Lai lịch một bài thơ

baotreonline.com

Huy Phương

Post on October 2nd, 2020

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

“Anh hùng mưu sự chẳng nên

Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời!”

(Tâm Sự Người Bại Tướng.)

Bài Tâm Sự Người Bại Tướng không phải của TT. Ðỗ Kế Giai, mà là của Hòa thượng Tuyên úy Phật GiáoThích Giác Hoa, một bạn tù của Tướng Giai ở trại Thanh Phong.

Cùng với anh Thái Hóa Lộc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt-Dallas, chúng tôi đến thăm Thiếu  Tướng Ðỗ Kế Giai vào một chiều Chủ Nhật mùa Ðông tháng Chạp năm 2015, tại “Pleasant Valley Healthcare and Rehabilitation Center, 1525 Pleasant Valley Rd., Garland, TX 75040.”

Trong lúc trò chuyện, nhắc lại một vài kỷ niệm ngày xưa và thời gian bị tù đày, Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai, sau một lúc im lặng như lắng sâu vào kỷ niệm, đã đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ dài, mô tả câu chuyện của một con “hổ nhớ rừng,” tâm trạng một vị tướng trận mạc ngày xưa, thất thế bị tù đày.

Bài thơ dài 65 câu, lời thơ đầy bi phẫn, xót xa của một tướng lãnh thất trận và là của một người tù không bản án, vô vọng không có ngày về.

Chỉ trong vòng mười lăm phút, ông đã đọc đi đọc lại cho chúng tôi nghe bài thơ này ba lần, chứng tỏ trí nhớ ông còn tốt, nhưng chúng tôi cũng cảm nhận ông đã đi vào thời kỳ lú lẫn. Ông nhớ lại cả một bài thơ dài, nhưng ông đọc lên trong trạng thái  vô thức, không cần biết là đọc cho ai nghe, hay để lần về những kỷ niệm của ông!

Tác giả và Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai 

Anh Thái Hóa Lộc cho tôi biết, thời trai trẻ, ông không quen biết Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai, nhưng mấy năm gần đây, khi biết tin vị Tướng này phải vào nhà dưỡng lão, gần nơi anh ở,  anh đã thường vào thăm ông, mang thức ăn cho ông, và lần nào, anh Lộc cũng nghe ông đọc bài thơ này. Theo lời anh Thái Hóa Lộc, Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai Ông đã làm bài thơ này trong thời gian ở tù ngoài Việt Bắc và ghi nhớ trong đầu, đọc đi đọc lại nên thuộc nằm lòng, từng câu, chữ một.

Lần này có mặt tôi, người mới đến thăm ông lần đầu tiên, ông cũng đọc cho chúng tôi nghe bài thơ này. Trong khi Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai đọc đi đọc lại bài thơ viết trong nhà tù Việt Bắc, chúng tôi đã ghi âm lại và chép ra để các chiến hữu và độc giả hiểu được phần nào tâm sự của ông, một vị tướng già, thất trận đang sống những ngày cuối cùng xa quê hương, lẻ loi trong một nhà dưỡng lão xa lạ trên đất khách.

Vì bài thơ quá dài, nên khi về lại California, tường thuật lại chuyến đi thăm Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai ở Dallas, tôi chỉ trích lại một đoạn trong bài thơ dài để đăng lên Nhật báo Người Việt ngày 23 tháng 12-2015.

Nguyên văn bài thơ dài 65 câu như sau:

Tâm Sự Người Bại Tướng 

Hoàng-hôn xuống, khi nắng chiều lịm tắt,

Ðời đau thương, khi tràn ngập màu tang. 

Một triệu tinh binh Tướng Tá kiêu hùng,

Thành trì vững, Quân nhiều không giữ được. 

Lỗi tại ai? có phải vì thời cuộc?

Tại ý Trời, hay ý của Dân-sinh? 

Tại  các Tướng cầm đầu hay tại người chiến binh?

Không tận-tụy, hy-sinh vì Tổ-Quốc?

Thế giặc mạnh, lan-tràn theo chiến cuộc,

Ta đau lòng, vận nước quá lâm nguy!

Chiến hay hòa, giải-pháp hay chạy đi,

Ðều tan vỡ mộng lòng theo ảo-ảnh!

Giờ Việt Bắc, thân tù giam ngục lạnh,

Khổ lưu đày, cô quạnh núi rừng hoang.

Nhớ nhung như, hổ nhớ núi non ngàn,

Sầu uất khí, hùm thiêng đành bó gối.

Cơn bão tố, đại bàng mang cánh gãy,

Sống ê chề, giãy giụa đầy đau thương.

Nhớ trời xanh, bay vượt mấy từng không

Nhớ biển cả, thuở lượn vòng đây đó.

Nay, biệt giang hồ nằm trong ủ rũ,

Ðói giày vò, nhục nhã lũ người khinh.

Nỗi khống chế, miếng ăn tồi lấp lửng,

Án tử hình, đâu phải án tù binh

Ðường trần thế, muôn nghìn tai nạn,

Khốn khổ tù muôn vạn gian truân. 

Công danh như giấc mộng tàn,

Nỗi sầu mất nước, nỗi tan tình nhà!

Sống dở sống, ta nào tha-thiết,

Tự sát mình, thì thiệt người sau

Thân không dần đánh mà đau,

Người không giết bỏ, giết sầu độc chưa?

Trăng lạnh mờ sương khuya,

Hồn chơi vơi lạc lõng,

Trăm mối sầu cô động,

Trong thảm cảnh nhà giam!

Chao ôi , Trời ơi, dân Việt lầm than!

Vì chủ nghĩa “Lê-Nin, Các Mác,”

Nhiều người đã thác,

Bởi Cộng-Sản tà gian!

Tiếng kêu hay tiếng khóc than?

Tiếng rên thảm-thiết muôn ngàn đau thương!

Ai đem đày đọa ngục đường?

Cho thêm đói rét, cho nguồn hờn căm!

Thấy cửa đóng như sắt đè nặng ngực

Nghe tiếng cài then, như búa trúng đầu rêm.

Nghe tiếng khóa cửa như ai rức nhói trong tim,

Ðầy tủi hận, buổi vào buồng giam lại.

Trong song sắt nhìn ra ngoài,

Bầu trời xanh, thu hẹp lại.

Ngục tối mấy ngàn đêm rồi,

Không thấy được những vì sao!

Trong cửa sổ nhìn ra ngoài,

Lũ Công an qua lại.

Nghe như giẫm tim mình,

Làm hồn ta tê tái.

Ý thức hệ Miền Nam kiếp nạn,

Bảy năm cố quốc dạ nào quên.

Không xoay thế cuộc anh hùng lụy,

Hào kiệt ngục trung nợ nước đền!

Anh hùng mưu sự chẳng nên,

Cúi xuống thẹn đất, ngước lên thẹn trời.

Mài gươm rồi để hận đời,

Chôn vùi thế hệ, lụy người tù chung!

Van thế nhân xin đừng trách nữa,

Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.

Ðem xương máu học bài đắt giá,

Chi đem thành bại luận Anh Hùng.

Việt-Thương-Nhân

Việt Bắc K 2 Thanh Phong, Thanh-Hóa

Mùa Đông 1982.

Hòa Thượng Thích Giác Hoa

Sau khi tờ báo có đăng bài thơ “của Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai” phát hành được vài ngày, tôi nhận được điện thoại của một vị Hòa Thượng ở Tổ Ðình Minh Ðăng Quang, trên đường Westminster, cho biết là ông cần gặp tôi về bài thơ ghi lại trong bài phóng sự của tôi đăng trên báo Người Việt cách đây vài ngày.

Hòa Thượng Thích Giác Hoa đã cho tôi xem một tờ tuần báo cũ có tên là Chân Nguyên, số 33&34, phát hành vào tháng 4-1998, trong đó có đăng một bài thơ dài, nhan đề là “Tâm Sự Người Bại Tướng,” bài thơ mà tôi đã trích đoạn để đăng lại trong bài báo của tôi, và ghi đó là sáng tác của Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai.
Bài thơ ghi tên tác giả là Việt Thương Nhân, tức Hòa Thượng Thích Giác Hoa, người đang nói chuyện với tôi. Ông cho biết ông là một Tuyên Úy Phật Giáo, bị tù tập trung cải tạo, đã có thời gian ở trại Hà Tây và Nam Hà chung với 28 vị Tướng Lãnh VNCH.

Trong lúc gần gũi sinh hoạt với các vị Tướng Lãnh trong các trại tù này, ông đã quen thân với Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai. Cám cảnh với đời sống “hùm thiêng sa cơ” của các vị Tướng Lãnh, Việt Thương Nhân đã làm một bài thơ dài, viết thay cho tâm trạng của những vị tướng thất trận bị lưu đày:

“Giờ Việt Bắc, thân tù giam ngục lạnh

khổ lưu đày, cô quạnh núi rừng hoang

nhớ nhung như, hổ nhớ núi non ngàn

sầu uất khí, hùm thiêng đành bó gối!”

Những lúc rảnh rỗi sau giờ lao động, Việt Thương Nhân và Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai đã có dịp gần gũi, tâm sự với nhau như là đôi bạn chung cảnh ngộ, và cũng vì xót xa với hoàn cảnh một Tướng Lãnh thất trận, chịu bao nỗi đắng cay bẽ bàng, trong nhà tù không có giấy bút, và để tránh con mắt dò xét của đồng tù cũng như bọn quản giáo, bài thơ làm tới đâu tác giả đã học thuộc lòng tới đó. Khi bài thơ làm xong, Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai muốn xin Việt Thương Nhân chép cho ông bài thơ đó, nhưng nhà sư không dám.

Sau khi ra tù, cả hai đều đã đi định cư tại Hoa Kỳ, cùng theo diện Cựu Tù Nhân Chính Trị (H.O.) và vẫn còn liên lạc được với nhau, nên khi bài thơ được đăng trên báo Chân Nguyên, Việt Thương Nhân không quên gửi cho Thiếu Tướng Giai một bản. Do vậy, chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy Thiếu Tướng Giai đã thuộc bài thơ từ cách xuống hàng, ngắt câu, và không sai một dấu chấm phẩy.

Trong lúc nói chuyện với chúng tôi, Hòa Thượng Thích Giác Hoa có hỏi thăm tình trạng sức khỏe của Thiếu Tướng Giai, và yêu cầu tôi nói rõ về bài thơ này, do Việt Thương Nhân sáng tác.

