This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Buổi chiều ngày 12-9-1999 mới chính thức là ngày cuối cùng tôi chia tay với Uyên Thao, người bạn đồng nghiệp viết văn làm báo và là bạn tù với tôi. Tám giờ sáng mai, anh và gia đình lên đường sang Hoa Kỳ định cư. Những lo lắng, những lao đao, những dịch vụ gì đó vô cùng tôi thôi đã khép lại sau lưng gia đình anh. Nhưng anh vẫn nói với tôi, như bao nhiêu người đã nói:”Khi nào máy bay cất cánh mới thật sự an lòng.” Đúng vậy, buổi chia tay này vẫn có thể coi là “tạm thời” cho đúng thủ tục mà thôi. Điều chắc chắn là bây giờ tôi và Uyên Thao ngồi với nhau ở đầu chung cư Nguyễn Chiến Thuật, hút với nhau những điếu thuốc Bastos nội hóa. Nói chuyện và những nhắn nhủ lào lao giữa kẻ ở người đi. Chúng tôi còn quá ít thời giờ để ăn với nhau một bữa cơm chia tay ở quán cơm Bà Cả Đọi như tôi đã hẹn với Uyên Thao. Từ nay đến sáng mai còn mươi tiếng đồng hồ nữa chứ mấy. Tôi hứa với Uyên Thao: – Tao tin rằng mấy chục năm nay tao không sống vô ích và cũng sẽ không vô ích vào những ngày còn lại. Tao và mày chẳng dám hứa sẽ còn gặp nhau ngày nào đó, vì tụi mình già cả rồi, biết sao mà hẹn. Hãy ghi nhận lại hình ảnh cuối cùng của nhau chiều hôm nay, uống từng lời nói của nhau. Uyên Thao nói: – Tao còn một điều ân hận là không lo được cho Đoàn Tường, hắn ta yếu lắm rồi, ngày hôm trước hắn nói như trăn trối với bạn bè như người sắp chết. Tháng cuối cùng ở Việt Nam, tao cố gắng làm việc, vừa dịch vừa gõ máy thuê hy vọng kiếm ra được ba triệu đồng, tao dùng hơn một triệu trả nợ, một triệu kia để lại cho Đoàn Tường chữa bệnh, mà cuối cùng người ta trả cho tao có hơn một triệu. Tao trả nợ không đủ… Mày ở lại đến thăm hắn cho tao. Hắn hiện đang ở trên làng Báo Chí. Đoàn Tường lức là nhà văn Lý Hoàng Phong, anh ruột của thi sĩ Quách Thoại, một nhà thơ nổi tiếng thuở nhóm Sáng Tạo ở miền nam Việt Nam. Lý Hoàng Phong, tức Đoàn Tường nay đã 75 tuổi, trước kia từng là chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ, biên lập viên bình luận Đài Phát Thanh Sài Gòn, chủ nhiệm nguyệt san Quê Hương, tuần báo Thế Kỷ 20, Hiện Đại. Tác giả tập truyện ngắn Người giết người, truyện dài Sau cơn Mưa. Anh có danh, nổi tiếng ở khoảng thời gian trước năm 1975. Sau năm 1975 anh im hơi lặng lặng như nhiều anh em văn nghệ chuyên nghiệp miền Nam khác. Có chuyện đau lòng xảy ra cho gia đình anh, chỉ đến ngày anh phải mang vợ con về Làng Báo Chí bên kia cầu Sài Gòn, mà trước đây gọi là cầu Xa Lộ. Nơi trú ẩn cuối cùng của những người có dính dáng đến nghiệp báo chí, văn nghệ nếu căn nhà nào đó của mình ở làng còn. Đoàn Tường vẫn còn chút may mắn. Tôi hứa với Uyên Thao: – Tao sẽ đến thăm Đoàn Tường, giữa tao và anh ấy cũng có chỗ thân lình và hiểu hoàn cảnh của nhau. Buổi sáng hôm sau, ngày Uyên Thao và gia đình lên đường ở phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng lên đường bằng chiếc xe Vélo Solex ra xa lộ vượt cầu Sài Gòn sang làng Báo Chí thăm Đoàn Tường. Làng Báo Chí, quê hương thứ hai của những người hành nghề báo chúng tôi thuở trước, nay thay đổi nhiều. Nhiều nhà cửa, vi-la mọc lên, kiểu cọ lùm lum. Chủ nhân đích thực của những căn nhà trong làng bây giờ chẳng còn bao nhiêu, đếm trên đầu ngón tay, những chủ nhân mới tôi hoàn toàn không biết. Xưa kia tôi cũng có một căn nhà trong làng, rồi vật đổi sao dời… Tôi đành quên, như người khác đã quên nhiều anh chị em làm báo. Nhưng làng đó đến nay vẫn mang tên là làng Báo Chí. Hỏi đến, ai ở vùng đó cũng biết. Tôi đã vào làng và phải hỏi thăm đường, điều đó chứng thực cho lời nói của tôi. Căn nhà của Đoàn Tường ở dẫy 1, bên cạnh mấy căn nhà cao tầng, kiểu cọ rất mô đen. Căn nhà đó nguyên trạng như căn nhà Nghiệp Đoàn Báo Chí trao cho anh em ký giả hội viên hồi 40 năm về trước. Mái tôn, gạch lốc xi măng, một khoảng sân nhỏ trước mặt nhà, khoảng tường dệu dạo ngăn cách. Tôi đứng trước cổng nhà Đoàn Tường tức Lý Hoàng Phong gọi cửa một lúc lâu. Chó bị nhốt trong nhà xua rộn lên, một lát, đứng ngoài cổng tôi thấy một người lom khom đi ra… Đúng là anh Lý Hoàng Phong. Cánh cửa ra vào được mở, Lý Hoàng Phong gầy rộc, trắng xanh, giọng anh mệt mỏi: – Ai đó? Tôi xưng lên, tự tay mở cổng vào sân. Anh đưa tôi vào nhà, anh thật sự mệt mỏi, nói nhát gừng: – Tôi mệt, mệt lắm, thằng con tôi mới đi chợ mua đồ ăn cho tôi. Bác sĩ nói tôi cứ ăn cơm gạo lức muối mè, đừng ăn chuối nữa. Tôi ăn chuối thay cơm bí cả đường tiểu tiện đại tiện. Quái lạ thật, tôi nghe anh nói như thế là lần đầu. Tại sao vậy? Tôi không biết nữa, và cũng không hỏi tới. Tôi biết anh mệt gần như người kiệt sức. Anh cho biết anh ăn riêng. Tôi hỏi anh nấu lấy ăn à? Anh trả lời không, thằng con trai thất nghiệp của anh đi mua cơm gạo lức người ta nấu sẵn bán. Tôi đoan chắc một điều là anh hoàn toàn suy dinh dưỡng, có nhiều lần anh nhịn ăn đến kiệt sức. Anh trở nên xa lạ với thịt cá và đồ ăn bổ dưỡng khác. Thực tế anh lấy đâu ra tiền để tự bồi bổ cho mình. Lòng tôi quặn thắt trước tình trạng ấy. Anh như một người bị bỏ quên, và tự an phận trong sự bỏ quên ấy. Tôi nhìn quanh căn phòng khách, không có một thứ gì đáng giá. Không có tivi, radio. Chỉ có một tủ sách với những ngăn trống huếch và một tủ thờ bố mẹ anh. Anh kể với tôi, giọng vẫn mệt mỏi rằng căn nhà ở làng này sở dĩ còn là do bố mẹ anh về ở đến lúc chết, mấy năm gần đây. Nếu không thì anh cũng chẳng biết về đâu… Tôi hiểu hoàn cảnh thật của Đoàn Tường- Lý Hoàng Phong từ sau ngày 30-4-75. Gia đình anh có nhà ở gần cổng xe lửa Trương Minh Giảng (nay là đường Lê văn Sĩ). Mảnh đất ấy của bố mẹ vợ anh. Anh lấy vợ, về ở nhà vợ, cùng vợ xây dựng nên một căn nhà khang trang. Chủ quyền căn nhà vẫn là tên bố mẹ vợ anh. Bố mẹ vợ mất, căn nhà ấy như của con cái, rồi ngày 30-4-75 người chiến thắng vào thành phố, trong đó có người anh ruột thịt của vợ anh từ miền Bắc vào, đoàn tụ gia đình sau nhiều năm xa cách, tìm cách giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội mới có lại cuộc đời, nếu không nói là thuở “quân hồi vô phèng”. Người anh, lúc đó là cán bộ, trong khi chờ đợi nhà nước cấp nhà, vào chung hộ khẩu với nhà Đoàn Tường. Chuyện đương nhiên thôi, và ông ta như một lá chắn che cho gia đình Đoàn Tường. Gia đình Đoàn Tường được hưởng ít nhiều ân huệ của người chiến thắng. Anh Tường không phải đi tập trung học tập cải tạo như những anh em văn nghệ sĩ, ngụy quân, ngụy quyền. Con trai lớn của anh trúng tuyển nghĩa vụ quân sự đi chiến đấu làm nghĩa vụ quốc tế ở bên Căm Pu Chia, do bọn Khờ Me đỏ đang làm chuyện diệt chủng man rợ chính dân tộc chúng, là dân tộc anh em với dân tộc ta, môi hở răng lạnh. Gia đình Đoàn Tường tình nghĩa anh em như thể tay chân, vậy cũng được đi. Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bông, anh em nào đỡ được cũng mừng cho anh em ấy. Tôi nhớ có lần cách đây hơn hai mươi năm, thuở tôi còn lang thang chợ trời. Tôi và Trần Lê Nguyễn có ngồi uống cà phê với Đoàn Tường, trước một ngân hàng ở mé Chợ Cũ, nơi Đoàn Tường được tiếp tục công tác “. Ai cũng mừng cho anh gặp may mắn. Mặt tiền căn nhà của anh trở thành quán cà phê do vợ và con gái anh đứng bán. Khoảng năm 1990, khi Tú Kếuđi tù về, chính tôi đưa Tú Kếuđến thăm anh tại liệm cà phê trên. Đời sống anh khi ấy cũng bình thường trong kinh tễ thị trường. Mặt ngoài thì như thế nhưng bên trong có vẻ gì khúc mắc. Tôi biết tin đứa con trai lớn của anh đi nghĩa vụ quân sự không về nữa, không phải cháu đã bỏ mình vì nghĩa cả, mà cháu thề rằng không bao giờ trở về căn nhà ấy. Chúng tôi không tiện hỏi sâu, cặn kẽ hơn. Cho đến những buổi sáng, cách nay chừng mười năm. Tôi thấy Lý Hoàng Phong gần như có mặt thường xuyên mỗi sáng ở sạp báo của Nguyễn Kinh Châu. Chúng tôi vừa ngồi uống trà vừa đọc báo giải khuây. Vì hầu hết anh em chúng tôi mất sức lao động cả rồi, nên phải nhờ vả vợ con, đôi khi bạn bè ở nơi xa giúp đỡ Thường gọi là cứu đói, cứu thôi chứ không xóa được ở tại nơi đó cũng là chỗ thông tin chd nhau, kẻ còn người mất, kẻ sống ngất ngư như con tầu lướt sóng, kẻ ở người đi hoặc biết với nhau về hoàn cảnh gia đình của nhau. Không biết vì cảnh giác cao hay tất cả anh em chán chuyện thời thế, nên quyết nhiên không ai bảo ai đều lánh xa những tin thời sự có tính cách chính trị nên chẳng bao giờ có chuyện bị đánh giá là phản động”. Có sự theo dõi nào không tôi không biết, cũng chẳng cần biết thì đúng hơn, nhưng nếu có thì chỉ là chuyện vô ích mà thôi. Tại địa điểm này, tôi được biết gia đình Đoàn Tường có chuyện chia chác gia tài giữa vợ anh và người anh ruột. Ông anh ruột là cán bộ nhà nước đã được nhà nước cấp nhà ra ở riêng, nhưng chính căn nhà của cha mẹ để lại, ông ta thấy cũng phải được chia phần theo luật thừa kế. Thế là căn nhà mà gia đình Đoàn Tường đang ở, đang sinh sống phải bán đi để chia gia tài. Chính vì vậy đứa con trai lớn của Đoàn Tường từ Căm Pu Chia về bất mãn mới nổi khùng lên rồi bỏ nhà ra đi biền biệt với một lời thề không bao giờ quay trở lại. Đứa con gái bị dẹp quán cà phê to tiếng với mẹ rồi bị tâm thần. Đoàn Tường trở thành kẻ đứng ngoài, sáng sáng ngồi ở sạp báo Nguyễn Kinh Châu buồn hiu hắt. ít khi anh nói gì, anh tiêu cực hay chán nản chẳng ai biết, nhưng nỗi đau chắc là có đấy. Có người gặng hỏi, anh chỉ trả lời vắn tắt, tôi chẳng có gì, mặc họ với nhau. Một thời gian sau vắng bóng Đoàn Tường ở sạp báo của Nguyễn Kinh Châu. Anh em nói chuyện chia chác nhà, ra lòa kiện tụng cũng đã xong, anh Tường cùng đứa con gái điên lên làng báo chí ở. Tôi biết về Đoàn Tường – Lý Hoàng Phong có thế thôi. Hôm nay ngồi trước mặt anh, tôi chỉ thấy anh suy nhược quá rồi. Căn nhà của anh lặng lẽ, dù rằng anh có vợ và có con cùng chung một mái nhà. nhưng hình như ai cũng sống riêng với mình. Bên cạnh phòng khách có hai phòng nhỏ, cửa đóng kín mít, một lát cánh cửa phòng bên ngoài mở, một cô con gái từ đó đi ra. Anh Tường nói là con gái anh, cô ta lặng lẽ xuống nhà rồi ới lên ngay, lại trở về căn phòng của mình đóng kín. Một lát sau nữa, cánh cửa phòng thứ nhì mở, một người đàn bà đi ra. Đó là chị Đoàn Tường, chị chào hỏi khách hoạt bát, rồi chị lấy xe đạp ra đi. Anh Đoàn Tường hỏi bà đi chợ đấy à, chị không nói. Một lúc sau chị lại trở về, chiếc giỏ xe trống rỗng. Chị vào trong phòng, khóa cửa cẩn thận. Theo như Uyên Thao nói với tôi thì chị cũng man man mất rồi. Tôi nhìn căn nhà trống trếnh loang, căn nhà như không có sinh khí… Đoàn Tường hỏi tôi Uyên Thao đâu, tôi chỉ tay lên trời. Anh có vẻ ngạc nhiên. Tôi nói rõ hơn: – Hắn đang bay trên trời, hắn đi Mỹ. – à à tôi có nghe nói. Câu chuyện chúng tôi nói với nhau chỉ ấm ớ như thế cho đến lúc trời sắp về trưa, tôi lên đường trở về thành phố. Lần sau tôi lên làng báo chí, cũng với mục đích thăm Đoàn Tường, mang quà cứu trợ của anh em ở nơi xa gửi về cho anh. Cũng dáng chậm chạp ấy, hôm nay thì cậu con trai có nhà, gọi là cậu bé nhưng cũng phải trên hai mươi tuổi, bảnh trai ra phết, như Đoàn Tường ngày xưa, thuở tôi mới gặp anh. Anh giới thiệu cháu bây giờ thất nghiệp, ở nhà với anh. Tôi ra vẻ khuyên cháu chịu khó săn sóc bố. Cháu vâng dạ thật lễ phép, hỏi thăm về gia đình tôi, công việc làm ăn của tôi, tôi nói chú “làm thinh”, chú cháu mình đều làm thinh. Tôi thấy Lý Hoàng Phong thoáng mỉm cười. Hình như nụ cười của anh thật hiếm hoi. Tôi thấy ngổn ngang trên bàn những cuốn sách. Tôi lật xem, lất cả đều là sách dậy nấu ăn, những món sơn hào hải vị. Anh hoặc cháu đang đọc những cuốn sách ấy, đang tự chế biến những món ăn ngon của ba miền đất nước, những món ăn hàm thụ. Quà cáp của anh em đây, anh có thể thực hiện được một vài món ăn cho thạp khẩu vị, anh không cần phải thưởng thức món ngon bằng cách hàm thụ nữa. Tôi chắc chắn những món ăn đó phải ngon lành vì có chất ngọt của tình nghĩa bạn bè. Anh viết một mảnh giấy cám ơn anh em, rằng quà cáp mặn nồng đó đã đến tay anh. Tôi ra về cũng thấy lòng thơ thới hân hoan.
Các cụ la thường hẹn với bạn bè chí cối thuở thiếu thời rằng: – Khi già thế nào tôi cũng đến thăm bác, dù có phải chống gậy đi thăm, hay phải đi cáng đi đò. Chuyện đó xưa như trái đất, và cũng là truyền thống của dân tộc, có từ đời thuở nào không biết. Một lời hẹn như đinh đóng cột. Tuổi già gặp lại nhau, có khi đi xa ngàn vạn dặm để ôn lại những kỷ niệm xưa thời trai trẻ, khi còn là anh khóa anh đồ. Nói chung là thuở hàn vi. Đường đời mỗi người một ngả, đi tìm sự nghiệp tương lai, nhưng tình bạn vẫn thấm đượm, vẫn thiêng liêng, có thể gọi là keo sơn gắn bó. Không nghĩ đến bạn nữa là lỗi đạo. Bạn mất trước mình, nhớ thương bạn, thốt nên lời thành thơ như Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê: Bác Dương thôi đã xa rồi. Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta Bạn đau ốm thăm hỏi bạn. Gặp nhau để hàn huyên đôi điều, đánh một ván cờ, đọc cho nhau nghe một bài thơ, uống với nhau ấm trà ngon, cũng có khi uống với nhau chén rượu, nói phét đôi điều cho đo chán đời. Học theo gương người xưa để giữ lấy cái đạo bằng hữu thật đơn giản nhưng cũng thật khó khăn. Tôi 62 tuổi, bạn tôi 63 tuổi, nhà thơ Tú Kếu, một thi sĩ xứ Sơn Tây, nổi danh một thời trước 30-4-75. Sau năm 1975 anh ở tù liền tù tì 12 năm trời, thời thượng gọi là “học tập cải tạo”. Vợ trẻ con thơ. Khi Tú Kếu trở về, chị Phượng (vợ Tú Kếu) đã là một người đàn bà đứng tuổi. Chị sinh thêm cho anh hai đứa con nữa, một trai và một gái út. Hai con trai lớn của anh đã trưởng thành nhờ công bên ngoại nuôi dậy. Mức án 18 năm tù của anh được giảm xuống còn 12 năm do anh “học tập tốt được sớm trở về đoàn tụ với gia đình, Người ta nói thế, không biết có thật vậy không. Trại tù mang bí số K3 ở Gia Rai, dưới chân núi Chứa Chan. Tôi đã từng ở đó nên rất biết. Tú Kếu ra khỏi tù, tôi mừng cho anh vì gia đình nhà vợ nay đã khá giả. Anh không phải như tôi tối tăm mặt mũi đi kiếm ăn nuôi vợ con. Buổi sáng tôi thường gặp Tú Kếu đi bộ từ nhà loanh quanh mấy con đường rồi tới sạp báo của Nguyễn Kinh Châu ngồi uống trà, đọc báo. Trước sạp báo của Nguyễn Kinh Châu là chi nhánh liệm trà Tiến Đạt của gia đình Tú Kếu đường Bà Huyện Thanh Quan. ở sạp báo này anh gặp lại nhiều bạn bè là văn nghệ sĩ thời chế độ cũ, cùng thời với anh, trong đó có tôi. Anh em cũ chúng tôi chính thức gặp lại nhau vào ngày giỗ nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm báo Sống, là chủ nhiệm hầu hết anh em chúng tôi. Bữa giỗ được tổ chức ở nhà Đằng Giao-Chu Vị Thủy, con gái và con rể của Chu Tử. Ông Chu Tử tử nạn ngày 30-4-75, xác thủy táng ở cửa biển Cần Giờ, hôm ấy nhằm 19 tháng 3 âm hạch. Sau này Giao và Thủy lấy ngày giỗ âm lịch cho tiện. Ba năm trở lại đây, Tú Kếu vắng mặt trong bữa giỗ ấy. Anh bị căn bệnh quái ác là bệnh quên. Bệnh quên của anh càng ngày càng nặng, nhiều khi trở thành cổ quái. Quên cả mình là ai, đừng nói chi đến người khác. Anh không ở nhà đường Điện Biên Phủ trước bệnh viện Bình Dân nữa mà lên Lâm Đồng dưỡng bệnh. Cũng thời gian này tôi nghe nhiều chuyện về căn bệnh quên của Tú Kếu. Người ta đặt tên cho căn bệnh ấy là Alzheimer, tên của vị bác sĩ khám phá ra căn bệnh. Tôi vẫn mong có dịp lên thăm Tú Kếu. Khốn nỗi hai mươi năm nay tôi không ra khỏi thành phố. Điều đơn giản vì tôi không có mảnh giấy tùy thân nào trong người. Tôi mới có thẻ Chứng Minh Thư Nhân Dân hôm 15-8- 1999. Hôm 23-8-1999 tôi ra bến xe Miền Đông mua vé xe đò lên đường, sau khi đã điện thoại hỏi rọ đường đi nước bước với chị Phượng, vợ anh Kếu. Người thân của gia đình Tú Kếu nói: – Thôi bác đừng lên, bác hỏi thăm vậy là quí rồi, chúng tôi sợ ông ấy không nhận ra bác đâu dù bác có là bạn thân, đến người ở trong nhà cũng chẳng nhận ra nữa là… – Tôi hiểu, nhưng chẳng quan trọng gì, nhìn thấy nhau là quí, dù không đọc cho nhau nghe được một bài thơ. ấy thơ thì ông ấy nhớ đấy. Tôi mừng húm. Thế là buổi sáng tôi lên đường thăm Tú Kếu, trong túi xách của tôi có mang theo tập thơ ánh mắt người Sơn Tây của Quang Dũng, nhà thơ cùng quê hương với Tú Kếu, một nhà thơ mà anh rất ngưỡng mộ, hồi xưa anh từng đọc cho tôi nghe. Anh đọc ánh mắt người Sơn Tây, Đôi Bờ, Tây Tiến. ở căn gác thuê đường Bắc Hải, nhìn ra nghĩa địa Đô Thành, nay là công viên Lê Thị Riêng. Đêm mưa rầm tháng bảy Âm Lịch nằm trên căn gác quạnh hiu nhìn ra mồ mả nhấp nhô, ánh đèn vàng vọt ở nhà xác nghe Tú Kếu ngâm Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du cảm giác vừa thú vị vừa rùng rợn. Khi đó chúng tôi còn trẻ lắm. Tuổi trên hai mươi. Tiệt tháng bảy mưa dầm sùi sụt… Lạnh heo may… Dĩ vãng ập vào đầu tôi khi xe leo lên đèo Bảo Lộc, sương mù giăng trắng đục cả đồi núi bên đèo, có căn nhà nào đó mờ nhạt trong sương. Gió lạnh đầy ắp không khí cao nguyên. Tôi không thể ngủ gà ngủ vịt như một số người đồng hành mà giương mắt nhìn cảnh bên đèo. Tôi thấy như thuở nào đó, xa xôi lắm rồi ngồi lóc cóc xe ngựa đổ đèo tận miền thượng du Bắc Việt như không khí thơ của Quang Dũng thời dân tộc Việt nam kháng chiến chống Pháp: Chợt mưa phùn gió lạnh Càng lạnh cành hoa mai Càng nhớ xa xôi lắm Những con đường chạy dài Hoặc hùng tráng như Tây Tiến: Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha luông mưa xa khơi Tai tôi ù khi xe leo lên đỉnh đèo rồi đổ dốc. Chưa thấm tháp vào đâu, nhưng tôi cũng bôi vào hai bên thái dương miếng dầu Con ó, mũi hít ngửi mùi bạc hà của ống hít mũi. Xe đổ dốc đèo Bảo Lộc, tôi phải trả thêm năm ngàn đồng nữa cho chú lơ xe đò để được đưa tới Lộc An, trước công ty trà Tiến Đạt. Nơi đó chưa tới Điều Linh. Cũng đã lâu lắm rồi tôi mới đi lên vùng cao. Đối với tôi lúc này trở nên lạ lẫm, lạ bắt đầu từ Ngã Ba Dầu Giây, chắc đường lên Đà Lạt còn nhiều điều lạ hơn nữa. Tôi thầm hẹn có lần đi chơi xa hơn lên vùng gió núi mưa ngàn. Bước chân vào nhà Tú Kếu, cũng là cửa hàng Trà Tiến Đạt. Người thứ nhì sau cô bán hàng là chị Phượng rồi Tú Kếu. Gặp chị, tôi hỏi: – Chị còn nhớ tôi không? Chị Phượng cười tươi: Gớm, anh làm như tôi cũng bệnh quên như anh Tú Kếu ấy, tôi nhớ chứ, nhớ tất cả bạn bè của anh ấy. Anh ấy thì lúc nhớ lúc quên, có lúc nhắc hoài… Tôi nắm bàn tay mảnh dẻ của Tú Kếu, nhìn sâu vào mắt anh: – Kếu, mày có nhận ra tao không? Đôi mắt ấy thoáng chút ngơ ngác, giọng trở nên lễ phép, từ tốn, lịch sự: – Cám ơn bố không quản đường xá xa xôi đến thăm con. Đến lượt tôi ngơ ngác: – Mày nói thật hay đùa đấy, mày không nhận ra tao thật à? Tao là Long, bạn mày, quen biết nhau từ hồi ở trại học sinh Phú Thọ năm 54. – Trại học sinh Phú Thọ?… Phải rồi, dầu sao con cũng nhớ bố lắm, bố không quản đường xá xa xôi… Chị Phượng biết chồng lên cơn bệnh quên, bằng cách nào cũng không thể để anh nhớ ra được. Chị pha một ấm trà hoa lài thơm ngát, hai tách cà phê sữa. Tôi mời Tú Kếu hút thuốc lá, anh hút ngay, thưởng thức cà phê là, khen ngon. Chị Phượng kể về bệnh trạng của anh. Chị nói thời gian sau này anh thường than nhức đầu, rồi mỗi ngày một quên dần, lẫn lộn lung lung. – Đến hai thằng con lớn mà anh ấy cũng không nhận ra, hỏi mãi anh ấy nói là đàn em của anh ấy thôi. Bệnh quên này anh ấy mới phát ra hai ba năm nay thôi, nặng thì từ hồi Tết đến giờ. Mất cả mọi ý niệm, sống như hoang tưởng… Đi ra đường anh ấy quên cả lối về, nên không dám đưa anh ấy về Sài Gòn vì anh ấy đi lạc ngay. Đó anh thấy sức khỏe anh Kếu rất bình thường. Nhưng anh ấy mất hút mọi ý niệm, về chuyện ăn uống một ngày anh ăn nhiều bữa, ăn rồi quên ngay thấy rằng mình chưa ăn gì hết. Nhà đông công nhân, họ ăn cơm theo ca làm việc. Nên khi đũa bát dọn ra, anh Kếu lại thấy rằng mình chưa ăn cơm từ sáng đến giờ… Cứ thế mỗi ngày anh ấy ăn dăm bảy bữa là chuyện thường, ăn sáng cũng tới hai lần, tuy rằng mỗi lần ăn không nhiều… – Nhưng ở trong nhà anh ấy cũng nhớ người nào đó chứ? Ông anh con chú bác với chị Phượng trả lời thay: – Có thứ nhất là Phượng, thứ hai là cháu gái nhỏ, thứ ba là ông bố của Phượng. Còn ngay bà mẹ vợ, anh ấy cũng quên luôn mà chỉ thấy quen quen… Tôi an tâm rằng Tú Kếu đã quên tôi rồi, như quên một số bạn bè thân thiết khác, cùng chung lưng đấu cật với nhau trong nghiệp dĩ văn chương. Không thể giận bạn được mà thương bạn bao nhiêu cho đủ. Tôi lại hỏi Tú Kếu: – Này cậu có nhớ Nguyễn Huy Nhiên là ai không? Tú Kếu chỉ ngay ngực mình: – Chính là ta đây. – Thế còn Hoàng Bình Sơn, Trần Đức Uyển? Cũng là ta, Tú Kếu nữa. Khi nói chuyện, Tú Kếu nhìn tôi đăm đăm như cố vận dụng trí nhớ, bỗng dưng nói: – Này tôi thấy bác này quen quen, giống cậu Cảnh ra phết, không biết có phải cậu Cảnh không? Chị Phượng không để tôi ngơ ngác, giải thích ngay: – Cậu Cảnh là ông cậu của anh Kếu, ở ngoài Bắc quê Sơn Tây. Anh ấy lẫn lộn đó. Tôi chợt nhớ ra, tôi tặng Kếu tập thơ ánh mắt người Sơn Tây của Quang Dũng. Anh thuộc thơ của mình và của người khác. Anh đọc thơ Quang Dũng làu làu. Rồi Tú Kếu bỗng đọc một bài thơ khác: Ta con ông Công cháu ông Nghè Nói chuyện trên trời dưới đất nghe Sức khỏe Hạng Vương cho một đấm Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe Lội phăng xuống biển lôi tàu lại Chạy thốc lên non bắt cọp về Bữa nọ vào chơi nơi trướng phủ Ba ngàn cung nữ chạy ra ve. Tôi hỏi thử Tú Kếu: – Này ông đọc thơ của ông hay của ai thế – Không biết nữa, tự nhiên thôi. Quả nhiên Tú Kếu không nhớ thật, thấy giọng thơ huênh hoang của một ông nhà nho hết thời hồi cuối thế kỷ thứ mười chín bước sang đầu thế kỷ hai mươi thì nhập tâm. Cái cao ngạo sẵn có trong máu làm thơ của mình như của nhà nho kia, cũng giống khẩu khí của Tú Kếu. Anh nhập tâm chứ không đạo thơ. Tác giả của Thơ Đen, Thơ Chì, Thơ Xám và hàng ngàn bài thơ chưa ấn hành, làm vào thời gian sau này. Khi anh còn tỉnh táo, tôi đã có dịp được đọc riêng với anh. Những câu thơ thật khốc liệt mà để thất lạc thì uổng phí quá. Tôi tự nguyện phải tìm kiếm và thu thập lại. Tú Kếu khoe với tôi: – Thơ nhiều lắm, cả mấy tập dày thế này. Hồi trước, khi Tú Kếu mới đi tù về, anh có nhờ tôi đi tìm những tập thơ của anh ở hàng sách cũ hoặc nhà người quen, cuối cùng anh nói anh có tìm thấy mấy tập thơ dấu ở dưới chuồng gà nhà anh, anh cũng chẳng biết ai giấu cho anh nữa. Lục trong đống giấy cũ trong nhà tôi, tôi còn tìm thấy một ít bài thơ Tú Kếu làm sau này. Ngồi với nhau, hứng lên, Tú Kếu bèn làm thơ. Khoảng năm 1990, khi Tú Kếu đi tù về. Tôi nhớ những buổi sáng, sau một thùa đi bộ, Tú Kếu đến ngã tư Bà Huyện Thanh Quan, dừng chân ngồi uống nước trà ở sạp báo của Nguyễn Kình Châu, sạp báo nhìn sang tiệm trà Tiến Đạt, góc đường Tú Xương – Bà Huyện Thanh Quan là bệnh viện Saint Paul. Xưa kia căn nhà kín mít chỉ có hàng cửa chấn song sắt trên cao là nhà xác có lối cửa sau ra đường Tú Xương. Tôi cũng từng đưa tiễn người thân ở nhà xác ấy. Bây giờ bệnh viện Sainl Paul chuyên khoa mắt, không hiểu nhà xác kia còn sử dụng hay không, nhưng lối cửa sau vẫn đóng im ỉm, vẫn giữ nguyên vẻ thâm u bí mật. Buổi tối gái đứng đường rải rác trên hai con đường ấy. Tôi nhớ đến không khí trong thơ của thi sĩ Jacques Préverl. Đường phố Sài Gòn trong hai mươi năm nay đổi tên cũng nhiều mà riêng hai con đường ấy vẫn mang tên hai thi sĩ bậc thầy trong văn học sử Việt Nam. Một thế kỷ sau ngày Tú Xương mất, ở góc đường mang tên ông lại có một thi sĩ ngồi nhìn trời đất và cuộc đời. Tú Kếu. Đã chán chường tất cả muốn gác bút mà anh không gác được, âu cũng là nghiệp dĩ. Những hoạt cảnh, như những thước phim quay chậm cho ta nhìn thấy rõ nhiều cảnh sống sau khi hòa bình về trên quê hương. Chỉ ở một góc đường thôi trong thành phố đã hiện ra đủ cảnh đủ vẻ. Những buổi sáng gặp nhau ở sạp báo góc đường, chúng tôi ngồi với nhau. Nói là chúng tôi, không nhiều nhặn gì, chỉ vài thằng văn nghệ sĩ hết thời: thằng thì nguyên thi sĩ, thằng nguyên nhà văn, thằng nguyên ca sĩ nghiệp dư, thằng nhà báo, chủ nhân sạp báo cũng hết thời luôn. Nhìn cảnh đời diễn ra trước mặt mỗi thằng có một ý nghĩ riêng. Chúng tôi không hề có những buổi họp văn nghệ có tổ chức, có thiệp mời để nghe đọc thơ để hát ca trù, để được phái biểu về vấn đề hay đường lối văn nghệ dao lo búa lớn, để nghe những “chùm” thơ của nhà thơ này, những mảng” văn của nhà văn kia. Không có, hoàn toàn không, chúng tôi đến với nhau vì nhớ nhau, cũng chẳng hẹn trước, ai đến thì đến, ai đi thì đi. Cũng ít khi bầy ra cuộc ăn nhậu nào. Nhà thơ Khoa Hữu có bệnh đau bao tử kinh niên, lúc nào trong túi cũng có lọ thuốc, Tú Kếu thiếu máu trầm trọng, áp huyết quá thấp, tôi áp huyết cao, có lần suýt chết vì bị tai biến mạch máu não, nhà văn Lý Hoàng Phong người dệu dà dệu dạo vì bị bệnh gì đó không biết, buồn thỉu buồn thiu vì sắp mất nhà. Duy Trác làm nghề bán “căng tin” trường học con nhà giầu sắp sửa đi nước ngoài theo diện H.O. Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn bị tai biến mạch máu não, bán thân bất toại nói năng ngọng líu ngọng lô, thỉnh thoảng đi xích lô đến, nói năng chẳng ai hiểu gì cả, chỉ tưởng tượng ra anh đang nói chuyện văn nghệ, bộ môn hội họa. Thế là Trần Lê Nguyễn lấy làm mãn nguyện lại lên xe ra về. Thỉnh thoảng thi sĩ Bùi Giáng đi qua, ghé vô chơi, đọc thơ lung tung beng rồi lại ra đi, ông sang câu lạc bộ Văn Nghệ ở con đường gần đó uống rượu say la đà. Vì ở đây chẳng thằng nào uống rượu hết. Nói đúng ra còn ham sống, sợ chết nên… kiêng. Ngày Duy Trác ra đi nước ngoài, đến góc đường Tú Xương – Bà Huyện Thanh Quan từ giã anh em. Tú Kếu có làm bốn câu thơ “tiễn bạn xuất cảnh: Này hãy nâng ly cạn chén mời Chúng mình sắp sửa lại chia phôi Mi sang bên ấy vui đời mới Ta ở bên này dạ rối bời Những bài thơ của Tú Kếu đến với tôi, hoặc thuộc nó cũng tình cờ thôi. Như bốn câu thơ “viếng Trạng Đớp”, thi sĩ cùng thời làm thơ với Tú Kếu, chết ngày 15-8-1992: Tuổi thọ ông về Tiên Phật Tôi còn lẽo đẽo trần gian Mẹ bố cuộc đời vật chất Búa đời muốn đập cho tan Những bài thơ của Tú Kếu, thời gian anh ra khỏi tù, anh làm thơ trên bất cứ mảnh giấy nào, không phải những bài thơ anh in trong những tập thơ trang trọng. Sự nghiệp làm thơ của Tú Kếu thế này, đã có lần tôi thấy ở một mảnh giấy học trò. Bài Đời Thơ. Cũng có thể coi là lý lịch của Tú Kếu, sự chẳng đặng đừng của kẻ mang nghiệp dĩ Năm nay ta đã tuổi năm lăm Ba chục năm dư sống kiếp tằm Thơ phú chen chân mười sáu tuổi Trời cao mắt nhỏ đường xa xăm Những đêm thức trắng hồn rong ruổi Bay lượn tìm quanh nhất ý thơ Gục thiếp trên bàn óc đã mỏi Thấy toàn tơ nhện giăng trong mơ Quả nhiên điềm mộng báo ta hay Cái kiếp yêu thơ kiếp đọa đầy Mưa xám nắng xanh đường bút vẽ Biển vàng hoa trắng ở trong tay Đã nhiều lúc bút cùn toan gác Như mối tình thiêng gác từ đây Tình riêng cắt được thơ sao cắt- Bài thơ còn khá dài nhưng tôi không nhớ hết, nên đành cắt ra một đoạn. Thập niên 1980 -1990, Sài gòn vì kiếm sống, những kẻ tài hèn đành phải ra nghề kiếm ăn, trong đó có hai nghề chính dễ làm nhất là nghề ve chai (thu mua răng vàng bạc vụn) và nghề kẹo kéo. Hai nghề này coi như thứ nghề hạ cấp chốn “chợ trời “. Từng đàn từng lũ thanh niên nam nữ ra nghề, luôn vào khắp hang cùng ngõ hẻm trong thành phố. Chính kẻ viết tập hồi ký này cũng đã ở một trong hai bộ môn “nghệ thuật thương mại” đó. Đám kẹo kéo thì “trang bị” khoa học kỹ thuật hơn. Người bán kẹo kéo phần đông là nữ, ăn mặc đầy vẻ mô đen chợ trời, loại quần áo của tàn dư Mỹ- ngụy bầy bán ở chợ trời. Đẩy xe đạp trên có một thỏi kẹo kéo, một cái máy cái sét, hát ngậu xị khắp phố phường, phần nhiều là điệu Lambada hay điệu gì đó rất tếu nhộn. Quà rẻ, trẻ con bu đến mua ăn. Chỉ năm hào thôi có thể mút được một que kẹo ngọt lừ, thơm tho, giòn rum vì có nhân bằng mấy viên đậu phong rang. Nhà thơ Tú Kếu đã thấy cảnh đó, anh ghi lại bằng thơ, bài Hai nàng kẹo kéo: Khá khen hai gái má hồng Tuổi xuân mơn mởn đã chồng hay chưa? Tuổi xanh nghị lực có thừa Đẩy xe kẹo kéo, nhạc khua phố phường Người rằng thương, ta rằng thương Gót chân liệu châm cổng trường bao lâu? Me cha nay đã bạc đầu?… Có chăng vất vả thân trâu kiếp lừa? Hay là nặng nhọc sớm trưa Bảo nhau khuất bóng, bây giờ mồ côi? Này hai cô bé kia ơi! Thoáng nghe tiếng nhạc, tim người nhói đau Đời này vàng lẫn với thau Tim càng hãy giữ bền lâu với đời Nàng đi kéo kẹo cho đời Tơ tầm ta kéo dâng lời thủy chung Suốt những năm 1992 tới 95. Nghĩa là thời gian Tú Kếu còn tỉnh táo, anh làm khá nhiều thơ, những hoạt cảnh anh thấy sau khi ra khỏi tù, trên những ngả đường anh từng đi qua. Từ nàng bán kẹo kéo, cô gái đứng đường, đến người ăn mày tật nguyền. Ông lão đứng ngẩn ngơ bên đường, phải chăng là tâm sự của mình: ông lão bên đường đứng ngẩn ngơ Chờ xe qua hết để sang bờ Nhưng xe nườm nượp sao qua hết Mãi tới chiều buông vẫn đứng chờ Mệt quá đi, suy nghĩ mãi cũng chẳng ích chi, nhìn cảnh đời đổi thay càng thêm chán nản. Tú Kếu không thèm suy nghĩ nữa, nhưng đầu thì đã nhức rồi: Lẩn quẩn suy tư nhức cái đầu Cái đầu nghĩ mãi lại càng đau Quanh co thế sự hồn tơi tả ấm ớ dân sinh dạ nát nhàu Chỉ ít phút dành cho hồi tường những kỷ niệm với Tú Kếu, để hiểu anh và thương anh hơn. Thời gian dưỡng bệnh của Tú Kếu không biết đến bao giờ, nhưng hiện nay may mắn là anh còn đầy đủ tình nghĩa gia đình, trong yêu thương, thủy chung. Khối người đã thiếu thốn cả những điều ấy. Tất cả chúng ta đã già, đầu bạc rồi, kể cả chị Phượng. Tôi nhìn thấy những chân tóc bạc dưới mái tóc nhuộm của chị. Mới ngày nào chồng bị bắt, chị còn trẻ, ôm hai con nhỏ dại ngồi bán thuốc lá lẻ ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan, phía sau ngôi giáo đường đường Tú Xương, hỏi ngày về của anh, chị không biết, như mọi thiếu phụ có chồng đi ở tù khác, có khác nhau chăng là ở ìmh chung thủy. Bây giờ chị ngồi bên anh, chị được đền đáp lại bằng một sự nghiệp thơ của anh. Điều đó tôi không tin là điều mơ hồ với riêng chị và cả với những đứa con của anh chị. Trời xế chiều, tôi từ giã gia đình Tú Kếu về Sài Gòn. Tú Kếu tỏ ra tỉnh táo, tiễn tôi ra tận cửa, chúc tôi thượng lộ bình an. Nhưng thâm tâm tôi thì chắc chắn một điều rằng anh vẫn không nhận ra bạn anh. Như đã không nhận ra nhiều bạn bè khác. Vì chúng nó đã chết hết cả rồi. Anh nói thế. Tôi ngồi trên xe đò trở về thành phố, sương mù buổi chiều dâng cao ở đỉnh đèo, ờ, sao tôi thấy ngậm ngùi. Tú Kếu vẫn còn sống đó, nhưng ngất ngư…
Thấm thoát mà tôi đã trải qua mười lăm năm trong trại giam nhưng trong hai năm vừa qua tại Hàm Tân thì phải nói một cách trung thực rằng khí hậu trong Nam và ở gần gia đình đã làm cho chúng tôi được thoải mái hơn nhiều và có cảm giác mơ hồ rằng ngày về cũng không còn xa lắm.
Kể từ ngày mà người vợ lên thăm miễn cưỡng vì áp lực gia đình, bỏ phịch giỏ quà của Mẹ tôi gửi lên xuống đất, nói vài câu rồi lên xe về Sàigòn thì tôi vẫn sống như một cái bóng đi bên cạnh cuộc đời.
Có điều tôi tự hào với tôi là sau đó tôi không bao giờ đề cập đến người vợ ấy với bạn bè, cũng như không bao giờ nói một câu nào than trách người vợ, hay ông Trời hay số phận mà chỉ giữ kín nó trong lòng mà thôi.
Tôi chấp nhận một cách nhẫn nhục trong im lặng như tôi đã chấp nhận bao nhiêu tủi nhục đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần như những đòn sấm sét thịnh nộ mà kẻ thù đã giáng xuống chúng tôi trong bao nhiêu năm qua.
Chỉ có những lúc trong ít phút “giải lao” trong khu rừng lá Buông tôi tìm một chỗ khuất ngồi môt mình nghỉ mệt dưới tàng cây che nắng, bỏ chiếc nón lá xuống để lau những giọt mồ hôi; và khi mà trong lòng buồn quá thì chỉ ngước nhìn lên trời xanh và tự hỏi ông Trời rằng tôi đã làm gì nên tội để phải chịu quá nhiều cay đắng?
Nhìn những con chim bay nhẩy trên cành hay vụt bay lên hút cuối khu rừng thì đôi lúc cũng không khỏi ước ao gì mình được tự do tung cánh không xiếng xích như mấy con chim ấy.
Tôi lại nhớ đến anh Đồng Tuy, một người thầy về khoa Tử Vi mà tôi coi kính trọng như một người anh, đã chỉ vẽ cho tôi ít điều về khoa này khi còn trong trại giam ở ngoài Bắc mà một thời gian tôi đã học hỏi một cách say mê.
Nhờ học khoa Tử Vi này và qua những chứng nghiệm với sự dẫn giải của anh Đồng Tuy mà tôi tin rằng con người ta ai ai cũng đều có một số mệnh riêng kể từ lúc cất tiếng khóc oa oa chào đời.
Tuy nhiên, anh Đồng Tuy cũng nói Tử Vi không phải là bất biến mà có thể thay đổi ít nhiều tùy theo Phước mà người đó tạo ra trong hiện tại và tương lai, bởi thế nên anh thường kết hợp Tử Vi với khoa Tướng Mạo hay khoa Nhâm Độn, hoặc Chỉ Tay nữa nếu biết coi thì sẽ hoàn toàn chính xác.
Điều này phù hợp với lời dậy của thầy Tâm rằng theo đạo Phật thì số mệnh con người lúc hên xui, vui buồn cũng tùy vào nghiệp lành hay dữ mà người đó tạo ra trong kiếp này nữa.
Cho nên khi gập vận không may thì phải bình tĩnh chịu đựng và niệm Phật thì tai ương sẽ như mây mù dần dần tan đi.
Bởi vậy tôi tin rằng mỗi con người, mỗi gia đình vả cả mỗi dân tộc đều có số mệnh riêng của nó với những hưng vong thăng trầm và buồn vui của nó không thể tránh được.
Anh Đồng Tuy cũng xem lá số cho tôi và nói rằng cung Thê của tôi xấu lắm. Anh cố không dùng chữ gì khác để tôi khỏi buồn nhưng nhìn anh chỉ sáu ngôi sao gọi là Ám Tinh mà anh gọi là Lục Bại nằm trong cung Thê thì tôi biết rằng ít có cung Thê nào có thể xấu hơn.
Anh bảo tôi rằng nhờ Bổn Mạng của tôi vững chứ nếu không thì tôi không thể ra khỏi tù được vì hai tuổi xung khắc với nhau; và nếu chia tay thì lại là điều tốt nhưng anh không lý giải cho tôi hiểu được tại sao lại tốt.
Lúc đó chúng tôi còn đang lưu đầy ở ngoài Bắc và người vợ lúc ấy vẫn còn thương yêu tôi với những bức thư chan chứa tình cảm gửi vào cho tôi.
Khi vào Nam rồi và khi tan vỡ, tôi mới thấy lời giải đoán của anh gần mười năm trước không ngờ lại chính xác như vậy.
Nghĩ đến lời của người thầy dậy tôi Tử Vi là anh Đồng Tuy, và nhớ đến lời căn dặn của thầy tôi là thầy Tâm về đạo Phật thì trong lòng tôi như tìm được lời giải đáp và tìm lại được sự thanh thản tâm hồn để lại có thêm nghị lực mà cất bước đi nữa trên con đường hầu như vô định.
Trong thời gian này tình bạn thật là quí vì các bạn tôi cũng rất là thông cảm và tỏ ra săn sóc hỏi han nhiều hơn đến tôi và thường xuyên kéo tôi vào uống trà cà phê tán dóc với họ, sợ tôi nằm không rồi nghĩ ngợi.
Tuy nhiên ông Trời không bao giờ đóng cửa với bất cứ ai hay triệt đường sống của ai trừ phi đã đến số trời gọi về, hay nếu ông Trời có đóng cửa này thì sẽ hé mở ra một sinh lộ khác. Tôi thầy điều này đúng với trường hợp cá nhân tôi và một số bạn nữa trong tù.
Trại Hàm Tân là một trại giam khá đặc biệt vì có chung cả tù nam và nữ. Tù chính trị thì bên một khu và tù hình sự thì có cả nam và nữ thì một bên, và tuy giam riêng nam và nữ nhưng họ được phép làm quen nhau chứ không bị cấm đoán như những trại khác.
Buổi chiều sau giờ lao động thì bên hình sự cả nam lẫn nữ túa đầy ra sân trong những bộ quần áo thời trang nhiều mầu sắc nên cũng rất là nhộn nhịp và huyên náo.
Tôi thấy nhiều nữ tù phải công nhận là họ vừa trẻ vừa đẹp không biết mang tội gì mà vào đây, nghe nói đa số là biển thủ tiền bạc, hành nghề mãi dâm hay bị làm con vật tế thần cho cấp trên chạy tội. Hầu như ai cũng đều có đôi có lứa với nhau mỗi chiều ra ghế đá công viên ngồi thủ thỉ, sánh vai nhau ra căng tin mua đồ ăn thức uống cho nhau, nhìn cũng vui mắt.
Họ cũng rất thích làm quen và nói chuyện với các bác, các chú các anh bên tù chính trị nhưng sao tôi thấy lòng mình hình như đã nguội lạnh từ lúc nào và tưởng rằng mình sẽ chẳng còn bao giờ rung động nữa cho đến ngày mà tôi đi ra thăm nuôi cùng hai chục người trong đó có các anh Đảo, Di, Thân và Giai và ra gập phái đoàn đến thăm trong đó tình cờ có một người con gái Sàigòn tên Phượng.
Sau khi Phượng đến thăm tôi vài lần thì tôi nghĩ rằng ông Trời đã cho Phượng đến gập tôi như một niềm an ủi để xoa dịu nỗi đau sâu kín trong lòng của mình.
Hầu như mỗi tháng Phượng đều đến thăm, lúc thì đi theo một hai chị nào đấy cho có bạn, có lúc thì đi một mình vì như nàng nói khi nào rảnh và có dư tiền là nàng lên thăm ngay không để tôi phải chờ mong tội nghiệp.
Tôi nói nàng chỉ cần lên tay không thôi vì chủ yếu là tôi cần gập nàng, nhưng Phượng không chịu, lúc thì mua bánh cuốn nhân thịt, giò chả, lúc thì các loại xôi bánh giò bánh dầy.
Được cái là từ khi vào Nam thì việc thăm nuôi không còn khắt khe trong nguyên tắc ba tháng thân nhân đến một lần như ở ngoài Bắc thời gian đầu, mà có thể một tháng ba lần nếu có khả năng.
Có một điều tôi không ngờ là Phượng đã xua đi được bao nhiêu là bóng tối trong tôi, nàng như một tia nắng ban mai, một nụ cười trong trẻo hồn nhiên, một ánh mắt nhìn nhau đăm đăm không lời; và tôi đã tìm thấy niềm vui trở lại trong hoàn cảnh thật là đặc biệt.
Có khi tôi hỏi nàng làm gì mà có tiền sinh sống vì như nàng nói người chồng HQ Thiếu Tá bên Mỹ đã lấy vợ khác và đến khi về Việt Nam thăm Phượng cũng không giúp đỡ được gì, thì nàng chỉ cười và nói rằng cuộc sống bên ngoài bây giờ cũng dễ thở hơn trước và giòng người ra đi vượt biên cũng hầu như không còn nữa.
Thế rồi bỗng nhiên hai tháng tôi không thấy Phượng đến thăm ngoài một hai lá thư nói tôi cứ yên tâm nàng vẫn khỏe làm tôi vô cùng băn khoăn.
Cho tới một ngày đang nằm ngủ trưa trên cái sạp gỗ ngoài lán chờ giờ lao động buổi chiều thì tôi nghe tiếng lóc cóc xe đạp của anh Lộc phụ trách thăm nuôi báo là có tên tôi, và trên đường đi bộ về trại để thay quần áo thì anh Lộc nói nhỏ với tôi người thăm tôi hôm nay là Phượng. Bởi sau mấy lần Phượng lên thăm tôi thì hai anh phụ trách ngoài đó là Lộc và Trí đều biết mối tình của tôi và Phượng.
Tôi rất mừng nhưng trong khoảng một tiếng đồng hồ chờ tất cả các bạn và bên hình sự nữa tập trung xong để đi ra tôi thấy thời gian thật dài và không biết làm gì cho hết giờ.
Lúc gặp lại Phượng trong nhà thăm nuôi tôi thấy nàng ốm hơn trước nhưng vừa thấy tôi là nàng nở ngay một nụ cười thật tươi và đưa cho tôi giỏ đựng đồ ăn mà nàng mua cho.
Tôi đưa Phượng đi dạo dọc theo khu nhà mái tranh bên con suối nơi mà tôi đặt tên cho nó là con đường tình của hai đứa.
Phượng nắm nhẹ cánh tay tôi:
-“Em nhớ anh lắm anh biết không?”
-“Nhớ sao hai tháng nay không thấy em đâu? Làm anh lo quá chừng, em có khỏe không?”
Nàng lắc đầu nhưng hai mắt nhìn ra dòng suối:
-“Cảnh ở đây tuy tĩnh mịch nhưng đẹp quá anh nhỉ? Giá mà mình có thể cất một căn nhà nhỏ ở đây?”
Tôi nắm lấy tay nàng và hai đứa đi chầm chậm, tóc nàng bay lòa xòa qua vai tôi. Con đường thật vắng lặng vì chưa có gia đình nào dọn vô những căn nhà tranh xinh xắn đó hôm nay.
