao mà trong tù có thể có được.

Bởi vậy nếu làm tù nhân trong các nước tiên tiến thì còn có thể giữ gìn được sức khỏe và còn có cơ hội sống sót mà trở về chứ sống trong một xã hội như miền Nam sau ngày Sàigòn sụp đổ thì cũng đã khó mà tồn tại rồi, đừng nói gì là trong bốn bức tường tập trung của trại giam XHCN.

Những đợt dịch bệnh ấy như những làm mây đen bao phủ các trại giam và quật ngã không biết bao nhiêu tù nhân. Nhưng trong những trường hợp bị căn bệnh quái ác này có một trường hợp thật lạ lùng và đối với tôi lúc đó mang tính cách huyền bí là anh Luân, Đại Tá chỉ huy trưởng đơn vị 101.

Khi đó anh Luân đang bị biệt giam tại trại Hà Tây, tỉnh Hà Sơn bình, thì anh bị kiết lỵ, trại cũng chỉ cấp cho Xuyên Tâm Liên và anh dần dần kiệt sức chỉ còn nằm chờ chết vì không ăn uống được gì dù là cháo loảng.

Thế nhưng, có một cái gì thôi thúc anh cố gắng ngồi dậy và dựa vào bức tường trong phòng biệt giam rồi anh chuyên tâm niệm danh hiệu Đức Phật Bà Quán Thế Âm Cứu Khổ Cứu Nạn. Khi nào quá mệt thì anh nằm xuống nghỉ một chút rồi lại gượng ngồi dậy để chuyên chú niệm danh hiệu Đức Phật Bà trong mấy ngày đêm liên tục.

Trong thâm tâm anh cũng chỉ cầu mong Đức Phật Bà nghe được thì sẽ được Ngài thương xót mà đem anh đi khi anh nằm xuống mà thôi, nhưng như là một phép lạ, anh cảm thấy trong người từ từ bớt đau nhói trong bụng, kiết lỵ cầm dần dần, anh từ từ húp được ít cháo và sức khỏe dần dà hồi phục lại.

Anh đã khỏi bệnh truyền nhiễm này mà không có một viên thuốc trụ sinh nào trước con mắt cực kỳ kinh ngạc của bọn cai tù vì chúng đã bảo bên tù hình sự chuẩn bị làm sẵn một cái quan tài bằng gỗ mộc rẻ tiền để chờ khiêng anh lên ngọn đồi nghĩa trang của trại.

Sau này khi ra khỏi khu biệt giam, anh thực hành quán Thiền với thầy Tông và các anh Trãi, đại tá không quân và anh Đồng Tuy, một người thầy về khoa Tử Vi, và dù có gia đình thăm nuôi sau đó nhưng anh vẫn giữ ăn chay trường. Nhìn anh tóc bạc phơ nhưng lúc nào nói chuyện với tôi, anh cũng nở nụ cười hiền hậu như một tiên ông, tôi cũng học thêm được một nhân cách đáng quí của một con người mà tôi kính phục.

Trước kia khi còn là chỉ huy trưởng của cả một đơn vị quân báo oai hùng, anh vẫn luôn được sự kính trọng của thuộc cấp, bây giờ dù thân tù tội anh vẫn hiên ngang không đầu hàng kẻ địch dù đang sa cơ thất thế nên cuối cùng chúng cũng phải cho anh ra khỏi khu biệt giam. Tôi tin rằng Trời Phật đã ngó xuống và cứu anh trong giây phút thập tử nhất sinh đó bởi anh là một anh hùng.

Một thời gian sau anh được gọi ra thăm nuôi và khi vào trại, anh gọi tôi ra ngồi với anh trên băng đá trong sân thì anh tâm sự với tôi là chính Ba của anh vào thăm nhưng ông ta là người của phía bên kia, không phải người Quốc Gia VNCH mình cho nên anh đã dứt khoát từ chối lời đề nghị bảo lãnh của ông để anh có thể ra tù sớm. Tôi lại càng thêm yêu mến anh hơn vì anh đã đặt lý tưởng và chính nghĩa Quốc Gia VNCH của mình lên trên tình Phụ Tử dù là người cha đó biệt tích đã lâu nay bất ngờ xuất hiện.

Muốn trị các bệnh tật thì phải có thuốc nhưng thuốc men cung cấp cho các tù nhân không có gì ngoài Xuyên Tâm Liên, nó giống như một loại thuốc tễ cao đơn hoàn tán hình viên tròn nhỏ, không ai biết nó được bào chế ra sao, gồm những hợp chất gì, và không biết nó dùng để trị bệnh gì nữa.

Nhức đầu, cảm, sốt cao độ cũng cho Xuyên Tâm Liên, kiết lỵ cũng Xuyên Tâm Liên, đao bao tử cũng nó luôn, có anh khai bị ói mửa cũng Xuyên Tâm Liên. Riết rồi chẳng ai muốn đi khai bệnh xin thuốc làm gì vì đã biết loại thuốc nào mà bệnh xá trại sẽ cung cấp.

Chính vì thế mà trong ba năm đầu tiên chúng tôi bị chuyển ra Bắc, sức người chỉ có hạn trong những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết và chế độ ăn uống thiếu thốn nên người nào cũng ốm o gầy mòn dần một cách thảm thương như những bộ xương khô còn cử động bởi vì chúng tôi cũng giống như một sợi giây đã bị kéo ra quá căng rồi. Mỗi lần dịch bệnh tái phát thì có khi đến hàng nửa đội lao động bị bệnh phải nằm tại buồng hay khiêng xuống bệnh xá.

Vào năm thứ hai ở ngoài Bắc thì một đợt dịch Cúm lan tràn vào đến trong trại giam và hầu như tất cả mọi anh em chúng tôi đều bị nó quật ngã vì lúc ấy sức đã quá yếu rồi. Ngoài đó dân chúng cũng rất là sợ cái căn bệnh “ông Cúm bà co” này nhưng vì thiếu ý thức và thiếu kiến thức về bệnh dịch nên một khi nó xẩy ra thì bùng phát rất là nhanh.

Bệnh xá trại không còn chỗ trống và bệnh nhân phải nằm ngay tại buồng giam của mình và không gì ngán ngẩm hơn là các cán bô y tá của họ vào để chẩn bệnh xong rồi cũng phát cho mỗi người vài chục viên Xuyên Tâm Liên rồi quay gót ra đi.

Cuối cùng khi thấy quá nhiều người bị Cúm thì họ tìm cách trấn an người tù bằng hình thức cho các bộ phận y tế của trại vào từng buồng giam để nhỏ nước tỏi vào mũi.

Anh Lạt bạn thân của tôi, là một Thiếu Tá Cảnh Sát đặc Biệt, khi còn ở trại giam Long Thành, miền Nam, năm đầu tiên, dáng người khỏe mạnh rắn chắc như lực sỹ, bây giờ như que củi và nói với tôi rất bi quan rằng có lẽ mình sẽ không qua khỏi được cơn bệnh này.

Lúc đó tôi cũng chẳng khá gì hơn và chỉ biết an ủi anh rằng hy vọng đợt Cúm này sẽ chóng qua, nhưng không ngờ rằng ngày hôm sau thì chính tôi lại bị sốt cao độ và cơ thể đau nhừ khắp người như bị tra tấn rồi mê man không còn biết gì nữa.

Đến khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trong bệnh xá trại và các giuờng đầy nhóc tù nhân. Chỉ có hai ngày bị “ông thần” Cúm này tấn công, tôi trở nên hốc hác đến độ các bạn tù xuống thăm không nhận ra tôi nữa dù là họ đang đứng ngay bên giường của tôi và hỏi thăm xem tôi đang nằm ở đâu.

Thế rồi tôi cũng chẳng hiểu sao, từ từ tôi lấy lại sức dù rằng bệnh xá cũng chẳng có gì “bồi dưỡng” ngoài ít cháo loãng mỗi ngày hai bữa, và vừa đứng dậy được thì chúng tôi được lệnh phải ra lao động ngay vì đợt Cúm đã làm cho kế hoạch sản xuất của trại bị chậm lại.

Đội của tôi lúc đó được phân công nhổ cỏ trong những đám ruộng còn ngập nước mà tay quản giáo nói là trại đã “ưu ái” cho lao động nhẹ.

Nhưng không may cho tôi là người chưa khỏe hẳn mà chân ngâm trong nước suốt ngày nên đêm hôm đó tôi lại lên cơn sốt mê man lần nữa.

Người lúc nóng ran lúc lạnh run như lên cơn sốt rét đến độ anh Luận, một Trung Úy trẻ tuổi nằm bên cạnh, phải lấy hai tấm chăn đắp cho mà hai hàm răng tôi vẫn đánh lập cập. Hôm sau tôi và cùng với ba anh nữa được cho nghỉ tại buồng ăn cháo một ngày.

Tôi tin vào Định Mệnh và có lúc cũng nói với anh Lạt lúc hai đứa đang bệnh một câu có vẻ như vô nghĩa nhưng rất thực tế và khôi hài rằng nếu mình không chết thì…mình sẽ sống và cả hai thằng đều mỉm cười.

Sau một năm tại trại Long Thành, miền Nam, và ba năm ngoài Bắc thì hình như Định Mệnh đã mỉm cười với chúng tôi khi mà gia đình trong Nam nhận được thư chúng tôi gửi liên quan đến vấn đề thăm nuôi và các thứ thật cần thiết như nhu yếu phẩm, thuốc men và quần áo ấm.

Tôi tin rằng Ơn Trên và Trời Phật đã nhủ lòng thương xót những tù nhân chính trị này mà xui khiến cho đám vô thần đó mở cửa cho gia đình chúng tôi được ra thăm nom và tiếp tế kịp thời. Nếu trễ một vài năm nữa thì có lẽ nhiều người trong đó có tôi sẽ chẳng bao giờ còn nhìn thấy ánh nắng Mặt Trời nữa.

Đến khi Mẹ và em gái tôi đến thăm lần đầu tiên, nhìn những loại thuốc tây hiếm quí mà anh thứ Hai của tôi là Quân y nên đã gửi ra rất đầy đủ từ thuốc trị kiết lỵ tiêu chẩy, cảm cúm Contac, B-complex, Aspirin cho đến cả kẹo ngậm ho thì lòng tôi rất vui vì nghĩ rằng mình sẽ có dịp dùng nó để trị bệnh cho mình và cho các bạn bè của mình nữa.

Con người ta sau nhiều năm bị tù đầy giam giữ cũng ví như một cây khô hạn mà sự sống chỉ còn lung linh như ánh nến trước cơn gió.

Cũng bởi vậy mà khi có được các loại thuốc men trong tay thì tác dụng kỳ diệu của các viên thuốc này giống y như thần dược trong các truyện cổ tích mà chúng ta đọc khi còn bé.

Một hôm tôi thấy anh bạn nằm cạnh bên là anh Bạch, Trung Úy trong số mấy trăm anh em từ trại Thạnh Mỹ Tây trong Nam theo tầu Sông Hương chuyển ra Bắc và về cùng trại với tôi đang ghè đầu vào tường.

Tôi lớn hơn Bạch hai tuổi nên coi như anh em nên lấy làm lạ bèn hỏi anh:

-“Ê! Cậu làm sao vậy?”

-“Nhức răng quá chịu không nổi phải ghè đầu vào tường cho bớt đau.”

Tôi suy nghĩ mãi vì thông thường thì nếu ở ngoài xã hội thì chỉ có đi Nha sĩ mới chữa được thôi nhưng trong hoàn cảnh này đời nào họ chịu chở tù nhân ra thành phố để…chỉ chữa răng? Đến bệnh trầm kha nhiều lúc họ cũng vất xuống bệnh xá trại và chờ khi nào có chỉ thị mới đưa đi chữa bệnh ngoài tỉnh được nữa là.

Tôi sực nhớ trong tờ giấy anh Hai tôi chỉ dẫn là thuốc Aspirin chữa được các loại đau nhức nhưng không uống lúc bụng đói. Tôi bèn tự đóng vai bác sỹ bất đắc dĩ và lục trong ba lô ra ba viên Aspirin và đưa cho Bạch mà trong lòng cũng cầu cho bạn mình qua được cơn đau nhức này:

-“Anh mình bảo rằng Aspirin chữa được đó, bây giờ cậu ăn ít bánh bột hấp – là phần ăn mỗi ngày của chúng tôi trong khẩu phần 15 kí chất bột cho người lao động – xong rồi uống một viên rồi hai tiếng nữa uống thêm viên nữa xem sao.

Tôi không dám cho uống cùng một dose 2 viên vì sợ quá mạnh cho bao tử.

Bạch nghe lời tôi uống hai viên Aspirin trong hai tiếng đồng hồ và đúng là phước chủ may thầy không hiểu sao anh ta hết đau răng luôn từ đó.

Bạch chưa có gia đình thăm nuôi cho nên tôi bảo anh giữ lại viên Aspirin kia phòng hờ nếu nó có hành đau nhức lại thì uống khi không có tôi bên cạnh. Từ đó chúng tôi thành bạn thân ngoài tình anh em làng giềng nằm cạnh nhau. Bạch là một người rất dễ thương, tính tình nhỏ nhẹ như con gái và thường cười để lộ cái…răng vàng sáng chói.

Năm sau thì anh được tha về và có ghé thăm Mẹ và các em tôi tại Sàigòn kể những chuyện vui buồn khi tụi tôi sống chung trong traị những năm tháng tù đầy cho Mẹ tôi nghe trước khi anh về tỉnh.

Một trường hợp nữa về sự diệu kỳ của thuốc gia đình gửi vào là một ngày khi tôi đang nằm ở từng trên thì thấy có ai giựt chân mình, hóa ra là anh Nhơn, Đại Úy pilot trực thăng.

Tôi cũng thường là một khán giả hay nghe Nhơn kể chuyện về không quân ngày trước với những chiến công oai hùng của KQ VNCH.

Một trong những truyện làm tôi vô cùng xúc động là về người anh hùng phi công trẻ tuổi nhất của KQVN là Thiếu Tá Nguyễn Dzu, và về sự tàn bạo vô nhân tính như ác quỷ của những người cộng Sản.

Khi anh được vinh thăng Thiếu Tá thì cấp bậc đó đã bị hoãn lại một thời gian vì anh quá trẻ để gắn lon Thiếu Tá. Anh lập không biết bao nhiêu là chiến công kể cả diệt hàng chục xe tăng T-54 của Cộng Sản, phi đội của anh đã chặn đứng cả một trung đoàn địch không vượt qua được con sông Thạch Hãn. Anh luôn tình nguyện lái thay các bạn mình về phép nhưng không ngờ chuyến bay của anh thay cho một người bạn bên bờ sông Thạch Hãn trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm ấy lại là chuyến bay cuối cùng của Định Mệnh oan nghiệt.

Khi phi đội anh hoàn tất nhiệm vụ và lạng cánh bay về thì anh nhìn thấy một cụm pháo phòng không của địch, cụm pháo này đã bắn cháy một khu trục trong trận chiến hôm đó và anh quyết định vòng trở lại một mình bất chấp các bạn trong phi đội can ngăn và khi anh bắn được trái rocket trúng mục tiêu cũng là lúc mà máy bay anh trúng đạn phòng không bốc cháy và anh bị trúng thương nơi chân.

Anh phải nhẩy dù khẩn cấp và không may cho anh là tuy cố gắng để lái chiếc dù về phía bên này bờ sông nhưng gió lại thổi nghịch chiều và anh đáp xuống phía bên kia bờ sông nơi mà địch quân đang kiểm soát, một chân trên bờ một chân dưới nước.

Các bạn anh đều quay lại để tiếp cứu và ngăn được ba lần toán VC và du kích địa phương từ những tàng cây trong rừng nhào ra để bắt anh nhưng đến lần thứ thư thì không kịp nữa vì chúng đã lôi được anh vào trong rừng. Viên Đại Tá cố vấn Mỹ của Không Đoàn khi nghe tin anh vừa bị bắt thì lên ngay tần số và phát thanh liên tục ra ngoài Bắc và yêu cầu họ đối xử tử tế với Thiếu Tá Nguyễn Dzu, nhưng tin tức về anh thì vẫn biệt tăm.

Năm 1973, khi có trao đổi tù binh giữa hai miền Nam Bắc thì có một Hạ sỹ quan của chúng ta được trao trả có khai rằng anh đã phải mục kích cảnh bọn VC và quân Bắc Việt lập tòa án nhân dân trong rừng để xử Thiếu Tá Nguyễn Dzu. Thiếu Tá Nguyễn Dzu vẫn kiêu hùng không khuất phục nên chúng tức quá ra lệnh tra tấn anh, nhưng anh vẫn ngửng cao đầu, rồi chúng điên cuồng lên và ra lệnh hành hình anh bằng tùng xẻo cho đến khi anh trút hơi thở cuối cùng.

Tùng xẻo là cứ đánh một tiến trống thì xẻo một miếng thịt cho đến khi tội nhân chết thì thôi, một thứ hành hình dã man như thời Trung Cổ mà chỉ có VC còn áp dụng trong thế kỷ thứ 20 này.

Anh Nhơn cũng kể rằng trong các cơ khí sửa máy bay có một anh Hạ sỹ quan rất giỏi về khoa Tướng số có xem cho Thiếu Tá Nguyễn Dzu rằng anh có đại nạn về sông biển và nên cho anh ta đi theo trong một phi vụ trực thăng nào đó ra ngoài biển với Thiếu Tá Dzu thì anh hy vọng có thể cứu mạng được.

Thế rồi chiến sự lan rộng và quá căng thẳng những tháng ngày năm 1972 của Mùa Hè Đỏ Lửa và Thiếu Tá Dzu phải bay liên tục để yểm trợ quân bạn, không có một giây phút nào nghỉ ngơi và từ từ mọi việc dần rơi vào quên lãng nên người Hạ sỹ quan đó không có dịp “cải số” lại cho người pilot anh hùng tên Dzu. Âu cũng là Định Mệnh.

Dòng tư tưởng của tôi chợt bị ngắt quãng bởi câu hỏi của anh Nhơn và mấy cái lay chân của anh:

-“Nghe nói toi có thuốc trị tiêu chẩy phải không, để cho moi vài viên?

-“Xin lỗi nẫy giờ mình đang nghĩ về câu chuyện khác nhưng mà ông biết là tôi có bao giờ bán thuốc tây đâu chỉ dùng nó để chữa bệnh thôi, nhưng ai bị vậy?”

-“Ông Bẩy Bớp nằm dưới kia kìa, hai ngày nay có ăn uống tí cháo nào đâu?”

-“Ông đưa cho ông ấy uống ngay một viên Imodium này, đây là loại tốt nhất mới có và nói ông ấy ráng húp ít cháo đi và tối uống thêm viên nữa, khỏi nói là thuốc của tôi nghe.

Thuốc Imodium khi ấy trị liệu như thần và sau khi uống hai viên xong thì ông Bẩy Bớp đi lại được và không còn bị đi cầu nữa. Bẩy Bớp là biệt danh mà không biêt anh em nào đã đặt cho ông Tân là một người tù trong thành phần Đảng Phái cũng bị giam giữ.

Trước cửa buồng chúng tôi là một cái sân nhỏ và một bể chứa nước bơm vào từ nhánh sông Hồng cạnh con đê.

Buổi chiều trước khi kẻng điểm danh vào buồng thì chúng tôi hay đi bộ trong sân. Một hôm sau khi họ “biên chế” lại các buồng thì có một số anh chuyển qua buồng tôi và tôi chú ý thấy một anh đang cố chống gậy tập đi đi lại lại trong sân. Tôi bước lại hỏi thăm thì hóa ra là anh biết tôi do bạn bè nói vì tôi có thuốc tây nhưng anh rất ngại nên không tiện mở lời trước, tên anh là Chính, Thiếu Tá quận trưởng, anh nói:

-“Bà xã moi viết thư sắp ra thăm nên mấy hôm nay moi cố tập đi lại vì hai chân suy dinh dưỡng nên đã rất yếu, moi không muốn bà xã ra gập moi trong tình cảnh chống gậy như thế này thì tội nghiệp cho bà ấy lắm nhưng không biết phải làm sao. Nghe nói toi có thuốc bổ nên không biết nó có giúp gì được không?”

Tôi lại tìm trong các loại thuốc bổ ông anh gửi vào và đọc kỹ lại tờ hướng dẫn. Cuối cùng buổi tối hôm đó tôi đến chỗ anh nằm và đưa tặng anh một vỉ B-Complex của Pháp vì trong đó nó có B1, B-6 và B-12 hy vọng có thể làm cho hai chân anh mạnh hơn.

Sau khi anh uống hết vỉ B-Complex đó, tôi rất vui mừng vì anh đã bỏ được chiếc gậy và lững thững đi được từng bước một. Tôi bèn biếu anh một vỉ nữa và quả là như một phép lạ, hai chân anh trở nên vững hơn và anh đi lại được gần như thường.

Hôm mà bà xã anh đến thăm thì cũng đúng lúc anh bỏ được cây gậy, mặc vào người bộ áo Treillis mà trại phát một cách oai hùng như xưa mà ra gập vợ.

Khi anh trở vào trại sau lần thăm nuôi đó thì anh rất là vui và tinh thần phấn chấn hẳn lên và nắm tay tôi:

-“Cám ơn toi nhiều nhe, nếu không có thuốc của toi thì chắc bà xã mình khóc hết nước mắt rồi, vì moi không muốn thấy vợ mình khóc trước mặt bọn chúng, toi hiểu không?”. Tôi gật đầu nói:

-“Anh may mắn lắm đó vì tôi chỉ có độc nhất hai vỉ B-Complex gia đình gửi cho chứ chẳng có thuốc bổ nào khác cả.”

Tối hôm ấy anh mời tôi và một số bạn đến chỗ anh nằm để thưởng thức trà và cà phê ngon gia đình mới đem vào, và từ đó tôi trở thành một người bạn thân mà anh thích tâm sự.