Từ Dallas, ký giả Thái Hóa Lộc, người đã đưa tôi đến thăm Thiếu Tướng Giai, thú nhận, lâu nay ông cứ đinh ninh bài thơ đó là của Tướng Giai, mà không bao giờ hỏi cội nguồn, cũng như anh  Lộc xác nhận chưa bao giờ nghe Ông Giai nhận đó là bài thơ do ông làm.

Phần tôi xin nhận lỗi sơ sót, trong hoàn cảnh đó, cứ nghĩ là bài thơ này do Thiếu Tướng Giai sáng tác.

Ở trong trại tù Nam Hà, khu Z, Việt Thương Nhân phụ trách việc hớt tóc hàng tháng cho anh em tù nhân chính trị, và ông thường cạo gió cho những anh em bị cảm sốt, trong đó có các vị Tướng Lãnh VNCH. Việt Thương Nhân cho chúng tôi biết, bài thơ này ông thuộc nằm lòng và người đầu tiên ông đọc cho nghe là Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, sau đó là Thiếu Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, trong một lần cạo gió cho hai vị này.

Ðể giải thích việc Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai đã thuộc lòng bài thơ dài 62 câu này, nhà thơ Việt Thương Nhân sau khi bài thơ đăng trên báo Chân Nguyên, ông đã gửi tặng cho Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai một bản.

o O o

Nay nhân dịp hân hạnh được Hòa Thượng Thích Giác Hoa nhờ viết đôi dòng giới thiệu cho tập thơ nhỏ của ông, tôi mạn phép nêu lên câu chuyện cũ, xin trả bài thơ “Tâm Sự Người Bại Tướng” lại cho người đã viết ra nó, và tiện đây cũng xin giới thiệu vài lời về tác giả Việt Thương Nhân (-H.T Thích Giác Hoa.)

“Việt Thương Nhân” theo lời người đặt nó ra, nôm na là nói đến một “người thương nước Việt.’’ Việt Thương Nhân tên thật là Nguyễn Xuân, sinh năm 1941 tại Thôn Tân Mỹ, Xã Vạn Thạnh, Quận Vạn Ninh, Vạn Giả Khánh Hòa.

Ông xuất thân trong một gia đình làm nghề mộc, nhưng lại có ý hướng muốn xuất gia. Do vậy sau khi học xong trung học, năm 1958, lúc 17 tuổi, ông tìm sư học đạo, và xuất gia theo Giáo Phái Khất Sĩ vào ngày 15 tháng 7 Âm Lịch – tại Tịnh Xá Ngọc Liên, Cần Thơ (gọi là Du Tăng hay Sư Áo Vàng.) Năm 1964, Nha Tuyên Úy Các Tôn Giáo được thành lập, tuy các tu sĩ không bị động viên, nhưng Nha Tuyên Úy Phật Giáo đã tuyển chọn những Tu Sĩ có bằng Tú Tài trở lên để đào tạo và biên chế thành các Sĩ Quan Tuyên Úy Phật Giáo với cấp bậc Ðại Úy.

Năm 1972, Hòa Thượng Thích Giác Hoa mới theo học khóa 5 Chiến tranh Chính trị tại Trường Ðại Học CTCT Ðà Lạt và sau đó được bổ nhiệm vào chức vụ Tuyên Úy Phật Giáo tại Trung Ðoàn 31/ SÐ 21 BB, có căn cứ gần Hỏa Lựu, Chương Thiện.

Ngày 30/4, sau khi Việt Cộng vào Cần Thơ, trong cơn hoảng loạn, Ông về Saigon, nhưng sau đó, lại trở về Cần Thơ, ra trình diện với tư cách là một Sĩ quan Tuyên Úy Phật Giáo và bị giam tại Khu An Ninh Nội Chính, gần Cầu Bắc, Cần Thơ thuộc Trung Ðoàn16- SÐ 9BB. Ba tháng sau, ông được đưa về hậu cứ Trung Ðoàn 33 gần Phi trường Trà Nóc, Cần Thơ, để chuẩn bị đưa ra Bắc vào tháng 6 năm 1976.

Một số tù VNCH Vùng IV Chiến Thuật, từ cảng Bình Thủy, đã đi Bắc bằng tàu Hồng Hà. Trong chuyến đi này, Việt Cộng xếp các Tuyên Úy Tôn Giáo như là các thành phần nguy hiểm, quan trọng cùng đi chung với các sĩ quan cấp cao. Riêng 28 vị Tướng Lãnh bị giam riêng và đưa bằng phi cơ ra Bắc.

Hòa Thượng Thích Giác Hoa đã trải qua các trại tù khổ sai ở Yên Bái, Lào Cai (Hoàng Liên Sơn,) Thanh Phong, Hà Tây, Nam Hà. Trong trại tù ông ở đội Mộc và cũng phụ trách hớt tóc cho anh em bạn tù. Chính tại trại Hà Tây, ông đã có dịp gần gũi với các vị Tướng Lãnh và có dịp trò chuyện, tâm sự với Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai. Bài thơ “Tâm Sự Người Bại Tướng,” ra đời trong dịp này.

Sau 13 năm tù, Việt Thương Nhân trở lại Cần Thơ, làm nghề mộc cũng như nghề hớt tóc để sinh sống qua ngày.

Ông định cư tại Mỹ vào năm 1993, theo diện H.O.   do cơ sở Tịnh Xá Minh Ðăng Quang (Hòa Thượng Thích Giác Nhiên) bảo trợ.

Việt Thương Nhân làm thơ không nhiều. Những bài thơ của ông phần lớn làm ra trong nhà tù Cộng Sản, là những bài thơ thống hận, rên siết cho số phận con người. Vừa là một người thất trận, bỏ quê hương và con người lâm cảnh tù đày, khổ nhục; vừa là một nhà tu trước cảnh đời đảo điên, thơ của Việt Thương Nhân phản ánh của một giai đoạn bi thương cả dân tộc.

Chúng tôi xin trân trọng, với tư cách một người đã trải qua những giai đoạn tù đày dưới chế độ tàn ác, không tính người của Cộng Sản, một người không quê hương, đang sống những ngày tháng lưu vong nơi xứ người, xin gửi đến người đọc tập thơ nhỏ, làm xót xa người đọc của tác giả Việt Thương Nhân, Hòa Thượng Thích Giác Hoa.

HP

Khi Kẻ Ngu Giả Mù!

nguoiviet.com

Huy Phương

Posted on 30 Dec 2018

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

(Hình minh họa: Getty Images)

Cứ đến một năm mới, chúng ta lại có dịp mới để một điều gì đó tốt đẹp hơn năm cũ. Dù đã bằng lòng với cuộc sống an bình, sức khoẻ, có cái nhà để ở, có cái xe để đi, đời sống có tự do, nhân phẩm được tôn trọng, chúng ta vẫn mong trong những ngày tháng tới có những điều tốt đẹp, hạnh phúc hơn sẽ mang tới cho chúng ta. Nhưng khi nghĩ về quê hương, với thân phận lưu lạc, chúng ta không khỏi ngậm ngùi về những điều oan trái, bi thảm của dân tộc mình như câu thơ của Tố Hữu đã khiến chúng ta nhớ mãi:

“Bạn ơi, nguồn thảm sầu kia bởi.
Số phận hay do chế độ này?”