Các hàng cây to rợp bóng mát ngả những tàng cây như muốn soi bóng mình trên con suối. Lâu lâu một cơn gió thổi qua hàng cây và những chiếc lá khô từ từ bay trong gió là là xuống ngay chân hai đứa chúng tôi:
-“Mấy hôm ở Sàigòn, em có nhớ con đường này không?”
Tôi quay qua nhìn Phượng, chợt thấy mắt nàng long lanh hai giọt lệ từ lúc nào. Tôi vội lấy khăm mùi xoa ra thấm và kéo nàng ngồi xuống một ghế đá bên cạnh con suối:
-“Đừng khóc nữa, anh gập được em như thế này là anh mừng lắm rồi. Các bạn anh cũng gửi lời hỏi thăm em đó. Có chuyện gì nói cho anh nghe?”
Linh tính báo cho tôi biết một cái gì bất thường nhưng tôi chưa mường tượng ra được.
Nàng lắc đầu rồi vội mỉm cười nhìn tôi, móng tay bấu vào tay tôi nói lảng qua chuyện khác:
-“Anh hỏi những câu thừa quá, nếu em không nhớ anh không nhớ con đường kỷ niệm này thì hôm nay em đâu có ngồi với anh ở đây? Chắc là em có nợ với anh đó, ở Sàigòn cũng nhiều người theo đuổi em mà không hiểu sao em không thích họ được, trong khi anh ở tuốt trong này mà anh có tán tỉnh gì em đâu mà em lại thương?
Hôm nọ đang làm cơm xắt trái chanh nhớ đến lúc lên thăm anh ở đây rồi em cắt trúng ngón tay. Anh à! không hiểu anh có cái gì làm cho em cứ nghĩ về anh hoài, thương anh và cả tội nghiệp cho anh nữa? Mình quen nhau mới chưa đầy nửa năm mà sao em thấy như em đã quen anh từ rất lâu rồi? Ở trong con người anh có cái gì đó, có thể là tâm anh thật tốt, và hoàn cảnh anh bị bỏ rơi nữa, nên đã làm cho em xúc động và rất là tin nơi anh. “
Tôi đang nhìn ngón tay đã lành của nàng, nghe Phượng nói trong lòng tôi dâng lên một niềm xao xuyến và bồi hồi, bất giác tôi kéo Phượng vào vòng tay. Hai đứa ngồi bên nhau rất lâu trên ghế đá nhìn xuống con suối hôm nay đang chảy thật chậm nên nhìn rõ suốt tới đáy, một vài con cá lượn lờ, không gian và thời gian hình như đứng lại trong phút chốc cho hai tâm hồn vừa tìm đến nhau trong cảnh ngộ đầy éo le.
Con đường hôm nay không một bóng người, có thể các đội đã vô thung lao động ở xa, chỉ nghe tiếng lá rừng xao xác và con đường chiều rợp bóng mát chạy mãi vòng vèo theo con suối đến nơi nào? Tôi có cảm giác như hai người đang đi lạc vào một khu rừng hoang dã trên một hòn đảo nào đó.
Thời gian ở ngoài Bắc khi đi theo đội ra bưu điện Ba Sao để lãnh các bưu phẩm của gia đình gửi vào cho các người tù thì tôi cũng bắt gập một tình cảm thật nhẹ nhàng. Chúng tôi thường ghé vào một quán bên đường để uống nước trước khi kéo xe tải hàng về trại.
Một thời gian sau, không ngờ là cô cháu bà chủ quán lại để ý thương tôi mà tôi không hay cho đến khi sắp rời miền Bắc để theo con tầu xuôi về phương Nam thì tôi mới cảm nhận được mối tình đẹp như trong tranh đó của Thái, cháu bà chủ quán trong lần Thái vào trại tính thăm tôi vào một buổi chiều có gió heo may cuối Thu năm nào.
Nhưng so ra thì đó chỉ là một mối tình thoảng qua như cơn gió mùa Thu còn Phượng đây đang đến với tôi trong những tháng ngày qua mới là món quà mà ông Trời ban xuống cho người tù đã quá đọa đầy
Phượng là một người phụ nữ đã từng trải qua nhiều đau khổ và đổ vỡ thì tôi tin chắc chắn rằng nàng sẽ đem lại cho tôi được hạnh phúc sau này vì chính tôi cũng có cảm giác như đã thân thương từ lâu với người con gái có từ tâm này.
Bóng chiều đã xuống từ lâu và ánh nắng nhạt phai chỉ còn sót lại ở cuối dòng suối lăn tăn như những giải lân tinh vàng vỡ ra từng mảnh.
Giống như những lần trước, tôi nhìn đồng hồ, đến giờ đưa nàng ra căng tin để lên xe đò trở về rồi. Nàng không nhìn đồng hồ nhưng hỏi tôi:
-“Mình đi chưa anh?”
Nhìn quanh vẫn một hoang vắng đến heo hút tôi kéo Phượng lại và trao nàng cái hôn vội vã, nàng ôm lấy tôi trong giây lát như không muốn buông rời.
-“Mình đi nhe em?”
Hai đứa tôi sánh bước bên nhau chầm chậm như muốn níu kéo lại thời gian. Con đường tình hôm nay sao thật buồn, tôi dìu nàng bước lên chiếc cầu gỗ bắc ngang con suối để vào căng tin.
Mọi người đang chuẩn bị chờ xe đò ghé vào để ra về.
Chiếc xe đò quen thuộc ghé lại ngoài cổng của khu thăm nuôi và mọi người lục tục lên xe.
Phượng nắm tay tôi ra mấy bực thềm rồi quay lại nhìn tôi rất lâu:
-“Anh nhớ giữ gìn sức khỏe nhe! Em sẽ viết thư cho anh.”
Tôi nắm lấy tay nàng các cảnh vật chung quanh hình như mờ dần. Chúng tôi chia tay nhau kẻ ở người đi.
Lúc đó tôi mới thấy thấm thía cái cảnh chia ly mà tôi đã đọc nhiều lần trong tiểu thuyết và trong thơ ca.
Nàng vẫn thái độ từ tốn thân thương ấy bước lên xe đò.
Nàng quay lại vẫy tay tôi miệng mỉm cười mà mắt ngấn lệ.
Lúc đó tôi mới chợt thấy lạ vì mọi khi trước lúc ra về nàng luôn nói là sẽ lên thăm tôi nữa nhưng lần này sao lại khác?
Tôi đâu ngờ rằng đó là lần chót nàng đến thăm tôi vào một buổi chiều cũng vào cuối Thu nhưng ở miền Nam.
Không rõ hai chữ “thăm nuôi” có từ bao giờ và từ đâu, nhưng có điều tôi biết chắc chắn rằng trong trại giam họ không thích chúng tôi sử dụng hai từ ngữ này.
Lý do rất dễ hiểu như họ giải thích là: “Nhà Nước đã nuôi các anh đầy đủ và cho gia đình đến “thăm gặp” các anh mục đích là để “động viên” cho các anh lên tinh thần và…lao động tốt hơn để sớm được đoàn tụ”.
Họ nói một cách rất là thuộc bài bản, rất ư là tự nhiên và có vẻ như là tự hào nữa về cái chế độ “tập trung cải tạo” và về vấn đề cho phép gia đình đến “thăm gặp” trước hàng trăm tù nhân chính trị mà thân hình chỉ còn hơn que củi và quần áo không vá trên thì vá dưới nhưng những nét tinh anh trong con người họ thì vẫn chưa biến mất sau nhiều năm trong ngục tối và hành xác.
Lúc đó là đầu năm một chín bẩy chín khi lệnh cho thăm nuôi chính thức được loan báo sau một biến cố quân sự. Vì quyền lợi đôi bên đụng chạm với nhau tại Campuchia nên hai thầy trò Trung Cộng và Bắc Việt đã choảng nhau một trận nên thân tại sáu tỉnh biên giới Việt Trung, mà kết quả là một số đất của cha ông chúng ta đã lọt vào tay Trung Cộng vì kẻ thù muôn đời phương Bắc đã dời cột mốc sâu hơn vào lãnh thổ VN khi tiếng súng vừa ngưng.
Miền Nam thì được thăm nuôi sớm hơn có lẽ vì gia đình gần hơn; hay là vì các tù nhân chính trị trong Nam không bị coi là thành phần nguy hiểm nhiều hơn hay “tội với cách mạng và nhân dân” nặng như các tù nhân đã bị đưa ra Bắc kể từ năm một chín bẩy sáu thì cũng không hiểu được.
Có một niềm tin mà không lay chuyển trong tôi là có một sự mầu nhiệm nào đó của Ơn trên đã xui khiến cho cái cánh cổng sắt nặng nề và hắc ám đó của trại giam phải mở ra cho thân nhân của các tù nhân chính trị vào thăm để tiếp tế cho họ kịp thời. Bởi lẽ nếu chậm hơn nữa thì không rõ tôi và các bạn tôi có còn đủ sức đi nữa trên con đường lưu đầy khổ sai hay không?
Cộng Sản miền Bắc họ muốn chúng tôi phải trả một cái giá thật đắt để trả thù lại việc đã chiến đấu chống lại họ trước kia cho nên chỉ được cấp cho một khẩu phần ăn ít ỏi để phải chịu đói rét quanh năm và đói khổ ngày đêm nhưng không thể chết được mà sống lây lất để còn làm ra của cải cho trại qua những hình thức lao động quá sức người.
Nhiều tù nhân sau vài năm không chịu nổi những giá lạnh rét mướt và đói khát bệnh tật thì đã đều lên nằm yên nghỉ trên ngọn đồi nghĩa trang, hay đang nằm tại bệnh xá của trại trong tình trạng không thuốc men và dinh dưỡng nên cũng đang chờ Thần Chết đến để “thăm gập”.
Bởi thế, phải mở cửa sau bốn năm giam cầm cho gia đình đến thăm thì thực tâm họ không muốn đâu nhưng bàn tay Trời Phật đã ban xuống để cứu lấy những người tù.
Tuy nhiên có những người tù đã không còn đủ hơi sức để chờ đợi người thân đến thăm, và nhiều chị khi đến trại thì mới hay là chồng mình đã qua đời. Trong niềm đau tột cùng đó, chị đã cắt mái tóc của mình vùi sâu trên mộ phần của chồng để “anh không còn lạnh lẽo nơi hoang vu này vì có một phần của em nằm bên anh”, và trong tiếng gió chiều vi vu qua rừng cây vắng lặng của núi rừng trùng trùng điệp điệp miền Bắc, hình như Trời cao và cũng chẳng có ai thấu hiểu nỗi tang tóc đau thương vụt đến của mình, người phụ nữ nhỏ bé đơn côi đã chít khăn tang cho con rồi bái biệt ra về.
Có chị rất là bình tĩnh, không khóc mà ghi lại hết lại các chi tiết và quỳ xuống khấn nguyện sẽ có một ngày quay lại để đem anh về miền Nam ngắn ấm và được chôn cất bên những ngôi mộ của người thân – để anh không còn cô đơn giá lạnh nơi rừng thiêng nước độc.
Những tình cảm thủy chung đó, hình ảnh những người vợ từ trong Nam ra Bắc, vất vả ngược xuôi thăm chồng ba ngày đêm trên xe lửa cũ kỹ, phải băng rừng lội suối bao gian nan để đến bằng được trại giam thăm chồng với những thứ thực phẩm, vật dụng mà cán bộ họ chưa bao giớ trông thấy, đã từ từ thay đổi cách nhìn của họ với người tù chính trị và họ cũng không dấu được sự kính nể đối với các người vợ tù.
Sự mở cửa cho thăm nuôi chính là luồng gió mới trong lành mà Trời Phật đã ban cho để xua đi bớt những tăm tối u minh ám chướng của trại giam; và sự hận thù của kẻ chiến thắng và những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc với tù chính trị cũng dần dần phai nhạt như một điều thực sự là huyền diệu.
Cuộc đời tù tội của những người tù chính trị chế độ cũ đang bước sang một chương mới dễ thở hơn.
Các trại giam cho thăm nuôi thì thời khóa biểu có thay đổi khác nhau do quân đội hay công an “quản lý”, từ những liên trại trên Hoàng Liên Sơn, xuống đến Vĩnh Phú, xuống đến Hà Tây, Nam Hà, Thanh Cẩm trong Thanh Hóa, nhưng tựu trung thì khoảng cuối năm một chín bẩy tám đầu bẩy chín, tức là khoảng bốn năm sau khi bước chân vô trại tập trung thì chúng tôi ngoài Bắc bắt đầu biết thế nào là thăm gập gia đình.
Người mà đầu tiên đến thăm tôi trong trại giam lại là chị Liên, một bà chị họ con bác ruột tôi mà gia đình thường gọi là bác Phán ở Hà Nội, chị là người mà ngày xưa vẫn thương tôi nhất trong các anh em. Các anh chị và hai bác vẫn mang một cái ơn của Ba Mẹ tôi khi mà năm 1954 di cư vào Nam thì Ba Mẹ tôi đã để lại hết tài sản kể cả ngôi dinh thự trên đường Cầu Đất tại Hải Phòng cho hai bác và các anh chị trông coi. Nhờ thế mà gia đình bác tôi mới có tiền sống sót được sau khi Hiệp Định Genève chia hai đất nước.
Chị đã khéo léo gửi một lá thư cho tôi biết là Mẹ tôi nhờ chị vào trước xem tôi ra sao và chị cho tôi biết là chị đã già rồi và không còn đẹp như ngày xưa nữa để tôi chuẩn bị tinh thần, nhưng khi đi ra gập chị thì hình ảnh của một thiếu nữ đẹp đẽ duyên dáng của Hà Thành ngày xưa ấy giờ là một bà lão già gầy ốm da mặt đã nhiều nếp nhăn dù là chị chỉ vào khoảng ngoài năm mươi mà thôi. Cuộc thăm viếng ngắn ngủi ấy đã để lại lòng tôi nhiều chua sót và ngậm ngùi khi thấy rằng chị tôi cuộc sống cũng không đến nỗi quá kham khổ mà còn biến đổi nhanh chóng như vậy thì người dân ngoài đó họ đã khổ cực và lam lũ như thế nào dưới cái chế độ mới sau năm 1954?
Lúc tôi vào trại và đổ hết ra xem các thứ bà chị mua cho lên chiếc chiếu ở từng trên thì một anh bạn lò đầu lên hỏi tôi cái gì cũng không nhớ, tôi đưa cho anh một gói mì gói. Sau này anh cứ thắc mắc hỏi là làm sao tôi biết anh đang thèm gói mì, tôi trả lời là quà thăm nuôi của tôi lần đầu ấy chỉ lỏng chỏng những gói mì, vài bao thuốc lá và các cube súp bò để nấu canh, đâu biết cho gì khác, vả lại đang đói thì cái gì làm cho ấm lòng như gói mì là đáng giá nhất.
Đầu năm bẩy chín khi đó đã vào đầu mùa Xuân nhưng vẫn còn rất lạnh , tôi đang ở đội gạch và ngày ngày vẫn cùng với các bạn tù vật lộn với những tảng đất sét, đứng lao động ngoài trời nơi đồng không mông quạnh phơi mình trong từng cơn gió, và nhờ Trời không hiểu sao tôi và các bạn tôi vẫn còn sống.
Chúng tôi cố tưới nhiều nước cho các tảng đất sét cứng như đá đó mềm bớt đi rồi mới dùng chân trần mà đạp từ từ lên cho đến khi nó mềm nhũn ra thì mới sang mai được thành từng bánh để cắt cho ra thành từng cục gạch ướt mà phơi cho khô mới gánh vào lò nung, và hai vai cũng bắt đầu quen với đòn gánh không còn đau ê ẩm nữa.
Khi đi lao động, tôi thường thủ trong túi các cục kẹo mà bà chị vừa cho và chia cho các bạn mỗi người một cục để vừa ngậm vừa tán dóc, trong không khí lạnh buốt của một ngày trời u ám không một ánh nắng, vừa đạp đất vừa kể chuyện ngày xưa khi đi uống cà phê Brodard, Givral, hay ngồi quán kem Mai Hương, đi dạo phố Bô Na như thế nào ở Sàigòn. Các anh đại úy như Trung, Thế, Tâm, Cảnh, hay anh Trãi, Quốc Gia Hành Chánh, có khi anh Võ, và cậu Út tăng phái cho tổ đất, đều là những người kể chuyện có duyên lôi cuốn làm cho chúng tôi vừa lao động mà quên bớt đi nỗi nhọc nhằn.
Sau này có nhiều anh cũng được gia đình thăm nuôi nhưng nói rằng chưa bao giờ trong đời được ăn một cục kẹo ngon đến như thế và hỏi tôi xem bà chị mua ở đâu. Tôi chỉ nhìn rồi không nhịn được cười bởi vì nó cũng chỉ là một loại kẹo tầm thường bán tại Hà Nội còn thua xa kẹo Sàigòn nhưng vì lúc đó trong người thiếu đủ thứ chất béo, chất ngọt và chất bột nên ăn thấy quá ngon mà thôi, thậm chí chỉ ngậm cho đến khi nó tan từ từ mà không dám cắn nó vỡ ra sợ mau hết.
Khi tôi đang đạp đất, chân lấm tay bùn thì nghe tin báo là Mẹ và em gái tôi từ trong Nam ra thăm. Cảm giác lúc đó thật là khó tả, tôi đứng ngây người xúc động trên đống đất sét. Các bạn tôi thì phát vào vai dục đi rửa tay chân vào trại chuẩn bị ra thăm. Có anh chỉ vào hai mắt ra dấu là đừng khóc trước mặt họ. Tôi gật đầu rồi vội vã vào trại thay quần áo.
Ra tới khu thăm nuôi, tôi được cho biết là thời gian thăm là 15 phút. Mẹ tôi có hỏi là đi từ Nam ra Bắc ban ngày trên xe lửa, qua một đêm chờ đợi mà vào gập con có 15 phút sao thì tay phụ trách thăm nuôi chỉ trả lời vỏn vẹn là:
-“Đó là lệnh trên đưa xuống”.
Nhìn Mẹ tôi tóc đã ngả mầu sương và bàn chân thì bị sưng vì vấp thanh sắt trên tầu, tôi cố ngăn giòng nước mắt cứ chực tuôn ra và vội vã hỏi thăm gia đình. Mẹ tôi và em gái tôi ngồi một đầu bàn, tôi một đầu và tay cán bộ ngồi giữa nghe hết các lời đối thoại nên không nói gì được nhiều.
Lợi dụng lúc Mẹ tôi đến chỉ các thứ đem ra cho tôi, tôi nắm lấy tay Mẹ:
-“Mẹ à! Con không muốn Mẹ ra thăm con nữa, Mẹ cứ gửi quà các thực phẩm khô qua bưu điện được rồi.”
Mẹ tôi chỉ tay qua bàn bên cạnh và nói rằng chị vợ đang nói chuyện với chồng, tối qua cũng ở ngoài khu thăm nuôi này và bị trúng nước tiêu chẩy nằm luôn không ngồi dậy được, may mà Mẹ tôi có đem theo thuốc và chai dầu cù là nên chị đã tỉnh lại sáng nay.
Tôi thầm cám ơn Mẹ đã giúp đỡ nhưng người đồng cảnh ngộ bởi vì đã xẩy ra nhiều trường hợp người vợ ngã bệnh ngay tại khu thăm nuôi và qua đời khi chưa được nhìn thấy mặt chồng sau bao năm xa cách vì tình trạng vệ sinh tồi tệ tại khu thăm nuôi, hay người vợ ngã bệnh trên đường trở về sau khi gập mặt chồng.
Tôi cám ơn Mẹ và em gái rồi quay người vào trại mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Khi vào đến cổng trại họ chận lại khám xét. tịch thu một số tiền “ngân” nói là sẽ cho mua hàng “căng tin” sau này, một số thuốc men, một số thực phẩm gia vị vì không được đem vào trong trại. Tôi lẳng lặng thu gom những thứ còn laị vào bao và xách vào buồng.
Luồng gió thăm nuôi như chiếc đũa thần đã giúp cho chúng tôi dần lấy lại sức mau chóng y như những cây khô được tưới nước đúng lúc và khi ra lao động chúng tôi nhìn nhau đã thấy có da có thịt và sức khỏe đang hồi phục.
Tôi nhớ một câu chuyện thăm nuôi đầy nước mắt là anh Cư, một đại úy truyền tin rất hiền lành chân thật của người sinh trưởng trong miền Nam, sau khi có vợ đến thăm thì tự dưng anh như người bị lãng trí, anh thường nói với anh em là anh đang ngày nào cũng đánh tín hiệu ra vũ trụ, anh cười cười chỉ tay lên trời. Hễ có ai hỏi gì thì anh lúc nào cũng trả lời “Yes” hết, khiến sau đó anh được mệnh danh là “Yes Man” luôn.
Quà cáp của vợ đưa cho anh hôm thăm nuôi, anh lấy ra phân phát hết cho tất cả trong buồng, anh nói là ăn một bữa no rồi cần gì giữ nữa, cho hết cho hết; cũng giống như tình trạng của một anh đại tá buồng bên cạnh sau khi nhận được gói quà của vợ gửi về từ Pháp thì anh như người điên chạy trong sân rồi vứt hết các thực phẩm kể cả thuốc men vào thùng rác. Các anh trong buồng biết anh Cư đã bị một cái gì “sốc” nặng lắm nên không còn tỉnh táo nữa cho nên thâu giữ dùm các quà gia đình mà anh đã phân phát để từ từ đưa lại cho anh dùng sau này.
Một hôm, anh lui cui nấu nước trong phòng tắm thì đám lính đi tuần tra trông thấy lửa bèn bất ngờ mở cửa buồng giam ban đêm xông vào hỏi anh đang làm gì thì anh trả lời rất là tự nhiên:
-“Tôi làm Đại Úy QLVNCH.” Anh em một số đang cùng nấu nướng với anh Cư cũng không nhịn được cười dù biết là bị bắt nấu nướng trong buồng giam là vi phạm nội qui của họ và sẽ bị kỷ luật.
Họ muốn hỏi anh nấu gì và đã vi phạm nội qui trại cấm nấu nướng nhưng anh cứ một mực nói là Đại Úy và không hiểu sao tối hôm đó họ lại bỏ đi.
Tuy nhiên không phải tất cả đều có được gia đình đến thăm bởi đường xá rất xa xôi và vì ngay tại “khâu” xin giấy tờ ở địa phương để ra Bắc thăm nuôi cũng đã là cả một vấn đề khó khăn rồi, chưa nói đến một chuyến đi như vậy rất là tốn kém, nên nhiều người vợ dù thương chồng và muốn đi thăm chồng nhưng không có khả năng tài chánh.
Trong hoàn cảnh thiếu thốn trong tù thì con người ta hay tìm ra những phương tiện để “cải thiện” sức khỏe. Thí dụ như nhờ vào những đồ hộp mà trong chúng tôi có anh đã phát minh ra chiếc lò dầu hôi để đun nước và nấu đố ăn, vừa nhỏ gọn lại dễ cất dấu hơn là nấu củi rất lích kích, và ban đêm khó mà dấu được ngọn lửa và khói trong phòng tắm và vệ sinh tỏa ra qua khung cửa thông hơi.
Anh Tính là người rất khéo tay và đã làm được nhiều chiếc lò dầu hôi này và anh có đưa cho tôi một cái, ban đầu tôi không lấy nhưng anh cứ bỏ lại chỗ tôi nằm, thấy vậy tôi bèn lại biếu anh một hộp cá. Anh mừng quá và nói:
-“Để tôi sẽ gửi về nhà!”.
Tôi rất ngạc nhiên tưởng mình nghe lầm vì thường là từ ngoài gửi vào trong tù chứ ai lại làm ngược đời như vậy:
-“Anh gửi về nhà?”
-“Đúng vậy! Để tôi cho anh xem cái này.”
Nói rồi anh lấy từ trong ba lô ra một lá thư của người vợ đưa cho tôi.
Trong thư vợ anh viết là chị không thể ra thăm anh được dù rằng rất mong muốn và các con anh cũng nhắc đến ba nó hoài bởi vì ở nhà đã hết gạo và chị đang bịnh không khỏe nên cũng không biết sẽ phải xoay sở ra sao.
Tôi nhìn anh, đầu anh hơi cúi xuống và hai con mắt như thất thần, hai mắt tôi tự dưng đỏ hoe với một niềm xúc động bất ngờ chợt đến dù là sau bốn năm tâm hồn tôi cũng phần nào chai đá rồi. Không biết ngoài anh ra thì còn bao nhiêu người tù khác hiện đang phải chịu đựng cảnh lưu đầy mà còn mang nặng thêm nỗi đau khôn nguôi của vợ con nheo nhóc ở nhà nữa, hai niềm đau cho một kiếp người?
Tôi kéo anh lại chỗ tôi nằm từng trên, mời anh một chung nước trà và đưa cho anh một ít đồ hộp, mì gói, và ít thuốc vitamins, ít tiền và nói anh hãy mau tìm bạn nào ra thăm để gửi ngay về cho chị và nếu tôi quyên thêm được sẽ đưa sau.
Một tháng sau, anh được thư gia đình và anh đến cám ơn tôi là món quà nhỏ đã về đến nhà kịp thời. Tôi rất mừng nhưng nhất là chỉ khoảng một thời gian sau thì anh có tên được tha ra về vì anh chỉ là cấp đại úy bộ binh. Tôi tin rằng ông Trời có mắt cho anh về kịp lúc để giúp gia đình đã quá túng quẫn.
Từ khi có thăm nuôi, chúng tôi được ăn mặc tươm tất hơn nhưng thời gian đầu họ bắt đóng dấu sơn hai chữ “cải tạo” đỏ lòm sau áo và quần.
Rồi có một vài tay tự giác vào tiếp xúc làm quen với chúng tôi, lúc đầu là bán trà móc câu hay trứng gà, dầu hôi,v.v., sau từ từ móc nối để mua lại các quần áo dân sự. Lúc đó tôi mới biết là người dân bên ngoài rất là thiếu áo quần, nhất là những bộ quần áo đẹp may trong Nam hay cả bộ Treillis rằn ri của lính VNCH cũ nữa thì họ cũng rất ưa chuộng vì đi rừng rất bền.
Khi mới ra tới miền Bắc còn chân ướt chân ráo thì bên hình sự khu B có lẽ bị đám cán binh trại xúi dục đã lên tiếng mắng chửi chúng tôi thâm tệ mỗi khi đi lao động ngang qua họ hay khi họ đi ngang qua khu A chúng tôi. Qua một thời gian liên lạc và tiếp xúc, tự dưng bên hình sự họ thay đổi hẳn cách xưng hô và tỏ ra kính trọng bên A chúng tôi nên nhờ Trời cũng dễ chịu hơn trong môi trường phức tạp đó.
Ngay cả dân làng ở các thôn xóm hai bên đường hay các thị trấn mà gia đình hay các chị tải hàng đi qua trên đường đến trại thăm chồng thì họ cũng không thể ngờ rằng miền Nam lại giầu có đến như vậy; và sự tuyên truyền về một miền Nam nghèo đói bị “Mỹ Ngụy” áp bức dần tan theo mây khói, nhất là khi thấy người miền Nam đều thật thà, giản dị nhưng nhiều tình cảm.
Mỗi lúc thăm nuôi vào trại, thủ tục bao giờ cũng phải qua cuộc kiểm tra tại cổng từng thứ một. Có lần Mẹ tôi gửi vào cho hai anh em tôi mỗi người một cái bật lửa gas thật đẹp và tiện lợi vì không cần xăng. Tôi thấy cặp mắt của tay trực trại tỏ vẻ thèm thuồng nhưng hắn sau đó ra dấu kiểm tra xong. Ngày hôm sau một tay tự giác bên B qua gập tôi và xin cái bật lửa cho tay trực trại. Tôi nghĩ là hai anh em dùng chung một cái cũng được rồi vì không cho là hắn kiếm chuyện đấy, nhưng chính tôi lúc đó không ngờ rằng cái bật lửa ấy đã cứu tôi một lần.
Số là anh tôi theo đoàn tù từ Hoàng Liên Sơn xuôi về miền trung du và hai anh em bất ngờ lại gập nhau trong cùng một trại giam nhưng ở hai khu khác nhau. Chúng tôi phải lao động sáu ngày một tuần, có khi Chủ Nhật họ cũng bắt đi lao động luôn gọi là “lao động xã hội chủ nghĩa” để tăng gia sản xuất; những chủ Nhật như thế thì không có gì chán nản hơn nhưng thân phận tù đầy đành phải chịu. Mỗi sáng Chủ Nhật được nghỉ trong trại không phải lao động thì anh tôi chờ mở cửa buồng bên ấy xong thì khi bên tôi mở là vù chạy qua để hai anh em có dịp nấu nướng ăn uống chung vì tôi biết nấu nướng chút ít và có lò dầu hôi, và chiều thì anh tôi lại vù về; thời gian chỉ trong vài phút, nếu chậm là cả hai cửa buồng đều khóa lại.
Một sáng Chủ Nhật, tôi đứng ngay cửa khu chờ mãi không thấy anh tôi qua, rất sốt ruột không biết anh tôi ra sao nên tôi đánh liều bảo mấy người bạn canh chừng dùm cho tôi chạy qua khu bên kia để đem thức ăn cho anh tôi.
Hai khu ngăn cách nhau bởi một cái sân rộng và hai bức tương, từ bên cạnh hai cái cổng sắt là văn phòng trực trại từ đó họ nhìn suốt chiều dọc cái sân nên không có gì qua mắt được họ.
Tôi liếc nhìn vào văn phòng trống trơn, có lẽ các cửa khu đều khóa kín nên họ đi chơi? Suốt dọc chiều dài cái sân lớn ấy không một bóng người, chỉ cần nhẩy khỏi bức tường bên này, chạy nhanh qua sân và nhẩy một bức tường nữa là vào khu anh tôi đang bị giam.
Hai người bạn hai bên tôi đều ra hiệu cho tôi là mọi việc thuận tiện.
Vì trước kia cũng có thời gian học Thái Cực Đạo và luyện tập thể dục nhiều nên tôi nhẩy xuống sân dễ dàng và đang định lấy đà chạy qua sân thì cổng trại nặng nề ấy tự dưng mở ra ken két và một cái nón cối bước vào. Tôi đứng như trời trồng và viễn ảnh sáng thứ Hai phải đứng trước hàng quân nghe bản án kỷ luật hiện nhanh trong đầu.
Cái nón cối kia từ từ quay lại nhìn thấy tôi, chưa biết sẽ phải biện hộ ra sao cho việc nhẩy qua tường này thì tôi nhận ra nón cối này là tay trực trại đã xin tôi cái bật lửa gas. có lẽ hắn cũng nhận ra tôi nên sau vài giây lưỡng lự thì không hiểu sao hắn quay lưng đi ra và đóng cánh cổng lại.
Hai tên bạn tôi lại lò đầu lên cho tôi nắm tay leo vào nhưng tôi khoát tay và chạy lẹ qua sân và nhẩy vào khu bên anh tôi để đem đồ ăn cho anh và ngồi hồi hộp chờ đến trưa khi họ mở cửa khu hai bên để phát phần ăn trưa thì mới vù về được.
Đến năm một chín tám ba thì một phần ba trại được lệnh di chuyển tù chính trị vào Nam trong đó có anh tôi và một số bạn thân của tôi, rồi tất cả còn lại thì nhổ neo khỏi Hà Nam Ninh về trại Ba Sao ở Nam Hà.
Các bà vợ tù lại lếch thếch cùng nhau đến trại Ba Sao để thăm chồng mình trong suốt năm năm trời tại đây khi mà chung tôi sau nhiều đợt thả chỉ còn vỏn vẹn chín mươi người trên toàn miền Bắc vào năm một chín tám tám.
Tôi nhớ không quên được của một anh trung tá được thả về từ trại Nam Hà viết thư vào cho tôi có đọan: “chúng tôi về với gia đình rất mừng nhưng rất thông cảm các anh còn ở lại quá ít ỏi. Chúng tôi dù mười ba năm trong tù cũng mới chỉ được huy chương Bạc, các anh còn lại mới xứng đáng là huy chương Vàng.”
Năm một chín tám tám, toàn bộ chín mươi người còn sót lại tại trại Nam Hà được lệnh vào Nam và tiếp tục “cải tạo” tại Hàm Tân Z-30D, nhưng các chị có chồng còn trong tù đi thăm đã được mọi sự dễ dàng đỡ mệt nhọc hơn vì từ Sàigòn ra Bình Thuận vào tới trại chỉ mất khoảng nửa ngày.
Hàm Tân tuy nằm trong khu rừng lá Buông và có núi đồi bao quanh nhưng thuận tiện vì gần đường Quốc Lộ và bên cạnh ngay một con sông với các nhánh chẩy xuyên qua trại róc rách ngày đêm nên mát mẻ và thời tiết hiền hòa hơn ngoài Bắc.
Trong bốn năm còn lại trong trại Hàm Tân từ một chín tám tám đến chín hai, có lẽ đó là thời gian đặc biệt nhất trong suốt cuộc đời tù đầy của tôi vì với một số lượng còn lại là một trăm năm mươi tư người tù cuối cùng so với hàng triệu người vào tù sau ngày mất nước một chín bẩy lăm, hình như ngoài cái lao động vẫn còn căng thẳng ra thì cách đối xử của các cán bộ trại nhất là tay trại trưởng Thiếu Tá Nhu là dành mọi sự dễ dãi cho tù chính trị.
Họ đã cho đem vào trại cả những băng cassette nghe nhạc kể cả những máy cassette radio, có thể đem bia và các sách tạp chí ngoại quốc vào nữa. Căng tin thì bán đủ loại cần thiết và đặc biệt là họ cho chúng tôi tiêu tiền mặt và gia đình đến có thể ở lại vài ngày trong khu nhà tranh rất mát ngay bên cạnh dòng suối.
Khi về đến trại Hàm Tân trong Nam, anh em chúng tôi đều thở phào ra nhẹ nhõm vì đã qua được một cửa ải khủng khiếp là mười hai năm lưu đầy khắp các trại giam từ vùng Thượng du xuống đến Trung du ở ngoài miền Bắc. Bốn năm tại Z-30D có lẽ cuộc đời tôi không bao giờ quên được vì nó chứa đựng bao kỷ niệm đau thương và êm ái vụt đến rồi vụt bay đi của những lần thăm nuôi.
Những kỷ niệm về thăm nuôi đáng ghi nhớ nhất là tại hai trại Ba Sao Nam Hà, thuộc Hà Nam Ninh và khi về miền Nam tại trại Hàm Tân.
Thời gian tôi ở trại Ba Sao, Nam Hà thì sinh hoạt đã cởi mở nhiều, vấn đề nấu nướng trước kia đụng tới là đi kỷ luật, nay đã thành sự thường tình và người người nấu nướng, buồng buồng nấu nướng. Nhất là sau khi trại mở cửa cho thăm nuôi thì mỗi chiều khi đi lao động về thì ai cũng vội vã nấu thêm một chút để “bồi dưỡng” và bếp lửa hồng reo vui ở mọi nơi.
Chính nhờ nấu ăn được thoải mái mà sức khỏe nói chung đều khá lên và có thêm sức chịu đựng được thêm những mùa Đông băng giá nữa giữa núi rừng thâm sơn cùng cốc ở miền Bắc.
Trước sân mỗi buồng đều rất rộng và trở thành phòng ăn lộ thiên cho từng nhóm hai , ba người quây quần ăn chung trước khi kẻng vào buồng, chỉ có nhóm của hai anh em ông Quy, Đại tá đội trưởng và anh Tấn Trung tá, là đông nhất với bẩy anh em kể cả anh Toan nghị sĩ, Thanh Thiếu tá, ông Hợp Đại tá, anh Tôn, vừa ngồi ăn vừa nói chuyện huyên thuyên cả một góc sân.
Ở đây cần mở ngoặc ra là một số anh em không biết từ bao giờ đã được đặt cho những biệt danh bởi một số anh dù là trong tù nhưng vẫn không bỏ được cái tính hay chọc phá của mình, và sau đó chúng tôi cứ quen gọi theo biệt danh mà nhiều lúc quên khuấy luôn cả tên thật của họ.
Thí dụ như một hôm tôi nghe đươc các anh báo tin về tình hình thăm nuôi hôm đó như sau: Cậu Ba ra thăm nhưng “Hốt Ổ”, “Tấn É” cũng ra theo, những người cùng ra khu thăm nuôi còn có “Gà Tre”, “Con Trâu”, “Y Trong”, “Cả Đẫn” và “Quách Tĩnh”.
Cậu Ba là ông Quy, Tấn É là em ông Quy để phân biệt với “Tấn Bầu” thuộc Phủ Đặc Ủy, Hốt Ổ là Thanh, Gà Tre là Sơn Thiếu tá cảnh sát đặc biệt, và Y Trong là anh Trọng Thiếu tá quận trưởng, Cả Đẫn là anh Đệ Đại úy và Quách Tĩnh là anh Tĩnh Đại úy cảnh sát.
Ông Quy có gia đình bên Pháp và là một trong những người có thực lực nhất về phương diện thăm nuôi. Ông cũng rất khéo trong xã giao, giống như một số anh em có thăm nuôi khác, cho nên nhờ thế mà không khí trong trại cũng từ từ được để cho thoải mái hơn.
Không những các cán bộ trại mà cả các cán binh cũng ra vào trại thường xuyên để uống cà phê, uống trà, hút điếu thuốc với các tù nhân chính trị và khi đi ra cũng không quên dắt trên vành tai một điếu thuốc nữa. Họ rất là mê cà phê phin và thuốc lá ngoại quốc nhất là ba số năm.
Một trong những kỷ niệm khó quên là khi tất cả các trại tụ hội lại tại Nam Hà năm một chín tám ba thì để đánh dấu cho sự hội tụ này một buổi “đại nhạc hội” đông nhất từ trước đến nay trong trại giam quy tụ cả hàng trăm người ngồi đầy trong sân và cả trong buồng nữa, đã được tổ chức thành công ngay trong sân của buồng giam số Một với bánh kẹo trà thuốc đầy đủ không thiếu gì nhờ các anh mới có thăm nuôi yểm trợ.
Buổi sáng đó vào ngày Chủ Nhật, ban nhạc có đủ trống, ba cây đàn ghi ta và và đầy đủ mặt anh hào trong làng văn nghệ như anh Quí Lùn Đại tá, Bửu Uy, ca sĩ hát được ba thứ tiếng, “Y-Trong”, và một nhân vật rất tài hoa là anh Hiến Đại úy Biệt Động Quân vừa là nhạc sĩ vừa ca sĩ – người đã sáng tác những bài hát bất hủ trong tù như “Chuyến Tầu Xuôi Phương Nam”, “Biệt Động Quân”, v.v.
Các bài hát ngày xưa và các bài về di tản của nhạc sỹ Nam Lộc và Việt Dũng như “Người Di Tản Buồn”, “Món Quà cho Quê Hương” được trình bầy xen kẽ với các bài sáng tác trong tù đã đem lại một niềm vui bất ngờ, một cái gì thật hào hùng hòa lẫn vào với những xúc động của thân phận tù đầy, và tiếng ca tiếng đàn như bay vút lên đến từng mây xanh trên Trời.
Buổi đại nhạc hội đó đã thành công ngoài dự tính và có điều lạ lùng là suốt buổi sáng hôm ấy không thấy bóng dáng một tay “chèo” nào – tiếng anh em vẫn gọi các cán bộ trại – xuất hiện vào trong các buồng.
Chỉ vài ngày sau thì khoảng phân nửa trại bên tù chính trị được lệnh chuyển vào miền Nam và trại đã thưa vắng hẳn đi. Trong chúng tôi còn ở lại, tuy không nói nhưng ai cũng vẫn còn luyến tiếc buổi ca hát đó; nhưng phải công nhận một điều là sự thành công ấy đã nhờ một phần vào phương tiện do thăm nuôi đem lại nên được trang bị với nhiều loại nhạc cụ đầy đủ.
Nam Hà là nơi để lại nhiều kỷ niệm nhất về thể thao, không hiểu bắt nguồn từ đâu mà một nhóm cán bộ trẻ và chịu chơi mà anh em thường gọi chung là “chèo” từ ngoài vào trong trại và dùng cái sân rộng giữa hai khu trại giam làm sân đá bóng.
Rồi sau đó bất ngờ hình thành những trận “đọ sức” giữa đội tù chính trị bao gồm những anh em tương đối trẻ sau thời gian được thăm nuôi đã lấy lại phong độ như Bích Thiếu tá không quân, Hóa Trung úy người về từ tầu VN Thương Tín, Thân tự giác, Chí “nhỏ” Phục Quốc đang làm trật tự, các anh trong bếp và bên Văn Hóa để đấu với nhóm “chèo” đó, và anh Phạm Bá Hoa Đại tá bên Văn Hóa làm trọng tài.
Anh em chúng tôi ùa ra để cổ vũ đội nhà. Cứ một hai tuần lại có một trận đá banh rất hào hừng để “phục thù” vì hai bên hầu như ngang ngửa dù là bên tù chính trị nhiều anh tuổi tác cao hơn bên “chèo” nhưng không vì vậy mà bị thất thế và phía bên “Chèo” cũng không làm sao mà áp đảo được. Sau cả năm trời thi đấu “giao hữu” với nhau, cuối cùng hai bên đều công nhận là không mèo nào cắn mỉu nào và chấp nhận hòa.
Tuy nhiên trong con mắt chúng tôi thì đội nhà đã thắng oanh liệt trên phương diện tinh thần.
Các trận đá banh ấy cũng góp phần vào củng cố lại uy thế cho những người tù chính trị đối với các cán bộ, khu gia binh của họ và ngay cả bên tù hình sự nữa. Tôi và một số bạn chẳng biết đá banh nhưng trận nào cũng có mặt để cổ vũ đội nhà đến khan cả cổ.
Nhưng trận đấu banh volley biểu diễn trong sân trại mới làm cho hầu như toàn thể các cán bộ trại họ nể vì nhất, bởi lẽ họ tưởng là chúng tôi không biết gì về các bộ môn thể thao này, cho nên đã thách đấu qua các trận đá banh rồi họ kéo vào sân trại, tay đóng cọc tay dựng lưới lên biểu diễn đánh volley ball.
Một hôm, anh em mới thúc anh Tuấn là cầu thủ dự bị hạng C về volley ball trong thời VNCH ngày trước ra biểu diễn; và anh Tuấn chấp sáu tay “chèo” một bên và chỉ mình anh một bên và đã thắng họ một cách dễ dàng trước những con mắt không dấu được sự thán phục của bên hình sự và cán bộ trại.
Hoặc như anh Xuân, Đệ Tam Đẳng Thái Cực Đạo và là Đại úy huấn luyện viên Cảnh Sát Quốc Gia một hôm nhân ngày lễ của họ đã biểu diễn cho một tay đô vật trong vùng tha hồ muốn khóa anh như thế nào thì khóa. Anh cứ nằm yên trên đất và chỉ một loáng sau là anh gỡ được và thoát ra khỏi hai tay như gọng kìm của anh chàng đô vật đó. Sau khi thử hai ba lần cuối cùng anh chàng đô vật cúi mình chịu thua trong sự nể phục, vì họ không ngờ trong Nam có những người võ nghệ giỏi như vậy.
Các tin tức thể thao về đá banh, volley ball trong trại lại được chính những tay cán bộ trẻ và chịu chơi này trong lúc trà lá đã phổ biến cho họ hàng và dân chúng ngoài mãi tận thị xã Phủ Lý.
Những hoạt động thể thao vui chơi trong những ngày Chủ Nhật được nghỉ lao động, nhìn bề ngoài chỉ như là cho qua ngày đoạn tháng nhưng trên thực tế đã giúp cho uy tín của bên tù chính trị lên rất cao vì đó là một giai đoạn rất quan trọng đánh dấu sự phục hồi của người tù cả về thể lực lẫn danh dự sau gần mười năm bị giam giữ mất Tự Do, bị tước hết nhân phẩm.
Đây cũng là một cái mốc cực kỳ to lớn đánh dấu sự cáo chung và thất bại thảm hại của các âm mưu nham hiểm của kẻ thù muốn từ từ tiêu diệt hết các tù chính trị là giai cấp tiểu tư sản chế độ cũ trong tù bằng hành động vô nhân đạo là bỏ đói họ và bắt lao động khổ sai cho đến chết nơi rừng thiêng nước độc trong mười năm qua.
Âm mưu nham hiểm ấy được công khai thi hành khi năm một chín bẩy sáu lúc vừa chiếm xong miền Nam chưa bao lâu thì họ đã bằng mọi phương tiện di chuyển ngày đêm hàng trăm ngàn tù nhân từ Nam ra miền Bắc một cách bí mật để cách ly các tù nhân này ra khỏi gia đình và xã hội miền Nam.
Ẩn dấu đằng sau của cái “chính sách khoan hồng nhân đạo” lùa hàng triệu người trong quân dân cán chính của chế độ VNCH cũ vào hết trong “tập trung cải tạo” là ý đồ của họ nhằm tiêu diệt giai cấp tư sản trong chế độ cũ, và mục đích đó đã chỉ thành công được một phần mà thôi.
Họ đã thành công trong việc vừa cô lập hàng triệu người này trong tù, tách họ ra khỏi gia đình và xã hội, vừa cắt đứt con đường sinh sản của thành phần “kẻ thù của giai cấp” này, trong khi đồng thời thẳng tay san bằng các lực lượng đối kháng trong miền Nam như họ đã làm tại miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954.
Họ đã thành công một phần những năm đầu chiếm đóng miền Nam trong việc đàn áp, kỳ thị, và tiêu diệt gia đình của những tù nhân này ngoài xã hội bằng cách đầy đọa đi vùng kinh tế mới, tịch thu nhà cửa, tài sản, khủng bố tinh thần, cấm con cái “Ngụy” học lên đại học, từ chối không cho việc làm, v.v., nhưng Ông Trời có mắt.
Những tù nhân bị lưu đầy khổ sai đã không bị tiêu diệt vì gia đình họ Trời Phật đã mở đường cho đến thăm nuôi kịp lúc và xui khiến cho gia đình họ ở nhà đã xoay sở và bươn chải được sau một thời gian ngộp thở dưới sự cai trị tàn bạo của chế độ mới xã hội chủ nghĩa.
Vợ con, cha mẹ, anh chị em của họ vẫn nhớ thương họ và giữ gìn bao bọc lẫn cho nhau nên nền tảng giá trị và căn bản gia đình từ thời cêế độ cũ đã không bị hủy diệt.
Âm mưu cực kỳ sâu độc của kẻ chiến thắng đã thất bại trước những tấm lòng trung kiên của vợ con họ ở nhà, và của chính họ trong bốn bức tường vây hãm của trại giam. Bởi vì sau thời gian đầu mới vào trại giam ai cũng như đám bèo bị đánh trôi dạt khắp nơi nhưng từ từ vài năm sau những cánh bèo đó đã hội tụ lại, trụ lại được thành một khối, đoàn kết lại với nhau và tương trợ lẫn nhau nên đã sống sót và tồn tại.
Bởi thế những người tù nào ở ngoài Bắc đã đi qua ngưỡng cửa của trại Ba Sao Nam Hà hay sau năm một chín tám tám còn bị giam tại trại Hàm Tân trong Nam là những người đã sống và trải qua những năm tháng lịch sử của chương bi hùng ca “tập trung cải tạo” khi mà những người tù chính trị đã lật ngược lại được thế cờ.
Từ khi các trại mở cửa cho thăm nuôi, thấm thoát mà gia đình đi thăm từ Nam ra Bắc đã được bốn năm rồi, nhưng chỉ khi tù nhân ở các trại khác ngoài Bắc đồng loạt được chuyển về hội tụ tại trại Ba Sao Nam Hà thì việc thăm nom đó mới nở rộ. Các chị đã liên kết lại thành những hội và nhóm nhỏ không tên tuổi của các bà vợ còn thủy chung để tương trợ lẫn nhau trong các chuyến hành trình gian nan ra Bắc thăm chồng.
Mỗi chuyến đi các bà vợ thẩy đều có kinh nghiệm cho nên thường đi chung với nhau ít nhất là hai hay ba chị để thay phiên canh cho nhau ngủ và canh chừng luôn cả một rừng các kiện hàng và túi xách của mình trên xe lửa nên cũng bớt phần vất vả và nguy hiểm vì các thành phần bất hảo đủ loại có đầy rẫy trên tầu.
Một điều khôi hài đen là ngay cả các tay cán bộ phụ trách khu thăm nuôi và tay quản giáo đội cũng vui lây mỗi khi thấy các chị từ trong Nam ra thăm vì ít nhất họ cũng được biếu xén một gói thuốc lá ba số năm hay Pall Mall hay Salem; cho nên mỗi khi nghe các chị đến thì khu thăm nuôi trở thành vui nhộn và náo nhiệt như một cái chợ.
Tuy vậy vì đường xá rất là xa xôi diệu vợi từ Nam ra Bắc nên không phải gia đình nào cũng đi thăm được và cũng không thể thăm nuôi thường xuyên vì khả năng tài chánh hữu hạn dù rằng các bà vợ đều có một tấm lòng vàng quí giá hầu như muốn mua hết cả Sàigòn mà đem ra cho chồng. Bởi thế những gia đình không đi được thì lại nhờ các chị mang dùm ra cho chồng mình hay gửi quà tiếp tế qua đường bưu điện.
Nhưng trại chỉ cấp phát cho mỗi tù nhân một cái phiếu gửi quà cho mỗi quí là ba tháng mà thôi, nhưng dần dà không hiểu làm cách nào mà các chị ở nhà lại kiếm ra nhiều phiếu “ngoài luồng” cho nên nhiều người lại nhận được các bưu phẩm gửi ra đều đặn hàng tháng.
Các gia đình ở nhà còn phải nặn óc nghĩ cách nào để gửi tiền “ngân” vào cho trong tù có tiền mặt mà chi tiêu khi cần thiết nữa bởi trại mà họ thấy tiền “ngân’ là tịch thu ngay không cần nói một lời.
Tôi phải nói rằng rất là phục Mẹ tôi vì Mẹ tôi đâu có được học nhiều đâu vì vừa lớn là phải tần tảo buôn bán giúp Bà Ngoại tôi nuôi các em, rồi Thế Chiến Thứ Hai nổ ra thì Mẹ tôi lại phải lo cho chồng và cho con là ông anh cả mới sanh và đi tản cư; nhưng Mẹ tôi tính đâu ra đấy.
Khi tôi nhận được thùng quà gửi qua bưu điện thì hai ngày sau thư của Mẹ tôi họ kiểm duyệt xong mới đưa lại cho tôi trong đó có đoạn viết:
-“Con nhớ giữ lại cái thùng vì nắp của nó rất là tốt, kẹo dừa rất ngon, con để dành mà ăn, đừng cho bạn bè. Cái chăn của anh Cả cũng vậy.”
Thảo nào, khi có bịch kẹo dừa buổi tối, tôi mừng quá mời bạn bè tía lia uống trà, có mấy tay ngậm kẹo mà cứ ú ớ mãi, sau nhè ra thì hóa ra là tiền đã được gói nhỏ xíu lại rất là khéo bọc trong vỏ kẹo, thoáng nhìn thì không nhận ra sự khác biệt. Tôi bèn nắn lại hai nắp thùng các tông thì quả nhiên thấy cái gì cồm cộm bên trong. Anh Cả tôi cũng lần mò tìm trong cái chăn được một số tiền nữa.
Những gói quà bưu điện tôi nhận được đều lần nào cũng có bịch kẹo dừa, mỗi lần qua cổng trại phải kiểm soát là tôi lại hồi hộp bởi lẽ trực trại họ cắt bao ra hết và đổ các viên kẹo lẫn vào các món khác như tôm khô hay đậu phọng da cá nhưng rất may là họ không để ý thấy những cục kẹo dừa này lại mập ốm khác nhau. Nói đúng ra họ không thể ngờ rằng vì tình thương yêu vô bến bờ của gia đình dành cho những tù nhân mà đã ngồi tỉ mỉ gói từng viên kẹo như vậy rồi sắp xếp lai ngay ngắn vuông vức trong chính bao kẹo dừa ấy.
Thời gian đó, các cục cube thịt bò để làm soup nấu canh rất là quí và mới mẻ chưa ai biết dùng hết. Tôi nhận được mười viên thì mừng quá nghĩ rằng đó là loại kẹo thật là quí mới bọc trong giấy bạc nên mắt nhắm mắt mở chia cho các thằng bạn chung quanh mỗi đứa một cục ngậm chơi. Một lát sau, tụi nó nhìn tôi hỏi:
-“Ê, mày chắc là kẹo chứ?”
-“Kẹo ngon mới bọc trong giấy bạc đó.”
-“Mày ăn thử chưa?”
Tôi đang soạn đồ đạc lấy làm lạ bèn bóc một cục bỏ vào miệng thì ôi thôi nó mặn cái gì đâu. Tội nghiệp mấy thằng bạn nghe nói kẹo quí lắm nên dù mặn chát cứ ngậm bồ hòn làm ngọt không dám nhè ra.
