This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sáu người, trong một căn phòng rộng rãi, ngồi quanh cái bàn lớn đầy thức ăn. Chủ nhân khao đồ biển, cua, ghẹ, sò, điệp, ốc, tôm hùm, cá dứa; khách mang đến thịt heo quay, vịt luộc, cà-ri dê, cà-ri gà. Lẽ dĩ nhiên không thể thiếu bún, bánh hỏi, bánh tráng, bánh mì. Rồi nào là nước mắm ớt tỏi, mắm nêm, xì dầu, xà lách, rau thơm, dưa leo, cà chua, khế chua, chuối chát, trái vả xắt mỏng. Bia lon Tiger sắp thành hàng, hai chai rượu chát, một trắng, một đỏ, một chai Champagne. Trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh có chưng bình hoa hồng là mấy trái sầu riêng, mít tố nữ. Mấy chồng khăn giấy được đặt cuối bàn ăn.
Tuổi sáu người sàn sàn nhau, khoảng từ 50 trở lên, bạn cùng lứa thời Trung Học.
Căn hộ rất rộng gồm nhiều phòng. Phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, phòng tập thể dục. Và nhiều tủ áo quần đứng lẫn trong tường, tủ gương đựng ly tách, tủ đựng rượu, tủ thuốc, tủ TV, tủ radio và những dụng cụ âm thanh, những dĩa nhạc, băng nhạc, phim ảnh. Một màn ảnh lớn để chiếu phim nằm kế phòng ngủ. Trên trần có vài mươi bóng đèn nhiều màu, có hệ thống toả hơi lạnh dẫn từ máy lạnh đặt tại góc phòng khách.
Căn hộ nằm ở tầng thứ 15 của cao ốc Kim Tơ hay Sea View 26 tầng đứng sừng sững giữa vùng Phước Tĩnh thuộc Long Hải. Ba hệ thống thang máy hiện đại chạy lên chạy xuống liên tục, chứng tỏ hầu hết các căn hộ của cao ốc đều đã có người ở. Từ Bãi Sau của Vũng Tàu, có thể thấy cao ốc đó nổi lên như con quái vật khổng lồ in hình lên nền trời sáng chói gần eo biển cong hình vòng cung.
Mùa đang vào hạ.
Thái vui vẻ và ồn ào nhất:
“Đ. m. đồ ăn nhiều quá thế này, lại hằm bà lằng, nuốt vô sao hết?”
Mọi người ham nói chuyện sôi nổi với nhau, không để ý Thái nói gì. Dường như không muốn lời nói của mình bị rơi vào chỗ trống không, Thái tiếp tục la toáng lên:
“Đ.m. sao có bún còn bánh hỏi, bánh tráng? Cà-ri dê còn thêm cà-ri gà? Lại để sầu riêng cạnh hoa hồng? Mít? Tui nói cho mọi người nghe rõ đây, đ. m., những cái mùi đó không hạp với nhau đâu.”
Tuỳ ngưng câu chuyện đang nói với Cảo, quay nhìn Thái, hơi chau mày:
“Ê, Thái! Ông nói rất có lý, nhưng sẽ có lý hơn, nếu ông làm ơn bỏ bớt hai cái tiếng chửi thề đó đi. Được không?”
“Đ. m. được sao được. Dễ gì đổi được một thói quen lâu ngày, đúng không? Nhưng, đ. m., anh em lâu ngày gặp nhau, phải chửi thề nghe mới đã.”
“Vậy tôi hỏi thiệt … cậu đừng giận thì tôi mới nói.”
“Bạn bè sao khách sáo vậy. Mới ông đó giờ lại cậu? Có gì cứ nói thẳng, đ. m., tui sẵn sàng nghe hết.”
Mọi người nhìn nhau cười. Cái không khí thân mật, thoải mái, bao trùm căn phòng. Tùy cao hứng la lớn:
“OK, thế thì tốt. Này, trước mặt sếp của cậu, hay, xin lỗi nghe, trước ông già của cậu, cậu có dám luôn miệng đ.m., đ. m. không?”
Thái trợn mắt, vùng đứng lên, xua mạnh tay. Hai lon bia trước mặt đã khui lăn cù làm ướt một vạt khăn bàn. Anh chồm người ra phía trước, hét:
“Mày nói cái gì? Cái con c. gì? Hả, hả …”
Phùng ngồi cạnh đứng lên ngay, vỗ nhẹ lên vai Thái, kéo Thái ngồi xuống ghế, nhỏ nhẹ:
“Thôi, thôi. Giữa anh em lâu ngày mới có được một dịp như thế này, không nên làm rách việc … làm hỏng việc. Cũng không nên bắt bẻ nhau. Theo tui, cứ tha hồ, cứ thả giàn, ai muốn nói gì cứ nói. Thế mới vui. Thế mới nói được hết những gì muốn nói. Còn cứ uốn éo lựa lời mất công lắm.”
Cả nhóm la lên: “Đúng, đúng, OK, OK.”
Thái mặt vẫn đỏ gay, gầm gừ những gì không ai nghe rõ. Cảo, lớn tuổi nhất trong bọn, hắng giọng, chậm rãi phát biểu:
“Đúng. Phùng nói rất đúng. Gặp nhau không phải dễ. Biết có được gặp nhau lần thứ hai như thế này hay không? Coi nào, hai ông nước ngoài, một gốc Huế, một gốc Bắc; hai ông Sài Gòn; một ông Đà Nẵng; và tui nữa, cứ cho là dân Sài Gòn đi. Tất cả là sáu tên. Đủ tư cách đại diện chưa, các bạn?”
Thái cũng đứng lên: “Đ.m., được rồi. Đ. cần xin lỗi.”
Rồi ngồi phịch xuống còn hậm hực: “Đây đ. cần xin lỗi. Mà ông chủ nhà ơi, có gì đâu mà đại với diện. Đại diện cái khỉ mốc! Muốn nói chuyện chánh trị hả? Đ.m. dẹp nó qua một bên đi. Ở đây không có chánh chị, chánh em, cũng không được đề cập tới tôn giáo. Đụng tới hai thứ đó dễ choảng nhau lắm.”
Những tiếng ậm à biểu đồng tình xen lẫn với tiếng rì rầm như muốn phản đối. Chờ cho bớt ồn, Hưng phát biểu:
“Không răng mô, không răng mô. Mình không thuộc đảng này phái nọ, không có tên trong hội đoàn nào cả thì …“
“Lại Việt kiều đi hỏng cẳng, nói bậy,” Thái chận. “Tại cái xứ này thì còn đảng phái nào khác nữa. Một đảng, đ.m., quá đủ rồi.”
“… thì ta vẫn có quyền có ý kiến chứ. Không làm chánh trị cũng OK đi, nhưng phải có thái độ chánh trị. Người là con vật chánh trị, thằng cha nào nói câu chí lý đó, hả quý vị? Dân mình lại ‘dị ứng’ với chánh trị cho nên trở thành những đàn cừu non.”
Lý, người Quảng Nam nãy giờ ngồi im, lên tiếng:
“Hưng đúng, trên nguyên tắc, Thái đúng trên thực tế. Thế là huề. Tùy lỡ lời và đã xin lỗi Thái, cũng huề luôn. Ngoài ra, chúng ta đây không vận động quần chúng, không … không vô sâu trong quần chúng nó,” mọi người cười rộ, “không gì nữa hè, không nắm được … cái gì trong quần chúng,” mọi người lại rú lên cười, “bàn chuyện chính trị lẻ tẻ với nhau, phát biểu linh tinh, lung tung, nghĩa là theo đúng cái chân lý trước sau như một, nói mà không làm, thì không bị hỏi thăm sức khoẻ đâu mà sợ. Không răng mô, không răng mô.”
Hưng vui vẻ đốp chát ngay: “Ê, chửi cha không bằng pha tiếng.”
Lý cãi: “Diễm xưa rồi, ông ơi. Pha tiếng không có nghĩa là chế nhạo. Pha tiếng là phát huy triệt để cái đa dạng của tiếng Việt vô cùng phong phú, thiệt không đó, của người mình. Nghe nó hay, nó vui, nó ngộ, … nó thân thương. Chớ coá, sô đau. Chẻng hoạn tui Guổng Nôm, Đòa Nẽng, góc loàng Boà Réng, thích eng côm với tơm roang hơn eng với coá kho. Nghe dzui tưa khong? Hiểu khong hả Hưng? Âu cơ? Âu cơ?”
Hưng chau mày: “Hiểu thì cũng hiểu lai rai. Nhưng Âu Cơ? Tại sao Âu Cơ?”
“Tựa sô hỏa? Đừng théc méc loàm chi. Âu cơ?”
Mọi người phì cười. Hưng và Tùy, người Việt hải ngoại – Hưng gốc Huế, Tuỳ gốc Hà Nội – nhìn quanh ngơ ngác. Bốn người kia càng cười lớn. Cái căng thẳng do đó có phần dịu bớt. Cảo ôn tồn nói:
“Cám ơn bạn Lý. Nhờ mấy câu pha trò của cậu anh em vui vẻ trở lại. Cậu đã ‘táy tọa’ cái bầu không khí thân hữu…“
“Không phải,” Lý ngắt lời. “Muốn nói ‘tái tạo’ hả, thì phải nói ‘tứa tộ.’”
Tất cả hưởng ứng. Thái dường như vui vẻ trở lại. Sâm banh khai vị ngọt ngào, rượu chát đậm đà, bia lạnh mát cổ họng. Kẻ cuốn bánh tráng hấp tấp, vụng về, bể chỗ này, xì chỗ nọ; người lấy dao nhỏ, nỉa nhỏ nạy sò, khều ốc, đút vào miệng lia lịa; kẻ đút cả càng cua, càng ghẹ vào mồm cắn rốp rốp không sợ gãy răng mặc dù trên bàn có sẵn mấy cái kẹp càng; người vội vã gắp tôm hùm hấp chấm xốt mai-don-ne, chấm bơ nước, chấm tiêu muối nặn chanh, chưa kịp nhai đã nuốt, làm như sợ người khác tranh ăn. Lý vừa ăn vừa bô bô, “Tôm hùm ăn cái kiểu này cũng lạ miệng. Ngon. Kiểu gì vậy?” Có tiếng đáp, “Kiểu Tây, kiểu Mỹ. Chưa ai đụng tới các món bún, bánh hỏi, hoặc bánh mì…” Tùy pha trò “Xem kìa, táp táp như điên.” Rồi những tiếng gọi rối rít “Ớt trái chớ không phải tương ớt.” “Thêm mấy múi chanh và tiêu nữa.” “Tỏi tươi, đừng tỏi dầm, vô duyên.” “Nhà có giấm chớ, giấm xủ càng tốt …” Chị người làm thiếu đường chạy hộc xì dầu. Một chàng lên tiếng, “Ê, có đàn bà, không được nói lái bậy bạ.”
Thức ăn, thức uống văng vào đùi, vào áo quần, vào tóc tai, của mình, vào người ngồi cạnh, kẻ bảo thơm, người bảo thúi, loạn xạ. Chàng Hưng thích thú nói to: “Thơm thúi cũng cùng một nghĩa như nhau. Đố các bạn nhạc ai đó?” Chả ai thèm trả lời câu đố có tính cách “văn học nghệ thuật” lãng xẹt ấy.
Thái đưa nhận xét: “Tụi mình ăn uống cái kiểu rất thô tục.”
Nhiều tiếng reo, “Thế à?” “Thế thì tuyệt quá! Đã quá!”
Thái có sắc giận: “Sao lại tuyệt, lại đã. Thô tục là đáng đề cao, thanh tao đáng hạ bệ. Đ.m. phải vậy không các ông nội?”
“Không phải,” Tùy đáp. “Nhưng thanh tao ở nơi khác. Giữa bạn thân với nhau, thô tục vui hơn, thật hơn, đã hơn.”
“Đ. m., ai bảo bạn vậy?” Thái gân cổ.
Tuỳ nhún vai: “Chả cần ai bảo. Nhưng cậu coi chừng. Không khéo tự mâu thuẫn đấy.”
Phùng: “Thôi, thôi.”
Thái ngẩn người. Mặt bỗng đỏ bừng, dằn mạnh lon bia xuống bàn. Cảo, chủ nhà, mặt cũng bắt đầu đỏ, nhưng đỏ vì rượu, đứng lên nói:
“Đồ ăn nhiều lắm, mà đã dọn ra hết đâu. Tôi bảo đừng, các bạn cứ mang thêm. Chiều, tối, ta lại tiếp tục … gì gì hả? A, táp táp tiếp, nhé, nhé. Bây giờ thì xin anh em vào toa-lét rửa mặt, rửa tay, xong qua bàn bên.”
Một cái bàn khác hình vuông đặt gần bộ xa-lông trên đó sắp các thứ bánh ngọt, trái cây, bình trà chưa châm nước sôi, bình cà-phê nóng, ly, tách, dĩa. Một người hô to “Hồi nãy thấy có chè, vân vân, giờ đâu cả?”
Cảo đáp: “Chè hột sen, bạch quả, bánh đậu xanh, bánh da lợn, tất cả đều bỏ vô tủ lạnh cho nó lạnh, ăn mới đã. Âu cơ?”
*
Sáu người đến đứng bên mấy cánh cửa sổ kế nhau nhìn xuống dưới kia. Xa, biển mênh mông một màu xanh đậm tiếp giáp với màu da trời xanh nhạt. Vũng Tàu, Bãi Trước, Bãi Sau uốn mình thành hình bán nguyệt. Thuyền đánh cá lác đác. Gần, thị trấn Long Hải, bãi biển Phước Tĩnh hiện rõ mồn một, đường đi ngang dọc, cây cối chen chúc, nhà cửa san sát. Trên bãi biển người lúc nhúc đông như kiến. Hưng trầm trồ:
“Lâu ngày về nước thấy thay đổi quá. Hồi sáng thấy Vũng Tàu đã ghê gớm rồi, nay Phước Tĩnh trước kia hoang vắng, tụi tui mò tới tìm bãi vượt biên, chừ như một thành phố lớn.”
“Đúng thế,” Cảo nói. “Chốc nữa lái xe đi quanh cho biết. Tui sẽ chỉ cho thấy các bệnh viện, chợ búa, sân chơi, công viên, đủ thứ. Và cái này mới là lạ, nội trong một khu đất nhỏ mà có đến sáu trường học. Lấy học trò đâu mà xây nhiều trường đến thế.”
Mọi người lại “Ồ, ồ.” Có người lên tiếng, “Ngoài vùng tôi không thấy xây trường, chỉ xây rất nhiều nhà nửa chừng rồi bỏ đó.” Người khác nói, “Vùng tui lại cho xây trụ sở phường khóm cao sáu bảy tầng, đặt vài ba cái bàn giấy trống trơn, lèo tèo vài người đi vô đi ra ngáp vặt.”
Tuỳ góp ý: “Có lẽ ở đây hồi tháng Tư Bẩy Lăm vượt biên nhiều, biến thành nhiều khúc ruột ngoài ngàn dặm, nên gởi tiền về nhiều. Có tiền trong tay thì cứ xây, xây, xây. Xí chỗ mà. Dư giấy làm chi chẳng vẽ voi. Mà có làm mới có ăn chứ. Còn đỡ hơn ngoài quê của ông Hưng, dân đánh cá gởi tiền về xây cả cái làng mồ mả, chiếm hết một vùng của biển Thuận An. Nấp nánh nộng nẫy noè noẹt nắm nắm. Muốn đọ sức với lăng tẩm vua chúa Nhà Nguyễn chăng?”
Sau một hồi đảo mắt nhìn xuống một vùng rộng lớn dưới kia nằm gần cao ốc, Tùy lại có ý kiến:
“Các cậu coi kìa. Những dãy nhà của ai trông lạ quá.”
Không xa cao ốc này bao nhiêu, có những dãy nhà đứt quãng từ bên trong đất liền chạy ra đến bờ biển, gần rừng phi lao khá rậm rạp. Trong rừng là tụ điểm nghỉ mát, du hí, cắm trại. Mỗi dãy nhà ấy có khoảng 6, 7 gian nhà giống nhau, bằng nhau, cao khoảng 15 mét, nằm gần nhau, chừa ở giữa một lối đi nhỏ. Kiến trúc thô kệch, xấu xí, nếu không muốn nói là kỳ cục. Tường không quét vôi, mái phẳng. Không cửa lớn, không cửa sổ, mà chỉ là những lỗ trống hình chữ nhật dựng đứng để người ta có thể đi vào bên trong. Trông tựa như những pháo đài đang xây dang dở.
“Toa tài thật, mới đấy đã nhận ra những gian nhà đó ngay” Cảo lên tiếng. “Nhà Ba Tàu mua.”
“Hình như không có người ở?”
“Đúng, không thấy ai ở cả. Chẳng hiểu tụi khựa nó mua những thứ đó để làm gì mà dám trả tiền gấp hai, hai rưỡi, giá thị trường. Một cái nhà như thế chỉ độ 3 tỷ, nó trả hơn 6 tỷ.”
Tùy hỏi: “Tức là bao nhiêu đô-la?”
“Là hơn 300 ngàn đô, cứ tính 1 đô đổi được trên 20 ngàn đồng.”
Lý bàn thêm: “Nếu nối lại mấy dãy nhà đó với nhau, dễ quá mà, thì sẽ thành một vòng đai bọc kín một khu riêng biệt rộng lớn.”
“Cậu nói đúng,” Cảo tiếp lời. “Tụi nó đã có kế hoạch đó, đã nối mấy đoạn rồi. Chốc nữa tui lái xe đưa các bạn đi một vòng, sẽ thấy tụi nó còn làm nhiều chuyện ngang ngược hơn nữa. Nó chận ngang con đường ven biển, trước kia là công lộ chạy dọc theo những bãi cát thật đẹp. Và treo tấm bảng: Nguy hiểm. Khu vực cấm vào.”
Mấy người cùng la lên: “Vô lý, vô lý. Sao lại có chuyện đó được! Chủ quyền đất nước ở đâu?”
Cảo tiếp: “Ai cũng biết Tàu nó làm nhiều chuyện ngang ngược hơn nhiều. Ở Đà Nẵng, ở Nha Trang, ở Tây Nguyên, vân vân. Nhưng khuất mặt. Đằng này, mỗi lần ra đây chơi với bạn bè, thấy những dãy nhà đó, tui muốn lộn ruột.”
Thái cau mặt: “Chuyện chưa đâu vào đâu mà đã, đ.m., rối loạn cả lên. Như vậy, xin lỗi, dễ bị hố lắm. Coi thằng Phùng kia kìa, nó bình chân như vại, chẳng thèm nói năng, la ó gì cả.”
Phùng tựa tay trên thành cửa sổ, im lặng nhìn xa, mặt buồn buồn.
Lý nói đùa: “Ê Phùng, nhớ vợ hả?”
Thái la lớn: “Đ.m. trật rồi. Tôi thân với nó, tôi biết. Nó đã có vợ đâu mà nhớ.“
Lý la lớn hơn, làm không khí trở nên náo nhiệt thêm: “Thì nhớ bồ. Càng nhớ nhiều. Đúng tim đen cậu chưa, nói thiệt đi.”
Phùng cười gượng: “Chả có nhớ ai cả. Cái gì có mà mất đi mới nhớ tiếc chứ. Hoặc vắng mặt mới nhớ chứ. Đằng này nó đang nằm sờ sờ ra đấy thì còn nhớ gì nữa.”
“Nói chi rứa?” Hưng hỏi. “Nói gì vậy? Cái gì là cái gì đang còn nằm sờ sờ?”
Phùng lạnh lùng: “Chả có cái gì cả.”
Hai ba người nhao nhao phản đối, “Ê không được xé rào nghe.” “Có gì phải chia sẻ với nhau.” “Đừng làm anh em mất vui.” Họ vừa nói, vừa khui thêm bia, uống hết lon này đến lon khác. Trên chiếc bàn tròn nhỏ đặt gần đấy đã có chừng hơn vài chục lon không. “Dân ta tiêu thụ bia có hạng trên thế giới,” Cảo nói.
Phùng cười gượng, đáp: “Thôi, thôi, các anh. Các anh độc tài quá. Tui cũng phải có một chút tự do của tui, một chút riêng tư của tui.”
Lý lý sự: “Ai cũng có những thứ đó, nhưng hãy tạm thời cất kín vào tủ sắt. Bây giờ, giữa anh em với nhau, ta hãy cùng vui, hoặc cùng buồn, hoặc cùng không vui không buồn. Hay là toa giận, toa không thích, toa khinh bỉ, toa không muốn lẫn lộn với cái bọn cà chua cà chớn như bọn moa hả?”
Phùng lắc đầu: “Có gì đâu mà kết nhiều tội như vậy. Các cậu thích tranh luận, tui thích nhìn biển. Thích nhìn thuyền đánh cá.”
Thái tiếp: “Cái thằng này trước giờ vẫn vậy, các bạn đừng thèm lý tới. Đang vui bỗng xụ mặt, đang tía lia bỗng câm, là chuyện thường.”
“Còn mày thì ba hoa chích choè. Luôn luôn giành nói.” Ngẫm nghĩ, “Thôi, để tui nói cho mà nghe.” Phùng giọng buồn buồn, mọi người quay mặt nhìn, chú ý. “Hồi nhỏ tui sống một mình với bà nội tại một làng ven biển. Mỗi lần thuyền đánh cá về, vô cùng thích thú…”
“Thằng cha này tình cảm, lãng mạn lắm các ông ơi,” Thái chận họng. Có tiếng phản đối, “Thì để cho người ta nói cho hết cái đã nào. Cứ đâm thọt hoài ai chịu nổi.”
“… Lâu ngày quá, hôm nay được dịp này mới thấy lại biển, thấy lại thuyền đánh cá. Nhớ hồi nhỏ quá. Nhớ thuyền về. Đoàn thuyền đánh cá … Đoàn thuyền đánh cá …”
Hưng bỗng như chợt nhớ:
“A, đoàn thuyền đánh cá. Tên của một bài thơ, của Huy Cận thì phải.”
“Tui nhớ hai câu này nhất: Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng / Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! Các ông ơi, nghe tình quá hí.”
Lý chận ngang: “Tình cái con khỉ. Đểu bỏ mẹ.”
Hưng gân cổ cãi: “Sao lại đểu. Cậu mới là thằng đểu dám chê thơ Huy Cận.”
Lý cười: “Dụ người ta chui vào lưới của mình để xơi tái. Thế mà còn múa môi múa mép dẻo quẹo đoàn cá ơi, đoàn cá hỡi. Ôi Kim lang, hỡi Kim lang.”
“Kim lang là cái khỉ mốc gì?” Thái hỏi. Chẳng ai trả lời. Mọi người cười xòa, Cảo cười theo: “Bạn Lý cũng có cái lý của bạn. Nhưng hãy để bạn Phùng tiếp tục câu chuyện nhé.”
“Phải đó, cứ phá đám như vậy thì tui làm sao tiếp tục được. Thôi, thôi, để tui nói gọn: trông mấy chiếc thuyền kia, tui thấy lạ quá. Tui độ rày bết lắm. Đi làm việc xa suốt tuần, tối Thứ Bảy mới về nhà, nằm vùi. Sáng Chủ Nhật hôm sau không muốn trở dậy. 9, 10 giờ sáng cứ nghĩ còn đêm. Mở mắt ra, thấy cái gì cũng tối hù, cố dỗ tiếp giấc ngủ. Muốn nhịn đói đến sáng ngày Thứ Hai ăn luôn thể. Gặp các bạn hôm nay, vui mừng lắm chứ, nhưng … nhưng … tui không biết nói gì đây …Tự nhiên trông nó …”
Thái lại nói chen: “Phùng ơi, mày nói lung tung rồi. Trở lại vấn đề đi. Đ.m., trông nó cái gì?”
“Trông biển, trông thuyền. Biển thì như trong đêm đen, thuyền thì như cái mền rách. Như con gà vừa bị chồn vồ vuột. Vừa bị tàu lớn đánh đuổi, cái bị chìm, cái thoát thân, chạy thục mạng về bến nằm coi lại vết thương. Rồi tui đâm hoảng, biết đâu, biết đâu …”
Mọi người không còn cười cợt như trước nữa. Im lặng, chờ đợi. Thái, môi mấp máy muốn nói, cũng thôi, kín đáo nhìn Phùng.
Phùng tiếp: “…tôi buồn lắm. Biết đâu một ngày nào đó những chiếc thuyền ấy có chạy thoát cũng không còn bến mà về.”
Mọi người vẫn đứng lặng yên. Cuối cùng, Tùy lên tiếng:
“Đứng đây lâu mỏi chân. Mà câu chuyện khá gay go. Tôi đề nghị chúng mình trở lại trong kia, ngồi dựa ngửa vào ghế bành, chân gác lên bàn, vừa xơi trà vừa thủng thẳng hàn huyên tâm sự.”
Cảo sai chị người làm đi lấy thêm bia tại cửa hàng ngay dưới tầng trệt. Uống bia quá cỡ, người nào người nấy bụng bự lên. Tùy, Thái phụ Cảo pha trà, pha cà phê, bưng ly, dĩa, bánh, trái ra ngoài bàn.
Thái “khai pháo” trước tiên: “Tui quen thằng Phùng lâu ngày. Tui biết nó có cái kiểu mà tụi Mỹ gọi là ‘negative thinking’… Đúng rồi, bi quan, đ.m. quá bi quan, tiêu cực.”
“Tao không bi, chẳng lạc,” Phùng đáp. “Chỉ khách quan mà thôi. Cứ coi tụi nó ngang nhiên cắm cái bảng ‘nguy hiểm’ gì gì đó là đủ biết.”
“Nhưng tụi nó đây là ai?” Thái dằn giọng.
“Tụi nó đây là ‘Tàu khựa’ hay ‘Đảng ta’ thì cũng rứa thôi,” Hưng tiếp. “Phải không Phùng? Cá mè một lứa.”
“Không cá mè một lứa đâu,” Tùy phản đối. “Có tôn ty trật tự chứ. Ai là thầy ai là trò, ai là chủ, ai là tớ chứ.”
“Sao lại vội kết luận như vậy,” Thái tranh nói. “Ý ông thì Tàu làm thầy ta? Chuyện này sẽ nói sau. Bây giờ trở lại cái bảng treo kẻo bỏ quên đi mất. Có thể đó là hành động của địa phương, chớ không phải chủ trương của Nhà Nước. Một anh tép riu nào đó nhận tiền hối lộ của bọn Tàu làm bậy một cú chơi. Nếu bị phát giác thì hạ bảng xuống. Dễ mà.”
Tùy lên tiếng: “Có thể như vậy, mà cũng có thể không như vậy. Chúng ta đều là những kẻ thiếu thông tin, nói mò. Một lũ người mù sờ voi.”
“Đ.m., đừng nói ẩu. Báo chí để làm gì, truyền thanh, truyền hình để làm gì, mà bảo rằng thiếu thông tin? Ở nước ngoài về biết cái mẹ gì!”
“Cậu còn giận tớ? Báo chí, truyền thanh, truyền hình của nhà nước thì phải làm theo mệnh lệnh của nhà nhà nước. Ăn cơm chúa múa tối ngày. Chúa muốn bịp dân, thông tin phải bịp. Cho nên phải có tiếng nói độc lập mới mong tiếp cận được sự thật. Mong thôi, chưa chắc đã có được hoàn toàn.”
Cái không khí tưng bừng, náo nhiệt lại trở lại. Lý nhảy vào:
“Tôi đồng ý với bạn Tùy. Xin nêu ví dụ cụ thể. Ai cũng biết Lê Văn Tám là nhân vật tưởng tượng dùng để phục vụ nhu cầu tuyên truyền từ cái thời cách mạng cướp chánh quyền 1945, nghĩa là cách đây hơn 70 năm. Vậy mà cái tên Lê Văn Tám vẫn ngang nhiên đứng ngay giữa Sài Gòn: Công Viên Lê Văn Tám. Chưa hết, nhiều trường học cũng mang cái tên ấy. Thế là vô hình trung, những cái đầu thơ ngây đã sớm bị nhồi nhét điều dối trá. Nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, học trò vốn hãnh diện về cái tên trường của mình một ngày nào đó sẽ nhận ra rằng cậu bé anh hùng Lê Văn Tám chỉ là trò nói láo. Sẽ khổ tâm cho học trò trường đó biết bao. Vậy mà truyền thông nhà nước tất cả đều không đề cập gì về chuyện ấy. Tại sao vậy? Tại vì cải chính chuyện này thì phải cải chính nhiều chuyện động trời khác, bất lợi lắm. Đó là lý do thứ nhất. Lý do thứ hai, họ mong quần chúng dễ quên, nhất là những thế hệ tương lai chưa biết gì, thì cứ giấu nhẹm nó đi. Chuyện láo khoét lặp đi lặp lại nhiều lần biến thành sự thật. Cứt trâu lâu ngày biến thành bùn.”
Mọi người cười ồ, kể cả Thái. Hưng được thể bồi thêm:
“Cứt chó lâu ngày biến thành bơ, nước đái lâu ngày biến thành bia. Hình như có câu này nữa, sạch sẽ hơn. Sỏi đá lâu ngày biến thành cơm.”
Cảo lên tiếng: “Gần đúng. Nó là thế này, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.”
Lý tranh nói: “Tui chưa nói hết. Thế này nhé, cái tên Lê Văn Tám chắc chắn sẽ bị thay thế nay mai. Là vì thế giới ngày nay đang lên án việc xúi giục con nít xông vào chỗ chết. Mà cái thằng Tám hư cấu tự thiêu xông vào kho đạn đó mới chừng trên 10 tuổi.”
Cảo nói tiếp: “Xin trở lại đề tài ban đầu, tức là chuyện cái bảng treo cấm người ta vào khu vực nguy hiểm. Ai cấm? Ba Tàu? Có lẽ không phải. Địa phương làm liều? Có lẽ cũng không phải. Có lệnh của Trung Ương chăng? Trung Ương mới có thẩm quyền quyết định đường nào cấm đi, khu vực nào cấm vào, vì đó là chủ quyền của quốc gia. Vậy thì tại sao Trung Ương làm điều ấy? Có Trung Quốc xía vô chăng? Và còn có biết bao vấn đề khác trầm trọng hơn nhiều mà tui đã nói hồi nãy. Xin nhắc lại: Bình Dương, Nha Trang, Đà Nẵng, biên giới phía bắc, Tây Nguyên, biển, đảo. Không lẽ mật ước Thành Đô là có thật như tin đồn dai dẳng suốt mấy năm nay? Không lẽ Trung Ương đang dần dần trao chủ quyền của quê hương, đất nước, cho ngoại bang?”
Vài người bực bội đứng dậy trở ra cửa sổ nhìn mông ra biển, vài người vào nhà bếp, chẳng biết vào đó để làm gì, có người kiếm thêm chút nước đá, hoặc pha thêm nước sôi vào bình trà. Lý bỗng hùng hổ:
“Đã đề cập thì phải làm cho đến bến. Xin tất cả anh em trở lại ‘bàn hội nghị’.”