Một bản tin cuối năm 2018 không lấy gì làm vui và “đẹp mặt” cho lắm khi chính phủ Đài Loan vừa cho biết, 148 khách Việt vừa đến đây trong một đoàn du lịch, đã “biến mất” sau khi làm thủ tục nhập cảnh. Nói rõ là họ đã trốn ở lại để kiếm việc làm bất hợp pháp. Đây là những người tương đối khá giả, hay có khả năng vay mượn, cầm cố để đóng có tiền, vì chuyến đi này có giá cao gấp 5 lần một chuyến du lịch thông thường qua Đài Loan.
Trong khi trên diễn đàn quốc hội, có người đã cho đây là một việc nhục quốc thể thì chính quyền Việt Nam lại yêu cầu Đài Loan đảm bảo danh dự cho các du khách bị bắt. Loại danh dự mà chính phủ Việt Nam đòi hỏi phải tôn trọng là loại danh dự nào đây?
Sau sự việc này, cơ quan du lịch Đài Loan đã đề nghị Bộ Ngoại Giao ngừng cấp visa cho các đoàn du khách đến từ Việt Nam. Tính từ Tháng Tám, 2016 đến Tháng Ba, 2018, ít nhất 1,946 trường hợp đã được ghi nhận ở quá hạn visa hoặc mất tích sau khi đến Đài Loan, theo thông báo của Văn phòng Thống kê Đài Loan. Theo đó, số công dân nước ngoài “mất tích” lên đến 1,597 người, có 70% người Việt. Phần lớn số người này đã sử dụng giấy tờ giả để tiếp tục ở lại Đài Loan.
Khó khăn hơn, hồi cuối Tháng Hai, 2017 một nhóm lao động gồm 23 người ở các tỉnh tập trung ra Hà Nội, đóng khoảng $2,300 cho một người ở Bắc Giang để được đưa sang Trung Quốc, từ Trung Quốc, họ mua một con tàu biển cũ để vượt biển sang Đài Loan để kiếm việc làm. Khi ra giữa biển, con tàu bị nạn, Đài Loan vớt được 16 thi thể, chỉ có vài người bơi được vào Đài Loan, bị cảnh sát tại đây bắt giữ.
Không lẽ, Việt Nam sau gần 44 năm thống nhất, độc lập, dân còn cơ cực lắm hay sao mà phải bỏ đất nước ra đi? Không phải người Việt ra đi làm chuyên viên, tham vấn cho chính phủ các quốc gia khác thua kém Việt Nam, vì Việt Nam thông minh, cần cù và đã đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ, mà để tìm việc mưu sinh bằng lao động tay chân, ở đợ, kiếm chồng hay bán thân.
Cũng mới Tháng Tám, 2018 đây thôi, 17 người Việt Nam trên con tàu vượt biên đến Úc, đã bị cảnh sát địa phương Úc bắt giữ ở khu vực gần cửa sông Daintree, phía Bắc tiểu bang Queensland. Cũng trước đây, năm 2015, hải quân Úc đã bắt giữ 50 thuyền nhân Việt Nam ở khu vực ngoài khơi phía bắc nước Úc, và sau đó chính phủ Úc cho một chiến hạm chở họ, trục xuất về nước.
Trong 4 tháng đầu 2013, 460 thuyền nhân Việt Nam kể cả phụ nữ và trẻ em đã vượt biển đến Úc. Do đó, chính phủ Úc đã có 15 đợt trả người xin tị nạn về nước “với những hình thức khác nhau!” Gần 40 năm sau ngày Việt Nam thống nhất trong chế độ “xã hội chủ nghĩa,” hiện tượng người vượt biển lại tăng cao, bằng tổng số thuyền nhân đến Úc trong 5 năm trước.
Năm 2017 cả nước đưa được 134,751 lao động đi nước ngoài làm việc, trong số này số phụ nữ chiếm 37.5% trong tổng số 100,000 lao động (năm 2014,) phần lớn là ra nước ngoài làm giúp việc nhà. Mới đây, Tổng thống Indonesia Joko Widodo tuyên bố Indonesia sẽ dừng chương trình đưa phụ nữ nước này ra nước ngoài giúp việc nhà để “giữ lòng tự trọng quốc gia,” vì nhiều phụ nữ khi làm việc ở nước ngoài đã bị bóc lột sức lao động, bị xâm hại, bị bạo lực nhưng không được trả lương. Năm 2012, cựu tổng thống Bambang Yudhoyono cũng từng cam kết sẽ tạo thêm 1 triệu việc làm để khuyến khích lao động giúp việc nhà Indonesia ở nước ngoài quay về nước. Còn Việt Nam thì sao?
Chuyện đàn bà Việt Nam “xuất cảng” đi lấy chồng ngoại quốc, chỉ tính ở Đài Loan thôi, số cô dâu Việt Nam ở Đài Loan hiện nay có hơn 98,000 người, tính riêng trong năm 2017 có 6,075 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan.
Ngày xưa chúng ta thường nghe câu: “Ở đâu có khói là có người Tàu,” ngày nay thử coi, dân nông thôn Việt Nam di cư đi khắp nơi, lên đến số triệu, thì việc có một nhóm có mặt tại Thái Lan, Hồng Kong, Trung Cộng, Sinngapore, Đài Loan hay Nam Hàn, tệ hơn là cả Cambodia, Lào để làm lao động trái luật thì đâu có gì lạ. Tôi nói “tệ hơn” là vì Lào, Cambodia có thể ở dưới mức nghèo đói, so với việt Nam. Chúng ta nghĩ sao người Việt Nam đến Nga bằng đường du lịch, rồi qua biên giới vào Ba Lan kiếm việc làm?
Không bỏ nước ra đi, phải chăng Việt Nam chỉ còn tầng lớp cán bộ, đảng viên quyền lực tung hoành giàu có, hay như bà Tám Bảnh với cái mẹt bày hành, tỏi, ớt, đã bất ngờ nổi nóng chửi đổng chính quyền đang muốn bóp cổ bà, khi nghe tin nhà nước sẽ “chiếu cố” “vặt lông vịt” đến lớp người buôn thúng, bán bưng như bà!
Ngày nay người ta rời bỏ quê hương mình không một chút vấn vương luyến tiếc. Con em du học không về, người dân đang tìm đủ mọi cách để bỏ nước ra đi: du học, hôn thú, du lịch trốn ở lại, vượt biển… Một bài viết trên BBC cho rằng người ta muốn rời bỏ Việt Nam để con cái mình khi lớn lên được sống làm người tử tế.
Trước một cuộc di cư mệnh danh là cuộc “di cư của thế kỷ 21,” một bài báo trên VNExpress đã có đề nghị: “Chúng ta cần siết chặt các đường biên giới, cả của quốc gia lẫn các tỉnh thành, để ngăn dòng người di cư tự do và các vấn đề của nó?”
Đây là một đề nghị khá buồn cười và bất khả thi!
Trong một đất nước có tình trạng như vậy, giới lãnh đạo Cộng Sản như con đà điểu chúi đầu vào cát, nhắm mắt mà lạc quan tếu táo như Nguyễn Phú Trọng: “Có lẽ nhìn lại chưa bao giờ quê hương ta đẹp như thế này, chưa bao giờ quê hương ta có đời sống văn hóa, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, thôn xóm có nhiều hình thức hoạt động mới. Con em được học hành đến nơi đến chốn, đời sống của bà con có nghĩa có tình!”
Tôi xin tặng câu nói này của nhà văn Ái Nhĩ Lan, Samuel Beckett, cho người cầm đầu đảng Cộng Sản VN: “Hãy là kẻ biết điều hợp lý, bạn chưa thử hết mọi thứ mà. Một kẻ ngu có thể giả mù nhưng ai biết con đà điểu đó thấy gì trong cát?”

Huy Phương

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

Chương 15 – Chương cuối

Phục sinh mang một ý nghĩa khôn cùng. Có phải tất cả mọi người trên trái đất chết đi rồi sẽ sống lại không nhỉ? Chẳng phải thế đâu. Nếu thế thì ý nghiã của phục sinh tầm thường quá. Chúa Giê xu phục sinh không bao giờ vì phép tích của Thượng Đế mà vì những gì Ngài đã để lại sau khi chết. Những gì Chúa Giê xu đã để lại là gì? Là những cao cả của đời sống Ngài, là những hy sinh tuyệt diệu của Ngài, là trí tuệ sáng chói của Ngài cống hiến cho nhân loại muôn thuở…Bằng những cái đó, Chúa Giê xu đã phục sinh. Ngài chết để mời gọi nhân loại gần gũi, cảm thông, thương yêu nhau. Ngài chết đã 2.000 năm, nhân loại vẫn đến bên Ngài, vẫn được bình yên tâm hồn, vẫn thấy những bí ẩn linh thiêng của đời sống, vẫn xưng tụng Ngài là Đấng Cứu Thế, vẫn bỏ cái xấu theo cái tốt, vẫn xa cái giả tìm cái chân tức là Ngài vĩnh cửu, Ngài phục sinh. Phật Thích Ca đã phục sinh trong cung cách đó. Cũng vậy, Khổng Tử, Lão Tử, Nguyễn Du, Mozart, Bach, Victor Hugo, Léon Tolstoi, Hemingway vân vân…Chỉ có một Phật Thích Ca, một Chúa Giê xu. Không được phép so sánh bất cứ ai với thánh nhân, vĩ nhân. Nhưng bất cứ ai, hễ để lại cho đời sống kế tiếp một ý nghĩa cao cả vì lẽ sống thì sau khi chết đều được phục sinh và bất tử.

Trần văn Bá đã được phục sinh và bất tử.

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 14

Vài chi tiết quan trọng

Sau khi thôn tính miền Nam, cộng sản Việt Nam bắt buộc phải chọn lựa một quan thầy: Liên xô hay Trung quốc. Và họ đã chọn quan thầy Liên xô. Ròng rã ngót hai mươi năm phát động chiến tranh xâm lăng miền Nam, Trung quốc đã trang bị võ khí cho Việt cộng từ móng chân lên đến sợi tóc. Bị phản bội. Trung quốc uất ức đòi hết nợ nần viện trợ. Việt cộng bắt dân ăn khoai, ăn sắn trả nợ. Việt cộng chọn Liên xô vì:

Liên xô ở xa Việt Nam. Nếu nay mai trở mặt tôn xưng Mỹ làm quan thầy, sẽ không bao giờ bị Liên xô can thiệp như Liên xô đã can thiệp ở Ban lan, Hung gia lợi, Tiệp khắc bằng xe tăng. Việt cộng lúc nào cũng thèm làm đầy tớ Mỹ. Để quyền bính được củng cố vững vàng.

Trung quốc ở gần và vốn là kẻ thù truyền kiếp. Trung quốc đã chơi Việt cộng nhiều vố đau điếng. Tình hữu nghị trước đây chỉ thắm thiết trên khẩu hiệu. Trung quốc viện trợ Việt cộng để thủ lợi mọi mặt và để mặc cả với Mỹ.

Giao hảo xong với Trung quốc rồi, lại thấy bọn tướng lãnh Sàigòn thối nát, tham nhũng, Mỹ giao nhiệm vụ phú lít Đông Nam Á cho Việt cộng và thêm nhiệm vụ chặn nút không cho Trung quốc đã thử lửa với Việt cộng và không dám tiến đánh sâu thêm. Mỹ cho rằng Việt cộng thừa khả năng ngăn chận Trung quốc. Cuối năm 1981, Liên xô viện trợ cho Việt cộng hai phi đội Mig 25. Tướng không quân hoàng gia Anh quốc bình luận: > Do đó, Đặng Tiểu Bình chỉ dọa cho sướng miệng. Tuy nhiên, Liên xô vẫn không nắm nổi toàn quyền chi phối Việt cộng. Lý do: Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam chia rẽ nặng nề. Có ba phe nhóm rõ rệt. Phe thân Liên xô và do Liên xô đào tạo. Phe thân Trung quốc và do Trung quốc đào tạo. Phe không do Liên xô hay Trung quốc đào tạo. Phe này gồm các lãnh tụ Hà Nam Ninh như Trường Chinh, Lê Đức Thọ… và phe này mạnh nhất lấn át quyền hành của Lê Duẩn thân Liên xô. Đại hội đảng kỳ 5 hoãn đi hoãn lại vì phe Trường Chinh phá bĩnh. Cuối cùng, phe này nhượng bộ Liên xô để Lê Duẩn ở lại chức Tổng bí thư. Năm 1982, một chiếc phản lực cơ dân dụng của hàng không Aeroflot tự ý bay từ phi trường Tân Sơn Nhất sang Nam Vang, không hỏi ý kiến Việt cộng, bị Việt cộng bắt nằm ỳ ở Nam Vang ba tháng. Liên xô trả đũa không đại tu bổ một số phi cơ chở khách của Việt cộng và cũng cho nằm ụ ở Moscou.

Liên xô muốn tái lập quan hệ ngoại giao với Trung quốc. Điều kiện của Trung quốc trước sau như một là Liên xô phải bỏ rơi Việt cộng, phải bắt Việt cộng rút quân khỏi Cambodge. Liên xô lơ là vì thấy Việt cộng còn được việc. Nhưng thấy Mỹ, Nhật Bản kiếm chác béo bổ ở Trung quốc, Liên xô xích gần Trung quốc hơn. Cuối năm 1984, phó thủ tướng Liên xô sang Trung quốc hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung quốc về mối tình xưa nghiã cũ. Đánh hơi được sự bất lợi cho mình, và để chứng tỏ mình không sợ sức ép của Liên xô, không ngán Trung quốc, Việt cộng lập toà án công khai xử những người Việt Nam hải ngoại về nước chiến đấu và kết tội những người này là gián điệp, là tay sai của Trung Quốc. Đồng thời, Việt Cộng hạ lệnh tấn chiếm đồn Ampil là chiến khu kháng chiến vững vàng nhất của người quốc gia Cambodge. Hai vụ xẩy ra cùng một thời điểm và cùng được Bộ chính trị trung ương Đảng nghiên cứu kỹ lưỡng.

