Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 12

Ngay nửa đêm hôm đó, khi chàng đang ngủ, người ta mở cửa phòng và lay chàng dậy. Thái độ của người công an bảo vệ thay đổi hẳn. Thay vì những lời nói tử tế, y ra lệnh cho chàng. Trăng đã lu, mật đã đắng. Công an bịt mắt chàng, còng tay chàng, xích chân chàng đúng kiểu và đúng cách họ đã bịt, còng, xích ngày đầu tiên. May Chí Thọ sửa sai thế đấy. Cộng sản là cộng sản. Chỉ cần may mảy lương tâm và thủ tín, cộng sản hết là cộng sản. Công an lôi chàng rời khỏi căn biệt thự, ném chàng lên sàn xe. Không phải là xe du lịch nữa. Xe chở tù nguy hiểm. Chẳng cần đo lường thời gian, chàng nằm nghiêng trên sàn xe, mậc số phận dẫn chàng đến đâu thì đến.

Xe ngừng ở đâu, chàng không thể biết. Chỉ biết chàng đã bị lôi xuống, kéo đi lòng vòng khá lâu rồi bị xốc nách leo lên bốn tầng thang lầu. Và người ta đẩy chàng vào một căn phòng hôi hám. Cánh cửa sắt đóng lại. Im lặng tuyệt đối. Chàng nhích bước giật lùi tìm bức tường. Rồi chàng từ từ ngồi xuống. Mắt vẫn bị bịt chặt. Tay vẫn bị siết còng. Chân vẫn bị xích nghiến. Chàng nghe sự thinh không và ngửi mùi tanh nồng khó diễn tả nhưng dễ so sánh. Mùi tanh nồng giống hệt mùi chủ nghiã cộng sản!

Chàng đã hoàn toàn mất hết cảm giác sợ hãi. Đây không phải là nhà thương điên. Nếu là nhà thương điên thì hạnh phúc biết mấy. Chàng sẽ được gặp người. Ngót tháng nay, chàng gặp những hạng người mất tính người và chàng tha thiết gần gũi con người đích thực, dẫu là người điên. Tại sao người ta không dám nhốt chàng chung vơí những tù nhân nguy hiểm khác? Tai sao người ta không nhốt chàng ở một nhà tù đúng nghiã nhà tù? Một ông lãnh đạo đã giải thích rồi. Cộng sản luôn luôn sợ sự thật kể cả sự thật đã bắt nhốt chàng. Họ đã loan báo tin chàng bị bắt chưa nhỉ? Chắc chắn chưa. Họ sẽ lợi dụng một cơ hội tốt đẹp nào đó. Chàng không quên vụ Võ Đại Tôn. Võ Đại Tôn thiếu may mắn hơn chàng. Võ bị sa lưới ở biên giới. Chàng đã về tận quê hương. Ngâm mình dưới giòng sông quê hương và gặp gỡ, trò chuyện với người quê hương. Chàng may mắn hơn cả một bậc lão thành cách mạng thời Pháp đô hộ là lãnh tụ Lý Đông A. Ông Lý bôn ba ở Liễu Châu, giấc hương quan làm ông ngơ ngẩn những canh dài, ông tìm về thăm quê nhà. Nhưng ông chỉ được đứng bên đây bờ sông Kỳ Cùng- người Tầu gọi là sông Pặc Nậm – nhìn sang bên kia sông mà thương nhớ trong một bài thơ nặng tình non nước:

Ta đã về đứng bên bờ Pặc Nậm

Mặc heo mây vương vấn hồn cố hương

Khuất hàng cây lấp ló mấy ven tường

Hòa làn khói mơ màng bao nhớ ước

Cách giòng nước, ta là dân mất nước

Nước non ta, ai ngăn cản ta về

Thấy người quê không được tỏ tình quê

Rõ trước mắt mà tìm đâu cho thấy

Hãy thét lớn, hai bàn tay nắm lấy

Hãy xua tan quân địch của Rồng Tiên

Hãy làm cho người Việt được đoàn viên

Quê, Nước ở trong đáy lòng sông máu.

Võ Đại Tôn chưa được nhìn cả giòng sông quê hương mình. Người ta bắt Võ, giam nhốt Võ. Rồi hơn một năm sau, người ta đưa Võ ra tòa buộc tội Võ làm tay sai cho CIA, rêu rao cùng thế giới tội trạng Võ để Nguyễn Cơ Thạch có sang Singapore giải thích tại sao cộng sản Việt Nam chiếm đóng Kampuchia. Cộng sản là bọn bưng bít sự thật nhà nghề. Họ không dại dột gì vinh tôn một anh hùng của những phe nhóm đối nghịch họ. Khi phải tôn vinh kẻ đối nghịch làm anh hùng, họ đã toan tính lợi cho họ nhiều và hại cho họ thật ít. Chàng mong họ tìm ra cơ hội châu báu của họ để loan tin chàng bị bắt. Không chàng không bao giờ muốn làm anh hùng cả, chàng chỉ muốn gia đình chàng, người yêu của chàng, bằng hữu của chàng biết rằng chàng đã về Việt Nam và đang nằm trong tù ngục cộng sản để chia sẻ nỗi đau khổ với dân tộc chàng. Thế thôi. Đơn giản và thành thật.

Mắt chàng bị bịt chặt đến nỗi không thể chớp được. Nhưng, khi người ta hồi tưởng, người ta chẳng cần mở mắt. Và chàng, tay bị còng chéo sau lưng, chân bị xích, mắt bị bịt, ngồi dựa vai vào tường tù, tưởng nhớ người thân. Chàng nhớ một tiệc rượu tưởng chừng một tiệc ly mà bằng hữu chàng không hề biết đó là tiệc ly. Ít có dịp chàng thù tạc với bạn hữu. Chàng luôn luôn lẩn tránh mọi ồn ào nặng tính chất phô trương. Chàng nói ít, làm nhiều. Bằng hữu bảo chàng kín đáo. Người ngoài bảo chàng thiếu cởi mở. Song, bất cứ ai gặp chàng, nói chuyện với chàng đều có cảm tình với chàng. Trong tiệc rượu hôm ấy, bằng hữu đã ngạc nhiên thấy chàng cụng ly tất cả mọi người. Chàng đọc thơ và kể những kỷ niệm niên thiếu của chàng ở Việt Nam. Rồi tiệc rượu tàn, chàng chia tay bạn bè đi tìm người yêu. Đã quen tính chàng, không ai hỏi chàng sắp đi đâu, làm gì, bao giờ gặp nhau uống rượu nữa.

Chàng lang thang với người yêu gần nửa khuya, dẫn nàng vào Rubis, nghe Ngọc Hải hát Nghìn trùng xa cách, nhẩy với người yêu một bản tango rồi đưa nàng về căn phòng nhỏ bé của chàng. Chàng mở một chai champagne, cụng ly với người yêu:

– Đêm nay chúng ta thức uống rượu. Chàng nói.

– Anh có chuyện buồn? Nàng hỏi.

– Không.

– Anh uống từ trưa?

– Nhưng chưa đỏ mặt. Em không thuộc thơ Trần Huyền Trân đâu nhỉ?

– Vâng. Em không biết thi sĩ ấy.

– Những người có những tâm sự nào đó, lại thích sống cô đơn và ham uống rượu, đều phải thuộc thơ rượu của Trần Huyền Trân. Nhiều đêm anh uống rượu ở quán, về khuya, ra khỏi cửa trời lạnh, nâng cổ áo che gáy là anh ngâm câu: Rượu rồi nâng cổ áo lên cao.

Chàng sảng khoái:

– Rượu rồi nâng cổ áo lên cao…

Và tiếp:

– Nâng cổ áo lên cao để đi xa.

Chàng và nàng uống rượu, hút thuốc, nói chuyện thi ca, âm nhạc. Đêm bình an và tinh khiết. Năm giờ sáng, chàng đưa nàng về nhà nàng. Chàng hôn nàng từ biệt, hẹn sẽ tới đón nàng dịp khác. Sáu giờ, chàng có mặt ở phi trường. Bẩy giờ, chàng lên phi cơ bay tới một nước vùng Đông Nam Á. Bây giờ, chàng nằm đây, mắt bị bịt kín mít, tay bị còng, chân bị xích. Bằng hữu và người yêu không thể tưởng tượng nơi chốn chàng đang có mặt.

Hồi tưởng là một điệu ru êm ái. Điệu ru ấy đã ru chàng ngủ dựa vai vào tường tù ngục. Khi chàng thức giấc, chàng nghe rõ những tiếng ồn ào phía dưới. Có lẽ, trời đã sáng. Có lẽ, chàng đã được đưa đến một nhà tù nào đó của thành phố Hồ Chí Minh. Tiếng ồn ào không ngừng. Âm vang của nó nghe thật ma quái. Cánh cửa đã mở. Chàng nghe bước chân của công an. Người ta tháo miếng vải bịt mắt chàng ra. Chàng vừa hi hí mở mắt thì đèn pin đã rọi sát mắt chàng. Chàng vội khép mắt lại. Đau nhức. Người ta mở còng tay cho chàng.

– Anh nói anh tự do chọn lựa sự đau đớn phải không?

Người công an hỏi

– Phải. Chàng đáp.

– Anh sẽ thỏa mãn sự lựa chọn của anh. Hôm nay anh có thể biết chỗ dành cho anh rồi đấy. Hỏi đi!

– Tôi ở đâu?

– Chí Hòa. Biệt giam khu FG Chí Hòa! Tụi phản động nó quen gọi là ca sô! Phòng của anh, những năm trước đã nhốt thằng Nguyễn Việt Hưng, trùm phản động vụ nhà thờ Vinh Sơn. Từ phòng này, chúng tôi lôi nó ra bắn chết như con chó ghẻ. Anh hỏi nữa đi!

– Không có gì để hỏi nữa.

– Vậy mở to mắt ra mà nhìn!

Người công an hét lớn:

– Mở mắt ra!

Chàng nói:

– Tôi không thể mở lớn được.

– Tại sao?

– Vì anh bịt quá chặt và quá lâu.

Người công an cười gằn:

– Hừ, tưởng anh ngoan cường tới mức nào chứ! Lãnh đạo không thèm chấp thứ anh, anh được đà phét lác. Vào tay tôi, anh tới số.

Chàng nhỏ nhẹ:

– Anh không dám làm gì tôi đâu. Anh nhỏ bé lắm, tôi rất thương hại anh. Anh đâu biết Đảng và Nhà Nước của anh chờ đợi tôi có bốn tiếng…

Chàng nhấn mạnh:

– Bốn tiếng thôi nhé! Sám hối tội lỗi.

Rồi chàng chậm rãi:

– Tôi không sợ anh trả thù giùm lãnh đạo của anh đâu. Anh muốn tôi mở mắt, tôi mở thật lớn.

Chàng mở căng mắt. Người công an rọi thẳng đèn pin vào mắt chàng. Không thèm chớp mắt, chàng chịu đựng một thứ hình phạt nghiệt ngã.

Người công an tắt đèn.

– Tôi tự do mở mắt đấy nhé! Tôi tự do lựa chọn đau đớn đấy nhé! Thứ anh, chắc chắn, không dám, kể cả lãnh đạo của anh.

Người công an nín thinh. Y quẹt ánh sáng đèn pin chung quanh cachot.

– Anh iả, đái vào cái xô kẽm góc phòng. Mỗi tuần, cho anh đi tắm một lần. Khi đi tắm, anh xách xô theo đổ phân và rửa xô. Mỗi ngày anh có hai ca nước, hai bữa cơm theo tiêu chuẩn phạm nhân vi phạm kỷ luật. Anh nhìn rõ chưa?

– Rõ rồi. Tôi nhìn rõ cả chế độ cộng sản.

– Anh liệu cái mồm anh.

Người công an bước khỏi cachot, đóng cửa sắt, khóa kỹ. Cachot tối đen. Không có đèn ở cachot khu FG Chí Hoà. Ban ngày như ban đêm. Giữa trưa nắng chói ngoài trời, ở cachot FG, đưa bàn tay trước mắt mình cũng chẳng nhìn rõ. Cachot mà chàng nằm là cachot biệt lập nên không thể liên hệ với cachot bên cạnh hay cachot đối diện. Mỗi cánh cửa cachot có một ô cửa gió nhỏ. Muốn kiểm soát tù nhân sống, chết hoặc tự tử, công an rọi đèn pin qua ô cửa gió. Cơm nước đều được đưa qua ô cửa gió. Do vậy, ô cửa gió luôn luôn mở vừa tiện can phạm lao động đưa cơm nước vừa để tội nhân thở. Tội nhân như chàng, đích thân công an đưa cơm nước. Cánh cửa sắt chỉ mở mỗi tuần một lần cho tội nhân xách xô phân tiểu đi đổ và tắm rửa. Nếu bất chợt, cánh cửa sắt mở thì hoặc chấp pháp gọi tội nhân ra làm việc, hoặc tội nhân chết bệnh, hoặc tội nhân đập đầu tự tử, hoặc tội nhân bị dẫn đi thủ tiêu.