Mọi người lần lượt trở lại chỗ ngồi cũ. Thái lên tiếng trước tiên:
“Tôi không hoàn toàn đồng ý với anh Cảo. Địa phương có khi hành động không cần phải theo lệnh của Trung Ương …”
Tùy chận: “Nghĩa là trên bảo dưới không nghe?”
“Đ.m., bạn lại ví von lắc léo rồi. Tui muốn nói đối với cái gì không quan trọng thì địa phương có quyền quyết định.”
“Đúng vậy,” Hưng tiếp lời. “Nhưng nhường đất hay bán đứt đất như tại vùng Phước Tĩnh này mà không quan trọng hay sao? Nếu địa phương vẫn có thể làm không cần theo lệnh trên thì tui phải đồng ý với bạn Tùy: Trên bảo dưới không nghe. Khoan cái đã, khoan cái đã, để tui nói tiếp. Mọi sự rắc rối đều bắt nguồn từ tham nhũng. Trên ăn không lẽ bắt dưới nhịn? Dưới không ăn nhiều bằng trên thì chịu thiệt ăn ít hơn một chút cho phải phép. Ăn hết thứ này thì tìm ăn thứ khác, nào gỗ, nào sắt, nào nhôm, nào dầu hỏa, nào cà phê. Rồi rút ruột các hợp đồng, các công trình xây cất, vân vân và vân vân. Cho nên kinh tế nước nhà ngày lụn bại, nợ nần ngày càng chồng chất.”
Nhiều tiếng nói cùng một lúc, “Chuyện đó ai cũng biết rồi, nghe mãi đâm nhàm.” Có tiếng phản bác, “Nhàm cũng phải nghe. Để ghi sâu vào lòng, vào phèo, vào phổi, hòng có ngày vùng dậy diệt tham nhũng, làm cách mạng. Phải không ông chủ nhà?” Tùy cười thích thú:
“Tôi xin thừa thắng xông lên nhé. Hơi dài dòng đấy. Đây, thử xem, chẳng hạn, dưới mè nheo trên. Và cứ theo cái tuần tự từ thấp đến cao, dần dần cho đến cấp cao nhất. Rất bài bản, rất ấn tượng, rất, rất cái gì nhỉ?” Tùy nheo mày, lim dim mắt, cố tìm chữ. “Vâng, rất có hệ thống. Rằng thì là: Tui đã cung kính nộp bác tí ti mới được bác ban cho cái chức vụ này. Nhưng bác cũng thừa biết tui nghèo kiết xác. Thì đầu tiên tiền đâu? Có chi ký cho? Tay không không được chữ ký. Kính bác ký cho tui cái món gì để bù lỗ? Trên bèn trả lời: Chú xây tượng đài thật hoành tráng nhé, có làm có ăn. Hay làm đường hầm, ăn nhiều hơn? Hay xa lộ? Hay ký một hợp đồng lớn với nước ngoài? Còn chú kia, làm khu giải trí hiện đại nhất Đông Nam Á, được không? Chú nọ nữa, đứng lấp ló sau bức bình phong muốn cái gì? Xui xẻo cho chú, tôi chưa nghĩ ra công việc nào khác có tầm cỡ cả. Hay chú thử đề nghị một phát xem. Dưới như bắt được của, nói không chút ngập ngừng: Dạ thưa vâng, thưa thượng cấp, vâng, vâng. Trước khi gặp bác, tui đã suy tính từ khuya: Xin cây xanh Hà Nội ạ. Ủa, nói gì vậy? Cây xanh Hà Nội? Nghe lạ tai lắm. Có nhầm lẫn chăng? Vâng, thưa đúng thế ạ. Không sai! Không sai! Hàng chục ngàn cây cổ thụ mấy trăm năm tuổi mà toàn thuộc vào loại cho gỗ quý hiếm. Giá ngoài thị trường rất khủng. Chém treo ngành xong tức là đốn xong, còn phải vác. Nhân dân lúc nào cũng đúng: đốn thì phải vác. Còn nào là công dọn dẹp, công đi tìm khách hàng thượng đế, khách hàng là thượng đế như vẫn thường được rêu rao, công chuyên chở, công giao hàng. Rồi tiếp theo là công tìm giống mới ở tận Trung Quốc hay Liên Bang Nga, hay miền Bắc Cực xa xôi. Rồi công trồng cây non, công ngày ngày chăm sóc cho nó mau hợp với thổ ngơi nhiệt đới, cho nó mau lớn, dễ cũng vài ba mươi năm, hay năm sáu mươi năm, để có đủ bóng râm, bóng mát như xưa, cho Thủ Đô ngàn năm Thăng Long yêu dấu. Xin đảm bảo bất cứ điều gì xẩy ra đều có phương án giải quyết, xử lý sự cố không để lại hậu quả. Trên nghe mà bàng hoàng. Dưới được thể nhấn tới, sâu sát thêm: Lại nữa, đây là việc làm công ích, không cần huy động vốn, thưa thượng cấp kính mến. Vì công ích, ta chỉ có việc vô tư rút tiền từ công quỹ trang trải mọi chi phí. Nhanh chóng lắm. Tiền sẽ tuôn ra ào ào, thách ai ngăn cản nổi. Trên nghe xong ngất ngư, sững sờ, lé mắt, vừa vuốt ve vỗ về dưới, vừa ngửa mặt lên trời, cười ba tiếng, khóc ba tiếng, như tướng Tàu ngày xưa, mà than rằng: Ôi, tuyệt chiêu, tuyệt chiêu. Thật đáng đăng ký vào Ghi-Nét của hành tinh. Sực nhớ mình từng mang nặng đẻ đau ra một câu nói để đời, bèn phán tiếp: Sáng tạo đến thế là cùng!”
Ai nấy cười bò. Lý thiếu đường muốn lăn cù xuống sàn nhà. Thái khác, cau mày lớn tiếng “Ê, ê…”
“Khoan, khoan, tôi đã nói hết đâu. Đấy là tham nhũng theo hệ thống dọc. Tham nhũng từ trên xuống dưới, không chừa một ai, thì … thì dưới sẽ có nhiều cơ hội, nhiều lý lẽ, nhiều che chở, để có thể phớt lờ lệnh trên. Đó là lẽ đương nhiên. Vì địa phương mới nắm được thực tế cụ thể, lại đầy ‘sáng tạo’, trung ương bắt buộc phải nghe theo. Mà nghe theo thì lợi hơn, thì được ăn theo, và tuy ăn theo lại ăn cục bự hơn. Cái vụ Tàu khựa chiếm cứ một vùng bờ biển tại đây không chừng là do dưới tự tung tự tác, trên hùa. Đấy là dọc. Hệ thống ngang càng có vấn đề hơn. Khi thì hợp đồng với nhau, bảo vệ nhau, để tha hồ đục khoét, đớp hít. Khi thì, vì miếng ăn to nhỏ không đều, coi nhau như kẻ thù, xâu xé nhau, lén lút hoặc công khai tố cáo nhau, thậm chí giết nhau không gớm tay …”
Thái như không nén giận được nữa, nói như hét: “Đ.m., cậu căn cứ vào đâu mà xổ ra từng tràng như vậy? Thúi lắm. Căn cứ vào đâu vậy hả?”
Tuỳ quắc mắt: “Chả căn cứ vào đâu cả. Vui miệng nói chơi. Được không?”
Hưng can: “Thái ơi, ông không thấy Tuỳ nó cố nghĩ cho ra một kịch bản đùa chơi cho vui mà. Tuy nhiên, lấy công tâm mà nói, một khi truyền thông không trung thực, nghĩa là chỉ truyền thông theo mệnh lệnh của chánh quyền độc tài, bưng bít những thông tin khác, thì người dân làm sao tin được chánh quyền. Đã không tin, thì tha hồ phỏng đoán, tưởng tượng. Chắc chắn có những suy diễn khác, có những kịch bản khác, còn bất lợi cho chánh quyền nhiều hơn nữa.”
Lý cãi: “Chánh quyền này cần gì dân tin hay không. Cứ nín im thin thít ngậm miệng ăn tiền là thượng sách.”
Hưng vội tiếp: “Chưa chắc đó là thượng sách về lâu về dài. Nhưng tui chưa nói hết ý. Còn điều này nữa. Có thông tin trung thực, có tự do ngôn luận, thì người dân mới đỡ bị áp bức, bóc lột. Quyền làm người mới được tôn trọng, một nền dân chủ thật sự mới có cơ may thành hình. Lấy chuyện vừa xẩy ra ở Nam Hàn. Tổng thống tham nhũng bị phát giác, truyền thông nhảy vào, dân biểu tình, tổng thống vào tù. Trong khi đó ở nước ta th sao?” Hưng ngập ngừng trong giây lát, nói tiếp. “ Đa đảng, phải có đa đảng để kiềm chế nhau khỏi làm bậy.”
Lý vui vẻ: “Cậu lại mở rộng vấn đề thì nói bao giờ cho hết. Tạm gác nó qua một bên đi, hãy đổi đề tài. Nãy giờ ta quên hỏi han gia đình của nhau. Nào công việc làm ăn, nào chuyện học hành của con cái, nào dự tính cho tương lai, vân vân.”
“Bạn Lý! Đúng như cái tên của bạn, bao giờ bạn cũng có lý.” Cảo nói. “Đổi đề tài nhé! Đồng ý cả chứ?”
Những tiếng “OK, OK” nổi lên cùng một loạt. Lý nói to: “Âu cơ, âu cơ.” Thái nhanh nhẩu:
“Tôi xin xung phong thành thật khai báo trước. Vợ chồng tôi sắp đi Mỹ. Vài hôm nữa chúng tôi về Cần Thơ thăm quê, rồi lên đường.”
“Du lịch trong bao lâu?” Tùy hỏi.
“Ở luôn.” Thái đáp. Vài tiếng “Ồ, Ồ,” tỏ vẻ ngạc nhiên. Phùng giải thích:
“Thằng Thái biết anh em ở đây ai cũng ghét chánh quyền, sẽ đua nhau hài tội, nên nó muốn đóng vai phản biện. Cho vấn đề được nhìn từ nhiều mặt. Phải không Thái?”
“Đ.m., chẳng đóng vai cái mẹ gì cả. Gì mà trịnh trọng dữ vậy. Xin khai tiếp. Chúng tôi chỉ có một đứa con gái cho theo cậu nó vượt biên hồi 1989, nay sống tại Houston, Texas. Ở đó có khá nhiều người Việt. May nó chịu khó học hành. Nay nó là dược sỹ làm việc cho VA thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ. Đ.m., chờ nó bảo lãnh đến dài cổ nay mới được đi. VA, chỗ nó làm, hình như có liên quan đến Cựu Chiến Binh. Hai bạn Hưng và Tùy, người sẽ trở lại Pháp, người trở lại Úc, nay mai, khỏi nói. Thế còn anh Lý, anh Cảo?”
Lý bỗng dưng xụ mặt, nhìn Cảo như muốn bảo Cảo nói thay giùm mình. Thái nhắc:
“Kìa, bạn Lý. Tới phiên cậu đó. Tiếp theo là ông Cảo. Và Phùng là thằng cuối cùng.”
Lý chậm rãi: “Tui chán chế độ này lắm rồi, nhưng biết làm sao. Tui trọc, chẳng có ai thân thích ở nước ngoài. Thì … thì … tới đâu hay đấy. Còn anh Cảo? Cơ sở làm ăn lớn, quen biết nhiều, nhà cửa mấy cái, bình chân như vại, phải không?”
“Nhà ở Sài Gòn tui cho ông anh đứng tên. Cái căn hộ này thì mua đi bán lại dễ lắm, và chắc chắn có lời. Có hai xe hơi Hàn Quốc, bây giờ gọi theo tiếng bắc là ô-tô. Tôi không thích xe Nhật, nó bền quá. Không lẽ nó không hư lại mang đi bán đổ bán tháo. Xe Hàn Quốc rẻ hơn, xài vài ba năm thay chiếc mới, có thế mới theo kịp những kỹ thuật hiện đại, nghĩa là xe có nhiểu phụ tùng, chức năng mới. Công ty của tôi có chi nhánh ở Thái Lan. Có bề gì tôi sẽ, tôi sẽ …”
Không kìm được, Thái hỏi dồn: “Ủa, anh cũng tính chuyện dzọt sao?”
Cảo trầm ngâm một chốc, đáp: “Chắc anh em hiểu rằng tui luôn luôn sợ nước mất vào tay bọn Tàu. Nếu cái đại họa đó xẩy ra, thì xoay xở ra sao? Chạy đi đâu? Về đâu? Thật ra tôi cũng có thể tìm được cách đi Mỹ. Nhưng tui thích qua Thái Lan hơn. Có chi nhánh ở đó. Hơn nữa nó gần. Và chờ.”
“Ê, ê. Phùng ơi. Còn mày nữa là người cuối cùng. Đi đâu? Về đâu?”
“Không đi đâu cả.”
“Nghĩa là ông thoả hiệp, thỏa mãn …” Lý thắc mắc.
“Cũng không phải,” Phùng ngắt lời. “Thỏa hiệp sao nổi ông ơi. Nhưng tui sống chết nơi này. Tui ngày đêm mong có thay đổi, thay đổi không đổ máu. Người mình giết nhau quá nhiều rồi, đừng đổ máu thêm nữa. Còn tụi Tàu hả? Tui không có gia đình, không vướng bận gì cả. Chết ngay bây giờ hay vài ba năm nữa mới chết, có khác gì nhau.”
Thái cau có: “Tại sao tự nhiên nhắc đến chuyện chết chóc? Lạc đề rồi. Mày luôn luôn hoang tưởng.”
“Không hoang tưởng! Tao muốn nói nếu Tàu xâm lăng, tao sẽ vào bộ đội chống lại. Trong chiến tranh, sống chết gắn liền nhau. Còn nếu chánh quyền ngã theo Tàu, bán nước cho Tàu, như người ta đồn đại, tao sẽ gia nhập những tổ chức kháng chiến. Chắc chắn đã có những tổ chức ấy, ngay từ bây giờ.”
Thái ỡm ờ: “Tàu qua kệ nó. Sau một thời gian chúng nó sẽ biến thành người Việt như đã từng xảy ra trong lịch sử lâu dài của ta.”
“Tao không tin như vậy. Trước khác, nay khác. Trước người thưa, đất rộng. Nay chúng nó bị nạn nhân mãn, đông như kiến cỏ. Để chúng nó qua, sẽ chiếm đa số. Như đã xẩy ra ở Tân Cương, và nay mai, Tây Tạng. Hơn nữa, xưa kia Tàu trốn qua ta chống lại Tàu trong nước, tao muốn nói Tàu Minh Hương chống lại Tàu Mãn Thanh. Chống không nổi lâu ngày biến thành người Việt Nam mình. Nay Tàu trong Tàu ngoài là một. Chúng đã có kế hoạch thôn tính, mưu mô với nhau, yểm trợ nhau, sức mấy bị ta đồng hóa. Ngược lại mới đúng.”
Hưng gật đầu: “Tui cũng nghĩ như Phùng. Nhưng còn điểm này: Ta ít người, ít đất, nhưng ta khôn ngoan, mưu lược.”
Phùng lặng lẽ đáp: “Hình như nước Tàu từ xa xưa đã từng đẻ ra những nhà quân sự thiên tài, tiếng tăm còn vang lừng cho đến bây giờ.”
Thái đứng lên giành nói: “Tức là theo mày, trước sau gì mình cũng bị xóa sổ trên bản đồ thế giới?”
“Tao sợ là như vậy.”
“Một lần tao đi xe lửa tàu suốt ra Miền Trung nằm ngửa mặt nhìn lên tình cờ thấy có dòng chữ sơn màu trắng ngay trên tấm váng của giường trên: ‘Người ta có nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về’. Như thế có nghĩa người mình gắn bó với quê hương …”
Lý bẻ: “Người viết câu đó có thể làm theo lệnh của cấp trên. Và cấp trên có thể bịa ra câu nói ấy nhưng trong lòng thì nghĩ khác. Chẳng qua là để tuyên truyền mà thôi.”
Phùng nói tiếp: “Đa nghi như bạn Lý cũng phải. Bây giờ còn ai tin tưởng vào những khẩu hiệu tuyên truyền nữa. Nhưng vẫn còn chút hy vọng. Bàn cờ quốc tế biết đâu có thể xoay chuyển. Và yếu tố này cũng rất quan trọng: người mình có lòng yêu nước, và tinh thần bất khuất. Tuy nhiên, ta mà thiếu cảnh giác buông tay ra, chúng sẽ nhào vào ngay. Rồi chúng sẽ điều bộ đội ta đi canh giữ những vùng xa xôi của nước chúng nó. Cái kiểu đi đày. Thường dân thì sẽ trở thành dân tộc thiểu số, sẽ bị chúng đuổi lên núi mà ở. Giả dụ có người tự nguyện làm đầy tớ cho chúng tại những vùng đồng bằng, châu thổ béo bở, chúng cũng không chấp thuận. Để tránh hậu hoạn.”
“Đ.m., giả dụ cái con khỉ,” Thái nổi cáu. “Chỉ một mình mày tự nguyện làm đầy tớ, làm nô lệ, nên mới tưởng tượng ra những cái cảnh tượng quái gở như vậy.”
Phùng buồn rầu đáp: “Mày nói đúng. Tao đang muốn làm nô lệ đây. Tao muốn cả nước làm nô lệ cho bất cứ nước nào trên thế giới. Kể cả nô lệ cho Cam Pu Chia, hoặc Lào. Hoặc nô lệ cho Cồng Gô cũng được. Trừ Tàu.”
Mọi người lại im lặng. Lâu. Lý vói tay lấy cái bình thủy châm thêm nước sôi vào bình trà đã nguội, Tuỳ đứng dậy đi tới, đi lui, ngắm mấy bức tranh tĩnh vật treo trên tường, Thái thì lại ngồi xuống nghế cau có lầm bầm những gì không ai rõ, và Hưng đến bắt tay với Phùng, hai người thì thầm chuyện trò. Trong khi đó Cảo lại bước tới cửa sổ, chẳng biết làm gì, móc túi lấy khăn tay chùi nhẹ vào những tấm kính đã sạch bóng không có một hạt bụi, rồi nhìn ra xa. Biển mù mịt, thuyền đánh cá biến đi đâu mất. Trời mùa hè đang chuyển mưa đột ngột. Mấy cánh chim đen ngả nghiêng lúc ẩn, lúc hiện trong mây xám.
Một buổi trưa. Nắng dữ dội, hừng hực, chói chang. Bụi đỏ cuốn lờ vờ theo bánh xe lăn của chiếc xe đò vừa chạy nhanh dần trên con đường vắng. Má và chị đã lên xe. Nó lim dim mắt nhìn theo. Con đường trong thoáng chốc đã nuốt hết cả chiếc xe đò, chẳng còn thấy tăm hơi. Lạ thiệt, khi mình ngồi trên xe thì xe nuốt đường, mình nhìn theo xe thì đường nuốt xe, nó ngẫm nghĩ. Nó cũng lấy làm lạ rằng hễ nó đi đâu, cơn nắng và cái nóng như điên đi theo nó tới đó, và lại nắng hơn, nóng hơn. Không còn chỗ nào để trốn nắng nếu không muốn chui vào nhà, mà bây giờ nó chỉ ưng đứng ngoài đường, biết đâu… Nhà lá, nhà lợp tôn, những cột đèn điện, những cây sua đũa trước ngõ, những cây đước dưới vàm, đều như chết đứng. Cỏ cũng không mọc nổi, chỉ lòi những gốc đen cháy quăn quăn như trùn đùn cứt lên mặt đất cằn. Mà không phải, đất ướt mềm sau cơn mưa mới nổi lên cứt trùn, nó sực nhớ. Chẳng có ai ngoài đường trừ nó. Thế nào cũng có xe đò khác từ Sài Gòn chạy về, đậu lại ở ngã ba này để lên xuống khách, nó hy vọng, thì, nếu không ai thấy, nó sẽ nhảy tót lên xe chạy tuốt xuống Gò Công. “Sức mấy dám làm, ba đâu để yên,” nó lẩm bẩm.
Nắng lâu ngày, mà mới xài hết có ba lu trữ nước mưa ở sau nhà bếp, còn lại tới năm lu nước đầy nữa. Thế mà ba lại biểu nội hôm nay nó phải ra mang thùng nhỏ ra sông xách nước đem về đổ cho đầy một lu. Sao không bắt mang về đổ cho đầy cả ba lu luôn thể? Để làm gì vậy cà, nước sông đâu uống được. Hay là để hành nó, cho nó khỏi trốn nhà đi chơi? Hay là để tưới mấy cây bông thọ? Nó mong nắng dữ hơn nữa, cho chết tiệt mấy cây bông mắc dịch. Còn cả một buổi chiều, từ từ rồi xách nước, đi chơi cái đã, đi ra ngã ba cái đã. Ủa, nó đang đứng tại ngã ba mà!
Chưa biết chơi gì, nó đứng tần ngần. Nhà nó gần đó. Hôm nay Chủ Nhật nó khỏi đi học, mà cũng không được theo má và chị đi Gò Công thăm dì Hai.
Má nó thương nó nhưng sao lại nhất định không cho nó đi Gò Công, chuyến đi mà nó trông chờ cả tháng nay? Còn ba? Chắc ghét nó lắm, cái thằng ngỗ nghịch, ham chơi, không biết nghe lời, đi học về là vất tập vở vào xó bàn chạy biến đâu mất đất, cuối tuẩn thì lêu lổng suốt ngày, có khi quên cả bữa ăn trưa. Nó mới bảy tuổi, đang học lớp tư thời Pháp thuộc trước năm 1945, nay là lớp hai.
Ba nó rất dữ và nghiêm khắc với nó. Nó bị ba đánh đòn hoài, thường đánh bằng cuốn lá dừa khô thay roi. Khi không có sẵn roi, bạt tai. Bị roi dừa vào đít đau lắm. Một lần trước khi nằm sấp xuống mặt giường lãnh đòn, nó lấy xấp lá chuối lén chuồi vô trong quần xà lỏn. Quất lên kêu cái bộp, ba biết ngay. Thì tiếp theo là trận đòn kinh hoàng. Bạt tai đỡ đau hơn, nhưng vết ngón tay in rõ vô mặt, má phải lấy nhúm muối pha chút nước lạnh đắp vô cho mau tan máu để nó tới lớp khỏi bị chúng bạn chê cười. Nó nhớ rằng chưa bao giờ ba nói một câu êm tai cho nó nghe. Toàn là những tiếng rầy la. Và hình như ba cũng không bao giờ cười với nó. Nó luôn luôn né tránh ba. Rõ ràng ba không thương nó, mà nó cũng không thương ba, chỉ sợ và oán giận.
Có lần nó nghe lén ba nói với má phải coi chừng thật kỹ cái thằng bướng bỉnh ngỗ nghịch này, bằng không lớn lên nó giống như bác nó. Nó có biết loáng thoáng về bác cũng nhờ làm bộ nằm ngủ khì khi ba má nói chuyện to nhỏ với nhau. Nghe tiếng được tiếng mất. Ông bà nội giàu, có nhiều vườn, ruộng. Bác xài quá đã, làm mất tiêu hết trơn tiền của, đồ đạc của ông bà. Đi trốn. Rồi đi lính đánh giặc bên Tây không về. Chết sống không ai biết. Cho nên ba nghèo, mà má cũng chịu lấy, mà ba phải có nghề chớ không được như bác. Thì ba liền đi dạy kèm ở mấy nhà bà con lối xóm. Sau trường thiếu thầy, ba được kêu dạy đỡ một thời gian. Má cầu ba được dạy lâu.
Má nói nó còn nhỏ, từ từ nó sửa đổi, nó sẽ không giống bác đâu. Ba gắt, má im. Nó chẳng hiểu gì mấy.
Má làm mọi việc trong nhà, làm thêm lạp xưởng bán. Lạp xưởng Cần Đước đặc biệt, to và dài gấp đôi lạp xưởng thường, và ngon, ai cũng thích. Làm không kịp bán. Tiền bán lạp xưởng nhiều hơn tiền lương ba dạy học, ba nói. Ba dạy tại trường tiểu học của quận. Học hết tiểu học, nếu ai còn muốn học tiếp phải đi Gò Công, nhà giàu thì đi Sài Gòn. Chị học lớp nhì nhất niên, trên nó hai lớp, sau chắc là được đi Gò Công ở nhà dì Hai học tiếp.
Nó thích bắn chim bằng ná giàn thun, bắt chước tụi nhỏ học trên lớp làm nguyên được cái ná. Nó khéo tay, ná của nó xịn hơn của tụi kia. Một hôm nó rình bắn chim bồ câu hàng xóm, trúng cái bịch, con chim nhìn nó rồi bay đi tỉnh bơ. Nhưng nó bắn chết được chim sẻ, chim sâu, chim chào mào, và vài thứ chim khác nó không biết tên. Nó cũng thỉnh thoảng đi câu cá rô, câu tôm, câu ếch, bắt nhái. Vùng nó người ta ăn cả nhái xào gừng, tỏi, ăn ngang xương, bảo rằng ngon hơn ếch. Ngoài ra nó chẳng còn thú vui nào khác nếu nó không biết bịa đặt ra trò chơi cho chính mình, mà tới trường thì chán. Má nó thường mắng con không chịu chăm học lớn lên đi làm lơ xe đò. Nghe vậy nó càng thích, làm lơ thì sướng quá, ngày nào cũng được đi xa, có thể đi Gò Công, đi Sài Gòn, nếu được làm lơ cho xe đò đường dài.
Hôm nọ nó dụ tụi nhỏ lội qua vàm sông nước lợ đi bắn chim, mò cua, bắt nhái suốt ngày. Ham chơi quên cả ngày giờ, chiều mới về, bị ba chặt ná, đánh đòn, lại còn bị má lần này chiều ý ba phạt không cho nó đi Gò Công.
Nó đứng ngơ ngẩn trước ngã ba nhìn con đường trải nhựa đen dưới cơn nắng cháy. Con đường như đang bốc khói trắng. Khi có gió thổi tạt tới càng thêm nóng, gió như gió từ lò lửa không bằng. Nó cởi phăng cái áo sơ-mi cụt tay đang mặc, quấn quanh bụng, ở trần cho khoẻ. Từ ngã ba đi thẳng, đi thật xa, đi bằng xe đò mới nổi, sẽ lên phà qua con sông thật bự, rồi tới nhà dì Hai. Nó biết vì nó đã được cho đi thăm dì dượng Hai mấy lần. Vui ơi là vui. Dì thương nó hơn chị. Nó chỉ có một bà dì, chị của má. Nếu tới ngã ba quẹo mặt, sẽ tới trường nó học, rồi tới Quận, toà nhà lớn, có lính gác, có hàng rào chung quanh.
Buồn tình, nó ngồi trệt xuống đất vọc cát, rồi lượm mấy hòn đá sỏi nhỏ tròn dồn thành một đống, xuýt xoa, những hòn này bắn chim hết sẩy. Ô, nhưng ná bị chặt rồi! Nó đứng dậy bứt rứt, sẵn có mấy hòn đá trong tay, ném đại vào cột đèn điện gần đấy. “Đấy” hay “đó”? Cô giáo gốc Bắc thích chữ “đấy” hơn. Nó ưa nhái tiếng Bắc, nghe thiệt vui tai. Tiếng Trung thì nó chưa hề nghe. Có chi lạ là nó bắt chước liền. Hòn trúng, hòn trật, vang lên những tiếng kêu khô khốc, chán chê. Nhưng còn hơn đứng đó không biết làm gì. Nó luôn luôn nhúc nhích như con giòi, múa máy như con khỉ, chị nó nói. Không bao giờ ngồi yên được. Nó lượm thêm đá ném, ném, hết hòn nọ đến hòn kia. Mồ hôi bắt đầu tuôn ra ướt cái đầu tóc cụt, cái lưng trần cũng ướt. Bỗng một xe nhà binh chạy trờ tới, một thằng Tây lái. Tại sao thằng? Thấy người lớn kêu thằng, nó cũng kêu thằng. Còn Tàu thì là chú, tức là chú em như có lần nó nghe nói. Em út trong nhà mà.
Mắt nó loà trong nắng, đầu nó nóng muốn khùng. Chạy tới đây phá đám hả? Đã thế, ném xéo một phát doạ chơi. Không ngờ xe lao tới mau hứng ngay hòn đá. Nó giật mình. Chiếc xe thắng két, đậu lại. Nó hoảng hốt. Thằng lính Tây, lính hay sỹ quan, nó không biết cấp bậc, nhảy xuống xe. Nó thoáng thấy trên mặt thằng Tây có máu chảy. Nó bỏ đống đá chạy biến vô nhà.
Ba đang ngồi chấm bài trước một cái bàn nhỏ, thấy nó chạy ào vô, liền đứng phắc lên. Tên lính trẻ, cao lớn, bước vô theo. Nó chạy tuốt vào trong, núp sau cái vách lửng nhìn ra thấy hết. Ba cũng cao to dưới con mắt nó, nhưng so với thằng lính này, không thấm vào đâu. Mà hình như tự nhiên người ba thun lại, nhỏ hẳn đi, thiệt là lạ quá xá. Hai người đứng cách nhau không đầy hai mét ngó nhau. Ba mặt xanh lét, tay phải cầm cây viết mực đỏ hơi run run, tay trái vịn vào thành ghế. Nó ngạc nhiên vô cùng. Ba luôn luôn lạnh lùng, dữ dội, nó khiếp sợ đã đành mà chị, má, hay hàng xóm láng giềng ai nấy đều nể mặt. Nay ba sao vậy? Nó lờ mờ đoán có lẽ tại vì nó có lỗi mà ba phải xuống nước, xuống dốc đến như thế. Còn thằng lính bự kia súng bên hông, một tay thọc vào túi quần, tay kia chỉ vào vết trầy trên má. Ba đứng nín khe. Mà nó biết ba nói được tiếng Tây ro ro.
Bỗng thằng lính nói một hơi dài, nói như hét. Nó đứng sau vách nghe muốn té xỉu. Ba hơi giật mình. Mấy con chim sẻ đang nhảy cà tưng dưới mái hiên hoảng hốt bay vụt ra đường, con gà mẹ đang dẫn đàn con trước sân cục tác mấy tiếng rồi cả bầy chạy biến vào lùm rau thơm, rau càng cua, rau nhiếp cá ngoài vườn. Rồi tất cả trở lại im lặng trừ tiếng kêu tích tắc rõ mồn một của cái đồng hồ treo tường. Ba vẫn đứng yên một chỗ như bức tượng, người như càng choắt lại, không nhúc nhích, không mở miệng, không chớp mắt. Nó không biết cái im lặng đó kéo dài trong bao lâu, chỉ thấy là lâu lắm, và nó có linh cảm nếu mọi chuyện cứ im lìm như thế này trong một chút xíu nữa thôi thì tai họa khủng khiếp sẽ xẩy ra. Chắc chắn như thế.
