Sài Gòn-Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 7 Sep 2026

“Đầu năm Tây, cuối năm Ta” là khoảng thời gian này ở Việt Nam (tháng 1-2008) và cũng là câu nói cửa miệng của người bình dân. Trước hết tôi phải xin lỗi vì đáng lẽ bài này phải được ra mắt sớm hơn, nhưng sau 2 tuần “dưỡng sức”, chẳng may tôi lại bị cảm lạnh ở Sài Gòn. Cơm đường cháo chợ nên cứ ngất ngây hoài không sao gượng dậy được.

Cũng may Sài Gòn trong những ngày đầu năm vừa qua, trời vẫn… chiều lòng người, không khí mùa thu vẫn còn vương vất đâu đây. Ban ngày trời nắng nhẹ, buổi tối nhiều mây xám, gió lùa lành lạnh trên khắp nẻo phố phường, ban đêm những chiếc áo len, áo khoác, có dịp khoe màu giữa thành phố ngập ánh đèn. Chưa bao giờ miền Nam có mùa thu với khoảng thời gian dài như năm nay. Lại đúng vào khoảng lễ Giáng Sinh và nhịp cầu dẫn sang đầu Năm Mới 2008.

Với các bạn từng sống ở miền Nam trước năm 1975, có lẽ không ít người không biết đến Đà Lạt. Chẳng những thế, nơi đó còn là thành phố cao nguyên hầu như duy nhất ghi lại nhiều dấu ấn của những tuần trăng mật, những buổi hẹn hò tình tự, những hợp tan của một đời người. Bây giờ Đà Lạt ra sao, có những gì thay đổi? Bỏ qua các “hệ lụy” nhức nhối, các nỗi đau âm thầm mà chúng ta thường bắt gặp ở xứ sở này, xin dành một chỗ cho tình cảm riêng tư và có dịp ôn lại những kỷ niệm xưa. Mời bạn đọc bút ký này, câu chuyện có thật, với một chút cảm thông cho những mối tình đã qua đi nhưng còn lại mãi mãi tận cùng tâm thức mỗi người.

Cú Lừa Nhẹ Nhàng

Ba năm rồi tôi mới trở lại Đà Lạt, không phải vì cái festival Hoa Đà Lạt người ta quảng cáo rầm rộ. Chúng tôi chọn đúng ngày bế mạc festival mới mò đến. Như thế đỡ mất công bon chen vào cái thế giới hỗn tạp, tha hồ bị chặt chém vô tội vạ. Vả lại đọc báo, thấy chê đủ thứ chuyện về cái tổ chức luộm thuộm đó nên cũng nản. Nào là thành phố hoa mà toàn hoa héo, hoa giả; đám cưới có tới hơn 50 cặp cũng “đóng trò” giả nốt. Phòng khách sạn dịp này lại khan hiếm, lên giá vù vù như máy bay phản lực… Trong khung cảnh đó, nhà hàng là Thượng Đế, chứ không phải khách du lịch. Đợi hết “hội chợ” kia thì may ra thứ bậc mới được trả về đúng vị trí của nó.

Dù ngày 21-12 là ngày bế mạc festival, chúng tôi đã nhờ chị Lệ Khánh ở Đà Lạt, có cậu con trai là Khánh Thục làm trong dịch vụ du lịch, thuê giùm phòng mà cũng khó. Buổi chiều lên đến Đà Lạt, mới tìm được một căn phòng loại “tầm tầm”, hơn hai trăm ngàn một ngày.

Tôi đang kẹt phải làm cho một tờ báo ở Úc nên xách theo cái laptop cho tiện. Tôi đã báo với chị Lệ Khánh về nhu cầu này. Tuy nhiên khi lên đến phòng mới biết đường wireless không kết nối được. Một du khách người Mỹ ở phòng bên cạnh cũng đang nhăn nhó về thứ tiện nghi đã quá thông dụng này, nhưng khách sạn vẫn không có đường truyền cho khách, dù chị quản lý khách sạn đã nói với chị Lệ Khánh là đường internet rất tốt, phải đặt tiền phòng trước 250 ngàn đồng. Sau khi thấy tôi thử máy, wireless cứ đứng trơ, chị quản lý khách sạn vẫn thản nhiên nói:

– Bác an tâm, cách đây vài gian phố thôi, có quán cafe internet, tôi sẽ đưa bác ra đó tha hồ làm từ sáng đến tối cũng chẳng ai nói gì.

Nhìn chị quản lý khá xinh, nhưng cái kiểu phải đưa đi đưa về thế này thì làm cả buổi không xong.

Biết rằng chúng tôi bị một quả lừa to tướng, đành chịu mất toi tiền đặt cọc. Tôi cảm ơn cái miệng dẻo và xinh, không dám cằn nhằn trước thiện chí đưa đón đó của cô quản lý. Tôi lại phải nhờ Khánh Thục thuê cho một căn phòng khác. Nhưng điện thoại đến khách sạn nào cũng hết phòng. Khánh Thục ghé tai tôi nói nhỏ:

– Quan khách được mời lên dự Festival nhân dịp vui vẻ này, ở hotel hạng sang, tội gì bỏ Đà Lạt về sớm phí của trời. Nhất là đêm nay lại là đêm chung kết thi Hoa Hậu các dân tộc. Mấy cô người dân tộc xinh lắm, bác ạ, và còn… hơi ngây thơ, chưa biết “mùi đời” như các hoa khôi hoa hậu các cuộc thi khác, thành tinh trong “nghề”.

Tôi chỉ nóng ruột về cái phòng nào có thể làm việc được chứ không mơ màng gì tới hoa khôi hoa hậu cho mất thì giờ. Khánh Thục tiếp tục gọi điện thoại đến các nơi quen biết. Một lát sau, may phúc có một vị trả phòng ở một khách sạn khá lớn, trước đây là khách sạn Lang Biang, nay được sửa sang lại, đổi tên thành Golf 3. Tôi phải nhắm mắt thuê vậy. Nhưng cái mà tôi nhìn đến đầu tiên, ngay bên cạnh quầy Tiếp Tân là phòng Internet có ghi hàng chữ ADSL với 3 máy computer chễm chệ. Vào “thử tay nghề” một tí, đường truyền chạy veo veo. Lúc đó tôi mới dám đưa Chứng Minh Nhân Dân lấy phòng, đồng thời báo cho ông chủ báo hỗ trợ “kinh phí”. Tất nhiên ông chủ báo vui vẻ nhận lời ngay – tìm được một người chịu làm việc trong dịp nghỉ lễ Giáng Sinh đâu có dễ.

Sau khi bước lên phòng 307, tôi lôi cái laptop ra thử cho chắc ăn. Wireless kết nối khá nhanh tuy không được bằng phòng dưới nhà, song đủ để làm tròn nhiệm vụ.

Hơn 6 giờ tối, chúng tôi mới có dịp bước ra phố. Trời không lạnh lắm, nhưng dân “xứ nóng Sài Gòn” cũng phải khoác áo ấm, choàng cái khăn quàng mỏng để có cảm giác được hưởng chút rét mướt mùa Giáng Sinh.

Văn Hóa Hè Phố

Đà Lạt lên đèn, khu bưu điện và Nhà Thờ sáng rực trên đồi cao, con phố dốc thoai thoải xuống bờ hồ mang nét rất đặc biệt của thành phố cao nguyên. Nhưng tuyệt nhiên không thấy bông hoa anh đào nào chịu nở. Bữa đó khu phố này cấm mọi loại xe, dành cho “phố đi bộ”.

Dạo quanh khu phố chợ sầm uất, trên là trời, dưới là hàng quần áo ấm đủ kiểu. Hỏi mua một cái áo len, kiểu gì cũng có, nhất là kiểu Hàn Quốc, nhưng toàn thứ rẻ tiền, nhái theo kiểu áo các chàng và nàng “Đông zun kwan” gì đó mặc trong phim. Nhưng giá cả thì khiến bạn ngỡ ngàng, không vì đắt mà vì quá rẻ. Nếu bạn chịu khó mặc cả, không chiếc áo len nào quá một trăm ngàn đồng — chưa đến 8 USD — kể cả kiểu nam nữ, kể cả áo hoa hòe hoa sói cho những cô cậu “choai choai” và kiểu cổ điển cho các ông bà già. Vớ, mũ thì sổ tung, bán “son” ngay bên lề đường với giá 10 ngàn đồng Việt Nam 3 đôi vớ và khoảng gần 20 ngàn một mũ len đan tay, có thêu thùa hoa bướm, có chữ Anh, chữ Việt đàng hoàng.

Bên cạnh đó là hàng khoai nướng, bắp nướng, bánh tráng mỡ hành nướng, khô mực… nghi ngút bốc khói, đậm “nét văn hóa Đà Lạt”. Các cô hàng buôn thúng bán bưng lề đường lại “sáng tạo” ra kiểu nướng thịt, bán cho khách đi đường ăn ngay tại chỗ. Thịt chim cút, cánh gà, chân gà, thịt heo quấn mỡ sâu từng xiên, đưa lên chiếc lò than nhỏ, quạt phành phạch rất vui tai. Mùi thơm quyến rũ, các cặp tình nhân vừa cười rúc rích vừa “nếm thử, ăn thật” tóp tép ngay trên phố. Đó là những thứ gọi là “ẩm thực đặc sản hè phố” của thành phố cao nguyên này.

Nhưng lại mất đi một thứ tuyệt vời hơn, hồi xa xưa, trước 1975, bất kỳ ai đi trên khu phố Hòa Bình này cũng thấy thú vị. Đó là những thúng hạt dẻ ủ một chiếc khăn dạ hoặc đủ thứ vải cũ để giữ độ nóng. Hạt dẻ được đong bằng những chiếc chén bán cho khách, thủ trong túi áo blouson, vừa đi vừa ăn dần. Hạt dẻ không thơm, song mềm mại, dính dính, nóng nóng giữa hai hàm răng cho một cảm giác rất… Đà Lạt. Tôi đi khắp thành phố không tìm được món hạt dẻ này để nhớ về một thời trai trẻ với bạn bè. Món này đã “tuyệt tích giang hồ” rồi.

Đến đây, chúng tôi thường không ăn cơm mà đi kiếm ngay một tô phở ăn cho “đã”. Phở Đà Lạt chưa hẳn ngon hơn phở Hòa, phở 24, phở Bà Dậu ở Sài Gòn, nhưng có mùi vị riêng của không gian, của cái lạnh, của những ngọn đồi, của hồ Xuân Hương, của những cô gái má chín hồng như trái mận. Cho nên, với tôi, đến đây để ăn phở trước tiên. Giá cả “mềm” hơn Sài Gòn nhiều. Tô phở Bằng, phở Hiền Đà Lạt chỉ 12 hay 15 ngàn đồng trong khi ở Sài Gòn từ 24 đến 30 ngàn, tùy “thương hiệu”.

Một Quán Cà Phê Đáng Yêu Nhất

Cà phê Tùng vẫn ở chỗ cũ, nằm trên con đường bên hông rạp hát Hòa Bình. Một nét đáng yêu và đáng quý là chủ nhân đã cố giữ lại tất cả như xưa, không hề thay đổi. Từ bàn ghế, trang trí, đến hương vị cà phê, tôi thấy hoàn toàn không khác gì “ngày xưa”. Vẫn những bàn gỗ thấp, những ghế nhỏ khiêm nhường, khuôn cửa kính nhìn ra hè phố, ở ngoài có thể thấy rõ khung cảnh bên trong.

Khách vào đây, hầu hết là người lớn tuổi, lặng lẽ, thủ thỉ, cho tôi cảm tưởng ai cũng đi tìm lại chút kỷ niệm xưa. Tôi cũng vậy, đến đây để nhớ, để được sống lại vài phút với những Diên Nghị, Kiêm Đạt, Tạ Ký, Hoàng Đình Hoạt, Quỳnh con, Khôi lùn… của lớp Đại Đội Trưởng và lớp Chỉ Huy Tham Mưu năm nào.

Tôi nhớ hồi đó có người nói cà phê Tùng pha thêm chút ruột cau để nước cà phê đậm thêm, sánh thêm, nên phin cà phê nhỏ từng giọt chậm chạp, nhễu xuống như chất keo, kéo dài xuống đáy ly thủy tinh. Mơ màng như có chất thơ “Thoáng hiện em về trong đáy cốc / Nói cười như chuyện một đêm mưa”.

Hồi đó, chủ quán cà phê Tùng không bán cà phê rang sẵn cho ai cả, chắc sợ lộ bí quyết nghề nghiệp. Nhưng với tôi, thỉnh thoảng ông nể tình, bán cho một hai lạng về trường pha uống dần trong những ngày mưa gió và rách không ra phố được. Bây giờ tôi vẫn muốn mua vài lạng để mang về Sài Gòn uống dần, nhưng tìm quanh chẳng thấy ông chủ cũ đâu và nếu có ông, chắc cũng quên tôi rồi. Vì thế nên đành chỉ uống một ly để thấy bạn bè mình “hiện về trong đáy cốc” thôi vậy.

Cái Chết Vì Tình

Nói là Đà Lạt, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có khu phố Hòa Bình này thôi. Tất cả mọi sinh hoạt buôn bán dồn về đây. Mọi con đường đều dẫn đến cái “công trường” gần như vuông vắn này. Cứ đi quanh đi quẩn rồi lại thấy mình gặp mình đúng ở ngã tư. Những con phố khác là những cửa hàng cửa hiệu vắng vẻ, càng đi xa khu phố chợ càng vắng.

Ngành nghề kinh doanh chính ở những con đường khác là khách sạn và khách sạn. Từ loại luộm thuộm bình dân năm bảy chục ngàn một đêm đến hai, ba, bốn, năm sao, tính bằng vài chục USD trở lên đến vài trăm USD. Mùa lễ hội thì chật kín, nâng giá làm cao, nhưng những ngày thường thì vắng như chùa Bà Đanh, lại chèo kéo mỏi miệng mời chào khách.

Hơn 8 giờ chẳng còn trò gì ngoài phố, tôi trở về khách sạn. Sau gần 8 tiếng đi xe đò “chất lượng cao”, từ Sài Gòn, mất tám chục ngàn, cũng thấy rã rời. Vừa về khách sạn, đã thấy người ta bu kín xung quanh một khu vực ngay dưới sàn xi măng ngoài sân. Thì ra có một ông khách vừa nhảy từ lầu 7 xuống tự tử. Ông khách còn chưa chết ngay. Cảnh sát đến, rồi xe cứu thương hú còi um sùm. Chúng tôi chẳng tội vạ gì mà tò mò. Sáng hôm sau mới biết ông khách chán đời đó là người ở Kiên Giang, đi xe hơi lên Đà Lạt, thuê phòng ở lầu 6, để lại một lá thư tuyệt mạng rồi leo lên lầu 7 là nơi bán café, nhảy xuống. Lại có tin đồn là người vợ của vị khách chán đời đó ở Sài Gòn cũng đang thuê một khách sạn và người ta thấy có sợi dây thòng lọng chuẩn bị sẵn trong phòng nhưng chưa… kịp chết. Theo tin báo chí rất mơ hồ là “họ không chịu nổi áp lực của cuộc sống”.

Vì tình hay vì làm ăn thất bại, không ai biết.

Chúng tôi lên phòng và được biết căn phòng của vị khách chán đời kia thẳng đứng với phòng của chúng tôi thuê. Ông ta ở lầu 6 chắc là phòng 607, phòng chúng tôi ở lầu 3 — 307. Có điều không ai hiểu tại sao ông ta lại chọn cái chết ở khách sạn và ở xứ tình nhân Đà Lạt? Vì thế tôi đoán là cái chết vì tình. Có đáng hay không? Mỗi người nhìn nhận theo góc độ riêng của mình.

Người Đi Tìm “Thú Đau Thương”

Sáng hôm sau, ngày Lễ Giáng Sinh, tôi lang thang một mình xuống quán cà phê Ga-Ly (không phải Cali), nằm trên quả đồi đối diện với khách sạn tôi ở. Ngồi đây, sau hàng lan can gỗ, có thể ngắm cảnh bờ hồ và con dốc với khu phố chợ luôn tấp nập. Không có nhạc “dậm giật” chói chang kiểu Sài Gòn. Chỉ có nhạc nhẹ êm dịu.

Rất bất ngờ, một người đàn ông mang vẻ chững chạc của một người phong lưu từ từ đến đứng sững trước mặt tôi. Anh ta trẻ hơn tôi vài tuổi, tóc muối tiêu rất đẹp và tất nhiên là mập hơn tôi rất nhiều vì tôi thường tự phụ không ai có thể gầy hơn tôi được. Tôi thấy quen quen mà chưa kịp nhớ tên. Anh ta xà xuống ghế, ôm vai tôi, gọi cả tên “cúng cơm” và bút hiệu. Vậy mà tôi vẫn chưa nhớ ra anh ta là ai. Quen thì quen lắm, tên thì chịu. Anh ta nói ngay:

– Em là Thành, Thành “vang”, anh nhớ chưa?

Có cái “hỗn danh” Thành “vang” làm tôi nhớ ngay. Hồi xưa, khi tôi học lớp Tham Mưu Cao Cấp ở Đà Lạt, Thành còn học năm đầu đại học. Nhà anh ta chuyên bán rượu vang nên gọi là Thành “vang”. Tôi quen Thành khi đi chơi ở mấy phòng trà Night Club, La Tulipe… có nữ ca sĩ Thúy Nga hát thường trực ở đó. Nhà Thành rất gần Night Club, bạn bè tôi thường ghé qua vì bố Thành là một quân nhân về hưu, tất nhiên là già hơn chúng tôi nhiều. Thành có bà chị rất đẹp và quan trọng hơn là chưa có bồ.