Chàng đã nhìn rõ cachot của chàng nhờ ánh sáng của ngọn đèn pin của người công an. Chàng biết chỗ cái xô phân tiểu ở góc phòng. Dù mắt rất nhức nhối, khó chịu, chàng vẫn dang thẳng hai tay, lê chân xích đi ngang. Chiều rộng của cachot quá dư soải tay chàng, khoảng 1 mét 20 phân gì đó. Chiều dài khỏi đo mất công. Chàng dơ tay lên cao, đụng trần cachot. Nền cachot nhớp nhụa, ẩm ướt. Hẳn nó đã đóng từng lớp phân tiểu của tù nhân nhiều chế độ. Chàng đã nghe kể về cái đỉnh cao tù ngục Chí Hòa. Bây giờ, chàng đã leo lên chót vót cái ngọn đỉnh ấy để đủ kiến thức thẩm định giá trị chịu đựng của những người trại viên học tập cải tạo và những người tù luân lạc khắp các đề lao thành phố. Nỗi khổ thường được nhân lên tùy cảm hứng khi người ta may mắn thoát ly nỗi khổ. Nỗi khổ thường cũng được thêu dệt, vẽ vời khi người ta may mắn giã từ nỗi khổ. Bởi thế, có anh tự ý dẫn xác đi trình diện học tập, ở trại cải tạo chỉ ngồi vẽ chân dung Hồ Chí Minh, kẻ khẩu hiệu thi đua lao động, không hề cầm cái cuốc, không hề đào bom, khiêng bom, lấp hố bom mà qua Mỹ vẫn thích làm dáng đau khổ viết hồi ký, so sánh chỗ ngồi vẽ với đáy địa ngục! Bởi thế, có anh bị bắt oan, nằm tù vài tháng chuyên nghề phát thuốc ghẻ cho các tù nhân khác, nhởn nhơ ngoài hành lang suốt ngày, sang Pháp, cũng viết về cái đề lao tép riu mà bảo đó là goulag Việt Nam! Thời đại của chúng ta, sau khi nhân danh tự do, dân chủ thì người ta nhân danh nỗi khổ. Kẻ nhân danh nỗi khổ để làm anh hùng tù ngục, để khỏa lấp sự đê tiện của chính y và để nhục mạ người khác. Kẻ nhân danh nỗi khổ để bước vào chính trường, để khua môi múa mỏ về lòng yêu nước và để tự mở đường làm tôi tớ cho ngoại nhân.

Nỗi khổ không bao giờ là đồ trang sức tiến thân, không bao giờ là món hàng rêu rao gạ đổi danh vọng. Nỗi khổ giúp con người tự nhìn y một cách chính xách, giúp con người biết thông cảm với tha nhân, biết sống cao thượng, biết chiến đấu. Nói tóm lại, nỗi khổ giúp con người truy nã bản thân mình, cả cái xấu lẫn cái tốt. Và, sau cuộc truy nã, con người có thể tự hào mình xứng đáng con người nếu mình loại bỏ nổi những nhỏ mọn, ti tiện, đố kỵ, chụp mũ thường hằng. Những kẻ thích nhân danh nỗi khổ là những kẻ chưa bao giờ trực diện nỗi khổ vàng mười, hoặc là những kẻ rỗng tuếch không thể nhìn thấy niềm bí ẩn trong nỗi khổ. Cũng vậy, những kẻ thích nói xấu người khác, thích bôi bẩn người khác đều là những kẻ tồi tệ nhất, dơ bẩn nhất; những kẻ bệnh hoạn không một chút tài năng hoặc chỉ có một dúm tài mọn; những tên sa đích núp trong bóng tối rình mò làm việc tồi bậy. Cuối cùng, nỗi khổ giúp con người khôn lớn, trang trải, thừa thãi thương yêu và dư dả tha thứ.

Đã có mấy ngày đầu tiên thử thách và chiến thắng nỗi khổ, chàng coi thường cachot FG Chí Hòa. Hạnh phúc cho chàng là các thứ lãnh đạo không còn quấy rầy chàng bằng những buổi mạn đàm tẻ nhạt. Ngày hai bữa, công an đưa cơm nước nuôi chàng qua ô cửa gió. Không có nước trà, thuốc lá, dĩ nhiên. Không có cả thịt cá, rau đậu nữa. Mỗi bữa, chàng được cấp một lưng ca cơm và lưng ca canh rau muống già nấu vơí muối. Người ta phát cho chàng ba cái ca nhựa, một cái muỗng nhựa. Ăn uống xong, chàng được phép giữ ca lại, chờ bữa sau có đồ nhận cơm, canh, nước. Ca, muỗng không có nước rửa, không có giấy lau. Tù nhân sống như thời ăn lông ở lỗ! Ca nước uống, chàng không dám uống hết, phải để dành cho việc rửa đít sau khi đi ỉa. Chàng đo thời gian bằng những tiếng kẻng tù. Một ngày, Chí Hòa đánh kẻng bốn lần. Lần thứ nhất: Báo thức sáng. Lần thứ hai: Báo ngủ trưa. Lần thứ ba: Báo thức trưa. Lần thứ tư: Báo ngủ tối. Hàng tuần, người ta dẫn chàng xuống phía sân khu FG đổ xô, rửa xô và tắm gội. Người ta dẫn chàng xuống vào nửa đêm khi tù nhân đã ngon giấc. Chàng mang chân xích xách xô phân tiểu lết xuống và leo lên bốn tầng lầu. Vẫn chân xích, chàng đổ xô phân, rửa xô rồi tắm gội, giặt giũ bộ quần áo không xà phòng. Chàng giặt quần áo, vắt hết nước rồi mặc vào mình. Đêm tắm là đêm chàng không ngủ. Chàng đứng cho quần áo khô và nghe từ trong hiu quạnh một nỗi niềm ray rứt khôn nguôi.

Chàng không sợ chết nhưng chàng thèm sống, khao khát sống vô cùng. Chàng thèm sống và ao ước được trở lại Paris một lần, một lần thôi. Để chàng nói cho bằng hữu và người yêu nỗi niềm ray rứt khôn nguôi chàng đã nghe từ trong hiu quạnh của tù ngục quê hương. Nếu nỗi niềm ray rứt có được ở những đêm cachot không ngủ, không thể ngủ, đứng cho quần áo khô mà mọi người cảm thấm, sự nghiệp giải thoát dân tộc khỏi ách thống trị nghiệt ngã của cộng sản sẽ không còn là của người trong nước hay người ngoài nước, sẽ không còn của phe này nhóm nọ, sẽ không còn là của ngoài Bắc trong Nam. Sẽ là của tất cả những người Việt Nam lương thiện từng ôm những mũi tên cộng sản rướm máu tim oan. Chàng khao khát sống, vì thế. Một người tuổi trẻ Việt Nam tự nguyện rời bỏ cuộc sống phồn hoa đất khách, rời bỏ tương lai tốt đẹp của mình để trở về quê mẹ vào tù, chân mang xích đứng trong bóng tối mù mịt và cô đơn mênh mông không ngủ, mặc quần áo ướt, chia sẻ nỗi đau sót và niềm tủi nhục với dân tộc mình, người tuổi trẻ đó xứng đáng là một biểu tượng gì nhỉ? Hãy hình tưởng chàng rồi cố ví chàng với thánh nhân cam chịu khổ một mình cho hạnh phúc dân tộc sẽ chẳng ai nỡ kết tội lộng ngôn. Thời đại của chúng ta rặt những anh hùng, liệt sĩ bất xứng, những anh hùng, liệt sĩ làm sai lạc định nghĩa anh hùng, liệt sĩ, chàng mới rõ mặt anh hùng. Chàng là thần tượng của tuổi trẻ hôm nay. Chàng là bó đuốc dẫn lối. Chàng là ánh lửa nhận đường.

Với dinh dưỡng đốn mạt, với đầy đọa tinh thần và thể xác cùng cực, chàng phờ phạc, rã rời. Cachot biệt lập FG Chí Hòa, quan tài xi măng cho người sống, đã làm hao mòn chàng. Đôi chân chàng mang xích lỏng lẻo. Xích đã hết nghiến cổ chân chàng rồi! Tóc chàng rậm bù. Râu ria chàng tua tủa. Mắt chàng suy yếu dần dần. Một tháng. Hai tháng. Năm tháng. Bẩy tháng… Chàng quên đếm mấy trăm bữa cơm, mấy chục lần đổ xô phân tiểu, mấy chục bận tắm giặt và đứng thâu đêm chờ quần áo khô. Bỗng một đêm, đèn pin chiếu qua ô cửa gió rọi thẳng vào mặt chàng. Cánh cửa sắt mở rộng. Người ta bảo chàng đứng dậy. Mắt chàng lại bị bịt chặt. Tay chàng lại bị siết còng. Người ta điệu chàng đi nơi khác. Nơi khác chẳng mới lạ gì với chàng. Đó là căn phòng > chàng đã ở, đã mạn đàm vơí các nhà lãnh đạo của chế độ. Người ta hớt tóc, cạo râu cho chàng. Người ta cấp xà phòng thơm tắm gội. Người ta phát quần áo mới. Người ta cho ăn cơm tiêu chuẩn cũ. Người ta tặng thuốc lá. Chàng đã mượn cái gương của người công an hớt tóc soi gương mặt mình. Mắt chàng trũng sâu, thâm quầng. Da chàng trắng bệch. Thịt chàng mềm nhũn. Chàng nhìn mọi vật lờ đờ. Cộng sản không tra tấn. Phải, cộng sản không tra tấn. Nếu không sống bằng ước mơ, chàng đã gục ngã trong quan tài xi măng.

Lần này, người ta đưa cho chàng một tờ giấy và yêu cầu chàng thú nhận tội lỗi. Chàng chưa viết. Người ta không dục. Chàng ăn rồi ngủ. Ngủ rồi tắm. Rồi chàng bỗng tương tư cái quan tài xi măng FG Chí Hoà, chàng bỗng thèm đứng không ngủ thâu đêm cho quần áo khô và nghe từ trong hiu quạnh cái nỗi niềm ray rứt. Nhờ hỏi ngày tháng người công an bảo vệ, chàng biết mình đã nằm trong quan tài xi măng 11 tháng. Mười một tháng chân mang xích, sống trong bóng tối cô quạnh, ăn ngủ chung với phân và nước đái, không nghe tiếng người nói, cười, khóc, chỉ nghe tiếng kẻng gầm gừ dọa nạt, chàng chưa điên là nhờ chàng biết ước mơ. Chàng vừa khám phá một niềm bí ẩn mới. Sức chịu đựng của con người đã chế ngự hình phạt của thù hận.

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Chương 11

Cách mạng Tây Sơn theo sự hiểu biết của tôi

Chúng ta đã có giòng sông Gianh chia đất nước làm hai. Đàng ngoài của chúa Trịnh. Đàng trong của chúa Nguyễn. Tham vọng quyền bính đã làm chúa Trịnh mờ mắt và đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh huynh đệ ngót nghét trăm năm. Phiêu lưu mù quáng và vô vọng của chúa Trịnh tạo ra đau khổ, lầm than cho dân chúng cả hai đàng. Chiến tranh làm nghèo đất nước. Của cải dồn hết cho những trò chơi giết nhau. Chiến tranh đẻ ra ngàn vạn tệ đoan. Sưu cao, thuế nặng. Bắt lính. Hối lộ. Tham nhũng. Guồng máy thống trị siết cổ dân chúng. Trái đau khổ khi chín mùi thì biến thành trái phẫn nộ. Và đó là nguyên do của cách mạng Tây Sơn. Đàng ngoài thối nát. Đàng trong thối nát, cơ cấu quốc gia nằm trong tay Trương Phúc Loan. Nguyễn Nhạc xuất hiện.

Nguyễn Nhạc là ai? Lịch sử không ghi rõ thân thế và sự nghiệp của ông cùng những sinh hoạt hàng ngày với bạn rượu. Tôi nghĩ, xuất xứ đời ông cũng giống Lưu Bang, người diệt Tần với Hạng Võ rồi diệt Hạng Võ mà lập ra nhà Hán. Lưu Bang được mô tả trong Hán Sở tranh hùng là một tên đình trưởng hạng bét. Đúng nghiã, y là tên phóng đãng mà chữ nghiã hôm nay gọi là du đãng. Lưu Bang lười biếng không chịu làm việc gì cả. Y thường ra quán, tụ tập bằng hữu, uống rượu say sưa, có tiền thì trả, không tiền thì quỵt. Y chọc gái trơ trẽn, phá xóm phá làng, dân chúng ai cũng ghét bỏ, khinh bỉ. Nhà Tần độc ác, bắt phu đi làm xâu triền miên. Lưu Bang trốn mãi không xong, đành phải gia nhập đám phu đi phá núi. Ngày thường, Lưu Bang nhát như cáy, hễ đánh nhau là bỏ chạy trước. Thế mà hôm leo núi, Lưu Bang dám mở miệng nhi nhô đòi diệt Tần Thuỷ Hoàng. Dân phu hoan hô Lưu Bang. Y can đảm, phóng lên phiá trước, chém chết con mãng xà. Dân phu phục lăn, bầu Lưu Bang làm minh chủ. Đó, Hán Cao Tổ trảm xà khởi nghiã một cách ngẫu nhiên chưa? Thừa thắng xông lên, Lưu Bang dẫn đám dân phu vây một huyện thành. Nhờ Tiêu Hà, Đằng Công nội ứng, Lưu Bang giết viên tri huyện, giải phóng cả huyện. Tiêu Hà là người tài giỏi, theo Lưu Bang luôn. Rồi đến cả Trương Lương cũng theo. Kế nữa là Hàn Tín và vô số anh hùng hào kiệt. Lưu Bang giải phóng Hàm Đan. Lưu Bang cho Hạng Võ chết nhục ở Ô giang. Lưu Bang lên ngôi hoàng đế. Cái gì thôi thúc anh hùng hào kiệt phò Lưu Bang? Đó là quyền uy tự tạo. Một người muốn tự mình tạo quyền uy cho mình để thu phục người khác thì phải can đảm hoặc liều lĩnh và gặp thời cơ. Nhiều người đã can đảm và liều lĩnh hơn Lưu Bang nhưng không làm nên sự nghiệp. Vì thiếu thời cơ. Kinh Kha chẳng hạn. Người ta thường rè bỉu tướng Ba Cụt, cho rằng ông ta chưa từng học ở trường đào tạo sĩ quan nào. Tôi nghĩ quyền uy tự tạo của Ba Cụt đã cho phép ông tự phong tướng. Và ông can đảm hơn khối vị tướng được gắn lon trên đời này. Quyền uy tự tạo nó chứng minh giá trị đích thực của con người và nó thu hút nhiều người khác.