Thời gian khi chúng tôi chuyển trại vào Hàm Tân, trong Nam thì lúc đó mới có loại trụ sinh Amoxycilin thay thế cho loại Ampicillin đã lỗi thời vì Amox có thể uống bất cứ lúc nào không cần bụng đói như Ampi. Có lần chính tôi bị viêm họng, cổ họng vừa đau rát lại mẩn đỏ nên ăn uống không được, may có anh bạn nằm đối diện là Lê Văn Hoan, Thiếu Tá Cảnh Sát Đặc Biệt, đưa cho tôi có một viên mà uống xong thì ngày mai thấy hết ngay bịnh. Quả là thần sầu thuốc men trong tù.

Luận, anh chàng nằm cạnh tôi trước kia, mà không biết ai đặt tên cho là “Nhái” có lẽ vì nhỏ con, một lần nói với tôi rằng:

-“Ông mà cho người ta thuốc men thì…ông khỏi phải uống nó chứ có sao đâu”.

Sau này khi mà tôi có cơ duyên gập được thầy của tôi là Thầy Tâm thì thầy cũng bảo tôi rằng trong tù thuốc men rất là quí hiếm, một phần mình uống để chữa bệnh cho mình và một phần mình đem cho anh em là rất có phước. Cái Tâm tốt của mình truyền vào viên thuốc đó sẽ giúp cho viên thuốc bội phần công hiệu.

Chính nhờ vào tình thương yêu ruột thịt của gia đình đùm bọc và cưu mang nên tôi cũng như hàng chục ngàn người tù khác đã có được sự tiếp tế liên tục trong suốt bao nhiêu năm trời mà tôi ví như nước Cam Lồ tưới vào các thân cây khô héo. Cũng nhờ vậy mà chúng tôi, người có dư lại giúp đỡ những người thiếu thốn hay người ít có thân nhân đến thăm hay gửi quà, nên đa số chúng tôi sức khỏe dần hồi phục và tinh thần cũng hưng phấn, thêm sức chịu đựng để chờ ngày ra khỏi trại về đoàn tụ với những người thân yêu.

Kể từ đó tôi bắt đầu tin rằng con người ta có số mạng. Số chúng tôi không chết trong tù nên xui khiến cho gia đình đã gửi bưu phẩm và đến thăm nuôi kịp thời.

Trong thời gian ở trại Ba Sao Nam Hà ngoài Bắc, tôi có ở chung trại với anh Nguyễn Phát Lộc, Quyền Đặc Ủy Trưởng của Phủ ĐUTƯTB.

Anh là tác giả của cuốn Tử Vi Hàm Số rất nổi tiếng xuất bản trước năm 1975, không may là anh bị bạo bệnh và được ra ngoài thị xã chữa trị nhưng cũng không thuyên giảm. Anh vẫn thường nói với anh em chúng tôi rằng số anh không chết trong tù.

Một hôm anh có gia đình đến thăm nuôi nhưng anh sức đã quá yếu không đi nổi nên phải cáng trên băng ca đưa anh ra khu thăm nuôi ở ngoài trại khoảng vài trăm thước và ngày hôm sau thì anh qua đời trong vòng tay của những người thân ruột thịt của anh.

Anh xem cũng đúng, vì khi anh mất anh không ở trong vòng rào của khu trại giam.

Tôi cũng tin vào Định Mệnh An Bài như anh Đồng Tuy đã chỉ dậy cho tôi một phần trong khoa Tử Vi: “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định” tức là “Một miếng ăn, một miếng uống là đều có định trước”.

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 29 May 2024

Phần 9

Thân Mẫu Tại Đường – Như Lai Tại Thế

Trong thời gian được ở chung trong cùng một trại giam ở miền Bắc với quí thầy Nha Tuyên Úy Phật Giáo, tôi có cơ duyên học hỏi nhiều điều hay cả về đời và về đạo. Một lời chỉ dậy mà tôi ghi nhớ nhất trong lòng là hình ảnh diệu kỳ của người Mẹ trong câu:“Thân mẫu tại đường -Như Lai tại thế”.

Câu châm ngôn này nói lên vai trò và công lao to lớn nuôi nấng con cái của người Mẹ khi còn sống trong gia đình cũng ví như Đức Phật đang còn tại trần gian để cứu vớt chúng sanh ra khỏi sự trầm luân của bến mê khổ ải.

Điều này cũng nói lên sự may mắn cho những gia đình nào còn có Mẹ thì sẽ vững vàng và được che chở giống như trên Thế gian còn Đức Phật đang đi hoằng dương Phật Pháp vậy.

Quả thật Mẹ tôi đã đóng một vai trò rường cột suốt bao nhiêu năm trong thời bình hay trong thời loạn lạc giặc giã triền miên hơn bốn chục năm trên đất nước Việt Nam từ Bắc vào Nam.

Mẹ tôi là con gái lớn trong gia đình và quê bên ngoại tôi trong tận Thanh Hóa. Vì là chị lớn trong nhà nên Mẹ tôi đã sớm phải rời sân trường mà ra đời buôn bán để đỡ đần ngoại và nuôi các em, và trở thành trụ cột của gia đình .

Tôi ít khi nghe Mẹ kể về ông Ngoại và chỉ biết là ông mất sớm và bà ngoại thì rất là hiền lành và chân chất của người phụ nữ miền quê.

Chuyện tình của Ba Mẹ tôi thì thật giản dị nhưng không kém phần lãng mạn.

Trong những chuyến đi buôn bằng xe lửa từ Thanh Hóa ra Bắc, Mẹ tôi đã gập Ba tôi lúc đó là “xếp” trên đoàn xe và y như trong tiểu thuyết, Ba tôi đã bị một “cú sét” khi nhìn thấy Mẹ tôi trong những chuyến tầu ngược ra Bắc để bỏ hàng.

Mẹ tôi tuy ở miền thôn dã ngoại ô của thị xã Thanh Hóa nhưng lại có một vẻ đẹp rất là tỉnh thành và tuy mới mười tám tuổi nhưng đã rất là chững chạc và đảm đang và rất nhiều trai tráng trong làng quê đã theo đuổi nhưng Mẹ tôi chẳng chịu ai cả.

Khi gập Ba tôi, một con người học thức, điển trai và “ga lăng” luôn giúp đỡ Mẹ tôi trong từng chuyến hàng thì Mẹ tôi cũng không khỏi cảm động trước tình cảm ấy.

Lúc đó chắc Mẹ tôi cũng không thể ngờ rằng cuộc đời mình sẽ phải trải qua ba giai đoạn thử thách ghê gớm theo vận nước thăng trầm mà nhiều người đã không vượt qua nổi.

Mỗi khi nghe Mẹ kể lại về cuộc đời mình, tôi đều nghĩ rằng chính cái Tâm của Mẹ tôi thật tốt, trung hậu và hay giúp đỡ người cho nên Trời Phật đã độ trì cho qua được bao nhiêu là gian nan thử thách và hiểm nghèo trong một quê hương đã quá lầm than vì giặc giã, chiến tranh và đói khổ.

Giai đoạn đầu tiên là khi Ba Mẹ tôi lấy nhau được hơn một năm thì chiến tranh Thế Giới lần Thứ Hai bùng nổ, Mẹ tôi không kịp về được Thanh Hóa để đón Ngoại và các em mà phải theo chồng ngược lên Yên Bái để đứng ra khai phá một đồn điền cao su với người em rể là chồng của cô em út Ba tôi.

Công việc tuy vất vả nhưng tiến triển rất tốt cho đến khi chiến tranh lan dần đến Yên Bái và các đồn điền trở thành vùng mất an ninh và hoang dã vì Việt Minh bắt đầu phá hoại các ruộng vườn và trang trại để chống lại Pháp trong chiến dịch “Vườn Không Nhà Trống”, nên Ba Mẹ tôi lại tản cư về Nam Định để giúp ông chú rể là chồng bà cô ruột của Ba tôi gây dựng nên xưởng làm sà phòng.

Ông chú này chỉ biết công thức sản xuất nhưng lại không biết phương pháp làm sao để chế tạo ra được sà phòng nên mới mời Ba tôi cộng tác.

Nghĩ tình bà cô ruột của mình nên Ba tôi nhận lời. Chỉ một thời gian ngắn sau với sự tìm tòi và nghiên cứu ngày đêm của Ba tôi, xưởng sà phòng mới mang tên “Sao Mai” này đã thành công ngoài mức dự tính vì phẩm chất của nó còn tốt và rẻ hơn cả xà bông “Cây Đờn” của ông Trương Văn Bền, lúc đó hầu như là nổi tiếng nhất và chiếm lĩnh hầu hết thị trường từ Nam ra Bắc.

Nhưng thực tế thật là phũ phàng vì sau khi thành công và nắm được cách sản xuất và pha chế trong tay thì ông chú rể đã nhẫn tâm hất Ba tôi ra để hưởng lợi một mình.

Ba tôi quá tức giận và qua nhà ông chú này tính chuyện sẽ hỏi thăm sức khỏe cái ông chú rể vô lương tâm này nhưng mà bà cô ruột thì chắp hai tay lại mà xá Ba tôi xin tha cho ông chú rể và Mẹ tôi lại khuyên nên bỏ qua và tìm công việc khác vì Ba tôi là người có tài vì nếu có chuyện gì không hay thì Ba tôi sẽ vào tù, còn người nào ăn ở không phải thì Trời Đất sẽ trừng phạt họ.

Quả nhiên chỉ vài tháng sau thì nghe tin ông chú rể đó mắc bệnh nan y và đã qua đời, cũng chẳng mang theo được đồng xu nào.

Rất may là Ba tôi đã nghe theo lời Mẹ tôi khuyên nên bỏ qua, hơn nữa lúc đó bom đạn lại bắt đầu tàn phá thành phố Nam Định và các xưởng thợ nên Ba Mẹ tôi lúc đó được bốn con trai mà tôi là thứ tư vừa sanh được mấy tháng thì lại tản cư và gia đình rời Nam Định ra làm ăn ở Hải Phòng.

Trong suốt các thời gian gây dựng lên cơ nghiệp từ làm đồn điền đến nhà máy dệt, xưởng sà phòng, bao giờ Mẹ tôi cũng là người theo sát bên Ba tôi như hình với bóng để yểm trợ và cố vấn những lúc khó khăn.

Điều mà tôi phục Mẹ tôi nhất là dù không được theo học hết bậc tiểu học nhưng đầu óc tính toán đâu vào đấy và làm gì cũng đều hợp tình hợp lý, và những lúc còn hàn vi hay khi đã giầu có thì Ba Mẹ tôi vẫn coi trọng tình cảm và họ hàng trên đồng tiền.

Đằng sau sự thành công của Ba tôi với ba lần thành triệu phú trong khoảng hơn mười năm loạn ly ấy chính là công lao cần cù nhẫn nại và hy sinh của Mẹ tôi.

Khoảng năm một chín năm mươi thì Ba Mẹ tôi về đến Hải Phòng, còn gia đình cô ruột em út của Ba tôi là cô Hanh thì về Hà Nội và phát triển ngành buôn nước mắm vì có mấy người bạn thân của Ba tôi là bác Tăng và chú Huê trong Nam đang làm ăn phát đạt tại Phú Quốc và Phan Thiết.

Rồi không ngờ nước mắm Việt Hương của Ba Mẹ tôi lại được ưa chuộng và thế là phất lên thành triệu phú một lần nữa tại Hải Phòng và cô tôi thì triệu phú tại Hà Nội. Đó chính là công sức vô cùng kiên nhẫn và khổ cực của Mẹ tôi đã phải đi chào những mẫu hàng nước mắm ngon từ Hải Phòng qua Hải Dương lên gần đến Hà Nội mấy năm trời đến gầy rộc đi vì lao lực.

Ba tôi là người rất thương vợ con cho nên đã mua đủ thứ sâm, nhung, yến để tẩm bổ cho Mẹ tôi và ông Nội tôi cũng hốt thêm nhiều thang thuốc bổ nữa cho con dâu và pha chế các sâm nhung đó với các vị thuốc bắc và nhờ đó mà Mẹ tôi mau lại sức.

Ba tôi khi về Hải Phòng đã mua tặng cho Mẹ tôi đủ thứ nữ trang, kim cương, và vòng vàng ngọc thạch để đầy cả một hộp, nhưng trong những quà tặng của Ba tôi dành cho Mẹ thứ mà tôi thấy quí nhất là cái áo choàng bằng lông thú mầu trắng tinh mà khi mặc vào thì Mẹ tôi trông thật là đẹp và sang trọng.

Cái áo đó tôi nghe Mẹ nói là giá tới mười ngàn đồng, theo thời giá bấy giờ thì lương của công chức chỉ khoảng một ngàn một tháng.

Tôi còn nhớ khi còn rất nhỏ ở trong căn nhà rộng lớn như một dinh thự hơn một mẫu đất tại đường Cầu Đất, Hải Phòng, mỗi buổi tối tiền bán được trong ngày đổ ra đầy cả hai cái chiếu và bốn anh em chúng tôi ngồi xuống chung quanh chiếu để đếm và sắp xếp lại ngay ngắn từng chồng tiền một, từ loại một đồng, năm đồng cho đến mười đồng cho Mẹ. Mỗi ngày Mẹ lại cho anh em chúng tôi mỗi người một đồng bỏ vào ống để dành để dậy cho các con tính tiết kiệm.

Lúc đó chúng tôi chưa biết đến giá trị của đồng tiền nhưng quả là sống trên nhung lụa, nhưng tiếc rằng Ba Mẹ quá giầu có khi mà mình thì lại còn bé nên chẳng hưởng được bao nhiêu thì Hiệp Định Giơ Neo 20-7-1954 chia đôi Nam Bắc và khi chúng tôi trưởng thành trong miền Nam thì gia đình lại suy vi.

Suốt trong những năm tháng chiến tranh liên miên giữa Nhật và Pháp rồi Pháp và Việt Minh, bao lần gây dựng nên cơ nghiệp rồi lại đổ vỡ, bao lần tản cư đi tránh đạn pháo thì Mẹ tôi chính là người đã đem lại sự yên ổn và an toàn cho gia đình và nhiều họ hàng nữa cho đến ngày di cư vào miền Nam.

Giai đoạn thử thách thứ nhì là khi di cư vào miền Nam được năm năm thì Ba tôi bị bạo bệnh và qua đời khi Mẹ tôi mới vừa bốn mươi.

Bây giờ nghĩ lại thì lứa tuổi bốn mươi thật ra còn quá trẻ mà Mẹ tôi đã nhất quyết ở vậy để nuôi con chứ không bước đi bước nữa.

Thời gian đó tôi thương Mẹ tôi rất nhiều vì thấy có lúc Mẹ đau khổ quá vì chồng thì không còn nữa mà nợ nần tứ tung. Khi ấy tôi đang học Đệ Tứ trường Trần Lục ở Tân Định và mỗi buổi tối phải nhận lại tư gia kèm thêm cho các em thi tiểu học để kiếm thêm ít tiền giúp cho Mẹ trong khi các anh lớn đã vào quân đội và các em gái thì tập may vá thêm.

Nhưng Mẹ tôi đã can đảm đứng lên làm lại từ đầu và chuyển qua nghề may sản xuất quần áo trẻ em và nhờ đó mà gia đình đứng vững trở lại và từ từ đã trả hết nợ nần khi Ba tôi mang bệnh.

Một lần nữa Mẹ tôi lại cứu gia đình thoát khỏi cơn nguy biến và gia đình bắt đầu hưng vượng trở lại khi tôi học xong Tú Tài II, vừa vào đại học vừa đi làm giúp cho Mẹ, và khi mà hàng quần áo trẻ em cũng đang trên đà phát đạt với cửa hiệu ngay ngoài mặt đường Trương Minh Giảng, Quận Ba, Sàigòn.

Giai đoạn thử thách thứ ba khi mất miền Nam vào tay Cộng Sản năm 1975 mới chính là khoảng thời gian mà hình ảnh người Mẹ hiền lại hiện lên rõ nét nhất để giữ vững cho đại gia đình anh em chúng tôi không bị tan vỡ trước những âm mưu thâm độc của kẻ thù nhằm phá hoại các gia đình có thân nhân theo chế độ cũ VNCH.

Trong lúc mà ba anh em chúng tôi đang bị giam giữ tại các trại tập trung thì ở nhà Mẹ tôi có tên trong sanh sách những gia đình trong thành phố Sàigòn bị trục xuất đi kinh tế mới để bọn cán bộ phường khóm tịch thu nhà cửa và tài sản theo chính sách ăn cướp của Đảng và Nhà Nước của chúng trên toàn miền Nam.

Bao nhiêu lần chúng kêu Mẹ tôi ra Phường, ra Khóm để họp hành nhưng mục đích là để ký tên vào tờ đơn giao nhà cửa cho chúng nhưng Mẹ tôi đã cương quyết không ký không giao nhà và cũng không đi vùng kinh tế mới luôn.

Bọn chúng tìm cách chụp mũ Mẹ tôi là chống lại chính sách của Nhà Nước nhưng Mẹ tôi nói rằng Mẹ tôi chỉ hoãn thi hành chứ không phải chống lại lệnh của Nhà Nước. Lý do chưa thể giao nhà cho địa phương quản lý và chưa đi vùng kinh tế mới được vì ba con trai đang đi tù “cải tạo”, nếu giao nhà thì khi ba người con được thả về biết tìm mẹ tôi ở đâu.

Suốt một năm trời chúng hạch xách mẹ tôi đủ thứ nhưng Mẹ tôi vẫn cương quyết theo lý luận của mình và không ký nhận bất cứ đơn từ nào.

May mắn là sau đó chúng đã để cho Mẹ tôi được yên thân trong một thời gian vì bọn cán bộ địa phương đã tịch thu được không biết bao nhiêu là căn nhà và tài sản trong thành phố Sàigòn để chia chác cho nhau và cho cả bọn cán bộ từ ngoài Bắc vào nữa.

Thế nhưng Họa vô đơn chí vì mới tạm yên vụ đi kinh tế mới thì chúng quay sang đánh tư sản để một lần nữa lại trấn lột một cách trắng trợn người dân miền Nam.

Các bài bản trước kia áp dụng tại miền Bắc sau năm 1954 bây giờ bọn chúng đem ra thi hành tại miền Nam để ăn cướp công khai và vơ vét thêm một lần nữa tài sản dân chúng.

Mẹ tôi chỉ có một cửa hàng bán quần áo trẻ em coi như một tiểu thương tại Quận Ba mà cũng không thoát khỏi cặp mắt cú vọ của chúng. Rất may cho gia đình là một anh trước kia giúp việc cho Mẹ tôi đã thông báo cho biết tin này nên Mẹ tôi đã di tản được hầu hết vải vóc, quần áo và những thứ quí giá ra khỏi nhà kịp thời.

Phường khóm đã cho một tiểu đội thanh niên nam nữ vào nhà Mẹ tôi và trú đóng ngay trong nhà 10 ngày đêm để đào bới, cậy vách, đào sân, xâm xoi mọi nơi chủ yếu tìm tiền và vòng vàng để tịch thu.

Mỗi khi các em gái tôi đi chợ thì chúng cũng cho người đi theo suốt từ nhà ra chợ và từ chợ về nhà, sợ tẩu tán tài sản.

Cuối cùng chán nản chúng cũng bỏ cuộc và rút quân bởi bọn chúng không lấy được gì vì còn mấy lạng vàng thì Mẹ tôi để ngay trước mắt bọn chúng trong phần giẻ lót của cái giỏ nan bọc cái ấm tích nụ vối mà Mẹ tôi vẫn uống hàng ngày mà bọn chúng không biết.

Ngoài việc phải căng thẳng đầu óc đối phó với bọn phường khóm ngày đêm rình rập để hãm hai, Mẹ tôi còn thường xuyên liên lạc với gia đình vợ con anh em chúng tôi để giúp đỡ, nhờ đó mà gia đình tôi trong những năm tháng tôi trong tù, cũng không đến nỗi cơ cực như nhiều gia đình khác.

Mỗi khi các cháu thiếu thốn gì thì lại chạy ra bà Nội ở Trương Minh Giảng, cho nên tuy các cháu sống cạnh bên Ngoại trong Phú Lâm nhưng lại gắn bó nhiều với bên Nội và các cô chú trong những năm tháng đầy khó khăn đó.

Đến khi mà gia đình được phép vào thăm nuôi anh em chúng tôi trong trại giam ở miền Bắc thì Mẹ tôi là người tổng chi huy việc mua bán, sắp xếp các thùng quà hay giỏ hàng, xin giấy phép tại địa phương, mua vé xe lửa ra Hà Nội, v.v. và giao cho các em tôi mỗi đứa một việc.

Trong khi chuẩn bị các thứ gửi cho hai anh em tôi thì ở nhà Mẹ và các em tôi lại luôn dành dụm tiết kiệm mọi thứ để ưu tiên cho hai anh em tôi trong tù

Chuyến đầu tiên ra Bắc thì Mẹ và cô em gái tôi là người đi thăm hai anh em tôi trước tiên để dò xét tình hình ra sao rồi những chuyến sau thì Mẹ tôi mới chuẩn bị đầy đủ cho hai nàng dâu ra thăm chồng.

Sự chu đáo của Mẹ và các em tôi trong suốt mười bốn năm trời ròng rã gửi quà và đi thăm nuôi từ Bắc rồi vào Nam, cộng với sự trợ giúp từ Mỹ gửi hàng về của vợ chồng anh Ba và vợ chồng cô Bẩy em gái tôi, đã giúp cho hai anh em tôi phục hồi được sức khỏe và thêm sức chịu đựng những năm sau này trong trại giam.

Anh cả tôi khi đang bị giam trên Hoàng Liên Sơn năm một chín bẩy chín đang trong tình trạng kiệt sức, đã nói rằng nếu mà không nhận được mười gói bưu kiện một ký lô gồm thuốc men, quần áo ấm và thực phẩm khô mà Mẹ tôi gửi ra ngay sau khi nhận được thư của anh gửi về, thì anh đã không còn trên cõi đời này rồi.

