This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
năm 1978 con tôi giải không ra đề toán: “chín thằng lính ngụy bị bộ đội ta giết mất năm hỏi em còn lại mấy đứa?”. năm 2013 cháu tôi ngác ngơ trước câu hỏi in trong sách giáo khoa: “năm ngón tay bị chặt mất ba đố em bàn tay còn lại mấy ngón?”
anh tôi luôn động viên: hy sinh đời bố củng cố đời con tôi tự hỏi: con như vậy cháu như thế sớm bị nhồi nhét bạo lực giết, chặt thì thà đi rửa bát nhà hàng giống tôi còn hơn tốn tiền cho tới trường học chữ, nhỉ!
làm đứa mất dạy mà e giữ được nhân cách hơn hẳn ông thạc sỹ nguyễn tuấn anh sinh năm 1981 du học tận bên san jose về cơm cha áo mẹ chữ thầy ngày 8 tháng 12 ra công viên 23/9 trắng trợn cướp giật xấp giấy in bản tuyên ngôn nhân quyền xô ngã phụ nữ rồi bỏ chạy em sang đế quốc mỹ bao năm dùi mài kinh sử để đóng vai thạc sỹ vậy đố em: nhân quyền là gì? hẳn là em á khẩu y như con tôi ngày xưa, cháu tôi ngày nay thui chột trước đề toán hóc hiểm
ậy, đừng nên trách móc nhau “tại người mình nó vốn thế” thử hỏi mấy quan đầu tỉnh: “rừng có ba vạn cây gỗ quý lâm tặc siêng đốn còn lưa lại sáu ngàn thưa quan, vậy “đại gia sân sau” đã xơi mất bao nhiêu cổ thụ? khó thế? có phải bổ đề rút dây động rừng đó chăng? tao hổng đủ chất xám đâu toán mí lị đố! thà nói: ngay cả đường tăng đi thỉnh kinh cũng phải biết đút lót chuyện bôi trơn thì nghe thông thoáng dễ hiểu hơn nhiều nhỉ?
Cháu bé con của anh Nguyễn văn Tin được Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam chuẩn đoán là tử vong, nhưng vẫn còn sống hiện đang được điều trị tại Bệnh viện Nhi Quảng Nam.
Mình xem trong phim ảnh, thường bắt gặp cảnh này: Vào đi. Tiếng hiệu lệnh khô, sắc. Tay thôi gõ, đưa xuống vặn nắm cửa, đứa thuộc cấp bước vào. Đóng cửa lại. Sếp ngồi trên ghế, đằng sau bàn làm việc đầy xấp giấy tờ cong góc, điện thoại, máy vi tính, rắc rối những đồ vật linh tinh đứng chen nhau. Ông hất hàm, khuôn mặt béo, trì độn, nhăn nhó thường trực. Sao? Dạ, có hai tin tức cần phải loan báo. Một xấu một tốt. Ông thích đón nghe cái nào trước? Tùy tâm cảm mỗi nhân vật, có khi nghe: Cứ nói tin xấu trước, tốt sau. Đôi lúc: Tao ưa nghe cái gì đó tựa như một sự tưởng thưởng. Tin tốt cỡ nào, nói đi.
Dĩ nhiên là kịch bản ấy nằm trong thước phim ngoại quốc. Việt-nam hả? Đậm đà bản sắc dân tộc nên có hơi khác. Cửa đóng thì chỉ việc mở ra, chả thèm gõ lấy lệ, nhân viên xớn xác đổ người tới. Lời thoại đại loại sẽ như thế này: Báo cáo thủ trưởng, tin buồn từ a tới z, sếp biết rồi. Vậy sếp ưa nghe ảo não từ a tới m hay cực sốc từ n tới cuối bảng chữ cái (nước ta không có z)? Thủ trưởng cơ quan vọt miệng: Đù má (thực tế, nhưng người chịu trách nhiệm xuất xưởng sẽ kiểm duyệt cắt xẻo hai chữ bình dân này đi, loại bỏ) mày cho tao sống với chớ. Buồn sương sương thôi chớ buồn quá mạng e tao giảm thọ mất, lấy ai trông coi cơ quan mậy?
Cũng cần bổ sung cụm chữ “từ a tới z”. Thuật ngữ ấy không dành riêng cho giai cấp nào cả, dân văn phòng sử dụng, sinh viên học sinh sử dụng, phu phen lao động… và ấn tượng khi nằm trên môi chị em ta: Thư giãn đi nào, em nguyện sẽ mang anh phiêu vào bến mơ từ a tới z. Từ nhạt tới đậm, từ ấm tới cực nóng, từ xìu xìu ển ển tới… đến hẹn lại lên.
Trong một triệu tin buồn choáng (không phải chán) thường bày hàng trên màn ảnh lớn, nhỏ; đạo diễn buộc phải cực lòng bỏ quên hai triệu hoàn cảnh bức xúc khác. Tỉ lệ là bao nhiêu, nếu từ con số hai triệu cô lại chỉ còn có hai? Và đây là hai trường hợp đã xảy ra, mới vừa hiện tới. Mình chỉ là đứa cóp nhặt lại từ nguồn chủ, không thay đổi một dấu chấm phết, bởi có những sự việc mà óc sáng tạo của bạn sẽ phải chịu đầu hàng. Nói theo ngôn ngữ phim nước lạ: Có nằm mộng cũng không tưởng được!
Nhân vật một: Nguyễn thị Bích Hạnh, nữ giáo viên bị đuổi việc vì đứng trên bục giảng đã gợi ý cho học sinh nên chịu khó truy cập vào mạng để kiếm thêm những thông tin bổ sung cho môn học. Tuyên giáo của chính quyền đã phẫn nộ khi nghe chuyện, lên án hành động này “đã vi phạm nghiêm trọng việc xuyên tạc đạo đức nhà giáo, sử dụng bục giảng nhà trường làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm nhà nước, truyền bá những trang web phản động”. Cô giáo trẻ Nguyễn thị Bích Hạnh đã vượt bao gian khó, quyết chí học hành đỗ bằng thạc sĩ, sau “tai nạn” kia đã khăn gói từ Quảng Nam về quê Nghệ An đổi đời chăm lo ruộng vườn cùng mẹ…(nguồn: Người Buôn Gió)
Nhân vật hai: Nguyễn văn Tin, trú quán ở Núi Thành, Quảng Nam. 35 tuổi, làm nghề bốc vác thuê. Chiều ngày 4 tháng 8 năm 2013 nhận được tin nhắn vợ mình đang phải vào viện cấp cứu, anh Tin hối hả chạy tới nhà thương kịp lúc nữ hộ sinh bế đứa bé ra bảo người cha khốn khổ “mang về lo hậu sự”. Nguyễn văn Tin mua vội một chiếc khăn để quấn lấy đứa bé. Một người hảo tâm trao cho anh vỏ thùng mì Tôm để đựng tử thi. Về nhà, người cha tắm rửa lo “hậu sự” thì phát hiện con tím tái dong cả hai tay lên trời. Nếu gia đình không cẩn thận mang cháu đi tắm rửa trước khi nhập quan, thì chính tôi là kẻ mang con mình đi chôn sống. “Nghe con khóc một tiếng mà lòng tôi nát tan!” Anh Nguyễn văn Tin nói, không phẫn nộ. “Trả về” một đứa trẻ còn sống, bác sĩ phụ trách ca đó có 30 năm kinh nghiệm! (nguồn: Blog Đào Tuấn).
Râu ria, ngoài lề của chuyện buồn nọ là ở Quảng Trị có 3 đứa bé chết vì lỗi vaccine mà quan chức của ngành y tế nói “không rõ nguyên nhân”.
Mình cũng “không rõ nguyên nhân” cớ sao buồn tay ngồi gõ bài này. Nếu mình nuôi mộng làm phim, mình sẽ xin phép anh Nguyễn văn Tin để quay lại cái phân cảnh khi anh nhận xác cháu bé, bởi nó ám mình quá. Sẽ “đắt” biết mấy nếu thu hình vỏ thùng mì ăn liền đang đựng xác trẻ thơ. Sẽ zoom ống kính để cận cảnh, sẽ cắt tất cả mọi nguồn âm thanh, ngay cả giọt lệ đổ trên gương mặt gãy góc rám nắng kia cũng chỉ rơi trong âm thầm. Tất cả dồn đẩy vào một khoảng lặng, chết sững. Những chộn rộn hậu cảnh sẽ làm chúng nhòa đi, chiếc khăn mới mua gói kín thây sẽ tương phản với y phục nhàu nát phong trần bọc thân người cha hành nghề bốc vác thuê đầy gian khổ. Hãy để thước phim trôi đi trong câm lặng với những hoang đường nó chuyển tải.
Lúc bé học chữ, thầy cô luôn mang tích trong cuốn “Cổ học tinh hoa” ra rao giảng. Chuyện một người đi nhiều được dân làng xúm quanh hỏi chuyện. Người “đi một ngày đàng học một sàng khôn” nở mặt: “Không có chốn nào đẹp cho bằng quê ta!”. Mình hạnh phúc so với những cô cậu “đương đại” thế kỷ này. Bởi có những cô cậu du học sinh từng rộng cẳng đi đây đi đó, than thở: Cầm trong tay cái hộ chiếu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thật đáng tủi, chỉ biết gầm đầu thôi chú ạ!
Mình câm lặng, không đòi giải thích. Mình đủ “chất xám” để tự hiểu mọi vấn nạn. Một quán ăn ở Nhật ghi tiếng Việt trên tấm bìa cứng: Lấy vừa đủ ăn, đừng phung phí kẻo bị phạt tiền. Câu hỏi đặt ra: Ta bà thế giới qua lại hà rầm, sao ưu ái sử dụng riêng tiếng Việt thôi? Cái đất nước mà “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”! Coi khinh chúng tớ cũng vừa phải thôi chớ! Ừ, con gì nhúc nhích là bọn tớ xơi hết ráo, làm gì nhau nào!
Nhân viên lao vào phòng. Sếp hỏi: Mày tính nói gì? Cấm loan tin buồn, chỉ được phép đề đạt tin hồ hởi phấn khởi thôi. Dạ, em biết điều lệ chứ. Báo cáo đại ca, bà đại gia ngành địa ốc đề ra hai phương án. A: Một phong bì chứa 1000 đô bôi trơn. B: Có con chân dài chưa mất trinh sẽ vào nhà nghỉ với đại ca tối nay. Thằng này giỏi chạy việc, tao hứa sẽ để mắt cất nhắc mày. Chỉ chọn một trong hai thôi à? Chơi khó nhỉ? Căng thế! Mày tính sao? Nếu sếp chọn phương án B thì chiều nay em kỉnh sếp chai rượu rắn thượng hảo hạng. Hàng nóng từ Trung quốc ấy. Mẹ rượt! Mày tính thêm dầu vào lửa sao con? Hehehe…
Nói tình ngay, ở Việt-nam không cứ phải đụng chuyện buồn. Hình ảnh trên là một ví dụ. Mình xem đó là chuyện vui, giảm căng thẳng trong giao tiếp hàng ngày. Nhưng người nào gối đầu bằng sách Cổ học tinh hoa e sẽ cau mày: Than ôi! Bốn ngàn năm văn hiến đã trôi mất theo triều cường úng thủy!
Những lời trách cứ của người dân đối với chúng tôi tuy nhẹ nhàng và đầy xót thương là những điều làm chúng tôi buồn nhất. Và có lẽ trong đời tù biết bao nhiêu lần chuyển trại, biết bao nhiêu lần nhìn thấy người dân Miền Nam đang cố gắng tồn tại sau thảm kịch, nhưng lần chuyển trại đến A-20 Xuân Phước là lần chuyển trại buồn nhất. Trước khi chúng tôi được lệnh lên xe tiếp tục hành trình, anh Huỳnh Cự nói với Linh Mục Trọng: “Người cựu binh ấy nói đúng đấy bố ạ. Ðúng là chúng ta làm ăn chẳng ra sao cả nên mới có ngày bị xiềng xích như hôm nay. Không những thế chúng ta còn làm cho hàng triệu người dân ở Miền Nam Việt Nam cũng khổ lây. Dân thì không trách họ được, nhưng chúng ta nên tự trách mình trước.” Trong số anh em tù cải tạo chúng tôi, không có nhiều người nghĩ như người cựu binh chúng tôi gặp trên đường chuyển trại. Bốn năm sau thất bại 30 tháng 4, 1975 vẫn còn không ít những người trong số anh em chúng tôi rúng động. Trong những cuộc tranh luận trong trại giam nhiều người vẫn tin tưởng rằng những nhà lãnh đạo cũ của VNCH đã quay trở lại Miền Nam ẩn náu trong những khu rừng rậm chiêu mộ nghĩa quân để dựng lại cơ đồ. Có anh em còn nói một cách chắc nịch rằng Tướng Ngô Quang Trưởng đã về lập chiến khu ở Bà Rịa, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã về lập căn cứ ở Utapao, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã lập chính phủ VNCH lưu vong ở Cao Hùng (Ðài Loan)… Trong bối cảnh tuyệt vọng sau ngày thất trận và bị đẩy vào môi trường tù đày, ở vào độ tuổi hừng hực lý tưởng của thanh niên, chúng tôi chỉ còn bám vào những hy vọng đó để mà sống. Cho nên điều không ngạc nhiên khi ngay chính bản thân tôi, dù đã ngụp lặn trong 11 năm trời cái thế giới đầu nguồn của tin tức thời sự trong đó những tin tức thật cũng nhiều, tin tức dởm, tin được chế biến theo chiều hướng thuận lợi cho cá nhân một ai đó cũng lắm thế mà đến khi vào tù cải tạo cũng đã có thời gian phải bám vào những “hot news” ấy để vượt qua những khó khăn và giữ vững tinh thần của mình, dù biết chắc chắn một điều đó là những tin tức không thể kiểm chứng được. Tôi đã được những người thầy dạy ở những khóa học, những khóa huấn luyện hay tu nghiệp luôn luôn khuyến cáo rằng loại tin không thể kiểm chứng được, những loại tin dùng một sự kiện có thật mà ai cũng biết rồi lồng vào đó những “vật liệu tự chế,” những loại tin đồn, những bài viết, những bài bình luận không có “dẫn chứng với những luận cứ vu vơ theo sự tưởng tượng của mình” thì tốt nhất nên liệng chúng vào sọt rác và không nghĩ tới nữa. Nhưng khi phải đối đầu với một thực tế phũ phàng sau một trận thua không còn hy vọng có cơ hội gỡ lại được, sau sự sụp đổ mà người trong cuộc ở VNCH từng nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ họ phải đối đầu với thảm kịch to lớn nhường ấy, chúng tôi đã phải bám vào tên tuổi của những nhà lãnh đạo chính trị và quân đội VNCH đã nhanh chân thoát được ra hải ngoại và tránh được cảnh cá chậu chim lồng như chúng tôi để đốt lên đốm lửa hy vọng cho một tương lai phục quốc. Còn gì thê thảm hơn bối cảnh mà chúng tôi phải sống, phải đương đầu và phải giữ nhân cách, đứng thẳng lưng trước kẻ thù như thế không? “Anh phải sống, dù gì anh cũng phải sống…” Một người bạn cũng khá thân của tôi ở trong những năm còn bị cấm cố ở nhà tù Chí Hòa biết rất rõ rằng cô vợ trẻ 25 tuổi của anh đã lập gia đình khác chỉ 2 năm sau khi anh vào tù cải tạo, nhưng khi chúng tôi được mở cửa phòng giam để có thể đi dạo quanh cái sân nhỏ ở phía trước, anh vẫn tha thiết nhắc tới những lời cô vợ vào thăm anh lần chót nói với anh như tôi trích thuật ở trên. Những lần như thế, tôi không dám khuyên anh một lời nào dù tôi hiểu trong cuộc đổi đời sau 30 tháng 4, 1975 bất cứ một điều gì cũng có thể xảy ra được và xảy ra với bất cứ ai. Tuy nhiên, nếu tôi mở miệng để nói về một cuộc chung sống nào đó tan vỡ vì nhiều lý do khác nhau và nếu lại “ngứa miệng” biện minh bằng một câu mà tôi hay sử dụng trong chốn lao tù: “Chồng chết 3 năm thì người ta có quyền đi lấy chồng khác, còn bọn mình đi mút chỉ cà tha không có ngày về thì coi như chết mà chưa chôn, họ đi lấy chồng khác cũng là thường thôi” chắc chắn tôi sẽ bị nâng quan điểm ngay: “Mày nói như vậy là quá đáng, đâu phải ai cũng thế, tùy theo giáo dục gia đình chứ.” Trong chốn lưu đày vẫn có những chuyện lẩm cẩm như thế, nhưng nó rất quan trọng bởi vì nhiều bạn đồng tù với tôi vẫn quan niệm rằng sự chung thủy của người vợ của mình vẫn là bức tường thành cuối cùng của niềm tin. Cho nên sau những cánh cổng của những trại cải tạo, chúng tôi dù có sống đoàn kết với nhau, dù lúc nào cũng phải nắm tay nhau để khỏi bị đổ xuống, phần đông đều cố tránh những sự thật có thể làm đổ vỡ niềm tin của mình. Tôi đã từng thấy, từng nghe các cuộc tranh cãi giữa một số anh em sĩ quan trẻ trong quân đội VNCH và những anh em đồng tù trong lực lượng Phục Quốc tại trại B-5 Tân Hiệp, tại nhà tù Chí Hòa và ngay tại trại Hàm Tân Z-30C. Tôi cho rằng nội dung các cuộc tranh cãi nhiều khi dẫn đến bất hòa này cũng chỉ là biểu hiện của sự thiếu thông cảm lẫn nhau và không chấp nhận một thực tế phũ phàng đến từ sự thất bại. Câu chuyện bắt nguồn từ việc anh em Phục Quốc khi khai lý lịch trích trang họ khai cấp bậc và chức vụ của họ trước khi bị bắt. Họ hãnh diện cho biết trong Lực Lượng Vũ Trang của Phục Quốc, họ mang cấp bậc sĩ quan, có người mang đến cả cấp bậc trung tá. Nhìn nét mặt của họ non choẹt, kiến thức quân sự non nớt, một số anh em sĩ quan quân đội VNCH “nóng gà” vặn hỏi họ tại sao lại có chuyện phong chức cho nhau quá lố đến không thể chấp nhận được như vậy. Thế là cuộc tranh cãi nổ ra vì câu hỏi đó. Bên Phục Quốc lập luận đại khái là khi “các anh tan hàng và bị lừa khi bị gọi trình diện nhà cầm quyền quân quản thì đâu còn người nào ở ngoài để chúng tôi tìm đến. Mà nếu chúng tôi có tìm đến các anh được thì liệu các anh có theo chúng tôi không. Ðồng ý các anh là người được huấn luyện quân sự rất kỹ và dày dạn kinh nghiệm chiến trường nhưng thử hỏi các anh làm gì được khi đã ở trong các trại cải tạo. Cho nên theo tiếng gọi của những nhà lãnh đạo Phục Quốc, quay đi quay lại chỉ còn chúng tôi ở ngoài xã hội, cho nên ai biết ai thì rủ lập chiến khu, lập chiến khu thì phải có tổ chức, có tổ chức thì phải có cấp bậc, có người chỉ huy. Các anh nên nhớ, chúng tôi mang cấp bậc không những đã không lời lộc gì cho cá nhân chúng tôi mà ngược lại khi bị bắt chúng chúng tôi phải trả giá với những năm tù lâu dài. Những người theo lực lượng Phục Quốc đã có những người mang án chung thân hoặc án tù 25 năm.” Tôi cũng đã chứng kiến có người trong lực lượng Phục Quốc nói một cách thẳng thắn trong các cuộc tranh luận về ảnh hưởng của tổ chức Phục Quốc: “Chúng tôi nhìn nhận rằng mình ô hợp, không được huấn luyện. Ðiều này đang làm chúng tôi thất bại chỉ vì những người chủ trương không nhìn xa và chưa bao giờ làm những gì mà người cộng sản đã làm từ nhiều thập niên trước. Nhưng ít ra chúng tôi cũng đã bày tỏ được lòng yêu tha thiết quê hương Miền Nam Việt Nam.” Cuộc tranh luận đại loại như vậy chẳng bao giờ có kết thúc. Nhưng điều đáng mừng nhất là cho tới khi chúng tôi rời Hàm Tân Z-30C, tuy những cuộc cãi vã về lực lượng Phục Quốc vẫn còn gay gắt và gây ra bất hòa, nhưng không bao giờ chúng tạo ra được những bất đồng về mục tiêu chung: chống lại chế độ cộng sản! Ðoàn xe chạy qua ga Lahaye, vượt qua một khu chợ nhỏ để bắt đầu “bò” chầm chậm trên một con đường mòn nhưng hài hun hút vượt qua khoảng 16 con suối mà vào mùa này đều khô cạn. Khi đến gần khu trại mới, vượt qua một xóm kinh tế mới để vào một thung lũng nằm dưới chân một dãy núi đá vôi, chúng tôi mới ý thức được rằng đây là con đường độc đạo từ Lahaye vào trại. Ðoàn xe vượt qua một đoạn đường ngắn nữa thì vào tới sân Bộ Chỉ Huy của một tiểu đoàn công an trại giam. Từ khoảng sân này vào tới phân trại E của A-20 Xuân Phước dài khoảng 300 thước. Trước mặt chúng tôi là những mái ngói đỏ au và những hàng dừa thẳng tắp có cây đang ra hoa. Trước cổng trại là một vạt ruộng trồng lúa nước. Một ao lớn có hàng rào dây thép gai vây bọc và một bảng gỗ viết bằng sơn đập vào mắt người mới tới: “Tài sản xã hội chủ nghĩa – Ao thả cá trắm cỏ.” Cổng vào trại giam được xây dựng mang hình thức một cổng tam quan ở các ngôi chùa miền Bắc khi xưa. Khi chúng tôi xếp hàng chờ được mở xiềng, Linh Mục Phan Văn Trọng nói nhỏ với tôi: “Tau cảm thấy có điều bất thường. Trại trông như một nơi nghỉ mát để đi săn bắn. Nhưng chúng đưa chúng ta lên đây không phải để cho mình dưỡng sức đâu.” Linh Mục Trọng nói chưa hết lời thì việc chuyển giao tù nhân đã xong. Một cán bộ (sau này chúng tôi biết tên anh ta là Trung Sĩ Luật, trực trại) đi cùng với một trật tự viên da đen bóng, tóc xoắn tít như bất cứ một người Phi Châu nào mà chúng tôi từng biết. Ở vào tuổi của anh ta, chắc chắn trật tự viên này phải là sản phẩm những người lính Mỹ gốc Phi Châu trong đội quân viễn chinh Hoa Kỳ suốt trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Trật tự viên tự giới thiệu anh ta tên là Quí thuộc đội tự giác, nhưng được cán bộ trực trại “chiếu cố” để làm trưởng trật tự trại giam này. Sau đó, anh ta thay mặt cán bộ trực trại nói sơ lược về nội qui trại với một lời lẽ dọa nạt: “Các anh nên nhớ và phải quán triệt đây là trại cải tạo khác những trại cải tạo mà các anh đã đi qua. Tội ác của các anh đối với nhân dân như thế nào thì các anh cũng biết rồi, nhưng chính phủ khoan hồng cho các anh đến đây để xem các anh có thể trở thành các công dân tốt được không. Nếu cải tạo không được thì cũng không phải lỗi chính phủ mà do lỗi của các anh. Tuy nhiên, cán bộ quản giáo ở đây đều nhất trí khẳng định: các anh phải cải tạo tốt, không tốt không được vì đây là trại cải tạo chót dành cho mấy anh.” Chỉ vài ngày sau khi đến trại, chúng tôi có ngay tiểu sử của Quí “đen.” Quí “đen” là tù hình sự. Anh ta bị bắt ở Biên Hòa vì tội cướp có súng và hiếp dâm. Ra tòa án nhân dân mở ngay trước rạp chiếu bóng Biên Hùng cũ, Quí “đen” bị kết án 15 năm tù, bị đưa đi lao cải ở Tống Lê Chân một thời gian rồi bị chuyển trại cùng với những tù hình sự khác lên đây để lập đội lao động tự giác. Viên cán bộ trực trại tên Luật không hề đứng nói về nội qui. Hắn cho một người có thành tích từ một xã hội đen thời VNCH mang mức án 15 năm để khẳng định chính sách cải tạo của chế độ mới, không cải tạo không được. Ðây món ăn cay đắng thứ nhất mà trại A-20 Xuân Phước dành để “đón tiếp” chúng tôi.
