Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Phần 11

Quá khuya, sương trải thật nhiều. Những giọt sương, đọng trên lá cây bên sân Tòa Tỉnh Trưởng Gia Định, rơi xuống mái tôn nhà tù như những giọt buồn ray rứt. Khu C-1 xây dài theo bức tường biên giới đề lao và tòa tỉnh – đã trở thành Trụ sở Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh. Nếu tính phòng 7 C-1 là đầu, thì đầu khu C-1 sát khít vỉa hè đường Phan Đăng Lưu. Tôi nhớ thuở Bùi Thế Cầu làm Tỉnh trưởng Gia Định, hay ghé đây thăm bạn … tổng đốc Gia Định Thành. Và tôi không quên những cây vú sữa chung quanh sân. Bây giờ, những giọt sương, đọng trên lá vú sữa, não nề rơi xuống mái tôn nhà tù. Và tôi ngồi giữa cái hoang vu của kiếp người, nghe điệu sáo thấm vào hồn mình. Nguyễn Vĩ đã diễn tả.

Sương rơi
… Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào
Em ơi
Trong lòng
Hạt sương
Thành một
Vết thương
Rồi hạt
Sương trong
Tan tác
Trong lòng
Tả tơi
Em ơi
Từng giọt
Thánh thót
Từng giọt
Điêu tàn
Trên nấm
Mồ hoang …

Những giọt sương của Nguyễn Vĩ đã rơi vào năm 1935, năm tôi “mang tiếng khóc ban đầu mà ra” đời. Vẫn là hạt sương của 40 năm trước, 40 năm sau nó tuyệt tích âm điệu thánh thót. Nó không còn là vết thương của một người nữa. Nó đã ngậm oan khiên của lịch sử giống nòi. Nó đã rơi xuống xác hai triệu người Việt Nam chết đói, một triệu rưỡi người Việt Nam chết Cải Cách Ruộng Đất, bao nhiêu triệu người Việt Nam chết thủ tiêu – bom đạn chiến tranh. Hôm nay, nó rơi xuống roi gạo mác xít, rơi xuống thuyền gỗ lênh đênh vượt biển, rơi xuống các trại tị nạn ô nhục, rơi xuống nhà tù, trại tập trung. Giọt sương theo nỗi đổi đời, đã thành giọt nước mắt. “Nếu cột đèn biết đi, nó sẽ đi tìm tự do”. Thuyền nhân nào đó đã trả lời phóng viên một đài phát thanh ngoại quốc thế. Sự ví von thật hay. Cột đèn không biết đi. Con người biết đi. Nhưng con người đã dừng lại sau chuyến đi dài. Người Việt Nam không thích nhớ những gì đáng nhớ, phải nhớ; không thích quên những gì cần quên, nên quên. Cái truyền thống hẩm hiu nhất của dân tộc ta là nhớ thù vặt và ham trả thù vặt. Triều đại này lật đổ triều đại kia, tiêu hủy mọi công trình xây dựng tốt đẹp, kể luôn công trình kiến trúc. Cao Miên còn hãnh diện có Đế Thiện Đế Thích, chúng ta còn gì? Phải cám ơn ông thực dân Pháp một tí. Nhờ ông chiếm đất nước tôi nên chúng tôi còn chút xíu lăng tẩm, thành quách triều đại Nguyễn Phúc Ánh. Ông sang muộn, những kẻ phục Lê lật đổ Nguyễn sẽ san bằng những lăng tẩm, bia mộ, đền đài ở Huế! Nhưng mà những kẻ nhớ thù vặt, trả thù vặt tận tình nhất vẫn là cộng sản Việt Nam. Mắt mờ thù hận, óc ủng thù hận, cộng sản Việt Nam đã dẫm nát báu vật và giam nhốt tài năng của dân tộc. Còn chúng ta, chúng ta bảo vệ báu vật và tài năng ra sao? Chúng ta hất hủi, hờ hững, kèn cựa. Và với triết lý thoát là tới, chúng ta đã quên những oan khiên mà giọt sương vẫn ngậm, vẫn rơi đều đặn xuống thân phận Việt Nam. Dân tộc đang kiên nhẫn bước trên sầu đạo để chiến đấu, để tìm ý nghĩa rạng ngời cho lịch sử. Quê hương đang cựa quậy. Chúng ta dừng lại, dầu chúng ta khác hẳn cột đèn. À, chúng ta cũng đi chứ! Chúng ta đi giật lùi. Đã nhiều dâu biển trong kẻ thù của chúng ta. Chưa có dấu hiệu sắp dâu biển trong cung cách chiến đấu để chiến thắng kẻ thù của chúng ta. Mọi lãnh vực, chúng ta đứng. Rồi nằm. Và nhai lại. Khi đó, những giọt sương đã “đổi đời” và không ngừng rơi xuống những xót xa, nghẹn ngào bắt thức tỉnh, suy tư.

Sự suy tư của tôi gần gũi nhất. Là cái “nội các” của ông Đinh Xuân Cầu. Trực giác của tôi cho tôi biết mục sư Trương Phiên đã bịp chúng tôi. Tôi chợt nẩy sự ngờ vực từ hôm Trương Phiên dọa tôi rằng công an mật đã bao vây nhà tôi. Hắn muốn cắt đứt đường về của tôi. Rồi hắn bảo tôi cho tổ chức mượn mấy lạng vàng. Tôi viết thư về nhà. Con gái tôi trả lời thay vợ tôi. Tôi đọc thư, lòng dạ tan nát. Con tôi viết: “Mẹ bị mù rồi hay sao ấy, bố ạ! Mẹ chẳng còn nhìn rõ cái gì”. Có lần, vợ tôi đã không đọc rõ chữ và tôi phải cầu cứu Bùi Duy Tâm. Tôi tin ngay. “Nhà cạn tiền rồi, bố về lo cho các con”. Tôi chưa về, vì nghĩ vợ con tôi chưa biết công an mật lởn vởn trước nhà tôi. Trương Phiên chở em vợ hắn đến An Đông lấy vàng. Hắn đã thất vọng. Hắn vẫn quả quyết ông tướng Ngô Quang Trưởng còn ở trong “bưng”. Đặng Xuân Côn đề nghị: “Chỉ cần đưa ông Trưởng về Sàigòn, dẫn ông tướng này gặp vài người là thừa vàng chiến đấu”. Trương Phiên nồng nhiệt hứa hẹn thực hiện kế hoạch Đặng Xuân Côn. Những chuyến “ra đi” của “nội các” cứ bị hoãn lại. Lần thì Nguyễn Cao Kỳ bay về bưng bắt Bùi Thế Lân, gây áp lực với Hội Đồng Bảo Quốc. Lần thì địch “báo động đỏ”, giăng lưới các cửa biển. Vân vân . Trương Phiên có tài nói và diễn xuất. Mục sư mà. Hắn phô bày chí lớn của hắn bằng bí danh Trương Mộng Hoàng. Họ Trương ôm giấc mộng trở thành hoàng đế! Hắn nói, ngay cả tôi nghe, cứ tưởng hắn dốc tâm can vì nước. Có nhiều lúc, kẻ khôn ngoan bỗng ngu xuẩn một cách tội nghiệp. May cho tôi, khi qua nhà số chẵn đường Tăng Bạt Hổ, nhân xem ti vi, tôi đã ngỡ ngàng. Báo chí Mỹ thân Cộng đã chụp đầy mặt tướng lãnh lưu vong tặng Việt cộng. Ông thì đang rót rượu, ông thì đang lau bàn… Việt cộng thuyết minh thêm. Mỗi chân dung tướng lãnh hiện rõ trên màn ảnh nhỏ. Có ông Kỳ, ông Trưởng … Tôi quyết định trở về sau vài tuần lưu lạc ở Hòa Hưng, Bảy Hiền. Thoạt tiên, tôi đến nhà bà Nguyễn Đình Vượng, địa chỉ tạp chí Văn. Tôi nhờ bà liên lạc với vợ tôi. Vợ tôi lên đón tôi chập tối. Sáng tỉnh mơ hôm sau, tôi đến Phú Nhuận. Tôi lại về nhà. Rồi tôi ở nhà luôn. Rồi tôi đi về lung tung. Chẳng thấy bóng dáng công an nào. Ông Đinh Xuân Cầu và Sao giò bị bắt trong tháng 1-1976. Tôi bình yên. Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Thiện Ngọ … bình yên. Chúng tôi vẫn gặp nhau ở một tiệm thợ may trong chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Trương Phiên tuyệt tích.

Tôi không đánh giá Trương Phiên như một công an cộng sản lùa chúng tôi vào lưới. Thấp hơn, tôi đánh giá hắn như một tên lợi dụng tinh thần chống cộng của mọi người. Hắn khôn khéo đạo diễn, thảy cái bè chuối xuống nước đúng lúc. Sau 30-4-75, rất nhiều tên làm tiền và làm tình bằng những thủ thuật phục quốc và rất nhiều người mất vàng, mất trinh, rồi vào tù. Hoàng hôn của miền Nam nó thảm thiết vậy đó. Tôi sẽ viết ở những trang sắp tới. Ông Đinh Xuân Cầu nghĩ rằng Trương Phiên là gián điệp Mỹ. Năm 19 tuổi, lòng chứa chan mộng ước, tôi theo Duy Dân lên rừng Ban Mê Thuột làm cách mạng. Trở lại Sàigòn thất học, bơ vơ, tôi thù hận chính trị, cách mạng. Và tôi đã diễn tả sự khinh miệt lãnh tụ trong tiểu thuyết Ảo vọng tuổi trẻ. Năm 1975, lòng chứa chan uất ức, tôi đi chống cộng sản. Và tôi cũng trở về, chán nản, bơ vơ. Rốt cuộc thì tôi vào tù, mất toi một lạng vàng cho sự nghiệp chống cộng đến chiều. Ít ra, tôi đã trung thành với khẩu hiệu Chống cộng đến chiều đầy hệ lụy mà tôi đã viết từ thuở tôi cầm bút chống cộng. Nhưng sự bẽ bàng chống cộng tàn mùa của tôi, một mình tôi chịu. Và tiếp tục nói dối cả với vợ con tôi, với Đặng Xuân Côn: “Tôi đã vào chiến khu, đã gặp Ngô Quang Trưởng, đã gặp Mỹ với khí giới tối tân!” Ở tù, tôi quen bao nhiêu con người chống công tâm huyết, trẻ có, già có. Họ cũng bị bịp như tôi. Bạn đã hiểu tại sao tôi khinh bỉ những tên lái buôn chống cộng, những công ty đấu thầu chống cộng. Tôi chưa cháy niềm tin chống cộng. Tôi vẫn chống cộng. Vì dân tộc, chắc chắn, là viễn vông. Vì những con người đã dấu diếm tôi, đã săn sóc tôi, đã kỳ vọng nơi tôi, ở các căn nhà hẽm phố Trần Quý Cáp, phố An Đông, phố Tăng Bạt Hổ, phố Tô Hiến Thành, Bảy Hiền, Xóm Mới. Chính xác, tôi chống cộng với tuổi trẻ, với các bạn Pháp và Việt của tôi. Tôi không chống cộng với lãnh tụ ghẻ lở, với cây mục vô tích sự, với lái buôn, cai thầu. Và tôi tin vào sự quật khởi của dân tộc tôi, không tin vào các thế lực ngoại bang.

Kẻng tù báo thức làm sự suy tư của tôi ngừng lại. Tù nhân bắt đầu ồn ào. Hãy tưởng tượng đống sơ mít, nhặng bu đầy, bị đụng khẽ. Tù nhân đã vo ve như thế từ lúc kẻng báo thức đến lúc kẻng báo ngủ. Sự tranh chỗ tiểu tiện, đại tiện, đánh răng, rửa mặt náo nhiệt vô cùng. Không có nhường nhịn ở nhà tù. Luật đời và luật tù giống hệt nhau. Thằng nào manh, thằng ấy chủ động. Những thằng mạnh, cộng sản biết dùng người lắm, là những thằng cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội, du đãng được sử dụng vào các chức Trưởng phòng và Trật tự viên. Những thằng này, bất cứ hoàn cảnh nào, đều biết cách đàn áp anh em để thủ lợi. Dưới chế độ cộng sản, các vua tù bị thoái vị. Trưởng phòng mất quyền bóc lột, hà hiếp tù nhân. Ở đề lao Gia Định, cộng sản ban phát cho Trưởng phòng ân huệ ra ngoài khiêng đồ tiếp tế của thân nhân tù nhân, mỗi tuần lễ. Ra khiêng đồ sẽ được gặp vợ con trong năm phút. Để bảo vệ quyền lợi khốn kiếp này, Trưởng phòng đã ghi những câu nói mỉa mai của tù nhân, báo cáo Trưởng khu hay Cán bộ giáo dục. Tùy theo mức “phản động” nặng hay nhẹ, tù nhân sẽ bị viết tự kiểm, sẽ bị cấm viết thư, sẽ bị cấm nhận quà tiếp tế, sẽ bị nằm cachot. Không phải Trưởng phòng nào cũng đê tiện. Cộng sản chọn người xứng đáng cho công việc xứng đáng. Khi nó đã chọn, đừng hòng từ chối. Từ chối là chồng đối chế độ. Chống đối chế đó ở nhà tù là mút chỉ ăn cơm hẩm. Đừng hòng tình nguyện. Tình nguyện là có ý đồ. Có ý đồ là bị điều tra. Ở bất cứ nhà tù nào, dưới bất cứ một chế độ nào, trên bất cứ một quốc gia nào, bạn đừng đòi hỏi tự do. Bạn chỉ được đòi ân huệ và chớ dại dột yêu sách. Yêu sách, bạn sẽ được nâng quan điểm lên bất mãn. Mỗi nhà tù một quy chế. Cái hợp lý ở đề lao Gia Định sẽ là cái vô lý ở khám Chí Hòa. Chính sách nhà tù cộng sản thả nổi. Ở đề lao Gia Định, bạn có quyền tuyệt thực. Sang khám Chí Hòa, bạn tuyệt thực thì bụng bạn đói mà thân bạn no đòn. Những kẻ chỉ loanh quanh các trại cải tạo không nên lạm bàn về nhà tù. Trại cải tạo là động. Nhà tù là tỉnh. Trại cải tạo là ánh sáng. Nhà tù là bóng tối. Ở trại cải tạo, cộng sản gọi bạn là trại viên. Nhà tù, cộng sản gọi bạn là can phạm. Ở trại cải tạo, bạn sống chung với các chiến hữu. Ở nhà tù, bán sống chung ô hợp với đủ mọi thành phần xã hội. Ân huệ của Trưởng phòng là ra ngoài khiêng đồ, gặp vợ con, hít no dưỡng khí, tắm nắng thỏa thuê, tuy còng lưng, mỏi tay. Ân huệ của Trật tự viện là đi đổ rác, phơi quần áo, tha hồ liếc nhìn các phòng, các cachots và gặp gỡ “anh em” ở đống rác, ở chỗ phơi quần áo. Ấy, ân huệ nhỏ mọn thế thôi, mà cộng sản dư khả năng tạo ra mọi ngờ vực, mọi phôi pha tình người. Trưởng phòng Lâm Văn Thế không thuộc loại đê tiện. Ít nhất, ông ta cũng là sĩ quan. Dzũng quan tài không tệ, nhưng đám mafia 6 C-1 cậy thế nó để tác yêu, tác quái ở hồ nước.

Không một tù nhân nào được tắm bằng nước chứa trong hồ. Nước này chỉ dùng xối cầu tiêu, rửa chén, rửa mặt, đánh răng và rửa … đít. Tù nhân bị cấm sử dụng giấy vệ sinh. Mafia 6C-1 bất chấp luật lệ. Nửa đêm, chúng thay phiên nhau tắm để ngủ ngon. Mỗi ngày, vòi nước lùa qua ô cửa gió 2 lần. Nước đầy hồ, tù nhân mới được tắm. Tù nhân trần truồng đứng xếp hàng. Mafia cầm vòi nước. Tôi đếm thử những cái tích tắc, tính ra mỗi tù nhân hưởng 10 giây đồng hồ tắm gội. Bị mafia ăn cắp một giây. 520 giây tắm cho 52 tù nhân đa số bị ghẻ lở! Không thể sát xà phòng. Ngôn ngữ tục tĩu nhất đã phóng ra ở sân tắm vào giờ nước vào. Những ngày Sáu Cầu làm Trưởng khu, không có điểm danh. Trưởng phòng đếm tù, rồi báo cáo cán bộ là xong. Những ngày này, tù nhận được nhận cà phê và trà. Mỗi ông tù có một cái vợt vải nhỏ. Màn tắm táp sáng nay đã xong. Tù nhân ngồi chờ nước sôi và nghe nhạc cách mạng oang oang từ cái ô-pạc-lơ gắn trên nóc phòng 7C-1. Tôi thích nhất bài Tình em biển nhớ của Nguyễn Đức Toàn. Có lẽ, tôi thích nhất hai câu đầu. Ở cái lúc chui rúc trong chuồng gà kỹ nghệ, sự nghiệp tiêu tan, thân thể lênh đênh, vợ đau con dại mà thưởng thức giọng hát Đỗ Dậu nỉ non: Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay, đất nước thanh bình, lòng ta mê say… thì dẫu là Khổng Tử, vẫn cần thiết chửi thầm. Thân phận tù cộng sản nó cay đắng khôn cùng. Nó không bị xét xử. Nó không có án. Nó không biết ngày về. Ba cái không chưa đủ làm điên, còn sáng, trưa, tôi nghe hát chưa có hôm nào đẹp như hôm nay!

Nhưng mà nước sôi đã tới. Cai ngục mở cửa. Trật tự viên xách xô nhựa ra. Tù nhân tín cẩn gánh nước từ bếp khu A sang, múc đầy xô. Trật tự viên xách vào. Chỗ chia cơm nước lại sinh động. 52 cái ca nhựa bầy sẵn. Tù nhân đứng hết dậy. 104 con mắt nhìn Trật tự viên chia nước sôi. Ăn thua từng giọt. Cãi nhau vì mì đã bỏ sẵn vô ca mà không ưu tiên chia nước trước. Phân bì ca nhỏ sao nước bằng mức ca lớn. Vân vân … Nước chia xong, tù nhân đem về chỗ của mình. Anh không có cà phê thì đổi nửa phần nước cho anh có cà phê lấy chút đường và… cái bã. Những anh ăn chung thì vừa ngâm mì vụn vừa pha cà phê. Mì ăn dứt, ta nhâm nhi cà phê, hút thuốc rê, thuốc lá, thuốc lào. Các anh máu mì, máu cà phê, thì pha bột Bích Chi, bột đậu xanh… Cách mạng kể ra tốt chán. Tù nhân điểm tâm bằng sự… nhịn ăn uống của vợ con mình! Chấm dứt điểm tâm là màn rửa ca, rửa muỗng. Bụng đã có tí sinh tố, tù nhân thay phiên nhau đi cầu. Và đây mới là hoạt cảnh. Anh tù lên giàn bắn. Anh ta chơi ra-phan. Những anh tù khác vừa nghe đạn nổ, vừa ngửi thuốc súng. Hàng tràng chửi thề tới tấp. “Xối nước đi”! Ngôn ngữ cách mạng phong phú. “Xối khẩn trương. Xối tối đa. Xối thoải mái. Xối nhanh. Xối mạnh. Xối vững chắc”! Anh tù cứ thản nhiên … rặn. Hòa bình rồi. Thống nhất tổ quốc rồi. Đi đâu mà vội. “Khẩn trương cho người khác tiếp quản cầu tiêu chứ”? 52 tù nhân xếp hàng đi cầu. Thì đâu vào đó cả. Cách mạng không sai lầm. Đảng ta luôn luôn sáng suốt. “Khắc phục ỉa đi!” “Khắc phục cái củ cà-rốt, đi cầu chứ đi sang Liên Xô sao?” “Mẹ anh, nhân dân làm chủ cái cầu hay anh làm chủ? Đầu óc tư hữu lạc hậu!”