Vậy thì Nguyễn Nhạc, tự Biện Nhạc, chỉ là anh thu thuế ở một xã nhỏ. Anh rất chịu chơi, ham uống rượu với bạn giang hồ và hào sảng, đem tiền thuế thu của nhà giầu thù tạc bạn bè. Có thể, anh đã không thu thuế nhà nghèo. Nhờ sự hào sảng và tính chịu chơi của anh, bằng hữu giang hồ cảm phục. Anh bèn chơi bạo, lập mưu cướp huyện thành. Bằng hữu tán đồng. Biện Nhạc tự nằm trong cũi, nhờ bằng hữu hộ tống khiêng mình nộp cho tri huyện về tội tiêu hết tiền thuế. Tri huyện ngu dốt tưởng thật. Thế là Biện Nhạc cướp huyện, giải phóng sưu thuế, tạo cho mình thứ quyền uy để từ đó đi xa hơn. Nguyễn Nhạc mở đường cho Nguyễn Huệ. Anh em nhà Tây Sơn chơi đúng lúc vì dân chúng cả hai đàng cũng đều đã chán ghét chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Anh hùng, hào kiệt, sĩ phu hướng về nhà Tây Sơn bầy mưu, lập kế. Tây Sơn diệt Nguyễn, diệt Trịnh, diệt xâm lăng Tầu mở một kỷ nguyên sáng tạo cho đất nước. Cái quyền uy tự tạo nó quyến rũ vô cùng. Nó đòi hỏi can đảm, liều lĩnh và thời cơ. Nhưng những người can đảm, liều lĩnh không bao giờ là trí thức hay những kẻ đã thụ hưởng thừa mứa. Khổng Minh phò anh bán chiếu Lưu Bị. Trương Lương phò anh đình trưởng Lưu Bang. Phạm Tăng phò anh vũ phu Hạng Võ. Nguyễn Trãi phò Lê Lợi. La Sơn Phu Tử phò Nguyễn Huệ. Cao Ba Quát phò Lê Duy Cự…

Ở thời đại của tôi và ở đất nước tôi, mỗi cuộc dấy động có tính chất lịch sử, những người tiên phong hứng đạn và lưỡi lê đàn áp đều là những người không biết sợ hãi, những người mà cuộc đời quen gọi là dân anh chị, dân du đãng. Và họ đều là tuổi trẻ. Tuổi trẻ ngoài đời và tuổi trẻ trong quân dội. Những người tuổi trẻ trí thức đứng sau họ. Rồi đến nhân dân. Bọn đạo diễn thủ lợi không bao giờ có mặt. Tại sao Phật giáo xuống đường tỏ thái độ vối nhà cầm quyền phải nhờ vả anh em giang hồ dẫn đường? Tại sao Công giáo xuống đường đòi hỏi quyền lợi phải nhờ vả anh em giang hồ mở lối? Tại sao cảnh sát muốn dẹp xuống đường cũng phải nhờ vả anh em giang hồ? Bởi vì du đãng có quyền uy tự tạo. Bởi vì mỗi đàn anh của họ đều có tinh thần đại ca. Tinh thần đại ca là gì? Là sự hào sảng, bao dung, chịu thiệt thòi vì đàn em. Từ ba mươi năm nay, ở miền Nam, tôi chưa thấy một lãnh tụ tuổi trẻ nào xứng đáng so sánh với một đại ca du đãng. Từ mười năm nay, ở châu Âu, châu Mỹ, tôi chưa thấy một lãnh tụ kháng chiến nào xứng đáng so sánh với một du đãng bình thường. Hãy hỏi ông chủ tịch một hội đoàn, một phong trào xem có bao nhiêu hội viên, bao nhiêu đàn em thân tín. Chẳng có ai thân tín cả. Nhưng một đại ca du đãng có hàng trăm đàn em. Đại Cathay có ba ngàn đàn em một lòng một dạ với đàn anh. Môt tay anh chị ở một khu vực là một tổng thống trong bóng tối của khu vực. Bởi thế, không chứa nổi tâm hồn Đại Cathay nên, sau khi mời Bộ tham mưu của Đại về ngự ở Ngã Năm Bình Hòa giao du với Đại uý Chi, Trưởng ban bài trừ du đãng, ông Nguyễn Ngọc Loan đã hạ lệnh bắt Đại đầy ra đảo và thủ tiêu Đại Cathay.

Tại sao cộng sản đã gom hết những tay anh chị có tiền án và những tay bị tình nghi anh chị vào các trại tập trung lao cải rồi đầy đọa chết dần, chết mòn? Vì họ sợ du đãng, sợ sự liều lĩnh của du đãng. Họ lo ngại du đãng sẽ phát động quần chúng xuống đường chống đối chế độ mới. Họ hoảng hốt khi cán bộ, bộ đội, công an của họ đã bị ám sát. Họ đề phòng du đãng cuốn hút mọi khuynh hướng phản kháng họ. Chế độ nào cũng nể và cũng ghét du đãng. Nhưng du đãng, họ là ai? Trước hết, họ là những người tuổi trẻ như những người tuổi trẻ khác với đầy đủ cái tốt và cái xấu. Hoàn cảnh xã hội, gia đình tạo họ thành những người phóng đãng. Xã hội hẹp hòi đã phán xét họ nặng nề, đã lấp hết lối về của họ. Họ trở thành du đãng. Dưới mắt thành kiến của xã hội, du đãng là hạng người xấu xa nhất, tồi tệ nhất. Xã hội đồng hoá du đãng với bọn cướp giật đê tiện. Xã hội mù lòa không thể biết du đãng là những người tình cảm nhất, hào sảng nhất, giữ lời hứa nhất, dám nói và dám làm. Và làm là được. Một số người đã lợi dụng du đãng, lợi dụng sự can đảm và liều lĩnh của du đãng vào những mục đích xấu xa để họ mang tiếng. Tôi nghĩ, nếu du đãng có lý tưởng, nếu họ biết Lưu Bang là ai, Nguyễn Nhạc là ai thì thời cơ này dân tộc rất cần họ. Và tôi suy tư về cách mạng Tây Sơn.

Tôi không muốn đếm xỉa đến trí thức lưu vong nữa. Tưởng chừng như họ đã chết, dù họ vẫn còn sống. Những kẻ trốn tránh và sợ hãi thực tại, cố thu mình vào vỏ ốc mà mơ tưởng dĩ vãng huy hoàng, không dám dấn thân làm lại từ đầu, ta chẳng nên phí thì giờ nghĩ về họ. Bọn tướng tá đào ngũ thì tôi đã để lòng khinh bỉ. Lũ nghị sĩ, dân biểu bỏ cử tri đau khổ mà đi tìm sự an thân, càng đáng khinh bỉ. Tôi đã gặp trí thức kẹt lại. Họ hư đốn hết rồi. Sáng giá như kiến trúc sư Ngô Viết Thụ mà sau khi rời trại cải tạo, được cộng sản đoái hoài, cho sang Liên xô một chuyến, về nhà hót Liên xô như khướu. Trí thức hư đốn vào hết cái chuồng Hội Trí Thức Yêu Nước. Trí thức còn lương tri thì bải hoải, bạc nhược. Ngó trước, nhìn sau, tôi thấy chỉ còn tuổi trẻ đáng tin cậy. Tuổi trẻ Sàigòn hôm nay bất mãn và bất cần đời gấp ngàn lần tuổi trẻ trước 1975. Người tuổi trẻ tiểu tư sản lãng mạn rất nhiều ẩn ức và đang chờ cơ hội phóng những ẩn ức đó ra. Tôi còn biết tuổi trẻ Hà Nội muốn phá tung cái lưới chế độ chụp bủa lên thân phận họ. Ngay cả Võ Điện Biên, con trai Võ Nguyên Giáp, đã trở thành du đãng, sống ngoài vòng pháp chế xã hội chủ nghiã.

Tôi muốn vận động tuổi trẻ…

Chàng phải ngừng ở đó vì, tự nhiên, chàng nhức đầu ghê gớm. Rồi chàng lên cơn sốt. Chàng bỏ cơm. Người công an bảo vệ cho chàng ăn cháo, uống sữa. Bác sĩ của Sở Công An đến khám bệnh, chích thuốc. Mất ba ngày chàng mới lành mạnh. Chàng định viết tiếp > sang phần kỹ thuật vận động. Rồi thôi. Không nên để kẻ thù biết những điều họ cần biết. Cứ lơ lửng thế này, họ sẽ tưởng chàng khủng hoảng thần kinh đề cao du đãng. Một tuần lễ, tính từ ngày chàng gặp Mai Chí Thọ, công an bảo vệ gọi chàng ra làm việc. Vẫn cái bàn cũ, cảnh cũ, nước trà và thuốc lá. Khác một chút, lần này, thuốc là Vàm Cỏ và lãnh đạo trẻ trung. Chàng đặt tên lãnh đạo là Lãnh Đạo 6.

– Anh khỏi sốt rồi chứ, anh Bá?

– Cám ơn ông, tôi đã khỏi.

– Ngày mai tôi sang Paris công tác, anh có muốn gửi gì không?

– Gửi gì, thưa ông?

– Thư từ.

– Tôi biết ông không chuyển, ông sẽ bỏ vào hồ sơ của tôi, nên tôi không viết thư.

– Anh đa nghi quá.

– Ở đây, tôi chỉ còn tin tôi. Nếu ông muốn tôi tin ông, xin ông cho tôi gửi một thứ.

– Được. Cái gì?

– Một miếng cô đơn cho bạn bè tôi ỏ Paris chia sẽ với tôi.

– Bạn bè anh là ai, ở đâu?

– Ở Paris. Tất cả những người tuổi trẻ chống cộng sản.

Lãnh Đạo 6 cười:

– Đồng chí Mai Chí Thọ bảo anh bị crise!

Chàng cười theo:

– Có lẽ.

– Ta ôn chuyện Paris đi. Tôi đã ở trong phái đoàn hội đàm năm 1968 đến 1969.

– Ông yêu Paris?

– Yêu chứ.

– Tôi thì chỉ yêu Sàigòn.

– Anh không yêu Hà Nội?

– Tôi yêu Hà Nội hơn cả ông. Tại sao tôi không yêu bất cứ một thành phố nào của quê hương tôi nhỉ?

– Nhưng mà ta nên nói chuyện Paris.

– Tùy ý ông.

– Mùa này giữa thu Paris phải không, anh Bá?

– Phải.

– Có lần tôi vào vườn Luxembourg dịp khai trường và tôi nhớ Anatole France.

– Ông cũng đọc Anatole France?

– Tôi thích cuốn Livre de mon ami.

– Đoạn Anatole hồi tưởng ngày khai trường?

– Đúng.

– Tôi lại thích Thanh Tịnh.

– Anh khác tôi.

– Luôn luôn tôi khác ông. Ông đã đọc André Gide chưa?

– Rồi.

– Cuốn gì của Gide làm ông thích?

– Le retour de l’URSS.

– Tôi lại thích cuốn A la retouche sur mon retour de l’URSS.

– Cuốn đó phản động.

– Nhưng của André Gide, nhà văn mà ông thích.

– Anh Bá!

– Tôi nghe ông đây.

– Tôi muốn nói chuyện tâm cảm với anh.

– Thì ông cứ nói.

– Anh thích tạo mâu thuẫn. Tôi đến gặp anh nói chuyện Paris, không đến để thẩm vấn anh.

– Tôi không thích chuyện Paris. Ông nên nói chuyện Hà Nội, thành phố tôi ao ước tới.

– Anh sẽ tới Hà Nội.

– Vâng, tôi hy vọng sẽ tới Hà Nội.

– Giả sử ngày mai anh tới Hà Nội, nơi nào anh sẽ thăm viếng trước tiên?

– Chỗ Nhượng Tống gục ngã bởi những viên đạn hèn.

– Anh… Việt Nam Quốc Dân Đảng?

– Không phải đâu. Tôi yêu mến và cảm phục tài hoa của Nhượng Tống. Ông đọc bản dịch Nam Hoa Kinh của Nhượng Tống chưa?

– Chưa.

– Thế thì làm sao ông cảm nổi Nhượng Tống. Riêng bài Tựa của Nhượng Tống cho bản dịch đã làm tôi ngây ngất. Tôi nói ông đừng buồn nhé?

– Anh cứ nói.

– Cộng tất cả tinh hoa văn chương của lãnh tụ các ông cũng chưa thể so sánh với bài Tựa bản dịch Nam Hoa Kinh của Nhượng Tống.

– Anh nói quá đáng.

– Tôi nói theo ý nghĩ của tôi. Nằm trong tù, tôi có dịp nhớ lại bài Tựa ấy, và lòng tôi dạt dào cảm xúc. Tôi tưởng tượng tôi đang đứng ở Quảng Trị, ở một làng nghèo nhất Quảng Trị, Gio Linh chẳng hạn, ngước mắt nhìn lên phương Bắc, ngoảnh mặt quay xuống phương Nam. Trên miền đất khổ quê hương tôi, thời đại tôi, tại sao lại sẽ chẳng có dân tộc Kinh nhỉ?

– Anh lãng mạn quá đà!

– Quá đà lãng mạn, tôi hình tưởng từ dân tộc Kinh, một Nguyễn Huệ mới đứng dựa lưng vào Trường Sơn nhìn ra biển Đông, vươn tay trái hất đổ triều đình nhà Trịnh, vươn tay phải hất đổ triều đình nhà Nguyễn; đạp chân trái, 20 vạn quân Thanh chết thảm, đạp chân phải, 2 vạn quân Xiêm chết nhục; mỉm nụ cười nhân ái, đất nước rực rỡ tự hào.

– Quả thật anh bị khủng hoảng thần kinh. Có lẽ, chúng tôi phải đưa anh vào nhà thương Chợ Quán.

– Ông đe dọa?

– Chữa bệnh cho anh mà gọi là đe dọa à?