Vụ chuyển trại vui buồn nhất đời tù Trời mùa hè cho nên mới có 4 giờ sáng, chúng tôi đã có thể nhìn thấy Rừng Lá Bình Tuy đang “chạy” ngược lại qua cánh cửa chiếc xe đò. Mọi người vui như Tết, nói cười ồn ào như quên hết những thử thách và đe dọa sẽ đến với mình trong năm sáu giờ đồng hồ nữa. Dường như mọi người cũng quên cả đói. Khi lên xe đò, chúng tôi còn bị xiềng chân vào ghế ngồi của mình. Nhưng chẳng có ai buồn quan tâm đến điều đó, cũng không ai cần biết liệu xe đò chạy với tốc độ này, liệu cái túi mà trại gọi là tư trang của chúng tôi gồm vài bộ quần áo, chăn, mùng mề rách để trên nóc xe có bay xuống đường hay không. Tuy thế, dù cười đùa chọc phá nhau nhưng không anh nào quên cầm chắc nắm cơm và ít muối bọt. Lần đầu tiên trong 4 năm tù, chúng tôi được phát một nắm cơm trắng không có độn khoai mì khô. Linh Mục Phan Văn Trọng đang vui vẻ nói chuyện tiếu lâm với những anh em ngồi tại các ghế bên cạnh quay sang tôi hỏi: “Biết chuyện tiếu lâm kể cho vui?” Tôi nói: “Không, thưa bố.” Ngài cười khà khà: “Như thế là mi để mất đi nửa cuộc đời rồi, nhưng tao nói cho mi nhớ nếu sau này có ra khỏi tù gặp nhau thì chớ gọi tao là bố đấy nhé.” Linh Mục Trọng là một trong những linh mục chúng tôi kính mến trong suốt đời tù không phải vì cùng tôn giáo hay vì ông là linh mục mà vì tư cách của ngài, tính tình hiền hòa, vui vẻ, có óc hài hước, suy nghĩ cởi mở với các tôn giáo bạn, nhất là cái tính thẳng thắn, thành thật ngay cả khi trả lời những câu hỏi liên quan đến cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay các nhân vật có tiếng thời Ðệ Nhất Cộng Hòa như các ông Võ Văn Hải, Trương Vĩnh Lễ, Phạm Văn Nhu, Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung, các bác sĩ Lý Trung Dung, Trần Kim Tuyến và ông Nguyễn Ðình Thuần. Chúng tôi có tập quán là gặp những tu sĩ thuộc bất cứ tôn giáo nào trong tù, anh em chúng tôi bất kể mình theo tôn giáo nào không ai bảo ai đều gọi họ là “bố” và xưng “con,” bởi vì cách xưng hô này giúp để bảo vệ những nhà tu. Nội qui của trại không cho phép gọi những tu sĩ này theo chức danh tôn giáo. Bọn cán bộ nhà tù nghe được, họ lờ đi thì không sao, nhưng gặp người khó khăn và lòng đầy thù hận thì không những các vị tu sĩ “bị” chúng tôi gọi bằng chức danh tôn giáo mà chính ngay chúng tôi cũng đi “nằm ấp” có khi rất dài hạn. (Nằm ấp = vô xà lim cá nhân, ấp đồng nghĩa với hộp nhỏ, chuồng cọp, cũi, tiểu biệt thự là những ngôn ngữ chúng tôi dùng với nhau trong tù cải tạo). Cán bộ thẩm vấn (thường là an ninh trại) sẽ không ngần ngại nâng quan điểm xưng hô với các tu sĩ thành tội “truyền đạo.” Nâng quan điểm nghĩa là bé xé ra to để trừng phạt tù nhân. Chẳng hạn như tù nhân do đói không kiểm soát được mình bẻ trộm một trái bắp non bị bắp gặp sẽ bị cáo thành tội: “Tàn dư của tay sai đế quốc Mỹ phá hoại kinh tế xã hội chủ nghĩa.” Thời gian ở trại Z-30C Hàm Tân, ít nhất đã có hai tu sĩ, một Phật Giáo và một Công Giáo nhận những hậu quả của việc nâng quan điểm. Người thứ nhất là Linh Mục Nguyễn Văn Bộ của nhà thờ Fatima. Ngài cũng được anh em tù cải tạo quí mến vì tính tình hài hòa nhưng cương quyết. Linh Mục Bộ thường hay lén làm lễ vào sáng Chủ Nhật cho những anh em tù nhân có đức tin Công Giáo, nhưng ngài đã bị ngay một “ông” con chiên đạo dòng và gia đình có người đi tu báo cáo chuyện này lên an ninh trại. Linh Mục Bộ bị cán bộ an ninh Tý gọi đi làm việc và bắt viết kiểm điểm. Cái khẩu hiệu mà tù nhân nào khi bị làm kiểm điểm cũng phải viết trên đầu tờ giấy, đó là: “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ðộc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc” thì Linh Mục Bộ viết thành “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không Ðộc Lập-không Tự Do-không Hạnh Phúc.” Lần thẩm vấn nào linh mục cũng viết như vậy và cuối cùng bọn cán bộ trại giam phải giở hết thủ đoạn đánh đập, o ép tinh thần, không cho nhà thờ lên thăm gặp để tiếp tế cho ngài. Cuối cùng trại Hàm Tân thất bại trong việc ép cung và phải chuyển ngài về lại nhà tù Chí Hòa. Theo tin tức của anh em từ Chí Hòa được chuyển lên trại trừng giới A-20 Xuân Phước vào năm 1982 thì Linh Mục Nguyễn Văn Bộ được thả về một năm trước đó. Cuối 1988 tôi được thả nhưng bị quản chế cho nên mãi năm 1991 mới tìm dịp lên thăm ngài ở nhà thờ Fatima, nhưng nơi đây cho biết ngài qua đời đã lâu. Người thứ hai mà tôi nhắc tới là Thượng Tọa Thích Huệ Ðăng, một tu sĩ Phật Giáo rất trẻ xuất thân từ một ngôi chùa nhỏ ở Nha Trang. Ngài là người tổ chức qui y cho một số tín đồ, chọn pháp danh cho họ ngay trong nhà tù và trong đó có cả tôi và đổi lại ngài đã phải khăn gói quả mướp vào nằm ấp cùm 2 chân mất 3 tháng. Còn trẻ tuổi, người cao lớn, tiếng nói như lệnh vỡ, vào những ngày rằm, mồng Một Âm Lịch ngồi thiền từ sáng đến tối không ăn, Thượng Tọa Huệ Ðăng trở thành người mà không cán bộ trại giam nào là không “để ý” đến. Nhưng thái độ thong dong, nói năng ôn tồn, trôi chảy như người viết văn với viên chính ủy trại tên là Phan Quang khiến anh em chúng tôi rất quí mến ngài. Trong trại giam mà báo nghỉ không lao động vào ngày rằm và mồng một Âm Lịch hay những ngày lễ trọng của Phật Giáo để ngồi thiền từ sáng đến chiều thì không thể tránh được bị đám an ninh trại giam cáo buộc là hành động thách thức và nặng hơn: phá hoại kỷ luật và trật tự trại giam. Buổi sáng rằm Tháng Bẩy Âm Lịch 1978, Thượng Tọa Huệ Ðăng từ trên sàn ngủ trên leo xuống đất đến báo cho đội trưởng biết là hôm nay rằm Tháng Bẩy ngài xin nghỉ lao động để hành đạo. Ðội trưởng nói: “Thầy nhớ lên bệnh xá khai bệnh cho hợp lệ.” Người tu sĩ Phật Giáo này trả lời tỉnh bơ: “Tôi có bệnh gì đâu mà khai, anh cứ báo cáo cán bộ quản giáo là hôm nay tôi xin nghỉ lao động và sẽ làm bù lại cho trại.” Thế là ngài leo lên bắt đầu ngồi thiền. Khi đội trở về từ bãi lao động, tôi thấy thượng tọa không còn ngồi thiền trên sàn trên nữa. Người bạn tù trực nhà báo cho anh em biết ngay: “Các ông đi lao động rồi, thằng chính ủy Quang nó xuống.” Hắn hỏi thầy Huệ Ðăng: “Bệnh gì mà nghỉ?” Thầy nói: “Không có bệnh gì cả, nhưng hôm nay là lễ trọng của Phật Giáo trong mùa Vu Lan, tôi cần tịnh tâm để nghĩ về công đức của đất nước, tổ tiên, cha mẹ. Nghỉ hôm nay, nhưng ngày mai tôi sẽ làm bù lại nếu trại cần. Dĩ nhiên cán bộ không chấp nhận chuyện này và sẽ kỷ luật tôi. Nếu như thế thì tôi phải cám ơn cán bộ vì trong biệt giam tôi có điều kiện tốt hơn để tịnh tâm. Ổng đi nằm hộp rồi, còn hẹn mấy tháng nữa sẽ gặp lại chúng ta.” Tuy nhiên, lần này họ chỉ cùm Thượng Tọa Huệ Ðăng đúng 2 tuần lễ thì cho về lại đội. Có lẽ họ cũng bắt đầu nản ông thầy tu vào ra “chuồng cọp” như cơm bữa này rồi chăng? Thượng Tọa Thích Huệ Ðăng được thả trước tôi một năm, và Tết 1989, ngài đến thăm tôi tại nhà. Thầy trò nói chuyện và ăn với gia đình tôi bữa cơm chay. Ðó là bữa cơm đầu tiên và cũng là bữa cơm cuối cùng vì năm 1990, ngài bị nhà cầm quyền bắt lại và “bóc” thêm gần chục cuốn lịch khác. Ðược tha về lần thứ hai, ngài chỉ sống đạo được một thời gian ngắn thì viên tịch. Ðoàn xe chạy với tốc độ nhanh trên Quốc Lộ 1 qua Phan Rang, rồi sau đó vào địa phận Nha Trang. Các xe phía trước đều dạt vào bên đường. Nhìn thấy đoàn xe công an trang bị cả súng thượng liên, các xe trên đường đều biết công an đang giải giao tù cải tạo nên nhường đường. Những người đi xe gắn máy khi dừng xe đều vẫn tay hay nón chào chúng tôi. Khi gần đến địa phận Sông Cầu, đoàn xe phải đổ xuống hết một con dốc và sau đó ngừng lại. Nắng lúc này đã lên cao và chói chang. Xe ngừng hẳn, toán công an giải giao nhảy ra khỏi các xe áp tải, lên đạn các khẩu tiểu liên AK-47. Họ đứng ở dưới mỗi cửa xe đò nói lớn: “Cho các anh xuống xe tạm nghỉ cơm nước, tiểu tiện. Tôi nhắc lại kỷ luật: các anh phải ngồi yên, sẽ có cán bộ đi mở xích chân.” Sau đó mọi người lần lượt xuống xe đến bãi tập trung phía trước, sẽ có cán bộ chỉ dẫn nội qui khi di chuyển ra khỏi bãi để tiểu tiện. Bãi trước mặt chỉ là một đồi cỏ thấp bên cạnh quốc lộ, không có quán sá gì. Phía bên kia quốc lộ trước mặt chúng tôi là một cánh đồng khoai mì đã thu hoạch rồi, còn trơ lại những gốc khô. Sau khi điểm số, cứ mỗi cặp như vậy lại bị xích chung với nhau thành một chùm 4 người. Cặp xích chung với tôi và Linh Mục Trọng là anh Huỳnh Cự và Ðoàn Bá Phụ. Chúng tôi ngồi xuống cỏ và bắt đầu ăn những nắm cơm chấm với chút muối bọt. Sau đó, cứ một chùm 4 người đứng lên báo cáo cán bộ uống nước. Toán giải giao mang theo hai thùng nước và 4 cái gáo dừa. Cứ 4 người uống xong lại đến 4 người khác. Nếu một trong 4 người mắc tiểu thì cả 4 người phải đứng ra cách vị trí của vệ binh súng dài khoảng từ 8 đến 10 bước nói lớn: “Xin cán bộ cho đi tiểu.” Nếu được chấp thuận thì cả 3 người kia phải đi theo người bạn tù của mình đến bãi đất cách đó khoảng 20 chục thước. Bao giờ cũng có khuyến cáo từ phía sau: “Ðừng có mà chạy đấy nhé, không thoát đâu, chúng tôi sẽ bắn ngay sau lưng đấy.” Có chùm im lặng, nhưng cũng có chùm phản ứng nhẹ nhàng: “Cán bộ ơi, yên trí đi, xích chung hai người một còn không trốn được huống chỉ bây giờ 4 người, bốn người mà bỏ chạy 4 hướng khác nhau có khi trở thành tứ mã phanh thây nhau không chừng.” Vậy mà cũng có vệ binh đáp lại: “Ấy thì tôi nói thế thôi, chứ lơ đà để một anh trốn là đời tôi khốn nạn rồi.” Chúng tôi ăn chưa hết nắm cơm thì thấp thoáng trên đường lộ, những người bán hàng rong xuất hiện. Có lẽ đây là đội quân hàng rong bán cho khách xe đò như những ngày trước 30 tháng 4, 1975 chúng tôi thường thấy gần bến phà Trung Lương với những lời rao hàng ơi ới, ồn ào như vỡ chợ. Những người bán hàng rong này mới đầu đứng cách xa chúng tôi chừng 30 thước. Họ ngập ngừng như muốn tiến tới chào hàng với chúng tôi, nhưng có thể do nhìn thấy người nào cũng bị xiềng hoặc có thể sợ vệ binh súng dài đuổi nên cứ đứng chỉ trỏ, rồi nói với nhau những gì chúng tôi không nghe rõ. Nhưng rồi một người đàn ông đứng tuổi mặc một bộ quần áo cho công nhân mầu xanh dương tiến tới trước hai vệ binh đang canh gác chúng tôi và nói: “Anh vui lòng cho phép chúng tôi giúp các anh em tù nhân ít thực phẩm, chẳng đáng gì đâu chỉ gồm bánh trái và khoai mì thôi.” Một trong hai vệ binh này trả lời: “Chúng tôi phải bảo vệ họ, anh đi vào kia hỏi thủ trưởng của chúng tôi.” Người đàn ông đi theo hướng chỉ của vệ binh. Ông nói chuyện với một sĩ quan công an dáng chừng cũng mất đến 5 phút, sau đó ra nói với đám đông: “Họ không cho bọn bay tới gần đâu, đứng ngoài thẩy vô cho anh em cũng được.” Những chiếc bánh ú, bánh tét nhỏ, những củ khoai lang, khoai mì, những ổ bánh mì trên nhũng cái thúng đội trên đầu những người hàng rong vơi dần. Thúng hàng mà họ đội ra khỏi nhà có khi mang theo cả hy vọng nếu bán được hết thì ít ra cũng có được bữa cơm thịnh soạn cho gia đình trong ngày. Có lẽ những suy nghĩ đó đã khiến cho dù chúng tôi còn đang đói và đã ăn hết cục cơm với mối đe dọa khi đến trại mới không có phần ăn chiều, ít người trong chúng tôi nghĩ tới chuyện ngay những thứ mà dân vừa cho chúng tôi. Có lẽ xúc động đã chặn đứng được sự thèm khát lâu ngày của chúng tôi? Thứ tình cảm đó chúng tôi vẫn còn tìm lại được 10 năm sau khi được thả ra khỏi trại cải tạo: trên đường từ trại Z-30A về tới nhà, những tài xế xe đò đón chúng tôi lên xe, không những không lấy tiền vé mà còn dừng lại dọc đường để đãi chúng tôi chầu phở hay mì. Người tài xế tự giới thiệu là Tiếng còn khá trẻ nói với tôi: “Em có thể bảo đảm với các anh là quán này cũng như một số quán khác họ không lấy tiền các anh đâu khi thấy da dẻ các anh xanh mét, gầy trơ xương như vầy. Họ biết các anh là những cựu sĩ quan chế độ trước cải tạo mới về. Tình cảm của dân chúng đối với các anh vẫn thế nhưng tình hình xã hội bây giờ đã khác. Người có việc làm kiếm được miếng ăn thì không sao, nhưng người nghèo ngày một nghèo thêm họ trách các anh làm ăn cái gì mà để mất phần đất khiến họ khổ quá.” Tiếng tự giới thiệu mình là cựu trung sĩ quân vận thuộc Quân Ðoàn III tan hàng vào sáng 30 tháng 4, 1975. Nhưng lời lẽ của anh làm tôi suy nghĩ mãi cho đến sau này.
Bản dịch: Ngọc Thứ Lang Post by Sơn râu 20 Jun 2024
Google photos
Chương 12 “Mai tới nghe …” Johnny Fontane ngoắc tay ra hiệu cho gã quản gia . Gã da đen cúi đầu chào, rút lui khỏi căn phòng ăn rộng mênh mông ngó thẳng ra Thái Bình Dương. Hiệu lệnh không có vẻ chủ tớ mà thân mật, đại để tối nay mắc khách về sớm đi. Khách tối nay là Sharon Moore, một con nhỏ týp chịu chơi khu bụi đời Greenwich Nữu Ước qua Hollywood đóng một vai nho nhỏ trong cuốn phim do một tên tuổi lớn sản xuất . Nó đi thăm phim trường và bắt gặp Johnny đang đóng phim cho lão Woltz. Con nhỏ dễ thương, duyên dáng và láu lỉnh nên được anh Johnny mời về nhà chơi, dùng cơm tối . Johnny Fontane mời về nhà chơi thì còn hân hạnh nào bằng! Nghe danh Johnny hào hoa, em Sharon cứ tưởng đâu đàn anh phải tấn công hăng lắm nào ngờ đàn anh kỵ món thuế thịt Hollywood. Con mồi phải có điểm gì hạp nhãn , trừ khi nhậu say vô thấy gái lại khác . Huống hồ 35 tuổi, một đời vợ ly dị, một đời vợ ngoại tình và em bé bám theo cả đàn thì Johnny còn tha thiết gì ? Thấy em Sharon hay hay thì gạ vậy thôi … Trên bàn đầy thức ăn . Johnny còn lạ gì mấy em quen bóp bụng để dành tiền ăn diện , có dịp đớp thả dàn là phải biết! Rượu cũng sẵn, đủ thứ. Sâm banh ướp lạnh, huytky, cô-nhắc, và bao nhiêu thứ khai vị . Món ăn sắp sẵn, Johnny chỉ việc rót rượu. Ăn xong, nó đưa em bé sang phòng khách: một phòng thênh thang, có tấm vách thuỷ tinh trong suốt nhìn ra biển . Nó lấy cả chồng đĩa Ella Fitzgerald đặt lên chiếc hi-fi rồi ra nệm ngả người cạnh em . Hai đứa nói chuyện tâm tình, chuyện lăng nhăng … toàn những chuyện ngày xưa chuyện xấu đẹp, vui buồn …. Lẩm cẩm thật, nhưng với Johnny như vậy mới gợi hứng. Nằm dài ra bên nhau, êm ái thú vị biết mấy! Johnny khe khẽ hôn môi. Em nhận cái hôn nhưng không thích tiến thêm thì tạm thời cứ sơ sơ mé ngoài vậy đó . Xa xa ngoài kia mặt Thái Bình Dương êm ả gờn gợn ánh trăng. “Sao không chơi dĩa của anh?” Giọng nó nũng nịu, vuốt ve lạ. “Đâu cần khoe, em?” Nhưng Sharon nài nỉ. – Thì không khoe … nhưng dành riêng cho em nghe được không? Hay anh hát cho em nghe … như trên xi-nê anh cất tiếng ca làm bao nhiêu cô rạo rực lên, chết mê chết mệt đó! Johnny bật cười. Hồi còn trai trẻ … cái mục “anh hát em nghe” này nó biểu diễn biết bao nhiêu lần! Giọng cao cất lên là các em rạo rực bằng thích, giở hết điệu bộ màu mè con gái, mắt sáng lên như đâu đây có sẵn mấy quay phim. Bây giờ thì hết ham. Cả tháng nay sợ thử giọng. Vả lại cóc ở trong nghề các em đâu biết … kỹ thuật phụ hoạ nó quan trọng như thế nào , có phải muốn ca lúc nào cũng được ? Giờ nghe lại dĩa mình, nghe giọng lả lướt quyến rũ , làn hơi phong phú, trẻ trung ngày nào quả có thê thảm, khác gì anh kép già sói đầu, bụng bự cho chiếu lại những hình ảnh hào hùng của buổi thiếu thời? Johnny thú thật: “Giọng anh bây giờ dở lắm. Nghe mình hát chán không thể tưởng tương.” – Nghe nói cuốn phim đang đóng anh hy sinh mọi quyền lợi … Anh đóng không lấy tiền phải không? – Đúng. Cát – xê tượng trưng, danh dự thôi! Nó đứng dậy rót rượu thêm cho em, đưa điếu thuốc chữ vàng bật lửa cho em mồi. Sharon thong thả kéo khói, lót từng ngụm brandy. Johnny ngồi bên, ly của nó rõ ràng đậm hơn . Nó cần nhiều chất men cho máu chảy phừng phừng, cho bùng lên … Đó là một sự ngược đời. Thông thường phải cho em say để mình tỉnh táo. Cần phải cho người đẹp bốc . Nhưng người cần bốc lại là Johnny! Vì hai năm nay nó quá phung phí sức lực, cần có hơi men hỗ trợ. Hai năm nay cứ thấy em nào vừa mắt là mời đi ăn nhậu du dương vài hôm, rồi tặng em món quà đích đáng để… cho em de cái một, khỏi lộn xộn. Thiếu gì em tự an ủi được sống những giây phút thần tiên với Johnny Fontane? Gái đẹp nhiều như vậy thì yêu đương gì? Nhưng chối bỏ sao nổi, một khi các em duyên dáng, mặn mà và tự nguyện đông như vậy? Johnny tối kỵ những týp núi lửa chỉ chờ “cơ hội” gần gụi một lần để mấy ngày sau kháo ầm lên: “Johnny Fontane hả? Tao vừa ngủ với nó xong. Yếu xèo. Còn thua tao xa.” Lại có những thằng chồng không lạ gì con vợ ngủ với nó mà mặt vẫn cứ nhơn nhơn ra được, thiếu điều muốn bảo thằng nó rằng ai chớ ông đại tài tử đại ca sĩ Johnny Fontane thì chấp nhận được! Đó là những vụ lạ nhất trong đời nó. Nó khoái nghe giọng ca Ella Fitzgerald. Rõ ràng, chắc nịch. Ca ra ca, nó hiểu giọng ca rành mạch của ca sĩ này hơn hết mọi thứ và cảm thông thì còn ai cảm thông bằng? Nằm dài ra nệm nghe hơi rượu bốc hừng hực, rõ ràng Johnny muốn cất tiếng ca theo Ella, khỏi cần nhịp điệu gì hết… nhưng có mặt người lạ làm sao thử thách? Một tay nâng ly rượu, một tay nó vuốt ve đùi con nhỏ, luồn dưới lụa tìm đến sự ấm áp, mềm dịu của lớp đùi non. Làn da nõn nà vẫn có mãnh lực khêu gợi thiệt sự! Chán chê thừa mứa đàn bà đến như nó vẫn không khỏi rùng mình rạo rực. Cũng may mà nó còn rạo rực… chớ cứ như giọng ca khi không đi đâu mất biệt thì hỏng! Johnny khẽ đặt ly rượu xuống bàn, quay mặt lại đối diện Sharon. Mục vuốt ve, tiếp tục nhưng nó tiến hành chậm rãi, chững chạc… Chắc chắn nhưng vẫn nhẹ nhàng, êm dịu. Tuyệt không hối hả, hăm hở. Môi vẫn gắn môi, tay Johnny lần tìm lên khoảng ngực có làn da vô cùng mềm mại, dịu mát như tơ. Con nhỏ có hôn trả những cái hôn vừa đủ thân tình nhưng chưa đến độ mê say. Johnny cũng vậy. Nó ghét những týp đàn bà con gái sớm bốc như kiểu chiếc mô-tơ điện! Chỉ cần một nháng lửa xẹt đúng chỗ là máy chạy vo vo, rung lên từng bộ phận một. Bàn tay Johnny tự động chạy theo đường cũ, quen lệ rồi… Dĩ nhiên phản ứng mỗi đứa mỗi khác. Có đứa làm như không hề hay biết, chẳng hề cảm thấy có sự đụng chạm giữa lúc đang hôn mải miết đam mê. Có đứa giật mình, uốn cong người. Có đứa vùng cho anh vài cái tát tai, nhất là hồi Johnny còn chưa có tên! Đó là cả một công trình, cả một kỹ thuật. Phản ứng của Sharon thật bất thường. Phải nói là kỳ dị. Cái gì nó cũng chấp nhận, cho phép hết. Không hề phản đối, chống cự. Có điều gỡ nụ hôn ra là nó khẽ ngã người về phía sau để nhẹ nhàng đưa tay ra bắt ly rượu làm một hơi dài. Thản nhiên như vậy nhưng rõ ràng một yêu cầu tốp. Johnny biết điệu. Vụ này đã từng có mà? Nó cũng nâng ly rượu, đốt thuốc hút. Giọng Sharon thật ngoan và dễ thương: – Không phải tại em không thích anh đâu. Anh dễ thương hơn em tưởng nhiều! Cũng không phải em sợ hay chưa thử, nói thực đấy. Em phải bốc mới thấy hứng, còn không thì… – Và anh không làm em bốc? Johnny mỉm cười hỏi, coi bộ chẳng có gì buồn hết làm con nhỏ lúng túng… – Sự thực thì hồi anh lên… em còn nhỏ xíu. Em mê giọng ca, mê anh đóng phim lắm chớ? Mê lắm lắm … nhưng có điều mình không cùng một thế hệ. Phải chi mình cùng một trang lứa thì xong ngay. Nghe nó nói, Johnny không thấy ham mấy nữa. Con nhỏ duyên dáng, láu lỉnh thật. Nó không mê anh Johnny đến độ hiến dâng hay sẵn sàng nạp thuế thịt để tiến thân sau này. Nó là thứ đàng hoàng. Nó không như con nhỏ hồi nào, đi với nhau lu bù nhưng đã nuôi sẵn định ý. Có ham đến mấy cũng từ chối để tự hào với mình hay với chúng bạn: “Biết sao không? Johnny Fontane mê tao, gạ tao quá xá … nhưng tao thèm vào!” Có lẽ vì cảm thấy già rồi nên Johnny không bực bội. Không ham thì càng đỡ mệt. Nó tỉnh bơ uống rượu nhìn trời. Sharon thỏ thẻ: – Anh đừng buồn em nhe, Johnny? Tại em hơi quê, em chưa hạp cái lối sống Hollywood. Nó mỉm cười vuốt má con nhỏ. Đưa tay kéo cái váy lụa xuống cho nó trùm quá đầu gối, nó nói dịu dàng: – Buồn gì mà buồn? Lâu lâu cũng phải có vụ yêu đương chay tịnh lành mạnh một chút chứ! Sự thực Johnny có cảm thấy thoải mái sau vụ “làm ăn” thất bại chính bởi vì nó khỏi phải hùng hục đóng vai trò si tình đòi yêu, đã nhập trận là phải gạ gẫm yêu bằng được. Phải chiến thắng đàn bà con gái bằng được như trên màn ảnh. Cái lối yêu thật mệt mỏi! Sau một tua rượu và một chầu hôn sơ sài nữa là Sharon đứng dậy đòi về. Lịch sự như thường lệ, Johnny hỏi: “Lần khác mình sẽ gặp lại nhau nghe em” thì con nhỏ đáp thẳng băng, thành thực: – Thôi, mất thì giờ của anh … và chẳng đi đến đâu hết! Cảm ơn anh! Mai sau về già iết đâu chừng em chẳng có quyền kể lại cho đám con cháu nghe rằng ngày xưa đã có lần tao và Johnny Fontane hai đứa ở với nhau một phòng gần trọn đêm và chẳng có gì xảy ra. – … Chẳng có gì xảy ra vì tao nhất định không chịu. – Nhất định… là chúng nó khỏi tin! Hứng chí Johnny khôi hài: – Không tin thì để anh cấp cho em cái giấy chứng nhận? Viết tay đàng hoàng. Con nhỏ lắc đầu cười. Johnny tiếp: – … Hay có thằng nào dám nghi ngờ lời em thì em phôn cho anh một cú? Anh sẽ vạch mặt chúng! Anh sẽ bảo rằng anh đã rượt bắt em cả đêm trong phòng mà em nhất định không chịu là không chịu. Đùa quá hoá ác thật! Con nhỏ hơi nhăn mặt khiến Johnny biết ngay là đã đi quá lố. Nói như vậy có khác nào bảo thẳng nó rằng tại tao không muốn nên không thèm gạ gẫm tới, bằng không mà phải bị rơi? Hay vì mày người ngợm chẳng ra gì nên tao không them? Nghĩa là nếu có kể lại con cháu nghe thì phải thêm vô: “Tao còn giữ gìn được hôm đó vì Johnny coi bộ không tha thiết lắm.” Cảm thấy hơi thương hại, nó vỗ về con nhỏ: – Đùa đấy thôi em! Có phải cứ đụng gặp cô nào là làm cô ấy đâu? Có chuyện gì cần đến em cứ phôn cho anh một cú. Sharon chỉ “Dạ” rồi rút lui. Đêm còn dài quá biết làm gì cho hết? Dĩ nhiên Johhny có quyền sử dụng cái mà lão Woltz gọi là xưởng thịt, đám đào non-Hollywood lúc nào chẳng sẵn sàng gật? Nó muốn một bạn chung chăn gối và tâm tình kia! Tự nhiên nó nghĩ đến con vợ đầu tiên Virginia. Phim quay sắp xong, nó sẽ rảnh rang nhiều. Có quyền về thăm, săn sóc mấy đứa nhỏ chớ? Sự thực nó cũng e ngại Virginia. Nó đâu đã đủ tư cách đối phó với những quân săn gái, mấy thằng bảnh bao cố đeo bằng được để tán tỉnh gạ gẫm? Tụi này làm được là dám khoe ầm lên “Tao vừa quất con vợ thằng Johnny Fontane, con vợ chính của nó.” Tuy nhiên dù sao Virginia cho đến giờ vẫn còn giữ gìn được, chưa thằng nào dám ấm ớ. Còn con Margot thì thôi… khỏi nói! Johnny bèn nhấc phôn lên. Tiếng Ginny nó nhận ra ngay. Nó đã nhận ra từ năm lên 10, từ năm hai đứa cùng học lớp Nhì với nhau kia mà? – Ginny hả? Có bận gì không? Về thăm bây giờ được không? – Được. Bọn nhỏ ngủ cả rồi… tôi không muốn đánh thức. – Không sao, tôi muốn nói chuyện với cô kia. Đầu dây đằng kia có chút ngập ngừng. Làm như nó cố trấn tĩnh để giữ giọng bình thản, không cần quan tâm cho lắm. – Có chuyện gì đấy? Có quan trọng không? – Không, bữa nay phim vừa quay xong. Tôi muốn về thăm cô và tụi nhỏ một chút. Có chắc tụi nó ngủ hết chưa? – Anh muốn về thì về. Tôi cũng mừng cho anh đóng được phim đó. – Cám ơn. Nửa giờ nữa tôi sẽ tới. Ngồi trong tắc-xi ngó vô căn nhà xưa ở Beverly Hills, nó ngẫm nghĩ lời Bố-Già. Thằng đàn ông có quyền sống theo ý mình muốn. Cái khó là biết mình muốn gì. Nó muốn gì, chẳng hạn.