Hai hôm sau có thư gia đình kiểm duyệt xong đưa vào thì tôi mới ngã ngửa ra và đếm lại chỉ còn ba viên cube làm vốn.
Sau đó tôi rút kinh nghiệm, món gì lạ thì bỏ qua một bên chờ thư vào mới đem ra dùng cho chắc ăn. Mỗi lần nhắc lại”kẹo tiền” và “kẹo cube thịt bò” thì tôi không nhịn được cười khi nhớ lại những bộ mặt nhăn nhó vì mặn của mấy thằng bạn.
Một kỷ niệm khó quên là tình cờ tôi được uống rượu Mơ nguyên chất khi mà một bà chị ngoài Hà Nội vào thăm theo yêu cầu của Mẹ tôi, đã mua cho tôi một số thực phẩm khô và một số trái Mơ chín bỏ trong một hũ đường trắng. Lúc đầu tôi cũng hơi thắc mắc là sao không bỏ mấy chục quả Mơ đó bên ngoài. Tôi để hũ đường trộn Mơ đó trên cái giá trên đầu và quên đi cho đến một hôm chợt thấy nó sủi bọt lên, mở ra thì đã thành rượu Mơ thật là ngon. Bấy giờ tôi mới biết vì sao trái Mơ lại để lẫn vào trong hũ đường.
Ngoài ra vì thấy tôi không khỏe nên Mẹ tôi cũng gửi ra một hũ nhau có pha ít rượu, ngụy trang là hũ thịt, để ăn cho bổ nhưng mà tôi không cách nào ăn được nên đành giao lại cho một bạn thân lúc đó là anh Kinh để đem về nhóm ba người của Kinh là Đạt và Lê Bá Cường, đều cấp Trung tá và họ rất là “hoan hỉ” giúp dùm.
Sau này trở thành cái lệ hơi trưởng giả một chút là tên nào có thăm nuôi vào thì mời anh em thân trong nhóm ăn uống “xả láng” một bữa cho đã đời.
Thăm nuôi cho tù chính trị có thể được ví như một luồng gió trong lành thổi vào tới từng ngõ ngách trong trại giam, quét đi những nặng nề và tạo ra nhiều sự chuyển biến thật diệu kỳ.
Ngoài vấn đề sức khỏe của mọi tù nhân nói chung đều khả quan rõ rệt cả về thể chất lẫn tinh thần, trí nhớ dần trở lại, thì mặt khác các bệnh tật cũng lui dần và không còn ai bị chết oan do những trường hợp vì thiếu thuốc hay thiếu dinh dưỡng như trước nữa – trừ phi vướng vào những căn bệnh nan y.
Các loại thuốc tây mà gia đình gửi vào trong trại giam đã phát huy tác dụng như thần dược và đã cứu nguy không những các tù nhân mà cả một số gia đình dân làng gần đó hay cho cả môt vài gia đình trong khu gia binh nữa.
Một hôm buổi chiều đang chờ kẻng điểm danh vào buồng thì có một tay cán binh vẫn đi theo đội chạy vào xin ít viên thuốc vì đứa con trai ba tuổi của anh ta đang sốt rất cao và dang mê sảng mà bệnh xá khu gia binh không có một viên thuốc nào cả.
Các anh em nhìn nhau, phần vì không có thuốc phần không biết chữa ra sao. Tôi sực nhớ trong bản hướng dẫn của ông anh thứ hai của tôi trong Quân Y vẫn gửi kèm với thuốc cho tôi có ghi là Aspirine trị được đau nhức và sốt. Tuy không biết Aspirine hữu hiệu bao nhiêu nhưng tôi lấy đưa cho anh ta hai viên và bảo cho cháu nó ăn ít cháo rồi uống hai lần mỗi lần nữa viên thôi.
Không ngờ ngày hôm sau, anh ta nét mặt hớn hở chạy vào cám ơn tôi và hỏi là thuốc gì mà hay như thần vậy vì cháu nó đã dứt sốt và tỉnh lại. Từ đó nhiều lần anh ta vào trại lấy một mớ thư “chui” của chúng tôi ra bỏ dùm ngoài bưu điện thị xã.
Cuộc đời quả thật nhiều lúc nhân quả ngay trước mắt chứ chẳng phải chờ đến kiếp sau.
Thăm nuôi đúng là đã đem đến cho chúng tôi sự may mắn y như từ trên trời rơi xuống vậy vì lần lần nó đã giải tỏa đi bao nhiêu là sự tuyên truyền xuyên tạc đầy ác độc của kẻ thù nhằm làm cho dân chúng, cho chính cán bộ họ và bên tù hình sừ thù ghét bên tù chính trị.
Bởi lẽ đó nên năm một chín tám ba khi chúng tôi rời Hà Tây, Hà Sơn Bình để chuyển về Ba Sao, Nam Hà thì khu gia binh họ kéo ra đứng dọc theo bên đường với các bà mẹ mắt đỏ hoe, nắm tay con mình giơ lên vẫy chào tiễn đưa chúng tôi như những ân nhân của họ – những con người bình thường nhưng họ không thể tìm thấy được trong cái tập thể thiếu lòng nhân chung quanh họ.
Hoặc như năm năm sau, một nữ cán bộ trẻ và có một tấm lòng tốt với bên tù chính trị tên Thư vẫn thường giao dịch với anh em chúng tôi về mua bán ở căng tin trại Nam Hà, đã lái xe đạp vào tận trong sân buồng giam một mình, đứng nói chuyện với tụi tôi rất lâu, rồi khóc một cách rất tự nhiên, khi hay tin chúng tôi đang chuẩn bị ra nhà ga Nam Định, và chúc anh em chúng tôi xuôi về miền Nam bình an.
Trong họ có nhiều người rất tình cảm nhưng sống trong một xã hội đầy dối trá và lừa lọc thì họ phải dấu con người thật của mình đi mà sống giả dối nếu muốn sống còn như một tay quản giáo già đã tâm sự.
Nếu như thời gian năm năm trời tại Ba Sao Nam Hà, các người vợ tù đã thành công khi đoàn kết với nhau trong những chuyến ra Bắc thăm nuôi chồng thì khi chúng tôi vào đến trại Hàm Tân Z-30D trong Nam năm môt chín tám tám, thì nhịp độ thăm nuôi và sinh hoạt còn cao hơn và mang tính rất là đặc thù mà có lẽ không có một trại giam nào có được.
Khi bước chân vào trại Hàm Tân, chúng tôi chín mươi người tù chân ướt chân ráo từ Bắc vào Nam được tay trại trưởng là Thiếu Tá Nhu và các cán bộ dưới quyền ông ta dàn chào ngay tại sân trại, và được ông ta cho biết là các anh vào đây để tiếp tục cải tạo chờ ngày về mà thôi.
Sau đó thì một loạt các căn nhà tranh xinh xắn được lệnh dựng lên vội vã dọc theo con suối của khu thăm nuôi. Nếu đừng nghĩ đến thân phận tù tội thì con đường này khá là nên thơ vì nó có những ghế đá cạnh bờ suối, những hàng cây cao vút lên trên cả những mái tranh và những nhánh cây vươn dài ra tới suối và che cái ánh nắng oi bức của mùa Hè nên con đường ấy rợp bóng mát kéo dài ra tận cây cầu bắc qua con suối dẫn qua khu căng tin.
Mỗi lúc đi ngang qua khu nhà tranh đó thì chúng tôi đều nhìn với sự thắc mắc không biết khu nhà mới này dành cho ai nhưng không ngờ rằng khu này được dựng lên chính là để chờ đón gia đình chúng tôi đến thăm.
Thế rồi tin tức chúng tôi đã vào Nam lan đi như tin điện về Sàigòn và các tỉnh có lẽ nhờ các mẩu giấy chúng tôi vứt xuống đường khi xe lửa chạy qua Nha Trang vào Sàigòn. Các gia đình nhất là các chị lại bảo nhau tay xách tay nải đến Hàm Tân.
Khi tôi đang cuốc đất trồng các loại rau cải tại đội 20 thì anh Lộc cũng tù chính trị phụ giúp tại khu thăm nuôi lóc cóc đạp xe đạp ra đưa danh sách các người có thân nhân đến thăm trong đó có tôi.
Buổi trưa lúc ra đến nơi thì tôi thấy cả một đại gia đình đầy đủ hết các em tôi và hai đứa con đều có mặt. Nhiều em tôi còn nhỏ chỉ mười mấy tuổi lúc tôi vào tù nên Mẹ tôi không cho ra Bắc thăm tôi, nay nghe tin anh vào Nam nên kéo rốc hết đến thăm.
Hai con tôi lúc ngoài Bắc có theo Mẹ nó ra thăm được vài lần khi cháu gái mười hai tuổi và cháu trai mười một, bây giờ nhận không ra vì con gái tôi đã mười tám thành một thiếu nữ đẹp và dịu dàng như một nàng tiên, cháu chạy ngay lại nắm cánh tay Bố, còn con trai đã lớn bổng ra dáng một thanh niên bảnh trai đến cạnh tôi.
Thời gian trôi quá nhanh chăng, mới ngày nào tôi giã từ gia đình ra đi thì hai cháu chưa đầy bốn và năm tuổi nay đã là thanh niên thiếu nữ cả rồi và chỉ nhận ra thoáng qua được vài nét.
Cậu em út thì tôi hoàn toàn không còn nhận ra nữa vì khi tôi đi tù mới mười lăm tuổi, bây giờ đã hai mươi tám, trưởng thành và đang là giáo sư Anh Văn; nhưng tôi hơi thắc mắc vì không thấy có mặt vợ tôi và ông anh Cả đã cùng ở trong trại tù với tôi ngoài Bắc.
Gia đình đã cố dấu tôi đến vài năm sau tôi mới biết là anh Cả tôi đã qua đời tại Bình Dương vì xuất huyết não sau ba năm được thả về và đã mất vào khoảng thời gian vài tháng trước khi tôi chuẩn bị chuyển trại theo chuyến tầu xuôi về phương Nam năm một chín tám tám.
Còn vợ tôi thì các em tôi đều lảng tránh không đề cập đến mà chỉ nói là gia đình mừng lắm vì anh đã vào Nam sau mười hai năm sống đói lạnh khổ cực ở Bắc và về đây thì gần Sàigòn hơn nên các em tôi và hai con tôi sẽ đến thăm thường xuyên hơn.
Các bạn tôi thì ở những bàn bên cạnh cũng tíu tít không kém với vợ con và cười nói như chợ vỡ. Tôi nhìn thấy các chị quen vẫn hay ra thăm chồng ở Ba Sao Nam Hà vẫy tay chào tôi, các chị miệng thì cười mà hai mắt thì hoen lệ nhìn chồng trong khi các đứa con nay đã lớn thì vây quanh người Bố hỏi han đủ thứ, hình ảnh đó không khỏi làm cho tôi chạnh lòng nhưng lại gạt đi.
Có thể bà xã tôi bận việc gì đó. Nhưng bận gì thì bận, chồng đã vào đến miền Nam rồi mà không đến thăm ngay thì quả là một chuyện bất thường.
Các bạn tôi ai có vợ đến thăm thì được ở lại ngoài khu nhà tranh cạnh con suối ấy để chuẩn bị bữa cơm chiều gia đình, còn không như tôi thì vào lại trại tiếp tục “lao động là vinh quang”.
Trong khi chờ đợi vào trại, mọi người đều ra căng tin ngồi chờ xe đò của ông Tô đến đón về Sàigòn và bọn tôi không khỏi ngạc nhiên vì các tù nữ có sắc đẹp bên hình sự trang điểm phấn son, trong những bộ áo bà ba đủ mầu sắc hay quần jean áo sơ mi và guốc cao gót, đã được tuyển chọn ra phục vụ căng-tin.
Các nữ tù hình sự này nghe nói là đích thân trại trưởng Nhu lựa chọn mới được ưu đãi ra căng tin để bán nước uống, cà phê, trà, thuốc lá, và nấu đủ món từ hủ tíu, mì đến bánh canh giò heo vừa bán cho cả tù chính trị và hình sự và gia đình họ nữa để kiếm thêm cho trại, là điều mà mười ba năm nay, từ Nam ra Bắc và bây giờ từ Bắc vào Nam, tụi tôi mới thấy cách kinh doanh có sáng kiến độc đáo như vậy trong khuôn viên của một trại giam.
Ngày hôm sau, lợi dụng khu lao động gần bên khu nhà tranh thăm nuôi tôi ghé vào mấy căn để thăm gia đình bạn mình và cám ơn các chị đã đến thăm nhất là để thăm chị Sơn là vợ của Sơn “Gà Tre”, Thiếu tá trẻ tuổi nhất của ngành cảnh sát đặc biệt vì nghe chị bị chứng bịnh nan y.
Chị Sơn ngồi trên chiếc ghế dáng người bé nhỏ xanh xao nhưng tinh thần rất là vững vàng và cố gắng đến thăm chồng kỳ này có lẽ là lần cuối. Tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe của chị ra sao, thì chị nắm lấy tay tôi nói rằng nó đã di căn ăn lan hết hai bên ngực ra tới cánh tay rồi, chỉ còn chờ ngày thôi.
Tôi nhìn Sơn mấy hôm nay nghe tin vợ ra thăm mà mất ngủ, và thấu hiểu nỗi đau đớn của bạn mình bởi vì gia đình ở nhà đều dành tất cả cho người tù trong trại cho nên khi tìm ra căn bệnh thì chị cũng không có đủ tiền để chữa chạy kịp thời nên bệnh phát ra nhanh chóng.
Một vài tháng sau tôi nghe tin chị đã mất và Sơn cũng có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại.
Bao nhiêu năm trời chị gồng gánh mọi thứ để nuôi con và nuôi chồng trong tù, đến bây giờ khi chồng đã vào Nam, gần hơn và sắp được thả về thì chị lại ra đi, hoàn cảnh thật éo le và quả thật nhiều lúc không ai qua khỏi được Định Mệnh.
Thời gian lặng lẽ trôi qua cho đến một ngày bất ngờ tôi được báo là có em gái đến và ra thăm nuôi cùng với một số bạn trong đội 20.
Khi vào khu thăm nuôi thì tay cán bộ phụ trách hỏi tôi có muốn ở lại không. Tôi trả lời là em mà ở lại cái nỗi gì. Hắn ta nhìn tôi cười và nói là bà xã tôi chứ em nào.
Hóa ra là bà xã tôi thật nhưng khi gập trong khu thăm nuôi bà ấy bỏ phịch cái giỏ mây mà Mẹ và các em gửi cho tôi xuống đất, và nói là rất bận và nhờ người ta chở đi nên phải về ngay không ở lại được.
Tôi chưa hết ngỡ ngàng thì sau vài câu xã giao bà ấy quay lưng bước về phía căng tin. Tôi cũng không biết phải làm gi hơn là theo ra căng tin ngồi đợi cho các gia đình thăm nom xong xuôi rồi vào trại.
Lúc tôi ra tới nơi thì vừa kịp thấy bà xã tôi leo lên sau xe Honda 90cc và tài xế không ai khác hơn là bạn của anh bà ấy ngày xưa. Anh chàng này là trung ùy Nhẩy Dù bị thương giải ngũ nên không bị đi tù và lại là em trai của vợ một anh bạn tù cùng đội 20 với tôi ở đây.
Tôi chưa hết thắc mắc thì chiều hôm đó anh bạn tôi là H., Thiếu tá cảnh sát đặc biệt, kéo tôi qua một chỗ vắng và nói sự thật cho tôi biết là vợ tôi và em trai của vợ H. đã thân mật với nhau từ nhiều năm nay rồi nhưng gia đình nhất là Mẹ tôi và cả vợ chồng H. cũng biết từ hồi còn ngoài Bắc nhưng hết sức dấu vì sợ tôi buồn và không đủ sức mà sống sót được ra khỏi tù nữa.
Ban đầu thì tôi không tin nhưng H. nói rằng cậu em trai này vẫn ở chung nhà với người chị là vợ H. và chị H. đã mục kích hết từ nhiều năm nay thì tôi mới tin.
Ngày hôm sau khi ra lao động, tôi tìm một gốc cây Buông xa nơi làm việc bên cạnh con suối đang róc rách chảy xuôi về các mái nhà tranh êm đềm và vắng lặng của khu thăm nuôi và ngồi đó không biết bao lâu, cứ nhìn giòng suối chảy miết mãi không biết nên làm gì.
Những con chim bé nhỏ vẫn chuyền từ cành này qua cành kia hót líu lo hay bay từng cặp bên nhau một cách vô tư lự, những chiếc lá vàng vẫn theo từng cơn gió bay là là xuống mặt nước, nhỏ dần rồi mất hút về hạ nguồn.
Một sự trống rỗng xâm chiếm tâm hồn mình trước một sự việc mà tôi không bao giờ nghĩ có thể xẩy ra được, cực kỳ vô lý.
Mười bốn năm nay chịu đựng mọi gian nguy, khốn khó, đói rét, nhọc nhằn trong tù đầy, tôi không hề bao giờ thốt một lời oán trách Trời Phật và vẫn cam tâm chịu đựng những hình phạt khủng khiếp đó, những tưởng sẽ có một ngày đẹp trời nào đó thì đoàn tụ.
Nay tôi như thân chiếc lá vàng khô kia đang bị giòng suối cuốn trôi đi về đâu, về đâu bây giờ hỡi Trời?
Khi vào đến trong Nam thì chúng tôi nhìn thấy một điều khá chắc chắn là mình sẽ không thể chết được nữa vì khí hậu miền Nam hiền hòa và ở gần gia đình thuốc men tiếp tế nhanh chóng hơn; nhưng ở đời ai học được chữ ngờ và một lần nữa tôi lại thấy mình quá lạc quan vì một ngày còn trong tù là một ngày tính mạng mình còn trong vòng nguy hiểm.
Mấy ngày khi Sàigòn đang trong cơn hấp hối, tôi cứ cầm cái thẻ nhân viên của Tòa Đại Sứ Mỹ trong tay và khi có cơ hội tôi đã từ bỏ ý định ra đi một mình chỉ vì vợ và hai đứa con còn quá nhỏ sợ bỏ lại Cộng Sản sẽ trả thù. Nay thân tôi tù tội lê bước từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam không biết ngày nào ra và gia đình là cái phao cuối cùng để bám víu thì cái phao đó không còn nữa. Tôi cũng vừa được tin là Mẹ và các em tôi đã lên đường bay qua Mỹ dưới sự bảo trợ của ông anh thứ hai tại California.
Tối hôm đó trong buồng giam, tự dưng tôi thấy khó thở và đau nhói bên ngực trái và hoa mắt không còn nhìn rõ chung quanh. Mấy anh bạn nằm cạnh như Nhơn, Trân, thấy vậy vội chạy ngay sang khu đối diện kêu cứu với vị bác sỹ dân y là người của chế độ cũ bị bắt vì âm mưu lật đổ chính quyền.
Anh bạn bác sỹ này cho tôi biết là tôi có triệu chứng đau tim và bảo tôi phải bình tĩnh thì mới qua khỏi được vì trong này không có thuốc men hay phương tiện cấp cứu nào hết. Tôi không tin vì trước nay tim tôi không có vấn đề gì nhưng anh quả quyết là tôi phải thật bình tĩnh nếu không nhịp tim rối loạn lên thì không làm sao được trong tình cảnh này.
Lúc ấy không hiểu sao đầu óc tôi còn tỉnh táo và chợt nhớ tới các lời dậy của thầy tôi khi hai thầy trò còn bên nhau trong tù ngoài Bắc:
-“Nếu có gập chuyện gì hung hiểm, con cứ niệm Phật, đừng cưỡng lại nó, hãy chấp nhận nó thì từ từ sẽ qua.”
Tôi nhìn anh bác sỹ ra hiệu cám ơn, nhắm mắt lại rồi cố hít vào thở ra nhè nhẹ để Tâm an trong khi cố niệm Phật trong đầu.
Trong thâm tâm tôi nghĩ rằng hôm nay là ngày cuối cuộc đời mình ở nơi đây, Cũng xong một kiếp tù đầy. Nhưng thật là vô lý bởi vì khi vào tới trong Nam, tôi vừa nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm sau bao nhiêu năm dài tăm tối lại là lúc tôi phải ra đi một cách phi lý như vậy.
Tôi cứ niệm Phật trong đầu miết và chìm vào trong giấc ngủ lúc nào không hay. Tối hôm đó thứ Bẩy, theo thông lệ anh em đều tổ chức party trà lá tán dóc cho vui trong tù, và đó là lần đầu tiên tôi không tham dự được, không biết đứa bạn nào đã bỏ mùng dùm và đắp cho tôi cái chăn ngang bụng.
Buổi sáng hôm sau tôi thức dậy vì ánh nắng ban mai đang lung linh xuyên qua các kẽ lá của hàng cây trong sân lùa vào qua khung cửa sổ nhỏ hẹp trên đầu và chiếu rọi vào mắt.
Tôi rờ lại chung quanh, mình còn sống ư? Hơi thở chợt dễ chịu và ngực không còn cảm giác nhói đau nữa.
Phép lạ nào đã cứu tôi sống sót?
Bên ngoài, như mọi sáng Chủ Nhật nghỉ lao động, dọc hàng hiên của buồng giam mấy bạn thân của tôi đang bầy mấy cái tách, ấm trà trên cái bàn gỗ mộc tự tạo, bên cạnh lò dầu nước đang bốc khói để chuẩn bị cho một ngày mới.
Những chú chim non từ trên ngọn cây, rất là bạo dạn, bay vụt xuống bàn những bước chân chim nhỏ xíu, ngước đôi mắt đen lay láy lên nhìn những người tù này rồi lại vụt bay đi.
Các câu chuyện buồn vui trong suốt mười mấy năm thăm nuôi trong trại giam có thể viết thành một trường thiên tiểu thuyết bởi vì nó lung linh như một bông hoa trong sương đêm và thơm ngát muôn sắc mầu rực rỡ của tình người, nhất là những mối tình thủy chung son sắt và đẹp tuyệt trần của người vợ tù dành cho chồng.
Những hành trình thăm nuôi đầy gian nan ấy trải rộng và chạy dọc suốt một chiều dài của đất nước từ miền cực Nam của quê hương ra đến tận biên giới Việt – Hoa.
Sự kỳ diệu của thăm nuôi cũng không có bút mực nào tả ra được hết bởi vì nó không những đem lại sức khỏe, chữa được các bệnh tật cho các tù nhân chính trị chế độ cũ trong trại giam tập trung và nâng tinh thần họ lên cao; mà còn làm thay đổi hoàn toàn thái độ và cách đối xử với tù chính trị của người dân, của tập thể cán bộ trong những ngôi làng, những xã hội nho nhỏ chung quanh hay ngay trong các trại giam có tù chính trị đi qua.
Người dân chung quanh trại đều bị choáng ngợp bởi các thứ quà cáp thực phẩm vật dụng chất đầy trên những chuyến xe thồ hay xe cải tiến hoặc xe ngựa mà các chị và gia đình đem từ trong Nam ra Bắc nuôi chồng trong tù.
Ngay cả các cán bộ tại cổng khi kiểm tra các thùng quà này trước khi cho vào trại cũng phải công nhận là có nhiều thứ cả đời họ chưa từng thấy bao giờ như các hộp thịt bò, thịt heo, thịt gà ngoại quốc, đôi bao tay bằng da vừa mềm vừa ấm, những bút nguyên tử loại mới nhỏ mà đẹp, bật lửa gas, và các thứ thuốc tây đủ loại.
Thực tế này đã đánh tan cái tuyên truyền giả dối của Đảng và Nhà Nước của họ rằng miền Nam rất là nghèo khổ dưới sự kìm kẹp của chế độ “Mỹ-Ngụy” nên cần phải “giải phóng” miền Nam và đưa nó lên “thiên đường xã hội chủ nghĩa”.
Thời gian khi mà các tù nhân mới được nhận các gói quà tiếp tế đầu tiên -như là cả một gia tài- gửi vào cho họ từ gia đình thì không khí như sôi động hẳn lên và khi về đến chỗ nằm thì họ bầy ra ngay trên chiếc chiếu -là giang sơn của mỗi người – nào là hũ thịt kho mặn, cá khô Sặc, mì gói, đường, hộp sữa đặc, những cặp lạp xưởng rồi thì kem đánh răng, ôi thôi thì đủ thứ hết.
Nhắc đến lạp xưởng thì tôi không quên được anh bạn Lực Trung úy to con nằm bên trái vừa nhận hồi chiều gói quà trong đó có nữa ký lạp xưởng. Anh giở gói quà ra ngắm nghía một lát rồi lấy từng cái lạp xưởng sống bỏ vào miệng ăn một cách ngon lành. Tôi nhìn anh:
-“Ông không sợ ăn vậy đau bụng hay sao?”
-“Ê! Đại ơi, sao nó ngon quá hà.”
Anh vừa ăn vừa xoa xoa cái bụng ra chiều rất ư là hài lòng vì đã lâu lắm rồi nó không được ăn một bữa nào ngon và no nê như vậy.
Và chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ thì nửa ký lạp xưởng đó – nửa ký tức là năm cặp hay mười cái lạp xưởng – đã nằm gọn trong bụng anh ta rồi, và cái điều lạ lùng là anh ta không có đau bụng đau bão gì cả. Có lẽ cơ thể nó quá thiếu chất béo nên cho vào bao nhiêu nó cũng hấp thụ hết mà không gây ra phản ứng gì.
Tôi nhìn qua bên phía tay phải là anh Miên, một hồi chánh viên, một người bạn mà tôi rất thương mến vì anh có một sức chịu đựng phi thường, một tình tình hiền lành nhẫn nhục, một người luôn luôn gánh vác những công việc nặng nhọc khó khăn nhất trong đội nhưng dù có cực khổ cách mấy không bao giờ thấy anh than thở điều gì. Có thể là anh đã biết trước, hơn chúng tôi, là vào tù “cải tạo” tập trung thì nó phải như vậy đừng thắc mắc vô ích.
Anh Miên đang “xơi” hũ đường trắng đựng trong cái lon Guigoz.
Ban đầu anh lấy lon Guigoz xuống, ngồi xếp bằng tròn lại một cách trịnh trọng xong rồi lấy cái muỗng súp ra xúc đường ăn, thấy tôi nhìn anh chìa hũ đường, tôi lắc đầu, thì anh bỏ thìa đường vào miệng ngậm cho nó tan ra từ từ để thưởng thức cái vị ngọt của nó.
Sau đó với một động tác dứt khóat đóng nắp hộp lại cẩn thận rồi đứng dậy cất cái hộp lên giá trên đầu nằm rồi nói một mình như vừa quyết định xong một việc gì rất là hệ trọng: “Để dành ngày mai”.
Anh nằm xuống và đắp chăn lại đàng hoàng tìm giấc ngủ nhưng chỉ một lúc sau tôi thấy anh cựa quậy hình như không ngủ được; và vụt một cái anh đứng dậy lấy lon Guigoz xuống với động tác cũng dứt khoát như khi anh bỏ nó lên trên cái giá và xúc ăn một lúc hai ba muỗng đường cho đã cơn thèm chất ngọt. Xong lại cũng trịnh trọng như lần trước, cất nó về chỗ cũ.
Trong vòng hai ba tiếng đồng hồ buổi tối, tôi thấy anh nằm xuống và đứng dậy khoảng chừng bốn năm lần là “xơi” sạch luôn hơn nửa cái lon Guigoz đựng đường ấy. Ngó tới ngó lui thấy nó đã trống trơn, khi đó, anh mới yên tâm nằm xuống lần chót, quấn tấm mền phủ kín từ đầu xuống chân và ngủ yên không thấy cựa quậy nữa.
Tôi nhìn anh ngủ yên và đang ngáy nhè nhẹ mà không nhịn được cười dù là tôi cũng đã qua những cơn đói khát không kém gì anh.
Điều may mắn là mấy ngày hôm sau anh cũng không bị phản ứng hay nổi mụn nhọt gì vì ăn một lúc hơn nửa lon Guigoz đường cát.
Cơ thể con người ta ông Trời sanh ra cũng thật là kỳ diệu.
Tôi không nhịn được cười vì tuy rất là thèm chất mỡ và chất đường sau bốn năm bị ăn “chay trường” và bỏ đói nhưng chưa lần nào dám thử xơi một lúc nửa ký lạp xưởng sống hay cả nửa lon Guigoz đường cát như hai người bạn nằm bên của tôi.
So sánh giữa hai anh bạn bên tả bên hữu thì tôi mến anh Miên hơn, tội nghiệp anh Lực hơn, bởi bất kỳ khó khăn gì ở ngoài “hiện trường” lao động, anh Miên đều hoàn tất mau chóng và luôn sánh vai cùng anh em không nề hà khó nhọc nhờ vậy mà chúng tôi đã đi qua được nhiều năm lao động khổ sai vượt quá sức người ở ngoài Bắc.
Thời gian đó anh Lạt là Tổ Trưởng tổ Đất vừa được may mắn cho qua đội văn nghệ và anh đề cử tôi thay thế anh.
Lúc đầu tôi từ chối lời đề nghị của anh Lạt vì không muốn mang thêm trách nhiệm vác ngà voi làm gì nhưng anh cương quyết nói là trong đội ít ai hơn tôi trong cách ứng xử và nên giúp anh em vì tổ Đất giống như là linh hồn của đội; cả đội là 36 người thì tổ Máy chỉ có 6 còn tất cả 30 người đều nằm trong tổ Đất. Cuối cùng tôi đành nhượng bộ.
Phải nói là nhờ Trời nên đội lúc đó lại có một tay quản giáo dễ chịu như anh chàng Tâm này vì anh ta luôn ăn nói từ tốn và tôn trọng chúng tôi, chứ nếu gập phải một quản giáo khác mà dùng những lời lẽ nặng nề trong lúc chúng tôi hàng ngày đánh vật vất vả với đống đất sét đã muốn khùng rồi thì chắc nhiều người trong chúng tôi có thể đã tiêu diêu từ lâu vì những va chạm giữa tù và quản giáo như đã xẩy ra ở những đội khác.
Mặt khác cũng nhờ thái độ đứng đắn của anh em chúng tôi nên ngay cả tay tự giác lớn tuổi của đội cũng có cảm tình nói chung với đội.
Mỗi khi có gia đình đến thăm thì anh em chúng tôi có truyền thống là chiêu đãi toàn đội trà thuốc bánh kẹo tùy hỉ và chúng tôi đều mời anh tự giác này tham dự cho vui vẻ cả làng nên cũng tránh được những va chạm không cần thiết giữa các anh em và tự giác.
Tôi cũng có một kỷ niệm nho nhỏ với anh tự giác này khi mà nguồn tiếp tế dầu hôi từ ngoài bị chặn bắt gần hết qua ngả cổng trại thì anh em trong đội bảo là cần có người mạo hiểm đột nhập vào buồng ngủ của anh tự giác và cũng là nhà kho chứa đồ của đội đang có một phuy dầu dành để chạy máy.
Nhiệm vụ này bàn tới bàn lui thấy ai cũng “nhường” nhau nên tôi cầm lấy cái lon Guigoz và bảo mấy bạn thân ở ngoài canh chừng dùm.
Sáng hôm đó tay quản giáo vào họp trong trại và tay tự giác người Nghệ Tĩnh này vừa bước ra vườn rau phía sau, tôi bước nhanh vào phòng và múc đầy lon xong vẫy bên ngoài đưa thêm hai lon nữa.
Khi vừa múc đầy lon thứ ba thì tay tự giác quên cái gì và y vội quay vào nhà kho và anh em bên ngoài không kịp ra dấu cho tôi nên tôi bị anh ta bắt quả tang. Không hiểu sao lúc đó tôi rất là bình tĩnh và nói thật là tôi cần ít dầu để nấu ăn và cũng không hiểu sao anh ta không nói gì và lấy cái xới đất rồi trở ra vườn rau.
Ít hôm sau tôi phải nhờ một anh làm cho tôi một cái bếp dầu hôi và đem ra đội cho anh ta để có dịp thì gửi về quê Nghệ Tĩnh của anh làm quà.
So với tính tình nhẫn nhục của anh Miên thì Anh Lực lại bộc trực và thẳng thắn của người miền Nam chính hiệu, cho nên có một hôm anh nổi nóng ngay khi đang lao động- có thể vì trời quá nóng như nung người mà cứ đứng đạp các cục đất sét cứng còng giờ này qua giờ kia – nên anh vứt cuốc vứt cái mai qua một bên để phản đối.
Mọi người tự dưng đều ngưng làm việc khi nghe anh Lực la hét và chờ xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Tay tự giác phụ trách về kỹ thuật cho đội cũng bước cùng với quản giáo Tâm về phía anh Lực trong khi tay quản giáo cho gọi tôi lại để cùng phân xử thì du tôi vào một tình thế rất là khó khăn và tế nhị.
Lúc đó anh Lực vẫn còn đang nhìn quản giáo mà vẫn còn la hét:
-“Ông muốn làm gì thì làm, tôi hết chịu nổi rồi”.
Tôi từ từ rời bỏ cái đống đất sét nghiệp chướng kia và bước lại cạnh anh Lực, nếu tôi bênh anh thì chắc chắn là anh và có thể cả tôi sẽ vào kỷ luật , nếu tôi để cho quản giáo và tự giác phân xử thì anh Lực cũng khó thoát kỷ luật.
Cái khó chịu nhất của bị đi kỷ luật đầu tiên hết là phải đứng trước hàng quân một bên là tù chính trị và một bên là các đội hình sự để nghe trực trại hay cán bộ “giáo dục” họ sỉ vả và “xử” mình.
Tôi nắm nhẹ cánh tay anh và nói nhỏ là anh nên vào trong bóng mát để nghỉ ngơi để tôi nói chuyện với quản giáo. Anh hơi ngần ngừ một chút rồi nghe lời tôi có lẽ cũng vì là tình hàng xóm láng giềng nằm cạnh nhau.
Đến cạnh quản giáo và tay tự giác hình sự tôi bình tĩnh giải thích rằng có thể anh bị khó khăn về mặt tâm lý vì lo lắng cho gia đình nên tinh thần bị căng thẳng, để anh nghỉ ngơi một lát thì hy vọng anh sẽ bình tĩnh lại.
Quả thật khoảng một giờ sau thì thấy anh đứng đậy từ từ bước về phía chúng tôi, nhập vào tổ và lao động lại như thường. Tôi thở ra nhẹ nhõm.
Những sự việc như vậy không hiểu sao đã từ từ biến mất dần đi một cách lạ lùng từ lúc chúng tôi được gia đình gửi quà tiếp tế và vào thăm nom trong trại thường xuyên hơn.
Có thể vì anh em nhận được tin tức gia đình đều đặn hơn và sự căng thẳng cũng bớt dần đi và chúng tôi có thêm phương tiện để giúp cho mình quên đi hoàn cảnh hiện tại và cố mà vui sống.
Hai phương tiện đã giúp cho chúng tôi thêm thư giãn nhiều nhất chính là trà lá và văn nghệ.
Ngoài các bưu kiện tiếp tế ra thì qua ngả thăm nuôi chúng tôi bắt đầu có được ít tiền nhờ đó mà có thể mua trà uống giải khát, mua thêm dầu hôi cho lò dầu, gạo và trứng gà khi gia đình chưa vào thăm kịp thời, nên trong trại bên tù chính trị tự dưng hình thành những “quán trà lá”.
Mặt khác, nhiều nhạc cụ cũng đồng thời được đưa vào trong trại như đàn ghi ta, violon, accordion nữa và các buổi văn nghệ trong buồng giam mỗi đêm thứ Bẩy đã có cơ hội thành hình.
Lúc đó tôi mới thấy tại sao trong truyện “Người Tù Khổ Sai Papillon” một thời nổi tiếng và có phim do Steve McQueen đóng và chiếu tại Sàigòn trước kia lại đề cập đến sự tối cần thiết phải bằng mọi cách đem tiền vào trong trại giam.
Về văn nghệ, trong chúng tôi có nhiều anh em là những nhạc sỹ và ca sĩ tài tử có nhiều tài năng cho nên các buổi văn nghệ dù là bỏ túi trong buồng bao giờ cũng là những sự kiện lớn và dù có tổ chức hàng tuần nhưng vẫn luôn hấp dẫn.
Nhóm mà nổi đình đám nhất vẫn là do Cậu Ba Qui tổ chức với đôi lúc Cậu Ba kéo assordion hay đàn ghi ta phụ theo, anh Quí Lùn là tay ghi ta chính và Thanh Hốt Ổ cũng cầm một cây nữa hòa theo anh Quí hay đi Bass, cò Lạt Thiếu tá Cảnh Sát Đặc Biệt là cây ghi ta chủ lực thứ nhì sau anh Quí và đôi lúc cò Ngưu cũng nhảy vô đờn và hát nghêu ngao nếu hôm nào thiếu.
Ca sĩ thì rất nhiều và đa dạng như cò Hoan “Ngố” luôn mở màn với bản Paso “Dừng Bước Giang Hồ” , Dũng Thiếu Tá ANQĐ với “Mộng dưới Hoa”, “Quách Tĩnh”, “Cả Đẫn” rất được hoan nghênh với các bài như ‘Mầu Tím Hoa Sim”, “Cười Lên Đi Em Ơi”.
Tôi thường tham gia hát bè cùng Bửu Uy -là một nghệ sĩ rất dễ thương và người hát không bao giờ biết mỏi mệt – các bài song ca như “Thiên Thai”, “Suối Mơ”, nhưng nhiều nhất vẫn là các bài nhạc Pháp và Mỹ “Main dans la Main”, “A summer Place”, “Besame Mucho”, “A time for us”…
Mỗi tối thứ Bẩy, khi nghe tin có văn nghệ là tự động trong buồng các anh em đóng góp nào trà, thuốc lá, bánh kẹo hay lo phụ trách nấu nước trà cà phê cho ban nhạc rất là vui. Nhờ có lò nấu bằng dầu hôi làm từ các vỏ đồ hộp mà hầu như buồng nào cũng có bếp dầu này rất tiện lợi.
Khi ban nhạc bắt đầu vào chương trình thì hầu như trong buồng im ắng hẳn đi, nhiều anh chui vô mùng nằm trong chăn ấm, hay hai ba người chụm lại một góc uống trà hút thuốc để thưởng thức các bài nhạc ngày xưa hay cho hồn mình cùng bay bổng với bài hát để nhớ về Sàigòn những ngày tháng cũ đầy kỷ niệm và mộng mơ.
Có những bài khi hát lên đã làm cho con tim người tù xa nhà nơi xứ Bắc thật xúc động như “Chiều trên Phá Tam Giang, anh chợt nhớ em, nhớ ôi là nhớ ôi là nhớ đến bất tận em ơi! em ơi! em ơi!…”.
Có lần Bửu Uy, người hay hát “duo” với tôi, đã không ngăn được cảm xúc và phải ngưng lại bất ngờ trong khi đang hát bài “Món Quà Cho Quê Hương” của Việt Dũng; hoặc mỗi khi hát bài “Trộm Nhìn Nhau xem dung nhan đó bây giờ ra sao, em có còn đôi má đào như ngày nào…”, thì tôi thấy bác Tư ngồi ở từng dưới lần nào bác cũng lấy cặp kiếng ra và chấm hai giọt nước mắt, chắc bác đang nhớ đến người vợ hiền ở nhà quá xa xôi bây giờ không biết ra sao.
Chương trình hình như càng về khuya thì càng hấp dẫn hơn, văn nghệ thì luôn luôn tổ chức ở từng trên cho kín đáo nhưng nhiều lần các cán binh cũng bỏ luôn ca tuần tra canh gác của họ mà ngồi bên cạnh cửa sổ để cùng nghe chương trình này. Các anh từng dưới lại đưa cho họ điếu thuốc hay chung trà và họ đều thành thực nói rằng nhạc của các anh trong Nam hay quá.
Có lần tôi đang ngồi quay lưng lại cửa sổ từng trên thì thình lình một cái nón cối leo lên ló đầu ngoài khung cửa, hóa ra anh ta yêu cầu hát bài “Nha Trang Ngày Về”, báo hại tưởng chuyện gì.
Đêm xuống mau và thường mùa Đông thì khí lạnh bên ngoài từ từ thấm dần vào trong buồng. Để xem anh em có còn thức hay còn thích nghe văn nghệ nữa không, tôi giả bộ nói với ban nhạc:
-“Thôi cũng khuya rồi chắc mình ò e con ma đánh đu nhe!”
Thì nghe ngay nhiều câu phản đối:
-“Chơi nữa đi, cần thì tôi nấu thêm trà cho”
-“Ngày mai nghỉ mà, tới luôn đi bác tài.”
Trong buồng có anh chàng Tiến mà anh em vẫn gọi là “Tiến mù” có lẽ tại cận thị nặng quá hay “chành Tiến” vì anh ta thường đứng trung gian liên lạc được với mấy tay cán binh hay tự giác để mua dùm đồ ăn thức uống cho anh em. Có hôm Tiến đi ngang qua bên dưới chỗ văn nghệ đang chơi và nhìn lên tôi và Bửu Uy rồi nói:
-“Hai cha này đeo kiếng nhưng sao hát hay quá mà tôi cũng đeo kiếng mà sao hát hổng được.”
Thì nghe có tiếng người nói:
-“Tại mày là “Tiến mù” mà là “chành” nữa thì hát với hò gì”.
Vậy là anh em còn thức cả. Cũng vui qua được một vài trống canh.
Viết về thăm nuôi, về các buổi văn nghệ mà không đề cập đến sinh hoạt trà lá là một sự thiếu sót bởi nó và văn nghệ chính là những yếu tố đã làm thay đổi hẳn cuộc sống trong trại giam.
Trà lá là hai chữ được ghép lại bởi uống trà và hút thuốc lá hay thuốc lào, có lẽ xuất phát đầu tiên từ bên phía tù hình sự và tụi tôi dùng luôn cho tiện việc sổ sách.
Các quán trà lá này và những buổi văn nghệ cuối tuần cứ tuần tự bung ra nhiều nhất là trong những năm tôi ở trại Ba Sao Nam Hà ngoài Bắc và chỉ nhạt dần đi khi các “ông bầu sô” và các ca nhạc sĩ được lần lượt ra về vào cuối năm một chín tám bẩy cho tới ngày chúng tôi chuyển vào trong Nam .
Những người mà nổi tiếng nhất về chiêu đãi anh em về trà lá phải kể đến ông bầu Ngọc Thiếu Tá ANQĐ, Sơn cao kều Đại Úy KQ, Y-Trong Quận Trưởng, anh Xuân võ sư, chú Wòng người Tầu, không biết phạm tội gì mà cũng bị đưa tuốt ra Bắc.
Vào những buổi chiều khi đi lao động về hay ngày Chủ Nhật thì các anh bầy “quán hàng” ra, nấu nước pha trà “móc câu” ngon rồi ủ nó lại bên cạnh mấy cái chung và anh em nào nghiện trà đều có thể ghé qua ngồi nhâm nhi và tán dóc hay trao đổi những tin tức thời sự mới nhất trong ngày.
Tôi cũng là một trong những người thường xuyên ghé lại các “quán trà” ấy bởi vì lúc đầu thì uống trà thấy nó có vẻ hơi chan chát thế nào nhưng dần dà nghiện nó lúc nào không biết, và nghiện ngay cả cái khung cảnh thật là đơn sơ và thân tình của cái ghế gỗ thấp lè tè bên cạnh cái bàn gỗ mộc cũng thấp chủm và ấm trà nóng với nụ cười của các chủ “quán”.
Gọi là “quán trà” nhưng nhiều khi các anh cũng nấu những món rất là hấp dẫn như hủ tíu, mì gói ăn liền. Tôi mê nhất là món cá Nục kho hấp mía của Y-Trong, các con cá Nục làm sạch xong xếp ngay ngắn trên các khúc mía chẻ hai rồi cho nước mắm vào hầm cho đến khi khô queo lại ăn với cơm thì tuyệt cú mèo. Vì vậy khi tôi có mì bún và gia vị nhà gửi vào thì đưa cho mấy tay “chủ quán”này nấu rồi ngồi cạnh cái bàn thấp chủm đó cùng ăn với nhau rất là vui.
Những khoảnh khắc ngồi giữa sân trước buồng giam nhìn lên trời trên cao lúc mây xám bay ngang qua đầu với núi biếc non xanh mờ nhạt chung quanh nhất là những chiều cuối Thu se lạnh sang Đông, và nhâm nhi chung trà hay ly cà phê, hút điếu thuốc lá hoặc rít điếu thuốc lào ba số tám thì cảm thấy thật là sảng khoái và nếu quên đi thân phận tù đầy thì chẳng khác gì như người đang tu khổ hạnh trên đỉnh non cao vậy.
Tôi thường ghé lại hầu hết các “quán” này ngoài sân hay ngay tại chỗ nằm của các bạn cùng chung một sở thích là uống trà.
Có khi thấy tôi vừa ghé lại thì Y-Trong hay anh Xuân xúc ngay ấm để pha trà mới và rót cho tôi thưởng thức một loại trà ngon mà các anh vừa mua được. Trà ngon thường là pha đậm nên khi uống thì có vị hơi ngọt qua cổ họng nhưng phải uống quen vì có lần bụng trống tôi uống mấy chung xong thì lần đầu tiên trong đời biết thế nào là say trà.
Say rượu thì đã khó mà chịu được rồi nhưng có lẽ say trà mới làm cho con người mình trong tình trạng say vào trong bao tử còn khó chịu hơn nhiều lần nữa.
Không hiểu sao cái thú trà lá này chỉ phát triển mạnh tại Ba Sao Nam Hà nhưng cho đến khi di chuyển vào Hàm Tân trong miền Nam thì tự dưng nó biến mất, có phải chăng là đa số các chủ quán trà đều đã được thả ra về? Hay vì miền Nam nắng ấm và các thức uống trong Nam dồi dào hơn nên chuyển qua cà phê đá và đôi lúc là bia? Dầu sao cũng mất đi một cái thú rất là tao nhã.
Phải nói rằng hầu như tất cả các loại trà ngon ngoài Bắc tôi đều được thưởng thức qua hết từ những trà móc câu nguyên chất đến các loại ướp hoa Nhài, hoa Cúc, nhưng có lẽ chỉ khi vào đến trong Nam tôi mới tình cờ có cơ hội được uống một loại trà ướp Sen mà khó có loại trà nào sánh bằng bởi vì nó được ướp thực sự trong những búp Sen chứ không phải là hương thơm của hóa chất giống mùi hoa Sen trộn vào. Bởi vậy, tôi chẳng thể nào quên được.
Khi đó tôi đã ở trong trại Hàm Tân tỉnh Thuận Hải cũng được hai năm rồi và thành phần chủ yếu đi vào trại thăm tôi là mấy cô em gái và cậu em rể cùng hai đứa con nay đã lớn thay phiên nhau mà đi.
Cậu em rể tôi là Dũng Anh – để phân biệt với cậu em rể nữa là Dũng Em đã đi vượt biên từ hơn hai mươi năm nay rồi – Dũng Anh đang làm cho một nhà hàng ở Sàigòn và có tài nấu nướng rất là tài giỏi và biến báo cho nên khi nào có em tôi hay con tôi đi thì cậu em rể này đều đi theo và ở lại để phụ trách vấn đề ẩm thực. Nhờ vậy thời gian ấy tôi cũng được ăn nhiều món ngon không ngờ và nóng hổi ngay trong tù, trong căn nhà tranh bên dòng suối.
Những hôm được ở lại thì em gái tôi hay chạy sang mời các anh chị ở những căn nhà tranh bên cạnh qua cùng ăn cho vui các món ăn ngon và lạ mà cậu em rể vừa nấu xong và tình thân của những gia đình đồng cảnh ngộ lại càng thắt chặt hơn.
Có thể cái nghiệp chướng tù đầy này sắp hết chăng nên những niềm vui đang đến trở lại?
Một hôm, buổi trưa đang nằm nghỉ trong lán tại đội 20 thì tiếng xe đạp lóc cóc của anh Lộc đến đội, mọi người đều ngồi dậy vì mỗi khi anh Lộc hay có khi anh Trí chạy ra đội là có thân nhân đến và trong danh sách hôm đó ra thăm nuôi có tên tôi.
Lúc ra đến nơi thì ôi thôi cả một phái đoàn y như ngày xưa các bà đi thăm và ủy lạo các thương bệnh binh chúng ta trong Tổng Y Viện Cộng Hòa vậy. Đông mà vui như Tết và như thể ai cũng giành nói và chẳng có người nghe. Hướng dẫn phái đoàn là chị Lãm và khoảng một chục chị nữa đi thăm chồng và các bạn của chồng và các giỏ thùng quà thì chất hết cả một góc phòng chưa kể các túi xách tay đựng thức ăn tươi mà các chị luôn để bên cạnh mình.
Phái đoàn được thăm nuôi cũng đông không kém đến hai chục anh em cùng đi ra một lúc trong đó có đủ cả bốn ông Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di, Lê Văn Thân và Đỗ Kế Giai nữa.
Tôi nhận gói quà Mẹ và các em gửi cho thì quay qua cám ơn chị Lãm và hỏi thăm các chị xong rồi tìm một góc trong phòng ngồi chờ vào trại trong khi các bạn tôi thì tíu tít với gia đình vợ con và đang chuẩn bị chuyển đồ đạc ra khu nhà tranh để ở lại cùng vợ con.
-“Anh không có thân nhân đến thăm sao?”
Tôi giật mình vì thấy đứng ngay trước mình là một người con gái dáng lịch sự và giọng nói rất là dịu dàng.
-“Xin lỗi cô! Tôi tưởng cô hỏi ai chứ. Hôm nay tôi ra nhận quà gia đình thôi.”
Thế rồi nàng xin phép ngồi xuống bên cạnh tôi và khi biết hoàn cảnh của tôi thì nàng chợt bối rối và có vẻ xúc động, nhưng trấn tỉnh lại:
-“Xin lỗi anh! Phượng hơi tò mò làm cho anh buồn. Hôm nay Phượng theo phái đoàn của chị Lãm lên đây cũng là vì nghe nói nhiều về các anh nên muốn gập xem các anh là ai mà sao ở tù lâu thế vẫn còn trong đây chưa được thả. Bên ngoài họ cứ nói đùa là tại các anh không thuộc bài.”
Tôi bắt đầu có cảm tình với nàng bởi nàng dùng chữ “ở tù” chứ không dùng từ “cải tạo” như nhiều người khác.
Bấy giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ Phượng. Nàng chạc ngoài ba mươi, khuôn mặt đẹp một cách thông minh, tóc xõa hai bên vai trên cái áo sơ mi xanh nhạt và cái quần jeans cũng mầu xanh và đôi guốc mộc.
Nàng cũng nhìn tôi đăm đăm và tôi bắt gập cái nhìn ấy rồi vội quay đi.
Sau này nàng thổ lộ rằng nàng thấy tôi trông rất quen như có gập ở đâu rồi và không hiểu sao nàng bị cuốn hút có lẽ bởi sự trầm tĩnh cam chịu số phận của tôi? Hay như nàng tâm sự sau này vì nàng chưa thấy ai phái nam mà có hàng lông mi cong đẹp như vậy?
Nói chuyện chưa bao lâu thì tay cán bộ thăm nuôi hối các gia đình ở lại qua bên khu nhà tranh và ai vào trại thì ra căng tin chờ.
Nàng hỏi tôi họ tên và ở đội nào, tôi cũng trả lời cho có vì hiểu rằng thân mình tù tội biết ngày nào ra khỏi chốn này và nghĩ rằng chẳng bao giờ gập lại nàng lần thứ hai.
-“Anh ráng giữ gìn sức khỏe nhe!”
-“Cám ơn Phượng! Cầu Trời Phật phù hộ cho những người có một tấm lòng như cô.”
Ngày hôm sau ra lán lao động cuốc đất mà tôi cứ nghĩ đi đâu đâu trong khi tụi bạn thì tha hồ châm chọc. Nibubư thì cười cười:
-“Tay Đại này khờ quá! người đẹp đã đến làm quen mình mà không dám nói năng gì cả. bây giờ nàng đi mất rồi mới tiếc?”. Tôi trả lời:
-“Thì mình có nói với cô ấy rằng có Duyên sẽ có ngày gập lại mà”.
Nibubư là biệt hiệu anh em đặt cho cò Niệm bởi lẽ từ ngày có thăm nuôi ở ngoài Bắc vào đến trong Nam thì anh ta có vẻ phát triển theo bề ngang thành Niệm bụng bự.
Tôi có nhiều bạn thân trong thời gian cuối này và nhiều anh cũng chết luôn với cái biệt danh giống như Hoan “Ngố”.
Có lúc cu cậu cũng tức tối muốn tìm xem tên nào cả gan đặt tên cho anh ta như vậy mà còn kêu biệt danh đó công khai trước mặt vợ anh ta ngoài khu thăm nuôi nữa chứ, làm mất mặt bầu cua quá.