Hồi đó tôi quen một gia đình từ Hải Phòng di cư vào Đà Lạt và có một cửa tiệm bán sách ngay đầu dốc Phan Đình Phùng. Cô con gái lại là học trò cũ của tôi ở trường Bạch Đằng, trước khi tôi được lệnh động viên. Chỉ sau vài năm, cô học trò của tôi “trổ mã” rất xinh. Nhưng đã mang tiếng là thầy giáo, quen cả gia đình nên tôi đành đóng vai “ông anh đạo mạo”. Huyền, cô học trò của tôi, đứng bán sách nhưng rất hiền lành ít nói. Cô có vẻ sính văn chương nghệ thuật. Thành có khiếu làm thơ, đưa tôi vài bài đăng báo ở Sài Gòn. Tôi hiểu Thành “vang” chết mệt vì cô rồi. Tôi gài độ cho hai người gặp nhau, nhưng vẫn chỉ là “tình trong như đã mặt ngoài còn e”.

Sau 5 tháng học xong lớp Tham Mưu, tôi trở lại Phòng Báo Chí ở Sài Gòn. Có lần đọc được thơ của cậu Thành “vang” công khai tặng Huyền công chúa. Rồi chuyện tình của họ kết thúc bằng một đám cưới như bao nhiêu cuộc tình đẹp khác. Cuộc sống của hai người rất êm ấm, sau đó hai vợ chồng Thành dọn về Sài Gòn làm đại lý cho một hãng rượu của Pháp.

Cuộc Tình “Bất Đắc Kỳ Tử”

Ngày 30-4-1975, khi Thành ở Đà Lạt lo đám tang cho bố thì Huyền chạy theo gia đình xuống tàu ra đảo. Hai vợ chồng lạc nhau từ đấy. Lúc đó Huyền đang mang thai đứa con thứ hai được vài tháng. Thành kẹt lại và bị “đánh tư sản” sính vính. Cơ nghiệp, nhà cửa mất hết. Đi “cải tạo” năm bảy năm rồi về tay trắng, không liên lạc được với vợ con. Tình trạng chung của không ít “đại gia” thời đó. Khi tôi trở lại Sài Gòn chỉ nghe bạn bè nói lại là Thành làm đủ thứ nghề, kể cả vào bến cảng làm nghề bốc vác. Vượt biên năm bảy lần đều bị tóm, ra vào mấy cái trại giam ở Tiền Giang, Hậu Giang như đi nghỉ mát.

Tôi chỉ biết sơ qua cuộc đời Thành đến đấy và hôm nay mới gặp lại. Nhìn dáng vẻ anh ta, tôi hiểu hồi này khá lắm rồi. Người Sài Gòn những năm sau này, chẳng biết thế nào mà đoán. Chỉ vài năm đã đổi thay rất nhiều. Buôn bán đất, trúng cổ phiếu, và hàng trăm thứ “buôn bán” không hẳn là thứ nghề ngỗng gì. Thánh cho ăn lộc, phất lên bất cứ lúc nào.

Thành kể lúc này gia đình ở Sài Gòn, hai hôm trước, dẫn vợ con lên Đà Lạt đón Noel. Thành ở cùng khách sạn với tôi, tất nhiên anh cũng biết về chuyện người khách nhảy từ lầu 7 xuống tối hôm trước. Thành gật gù:

– Em phục tay dám nhảy lầu tự tử quá anh ạ. Tôi dở giọng ngang:

– Việc gì phải tự tử. Cái gì cũng có thể làm lại từ đầu mà. Vì tình hay vì tiền đều như nhau. Hạnh phúc này tan vỡ thì chịu khó đi tìm chỗ khác. Mình có muốn thế đâu. Tự nó đến như một thiên tai, mình không tránh được.

Thành mỉm cười có vẻ cay đắng:

– Tiền thì kiếm được chứ tình thì… khó nói lắm. Tôi hỏi thẳng băng ngay:

– Thế Huyền hồi này thế nào?

– Em vừa nói chuyện với cô ấy xong nên mới ra đây.

Tính ngồi một mình không ngờ lại gặp anh.

– Cô ấy không lên với cậu à?

– Không! Cô ấy ở Mỹ mấy chục năm nay rồi anh ạ. Chúng em đều có gia đình riêng cả rồi. Nhưng thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau như bạn bè. Cô ấy và mấy đứa con về Việt Nam chơi vẫn đến thăm em.

Tôi cười như một lời an ủi:

– Thế là phải. Chuyện đó như chuyện thường tình. Gặp nhau vui vẻ là đẹp nhất. Giận hờn, cay đắng cũng chẳng lấy lại được gì. Nhiều cặp vợ chồng như thế. Cuộc tình chết “bất đắc kỳ tử”, không do ai cả. Do thời cuộc. Chuyện qua rồi, mỗi người có cuộc sống riêng của mình.

Thành ngồi im. Chiếc cà rá hột soàn óng ánh trên ngón tay út mập mạp trắng trẻo. Chiếc đồng hồ Rolex to tướng trên cổ tay mịn màng. Thành trở nên trầm ngâm:

– Chuyện tưởng đã qua, nhưng… chưa hẳn là thế. Hậu quả của nó còn dài, rất dài.

Tôi cười bâng quơ, nhắc lại một câu trong Tình Nhớ:

– “Tình ngỡ đã qua đi, nhưng tình bỗng lại về”? Thành im lặng rồi thở dài:

– Đó là trường hợp của em đêm qua.

Nỗi Ân Hận Choáng Váng

Thành kể lại chuyện gia đình của mình. Huyền qua Mỹ hơn tám năm thì “tục huyền” với một người đàn ông làm ăn đứng đắn. Thành ở lại Việt Nam, vất vưởng gần mười năm rồi xây dựng lại sự nghiệp, thoạt tiên là mua một miếng đất Bình Thuận, trồng nho, sau đó sản xuất rượu vang, Chỉ năm năm sau, cơ nghiệp của Thành vững vàng. Anh lập gia đình với một thôn nữ khá đẹp ở Long Xuyên. Bây giờ đã có hai người con đều thành đạt.

Hai người con của Huyền và Thành, một ở Mỹ và Nam, cậu con trai sau ở Pháp. Năm nay đã trên ba mươi tuổi. Dịp Giáng Sinh năm nay, tức mới tối qua, Nam từ Pháp về thăm mẹ ở San Diego. Chị của Nam không về được. Người chồng sau này của Huyền đang nằm bệnh viện vì ung thư. Nhà chỉ có hai mẹ con. Nam nhận được e-mail, biết bố đang ở Đà Lạt, yêu cầu bố gửi hình qua cho cháu xem. Thành vui vẻ gửi ngay cho con năm bảy tấm ảnh mới chụp. Ngay sau đó, Thành được e-mail của con. Nam kể nó rất vui, la lên “mẹ ơi, có thư và ảnh của bố”. Nam kéo mẹ đến xem ảnh bố ở Đà Lạt. Mẹ Huyền của Nam xem hình rồi một lúc sau, lặng lẽ khóc. Nam đứng sững nhìn mẹ, không hiểu sao mẹ khóc. Bao nhiêu năm nay, khi nhận thư và ảnh của Thành gửi sang, mẹ Nam có khóc bao giờ đâu. Mẹ ôm Nam trong lòng, không giải thích điều gì cả. Nam cũng chẳng hiểu tại sao mình cũng khóc.

Nam lại gửi ngay cho bố vài hàng kể rõ và yêu cầu bố Thành gửi e-mail sang an ủi mẹ Huyền. Lúc đó Thành mới sững người, anh nhìn lại các tấm ảnh gửi qua, có 2 tấm chụp đúng nơi chốn mà xưa kia Thành và Huyền đã có rất nhiều kỷ niệm với nhau lúc bắt đầu cuộc tình.

Bây giờ Thành mới thấy sự vô ý không thể tha thứ của mình. Anh ngồi trước computer mà không viết nổi hàng chữ nào. Hai giờ đêm, Thành xuống phòng Tiếp Tân, điện thoại sang cho con. Lúc đó ở San Diego là giữa trưa. Nam và mẹ đang ăn cơm, Nam nói mẹ không thể nuốt nổi. “Thôi, bố nói chuyện với mẹ Huyền đi”. Huyền ngần ngại mãi rồi mới chịu cầm điện thoại.

Thành kể:

– Anh ạ, thoạt tiên vẫn là tiếng nức nở của Huyền. Mãi cô ấy mới nói: “Anh còn tới những chốn xưa sao?”

Thành thú nhận cũng lặng đi không nói được, không biện minh gì được. Anh chỉ bập bẹ ba tiếng “Xin lỗi em”.

Thành nói với tôi:

– Em cứ tưởng cô ấy chẳng còn quan tâm gì đến các chi tiết nhỏ đó. Bởi thật ra sau này chúng em gặp nhau rất tự nhiên, chẳng bao giờ nhắc lại những kỷ niệm cũ.

Tôi có chút kinh nghiệm về chuyện này nên nói:

– Không nói, nhưng nó vẫn hiện diện từ trong đáy sâu trái tim mình. Không nói cũng là một cách nói. Như thế hay hơn chứ.

– Không hẳn là như thế anh ạ. Em cho rằng mình cố đánh lừa mình, trong cái thế phải “tỉnh queo” thì phải thế thôi. Trái tim mình nó nói khác.

– Trong những góc tối nhất của linh hồn, có những điều không bao giờ nên đụng tới.

Thành thở dài:

– Nhưng khi đụng tới thì nó phá mình kinh khủng.

– Rồi sau đó Huyền nói gì với cậu? Tiếng Thành rời rạc:

– Có nói gì được nhiều đâu anh. Cô ấy chỉ trách là em không hiểu cô ấy thôi. Mà thật ra, làm sao em không hiểu Huyền được chứ. Em hiểu, hiểu rất nhiều. Chúng em gặp nhau, nhìn nhau cố dửng dưng, trong cái dửng dưng ấy lại có tất cả nỗi nhớ nhung, có tình yêu và có cả một cái gì như thù hận. Anh đừng hiểu thù hận theo cái nghĩa thông thường. Thù ở đây là không đợi nhau được, hận ở đây là nỗi đau vì phải xa nhau. Nó nhẹ nhàng, nhưng sâu đậm. Tưởng là chết cũng không thể nói ra. Vì chúng ta phải sống như những người đàn ông, vì chúng ta phải sống đúng cái cách mà người “hiểu biết” thường phải đối xử với nhau thôi.

Tôi hiểu Thành nên nắm tay anh:

– Hiểu như thế là đủ.

– Chẳng có gì là đủ. Mình tự an ủi mình đấy. Lâu nay em cứ nghĩ cô ấy sống với một người đàn ông tử tế đàng hoàng như vậy là có hạnh phúc rồi, hay ít nhất thì cũng yên ổn. Cô ấy có thể quên em. Nhưng bây giờ em mới hiểu… tình cảm không giản dị như vậy đâu. Nó có đời sống của nó.

Thành bần thần vớ bao thuốc lá lấy ra một điếu châm lửa hút một hơi dài:

– Cô ấy cúp máy ngay sau đó, không cho em nói thêm điều gì nữa cả.

Tôi hỏi ngược:

– Nếu được, cậu sẽ nói gì? Thành lắc đầu:

– Chính em cũng không biết, em chỉ thấy cần phải nói thôi.

Đến đây Thành nhìn về phía Nhà Thờ Đà Lạt. Anh rủ tôi đến nhà thờ, chẳng biết để làm gì. Tôi không đến vì lỡ hẹn với mấy người bạn ăn cơm trưa. Thành lủi thủi bước xuống con đường đầy nắng vàng. Tôi hình dung ra bóng người đàn ông đó ngồi im sững trong ngôi giáo đường vắng ngắt. Thành cầu nguyện gì? Tôi không thể đoán ra. Bạn thử đoán xem. Xin bạn một phút cho những mối tình buồn như thế. Tôi nghĩ không chỉ có Huyền và Thành, còn rất nhiều nhiều những chuyện tình đẹp và buồn như thế. Tôi muốn nói tiếng nói ấy trong bút ký này.

(Sài Gòn, 12-1-2008)

Chúa tể rừng Pơ mu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 7 Sep 2026

Yên Bái thuộc vùng trung du, nằm dọc đôi bờ sông Hồng, và miền núi phía Tây Bắc Bộ, cách Hà Nội 180 km, từng là nơi quần cư của người Việt cổ gồm có các dân tộc Kinh, Tày, Dao, Mông…

Yên Bái còn đi vào lịch sử với nhà cách mạng Nguyễn Thái Học (1902-1930).

Chuyện rằng ông đi thi bằng thành chung (Diplome), đề thi là “Sự nghiệp của Jules Ferry”.

Nguyễn Thái Học viết trả lời vỏn vẹn có một câu: “Người Việt Nam không hề biết tên người này!”

Là một con người nồng nàn yêu nước, sau nhiều lần gởi thơ cho bọn thực dân Pháp yêu cầu cải cách để người dân Việt bớt lầm than mà không được đáp ứng, Nguyễn Thái Học chỉ còn con đường duy nhứt là là vũ trang lật đổ chế độ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, để thành lập một nước Việt Nam độc lập với thể chế cộng hòa.

Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra từ Sơn Tây, Phú Thọ cho tới Yên Bái vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10, tháng Hai, năm 1930.

Quân nổi dậy đã chiếm được một phần đồn binh Pháp, làm chủ tỉnh lỵ Yên Bái trong gần hai ngày.

Chua te rung Po mu 02Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, ngày 20, tháng Hai, năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt, Chí Linh, Hải Dương.

Ngày 17, tháng Sáu, năm 1930, Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính, cùng 11 đảng viên VNQDĐ lên đoạn đầu đài tại Yên Bái

“Chết vì tổ quốc, Cái chết vinh quang, Lòng ta sung sướng, Trí ta nhẹ nhàng!”

“Việt Nam muôn năm”

Pháp đã chôn 13 người yêu nước, bỏ mình vì Tổ quốc Việt Nam, trong cùng một ngôi mộ tập thể tại thị xã Yên Bái, cách ga xe lửa độ một cây số.

Hôm sau, ngày 18, tháng Sáu, năm 1930, Cô Giang, người yêu của Nguyễn Thái Học đã tự sát bằng súng ở gốc cây đề làng Thổ Tang, tỉnh Vĩnh Yên nay là tỉnh Vĩnh Phúc.

Chua te rung Po mu 03“Gươm ba thước chọc trời kinh, chớp cháy, này Lâm Thao, này Yên Bái, này Vĩnh Bảo, khí phục thù hơi thở một tầng mây!

Đoạn đầu đài sau sau trước bước ung dung, gớm gan thị tử như quy, mặc cây cỏ máu tươi thêm chói chói…”

Máu của những người yêu nước đã rưới xuống đất nầy cho rừng Pơ Mu thơm mãi tới ngàn sau! 

Yên Bái có rừng cây Pơ mu, còn gọi là đinh hương, tô hạp hương… Gỗ Pơ mu có một mùi thơm đặc biệt mà không loại gỗ nào có được. Chỉ cần để một miếng gỗ Pơ mu thì trong nhà lúc nào cũng có mùi thơm thoang thoảng rất dễ chịu, điều hòa không khí trong nhà và giúp tâm thần các ‘quan lớn’ luôn ổn định! .

Chua te rung Po mu 04Gỗ Pơ mu từ rừng già nguyên sinh nên chất gỗ rất đanh và cứng, thớ gỗ nhỏ và mịn, rất dai và dẻo, có vân đẹp, nhẹ và bền, không bị mối mọt, trừ được muỗi và côn trùng, dùng để làm sàn nhà, đóng giường tủ không bao giờ bị công vênh, nứt nẻ. Có rất nhiều ngôi nhà làm bằng gỗ Pơ mu có tuổi thọ lên tới 200 – 300 năm hiện vẫn còn nguyên vẹn.

Do gỗ quý vì có tinh dầu có giá trị cao nên cây Pơ mu hiện bị khai thác đến cạn kiệt nên hiện nay chỉ còn gặp rải rác ở một số nơi xa dân hoặc trên đỉnh và sườn núi hiểm trở! Loại cây này sinh trưởng chậm nên số lượng giảm đi nhanh chóng.

Gỗ Pơ mu còn được dùng để đóng quan tài. Và lần nầy cho 3 quan chức cấp cao tỉnh Yên Bái.

Lúc 7 giờ 45 phút, sáng ngày 18, tháng Tám, năm 2016, Chi cục trưởng Kiểm lâm Yên Bái rút súng lục K-59 bắn chết Bí thư Tỉnh ủy và Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy (ngay ngày sinh nhựt của ông nầy tại phòng làm việc).

Nhưng có một chi tiết lý thú là: Trong cái két sắt củaTrưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái, có tới 100.000 đô la Mỹ và 1,5 tỷ đồng cùng một số nhẫn vàng. Đây được nói là “số tiền cá nhân, tích cóp nhiều năm nay” của vợ chồng ấy.

Sau đó, tay Chi cục trưởng Kiểm Lâm bất mãn vì bị lột lon xuống làm Phó đã tự sát với một viên đạn xuyên qua đầu.

Tay Chi cục trưởng Kiểm lâm nầy, vợ cũng làm quan, là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Yên Bái, là con rể nguyên Bí thư tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn.

Cuộc tàn sát này là do mâu thuẫn quyền lực và chia chác quyền lợi! Chứ không phải tự nhiên người ta lại điên rồ gì mà lại đi giết nhau như vậy? Của bỏ lại ai ăn? Uổng!

Chua te rung Po mu 05Thay vì làm đơn tố cáo hay triệt hạ nhau bằng những thủ đoạn chính trị như trước đây. Giờ thì giải quyết ân oán giang hồ với nhau theo kiểu xã hội đen bằng súng! Không còn tình ‘đồng chí’ gì hết ráo he?

Theo VOA tiếng Việt, có 95% ý kiến trên mạng xã hội là từ bàng quan cho đến hả hê nên bị truyền thông nhà nước chỉ trích là ‘vô lương’ vì đã ‘hả hê’ trước cái chết của các quan chức (?!)