Năm 1982, khi đưa Võ Đại Tôn ra trình diện báo chí quốc tế, Việt cộng đã phong tước vị anh hùng cho Võ Đại Tôn, đã gây cảm hứng dạt dào cho những người Việt Nam hải ngoại chống cộng. Với Việt cộng, tất cả những ai chống họ, bằng vũ khí thì họ gọi là phỉ, bằng tư tưởng thì họ gọi là phản động. Họ, bằng mọi giá, mọi thủ thuật, bưng bít dư luận thế giới những phong trào chống đối họ trong nước và đặc biệt, những người ngoài nước về hoạt động thì họ nhốt riêng một chỗ, hoặc thủ tiêu sớm sau khi đã tra tấn khai thác, hoặc để chết dần chết mòn ở nhà tù. Là lái buôn xác chết chuyên nghiệp, khi thấy lãi nhiều lỗ ít, họ lôi tù nhân quan trọng ra, chụp lên đầu tội nhân những tội không phải là tội yêu nước. Võ Đại Tôn được làm ồn ào là vì Nguyễn Cơ Thạch cần có tí chiếm đóng Cambodge. Trần văn Bá ra Tòa Án Nhân Dân vì Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam thách thức Liên xô.

Chàng khước từ viết lời thú tội. Chàng khước từ ghi tiếng nói của mình vào băng nhựa. Chàng đòi hòi được phát biểu công khai trước nhân dân và báo chí quốc tế.

– Anh sẽ phát biểu gì, anh Bá? Lãnh Đạo 8 hỏi.

– Những gì các ông mong muốn. Chàng đáp.

– Chúng tôi đã nghiên cứu tường tận về anh. Và đây là kết luận: Đảng cộng sản Việt Nam quanh vinh và Nhà nưởc cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam sẽ chỉ khoan hồng cho anh nếu anh thành khẩn ăn năn sám hối. Sự thành khẩn được đánh giá cao bằng những gì chính anh viết trên giấy trắng mực đen rồi chính anh đọc những gì anh viết để ghi vào băng nhựa. Chúng tôi sẽ cho phát thanh. Và đó là anh phát biểu công khai. Anh nhớ điều này: Người cộng sản khôn hơn anh. Anh đừng hòng qua mặt chúng tôi, đừng hòng chơi chữ, đừng hòng, đừng hòng…

– Thưa ông Lãnh Đạo, các ông đã soi kính hiển vi vào mỗi lời nói của tôi và thấu triệt ý nghĩ của tôi rồi. Tôi không khôn hơn các ông nhưng tôi không ngu. Tôi chẳng có tội gì mà phải ăn năn sám hối. Chỉ có kẻ thù của người Việt Nam mới dám hỗn láo kết tội những người Việt Nam yêu nước là tội lỗi. Tôi trân trọng nhờ ông chuyển lời của tôi tới ngài Lê Đức Thọ. Rằng, thuật tiến, thối chỉ có thể áp dụng trong hai lãnh vực quân sự và chính trị thôi. Trên trận tuyến tư tưởng, người chiến sĩ không biết lùi. Và tư tưởng đối nghịch thẳng thừng với tư tưởng mác xít mà lùi tức là bị nhuộm đỏ, bị băng hoại, tàn tạ. Tôi biết, dẫu tôi có >, các ông vẫn nhốt tôi cho đến khi tôi chết. Và nếu các ông tha tôi thì, ở Việt Nam hay ở Paris tôi sống mà như đã chết nhục. Tôi không thích chết dại dột, ngu xuẩn, vì thế, thưa ông!

Từ Toà Án Nhân Dân, người ta chở chàng về biệt giam khu FG khám Chí Hoà. Chàng lại nằm trong cái quan tài xi măng mỗi ngày sống là một lần chết. Chàng muốn được chết ngay không thèm hưởng lệnh ân xá cuả Chủ tịch Trường Chinh. Lệnh ân xá chỉ là sự giằng co giữa cộng sản và tử thần. Thế giơí mãi mãi bị huyễn hoặc bởi danh từ cộng sản ban cho kẻ dám chống họ và bị kết án tử hình. Người ta không thể sáng mắt nhìn rõ sự vô vọng của những dân tộc bị khống chế bằng quyền lực cộng sản. Người ta càng không thể sáng mắt nhìn rõ nơi chốn dành cho tử tù cộng sản và cung cách hành quyết tử tù. Người cộng sản bần tiện lắm. Thù hận luôn luôn réo sôi trong bộ máy tuần hoàn của họ và họ mất hết cả lòng trắc ẩn dành cho những ai sắp bị đưa ra bãi bắn. Vẫn thế thôi, ngài hai bữa cơm hẩm ăn với canh rau muống già, hai ca nước không dám uống hết phải dành dụm rửa đít sau khi đi ỉa, tuần lễ đổ xô phân tiểu, tắm giặt một lần, đứng thâu đêm với chân mang xích chờ quần áo khô và ngủ trên nền nhớp nhúa bên cạnh xô phân tiểu trong quan tài xi măng. Nếu Chủ tịch Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghiã cộng sản mà ban lệnh ân xá thì có nghiã là tử tù sẽ sống thoi thóp trong quan tài xi măng năm này qua năm khác cho đến khi chết rũ. Và khi ấy, tử thần ngao ngán cộng lần chết của tử tù. Một ngày sống là một lần chết! Hãy nhớ kỹ điều này. Ở chế độ cộng sản, con người ham chết hơn ham sống và tử tù thèm chết sớm hơn thèm đợi lệnh ân xá. Rất đông con người không biết chết là gì bởi họ chưa biết sống ra sao, chưa hề được sống.

Chàng đã chết thêm nhiều lần ở quan tài xi măng khu FG Chí Hoa. Cho đến một đêm, cánh cửa cachot mở, nhiều ngọn đèn pin soi sáng quan tài. Người ta dựng chàng dậy, bắt chàng đứng nghiêm nghe đọc lệnh hành quyết. Rồi người ta bảo chàng há miệng ra, tống trái chanh và nhét đầy miệng chàng. Người ta dán miếng băng keo lớn kín miệng chàng rồi bịt chặt mắt chàng, trói tay chàng lại. Người ta tháo xích chân chàng ra, xách hai bên nách chàng, dẫn chàng bước xuống bốn tầng lầu và dìu chàng đi, đi mãi…Chân chàng dẵm lên đá sỏi, đá răm rồi đạp lên cỏ ngậm sương. Chàng biết mình đã tới bãi hành quyết. Người ta cởi giây trói cổ tay chàng và buộc hai cánh tay chàng vào cái cột. Lưng chàng sát khít cột gỗ. Khi chàng thấy những bước chân của đồ tể bước ra khỏi chỗ mình, chàng dang hai chân ra. Chúa Giê xu bị quân dữ căng tay đóng đinh trên thập giá, hai chân chụm lại, đầu hơi nghiên xuống. Chàng bị cộng sản trói ghì tay, chân dang ra và đầu ngẩng lên. Một thánh nhân vì nhân loại, một chiến sĩ vì dân tộc. Hai hình ảnh cùng tuyệt vời, cùng rực rỡ. Một băng đạn nổ ròn rã trong đêm u tịch của quê hương. Trần văn Bá rũ đầu xuống. Chàng đã thỏa mãn. Máu cuả chàng, máu của người tuổi trẻ, máu của người quốc gia chân chính đã đổ xuống thấm đất quê hương. Hoa hạnh phúc dân tộc sẽ nở từ chỗ đó.

Photo edit by Sơn râu

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

Chương 13

– Chắc anh không lạ gì về tôi cả?

– Vâng, ông thật sự nổi tiếng từ ngày được cưa đôi giải thưởng hòa bình Nobel với Kissinger.

– Anh nghĩ thế nào về giải thưởng ấy?

– Tôi thấy Hàn Lâm Viện Thụy Điển có tinh thần trào lộng thật cao.

– Tại sao?

– Vì ông là đại diện phe gây chiến tranh, Kissinger là đại diện lái buôn bom đạn.

Lê Đức Thọ mỉm cười. Nhân vật kỳ bí của Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, lá bài tẩy của nhóm Hà Nam Ninh sẽ lật ngửa trong ván bài theo Mỹ bỏ Liên xô tương lai, người sẽ nắm gọn quyền bính trong tay nếu Mỹ bật đèn xanh bang giao. Khai thác triệt để châm ngôn người cộng sản tinh quái hơn người quốc gia và họ binh chính trị năm bảy đường. Người quốc gia thờ có một chủ nên khi bị chủ bỏ rơi là rã đám. Nam Việt Nam và Nicaragua là hai chứng minh cụ thể và nóng hổi. Là anh của Mai Chí Thọ, Đinh Đức Thiện, cả ba đều là con trai ông tổng đốc Nam Định Phan Đình Hoè, cả ba đều khước từ gia phả, thay tên đổi họ. Lê Đức Thọ gia nhập đảng cộng sản từ thuở còn làm học sinh trung học. Năm 1945, phát xít Nhật tin tưởng Thọ, giao cho Thọ một triệu bạc Đông Dương để Thọ lo giùm vụ trong đấy. Lê Đức Thọ ẵm triệu bạc trốn lên chiến khu Việt Bắc. Rất thông minh và kiến thức rộng nhưng Thọ không được Hồ Chí Minh yêu. Hồ Chí Minh chỉ tin yêu dân Nghệ Tĩnh. Bởi vậy, sửa sai cải cách ruộng đất năm 1956 là cai cớ để Hồ Chí Minh loại bỏ Trường Chinh thủ đoạn mà thay thế Lê Duẩn dốt nát, thiếu phẩm chất cách mạng. Bởi vậy, Tố Hữu, tên văn nghệ hạng bét đã chỉ đạo văn nghệ những Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Huy Cận, Thanh Tinh, Trần Đức Thảo, Nguyễn Đình Thi, Phan Khôi. Sau vụ thảm bại Mậu Thân 1968, Hồ Chí Minh phát điên mà chết. Lúc trăng trối, không có Lê Đức Thọ. Và Hồ Chí Minh phều phào hỏi quần thần. Đến chết, Hồ Chí Minh vẫn lo ngại Lê Đức Thọ và vẫn coi Thọ là thứ của Đảng cộng sản Việt Nam.