Thực tâm mà nói sau này tôi cũng rất thân với Hoan nhưng cũng phải công nhận là anh ta…Ngố thật.
Có lần anh ta nói làm tôi phục sát đất vì không biết tại sao anh ta kiến thức còn hơn tôi xa:
-“Ông biết thuốc lá Kent không? Biết ai là nhà sản xuất nó không?”
Tôi đang bối rối chưa biết trả lời sao thì anh ta mau mắn:
-“Đô Đốc Mc Cain đó!”
-“Sao ở trong tù mà ông hay quá vậy?” Tôi nói với sự cảm phục bạn mình vì trong đó tụi tôi cũng rất thích các loại thuốc lá nhẹ như Kent, Salem.
-“Thì ông không thấy Kent và Cain nó vần âm giông giống nhau sao?”
Chả trách tay nào đặt cho biệt danh Ngố như vậy cũng đúng nhưng từ đó về sau tôi phải rất cẩn thận mỗi khi anh ta đố câu gì.
Cũng như anh Tấn của Phủ Đặc Ủy khi thăm nuôi vào ôm kè kè quả bầu và từ đó chết tên luôn là “Tấn Bầu”. Nhưng Tấn Bầu còn có một biệt tài là kể chuyện, lúc đầu tôi rất ư là say mê nghe anh ta kể chuyện vì thấy anh sống nhiều và hiểu đời cũng nhiều nhưng dần dần thì không còn kiên nhẫn bởi lẽ mỗi khi anh muốn nói về đề tài gì thì vòng vo Tam Quốc hết chuyện này qua chuyện khác cả nửa tiếng đồng hồ cũng chưa…vào phim chính.
Cho nên sau này mỗi khi Tấn Bầu kể chuyện là anh em biết tính nên thường chặn ngang:
-“Này! Ông vào phim đi chứ loanh quanh cuối thế kỷ hai mươi rồi đến thế kỷ hai mốt cũng vẫn còn quảng cáo?”
Các bạn thân của tôi nhiều khi như vậy đấy nhưng chúng tôi sau này không nói ra mà thương nhau còn hơn anh em trong gia đình.
Chính vì vậy mà họ hết sức ủng hộ tôi khi nghe tôi kể lại câu chuyện của một người con gái Sàigòn tên Phượng bất ngờ gập nhau ngoài khu thăm nuôi.
Thế rồi thời gian vẫn lặng lẽ trôi và tôi cũng quên đi buổi tao ngộ ấy cho đến khoảng một tháng sau thì có một phái đoàn các bà vợ lên thăm nữa và lần này anh Trí chạy ra đội đưa danh sách và nháy mắt với tôi. Lúc đó tôi chẳng hiểu anh muốn nhắn tôi cái gì cho đến khi tôi và khoảng mười mấy anh nữa đi ra.
Phượng đang ngồi cùng với các chị nói chuyện với nhau coi bộ rất thân thiết trong phòng thăm gập gia đình.
Nàng cho tôi biết rằng đã xin phép địa phương nên hôm nay là thăm tôi là chính thức chứ không phải đi theo các chị như lần trước.
Tôi cám ơn nàng nhưng Phượng gạt đi và nói là nàng rất vui gập lại tôi và hỏi thăm tôi có khỏe không. Tôi thấy nàng trông “mi-nhon” hơn trong cái váy đầm mầu hồng nhạt nhưng dáng có vẻ không tươi như lần trước thì được biết là nàng hay mất ngủ kể từ hôm lên đây kỳ rồi.
Tôi đưa Phượng ra căng tin và chọn một cái bàn bằng gỗ mộc đặt ở ngoài trời cho mát, phần của căng tin xây nhô ra bên trên dòng suối với một cái lan can gỗ đơn sơ bao quanh trông cũng rất là nên thơ.
Vừa ngồi xuống ghế thì Phượng nói là trong giỏ quà có một món rất đặc biệt mà hy vọng là tôi thích là lạng trà búp ướp Sen.
Nhờ nàng quen với một gia đình ở Ngã Ba Ông Tạ có hồ Sen và chính tay họ đã tự ướp lấy nên trà này là trà Sen thực, lâu lắm mới có dịp mua được.
Tôi không ngờ hôm trước cũng tại nơi đây, tôi ngồi uống với nàng ly trà nóng và nói trà không ngon mà nàng nhớ và mua cho tôi thứ quà giá trị này hôm nay.
Nhìn xuống dòng suối bên dưới chân mình đang chẩy róc rách qua những phiến đá mầu ngà, từng phiến, từng phiến một con suối cứ chẩy mãi qua những phiến đá. Trên đầu là bầu trời xanh xanh không gợn áng mây, bên kia bờ suối là khu rừng lá Buông thật tĩnh mịch khi chiều đang xuống dần, ráng chiều đang hắt những tia nắng yếu ớt xiên xiên lấp lánh từ bên kia qua các cành cây Buông rọi sang phía bên này trong tiếng gió rì rào thổi lướt qua cái bàn gỗ như thì thầm muốn nói điều gì đó với hai người vừa mới quen nhau.
Một con cá chợt quẫy đuôi nhẩy lên khỏi mặt nước như chào mừng hai đứa tôi rồi lặn sâu xuống dòng suối mát, trở về cái không gian mênh mông của nó để xuôi nguồn.
Tôi ước gì giá mình không còn thân phận tù đầy.
-“Anh đang nghĩ gì vậy?”
-“Không có gì! cám ơn em trà Sen nhé, anh rất thích. Anh chỉ nghĩ giá như…” Nàng khoát tay như không muốn tôi nói nữa:
-“Em đang đến thăm anh đây, anh đừng có buồn nữa nhe. Anh còn buồn thì…em không ngủ được”. Phượng ngừng một chút rồi nói:
-“Tôi nghiệp anh quá. Anh đâu có làm Tướng Tá gì đâu mà sao họ giam anh lâu quá vậy?”
-“Sao em lại mất ngủ? Xin lỗi em, anh vô ý quá.”
Tôi trong lúc xúc động đã nắm lấy tay nàng, những ngón tay búp măng ấy cũng siết lấy bàn tay tôi. Hai bàn tay đều hơi lạnh vì ngồi trên bờ suối đã lâu như đang muốn tìm hơi ấm cho nhau:
-“Anh mà cứ buồn mãi thì…em không đến thăm anh nữa đâu!”
Tôi nhìn vào khuôn mặt thông minh nhưng hơi bướng bỉnh ấy:
-“Em à! Cho phép anh nói điều này nhe. Thực sự ra, anh không biết anh còn ở tù đến bao giờ. Bạn bè anh còn lại ở đây chẳng bao nhiêu nhưng tụi anh cũng được gia đình lo cho đầy đủ cả, anh không muốn em tốn kém vì anh.”
Rồi tôi ngập ngừng:
-“Nếu…nếu mà em có lòng tốt lên thăm anh thì đi tay không thôi, mình ra đây ăn trưa cũng được anh có tiền mà, anh rất cám ơn nhưng đừng mua gì hết.”
Văng vẳng đâu đây tiếng người nói lao xao, có thể các đội lao động giờ đang đổ dồn về phía cuối dòng suối này cho các tù nhân tắm giặt trước khi vào trại.
Đã đến giờ chia tay, nàng đứng dậy với một thoáng buồn lướt nhanh trên khuôn mặt, tôi đi theo vào căng tin. Mấy cặp mắt của những tù nữ phục vụ phía sau quầy đang ngó ra nhìn tôi và nhìn Phượng, có lẽ bộ áo đầm thanh nhã của nàng?
Bất ngờ nàng khoác tay tôi và nhìn tôi với ánh mắt hãnh diện rồi liếc về phía mấy cô phục vụ sau quầy mỉm cười chào họ.
-“Anh không có quen các cô đó!”
-“Em có nói gì đâu?”
Kể ra phụ nữ họ tinh thật, tôi thì ngốc ngếch chả hiểu gì tâm lý phụ nữ vì thế sau này nghĩ lại mới thấy Phượng thật khôn, nàng muốn ra dấu cho các cô tù nữ rằng tôi là của nàng đấy, đừng có léng phéng.
-“Anh chỉ được đưa tiễn em tới mấy bực thềm này thôi. Anh không ra ngoài khu căng tin đến tận xe đò để tiễn em được. Em đừng buồn nhé!”
-“Không sao anh. Em hứa là sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết khi nào, anh đừng có mong nhe, tôi nghiệp anh.”
Tôi nhìn theo dáng nàng. chiếc áo đầm hồng nhạt từ từ xa dần và nhỏ dần. Các thân nhân không ở lại cũng đã lên hết trên xe rồi, và Phượng là người cuối cùng bước lên xe đò để xuôi về Sàigòn.
Căng tin chỉ còn lại một mình tôi đứng đó trên mấy bực thềm, các gia đình được ở lại thì đều đã nhờ anh Lộc hay anh Trí kiếm cho một xe cải tiến để chở đồ đạc qua khu nhà tranh chuẩn bị cho bữa cơm chiều đoàn tụ. Mừng cho các bạn mình được ở lại, một chút đầm ấm với gia đình.
-“Thôi mình vào trại đi anh Đại”.
Tiếng của tay cán bộ phụ trách khu thăm nuôi như đưa tôi trở về thực tế. Anh ta đến bên tôi lúc nào tôi không hay.
Ừ thì vào trại, con đường này tôi đã đi qua lại nhiều lần nhưng sao lần này thấy nó có vẻ dài lê thê và vắng lặng như vậy? Hay là tâm trí tôi đang bay theo chuyến xe đò xuôi về Sàigòn?
Dẫu sao thì lòng tôi ngày hôm nay cũng đang được sưởi ấm rất nhiều vì trong giỏ quà nhỏ bé tôi đang xách trên tay, mùi hương của hoa Sen đang tỏa ra thơm ngát với lời nói của nàng như còn đâu đây:
-“Em hứa là sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết khi nào”.
Lời Tòa Soạn: Ngay từ những năm 1988, 1989 Trần Vũ đã nổi tiếng như một hiện tượng văn học hải ngoại, là đại diện cho lớp viết trẻ và cũng là nhà văn trẻ nhất bấy giờ. Sở trường của Trần Vũ là truyện ngắn, đã đăng trên các tạp chí Làng Văn, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Trẻ và các webs văn học như Talawas; Damau v.v… Trần Vũ cộng tác với Trẻ nhiều năm và không còn lạ gì với độc giả Trẻ qua mục Trong Hầm Rượu. Bạn đọc có thể tìm đọc một vài tác phẩm của Trần Vũ tại https://tusachtre.com và hiểu hơn về cuộc đời nhà văn Trần Vũ, cũng như thân phận người Việt sau 75, qua bài phỏng vấn dưới đây của Sinh Đặng.
Trần Vũ cuối thập niên 80
Sinh Đặng (SĐ): Anh là một thuyền nhân sau 75, biến cố 30 tháng 4 đến với anh như thế nào?
Trần Vũ (TV): Có những hình ảnh mà một đứa bé lớn lên không bao giờ quên. Với tôi là khi cha chết. 3 ngày sau khi Dương Văn Minh đầu hàng, cha thổ huyết vì uất. Căn phòng đầy máu. Cha nằm bất động. Tôi òa khóc và người lớn lôi tôi ra. Xe vào nhà thương Grall và 10 ngày sau cha mất. Cái chết của Miền Nam, đối với tôi, là cái chết của cha. Tôi muốn quên, nhưng căn phòng vẫn ở đó.
SĐ: Hành trình vượt biên của anh ra sao?
TV: Năm 79 vượt biên bán chính thức bùng phát. Mẹ tôi gom hết tiền cho tôi với anh Cả ra đi, mẹ và chị không đủ tiền đành ở lại. Lúc đưa chúng tôi ra xe, mẹ và chị đứng khóc dưới gốc cây. Tôi không bao giờ quên.
Chuyến tàu MT-603 xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 mắc cạn ở Bãi Ngầm Trường Sa. Ban ngày nước lên đến ngực, đến trưa rút xuống bụng và chiều xuống đùi, nhưng đêm đến thủy triều dâng quá đầu. Chúng tôi bám vào ván gỗ, dây thừng và níu chặt nhau suốt đêm. Thân tàu đã sập tầng trên chỉ còn lườn, thủy thủ với chủ tàu quát tháo không cho leo lên sợ lật tàu. Chúng tôi ở dưới nước tổng cộng 13 ngày. Da tôi nhăn nhúm như da bà già. May mắn là biển ấm và trời mưa.
Phép màu sau đó, chúng tôi được một hải vận hạm Phi cứu thoát. Lên đảo Palawan ngày 29 tháng 6-1979.
Song thân Trần Vũ Tết Ất Mão 1975
SĐ: Anh có những kỷ niệm nào đáng nhớ trong những bước đầu tị nạn?
TV: Hội Hồng Thập Tự cho các trẻ vị thành niên không cha mẹ vào cô nhi viện. Tôi sống trong một trại cô nhi miền Bắc Pháp. Tôi là cô nhi Á châu duy nhất. Trong trại có một cô nhi Tây cứ trông thấy tôi là nó ngoác miệng: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây…” Tôi nhớ lời mẹ dặn: Sang đất người phải biết nhịn nhục, một điều nhịn chín điều lành. Tôi im lặng và tránh né. Thằng mất dạy tưởng tôi sợ nó, càng làm tới, hễ trông thấy tôi ở đâu là nó ré lên: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây… Nhìn cái mặt cu li kìa!” Tôi chịu hết nổi, một hôm thu hết sức bình sinh tôi phóng lên đấm vào mặt nó, nhưng chỉ trúng ngực, vì nó cao hơn tôi cái đầu. Nó không hề hấn, cung tay móc một trái direct. Tôi lãnh cú thôi sơn ngã lăn ra đất. Thằng mất dạy nhào tới đè lên ngực và thọi tôi liên tiếp. Máu mũi tôi trào ra đỏ tấy. Hôm đó nếu giám thị không can ra là tôi đã bể quai hàm.
Tôi về phòng rửa mặt. Máu mũi chảy ròng ròng, một bên môi sưng và mắt bầm. Tôi tháo chân ghế gỗ trong phòng. Loại chân rời bắt ốc, có đinh xoáy ở đầu. Tôi biết đánh không lại, phải có võ khí. Cái chân ghế đút vừa cặp-táp. Tôi trở xuống phòng ăn. Ðại sảnh giấc trưa đông đúc. Các dãy bàn 12 người xếp san sát. Thằng mất dạy ngồi quay lưng ở góc. Tôi xin giám thị cho đi tiểu. Toilettes gần lối ra ngay chỗ thằng mất dạy đang ăn. Tôi bước ngang qua chỗ nó ngồi, lúc ngay sau lưng, tôi mở cặp và rút cái chân ghế quất vào đầu nó. Nhưng thằng mất dạy nghe tiếng “cách” của nắp khóa khi tôi mở cặp, nó xoay lại và né cực nhanh, cái chân ghế vụt sát mặt nhưng không trúng, chỉ có đầu đinh gỉ sét xước mang tai làm rách da chảy máu. Nó đứng bật dậy xô bàn. Tôi vụt cái nữa. Nó chụp ghế đỡ. Tôi không kịp quất cái thứ ba vì các giám thị đã nhào đến đè tôi xuống. Thằng khốn nạn cũng bị đè xuống.
Chiều hôm đó ban giám hiệu thông báo cho tôi biết, họ chuyển tôi sang Trung Tâm Dành Cho Trẻ Gặp Khó Khăn. Tôi tưởng tượng ra trại trừng giới. Tôi đã đọc Tiểu đoàn Trừng giới của Konsalik của Nhà xuất bản Thùy Dương năm 73. Tôi buồn bã vô hạn. Tôi nghĩ nếu mẹ tôi biết, chắc bà buồn lắm. Bà sẽ khóc và cuộc đời tôi tiêu rồi. Tại sao tôi không còn quốc gia, không còn cha mẹ?
Khi tôi đến Centre d’Acceuil pour Enfants en Grande Difficulté, thì… đầy Việt Nam.
Trần Vũ và thân mẫu 1962
SĐ: Rồi sau đó?
TV: “Cô nhi nghĩa tử” Việt đủ thành phần. Du đãng Rạch Giá, lơ xe đò tuyến đường Sàigòn-Long Xuyên, vá lốp ngoài chợ Cầu Ông Lãnh, bộ đội phục viên quê Thái Bình đi chui ở Hải Phòng cũng có… Tất cả trên hai mươi tuổi khai xuống còn 15. Tôi là cô nhi duy nhất giữ đúng năm sinh. Trong trại có khoảng 40 cô nhi Việt, 20 Lào và 15 Kampuchia. Nam nữ lẫn lộn. Một sáng nghe tin quân đội Việt Nam “giải phóng” Xiêm Riệp, tảo thanh Battambang, đám Việt Nam rùng rùng kéo sang khu Khmer để “bình Tây”. Các bạn tôi đấm đá thanh niên Khmer túi bụi. Nhóm Lào-Kampuchia bỏ chạy tán loạn. Các giám thị dàn hàng ngang trên sân để chặn. Nhưng phía Việt Nam quyết chiến. Các bạn tôi rút thắt lưng, cầm gậy gộc ghế đẩu lao tới, hét vang: “Ðiện Biên Phủ! Ðiện Biên Phủ!”… Ðến lượt giám thị Tây bỏ chạy. Rồi cảnh sát được kêu tới…
Phải nói rõ ràng là tôi không tham gia những cuộc “bình Tây”. Không phải vì tôi nhát nhưng thời gian đó tôi mất phương hướng, thất lạc, trở nên bất động suy nghĩ và bất động thể chất. Tôi đứng nhìn mà không hiểu chuyện gì xảy ra. Một lần khác, tôi với tên bạn đang đứng xếp hàng. Tên bạn kể chuyện rút dao phay chém đứt lìa bàn tay công an trước khi nhảy xuống thuyền vượt biên. Vì tay công an tịch thu hàng hóa của bố mẹ nó. Giám thị đi tới quát: Silence! Bạn tôi vẫn thao thao kể chuyện. Tay giám thị bợp tai nó. Gương mặt nó đanh lại rồi bất thình lình nó chụp lấy cổ giám thị quật xuống nền xi-măng, lên gối và dộng liên tục vô mặt. Tay giám thị gãy hai cái răng phun máu ra đất. Sau đó bạn tôi bị nhốt riêng. Nhưng đêm đó nó đập kính leo cửa sổ bỏ trốn. Tôi không gặp lại nữa.
Lúc đó, lúc nó đánh giám thị, tôi vẫn đứng yên nhìn. Tôi giống tê liệt. Làm gì? Nhào vào đánh hội đồng hay kéo bạn mình ra? Ðánh hội đồng vì gì? Can ra thì đã muộn rồi. Ðầu tôi đầy những dấu hỏi. Tôi không hiểu cảnh tượng trước mắt. Chuyện gì vậy? Mới hôm qua tôi còn là học sinh Lasan Taberd đứng chào lá cờ vàng và hát quốc ca với tất cả kiêu hãnh của một công dân biết quốc gia mình độc lập, đang vươn lên, và mình sẽ phụng sự lá cờ này. Mới hôm qua, tôi hãy còn cha mẹ gia đình và danh dự. Sao quốc gia biến mất? Sao cha mẹ biến mất? Sao chị Cả biến mất? Còn anh Cả đi bán khoai tây chiên đêm… Vì sao?
Nhiều năm sau xem phim The Sand Pebbles, có Steve McQueen đóng, đoạn cuối bị bắn thủng bụng sắp chết, Steve McQueen kêu lên: “Mais bon sang! Qu’est-ce qui m’est arrivé? J’étais encore chez moi hier!” (Chết tiệt! Mình bị gì vậy? Hôm qua mình còn ở nhà!). Tôi chép lại câu đó trong đoạn kết của truyện ngắn Pháo Thuyền Trên Dòng Yang-Tsé về sau.
Phải thật lâu tôi mới hiểu, những gì xảy ra chính là vì miền Nam bại trận. Nguyên nhân là chiến tranh.
Gia đình Trần Vũ – 1968
SĐ: Anh không có kỷ niệm nào vui hơn hay sao?
TV: Tôi không biết phía Pháp có duyệt xét hạnh kiểm cô nhi hay không nhưng tôi là cô nhi duy nhất cho đi học trung học, thi tú tài rồi vào cao đẳng. Những cô nhi Việt khác phải học nghề thuộc da, lột da hay giết bò. Nhiều đứa không dám ăn thịt bò nữa vì mỗi ngày cầm súng điện gí vô trán bò cho đến chết, từ sáng đến chiều mấy chục con bò chết trong tay nó. Lên Cao đẳng Ðiện toán, Cục Tế Bần và Xã Hội (Direction Départementale des Affaires Sanitaires et Sociales), trông coi các cô nhi viện, thuê phòng cho tôi ở Nhà Trọ Công Nhân Trẻ (Foyer des Jeunes Travailleurs). Tôi quen với Jadwiga Dabrowska là một nữ sinh viên Ba Lan nhận học bổng sang Pháp học về khí cụ âm nhạc. Chúng tôi sàn sàn tuổi. Chung quá khứ Cộng sản nên dễ thân. Khi đó Công đoàn độc lập Ðoàn Kết Solidarnosc của Lech Walesa đang tranh đấu cho một Ba Lan không Cộng Sản. Chúng tôi theo dõi tin tức và bàn luận với nhau mỗi cuối tuần đánh cờ ở Hội quán, vừa xem tivi chiếu những cảnh đình công và đàn áp. Cả hai thật sự thân thiết sau hôm Jadwiga đứng ngắm say mê núi thịt trong siêu thị, rồi quay lại nói với tôi: “Ở xứ tôi không có nhiều thịt như vậy và không bán tự do”. Tôi kể cho Jadwiga nghe là ở Sàigòn cũng vậy. Sau “giải phóng”, phải ra Phường xếp hàng rồng rắn để mua vài lạng thịt hôi cá ươn. Jadwiga đáp: “Các xứ theo chủ nghĩa Marx giống nhau, thanh niên Pháp không hiểu chúng ta.”
Một trưa Chủ Nhật, sau ván cờ với món súp Zurek bán với giá đồng hương trong Hội quán Ba Lan, Jadwiga nhìn tôi nghiêm trang: “Tôi với anh đánh cờ đã bốn tháng rồi phải không? Nếu anh muốn tôi về phòng anh, tôi sẵn lòng. Tôi không khách sáo.”
Là lần đầu tiên tôi khám phá thân thể của người khác phái. Căn phòng hẹp chỉ đủ kê một giường đơn với một mặt bàn, buồng tắm toilettes ngoài hành lang, nhưng Jadwiga khá tự nhiên và khuyến khích. Tuyết rơi đầy trên lan can và những tàn thông mấp mé cũng trĩu tuyết. Gió thổi rào rạo lên mặt kính. Tôi nhìn Jadwiga lạ lùng, vì đôi mắt cô gái ráo hoảnh.
Tôi hỏi: “Tại sao Jadwiga không khóc?”
Jadwiga ngạc nhiên, hỏi ngược: “Tại sao tôi phải khóc?”
Ðến phiên tôi ngạc nhiên: “Trong tiểu thuyết, sau ân ái, tất cả thiếu nữ đều khóc.”
Tuy vậy chúng tôi san sẻ thời gian cô độc với nhau thêm một năm cho đến khi Jadwiga quyết định bỏ học bổng về Poznan để tham gia phong trào tranh đấu Ba Lan. Lúc chia tay, Jadwiga có chút bịn rịn: “Tôi sẽ không quên.” Tàu hỏa rời cánh đồng mù-tạt vàng cháy. Tôi thấy Jadwiga thật may mắn vì đã có một quốc gia để trở về, một quốc gia đang chuyển mình.
Là kỷ niệm vui hơn.
Jadwiga Dabrowska và Trần Vũ đầu thập niên 80
SĐ: Anh đã trở về quê nhà từ lúc đó?
TV: Trong tiểu thuyết Những Khúc Xương Con Gái (Les Os des Filles), Line Papin Xuân Linh viết về hành trình trở về quê tìm lại mình trên đường phố Hà Nội: “Lúc ấy em chớm mười bảy tuổi, và em đã bay, một mình, về Hà Nội. Em thấy đó, hôm nay tôi hai mươi ba tuổi, và tôi đang quay về, một mình, một lần nữa, về nơi chốn tuổi thơ của em.
Em đã quay về và tôi vẫn đang quay về, mỗi lần sau lưng em. Tôi có lẽ sẽ quay về mãi mãi để tìm em, tìm cô bé đã sinh ra, sẽ chết, đã tự tìm kiếm, cô bé viết văn, đang quay trở lại. Tôi sẽ quay về mãi mãi với em đã trở lại, về những hũ cốt đựng xương, về những tầng quá khứ xảy ra nơi này.” […]
“Con nghĩ về những khúc xương, con nghĩ về những vết bầm tím, về những quả bom, những hạt gạo, về năm cô gái dưới mái nhà đau khổ này, con nhớ những tràng cười, lời những bài hát, những móng tay, răng, đôi mắt, những cánh tay, những tấm lòng, con nhớ mái tóc đen huyền.” […]
“Con khổ quá mẹ ơi. Tại sao chúng ta phải ra đi và rời xa tất cả những người yêu thương con? Là câu hỏi con đặt ra, như hơi thở hắt. Con khổ vì những người yêu con, con cũng yêu họ. Tại sao phải cắt, dưới chân tình yêu của mẹ, cả một thảm cỏ?”
Xuân Linh khá sáng tạo khi dùng ba ngôi thứ nhất, thứ nhì và thứ ba để viết về cô khi rời lưu vực sông Hồng theo mẹ vừa kết hôn sang Pháp, rồi quay về để tìm lại đứa bé ngày xưa. Là cô ở tuổi ấu thơ. Tôi bắt gặp tâm trạng mình trên những trang sách của Xuân Linh.
Tôi cũng đã trở về Tân Ðịnh, ngôi phố tôi thương mến nhất trên trái đất. Ngôi nhà nơi tôi lớn lên đã thành khách sạn Ðức Huy nhưng tôi còn nhận ra những mặt tiền bên cạnh, từng mái hiên, cả lề đường gập ghềnh. Tôi cũng trông thấy bóng một đứa bé và đứa bé ấy dắt tôi ra Làng Ðại Học Thủ Ðức, đến ngôi biệt thự sát cạnh số 9 Einstein (bây giờ là El Mar The Caffè).
Tôi đứng trước ngôi nhà cũ của cha, nơi cha lái xe đưa chúng tôi về nghỉ cuối tuần. Vườn cây kiểng của mẹ đã thay bằng những gốc dừa. Một gia đình cán bộ đang cho vịt ăn trong piscine mà tôi bơi lội thuở nhỏ. Hồ tắm tuổi thơ của tôi đầy vịt. Tôi nghĩ đến truyện Kẻ Sát Nhân Lương Thiện của Lại Văn Long, giải nhất báo Văn Nghệ 1991. Truyện kể một gia đình có công với Cách Mạng được cho vào ở Villa Pensée của Ngụy. Một thập niên sau sĩ quan Ngụy cải tạo trở về đòi lại biệt thự và gia đình tác giả phải dọn ra. Ít lâu sau, đứa con của Cách Mạng quay lại rút súng bắn chết tươi hết thảy nhà Ngụy và tự cho mình là kẻ sát nhân lương thiện.
Tôi nghĩ đến truyện ngắn đó, và nghĩ kẻ sát nhân lương thiện phải là tôi mới đúng. Vì không gia đình “Ngụy” nào lấy lại được nhà, tất cả đều phải lưu vong. Nhưng tôi không bắn bất kỳ ai phía chiến thắng, ngay cả khi Căn Phòng vẫn ở đó.
SĐ: Anh có hối tiếc đã sang Pháp và phải sống trong cô nhi viện?
TV: Tôi không thể hối tiếc, vì không có chọn lựa. Mẹ gửi tôi đi vượt biên. Ở trại đảo anh Cả quyết định đi Pháp vì anh biết tiếng Pháp. Hội đồng Ðịnh hướng Học đường (Conseil en Orientation scolaire) cho tôi làm trắc nghiệm rồi quyết định xếp tôi vào ban H Session Informatique là Trung học Kỹ thuật Tin học. Tôi không được chọn bất kỳ chuyện gì.
Tôi học lớp 10 cho đến Tú tài trong cô nhi viện. Tôi hay ngồi trên bậc tam cấp trông ra khoảng sân xao xác có vài tượng Thánh. Miền Bắc Pháp gió rất mạnh thổi từng luồng làm lá cờ Tam Tài phần phật. Tôi ước ao khoảng sân trước mắt là một sân điện như những khoảng sân lát đá cổ xưa của một nước Pháp hoàng kim với ngự lâm quân mà tôi từng đi xem trong rạp Rex, phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Alexandre Dumas, có Raquel Welch và Oliver Reed đóng năm 73. Cha chở cả nhà đi xem. Tôi ước ao cha còn ngồi bên và lát nữa cha sẽ chở tôi về.
Không phải sân triều. Chỉ có lớp xi-măng sần sùi với những đứa trẻ cô nhi đã đủ sức làm tình.
SĐ
(17 tháng 1-2022, Áp Tết Nhâm Dần)
Tác phẩm
Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (1988, tái bản năm 1994)
Cái Chết Sau Quá Khứ (1993)
Phép tính của một nho sĩ (2019)
Giáo sĩ (2021)
Những truyện ngắn của Trần Vũ được tuyển chọn dịch và in thành sách tiếng Anh, tiếng Pháp:
The Dragon Hunt (Nhà xuất bản Hyperion xuất bản năm 1999), do Nina McPherson và Phan Huy Đường dịch.
Sous Une Pluie d’Epines (Paris: Nhà xuất bản Flammarion, năm 1998), Phan Huy Đường dịch. Và Terre des Ephemeres (1994), Au Rez de Chaussée du Paradis (1994) và En traversant Le Fleuve (1996).
– Mỗi năm, đến mùa Giáng sinh tôi khổ sở trong việc chọn quà cáp cho cháu. Không phải vì sợ tốn kém mà không biết chọn sao cho đúng món quà nó thích để nó chơi cho tới lúc cũ, hư luôn. Mỗi lần đến thăm đám cháu ngoại, con của Ngọc Trâm, nhìn thấy những món đồ chơi vứt ngổn ngang trong nhà kho, cái nào cũng còn mới tinh mà đau xót khi nghĩ đến những đứa trẻ nghèo khổ ở quê nhà, cả đời không có được một món đồ chơi cho ra hồn. Ðiều đó làm tôi cứ đắn đo, băn khoăn hoài, không biết có nên giảng giải cho nó nghe không.
– Ông Năm nầy khó chịu thật. Quà là vật sở hữu của chúng nó, chơi đến lúc không còn thích nữa thì chúng vứt đi là chuyện thường. Ông mà can thiệp vào coi chừng chúng vứt ông luôn đó.
-Tôi cũng biết vậy, nên nỗi băn khoăn này chỉ giữ trong lòng thôi. Cuộc sống và tư duy con cháu bây giờ khác mình hồi xưa nhiều. Nhưng dễ gì nó nghe mình, nên có dịp thì than thở một chút mà ông cũng xỉa xói tôi. Như vậy thì… ông là ông già dễ chịu chắc?
– Ha! Ha!!! vậy… tụi mình cùng là hai “thằng già” khó chịu, được không? Còn mười ngày nữa là đến lễ Giáng sinh, lo mua quà đi là vừa chứ cứ ngồi đó mà suy đi tính lại, coi chừng không kịp đó nha.
– Cả tuần nay bà xã tôi bận đủ thứ việc nên chưa đi “shopping” được. Mười mấy năm trước, cứ đến dịp lễ lại háo hức lo quà cáp tặng bạn bè. Cho rồi nhận, nhận rồi cho. Có qua, có lại cũng vui, nhưng nhiều khi cũng bối rối. Chưa kể là có những món quà không bao giờ dùng đến. Thời gian trôi qua, người nào cũng có cháu nội, cháu ngoại. Chỉ lo cho đám cháu cũng mệt phờ người, nên sau nầy bạn bè bàn bạc với nhau, già rồi, tinh thần cần hơn vật chất, nên cứ vào dịp lễ chỉ cần gặp nhau chuyện trò, ăn nhậu là đủ vui cho tuổi già, quà cáp chi cho phiền phức, nhờ vậy mà nhẹ được một mối. Còn phần ông thì sao? Mấy đứa cháu của ông mấy tuổi rồi? Ðã lo xong phận sự ông ngoại chưa mà ở đó tra hỏi tôi.
Thằng Tiểu Minh năm nay 12 tuổi, ba đứa con gái kế Tiểu Linh,Tiểu Loan,Tiểu Liên mỗi đứa cách nhau một năm. Con gái tôi quan niệm phải cho mấy đứa nhỏ có tuổi thơ hồn nhiên, hạnh phúc, được ông bà cha mẹ yêu thương chiều chuộng. Chỉ cần học giỏi là muốn gì cũng được. Từ quần áo, giày dép, đồ chơi tất cả mọi thứ đều là hàng hiệu, hàng xịn. Bởi vậy, tôi cứ đưa tiền cho con gái, biểu nó mua cái gì hợp với mấy đứa cháu rồi gói lại ghi tên ông bà ngoại lên đó là xong, khỏi thắc mắc làm chi cho mệt. Ông cứ theo cách của tôi cho khỏe cái thân già.
– Cách cho quà của ông tôi đã áp dụng từ mấy năm trước, từ khi thằng Tommy, cháu nội đích tôn của tôi học lớp hai. Mới chừng đó tuổi mà đã gạ gẫm ông nội bật mí cho nó biết món gì nằm trong hộp quà. Ghê hơn là mỗi khi ba mẹ đi vắng, cu cậu nằn nì “Ông nội mở quà ra cho con chơi trước đi, khi nào ba mẹ gần về thì bỏ vào hộp, để lại dưới gốc cây “Christmas”, ba mẹ đâu có biết mà rầy con. Ông nội ừ đi. Con biết ông nội thương con nhất nhà, mà con cũng thương ông nội nhất luôn”. Nghe thằng cháu nói, trái tim ông nội mềm như chuối nên tôi OK liền…
Mắt ông Năm mơ màng như trôi về quá khứ với nụ cười chúm chím làm khuôn mặt già trông thật phúc hậu. Ông Khiêm vỗ vai bạn cười thành tiếng:
– Vui hén. Vậy thì bây giờ bổn cũ soạn lại đi.
Lắc đầu giữa tiếng thở dài ông Năm nói:
– Năm nay nó 11 tuổi rồi, nên “ước vọng” cao hơn.
– Ước vọng? Ông nội dùng chữ nghe sốc à nha. Vậy ước vọng của nó là gì?
– Tiền.
– Hả? Nó là con nít mà… không được đâu!
– Mẹ nó nói, con thích gì mẹ sẽ mua cho chứ đòi tiền làm gì. Nhưng nó nhất định không chịu lại còn điều đình, nếu mẹ định cho con món quà 50 đô, con chỉ xin phân nửa số tiền đó thôi. Nghe mẹ nó kể tôi thắc mắc cả đêm với bao nhiêu câu hỏi. Có hai việc mà tôi không muốn cháu mình làm là chơi “game” và xài tiền khi còn nhỏ. “Game” thì đành phải chấp nhận. Nhưng bây giờ nó lại muốn tiền mới khổ. Không lẽ có ai đang dụ dỗ nó làm điều xấu?
– Ừ nghe ông nói tôi cũng thấy lạ. Mà thôi, chuyện của tụi nhỏ để cha mẹ nó lo, mình già rồi suy nghĩ nhiều quá cũng không giải quyết được gì mà lại ảnh hưởng đến sức khỏe. Thôi uống hết ly này rồi về. Hẹn tuần sau tái ngộ.
o O o
– Ông Khiêm, thức chưa?
– Ông vừa mới đánh thức tôi đó, còn hỏi gì nữa!
– Hì! Hì bữa nay có chuyện vui, tôi không chờ đến trưa được phải gọi ông liền.
– Chuyện gì nói nghe thử, ông bạn già.
– Thì chuyện thằng cháu nội Tommy của tôi đó.
Ông Khiêm nhổm dậy, quơ bàn chân tìm đôi dép:
– Sao… sao rồi? Tơ lòng rối nùi của ông được gỡ rồi hả?
– Ừa, bởi vậy mới dựng ông dậy giờ này. Ông biết nó xin tiền làm cái gì không?
Không chờ ông Khiêm trả lời, ông Năm nhanh nhẩu kể tiếp:
– Mẹ nó thấp thỏm lo âu mấy ngày nay nên kín đáo điều tra. Nhờ tụi bạn của thằng nhỏ tiết lộ, con dâu tôi mới biết nhóm bạn trong lớp nó rủ nhau kiếm tiền để góp vào quỹ nhân đạo giúp những trẻ em Ukraine. Con dâu tôi kể bằng giọng nghẹn ngào, không ngờ mới năm trước Giáng sinh nó còn đòi đủ thứ quà mà năm nay lại biết hy sinh sở thích của mình để làm một việc đầy ý nghĩa. Con vui quá ba ơi. Khi nghe điều này tôi mới chợt nhớ, mẹ thằng Tommy hay gửi tiền cho các cơ quan cứu trợ nhân đạo trong những lần thiên tai tại Mỹ, như lần bão Katrina ở New Orleans, Hurricane Harvey ở Galveston, Houston và nhiều nơi khác. Nó không có nhiều tiền, nhưng giàu lòng bác ái. Có lần cả gia đình đi chơi ở “downtown”, thấy nó cho tiền người phụ nữ còn khỏe mạnh đứng ở góc đường với mảnh giấy trên tay “Xin vui lòng giúp đỡ” tôi nói, cô ta còn khỏe mạnh không chịu đi làm, con giúp làm gì. Nó cười, con thấy họ đứng dưới trời nóng bức giữa dòng xe qua lại vùn vụt cũng tội nghiệp. Con cứ cho theo tấm lòng của mình, còn họ gian dối thì họ phải gánh tội. Thú thật, tôi đã học được từ con dâu gương bác ái đó nên cũng hay để tiền lẻ trên xe, có cơ hội thì cho mấy người “homeless”. Tôi nghĩ, cũng từ cái gương sáng của mẹ nó mà thằng cháu nội của tôi biết hướng đến điều thiện.
– Ðã hén! có tin vui thì trưa nay ông phải đãi chầu phở bù lại sự thiệt hại sức khỏe của tôi vì bị ông đánh thức sớm đó nha.
Tưởng ông Năm vui vẻ đồng ý, ai ngờ lại phải nghe tiếng thở dài thườn thượt bên kia đầu dây:
– Ừ, vui lắm vì cháu mình có lòng bác ái…. nhưng rồi tôi lại băn khoăn, không biết làm sao cho mấy đứa cháu ngoại, con của Ngọc Trâm nhận biết điều này để không còn phung phí khoản tiền quà cáp quá nhiều trong những ngày lễ hội hay sinh nhật.
Ông Khiêm lắc đầu, thở khì một cái:
– Vậy thì ở nhà băn khoăn tiếp đi ông nội. Hụt chầu phở thì tôi phải ngủ tiếp để lấy lại sức.
Bạn thân mến,
Món quà tặng người thân trong dịp Giáng sinh biểu lộ tình yêu thương của mọi người đối với gia đình và bạn bè một cách vô vị lợi. Sự việc này đã trở thành truyền thống không thể thiếu trong các dịp lễ chỉ khác nhau là giá trị món quà và cách tặng quà, nhưng mục đích vẫn là mang niềm vui đến cho người nhận quà, vì họ cảm nhận được lòng yêu thương và sự quan tâm của người tặng.
Ðứa trẻ nào cũng háo hức chờ đợi và niềm vui vỡ òa khi được cầm trên tay món quà chúng ưa thích. Ông bà, cha mẹ nào cũng muốn con cháu vui mừng khi được quà Giáng Sinh, do đó việc chọn lựa món quà vật chất để trao tặng là điều nên làm.
Người viết rất tâm đắc nỗi băn khoăn của ông Năm khi ông có tầm nhìn xa hơn về giá trị món quà cho cháu ông. Chọn một món quà không chỉ đơn giản là niềm vui tột đỉnh khi các cháu nhận quà và giờ phút mở quà mà phải được sử dụng ích lợi hơn để không bị lãng phí, trong khi có biết bao trẻ em nghèo đói không đủ cơm ăn, áo mặc. Người viết không hoàn toàn đồng ý với lập luận của một số người “đạo đức lý thuyết” cho rằng mình không có quyền hưởng thụ sung sướng khi bên ngoài cánh cửa căn nhà mình còn kẻ đói nghèo. Nhưng việc một đứa trẻ biết hy sinh ý thích cá nhân để chọn một món quà ý nghĩa là chia sẻ tình thương cho những bạn trẻ bất hạnh đang vật vã trong chiến tranh -một hạt giống nhân ái đang phát triển trong lòng trẻ thơ- là một việc làm đáng khen ngợi.
Món quà mà ông Năm ao ước tặng cho các cháu chính là lòng nhân hậu. Lòng nhân hậu luôn luôn tỏa sáng. Một mai khi ra đời, người có lòng nhân hậu sẽ là người hạnh phúc vì luôn yêu thương và được yêu thương.
Trong suốt binh nghiệp của đại tướng Võ Nguyên Giáp, thời kỳ trước Tết Tân Mão đến đầu Hè 1951 là thời kỳ quan trọng nhất. Vì là quãng thời gian duy nhất đại tướng có thể hành binh khác với tư duy quân sự của cố vấn Tàu. Võ Nguyên Giáp thuyết phục được Vi Quốc Thanh chấp nhận hướng chiến lược do Tổng Quân ủy Trung ương Việt Minh đề xuất. Bối cảnh: Sau chiến thắng Biên giới cố vấn Trung cộng muốn đánh lên Tây-Bắc, tức đánh lên miền thượng du Bắc-Việt nơi Pháp ít quân, tức áp dụng binh pháp Tôn Tử “đánh vào khoảng trống”. Ngược lại, đối với Hồ Chí Minh, tuy tín nhiệm Vi Quốc Thanh, mục đích của chiến tranh giải phóng là sắc tộc Kinh sinh sống trong vùng đồng bằng nơi cung cấp lúa gạo, dân công và bắt lính. Các tài liệu Pháp đều ghi: trước khai trận, radio Việt Minh loan tin “Tết Tân Mão Hồ chủ tịch vào thủ đô ăn Tết cùng đồng bào.” Lý do: Một chiến thắng ngay giữa châu thổ sông Hồng giúp tiến về Hà Nội, trong mắt Hồ Chí Minh quan trọng hơn hẵn so với “công cuộc giải phóng” các sắc tộc Thái, Mèo, Mán, Nùng, Thổ. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thuận cho Võ Nguyên Giáp tiến về đồng bằng. Liên tiếp trong 6 tháng đầu năm 1951 là 3 trận đánh lớn: Vĩnh Yên, Mao Trạch-Mạo Khê, Sông Đáy. Cả 3 đều kết thúc bằng những thất trận đẫm máu của Việt Minh. Khiến kể từ đây về sau, từ mùa Thu 1951, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp bắt buộc phải tuân thủ sách lược của cố vấn Tàu. Có nghĩa đánh lên miền cao với những địa danh Nghĩa Lộ, Gia Hội, Tú Lệ, Nà Sản, Điện Biên Phủ.
1951 trong quân sử Pháp, là năm “thiên tài quân sự” Võ Nguyên Giáp làm tăng uy danh cho hổ tướng Jean de Lattre. Pháp quốc trao cho De Lattre phẩm hàm thống chế vì những chiến thắng đồng bằng này.
[Trần Vũ]
Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp
Vu Hoá Thầm
bản dịch của Dương Danh Dy
Tác chiến đồng bằng
Sau chiến thắng lớn biên giới, phát triển thắng lợi như thế nào là vấn đề Vi Quốc Thanh suy nghĩ trước tiên. Ở Bắc Bộ Việt Nam, có hai chiến trường có thể lựa chọn. Một là vùng đồng bằng sông Hồng, ở đây dân cư đông đúc của cải dồi dào, giao thông thuận tiện, là khu vực phòng thủ trọng điểm của quân Pháp. Một là vùng Tây Bắc, núi cao rừng rậm, dân cư thưa thớt, giao thông bất tiện quân Pháp phòng ngự tương đối yếu. Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm đều cho rằng: mở chiến trường Tây Bắc, đánh mấy chiến dịch, giành lấy vùng Tây Bắc làm cho nó liền một dải với căn cứ địa Việt–Bắc, tiến có thể công thoái có thể thủ, tương đối có lợi. Nhưng kiến nghị này không được phía Việt Nam chấp nhận.
Lúc này, quân đội Việt Nam từ trên xuống dưới đều nhằm vào vùng đồng bằng sông Hồng. Kiên trì muốn tác chiến ở đồng bằng, trực tiếp uy hiếp Hà Nội, thực hiện tổng phản công. Vi Quốc Thanh qua phân tích cho rằng cứ điểm quân Pháp ở vùng đồng bằng dày đặc, địa hình thoáng rộng, giao thông thuận tiện có lợi cho quân địch nhanh chóng tăng viện, cũng tiện cho việc phát huy hoả lực của pháo và không quân, điều đó rất bất lợi cho quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng cũng có điều kiện có lợi, cư dân phần lớn là dân tộc Kinh, cơ sở quần chúng khá tốt, có sự phối hợp của đội du kích. Địch hậu lại là vùng lương thực có thể cung cấp tại chỗ. Vi Quốc Thanh cảm thấy phía Việt Nam kiên trì tác chiến vùng đồng bằng cũng có đạo lý nhất định. Nhất là đồng chí nhớ tới lời dặn của các đồng chí lãnh đạo Trung ương luôn luôn nhấn mạnh đoàn kết tốt với đồng chí Việt Nam, nên đồng ý với ý kiến của Việt Nam. Vì thế trong thời gian nửa năm từ tháng 12/1950 đến tháng 6/1951, quân đội Việt Nam liên tiếp mở ba chiến dịch ở vùng ven đồng bằng sông Hồng.
Sau khi Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp nghiên cứu, trước tiên chĩa mũi tấn công vào vùng trung du sông Hồng. Phương án tác chiến Vi Quốc Thanh đưa ra được phía Việt Nam tiếp nhận là: sử dụng sư 308 và hai trung đoàn của sư 312 vừa thành lập, áp dụng cách đánh bôn tập đường xa, bao vây cứ điểm, đánh chặn chi viện, lấy tiêu diệt 3-5 tiểu đoàn giành lấy một phần vùng sản xuất lương thực làm mục tiêu chiến dịch. Thời gian bắt đầu chiến dịch dự định vào hạ tuần tháng 12. Kế hoạch tác chiến này được Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phê chuẩn sau khi thảo luận. Đồng thời Vi Quốc Thanh báo cáo Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, được đồng ý.
Chiến trường của chiến dịch trung du ở vùng Vĩnh Phú cách Hà Nội vài chục kilomét về phía tây bắc, là vùng ven tây bắc của đồng bằng sông Hồng. Trung tuần tháng 12, Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Bộ chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam đóng trên núi Tam Đảo, nơi nghỉ mát nổi tiếng ở miền bắc Việt Nam. Núi này cao 1590 mét, từ trên núi có thể nhìn xuống đồng bằng sông Hồng. Phía nam núi có đường ôtô chạy thẳng lên núi, nơi đó là vùng địch chiếm. Phía bắc núi sát vùng giải phóng Việt Bắc có đường mòn dốc đứng lên thẳng đỉnh núi. Vi Quốc Thanh năm đó 37 tuổi bỏ ngựa đi bộ, bước chân chắc nịch, sau hai ba giờ leo núi là cùng nhân viên Ban chỉ huy lên tới đỉnh. Trên núi rải rác bảy tám ngôi nhà tây kiểu biệt thự, cửa hư hỏng, trong nhà trống trơn. Những ngôi nhà này thành chỗ ở của Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam và Đoàn cố vấn.
Chiến dịch trung du nổ súng vào ngày 25/12, đại đoàn 308 đầu tiên tấn công cụm phòng tuyến lô cốt ngầm của địch ở giáp ranh hai tỉnh Vĩnh Phú và Bắc Ninh, cách Hà Nội hơn 30 km về phía bắc, đột kích bất ngờ, tốc chiến tốc thắng, một lúc công phá 5 cứ điểm địch, tiêu diệt khoảng 5 đại đội địch. Trung đoàn 209, sư 312 ngày 27 chạm trán với một tiểu đoàn nước ngoài của quân Pháp, qua hai giờ chiến đấu quyết liệt, cơ bản tiêu diệt tiểu đoàn này. Kết thúc thắng lợi tác chiến đợt 1.
Trận đầu thắng lợi, sở chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam tràn ngập không khí vui mừng. Năm mới đến Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái (Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân) mang rượu sâm banh Pháp lấy được của địch đến chỗ ở của Đoàn cố vấn thăm hỏi và liên hoan. Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái dẫn đầu mời Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh và đồng chí Trung Quốc khác cùng nhảy điệu múa Sạp. Trong buổi liên hoan, khách chủ liên tục nâng cốc chúc mừng thắng lợi, chúc mừng xuân mới.
Quân đội Việt Nam sau khi nghỉ ngơi, chỉnh đốn và chuẩn bị, ngày 13/1 bắt đầu tác chiến đợt 2 chiến dịch Trung Du. Một bộ phận sư 308 và sư 312 lần lượt tấn công hai cứ điểm Bảo Chúc và Ba Huyên phía bắc Kim Anh. Chủ lực của 2 sư đoàn mai phục ở hương bắc và đông bắc Kim Anh, chuẩn bị đánh chặn viện. Ngày 13 và suốt ngày đêm 14, quân đội Việt Nam liên tiếp tấn công hai cứ điểm trên, diệt hàng trăm quân địch. Quân Pháp đóng giữ Kim Anh đưa quân chi viện bị quân đội nhân dân phục kích, tiêu diệt một tiểu đoàn địch gốc Phi. Số còn lại rút lui, Quân đội Nhân dân truy kích, triển khai cuộc chiến đấu giành giật điểm cao với quân Pháp tiếp tục tăng viện ở vùng Hữu Thủ. Quân đội Nhân dân có lúc ở vào tình thế có lợi, nhưng quân địch tiếp viện từ Hà Nội đến nhanh, tổng binh lực của địch tăng lên hơn 10.000 tên. Ngày 16 và 17, quân Pháp lợi dụng địa hình trống trải, cho máy bay và đại bác ném bom bắn phá điên cuồng, quân đội Việt Nam thương vong tương đối lớn. Do thiếu lực lượng hậu bị, quân đội Việt Nam rút lui chiến đấu, kết thúc chiến dịch. Chiến dịch này tiêu diệt tất cả hơn 2000 tên địch, quân đội Việt Nam cũng trả giá gần 1000 người thương vong.
Sau chiến dịch Trung Du, Vi Quốc Thanh đề xuất với Việt Nam, kết quả của chiến dịch Trung Du cho thấy, tác chiến với quân Pháp ở vùng đồng bằng có rất nhiều điều bất lợi, không dễ đánh tiêu diệt chiến, chi bằng chuyển sang vùng Tây Bắc, mở chiến trường Tây Bắc. Ý kiến của Vi Quốc Thanh vẫn không được phía Việt Nam chấp nhận. Sau hai tháng nghỉ ngơi chỉnh đốn, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Đông Bắc vào hạ tuần tháng 3. Lựa chọn chiến trường chính của chiến dịch Đông Bắc là vùng phụ cận Uông Bí trên quốc lộ 18 cách Hải Phòng hơn 30 km về phía bắc. Sau khi nghiên cứu hệ thống phòng ngự trên tuyến quốc lộ 18 của quân Pháp, Vi Quốc Thanh cảm thấy binh lực của địch ở vùng gần Uông Bí quả là tương đối mỏng yếu, cùng phía Việt Nam nghiên cứu và xác định bố trí tác chiến: sử dụng mỗi sư đoàn 2 trung đoàn của ba sư đoàn 308, 312, 316, tất cả binh lực là 7 trung đoàn, vẫn áp dụng cách đánh tấn công các cứ điểm, đánh chặn viện, lấy tiêu diệt một số tiểu đoàn địch và giải phóng một số vùng làm mục tiêu tác chiến.
Trung tuần tháng 3, Vi Quốc Thanh cùng Mai Gia Sinh và Đặng Dật Phàm dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Bắt đầu từ ngày 23/3 quân đội Việt Nam tấn công liên tiếp vào bốn cứ điểm lan tháp v.v.. dụ quân Pháp tăng viện. Nhưng quân Pháp sau khi bị động trong chiến dịch Trung Du, trở nên thận trọng, không đưa quân chi viện. Sau ba ngày quân đội Việt Nam lại đánh lấy hai cứ điểm là Bí Tắc, Trường Bạch, quân Pháp vẫn không chi viện. Quân Pháp tăng cường binh lực ở vùng chúng bị đe doạ, dựa vào công sự cố thủ, đồng thời dùng đại bác ở căn cứ lân cận sát thương quân đội Việt Nam. Đêm 29 đến ngày 30, quân đội Việt Nam tấn công hai cứ điểm thị trấn Mạo Khê và và ở mỏ than Mạo Khê đều không thuận lợi, bộ đội thương vong tương đối lớn. Đêm mồng 4 và ngày 5/4, quân đội Việt Nam liên tục tấn công các cứ điểm Tân Đáp, Bãi, Thảo Hoàng chiếm vu lại không thành công. Do thời gian kéo dài đã lâu, quân đội Việt Nam không còn lương thực không thể chiến đấu nữa nữa nên lui quân. Chiến dịch này tiêu diệt hơn 1100 tên đich, còn quân đội Việt Nam thương vong hơn 1700 người, không đạt mục đích chiến dịch.