***

‘Thố tử hồ cũng chẳng bi’; vì người chết thì đã chết! Đứa còn sống kế tiếp lên thay. Nhưng cuộc đấu đá tranh giành chức, giành quyền để kiếm tiền ở Yên Bái vẫn chưa kết thúc.

Lần nầy, thay vì dùng súng như lần trước thì dùng báo chí để chơi nhau. Mục tiêu là hai quan lớn khác.

Chua te rung Po mu 06Một là: Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, em ruột của bà Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, có xây dựng một biệt phủ trên một khu đất rộng bao la, tới 13 ngàn m2 ngay trong thành phố.

Quan chối leo lẻo hè: “Đấy không phải nhà tôi; mà của vợ tôi! Tôi làm gì có nhiều đất như vậy?”

Dân cả nước, chớ không riêng gì Yên Bái, nhào vô xỏ xiên:

“Chị gái Bí thư, em trai Giám đốc Sở. Gia đình toàn người giỏi. Quá ngưỡng mộ!” He he!

“Quá quy mô, quá hoành tráng, ngôi biệt phủ như thế mới xứng đáng với tầm vóc với Giám đốc Sở chứ!”

“Cơ ngơi này không phải của ổng đâu, mà là đồng tiền “mồ hôi nước mắt ” của vợ con ông ấy tạo ra đó, mọi người đừng có hiểu lầm nhé!”

Rồi còn bày đặt ‘ngây thơ cụ’ hỏi một câu nghe lãng xẹt hè:

“Không biết ông ấy lấy đâu ra lắm tiền mà xây dựng hoành tráng như vậy?…”

Hai là Trùm Công an tỉnh Yên Bái cũng có một xây một biệt phủ nguy nga đồ sộ không kém!

Chua te rung Po mu 08Tòa nhà đang được sơn màu trắng toát trên quả đồi có diện tích khá rộng, vây xung quanh là những hàng cây xanh lâu năm, có tường bao bọc. Bên trong khu đất là cây cảnh, đá quý, đèn điện cao áp rất đẹp mắt và sang trọng, nằm bệ vệ trên đỉnh đồi, giữa núi rừng bạt ngàn, bao la khiến người dân nghèo miền núi ai cũng phải trầm trồ khen ngợi.

Con đường thảm nhựa dẫn lên khu dinh thự được canh gác nghiêm ngặt! Một tay đầu gấu, nét mặt bặm trợn ra chặn đường, xua đuổi quát:

“Đây là nhà của tao, mày lên đây làm gì?” Làm đám phóng viên phải chạy lịch bịch như con vịt ra khỏi công trình.

Rồi bà con cũng nhào vô ‘bình loạn’ vui như Tết tới…“Quan Yên Bái giàu quá! Nhưng tài sản là do bố mẹ và anh chị em của ông ấy đấy. Ông ấy… liêm chính lắm đó!”

Dân ngu khu đen không có tới một phân vàng lận lưng mà cũng bày đặt tài khôn chỉ vẽ: “Tại sao có tiền không mua vàng, đô la cất mà khoe mẽ hoành tráng cho bị sờ gáy không biết nữa?! Như vị lần trước cất 100 ngàn đô có sao đâu?”

Thôi ngây thơ gì? Cái nầy là của nổi. Ai cũng biết của chìm là gấp mấy chục lần của nổi. Nhứt phá sơn lâm mà. Phá rừng là giàu nứt vách hè. Nhứt là rừng toàn gỗ quý Pơ mu!

Và Yên Bái chỉ là 1 trong 63 tỉnh thành trong cả nước mà thôi…

Dĩ nhiên chọc tới ổ kiến lửa là bị kiến lửa cắn rồi hè. Ỷ y có mấy anh chống lưng coi chừng bị gãy lưng bất tử.

Trưởng ban Bạn Đọc báo điện tử Giáo dục Việt Nam và “tang vật”

Chua te rung Po mu 07Tay trưởng ban Bạn Đọc báo điện tử Giáo dục Việt Nam đang đi vài bài về hai cái biệt phủ… lại ỷ y không chịu thủ!

Nên tại nhà hàng Oanh, nhận 50 triệu của doanh nghiệp thì bị Công an TP Yên Bái ập vào bắt quả tang, lập biên bản và tạm giữ ông 4 tháng để điều tra hành vi lợi dụng hoạt động báo chí để chiếm đoạt tài sản.

“Thôi rồi Lượm ơi! Nó ‘lượm’ ông rồi!”

Còn may là tay Tổng biên tập báo điện tử Giáo dục Việt Nam, không bỏ đệ tử chạy một mình, đứng mũi chịu sào dùm:

“Loạt bài nầy có đầy đủ luận cứ về hai cái biệt phủ! Thế nên dù có nhiều người đến gặp và điện thoại đề nghị gỡ những bài viết này và dừng các hoạt động điều tra. Tuy nhiên, báo không đồng ý và tiếp tục làm, báo sẽ không gỡ bài.”

Người trực tiếp điều tra, viết bài rất nhiều vụ việc về Bí thư và có vụ việc liên quan đến Giám đốc Công an tỉnh mà Công an tỉnh lại trực tiếp bắt giữ, điều tra? Đề nghị chính Bộ Công an điều tra nhằm đảm bảo khách quan. Ai sai đến đâu sẽ phải chịu đến đấy, báo cũng không dung túng bao che!

Chắc rằng tờ báo nầy cũng có “piston” bự mới dám nắm đuôi “Chúa tể rừng Pơ mu” chớ đâu phải tại hơi ngu? Phải có tay cộm cán nào trong Thường vụ Tỉnh ủy cho tư liệu, cho tiền mới có mà viết chớ!

Xưa giờ viết là phải nghe lời chỉ đạo chớ không nghe lời chỉ đại, xúi dại. Chống tiêu cực cỡ Xã Xệ, Lý Toét thì vô tư! Nhưng chống tùm lum tà la, theo phe nầy chơi lại phe kia là coi chừng… bể nồi cơm!

Hơn 20 năm về trước, nhà báo Trần Quang Thành, rất hăng hái chống tham nhũng, tiêu cực, Hậu quả là: ông, rồi con ông bị mất việc.

Ngày mùng 4, tháng Bảy, năm 1991, ông nhà báo nầy bị tạt acid, mất cả môi và mũi, một mắt bị mù và một mắt thị lực còn 1/10, mất tới 81% sức khỏe. Đành phải sang Slovakia mà đoàn tụ gia đình.

Bài học là: Chống tiêu cực một là nguy hiểm, hai là mất thu nhập. Thôi thì đi các địa phương, doanh nghiệp, viết bài ca ngợi, nhậu nhẹt, gái gú tưng bừng còn có phong bao đem về cho bu nó vui!

Chua te rung Po mu 09Còn kết bè kết đảng, chơi nhau dưới chiêu bài chống tiêu cực tới cấp tỉnh là uống thuốc liều, được ăn cả; ngã vô tù…

Ông dám chơi là ông dám chịu! Hỏng có lan can gì tới nhân dân tụi tui hết ráo nhe! Vì đứa nầy không ăn thì cũng đứa khác cũng ăn vậy thôi!

Nhân dân cũng trơ mõ hè!
DXT

Chuyện vắn, chuyện dài với nhà văn Hồ Đình Nghiêm

sangtao.org

Posted: 12/12/2019 in Bút Đàm / Phỏng Vấn, Triều Hoa Đại

Hồ Đình Nghiêm

Triều Hoa Đại

Post by Sơn râu 7 Sep 2026

Nhà văn Hồ Đình Nghiêm

Sau vài ngày rong chơi, hôm nay chúng tôi lại rong ruổi ca bài “Đường trường xa muôn gió câu bay rập rồn.” Mây hình như xà xuống và chắc chắn một điều hai bên đường cây lá đang và đã thay nhau đổi màu, thiên nhiên thật đẹp, thật tuyệt vời. Bây giờ đã gần cuối mùa thu, ông Thanh Tịnh đã “đi học” vài tháng trước rồi, giờ chỉ còn lại mấy bác thợ săn mà thôi. Nói đến mùa thu là nói đến thi nhân, nói đến mấy bác thợ săn rình mò tìm kiếm những con nai vàng “ngơ ngác”. Về thi nhân tôi nhớ câu thơ của Đinh Hùng: “Giờ cuối thu rồi em ở đâu/ nằm trong đất lạnh chắc em sầu/ thu ơi đánh thức hồn ma dậy/ta muốn vào trong đáy mộ sâu”. Tiện thể tôi lại nhớ luôn đến bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư có câu: “Con nai vàng ngơ ngác đạp lên bác thợ săn”. Tôi không hiểu nhà thơ Đinh Hùng khi viết “giờ cuối thu rồi em ở đâu/ nằm trong đất lạnh chắc em sầu” lúc đó tâm trạng của ông ấy có bình an không, chứ xem ra nó loanh quanh thế nào là bởi khi biết em đã nằm “trong đáy mộ sâu” rồi lại còn muốn vào trong đó nữa mà lại giả vờ: “em ở đâu” thì khó hiểu quá. Lại nữa, mùa săn bắn ở nước cờ hoa này nó nhộn nhịp lắm, những bác thợ săn chuẩn bị “cung tên” chỉ để chờ những chú nai vàng cứ ngơ ngác đi dạo giữa rừng thu để đến nỗi đạp lên bác thợ săn mà thấy tội nghiệp quá. Thơ, văn thì tôi mù trấc. May gặp được người tài hoa là nhà văn Hồ Đình Nghiêm ở đây, người mà tôi đã là “săn lùng” để hỏi một đôi câu vậy thì xin mời quý độc giả cùng theo dõi buổi chuyện trò này.

Triều Hoa Đại (THĐ): Xin chào người tài hoa.

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Xin chào anh. Nếu anh tự nhận là thợ săn thì mình tự nguyện là một con thú. Đừng giết nó, bởi nó là thú hiền, chẳng nguy hiểm. Có đáng ghét chăng là do bởi nó từng làm nhiều người buồn lòng vì những điều nó “tâm sự”. Anh dùng chữ tài hoa thì coi chừng bị nó phỏng vấn lại anh a. Tài hoa là gì, thưa anh?

THĐ: Vài câu thơ tôi nhẩm theo trí nhớ thượng dẫn chẳng biết đúng sai thế nào, là người thông thái xin anh giúp sửa sai và nếu có thể xin bàn thêm chút đỉnh về con nai vàng nó ngơ ngác và bác thợ săn trong rừng thu bạt ngàn lá rụng?

HĐN: Ngơ ngác, theo mình là một vẻ đẹp. Đẹp vì ngơ ngác gần với hồn nhiên. Nó hiện ra và nó băn khoăn về một lối đi tìm về nơi ít cạm bẫy. Nếu mình là thợ săn, mình sẽ xiêu lòng trước ngơ ngác, lẽ nào giương cung tên, cho đạn lên nòng để tiêu huỷ cái mong manh. Rừng thu đẹp một phần vin nhờ vào giây phút có dại khờ dẫm chân lên lá rụng. Ơ, mình đã đi xa?

THĐ: Lá rụng, nai rồi xa, cuối thu hay đầu thu rồi cũng theo nhau mà đi, anh nghĩ sao nếu mai kia mốt nọ có người nào đó tình cờ gặp anh rồi nắm áo, rồi hỏi: Anh có phải nhà văn Hồ Đình Nghiêm đó không? Rồi lại có người khác nữa: anh có phải nhà thơ Hồ Đình Nghiêm, người nữa lại nói: Điêu khắc gia Hồ Đình Nghiêm đây rồi may quá dược gặp anh hôm nay. Nhà nào là cái nhà của ta, nhà nào là cái nhà do USA/ CANADA làm ra. Anh nhiều nhà quá tôi thật sự tối tăm mặt mũi về cái gia tài đồ sộ của anh?

HĐN: Thưa anh, trong rừng văn chương, mình chỉ là con nai vàng ngơ ngác. Nó chạy đuổi theo chữ viết, bước dài gọi là văn, lần khân bước ngắn thì xem là thơ, chỉ có vậy thôi. Nó chạy tìm một lối thoát tự nó xúi vậy và một phần nó muốn chia sẻ với các bạn nai yếu lòng khác. Nó tin, văn chương là một con suối ngọt cầm tìm tới để gục đầu vào. Mình thích chữ tình cờ trong câu anh hỏi. Bắn đi một mũi tên phút đầu cần tới một lực đẩy tính toán. Mình khác, tất cả đều do tình cờ đẩy đưa.

THĐ: Chuyện đùa một tí cho dzui vậy thôi bây giờ thì chúng ta bàn đến chuyện thơ, văn, vẽ vời một tý nhé?

HĐN: Xin anh cứ tự nhiên ạ. Cũng đùa cho dzui, thấy khó quá thì… miễn bàn.

THĐ: Những năm đầu của thập niên 1970 lúc ấy anh chỉ là một cậu bé “ngơ ngác” như nhà văn Hồ Minh Dũng mô tả làm tôi nhớ đến con nai vàng, cũng may thời đó không có bác thợ săn nào bên cạnh. Tập tành làm người lớn, tập tành mơ mộng, viết văn cũng NGƠ NGÁC như đã đề cập ở trên, ấy thế mà qua ngày tháng hôm nay anh đã là nhà văn mà là một nhà văn danh giá, ngòi bút của anh đẩy đưa bao nhiêu vui, buồn, bao nhiêu dấu tích thăng trầm của kiếp nhân sinh, anh có mơ đến một ngày Thuỵ Điển bia đá sẽ đề tên chăng?

HĐN: Ấy chết. Ngôn ngữ trong facebook kêu bằng “chít em roài”, “em hỏng thít”. Không dám đâu anh. Mình chỉ là con nhái nhảy trên bề mặt của lá sen ao hồ, tạo ra được chút sóng xô động, lăn tăn chỉ hù doạ đàn cá bơi lội bên dưới. Làm sao mọc ra được, tựu thành được một giấc mơ hoang tưởng đến thế, thưa anh. Mình biết ngoài kia sông dài biển rộng, mình chẳng có được tham vọng của kình ngư hoặc những loài thuỷ sản biết lội ngược dòng. Anh có thương thì đặt ra câu hỏi khác. Xí xoá câu trên.

THĐ: Anh có hai tay nhưng lại có nhiều “nghề” hơn hẳn người khác, này nhé: Viết văn là một “nghề”, làm thơ lại thêm một “nghề” nữa, điêu khắc cộng thêm một “nghề” nữa, vậy thì NGHỀ nào là nghề mà anh yêu thích?

HĐN: Cần đính chính là hồi trước mình theo hội hoạ chứ không là điêu khắc. Anh bỏ chữ nghề trong ngoặc kép là đúng, bởi nào có gì chuyên nghiệp đâu. Nhưng nên thưa cùng anh là mình thích “nghề” viết văn hơn cả bởi cái sự thoải mái tha hồ tả tình tả cảnh trong lúc anh làm thơ buộc anh phải giản lược cô đọng chữ, tiếng thở dài của anh nén lại, nụ cười cũng vậy, nửa vành môi. Và truyện ngắn, thích viết vì… được trả tiền nhuận bút. Lại dùng chữ trong facebook “he he he”.

THĐ: Ông Trần Tú Xương đã có lần tuyên bố: Trong thiên hạ có bốn (04) bồ chữ mình ta chiếm hai bồ, một bồ thì dành cho anh em ta, bồ còn lại thiên hạ chia nhau mà xài. Anh có nhiều nghề như vậy bộ không e thiên hạ sẽ “buồn vào hồn không tên” hay sao, tôi thực sự buồn cho bản thân vì so với anh thì tôi chỉ là một vì “ngôi sao xấu”. Buồn!

HĐN: A, cái ngôi sao xấu nằm trong ngoặc kép! Mình có thể mượn nó từ anh để khoác thân cho thôi rét. “Ngôi sao” này cũng từng “buồn vào hồn không tên” anh ơi là anh! Từng khi “thức giấc nửa đêm lén dậy đi tìm nàng”. Trống lạnh, nói anh đừng ngầy ngà, viết văn làm thơ như kiểu mình luôn là tìm đuổi một hư ảnh để rồi va thân vào khoảng trống. Nàng ơi nàng hỡi nàng chờ bến nao?

THĐ: Đọc ở đâu đó có người cho rằng: “Hầu hết nhà văn Việt Nam đã mắc phải một chứng bệnh khó trị: Sự dễ dãi và lười nhác trong tư duy sáng tạo.” Đồng ý hoặc không xin anh nói rõ hơn về suy nghĩ của mình?

HĐN: Người nào “cho rằng” ấy đã đưa ra nhận định quá chính xác, chẳng sai trật. Ở trong nước ra sao, mình không hiểu. Nhưng hải ngoại, thưa anh, có ai sống toàn phần vào nghiệp viết đâu? Chưa một ai sáng cắp ô đi chiều xác xơ về với công việc viết văn liên tục trong tám tiếng mỗi ngày được trả lương. Một chàng “công chức nhà văn” có thể sẽ thôi lười nhác, cắm cúi đào bới vào sáng tạo, vạch được một lối đi riêng. Còn hạng như mình và văn hữu đó đây, viết chỉ là “nghề” tay trái. Khen tui nhờ chê tui chịu. Mua vui chưa tới nửa trống canh. Một điểm cần lưu ý, “chúng tôi” không có mấy thời giờ, đi cày về thì có khối việc chia sẻ với vợ con, đi chợ, phụ nấu ăn, phụ rửa chén, phụ giặt giũ, phụ quét nhà và… đi đổ rác. Trăm dâu đổ đầu tằm, khi còn chút sức lực, ngồi xuống bàn viết, e dễ dãi với chữ nghĩa cũng là chuyện sẽ tới. Mình chẳng thích thanh minh, phân trần và cũng ghét đỗ lỗi vào hoàn cảnh. Cũng đành vậy thôi.

THĐ: Nhà thơ quá cố Tô Thuỳ Yên có lần đã nói: “Đối với một người cầm bút chân chính việc tối kỵ là lập lại chính mình, chép lại chính mình, đạo thơ văn của chính mình” là một người sáng tác anh có nghĩ khác với điều mà nhà thơ Tô Thùy Yên đã phát biểu?