Không hiểu sao, nó liền lê bước ra khỏi chỗ núp, run run đi tới phía thằng Tây, mắt nơm nớp nhìn ba. Bốn mắt gặp nhau, nó sợ chết khiếp, vội cụp mặt nhìn xuống đất nhưng cũng kịp thấy trong mắt ba vài tia sáng lạ thường khác hẳn mọi ngày. Thằng lính cúi xuống dang tay tát mạnh vào má trái của nó, rồi quạt ngược vào má phải. Bàn tay to như nải chuối, mỗi ngón tay là một trái chuối, nó nhớ hoài. Nó ngã ngửa, đầu nện xuống nền xi-măng nghe cái bịch. Đánh xong thằng lính quay đầu ngó ba lần chót, rồi quay đít bước ra khỏi nhà nện gót giày đinh kêu cộp cộp. Chưa đầy nửa phút sau, có tiếng rồ máy ngoài đường. Tiếp theo là im lặng. Cái im lặng lần này còn dễ sợ hơn khi hồi nhiều.
Nó không thấy đau, không khóc, tay ôm đầu, lồm cồm bò dậy, đứng lên. Nhưng sợ hãi vô cùng. Đúng rồi, nó nghĩ ra, cái sợ mạnh hơn cái đau, lấn cái đau. Không phải sợ thằng lính, mà sợ ba. Mình vừa gây ra chuyện động trời như thế này chắc chắn ba sẽ có cách trừng trị đích đáng. Nó đứng yên một chỗ, nhìn xuống đất chịu trận. Tất cả lại im lặng. Đứng lâu quá muốn quỵ chân, nó ngước mắt lên thấy ba đã ngồi xuống ghế từ đời nào, tay phải cầm cây viết mực đỏ. Nó không dám nhìn thêm. Nó đoán ba chờ má đi chợ về rồi ba má sẽ cùng nghĩ cách trừng phạt. Lần này chắc chắn má về phe ba. Mồ hôi nó chảy ra ướt đầu, ướt tóc, ướt rát hai má, ướt thân hình, ướt cả cái quần xà lỏn. Quần ướt mồ hôi hay són đái, nó đoán cả hai. Chỗ nào cũng ngứa ngáy quá hết chịu nổi, nhưng ngứa cái cổ nhất. Nó không dám đưa tay lên gải, lại nín thở len lén nhìn ba. Ba vẫn trong tay cây viết mực đỏ, mắt chăm chú nhìn xuống mặt bàn, ngồi thừ. Nó lần từng bước đi lui vô phòng trong, cố không gây tiếng động, ngồi nhẹ xuống giường, đưa tay gãi cổ trước, rờ mặt sau. Bây giờ nó mới cảm thấy hai bên má đau buốt, cái đầu muốn long ra khỏi cổ. Ngồi lâu mỏi, nó nằm xuống ngủ thiếp lúc nào không hay.
Bỗng nổi lên tiếng la lớn: “Con sao vậy? Trời ơi là trời.” Nó giật mình dụi mắt ngồi dậy đưa tay che mặt. Má đặt rổ đi chợ xuống đất, kéo nó ra phòng ngoài coi cho rõ, lại la lớn hơn. Thường má theo phe ba, sợ ba, im ru bà rù hoặc nói ít câu thôi khi thấy nó bị ba đánh. Bây giờ má gào lên: “Sao đánh con dữ thần vậy, anh ơi? Con mình mà, sao đánh nó như đánh kẻ thù không bằng, hả anh? Đau xót cho tui quá.” Ba vẫn ngổi yên trước bàn, cau mày khó chịu. Nó sợ quá. Rồi má vội xuống nhà bếp lấy muối lên thấm nước vào, mấy ngón tay run run đắp muối lên mặt nó, tránh hai con mắt và lỗ mũi. Vạch tóc đắp muối lên cả cái đầu u. “Ông ơi,” má nói trong nước mắt, “khổ cho con tui lắm, chắc phải đem nó đi nhà thương.” Nó càng run bần bật. “Mà con làm cái chi chi để bị đánh đập tàn nhẫn đến như vầy, hả con?” Như mọi lần khác bị đòn, dù có lỗi hay không, huống là lần này, nó không nói lại, cãi lại với ba má một lời nào.
Hôm sau mặt nó sưng vù. Cái đầu u có tóc che ít bị thấy. Nó chờ đợi. Nó chờ đợi hình phạt. Hết ngày đầu tiên không thấy gì. Qua ngày sau cũng thế. Nó phải nghỉ học cả tuần lễ chờ cho cái mặt bớt sưng. Rồi tuần sau, tuần sau nữa cũng không thấy ba đả động tới chuyện đó. Lạ quá, nó không hiểu nổi. Thế là chìm xuồng? Thế là tai qua nạn khỏi? Má nó hỏi chuyện, chị nó cũng tò mò muốn biết, nhưng nó nín thinh. Nó có linh cảm rằng ba đã im thì nó phải im theo. Như vậy mới yên thân. Có điều gì đó thật “quái chiêu” mà nó chỉ cảm thấy lơ mơ trong đầu, không rõ đâu vào đâu. Thì phải tìm cách nghe lén. Má hỏi ba thêm mấy lần, ba gắt “đừng hỏi nữa.” Rồi ba bỏ đi ra khỏi cửa. Thế là hết, mọi thứ chìm xuồng thiệt rồi, tai qua nạn khỏi rồi, nó mừng rơn.
Từ đó ba đổi tính. Chợt vui, chợt buồn. Có lúc bồn chồn, đứng ngồi không yên, có lúc thừ người trên chiếc ghế dựa, tay cầm cây viết mực đỏ, đầu cúi gầm nhìn mặt bàn. Má rất buồn lòng vì cái bộ tịch lạ lạ của ba. Một lần má nói ngay trước mặt nó: “Biểu nó từ rày về sau đừng nghe lén nữa, xấu lắm, rằng cái thằng này quậy quá trời, anh trị cho nó một trận hôm đó cũng đáng đời nó rồi, mà nó chỉ đau mấy hôm, nay đã lành hẳn, lại biết lỗi bớt ngỗ nghịch, thì việc gì anh buồn?” Ba quát: “Khổ lắm, xin đừng làm rộn nữa.” Má lầm bầm những gì trong miệng nó không thể đoán ra.
Nghe lén xấu? Thôi, không thèm làm vậy nữa là xong, nó tự nhủ.
Nó còn thấy ba có một thói quen mới. Ba thường cầm chặt trong tay cây viết mực đỏ đó cả những khi ba không chấm bài. Thì, như chớp nhoáng, hình ảnh thằng Tây to lớn hiện lên, đi ra, đi vô cái phòng khách phải cúi đầu cho khỏi bị cụng, thân hình che gần lấp hết cánh cửa, cái phòng tối sầm lại, và thế là nó vội nghĩ sang chuyện khác ngay, hoặc tìm chơi bất cứ cái trò gì có thể nghĩ ra để đuổi đi những đám mây mù muốn bám vào đầu, vào bụng. Đúng thế, nó cũng có nghĩ bằng bụng chớ không phải chỉ bằng đầu, như “thưa Thầy con nói lộn, trong bụng con đâu dám nghĩ vậy. Và có lúc người ta nói những câu con làm bộ chăm chỉ nghe nhưng trong bụng không hiểu gì cả.” Và nó cũng có khi “nghĩ” bằng rờ. Và có thể bằng thứ khác nữa.
Nó rất có tài đẻ ra trò chơi cho chính nó. Tờ lịch treo tường vừa lột ra xếp thành tàu thuỷ, máy bay, xe tăng; nó khều tổ chim ròng rọc từ cành mận cao đem vô làm găng tay võ sĩ đánh bốc; tàu lá thốt nốt mới rụng sau vườn, nó lấy đọt làm thanh gươm cong; tàu dừa khô, giữ nguyên lá làm áo giáp lè kè; trái bưởi to vỏ dày, lấy dao xẻ dọc vỏ bên ngoài thành nhiều khứa, tét ra làm mũ trụ đội lên đầu; vân vân. Ngay cả tàu lá chuối má vừa cắt, nó lấy ngay cái cuốn giữa cứa ngang lưng chừng nhiều nhát cách nhau hai lóng tay lật những khứa dựng lên rồi đưa bàn tay vuốt mạnh một phát từ trong ra ngoài kêu lên rẹt rẹt như tiếng súng liên thanh. Nó tức cười thấy đồ chơi của mình sao toàn là những thứ dùng để “ra trận” — hai chữ đó về sau nó mới hiểu. Coi bộ mình lớn lên sẽ bắt chước đi lính như thằng Tây đánh nó. Lính quyền lắm.
Từ hồi đổi tính, ba không gắt gỏng với nó, cũng không đánh nó. Chính nó cũng có thay đổi, bớt lêu lổng, chịu khó học hành đôi chút. Và hết ghét ba. Đúng ra, thương. Có phải vì không bị đánh, không bị la, mà thương? Chắc không phải chỉ vì thế mà thôi, nó biết. Thỉnh thoảng ba kín đáo nhìn nó, nó giả bộ ngó quanh, nhưng thấy. Ánh mắt của ba có chút ấm áp chứ không lạnh tanh như trước kia, và lạ quá, luôn luôn nặng trịch buồn và đau. Sao vậy hả ba?
Một hôm, trong bữa ăn tối vui vẻ, vui vẻ vì ba bỗng dưng ưa bắt chuyện với má chứ không lầm lì như hổm rày, và ngon lành vì có món khô cá sặt nướng trên lò than hồng xé ra ăn với dưa chuột giầm nước mắm tỏi pha đường chanh ớt mà ba rất thích, mà nó không thích. Ba nhắp trước một tí rượu mạnh, không phải bia như thường lệ, rồi hỏi nó nhưng mắt chăm chú nhìn má:
“Mày có muốn, con có muốn, đi với ba không?”
“Đi đâu, ba?”
“Không cần biết.” Ba xoay xoay chung rượu trong lòng bàn tay. “Mày, à con cứ trả lời con có đi theo ba không cái đã?”
Má chen vào:
“Anh lạ chưa, phải nói đi đâu trước. Tui biết tỏng hết rồi. Anh tính cho nó đi dì Hai bù lần trước chớ gì?”
“Không phải.”
“Vậy đi đâu?” Má hỏi tiếp
“Đi bưng.”
“Đi bưng cái gì? Đi bưng là gì?” Má tươi cười tiếp lời.
“Bưng biền.”
“Cái anh này! Hết chuyện giỡn rồi hả?”
Nó chăm chú nghe, chị nó cũng ngạc nhiên nhìn ba. Ba bỗng nghiêm giọng, nói chậm rãi từng tiếng một:
“Anh không giỡn. Đã liên lạc với người ta.”
Má hơi giật mình, mặt má bỗng tái xanh, tay run run đặt chén cơm xuống bàn ăn. Ba làm như không thấy, quay qua nó nhắc lại câu hỏi:
“Sao? Con có muốn đi với ba không?”
Nó đáp như máy: “Dạ, dạ. Con đi với ba, con đi với ba.”
“Tốt lắm.” Ông đặt chung rượu xuống bàn, gắp miếng khô cá sặt cho vào chén để đó mà ngó chằm chằm, chứ không ăn liền như mọi khi. “Vậy là xong, ba chỉ cần biết có thế.”
Má bật khóc. Chị chẳng biết gì cũng thút thít theo. Má lấy mấy ngón tay chùi ngang nước mắt đang chảy dài, nói nghẹn giọng:
“Nhưng… nhưng tự nhiên… sao lại phải đi? Có chuyện gì vậy?”
“Có chớ.”
“Chuyện gì hả anh?” má rụt rè hỏi.
“Chuyện của đàn ông, bà không cần biết.”
“Anh nói lạ chưa! Cứ cho em nghe thử.”
Ông thở dài:
“Tui biết nói sao đây. Chính tui cũng không hiểu cho rõ ràng thì làm sao nói cho bà hiểu.”
“Nếu thế xin anh nghĩ lại. Nhà mình đang yên ổn, anh đi dạy, con đi học, em phụ. Em xin anh, em lạy anh…”
“Tôi đã quyết định dứt khoát,” ba bỗng nhiên cau có nói lớn. “Mọi chuyện đã xếp đặt đâu vào đấy. Đi vài ba năm thôi rồi sum họp lại.” Rồi ba nói như nói cho một mình ba nghe: “Ta sẽ thắng, sẽ thắng. Chắc chắn như thế.”
“Anh nói cái gì vậy?” má ngạc nhiên. “Hay là anh…”
Ba ngắt lời ngay:
“Không, không có chuyện hay là hay không hay là cái gì cả. Thôi, đừng nói thêm nữa.”
“Ô kìa,” má quắc mắt, giọng nói cứng lên, “thì tui cũng có quyền trong cái nhà này chớ. Này, này anh để cho em…”
Ba dịu giọng:
“Được rồi. Đây là chuyện của người lớn, khi khác nói tiếp.” Ba gắp miếng khô cá sặt. “Bây giờ má nó bưng chén lên đi chớ. Ăn cho xong bữa cái đã.”
Má không chịu bưng chén, càng khóc lóc thảm thiết:
“Mình chỉ có nó là thằng con trai. Anh nghĩ lại giùm cho em.”
Cuối cùng ba chiều ý má, không dắt nó theo, đi một mình. Nó không biết nên vui hay nên buồn, nhưng nó biết chắc nếu đi, nó sẽ nhớ má chịu không nổi đâu. Chưa đầy một năm sau, được tin ba bị nạn. Ba bị mang những tội, những danh từ mà lớn lên nó mới hiểu: “Phát biểu linh tinh, chưa chịu ‘đầu hàng giai cấp’, điều nghiên kỹ thấy động cơ thoát ly có chỗ đáng ngờ, và lại thuộc thành phần gia đình phản động, phản quốc.” Từ đó không còn tin tức gì của ba nữa. Ba chết rồi, chị nó bảo hàng xóm nói thế. Má không tin, đi coi bói hết thầy này đến bà khác như đi uống thuốc an thần. Và chờ ngày chờ đêm.
*
Hơn 30 năm sau. Một thiếu tá của Quân Lực Cộng Hoà đang vừa cùng đoàn tù bước ra khỏi “tàu há mồm” đi hàng một trên đất lạ. Đây là Hà Nội, hay Hải Phòng, hay Nam Định? Những người tù thì thầm bàn tán. “Chắc không phải đâu. Phải là những nơi xa xôi, hẻo lánh. Tù đông, thành phố nào chứa nổi, nhốt vô rừng là thượng sách nhất, là đúng nhất.” “Thôi đi, biết thế nào là đúng là sai. Suốt mấy tháng nay, có ai nói trúng được chuyện gì đâu. Cái suy nghĩ của mình hoàn toàn khác với họ.” Riêng ông không nói một lời.
Suốt mấy hôm đứng, ngồi, nằm, bò, cằn, lết, tiểu tiện, đại tiện trên khoang tàu chật như nêm, ông không tham gia vào những bàn luận thường là buồn chán, nhảm nhí, vô bổ. Có người cứ thắc mắc tương lai sẽ ra sao. Không thể biết được thì hỏi làm chi. Trong hoàn cảnh này tốt hơn hết là im lặng chịu đựng, chịu đựng những đói khát, ngột ngạt, nóng bức, hôi hám, bạc đãi. Và cả cái chết, khi nó đến, cũng đừng lấy làm lạ. Ông biết ông chịu đựng được tất cả, mà những người khác cũng thế. Sức người thường rất kiên cường trước nghịch cảnh.
Tương lai tối tăm mù mịt, hiện tại nhầy nhụa, quái quỷ. Còn quá khứ? Ông nhớ lời một vị thiền sư, đại khái là hãy bỏ lại quá khứ đằng sau lưng. Nếu làm được vậy, ông còn gì? Ông sẽ trở thành gỗ, đá, thực vật? Thôi, cứ để quá khứ xuất hiện. Nó đeo ông dai dẳng, khi tỉnh thức cũng như trong giấc ngủ, đột ngột, tình cờ, thất thường, chồng chất, chằng chịt. Hãy xem nó như một người đồng hành, nó sẽ giúp mình khỏi phải để ý đến chuyện bây giờ, khỏi phải nghĩ đến chuyện ngày mai. Khỏi phải dòm ngó cuộc đời. Đời sống bây giờ có lối đi riêng của nó, mình có được tham dự vào hay không? Giả dụ có muốn tham dự đi nữa, nó cũng đẩy mình ra ngoài rìa.
Nào, nào, thế thì hãy lui tới với nó, trò chuyện với nó, quá khứ và kỷ niệm.
Trận An Lộc, tiểu đoàn của ông, một tiểu đoàn anh hùng, đánh tan quân địch đông gấp nhiều lần. Hành quân trong rừng xong, bắn trúng một con chim ưng to lớn. Nó rơi từ ngọn cây cao xuống đất, một cây bàng mọc hoang, không chết. Bảo lính cột nó lại, kéo hai cánh xoải dài ra che kín cả mũi xe bọc thép, cánh vẫn còn dư, còn thò hai đầu mút. Cứ thế xe sẽ chạy về hậu cứ như chim bay đẹp biết mấy với con đại bàng to chưa từng thấy. Nhưng kìa cái ánh mắt, ánh mắt của nó khi nó nhìn lại. Sáng quắc, không tỏ chút đau đớn, khiếp nhược, hay sợ hãi. Và lặng lẽ, cô đơn giữa đám người, đám sinh vật lạ, đi lui đi tới chỉ trỏ, trầm trồ. Bỗng ông xúc động, tự tay tháo gỡ con chim ra khỏi mũi xe. Thấy vết thương nó nặng quá khó sống nổi, cái đầu, cái mỏ uy nghi rướn lên được một chốc rồi gục xuống cái ức đầm đìa máu, rồi cố rướn lên. Ông bắn cho nó phát súng ân huệ, bảo lính đào hố chôn bên gốc cây bàng. Lính xin rứt ra mấy cái lông cánh đem về chưng, đẹp quá, ông không cho. Từ đó ông thề không bắn chim ưng hoặc bất cứ chim gì khác. Trận Đức Cơ thua chạy dài, đói khát, hết đạn, đơn vị thương vong nặng, mình còn nguyên, thì nhận huy chương, thì được về phép, giận dữ, đau đớn, say rượu trong quán nhậu, đứng lên rút súng ra, mới thấy bên bàn đối địch có thằng em họ phục vụ trong một đơn vị khác. Hú hồn. Còn ở A Sao, đột kích chớp nhoáng, địch chết nhiều bỏ chạy, không kịp mang theo thương binh. Trực thăng tải thương hạ cánh nhanh, cất cánh nhanh, để tránh khỏi bị lọt vào vòng vây, ra lệnh tải cả thương binh bộ đội đang nằm co quắp, rên rỉ lên máy bay, không phân biệt ai trước ai sau, ta hay địch. Và những ánh mắt ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Trận, lại trận… Thôi. Suốt cả thời trai tráng lao mình vào chinh chiến, nói sao cho hết các kỷ niệm về trận mạc. Hãy để dành đó.
Hãy thử nhìn lại những chuỗi biến cố, kỷ niệm khác. Hãy lật lại những trang sách khác của đời mình. “Giở lại trang sách đời”, câu đó đọc ở đâu nhỉ khi còn nuôi cái thú đọc sách, khi tuổi còn trẻ, tóc còn xanh, quê hương còn thanh bình?
Như một cuốn phim diễn ra trước mắt. Nền Đệ Nhất Cộng Hoà, trong mấy năm đầu, tuyệt vời. Thực dân Pháp đã phải ra đi. Tất cả địa danh, tên đường, tên cơ quan nhà nước bằng tiếng Pháp đều được đổi qua tiếng Việt. Quốc Hội Lập Hiến, Hiến Pháp, Quốc Hội Lập Pháp, ra đời. Nhân tài từ nhiều nơi ở nước ngoài trở về cùng nhân dân trong nước ra sức xây dựng Miền Nam thành một quốc gia độc lập, dân chủ vững mạnh, được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận và lập bang giao. Từ Bến Hải đến Cà Mâu, sức sống bừng bừng trỗi dậy. Mưa thuận gió hoà, lúa má đầy ruộng, đầy đồng, đầy kho, đầy vựa; cá tôm đầy ghe, đầy thuyền, đầy sông, đầy biển. Công nghiệp, thương nghiệp phát triển mạnh, Giáo Dục, Xã Hội, Văn Hoá đều thăng tiến. Ấm no, hạnh phúc nơi nơi.
Chị đã có chồng là sỹ quan lái trực thăng đóng ở Cần Thơ, mẹ ở với gia đình chị. Anh — “nó ngày xưa” — cũng đã trưởng thành, vừa vào Đại Học vừa làm việc thêm kiếm sống dễ dàng. Bạn bè nở rộ như hoa, được tăng cường thêm người Bắc di cư, người Trung vào Nam. Nhưng cuộc đời không “xuôi chèo mát mái”. Cộng Sản Miền Bắc không để yên cho Miền Nam xây dựng. Cuối thập niên 1950, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam trực thuộc Miền Bắc ra đời và khởi đầu chinh chiến cùng những xáo trộn trên chính trường Miền Nam. Chưa xong Đại Học, theo lệnh động viên, anh nhập ngũ, hăng say lên đường ra tiền tuyến. Bạn của anh cũng có một số trốn lính, hoặc nếu không trốn được thì cố chạy chọt để được đưa đến những đơn vị không trực tiếp chiến đấu. Anh tự hỏi: tại sao anh khác những người bạn ấy? Và anh có câu trả lời: niềm hăng say của anh một phần không nhỏ bắt nguồn từ những suy nghĩ về người cha của mình, về những nỗi khổ tâm mà ba đã trải qua mà hồi đó còn nhỏ anh không hiểu, và về cái chết ấy.
Đơn vị cuối cùng anh chỉ huy trước khi Miền Nam thất thủ là một tiểu đoàn trấn đóng tại Cao Nguyên Trung Phần, dạn dày chiến trận, lập nhiều chiến công vang dội.
Đang giữ vững từng ngọn đồi, từng khe núi, từng dòng sông, từng tuyến đường, bỗng phải bỏ tất cả rút lui trong hỗn loạn. Rồi một số đơn vị trưởng cấp quân đoàn, sư đoàn tháo chạy ra nước ngoài, một số tuẫn tiết, một số chiến đấu trong tuyệt vọng, thiếu đạn dược, thiếu vũ khí. Nhiều đơn vị quân đội bơ vơ như rắn không đầu. Tiếp đến, nước vỡ bờ. Miển Nam đang vươn lên thần tượng bỗng gục ngã; dây liên kết với Đồng Minh vĩ đại nhất, hùng mạnh nhất trên thế giới bỗng đứt đoạn. Khi được lệnh đầu hàng, cùng với nhiều người tuẫn tiết, hai vị Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV tự sát, anh rể ở Cần Thơ lái trực thăng cùng mẹ và chị bay ra Phú Quốc. Anh buông súng.
Cuốn phim khép lại bằng hình ảnh đoàn tù đi hàng một trên đất lạ.
Tóc đã hoa râm tuy ông chưa tới bốn mươi, gương mặt rắn rỏi, cương nghị trong bộ đồ tù nhầu nát, rách rưới. Đằng trước đoàn tù một quãng ngắn, một cán bộ ánh mắt đầy thù hận long lên như lửa, cầm loa hô to “Đồng bào hãy bày tỏ thái độ đối với bọn này, bọn nguỵ quân, nguỵ quyền, bọn phản quốc, bọn chỉ thích ăn gan người, uống máu người.” Bên đường bỗng đâu lù lù một đống đá. “Đồng bào còn chờ gì nữa, hãy lên tiếng ngay, hãy hành động ngay, hãy nguyền rủa chúng nó, hãy ném đá vào đầu chúng nó.” Tiếng loa càng lúc càng xé không gian ra thành những mảnh vỡ, thôi thúc, gay gắt, đe doạ. Dăm ba người lượm đá ném. Chậm chạp, uể oải. Chả trúng trật đâu vào đâu.
Bỗng từ đằng trước, một đứa bé khoảng bảy, tám tuổi chạy ngược về phía đoàn tù, tay cầm hòn đá lớn. Khi chạy đến gần ông, nó vung tay ném mạnh, hòn đá trúng ngay vào mặt ông. Ông choáng váng trong vài giây, lấy tay ém vào vết thương, máu trào ra những kẽ ngón tay chảy xuống bàn tay, cổ tay. Người tù đi trước khựng lại, người tù đi sau nhảy chồm tới, hai người lính bộ đội lập tức chĩa súng, lên đạn. Ông cũng dừng lại một bước, rồi cất tay ra thử, máu vẫn còn chảy, đè ngón tay lại ém lên vết thương, bước dài thêm cho kịp đoàn tù đang đi. Đứa bé hoảng hốt chạy ngược trở lui đến ôm ngang hông một ông già độ bảy mươi tuổi đang đứng dưới một cây bàng cao, lá lác đác chuyển từ xanh qua vàng. Mùa Thu chưa đến. Có lẽ ông già là ông nội hay ông ngoại thằng nhỏ. Vâng, con đường phố này có những cây bàng cao đứng thành hàng dài. Chắc chúng đã được trồng cách đây cả trăm năm, chứ không phải như cây bàng mọc hoang trong rừng vắng để con chim ưng vô tình đậu trên ngọn cao và lãnh một viên đạn chí tử vào ngực. Ba bốn người đến vây quanh ông già và đứa bé, hỏi han.
Khi đi đến gần nhóm người vây quanh ấy, ông vô tình đưa mắt nhìn và gặp ngay đôi mắt của ông già. Ánh mắt buồn, đau, xót xa trên khuôn mặt gầy gò. Nếu còn sống, chắc cha ông cũng cùng tuổi với ông già này, ông chợt liên tưởng. Ông dừng cái nhìn rất nhanh vào ánh mắt đó một lần chót. Đoàn tù đã đi hết con đường có dãy bàng cao, và sắp rẽ qua một lối xóm vắng tanh, xơ xác. Văng vẳng trong gió tiếng loa xa. Có lẽ một đoàn tù khác đang đến, ông ngẫm nghĩ.
Đoàn xe buýt chở tù vào đến ga Nam Định thì trời vừa tối và họ chỉ định cho chúng tôi một góc tường nhà ga làm nơi tạm thời nghỉ ngơi trước khi có lệnh lên tầu hỏa.
Chúng tôi người đứng dựa vào bức tường hay dựa vào nhau, không ai dám trải tờ báo ngồi xuống đất bởi chung quanh đó không có một chỗ nào tương đố sạch sẽ một chút, toàn những đất đen lẫn những miếng gạch vỡ và ẩm thấp.
Một vài người dân trong những bộ quần áo nghèo nàn ăn mặc thật giống nhau đi bộ gần đấy hay đạp xe vội qua nhìn chúng tôi có vẻ hơi thắc mắc bởi vì tụi tôi bấy giờ đều ăn mặc các bộ quần áo dân sự do gia đình gửi vào nhưng lại bị còng tay cứ hai người một cái còng số tám.
Quả thật tôi không thể ngờ rằng cuộc đời nhiều lúc đắng cay và nghịch lý như hoàn cảnh của tôi.
Năm một chín sáu lăm, tôi là một học sinh Chu Văn An mang trong người mảnh bằng Tú Tài II với nhiều mộng ước vào đời, nhưng đúng mười năm sau đó là Định Mệnh đau thương khi miền Nam sụp đổ và tôi lại quay về đúng ngôi trường thân yêu ấy trong thân phận người tù chờ xe đến để chở vào trại tập trung “cải tạo”.
Không gì đau lòng hơn hôm nay nữa khi tôi ghé lại nhà ga Nam Định, nơi chôn nhau cắt rốn của mình trong tư thế một tù nhân chuyển trại. Cứ ngỡ rằng nếu có một ngày nào về thăm quê hương Nam Định của tôi thì đó phải là một ngày trong vinh quang.
Khi trời đã về khuya, các gian hàng trong khu nhà ga đã lên từ lâu, thứ đèn bóng tròn hắt ra một thứ ánh sáng vàng vọt yếu ớt không đủ chiếu dù chỉ là một khoảng sân ga thì chúng tôi được lệnh lên tầu.
Từng hai người một bước lên con tầu cũng cũ kỹ như cái ga Nam Định, có lẽ đã nhiều chục năm vẫn mang một bộ mặt không thay đổi đó.
Bấy giờ là vào tháng Năm năm một chín tám tám, các tù nhân chính trị chế độ cũ còn bị giam giữ tại miền Bắc chỉ còn lại đúng chín mươi người trong số hàng trăm ngàn tù nhân bị di chuyển vội vã bằng mọi phương tiện từ Nam ra Bắc mười hai năm trước. Cộng với một tù hình sự nghe nói có người chú là Thiếu Tướng VC nên được ưu đãi cho vào Nam tiếp tục thụ án.
Chúng tôi chiếm hai toa đầu tiên và các cán bộ và cán binh đi áp tải thì một toa nữa thứ ba để ngăn cách chúng tôi với dân chúng hay những người buôn bán bị dồn xuống các toa tầu phía sau.
Cứ hai người ngồi một ghế băng bằng gỗ thì khá rộng rãi nhưng nếu nhét bốn người thì không lọt nên chúng tôi ngồi thành hai cặp đối điện nhau.
Tôi và anh hai Hầu may mắn ngồi thuận theo hướng tầu chạy nên nhìn được nhiều cảnh vật bên ngoài. Cổ tay phải tôi khóa với tay trái anh Hầu cho nên tôi ngồi bên cạnh cửa sổ bên trái toa tầu và anh Hầu cạnh lối đi.
Tôi để cây đàn ghi ta và giỏ mây đựng các thứ cần thiết lên trên giá gỗ cho rộng chỗ và vừa ngồi xuống chưa bao lâu thì con tầu bắt đầu chuyển bánh một cách nặng nhọc rời nhà ga.
Gió bên ngoài thổi vào trong toa mát rượi như xua đi bao mệt nhọc trong ngày di chuyển từ trại Ba Sao Nam Hà đến đây và bây giờ đang ở trên con tầu xuôi về Nam.
Quả thật đây là giấc mơ bất ngờ mà bao nhiêu năm nay chúng tôi chờ đợi vì ít ra nếu không được thả ra khỏi trại thì cho về Nam cũng dễ thở hơn, cũng như án tù của mình được giảm đi một phần rồi.
Chúng tôi đang xa rời dần xứ Bắc theo tiếng máy tầu xình xịch chạy trên đường ray làm tôi chợt nhớ đến anh Hiến, Đại Úy Biệt Động Quân tác giả bài hát “Chuyến Tầu Xuôi Phương Nam” mà tôi rất thích:
“Chuyến tầu xuôi phương Nam, xin từ giã từng đoạn đường … Mái trường Phan Chu Trinh em còn nhớ lời hẹn hò, bao giọng nói lời hỏi chào, dòng kỷ niệm quấn quít bên nhau…Mãi mãi vườn xưa xanh tươi, môi hồng thắm lại nụ cười, phố phường sống dậy tình người, Mẹ già ngồi bếp cũ năm xưa, qua một thời dĩ vãng thương đau…”
Người tù và nhạc sĩ BĐQ tài hoa ấy vẫn mơ về một ngày mà đất Mẹ sẽ có lại được những nụ cười thương yêu, những khuôn mặt rạng rỡ, có lại được tình người nồng thắm trong một không gian đầm ấm của hạnh phúc ngày xưa, và tất cả những đau thương do chiến tranh và tù đầy đổ xuống quê hương tang tóc sẽ chỉ còn là dĩ vãng.