Lúc đó họ chỉ cho nhận mỗi người một bưu phẩm một ký lô mà thôi nhưng Mẹ tôi đã tìm ra đượcmột người quen làm trong Bưu Điện Sàigòn và nhờ đó mà em gái tôi đã gửi đi trót lọt mười gói mỗi gói đúng một ký nhưng trong mười ngày khác nhau.

Đó quả là một sáng kiến độc đáo mà tôi phục Mẹ tôi sát đất vì nếu gửi một gói 10 kí lô hay gửi 10 gói mỗi gói 1 kí cùng một lúc thì không những anh tôi không nhận được gói nào cả vì gói quà vi phạm quy định của trại giam mà còn có thể bị làm kiểm điểm.

Thế nhưng gửi làm nhiều lần khác nhau thì ở trại họ không để ý và anh tôi từ từ nhận được đủ cả mười gói bưu phẩm trước con mắt thán phục của các bạn tù.

Nhiều lúc nghĩ lại tôi nhận ra một điều là hình như có bàn tay an bài trước của Trời Phật cho người nào ra đi, cho người nào ở lại, người nào vào trong tù, khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, để bốn năm sau khi gia đình đã liên lạc được với thân nhân ở hải ngoại thì cũng là lúc mà trại giam cho phép gia đình gửi quà vào cho tù nhân.

Nhờ thế mà nguồn tiếp tế không những từ gia đình ở miền Nam mà còn từ nhiều nước trên thế giới gửi về Sàigòn nữa và nguồn hàng ấy và cả những thư từ cũng được chuyển vào trại giam đến những người tù.

Tôi nhớ lần đầu tiên nằm trong buồng giam, cầm trong tay lá thư của anh Ba tôi gửi từ bên Mỹ nằm trong thùng quà gửi vào, tôi không khỏi xao xuyến và ngậm ngùi trong lòng.

Bức thư có đoạn viết mà lúc đó tôi chưa lý giải được như sau: “Tôi không hiểu tại sao và không thể giải thích được tại sao tôi và chú lúc nhỏ mình rất gần gũi và chơi thân với nhau và cùng một cha một mẹ, cùng đi học một trường, mà lớn lên bây giờ hai hoàn cảnh thật khác xa nhau”.

“Tôi bên này thì đầy đủ trong một cuộc sống tạm gọi là sung túc và hạnh phúc có vợ con đoàn tụ trong khi chú thì gia đình ly tán và đang trong hoàn cảnh thật gian nan và đầy thử thách?”.

Sau này khi tôi gập được Thầy Tâm và được đọc cuốn “Đức Phật và Phật Pháp” thì tôi từ từ hiểu rằng đó là do Nghiệp lực.

Năm 1989, sau mười một năm bảo lãnh thì Mẹ và hai em út tôi được anh Ba tôi bảo lãnh sang Hoa Kỳ và định cư tại miền Nam tiểu bang California từ đó đến nay.

Năm 1991 thì vợ chồng cô em gái kế tôi cũng được ông anh này bảo lãnh qua và một năm sau thì gia đình cô em kế nữa cũng rời Sàigòn để qua Mỹ trong chương trình ODP do anh tôi bảo lãnh.

Thấm thoát nhìn lại thì đã hơn hai chục năm kể từ ngày Mẹ tôi đặt chân lên vùng đất Tự Do ra khỏi vòng kìm kẹp và kiểm soát của chế độ Cộng Sản.

Mẹ và các em tôi thỉnh thoảng vẫn nhắc lại những ngày gian truân còn ở trong nước bị địa phương làm khó dễ vì thế mà Mẹ tôi mới mắc phải bệnh cao huyết áp và bàn chân với vết sẹo vẫn còn đau khi trở trời vì vấp trên toa xe lửa trong chuyến ra thăm tôi ngoài Bắc lần đầu tiên, và nhắc cả những khó khăn vất vả chuẩn bị quà cáp thuốc men quần áo đi thăm nuôi hai anh em tôi trong tù những ngày ấy.

Bây giờ Mẹ tôi đã già, sức đã suy yếu nhưng Mẹ tôi vẫn luôn luôn hãnh diện là cả cuộc đời mình đã hy sinh hết cho chồng, cho các con và không bao giờ đầu hàng và chấp nhận bọn Cộng Sản tại địa phương dù là chúng hăm dọa và áp bức gia đình dưới mọi hình thức trong những năm đầu khi chúng chiếm được miền Nam.

Mẹ tôi đôi khi nhìn con cháu và nói:

” Mẹ sẽ không bao giờ về VN khi mà bọn Cộng Sản còn ngự trị dù là Mẹ rất nhớ quê hương mình, nhớ miền quê Thanh Hóa của bên ngoại, nhớ căn nhà to như một dinh thự ở Hải Phòng, nhớ con đường Trương Minh Giảng đầy kỷ niệm và miền Nam hiền hòa, nhưng Mẹ nhất định không về.”

“Chẳng hiểu sao bọn Cộng Sản chúng nó ác độc như vậy mà Ông Trời cho chúng nó sống lâu và quá sung sướng như thế?”

“Trên đời này có những người đã hãm hại Ba Mẹ để lấy tiền nhưng Mẹ đã tha thứ cho họ, chỉ riêng bọn Cộng Sản là Mẹ không bao giờ tha thứ cho các tội ác tầy trời của bọn chúng”.

Bản Án Tử Hình

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 28, 2024 by dongsongcu

Khôi An

Post by Sơn râu 29 May 2024

Lời Giới Thiệu của Khôi An:
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. 

Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô.

Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.

Advertisement

Nhân kỷ niệm 30 tháng Tư, 2021, người viết xin đăng câu chuyện này như một lời tưởng nhớ các cựu chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chết trong tù ngục, và tôn vinh các người vợ suốt đời làm hậu phương sắt son, mạnh mẽ.

*  *  *

Mắt tôi mờ đi, tờ giấy nhòe ra.
Hàng chữ run lên, uốn éo như con rắn độc. Nó phóng tới, mổ vào giữa tim tôi.


“Xử phạt: Trần Văn Bé – Tử hình.”


Giọng nói run rẩy của tôi vang lên như âm thanh từ một cơn ác mộng, “Má nhận tin này hồi nào?”
Mẹ chồng tôi còn mếu máo thì cô em chồng nghẹn ngào đỡ lời, “Từ tháng Năm, nhưng Má chưa dám nói với chị…”
Mẹ chồng tôi chùi nước mắt, phân trần, “Má tính đi kiếm cho ra mộ chồng con rồi mới nói cho con biết. Bởi vậy, hổm rày con đòi đi kiếm chồng, Má biểu để Má kiếm cho. Má sợ con chịu không nổi khi đối mặt với tụi công an… Con ơi, bữa đưa tin tụi nó làm dữ lắm! Công an phường, công an quận, công an thành phố kéo lại cả bầy. Tụi nó đưa ra tờ giấy này ra, biểu Má ký nhận. Lúc đầu Má không chịu ký, vì Má nghĩ ký nghĩa là chấp nhận rằng thằng Hai đáng bị xử tử. Tụi nó hăm dọa Má, nhắc tới thằng Ba còn đang bị tù ngoài Bắc. Má sợ tụi nó đem thằng Ba ra bắn luôn nên phải cắn răng ký tên lãnh án tử hình của con mình. Má đứt từng khúc ruột, con ơi…” Mẹ chồng tôi nghẹn lời, bà khóc nức nở.


*  *  *

Thế là hết!
Anh Bé đi tù tháng 6 năm 1975, sau đó tôi chỉ nhận được ba lá thư của anh. Lá cuối cùng đề tháng 2, 1976, gởi từ trại Suối Máu, Biên Hòa. Sau đó, anh bặt tin.
Tôi chờ đợi mòn mỏi, lên xuống trạm công an cả chục lần, hỏi gì họ cũng trả lời không biết. Cuối cùng, tôi nhất quyết làm đơn khiếu nại.
Lúc đó, tôi và sáu đứa con – đứa lớn nhất mười một tuổi, đứa nhỏ nhất mới lên hai – đang nương náu trong một mảnh vườn hẻo lánh tại Mỹ Tho. Vì vậy, tôi dùng nhờ địa chỉ nhà Mẹ chồng ở Sài Gòn. Cả chục lá đơn gởi tới trại tù Suối Máu đều như biến vào khoảng không, chẳng còn một chút tăm hơi.
Trại tù không trả lời thì tôi hỏi cấp trên; tôi mày mò kiếm địa chỉ của hai “Tòa Án Nhân Dân” ở Sài Gòn và Hà Nội rồi gởi đơn tới cả hai nơi đó. Thời miền Nam vừa mất, cây củi cũng mắc, mua một con tem là thâm vào tiền mua gạo cho các con, nhưng tôi vẫn cắn răng bớt miệng con để gởi đi mấy chục lá đơn, từ tháng này qua tháng khác.
Cuối cùng, nhà cầm quyền Cộng Sản cũng phải trả lời. Ngày 10 tháng Năm, 1977, họ gởi thư về nhà Mẹ chồng tôi. Để xác nhận rằng: họ đã giết chồng tôi.
Cô em chồng đưa tay đỡ vai tôi cho tôi khỏi gục xuống. Sáu đứa con sợ hãi chạy lại vây quanh, tôi chỉ nói được mấy tiếng “Ba chết rồi!” rồi khóc ngất. Lũ trẻ thấy vậy cũng khóc òa lên, thằng lớn nhất ôm lấy con em kế, bệu bạo nói “Vậy là Ba không về nữa!”
Sau vài ngày ở nhà Mẹ chồng, tôi lại phải gượng đứng lên, dắt đám con về căn chòi trống huơ, trống hoác, nóc dột, tường xiêu ở Mỹ Tho.
Mẹ chồng tôi sợ tôi chết thì bà sẽ không nuôi nổi bầy cháu, còn cha mẹ ruột thì lo tôi sẽ phát điên. Tuy vậy, Mẹ chồng tôi không đủ sức cưu mang bảy mẹ con tôi và cha mẹ tôi cũng chỉ dám ghé thăm vài ngày rồi đi về. Thời đó, mỗi tuần người dân đều phải đi họp tổ dân phố để công an điểm danh, ai đi đâu cũng phải xin phép, vì thế không người nào dám đi lâu, sợ công an kiếm cớ làm khó dễ.
Ngày mẹ chồng tôi làm lễ phát tang anh Bé ở Sài Gòn, tôi chỉ đủ tiền mua ba tấm vé xe cho thằng con trai lớn nhất, đứa con gái út, và tôi. Họ hàng phần vì không có tiền đi xa, phần vì sợ liên lụy với “tử tù” nên không ai dám tới.
Ngoài ba mẹ con tôi, đám tang chỉ có mẹ chồng và hai cô em ruột của anh. Sau ngày giao bản án tử hình, công an khu vực dòm ngó nhà chồng tôi như chồn cáo rình chuồng gà; vì thế, ngay cả trên bàn thờ của anh chúng tôi cũng không dám chưng bày nhiều.
Di ảnh của anh đứng sau dĩa trái cây lỏng chỏng, một bát nhang hiu hắt và hai cây đèn cầy leo lét. Trước bàn thờ, bốn người đàn bà đầu tóc rũ rượi quỳ bên hai đứa nhỏ xanh xao, ngơ ngác. Chỉ có tiếng nhà sư đọc kinh nho nhỏ, còn chúng tôi phải kềm tiếng khóc trong lồng ngực, nuốt ngược nỗi đau vào lòng. Anh Bé sống ở khu xóm đó từ nhỏ, ai cũng biết và thương mến anh, cho nên bà con lối xóm kéo đến rất đông, nhưng không ai dám bước vô nhà. Họ giả làm kẻ tò mò đứng trước cửa, nhưng suốt buổi lễ họ lén dùng tay áo quẹt nước mắt, và nhìn chúng tôi bằng những cặp mắt đỏ hoe, ứa tràn thương xót.
Tôi quỳ ở đó, dật dờ nửa mê, nửa tỉnh.
Những hình ảnh cuối của anh trở về trong đầu tôi.
Chiều 30 tháng 4, 1975, anh lái xe Jeep đến nhà cha mẹ tôi ở thành phố Mỹ Tho, nơi tôi đem sáu đứa con thơ từ khu cư xá Sĩ Quan ở Bình Dương về nương nhờ trong cơn hỗn loạn.
Tóc anh rối bời, mặt anh bơ phờ, nhưng anh vẫn mặc quân phục trên người. Anh ôm hôn từng đứa con, rồi nói với Ba tôi, “Ba cho con gởi vợ con của con.”
Ba tôi đã nghẹn ngào hứa, “Con đừng lo, vợ con của con ở đây với Ba Má, rau cháo có nhau. Con đi đâu cũng vậy, khi con trở về đây, vợ con của con sẽ còn đầy đủ.”
Trước mặt Ba Má tôi, anh ngại ngùng không ôm tôi lần cuối. Anh chỉ xiết tay tôi, dặn dò tôi giữ gìn sức khỏe và cố lo cho các con. Tôi quá bàng hoàng, lo sợ nên chỉ biết nghẹn ngào nhắc anh hết sức giữ gìn tánh mạng. Anh lưu luyến thêm một lát rồi quay đi.
Tôi đứng chết lặng ở bậc cửa.
Anh leo lên xe, rồ máy. Xe chuyển bánh. Chạy đi. Xa dần. Rồi mất hút.
Tôi cảm thấy một phần thân thể mình vừa bị chặt lìa ra…
Sau này tôi mới biết anh đã lái xe về nhà mẹ ruột ở Sài gòn và trốn ở đây cho tới ngày đi trình diện “học tập cải tạo”.
Mới hai năm qua mà tôi đã mất anh, con tôi đã mất cha. Người ta giết anh vì tội “trốn trại cải tạo nhằm mục đích phản Cách Mạng.” Độc ác hơn nữa là họ không thông báo gì cho thân nhân. Mạng sống của anh, của những người tù, và nỗi đau của gia đình họ, đối với người cầm quyền không có ý nghĩa gì!
Mãi hơn một năm sau từ ngày bắn anh, có lẽ vì mấy chục tờ đơn tìm chồng của tôi, họ mới gởi Tờ Trích Lục Án Hình về nhà. Tờ giấy đánh máy một cách cẩu thả vào tháng 5, 1977 đã đề sai ngày của phiên toà xử tử anh là 10 tháng 4, 1977, trễ một năm.
Tôi ngước nhìn anh trong uất nghẹn. Anh cũng đang đau đáu nhìn tôi. Có phải mắt anh long lanh vì nỗi đau cắt ruột, hay chỉ là màn lệ chan hoà từ mắt tôi?


*  *  *

Sau khi về lại Mỹ Tho, tôi nằm bẹp trên võng, không khóc nhưng nước mắt nóng hổi tuôn ra như vắt hết sức sống của tôi.
Lòng tôi nặng trĩu niềm đau, nỗi hận. Trong đầu tôi vang vang những lời oán trách số phận, nguyền rủa bọn giết người. Chồng tôi cả đời thanh liêm, đi lính Việt Nam Cộng Hoà tới lon Thiếu Tá mà vẫn không mua được cho vợ con một căn nhà riêng, tại sao anh phải chết tức tưởi như vậy?
Làm vợ lính, tôi đã nhiều lần nghĩ đến việc chồng tử trận, nhưng thà anh hy sinh trong cuộc chiến để các con còn được hãnh diện, để tôi còn được an ủi.

Bây giờ chiến tranh chấm dứt rồi, chồng tôi đã phải mang thân tù tội, tại sao người ta còn giết anh? Tại sao họ đẩy mẹ con tôi thành “thân nhân của tử tội”, lớp người cô đơn, khốn cùng nhất trong cái xã hội đầy móng vuốt này?

Ngày tiếp ngày trôi qua trong cơn đau, mí mắt tôi sưng vù, rát bỏng, tiếng các con réo gọi nghe xa xôi như vọng lại từ một thế giới khác, tôi nghe nhưng không thể nào trả lời nổi. Tôi nằm đó, dật dờ giữa hai bờ sống, chết.
Một buổi trưa, không biết là bao lâu sau, tiếng khóc thảm thiết của hai đứa con nhỏ nhất kéo tôi ra khỏi cơn mê sảng. Tiếng than đói của hai đứa bé xoáy vào tim tôi, nhắc rằng tôi còn bổn phận với sáu đứa trẻ thơ.
Tôi ngồi bật lên, quơ tay tìm con và ôm xiết chúng vào lòng. Giữa ban ngày mà trước mắt tôi tối đen. Không! Con không thể mù, con không thể chết! Xin Trời giúp con! Xin cứu con để con của con được sống!
Nhờ Trời thương và chắc anh vẫn theo phù hộ nên tôi hết bệnh, dù không có thuốc men gì. Tôi lết ra vườn, mò mẫm trồng rau, trồng khoai nuôi con.
Năm tháng rơi lặng lẽ như những sợi tóc của tôi rụng tơi bời trong cơ cực. Tay chân tôi khẳng khiu, trầy trụa, bầm dập, nhưng những vết thương đó không thấm thía gì với cái đau ở trong lòng.
Ở miệt vườn hẻo lánh, sự kìm kẹp của chính quyền địa phương khủng khiếp gấp mấy lần ở những thành phố lớn; công an mà dòm ngó, trù dập ai thì người đó không ngóc đầu lên nổi. Trong đám dân quê mùa, chất phác, gia đình có thân nhân là Sĩ Quan “Ngụy” đang ở tù đã là một điều ghê gớm, nói gì tới chuyện là con cái của người tử tội.
Thời đó, nhà trường cứ vài tuần lại bắt học sinh khai lý lịch, vì thế mỗi niên học các cháu đem về mấy chục tờ lý lịch nhờ tôi viết. Lúc nào tôi cũng khai là “Cha mất tích”, và các con tôi được dạy đi dạy lại rằng không bao giờ hé môi với ai về cái chết của cha.
Vậy mà cũng có lần chúng tôi xém bị lộ!
Tết Trung Thu năm 1977, trường học phát quà cho con của gia đình liệt sĩ. Thằng bé thứ Năm nhà tôi mới vô lớp Một, không biết nghe ai giải thích “liệt sĩ” là những người đi lính đã chết, thế là nó tính chạy lên lãnh quà.
May mà cô giáo của nó quen với tôi, cô thấy nó nhớm đứng lên, vội đè vai bắt nó ngồi xuống. Hôm đó thằng nhỏ tủi thân và thèm quà, khóc tức tưởi cả buổi chiều. Tôi xót cho các con ngây thơ mà phải chịu quá nhiều thiệt thòi, dồn nén, phải sống trong hất hủi, phải thèm khát từ miếng ăn tới tình thương. Đêm đó, tôi khóc trắng.


*  *  *

1979.

Nước ngập cao. Hút mắt chỉ thấy làn nước đục ngàu, lềnh bềnh rác rến. Những cây chuối chỉ còn lú lên chút ngọn run rẩy bên những cành mận trụi lủi, khẳng khiu đang vật vã trong gió. Trời vẫn mưa! Mưa như xối nước. Trên mấy bộ ván chồng lên nhau, tôi và sáu đứa nhỏ nằm, ngồi lủ khủ bên đống chăn mền, quần áo, bếp lò, chén dĩa – tất cả tài sản còn lại của bảy mẹ con. Cơn bão đã kéo dài gần một tháng, nước sông Tiền dâng ngập hết ruộng vườn, cuốn băng đi công sức mẹ con tôi vật lộn với mảnh đất này trong gần bốn năm trời kể từ tháng Tư, 1975.
Mưa càng lúc càng nặng hột. Gió xoáy mạnh, rít lên như oán trách, như thay tôi than tiếc cho công sức của mẹ con tôi đang trôi theo giòng nước.
Như lời đã hứa, sau tháng 4, 1975, Ba Má tôi hết lòng bao bọc mẹ con tôi. Nhưng vai gầy không thể chống được cả bầu trời đang đổ xụp, sức lực của hai cụ già không thể nào đỡ nổi trận hồng thủy của cuộc đổi đời.
Nhà cầm quyền Cộng Sản bắt cha mẹ tôi phải nạp hết ruộng cho Hợp Tác Xã rồi mỗi tháng chúng phát cho mấy ký gạo vừa đủ cho hai người già sống cầm hơi.
Bảy mẹ con tôi không có tên trong “hộ khẩu” nên trở thành những người “ngoài pháp luật”, sống lây lất bên lề xã hội. Mỗi ngày, Ba Má tôi thu mót hoa màu trong vườn, rồi đem bán để mua gạo chợ đen về nuôi cháu.
Sau mấy tháng tôi không thể chịu được cảnh cha mẹ khổ sở, lo lắng, chạy ăn từng bữa vì mình nữa. Tôi đành nuốt nước mắt đem các con về ở tại năm công đất vườn do ông nội của chồng tôi chia cho anh từ thời anh còn trẻ.
Ngày mẹ con tôi dắt díu nhau ra đi, tôi không dám quay đầu nhìn lại, sợ ba má tôi thêm nát lòng. Tôi cắm đầu bước, nước mắt ràn rụa. Tôi gọi tên anh, xin anh giúp sức cho người vợ mỏng manh, yếu ớt, chưa bao giờ biết cầm cái cuốc, cái cày…
Khu vườn thiếu người chăm sóc chỉ có thưa thớt vài cây mận, bà nội chồng thương nên cho thêm ba công ruộng ven để tôi kiếm gạo nuôi con.
Tôi nắm một đầu chiếc gầu giai, đầu bên kia thằng Hai và con Ba – đứa mười một tuổi, đứa tám tuổi mím môi giữ. Trời nắng như đổ lửa, mặt tôi ướt đẫm mồ hôi; phía bên kia, dưới vành nón lá rách nát, hai đứa con tôi mặt đỏ bừng như lên cơn sốt. Chúng tôi múc từng gàu nước từ con rạch cạn, tạt vào những cây lúa đèo đẹt đứng gục đầu trên mảnh ruộng nứt chân chim.
Mùa đầu tiên trời hạn, sau khi trả tiền mướn trâu, tiền công cấy, tiền phân bón, tiền thuốc trừ sâu, tiền đóng thuế cho nhà nước, chúng tôi không còn một hột lúa mà ăn, đành đi vay mượn chờ năm tới.
Mùa kế, tôi chỉ dám mượn tiền để trả công cày rồi cố gắng tự làm đủ thứ việc, hy vọng cuối mùa thu được chút gạo sống qua ngày. Tôi học cách nhổ cỏ, rải phân, cấy lúa. Ngày ngày tôi bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Có lần tôi khiêng bình thuốc trừ sâu to hơn một vòng ôm đi xịt quanh ruộng. Bình thuốc lớn che khuất mặt, tôi không thể thấy thuốc xịt đều hay không nhưng vẫn nghiến răng tha cái bình đi xịt hết một vòng. Làm xong, tôi run run leo lên bờ ruộng thì bình thuốc đẩy tôi té ngược ra sau. Tôi nằm ngửa như con nhái bén ôm bình thuốc to tướng, hên là đất ruộng không quá cứng nên tôi không bị thương. Lần đó, đám con tôi phải xúm lại kéo cả bình và tôi lên bờ ruộng.
Không hiểu vì cày không sâu, cấy không khéo, phân không đủ, thuốc không đều, nước không đẫm, hay vì vận mạng của chúng tôi lúc đó đang tối tăm nên đất ruộng cũng không chịu hợp tác với mẹ con tôi. Tôi thất thu ba năm liên tiếp, nợ sau chồng lên nợ trước, cuối cùng tôi phải thế ruộng để trừ nợ, mẹ con rút về kiếm ăn trên mấy công vườn xơ xác.
Khai mương, đào đất, trồng cây, tưới bón, tất cả chỉ có tôi và hai đứa con lớn lăn lộn làm, còn mấy đứa nhỏ đành bỏ liều trong lều.
Có một lần tôi hái mận đem ra chợ bán, đường xa nên mãi tối mịt mới về. Về tới nhà, thấy thiếu thằng Năm, tôi hoảng hồn chạy ra vườn, nhảy xuống mương tìm. Con mương không sâu lắm, chỉ để lấy nước tưới cây, nhưng cũng làm tôi lo lắng từ ngày mới về đây. Nước dưới mương ngập tới gần bắp vế, tôi vừa gọi tên con vừa khom người mò. Đụng thấy một vật tròn cứng như đầu người, tôi hét lên rồi vật ra chết giấc. Cũng may là lưng tôi dựa vô bờ mương nên tôi không ngộp nước và có con bé Ba chạy theo, nó vừa khóc vừa kéo tôi lên. Và may hơn nữa là cái vật tròn tròn đó chỉ là một cái gáo dừa chìm dưới mương, còn thằng Năm vẫn trùm mền nằm ngủ sau đống quần áo trong lều. Chắc nó đói quá nên lả đi, không lên tiếng khi tôi gọi.
Trăm ngàn khổ cực vậy mới thu được vài mùa mận, mà bây giờ cơn lụt lại phá tan hoang mảnh vườn, nguồn sống duy nhất của chúng tôi…