HĐN: Điều này chẳng mới lạ gì, mình đồ rằng nhà thơ Tô Thuỳ Yên đã lập lại lời của các vị ở phương Tây từ ngàn xưa. Và thành thực để tâm sự cùng anh, mình vẫn mang nhược điểm ấy, đang cố sức để thoát ra khỏi khung cửa hẹp. Nhà văn Victor Hugo có viết câu mà mình thích: “O mon Dieu, ouvre-moi les portes de la Nuit…”

THĐ: Tôi đoán rằng nhiều lúc rảnh rỗi thế nào mà anh lại chẳng đọc lại những tác phẩm của mình, ấy vậy anh có vừa lòng với những gì mình đã viết ra không. “Trong tác phẩm cũng có sai lầm, không đúng cả được.” Có người đã nói thế, vậy những gì đã viết anh có thấy điều gì là chưa đúng, là không vừa lòng?

HĐN: Mình viết truyện ngắn, đó là một thể loại văn học chứ không phải là một dạng nghiên cứu thuộc sách giáo khoa. Sai lầm và không đúng chẳng nên áp đặt vào một “không gian” đầy chật cả hư cấu hoặc tưởng tượng hoặc tác giả tự muốn ngòi viết phải đi lạc khi tìm kiếm vẻ đẹp. Có ai đi phê bình một bài thơ bằng cách dùng chữ sai lầm và không đúng? Hy vọng đừng nên thế. Ngược lại là đàng khác, anh phải không đúng, anh phải sai lầm (điều này sẽ viết dài ra ở một dịp khác). Thỉnh thoảng mình cũng có đọc lại, chỉ hiện lên một ý nghĩ, sao thuở đó vụng dại quá, ngây ngô quá. Chỉ hối hận, chỉ không hài lòng, nhưng vẫn không ghét bỏ, vì ít ra nó nhắc nhớ về một thời xa xưa, về những bàn chân chưa định ra phương hướng.

THĐ: Khi chúng ta sợ SAI TRÁI, sợ cái ÁC tức là chúng ta đã mặc nhiên sợ tiến bộ và vì thế mà nhà văn là người phải và nên đứng trên những SAI/TRÁI, là người tỉnh táo hay nói rõ ra là nhà văn thì phải đứng trên cái thành kiến HAY/DỞ và đứng trên cái THIỆN và cái ÁC, anh nghĩ thế nào?

HĐN: Hoàn toàn đồng ý, nếu quan niệm văn chương là một hình thức đấu tranh, phản kháng nhằm thay đổi cái xấu xa mà xã hội đang luôn bị đe doạ. Họ muốn đánh động bằng chữ viết, nhằm thức tỉnh. Nhưng khi nói đến một tác phẩm có giá trị ở mặt văn chương, chuyện này lệ thuộc vào những mặt khuất lấp khác. Đôi khi muốn “hay”, nhà văn phải lao vào với cái “ác”. Hắn “sai” ở phút giây đó nhưng hắn tin người đọc sẽ nhìn ra cái đúng khi gấp sách lại. Ví dụ nhỏ, hắn muốn tạo ra nhân vật nữ bằng hình ảnh một cô gái ăn sương, buộc lòng hắn phải hoà mình vào trong các động điếm. Hắn sa đoạ, hắn bị nguyền rủa, nhưng nếu hắn tài ba, hắn để lại cho người đọc một tác phẩm sống động, một cảnh quang tăm tối mà đứa “thiện” chưa hề nhìn thấy. Mình rất vụng về môn phân tích, khả năng yếu kém, mình chỉ biết trình bày chút đó thôi.

THĐ: Trong những năm gần đây người đọc dễ nhận ra rằng: Cái mà chúng ta vẫn thường gọi là Văn Học hải ngoại có vẻ như sa sút, từ từ lịm tắt như ngọn dầu lạc sắp sửa cạn dầu thiếu hẳn những sinh động như trước thời kỳ vàng son của những năm 1975-1995. Là nhà văn chắc anh cũng đã nhìn ra như thế, vậy thì nguyên nhân nào đưa đẩy đến “nỗi đoạn trường” này?

HĐN: Nhiều nguyên nhân, thưa anh. Một tác động hổ tương cần thiết như ban đầu đã phôi pha, giữa người viết và người đọc. Người viết than: Không ai chịu đọc. Người đọc than: Chả có gì hay ho lôi cuốn cả. Mãi trách móc nhau, mà là trách móc đúng. Phần khác, một số các người viết đã thành danh, họ nhìn nhận (từng nghe tâm sự) là mình đánh mất thời gian một cách vô lối, mình chăm đi cày để kiếm tiền, cho khỏi mang mặc cảm tội lỗi. Anh muốn làm nhà văn hả? OK, nhưng anh cần phải có việc làm vững chắc hòng nuôi lấy thân anh. Những nguyên nhân khác có thể là chính bạn, bạn làm cho gia đình mất an vui, bạn sa đà vào hư huyễn, xa thực tế. Và một chữ “nản” hiện ra, không có nhà xuất bản nào ngó ngàng tới đứa đang nuôi “âm mưu” in ra một cuốn sách. Muốn có “tác phẩm” hắn phải tự bỏ tiền túi ra, nhờ vả người này, van nài kẻ kia, quỵ luỵ, rất chi là mất phẩm giá của một “nhà văn”. Mình dự tính sẽ in một tập truyện ngắn, nhưng nghĩ tới chuyện tự dưng phải mất đi cả tháng lương hưu, rồi phải xuống giọng ỉ ôi chìu lòn này nọ nên quyết định: Dẹp. Tự ái nổi lên, ta đâu nỡ muối mặt thế!

THĐ: Với dân số trên một triệu người mà hình như vấn đề in ấn cũng có vẻ lơ thơ tơ liễu buông mành, đó là nói về số lượng nhưng khi đề cập tới phẩm chất của từng tác phẩm, từng thể loại thì xem ra cũng không mấy vui, vẫn là những chuyện tình vớ vẩn, những yêu đương cũ mèm có một số nhà văn vẫn còn ngoái cổ nhìn lại thời lao tù khổ ải mà lẽ ra nên quên đi là bởi với đề tài này ai cũng biết cả rồi xưa như trái đất, bỏ đi tám nhắc lại làm chi “khổ quá biết rồi nói mãi” anh nghĩ thế nào?

HĐN: Lại cũng xin đồng thuận. Và đào sâu một chút. “Tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Tự mình tài hèn sức mọn thôi. Đề tài tình yêu luôn không bao giờ cũ, ngàn năm nó vẫn vậy, vẫn chứa lắm vẻ đẹp e ấp. Chuyện lao tù khổ ải cũng thế, nhiều thương đau cần được phơi bày. Như vậy, rõ ràng là nhà văn chúng ta thực sự bất lực, nên nhìn nhận cái yếu kém đó. Một người bạn Gia Nã Đại nói với mình, mày lớn lên ở xứ sở chiến tranh, mày trải qua cuộc vượt thoát bằng ghe thuyền, toàn cả chết người, bao đề tài to lớn như vậy mà chính mày cũng như nhà văn Việt chẳng chịu khai quật ra cho bọn tao xem? Đó nào khác gì một gáo nước lạnh vừa tạt vào mặt mình. Tóm lại, nếu bạn có thực tài, chẳng có thứ gì xưa cũ cả. Bạn phải tìm cách làm mới nó để người đọc thu cất lại lời phê bình kia. Nói ra mới thấy đó thực sự là nỗi bất hạnh chung. Đau thương chạm đáy mà chẳng ai kêu gào đúng với tầm mức địa ngục nọ. Mình nằm trong số “ngơ ngác và ngơ ngáo và tủi hổ và tài hèn sức mọn khó dung thứ”.

THĐ: Ở hải ngoại thì đã thê thảm đến thế nhưng nếu chúng ta nhìn về “quê cha đất tổ” với dân số trên 93 triệu người mà số lượng in ấn và chất lượng tác phẩm xem ra cũng vô cùng khiêm tốn, không lẽ dân ta không còn tha thiết với chữ quốc ngữ như Phạm Quỳnh đã kỳ vọng hay là người dân VN của chúng ta đã đi theo cái nhà ông Bùi Hiển nào đó hết rồi chăng?

HĐN: Chuyện Việt Nam bây giờ thì có nói đến 1001 đêm vẫn chưa xong bao phi lý luôn diễn ra thường hằng. Mình nhớ lại thời học Mỹ Thuật, cuối năm phải “đi thực tế”, những ký hoạ, những bức tranh mang về sau cả tháng miệt mài trong gian khổ bị đánh giá là không đạt, buộc phải vẽ “xa thực tế”. Đồng không mông quạnh là thế, khốn khó là thế, hờn tủi là thế… mà nay đưa vào tranh phải vẽ mặt cười rạng rỡ, vai u thịt bắp, lúa vàng ngập đồng, xe cày phun khói, nhà máy hiện đại. Tất cả đều gian dối và sẵn lòng “chụp mũ”. Bây giờ cũng vậy thôi, tệ nạn xã hội đầy rẫy có “thằng” nhà văn nào dám khuân đặt vào tác phẩm không? Và “con” nào đang đói cho mờ người lại bảo rằng tớ đang sống trong thiên đường ấm no hạnh phúc độc lập tự do? Chúng có lương tri, chúng còn sót chút tử tế thì chúng quăng cái laptop đi, vì chúng tự tìm lấy chút an toàn cho bản thân. Một câu nói “thực lòng” của ông Phạm Trọng Đạt, Cục trưởng cục chống tham nhũng, nên là đại diện cho nhà văn “tâm tư”: Tham nhũng là những người có chức vụ quyền hạn, chống lại họ có khi chúng tôi chết trước.

THĐ: Người dân không có tự do, nhân phẩm thì bị coi thường và chà đạp ông có thấy một nhà văn nào đó dám đứng lên thay mặt người dân để viết lên những gì mà họ không viết được hay ít ra thì cũng giống như trước kia Hoàng Cầm đã từng nói: “Dù sợi tóc còn cứa vào nhân phẩm/ Tôi còn thét to dù khản tiếng khàn hơi. “Không làm được những điều như vậy thì thử hỏi chúng ta có dám ngửng mặt lên mà tự xưng mình là người cầm bút?

HĐN: Như đã thưa ở trên, cho đến giờ phút này mình chưa thấy nhà văn nào lộ diện cả. Chỉ có nhà báo, là cô Phạm Đoan Trang, dù bị tù tội, dù bị đánh đến gãy một chân, cô vẫn bất khuất lớn tiếng trình bày một thực trạng bi đát mà đất nước cố tình che đậy, mãi chà đạp lên nhân phẩm con người. Đáng nói là những gì cô Phạm Đoan Trang trình bày ra văn bản nó mang tính chính xác cao, phê phán cái ác cái xấu của xã hội Việt Nam rất logic, rất khó chối cãi. Mình rất quý trọng tiếng nói ấy, một phụ nữ thông minh và can trường.

THĐ: Giữa hai miền Nam/Bắc như ông đã rõ văn nghẽ sĩ đã có một lối suy nghĩ và cách viết khác nhau đối nghịch như lửa với nước. Miền nói Nam thì “trăm hoa đua nở” trong khi tại miền Bắc thì “Trăm nhà im tiếng” nói thế thì có vẻ không được công bình cho lắm, miền Bắc vẫn có tiếng nói đấy chứ nhưng là tiếng “Của Đảng” viết theo chỉ thị, theo đơn đặt hàng, bây giờ câu hỏi ở đây xin gửi đến anh:

a/ Anh có cảm thấy mình đã may mắn được sinh ra và rồi thì được sinh hoạt trong một xã hội mà tương đối văn nghệ sĩ vẫn có một đời sống thoải mái, sáng tác phẩm một đôi khi cũng bị một chút dòm chừng nhưng vẫn còn dễ thở.

b/ Thử tưởng tượng bừng còn mắt giậy bỗng thấy mình đang sống ở “ngoài ấy” và đương nhiên phải suy nghĩ và viết theo chỉ thị thì anh có cam đảm cầm viết nữa chăng hay cũng chỉ giống như Tô Hoài nhắm mắt qua sông để sống trong những tháng ngày của một “một thằng hèn”.

HĐN: Dạ, mình quá may mắn được sinh đẻ và trưởng thành ở miền Nam tự do. Bà Dương Thu Hương phút đầu đã ngợi ca miền Nam trong ai oán “tôi bị chúng nó lừa phỉnh”. Chỉ trích có bấy nhiêu lời cũng đủ hình dung ra sự tuyên truyền, cách nhồi sọ của “ngoài ta”. Còn giả dụ là mình đương sống trong nước, dĩ nhiên kẻ hèn này sẽ nhập vai chạy xe ôm để mưu sinh sau khi “chà đồ nhôm” đến chẳng còn thứ để chôm đồ nhà mang đi bán ngoài chợ trời. Hắn sống với cái đầu mãi gục mặt, một đứa chỉ biết nói chuyện với đầu gối làm sao dám đủ dũng lược để viết “bậy bạ” sai quan điểm, mất lập trường. Nói theo kiểu người trong nước: Hoàn cảnh lắm anh ạ! Ngang đây mình cũng giận mấy tay Việt kiều, sao họ có thể về ăn nhậu lu bù sảng khoái mà bên cạnh có lắm người đi ăn xin, đi bán vé số, đi lượm ve chai. Sự dửng dưng của họ cũng tựa như một tên nhà văn mãi ngợi ca chế độ.

THĐ: Khi chúng ta đề cặp đến văn nghệ sĩ ngoài “nớ” tôi bỗng hình dung ra: “chín năm đốt đuốc soi rừng/ về đây ánh lửa ngập ngừng bước chân”, hoặc là: “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống/ nhà ai xa đèn trông ra khơi/ anh bạn dãi dầu không bước nữa/ gục trên báng súng ngủ quên đời”. Những năm kháng chiến ấy bao nhiêu thế hệ những người trai yêu nước đã ra đi mong giành lại độc lập, tự do cho Tổ Quốc, cái đó gọi là lý tưởng. Nhưng sau bao hy sinh. Chịu đựng khi chiếm được Miền Nam thì xem ra cái hào quang ấy không còn nhất là với những văn nghệ sĩ thì ngay lập tức họ đã nhận ra giữa cái XẤU và cái TỐT cho nên họ có viết đấy nhưng chả có một tác phẩm nào ra hồn. Anh nghĩ sao về chuyện này?

HĐN: Họ “phản tỉnh”. Có đôi kẻ nhìn nhận ra sai lầm, nhưng tất cả chỉ xảy ra trên chiếu rượu, trên bàn nhậu. Vụ Nhân Văn Giai Phẩm vẫn là một ám ảnh khôn nguôi. Chỉ có ông Trần Vàng Sao viết được nhiều bài thơ “tố cáo” nhưng thuộc dạng chuyền tay nhau đọc thôi. Bài “Tau Chửi” là một ví dụ. Chế độ đó đáng bị nguyền rủa. Đổi trắng ra đen. Mày liệu hồn, chúng tao sẵn lòng bôi đen mày, con cháu mày. Tất cả ngậm bồ hòn làm ngọt trên “xứ sở đáng sống nhất hành tinh”.

THĐ: Còn chúng ta thì sao, chúng ta ra đi không có gì cả: Ra đi không mang thê nhi/quần áo cứ thế cắp nách, có chăng khi đã đến được đất tạm dung thì ngay lập tức một vài tờ báo đã ra đời, sáng tác lai rai vì còn phải tìm kế mưu sinh, tiếng Tây, tiếng Mỹ thì “NÓI” nhiều đến nỗi mỏi tay, thế rồi sau đó ra sao, ổn định chốn được cuộc sống thế là văn nghệ sĩ lại “lên đường”, nhà xuất bản mọc lên ào ào, sách báo đua nhau in ấn vui ơi là vui. Nhưng, cuộc vui sao mà chóng tàn quá vậy, giờ đây cái thời oanh liệt ấy đã bỏ chúng ta mà đi, mọi sự khựng lại, chẳng biết ông thì thế nào nhưng với kẻ hèn này thì buồn lắm lắm. Cái nền văn học hải ngoại “nối dài” này xem vậy mà không phải vậy, nói ông chớ buồn chứ thực tình xem ra văn chương “ngoài này” những lúc gần đây chỉ toàn là những tác phẩm lăng nhăng đầu voi mà đuôi thì chuột, một vài đọc giả vui miệng mà “ngôn” vậy như vậy, anh có cho là người đã lo quá hay chăng?

HĐN: Mình nhận ra một điều, là những câu anh hỏi luôn chứa chút bi quan. Mình từng buồn, buồn tới đổ bệnh, xuất viện và “đi chỗ khác chơi”. Buồn chẳng giải quyết được gì cả, buồn cho lòng người bội bạc và xin dại khờ mang nỗi hoài nghi kia đặt vào đoản văn hoặc thơ thẩn. Nếu còn có ai đó lo xa như anh hỏi thì mình đổi buồn sang vui. Khi bạn quan tâm có nghĩa là bạn còn vương vấn, còn đoái hoài tới nó dẫu nó vẫn chưa thoát xác, vẫn đầu voi đuôi chuột. Con nai vàng ngơ ngác sống mình ên cũng sầu tủi, nay gặp con voi mai gặp con chuột há không phải là niềm vui sao, khu rừng đỡ cô quạnh. Kệ đi mà, mọi thứ đều có nguyên do, đều “vui là vui gượng đó mà”, đời sống vẫn lạnh lùng tiếp diễn, xé rời từng ngày cho đến trang cuối, mòn hao.