Nhưng niềm mơ ước ấy đã không thể trở thành hiện thực vì những người tù vẫn còn bị giam giữ không có ngày tháng, người dân vẫn còn bị đọa đầy; và khi tôi nghe tin anh sau một thời gian thả về đi vượt biên đã bị mất tích.
Nếu đúng vậy thì anh đã có thể trở về cái ngày xưa ấy khi còn giòng máu nóng trong người và cầm súng trên tay cùng các đồng đội đi săn lùng diệt địch.
Anh hai Hầu ngồi bên cạnh tôi đã ngủ từ lúc nào, anh thật là hiền hậu vô tư và thật là dễ ngủ dù là trong tư thế ngồi và đôi khi xe chạy qua những quãng đường không được êm lắm. Tôi rất mến anh vì tính tình đôn hậu giản dị của người miền Nam nên coi anh như người anh và ăn chung với nhau kể từ ngày thầy Tâm, thầy tôi và các vị trong Nha Tuyên Úy được thả về.
Anh thường nhìn tôi cười cười :
-“Mỗi lần anh nghe Đại thuyết trình về tin tức thời sự, về sự can thiệp của Mỹ và các hội đoàn cho anh em mình sớm được trả tự do thì anh lại lên tinh thần.”
Tôi nhìn lối đi qua toa bên cạnh nơi chứa số còn lại của anh em tù nhân trong đó có các ông Tướng và nhớ đến những lúc tôi đánh liều vượt tường qua khu giam các Tướng để thuyết trình theo sự yêu cầu – vì sống trong đó các anh không có nhiều tin tức như tụi tôi ở ngoài này.
Hơn nữa, tin tức về các cuộc thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Hà Nội để sớm thả các tù nhân này ra khỏi trại giam vẫn là những đề tài nóng bỏng nhất mà mọi người đều muốn biết vì tin tức ấy đã nhen nhóm lên trong chúng tôi một ánh lửa hy vọng.
Một điểm nữa là các tù nhân còn lại sau mười ba năm trong trại giam thì đa số đều thuộc các thành phần mà họ gọi là có nhiều “nợ máu với nhân dân và nguy hiểm cho chế độ” như tình báo, an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt và những thành phần này sẽ còn bị giữ trong các trại rất lâu, không có thời gian tính, nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài từ phía chính quyền Mỹ và các hội đoàn tại hải ngoại.
Bởi vậy đó là lý do tại sao chúng tôi phải săn lùng các tin tức liên quan đến các tù nhân chính trị để biết chắc được rằng thế giới bên ngoài vẫn còn nhớ tới mình.
Anh Hầu đang ngủ gật gù và bỗng dưng chúi xuống đất, may mà tôi dùng tay trái chụp được vai của anh níu lại kịp lúc. Anh tỉnh dậy:
-“Chuyện gì đó Đại?”
-“Anh ngủ gục. Không được rồi tôi chẳng có thể ngồi canh anh như thế này suốt đêm được rất nguy hiểm. Bây giờ anh nằm xuống sàn tầu đi rồi gần sáng tôi đổi chỗ cho anh lên ghế nằm chứ ngủ ngồi không xong rồi.”
Bên ngoài trời tối đen không còn nhìn thấy gì nữa vì tầu đang đi qua một vùng hoang vu không có người ở, không một ánh đèn, chỉ thấy những vì sao long lanh xa tít trên trời như cũng lấp lánh chung vui với chúng tôi trên chuyến tầu xuôi về Nam hôm nay.
Đây là đất nước mình đây ư! quê hương của mình đây ư! nhưng tại sao chúng tôi lại vẫn còn bị giam giữ và đầy đọa ngay trên quê hương mình khi cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài hai thập niên với bao nhiêu triệu người chết, đã tàn rồi từ mười ba năm trước?
Hầu hết các bạn tôi đều đang say ngủ và toa tầu thật yên lặng, thỉnh thoảng mới có một vài cán binh chạy lên xuống xem chừng chúng tôi mà thôi rồi lại trở về toa của họ.
Ánh đèn vàng nhỏ trên nóc toa tỏa ra một ánh sáng mờ mờ theo tiếng xình xịch của bánh xe lửa lại càng làm thêm buồn ngủ, nhưng không hiểu sao dù rất mệt mỏi nhưng tôi vẫn chưa ngủ được.
Có thể vì hôm nay là một cái ngày gì rất đặc biệt trong quãng đời tù tội của chúng tôi, những người tù cuối cùng đang rời xa dần đất Bắc.
Tất cả là chín mươi người, con số thật là bé nhỏ, những người trước kia từ các trại khác nhau trên miền Bắc về tụ hội tại Nam Hà, và bây giờ đây năm một chín tám tám, chín mười người còn lại ấy vẫn còn sống và đang ngồi trên chuyến tầu này xuôi Nam, sau mười ba năm giam cầm và lưu đầy.
Nếu nói đây là một sự thành công kỳ diệu của sức người đã vượt qua được những thử thách của thời gian thì phải cảm ơn Ông Trời đã sinh ra con người, tuy bằng xương bằng thịt nhưng trong gian nan nguy khốn, đã có được một sức chịu đựng bền bỉ ngoài sức tưởng tượng.
Những người tù cuối cùng này còn sống sót và còn minh mẫn, chính là nhờ vào sức chịu đựng phi thường của họ, chính là nhờ Ơn Trên vẫn che chở cho họ, và cũng chính nhờ gia đình trong đó người vợ với tấm lòng son sắt, đã không quản ngại khó nhọc đi thăm chồng suốt bao nhiêu năm trường.
Viễn ảnh đang trở về miền nắng ấm có lẽ cũng làm cho tôi thao thức không ngủ được chăng. Trên trời ông Trăng vừa ra khỏi được cụm mây để tỏa xuống trần gian một làn ánh sáng yếu ớt cho đêm bớt tăm tối.
Có thể một tương lai tốt đẹp hơn đang chờ chúng tôi trong miền Nam nhiều tình người hơn, gần gũi với gia đình hơn, và gần với Sàigòn hơn.
Hai chữ Sàigòn gây cho tôi một cảm giác xao xuyến mà đã bao nhiêu năm rồi tôi đã cố chôn chặt nó trong lòng để cố quên nó đi, nhất là những đêm Đông giá buốt, bởi vì mỗi khi nghĩ đến Sài gòn thì cả môt vùng trời kỷ niệm sống dậy và nó dằn vặt tôi trong nỗi nhớ khôn nguôi.
Hai chữ đó như nhắc nhở tôi về một thời gian có vẻ như xa xưa lắm rồi tôi đã có những năm tháng yên vui hạnh phúc bên những người thân yêu, bên Mẹ, anh em, bên vợ bên con, bên bạn bè, rồi bỗng dưng tất cả sụp đổ tan tành và thân tôi bỗng nhiên thành tù tội ngay trên quê hương mình.
Rồi tôi bắt đầu làm quen với lao động để “cải tạo” tại trại Long Thành và rồi đột ngột chuyển trại ra Miền Bắc trong một đêm không trăng sao và ở lại ngoài đó mười hai năm.
Cuối cùng thì giờ này tôi đang bỏ lại sau lưng cả một quãng đời tù đầy cơ cực trên xứ Bắc.
Bỏ lại mười hai mùa Hè nóng như nung người, những đêm trong buồng giam ngộp thở hơi người, chúng tôi ngồi tại chỗ nằm chỉ mặc cái quần đùi mà mồ hôi nhỏ từng giọt cho đến khi mệt lả đi thì mới ngủ thiếp được.
Hoặc phải tìm ít nước thấm ướt cái mùng rồi chui vào ngay khi còn ít hơi mát để tìm giấc ngủ, khổ nhất lúc đó là phải chui vào trong mùng bởi không thể ngủ bên ngoài vì từng đàn muỗi sẽ đến hỏi thăm sức khỏe ngay. Ban ngày thì lao động khổ sai ban đêm thì chống chỏi từng giờ với cái nóng ghê gớm của mùa Hè.Cái nóng ghê gớm đến nỗi mà một anh bạn thân tôi là cò Lạt đã phải than rằng chỉ cầu Trời cho một cơn mưa chứ chẳng còn cầu ngày về nữa.
Bỏ lại sau lưng mười hai mùa Đông mưa phùn gió Bấc, những làn gió lạnh buốt như quất vào da thịt người tù như thấm vào tận xương tủy, nhiều lúc như không còn cảm giác ở hai bàn tay.
Những buổi sáng thức dậy khi trời còn đầy sương trắng đục, mây mù giăng mắc khắp núi rừng chung quanh, cảnh vật như mờ mờ ảo ảo có lẽ không phải trên trần thế, mà người tù vẫn phải thức dậy chuẩn bị cho một ngày lao động mới.
Nói về mùa Đông, tự dưng tôi nhớ đến một người tù trẻ tuổi cũng rất đặc biệt, anh chỉ là Thiếu Úy nhưng không hiểu sao cũng bị đưa ra Bắc trong tình trạng gần như đã mất trí nhớ.
Anh tự xưng là Nguyễn Huệ, ban đầu tôi tưởng tên anh là Huệ thật nhưng sau đó các bạn cho biết là anh tự nhận như vậy. Anh thường quanh quẩn trong trại, đúng ra loanh quanh trong buồng giam mà thôi, nhiều lúc nói những gì nghe không hiểu và lại mỉm cười một mình. Tôi đoán rằng anh đã trải qua một giai đoạn nào khủng khiếp lắm trong đời, có thể là sau khi bị bắt, bị tra tấn hay ngược đãi, hoặc vì tình cảnh gia đình nên đã mất trí luôn.
Có điều rất lạ lùng là trong mùa Đông xứ Bắc lạnh căm căm như vậy, ngay cả những ngày buốt giá vì nhiệt độ hạ thấp đột ngột bởi những đợt khí lạnh từ bên đất Tầu thổi xuống thì anh vẫn phong phanh bộ quần áo tù và để đầu trần mà vẫn bình thường. Có anh trong buồng thấy vậy bèn cho anh cái áo len để mặc nhưng cũng chỉ một hai ngày rồi lại thấy anh bỏ cái áo len đâu mất.
Như thế suốt mùa Đông mà anh không hề bệnh tật gì trong khi tôi mặc mấy lớp áo kể cả áo len và trên đầu còn trùm một cái mũ nỉ nữa mà vẫn thấy khí lạnh nó thấm vào tận da thịt.
Lúc đó tôi mới thấy cái kỳ diệu của cơ thể con người mà ông Trời đã cho chúng ta, có thể vì hệ thống thần kinh của anh đã bị tổn thương cho nên không còn cảm nhận được cái lạnh khủng khiếp đó của những ngày mùa Đông? Nhưng điều làm cho tôi ngạc nhiên là anh không hề bị bệnh tật gì hay tỏ ra giá lạnh vì ăn mặc như vậy suốt mấy tháng trời mùa Đông.
Có thời gian khi anh mua được một miếng thịt tươi, như các anh em khác thì nấu nướng lên rồi ăn nhưng anh lại đem chôn nó xuống đất. Tôi có hỏi anh là chôn để làm gì thì anh nói là để dành cho mùa Đông.
Một bác nữa ở cùng chung buồng giam với tôi, bác Hưởng cũng cùng đợt chuyển ra Bắc với anh Thiếu Úy tự xưng là “Nguyễn Huệ”. Bác tuy lớn tuổi nhưng rất là tỉnh táo sáng suốt tuy rằng móm mém vì các răng cỏ đều rụng hết. Bác được anh em đều rất thương mến vì tính tình hòa nhã và hiền hậu, có anh gọi bác rất thân thương là Tía nữa.
Tôi còn nhớ rất rõ hình dáng còm cõi, da sạm nắng và cái lưng hơi gù cùng tướng đi còn nhanh nhẹn của bác. Bác Hưởng luôn vui cười với mọi người và hay kể những chuyện về miền quê hương của bác ở miệt Tiền Giang với đủ loại trái cây và các món ăn ngon ít nơi nào có được.
Tôi không có dịp về thăm Tiền Giang và Hậu Giang nên nghe bác kể một cách thích thú say mê, và đôi lúc cảm thấy hối hận vì trước kia chỉ biết lao vào làm việc mà quên cả đi thăm các thắng cảnh của quê hương mình nhưng bây giờ ân hận thì cũng đã muộn.
Giờ thì đã mất hết rồi và nếu có còn có dịp nào chăng nữa sau này mà đi du lịch thì những danh lam đó cũng không thể nào còn đẹp như xưa và cũng không còn cái không khí của ngày xưa nữa.
Có hôm nào hứng chí thì bác Hưởng lấy đôi đũa ra gõ nhịp nhịp rồi ngồi ca mấy câu vọng cổ, ca xong thì bác có vẻ hài lòng lắm và quay qua nhìn chúng tôi hỏi là tụi bay thấy tao ca có hay không rồi lại nhịp nhịp chiếc đũa.
Một buổi chiều Đông nhưng trời đã tối xuống rất nhanh, tôi thấy bác tự dưng chạy ra sân rồi la hét điên cuồng lên và chửi lung tung, than Trời xong lại trách Đất. Anh em vội kéo bác vào trong buồng nhưng bác vẫn nhìn ra ngoài cổng trại mà chửi cho đến khi khan cả tiếng không nói được nữa thì mới thôi.
Một vài ngày sau, buổi tôi bác đi ngủ như thường lệ nhưng sáng hôm sau thì bác đã không còn tỉnh dậy nữa.
Người tù đó đã tìm được sự bình yên nơi không còn thù hận, có thể bây giờ thì bác đã được thong dong trở về thăm miệt quê Tiền Giang yêu thương nhiều trái cây và thức ăn ngon của bác.
Một anh nghĩa quân nữa không hiểu mắc vào tội gì mà cũng bị đưa ra Bắc giam giữ. Anh rất hiền lành ít nói nhưng vài năm sau anh dần dần bị lãng trí và cũng ra đi bất ngờ trong một ngày đầu Đông không biết vì lý do gì.
Hay như anh Thiếu Tá Cảnh Sát nằm cạnh tôi một sáng ngủ dậy đang nằm nhai miếng bánh bột hấp bằng đầu ngón tay cái, là khẩu phần ăn cho người tù để sửa soạn lao động khổ sai trong bốn tiếng đồng hồ thì tự dưng miếng bánh vuột khỏi tay rơi xuống sàn nằm và anh đã ra đi nhẹ nhàng như một ngọn đèn hết dầu.
Anh bị bệnh phù thủng nặng hai chân đã sưng vù lên và được ở lại buồng một thời gian để nghỉ ngơi, nhưng vì thiếu dinh dưỡng và thuốc men nên bệnh trở nặng và sức cũng không còn, nên đã chết đi y như ngọn đèn cạn dầu từ từ lụi tàn và tắt đi một cách tự nhiên.
Mạng người tù trong môi trường ấy không có một chút giá trị nào đối với họ, kẻ đã chiến thắng.
Xin cầu nguyện cho tất cả các anh em tù nhân đã nằm xuống sớm về được miền Vĩnh Hằng – nơi không còn đói rét và đọa đầy thân xác.
Tôi đang bỏ lại sau lưng cả một quãng đời cơ cực với bao hiểm nguy, tôi cố quên đi hết và bỏ lại đàng sau lưng những nhục nhằn của một kiếp người lầm than.
Chúng tôi đã mất mát quá nhiều nhưng cũng học được những bài học đắt giá và nhờ Ơn Trên mà chúng tôi đã xoay chuyển được tình thế trở nên thuận lợi hơn trong những năm gần đây.
Chúng tôi biết sống hơn để có thể tồn tại, niềm tin rằng mình sẽ có ngày về càng lúc càng được củng cố vững chắc nhất là khi về Nam Hà được một hai năm sau thì anh Toan, nghị sĩ, đã cho tôi biết về những bài thơ Đường thật là tuyệt tác và có ý nghĩa của cụ Phan mà anh em thường gọi cụ là Thánh Tùng La.
Cụ Phan chính là nhà ái quốc Phan Đình Phùng đã hiển Thánh và Ngài đã giáng cơ xuống, theo lòng thành cầu khẩn của một số anh em muốn biết số phận của mình ra sao, và Ngài dã cho những người tù từng bài thơ một, phác thảo ra một tương lai còn nhiều hứa hẹn.
Các bài thơ này đã được chuyền tay nhau đọc và chép lại và đã làm cho tinh thần người tù lên cao và niềm hy vọng tưởng như lụi tàn nay bừng cháy lại.
Xin thành kính đội ơn Thánh Tùng La đã ban những bài thơ như rồng bay phượng múa ấy để nhóm lại ngọn lửa hy vọng trong khi nhiều người tù đã trở nên bi quan và yếm thế tại trại Nam Hà.
Lúc này, ngồi trên toa xe này xuôi về Nam thì tôi đã trở thành một con người có bản lãnh và nghị lực khác hẳn so với mười hai năm trước lúc còn ngơ ngác trước ngưỡng cửa dẫn vào địa ngục của trại giam trong chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc.
Bởi vì tôi đã học được bao nhiêu là kinh nghiệm sống và tác phong quân tử từ những người bạn thân trong đó có các anh trong tổ Điện, học được từ thái độ bình thản chấp nhận cái chết đến từng ngày của ông Xuân viện trưởng, từ sự hy sinh tận tụy của anh Trung những ngày tháng cuối chăm sóc bên cạnh ông Xuân, từ sự trầm tĩnh của anh Đồng Tuy và nhiều nữa.
Tôi còn học được những điều quí báu về tôn giáo, về số phận con người, về Định Mệnh, qua Thượng Tọa Thích Thanh Long, qua thầy Tâm người thầy hiền hậu của tôi, thầy Khuê, thầy Thạnh, thầy Tùng,v.v. qua Mục Sư Kỳ, Mục sư Lộc, và quí vị Linh Mục.
Nhiều lúc so sánh tôi thấy cuộc đời tôi có một nét rất giống như câu chuyện ngày xưa tôi rất thích là “Bá Tước Monte Cristo” khi có cơ duyên trong tù đã gập được vị thầy, một Minh Sư đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của mình sau này.
Trong truyện thì nhân vật Edmond Dantes đã bị hàm oan khi đang chuẩn bị lễ cưới thì bị bắt và bị lưu đầy đến một trại biệt giam trên đỉnh núi cao -nơi chỉ có đi mà không có về.
Nhờ cơ duyên Edmond đã gập được vị linh mục và là một nhà thông thái cũng bị biệt giam trong đó và chính nhờ gập được vị thầy này mà Edmond đã tôi luyện trở nên một con người văn võ toàn tài và vị linh mục còn tiết lộ bí mật của kho tàng cho Edmond nữa.
Lại nhờ vào may mắn lúc vị linh mục này qua đời phù hộ cho mà Edmond đã thoát ra khỏi chốn biệt giam trở về và ân đền oán trả.
Tôi cũng có cơ duyên sống với Thầy Tâm và được thầy dậy dỗ bảo ban mọi việc, nhất là về căn bản đạo Phật, nhờ đó mà tôi mới có nghị lực chống chỏi với bao phong ba bão táp như muốn nhận chìm mình xuống.
Nếu không gập được người thầy như thầy Tâm, thầy Thích Thanh Long thì chắc là tôi đã nằm lại trong bốn bức tường nhà tù.
Tôi có một điểm khác với Edmond là khi ra khỏi tù thì tôi không tìm được kho tàng như Edmond Dantes và tôi cũng chỉ trả ơn chứ không trả oán.
Nhìn ra vùng tối trước mặt với những hàng cây sậm đen, những con đường đất, những mái nhà tranh mờ mờ đang ngủ yên, những thửa ruộng thấp thoáng ánh nước trong đêm hòa trong tiếng xình xịch của bánh xe lửa, mắt tôi chợt nhòa đi khi nghĩ về những người tù hiền lành đã không còn nữa trong đó có vị viện trưởng viện đại học Cần Thơ Nguyễn Duy Xuân mà tôi vô cùng kính mến.
Họ đã phải nằm lại miền Bắc lạnh lẽo ấy chứ không có được cái may mắn như chúng tôi hôm nay đang theo con tầu cũ kỹ này xuôi về phương Nam nhiều nắng ấm.
Vĩnh biệt xứ Bắc, xin chào mười hai năm lưu đầy, xin chào những con người mà tôi đã gập ngoài đó và xin giữ mãi trong lòng không bao giờ quên các kỷ niệm đau thương xen lẫn những nụ cười của những người tù mà tôi quen.
Những tiếng xình xịch đơn điệu của con tầu trong đêm khuya lặng lẽ như đưa dòng tư tưởng tôi về với những người thân thương.
Nghĩ đến gia đình tự dưng hình ảnh hai đứa con hiện lên trong trí nhớ, có lẽ giờ này chúng lớn lắm rồi vì ngày tôi ra đi thì con gái chưa đầy năm tuổi và con trai chưa đầy bốn, bây giờ…bây giờ thì chúng đã mười tám và mười bẩy tuổi rồi, chắc khi gập lại tôi không thể nhận ra con tôi nữa.
Những làn gió mát hiu hiu thổi vào khung cửa ru tôi ngủ lúc nào không biết. Tôi chợt mơ thấy mình trở về mái nhà xưa nơi tôi đã sống hơn mười lăm năm trên con đường Trương Minh Giảng, Sàigòn thân thương, chợt nghe đâu đây tiếng cười rộn rã của hai đứa con nhưng chẳng thấy chúng đâu, rồi lại nghe thấy tiếng cười xen lẫn nước mắt của Mẹ già tóc nay đã phai mầu vì bao nhiêu năm tháng thương nhớ đứa con trong tù.
Tôi đã đi vào một giấc ngủ thật sâu lắng và êm đềm cho đến khi ánh nắng ban mai rọi chiếu vào toa tầu qua khung cửa sổ làm tôi tỉnh giấc thì trời đã sáng từ lúc nào và tầu đang đi vào địa phận miền Trung.
Miền Trung, nhất là các tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh, miền đất cằn lên sỏi đá và thiên tai bão lụt quanh năm vốn đã nghèo nay lại còn xơ xác hơn với những mái nhà tranh vách đất xiêu vẹo, những con trâu gầy gò, những con bò ốm giơ xương và những con người bừa thay trâu cầy thật là khốn khổ.
Đâu đâu cũng nhìn thấy những khuôn mặt xanh xao thiếu ăn trong những bộ quần áo lam lũ làm chúng tôi tuy trong thân phận tù đầy không khỏi bồi hồi xúc động và thương thay cho dân mình.
Mỗi khi tầu ghé tới ga nào thì mấy tay cán binh đi theo canh giữ chúng tôi trên tầu thường hay hỏi anh em chúng tôi cần gì không họ mua dùm cho.
Mấy tay cán binh này và mấy tay Thiếu Úy nữa đi theo trên tầu, chúng tôi đếu quen mặt vì thường xuyên vào trại uống cà phê, trà lá. Họ biết chúng tôi nên đi theo canh giữ cũng dễ chịu.
Tôi mấy năm sau thì bao tử và ruột bị yếu nên rất cần nước nóng và một tay cán binh hay cầm cái phích nước của tôi và lại chạy bay xuống mua dùm nước sôi.
Có lần tầu đã chạy rồi mà chưa thấy anh ta đâu thì bất ngờ y xuất hiện và hớt hơ hớt hãi chạy theo và nhẩy lên được toa tầu thì văng mất cả nắp cái phích nước của tôi.
Mỗi lần như thế thì tôi lại cho anh ta ít tiền để uống cà phê nhờ vậy mà tôi có nước sôi mà pha trà hay cà phê hay làm gói mì ăn sáng cho tôi và anh Hầu.
Cho nên chúng tôi suốt ba ngày đêm trên tầu cũng ăn uống tạm đủ.
Mấy tay cán binh này rất thích thú được anh em chúng tôi nhờ vả vì cả hai bên đều có lợi, nhưng chính họ cũng muốn tỏ sự thiện cảm đối với anh em chúng tôi như thể sự hận thù của họ đối với chúng tôi đã đi vào quá khứ và bây giờ là tình người với nhau.
Một điểm nữa đã đưa họ lại gần với chúng tôi chính là văn nghệ với các bản nhạc xưa đã làm họ say mê, những buổi văn nghệ các tối thứ Bẩy tại buồng giam mà họ ghé đến bên ngoài để cùng tham dự.
Đây cũng là một giai đoạn đáng ghi nhớ đánh dấu một thời điểm rất quan trọng là chúng tôi đã xoay chuyển được tình thế, từ lúc mới vào tù họ coi như các cặn bã rác rưởi trong xã hội và chà đạp lên nhân phẩm của người tù chính trị, cho đến ngày nay thì họ nhìn chúng tôi với con mắt nể trọng xen lẫn mến phục.
Trước ngày rời trại Nam Hà để lên xe lửa vào Nam, tay Thượng Tá trưởng trại trong một buổi nói chuyện cũng nói rằng “Chúng tôi không có khả năng để giáo dục cải tạo các anh và tôi còn bảo các cán bộ của tôi hãy vào trong trại mà thực tế học tập ở các anh nữa.”
Vừa rời khỏi miền Trung chưa bao xa để vượt qua con sông Bến Hải vào địa phận trong Nam thì thấy rõ ràng cảnh vật đổi khác nhanh chóng với nhà cửa ruộng vườn xanh tươi hơn, con người cũng bớt lam lũ hơn và khí hậu như mát dịu hẳn đi.
Con tầu đi qua ba miền tuy cùng trong một đất nước nhưng tôi cảm nhận ngay được sự khác biệt của cái nghèo, sự chịu đựng và sự khổ cực của con người sống trên xứ Bắc và tại miền Trung so với sự trù phú của miền Nam cho nên dù là phải sống trong chế độ Cộng Sản thì người miền Nam vẫn có thể bươn chải mà tồn tại được dễ dàng hơn người Bắc và người Trung.
Trời đã xế chiều và con tầu chợt dừng lại để chờ đổi đầu máy mới. Khi xe đang tạm thời dừng lại chờ vào trạm, viên Thượng Úy phụ trách chuyến di chuyển nầy tưởng rằng đã đến sân ga nên ra lệnh cho các người tù xuống xe.
Sự bất cẩn của tên Thượng Úy nầy suýt nữa đã gây ra thương vong cho anh em tù nhân trong đó có tôi.
Bởi vì cứ hai người thì còng tay lại với nhau cái còng số 8, và anh Hai Hầu vừa bước chân xuống sân và tôi còn đang trên các bực thang thì bất ngờ tàu chuyển bánh, trong tư thế người trên kẻ dưới và anh Hầu hoàn toàn không biết là tầu đã chuyển bánh nên kéo tôi xuống trong khi tôi đang ghì trở lại.
Tôi thì tay trái cầm cây đàn guitar, tay phải còng với anh Hầu nhưng vẫn nắm lấy cái giỏ xách đựng thuốc men vật dụng cần thiết và bộ ấm trả bằng sứ và chưa biết phải làm sao thì tên Thiếu Úy đứng dưới sân ga và cạnh cửa toa tàu la lên một tiếng:
-“Anh Đại đưa cho tôi cây đàn!”. Trong một tích tắc động hồ như có ông bà xui khiến, tôi ném cây đàn về phía tên Thiếu Úy, tay phải buông cái giỏ ra và nhảy một cái qua hai bực thang xuống lòng sân ga trong khi toa tàu chạy vụt qua phía sau lưng.
Tôi cảm thấy hơi lạnh chạy dọc theo xương sống. Chỉ một tích tắc không nhảy xuống kịp thì hoặc anh Hầu hay tôi sẽ bị té xuống và rớt vào đường rầy xe lửa.
Lúc đó tôi nghĩ là ông bà linh thiêng đã phù hộ cho tôi, nhưng sau này khi vào Hàm Tân gập gia đình thì mới biết ông anh Cả vừa mất vài tháng trước khi tôi lên tầu vào Nam.
Tôi cứ suy nghĩ mãi về vụ thoát chết trong gang tấc đó và tin là chính anh tôi đã nhập vào tay Thiếu Úy mà cứu tôi kịp thời, bởi tay Thiếu Úy này là một trong những tay cán bộ vẫn thường ra vào trại trà lá với chúng tôi và rất thích nghe chúng tôi hát những bản nhạc của chế độ cũ.
Chỉ tích tắc đồng hồ thôi nếu tôi không nhẩy kịp ra khỏi toa tầu thì hoặc tôi hay anh Hầu đã nằm dưới bánh xe lửa.
Tôi lững thững đi theo đoàn người vào sân ga và chưa kịp hoàn hồn thì lại được lệnh leo lên cái tòa tàu mà suýt nữa tôi mất mạng vì nó để xuôi vào Nam.
Đến chiều tối ngày thứ nhì thì chúng tôi vào tới thành phố Huế nhưng tầm nhìn bị che khuất bởi bóng đêm vừa xuống và vì họ kéo rèm che hết các cửa sổ lại vì sợ dân chúng thấy chúng tôi trên tầu.
Tôi chỉ nhìn loáng thoáng thấy một cái sân ga vắng lặng như đang yên ngủ và vài hàng quán còn le lói ánh đèn nhưng đều đã đóng cửa.
Khi tầu đang chạy trên phần đất miền Bắc tôi không có nhiều cảm xúc ngoại trừ sự thương cảm cho cái nghèo cùng cực của người dân với hình ảnh tôi không bao giờ quên được của người đàn bà bụng chửa đã vượt mặt mà vẫn còn ráng chầm chậm gánh gạch vào lò hay những thửa ruộng khô cằn cỗi , nhưng không hiểu sao từ khi tầu bắt đầu chạy vào địa phận miền Nam thì tim tôi như đập nhanh hơn có thể vì như đang trở về quê hương của mình, như đang tới gần hơn gia đình mình.
Chợt một cậu soát vé còn rất trẻ lững thững đi lại phía tôi và anh Hầu rồi hỏi chuyện làm quen:
-“Hình như các bác các chú các anh từ miền Bắc chuyển trại vào trong Nam?”
Tôi nhìn cậu ta gật đầu
-“Ba của cháu trước kia làm cho Bưu Điện Sàigòn cho nên không phải đi “học tập cải tạo”. Các bác đã ở tù mười mấy năm rồi nhưng trông còn rất khí phách.”
Tôi cảm động vì hai chữ khí phách mà cậu ta đã dùng và thấy cậu ta có vẻ như không phải là người của họ nên tôi mời cậu điếu thuốc lá, một cái lắc đầu cám ơn và cậu ta lại lững thững đi xuống các toa dưới sau khi gật đầu chào anh em tôi.