*  *  *

Cuối cùng nước lụt cũng rút để lại khu vườn đầy rác rến với những luống khoai bị nước san bằng và những gốc cây trụi lá, gãy cành. Chỉ còn vài cây chuối non, tôi chặt về bào mỏng bóp với muối cho các con ăn qua bữa.
Đói thì đầu gối phải bò, tôi lại bỏ liều các con ở nhà, qua Bến Tre đi buôn. Xứ dừa Bến Tre bạt ngàn cây trái nên dân bên đó khá giả, có lò nấu đường, làm xà bông. Tôi mua hàng đem về Mỹ Tho bán để kiếm chút lời.
Thời 1979-1980, trạm thu thuế mọc lên ở khắp nơi, như bầy rệp đói hút máu dân nghèo. Công an rình ở khắp các ngả đường, khám xét càng ngày càng gắt gao. Tiền lời chỉ đủ để đóng thuế nên người đi buôn phải trốn, nếu thoát thì kiếm được chút đỉnh, không may bị bắt là bị tịch thu hết hàng, đứt vốn.

Một mình tôi kiếm không đủ tiền rau cháo nên tôi phải dắt hai đứa con trai theo. Tôi cưỡi một chiếc xe đạp, hai đứa chở nhau trên chiếc xe đạp khác, làm bộ như hai anh em chở nhau đi học nhưng trong cặp chúng nhét đầy đường và xà bông.

Thằng Hai còn biết xoay xở chút ít, còn thằng Tư ngây thơ, tính tình lại nhút nhát nên nó rất sợ. Mỗi khi qua trạm gác, mắt nó nhìn thẳng phía trước, làm bộ bình tĩnh, nhưng ngón chân nó bấm xuống dép, cổ nó căng lên như sợi dây đàn. Tôi ngó mà đau như bị đâm vào tim.
Chuyến phà Bến Tre – Mỹ Tho chiều hôm đó đông nghẹt. Mặt trời đã xế nhưng vẫn tỏa sức nóng hừng hực làm cho những gói đường quấn quanh bắp chân, quanh bụng tôi thêm trĩu nặng. Tôi ì ạch dắt xe, nón lá che xùm xụp xuống mặt nhưng vẫn liếc mắt ngó chừng hai đứa đi phía sau. Chỉ còn một khúc nữa là vô trạm gác, ba mẹ con càng tách xa nhau như người xa lạ để nếu có bị bắt thì không bị dính cả chùm.
Tôi thoát qua trạm gác, đứng lại, làm bộ gỡ nón quạt để ngó lại tìm con. Thằng Hai vừa dắt xe đi ra, thằng Tư đang tiến vào trạm…
Bỗng nhiên cái cặp ở tay thằng Tư rớt xuống, những gói đường và xà bông văng tung tóe. Mắt thằng nhỏ mở lớn, hãi hùng, miệng há ra nhưng không dám khóc lên thành tiếng. Một tên công an bước tới, nắm lấy cổ áo nó. Mắt tôi hoa lên, ngực tôi nhói đau, tôi ngồi xụp xuống để khỏi té vật ra. Phà đã tới, đám đông ùn ùn xô nhau tràn tới, tôi đội xụp nón lên đầu rồi đành bước chân đi.
Phà qua tới Mỹ Tho, thằng Hai mới dám chạy lại bên tôi, mếu máo, “Má ơi, thằng Tư bị bắt rồi!” Tôi ôm con, vuốt lên mái tóc cháy nắng khét lẹt rồi nói cứng, “Chắc họ không nhốt con nít đâu. Con đem đồ về nhà trước để tụi nhỏ khỏi trông, Má ở đây chờ em.”
Trời đã nhá nhem tối, tôi đang nghĩ cách quay lại kiếm con thì thằng Tư thất thểu bước ra khỏi phà. Lưng nó khom xuống, mặt nó thất thần. Vừa thấy tôi, nó phóng tới ôm riết rồi khóc nức nở, người nó run bần bật trong những cơn nấc nghẹn ngào. Nước mắt tôi cũng rớt như mưa. Tôi hận mình bất tài, hận số phận mình khốn khổ để tuổi thơ của các con quá bi thảm và tủi nhục.Tôi lại ngửa mặt gọi anh. Anh ơi, hãy giúp em cứu các con ra khỏi cảnh khổ hận này.

Từ bữa đó, tôi không dám bắt các con đi buôn lậu nữa. Tôi đi tới từng vườn trái cây mua rồi chở đi bỏ cho những bạn hàng ở Sài gòn. Mỗi ngày tôi dậy từ 3 giờ sáng, cột mấy giỏ trái cây lên xe đạp rồi chở ra bến, đón xe đem về Sài Gòn.
Tiền xe hai chuyến đi về mắc mỏ mà tôi thì sức yếu, vốn nhỏ nên lời rất ít. Thấy dân nghèo tứ xứ bày bán đủ mọi loại hàng trên lề đường trước cửa chợ, tôi quyết định không bán sỉ nữa mà bán lẻ để kiếm lời khá hơn.
Tôi trải đại một tấm ny lông xuống lề đường, bày một ít trái cây làm mẫu, phần còn lại để trong giỏ gởi mấy cửa tiệm ở mặt đường, có tiệm thương tình cho gởi, có tiệm bắt trả tiền. Tôi lê la từ chợ Cầu Ông Lãnh tới chợ Tân Bình, chợ An Đông, đôi khi gặp bạn bè cũ, tôi cúi gầm mặt dưới vành nón, không dám ngước lên.

“Ủy Ban Trật Tự Thành Phố” nói rằng bán hàng trên lề đường gây hỗn loạn nên ra lệnh cấm, nhưng người dân đói quá cứ làm liều.
Từ cụ già tám mươi tuổi đến đứa bé sáu, bảy tuổi, từ người lành lặn tới anh thương phế binh, người trải tấm nylon, kẻ đẩy cái xe tự đóng bằng ván mục, người bưng cái rổ, kẻ đội cái mâm, chúng tôi đứng ngồi la liệt trên khắp các ngả đường để kiếm sống.

Ngày nào bán được khá, ngoài mấy lít gạo tôi còn mua về cho con vài ổ bánh mì. Trời sụp tối tôi mới về đến nhà, nhìn chúng chia nhau nhai ngấu nghiến một cách hết sức thèm thuồng, tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục lăn lộn trên vỉa hè.
Tuy nhiên, những ngày vui thường ít hơn những ngày buồn. Rất nhiều khi đang ngồi bán thì người ở đầu đường la, “Công an!” và mọi người vùng lên chạy. Những người bán mặt hàng gọn, nhẹ thì túm tấm trải lại, ôm vào người rồi biến vào trong những ngõ hẻm. Tôi quảy đống trái cây nặng hơn nên thường lẹt đẹt phía sau và bị công an hốt. Công an đem tôi về “Trụ Sở Ban Quản Lý Chợ”, bắt ký tên vào biên bản rồi tịch thu hết hàng.
Tôi nhớ tới lời Mẹ chồng tôi thường an ủi tôi rằng “trời sanh voi, sanh cỏ” mà muốn gào vào lên sao các người ác vậy, đã giết chồng tôi mà còn không chừa cho mẹ con tôi một cọng cỏ để ăn!
Những ngày bị mất hàng, tôi trở về nhà với hai tay không, thê thảm như người vừa bị cướp. Mấy mẹ con phải ra vườn mót những củ khoai đèo đẹt và hái rau dại về ăn. Ngồi nhìn đám con chia nhau dĩa rau luộc chấm nước muối, lòng tôi đau nhói. Mới ngày nào tôi là cô dâu hai mươi tuổi, ngây thơ, lãng mạn cùng chồng mơ về một căn nhà ấm cúng với đàn con ngoan ngoãn, cười giỡn rộn ràng. Bây giờ, đàn con tôi gầy ốm, buồn rầu còn tôi thì da đen xạm, tay chân chai sần, tóc tai xác xơ như lòng tôi tan nát.
Sau nhiều lần bị công an bắt, vốn liếng sắp cạn thì tôi may mắn gặp được quý nhân.
Chị là vợ của Trung Tá Kh. ở cùng Sư Đoàn 5 với chồng tôi, và hai gia đình đã ở gần nhau trong Cư Xá Sĩ Quan Ngô Quyền tại Bình Dương trước năm 1975. Không ngờ sau cuộc đổi đời, chị cũng dắt con về ở ngay bên cạnh xã tôi. Con út của chị học chung một lớp với con tôi, có lẽ cùng thuộc diện con “tù cải tạo” nên chúng thân và tâm sự với nhau. Kể qua kể lại, té ra là hàng xóm hồi xưa, con tôi vui mừng về báo cho tôi và tôi đã tìm thăm chị.
Hầu hết các con của chị Kh. đã lớn nên kiếm được việc làm lặt vặt để sống qua ngày. Thời đó, phong trào đan mây tre và làm nón để xuất khẩu ra nước ngoài lên mạnh, chị giới thiệu cho tôi lãnh nón về thêu ăn công. Đêm nào tôi và con gái lớn cũng ngồi thêu bên cây đèn mù mờ, nước mắt sống chảy ròng ròng vì dùng mắt quá độ, nhưng số tiền công rẻ mạt chỉ giúp chúng tôi kiếm thêm chút cháo. Chị Kh. có người thân ở Huế nên chị cũng làm đại lý cung cấp nón lá Huế cho các sạp bán lẻ, thấy vậy chị lại thương tình cho tôi lấy nón về bán, bán xong mới đưa lại tiền vốn cho chị.
Thời đó, chợ huyện Tân Hiệp họp từ một, hai giờ đêm để người ta kịp mua hàng đem lên Sài Gòn bán lúc sáng sớm. Khoảng mười một giờ đêm là tôi mò mẫm dắt xe đạp ra khỏi nhà, trên yên sau là gói hàng lặt vặt như tiêu, tỏi, xà bông, bột ngọt, phía trên là chồng nón. Chiếc xe đạp cũ nát run rẩy bò trên con đường đất gồ ghề, hai bên là ruộng, côn trùng ếch nhái kêu nỉ non, đom đóm bay lập lòe như mắt quỉ.
Hồi còn con gái, tôi rất sợ ma, nhưng lúc đó tôi chỉ còn sợ… người. Trời tối đen, chỉ nhìn thấy một khúc đường ngắn lờ mờ trước mặt, tôi vừa đạp xe vừa cầu xin anh phù hộ cho tôi không bị cướp.
Ra tới chợ, có những đêm vừa bày hàng xong thì trời đổ mưa, tôi lấy hết nylon che cho hàng hóa rồi ngồi chịu trận trong cái áo mưa đầy lỗ lủng, nghe từng giọt nước lạnh như kim chích trên lưng, nghe gió quất từng cơn trên gương mặt ướt đẫm nước mưa hòa nước mắt.
Sau những đêm ế ẩm, sáng ra tôi phải đạp xe tới từng nhà quanh chợ, mời người ta mua nón dùm. Các bà không ai biết chuyện chồng tôi bị xử tử, nhưng họ biết tôi là vợ tù nên rất thương tôi. Họ cũng chẳng dư dả gì nhưng người mua dùm cái nón, người cho củ khoai, ly nước, người dúi cho tôi chút trái cây để đem về cho các con.
Những ngày tôi bán ế, không đủ tiền trả vốn số nón đã lấy của chị Kh., chị chỉ mắng yêu, “Thôi, không đủ tiền thì thím để bữa sau bán tiếp rồi trả, chớ không lẽ bây giờ tui bắt xác thím được ha…”
Bữa đói bữa no, bịnh không có thuốc nhưng nhờ Trời thương, đám con tôi vẫn lớn như cây dại mọc ở bờ rào. Các cháu biết thân phận mình nên rất ngoan và chăm học. Ngoài giờ học, chúng đi câu, đi chạ, đi lưới để kiếm thêm thức ăn. Tuy vậy, chúng càng lớn thì tiền học, tiền sách vở càng tốn kém, rất nhiều lần các cháu bị thầy cô rầy la vì xài chung chỉ một cuốn vở cho mọi môn học, nhưng các cháu không hề than van.
Những ngày tôi đi buôn bán về trễ, lòng tôi ấm lại trước cảnh các con quây quanh ngọn đèn dầu leo lét, mấy đứa nhỏ tập đọc ồn ào, nhưng mấy đứa lớn vẫn ráng chăm chú giải toán, học bài.
Dù không có tiền đi học thêm, dù sự giảng dạy ở vùng quê trồi xụt bất thường, ba đứa con lớn của tôi đã đạt được điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp trung học. Tuy vậy, các cháu nhưng chỉ được trúng tuyển vào những trường dạy nghề như Trung Học Lâm Nghiệp ở Sông Bé, Trung Học Sư Phạm ở Tiền Giang, và Trung Học Xây Dựng ở Vĩnh Long. Dù sao, đây là một điều rất quan trọng cho cuộc đời của hai cháu trai bởi vì nếu không được đi học tiếp, các cháu sẽ phải đi “nghĩa vụ quân sự”, bị gởi đi đánh nhau ở vùng biên giới Tàu hay Campuchia.
Tôi đã thề cùng vong linh của anh rằng tôi sẽ làm mọi cách để các con chúng tôi không bị đi bộ đội. Chỉ tưởng tượng các cháu phải mặc cùng bộ quân phục, đứng cùng hàng ngũ, và đem thân đi chết vì chính kiến của những người đã giết cha các cháu, tôi rùng mình. Nếu bị kêu đi “nghĩa vụ”, các cháu chỉ còn nước bỏ làng xóm đi sống lang thang, dật dờ như rất nhiều thanh niên thời đó.
Dù trúng tuyển vào trường, nhưng sau khi tốt nghiệp, cả ba cháu không có tiền chạy chọt, không quen biết ai, nên bị gởi đi làm việc ở những nơi xa xôi, hẻo lánh. Các cháu chán nản quay về nhà, làm ăn lặt vặt qua ngày. Cuộc sống tuy đỡ đói khổ hơn thời các cháu còn nhỏ, nhưng đầy bế tắc, không có tương lai.

Từ đầu thập niên 1980 đã có lác đác Sĩ Quan đi tù được thả về. Mỗi lần nghe tin người quen được về với vợ con, tôi mừng cho họ nhưng nghe lòng càng thêm cô đơn, cay đắng.

Chồng tôi sẽ không bao giờ trở về, mà thân xác anh cũng vẫn còn lạc lõng ở tận phương nào. Mẹ chồng tôi đã già yếu, không còn tiếp tục đi tìm mộ anh được nữa, còn tôi thì lăn lộn kiếm gạo cho bầy con nên không thể hết lòng tìm kiếm. Vì thế, ngoài nỗi khổ đói nghèo, nỗi hận mất chồng, nỗi sợ hãi xã hội nhiễu nhương, và nỗi buồn đơn chiếc, tôi còn mang cảm giác nặng trĩu tội lỗi của người vợ vô tình.
Tôi không thể ngờ rằng năm 1984, tám năm sau khi anh mất, anh đã tìm về với mẹ con tôi.
Hôm đó, tôi đang lúi húi ngoài vườn thì chị Hai tôi bước vô cổng. Vừa tháo nón lá quạt lia lịa, chị vừa kêu, “Dì Ba! Dì Ba ơi! Có tin dượng Ba!”
Tôi quăng cuốc chạy ra, chị chụp tay tôi, hổn hển vừa thở vừa nói, “Mèn ơi, thiệt không ngờ! Em nhớ cô giáo H. dạy trong trường chị chớ? Chị với cổ thân nhau, lúc người này có chuyện thì người kia dạy dùm. Mới cách đây mấy bữa, chị coi lớp dùm cổ để cổ đi hốt cốt người em trai tên Thịnh, chết trong tù cải tạo. Cổ đi về kể chuyện cho chị nghe, cuối cùng cổ nói thêm ‘Kế sát bên mộ em tui có ngôi mộ của một ông chết cùng ngày. Tội nghiệp, chắc gia đình ổng đi vượt biên hết nên không ai chăm sóc, cỏ mọc tùm lum!’ Trước giờ chị ít để ý chuyện của ai, nhưng bữa đó như có gì xui khiến nên chị hỏi tới, ‘Vậy chứ bà có nhớ tên người đó không?’ Cổ nói ‘Tên là Trần Văn Bé, sinh ở Long An.’
Giữa trưa nắng mà tôi sống lưng tôi lạnh toát.
Tôi đã nghe các bạn tù của anh kể lại rằng sau khi bọn cai tù bắt được anh và đem trở về trại Suối Máu, bọn chúng còn chuyển về một người đã vượt trại ở Hóc Môn tên là Thịnh. Cả hai bị nhốt vào connex và bị bắn trong cùng một ngày, chồng tôi vào buổi sáng, anh kia vào buổi chiều.
Như vậy là những người bạn tù đã chôn hai anh kế bên nhau, và đã thương xót lập bia để chỉ đường cho thân nhân các anh mai sau đi kiếm. Trong gần bốn triệu người dân Sài gòn, cơ may hiếm có hay hồn thiêng của hai anh đã đem chị tôi và chị của anh Thịnh đến với nhau, để cho họ thân thiết và tin cậy nói cho nhau nghe những nỗi đau sâu kín của gia đình những người lính Cộng Hòa gãy súng.

Có lẽ hồn thiêng của chồng tôi níu chân chị H. nên chị đã để ý tới nấm mộ hoang khuất trong cỏ rậm, và đọc được cả những chi tiết viết bằng tay mờ nhạt trên miếng gỗ đã tám năm trời phơi mưa nắng.
Mẹ chồng tôi lập tức lo việc xin giấy phép đi đường, giấy phép cải táng và kiếm nhà quàn lo dịch vụ. Ngày đi bốc mộ, tôi và Mẹ ruột tôi từ Mỹ Tho về Sài Gòn cùng đi với Mẹ chồng, cậu ruột của chồng, và một cô em chồng.
Nhờ chị của anh Thịnh đã chỉ đường rất kỹ nên chúng tôi tới mộ khi mặt trời chưa đứng bóng. Cỏ dại đã được phạt đi nên chúng tôi thấy ngay ngôi mộ có tấm bia bạc phếch đứng chơ vơ trong nắng. Có lẽ đây là khúc cây tốt nhất mà các bạn tù của anh đã lựa, có lẽ họ đã khắc tên anh bằng cả tấm lòng, có lẽ vì mộ nằm ở khu đất cao và khô ráo, và có lẽ hồn anh còn quanh quẩn nên tấm bia vẫn còn đứng vững và những giòng chữ vẫn chưa phai sau tám năm hoang lạnh.
Người ta bắt đầu đào, tiếng bình bịch của cuốc bằm xuống đất dội bưng bưng vào óc tôi làm tôi choáng váng, phải ra ngồi dựa vào một gốc cây. Nấm mộ không sâu nên chỉ một lát là chạm đến cái hòm thô sơ, bể tan sau vài nhát cuốc.
Tôi vẫn ngồi dưới gốc cây, hai mắt mở trừng trừng. Tôi thấy như hồn tôi tách khỏi thân xác, bay là là trên cao nhìn mọi người đang khóc và tôi đang ngồi sững sờ như hóa đá. Từng khúc xương được bốc lên, mẹ chồng tôi nhìn bộ răng và nói rằng đúng là anh với hàm răng thiếu một chiếc ở góc trong. Khi mẹ kêu tôi tới nhận diện chồng, tôi mới lảo đảo đi tới gần mộ. Bên cạnh cái hộp sọ đã bể, tôi thấy chiếc áo sơ mi sọc do chính tôi sắm cho anh ngày xưa nằm cạnh sợi dây nịt của lính. Có lẽ anh em bạn tù đã thu nhặt túi đồ của anh và chôn theo anh. Tới lúc đó nước mắt tôi mới có thể trào ra. Cuối cùng thì em cũng đã tìm được anh rồi!
Sau khi thiêu cốt, Mẹ chồng tôi đề nghị đem gởi vào chùa ở Phú Lâm. Tôi đồng ý vì ở Sài Gòn dù sao cũng an toàn hơn là ở Mỹ Tho trong ngôi nhà xiêu vẹo, chông chênh của mẹ con tôi.