THĐ: Xin lỗi đã vô tình “chạm” phải nỗi buồn và những bi quan nhưng đời thì cũng có những vui/buồn, tôi tin là như thế. Vậy thì bây giờ xin hỏi anh nghĩ sao về cái phong trào FACEBOOK, tôi thì thấy rằng hầu như đã có rất nhiều giới tham gia nồng nhiệt, nhưng cái gì thì cũng có cái hay và cái tệ, bọn xấu nhiều khi đã lợi dụng để “xâm nhập” vào từng lãnh vực để khai thác những điều mà họ muốn, anh còn nhớ nghị quyết 36 của nhà nước XHCH/VN đã đề ra không, biết đâu đấy cũng là một vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm. Tôi có đa nghi?

HĐN: Ôi, lời anh là một cảnh tỉnh đáng lưu ý. Mình vừa nhào vào cõi ấy với tất cả sự mê muội trải lòng. Tự rày bớt giảm ngừng, bớt cà khịa. Ngoài vấn nạn “an toàn” như anh bảo, mình cũng tự nhìn thấy tới chuyện hao tổn sinh khí, thường “bực cả mình”. Chốn đó rất mực thượng vàng hạ cám, rất nhiều người chẳng hợp tạng mình. Nói chung là xô bồ, là “thị tại môn tiền náo”, là chốn lao xao dành cho người khôn, sẽ có lúc mình làm đứa dại tìm về với vắng vẻ. Thực tâm mà nói, nếu mình mang tham vọng viết nên một cuốn tiểu thuyết, điều cần làm trước tiên là phải nghỉ chơi, xa lánh facebook, muốn tập trung suy nghĩ thì xin ngồi chỗ vắng tiếng ong ve mà facebook là khu rừng hỗn tạp âm thanh đủ mọi âm vực chứ nào chỉ có ong ve thôi. Đúng là “khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười”.

THĐ: Nghĩ ra tôi đã làm phiền anh rất nhiều mong rằng với lòng nhân ái anh cũng vị tình mà không chấp. Anh còn muốn nói thêm gì nữa không với độc giả của chúng ta?

HĐN: Nói đã nhiều, có nói thêm cũng chỉ một lời, rằng thưa thốt thì sẽ mắc lỗi lầm, đụng chạm vốn khó tránh. Nếu lỡ mang tội, xin độc giả khoan dung lượng tình bỏ quá cho. Độ rày sức khoẻ mình sa sút, một tinh thần không minh mẫn trong một thể xác chẳng tráng kiện. Xin từ bi hỉ xả, rộng mở nụ cười. Sau hết, cảm ơn nhà thơ Triều Hoa Đại đã có lòng hỏi han. Mình không tin là tâm sự của mình đã “thoả đáng” cho những câu hỏi của anh đặt ra. Đành tạ lỗi trước.

THĐ: Xin cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm.

Triều Hoa Đại thực hiện bằng điện thư

tháng 12, 2019.

Nguồn: Nhà văn Hồ Đình Nghiêm chuyển bài

Mme Nhu Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 7 Sep 2026

Càng tìm hiểu về những năm thiếu thời của bà Nhu, ánh hào quang của quá khứ gia đình bà càng kém vẻ lộng lẫy. Những gương mặt tươi cười của đôi vợ chồng già nua trong bức hình trên một tờ báo ở Washington năm 1986 thật khó lòng hòa hợp với bức chân dung u ám của ông bà Chương vốn đã xuất hiện. Những mảnh ghép hồi ức “khốn khổ” về thời thơ ấu của bà Nhu gắn lại đúng chỗ khi tôi hiểu rằng không ai, tất nhiên ngoài song thân của bà, từng mảy may nghĩ đến việc một ngày nào đó bé gái nhỏ xíu này, chào đời trong một bệnh viện Hà Nội vào ngày 22 tháng 8 năm 1924, rốt cuộc sẽ trở thành một cái gì đó quan trọng.

Một ca sinh nở truyền thống sẽ diễn ra tại nhà với một bà mụ, người sẽ nói rằng sinh linh này không sẵn lòng để chào đời vì lẽ đứa bé nằm ngôi ngược, vì vậy mà không chịu trượt xuống ống sinh. Bà sẽ phản đối kẹp forcep, những dụng cụ nhỏ bé và khoa học hiện đại, như là sự can thiệp vào thiên ý. Một bà mụ sẽ bỏ mặc cho đứa bé, xanh xao yếu ớt, câm nín, và bất động, quay trở về bất luận giao lộ nào nằm đâu đó giữa thiên đường và trần thế dành cho những linh hồn chưa được đầu thai lang thang phiêu dạt.

Nhưng không có bà mụ nào trong ngày hôm đó cả. Đứa bé sẽ là một bé trai. Người mẹ chắc chắn điều đó đến độ bà đã thu xếp việc sinh nở trong bệnh viện. Bà đã trải qua nỗi khủng khiếp của cơn đau đẻ kéo dài, biết rằng điều đó xứng đáng – vì một đứa con trai.

Vị bác sĩ người Pháp có lẽ đã lo sợ sẽ bị khiển trách nếu có điều gì bất thường xảy ra. Đó là lần đầu tiên ông đỡ đẻ một em bé Việt kể từ khi ông đặt chân đến Đông Dương, nhưng đây là một ca đặc biệt.

Người thiếu phụ đầm đìa mồ hôi và máu đang nằm trên bàn là bà Chương, công chúa Nam Trân, một thành viên của hoàng gia.

Nhan sắc tuyệt mỹ của người con gái mười bốn tuổi này thật là hiếm hoi đến độ về sau nhờ đó bà đã giành được một tấm huân chương phong tặng bởi những người Pháp say mê bà, những người đã đặt cho bà biệt danh “Viên ngọc trai Á châu”. 1 Mặc dù được dạy về nghệ thuật nội trợ, cũng như ca hát và thêu thùa, bà không bao giờ cần động đến dù chỉ một ngón tay mảnh dẻ, ngoại trừ để rung chuông gọi người hầu. Nhiệm vụ quan trọng nhất của bà với tư cách người vợ là sinh cho chồng một đứa con trai thừa tự.

Chồng bà xuất thân từ một gia đình địa chủ quyền thế. Là con trai cả của một thống đốc tỉnh ở Bắc Kỳ thuộc Pháp, ông Chương đã được ban cho mọi điều tốt đẹp nhất trần đời, từ một nền giáo dục Tây phương cho đến một cô dâu thuộc dòng dõi hoàng tộc. 2 Dòng họ Trần của ông vốn có quan hệ họ hàng với nhà vua, thành ra ông Chương cũng là một người bà con xa với vợ ông.

Vị bác sĩ người Pháp hẳn đã cảm thấy áp lực ghê gớm để cứu lấy cái hình hài tái nhợt cuối cùng đã lộ diện giữa một lớp màng nhầy nhụa huyết dịch. Đây là cơ hội để vị bác sĩ chứng tỏ bản thân – và sự vượt trội của nền y học Tây phương. Ông nắm chặt hai mắt cá chân của đứa bé và đét liên hồi vào cặp mông bé xíu cho đến khi những tiếng khóc đầu tiên bật ra.

Tiếng khóc ấy là lời chào đầu tiên của đứa bé sơ sinh với thế giới. 3

Đó là một bé gái.

Một người mẹ trẻ mười bốn tuổi như bà Chương đã làm gì với đứa con mới đẻ, một nhúm thịt với gương mặt đỏ hỏn, đang khóc toáng lên trong tay mình? Khi vừa mới chào đời, chẳng có mấy lý do để người ta tin rằng số phận của bà sẽ khác với hàng bao thế kỷ phụ nữ đi trước bà. Trong truyền thống Khổng giáo Á Đông, con trai được chờ đợi sẽ chăm sóc cha mẹ khi già yếu, và chỉ có con trai mới là quan trọng trong tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt. Tục ngữ Việt Nam truyền thống đã thâu tóm nỗi thất vọng của việc sinh con gái: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, hay “Một trăm con gái không bằng hòn dái con trai”. 4 Vào ngày cưới, người đàn ông đưa về gia đình một vật sở hữu quý giá hơn tất thảy: một cô con dâu, người sẽ chỉ được giải thoát khỏi vai trò người hầu thật sự của gia đình chồng, đặc biệt là mẹ anh ta, chỉ đến khi cô có con trai. Vòng luẩn quẩn cứ thế tiếp diễn.

Bà Chương vốn đã sinh một đứa con gái rồi. Con đầu lòng của bà, Lệ Chi, chào đời không đầy hai năm trước đó, và bà Chương đã tự thuyết phục bản thân rằng đứa thứ hai này sẽ là con trai. Bà tin chắc điều đó đến mức đã mua về nhiều đồ chơi và quần áo của con trai.

Đứa con gái thứ hai này chỉ làm trì hoãn ngày tự do của bà Chương mà thôi, cho đến khi sinh được con trai, bà là người thấp cổ bé họng nhất trong nấc thang thứ bậc của gia đình chồng. Hơn thế nữa, mẹ chồng bà đã đưa ra một vài lời đe dọa đáng ngại. Bà muốn con trai bà, ông Chương, lấy vợ lẽ nếu đứa thứ hai này không phải con trai. Ông Chương, suy cho cùng, là con trai trưởng của nhà họ Trần danh giá – ông nên tận dụng mọi cơ hội để truyền thừa sự vĩ đại của gia đình bằng huyết nhục của chính mình. Tục đa thê đã là một phần của truyền thống văn hóa ở Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Một người phụ nữ chỉ biết sinh con gái, dù có là đứa con dâu trung thành hay không, cũng chẳng có mấy giá trị. Những thất bại nên được xóa sạch càng nhanh càng tốt.

Đó là một viễn cảnh buồn thảm đối với một phụ nữ mười bốn tuổi như bà Chương. Nếu chồng bà lấy vợ hai, và nếu người đó thành công ở nơi bà đã thất bại, là sinh cho gia đình chồng một đứa con trai, bà Chương và các con gái bà sẽ phải lấm la lấm lét sống phần đời còn lại trong sự phục tùng người khác. Chẳng bao lâu sau bà đã hạ quyết tâm rằng bà sẽ phải làm việc này thêm một lần – và lại một lần nữa – cho đến khi bà có con trai mà bà chờ đợi. Và đứa con trai người ta chờ đợi nơi bà.

Đứa con gái mới sinh được đặt tên là Lệ Xuân. Mặc dù bấy giờ không phải mùa xuân. Tháng Tám ở Hà Nội thường là thời gian bắt đầu vào thu, và năm đó cũng không là ngoại lệ. Có vẻ như những ngày đầu mùa thu đã thổi chút se lạnh vào thành phố, mang lại một không khí tươi mát sau những ngày hè dài oi bức. Những nhành liễu rủ chạm khẽ mặt hồ, mời gọi làn gió nhẹ khiêu vũ bổng bềnh trong những tán lá, và cư dân thành phố đổ ra ngoài trời thoáng đãng để tận hưởng mùa ôn hòa ngắn ngủi trước khi những cơn gió lạnh từ Trung Quốc tràn qua.

Bé Lệ Xuân và mẹ không được hưởng một phút giây nào của niềm hạnh phúc ấy. Truyền thống Việt Nam bắt trẻ sơ sinh và người mẹ phải gần như nằm liệt giường trong một căn phòng tối tăm, ít nhất ba tháng sau khi sinh. Căn phòng chẳng khác nào một cái kén dành cho người mẹ và em bé. Ngay cả những thói quen tắm táp cũng bị hạn chế. Phong tục này xuất phát từ những mối ưu tư thực tế liên quan đến những rủi ro tử vong của trẻ sơ sinh trong vùng châu thổ nhiệt đới, nhưng trên thực tế cái khung cảnh u ám sau khi sinh ắt hẳn khiến người ta ngộp thở. Ngoại trừ thầy lang và thầy bói là những nhân vật không thể thiếu, những vị khách thăm bà Chương được hạn chế trong số những thành viên thân thuộc nhất của gia đình.

Thầy tử vi của gia đình là một trong những người nhìn mặt em bé đầu tiên. Công việc của ông ta là đoán quyết vận mạng của bé bằng cách đối chiếu ngày sinh, mùa hoàng đạo, giờ sinh với vị trí của mặt trời và mặt trăng và không quên tính cả những ngôi sao chổi đang lướt qua. Một khả năng rất lớn là nhằm cổ vũ tinh thần của người mẹ đáng thương bị phong kín trong căn phòng tối ba tháng trời, cùng đứa con gái nhỏ mà bà không hề mong muốn, ông thầy đã thốt lên về số phận của đứa trẻ: “Thật là ngoài sức tưởng tượng!” Đứa bé, ông nói với bà Chương đang run lẩy bẩy, sẽ leo lên đến những đỉnh cao vời vợi. “Ngôi sao chiếu mệnh của nó không thể nào tốt hơn!” Bé gái sẽ lớn lên trong niềm tin vào vận mệnh của mình đồng thời với lời tiên tri xán lạn đã khiến mẹ cô ghen tỵ một cách sâu xa. Kết quả là một cuộc đời với những mối quan hệ mẹ con đầy căng thẳng và sự ngờ vực bất tận.

Bà Chương theo lời kể của mọi người là một thiếu phụ trẻ đẹp mê hồn đến từ kinh đô Huế ở miền Trung Việt Nam. Hoàng đế Đồng Khánh, người trị vì trong thời gian ngắn ngủi từ 1885 đến 1889, là ông ngoại của bà. Một loạt những người anh em họ của bà đã thay nhau kế vị ngai vàng kể từ đó. Là một thành viên của hoàng tộc mở rộng, bà được coi là một công chúa, và bà là hiện thân của sự duyên dáng truyền thống với một ngoại lệ: khi mỉm cười, răng bà trắng sáng như ngọc trai. Bà đã chống lại hủ tục nhuộm đen răng bằng vôi. Với những trưởng lão trong gia tộc, nụ cười trắng tinh của bà trông gớm ghiếc, như thể một chiếc miệng đầy xương. Những chiếc răng trắng và dài thuộc về những kẻ man rợ và dã thú; nhuộm đen chúng để né tránh những nỗi sợ hãi rằng một linh hồn tà ma đã lẩn lút đâu đó trong con người. Một cái miệng với hàm răng đen bóng là biểu hiện truyền thống của sự tao nhã và cái đẹp.

Nhưng với ông Chương, nụ cười trắng sáng rạng rỡ khiến cô dâu trẻ của ông là một hình ảnh hoàn hảo của người vợ hiện đại. Ông Chương đã quen với những thú vui Âu châu khi còn là một sinh viên du học; ông yêu thích thi ca, rượu vang Pháp, những bộ phim Tây phương, và xe mô tô. Quay lưng lại với truyền thống, bản thân ông Chương đã cắt phăng mái tóc dài cột thành búi và từ bỏ thói quen quấn quanh đầu chiếc khăn xếp tiêu biểu của những người đàn ông cùng giai cấp và trình độ như ông. Mái tóc dài là một lý tưởng theo Khổng giáo, giá trị lòng hiếu thảo được áp dụng cho thân thể, tóc, da, và tất cả những phần mở rộng của một cuộc sống được cha mẹ ban cho con cái. Nhưng những lề thói Tây phương đang lấn thế. Ông Chương là hiện thân của sự tiến bộ với mái tóc ngắn, trang phục, và tác phong của một luật sư làm việc với chính quyền thực dân. Như vậy, ông sẽ chẳng đời nào chấp nhận một cô gái răng đen về làm vợ mình.

Đôi vợ chồng cưới nhau năm 1912. 5 Năm sinh ghi trên bia mộ của bà Chương, và năm được ghi trong giấy báo tử năm 1986 ở Sở cảnh sát Metropolitan là 1910. Căn cứ theo đó thì bà chỉ mới hai tuổi vào thời điểm lấy chồng.

Những cô gái ở miền thôn quê được gả chồng vào độ tuổi rất bé, có lẽ mười ba hay mười bốn, không phải là chuyện lạ thường, nhưng hiếm có một cô dâu nào lại chỉ là đứa bé mới chập chững. Điều đó thậm chí càng khó có cơ sở khi xét đến sự kiện cả hai gia đình đều là những thế gia tinh anh; họ có khả năng để chờ đợi. Một cách giải thích hợp lý là ngày sinh của bà Chương đã được sửa đổi, cho phép bà ở trong một độ tuổi dễ dàng được yêu chiều ở Hoa Kỳ, tránh xa mọi kẻ có thể phản bác những gì bà kể lại.

Nhưng ở Việt Nam tuổi tác làm gia tăng uy tín. Người ta ắt không có lý do gì để cố làm ra vẻ trẻ trung cả. Có thể bà Chương thật sự là một cô dâu hai tuổi. Phải một thời gian rất lâu sau đám cưới, các anh họ trong hoàng tộc của bà mới bắt đầu có gia thất. Con gái đầu lòng của họ, Lệ Chi, ra đời gần một thập niên sau ngày cưới. Có lẽ cô dâu bé nhỏ cần thời gian để đạt đến độ tuổi thụ thai.

Ông Chương vẫn chỉ là một thiếu niên vào ngày cưới của mình. Ông sinh năm 1898, nghĩa là mới mười bốn tuổi khi cưới vợ. Ồng Chương là con trai cả của Trần Văn Thông, một quan thống đốc tỉnh được trọng vọng ở Bắc Kỳ thuộc Pháp. Theo hồ sơ của ông trong thư khố thuộc địa Pháp, ông Chương đã rời khỏi Việt Nam lẫn cô vợ trẻ của ông không lâu sau lễ cưới. Ông đã đến Pháp và Bắc Phi để tiếp tục học tập.

Sự tính toán thời gian của chàng thiếu niên Chương thật không chê vào đầu được. Ông rời khỏi Đông Dương ngay trước khi Thế chiến thứ nhất nổ ra. Chỉ cần muộn thậm chí một năm việc rời đi sẽ là bất khả trong thời chiến. Những biến cố trên thế giới đã bức bách chàng thanh niên Chương sống xa quê nhà trong hơn mười năm. Ông đã có thể tận dụng những cơ hội giáo dục dễ dàng có được ở Âu châu nhưng chưa từng được nghe thấy với một người Việt Nam, ngay cả với vị thế xã hội của ông đi nữa. Ông Chương đã theo học các trường trung học ở Algiers, Montpellier, và Paris, nhận bằng tiến sĩ luật khoa năm 1922. 6 ông là người Việt Nam đầu tiên làm được điều đó.