Cuối cùng, mọi việc đều tốt. Tù nhân chơi cờ tướng, chơi đô-mi-nô. Khích bác nhau một chặp, chơi văng bậy và suýt chơi chân tay. Ông Thế say sưa học chữ Tàu. Ông hiểu trưởng Tàu say sưa học tiếng Việt. Các ông Tàu Chợ Lớn bị xử ức. Cộng sản nó bảo: “Anh ở nước tôi mấy đời rồi, anh không hoc nổi tiếng nước tôi, học viết chữ nước tôi, chúng tôi không làm việc với anh qua thông ngôn. Học đi, chừng biết viết Tự khai hãy nghĩ chuyện về sum họp gia đình.” Các ông Tàu thộn mặt. Và tự giác mình đã láo lếu mấy đời. Tù nhân chia từng nhóm. Nhóm ngồi hút thuốc tâm sự. Nhóm ngồi gãi ghẻ. Nhóm ngồi nặn trứng cá, nhổ tóc sâu. Chuyện tù sao mà nhiều thế! Nói hoài nói hủy. Thuốc rê đốt um khói. Thuốc lào rít liên hồi. Ở 6C-1, tôi yêu nhất hai chú bé phản động mà tôi quên tên. Hai chú bé dưới 18 tuổi, không tranh giành cơm nước, không chửi thề nói bậy. Hai chú bé nằm dưới sàn chia cơm và bắt được hai con dế chui vô phòng. Thế là hai chú bé đá dế, cười nói hồn nhiên. Tôi biết chắc hai chú bé không hề nuôi một tham vọng nào khi đi làm phản động. Không thích cộng sản, các chủ bé chống cộng sản. Đi chiến đấu hồn nhiên, vào tù hồn nhiên, đau khổ hồn nhiên và chiến thắng vẫn hồn nhiên. Đất nước cần những tâm hồn chiến đấu không thèm toan tính ấy. Hai chú bé con nhà nghèo, không một ai tiếp tế. Chỉ sống bằng cơm tù, ai cho gì cũng từ chối. Cuộc chiến đấu của tôi còn vì những chú bé như hai chú bé này. Tôi bị lừa gạt niềm tin hai lần. Lần thứ nhất, tôi 20 tuổi. Lần thứ hai, tôi 40 tuổi. Tôi không muốn những chú bé Việt Nam bị lừa gạt niềm tin chiến đấu. 20 tuổi, tôi viết:

Tổ quốc mình đó em
Anh đi làm lịch sử
Với bọn cò mồi hèn
Thấy thiên đường đổ vỡ
Anh còn gì đâu em
Anh còn gì cho em

Từ niềm tin đầu đời bị lừa gạt, tôi chở sự phẫn nộ vào cuộc sống. Và rồi tôi bơ vơ, lạc lõng. Tôi trở thành kẻ quá khích của điều thiện, một thứ cuồng sỉ khó ai dung dưỡng nối. Kẻ quá khích của điều thiện chỉ đem về cho nó những thù ghét cay đắng, những ngộ nhận nghiệt ngã, những săn đuổi không thương xót. Không phải bất cứ ai cũng có thể giải tỏa nỗi ẩn ức của mình bằng chữ nghĩa. Tôi nghĩ tới những tác động phá phách của tuổi trẻ mất niềm tin và cả những bất động nữa. Cả hai điều thiệt thòi cho quê hương. Bọn buôn bán tuổi trẻ đã không hề nghĩ đến sự thiệt thòi ấy. Chúng nó chỉ biết làm lợi cho chúng nó. Và tôi lên tiếng. Tiếng nói của tôi chìm vào hư vô bởi những khỏa lấp của quyền lực và tài lực. Thêm nữa là sự rút đầu xuống cát của đà điểu văn nghệ. Chẳng ai ngu si đi tìm những oan khiên cho mình. Ai cũng biết khôn ngoan sống chiều lòng người, vừa lòng người, đẹp lòng người, khen luôn những cái không đáng khen của người, suốt đời ngậm miệng không chê người… Cái triết lý sống bần tiện này không nên có ở những người cầm bút trong thời đại hôm nay. Anh đừng nói anh chuyên viết và bình luận văn học, không dính dáng chính trị. Chúng ta đang sống ở kỷ nguyên mà con người khó thoát khỏi quỹ đạo chính trị. Anh không làm chính trị, anh cũng không có thái độ chính trị nữa sao? Vậy sự từ bỏ Việt Nam sang Mỹ của anh là thái độ gì? Kỷ nguyên nghệ thuật vị nghệ thuật đã chấm dứt và nó rất lạc hậu đối với hiện cảnh và thảm cảnh Việt Nam. Người cộng sản chỉ mong anh không có thái độ chính trị, chỉ mong anh bàn về ăn mặc, uống trà, để khen anh. Họ đã khen anh. Và rồi họ sẽ nuốt anh. Như họ đã nuốt anh em của anh, dẫu có người chưa hề có thái độ chính trị. Thế Viên chẳng hạn. Vũ Hoàng Chương chẳng hạn. Anh khôn lõi. Tôi dại dột. Nếu các hào kiệt Nhân văn giai phẩm đã khôn lõi, chắc chắn, đã không có dấy động tuyệt vời của chữ nghĩa. Anh khôn lõi, anh được tôn sùng. Tôi dại dột, tôi bị ghét bỏ. Nhưng tôi hãnh diện về sự dại dột của tôi. Và tôi ngạo nghễ khinh thường thơ văn không chính kiến của anh hôm nay là:

Thứ thơ văn nghìn năm không dấy động
Thơ văn cột rỗng
Lớp son mầu mè tỉa tót công phu
Thứ thơ văn tửu hậu trà dư
Thơ văn chết khi cuộc đời căng nhựa sống
Thơ văn ngồi khi Việt Nam khốn quẫn
Thơ văn nằm khi bạo lực diễn hành
Thơ văn tô móng tay khi dân tộc đói nhăn răng
Thơ văn nhẫy nhụa môi son vênh vang trưng diện

Tôi viết văn, làm thơ chẳng hề đeo tham vọng đi vào văn học sử hay bất tử. Với tôi, đó là chuyện hề kệch cỡm. Trước năm 1975, rất nhiều lần, tôi thành thật nói tôi viết văn để mưu sinh. Không biết làm nghề gì cả, tôi làm nghề viết văn. Và tôi đã sống bằng nghề viết văn, hoàn toàn sống bằng nghề viết văn. Không có thiên chức hay sứ mạng gì trong văn chương của tôi cả. Chưa từng ngửa tay nhận tiền của cơ quan ngoại quốc nào để vừa viết văn vừa ăn vừa lo nộp sách. Cũng chưa từng ngửa tay nhận tiền của Mạnh Thường Quân nào. Tôi bán chữ nghĩa của tôi thẳng cho nhà xuất bản. Tôi là công nhân chữ nghĩa, nếu anh muốn gọi thế. Tôi bắt đầu có tham vọng văn chương từ hôm Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung, tác giả Vụ án hồ con rùa, đại diện đảng Cộng sản Việt Nam, nói với tôi một câu đầy miệt thị: “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh.” Rồi trải qua ba nhà tù, hai trại tập trung ròng rã 6 năm. Rồi nhìn lại một Sàigòn bán máu đỏ mua gạo đen, nhìn lại một sản phụ không sữa nuôi con bị vắt vú ba lần mới được mua sữa bò giá chính thức, nhìn lại cảnh chó và người mưu sinh chung ở đống rác, nhìn lại vô số … Rồi tôi vượt biển và nhìn đồng bào tôi bị ngược đãi tại quán trọ trước cổng thiên đường. Tôi càng thấy tôi nên có tham vọng văn chương. Tham vọng văn chương của tôi sẽ không bao giờ đi vào văn học sử. Tôi nghĩ chúng ta cần có tổ quốc đã. Thiếu tổ quốc, hình như, không có lịch sử và mọi chuyện đều vá víu tạm bợ. Vậy thì tham vọng văn chương của tôi, bây giờ, là ngày mai của tổ quốc tôi. Muốn có ngày mai của tổ quốc, tôi phải chiến đấu. Văn chương của tôi là văn chương chiến đấu, là tư tưởng dấy động, là chữ nghĩa lên đường; không thể là văn chương chết, là tư tưởng ngồi, là chữ nghĩa nằm. Văn chương ấy phải làm thế giới xúc động mà cảm thông nỗi khổ của dân tộc tôi. Tôi đã sung sướng thực hiện được một bước trong ngàn bước tham vọng văn chương của tôi, dẫu tôi cô đơn, âm thầm làm một mình, dẫu tôi bị móng vuốt của đố kỵ hèn mọn cào cấu chảy máu, dẫu tôi bị bạo lực cộng sản bức tử. Nói tóm lại, tôi thích được gọi là người viết văn có chính kiến và chấp nhận mọi thiệt thòi, vật chất và tinh thần, cho kẻ ham bày tỏ chính kiến rõ rệt, dứt khoát. Tôi đọc ở Remarque câu này: “Khi thế giới còn những bọn hung tàn vô nhận đạo mà mình biết mình đủ khả năng chống đối, lại không dám chống đối, là mang tội ác.” Tội ác trên cả tội lỗi, ghê gớm lắm. Tôi sợ mang tội ác nên tôi tiếp tục chống đối, sau thêm một phen bị lừa gạt niềm tin ở tuổi 40. Tôi đã chiến đấu ngoài đời và trong văn chương. Ở hoàn cảnh tôi năm 1975, anh không dám phản động đâu. Chưa ai lãng mạn hơn tôi. Với tôi, tất cả đều trực diện chiến đấu, không phục kích, chiến đấu công khai. Cuộc chiến đấu của tôi rất trẻ nên tôi cần dẹp bỏ bọn lái buôn lý tưởng của tuổi trẻ.

Tôi ngồi suy nghĩ vẩn vơ một chặp thì đến giờ phát thuốc. Mọi sinh hoạt ngừng hẳn. Tù nhân chen nhau ở chỗ chia cơm nước. Vì cửa phòng mở rộng, ai cũng thèm đứng gần cửa để hít dưỡng khí. Y tá tù bê một khay thuốc.

– Ai bệnh cảm cúm?

Tù nhân bị cảm cúm dơ tay. Mỗi người cầm sẵn một ca nước. Y tá múc thuốc bột bằng muỗng cà phê từ cái hủ thủy tinh. Thuốc cảm giống màu xi măng nên tù nhân đặt tên nó là thuốc xi măng. Tù nhân uống thuốc trước mặt y tá.

– Ai cảm sốt?

Tù nhân cảm sốt dơ tay. Thuốc cảm sốt y hệt thuốc cảm cúm. Nghĩa là thuốc xi măng ở cùng cái hủ.

– Ai đau bao tử?

Đau bao tử được uống xi rô màu hồng.

– Ai đau tim?

Bệnh tim tương tự bệnh bao tử, nên trị bằng … xi-rô màu hồng luôn.

– Ai tiêu chảy? Ai ghẻ mủ? Ai kiết lỵ?

Ba bệnh nầy chung một triệu chứng. Và bệnh nhân uống Xuyên Tâm Liên, món thuốc trị bá bệnh, trị cả ung thư nữa. Tù nhân đau bao tử và đau tim… giả vờ đông hơn cả tù nhân đau thật sự. Vì xi-rô có đường. Tù nhân cần chất đường, thêm chất đường cho đỡ hại cơ thể! Cách mạng nắm vững vấn đề. Do đó, đau tim và đau bao tử chỉ được phát một muỗng cà phê xi-rô hồng. Các thứ bệnh “điều trị” xong, y tá phát thuốc tư. Thuốc tư là thuốc của thân nhân gởi vào nhà tù cho tù nhân. Thuốc phải đăng ký ở Phòng Y Tế của đề lao. Muốn xử dụng hôm nay, tù nhân phải thông báo y tá từ hôm qua. Y tá ghi vào sổ. Tù nhân đăng ký thuốc tư có số riêng. Trừ thuốc bổ, các thứ thuốc bệnh phải uống trước mặt y tá. Khi tù nhân bị bệnh đột xuất, thí dụ trúng gió, ngộp thở, bất kể ngày đêm, trưởng phòng ghé miệng sát cửa gió, nói lớn: “Báo cáo cán bộ, phòng … có người bệnh nặng.” Bác sĩ nhà tù sẽ đến cấp cứu. Bệnh nguy kịch, tù nhận được chở qua bệnh viện Nguyễn Văn Học.

Màn phát thuốc chấm dứt. Cửa phòng khép lại, khóa kỹ. Y tá sang 7C-1. Thời khoá biểu đề lao được áp dụng trúng phóc. Đến giờ cơm trưa. Cơm trưa đề lao ăn lúc mười giờ. Cửa phòng mở. Trật tự viên và hai “trực sinh” ra khiêng cơm và thức ăn vào. Tù nhân thay phiên nhau, hàng ngày, hai người chịu trách nhiệm quét phòng, lau sàn phòng, bục ngủ, chà rửa sàn nước, cầu tiêu, khiêng cơm. Cơm nước chia xong, phải lau sàn và rửa thùng đựng cơm, thùng đựng thức ăn sạch sẽ. Một ngày làm công việc này gọi là trực nhật, và người làm gọi là trực sinh! Theo luật nhà tù xã hội chủ nghĩa, phòng giam tập thể chia thành nhiều tổ, mỗi tổ 10 tù nhân lãnh đạo bởi Tổ trưởng và Tổ phó. Vậy một phòng giam có Trưởng phòng (chủ tịch nhà nước), Phó phòng (phó chủ tịch nhà nước), Trật tự viên (Tổng Bí thư), Thư ký (ban bí thư trung ương đảng), các Tổ trưởng, Tổ phó (uỷ viên trung ương đảng). Mỗi tối thứ sáu họp phòng, kiểm điểm … thành tích tù. Biên bản ghi một câu đúng chỉ tiêu đặt ra: “Các can phạm triệt để tin tưởng vào sự khoan hồng nhân đạo của Đảng và Nhà Nước, quyết tâm học tập cải tạo tốt để sớm được về sum họp gia đình. Trước khi bế mạc, các can phẩm hồ hởi, phấn khởi liên hoan văn nghệ bằng hợp ca bản Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Biên bản này được đọc lớn cho cả phòng nghe. Mọi người nhất trí.” Trực sinh do Tổ trưởng chỉ định từng cấp thuộc tổ mình. Trưởng phòng, trật tự viên, thư ký được miễn trực nhật.

104 cái ca nhựa được bày thứ tự thẳng hàng. Trật tự viên phân phối cơm và thức ăn. Cơm gạo hẩm, đầy cả cỏ ngọn. Thức ăn bữa thì hai miếng đậu kho, bữa thì su su kho, bữa thì cá ngừ hay cá đuối kho, bữa thì canh rau muống già, canh bí rợ. Kho và nấu canh bằng muối. Đậu kho tuyệt tích từ tháng 8-1976. Muốn ăn miếng thịt cà ri hay thịt khô, phải đợi mấy ngày lễ lớn. Thường xuyên là cá biển ươn kho. Ươn phát thối thì cà-ri cá. Cá biển lừng danh đến nỗi tù nhân đặt cho những tên mỹ miều như: Trần Thị Lệ Đuối, Lệ Ngừ… Cuối cùng, các loại cá biển nhà tù mang chung tên của một ca khúc cách mạng: Đàn Ta-Lư. Bởi vì, tù nhân bị ghẻ mà ăn cá ngừ, cá đuối thì gãi bằng thích. Khi gãi ghẻ, tù nhân bảo gẩy đàn Ta-Lư! Tính tính tính tính tang tính tình … Đàn em reo vang, đàn Ta-Lư. Vừa gãi ghẻ, vừa nghe danh ca hạng nhất Hà Nội là em Tường vi hát Đàn Ta-Lư, sẽ giật giật tuyệt cú mèo. Chia cơm ồn ào gấp bội chia nước sôi. Đôi khi, đấm đá xảy ra giữa các ông tù trộm cướp với các ông tù mafia. Trưởng phòng giả vờ đui điếc. Báo cáo cán bộ, đêm nó nấu bao ni-lông, nó đổ vào mắt là mù.

Bữa cơm trưa vừa dứt là kẻng báo ngủ trưa. Cả phòng im lặng. Không ngủ thì ngồi im lặng. Bây giờ, phòng giam mới là cái lò nướng bánh mì đúng nghĩa. Nắng hừng hực trên mái tôn. Sức nóng hầm da thịt. Tù nhân mình trần, quần xà lỏn nằm nghiêng, nằm ngửa trên bục xi-măng. Mồ hôi tuôn xối xả. Nguyễn Hải Chí thấm ướt cái khăn tắm đặt lên ngực cho mát mà ngủ. Chừng thức giấc, cái khăn khô rom. Mồ hôi không ra ở ngực, nó ra ở lưng. Vài tù nhân quên Nội qui, cởi truồng nằm ngửa tênh hênh, ngáy pho pho. Thân phận con người như những con heo cạo lông phơi bày trên sạp bán thịt. Không hiểu tại sao tù túng thế, khổ cực thế mà tính dục vẫn chưa bị diệt. Kìa tù nhân cởi truồng nằm ngửa, khẩu đại bác đang dựng đứng. Và trong giấc mơ hoa ở lò nướng bánh, hắn đã bắn máy bay, đạn phọt lên! Hắn cựa quậy. Rồi hắn vội lấy khăn che dấu khẩu đại bác. Tôi ngồi dựa lưng vào tường quan sát. Chẳng biết một mai sống sót về, tôi có đủ khá năng diễn tả một buổi trưa hè trong một phong giam ở đề lao Gia Định? Tôi viết về những cuốn sách dính dáng tới nhà tù. Tôi tưởng tượng. Tôi viết mò. Tôi gian dối với độc giả. Tôi vừa tìm ra cái lý do văn học của chúng ta thiếu tác phẩm lớn, tác phẩm tầm vóc quốc tế, dù quê hương chúng ta đầy dẫy đề tài kích thước, để cống hiến cho các nhà vẫn thống lĩnh đỉnh núi trong suốt ba thập niên cách mạng, thù hận, chiến tranh, giải phóng, chia lìa, đổ vỡ, lưu đày, đói khổ, ngục tù… Nhà văn lỗi lạc của chúng ta ở miền Bắc đã bị cưỡng bức sa đọa hóa tư tưởng. Họ đã bị hoàn toàn tê liệt sự rung động và sáng tạo. Nhà văn lỗi lạc của chúng ta ở miền Nam thì ít sống, sợ sống, lười sống. Hãy đọc Sống chỉ một lần xem Mai Thảo sống ra sao. Sống loanh quanh thành phố, lang thang phòng trà, tửu điếm, hộp đêm. Sau một kinh qua vỡ núi lấp sông của dân tộc, Mai Thảo cứ nhởn nhơ sống theo phong cách đó và thản nhiên tái bản Sống chỉ một lần. Những tài năng đoạt giải nhất, giải nhì khác? Chưa có biến chuyển khác lạ. Vẫn nhai lại. Tôi xác định thêm một lần nữa: Tôi chỉ là người viết tiểu thuyết mưu sinh tầm thường, không đáng kể. Tôi kỳ vọng những tác phẩm lớn ở những nhà văn lỗi lạc của chúng ta. Không có, vì họ sợ sống. Thế Phong đã đưa ra một đề nghị lạ lùng: “Muốn có tác phẩm lớn, phải nhờ bọn thống trị lôi các nhà văn ra bùng binh Chợ Bến Thành, quất roi xuống thân phận họ, họ sẽ viết.” Có vẻ sa-đích. Mà đúng. Nhà văn của chúng ta thiếu phẫn nộ bởi lánh xa mọi phẫn nộ của dân tộc. Có kẻ đã thể nghiệm sự phẫn nộ, sự thống khổ của quê hương đấy. Kẻ ấy giương danh nhà văn chân chính, chê tư tưởng thiên hạ “Cao hơn giép râu cộng sản”, viết pho sách ngót nghét nghìn trang để chỉ phô diễn sự “Ăn vụng, ăn cắp, ăn tranh phần cơm heo”. Chẳng nên làm nổi danh kẻ này bằng cách nêu tên ông ta và tên “tác phẩm để đời” của ông ta. Tôi vừa vỡ lòng cay đắng, đang nhập môn thống khổ, nhưng tài còm của tôi vẫn khó hứa hẹn diễn tả nổi một buổi trưa hè trong một phòng giam của đề lao Gia Định. Thật sự mà nói, muốn có tác phẩm văn học lớn, chúng ta phải chờ đợi các nhà văn trẻ thế hệ sau 1975.