*  *  *

“Mẹ có nhà không con?”
Đang loay hoay đếm nón để khuya đem đi bán, tôi chạy vội ra cửa vì giọng nói đầy vẻ háo hức của cô bạn thân, học chung từ nhỏ.
Vừa thấy tôi, H. níu tay kéo ngồi xuống bậc cửa, móc trong túi áo ra một tờ báo được xếp gọn. Với vẻ mặt hết sức trang trọng, H. giở báo, chỉ vào một bản tin nhỏ với tựa đề : Thông Cáo Về Việc Làm Hồ Sơ Xuất Cảnh Cho Những Người Từng Đi Học Tập Cải Tạo.
Hai chúng tôi chúi đầu vào đọc. “Những người từng đi học tập cải tạo trên ba năm sẽ được làm hồ sơ đi Mỹ, ngay cả vợ con của những người đã chết trong trại cũng được đi.”
Run run, tôi hỏi H. “Bà nghĩ tin này thiệt không?”
“Thiệt mà! Ở trên Sài Gòn người ta xác định rồi, mấy người bạn ông xã tui đang làm đơn rần rần kìa!”
Thế là chiều hôm đó tôi mở cái hộp sắt, lấy ra tờ Trích Lục Án Hình vừa coi lại vừa van vái chồng tôi.
Năm đó là 1988, như vậy chồng tôi bị giết đã mười hai năm. Nước mắt rơi lã chã, tôi lại kêu anh. Anh ơi! Anh giúp em cứu các con ra khỏi nơi này.
Mẹ chồng tôi nghe tôi kể chuyện làm đơn xin đi Mỹ, bà chép miệng, “Làm đơn thì phải khai ra cái chuyện chồng con bị tử hình. Tụi công an xã mà biết thì giống như khui ổ rắn. Má sợ các con mà đi không được, sau này sẽ khổ hơn…”
Tuy nhiên lòng tôi đã quyết, đây là cơ hội duy nhất để cứu con tôi, điều mà tôi ước mơ từ mười mấy năm nay. Với sự giúp đỡ của vợ chồng bạn, tôi xin mẫu đơn, điền chi tiết, đính kèm bản sao của bản án tử hình rồi đem nộp ở Ty Ngoại Vụ Tỉnh Tiền Giang. Gia đình H. và chúng tôi đều được xếp vào danh sách H.O. 7.
Nhưng chỉ mấy tuần sau tôi nhận được thư từ Sở Ngoại Vụ ở Sài Gòn từ chối đơn của tôi với lý do: chồng tôi bị tử hình năm 1976, do đó anh không hội đủ điều kiện bị tù ba năm. Tôi nghiến răng rủa bọn Cộng ngu xuẩn, chồng tôi bị tử hình nghĩa là đi tù không bao giờ về, cớ gì mà không đủ điều kiện ba năm. Tôi viết thư khiếu nại nhưng Sở Ngoại Vụ từ chối, họ nói bắt buộc phải có ba năm ở tù. Đối với họ chết là hết, là không còn giá trị gì nữa.
Lúc đó, gia đình của những người Sĩ Quan Việt Nam Cộng Hoà đã hồi sinh như ruộng hạn gặp mưa rào. Họ tụm năm, tụm ba, thì thào về chuyện làm đơn, chuyện nhận được giấy tờ chấp thuận cho đi. Họ len lén mua sắm, chuẩn bị cho ngày lên đường. Mọi người chạy qua chạy lại, bàn bạc, chia sẻ với nhau những tin tức góp nhặt được về đời sống bên Mỹ, về ước mơ tương lai. Lác đác tiếng cười đã trở lại trong những căn nhà lụp xụp, buồn hiu.
Tôi đứng bên ngoài hạnh phúc đó, nhìn cảnh tượng đó bằng cảm giác của đứa con nít bị bỏ rơi. Các bạn của tôi cứ nghĩ là tôi không có hy vọng, nên họ tránh bàn chuyện đi Mỹ trước mặt tôi. Có nhiều khi họ đang nói mà thấy tôi đến là im bặt. Tôi ráng cười nói cho họ yên tâm dù lòng đau như cắt.
Giữa năm 1991, H. lên đường đi Mỹ theo diện H.O. 7.
Đêm trước khi đi, hai đứa nói chuyện thật lâu. H. hứa sau khi sang Mỹ sẽ hết lòng giúp mẹ con tôi. Tôi bỏ bản sao của tờ đơn xin đi diện H.O., bản sao của tờ Trích Lục Án Hình, và lá đơn khiếu nại của tôi vào một cái phong bì lớn. Tôi thêm vào đó bản sao của tấm hình thờ của anh, mong có phép lạ để một trong những người Mỹ từng làm việc với anh ở Phòng Nhì tiểu khu Định Tường, Mỹ Tho ngày trước nhận ra anh mà cứu mẹ con tôi. Tôi van vái, “Anh ơi! Anh phù hộ cho H. đưa được đơn đến tay người tốt, cho họ mở lòng thương mà cứu vớt gia đình mình.”

Ngày chia tay, tôi hết gượng nổi, tôi khóc như mưa.

H. lên xe, đem theo hy vọng của chúng tôi. Xe chuyển bánh rồi từ từ xa dần.
Tôi đứng dưới ánh nắng gay gắt, nước mắt chứa chan, nhìn dõi theo chiếc xe mờ dần trong bụi khói rồi biến mất sau khúc quẹo.

H. đi rồi, tôi hồi hộp chờ đợi từng ngày.
Nhiều gia đình cựu Sĩ Quan ở trong vùng đã ra đi làm tôi càng thấy bơ vơ, khó kiếm người tâm sự. Khó hơn nữa là khi nghe tôi nói rằng tôi muốn khiếu nại với người Mỹ, hầu hết bạn bè đều chớp mắt ái ngại, rồi làm thinh.
Tôi hiểu rằng họ nghĩ người Mỹ sẽ không quan tâm đến một gia đình ở cách nửa vòng trái đất mà mối liên hệ với Mỹ đã bị tử hình từ mười sáu năm trước. Vài người bi quan còn không dám tin là H. sẽ giữ lời hứa với tôi. Họ lắc đầu nói, “Trước khi đi ai cũng hứa hẹn nhưng qua đó nhiều thứ phải lo quá nên người ta quên hết…”
Nhưng H. đã không quên mẹ con tôi.
H. có người anh chồng từng học Quốc Gia Hành Chánh và cũng là một Sĩ Quan VNCH. Năm 1975, anh giữ chức trưởng phòng kinh tế của Quân đoàn 4, anh cũng bị đi tù nhiều năm, sau đó anh vượt biển và định cư ở Mỹ. Lá thư đầu tiên H. gởi về kể rằng anh ấy đã dịch lá đơn cùng với lá thư khiếu nại của tôi ra tiếng Anh rồi gởi cho cơ quan di trú Mỹ. Từ đó, sáng nào tôi cũng thắp nhang trên bàn thờ chồng rồi ngóng chờ thư. Khoảng hai tháng sau, thư của H. đến.
Tôi dụi mắt, coi đi coi lại giòng chữ viết tay của H. để biết chắc là mình không lầm. “Văn phòng ODP bên đây chấp thuận hồ sơ của gia đình bà rồi! Họ sẽ liên lạc với Việt Nam để hoàn tất thủ tục.”
Hai tuần trôi qua với lo lắng, chờ đợi. Rồi tôi nhận được một lá thư của Sở Ngoại Vụ tại Sài Gòn yêu cầu tôi bổ sung giấy tờ về cái chết của chồng tôi.

Tôi đọc lá thư mà điếng hồn.
Như vậy là tờ Trích Lục Án Hình mà tôi đã nộp là không đủ. Chồng tôi bị xử theo luật rừng vào năm 1976, trong một phiên toà rừng tại trại tù, biết có biên bản hay không? Nếu có, biết họ có còn giữ lại sau mười sáu năm hay không?
Tôi lại mở cái hộp sắt và lấy tờ Trích Lục Án Hình ra soi xét. Góc trái của tờ giấy có hàng chữ “Tòa Án Quân Sự Quân Khu 7”. Tôi sẽ đi tìm từ đầu mối đó.
Ngày đó, ở Mỹ Tho điện nước còn không có đủ, nói gì tới máy tính hoặc mạng internet. Thêm nữa, những hồ sơ về tù chính trị không bao giờ lộ ra ngoài nên tôi thông thể tra cứu, tìm kiếm được ở bất cứ nơi nào.
Cách duy nhất là tới thẳng Tòa Án Quân Sự Quân Khu 7 mà tôi không biết ở đâu. Tôi phải nhờ chị ruột và anh rể tôi đang ở Sài Gòn đi hỏi thăm dùm.


*  *  *

Một buổi trưa nắng gắt, có một người đi bộ từng bước xiêu vẹo trên con đường trơ trụi từ bến xe vô nhà tôi. Đó là chị Hai tôi!
Vừa tới nhà tôi, chị lột cái nón quạt lia lịa rồi vừa thở vừa nói, “Tìm thấy địa chỉ của Tòa Án Quân Khu 7 rồi! Đâu dè nó ở ngay tại Sài Gòn! Bây giờ, cái khó là em có dám vô đó hỏi họ về bản án không?”
Hai bàn tay tôi bỗng ướt nhẹp mồ hôi. Mười sáu năm qua tôi đã viết hàng trăm tờ lý lịch khai là chồng tôi mất tích, bây giờ tôi phải đối mặt với công an để nói rằng anh đã chết và tôi muốn kiếm bản án tử hình. Họ có túm đầu cả gia đình tôi về tội khai gian không?
Nhưng giấc mơ đi Mỹ của cả gia đình đã gần kề, cánh tay cứu vớt của người Mỹ đã đưa ra rất gần rồi, tôi nhất định phải nắm lấy. Tôi phải vượt qua mọi gian nan vì tương lai của các con.
Tôi gom góp cây trái trong vườn đem bán, kiếm đủ tiền mua cái vé xe lên Sài Gòn rồi ghé ở nhờ nhà anh chị. Chị tôi trao cho tôi tấm giấy ghi rõ địa chỉ nơi tôi cần đến, cho tôi mượn bồ đồ tươm tất nhất để mặc, nhưng chị cũng lo ăn từng bữa nên chỉ giúp tôi được tới đó.
Tôi cầu cứu cậu em út lúc đó mới tốt nghiệp Sư Phạm, có vợ vừa sinh con nhỏ. Hai vợ chồng vét tất cả gia tài phòng thân đưa cho tôi mượn hai trăm ngàn, lúc đó mua được gần một chỉ vàng.
Buổi sáng ngày tốt mà tôi đã chọn, cậu em chở tôi bằng xe Honda tới trước Tòa Án Quân Khu 7. Trời còn sớm, con đường còn vắng vẻ, cậu Sáu ngừng xe rồi quay lại nhìn tôi, lặng lẽ. Ánh mắt cậu nửa như khuyến khích, nửa như lo lắng, thương cảm khiến tôi mủi lòng muốn khóc. Nhưng tôi gom hết can đảm, lấy giọng bình tĩnh, “Sáu đậu ngay đây, rồ máy sẵn nghe. Có chuyện gì chị phóng lên xe, mình chạy liền nghe.” Cậu em gật đầu, “Em biết rồi, chị cứ vô đi. Ráng cẩn thận!” Tôi xuống xe, thò tay soát lại cuộn tiền dấu trong túi nhỏ ở lưng quần, rồi mím môi bước tới.
Khúc sân xi măng dẫn tới căn nhà nhỏ có tấm bảng đề “Trạm Tiếp Dân” chỉ có mấy thước ngang mà tôi thấy quá dài. Chân tôi ríu lại, tim tôi đập dồn dập, tôi không ngừng van vái, “Anh ơi, phù hộ cho em!”
Tôi là người khách đầu tiên trong ngày, cả căn phòng còn trống không, chỉ có một người công an còn rất trẻ ngồi ở cái bàn nhỏ ngay gần cửa vào. Thấy tôi, hắn hất hàm, “Cần gì?”
Tôi đưa bản sao tờ Trích Lục Án Hình ra rồi lấy giọng nhỏ nhẹ nhất, “Chào chú, tôi muốn xin bản sao của toàn bộ bản án này.”
“Xin để bổ túc giấy tờ đi H.O, phải không?”
“Dạ… Dạ phải. Chú làm ơn giúp dùm!”
Tên công an săm soi ngày tháng trên tờ giấy rồi nói, “Vụ này từ năm 1976, giấy tờ đem ra Hà Nội hết rồi.”
Tôi liếc nhìn quanh, rồi rút nhanh cuộn giấy bạc nhét vào tay hắn và nài nỉ, “Chú làm ơn hỏi dùm tôi…”
Tên công an đút lẹ tiền vào túi, suy nghĩ một chút rồi nói, “Được rồi, để tôi cố tìm. Hai tuần sau chị trở lại.”
Tôi vừa cám ơn hắn vừa lùi ra cửa.
Mười bốn đêm tôi trằn trọc vì lo lắng. Lỡ mà tên công an đó trốn luôn, lỡ mà bản án không còn, lỡ mà công an đòi thêm tiền… Hàng chục cái “lỡ” hiện ra trong đầu làm cho tóc tôi thêm bạc, mặt tôi thêm hốc hác.
Đúng hai tuần, tôi trở lại ngay lúc Toà Án vừa mở cửa. Tim tôi nhảy bình bịch khi thấy tên công an trẻ hôm trước, hắn lôi ra trong ngăn kéo ra một phong bì, đưa cho tôi với một nụ cười thoáng trong ánh mắt nhưng chỉ nói cụt ngủn, “Đây.”
Tôi chụp lấy, miệng líu ríu cám ơn hắn, chân vọt nhanh ra cửa. Mới thấy mặt cậu em, tôi run run lôi ra ba tờ giấy từ trong bao thư ra và nói líu lưỡi, “Có rồi, có rồi, Sáu ơi!”
Tờ đầu là lý lịch của chồng tôi, tờ thứ hai ghi lại diễn tiến trốn trại của anh, và tờ cuối kết thúc bằng giòng chữ:


Xử phạt: TRẦN VĂN BÉ Tử Hình


Nước mắt tôi lúc đó mới tuôn ra và lòng tôi lại đau như cắt trước cái trớ trêu của đời tôi: bản án tử hình với những lời chửi chồng tôi là “ác ôn, phản động” cũng là tờ giấy để cứu mẹ con tôi.
Tôi sao lại bản án để gởi lên Sở Ngoại Vụ, còn bản chính tôi cất vào chiếc hộp sắt chung với tờ giấy Trích Lục Án Hình tôi đã nhận năm xưa.
Những đêm mất ngủ tôi lại lấy bản án ra đọc, và tôi đã thuộc từng câu trong đoạn diễn tả những điều xảy ra khi anh vượt trại.


“… Hồi 11 giờ 30 ngày 5 tháng 3, 1976, Bé đã chui rào trốn ra tới Quốc Lộ 1 và thuê xe lam chạy đến khu vực ấp Bắc Hải. Đến đây nghe thấy tiếng súng nổ ở phía sau, Bé liền xuống xe chạy vào nghĩa địa lẩn trốn. Lúc 18 giờ ngày 5 tháng 3, 1976 Bé chạy tới xã Tân Hiệp – Biên Hòa trà trộn trong nhân dân… Đã có sự bố trí từ trước, nhân dân và chính quyền địa phương đã bắt Bé.”


Như vậy là anh đã lẩn trốn hơn sáu tiếng đồng hồ, từ trưa tới chiều ngày 5 tháng 3, 1976. Lòng tôi đau như cắt khi nghĩ đến lúc anh bơ vơ ở Biên Hòa, vùng đất miền Nam quê hương, nơi rất thân quen nhưng lúc đó đã trở thành xa lạ, đầy cạm bẫy trong móng vuốt kẻ thù.
Trời ơi! Chúng đã bao vây anh ở Tân Hiệp ra sao? Anh có hoảng hốt, tuyệt vọng không? Anh có bị đánh đập nhiều không? Rồi trong hơn một tháng từ ngày 5 tháng 3 cho tới 10 tháng 4, 1976, anh đã bị hành hạ tới mức nào? Những ngày nóng như lửa nằm trong connex, anh đã đau đớn, đói khát tới bao nhiêu? Những đêm dài khủng khiếp anh đã nghĩ gì? Anh có nhớ vợ con nhiều không? Anh có lời gì muốn nói với với chúng tôi không?
Óc tôi bưng bưng với hàng trăm câu hỏi, ruột tôi đau như xát muối khi nghĩ tới những khổ hình anh phải chịu lúc cuối đời. Trong đêm lặng lẽ, nước mắt tôi tuôn ra, chảy ngược xuống ván, ướt đẫm hai bên tóc mai. Và tôi thường thiếp đi với bản án tử hình úp trên ngực…
*  *  *

Sau khi tôi nộp bản án tử hình lên Sở Ngoại Vụ, hồ sơ được Mỹ chấp thuận nhanh chóng và gia đình tôi được vào danh sách H.O. 14.
Nhưng nhà cầm quyền Cộng Sản đâu có để chúng tôi ra đi một cách dễ dàng! Ngày tôi đi lãnh hộ chiếu, một nhân viên Sở Ngoại Vụ cau có nói, “Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa đã bỏ tiền ra đào tạo nuôi dạy các con của chị, nay các con chị lại ra đi, không phục vụ cho Đảng và nhà nước. Chị phải đền lại tất cả số tiền mà nhà nước đã bỏ ra. Chị đi về đi, khi nào trả tiền xong cho nhà trường, cầm biên lai lên đây thì sẽ được lãnh hộ chiếu.”
Tôi lại ra về với nỗi lo thắt thẻo ruột gan.
Trong tay tôi không có tới vài chục ngàn mà họ đòi bồi thường tiền triệu! Chạy xuôi chạy ngược hết mọi nơi, suy nghĩ nát đầu óc, cuối cùng tôi lại phải về cầu cứu mẹ ruột của tôi. Bà suy nghĩ trắng một đêm rồi quyết định cắt một phần đất vườn nhà đưa cho tôi, coi như chia gia tài, mặc dù mẹ tôi còn sống.
Tôi rớt nước mắt vì thương mẹ và tủi thân mình. Từ nhỏ cha mẹ nuôi tôi ăn học, lớn lên làm cô giáo lương bổng ít oi, lấy chồng quân nhân, “tiền lính, tính liền” nên tôi chưa bao giờ có cơ hội báo hiếu cha mẹ.
Rồi cuộc đổi đời làm tôi góa bụa, một nách sáu con thơ, sống được tới giờ cũng nhờ cha mẹ nhịn ăn mà bao bọc. Nay ba tôi đã khuất, các con tôi đã lớn, vậy mà lúc ngặt nghèo cũng lại là mẹ già phải hy sinh.
Tôi vừa khóc vừa rao bán phần đất mẹ cho. Người ta biết tôi cần tiền nên ép giá, chỉ trả hơn một cây vàng. Tôi đem đền trường học gần hết, phần còn lại không đủ để đi xe lên xuống Sài Gòn phỏng vấn và khám sức khỏe nên tôi lại phải mượn em trai tôi.
Rồi cái ngày mong đợi cũng tới. Ngày 20 tháng Mười Một, 1992, chúng tôi ra phi trường với một cái va li duy nhất chứa hành lý của cả gia đình sáu người. Mỗi đứa con tôi chỉ có một bộ quần áo trên người và một bộ đem theo, chỉ có tôi là được sắm một cái áo lạnh còn lại thì đành tới đâu hay tới đó.
Tôi ôm trên tay tài sản quý nhất, đó là cái bao thư lớn đựng di ảnh của chồng tôi, một vài tấm hình thời chúng tôi yêu nhau, và bản án tử hình.
Máy bay cất cánh, tôi nhìn qua cửa sổ thấy Sài Gòn thu nhỏ dần mà nghẹn ngào. Cuối cùng, các con tôi đã thoát ra khỏi cái ngục tù bao la của nhà cầm quyền Việt Nam. Lần đầu tiên từ sau tháng Tư, 1975, tôi cảm thấy bình an.


Anh ơi, em đã lo được cho các con như lời anh dặn dò lần cuối. Cái chết đau đớn của anh và nước mắt, mồ hôi của em đã mở đường cho các con đi đến một tương lai tươi sáng. Anh đang mỉm cười, phải không anh?

Khôi An

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy long

Post by Sơn râu 28 May 2024

2. Chương 2

Chỉ còn sáu tháng nữa thì đến năm 2000, bước sang thế kỷ 21. Sự cố máy tính Y2K của thế giới hình như đã khắc phục được. Tôi nghe phát thanh truyền hình nói thế. Lâu nay tôi ít để ý đến tình hình trên hành tinh này, vì loài người đánh đấm, ăn thua đủ với nhau lùng tùng xòe. Địa cầu huyên náo. Tôi cũng có sự huyên náo của riêng tôi. Những bức xúc có căn nguyên, những buồn vui, những hậm hực, tôi nhả ra hết, có sao nói vậy quên luôn cả lời mẹ từng dậy: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào” hoặc “Một điều nhịn là chín điều lành”. Tôi cóc cần rồi, tôi có thể “khùng – điên – ba trợn”. Tôi sợ húp nhầm cháo lú thì khổ. Tôi không muốn sống như cục thịt hoặc như một nấm xương khô. Tôi tự vả vào miệng mình, tự bới xấu mình, nhiếc móc cái thân phận bất hạnh của mình thôi. Chẳng thèm đụng chạm đến ai. Than thân chúng tôi (kể cả bạn bè): 
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ 
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh 
Những câu thơ này của ai, thi sĩ nào thuở có trào lưu lãng mạn, chán đời hồi đầu thế kỷ 20 trên đất nước Việt Nam, tôi nhớ tác giả là Vũ Hoàng Chương nhưng không dám chắc lắm. Xin lượng thứ cho tôi. Bạn bè tôi ai thấy mình không ở trong hoàn cảnh này cứ việc tự do phủ nhận. Tôi không kéo bè kết đảng hay làm tha hóa bất cứ ai.