– Đưa tôi vào nhà thương điên để tôi trở thành người điên thật sự! Các ông cứ việc đưa đi. Đó là quyền của các ông. Trước khi tôi hoàn toàn mất trí, ông nên nhớ điều này: Các ông, những người cộng sản Việt Nam đã mất gốc cộng sản rồi, các ông đang bơ vơ tội nghiệp. Tội nghiệp hơn nữa là các ông không biết mình đang bơ vơ.

– Anh Bá, tôi kiểm chứng từ lúc gặp anh tới bây giờ, chuyện của anh đúng là chuyện của người điên. Chúng tôi sẽ làm anh hết điên.

– Ông nói thẳng là các ông sẽ làm tôi chết.

– Không, anh sẽ sống.

– Tại sao các ông sợ tôi điên?

– Vì chúng tôi quý mến anh.

– Các ông sợ sự thật. Sự thật làm các ông cuống quýt nhất là chế độ của các ông sắp tàn rồi. Các ông đang ở đỉnh ngọn cây và cây thì đã trốc gốc. Cộng sản Việt Nam hôm nay có đến 12 giai cấp. Những giai cấp thiệt thòi nhất sẽ bứng gốc cây. Khi cách mạng Tây Sơn bùng dậy.

– Khẩu khí người điên.

– Tôi chưa điên.

– Anh chưa điên thì hẳn anh còn nhớ lời anh hứa với đồng chí Mai Chí Thọ.

– Tôi nhớ.

– Gì?

– Tự khai.

– Anh đã viết tự khai chưa?

– Rồi.

– Vậy thì anh chưa điên mà là ngông cuồng, dại dột. Tôi biết, trước sau anh cũng phải viết tự khai. Như thế; chúng ta có thể tiếp tục chuyện Hà Nội.

– Bằng Nhượng Tống?

– Được.

– Tại sao các ông nỡ ám hại một nhà văn mảnh mai và tài hoa như thế?

– Điều này đã thuộc về quá khứ.

– Tại sao các ông sát hại thi sĩ Vũ Hoàng Chương? Cũng thuộc về quá khứ chăng?

– Sai lầm hiện tượng.

– Còn bản chất, nhiều nhà văn, nhà thơ vô tội vẫn nằm trong các trại tập trung?

Lãnh Đạo 6 đứng dậy:

– Tôi muốn đọc bản Tự Khai của anh.

– Ông ta không trả lời câu hỏi của chàng. Vẫy tay, ông ta ra lệnh người công an bảo vệ:

– Dẫn anh Bá về phòng và đem bản Tự Khai ra cho tôi.

Người công an tuân lệnh. Cánh cửa khép lại. Chàng đoán trước những sự việc sắp xẩy ra sau khi người ta những gì chàng viết trên những trang giấy trắng. Thản nhiên, chàng đợi chờ, chàng thầm nghĩ thế.

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Chương 9

Đêm Đầu Tiên Trong Lòng Khu Chiến

Đọc Lời Giới Thiệu Tập Hồi Ký Của Tác Giả Trần Vàng Sao.

Người đã bỏ phố thi ̣miền nam, lên rừng vào khu chiến, ở thập niên 1960, cùng bao đổ vỡ nhận thức về cuộc cách mạng!!!

(Bắt đầu viết vào ngày 25/9/2001).

https://drive.google.com/file/d/1OhesnKi7v-HzBlW5QpN4AyN_gN4kKA7p/view

Đêm nghe quạ kêu

baotreonline.com

Tim Nguyễn

September 13th, 2024

Post by Sơn râu 20 Oct 2024

“Vùng đất, nơi em ở, trong truyện kể dân gian gọi là đất của quạ và diều. Mỗi sáng mỗi chiều, mở cửa sổ nhìn lên ngọn đồi Twelve Oaks, em đều thấy quạ họp từng đàn bay rợp, đáp xuống và kêu la. Và có đêm trăng sáng, nhìn ra vườn khuya, thấy bóng một con diều hâu (hawk) đậu trên ngọn cây khô, im lặng và cô đơn …”

Đoạn văn trên là trong email của một người bạn gởi tới, gợi cho Nguyễn viết bài văn này khi đêm qua vừa nghe vẳng một tiếng quạ kêu trong vườn khuya.

Từ Ô Y Hạng rủ rê sang

Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng

Chắc chắn bóng quạ đen kêu đêm qua trong khu vườn trụi lá của tôi chẳng phải là những con quạ đến từ bài thơ đường luật của Quách Tấn tiên sinh, lại càng không phải là những chú quạ từ Ngõ Áo Đen (Ô Y Hạng) nào đó, nơi những bác thợ nhuộm ra vào sớm tối. Cũng không phải là bóng ác điểu đậu trên nấm mồ Bích Khê ở Thu Xà Quảng Ngãi, như thi sĩ đã có lời tiên tri lúc sinh thời. Chú quạ trong bài thơ không kêu một tiếng nào – dường như là vậy. Chú im lặng. Tuyệt im lặng. Như cái chết. Như mệnh số của thiên tài.

Mệnh số. Có không? Không ai biết. Như Edgar Poe, chỉ còn nghe nevermore (trong The Raven – Con Quạ).

Only this, and nothing more … Nó là vọng âm Lenore, tên người yêu yểu mệnh của thi sĩ. Từ nay mãi mãi không thấy nhau. Mãi mãi. Trong âm vang của tiếng gọi Lenore, Nguyễn cũng muốn gọi về một mảng quá khứ của thời xanh xưa. Hỡi nàng Đường Uyển trong Vườn Thẩm bên cầu Lục Du – chỉ có những trái thông khô lăn bên triền dốc. Và bóng quạ chợt bay qua, tiếng kêu vọng lại dưới trời đêm. Nevermore. Thơ ai khắc trên đá tảng và trên vỏ cây còn mùi nhựa ngái. Còn không? Nevermore. Chỉ là mùi hương đã ở ngoài trí nhớ người. Ô hay! Tôi lại làm thơ như Lục Du nữa rồi. Đường Uyển ơi. Lòng những tưởng sẽ dừng lại ở dòng viết này. Như một tang khúc cho người bên cầu thuở ấy. Nhưng hốt nhiên, tiếng quạ trong vườn khuya đêm qua khiến liên tưởng đến nàng Lenore của Edgar Poe và Đường Uyển của Lục Du. Đồng thời nó cũng gợi lên những bóng quạ đen trên lưu đày thời miền Nam đổi chủ. Và bóng quạ đen trên sân nắng một buổi trưa khi còn ở Mira Mesa, San Diego. Như vậy tại sao không viết tiếp để gom tất cả lại thành một Tứ Đại Oán thời nay. Xin tiếp nối sau đây.

Ngõ Áo Đen

Thi sĩ Phạm Công Thiện đã “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và đã nhìn thấy những bóng quạ đen. A, những con quạ đen – ở đâu vậy cà, Greenwich Village, NY- hay bên cầu Lục Du- những con quạ đen vừa đi vừa té ngã, xiêu vẹo –như bóng triết gia ngộ chân lý (?) -lại có những con đầu trọc chừng như vừa qua khổ dịch đội đá bắc cầu cho đôi lứa yêu nhau ngày nọ?

Thi sĩ Phạm Công Thiện “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và thấy được những hình ảnh vừa âm u vừa thơ mộng, lại vang vang tư tưởng của triết gia. Riêng Nguyễn và các bạn đồng hội đồng thuyền đã đi cho hết cả ba ngàn đêm hoang vu trên mặt đất quê nhà thời đổi chủ và đã thấy những bóng quạ đen như ác mộng trên phần kiếp của mình. Thuở ấy, những thân tù xanh lướt như rau tàu bay, như ngải đắng của vùng gió Mán mưa Tày, soi bóng xuống mặt nước xanh chàm của Thác Bà cùng với bóng những cây trầm thủy. Những cái bóng ấy, dừng lại một hai nơi, rồi lại đi khi có “lệnh trên” (đây là trên “khung”, bộ chỉ huy trại tù của VC) vì kẻ thù từ Trung Quốc tràn qua bám theo đuôi ngựa. Đi, đi… Qua đồi sắn, nương khoai, ruộng bậc thang và bóng nhà sàn vọng tiếng mõ trâu trong chiều, qua những đồi cọ dưới trời Hà Tuyên nắng rực trên vai áo rách bạc màu, hướng về những đồi chè Bắc Thái. Dừng lại rồi đi tiếp vì kẻ thù vẫn bám riết. Đi, qua ngã ba Đồng Lộc về tới Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ.

Vâng. Ngày ấy, năm 1979, Nguyễn và các bạn làm thơ làm nhạc bị giam ở Thanh Chương, Nghệ Tĩnh -có Hà Thượng Nhân, Vũ Đức Nghiêm, Tô Thùy Yên, Chu A Hạnh, Nguyễn Trung Dũng, Xuân Bích…- cùng khoảng một ngàn anh em khác. Thanh Chương là vùng đất khô cằn, núi đá trùng điệp, ngay bên cạnh trại cũng có một ngọn núi đá. Từng ngày, tiếng mìn phá núi vang dội, đôi khi có cả những cục đá to rơi kinh hoàng trên mái trại. Từng ngày, anh em bạn tù dùng xe cải tiến (xe cút kít) đi xúc đá, chở đá. Cả một vùng đá núi khô cằn, cỏ cây xơ xác. Và những cơn gió Lào trong mùa nắng cháy không ngớt thổi về làm đỏ hoe con mắt, khô héo ruột gan tù. Ở đây, chỉ khoảng một năm, đã có 3 bạn tù rũ áo: Lê Thơm, Hậu và một người nữa không nhớ tên (có phải là Nghĩa?). Đây là đất của diều và quạ. Đêm thường nghe vọng

Ác điểu ngày đêm gào xáo xác

Dường như cả thế giới lâm chung

Tô Thùy Yên

Đêm qua. ác điểu. đầu ngọn khuya

Quạ quắp. trái tim ta. lên núi

Nguyễn Xuân Thiệp

Như thế đấy, bóng quạ kêu trong đêm nguyệt tận nào phải “nguyệt minh tinh hi… ô thước nam phi” như trong bài phú Tiền Xích Bích của ông Tô Tử ngày xưa. Cũng không phải tiếng quạ trên bến cây phong “nguyệt lạc ô đề…” Ôi, tiếng quạ kêu dưới những lán trại xác xơ trong thành đá xanh ngày ấy. Rồi cũng ở Thanh Chương Nghệ Tĩnh, những trưa tù đốt rừng, hừng hực nóng, khói và sâu bọ cuồn cuộn lên, khiến lũ quạ bay đảo đầy trời. Chúng kêu rân, họng đầy máu… Tiếng kêu của những phù thủy áo đen ấy, tưởng như báo điềm gở, làm cho bầu trời lạnh băng, không gian chợt tối lại.

Giã từ tiếng quạ của đất tù ngày ấy, tôi đi… qua biển rộng, qua những chiếc cầu hoàng hôn, những bến cảng sương mù, những xa lộ thời gian… Để đến trên ngọn đồi Penasquitos

buổi trưa nhìn nắng xế

trên sân. bóng quạ què

kêu. kêu. từng giọt máu…

Như vậy đó, ôi cuộc hành trình nhân sinh

và ta đã đi qua

với tiếng quạ. bên cầu Lục Du,

tiếng quạ. trên lưu đày Thanh Chương. đá núi

tiếng quạ trên đồi Penasquitos

và tiếng quạ trong vườn khuya trụi lá đêm qua.

Ôi, phải chăng Nguyễn này đã hoàn thành một Tứ Đại Oán để gởi người thời nay?

TN

Đêm mưa bão, nghĩ tới loài cây dó

baotreonline.com

Tim Nguyễn

May 26th, 2023
Post by Sơn râu 20 Oct 2024

Trong truyện ngắn Thả Thơ in ở Vang Bóng Một Thời, Nguyễn Tuân làm sống lại bầu khí văn chương của thời trước bằng một đoạn ngắn mang nhiều hoài cảm: Có những đêm mưa to gió lớn làm nhòe những tiếng trống phủ cầm canh, cô Tú rời phòng mình, qua gian giữa gây một lư trầm cho cha. Ở gian giữa tư thất liền có tiếng ngâm thơ:

Cứ đốt lò hương cho tới sáng,

Thử xem mưa gió tới bao giờ

Ở đây, đêm qua cũng mưa bão sấm chớp đầy trời. Nguyễn tôi nhìn ra cửa sổ sáng đèn, thấy ngọn hải đào vật vã, thả bay trong mưa những chùm bông đỏ ối. Sẵn có mấy miếng trầm nhỏ bạn cố tri từ Việt Nam qua cho, bèn lấy cái bát sành cho vào rồi đốt lên. Mùi hương trầm thoảng bay trong mưa gió sấm chớp lóe rền, khiến nhớ tới loài cây dó trong một bài viết đã lâu quên tên, nay xin ghi ra đây và điểm xuyết thêm để bạn ta đang ở cuối cơn hôn mê lịch sử cùng nhau ngâm ngợi.

Trên núi cao có một loài cây gọi là cây dó. Thoạt nhìn, nó chỉ là loại cây tầm thường như hàng vạn thảo mộc khác, nhưng có một điểm đặc biệt khiến cây dó trở thành quý, ấy là nó cho ta trầm. Ðể có được trầm, theo như sách vở cho biết, loài cây dó phải chịu những vết thương ở rễ và cả thân cành. Rồi qua hàng chục năm, có khi cả trăm năm, nhựa cây ứa ra quanh vết thương đó, lại phải nhờ giọt sương tia nắng, tức khí âm dương của trời đất, làm cho chất nhựa ngấm vào thớ gỗ trong ruột cây.