Kẻng báo thức lại khua. Tù nhân lại ồn ào. Vòi nước đã chuyển qua ô cửa gió. Như buổi sáng, nước đầy hồ rồi thì mỗi tù nhân có 10 giây tắm, gội không sát xà phòng. Cuộc tắm hà tiện nước của cách mạng chấm dứt khi vòi nước kéo mạnh ra. Người ta đã nhìn đồng hồ mà ban ân huệ tắm. Y tá xuất hiện với hai chai thuốc ghẻ xanh và vàng. Xanh là Bleu de méthylène. Vàng là gì, tôi không rõ. Vàng, nếu tôi đúng, là môn thuốc ghẻ cổ lỗ sĩ chế bằng diêm sinh và lưu hoàng, mùi hôi khó tả và xức ghẻ thì xót điếng người. Y tá rót thuốc xanh và vàng vô hai cái lọ thủy tinh mà Trật tự viên có bổn phận bảo quản. (Nhà tù sợ tù nhân tự sát hoặc sát hại nhau bằng mảnh thủy tinh). Thêm một hoạt cảnh đề lao. Ghẻ mủ, ghẻ nước, hắc lào đều bôi thuốc xanh, thuốc vàng. Hai tù nhân bôi thuốc cho nhau. Ghẻ đề lao ranh mãnh lắm. Nó cứ nhè “của quý’ mà lập chiến khu. Tù nhân nầy cởi truồng, chổng mông để tù nhân nọ bôi thuốc. Thuốc vừa bồi xong, tù nhân nọ vội lấy quạt quạt lia lịa. Vì thuốc xót vô cùng. Tù nhân bị bôi thuốc dẩy nẩy. Kẻ nhảy tăng tăng, kẻ quạt lia chia. Một vũ điệu ngoạn mục của đề lao Gia Định. Chừng hết xót, tù nhân đã được bạn bôi thuốc sẽ bôi thuốc trả nợ bạn. Và quạt. Bục tù biến thành sân khấu nhảy múa. Mà người biên soạn vũ điệu ghẻ là cách mạng, là Đảng quang vinh! Có tù nhân ghẻ tứ tung bèn sơn thuốc xanh khắp mình mẩy và được phong làm chim xanh, mang tên Mỹ: Mr. Blue Bird. Ông Thế kể đã có tù nhân chết vì … ghẻ, tháng trước, tại 6C-1. Tù nhân tên Tuấn, trung úy cảnh sát đặc biệt. Anh ta vốn mắc bệnh phong tình. Vô đề lao, anh bị ghẻ mủ. Anh ta tuyệt vọng, khước từ uống và bôi thuốc của vợ gửi vào. Anh ta khước từ tắm luôn. Ghẻ ăn chung quanh mắt anh. Nhà tù mời vợ anh vô thuyết phục anh. Anh vẫn khước từ. Người ta đưa anh vô bệnh viện Nguyễn Văn Học. Anh chết. Bởi anh tình nguyện chết.

Hoạt cảnh ghẻ hạ màn. Cơm chiều đến. Cơm chiều giống cơm sáng. Chia chác, ăn uống, rửa ca muỗng xong, tù nhân chơi đô-mi-nô, cờ tướng, chuyện trò, hút thuốc, nhớ vợ con, mong đợi thả về và chờ kẻng báo ngủ. Thế đó, trừ những hôm thăm nuôi, mua hàng, họp cuối tuần, sinh hoạt ở các phòng giam đề lao Gia Định giống hệt nhau. Một ngày như mọi ngày. Cô đơn trong thống khổ. Rã rượi trong tủi nhục.

Kiều Chinh – Việt Nữ Hữu “Tri Vong Quốc Hận”

baotreonline.com

Đặng Phú Phong

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Lời Giới Thiệu: Giữa lúc thị trường sách báo như buổi chợ chiều, các nhà sách, nhà xuất bản lần lượt đóng cửa thì sự kiện ra mắt cuốn hồi ký “Kiều Chinh, Nghệ sĩ lưu vong” của nữ tài tử Kiều Chinh tại vùng Hoa Thịnh Đốn, Houston, Westminster lại rất sôi nổi. Bài viết của nhà thơ Đặng Phú Phong dưới đây sẽ cho ta lời giải thích.

Ngày 30 tháng 10 sắp tới đây, chị sẽ đến Dallas để ra mắt hồi ký này. (Trẻ)

Tài tử Kiều Chinh. Nguồn: mubi.com

Kiều Chinh xuất thân từ một dòng tộc thế giá, hàm dưỡng được một nền đạo đức hòa lẫn giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, kiến thức, học vấn pha trộn giữa Ðông, Tây. Cuộc đời của chị là chuỗi kết nối của những biến động. Từ một thân lạc lõng ở cuộc di cư 1954, có một người bố tuyệt vời phải đành xa cách. Rồi làm vợ một người mà do sự sắp xếp của hai bên gia đình. Rồi bi kịch tan vỡ.

Trong hoàn cảnh phôi thai của nền điện ảnh VNCH, Kiều Chinh xuất hiện, sáng chói ngay những ngày đầu. Chị đã liên tiếp thành công trong những cuốn phim từng là kinh điển của điện ảnh. Như là: Hồi Chuông Thiên Mụ. Người Tình Không Chân Dung… vang bóng một thời. Chị nổi tiếng được nhiều người hâm mộ không chỉ ở Việt Nam mà tên tuổi còn vang vọng cả Ðông Nam Á. Chị được nhiều hãng phim từ các nước như Philippines, Hồng Kông, Singapore… mời tham gia những cuốn phim nổi tiếng. Từ năm 1964 chị cũng được mời làm tài tử chính trong những cuốn phim do đạo diễn Mỹ lựa chọn. Như phim Operation CIA hay sau đó là phim Leopoldo King Salsedo…

Cuối tháng 4/75 Kiều Chinh đã cứ bay từ Á sang Âu loanh quanh trong bầu trời mênh mông, trên các chuyến phi cơ không nơi đến. Chị phải chờ đợi tình hình chính trị VN cho rõ ràng mới được đáp xuống phi trường nào đó để được xin tị nạn. Và, ngày 1.5.75 Kiều Chinh là người VN đầu tiên được tị nạn chính trị tại Canada. Rồi may mắn được người bạn là tài tử người Mỹ từng đóng phim chung ở Saigon bảo lãnh qua Mỹ. Nhờ sự tận tình giúp đỡ của Tippi Hedren, Kiều Chinh được qua Mỹ, bắt đầu cho một cuộc sống mới đầy cam go thử thách. Con đường nghệ thuật chênh vênh trước mắt nên dù gì cũng phải sống; chấp nhận đi làm sạch chuồng gà, tạm thời có tiền để mưu sinh, để lo sum họp với chồng con. Ðịnh mệnh một lần nữa đã mỉm cười với Kiều Chinh. Chị đã được mời đóng vai chính trong loạt phim truyền hình ăn khách thời bấy giờ của nước Mỹ. Ðó là M*A*S*H* của Hollywood sau khi được casting đóng một vai phụ, vai một người đàn bà Trung Hoa bán thuốc lá, nói chỉ vỏn vẹn 2 chữ: Yes, Sir. Và chị đã khóc nghẹn ngào sau khi diễn xuất. Với vai diễn chính trong phim M*A*S*H*. Kiều Chinh là một thiếu nữ Ðại Hàn, yêu thương một quân nhân Mỹ. Mối tình đang tuyệt đẹp thì nàng phải rơi vào một lựa chọn xé lòng: Ở lại với người yêu hay quay về quê hương. Cuối cùng nàng quyết định gạt lệ chia tay người yêu quay về cố quốc. Kiều Chinh vui mừng nhận vai diễn này vì một phần trong lòng chị vẫn luôn canh cánh mối tình với Việt Nam đang nghìn trùng xa cách.

Tập phim này mở rộng cho cánh cửa bước vào Hollywood, một đất hứa, nơi danh giá cho tất cả các tài tử trên thế giới hướng về. Tên tuổi Kiều Chinh đã được khẳng định trong giới điện ảnh sau những cuốn phim tiếp theo, nhất là với cuốn phim The Joy Luck Club đứng thứ 22 trong 50 phim của Mỹ lấy nhiều nước mắt khán giả nhất. Trong phim này Kiều Chinh đóng vai chính một bà mẹ người Trung Hoa tên Suyuan bỏ rơi hai con nhỏ trên đường chạy loạn.

Nhưng bên cạnh những hạnh phúc, số mệnh cũng gieo cho nàng những khổ đau xót tim, nát lòng. Ông chồng đẹp trai hào hoa ấy lại một lần nữa đành lòng từ bỏ chị; đứa con út bị tai nạn xe khốc liệt. Ðôi vai vốn gầy của trâm anh đài các đã muốn làm khuỵu đôi chân mảnh dẻ của Kiều Chinh, nhưng với một ý chí kiên quyết, với một tấm lòng chân thành vì tha nhân, chị vẫn đứng dậy để tiếp bước, như trong một chương của tập hồi ký “Ðứng dậy. Ðứng thẳng. Ði tới” chị đã trụ cứ vững vàng, từng bước thành công. Và, chị đã luôn luôn nghĩ đến quê nhà muốn làm điều gì đó để chia sẻ với cảnh khốn khổ của đồng bào ruột thịt.

Với mục đích “Làm điều gì đó để vinh danh trên hai triệu người Việt đã chết trong chiến tranh Việt Nam” Kiều Chinh đã cùng các bạn Lewis Puller, Tery Anderson, Jack Wheeler, Marcia Landau thành lập hội The Vietnamese Children’s Fund (VCF) xây dựng hơn 50 trường học và những thiện nguyện khác tại Việt Nam. Công việc này chị cũng đã bị phản ứng gay gắt của một số người Việt hải ngoại khiến cho công việc làm ăn của chị bị bế tắc. Nhưng rồi, cũng qua.

Kiều Chinh được mời đọc diễn văn tại buổi lễ Tưởng Niệm Thương Phế Binh Hoa Kỳ (Veteran Day), buổi lễ có xướng một số tên tử sĩ, chị đã không khỏi rơi lệ khi đọc bài diễn văn đầy tình nghĩa của mình. Với những đọan văn thật hàm súc tinh thần nhân ái vị tha và xót đau thân phận làm người trong thời buổi chiến tranh độc ác. “Hơn 58,000 quân nhân Hoa Kỳ gục ngã, và hơn hai triệu người – quân nhân, thường dân, già cũng như trẻ- chết trên cái đất nước không may mắn bị lịch sử chọn làm bãi chiến trường. Vết thương này ngày nay vẫn còn đau nhức khôn nguôi cho hằng triệu người, cả nhiều thập niên sau khi những họng súng đã ngưng bắn”… “ Lịch sử cho thấy tất cả những bức tường dựng lên để ngăn chia và làm hại con người đều sụp đổ. Bức Tường Ðá Ðen đem con người lại gần nhau để hàn gắn vết thương, ở ý nghĩa đó, bức tường kỷ niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam sẽ đứng vững muôn đời bởi vì nó không hẳn làm bằng đá mà bằng cả tinh thần, nó ngự trị không hẳn trên mặt đất mà còn trong trái tim con người”…

Kiều Chinh. Nguồn Một thế giới

Tôi không gần gũi, thân thiết với Kiều Chinh để có thể hiểu có phải chị giống như những người quá thành đạt rồi bỗng nhiên tự tử như tỉ phú Ðức Adolf Merckle, Chef Cook tài danh thế giới Anthony Bourdain, tài tử nổi tiếng Robin Williams. Có thể hiểu những người này bị trầm cảm. Nhưng Kiều Chinh liệu có thật sự trầm cảm, sau khi hoàn thành bổn phận làm mẹ – xây dựng gia đình cho 3 người con thân yêu quý mến. Sự nghiệp ở mức độ thành công khá vẻ vang. Chị đã thở phào nhẹ nhõm. Thế mà chỉ một thời gian ngắn sau đó chị cảm thấy mệt mỏi vì không còn gì để phải làm, rồi trong một phút mất kiểm soát chị đã uống thuốc tự tử! Có thể chị đã cảm thấy thừa thãi, một mình ôm lấy cái trống vắng chết người và lại là một người hết sức là nhạy cảm nên dùng cái chết để từ chối chăng? Triết lý bi đát có ảnh hưởng nặng đến chị? Giống như người đàn bà thấy mình chết trong mưa? Câu hỏi xin được bỏ ngỏ.

Trải qua bao thăng trầm trôi nổi Kiều Chinh hiện nay đã ngoài tuổi 80 mà từ khi mới bước chân vào điện ảnh chị đã không quá tô hồng chuốt lục, không công nghệ sắc hương cho đến bây giờ Kiều Chinh vẫn biểu hiện một nét đẹp quý phái tinh khôi. Tính tình vẫn một mực nhẹ nhàng thân thiện trong một tính cách trầm ấm sẻ chia với mọi người. Kiều Chinh xứng đáng cho chúng ta ngưỡng mộ.

Hôm nay, Kiều Chinh ra mắt cuốn hồi ký sau nhiều năm ấp ủ tự hồi sinh tiền của nhà văn Mai Thảo, người bạn, người anh tốt của chị đã luôn luôn khuyến khích chị hoàn thành một cuốn hồi ký để đời. Tôi đến tham dự cùng với đông đảo người ái mộ chị, số tham dự có đến hơn 200 xếp hàng rồng rắn vì tiệm sách Tự Lực không đủ rộng, chỉ đến để mua sách và chờ ký tên. Trong suốt hơn 2 tiếng đồng hồ Kiều Chinh ngồi ký tặng trong khi khách hâm mộ kiên nhẫn chờ đợi. Việc này không riêng ở Nam California mà ở những nơi chị vừa cho ra mắt như Washington DC., Texas, Bắc California … nơi nào cũng được hoan nghênh nhiệt liệt, số sách luôn luôn cháy hơn số dự trù. Trong dòng người chờ chị ký tên tôi không khỏi nhớ và cảm ơn đến lòng yêu thương văn nghệ sĩ của chị đối với tôi trong dịp ra mắt một cuốn sách của tôi vào một ngày mưa to gió lớn chị đã phải vượt con đường xa gần một trăm dặm để đến cho được buổi hôm ấy.  Cầm cuốn hồi ký “Kiều Chinh, Nghệ Sĩ Lưu Vong” trên tay tôi chợt nhớ đến ông Ðỗ Mục, thi sĩ đời Ðường của Trung Hoa, tác giả hai câu thơ được rất nhiều sách vở Việt Nam từ xưa xửa trích dẫn, bình luận.

“Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang, do xướng Hậu Ðình Hoa”

Trần Trọng Kim dịch:

“Gái ca đâu nghĩ nước nhà,

Cách sông vẫn hát khúc ca “Hậu đình”.

Theo trithucvn.org. “Thương nhân” là người thuộc chủng tộc Ân, những người đã lập nên một nước, có triều đại gọi là Nhà Thương. Do đó, lúc đầu, “Thương nhân” có nghĩa là “Dân của nước Thương, của Triều đại Nhà Thương”.Nhưng sau lại có nghĩa là người lái buôn

Người Nước Thương, đã phát triển văn hóa nông nghiệp tức là định cư và khai thác ruộng đất. Thế kỷ 11 trước Tây Lịch, họ bị người Chu là dân du mục từ Thiểm Tây tràn vào, cướp nước, họ phải bỏ chạy. Ðể sinh tồn đàn ông Thương ngược xuôi buôn bán, công việc không đủ sống nên đàn bà con gái đi ca hát ở mấy tiệm rượu, để kiếm thêm.

Ðỗ Mục, tác giả bài Ðường thi kể trên dùng chữ “Thương nữ” với nghĩa “Cô gái thuộc chủng tộc Thương”. Ông có ý chê mấy cô không nhớ nhục mất nước, và lòng hận thù người Chu, nỡ mang nhan sắc và giọng ca, hát, vào những bài ẻo lả như bài Hậu Ðình Hoa để mua vui cho mấy chú Hán tộc, con cháu người Chu cướp nước. Ðỗ Mục chỉ nhìn vào sự kiện người phụ nữ đời Thương làm những công việc hạ cấp mà chê mấy cô đã quên «vong quốc hận”.

Sau này, tự điển Tàu chỉ giảng Thương nhân là “lái buôn”, bỏ hẳn nghĩa “Thương nhân là người thuộc chủng tộc Thương”, vì họ muốn xóa đi cái tội cướp nước, và tàn sát người Thương của người Hán. Do đó người đời sau, cả những nhà nho học của Việt Nam đều bị lừa, hiểu nghĩa Thương nữ là người thiếu nữ làm những nghề hạ lưu, như “xướng ca vô loại”.

Tuy nữ tài tử Kiều Chinh không làm nghề ca hát, nhưng với nghệ thuật thứ bảy, nơi dung nạp, nơi là đài danh vọng của chị, giả như đã xuất hiện thời đó thì cũng được ông Ðỗ cho vào một lứa cá mè, hưởng hai câu tán thán rất ư là đau đớn của ông. Và nhìn vào cuộc đời của nữ tài tử Kiều Chinh, nếu ông Ðỗ sống lại ắt ông không khỏi cau mày ngượng chín. Thế thì tôi xin phép “lẩy Kiều” câu thơ của ông Ðỗ một chút vậy, xin ông xá tội:

“Việt nữ hữu tri vong quốc hận

Bạch đầu kỷ độ tư cố hương”

Và, cũng dùng hai câu này để tặng chị Kiều Chinh thân quý.

ĐPP (Little Saigon 10.10.21)

Thể thao điện tử

baotreonline.com

Bảy Bụi

Post on December 3rd, 2018

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Thành phố Arlington (TX) vừa cắt băng khánh thành vận động trường thể thao điện tử lớn nhất Bắc Mỹ. Họ hy vọng nơi đây sẽ là địa điểm thu hút các giải esports lớn trên thế giới. Chuyện có thiệt mà nghe như đùa.

Esports là nói tắt của “electronic sports”, tạm dịch là “thể thao điện tử”. Tuy khởi đầu chỉ là các trò chơi video game trên mạng, esports đang dần trở thành một kỹ nghệ đầy tiềm năng, có thể qua mặt những bộ môn thể thao truyền thống như football, baseball về doanh thu. Tuy nhiên thị trường esports ở Mỹ vẫn còn khá non trẻ, chưa phát triển bằng các nước Á Châu. Làng thể thao điện tử chuyên nghiệp đầu tiên ra đời cách nay gần hai thập niên ở Nam Hàn. Phải mất gần mười năm sau đó các nước Á Châu, Âu Châu và Mỹ Châu mới có những Esport League tương tự. Nam Hàn là quốc gia đầu tiên xây vận động trường dành riêng cho esports, với đầy đủ các thiết bị và chức năng kỹ thuật cần thiết.

Thị trưởng Arlington cắt băng khánh thành Esports Stadium Arlington. nguồn: cBsdfw

Giống như thể thao truyền thống, các game-thủ trong esports cũng lập đội để thi đấu với các đội khác. Lúc ban đầu các đội esports chỉ đấu lẫn nhau trong môi trường tự phát, không có tổ chức nhất định. Nhưng càng về sau những hãng sản xuất game nhận ra đây là một thị trường khá béo bở nên một số đã đứng ra tổ chức những giải đấu dành riêng cho game của mình. Thí dụ như hãng EA Sports có giải cho Madden (football); hãng Blizzard có giải cho Warcraft; Microsoft có giải cho Halo v.v. Nhưng ngoài ra còn có những công ty tuy không phải là nhà xuất bản game nhưng cũng đứng ra tổ chức những giải thi đấu cho game đủ loại, bất kể là sản phẩm của ai. Một trong những công ty lớn nhất hiện nay thuộc loại đó là FACEIT, thành lập tại London năm 2011.

FACEIT là chủ của giải Esports Championship Series (ECS), năm nay đã vào mùa thứ 6. Tuần lễ Thanksgiving 2018 FACEIT đã có giải chung kết ECS VI cho game “Counter Strike: Global Offensive”, tổ chức tại “sân vận động” Esports Stadium Arlington ở Texas. Tạm gọi là sân vận động mặc dù các đội tham gia chẳng có “vận động” gì nhiều; họ chỉ ngồi trước các máy computer và chơi video game với nhau. Tất cả hướng mặt về phía khán giả, sau lưng là những màn ảnh lớn chiếu những cảnh đấu đá đang diễn ra. Mỗi đấu thủ đều đeo headset có microphone, bịt tai lại để chỉ có thể nghe lẫn nhau. Họ hoàn toàn không thể nghe tiếng khán giả hò hét hay tiếng phụ đề của các tường thuật viên huyên thuyên không thua gì Huyền Vũ.

Võ đài ESA, nơi các đội thể thao điện tử hàng đầu thế giới sẽ tranh tài. nguồn: cbsdfw

Thoạt đầu không ai nghĩ video game có năng lực ghê gớm đến độ một thành phố như Arlington phải tốn cả $10 triệu đô la để sửa sang Convention Center lại và biến nó thành sân vận động cho esports. Thế nhưng hiện nay chủ các đội banh chuyên nghiệp như Jerry Jones của đội Dallas Cowboys (football), Mark Cuban của Dallas Mavericks (basketball) đều đầu tư vào esports. Ý tưởng xây sân thể thao điện tử tại Arlington lúc đầu bị nhiều người ngờ vực. Nhưng sau khi hội đồng thành phố có cơ hội nghiên cứu những số liệu về mức tăng trưởng hàng năm của esports, ai cũng đồng ý rằng thể thao điện tử là hướng đi mới và sẽ là một nguồn lợi tức đáng kể cho thành phố trong tương lai.