Đó cũng là những kỷ niệm nhỏ nhưng khó quên bởi vì điều này chứng tỏ người dân miền Nam vẫn chưa quên những người chế độ cũ và vẫn còn dành phần nào cảm tình cho chúng tôi những người tù.
Suốt thời gian hai đêm ba ngày trên tầu thì tất cả các hàng quà bánh buôn bán trên xe lửa đều bị ngăn cấm không được vào bên trong hai toa có chở tù chính trị.
Khi tầu dừng lại ở ga nào thì các cán binh thường được lệnh canh gác tại các cửa lên xuống và nếu có các người dân buôn bán nào không biết ôm rổ bánh hay thúng khoai sắn mà chen lên hai toa này để bán hàng thì đều bị đẩy xuống ngay.
Ngoài ra sự canh giữ chỉ nghiêm ngặt nhất có lẽ là tại nhà ga Diêu Trì. Tại các ga khác như Nha Trang hay tại Huế thì các cửa sổ được lệnh kéo rèm xuống hết và các cán binh cũng đứng loanh quanh cạnh hai lối đi lên xuống tầu mà thôi.
Nhưng tại ga Diêu Trì thì sự việc xẩy ra hoàn toàn khác hẳn vì khi dân chúng nghe tin tù chính trị về đến miền Nam thì từ trong cổng làng họ kéo nhau ra đông nghẹt rồi ùa lại vây quanh hai toa này và vẫy tay chào chúng tôi rất là thân thương.
Tôi nhìn về phía cổng làng thì thấy một đội võ trang đã án ngữ bên ngoài, đóng cổng xong rồi khóa nó lại bên ngoài cho nên một số dân làng ở bên trong cũng muốn ra chỗ xe lửa đang đậu để xem tù chính trị trở về nhưng vẫn không ra được vì cổng đã khóa trái.
Bất chợt có một em bé gái chỉ khoảng mười hai tuổi dáng gầy gò đã bất chấp lính gác chen vào được toa nơi tôi đang ngồi, bỏ thúng bánh lá xuống chỉ cho chúng tôi thấy rồi thoăn thoắt chạy vụt xuống xe và biến mất vào trong đám đông.
Ban đầu tôi tưởng là em muốn bán hàng nhưng khi nhìn em vụt chạy xuống tầu thì tôi mới hiểu ra là em muốn tặng thúng bánh đó cho chúng tôi.
Chúng tôi không kịp cám ơn em và cũng không kịp đứng dậy để trả lại em thúng bánh hay đưa cho em ít tiền nữa vì sự việc xẩy ra quá nhanh không ngờ.
Lòng tôi chợt dâng lên một niềm xúc động mãnh liệt khi mắt tôi dõi theo bóng em lẫn vào trong đám đông. Chúng tôi đều nhìn nhau không ai nói được lời gì
Ngay đám cán binh đứng gần đó cũng trở tay không kịp, cho nên sau khi em bé gái đó chạy xuống sân ga rồi thì có một toán cán bộ xộc vào trong toa tôi đang ngồi và ra lệnh cho các cán binh cầm súng làm thành một hàng rào bên ngoài hai toa này và đẩy dân chúng ra xa con tầu không cho lại gần nữa.
Những hình ảnh ấy, những khuôn mặt dân chúng xáp lại gần toa tầu để nhìn thấy những người tù cho rõ hơn, hình ảnh của em bé gái đi chân đất mặc chiếc quần đen và cái áo nâu đã bạc mầu với cặp mắt ngơ ngác nhìn chúng tôi – em là ai mà đã dám lại bỏ cả thúng bánh lá, tiền kiếm được của cả một ngày buôn bán – trên toa tầu cho những người tù là một nghĩa cử thật quí báu và là những kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên được trong đời.
Hồi nhỏ tôi có đọc một cuốn sách rất nổi tiếng là cuốn “Tấm Lòng Cao Thượng” bản dịch của Hà Mai Anh và tôi liên tưởng ngay đến bé gái thôn quê mộc mạc và nghèo nàn này với thúng bánh lá cho những người tù mà em chưa hề quen biết, mới chính là tấm lòng cao thượng.
Tôi cứ bâng khuâng suy nghĩ mãi không biết tối nay khi em về nhà thì nói với cha mẹ ra sao về thúng bánh lá ấy em đã tặng cho các bác các chú tù chính trị trên đường chuyển trại?
Thúng bánh ấy dù là của người dân tặng cho tù nhưng dĩ nhiên họ không phát cho chúng tôi, và tay Thượng Úy trưởng toán cán bộ giải giao tù đã ra lệnh tịch thu đem về toa của họ.
Thời gian những năm sau này tuy họ đã thả lỏng bớt không quá khắt khe trong trại giam nhưng chúng tôi vẫn bị cấm không được liên lạc với dân chúng.
Lúc ấy dân chúng vẫn còn bao quanh toa tầu và hò reo chỉ chỏ về phía chúng tôi, anh Bửu Uy cũng ngồi gần, bước lại cạnh tôi bên cửa sổ với một anh nữa và giơ chiếc còng lên cho dân chúng thấy.
Tôi cũng đứng dậy và kéo tay anh hai Hầu với cánh tay đang còng lên vẫy vẫy để chào những người dân của Diêu Trì đã dành cho chúng tôi một tấm lòng thật là hiếm có.
Trong lòng tôi không khỏi dâng lên một chút ấm áp và một cảm xúc khó tả khi nhìn đồng bào mình bao vây con tầu và đám cán binh đang vất vả để ngăn cản họ lại gần.
Mười hai năm trước thì tôi bị xích tay bằng sợi lòi tói với anh bạn đồng nghiệp là anh Sửu ra đi vội vã trong đêm tối, còn bây giờ mười hai năm sau thì còng tay với anh Hầu xuôi Nam nhưng trong tư thế đôi chút tự hào.
Chuyến tầu tôi xuôi phương Nam lần nay thực khác hẳn với các chuyến tầu chở tù từ Nam ra Bắc một năm sau ngày mất miền Nam.
Khi ấy, các người tù bị nhét vào các toa chở súc vật đến kẹt cứng không còn có chỗ ngồi chứ đừng nói là chỗ nằm và không khí ẩm thấp hôi hám đến ngộp thở đã làm một số tù nhân ngất xỉu và chết vì thiếu dưỡng khí.
Chưa kể trên đường tầu chạy qua các làng mạc thì dân chúng đã được đạo diễn nên liệng gạch đá lên tầu kèm theo những lời chửi rủa và nhiều người tù đã bị thương hay thiệt mạng vì những cục đá oán thù đó.
Bây giờ thì tình hình đã hoàn toàn đổi khác dù là chúng tôi vẫn trong thân tù tội nhưng đang trở về miền Nam trong sự đường hoàng của một con người bởi vì lòng dân đã chuyển.
Qua hai đêm trên tầu và bắt đầu ngày thứ ba khi tầu chạy qua các tỉnh phía nam Trung phần thì tôi thấy quả thật miền Nam được thiên nhiên ưu đãi hơn hẳn miền Bắc chưa kể các bãi biển đẹp như trong tranh với các hàng dừa nghiêng nghiêng trên bãi cát trắng phau dọc theo Cà Ná, Mũi Né của Phan Rang, Phan Thiết.
Tôi hít vào những hơi thật sâu cho gió biển lùa vào trong lồng ngực vì ít khi có dịp đi qua bãi biển Cà Ná quá đẹp này nhưng tiếc thay là không dừng chân xuống được.
Có những bãi biển vắng tanh không một bóng người chỉ nghe tiếng sóng vỗ rì rào theo những đợt lăn tăn xô nhau vào bờ và chạy dài mãi đến mãi tuốt tận đàng xa xa, và tôi có cảm giác các bãi biển này rất tinh khiết như chưa hề có bước chân người đặt tới bao giờ.
Chợt có hai tay cán binh bước về phía tôi và nói với anh Bửu Uy:
-“Mấy anh có đàn đây hát vài bản đi. Chúng tôi rất thích bài Chủ Nhật Tươi Hồng (Beautiful Sunday).
Tôi mỉm cười giơ cổ tay đang còng lên. Hai tay này sốt sắng:
-“Để tôi sẽ chạy lại ngay và mở khóa cho hai anh.”
Tôi lại mỉm cười và lắc đầu. Trong hoàn cảnh này đâu có hứng thú gì mà ca hát.
Tôi có đọc nhiều thư của các bạn được thả về trước viết vào nói là trên chuyến tầu về Nam rất là vui và họ đã hát hò suốt dọc đường và các hành khách trên xe đều tán thưởng và tặng thêm các bánh trái nữa. Nhưng trong hoàn cảnh bây giờ chúng tôi vẫn còn trong tình trạng mất tự do và trong đầu tôi còn bao nhiêu là phân vân cho bước đường sắp đến.
Sau hai đêm và ba ngày thì cuối cùng thì đoàn tầu cũng đến được nơi dừng chân. Với một đoạn đường hơn ngàn cây số mà phải mất đến ba ngày trời mới bò tới đích thì đủ biết con tầu này thuộc loại già nua như thế nào. Tôi tính vận tốc trung bình của nó không hơn vận tốc của xe đạp là bao nhiêu. Có thể nó đã từ thời Pháp để lại và tu sửa tân trang chút ít rồi đưa vào hoạt động.
Vừa bước chân xuống sân ga thì tôi thấy một dẫy xe đang chờ và chỉ biết một điều là mình đang ở trong miền Nam.
Chúng tôi lại lục tục leo lên và các xe này chay bon bon trên đường nhựa mà tôi đoán là Quốc lộ số Một để đến nơi nào chúng tôi cũng không biết.
Tôi ngồi dựa vào lưng ghế, tay phải vẫn còng vào tay trái anh hai Hầu và nhắm mắt lại tìm giấc ngủ, đến đâu thì tính đến đó, con người ta đều có số mệnh lo nhiều cũng chẳng được.
Đoàn xe rời quốc lộ và chạy vào con đường đất đá một đoạn khá xa rồi mới rẽ vào môt con đường lát toàn đá vụn, hai bên đường là những hàng cây cao vút như muốn che rợp cả bầu trời, nhưng nhìn xuyên qua những hàng cây ấy thì thấy phía sau là cả một khu rừng toàn lá Buông.
Khoảng nửa tiếng chạy trên con đường lát đá với hai hàng cây cao vút đó thì chúng tôi đến khu vực trại giam.
Chúng tôi đã đến trại Hàm Tân trong tỉnh Bình Thuận- là điểm dừng chân cho những người tù cuối cùng sau ba ngày di chuyển từ Bắc vào Nam.
Khoảng hai tuần lễ sau khi Phượng đến thăm tôi hôm ấy thì tôi nhận được bức thư nàng gửi vào. Đây là bức thư thứ hai mà tôi nhận được qua ngã thăm nuôi nhờ các chị đem dùm.
Nàng viết cho tôi nhiều thư và thường khi đến thăm thì Phượng đưa luôn cho tôi đọc cho tiện việc sổ sách, chỉ có hai lần đặc biệt này là nàng gửi đi mà thôi.Tôi còn nhớ rất rõ bức thứ thứ nhất đã làm cho tôi vừa cảm động vừa biết ơn nàng đã cho tôi hay nhiều tin tức bên ngoài.
Lá thư đó viết trên hơn hai trang giấy học trò, trong thư có đoạn:
“Sàigòn ngày…tháng…
Anh yêu,
Chữ em không được đẹp anh ráng đọc nghe. Em về đến Sàigòn là lao vào kiếm tiền nhưng vẫn luôn nhớ anh. Tối nay nằm viết thư cho anh bên ngọn đèn dầu vì khu vực Quận Tám của em trong kế hoạch cúp điện.
Thời gian ở bên anh tuy ngắn ngủi nhưng để lại trong em một tình cảm khó mà quên được có thể rằng vì anh và em đồng cảnh ngộ là những người đang cô đơn và thiếu tình yêu.
Khi mới gập anh nghe anh nói người vợ không còn đến thăm anh nữa thì trong lòng em tự dưng bồi hồi thương cảm và bỗng dưng muốn thay thế người ấy để đem lại cho anh niềm vui không biết có được không.
Những trường hợp như anh nhiều lắm, anh đừng buồn vì không phải chỉ rơi vào mình anh. Em nghĩ rằng những gì thiệt thòi nhất vẫn là những người như anh, sau cuộc chiến còn ở lại và phải vào trong tù chịu bao nhiêu là tủi nhục mà gia đình còn tan vỡ.
Bên ngoài thiên hạ vẫn sống, có người còn nhớ đến các anh nhưng có lẽ nhiều nhất vẫn là gia đình.
Vũ trường bây giờ được phép mở cửa và những người có tiền, đa số là của chế độ mới này thì bắt đầu ăn chơi thâu đêm suốt sáng.
Hôm nọ, các bạn em tình cờ rủ nên em có vào một vũ trường tại đây và em theo họ vào đây cho biết. Có nhiều người mời nhưng em không nhẩy bản nào cả vì em đang nghĩ đến anh, đến hai cảnh đời trái ngược.
Thật vô lý quá khi em thì ngồi ở đây thảnh thơi ấm cúng trong ánh đèn mầu mờ mờ bên cạnh những người chỉ biết một chữ là ăn chơi nhẩy nhót trong khi anh và các bạn anh, những người tù cuối cùng, thì vẫn còn đang phải lao động khổ sai trong trại giam sau mười lăm năm rồi. Niềm vui cho các anh chỉ là những giờ phút bên nhau đùa vui hút điếu thuốc dưới gốc cây Buông hay chờ gia đình lên thăm? Lúc nghĩ tới điều phi lý này, em không cầm được nước mắt nhưng dấu không cho bạn em thấy.
Anh ráng giữ sức khoe nha, em sẽ lên thăm anh ngày gần đây.
Thôi em đi ngủ
Hôn anh / Em của anh/ Phượng”
Tôi tần ngần nhìn lá thư mới nhận. Chắc phải có chuyện gì cần thiết lắm thì nàng mới lại biên thư để gửi các chị cầm tay chuyển cho tôi. Tôi xé góc phong bì ra và những dòng chữ như nhẩy múa trước mắt:
“Sàigòn ngày…tháng…
Anh yêu,
Khi anh nhận lá thư này thì có nghĩa là em sẽ không thể lên thăm anh được nữa. Anh có nhớ lá thư anh giới thiệu em về gia đình để cho em có thể thay cho gia đình lên thăm anh không?
Em có đến thăm thì Mẹ anh và hai người em út của anh vừa được đi đoàn tụ theo ODP sau 11 năm chờ đợi nhờ người anh HQ Thiếu Tá của anh bảo lãnh. Em có gập người anh thứ hai của anh và các em gái của anh đưa lá thư này thì anh ấy nói để gia đình bàn tính lại và sẽ liên lạc với em sau.
Một tuần lễ sau thì em được thư của người anh của anh nói là cám ơn em nhưng gia đình vẫn muốn đảm trách công việc thăm nuôi cho anh.
Em viết vài hàng vì hôm lên thăm anh lần cuối nhìn anh em nghẹn lời không nói được.
Sàigòn thay đổi nhiều và lòng người cũng nhiều thay đổi nhưng bây giờ người dân mới biết cái giá trị của cuộc sống cũ như thế nào sau bao năm dưới chế độ mới này.
Anh ráng giữ gìn sức khỏe vì em tin rằng ngày anh về trong niềm vui rộn ràng sẽ không còn xa.
Em của anh/ Hôn anh/ Phượng”
Tôi là con người mảnh khảnh sức khỏe không nhiều nhưng sức mạnh về tinh thần rất vững vàng nhất là sau khi sống với thầy Tâm đã dậy dỗ tôi cả năm năm trời bao nhiêu về đạo Phật cho nên tôi ít khi để cho cảnh trí bên ngoài tác động đến mình nhưng khi đọc xong lá thư của Phượng tôi thấy như sự vững vàng ấy đang lung lay và trời đất như thể quay cuồng.
Một sự thật mà không bao giờ tôi nghĩ đến là gia đình nhất là ông anh thứ hai lại can thiệp vào chuyện tình cảm của tôi. Ông ấy cũng đã từng đi tù ba năm dù không nhiều nhưng cũng phải hiểu là tình cảm trong tù cần thế nào chứ một khi người vợ đã bỏ ra đi?
Tôi không muốn Phượng vì lòng thương tôi mỗi lần lên lại tốn kém một ít cho nên mới giới thiệu nàng về gia đình.
Không ngờ! Quả thật trong đời không bao giờ chúng ta học được chữ ngờ. Một sự thật quá phũ phàng đến với tôi và tội nghiệp cho Phượng nữa.
Trong bao nhiêu năm qua gia đình là nguồn sống chính về thăm nuôi cho tôi nhưng nay nếu có thêm Phượng thì càng đỡ cho gia đình chứ nhất là khi mà đại gia đình tôi đang lần lượt ra đi theo chương trình đoàn tụ ODP.
Tại sao ông anh tôi lại không tán thành hay nghi ngờ gì thiện chí của Phượng thì tôi không thể hiểu được.
Mấy người bạn thân của tôi như Thụy, Trân, Nhơn, anh Hầu, bầu Ngọc, anh Hùng, đều đến hỏi thăm tôi nhưng tôi dấu lá thư đi và chỉ thuật lại vắn tắt những gì đã xẩy ra, và các bạn tôi thẩy đều nói là không đồng ý và rất bất mãn với sự quyết định can thiệp như vậy của ông anh thứ hai của tôi vào chuyện này.
Dầu sao tôi vẫn đang ở trong tù và đang phải nhờ vào gia đình nên không làm gì khác hơn là viết thư về lần nữa cho ông anh và các em để giải thích là tôi rất cần Phượng trong lúc này; và viết thư an ủi Phượng ráng chờ tôi giải tỏa vần đề hiểu lầm đó.
Những buổi chiều đi bộ trong sân trước cửa buồng, tôi thường hay trao đổi với các người bạn tù này để ngõ hầu tìm ra một phương thức nào cho ông anh này hiểu được nhưng vẫn chưa tìm ra được kế sách gì trong khi tôi thường là người sáng suốt và nhanh trí mà cũng chịu thua.
Một tháng sau, Phượng vẫn không thấy lên thăm tôi như mọi tháng trong khi đó thì vợ chồng em gái kế tôi lên để chào tôi vì đã qua được cuộc phỏng vấn của phái đoàn Mỹ trước khi hai vợ chồng lên máy bay qua Hoa Kỳ.
Lần nay lên thăm có hai đứa cháu gái con anh Cả tôi từ Bình Dương nữa. Cu Thắng nhỏ nhất thì ở nhà với Mẹ cháu, hai cháu Thoa và Thảo thì đến trại để chào tôi vì rất là may mắn vợ con của anh Cả tôi đã được phái đoàn Hoa Kỳ phỏng vấn chấp thuận cho đi theo “diện” H.O tỵ nạn dù là anh cả tôi đi tù về và mất tại nhà.
Ai cũng nói là anh Cả tôi linh thiêng nên phù hộ cho vợ con anh ra đi định cư thật là tốt đẹp.
Một vài gia đình bạn tôi rơi vào trường hợp tương tự là người cha được tha về một thời gian rồi mất ngoài trại giam cũng hỏi tôi để giúp cho họ, nhưng chính tôi cũng không hiểu sao vợ con anh Cả tôi lại đi theo chương trình H.O được nữa.
Hôm đó tôi được ở lại ngoài khu nhà tranh với vợ chồng cô em gái và mấy đứa cháu. Cậu em rể có dịp trổ tài nấu nướng một bữa nhưng tôi ăn không ngon miệng chút nào vì hình ảnh của Phượng cứ lởn vởn trong đầu tôi như một bài toán mà tôi chưa tìm ra lời giải đáp.
Tôi có hỏi tại sao gia đình lại cản trở việc Phượng đến thăm tôi thì hai vợ chồng đều nói tất cả là ý kiến ông anh thứ hai hết. Thế là lại đi vào bế tắc vì chả hiểu sao từ ngày tôi di chuyển vào Nam thì ông anh thứ hai này chưa hề đến trại thăm tôi lần nào.
Sau bữa ăn chiều thì tôi đi thả bộ với hai đứa cháu gái dọc theo con suối để qua thăm mấy anh bạn có vợ đến và cũng ở lại đêm đó.
Em tôi có đem theo cây đàn ghi ta nên tôi định rủ mấy vợ chồng bạn qua chơi làm văn nghệ bỏ túi cho đỡ buồn thì tình cờ tôi đi ngang qua chiếc ghế đá mà lần trước tôi và Phượng ngồi với nhau rât lâu lần cuối bên bờ suối này. Tôi bảo hai cháu dừng lại một chút rồi ngồi xuống chiếc ghế đá, hai đứa ngồi hai bên nắm lấy tay chú.
Tôi mường tượng như tiếng nói của Phượng như còn văng vẳng đâu đây, những sợi tóc lòa xòa bay qua vai tôi hôm nào, bất giác tôi buông tiếng thở dài. Hai đứa cháu nhìn tôi rồi nói:
-“Chú chắc cũng sắp được tha về rồi chú à! Chú đừng buồn nữa.”
-“Cháu qua đó sẽ gửi nhiều ảnh đẹp về cho chú nha!”
Tôi nắm lấy hai tay hai đứa cháu đứng dậy cố gượng vui:
-“Ừ qua đó nhớ gửi hình về cho chú nhưng phải cố học cho thật giỏi nhe!”
Hai đứa cùng dạ và tung tăng chạy trước, tôi lững thững theo sau những bước chân vô hồn trên con đường tình của tôi và Phượng.
Phượng ơi! Em có biết giờ này anh đang nghĩ đến em không?
Bao giờ anh về thì anh sẽ ghé lại nhà thăm em ngay.
Nhưng giờ này thì em đâu rồi? Để lại cho anh nhiều trống vắng và niềm thương nhớ khôn nguôi.
Các căn nhà tranh có người ở thì giờ đều đã lên đèn, một ánh sáng vàng vọt chiếu hắt ra con đường phía trước.
Bên kia chiếc cầu là căng tin nơi tôi và Phượng đã nhiều lần ngồi uống nước với nhau để chờ xe đò, xa hơn nữa là con đường lộ liên tỉnh chạy xuôi về Sàigòn nơi có người con gái tên Phượng mà tôi đang thầm thương nhớ.
Mỗi thế hệ đều sanh ra lớp người của thế hệ ấy, xấu có tốt có không nên quơ đũa cá nắm. Công chức đời Tây, không phái là hoàn toàn hư tệ, lại tôi là người chi mà dám phê bình người đồng một thế hệ với tôi?
Duy kể về bức bối, tôi thấy ông nầy có lẽ làm điển hình được.
Ông là người duy nhứt ở toà bố Sa Đéc nói trọ trẹ khó nghe, người ta thấy ông hút thuốc lào nặng, nên nói ông ở Huế vào đây, nhưng tôi không rõ cho lắm, duy biết trước kia ông có đi lính cho Pháp, có sang Pháp làm thông dịch viên cho đạo binh lính thợ không chuyên môn, Pháp gọi ouvriers non spécialisés, viết tắt O N.S, là vì lính nầy đội cát-két giống mồng chim chào mào, nên được tặng là lính chào mào nổi danh là vô kỷ luật, giỏi tài ăn quịt nói phét, mỗi mỗi bắt chước lính Tây: giựt tiền của gái làng chơi, mà không có cái gì xấu mà họ chừa, vì ỷ mình có sự ủng hộ ngầm của quan thầy Tây mà họ là tôi trung thành từng giúp một tay làm việc nặng nề như khiêng vác trong trận giặc đệ nhứt thế chiến bên Âu châu (1914-1918), khi đám giặc nầy tàn, họ vỗ ngực xưng đã từng chống giặc Đức giúp Pháp giữ an bờ cõi.
Để thưởng công, ông nầy được cho nhập ngạch thơ ký soái phủ Nam Kỳ (secrétaires du gouvernement de la Cochinchine) và bổ nhiệm ông về toà bố Sa Đéc, lối năm 1932. Ông người cao ốm, trạc tứ tuần, có vợ là người rừng Nam, bà nấy nhan sắc tầm thường nhưng có vốn liếng khá, chuyên nghề cho vay đặt nợ, khi đến Sa Đéc vợ chồng mướn phố ông thầy thuỷ Ngỡi, nơi đường Vĩnh Phước, gần chợ Tân Phú Đông.
Ông ưa hoang hoác khoe từng nếm cơm đủ ba xứ Nam Trung Bắc, gặm bánh mì sơn đá, và có công trả thù mẫu quốc ngủ với đầm, làm cha Tây! Mấy bữa tiệc đám rượu vào, ông khoe gái đầm không khó, có tiền cho là được, chúng cả gan mạo hiểm, mấy ngày lính nghỉ lễ, chúng đi xe đạp ôm chăn nệm ra hành nghề rước khách đủ màu da, bụi cây xó hóc nhà sụp đổ gì cũng trối kệ miễn thù lao sòng phẳng, một bao thuốc lá hay một khúc bánh mì nguội cũng xong! Và có lệ, hằng đôi ba tháng để giữ vệ sinh cho quân lính, thầy đội Tây đưa tính lừng ê kíp vài chục đứa, cho phép đi thám hiểm gái bọt đền (bordel), nơi đây tồi tàn lắm, xem người như súc vật hay như cái máy, bất ngồi xếp hàng hai ngoài cửa, tới phiên có súp lê (sifflet) là kéo vào, nhảy lên bàn có gái nằm chờ, một tiếng súp lê khác là nhảy xuống, như chưa xổ nục kịp và nếu sẵn tiền, thì ra ngoài lo lót mua phiên của thằng túng tiền để vào nhảy kỳ nhì, nhưng việc ti tiện ấy ông cũng đã trải và kể ra không ngượng miệng.
Ngày thường ông ít giao thiệp với anh em trong sở, nên chúng tôi cũng ít biết hành tung của ông ta. Thân chủ của ông là các tay bắt mồi, mấy hương chức xấu nết, chuyên đục khoét giữa đám dân trôi nổi cần có một bài thuế thân hợp lệ để khỏi bị lính tráng làm khó, số tiền lo lót họ không kể là hối lộ và xem là tiền mua bổn mạng như tiền cúng tà ma quỷ sứ.
Đổi về Sa Đéc được năm sáu tháng, một buổi chiều ông ta mới tôi về nhà lấy cớ bà phán vốn người đồng hương quê ở Sốc Trăng như tôi. Tôi vị bụng theo ông về nhà, trà nước tử tế, bà phán ra nói năm ba câu chuyện bâng quơ, việc nhìn bà con xem như bất thành, tôi từ giã ra về. Dè đâu cách ba tháng sau, một bữa đầu tháng tôi đang ngồi gần kết bạc phát lương cho các giáo chức tụ hội rất đông, bỗng thấy bà phán tay xách dù, xâm xâm bước vào phòng bút toán, không chào không hỏi, nói xán xả: “Thầy hỏi tiền tôi mà đã hai tháng không trả xu nào. Bữa nay nếu thầy không trải tôi sẽ đi thưa ông chánh!”.
Trời đất ôi! Tôi mượn tiền hồi nào? Tôi chưa biết ất giáp gì, bỗng ông phán Q., từ văn phòng phó tham biện chạy ra, lôi tay bà phán ra ngoài, nói gì với nhau nho nhỏ, bà ta ra về. Ông trở vô năn nỉ tôi rằng “việc không có gì quan trọng, xin tôi bỏ qua cho. Việc gia đạo của ông, để cho ông xử!”.
Trong lúc tức giận vì mất mặt tôi lớn tiếng phân bua, nhưng ông chịu tội hết, phần tôi mấy lo phát lương nên cũng tạm gác chuyện đó qua một bên. Sau rõ lại, bữa đưa tôi về nhà là ông lập kế dối vợ rằng tôi là người đi hỏi bạc góp, cần vay hai trăm sẽ trả làm mười tháng mỗi tháng hai mươi bốn đồng, chỗ nầy chắc ăn vì thầy làm thơ ký phát lương, có chạy đi đâu mà sợ, mà thầy là người hay mắc cỡ, nên không nói; như mình có tiền hãy đưa tôi trao lại cho thầy, rỗi mỗi tháng tôi chịu khó nhận tiền nơi thầy đem về cho mình, trong mười tháng là thu đủ vốn và lời răn rắt hai trăm bốn chục đồng, sướng quá?
Bà phán nghe bùi tai lòi tiền, ông phán ta đem đổ sông đổ biển đâu không biết, tháng đầu ông trao bà hai mươi bốn đồng y hẹn, qua hai tháng sau không thấy nữa nên bà xách dù đi tìm tôi là vì vậy. Mánh lới ấy không biết ngày nay các cán bộ tân thời có biết dùng chăng, chớ trước đây công chức đời Pháp thuộc thỉnh thoảng vẫn mượn để qua cơn túng ngặt, bất chấp đã phạm hai lỗi nặng; gạt vợ để có tiền, gạt bạn và bán đứng bạn, không kể gì chữ tín.
Chuyện ông mượn tôi kê nề để có tiền xài rồi cũng bỏ qua. Duy cái cách ông bắt vợ lớn cưới vợ bé cho Ông mới là xuất quỷ nhập thần:
Ông có quen với một cô nhỏ học trò lớp nhứt trường tỉnh, hai người đã khăng khít nhau lắm. Ông muốn đem về cho thêm gần gũi và đỡ tốn, nhưng còn sợ oai bà xã. Một hôm chúa nhựt, ăn cơm rồi ông ngồi ghế xích đu đọc nhựt trình, bà ngồi ván ngựa dang soạn áo quần để vá. Bỗng ông nói tỉnh bơ: “Ở Chợ Cồn mới có một ông thầy bói ở đâu lại, thiên hạ đua nhau tranh tới nhờ ông coi quẻ, tiếng nổi như cồn. Như mình muốn biết tài, tôi đưa mình đi xem, nhưng riêng tôi, tôi cho mình biết trước là tôi không bao giờ tin lời thầy bói”.
Bà phán nghe nửa úp nửa mở, sẵn tánh mê tín, giục ông đưa bà đến nhà. Mấy người chờ xem đều nhường cho hai ông bà coi trước.
Lão ta nói cái gì đều trúng cái nấy, nhà bà có gì kín ông đều biết, vách nứt trong buồng, cột nhà bếp có mấy cái mắt gỗ, ông nói trúng phong phục, bà phục lăn, không biết đó là do một sự cò máy, đức phu quân đã mách trước lão bốc sư. Hết việc bói rồi day qua việc coi chỉ tay. Ông phán đòi về, vì hiện còn nhiều người chờ tới phiên, nhưng bà đã mê trận và xin nán lại coi giùm chỉ tay và gia đạo. Bốc sư chụp tay ông coi trước, khen ông có ngươi vợ nhu thuận và riêng ông có số đào hoa nhưng sự nghiệp của ông đều do bà xây dựng, tuy vậy không có ông thì sự nghiệp ấy cũng khó cầm vì ông có tay giữ của? Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn, nhưng dầu ông làm phật ý bà phải rán nhịn nhục thì tai qua nạn khỏi không sao. Xem cho ông xong rồi day qua xem cho bà.