Gần đây, tra cứu trên Google cũng thấy ghi: “Aloeswood is the resinous wood from the Aquilaria tree, an evergreen tree native to northern India, Laos, Cambodia, Malaysia, Indonesia, and Vietnam…”

Trầm là thứ gỗ có chất nhựa từ cây Aquilaria, một loại cây xanh tốt quanh năm, gốc từ miền Bắc Ấn Ðộ, Lào, Cam Bốt, Mã Lai, Nam Dương và Việt Nam. Cây Aquilaria cao khoảng chừng 40 mét, có đường kính 60 cm. Nó nở hoa trắng như tuyết, tỏa ngát hương thơm. Loài cây này thường xuyên bị nấm (fungus) ăn bám vào khiến nó tiết ra chất nhựa thơm để băng bó vết thương…

Như đã thấy trên, có những cây dó trầm hương hàng trăm năm tuổi nhưng đường kính gốc chỉ độ mười lăm hai mươi inch. Sở dĩ vậy, vì loài cây này lớn chậm, phải hơn mười năm mới nở hoa một lần, để rồi kết trái, hạt rụng xuống, lưu giống đời sau. Cho nên không phải ở khu rừng ngọn núi nào cũng có trầm hương, nghĩa là có cây dó. Thứ cây quý và hiếm như thế không dễ gì bạ đâu mọc đó, như những thứ cỏ mọn hoa hèn, thảo mộc tầm thường.

Những nghệ sĩ lớn ở đời cũng vậy, có khác gì loài cây dó mọc trên non cao. Phải hàng trăm năm mới có được những Khuất Nguyên, Tư Mã Thiên, Ðỗ Phủ, Nguyễn Du, Beethoven, Lev Tolstoi, Boris Pasternak v.v… Họ -những nghệ sĩ ấy- hẳn cũng đã phải cưu mang những vết thương, để rồi từ chính những đau khổ của đời mình trải qua trong cuộc nhân sinh mà sáng tạo nên những công trình lớn, những nghệ phẩm lớn. Không thể nào từ cái không mà tạo nên cái có hay từ ao tù mà dấy lên sóng cả. Không thể nào bỗng nhiên một sáng đẹp trời thức dậy thấy mình trở thành nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ hay họa sĩ tài danh rạng rỡ để mọi người phải ngưỡng mộ. Tất nhiên cũng có những văn nghệ sĩ sống cuộc đời bình thường mà cũng sáng tạo được những tác phẩm có tầm vóc đồ sộ, nhưng đó gần như là những ngoại lệ, như trường hợp của Rabindranath Tagore với Khúc Ca Dâng Hiến (Gitanjali – Song Offerings), Marcel Proust tác giả thiên trường giang tiểu thuyết Tìm Lại Thời Gian Ðã Mất hay William Faulkner với tác phẩm Âm Thanh Và Cuồng Nộ mở ra một chân trời lồng lộng, một bề sâu thăm thẳm của kiếp nhân sinh và tâm thức người. Hoặc giả, có những nghệ sĩ nhờ tài năng bẩm sinh và học hỏi, rèn luyện mà sáng tạo nên những tuyệt phẩm để đời. Nhưng nói chung, không có một cuộc đời lớn, một tâm hồn lớn thì khó có tác phẩm lớn. Hãy nghĩ đến loài cây dó nơi non cao rừng rậm. Hay nghĩ đến con trai giữa muôn trùng sóng biển khơi xô giạt với một vết thương trong lòng để từ đó sinh ra hạt ngọc long lanh. Hay cây gỗ vàng tâm, muốn có những đường vân quý, phải vật vã trăm năm trong bão tố. Người nghệ sĩ đích thực cũng vậy, phải chịu những đau khổ lớn và tự rèn luyện không ngừng, thầm lặng và cô đơn miệt mài trên trang giấy, trước phiếm đàn, khung vải… để làm nên tác phẩm. Khuất Nguyên ôm nỗi đau của người cô trung viết những vần Ly Tao để rồi gieo mình xuống sông Mịch La rửa sạch oan khiên. Tư Mã Thiên, trong nỗi thống khổ của người bị tội hình, đã dựng lên cả một pho Sử Ký vĩ đại. Có “trải qua một cuộc bể dâu”, Nguyễn Du mới viết được Ðoạn Trường Tân Thanh để lại cho đời. Beethoven, Lev Tolstoi hay Boris Pasternak hay Solzhenitsyn hay Brodsky… đều đã sống những chấn động bi thương của kiếp người và lịch sử.

Danh họa Dương Bích Liên

Tuy nhiên, không phải hễ trải qua cuộc biển dâu là có được tác phẩm giá trị. Thiếu gì loài cây cũng qua cơn gió bão như loài cây dó mà chẳng sản sinh được chút trầm hương nào cả. Nếu không tìm cách thăng hoa nỗi đau khổ, miệt mài suy tưởng về cách thế ưu việt để diễn đạt, thì sẽ bị chính nỗi đau khổ tiêu diệt. Văn Cao kể từ sau Cộng Sản chiếm được chính quyền, đã tự dằn vặt và nhận chìm nỗi khổ trong ly rượu khi ông nghĩ tới thời trẻ đã mê theo chế độ, cầm súng tham gia ám sát người lương thiện. Kể từ sau Bến Xuân, Thiên Thai, Sông Lô… coi như Văn Cao đã chết. Chế Lan Viên suốt bao nhiêu năm tháng ăn bánh vẽ của Cộng Sản mà vẫn đóng kịch giả vờ rất hoan hỷ để rồi cuối đời viết Di Cảo chỉ là những mảnh vụn suy nghĩ chứ chưa phải là tác phẩm. Trường hợp Văn Cao và Chế Lan Viên, thủ phạm giết chết mầm sáng tạo của nghệ sĩ không phải tự thân cuộc đời mà do ở chế độ và những tên đồ tể “đầy gân thiếu trái tim”. Trường hợp nhà danh họa Dương Bích Liên cũng đáng cho chúng ta suy nghĩ. “Nghiêm – Liên – Sáng – Phái” là những danh họa Việt Nam mà trong bốn số phận đó, Dương Bích Liên có lẽ là con người u uất lặng lẽ sống và chết buồn thảm nhất – tài liệu trên net gần đây ghi rằng cuối đời ông nhịn đói cho tới chết. Một danh hoạ được xưng tụng mà sinh thời chưa một lần triển lãm tác phẩm của mình, một danh hoạ vẽ cả đời mà cuối cùng muốn tự hủy hết tác phẩm của đời mình.

Nguyễn tôi đã đi có hơi xa. Xin trở lại những luận điểm chính của bài viết hôm nay. Vâng, ta thấy phần đông nghệ sĩ sáng tạo được tác phẩm giá trị tuyệt vời là từ chính những nỗi đọa đày của kiếp người. Như loài cây dó phải chịu những vết thương mới tạo ra trầm. Tài năng, nhân cách của nhà nghệ sĩ được tôi luyện trong ánh lửa ngời “inferno” và những cơn giông lớn vật vã trăm bề. Và từ đó, thấy được rằng những cống hiến của nhà nghệ sĩ chính là tim óc, tinh huyết của họ. Ðể chúng ta có một thái độ trân trọng hơn trong thưởng ngoạn vậy.

TN

Nhà số 7403 đường Franklin

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Friday, October 7, 2016

Post by Sơn râu 20 oct 2024

Giống hầu hết mọi khu vực xanh mát phủ trùm khác của Virginia, lối vào Annandale luôn đong đầy bóng cây lắc lay lá. Căn nhà tiền chế bằng chất kim loại mỏng, hình khối chữ nhật ngã màu vàng, lối vào và nền nhà cách ngăn bằng tấm cửa kéo mong manh, không chênh lệch độ nông sâu, cao thấp. Bằng phẳng từ tiền vào tới hậu. Mưa đổ oà có thể xoá nhoà biên giới giữa trong ngoài, lấm lem một địa chỉ mông lung vừa định hình ra bến tạm. Tấm tapis mỡ gà, chiếc ghế nệm nâu có thể kéo ra làm giường. Cái bàn thờ, đôi ba bức tượng Phật cổ, giá vẽ, những cây cọ cắm tua tủa ngược đầu trong lon, trong lu, trong hủ. Hai cuốn niên giám điện thoại hơn ngàn trang đặt chồng lên nhau, thế ghế ngồi khi đối mặt tấm bố rộng. Những tuýp sơn dầu vặn vẹo, co quắp hình thù. Và tranh, lớn nhỏ treo lên vách hoặc úp mặt nhau ở một góc nhà, nửa bề bộn nửa ngăn nắp. Nửa ngơi nghỉ nửa tỉnh thức. Nửa này và nửa kia như tấm thẻ xanh, như chưa vững bền một tựu thành vào quốc tịch.

Thoạt kỳ thuỷ từ chốn Utah xa ngái, hoạ sĩ Đinh Cường đông tiến và cùng gia đình chọn Virginia làm chốn dừng chân. Năm nọ, có lẽ 1990, tôi bay từ Montréal sang thăm, tôi “đạp đất” số 7403 Franklin Road và dường như tôi đã nhìn thấy lại nét vàng phai căn nhà sau lưng trường Mỹ Thuật ở Huế. Bao năm tháng hao gầy chia cắt, bao gió chướng cuồng nộ, bao băng giá phủ trùm, rốt cuộc chúng tôi cũng sẽ, cũng đã bắt buộc phải ngồi kề bên nhau như thứ định luật tự nhiên khó bề giải thích và chẳng nên cắt nghĩa. Sau cơn mưa trời có sáng chăng?

Khoảng sân đầy cỏ xanh, một góc vụn nát đá dăm có chiếc Toyota màu đỏ đun dưới bóng cây. Mùa hè hanh, chút gió hiếm muộn cùng những con sóc luôn dạn dĩ đến vẫy đuôi, chăm mắt ngó. Bên giá vẽ, người hoạ sĩ luôn thủ sẵn một bao đậu phộng ran và nếu tôi đừng ngồi bệt ngay ngạch cửa, sóc luôn là những vị khách không mời của người đang thao tác dựng nên vẻ đẹp vô ngôn. Rất lặng lẽ, sóc an toạ ngay tầm tay để đón nhận “bữa cơm từ thiện”. Nhiều quá, chúng sẽ thôi ăn, mang ra sân cỏ để đào bới, thu cất. Điều đó cũng đồng nghĩa là người hoạ sĩ sẽ cầm lấy cọ, tiếp tục công việc dở dang, thôi bị quấy rầy.

Lý ra sóc phải hiện diện trong tranh. Tranh câm lặng, sóc im tiếng và người hoạ sĩ vốn là kẻ kiệm lời. Đoạn đường ngắn, từ trong ra tiếp cận với giao lộ chính đã có không ít chú sóc bị bánh xe đè nghiến, nát thân. Hoạ sĩ Đinh Cường cẩn thận cho xe chạy qua, chậm rãi, và thở dài: Tội quá! Có thể đó là một trong những con đã từng lân la vào nhà nhai rau ráu hạt đậu phộng béo ngậy. Mới hôm qua, mới hôm kia thôi, giờ đã hoá thân tựa một cái bánh pizza kỳ dị nhiều sốt cà chua nằm chết dí trên mặt nhựa đường. Ngó thấy, lòng phải hoài nghi về câu nói: Nhanh như sóc. Nhanh có thể táng mạng. Chậm có thể đi đong. Nhanh hoặc chậm, ừ cứ đổ thừa tại số kiếp.

Thời gian đó, Trường Giang, Dạ Châu và Trường Chinh vẫn còn ngồi những năm cuối ở đại học. Người học trường xa, kẻ học gần và tất cả chừng như vẫn chưa thoát hẳn bóng dáng của kỷ niệm chốn xưa luôn đè nặng. Năm người lưu trú trong căn nhà nhỏ, túng quẫn không chỉ ở chân đi. Hoạ sĩ Đinh Cường và tôi ngã lưng trên tấm tapis nồng nàn mùi sơn dầu, mùi xăng rửa cọ và đêm vẫn dịu dàng lén gửi chút hương mùi tinh khiết phát ra từ vườn hoa tận tuyệt ngõ tối. Chúng tôi mở cánh cửa kéo để thổi ra sương ẩm từng đợt khói thuốc của những hàn huyên tâm sự. Khung cảnh căn nhà 14 Đinh Công Tráng Huế hiện lên chen cài với 31A Nguyễn Đình Chiểu Tân Định, miên man, trắng đêm cùng thức với cổ tích. Kỷ niệm là con dao hai lưỡi, một đôi khi. Anh khó bước đi khi lòng hoài nhớ nặng mang bao thân thương phải chịu bỏ lại. Không, hãy vui lên, trường giang lớp lớp ta đã băng qua, sá gì. Tôi nhủ thầm. Tôi nhớ lại là bấy giờ, chốn chôn cất tịch lặng kia không hú vọng hồi còi tàu trầm thiết lẫn khuất và thương hiệu Starbucks dường như chưa kịp khai sinh để làm nơi nghỉ chân như sau này. Con chim đỏ chốn đây cũng chả dạn dĩ bằng ở khu rừng thưa vùng Burke. Và hoạ sĩ Đinh Cường năm khi mười hoạ mới trình làng một bài thơ, viết cẩn trọng, cô đọng, hơi thở sâu. Lời thơ chở theo nguyên màu trăng cũ. Là tiếng thở dài khó nguôi ngoai. Anh luôn nặng tình cho bè bạn ở chốn xa. Ở Mỹ nhưng đau đáu những mộng tưởng luôn tìm cớ quay về. Huế, Đà Lạt, Sài Gòn mãi biến thân thành hình khối, thành sương hoa, thành núi đồi, thành thiếu nữ, khuấy trộn thành thứ màu sắc riêng biệt có chữ ký Đinh Cường bảo chứng bên dưới mà bên trên là dằn vặt những cơn mộng la đà cô lại thành thứ bố cục dễ vỡ tan. Một nỗi nhớ rình rập đâu đó. Một tâm sự mãi cần sự sẻ chia. Một khoảng trống để lộ giữa bức tranh hoàn chỉnh.

“…ngày cuối năm nằm trên cột đèn

nghe tiếng chim sâu trên lá xanh

tay che mặt buồn tay trên ngực

tim ta đập nhoài cơn giá băng…”

Tôi cũng yêu hai câu:

“núi còn những mấy nghìn năm

mây bay buồn xuống ngang tầm mắt tôi”.