Trong những năm ông Chương du học ngoại quốc, sự căng thẳng đã leo thang ở Việt Nam thuộc địa. Chính quyền Pháp đã bắt đầu tuyển mộ “tình nguyện quân” người Việt bản địa cho chiến trường Âu châu, buộc hàng ngàn nông dân và công nhân bị bần cùng hóa đi khám quân dịch. Người Pháp đã mau chóng nghiền nát mọi dấu hiệu của sự dấy loạn hoặc phản kháng và đã “lật ngược” cả miền nông thôn trong cuộc tìm kiếm những kẻ phản bội. 7

Người ta ngày càng lớn tiếng chê trách về những cơ hội giáo dục có thể tìm được ở Việt Nam. Trường trung học Pháp đầu tiên, và duy nhất trong một thời gian dài, Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn, dành riêng cho các con trai của các nhà chức trách Âu châu. Nhưng cùng với cuộc chiến đang nổ ra khốc liệt ở Âu châu, sự thiếu hụt nhân lực đang ngày càng hiện ra rõ nét. Chế độ thực dân nhận ra nó cẩn tuyển mộ thêm nhiều người bản xứ được đào tạo tiếng Pháp vào ngành dân chính nếu nó hy vọng tồn tại. Niềm hy vọng ấy là việc truyền bá những tư tưởng Pháp giữa người Việt sẽ gắn kết người bản địa với mẫu quốc một cách mật thiết hơn. Tuy nhiên, kết quả thật trớ trêu: bằng việc giáo dục người Việt về những nguyên lý Tây phương, bao gồm những lý tưởng tự do và lịch sử nền Cộng hòa, những cuộc cải cách giáo dục đã góp phần khơi dậy một sự đòi hỏi quyền hành chính trị đã tỏ ra không thể nào dập tắt.

Khi ông Chương cuối cùng quay trở lại Việt Nam vào năm hai mươi bốn tuổi, những năm tháng học hành ở trời Tây của ông đã được đền đáp hậu hĩ. Ông được một suất học việc đầy triển vọng trong bộ máy tư pháp thực dân Pháp và được nhập quốc tịch Pháp vào ngày 16 tháng Chín năm 1924, không đầy một tháng sau khi con gái thứ hai của ông ra đời. 8

Không lâu sau khi bà Chương cùng con gái ra khỏi chiếc kén cô độc, bà Chương đã mang thai lần thứ ba và sau cùng trước sinh nhật thứ mười sáu. Năm 1925, bà hạ sinh đứa con trai như đã hằng hy vọng, Trần Văn Khiêm. Sự ra đời của một đứa con trai đã đặt dấu chấm hết cho những trách nhiệm sinh đẻ của bà. Nó cũng xác nhận vị trí thấp kém của Lệ Xuân trong gia đình.

Ông Chương đã được đề bạt một công việc mới gần thành phố Cà Mau, gần mũi cực Nam của đất nước, cách Hà Nội phồn hoa đô hội nhiều ngàn cây số. Đó là một chức vụ nổi bật trong chính quyền thực dân Pháp. Mặc dù được thăng chức có nghĩa là phải xa rời những thú vui trần thế ở Thủ đô Hà Nội, lên tới chức vụ cao như thế là một thành tựu nghề nghiệp phi thường đối với một người Việt bản địa.

Chỉ có một mất mát nho nhỏ: con gái thứ hai của ông Chương, bé Lệ Xuân, sẽ bị bỏ lại. Như một tờ biên lai ở phòng giữ đồ, Lệ Xuân là vật trao đổi giữa cha và ông nội cô. Đó là một cách biểu hiện tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ ông và là bằng chứng về ý định trở lại của ông, nhưng thật ra nó không gì hơn là một cử chỉ tượng trưng để làm mẹ ông hạnh phúc. Nếu việc giữ đứa bé là một ơn huệ đối với bà, đó là một cái giá không lớn gì mấy. 9

Một khóm những ngôi nhà mái ngói đỏ vây quanh một cái sân làm nên cơ ngơi nhà họ Trần không phải là nơi tồi để một bé gái lớn lên. Vị tộc trưởng, ông nội của Lệ Xuân, là một đại địa chủ, và mỗi người trong gia đình ông đều giống như một nhân vật lừng lẫy ở địa phương, trong vùng quê xanh tươi của miền Bắc Việt Nam. Bà của Lệ Xuân là người có học vấn cao, đó là một ngoại lệ đối với một phụ nữ Việt Nam ở thời đại và tuổi tác của bà. Thậm chí khi đã già, và thị lực đã giảm sút, bà vẫn tiếp tục đọc nhiều đoạn văn chương Việt Nam kinh điển, hoặc nghe người khác đọc chúng.

Những câu chuyện Việt Nam đầy ắp hình tượng những phụ nữ mạnh mẽ, thông minh, và kiên quyết, nhưng chúng không phải lúc nào cũng có một kết cục đẹp. Phải chăng chính ở đây bé Lệ Xuân đã được nghe những đoạn Truyện Kiều, một tuyệt tác trường thi Việt Nam được yêu thích và trích dẫn nhiều – câu chuyện về một thiếu nữ con nhà danh giá, tài sắc kiêm toàn? Đố kỵ với nàng, định mệnh đã bức bách nàng từ bỏ tình yêu đích thực của đời mình và tự bán thân làm kỹ nữ để chuộc cha khỏi chốn lao tù. Kiều đã vùng vẫy trong một thế giới bất công, nhưng nàng vẫn là hình tượng của sự vẹn toàn và chính trực. Không chỉ là một nữ nhân vật bi kịch đơn thuân, nàng tượng trưng cho dân tộc Việt, bị kẹt cứng giữa sự suy đồi đạo đức trong cơn biến động chính trị. Mặc dù câu chuyện đã có hàng trăm năm tuổi, năm 1924, năm Lệ Xuân chào đời, Kiều đã được trang trọng vinh danh là nhân vật văn hóa quốc gia. Người phụ nữ như là nạn nhân đã chính thức trở thành nhân vật được yêu thích nhất. 10

Bà nội của Lệ Xuân tất nhiên không coi mình là nạn nhân của bất kỳ cái gì cả. Bà chủ trì một gia đình rộng lớn gồm bà và hai người vợ khác và con cái của tất cả họ. Ngoài con trai cả của bà, ông Chương, bà đã sinh cho chồng ba con trai và hai con gái nữa, sau đó bà tự coi như đã hoàn thành mọi nghĩa vụ làm vợ của mình. Để dứt khoát rõ ràng về điểm này, bà đơn giản đã kê một chiếc gối ôm giữa giường ngủ của hai vợ chồng. Bà cũng là người đã giới thiệu vợ hai cho chồng, bà này đã sinh cho ông thêm bảy người con nữa. Để đề phòng người vợ hai giành lấy quá nhiều quyền hành, bà đã đưa về cô vợ thứ ba cho ông. Mỗi một người vợ và con cái họ có một vị trí nhất định trong thứ bậc tôn ti gia đình. Kỹ năng của bà, vị nữ chúa, thể hiện trong việc chưa từng có ai trong số họ ra mặt chống đối lẫn nhau. 11

Ngôi nhà của ông bà nội Lệ Xuân là nơi lý tưởng để quan sát những vai trò rời rạc và mâu thuẫn nhau của những phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là thành viên của tầng lớp tinh anh. Tất nhiên, có một sự nhấn mạnh rõ ràng về những quy tắc hành xử theo Khổng giáo. Những bà vợ và con dâu có bổn phận tỏ ra vâng lời và phục tùng. Nhưng đằng sau những cánh cửa đóng kín của tòa nhà, một thực tại khác lấn thế. Những vấn đề thực tế, như ngân sách gia đình, được phó mặc cho phụ nữ. Một điều được ngầm hiểu, nếu không được bàn tới, là phụ nữ nắm giữ thực quyền trong gia đình. Nếu gia đình là một quốc gia, người chồng sẽ là Quốc trưởng trên danh nghĩa, phụ trách các mối quan hệ ngoại giao. Người vợ sẽ là Bộ trưởng Nội vụ và kiểm soát ngân khố. 12

Ban đầu, việc giáo dưỡng hàng ngày bé Lệ Xuân được giao phó cho các bảo mẫu. Ngay cả người giúp việc trong nhà cũng hiểu địa vị thấp kém của đứa trẻ mà họ trông nom, vì vậy chủ yếu họ bỏ mặc cô bé. Những bảo mẫu giao Lệ Xuân cho những người làm vườn chơi đùa như một món đồ chơi. Cũng thật tình cờ mà những người làm vườn tại đây là những tên trộm và du côn vặt vãnh ở địa phương và đã bị tòa phạt vạ bằng lao động công ích cho cộng đồng hay là cho người đứng đầu cộng đồng, chính là ông nội của cô. Cô lẽo đẽo theo chân họ khi họ chăm sóc những con vật. Đôi lúc cô thậm chí đã tắm rửa giữa đàn gia súc.

Trong vòng một năm sau khi cha mẹ rời đi, cô gái bé nhỏ ngã bệnh gần chết. Bà Nhu luôn luôn nói rằng cha mẹ không bao giờ đoái hoài chi đến mình, nhưng bà thừa nhận rằng ông bà Chương đã trở về từ nhiệm sở mới ở vùng cực Nam ngay khi họ nghe tin. Đó không thể nào là một chuyến đi dễ dàng. Thời bấy giờ chưa có đường xe lửa kết nối cả nước, và khoảng cách giữa các tỉnh là quá xa xôi để đi đường bộ. Phương tiện di chuyển hiển nhiên nhất giữa miền Nam và miển Bắc là tàu hơi nước dọc bờ biển. Trong mười ngày đêm, bé Lệ Xuân lơ lửng giữa sự sống và cái chết.

Khi đã về đến nhà, mẹ của Lệ Xuân không để bé rời khỏi lòng bà. Nhưng việc đó, ít ra như cách hiểu của cô về sau này, không phải vì tình yêu, hay thậm chí sự quan tâm với đứa con gái thứ. Đó là một lời trách cứ nhắm vào bà nội. Trên vũ đài chính trị khốc liệt của gia đình, đứa trẻ bệnh hoạn đã trở thành một lợi khí sắc bén của thiếu phụ Chương đối với mẹ chồng bà.

Lệ Xuân đã hồi phục sức khỏe, cô vẫn cứ gầy gò trong suốt thời thơ ấu, nhưng những gì thể chất khiếm khuyết, cô đã gắng bù đắp lại hoàn toàn bằng ý chí. Lệ Xuân cần phải trở nên gai góc. Bệnh tật thời thơ ấu của Lệ Xuân khiến mẹ cô ngờ vực con gái giữa của bà hơn bao giờ hết. Trước khi bà ra đi, Lệ Xuân là một hài nhi tóc đen nhánh với đôi má bầu bĩnh. Bé gái da bọc xương, đôi má hõm sâu bà gặp lúc về nhà có thể dễ dàng là con của một người hầu trong gia đình hay một nông dân trong vùng. Nỗi nghi ngờ con mình bị đánh tráo đã giày vò bà Chương suốt phần đời còn lại của mình. Hai đứa trẻ kia biết điều này và đã lợi dụng nó để trêu chọc người chị em của chúng là con của bà bảo mẫu. Và bà Chương đã dùng điều đó như một lý cớ để tự tha thứ cho mình vì đã không yêu con gái giữa như hai đứa trẻ kia. Khi lớn lên, cô gái nhỏ thấy mình như thể “vật nhắc nhở phiền hà đối với mẹ cô, một đối tượng của sự ngờ vực bệnh hoạn [và] xung đột trong gia đình”. 13

Khi Lệ Xuân đã đủ khỏe để đi lại, gia đình ông Chương khăn gói xuống tàu, lần này tất cả cùng nhau ra đi. Họ an cư lạc nghiệp ở tỉnh Bạc Liêu xa xôi. Bà Chương, thậm chí chưa được hai mươi tuổi, đã chủ trì một gia trang rộng lớn với những người hầu và khu đất rộng quá cỡ.

Khi những thú tiêu khiển của thế giới hiện đại ở Hà Nội giờ đã lùi xa, ông bà Chương đã trở lại với một cuộc sống gia đình Việt Nam truyền thống hơn, với những khuynh hướng đậm nét Khổng giáo. 14 Thoát khỏi mẹ chồng và những phán xét hà khắc của bà, bà Chương đã quản lý nhà cửa vườn tược như thể bà sinh ra để làm điều đó. Tuy vậy, sau khi đã nếm trải cuộc sống phố thị ở Hà Nội, với tất cả những thú vui Tây phương, sự tĩnh lặng của miền thôn dã và những nghĩa vụ truyền thống mà bà đảm đương hẳn có vẻ đơn điệu lỗi thời. Bà Chương đã bỏ lại sau lưng thời cơ dự phần vào những vận hội mới mở ra cho nữ giới trong một xã hội quốc tế. Vợ của một người đàn ông hiện đại ở thành thị, ngoài việc quán xuyến nhà cửa và coi sóc việc giáo dưỡng con cái, có thể đứng bên cạnh chồng trong giao tế xã hội. Đây có vẻ là điều kỳ lạ khó thể có được đối với một thiếu nữ sống đời một người vợ và người mẹ Việt Nam truyền thống, như những phụ nữ hàng bao thế kỷ trước bà.

Phải chăng bà đã dám hy vọng một điều gì khác cho những cô con gái của mình? Nhận định về những cơ hội giáo dục mà bà áp đặt lên các con gái, câu trả lời có vẻ là bằng lòng. Tuy vậy, vào những lúc mà sự giáo dục của chúng xung đột với hệ thống tôn ti gia đình, nhiều thế kỷ truyễn thống đã thắng thế. Nguyên tắc cơ bản về hành xử đúng mực, lối sống truyền thống đòi hỏi lòng trung thành với gia đình và với một nền văn hóa cổ xưa. Phụ nữ có bổn phận thuận theo tam tòng, trước hết phục tùng cha, kế đến là chồng, và sau là con trai. Người phụ nữ cũng được khuyến khích thể hiện bốn phẩm hạnh: quản lý việc thu chi trong gia đình, đoan trang tao nhã, lời lẽ êm ái, và hành vi đoan chính. Những lý tưởng về bổn phận tề gia nội trợ của phụ nữ đã được phát biểu rõ ràng trong những văn phẩm tiếng Việt kinh điển, trong những sổ tay “giáo dục gia đình bằng thơ”. Được viết để đọc to theo nhịp trầm bổng cho dễ nhớ, chúng phát biểu những kỳ vọng về công việc quản lý gia đình và phẩm hạnh trong sạch.

Đừng trò chuyện với đàn ông không họ hàng quen biết;

Đừng mở lời chào hỏi, để đừng gợi nghi ngờ.

Đừng qua lại giao du với đàn bà thất tiết;

Đừng vô duyên vô cớ thay áo quần;

Khi thêu thùa khâu vá, đừng dừng nghỉ mũi kim;

Đừng hát hay ngâm thơ, khi không ai bên cạnh;

Đừng nhìn ra cửa sổ, với dáng điệu trầm ngâm.

… Đừng rùn vai, đừng thở dài;

Đừng cười to khi chưa mở một lời;

Khi cười, chớ phô cả răng lợi;

Đừng ngồi lê hay nói lời cay độc. 15

Là con gái thứ, Lệ Xuân sớm hiểu rằng cô phải chiếu theo trật tự đã xác lập. Cha mẹ và những người lớn khác đã được tôn trọng và phục tùng, và các chị em cô cũng vậy. Lệ Xuân có vị thế thấp kém nhất trong gia đình. Nỗi bực bội với việc bị sai bảo đã bắt đầu khởi lên trong cô từ khi còn bé. “Em trai tôi thường lấy việc trêu chọc tôi như một trò chơi tiêu khiển khi tôi còn nhỏ. Tôi ngồi xuống, và nó nói, “Ngồi xuống”. Vậy là để chứng tỏ rằng không phải tôi ngồi vì nó đã ra lệnh cho tôi, tôi đứng dậy. Nhưng liền đó nó nói, “Đứng dậy”. Trò đó làm tôi tức điên”. 16

Một đứa trẻ khác có thể đã phản ứng khác hẳn, trở nên dễ bảo khi đã quen với hoàn cảnh thực tế của mình. Nhưng bà Nhu đã nhớ về thời thơ ấu như một quãng thời gian đầy tức tối. Bà khao khát sự chú ý và chấp thuận. Để có được nó, bà đã phải làm việc chăm chỉ hơn, khóc to tiếng hơn. Ngay khi là một cô gái nhỏ, bà đã tin rằng mình có quyền nhiều hơn thế.

Việc học chính thức của Lệ Xuân bắt đầu khi một gia sư già, quấn khăn xếp với hai ngón tay dính nhau đến nhà để dạy ba chị em cô. Mới năm tuổi, cô đã được gửi vào trường nội trú ở Sài Gòn cùng chị mình.

Lệ Xuân là đứa trẻ hiếu học và nghiêm túc. Em trai cô rất đỗi ghen tỵ với thứ hạng và trí thông minh tuyệt vời của cô. Khi xa cách, cậu nhớ cô như nhớ một người bạn chơi cùng, nhưng khi cô trở về, cậu thường cảm thấy thất vọng bởi sự chênh lệch khả năng giữa hai người. Cậu không thích bị đối xử như một đứa bé. Một ngày nọ cậu thất vọng đến độ đã giật phắt cây bút lông từ tay cô và ném vào đầu cô. Ngòi nhọn cây bút đâm thẳng vào trán cô. Lệ Xuân chạy lên cầu thang với chiếc lông chim dính trên đầu và mực chảy trên mặt. Cô muốn để cho mẹ thấy em trai cô không phải đứa hoàn toàn ngoan ngoãn, cô muốn hét lên.