Bốc sư khen bà tướng tốt phúc đức song toàn, bỗng ông chắt lưỡi nói chỉ tiếc lằn sanh đạo của bà đức đoạn, thêm lằn hào phu thê của ông cũng đứt, hai chỗ nầy phù hợp, năm nay tháng bảy là hung nhiều kiết ít, e bà qua không khỏi. Và tháng nầy là tháng năm, bà khá đề phòng. Nói đến đó rồi bốc sư xếp tay bà lại chắt lưỡi than dài. Bà nghe sợ hỏi phăng bốc sư có cách nào giải nguy.
Bốc sư bàn hay là số bà như vậy, nên dùng cách thế tử, cho ông phán cưới vợ bé, lựa tuổi mười bảy tuổi thân ở hướng đông nam, con ấy vô tới tháng đó sẽ chết thay cho bà và bà sẽ bình yên vô sự vui hưởng đến già.
Bà day qua dò ý kiến chồng, nhưng ông phán giấy nẩy, rầy sơ bốc sư rằng không biết ý bà phán hay ghen, ép ông có vợ bé chi cho khỏi hư hại gia cáng, một vợ ông cân chịu không nổi, bày chi vợ bé vợ mọn, sống chết có mạng, hơi đâu lo xa, bói ra ma quét nhà ra rác?
Ra về bà phải năn nỉ ông suốt mấy hôm, thúc giục ông lắm ông mới siêu lòng sau khi đưa điều kiện bất buộc bà không được ghen và ông để mặc bà trầu cau cậy mai mối cưới con nhỏ tuổi thân mà ông đã quen từ trước, hết tháng bảy qua tháng tám, rồi tết đến, rồi sang xuân, con nhỏ có bụng., không thấy ai chết cả, bà kêu trời mà không dám kêu lớn, lúc ấy tôi đã đổi về Sốc Trăng, nơi quê cha mẹ, mục kích một ông phán khác cũng đi Tây về, chắp nối với bà quan năm Tây mà ông từng làm thông ngôn nhà ông có treo một cây roi mây, mỗi lần bà đánh, ông vẫn la “chết mầy chưa” và lỗi xóm đều khen ông phán H, rất dữ dám đánh bà trị bà, mỗi khi bà có lỗi.
Công chức lớp xưa không phải đều như hai ông nầy nhưng điển hình tôi biết hai ông đó.
Ăn Thịt Bò Giá Tréo Ở Đất Sét – Nhớ Thái Viêm Lợi (Hội Đồng Lý).
Tôi nhớ cố nhân thì nay ông đã không còn. Tôi không muôn viết tên các cố nhân từng quen biết và thích nhau, vì có người nói e đụng chạm tới người sống. Duy tôi muốn nhắc nhưng ân nhân của tôi, và con người như sau bây giờ dẫu đốt đuối vẫn kiếm không ra.
Năm 1928, tôi đổi về làm phát ngân viên tỉnh Sa Đức. Cố nhân lúc ấy làm nghị viên địa hạt, Pháp gọi conseiller provincial hoặc conseiller de province, không có lương, duy mỗi năm có hoi hai kỳ bàn cãi sổ công nho hay việc gì trọng hệ, thì có cấp tiền hiện hữu, mỗi ngày có mặt là mấy chục đồng bạc, có ông chờ để lãnh, ông khác “túa kha” (đại ca) cho lại nhân viên toà bố. Nhà ông ở làng Mỹ An Hưng, nôm na gọi Đất Sét ông là người Minh Hương nhưng nói tiếng Việt rất sành, họ Thái, cao lớn dềnh dàng, đầu hớt tóc ngắn chải dựng đứng kiểu bàn chải tắm ngựa, làm cho vóc người thấy thêm cao. Luôn luôn có một nụ cười trên môi. Khi nào xuống chợ Sa Đéc, ông ngồi xe Hotchkiss mui trần, xe lên cầu sắt ván dội rầm rầm tiếng kèn xe quen làm cho anh em cửu cá trong toà bố mừng như trúng số nhỏ.
Tánh ông khí khái càng cường ưa tế khốn phò nguy, điều tôi phục nhứt là ông giúp ai ít cho người ấy biết. Tánh ông lại rất ngọt, em út ăn sương mến ông và hằng đeo theo ông, đứa nào cũng giành gọi “Ba, ba” ngọt xớt. Ông vuốt đầu mỗi đứa, miễn cười với ông là có tiền lì xì, nếu ông vuốt má thì lì xì càng hậu, nếu ông vỗ, khều hay đập tay nhẹ nhẹ vào chỗ bàn toạ tròn tròn của đứa nào thì miệng ông vừa cười vừa xin lỗi vừa móc bóp lấy ra một tờ giấy con công (năm đồng bạc thuở đó) dán vào mỗi và cấm không cho cám ơn một tiếng nào.
Tỉnh Sa Đéc tuy chu vỉ nhỏ bé hơn các tỉnh khác của miền Nam nhưng đặc sắc xinh tươi rất xứng với mỹ danh người Pháp buổi trước đã tặng “le jardin de la Cochinchine” (vườn cây ăn trái của đất Nam kỳ). Ngày nay vị trí quân sự và hành chánh đã biến Sa Đéc trở nên một quận lỵ phụ thuộc hay sáp nhập với tỉnh Vĩnh Long, hay là đã phục hồi nguyên vị như trước, việc nầy cũng như việc tỉnh Bạc Liêu ra sao tôi xin miễn nghị nơi đây vì tôi đã về hưu và không theo dõi được. Bài nầy tôi chỉ muốn xoay về nếp sống dân ta và nếp phong lưu lối xưa của miền Nam mấy chục năm về trước.
Với một xứ vén khéo bao bọc bởi con sông Tiền Giang nơi hướng đông và sông Hậu Giang nơi hướng tây, bây giờ bị xén bất quận Cao Lãnh cũ để biến thành tỉnh mới Mộc Hoá, thì chu vi Sa Đéc càng được thu gọn làm một vùng ròng rặc máu Việt và dân cư càng ít lai máu Tàu máu Miên hơn các tỉnh Hậu Giang khác.
Lối năm 1927-1935, Sa Đéc nức tiếng là một tỉnh cứng cỏi dám ăn dám nói dạn dĩ nhứt ở Nam kỳ. Nhơn vật đời đó trong tỉnh gồm những người độc đáo, sức học Pháp văn rất cao, tỉ dụ ông Đốc Tràng, ông Đốc phủ Lê Quang Hiền, nho học có ông Cử Võ Hoành, ông Đặng Thúc Liêng, khí khái xã giao rộng có bác sĩ Phạm Văn Ngời, ăn chơi tài tử thì có hội đồng Hồ Quang Cảnh, và ông nghị viên Thái cố nhân mà tôi mến tiếc nhắc lại bằng bài nầy. Tôi miễn kể những nhân vật khác như ông Huỳnh Thuận sanh ra cậu Huỳnh Thuỷ Lê, như Nguyễn Văn Thắng làm xã trưởng được phong huyện hàm, dám ăn chơi và vì có một bốp phơi lớn hơn của bất cứ ai nên chúng tôi tặng riêng là ông huyện “Nóp”, cũng người xứ Đất Sét. Đặc biệt là các nhà nầy đều nấu ăn khéo léo; mỗi nhà ngon hay mỗi cách. Như muốn thưởng thức món heo con đút lò thì chỉ cụ bị nước đá rồi ghé lò gạch hội đồng Cảnh ở mé sông cái, đường lộ Sa Đéc xuống bến đò Mỹ Thuận. Tính coi heo cúi thuở ấy giá con rẻ hơn con gà con vịt đời nay. Một con heo sữa (cochon de lait), nhắc đến bất thèm chảy nước miếng, một con vừa sức ăn của ba bốn người mạnh ăn mà giá chưa đến ba đồng bạc (3$00) đời ấy, con nào ngon lành và đã trông giá bốn đồng ngoài là cùng. Cũng thời ấy, một đĩa lớn tại nhà hàng danh tiếng Sài Gòn là nhà Yeng Yeng, một miếng thịt heo con bằng ba ngón tay dọn với rau cách xon (cresson) và quay theo điệu ma ni, Phi Luật Tân gọi là “la Manille”, ngon hết cỡ mà giá chỉ có bốn cắc bạc (0$40)! Nhưng ông hội đồng Cảnh Sa Đéc còn có cách cho mình ăn một món heo quay còn ngon hơn nữa. Số là mỗi lần hầm ruột lò gạch, khi đến kỳ dứt chụm lửa vì gạch đã chín gần lấy ra khỏi lò được, khi ấy ông ngồi xe nhà Hotchkiss chạy lại toà bố rủ anh em cửu cá bọn tôi đến tận lò gạch thưởng thức món heo quay đặc biệt nầy. Môi lần như vậy tôi biết chắc sẽ cúng lót đường, sẽ thua thín cẩu ít nữa là đôi ba chục bạc nhưng tôi không bao giờ tiếc tiền để phải nhịn một thú ăn chơi không còn nữa. Tuỳ theo số quan khách, ông sẽ sai gia đinh làm heo sữa đúc lò (xin nhớ đây là lò gạch). Trước tiên ông bày tiệc rượu khai vị, luôn luôn sang trọng và đúng mốt thuở ấy là rượu cognac Martell pha với nước có hơi bọt hiệu Perrier, ly thật đúng độ một công-xio-ma-xiông (consommation), cục nước đá cho thật trong và thật lớn lâu tan, nên nhớ lúc ấy máy lạnh frigidaire chưa có nhiều và cũng chưa có điện để mà xài cho đủ. Mỗi bàn có bốn thực khách thì ông phòng hờ nguyên một con heo sữa, heo cạo gọt sạch lông rồi, mổ bụng lấy đồ lòng để riêng khuya nấu cháo, sắp heo lên đĩa bàn hột xoài (hình bầu dục) đặt lên mâm cây kiểu Tàu hình chữ Nhựt, xong rồi sai trẻ lập thế thần dùng ván để mâm heo lên, cho mâm chun tót vào giữa lò gạch còn nóng rồi để ván và mâm lại đó, xong xuôi rồi bít cửa lò lại thật kín, để như vậy day qua trò tiêu khiển khác. Trong khi hơi nóng còn lại của lò chờ lấy gạch ra, “luyện” mấy con heo sữa, biến lớp da non thành món ăn giòn khứu, và biến các giò cẳng móng thành những món nhăm nhi giòn rum và biến thịt heo tơ thành thức ăn ngọt lịm thơm phưng phức thơm mùi ngũ vị hương pha với mùi tàu hủ đỏ và chao đỏ của các chú Ba Tàu sành đời. Tôm đã tươi đang nhảy soi sói, con nào con nấy xách nặng tay, gạch đầy đầu, cắn vào miệng béo vô song, thêm được gió đồng thổi lai rai, lại nữa giá rẻ ôi là rẻ, ngày nay nhắc lại y như là nói dóc.
Thái cố nhân mời ăn tôm trên ruộng nổi nước thì phải biết: Bữa lên Đất Sét chúng tôi đi hai xe: chất chồng gần hai chục lạng, toàn là bợm “phá của” tức bọn mạnh ăn, giỏi tài nuốt sạch đĩa mà không biết nhậu, rất thú nghịch với bợm ve chai “ăn thì ít mà nốc như hũ chìm”, mải ham nói mà quên đĩa và tô đã bị bọn kia vét ráo. Như đã nói, vì chưa ăn bò giá tréo, nên Thái huynh không đưa chúng tôi về nhà, và dành buổi viếng Thái gia trang vào một dịp khác.
Hôm ấy, Thái viên ngoại cho kết ba bè ghe tam bản, cứ hai chiếc kết làm một bè, trên có thả ván dày rút trong lẫm lúa hay dùng làm mặt bè thật bằng phẳng ước sức khiêu vũ trên ấy còn được ba đoàn ghe đậu làm ba điểm hình tam giác, đoàn thứ nhứt có trải chiếu dành cho các tài tử hoà nhạc và ca các bài cải lương trữ tình, thật du dương; đoàn thứ nhì gần đoàn trước trên mặt ván gỗ có để hai bàn vuông có đèn khí đá treo sáng rực và đây là đại bản doanh của tám tay thiên cửu mặc tình “tung thiên” hay “tiêu con sám cấy”.
Một đoàn thứ ba đóng đô một nơi khuất tịch tuy vẫn tham gia cuộc chơi nhau đây là tiểu địa ngục dành cho khách muốn “bắt cặp” tách rời ra bằng xuồng để thám hiểm Thiên thai, vì trên hai xe chúng tôi vẫn có nữ tiên Chợ Cồn tháp tùng, và đoàn tam bản thứ ba nầy chúng tôi đặt là nơi dành làm thi phú và chỗ đi tìm vần khó. Ngoài xa và chung quanh ba đoàn nầy, dăng dăng theo bờ mẫu ruộng, thấy làm đốm những sao, xem kỹ lại đó là đoàn thuyền con của điền phu biến làm ngư phủ, đua nhau câu tôm để hiến cho chúng tôi thường thức. Thuyền nào câu được khá nhiều thì đánh một hồi chuông “thùng thiếc” ra hiệu. Chúng thuỷ thủ của ba bè tam bản đoàn nào lẹ tay thì chống ghe bè lại đó lấy tôm về, đoàn nào chậm lụt thì rán chờ dịp khác. Trên mỗi thuyền kết bè đều có sắp đặt sẵn, nào lò lửa để nướng tôm, nào rau sống cả mấy rổ lớn, nào bánh tráng, bánh đa cả mấy chồng, có thứ để khô có thứ nhúng nước sẵn để quan khách dùng tuỳ sở thích. Về nước chấm có đủ mấy thứ: thứ nước mắm nhỉ Phú Quốc gọi nước mắm hòn, thứ tương Tàu, thứ tương ta, cái thứ tương đặc biệt chuyên môn của nhà anh Tám Hoài trình bày ra đây, làm bằng tương Tàu pha chế với cháo nấu bằng khoai môn để dành chấm chạo tôm và nem nướng, có thứ thật cay và thứ không giằm ớt, cho tới ngày nay tôi chưa gặp một bữa tiệc vui và chu đáo đến bực nầy. Mặc khách mặc chủ đua nhau giành giựt tôm còn nhảy soi sói rồi tự mình nướng lấy mà ăn, người nào xấu chứng đói thì tự chống thuyền đi tranh đấu tôm tươi của những xuồng vừa câu được, kẻ nào làm mặt quân tử đợi chúng dâng tới miệng thì hãy chịu khó ngồi cười gượng nuốt nước bọt ngó người khác ăn, nhưng đói quá họ cũng làm càn, thét rồi cũng ra tay giành giựt như ai mới đủ no, quên mình ban nãy còn là dân chi phụ mẫu mà nay trong cảnh đồng vắng đêm thanh đã lộ nguyên hình là Trư Bát Giới trong Tây Du đang đùa giỡn, xa bà xã, với mấy con nhện quê ở Chợ Cồn và ở ngã ba đường Vĩnh Long nơi quán mồ côi Ba Chỉ! Thiệt là một bữa cơm tập thể bình dân răn đời: “Làm cách sạch ruột làm chuột no lòng!”.
Tôi đã nói ngày nay tôi còn mến Sa Đéc vì chẳng biết sao từ ấy đến nay tôi ăn tôm nướng đã nhiều nơi nhưng chưa gặp nơi na 0 chế nước mẫm chấm ngon như ở Sa Đéc.
Tôi đã nói tôi còn nhớ mãi tỉnh nhỏ Sa Đéc thân yêu, vì tôi có cảm tình nhiều với xứ nầy là nơi tôi đầu quân sau khi làm sáu năm nơi Trường Máy Sài Gòn, và một lẽ là vì tánh tham ăn thức ngon mà Sa Đéc có nhiều:
a) Món lạ miệng là nem nướng chay làm bằng chuối chát thể cho thịt heo nhưng khi tương chấm thật ngon thì món nem nương chay nầy có thua gì nem nướng Huế. Tôi từng nếm nón nầy tai nhà thầy cai cố đại nhơn Lê Văn Kinh cựu cai tổng (Cả bè cạn) An Thạnh hạ, và mỗi lần nhớ gia quyến nầy là nhớ các bạn cũ: Lê Văn Chiếu, Trương Tấn Ngân,
b) Món ăn dễ làm, chỉ cần có tép thật tươi thì đủ ngon là gỏi cuốn bánh tráng, nhưng gỏi cuốn nhà anh Hồ Vằn Thông, ngoài gọi anh Năm Chuột, làm xếp quản đốc phu lực lộ Trường liền nên cũng gọi đốc công Chuột, gỏi cuốn nầy thì tuyệt. Anh Năm cố nhân là người tốt, tánh tình vui vẻ, miệng ăn trầu tít toét khi nói tiếu lâm phun nước miếng phèo phèo; nhà anh Năm ở ngay sân chợ Tân Quy Đông, ba căn trệt là nơi lụ hội ngày đêm của bọn nầy, khi thín cẩu khi nhậu nhẹt. Anh Năm cố nhân cho tôi mượn tiền, giúp đỡ ngặt nhưng tôi nhớ như chén cơm Phiếu mẫu,
c) Món ăn đặc biệt làm bằng tôm quết thành chạo bó mía nướng và một món gỏi tôm gọi tôm bóp thấu, thì tôi dám chắc, không đâu ngon bằng nhà anh Hồ Văn Hoài, nay còn mạnh khỏe nhưng đã già lắm, trên tám mươi, ngoài gọi Phán Hoài, Tám Hoài thuộc vọng tộc họ Hồ ở Sa Đéc cố cựu.
Con bê tơ được thui vàng lườm và hiện đang được lăn tròn trên một ống trục sắt quây vòng vòng trên lửa than cháy riu riu, hai đầu cây trục đặt trên bốn cây tre đòn đặt giá tréo hai cây mỗi đầu, nên gọi “bò giá treo”. Chất mỡ béo của con bê rơi xèo xèo xuống than hồng làm chúng tôi tỉnh hồn lại. Mùi ngũ vị hương và mỡ khoét phất vào mũi từng luồng gió làm cho quan khách tỉnh minh thêm, ai sao mình vậy, tuy bước không mấy vững, nhưng thấy con bò thui đang nóng, kế bên có để sẵn dao thớt, thì làm thế nào, cũng phải lết cho tới đó làm một mách cho được mới nghe? Ai thích ăn sống cho thêm bổ, sống vừa vừa hay ăn thật chín thì tuỳ ý cứ lựa chỗ nào mình thích, lấy dao thẻo cắt thịt tại chỗ. Nhưng chưa ăn được. Khổ một điều là nước mắm chấm lại để nơi góc xa đằng kia, ai gấp muốn ngốn thịt lạt lẽo thì cứ việc; bằng muốn ăn mặn mòi thú vị thì lại phải cất bước đi theo đường do viên ngoại qua cầu khập khiễng và rán đi tới chỗ có nước mắm nêm tỏi ớt hay nước mắm hòn có cà cuống chanh thơm, hoặc nước xì dầu, muối tiêu, maggi đủ thứ. Chúng tôi khách dự tiệc, kẻ mặc âu phục, kẻ vận quốc phục, mấy ông quản và cai đội lon ton toà bố thì mặc quân phục ka ki vàng, đều được dặn trước phải giữ làm sao đi cho ngay ngắn, nhứt là giữ đừng té xuống nước, rủi sa chân lọt xuống mương cau, không được bỏ cuộc và phải leo lên lộ đi trở lại trên con cầu thử thách nầy, người nào bỏ cuộc sẽ được tặng là đàn bà mặc yếm, còn thua các cô đứng gác đầu cầu, và mặc ý đã thua cuộc thì hãy làm Tư Mã Ý, nhục nhã lại ngồi chờ nơi chòi bố. Nhưng đại phàm đã có rượu làm nữ, thì có ai mà chẳng lên mặt anh hùng? Ông Lai Vung mở đường dẫn đạo, theo sát chân viên ngoại là hướng lộ viên. Viên ngoại tửu lượng có thừa, lại nữa biểu diễn tại sân nhà, nên mấy đời lầm kế của ông đã sắp đặt.
Ông Lai Vung khoan thai bước đến cây cầu thứ nhất thấy có bản nhỏ đề một chữ “Đông”. Kế bên cầu một cô trẻ nhứt trong hàng bái tiên, đầu để tóc ngắn như sinh viên mới ra trường, nhoẻn miệng cười duyên và lấy kẹp sắt gắp khăn nóng hấp trong nước hoa thơm cung kính dâng lên trước mặt. Ô! Hay quá! Mặt đang hừng vì rượu, có sẵn khăn nóng rút hơi men ra bớt thì có gì sướng bằng! Ông Lai Vung miệng nở nụ cười tươi lại như buổi thanh xuân, chỉ tiếc bị mấy cái răng bịt vàng làm giảm bớt cái nho phong đạo cột. Ông với lấy khăn lau mặt lau tay rồi bệ vệ trả khăn lại cho gái, chậm rãi bước qua cầu trót lọt. Qua tới đầu câu bên kia hiện ra một nàng tiên đẹp không thua nàng trước, tay cầm trống nhỏ gióng lên ba tiếng thanh thanh, báo tin cho hai vị tiên nơi cầu kế đó dự bị đón tiếp những chàng Lưu Nguyễn. Cầu nầy thấy đề chữ “Bắc”, tức đi vòng tròn từ đông sang bắc. Một nàng hoa khôi duyên dáng chực sẵn trao cho khách một ly nhỏ Cognac séc thưởng công đi ngay ngắn, hé miệng cười duyên mời quân tử cạn bôi. Không uống sợ mất lòng, rán uống mà thuyền tình đã chở đầy rượu mạnh. Khách uống rồi tiên bên kia thâu ly lại trả về bên nầy như cũ: miệng chúc câu “Quý nhơn thượng lộ bình an”. Thấy cách tiếp đãi thanh nhã như thế chúng tôi đi đàng sau càng nôn trong bụng, trông mau đến phiên mình khều một cái, thưởng thức chung rượu cô gái đẹp dâng đến tận môi. Ông Lai Vung bước đến đầu cầu thứ ba chữ “tây” để trước mặt. Nơi đây có một cô tuổi độ đôi mươi, cổ tay tròn nhượng chỉ, với lựa trên bàn một miếng bánh tráng, một mớ rau thơm, lễ phép dâng trước mặt, liếc mắt đưa tình như mời mọc: “Xin quan hãy đi lại gần con bê! Xin quan tự lựa lấy miếng nào quan thích, cắt lấy và tự mình thưởng thức, chúc quan ngon miệng!”. Nhưng ăn thưởng sao được vì chưa có nước mắm chầm kia mà! Ông Lai Vung sấn bước đến ải chót là cầu hướng “Nam” nơi trấn thủ của cô Mười Cự, nữ tiên chúa đông. Cự tiên cô vì cầm đầu nên giữ phần chủ chốt, quốc tuý là nước mắm, không có để chấm thì miếng thịt lạt lẽo nuốt sao vô? Nhưng khỏi lo, ở đây như đã nói, có đủ thứ nước chấm từ mắm nêm thơm ngọt đến nước mắm hòn đặc biệt. Rồi trở lại Đông kiều số một, có nước hoa rửa tay, có khăn thơm lau miệng, rồi qua Bắc kiều lấy rượu, qua tây kiều nhận thịt, qua Nam kiều chấm vào nước mắm, thưởng diệc món thịt bò giá tréo! Như con rắn cấn đuôi, khách và chủ đánh trận đàng xà được ba vòng vô sự, người nào người nấy đều hân hoan, cao hứng đến tột độ, cười nói như bấp rang, cả thảy đều khen ông viên ngoại có một sáng kiến mới mẻ, và đãi ăn cách nầy, dẫu có té xuống nước dẫu bị tiên cô lấy nhánh huệ thưởng đòn cũng sướng! Vừa nghĩ thầm đến đó, bỗng nghe một tiếng bõm, day lại xem, té ra đội hầu cận ông Chánh tên gọi Quản Tiên, đã thạo xái (khởi đầu), trượt chân xuống ao sen. Cả đoàn đều dừng lại cười rộ, chờ bác quản leo lên, thối bộ lại đầu cầu, cô gái, quên tiên cô nhỏ, quỳ xuống lấy khăn sạch lau giày, vuốt y phục lại ngay ngắn, ông quản không lộ vẻ giận, bước lên cầu đi thẳng qua bên kia, một cô khác giả bộ trách yêu, lấy nhánh huệ tươi gạt nhục bàn toạ ông như tuồng tiên quở sơ người vụng về. Cả bọn đều cười lăn chiêng, ông cũng cười theo, vui vẻ cả đám. Nhưng qua khỏi cầu rồi, ông quản không được thưởng ba tiếng trống chúc “thượng lộ bình an”, lại nghe ba tiếng gõ tang (gõ vào thành trống) quả nhiên báo tin có người bị phạt y như tửu lịnh sẵn có. Trong lúc ấy chủ và khách đều hừng chí hăng say vì rượu không khác con gà đá độ, mê trận đá quên thôi. Nhưng đến đấy ông viên ngoại là người giàu kinh nghiệm, không kéo nhây cuộc vui và để tránh tiếng lần khân sàm sỡ. Ông mời quan khách bước vào nhập tiệc nơi nhà mát. Con bê thui được triệt xuống, xẻo thái ra nhiều đĩa lớn và dọn chung lên bàn với món cháo lòng bò đặc biệt ăn với gừng cay, lòng non lá lách, khăn bàn xương sụn gân giòn. Tiệc kéo dài với những sòng thín cẩu và xì phè đến gà gáy sáng chưa thôi.
Khách ra về còn tiếc, quên hết chuyện ông quản bị đòn, nhưng về nhà rồi ai nấy đều giấu nhẹm việc cùng tiên sống phó hội, duy vẫn, khi gặp nhau khen mãi buổi cháo giải lao và con bò giá tréo Thái Viêm Lợi có tiên chuốc rượu.
Tái bút – Mãi về sau, gặp lại Thái cố nhân, ông nói hôm ấy, chúng tôi là cá chốt lòng tong, nếu có té xuống nước không xấu, vì là ngư thuỷ tương phùng! Ông chỉ mong bực dân chi phụ mẫu, hạng cầm cân nẩy mực rơi xuống mới là khoái. Tuy vậy dằn mặt chơi một chút cũng đủ, không nên chọc họ giận mích lòng. Ông nói trong Nam, không thiếu gì thú ăn chơi kỳ thú, như miệt Sốc Trăng, Hoà Tú, cá lóc nướng trụi, bó đất sét nguyên con luôn và vảy, chim se sẻ, chàng nghịch, ốc cau, để nguyên và lông, lấy đất sét bó lại, thảy vô đống rơm đang cháy để canh lúa ban đêm, khi rơm lụn tàn, lấy ra đập vỏ đất, lấy thịt kẹp bánh tráng chấm nước mắm ăn ngọt xớt không gì thú và ngon bằng.
Cũng như thịt bò, thịt trâu, khi ngã ăn không hết, để nguyên đùi vùi vào đất bùn sạch, chỗ có nước chảy mạnh, tỉ như mé sông Cái, dẫu để mấy ngày thịt vẫn tươi, khi lấy ra ăn vẫn mềm và ngon không thua khịt ướp trong tủ lạnh.
Ở miệt Bình Dương (Thủ Dầu Một cũ), nơi vườn măng cụt, sầu riêng, còn một thú lạ là treo thịt bò nguyên đùi hay nguyên xúc thịt phi lê lớn lên cây có kiến vàng nhiều, kiến nầy đánh hơi thịt ráp lại bu đeo, trong chốc lát kiến vàng chích nọc có chất acidc formique vào thịt, đừng thấy vậy mà gớm, độ nửa tiếng đồng hồ cục thịt trở nên mềm và đã chín tái, cứ để vậy, thẻo từ miếng nhỏ ăn với rau sống bánh tráng mắm nêm, đã thơm ngọt thiên nhiên lại không có mùi mỡ dầu lâu tiêu như cục bít tết xe nhăn (bifteck saignanl) hay thịt chiên Chateaubriand, vừa cầu kỳ, vừa khó chiên cho đúng, khéo và ngon.
Nhơn vật Sa Đéc phần đông đều nhã và thảo ăn. Thái cố nhân là một. Khi tôi xin về làm việc tại tỉnh nhà, ở Sốc Trăng, tuy được gần cha mẹ, vui bề thân tỉnh mộ khan, nhưng lòng hằng gởi về tỉnh nhỏ thân yêu Sa Đéc.
Khi tôi đổi về Sài Gòn lối năm 1938-1943, tôi có gặp lại Thái cố nhân lên trị bịnh nước tiểu có đường. Chứng nầy lúc đó vô phương trị. Tôi khóc ngày nay vẫn khóc, tiếc người anh cả phong lưu hiếm có.
Điểm tương đồng trong chiến tranh Việt-Pháp với nội chiến Nam-Bắc là các trận đánh vận mệnh và bi thảm đều diễn ra trên cao nguyên. Chính cao nguyên quyết định số phận của đồng bằng. Tây nguyên trong Nam và miền Thượng du ngoài Bắc. Tháng 9-1951, sư đoàn 312 của Lê Trọng Tấn tiến đánh phân khu Nghĩa Lộ do 1 tiểu đoàn Thái (1er Bataillon Thai) trấn giữ. Trung tướng Raoul Salan, thay thế de Lattre đang công du Hoa Kỳ, thả 3 tiểu đoàn dù xuống Gia Hội, Ca Vịnh, Bản Tú đánh vào đường tiếp vận của Lê Trọng Tấn. Trong hồi ký Đế Quốc Suy Tàn, Salan viết: “Địch tiêu hao 1000 chết, 2500 bị thương, các công điện Việt Minh gửi cho Giáp nhìn nhận 40% cán bộ đại đoàn 312 đã bỏ xác tại trận địa.” Trong hồi ức Đường Tới Điện Biên Phủ, trang 232, Võ Nguyên Giáp công nhận: “Anh Lê Trọng Tấn từ Tây Bắc về báo cáo với Bộ, chiến dịch Lý Thường Kiệt thất bại. Ta diệt và bắt khoảng 500 quân địch, không rõ số bị thương, nhưng lực lượng ta tiêu hao rất nhiều: 253 hy sinh, 964 bị thương, 87 mất tích. Anh Tấn tự nhận là lần đầu tiên chỉ đạo một chiến dịch nên có nhiều sai sót.”