Lời thơ như thứ sơn bồi đắp ban đầu lên tấm bố trắng, cọ màu sẽ phủ chồng lên và như vậy thơ cùng tranh chưa một lần tách biệt. Dung dị, xem tranh Đinh Cường là đón nhận chút thơ mộng tiềm ẩn đã được đóng khung mà trừu tượng hay tĩnh vật hay phong cảnh hay nhân vật chỉ là một tên gọi đi sau. Như không gian Huế thì trầm mặc u uất, như sương mù và hoa dã quỳ đã định phận cho Đà Lạt nét diễm ảo riêng tây.

Từ Franklin ra khu Eden chẳng mấy xa, tuy mới chân ướt chân ráo làm thường trú nhân nhưng do một năng khiếu kỳ lạ, người hoạ sĩ biết có con đường nhỏ tựa đường chim bay để thu ngắn lộ trình mà ban đầu ta hoài nghi sẽ bị chở đi lạc trong bát quái trận đồ. Có sao đâu, ông thấy không? Riết phải quen. (Anh Cường luôn gọi tôi là ông, xưng mình và hay chấm câu bằng ba chữ: Thì bởi vậy.). Ai quen chứ tôi vẫn thấy lạ. Thời dạy ở trường Nữ Thành Nội hoặc dạy ở Mỹ Thuật Huế anh chỉ biết chạy chiếc Suzuki 49 phân khối. Thong dong, chậm rãi. Vào Thủ Đức học ngành Công binh thì biết lái thêm chiếc xe ủi đất luộm thuộm dềnh dàng. Chỉ nhiêu thôi. Vậy mà bi chừ điều khiển chiếc xe Toyota đời 89 nhuyễn nhừ với tay lái rất lụa. Lái như với một linh cảm khó sai trật “đường nào cũng về La Mã”. Lái mà chẳng thèm ngó bản đồ. Cái sự lái kia nôm na là chẳng khoa học, là nghệ sĩ thì đa phần họ đều lái theo cách đấy. Không mấy lâu xe đã thắng đứng trước cửa tiệm phở Xe Lửa của anh Nguyễn Thế Toàn chẳng sai trật, luôn sớm trước những hẹn hò. Người đến từ phương xa, phải vượt biên giới như tôi khi bước vào không gian ngát nồng hương liệu phở đã bắt gặp ở đó chút thân thuộc tựa hồ ở Nguyễn Đình Chiểu đi bộ sang Pasteur hoặc Hiền Vương, có nghĩa là mảy may chẳng phát hiện chút xa lạ. Họ đã đọc truyện tôi viết, họ biết người vợ thích dấu mặt của hoạ sĩ là chị ruột của tôi và ai nấy đều vỗ vai, bắt tay, dồn đẩy vào ngồi cái bàn trong góc quán, nơi có những cuốn sách, những phác hoạ chân dung, bình trà nóng và bộ cờ tướng vừa xoá xong một thành quách của tướng sĩ tượng ngổn ngang. Ở đó, lần đầu tôi giáp mặt với anh Giang Hữu Tuyên, chủ nhiệm tờ Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, tên người gắn liền với bài thơ đang dậy sóng: “Trời Mưa Đi Phát Báo”. Anh hỏi: Bạn có truyện nào cho tôi không? Và móc ngay tiền túi dành trả nhuận bút trước. Năm tờ hai chục “In God We Trust”. Hoạ sĩ Đinh Cường nói, chữ dùng rất cá biệt: Bảnh quá vậy ông! Chơi vậy là nhất ông rồi! Nếu có ai góp ý thì cả bàn sẽ nghe: Thì bởi vậy. Tuần báo Hoa Thịnh Đốn Việt Báo in khổ to, là nơi vẫn đăng thơ lẫn minh hoạ của Đinh Cường. Sẵn nhắc tới kỷ niệm ban sơ nọ, tưởng cũng nên ghi lại đây bài thơ thật “bảnh” của anh Nam bộ Giang Hữu Tuyên:

Trời Mưa Đi Phát Báo

Chiều ngã năm đường năm bẩy ngã

Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi

Bao mùa mưa đã im giông bão

Sao nước trường giang vẫn khứ hồi

Mười mấy năm làm tên phát báo

Lòng buồn theo thành quách xa xưa

Những trang tin dội từ quá khứ

Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa

Mưa lót ngót đời loi ngoi mãi

Sáng chưa đi chiều lại mưa về

Mưa ngã năm từ năm bẩy ngã

Ngã nào cũng mưa và mưa thôi

Xấp báo trên tay vừa ướt hết

Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay

Hình như những mùa mưa thuở trước

Đang về làm ướt trái tim ai.

Một Triệu Tử Long tân thời, đơn thương độc mã. Vừa chủ nhiệm kiêm chủ bút kiêm thư ký toà soạn kiêm nhân viên dàn trang kiêm tài xế mang đến nhà in rồi kiêm cả việc đi phát báo; mà báo của gian đoạn nọ mọi thứ tựu thành đều vất vả thủ công, đâu có computer, internet nhậm lẹ như hiện thời. Rất dãi dầu, rất sáng nắng chiều mưa. Vậy mà người ấy luôn tươi cười, luôn linh hoạt, luôn xẳng xái. Thì cứ đọc bài thơ kia thì hẳn rõ, tuyệt không để lộ lời thở than, chẳng oán thân trách phận, nhưng mịt mù ở đó tượng hình thứ nỗi niềm bị vây khốn, thứ tâm sự dễ làm mềm tim ai. Virginia mùa tôi sang chẳng có mưa bay, tôi đi dang nắng đó đây cùng anh Đinh Cường để quen thêm những tên tuổi khác: Phó Ngọc Văn, Lê Thiệp, Ngô Vương Toại… và hai người nữ viết văn cùng thời điểm với tôi: Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Thanh Bình.

Đi loanh quanh mà không nghe đời mỏi mệt, tôi háo hức theo chân anh đi vào những cửa hàng nồng mùi đồ cũ tỉ như “The Salvation Army” để tha hồ lùng sục. Khung tranh có chạm trổ, chai lọ hình thù độc đáo, đôi ba cuốn sách bìa cứng của những tác giả nổi tiếng ở thế kỷ 19… Và dĩ nhiên chúng tôi lãi nặng vì giá quá bèo. Tôi mua được chiếc áo của hướng đạo sinh với lắm logo thêu thùa bên hai tay. Anh nói: Cái đó hay a. Nhiều thứ lạ, ông thấy không? Thời đó chưa mọc lên cửa hiệu Costco như sau này, nơi hai anh em vẫn tha thẩn vào tha cả đống áo quần về làm quà kỷ niệm chuyến vượt biên. Nhưng thời nào đi chăng nữa, người hoạ sĩ luôn dành thời gian vào việc vẽ. Thời ở Franklin là thời nổ lực sáng tác, ráo riết lao động bởi anh sắp bày tranh ở Georgetown Art Gallery, ở Metro Gallery trường Đại học George Mason. Những con sóc sẽ thôi lân la vì biết chủ nhà đang bận rộn, những hàng quán sẽ thưa dần buổi hàn huyên và tôi chuẩn bị khăn gói ra phi trường Dulles, mong ngóng sự thành công tốt đẹp đang chờ đợi anh ở các cuộc triển lãm.

Hồ Đình Nghiêm trong căn nhà 7403 đường Franklin

Ảnh Đinh Cường

Mới đây, Trường Giang có chở tôi ghé vào “đường xưa lối cũ”. Cảnh vật hết chung tình, lạ mặt bởi bao đổi thay. Nhà cửa đã đập phá, để tái tạo ra khuôn mặt sang chảnh, như thể lâu rồi không về thăm thôn Vỹ và áo ai trắng quá nhìn không ra. Gần đó có vườn rau sạch của bà người Việt mà ông chồng Mỹ đứng bên tính tiền nhậm lẹ quá đỗi thành thục, có ngờ vực chăng ai biết tình ai có đậm đà? Biến hoá theo chất chồng chân đi tháng ngày và tôi sực nhớ đa phần tên của các anh có nhắc qua trong tạp văn này đều đã khuất núi, đều bỏ Annandale, bỏ Arlington, bỏ Virginia, bỏ Maryland u sầu về chốn vĩnh hằng bằng bặt một vọng ngôn. Anh Giang Hữu Tuyên (mất trước anh Đinh Cường hơn thập niên) cũng có bốn câu thơ hay:

“Đất gọi người đi buồn biết mấy

Sông dài chảy xiết một giòng thôi

Từ nay chín cửa mưa mù lối

Sóng nước bồng bềnh nhánh củi trôi”.

Một nhánh củi lạc qua xứ tuyết, tôi mơ lắm một lần ngược dòng. Một mùa hè nào về lại Virginia nhiều đổi thay, hóng tiếng còi tàu trôi mơ hồ và bóng con chim đỏ lẻ loi về đậu sau cánh rừng thưa, hao hụt một khoảng trống lớn… “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!” *… Thì bởi vậy!

Hồ Đình Nghiêm

Montréal, 7 tháng 10, 2016.

*Tống Biệt Hành của Thâm Tâm

Người anh em

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 2/06/2015 

Post by Sơn râu 20 Oct 2024

Một cây có bao nhiêu năm tuổi mới tạo ra được một bóng im mát bên đường? Nó cần thiết để hiện diện hay nó vô ích, xâm hại làm chật đất?

Kẻ qua đường có hôm nhìn ra cái khác lạ, một khoảng trống ngập nắng. Người ta đã hạ đốn nó đi, thinh lặng. Màu xanh nó gieo xuống một góc phố đã thôi còn. Kẻ qua đường dửng dưng hay lòng sầu đổ theo giọt mồ hôi chảy dọc sống lưng? Thinh lặng.

Là người Việt, có bao nhiêu triệu, tựa đời cây bị bứng đi? Số tuổi thọ của mình là 22 năm, bị chặt, bật gốc rễ, mang cành lá tiêu điều sang trồng đất mới. Nhớ năm ấy, người Hoa được nhà nước cho đóng tàu vượt biển kiểu bán chính thức trong khi lính Trung quốc mở những cuộc tấn công ở biên giới phía Bắc. Họ sợ, lỡ có bề gì, đám người Hoa kia sẽ là “một bộ phận không nhỏ” nhập chung vào đạo quân bành trướng xâm lược nọ?
Người Hoa ra đi bán chính thức, mình chẳng giống họ, mình đi chui. Một bên: Vai mang ba lô. Một bên: Quần áo không có mà cắp nách. Người Việt, hỗn danh: Trần văng Trụi. Qua được đất tạm trú, người ta gán vào thân đứa “Duỵt-nàm dành” một con số. Nơi ăn chốn ở, địa chỉ liên lạc, nhận sự uỷ lạo từ thập phương cũng đè con số ấy mà lần ra, trao gửi. Tên họ có thể trùng lẫn, số má thì tuyệt đối không. Một là một mà hai là hai. Minh bạch, chả ấm ớ. “Một hôm đếm một thành ba, một lần đếm một mà ra bốn lù”. Ngôn kiểu đó là anh rớt thanh lọc ngay. Anh bị đẩy lên máy bay trả về cho cố quận thì cái gì đang chờ đợi anh ở khúc ruột ngàn dặm nát nhừ nọ, tất anh đã rõ, dông dài làm gì cho tốn giấy mực!

Cây đã bứng đi rồi, cả năm trời, giờ mang về đất cũ trồng, liệu nó sống được chăng? Ôi, thậm khó. Chỉ nghĩ thôi đã nghe “nửa hồn thương đau”.

Đã 36 niên trôi qua, giờ mình thành dân điên (Canadien) thôi nói quàng xiên, bỏ thói con rồng cháu tiên, người đắm mộng liên miên. Cỏ đã bén đất thiêng, nơi tôn trọng những niềm riêng. Và chính mình cũng tự tôn trọng, tựa một con chiên: Không về lại chốn xưa hỗn mang kỷ niệm mà làm gì, cho má nó khinh.

Nguyên Sa nói: “đời xưa ta nhớ mây tiền kiếp, còn lúc bây giờ ta nhớ em”. Nhớ, xem ra chỉ có duy đó là hình ảnh đẹp. Biến sự tương tự nọ thành hiện thực, một gặp mặt liệu còn nguyên vẹn hình hài chút sương khói xưa? Thực tế bao giờ cũng đong đầy nỗi phủ phàng. Em đã hiểu thấu và em trông mong, đừng nhìn nhau nữa anh ơi, hoa xuân đã phai nhàu. Một thứ “đền cũ lâu đài bóng tịch dương”!

Trong văn học cổ của Trung hoa có câu chuyện, bứng cây quýt phương này mang trồng ở phương nọ, quýt ra quả và trái chua lét le. Cây Việt Nam tuồng có khác, phải hoán đổi môi sinh, phải gieo hạt xứ lạ, dẫu băng tuyết quanh năm, nó mới đâm chồi kết nụ sản sinh ra trái lành quả ngọt. Ngạn ngữ Việt do vậy mới tựu thành một biện chứng: Đất lành chim đậu. Và Bùi Giáng cũng rung đùi: “Làng tôi chim nhảy mười chân, làng em bướm liệng có phần nhiều hơn”.

Ôi, chim với bướm. Ôi quýt với cam. Ôi hai quả tuyết lê. Ôi khe rạch núi đồi. Tất thảy dường như ngày một mỏi mòn kiệt quệ khi có bàn tay người nước lạ nhúng vào, vấy bẩn. Cây đốn đi vì người anh em muốn dùng nó làm bàn ghế, bạn có thể vô cảm khi chứng kiến cái chết của đời cây. Nhìn một đàn con gái trần truồng đứng phô thân cho bọn đàn ông sờ nắn mặc cả mua về làm vợ, bạn là nam nhân xứ Việt lẽ nào nhắm mắt chẳng bợn tấc lòng? Bạn bịt tai trước những thông tin cảnh báo để mua trái cây nhiễm đọc nhập từ Trung quốc. Bạn vo gạo nấu cơm và mắt bạn chẳng tài nào nhìn ra phân nửa hạt ngọc trời cho được trộn lẫn “hàng nhái China”.