Mẹ của Lệ Xuân nổi giận – nhưng không phải với con trai bà. Một đứa con gái biết cư xử không đời nào tỏ ra quyết tâm đến thế trong việc làm bẽ mặt người thừa tự của gia đình. Cô gái là người chịu phạt. 17

——————————–

1CAOM, Hồ Sơ Trần Văn Chương, HCRT non-cote, notice de renseignements concemant Mađame Trần Văn Chương, tháng Tư 1951.
2CAOM, Hồ Sơ Trần Văn Chương, HCRT non-cote, và, South Vietnam Key Personalities – Những Nhân Vật Chủ Chốt Của Việt Nam Cộng hòa của CIA. National Intelligence Survey 1958 (Chương không được ghi thành mục riêng, nhưng em trai của ông, Trần Văn Đỗ, cựu Ngoại trưởng của chính quyền ông Diệm, được miêu tả đôi nét tiểu sử).
3Mô tả sự chào đời của bà Nhu trích từ quyển hồi ký không được công bố của bà, Le Caillou Blanc, 2:39.
4Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1993), 18.
5CAOM, Hổ Sơ Trần Văn Chương, HCRT non-cote.
6CAOM, Hồ Sơ Trần Văn Chương, HCRT non-cote.
7Hồ Tài Huệ Tâm, Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution – Thuyết cấp tiến và Nguồn gốc của Cách mạng Việt Nam (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1992), 32.
8CAOM, Hổ Sơ Trẩn Văn Chương, HCRT non-cote.
9Madame Nhu, Caillou Blanc, 2:13.
10Thông tin về Truyện Kiều lấy từ Radicaiism của Hồ Tài Huệ Tâm, 109-111. Năm 1924, sự tranh luận về Kiều đã nổ ra. Bài thơ này phải chăng là nói về sự tồn tại của người Việt Nam thông qua ngôn ngữ và văn hóa? Hay, như được nhìn qua lăng kính của xã hội thực dân đương thời, phải chăng Kiều chỉ là một biểu tượng của sự cộng tác và phản bội của tầng lớp tinh anh?
11Madam Nhu, Caillou Blanc, 2:49.
12Jamieson, Understanding Vietnam, 27.
13Madam Nhu, Caillou Blanc, 2:13.
14Bất chấp sự tranh luận về việc tập quán Khổng giáo đã ăn sâu trong đời sống truyền thống Việt Nam thế nào, các học giả nói chung đồng ý rằng hầu hết người Việt có học trong nửa đầu thế kỷ hai mươi nhìn nhận rằng di sản truyền thống của họ mang đậm nét Nho giáo. Xem Jamieson, Understanding Vietnam, 10, 11; Alexander Woodside, Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and chinese Civil Government in the first Half of the Nineteenth Century (Cambridge, MA: Harvard University Asia Center: 1988), 60-96. Tại cao điểm cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963, Chương vẫn tiếp tục công khai quả quyết rằng “tôn giáo” của ông là Nho giáo.
15Hồ Tài Huệ Tâm, Radicaỉism, 93.
16Bà Nhu kể câu chuyện của mình với ký giả Malcolm Browne của Associated Press trong một cuộc phỏng vấn năm 1961.
17Madame Nhu, Caillou Blanc, 2:14-15.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Post by Sơn râu 6 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào ngày 24 tháng 6, sự yên tĩnh giả tạo của Iwo Jima biến mất. Vào khoảng 5 giờ sáng, còi báo động không tập rú lên đinh tai nhức óc. Radar sớm phát hiện nhiều nhóm phi cơ địch đông đảo còn cách phía Nam Iwo 60 dặm và đang lướt đến nhanh chóng.

Tất cả chiến đấu cơ trên hòn đảo, hơn 80 chiếc Zéro, chạy ra hai phi đạo và cất cánh. Các cơ khí viên mang các oanh tạc cơ Betty và Jill còn trên mặt đất vô hầm trú ẩn.

Thời gian chờ đợi bấy lâu đã đến. Tôi lại được bay chiến đấu, và trong giây lát đây tôi sẽ biết sự khéo léo của mình còn hay không.

Một đám mây treo lơ lửng 13,000 bộ trên bầu trời. Các chiếc Zéro chia làm hai nhóm, 40 chiếc vượt lên trên, và 40 chiếc nhóm của tôi duy trì phía dưới đám mây.

Ngay khi tôi vừa lấy thăng bằng sau khi vượt lên, một máy bay địch hùng hổ chúi xuống xuyên qua các đám mây, kéo theo sau một vệt khói thật dài. Tôi liếc mắt, nhận ra đó là loại chiến đấu cơ mới, với đôi cánh rộng và mũi bẹt, chiếc Grumman F6F Hellcat mà tôi đã nghe nói đến nhiều lần. Tôi vung phi cơ ra một vòng thật rộng và nhìn lên… một chiếc Hellcat khác ló khỏi đám mây, chúi thật thẳng xuống, với vệt khói túa ra. Phía sau tia khói của chiếc Hellcat này, hàng chục chiếc Hellcat khác cũng nối đuôi nhau chúi thẳng xuống. Tất cả 40 chiếc Zéro đều xoay hướng và vượt lên để đối đầu với các phi cơ địch. Bọn phi công Mỹ không một chút lưỡng lự nào, lướt đến tấn công. Rồi phi cơ toả khắp bầu trời, xoáy tít từ tầng mây trên cao cho đến sát biển dưới thấp, khai diễn một trận không chiến kinh tâm động phách. Các đội hình bị cắt nát ra từng mảnh.

Như chớp, tôi xoáy trôn ốc và lăn tròn đến sát đuôi một chiếc Hellcat, ấn cò súng ngay khi chiếc phi cơ lọt vào tầm nhắm. Tôi lăn ra xa và nhận thấy những viên đạn của tôi đều bay trong không khí. Tôi xoay nửa vòng hình trôn ốc, lướt đến thật sát, cố tâm rót đạn vô bụng của đối thủ. Viên phi công địch mưu tranh tài xoáy vòng tròn với tôi. Tôi chỉ chờ có vậy. Cạnh sườn của hắn nằm gọn trong tầm nhắm, và tôi quất ngay một loạt đại bác thứ hai, đạn chạm dọc theo thân phi cơ. Hai giây kế đó, những đám khói đen dầy đặc tuôn ra và chiếc phi cơ chúi như gió lốc xuống biển.

Khắp nơi, tôi nhìn thấy nhiều phi cơ kéo những vệt khói dài bốc cháy và nổ tung. Lúc tôi đang nhìn, nhiều vệt đạn rót từ phía dưới lên cánh tôi. Tôi cấp tốc gạt cần lái sang trái, lăn tròn một vòng, tôi đã ở sau đuôi đối thủ và ấn cò súng. Trật. Hắn chúi xuống, mau hơn loạt đạn thứ hai của tôi.

Tôi vừa nguyền rủa sự lơ đãng vừa chửi bới con mắt đui mù của mình. Bởi con mắt này đã khiến tôi hầu như không nhìn thấy một phía. Nhanh chóng, tôi tháo hết dây dù buộc quanh thân, do đó tôi có thể xoay trở dễ dàng trên ghế ngồi để nhìn mọi hướng.

Ít nhất cũng có nửa tá Hellcat đang ở sau đuôi tôi, sẵn sàng trong vị thế khai hỏa. Các họng súng trên đôi cánh của một chiếc bắt đầu rực lửa, một chiếc khác vừa lăn tròn vừa bắn, nhưng tất cả đều không trúng. Sáu chiến đấu cơ địch cùng lúc lướt qua hai bên cánh tôi và vừa vượt lên vừa xoay về phía phải.

Lần này không dễ dàng như vậy được! Không! Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp và lộn ngược về bên phải, xoay theo sáu chiếc Hellcat. Tôi liếc nhìn sau lưng, không có bóng dáng chiếc phi cơ nào khác. Khoảng cách giữa tôi và chiếc phi cơ địch gần nhứt thâu hẹp nhanh chóng. Còn cách 50 thước, tôi khai hoả, nhìn thấy những viên đại bác chạm vô thân phi cơ và phá nát phòng lái. Lửa sáng loá và khói xuất hiện sau kiếng che gió, một giây kế đó chiếc Hellcat bay lồng lộn, một bên cánh trễ hẳn xuống và một bựng khói tuôn ra càng lúc càng cuồn cuộn.

Nhưng có thêm chiến đấu cơ địch sau đuôi tôi. Bỗng nhiên tôi không muốn dây dưa với chúng nữa. Nỗi mệt mỏi bao trùm lấy tôi, giống như một chiếc khăn trùm kín mít. Những ngày trước đây ở Lae, tôi sẽ không bỏ phí một giây phút nào để đảo chiếc Zéro lại và mặt đâu mặt với đối phương. Nhưng hiện thời, tôi cảm thấy năng lực của tôi hầu như đã bị hút cạn. Tôi không muốn chiến đấu nữa.

Tôi chúi xuống, bay về phía Bắc với hết tốc lực. Mấy chiếc Hellcat quay lại. Bấy giờ, tôi bỗng cảm thấy hàng trăm trận không chiến mà tôi từng tham dự là một cái gì đáng chán ghét nhứt.

Tôi liếc nhìn xuống bên phải và há hốc miệng. Một chiếc Hellcat lộn nhào dữ dội, cố để thoát khỏi một chiếc Zéro đeo dính theo bên đuôi, khoảng cách không hơn 50 thước. Chiếc Zéro vừa rượt vừa bắn. Ngay lúc ấy một chiếc Hellcat khác đuổi theo chiếc Zéro đó. Lúc tôi còn đang nhìn diễn biến, một chiếc Zéro nữa chúi từ trên cao và lộn vòng lại phía sau chiếc Hellcat thứ hai. Rồi hết chiếc này đến chiếc khác nhảy vào vòng đua, kéo thành hàng dài như một con trường xà. Hình như kể từ chiếc Zéro thứ hai, chiếc nào chiếc nấy cứ nhắm mắt nhắm mũi rượt đuổi, không biết rằng phía sau mình còn có kẻ rượt theo nữa. Và phi cơ nào cũng khai hoả vào mục tiêu trước mặt. Hellcat, Zéro, Hellcat, Zéro, Hellcat, Zéro. Thật lạ lùng, không một phi cơ nào, cả Nhựt lẫn Mỹ, lưu ý đến việc bảo vệ yếu điểm phía sau của họ.

Chiếc Hellcat dẫn đầu bỗng chúi nhủi dữ dội sau khi nhả ra khói đen, rồi đâm đầu xuống biển. Hầu như cùng lúc, chiếc Zéro truy đuổi cũng nổ tung, biến thành trái cầu lửa. Chiếc Hellcat thứ nhì, bay ở hàng thứ ba, vừa tung ra cú đấm chết người, chỉ sống sót khoảng hai giây, đạn đại bác từ chiếc Zéro thứ hai, bay ở hàng thứ tư, xé vứt một bên cánh nó. Khi cánh vừa lìa khỏi thân chiếc Hellcat, một bựng lửa túa ra làm loà cả mắt, đánh dấu sự nổ tung của chiếc Zéro thứ hai. Và khi chiếc Hellcat thứ ba lảng ra xa khỏi tiếng nổ do nó vừa tạo ra, những viên đạn đại bác của chiếc Zéro phía sau xé nát phòng lái của nó ra làm muôn mảnh. Khi năm chiến đấu cơ đâm đầu xuống biển hết, chiếc Zéro cuối cùng lộn nhào để xoay hướng và bay đi. Ðó là kẻ sống sót duy nhứt của cuộc hỗn chiến kinh tâm.

Tôi lượn chầm chậm phía Bắc Iwo, hít thở không khí. Cơn choáng váng tan biến, tôi quày lại khu vực chiến đấu. Trận chiến đã kết thúc. Vẫn còn nhiều chiếc Zéro và Hellcat trên bầu trời nhưng hai phía bay thành từng nhóm riêng rẽ tách rời hẳn nhau.

Phía trước và bên phải, tôi thấy 15 chiếc Zéro thấp thoáng trong đội hình. Tôi bay đến để kết hợp. Từ phía dưới, tôi lướt lên…

Hellcat!! Bây giờ tôi mới biết tại sao bác sĩ đã khăng khăng phản đối việc tôi chiến đấu trở lại. Chỉ còn một mắt, tầm nhìn xa của tôi quả yếu kém, những chi tiết nhỏ trên thân máy bay tôi không sao nhìn thấy. Cho đến khi những ngôi sao màu trắng nổi bật trên cánh các phi cơ trở nên rõ rệt, tôi mới biết mình sai lầm. Tôi không phí một giây nào trong việc chận đứng nỗi sợ hãi đang bao trùm lấy mình. Tôi lộn về phía trái, xoay thật ngặt và chúi thẳng xuống, hy vọng mấy chiếc Hellcat không phát hiện tôi. Ðâu may mắn như vậy! Ðội hình Hellcat vỡ ra và cuộc truy đuổi khai diễn. Tôi có thể làm gì? Không còn một cơ hội nào nữa.

Không, vẫn còn một lối thoát, một cơ hội mong manh. Tôi hầu như bay ngay trên Iwo Jima. Nếu tôi cứ chạy quanh quẩn, một việc không dễ, chờ cho đến khi xăng của các máy bay địch cạn dần và bắt buộc phải quay về căn cứ… Bấy giờ tôi lượng định tốc lực của những chiến đấu cơ mới này. Chỉ trong mấy giây chúng đã áp sát. Nhanh quá đỗi! Không thể chạy được…

Tôi xoay ngược lại thật mau, và doạ các phi công địch bằng cách từ phía dưới vượt lên, xoáy một vòng hình trôn ốc.

Tôi kinh ngạc, phi cơ địch không phân tán. Chiếc dẫn đầu đáp trả bằng cách xoay hình trôn giống như tôi. Tôi lại xoay nữa, lần này thâu hẹp đường bán kính hơn. Ðối thủ không nhường tôi một bước nào.

Một chiếc P39 Airacobra hoặc một chiếc P40 Warhawk sẽ thua cuộc nếu thi tài với tôi bằng lối này, ngay cả loại chiến đấu cơ F4F Wildcat có thể giữ vòng xoáy khá lâu cũng khó chống lại một chiếc Zéro. Nhưng những chiếc Hellcat này, là loại phi cơ nhanh nhẹn nhứt của địch quân mà tôi mới thấy lần đầu. Tôi đã lọt vô bẫy. Mười lăm chiến đấu cơ địch lần lượt điền vào vòng xoay. Giây phút kế đó, tôi nhận thấy mình đang xoay chính giữa một sợi dây khổng lồ do mười lăm chiếc Hellcat tạo thành. Bất cứ phía nào tôi cũng đều thấy những cái cánh rộng lớn vẽ ngôi sao trắng. Nếu có một viên phi công nào bị vây trên trời, viên phi công ấy chính là tôi.

Tôi có rất ít thì giờ để suy gẫm về sự bất hạnh của mình. Bốn chiếc Hellcat đã phá vỡ vòng xoay đâm chúi vô tôi. Chúng quá nôn nóng. Tôi lăn tròn và thoát dễ dàng. Nhưng tôi đã phơi lưng cho nhiều chiếc khác. Một nhóm bốn chiếc thứ nhì tách ra, ngay phía sau tôi.

Tôi tháo chạy! Gia tăng hết tốc lực để thoát ra khỏi tầm súng đối phương. Tôi hành động kịp lúc. Bốn chiếc đầu tiên, sau khi chúi xuống vồ hụt tôi, đang vượt lên để tiếp tục vồ nữa. Tôi nhấn chân phải lên bàn đạp bẻ lái, đảo chiếc Zéro sang trái. Kế đó là cần điều khiển, gạt sang bên trái, lăn tròn nhiều vòng. Những tia đạn loé sáng dưới cánh phải, tiếp liền theo một chiếc Hellcat bay vụt qua. Tôi giải toả cú lộn nhào bằng cách xoáy một vòng thật ngặt. Một chiếc Hellcat khác ở ngay phía sau tôi 700 thước, mọi họng súng đều rực lửa. Một điều tôi chưa biết trước đó, bây giờ tôi đã biết. Những tên phi công địch còn tệ hơn mấy tên học trò thiếu kinh nghiệm của tôi… và điều này có thể là yếu tố cứu mạng sống của tôi.

Chiếc Hellcat cứ tiến sát mãi, vừa bay vừa rải đạn như mưa, nhưng cách phi cơ tôi quá xa. Tôi xoay hướng một lần nữa và chạy thục mạng. Chiếc Hellcat áp sát nhanh chóng. Khi chiếc phi cơ còn cách phía sau tôi 300 thước, tôi lăn về phía trái. Chiếc Hellcat vượt ngang phía dưới tôi, vẫn khai hoả trong không khí. Tôi đã mất phong độ. Tại sao lại chạy dài trước một tên phi công vụng về như vậy. Không suy nghĩ, tôi lăn trở lại và ở sau đuôi hắn. Từ khoảng cách 50 thước, tôi rót vội một viên đại bác. Phí đạn. Ngay lúc ấy một chiếc Hellcat khác đã đến sau đuôi tôi và khai hoả. Một lần nữa, tôi lăn về phía trái, cách này thì tôi không bao giờ thất bại. Chiếc Hellcat vượt qua, tiếp liền đó là hai chiếc khác. Một nhóm bốn chiếc nữa hầu như ở ngay trên đầu tôi sẵn sàng nhào xuống. Thỉnh thoảng, cũng nên tấn công để tự vệ chớ! Tôi vượt thẳng đứng lên, ngay phía dưới bốn chiếc Hellcat. Mấy tên phi công lắc cánh qua lại cố tìm tôi. Tôi không có thì giờ để phá rầy họ. Ba chiếc Hellcat khác đâm thẳng vô tôi từ bên phải. Tôi né tránh những làn đạn thổi tới, bằng cách lăn về phải và chỉ thoát trong đường tơ kẽ tóc. Mười lăm chiếc Hellcat lập vòng vây trở lại. Bất kỳ âm mưu thoát thân nào của tôi cũng đều đưa lưng cho nhiều chiếc Hellcat cắt ngang từ nhiều hướng khác nhau. Tôi xoay vòng chính giữa, suy nghĩ tìm lối thoát. Ðối phương không cho phép tôi suy nghĩ. Các chiếc Hellcat tách ra khỏi vòng vây, hết chiếc này đến chiếc khác, vừa lướt đến tôi vừa khai hoả.