Trên đường trở về đại đoàn, Vương Thạc Tuyên cố vấn đại đoàn 308 khi gặp Vi Quốc Thanh nói: “Chúng tôi đã đánh hai trận ở đồng bằng đều không lý tưởng, sau này không nên đánh như thế nữa”. Vi Quốc Thanh giải thích: “Trung ương cử chúng ta đến đây là để hết sức giúp đỡ quân đội Việt Nam. Hai bên có ý kiến khác nhau đối với kế hoạch chiến dịch sẽ thường xuyên xảy ra. Chúng ta nên nhẫn nại, không nên sốt ruột đối với vấn đề này. Chúng ta sẽ rút kinh nghiệm, tin rằng Việt Nam cũng sẽ rút kinh nghiệm trong thực tiễn chiến đấu ”.
Trước khi mùa mưa đến, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Ninh Bình. Vùng Ninh Bình ở góc tây nam của châu thổ sông Hồng. Ở hướng chủ công, quân đội Việt Nam sử dụng đại đoàn 308 và 304 đóng ở tỉnh Thanh Hoá, tất cả binh lực có 6 trung đoàn. Ý đồ tác chiến là trước tiên tấn công một số cứ điểm của quân Pháp, phục kích bộ đội tăng viện của quân Pháp, nếu địch không xuất quân chi viện thì mở rộng chiếm đóng một số vùng dân cư đông đúc, thu thập nhanh lương thực. Vi Quốc Thanh lại dẫn Ban chỉ huy theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến giúp chỉ huy chiến dịch.
Ngày 28-5, chiến dịch Ninh Bình mở màn, tác chiến đợt 1, quân đội Việt Nam luồn sâu tập kích Ninh Bình và cứ điểm địch dọc tuyến quốc lộ 1. Qua hai đêm chiến đấu, quân đội Việt Nam tấn công tỉnh lỵ Ninh Bình và hơn 10 cứ điểm ở nam, đông nam Ninh Bình, tiêu diệt hơn 600 tên đich. Trung úy Bernard de Lattre de Tassigny, con trai Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, chỉ huy ở cứ điểm Âu Ni cũng bị quân đội Việt Nam bắn chết. Chiến dịch mở đầu tương đối thuận lợi.
Tác chiến đợt 2 do địch tăng cường lực lượng phòng thủ, Quân đội Nhân dân tuy hạ được một số cứ điểm tiêu diệt một số địch nhưng có những cứ điểm không công phá nổi, đánh chặn viện cũng không được thuận lợi, bộ đội thương vong tương đối lớn, phải rút khỏi chiến đấu. Ngày 20/6 kết thúc chiến dịch. Chiến dịch này công phá được 22 cứ điểm, tiêu diệt hơn 3.100 địch.
Ba lần tác chiến ở vùng Trung Du, Đông Bắc, Ninh Bình là ba chiến dịch quân đội Việt Nam tấn công phòng tuyến kiên cố của địch trong đó quy mô vùng ven đồng bằng Bắc Bộ. Đều là mở đầu tương đối tốt, đột kích bất ngờ, công phá một số cứ điểm, tiêu diệt một số địch. Sau đó, địch hoặc lợi dụng hoả lực của các cứ điểm chi viện cho nhau để cố thủ, hoặc lợi dụng điều kiện giao thông thuận tiện v.v.. nhanh chóng điều động binh lực, phát huy ưu thế không quân đại bác, sát thương nặng Quân đội Nhân dân, làm cho Quân đội Nhân dân rơi vào bị động, đành phải kết thúc chiến dịch. Điều đó làm cho Vi Quốc Thanh tỉnh táo nhận thức rằng, quân đội Việt Nam tiến hành tác chiến quy mô tương đối lớn ở vùng đồng bằng và kẻ địch có quân mạnh phòng thủ, thì thời cơ chưa chín muồi. Xem xét từ tình thế địch ta trên toàn Bắc Bộ, cần phải giúp phía Việt Nam có sự chỉ đạo chiến lược sát thực tế hơn để giành thắng lợi lớn hơn. Vì vậy, cần phải trình bày trực tiếp tình hình với Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, xin Trung ương đưa ra quyết đoán.
Lúc này, Vi Quốc Thanh sang Việt Nam đã gần một năm. Tình hình sức khoẻ của đồng chí rất xấu, ngoài bệnh dạ dày đường ruột thỉnh thoảng lên cơn đau, lại mắc bệnh chóng mặt, đau đầu. Đó là trước lúc chiến dịch Đông Bắc, đồng chí ngày đêm suy nghĩ để đánh tốt trận này. Bỗng một hôm, tự nhiên cảm thấy trời đất quay cuồng, đầu đau như búa bổ, toàn thân chao đảo, cảm thấy còn khó chịu hơn bị thương nặng trước đấy nhiều năm, nằm trên giường tre chốc chốc lại rên. Bác sĩ quân y theo đoàn không thể chẩn đoán chính xác, không dám cho thuốc. Võ Nguyên Giáp biết tin, cử tiến sĩ y học ở Pháp, bác sĩ riêng của đồng chí đến khám, xem xong nói là bị sốt rét. Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm chưa cho đồng chí uống thuốc, điện khẩn cho Lâm Quân Tài cố vấn quân y ở rất xa đến gấp để chẩn đoán bệnh. Sau khi Lâm hỏi rõ bệnh tình, chẩn đoán chính xác là lớp vỏ đại não mất cân đối vì động não quá mức gây ra. Sau khi cho thuốc an thần ngủ một đêm, bệnh tình mới khỏi. Nhưng sau đó, thỉnh thoảng nổi cơn chóng mặt, đau đầu.
Chiến dịch Ninh Bình kết thúc, mùa mưa đã đến, hai bên Việt – Pháp đều không có chiến sự lớn. Vi Quốc Thanh lại điện báo cáo cho Quân uỷ Trung ương, xin về nước để báo cáo tình hình và chữa bệnh. Trung ương trả lời đồng ý, thượng tuần tháng 7/1951, đồng chí rời nơi ở Việt Bắc trở về Bắc Kinh. Sau khi Vi Quốc Thanh về nước, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Hoà Bình đập tan phản công của quân Pháp ở vùng đồng bằng. Sau khi quân Pháp bị thất bại thảm hại ở chiến dịch biên giới, Chính phủ Pháp bổ nhiệm Jean de Lattre de Tassigny, nguyên tư lệnh lục quân liên minh Tây Âu, làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương. De Lattre sau khi đón nhận nhiệm vụ, một mặt tích cực xây đắp công sự phòng ngự bằng bê tông cốt sắt xung quanh châu thổ sông Hồng, ra sức tạo ra vùng trống không có người để cắt đứt liên hệ với vùng giải phóng ; mặt khác ra sức phát triển nguỵ quân, tập trung bộ đội tinh nhuệ xây dựng binh đoàn cơ động, để đối phó tấn công của Quân đội Nhân dân và tăng cường “càn quét” vùng du kích. Trong thời gian một năm, quân Pháp đã phá huỷ 90% căn cứ địa du kích sau lưng địch của quân đội Nhân dân Việt Nam, từ đó đứng chắc chân. De Lattre cho rằng, thời cơ lấy lại quyền chủ động chiến trường Bắc Bộ đã đến. Thượng trung tuần tháng 11/1951, quân Pháp huy động 6 binh đoàn cơ động, có không quân, lính thiết giáp và hạm đội trên sông phối hợp dọc sông Đà và quốc lộ số 6, chia làm hai ngả tiến vào vùng giải phóng tây nam Hà Nội, chiếm đóng vùng Hoà Bình.
Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Tổng Quân uỷ QĐNDVN quyết định mở chiến dịch Hoà Bình. Phía Việt Nam tiếp nhận kiến nghị của La Quý Ba, Đoàn trưởng Đoàn cố vấn chính trị ; đưa bộ phận chủ lực vòng sau lưng địch, tấn công quân địch, phát triển chiến tranh du kích sau lưng địch. Bố trí cụ thể là, dùng hai đại đoàn chủ lực tấn công quân địch ở Hoà Bình, đem ba đại đoàn chủ lực lần lượt đi sâu vào sau lưng địch. Ở mặt trận Hoà Bình, quân đội Việt Nam công phá mấy cứ điểm, tiêu diệt 2 tiểu đoàn và một đội thuyền trên sông. Nhưng khi tấn công cứ điểm Phiêu không được, bộ đội thương vong tương đối lớn đã chuyển sang bao vây lâu dài quân địch ở Hoà Bình. Bộ đội chủ lực vào sau lưng địch phân tán xuất kích, đạp tan nguỵ quyền, phát triển chiến tranh du kích, không những khôi phục toàn bộ căn cứ địa du kích trước đây mà còn mở ra một vùng rộng lớn mới, trực tiếp đe doạ Hà Nội, làm cho quân Pháp bị bao vây bốn phía, khó bề xoay xở, đành phải rút khỏi vùng Hoà Bình vào hạ tuần tháng 2/1952, chiến dịch Hoà Bình kết thúc thắng lợi.
Vu Hoá Thầm
(đăng trong Thượng tướng phong vân lục nxb Đại Bách Khoa toàn thư năm 2000)
Tiểu đoàn Mường tại phân khu Vĩnh Yên, phía sau là dẫy núi Đanh.
Tán binh Sénégalais mà một đại đội bị tràn ngập tại đồn Bảo Chúc cách Vĩnh Yên 12 km.
Các chiến dịch Đồng bằng của Việt Minh trong năm 1951
Tù binh Việt Minh
Tướng De Lattre trao phần thưởng tại trung học Chasseloup Laubat (trường Lê Quý Đôn sau này) 11 tháng 7-1951
Liên trận Đông Khê-Cốc Xá là một chiến thắng sấm sét. Trong vòng 1 tuần lễ Việt Minh “giải phóng” toàn khu biên giới, đánh tan 8 tiểu đoàn quân viễn chinh. Câu hỏi đặt ra: Vì sao Võ Nguyên Giáp đã không tiến xuống Tiên Yên vây quân Pháp vào chiếc rọ Móng Cái? Khả năng “giải phóng” tỉnh Quảng Ninh là khả dĩ.
Bộ chỉ huy Bắc phần của tướng Alessandri không còn trừ bị chiến thuật, 2 tiểu đoàn Nhảy dù duy nhất đã tan hàng trên đường số 4. Khu vực An Châu-Tiên Yên-Bình Liêu chỉ còn mỗi tiểu đoàn 3 của trung đoàn 21 Bộ binh Thuộc địa phân tán mỏng khắp 18 đồn canh. Tại Móng Cái, tiểu đoàn 2 của trung đoàn 5 Lê dương mất liên lạc với đại tá Constans, vì bộ tư lệnh Khu Biên Thùy Đông Bắc hấp tấp triệt thoái khỏi Lạng Sơn không kịp phá hủy 940 đại liên, 1200 trung liên, 8000 súng trường, 125 súng cối đủ trang bị cho 2 sư đoàn Việt Minh… Trước tình trạng mất tinh thần phía Pháp, Võ Nguyên Giáp đã dừng lại. Trong hồi ức Đường Tới Điện Biên Phủ, đại tướng thanh minh: “Trước đà đổ vỡ của toàn bộ Khu Biên thùy và tình hình hoảng loạn của quân địch, tôi định ra lệnh cho bộ đội tiếp tục truy kích tới Tiên Yên. Nhưng đồng chí Trần Canh góp ý kiến là không nên. Vì Tiên Yên ở xa, chiến dịch đã thành công lớn, ta cần một chiến thắng trọn vẹn. Trần Canh đã chỉ huy nhiều trận đánh lớn nên có kinh nghiệm về vấn đề này”. Nếu đây là một lỗi lầm thực sự của Trần Canh, thì lỗi lầm này càng cho thấy rõ chính cố vấn Trung Cộng ra quyết định sau cùng mà không phải Võ Nguyên Giáp. Thứ bậc giữa cả hai còn hiện ra trong chi tiết “Trần Canh dập máy xuống” khi đang nói chuyện với Võ Nguyên Giáp qua ghi chép của Vu Hóa Thầm. [Trần Vũ]
Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp
Vu Hoá Thầm
bản dịch của Dương Danh Dy
Võ Nguyên Giáp
Lúc ấy, Hồ Chí Minh đã từ hậu phương lên tiền tuyến. Người đã phê chuẩn kế hoạch tác chiến chiến dịch biên giới và chỉ rõ: “Chiến dịch này chỉ được thắng, không được thua ”. Người vô cùng tín nhiệm yêu cầu Trần Canh bảo đảm thắng lợi của chiến dịch này. Trần Canh nói: “Tôi nhất định dốc sức giúp đánh tốt trận này, nhưng đánh trận chủ yếu còn dựa vào cán bộ chỉ huy bộ đội và quần chúng nhân dân Việt Nam”. Để quán triệt thực thi kế hoạch tác chiến nói trên, Vi Quốc Thanh khẩn trương bận rộn tiến hành các công việc. Đồng chí luôn luôn liên hệ với các tổ cố vấn bộ đội tham chiến, tìm hiểu tình hình, giải đáp vấn đề, bố trí công tác; kịp thời bàn bạc với Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm và cố vấn hậu cần Mã Tây Phu, giúp cơ quan các Tổng cục Quân đội nhân dân Việt Nam làm tốt các công tác chuẩn bị chiến dịch. Dưới sự giúp đỡ hết mình của các tổ cố vấn, các công tác chuẩn bị cho cuộc vận động chiến quy mô lớn đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào thượng tuần tháng 9 đã cơ bản hoàn tất. Ngày 16/9, chiến dịch Biên Giới bắt đầu. Đêm 16/9, Trung đoàn 174 bộ đội chủ công được pháo binh phối hợp, mở cuộc tấn công quân địch ở Đông Khê. Dưới sự yểm trợ của các loại hoả lực, Quân đội Nhân dân Việt Nam lần lượt chiếm lĩnh một số cứ điểm ngoại vi Đông Khê, nhưng triến triển chậm chạp sau khi tiến gần tới trung tâm phòng ngự của địch. Sáng sớm ngày 17, địch phản kích dưới sự yểm trợ của máy bay. Do Quân đội Nhân dân Việt Nam thiếu kinh nghiệm, chỉ huy không kịp thời, nên rút lui khỏi trận địa đã chiếm lĩnh.
Sau khi Trần Canh và Vi Quốc Thanh biết được tình hình này hết sức lo lắng, lập tức đến bộ chỉ huy tiền tuyến Quân đội Nhân dân, gặp Võ Nguyên Giáp, cùng nghiên cứu nguyên nhân tấn công bị thất bại, ra lệnh cho bộ đội điều chỉnh sự bố trí, bao vây chặt, đề phòng địch phá vây, đến tối sẽ tấn công lại.
Tối 17, do bộ đội tuyến trước không hành động theo bố trí đã định trước, chỉ tấn công từ một phía, làm cho địch tập trung được hoả lực ngoan cố chống cự. Đến nửa đêm, tấn công vẫn chưa đạt hiệu quả, bộ đội thương vong khá lớn, lại chuẩn bị rút khỏi cuộc lui chiến đấu. Sau khi Trần Canh và Vi Quốc Thanh chăm chú theo dõi phát triển của trận đánh biết được tình hình này đã lập tức khẩn cấp kiến nghị với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp: “ Ra lệnh cho bộ đội tiếp tục kiên trì không tiếc bất cứ giá nào, đồng thời điều chỉnh lại bố trí, đổi thành tiến công cả bốn phía, trọng điểm nhằm vào phía Bắc và phía Nam ”. Phía Việt Nam chấp nhận kiến nghị này. Vi Quốc Thanh lập tức điện thoại cho Trương Chí Thiện cố vấn trung đoàn 174 biết ý đồ này ; ra lệnh cho Trương giúp người chỉ huy trung đoàn này nhanh chóng điều chỉnh bố trí, chuẩn bị tốt cho việc đánh tiếp. Trước khi trời hừng sáng, tấn công lại lần nữa, kịch chiến đến 8g ngày 18, cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch.
Sau khi cuộc chiến đấu kết thúc điều tra ra, quân địch đóng giữ Đông Khê chỉ có hơn 2 đại đội, không đến 400 tên, quân đội Việt Nam với binh lực 7000 người, tấn công hai đêm, thương vong 500 người mới thắng. Mặc dù cái giá rất lớn, nhưng mục tiêu bước đầu của chiến dịch đã đạt được, tức là một thắng lợi không nhỏ. Quân đội Việt Nam đánh được Đông Khê làm cho Vi Quốc Thanh mấy ngày qua căng thẳng tinh thần cao độ thở phào. Nhưng súc khoẻ của đồng chí không trụ nổi. Trong hoàn cảnh chiến tranh lâu dài, đồng chí mắc bệnh viêm dạ dày mãn tính và thần kinh suy nhược. Sau này ở Bắc Kinh lại viêm ruột thừa, chuyển sang viêm màng ổ bụng, sau khi ra viện bận việc tổ chức Đoàn cố vấn, sức khoẻ chưa được phục hồi tốt. Sau khi vào Việt Nam chưa được mấy ngày, đồng chí lại mắc bệnh dạ dày, đau bụng đi lỏng, liên tục uống thuốc không khỏi. Đồng chí nổi nóng cáu gắt với quân y đi theo cũng chẳng được gì. Sức khoẻ đồng chí ngày càng gầy yếu, vẫn kiên trì công tác khẩn trương.
Sau tấn công Đông Khê, Trần Canh và Mai Gia Sinh, Đặc Dật Phàm khuyên bảo, đồng chí mới về điều trị ở bệnh viện lục quân tại Long Châu, Quảng Tây. Theo kế hoạch chiến dịch dự định, sau khi lấy được Đông Khê, nếu địch ở Thất Khê không ra chi viện, thì thừa thắng tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê. Nhưng lúc này Trần Canh biết được, lính địch đóng giữ ở Thất Khê tăng lên 4 tiểu đoàn. Theo kinh nghiệm của trận Đông Khê, nếu với lực lượng hiện có của quân đội Việt Nam tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê là rất khó khăn. Sau khi Trần Canh cùng Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp nghiên cứu, thay đổi kế hoạch ra lệnh cho đại đoàn 308 tiếp tục mai phục ở nam Đông Khê, chờ thời cơ tiêu diệt địch.
Trong 10 ngày sau đó, quân địch ở Thất Khê vẫn không động tĩnh. Lúc này một số cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam nảy sinh tư tưởng nôn nóng và oán trách. Có người nói, đánh Đông Khê là sai lầm, tiêu hao lực lượng của mình, lại không có viện binh để đánh, cũng tiêu mất thời cơ có lợi đánh Cao Băng. Có người nói địch ở Thất Khê không xuất quân chi viện, chi bằng đưa quân lên phía bắc đánh Cao Bằng. Có người chủ trương rút quân về bảo vệ Thái Nguyên. Bởi vì lúc này quân Pháp đã tập trung binh lực mấy tiểu đoàn, đang tấn công vào vùng Thái Nguyên trụ sở cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, quân đội Việt Nam.
Trần Canh không dao động trước những lời bàn tán đó. Đồng chí tin chắc bộ chỉ huy quân Pháp sẽ không bỏ mặc hơn 1000 quân ở Cao Bằng. Theo phán đoán bố trí của quân Pháp đã làm, nhất định còn chuyện tiếp. Đồng chí kiến nghị với Võ Nguyên Giáp, thuyết phục cán bộ, nhẫn nại kiên trì, bình tĩnh chờ đợi hành động tới của quân địch, nắm bắt thời cơ tiêu diệt địch. Trần Canh còn cho rằng địch tấn công Thái Nguyên là kế điệu hổ ly sơn. Để đánh lừa quân địch, đề nghị bộ chỉ huy tiền tuyến Quân đội Nhân dân cho trung đoàn 174 vờ di chuyển về phía nam Thất Khê. Hành động này quả nhiên có hiệu quả. Bọn địch nhầm tưởng chủ lực quân đội nhân dân Việt Nam quay xuống phía nam bảo vệ Thái Nguyên, vẫn thực hiện kế hoạch chi viện dự định của họ, rơi vào thòng lọng do Trần Canh giăng sẵn.
Đêm 30/9, binh đoàn Lepage của Pháp tiến vào bắc Thất Khê, hòng chiếm lại Đông Khê, để tiếp ứng cho binh đoàn Charton sẽ rút khỏi nam Cao Bằng. Sau khi bị trung đoàn 209 quân đội Việt Nam chặn đánh, quân Pháp buộc phải triển khai bộ đội chiếm đóng một số điểm cao nam Đông Khê, không vào được Đông Khê. Biết được tình hình này, Trần Canh rất phấn khởi, cho rằng thời cơ tiêu diệt địch đã đến. Nhưng lúc này vì bộ đội thiếu lương thực, đại đoàn 308 có trên một nửa chiến sĩ lên hướng Thuỷ Khẩu Trung Quốc vác gạo. Điều đó làm cho Trần Canh rất lo lắng. Đồng chí một mặt kiến nghị khẩn cấp với Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho bộ đội nhanh chóng tập trung đón địch, mặt khác điện thoại cho Vương Thạc Tuyền cố vấn đại đoàn 308, yêu cầu đồng chí đôn đốc phía Việt Nam cấp tốc tập trung bộ đội để bao vây, tấn công địch, được một tiểu đoàn xuất phát một tiểu đoàn, được một đại đội xuất phát một đại đội, không chậm trễ một phút.
Dưới sự chỉ huy quyết đoán của Trần Canh, nói chung là tóm được kẻ địch. Nhưng do tổ chức không chặt, hiệp đồng cũng không tốt, dẫn đến phần lớn cuộc tấn công chưa đạt hiệu quả. Ngày 3/10, binh đoàn Charton từ Cao Bằng bỏ chạy xuống phía nam, nhưng bị bộ đội địa phương Việt Nam chặn đánh, nên tiến quân chậm chạp. Đêm hôm đó, binh đoàn Lepage lợi dụng thời cơ ban đêm quân đội Việt Nam ngừng tấn công, lén lút luồn qua núi Cốc Xá, ở tây quốc lộ 4, tây nam Đông Khê 7 km, chiếm lĩnh địa hình có lợi, chờ Charton tiếp ứng binh đoàn cùng chạy về phía nam. Ngày hôm sau, binh đoàn Charton được biết binh đoàn Lepage chưa chiếm được Đông Khê, mà chỉ vào núi Cốc Xá, nên không dám tiến theo quốc lộ 4 nữa, phá ôtô, đại bác và quân nhu, đi lối tắt đến điểm cao 477 gần núi Cốc Xá, hòng gặp binh đoàn Lepage, rồi cướp đường chạy về Thất Khê.
Trần Canh cho rằng, tình thế địch ta hiện nay rất có lợi cho ta, cơ hội tiêu diệt địch khó có, cần phải trước hết cần kiên quyết, nhanh chóng tiêu diệt binh đoàn Lepage sau đó di chuyển binh lực tiêu diệt binh đoàn Charton, quyết không cho chúng tập họp chạy về phía nam.
Ngày 4, quân đội Việt Nam truy đuổi về hướng vùng núi Cốc Xá, và liên tục triển khai tấn công quân địch chiếm núi Cốc Xá. Cuộc chiến đấu khá quyết liệt, tuy giết chiết làm bị thương một số quân địch, nhưng chưa có tiến triển rất lớn, bộ đội ta cũng có không ít thương vong, có một số cán bộ bắt đầu kêu khổ.
Tối ngày 4, Bộ chỉ huy Tiền phương Quân đội Việt Nam ra lệnh cho bộ đội tạm ngừng tấn công để nghỉ ngơi chỉnh đốn. Đồng thời Võ Nguyên Giáp gọi điện thoại cho Trần Canh nói: “Căn cứ phán đoán tình hình địch, hai cánh quân địch sẽ có thể nhanh chóng gặp nhau, lực lượng sẽ được tăng cường. Bộ đội đã đánh liên tiếp 3 ngày liền, tương đối mệt nên chăng rút về nghỉ ngơi chỉnh đốn?”
Trần Canh nghe thế vội nói ngay : “ Một trận như thế này mà không đánh nữa thì không có trận nào nữa đâu ”. Võ Nguyên Giáp vẫn kiên trì ý kiến của mình: “ Bộ đội quá mệt, tôi thấy rất khó tiến công…”
Nhìn thấy thời cơ rất tốt sắp bỏ qua, Trần Canh cũng không nhẫn nhịn được nữa, nói to trước ống nghe : “Nếu trận này không đánh nữa thì tôi xin cuốn gói chuồn! ”. Ngừng một lát, Trần Canh lại nói : “Vào giờ phút then chốt này, bộ chỉ huy mà dao động thì chôn vùi thời cơ rất tốt để chiến dịch thắng lợi ”. Trần Canh dập máy xuống.
Trần Canh suy nghĩ một lát để bình tâm trở lại rồi lập tức cầm bút viết thư cho Hồ Chí Minh kiến nghị Người ra mệnh lệnh và cổ vũ bộ đội tiền tuyến không sợ hy sinh, anh dũng chiến đấu, nhanh chóng tiêu diệt binh đoàn Lepage, sau thắng lợi lập tức di chuyển binh lực tiêu diệt binh đoàn Charton. Đồng chí Trần Canh cũng điện báo kế hoạch này cho Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hồ Chí Minh tiếp nhận kiến nghị của Trần Canh, lập tức ra chỉ thị cho bộ đội tiền tuyến.
Ngày 6/10, Mao Trạch Đông điện trả lời Trần Canh, nêu rõ : “Các đồng chí phải nhanh chóng, kiên quyết, triệt để tiêu diệt quân địch ở tây nam Đông Khê, cho dù thương vong tương đối lớn cũng không nên quá lo, không nên dao động (phải tính đến trong cán bộ có thể có tình hình đó), ngoài ra, phải bám chặt bọn địch trốn khỏi Cao Bằng, không để chúng chạy thoát. Và phải có bố trí trước việc quân địch ở Lạng Sơn có thể đưa quân chi viện. Chỉ cần ba việc trên được xử lý xác đáng thì thắng lợithuộc về các đồng chí ”.
Trần Canh xem điện trả lời của Mao Trạch Đông rất phấn khởi, lập tức báo cáo với Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cũng rất phấn khởi. Quân đội Việt Nam được Hồ Chí Minh cổ vũ tinh thần phấn chấn hẳn lên. Trải qua chiến đấu quyết liệt, binh đoàn Lepage đã không chống cự nổi. Chiều ngày 6, Lepage dẫn tàn binh bại tướng lùi về trong hang Dơi cố thủ. Sáng ngày 7, tiểu đoàn 130 quân đội Việt Nam bao vây hang này, người phó của Lepage vừa ra cửa hang, bị một tràng đạn của quân đội Việt Nam bắn chết. Lepage và viên tham mưu đành phải nộp súng đầu hàng quân đội Việt Nam.
Thắng lợi tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lepage cổ vũ rất lớn tinh thần binh lính quân đội Việt Nam, làm lung lay dữ dội lòng quân của binh đoàn Charton. Đại đoàn 308 lập tức chuyển quân tấn công tiêu diệt binh đoàn Charton. Chiều cùng ngày binh đoàn Charton cũng bị tiêu diệt hoàn toàn. Đại tá Charton và tỉnh trưởng nguỵ quyền Cao Bằng đều bị bắt sống. Hai binh đoàn Lepage và Charton bị tiêu diệt làm cho quân Pháp trên phòng tuyến quốc lộ 4 hết sức kinh hoàng, lũ lượt tháo chạy, từ Thất Khê, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập cho đến vùng phụ cận Tiên Yên ven biển. Phòng tuyến quốc lộ 4 mà quân Pháp ra công xây dựng ba năm bị sụp đổ hoàn toàn. Đến đây kết thúc thắng lợi chiến dịch Biên Giới.
Chiến dịch này tiêu diệt tất cả 8 tiểu đoàn hoàn chỉnh, hơn 8000 tên địch bị chết, bị thương, bị bắt làm tù binh, thu được rất nhiều vũ khí đạn được, giải phóng 18 thành phố, thị trấn và và khu vực có 350.000 dân, khai thông tuyến giao thông biên giới Trung – Việt, làm cho vùng giải phóng Việt Bắc mở rộng và củng cố, thay đổi rất lớn tình thế chiến lược địch ta trên chiến trường Bắc Bộ. Vi Quốc Thanh điều trị tại bệnh viện lục quân Long Châu, thân tại bệnh viện, tâm tại tiền tuyến, luôn luôn quan tâm theo dõi cuộc chiến phát triển. Bệnh tình có chuyển biến tốt, đồng chí vội ra viện, cùng với Trần Canh, có Võ Nguyên Giáp cùng đi, thị sát Lạng Sơn mà mới lấy lại. Sau đó về đến chỗ ở Nam Sơn. Ngày 10/10, Vi Quốc Thanh đưa ra kiến nghị bằng văn bản với Võ Nguyên Giáp về làm tốt công tác tổng kết chiến dịch, và đích thân chỉ đạo các tổ cố vấn giúp Việt Nam làm công tác tổng kết chiến dịch.
Sau khi nhận lời phát biểu tổng kết chiến dịch suốt 4 ngày ròng tràn đầy nhiệt tình với cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên của bộ đội tham gia chiến dịch, ngày 29/10 Trần Canh gửi điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc : “ Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ công tác ở Việt Nam, năng lực đoàn cố vấn rất mạnh, không cần thiết lưu lại ở đây, xin về Bắc Kinh báo cáo công tác ”.
Ngày 30, Trung ương phúc đáp điện đồng ý Trần Canh về nước. Vì thế ngày 1/11 Trần Canh rời Nam Sơn, Việt Bắc trở về tổ quốc, Vi Quốc Thanh cử thư ký Nghiêm Dục Sinh đi tiễn.
Vu Hoá Thầm
(đăng trong Thượng tướng phong vân lục nxb Đại Bách Khoa toàn thư năm 2000)
Trung tá Lepage và trung tá Charton thời gian “cải tạo” từ 1950 đến 1954.
Lính sơn cước Marốc của tiểu đoàn 1 Tabor.
Nhảy dù Lê dương với trung liên FM
Lính VN của tiểu đoàn 3 Biệt Cách Nhảy Dù Thuộc địa (3e BCCP)
Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù Lê Dương (1er BEP) với áo saut ngụy trang da beo.
(Viết tặng người bạn tri kỷ Lòng An để nhớ hai ông Lê Hồng Huân và Huỳnh Tấn Sum).
Hối lộ là một độc dược thâm căn cố đế, mọc gốc mọc rễ từ nhiều đời, không biết Đông có trước hay Tây có trước, duy biết nay đã tràn đồng, nước nào cũng có, đời nào cũng có, dây dưa thời bình như thời loạn, lúc thạnh như lúc suy.
Trước đây, lúc Nam Kỳ còn hội đồng Quản hạt, trong một phiên nhóm đại hội, lão De la Chevrotière là thực dân hạng nặng, công kích hàng phủ huyện và mấy ông thông phán toà án, rằng họ không ăn lương bao nhiêu mà ông nào cũng ruộng tột nhà lầu cùng khắp, trong khi các quan toà, quan chánh án Pháp về hưu nghèo khổ. Lão đờ Xa cu chê đang ngon nhớn, ông Nguyễn Phan Long đứng dậy nói có một tiếng mà lão tự nhiên ngồi xuống trơ cả mặt: “Xin lỗi, danh từ “pot-de-vin” phải chăng người gô-loa có sẵn? Chớ phải nào của ông cha chúng tôi bày đặt!”.
Danh từ “pot-de-vin” (hũ rượu), tức là hối lộ theo Pháp, ý chừng xưa đã có tục dâng rượu nguyên vò, nguyên hũ, nguyên chai, để mua chuộc lòng người, sang qua nước Thổ Nhĩ Kỳ là xứ sản xuất á phiện chế ra ma tuý, danh từ haschich đẻ ra bakchick, cũng dùng ám chỉ thứ mê hoặc lòng người. Không mê bằng rượu thì mê bằng thuốc hút, hít hay nuốt hoặc thẩu đều cùng một thể.
Trong cuốn dạy Pháp văn Cours Gradué của ông Trương Minh Ký, in năm 1893 đọc lúc nhỏ, dưới nhan là “Thanh dạ văn chung”, có thuật một chuyện ông quan thanh liêm viếng một ông bạn có tật ăn của đút, khuyên ông nầy nay có con, không hay kềm thúc, e có ngày đãng sản khuynh gia. Ông quan giàu mà tham, trả lời một câu tôi còn nhớ mãi: “Nếu mình làm quan thanh liêm, dầu làm cho tới bực đại thần, cũng không hậu súc. Nay tôi làm ra sự nghiệp nầy, thì làm sao cũng không khỏi bác tước của dân, tích lấy của phi ngãi. Bởi vậy ông trời giả thủ nơi con tôi, khiến cho nó phá bằng phẳng vậy thì là “Thiên phú bất đạo chi gia”, để cho cha con tôi toạ hưởng của phi ngài hay sao” (Ấu học khải mông của ông Trương Minh Ký soạn (Cours Gradué), nhà Imprimerie Nouvelle Sài Gòn xuất bản năm 1893, trang 303, dưới bài ký tên ông Paulus Của).
Có người trọn đời không nhận của hối, khi trở về già túng bấn, thấy bạn đồng liêu từng nhận tiền lì xì nay vợ con đều ấm no, bất giác than “nếu dè mình cũng làm như họ!” Một lời nói khiến bao nhiêu tiếng thơm trong sạch đều trôi sông trôi biển, vì xã hội có thể tha thứ một con điếm ăn năn, nhưng vẫn không dung một ông quan ưa ăn vụng.
Tích cũ nói ông huyện tuổi Sửu, trách vợ sao lại nói mình tuổi Tý, khiến nên con chuột dân cúng nhỏ xíu sao bì nói tuổi sửu, con trâu to kềnh, tích nầy cho thấy đời trước không dốt khoa châm biếm và luôn luôn túi tham không đáy. Một tích cay chua không kém và trì thời hơn kể rằng có một ông tỷ phú chuyên sản xuất xe tăng thiết giáp đến thương lượng với một ông bộ trưởng coi về quốc phòng, ông tỷ phú đề nghị bán món hàng giết người ấy cho chánh phủ, ông bộ trường còn dụ dự sẵn đang thèm thuốc hút, ông tỷ phú rút ví dâng thuốc trong có một điếu không phải thuốc vấn mà là một ngân phiếu một triệu cuốn tròn. Ông bộ trường xem rồi lắc đầu nói bình sanh không hút thuốc lá ông tỷ phú hiểu ý, hẹn dâng xì gà; ông bộ trường chịu liền và cả hai đồng ký tên mua bán thứ binh khí sát sanh, sống bây nhờ chết bây chịu, miễn tiền tao bỏ túi, một triệu chê ít, mười triệu, hai chục triệu ừ liền. Tích nầy thâm, vì qua mặt sự dòm hành tả hữu, vì dâng thuốc hút không ai dè đó là dâng ngân phiếu.
Nhưng hãy khoan mừng vội. Đừng nói “dâm bôn khỏi lỗ vỗ vế”, đừng tưởng ăn hối lộ “qua khỏi truông trổ bòi cho khái”, ăn hối lộ không luôn dễ như vậy đâu. Một đời chắt mót ăn từ cắc từ xu bòn tro đãi trấu, kèo nài từ đồng, có một ông ở Vĩnh Long Phán Hợi, ngày xưa dân cho hai chục đồng xin sang bộ đất, ông đòi thêm cho được năm chục đồng và lật mặt chiếc cà-rá xoàn đeo nơi tay để đánh giá hạng mình là hạng bự, sau lại sanh con, con phá sản, sanh gái, gái theo trai, của Tào đổ âm ty, chúng nó phá hết sạch khi ông ta nằm xuống. Quả là thiên đạo chí công. Không nữa, gởi của gian vào nhà băng, không dám ghi tên thật, sau bị lật gọng, ú ớ không nói được thì cũng trời kia có mắt?
Người công chức, nếu làm đúng vai tuồng, đều trải thân giúp nước, nước đó mà cũng là xã hội đó. Người vai lớn làm việc lớn, ích quốc lợi dân; ăn trên ngồi trốc đủ sướng hơn người. Người vai nhỏ gánh vác việc nhỏ, anh phu quét đường, anh lính ngăn giặc cả thảy đều góp công bào chừa việc quốc gia, việc làng xóm, không một bộ phận nào thừa, cả thảy chung nhau như chiếc máy đổng hồ, lấy ra một con ốc thì máy kia tê liệt.
Trong Chuyện đời xưa, Trương Vĩnh Ký có kể chuyện đút sáp cho cọp ăn khỏi chết là thâm thuý nhứt. Chuyện kể lại thằng hát bội kia nó giễu cái nầy xâm những quan hay ăn hối lộ. Nó ra sân khấu nói với thằng bạn của nó: “Ý cha chả! Hôm trước tôi đi ăn ong về, gặp ông cọp, tưởng đã xong đời đi rồi”.
Thằng kia đáp: “Huỷ! Vậy thì còn gì mầy”. Nó trả lời: “Mà may, tao có vác một bó sáp trên vai, tao mới chàng hãng ra, tao đút sáp ra đằng sau, ổng chạy theo ổng táp, mắc nhai sáp, tao chạy trượt đi khỏi! Xí hụt!”.
Câu chuyện vắn xủn mà ác lắm. Ăn đàng sau tức ăn dưới trôn. Đi làm một chuyện gì, tỉ như nay ta đi làm áp phe, giả cớ gọi đi ăn ong. Quan thì gọi ổng nầy ổng kia và muốn cho ổng ăn cứ chàng hãng ra, đút cái ấy dưới háng ổng vẫn táp như thường. Bây gió thành ngữ “đút sáp” đã quá xưa, vì ong rừng sáp bánh trẻ em ít biết và chỉ bọn già cỡ tôi hoạ may hiểu được.
Cái tích ông Tam Tạng đi thỉnh kinh, đến Lôi Âm Tự, Phật tổ đã dạy phát, nhưng vì không có lễ mễ nên hai ông ác Nan Ca Diếp phát kinh trắng (bạch tự) té ra trên cõi Phật cũng biết đòi.
Sau đây là hai vụ ăn hối lộ mà tôi đây là chánh phạm. Tôi lấy công tâm mà nói. Người đọc xin cũng lấy công tâm xét giùm:
Một đời tôi là ai công chức, trước sau ba mươi bảy năm cực trần ai, ngày nay sực tỉnh thấy mình không khác một con đĩ già tuy quá tuổi nhưng còn chút trinh bạch. Nghĩ ra hay giỏi, còn trinh làm sao được khi đã trải thân đi khách đủ mặt: Tây, Hữu, Diệm, Kỳ! Còn tệ thì nhắm cũng chưa tệ mấy, vì ngót hai mươi năm (1923-1943) ăn lương của Pháp và mười bảy năm (1947-1964) làm công nhựt nơi Viện bảo tàng, tôi dám khoe chưa nhận một đồng xu hối lộ.
Nay về già, tay cầm cuốn sổ hưu bổng tỷ lệ, nhớ lại cái kiếp làm trâu ngựa đã mòn vai chai cổ, hồi tưỏng lại âu cũng là tiền căn hậu kiếp. Mà cũng vì hoàn cảnh bắt buộc, chạy giặc hết tiền mượn cha trở lại đút đầu vào tròng công chức để sống. Nhưng đèn nhà ai nấy sáng, chuyện chén cơm nồi gạo, nói nhiều làm chi cho tốn thêm bọt oáp.
Ăn hối lộ, không bị bắt tại trận, gọi là may mắn. Nhưng sự ô nhục tự làm hèn phẩm giá, từ trong lương tâm ẩn tàng đời đời kiếp kiếp, sống để bụng chết đem theo, làm sao gột rửa cho ra?
Không ăn hối lộ thì nhờ. Ai tra ai khảo mà hòng phanh phủi, tự đức? Chưa chắc gì khỏi ăn, vì người dâng có nhiều hình thức:
– Khi nhận một bao gạo thơm đầu mùa của đứa trẻ con nhà giàu đem biếu thì thầy giáo đã nhận của lễ trá hình; khi không thể từ chối – từ chối sợ mích lòng – một chục hột gà so của gia quyến người bịnh dâng ông bác sĩ, có nên gọi ông bác sĩ nhận của đút hay chăng? Một đứa trẻ khác ôm một giỏ ổi chín và chuối rục đến tặng thầy mà rằng: “Má tôi sai tôi đem cho thầy mớ nây, vì ở nhà heo nó cũng khứng thèm ăn!”.
Theo tôi tưởng một khi heo nó không thèm ăn, thì của ấy, thầy giáo, nếu là tôi, tôi không chê vậy.
Một ông quan văn hay võ, nhận một vỏ đạn chưng trong phòng làm chiến lợi phẩm tịch thu của địch, hoặc một chục bưởi dịp Tết hay một chục xoài đầu mùa, một gói trà thơm của Hương Cảng, của Đài Bắc, nhận một toa thuốc gia truyền trị bịnh no hơi, đều là nhận hối lộ cả.
Và chăng chữ “bổng” thường đeo chữ “lộc”. Bổng lộc, hai chữ đi đôi. “Bổng” là tiền lương chính thức của quan lại, “lộc” là lộc trời cho, ai được nấy hưởng. Xanh xanh trên kia là trời, mà thằng đần cũng là trời. ý dân là ý trời, lòng dân là lòng trời và của dân là của trời. Dân cho được phép hưởng, duy chăng nên đòi. Chỉ khó phân biệt thế nào là cho và thế nào là ép buộc. Cả hai cách nhau có một tấm màng trinh.
Chị thơ ký con đùm đề, chồng đi lính xa, nhận một chục hộp sữa nuôi con của ông cai thầu muốn gấp lãnh tiền phát cho cu-li, nhẹ tội hơn một ông trường trai nuốt sâm yến của mấy mụ goá chồng chuyên nghề cho vay cắt cổ.
Bây giờ chuyện gì đem ra nói cũng đều sợ đụng chạm. Chi bằng dem chuyện của mình, dẫu nói không ai tin, nhưng nói đề hả hơi cũng tốt.
Sự thật tôi tự xiết lấy tôi, cũng không hay gì hơn ai và có phần cũng giống như ai: bụng vẫn ghét hối lộ, ai mà không ghét? Nhưng nếu có cách dâng nhã, gói ghém, không đến lộ liễu, ai chớ tôi ắt khó chối từ. Ghét bởi đó là việc xấu, người đang đào thải; còn ưa là vì ai cũng đều có tánh hám tiền. Đừng làm như ông kia, bình sanh không lấy một cây kinh gút hay một cây viết chì trong sở, nhưng khi gần chết, Thống đốc Nam Kỳ đến viếng hứa cung cấp cho ba chục mẫu lương điền trong Chợ Lớn ông cười nhắm mất đi xuôi.
Trước khi chê bai việc người làm. hãy tự xét mình có thật quả trong sạch không trước đã, nếu thật sạch muốn phỉ nhổ vào người thì mặc. Bằng như vẫn cũng là bọn ăn của dân, miễn đừng đục khoét là được rồi. Đứa rủi bị bất thì ngồi tù bị chế giễu. Đứa may chưa bị thì ngồi nhà nghí ngố, cười ruồi, thế thôi!
Phần tôi, đến tuổi hưu mà chưa táp được tôi không cho là hay. Tôi hư trong bụng tôi biết. Có lẽ tại kiếp tôi là con đĩ làm cao, đòi quá mắc nên không ai thèm kêu đi khách. Bộ mặt của tôi buổi đó, tôi nhớ lại, không khác mặt gái giang hồ làm dáng, kịp đến già, chữ trinh còn đây là vì xấu xí không ai thèm. Cho ít sợ tôi la, cho nhiều thì người ta tiếc.
CHUYỆN THỨ NHỨT – ĐÂY CÓ NÊN GỌI LÀ HỐI LỘ CHĂNG?
Nãy giờ nói nghe mạnh miệng, chớ nếu có thật ăn hối lộ thì làm sao chạy án? Nhắc lại năm 1923 tôi ra làm thơ ký thí sai nơi Trường Máy. Năm 1924, tôi và Lạc thơ ký nơi Khám đường tục danh là Khám Lớn Sài Gòn, cả hai được bổ nhiệm thơ ký thiệt thọ hạng sáu, lòng mừng từ đây khỏi bị thí sai sai thí, nên tôi đi tìm Lạc để chia vui. Cuối tháng chín, tôi lãnh lương gần trăm bạc trong tủi đếm từ đồng, xọc xạch sáu mươi chín đồng lẻ mấy cắc, vì họ trừ mấy xu con niêm. Cộng với một trăm ngoài tiền Ba tôi cho làm tiền tuỳ thân, thì cả thảy được gần hai trăm đồng, giàu hóm. Mừng mừng tủi tủi. Mừng vì đây là bổng lộc của chánh phủ cấp cho. Tuổi ấy, thời buổi ấy, cũng chưa biết phân biệt chánh phủ nào với chánh phủ nào, duy biết theo lối văn chương chập chũm, thì đây cũng tạm cho là “phấn nước ơn vua”(?). Mừng rồi lại tủi vì bình sanh muốn lựa nghề thanh cao, làm lương y cứu nhân độ thế, làm giáo sư dạy dỗ kẻ đến sau, té ra trở nên một thơ ký quèn cho Tây. Cái số đứng đường, để cho người sai, đón đưa tiếp khách, không làm sao tránh được. Mặc cho số kiếp.
Có sẵn tiền trong túi, nhớ anh đậu số 4 lọt Khám Lớn là Lạc, bạn đồng song năm trước ở Chasseloup, nên tôi đi ngay lại đường Lagrandière (Gia Long, chỗ Thư viện quốc gia ngày nay). Đến cửa khám, thấy người ta bu đông nghẹt nơi bên cạnh, vì ngày ấy là ngày cho viếng thăm tội nhơn. Một cô thiếu nữ Tàu ăn mặc sang trọng, xinh đẹp như hoa, đứng gần một chiếc ô tô Delage bóng lộn, nhưng cớ sao mặt mày ủ dột, vừa thấy tôi bỗng sụt sè như muốn bày tỏ chuyện gì. Tôi bước lại gần, cô cầm một gói đồ có bao tờ nhựt trình, tuy chưa biết tôi là ai, nhưng đã nói tiếng Phắp cắt nghĩa muốn gởi gói ấy vô cho cha chồng, ngặt cô chưa xin được giấy phép. Lúc ấy tôi vừa háo tháng vừa có tật ưa nịnh đàn bà, cô lại xinh đẹp quá, nên tôi lãnh mạng đại, vì chuyện chi chớ chuyện gánh bàn độc mướn, ai không biết, chớ tôi là số một. Bữa ấy tôi mặc một bộ đồ tussor mới may và diện thật kẻng. Thấy bộ gió của tôi và nghe tôi trâm một câu tiếng Tây trong trẻo, muốn vào thăm thơ ký Lạc làm việc nơi văn phòng ông chánh chúa ngục Agostini, viên đội Tây gác cửa lật đật mở cửa cho tôi vào không xét không tra, nhưng đến chừng tôi bước qua khỏi ngạch, viên đội khoá cửa lại nghe cái rầm, khoá hai tua, tôi thấy cửa quá dày và cái chìa khoá to lớn khác thường, trong lòng thấy nao nao, định thối bộ lui gót thì viên đội dường như biết ý nhoẻn miệng cười và nói một câu pha lửng: “Không sao đâu. Anh vô đi rồi lát nữa tôi mở cửa cho mà về”. Yên tâm rồi, việc làm đầu tiên khi gặp Lạc là tôi xin Lạc trao gói đồ tận tay người thừa lệnh. Để cho Lạc ân cần hơn, tôi nói dối đó là người thân bên vợ tương lai. Lạc niềm nở bao nhiêu thì tôi lật đật lửi đửi bấy nhiêu vì lòng đi thăm bạn của tôi đã mất. Tôi chỉ nóng báo tin cho người đẹp rằng sứ mạng đã xong và tôi chỉ sợ người đẹp bỏ về. Cô gái đi xe Delage cám ơn líu lo bằng một câu tiếng Tàu, nhưng tôi nhớ mãi sau đó cô hỏi tôi địa chỉ bằng tiếng Pháp giọng học sinh trường nữ Marie-Curie. Khỏi nói tôi đã đưa danh thiếp của tôi trong ấy có ghi rõ địa chỉ và số đường sở tôi làm.
Vài ngày sau, đang giờ làm việc một buổi chiều, có người mời tôi ra phòng khách trường máy. Đó là một bác tài xế vận âu phục chỉnh tề, trao tôi một bức thơ chữ Pháp có ký tên là chủ nhân một đại dược phòng danh tiếng trong Chợ Lớn. Trong thơ cám ơn tôi đã giúp tận tình thân nhơn y trong khám đường hôm trước và ân cần mời tôi thứ bảy tuần sau thế nào cũng đến dùng cùng y một bữa cơm Tàu thân mật tại đại tửu lầu Đức lợi (Teck-Lỹ) đường Quảng Đông nay là đường Triệu Quang Phục, trong thơ nhấn mạnh và gạch một hàng chữ “mời tất cả quý quyến cùng đến dự” nguyên văn chữ Pháp “avec toute votre famille”.
Đã nói tôi có tánh bép xép và mau mẩn trong mọi chuyện, cho nên việc làm đầu tiên khi nhận tấm thiệp là đi rêu rao khoe khoang khắp anh em trong sở, lại còn làm tài khôn chạy lên phòng nhì (2è Bureau) dinh Thượng thơ, mời mọc bao nhiêu bạn bè mới quen cũng mời, vì thân quyến tôi trên nầy không có: “Mấy anh muốn ăn cơm Tàu không tốn tiền, hãy nhớ ra đón tôi tại ga xe lửa điện đầu chợ Bến Thành, thứ bảy tuần sau, đúng bảy giờ tối, bao nhiêu người tôi cũng đài thọ nổi”. Cố nhiên tôi có mời Lạc và ông Phủ Hiệu của Khám Lớn.
Đúng ngày hẹn, bảy giờ kém mười lăm, tôi ra ga Chợ Mới lúc ấy đặt tại chỗ bót Lê Văn Ken, tôi thấy một nhóm “chết đói” mười một người, với tôi là đủ chục mười hai, vừa trẻ vừa sồn sồn, bạn cũ năm xưa cũng có mà bạn mới quen trên dinh Thượng thơ vài trữ tôi biết tôi đã mời lỡ thì đã muộn. Xe chạy, kéo nhau cuốc bộ đến đường Quảng Tống Cái (nay là Triệu Quang Phục) chưa chi tôi đánh lô tô trong bụng vì nghe tiếng kèn song hỷ và tiếng trống Bắc cấu từ trong khách lầu xổ giòn điếc tai. Ngó lên cửa sổ lầu đại khách đường từng nhứt thấy treo một cây cờ chữ lớn rõ là liệu kỳ của nhà đại dược phòng N.T.Đ. Tôi rờ bóp biết chục hai trăm bạc của tôi còn gần đủ, nay nếu vì danh dự, vì thể diện dâng hết cho bọn ma đói nầy thì cũng đành. Tôi mạnh dạn kéo rốc lên thang. Đến từng lầu nhứt, thấy cách dọn dẹp sang trọng quá, bàn ghế trải ngăn nấp trắng phễu, tôi đếm sơ có trên mười cỗ bàn dọn kiểu bát tiên, tôi đâm ra sợ khan, vừa nghi đó là chỗ dành đại quan viên tiệc cưới hay tiệc tân quan khánh bạ nào đó vừa sợ trong bụng nếu ăn nơi đây, sang trọng làm vầy, ắt tổn phí tính nhiều, chi bằng kéo cả lũ lên từng lầu ba là hạng bình dân, may ra hai trăm đồng của mình cũng còn lại chút ít lây lất đến cuối tháng.
Chúng tôi rần rộ kéo lên lầu như nhóm lính bạt ti xăng đi xét nhà. Vừa tới đầu thang thì có một chú Ba Tàu ăn vận theo thầu xáng tửu lầu chận lại lễ phép hỏi đi đâu mà đông dường vậy.
Tôi cẩn thận rút thiệp mời chìa ra và đáp đi ăn tiệc do thơ mời của ông mỗ.
Chú Ba Tàu nhoẻn miệng cười bày ra hai hàm răng giả bịt vàng vàng khè, rồi chỉ tay mời xuống từng lầu chỗ có treo cây đại kỳ, mới ngán.