Google photos
Ginny đón nó ngoài cửa. Người nó nhỏ nhắn, xinh đẹp, mớ tóc nâu nâu rõ ràng gái Ý. Đúng týp nội trợ và vợ hiền, khỏi có anh nào chàng màng. Đối với Johnny đó là điều quan trọng. Dù tình yêu không còn nữa! Nó không còn thấy khoái cảm gì trong vụ ăn nằm với vợ cũ. Có lẽ vì chán chường nhau quá. Giữa hai đứa bây giờ tuy chưa phải kẻ thù nhưng Ginny vẫn hận, chẳng bao giờ tha thứ. Ginny pha cà phê, dọn mấy cái bánh nhà làm. Johnny cởi áo, cởi giầy nằm dài ra đi-văng, mệt mỏi quá. Ginny ngồi trước mặt, cười ngỏn ngoẻn: “Lạ quá!” – Cái gì lạ? – Johnny Fontane mà chịu “thất nghiệp” một đêm, không có em nào mà không lạ sao? – … Thì Johnny Fontane cũng phải có lúc mệt mỏi, hết hứng chớ? Có một em lúc nãy, nhưng bị em đá đít còn mừng nữa! Ít khi Johnny nói thẳng thừng như vậy. Nó cũng ngạc nhiên thấy vợ cũ có vẻ tức tối: “Không biết chừng nó làm bộ màu mè vậy để anh kết thêm!” Ginny làm như còn ghen tức nữa mới lạ! – Kết cái gì! Chán đến mang tai rồi, mệt mỏi quá. Bây giờ mất giọng ca rồi làm sao mà bừa bãi mãi được? Cũng phải giữ sức khoẻ. – Thảo nào! Trông anh hồi này đỏ da thắm thịt đấy. Hơn hình chụp nhiều. – Đâu có? Thêm nhiều mỡ, sói đầu thêm mới đúng. Chỉ còn trông cậy ở cuốn phim này, nếu không lên nổi thì giải nghệ về nhà mở quán ăn mất. Có cô đỏ da thắm thịt thì có. Không chừng cô đi đóng phim lại hay! Johnny nói vậy thôi chớ làm gì nó chẳng biết vợ cũ 35 tuổi và ở đất Hollywood này đàn bà tuổi 35 có giữ gìn đến đâu cũng vẫn bị liệt vào hạng “lão bà”. Chỉ vì mấy con nhãi con xinh như mộng đổ về đây nhiều quá, đứa nào cũng trẻ đẹp, căng nhựa sống chỉ cần một năm hai năm thử thời vận. Có đứa lộng lẫy đến đứng tim đàn ông, nếu đừng mở miệng, nếu đừng để sự thèm khát tên tuổi làm nhạt nhoà đôi mắt đẹp như nhung. Một trung niên thiếu phụ làm sao cạnh tranh cho nổi? Có duyên dáng, lịch thiệp, thông minh đến đâu cũng đành phải chịu thua tuổi trời, nghĩa là đầu hàng tuổi thanh xuân mơn mởn. Phải chi những thứ gái non không nhan nhản thì một thiếu phụ xinh xắn như Ginny cũng có nhiều hy vọng lắm chớ? Nhưng với anh Johnny Fontane thì chúng sẵn sàng quá, đâu đến lượt Ginny đóng phim? Vì vậy, nghe Johnny Fontane nói chuyện “đi đóng phim”, Ginny làm gì không biết nó nói lấy lòng? Bản chất của Johnny là vậy, dù lên bao nhiêu, dù bao nhiêu nàng chạy theo, nó vẫn quý trọng đàn bà. Lúc nào cũng sẵn sàng khen đẹp, khen duyên dáng, mau mắn bật lửa cho người đẹp hút thuốc, mở cửa nhường đi trước. Với bất kỳ cô nào, dù không biết đến tên, dù chỉ tình nghĩa một đêm Johnny cũng thực lòng quý mến. Chìu chuộng khéo đến như vậy thì làm sao không nhiều cô chết mê chết mệt? Còn lạ gì tính nết nó nên Ginny mỉm cười: – Thôi, cho tôi xin đi ông! Ông “ngọt” với tôi 12 năm nay… tôi còn lạ gì mà phải bốc? – Không, tôi nói thực đấy! Tôi chỉ mong được như cô hồi này… Johnny gật gù nằm dài ra đi-văn trông có vẻ mệt mỏi thật nên Ginny không cãi nữa… mà hỏi một câu an ủi: – Cuốn phim có khá không? Liệu có mang lại cho anh cái gì không? – Nhất định có chớ? Nhờ nó tôi có thể lên trở lại cái một. Nếu bắt được một Oscar và chịu khó vận động thì có thể chẳng cần phải ca hát, tôi cũng có thể thành công lớn. Nghĩa là có thể chu cấp cho cô và các con thêm chút nữa. – Mẹ con tôi đủ rồi. Thừa là khác! – Tôi cũng muốn săn sóc tụi nhỏ nhiều hơn nữa. Nghỉ ngơi một chút cũng là vừa. Chẳng hạn mỗi thứ Sáu mỗi về nhà ăn cơm với tụi nó, xa đến đâu, bận bao nhiêu cũng về. Rồi mấy ngày nghỉ cuối tuần bố con đi chơi với nhau, rồi nghỉ hè nữa… Ginny bước tới đặt cái gạt tàn lên trên ngực cho nó gạt tàn thuốc. “Vụ đó tôi đồng ý. Anh biết không, sở dĩ tôi không đi lấy chồng là vì tôi muốn anh còn được làm cha chúng nó.” Ginny nói thật tỉnh táo, tuyệt không xúc động nhưng nằm ngó nhìn lên trần nhà. Johnny cảm thấy hết nỗi cay đắng chất chứa, sự oán hận giằn vặt đã có lần nó đổ lên đầu thằng chồng bỏ vợ bỏ con xé giấy giá thú để chạy theo một con điếm… để rồi sự nghiệp bắt đầu suy sụp theo. Để lảng sang chuyện khác, bất thần Ginny hỏi: “Có người vừa điện thoại cho tôi… đố anh biết ai đây?” Cái trò đố biết, úp mở là Johnny không khoái. Nó nằm yên, không trả lời, không đoán. Rốt cuộc Ginny phải xì ra: “Bố-Già anh đấy!” Johnny ngồi nhỏm dậy: – Bố-Già? Quái lạ, ổng có xài phôn bao giờ? Mà ổng nói gì? – Ổng biểu tôi phải giúp anh. Là anh có thể lên trở lại, anh đang lên… anh cần phải có người trọn tin anh. Tôi có hỏi tại sao tôi phải làm vậy thì ổng nói… vì anh là cha sắp nhỏ, có vậy thôi. Ổng nói nghe dễ thương hết sức vậy mà báo chí đăng những chuyện ghê gớm gì đâu không! Ginny cũng thuộc týp ghét tê-lê-phôn. Trong nhà bắt buộc phải có thì chỉ để dưới bếp một, trong phòng ngủ một còn bao nhiêu cho gỡ hết. Chợt nghe điện thoại reo dưới bếp. Nó chạy xuống nghe, và trở lại liền, vẻ ngạc nhiên còn hiện rõ trên khuôn mặt: – Điện thoại của anh mới lạ! Tom Hagen kêu… biểu có chuyện quan trọng lắm. Johnny lật đật chạy xuống bếp nhấc phôn lên: – Johnny nghe đây, Tom. – Ông già muốn tao gặp mày, thu xếp vài công chuyện cho mày khi cuốn phim vừa quay xong. Ổng biểu tao phải đáp phi cơ sang Los Angeles ngay sáng mai. Mày ra phi trường đón tao được chớ? Rồi tao phải trở về Nữu-Ước liền, mày khỏi phải sợ uổng một đêm vui vẻ vì có mặt tao… – Bậy nào, Tom! Cái gì mà uổng một đêm vui vẻ! Mày ở lại đêm tao còn mừng chớ! Tao sẽ tổ chức một chầu gặp mặt vui vẻ và giới thiệu vài nhân vật có cỡ Hollywood… Johnny muốn vậy thực tình. Hắn chỉ sợ Bố-Già trách hay bà con phàn nàn lên chân rồi không thèm nhớ đến ai, có gặp chỉ sợ mất mặt với khách sang… nhưng Hagen từ chối: – Tao phải lên phi cơ về ngay thật. Sáng sớm cũng phải về. Mày nhớ ra phi trường đón tao chuyến 11 giờ 30 từ Nữu-Ước sang nghe? – Chắc chắn tao sẽ ra. – Mày cứ ngồi nguyên trên xe. Nhớ cho thằng nào ra đón. Lúc thấy tao ra khỏi máy bay nó sẽ đưa đến xe mày. Johnny OK rồi gác phôn, đi ra phòng khách. Ginny ngước nhìn muốn biết chuyện gì xảy ra. “Ông Già muốn giúp tôi một vài việc nữa. Cái vụ đóng phim này cũng ổng lo giùm mới được… mà chẳng hiểu ổng làm cách nào hay tuyệt! Nhưng sự thực mình chẳng muốn ổng dính dáng thêm vô nữa.” Johnny ngả người ra đi-văn. Mệt mỏi thiệt tình. Ginny bèn đề nghị: – Khuya rồi, nếu mệt anh chẳng cần về nhà mất công. Anh có thể ngủ đỡ ở phòng vẫn dành cho bạn bè được mà? Sáng mai anh có thể ăn sáng với bọn nhỏ. Về bây giờ thật buồn. Anh không thấy sợ cô đơn hả? Tôi không muốn anh phải cô độc… một mình một nhà ở đằng ấy. – Tôi có ở nhà bao nhiêu đâu mà sợ? – Cái đó tôi biết, anh khỏi nói! Để tôi đi dọn phòng cho anh. – Ủa, mình không cùng phòng được sao? Ginny đỏ mặt “không”. Cả hai đứa cùng cười, không hận nhau nữa dù không ngủ chung phòng. Sáng mai Johnny ngủ dậy quá trễ. Có lẽ gần trưa rồi, nếu không ánh nắng đâu có chiếu xuyên qua mành cái điệu kia? Nó đánh tiếng lớn: “Ginny… dậy rồi! Có còn được điểm tâm không đây?” Có tiếng vọng vào “Chờ chút… Có ngay!” Mà có ngay thật. Có lẽ Ginny đã sửa soạn chu đáo sẵn, chỉ đợi nó dậy là mang vô. Nó vừa châm hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày thì cửa phòng bật mở, hai đứa con gái tà tà đẩy cái xe vô. Chao, hai đứa con gái lớn! Johnny ngồi sững sờ cảm động. Tụi nó lớn khiếp, mà càng lớn càng xinh. Những con mắt mở lớn sáng long lanh, ngạc nhiên… chỉ chờ một hiệu lệnh là nhảy vô ôm lấy bố. Tóc chúng để dài, cột đuôi ngựa vắt vẻo. Dép da trắng, quấn ngang người tấm khăn làm bếp lối các bà già ngày xưa thấy dễ thương hết sức! Hai đứa đẩy xe tới, đợi bố kêu. Johnny vội dụi điếu thuốc, mở rộng vòng tay là chúng reo lên, nhảy vào lòng. Johnny ôm chặt hai con, áp má vào những cái má mũm mĩm hồng hào và cà bộ râu chưa cạo lởm chởm vô cho chúng nhột. Lúc bấy giờ Ginny mới vô đẩy tiếp cái xe tới tận giường. Nó chỉ việc nhích người lên chút xíu mọi việc đã có người hầu. Ginny ngồi mép giường đổ cà-phê, trét bơ vô bánh… Hai đứa nhỏ ngồi sang một bên ngó bố ăn. Coi, tụi nó lớn bộn rồi, hết chơi trò ném gối mà bố cũng hết tung lên đỡ nổi! Chóng quá, mới ngày nào… Sắp sửa đến cái tuổi ra ngoài đường có thằng chọc ghẹo, phá phách rồi đây! Tụi nó há mồm để bố đút từng miếng bánh, sì sụp hút cà-phê của bố! Hệt như ngày nào Johnny còn theo ban nhạc đi ca, bận rộn tối ngày nên ăn uống chẳng có giờ giấc . Mò được về nhà lúc nào là Johnny khoái mấy bố con ăn chung. Hồi đó tụi nhỏ thích dẫu 7 giờ sáng được ăn bít-tết khoai chiên, chiều tối mới trứng gà chiên thịt muối thì lạ lùng quá, không thích sao được? Johnny cưng con lắm. Đó là một vụ chỉ mẹ chúng nó và mấy anh em thân thích biết. Đó là nỗi khổ tâm cực độ khi phải ly dị nhau và rời khỏi mái nhà này. Johnny đã tranh chấp kịch liệt để giữ nguyên vẹn quyền làm cha và đã làm đủ mọi cách để Ginny phải chấp nhận sự thực này: Tôi không muốn thấy cô đi lấy chồng khác chẳng phải vì ghen hoặc không muốn cô sung sướng. Mà chỉ vì mấy đứa con tôi, tôi không muốn thằng nào làm cha chúng nó. Chính vì lẽ đó tờ cam kết cấp dưỡng đã gài Ginny vào điều kiện tài chính: còn ở vậy nuôi con thì còn thừa tiền mà đi lấy chồng là khỏi. Có quyền hiểu ngầm rằng bắt bồ ở một chỗ nào khác cũng vẫn được, miễn đừng chính thức vác một thằng nào về nhà bắt mấy đứa nhỏ gọi bằng cha! Về khoản “bồ” thì còn lạ gì tính nết Ginny? Mấy thằng đĩ đực Hollywood có đánh hơi thấy bà vợ lớn Johnny Fontane là cả một mỏ vàng kếch sù chạy theo tán tỉnh chắc chắn chỉ có lỗ vốn. Nó thuộc týp ái tình lạc hậu, như mấy bà già xưa! Ấy thế mà nối lại duyên xưa thì khỏi có. Hai đứa cùng không muốn vì không lạ gì nhau. Ginny chịu sao nổi tính nết hoang đàng đĩ bợm của một thằng chồng cứ thấy con nào trẻ đẹp hơn vợ mình là mê? Còn ai lạ gì đóng phim với cô nào là Johnny quất cô ấy, ít nhất cũng một lần? Nếu nó chạy theo sắc đẹp như điên thì mấy cô cũng chịu anh chàng bô trai bằng thích! Ginny xua mấy đứa nhỏ đi, hối thúc “Anh mặc quần áo lên phi trường đón Tom là vừa.” Johnny đợi đến lúc này mới cho biết: “Cô biết sao không? Tôi đang làm thủ tục ly dị. Lại sắp độc thân.” Johnny mặc quần áo vô. Từ hôm đám cưới Connie, hai đứa chẳng đồng ý là nó có quyền để ở nhà này mấy bộ đồ để những lúc cần là có ngay hay sao? Ginny ngó nó mặc quần áo, không buồn để ý vấn đề ly dị mà chỉ hỏi: “Còn hai tuần nữa đến Giáng Sinh rồi. Anh có về nhà không… để tôi còn lo sửa soạn?” Nghe nó hỏi, Johnny ngẫm nghĩ. Từ hồi nào đến giờ, Giáng Sinh đối với nó là mùa làm ăn, được mời đi ca hát liên miên. Nhưng đúng ngày lễ là bao giờ cũng ở nhà với vợ con. Năm ngoái nó đã mắc sang Tây-Ban-Nha đeo theo con đào hát bóng nên xa nhà rồi. Nếu năm nay không về thì lại phải đợi đến sang năm chắc? “Được, tôi sẽ về nhà đêm Giáng Sinh và trọn ngày hôm sau.” Johnny không nhắc đến đêm Giao Thừa vì đã có thông lệ. Khoảng thời gian ngắn ngủi giữa năm cũ và năm mới dành để đi lông bông, ăn nhậu thả giàn với mấy thằng bạn thân. Đâu thể để vợ con dính vô những vụ đi hoang này? Lúc Johnny khoác áo vét vô, Ginny đứng bên vuốt áo, phủi bụi dùm. Nó thích ăn diện chững chạc. Ginny để ý thấy nó hơi cau mặt khi thấy cổ sơ-mi ủi không đúng ý thích mà cặp khuy măng-xết để ở nhà từ hồi đó nay xài đỡ chẳng hài lòng chút nào. Bộ khuy có vẻ “ăn diện”, bây giờ không đúng mốt Johnny nữa. Ginny cười mỉm: “Anh đừng ngại. Ai chứ Tom không để ý đến những cái vụ này đâu!”
Google photos
Johnny được ba mẹ con đưa ra tận xe. Hai đứa con gái đi hai bên, mỗi đứa nắm một tay bố vung vẩy, mẹ tà tà đi sau. Ginny lấy làm mừng vì nó có vẻ hạnh phúc tràn trề. Johnny nhấc bổng từng đứa lên, hôn mỗi đứa một cái. Hôn phớt vợ cũ một cái tạm biệt, nó nhảy vào xe. Xưa nay Johnny đâu có chịu những màn từ biệt bịn rịn, lẩm cẩm?
oOo
Vụ ra đón Hagen ở phi trường đã có thằng bí thư phụ trách báo chí của nó lo liệu trước. Johnny về nhà đã thấy chiếc xe cho mướn với tài xế chờ sẵn. Cùng với một gã đàn em nữa, cả bọn lên xe ra phi trường. Đúng như Hagen đã dặn, vừa thấy dạng nó là Johnny sai thằng bí thư chạy ra đón. Hagen bước vô xe, sai một cái bắt tay là lo chạy một mạch về nhà. Chỉ còn hai đứa ở phòng khách. Tuy có thân thiện đến mấy thì giữa hai đứa vẫn có một cái gì lạnh nhạt. Johnny vẫn không quên hồi còn bị Bố-Già giận, chính thằng Tom đã chận đầu nó mấy lần. Mà Tom dù biết vậy cũng lờ đi, coi như đó là một trong những bổn phận chính đáng của một thằng consigliori. Vẫn biết là chỗ bà con thân thuộc song có phải muốn phá khuấy Ông Trùm lúc nào cũng được đâu? – Ông già sai tao qua đây để giúp mày một vài việc. Tao muốn làm cho xong, trước Giáng Sinh. – Phim xong rồi. Thằng cha đạo diễn người đứng đắn, đối với tao tử tế. Nó quay đàng hoàng và tao là vai chánh… không lẽ cắt hết cả, vứt đi cho lão Woltz và hãng đốt bỏ 10 triệu đô-la? Bây giờ phim thành công hay thất bại ăn thua ở khán giả coi tao đóng có khoái hay không mà thôi. Hagen nhóng hỏi: – Đối với một thằng diễn viên thì giải Oscar có quan hệ tối yếu cho tương lai, sự nghiệp thiệt sự… hay chỉ là một trò quảng cáo, nghĩa là có hay không cũng chẳng ăn thua gì? Tao không nói đến vấn đề vinh quang, tên tuổi. Cái đó ai chả ham! Johnny cười lớn: – Ai chẳng ham có tên tuổi thật, trừ Bố-Già! Và mày nữa. Một cái Oscar đâu phải trò quảng cáo, mày? Nó ghê gớm lắm chớ? Bắt được Oscar là kể như lên trong vòng 10 năm đi, tha hồ kén chọn vai trò với hãng mà quần chúng cứ thấy tên là đi coi ào ào. Dĩ nhiên không phải có Oscar là có đủ mọi thứ, nhưng nó quan trọng nhất trong sự nghiệp diễn viên. Năm nay tao cũng dám bắt một cái lắm, chẳng phải tao diễn xuất hay ho gì… nhưng vì xưa nay quần chúng chỉ coi tao như ca sĩ mà cuốn phim này tao đóng cũng có nét lắm. – … Nhưng ông già biểu tao rằng cứ như hiện tình thì mày cóc có tí ti hy vọng gì! Johnny Fontane gân cổ cãi: – Mày nói thế đâu được? Phim đã chiếu đâu… cắt xét còn chưa xong mà? Ông-Già đâu có ở trong nghề mà biết? Bộ ổng sai mày đi 5 ngàn cây số sang đây chỉ để nói với tao có vậy? Nó uất ức thật sự nên giọng nói nghe như muốn khóc. Hagen phải lựa lời giải thích: – Johnny, tao đâu biết quái gì về điện ảnh? Tao chỉ nhắc lại lời ổng, mày nhớ vậy! Ổng có mang vụ làm ăn, nghề nghiệp của mày ra thảo luận với tao nhiều lần, coi bộ ổng lo cho mày, cho tương lai mày. Theo ổng thì mày còn phải cần ổng giúp nên ổng muốn lo cho mày một lần cho xong. Đó là lý do tao được cử sang đây. Ông già muốn mày với cao lên, chớ đừng nghĩ mình chỉ là một ca-sĩ, chỉ là một diễn viên. Mày phải coi như mình là chủ, mình có thế lực thử coi? Johnny rót rượu ra ly cười hề hề: – Thế lực! Nếu tao hụt cái Oscar năm nay thì thế lực dám bằng hai đứa con gái tao lắm. Giọng ca tao đâu còn nữa? Phải chi còn thì còn xoay sở đỡ được! Nhưng tại sao ông già biết chắc tao cần? Trời đất, ổng phải biết nên ổng mới nói chớ? Có bao giờ ổng lầm đâu mà không tin? Hagen đốt một điếu xì gà nhỏ: – Có tin Jack Woltz không chịu chi tiền để vận động Oscar cho mày. Đúng hơn là lão rỉ tai những thằng có thẩm quyền bỏ phiếu lờ mày đi. Thay vì vận động cho mày, lão chỉ tung tiền quảng cáo phim. Cho dù phim có kém vì mày hụt giải lão cũng chỉ thua thiệt phần nào. Chỉ chết mày! Nghe nói lão còn sắp xếp để mày không hy vọng được đề nghị tranh giải nữa kia! Bằng đủ mọi thủ đoạn hối lộ: tiền, gái, hứa hẹn cho việc… Johnny nhún vai. Nó rót ồng ộc huýt-ky vào ly nốc một hơi. “Nếu vậy thì tao chết chắc!” Hagen nhếch mép, chán chường ngó nó: “Mày uống làm gì nhiều thế? Rượu đâu có chữa lại được giọng mày?” Tự nhiên Johnny bật một câu: “Thôi… đi cha mày đi!” Khuôn mặt Hagen thoáng lạnh tanh. Nó không nổi giận mà chỉ nhỏ nhẹ: “Thôi được… Tao chỉ nói chuyện công việc thôi vậy!” Biết quá lỡ lời, Johnny bèn cầm ly rượu đứng dậy ra trước mặt Hagen: – Xin lỗi mày, Tom. Tao không định nói thế… tao cáu mày lãng xẹt. Tại tao… ức thằng khốn nạn Jack Woltz quá. Tao chỉ muốn giết nó mà tao không dám nói với ông già. Nên tao sủa bậy với mày… Không hiểu có kịch không mà giọng Johnny nghẹn ngào có nước mắt cẩn thận. Nó cầm ly huýt-ky liệng vô vách nhưng vì đuối sức và phần vì gặp thứ ly dầy tổ bố nên không những đụng vô tường đã không bể mà còn tà tà lăn trở ra vừa vặn tới chân cu cậu. Nó bực bội há miệng ngó rồi la “Trời đất” và phát cười ha hả. Nó chậm rãi đi sang bên kia ngồi xuống ghế, đối diện với Hagen. – Mày biết không, đời tao đã lên hương một thời! Tao bỏ vợ bỏ con đâm xuống dốc ngang. Giọng mất, dĩa bán ế, mất việc ở hãng phim. Bố-Già buồn… tao phôn không thèm nghe, xin gặp không thèm tiếp. Tao bực bội, giận hờn mày là thằng kỳ đà cản mũi, dầu tao biết là mày chỉ làm theo lệnh ổng. Tao không thể giận ổng… nên trút bậy sang mày. Nhưng mày vẫn lẳng lặng được thì tao phục. Tao xin lỗi mày, tao chuộc lỗi bằng cách nghe lời mày. Từ nay tao không nhậu nữa. Cho tới ngày tìm lại được giọng ca. O.K. chứ? Nghe Johnny năn nỉ hứa chừa rượu, tự nhiên Hagen hết giận. Vì nó thành thực. Một thằng đàn ông 35 tuổi như nó phải có một điểm gì được nên Ông Già mới thương như vậy chớ! Nó làm như sợ mất lòng Hagen là thế nào cũng có chầu kẻ vạch với Bố-Già và Bố-Già mà ghét thì nó chết luôn nên Johnny sợ cuống cuồng. Điều đó làm Hagen bực mình. Ông Trùm đâu phải thứ người nghe kẻ vạch, đang thương hoá ghét vì một lời của đệ tam nhân? – Bỏ chuyện ấy đi! Sao mày phải ngán thằng cha Woltz phá? Nó phá cách nào Ông Già cũng đỡ cho mày được hết, tin tao đi. Năm nay Oscar sẽ về mày, nhưng ổng biểu mày cần phải làm lớn hơn lên cao hơn chớ một cái giải mà làm gì! Mày có đủ tư cách, đủ năng lực tự mình đứng ra làm phim, từ đầu đến cuối hoàn toàn độc lập! – Mày nói là ổng sẽ lo cho tao bằng được một giải Oscar? – Ô hay, nếu mày tin là thằng cha Woltz phá mày được thì tại sao Ông Già lại không làm ngược lại nổi kia? Để cho mày vững lòng tin tưởng làm ăn, tao cho mày hay một điều chớ tiết lộ với ai. Ông Già mạnh hơn Jack Woltz nhiều lắm. Mày muốn biết ổng làm cách nào bắt cho mày Oscar hả? Ổng nắm hết mọi nghiệp đoàn trong ngành điện ảnh, trực tiếp hay gián tiếp. Ổng nắm đầu gần hết những thằng giám khảo chớ có gì lạ? Dĩ nhiên nghề nghiệp mày cũng phải vào hạng xuất sắc mới được. Mưu trí của ổng thì lão Woltz sánh sao nổi? Ổng đâu cần dí súng vào đầu người ta… hay dọa đuổi sở để buộc họ phải bỏ phiếu cho mày. Vì ổng, họ sẽ bỏ phiếu cho mày. Như vậy mày đã tin là có Oscar chắc chưa? – Tin chớ, mày nói là tao tin. Còn vụ làm phim thì sự thực tư cách, năng lực tao có chớ… nhưng tiền đâu? Nhà băng nào cho vay? Mỗi cuốn phim là bạc triệu chớ đâu ít? Hagen nói vắn tắt: – Bắt được Oscar rồi là mày phải có kế hoạch sản xuất 3 cuốn phim đi. Đào kép, chuyên viên phải là nhất nước, xuất sắc nhất. Mày toàn quyền và tha hồ tuyển chọn, bất cứ ai. Mày cứ tính từ 3 đến 5 cuốn đi… – Mày nói dữ quá! Làm bằng ấy phim là 20 triệu đô-la nghe? – Đồng ý. Chừng cần tiền, mày tiếp xúc với tao. Tao sẽ cho tên một nhà băng California để mày đến mượn vốn. Đừng thắc mắc, cho mượn vốn làm phim là nghề của họ mà! Mày cứ hỏi tiền theo đúng thủ tục thông thường, đúng nguyên tắc làm ăn. Họ sẽ chấp thuận. Nhưng trước lúc đó mày phải tới tao, cho tao biết qua con số và kế hoạch đã. OK?
Google photos
Johnny ngẫm nghĩ lúc lâu rồi rụt rè hỏi: – Còn gì nữa không? – Mày muốn nói… còn phải làm gì để đền đáp cái sự cho mượn vốn 20 triệu ấy phải không? Dĩ nhiên còn chớ! Không thấy Johnny thắc mắc hỏi tới, Hagen nói rõ: – … Mày còn phải làm cái điều mà Ông Già muốn mày làm cho ổng. Dĩ nhiên lúc ấy chính ổng sẽ nói với mày. – Đúng vậy, phải chính ổng nói ra mới được. Chớ mày hay thằng Sonny biểu tao, bắt tao làm là không được á! Hagen mỉm cười. Thằng Johnny coi vậy mà khôn đáo để. Nó dư biết Bố-Già thương nó, đời nào đích thân đòi hỏi nó phải làm một điều vô lý hay nguy hiểm? Không khi nào! Nhưng nếu Sonny thì lại khác. Biết vậy Hagen nói ngay: – Cho mày hay trước là Ông Già đã cấm tao và thằng Sonny triệt để không được chen vô công việc của mày dưới bất cứ hình thức nào… để mày có thể bị liên lụy hay mang tai tiếng. Còn ổng thì dĩ nhiên là không rồi! Mày yên chí đi… tao đảm bảo rằng nếu ổng muốn nhờ vả mày điều gì thì ổng chưa nói ra mày đã xin làm trước kia! Johnny OK. Nếu vậy thì hay quá! – Mày phải nhớ điều này. Sở dĩ Ông Già giúp mày là vì ổng tin tưởng, ổng biết mày làm ăn được. Nhà băng bỏ tiền ra cho mày làm phim thì họ sẽ có lời và ổng cũng có lời luôn. Tiền bỏ ra là tiền đầu tư, tiền làm ăn chớ chẳng phải tiền cho mày ăn chơi vung vít. Mày là con đỡ đầu ổng thương nhất thật… nhưng 20 triệu bỏ ra đâu phải chuyện chơi? Đó là điều ổng cần lưu ý mày nhất. – Mày nói lại là ổng đừng e ngại. Lão Jack Woltz mà làm phim được mà lại còn chủ nhân ông có cỡ nữa… thì ai làm cũng phải được. – Ông Già cũng nghĩ vậy đó! Bây giờ mày có sẵn xe cho tao ra phi trường được chưa? Những gì cần nói tao đã nói hết rồi. Nhớ là lúc làm giao kèo thì phải lo mướn luật sư. Tao không rành địa hạt này nhưng trước khi ký kết hãy cho tao coi qua xem có gì trở ngại cho mày không. Về vụ thợ thuyền, nhân viên đình công mày cũng khỏi lo. Đỡ tốn lắm lắm cho ngân quỹ sản xuất đấy! Nếu thằng kế toán ghi cái vụ chi phí chống đình công thì mày có quyền gạch bỏ cái một. – Tao có cần đưa mày kiểm soát trước cái gì khác nữa không? Như chuyện phim, đạo diễn, tài tử chẳng hạn? – Đâu có! Những cái đó mày toàn quyền mà? Chỉ có một người có thẩm quyền phản đối một vụ gì, đó la Bố-Già. Nếu có thì ổng sẽ nói thẳng với mày. Nhưng tao không tinh là ổng sẽ đặt vấn đề! Ổng không rành về điện ảnh, vả lại chẳng bao giờ xía vô công chuyện một khi đã tin và giao cho ai. – Tốt lắm. Để tao lái xe đưa mày ra máy bay. Mày nhớ cám ơn Ông Già dùm tao. Tao cũng muốn phôn lại hỏi thăm và cảm ơn ông lắm nhưng ổng có xài điện thoại bao giờ đâu? Tại sao kỳ vậy nhỉ? Hagen nhún vai: – Đúng, tê-lê-phôn thì ổng khỏi xài! Cũng bất đắc dĩ lắm mới rờ tới. Tại ổng không muốn bị chúng thâu tiếng nói và dùng kỹ thuật “pha trộn” tối tân để một câu chuyện tầm thường có thể biến thể thành một tang chứng gây phiền phức sau này vậy mà? Biết đâu đấy? Xưa nay ổng không muốn để lộ bất cứ một sơ hở nhỏ nhặt nào để bằng vào đó bọn cớm có thể làm khó. Lúc hai đứa ngồi xe ra phi trường, Hagen mới nhận ra rằng thằng Johnny khôn hơn nó tưởng nhiều! Nội cái vụ đích thân lái xe đưa đi cũng đủ là một bằng chứng. Nó đã biết sử dụng chiến thuật mua lòng người, chiến thuật “ruột” của Bố-Già! Nó còn là một thằng dám phục thiện và thành thực nữa. Johnny đâu phải týp vì sợ hãi mà phải ngỏ lời xin lỗi ai? Khỏi có! Nó là thằng ngang tàng xưa nay và cũng chỉ vì nết ngang mà luôn luôn có chuyện với các ông chủ hãng và cả các em nữa. Hình như ngay Ông Trùm là Bố-Già nó, nó cũng cóc sợ. Chỉ có nó và thằng Michael là dám không sợ ổng! Hagen thấy gần gụi nó hơn. Bề nào hai đứa cũng còn phải gần gụi nhau, làm ăn với nhau trong mấy năm tới. Tội gì mà lạnh nhạt? Rồi đây nó còn phải làm một vụ nào đó để trả ơn Bố-Già, một vụ chắc chắn ổng sẽ không nói ra, không ép buộc nhưng không hiểu Johnny có đủ thông minh để đoán ý ổng, làm cho ổng hài lòng không? Ở phi trường Hagen không bằng lòng để Johnny cùng ngồi đợi máy bay nên nó lo về trước. Về nhà cũ để còn rộng thì giờ sắp đặt công việc. Thấy nó trở về Ginny lạ lắm. Johnny biết là kế hoạch Hagen vừa nói có tính cách vô cùng quan trọng, thay đổi cả cuộc đời nó. Từng là tài tử lớn thật nhưng mới 35 tuổi đầu đã xuống chân, xuống thật sự. Dù có bắt được Oscar thì cũng có nghĩa lý gì, nếu giọng ca mất đứt? Một thứ tài tử hạng nhì, không thực quyền, không tiền! Giả thử nó là chủ nhân ông thực sự thì con nhỏ duyên dáng láu lỉnh, phóng túng hồi hôm đâu có cho nó de nửa vời? Bây giờ nhờ thế Bố-Già nó có thể mượn tiền làm ăn, làm chủ lớn như bất cứ thằng chủ hãng phim nào ở Hollywood. Nó dám làm vua Hollywood luôn, làm một thứ ông Trùm cũng không chừng. Johnny mỉm cười hài lòng. Dĩ nhiên nó có quyền ở lại nhà này vài tuần, hay hơn nữa. Hàng ngày tà tà dẫn con đi chơi, rủ mấy thằng bạn về. Không rượu không thuốc lá và giữ sức thử coi. Biết đâu có giọng trở lại? Nếu vậy thì sung sướng quá! Có tiền của Bố-Già giúp nữa thì Johnny sẽ là chúa ở đất Mỹ này. Nó sẽ không phải lo còn giọng mất giọng mà khán giả khoái hay không cũng chẳng cần. Vì sự nghiệp của nó dựng bằng tiền sẽ mọc rễ chắc chắn. Nó sẽ có quyền và có thế của một thằng có nhiều tiền. Ginny dọn cho nó căn phòng bên, hai đứa sống chung nhà như bạn chớ vợ chồng thì khỏi. Không bao giờ! Mấy tên nhà báo kịch trường điện ảnh cũng như đám quần chúng hâm mộ cứ trút tội bỏ vợ bỏ con lên đầu Johnny. Họ đâu biết, vì dĩ nhiên chỉ hai đứa biết với nhau, là trong vụ ly dị chính Ginny mới là đáng trách. Vì cho đến khi tên tuổi sáng chói ở bộ môn ca nhạc cũng như điện ảnh, Johnny đâu dám nghĩ đến việc bỏ phế gia đình? Nó người Ý chính gốc, cổ hủ là khác. Trăng gió, đĩ bợm là chuyện dĩ nhiên nghề của nó bắt buộc phải vậy nhưng bỏ vợ thì không! Johnny người mình dây, đẹp trai thật nhưng không phải týp cứ thấy đàn bà là nhào vô. Nó tìm đến đàn bà như một khám phá mới, bất ngờ. Xưa nay Johnny vẫn thích đi với những em bề ngoài hiền hậu, ngoan ngoãn, làm như chưa hề biết đàn ông là gì. Trái lại, nó cũng thích những týp bề ngoài nổg ngáo dạn dầy làm như từng ngủ với trăm thằng nhưng thực sự lại nhát nhúa, sợ đàn ông hơn cái gì hết. Mấy em này ưa có điệu bộ thật sếch-xy thật văm cứ như chơi bóng rổ vậy, nhưng chừng nhập trận là phải tấn công cả mấy giờ, mất bao nhiêu công phu khó nhọc mới chịu và chừng đó mới khám phá ra em còn con gái! Các đàn anh Hollywood ưa chê Johnny quê mùa hủ lậu, thời buổi này mà còn có thói ham những em còn con gái. Họ chơi nhiều trò ma mãnh mà một dứa con gái hăng đến đâu cũng chẳng thể bằng một thợ thổi chuyên nghiệp. Song Johnny thì khác, nó khoái hướng dẫn một con nhỏ chưa biết gì trong vụ hưởng thụ mùi đời. Phải đi đúng cách thì còn gì tràn trề cho bằng niềm sung sướng hưởng thụ đầu đời. Và thằng hướng dẫn cũng sung sướng biết mấy! Đối với Johnny thì còn niềm khoái trá nào bằng được một em quýnh quíu níu chặt! Có em nào giống em nào đâu, mỗi người một vẻ từ chân cẳng đến thân hình và cả nước da nữa! Em trắng toát, em ngăm ngăm, em nâu hồng, em đen bóng. Có bao giờ Johnny quên nổi con bé da đen, người từng mang lại cho nó khoái cảm một đời người chỉ gặp đôi lần? Em là gái nhà lành, con gái của thằng ca sĩ đen hát chung với nó một phòng trà Detroit. Chao ôi, môi nó ngọt mùi mật ong pha lẫn chất hồ-tiêu nóng bỏng. Làn da đen mới dịu mát, ướt rượt làm sao. Toàn thân nó mang lại trọn vẹn sự khoái cảm trời dành cho đàn ông và nó lại còn… con gái nữa. Johnny quả không khoái những kiểu cách yêu đương ma mãnh hiện đang là mốt trong giới ăn chơi Hollywood. Một em đẹp đến đâu mà tự nguyện hạ mình hầu hạ quá đáng thì nó cũng hết hứng! Cũng chỉ vì những lối yêu kiểu cách mà nó và con vợ thứ nhì Margot cắn đắng nhau hoài. Một đằng chịu cổ điển còn một đằng thì phải ngược đời, gần như Johnny phải vật lộn với nó mới yêu theo lối thông thường được! Có lẽ vì vậy Margot mới chê nó quê một cục và cả Hollywood kháo nhau “đàn anh Johnny coi vậy mà làm ăn như con nít!” Không khéo vì vậy mà con nhãi hồi hôm mới cho anh Johnny rơi. Nhưng bây giờ thì cóc cần em nữa. Sự thực nếu nó không hứng thì chẳng bõ công. Johnny xưa nay vẫn kinh nghiệm là chỉ cảm thấy sung sướng với những em thích yêu thật sự. Vừa bén mùi đời còn tuyệt! Kỵ nhất là những týp gái mới nứt mắt ra đã bừa bãi: 15 tuổi đã biết đàn ông và 20 tuổi thì nghiễm nhiên cao thủ. Theo Johnny thì mấy em đào hát Hollywood đều thuộc týp này và nhiều em còn có nhan sắc kia! Lúc Ginny mang cà-phê bánh ngọt vô Johnny kể sơ sơ cho nghe công việc làm phim độc lập với vốn nhà băng cho mượn. Nó mừng ra mặt, không ngờ Bố-Già thế lực mạnh đến thế. Công việc làm ăn quan trọng như vậy mà chỉ cử Tom Hagen sang nói khơi khơi một buổi là xong hết. Mà Tom còn giúp đỡ về mặt pháp lý sau này nữa. Vậy là Johnny Fontane sắp có dịp lên nữa mà lần này lên mạnh, lên làm chủ lớn. Ginny xăng xái dọn dẹp và cảm động thiệt tình khi nghe nó nói: “Tôi cần làm việc tối nay, phải phôn đi nhiều chỗ, lo tiến hành gấp công việc. Cô nên nhớ là tôi sẽ dành phân nửa quyền lợi trong vụ này cho sắp nhỏ, đứng tên chúng nó.” Trên bàn viết của nó để sẵn hai thứ thuốc: Một hộp thủy tinh tròn, đầy thuốc lá chữ vàng đặc biệt và một hộp đựng xì-gà, thứ xì-gà đen nhỏ điếu dài dài của Cuba. Johnny ngồi bật ngửa ra ghế xoay, sử dụng phôn như máy. Trước hết phải có truyện phim. Nó kêu một thằng nhà văn cũng trạc tuổi, khởi sự viết thật chật vật nhưng bây giờ cả nước biết tên. Thằng này cũng mon men sang Hollywood thử thời vận, tưởng đâu có tác phẩm lớn là có thể làm cha nào ngờ bị coi rẻ rề, như bất cứ thằng viết truyện phim nào! Đến các em đào hát cũng đá là hết hy vọng. Johnny từng chứng kiến một màn mất mặt thê thảm của nó và nhớ mãi. Chẳng là nó bắt được một em đào non văm nổi tiếng, đưa em đi coi cá ngựa và chắc chắn sắp có một đêm vui. Nào ngờ đang ngồi nhà hàng có thằng diễn viên đưa tay ngoắc là em bé cho đại-văn-hào rơi tức thì. Một thằng hề giễu hạng bét mới là đau! Thì ra cái xã hội Hollywood vốn nặng trình diễn: với các em thì nhà văn có tác phẩm lớn, được chủ nhân ông Jack Woltz mua bản quyền làm phim cũng chẳng bằng một anh hề sân khấu. Sau cú đá đít đau điếng ông nhà văn đau khổ trở về Nữu-Ước. Nay Johnny Fontane phôn qua thăm hỏi, cảm ơn đã dựng một nhân vật thật cừ cho nó biểu diễn tài nghệ. Luôn thể nó cho ông nhà văn đi tàu bay một phát rồi mới hỏi thăm đang viết gì, tác phẩm đang thành hình ra sao. Được ông tài tử lớn Hollywood bốc tận tình nên nhà văn bèn hứng chí đi một đường giới thiệu dài. Johnny đốt điếu xì-gà ngồi nghe, gật gù thưởng thức và đưa đề nghị: – Truyện khá đấy chứ? Chừng nào xong… cho coi một bản được không? Thì cứ gởi qua đây. Biết đâu chừng bạn còn lãnh một mớ ngon lành hơn bạn phát bản quyền cho lão Woltz nhiều! Nghe giọng hối hả của nó Johnny biết ngay là cu cậu đã bị Jack Woltz bóc lột đầu, tiền bản quyền tiếng là nhiều song ăn chẳng bao nhiêu. Johnny hứa sau lễ Giáng Sinh sẽ qua Nữu-Ước bàn thêm công việc làm ăn. Dĩ nhiên hai đứa sẽ có chầu ăn nhậu và sẽ có vài em rất hách. Còn muốn gì hơn, nhà văn bèn OK gấp. Sau đó Johnny phôn đến ông đạo diễn, ông cameraman (người quay phim) cuốn phim vừa hoàn thành để cảm ơn. Đại khái biết lão Woltz rất kỵ nó mà họ còn tận tình giúp đỡ thì quý hoá quá. Bây giờ nó sắp có chuyện làm ăn riêng, nếu họ muốn “anh em giúp đỡ nhau” thì cứ việc phôn tới. Khó nhất là vụ đối phó với Jack Woltz. Áp dụng chiến thuật mua lòng, Johnny cảm ơn lão cho đóng cuốn phim vừa rồi và hứa sẵn sàng làm ăn nữa, nếu muốn chỉ một cú phôn là sẽ chạy tới ngay. Hãy để lão yên chí vậy, xưa nay Johnny Fontane là người có sao nói vậy, có môi miếng bao giờ? Lão đâu ngờ nó cũng có thể làm chủ được, nó đang chuẩn bị làm ăn riêng và chừng biết rõ sự thực thì chắc chắn lão sẽ có chầu bật ngửa! Xong gần ấy công việc, Johnny ngồi thong thả kéo khói. Ở bàn bên cạnh có chai huýt-ky nhưng lỡ hứa với Hagen, lỡ hứa tự kiềm chế rồi nên nó không muốn uống. Còn phải tốp cả khói nữa kìa. Đâu phải cứ tốp hết rượu chè, thuốc lá là giọng ca trở lại? Chưa chắc. Nhưng dù sao nhịn đi vẫn hơn, nhất là lại sắp có cơ hội làm ăn lớn.