Lê Đức Thọ vang danh từ những cuộc > với Kissinger ngoài lề Hội Đàm Paris. Rồi cưa đôi giải thưởng hòa bình Nobel với Kissinger. Sau khi thôn tính miền Nam, Lê Đức Thọ ít xuất hiện trong những lễ lạc quan trọng. Mặc dù, Trường Chinh đang là nhân vật nổi bật của phe Hà Nam Ninh nhưng đầu óc của phe nhóm vẩn chỉ là Lê Đức Thọ. Thọ không hề tuyên bố gì về những đổ vỡ bang giao giữa Việt Nam với Trung quốc, giữa Trung quốc với Liên xô. Ông ta khẩu như bình, nói chuyện với Hoa Kỳ một ngày nào đó. Hoa Kỳ đã chọn Lê Duẩn, Trung quốc chọn Hoàng Văn Hoan. Chàng không ngờ gặp gỡ Lê Đức Thọ.

– Anh can đảm lắm, người tuổi trẻ à!

– Cảm ơn ông.

– Cái gì đã làm anh can đảm?

– Ông muốn biết?

– Phải, tôi quý trọng những người thẳng thắn, can đảm dù những người thẳng thắn, can đảm chống tôi, muốn tiêu diệt tôi. Sự kiêu ngạo của người chiến đấu là biết chọn lựa kẻ đương đầu xứng đáng. Nào, người tuổi trẻ, cái gì đã làm anh can đảm?

– Cái quan tài xi măng!

– Tôi không hiểu.

– Ông Mai Chí Thọ hiểu.

– Anh nói rõ ràng đi.

– Cái cachot đốn mạt ở khu FG khám Chí Hòa.

– Tôi không hề biết nó ra sao.

– Ông nói đúng, vì có bao giờ ông quan tâm tới nơi nhốt những người Việt Nam cùng giòng giống với ông. Nơi ấy bóng tối âm u, ngày như đêm, tanh nồng, hôi hám, những người Việt Nam đang tay bị còng, chân bị xích, ngủ trên nền phân đóng lớp; ăn, uống, thở, mơ ước, thổn thức bên cạnh xô phân tiểu ruồi bò nhung nhúc. Nơi ấy, phẩm cách của con người bị xếp dưới hạng chuột bọ. Nơi ấy, tôi đã chết 11 tháng ròng rã và tôi sống còn. Và đó là cái đã làm tôi can đảm.

– Tôi biểu dương sự can đảm của anh. Tôi gặp anh vì anh can đảm. Đã chẳng hề có một can phạm nào được gặp gỡ nhiều nhân vật lãnh đạo như anh. Tôi được báo cáo rằng, nhiều thằng tướng ngụy đã miễn lao động mà vẫn than khổ; nhiều thằng đại tá cuốc đất vớ vẩn đã tưởng mình ở đáy địa ngục. Bọn đó, công an 17, 18 tuổi quản lý và giáo dục đủ rồi. Tôi ít thì giờ lắm, chúng ta không nên rong dài.

– Tôi cũng nản mạn đàm vô tích sự rồi.

– Anh có tin tôi đầy đủ thẩm quyền trả tự do cho anh và dễ dàng đưa anh trở lại Paris không?

– Tôi tin.

– Anh có muốn tự do không?

– Tự do hay là chết, tôi chọn lựa tự do của tôi và cái chết của tôi.

– Anh không cần chọn lựa.

– Tôi phải chọn lựa.

– Được, tùy anh. Tôi đã đọc Cuộc chiến đấu của tôi của anh rồi, bây giờ tôi hỏi anh vài điều. Tại sao anh chiến đấu?

– Thưa ông, tại sao ông chiến đấu?

– Vì hạnh phúc của dân tộc.

– Tôi cũng chiến đấu vì hạnh phúc của dân tộc.

– Chúng ta cùng mục đích.

– Khác. Tôi quốc gia chân chính, ông cộng sản.

– Thật khó nói chuyện với anh. Sự khẳng khái của anh không làm nên đại sự đâu.

– Bản chất của tôi là thế.

– Anh không biết lùi khi cần lùi à?

– Tôi chỉ biết tiến.

– Tiến vào chỗ chết là dại dột, là bất trí. Kiến thức của anh đâu?

– Trong tim tôi.

– Tim chưa đủ, cần óc nữa. Tim đi với não, anh hiểu chưa? Nếu tôi là anh, không bao giờ tôi bị nằm trong quan tài xi măng.

– Nhưng ông không bao giờ là tôi cả. Bởi vậy, có nhiều điều ông không khôn.

– Người cộng sản không sợ chết mà cần sự tồn tại. Anh hãy cố gắng nghe kinh nghiệm tù ngục của lãnh tụ cộng sản: Tất cả lãnh tụ cộng sản, từ chủ tịch Hồ Chí Minh đến tổng bí thư Lê Duẩn, nằm tù thực dân, phong kiến đều hèn hạ và chấp thuận bất cứ điều gì thực dân yêu cầu. Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Không hèn hạ thì không có ngày làm lãnh tụ để đánh vô mặt kẻ thù. Người có chí lớn phải biết nuôi thù. Muốn mưu đại sự, cần gạt bỏ tiểu tiết. Ai cũng can đảm như anh, kẻ thù nó chặt hết. Có ai dám nói chủ tịch Hồ Chí Minh hèn hạ trong tù đâu? Khi đã trở thành lãnh tụ, cái xấu nhất sẽ biến thành cái đẹp nhất, và toàn dân tung hô.

– Ông nói hay lắm.

– Anh có đọc Đông chu liệt quốc không?

– Có.

– Anh nhớ tên họ kẻ cứu giòng máu cuối cùng họ Triệu đời Tần Lê Công không?

– Tôi quên.

– Vì quên nên anh không hiểu lẽ sống chết. Công Tôn Chử Cữu hỏi Trình Anh Trình Anh đáp: Công Tôn Chử Cữu nói: Bèn nhận con mình là con chủ và xúi Trình Anh đi tố cáo để Đỗ Ngân Gia giết mình và con mình. Nhờ thế; Trình Anh mới cứu nổi Triệu Vũ và sau này mà chọn cái chết thì quá là bất trí.

– Ông luận lẽ sống chết làm tôi mở mang kiến thức.

– Anh mê Sử Ký của Tư Mã Thiên không?

– Tôi rất hâm mộ.

– Tư Mã Thiên vì khẳng khái bênh Lý Lăng mà chịu tội thiến, cái tội nhục nhã thời ấy. Nếu có tiền chuộc thì vua tha. Tư Mã Thiên nghèo mà đám văn hữu thì ngó lơ, chẳng đứa nào giúp. Tư Mã Thiên đành thọ nhục. Đám văn hữu chê trách đủ điều. Sau này, Sử Ký biện minh cho sự chịu nhục của Tư Mã Thiên thì đám văn hữu bèn ngoác miệng mà khen. Nếu Tư Mã Thiên tự tử thay vì chịu nhục, làm gì nhân loại có bộ Sử Ký tuyệt diệu đó. Anh vỡ lẽ sống chết chưa?

– Cám ơn ông.

– Anh có cảm nỗi Hàn Tín không?

– Tôi phục tài ông ấy.

– Còn ngàn vạn dẫn chứng về lẽ sống khó, chết dễ.

– Nhưng, thưa ông, tại sao ông lại mở mang kiến thức cho tôi về lẽ sống chết và kinh nghiệm tồn tại của người cộng sản?

– Vì cuộc chiến đấu của anh cũng là cuộc chiến đấu của tôi. Đó là lời tâm huyết và tôi tin anh không phản bội tôi. Tất cả những điều tôi nói với anh đều là tâm huyết. Anh đủ kiến thức, thừa thông minh, chịu khó suy nghĩ cho chín chắn. Tôi sẽ dồn mọi nỗ lực, tạo điều kiện đưa anh ra Tòa Án Nhân Dân công khai xử anh. Tôi nhắc lại: Lùi để tiến là kẻ có mưu trí. Sống để cứu dân tộc là bậc đại trí. Tiến vào chỗ chết là kẻ vô dụng. Chết khi chưa vận động xong cách mạng Tây Sơn là cái chết của cây cỏ.

Lê Đức Thọ vỗ vai chàng rồi chào tạm biệt. Công an bảo vệ đưa chàng về căn biệt thự ngoại ô bằng xe du lịch Peugeot 404. Khi đến và khi về đều không bị bịt mắt, xích chân, còng tay. Và đi, về ban ngày nắng vàng rực rỡ. Chàng nằm ngửa mở mắt, nhìn lên trần phòng. > ông già tóc bạc phơ, tuổi để chừng hơn cả tuổi thân phụ của chàng, đã khuyên chàng thế. Ông già ấy, Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, kẻ kế nghiệp Hồ Chí Minh một ngày thật gần, đã truyền dạy chàng lẽ sống và kinh nghiệm ở tù của người cộng sản. Chàng rất cảm kích thái độ kẻ cả của Lê Đức Thọ. Ông ta đã phóng tới tấp vào tâm não chàng những đòn nhân nghĩa khiến chàng không kịp đỡ, không kịp phản ứng. Ông ta đưa chàng lên ngọn đỉnh núi cao rồi, bất thần, bỏ đi. Một nhà văn mà chàng gặp ở Paris năm xưa đã nói với chàng: Nhà văn đưa ra một thí dụ cụ thể: Ý đang phô diễn trên nhật báo Nhân Dân. Hễ báo Nhân Dân ca ngợi khoai mì đầy rẫy pô rô tê in thì y rằng mấy tháng sau nhân dân cả nước ăn khoai mì trừ cơm. Vân Vân Ông Lê Đức Thọ đã nói với chàng rất nhiều những điều nhân nghĩa, ông ta giăng cái bẫy gì để chàng lọt, ông ta muốn gì ở chàng? Và tại sao lại phải Lê Đức Thọ tiếp chuyện một tên ? Tại sao lại phải Lê Đức Thọ  đưa chàng ra Tòa Án Nhân Dân xử công khai?