Một năm sau, tháng 10-1952 Vi Quốc Thanh từ Hoa Lục quay lại Bắc-Việt, cùng với Võ Nguyên Giáp tung 3 sư đoàn 308, 312, 316 tiến công thêm một lần nữa Nghĩa Lộ, vẫn do 1 tiểu đoàn Thái phòng thủ. Thiếu tướng tư lệnh Bắc phần de Linarès thả tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa (6e BPC) xuống Tú Lệ, cách Nghĩa Lộ 30 kms về hướng Tây-Bắc. 48 giờ sau Nghĩa Lộ bị tràn ngập và từ 5 giờ chiều của ngày 19 tháng 10 đến 2 giờ sáng ngày 20, sư đoàn 312 tổ chức 4 đợt tấn công Tú Lệ đều bị nhảy dù đẩy lui. Việt Minh bỏ lại 96 xác chết. Đến trưa thiếu tá Marcel Bigeard quyết định triệt thoái. Chính trong trận Tú Lệ này, tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa lập chiến tích: vượt 86 cây số đường rừng từ Tú Lệ về đến Tạ Bú ven sông Đà, trước hai sư đoàn Việt Minh truy sát. Trên sân vận động Mangin Hà Nội, 6e BPC với cấp số phân nửa lính Việt nhận 400 huân chương anh dũng bội tinh. 6e BPC còn là tiền thân của Tiểu đoàn 6 Nhảy dù VNCH, tiểu đoàn sẽ xuống đồi Gió và bắt tay An Lộc tại đồn điền Xa Cam trong mùa hè đỏ lửa 1972.
[Trần Vũ]
Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp
Vu Hoá Thầm
bản dịch của Dương Danh Dy
Tiến quân lên Tây Bắc
Sau khi về Bắc Kinh, đồng chí Vi Quốc Thanh báo cáo tình hình công tác của đoàn cố vấn quân sự với Lưu Thiếu Kỳ, Nhiếp Vinh Trăn, trình bày ý kiến của mình đối với chiến trường Việt Nam và phương hướng công tác chiến từ nay về sau, được Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân uỷ Trung ương coi trọng.
Do tình hình sức khoẻ của Vi Quốc Thanh không được tốt, trong thời gian ngắn không thể trở lại Việt Nam công tác, Trung ương bèn bổ nhiệm đồng chí làm phó tư lệnh lực lượng Công an. Từ đó, Vi Quốc Thanh dời vào ngôi nhà chữ Khẩu ở Đông Bản Kiều, chấm dứt lịch sử đồng chí ở chiêu đãi sở sau khi về nước và ở nhà tập thể thời gian dài với phu nhân, Hứa Kỳ Thanh, công tác ở Ban Tổ chức Trung ương. Vi Quốc Thanh tuy làm việc ở Bộ Tư lệnh Lực lượng Công an, nhưng vẫn quan tâm theo dõi sự phát triển của tình hình chiến sự Việt Nam. Các bức điện quan trọng qua lại giữa Quân uỷ Trung ương và Đoàn cố vấn, Cục Cơ Yếu Bộ Tổng Tham Mưu theo chỉ thị của Quân uỷ Trung ương đều sao chuyển cho đồng chí xem.
Thu đông năm 1951, tình hình chiến tranh Triều Tiên tương đối ổn định. Mao Trạch Đông càng quan tâm theo dõi với tình hình chiến sự Đông Dương hơn. Tầm mắt của Mao Chủ tịch không chỉ chú ý theo dõi chiến trường Bắc Bộ Việt Nam, mà còn chú ý theo dõi chiến trường Trung Bộ, Nam Bộ, chú ý theo dõi Lào và Campuchia. Không chỉ chú ý theo dõi chiều hướng của quân Pháp, mà còn quan tâm đến hoạt động của Mỹ đặt chân vào Đông Dương. Trong đầu Mao Chủ tịch dần dần hiện lên rõ nét một ý tưởng chiến lược: trước hết mở chiến trường Tây Bắc, giành lấy vùng Tây Bắc và Thượng Lào. Sau đó phát triển xuống Trung Nam Bộ, phát triển sang Trung Hạ Lào và Campuchia. Tấn công trước vào vùng binh lực địch mỏng yếu, để từng bước làm cho mình lớn mạnh lên, làm cho địch suy yếu, tạo điều kiện, cuối cùng đánh lấy đồng bằng sông Hồng, giành thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp. Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đánh lấy vùng Tây Bắc và Thượng Lào. Phải đề xuất kiến nghị này với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Cử ai đi bây giờ ? Sau khi Mao Trạch Đông bàn với Lưu Thiếu Kỳ, quyết định giao nhiệm vụ này cho La Quý Ba hoàn thành, và giao La Quý Ba kiêm luôn quản lý công tác của Đoàn cố vấn.
Đồng chí La Quý Ba tham gia cách mạng năm 1925, trải qua cuộc đấu tranh ở Tỉnh Cương Sơn và cuộc Trường chinh hai vạn năm nghìn dặm, từng giữ chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ quân khu Tấn Trung (miền Trung Sơn Đông), Chính uỷ Quân đoàn 7 v.v… Tháng 3/1950 sang Việt Nam làm đại diện liên lạc của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ít lâu sau sang làm Trưởng đoàn cố vấn chính trị của Trung Quốc tại Việt Nam, phụ trách giúp công tác đảng của Việt Nam. Sau khi về nước nghỉ ngơi không lâu, đầu năm 1952 La Quý Ba lại nhận mệnh lệnh của Trung ương, sang Việt Nam. Vùng Tây Bắc Việt Nam giáp tỉnh Vân Nam – Trung Quốc có giá trị chiến lược rất quan trọng, nó là vùng xung yếu chiến lược của quân Pháp án ngữ Thượng Lào kiềm chế vùng giải phóng Việt Bắc, yểm hộ đồng bằng sông Hồng. Đánh lấy vùng Tây Bắc có thể nối liền thành một dải với vùng giải phóng Việt Bắc, hình thành hậu phương vững chắc, bắc dựa Trung Quốc, nam tiếp giáp Thượng Lào, một vùng rộng lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc tạo điều kiện giành lấy đồng bằng sông Hồng và thúc đẩy toàn quốc kháng chiến thắng lợi. Còn quân Pháp ở vùng Tây Bắc chỉ có binh lực của 8 tiểu đoàn và 41 đại đội, phân tán chốt giữ 144 cứ điểm, dù là phân bố binh lực hay cấu trúc công sự đều mỏng yếu hơn nhiều so với vùng đồng bằng sông Hồng. Đó là điều kiện có lợi cho Quân đội Nhân dân tiến quân lên đánh Tây Bắc. Tuy nhiên, vùng Tây Bắc sông sâu núi cao, dân cư thưa thớt, là vùng tập trung dân tộc thiểu số, cơ sở quần chúng yếu, kinh tế nghèo nàn, giao thông bất tiện. Đó là điều kiện bất lợi. Lúc đó rất nhiều cán bộ cao cấp trong quân đội nhân dân Việt Nam chỉ nhìn thấy mặt bất lợi, mà không nhìn thấy giá trị chiến lược quan trọng của vùng này, nên không muốn lên Tây Bắc tác chiến.
Sau khi La Quý Ba đến Việt Nam, chuyển tới chủ tịch Hồ Chí Minh sự phân tích và kiến nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với phương hướng tác chiến từ nay về sau, Hồ Chí Minh tiếp nhận kiến nghị đó. Hội nghị toàn thể lần thứ 3 Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp trong tháng 4, ra quyết định chuyển hướng chủ công của bộ đội chủ lực lên vùng núi Tây Bắc.
Sau đó, Đoàn cố vấn quân sự và phía Việt Nam nghiên cứu nhiều lần phương án tác chiến của chiến dịch Tây Bắc và từ tháng 4 đến tháng 7, ba lần điện thỉnh thị Quân uỷ Trung ương Trung Quốc; Quân uỷ Trung ương đã chỉ thị tỉ mỉ vấn đề mục tiêu, chiến thuật và thời gian tác chiến tại Tây Bắc. Cuối cùng phương án tác chiến của phía Việt Nam xác định là sử dụng hai đại đoàn 308, 312 và hai trung đoàn của đại đoàn 316 tất cả binh lực 8 trung đoàn, mở tấn công địch vào trung tuần tháng 10. Tác chiến đợt 1 giải phóng vùng Nghĩa Lộ và Quang Huy, tác chiến đợt 2 giải phóng vùng Sơn La và Mộc Châu.
Hạ tuần tháng 9, Hồ Chí Minh bí mật thăm Trung Quốc, sau đó nhận lời mời sang Liên Xô dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong thời gian ở Bắc Kinh, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Bành Đức Hoài trực tiếp đưa ra với Hồ Chí Minh kiến nghị về chiến lược chung của chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, tức trước tiên đánh lấy vùng Tây Bắc, tiến tới tiến sang Thượng Lào, để xây dựng hậu phương chiến lược rộng lớn. Có hậu phương chiến lược này thì có thể ở vị thế chủ động. Sau đó sẽ phát triển sang những vùng binh lực địch mỏng yếu Trung Hạ Lào, Campuchia và Trung Nam Bộ Việt Nam, cuối cùng đánh lấy đồng bằng sông Hồng, giành toàn thắng chiến tranh chống Pháp. Hồ Chí Minh bày tỏ hoàn toàn tán thành kiến nghị này. Các vị lãnh đạo lại thảo luận thêm vấn đề tác chiến vùng Tây Bắc và đi đến ý kiến nhất trí.
Hồ Chí Minh nêu ra với Mao Trạch Đông, chiến dịch Tây Bắc sắp bắt đầu vô cùng quan trọng, tốt nhất mời Vi Quốc Thanh sang lại Việt Nam giúp đánh tốt trận này. Mao Trạch Đông đồng ý yêu cầu của Hồ Chí Minh. Ngày 30/9, Hồ Chí Minh gửi điện cho La Quý Ba nói, đồng chí đã bàn với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trọng điểm của chiến dịch Tây Bắc là tấn công Nghĩa Lộ. Sau khi đánh lấy Nghĩa Lộ, lập tức phát triển ra vùng xung quanh, thành lập căn cứ địa cách mạng, xây dựng đường ôtô Yên Bái đi Nghĩa Lộ. Tác chiến đợt hai không tấn công Sơn La nữa. Hồ Chí Minh còn báo cho La Quý Ba biết, Vi Quốc Thanh sẽ nhanh chóng từ Bắc Kinh đi Việt Nam.
Ngày 1/10 năm ấy là ngày quốc khánh thứ 3 của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trên quảng trưởng Thiên An môn đêm hôm đó, hàng vạn quần chúng hân hoan vui mừng, ca hát nhảy múa. Vào lúc màn đêm buông xuống, mtc đến thành lầu Thiên An Môn nghồi chính giữa, cùng các trợ thủ chủ yếu của người xem pháo hoa. Lúc đó Vi Quốc Thanh đã được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh lực lượng công an, cũng bước lên Thiên An Môn. Đồng chí nhìn thấy Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đang mỉm cười ngồi bên cạnh. Từ trên thành lầu, Vi Quốc Thanh một lần nữa nhận mệnh lệnh sang Việt Nam chấp hành sứ mệnh quân sư.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, sau khi nhận điện của Hồ Chí Minh họp lại một lần nữa thảo luận kế hoạch chiến địa Tây Bắc. Hội nghị quyết định huỷ bỏ kế hoạch tác chiến đợt hai đã bàn định trước đấy, theo điện chỉ thị của Hồ Chí Minh tập trung tấn công Nghĩa Lộ. Võ Nguyên Giáp không dự hội nghị này vì đang dẫn Bộ chỉ huy tiền tuyến chiến dịch tiến lên Nghĩa Lộ. Sau khi nhận được điện báo của Trường Chinh thông báo tình hình cho đồng chí sau hội nghị, Võ Nguyên Giáp tỏ ra không đồng ý thay đổi kế hoạch tác chiến đợt 2. Trường Chinh quyết định chờ Vi Quốc Thanh sau khi đến sẽ định đoạt lại.
Vi Quốc Thanh ở Bắc Kinh được nghe chỉ thị trực tiếp của Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài và sau khi trao đổi với Hồ Chí Minh, ngày 16/10 đến căn cứ địa Việt Bắc. Ngay hôm đến Việt Bắc, lập tức chuyển đến lãnh đạo Việt Nam ý kiến của Hồ Chí Minh đã trao đổi với Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài về chiến dịch Tây Bắc Việt Nam. Ngày 18/10, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp thảo luận lại La Quý Ba và Vi Quốc Thanh cũng tham gia hội nghị này. Hội nghị quyết định sau đợt một chiến dịch Tây Bắc, xem tình hình lúc bấy giờ hãy quyết định có tiến hành đánh đợt 2 hay không.
Sau hội nghị, ngày 24/10, Vi Quốc Thanh ra tiền tuyến Nghĩa Lộ. Lúc này Mai Gia Sinh đã dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn ở tiền tuyến Tây Bắc giúp phía Việt Nam tổ chức chỉ huy tác chiến đợt 1 chiến dich.
Chiến dịch Tây Bắc đã được sắp đặt và chuẩn bị thời gian dài bắt đầu nổ súng ngày 14/10/1952. Đêm hôm đó, trung đoàn 174 đại đoàn 316 tiêu diệt luôn quân địch ở cứ điểm Ca Vịnh, trung đoàn 141 đại đoàn 312 tấn công cứ điểm Sài Lương. Đại đoàn 308 sau khi bao vây sở chỉ huy phân khu của địch ở Nghĩa Lộ đêm 17 trước tiên tiêu diệt địch ở cứ điểm ngoại vi Bố Trương, tiếp đó sau khi chuẩn bị hỏa pháo, đã tấn công Nghĩa Lộ, cuộc chiến đấu quyết liệt đến hửng sáng hôm sau, tiêu diệt toàn bộ hơn 700 tên địch đóng ở Nghĩa Lộ.
Khói đạn chiến đấu ở Nghĩa Lộ chưa tan, Vu Bộ Huyết, cố vấn quân sự của đại đoàn 308 lập tức dẫn cảnh vệ Lỗ Hiển Dư đi xem trận địa. Khi họ đến bên cạnh trận địa quân Pháp bên gò núi, chú Lỗ liếc mắt nhìn thấy lá cờ của quân Pháp trên trận địa vẫn bay ở đây bèn hô lên một tiếng: “Tôi đi nhổ lá cờ đó ”, một mình chạy tới lá cờ của quân Pháp. Vu Bộ Huyết vội hét lên: “Chú Lỗ quay về ”, nói chưa dứt lời, một tiếng nổ vang lên, một quả mìn nổ tung chàng trai Lỗ Hiển Dư người Sơn Đông, vừa tròn 20 tuổi ngã xuống, một dòng máu nóng chảy trên mảnh đất Việt Nam.
Cùng lúc với đại đoàn 308 thắng lợi ở Nghĩa Lộ, đại đoàn 312 đang tiến lên tấn công vào sâu phía bắc bờ tây sông Hồng, trên đường quét sạch cứ điểm quân Pháp, đánh tan quân địch phục kích ở Nam Mai và tiếp tục buộc địch rút khỏi điểm Tú Lệ, Gia Hội, v.v.. Trung đoàn độc lập 148 từ Lào Cai tiến xuống phía nam, giải phóng Quỳnh Nhai ở bờ đông sông Đà, và hợp lại với đại đoàn 312. Các đại đoàn 308 và 316 sau khi đánh thắng trận đầu tiếp tục tiến quân tấn công Phù Yên, Vạn An, v.v.. cho ngựa uống nước sông tại sông Đà.
Vu Hoá Thầm
(đăng trong Thượng tướng phong vân lục nxb Đại Bách Khoa toàn thư năm 2000)
Ghi chú của Trần Vũ:
Lực lượng Việt Minh tham gia chiến dịch Tây Bắc gồm các sư đoàn 308, 312 và 316 (thiếu), tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75 ly, 3 đại đội súng cối nặng 120mm, 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội bộ đội địa phương, tổng quân số lên tới 36.000 người. Phía Pháp trước khi hình thành căn cứ Nà Sản, có Tiểu đoàn 1 Thái, Tiểu đoàn 17 Tabors Sơn Cước Marốc, Tiểu đoàn 56 Khinh Quân Việt Nam, tăng cường Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa.
Thiếu tá Marcel Bigeard, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa (6e BPC)
Đại úy Pierre Tourret, tiểu đoàn phó 6e BPC
Lính VN của Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa (6e BPC) trang bị tiểu liên Thompson
Huy hiệu của Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Việt Nam (6e BPVN) thành lập 1 tháng 5-1954 với thiếu tá Đỗ Cao Trí làm tiểu đoàn trưởng đầu tiên, sau khi Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa bị tràn ngập tại Điện Biên Phủ
Trận Tú Lệ tháng 10-1952: Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa đương đầu với 3 sư đoàn Việt Minh 308, 312, 316 trên 86 cây số đường rừng từ Tú Lệ về Tạ Bú ven sông Đà.
Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa trong chu vi phòng thủ của đồn Tú Lệ
Alfred von Schlieffen, Hans von Seeckt và Mikhai Tukhachevsky đều đi vào lịch sử ở vị trí của những tướng tài, tuy không chiến thắng trên trận địa. Lý do, cả ba đều giữ những chức tổng tư lệnh vào thời bình không xảy ra chiến tranh. Công trạng của họ không ở mặt trận. Schlieffen rồi Seeckt tổ chức hiệu quả quân đội Đức. Trên mặt lý thuyết, Schlieffen đề ra kế hoạch đánh xuyên qua Bỉ để vây ép cạnh sườn quân Pháp trong trường hợp thế chiến. Seeckt, sau đình chiến, đề ra phương pháp đào tạo quân nhân phải đủ sức nắm giữ chức vụ cao hơn cấp bậc ít nhất 2 cấp. Chính đây là lý do vì sao tân quân đội Wehrmacht đã có thể tăng quân số nhanh chóng ngay khi Hitler lên cầm quyền. Thống chế Tukhachevsky của Hồng quân Sô-Viết cũng được xem lỗi lạc, vì đã phát thảo Nghệ thuật Hành binh (L’Art Opératif) chống lại tư duy của Clausewitz: Tấn công trên nhiều mặt trận cùng một lúc, nhằm phân tán và tiêu hao trừ bị của đối phương thay vì tập trung vào một trận đánh hủy diệt lớn, như cách Clausewitz giảng dạy. Tukhachevsky bị Stalin thanh trừng và hành quyết nên không chứng kiến Zhukov áp dụng Nghệ thuật Hành binh cho đến chiến thắng.
Sự kỳ tài, như thế, không nhất thiết ngoài chiến trường nhưng trong lý thuyết và tổ chức binh bị.
Trong ký sự Hào khí Trăm năm, Nxb Trẻ 2011, Trần Thái Bình viết về sự phi thường của Võ Nguyên Giáp: “Tại sao ông lại làm được quá nhiều điều đến thế trong sự hữu hạn của đời người? Tại sao những điều ông đã làm được lại tỏ ra nghiệm đúng hơn cả trong sự vô hạn của những phương án? Kéo pháo vào rồi kéo pháo ra, lúc thì đánh chắc tiến chắc, lúc lại thần tốc, thần tốc hơn nữa, rồi xây dựng nền kinh tế tri thức làm then chốt bên cạnh chú trọng kinh tế biển đảo…” Với những ai tìm hiểu, phương châm “tiến chậm, tiến chắc, chắc thắng mới đánh” là bản sao của “Không bao giờ tác chiến nếu cơ may quá mỏng (Ne jamais se battre si les chances sont trop minces)” của tướng Thomas Jonathan Jackson trong nội chiến Nam-Bắc Mỹ. Còn “Thần tốc, táo bạo tiến công”? Trận Biên Giới kết thúc đầu tháng 10-1950, phải mất 3 tháng Võ Nguyên Giáp mới tiến xuống đồng bằng khai trận Vĩnh Yên đêm 13 tháng 1-1951, khi viện binh Pháp đã sang. Chính vì “chậm, chắc” mà không “thần tốc” và không “táo bạo” mà Vĩnh Yên là một thất trận đẫm máu của Việt Minh. “Thần tốc”, chỉ là khẩu ngữ cho diễn văn.
Đọc hết chương Xây dựng Bộ đội của Vu Hoá Thầm ghi lại công lao Vi Quốc Thanh đã ra sức xây dựng, tổ chức, huấn luyện, khái quát, thậm chí biên soạn các “Điều lệ chính quy”, “Chế độ nội quy thống nhất”, xuống đến “Điều lệnh chiến đấu”, “Điều lệnh kỷ luật”, “Điều lệnh nội vụ” cho Quân đội Nhân dân, người đọc không khỏi băn khoăn: đại tướng Võ Nguyên Giáp phụ trách gì? Có phải ông thừa hành?
[Trần Vũ]
Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp
Vu Hoá Thầm
bản dịch của Dương Danh Dy
Xây dựng bộ đội
Chiến dịch Biên Giới tuy giành được thắng lợi quan trọng, nhưng cũng bộc lộ Quân đội Nhân dân Việt Nam còn có không ít nhược điểm là về số lượng hay chất lượng, đều không thích ứng với yêu cầu tác chiến vận động quy mô lớn. Vi Quốc Thanh cảm thấy sâu sắc rằng, đồng thời với việc giúp quân đội Việt Nam tổ chức chỉ huy tác chiến, cần phải giúp họ tăng cường xây dựng bộ đội. Đó cũng là một trong hai nhiệm vụ quan trọng mà các đồng chí lãnh đạo Trung ương giao cho Đoàn cố vấn. Vì vậy, trong thời gian sang Việt Nam gần một năm, Vi Quốc Thanh chú trọng giúp Việt Nam nắm mấy việc sau đây:
Mở rộng bộ đội chủ lực, thống nhất biên chế trong trang bị. Chiến dịch Biên Giới vừa kết thúc, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lập tức đưa ra chỉ tiêu cho đoàn cố vấn giúp quân đội Việt Nam xây dựng quân chính quy khoảng 50.000 người. Theo đó, Vi Quốc Thanh nêu ra kiến nghị tương ứng với Võ Nguyên Giáp. Tất nhiên Võ Nguyên Giáp rất phấn khởi
Thế là Đoàn cố vấn giúp Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam vạch ra “phương án xây dựng bộ đội chủ lực” và kế hoạch biên chế trang bị, sau khi được Trung ương đảng Lao động Việt Nam phê chuẩn trên cơ sở các đạị đoàn 304, 308, 312 đã xây dựng, lại được Trung Quốc viện trợ trang bị, thành lập thêm đại đoàn bộ binh 316, 320, và đại đoàn công pháo 351 do 3 trung đoàn pháo binh và một trung đoàn công binh tổ thành. Sau đó thành lập đại đoàn bộ binh 325. Đến cuối năm 1951, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có một lực lượng vũ trang chính quy gồm 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo được thay đổi trang bị, biên chế thống nhất.
Tăng cường huấn luyện quân sự, nâng cao tố chất quân sự. Vi Quốc Thanh cho rằng, nâng cao tố chất quân sự của quân đội Việt Nam, một là phải dựa vào rèn luyện trong chiến đấu thực tế, hai là phải dựa vào huấn luyện quân sự. Vì thế, đồng chí triệu tập các cố vấn quân sự họp hội nghị bàn về công tác huấn luyện bộ đội. Đồng chí nói với các cố vấn đến dự hội nghị: “Quân đội Nhân dân Việt Nam trước đây không đánh tiêu diệt chiến, khi đánh trận dàn hàng ngang mà tiến, pháo bắn thì phân tán tránh, như thế không được. Ở trong nước (tức ở Trung Quốc) chúng ta đánh thắng trận, dựa vào cái gì? Dựa vào 10 nguyên tắc quân sự lớn của Mao Chủ tịch. Hạt nhân của 10 nguyên tắc quân sự lớn là cái gì ? Là đánh tiêu diệt chiến. Không đánh tiêu diệt chiến 9 nguyên tắc khác đều rỗng không. Chỉ cần đánh tốt tiêu diệt chiến thì đạt được mục đích tác chiến.
“Các đồng chí trở về, phải lợi dụng thời gian nghỉ giữa hai chiến dịch, áp dụng biện pháp mở lớp huấn luyện luân phiên để chấn chỉnh rèn luyện bộ đội, tiến hành giáo dục quân sự cho bộ đội, làm cho mọi người đều nắm chắc tư tưởng đánh tiêu diệt chiến. Và phải dạy họ biết được các chiến thuật và động tác kỹ thuật cần thiết khi đánh tiêu diệt chiến. Làm không tốt việc này, thì chúng ta không thể nào đánh thắng trận được, cũng không thể nào ăn nói với Trung ương được”.
Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vi Quốc Thanh, tổ cố vấn quân sự Bộ Tổng Tham mưu và tổ cố vấn của mấy đại đoàn chủ lực giúp phía Việt Nam tổ chức nhiều lớp tập trung huấn luyện cho cán bộ, giúp bộ đội tiến hành nhiều đợt chỉnh huấn quân sự. Quân đội nhân dân lần lượt triển khai huấn luyện quân sự cho 11 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh và 1 tiểu đoàn trinh sát. Thời gian mỗi lần chỉnh huấn khoảng một tháng. Đề cương và giáo tài huấn luyện đều do tổ cố vấn giúp biên soạn. Tổ cố vấn ở các đại đoàn giúp đào tạo cán bộ và tổ chức thực thi huấn luyện.
Trong huấn luyện quân sự, cố vấn cấp tiểu đoàn của các đơn vị đã phát huy tác dụng rất lớn. Các đồng chí ấy suốt ngày lăn lê bò toài với cán bộ chiến sĩ cơ sở, dạy họ động tác chiến thuật lợi dụng địa hình, ẩn nấp tiếp cận địch v.v… dạy họ năm kỹ thuật lớn là ném lựu đạn, nhất là tổ chức thực thi đánh bộc phá liên tục. Họ giảng đi giảng lại, làm mẫu nhiều lần, không sợ khổ, không sợ mệt, hết lòng hết sức làm tốt việc huấn luyện, đã thu được hiệu quả tương đối tốt.
Tăng cường xây dựng chính quy hoá, khắc phục thói quen du kích. Quân đội nhân dân ở trong môi trường chiến tranh du kích lâu dài, có thói quen du kích khá nặng. Đồng thời bộ máy của các Tổng cục quá cồng kềnh, nặng nề, chức trách của các ban ngành không rõ, tồn tại chủ nghĩa giấy tờ phiền phức. Từ cơ quan đến đơn vị chưa có điều lệ, điều lệnh chính quy và chế độ nội quy thống nhất. Nếu tình hình đó không thay đổi thì không thể thích ứng với yêu cầu của vận động chiến, công kiên chiến. Vì vậy, Vi Quốc Thanh kiến nghị với Võ Nguyên Giáp tiến hành giáo dục chính quy hoá xây dựng các chế độ nội quy đối với cơ quan, bộ đội. Phía Việt Nam tiếp nhận kiến nghị này. Vì thế, dưới sự chủ trì của Mai Gia Sinh, tổ cố vấn quân sự giúp phía Việt Nam khởi thảo “Điều lệnh chiến đấu”, “Điều lệnh kỷ luật” và “Điều lệnh nội vụ”. Những điều lệnh này sau khi được Tổng Quân uỷ Quân đội Nhân dân Việt Nam thảo luận sửa đổi, thông qua, ban bố trong toàn quân chấp hành, làm cho việc xây dựng chính quy hoá của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến một bước dài. Các cố vấn còn giúp quân đội Việt Nam tổ chức lớp huấn luyện cán bộ tham mưu, bồi dưỡng cán bộ tham mưu của Bộ Tổng Tham mưu và của các đại đoàn chủ lực tăng cường xây dựng Bộ tư lệnh của Quân đội Nhân dân.
Bồi dưỡng cán bộ huấn luyện, đề bạt cán bộ từ cơ sở. Trong chiến dịch Biên Giới, Vi Quốc Thanh tìm hiểu thấy đông đảo chiến sĩ và một số cán bộ cơ sở bộ đội quân đội Việt Nam trong chiến đấu thể hiện rất tốt, dũng cảm mưu trí, chịu thương chịu khó, tuân thủ kỷ luật, trong đó không thiếu nhân tài ưu tú, nhưng đã lâu không được đề bạt trọng dụng. Bởi vì Quân đội Nhân dân nói chung không đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ, mà là tuyển dụng học sinh thanh niên, được trường quân sự hoặc đợi huấn luyện tập huấn ngắn ngày, rồi phân phối về bộ đội làm cán bộ trung đội, đại đội. Một số cán bộ học sinh này biểu hiện rất tốt, nhưng cũng có không ít người không biết đánh giặc, không biết chỉ huy, ra trận nhút nhát, tham sống sợ chết. Đó là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội. Trong cán bộ các cấp hiện có thành phần cũng khá phức tạp. Vi Quốc Thanh cho rằng, muốn giải quyết vấn đề nhức nhối này, cần phải bắt tay từ hai mặt:
– Một là luân phiên huấn luyện cán bộ hiện có, nâng cao tố chất quân sự và trình độ chính trị của họ. Vì vậy, tổ cố vấn chính trị do Đặng Dật Phàm chủ trì đã giúp phía Việt Nam mở lớp bồi dưỡng cán bộ phân kỳ chia đợt, luân lưu huấn luyện cán bộ đại đội trở lên. Trong lớp bồi dưỡng cán bộ, vừa học chính trị vừa học quân sự. Cố vấn đích thân giảng bài, hướng dẫn học viên độc lập suy nghĩ, dạy lẫn nhau học lẫn nhau; tự giác giải quyết tư tưởng. Lớp bồi dưỡng đợt đầu đã thu được kết quả rõ rệt, Hồ Chí Minh khen ngợi. Từ đợt thứ hai trở đi lãnh đạo đảng và quân đội Việt Nam Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và lãnh đạo các Tổng cục cũng lần lượt đến lớp huấn luyện giảng bài, thu được hiệu quả tốt hơn. Trong mấy năm về sau liên tục tổ chức được 8 đợt bồi dưỡng cán bộ, cán bộ đại đội trở lên của bộ đội Việt-Bắc về cơ bản luôn lưu huấn luyện được một lần, có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tố chất cán bộ, tăng cường sức chiến đấu của quân đội.
– Hai là coi trọng đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ, từng bước thay đổi thành phần của đội ngũ cán bộ. Công việc này được từng bước hướng dẫn và giúp đỡ phía Việt Nam tiến hành. Tổ cố vấn từ các Tổng cục đến các đại đoàn đều lợi dụng dịp tổng kết chiến dịch, hướng dẫn các chỉ huy cao cấp xuống cơ sở mở cuộc toạ đàm, nghe các chiến sĩ kể chuyện chiến đấu. Rất nhiều chiến sĩ kể chuyện rất sinh động hoạt bát, sự thật cụ thể, kinh nghiệm thiết thực. Các chỉ huy cao cấp dự toạ đàm cuối cùng nhận thức được trong chiến sĩ thực sự có nhân tài, nên đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ. Sau chiến dịch Biên Giới, Võ Nguyên Giáp đi cùng cố vấn pháo binh Đậu Kim Ba, xuống bộ đội mở ba cuộc chiến sĩ toạ đàm làm cho đồng chí cảm thấy rất nhiều bổ ích. Sau đó đồng chí nói với cố vấn: “Bộ đội cấp dưới có những nhân tài cầm quân đánh giặc. Ý kiến của các đồng chí đúng, phải tìm nhân tài có kinh nghiệm tác chiến từ cấp dưới, đưa lên vị trí lãnh đạo, mới có thể nâng cao sức chiến đấu”. Từ đó quân đội Việt Nam bắt đầu chú ý tuyển chọn đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ. Nhưng vấn đề, thuộc về đường lối cán bộ này mãi đến sau 1953, Đoàn cố vấn giúp quân đội Việt Nam chỉnh quân chính trị, mới được giải quyết tương đối tốt. Trong thời gian này, Đặng Dật Phàm dẫn đầu tổ cố vấn chính trị bắt tay giúp Việt Nam tăng cường chỉ đạo công tác chính trị thời chiến, tăng cường xây dựng toàn diện công tác chính trị. Mã Tây Phu dẫn đầu tổ cố vấn hậu cần lấy việc làm tốt bảo đảm hậu cần cho các chiến sĩ làm trọng tâm, dẫn dắt xây dựng toàn diện công tác hậu cần, làm cho nó từng bước thích ứng với nhu cầu của đánh vận động quy mô lớn.