Google photos
Cả nhà yên lặng quá. Vợ con nó ngủ say hết rồi. Ngồi trầm ngâm suy nghĩ, Johnny nhớ lại những ngày thê thảm bỏ vợ bỏ con để chạy theo một con điếm hạng bét là con vợ bây giờ. Một con đàn bà thật tệ, nhưng xét lại nó cũng còn được ở một vài điểm khác. Johnny mỉm cười một mình. Cuộc đời nó đỡ khổ chính ở điểm này. Đối với đàn bà con gái không bao giờ nó ghét hận. Đúng hơn là chẳng thể hận được họ, dù là con vợ cũ, con vợ điếm hay những ả nhân tình. Chẳng việc gì mà hận, ngay cả con bé nhãi con Sharon Moore từng cho nó rớt hồi hôm qua để ra cái điều “thèm vào ngủ với thằng Johnny Fontane!” oOo
Đời nó từng theo ban nhạc đi ca hát mọi nơi, từng là danh ca radio, sân khấu và nhảy sang địa hạt điện ảnh cũng thành công. Nó quả đã sống tuỳ sở thích, đàn bà con gái hạp nhãn là bắt những vẫn có một đời sống riêng, hoàn toàn riêng. Cho đến ngày nó mê đào Margot Ashton, hoàn toàn điên đầu vì nó. Cả một sự nghiệp sụp đổ, giọng ca mất, gia đình vợ con cũng tiêu. Mất hết, mất không còn gì cả. Xưa nay, Johnny vẫn là người hiểu biết, hào phóng. Lúc ly dị Ginny nó đã cho hết, có từ chối gì đâu? Để cấp dưỡng hai đứa con gái, nó đã chia hẳn một phần lợi tức. Bất cứ một số tiền nào nó kiếm được, các con cũng phải có một phần. Hồi còn ở với con vợ cũ, làm ra tiền như vậy nó đã làm quá bổn phận làm chồng: họ hàng bên vợ cần gì là giúp hết, giúp tận tình. Ngay cả bạn bè cùng đi học với con vợ hồi nhỏ nó cũng chẳng từ chối bao giờ. Nó không hề lên mặt đại danh ca đại tài tử. Kỵ nhất là “lên ca cho bà con nghe chơi” mà hồi hai con em vợ đi lấy chồng nó cũng phải hát dùm đám cưới. Có thể nói đối với vợ cũ, Johnny chẳng từ chối điều gì, trừ cái khoản để cho vợ sỏ mũi! Khi cuộc đời xuống dốc về đủ mọi phương diện thì Johnny bò về sống ít ngày với vợ con. Chán chường đến cùng độ. Nhưng ngày nào tình cờ phát giác giọng ca mất, nghe thử dĩa hát vừa thâu thấy tồi tệ quá cứ đổ tội cho bọn chuyên viên thâu âm cố tình phá hoại. Hôm đó nó đã đập dĩa cái thề không ca hát nữa, trừ hôm đi ăn đám cưới Connie. Cái đêm biết nó mất giọng, nét mặt vợ cũ đột nhiên sáng lên thật tàn nhẫn. Vỏn vẹn có một giây thôi những rõ ràng Ginny sung sướng, hả hê lắm. Làm gì Johnny không biết và nhầm thế nào được? Ginny bỏ thái độ đó ngay nhưng chẳng làm gì hơn là thương hại một cách lơ là. Johnny làm thinh chấp nhận. Nói gì con vợ chính thức, đến mấy con nhân tình “ruột” xưa nay, thỉnh thoảng vẫn còn đi lại thân mật mà nghe tin Johnny mất giọng chúng còn hả dạ, vui mừng in hệt kia mà? Nó có thử lần lượt đến với 3 con thì cả 3 đứa cùng tàn nhẫn in nhau, dù Johnny vẫn bồ-bịch và mới đây thôi em nào chẳng nhờ cậy, xin xỏ, nhận quà tặng tính ra đâu có dưới cả trăm ngàn đô-la mỗi đứa? Đó là khoảng thời gian Johnny phải suy nghĩ và có một thái độ về lòng dạ đàn bà. Một là vẫn trọn tin nơi các em, khỏi oán hờn thù ghét. Hai là phải làm như hầu hết những thằng tai to mặt lớn ở Hollywood này, thấy gái đẹp là gạ gẫm bắt liền. Phải lợi dụng quyền thế, tiền bạc để săn gái bằng được nhưng đá đít các em cũng sẵn sàng, khỏi chung thuỷ tình cảm. Vì đàn bà là vậy. Tâm hồn Johnny vốn đặc biệt ở chỗ biết vậy nhưng vẫn không thể không yêu. Biết lòng dạ các em phản trắc nhưng nếu không có các em, Johnny nghe như có gì thiếu thốn, mất mát vậy. Ngay những người đàn bà mà nó yêu thương nhất, thấy đời nó sắp tàn còn ngấm ngầm cầu mong sao cho nó khốn khổ khốn nạn nữa chớ nói gì đến trung thành, thương xót? Nhưng biết sao hơn, đàn bà là vậy thì Johnny đành phải chấp nhận như vậy. Đành phải lời đi để tiếp tục yêu đương, chìu chuộng. Bề nào còn được đền bù lại ở chỗ tự do, không bị ràng buộc một đứa nào mà còn hưởng thụ đàn bà ở giữa thời xuân sắc nhất. Và có phóng đãng, không trung thành cũng chẳng hề thắc mắc, chẳng cảm thấy tệ bạc gì hết ngay với Ginny, dù đã không bao giờ chắp nối trở lại. Trong cuộc xuống dốc thê thảm của đời nó, Johnny rốt cuộc chỉ còn lại một điểm: nó đâm ra lì lợm, chai cứng trước sự đau khổ của các em, dó chính nó gây ra. Mệt mỏi, buồn ngủ quá nó tính đi ngủ thì chợt một ý nghĩ sáng loé lên. Nó nhớ đến Nino Valenti. Phải nâng đỡ thằng bạn nghèo hèn này: đó chính là điều Bố-Già khoái nhất, muốn nó làm nhất. Lập tức Johnny nhấc phôn gọi Nữu-Ước, hỏi Sonny số máy Nino Valenti. Dĩ nhiên giọng thằng Nino vẫn nhừa nhựa rượu như bất cứ lúc nào. – Nino hả? Mày có thể tính chuyện sang đây làm ăn với tao không? Tao cần một thằng như mày, một thằng bạn có thể tin được. Nino cà rỡn: – Làm ăn với mày hả? Liệu mày trả tao nổi không? Mày nhớ là tao đang làm ở đây cuối tuần bắt 150 đô ngon lành, chỉ có việc tà tà lái xe, dọc đường có quyền bắt bò lạc lu bù đấy nhé? – Tạm thời lương mày 5 trăm đô một tuần. Các em đào chịu chơi ở đây thiếu gì? Nếu có thể… mày còn hát cặp với tao. – Vậy hả? Nếu có thể… để tao suy nghĩ lại coi. Tao còn phải hỏi ý kiến luật sư của tao, còn phải hỏi thằng cha kế toán và thằng cha chủ xe nữa chớ? – Đừng cà rỡn mày! Tao cần mày sang đây thật. Sáng mốt mày đáp phi cơ qua ký giao kèo một năm đã, mỗi tuần 500 đô-la. Nếu mày chớp của tao một em nào, tao bắt buộc phải đuổi thì mày sẽ có một năm tiền bồi thường đuổi sở. OK không? Nino ngẫm nghĩ một lúc lâu, giọng nó tỉnh rượu: – Johnny, mày nói thực hay chơi đó? – Ủa, sao lại nói chơi? Mày chỉ việc đến văn phòng đại diện của tao ở Nữu-Ước. Sẽ có giấy máy bay và tí tiền lẻ cho mày. Sáng mai tao phôn cho tụi nó sớm, chiều mày tới là vừa. Sẽ có người ra đón mày ở phi trường đưa về nhà tao. Không thấy nó trả lời ngay nhưng lúc nó lên tiếng thì chẳng thấy hơi rượu đâu nữa. Nino “OK… Johnny” nhưng giọng nó vẫn có vẻ gì nghi ngờ, không tin tưởng chút nào. Johnny gác phôn đi ngủ. Nó cảm thấy thư thái, hân hoan. Từ ngày đập bể dĩa cái, chưa bao giờ nó sung sướng vậy.
NGỒI NGAY BUYA RÔ TRONG BÓT, ĐẠI ÚY CẢNH SÁT Mark Mc Closkey mân mê ba chiếc phong bì dầy cộm, bên trong toàn cuống giấy biên đề. Lão nhăn nhó, phải chi biết được ám hiệu của mấy thằng bao đề này thì đỡ khổ biết mấy! Hồi hôm đi hành quân tảo thanh, lão đã ghé ngang một ổ chơi đề của cánh Corleone và chớp được bao nhiêu cuống “tang vật” là nhét hết cả vô đây. Thằng chủ đề chắc chắn sẽ phải lạy để chuộc bằng được ba cái phong bì quý giá này. Không có cuống để so… thằng nào cũng chìa giấy biên ẩu ra đòi chung thì tiền đâu ra mà chung cho đủ? Vậy là toàn quyền ra giá… nhưng nó ghi lằng nhằng điệu này thì biết tổng số tiền có biên cỡ bao nhiêu mà đòi? Nếu tiền quyện năm chục ngàn đô la thì cho chuộc năm ngàn là điệu rồi. Nhưng biết đâu ngần này cuống dám một trăm ngàn… vài trăm ngàn? Đòi năm giấy lớn để mà “hố” với nó sao? Mc Closkey nắn nắn mớ giấy bên trong. Tốt hơn là cứ để cho nó rét, nó chạy tới năn nỉ lạy van xin chuộc thì có quyền bắt thóp, đớp của nó một cú cho ra gì chớ? Cứ để nó bấn lên xin nạp! Lão nhìn đồng hồ trên vách. Sắp tới giờ hẹn đưa thằng đường Thổ đi gặp đại diện cánh Corleone rồi! Muốn đi đâu thì đi, lo cởi bộ đồ lính để mặc thường phục cái đã. Xong ngay. Lão nhấc phôn gọi về nhà tối nay đi công tác, đừng chờ cơm. Mụ vợ đâu biết công tác gì, ngay tiền lão đưa về chi tiêu cũng tưởng lương lính kia mà? Mc Closkey mỉm cười thú vị. Bà mẹ lão ngày xưa cũng in hệt! Lão được ông bố đích thân “truyền nghề” từ hồi còn bé tí, nghề lính là cha truyền con nối mà! Hồi đó ông bố đội Cảnh sát có lệ mỗi tuần dẫn thằng con lên sáu đi một tua, hết buya rô trong sở đến tất cả mọi cửa hàng trong vùng trách nhiệm. Hai bố con “đi tuần” đến tiệm nào chủ tiệm chẳng xoa đầu chú nhỏ khen ngoan rồi mở két lấy tiền lẻ biếu chú 5 đô, 10 đô la tiền mới? Chú nhỏ mỗi lần được cha cho đi tuần như vậy là đầy túi tiền mới nên càng yêu nghề lính, mai sau “nhất định làm lính giống bố” nên các chú, các bác trong bót lấy làm khoái chí, chầu lương nào chẳng lì xì cho cháu tí tiền lẻ xài chơi! Có điều tối đa chú Mc Closkey cũng chỉ được bố phát cho 5 cắc, còn bao nhiêu phải gởi vô băng hết để sau này lấy tiền ăn học lên Đại học. Ông bố tính xa như vậy nhưng cậu con ham làm lính hơn theo Đại học nhiều! Hết Trung học, đủ tiền là hăm hở nhảy vào ngành Cảnh sát tức thì. Làm lính mà bắt bạc ngon lành thì cần quái gì mấy cái bằng Đại học? Cậu Mc Closkey ham vô nghề lắm nên được mặc bộ sắc phục vô là phải biết! Phục vụ gương mẫu, nghề nghiệp trên hết. Mấy thằng ma cà bông đứng đường thấy bóng cậu cớm trẻ là lặn gấp và hết giờ cậu đi tuần mới dám thò mặt ra. Cậu có ông bố để noi gương “phục vụ bắt bạc”! Với giới giang hồ, nghĩa là dân làm ăn không hợp pháp lắm trong vùng trách nhiệm thì cậu Mc Closkey vô cùng điệu nghệ ở chỗ đi đúng sách “ai sao ta vậy”. Cứ anh em trong “lít” chi bao nhiêu thì cậu cũng cứ bằng đó mà đưa. Con số đã có sẵn, khỏi thèm đòi hỏi chấm mút thêm mà đại kỵ vụ kiếm chuyện đòi “ăn bẩn”. Do đó công vụ chạy vo vo, chẳng ai phiền trách thưa kiện nên làm gì không lên lon mau? Thời gian qua… Cậu Mc Closkey lập gia đình rồi lần lượt có 4 mặt con. Từ trung sĩ nhảy lên trung úy, đại úy… Nghề nghiệp thăng tiến rõ, nhưng cả 4 đứa con đều phải lên Đại học, không được nhảy vô lính. Có tốn kém thật nhưng lương nhà nước không đủ thì ông bố Đại úy đã có cách cho con cái khỏi thiếu một thứ gì. Giới giang hồ trong quận của Đại úy Mc Closkey chỉ phải “chi nặng” thêm chút đỉnh, nặng hơn bất cứ một quận nào khác vì cái phí khoản Đại học lại đặc biệt này. Số tiền “ngoại tài” hàng tháng được Đại úy Mc Closkey kể như một phụ cấp, chẳng kể bẩn sạch. Coi, nếu không thì lấy đâu cho đủ để nuôi 4 thằng con leo lên Đại học? Lương lính ít, phụ cấp gia đình nghèo nàn thì bắt vợ nhịn, con thất học hay sao đây? Đâu phải tự nhiên mà có “ngoại tài”? Muốn được ăn no đủ thì ngoài bộ áo lính cũng phải mang thân ra phục vụ, phải đánh đấm và lâu lâu cũng phải nổ để lãnh tiền của các “thân chủ” cho đáng chớ? Trong đời lính của Mc Closkey hồ sơ ghi thiếu gì những vụ đụng độ nặng với du đãng “bắt địa”, anh chị đứng bến và ma cô nuôi điếm? Phải nhìn nhận là những vụ “mất trật tự” này lão dẹp mau lắm. Không lẽ phục vụ hết mình, bảo đảm trật tự cho cả một khu vực xã hội đắc lực như vậy mà chỉ có quyền trông cậy ở đồng lương chết đói của nhà nước? Trong gia đình Tattaglias thì Đại úy Mc Closkey quen với Bruno, bạn học của một thằng con lão ở Fordham. Gia đình Mc Closkey lâu lâu có quyền tới hộp đêm du hí miễn phí một chầu. Đầu năm dương lịch hay có dịp mời mọc thế nào chủ quán Bruno cũng nhớ đến gia đình ông Đại úy bồ bịch. Có thiệp mời, ngồi bàn danh dự, lại còn được giới thiệu trang trọng với quan khách và đám nghệ sĩ nổi tiếng tới giúp vui. Đổi lại lâu lâu có chuyện nhờ vả, chẳng hạn giấy phép hành nghề cho các em chiêu đãi. Nguyên tắc làm ăn của Mc Closkey là không bao giờ thắc mắc đến công việc của “thân chủ”. Không hỏi tại sao, để làm gì… Khi Sollozzo đến nhờ lão vô hiệu hoá hàng rào an ninh của một lão già tên Corleone hiện đang nằm trên giường bệnh thì Đại úy Mc Closkey gật đầu liền và hỏi “Bao nhiêu?” Nó nói mười ngàn đô la là ô kê ngay, khỏi nghĩ ngợi. Phải vậy mới xứng với sinh mạng triệt một tay Mafia gộc, thế lực qua mặt Al Capone ngày nào! Mà triệt được còn đỡ cho xã hội Mỹ nhiều lắm. Do đó Mc Closkey làm liền, làm thật chu đáo. Lãnh tiền trước mà? Chừng thằng Sollozzo gọi lại trách “làm ăn thế nào mà ngay trước cửa còn 2 đứa đứng khơi khơi” thì ông Đại úy nổi giận. Đã đích thân đi xúc từng thằng cô hồn về bót lại rút cả ê kíp gác rõ ràng mà bây giờ phải trả lại tiền thì còn cái đau nào hơn? Nỗi đau mang 10 ngàn bỏ băng rồi mà lại phải rút ra trả bèn trút hết vào cú đấm bể mặt thằng Michael. Nào ngờ đã không phải trả lại tiền mà Sollozzo còn đề nghị làm ăn lớn làm Mc Closkey hứng chí. Làm gì cũng được huống hồ làm gạc đờ co! Miễn có tiền còn nguy hiểm thì khỏi lo. Bố bảo một dân chơi cũng chẳng dám rớ tới một ông Đại úy Cảnh sát giữa New York! Một thằng Mafia chì nhất cũng phải đứng yên một chỗ nếu một thằng cớm hạng bét muốn kiếm chuyện hành hạ. Còn một thằng cớm bị giết? Lập tức bao “tai nạn” sẽ đổ lên đầu giới giang hồ: Năm bảy thằng bỗng bị bắn bỏ khơi khơi vì những lý do vớ vẩn như chống cự nhà chức trách hoặc chạy trốn… Chịu sao thấu? Yên chí lắm Mc Closkey chuẩn bị lên đường. Sao hồi này nhiều chuyện tốn tiền thế? Bà chị vợ bên Ái Nhĩ Lan vừa lăn cổ ra chết. Lại tốn tiền làm ma, biết bao nhiêu tiền thuốc men rồi! Còn những ông chú bà bác ở nhà quê gởi thư dài dài sang xin tiền thằng cháu làm ăn bên Mỹ nữa? Cái gì cũng tiền, mà không có không xong! Được cái vợ chồng lão mỗi dịp về làng là bà con trọng vọng cứ như vua chúa. Hè sang năm về thăm quê thì tốt quá, vừa hết giặc xong lại gặp lúc vừa có ít tiền “ngoại tài” này… Đi ngang bàn giấy thằng đội trực nhật Mc Closkey dặn hờ nếu có việc cần gấp thì tới kiếm ở đâu. Cái vụ này sợ gì phải giấu? Sợ gì ai? Không lẽ một ông Đại úy Cảnh sát mà không có quyền hẹn gấp một thằng mật báo viên để lấy một tuy ô gì đó? Ra khỏi bót, lão đi bộ một khoảng trước khi kêu tắc xi đến chỗ thằng Sollozzo hẹn trước Vấn đề lo cho Michael biến khỏi nước Mỹ không tăm tích là do Tom Hagen đảm nhận hết từ sổ thông hành giả, thẻ thủy thủ đến chỗ ăn nằm kín đáo trên một chiếc tàu chở hàng ghé qua Sicile. Có người tức tốc lái máy bay sang trước để lo sắp đặt một chỗ trú ngụ an toàn ở một miền quê, có Ông Trùm địa phương đích thân che chở. Ngay lúc Michael “xong việc” nhảy ra thì trước quán rượu đã có chiếc xe thật ngon chờ sẵn mà chân tài xế do Tessio tình nguyện. Xe bề ngoài cũ rích, máy móc cực kỳ tốt, mang bảng số giả. Thứ xe đặc biệt chỉ để xài vào những vụ quan trọng, chẳng có cách nào nhận diện nổi. Trước khi lên đường, Michael được Clemenza đưa khẩu súng nhỏ xíu tập sử dụng cho quen tay. Một khẩu 22 nòng ngắn, xài thứ đạn chì đặc biệt, vô lỗ nhỏ xíu nhưng trễ ra toác hoác. Không chính xác lắm nhưng cách năm bước thì không thể trật nổi! Cò hơi cứng một chút nhưng vặn vài con ốc là ngon. Xài làm chi hãm thanh cho mệt? Cần phải cho nó nổ lớn để khỏi có vụ tự nhiên một thằng đi đường chẳng biết quái gì cũng nổi máu anh hùng xông vô can thiệp hoảng là hư hết việc! Phải nổ chúng mới hoảng. Dù Sonny từng căn dặn nhưng Clemenza vẫn luôn miệng dượt: – … Xài xong là cho súng rơi. Nhớ là buông xuôi tay xuống đã, rồi mới thả súng cho nó rớt nhẹ bên cạnh. Để người ngoài vừa ngó thấy cứ tưởng đâu mình còn súng trong tay, cóc dám vô. Tụi nó chỉ ngó lom khom cái mặt mà! Rất tự nhiên nhanh chân bước ra. Chớ có chạy. Không nhìn tận mắt thằng nào hết mà cũng không ngó lảng đi đâu hết. Vững tin là chúng nó hết hồn, chẳng điên dại mà nhào vô. Đi tà tà ra, lên xe đàng hoàng, cửa mở sẵn mà? Có Tessio lái thì yên chí đi, đừng sợ ai! Không có tai nạn xe cộ! Cái vụ này tưởng vậy mà không có gì khó đâu. Nào, bây giờ mày thử đội cái nón này tao coi? Vừa nói lão vừa chụp lên đầu Michael một cái nón nỉ. Cả đời có đội nón bao giờ, Michael nhăn mặt thì lão giải thích: – Cần lắm đấy. Có cái nón là đỡ lắm: nếu cần phải cho nhân chứng nhận diện! Mày đừng lo dấu tay, khỏi có chắc. Báng súng, cò súng đều trét thứ đồ nghề đặc biệt, nhưng chớ có rờ mó bậy vào những bộ phận khác nghe? Michael chỉ thắc mắc một điều. Không hiểu Sonny đã dò ra địa điểm mật của Sollozzo chưa? Clemenza lắc đầu: – Có dễ gì? Nó cáo già mà! Nhưng mày yên chí đi. Bề nào mày cũng đi về an toàn vì con tin là chính thằng trung gian. Mày về rồi mới thả nó ra. – Ủa, sao lại có thằng chịu làm con tin ngu vậy? – Để lấy tiền. Nhiều lắm lắm chớ bộ giỡn sao? Có phải ai cũng làm được đâu? Phải uy tín. Đối với Sollozzo mạng nó phải quý hơn mạng mày chắc. Có vậy tụi mình mới tin là nó không dám hại mày để liên lụy đến thằng kia. Tóm lại phần mày chẳng lo ngại gì hết. Tụi tao mới là… lãnh đủ! – Tới cỡ nào? – Khủng khiếp! Sẽ có đổ máu tùm lum giữa hai cánh Corleone – Tattaglia mà tụi nó còn nhiều cánh khác ủng hộ. Chắc chắn sẽ có màn thấy ngã chôn không kịp… Như một triết nhân. Clemenza suy luận: – … Có điều mươi, mười hai năm là phải có đổ máu lớn một lần. Kể như một dịp để tẩy bớt thứ máu ở dơ, máu vô dụng! Bề nào cũng phải đổ máu một lần vì không chặn ngay từ đầu, tụi nó tỉa dần mình rồi cũng nuốt sống luôn chớ đâu có tha? Như Hitler vậy, nếu chặn lại ngay từ hồi Munich thì đâu nó có thể làm điên đảo toàn thế giới? Nghe lão nói, Michael nhớ lại một lần duy nhất, trước Thế chiến II bùng nổ năm 1939, Bố Già cũng từng lý luận in hệt. Phải chi hồi đó Mafia nắm bộ Ngoại giao thì làm gì có chiến tranh! Ý nghĩ làm Michael mỉm cười. Clemenza đưa Michael trở về cư xá, về nhà Ông Trùm đại bản doanh hiện thời của Sonny. Không hiểu nó còn ở lì một chỗ bao lâu trong “văn phòng”, trên bàn bữa bãi cơm còn dư lại và nguyên ½ chai uýtky. Căn phòng Ông Trùm giữ ngăn nắp là vậy bây giờ trông bừa bãi như nhà trọ. Michael đánh thức nó: “Coi, sao mày không ăn ở cho sạch sẽ một chút mà để dơ dáy cỡ này?” Sonny ngồi dậy ngáp dài: – Bộ mày ông tướng đi khám trại hả? Vụ đặt súng cho mày chắc không xong vì bây giờ vẫn chưa biết tụi nó đưa mày đi đâu họp. Tụi nó giữ kín quá! – Nếu vậy tao dắt luôn trong người được không? Có chắc gì tụi nó củ soát người tao và nếu mình dắt cho kỹ, cho thật khéo thì chắc đâu đã mò ra? Mà nói cho cùng tụi nó mò ra thì cũng làm gì tao? Bất quá tụi nó “giữ giùm” đến lúc tao ra về chớ có sao đâu nào?