Chàng ngồi vụt dậy. Chàng hiểu rồi. Bây giờ chàng mới thấm lời của Chúa Giê Xu. Cửa hẹp dẫn chàng vào cachot, vào cô đơn, hiu quạnh, vào ý nghĩa sống rực rỡ. Cửa rộng dẫn chàng vào văn phòng của Lê Đức Thọ, vào dụ dỗ, cạm bẫy của Satan, vào sự hư hỏng. Chàng ghê sợ cộng sản. Thủ đoạn cộng sản tinh vi đến độ họ có thể huyền hoặc được cả ma quỷ. Cơ hội nào đã đến với họ để họ phải đưa chàng ra Tòa Án Nhân Dân xử công khai? Tất nhiên, đó là cơ hội tốt đẹp của họ. Cũng là cơ hội tốt đẹp của chàng. Bạn hữu và gia đình chàng sẽ hiểu những ngày vắng mặt chàng ở đâu. Và chàng sẽ được nói công khai với dân tộc, với thế giới mục đích chiến đấu của chàng. Chàng sẽ là người chiến đấu đại diện của bao nhiêu người Việt Nam yêu nước đã chiến đấu chống cộng sản 30 năm ở miền Bắc; đã chiến đấu chống cộng sản ở miền Nam từ sau 30-4-1975, đã sa cơ thất thế, đã sống nhục nhã trong các nhà tù, trại tập trung, đã chết dần chết mòn hoặc vẫn còn đang sống quằn quại hoặc đã bị thủ tiêu bí mật mà thế giới không hề biết. Chàng sẽ nhân danh những chiến sĩ vô danh nói lên tiếng nói từ địa ngục. Cửa hẹp dẫn chàng vào nỗi đau khổ và gửi gắm chàng một sứ mạng thiêng liêng. Không, chàng không thể lui. Với vị thế của chàng, lui là đầu hàng, là tự diệt nhục nhã, là vào bẫy kẻ thù một cách ngu xuẩn. Trên trận tuyến tư tưởng không có lui. Tư tưởng đã phồng lên là phải tỏa ra, chiếu sáng cùng khắp. Chàng muốn trả lời Lê Đức Thọ:

Hôm sau, người công an bảo vệ đưa chàng ra gặp lãnh đạo. Lãnh Đạo 7, chàng đặt ngay tên cho ông ta.

– Tôi đến thăm sức khỏe của anh.

– Cám ơn ông. Và mừng anh.

– Thưa ông, mừng một tù nhân đặc biệt là có ý nghĩa gì?

– Ý nghĩa rao một tin mừng.

– Phúc Âm?

– Không, sự khoan hồng của Đảng. Anh sẽ ra thăm quê hương của Tây Sơn, sẽ ra thăm chổ gục ngã của Nhượng Tống. Rồi ở lại hay qua Paris tùy ý anh.

– Tôi hiểu rồi.

– Tốt lắm.

– Anh ở lại quê hương hay anh ra đi?

– Tôi ở lại.

– Anh dứt khoát giã từ phồn hoa, vật chất?

– Vâng, tôi muốn xin được đổ máu tưới luống cây chung với máu và mồ hôi của dân tộc.

– Anh có ý nghĩ lạ.

– Đâu có lạ, thưa ông Lãnh Đạo. Khi đã chấp nhận về là chấp nhận ở lại và đã ở lại là chấp nhận hy sinh, dù bị bắt hay không bị bắt, dù thảnh thơi ngoài đời hay mòn mỏi trong tù. Hạnh phúc của dân tộc, theo tôi, cần phải được tưới bằng những giòng máu tự nguyện của người công chính thì mới thăng hoa, kết trái ngọt.

– Anh vừa mới ý thức được lẽ sống đó.

– Điều này thì ông chủ quan quá đáng và nhận xét sai lầm. Đã không ai giúp tôi ý thức lẽ sống của tôi cả. Mảnh vải bịt mắt tôi, cái còng khoá tay tôi, sợi xích ràng chân tôi, những đêm thao thức trong quan tài xi măng cạnh xô phân tiểu trong bóng tối, trong nỗi cô đơn mênh mông dàn trải dạy tôi đầy đủ ỷ nghĩa của sống và chết.

– Anh đã viết chưa?

– Viết gì?

– Ý nghĩa ấy.

– Một trang giấy sao viết đủ. Cần một pho sách dầy.

– Tôi muốn nói ý nghĩa của sự chọn lựa sống và chết.

– Không cần viết.

– Anh nên viết.

– Tôi nói đã đủ rồi, tôi công khai nói. Như thế, sẽ không ai bảo tôi bị áp lực phải viết, bị đe dọa phải viết.

– Anh nói ở đâu?

– Ông thừa hiểu tôi sẽ nói ở đâu rồi. Tôi nhắc lại lời một người đã dạy tôi:  Tôi không thích chết dại dột.

Chàng đã nói đúng tim gan Lãnh Đạo 7, đã thỏa mãn sự mong muốn của những kẻ bắt chàng. Đừng bao giờ tự ti mặc cảm với lãnh tụ cộng sản, đừng bao giờ phong thánh phong thần cho lãnh tụ cộng sản, đừng bao giờ nghĩ lãnh tụ cộng sản là ưu việt khi chiến đấu chống họ. Cũng đừng bao giờ nghĩ lãnh tụ cộng sản là anh bộ đội nói ngông hay chú công an coi tù. Họ tài ba và thủ đoạn nhưng không phải là vô địch. Không phải là chúng ta không tài ba và thủ đoạn. Muốn chiến đấu để thắng họ, điều tiên quyết là chúng ta phải biết họ và biết cả cái hay lẫn cái dở của họ. Không biết gì về lãnh tụ cộng sản mà cứ chống chế độ cộng sản là đấm đá không khí.

Lãnh Đạo 7 hớn hở:

– Tôi tin người như anh không thích chết dại dột.

Chàng nói:

– Chết dại dột là chết ngu, phải không, thưa ông Lãnh Đạo? Tôi đã suy nghĩ kỷ rồi và tôi chọn lựa cái chết có ý nghĩa. Tội gì tôi phải chết dại dột, chết âm thầm như cây cỏ. Cuộc đời còn bao nhiêu hứa hẹn.

– Đúng thế. Anh chuẩn bị tư tưởng đi.

– Tôi đã chuẩn bị.

– Anh sẽ nói công khai điều gì?

– Những gì các ông muốn. Tôi bầy tỏ lòng thành khẩn của tôi là tôi muốn về đất Tây Sơn.

– Về đất, chàng chơi chữ. Trong bài Tây Tiến của Trần Quang Dũng, để diễn tả cái chết đẹp, cái chết giữa chiến trường của người lính chiến đấu chống thực dân bảo vệ độc lập, có câu > Vậy thì về đất Tây Sơn mà chàng nói có nghĩa là chàng muốn chết khỏi ô danh những người đã, đang và còn chiến đấu chống kẻ thù của dân tộc.

– Anh sẽ ra Toà Án Nhân Dân, ngày gần đây.

– Tôi mong về quê càng sớm càng tốt.

– Anh sẽ về quê thôi, anh hoàn toàn tự do.

– Về quê, chàng lại chơi chữ và Lãnh Đạo 7 không hiểu. Chàng nhớ chứ nghĩa của Phạm Duy diễn tả Phạm Phú Quốc hy sinh trên vùng trời quê hương.

– Chúng tôi tin anh giữ lời hứa.

– Tôi giữ lời hứa.

– Chúng tôi phấn khởi lắm, anh Bá ạ!

– Tôi cũng phấn khởi lắm, thưa ông Lãnh Đạo.

– Anh cần gì bây giờ?

– Cần gì ạ?

– Cần bất cứ thứ gì, tôi sẽ chỉ thị cho đồng chí bảo vệ thoả mãn yêu cầu của anh.

– Tôi cần một thứ thôi.

– Gì?

– Hỏi ông một câu?

– Anh cứ hỏi.

– Ông nói thật?

– Luôn luôn tôi nói thật.

– Tại sao các ông ưu ái tôi thế?

– Giản dị thôi, vì anh là tên phản động hải ngoại xứng đáng, đầy đủ tư cách.

– Các ông cũng biết sợ người có tư cách?

– Không sợ mà nể. Bởi vì tiếng nói của người tư cách có trọng lượng cả hai mặt: chống đối và đầu hàng.

– Cám ơn ông. Tôi cần nghỉ ngơi.

Lãnh Đạo 7 đích thân đưa chàng về phòng với người công an bảo vệ. Cạm bẫy đã giăng và kẻ giả hình chờ người công chính sa hố thẳm.

Tình bạn thời lưu lạc!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Người Việt mình ngày xưa vì lý do nào đó phải tha hương tình cờ gặp bạn cũ thường hay nói: “Cửu hạn phùng cam vũ; Tha hương ngộ cố tri.” Diễn Nôm là: “Nắng hạn lâu ngày gặp mưa nhuần; Nơi xứ người gặp được bạn cũ!”

Gặp như vậy là khoái, là đã lắm! Nhưng lại có ông còn muốn khoái hơn nữa, muốn đã hơn nữa nên tự động biên tập thơ của người ta thành ra thơ của mình bằng cách thêm vào hai chữ ‘Thập niên’ vào câu một, thành “Thập niên cửu hạn phùng cam vũ”. Mười năm hạn hán, mưa không có một hột mà bất ngờ được trận mưa rào, ào ào ướt như chuột lột. Quá khoái!

Rồi thêm hai chữ ‘Thiên Lý’ vào câu hai thành “Thiên lý tha hương ngộ cố tri” Ngàn dặm xa quê gặp bạn xưa! Nhứt là gặp lại thằng bạn nầy khoái nhậu, khoái nói dóc như mình thì tình bạn cố tri nầy quý như đồ cổ đời Khang Hy, đời Càn Long gì đó… ai mua (trả được giá) tui cũng không bán dù có nghèo mạt rệp đi chăng nữa!

Nhưng ông bạn trong câu chuyện dưới đây, không phải là người cùng quê Hốc Bà Tó với tui đâu. Chẳng qua là trời xui đất khiến ta gặp nhau nơi đất khách quê người xa ngàn dặm!

Chuyện rằng tui mướn được cái ‘flat’ trong một chung cư của chánh phủ, cao tới hai mươi tầng, mà tui ở tầng 10. Một hôm đi làm về, bước vô thang máy với một ông da vàng, mũi tẹt, cũng đẹt ngắt như tui nhưng có mang mắt kiếng! Hổng biết ổng là người Tàu, người Nam Dương, người Đông Timor, người Cam Bốt hay người Lào?