Hiện nay số người trên thế giới theo dõi các trận đấu esport online hàng tháng đã ngang ngửa số người xem các trận football của NFL ở Mỹ. Nhiều nguồn nghiên cứu cho rằng NFL sẽ bị esports qua mặt một ngày không xa. Công ty Deloitte tiên đoán thị trường esports sẽ trị giá chừng $1.5 tỉ đô la vào năm 2020, với tổng số khán giả khoảng 600 triệu người, tuổi trung bình là 26, và hơn 70% là Nam. Nói chung, fan của esports khá trẻ nên tương lai của kỹ nghệ này hết sức sáng sủa.

Quan khách tham dự buổi khai mạc Esports Stadium Arlington. nguồn: cbsdfw

Mặc dù sân Esports Stadium Arlington (ESA) chỉ có thể chứa từ 250 đến 2,500 khán giả, tuỳ theo giải nhỏ hay lớn, nhưng con số đó không phản ảnh tổng số người xem các trận đấu online, có thể lên đến nhiều triệu. Khác với thể thao truyền thống, esports được phát hình trên internet, qua các hệ thống livestream như Youtube, Twitch v.v. Ðiều này có nghĩa là khán giả không phải bỏ tiền mua những gói cable TV có các đài thể thao như ESPN, Golf Channel… mà có thể coi thẳng trên PC, smartphone, iPad, smart TV v.v.. Thêm vào đó, họ có thể lên internet để xem lại bất cứ trận nào họ thích miễn là nó được lưu giữ, chẳng hạn như trên Youtube. Nhờ vậy esports mới dễ dàng đến với người xem khắp nơi. Vấn đề còn lại là làm sao biến số khán giả đó thành nguồn doanh thu thường trực, đủ nuôi sống các làng esports chuyên nghiệp.

Chưa kể là trong thế giới esports hiện nay, ngoài những đội nhà nghề còn có các đội amateur từ đại học. Thí dụ như tại giải Counter Strike của ECS năm nay, trận chung kết đại học đã diễn ra giữa hai đội Louisiana State University (LSU) ở Baton Rouge và University of Texas ở Arlington (UTA). Ðội UTA lần này coi như gà nhà, được dân UTA đến cho nước rất xôm tụ; họ ngồi chật sân, vé bán sạch từ cả tuần trước. Rất tiếc UTA đã bị LSU hạ gục khiến fan của UTA phải “nuốt hờn” chờ sang năm tới. Nhưng dù đội nhà có về nhì chăng nữa, hội đồng thành phố và doanh nghiệp quanh vùng vẫn lạc quan tin tưởng rằng rồi đây sân ESA sẽ mang đến cho Arlington nhiều lợi nhuận đường dài. Trước mắt là chưa chi tên thành phố đã được gắn liền với sân esports lớn nhất nước Mỹ. Mọi người đang chờ một công ty lớn nào đó sẽ đứng ra bảo trợ bằng cách gán tên mình lên Esports Stadium Arlington như “AT&T” cho sân football của Dallas Cowboys, hay “Globe Life” cho sân baseball của Texas Rangers — cả hai đều gần kề sân ESA. Nếu như giấc mơ của thành phố trở thành hiện thực, ngày nào lượng khán giả tăng lên cao đủ thì Arlington sẽ dư sức tổ chức những giải quốc tế tại một trong hai sân banh lớn kia, không thua gì những giải quy mô tại Hàn Quốc bấy lâu nay.

Khách chơi game tại các máy đặt trong sảnh đường của Esports Stadium Arlington. nguồn: CBSDFW

Sắp tới đây, ngày 8/12 ESA sẽ có trận thư hùng game “Rocket League” đang rất thịnh hành, để xem có cháy vé nữa hay không. Những ai còn nghi ngờ về tương lai của esports chỉ cần nhìn vào số lượng khán giả mà xét. Chẳng hạn như trận chung kết giữa hai đội Astralis (Denmark) và MIBR (Brazil) hôm 24/11 tại Arlington đã thu hút hơn 1 triệu người xem online, và cả ngàn người coi trực tiếp trong đấu trường. Trận đấu hết sức gay cấn này đã phải chơi thêm giờ (overtime) hai lần mới ngã ngũ. Cuối cùng thì Astralis (hiện là đội hạng nhất thế giới) cũng đoạt chiếc cúp vô địch thứ ba trong vòng sáu năm qua. Nghe nói bên thắng cuộc lãnh $1 triệu đô la; chia cho 5 người trong đội thì mỗi người cũng được $200,000. Và đây mới chỉ là những bước tiên khởi; không ai biết mai sau tiền thưởng sẽ lên cao tới cỡ nào.

Thời nay chỉ chơi video game thôi mà cũng làm ra bộn tiền. Ðà này biết đâu các trường trung học ở Mỹ sẽ có thi đấu esports? Rồi thì các trường đại học sẽ có học bổng cho các học sinh chơi game giỏi? Nói nghe tức cười, nhưng Mỹ mà; bất cứ chuyện gì làm ra tiền đều có thể xảy ra cả…

Một cảnh trong game Counter Strike: Global Offensive. nguồn Valve

BB

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Phần 4

Hãy coi như đã chết

“Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi.”

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ-Nguyễn Ðức Quang)

Người dân ở ngoài những trại tù cải tạo ít khi được thấy chúng tôi chuyển trại như thế nào. Lý do là tất cả những cuộc chuyển trại mà chúng tôi phải trải qua đều diễn ra vào lúc nửa khuya hay trước hừng đông. Trên lộ trình dẫn tới trại mới, thông thường tù nhân phải tiểu tiện ngay trên xe chứ ít khi đoàn xe dừng lại. Ðể đề phòng bất trắc, toán công an trại giam thường sử dụng khoảng 2 trung đội công an vũ trang với ít nhất là 4 khẩu thượng liên đi kèm đoàn xe chở tù cải tạo di chuyển. Buổi sáng sau khi chúng tôi bị dẫn lên ban quản trại để làm việc, những người nằm trong danh sách chuyển trại được “biên chế” thành hai đội 42 và 43 và dọn vào ở chung nhà 2 tức là láng thứ hai từ ngoài cổng trại trở vào. Tôi loan báo nội dung của buổi làm việc và kết luận: “Chúng ta có nhiều phần bị chuyển trại vào nửa đêm nay”. Tôi và anh Huỳnh Cự cũng khuyên mọi người là ai còn thực phẩm thăm nuôi thì đem ra dùng hết đi chứ đến trại mới có thể bị tịch thu căn cứ theo kinh nghiệm những lần chuyển trại trước mà hai chúng tôi phải trải qua. Vào khoảng 10 giờ đêm, thêm nhiều vệ binh súng dài vác CKC (súng trường do Tiệp Khắc hay Trung Cộng sản xuất) vào tăng cường tuần tiễu trong trại. Họ bắt chúng tôi phải tắt đèn đi ngủ đúng 10 giờ đêm như nội qui, trái với bình thường có khi họ để chúng tôi tắt đèn trong buồng giam khoảng 12 giờ đêm, khiến nhiều buồng giam khác lo ngại vì tình trạng bất thường này.
Nhưng làm thế nào mà ngủ được vì mọi người đều lo lắng không biết tương lai sẽ về đâu. Một số anh em leo lên chỗ tôi nằm để hỏi xem qua buổi “làm việc” tôi có thể đoán biết trại sẽ tới là trại nào không. Tôi nói: “Nếu hắn mà cho biết trại sẽ tới thì cần gì họ phải đặt ra cán bộ an ninh, nhưng theo chiều hướng này chúng ta có nhiều phần trăm bị đưa đi an trí vĩnh viễn đấy, các bạn cũng nên chuẩn bị tinh thần trước, chấp nhận phần xấu nhất về phần mình, như thế mới mong sống tự do trong những cái cũi như thế này được. Ở Bắc, ở Trung, ở Nam đâu cũng chỉ có cũi và lồng cho chúng ta mà thôi”. Tôi nói như vậy cũng vì cho rằng khi chấp nhận cùng lắm là ra “đồi thông” (từ ngữ chúng tôi dùng để chỉ nghĩa trang dành cho cải tạo) thì mọi chuyện trở nên nhẹ nhàng và không còn sợ hãi bất cứ một điều gì. Khi không còn sợ hãi, người tù sẽ cảm thấy thanh thản và tự do.
Tuy mới tù đày được 4 năm, nhưng do trải qua khá nhiều sóng gió kể cả lối tra tấn bằng không cho ngủ và chiếu đèn điện cực sáng vào mặt tôi ở khu thẩm vấn của trại B-5 Tân Hiệp, Biên Hòa, tôi hiểu lý do tại sao mà người Cộng Sản phải thoát ly gia đình khi dấn thân vào con đường tranh đấu chỉ để họ không bị vướng bận gì về gia đình. Nhiều người có cách nhìn khác nhau về điểm này. Cá nhân, tôi có nhiều lý do để tin rằng những vướng bận gia đình có thể trở thành áp lực mà cán bộ trại giam sử dụng để hành hạ mình. Trong biết bao nhiêu cuộc thẩm vấn, tôi không còn sợ bị đánh đập nữa (ở khu biệt giam trại B-5 chuyện cai tù Việt Cộng đánh đập, lên gối tù nhân đến lòi cả cơm ra ngoài là chuyện thường xảy ra), mà điều tôi sợ nhất là nhân viên thẩm vấn vui vẻ mời tôi thuốc hút và nói: “Tôi vừa gặp anh Minh, anh cả của anh và cụ Bôi mẹ anh. Nói chung là gia đình anh vẫn bình yên và dù khó khăn họ cũng muốn anh đừng giấu chuyện gì, cải tạo tốt để sớm trở về với gia đình”. Ðây không phải là một thông tin thông thường tình cảm mà ngược lại vào giai đoạn đó, nó là một lời đe dọa. Bởi vì thông tin này cho tôi hiểu là gia đình tôi không an toàn và có thể họ đã đưa ông anh cả tôi vào tù rồi không chừng. Người anh cả của tôi đang dạy học ở trường trung học Trưng Vương thì bị gọi động viên khóa 16 trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ra trường, anh nhận đơn vị tại tiểu khu Long Khánh, sau đó anh bị đổi đi Phước Long phục vụ trong ủy ban yểm trợ Xây Dựng Nông Thôn tỉnh. Sau lần bị du kích Việt Cộng phục kích ở Phước Quả bị thương ở lưng nên sau đó được giải ngũ và trở lại bục giảng ở trường cũ. Thực ra, nếu điều không may ấy xảy ra với người anh cả tôi thì mẹ tôi là sẽ là người bị thử thách nặng nhất. Lúc ấy gia đình tôi sẽ là một gia đình mà 3 con trai đều đi tù hết và mẹ tôi sẽ là người mẹ sống cô độc với mấy đứa cháu nội. Em tôi, Quang, trung úy dược sĩ bị đưa ra trại cải tạo ở đảo Phú Quốc. Nó cùng với một số sĩ quan khác tổ chức cướp tàu đánh cá để trốn trại. Xuống được tàu rồi, các cậu đề máy nhưng máy không nổ. Lý do: Sau một ngày đánh bắt cá các chủ tàu được lệnh phải hút hết dầu ra để sáng hôm sau đổ vào lại để ra biển. Chỉ vì không nghiên cứu và không biết được chi tiết đó, nên vụ cướp tàu thất bại. Cả đám chạy lên núi. Công an bao vây mấy tuần lễ, đói quá họ phải xuống núi đầu hàng. Nó bị đưa về Hàm Tân Z-30D và bị cùm trong connex bằng sắt cả năm trời, sau đó được đưa ra trại lao động và được thả sau 8 năm tù.
Những tin tức vừa kể tôi chỉ được biết khi được thả và trở về với gia đình cuối năm 1988, chứ còn thời gian 4 năm đầu tôi hoàn toàn như sống trong một thế giới khác cách biệt hẳn với bên ngoài vì nhà cầm quyền không cho phép mẹ tôi lên thăm và nếu có được lên thăm thì trại cũng không cho phép tôi ra gặp. Tôi không biết đây có phải là điều may mắn hay bất hạnh cho tôi, nhưng rõ ràng việc phải đối phó với những áp lực nhà tù khiến tôi còn rất ít thời giờ dành cho tình cảm gia đình. Chỉ những giây phút vào giữa đêm khuya thanh vắng, không ngủ được bởi bị dằn vặt bởi cái đói và sự lo nghĩ hành hạ, những kỷ niệm về gia đình về bố mẹ tôi, về anh tôi và đứa con trai mới xuất hiện trở lại trong tâm tưởng và đó là những giây phút tôi khổ sở nhất. Những giây phút chùng lòng như thế đã dẫn tôi tới một quyết định không liên lạc gì với gia đình nữa. Vả lại, mỗi lần trại cho tù nhân viết thư cho gia đình thì phần đông do đói quá, cho nên ai cũng đều kê khai một danh sách dài những thứ họ cần mà không hề biết được ở xã hội bên ngoài, gia đình mình có đủ điều kiện cung cấp không. Nếu gia đình mình nghèo thì những bức thư ấy sẽ chỉ làm cho những người thân của mình áy náy thêm trong khi hàng ngày họ cũng phải đối phó một cách khó khăn lo cho miếng ăn của những người còn lại bên ngoài. Cho nên, tôi nghĩ rằng thà để cho gia đình coi như mình đã chết có lẽ là phương thức hay nhất giúp cho những người ruột thịt còn lại tập trung vào việc bươn chải giữa một xã hội đầy những kỳ thị, đói khổ để kiếm kế nuôi nhau.
Khoảng 1 giờ đêm, trực trại Tống Ðăng Cứ và khoảng 10 vệ binh súng dài đốt đuốc vào trại đập cửa nhà 2 rầm rầm. Giọng anh ta làm ra vẻ khẩn cấp hô lớn: “Tất cả dậy, thu vén tư trang, điểm số và ra xếp hàng ngoài sân để chuyển trại”. Khi trật tự mở cửa buồng giam chúng tôi thấy Tống Ðăng Cứ lăm lăm khẩu K-54 ra lệnh: “Các anh có 10 phút chuẩn bị, bỏ lại hết ca cóng, chỉ mang theo quần áo mùng mền, tuyệt đối không mang theo vật bén nhọn. Anh nào vi phạm, tôi cùm cho mọt gông. Sau khi chuẩn bị tất cả ngồi yên nghe gọi tên. Gọi đến ai thì người đó sẽ hô to có mặt sau đó mang tư trang bước ra ngoài sân xếp thành hàng một, cán bộ sẽ kiểm tra tư trang. Tuyệt đối mọi hành vi đều phải theo lệnh cán bộ, anh nào ngược lại sẽ bị bắn bỏ”. Chúng tôi lần lượt bước ra cửa buồng giam. Sân trại rực sáng và ánh đuốc bập bùng lung linh trong những đôi mắt tù nhân như những ngọn lửa căm hờn. Ðám vệ binh súng dài thỉnh thoảng lại lên cò súng lách cách như một tín hiệu đe dọa là họ sẵn sàng hành động.
Sau khi chúng tôi bị kêu tên điểm số lần thứ hai, một trật tự viên đẩy vào một xe cải tiến trên có chất đầy những cục cơm nắm tròn, mỗi cục bằng gần hai nắm tay. Sau đó một vệ binh cũng đẩy vào một xe cải tiến khác trên đó đầy những sợi dây xích và khóa. Sau khi mỗi người được phát một cục cơm và một ít muối bọt, cán bộ giáo dục trại, một trung sĩ công an chừng khoảng 21-22 tuổi luôn luôn khoe mình đã học hết lớp 10 và đang học tiếng Nga, nói cho chúng tôi biết rằng nắm cơm được phát là dùng cho hai buổi trưa và chiều, đến trại mới chưa có khẩu phần ngay đâu. Sau đó anh hướng dẫn cho các trật tự viên xích tay chúng tôi cứ hai người một sợi dây xích và khóa cứng lại bằng một còng số 8 (loại còng CSQG dùng để còng tay những tội phạm). Tôi bị xích chung với Linh Mục Phan Văn Trọng. Xong xuôi, chúng tôi cứ người một bước ra khỏi cổng trại. Một hàng năm sáu chiếc xe đò nối đuôi nhau trên con đường trước cổng trại cùng với những chiếc “commando car” có bố trí súng thượng liên. Tôi nói với linh mục: “Lần này chúng ta được ngồi xe đò chứ không bị xếp lên motolova trùm kín nữa”. Chúng tôi bước tới những chiếc xe đò này theo lệnh của trực trại. Tiếng xích chạm vào nhau kêu loảng xoảng. Thời chiến tranh, tôi đã từng nghe tranh luận một đề nghị của Hạ Viện là thay đổi quốc ca VNCH bằng một trong hai ca khúc “Việt Nam, Việt Nam” của Phạm Duy và “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nguyễn Ðức Quang, nhưng chuyện thay đổi này không thành vì nhiều lý do. Tôi thích bài của Nguyễn Ðức Quang nên vào lúc nghe tiếng dây xích sắt chạm nhau kêu loảng xoảng trong lần chuyển trại ấy, tôi chợt nhớ lại khúc đầu của lời nhạc mà tôi cho là kiệt tác của Quang. Tôi nhẩm trong đầu:“Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng cuộc đời xa xăm
Ðôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang!
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!”
Khoảng 3 giờ sáng đoàn xe mới lăn bánh ra khỏi trại Hàm Tân Z-30C.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Phần 3

Diễn tiến của việc công an trại giam thực hiện “Phương Án 4”