Google photos
– Đâu được! Với thằng Sollozzo thì phải chơi cho chắc, không thể nói như mày! Nổ được là nổ liền, không ngần ngại. Nó trước, thằng cớm sau vì Mc Closkey chơi chậm, không đáng ngại bằng. Mày có dư thì giờ quá mà! Clemenza đã chỉ cho mày cách buông súng chưa? – Cỡ 1 triệu lần! – Thế gò má còn đau không? Sonny hỏi và đứng lên ngó. Michael vắn tắt: “Đau chớ” rồi cầm chai uýtky dở trên bàn tu một hơi. Có chất men vô thấy dịu ngay, nguyên nửa mặt bên trái nó ê ẩm, nhức nhối. Chỉ trừ mấy chỗ kẹp sắt có thuốc tê là cứng ngắt. – Thôi mày, rượu từ từ chứ Michael? Lúc này… – Im đi! Đừng lên mặt dạy dỗ. Tao từng chơi nhiều thằng bảnh gấp mấy lần Sollozzo và từng ở thế yếu hơn nhiều. Nó đã là cái thá gì? Nó có bích kích pháo, cà nông hạng nặng không? Nó có phi pháo yểm trợ… nó có mìn cả bãi không? Bất quá chỉ là một thằng láu cá, có thằng cớm gộc ngồi một bên chớ gì? Khi đã quyết định chơi thì tụi nó phải chết, khỏi có vấn đề gì hết. Quan trọng là mình quyết định và tụi nó thì chết đến đít chưa hay. Hagen bước vô gật đầu chào rồi tới mở tủ, lấy chiếc máy điện thoại đặc biệt ra. Nó quay lại mấy lượt rồi nhìn Sonny lắc đầu: “Chẳng có tin gì hết. Thằng Sollozzo không rỉ răng”. Có chuông reo. Sonny nhấc phôn lên, giơ tay ra hiệu yên lặng. Nó cầm bút ghi mấy chữ rồi trả lời vắn tắt: “Được… sẽ y hẹn”. Sonny gác phôn cười hề hề: – Thằng khốn Sollozzo chơi kỹ thật. Nó tính khỏi còn sót điều gì! Đúng 8 giờ tối nó và Mc Closkey sẽ đón Michael ở trước cửa quán Jack Dempsey. Rồi đi đến một nơi khác nói chuyện. Hai thằng nói với nhau bằng thổ ngữ Sicile và thằng Mc Closkey thì nó cam đoan là “tiếng Ý” cũng cóc biết chữ gì ngoài Soldi là lính. Nó còn điều tra mày xài qua loại thổ ngữ được kia mà, Michael? – Cũng may là cóc phải nói lâu! Hagen nhắc: “Còn thằng “trung gian” đến chưa? Phải nắm con tin rồi mới để thằng Michael đi được chớ?”. Clemenza xác nhận ngay: – Đúng thế, “con tin” đang ngồi đánh các tê với 3 thằng đàn em tin cẩn của tao, trong nhà tao. Đích thân tao phôn về tụi nó mới cho đi! Sonny mệt mỏi ngồi ngả ra ghế bành: – Bây giờ chỉ còn vấn đề địa điểm. Này Tom, mình có người gài bên cánh Tattaglias mà vẫn chịu, không moi nổi tin sao? – Chịu luôn. Thằng Sollozzo cấm có hé môi, vậy mới quỷ quyệt! Nó chẳng cần thằng vệ sĩ nào. Mình thằng Mc Closkey đủ rồi. Về cái vụ này bao nhiêu súng cũng chẳng bằng một màn bí mật. Đúng lắm. Có lẽ mình phải cho người theo dõi Michael rồi tới đâu thì tới vậy… – Không được! Một là tụi nó cho rơi mấy hồi? Hai là đời nào nó chịu cho mình bám theo? Nó sẽ củ soát vụ “đuôi” trước! Lúc bấy giờ đã 5 giờ chiều. Sonny nóng ruột mặt mày nhăn nhó, đưa đề nghị: “Hay mình đành chơi rừng vậy? Đợi xe nó vừa xề lại đón là thằng Michael quất bừa một loạt vào để thằng nào ngồi trong lãnh đủ?” Hagen lắc đầu: “Không được. Có chắc gì Sollozzo có mặt trên xe lúc này bây giờ? Thằng khác thì sao? Có phải chưa gì hết mà mình đã lỗ nặng không? Trời, phải làm cách nào biết được chỗ nó dẫn Michael đến!” Clemenza bỗng dưng có ý kiến: – Hay là mình thử đặt lại vấn đề. Tại sao nó phải chơi quá kỳ như vậy? Michael nôn nả giải đáp ngay: – Vì nó không thể chơi trò may rủi mà phải nắm chắc “an ninh tối đa” cái đã. Nó “phòng gian bảo mật” được đến đâu hay đến đó chớ đâu thể “đánh đu” với mình? Nó đánh hơi thấy nguy hiểm nên có “bùa” Mc Closkey bên cạnh mà vẫn chưa trọn tin. Bỗng nhiên Hagen búng tay “tách” một cái rồi nói như reo: – Có vậy mà cũng quên! Thằng Philips, người của mày ở đằng bót! Sonny, sao mày không phôn cho nó một cú hỏi dò coi? Nó là nhân viên thì phải biết xếp Mc Closkey giờ đó ở chỗ nào để có việc khẩn còn kịp liên lạc che chở chứ? Phải rồi, thằng cớm phải biết chỗ nó sắp tới… mà ở đằng bót thì nó có sợ gì mà không cho biết địa điểm? Phải không, gọi thằng Philips liền đi! Sonny nhấc điện thoại, quay số và nói khe khẽ vào ống. Nó đặt máy xuống: “Nó sẽ gọi lại cho mình”. Cả bọn chờ đến nửa giờ mới có phôn của thằng cớm. Sonny hối hả ghi mấy chữ rồi cúp máy. Mặt nó căng thẳng ra “Rồi”, vậy là chắc ăn. Trừ khi ở nhà… ngoài giờ làm việc muốn đi đâu xếp Mc Closkey cũng phải cho biết để tiện kiếm. Xếp cho hay từ 8 đến 10 giờ tối nay có việc gì cứ lại đằng quán Luna Azura trong khu Bronx. Có ai biết quán này? Tessio hớn hở: – Có tao đây! Luna Azura thì tao rành quá! Một chỗ tuyệt đẹp cho mình chơi. Quán nhỏ, chia từng ngăn ngồi cho ấm cúng. Thức ăn chiến. Kín đáo. Thực khách chẳng ai buồn để ý đến ai. Tuyệt diệu! Nói rồi lão đứng phắt dậy, bẻ vụn mấy điếu thuốc lá ra để lập “bản đồ hành quân” ngay trên buya rô Sonny. – Đây là cửa ra vào nghe Michael? Chơi xong là mày tà tà đi ra, quẹo tay trái, tới góc đường quẹo trái nữa. Thấy mày là tao bật pha lên cho xe vọt tới, mở cửa sẵn để mày nhào lên. Có gì nguy hiểm thì mày sẽ la lên tao sẽ nhào vô tiếp cứu… Còn Clemenza phải cho người đi “đặt” gấp khẩu 22 đi. Trong cầu tiêu của quán này có cái khe không ai để ý tới, ở giữa vách tường và bồn nước xả cầu. Lấy băng keo dính cứng nó phía sau bồn nước là tha hồ chắc, Michael nhớ sau khi xét người mày không thấy gì… tụi nó sẽ ỷ y. Đang ngồi ăn nhậu mày làm bộ nhăn nhó mót đi tiểu. Lại ấp úng xin phép đứng lên thì cha chúng nó cũng chẳng biết gì! Đi ra, có đồ nghề trong tay là mày nổ liền, khỏi chần chừ. Nổ ngay, đừng ngồi vô bàn. Chơi vào đầu, mỗi đứa 2 phát. Rồi giông lẹ lẹ… Sonny gật gù ngồi nghe coi bộ đồng ý lắm. Nhưng vẫn phải dặn Clemenza: – “Đặt” súng chú phải lựa thằng nào thật đàng hoàng, tín nhiệm 100% nghe? Đừng có để thằng em tôi vô rồi ra tay không là không được đâu! – Yên chí đi! Khẩu 22 này sẽ nằm đó liền tức thời! – Nếu vậy thì hay. Nào, tiến hành! Tessio và Clemenza lật đật đi trước. Hagen đề nghị đích thân lái xe đưa Michael lên New York, tới nơi hẹn song Sonny không chịu. “Mày phải ở đây. Thằng Michael chơi xong là tới lượt tụi mình mệt. Tao cần mày ở đây. Đã lo “mớm” đầy đủ cho mấy thằng nhà báo của mình chưa Tom?” – Kể như xong. Đã có móc nối sẵn… Tin tức bài vở sẽ ra đều, đúng như ý mình. Sonny đứng lên, lại trước mặt Michael, đưa tay ra bắt: “Thôi, mày lên đường đi! Tao sẽ lựa lời nói với má và con nhỏ của mày cũng sẽ có tin đúng lúc. Ô kê?” – Ô kê. Tao sẽ vắng mặt cỡ bao lâu? – Ít ra một năm. Đứng bên cạnh Hagen lên tiếng: – Ông Già có thể thu xếp mau hơn nhưng mày cứ kể một năm đi. Có thể rất nhanh… hay rất chậm, tùy thuộc nhiều yếu tố. Ăn thua gì mấy thằng nhà báo viết bài? Ăn thua ở phản ứng của bọn cớm. Ăn thua ở thực lực của mấy nhánh kia. Còn nhiều thứ có thể xảy ra nhưng chắc chắn nhất là tụi mày sẽ khó sống, nghẹt thở lắm lắm. Michael nắm tay Hagen: – … Ăn thua ở mày cố lo giùm tao. Chớ tái diễn vụ 3 năm xa nhà nữa thì tao khổ lắm đấy! – Nếu mày ngại thì… mình thay đổi chương trình liền bây giờ còn kịp chán! Mình thiếu gì biện pháp khác? Hà tất cứ nổ thằng Sollozzo? – Biện pháp thì thiếu gì thật… nhưng tao đã suy nghĩ kỹ rồi. Cả đời chăn ấm nệm êm thì lâm nguy cũng phải gồng mình chớ? – Đồng ý vậy. Nhưng chớ để tình cảm lấn vô. Đừng vì một cú đấm mà liều mạng, chắc mày hiểu vậy? Tình cảm và công chuyện làm ăn… Tom ngước nhìn lên và đây là lần thứ hai nó thấy khuôn mặt Michael lạnh tanh, in hệt Ông Trùm. Nó nói chững chạc: – Tom, mày mà còn phân biệt tình cảm với công chuyện làm ăn? Trên đời này cái quái gì chẳng là làm ăn, và tình cảm với làm ăn chẳng qua chỉ là một. Gọi là làm ăn thì gọi chớ tình cảm vẫn nằm sẵn ở trong. Mày biết tao học ở đâu không? Ở Ông Trùm, ở Bố Già, bố tao đấy. Ổng người lớn, ổng ngon lành ở chỗ nhận ra lẽ tình cảm bên trong bất cứ mọi sự việc. Một thằng bạn già bị sét đánh, một thằng con cứng đầu nhào vô TQLC rõ ràng là việc cá nhân. Kẹt chút tình cảm lại là việc của ổng. Ổng xem ra biết hết và lo hết. Một khi coi như chuyện rủi ro cá nhân thì tai nạn đâu có nghĩa lý gì nữa? Tao hiểu vậy hơi trễ nhưng còn hơn không chớ? Nếu cái mặt bể thì việc riêng của tao thì vụ Sollozzo thịt Ông Già còn là việc của ai? Cũng của tao vậy! Nhờ mày nói lại Ông Già là tao học được ở ổng rất nhiều và hoan hỉ có vụ này đền đáp lại. Ổng cho tao hưởng nhiều, ổng xứng là cha hiền, đúng vậy… Michael ngừng dặn dò, ngó ngay mặt Hagen hỏi: – … Nhưng có vụ này tao chưa hiểu. Ông Già đối với tụi tao hiền khô. Tao cũng như Sonny, Fred có mấy khi bị ổng đập? Mà Connie thì chẳng bị la bao giờ. Nhưng với người khác thì sao Tom? Tổng cộng ổng đã thịt cỡ bao nhiêu mạng? Hagen nhìn lảng ra chỗ khác, thong thả đáp: – Michael, có một cái mày chưa học được ổng. Đó là khoa nói. Có bao giờ ổng nói như mày, hỏi như mày đâu? Trên đời này thiếu gì việc bắt buộc phải làm và làm xong là phải quên luôn, khỏi nhắc tới? Lý luận giải thích làm gì? Có giải thích, lý luận được đâu? Cứ làm và quên phứt. Trán Michael Corleone cau lại. Nó nghiêm giọng hỏi: – Tao hỏi thật mày, trên cương vị consigliori mày có đồng ý để thằng Sollozzo sống là nguy hiểm cho ông già, cho cả mình? – Đúng. – Đúng hả? Tao phải giết nó. Trước cửa nhà hàng Jack Dempsey, Michael đứng đợi nãy giờ. Tám giờ thiếu 5. Nó sắp đến đón, thằng Sollozzo đúng hẹn lắm. Biết vậy nhưng Michael vẫn cứ để dư cả 15 phút. Từ nhà sang New York, nó cố quên những lời vừa nói với Hagen. Nếu nó nói sao tin vậy thì cuộc đời của chính nó bắt buộc phải lái theo một chiều, không thể có một lối thoát nào khác? Mai đây đời nó sẽ ra sao? Coi, cứ biết tối nay, lát nữa đây này. Cứ nghĩ vẩn vơ, dấm dớ thì chết liền tại chỗ, hết mai! Phải vứt bỏ hết để chỉ còn nhớ có hai đứa: một thằng cáo già và một thằng cớm gộc. Gò má Michael bỗng nhức nhối. Cũng may! Phải đau đớn thế này mới khỏi quên… Tám giờ, sắp đến giờ hát mà khu Broadway chẳng bao nhiêu người. Có lẽ vì lạnh. Đột nhiên có chiếc xe đen mui kín cúp cua chạy tới, chạy sát lề. Thằng lái xe nhoài người sang đẩy cửa kêu “Lên đi”. Không biết nó là ai, Michael nhanh nhẹn lên. Băng sau nguyên cặp Sollozzo – Mc Closkey. Thằng đường Thổ nhoài người lên đưa tay bắt. Bàn tay rắn chắc, ấm nhưng khô khan. – Rất mừng gặp anh bạn tối nay để ta giải quyết công việc cho xong. Mình phải làm lại… chớ để tình hình này nguy quá. – Tôi cũng muốn sắp đặt cho êm tối nay. Tôi không muốn ông già bị thêm nữa! Sollozzo lên tiếng rất chân thành: – Không có vụ đó đâu, anh bạn! Tôi dám thề trên đầu mấy đứa con tôi đấy. Chỉ mong anh bạn thông cảm… chớ đừng nóng nảy bốc đồng như ông anh Sonny thì mình chẳng có cách nào nói chuyện được! Tự nhiên Mc Closkey cũng nhoài người lên thân mật vỗ vai Michael: – Không… cậu này người đàng hoàng! Xin lỗi về vụ lộn xộn tối hôm ấy nghe Michael? Tôi nóng bậy quá… mà hồi này hình như có tuổi ưa nổi sùng bất tử, không dằn nổi. Đến phải cởi trả áo lính chớ điệu này tinh thần căng thẳng chịu hết nổi. Càng ngày càng chịu không nổi.
Google photos
Thằng đểu. Lão vừa cười nham nhở vừa đưa bàn tay vỗ vai, rờ rẫm coi bộ thân tình để đâu cho hết… nhưng bàn tay thô bỉ sục sạo một vòng củ soát nghề nghiệp khắp người Michael, những chỗ có thể dắt súng được là không bỏ sót. Thằng lái xe liếc sang cười nhạt. Nó cho xe chạy miết ra xa lộ ngoại thành, lúc lách ra lúc lách vô rất tự nhiên nhưng thằng nào lái xe bám theo là bại lộ liền! Ô hay, nó cho vọt lên cầu Washington. Vậy là qua bên New Jersey? Vậy là ngay thằng cho tin Sonny cũng hố? Nó cho xe phom phom lên dốc cầu rồi lên cầu thật, bỏ lại sau lưng thành phố chói chang ánh đèn. Michael cố giữ mặt tỉnh bơ. Điệu này thằng đường Thổ dám cho nó sang cánh đầm lầy New Jersey ngủ với giun… hay chỉ là một thay đổi chương trình giờ chót của nó để đánh lạc hướng tất cả mọi người? Xe chạy tới phân nửa cầu. Thình lình thằng lái xe biểu diễn một phát quay đầu xe độc đáo, người Michael muốn lật nhào một bên. Đang chạy ngon trớn nó xoay một phát vô lăng cho xe chồm qua lằn ranh nổi giữa cầu và khi trả lại tay lái thì chiếc xe đã quay đầu ngược hẳn lại, hướng về phía New York như không có chuyện gì xảy ra. Ở băng sau, cùng một lúc Sollozzo và Mc Closkey quay đầu lại ngó coi có chiếc xe nào cũng bất thần xoay một vòng 180 độ tương tự? Khỏi có. Xe tà tà xuống cầu nhằm đúng hướng Bronx. Nó còn lách thử qua vài con đường nhỏ chắn ngang để chắc chắn không có đuôi bám đã nên cứ vòng vo chạy đến 9 giờ. Sollozzo hoan hỉ đưa gói thuốc mời, rút một điếu hút và khen thằng tài xế: “Mày chạy ngon đấy!” Đúng 10 phút sau xe ngừng trước một nhà hàng nhỏ, ở giữa một khu phố tầm thường của kiều dân Ý, ngoài phố vắng tanh, bên trong quán loe hoe vài khách ăn khuya. Michael đã sợ thằng tài xế cùng bước vô là hỏng hết, nhưng may quá nó được lệnh ở ngoài xe. Cái vụ mang theo tài xế này cũng hơi bất hợp lệ vì như đã ước định qua trung gian, chỉ có 2 người nói chuyện với nhau và gã cớm ngồi bên mà thôi. Nhưng thây kệ nó ngồi ngoài, Michael cố tình lờ đi. Vậy là quá đẹp, tội gì để tụi nó nghi ngờ? Ba người ngồi ở chiếc bàn tròn độc nhất chính giữa quán, Sollozzo không chịu vô những bàn có ngăn kín. Cả quán còn có hai người khách, không biết có phải người của nó bố trí không? Mà bố trí cũng chẳng đỡ kịp! Mc Closkey hỏi quán này có gì hấp dẫn không thì Sollozzo đề nghị: “Thử gọi món bê con coi? Số một New York!” Gã bồi trong quán xách lại chai rượu chát, mở nút. Nó chậm rãi rót ra 3 ly đầy nhưng lạ quá, Mc Closkey không uống. Lão phân bua: “Có lẽ dân Ái Nhĩ Lan chỉ mình thằng tôi chê rượu! Tôi sợ thì đúng hơn. Bao nhiêu người chỉ vì nhậu mà chết cả cuộc đời!” Sollozzo quay sang Mc Closkey giải thích: – Xin lỗi Đại úy trước nghe. Câu chuyện giữa anh bạn Michael và tôi tối nay… tụi tôi xài tiếng Ý. Chẳng phải có gì quan trọng muốn giấu giếm mà chỉ vì có những danh từ làm ăn nói tiếng Anh không trôi vậy thôi. Tôi chỉ muốn thuyết phục anh bạn dàn xếp nội đêm nay cho xong mọi chuyện lộn xộn bất lợi cho tất cả mọi người mà? Đại úy đồng ý chớ? – Ô, có gì đâu! Hai người muốn nói với nhau cái gì thì nói. Tôi chỉ “nói” với cái đĩa bíp tết spaghetti này! Thế là Sollozzo giở thổ ngữ Sicile ra nói: – Xin anh bạn hiểu cho những gì đã xảy ra giữa Ông Trùm và tôi hoàn toàn chỉ do vụ làm ăn mà ra. Ông Trùm là người tôi hằng ngưỡng mộ và chỉ mong có ngày được ổng sai bảo. Đó là một sự thật. Có điều ổng cổ quá, ổng không chịu làm ăn theo thời thế, ổng không chịu đi vào ngành ma túy, dù ai cũng phải thừa nhận rằng chẳng có thứ gì sinh lợi lớn bằng! Ông Trùm nhất định không làm và bảo tôi: “Tôi không thể làm ăn với ông được nhưng phần ông cứ làm đi chớ?” Ổng nói vậy… nhưng sự thực đâu có giản dị thế? Tôi phải hiểu “cứ làm đi chớ” thế nào được, mình dân giang hồ mà? Không lẽ ổng nói ngay “Anh không làm chuyện đó được” đó thôi. Xin nói thực tôi kính mến và e ngại thế lớn của Ông Già thiệt… nhưng không thể vì ổng không muốn mà phải bỏ dở một công cuộc làm ăn sinh lợi, đó là lẽ tự nhiên. Do đó mới xảy ra chuyện đáng tiếc… Chắc anh bạn không lạ gì các cánh New York ủng hộ tôi, dù họ chưa công bố. Nhưng cánh Tattaglias thì đi hẳn với tôi, cùng ăn cùng chịu. Bây giờ không hoà giải gấp thì thế nào cũng có đụng độ lớn: Cánh Corleone sẽ phải chống tất cả mọi phe nhóm khác. Nếu Ông Trùm còn mạnh thì có thể chống được đấy. Nhưng giờ đây cỡ Sonny thay thế sao nổi và consigliori Hagen sức mấy mà được như Genco Abbandando ngày nào? Đó là lý do tôi đề nghị tạm hoà, tạm ngưng chống đối nhau chờ Ông Trùm bình phục đặng đích thân ổng thương nghị sau. Tôi đã thuyết phục cánh Tattaglias đồng ý bỏ qua vụ Bruno để tránh đổ máu nữa. Trong thời gian này tôi vẫn phải có ít việc làm ăn kiếm sống, trong ngành của tôi. Tôi không đề nghị cánh Corleone hợp tác làm ăn mà chỉ xin mấy ông đừng phá. Có vậy thôi, rồi sau này chuyện gì chẳng giải quyết được? Đề nghị của tôi có bấy nhiêu, tôi chắc anh bạn đủ thẩm quyền đại diện cánh Corleone để ta nghị hoà với nhau chớ? – Xin cho biết thêm về đề nghị khởi sự làm ăn của quý ông. Nghĩa là trong công cuộc làm ăn đó, gia đình tôi giữ vai trò gì… và được hưởng những gì đã chớ? – Nghĩa là anh bạn muốn biết chi tiết đề nghị của tôi? – Quan trọng nhất là điểm tôi muốn có những đảm bảo chắc chắn rằng sinh mạng ông già tôi khỏi bị đe doạ nữa… Sollozzo đưa cả hai tay lên than: – Trời đất! Tôi mà đảm bảo gì được? Trái lại mạng tôi đang bị săn đuổi là khác. Tôi đã bị hụt giò… mà anh bạn còn đề cao quá đáng! Chỉ cần nghe đến đây là Michael cầm chắc Sollozzo chỉ cần gặp mặt lần này để cố tình kéo dài thời gian vài ba bữa nữa. Nó rình thịt ông già và nhất định làm bằng được. Có điều khoái nhất là cho đến bây giờ thằng đường Thổ vẫn liệt nó vào hạng chết nhát! Một khoái cảm nhè nhẹ dâng trong người, nó thấy gây gấy sướng lạ. Michael làm bộ bần thần để Sollozzo cất tiếng hỏi: “Coi, sao thế?” Nó ấp úng, lúng túng mãi mới trả lời: “Tôi uống rượu không quen… Mới bấy nhiêu đó đã mắc tiểu tiện… Xin phép, tôi vô đi tiểu chút… được chớ?” Sollozzo ngó ngay mặt nó: “Mắc đái hả?”. Rồi nửa đùa nửa thực đưa tay sang rà rà chỗ bụng dưới Michael. Nó bèn làm bộ bực mình nhưng Mc Closkey trấn an: “Khỏi mò! Nó không có gì đâu, củ soát rồi. Kinh nghiệm quá mà?” Sollozzo rõ ràng không khoái những vụ đi tiểu tiện này. Không hiểu tại sao… nhưng không yên tâm. Nó đưa mắt nhìn gã ngồi bàn bên, cặp lông mày nhướn lên hướng về phía phòng vệ sinh. Lập tức thằng đó sẽ gật đầu ý hắn đã coi qua rồi, trong đó không có ai. Biết vậy Sollozzo cũng chấp nhận một cách miễn cưỡng: “Đi lẹ lên nghe!” Rõ ràng nó ngửi thấy một cái gì khác lạ… Michael đứng lên, đi về phía phòng vệ sinh. Vô trong nhà là lại bồn tiểu xả lẹ lẹ một bãi cho đỡ tức bụng rồi thong thả bước tới cầu tiêu, đưa tay mò phía sau bồn nước xả cầu. Có ngay! Khẩu 22 nòng cụt, nằm ngoan ngoãn nhờ lớp băng keo. Nó giựt ra, nhét vô cạp quần, cài nút áo lại. Clemenza biểu xài súng khỏi sợ dấu tay nhưng sau khi ra la va bô rửa tay, vuốt tóc nó lấy khăn tay chùi kỹ chỗ vòi nước… Mở cửa bước ra đi trở lại bàn, nó thấy ánh mắt Sollozzo nhìn trừng trừng. Michael tươi cười: “Giờ muốn nói gì thì nói”. Mc Closkey lúi húi đớp đĩa bíp tết spaghetti vừa mang ra. Gã ngồi bàn bên nãy giờ hồi hộp đã thở ra khoan khoái. Michael ra ngồi bàn. Nó nhớ Clemenza dặn đi ra là nổ liền nhưng không hiểu vì có linh tính hay vì chết nhát mà chưa dám. Rõ ràng nó có cảm giác bây giờ mà có một cử động khác lạ là bị quất sụm ngay. Ngồi xuống yên chí hơn nhiều, ít ra không đến nỗi chân run run đứng hết nổi. Sollozzo vươn người tới nói. Nhờ khuất cái mặt bàn, Michael khẽ mở nút áo, ngồi nghe ngoan ngoãn nhưng thực sự có biết nó nói gì? Mạch máu chạy quá mạnh, nghe chỉ thấy ù ù… Bàn tay mặt ở dưới bàn từ từ rút khẩu súng nhét cạp quần ra cầm tay. Đúng lúc đó gã bồi bước tới, đứng bên chờ và Sollozzo quay mặt ra kêu thức ăn Michael lập tức đứng lên tay trái hất bàn, tay mặt đưa khẩu súng kê sát đầu thằng đường Thổ. Phản ứng của nó đã lẹ. Michael vùng đứng lên thì nó đã né. Không kịp. Làm sao chơi lại tuổi trẻ? Michael nhấn cò. Viên đạn đi ngay màng tang và lúc chui ra phía bên kia đã phá một lỗ toang hoác. Máu, óc, xương sọ nó văng tùm lum đầy áo gã bồi. Khỏi cần phát thứ hai. Đầu Sollozzo nghẹo một bên, ánh mắt nó là ánh mắt người chết, rõ ràng nhìn đời lần cuối. Một giây đồng hồ sau, mũi súng hướng về Mc Closkey. Lão kinh ngạc ngó Sollozzo gục, không ngờ có chuyện. Làm như lão không dính dấp gì tới, không tin bản thân lão cũng lâm nguy. Mắt lão giương lên ngó Michael, cái nĩa xiên miếng bíp tết còn cầm tay. Dường như lão có vẻ bực bội… tại sao nó dám làm ngay trước mặt mình và không hiểu tại sao còn chưa vùng chạy hoặc nạp súng đầu hàng cho rồi. Michael mỉm cười nhìn lão và xiết cò. Viên đạn đặt đúng chỗ cổ họng bự như cổ trâu nhưng chưa đủ sức kết thúc Mc Closkey. Lão thở ằng ặc làm như mắc nghẹn miếng bíp tết quá lớn rồi hộc lên phun phè phè những tia máu li ti. Rất tỉnh táo, Michael thản nhiên đẩy tới phát nữa, nhằm giữa cái đỉnh đầu có mớ tóc bạc phất phơ. Đột nhiên chỗ nào cũng thấy máu. Michael quay phắt sang thằng ngồi dựa vách. Nó ngồi một đống, ngồi chết điếng không hó hé cục cựa mà quay nhìn chỗ khác, hai tay đặt ngay ngắn trên mặt bàn. Gã bồi ôm đầu chạy vô bếp, mặt trắng nhợt, mắt thất thần, hoảng hốt. Rất tự nhiên. Michael đưa mắt quan sát: thằng Sollozzo ngồi chết gục đầu trên bàn nhưng cả cái thân xác nặng nề của Mc Closkey đã nằm vật ra trên sàn nhà. Michael nhẹ nhàng buông súng, cho nó rớt trên mình Mc Closkey, lăn xuống sàn không tiếng động. Cả hai thằng có mặt trong phòng có thấy nó thảy lúc nào? Nó mau chân đi ra, đẩy cửa. Xe thằng Sollozzo còn đậu đây nhưng không thấy dạng tài xế. Nó quẹo tay trái tới góc đường quẹo nữa… và choá mắt vì pha đèn sáng rực của một chiếc xe cà tàng đang phóng tới, cửa xe mở toang. Nó nhảy lên, sập cửa là cả chiếc xe vọt cấp kỳ. Tessio ôm vô lăng, mặt lạnh như tiền. – Mày làm xong Sollozzo chưa? “Làm xong chưa”! Làm như “làm” xong một con nào vậy. Lão hỏi kỳ cục quá. Michael lạnh lùng: – Cả hai thằng. – Chắc không đấy? – Óc tụi nó văng tùm lum. Trên băng xe đầy đủ quần áo thay. Xe lao vun vút. Cỡ 20 phút sau Michael tà tà ngồi trong ca bin một chiếc tàu hàng sửa soạn nhổ neo sang Ý. Cỡ hai giờ sau tàu hướng mũi ra biển cả, bỏ lại phía sau cả một đô thị New York sáng rực ánh đèn hoả ngục… Michael thấy nhẹ cả người. Vậy là thoát. Cảm giác nhẹ nhõm, khoan khoái in hệt ngày nào… sư đoàn nó đổ bộ lên đảo đánh cận chiến ác liệt và vì một vết thương nhỏ, nó được cáng xuống xuồng cấp tốc chở ra tàu bệnh viện ngoài khơi. Thoát khỏi hỏa ngục. Đúng vậy, phong ba sắp nổi dậy ầm ầm nhưng nó có ở đấy đâu mà lo? Ngay sau ngày Sollozzo và Đại úy Cảnh sát Mc Closkey bị hạ sát, toàn thể giới giang hồ New York được cấp báo ngưng hết làm ăn! Khỏi có sòng bạc, ổ điếm nào được hoạt động. Phải tốp bằng hết… cho đến ngày tìm ra thằng khốn đã dám nổ một Sĩ quan Cảnh sát. Cả thành phố bố ráp tùm lum, tảo thanh liên miên. Dân giang hồ bắt buộc lặn hết. Ngay sau đó cánh Corleone được các phe nhóm bạn cử đại diện tới. Liệu đã sửa soạn nạp thằng sát nhân chưa. “Coi, cái vụ này đâu có ăn nhập gì với tụi tôi?” Thế là cư xá Long Beach ăn bom. Trong đêm tối một chiếc xe lạ phóng tới, thảy một trái nổ ngay trước cửa rồi vọt mất. Cũng trong đêm đó, hai gã đàn em thân tín cánh Corleone bị hạ một lượt. Đang ngồi ăn nhậu trong một nhà hàng Ý trong khu Greenwich thì bị quất sụm. Đó là khởi đầu cuộc Ngũ gia đại chiến của Mafia năm 1946.