Cả hai cùng bấm số 10! Cái thang máy re re chạy lên, dừng lại rồi mà cửa nó không chịu mở. Ổng buột miệng xài giấy năm trăm. “Mình mắc kẹt trong nầy rồi má bầy trẻ ơi!”

Tui ra vẻ thầy đời; đừng có lo để tui kêu cứu. Bấm cái nút khẩn cấp trong thang máy nối với người em xứ Úc ở đầu dây.” Help! Help! Stuck! Stuck!” (Giúp! Giúp! Kẹt! Kẹt!). Dạ tiếng Anh trong túi có nhiêu đó, tui móc ra xài hết.

Em õng ẹo rằng: “Cool down! Technicians on the way!”

Hai đứa sợ đổ mồ hôi hột, lạnh run chưn cẳng! Gần nửa tiếng đồng hồ sau, ông thợ sửa thang máy mới lù lù vác cái bản mặt tới. Khi ra khỏi thang máy anh bạn mới quen lại là hàng xóm sát vách tui chớ có đâu xa, mà hơn tuần nay dọn vô tui đâu có biết.

Ảnh khen: “Anh nói tiếng Anh giỏi quá xá! Úc nghe, nó hiểu liền!” Quen cái thói khoe khoang, tui nổ luôn. Hồi xưa tui học hết lớp 12 của Hội Việt Mỹ ở 55 Mạc Đĩnh Chi Sài Gòn đó nha. “Vậy sao?” Anh hỏi: “Mà Hội Việt Mỹ bộ có nuôi ‘heo’ nữa hay sao mà tui nghe anh nói “Heo! Heo (Help)” vậy!” Tui biết thằng cha mới quen nầy xỏ ngọt tui đây!

Cuối tuần, thấy giỡn mặt như vậy là quá đáng, chắc lòng ăn năn hối hận, nên ảnh có mời tui bước qua căn ‘flat’ của ảnh nhậu chơi! Ảnh ở một mình. Trong phòng khách, có cái máy vi tính và một loạt sách trên kệ, đa phần là sách tra cứu bằng tiếng Anh không hè!

Mới biết ảnh qua đây đi dạy đâu chừng chục năm, về hưu, nhà ảnh mua đã trả hết nợ ngân hàng, ảnh cho mấy đứa con, xin mướn nhà chánh phủ nhưng trả theo giá thị trường, ở một mình cho khỏi bận bịu con cái; vì tụi nó còn phải lo cho vợ con nó nữa chớ!

Dạ xin hỏi (lúc nầy tui cũng hơi ê càng rồi!) ở Việt Nam anh dạy môn gì? Dà! Tui dạy tiếng Anh! Vậy mà trời đất quỷ thần ơi! Tui dám vác cái rìu tính múa qua mắt thợ. Cho đáng đời mầy nha! Thằng hay nổ sảng!

Rồi biết thêm thời gian rảnh rỗi, nhàn tản, anh hay viết bài bình luận đăng báo, mà toàn đăng trang nhứt. Từ chuyện Trung Đông, Do Thái, Palestine, Iran, Iraq, Libya… tới chuyện Huê Kỳ và Anh Cát Lợi… Nghĩa là chuyện ta bà thế giới; chuyện tào lao nào cũng có ảnh hết trơn!

***

Người viết có tánh tốt là thấy ai có vẻ thua kém hơn mình là vác đại liên M60 ra nổ cho nó sợ chơi. Còn thấy ai tài giỏi hơn mình thì ngậm ống đu đủ phóng xuống sông, chém vè mất tiêu.

Thứ Bảy vừa rồi, trưa quánh một giấc quá xá, giựt mình thức dậy là bóng đã xế tà. Rồi nghe bên nhà anh Giáo hình như có tiếng ồn ào như gây lộn, chén bát kêu loảng xoảng.

Tò mò dỏng cái lỗ tai để lắng nghe! Gì vậy ta? Thì: “Thế gian tình là gì?” Rồi tiếng khóc thút thít của người con gái: “Thiếp đang mang trong mình cốt nhục của chàng!”

Quỷ thần ơi! Thấy đạo mạo như vậy mà ông thần nầy không nên nết; dám dụ dỗ gái tơ làm cho con người ta có bầu bì như vậy…

Rồi sau đó có tiếng ạch đụi! “Ngươi đã tuyệt tình, cũng đừng trách ta bất nghĩa! Ngày này năm sau sẽ là ngày giỗ của ngươi”.

Trời đất ơi! Họ tính giết nhau đây! Sợ án mạng, sợ có người chết sẽ thành ma ở sát phòng mình nên người viết đập cửa, tính nhào vô can gián, chuyện đâu còn có đó… trước khi quá muộn!

Cửa mở ra! “A! Anh vào… vào đi!” Bước vào phòng khách, tiếng nói từ chiếc ti- vi vọng ra: “Nghe danh các hạ đã lâu, nay mới có dịp diện kiến!”

Trái với những điều tưởng tượng như tưởng voi của tui, té ra là ảnh đang xem phim cổ trang Hàn quốc có chuyển âm tiếng Việt. Ảnh không ngồi xem một mình mà có một ông Úc, tên Johnny, cũng trạc tuổi ảnh, chăm chú ngồi xem. Giới thiệu hai bên xong xuôi, ảnh xin phép xách xe chạy đi chợ mua ít mồi về lai rai nhân dịp có tới hai người bạn đến chơi cùng một lúc! Nhậu mà bạn hiền đòi để tự ên mình đi mua bia và mua mồi thì tui không bao giờ dám phản đối hết trơn!

Tiệc nhậu vui hết biết luôn. Johnny là dân có học, trí thức, hài hước nhưng không màu mè ra vẻ ta đây… Ổng ráng nói tiếng Anh chầm chậm để mình theo. Còn cái gì mình không hiểu ‘what? what?’ thì anh giáo hàng xóm nầy nhảy vô phụ đề Việt Ngữ.

Ba đứa tán láo sôi nổi về tình bạn mà Úc gọi là ‘friendship’! Johnny định nghĩa như thế nầy: “Tình bạn như cái nịt ngực, ở gần trái tim và luôn sẵn sàng nâng lên khi của bạn bị xệ xuống!”

“Ê! Cái nầy là dành cho hai người bạn nhưng khác phái nha. Một trai một gái chớ phải không?” Johnny gật đầu: “Anh quả là thông minh! Đúng vậy!” Bạn cùng phái với nhau ở Úc cũng có hà rầm nhưng đi chơi ngoài đường đừng có nắm tay nhau, như mấy thằng Ấn Độ hay làm. Úc thấy, nó sẽ nghi ngờ giới tính tình dục của đôi ta?!

Vốn là một người rất tò mò và ham học… hỏi,  nhân có bạn Johnny ở đây; tui bèn làm một cuộc phỏng vấn nho nhỏ: “Tui nghe Úc hay nói: “Lady First!” mà không hiểu nó nghĩa làm sao?” Thì Johnny cắt nghĩa rằng:  “Mấy thằng Úc nầy cái gì cũng ‘Lady First!’ Ra vẻ ta đây là dân tộc văn minh, tôn trọng người phụ nữ; nhưng sự thực không phải vậy đâu! Đứng xếp hàng vô quán nhậu bao giờ nó cũng để cho em đứng trước mặt. Bồ biết chi hông? Để nó nhìn cái ‘mông’ em cho đã đó mà! Chớ lịch sự cái gì!”

Chu choa! Trộm nghe có người hay tự hào là người Tràng An, thanh lịch thủ đô Hà Nội, ngàn năm văn hiến! Hay là cố đô Huế, sông Hương núi Ngự mà tay Úc, Kangaroo nầy, lại thuộc băng tần khác, không tự hào mà dám tự trào quê mình chớ!

Johnny còn kể thêm một câu chuyện về tình bạn của Úc như vầy: “Con gấu tiến tới hai người bạn đang cắm trại trong rừng. Johnny tuột giày, tụt vớ. Tony hỏi làm gì vậy mầy đâu có chạy nhanh hơn con gấu? Đâu cần chạy nhanh hơn con gấu chỉ cần chạy nhanh hơn bồ mà thôi! Hi hi!” Tình bạn lựu đạn như vậy đó!

“Người Việt tụi tui không hề bỏ bạn như vậy đâu; từng cắt máu ăn thề mà. Không bao giờ để người bạn thân nhứt của mình làm chuyện gì ngu ngốc một mình hết trơn: Bạn khóc! Tôi khóc! Bạn cười! Tui cười! Bạn nhảy cầu tự vận… tui sẽ nhớ bạn biết bao nhiêu!” (Ngu sao mà nhảy theo nó chớ?!) “Bạn đang vui hãy gọi cho tui. Bạn đang buồn hãy gởi tin nhắn cho tui. Nhưng lúc bạn đang cần tiền thì hãy nhớ số điện thoại nầy không còn hiện hữu nữa nha!”

Tranh Bảo Huân

Johnny có thằng ‘mate’ (tức bồ tèo) tên Tony cũng vui, tiều lâm hết biết! Có lần đi ‘pub’ nhậu, nó ra ngoài hút thuốc một chút rồi trở vô nhậu tiếp. Cẩn thận, Tony viết một hàng chữ, lót dưới ly rượu đang uống dở dang của mình: “Tao đã phun nước miếng vào ly rượu nầy rồi!” Khi nó trở vào, thì có câu y hệt của ai đó. “Tao cũng vậy!”

Rồi chủ quán rượu khóa cửa về nhà lúc 2 giờ khuya, đi ngủ. Mới leo lên giường nằm thì chuông điện thoại reo inh ỏi. Phía bên kia đầu dây hỏi: “Ngày mai mấy giờ quán ông mở cửa?” Làm việc cả ngày mệt mỏi, ông dằn mạnh cái điện thoại xuống, không thèm trả lời. “Thiệt là cái thằng khùng!”

Vài phút sau điện thoại lại kêu inh ỏi cũng cái thằng cà chớn hồi nãy: “Ngày mai mấy giờ quán ông mở cửa?” “Nè cái thằng hâm hâm kia! Khuya lơ khuya lắc mà mầy cứ gọi hỏi ngày mai mấy giờ quán tao mở cửa hoài! Tao sẽ không cho một tay tửng tửng như nhà ngươi bước vô quán của ta đâu.” “Ông chủ ơi! Tui đâu có muốn bước vô… Tui chỉ muốn bước ra  thôi!”