Tám giờ gõ, kiến cấn bụng từ lâu, anh em đòi ăn như giặc, vì mấy đĩa đậu phộng rang và hột dưa đỏ đã hết sạch Tôi giả lờ làm tỉnh kêu “mì” cho đỡ tốn. Nghe có tiếng dạ rân, giây lát thầu xáng bưng lên mười hai tô mì, mỗi tô đều có đồn đột gân nai vi cá và giò heo Bắc thảo. Tôi húp mì mà sợ cho hai trăm đồng bạc của tôi sẽ bay theo mười hai tô nầy, nên nuốt không vô. Tôi thầm trách thầu xáng muốn trách mình, hễ kêu mì thì đem thứ mì đoàn thể công cộng, một tô xộn xên tiết kiệm cho người ta nhờ, ai cầu vẽ viên cách vật, mỗi người mỗi tô cho thêm báo.
Đến chín giờ cũng chưa thấy ông chủ đại dược phòng đến. Mẹ ôi! Nếu ông không đến, tức ông khinh rẻ mình. Có nên giận chăng? Giận lẩy sẩy cùi! Đừng giận mà hư việc. Thầm vái giây lát ông đến thì mọi việc êm xuôi, chuyện gì mà khổ tâm vô ích.
Đồng hồ gõ chín giờ mười lăm. Anh em thúc: “Ăn bậy cái gì rồi về, khuya rồi”. Chuyến nầy tôi kêu rành rẽ hai đĩa cơm rang Dương châu hay Cantonnais gì đó, thứ nầy ăn mau no và chắc không quá số tiền hai trăm đồng mình có. Cơm đem lên ăn vừa được nửa chừng, bỗng ông chủ cao lâu đi chơi về, ghé chào khách quý ăn tiệc phòng sang ông thấy chỉ có mười hai Ớ Nam Dành, tuy vậy ông niềm nở bắt tay từng người và hỏi sao bữa tiệc kém hào hứng, có phải vì thức ăn kém ngon chăng? Tôi tỏ thật và phiền vì người chủ mời mà không có mặt khiến khách mất vui.
Ông chủ tiệm nghe tôi nói chưa dứt câu vụt cười xoà, sai thầu xáng mau mau dẹp hai đĩa cơm rang và cắt nghĩa: “Theo phong tục Tàu, nó (tức chủ nhân đại dược phòng, người đứng ra mời khách), nó không đến đâu, đừng chờ nó thất công Nếu nó đến, sợ có mặt nó, mấy ông ăn uống không tận tình. Nó không đến là nó có ý kính trọng khách đó? Ăn nhiều thêm nữa đi! Ăn chết cha nó đi! Kêu dội thêm đồ ăn ngon, ăn nhiều nhiều đi! Ăn ít như vầy, tôi lỗ vốn, hề hề, chết cha đi còn gì. Ăn nữa đi mà. Ăn hết gia tài của N.T.Đ, nó cũng không nói, sợ cái gì. Các chú đãi khách là vậy đó mà”.
Tuy lời nói không thanh bai nhưng giải được nỗi lòng, và mười hai cái mặt khách nở lớn như mười hai cái đĩa bàn cỡ hai tấc.
Lạc Khám Lớn có rượu đã ngà ngà, trách tôi dại dội: “Bày đặt kêu mì, kêu cơm rang, nay đã cành hông, còn nuốt sao vô?”.
Tôi mượn anh Phán Thành và Năm Xuân Trường Máy chạy xuống lầu, thổi kèn lập binh (sonner le rappel), chạy gõ cửa từng nhà, gọi các bạn cũ còn thức, đứa nào có cơ ngơi trong phố gần khách lầu, thằng Trân Xã Tây nhà ở đường Trần Hoàng Quân, kỹ sư Hiệp, hội đồng Phát, anh Tư Phước, ông giáo Đồng, dặn súc miệng sơ lên đây ăn tiếp tay một bữa cho người Tàu kiên oai và cũng cho lại gan ông chủ nhà thuốc lớn có ý khinh đời. Nhưng trời đã khuya, lúc ấy hơn mười giờ, nhà nhà đều ngủ, đã làm một giấc, và gọi người nào cũng đều ngái ngủ say ke, không ai khứng đóng vai đạo binh hậu tập!
Ông chủ cao lâu gọi thầu xáng sai lấy nước nóng có ướp dầu eau de Cologne cho chúng tôi rửa mặt, sai gọi gấp hai tên tẩm quách đấm lưng và bóp vai vuốt ngực o bế mười hai con gà đá chồng độ khác! Thiếu một điều nói xin lỗi. Ông muốn chúng tôi chọc ọe trả hết mì cơm, để cho bao tử mệt làm việc lại như lúc chưa ăn!
Ông bày biện đủ phương pháp của ông biết, nhưng chúng tôi ăn uống uể oải, mười hai đứa chia ra ngồi hai bàn dọn hai mâm vì vèo mà thức ăn còn ê hề không sứt mẻ phần nào. Chủ tiệm lắc đầu than lỗ như bộng. Rồi ông sai bưng lên hai mâm đèn đặt trên hai bộ ván thứ gọi là sập ba thành dành cho tiên ông đi mây về gió, ông gọi hai á múi đến làm thuốc và mời mọc: “Hút chơi ít điếu cho mau tiêu”.
Mười hai giờ, chúng tôi kéo nhau xuống lầu. Chủ tiệm còn thức cầm nán lại, lấy bàn toán ra gõ lắc các tính tiền rồi lắc đầu, đưa tay mời chúng tôi trở lên phòng như cũ. Chuyến nầy ông sai dọn lại nắp bàn mới, triệt hết ly chén, lấy trà thơm chén sứ ra dâng khăn nóng lau mặt lại nữa, rồi dạy lấy hai ống sành ra môi ống có để sẵn một mớ thẻ tre giẹp giẹp mỏng mỏng y như thẻ xin xâm các chùa Tàu. Tôi không hiểu chuyện chi còn mảng chần chờ ông cắt nghĩa đây là cách mời “hoa khôi biết nói” vì á múi quá đông nên phải bày ra cách nầy để tránh tiếng vị tư vị kỷ, các á múi cũng vui mà các phì phà chảy (con hát) cũng không cự nự.
Tôi nghe lời rút thăm trúng bốn cô mại mại như có tên rất đẹp: Cúi Ên (Quế Anh), Dục Nụi (Ngọc Nữ), Á Ngò (Cô Nga) và Hồng Hứ (Hồng Ngư). Giây lát có bốn cô gái lên phòng, toàn dưới tuổi hai mươi, hai cô tay ôm mỗi người một cây hồ điệp cầm, hai cô nhỏ tuổi tay cầm quại tay cầm khăn nhỏ che miệng làm duyên. Ngặt nổi đôi bên ngôn ngữ bất đồng nên chẳng có thú vị chi cả.
Các cô chào chúng tôi rồi ngồi một bàn riêng, rồi lên dây đàn như để trả nợ quỷ thần. Hai cô ca eo éo, chúng tôi như vịt nghe sấm. như trâu nghe đàn. Hết tốp nầy kế tốp khác, cả bốn cô cũng muốn thi thố tài năng, nhưng phong tục Tàu đứa nào đi lại Ớ Nàm thì kể như bị ô nhiễm, bọn họ tẩy chay luôn sau nầy vô phương làm ăn, nên gái Tàu ít dám nhảy dù với con trai Việt. Lạc Khám Lớn lim dim ngủ gà ngủ gục. Th. Trường Máy kéo ống vố rồi lấy á phiện nướng đặng bỏ túi đem về nhà, Tôi bị ma men hành, lại gần một á múi vừa đụng nhẹ vào má. Nhưng như bị điện giựt tôi nghĩ “ái” một tiếng y như con búp bê có lò xo kêu, cô hết hồn, và tôi cũng cụt hứng.
Nhưng bữa tiệc dẫu vui đến đâu cũng không thể kéo dài được mãi. Đến hai giờ khuya, mòn mỏi quá chúng tôi xin về. Ông chủ quán phen nầy lắc bàn toán, cười cười cho hay bữa tiệc giá bảy trăm sáu chục đồng, nên chi ông tặng mỗi đứa chúng tôi một chai eau de Cologne hay ai thích thì một hộp xì gà Corona, để tính chẵn tám trăm với ông chủ đại dược phòng. Hai trăm bạc của tôi vẫn còn.
Một tuần sau tôi mới được biết mặt ông chủ nhà thuốc. Xe ghé trước cửa Trường Máy. Ông người còn trẻ, có vẻ rất sang, và tánh tình nhã nhặn. Tôi trách ông bữa tiệc làm quen hoá bữa tiệc khinh thường, ông tạ lỗi nói y lời chủ hiệu cao lâu đã nói hôm trước.
Ông thú thật trong gói tôi đưa vô khám có chứa một bức thơ quan trọng, ơn tôi giá đáng ngàn vàng. Tôi nghe mà hết hồn cho việc làm tắc trách hôm trước, giỡn với lửa mà không ngờ. Ông mời tôi đến nhà nhưng từ ấy tôi không gặp ông nữa, bóng hồng thì đã vầng bặt từ lâu.
Bây giờ mới biết vì chuyện vô khám thăm bạn học cũ, tôi đã phạm hai tội: một tội đem thơ kín còn tội kia xin cho tôi tự bào chữa. Tôi không có nhận tiền và việc không có sấp đặt trước.
Theo tôi, đây là lộc trời dành một cảnh du nhập Thiên Thai tân thời tiếc thay tôi và các bạn tôi không có số để tận hưởng. Nàng tiểu thơ trước học Marie Curie quá nhã nhặn đã trả ơn tôi một cách quá hậu, nhưng thưa tiểu thơ, một cái liếc của cô còn hơn gấp mấy số bạc ngàn do cha cô đã phí.
2. CHUYỆN THỨ NHÌ – MỘT VỤ HỐI LỘ HỐI CẢI KỊP THỜI.
Năm 1929, tôi nghèo cúng lắm. Trong nhà thiếu trước hụt sau, mắc nợ ba trăm đồng bạc thôi, mà quanh đi quẩn lại tháng nầy qua tháng kia, vẫn vá víu mãi không trả nổi. Hỏi mượn một trăm của nầy, của Khôn, Khanh, anh em bạn tốt trong sở, đem đắp chỗ kia, cứ quây quần như vậy không khác đắp bờ đê, chung qui nước vỡ bờ vẫn tiếp tục.
Ác nghiệt nhứt là trong tay có sẵn tiền mới là nguy hiểm, vì tiền ấy là của công, tiền trong kết bạc toà bố, chánh phủ giao tôi giữ với chức vụ ký lục phát bạc (comptable, agent de paiement).
Chức nầy trước kia giao phó cho quan lại lang-sa đứng hàng thứ ba trong tỉnh sau vị tỉnh trưởng Pháp gọi Chánh Tham biện (ông Chánh) và sau vị Phó Tham biện (ông Phó). Qua đến thời bình, nhiệm vụ bớt gay cấn, chức nầy mới phó thác cho người Nam coi, vì vậy còn lại danh từ nôm na gọi ký lục phát bạc là ông công táp.
Thỉnh thoảng trong cơn gấp rút, tôi có ký bông khi mượn mười đồng làm vốn đi đánh bài, khi khác mượn hai chục để mua đồ xưa, nhưng tôi cân làm sao số tiền mượn không quá lương tôi lãnh, có bề gì, rủi thanh tra xét tủ, mất mát đôi ba chục, đổ thừa làm mất, bất quá thường tiền chớ không đến nỗi bắt tội hà lạm thụt két.
Cái năm 1929 ấy tuy vậy mà tôi hạnh phúc nhứt đời duy không biết để mà tận hưởng: ngoài sở chúng bạn yêu vì, quan trên trọng dụng, trong nhà có vợ đẹp, gia đình tuy thiếu hụt nhưng đầm ấm, cái hoạ ngoại tâm vẫn chưa nẩy mầm.
Nhưng cũng bởi nghèo túng, cho nên tinh thần thường dao động. Mặt khác bản tánh vốn ngay thẳng nhờ cha mẹ khéo dạy từ nhỏ, rốt lại không được sự dao động xưa. Tôi xin thuật lại như sau một vụ toan ăn hối lộ may thời đến phút chót ngưng lại kịp.
Nguyên từ lâu, ông cai tổng cao niên trên Cái Tàu thượng, L.H.H., làm mất lòng tín nhiệm của ông chánh phủ tỉnh tên là F.Barloli. Trước khi về nghỉ bên Pháp, ông nầy để mật thư lại cho ông chánh kế nhiệm là ông L. Pech đề nghị nên giải nhiệm ông cai tổng, viện cớ là tuổi già, khả năng chống cộng kém. Tôi quên nói lúc ấy là lúc bắt đầu có nạn cộng sản tại Sa Đéc, nhứt là ở Cao Lãnh và Cái Tàu thượng, nhưng nhẹ thôi, như bày cho dân không đóng thuế, xin bớt thuế, vân vân. Tụ tập la ó ban đêm bởi ban ngày lặn mất, để chờ tối hôm sau tuyên truyền thuyết mới nơi một làng khác. Họ dùng ớt chín kết làm tràng hoa cờ đỏ búa liềm thả trôi sông trên bè chuối hoặc treo băng-đơ-rôn phản đối nơi chỗ hẻo lánh chớ chưa hề có bạo động lớn đến xảy ra án mạng. Sở dĩ có mật thư cũng vì chút tư thù, ông cai không dâng lễ mễ nào trong khi ông chánh F. Barloli, có tiếng là người ham ăn của đút. Thậm chí mấy thầy ở toà bố, trừ những người có khả năng không sợ bị hớp hồn, chớ thầy nào yếu bóng vía đều phái cúng kiễng lễ vật mới được bình an. Ông chánh cũ có mượn của một thầy cai tổng một con bò sữa để mỗi sáng có sữa tươi cho ông pha cà phê; khi ông về xứ mời thầy cai đến lãnh bò về, ông cũng tìm cách khen thầy cai hào hiệp bằng cách ép thầy cai mua giùm hai cái xe đạp của con ông thôi dùng; bao nhiêu ấy đủ thấy thủ đoạn cao cường của một ông chăn dân có nhiều mánh khóe. Cũng vì thầy cãi L.H.H. không chịu dùng kế “cho mượn bò lấy sữa” mà biến ra cai hoạ tâm thư đề nghị sa thải ông.
Trong hồ sơ để lại, ông Cai H. đã 54 tuổi, cũng đáng tuổi về hưu, nhưng tôi không tin nơi hồ sơ và có ý muốn biết mặt ông cũng như muốn biết thêm về ông để dễ bề định đoạt; nghiệt nỗi ông ít đến toà bố, mỗi tháng lãnh lương do tay tôi phát, ông cũng ít năng đến lãnh hoặc nhờ người khác lãnh thế thành thử giữa ông và tôi cuộc tiếp xúc dường như không có.
Cái hoạ sau lưng ông cai và càng cấp bách nguy hiểm hơn là ông có một phụ tá cộng sự viên là bang biện phó tổng H.T.S. rấp ranh giành chỗ ông mà ông chẳng hay biết.
Nay nói về nguyên tắc, muốn cho về hưu một vị cai tổng thì ít nữa phải viện khá nhiều lý lẽ vững vàng, tỉ như tuổi già, sức yếu, khả năng làm việc thiếu kém v.v… Trong hồ sơ tôi cầm trên tay, các lý lẽ ấy đã hội gần đủ: tuổi về hưu theo nguyên tắc là 55 mà ông đã tuổi 54; ông thường xin nghỉ việc để đi chơi khi Đà Lạt, khi Vũng Tàu, sau mấy giấy phép sao lục ngờ ngờ còn trong hồ sơ lại là những chứng cớ hùng hồn rằng ông thường bịnh hoạn, tuy mấy lần làm quan chánh đến tổng giản dân ông đều có mặt ứng hầu, nhưng những lần có tụ tập hay bạo động chỗ nào, thường thầy bang H.T.S. lãnh đi thế, ngờ đâu mấy việc vặt ấy nay trở thành cáo trạng tố cáo ông cai ít hoạt động, không bằng thấy phó xốc vác hơn. Ông phố không lánh nặng, ông cai ưa tìm nhẹ. Còn một phần thừng điểm của ông cai già là ông có uy thế dân trong tổng kính vì.
Trong khi ấy, ông bang biện phó tổng tuy trẻ hơn một chút nhưng gia thế sự nghiệp cũng tương đương chẳng kém sút gì ông cai. Cái thua điểm của ông nhỏ nầy là uy tín không bằng ông lớn, kể về hành chánh và kỉnh nghiệm thì ông trẻ vẫn thua ông già.
Trong những buổi tôi tiếp xúc với anh em trong sở, tôi hỏi thăm kín thì phần đông cho là ông cai có tánh kiêu, hơi khó chịu, thua ông bang biện biết đãi bôi chiều chuộng dễ chịu hơn; dễ chịu với khó chịu đây tượng trưng, sau tôi rõ lại, là một ông ưa cho trái cây trong vườn làm quà (thầy bang S.) còn một ông tánh sẵn rít lại có nho phong, không muốn nhờ lễ mễ bấc cầu giao thiệp gây cảm tình. (ông cai H.); Cái sẩy nẩy cái ung là vậy.
Một chi tiết nhỏ làm tôi giựt mình là cả hai đều: một ông S. là cha vợ của giáo sư cử nhân khoa học, anh Cang vốn cùng tôi người đồng xứ, và cũng đồng song, còn ông H., vốn thân phụ của anh Lê Hồng Đô, một bạn đồng trường Đô học ban lang-sa (quartier européen), tôi học ban bản xử (quartier indigène) nhưng cả hai cùng học đờn vĩ cầm cùng một thầy là Sersot; về điểm cảm anh đồng song, tôi cho cả hai đều cùng một điểm không ai hơn kém.
Cân đi xét lại, tôi thấy thầy bang chạy chọt quyết làm cho ông cai về vườn để thầy lên thay thế làm cai tổng thực thụ. Ông cai vô tình, không biết mình suýt mất chức, việc giải nhiệm còn giữ kín, tuy ông không tìm giáp mặt tôi nhưng có lẽ sao chiếu mạng của ông còn tốt khiến nên gặp tôi sẵn tánh quân tử Tàu muốn học đòi tế khổn phò nguy hơn là trợ Trụ trợ Kiệt, để mà vi bạo, vi ngược.
Cho hay kẻ cố tình rình người vô ý, trong khi thầy cai thụ động, thì trái lại thầy bang tinh khôn hơn, nên cậy người thân tín là anh Tám Hoài dọn đường trước bằng cách đưa thầy đến nhà tôi, ban đầu nhắc lại việc thầy là nhạc gia của Cang để “nhìn bà con” xưng hô bác cháu; kế đó thầy đi ngay vô đề hứa xong việc sẽ dâng tôi ba trăm bạc mặt xài chơi, và sau rồi đánh một đòn tâm lý thật nặng là đinh ninh việc rồi tôi sẽ có một cặp choé sơn thuỷ không ai có. Đó rồi thầy tả sự tích cặp chóe làm cho tôi thêm mê mẩn tâm thần, nào là nét vẽ tinh vi đúng là cổ vật đời Kiền Long, nào là trước kia cặp chóe vốn của ông huyện Đước là một danh sĩ cựu trào đàng ta, sau ông Đước thiếu nợ nên gật nó qua tay ông bang Sển tức ông Thái Viêm Thành, nhột hào trường trong vùng. “Nếu thầy, ủa cháu, muốn chơi chóe thì chỉ có cặp nầy là tối nhứt hạng trong xứ không ai hơn. Để thủng thỉnh bác rảnh, bác sẽ nói với ông Sển nhường cặp chóe lại cho bác thì thế nào nó cũng về tay cháu. Cháu chưa biết ông bang Sển, để rồi bữa nào bác sẽ rước cháu lên nhà ông ấy chơi một chuyến để làm quen. Ông Sển có cái duyên lạ lùng về đồ cổ là ông thừa hường, vì gật nợ, bao nhiêu của sưu tập của ông huyện Đước, mà mỗi món đều có chạm nơi đáy hai chữ tử âm “H.Đ” “(Huyện Đước)”.
Ông S., và anh Tám Hoài ra về, tôi không hứa điều gì với ông duy với anh Tám tôi đã nói hai tiếng thòng đầy ý nghĩa là để coi Đại phàm lòng dục vọng của mỗi người có giới hạn. Nếu bao nhiêu chưa đủ xiêu, thêm cứ thêm nữa thì có ngày cũng đến.
Với người thường, một tô mì đã đủ no, nhưng gặp đứa khỏe, năm ba tô cũng chưa vừa, cái dạ dày, cái bao tử của thằng nầy nó thun giãn không chừng; khéo tâm lý là người có mắt để đo lường cho đúng. Cái tham của ông bộ trưởng chê hút thuốc lá thì hãy biếu ông xì gà nguyên hộp. Đứa nào tham gái thì hãy lấy sắc giục lòng.
Với kẻ không hám tiền, một cặp chóe đã gieo vào đầu óc tôi một món thuốc độc còn lợi hại dữ tợn bằng mười thuốc phiện. Ai có qua cầu mới hay, và người chưa hút xin hãy khoan cười người ghiền gập. Đối với tôi, tiền bạc tôi không ham nhưng chỗ yếu của tôi là ham đồ cổ. Một con đĩ không khác, thập thò muốn đi khách mà chỉ đợi giá cao.
Bù qua chế lại, vụ nầy nếu tôi làm xong tức cho về hưu một ông cai mà hồ sơ đã chín mùi, và cất nhắc ông Sum nầy, thì tôi vừa có tiền ba trăm bạc trả nợ, thêm có hai món vật ao ước bấy lâu, vì tiếng đồn về ông huyện Đước vang dội trong trí óc tôi từ thuở nhỏ. Nói chi đáng lương tâm tôi lúc đó đã đi vắng, nói đúng hơn tôi chưa thấy gì là cắn rứt, dĩ nhiên làm theo hồ sơ có sẵn mà tội vạ gì. Tôi vừa là phạm nhơn vừa là quan toà, tôi xử lấy tôi, thảo nào tôi không cho tôi trọng án.
Khi ông chánh Bartoli rời tỉnh Sa Đéc thì giấy ở Sài Gòn gởi ông chánh mới là ông Louis Pech đến thay. Ông Pech trước có làm chủ tỉnh ở Sốc Trăng, ông có một trai út đến học riêng với ông đốc Gros. Phòng cậu học ăn thông với lớp nhì của ông giáo Chức mà tôi đang từng học, và hai đứa tôi từng quen biết nhau vì cậu thường qua mượn tôi cục tẩy mực. Một hôm thay vì trả, cậu rán mất bỏ vào mồm nhài luôn cục tẩy, và cho đến nay tôi còn nhớ mãi anh Tây con ăn gôm tẩy mực. Bữa bàn giao công việc giữa hai ông đầu tỉnh cũ và mới, thừa dịp tôi hỏi thăm tin tức cậu ấm bây giờ ra sao. Ông Pech có thiện cảm nhiều với tôi từ đó, ông tuổi chưa đến lục tuần, người có phong độ quân tử, tôi chưa gặp người chủ nào ăn nói hiền lành nhã nhặn như ông nầy. Ông có cách làm việc cũng mới. Thường lệ công văn mỗi thầy phải đem lên tận văn phòng quan chủ tỉnh đãi lịnh và hầu chữ ký; đàng nầy ông bổn thân sớm và chiều hai buổi đi đến bàn làm việc từng người, ôn tồn hỏi han rối ký lên tại chỗ, việc nào cấp bách mấy thầy được lên trình bày và ông giải quyết tức thì, nhờ vậy người dân không chờ đợi và cả thảy đều bằng lòng. Từ ngày ông đến trấn nhậm, cứ đúng mười lăm giờ là có ông đến phòng bút toán, tôi nhường chỗ tôi cho ông ngồi, ông đàm đạo với tôi ngót nửa giờ rồi mới lên văn phòng ở lên lầu toà bố. Cử chỉ thân mật ấy làm cho các bạn tôi đều lé mắt nể tôi, vì thuở nay muốn được thân thiện thì phải đút sáp, chỉ có ca tôi như nầy, chính tôi cũng lấy làm lạ, sau tôi hỏi, ông cười đáp: “Thầy đồng chạn với con tôi nên tôi nhớ con mà thương thầy?”. Một bữa nọ, ông gọi tôi lên văn phòng nói chuyện tâm tình và ướm lời mời tôi vô ở chung trong dinh. Ông lấy cớ dinh quá rộng, ông sống độc thân, có bịnh đau tim, vì vậy mỗi lần từ dinh ra toà bố ông phải ghé văn phòng tôi để nghỉ mệt, gia đình ông đều ở lại bên Pháp, phu nhân đã từ trần, tiểu thơ còn đang học và cậu ấm mà tôi quen thì đang tuổi thi hành quân dịch. Gặp người khác, tôi dám chắc, nếu được mời như vậy ắt đã lập tức nhận lời ngay, để mặc tình tác oai tác phúc, vì có mấy thuở tôm dựa cửa rồng, thơ ký quèn mũi tẹt ở chung một dinh với quan tham biện chủ tỉnh. Nhưng tôi điềm nhiên xin để vài ngày suy nghĩ. Trong thâm tâm mặc dầu u tôi là thằng hư, nhưng lúc ấy tôi sáng suốt và lý luận thầm, cái chỗ ấy bất quá là vai tuồng đày tớ ruột gẫm không sang trọng gì. Thêm là ai sao được tự do vì lúc đó tôi mê lâm bài thín cầu và đêm nào không chà bài đêm ấy tôi ngủ không ngon giấc. Vài ngày sau tôi lên thú thật, một lẽ quan trọng tôi xin nói và ông Pech cũng nhìn nhận tôi có lý là tôi còn trẻ quá, vợ tôi còn nhỏ hơn tôi nữa, nay hai đứa ở chung với ông, đỡ tốn đã đành rồi, nhưng sợ thiên hạ đàm tiếu dị nghị.
Chớ chi tôi độc thân thì khỏi nói. Việc ông sống cô thân, sau đó tôi giải quyết bằng cách chọn hai người bồi trung tín vào phụng sự sớm tối và rất may hai người nầy không phụ lòng tôi tiến dẫn.
Từ ngày tôi biết ông chủ tỉnh có lòng ái đới, tôi dạn dĩ thêm và đã trực ngôn nhiều lần và tôi nói gì ông nghe nấy. Một việc như sau, tôi chắc không ai dám làm và nay nhắc lại tôi còn ghê rợn cho cái liều lĩnh của tuổi trẻ: Tôi chờ ông chủ quận châu thành Sa Đéc gởi công văn nhắc lại vụ cho về hưu cai tổng Cái Tàu thượng vì kém khả năng và già yếu khi ấy tôi lấy hồ sơ ông cai H., ra dọn lại tử tế sấp xếp giấy tờ có thứ tự phân minh, xong rồi tôi để hết tâm tư thảo nảo thơ đề nghị cho ông về hưu y như lời quan chủ quận yêu cầu với lý lẽ ôn hoà nhưng bố trí đanh thép. Tôi đọc đi đọc lại nảo thơ nhiều lần, chép lại sạch sẽ rồi ôm hết lên trình quan chánh chủ tỉnh. Ông Pech đọc chăm chỉ, phê y không sửa đổi chữ nào. Tôi mừng và hãnh diện về lối hành văn đắc thể của mình, lật đật đem xuống qua phòng khác bổn thân đánh máy chớ không giáo cho đả tự viên vì đây là công văn mật phải giữ nhẹm.
Chiều nội ngày ấy tôi dâng lên lần chót cho ông chánh ký tên, xong rồi tôi ôm xuống lầu thì đã bốn giờ chiều, chỉ còn vô sổ đánh số thứ tự và cho tuỳ phái đem qua sở bưu điện gởi lên cho quan thống đốc chấp thuận, ra chỉ thị ban hành quyết định giải nhiệm theo thủ tục hành chánh là dứt khoát vụ nầy. Nếu xong tôi sẽ co ba trăm bạc trả nợ và có một cặp chóe, sướng quá.
Nhưng thay vì gởi đi, tôi lại đổi ý, cất hết hồ sơ luôn bức thơ có mang chữ ký của ông Pech ký rồi vào tủ sắt, nói dối với thầy Giỏi nơi văn phòng là công văn “ông chánh chưa ký tên” rồi bỏ đó về nhà.
Đêm ấy tôi không nhẩm mắt. Cờ đã về tay không chịu phất lại đâm ra suy nghĩ nát óc, trong lòng muốn đổi cuộc thế lại khác, bản tánh tôi thuở nay là vậy. Tôi trằn trọc trằn xa, lăn lộn không yên mà cũng không dám cho vợ biết. Trí óc rối loạn: một đàng lương tri bừng dậy, bây giờ việc đã gần xong, mới thấy việc mình làm là lếu; một đàng thì lòng dục vọng xui quấy, ba trăm bạc và cặp chóe tuy chưa thấy nó ra sao, nhưng cứ nhảy lung tung trong mắt như tôm tươi đựng trong rổ, lẩn quẩn tôi cứ nhớ: có tiền trả dứt nợ thêm có vật lạ để chơi cũng thích, nhưng làm sao quên cha mẹ mình thuở nay chưa làm điều gì quấy, nay sanh ra mình, có nên vì chút hối lộ đành chôn vùi danh giá dòng họ hay chăng? Dẫu người ngoài không biết, nhưng còn lương tâm nữa chi? Cái lẩm cẩm tánh quân tử Tàu tôi chưa dứt khoát.
Khổ tâm nhứt là việc đã rồi, giấy tờ đã ký xong, mới làm sao đây? Phải làm cách nào, phải trình bày lập luận làm sao cho thuận tai ông chánh, xin huỷ bức công văn đã ký, đổi lại bức phúc trình khác đề nghị phản ngược lại vừa khác ý kiến quan chủ quận vừa trái mật thư quan chánh cũ Bartoli, nay đổi lại xin cho ông cai tổng H., được tiếp tục làm việc y như cũ. Bạc và chóe, tiền và đồ xưa, chúng mi là giống gì hại ta thế nầy?
Qua bữa đó, vô sở tôi định cầm hồ sơ lên ông chánh nhưng ông không ra khách trọn buổi sáng. Trưa về tôi nuốt cơm không vô.
Lúc đó tôi còn đủ thì giờ gởi bức thơ kia đi, mặc cho sự việc trôi theo định mạng, nhưng tôi cũng không làm như vậy. Chiều mười sáu giờ, ông Pech có mặt, tôi đánh liều xách hồ sơ lên và bình tĩnh trình bày tự sự với ông như vầy:
– Thưa ông, đây là hồ sơ ông cai tổng H, mà ông đã xem xét rồi. Sở dĩ tôi trình lại là vì trọn đêm tôi không ngủ, nghĩ lại tôi còn quá ngây thơ e không đủ tư cách để quyết đoán về khả năng ông cai H., trong khi tôi chưa tường tận về sức khỏe và cách làm việc của ông nầy. Thú thật tôi chưa biết mặt ông H, mà chỉ vội xin cho ông về hưu chiếu theo giấy tờ trong hồ sơ. Nay tôi đến yêu cầu ông nhơn một dịp mai đi giãn dân sẽ đến tận Cái Tàu thường lấy theo kinh nghiệm của ông sẵn có mà coi mặt ông cai tổng và tự ông quyết đoán lấy việc nầy.
Tôi định chắc ông Pech sau khi nghe tôi nói như vậy, sẽ nổi lên một trận lôi đình và bắt tội tôi vi lịnh của người, ngờ đâu ông để tôi nói dứt lời rồi ông đứng dậy bắt tay tôi, vỗ vai tôi mà rằng:
– Tôi khen thầy đó. Xin thầy giữ y tánh nết tốt ấy mà ăn ở đời. Thầy là một công chức trẻ tuổi mà đã có một quyết đoán nhứt là một can đảm khác thường. Tôi đây là một công chức già đã từng bị người ta vì phe đảng cho tôi về hưu một cách oan ức. Tôi đã bỏ ra hai năm tranh tụng và nay thắng kiện mới được trở vô làm sau mấy năm bị treo giò vô cớ. Nhờ thầy gan dạ giúp tôi ngày nay khỏi lầm lạc và có dịp giải oan cho một công chức có lẽ ở trong tình trạng bị hàm oan, bị hiểu lầm như tôi thuở nọ. Thầy hãy để hồ sơ đó lại cho tôi.
Cố nhiên ông H, khỏi bị cách chức, nhưng tôi mất cặp chóe và ba trăm bạc. Nhưng đổi lại trong lòng tôi thấy sảng khoái, dường nhưcởi nhẹ một sức nặng ngàn cân đè trên tim. Về sau ông S., vẫn được lên làm cai tổng, ông H., rồi cũng đúng lệ về hưu thâm niên vô sự và cả hai không người nào biết việc tôi đã làm. Việc nầy tôi chỉ tâm tình nói lại với một bạn quá cố là anh Lâm Văn Khôn quê ở Bình Thuỷ (Cần Thơ). Khôn dạy tôi như vầy:
– Mầy lớn gan lắm, dám nói đi rồi nói lại với ông chủ tỉnh. Rủi ông bắt tội mới làm sao gỡ? Mầy chưa biết để tao nói lại cho nghe. Tại toà bố Sa Đéc như hiện nay thì:
– Sở thuế thân là ngon nhứt và no đủ nhứt. Cứ tính mỗi bài chỉ (lá thuế) thầy Quì xin năm cắc thôi, trong tỉnh mỗi năm tỷ dụ có hai chục ngàn dân đinh đến tuổi chịu thuế, trong số kể sơ mười ngàn đứa biết điều thì Quì sơ sơ cũng có năm chục ngàn đồng là tệ nhứt, còn sướng hơn làm chủ quận;
– Sở sanh ý, mỗi tiệm đầu năm đi xét ba tăng, không kể phần ông phó tham biện làm chủ tỉnh ông ta ăn bao nhiêu, bẫm hay nhẹ, không cần biết tao đây tao làm thơ ký Uỷ ban, tao kiếm cũng có từ mười lăm đến hai chục ghim;
– Sở xuất khẩu, thuế thân chức, với bảy bang các chú và chà-và anh Quới rồi anh Lễ. Anh Quới ốm vì ít ăn, anh Lễ mập vì táp dữ, cũng đều có mỗi năm một số huê lợi sướng hơn chủ điền, vì mấy chú Ba Tàu có tiếng là ngọt nhứt;
– Sở đo lường, mỗi chiếc xe hơi thôi không kể, chỉ kể mấy ngàn chiếc ghe trong tỉnh, mỗi chiếc muốn nhập bộ đều có lệ sẵn, chú Năng rồi chú Nam mập thầy, nhưng họ xách thước đi đo rồi tính thuế mà không được bao nhiêu khó bì tụi tao làm bài chỉ thuế thân và làm sanh ý ba tăng;
– Sở giữ bộ trâu bò, cũng thế. Thầy ký Có coi về bộ nầy có tiếng là ke ré cắc rắc nên thiên hạ gán cho thầy danh từ “thầy ký bộ trâu”, thì đủ hiểu; tiếng tuy nghe xấu nhưng được nhiều tiền; quanh năm có mấy trăm ngàn, đổ đồng mỗi con một đồng bạc.
– Sở công nho làng thì ai cũng biết làng muốn khỏi bị làm khó dễ vì làng có cách ăn của làng thì cũng phải chia lại với ông phán Kinh, tuy ông là người có đạo đức, mỗi sáng mỗi đọc kinh mỗi chiều mỗi đạp xe đi nhà thờ;
– Sở hành chánh về ông huyện Học, là oai nhứt vì tay mặt của ông chánh tức gầnmặt trời tuy nấng táp có khi có chừng nhưng tâu ra lâu vô cũng do ông huyện. Xin giấy sắm súng xin vô bộ dân Tây thì chai vì đều người biết chuyện, nhưng mấy ông hương chức muốn được vinh thăng huyện hàm, phú hàm, hoặc muốn tiến cử làm hội đồng tỉnh hay cử làm sung biện, ban biện, phó tổng đều phải đội mâm có sấp nhiều bộ lư hoặc cỡi voi đến nói chuyện, lư và voi là giấy bạc một trăm buổi ấy, không dám dùng tiếng lì xì sợ nhẹ thể quan, và dùng danh từ “dâng bánh sáp”, nghe như lễ cúng thần;
– Sở điền thổ gọi là sở địa bộ, ông huyện Đảnh có tiếng là thanh liêm, nhưng cũng không tránh được nhà giàu họ tự dâng quà cáp khi gạo thơm đầu mùa, khi khác cam bưởi, xa-cu-chê hoặc cho mượn xe hơi hay khi ông lên chức đi lễ thăng quan thật hậu; ông không đòi nhưng tại dân muốn, từ chối là thất sách vì e nỗi mếch lòng, mất tiền thì có, mấy lấy dư tụi nó la làng. Lâu lâu có một dịp thì hưởng, mấy lại làm cao không chịu táp, mấy thằng làm mặt thanh liêm là mấy thằng dại. Mấy tưởng mấy ở sạch, sẽ có người khen, mấy không biết ông Bartoli táp có danh, ông đã úp bộ cho rằng từ chủ quận đến lon-ton toà bố đều ăn hối lộ. Chính ông chánh Bernard trước kia có vợ Việt còn ăn công khai hơn nữa, ông có sắm một chiếc tam bản cho linh chèo để dành rước từ bên sông mé chợ những ai muốn sang sông qua “nói chuyện” với ngài thì khỏi tốn tiền đò, và ngài nhận lễ tại trong dinh cho thêm phần kín đáo, ngài mập cho đến mặt bàn phải khoét lỗ chứa cái bụng nước lèo ngài mới với ký tên tới mặt giấy tờ, khi đi tiêu phải dùng khăn bàn lông kéo như kéo đờn cò chớ tay ngài với không tới trôn, và khi lên thang lầu phải có hai tên tuỳ phái đỡ cái bụng phệ nâng lên thì ngài mới bước lên nấc thang được, y như trên sân khấu lúc Đổng Trác bước lên xe loan hay lên ngai rồng. Riêng ông chánh Le Strat vẫn ngạo mạn, gọi mấy thầy toà bố là lòng tong cá chốt và gọi mấy ông chủ quận là cá xà cá mập toàn loại hoặc ăn dơ hoặc ăn hám. Một mình mầy muốn sạch quả là ngu hết chỗ nói. Muốn sạch muốn tu thì lên núi Tà Lơn hay núi Cô Tô. Ở chợ phải theo chợ và ở đâu cũng vậy luôn luôn phải biết tuỳ thời. Mầy muốn sạch trong đám dơ thì hoặc mấy sẽ bị chúng ám hại cho á khẩu, hoặc thét rồi mầy phải dơ theo chúng thì mới được yên thân.
Khôn dứt lời cười xoà rồi bỏ qua. Nghe vậy tôi nhớ lại mới đó có một hôm, tôi làm thơ ký thị sự đấu giá cung cấp xăng nhớt cho địa hạt, có ông bang Lý Ứng thay vì đóng vào ngân khố tiên ký quỹ hai chục đồng, bởi gấp quá nên ông ghìm một tờ giấy bạc trong bao thơ như vậy là thạp lệ, khi mãn cuộc đấu, ông Lý Ứng không thầu được nên xuống phòng bút toán đòi tờ giấy bạc lại; tôi trả lời rằng tôi không thấy, ông và tôi nói chuyện dang ca rồi đưa lên ông chánh đối nại, tôi ỷ y không nhận số tiền nầy, nhưng ông Bartoli đưa chúng tôi trở lại phòng đấu giá, chỉ giỏ rác, tôi cúi xuống lượm phong bì Lý ứng thì quả trong bao thơ đã xé còn tờ giấy 20$ ràng vàng. Ông Bartoli cười bước trở về phòng, vừa nói: “Je croyais que c’était pour vous?” (Tưởng đây là tiền dành cho thầy!) Cha mẹ ôi! Té ra ông lại hiểu tiền ấy không phải là tiền ký quỹ mà vốn là tiền lo lót cho thầy thơ ký Uỷ ban và vì ông có cảm tình với tôi nên cố làm như không thấy để tôi có thì giờ thâu lượm lại, nếu ông ghét tôi thì đã dựng chứng và làm khó dễ tôi lúc khui mở bao thơ kia rồi.
Bức công văn xin sa thải, ông Pech ký ngày 23 tháng mười một, đến cuối năm ông còn mở tiệc tiếp tân đãi sâm banh nhơn viên toà bố và chủ quận. Nhưng sau tết tây ông ngả bịnh rồi đột ngột từ trần trên dưỡng đường Grall ngày 11-2- 1930, vì bịnh đau tim bộc phát.
Từ đó tôi dửng dưng. Tôi vẫn hư, nhưng chỉ muốn hư một mình và không muốn kéo ông bà cha mẹ hư theo. Nămi 1931 tôi được ăn một phần gia tài của bà Phủ An để lại. Tôi trở nên khá đến dư giả thì còn ăn lúc nhúc làm chi? Tôi muốn án cho đáng ăn ngặt nỗi không ai cho. Sau nầy muộn rồi nên từ chối luôn chớ cái hư vẫn còn chất chứa trong bụng.
Những trang trên tôi viết về vài cách thức nhận hối lộ của cuộc đời công chức trào Pháp thuộc. Tại tôi sống dai chưa chết, nay nghe tiếng bấc tiếng chì cũng đáng, nhưng cũng phải để cho minh oan, không phải cả thảy đều hỏng hết. Ngày nay tôi đã về hưu, không khác một thằng chết đuối được cứu sống, cho mặc quần áo ám ngồi dựa mé sông xem ke khác còn chới với trong cuộc ba. Đọc lại bài “Lão kỵ qui y” của ông Tôn Thọ Trường, tôi lấy làm cảm xúc với hai câu kết thúc: “Ngoảnh lại lầu xanh thương những kẻ, Trầm luân chưa thoát nợ hồng nhan”, bất giác tôi xót thương cho thân phận các cán bộ quốc gia bây giờ, quả là cười đau khóc hận. Ngày xưa công chức đú đởn mập thây, bơ sữa tràn trề, lương tuy ít nhưng nhờ đồng bạc lớn, sống còn hơn điền chủ bậc trung. Ngày nay tội nghiệp cho ai, lương mấy chục ngàn nghe lớn mà bao gạo đã hơn hai chục. Xáp ve như rệp đói mà khi cần, nắm đầu bắt gác phòng bầu cử, cơm nước tự túc lấy, đông quá ai nuôi cho hết; đến khi tức giận, nắm đầu ra chửi. Cũng may chửi đổng vì còn phòng sau nầy xin mầy một lá thăm. Ai ăn bám ở đâu no béo thì nhờn công chức thấp bé giả như không biết và chỉ biết nghe chung. Cũng may khi chửi, nói động đến con Lạc cháu Hồng, thì đứa chửi với đứa nghe cũng cùng một dòng giống. Tôi nay xót xa muốn hiểu được nỗi lòng của suốt hơn hai trăm ngàn công chức nhỏ, sống tăm tối tạm bợ khổ cực khắp nơi trong xứ, từ anh phu quét đường, ăn sáng một gói xôi NĂM CHỤC ĐỒNG BẠC không đủ nhét kẽ răng, trưa uống nước lã chiều về thồn ba hột cơm nguội, đến anh khá hơn một chút, làm việc nơi toà hành chánh hoặc đó là đả tự viên, hoặc đó là thơ ký biên chép, dầu là tổng trưởng bộ trưởng phương diện quốc gia, dầu là phu quét sân rút nước hầm cầu, cũng đều là công bộc của xã hội, nhưng tôi có cảm tình nhiều với kẻ thấp vì cốt tử tôi là một tên phán già với cuốn sổ hồi hưu tỷ lệ, những chức tôi kiêm nhiệm như giáo sư đại học, quản thủ Viện bảo tàng, tôi đã trả hoặc cho ngủ êm trong hồ sơ không nhắc tới nữa. Các anh nếu có bị chửi, có tôi nghe với, không chết chóc ai đâu mà sợ, chỉ thương hại giùm chúng càng lớn họng càng tổn đức. Tôi đã thấy gần hết rồi. Đứa giựt một ố bánh mì chó chê thì bị gởi vào trại cải huynh, ông bất tham nhũng mà quà tết đầy nhà, dưa hấu để thúi, bưởi ngon chất đến tháng hai vẫn còn, gà vịt đầy sân toàn là lễ mễ của môn sanh dâng thầy lấy thảo. Theo tôi, mồi thuốc rồi giữ luôn quẹt máy đắt tiền, mượn sách rồi quên trả, đều là cách thức hối lộ mà không cho nói trúng tên.
Đời nay không thiếu chi người cán bộ trong sạch vì bẩm sinh ghét ăn dơ cũng có, hoặc vì tánh nhút nhát “sợ ông cò” cũng có, hoặc vì tánh “rét-lô” cũng có, nhưng thảy đều kể chung một giỏ cá mè, vì dễ gì phân liệt nhơ và sạch.
Người nào hết tham lam được ngồi chung với Phật một bàn. Nhưng Phật gỗ trên bàn vẫn không tránh được bọn gian tham lại gần cúng vái. Chúng tưởng dâng hoa huệ trắng. hoa lai dơn đắt tiền rồi che đậy được lương tâm. Đời nay tà nguỵ dẫy đầy, phật Chúa đâu thèm ngó. Tu hành mà ăn yến ăn sâm phải đợi bàn tay xinh xinh của mấy bà goá phụ trốc đút tới miệng, tu mà thích tôm chua. Có ông trước đây tột phẩm trong hàng lại còn đòi phẩm cao hơn, mặc áo tía chưa chịu muốn đòi mặc hồng y. Mồm ngậm xì gà, ông ngồi xe tột từ xứ Vãng lên đây thăm em ở trong phủ nội, ông quở vang sao có trang trí vuông phòng dành cho ông tốn trên mười triệu bạc, chúng bay hãy đem ghế bố lại đây cho ta ngơi”. Đều là giả dối cả. Cũng cá mè được thể lại dám chê cá chốt ăn dơ. Hãy đi học lại thuyết nhân vị. Khi muốn xây dựng quốc gia, biết thương tiếc của công, ông tướng võ có phận sự giừ gìn bờ cõi, ông quan văn có trách nhiệm đem cưm no áo ấm cho dân, nhưng chớ quên bớt xa xỉ xuất dương, bớt tiếp tân lãng phí, một tên cu li biết khoá nước chảy dư là tắt đèn phải lúc cũng đủ được cám ơn. Nhưng người làm lớn rồi ca tụng gièm pha mà cả vú lập miệng em, quên mình trước khi hoá bướm vẫn là con sâu bò lúc ngúc. Nhưng phần tử tốt còn lại: mặc dầu bị lời nặng nhẹ, xin chớ ngã lòng; hãy nuốt tủi quên buồn, trách nhiệm với thê nhi còn đó. Thương hại thay cho kẻ nào nay ăn trên ngồi trốc, quáng mắt ăn tham để gây tiếng xấu mang chung trong giới quan trường.
Lại đành khinh miệt đám nhỏ đàn cai, giẻ rách đỡ nóng tay, lại quên rằng trong một xã hội không khác trong một cái máy đồng hồ, thiếu một con chốt nhỏ hay là khi bánh xe con không ăn khớp với bánh xe lớn, cả bộ máy tinh vi đều tê liệt, đừng tưởng mình là kim đàng trên mặt đồng hồ chạy được mình ên.
Sức chịu đựng là một đức tánh tốt của người công chức thấp hèn, quân bị hiếp, nhưng xin đừng thối chí. Vui với gia đình, một ngày kia trời lại sáng.
Tôi bình sanh ghét đạo đức giả mà đành hôm nay nói chuyện triết lý suông. Nhưng mấy ai nghe lời một công chức già đã vào tuổi phế thải.
Phần 7 – Vài Kỷ Niệm Riêng Đối Với Các Nhân Vật Đã Ghi Thanh Danh Vào Sử: Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch.
Nhắc lại năm 1923, nay mới thấy đó là một năm định mạng về số phận của mình. Chúng tôi là học sinh trường Chasseloup-Laubat, những năm 1919 đến 1923. Hai anh Hồ Văn Ngà và Trần Văn Thạch đều cùng học với chúng tôi trong ba năm đầu từ 1919 đến 1922, nhưng hai anh nầy có năng khiếu hơn nhiều, cuối năm 1922, đều thi đậu Brevet Elémentaire, nên năm 1923 được nhảy lớp học năm Nhứt ban tú tài bản xứ (classe d’ enseignement secondaire local), tuy vẫn còn ăn chung một phòng, ngủ chung một lầu và cùng chơi một sân trường như nhau.
Cứ đáo lệ cuối mỗi năm, trường nầy có tổ chức hai kỳ thi ra trường để phát cấp bằng mãn học thành tài và lúc ấy chỉ có học sinh trường Taberd dự thi gọi candidat libre, tôi dịch cho dễ hiểu là học sinh trường tư, còn Cần Thơ và các tỉnh lớn khác chưa có trường trung học. Hai khoá thi là:
1) Khoá thi dành cho học sinh quốc tịch Pháp và Nam cùng thi, lấy bằng Brevet Elémentaire (văn bằng cấp sơ đẳng) nữa ra làm thầy giáo dạy tiểu học nhưng đặc biệt là cho đến năm 1922, Có bằng nầy ăn lương cao hơn giáo viên đậu diplôme (giáo diplôme lãnh sáu chục bạc, giáo có brevet tám chục). Tuy cả hai cùng học một chương trình, nhưng đề thi brevet có phần gắt hơn và thiên về Pháp văn nhiều hơn. Từ năm 1923 về sau, sửa đổi lại và có hai văn bằng một lượt cũng vẫn lãnh lương lối sáu chục bạc mà thôi, vì kể từ năm 1923, học sinh đã đông hơn trước, và nhà nhà đua nhau cho con đi học chữ Tây chớ không tránh né gượng gạo như thuở trước đệ nhứt thế chiến Âu châu 1914- 1918.
Năm 1922, mãn năm đệ tam, tôi thi thử Brevet élémentaire khoá ngày 6-1-1922. Thầy bói danh tiếng Vi Kỉnh Trang ăn năm cắc bạc tiền quẻ, đoán tôi năm ấy thi hai khoa thì đậu một. Nhưng tôi đã có đầu óc “cãi thầy”, nên tôi bỏ thi diplôme cho thầy bói Chợ Lớn nầy nói trật chơi, việc ấy nên hay hư, tôi xin miễn trả lời.
Đến khoá 18-6-1923, thi thi đậu Brevel élémentaire cùng một lượt với các anh và chị khác, ngày nay nếu chưa xuống lỗ thì cũng đã làm ông nội ông ngoại, con cháu đùm đề.
Về Trần Văn Giàu, có tên trong bản danh sách sĩ tử thi đậu diplôme năm 1923. (Không phải tác giả “Giai cấp công nhân Việt Nam” hiện nay). – Anh nầy, lúc học chung với tôi nơi trường tỉnh ở Sốc Trăng vẫn tên là Châu Văn Đặng. Anh nhỏ tuổi hơn hết và học sáng hơn ai, gia đình anh thật đáng thương, vì cha anh vẫn nấu bếp cho một ông trạng sư Việt có vợ Pháp là ông Đoàn Vĩnh Thuận. Chính ông Thuận xuất tiền cho Đặng ăn học, vì Đặng có danh học giỏi. Không may là Đặng không có khai sanh, khiến cho đến ngày nạp đơn xin thi tiểu học, trong khi gấp rút, túng quá Đặng tìm ra một khai sanh nạp cho đốc học trường, rồi thi đậu, được tuyển học nơi trường trung học Chasseloup, nhưng không hiểu vì sao năm học ấy học sinh trường nầy đều bị đưa qua học trương Sở Cọp (Ecole Normale) gần Sở Thú, học đủ bốn năm, khi thi ra trường, Đặng thi đỗ đủ hai bằng Brevet élémentaire và Diplôme, nhưng chờ mãi không được bổ nhiệm làm giáo viên.
Đặng tức khí đi thi khoá tuyển thơ ký Sở Ngân khố, Đặng thi đậu nữa, và các bạn hữu tốt số đều được gọi tên cho sở làm, duy Đặng vẫn không được gọi. Tức lòng, Đặng kêu nài, khi ấy mới biết vì trùng tên với ông khét tiếng, tác giả bộ sách “Giai cấp công nhân Việt Nam”, là ông Trần Văn Giàu.
Con nhà hàn vi, trông mong thi đậu có chỗ làm, giúp đỡ cha mẹ, không ngờ vì chánh phủ thời đó ngu lối, khiến cho một người học trò tốt là anh Châu Văn Đặng, ức lòng, đi theo Lâm Hiệp Châu, làm cách mạng, rồi từ ấy mất tích luôn.