Mình chưa hề trở lại chốn cũ nhưng có theo dõi những hoạt cảnh xẩy ra mỗi một sát na, diễn liên hoàn trên từng cây số và mình đồng tình với câu nói “đương đại”: Biết chết liền!

Hôm qua, tình cờ đọc thấy trên Facebook một đoạn ngắn của Sỹ Liêm y như câu chuyện khôi hài thời đại: “Ở nước ngoài, khi mình tỉnh mình lái xe đường thẳng. Khi mình say mình lái xe hình chữ S. Ở Việt Nam, khi mình tỉnh, mình lái xe hình chữ S, do tránh ổ gà, sợ té chết. Khi mình say, mình lái thẳng… Tỉnh hay say cỡ nào cũng chết”.

Cái hay của đoạn văn ngắn này nằm ở chỗ: hình chữ S. Mẫu tự này tượng trưng cho bản đồ VN. Cái bản đồ mà mình cóp nhặt từ một trang mạng ở trong nước, bày ở trên ngó không còn nguyên dạng chữ S. Hoặc chẳng sớm thì muộn nó sẽ bị biến dạng đi. Khi cây đồng loạt bị chặt hạ làm náo loạn dân tình, dân phản ứng và người ta tạm ngưng sự phá hoại. Nhưng liệu một bản đồ quốc gia bị gặm nhắm, bị khuyết tật cỡ đó, dân bất bình và dân phản ứng bằng cách nào? Nhà nước chìu lòng dân?

Liệu bạn có bi quan? Để rồi đọc thơ Bùi Giáng qua một dạng khác: Làng tôi chim nhảy một chân, làng em bướm rụng một phần lông bay.

Nhảy hay bay, kiểu nào cũng chết. Nếu còn xem thằng giặc phản động phương Bắc là người anh em.

Hồ Đình Nghiêm

Lá Thư Úc Châu: Rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận!

thoibao.com

Updated on 08/02/2018

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 20 Oct 2024

Trong chiến sử của loài người xưa giờ, dù là chiến tranh vệ quốc chống quân xâm lược hay cuộc nội chiến giữa những thế lực phong kiến để thâu tóm thiên hạ về một mối thì chịu biết bao đau thương thống khổ là toàn dân tộc, đa số là người dân thường không một tấc sắt trong tay.
Dĩ nhiên người lính là người phải hi sinh nhiều nhứt! Hi sinh cả cuộc đời đang tuổi xuân phơi phới với biết bao nhiêu là ước vọng chưa thành bỗng chợt vỡ tan!
Tàn chiến trận, có thể là “Anh về hòm gỗ cài hoa. Hay anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân!”
Kế phải kể đến sự hi sinh của vợ con, cha mẹ, anh em hay người yêu của lính!
Hồi thời Trung học, chắc anh chị em mình đều có học những đoạn thơ não lòng trong Chinh Phụ Ngâm (Lời than vãn của người phụ nữ có chồng đi đánh trận), của Đặng Trần Côn, ra đời trong khoảng năm 1741.”Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi.Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề!”.
Trước đó khoảng ngàn năm, Trương Tịch (768-830) bên Tàu, cũng khóc thương cho người chinh phụ có chồng bỏ thây nơi chiến trận!
“Tháng chín Hung Nô giết biên tướng/ Quân Hán tiêu tan dưới Liêu Hà
Xương phơi muôn dặm không người nhặt/ Trăm họ đầu thành cất đám ma
Thân gái xưa nay nhớ chồng con/ Nghèo hèn có nhau, hả dạ hơn
Chồng chết chiến trường, con trong bụng/ Như ngọn nến ngày thiếp mỏi mòn!
”
Trương Tịch cũng có một người anh ra trận, rồi thất tung, mất tích, không thấy trở về; không biết sống chết ra sao bằng những vần thơ đẫm đầy nước mất mà cả ngàn năm sau, mình đọc lại vẫn còn thấy bùi ngùi thương cảm!

“Đánh Nhục Chi theo quân năm trước/ Toàn đạo binh bị diệt trên thành
Hán, Phiên vắng bặt tin anh/ Cho dù sống chết cũng đành xa nhau
Màn trướng nát không ai thu lượm/ Ngựa trở về cờ phướn rách tan
Cúng anh, nghi vẫn sống còn/ Chân trời xa tắp, khóc trông quê nhà…”
***

Từ năm 1960, khi Mặt trận dân tộc giải phóng, tức VC được thành lập!
Cứ 4 năm một lần (trong kế hoạch ngũ niên), CS Bắc Việt và VC tay sai ở miền Nam lại bắt đầu những trận đánh lớn.
Năm 1964, trận Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, những quận lỵ heo hút của miền Nam.
Năm 1968, 44 tỉnh thành trên toàn cõi VNCH bị CS, không từ một thủ đoạn đê hèn nào, bất ngờ tấn công; dù đã cam kết hưu chiến!
Gần trăm ngàn người bị giết! Máu chảy thành sông; thây phơi đầy nội xảy ra đúng 50 năm trước, tức đã nửa thế kỷ, một khoảng thời gian quá dài trong đời người mà cứ tưởng như nó mới vừa mới hôm qua vì tánh cách khốc liệt của nó.
Rồi cũng 4 năm sau, năm 1972, còn gọi là mùa hè đỏ lửa, Cộng quân dốc toàn lực tấn công vào Quảng Trị ở Quân khu Một, Kon Tum ở Quân khu Hai và Bình Long ở Quân khu Ba.

Người ta sanh ra không ai muốn mình cầm súng cả; mà chỉ muốn đất thanh bình ba trăm năm cũ. Nhưng không làm lính, không nẻo binh lửa cũng không được!
CS Bắc Việt, tuân lịnh quan thầy Nga Hoa, ồ ạt đưa quân tiến chiếm Miền Nam thì làm trai khi đất nước hưng vong thất phu hữu trách, giã nhà đeo bức chiến bào là để bảo vệ tổ quốc chớ đâu phải muốn làm anh hùng. Vì muốn hòa bình là phải chuẩn bị chiến tranh.
Từng lớp lớp thanh niên nối tiếp nhau lên đường ra mặt trận theo lịnh Tổng động viên của Bộ Quốc Phòng. Đang trên giảng đường đại học, năm thứ nhứt, năm thứ hai, chúng tôi xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của non sông.
“Quang Trung vào ai nỡ gọt đầu tôi?” Tóc cắt ngắn ba phân. Quân trang, quân dụng, hai chiếc thẻ bài, khắc họ tên, số quân và loại máu, đeo tòn teng trên cổ.
Rồi Chứng chỉ tại ngũ. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bộ Quốc Phòng. Số… Họ và Tên. Cấp bậc. Số quân. Đơn vị. KBC (Khu Bưu Chính của đơn vị)
Thẻ căn cước quân nhân, cũng y như vậy, nhưng có hình chụp chân dung, được bọc nhựa.
Sau nầy mất nước, nhà thơ Cao Tần di tản qua Hoa Kỳ năm 1975, vẫn còn cảm khái bằng những lời thơ trác tuyệt:
“Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ/ Mất nước rồi còn hiệu lực nơi lâu?
Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ/ Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?”
“Trong ví ta này một thẻ căn cước/ Hình chụp ngây ngô rất mực cù lần

…Tên chụp hình làm ta xấu như ma /Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết? Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà!
Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu/ Tên chụp hình như một lão tiên tri
Triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác/ Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly
…Ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ/ Muôn anh hùng phút chốc hóa lang thang!”
Nhà thơ Cao Tần may mắn vượt thoát trong những ngày VNCH hấp hối; còn những người, đồng đội, đồng ngũ bạn lính của ông, còn kẹt lại phải đi tù CS.
“Có thằng bạn nào tàn đời học tập/ Cõng gông xiềng lê lết một thân đau
Còn kiên cường sống sót ra tù CS rồi tìm đường vượt biển! Đau đớn thay lại bỏ mình trong cơn sóng dữ!
“Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp/ Những tiếng đời tan nát khóc thương nhau.
..”
***
Bọn chúng tôi là lớp ‘Mùa hè đỏ lửa’! Gần 800 đứa từ giảng đường đại học vào Tiểu đoàn 2 của Trường Bộ Binh Thủ Đức, tháng Tám, năm 1972, khóa 4/72/SQTB TĐ.
Ngày 27, tháng Giêng, năm 1973, các SVSQ tiểu đoàn 2 đi chiến dịch Hiệp định Paris. Mỗi đợt 2 tháng, sau 4 tháng, trở về trường Bộ Binh, ra Vũ đình trường làm lễ mãn khóa! “Quỳ xuống các Sinh viên Sĩ quan! Xin thề! Đứng dậy các tân Sĩ quan!”

“Ân tình theo gót chân, bọn đi xa đánh trận, gặp gỡ trong cơn lốc!
Xưng tao gọi mày thương quá gần. Bốn vùng mang lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân!”
Thế hệ thanh niên miền Nam Việt Nam mình, trong đó có chúng tôi, sanh từ 1945 đến 1955, thời điểm ác liệt nhứt của cuộc chiến tranh bởi CS Bắc Việt xâm lược miền Nam nên thế hệ nầy hi sinh nhiều hơn hết thảy. Cuộc chiến tranh đã tàn gần 43 năm qua! Thân phận là lính; chúng ta không ai đem thành bại để luận anh hùng!
***
Ra Footscray, Melbourne, Victoria, Úc Châu thảng hoặc gặp bất cứ ông nào đầu bạc, muối nhiều hơn tiêu, những nếp nhăn hằn trên trán, đôi mắt màu khói như còn vương lửa của chiến trường thì chắc chắn rằng họ đã có một thời giầy sô, áo trận đó thôi!
Chiều cuối năm, rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận. Nhưng Tiểu đoàn 2 năm xưa đó, nằm gần Khu Gia Binh Thiết Giáp, tuyến B, gồm 4 đại đội gom lại chỉ còn được có 5 thằng lưu lạc tới tận phương trời nầy!
Nguyễn Văn Rạng (222), Trinh sát Dù; Nguyễn Văn Luyến (231), Thiết Giáp;
Phùng Ngọc Thái (224), Thiết Giáp; Trương Ngọc Đông (242), ông Địa, Mộc Hóa, Kiến Tường và Đoàn Xuân Thu (242).
(Sydney cũng được vài ba đứa: Đặng Hữu Hiếu (242), Nguyên (223), Địa phương quân ; Thanh (224); Há (223), Không quân; Lại văn Bính, Thủy Quân Lục Chiến và Nguyễn Bằng Dương, Sư đoàn 23!)

Chúng tôi như những mũi tên đã bật ra khỏi cánh cung, bay khắp bốn phương trời.
Những địa danh trường cũ tưởng chừng như đã mù khơi trong tiềm thức bỗng chợt về lay động cánh rừng xưa.
Nào đồi Tăng Nhơn Phú, Vũ đình trường, Trung Nghĩa đài, Cổng số 9, sân bắn Long Thạnh Mỹ, cầu Bến Nọc. Nào bãi Nhà sập, đồi 31, (đêm ngóng về Sài Gòn quầng sáng phía xa xa), đồi Bác sỹ Tín (ngang nghĩa trang Quân đội Biên Hòa). Rồi đêm hành quân dã trại, (để từ Tân Khóa sinh để sáng hôm sau thành Sinh viên sĩ quan) trời đổ trận mưa to, trùm poncho kín mít nhưng giày sô sũng nước. Về tới doanh trại, cởi giày, cởi vớ ra, thay quần áo lính ngồi hút thuốc với bạn bè… Ôi nó đã biết làm sao đâu?!

Giờ đây, trên bàn rượu chỉ vỏn vẹn năm thằng nhưng có tới 6 cái ly. Ly thứ sáu dành cho những thằng bạn lính đã không về được nữa vì đã ngã xuống chiến trường năm ấy!

Rót đầy ly rượu, chuyền tay nhau, người một hớp để uống cùng những oan hồn tử sĩ còn tức tưởi đâu đây.
Nầy Khôn ngã xuống ở Cái Côn, quận Phong Thuận. Nầy Tuấn chuyển qua Cảnh sát, mang ngay lon Thiếu úy, làm trưởng cuộc, ngã xuống ở quận Thuận Nhơn, tỉnh Phong Dinh… Rồi Lưu, rồi Đa… và nhiều nhiều nữa!
Tôi nhớ Nguyễn Quang Mẫn, cùng trung đội 242, gốc cố đô Huế, 18 tuổi, vừa đậu Tú tài Một là tình nguyện vào Thủ Đức. Ngày mãn khóa Thủ Đức, Mẫn tình nguyện về Biệt Cách 81 Dù. Chỉ đi lính trong vòng chưa tới 3 năm mà Nguyễn Quang Mẫn từ chuẩn úy sữa đã lên tới đại úy; vì lập được nhiều công trạng được đơn vị đưa về lại trường Bộ Binh để học khóa Tham mưu Trung cấp.
Sau 75, tù CS, Mẫn giựt súng của bọn vệ binh, toan vượt trại nhưng bị bắn chết! Đúng là một anh hùng!
“Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm/ Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn
Bạn anh đó đang say ngủ yên/ Xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống
!”
***
Lũ chúng tôi, người lính thuở ấy, đã từng mơ ước: “Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn… Xin trả lại đây, bỏ lại đây thép gai giăng với lũy hào sâu/ Lỗ châu mai với những địa lôi, đã bao phen máu anh tuôn…”
Trả súng đạn này khi sạch nợ sông núi rồi? Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao! Thiên đường này mơ ước bao lâu?”
Nhưng mộng đẹp đã tan tành theo vận nước. “Mơ thấy cả một quê hương đổ vỡ/ Mình lên đường ngơ ngẩn, lang thang!”
Chỉ mong là: “Hãy đem hết những đổi đời tan tác/ Gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”.
Chiều cuối năm quê người. Đứa nào cũng tha hương vì mất nước đều tự hỏi:
“Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm/ Mày lang thang đất lạ đến bao giờ?”
***

Sân trước cửa nhà tôi, em yêu có trồng một cây bông giấy. Mùa hè hoa nở đỏ cả một góc sân vườn, gợi tình quê tha thiết!
“Này cây bông giấy bên rào năm xưa…/ Chẳng qua trời đổ cơn mưa/ Thì thương cành mọn đong đưa một mình!”
Đời chúng tôi, những người lính của mùa hè đỏ lửa năm đó, chìm trong màu lửa, màu máu như màu bông giấy quê nhà trong tiềm thức còn vương vấn đến màu bông giấy của quê người!