° ° °

Ngày hôm nay Sài Gòn mưa từng chặp, gần như suốt ngày. Tôi nằm nhà vì cơn bệnh ập đến với tôi hơn một tuần nay. Tôi bị cao áp huyết nên máu lên xuống bất thường. Bà vợ tôi sợ nguy hiểm cho tôi, khi leo lên leo xuống trên căn gác bút, nên đề nghị tôi ở căn buồng dưới nhà, một căn phòng nhỏ có thể tránh được gió máy. Điều ấy hợp lý quá, tôi đành chấp nhận. Thôi, không ở trên căn gác bút nữa thì xuống hầm ninh chữ” vậy. Tôi gọi chỗ làm việc mới của tôi là hầm ninh chữ, cũng là bút hiệu của bạn tôi đã chết. Thi sĩ Ninh Chữ. Rảnh thì giờ tôi dọn dẹp tí chút. Mơ ước mở được cái cửa sổ để có lỗ thông gió, nhìn ngôi mả đá xưa mấy trăm năm. Nhìn thấy những con ốc sên to bằng nắm tay trẻ con mà người ta gọi là ốc ma bám trên mả đá. Tôi không còn thấy nữa vào những ngày mưa từ mấy chục năm nay. Hình như chúng đã bị tiệt chủng. Đang ngồi buồn và suy nghĩ vẩn vơ thì nhận được tờ báo Khởi Hành của Viên Linh gửi qua đường bưu điện. Tôi đọc ngấu nghiến. Tôi thấy sự hiện diện của một người bạn im hơi lặng tiếng suối bao nhiêu năm trời, nay cũng có lên anh viết về những dòng sông ở Việt Nam, con sông Đáy ở Sơn Tây làm nền cho bài viết. Người viết nói: Nhắc đến sông Đáy, nhắc đến Sơn Tây, người ta nhắc đến thơ Quang Dũng, những bài thơ của một cuộc chiến, một cuộc chiến có tiếng hát, cuộc chiến ấy đã dứt để hôm nay là cuộc chiến khác, một cuộc chiến không có tiếng hát, không có thơ…. Tại sao lại có hai cuộc chiến khác nhau? 
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến 
Hiu hắt chiều sương lạnh đất Tề…. 
Tôi đọc bài Tạp ghi của Ký Giả Lô Răng, Bạn tù Sơn La. Cảm động và buồn không chịu được Vì tôi cũng từng là người tù, từng chứng kiến những cảnh đầy đọa như thế, từng ăn đói mặc rách, từng đi đào trộm khoai sắn, biết chia nhau với bạn tù một con rết núi nướng, mơ ước một miếng cơm cháy ăn cho thơm miệng, và điếu thuốc lào đỡ vã. Điều ấy tôi đã viết chưa nhỉ? Tôi viết rồi. Thành nguyên một cuốn truyện dài kia. Tôi tin rằng không bị lỗi thời. Không gây hận thù để tuyên truyền cho một thời điểm hay giai đoạn nào đó. Tôi nghĩ đến cái lâu dài của con người với con người. Trong Bạn tù Sơn La, Ký giả Lô Răng có nhắc đến thượng tọa Thích Thanh Long (nguyên giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo). Cũng là một người tù. Tôi chưa từng biết vị này. Nhưng chùa mà ngài có thời gian trụ trì tôi biết, chùa Viên Giác trong ấp Đông Ba Gia Định xưa, nghĩa là rất gần với nhà tôi bây giờ. Nhắc đến nhà sư này, tôi không thể không nhớ đến bạn tôi, Lý Phật Sơn, Trần Kỳ Hùng, Trần Quang Bạch, đã khuất bóng, tôi đã viết trước đây, trong Hồi Ký Viết Trên Gác Bút. Anh đã ở trong ngôi chùa đó sau ngày 30-4-75, khi thầy trụ trì đi học tập cải tạo ngoài Bắc Việt Nam. 
Tôi với Lý Phật Sơn từng ăn chuối thay cơm ở dưới mái hiên ngôi chùa đó. Nói chuyện trời đất bông lông, nhắc lại một số bạn xưa mà tởng chừng như không bao giờ gặp lại nữa. Nghĩ đến bạn đã khuất bóng sau khi đọc bài Bạn tù Sơn La tôi bắt gặp cũng trong tờ báo ấy hai bài thơ, một của Thuyên Du, bài Chiêu Niệm, một của Nguyễn Quan Hà, Chiêu niệm Ly phật Sơn. Thì ra hai vị này là bạn thân của Lý Phật Sơn tự thuở nào, còn biết cả tên tục của Lý Phật Sơn là Trần Quang Bạch. Nhân đọc hồi ký của tôi. Tôi không thể không ghi lại những câu thơ khóc bạn, lấy ra những điều tôi ghi nhận về Lý Phật Sơn: 
Dưới mái rêu phong người tá túc 
Hôi người, người nhắm mắt không thưa 
Hỏi thầy: thầy cải tạo ra Bắc 
Hỏi Phật: Chùa hoang phế khác xưa 
(thơ Thuyên Du) 

Vắt kiệt máu xương ngọn đèn sắp tắt 
Nửa đốm linh anh leo lét đợi thời 
Thời chẳng chiều ngươi, 
Trời cao không mắt 
canh bạc nhân sinh ngươi đã thua rồi. 
Đã đến đã đi đã còn đã mật, 
Bạch ơi Bạch ơi! sao phận con người. 
(thơ nguyễn Quan Hà) 
Khoảng gần mười năm sau 1975, tôi nghe nói nhà sư trụ trì chùa Viên Giác ở ấp Đông Ba cũng là Tuyên úy Phật Giáo đã học tập cải tạo được trở về. Ngài tiếp tục tu hành tại ngôi chùa, đệ tử đến thật đông, rồi ngài cũng viên tịch thời gian ngắn sau đó. Tôi thấy đám ma của ngài đi trong ấp Đông Ba (nay là phường 7 quận Phú Nhuận) ra đường lớn, đường Chi Lăng cũ (nay là đường Phan Đăng Lưu). Đông đệ tử đi đưa tiễn. Tôi tự hỏi không biết vị sư trụ trì sau học tập cải tạo về có bị quản chế không, nghĩa là mỗi tuần, có khi hàng ngày phải dẫn xác lên phường để Công An thấy mặt, nghiêm chỉnh báo cáo về mình, trong một cuốn sổ. 
Với tôi đã từng phải ghi những trang nhật ký như thế, tốn khá nhiều giấy búi. Cuối tuần được ban cho quyền được Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa, như công việc quét phường, nhặt rác hoặc sai bảo linh tinh. ấy cái tính tôi cứ nói năng lẩn thẩn. Nhưng đó là sự thật, không nói điêu và cũng không có gì mờ ám. Bây giờ mỗi buổi sáng tôi có nhiệm vụ đưa thằng con trai út đi học ở trường tiểu học Đông Ba. Lần nào cũng đi qua chùa Viên Giác, tôi dừng lại mua một cái bánh tiêu hay dầu cháo quẩy cho con, trước cổng chùa có bà bán chuối, tôi nhớ bà ta đã ngồi ở đây lâu lắm rồi. Tôi không biết bạn Lý Phật Sơn của tôi đã ăn chuối của bà lần nào chưa. Hành lang chùa trống vắng. Tôi nhớ cái giường sắt của Lý Phật Sơn kê ở chỗ đó. Tôi và anh ta có bữa làm hết cả một nải chuối, ngồi nhìn kiểng chùa tiêu điều. 
Thời gian đó cũng xa xôi rồi… Những gì tôi ghi lại đều là hồi ký. Những chuyện linh tinh trong cuộc đời mà tôi nghĩ rằng với tuổi đời tôi đủ tư cách để ghi lại. Mà sao những kỷ niệm ấy lại buồn thế. Trong năm Mậu Dần vừa qua bao nhiêu chuyện để ghi lại. Nào là tiễn bạn lên đường đi định cư ở nước ngoài, đón bạn về thăm quê hương. Tiễn bạn vĩnh viễn xa lìa trần thế, lên lò thiêu hoặc xuống mồ. Đường nào cũng xuống âm phủ. 
Mỗi bước chân điều chuyển là mỗi kỷ niệm, tính ra tôi đã sống ở thành phố Sài gòn này hơn bốn mươi năm, từ khi tôi còn là một thiếu niên, nay đang về già. Cũng từ Sài gòn tôi bung ra khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam thuở viết văn làm báo. 
Sau 30-4-1975 tôi quanh quẩn trong Sài gòn, ngoại trừ một lần lưu lạc xuống Cà Mau làm cu ly, khoảng thời gian ngắn. Một lần khác ra khỏi Sài gòn đi học tập cải tạo, tức là đi tù. Tôi học tập không tối hơn mà hình như xấu đi nhiều. Sau một thời gian bị quản chế lại còn xấu hơn nữa. Hằng triệu điều bức xúc ở trong đầu tôi, hình như không thể nào tẩy rửa sạch được. Muôn đời tôi cũng chẳng trở thành con người mới có tư duy mới để thích nghi với cuộc sống. Tôi tự ăn mình để sống, như ngọn nến ăn sáp, tiêu hao nhiên liệu của chính mình để duy trì ngọn lửa, ánh sáng, trong cái chết dần mòn. 
Tôi yêu mến Sài Gòn, yêu mến những kỷ niệm. Một ấp Đông Ba nhỏ xíu, với những kỷ niệm cỏn con. Yêu mến bạn bè, chẳng may bạn bè có điều gì tôi đến ngay dù chỉ với tấm lòng. Còn những cái lôm côm khác bỏ luốc, ai nói sao cũng được. Những lúc tôi thập tử nhất sinh, có bạn thì ngược lại, khi bạn gặp điều không may cũng có tôi. Không phải là sự tính toán, vì không tính toán gì suất cả. 
Ngồi mãi trên gác bút hay trong hầm ninh chữ này cũng chán, tôi lang thang ra ngoài xóm, nhìn những căn nhà bị giải tỏa dưới cù lao Rạch Miễu mà chán hơn. Tôi lấy xe đạp đi xa. Tôi muốn tìm đôi vỏ xe cho chiếc xe Solex già nua của tôi, mà các cửa hàng bán vỏ xe ở Sài Gòn không còn nữa, tôi đoán trúng ở Xóm Mới may ra còn. Xóm Mới nổi tiếng một thời sau ngày 30-4- 75 sản xuất vỏ xe các loại, kể cả nghề làm pháo lậu. Một thời sau khi đi học tập cải tạo về, vì miếng cơm manh áo tôi đã tham gia với những người anh em Xóm Mới làm nghề sản xuất vỏ xe lậu. Thời buổi đó thật khó khăn, cái gì không phải của nhà nước, quốc doanh đều bị coi là hàng lậu, nghề lậu, “chui”. Khi đó tôi còn sức khỏe, đủ sức chịu đựng gian nan vất vả, kể cả hiểm nguy để kiếm lấy miếng ăn. Tôi không giống như con mèo ướt hay con gà chết như bây giờ. 
Xóm Mới qui tụ hầu hết là dân Bắc kỳ công giáo di cư nhà quê từ năm 1954, mộ đạo và người dân ấy có nết chịu thương chịu khó. Đất canh tác ít ỏi, chỉ đủ đất trồng thuốc lào, nên dân chúng xoay ra làm nghề buôn bán, hoặc làm công. 
Hồi trước năm 1975, Xóm Mới cũng đã làm đủ ngành nghề, trong đó có nghề làm pháo, nghề mổ hco. Khi không được chính thức làm ăn nữa thì bị coi là làm pháo lậu, thịt chui. Năm nào cũng xảy ra lai nạn vì sơ xảy. Pháo phát nổ, nhà xập người chết bị thương cũng nhiều. Nhưng rồi đâu vẫn hoàn đấy. Chẳng phải người dân Xóm Mới ngang chướng gì, hay cố tình không tuân hành luật pháp. Hay nói một cách khác là tham tiền, tham lời. Của đáng tội không phải vậy đâu. Dân Xóm Mới, dân Hố Nai Biên Hòa hay dân Cái Sắn dưới miền Tây, không đủ tư cách và điều kiện để hội nhập với chế độ mới, không làm chui làm lậu lấy gì mà sống. Chúa dậy phải đổ mồ hôi mới có được miếng ăn, Chúa chỉ cấm không được ăn cắp ăn trộm, gian dối hay lừa đảo thôi. Con chiên ngoan đạo là con chiên biết nghe lời dậy tốt lành của Chúa. Tôi chỉ thấy người dân Xóm Mới nhẫn nại, ngoan cường như loài kiến. Cái thân tôi từng lê lết xuống vùng ấy làm nghề ve chai nên rất rành. Từng chở keo, cao su lậu từ nhà máy vượt qua bao nhiêu trạm kiểm soát kinh tế lúc đêm khuya mưa gió để mang vào Xóm Mới nguyên vật liệu làm ra chiếc vỏ xe đạp, xe xích lô rất cần thiết lúc bấy giờ. 
Thuở đó mua được một chiếc vỏ xe đạp hiệu Sao Vàng hoặc vỏ xe quốc doanh nào đó thật khó khăn, anh có năn nỉ vã bọt mép ra cũng kệ anh, nếu anh không có giấy giới thiệu, không được “thủ trưởng ” nào đó chứng nhận thì không bán. Mặt mấy đứa thương nghiệp cứ vác lên như mặt thớt. Bực quá anh văng tục hay chửi thề, liệu cái thần hồn nhà anh. 
Tôi là người có bệnh cận thị kinh niên, chẳng may vỡ mất một bên mát kính, làm thế nào tôi cũng không thay được tròng mất kính bể suốt nhiều năm trời. Vì tôi không là nhân viên gì hết nên không có giấy giới thiệu, chuyện đó không ai giải quyết cho. Tôi đành làm kẻ mù dở. Nhìn đời, nhìn người mờ ảo như trong cơn mê hoặc lệch lạc ráo trọi. 