Cả đội 41 phân trại A, trại cải tạo Z-30C Hàm Tân nhốn nháo khi Tống Ðăng Cứ từ ngoài cổng trại bước vào trong sân trại nơi mấy chục đội lao động của tù cải tạo ngồi sẵn để chờ điểm số xuất trại ra bãi lao động. Ði theo Tống Ðăng Cứ, cán bộ trực trại, là một trật tự viên khệ nệ vác một chiếc bàn nhỏ. Cứ cầm một lọ hoa gồm những bông cúc vàng ngắt ở bồn hoa trước cổng trại đặt lên một góc bàn. Cả trại đang ồn ào vì chia nhau những điếu thuốc lào hay trao đổi “hot news,” một loại tin trời ơi đất hỡi chẳng cần chứng cớ, nói ra cho nhau nghe để nuôi hy vọng trong cuộc lưu đầy lúc nào cũng đói khát và căng thẳng… bỗng im bặt. Tù cải tạo chúng tôi thấy trực trại mang bàn “hương án” (chúng tôi gọi chiếc bàn trên có để lọ hoa cúc là bàn hương án) thì chỉ có hai điều xảy ra: Một là có thể một vài anh nào đó được kêu tên thả, hai là có thể có một số đông vào “chuồng cọp” nằm “nghỉ mát”.
Tống Ðăng Cứ rút trong túi áo ra một tờ giấy, có thể là một danh sách. Người đầu tiên ông gọi tên là tôi. Tôi đứng lên. Có tiếng xì xào: “Tên nó mà được gọi đầu tiên thì không có chuyện thả rồi, chắc lại sang chuồng cọp khu nhà đỏ.” (Các buồng giam ở khu đất bên cạnh các buồng giam lợp lá, vách bằng cót, nền bằng đất nện được xây cất thêm, cũng do tù cải tạo xây. Sở dĩ gọi là khu nhà đỏ vì các dãy nhà dùng làm buồng giam được xây bằng gạch, lợp ngói đỏ au, các chuồng cọp, tức xà lim cá nhân, được đổ bê tông và cửa bằng sắt dầy).
Những người tiếp theo là Linh Mục Phan Văn Trọng, vị linh mục thường cử hành lễ riêng cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ở Dinh Gia Long thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, rồi đến Huỳnh Cự (hồi chánh viên cao cấp và làm tham nghị của Bộ Chiêu Hồi), Ðoàn Bá Phụ (cựu đại đội trưởng Tiểu Ðoàn 7 Nhảy Dù), Vũ Trọng Khải (đại úy cảnh sát, trưởng Phòng Căn Cước, Ty Cảnh Sát Ðà Lạt), Trần Bửu Ngọc tự Ngọc “đen” (cựu biệt kích), Nguyễn Văn Học tự Học “thiện xạ” (sĩ quan Biệt Ðộng Quân), chưởng môn Việt Võ Ðạo Lê Sáng, Giáo Sư Châu Sáng Thế (giáo sĩ đạo Hồi), cựu Dân Biểu VNCH Khúc Thừa Văn (bí thư tỉnh ủy Việt Nam Quốc Dân Ðảng Quảng Nam)… và cứ như thế trực trại Tống Ðăng Cứ tiếp tục gọi tên những khuôn mặt được mô tả là “cứng đầu” nhất từng ra vào chuồng cọp như cơm bữa bước khỏi đội và xếp thành hai hàng khác ở góc sân. Ðến lúc này thì anh em không còn bàn tán nữa. Cả một khoảng sân trở nên yên lặng vì họ cảm nhận được đang có một kế hoạch bất thường chỉ hai tháng sau khi Trung Cộng xua quân đánh chiếm sáu tỉnh miền Bắc Việt Nam đầu năm 1979. Cá nhân, tôi không ngạc nhiên vì trước đó cán bộ Lâm, quản giáo đội lao cải mà tôi đang lao động, đã báo cho tôi biết trước tin rằng tôi sẽ bị chuyển trại.
Lâm, người Hải Dương, miền Bắc Việt Nam, là một trong số rất hiếm quản giáo thuộc hàng sĩ quan công an học hết trung học. Anh là người nói năng nhỏ nhẹ, không thấy bắt đội phải kiểm điểm hay dùng chỉ tiêu lao động để đàn áp tù trong suốt thời gian coi đội 41. Có lần không biết lấy thông tin từ đâu, Lâm kêu tôi vào nhà lô (lều dựng tạm để dụng cụ lao động của đội) chìa ra cuốn “English for Today” tập I dành cho những người mới học Anh ngữ và nói: “Chuyện này cũng tùy thuộc anh thôi. Tôi được anh đội trưởng cho biết quá trình của anh cho nên tôi muốn nhờ anh chỉ bảo cho ít tiếng Anh. Nói thật, tôi đang muốn chuyển ngành sang Hải Quan. Ở trong rừng như thế này, tôi không thể nào có cơ hội lên Sài Gòn để học và chi phí lại đắt quá.” Lập tức Lâm đưa tôi vào một thử thách khó vượt qua mà anh không biết.
Trước hết, chỉ nội chuyện hàng ngày không phải cuốc đất trồng khoai mì dưới cái nắng chang chang, bụng đói, nay được vào ngồi trong nhà lô với quản giáo, anh em trong đội sẽ nghĩ không biết là dạy Anh ngữ hay lại “to, nhỏ” gì với cán bộ, với quản giáo, là “chết cả một đời” tôi rồi. Dư luận trong tù mà. Sống trong tình trạng đói khổ hành hạ, con người ta có khi không kiểm soát được mình nữa để bản năng làm chủ ý chí nên chuyện bé thì xé ra to là lẽ thường tình.Thêm nữa, nội qui trại là cấm nói và học tiếng nước ngoài ngay cả tiếng Nga và Trung Hoa. Ngồi mát dạy tiếng Anh cho cán bộ, đỡ phải cuốc là tốt cho cá nhân mình ai mà không muốn? Nhưng đổi lại tôi phải gánh cái gánh nặng điều tiếng này nọ chẳng bõ, thành thử cuối cùng tôi phải dùng đủ mọi lý lẽ để từ chối và sẵn sàng đón nhận những cú “đì” của Lâm. Nhưng cho đến ngày tôi rời khỏi Z-30C, điều này chưa xảy ra. Trái lại, hai ngày trước một giai đoạn khác của cuộc lưu đầy, Lâm còn cho biết tôi sẽ phải đối đầu với một vụ chuyển trại quan trọng.
Tôi được xác nhận cuộc chuyển trại lần này là dưới ảnh hưởng của “Phương Án 4”. Người xác nhận chính là cán bộ Tý, an ninh trại. Sau khi gọi tên ra khỏi đội 41, tôi và khoảng sáu bảy người khác, trong đó có anh Huỳnh Cự, chờ để lên “làm việc” trên ban quản trại, những người khác trở về đội của mình dọn dẹp tư trang để được “biên chế” (chuyển sang đội khác hay thành lập đội mới). Tôi bị dẫn vào phòng an ninh của Tý. Bị gọi đi thẩm cung với ông này là điều tôi mừng rơn. Lý do dễ hiểu: Tý nói nhiều, nói huyên thuyên về chủ nghĩa xã hội mà tôi nghĩ rằng ông cũng không biết nhiều. Viên cán bộ an ninh này ít hỏi mà ngược lại khoái giảng. Kinh nghiệm nhiều lần bị hỏi cung giúp cho tôi chiêm nghiệm một điều. Ðó là, nhân viên thẩm vấn nào của công an mà hỏi nhiều, hỏi liên tiếp, hỏi nhiều câu tưởng như vớ vẩn tức là tay đó có trình độ chuyên môn cao phải coi chừng. Và ngược lại cái tật nói nhiều, hay giảng giải, thích nâng quan điểm là những yếu tố để lộ ra trình độ yếu kém của nghiệp vụ thẩm cung, cho nên việc tránh né những mũi tên ông này bắn ra không khó khăn lắm.
Chẳng hạn như buổi sáng hôm đó, Tý nói với tôi như thế này, về việc chuyển trại, nghe như chọc vào lỗ tai: “Chắc các anh không biết rằng cho tới nay, dân chúng ở ngoài người ta vẫn còn thâm thù cách anh, họ chưa nguôi cơn giận. Nhưng vì lòng nhân đạo, chính quyền nhân dân có bổn phận phải bảo vệ các anh. Gần đây tình hình khá bề bộn sau khi Trung Quốc tấn công chúng ta. Chuyện vẫn chưa yên đâu, phức tạp lắm. Lẽ ra, nhà nước đã phải đem các anh đi bắn hết rồi nhưng chúng tôi khoan hồng cho các anh đi cải tạo, chừng nào tốt thì cho về. Nhưng trước mắt, chúng tôi phải bảo vệ các anh, đưa các anh đến một nơi khác an toàn hơn, cũng ở trong Nam thôi, nhưng có đủ điều kiện an ninh để cải tạo tốt...” Thế là cán bộ Tý, như người bị đồng nhập, bắt đầu “giảng” lý thuyết cộng sản theo đó thì “nhân dân ta mỗi người làm việc bằng hai, của cải sẽ dư thừa và đó là lúc chúng ta hưởng theo nhu cầu”. Tôi không hiểu Tý diễn kịch hay mê thứ chủ nghĩa không tưởng này thật, nhưng phải nhìn ông, một con người thấp bé, da đen sạm, gầy như bơi trong bộ đồng phục vàng của công an, hai cầu vai màu đỏ, giữa có bốn ngôi sao vàng và một gạch vàng ở dưới (cấp bậc đại úy công an) cứ chồm lên khỏi ghế ngồi nói văng cả nước miếng trước mặt một tù cải tạo gầy như xác ve, quần áo tù mới có bốn năm thôi mà đã vá chằng đụp, da xanh mét vì thiếu ăn mới nhận ra được đủ những nét thê thảm của một đất nước khi nó rơi vào tay những con người như Tý.
Trong suốt buổi thẩm cung, tôi chỉ bị cán bộ Tý hỏi có một câu mà tôi cho rằng nó lãng nhách, buồn cười pha nhiều bi phẫn: “Anh thấy tôi nói có đúng không hay lại như nước đổ đầu vịt?” Viên cán bộ an ninh này lại đặt ra cho tôi một thử thách nữa. Ông này, với tư cách là sĩ quan thẩm vấn của công an, đặt ra một cái mốc tốt đẹp cho một thứ chủ nghĩa mà có lẽ đến ngày xuống lỗ chắc cũng không thể tin hay theo được, rồi hỏi tôi nghĩ thế nào. Một người tù như tôi, nếu khen cán bộ là nói hay quá, tôi “quán triệt” được hết thì hóa ra tôi cũng đã tự lừa dối và tự biến mình thành một đứa mất nhân cách nhất, nhưng nếu nói thẳng ra rằng cán bộ là một tên đang bị đồng nhập thì sẽ bị nâng quan điểm là không tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội, mà đã không tin tưởng thì sẽ không an tâm cải tạo, mà không an tâm cải tạo là bị “cùm” rồi. Cuối cùng, trong đầu tôi lóe ra một hình ảnh và tôi trả lời: “Tôi bị cho ăn đói quá, làm việc nặng, lại bị cấm thăm gặp triền miên nên đầu óc mụ đi, cán bộ nói sao thì tôi nghe vậy thôi.” Tý đập bàn gọi vệ binh dẫn tôi về đội chứ không mang đi cùm. Cứ nhìn vào những gì đang xảy ra, cuộc chuyển trại sẽ diễn ra nội nửa đêm hôm đó cho nên nếu Tý có cùm tôi thì cũng chỉ cùm được vài giờ là phải thả tôi ra. Tôi hiểu rất rõ rằng, khi người tù đã nằm xong danh sách chuyển trại, trại mới sẽ không nhận số tù đã được thông báo nếu thiếu một người. Dù sao buổi thẩm cung này cũng là buổi bị thẩm cung ngắn nhất trong đời tù của tôi. Nửa đêm hôm đó, những tù nhân cải tạo bị kêu tên ra khỏi đội hồi sáng bị chuyển trại.


Bố Già

vietmessenger.com

Maruio Puzo

Bản dịch: Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Chương 10 BỆNH VIỆN TƯ, TƯƠNG ĐỐI NHỎ NÊN CHỈ CÓ MỘT CỬA. Michael đứng trên lầu nhìn xuống quan sát thấy rõ, muốn vô bắt buộc phải đi hết những bậc thang cuốn, không còn một lối nào khác. Hết bậc thang là ra tới ngoài đường lúc bấy giờ còn đèn sáng nhưng vắng tanh không có lấy một chiếc xe. 
Thời giờ gấp rút nó chạy như bay như biến xuống 4 tầng lầu, xuống dưới nhà, chạy thẳng ra cửa, ngó hai bên thì xe hồng thập tự cũng không có! 
Michael đốt một điếu thuốc, bước ra đường, tỉnh táo mở nút áo vét phanh ra, đứng dựa cột đèn cố ý để ai cũng phải thấy. Mắt nó ngó lia và chợt giật mình vì từ Đại Lộ số 9 có bóng người lầm lũi bước tới. Rõ ràng là một thằng đàn ông, tay ôm gói đồ dài dài, lại mặc đồ trận nữa! Mớ tóc dài đen láng, khuôn mặt thằng này ngó quen quen nhưng nó tới sát bên cột đèn Michael vẫn chưa nhận ra là ai. Nó đứng sừng sững trước mặt, tay chìa ra tính bắt tay và giọng đặc sệt tiếng Ý nhà quê: 
– Cậu Michael… cậu không nhớ cháu ạ? Cháu là rể ông Nazorine, chủ lò bánh. Cháu là Enzo đây. Cháu nhờ Ông Trùm vận động mới được như thế này. 
À, nhớ ra rồi. Michael bèn đưa tay bắt. Enzo hỏi ngay: “Thưa cậu… cháu muốn vô thăm Ông Trùm chút mà giờ này trễ rồi, không biết họ có cho không?” 
Michael cười: “Không được đâu! Mai mốt tôi sẽ nói lại là chú có tới được rồi”. Có chiếc xe rú máy từ đầu đằng kia chạy vọt tới nơi. Michael lưu ý ngay bèn nói nhanh: “Bây giờ chú lo về đi. Sắp có chuyện lộn xộn… bọn cớm dám kiếm chuyện khó chịu lắm đấy”. 
Cu cậu nghe tiếng “cớm” mặt đã tái nhợt. Cớm mà kiếm chuyện thì làm sao nhập quốc tịch Mỹ được? Bị tống về xứ chắc! Nhưng Enzo chỉ hoảng có lúc đầu, lắc đầu quầy quậy: “Cháu khỏi về! Nếu lộn xộn thì cháu phải ở lại chớ? Chỗ Ông Trùm đối với chúng cháu thì về sao được?” 
Michael nghe mủi lòng. Biểu nó về mà nó nhất định đòi ở lại thì… ở lại cũng chẳng sao! Có hai đứa bao giờ cũng an toàn hơn một? Biết đâu chừng bọn cô hồn của Sollozzo tới toan làm ẩu chợt thấy hai thằng đứng gác ngoài cửa nên dám khớp mà dông luôn? Một thằng thì chúng khỏi sợ! 
Nghĩ vậy Michael mời Enzo hút thuốc, tự tay mồi lửa. Hai thằng đứng dựa cột đèn hút thuốc trong đêm vắng. Aùnh đèn chiếu hắt từ nhà thương ra coi tụi nó thật kỳ dị. Chưa hút xong điếu thuốc thì có chiếc xe đen mui kín xuất hiện. Nó vọt tới và chạy sát lề, chạy ngang chỗ hai đứa đứng làm như muốn ngừng lại. 
Michael cúi thấp đầu, liếc thật nhanh mấy thằng trong xe. Người nó nổi gai ốc. Xe ngừng lại thiệt nhưng chỉ một tích tắc vọt ngay. Rất có thể người trên xe đã nhận ra nó! Michael đưa mời Enzo thêm điếu thuốc và để ý thấy tay cu cậu run run. 
Cỡ 10 phút sau còi hụ ầm ĩ, chiếc xe cảnh sát trờ tới, thắng trước cửa nhà thương. Theo sau còn hai chiếc nữa. Chỉ một loáng sau cửa vô đầy những cớm nổi cớm chìm. Michael mừng mở cờ trong bụng bước tới. Thằng Sonny can thiệp cũng nhanh đấy chớ? 
Ô hay, khi không hai thằng mang sắc phục đàng hoàng nắm cứng lấy Michael. Một thằng khác chạy lại lục soát khắp người. Một gã đồ sộ mang lon vàng Đại úy xuất hiện. Bọn đàn em dạt ra. Trông gã to con, chững chạc, cỡ tuổi trung niên song rất lẹ. Mặt đỏ bừng bừng, giận dữ, gã xông tới Michael la lối. 
– Tao đã cho hốt hết mấy thằng đầu trộm đuôi cướp mà sao còn lọt mày? Mày thằng nào? Mày lảng vảng ở đây làm gì? 
Gã cớm chìm đứng sau lưng báo cáo: “Người hắn không có gì, đại úy”. Michael đứng yên ngó, chăm chăm ngó cặp mắt xanh sáng loáng. “Hắn là Michael Corleone, con trai của Ông Trùm”. Michael lên tiếng: 
– Lạ nhỉ… khi không thấy mấy thầy chú đang canh gác kỹ vậy mà đi đâu mất hết. Dám có lệnh đổi gác bất tử lắm. 
Lão đại úy hùng hổ trợn mắt: 
– Thứ chó chết của mày mà dám sủa bậy vô công việc của tao? Tao cho lệnh tụi nó rút đấy. Canh gác cho mấy thằng ăn cướp hả? Có giết nhau chết tao cũng đ… cần, ông già mày bị chúng nó quất trước mặt tao… tao cũng thây kệ! Cút cha mày đi! Không phải giờ thăm nuôi cấm hẻo lánh đến đây… 
Dù bị chửi vào mặt tàn nhẫn vậy. Michael vẫn chỉ ngó lão, đăm đăm. Nó nghĩ nhanh như điện chớp. 
Cứ điệu bộ hùng hổ của thằng đại úy này thì đúng bị thằng Sollozzo mua đứt… Lão hốt bằng hết bọn người của Tessio, ra lệnh rút bọn cớm chìm đang canh gác để nó ngang nhiên vô “kết thúc” ông già. Lão quơ một cú hết sạch, nhưng nào ngờ Michael lò dò tới, lại thêm thằng Enzo nữa! Trên chiếc xe lúc nãy dám có thằng Sollozzo. Thấy bóng Michael nó đành vọt luôn, hỏng ăn và bực bội cự lão đớp bạc mà làm hư việc nên mới có màn la lối ngang ngược này!
Vì vậy Michael cưỡng lại: 
– Tôi không đi đâu hết nếu ông không cho người bảo vệ ông già tôi đàng hoàng. 
Lão không thèm nói mà ra lệnh cho thằng cớm chìm: “Mày nắm đầu nó cho tao”.
Gã cớm ấp úng: “Trình đại úy, nó đâu có vũ khí? Nó là anh hùng TQLC. Nó không dính dáng vô mấy vụ này! Sợ báo chí moi móc…” 
Lão đại úy hét lớn: “Thây kệ nó. Tao biểu mày nắm đầu nó!” 
Rất tỉnh táo, Michael hỏi xỏ: “Vậy là thằng đường Thổ đã mướn ông thịt ông già tôi? Nó chi bao nhiêu mà làm dữ vậy?”
Uất quá, lão gầm lên: “Nắm đầu nó”. Hai thằng mang sắc phục bèn chia hai bên giữ Michael thật chặt. Quả đấm khổng lồ của lão tung lên xáng ngay mặt nhưng Michael kịp né qua một bên nên lãnh trọn cú nháng lửa ngay gò má. Michael nghe như lựu đạn nổ trong đầu, miệng nó toé máu và lổn nhổn những răng gãy. Rõ ràng nó có cảm giác trẹo quai hàm, chân nó khuỵu xuống, nếu không bị giữ đã bị té rồi. 
Đau lắm nhưng Michael vẫn tỉnh táo. Gã cớm chìm nhảy ra, ngăn lão Đại úy: “Đại úy, nó bị nặng đấy!” 
Lập tức lão vênh váo: “Tao đụng nó hồi nào? Nó tấn công tao và nó té. Tụi bây không hiểu vậy sao? Nó chống cự lại, nó không cho bắt mà?” 
Mắt Michael hoa lên nhưng vẫn kịp thấy mấy chiếc xe lao tới vun vút. Mấy bóng người nhảy ra. Gã luật sư quen của Clemenza chạy tới trước mặt Đại úy, thông báo một cách dõng dạc: 
– Xin cho hay là gia đình Corleone đã mướn một công ty trinh thám tư bảo vệ an ninh cho Ông Trùm. Những vị thám tử tư này có giấy phép mang vũ khí đàng hoàng. Nếu Đại úy câu lưu họ thì sáng mai xin mời ra biện lý cuộc giải thích lý do. 
Luật sư quay sang Michael: “Còn ông, ông có cần vô đơn thưa kẻ nào vừa bạo hành?” 
Michael ấp úng mãi mới bật ra một câu ấm ớ. Hàm nó bể rồi, cất tiếng nói khó quá: “Không… Tôi trượt chân… Tôi té…” 
Lão Đại úy ngó Michael một phát thật hách song nó vẫn cười nhạt. Tội gì để lộ luồng phẫn nộ, uất ức đang làm tê dại cả đầu óc, thân xác nó? Tội gì để người ta biết nó nghĩ gì, nó định làm gì sau khi lãnh cú đấm vừa rồi? Bố Già in hệt vậy! Michael chỉ kịp nghĩ đến đấy là vừa ngất đi. 
Sáng mai nó tỉnh dậy trên bệnh viện, chỗ gò má bể đã kẹp lại và mất một lúc 4 cái răng hàm trên bên trái. Hagen đang ngồi bên. 
– Thế nào… phải đánh thuốc mê kia à? 
– Chớ sao? Bác sĩ phải mổ hàm trên để lấy ra bằng hết những mảnh xương vụn mà? Bề nào mày cũng ngất đi trước! 
– Tao chỉ bị có vậy thôi? 
– Đúng. Nên Sonny muốn mày về Long Beach. Ngay bây giờ có nổi không? 
– Được chớ? Ông Già ra sao? 
Hagen lúng túng: 
– Bây giờ yên chí rồi. Có thám tử tư canh chừng và chung quanh còn nhiều người của mình. Để về nhà nói… 
Người lái xe đưa hai đứa về Long Beach là Clemenza. Tuy đầu nhức nhưng Michael nôn nóng muốn biết sự thực đêm qua nên Hagen phải kể lại: 
– Mày có nhớ thằng cớm chìm nhảy ra bênh mày hồi hôm? Người của Sonny, thằng Philips đó. Nó cho biết rất rõ về thằng Đại úy Mc Closkey. Vô cùng nham nhở, chỉ thích tiền và từ hồi mới vô lính đã “nhám tay” nặng. Mình cũng phải chi tiền tháng cho nó nhưng Mc Closkey thuộc típ tham, không thể tin nổi. Chắc Sollozzo phải chi nặng lắm nên thình lình nó viện lý do hết giờ để đuổi hết bọn đàn em Tessio mà thằng nào có súng còn bị hốt về bót. Rồi khi không nó ra lệnh rút cả ê kíp an ninh chìm đang canh Ông Già về làm công tác khẩn. Sẽ có ê kíp khác thay thế có điều chúng cố tình tà tà tới trễ để rộng chỗ cho bọn Sollozzo nhào vô thịt ổng. Độc chưa? Theo Philips thì thằng Mc Closkey dễ nể ở chỗ không bao giờ nó chịu thất bại. Hỏng một lần thì thế nào nó cũng chơi lại bằng được. Chắc thằng Sollozzo cho nó ăn đẫm và còn hứa hẹn ghê gớm lắm! 
– À, vụ của tao có báo đăng không? 
– Khỏi! Mình ém mà bọn cớm cũng lo nhận chìm luôn. 
– Còn cu cậu Enzo? 
– Nó láu lắm. Cớm đến nhà là nó tà tà lỉnh. Có phải nó cùng đứng với mày lúc xe thằng Sollozzo chạy ngang? 
– Đúng thế. Cái thằng vậy mà được lắm! 
– Sẽ có người chiếu cố nó. Còn mày thế nào? Tao thấy chỗ gò má kỳ cục thế nào ấy. 
– Không sao! Mày nói thằng Đại úy tên gì? 
– Nó là Mc Closkey. À, cũng nên cho mày biết tin này cho đỡ tủi. Người của mình vừa quất xong thằng Bruno Tattaglia, đúng 4 giờ sáng nay. 
– Ô hay, sao bảo cánh mình tạm thời nằm êm? 
Thằng Sonny điên lên về vụ đêm qua ở nhà thương. Nó tung đàn em ra khắp New York và New Jersey, cứ chiếu theo “danh sách” của nó mà bắn. Mày thử hỏi lại với nó coi chớ tao kềm hết nổi. Vụ này vẫn chưa cần đánh lớn mà. 
– Tao sẽ nói. Sáng nay có hội hả? 
– Đúng. Vì đã tiếp xúc được với Sollozzo. Nó muốn điều đình. Có thằng được cử đi lo sắp đặt rồi. Nghĩa là chúng mình thắng. Thằng Sollozzo biết là không nuốt nổi nên chỉ mong toàn mạng. Có lẽ cái chết của thằng Bruno làm nó khớp, nó biết mình dám đánh và đánh thật chớ khỏi nhịn nhục nữa… Về vụ Luca Brasi thì mình biết rồi: Nó bị chơi hồi khuya thì chiều hôm sau tụi nó mới bắn ông già. Luca bị ngay trong quán thằng Bruno. 
– Phải vậy tụi nó mới dám đụng đến ổng. 
Về đến cư xá Long Beach là thấy ngay tình trạng chiến tranh. Cửa vô không ngăn dây xích mà cả một chiếc xe tổ bố nằm chình ình chắn lối. Hai bên hai thằng gác. Hai căn bìa cửa sổ trên lầu mở tung. Vậy là Sonny đã thủ sẵn! 
Clemenza ngừng xe, cả ba đi bộ vô, hai thằng gác là người của lão. Chẳng chào hỏi mà chỉ ậm ừ ra dấu. Cười nói, hỏi han là miễn! Tới cánh cửa lớn thì lão chưa gọi đã mở: thằng gác đã để ý quan sát từ lâu. Vô “văn phòng” có Sonny, Tessio ngồi đợi. 
Sonny đứng dậy nựng chỗ đầu bể của Michael, khen “đẹp” rối rít. Nó gạt phăng, ra buya rô ngồi rót một ly scotch uống cho cái cằm bể bớt nhức nhối. 