Ở nhà phán Đức về, vừa đút đầu vô cửa, tôi thấy chị chủ sự ngồi cho một đống, cái mặt bí xị, vừa thấy tôi, chỉ thở ra, bệu bạo muốn khóc, cho hay tía thằng Như Phước từ trần ở Bạc Liêu, lúc nãy nó theo chỉ lại đây tìm tôi đặng nói mà về chịu tang, rủi không gặp và sợ trễ xe đợi bữa khác lâu lắm, nên cực chẳng đã, nó phải ra đi. Chỉ khuyên tôi đưa cho chỉ năm ba chục và nhờ người hay chữ đặt giùm tấm luỵ cho xưng đáng, đặng chỉ còn tốc xuống dưới thay mặt đi cái lễ điếu tang cho dễ coi. Tôi bắt tức cười vì trái tai quá tôi bèn nói lẩy: “Chớ chỉ cha chồng tôi chết mà được chỉ tử tế làm vậy, chẳng là đại phước”. Mình tính nói chơi, pha lửng vì mới làm thằng chà một cú đáng đích, ai ngờ chỉ đáp: “Khi mà đâu đó gần trúng đa? Cũng gần là cha chồng thiệt đó!” Tôi hét chỉ đừng có nói yêu, tôi nay làm vầy, non non ba chục cái xuân đứng bóng, còn thằng Như Phước, nó là con nít, còn học trưởng Taberd, độ mười bảy mười tám tuổi là cao lắm, thuở nay nó kiếng mình là cô bác anh chị! Khéo nói chướng nó nghe đặng, cũng như bắc thang cho con nít nó trèo đèo, không sợ mất cỡ hay sao?
Chị đang bệu bạo mới đó chớ phải, nay thấy tôi phát giận, chỉ vùng cười ngắc nghẽo thiếu điều làm xấu trên bộ ván, vừa chậm nước mắt, vừa nói: “Thằng Như Phước nó gần kiếng mấy là cô bác anh chị, chớ chưa mà! Ý! Cái con làm sao, mà người ta muốn nó như chết!… Bộ mầy giả đò sao chớ? Có lẽ nào mà mầy không biết không hay”. Tôi nghe bấy nhiêu ấy chưng hửng đành xuống nước, o bế, dịu ngọt, dụ dỗ, biểu chỉ đọc lại công cuộc đầu đuôi làm sao cho tôi nghe: Chỉ ngồi kể cho một giọt: những là lần nào tôi vô trưởng thăm thằng Hiền, con thầy phó Sốc Trăng, mà thằng Như Phước hay được thì thế nào nó cũng bỏ giờ học tập (étude) lén trốn ra dòm kẹt nhà khách (parloir) nhìn trộm tôi cho được! Lại nữa khăn tua tôi giắt chỗ nào, nó cũng làm bộ lấy xem rồi lén hun trơ hun trật. Chỉ nhắc lại mấy lúc gần đây nó lại nhà đánh bài tứ sắc chơi thua bạc trăm, là tại nó giành ngồi tay trên tôi, đặng có đánh đo đánh tháo cho tôi ăn, tôi tới. Bây giờ chị nầy nói, tôi mới nhớ mấy lần đi coi hát Tây hay chớp bóng, nó cũng giành mua vé, và khi vào ngồi trong lôi (loe) nó cố ý ngồi sau lưng tôi đặng có chờm tới trước kề bên vai tôi mà kiếm chuyện cắt nghĩa tuồng kia tích nọ sát bên tai bên lỗ nhĩ. Ý cái thằng, sanh bụng nguỵ mà mình không hay! Chị chủ sự nói nhắc sơ sơ như vậy thử coi tôi có nhớ chừng. Chớ thằng nọ thường than thỉ ỉ ôi với chỉ, thú thiệt mối tình éo le trong trắng nầy và thề rằng nó mà không lấy được tôi làm vợ chồng, thì nó sẽ phế hết sự đời, đi tu cho mát dạ. Chỉ khai thiệt rằng xưa nay nhờ nó cũng nhiều, nên nếu tôi không thương hại xuất tiền cho chỉ bổn thân đi điếu tang, thì chỉ cũng rán xuống tận Sốc Trăng mà đưa đám, cho vẽ mặt vẽ mày cho thằng đó. Trời đất ơi! Việc nầy mới khó cho tôi nhứt! Chị chủ sự nói đà hết tiếng mà tôi vẫn lưỡng lự như con cù lần! Cái tình thương lạ thương lùng làm vậy, khó cho tôi đáp lại được. Vô lý quá một già một trẻ, một thành thạo “con đi thầy”, một non măng đang mài đũng quần trong trưởng chưa rách? Mà suy nghĩ lại cho kỹ: tham thì bụng cũng có tham thật, vì tôi biết tía và anh thằng Như Phước là tay cự phú miệt Ba Thắc, chỉ kém chút ít ông hội đồng Trần Trinh Trạch, chớ nào thua ai. Anh nó, ông Như Gia đã ra riêng, bà già nó đã mất sớm, sự nghiệp của cha để lại, thế nào cậu công tử mũi trắng 1 nầy rồi sẽ phanh phui. Nghĩ cuộc phá su, thì đâu cũng là phá su! Vậy thì dụ nó phí của ấy với mình, còn hay hơn để lọt tay khác? Lập tâm rồi, tôi liền đưa chìa khoá tủ sắt cho chị chủ sự, biểu mở ra lấy năm chục đồng bạc trắng, đặt đồ đi lễ điếu ba chục, còn lại hai chục làm tiền ăn đi đường. Chỉ mở tủ, thấy một xấp hình của tôi, nhà Khánh Ký mới chụp, rôm lắm. Chỉ lấy ba chục đồng và một tấm hình, nài tôi bằng lòng cho chỉ đem hình ấy xuống cho Như Phước, còn hai chục đồng sở phí dọc đường, xin để cho chỉ chịu, rằng kẻ công người của, chỉ tỏ tình biết ơn Phước trót thể. Tôi thấy mụ nầy mấy lúc sau nầy tỏ ra rất khác lúc trước, vả lại nghĩa chị tình em, muôn việc chị nầy vẫn tính phần lợi cho mình hơn là cho chỉ, nên không biết nói làm sao, đành ừ đại cho chỉ đi.
Cậu công tử vừa chôn cha, sắp đặt việc nhà, làm mồ làm mả đâu đó xong xuôi, làm hai mươi mốt ngày vừa rồi, tom góp được trên muôn đồng (10.000$00), tuốt lên Sài Gòn, gởi một mở vô băng, còn phân nửa gói ôm lại nhà chị chủ sự cậy chị ta nói cho tôi chịu giữ giùm. Lúc nầy có máu mặt, nặng túi hơn lúc trước, nên coi dèo cậu ta dạn hơn lóng trước nhiều. Gởi bạc tôi chịu rồi, lại một hai nài tôi xin cho ở đậu. Tôi nghĩ khó xử quá, nên còn dùng dằng không nhứt quyết. Kế chị chủ sự chỉ rước nói để chỉ tính cho. Chỉ mới kêu tôi mà bỏ nhỏ rao Nam như vầy: “Chị biết bây giờ nó rảnh tay rảnh chơn, nên quyết tình với em lắm. Nếu em nói dứt khoát, rủi nó dại không kịp suy nghĩ, làm nư tự vận, có phải cái quả báo đó đổ dồn cho chị em mình mang hay không? Chi cho bằng em cứ cho nó ở đậu nhà nầy, rồi để chị kiếm một đứa sạch sẽ, cặp cho nó, cùng chung chạ tại đây, thì tự nhiên em tránh đặng khỏi tiếng đời dị nghị, nhà đông người thêm vui, lại bớt được tiền chợ phần nao.
Thiệt ba mươi đời, tôi có cái tật hay thương hại người lận đận, và hễ ai đờn êm tai thì tôi thích nghe, vì vậy mà oan oan trái trái nó buộc hoài không thôi. Rồi chị chủ sự lại bày vẽ, kiếm được con sáu Quế Anh học trưởng áo tím bị đuổi, đang chới với, chỉ cột cho thẳng công tử ruộng muối Bạc Liêu nầy, con nhỏ mén mà cũng sạch đời đúng bực, chưa chi xúi thằng nọ sắm cái xe Mi-lo (Milord) kiểu mới, mua ở nhà Laurent Gay ở góc đường Pellerin và La Grandière (Pasteur- Gia long cũ) chiều chiều thắng ngựa Bắc thảo, hai đứa nó cặp nhau đi dạo mát, coi hát xướng tới khuya lơ khuya lắc mới về… ngỡ là tánh con nít, vui đâu chúc đó, khuây lảng mối tình éo le và quên mình được: Ai dè, đêm nào như đêm nấy, canh khuya thức giấc vẫn nghe cậu ta than thở bên phòng:
– Cô Hai ơi! Cô Hai! Cô chích đôi, tôi lẻ bạn, cô ngại nỗi gì, ty hiềm làm sao, mà cái tình thương của tôi đã quá năm trời, cô nỡ dạ nào phủi đi cho đặng.
Ý! Cái thằng bình thường mủ mỉ ít ăn ít nói, mà ngót mười mấy đêm vẫn đờn một bản “tương tư xang xừ líu” tiếng nào tiếng nấy ân hậu thâm trầm… đời tục xưa nay thường ví: “Đàn bà hay lạt lòng”. Chớ tôi xuống núi là để báo oán thù ân, tôi là nguôi ngoai sự oán hờn cuộc thế kia đâu, mà hòng đáp tình xử nghĩa với ai bây giờ cho đặng. Khó cho tôi thật.
Lúc nầy tôi đang tích trữ sự bất công của xã hội đối với hạng đàn bà yếu đuối như tôi, cho nên từ ngày cậu nầy đến ở đậu trong nhà, hễ gặp dịp nào xẻ anh ta đặng thì tôi không hề bỏ qua, như nài bán hột xoàn, xúi sắm ăn sắm mặc, nhưng tôi để ý, khi mua chác vật chí, tôi nói mấy thì cậu ta tin bằng lời, chẳng bao giờ có một tiếng chê mắc chê rẻ. Vậy mà cậu ta còn ít bữa mua món nầy, ít bữa sắm món kia, bày biện trong nhà tôi còn hơn nhà đấu xảo. Cho đến cái xe ngựa nó mua tiền của nó mà cái phắc tua (facture) sau tôi hay được cũng để tên tôi đứng.
Ăn xài như vậy chưa đầy năm tháng, mà tiền gởi băng đã tiêu sạch. Con sáu Quế Anh thấy cậu không còn chi để gặm, đã sớm hát bài “tẩu mã”, quất ngựa truy phong. Mà ngộ, cậu công tử rảnh đặng cục nợ do chị chủ sự gán cho, coi bộ mừng chớ không buồn.
Cậu ta từ giã tôi nói về dưới lo việc nhà, định bán một mở ruộng nào đó và hẹn lối chừng nửa tháng hoặc hai mươi ngày sẽ trở lên và căn dặn tôi cái phòng xin để vậy đừng cho ai khác vô ở, vì cậu ta chí quyết ở đó chớ không ở chỗ nào khác hết, dẫu cho ở nhà hàng Tây Continental (Đại lục khách sạn) cũng không thèm!
Mấy chục năm về trước, lối 1920, miệt Hậu Giang chưa có hát cải lương, vẫn coi hát Tiều (Triều châu) làm môn giải trí lành mạnh. Thường diễn tuồng Tàu trên rạp vải cao cẳng và lộ thiên, thí coi không tiền và thường diễn tích con quan ra đường gặp gái. Con quan trung thì ưa việc nghĩa hiệp, tế khốn phò nguy, công tử nầy để mặt thiệt đẹp đẽ môi son răng trắng, con quan mình thì thích chọc gái, bắt cóc, hiếp dâm, vẫn giặm mặt có một bệt phấn dày nơi mũi, vì hun gái quá nên ra cớ đỗi, rửa không ra, gọi “bạch tỹ công tử” (công tử mũi phấn)
Việc ác tôi làm một ngày một đậm, không khác tay lỡ nhúng chàm, càng lâu càng thấm… Một bữa nọ, có thầy phó tổng ở Sốc trăng, lâu ngày quên tên, lên tìm tôi, rằng nghe tiếng đồn, nhà tôi cho vay lớn, muốn thế ba trăm mẫu ruộng thượng hạng, vay đỡ có được thì một muôn rưỡi, không thôi cùng cực thì muôn hai. Cậy anh phán Đức dắt lại. Đúc là thầy đờn cò, biết chữ Nho khá. Vào làm ăn tiền ngày, coi việc phiên dịch đơn từ chữ Hán ra quốc ngữ, sau toà dẹp ngạch phiên dịch và bổ hết nhân viên vào ngạch thông ngôn toà, Đức lên phán, vẫn ngồi ăn trầu bô bô và không nói được một tiếng Tây. Đánh phè hay, đờn tươi khá, và quen với tôi nhờ hai nghề nầy. Tôi nói: “Tôi mang tiếng cho vay đặt nợ, là cho nho nhỏ kia, chớ anh yêu nầy, ảnh lại không biết hay sao mả nói chuyện vay hỏi bạc muôn”. Anh phán nghe tôi rao Nam làm vậy báo hại thầy phó sửng sốt ngó tôi, phán Đức rước nói: “Thầy cai (kêu tâng) chưa biết bề thế cô Hai, chớ nói cùng mà nghe, bạc nhà cô có lỡ cho ra quá nhiều và chưa thâu lại kịp đủ số muôn đi nữa, cổ lại hiểm gì một tiếng nói mà không giúp anh em chúng mình hay sao?” Nói đến đó, Đức giả bộ lại gần bàn lấy điếu thuốc, thổi vào tai tôi câu: “Toa buộc xăng” (trois pour cent) là phần một mình cô, còn Đức nầy một bữa cơm cà-ri là đủ”. Nghe ảnh nói làm vậy, tôi mới chịu miệng, lãnh bóc giấy tờ, bằng khoán, hẹn với thầy phó hãy để đó cho tôi đi hỏi thử, được cùng không chiều mai trở lại sẽ hay…
Tôi tuốc lên đường Plerre Flandin (bà huyện Thanh Quan), rủ chị Tư Hào, cùng đi với tôi xuống đường Ohier, xóm chùa chà, kiếm nhà thằng chetty quen với chỉ. Thuở nay tôi tưởng chà xã-tri cho vay đặt nợ thì nhà cửa sang trọng lắm, vì xứ nó nóc chùa vẫn thếp vàng và bò của nó nuôi để kéo kiệu Phật, sừng vẫn bịt bạc. Nào dè vô nhà thằng xã-tri nào cũng y nhau, hai bên vách đều lót giường nằm bằng gạch trải đá bông chỉ chửa khoảng giữa một đường đi chạy theo dọc dài căn phố chừng hai thước bề ngang, giường hay ván nầy không chiếu liếp gì hết, và đứa nào như đứa nấy, từ chủ gọi tàu-kê (thầu kê: đầu gia, tiếng Tiều) đến thằng tớ nấu bếp cà ca-ri, đều ở trần trụi tnù, tớ khác chủ là không được nằm ngồi trên giường nầy, và trưa trưa chủ tiệm chà vẫn nằm trườn trên ván như cá sấu trườn bãi, xem tục tĩu quá chừng.
Chúng không dám lót gạch hoa dưới đất vì sợ tốn nhiều tiền, nhưng gạch Tàu của chúng, lau quét thường ngày, trông đỏ au láng bóng. Tôi cố không nhìn cảnh thô tục trước mắt và rán nín thở để khỏi hít mùi nị, mùi chà đặc biệt của chúng. Tôi đưa bằng khoán cho lão tàu kê tên là Annamalé-chettyar coi, tôi trừ hao, nói muốn vay hai muôn (20.000$00) tính chận một mở để xây xài.
Annamalé hai tay cứ cuốn kèn tờ bằng khoán, miệng nói tía lia giống gì với chị Tư Hào, tôi không nghe được tiếng nào, còn con mắt nó vẫn đảo lên đảo xuống ngó tôi trân trân từ ngực đến mặt rồi ngó xuống thân dưới, tôi mất cỡ quá mà phải rán chịu, đoạn nghe anh ta cười hố hố như thằng ngáo, rồi day lại nhìn tôi không chớp mắt và nói: “Cô để đó, mập-lê 1 biểu luật sư coi kỹ, rồi nói lại với chú Tư, chị Năm, đước?”. Tôi nhìn nó rồi cười và nhại lại nó: “Đước! Đước? Biểu chị Tư nầy, lại cái nhà tôi, cho tôi hay. Đước! Đước!
Qua bữa sau, sớm bửng tưng đã thấy chị Tư Hào đến nhà, ngắt yêu tôi mà rằng: “Thằng Annamalé nó thấy cô hôm qua, nó thèm nhau nước miếng. Hồi hôm nầy nó lại nhà tôi, năn nỉ biểu làm sao cũng dắt giùm nó tới cho biết nhà cô. Con nai nầy nó chịu đèn rồi, chỉ còn chớ cô hạ nó một phát rồi làm thịt. Nhớ chứa cho tôi bộ răng hàm trên để làm bàn nạo nạo dứa. À! mà thằng ấy nó nói muốn cậy cô bán giùm nó li cái hột xoàn người ta không chuộc và đã quá ngày. Nó lo le cho tôi xem sáu hột bự, thiệt là đích đáng, mà đời nào nó giao cho tôi. Tôi ừ và biểu chỉ muốn dắt nó lại thì dắt, chiều tôi có mặt ở nhà thường. Sau đó tôi cũng dặn trước chỉ đôi điều kẻo vuột con nai tơ nầy thì uổng lắm.
Chị Tư Hào vừa về thì tôi tuốt lại nhà chị chủ sự, thuật hết mọi việc cho chỉ nghe, chỉ cười ngất, biểu tôi mau lập tâm thê nào để lật ông táo lửa nầy chơi một chuyến bỏ đi uổng lắm. Nó cắt cổ người Nam mình đã nhiều rồi. Tôi hội ý ra về, nhứt diện nhắn thầy phó rằng việc coi dẻo thuận chiều, xin phiền thấy rán đợi ít ngày, nhứt diện viết thiệp mời anh tư Ve (Pierre Nguyễn Thuận) làm chủ tờ báo không ai đọc “Tiếng kèn” (Le clairon, vì viết tiếng Pháp), mời ảnh gấp qua nói chuyện cần. Tội nghiệp mới mười một giờ rưỡi chưa kịp về nhà ăn cơm, anh Ve đã đến, hỏi từ ngoài cửa hỏi vô:
– Cô chủ nhà ở đâu? và chuyện gì cần kíp lung dữ vậy?
Tôi đáp:
– Có. Có việc lớn và gió lớn 2 chớ không, ai dám làm nhọc lòng anh Ve của tôi. Thôi, lại tủ rượu lấy ly chai và uống áp-bê-rô (appéritif) đi, rồi ở lại đây ăn cơm với tôi, tôi sớm mai nầy làm siêng ra chợ mua được mớ đuông chà là ở Cà mau đem lên, ngon lắm. Mà anh biết ăn đuông chớ?
Tới bữa ăn, tôi mới đọc hết công cuộc thằng xã tri dê, muốn làm bảnh gởi hột xoàn bán giùm, và cậy ảnh chịu khó đừng đi đâu, và cho tôi mượn cái oai của ảnh ít bữa đặng kiếm tiền xài tết. Anh Ve nghe tôi nói tới đó, vùng ngừng hớp rượu, hỏi: “Oai gì? Ở đâu mà mượn? Mượn làm cái gì chớt Mà làm sao cho mượn được?” Tôi cười, ra dấu cho ảnh nín, nghe tôi cắt nghĩa: “Oai là anh từng đi lính sơn đá cho Pháp. Anh có Pháp tịch. Tưởng anh bậm trợn vằm vỡ, tiếng anh rổn rảng oai nghiêm, nên mượn anh giả đò làm chồng cho…”
Mới nói có bao nhiêu đó, Tư Ve nghe kịp, khoát lia khoát lịa mà rằng:
– Thôi! Biết rồi! Thiên cơ bất khả lậu? Em tính trát đặng lột da con lọ nồi ấy phải không? Em biểu làm sao qua cứ việc làm y theo vậy, y không sai chồng thiệt chút nào, nghe không?
Tôi nguýt ảnh mà rằng:
– Chuyện thiệt, đừng có nói giỡn, không nên. Rán cho giỏi người ta biết ơn, người ta kiếm cho một con mèo còn bảnh bằng mười tôi đây nữa là. Chiều, hết giờ làm việc, đi thẳng về đây, ăn cơm, nghe không!
Trời vừa chạng vạng, thằng chà Annamalé ngồi xe kiếng với chị Tư Hào, nó vừa bước vô cửa thấy anh Tư Ve ở trần trụi trụi nằm trên ghế xích đu đương đọc nhựt trình, thì nó dội ngửa muốn thối bộ ra rồi. Tôi lúc ấy đang nằm trên bộ ván cũng đương coi truyện, tôi lật đật bước xuống võng cái một, miệng với kêu:
– Ủa. Nầy chị Tư, ê. Anh Bảy. Vô đây chơi mà. Có sao đâu mà sợ: Ngại cái gì?
Rồi tôi chạy lại vỗ vai thầy Ve và giới thiệu giòn giã:
– Nè mình. Đây là chị Tư Hào, ở đường Pierre Flandin, bạn với tôi từ hồi nhỏ. Còn đây là ông Annamalé đường Ohier, tay buôn hột xoàn, đem xoàn định nhờ tôi bán giùm.
Thầy Ve cũng ứ hự có chừng và chào hỏi lơ là. Tôi mời khách ăn trầu hút thuốc, hối trẻ pha trà mới, rồi giả bộ như trực nhớ việc gì, vùng gọi thầy Ve mà rằng:
– À mình, hồi trưa mình dặn tôi nhắc mình chiều nay xuống nhà Cafford lựa mua súng sáu giùm cho ai đó, mình đi hay không?
Thầy nói:
– Ừ, phải à. Đưa tiền đây đặng tôi đi cho kịp trước giờ hãng đóng cửa. Mua để bỏ túi, hộ thân, chớ mua giùm cho ai đâu.
Tôi xin lỗi khách và lật đật mở tủ sắt lấy tiền đưa cho Ve, anh ta đốt thuốc hút, đội nón xách can (canne, gậy) lấy tiền bỏ túi, rồi dặn lớn:
– Tối nay mình biểu thằng Bốn ngủ ở hàng ba gần cửa có lẽ tôi đi đánh thín cẩu nhà thầy Bảy Phương, khuya hay gần sáng về kêu cửa khỏi làm mất giấc ngủ của mình. Thôi, chào hết các bà con, tôi đi đây.
Thầy Ve sấp lưng vừa ra khỏi nhà, chị Tư Hào hỏi:
– Bộ đêm nào thầy cũng đi như vậy hay sao?
Tôi thở dài, than và liếc anh chà:
– Ôi, anh ấy hơi đâu mà nói. Đêm nào như đêm nấy đều bỏ nhà đi như vậy hết. Mê chà bài hơn mê vợ nhà. Có khi đi tới sáng rồi ở luôn đâu đô, tôi nào thèm nói tới đâu.
Lão táo lửa nghe thâm mật đắc ý, bản mặt tươi như đồ sơn mài vừa đánh bóng xong, nhai trầu ăn lá nầy qua lá kia, và nuốt cốt trầu ráo trọi. (Do nước cốt trầu nói nhanh nên mất chữ nước) Tôi láy một cái, chị Tư biết ý, đứng dậy đi ngay xuống nhà dưới, rồi ở luôn không lên. Khi ấy tôi mới xít ghế lại ngồi gần sát mặt lão táo, hôm ấy tôi có xúc chút ít dầu Coty mùi vừa nhẹ vừa kích thích, tôi đảo cặp mắt như thu hồn táo và chậm rãi biểu lấy hột xoàn cho xem. Tôi thở một hơi dài cho bao nhiêu quyến rủ trong tôi toả ra, tôi chê có một hột có tì, và nước không được sáng. Lão ta, miệng thì nói “Đâu có! Đâu có!” mà cứ cúi riết gần sát mặt tôi còn mắt thì hột xoàn không ngó, tôi bụng tưởng lão coi miếng trái tim tôi đeo giữa ngực cũng có một hột kim cương nhỏ, nhưng dè đâu hôm đó vì trời oi ả, tôi chỉ mặc có một chiếc áo mát thật mỏng, lời cặp nhũ đội thẳng cứng tấm hàng không che đậy, lão táo lửa dục đương bửng, không đè nén được, lão kề mặt và liều mạng hun đại giữa hai ngọc nhũ sương còn ngậm. Tôi tuy có đề phòng trước, mà hồn vía cũng gần lên mây, vì cuộc xung đột bất ngờ quá. Tôi xô đại anh, làm mặt giận, dợm la lên. Anh chà, tay nắm cánh tay tôi lại không cho la, miệng xin lỗi láp giáp, rằng bởi quá thương nên không dằn được. Tôi cười duyên giả đò nguôi cơn giận, lấy một áo bà ba bận thêm và cất tiếng kêu lớn chị Tư ra nói chuyện. Khi ấy tôi biểu Annamalé như muốn tôi bán giùm mấy thứ ấy, thì phải làm giấy đàng hoàng, bán đứt sáu hột đó cho tôi, mỗi bột nặng mấy ca-ra và giá là bao nhiêu, đặng cho tôi đưa giấy ấy làm bằng cớ mà làm giá bán. Chớ không giấy không tờ, đời nầy lắm giả dối, đồ quí mà không lai lịch là đồ giả, người ta có tiền mua thì phải xét nét, chớ phải cá tôm gì ngoài chợ mà mua ẩu mua mở không cần giấy tờ làm chắc.
Chị Tư Hào lại xen vô:
– Ôi! Mà chiều mai nầy là ngày thứ bảy, không biết thầy ở nhà có đi đâu không?
Tôi đáp tỉnh bơ:
– Nào ai biết được anh tôi muốn gì. Mà chiều thứ bảy, có lệ, không đi đánh bài thì cũng thả sáng đêm, nhậu nhẹt hút xách hay làm gì, tôi chả có biết. Mà người ta đang nói chuyện mua bán hột xoàn mà chị lại hỏi bắt quàng làm vậy, thiệt lả lảng nhách!
Thằng chà nghe biết tối mai thứ bảy chồng tôi không có ở nhà, liền chịu miệng, nói để mai, cũng chừng nầy, sẽ đem giấy lại. Còn sáu hột kia, cứ biểu tôi cất đó giữ giùm, không sao mà sợ.
Qua ngày sau, trưa mười một giờ rưỡi, thầy Ve lót tót lại nhả tôi xơi cơm. Tuy thầy với tôi chưa có cuộc ái ân gì, chớ từ ngày quen biết nhau, thì tôi bắt gân mặt biết thầy đã có tình gắn bó. Bởi vậy, cơm nước xong, thầy lại than mệt và nài xin ở lại nghỉ trưa, tôi cũng không trái ý, nhưng tôi để nhà cho thầy nghỉ ngơi gì mặc ý, tôi thả lại nhà chị chủ sự đánh câu tôm chơi cho đến bốn giờ chiều tôi mới về nhà. Ông cậu còn nằm liều chưa dậy. Những ai chưa quen tánh mấy bợm đa tình, ắt là khó chịu, chớ biết ý rồi, thiệt dễ như trở bàn tay. Tôi hối trẻ coi nước rửa mặt, chải nón, đánh giày, rồi tôi phải làm tuồng mơn trớn mới trục nổi con dê xồm nầy rời bộ ván. Tôi nhắc lại chuyện giao kết hôm qua, dặn nhỏ thầy đi chơi ở đâu thì đi, nhưng lối chừng bảy giờ rưỡi tám giờ phải nhớ về lập tức và làm như vậy, như vậy.
Google photos
Thầy Ve đi rồi, tôi biểu dọn cơm chiều ăn sớm hơn mọi bữa, dọn dẹp xong, tôi bê lúi cho bầy trẻ được nghỉ chiều nay đi coi hát bóng hay thả đi đâu thì thả, chúng mừng quá đồng đi tứ tán hết, không thằng nào ở lại nhà. Tôi chờ trời tối thiệt mặt, tôi thay một bộ đồ đen mới, dầu phấn hương xông xạ ướp xong xả rồi, tôi nhắc ghế xích đu ra hàng ba nằm đợi. Trong nhà tôi thắp cây đèn ánh sáng dịu mát lu lu, cửa rào khép kín, ấy là kế trốn khách, sợ rủi có cha nào lại bất tử mà lỡ hết cơ mưu sắp đặt. Cũng may, không rõ nhờ ông bà khuất mặt nào độ, khiến tôi phòng bị kỹ càng như vậy chớ bữa đó không có khách nào lai vãng hết. Và cái thói chờ đợi ai thì sao thấy thì giờ đi lâu quá. Tôi nằm khá lâu lâu, hơi sốt ruột, sợ con cá kia sẩy câu, nào ngờ chú xã tri kia cũng sốt ruột như tôi, anh ta tới hồi nào không biết, và đang đứng đợi sẵn ngoài ngõ. Tuy hẹn thì hẹn đúng bảy giờ, chớ trong bụng tôi chắc thế nào chàng ta cũng tới trước. Đến chừng nghe đồng hồ “con ngựa” gõ bảy tiếng, mà chưa thấy tăm thấy dạng, tôi mới bước rảo ra ngoài coi thứ, ai dè, vừa mở cửa ngõ, trời thì tối không thấy bóng người, thinh không vùng nghe tiếng hỏi: “Chị Hai! Phải chị Hai!”. Tôi gượng gạo hỏi “Ai? Ai?” mà hồn vía đã lên mây, rùng mình rởn ốc. Bộ anh ta nghe tiếng hỏi run en, biết tôi sợ, nên bước trở tới và nói: “Tui? Tui! Anh Bảy Annamalé!”. Coi kỹ lại, “cục tình” của tôi cắc cớ, bận áo bành-tô (paletot) đen bằng nỉ ăng-lê, vận chăn màu sậm.. nên khi nãy tôi kiếm không ra. Hú hồn.
Tôi xây lưng trở vô nhà, ngoắt anh ta biểu theo. Vô đã tới hàng ba rồi, miệng còn hỏi: “Anh đi rồi? Thiệt?” Tôi vừa ừ, vừa ra dấu cho biết chỉ có một mình tôi ở nhà, còn cửa thì khép sơ lại đó. Tôi ra áo dài, thay áo mát, rồi biểu Annamalé cởi áo bành tô kẻo nực, tôi bổn thân giúp mở từ cái nút áo, sờ soạng làm chết tê cả mình thằng chà. Thói của họ là hay ở trần, nên khi nghe tôi biểu không đợi mời hai lần, anh ta cổi tuột cái áo, thấy sẵn có cái gạc nai gần cửa buồng, anh ta móc áo vào đó, lại làm bộ đút đầu dòm vô trong và khen “tốt quá!”. Tôi vặn đèn trong buồng, rủ vô coi, rồi bước lại đứng gần Annamalé, biểu: “Đâu? Đưa cái giấy bán hột xoàn đây cho tôi coi?” Anh Bảy Chà vừa nói “Giấy ở trong túi áo, lát nữa sẽ coi”. Tôi chưa kịp trả lời, thì nghe ngoài cửa có tiếng thầy Ve kêu giựt giọng: “Hai ơi. Ra biểu.” Tôi làm bộ sợ run, vừa chỉ dưới sàng và ra dấu mau mau chun xuống đó trốn. Tôi bước ra ngoài hỏi Ve:
– Chỗ mình không đi coi hát hay sao?