Một hôm hai đứa rủ nhau đi săn, về nhà, nó nói với con vợ nó rằng: “Tháng nầy khỏi mua thịt ăn!” Con vợ tưởng bở, hỏi:“Anh bắn được con nai hả?” “Đâu bắn được con nào, nản quá… anh ghé quán, nhậu… sạch bách hết tiền chợ tháng nầy rồi!”

Rồi tuần rồi tui gọi điện thoại mà không gặp, gặp con vợ nó!  “Nè! bạn Johnny của tui gọi có chuyện gì vậy?” “Ảnh nhờ em nói lại với anh rằng ngày mai không có đi săn nai. Tại sao không? Vì quán rượu đóng cửa để tân trang lại!”

Khi quán rượu mở cửa lại, Tony quày quả lại gặp bạn hiền bấy lâu bóng chim tăm cá, gọi một ly whisky. Uống xong, lại giở bóp ra nhìn, rồi kêu một ly whisky nữa. Rồi lại giở bóp ra nhìn. Hết ly thứ ba trình tự cũng diễn ra y như vậy. Người bồi bàn tò mò hỏi: “Mỗi lần xong một ly, ông lại giở bóp ra nhìn. Đã 3 ly rồi! Dám tò mò hỏi ông trong bóp có gì bộ ông sợ không có đủ tiền trả hả?” “Tiền, tui có thiếu gì. Chẳng qua là trong bóp có hình con vợ tui! Lúc tui giở ra nhìn mà thấy em yêu chuyển thành em xinh đẹp… là đủ ‘đô’ rồi… tui sẽ đi về nhà!”

Johnny và Tony là hai thằng Úc rất thông minh, là bạn của người viết thời lưu lạc. Lâu lắm, gần 25 năm quê người, mình may mắn lắm mới gặp được nhau!

Bữa tiệc là một bài học tiếng Anh rất đáng đồng tiền bát gạo mà mình không phải tốn cắc nào. Nên trước khi ra về, người viết nói với anh giáo rằng “Lúc nào Johnny và Tony có ghé nhà anh nhậu, anh nhớ kêu tui ví nhe anh!”

Khóc lên đi! Ôi! quê hương yêu dấu!

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu
Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Anh yêu!
con Mực đang hấp hối!
nó nhìn em,
rên tiếng cuối cùng, trăn trối.
bộ lông đen tuyền như mun,
giờ xếp ve theo hình ốm đói;
nó không đứng lên được nữa,
nó nhìn em ứa nước mắt,
ánh mắt! một đời sắp tắt!
như những giọt nắng cuối cùng
của đất nước đã hoàng hôn!

Giặc chuyển quân về trong tối,
(quê hương tới giờ hấp hối)!
chúng sợ tiếng chó sủa đêm,
chúng đã cố tình thuốc nó! Ôi! con Mực của em!
nó có tội gì đâu?
nó mừng quýnh khi em tan học về;
nó theo em, sân trước, vườn sau,

nó cùng em đường quê quanh quẩn,
nó sủa um lên khi anh đến thăm em;
nó ngơ ngác nhìn em,
khi lần đầu em để anh hôn lên má.
Nó là một phần đời của em;
của anh, của tình ta,
xót xa khôn cùng,
tuyệt vọng! nổi chiến tranh!

Nó chết, chết thật rồi!

con Mực em thương!
em ôm nó ra vườn,
liệm nó, chiếc chăn đơn,
sâu dưới huyệt: quê hương
ngày hòa bình em thương
đã chết!

Khóc lên đi!
Ôi! quê hương yêu dấu!

đoàn xuân thu
melbourne

Cung thủ không tay

baotreonline.com

Ian Bùi

September 20th, 2024

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Cung thủ Sheetal Devi tại Paralympics Paris 2024 (Nguồn: World Archery)      

Phong trào thể thao cho người khuyết tật bắt đầu ở Anh sau Đệ Nhị Thế Chiến. Một vị bác sĩ người Do Thái gốc Đức tên Ludwig Guttmann dùng thể thao như phương pháp trị liệu cho các thương binh bị phế cột xương sống. Năm 1948, BS Guttmann tổ chức một giải thể thao cho cựu chiến binh ngồi xe lăn, diễn ra cùng ngày với lễ khai mạc Olympics tại London. Lần ấy con số lực sĩ tham dự chỉ có 16 người, và bộ môn tranh tài duy nhất là bắn cung.

Năm 1960 giải được đặt tên là Paralympics và diễn ra tại Rome vài tuần sau khi Olympics kết thúc cũng tại đây. Số lực sĩ kỳ đó đã lên đến 400 người đến từ 23 quốc gia, tất cả đều bị thương cột xương sống và phải ngồi xe lăn. Số môn thể thao đã tăng lên thành 8, và tất nhiên bắn cung vẫn là một trong những bộ môn quan trọng nhất. Tại Paris 2024, môn này lại đạt thêm một thành tích mới nữa là có đến 4 cung thủ không những bị khuyết tật mà còn không có cả 2 tay.

Thương binh Anh tập bắn cung. (Wikimedia)

Người sáng chế ra cách bắn cung bằng chân để tranh tài này là Matt Stutzman, biệt danh “Armless Archer” – Cung thủ không tay. Ra đời với dị tật bẩm sinh, Matt được vợ chồng Leon và Jean Stutzman ở Iowa mang về làm con nuôi từ khi mới 13 tháng. Từ nhỏ Matt đã mê thể thao và chơi nhiều thứ. Nhưng mãi đến năm 2010, khi đã 28 tuổi, Matt mới bắt đầu thử nghiệm môn bắn cung. Anh bỏ ra rất nhiều thì giờ để hoàn thiện phương pháp độc đáo của mình và thường xuyên thi đấu với các cung thủ không khuyết tật. Thậm chí năm 2015 Matt đã phá kỷ lục thế giới cho mũi tên chính xác nhất, trước đó thuộc về tay một người khoẻ mạnh bình thường.

Nguồn ảnh: World Archery

Tại giải Paralympics London 2012, Matt Stutzman là người không tay đầu tiên tranh tài môn bắn cung, với kết quả khá bất ngờ là một chiếc huy chương Bạc. Chiến thắng của Matt đã tạo niềm hứng khởi cho nhiều người không tay khác, trong số đó có 3 người đã đạt được đẳng cấp cao nhất để được quyền đại diện cho đất nước họ tại Paralympics năm nay. Trong ảnh là Piotr Van Montagu đến từ Bỉ. Giống như Matt Stutzman, anh cũng là trẻ mồ côi được nhận làm con nuôi từ bé. Anh mê bắn cung nhờ xem nhân vật Legolas trong phim “Lord of the Rings”. Năm 2021 là cung thủ không tay thứ nhì tham dự Paralympics 2020.

Nguồn ảnh: World Archery

Victor Sardina Viveros (phải), đại diện cho Mễ Tây Cơ, chỉ mới bắt đầu bắn cung từ năm 2022. Thế mà đến năm 2023 anh đã được chọn vào đội tuyển Mexico tham dự giải Para Pan-American Games ở Chí Lợi. Giống Matt Stutzman và Piotr Van Montagu, Victor cũng chơi nhiều môn thể thao trước đó như điền kinh, đá banh, bơi lội và karate. Nhưng có lẽ bắn cung là môn thích hợp nhất. Tại Paris Victor đã đụng độ Matt trong một trận vòng loại lịch sử khi cả hai cung thủ đều không có tay. Tuy Victor bị đánh bại bởi nhà lão tướng đầy kinh nghiệm, song ta có thể đoan chắc sẽ còn gặp lại Victor Viveros trong những kỳ Paralympics tới.

Victor Viveros (phải) đấu cung với Matt Stutzman (AP)

Hiện tượng mới nhất tại giải bắn cung năm nay là một cô gái 17 tuổi người Ấn Độ tên Sheetal Devi. Mới bắt đầu tập bắn cung từ năm 2022 mà chỉ trong vòng một năm Sheetal đã giỏi đủ để tranh tài thế giới. Tại giải Asian Para Games 2023 ở Hàng Châu, Trung Quốc, Sheetal đã đoạt huy chương Vàng. Cùng năm ấy, Sheetal đã gặp Matt Stutzman tại giải World Para Championships ở Pilsen và được Matt chia sẻ kinh nghiệm bắn cung của mình đồng thời giúp Sheetal cải tiến kỹ thuật bắn bằng chân của cô. Nhờ vậy cô đã thắng thêm một chiếc huy chương Bạc tại Tiệp Khắc.

Matt Stutzman và Sheetal Devi tại Paris 2024 (Alex Davidson/Getty)

Tại giải Paralympics 2024, rất tiếc Sheetal bị loại trước vòng tứ kết tiết mục Đơn Nữ chỉ bởi một điểm. Nhưng bù lại cô và nam cung thủ Rakesh Kumar đã đoạt chiếc huy chương Đồng cho Ấn Độ trong tiết mục Đôi Nam-Nữ Hỗn-Hợp (Mixed Compound). Đáng lý họ đã vào được chung kết, nhưng bị Iran đánh bại trong trận bán kết chỉ bởi vài mili mét cách tâm điểm. Dù gì chăng nữa, đây vẫn là chiếc huy chương Paralympic đầu tiên cho Sheetal Devi, và chắc chắn ta sẽ còn gặp cô trong những giải kế tiếp. Với tài năng hiếm có và nghị lực phi thường, việc người phụ nữ mang biệt danh “poetry in motion” này giành được huy chương Vàng chỉ là vấn đề thời gian.

Rakesh Kumar (trái) và Sheetal Devi (giữa) với chiếc huy chương Đồng tại Paris. (Nguồn: World Archery)

Trước khi đến Paris, Matt Stutzman tuyên bố 2024 sẽ là giải Paralympics cuối cùng trong sự nghiệp của anh. Năm nay đã 41 tuổi, Matt nói bao nhiêu năm tập luyện bắn cung bằng chân đã khiến cho hông của anh có vấn đề. Hơn nữa, nhà tiên phong này nói đối với anh điều quan trọng không phải là mình thắng hay thua mà là tạo cảm hứng cho những người khuyết tật như mình tham gia môn bắn cung. “Tôi có thể đánh đổi hết tất những chiếc huy chương của mình để nhìn thấy những người không tay khác thành công,” anh thổ lộ.

Nhà vô địch Matt Stutzman (giữa) và hai cung thủ Trung Quốc, Xinliang Ai (trái, HCB) và Zihao He (HCĐ). Alex Davidson/Getty