Google photos

Cũng vẫn 5 đứa hội họp trong phòng nhưng lần này không khí khác hẳn. Sonny không lì lì bực bội nữa mà vui cười hể hả. Làm như nó bắt buộc phải nhập trận rồi nên vứt hết thắc mắc, chẳng ai cản lại nổi. Với nó thì sau vụ Ông Già suýt chết lần nữa, ở nhà thương thì chẳng có điều đình gì nữa. 
– Mày vừa đi thì có phôn của “sứ giả”, Tom! Thằng đường Thổ đề nghị điều đình. Thằng cáo già! Nó vừa chơi đấy đã bắn tin nghị hoà được rồi. Không lẽ mình cứ ỳ ra thụ động? 
– Thế mày trả lời…? 
Sonny vùng cười lớn: 
– Thì tao bảo muốn sao cũng được, muốn bao giờ cũng được. Tao chẳng đi đâu mà vội, cả trăm đàn em tao đã gài sẵn cho nằm đầy đường rồi. Nó muốn kéo dài bao nhiêu lâu thì kéo. Có điều đừng thò mặt ra, ló một sợi tóc cũng chết cha nó với tao! 
– Mà nó đề nghị cụ thể những gì? 
– Nó chỉ đích danh, yêu cầu tụi mình cử thằng Michael tới tiếp xúc nghe đề nghị của nó. Dĩ nhiên thằng trung gian phải bảo đảm sinh mạng Michael còn nó thì chẳng dám đặt vấn đề bảo đảm. Bảo đảm thế quái nào được? Nhưng nó yêu cầu người của nó đưa thẳng Michael đến địa điểm do nó chọn. Sau khi nghe nó nói thì Michael ra về thong thả. Nó giữ bí mật nơi gặp gỡ nhưng cho hay trước là đề nghị của nó rất biết điều, chắc chắn mình sẽ chấp thuận… 
– … Nhưng còn cánh Tattaglia? Còn mạng thằng Bruno bỏ hả? 
– Cánh Tattaglia bọc xuôi theo Sollozzo, không gợi vụ Bruno ra nữa. Kể như huề! Chúng dám chơi Ông Già thì một thằng của chúng phải nạp mạng. 
– Mình phải tới coi nó đề nghị cái gì. 
Dù Hagen lên tiếng rất thận trọng nhưng Sonny vẫn gạt phắt. Nó lắc đầu quầy quậy, bắt chước điệu bộ ông già: 
– Thôi ông consigliori! Khỏi điều đình, đề nghị gì hết. Tao không có gì để nói đi nói lại với thằng Sollozzo! Chừng thằng sứ giả trở lại thì tao sẽ trả lời thẳng: nạp thằng Sollozzo… bằng không thì đổ máu lớn. Nệm sẽ trải ra và đạn bay đầy đường. Chừng đó thì thằng nào cũng đau hết. 
– Đời nào các cánh khác chịu đổ máu lớn? Tốn kém lắm! 
– … Vậy thì nạp mạng thằng Sollozzo, có vậy! 
Sau khi buông vắn tắt, Sonny quay sang Hagen: 
– Mày khỏi cần cố vấn về cái vụ điều đình nghe Tom! Quyết định tao đã có rồi và bổn phận của mày là giúp tao thắng. Mày hiểu chớ? 
Hagen cúi đầu suy nghĩ một lát rồi lên tiếng: 
– Tao đã tiếp xúc với người của mày đằng bót. Ra thằng Mc Closkey bị Sollozzo mua đứt và nó chi nặng lắm. Nó còn hứa hẹn cho “ăn chia” vào vụ ma túy sau này nên thân danh Đại úy Cảnh sát mà chịu làm cận vệ cho nó. Nghĩa là Sollozzo đi đâu cũng cặp kè Mc Closkey một bên. Đi gặp Michael cũng phải có nó ngồi cạnh, có vậy thằng Đường Thổ mới dám ló mặt ra. Dĩ nhiên nó đâu cần mặt sắc phục, nhưng súng lúc nào chẳng kè kè và như vậy thì chơi thằng Sollozzo sao nổi. Đụng vào nó là có chuyện với Mc Closkey mà xưa nay cha thằng nào dám nổ một thằng Đại úy Cảnh sát rồi rút êm? Đụng đến một Sĩ quan Cảnh sát giữa New York thì không riêng họ nhà cớm phản ứng tàn nhẫn mà cả nước sẽ ồn ào phản đối. Toàn thể giới giang hồ sẽ nghẹt thở, chịu hết nổi và cứ cánh Corleone mình đổ vạ! Lúc bấy giờ tụi mình sẽ thành một thứ hủi, chẳng ai dám gần. Ông Già có tạo được bao nhiêu thế lực chính trị cũng vứt đi, họ sẽ lờ cái một! Mày đã tính trước cái hậu quả đó chưa, Sonny? 
Cả hai ông caporegime Tessio và Clemenza cùng ngồi thừ người, ngồi đổ mồ hôi hột, lặng yên kéo khói xì gà. Chẳng dám có ý kiến gì vì sơ sẩy một chút thì mạng dám đi luôn. Dân dao búa, chịu trận bao giờ chẳng lãnh đủ trước? Rốt cuộc Michael phải lên tiếng: 
– Mình có thể đưa Ông Già về nhà điều trị không Tom? 
– Không thể được. Ổng còn cần nhiều thứ săn sóc, còn bắt buộc phải nằm lại. Có thể phải giải phẫu nữa không chừng. Tao đã tính rồi mà không thể! 
– Như vậy mình chơi thằng Sollozzo tức thời. Chờ đợi là chết với nó vì thua keo này nó sẽ bày keo khác. Mình không biết đường nào mà đề phòng trong khi nó nhất định thịt Ông Già bằng được. Nó phải thịt vì tình hình bất lợi cho nó rõ. Nó thấy trước mắt, đằng nào cũng bị… thì chơi Ông Già biết đâu chừng lật ngược tình hình? Nó lại có thằng Đại úy Cảnh sát yểm trợ sát sạt như vậy thì nguy hiểm cho ổng lắm. Không thể đợi được… 
Sonny đưa tay gãi cằm: 
– Mày nói đúng. Mình không thể chờ đợi, không thể để nó thí mạng Ông Già. 
Hagen đặt vấn đề: “Nhưng còn thằng Mc Closkey đó. Giải quyết cách nào? “Sonny quay sang Michael mỉm cười: “Ừ, mày tính sao về Mc Closkey?”. Michael chậm rãi lý luận: 
– Mc Closkey là một ca đặc biệt, một quá độ phải không? Nhưng nhiều khi… biết là quá độ mình vẫn cứ phải làm. Chẳng hạn nếu bó buộc phải nổ Mc Closkey thì mình vẫn nổ chứ? Nhưng mình nổ một thằng cớm bẩn, một thằng cớm bán đứt lương tâm, dính vô áp phe ma túy để ăn chia chớ chẳng phải một sĩ quan Cảnh sát gương mẫu, làm công vụ đàng hoàng. Mình có móc nối sẵn với báo chí thì phải mớm cho chúng nó đủ sự kiện để chúng vạch ra những thối nát rành rành của thằng cớm bẩn Mc Closkey. Nghĩa là mình chuẩn bị dư luận chu đáo để phản ứng sẽ tới yếu đi phần nào… Tôi nói vậy nghe được không? 
Michael ngừng lại để nhìn từng mặt dò hỏi. Tessio và Clemenza làm ra vẻ quan tâm nhưng vẫn ngồi im. Một mình Sonny nói như reo lên: 
– Mày bàn nghe được đấy. Nói tiếp đi… Ông Già chẳng thường nói: “Miệng trẻ nhiều khi linh lắm sao?”. Rồi sau đó làm gì… Michael? 
Thấy Hagen nhìn nó gật đầu mỉm cười, Michael đỏ mặt tiếp: 
– Sollozzo muốn tôi đến gặp nó thì tôi đi. Chỉ có 3 thằng: Sollozzo, tôi và Mc Closkey ngồi một bên chớ gì? Mình cứ hẹn cỡ hai ngày, nó giữ bí mật địa điểm thì mình cố dò tìm bằng được. Buộc nó phải gặp gỡ ở một chỗ nào công cộng… chớ đi vô nhà riêng thì khỏi! Một bar rượu, một nhà hàng nào đó vào giờ đông khách thì khỏi sợ thằng nào làm ẩu, phải không? 
Thấy không? Thằng Sollozzo sẽ yên chí lớn… đời nào mình dám nổ một thằng Đại úy Cảnh sát! Trước lúc gặp gỡ nó vẫn phải đi kiếm cách củ soát cả người tôi. Vậy mình phải lo “đặt” đồ nghề ở ngay địa điểm họp, giấu sẵn đâu đó. Tôi sẽ chớp lấy để thình lình cho cả hai thằng đi luôn. 
Cả bốn thằng cùng giật mình nhìn Michael trừng trừng. Hai lão caporegime sững sờ. Hagen không lạ mà chỉ hơi buồn. Sonny lõ mắt ngó nó rồi cười ngặt nghẽo, cười sặc sụa. Nó cười tưởng đến nghẹt thở vỡ bụng, đưa tay trỏ Michael: 
– Lạ không này! Một thằng học trò, nhóc con là mày… xưa kia không muốn dính vô bất cứ chuyện gì của nhà bây giờ đòi khơi khơi nổ một lúc hai đứa! Nổ cả Đại úy Cảnh sát chỉ vì bị nó đấm bể mặt! Vậy là mày trả hận chớ đâu phải giải quyết chuyện làm ăn? Coi, mới bị có một cú ngay mặt mà đòi thịt hai mạng… bộ mày giỡn chơi? 
Hai lão caporegime có hiểu gì đâu? Cứ tưởng cậu cả Sonny bật cười chế giễu thằng em út bốc đồng bậy nên ngó Michael coi bộ thương hại. Hagen lẳng lặng không nói trong khi Michael đưa mắt nhìn quanh và Sonny ôm bụng cười sặc sụa: 
– Mầy tính hạ cả hai thằng… thiệt sao em? Không có mề đay đâu, ghế điện đấy! Đây đâu phải chiến trường nổ súng ầm ầm, quân thù cách cả cây số? Nó ở sát nách mày, mày phải nhìn thấy tròng mắt nó trợn ngược lên. Ngón tay mày nhấn cò là chân mày phải mau mau nhảy qua một bên, nếu không muốn óc nó văng ra tứ tung, dính đầy cả vô bộ đồ lớn kìa! Đấy, nổ là phải như vậy… chớ đâu phải để trả hận một cú đấm của một thằng cớm? 
Cho đến lúc ấy Sonny vẫn còn cười ngạo. Nhưng đột nhiên Michael đứng phắt dậy, gắt: “ Đừng mở miệng cười nữa!” 
Giọng nó nghiêm lạ. Làm Tessio, Clemenza không dám cười nữa thật. Người nó đâu có vạm vỡ, cao lớn gì nhưng trông Michael thật dễ sợ, in hệt Bố Già hồi nào! Mặt nó không còn chút máu, cặp mắt nó lì lợm làm như nếu Sonny còn cười nó dám xông tới đập chết liền tại chỗ. Khỏi nói nếu tay nó sẵn súng thì mệt với nó rồi! 
Quả nhiên Sonny khựng lại khi giọng Michael cất lên hằn học, gay gắt! “Mày tưởng tao không dám làm hả?”. Sonny vội cải chính: – Coi, tao đâu cười… mày không dám? Tao biết mày dám chớ? Tao chỉ bật cười vì khi không có chuyện thay đổi tức cười vậy thôi. Chớ hồi nào đến giờ tao vẫn biết mày là thằng lì, mày lì còn hơn ông già nữa kìa! Cả nhà xưa nay chỉ có mình mày dám cưỡng lại ổng, phải không? Hồi nhỏ, mày có chút xíu mà mày dám chơi tay đôi cả với tao, còn thằng Fred với mày thì có tuần nào không đập lộn. 
Vậy mà thằng cáo già Sollozzo cứ tưởng đâu mày là thằng yếu, mày để cho thằng cớm đập mà không dám phản ứng và mày không muốn dây dưa đến những vụ đánh đấm ở nhà này! Nó tưởng đâu nuốt sống mày như không và thằng cớm thì cứ đinh ninh mày là thằng chết nhát… 
Ngừng lại một chút, Sonny ôn tồn nói: 
– … Nhưng mày là con của bố, khỏi có ai biết ngoài tao! Mấy bữa nay, từ hôm ổng bị chúng chơi… tao vẫn có ý chờ mày tự ý chui ra khỏi tháp ngà, vứt bỏ cái vỏ trí thức dấm dớ bấy lâu nay. Tao vẫn chờ mày đổi lốt để sát cánh cùng tao thịt bằng hết những thằng dám chơi ông già, dám đụng đến nhà mình! Hà hà… chỉ nhờ có một cú đấm thôi như thế này mà được việc quá! 
Sonny ra điệu bộ coi thật tức cười làm tất cả cùng cười ồ lên, Michael lắc đầu giải thích: 
– Không, nếu tao làm vụ này thì chỉ vì mình kẹt. Mình không thể chờ coi thằng chó chết Sollozzo ám hại ổng lần nữa… Mà cả nhà này chỉ có một mình tao là có thể tới gần nó. Nếu chơi nó mà phải thịt luôn một thằng Đại úy Cảnh sát thì tao sợ rằng mày có kiếm cả năm cũng không có thằng nào dám đâu! Mày làm thì được chớ Sonny? Nhưng mày còn vợ con, còn phải điều khiển công việc cho đến ngày bố bình phục. Thằng Fred đâu còn hồn vía gì? Chỉ còn mình tao. Tao làm là hợp lý quá rồi chớ đâu phải vì một cú đấm bể mặt? 
Sonny chạy lại ôm Michael: “Mày lý luận vậy mà đúng boong. Phải không Tom?” 
Hagen nhún vai đáp: 
– Trên lý thuyết thì vững đấy! Tao đồng ý vì tao cho rằng thằng Sollozzo không thật lòng muốn gặp mình điều đình mà nó chỉ chờ cơ hội làm cú nữa. Con người của nó như vậy, thành tích của nó cho thấy. Nếu nó định thịt ông già thì mình đành phải chơi nó trước, dù có phải nổ luôn cả thằng Mc Closkey. Vấn đề là thằng nào đứng ra chơi nó sẽ khó sống lắm. Sao lại cứ phải thằng Michael? 
Sonny nói khẽ: “Tao chơi được”, nhưng bị Hagen gạt ngay: 
– Mày thì có 10 thằng Mc Closkey làm cận vệ nó cũng chẳng dám cho lại gần cả cây số! Vả lại mày còn phải tạm thời gánh công việc nhà đâu liều mạng được, Sonny? Để hỏi Tessio và Clemenza coi có thằng nào dám lãnh vụ này không? Một thằng thật chì. Dĩ nhiên mình phải bảo đảm vật chất cho nó sau này… 
Clemenza từ chối: “Không được! Thằng cáo già nó biết mặt hết. Còn tao và Tessio đi thì thấy mặt nó đã lặn gấp còn làm gì được?” 
Hagen đề nghị hay là thử chọn một thằng amatơ, chưa phải người nhà nhưng chơi có nét thì hai lão caporegime cũng lắc đầu quầy quậy. Tessio giễu một câu: “Cử một thằng amatơ đi sao được? Kể như nó đang đá chân đất bắt lên đá Hội tuyển tranh cúp vậy!” 
Rút cuộc Sonny đi đến kết luận: 
– Vụ này phải cử Michael đi! Có cả triệu lý do, song lợi hại nhất ở điểm tụi nó vẫn tưởng đâu thằng này chết nhát. Còn tôi, tôi đảm bảo Michael làm được, làm ngon lành là khác! Đó là chi tiết tối quan trọng vì với thằng Sollozzo mình chỉ có một cơ hội mà thôi. Bây giờ mình phải dồn nỗ lực yểm trợ cho Michael. Địa điểm tụi nó giấu thì mình phải cấp tốc tung người ra, buộc tụi nó phải nghe ngóng, phăng ra bằng được, với bất cứ giá nào. Phải biết chắc chỗ đó rồi mới giấu được “đồ nghề” chớ? 
Sau đó Clemenza phải kiếm cho ra một khẩu “an toàn” nhất, nòng thật ngắn. Đạn chì, nhồi thuốc lấy, phải có sức công phá tối đa. Nghĩa là thật dữ. Khỏi cần phải chính xác vì mình chơi gần quá mà? Kể như dí sát vào đầu chúng mà nổ và nổ xong là buông súng tức khắc, buông ngay lập tức. Khỏi lo để lại dấu tay. Mình đã có đồ thoa sẵn ở nòng cũng như ở cò súng cho trơn lu. Quan trọng nhất là chớ để nó vồ được quả tang mày đang cầm súng, mày còn cầm súng. Bao nhiêu nhân chứng mình cũng cóc cần, miễn là mày buông được súng ra. Ngược lại thì trời gỡ! Nhớ chưa Michael? Sẽ có người bảo vệ mày, đưa mày đi cấp tốc và mày có quyền “lặn” luôn, chừng êm xuôi hết mới ló ra. Có thể mày phải biến một thời gian khá lâu, nhưng chớ có giở trò từ biệt, nhắn nhe con nhỏ đó. Gọi điện thoại cũng khỏi! Chừng mày ra khỏi xứ này, an toàn rồi… tụi tao sẽ có tin cho nó sau. Mày cứ in vậy mà thi hành. 
Nói đến đấy, Sonny ngó thằng em út cười mỉm rồi ôn tồn nói tiếp: 
– Ngay từ bây giờ mày khỏi đi đâu hết. Mày phải ở cạnh Clemenza và chú ấy đưa khẩu nào mày ráng sử dụng cho quen tay. Nếu cần phải bắn tập. Còn mọi việc khác sẽ có người lo cho mày hết. Yên chí chưa? 
Tự nhiên Michael nghe một luồng khoái cảm rạt rào chạy ngang cơ thể. Nó phải “chỉnh” thằng anh một cú. Nó quắc mắt lên: 
– Bộ mày phải dạy tao “phòng gian bảo mật” nữa sao? Bằng không tao sẽ chạy lại nó nắm tay dặn dò, từ biệt chắc? Bỏ mấy cái trò sơ đẳng con nít ấy đi chớ? 
– À, xin lỗi chú mày… Tao cứ nghĩ mày amatơ nên dặn cho chắc ăn! 
Michael vùng nói lớn: 
– Mày nói sao? Tao mà… amatơ? Ông Già truyền cho mày cái gì thì tao cũng lãnh vậy… chớ tao đui, tao điếc sao? Tao cũng chơi ngon lắm chớ bộ? 
Hai anh em nhìn nhau cười ha hả làm mọi người cũng bật cười theo. Hagen tự động lãnh chân rót rượu, pha cho mỗi đứa một ly. Mặt nó rầu rầu. Vậy là con nhà văn sắp phải giở võ đến nơi. Một thằng học Luật đầy mình nay phải chơi luật rừng đây! Nhưng trong thâm tâm nó tự an ủi: 
– Bề nào cũng đỡ khổ ở chỗ mình còn nắm được phần nào chủ động!