Thế là, trải qua một năm công tác Quân đội nhân dân Việt Nam đều đạt được thành tích rõ rệt trên các mặt xây dựng quân sự, chính trị, hậu cần, thực hiện bước chuyển biến từ giai đoạn đánh du kích sang giai đoạn đánh vận động.
Vu Hoá Thầm
(đăng trong Thượng tướng phong vân lục nxb Đại Bách Khoa toàn thư năm 2000)
Ảnh Võ Nguyên Giáp trên trang vntinnhanh.vn
Tân binh VN tại trung tâm huấn luyện nhảy dù Đông Dương CITAPI (Centre d’Instruction des Troupes Aéroportées en Indochine) với súng cối nhẹ 50 ly.
Binh sĩ VN của tiểu đoàn 2 Nhảy dù Lê dương (2e BEP) trang bị trung liên BAR.
Thiếu sinh quân Vũng Tàu gia nhập binh chủng Lê Dương đội béret trắng với cầu vai truyền thống của binh chủng này.
Lính VN của tiểu đoàn 8 Nhảy dù (8e CHOC) trang bị tiểu liên MAT-49 đạn 9 ly tầm xa 200 m.
Có người hỏi, viết lách của cậu bây giờ ra sao rồi? Tôi trả lời viết lách bây giờ là chuyện khó, nhất là đối với các nhà văn nhà báo thuộc chế độ cũ, hòa nhập được là chuyện rất khó, vì không được “đào tạo trưởng thành trong chế độ cách mạng”, nói theo danh từ thời thượng. Vô hình chung họ bị gạt ra ngoài lề. Mặc dầu vẫn nghe lời tuyên truyền xoen xoét “rằng thì là ” cửa ngõ văn nghệ mở rộng như cửa chùa, ai muốn vào thì vào, ai ra thì ra. Ra thì dễ chứ vào thì khó đấy, bao nhiêu cửa ải phải vượt qua, có thể có đến “thập bát La Hán” trấn cửa. Lọt qua được cũng phờ râu tôm, cuối cùng mềm như bột, người ta muốn bóp nặn theo hình dạng nào cũng được. Viết và lách, danh từ này không biết có từ đời thuở nào, nhưng cũng đúng ra phết. Có thể có từ thuở nước Đại Việt có trường thi cho các cụ đồ muốn thi cử đậu đạt để được ra làm quan. Làm một bài văn thi cử, phải nghiêm túc, lời lẽ trác tuyệt là lẽ đương nhiên mà còn phải biết kỵ húy, thí sinh phải nhớ tên nhớ tuổi cả dòng họ nội ngoại nhà vua, cả một triều vua đến bao nhiêu đời. Bị phạm húy là sổ toẹt, cho dù văn sách của anh hay đến mấy, anh vẫn bị “dê rô” điểm, ôm lều chõng về quê đuổi gà chăn lợn cho vợ muốn thi cử nữa thì ăn năn hối cải rồi tiếp tục dùi mài kinh sử. Một lời ngông cuồng thôi cũng đáng phạt đòn, nhẹ thì cứ tú đụp tú kép đến mãn đời ông dở ông, thằng dở thằng. Bất mãn thì làm thơ, làm câu đối chửi đời cho đỡ vã, như nhà thơ Tú Xương ở thành Nam. Hoặc như Ba Giai, Tú Xuất đẻ ra chuyện tiếu lâm giễu đời chơi ở đất Hà thành: Trời sinh ông Tú Cát Đất nứt con bọ hung Thuở đổ tưởng đã xa xôi rồi, một thế kỷ đã trôi qua. Nay sắp bước sang thế kỷ thứ 21, năm 2000. Thế giới kêu gọi tự do dữ lắm, nhưng đó là chuyện của thế giới. Tự do hay gì gì không phải là con “vi rút” muốn xâm nhập đâu cũng được. Có người ở hành tinh xanh chúng ta đã nói như thế. Nói theo kiểu dân giả thì cứ “phép vua thua lệ làng ” cho tiện. Tôi chịu thôi chẳng nói nữa là hơn. Có một vị đầu nậu chuyên nghề in sách ở thành phố Hồ Chí Minh, anh ta giàu bạc tỉ, thấy tôi nghèo khổ lại mất sức lao động, không lài cán bon chen với đời. Bèn tỏ lòng thương hại, đề nghị với tôi: – Chú có tay nghề, chú viết đi, cháu in cho, trả tiền nhuận bút chú đàng hoàng. Mình là người viết chuyên nghiệp thì phải biết lách, đừng bỏ phí chất xám mà chú có… Cha mẹ nội ngoại nhà tôi ơi! Tôi phải làm sao đây, lách kiểu nào cho lọt? Vị đầu nậu đề nghị tôi viết tiểu thuyết diễm tình, ướt át, chẳng đụng chạm gì suất cả, tránh luôn cả những chuyện gì đụng chạm đến chính trị, phản động. Tôi chịu thua, không làm được chuyện đó. Vì tôi mà viết tiểu thuyết diễm tình thì chỉ thối hoăng lên thôi. Vị đầu nậu lại đề nghị tôi để tên khác, chẳng ai biết mà lại tiện việc sổ sách. Tôi lại thua nữa. Vị đầu nậu là người tốt vẫn còn thương hoàn cảnh tôi, bèn đề nghị cho tôi một việc khác, có trả lương. Tôi sáng vác ô đi tối xách ô về, y như một công nhân viên chân chỉ hạt bột ở ngay cơ sở của ngài. Tôi cao lm62, xấp bản thảo ngài đầu nậu giao cho tôi đọc cao một thước tám, tròm trèm hai thước. Ngài nói liền không đáy, văn chương đắt giá, chú là người có tay nghề mới giao cho chú đọc. Ngài lệnh cho tôi đọc trong vòng một tháng, được quyền sửa lỗi chính tả, sửa chữa nội dung chút đỉnh, ngài xin giấy phép xuất bản ngay từ bây giờ, tôi đọc và sửa chữa xong là có giấy phép liền. Kho sách hết lại có, không sợ hết việc, những nhà văn tự do của ta làm việc kinh lắm, luôn luôn vượt chỉ tiêu. Tôi thất kinh khi dí đôi mắt cận thị vào chồng bản thảo ấy. Từng bộ liệu thuyết kiếm hiệp rõ ràng là của Tầu mà nay nó biến thành truyện võ hiệp của đất Lạc Việt, các hiệp khách Lạc Việc đánh chưởng với các đại võ sư danh trấn giang hồ của Mông Cổ thời nhà Nguyên ở bên Tầu. Mới sáng nay còn nhận lệnh của Đinh Tiên Hoàng đế ở kinh đô thành Đại La, chiều đã phi hành cái rẹc đến sa mạc Gô bi ở Mông Cổ đánh chưởng mù trời với đại sư Tây Tạng, đại sư Tây Tạng tết đuôi sam giống quan quân nhà Mãn Thanh. Ngược lên mạn Bắc cực đấu kiếm với võ sĩ Samurai của Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bổn. Cuối cùng bằng một chiêu thức bí truyền của dân tộc, hiệp sĩ Lạc Việt trắng trận ròn rã. Công chúa xứ Tây Vực cảm kích bèn cưới làm phò mã. Kinh thế đấy, sử liệu không biết nhà văn lấy ở đâu ra mà lung tung beng, tôi điên cái đầu. Lại một truyện khác nữa, bộ này coi có vẻ đường được dù là mang một tên khác nhưng tôi cũng nhận ra bộ Mười hai sứ của Vũ Ngọc Đĩnh, một ông bạn già của tôi. Tội nghiệp anh! Tôi chỉ biết thất kinh và làm đơn xin nghỉ việc vì tôi bất tài mà những tác phẩm vĩ đại như vậy còn quá nhiều. Vị đầu nậu tức cành hông, chửi vào mặt tôi: – Muốn thương chú mà thương không nổi, chú thật vô tích sự. Rõ ràng tác giả viết đề cao tinh thần dân tộc như vậy còn đòi gì nữa, mà có phải chú viết đâu mà rộn lên vậy. Chú không làm thì tôi thuê người khác, thiếu gì. Chú làm thiệt hại tôi bạc triệu, giấy phép có rồi mà không có đầu sách ra, bao nhiêu là chầu bia ôm, bao thơ. Biết thế tôi đi làm sách giáo khoa hay kỹ thuật cho xong, làm văn nghệ khổ thế đấy. Tôi nhận lỗi và xin lỗi vị đầu nậu, không quên hứa hẹn: – Chừng nào anh lại thu mua phế liệu ve chai như hồi ở vương quốc ve chai Tân Phú, tôi sẽ mang bọc ni lông nhặt được bán cho anh. Tôi bị mắng một trận vì dám xúc phạm đến một người làm nên vóc dáng văn nghệ dù tôi chỉ vô tình nhắc tới sự thật về tiền thân vị đầu nậu này nguyên là ông chủ thu mua phế liệu ở Tân Phú. Tôi thuở còn sức lao động đi nhặt bao ni lông từng bán hàng cho anh, vài ba ký ni-lông hàng hắc quẩy mỗi ngày có là bao. Một ngày kia tôi nghe xúi dại cầm lại bút, nhưng tôi thất bại ê chề. Trong trận văn rừng bút, tôi gặp lại ông chủ vựa ve chai, nay là một ngài đầu nậu văn nghệ kiêm nghề xuất bản theo cách thuê mướn tên nhà xuất bản, gọi là chuyện làm ăn. Tôi được chiêu hiền đãi sĩ, kiểu như thế. Nhưng chuyện thuê mướn cái kiểu này không phải chỉ có mình tôi gặp. Nhà văn Uyên Thao cũng đã tâm sự với tôi, anh từng được những tay đầu nậu văn nghệ đề nghị thuê mướn để biến một bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung với giá hai chục triệu đồng, rất không may là anh lại từ chối món hời đó. Lý Phật Sơn từng đi viết thuê… ăn khoai luộc gọi là chiêu hiền đãi sĩ”. Rất ít văn nghệ sĩ cũ ở miền Nam có chỗ ngồi coi tạm được. Chuyện này phải gọi là kinh doanh nghề viết hơn là làm văn nghệ hay sáng tác, dù anh có được đưa đi tập huấn ở trại sáng tác, có đi thực tế. Chuyện sáng tác lối tác là chuyện khác, chẳng nên nói đến cho xong. Chuyện cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm thiếu gì. Bây giờ tôi nói sang một chuyện khác, chuyện cải lương, cũng dính dáng đến văn nghệ vậy. Gần đây cơ quan tuyên truyền văn hóa thông tin của nhà nước kêu gọi nên phục hồi nền cải lương mà quần chúng mộ điệu dần quên lãng. Nguy cơ cho nền văn nghệ có một thuở vàng son ấy bị chết dấm chết dúi, rạp cải lương thì tiêu điều xuống cấp trầm trọng, dù có hát chùa cũng chẳng ai xem. Các nghệ sĩ nói chung, đào hát kép hát hàng đầu lui dần vào bóng tối. Lớp tài năng trẻ chưa xuất hiện. Hãy đẩy mạnh phong trào lên. Nếu cần thì mở cửa rạp cho quần chúng coi chùa, phục hồi thuở vàng son của sân khấu cải lương. Món ăn tinh thần mà người Nam bộ nào cũng khoái, cũng say mê. Nhưng sao đến nay vẫn chẳng rôm rả tí nào. Chẳng ai làm nổi nền văn nghệ cải lương phục hồi nói chi đến chuyện đi lên. Người viết tập hồi ký này vào miền Nam rất sớm, chính xác là sống tại Sài Gòn vào thuở thịnh thời của cải lương. Quần chúng say mê cải lương đến độ đi đến đâu cũng nghe lời ca tiếng hát, khắp hang cùng ngõ hẻm. Người người vẫn có những mơ ước trở thành đào cải lương tài sắc, hoặc “kép độc” cải lương. Thuở đó có những đào kép sáng chói trên sân khấu cải lương, những soạn giả vang danh, chỉ cần tên tuổi của anh ghi ngoài “băng đờ rôn” là rạp hát không đủ chỗ chứa khách mộ điệu, dù rằng một ngày có tới mấy xuất diễn. Điều đó đương nhiên nảy sinh ra nạn vé chợ đen, nhưng khán giả chấp nhận. Tiền cát sê của nghệ sĩ, đào kép, soạn giả, đạo diễn cao không ngờ, phải tính bằng kim cương hột xoàn. Kép út Trà ôn chơi bi da bằng kim cương, những ông vua, những bà hoàng cải lương. Nhớ thuở nào đào Bạch Tuyết được coi là “cải lương chi bảo”, rồi Thanh Nga, Thành Được, Hữu Phước, Hùng Cường và bao nhiêu tên buổi khác. Những tên tuổi cải lương coi như báu vật, được tôn vinh. Một thuở vàng son không thể nào quên. Tuổi nhỏ, tôi ở trong con hẻm sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là đường Trần Đình Xu) chung xóm với một thằng bạn có tên là Hùng Cường. Hùng Cường là thằng Bắc Kỳ “dồn ” như tôi. Nó có khiếu ca hát, giật giải nhất thi hát ở đài phát thanh Pháp á. Đầu tiên nó thành công trong ca tân nhạc, sau nó xoay sang ca cải lương và rồi nó trở thành một nghệ sĩ lẫy từng lên tuổi. Sau năm 1975, tôi gặp nó ở Cà Mâu. Nó mưu đồ vượt biên, bỏ quê hương. Tôi hỏi nó sao vậy? Nó trả lời không sống được bằng nghề nó hằng đeo đuổi, cải lương chết mất. Tôi lại hỏi tại sao? Nó nói cứ nhìn khán giả vào rạp cải lương thì biết, vắng hoe à. Đâu còn những tay chuyên nghiệp đi bán vé chợ đen nữa. Tuồng tích dở quá, ai còn thèm xem nữa. Mấy vở diễn như Đời cô Lựu cũ mèm cũng không vực dậy nổi sân khấu cải lương đang tụt dốc. Bây giờ toàn luồng tuyên truyền thì cần chi đến nghệ sĩ tài danh. Nhiều năm rồi suy nghĩ lại về những lý do ấy tôi thấy có lý. Sự vực dậy, làm sống lại sân khấu cải lương quả là khó khăn. Nguyên nhân chẳng cần tìm đâu xa, không thể đổ “tại, bị ” gì được hết. Nguyên nhân là tự nó thôi. Khách mộ điệu miền Nam phải bỏ cải lương, quên dần những thần tượng của họ cũng đau lòng lắm. Ở ven thành phố bây giờ có một viện dưỡng lão cho các nghệ sĩ. Sống được là nhờ tình thương của nhiều người, không thuần là khán giả mộ điệu cải lương, sân khấu. Ở đó có nhiều tên tuổi từ hồi nào đến giờ. Họ là những cụ già neo đơn, ngồi hồi tưởng lại thuở vàng son dưới ánh đèn sân khấu. Thấy sân khấu cả trong giấc mơ già. Gảy lên những tiếng đàn ghi ta phím lõm. Giọng ca mùi rêu thuở nào nay đã run giọng, ít hơi, xuống nổi câu xề muốn đứt hơi luôn. Các cụ như những di tích để trong viện bảo làng, cho đời sau con cháu còn “tham quan”. ở thế kỷ đó, tại mảnh đất Nam bộ Việt Nam đã từng sinh ra một nền văn nghệ sân khấu cải lương. Có những tên tuổi đào kép v.v và v.v… Nền cải lương ấy đã chết, lý do có Trời biết.
° ° °
Đầu niên học nào cũng vậy, tôi xanh xao cả người, chạy lo cho ba đứa con đi ăn học. Ba cháu đều học trường công, tức là trường của nhà nước lập ra cho dân. Nhưng cũng mệt lắm, tốn kém lắm. Có năm tôi phải mang giấy nhà đi cầm để có tiền đóng góp cho con đi học. Mảnh giấy cầm nhà đó tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Từ đầu hè, chờ cho các con được đủ điểm lên lớp hay lưu ban cũng phải “chõm” vào một mối nào đó lo tiền học cho con. Hoặc gia đình ăn mắm mút dòi để dành dụm cho con nhập học. Thôi thì đủ thứ đóng góp cho nhà trường, trong ngày hội cờ rong trống mở ấy, truyền hình quay phim, báo chí đăng, nhất định đó là một ngày trọng đại. Kìa trống trường điểm, đích thân thầy hiệu trưởng đánh trống khai mạc cho niên học mới, diễn văn nêu cao thành tích đạt được trong niên học cũ, năm nay thì phải đạt chỉ tiêu mà trên đã đề ra. Quán tính thôi, các vị phụ huynh cứ tự động lo, chẳng có thông cáo nào báo trước hết. May nhờ dại chịu, y như là đánh số đề, may thì trúng không may thì trật. Tôi nói gì mà làm xàm vậy? Tôi xin được giải thích mà tự tin rằng không phải là ngụy biện. rút kinh nghiệm đã nhiều lần, biết bao nhiêu lần trật vuột, mới hiền khô mới dễ ăn dễ bảo như ngày hôm nay, những mong ăn mày được tí chữ thánh hiền” cho con cái. Tôi muốn nói đến chương trình học của học sinh và các loại sách giáo khoa các cấp mà bây giờ in ấn, xuất bản tràn lan, kể cả in lậu. Tôi không hiểu tại sao, lý do gì mà người ta lại giấu chương trình học mỗi năm và các cuốn sách dành cho bầy trẻ như giấu bí mật quốc phòng. Mãi đến lúc nhập học rồi, các cháu mới biết tên các cuốn sách phải mua cho đúng. Ai mua trước may ra thì trúng mà không may ra thì trật, như tôi đã nói. Hàng năm việc phát hành sách giáo khoa là việc của Bộ Giáo Dục và Sở Giáo Dục. Hai cơ quan này thường xuyên đấu đá nhau vì quyền lợi phát hành sách quá lớn lao. Bao nhiêu triệu học sinh và cần bấy nhiêu triệu cuốn sách trên toàn quốc. Sách gần như thay đổi qua từng niên học, nên sách của con chị đã học qua không thể để lại cho thằng em. Đất nước tiến bộ mà, không phải thuở lỗi thời ôm mãi cuốn Quốc văn Giáo Khoa Thư từ thế hệ này sang thế hệ khác. Rồi đồng phục, giày dép, mũ mãng, quần áo thể thao, mỗi trường một khác. Toàn là những màn trình diễn cho có vẻ văn minh tiến bộ. Khổ nhất bao giờ cũng là phụ huynh học sinh. Đóng góp đủ thứ tiền, thu nhập của cha mẹ lại không cao. Như hoàn cảnh tôi, mỗi niên học đều phải cầm thế giấy chủ quyền nhà với lãi xuất cao để đóng góp cho các con ăn học, không có một sự giảm thiểu nào. Nhiều trẻ phải bỏ học, cha mẹ không lo nổi, mặc dầu nhà nước ra rả kêu gọi xóa nạn mù chữ. Nhưng đó là chuyện ai nấy làm. Hàng năm nhà nước vẫn có những con số triệu triệu các học sinh tới trường. Không lẽ tôi là người trong cuộc mà lại nói sai, nói láo. Xuân thu nhị kỳ họp phụ huynh học sinh. Đầu niên học họp một thùa kêu gọi phụ huynh đóng hội phí. Cuối niên học họp một thùa nữa tổng kết. Tổng kết cái gì? Chẳng gì cả! Những ý kiến đóng góp của phụ huynh học sinh đầu niên học có ghi biên bản, nếu nói một cách tiêu cực thì chẳng giải quyết gì. Đâu vẫn hoàn đấy, kêu gọi và đóng góp, điệp khúc ấy trở nên nhàm chán. Nhiều phụ huynh học sinh chán chẳng còn phát biểu gì nữa, thụ động và chẳng muốn tham gia vào bất cứ một lời kêu gọi nào. Vô tình tôi cũng trở thành một thứ phụ huynh học sinh như vậy. Tôi mất sức lao động lại chuyên nghề làm thinh, nên thu nhập không là bao. Bạn bè nhiều người thương mà giúp đỡ. Có ông bạn đầu niên học giúp cho cháu bộ sách giáo khoa, nhưng đến ngày nhập học mới được biết, năm nay cháu không dùng sách của Sở mà dùng sách của Bộ. Lại một thùa chạy tiền mua sách cho con. Cùng một chương trình, nhưng sách này và sách kia chỉ sai khác một dấu chấm, phẩy cũng không được… Đầu năm các cháu ghi chép vào sổ báo bài dài dằng dặc những món tiền đóng góp để các cháu trở thành học sinh: Bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm y tế, giúp học sinh nghèo vùng sâu vùng xa… Bố ai biết được nó như thế nào. Học sinh đi đái đi ỉa cũng phải đóng tiền vệ sinh. Trong trường học không có phòng y tế, cũng chẳng có lấy một lọ dầu cù là bố thí, nhưng vẫn phải đóng liền bảo hiểm tai nạn. Bảo hiểm y tế đóng không nhiều lắm nhưng nếu có được bồi thường chỉ có một số bệnh trạng nào đó do hãng bảo hiểm qui định… Chuyện lấy được tiền bảo hiểm cũng trầy da tróc vẩy. Đầu niên học này, tôi nhận được giấy mời đi họp hội phụ huynh học sinh. Tôi chán nản quá, tính chỉ đến nộp sổ liên lạc của con rồi về. Vì tất cả những gì nhà trường cần đến đều đã ghi vào sổ báo bài. Thầy cô giáo mời mãi, nể quá tôi đành vào họp. Chẳng có gì khác như gần mười năm nay tôi từng đi họp. Phần phụ huynh phát biểu, hình như chẳng ai muốn nói gì, cuối cùng có một vị đứng lên. Ông ta hết lòng ca tụng nên giáo dục tiên tiến, ca tụng sự kêu gọi đóng góp rất hợp lý của nhà trường, ca tụng thầy cô và nhiều điều muốn ca tụng khác, như kêu gọi phụ huynh nên đóng góp cho bảo hiểm y tế… Toàn thể phụ huynh, tôi là 39 người ngơ ngác nhìn nhau. Thật gần mười năm trời nay tôi mới thấy một vị phụ huynh học sinh năng nổ như vậy. Một vị phụ huynh ngồi cạnh, nói với tôi: – Lại có một con chim mồi. Ông ta hót hay lắm, hay đến đi ra ngoài luồng luôn, chẳng ai buồn nói gì, nhưng món bảo hiểm y tế vẫn ế khứa… Cô giáo thì than trời vì từng bị phụ huynh tới hạch sách về chuyện đóng góp cho nhà trường. Cô chỉ làm theo lệnh… trên. Lương của cô giáo chỉ được hai trăm ngàn đồng một tháng mà thôi, cô dậy học vì yêu nghề. Tôi có ba đứa con theo học mà từ nhiều năm nay tôi chưa từng biết vị hội trưởng và chi hội trưởng. Mãi đến cuối niên học, các vị ấy mới xuất hiện, tặng sách vở cho các cháu nghèo. Cũng nằm trong tiền hội phí của phụ huynh học sinh đóng góp. Tiền liên hoan chia tay thầy trò bạn bè cũng do học sinh nã tiền bố mẹ đóng góp. Ở đây tôi chỉ nói sơ qua về nền giáo dục, tôi không thể nói nhiều được vì có nói gì cũng không lại. Tôi mang những chuyện này tâm sự với ông cụ Mạnh. Ông bạn già Mạnh là một vị đức cao vọng trọng. Ông pha một bình trà ngồi uống với tôi lắng nghe tôi nói. Cụ chậm rãi nói: – Như thế hệ chúng ta, cho con cái học mong cho ấm thân chúng nó, may mắn thì chúng đỗ đạt ra làm quan. Nhưng nay thì khác, làm quan rồi mới đi học. Anh không thấy bao nhiêu là lớp bổ túc văn hóa cho các quan chức đó sao. Giữ những chức vụ quan trọng về kinh tế mới học về kinh tế tại chức. Ông cụ đứng nhìn vườn cây cảnh và hòn giả sơn mà cụ khoe mới đắp. Cụ khuyên tôi nên giữ gìn sức khỏe vì biết tôi có bệnh cao áp huyết. Đời này thiếu gì kẻ múa rối mà tưởng mình vũ ballet.
° ° °
Hình như đất nước tôi năm nào cũng có bão lụt thiên tai, dân cư khổ trăm bề. Những ngày tháng cuối năm, từ tháng 7 âm lịch trở đi, bão táp thiên tai hơi nhiều, liên tiếp hết cơn bão này đến cơn bão khác. Đầu tiên thì gọi là áp thấp nhiệt đới Những cơn mưa dầm dề tối trời thối đất rồi mới tới những cơn bão, tùy nó đến đâu và đổ bộ vào đâu. Sài Gòn mấy ngày nay mưa dầm dề, tôi không thể ra đường hoặc đi đâu được. Tôi đành ngồi nhà. Ngồi nhà thì buồn quá, tôi phải giải trí gì cho đỡ buồn. Tôi lục tìm trong đống băng Vidéo, bắt gặp vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Đúng rồi, một vở kịch hay, tôi cũng đã xem, bây giờ xem lại nữa cũng chẳng sao. Vở kịch hay, nếu khen ngợi thì tôi chỉ còn biết nói là hết ý. Câu chuyện dựa theo một chuyện cổ Việt Nam, lại biến thành kịch. Tài năng và bút pháp của kịch tác gia xuất thần, một con người đầy kinh nghiệm sống đã làm nên một kịch bản tuyệt vời. Tôi nhớ nội dung của câu chuyện cổ chỉ là chuyện lầm lẫn của Thiên Tào và Bắc Đẩu bắt lầm hồn của ông Trương Ba, sai thì phải sửa sai, bèn cho ông Trương Ba sống lại, mượn xác của một người mới chết, anh hàng thịt. Tâm hồn, đúng của ông Trương Ba, nhưng thể xác lại là anh hàng thịt, một tay đồ tể chuyên nghiệp. Cái rắc rối là ở đó. Tác giả đã dẫn dắt người xem từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Giàn diễn viên nhà nghề, tài năng đã đưa vở kịch lên đỉnh cao. Nói được lất cả những gì tác giả muốn nói, những lầm lẫn, những mẩu đời sống thật mà thời nào cũng có, cũng giống nhau đã được thể hiện mạch lạc chặt chẽ, khiến người xem cười ra nước mắt. Tác giả của vở kịch bây giờ không còn nữa, anh đã chết cùng vợ con trong một tai nạn thảm khốc. Tôi đã được xem một đoạn phim phóng sự về bà mẹ già của Lưu Quang Vũ nước mắt ngắn, nước mắt dài cắm nhang lên bàn thờ của con, dâu và cháu nội, một người già neo đơn, số phận phải như vậy. Cuối vở kịch, hồn Trương Ba, trong thể xác anh hàng thịt phải gào lên:”Sống như thế này mà là sống à?”. Cuối cùng Trương Ba xin được chết, trả lại cái xác cho anh hàng thịt. Có đầu thai nữa hay không cũng cóc cần. Trong nhiều năm nay, tôi ít khi xem được một vở kịch hay như vậy, tôi cũng không hiểu tại sao vở kịch đó lại ra đời được, như một số sách, truyện, phim khác mà nhiều người mến mộ, nhắc đến như nói chuyện bí mật. Việt Nam còn nhiều tác phẩm hay lắm. Rất nhiều tài năng còn ở đâu đó, vì vốn sống của Việt Nam khá nhiều và khá phong phú trong một chiều dài lịch sử đất nước bi thương có thừa. Văn nghệ nó sẽ phản ảnh tất cả. Hãy chờ xem.
° ° °
Phải chăng tôi là một anh già hay gây gổ và lắm điều? Thật ra tôi không hẳn như vậy. Có gì đó tôi mới ra lời, nếu không tôi làm thinh cho yên. Tôi muốn yên vì tôi lười, đơn giản thế thôi. Vậy mà có những chuyện chẳng đặng đừng, muốn yên mà không yên được. Mới ngày hôm qua đây thôi, tôi lái chiếc xe Vélo Solex của tôi trên đường đông, có một chị trông cũng bảnh lắm lái xe Dream. Lúc qua mặt tôi, chị nhổ một bãi nước bọt, bãi nước bọt có lẽ của người bị ho gà nên có đờm. Bãi nước bọt bay thẳng vào mặt tôi dính nhằng nhằng. Tôi lộn liệt, nhả hết ga đuổi theo, cũng may gặp đèn đỏ ở đầu đường, tất cả xe cộ phải dừng lại. Tôi đuổi kịp chị ta. Tôi nói một câu rất là có văn hóa: – Này chị coi, bận sau đi xe trên đường không nên nhổ nước bọt bừa bãi như thế, vừa mất vệ sinh vừa không lịch sự. Chị ta nhìn thẳng tôi, lầu bầu câu gì đó trong miệng, tôi tưởng sẽ nhận được một lời xin lỗi nhưng không, chị khạc thêm một câu khác vào mặt tôi: – Biết là mất vệ sinh sao không chùi đi, lại còn lo bắt lỗi, muốn bắt đền hả, rõ là lắm điều. Tôi sững sờ, chưa kịp có phản ứng gì thì đèn xanh bật. xe cộ nối đuôi nhau chạy mất. Tôi dạt vào trong lúc, đứng chùi bãi nước bọt trên mặt. Tôi đã không kịp nổi nóng, như đã mất nhiều dịp nổi nóng, mọi chuyện xảy ra nhanh quá. Hồi đầu giải phóng tôi từng bị anh cán bộ cưỡi xe đạp chẹt tôi ngã văng cả kính trắng còn mắng cho một trận vì không chịu nghe tiếng “ếp ếp của anh, sau này dắt xe qua đường suýt nữa bị một ông trẻ mà làm lớn lái ô tô con xồ đến cán phải, còn bị chửi là thằng già chán sống. Đại khái là những việc như thế, tôi chẳng biết phải làm sao. Tôi muốn lắm điều mà không thể lắm điều được tốt hơn hết là làm thinh. Tôi dừng thiên hồi ký ở đây. nhưng tôi chưa gác bút.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.