Ve sân si:
– Coi cái gì? Hỏi lảng nháchb. Cái áo bành tô của ai máng đây đây? Chịu thiệt đi! Không, tao bắn nát óc.
Tôi làm bộ khóc nhếu nhàu còn thầy Tư Ve thì đâm sầm chạy thẳng vô buồng kiếm dáo dát. Vừa thấy anh chà ngồi núp dưới giường, anh ta liền móc súng nhắm bắn. Tôi a lại nắm tay thầy, miệng vừa khóc vừa biểu nó chạy. Cơ khổ, nó ở trần trùi trụi, thoát ra được khỏi buồng, bất kể là bàn là ghế, tuôn ra khỏi chạy tuốt.
Thầy Tư Ve và tôi dáy mặt vào vách mà nó nôn cười hòng chết. Đó rồi, thầy khoá cửa lại, soạn ra coi: cái bốp no nóc, bóc ké! Tôi rút ra cái giấy bán hột xoàn, còn bạc báo nhiêu xin nhường cho thầy, đền ơn khó nhọc vì đóng tuồng hay quá. Ve, cái hào hiệp gốc sơn đá không bỏ, dê xồm tổ mẹ, một hai từ chối, lấy ra đâu sáu bảy tấm giấy xăng và một mở bạc nhỏ, thồn đại vào túi áo của tôi, giả đò lỡ tay, khều sơ nhũ hoa, rồi cười bịch hạc nói có muốn thật tình đền ơn thì bao cho thầy đi coi hát đêm nay thì thầy mới chịu.
Tôi buộc lòng phải thay đồ đi với thầy rồi gì nữa với thầy đêm ấy, kẻo phụ tình người ta gắn bó bấy lâu.
Sáng ra tôi mệt mỏi, ngủ trưa hơn mọi bữa. Đâu lối gần chín giờ thì chị Tư Hào ở Pierre Flandin xuống, cho hay thằng xã trì sai chỉ đem trả tôi giấy tờ của thầy phó Sốc trăng và năn nỉ tôi xin cho lại những giấy nợ trong bóp. Aunamalé nhắn biểu tôi để ít bữa cho chồng tôi ngôi ngoai, rồi kiếm cớ nào vô nhà chị Tư Hào cho nó thăm, kẻo nhớ lắm. Còn mấy cái hột xoàn đó, như bán có lời để nữa nó chia hai. Tôi dặn chị Hào về kiếm điều đẩy đưa với nó, rằng tôi bị ảnh ghen đánh tôi xể mặt xể mày hết, nên mấy vết chưa lành, tôi chưa đi được. Tôi nhắn hỏi thăm anh Bảy có hề gì không? Rồi để vài bữa nữa như nó còn nhắc tôi thì giả bộ đi đâu đó rồi về thuật cho nó hay chồng tôi lột đồ nữ trang cất lên hết rồi không cho tôi đeo đến một phân vàng là vì bị tôi lén vô nhà chỉ nhưng đi nửa đường bị ai đó mách, thầy theo bắt trở lại. Bây giờ thầy ghen dữ lắm, sợ nói ra đi đâu, thầy bắt đặng một lần nữa thì ba mạng tôi cũng khó sống. Tôi căn dặn chị Tư Hào rành rọt rồi đền ơn trọng hậu cho chỉ ra về. Khi ấy tôi mới lại đằng anh Phán Đức, trả bằng khoán cậy nói lại với thầy Phó rằng đôn nầy rủi tôi bận việc quá, mà việc nầy giao cho ai cũng không xong, vậy hãy để hưởn hưởn tôi rảnh bớt, sẽ cho ảnh hay đặng nhắn thầy phó lên. Có cái tôi đích thân tôi đi lo, thì mới thảnh việc đặng.
Mập-lê là tiếng điếm đàng của bọn chà, không biết chữ viết ra sao, duy biết có nghĩa là chàng rể, tức là muốn làm chồng của người đàn bà đối diện với nó khi đàm đạo, cũng như tiếng “anh Bảy” là dịch chữ “bey” là một ngôi chúc bên xứ nó, tỷ dụ le Bey du Sénégal, v.v…
Gió lớn: đại phong, tiếng lóng của giới lục lâm, có nghĩa là món làm ăn lớn tiếng mượn trong truyện Thuyết Đường, do Trình Giảo Kim, đi ăn cướp đón đường lần đầu, gặp mồi ngon, hô: “Hữu đại phong Đại phong
Nay nhà đã có, ổ đã dọn, tôi mới quyết tâm lập chí, chịu cực chịu khổ, nhịn ăn nhịn mặc, định trong bụng làm sao phải cỏ một sự nghiệp không thua họ là người xưa kia đã bóc lột tôi, thì tôi mới nghe!
Mà chung qui tôi nói vậy chớ bao nhiêu đường cũng dẫn dắt tới thành La Mã, hết lớp nầy đến lớp khác, thì cũng dùi đánh đục đục đánh săng, người bóc lột người… không khác. Cái nghề làm mẹ đĩ, chủ nhà chứa, nói ra nghe nhục nhã, nhưng nếu không nói huych tẹt ra, thì đoàn đi sau biết đâu mà tránh?
Vậy trước hết tôi lo về xã giao, học dọ coi trong đám mấy ông thầy chịu chơi, ông nào có quyền, thầy nào có thế mạnh, hoặc lanh lợi, hoặc giỏi nghề tráo chác xoay trò, hoặc nữa giao thiệp rộng có quen lớn dưới lục tỉnh nhiều, những người ấy, tôi đều tìm cách làm quen, mời thỉnh người ta đến nhà, khi tiệc yến khi tổ chức đờn ca, trọng đãi họ, để cho thấy nhà mình toàn là những người tai mắt, có thế lực đến chớ không phải hạng tầm thường. Vả lại nhà tôi lúc ấy sắp đặt có nghi tiết lắm: tôi trai tớ gái không thiếu, thảy đều ăn mặc sạch sẽ, áo quần là ủi thẳng thớm, lại biết khuôn phép, lễ nghi, ăn nói dạ thưa, đãi đằng bặt thiệp. Tôi nay là chủ nhà, phải học lại cách xử thế, tập tánh niềm nở với tất cả mọi người, vừa chiều theo ý khách mọi bề: ai muốn chơi theo cách gì, thích đánh cờ, làm thi, ngâm thơ, uống trà, nghe ca hát, tôi phải chạy cho ra và rán lo làm đẹp lòng đủ các giới. Bởi vậy trong nhà lúc nào cũng rần rần rộ rộ: muốn ăn có ăn, muốn uống có uống, muốn hút cỏ hút, muốn cờ bạc có cờ bạc, thậm chí muốn hầu lịch gái xinh, tôi cũng phải kiếm tìm cho có. Danh từ đĩ thầy, điếm chúa có từng làm mới có biết. Khuyên ai chưa đạp cứt chớ chê dơ! Trong nhóm đến nhà thiếu chi khách đa tình, sớm chiều đeo theo một bên, tôi để cho họ mặc sức ve vãn, phận tôi tôi biết tôi giữ lèo giữ lái, không tỏ tình thân thiết ai hơn ai, với tôi ai cũng giả dạng lưu tình, nhưng tôi phải chờ đợi lọc lừa trước đã, sợ nhứt là cảnh trong sân một mái mà đến mấy trống, e nỗi xảy ra cuộc tranh giành xích mích thì cơ đồ tan rã sụp đổ hết còn gì. Bởi khéo xử cho nên cậu nào cậu nấy đều sẵn lòng chịu khó chịu nhọc, toan lập công để mua chuộc lòng tôi. Lần lần một người khen một tiếng mà tiếng đồn đi khắp lục tỉnh, mấy tay cự phú đều có ghé nhà, mỗi khi họ lên dây, hoặc đi hầu kiện, bán lúa, hoặc đưa con lên học trường lớn, vay hỏi bạc chà, hay lên mua sắm đám cưới đám ăn khai bằng, vân vân. Vả lại nhớ quen lớn nhiều, nên sanh ra nghề mới, các tiệm buôn hãng lớn nào trữ bán vật chi, tôi đều thông thạo, và biết rõ món nào chỗ nào xấu tốt, tôi hoá ra có cái nghề nay gọi là mại bản, mà lúc đó gọi theo Tàu là má chính hay mái chính gì gì đó. Rồi nghề dạy nghề, lần hồi các tay thiện nghệ về mua bán lúa gạo, mấy nhà thầu, tài công nhà máy, họ đua nhau dạy tôi, chỉ mánh lời, thế thần mua đi bán lại làm sao cho có lời nhiều. Nhiều khi tôi lãnh mua đồ giùm, một đám mà ăn lời hai phía lãnh bán một ghe lúa, thạnh có bạc trăm, mà chủ ghe lúa lên nhà tôi chơi, phải lễ mễ, tính chuyện ơn nghĩa, lại còn bài bạc cho tôi lấy tiền xâu là khác. Ai hỏi qua việc kiện thưa, tôi phải đóng vai cố vấn, chỉ luật sư nào giỏi việc hộ, việc hình, ông nào miệng lưỡi lanh lợi, thầy thông ngôn nào có tài thông dịch trôi chảy, quan toà mau hiểu và xử án không lầm, thầy nào đem đàng dắt mối rành, thảy thảy tôi đều quen biết. Gẫm lại mình là đàn bà, nếu biết nhỏ nhẹ, khéo trong lời ăn tiếng nói, muốn cậy mượn chuyện chi, đàn ông nào lại không sẵn lòng vừa giúp? Nhiều khi tôi lãnh bướng quá nhiều công chuyện mần (làm) không hết, thế mà tôi chỉ viết thơ cậy ông nầy thầy nọ, họ xởi lời giùm tôi mà việc cũng xong, lại được gãy gọn, công thì của ai không biết mà tiền thì tôi bỏ túi không sót một đồng, thiệt là sướng quá!
Những lúc tôi chạy bận như vậy, thì ở nhà đã có chị chủ sự coi sóc, lớp lấy xâu mấy sòng bài cào, tứ sắc, xì phè hay thín cẩu (thiên cữu). Tay nào chắc chắn mà hụt vốn thì chi ra bạc cho họ ngồi sòng, như may ăn, thì chỉ vuốt lời có bạc chục, rủi thua thì họ là giới giang hồ mã thượng, nào ai chạy chối đi đâu? Tuy lúc hỏi mượn, không giấy không tờ mà còn chắc hơn có trước bạ hay có cầu chứng nơi toà? Vả lại cái miệng của chỉ đó có vừa với gì, ai lại không ghê không sợ cái miệng ấy! Nơi nhà tôi, chỉ còn kiêng dè, chớ với bạn hỏi chỉ tiền ngày tiền tuần tiền tháng, thì ối thôi! Một ngày chí tối, chỉ ra rả không biết lấy gì mà chứa! Đối với bọn cờ bạc, gái tứ thời, chỉ còn cắt cổ siết họng hơn nữa: bắt góp từ ngày, nếu không góp, chỉ đến canh tại nhà, khách vừa ra là chỉ chìa tay thâu tiền răng rắc. Tiếng nói “tiền vay vốn là một trăm”, thế mà chỉ đưa ra có chín chục, chận lại tiền đầu, mười đồng trước, chịu thì cho, bằng không chịu thì hãy xê ra chỗ khác. Rồi một trăm ấy, mỗi ngày phải góp một đồng hai cắc (1$20) và góp đủ một trăm ngày mới hết nợ. Rủi thời túng quá, ngày nào đó không đủ tiền góp 1$20 kia, thì cũng phải trả năm ba cắc tiền lời và 1$20 kia còn thiếu như cũ, nếu làm thinh thì chắc không khỏi chỉ sai người đến nhà làm nhục, hoặc réo tên họ hoặc chửi rủa đến chừng nào có tiền trả chúng mới thôi, hỏi có ác nào hơn? Nơi sở Ba son (arsenal) có lệ một tháng Tây phát tiền làm hai lần, chỉ cho ra năm đồng (5$00), tới kỳ (hai tuần lễ nữa) phải trả sáu đồng (6$00). Như không trả đủ, thì phải trả một đồng (1$00) tiền lời, số bạc năm đồng gác qua tháng sau và đẻ lời ra nữa? Về bạc tháng, chỉ cho ra mười đồng (10$00), cuối tháng phải trả mười hai đồng (12$00). Ấy là quen lớn và tử tế lắm đó, chớ với mặt lạ hay mới hỏi mượn lần đầu thì phải trả tới mười ba đồng (13$00). Về tiền mướn, chỉ ăn lời mới thiệt là ác hơn nữa? Tội nghiệp kẻ nghèo không có vốn buôn bán, hoặc muốn sửa nhà, xóc nóc dột, làm ăn hay mua sách vở cho con học, trả tiền trường, đụng tới chỉ, đến hỏi tiền mướn của chỉ, thì cứ chín đồng bạc (9$00) đưa ra, mỗi ngày phải nạp cho chỉ hai cắc (0$20) tiền lời, trả như vậy tháng nầy qua tháng kia, mà vốn cũng còn nguyên vốn, chừng nào trả chín đồng (9$00) kia mới là dứt nợ “tiền mướn”. Khi nào ốm đau bịnh hoạn, làm không ra tiền và không tiền trả cho chỉ, năm mười bữa thì chỉ kê lời với vốn, tính ra mười đồng (10$00), bắt phải trả tiền lời một lớp nữa, chồng chất lên hoài, nên đúng với câu “nợ lút đầu lút cổ”.
Còn trong sòng cờ bạc, ai muốn thế chưn đồ (vàng, cà rá), thì cũng một tay chỉ ra tiền. Nếu xên sòng mà đồ thế không chuộc liền đó, thì chỉ kỳ cho nửa tháng, cứ mỗi đồng bạc cho ra, phải trả mỗi ngày là tiền rưỡi (ba su) tiền lời, đã vậy, vàng của người ta, chỉ lấy đem đi cầm nơi tiệm, lấy tiền về cho chỗ khác vay mượn, đẻ tiền lời cho chỉ nuốt! Chứng nào chủ chiếc vàng chiếc cà rá có tiền đem trả chỉ, thì chỉ mới chuộc trong tiệm ra. Còn một cách nữa là hễ vàng thế, tới kỳ không chuộc thì chỉ lấy chiếc ấy cho ai đó liệu chắc chắn, mướn đeo, tiền mướn đeo ấy, cứ một đôi vàng hay sợi dây chuyền, mỗi ngày mướn hai cắc (0$20), kiềng vàng ba cắc.
Nhiêu khi, tôi thấy người nghèo khổ tới khóc lóc năn nỉ chị chủ sự thiếu điều gãy lưỡi mà chỉ vẫn không nao núng, cứ mắng xối người ta, đòi thưa cò bỏ tù phát mãi, chỉ nghiến răng trẹo trẹo, người ấy ra về rồi, tôi trách chỉ quá độc ác không biết nương tay, khi ấy chỉ ngồi nhắc lại lúc xưa, khi còn ở với Má Tư Hớn, bán máu bán trinh, hỏi mấy ai biết thương cho chỉ? Và mấy ai biết tội nghiệp là gì? Muốn may một cái áo mới, cũng phải mua góp rồi trả từ ngày của đáng một đồng trả thành hai. Còn như cái thân cha mẹ sanh thành cực khổ, đem ra thí thân làm món đồ choi cho khách, họ trả cao trả thấp từ đồng, giằn vặt thân thể đủ mọi cách vày vò đủ kiểu, chiều lòn khách hết nước, chừng đem tiền về cho má, thì tiền đầu, tiền ngày, tiền góp, má trừ gần hết, ai biết thương cho mình. Thiệt là nghe chỉ nhắc lại chuyện cũ, tôi bắt lạnh mình rởn ốc.
Chớ chi tôi không sớm thoát thân thì ngày nay không biết nó ra tới nước nào. Nghĩ tới đâu tôi căm hờn tới đó, xã hội là dường thế, gặp cảnh nào hay cảnh nấy, không còn biết thương hại người đời là gì nữa.
Nghĩ cho đời, toàn là giả dối! Tôi bắt lỗi chị chủ sự là ác độc tôi thấy lỗi người mà không xét lỗi mình! Bỏ chồng, đoạt của, lọt nhà số đi tu bỏ rơi đành đoạn anh Lu-y (cũng khá không tìm kiếm thưa gởi), nay làm nghề nầy rồi chê má Tư Hớn là chê làm sao được? Ban đầu giận oán cô chủ sự, sau kết làm bạn, rồi xót rồi thương. Chốn ngục tù, thì lòng nát ngướu như tương, làm thân con ở phải lòng chai dạ đá. Tôi a ý khúc tùng, giúp giáo cho giặc, oán trách hăm trả thù bà Tư Hớn mà rốt lại cùng làm một nghề! Mâu thuẫn ôi là mâu thuẫn. Và đời là vậy đó!
Bạn biết người y tá tù là ai không? Đoàn văn Toại, tác giả Goulag Vietnamien láo lếu đấy. Cái xó xỉnh đề lao Gia Định này là biểu tượng của nền ngục tù ô nhục của công sản ư? Đoàn Văn Toại chỉ quanh quẩn ở đề lao Gia Định. Anh ta bị bắt trước tôi vài tháng. Khi tôi đến đề lao, Đoàn Văn toại được ban phát ân huệ giúp việc Phòng Y Tế. Trưởng phòng Y Tế, bác sĩ Quang, y sĩ trung úy Thủy Quân Lục Chiến … nằm vùng. Sau 30-4-1975, anh ta mang quân hàm trung úy công an. Có lẽ, Quang là bí danh của anh ta. Đoàn văn Toại nghiền, tán thuốc dân tộc và phát thuộc các phòng tập thể C-1. Anh ta chưa được bén mảng ở cửa cachot. Toại hưởng quy chế ăn uống, tắm giặt thoải mái trên Phòng Y Tế. Mỗi tuần, Toại ra cổng trại, nhận thuốc của thân nhân tù nhân đăng ký. Bề ngoài nhận xét, Đoàn Văn Toại có vẻ là một cán bộ bị kỷ luật hơn một tù nhân chính trị. Lý do nào anh ta được cộng sản tin cẩn, tôi không hiểu. Toại biết thân, biết phận, không bàng nhàng với anh em. Một cách vô tư mà nhận xét, dưới mắt tôi, Đoàn văn Toai chỉ khúm núm cầu an. Anh ta chưa hề hại ai. Mà cũng chẳng ai có thể hại ai ở trong tù. Những kẻ xử dụng ngôn từ đao to búa lớn “Bước lên xác anh em, bán xác anh em” là những kẻ gian dối. Nó đã chứng tỏ kiến thức nhà tù cộng sản quá thấp. Cộng sản không bao giờ tin cả những tên họ xử dụng làm tai mắt cho họ. Hễ tên “ăng-ten” báo cáo một tù nhân nào, ít nhất, hai tù nhân khác bị gọi ra làm việc trước. Và câu hỏi như vậy: “Anh thấy anh X có khả năng làm việc đó, nói điều đó không?” Nếu hai tù nhân “chứng nhân” trả lời “không”, tù nhân bị báo cáo bình yên, và tên “ăng-ten” viết tự kiểm. Tôi đã trải qua ba nhà tù lớn nhất và hãi hùng nhất của miền Nam, tôi chưa thấy một tù nhân nào bị chết vì bị “ăng-ten” báo cáo. Tôi cũng chưa thấy một tù nhân nào được thả sớm nhờ làm “ăng -ten”. Chuyện “ăng-ten” là chuyện nhỏ nhặt đấy. Bạn còn nhớ Vũ Thành An, tác giả Những bài ca không tên chứ? Tất cả viên chức cao cấp “ngụy quyền” ở Lòng Thành đều rõ. Vũ Thành An đã sáng tác ca khúc có đoạn:
… Nay mới rõ, đế quốc Mỹ là quân xâm lược Nay mới rõ, lũ ngụy quyền là lũ tay sai Bao nhiêu năm mình cúc cung phục vụ miệt mài …
Nhờ ca khúc … nín thở qua câu này, Vũ Thành An ho lao đỡ phải vác cuốc, ngồi nhà làm Thông Tin Văn Hóa tù. Rốt cuộc, anh ta vẫn bị đày ra Bắc và trở về bệnh hoạn tiều tụy. Người ta có nỡ kết án Vũ Thành An làm “ăng-ten”, Vũ Thành An “bán xác anh em” không? Vẫn ở trại cải tạo Long Thành, bác sĩ N. Ng. T. (hiện đang định cư ở Mỹ) phục vụ tại bệnh xá tù, đã tình nguyện vác cả tủ lạnh, ti vi đem vào dâng Trưởng trại Ba Tô để hưởng nhàn, để tích trữ thuốc và để Chánh án Đào Minh Lượng mất nửa lá phổi, để Vũ Thành An ói máu thì sao không ai nói? Chưa đủ đê tiện, bác sĩ T. còn dụ đưa Ba Tô về Sàigòn chơi, cho Ba Tô ăn uống no say, để được ngủ với vợ. Và bầy trò khám các nữ tù trại Long Thành để bọn cai tù … coi xi nê thỏa thích 1. Sao không nghe ai nói nhỉ? Tôi sẽ bênh vực đến cùng, nếu ai bảo Đoàn Văn Toại làm “ăng-ten”. Toại, ban ngày, ở ngoài phè phỡn, ban đêm, vào phòng 7C-1. Phòng 7C-1 có phóng viên lùn Văn Chi, dũng sĩ quốc gia đã đánh hai Pháp kiều thân Cộng treo cờ Giải Phóng ở trung tâm Sàigòn trước 1975. Sau năm 1975, Văn Chi bán phở và tham gia tổ chức phản động. Anh ta đã “chào mừng” tôi bằng trái xoài nhờ Đoàn Văn Toại chuyển. Phòng 7C-1 có tỷ phú Phạm Quang Khai, vua tàu dầu, tư sản mại bản. Ông Khai có 50 chiếc tàu chuyên chở dầu chiến lược. Ông không tin thủy thủ đoàn Việt Nam, chuẩn bị một chiếc tàu với thủy thủ đoàn Đại Hàn. Chổi cùn, dế rách ở biệt thự nguy nga số lẻ đường Công Lý, đối diện trường Régina Mundi, được khuân hết xuống tàu. Vợ con ông đã đi từ khuya. Ngày 29-4-1975, ông khệnh khạng xuống tàu. Thủy thủ đoàn Đại Hàn ớn cộng sản đã chuồn rồi. Ông tỷ phú đứng khóc. Ông muốn điên. Ông lú lẫn. Ông không kiếm người khác. Ông sợ tàu… chìm. Và ông … vào tù y hệt tinh thần luân lý giáo khoa thư: “Ba quan đắt quá, thà chết còn hơn”. Phòng 7C-1 có cụ Cao Văn Diên, phản động già và cụ Trần Văn Liễu, phản động gân. Nhân vật Cao Văn Diên hiện diện trong Goulag Vietnamien của Đoàn Văn Toại như một ông già bị bắt oan và chết tại đề lao Gia Định. Sẽ đề cập sau.
Nhờ thảnh thơi ban ngày ngoài phòng giam, Đoàn văn Toại đã thoát dịch ghẻ 1976 kéo dài từ tháng 4-1976 đến tháng 10-1976. Cuối năm 1976, Toại bị tống vào phòng vì sự liên hệ lèm nhèm nào đó. Chức vụ y tá C-1 rơi vào tay Lý Sen, chủ nhà băng Đông Nam Á, tư sản mại bản Chợ Lớn. Đoàn Văn Toai bắt đầu bất mãn. Vợ anh ta, quốc tịch Pháp, con gái nhạc sĩ Võ Đức Tuyết, đã ẵm con sang Tây. Toại ở chung phòng với Đặng Giao bên khu A. “Ngày nào thành công, tôi sẽ sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống!” Đoàn Văn Toại tâm sự với Đặng Giao và Đặng Giao kể lại ngày chúng tôi tái ngộ ở Chí Hòa. Rồi Toại được thả, được leo lên máy bay Air France, đoàn tụ gia đình. Tôi vượt biển sang Pháp, biết Đoàn Văn Toại đã kể chuyện đề lao cho Minh Đức Hoài Trinh và Minh Đức Hoài Trinh thông dịch cho một ký giả Tây. Và Goulag Vietnamien xuất bản. Tôi lại biết Toại đã vận động định cư ở Mỹ và theo Trương Như Tảng. Tảng theo Hoàng Văn Hoan, chỉ chống tập đoàn Lê Duẩn – Trường Chinh, chứ không chống cộng sản Việt Nam. Họ đã xác định lập trường. Hồ Chí Minh vẫn là xác chết được tôn thờ. Cậu Đoàn Văn Toại từng bầy tỏ chí khí “Sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống”. Bây giờ, cậu Đoàn Văn Toại “phản tỉnh”, “thức tỉnh”, cậu hò hét “Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”. Giữa Toại và tôi đã có biên giới.
Mùa thu 1985, Đoàn Văn Toại, qua Paris, với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, mời tôi ăn tối. Với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, tôi nhận lời. Chúng tôi hẹn nhau ở quán Đào Viên quận 13. Đoàn Văn Toại tặng tôi cuốn Goulag Vietnamien. Tôi nói:
– Tôi đã đọc. Sách của cậu đáng liệng vào thùng rác. Vì có những ba điều bố láo. Một: Ở đề lao Gia Định, giấy và bút bị nghiêm cấm. Công an kiểm tra hành lý tù thường xuyên, cậu đào đâu ra giấy bút mà lập kiến nghị? Rồi tù nhân bị nhốt kỹ 24 trên 24, cậu liên lạc với ai mà xin được hàng trăm chữ ký? Hai: Cụ Cao Văn Diên phản động nặng, cụ bị đầy lên Pleiku và chết tại Gia Trung, cậu bảo cụ ấy chết ở đề lao. Cậu được tha, cụ Diên vẫn còn nằm ở đề lao. Cụ Diên rời đề lao sau 2-9-1977. Ba: Cậu quả quyết tôi chết rồi. Còn rất nhiều bố láo. Ba điều thôi đã đủ liệng sách “Chứng nhân” của cậu vào thùng rác. Tôi sẽ chửi nhà xuất bản Laffort cái tội rủa tôi chết.
Đoàn văn Toại cười cầu tài:
– Tôi kể đại ông ơi!
Tôi nhìn thẳng mặt anh ta:
– Điều nầy ngoài cuốn sách. Cậu là thằng bất nhân. Đã cho tôi chết, cậu còn bảo tôi làm “ăng-ten”
Toại chối:
– Tôi thề với ông, tôi không hề bêu nhục ông. Đứa nào nói với ông vậy?
Tôi chậm rãi:
– Bạn cậu, Vũ Ngọc Yên, tạp chí Độc Lập bên Đức.
Đoàn Văn Toai câm họng. Tôi cười xòa và bốc anh ta chín từng mây. Toại khoái chí chửi Trương Như Tảng cù lần, Hoàng Văn Hoan đần độn, Nguyễn Công Hoan ngu dốt, Tô Văn cố đấm ăn xôi… Anh ta nói về đài phát thanh sẽ lập ở Tân Gia Ba, gợi ý mời tôi bằng cách than thở thiếu nhân tài. Nội tình của phe nhóm anh ta, anh ta kể vanh vách. Tôi nghĩ thầm: Mẹ kiếp, mày nhóc tì, tuổi ít hơn ông, ngu hơn bò mà cứ đòi đi mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc ông à? Ông vừa trổ đòn nhà báo, mày đã tự khai vung xích chó. Hết chai rượu đỏ, tôi nói:
– Thôi nhé, chut tình đồng tù đề lao đến đây chấm dứt. Cậu đi đường cậu, tôi đi đường tôi. Mai này tôi đánh, cậu rán mà đỡ. Tôi thích sòng phẳng.
Chúng tôi chia tay. Ít tháng sau, Toại gửi cho tôi một bức thứ từ Liễu Châu. Anh ta ba hoa: “Đã thăm mộ các liệt sĩ quốc gia, sẽ không còn sai lầm như họ”. Tôi suýt chửi thề. Đó, người y tá tù đề lao Gia Định khu C-1, nhà cách mạng lưu vong Đoàn Văn Toại, với đầy đủ tài năng và tư cách, người đang chu du thế giới bằng tiền Tàu, tranh đấu cho giấc mộng Tôn Sĩ Nghị cùng đám Hoàng Văn Hoan, Trương Như Tảng. Và tôi, tôi ngồi trên lầu 8 của cái immeuble bên bờ sông Seine, thành phố có thị trưởng Jacques Laloe, là đảng viện cộng sản, có tổng hành định của Georges Marchais, Tổng bí thư Đảng cộng sản Tây, viết sách mưu sinh. Bởi nghèo, nên bị cư trú tại Ivry Sur Seine. Bởi chống cộng, nên bị Jacques Laloe lờ tít mọi trợ cấp xã hội, y tế. Không sao, tôi đã chống cộng, tôi đang chống cộng, tôi còn chống cộng đến tối. Tôi anh dũng thấy mẹ, tôi chống cộng trong lòng địch!
Trở lại đề lao Gia Định, nơi tôi đang học môn Thống Khổ Nhập Môn. Tôi ở 6C-1 đã 2 tuần, đã quen với sinh hoạt phóng này. Tôi không còn gớm ghiếc nhìn đống mài ghẻ mà trực sinh quét gom buổi sáng. Bạn thử tưởng tượng mài ghẻ mủ và mủ ghẻ dính nhớp nhúa trên bục nằm, mỗi sáng. Người ta phát cho chúng tôi miếng bố tời, vừa để chùi chân bước lên cầu tiêu vừa để lau bục nằm. Ở đề lao, dép cất kỹ trong bị, chỉ mang khi bị gọi lên phòng chấp pháp làm việc. Làm việc, danh từ cộng sản, có nghĩa là làm việc với công an, có nghĩa là viết tự khai và chịu đựng những cuộc thẩm vấn điên đầu. Người cộng sản chơi chữ rất xảo quyệt. Một ông Ba Tàu đã phát biểu ý kiến ở phòng B, Sở Công An: “Lù má ló, pắt pỏ tù lại pảo li học tập. Lấy cung lại pảo làm việc. Nhà tù lại pảo trường học. Cai ngục lại pảo quản giáo, cán pộ!” Chữ nghĩa của cộng sản đã huyễn hoặc thế giới. Cho đến hôm nay, báo chí người và cả báo chí mình vẫn viết nhà tù, trại tập trung khổ sai lao động là Trại học tập cải tạo! Ở khắp nơi tôi đi làm chứng nhân, người ta đều hỏi tôi: “Ông được học tập ra sao?” Và tôi đã trả lời: “Tôi chẳng được dạy dỗ gì cả. Người cộng sản có một mục đích rõ rệt. Họ làm chúng tôi sợ hãi, bắt chúng tôi khổ cực và bỏ chúng tôi đói. Càng kéo dài sự sợ hãi, khổ cực và đói, chúng tôi càng sa sút tinh thần. Khi biết chúng tôi tàn lụi ý chí phấn đấu, đó là lúc họ thả chúng tôi về. Và họ đã đạt kết quả. Đa số, chúng tôi về mất trí, thành phế nhân. Có nhiều người đã được xuất ngoại chính thức theo chương trình ODP, sang Mỹ, sang Tây … vẫn chưa hết ngẩn ngơ, ngơ ngác. Chúng tôi học tập sợ hãi, khổ cực và đói. Bất cứ tù nhân nào vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói, thì sẽ tự học ở đó những ý nghĩa rạng ngời của cuộc sống, của lý tưởng chiến đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền.” Tôi không dám nói thêm: “Nhưng không dám vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói thì sẽ ăn vụng thịt dưới bếp, ăn cắp cơm cháy, ăn tranh phần cơm heo và tự đòng hóa mình với súc vật”. Vậy thì, làm việc là danh từ hãi hùng của tù nhân. Bạn sẽ mệt lữ cò bơ với làm việc. Làm việc ở đề lao Gia Định, là bị truy nã dĩ vãng, hiện tại; ở Chí Hòa là bị đánh học máu mồm; ở các trại tập trung là vào nhà lô, ăn đòn nhừ tử.