Người Xóm Mới làm ra được cái vỏ xe mới tài tình chứ, đáng ra được trao huy chương vàng. Thời đó cả Xóm Mới, già trẻ, lớn bé lao vào nghề làm vỏ xe, mỗi người làm một khâu, một công đoạn, rút ra những chỉ bố từ vỏ xc hơi phế thải, nối chỉ rồi lên bồ quay, bàn căng ghép ta-lông, dán keo mang hấp, khuôn hấp chạy điện hay chạy than. Điện thường là câu trộm, phải thú thật như thế. Bị bắt, bị phạt, bị tịch thu khuôn hấp cũng nhiều, được tha cũng không ít vì lễ độ biết điều, biết nói câu thông cảm đậm đà, biết mời thuốc có cán, điếu đóm cẩn thận. Vỏ xe tung ra thị trường bán đắt như tôm tươi, và tất nhiên theo ngả buôn lậu bán chui rồi. Tôi thành thật khai báo rằng vào thời gian ấy tôi cũng đã theo người ta làm ăn kiếm sống cái kiểu này. Nếu không thì đã chết đói từ lâu rồi. 
Một buổi trưa, khi tôi còn theo nghề mua bán ve chai, lang thang xuống tận Xóm Mới kiếm ăn, tôi rao đến rát cổ nổ họng mà chẳng ai mang đồ ra bán. Một người dàn ông vẫy tôi vào nhà, nói: 
– Chẳng mua bán gì được đâu, vô đây làm bát nước chè tươi, điếu thuốc lào cho đỡ vã đã. Biết hút thuốc lào chứ? 
– Biết, cái món này tôi hẩu lắm. 
Tôi làm đến ba bi thuốc lào, say la đà, đỡ vã thật. Trong căn nhà đó tôi thấy đông người làm việc, đàn bà trẻ con ngồi kéo chỉ, nối chỉ, người khác đứng khuôn, người đàn ông khi nãy phụ trách khuôn hấp. Thì ra anh ta là chủ cơ sở. Tôi quan sát từng khâu một, tôi thấy làm ra chiếc vỏ xe chẳng mấy khó khăn. 
Anh chủ cơ sở nói với tôi: 
– Muốn làm không, nếu muốn thì ngồi xuống mà làm, tôi trả công cho, còn hơn đi rao ve chai. Không kiếm nổi bữa cơm chiều nay đâu, nhưng nếu anh làm từ giờ đến chiều, chắc chắn anh kiếm được ba chén cơm. 
– Vậy thì được, nhưng tôi làm gì bây giờ? 
Việc đầu tiên anh ngồi tuốt chỉ từ cái vỏ xe cũ này ra, tôi tính công qua từng ký lô, coi người ta làm sao thì anh làm vậy.
– Cần làm giấy tờ thủ tục gì không? 
– Khỏi, tôi chẳng cần biết tên anh thì cần biết lý lịch anh làm chi. Làm đi rồi chiều lãnh lương, ngon như óc chó. 
Tôi nhập nghề làm vỏ xe, chỉ làm vỏ xe thôi chứ không biết kinh doanh. Tôi xin thề rằng tôi đã biết thêm được một nghề nữa trong hàng chục nghề tôi đeo đuổi suốt 23 năm qua, ngoài nghề cầm bút của tôi đã bị coi là lỗi thời, phế thải. Tôi quen với sinh hoạt làm vỏ xe từng ngày. Cái kính trắng tôi đeo có một tròng mắt nên được gọi là ông mù, như tên gọi trong trại học tập cải tạo của tôi.
Tính tôi ưa phiêu lưu mạo hiểm, nên đề nghị với chủ để được chở keo mướn. Việc làm đơn giản nhưng không kém phần gian nan nguy hiểm. Khâu quan trọng nhất trong nghề làm vỏ xe là cao su, mà nghề nghiệp gọi là keo. Tôi phải lấy keo từ nhà máy cán keo ở Chợ Lớn mang về Xóm Mới. Trạm kiểm soát kinh tế giăng mắc khắp ngả đường như thiên la địa võng. Vô ý một tẹo thôi là sa lưới, mất cả chì lẫn chài. Những cuộn keo nặng hàng tạ chất lên chiếc xe đạp thồ của tôi, tôi vừa đạp xe vừa cầu Chúa cầu Phật phù hộ độ trì cho để lọt lưới. Tôi tự tìm ra những con đường xuyên xóm, xuyên sân bay Tân Sơn Nhất, qua ngả chợ Cầu về Xóm Mới, ngả kho đạn qua An Nhơn. Thường là lúc một hai giờ đêm, trời mưa to gió lớn càng tốt, một mình tôi với chiếc xe thồ chở hàng tạ hàng lậu. Cùng với lời cầu nguyện tai qua nạn khỏi, trong túi áo tôi luôn luôn có gói thuốc lá điếu có cán, thuốc lẻ thôi, để nếu không may gặp “sự cố thì hát bài “con cá nó sống vì nước, con sống vì các ông các bà, xin các đồng chí thông cảm cho”. Thời gian đó tôi vừa láo vừa biết nói dối như cuội. 
Xóm Mới khi đó còn heo hút lắm, những trại lính của chế độ cũ chạy dài từ Ngã Năm Chuồng Chó đến tận An Nhơn, những nghĩa địa hoang, ruộng vườn ngả Hạnh Thông Tây, ban đêm, nhất là những đêm mưa, ễnh ương kêu y uống sao mà buồn thế. Người ta nói trắng con đường ấy có ma. Thây kệ. Hằng đêm tôi phải đi qua những ngả đó. Những trạm kiểm soát cũng ở những góc đường đó. Tôi gần như in thở đạp xe qua. Vậy mà cũng có lần có người xồ ra chiếu đèn pin vào mặt tôi, súng chĩa vào ngực. Tôi bèn hát bài con cá, hòa điệu cùng tiếng ễnh ương, rồi rất lễ độ xin thông cảm, tôi làm mặt khổ đến thảm hại. Có lẽ tôi diễn xuất cũng tài nên các cán bộ thông cảm, nhắc nhở tôi: 
– Này khắc phục nhé, lần sau mà tái phạm không tha đâu. 
Tôi vâng dạ rồi cút thẳng. Hy vọng rằng hơi thuốc có cán làm ấm lòng chiến sĩ. Nhưng tôi vẫn nghe lời ba người đó cãi nhau phía sau: 
– Đúng thằng đó rồi, hôm trước nó chạy qua cầu có con suối đầu An Nhơn rồi biến mất chứ ma quỉ gì. Quân này láo thật. 
Đúng là tôi chứ chẳng sai. Đêm hôm đó chính tôi chở keo qua chốt kiểm soát này, qua trạm được chừng chục thước, nghe tiếng hô hoán: 
– Hàng lậu, hàng lậu bắt lấy nó, đứng lại không tao bắn! 
Để bảo đảm nguyên vật liệu không hiểu sao tôi lại liều đến thế. Nhấn bàn đạp đạp bừa. Xe lao xuống dốc vun vút, ở một khúc quanh tôi lạc tay lái, thay vì qua cầu tôi lao ngay xuống con suối cạn, chỉ một cái ngã đau điếng người nhưng tôi cũng chui được vào gầm cầu. Rồi tôi nghe tiếng người tao nhao, đèn pin chiếu loang loáng: 
– Rõ ràng nó mới ở đây mà biến đi đâu nhanh thế. Ma à? 
Đèn pin chiếu xuống suối đúng ra là cống thoát nước từ khu Hoàng Mai chảy ra: 
– Hay là nó rơi xuống đây? 
– Rơi xuống thì gãy cổ sống sao nổi. Đấy, đồng chí thấy không, có gì đâu nào! 
Đèn pin chiếu ngay sát chỗ tôi nằm cùng chiếc xe đạp, nhưng không phát hiện. Rồi toán người ấy bỏ đi. Vừa đi vừa bàn chuyện ma quỉ hiện hình rồi biến mất. Tôi là một con ma, có sao đâu. 
Chuyến chở hàng lậu ấy của tôi trót lọt về đến Xóm Mới. Nhà chủ banh những cuộn keo ra, cắt cắt dán dán, vô khuôn hấp mớ hàng lúc năm giờ sáng. Lái buôn vỏ xe đã trực sẵn đầy nhà chờ lấy hàng. Tôi mệt quá vì mất gần một đêm không ngủ nghỉ, lại đau nhức cả một bên bả vai, vì cái ngã hồi đêm. Tôi lảo đảo ra đầu xóm ăn bát cháo lòng, đánh hết hai bát tiết canh mới thấy người khỏe ra. Tôi còn cần một ly cà phê, điếu thuốc nữa mới đủ đô, phục hồi sức khỏe. Tôi có tí tiền trong túi đủ nghỉ ngơi nguyên ngày. Chẳng làm giầu làm có gì nên tôi không tranh cướp vỏ xe đi bỏ mối. Dù tôi có lấy cũng được coi là ưu tiên số một. Tôi mệt mỏi quá rồi, đúng với nghĩa của nó. Tôi đạp xe ra cuối Xóm Mới, quán cà phê sát mé sông mở sớm. Ly cà phê nóng hôi hổi và thơm tho làm sao, tôi tự thường cho mình điếu thuốc có cán thơm râu, hưởng lấy không khí trong lành buổi sớm mai. Nhìn ra mặt sông xem những thuyền câu xuôi ngược hoặc đang giăng lưới. Tôi thường nghe người ta đồn rằng, trên bến sông này nhiều thuyền câu “giả dạng thường dân” làm taxi đưa người Xóm Mới ra “cá lớn” đậu ngoài biển, hoặc ếm gà ở Cần Giờ, đủ “quân số” ra biển, bỏ quê hương mà đi, kiếm ăn xứ người, nếu may mắn thoát chết, không chui vào bụng cá thì gửi “thùng ” về cứu giúp gia đình còn kẹt lại trên quê hương. Chính tôi cũng mang trong lòng giấc mơ đen tối ấy. Những mong mình chính là những con người đó. Được tốt lành hay bất hạnh gửi số mệnh cho ông Trời định đoạt. Những phút giây mơ mộng đã giúp tôi sống, dù là lây lất qua những chuyến đổ hàng lậu thập tử nhất sinh như đêm qua. Một tiếng nói sau lưng làm tôi giật mình. 
Tôi mới mang chứng bệnh hãi sợ này từ khi đi học tập cải tạo về: 
– “Rê su ma ” lạy Chúa tôi, có phải anh đấy không?…. 
Tôi ngẩng lên, nhân vật Đức râu, chú em ít tuổi cùng ở chung trong trại học tập với tôi. Anh ta là người ở Xóm Mới, được ra về sau tôi một thời gian ngắn. Bây giờ anh cũng là chủ cơ sở làm vỏ xe lậu, mang lên Sóng Thần”, tên của một tờ báo hồi chế độ cũ tôi từng cộng tác. Đức râu cũng hẩu món văn nghệ lắm, tính nết thì bộp chà bộp chộp, nhưng không phải là người xấu. ở trong trại học tập, Đức râu từng nổi tiếng qua bài hát Nửa hồn thương đau của Phạm Đình Chương. Trong phim Chân trời tím, truyện phim của nhà văn Văn Quang. Giọng anh to, ồm ồm, đặc sệt thổ âm Xóm Mới, mang từ miền Bắc di cư vào. Anh ta hát như thế này: “Rắm mắt… cho tôi tìm một thoáng hương xưa…”. 
Thật là hết ý, nhắm mắt mà anh ta cứ hát thành rắm mắt thì có chết người ta không chứ. Anh em cười cái rần, Đức râu cứ tiếp tục hát cho đến hết bài. Vui đáo để, ai yêu cầu hát là anh hát liền, râu ria cứ mọc ra tua tủa nên mới có tên là Đức râu. Thường mở đầu câu nói bằng câu “Rê su ma, lạy Chúa tôi”. Anh là một con chiên ngoan đạo. Tôi thường thấy anh lần chuỗi Mân Côi lầm rầm cầu nguyện, khi ngừng lao động, dù là ít phút ngắn ngủi. Năng cầu nguyện tức là tăng thêm sức mạnh. Anh nói thế và tin thế, cũng tốt thôi khi đang ở trong một hoàn cảnh nghiệt ngã. Những nhát cuốc phăng phăng trên sỏi đá, sườn đồi tóc lửa. Mảng đất sắt cũng phải bật lên thành luống. 
Tôi chậm rãi nói: 
– Ngồi xuống đã nào, tôi bao cậu cà phê sáng nay. 
Đức râu ngồi xuống: 
– “Rê su ma, lấy Chúa tôi”, anh làm gì mà có tiền, trúng mánh nào hả? 
– Chẳng mánh mung gì hết, vẫn chở keo lậu như mọi khi thôi. Đêm qua bị bể một chuyến tí chết…. 
Tôi kể cho Đức râu nghe chuyến đi hàng gian nan đêm trước. Đức râu chăm chú nghe và luôn miệng “Rê su ma”. Đôi mắt của Đức râu nhìn tôi và những tiếng “Rê su ma” của anh, tôi biết anh xót xa cho thân phận tôi lắm. Bàn tay anh đang xoa bóp nhè nhẹ trên cái vai đau của tôi. Tôi nói: 
– Tao tưởng bị gãy cổ rồi, may mà cái ngã lăn tròn, cái vai chịu đựng tất cả, nếu không chắc là đi đứt! 
– “Rê su ma ” lạy Chúa tôi, em cũng đang tính nhờ anh một chuyến hàng, nhưng nghe anh nói em không dám nữa. 
– Hàng cho nhà Tốt còn chuyến được chuyến không, tao sức đâu mà đưa cho mày. Mày nhờ người khác đi, cũng nhiều tay liều mạng lắm. Vỏ hồi này bán chạy, bọn xe thồ và xích lô tín nhiệm là ăn bứt, tao không ngờ Xóm Mới lại thành công trong việc làm này… Anh thông thạo việc làm vỏ chưa? 
– Tao có thể làm được từ A đến Z. 
– Vậy tại sao anh không ra nghề, mình làm chủ lấy mình. 
– Tao có nghĩ đến chuyện đó, nhưng không có vốn để làm ăn, vả lại tao không có tài làm chủ, chỉ có khiếu làm cu li thôi. 
– “Rê su ma” anh hận đời đen bạc nên cay đắng thế thôi. Nhưng em biết rồi, anh nguyên là một nhà văn nên anh làm thế này để lấy chất liệu trong thực tế, biết đâu một ngày nào đó em lại không được đọc truyện của anh. Trong anh còn âm ỉ một đốm lửa, chưa biết lúc nào bùng lên. Em sống bên anh trong trại học tập suốt mấy năm trời, em biết chứ? 
– Thế hả, cậu có thể gia nhập ngành Công an được đấy. 
– “Rê su ma” anh nói thế thì chết nhà em mất, anh em mình cứ thành thật với nhau, với kẻ khác thì chẳng nên, không khôn khéo sao em sống được đến ngày hôm nay, em còn phơi thay thầy em trông coi cả mấy mẫu thuốc lào, mấy cái ao nuôi cá rô phi, rồi cái xưởng làm vỏ Sóng Thần của em nữa. Từ lâu em đã có ý định giúp anh mở một xưởng nữa lấy tên là Vỏ xe Sống. Vỏ xe Sống và Sóng Thần bon bon chạy khắp các ngả đường Việt Nam. 
– Con lạy bố, con sợ ở tù lắm rồi, làm ơn khẽ cái mồm một tí nào. Bố trẻ cứ hứng lên phát ngôn bừa bãi là khốn đó. Có mồm thì cắp có nắp thì đậy. 
– Xin nghe anh, nhưng cũng phải hỏi anh có ngày nào anh viết về cái Xóm Mới này không? 
– Có chứ, những ngày tao chở keo lậu cho dân Xóm Mới làm vỏ xe lậu, ghi lại những chuyến chở keo lậu, gian nan nguy hiểm không kém gì đường Trường Sơn. Tao đặt tên cho nó là đường mòn Cao Su. Cuộc chiến đấu của riêng tao, đơn độc nhưng cũng không kém vẻ hào hùng đâu. 
Buổi sáng hôm ấy tôi đã hứng chí mà bốc phét như thể với Đức râu. Đã mười lăm năm qua rồi. Mười lăm năm trong 23 năm của một đời người, hôm nay tôi mới thực hiện được lời hứa ấy khi nó đã ngấu, đã chín rục. 
Cũng buổi sáng hôm ấy tôi hứng chí nói năng lung tung, hình như về một chuyến ra đi nào đó. Bây giờ tôi không còn nhớ rõ. Nhưng cuối cùng tôi vẫn còn ở lại trên quê hương. úi chà chà, sao buổi sáng hôm ấy tôi lại hùng biện như vậy, phải chăng vì cái ngã đau suýt toi mạng đêm trước. Nên quên cả sợ, có những cơn bốc đồng thành bốc phét. Phải chăng tôi nhiễm bệnh khùng-điên-ba trợn. 
Sài Gòn bị ảnh hưởng một cơn bão rớt nên đẹp như mùa thu Hà nội. Tôi nhẩn nha đạp xe xuống Xóm Mới, từ đầu Nguyễn Kiệm qua sân “gôn” xưa, qua bệnh viện Cộng Hòa, đến Ngã Năm Chuồng Chó, thẳng đường xuống An Nhơn là nhập Xóm Mới. Tôi là người sống ở Sài Gòn mà ngạc nhiên vì sự thay đổi của Sài Gòn. Sự thay đổi đó mới có từ khi nền bao cấp cáo chung, bước sang đổi mới rồi kinh tế thị trường. Một sự giầu sang mà người ta nói là phồn vinh, nhưng là thứ phồn vinh gì đó. Chưa phải là một sự bình sản, chênh lệch nhau thấy rõ nhất từ xưa tới nay. Nếu có chút hiểu biết người ta không thể vỗ tay hay hết lời ca tụng thành quả kinh tế phát triển tốt đẹp. Cứ chờ đợi rồi biết ngay thôi. 
Với tôi mỗi bước chân di chuyển trong thành phố Sài Gòn xưa là mỗi kỷ niệm, dấu ấn đậm nét dĩ vãng. Thường thì không mấy tốt đẹp, bệnh viện Cộng Hòa xưa, nay là bệnh viện 175. Buổi chiều ngày 30-4-75, tôi chứng kiến hàng hàng lớp lớp thương bệnh binh của quân đội chế độ Cộng Hòa bị lùa ra khỏi bệnh viện, thằng mù cõng thằng què, thằng đổ ruột đựng trong bao ni lông ôm bên hông. Tôi không theo dõi kỹ nên không biết số phận họ ra sao, cũng không biết họ bị lùa ra khỏi bệnh viện rồi đi đâu, vì bệnh viện Cộng Hòa không còn là chỗ nằm dưỡng bệnh cho họ nữa. Nhưng khách quan mà nói tôi thấy thê thảm quá. Một chút mủi lòng trong cái xô bồ của thời thế. 
Cái xóm trước bệnh viện Cộng Hòa xưa, nay mọc lên những căn nhà khang trang buôn bán tấp nập. Trại lính kéo dài từ Ngã Năm Chuồng Chó đến An Nhơn đã bị phá đi, mọc lên một khu thương mại, cả bên ngả Hạnh Thông Tây cũng vậy. 
Xóm Mới nhỏ bé cũng khác xưa nhiều lắm. Dĩ nhiên là nhà cửa mọc lên, xây cất kiểu cọ đàng hoàng. Nhà thờ cũng nhiều và khang bang hơn trước. Dòng sông xưa, nay cũng có một cây cầu xi măng bắc qua, xe vận tải hạng nặng chạy được. Quán cà phê xưa, bên bờ sông tôi từng ngồi mỗi buổi sáng tinh mơ không còn nữa. Con đò dọc trên dòng sông đã triệt tiêu luôn ý nghĩ vẩn vơ của tôi mơ ước một lần nào đó đưa mình ra cửa biển, nhưng thực tế cũng có đấy. Không riêng gì dòng sông này mà nhiều dòng sông Việt Nam khác đã chảy ra biển, cũng đã từng mang theo nhiều con người ra đi. Có những nguồn tin mất tích và cũng có tin được hồi âm. Có hợp rồi tan, tan rồi hợp như truyền thuyết Lạc Long Quân, Âu Cơ. 
Suốt buổi sáng hôm ấy tôi rong chơi ở Xóm Mới. Tìm lại những kỷ niệm xưa, rất rõ nét trong tôi thời làm vỏ xe lậu. nhưng lại rất mơ hồ trong thực tế. Tôi không thể nào tìm mua được chiếc vỏ xe Solex vừa lỗi thời vừa cũ rích của tôi. Một món đồ đáng để vào viện bảo tàng. Hỏi một người làm vỏ xe cũ thì được biết khuôn hấp dó không còn nữa, người ta đã nấu chảy nó ra làm khuôn bánh xe Honda Dream rồi. Tôi từng thấy có đám trẻ con ùa ra xem chiếc xe của tôi, đôi mắt chúng nhìn chiếc xe quái dị. Chúng có nhìn thấy chiếc xe này bao giờ đâu. Đơn giản vì đương thời của chiếc xe Solex chúng chưa ra đời. Nên chiếc xe Solex chẳng là gì cả đối với chúng. Tôi buồn cười khi nghĩ đến câu nói của anh Tây già đóng tuồng quảng cáo cho tủ lạnh Electronic trên ti vi: 
Bốn mươi năm vẫn chạy tốt! 
Tôi chạnh lòng nghĩ đến thân phận tôi, như thân phận một số bạn bè cầm bút của tôi thuở nào. Tưởng là chìm đắm vĩnh viễn trong quên lãng, người ta muốn thế. Có người đã nói vào mặt tôi: 
– Anh đừng tưởng bảnh, mười năm người ta không quên anh thì hai mươi năm. 
Phải chăng tôi hai mươi ba năm mới hồi sinh, một giấc ngủ đông quá dài của loài gấu. Tôi có nghề làm vỏ xe, tôi có thể tái sinh được cái vỏ xe cũ rích của tôi, bằng cách này hay cách khác để chạy thêm được một khúc đường dài nữa. Tôi sẽ chạy suốt con đường hồi ký cho đến khi nó “xúm bã chè”. Cũng trong ngày hôm ấy tôi đi qua một nhà thờ trong xóm đạo. Tôi nghe thấy bài kinh “lậy cha”: 
Lậy Cha chúng con ở trên Trời 
Chúng con nguyện danh cha cả sáng 
Nước Cha trị đến, ý cha thể hiện 
dưới Đất cũng như trên Trời. 
Xin Cha cho chúng con 
lương thực hàng ngày và cha nợ chúng con. 
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ 
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. 
A men! 
Lại là những ngày rong chơi trong thành phố. Sài Gòn đang ảnh hưởng một cơn bão. Ninh Thuận, bão đánh chìm xuống, tốc nhà, người chết. Nước sông Tiền sông Hậu dâng cao. Cả một vùng rộng lớn ở Đông Nam á bị đe dọa. Tôi nghĩ đến tập kịch Bão Thời Đại của Trần Lê Nguyễn vừa nằm xuống, mà anh đã viết cách dây bốn mươi năm.