Bố Già

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Chương 9

TỐI HÔM ĐÓ MICHAEL LÊN NEW YORK GẶP KAY MÀ trong lòng rầu rĩ. Nó cảm thấy bị lôi cuốn vào việc nhà “lại bực mình bị Sonny cử vào việc canh điện thoại”. Phiền nhất là bọn họ bàn gì với nhau và bằng lòng để nó được dự nghe những bí mật, chẳng hạn những vụ giết người. Ra điều đủ tín nhiệm! 
Nhìn thấy mặt Kay nó cũng có mặc cảm lừa dối, không thành thật mỗi khi nói về gia đình. Michael cũng có nói qua thật nhưng bao giờ cũng nửa đùa nửa thật như kể chuyện xinêma chớ chẳng phải nhân vật có thật. Trong khi đó ông bố bị bắn gục giữa đường và ông anh cả thì sắp đặt kế hoạch giết người! Sự thật là vậy nhưng kể cho em bé nghe sao được? Nó nói “bất quá chỉ là tai nạn” và mọi mọi sự xong cả rồi… trong khi biết bao nhiêu chuyện sắp nổ bùng! 
Bây giờ mới là lúc lo đối phó. Dù Sonny đã công nhận là nguy hiểm nhưng xem ra tụi nó vẫn đánh giá thấp đối phương, Michael không thể không thắc mắc về ngón đòn hiểm: với một thằng liều lĩnh và cáo già như Sollozzo thì phải coi chừng yếu tố bất ngờ. Quả thực là Michael lo lắm nhưng cả 4 thằng chuyên nghiệp Sonny, Hagen, Tessio, Clemenza cùng cho là đã “nắm vững tình hình” một thằng thì vô can, amatơ như nó còn biết nói gì? Vả lại có cho nó cả đống mề đay gấp mấy lần số mề đay Thế Chiến II của nó thì Michael cũng chẳng ham nhập trận! 
Sự hờ hững làm Michael có mặc cảm bất hiếu với Bố Già. Ô hay, ông bố đẻ bị bắn nát người mà nghe giải thích “chỉ là một tai nạn thuần túy nghề nghiệp” nó lại có vẻ thông cảm hơn ai hết mới kỳ lạ. Làm như một đời quyền thế như ổng thì phải chịu như vậy đó. 
Michael xưa nay vẫn muốn tách rời gia đình, tự lập cuộc đời nhưng nhè lúc sóng gió thế này thoát ly sao nổi? Nó bắt buộc phải ở lại, bắt buộc phải làm một cái gì vì nghĩa vụ con cái nhưng đặc biệt chỉ làm những vụ phi quân sự, nghĩa là khỏi có trách nhiệm với những vụ chiến đấu chém giết. 
Từ nhà lên New York, Michael đi xe hơi có đàn em Clemenza hộ tống, xuống xe có người nhìn trước nhìn sau cho đến khi nó bước vô lữ quán. Kay đợi sẵn ở dưới nhà, hai đứa dẫn nhau đi ăn tối. 
– Chừng nào anh đi thăm ông già? 
– Tám rưỡi hết giờ vô thăm. Anh đợi mọi người về hết đã. Ổng nằm phòng riêng có y tá riêng nên anh có thể ở lại một lát. Dù chẳng để làm gì cũng ở lại vì ổng đã tỉnh táo, đã nói được gì đâu? 
– Tự nhiên em thấy thương ông già, nhất là bữa đám cưới ổng coi bộ hiền lành đấy chớ? Làm sao tin nổi những chuyện mấy ông nhà báo vẽ vời? Em chắc không đúng sự thật quá! 
– Thì anh cũng tin vậy! 
Michael chỉ vắn tắt có vậy. Dù với Kay là người mà nó thương yêu, tin tưởng cũng chẳng cho biết điều gì về ông già hoặc gia đình. Nàng vẫn là người ngoài. Khi Kay hỏi “Anh có dính vô vụ đánh lớn nay mai” thì nó cười hề hề, đứng lên mở nút áo vét ra: “Coi đi… có súng đâu mà đánh lớn?” 
Lúc trở lên phòng đã khá trễ nhưng hai đứa vẫn uống chung nhau một ly cốc tay. Michael đặt nàng trên đùi. Lớp lụa lót trong thật mịn mà làn da Kay còn mịn màng hơn nhiều. 
Hai đứa nằm bên nhau mơ mơ màng màng cho đến lúc Michael chợt nhỏm người vùng dậy: “Chết cha… gần 10 giờ rồi. Phải đến nhà thương cấp tốc chớ?” 
Nó lật đật chạy vô phòng tắm để lau mặt, chải đầu. Kay chạy theo đứng phía sau ôm choàng ngang lưng nũng nịu nói: 
– Chừng nào tụi mình làm đám cưới? 
– Bao giờ chẳng được? Đợi ông già bình phục, tình hình yên tĩnh một chút… Chắc em phải giải thích cho ông bà già trước quá! 
– Giải thích cái gì? 
Vừa ngó gương chải đầu, Michael vừa cà rỡn: 
– Đại để em phải nói con gặp một chàng trẻ tuổi gốc Ý, đẹp trai, hào hùng. Sinh viên Dartmouth ngon lành. Từng phục vụ Tổ quốc trên chiến trường. Có Anh dũng Bội tinh, Chiến thương Bội tinh, đàng hoàng, chăm chỉ. Có điều ông thân sinh ra chàng là một tay tổ Mafia, từng giết người như bỡn và hối lộ nhà nghề. Vừa bị “thanh toán nát bay người”. Cam đoan không có vụ “cha nào con nấy”. Cha tướng cướp thật nhưng con chịu khó làm ăn vô cùng. Liệu em có thuộc lòng bằng ấy bài không? 
Kay buông chàng ra, đứng dựa cửa phòng tắm, cất tiếng hỏi: 
– Bộ ổng tay tổ Mafia thiệt… và ổng dám giết người thiệt sao? 
– Sự thật anh đâu biết! Mà có biết ai biết được đâu? Nhưng nếu có thực anh cũng chẳng ngạc nhiên! 
– Bao giờ mình lại gặp nhau anh? 
– Bây giờ em nên về nhà suy nghĩ lại cho chín chắn. Quên hết mọi chuyện vớ vẩn đi rồi nghỉ Giáng sinh xong chúng ta sẽ gặp nhau trở lại trường. Chừng ấy hãy nói… 
Kay “đồng ý” và đứng ngó Michael đi khuất, trước khi chui vô thang máy chàng còn vẫy tay chào. Chưa bao giờ nàng có cảm giác gần gũi, gắn bó tha thiết với Michael đến thế. Giá có ai bảo hai đứa sắp phải xa nhau 3 năm đằng đẵng. Kay đâu chịu tin. Và chịu sao nổi kìa? 
Từ tắc xi lật đật chui ra, Michael ngạc nhiên vì đường phố vắng ngắt mà bên trong nhà thương cũng chẳng thấy một mạng nào. Vậy mà gọi là “có canh chừng” thì chết thật! Mấy thằng đàn em Tessio, Clemenza đi đâu cả? Không học West Point ra nhưng ít nhất hai lão caporegime cũng phải biết đặt người chỗ nào ở một địa điểm như thế này chớ? Ngay hành lang cũng chẳng có thằng nào đâu? 
Giờ này 10 giờ 30, còn ai thăm viếng gì nữa? Hoảng quá Michael khỏi vô Phòng Đợi hỏi. Biết số phòng Ông Già rồi, nó nhảy đại vô thang máy của nhân viên phóng thẳng lên lầu 4. Kỳ quá, chẳng ai hỏi han gì đến nó cả! Đứng ngay trước phòng ông già cũng chưa thấy mặt con y tá mướn riêng để săn sóc ổng và hai thằng cớm chìm thường trực ngày đêm để chuẩn bị lấy cung cũng đi đằng nào mất biệt! 
Thế này thì bọn đàn em Tessio, Clemenza cắt gác biến đi đâu? Cửa phòng bệnh mở toang mà Michael ló đầu vô chẳng thấy ma nào, ngoài một bóng người lù lù nằm trên giường. Nhờ ánh trăng vàng úa hắt qua khung cửa sổ, nó nhận ra khuôn mặt đau khổ của Ông Già, bộ ngực phập phồng lên xuống coi bộ mệt mỏi quá! Từ chiếc tủ kê đầu giường, mấy ống dưỡng khí ngòng ngoèo chạy chui vào lỗ mũi ổng và dưới chân giường là cái chậu để nhận đồ dơ do cơ thể ổng bài tiết ra, cũng do mấy ống thông hơi dẫn xuống. Ngó một lát coi ổng vẫn còn thở, Michael yên chí quay trở ra và đụng đầu con y tá. 
Michael tự giới thiệu: 
– Tôi là con Ông Già… Tôi muốn thăm bố tôi một lát. Mấy ông cảnh sát vẫn canh chừng đây đi đâu cả? 
Con nhỏ mặt còn non choẹt nhưng coi bộ rành nghề, biết bổn phận lắm. Nó chững chạc giải thích: 
– Người bệnh mệt vì quá nhiều người vô thăm, vượt ra ngoài thể lệ bệnh viện. Cách đây chừng 10 phút, cảnh sát vô mời ra hết. Mấy ông thường phục vẫn canh chừng ở đây thì có điện thoại của Ty Cảnh sát kêu cách đây lối 5 phút. Tôi đưa máy cho họ nghe thì không hiểu có chuyện gì họ cũng lật đật về luôn. Nhưng ông yên chí đi, tôi ngồi ngoài canh chừng Ông Già cũng được. Có gì trong phòng là tôi biết ngay. Tôi để ngỏ cửa vì vậy mà! 
– Cô chịu phiền cho tôi ngồi với bố tôi một lát có được không? 
– Ít phút thì được. Xong, ông nhớ ra ngay. Luật lệ nhà thương là vậy, có gì tôi bị la. 
Michael trở vô, kiếm điện thoại, nhẹ nhàng nhấc lên nhờ tổng đài bệnh viện cho gọi ra ngoài. Nó quay số phôn nhà, số phôn đặt ngay trong văn phòng ổng ở Long Beach để thông báo gấp cho Sonny. 
– Sonny đấy hả? Kỳ quá, tôi ghé bệnh viện thăm bố mà chẳng thấy ai hết trọi! Người của Tessio không có một thằng, mà cớm chìm cớm nổi cũng tuyệt không thấy một đứa. Nghĩa là ông già hoàn toàn nằm trơ một mình, hoàn toàn chẳng có ai bảo vệ. Tại sao vậy kìa? Vô lý quá, dám sắp có chuyện. 
Giọng Michael run run mà đầu dây đằng kia hơi thở thằng Sonny nghe cũng hồi hộp, căng thẳng dữ. Ít phút sau mới nghe tiếng nó: 
– Nghe tao nói đây. Cái vụ này đúng là đòn thằng Sollozzo… 
– Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng nó làm cách nào mà cớm vô xua hết cả mọi người ra, kể cả người của Tessio? Và mấy thằng an ninh chìm cũng lật đật đi hết… tại sao vậy? Không lẽ thằng cáo già Sollozzo đã mua đứt Sở Cảnh sát New York? Nếu vậy thì mình nguy lắm. 
– Đúng, nguy lắm! Nhưng mày đừng bấn lên chớ? Cũng may mà tình cờ mày có mặt đúng lúc. Vậy mày ở trong phòng khoá cứng cửa lại và khỏi đi đâu hết. Tao sẽ điều động người của mình tới ngay trong vòng 15 phút. Tao sẽ phôn ngay bây giờ. Mày nghe tao cứ ở trong phòng với bố, chớ có sợ hoảng. 
– OK. Sợ quái gì mà sợ? 
Michael gác phôn lên. Tự nhiên chẳng cảm thấy sợ hãi gì hết mà chỉ thấy cả một nỗi căm hờn dâng lên trong con người nó, lần đầu tiên. Tụi nó sắp đặt chơi thế này là tận tình, không nổi giận sao được? Đầu óc nó quyết định nhanh như máy, nhưng quyết định theo ý nó… Chớ nghe thằng Sonny sao được? Michael bấm chuông kêu y tá vô. 
– Tôi nói điều này cô đừng sợ nghe! Ông già tôi bây giờ phải chuyển đi chỗ khác, chuyển liền tức thời. Sang phòng khác lầu khác cũng được. Nhờ cô tháo gấp mấy ống thông hơi kia… để tôi đẩy giường đi được không? 
Con nhỏ trố mắt ngạc nhiên: “Ô hay, sao khi không di chuyển kỳ cục vậy? Bác sĩ biết là chết”. Michael đành lẹ làng giải thích: 
– Chắc cô có đọc báo nói về ổng chớ? Cô thấy không, đêm nay tự nhiên chẳng có ai canh gác hết! Lại có tin chúng sắp cho mấy thằng tới đây ngay bây giờ để… cho ổng đi luôn. Mình không di chuyển gấp là không kịp. Vậy cô sẵn lòng giúp tôi chớ? 
Phải nhìn nhận là Michael có biệt tài chỉ huy. Nó mới có vắn tắt có vậy mà đang ngơ ngác sợ hãi, con bé y tá đồng ý liền: 
– Mình đâu cần phải tháo ống? Đẩy giường đi… và đẩy cái tủ theo được mà? 
Michael bắt tay vô việc liền. Thật nhanh nhẹn, nó đẩy tuốt giường ông già sang một căn phòng trống ở cuối hành lang. Con nhỏ trợ giúp rất đắc lực nên Michael căn dặn: “Cô nhớ ở trong phòng với ổng. Chờ “viện binh” tới ngay bây giờ… chớ đi ra dám “bị” oan lắm!” 
Giữa lúc ấy tự nhiên ông già lên tiếng. Dĩ nhiên giọng ổng còn ồ ề, ngượng nghịu nhưng chẳng yếu chút nào: “Michael đấy hả? Có chuyện gì vậy con?” 
Mừng quá nó cúi sát xuống mặt giường, nắm lấy tay ổng: “Con đây bố! Bố đừng sợ nghe! Bố cứ nằm yên, bố đừng cục cựa… có ai gọi bố đừng lên tiếng nghe! Tụi nó tính “thịt” bố… nhưng có con ở đây, bố yên chí, bố khỏi sợ!” 
Dĩ nhiên Ông Trùm đang đau đớn lắm và chết ngất từ chiều hôm qua, vừa hồi tỉnh dậy có biết chuyện gì đâu? Nghe thằng con đứng bên giường nói vậy thì cũng biết đại để vậy… những vẫn cố ráng mỉm cười để trả lời tỉnh khô: 
– Ô hay, sao bố lại sợ nhỉ? Từ năm 12 tuổi đến giờ… thiếu gì thằng muốn giết bố mà bố sợ quái gì chúng?

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Phần 24

Suýt chết hụt trong một trận ghen

Thấy hội đồng về rồi, chị em tôi bàn soạn, tính phải lo mau đoạn phút mối tình nầy, nhắm để dây dưa lâu ngày e sanh chuyện không hay.

Sẵn tại nhà chị chủ sự, có nuôi một mụ tay sai sồn sồn, có tánh ham uống rượu thửa rượu cắp, lại có tật thèo lẻo nhứt hạng, đời đó chưa có radio mà mụ ấy đúng là một cái máy truyền tin sống. Một ngày chí tối không làm gì hết, chỉ trông cho ai sai vặt, mượn mua giống gì đặng có ăn xởi ăn bớt, ăn tước trên đầu người ta mới chịu. Từ hôm mụ ta thấy anh hội đồng lân la nhà tôi, mụ lén dòm hành mọi cách chớ cho có dịp kiếm chuyện đâm thọc lập công. Tôi thầm nghĩ: nếu chọc tức mụ nầy làm sao mụ cũng oán, rồi thèo lẻo lại với cô hội đồng thì tức nhiên kế tôi ắt thành. Bữa nọ tôi rình và bắt đặng tại trận mụ Ba Hợi đang có làm tàn lén mở nút chai dầu “Ý muốn của đàn bà” (Ce que femme veut) của tôi ra mà hửi hít. Tôi miệng chửi tay vả cho một hồi, chị ta lầm lì bỏ đi ngoe nguẩy. Tôi sai trẻ theo dõi xem có phải mụ chằn tinh giả ấy đi lại nhà thầy hội hay không. Trẻ về học lại quả y như lời tôi độ, không sai một mảy. Tôi liền cụ bị giấy tờ sẵn hết, rồi lánh mặt bước trái qua nhà chị Hai bán nem nướng bò bún, chờ nghe tin tức.

Cô hội đồng Ph, hay tin tôi dọn về ở nhà bánh ếch đường Garcerie của chồng, nổi cơn ghen đùng đùng, dẫn bổn bộ binh mã gồm một bồi trai và hai con hầu gái, hăm hở tìm tôi để phân thây xé thịt và phá tan sự nghiệp nhà tôi. Ào vô nhà, thấy nhà vô chủ, chị ta càng được nước, lên ngồi vách đốc giữa bộ ngựa gõ, thị thiềng cho đám nha trảo phá cửa buồng tôi và tuôn hết đồ đạc luôn và “đồ tế nhuyễn của riêng Tây” của tôi quăng hết ra ngoài đường, không chừa một món. Trẻ vừa báo tin, tôi bèn lòn ngả sau, nhảy lên xe kéo chạy tuốt xuống bót “giếng nước”, trình giấy tờ minh bạch lên ông cò và cáo rằng: “Thầy hội đồng Ph. bán nhà cho tôi có tờ đoạn mãi chứng minh, mà không hiểu sao vì cớ nào hiện bây giờ có một người đàn bà, nghi là vợ ông hội đồng lại kéo người của bà, đương đập phá nhà tôi, lại liệng ném đồ đạc của tôi ra ngoài đường hết”. Ông cò lập tức sai hai người lính đi theo tôi, và bắt hết cả bọn. Chừng ông hội đồng hay, tức tốc xuống bót trâm tiếng Tây với ông cò và lãnh vợ về. Nhưng tôi không nghe, nói với ông cò tôi là vợ chủ hãng tàu quốc tịch Ăng-lê, nay về nghỉ dưỡng bịnh bên xứ, bà hội đồng làm như vầy là mất danh giá tôi và nài xin ông cò giải việc nay cho tòa án đặng tôi kiện về thể diện. Tôi làm dữ quá, và nắm gương bén về phần cán, tội nghiệp cho thầy hội, nhắm bề thế thất đủ mười, nên chịu thua, phải năn nỉ với chị chủ sự cậy nói giùm, lên gởi riêng cho tôi hai trăm đồng tiền thiệt hại, kỳ dư sau nầy có hư hao bao nhiêu, thầy đều chịu bồi thường hết. Chừng ấy tôi mới chịu làm tờ bãi nại.

Từ đó mỗi lần anh Ph. đến nhà, tôi cứ sai trẻ đuổi ngay, biểu đừng cỏ chà lết lại đây nữa, rồi bà đến làm nhục tôi, tôi không chịu đâu. Nói đánh phách, hãy lập trang thờ bà là tốt hơn. Vài lần như vậy, thầy hội đồng nhắm thế gây tình với tôi không êm, vả lại muốn đòi số bạc cũng khó nỗi đòi, vì giấy tờ đâu đó đã phân minh rồi và đã giao cho tôi làm chủ rồi, nếu nói vấy ra càng thêm xấu hổ, thiên hạ sẽ cười cho thúi đầu. Thôi, một phen mắc lận đàn bà, tất hơn là làm thinh rán chịu!