Tôi chưa bị ghẻ. Hồng Dương đã bắt đầu. Nhờ không biết ăn mắm ruốc và cá biển, một vài mụn ghẻ nước của tôi chịu thuốc xanh ngay. Tôi dùng mũi kim băng khều mụn, nặn đến máu chảy ra rồi thấm khô, chấm thuốc. Là mụn ghẻ mọc mài. Mỗi tù nhân đề lao đều có một cái kim băng và phải dấu kỹ. Khi bị ngứa, ngày cũng như đêm, tôi lấy bàn chải đánh răng chà lên chỗ ngứa. Nếu gãi bằng móng tay, gãi cho đã, da sẽ bị xước. Và chỉ cần da xước một tí là ghẻ mủ cấp kỳ. Ghẻ nhà tù “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” hơn xã hội chủ nghĩa. Hàng chục thứ bệnh truyền nhiễm ở phòng giam tập thể, nhưng tù nhân không được chích thuốc ngừa. Sự khôn ngoan chống ghẻ của tôi bắt tôi phải đánh răng bằng cái bàn chải tôi đã gãi khắp thân thể. Không có sự khôn ngoan nào không bị trả giá. Sự khôn lớn của con người bị trả giá đắt nhất. Phòng 6C-1, ngoài mấy tên trộm cắp vô lại, mấy tên Mafia cơm nước, mấy “chuyện buồn nhỏ nhặt”, không đáng chi phải để phòng. Tôi yêu nhóm anh em trẻ phản động Hóc Môn, Bà Điểm. Người của Mười tám thôn vườn trầu đã được hai kép hát Út Trà Ôn và Thành Được diễn tả điêu luyện và rung động trong Người ven đô như những chiến sĩ “Chống Mỹ cứu nước” phi thường lại cũng chống cộng cứu nước phi thường. Nếu tôi đã ngờ vực Trương Phiên, tôi hoàn toàn ngưỡng mộ và tin tưởng tinh thần chống cộng của nông dân trẻ miền Nam. Bắt đầu, ở phòng 6C-1, tôi suy nghĩ về cuộc tân cách mạng Tây Sơn 2. Tôi đã nói chuyện nhiều với nhóm anh em Mười tám thôn vườn trầu. 6C-1 có một người tên Nga, tâm sự na ná Moritz của Gheorghiu. Anh ta nuôi heo cho một chủ trại ở Thủ Đức. Vợ anh ta đã chết. Anh ta làm gà trống chăm sóc đứa con gái 8 tuổi. Chủ trại bị bắt. Anh Nga bị bắt theo. Người ta chụp lên đầu anh cái mũ phản động … nuôi heo để dễ ăn cướp bầy heo. Anh Nga xin đem con gái vào tủ. Người ta từ chối. Cả ngày, anh ta ngồi xổm trên thành hồ nước hết khóc lại thở dài. Này bạn chống cộng sản và bạn thân cộng sản, có bao giờ bạn thấy một người vô sản ngồi khóc nhớ con trong nhà tù cách mạng vô sản về tội nuôi heo? Chẳng bao giờ bạn thấy cả. Vì bạn không bao giờ ở tù cộng sản. Vậy bạn nên suy nghĩ về cái gọi là bản chất và hiện tượng cộng sản, xuyên qua thân phận người vô sản cùng khốn tên Nga. Chừng suy nghĩ đắn đo, chín muồi, bạn sẽ có thái độ chính trị quyết liệt, dù chống cộng hay thân cộng. Tôi vốn khinh bỉ mọi sự làm dáng chính trị. Nó không thấm khô nước mắt của anh Nga nuôi heo, nó không lau sạch mủ ghẻ trên bục xi măng nhà tù.
Tôi chưa kể chuyện người bạn tuổi nhỏ của tôi, nhà văn Từ Kế Tường, cũng bị bắt, bị đưa về đề lao Gia Định và đã tạm trú ở 7 C-1. Từ Kế Tường trốn quân dịch. Giám đốc Nha Quân Pháp của Bộ Quốc Phòng ký cho cậu ta đầy đủ giấy tờ hợp lệ như một sĩ quan. Từ Kế Tường lãnh lương và đóng thêm tiền mồ hôi nước mắt, nộp cho cai thầu lính kiểng. Cậu ta mặc quân phục, mang phù hiệu quân pháp, đeo lon thiếu úy công khai. Sau hai năm, lên trung úy. Từ Kế Tường dại dột diện quân phục về ngõ nhà mình. Khi các sĩ quan đi trình diện học tập hết, không thấy Từ Kế Tường ra đi, mấy đứa ác độc gần nhà cậu ta tố cáo cậu ta trốn học tập cải tạo. Từ Kế Tường bị bắt. Nằm đề lao chưa kịp ghẻ, nhờ ông bố tập kết bảo lãnh nên hồ sơ… lính kiểng được cứu xét lẹ. Từ Kế Tường về đời xã hội chủ nghĩa, làm tới chức Chủ nhiệm Nhà Văn Hoá quận 4. Báo Tuổi Ngọc phá kỷ lục vào tù. Chủ nhiệm Duyên Anh, chủ bút Đinh Tiến Luyện, thư ký tòa soạn Từ Kế Tường. Cuối năm 1981, được tin tôi ra trại, Từ Kế Tường, Nguyễn Thanh Trịnh, Đinh Tiến Luyện đến thăm tôi. Luyện đã phiêu lưu các trại tập trung Suối Máu, Bù Gia Mập, Tống Lê Chân và làm nghề buôn bán hạt giống, nước mắm. Trịnh làm công nhân xưởng dệt quốc doanh, cộng tác với báo Tuổi trẻ. Pham Đình Thống bán thuốc tây chợ trời. Chúng tôi vẫn dành cho nhau nguyên vẹn tình cảm nhưng tư tưởng đã tạm ngăn cách. Và đó là nỗi buồn của chúng tôi. Pham Đình Thống khấm khá nhờ những kinh nghiệm và thủ đoạn chợ trời. Trước ngày tôi bỏ Sàigòn, Thống mở hiệu bán thuốc với công ty bằng hữu ở đường Đồng Khánh. Chẳng biết hiệu thuộc của Thống còn tồn tại? Từ Kế Tường đã bị loại khỏi sinh hoạt văn nghệ. Nguyễn Thanh Trịnh mỗi năm chỉ được đăng hai truyện ngắn ca ngợi lao động sản xuất. Đinh Tiến Luyện vượt biên hoài không nổi, đành kết hôn với một nữ thuyền nhân hụt và yên phận chọn Tam Hiệp, Biên Hòa. Luyện đã có con gái đầu lòng. Cuộc đời đã đổi thay hết.
Một thứ không hề thay đổi. Là cung cách chiến đấu chống cộng sản. Một thứ dừng lại. Là tư tưởng văn chương của các tiên chỉ, lý trưởng văn nghệ. Một thứ trở về. Là lối kiếm tiền chụp giật để chóng giàu. Một thứ tiến bộ. Là tinh thần ăn cắp, ăn quỵt, chụp mũ.
Đầu tuần lễ thứ ba, sau khi điểm tâm, chúng tôi được lệnh chuyển trại cả phòng. Lệnh khẩn trương. Tù nhân hạ bị, giỏ, tháo gỡ hết giây, gom góp mọi đồ “tế nhuyễn”, đem ra xếp thứ tự thành một hàng dài ngoài hành lang. Tất cả sợ hãi và băn khoăn. Ngày mai thăm nuôi, chuyển trại đột xuất, chưa kịp báo tin, vợ con khuân quà cáp tới sẽ mất công khuân về và sẽ lo lắng không hiểu chồng, cha mình ở đâu. Như ở bên Sở, tù nhân được nhận quà của gia đình mỗi tuần một lần. Ngày này, danh từ cộng sản gọi là ngày thăm gặp. Thực ra, không có thăm, cũng chẳng có gặp. Thân nhân bỏ quà cáp (thịt khô, mì vụn, mắm ruốc, nước mắm, kẹo bánh, cà phê, thuốc lá, thuốc bệnh, thuốc rê, thuốc lào, giấy quấn, diêm quẹt, trái cây… và 10 đồng) vào bị cói hay túi vải, túi phân bón, kèm tấm giấy ghi các món quà. Công an kiểm soát các món ở sân ngoài, rồi ký tên xác nhận lên tấm giấy “danh sách quà cáp”. Món nào cấm, công an gạch xóa. Được nhận quà, thân nhân tin là tù nhân không bị kỷ luật, bèn về ngay. Những người được Sở cho phép gặp tù nhân thì ngồi chờ trong phòng khách. Các Trưởng phòng khiêng những túi quà vào một căn nhà khám xét quà cáp của khu mình. Đề lao Gia Định có ba khu, mỗi khu một ngày nhận quà. Ở căn nhà khám xét, công an chiếu cố quà cáp kỹ lưỡng. Món nào dính dáng tới nước mắm, bị đổ ra cái thau nhựa. Đũa, muổng, dĩa khoắng, quậy, gắp, rỉa xem có thư gửi lén. Rồi lại dồn vô túi ni-lông. Thịt kho ướp mắm ruốc, cá kho là vì cái thau nhựa bới tung mắm ruốc, cá kho bới tung thịt.. Đường, cà phê… bị nắn bóp. Bánh chưng bị cắt làm tư. Quà tù nghe chừng cũng đau đớn. Dưới mắt công an cộng sản, cái gì của tù nhân phản động đều … phản cách mạng cả. Thuốc lá bị xé bao, dẫu là thuốc lá cách mạng, dồn vào túi ni lông. Dồn cả 200 điếu. Vẫn thuốc lá ấy, nhà tù mua giùm tù nhân thì để nguyên trong bao! Khám xét … nát quà cáp, rồi vất bừa vô bị, vô giỏ. Lúc ấy, trưởng phòng khiêng về cửa phòng theo tên tù nhân và số phòng. Cai ngục mở cửa. Tù nhân dở đồ ra sắp xếp. Chuối là dập nát. Xoài là dập nát. Bún chả tanh mùi cá. Phở xào nặng hương vị mắm tôm. Mì vụn vương đầy thuốc rê. Thăm gặp, dùng chữ của công sản, là một thủ đoạn. Đừng tưởng cộng sản ban phát ân huệ. Thăm gặp nhằm những mục đích:
* Chính sách cải tạo của Đảng và Nhà Nước nhân đạo.
* Đỡ tốn thức ăn và thuốc men.
* Tù nhân dinh dưỡng bằng thực phẩm của gia đình mình sẽ khỏe mạnh để ở tù lâu.
* Cho tù nhân hưởng phè phỡn thành thói quen. Sẽ dọa cúp thăm gặp làm áp lực tình cảm và vật chất.
Bởi vậy, ngoài thăm gặp hàng tuần, còn cho mua hàng hóa hàng tuần. Tù nhân sợ chuyển trai, phần lớn, vì sợ mất liên lạc gia đình, ít ra, nửa tháng. Đến trại mới được gửi quà.
Sau khi tù nhân ra ngoài hết, cửa phòng khóa chặt. Mỗi tù nhân đứng cạnh hành lý của mình. Cai ngục điểm số. Chúng tôi, từng người đọc tên và số thứ tự xếp hàng.
– Số 1, Vũ Mông Long.
– Số 2, Nguyễn Thanh Chiểu.
…
– Số 52, Lâm Văn Thế.
Điểm số xong, cai ngục nói:
– Các anh nhớ số của mình.
Cửa phòng lại mở. Chúng tôi nhận lệnh trở vào. Cai ngục gọi:
– Số 1.
Tôi hô “có” và đi ra. Cai ngục bắt tôi đứng nghiêm, dơ hai tay lên. Hắn rờ nắn thân thể tôi khám xét túi quần, túi áo tôi. Những tên vệ binh đeo súng ngắn, đứng canh chừng. Khám người xong, cai ngục bảo tôi đổ từng đồ “tế nhuyễn” ở túi, bị, giỏ ra. Hắn kiểm soát từng món, cật vấn đủ điều. Thư vợ tôi gửi, cai ngục tịch thu. Ảnh vợ con tôi, hắn giữ lại “nghiên cứu”. Hành lý của tôi bừa bãi trên nền xi măng của hành lang khu C. Cai ngục hạ lệnh “Khẩn trương”. Tôi quơ vội nhét vào giỏ, bị. Nước mắm lẫn với quần áo. Tôi được đem hành lý vào phòng. Tù nhân thứ hai, Nguyễn Thanh Chiểu, bị gọi ra. Cứ vậy, tới tù nhân số 52. Một buổi tổng kiểm tra phòng. Cai ngục nói dối chuyển trại để tù nhân có cất dấu cái gì trong phòng cũng sẽ phải thu quén bỏ hết vào bị. Thêm một thủ thuật. Thủ thuật biến ảo. Nó không thành qui luật chết. Nên tù nhân mắc bẫy dài dài. Lần sau chuyển trại thật sự, tù nhân tưởng tổng kiểm tra, công kênh nhau dấu những thứ cần dấu trên những xà gỗ trần phòng. Thế là vất lại những gì đã dấu. Nửa tháng, có khi một tuần, tù nhân, tiếc rẻ món này bị tịch thu, mừng húm món kia thoát nạn. Là đầu óc bớt căng thẳng, sự nổi loạn ở phòng giam được bảo đảm. Tôi đã nhìn rõ tôi qua hình ảnh Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Hải Chí và tất cả tù nhân đề lao ngoài ánh sáng. Mặt chúng tôi trắng bệch, ngơ ngác. Mới đứng tại hành lang khám tư trang của tù nhân đã thấy mình hèn mọn. Mọi sự hung hăng biến đâu mất. Tôi chợt nhớ bài thơ L’albatros của Beaudelaire. Con hải âu đã rơi xuống sàn tàu. Tôi chợt nhớ bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ. Con hổ đã nằm trong chuồng. Tôi chợt nhớ thiên hồi ký ngắn của Nguyễn Mạnh Côn, nhắc lại kỷ niệm ở tù Việt Minh với nhà văn Trọng Lang 3. Anh Nguyễn Mạnh Côn, viết rất thật, rất người rằng, vì thương con, Trọng Lang đã lạy cộng sản để nó đừng giết mình. Trọng Lang đã phản ứng bằng cách miệt thị Nguyễn Mạnh Côn nói láo. Tôi vừa tìm ra sự thật. Chưa có ai lạy cai ngục cả. Nhưng tất cả đều lễ phép khi bị cai ngục cật vấn, xét hành lý. Tôi lại chợt nhớ lời khuyên của Thanh Thương Hoàng bằng thơ Sông Hồ “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”.
Chúng tôi ăn cơm trưa muộn. Vì bận bịu sắp xếp và treo hành lý tù. Buổi trưa, không ngủ, tôi mò sang chỗ ông Lâm Văn Thế đánh cờ tướng. Đánh cờ để tâm sự. Chúng tôi nói thật nhỏ.
– Ông Thế, ông nghĩ bao lâu họ thả chúng ta?
– Chịu. Không ai đoán nổi. Mọi suy nghĩ về cộng sản của người quốc gia đều sai hết. Ông sẽ đi lao cải, sẽ về, tùy vào sự ổn định tình hình sớm hay muộn.
– Còn ông?
– Tôi sẽ ở đây với các ông Thái Đen, Nguyễn Thiện Giai, Như Phong chờ phép lạ. Hai nơi đến và đi của chúng tôi: Sở và Đề Lao. Người ta không cho chúng tôi ra ánh sáng đâu.
– Tại sao?
– Chúng tôi là tự điển!
Tự điển, ông Lâm Văn Thế, thiếu tá cảnh sát đặc biệt giải thích:
– Tôi đặc trách một cụm tình báo. Rất nhiều cộng tác viên tình báo không có tên. Họ lãnh lương bằng hàng trăm mật danh ổi, xoài, mít… Tôi cũng không thể biết mặt họ toàn thể. Một số nào quan trọng thôi. Cơ quan của tôi, kẻ đã di tản, người trốn trình diện. Và tôi bị bắt ngay đêm 30-4. Tình báo đánh giá đúng mức tình báo. Họ dùng tôi làm tự điển.
– Họ tra … ông?
– Phải. Bắt được nhân viên của tôi trốn trình diện hay một người họ ngờ vực là cộng tác viên của tôi, trước hết, họ khai thác người bị bắt. Nếu người bị bắt chối, họ bảo người bị bắt làm tự khai danh dự, chấp nhận mọi hậu quả nếu gian dối. Rồi họ gọi tôi ra. Họ nêu tên tuổi người bị bắt, hỏi tôi có quen biết không. Tôi nói không quen, họ dẫn tôi về phòng. Rồi họ lại gọi tôi ra, cho tôi gặp mặt người mà tôi nói không quen biết. Họ quan sát mặt chúng tôi, cử chỉ của chúng tôi để tìm ra sự thật.
– Nếu ông trả lời ông quen biết?
– Thì người chối không hề quen biết tôi can tội gian dối. Và anh ta đích thị là công tác viên tình báo.
– Có trường hợp ngược?
– Có chứ. Tôi đâu biết người bị bắt khai làm việc với tôi, tôi nói không quen. Họ dí vào mặt tôi tờ tự khai và dẫn người bị bắt ra gặp tôi.
– Rồi sao?
– Tôi bắt buộc phải làm tự điển trung thực.
Ông Thế buồn bã:
– Với công ăn ở bất cứ chế độ nào ông có thể dấu diếm được tư tưởng trong đầu óc ông mà không thể dấu diếm được các sự việc đã xảy ra. Ngoài tôi, còn các cuốn tự điển khác mà tôi không biết. Có lẽ, họ cũng bị bắt sớm như tôi. Cá nhân tôi, tôi cũng chẳng rõ ai chạy thoát, ai kẹt lại, ai trình diện, ai bị bắt, ai còn lẩn trốn. Họ sợ tình báo, họ cần quét sạch tình báo, từ lính đen sĩ quan, từ gác cổng đến bưng nước văn phòng.
Tôi hỏi:
– Như Phong dính dáng tình báo?
Ông Thế đáp:
– Ông ấy là tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Tôi đã thấy Trịnh Quốc Tài tự tra … tự điển bên Sở Công An. Và tôi đã thấy ông ta tra bạn tôi, Thanh Thương Hoàng.
– Họ cũng tra tự điển tôi về các nhà văn, nhà báo. Cơ quan của tôi không phụ trách “hồ sơ” văn nghệ sĩ.
Chúng tôi ngừng cuộc cờ. Tôi trở lại chỗ của tôi, ngồi dựa lưng vào tường suy nghĩ. Có hai đối tượng cộng sản đang truy lùng: Tình báo và đảng phải. Cộng sản thù hận các đảng Đại Việt, Duy Dân, Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là mối thù “truyền kiếp”. Rất nhiều đảng viên của ba đảng này không trình diện và tiếp tục chống đối cộng sản. Cụ thể hóa sự sợ hãi và lòng thù hận của cộng sản là Mai Chí Thọ đã đích thân chỉ huy cuộc hành quân, vây bắt trọn vẹn đàn ông (thanh niên, phụ lão) của hai làng Sống Vinh (Bà Rịa), hai làng do Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập trong kế hoạch khẩn hoang lập ấp của Phan Quang Đán. Họ sợ hãi những nhân vật chìm, những con bài chưa lật tẩy. Thứ đã lật tẩy, đã om sòm tên tuổi cỡ Vũ Hồng Khanh, Hà Thúc Ký, Đặng Văn Sung, Phạm Huy Cơ, đi hay ở, chẳng có gì quan trọng. Vũ Hồng Khanh, kẻ ngang vai vế với Hồ Chí Minh (Ở bối cảnh lịch sử 1946, còn trên cơ là khác), đã lẽo đẽo đi trình diện, đã trả lời câu hỏi “Tai sao ông chống cộng?” của tên thiếu tá quân đội nhân dân như vầy: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Câu trả lời bất hủ nầy phẩm định giá trị chiến đấu của đại lãnh tụ quốc gia. Ông Vũ Hồng Khanh đã già lắm, đáng lẽ, ông đã khước từ trình diện và chỉ chấp thuận trả lời Phạm Văn Đồng, Trương Chinh. Ông đã sợ … chết già. Ông ta ham sống như bọn lãnh tụ già bất tài vô tướng ham sống vậy. Câu trả lời bằng tiếng nói đích thực của Vũ Hồng Khanh đã được truyền thanh khắp nước, ròng rã hàng tháng. Biểu tượng quốc gia bị bêu nhục. Ông giáo Giản 4 đã tiêu diệt các đảng phải quốc gia nhỏ để Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông chiếm đa số ghế trong Quốc Hội bịp 1946. Ông giáo Giản suýt thủ tiêu Nguyễn Mạnh Côn (Việt Nam Phục Quốc Đảng), nếu Nguyễn Tường Tam không kịp can thiệp 5. Nhà lãnh tủ đa sát này đã đứng giữa hoàng hôn giăng giối: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Nguyễn Tú (ký giả nhật báo Chính luận, tên thật Nguyễn Ngọc Tú, nhân vật quan trọng của Đại Việt quan lai, từng chấp chính giữ ghế Tổng Giám đốc Nha Thanh Niên thời Tổng Trưởng Nguyễn Văn Kiểu) bị bắt ngay đêm 30-4-75 mà Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng, Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng vẫn đạp xe mini suốt tháng 5-1975, Tự điển người! Ghê gớm thay thủ đoạn cộng sản. Tôi bắt đầu lo ngại cho Thanh Thương Hoàng.
Anh ta đã thức giấc đúng lúc nước sôi buổi chiều vào. Thanh Thương Hoàng pha cà phê mời tôi uống.
– Vụ ấy, mày không nhận là may. Anh em bảo mày OK.
Tôi ngẩn tò te.
– Vụ nào?
Thanh Thương Hoàng cười ruồi:
– Vụ anh em đưa vợ con mày đi.
Tôi nhớ rồi.
– Bị bắt hết. Bị Mai Chí Thọ cài người gài bẫy bắt hết.
– Có chuyến đi?
– Có. Chuyến đi dính lưới toàn bộ.
– Có chiến khu?
– Có. Một nhóm sĩ quan, một nhóm lính. Đang nằm trong tay Quân Báo bên Tô Hiến Thành.
– Sao mày biết?
– Tao không dám ta-pi. Tao từ chối. Một người quen thoát lưới chuyến đi, nhờ hối lộ tên công an Phước Tỉnh hai lạng vàng, cho tao rõ. Mấy hôm sau, người ấy báo cáo thêm cả tổ chức bị sa lưới.
– Không phải là tao không nhận. Vợ tao đau nặng hôm đó.
– Vận may. Đàn bà con nít không nên vào tủ. Họ phải ở ngoài tiếp tế cho bọn mình.
Thanh Thương Hoàng thở dài:
– Bốn phương mù mịt cả. Tổ chức nào cũng dính lưới. Có tổ chức cài người vào Phường, khi bị công an bảo vệ chính trị bắt, Phường trưởng không tin người bị bắt là phản động. Trước hôm mày vô 6C-1, thằng Chín bị đổi phòng. Nó được cài vào huyện đội công an Thủ Đức. Nó chửi Mỹ tổ chức chống cộng rồi xúi cộng sản bắt!
Tôi bỗng nhớ Trương Phiên. Người Mỹ âm mưu gì nữa? Tôi hoàn toàn mù tịt. Vỗ vai Thanh Thương Hoàng, tôi hỏi:
– Mày thận trọng nhé! Tao thấy thằng Trịnh Quốc Tài viết báo cáo có tên mày, Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc. Mày dính dáng Phủ Đặc Ủy Trung ương Tình báo hả?
Thanh Thương Hoàng giật mình:
– Không, không…
Tô Ngọc phục vụ cảnh sát đặc biệt để trốn lính như Y Vân. Trịnh Viết Thành làm báo Quật Cường của Trung ương Tình báo với Anh Quân. Còn Thanh Thương Hoàng chỉ tai tiếng vụ Làng Báo Chí. Anh ta có dính liếu với Trung ương Tình báo hay không, tôi không biết. Nhưng khi tôi nhắc nhở anh ta có tên trong báo cáo của Trịnh Quốc Tài, anh ta rầu rĩ vô cùng. Sáng hôm sau, cai ngục đến 6C-1 trước giờ phát nước sôi. Tên hắn là Sáu, dân Sàigòn, vì bị lé nên tù nhân tặng hắn biệt danh Sáu lé.
– Nguyễn Thanh Chiểu.
– Có
– Mặc quần áo ra làm việc.
Thanh Thương Hoàng vội vàng mặc bộ bà ba vải mỏng, mầu gụ. Anh ta cầm đôi giép Nhựt bước tới cửa phòng. Tù nhân ra làm việc, bất kể làm gì, đều phải ăn mặc tươm tất, đi giép. Đầu tóc có thể rối bù. Râu ria có thể rậm rạp. Quần áo không thể thiếu nghiêm chỉnh. Ở đề lao, hàng tháng, tù nhân được cắt tóc, cạo râu một lần. Tù cắt tóc cho tù. Cai ngục đứng giám sát. Cuối khu C-1, người ta dựng cột lợp tôn làm cái chái. Do đó, phòng 7C-1 thiếu ánh sáng. Tù nhân khu C-1 ra cắt tóc ở cái chái nầy. Buổi sáng một phòng. Buổi chiều một phòng. Ba thợ cắt tóc tù làm việc khẩn trương. Cai ngục mở cửa. Ba tù nhân ra một lượt. Cửa khép chặt, ấn khóa. Không có khăn quàng. Không có dao cạo. Không có kéo. Không có gương. Tông-đơ Trung quốc lưỡi thưa, thứ tông đơ cắt lông ngựa liếm tóc tù nhân. Giáo điều cắt tóc của cách mạng vô sản:
– Cắt dài là thiếu nếp sống văn hóa mới.
– Cắt trọc là chống đối.
Bởi thế, tông-đơ đẩy lưng chừng. Đẩy xong những đường tóc, tông-đơ đẩy râu ria. Tông-đơ chấm bát luôn. Năm phút một cái đầu. Cằm bị chảy máu, mép bị chảy máu, ráng chịu. Tông-đơ nhai tóc, đừng kêu ca. Ba anh này vào, ba anh kia ra. Anh nọ soi gương bằng cách nhìn đầu anh kia. Thấy mình giống quái vật. Cắt tóc xong thì bước vô phòng tắm, dùng khăn khô phủi tóc cho nhau, đợi sáng mai hãy tắm (nếu cắt tóc chiều). Ngủ một đêm với tóc vụn dính mồ hôi có sao. Ngứa thì gãi chung với gãi ghẻ cho tiến bộ, đuổi kịp nếp sống văn hóa mới.
Đầu tóc, râu ria Thanh Thương Hoàng khiếp lắm. Rõ là thằng tù! Sáu lé mở cửa. Hắn khóa lại. Tù nhân đi trước, cai ngục đi sau, đề phòng đánh lén. Cách mạng luôn luôn cảnh giác cao. Sau bữa ăn sáng, Thanh Thương Hoàng trở về. Anh ta mệt mỏi, bỏ cơm. Kẻng tù báo thức giấc trưa, anh ta ra làm việc. Cứ vậy, sự làm việc của Thanh Thương Hoàng kéo dài cả tuần. Trong khi ấy, Chóe, Hồng Dương, Thân Trọng Kỳ, Cao Sơn và tôi chưa bị gọi ra. Một buổi tối, chúng tôi ngồi bên nhau hút thuốc lá, chuyện gẫu. Thanh Thương Hoàng nói :
– Tao đã kết thúc tự khai.
Anh ta kể:
– Tao viết một câu rất hòa giải dân tộc.
Thanh Thương Hoàng đọc:
– “Chúng tôi sẵn sàng bắt tay với các anh xây dựng lại đất nước”.
Hồng Dương dẫy nẩy:
– Hỏng rồi.
Thanh Thương Hoàng vốn phục Hồng Dương thông minh, đọc nhiều. Anh ta hỏi.
– Hỏng sao?
Tôi nhanh miệng đáp:
– Mày bỏ tù nó, mày viết thế là mày cao thượng, quốc gia cao thượng. Nó bỏ tù mày, mày nói thế là mày xấc. Nó sẽ hành mày. Nó ví chúng ta là thú vật. Mày hiểu chưa? Nó đòi cắt đuôi chúng ta để chúng ta làm người. Sức mấy nó chìa tay cho mày bắt. Xấc thì hay đấy nhưng thiếu lô-gích. Thằng nào chấp pháp mày?
– Hai Nghiêm.
– Dân gì?
– Quảng Bình.
– Nó đọc chưa?
– Rồi.
– Phát biểu?
– Tốt.
Hồng Dương lắc đầu. Hôm sau, Thanh Thương Hoàng lại lên làm việc. Lúc về, anh ta uể oải:
– Chúng mày đúng. Nó bảo tay tao chưa sạch tội ác. Tao chuẩn bị vào cachot. Nó bảo vậy.
Thanh Thương Hoàng sửa soạn hành lý. Ngay buổi chiều, anh ta rời phòng 6C-1 vào cachot số 4 của khu C. Thanh Thương Hoàng nằm cachot một tuần thì bị đưa trở lại Sở Công An. Từ đó, tôi mất tin anh. Tháng 9 năm 1981, về đời, tôi biết anh bị lưu đày lên Pleiku cùng chuyến đi với Doãn Quốc Sĩ. Gặp Sĩ, anh nói tác giả Cánh chim mỏi rã rượi lắm. Anh ta rụng hết răng, tê liệt. Người vợ thứ nhất của Thanh Thương Hoàng là con gái của Lê Khải Trạch đã không còn ở với anh từ lâu. Mọi sự nuôi anh trong tù do người vợ thứ hai. Người nầy tiếp tế anh đầy đủ. Nhưng chị ấy đã vượt biên. Người vợ thứ nhất lo việc tiếp tế. Chị ta nghèo, thiếu phương tiện thăm chồng xa xôi. Thanh Thương Hoàng trở thành “con bà phước” ở rừng núi Gia Trung 6. Anh ta hào sảng lắm, ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định. Trên Pleiku có ai hào sảng với anh? Tất cả đã là tù nhân. Tất cả đều là bạn tù. Bạn tù trong danh ngôn nghiệt ngã “Bạn tù, tình nhà thổ”. Khi nỗi khổ kéo dài mòn mỏi, khi sự phú quý đi giật lùi, con người đâm ra bần tiện, chỉ còn biết nghĩ đến mình. Mọi thù hận lẫn nhau phát xuất từ đó. Anh em nguyền rủa lẫn nhau, nói xấu lẫn nhau. Ra khỏi tù, anh em không quên thù hận, vẫn nguyền rủa nhau, nói xấu nhau, gặp nhau không thèm nhìn mặt. Đó là mục đích trong những mục đích của học tập cải tạo tư tưởng!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.