Quê người chiều cuối năm! Những người lính thất trận, mất nước, rồi mất cả quê hương buồn lắm phải không?
Năm thằng mặc đồ dân sự, ngồi uống rượu quê người nhưng trong tâm cảm đứa nào cũng còn là lính.
Chỉ mong ước là “Ôi! Xóm xưa ơi, khi nào đổi kiếp? Ta về thành chim hót trước hiên nhà!”

đoàn xuân thu.
melbourne.

Râu quặp!

thoibao.com

Post on 3/11/2017

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 20 Oct 2024

Bà con độc giả mình, nhứt là phái nữ, thường hay phê bình, phản bác các nhà thơ của chúng ta toàn là đồ “cà chớn”; vì làm thơ chỉ để than khóc bù lu bù loa, nước mắt nước mũi choàm ngoàm về một mối tình tan vỡ tự năm nào! Còn mối tình đương đại với con vợ nhà thì mấy “cha” lờ đi như không có!

Nói như vậy là oan cho các nhà thơ của chúng ta lắm quý bà ơi! Bằng cớ là ông Tú Xương, dân chơi thứ thiệt, cũng có một bài thơ tặng vợ rất cảm động: “Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi nổi năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Eo xèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ âu đành phận. Năm nắng mười mưa dám quản công!”

Ông Vũ Hữu Định cũng có một bài tặng vợ khi phải vượt cạn một mình: “Lần nào em sanh nở. Anh cũng không có nhà. Lần này em sinh nở. Anh đang trên đường xa!”

Rồi ông Bùi Giáng có người vợ trẻ ông bỏ lại quê nhà vì ông còn mãi giang hồ vì ham vui. Khi vợ mất, ông nhỏ lệ, làm nát lòng người đọc: “Anh cứ ngỡ đùa vui trong tí chút. Đâu có ngờ đùa mãi đến điêu linh!”

Những bài thơ nầy đều có hàm ơn sự nuôi dưỡng của vợ đối với ta!

Vì: “Dù không sinh đẻ ra ta. Nhưng công nuôi dưỡng thật là lớn lao!”

Tuy nhiên quý chị lại cự cãi lại là: Ở đời, có được bao nhiêu nhà thơ làm thơ tặng vợ? Trừ mấy ông nói trên!

Tui vốn là một thằng ba phải, khi thấy ai tranh cãi mà tình hình đã căng thẳng vượt quá vòng kiểm soát, như nồi súp de sôi ùng ục sắp nổ, là tui xuống nước nhỏ hè! Kẻo chết cả đám!

“Nhà thơ của chúng ta vốn lãng mạn nên căn bản họ chỉ làm thơ tặng cho người tình, người yêu. Thơ tặng vợ rất hiếm. Đúng vậy!”

Nhưng có cái lý do chính đáng là: “Con vợ chỉ có một; còn người tình của nhà thơ thì cả đống cả lèn! Nên xin quý vợ thông cảm chút đi nhe! He he!” 

Trước khi bàn tới con vợ thì mình nhớ thuở mới yêu nhau chút đi cho nó thơ mộng!

Ca dao, từ Hán Việt! Ca là bài hát có chương khúc, giai điệu trầm bổng; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

Chẳng hạn như câu ca dao, hay hết biết, là: “Tía đánh em đánh quằn, đánh quại; đem em ra treo tại cột đình. Đứt dây rớt xuống, thương mình em vẫn thương!”

Ôi cái thời em yêu ta; yêu đến bất cần thân thể, dù bị Tía em “quánh” tơi bời, tả tơi như cái mền rách mà vẫn yêu nhưng sao giờ nhắc lại chỉ là chuyện xưa tích cũ mà thôi!

Tui không tin, nhứt định không tin có một thời em yêu ta như thế! Vì con đường tình tui đi cùng em yêu xưa giờ là hương lộ, lổm nhổm toàn những lỗ gà, đâu có xuôi chèo mát mái, thơ như vậy bao giờ đâu nè!

Sau khi Tía Má em treo tại cột đình cho bà con lối xóm biết nhà nầy gia giáo, biết dạy con gái không cho nó làm nhục gia đình mình. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Áo mặc không qua khỏi đầu… trừ trường hợp mặc áo thun.

Thôi cản con mình không được thì phải gả thế thôi. Để nó cuốn gói đi thì lại mất mặt bầu cua cá cọp cả dòng họ nhà mình!

Rồi ngày hôn lễ, quý anh mình khi cưới vợ đã từng thề thốt là:“Tôi xin nhận… làm chồng và hứa sẽ chung thủy với em… Trong lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan, lúc ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe. Tôi sẽ yêu thương và tôn trọng… đến trọn cuộc đời”.

Nhưng em yêu của tui thề khác thiên hạ hết trơn là: “Tôi hứa sẽ là cái tài khoản ngân hàng của chồng tôi! Anh muốn đút vào lúc nào cũng được; nhưng cấm không được rút ra”

Nghe em yêu thề như vậy, tá hỏa tam tinh, tui bèn cật vấn ông chủ hôn, tui đã đưa ông tiền trà nước rồi, sao lại cho phép em thề khôn như vậy chớ?

Thì ổng cười khè khè bảo: “Sorry nghe chú em! Vì vợ chú em đưa tiền trà nước rộng rãi hơn nhiều!” 

Mấy ông nhà thơ nói chí lý lắm mà! Hôn nhân là đoạn kết của tình yêu.

Bắt được một thằng nô lệ nhốt vô lồng son gác tía, bắt nó làm việc cho chết tía, để đem tiền về cống nạp là mục tiêu cuối cùng của em nhắm tới!

Tuy nhiên, cũng như mấy ông anh mình, tui cũng bực tức, nhiều phen làm đảo chánh để giành lại chính quyền. Nhưng hỡi ơi! Tất cả các cuộc đảo chánh đó đều là công cốc, đều đưa đến kết cục thảm bại rất đau thương.

Thôi quánh không lại em yêu; ta đành giương cờ trắng đầu hàng cho yên cửa yên nhà!

Chồng Úc đây cũng cùng chung số con rệp như chồng Việt đấy thôi!

Sợ vợ, nhục gần chết mà không tự ái gì hết ráo, còn viết sách chỉ đứa khác cách sợ vợ cho giống như mình nữa chớ?!

“Chồng biết lắng nghe ý kiến của vợ, không ngại mang tiếng “sợ vợ” sẽ có hôn nhân hạnh phúc và ít bị vợ bỏ hơn!”

Tuy nhiên, thằng bạn Úc của tui đây, dù vợ bảo là vâng; vợ kêu là dạ cũng bị vợ bỏ như thường.Vợ nó đâm đơn ra Tòa đòi ly dị.

Bà Tòa phán rằng: “Thu nhập của ông phải chia hai!”

Nghe Tòa phán vậy, nó mừng thôi hết biết! Bà Tòa ngạc nhiên quá sức; tưởng nó bị khùng…

“Quan Tòa xử vậy là tui vui lắm vì ít nhứt tiền tui đi làm trần ai lai khổ như vậy, từ rày về sau tui còn giữ được phân nửa; chớ lúc trước đâu được giữ được cắc nào đâu nè!”

Nhưng thằng bạn Úc khác thì không vui, càm ràm quan Tòa xử vụ ly dị của nó rất bất công!

Cái nhà, cái xe, của cải nó làm ra thì quan Tòa lại giao cho con vợ nó. Còn 6 đứa con, đâu phải của nó mà Tòa lại giao cho nó… mới chết!

Hoàn cảnh tui thì khác nhe! Chờ con vợ đâm đơn ra tòa ly dị! Vì khác với Tào Tháo, thà để người phụ mình hơn là mình phụ người… Mà chờ đã bao năm rồi để được tự do, tháo cũi sổ lồng mà hoài sao chưa thấy?!

Hồi tui mới cưới vợ, tui biết cái thân tui rồi hè!

Bởi con vợ và con chí rất giống nhau. Cả hai đều muốn leo lên đầu của mình. Cái khác là con chí quý anh mình có thể bắt xuống; còn con vợ thì vô phương!

Bởi “Giang sơn dị cải! Bản tính nan di!” Anh có thể sửa đổi cả thế giới nhưng tánh tình của con vợ anh thì đừng hòng.

Do đó muốn trong ấm ngoài êm mình hãy tự huyễn hoặc, lừa dối lòng mình là: “Lỗ mũi mười tám gánh lông/ Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.

Đêm nằm thì ngáy o o/ Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà. Đi chợ thì hay ăn quà/ Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.Trên đầu những rác cùng rơm/ Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!”

Tuy nhiên tánh tui như cái lò xo vậy! Em ép bao nhiêu tui hổng có gãy bất tử bao giờ. Chỉ thun lại mà thôi. Nhưng đừng làm quá tui bung ra là có chuyện lớn đó nhe!

Như mới hôm qua nè! “Cửu hạn phùng cam vũ.Tha hương ngộ cố tri.”

Chín năm hạn hán gặp trời mưa! Tha hương mà gặp được bạn học cũ nên tui bảo với con vợ tui rằng tối nay anh sẽ đi nhậu chơi với nó!

Em hỏi tui giặt đồ rồi anh có phơi chưa? Tui nói rồi! Có hút bụi, có rửa chén chưa? Tui nói: “Nhậu về xong, anh sẽ làm!”

Em hứ cái cốc, phán một câu nghe cộc lốc là: “Nhậu về, xỉn còn làm được cái giống gì hè?”

Tui ngoan cố dông luôn ra cửa và em tiễn tui bằng nước mắt… khóc lóc như đi chợ bị giật mất cái bóp đựng tiền!

Tui vọt luôn vì biết chần chừ là tui sẽ đổi ý, ở nhà làm tôi mọi, bỏ đám bạn nhậu ngoài quán chờ hoài đến sái luôn cái cần cổ.

Vì ai cũng biết nước mắt thuyền quyên có khả năng làm điên đảo cả một sư đoàn quân thiện chiến thì chỉ cu ki, một mình tui thôi… thua là cái chắc!

Vì theo những cuộc nghiên cứu của các nhà tâm lý học cho thấy 81% cơ nguy một cuộc hôn nhân sẽ tan vỡ, anh đi đường anh, tui đường tui, là vì ông chồng không chịu nghe lời dạy bảo của vợ nhà.

Anh bạn văn của tui đường đường một đấng anh hào; vai năm tấc rộng thân mười thước cao hoàn toàn phản đối cái loại đàn ông nhu nhược nầy nên nói:

Hồi xưa, bên nhà, đôi khi cày, cuốc cực quá, chiều về tui chỉ cần vài con ba khía làm “mồi”, là “chén chú chén anh” chút chút sầu đời…

Mà đôi khi vác cày về tới nhà mà lửa củi lạnh tanh, đói bụng gần chết mà con vợ mắc tướng đỏ, tướng đen, quằn với khạp hỏi sao không tức? Tức thì dợt. Dợt nhưng cũng đau lòng lắm lắm… Nhưng “Không đánh thì bậu luông tuồng. Mà dang tay đánh bậu cho buồn lòng qua?”

Qua tới đây rồi thiệt tui không dám chơi ngon như ngày xưa nữa vì ngán bị cảnh sát Úc nhốt!

Tuy vậy, tui chỉ nghe lời vợ tui khi nào nó nói đúng! Mà vợ tui lúc nào cũng đúng hết ráo!

Úc cũng vậy, cũng ngán, không dám quánh, sợ con vợ nó kêu lính bắt, mà chỉ muốn trốn đi. Còn không trốn được thì ra nghĩa trang vắng lặng kêu la, khóc lóc thảm thiết trước mồ.

“Xin hỏi: “ba, mẹ, hay con ông vậy? “Không phải! Mộ thằng chồng cũ của vợ tôi. Tổ cha nó, nó chết sớm chi vậy… còn để lại con “quỷ hó” đó cho tôi gánh nè trời?!”

Nhưng người viết có thằng bạn làm chung, người Ethiopian, thù vặt và thù dai hơn nhiều!

Dắt vợ từ Melbourne bay về thăm quê cũ. Ra khỏi phi trường quốc tế Addis Ababa, nơi đẫm mùi văn hóa chồng chúa vợ tôi của quê mình, thằng chồng thừa cơ bất ý, nắm đầu con vợ “quánh” túi bụi! “Cho mầy kêu cảnh sát Úc đi nhe!”

Thôi tui hỏng dám bắt chước thằng Ethiopian nầy đâu. Thấy có vẻ hỏng văn minh, lạc hậu quá hè! Đành bắt chước Úc, bắt đầu câu là: “Vợ tôi, nó, nói thế này!”

Người viết thường hay bị bạn bè, em út chê là sợ vợ. Nhưng người viết chỉ cười “hề hề” cho qua, vì trộm nghĩ: sợ vợ mình có gì xấu đâu? Còn đỡ hơn là sợ vợ hàng xóm!

Vợ mình sợ là phải rồi; vì một lẽ rất đơn giản là: con nó, nó còn dám “quánh” đến khóc mò…Huống chi mình là người dưng chớ?

Đoàn xuân thu

Melbourne