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com    

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Phần 23

Nhà ai sắm sẵn

Xe tới đường Catinat, đậu lại ngang nhà hàng Continental, chị chủ sự mở bốp-phơi hơi chậm, thầy hội đồng khoát tay giành trả tiền xe song mã, rồi giành mua một cái lôsờ (loge) ba chỗ ngồi thượng hạng. Trong lúc quây phím hát, đèn tắt, thầy hội đồng ngồi trên ghế kế bên tôi in tuồng ngồi trên than lửa đỏ. Tay chưn bộ tịch thầy làm làm sao, không lẽ tôi nói ra đây cho đặng… Chừng vãn lớp đầu, thầy mời chị em tôi bước qua Đại lục khách sạn (hôtel Continental, lúc đó chỉ tiếp khách Tây và người An nam – phải ăn vận thật sang mới cho vào cửa). Chị chủ sự vui miệng, đặt buổi rượu nầy là tiệc “bình thuỷ tương phùng” và buộc phải có sâm banh mới đáng. Thầy hội gọi bồi khui một chai Mum đắt tiền nhất, khi cụng ly thầy ước với tôi rằng:

– Chỗ nầy đông người, không lẽ, chớ chi tôi vôi cô cùng uống chung một ly mới toại nguyền

Tôi đáp lại:

– Như ai kia, không dám nói, chớ đặng người đứng đợt như ông, mà cố cập đến phận linh đinh như chiếc lá giữa dòng nầy, thì dầu ông không nói, chớ tôi cũng lo đền ơn nghĩa trả. Ngặt một điều là tôi nay nhà cửa chưa yên, biết có gần gũi ông được nhiều ngày hay chăng.

Chị chủ sự tiếp lời:

– Có phải bao nhiêu mối tệ, một mình anh ôm hết đó phải không? Em tôi đây đã tất tình nài anh một cái nhà, mà sao tôi coi ý anh còn phân phân bất nhứt! Nè, anh hội đồng, cho tôi hỏi thứ chơi và đừng giận, nghen! Xưa nay nghe tiếng anh xử thế tề gia không sai chạy, mà chuyến nầy, tôi coi bộ anh hết dám tự chuyên. Hay là anh còn sợ chị ở nhà nghi kỵ?

Ông Phát có hơi mất cỡ, nói đỡ rằng:

– Em chủ sự, biết qua thuở nay lắm chớ? Kìa, chuông reo, hãy mau qua xem hát tiếp rồi về nhà sẽ nói chuyện.

Thầy hội lấy khăn choàng lên vai tôi mà nói nhỏ: “Cô chủ sự cổ nói yêu cổ đa! Madame hãy nhớ cho tôi câu: “Đại trượng phu tiên trị kỳ gia” đó mà?

Vãn hát, bị mắc mưa. May thời kiếm được một cái, xe kiếng hai ngựa. Thầy hội đồng ga-lăng (galant, thói nịnh đầm), nhường băng sau cho chị chủ sự ngồi, còn tôi và ông Phát, ngồi băng trước.

Trời mưa càng già, gió tạt tứ phía, nên kéo cửa kiếng bít bùng.

Tôi bấy lâu rừng núi đã trải, voi cọp đều thấy, nào biết sợ giống gì, thế mà hôm nay phải run rẩy rởn ốc với thằng cha nầy, để cho thầy mặc tình trổ mặt yên hùng, còn tôi hết sức đỡ bên nầy thì che bên kia mà cũng không khỏi. Nhưng cái thân đã từng quen với hạch, gặp bầy sẻ sẻ xá chi! Xe đưa đến nhà chị chủ sự, vô nhà, tôi xin lỗi thầy hội đồng cho tôi thay áo trước mặt, còn mặc một cái áo trong nhà thật mỏng, ngồi tiếp chuyện. Chị chủ sự, theo phận chủ nhà, lăng xăng lo đãi đằng gà vịt rượu trà. Chừng ba bốn tuần “mai quế lộ” (mai té lộ) điều khiển anh hội đồng ta gần cúp, chỉ đem ra một tô giấy tín chỉ 1 , dở chuyện cái nhà ra nói, xin thầy hạ bút làm tin. Tuy đã tuý luý nhừ tử, mà thầy hội đồng còn đủ trí khôn, hỏi móc họng chị chủ sự:

– Ý! Cái cô! Giấy tờ đâu mà sẵn làm vầy? Lại mua bán gì mà nửa đêm nửa hôm như vầy?

Tôi vội nói nửa pha lửng nửa thiệt:

– Bộ khi ông hội đồng ổng sợ nửa đêm tôi không có sẵn mấy ngàn đồng bạc chồng ra cho ổng chớ gì?

Thầy liếc tôi:

– Cô Hai khéo nói mát nói mỏ thì thôi! Giá gì mấy ngàn đồng bạc mà người như tôi lại coi trọng hơn cô hay sao. Thôi! Được! Như cô đòi “giấy trắng mực đen” cho chắc, thì “giấy trắng mực đen” cho rồi!

Thầy vừa cầm viết, tôi lai cản, giả đò đi mở tủ, nói:

– Tôi mới lấy dưới ngân hàng một ngàn đồng để xài mấy bữa, nay còn bảy tám trăm đây. Vậy tôi chồng đỡ cho ông bấy nhiêu ấy, rồi ngày mai, giờ nào ông nhứt định, tôi xuống lấy thêm chồng cho đủ số, đặng không?

Ông Phát vừa cười vừa chụp tay tôi kéo lại mà rằng:

– Người ra biểu ngồi đây chơi! Bữa nào ghé nhà sẽ “lấy” hết một lần cũng đặng mà, phải không, em cô chủ sự? Ngon với nhau mà?

Tôi hứ một tiếng đồng tình ngọt xớt, vừa xít lại gần xoa yêu chót mũi thầy bèn lau lau cây viết, tỏ ra mình là tay hay chữ, rồi ký tên vào tờ bán, xong rồi trao hết cho tôi. Kế nghe đồng hồ gõ một giờ, thầy làm bảnh, than mệt xin kiếu về ngủ. Tôi lên xe kéo ngồi chung đưa thầy tôi cửa, thầy cho hay vợ đi vắng, mời tôi vào nhà cho thầy hỏi thăm chuyện riêng. Tôi cười duyên, lấy tay rở trán thầy mà rằng:

– Đi đâu mà vội, không mất đâu mà sợ. Để bữa khác, hôm nay anh uống rượu nhiều, không nên. Thôi, anh vô nghỉ đi, chẳng thiếu chi ngày!

Tôi với hun theo kiểu thằng Lu-y, lấy môi ép vào môi thầy, hôi rượu nồng nực.

Tôi trông rảnh rang đặng cười cái khật của đời cho đã, kẻo hồi giờ nó bắt nôn trong ruột. Tôi lấy hai trăm đồng bạc đền ơn chị chủ sự, nhưng chỉ làm mặt giận, lại rầy tôi sao còn khách sáo, chỉ không chịu lấy, rằng chị em nương dựa nhau mà ở đời, khi vầy khi khác, chớ đi tính từ chút công như vậy mà coi được hay sao.

Thấy chỉ biết điều, tôi cũng bớt giận phần nào, và từ ấy tôi cũng có lòng mến chỉ.

Tôi dọn nhà vừa xong, sắp đặt đâu đó vừa vừa con mắt, thì thầy hội đồng đã mon men đến cửa. Thời may, vào lúc chị chủ sự vừa đến chơi, chỉ chận đầu ông hảo ngọt ta rằng:

– Coi kìa? Anh hội đồng lóng nầy bộ túng rồi sao, mà lại đòi tiền gấp dữ vậy?

Ông hội đồng Pháp có tánh se sua, thường khoe mình giàu có và ăn ở rộng rãi nay bị chận họng hỏi nhằm chỗ tức, ông ta giận, trả lời thiếu một điều gây lộn với chị chủ sự:

– Cô thiệt khi tôi quá! Bạc muôn kia, còn chửa thấy gì, sá chi thứ năm ba ngàn, mà tôi đây túng sao? Bữa nay cô Hai chưa trả thì mai, mai chưa trả thì mốt, để tới bữa nào, lại không đặng. Tôi đến đây, cố ý coi cô Hai dọn nhà xong chưa và đồ đạc tôi sắm như vậy đủ dùng cùng không, chớ tôi đây có con mắt, biết coi người mà, hỡi cô chủ sự?

Chị này thừa dịp nói liền:

Anh đến chị em tôi dọn nhà còn thiếu món chi đặng anh cho thêm phải không? Nè! Chỗ này còn thiếu một tấm gương soi mài cạnh, anh xuống chợ cũ, mua một tấm kiếng một thước bề ngang về treo bên vách gần bộ ngựa gỗ đó thì là tuyệt đẹp. Bữa nào anh có xu nhiều, anh mua gọi là lễ tân gia tặng em út.

Ông Pháp đổ quạu vì lời nói xóc óc, đứng phắt dậy tay móc bóp phơ, miệng nói:

– Còn đợi bữa nào, vậy chớ bữa nay không có xu hay sao? Nè!

Đó rồi thầy rút ra ba bốn tấm giấy xăng, thêm một mở giấy “mỡ gà” (giấy năm đồng đời Pháp), bỏ vãi trên bàn. Chị chủ sự cười ngắc nga ngắc nghẽo, rồi sửa nghiêm nét mặt chắp tay xá xá mà rằng:

– Coi! Nói có bao nhiêu ấy, mà anh giận tôi cho đành sao anh Phát! Tôi chọc tức anh chơi, để thử xem chữ “nhẫn” của anh có tới bực nào chớ nội cái đất Sài Gòn luôn và Chợ Lớn nữa, ai lại chẳng biết danh hội đồng Phát, trước kia là thơ ký Nam kỳ soái phủ, ăn chơi đúng mực, thạo đờn, thiện nghệ cây kìm và gái nào lại không mê anh về cái ngón bốc rời không tiếc. Đáng mặt con trai ông Hàm Ninh, Sa Đéc, tuy không phải công tử mà ăn xài công tử dẫu cậu Ba ở Bạc Liêu nào bì!

Chị chủ sự thổi ngay chỗ ngứa, ông hội đồng hết giận, thấm ý cả ba cười xoà, chị chủ sự không chịu thua, giã lã:

– Anh à! Tôi cũng hiểu ý anh đến đây coi em tôi nó muốn xin món gì thì anh cho. Thôi! Bây giờ em hãy sửa soạn lẹ lẹ, rồi chị em mình đi hóng mát với anh hội, luôn địp đi lựa tấm kiếng Chợ Cũ hay là kiếng nhà hàng Courtinat mới sướng cho nè?

Mỗi mỗi đều bị chị chủ sự tước tước, làm cho ông hội đồng hết phương chối từ sẵn xe Sáu Thiện còn đậu trước cửa, chị em tôi bắt quách ông ta theo ra tận đường Catinat, lựa tại hãng Courti nạt một tấm kiếng mài cạnh lộng khuôn bằng thuỷ tinh. Ông hội đồng trả đủ một trăm mười hai đồng. Tôi biên số nhà cho hãng sai người giao hàng tại chỗ, còn bọn tôi đánh một vòng vô Chợ Lớn xực mì chiên tôm đường Zaccaréo rồi mới về. Ghé nhà mới của tôi, chị em mời thầy ở lại xơi cơm và đánh tứ sắc ăn hun. Ông Phát nói:

– Bạc-đông (pardon) để bữa khác, bữa nay cho moa kiếu vì ma-pham đi góp lúa vừa về. Moa phải về lo việc tính sổ, coi ai thiếu ai đủ. Chơi vẫn chơi, mà làm cũng phải làm, mới có tiền nuôi em út chớ!

Thầy nắm tay chúng tôi, giặc giặc mấy cái rồi lên xe ra về, tốn hết nội cuộc luôn tấm kiếng, ngót một trăm rưỡi đồng bạc.

——————————–

1Giấy tín chỉ: đời Pháp thuộc, sở trước bạ có bán sẵn đủ loại giấy có đóng mộc trước, dùng viết giấy tờ mua bán điền sẵn, giấy này vừa bền lại vừa bảo đảm

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Phần 22

Gặp người hào hiệp khí khái

Cổ hối trẻ chạy lại trước nhà hát Tây, kêu một cái xe song mã, bánh cao su, có đèn khí đá, nếu gặp xe của Sáu Thiệt thì càng tốt vì anh xe nầy biết điều, chạy xe giờ không tính giá mắc lại thạo đường xá hơn ai. Cổ và tôi trang điểm rồi lên xe đi dạo phố một vòng. Cổ biểu xà-ích (sais) đánh xe lại đường Blaucsubé gần đây còn mang tên Garcerie, rồi Duy Tân, ngừng lại rồi chỉ một cái nhà bánh ếch có sân rộng hỏi tôi “được hay không”. Tôi xuống xe lại gần đứng ngoài hàng rào dòm vào, tôi khen “nhà nầy, thiệt là phải thế!”. Cổ biểu tôi đánh giá coi đáng mấy. Tôi nói chừng bốn ngàn trở lại, thì nên mua. Miệng nói bốn ngàn, chớ cô bác biết trong lưng tôi, hoạ là bán luôn tôi đây mới đủ số tiền nầy! Cô chủ sự nghe tôi đánh giá, vừa cười vừa vỗ vai khen: “Má nó có con mắt tinh đời, vừa rành vừa thạo hơn ai. Thôi! Lên xe rồi chị em mình sẽ nói chuyện”.

Cô chủ sự biểu quay đầu xe trở lại, rồi nói với tôi rằng: “Tôi muốn nói má nó một điều, bằng lòng cùng không, xin cứ thiệt tình cho tôi rõ”. Tôi trả lời: “Cô đáng tuổi làm chị tôi, có việc chi sai biểu, cứ nói đại, việc chi mà ngại”. Cổ bèn tỏ ý muốn kết làm chị em sanh tư chi giao với tôi, dặn tôi từ hậu đừng gọi cổ bằng cô, hễ đáng chị thì gọi chị cho thêm thân”. Tôi chịu, vì nghĩ mình còn cô thế, phải kiếm sao cho có nha trảo vi kiềng càng đông càng hay, như vậy mới có thể dọc ngang tung hoành trên cái đất đầy chông gai Sài Gòn – Chợ Lớn nầy đặng.

Xe chạy gần tới cầu Bông, gió mát từ rạch Thị Nghè thổi tới, chỉ biểu ngừng xe một lần nữa, và kiếm chỗ đậu xe nơi lề đường xe điện, bên hông chùa Ngọc Hoàng. Tôi lật đật hỏi.: “Ghé nhà ai đó chị?”. Cô chủ sự nghe tôi kêu chị, coi bộ khoái lắm, nhe răng cười lòi mấy cái răng bịt vàng, trông còn duyên đến, chỉ kề tai nói đủ nghe: “Ghé bợm đa tình họ Bùi, con cháu Bùi Kiệm trong Lục Vân Tiên, chàng ta tên Phát, chị phải khoe người em mới của chị đây cho chú chàng biết mặt!”. Tôi vừa xuống xe vừa hỏi tiếp: “Mông-xừ là chủ cái nhà hồi nãy đó hả? Mà chức phận của va là gì đó chị?”. Chỉ nói: “Hội đồng! Ông hội đồng thành phố, Mông-xừ hội đồng Phát, mà cũng là chủ cái nhà em coi lúc nãy đó đa!”.

Thầy hội thấy chị em tôi bước vô, chạy ra mừng rỡ rước vào sa-lông, coi bộ mau mắn lịch duyệt, rành người, có thể thống, người don don không mập không ốm, miệng ngậm xì-gà, duy cứ tiếng Tây trâm trết. Vừa tới cửa, tôi thấy thầy nắm tay chị chủ, chào: “Bủa-sua cô chủ sự. Xà-hoa-dẻn, ma-đầm”, Tôi vụt né, may thời chị chủ láy mắt, tôi hội ý kịp, bèn đưa tay: “Bủa-sua ông hội đồng!”. Chủ nhà nghe tôi gọi trúng danh vị của mình, nhoẻn miệng cười duyên, siết tay tôi thật mạnh, rồi dắt tay nhau vào nhà. Khách đàn bà mà ông ta đãi rượu sâm banh khui nguyên chai và thuốc thơm hiệu con mèo “Caraven A” sang trọng. Rót rượu xong, thầy hội đồng vừa bưng ly cụng với chị chủ một cách rất lịch sự thân mật. Tôi cũng bưng ly của tôi, ra dấu rồi ngừng lại mở đầu câu chuyện, sau khi ngồi lại đàng hoàng theo ngôi chủ khách: “Bẩm ông, tôi nghe chị chủ sự tôi khoe ông là tiểu Mạnh Thường đất nầy, đã giàu có sang trọng, mà tánh tình lại quảng đại hào hiệp hơn ai. Chị chủ đưa tôi đến đây, trước cho tạn mặt người danh giá, sau cũng có một việc sở cậy ông như đặng thì ơn ấy tôi nguyền tạc dạ”. Tôi vựa nói đến đó vừa liếc mắt đưa tình.

Thầy hội đồng vụt cười dòn, ép tôi cụng ly uống cản, rồi ông vuốt vuốt chót râu trái ấu, hứa trừ lấy gan ông trời còn ngoài ra chuyện chi ông cũng sẵn lòng giúp tôi đặng cả. Chị chủ tiếp lời buộc thêm:

– Em đừng lo, em chưa biết ông hội, chớ hễ ổng hứa với em một tiếng thì như rựa chém đất. Mà điều nói chơi, chớ ong, ủa anh hội, đứng chém chị em tôi, nghen anh!

Ba chúng tôi cười xoà, chị chủ thắng thế buộc thêm một câu nữa:

– Huống chi em đàn bà mới quen biết anh đây, lẽ nào ảnh đi nói trửng cho mất thể diện với em sao?

Rồi day lại thầy hội đồng, chị chủ nói cho một hơi:

– Thưa anh hội, em tôi đây, chồng vừa về dưỡng bịnh bên xứ Ăng-lê, nên ở đây một mình buồn, một hai cũng đòi trở lại quê nhà dưới Mỹ Tho, tôi cầm cản thiếu điều hụt hơi, cô ta mới chịu ừ ở lại, tuy vậy mà đòi cất nhà mới ở sao cho gần gũi cùng xóm với tôi cô ta mới chịu. Tôi nhắm nội đây duy có cái nhà của anh ở đường Garcerci đó là phải thế hơn cả, và khỏi cất mới. Xin lỗi anh, hồi nãy sẵn xe tôi tọc mạch đã dắt và chỉ cái nhà cho em tôi đây, nó bằng lòng lắm, vậy anh bỏ trống chưa dùng, nó thì ưng bụng rồi, vậy không dám nào anh làm ơn để cái nhà ấy cho em tôi ở, rồi sớm tối chi, anh có đi đâu rồi rảnh, ghé tạt vào đó chơi chẳng là thú vị lắm sao?

Thầy hội đồng gãi đầu gãi tai, liếc liếc tôi rồi chắc lưỡi trả lời gượng gạo:

– Thiệt khó cho tôi quá! Không mấy thuở cô đây cậy tôi một chuyện mà việc không thành thì cũng khó coi quá! Chẳng phải tôi không muốn để cái nhà đó lại cho “madame”, tôi thì sẵn lòng lắm, ngặt một nỗi tôi mới mời lỡ cậu tôi ở dưới ruộng Ât Êc (Trà Vinh), tháng tới nầy lên dưỡng bịnh uống thuốc đồ đạc chi chi tôi đã sắm đủ, ước chừng kể về nhà về đó từ khí, tính ra trên bốn ngàn rưỡi bạc. À mà thôi! Việc đó để thủng thẳng tôi tính lại coi Tôi sẽ kiếm một cái nhà khác cho cậu tôi cũng được. Duy xin cô madame, đừng quên…

Chị chủ sự ngồi òn ỷ, nói hơn nói thua với cậu ta, trong khi ấy tôi giả đò bước trái ra hàng ba, gọi xà-ích đem giùm vô hai cái khăn tua, thừa dịp ngoắt chỉ ra nói nhỏ vậy vậy. Chỉ trở vô nói:

– Thưa anh mà ông Phát ơi? Bữa nay sẵn dịp cô hội đồng đi khỏi, chị em tôi mời anh đi xem hát nơi rạp Eden ở Catinat chơi, được không?

Thầy hội đồng háy chỉ mà rằng:

– Cô cứ khéo giả ngộ với moa hoài. Ước chừng có ma-pham ở nhà, moa cũng măng-phú, muốn đi đâu thì đi chớ. Mặt nầy lại sợ vợ à?

Nói rồi, thầy trở vô buồng, sửa soạn, rửa mặt cho thêm chút phấn và nước hoa (đàn ông mà giồi phấn) rồi theo chị em tôi ra xe, chị chủ sự ngồi mé tay trái, để thầy hội đồng ngồi giữa, tôi ngồi sát bên bên mặt và ép khít tay giữa một hoa hồng mãn khai nhưng chưa tàn và một đoá trà mi đang thời xuân sắc.