Những anh em đã đậu kỳ thi viết nhưng qua hạch miệng bị đánh rớt thiệt là rủi ro vì thời buổi ấy không có lệ cho đậu vớt mà cũng không ai dám kêu nài, thiệt là Tây nó oai quá. Nhưng không cần bằng cấp, nhiều người đã thành danh còn rỡ ràng hơn người thi đỗ như bạn cũ Bùi Hữu Tung, (ông Đốc Mai thấy tên lạ, hỏi Tung nghĩa là gì?” đáp “Tung veut dire tung tung” bị ông đốc Mai quở và cất nghĩa “tung là tung hoành”. Quả thiệt Tung nhớ mãi về sau sanh con đặt tên Bùi Hữu Hoành để nhớ thầy; nhưng Tung là con người quá quắt, vì vốn dân Vĩnh Hội (Sài Gòn) nên dám trêu ông đốc M., một hôm anh ta lén lấy tấm danh thiếp của ông đề sẵn:
NGUYỄN VĂN MAI
Professeur de langue annamite au collège de jeunes filles indigènes et au collège Chasseloup-Laubat,
Officier d’Académie, Chevalier de la Légion d’Honneur
N… Quai de la Marne-Khánh Hội
Anh ta viết tay thêm mấy hàng nầy dưới hàng chữ in “Marchand de dây luộc, dây chạc ét de nước mắm hòn, maison Quỳnh Mỹ, rue Amiral Courbet à Chợ Mới (Sài Gòn)”. Ông M, bất được tấm thiệp, giận đòi đuổi, Tung năn nỉ, ông run lên rồi cũng hò qua vì đó là sự thật. Tung biết rõ vì là người hàng xóm, con một ông quán sớ thuế thương chánh xóm Nhà Rồng (Messageries Maritimes). Tình thầy trò lớp xưa, nghiêm thì có, mà ác thì không, và học trò buổi nào cũng ưa phá thầy để xứng danh đứng hàng thứ ba chỉ thua ma và quỷ.
Mảng cà kê mà suýt lạc đề. Từ khi thi đậu, anh em chia tay về nhà kỳ bãi trường năm chót 1923, những anh tương đắc và giỏi về môn toán như Trương Đăng Khoa, Trần Quan Viên, Trần Văn Của, đều lựa và xin học trường tạo tác Hà Nội để trở nên sau nầy kỹ sư có thực tài, người làm thầu khoán như Khoa, người lên tới tổng trưởng công chánh như Của, nhưng khí phách nhứt có lẽ là Viên, về già không làm gì hết, đi đâu chỉ xách cây dù vải đen xê dịch đó đây ròng xe lam xe buýt, an phận thủ thường và cứng cỏi như lúc còn học trong trường không khác. Đến như anh Nguyễn Văn Thơ và Đinh Căng Nguyên, vốn sở trường Pháp văn, nên chọn trường Cao đẳng sư phạm, về sau đều là nhà mô phạm đủ chân tài. Riêng anh Nguyễn Văn Chi, người tỉnh Tân An đáng được ghi một điểm son lớn Anh lựa trường Canh nông, sau về làm đến Giám đốc sở thuỷ lâm, và vẻ đặc sắc của anh là anh khéo dạy con.
Tay xách va-li chia tay nơi cổng trường, các anh hỏi tôi đã lựa trường nào chưa, tôi lắc đầu nói chỉ ham học trường đời, đã muốn vợ quá, ra học ngoài ấy, không khéo cứng đầu bị đuổi chẳng là thêm lỡ làng công danh, cũng không muộn đâu tôi nói, các anh cứ đi đi, sau nầy chúng mình sẽ gặp”.
Bãi trường về nhà ở Sốc Trăng, nghỉ chưa thấy khỏe kế hay tin ngày 1 tháng 8 năm ấy 1923, có mở khoa thi tuyển mười lăm thơ ký chánh phủ. Tôi xin dự và đến ngày, may thời đậu vào số 3, hai anh đậu trên là các anh Lê Văn Quí (số 1) và Nguyễn Ngọc Thạch (số 2), vốn học lớp tú tài bản xứ, nên tôi làm không lại.
Anh Lê Văn Quí được bổ vào toà bố Gia Định, sướng một cửa vì vừa gần Sài Gòn vừa là ở tỉnh, mặc sức học thêm nơi thơ viện đô thành và nơi sở làm. Anh Nguyễn Ngọc Thạch được sai xuống lãnh việc nơi toà bố tỉnh Trà Vinh là xứ giàu lúa gạo, nên mặc sức tẩm bổ. Nhưng không hiểu vì duyên cớ nào hoặc có điều gì bất đắc chí, ít năm sau anh Thạch xin nghỉ việc và tôi đã gặp anh mấy năm gần đây, nghiễm nhiên là một đại doanh thương tự chủ lấy mình, một chủ hiệu buôn máy ảnh và phim ảnh, xuất phát bạc muôn bạc triệu, sướng gấp mấy lần thân làm tôi mọi, thơ ký thí sai. Riêng tôi, trong ý mừng thầm, nay đậu số 3, ắt sẽ được chỗ tốt, tôi ước ao nhứt là được làm nơi dinh phó soái (Cabinel du Gouverneur) được gần mặt trời, mau thăng chức, thứ nhì là muốn làm ở dinh thượng thơ (Direction des bureaux du Gouvernement), chỗ bộ kinh tế ngày nay, là nơi tự thuở nào vẫn có phụ nữ trẻ đẹp lai vãng, chạy ép phe hoặc khoe mình giỡn bóng, lúc ấy mặc cho tôi tập hút thuốc phì phà, chưng diện bảnh bao, ăn chơi chỉ phí. Cái mừng thứ ba là được đổi đi lục tỉnh”, làm việc nơi toà bố, nay gọi toà hành chánh, vừa dễ kiếm vợ giàu vợ đẹp, vừa dễ kiếm chác, tiền lì xì, nói huỵch tẹt là tiền hối lộ, vì thú thật lúc nhỏ sơ lâm tôi chỉ muốn hư, muốn được y như các đàn anh đã vạch đường đi trước: “Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” “sớm vác ô đi chiều vác về”, “ăn chơi cho sướng, miễn có tiền trong túi, xài hoài còn hoài”, mặc cho đời vì nước đã lọt vào tay thằng Tây đâu còn gì là hy vọng đoạt lại, thân làm công chức như hột cát sông Hằng, thôi thì cứ hiểu như quan niệm từ xửa từ xưa để lại, “chữ bổng đi kèm chữ lộc”, lộc là lộc trời cho, ai giỏi lượm thì no lòng, đán nó cho thì cứ lấy: Vả lại ăn của hối một đồng mà làm xong việc đỡ cho anh nhà quê biết mấy: Giấy tờ ký tên xong, xách dù đi về nhà, còn hơn công chức làm mai thanh khiết mà bất dân chờ đợi ba bữa, nào tiền phòng ngủ, tiền ăn xài, biết đâu chừng sa vào ổ nhện bị điếm lây bịnh đem về báo hại vợ con, cái hại bằng mười bằng trăm. Miễn đừng như cá xà cá mập ăn bám thật nhiều mới đúng là tham nhũng, chớ mấy đời lòng tong cá chốt, rút tỉa thứ dư thừa của thiên hạ nào thấy chết ai! Nhưng số tôi, như nay cho thấy, lòng muốn hư mà trời chẳng cho hư. Bởi còn trong sạch nên mới mạnh miệng nói đùa, chớ thú thật hơn nửa đời người, “ý muốn làm đĩ, ngặt nỗi xấu mà đòi quá mắc nên không ai thèm kêu đi khách”, còn trinh gì bởi Dạ xoa! Tôi lúc ra trường không khác chi chị Bê Rết trong bài ngụ ngôn, đầu đội hũ sữa mà lòng xây mộng Đằng vương, thi đậu trông mau bổ nhiệm chỗ khá khá mà kiếm chác… Té ra mấy anh kia hoặc nhờ thời vận đỏ hoặc nhờ khôn khéo có cha chú chỉ đường và giỏi nghề chạy chọi nên đều được chỗ xứng ý vừa lòng. Đến phiên tôi, còn sót lại hai chỗ đúng là cục xương khô bỏ xuống đất chó không thèm gặm! Chỗ thứ nhứt là thơ ký Khám Lớn Sài Gòn. Lúc ấy lẽ đáng chỗ nầy về tôi, vì trên phòng nhơn ty (Bureau de Personnel) thúc tôi kíp nạn khai sanh để tiện bổ nhiệm, tôi có chút linh tánh giục thưỡn cầu mưu, trên kia đợi không được nên làm giấy bổ anh đậu số 4 trám chỗ đó và vì vậy anh Nguyễn Văn Lạc thế tôi vào làm thơ ký cho lão Agostini, chúa ngục xếp ở Khám Lớn. Tưởng đà thoát nạn ngờ đâu còn cái bẫy số hai. Ai biết đâu mà tránh. Cũng cứng ngất chai khô không kém, tuy danh gọi ít ghê tởm hơn, đó là thơ ký Trường máy đường Đỗ Hữu Vị, nay là trường trung học cơ khí đường Huỳnh Thúc Kháng. Tôi hờ cơ hay là tới số, xin sao lục được tờ khai sanh đem nạp. Về nhà chờ cho cá ăn câu té ra cá ngon đâu không thấy, đến chừng giấy bổ nhiệm đến tay, mở ra đọc, tá hoả tam tinh 1 .
Trời đất ôi, còn gì là cái mộng đẹp được làm sở tốt để học khôn học khéo, nữa thông thạo nghề hành chánh, về sau thi đậu lên ngạch cao cấp ông huyện ông phủ, ăn trên ngồi trốc! Thôi rồi cái mơ ước ăn vận bảnh tẽn, mặc áo u-oe cổ thắt dây cà-ra-oách, hỉnh mũi lên mặt với chị em? Trước khi vào nhận việc ngày 27-8-1923, tôi cẩn thận chạy hỏi thăm các thầy làm việc nơi sở thì các ông căn dặn muốn vô làm được lâu dài thì phải nhập gia tuỳ tục, phải làm gương cho học trò bắt chước, tức nhiên phải bỏ hết côm-lê cà vạt, phải ăn mặc khiêm tốn như dân thợ, áo bành tô (paletot) bằng bố trắng cổ cao che kín ngực và không bao giờ nên mặc áo tha ngực thất nơ đen đỏ hay cà vạt nhiều màu. Như vậy có chán chưa? Nhưng biết làm sao chạy chối vì đã quá trễ, mùa xuống tàu đi học Hà Nội đã qua từ lâu, uổng tiếc đã muộn cái công ăn học bốn năm, đỗ được ba bằng trong mấy tháng?
Khi vô lãnh việc lại càng thêm buồn bã chân ướt chân ráo chưa chi ông chủ trường là quan năm kỹ sư Rosel lại chê tôi mười chín tuổi là quá bé thơ chưa biết gì e không kham trọng trách. Sau nhờ trên phòng nhơn ty trả lời rằng tôi đậu số cao và hiện không có nhân viên trộng tuổi, ông mới bằng lòng thâu nhận. Vì buổi đầu tiên vừa bắt tay vào việc là có cái nhạp cái chớp đó, nên tôi sanh ngã lòng và cái tật bất mãn ưa cự nự lại càng có cớ để bộc phát thêm. Nói chí miệng và có người đồng thời còn sống làm chứng, tôi ngã lòng thối chí cũng phải, vì ai đời có bao nhiêu sở học thâu thập bấy lâu, khi vào là ai nơi Trường Máy nầy đều không dùng đến. Hằng ngày phận sự của tôi là làm còm-măng mua vật liệu, do anh Năm Vĩ, nay còn mạnh và hiện nghe đâu ở miệt Châu Thới (Biên Hoà), anh ở dưới xường thấy thiếu thốn món gì thì lên bu-rô nói cho là viết mua. Mà cơ khổ chớ chi anh đọc cho viết toàn những danh từ tao nhã êm tai từng nghe từng học ở trường thì cũng còn khuây lảng làm vui, đàng nầy từ đầu năm đến cuối năm đều gặp những tiếng nào bù-lon, lông-đền, nào cu-lát (culasse), ma-ni-huênh (manivelle), nhứt là những danh từ hóc búa không có dạy trong trường xách-lu (Chasseloup), và nay ra đời, tôi dám chắc, trừ Trường Máy nầy, chỗ khác chưa bao giờ thấy mặt chữ, tỷ dụ như:
– Làm còm măng mua gấp mười lăm cái sơ-mi bằng đồng (commande urgente de quinze chemises de bronze), hỏi ra không phải để phát cho học trò mặc lót mồ hôi nhưng đích thị đó là môi bộ phận trong máy tàu, và phải viết thơ gởi kiểu đặt làm riêng nơi xưởng Ba-son (arsenal) mới thạo chế tác. Một hôm đến phiên tôi trực, gác bu-rô ngày chúa nhựt, cố nhiên không có ai rành nghề phụ giúp, bỗng có một anh sốp-phơ dinh thống đốc, hớt hơ hớt hải chạy đâm sầm lên yêu cầu tôi nói với ông chủ trưởng rằng phải mua tức tốc để thay cho kịp đưa quan soái ra Vũng Tàu cho đúng buổi ăn trưa vì xe của anh đã hư, “cái đầu thầy chùa đã gãy”! Tôi bối rối không biết dịch ra tiếng gì cho đúng, tôi nói giằng quay tiếng Pháp có tiếng “tê te de bonze”, thế mà ông Rosel cười và hiểu ngay đó là “tê te de bielle”, tức là đầu cây chuyền sức vận động cho bộ máy. Tôi vừa mắc cỡ vừa tức tối vì học chưa tới nơi tới chốn, dốt ngay đuôi! – một kỳ nữa, bối rối không nhỏ, lại cũng nhằm một ngày trực, những người có kinh nghiệm và thành thạo đều nghỉ xả hơi, riêng tôi vô ngồi bu-rô canh tê-lê-phôn và ngủ gục. Có anh cai chụm lửa tàu đánh lộn thua nên lên mét: “Tôi ở dưới túi đùm, nó ăn hiếp với đánh tôi sặc máu mũi”. Tôi chưa hiểu túi đùm là gì, dịch tỉnh bơ: “Il dit tui đum?”. Thế mà ông chủ Tây lại giỏi tiếng Việt hơn tôi, tủm tỉm cười và cắt nghĩa đó là “trou d’ombre”, cái ống thông hơi dẫn gió làm cho mái dưới hầm tàu.
Nếu cứ cái đà nầy mãi thì chữ Tây tôi sẽ quên hết và nổi cơn điên được quá? Nhưng cũng từ đó tôi thấy bớt tánh tự kiêu, ỷ giỏi. Mình nghĩ một mình, lại tức cười thầm, không biết ai khéo đặt chữ “thơ ký thí sai” để dịch chữ Pháp “secré taire stagiaire”, thật là thí sai: sai thí. Ngày nay dịch “thư ký tập sự” tuy sát nghĩa nhưng không khôi hài bằng. Khi giận tự cho mình là “thằng cạo giấy”, nhưng thấm mật về lâu là hai chữ “thí sai”, đúng là ăn cơm nhà mặc áo mẹ, sanh ra để cho người đời sai thí!
Tuy làm thơ ký ở Khám Lớn và ở Trường Máy là hai chỗ bạc bẽo, nhưng được an ủi là mau thăng chức. Chúng tôi ở trong cảnh thơ ký tập sự đúng một năm thì có giấy chạy cho hay được lên thơ ký thiệt thọ hạng 6 (sáu) cùng một lúc với các bạn sau đây và cùng một chỉ dụ, ghi lại dưới đây làm kỷ niệm 2 .
Tương lai về sau cho biết trong số tám thơ ký kể trên, riêng anh Lê Văn Quí, tôi mất dấu không rõ anh đi về đây, duy về anh Nguyễn Ngọc Thạch, anh sớm rút lui trong hàng công chức và trở nên một nhà kinh doanh có hạng, thành công trong giới thương trường. Về anh Nguyễn Văn Mới, bạn học bốn năm trường Xách Lu, anh vốn người vạm vỡ mập tròn, nhưng không hiểu vì sao lại sớm mất trước năm đảo chánh 1945, làm chúng tôi mất một anh bạn hay cười hay giễu, trong lớp thường gọi Mới Củ Nấng, đến nay cũng chưa biết danh từ nầy nghĩa là gì. Cái anh Trần Chí Lâu mới là cẩn thận nhứt. Đi thi thơ ký anh tạm trọ chung phòng với tôi tại nhà ngủ Lục Tỉnh khách lầu, có một cô ăn sương cựu học sinh Trường áo tím ghẹo anh mà anh không dám trả lời, nay có giấy làm thiệt thọ thơ ký rồi, anh bèn xin đi học thêm nơi trường cao đẳng thú y ngoài Hà Nội, thành tài rồi trở về làm công chức suốt ba chục năm vô sự, và nay tiếp tục mở phòng thú y tư, an nhàn không tai tiếng, trong trần gian ai dễ biết ai. Anh Lâm Văn Thọ (đã từ trần) và anh Trần Văn Chi về sau cả hai đậu huyện rồi lên đến đốc phủ sứ, con đường công danh đi đến đó đã là mãn nguyện.
Trong hạng anh em từng nhai gạo lức, ăn mỗi sáng một hột vịt giằm nước mẩm ngang của tên Xí-Cu-Lại (Nicolai) ở Xách Lu và công đậu một khoá thơ ký, có anh Nguyễn Văn Lạc và tôi, khác đôi chút với các bạn đồng song, vừa lận đận vừa tầm thường để xứng danh là những tên công bộc tầm thường vô thưởng vô phạt, nếu không nói là vô danh tiểu tốt.
Anh Lạc về Gò Công tiếp tục làm thơ ký hay nói chí đáng về già lên lão làm thông phán (secrétaire principal) và mất âm thầm với chức khiêm tốn “ông Phán Lạc già toà bố”. Tôi nghe nói lại lúc làm ở Khám Lớn, anh với ông Phủ Hiệu, là hai người trong sạch thường giúp đỡ những người vô phúc mạc vào lòng lao lý. Khi lui về xứ sở, anh Lạc làm bạn với ve chai và chết vì bịnh rượu, tôi kết luận là khi một ai giữ được tinh khiết không ăn của hối, thì người đi lo dụ dỗ qua đường xôi thịt tiệc tùng ăn uống, và anh Lạc chết vì sạch với tiền mà nhiễm độc vì Martel, Whisky tức là vì tánh ham nhậu nhẹt Sở dĩ tôi mỉa mai anh Lạc là vì thương tiếc một bạn từng chia ngọt xẻ bùi, một bạn đồng bịnh, anh đã chết và tôi bị phạt suốt đời cử mặn, còn gấp mấy lần cay nghiệt hơn lúc cùng nhau la-ve củ kiệu quán Draguy chợ Mới năm xưa, muốn uống nữa mà trong túi đã cạn tiền.
Tôi cười anh Lạc mà có hơn gì Lạc? Tôi đậu rất sớm khoa kiến thức phổ thông (examen de culture générale) (đậu năm 1927 vừa được bốn năm thơ ký) là khoa thi mở đường khi lấy chức huyện sau khi đỗ kỳ thi chuyên nghiệp bảy lần đều rớt đủ bảy lần (sẽ nói sau), và năm 1943 tôi xin về hưu tỷ lệ, qua năm 1947 lại trở ra tròng cổ cái gông công chức trưng dụng công nhựt, năm 1963 được công du hai tháng ở Pháp và mười lăm ngày ở Hồng Kông, Đài Bắc và Nhựt Bản, thiệt cũng học hỏi thêm nhiều và phấn nước vẽ mày đôi chút. Nhưng học nhiều làm chi khi năm 1964 bị lão râu xệ Khánh 3 và râu thép Kỳ cho về hưu thiệt thọ và bắt giao việc cho người mới, ngày 11-9-1964. Mười bảy năm làm tại Viện bảo tàng không cho truy lãnh vào phần hưu bổng, cái chức Giám đốc hay Quản thủ Viện bảo tàng vốn là chức lậu, cái danh giảng viên trường Đại Học vốn là danh hão, chung qui cái chức không ai tranh giành của tôi đúng là một phán già, khác gì anh Lạc? Nay xin khai thiệt, cái câu hãm rượu trong một tiệc năm 1930 nói trong tập Hoa trái mùa, của ông Trần Văn Tấn, xuất bản năm 1940, trang 21:
“Lầu cao leo mới một từng,
Ông Huyện nửa chừng xem thấy mà thương…”
Đích thị là ám chỉ hai tôi, ông Mai Thọ Truyền 4 và kẻ nầy, lúc ấy đều có nửa miếng giật lưng, ông Mai tốt phước sau làm đủ bộ và lên đến tột bực la-phông, tôi mãi lé đè trèo lên tuột xuống và thơ ký vẫn hoàn thơ ký. Hư hay không một mình tôi biết.
Nhưng mãi than van rên xiết chỉ làm chúng ghét, xin trở lại những gì thiết thực hơn. Năm 1924, khi được bổ nhiệm thực thụ thơ ký hạng 6, thế là tôi khỏi sợ bị sa thải vô lý do, và tôi càng buông lung thả rong chơi dạo phố hơn là cặm cụi ngồi bu-rô làm việc đúng giờ, và cái việc đến trễ về sớm của tôi đã quá hiển nhiên đến các chủ Tây đều nhắm mắt giả đò không hay biết. Duy công việc và phận sự của tôi đều sòng phẳng, không khi nào bê trễ, thêm tánh tôi ngay thẳng, không ăn hối lộ nên ông Rosel mến chuộng như con cái nhà ông để mặc tôi tự tung tự tác, các đầu phòng và xếp xưởng thấy vậy công làm ngơ luôn. Ông Rosel sợ nếu rầy quở tôi, tôi sẽ xin đổi đi chỗ khác, mất đi một thơ ký có vẻ thiệt thà mà cơ khổ ông có biết đâu tại Trường Máy mà làm gì ăn hối lộ được với còm-măng đồ sắt hàng Tây và ga-ra cũng Tây, còn về củi chụm tàu, mua mỗi tháng cả mấy chục ngàn và xăng nhớt thì đã có anh cặp rằng ăn hớt trước tôi rồi, đến như những việc khác mua nầy mua nọ, đều giao thiệp với bọn Tây mà tham nhũng sao vô? Lúc ấy xăng chỉ có hai cắc ngoài một lít, và ông Phó chức là giám thị chánh, tên là Favier, mỗi tháng bỏ túi mấy trăm bạc, tiền bán thùng thiếc không xài, và biên vào sổ dưới chương mục đồ phế thải bán lấy tiền chi tiêu vặt vãnh. Anh cai lính thuỷ tên Laot, lên trường dạy thể dục cho học trò, tiền xê dịch lộ phí mỗi ngày từ trại lính thuỷ nơi mé sông lên trường, định là hai cắc bạc, anh làm măng-đa lãnh răn rắt sáu đồng, cho tháng ba mươi ngày và sáu đồng hai cho các tháng ba mươi mốt ngày, đến ba năm sau bộ thanh tra tài chánh bên Pháp mới gởi hồ sơ và thơ khiển trách đòi anh cai phải trả bốn cắc bạc tiền lãnh dư, và những việc ấy cũng không thấy bị khép vào tội hà lạm. Trong khi ấy, tôi lìa sở xách một tập hồ sơ nhỏ theo ra đường rong chơi cả buổi, lại có công là đi hỏi thăm giá cả để làm còm-măng khỏi bị sở kiểm duyệt ngân quỹ làm khó dễ, ai dám nói tôi lấy cớ rong chơi, để vào nằm với chị em! Có một năm kia trên Biên Hoà bị lụt lớn, xe lửa chạy không được, tôi theo thầy Tư Xuân cùng làm một sở lên trên ở chơi hai ngày đã đời rồi về cũng không nghe ai trách bỏ nhiệm sở trong giờ thừa hành phận sự. Ông Rosel ra lịnh biểu tôi thâu vét các số tiền ứng trước cho các tỉnh về việc sửa tàu sửa xe, đã quá niên quá hạn nay phải ghi vào ngân sách mới để rộng đường chi dụng, danh từ chuyên môn gọi “recettes d’exercice clos”, tôi ngán quá không biết đó là gì, tôi bèn chôn luôn hồ sơ vào ổ mối, một mặt lên thượng thơ toà nhì (2è Bureau) o bế xin đừng đòi hỏi về vụ nầy, làm việc bê tha như vậy thế mà cuối năm được thăng chức cũng như ai. Cũng năm 1924, ông thống đốc Cognacq có tiếng là hách một cây, mua gà Mỹ về nuôi, chỉ thị cho trường làm chuồng, tôi lãnh việc mua sắt chữ V và thiếc Cao Bằng làm và lợp chuồng, năm ấy tôi được đặc biệt vinh thăng thơ ký hạng 5, vừa đúng mười tám tháng công nghiệp, mà xin đừng nói lớn vì công nghiệp làm chuồng gà cho dinh Phó Soái!
Từ năm 1924, tôi cưới vợ rồi ly dị với người nầy ăn ở với nhau chưa nát chiếc chiếu tân hôn, vừa đúng chín tháng đưa nhau ra toà xin ly dị, lỗi về người đàn bà theo mặt luật mà đúng ra lỗi về người đàn ông ham mua sách và mê đọc sách đến quên người vợ trẻ nằm kế bên! Tiền hồ đám cưới được sáu trăm bạc là một số tiền kếch xù, tiền ông nhạc cung cấp mỗi tháng không phải nhỏ, cộng với sáu bảy chục bạc lương, chỉ vèo trong mấy tháng, kết quả tủ sách không còn chỗ để, mà ái tình đã nhẹ gót ra đi. Ai chịu nổi với thằng chồng hư như vầy, nàng có đọc cũng xin tha thứ! Thôi vợ rồi, tôi thấy căn phố quá rộng nên bán quách hết đồ đạc, một mình chở sách ra xin ở ăn cơm tháng nơi nhà anh Chí là bạn học bên Nọt- manh; mười lăm đồng mỗi tháng mà có khi đóng khi hụt tiền trả lần hồi, nay nhắc lại mà thảm. Từ đó tôi càng hoang đàng hơn trước, Ba tôi ở Sốc Trăng không buồn gởi thơ cho tôi nữa. Tôi tập hút thuốc lá, tập uống la-ve, tập đánh bài cắt-tê, càng đàn đúm và tiêu hoang hơn trước, vì tôi làm rất ra tiền và làm ra tiền rất lương thiện, anh em cùng sở cùng nhà trọ đều lé mắt với tôi. Ngày nay tôi cân nặng trên sáu chục ký, thế mà thuở ấy cân nào tốt chỉ lên đến số 42 kilos là cùng, ấy là cân tại nhà thuốc để luôn y phục, bít-tất và đôi giày vía sơ-men da cứng. Nhưng kể về tiền bỏ túi thì tôi xài hời hợt vẫn còn dư, vì tôi ở độc thân, lãnh lương mỗi tháng trên sáu mươi đồng, thêm có tiền xúp, là tôi lãnh dạy ba ông Tây đầu sở, một ông thương tín cuộc tên Rigaud, một ông kỹ sư tên Aton và một ông nha y sĩ tên Brodard, mỗi ông trả tôi hai chục bạc, dạy mỗi tuần hai giờ, có thêm la-ve hoặc Whisky thỉnh thoảng, vị chi mỗi tháng tôi có một trăm hai chục bạc, tương đương lương tri phủ hạng ba chớ không chơi? Lúc ấy tôi học cũng dữ và mua sách cũng nhiều, duy về ngón ăn chơi thì khét tiếng. Mà thâm ý của tôi, buông lung làm vậy là để cho ông Rosel chán chê mà cho tôi đổi đi chỗ khác, mặc tình ăn diện hư hỏng, ngờ đâu ông cha già nầy, gắt gao với người khác mà vẫn nhấm mắt để giữ chân tôi ở lại với ông nơi Trường Máy.
Tôi đem tờ la Cloche fêée (Cái Chuông rè) của Nguyễn An Ninh, trải chè bè trên bàn và đọc tại sở, các anh em bạn đều tránh tôi như tránh bịnh hủi, thế mà ông Rosel, có người học lại, vẫn không nói gì. Ngày nay tôi nhớ lại càng thương ông thì đã muộn. Thét rồi tôi trở chứng càng làm già và trở nên khó thương không chỗ nói.
Buổi ấy mấy ông mấy thầy làm việc trong chánh phủ đều rất sợ bị tình nghi mình làm chánh trị, nói theo đời đó là làm cách mạng, vì sợ bể nồi cơm, vợ nheo con đói. Trừ phi những người tương lai đã hỏng, hậu vận dẫu tốt nết cũng không ra gì, thì vẫn làm liều, để chuộc tiếng gỡ gạc. Tôi không đứng trong hạng đó nhưng tôi ít tuổi chưa biết sợ, cứ tưởng mình ăn hối lộ là được, và tôi có chủ tâm làm nư để được thuyên chuyển đi chỗ khác, một tay một xách, chỗ nào cũng sướng hơn ở miết nơi Trường Máy lu mòn hết sở học bấy lâu. Nói cho đúng, tôi chỉ vì bất mãn nhỏ vặt có tật đánh liều bởi con cưng và cũng vì xét suy nông cạn, cứ tưởng rằng hễ mình không làm đĩ thì sợ gì thứ lính kiểm tục cóc nhái! Trong khi ấy, phần đông những người hưởng ứng hoặc tham gia những cuộc ủng hộ hội kín, lạc quyên lén, hay là nhúng tay thật sự vào việc bạo động nầy nọ dính dấp với vụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, những người ấy đều là chủ điền có máu mặt, nhà giàu có đầu óc tư chức, công chức, tuy ăn cơm Tào mà chẳng phục Tào, bởi tức một điều gì khó nói ra cũng có, hoặc vì nhiệt tâm và thành thực yêu nước cũng có, mà vì háo danh tung vãi tiền ra cho chúng làm coi chơi cũng có.
Tôi biết gì về nhưng người nầy
Tôi chơi với Hồ Văn Ngà và Trần Văn Thạch 5 vì tình bạn đồng song cùng thầy tuy khác lớp, suốt ba năm đầu trường Xách-lu (1919-1922). Tôi mến Ngà vì học giỏi hơn tôi và có tánh ngay thẳng. Sau khi ra trường, có một lần tôi gặp Ngà ngay quán sách Albert Portail (nay là nhà sách Xuân Thu). Ngà cho tôi hay sắp sang Pháp học thêm. Tôi khen Ngà tốt số. Ngà đáp gọn bâng: “Tao đi với tiền bên vợ cho, mà sướng gì mầy!”
Còn Trần Văn Thạch, sau khi ra làm Hội đồng thành phố, gặp tôi trên xe buýt, tôi bắt tay chào, Thạch cười: “Ê, bộ mầy không sợ mất chức sao?”. Tôi trả lời: “Có cái mầy sợ bất tay tao rồi nhơ tay mầy? Chớ tao không sợ giống gì hết. Mầy có gan làm chánh trị thây kệ mầy! Tao có gan của tao là vẫn bắt tay một thằng bạn cũ. Nếu mầy không cho là đàng khác, chớ tình tao như cũ, biết chưa?” Hai đứa cùng cười.
Cũng như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Sâm 6 tôi đều có biết và từng tiếp xúc. Những ông nầy để tiếng nhắc đời, tôi chỉ hơn ở cái sống thừa, già mà chưa chết. Hôm nay ôn lại dĩ vãng vặt vạnh viết lại những gì thuộc dật sử của mấy ông ấy góp chút tài liệu nhỏ cho những ai sau nầy muốn viết lại chánh sử hoặc muốn hiểu thêm một vài chi tiết thật mà chưa ải nói thuộc về tiểu sử của mấy người gan lì dạ sắt đã đấu tranh không tiếc thân cho “độc lập” nước nhà, tường không đến nỗi là vô ích.
Nhớ lại quy chế học nội trú trường Chasseloup những năm 1919-1923.
Những năm nầy, giá học nội trú trường nầy thật là rất rẻ. So sánh với giá thâu ngày nay nơi các trường tư Sài Gòn thật là một trời một vực.
Trường chia ra hai khu phân biệt:
1) Khu dành cho nhóm học sinh dân Tây và ngoại tịch (chà và khách trú), gọi quartter européen, học trò khi học phải mặc đồ Táy đi giày, đồng phục khi ra khỏi trường là quần trắng, áo nỉ màu tím có hai hàng nút mạ vàng, chạm chữ nổi “C.C.L” (Collège Chasseloup Loubat) nhưng học trò trường Taberd châm biếm đọc là “Con C… lõ”? Trong khi ấy, học sinh trường thầy dòng nầy mặc sắc phục có thêu hai chữ “I.T” (Institution Taberd) chúng tôi nhạo lại gọi học trò trường “ỉa trịn”, “ỉa trịn” tuy không chua cay bằng nhưng cũng với vát bớt nhục, và đây không phải nói tục, kỳ thật là muốn ghi lại tâm lý nhóm học sinh bao giờ cũng liến thoắng và chỉ trích nhau một cách vô hại.
Tiền học bổng hằng niên là 180 đồng trọn năm nội trú hay là 90 đồng nếu ăn chỉ một buổi cơm trưa và tối được về nhà ở xa gọi demi-pension. Học nội trú, phải sắm đủ y phục thay đổi và dụng cụ cần thiết (trousseau) đều có khắc chữ chạm tên và khi vô trường, giám thị xét thấy chưa đủ thì không cho nhập nội.
Năm đệ nhứt (1919-1920) gặp ông Ourgaud làm giám đốc. Ông người cao lớn, ưa gầm gừ như dữ tợn lắm, kỳ trung ông dùng phương pháp bàn tay sắt bọc bao nhung: trò nào phạm quy luật, ông đòi lên văn phòng, quạt máy chạy vù vù, một cây gậy to tướng để trên bàn, nhưng đúng giờ thì cho xuống và học trò phạm lỗi ít khi thấy mặt ông, vì ông cố tình doạ cho khiếp mà không đánh đập. Chỉ một lần nọ ông đuổi vài anh vì phạm lỗi nặng lén rinh cửa sổ ngắm xem dung nhan bà đốc!
Năm đệ nhứt nầy, ông tổng giám thị Nicolai, dốt không có một bằng xét-ty-phi-ca, nhưng nói tiếng Tây giòn như bắp rang và chửi nghe rất sướng tai, ông kiếm chức économe (quản lý xuất nạp), nhưng chúng tôi đặt tên riêng là thằng nấu cơm tháng biệt danh là Xích Cu Lại. Ông ta hà tiện đủ cách, cho ăn rất cực: mỗi sáng điểm tâm bốn hột vịt giầm nước nắm ngang ăn chung bốn đứa làm một ca-rê, ngày nào cũng vậy, trừ ngày chúa nhật và ngày lễ được mỗi đứa nửa chén cà phê đen và một khúc bánh mì độ nửa gang tay. Cơm trưa và tối ba món: canh đục ngừ quơ đũa mò không thấy cá tôm; một đĩa thịt bò dai nhách như cao su, một tô thịt kho mỡ lên, nhứt là ít ngày tái diễn món gan bò nấu ga-ru, Xích Cu Lại dạy rằng ăn gan tẩm bổ, nhưng nó ngán và chỉ được cái rẻ tiền. Cơm nấu bằng chảo đụn, gạo lức vo ngay phông-tên trong giỏ tre cần xé và đạp bằng chân, khi anh cu-li rút chén ra, tôi thấy những mụt ghẻ cổ chân đỏ au và sạch mất những mày ghẻ (tôi thề không nói gian vì bữa ấy mãn giờ ra chơi, tôi đá banh rồi khát nước, xách lon thiếc xuống nhà bếp kiếm trà, bỗng bắt tại trận anh cặp rằng cọc-cạch-lửa làm công việc ác ôn nầy, giận bỏi, anh tỉnh bơ: “Gạo cả cần xé vo tay làm sao sạch, và cứ tin đi án có chết ai đâu?. Mà quả thật, suốt bốn năm ăn uống thế nầy chúng tôi trở nên mập mạnh hơn lúc ăn cơm trắng cá tươi của cha mẹ ở nhà, và tuy dơ dáy, nhắm mất mà ăn vẫn không thấy truyền nhiễm. Xích Cu Lại làm tổng giám thị lãnh nấu cơm tháng nuôi học trò, nên mấy đứa học trò lười và thường bị phạt vẫn cám ơn và binh vực cho lão gian tham ấy, vì mỗi lần lão xách sổ điểm danh học trò bị phạt ở lại ngày chúa nhựt, lão sợ tốn cơm nên thường cho ra trường khỏi bị cấm túc công-xinh (consigne).
Các giáo sư năm đệ nhứt gồm có:
– Pháp văn: Motais de Narbonne, sau xuống dạy Mỹ Tho. Tú tài dạy không hay. Có biệt danh là “Thằng Cối”, vì ông ưa nhắc Nhĩ Hà mà ông gọi là Sông Cối.
Sừ địa: Eaton, gốc ăng-lê nhập Pháp tịch. Ông nói tiếng nhỏ, thuở ấy chưa có ông loa phóng thanh, nên chúng tôi hưởng thụ lời ông dạy rất ít. Thay cho ông là giáo sư Bénarđ lại còn tồi hơn, vô lớp chỉ bắt học trò mua sẵn đường thẻ, ông gọi chocolat annamite và ông uống trà Huế nhai hết cục đường rồi nói chuyện kháo chớ không dạy. Tới tháng lãnh lương!
Việt văn: Ông Nguyễn Văn Mai, lúc ấy đã già, mặc áo dài khăn đóng, đi giày mỏ vịt, đeo kính pince-nez, ông ưa nói câu nửa Pháp nửa Việt “Si je trouve quelqu’un qui nói đớt, je lui colle tout de suite un zéro”. Suốt bốn năm chúng tôi không lĩnh hội nhiều nhưng rất kính ông về phần đạo đức.
Khoa học: Mille Merle, cử nhân khoa học, xấu mà ham diện. Thân gọi Chị Mẹt. Trước chị Merle có ông Solse, người Chà nhưng nói tiếng Tây rất cừ. (Về hai ông Bénard và Solse, tôi không chất dạy năm đệ nhứt hay đệ nhị, các bạn cũ nếu đọc bài nầy xin đính chánh giùm).
Toán và Kỹ hà học (Hình học): Venturini, người Corse, biệt danh “Ống Điếu”, vì ông hút điếu cối và phù dung. Chuyên ép học cửu chương đến 20×20. Miệng rất hôi!
Vẽ: Ông Nguyễn Văn Cứng được cung kính vì ông là người Việt Khoa viết chữ khéo (écriture): Ông Nam, họ Cao Đình, luôn luôn áo dài đen, đầu chít khăn đầu rìu. Trò nào thiếu điểm lên nói với ông, ông cho tột điểm vớt vát lại khỏi bị cấm túc (consigne). Đội ơn thầy.
Năm đệ nhị (1920-1912), thay vì A, B nay đổi lại gọi 2è année X và Y do ý ông đốc học vốn là đại tá chuyên khoa toán pháp là ông Colonel Limandoux. Vì có cuộc xuống đường của chúng tôi nên ông bị thay thế, và ông Sentenac từ Mỹ Tho lên làm đốc trường. Ông nầy người lùn xủn, khi đứng gần ông giáo sư Bourotte cao 1 thước 90, thì ông đứng chưa tới vú. Ông Sentenac có một tật, nay nhắc lại còn rùng mình nổi ốc là mỗi lần ông ho, thấy miệng ông nhai nhai mà không thấy ông khạc đờm nhớt ra, có lê ông đã phi lang vào bao tử.
Tổng giám thị trào Limandoux là Thomas, cử nhân toán, vì hối lộ bị đổi.
Các giáo sư lớp đệ nhị nầy còn ảnh hưởng tai nạn trận giặc 1914-1918, nên thiếu người có thực tài, tuyển chọn không đồng đều gồm có:
Pháp văn: Ông Lallemand, người bòn bon (Bourbonnais), nhở có chiến công nên được bổ làm giáo sư, khi giảng về bài “con ruồi và anh đánh xe” (la mouche el le coche của La Fontaine), ông nhắm híp mắt lại và nói: “La mouche fait com me cà: Zi! Zi! Zit!” (con ruồi làm như vầy: zi zì zịt), đến chừng ông hỏi bài, không đứa nào cắt nghĩa cho xuôi, bằng đứa nào theo y ông nhái lại hệt là “La mouche fait zi! zi! zit!” tường đặng điểm lớn, té ra ông cho ăn trứng vịt zéro bắt lỗi sao dám nhạo thầy! Ông Lauemand đổi đi, ông Louis lại thế, ông nầy chuyên môn thấm nước miếng vuốt râu ngạch trê cho thật giống củ ấu, đến phiên ông Doumaud vô thế, dạy cũng không hơn gì, cả ba đã hại chúng tôi mất một năm học Pháp văn như ý muốn. Thầy không đủ khả năng hại học trò không tiến bộ là một tội.
– Sừ địa: Ông Bernard Bourotte, cử nhân văn chương. Khỏi nói ông nầy dạy về môn nầy thì không ai giỏi hơn. Học trò rất mến nhưng sợ ông như sợ cọp. Tánh ông nóng như lửa, trả lời hay ông cho tột điểm 9/10, nói thêm một câu thất lật ông sửa liền thành một hột vịt to tướng? Học sanh Taberd vô thi, ông hỏi đứa nào không đáp được, ông day qua hỏi ông thầy dòng ngồi nghe, báo hại các sư huynh mặc áo dài đen bỏ phòng khảo thí chạy có cờ!
– Khoa học: Cũng chị Merle như cũ, sau lấy chồng trở nên bà Saint-Marty.
– Toán pháp: Ông Bulliard, brevet supérieur, nhưng dư sức dạy. Ông tánh nóng, mỗi lần học trò không trả lời được, ông ôm đầu bứt óc. Có một lần giờ dạy kỹ hà, ông đưa lớp tôi ra sân banh vườn ông Thượng làm thực tập, lần ấy ông rượt tôi chạy gần giáp nửa sân. Ông thì chạy tay không, còn tôi lại không dám buông cây hoa tiêu sợ gãy mắc đền, rốt cuộc đua trăm thước bất ngờ, phần thắng về trẻ dưới hai mươi, ông ngưng lại cười xoà bỏ cuộc.
Nay nhớ lại thầy đà trăm tuổi, đứa dưới hai mươi nay cũng bạc đầu Việt văn: Ông Nguyễn Văn Mai như cũ. Ông bắt tôi đọc Kiều và tuồng hát bội cho đến mãn giờ mà không giảng nghĩa.
Dạy vẽ: Giáo sư Maire, người tốt bụng và dạy đúng phương pháp, mau phát.
– Tập viết chữ cho đẹp (écriture): Ông Cao Đình Nam như mấy năm trước.
Năm đệ tam đổi lại làm 3ème année X dành cho payants và 3ème année Y cho boursiers, đổi đi đổi lại hoài không hiểu vì sao. Đốc học là ông Mathieu, thêm dấu thành ra Mã Thiệu. Tổng giám thị là ông Victori, ông kiêm luôn chức quản lý xuất nạp économe, nhưng ông liêm chính và thường bữa chăm nom thức ăn nước uống cho học trò. Đến đời ông có trà nóng chứa nguyên thùng cho học sinh tha hồ giải khát. Ông được cử giữ hai chức vụ trên cho đến năm sau, và khi ông về hưu, nhà triệu phú, nay là tỷ phú Hủi Bon Hoa (Chú Hoả), vốn có con cháu học với ông bên khu vực Pháp nhớ đến tiền ân, bèn rước ông về nhà giao cho làm tổng quản lý.., coi sóc về phố xá thâu góp tiền phố, một đời sung mãn an nhàn, rất xứng công thưởng người có lương tâm, tận tuỵ về nghề giáo, cương trực thanh liêm và mẫn cán. Một dật sử vặt để cho thấy tôi hư đến bực nào và nói để bỏ qua cho. Những năm 1922-1923, ông làm tổng giám thị Xách Lu và ông dọn chỗ ở trên lầu thượng ngay góc Công Lý và Trần Quý Cáp ngày nay. Một bữa nọ vào chiều trời nhá nhem, tôi lảng vảng một mình lại góc đó nơi dưới lầu để kiếm chút trà đỡ khát. Chỗ nầy có một cầu thang có lướt sắt ngăn lại ăn thông với nhà trù. Tôi đi tới đó bỗng nghe tiếng guốc gỗ nõn đùng đùng trên nấc thang cây tôi đứng lại ngó ngoáy lên thang. Trời đất ôi, tôi chết điếng chân bước không được! Một cái mông tròn trắng phều đang từ từ xê dịch lên lầu, lồ lộ một đống thịt có chẻ một đường giữa nõn nà nõn nuột. Lúc ấy tôi sững sờ đứng chết trân quên khát. Thoạt cái mông trắng đi tới khúc quanh, huý bà Victori, ủa quên cái mông trắng phều, dừng lại, xổ một tràng tiếng Tây. Tôi nghe thật lớn: “ce n’est pas assez comme cà?” (bao nhiêu ấy chưa vừa sao?), tôi hoàn hồn, quên việc đi uống nước, ba chân bốn cẳng, vắt giò lên cổ, chạy một hơi về phòng tự tập, thấy thầy Chín trọc đang nhổ râu, tôi bước vào chỗ ngồi tỉnh tuồng như không có sự gì, nhưng lúc ấy ai biết sờ tôi sẽ thấy trống chiến đánh gần bể ngực. Suốt một tuần rồi nửa tháng, rồi một tháng tròn tôi mới dám thở mạnh. Tôi tự lấy làm xấu hổ, sợ bị đuổi như trào ông Ourgaud lây nhơ đến cha mẹ, nhưng thú thật trai dậy mẩy, đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy cái mặt sau của gái Tây phương, nó trắng làm sao là trắng? Khỏi nói từ đó tôi bỏ tật khát trà không phải lúc, và mãi về lâu tôi không dám bén mảng tới góc lầu nầy. Cũng may bà Victori không học lại với chồng. Quên nói bữa ấy máy hư bà xuống tắm lầu dưới, báo hại tôi du Thiên Thai cưỡng bách suýt bị đuổi.
Các giáo sư năm đệ tam 3è année X, niên khoá 1921-1922, gồm có:
– Pháp văn: Ông Nguyễn Văn Duyên có brevet supérieur, nhưng học lực rất cao. Ngày nay chúng lối sống sót còn nhớ công ơn dạy dỗ. Lúc đó không đứa nào dám hỗn đối với ông (trừ anh Nguyễn Văn Hoá, Tây Ninh, sau làm giáo sư ở Mỹ Tho, dám tutoyer với ông, nhưng chúng tôi gọi Hoá khùng cũng không lạ). Ông Duyên có biệt tài, chỉ dạy cho chúng tôi những lỗi mà người Việt thường hay lầm vấp khi nói và viết tiếng và chữ Tây. Học với ông năm nầy kéo lại thì giờ đã mất với kiểu giáo sư nhắm mất ra bộ mà không cho trò nhái lại.
– Sử địa: Lão Salmon, xưa có tú tài, nhưng khi trường hỏi xin bản sao lục góp vào hồ sơ, lão đổ thừa đã chìm mất dưới biển trong cuộc đắm tàu buổi chiến tranh đã qua. Suốt một năm ròng rã chúng tôi không học được một chữ nào với ông già chuyên môn ngậm kẹo Valda nầy, duy thường nghe ông khen nịnh phao tay dân Việt trắng hơn phao tay dân chà, dân bòn bon, tức xứng đáng đứng gần ông hơn những bọn kia!
– Khoa học: Ông Trương Văn Tuấn, tú tài khoa học ở Hà Nội về ông nói tiếng Pháp trôi chảy, thuộc gần trọn cuốn sciences của tác giả Bazin, nhưng ông không dạy khoa thực hành nên ngày nay chữ nghĩa trả lại thầy, tôi không biết chút gì về môn khoa học. Thỉnh thoảng tôi còn gặp và tình sư nghĩa đệ chưa quên, và há dám quên. Lúc dạy ông thường mặc trọn bộ com lê bằng hàng tussor sang trọng, tay đeo chiếc nhẫn xoàn gần mười ly chớp nhoáng.
Toán pháp và Kỹ hà học: Vẫn ông Bulliard, giáo sư lão thành tận tuỵ với nghề nghiệp.
Việt văn: Ông Nguyễn Văn Mai, không thay đổi.
Vẽ vời: Chị Gioan, rất đẹp, có chồng dạy toán lớp.trên, đứa nào chị thấy chăm chỉ học, chỉ thường khòm lưng trên đầu để dạy chấm phá, rủi đầu học trò đụng chạm vào ngực chị, chị không nói gì, bởi thế chúng thường làm cho đụng để rồi giả bộ xin lỗi. Thân mật chúng tôi gọi chị là chị Giãn. Hiện nhà tôi còn giữ một bức chân dung của chị để làm kỷ niệm một bà thầy dị chủng nghĩa nặng khó quên.
Dạy viết chữ cho khéo: Cao Đình Nam (Tôi chưa biết dịch écriture ra danh từ nào cho gọn).
Năm đệ tứ, gọi 4è année X, niên khoá 1922-1923.
– Đốc học: Bouault, thạc sĩ sử học. Tổng giám thị, cũng ông Victori, y như năm rồi, rất được trọng dụng vì học trò mến phục và nhân viên kính vì. Không ăn xới ăn bớt cơm học trò.
Các giáo sư dạy năm chót của chúng tôi năm 1922-1923, gồm;
Pháp văn: ban đầu Tullier, rồi Ro bin, văn chương cử nhân, thảy đều có chân tài, rất hết lòng và dạy rất dễ hiểu và mau lĩnh hội.
– Sử địa: Ông Bernard Bourotte, vẫn gọi bằng ông để tỏ lòng kinh trọng. Ông vừa là thầy dạy học vừa là bạn, mãi đến năm 1968 trước khi ông mất, chúng tôi thường thơ từ qua lại và năm 1963 tôi có ghé nhà nghỉ một đêm tại Lisieux, đốt đèn khuấy chị Phù dung thuốc rất ngon gout indien.
– Khoa học: Ông Franchini, vốn là anh của chủ nhà hàng Đại Lục đường Tự Do, nghe như hiện dưỡng nhàn tại Nice bên Pháp quốc.
– Toán pháp và kỹ hà học: Ông Lê Văn Kiêm, giáo sư cử nhân, gốc người Bến Tre, hiền và rất tốt với học trò, đứa nào cũng mến. Nhưng tôi không hiểu hết những gì ông dạy, lỗi tại tôi dở toán.
– Việt văn: Nguyễn Văn Mai.
– Vẽ vời: Bà Gioan, cũng là chị Giãn.
– Dạy viết chữ cho khéo (écriture): Cao Đình Nam. Đến giờ ông chúng tôi tự do được làm theo ý muốn, vì ông nói chúng tôi nào phải trẻ con mà dạy tập đồ.
Các thầy gác phòng tự tập, coi ăn coi ngủ. Mai Điểu Chính, Đoàn Hưng Tường, Đào Văn Lân, Trần Văn Phận, Nguyễn Bá Tải, Sersot, Dumoulin, Đỗ Văn Ngô, quên tên vài ông… Thỉnh thoảng có ông Trần Văn Chiêu xuống dạy khoa đã tự (đánh máy chữ), cũng có khi ông gác lớp vài giờ, ông Lê Đình Dực (lé) coi về phát mandat đại diện lãnh tiền thế cho học trò, và ông Mạnh (quên họ) gọi lén là Trương Tác Lâm, danh từ nầy do các anh lớn để lại và tôi không hiểu gốc tích.
Bà đầm coi sóc y phục tên Mong, có mấy chị phụ giúp, thứ năm nào tới giờ phát áo quần mới, chúng tôi đều chen nhau gọi réo: “Chị lấy tôi, chị”, tiếng gọi tắt đã quen thay vì nói “xin chị lấy giùm y phục cho tôi”, quá dài. Và chị vẫn tươi cười không thấy chê rầy đứa nào vì đứa nào cung trai tơ nheo nhẻo.
Tuỳ phái chạy giấy đem thơ là Thường. Cu li dọn dẹp khá nhiều, đều là gốc gác miền Trung, nhứt là Thanh Nghệ, nên gọi chung là cọc cạch lửa, phải chăng là vì họ lo về tắt đèn tắt quạt, sửa điện và vặn nước cho học trò tắm. Ghét lớp nào các ông chờ cho xát xà phòng thì khoá nước, nên không dám chọc cho ghét.
Anh cặp rằng có râu dài, tánh tình khó thương, được tặng là Đề Thám! Người chịu khó, sai gì cũng được từ lấy đồ đi bỏ giặt đến mua một cặp lạp xường, đem nước trà lên lầu, cạy cơm cháy để học khuya, về trễ anh mở cửa cho lên ngủ không thưa gởi với thầy gác, đó là anh Hai Tân, nhớ lại thì ắt đã ra người thiên cổ. Vạn tuế Hai Tân!