Giữa đêm trường

Nguyễn Thuỵ Long

Post by Sơn râu 28 May 2024

1. Chương 1

Nhiều khi tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao mình còn sống bình yên được đến ngày hôm nay, điều này chúng tôi từng nói với nhau, những người bạn đồng cảnh ngộ lúc trà dư tửu hậu. Muốn tìm hiểu phải ôn lại, nhớ lại tất cả những gì xảy ra cho mình từ sau ngày 30-4-1975, còn có thể trước nữa, nghĩa là trước ngày miền Nam bại trận với quân đội miền Bắc. Tôi không chối cãi một điều rằng tôi là người Bắc di cư 1954. Mặc dầu tôi không phải người di cư thực sự mà vào Nam trước di cư hai ba năm gì đó Tôi không đổi được giọng Bắc nên nhiều anh em bạn bè người Sài Gòn gọi tôi là Bắc kỳ di cư. Bắc kỳ di cư thì đã sao? Tôi chấp nhận. Cũng là người Việt Nam cả, tôi là người Bắc chuyển vùng. Đời sống nên dễ dãi như thế dễ chịu cho mình, cho người. 
Trước năm 1975 ở Sài gòn tôi đã hoàn thành phần nào mộng ước của mình là được làm nhà báo nhà văn. Tôi gặt hái được ít nhiều kết quả trong nghiệp báo cũng như nghiệp văn. Tôi chỉ nói thế thôi chứ không tự đánh giá mình bao giờ. Nhưng tôi hãnh diện vì nghề mình đã đeo đuổi đôi khi cuồng tín với nghiệp dĩ. Chúng tôi là người làm báo được hưởng quyền thứ tư. Nhưng phải đòi mãi có thể có chứ không bỗng dưng mà có được. 
Tôi nhớ thuở làm báo trước năm 75. Những tờ báo đứng vững được, và đám người làm báo chúng tôi sát cánh cùng nhau để có tự do trong hành nghề không phải là dễ. Cũng rất gian nan. Những tờ báo bị tịch thu, bị đục trắng khi vừa ra khỏi nhà in. Những tờ báo bị đóng cửa rút giấy phép, ký giả bị bắt bớ, bị ám sát cũng đã có, không biết lừ phía nào. Nhà báo lêu bêu từ tòa soạn này sang tòa soạn khác nhiều lắm. Có năm tôi nhảy đến ba bốn tờ báo, cũng có thể năm sáu gì đó. Nhưng vẫn vui, vẫn sống, vẫn hành nghề được.
Chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ, quân nhân lên cầm quyền. Chế độ quân nhân muốn báo chí vào khuôn vào phép, không được nói lên điều dở điều chướng tiêu cực của nhà nước, đặt ra một số điều lệ bắt nhà báo phải tuân theo. 
Tôi nhớ một buổi họp báo của một ông tướng cầm quyền ở phủ thủ tướng. Ông tướng họp báo nói lên điều lợi điều hại gì đó. Ra luật lệ kinh khủng lắm. Buổi họp báo chiều hôm ấy chỉ một mình ông tướng nói, chẳng một nhà báo nào đứng lên đặt câu hỏi. Rồi một nhà báo lớn tuổi, tôi nhớ là ký giả Tô Văn đứng dậy vỗ tay, lây lan sang hàng mấy chục ký giả khác cũng đứng dậy vỗ tay theo. Chấm dứt cuộc họp báo. Các nhà báo ra về trên lối đi có hai hàng lính cận vệ ghìm súng. Chúng tôi coi cuộc họp báo ấy như pha, như không có, qua sự chứng kiến của những nhà báo nước ngoài. Cuộc họp báo chỉ có thế thôi, nhưng đã nói lên thật nhiều, thực tế chẳng ký giả nào nói gì. 
Tôi đã sống qua những kỷ niệm ấy, tôi trang trọng nghề nghiệp mình. Sau năm 75, anh em đồng nghiệp của tôi xảy đàn tan nghé. Tôi còn lại trên đất nước quê hương, dù còn yêu nghề lắm nhưng không hòa nhập được. Có muốn cũng đành chịu. Lý do tại sao tôi cũng đã nói rồi nên không nói lại, tôi đành gác cây bút lên một thời gian dài, để tìm đường tự cứu sống mình và gia đình. 
Đến tuổi già hết sức lao động, chòm xóm có đưa giấy mời vào hội phụ lão, từ mấy năm nay, nhưng tôi vẫn chưa tham gia, vì tôi nghĩ tôi không có thì giờ ngồi đánh cờ với các cụ, hay đi dự những cái gọi là quan hôn tang tế gì đó trong chòm xóm. Hoặc phải viết một bài điếu văn theo đơn đặt hàng, vì tôi cũng có chút chữ nghĩa viết được ra câu ra cú, xài tàm tạm vậy. Mà đụng đến giấy búi tôi ngứa nghề kinh khủng, có lẽ cũng là cái bệnh, hoặc hình như chứng nan y. Tôi leo lên căn gác bút ọp ẹp, xuống cấp trầm trọng của tôi múa bút vung vít, chẳng có mưu đồ gì hết. Tôi múa may một mình thật cô đơn, nhưng thật là tự do. Vũ điệu cũng có thể là múa rối mà tưởng rằng mình vũ ballet. Hiểu sao cũng được. Cũng vui được tuổi già, dù cô đơn trên căn gác bút. Đêm chán viết thì đập muỗi, ngắm sao trên trời, nghĩ ngợi vẩn vơ: thương ông bạn này vừa nằm xuống, nhớ thằng bạn kia còn phải bon chen với đời. Rồi thương mình, thấy mình trẻ lại như hồi nào, hà tất phải ngồi đánh cờ với các vị bô lão, lẩn thẩn nói chuyện dở người. Xin lỗi hội phụ lão đã có lời mời gọi. Lạy các cụ ạ! Nhà cháu còn trẻ lắm, dù rằng có người đã hỏi ba đứa con nhỏ của tôi là chúng phải gọi tôi là ông nội hay ông ngoại? Tôi bị sốc” là chuyện của tôi. Tôi sinh ra chúng trong cảnh nghèo khó và muộn màng, có thế thôi. 
Đúng thời gian đất nước mở cửa, kinh tế thị trường thì tôi bị dời khỏi ao cá, nói đúng ra tôi bị đuổi khỏi nơi ấy. Dĩ nhiên người ta có vin vào một lý do, một cái cớ nào đó và cũng nhân tiện không trả tôi mười hai tháng tiền lương khi tôi làm nghề coi ao cá mà phường còn thiếu chịu của tôi. Tôi thấp cổ bé miệng mà miệng nhà quan thì có gang, có thép. Vợ chồng con cái lếch thếch dời túp lều ao cá trên chiếc xe đạp thồ, con chó ghẻ lẽo đẽo chạy theo. 
Tôi lại hy vọng ở một cuộc đời mới, một chốn ở mới. Không lẽ trời đất bao la mà ta không có chỗ dung thân. Tôi vẫn luôn luôn nuôi một hy vọng nào đó nên mới sống dai. Kể cả những lúc thập tử nhất sinh trên giường bệnh, tôi vẫn không chán sống. Mỗi năm, giờ giao thừa leo lên căn gác bút, tự chúc thọ mình sống lâu trăm tuổi. Hãy cạn chén đắng, còn người ta muốn tính toán gì ở tôi thì cứ làm đi. Tôi lại nhớ đến một đoạn nhỏ trong Thánh Kinh của Chúa, cầu nguyện lại vườn Ghét-sê-ma-nê, sau buổi liếc ly. Cũng là lời Chúa nói với Giu đa. 
Ở trên căn gác bút, tôi có thì giờ nghĩ ngợi về đời sống, về tôn giáo, xã hội, chế độ. Mặc dầu tôi không là tín đồ của một tôn giáo nào, nhưng kính trọng tất cả những thánh nhân. Trước bàn làm việc của tôi có hình của Gandhi. Những lời lẽ ấy, những tư tưởng ấy giúp cho tôi khởi sắc trở lại và tha thiết với cuộc sống, mà tôi cho là quá ngắn ngủi với một kiếp người. Tôi có thể nói thật nhiều hoặc không nói gì. Chẳng phải vì hãi sợ hay lý do gì khác. Thường thì tôi hay bông đùa với cuộc đời, vì tôi yêu đời, tha thiết với đời. Đơn giản như bốn phép tính. Cộng, trừ, nhân, chia. Một cộng một là hai, hai nhân hai là bốn, bốn chia hai được hai, hai trừ hai không được gì cả. Hết. Tức là zéro. Tôi cứ tưng tửng giữa cuộc đời, coi là nghiệt ngã thì nó nghiệt ngã, không đáng gì cả thì thôi, mặc kệ nó, không phải là chuyện cấp bách, quần áo mặc sao cũng được, nhà cửa có chỗ chui ra chui vào, cơm nước có muối mè gạo hẩm là xong. Không rượu chè, cờ bạc, hút xách. Nhu cầu cần thiết chăng, có các con tôi, chúng cần học hành để biết lấy tí chút chữ thánh hiền là quí rồi. Tôi đã từng lao động để nuôi con, cho đến ngày không còn đẩy nổi chiếc xe bán xôi vò nữa thì mới nghỉ. Trước đây, gần hai chục năm trước, sau ngày đi học tập cải tạo về, mà trả lời với Công An phường kiểu này thì mệt đó. Anh nói anh không lao động mà vẫn sống nhăn, chẳng ai tin hết. Nghiêm túc lên nào. Có làm mới có ăn, không làm mà có ăn, đích thị anh là kẻ phạm pháp, phi ăn cắp thì cũng ăn trộm, ăn cướp, nói chung là ăn… bẩn. Kẻ ăn bám xã hội hèn hạ như loài ký sinh trùng. Phải truy nguyên tróc nã cái mà anh đang hưởng thụ đến nơi đến chốn, có nguồn có gốc, theo lý thuyết tam đoạn luận. 
Bây giờ thì dễ dãi rồi, anh có thể trả lời tiền có để tiêu, để thưởng thức một tô phở xuất xứ từ Đô do người thân từ nước ngoài gửi về cho, bất kể đó là người thân hay bạn bè thương tình. Anh không bị kết tội là liên lạc với người nước ngoài nữa. Chuyện đó bây giờ bị coi là chuyện chẳng hơi sức đâu. Kể từ ngày tôi phi lao động, nằm dài chờ Chúa thu hồi hộ chiếu trên giường bệnh, nếu tôi không có bạn bè giúp đỡ lo lắng cho thì đã lận số rồi. Chưa biết lên Thiên Đàng hay xuống địa ngục. 
May mà tôi cũng chưa húp lầm cháo Lú ở bến đò sông Nại Hà để quên sạch sự đời. Lấy đâu ra tư liệu để viết Hồi Ký Viết Trên Gác Bút. Thì ra tôi vẫn còn sống, vẫn còn minh mẫn. Không như anh bạn của tôi, thi sĩ Tú Kếu, nổi tiếng một thời ở Sài Gòn trước 1975. Anh đã húp lầm cháo Lú ngay khi còn sống nhăn ở thế gian. Khiến anh quên tất cả: Quên đời, quên gia đình, quên tất cả những người thân, thậm chí không biết mình là ai…Vợ anh kể rằng, anh vừa ăn cơm xong, lại đòi ăn nữa vì quên biến rằng mình vừa ăn rồi. Chứng bệnh đó, người ở thế gian, bên cõi Âu gọi là bệnh Alzheimer, tên của vị bác sĩ tìm ra chứng bệnh đó. Đi ra đường mà không ai đưa dắt là Tú Kếu đi lạc, không biết đường về tổ ấm của mình. Sống cứ ngơ ngơ ngáo ngáo chẳng ra sao hết. Anh ngồi với người thân nào đó cũng như với người xa lạ. Hệt như phim Bay xuống vùng đất lạ mà tôi mới được xem trên truyền hình. Hai người phi công bị rơi ở một vùng đất xa lạ úc châu. Nhiều ngày tháng lạc lõng đói khát, khổ cực, cô đơn. Cuối cùng được trở về với thế giới văn minh. Một trong hai người trở nên điên khùng, quên hết mọi sự đời, vĩnh viễn sống trong u tối, sống như một cục thịt, một nắm xương tàn đến trọn đời. Nhưng dù muốn dù không tôi cũng phải kiểm chứng lại chuyện này, tìm xem lý do nào khiến Tú Kếu lại rơi vào tình trạng ấy. Tại sao tâm hồn anh lại tê tái đến vô cảm. Thuở Tú Kếu còn tỉnh táo, anh có đưa tôi đọc tập thơ anh làm trong tù, những bài thơ cay đắng phẫn nộ, những cảnh trông thấy trong những ngày tù tội dài dằng dặc. Nhà thơ yếu đuối đó được trở về sớm hơn bản án anh phải mang, không biết do ân huệ từ đâu tới. Anh người xứ Sơn Tây, từng kể chuyện quê hương anh cho tôi nghe, đọc thơ của Tản Đà, Quang Dũng. Anh đọc bài thơ Quang Dũng, ánh mắt người Sơn Tây: 
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng 
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc 
Sáo diều se sắt thổi đêm trăng 
Bao giờ ta gặp em lần nữa 
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa 
Đã hết sắc tàn chinh chiến cũ 
Thì có bao giờ em nhớ ta 
Buồn, buồn quá đi thôi khi ngồi trước Tú Kếu, một nhà thơ sinh ra ở đất Sơn Tây, bây giờ có lẽ đã quên rồi. Rất may có một dạo, sau khi ra tù, Tú Kếu đưa vợ con về thăm quê nội, còn sót lại gì trong anh không? Hãi hùng quá trước một sự trống rỗng thăm thẳm. 
Đây cũng là những gì cần trả lời cho Khanh, cháu của cậu Nhiên (tên tục của Tú Kếu). Cháu viết thư về thăm hỏi cậu Nhiên, cậu Long, mơ ước một ngày về thăm quê hương được cùng cậu thăm lại xứ Sơn Tây. Cháu Khanh bé nhỏ hồi nào, thương cậu Nhiên, thương cả bạn thân của cậu Nhiên là cậu Long. Khi đó hai cậu theo đuổi nghề viết văn làm báo, nghèo lắm, và có lẽ cái nghèo, cái khốn khó ấy đeo đuổi suốt đời.
Cho đến bây giờ, sau mấy chục năm trời, sau khi Hồi Ký Viết Trên Gác Bút của tôi ra mắt độc giả ở bên ngoài quê hương, tôi nhận được thư của Khanh. Bức thư của Khanh từ nước ngoài, xứ Texas xa xôi về được địa chỉ của tôi ở ấp Đông Ba Gia Định xưa thật khó khăn, vì Khanh chỉ nhớ mài mại đến căn nhà của tôi ở đó. Thư cũng đến nơi nhưng mất một thời gian dài, công lao của người đưa thư tìm ra. Tôi biết hoàn cảnh của Khanh ở nước ngoài. Lời lâm sự của Khanh trong thư nói đến gió mưa ở xứ người và nhớ mưa Sài Gòn. Tình cậu cháu nhưng không thể coi là lãng mạn của thời mới lớn. Khanh chưa đến tuổi về hưu, nhưng cũng có cháu nội và sắp có cháu ngoại rồi. Bây giờ thì Khanh sống cô đơn trong một căn nhà ở xứ người, nhớ Sơn Tây, Sài Gòn, thèm nghe tiếng nói Việt Nam nên vẫn thường phải mở đài phát thanh Little Sài Gòn để nghe tiếng Việt. Tôi quí mến cô cháu gái như thuở nào. Tôi ngồi vào bàn viết thư hồi âm cho Khanh. Đang viết thư thì nhận được tin Trần Lê Nguyễn mất. 
Trần Lê Nguyễn là một nhà văn, đúng ra là một kịch lác gia, nổi tiếng với cuốn Bão Thời Đại của anh xuất bản từ năm 1956. Sau năm 1975 anh không còn cầm bút nữa, không đụng chạm gì đến chữ nghĩa, văn chương. Anh đi chạy chợ trời như những nhà văn nhà thơ hết thời khác. Nhưng tôi vẫn thấy anh luyến tiếc cái gì đó ở nghệ thuật, tìm lại những bức tranh sơn dầu, tranh lụa, tranh sơn mài của những họa sĩ quen tên xưa: Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Tạ Tỵ, Nguyễn Trung. Tôi nói với anh nếu những bức tranh này phải bán đi thì tiếc thật. Anh cười, chuyện mua bán mà. Tôi làm nghề sửa xe đạp, thường hay sưu tầm đồ phụ lùng xe đạp cũ nổi danh một thời. Tôi thấy anh đi một chiếc xe đạp cũ đờ mi cuốc, có cái khung xe, cặp vành và cặp đùm quí giá quá. Tôi hỏi anh kiếm được ở đâu. Anh nói anh sưu tầm từng thứ một để ráp thành cái xe này. Anh nhắc tôi cố sưu tầm cho anh một cặp đùm hiệu Campagnelo của ý, giò đĩa hiệu Stronglight, phải “din” từ con ốc, vít. Tôi hứa với anh mà tôi không làm được trọn vẹn, vì tôi đổi nghề như cóc nhảy. Một buổi chầu gần tàn, nơi chốn chợ trời tôi với Trần Lê Nguyễn vẫn ngồi say sưa “đấu những món đồ xe đạp quí. Tôi nghe ngóng được từ người ta, bèn nói đến một cặp mừng làm bằng gỗ, dai, dẻo, cứng, nhẹ của một tay đua nổi danh thuở xa xưa, câu chuyện cứ y như chuyện “bốc phét”. Cặp niềng đó vẫn còn lưu lạc trong dân gian mà tôi chưa tìm ra. Tôi nói với anh ở Đà Năng có người vẫn giữ được chiếc xe đạp của tay đua nổi tiếng trong cuộc đua Đông Dương, vượt đèo Hải Vân. Phượng Hoàng Lê Thành Các. Có một người vẫn còn giữ được đến bây giờ. Trần Lê Nguyễn thì nói với tôi về những bức tranh với nỗi đam mê, trời tối lúc nào không biết. Lúc chia tay nhau anh Nguyễn còn nói: “Nếu chúng ta còn những đam mê như thế thì khó mà hòa nhập được với nền văn minh chợ trời”. Chợ trời là phải chụp giật nhau mà sống, có lời thì bán, mua rẻ bán đắt bán đồ dởm đồ giả, cần thì bóp cổ nó cho mình trúng mánh. Bán mà không tiếc, coi nghệ thuật đồ quí như pha. Phải coi bức tranh sơn dầu, tranh lụa này là miếng giẻ cũ, bức sơn mài của Nguyễn Gia Trí là một tấm ván. Nói chuyện nghệ thuật ở đây là chuyện vô ích. 
Trong một lần khác gặp lại Trần Lê Nguyễn, tôi khoe tìm lại được quyển kịch Bão Thời Đại của anh ở gánh ve chai. Anh hỏi người ta cho hay mua lại. Tôi nói mua lại. Anh lại hỏi có đắt không, bao nhiêu tiền? Tôi nói chỉ có năm đồng bạc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Anh nói vậy thì đáng giá rồi, chỉ thế thôi, có khi hớ đấy, nếu không người ta cũng xé ra để gói xôi. Mua thế được giá cho người bán, mẹ ve chai trúng mánh. Cả cuốn sách chỉ cân nặng lối hai trăm gờ ram, bán giấy vụn giá cũng chỉ vài đồng bạc một ký lô, đủ mua một gói xôi bắp ăn ấm lòng. Tôi bỗng thấy nhói lên ở trong lòng. Con người chúng tôi nếu có được đánh giá cũng là giá “bèo” huống chi là những tác phẩm. Bức tranh sơn dầu chỉ là mảnh vải cũ, bức tranh sơn mài chỉ là tấm ván cũ. Trước đây người ta đốt đi cũng là phải. 
Theo cái lý của người ta. Tôi chẳng nói đến cái lý phải quấy ấy làm chi. 
Một ngày khác nữa, Trần Lê Nguyễn đến ngôi nhà cũ của tôi ở ấp Đông Ba xưa, xem xét căn nhà hoang của tôi, rồi biết tôi vẫn thất nghiệp, anh khuyên tôi nên nuôi chim cúi. Tôi nói tôi chẳng có kinh nghiệm gì về chim cút hết, anh rủ tôi đến nhà anh ăn sáng, căn nhà gác chật chội ở bến Chương Dương kê đầy chuồng chim cúi, đẻ trứng lia chia. 
Anh mời tôi ăn bánh mì “ớp la ” trứng chim cút. Tôi đếm được mỗi đĩa trứng có sáu cái. Trong khi bà vợ anh nhặt một giỏ trứng mang xuống chợ bán mỗi ngày. Anh nói gia đình anh vẫn có thịt ăn. Anh chỉ bầy chim cút trong chuồng. Thế rồi suốt ngày hôm ấy Trần Lê Nguyễn và tôi đi lang thang, lên tận Gò Vấp, vào nhà Tô Thùy Yên để học kinh nghiệm nuôi chim cúi của nhà thơ này. Một nhà thơ mới ở tù ra và được coi là hết thời, đang chờ ra đi nước ngoài theo diện HO. 
Cái vốn liếng tù tội của Tô Thùy Yên có lẽ dư thừa còn vốn liếng kinh nghiệm nuôi chim cút của anh thì tôi không biết có từ bao giờ. Nhưng nghe nói anh cũng dầy dạn kinh nghiệm lắm. Tôi thì không theo nghề ấy, vì một lần nuôi gà bị chết toi cả bầy. Sạch luôn cả vốn liếng mà bạn bè có lòng giúp đỡ. Nói tóm lại, tôi không có tay nuôi gia cầm.
Tôi vẫn lang thang kiếm sống qua ngày, xa lánh chợ trời mà có lần tôi đã coi là chốn gió tanh mưa máu. Tôi đi bán xôi đến lúc quị ngã vì mất sức lao động. Một cơn tai biến mạch máu não, tí nữa thì chết, nếu không chết thì cũng bán thân bất toại, tê liệt nửa người. Tôi qua khỏi cơn bệnh như có phép lạ. Bây giờ di chứng chỉ còn nói ngọng và khó khăn khi nói. Chẳng được một câu nào gãy gọn. Còn một tay chưa tê tôi bèn viết. Kệ nó muốn ra sao cũng được. 
Tôi bị tai biến mạch máu não phải nằm bệnh viện, ngoài vợ con ra tôi chỉ có bạn bè, những người bạn nghệ sĩ nghèo, góp nhặt cho tôi từng đồng để trả viện phí. Tôi mang ơn bằng hữu hoặc thân hoặc sơ. Khi đó tôi tường mình đi đứt rồi. Chỉ có những khuôn mặt bạn bè cúi xuống tôi. Tôi nhớ mãi những khuôn mặt ấy, những đôi mắt ấy không bao giờ quên được. Tôi làm sao quên được chú em bạn tù Võ Bá Yên, nguyên là huynh trường Hướng Đạo Sinh, khi khiêng tôi vào phòng cấp cứu phải mang cầm Chứng Minh Thư Nhân Dân (căn cước) để có tiền đưa tôi qua cửa ải này. Trước khi mê man, tôi còn ghi nhận được hình ảnh ấy. Nay thì Võ Bá Yên không còn nữa, chú em ấy bị nhồi máu cơ tim cũng đã chết rồi. 
Tôi đưa Yên đến phần mộ ở Bình Hưng Hòa. Tôi đã khóc. Tôi quì trong chùa cùng các sư cầu siêu cho Yên. Ôm hai đứa con nhỏ của Yên, khuyên nhủ chúng cố giúp mẹ chúng duy trì nghề bán cơm bình dân ở căn nhà cạnh chợ Cây Quéo. Bố chúng chết rồi, hàng cơm thiếu người bưng tô rửa chén, các cháu phải thay bố ngoài giờ đi học. 
Khi tôi rời bệnh viện ít ngày thì vợ tôi cũng giở dạ đẻ, đứa con út tôi hiện nay. Lúc ấy tôi không có tiền. Mẹ con nó may mắn mẹ tròn con vuông và vợ tôi chịu đoạn sản để lấy tiền thưởng đóng thay viện phí. Vậy cũng xong. Chuyện cũng như người phải bán máu mình để lấy tiền mua cơm ăn. Như cây nến tự ăn mình đề duy trì ngọn lửa. 
Mấy năm sau, tôi nghe Trần Lê Nguyễn bị bệnh. Bệnh tai biến mạch máu não như tôi đã từng bị. Anh đau khổ hơn vì bị bán thân bất toại, nói năng ngọng nghịu. Vợ anh Nguyễn phải làm thông ngôn mỗi khi đi đâu hay có người tới thăm. 
Có hôm tôi với Tú Kếu đang ngồi ở quán báo của Nguyễn Kinh Châu ở đường Bà Huyện Thanh Quan thì Trần Lê Nguyễn đi xích lô đến. Anh nói chuyện với chúng tôi mà chúng tôi chẳng nghe được câu nào. Anh bị ngọng quá sức rồi. 
Một lần khác anh đi xích lô đến nhà Tú Kếu, bà vợ đi cùng, hôm ấy tôi cũng có mặt. Chị Nguyễn phải thông ngôn chúng tôi mới hiểu. Nội dung anh hỏi nhà Tú Kếu còn tranh không, nếu bán thì anh mua. Trời đất, anh vẫn còn nghĩ đến chuyện ấy, chuyện nghệ thuật mà anh đam mê từ mấy chục năm trước, thuở lêu bêu chợ trời. Buôn bán mà không bao giờ có lời, bán một tác phẩm mình mua được tiếc đứt ruột. Con người Trần Lê Nguyễn thế đó. 
Hôm chợ Cầu ông Lãnh cháy, ngay vào khu anh ở từ bao nhiêu năm trên đường bến Chương Dương, tôi lo lắng suốt một đêm. Sáng sớm tinh mơ tôi đạp xe xuống phía nhà anh, may quá ngọn lửa không lan đến, tôi an tâm ra về. Tin Trần Lê Nguyễn mất đột ngột đến với tôi. Khi đó là buổi chiều, sáng sớm ngày hôm sau gia đình sẽ đưa anh đến nhà thờ làm lễ rồi đưa anh lên lò thiêu Bình Hưng Hòa. Đến khi đó tôi mới biết tên thật của anh là Nguyễn Huy Tạo, sinh năm 1924, mất ngày 7-7-1999. Thế có nghĩa là anh 75 tuổi, sao mà tâm hồn anh trẻ thế. Những người đi đưa tiễn anh lần cuối cùng hầu hết là những văn nghệ sĩ chế độ cũ. Ngoài những nhà văn nhà báo mà đếm được trên đầu ngón tay, tôi thấy còn có các họa sĩ như Cù Nguyễn, Rừng, Hồ Thành Đức mới ở nước ngoài về thăm quê hương. Đưa đám anh đến tận lò thiêu Bình Hưng Hòa, có một người con trai chống gậy, tôi cứ ngỡ là con trai của anh, nhưng hỏi ra thì biết cậu đó là cháu, con trai người em trai anh. Một bài điếu văn ngắn, cảm động do Hoàng Vũ Đông Sơn đọc trước quan lài, rồi cửa lò thiêu mở, quan tài anh từ từ hạ xuống. Thôi, thế là vĩnh biệt Trần Lê Nguyễn. Tiếng khóc của người thân anh òa lên. Tôi cũng không cầm nổi nước mắt. Tấm hình của anh vẫn toe loét nụ cười.
Buổi trưa về nhà anh, trên tường tôi thấy còn nhiều bức tranh nghệ thuật. Căn nhà đó ở bến Chương Dương, trước khi anh tới cư ngụ, tôi biết nhiều họa sĩ đã đến ở đó, có cả Cù Nguyễn. Năm 1963 tôi đến đó nhờ họa sĩ Nguyễn Trung vẽ cho tấm bìa tập truyện ngắn Vác Ngà Voi, tập truyện ngắn đầu lay của tôi thuở đầu đời. Trên đường về, buổi trưa trời ập xuống một cơn mưa. Tôi bị cảm nằm liệt mất mấy ngày. Đêm nay ngồi ghi lại những dòng này trời vẫn còn mưa. Những con muỗi đói sự ướl cánh ùa đầy vào phòng. Vừa đụt mưa vừa kiếm ăn, chúng bu vào đốt tôi tơi lả. Tôi đập tan xác chúng, máu lóe trên bàn lay. 
Trong đêm trường này chỉ mình tôi còn thức, trên căn gác bút đam mê cô quạnh.