Cho đến năm 1918, bãi trường lớn hai tháng vào tháng chạp Tây từ lễ No-en. Từ năm 1919 về sau, bãi trường lớn vào tháng bảy, lễ chánh chung (14 juillet). Cũng vì vậy mà các anh Nguyễn Văn Cáng (Đại Ngãi), Phương (Cần Thơ), Châu (Bạc Liêu) vô trường Xách Lu năm 1918 học tắt có sáu tháng rồi khi nhập trường cho lên lớp đệ nhị (deuxième année). Năm 1919, khi chúng tôi vào trường, học năm đệ nhứt thì tên lớp đặt là première année, chia ra A dành cho nhóm có học bổng (boursiers) và lớp B dành cho bọn có đóng liền (payants). Nhưng năm 1920, ông đốc Ourgaud nhường chỗ cho ông quan năm nhà binh là Colonel Limandoux, ông nầy là nhà toán học nên đổi lại gọi deuxième année X và Y.
Ông ít tánh kỳ thị, chính ông đưa sinh viên Nguyễn Văn Kiều (nha y sĩ Dr. Kiều) vào hội thể thao Pháp (Cercle Sporlif Saigonais) là hội dành riêng cho Tây chơi, ông đóng tiền cho Kiều dượt tơ-nít chung với bọn Pháp, vì Kiều có khiếu về môn nầy. Ông ở ăn tử tế như vậy nhưng ông bị lão tổng giám thị Thomas xỏ mũi rồi Thomas làm bậy, học trò phản đối bỏ trường không học xuống đường lần nhứt ở Nam kỳ vào năm 1920, ông cùng bị đổi, để ông sentenac ở Mỹ Tho lên thay, chừng ông nầy về hưu thì có ông Mathieu (Mã Thiệu) lên làm giám đốc. Nhưng giám đốc lỗi lạc nhứt là ông Bouault, thạc sĩ sử học thế cho Mã Thiệu, năm 1923, khi chúng tôi học lớp đệ tứ. Ông nầy say mê về sử và thuộc hàng Tây tốt. Một hôm, giáo sư dạy sử lớp tôi mắc việc riêng không đến dạy. Đốc học Bouault xuống thay thế, hỏi chúng tôi học đến đoạn nào. Trả lời đoạn nói về cuộc cách mạng bên Pháp từ năm 1789. Ông cười, xoa tay dạy cất hết giấy nết, căn dặn không cho ghi chép những gì ông nói ra, đoạn suốt một giờ ròng rã, ông thao thao bất tuyệt diễn giảng còn rành rọt hơn trong sách, những chi tiết vặt vạnh luôn về năm tháng xảy ra, nghe mê như mật rói vào tai đoạn ông xách nón bước ra cửa, chào và kết luận: “Chúng em còn nhỏ, sau nầy nếu muốn độc lập, thì phải tranh đấu cho đến kỳ cùng. Mặc cho chúng nó là bọn cai trị sẽ không bằng lòng, chớ nhà giáo có lương tâm như chúng tôi, vả lại tôi thuộc đảng xã hội (socialistes), chúng tôi không có quyền che giấu sự thật và chỉ muốn có sự công bằng”. Thật là một lời nói vàng ngọc và chí tình, đáng ghi vào phế phủ.
Nhớ HỒ VĂN NGÀ – Hồ Văn Ngà có da ngăm đen, mặt xương mắt sáng, miệng rộng, có cái cười rất cởi mở. Nhà nghèo, Ngà rất chăm học, giờ chơi luôn luôn ở lại trong lớp, tay cầm cục phấn, học riêng không cần thầy. Ngà có hoa tay, viết được cả tay trái, và khi vẽ vòng tròn trên bảng, Ngà cầm phấn quay một vòng tròn còn hơn vẽ có công-pa tức cái qui. Tuy nghèo mà rất gan dạ, chuyện gì dầu trái, như bỏ trường, cất nghĩa Ngà nghe phải tai thì hường ứng ra theo, bất chấp hậu quả. Thấy ông giáo sư Duyên chữ viết thật đẹp, Ngà tập theo và chẳng bao lâu Ngà có tuồng chữ y như chữ của ông Duyên không khác. Cho đến năm đệ tam, Ngà học ngang lớp với tôi. Tôi hơn Ngà môn thể dục và môn tập đọc nhạc phổ (solfège), nhưng chỉ hơn trong hai năm đầu, đến năm thứ ba, Ngà giựt luôn quán quân hai giải nầy, bỏ tôi xa lắc. Ngà thấy tôi yếu về khoa học và toán, Ngà cố tình chỉ bảo mọi cách nhưng tôi vẫn hoàn tôi. Nhớ lại năm 1921, vô học năm đệ nhị mà không sao học yên thân. Lão Thomas cho ăn cực quá, nuốt không vô. Thêm nữa lão thâu nạp học trò trường Nguyễn Xích Hồng dâng hối lộ cho lão rồi lão nhận bừa cho vô học cùng chúng tôi, Phát, Thiệt, Cung, mấy anh nầy rất tốt nhưng sức kém quá không theo kịp, thầy phải mất nhiều thì giờ mà chúng tôi lại thiệt thòi hơn thầy nhiều, thêm có nhiều lý do khác, khiến cho chúng tôi, nhóm học trò khu bản xứ, từ đệ tứ đến đệ nhứt, đồng lòng thừa dịp chiều thứ năm thầy dắt ra dạo chơi ngoài phố (promenade) rồi bỏ luôn không trở về trường, phản đối tổng giám thị Thomas bất công nhiều nỗi. Ngày sau là ngày thứ sáu, định kéo lên thống đốc nạp đơn kêu nài, nhưng lính đến giải tán. Một nhóm không hưởng ứng ở lại học, chúng tôi gọi “mấy thằng lác” (lâche), mãi về sau ra đời rồi cũng còn giận và ít giao thiệp. Nhưng cuộc làm reo (grève) bãi học nầy, lần hồi đưa vào thất bại. Chúng tôi không dự bị, vấn đề ăn và cho ở làm cho luống cuống. Đêm đầu có tiền đi xem ciné rồi ăn mì thế cơm. Ngủ thì chen nhau nằm sấp nằm chồng sấp lớp trong một phòng trọ tối tăm. Mấy hôm sau, cạn tiền phải sống bằng viện trợ, đúng hơn là bố thí của mấy thầy hãng tư, kẻ mươi đồng, người hảo tâm hơn cả là năm mươi đồng, làm sao đủ cho hơn hai trăm đứa nheo nhóc phần đói phần được thơ cha mẹ tuân lời đốc học khuyên răn làm mất hết tinh thần. Chưa được một tuần lễ, tôi tiếp được một thơ bảo đảm của Ba tôi từ Sốc Trăng gởi lên trong ấy có kèm một bưu phiếu mười đồng bạc, phải vô trường nhờ thầy Dực trên văn phòng lãnh hộ mới xong.
Lúc ấy tôi chỉ ăn một ổ bánh mì bốn xu trừ cơm mỗi ngày và đã hai hôm như vậy nên xót ruột quá. Về chỗ trọ, thì nhờ anh Trần Quan Viện, đưa về ở trên đường Barbet (nay là Lý Trần Quán), ngủ bừa dưới gạch, vừa rồi có dịp đi ngang qua đây, thấy cái tháp hoà thượng ngay sát bên lộ đã bị san bằng, lòng khiến bồi hồi nhớ lại năm chục năm trôi qua mau quá. Hôm vô trình diện để lãnh tiền, tôi mục kích một cảnh đáng thương tâm và cũng đáng kể lại đây. Hôm đó tại văn phòng, tôi thấy Ngà bị lịnh nghiêm thân từ Tân An bất trói hai tay dẫn trở vô trường ra mắt đốc học Limandoux.
Giữa ông Tây quan năm nhà binh và một ông già cổ học Đông phương, có ông giáo Dực đứng làm thông ngôn. Ngà hai tay bị trói bằng dây luộc đứng sát vách. Tôi, với một bộ đồ bà ba nhục nhục cả tuần chưa thay, đứng bên Ngà, vô tình trở nên một nhân chứng bất đắc dĩ.
– Con của ông – Limandoux nói- đã không nghe lời chỉ bảo và ngỗ nghịch bỏ trường ra theo bọn mất dạy, ông là cha, lỗi ấy về ông.
– Thưa quan đốc học – thân phụ của Ngà nói – quan đốc nói như vậy tôi là dân quê dốt nát, xin đỡ lời. Ngà, lúc còn ở nhà tôi, rất ngoan, tôi nói gì, Ngà nghe nấy. Lúc ấy, “tử bất giáo, phụ chi quá” quan đốc trách tôi là phải. Nhưng lúc đó Ngà biết nghe lời cha mẹ. Chỉ từ khi lên đây ăn học ở trong trường và được quan đốc dạy dỗ, từ ấy Ngà trở nên ngỗ nghịch. Hễ “giáo bất nghiêm, sư chi doạ”, thưa quan đốc, vậy lỗi ấy về ai?
Ông Limandoux nghe ông giáo Dực dịch xong, lật đật đứng dậy xin lỗi, bất tay ông già nhà quê, mà rằng: “Con ông học rất giỏi, đứng đầu trong lớp. Tôi không nỡ đuổi mấy đứa như vậy. Lời ông nói rất chí lý. Nay ông hãy bảo Ngà vô học lại”. Nhưng Ngà khoanh tay cung kính đáp bằng tiếng Pháp:
– Thưa ông Đốc, tôi không thể vô học một mình. Nếu ông ép tôi cũng nhảy rào trở ra. Chừng nào ông tha tội tất cả anh em chúng tôi, thì tôi mới chịu vâng lời.
Ngà mất học bổng, các anh kia tôi nhớ Tự (lớp đệ tam cầm đầu) và Sử (Cần Thơ) bị đuổi. Chúng tôi trở vô tiếp tục học, cuộc xuống đường tan như bọt xà bông. Ông Limandoux, ông Dực, hai cha con Ngà đều ra người thiên cổ, chỉ còn tôi ghi lại lời nầy, cũng không còn nhân chứng nào khác, vài năm sau khi từ giã Xách Lu, có một lần tôi gặp Ngà trước quán sách Albert Portail (nhà Xuân Thu đường Tự Do ngày nay), Ngà cho tôi hay sắp sang Pháp học thêm. Tôi khen Ngà tốt số, Ngà đáp: “Đi với tiền bên vợ mà sướng cái gì, mầy!” (Câu nầy nơi trước tôi có kể rồi).
Sang Pháp học trường cao học về kỹ nghệ và mỹ thuật, một dịp Tết Ngà gởi cho tôi một danh thiếp vỏn vẹn có mấy hàng nầy: “Hồ Văn Ngà S.M.N.X”. Tôi gặp Hồ Hữu Tường lấy ra hỏi, Tương cũng không hiểu bốn chữ kín ấy nghĩa gì.
Khi hay tin Ngà bị đuổi, kỹ sư Lưu Văn Lang nói: “Uổng quá, tôi có học trường ấy, nhưng tôi không làm major (đứng đầu trong lớp) suốt ba năm như Ngà. Làm major, khi ra trường tương lai lớn lắm. Uổng quá! Uổng quá”.
Tôi gặp lại Ngà lần chót tại Sốc Trăng, Ngà làm chánh văn phòng cho ông Nguyễn Văn Sâm chức là Khâm sai của đức Bảo Đại. Kế nghe đảo chánh, rồi nghe Ngà bị bắt, dẫn đi xuống miệt Cà Mau, dọc đường bị thủ tiêu, sau năm 1945, lối 1946 gì đó.
Nhớ TRẦN VĂN THẠCH:
– Anh Trần Văn Thạch là học sinh ngoại trú (externe) nên chỗ giao thiệp không mặn mòi với chúng tôi là học sinh nội trú, từng nuốt mấy trăm hội vịt giầm nước mắm năm lère année và nhai bít-tết giẻ rách của lão Xích Cu Lại ròng rã những tháng dài Trần Văn Thạch là học trò xuất sắc trường Phú Lâm, khi vào năm đệ nhứt Xách Lu thì vóc nhỏ người nhỏ con hơn hết bên ban A (boursiers), cũng như chú Từ Văn Thiệt sau nầy tốt nghiệp hãng Renault kỹ sư đào tạo bên Pháp chính cống mà qua bên nây vô hãng Renault Sài Gòn, Tây nó xếp dưới hàng giám đốc vẫn không có bằng kỹ sư nhưng là Tây thứ thiệt nên giành làm chủ, thiệt khi vô trường từ Cái Bè lần học chung một lớp với anh là Từ Văn Chẩn, vẫn chiếm giải thứ nhứt bé con nhứt bên ban B (payants) vậy.
Trần Văn Thạch cận thị từ nhỏ, vô lớp với hai gò má no tròn, mặt rất trẻ trung bé choắt nhưng đã lên bộ nghiêm trang đạo mạo với nhỡn kính gọng sắt xi kền y một kiểu với đức giám quốc Pháp có hình vẽ trong tiểu tự điển Petit Larousse là ông Adolphe Thiers. Thạch bề ngoài có vẻ phách, khinh người, nhưng bề trong là một bạn tốt như bánh mì Tây không có pha bột gạo. Duy Thạch kén người để giao thiệp và suốt mấy năm học chung trường Xách Lu, Thạch chỉ thích cặp kè với ông giáo sư dạy Pháp văn của lớp Thạch là ông Paul Baudet 7 có tiếng là dạy giỏi nhưng rất nghiêm nên chúng tôi rất sợ. Ông Baudet cũng khác hơn người, làm giáo sư mà ít giao thiệp với các giáo sư khác, dưới mắt tôi lúc ấy hai người đeo như sam là Paul Baudet và Trần Văn Thạch, cứ mỗi sáng đến giờ vô lớp là thấy hai người lù lù từ cổng vô sân, từ sân vô hành lang chờ giờ vô lớp học là hái người cặp kè, một giáo sư già Tây, một sinh viên trẻ ta, khăng khít không rời và trâm cùng nhau tiếng Tây không ngớt.
Ông Baudet thấy Thạch có khiếu nên thương, còn Thạch lợi dụng tình thầy trò để học tiếng Pháp. Chúng tôi không hiểu ất giáp gì, đứng ngoài xét cạn đã ban cho Thạch là “con lão Bồ Đề”, mấy lần thân thiện chúng tôi trách Thạch quá ham nói tiếng Tây, Thạch cự lại rằng: “Chúng bây ngu lắm! Vô đây học chữ Tây, tiếng Tây thì phải năng viết nhứt là năng nói thì mới giỏi được chớ? Còn nói rằng ham nói tiếng Tây sẽ bớt thương nước, thì sau nầy sẽ biết”.
Có đứa ác ý thấy Thạch giống ông giáo Dực trên văn phòng, vì cũng lé và mập tròn chắc da chắc thịt như nhau thì đặt tên bừa là “Con lão Dực” nhưng chỉ nói lén chớ Thạch hay được ắt đánh bể đầu. Thạch có biếu tôi một cuốn mỏng “Manon Lescaut” của Abbé Prévost và tủ sách tôi có chứa một cuốn mỏng khác “Le francais correct” của Thạch soạn khi làm giáo sư trường tư tại Sài Gòn, chứa đựng bao nhiêu sở đắc về văn phạm Pháp mà Thạch đã thâu thập được từ nhỏ. Tuy mỏng mà đáng lượng vàng.
Từ ngày ra trường, tôi không gặp Thạch. Vắng tin nhau mấy năm dài, Thạch sang Pháp du học ngày nào tôi không hay, Thạch nhiễm tư tưởng mới hồi nào tôi không rõ, một hôm tôi gặp Thạch trên xe buýt đường đi Bà Chiểu, lúc nầy Thạch là hội viên Hội đồng thành phố, còn tôi thì giúp việc trên dinh phó soái Nam Kỳ, tôi xê lại gần và bắt tay chào Thạch. Thạch cười lé xe: “Bộ mấy không sợ mất chức hay sao mà dám bắt tay tao?”. Tôi thản nhiên đáp lại: “Có cái mấy làm nghị viên, mấy làm chánh trị rồi mấy sợ bất tay một thằng thơ ký mà nhơ tay mấy; chớ tao thì không sợ giống gì hết. Đứa nào làm chánh trị thì làm, đứa nào kiếm cơm thì cứ việc kiếm cơm, bạn học năm xưa gặp nhau bất tay chào mà cũng sợ nữa sao?”. Hai đứa cùng cười nào ngờ hôm ấy rồi không bao giờ gặp nhau lại nữa.
Trong hàng anh em, Ngà giỏi đủ môn, Tân Hàm Phục và tôi giỏi Pháp văn duy có Thạch thấu đáo được văn phạm Pháp và có tánh cang chánh xây dựng, dám nói dám làm, tiếc thay trời không cho sống để thi thố tài nghệ, nhưng bao nhiêu kia cũng đủ, mạng ấy yểu mà danh ấy thọ.
Nhớ PHAN VĂN HÙM – Phan Văn Hùm 8 đã được nói nhiều do nhiều cây viết có uy tín ghi lại. Ở đây tôi chỉ muốn nêu ra vài cử chỉ đầy nghĩa khí của anh. Tôi biết Hùm lối năm 1920-1921, khi anh học trường cao đẳng tạo tác Hà Nội về. Tôi gặp Hùm lần đầu tiên tại nhà bà Phán Mẫn là mẹ nuôi của anh Nguyễn Tích Thiện, cô của bác sĩ Nguyễn Văn Sang. Nhắc đến hai vị ân nhân nay mà bùi ngùi vô cùng cảm xúc. Nếu nội nhà tôi đều nhờ anh Sang mát tay trị đủ thứ bịnh và bất luận giờ giấc nào, thì riêng tôi, lại thọ ơn dày bác Phán từ thuở còn mài đũng quần tại trường tỉnh cho mãi đến sau mỗi khi bãi trường ở Xách Lu về vẫn ăn chực thường thường tại nhà bác Phán, nhắc mà không thẹn lỗ miệng ngày nay. Bác trai mất từ lâu, nhưng bác gái một lòng thủ tiết và mỗi ngày đều cúng bác trai hai bữa cơm y như lúc sanh tiền.
Anh Hùm năm đó theo anh Tích Thiện về Sốc Trăng tuy quê anh ở Búng (Bình Dương) đừng lầm với chợ Bưng ở Mỹ Tho là chỗ ngày nay hai bên đánh nhau rầm rầm, ông trời can cũng không nổi. Nguyễn Tích Thiện học trường Cao đẳng sư phạm, năm ấy thi ra trường bị Tây ghét cứng đầu nên cho rớt. Hùm nghĩa hiệp chịu bỏ dở nửa chừng việc học, theo Thiện về tổ chức với nhiều tay hùn vốn dựng nên một dãy trường khá đồ sộ lấy tên là “Tích Thiện học đường” dưới bảng hiệu chua thêm một hàng chữ “Ký túc học xá” mà lúc ấy tôi chưa hiểu nghĩa là gì. Công việc làm ăn đang phát, Thiện đâm ra chơi bời, mê một cô me Tây mà quên hết sự nghiệp, nhứt là không nghe lời trực gián của Hùm, uất quá Hùm xin trở ra Hà Nội năm sau học lại rồi qua Pháp học lại Đại học Sorbonne thành tài, và đó là việc khác. Nhơn lại nhà bác Phán, tôi gặp Hùm và trò chuyện đôi ba lần đâm ra thích và kết lâm bạn tâm đầu. Hùm hơn tôi rất xa vì đã biết sẵn chữ Hán, Hùm có chỉ cho tôi học thêm, nhưng mãn kỳ bãi trường, hai tôi chia tay và không thấy nhau luôn cho đến ngày Hùm bị chết oan sau nầy.
Dưới mắt tôi, Hùm là một người học nhiều, viết nhiều nhưng tiết kiệm từ lời nói. Đúng là một học giả có chân tài học ngoài có vẻ cục mịch như anh lải gỗ đất Thủ (Thủ Dầu Một), bề trong thật là một viên ngọc đáng giá, nhưng không ba hoa lẻo mép như thằng nầy. Chớ chi lúc đó tôi biết được như hôm nay xin thọ giáo với Hùm thì đã khỏi “thiên bất đáo, địa bất chí” như tôi bây giờ. Những gì tôi nói nôm na, như trường ăn cơm trong để dịch chữ Internat, thì Hùm đổi lại là “ký túc xá”, chính chữ Surveillant général, tôi dịch “thầy gác chánh”, Hùm cười, sửa lại “Tông giám thị” nội bao nhiêu ấy đủ thấy “chơn” và “giả” khác nhau thế nào. Sống làm chỉ nhu kẻ hèn nầy; bởi vậy, bây giờ tôi nghe ai gọi tôi là học giả, tôi nhớ đến Hùm và xin cải chánh, chữ giả nầy là “không thiệt” xin đừng hiểu “học giả” là người có học, quả tôi không xứng đáng.
Hùm da ngăm ngăm đen, mặt thịt, mình mẩy rắn chắc, tôi hỏi anh Trần Quan Viên, trước học cùng trường ngoài Hà Nội, Viên cười nói “Nó có nghề!”. Bộ tịch vạm vỡ đúng là bé ton armé, dè đâu lại chết yểu. Như vậy mà còn có kẻ không tin con người có số mạng.
Nhớ NGUYỄN AN NINH 9 . Tôi làm quen với ông Ninh nhờ mua báo bằng Pháp văn đối lập chống chánh phủ đương thời, gọi La Cloche Fêlée (Cái chuông rè) do ông một mình vừa chủ trương, vừa viết báo, và vừa bổn thân đứng bán khắp Sài Gòn, mình mặc áo dài trắng, đi xe đạp, tay ôm mớ nhựt trình, miệng rao lanh lẹ và chạy bán từ số, từ tờ cho mấy ông mấy thầy, bất chấp cách lườm ngó đầy ác ý và tiếng nặng nhẹ của nhóm thực dân, từ thằng biện chà gác đường đến thằng Cọt (Corse) ngồi nhà hàng uống rượu khai vị xưng mình là người cai trị da trắng mà sức học chưa có tới mảnh xẹt-ti-phi-ca.
Lúc ấy Sài Gòn hãnh diện với những nhà hàng sau đây địch thể với các nhà hàng bán rượu và cơm Pháp: như Continental (Đại Lục) gần nhà hát Tây, Rotonde (Viên Đình) vì góc tròn, ở chỗ nhà Denis Frères đường Tự Do góc mé sông và nhà hàng Pancrazi nơi góc Nguyễn Huệ, Nguyễn Thiếp. Ba nhà hàng đối thủ với các nhà Pháp thuở đó là: Quảng Thạp (góc Chợ Mới đường Lê Thánh Tôn), chỗ ngân hàng Pháp ngày nay, đầu bếp là tay ngự thiện cũ của lão thống soái hách nhứt thời Cô Nhác (Cognacq), nhà nầy chuyên môn bán chim mỏ nhát rô ti và mỗi sáng bán điểm lâm với giá hai cắc bạc một tô cà phê đen lớn xộn một khúc bánh mì to tướng còn bơ lạt ướp lạnh tha hồ muốn quệt bao nhiêu thì quệt. Nhà thứ hai là nhà hàng Hiệu Hiệu ở Chợ Cũ đường Công Lý, chỗ lai vãng của các mại thương mái chính, nấu ăn được được nhưng không ngon và sạch bằng nhà thứ ba danh gọi Yeng Yeng, ở đường Pasleur, Chợ Cũ, bán cơm Tây rẻ tiền mà ngon lạ ngon lùng: bít tết Chateaubriand tám cắc đĩa nguyên, bốn cắc nửa đĩa, cục thịt mềm và thơm, khoai chiên bơ phồng lớn và tròn, bùi không chỗ nói, ngày nay vô Chợ Lớn kêu một đĩa bít tết như vậy tốn bạc ngàn mà ngon không bằng phân nửa chầu xưa. Nguyễn An Ninh ưa đứng bán báo nơi góc Tự Do và Gia Long và đón giờ ra sở năm giờ thì thế nào mấy thầy trẻ dinh Thượng Thơ cũng mua ủng hộ vài ba chục số. Nhưng mỗi luận vào khoảng tháng hai tháng ba Tây năm 1926 cứ mỗi thứ hai và thứ năm lối bảy tám giờ tối không sót ngày nào, ai muốn gặp Ninh cứ lại trước nhà hàng Yeng Yeng thì gặp, không trật bữa nào. Tôi thường lại đây dùng bữa vì đây là nơi hội ngộ của đám gái nửa sạc Lucie Bandeau vì đầu có theo nơi trán, con Mười Tóc Đỏ, Tư Dái, Sáu Ngọc Anh, bọn nầy khi hết tiền thì đeo theo bọn cờ bạc, khi có xu sọc sạch trong túi thì nhả bọn cờ bạc bám chúng tôi rút rỉa đồng lương đầu tháng, và xương tuỷ trai tơ. Trước khi giáp mặt chị em, tôi thường mua một tờ Chuông Rè để lấy le. Nhưng ông Ninh sau khi bán cho tôi đều đều, lại lầm tưởng, cho tôi đúng là nhà ái quốc có gan, không nữa cũng một tay cừ nào đó có sạn trên đầu. Một đôi khi, sau khi nhận của tôi một cắc bạc tiền mua báo, ông sang chồng báo qua tay trái và chìa tay mặt bắt tay tôi niềm nở như hai bạn tương tri cách mặt lâu ngày. Có mấy lần tôi thẳng thắn kéo tay mời ông vô dùng cơm Yeng Yeng dụng ý là mình dám đồng tịch đồng sàng cùng nhà cách mạng, nhưng ông lắc đầu lia lịa xổ một dọc tiếng Tây cám ơn không ngớt, và tỏ vẻ cảm động thật tình. Nói cho đúng lúc ấy ai ai đều ngán ông Ninh và không dám giao thiệp công khai, vì sợ liên luỵ không nhỏ. Riêng tôi, tôi lại nghĩ lại. Lúc bấy giờ ông Ninh chưa ai biết là nhà ái quốc dám hy sinh tánh mạng như ngày nay đã rõ, lúc đó ông là người ai cũng e dè không dám lại gần, trừ những người cùng một chủ nghĩa với ông, Việt Tha, Le Jean de la Bâtie, Paul Marchet, vân vân. Còn tôi tôi vẫn phục ông thật tình, lại nữa tôi còn nhỏ dại, thâm ý ngông cuồng là muốn ngồi cùng bàn, bắt quá lính kín xên, ông Rosel hay được sẽ buông tôi ra đổi tôi đi chỗ khác thì khỏi làm việc nơi Trường Máy, cho nên tôi mới dạn làm vậy. Có ngờ đâu kế tôi bất thành, và cho đến năm 1928. nhờ mấy ông Tây tôi dạy tiếng Việt vận động lắm, tôi mới lách rời ông Rosel, thẳng cánh bay về toà bố Sa Đéc được.
Theo tôi nhớ. ông Ninh người chắc da, chắc thịt, nẩm thấp đều đặn nhưng không đáng gọi lùn, ông có bề ngang, mặt đỏ hồng vì có dư sức khỏe. tóc đen nháy và thật nhiều, ông lăng xê mết để tóc dài xù xụ khỏi ót và thanh niên đời đó đứa nào có ít nhiều tâm sự như tôi đều bắt chước gọi kiểu phi lô xốp à la mode de Nguyễn An Ninh, cái kiểu hippy như bây giờ đâu phải là mới mẻ. Cặp mắt của ông sáng có sao, đổi lông mày thật rậm. Khi ông nhíu lại, trông người oai phong đầy nghị lực. Thế mà ông hiền như cục bột, miệng luôn luôn tươi cười tha thứ, và ăn nói rất có duyên. Một con nhà nề nếp nho phong mà tập ăn uống kham khổ không nề hà, trong khám Ninh thường nhín lại miếng khoai lang mò trong tô canh để rồi cũng la sấm la sét (dessert) như ai ở ngoài tù, vài khi còn tự do viết báo, món ăn thích nhất của Ninh vì rẻ tiền no bụng là món hột vịt lộn úp mề cặp với rau răm chấm muối tiêu, chêm la-ve cho thêm ấm bụng. Ninh ban đầu là một người yêu chân lý, ý toan đội đá vá trời, thành thật muốn cho Tây thực dân nghe theo lời ông mà nới tay biết đối xử với người bị trị làm sao cho phải đạo, cho đúng Rousseau, Voltaire đã viết và ông đã đọc. Ninh là người hết sức thiệt thà tin nơi lẽ phải và tin cho ai ai cũng đều tốt bụng như ông. Chớ chi Tây biết nghe lời và thầy chú không tàn ác thì Ninh đâu trở nên người bạo động. Xứ Sốc Trăng tuy quê mùa nhưng râí có duyên nợ với khách anh hùng cỡ Hùm, Sâm, Ninh…
Có một lần Ninh đi dạm vợ ở tỉnh Sóc. Chị nầy đang học trường bà phước sở tại, có tiếng là nơi kín cổng cao tường. Ninh vào trường để thăm vị hôn thê, mà bà phước không có lệ cho trai tơ thâm nhập chỗ dạy dỗ gái. Thế là Ninh phải giả làm phụ nữ, mặc áo dài choàng khăn écharpe là cái mốt thịnh hành thời ấy, bà phước thấy làm sao được mớ tóc phi lô xốp nên cho vào. Nếu cái tin nầy không phải chuyện hoang đàng và nếu tôi đây là trạng sư tôi sẽ cãi cho Ninh con người ham vui cợt đời dường ấy, đâu phải a con người làm cách mạng? Chuyện không hoang đàng và tôi dám cam đoan đúng trăm phần trăm là Ninh cưới hỏi chị nữ sinh trường bà nầy thực sự. Chị nầy nay còn sống, ban sơ hai người ăn ở với nhau rất đằm thấm, duyên thật bén duyên Nhưng khi ông bắt tay làm chánh trị, ông lậm và si mê đến tơ duyên đổ vỡ. Cơm không lành canh không ngọt, Ninh có lời nói nầy đủ thấy chí tình. “Em giao việc ly dị cho luật sư. Bao nhiêu lỗi anh xin gánh hết. Để em làm lại cuộc đời. Và để cho anh rảnh tay lo việc nầy cái đã!”. Cơ khổ tại sao quá hà tiện lời nói và không nói rõ việc nầy, ấy là việc quốc gia đại sự, nếu nói rành muốn đuổi Tây về xứ thì người đàn bà trẻ non lòng, chị Tư E.P, đâu có chia tay? Âu cũng là số kiếp hay là hết duyên hết nợ. Khi dừng chơn tại tỉnh Sốc Trăng. Ninh là người hết sức yêu đời, cười nói huyên thuyên, ưa giễu ưa chọc cười. Ninh lúc đó đâu phải là dành cho nệm đá xi măng lạnh lẽo, cơm tù hết Khám Lớn đến Côn Sơn, kết cuộc chết trong ngục tối. Nhưng chết trên nệm êm để sau giòi đục xương, đâu có bằng chết bó chiếu mà danh lưu thiên cổ.
Mối duyên bất thành kia, dường như khởi đầu tại Chiêu Nam Lầu, Chợ Cũ, nơi mà mẹ của chị nữ sinh trường bà phước ghé chọn để gặp người cô của Ninh là chủ của khách sạn nầy.
Nay ông Ninh đã nằm yên ngoài Côn Đảo, tiếng nghe dữ, nhưng êm tịnh hơn đất Sài Gòn. Cái mồ lý tưởng của nhà cách mạng nầy, theo tôi, là nên nằm nơi sân cỏ góc Gia Long-Công Lý, cạnh Khám Lớn Sài Gòn hồi xưa. Cái Thư viện quốc gia, theo tôi, nên đặt tên “Thư viện Nguyễn An Ninh”, mới là chí lý 10 .
Lúc chánh phủ trước sai phá Khám Lớn, tôi có xin ông Bộ trưởng bộ giáo dục can thiệp xin chừa lại cái hồ nước, chỗ Ninh, Hùm đến uống và tắm giặt, phải chi nghe tôi thì Thư viện có một di tích quý kế bên. Nay chỗ đó bỏ không, mà lúc ấy tôi bị quở tại sao ham gánh bàn độc mướn. Bên Pháp cũng không sáng suốt gì hơn. Có cái cổ thành “Ngục Bastille” đem phá quách thành bình địa trong cơn nóng giận, chỉ thấy đó là một ngục tối chớ không phải là một cổ tích, để lại cho người sau biết và xem cảnh áp bức của chế độ quân chủ phong kiến, chẳng là hữu ích hơn. Lại thêm có món tiền thâu vô cửa cũng bộn? Biết khôn thì sự đã rồi.
Ngày nay Ninh, Hùm, Ngà, Thạch, Sâm, Thâu, Tạo v.v., đều có tên ghi vào lịch sử. Xưa tạc tượng đồng bia đá nay lấy tên đặt cho đường cho công viên. Thiếu chi người lúc sống đứng trên đầu trên cổ người ta, nhưng mải lo làm giầu vơ vét của công hoặc cầ in được quyền rồi quá lộng hành, khi mất địa vị mất thanh danh, chết làm phân bón còn chưa xứng đáng. Đã sanh làm người phải biết chọn đường đi, ở vào địa vị nào cũng nên biết phân biệt cái thơm cái thúi.
Nhớ ngày 21 tháng 3 năm 1926
Nhớ NGUYỄN HÁO ĐÀNG – Tôi quen với Nguyễn Háo Đàng từ trong trường Chasseloup, Đàng học trên tôi một lớp nhưng ăn chung một bàn ngủ chung một lầu. Quê anh ở Cần Thơ, quê tôi ở Sốc Trăng, lúc đó mỗi lần bãi trường hay nhập trường hai tôi thường gặp đi chung một tàu và ngồi chung một xe lửa trên con đường Sài Gòn đi Mỹ Tho bằng xe hoả và về xứ bằng tàu thuỷ. Ngoài ra Đàng với tôi thêm có mối tình liên lạc thầm kín và kính mộ vì cả hai đều có nhúng tay hay nói văn chương từng tham gia cuộc bỏ trường làm reo (grève) lần thứ nhất ở Nam Kỳ khi còn học trường Xách Lu năm 1921.
Đàng rất đẹp trai. Tuy cận thị, anh khéo kiếm một cặp nhỡn kính kẹp pince-nez rất ăn với bộ mặt anh. Môi son, tóc dợn sóng, cặp kính làm tôn vẻ đạo mạo học giả non, Đàng rất ăn khách, tôi muốn nói các cô áo tím đều mê mệt với anh chàng khao khao giọng thổ nầy. Đây là một nhà dẫn đường dẫn đạo, một chỉ huy tiếc thay hỏng bét (ùn meneur man qué), vì Đàng nói học trò nhiều đứa nghe, lúc bãi học Đàng dẫn đầu, nhưng rủi ro vì chút ăn ở kỹ không dám hy sinh, nên Đàng kết cuộc đứng bán cho nhà thuỷ Bùi Văn Sách ở Cần Thơ để chết kẹt năm 1945 lúc trong nước xáo trộn, xác vùi ở đâu không rõ.
Anh em chia tay biệt tích lúc ra trường, bỗng sáng bữa thứ năm 18-3-1926, tôi đi ngang nhà in Nguyễn Hảo Vĩnh, là anh của Đàng, trên con đường Bonard (Lê Lợi), khoảng nhà sách Khai Trí ngày nay, bỗng một người từ trong nhà in chạy ra giúi vào túi tôi một mảnh giấy màu máu đỏ lòm rồi thoạt chạy trở vô, đó là Đàng, anh em chưa kịp một lời hàn huyên hỏi thăm.
Tôi đi luôn một mạch về nhà trọ là tiệm vàng bác Cao Văn Hy, 108 Bonard, ở cùng một dãy gần Chợ Mới, bước thẳng lên lầu, móc tờ giấy ra xem. Đây là một loại truyền đơn quốc cấm, rộng khổ 14 x 25, nay còn giữ và còn như mới tuy xưa trên bốn mươi tám năm. Chữ nhỏ đẹp, in một mặt, nguyên văn như sau:
“Đồng bào! Đồng bào!
Đã bảy mươi năm mắc đòng nô lệ. Nay lại được nghe cái chánh phủ ép chết từ bảy chục năm nay nói yêu thương ta, đem văn minh qua cho ta, giúp cho dân ta mau tân hoá, bảo kẻ thắng trận với ké thất trận nay phải hoà hợp nhau làm một nhà.
Chánh phủ ép chế nay lại nói ra mấy câu ấy thì là rộng rãi, cao thượng vô cùng. Dẫu ông cha ta trước vì ái quốc và bỏ mình nơi chiến trường, dẫu trong bảy mươi năm ta bị sự ép chế là như hằng hà sa số, ta cũng phải quên chuyện cũ mà điều hoà với chánh phủ, yêu thương chánh phủ.
Nhưng mà muốn có điều hoà tương ái, ít nữa chánh phủ phải không được muốn bỏ tù ai thì bỏ, phải để cho ta làm báo quốc ngữ tự do. Đã lập ra có luật có quan toà, thì sao lại còn phải làm ngang? Đã bảo điều hoà tương ái sao lại không cho ta cãi đổi lại?
Còn muốn bỏ tù ai thì bỏ, thì là còn ép chế. Không được ngôn luận tự do thì không thể điều hoà tấn hoá được.
Nay Trương Cao Động bị chánh phủ bắt ngang, một lần nữa ta phải thừa dịp nầy mà gỡ cái mặt nạ của kẻ nói láo. Ké nầy biết rằng nay dùng cường lực mà ép chết, rút rỉa của non sông dân sự trong xứ ta, thì khó mà làm chủ ta lâu dài nữa. An Nam ta làm trâu ngựa cho người hơn bảy mươi năm, nay đã có ý chán rồi.
Ta đã thấy rõ ràng rằng ta không thể làm cho cảm tình được kẻ mạnh quyền. Ta đã thấy rõ ràng nếu ta không lo cho ta thì không có ai lo cho ta. Ta sống nhằm trong một đời không thê dùng giọng cảm tình, lời nhơn nghĩa mà đối với người được, vả lại ông Tagore có nói: “Á Đông ta không phải người ăn mày theo xin Âu Tây”.
Nay dân ta còn yếu nhát, làm chi không nói chánh phủ, thì ta hội nhau lại mà cho chánh phủ biết rằng dân ta không chịu chánh phủ ép thêm ta nữa, không bằng lòng cho chánh phú muốn bắt ai thì bắt. Bao nhiêu người chí khí nhiệt thành của dân ta phải bị chánh phủ giết trói tinh thần hết; như vậy thì còn gì dân Nam Việt? Đã bảy mươi năm nay nào là giết, nào là đầy, nào là cấm cố, nào là phá khuấy biết bao nhiêu anh hùng của nòi giống ta. Bao nhiêu đấy không đủ hay sao?
Ớ đồng bào! Ớ đồng bào! Gục đầu mãi mà làm trâu ngựa hay sao? Ai đâu là người biết thương, biết giận, biết tức, còn giữ một chút đứng đắn làm người.
Xin ngày chúa nhựt 21 Mars nầy đây, tám giờ sớm mai, đến tại miếng đất của bà đốc phủ Nguyễn Tân Tài, đường Lanzarotte (xóm Lách), chỗ đãi tiệc tiễn chân ông Momn hôm trước.
E. Lejean de la Bâtie.
Nguyễn An Ninh etc, etc, etc.
“Ông Phan Văn Trường, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Nguyễn Tấn Văn, có hứa sẽ đến mà đồng sức với ta”.
Ấy đó là một tờ truyền đơn với giọng văn, cách đặt đề và chánh tả thuở đó, cách nay gần đúng nửa thế kỷ. Rõ là khẩu khí của một người miền Nam, quen tánh ăn sao nói vậy, không cầu kỳ cũng không cần giồi mài gọt giũa, miễn hiểu được thì thôi, nhứt là rất ít dùng chữ Nho. Có lẽ theo tôi định, tờ nầy do Nguyễn Háo Vĩnh hoặc em là Nguyễn Háo Đàng thảo ra. Chính ông Nguyễn Háo Vĩnh trước đây có gởi đăng báo Nam Phong một bài nói nặng vua Khải Định, và Phạm Quỳnh lúc ấy binh vua, không tiếc lời xài xể ông Vĩnh, rằng giọng nói du côn dám phạm thượng khi quân tội đáng chém đầu. Nguyễn Háo Đàng cũng thế vốn bất mãn từ ghế nhà trường, đứng trong hàng ngũ cầm đầu bãi học để phản đối một vụ bất công, nay trông nom nhà in cho anh, nên viết giọng nầy được lắm.
Tôi đọc tờ truyền đơn rồi, hôm sau tôi vội xách lên dinh thượng thư (nay là trụ sở bộ kinh lễ), tìm anh em bạn học cũ, tụi bãi học năm xưa, để rủ đi nghe diễn thuyết. Các anh L.M. Thọ (sau tàm đốc phủ chết vì bịnh). T.H. Phục, Nguyễn Chỉ, cả hai lên tới đốc phủ rồi bị ám sát những năm 1945-1946, nhưng anh nào cũng kiếm cớ thối thác, người mắc đi khỏi, người mắc việc nhà, miệng thì hưởng ứng nhưng lòng vẫn mê say đường công danh, muốn trung thành để được điểm son và rất sợ có tên trong sổ bìa đen mật thám mà chậm đường gia quan tấn tước. Không rủ họ được, tôi về rủ anh em cùng chỗ trọ. Tôi chừa ra chú nhỏ Nguyễn Văn Lư, tôi gọi Lư tiên sinh, vì chú còn đi học mình rủ đi nghe việc quốc sự không nên. Một bạn nay đã từ trần là Công, hãng Denis Frères, thì chúa nhựt nào cũng phải đi xem lễ, nên tôi không ép. Lão Dân làm cho báo Trung lập và báo Impartial, thì khỏi mời nó cũng dự vì phận sự là đi lấy tin tức. Còn lại anh Hai Cự thì thứ bảy nào anh cũng trông mãn giờ, trưa về Cây Cui thăm nhà. Anh Cự hứa chắc chắn sẽ trở ra sáng chúa nhựt 21-3-1926 thật sớm để kịp đi với tôi và căn dặn đôi ba lần tôi đừng đì một mình thất vui. Có biết đâu vì giữ lời hứa mà xôi chè đầu hỏng. Nói có vong linh bác Năm Hy, chủ nhà trọ, khi nghc chúng tôi bàn soạn, thì thầm hác hỏi: “Vườn bà đốc phủ Tài ở chỗ nào, tụi bây chỉ cho tao đi với”. Tôi thưa.
– Dạ, bác cứ gọi xe kéo trả nó năm cắc hạc, biểu nó chạy lên đường Lanzarotte, chỗ nào có người ta tụ tập đông là chỗ đó đó.
Và như đã nói, xôi chè hỏng bét tôi không dự được buổi diễn thuyết ngày 21-3-1926 nầy. Sáng chúa nhựt ấy, tôi thức thật sớm, xuống ăn điểm tâm nhà hàng Vĩnh Lọt ở gần bên, rồi về nhà ngồi chờ anh Hai Cự. Vả chăng vườn bà đốc phủ Tài ở tới Lanzarotte (đường Đoàn Công Bửu), xóm Lách, còn nhà chúng tôi ở là Chợ Mới Sài Gòn, cái ga xe lửa điển thì ở mé nhà thương đô thành, chỗ bót Lê Văn Ken ngày nay. Đồng hồ đã gõ tám tiếng, rồi tám tiếng rưỡi, tôi sốt ruột ra vô ngóng chờ mà trông hoài không thấy bóng anh Hai Cự. Gần chín giờ sáng, anh Cự lù lù từ ga xe điện bước qua, tôi không đợi anh vô nhà, lật đật kéo anh chạy kiếm hai xe kéo nhờ kéo lẹ lẹ lên đường Lanzarotte. Xe chạy đến đầu đường d’ Arfèuilles (Nguyễn Đình Chiểu) thì bị chận lại. Thiên hạ rần rần tuôn về như nước chảy vì cuộc diễn thuyết đã bi giải tán.
Ngoài đường người ta đông nghẹt, lớp thì lính phú lít, lớp lính ma tà xúm nhau hối thúc bộ hành đi cho mau, không được tùng tam tụ ngũ, giùm năm giùm ba, ác nhứt là biện Tây, biện Chà, đứa cầm roi gân bò, đứa thổi tu-hít, roi nghe vùn vụt, tiếng síp-lê hoót hoót nghe muốn són đái. Tôi lấy mắt lườm anh Cự mà không nói lời nào, kéo tay anh cố chen đám đông bước tới. Bỗng gặp anh Nguyễn Văn Lạc Khám Lớn, thấy tôi, anh lôi ngoắc lại mà rằng: “Đừng vô nữa thất công. Đã bị cò bót giải tán tự nãy giờ. Người ta đông quá xá đông, diễn giả nói nhỏ quá không nghe gì được (lúc ấy thưa có máy phóng thanh, cũng chưa biết dùng loa để nói). Đ.M, Tây phách quá, mấy thằng Chà đáng ghét cứ rượt theo dân nào ăn mặc lùi xùi mà đánh chửi hoài”.
Lạc, Cự và tôi dắt tay nhau trở về đường Catinat, ghé vào quán uống mỗi đứa một cái bốc (la-ve) hai cắc bạc rồi chia tay, tôi và Cự cùng về nhà trọ.
Như đã nói tôi có thần hộ mạng. Đang tiếc buổi diễn thuyết bỗng vài hôm sau gặp anh Đàng, anh trao một tờ truyền đơn màu lá cây dợt, khổ 14×21, bản in một mặt, chữ rất dễ đọc, nay còn để dành, và nguyên văn như vầy:
CHO CHÁNH PHỦ BIẾT
Ngày 21 Mars 1926, chúng tôi là ba ngàn người An Nam hội tại đất của bà đốc phủ Nguyễn Tấn Tài đường Lanzarotte Sài Gòn, mà đồng ý quyết định sau này:
Nếu Chánh phủ thật muốn Pháp Việt đề huề, thật muốn cho dân An Nam tấn hoá, thì ít nữa phải ra luật vững vàng mà:
1) Bỏ các luật định về tội riên g của người bản thổ (indeginat), bỏ cái luật cho phép người mướn công được xin bỏ tù người làm công, bỏ cái luật cho phép người phép người bản thổ và người ngoại quốc được xin giam thâu những người bản thổ thiếu nợ; buộc chánh phủ, ngoài các tội mà luật đã định, không được động đến sự tự do của người dân An Nam của định tội phạt thật nặng những kẻ làm trái phép. Chánh phủ phải trả ngay Trương Cao Động cho đất Nam Kì, đặng Trương Cao Động chống án về việc bị bắt ngang và đặng làm bằng rằng Chánh phủ không còn ép chế như thế nữa.
2) Cho dân An Nam làm báo tự do như làm báo Tây;
3) Cho dân An Nam hội hiệp tự do như bên Pháp;
4) Cho dân An Nam lập trường dạy học tự do như khi trước;
5) Cho dân An Nam đi du học và đi làm ăn tự do ở ngoại quốc;
Bằng Chánh phủ cứ không chịu cho dân An Nam các điều cần nhứt này thì chúng tôi xin không tin lòng tốt của Chánh phủ cùng nhau thề nguyện đồng tâm hiệp lưc mà giải thoát cho dân Nam Việt.
Cái năm 1926 coi vậy mà rất quan trọng. Dân ta mở mắt và biết chống đối đòi hỏi quyền lợi cũng từ đây.
Qua ngày 24 tháng 3 năm 1926 nầy, vào 9 giờ rưỡi đêm, có tin cụ Phan Châu Trinh nhắm mắt từ trần, xác đem về quàn tại dãy phố đường Pellerin (nay là Pasteur) số nhà 54 nơi nhà ông Huỳnh Đình Điển, đối diện khu Trường Tiền và gần bên hông Trường Máy. Đến ngày mồng 4 tháng 4 dương lịch, lại một dịp xuống đường êm tịch, thiên hạ rần rần hằng muôn hằng vạn sắp hàng tư hầng năm theo đưa đám tang, đông nghẹt các ngả đường. Cò bót lại một phen rộn rịp theo giữ trật tự, tôi cũng lén theo, nhưng đó là việc khác sẽ nói nơi đoạn sau.
Như đã thấy, nếu tôi là người xem giấy má và báo hằng ngày xem rồi vụt bỏ, hoặc cất dấu không kỹ, nhất là những truyền đơn dưới thời Pháp thuộc, sợ xét nhà, sợ bị bắt bớ rồi vì vậy không có gan để dành, thì hôm nay bà con cô bác không còn đọc hai tài liệu gần như duy nhứt kể trên. Sở nạp bản (dépôt légal) nay thuộc Thư viện quốc gia cũng không có, vì đó là tài liệu chống Pháp nên sở Pháp có cất làm chi để hòng giao lại cho mình? Cái nghề sưu tập đồ bá láp như những giấy tờ lụn vụn mà tôi quen làm gần suốt một đời người, ai cũng cười tôi hư, coi vậy mà ngày nay có chỗ dùng rồi đó. Tôi nói làm vậy là có ý chỉ cho các bạn nhỏ, xin nối nghiệp tôi, rán sưu tập và giữ gìn lấy mình mà làm đồ nghề riêng, muốn được lạ và không ai có thì tự mình biết khéo giữ khéo khai thác, đừng trông cậy vào văn khố chung, vì của chung thì ai ai cũng xem được còn gì mà nói.
Nguyên văn chỉ dụ bổ nhiệm: Số 2334 Le Gouverneur de la Cochinchine Commandeur de la Légion d’Honneur Vu le décret du 20 octobre 1911 Fixant les pouvoirs du Gouverneur de la Chochinchine et des Résidents Supérieurs en Indochine, Vu l’arrêté du 17 aot 1923 portant nomination de quatre secrétaires stagiaires des bureaux du Gouvernement et des Provinces de la Cochinchine; Vu les besoins du service, ARRETE: Article primier – Sont désignés pour servir ; 3) sous les ordres du Directeur de l’Ecole des Mécaniciens Asiatiques, en remplacement du secétaire Pham Công Nghiep en congé: Le secrétaire VƯƠNG HỒNG SẾN, nouvellement nommé. Article 2 – Les Administrateurs chefs de province intéressés, l’Administrateur Chef de Cabinet et le Directeur de l’Ecole pratique des mécaniciens asiatiques et le Directeur de la Prison Centrale de Saigon sont chargés, chacun en ce qui le concerne, de l’exécution du présent arrêté. Saigon le 17 aot 1923. Signé: COGNACQ Pour copie conforme, Le Chef du Bureau du Personnel Signé: MERLE P.C.C Le Directeur de l’Ecole des Mécaniciens, Signé: EMMANUEL ROSEL.
Nguyên văn chỉ dụ bằng Pháp văn: Số 3263 Le Gouverneur p.i.de la Cochinchine, Chevalier de la Légion d’Honneur, Vu le décret du 20 octobre 1911 fixant les pouvoirs du Gouverneur de la Cochinchine et des Résidents Supérieurs en Indochine ; Vu l’arrêté du 16 septembre 1920 portant réorganisation du personnel indigène des Bureaux Gouvernement et des provinces de la Cochinchine; Vu les arrêtés des 17, 24, 29 aot et 12 septembre 1923 portant nomination des secrétaires stagiaires Le Van Qui, Nguyên Ngoc Thach, Vu’ong Hong Sen, Nguyên Van Lac, Nguyên Van Moi, Trân Chi Lâu, Trân Van Chi, et Lâm Van Tho; ARRETE: Article 1er. – Sont titularisés à l’emploi de secrétaires de 6è classe des bureaux du Gouvernement et des provinces de la Cochinchine, pour compter du: 20 aot 1924, le secrétaire stagiaire Nguyên Van Lac, N.MIe 434 (Maison Centrale), 22 aot 1924, – Le Van Qui, N. Mie 435 (Gia Dmh) 27 aot 1924, – Vuong Hong Sén, N.MIe 436 (Ecole des Mécaniciens). 28 aot 1924, – Nguyên Van Moi, N.MIe 437 (Bien Hoa) 1er septembre 1924 – Nguyên Ngoc Thach, N.MIe (Bà Ria) ‘ 13 septembre 1924 – Lâm Van Tho, N.MIe 440 (3è bureau) 15 septembre 1924 – Trân Van Chi, N.MIe 441 (1er bureau) Article 2. – L’Administrateur, Chef de Cabinet, est chargé de l’exécution du présent arrêté. Saigon le 19 septembre 1924 Signé: Tholance Visé au Contrôle Financier le 18 septembre 1924 N.2598 Pour copie conforme le Chef du Bureau du Personnel du Gouvernement de la Cochinchine Signé: Merle P.C.C Le Chef du Service de l’Enseignement Signé: Grandjean Pour copie conforme Le Directeur de l’Ecole des Mécaniciens Signé: Rosel
Về ông P. Baudet. Ông dạy kỹ như ông Duyên nên học trò rất mến. Ông có làm tổng giám thị một thời gian thay cho ông Victori về nghỉ bên Pháp. Anh bạn quá cố Nguyễn Thành Phát (hội đồng Phát) có biệt tài nhái chữ ký của ông y hệt, anh gác cửa nhìn lầm hoài, vì vậy bọn bị phạt lợi dụng, phát làm giấy cho ra rồi tối chúa nhựt Phát thâu lại, đến nay tôi nói mới biết
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.