Tôi không nhớ đã bị tấn công mấy lần mà cũng không nhớ mình đã lăn tròn bao nhiêu vòng. Mồ hôi đẫm ướt thân tôi, thấm ướt cả áo lót. Mồ hôi cũng đọng thành hột trên trán tôi và bắt đầu lăn dài xuống mặt. Tôi chửi thề khi mắt trái tôi xót như muối xát. Tôi không có đến một giây để đưa tay lên dụi. Tôi mệt lả, không biết làm sao thoát khỏi vòng vây. Nhưng rõ ràng mấy tên phi công này không tốt hơn phi cơ của chúng. Một tiếng nói vang lên trong đầu tôi, lặp đi lặp lại… tốc lực… tăng gia tốc… cứ lăn tròn… lăn tròn không ngừng nghỉ. Cánh tay phải tôi bắt đầu tê cứng khi giữ cho chiếc phi cơ lăn liên hồi về phía trái để tránh đạn địch. Nếu tôi gượng lại, không lăn nữa, mạng tôi đi đời tức khắc. Nhưng tôi có thể lăn như thế này bao lâu?

Tôi phải lăn tròn! Bao lâu mà mấy chiếc Hellcat còn giữ nguyên vòng vây, chúng chỉ có thể nhảy xổ vô tôi từng chiếc một. Né tránh đạn của chỉ một chiếc thì tôi không sợ. Tầm gần, nhưng ít ra nó phải nhắm trúng tôi cái đã. Những viên đạn được bắn ra từ khoảng cách một trăm thước tôi có thể né tránh dễ dàng.

Tôi chỉ cần giữ khoảng cách với mấy phi cơ địch, lúc ấy đang lần lượt từng chiếc một tách khỏi vòng vây, vừa chúi xuống vừa khai hoả vô tôi. Tôi lăn tròn. Gia tăng hết tốc lực. Gạt cần điều khiển qua trái. Lăn tròn liên tục. Mặt biển và chân trời xoay tít. Những tia đạn loé sáng, bùng nổ. Luôn luôn dưới cánh tôi. Gia tăng tốc lực. Lăn qua trái. Lăn nữa. Cánh tay tôi tê rần không còn chút cảm giác. Nếu có một viên phi công Hellcat nào chọn một hướng tấn công khác hoặc tập trung đường nhắm cẩn thận trên mục tiêu, chắc chắn tôi không còn trên đời. Bọn họ chỉ cần giữ nguyên lối tấn công cũ, rượt theo vòng lăn của tôi, tôi cũng lãnh đủ. Bọn phi công kỳ lạ. Ngoại trừ một vài viên phi công đại tài, hầu như 99% phi công địch giữ nguyên công thức mà họ đã được dạy trong trường. Ðược dạy như thế nào họ làm theo như thế đó, không bao giờ suy xét để thích ứng với tình thế cấp thời khi chiến đấu, nơi mà giữa sống và chết chỉ cách nhau một kẽ tóc.

Do đó, cuộc thử thách này là cuộc thử thách chịu đựng giữa cánh tay của tôi với bình xăng của chiếc Hellcat. Những phi cơ này vẫn còn phải bay về các hàng không mẫu hạm.

Tôi liếc nhìn đồng hồ đo tốc độ. Gần 350 dặm một giờ. Là tốc độ mà một chiếc Zéro có thể đạt được dễ dàng. Nhưng chiếc Zéro cũng có giới hạn của nó. Tôi ngại đôi cánh đang oằn xuống dưới các vòng lăn tròn tránh né liên tục và dữ dội, chúng có thể gãy rời ra khỏi phi cơ. Nhưng việc này nằm ngoài tầm tay đối phó của tôi. Tôi chỉ có thể tiếp tục bay. Tôi bắt buộc phải lăn tròn để tránh né hoặc chết. Lăn tròn. Lăn tròn. Tôi không nghe thấy gì hết. Tiếng động cơ của chiếc Zéro, tiếng gầm thét của mười lăm chiếc Hellcat, tiếng rít của đạn đại liên 50, tất cả đều biến mất. Mắt trái tôi đau nhức. Mồ hôi đổ như tắm. Mặt mũi tôi đầm đìa. Tôi không thể đưa tay lên lau. “Bỏ hết”. Gạt cần điều khiển. Ðạp bàn đạp lái. Né đạn địch.

Ðồng hồ cao độ thấp tận cùng. Ðại dương ở ngay phía dưới lườn máy bay. Hiện thời tôi không thể nào xuống thấp hơn nữa. Các chiếc Hellcat cũng không thể chúi xuống vì phía dưới là mặt biển. Nhưng chúng sẽ tìm ra cách khác. Tôi chỉ có một vài giây. Tôi nắm chặt cần lái với tay trái, gạt thật mạnh về phải. Ðau nhức cùng khắp. Ðau nhức đến tê liệt. Tôi đảo ngược về trái. Phi cơ bật như chong chóng, cùng lúc là những vệt đạn rót xuống. Những tia nước bắn lên từ mặt biển, trải ra và sủi bọt. Bao giờ đối thủ bỏ cuộc? Các chiếc Hellcat phải hết xăng chớ! Nhưng tôi không thể nào lăn tròn một cách hiệu quả mãi. Hai tay tôi dần dần tê dại. Tôi đang mất cảm giác. Phân nửa số phi cơ địch tạo thành một chuỗi chướng ngại vật trên đầu tôi, trong khi những chiếc khác lao đến, tập trung hoả lực vào tôi. Loại Hellcat quá nhanh. Trong vòng vài giây, phi cơ của tôi đã nằm trong tầm súng. Tôi lăn ngay sang phải, chiếc Zéro rung dữ dội bỏ lại những tia nước sủi bọt phun cao trên mặt biển do đạn địch tạo ra. Ðối phương không chịu bỏ cuộc. Bây giờ các chiếc Hellcat đang chúi xuống chặn đầu tôi trong khi những chiếc còn lại khai hoả. Không có lối thoát. Nếu tôi cứ tiếp tục bay thấp thì cái chết chỉ còn là phút giây. Tại sao lại chờ chết trong sự trốn chạy hèn nhát?

Tôi kéo cần điều khiển ngược về ngực, hai tay hầu như sát vô bụng. Chiếc Zéro giật nẩy đầu lên, phía trước tôi là một chiếc Hellcat, chỉ cách 100 thước với tên phi công kinh hoảng bên trong. Chiếc Hellcat đảo thật mau né tránh. Tôi ấn cò súng. Chiếc Hellcat lăn tròn, nhấc lên và bay mất. Những chiếc Hellcat khác rối loạn. Tôi vượt lên và chạy nữa. Mấy tên phi công ngu ngốc rượt theo và khai hoả từ khoảng cách 500 thước. Phí đạn vô ích, phí đạn vô ích, tôi thét lên. Nhưng, bọn này nhanh quá đỗi! Những tia đạn loé sáng bên cánh tôi, và tôi lại lăn tròn một cách tuyệt vọng.

Xuống thấp nữa, Iwo Jima thình lình xuất hiện ở phía dưới. Tôi lắc cánh, hy vọng các xạ thủ cao xạ dưới mặt đất nhìn thấy dấu hiệu mặt trời đỏ trên cánh phi cơ. Ðó là một sai lầm! Hành động này khiến tôi chậm lại, và những chiếc Hellcat đã ở ngay phía trên tôi. Súng phòng không đâu? Bắn đi, lũ ngu, bắn đi!

Iwo nổi lửa. Những vạch đạn chớp loé khắp hòn đảo. Mọi loại súng đều khai hoả. Tiếng nổ làm rung chuyển chiếc Zéro. Những bựng khói do đạn cao xạ tạo ra xuất hiện trên không, giữa các chiếc Hellcat. Ðối phương quay phắt thật mau để thoát khỏi tầm súng.

Tôi vẫn duy trì tốc độ tối đa. Tôi đang sợ hãi. Tôi cứ nhìn về phía sau sợ đối phương quay lại, sợ những tia đạn từ dưới đất rót vô phòng lái, xuyên thủng thân phi cơ, ghim vô thân tôi. Tôi lướt ngang qua Iwo Jima, ấn mạnh ga, thúc giục chiếc Zéro bay mau hơn. Mau hơn, mau hơn! Phía Nam Iwo xuất hiện… một đám mây! Một tảng mây dày đặc chồng chất nhiều lớp vĩ đại, bay là đà trên mặt nước. Tôi bất cần lưu ý đến luồng vận chuyển không khí. Tôi chỉ muốn thoát thân. Với hết tốc lực, tôi chui vô đám mây.

Làm như có một bàn tay khổng lồ tóm lấy chiếc Zéro và đu đưa nó qua lại một cách dữ dội. Tôi không thấy gì khác hơn là những màu tím thẫm chợt loé chợt tắt. Tôi đã mất kiểm soát. Chiếc Zéro chúi nhủi, rung lắc và như bị giựt lại, liên tục. Rồi tôi ra khỏi tảng mây, cơn bão bên trong mây quăng chiếc Zéro ra ngoài khiến nó lảo đảo dữ dội. Tôi ngã sấp về phía trước. Sau đó, tôi lấy lại cao độ khoảng 16,000 bộ. Xa về phía Nam, tôi nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng 15 chiếc Hellcat. Chúng đang bay về hàng không mẫu hạm. Khó thể tin rằng hiểm nguy đã vượt qua, và tôi vẫn còn sống sót. Tôi muốn rời khỏi không trung lập tức. Tôi muốn được đứng trên mặt đất rắn phía dưới.

Tôi đáp xuống phi đạo chánh của Iwo. Tôi ngồi trong phòng lái vài phút, sức cùng lực kiệt, sau đó leo xuống một cách mệt nhọc. Tất cả các chiến đấu cơ khác đã đáp xuống từ lâu. Một đám phi công và thợ máy chạy ùa ra phi cơ của tôi, la lên vui mừng. Nakajima cũng có mặt. Ông ôm choàng lấy tôi, la lớn với nỗi hân hoan. “Chỉ có anh mới làm nổi việc đó, Sakai! Một chống mười lăm… anh quả thật phi thường!” Tôi chỉ có thể tựa vô phi cơ và miệng càu nhàu nguyền rủa con mắt đui mù của mình. Mạng sống của tôi suýt đi đời vì nó.

Một cơ khí viên chạy, chào và nói: “Phi cơ của Chuẩn uý… Nó… Nó không… Không thể tin nổi… Nó không có một lỗ đạn nào cả!”

Tôi cũng không thể tin nổi. Tôi xem xét lại chiếc phi cơ từ đầu đến cuối. Cơ khí viên nói đúng. Không có một viên đạn nào trúng phi cơ của tôi.

Sau đó, về doanh trại tôi được biết nhóm Zéro đầu tiên, bay phía trên các đám mây, đã đánh nhau với đối phương dễ dàng hơn nhóm chúng tôi. Nhóm Zéro này có được ưu thế từ trên cao bổ xuống, khiến các phi công Hoa Kỳ trở tay không kịp. Trung sĩ Kinsuke Muto, ngôi sao sáng của Không đoàn Yokosuka, đã hạ một lúc bốn chiếc Hellcat. Các phi công khác cũng ghi điểm chiến thắng. Nhưng đổi lại, gần 40 chiếc Zéro, hầu như phân nửa tổng số chiến đấu cơ của chúng tôi bị bắn rơi.

Sài Gòn-Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 6 Sep 2026

Đứa cháu con chú em ruột tôi, không được đi định cư diện HO theo bố mẹ vì “tội” có vợ con, phải ở lại Sài Gòn. Khi tôi từ cái gọi là “trại cải tạo” ra năm 1987, chúng tôi sống cùng nhau, 3 thế hệ lúc nhúc trong ngôi nhà giữa chợ Bàn Cờ. Căn nhà của bà chị tôi, vốn chỉ để bán hàng lặt vặt trong chợ. Chật chội, nóng nực như cái tổ chuột. Một năm sau tôi mới có điều kiện thuê một căn phòng ở gần chợ An Đông, nơi tôi đã hoàn thành truyện dài “Ngã Tư Hoàng Hôn”, truyện dài đầu tiên sau 13 năm treo bút vì tù đầy. Gia đình thằng cháu vẫn “chui rúc” trong chợ Bàn Cờ.

Tôi không có ý tả lại đời sống của riêng tôi khoảng thời gian đó. Người tôi muốn nói đến trong bài này là đứa cháu. Cần nói rõ thêm là gia đình chú em tôi cũng thuộc thành phần “sĩ quan ngụy” và cũng chính vì cái “lý lịch đen” này nên cháu tôi không được vào đại học, trong khi nó là một học sinh xuất sắc. Ông thày của nó bất bình, nhưng đó là “chủ trương chung của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” nên ông cũng đành chịu. Ông tìm cho nó một ngành học khác để… kiếm cơm. Rất may những năm 87-88, ngành vi tính còn quá mới mẻ đối với Sài Gòn. Computer còn hiếm hơn cả xe hơi. Ông thày hướng dẫn cháu theo học ngành này.

Sau khi học vi tính căn bản ở Đại Học Sư Phạm, tôi cũng học mót được của cháu khá nhiều những “chiêu độc” của dân vi tính.

Vài năm sau, hai bác cháu tôi đều có thể hành nghề vi tính kiếm sống. Nhưng mỗi người một thứ chuyên môn khác nhau. Tôi chuyên đánh vi tính thuê và làm lay-out cho mấy nhà in, nhà quảng cáo, nhà xuất bản hoặc bất kỳ ai cần tới. Còn đứa cháu “cao tay ấn” hơn, nó lập trình cho các ông chủ doanh nghiệp và trở thành chuyên viên của vài công ty.

Chúng tôi phải cật lực làm việc suốt ngày, đôi khi suốt đêm, chỉ với mục đích “trả nợ áo cơm”. Tôi cũng như gia đình cháu tôi phải tự lực đứng dậy. Lúc đó khó ai có thể lo cho ai được. Bẵng đi một thời gian, cháu tôi vào làm cho một hãng vi tính lớn rồi liên hệ với giới chuyên tổ chức hội chợ từ Singapore, Thái Lan, nhận việc “thầu” những việc của các hãng nước ngoài tổ chức hội chợ ở Việt Nam, nhất là các hội chợ liên quan đến điện tử.

Một thời gian sau, chẳng biết từ lúc nào, cháu tôi leo lên chức Phó Giám Đốc một hãng buôn bán máy in, độc quyền cho một hãng lớn. Cuộc sống ngày một khá hơn. Lúc đó chẳng cần tới cái lý lịch đen hay trắng. Vì ông chủ của nó là một Việt kiều, là doanh nghiệp tư nhân.

Khi tôi mua được căn nhà vườn ở Lộc Ninh, một lần anh rể của nó từ Mỹ về Việt Nam lên thăm tôi ở cái xó rừng già heo hút. Hai đứa mang theo hai cái máy hình. Thằng cháu khoe với tôi: “Anh Lập cho cháu cái máy này”. Tôi chẳng để ý nó là thứ máy gì, chỉ biết đó là cái máy khá tốt của dân “nửa chuyên nghiệp, nửa tài tử”.

Thằng cháu tôi ra vườn hí hoáy chụp linh tinh cũng như bao nhiêu bạn của tôi lên thăm vườn, chụp chơi cho vui vậy thôi. Tôi cứ nghĩ thế.

Văn Quang và người con thứ hai, Trường Sơn – Lộc Ninh 12-2006.

Nhưng chỉ lạ là nó không chụp hoa, chụp cảnh. Bao nhiêu dò hoa lan của tôi đi kiếm mờ con mắt, nó không thèm để ý. Kể cả các cây cảnh như hai chậu hoa chiếu thủy đang đơm bông trắng xóa, cây măng cụt lâu đời vừa nhú các chùm quả mơn mởn trên cành, hai cây lựu la đà trước thềm với các bông hoa rực lửa… và các khung cảnh rất riêng như cây khế, cây sung, ao cá, đàn gà, đàn ngỗng nhao nhác trong vườn ngoài sân, nó chỉ chụp qua loa “chiếu lệ”. Nó đi từ góc vườn này sang cuối gian nhà kho cũ mèm, ngắm nghía, chăm chút chụp hình lia lịa. Quả thật lúc đó tôi không hiểu nó tính làm gì với các tấm ảnh “tủn mủn” đó. Tôi tặc lưỡi nghĩ thầm “lịch sự mỗi người một mùi”, ý thích mỗi người một kiểu, chẳng ai giống ai cả. Thế thôi.

Chừng một tháng sau, gặp tôi ở Sài Gòn, cháu tôi mang tặng tôi một cuốn lịch năm 2007 với 12 bức ảnh nó chụp quanh khu nhà tôi ở cái “xó rừng già.”

Tôi hơi ngạc nhiên vì “tác phẩm có vẻ kỳ cục này” của nó. Đúng là cuốn lịch đặc biệt vì… “không giống ai”, không “đụng hàng”. Nhưng nhìn kỹ, nó có một nét rất lạ. Một bông hoa dại tim tím nằm cô đơn trong bóng cây măng cụt, một mảnh gốm vỡ từ cái chậu nào đó ở bên bờ mương, một cửa sổ nhà kho cũ mèm, chẳng ai buồn để mắt tới… Tôi chỉ linh cảm thấy rất lờ mờ rằng các sự vật đó có một tâm hồn, không hẳn là “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo. Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương” mà là một cái gì nhỏ lắm, sâu lắm, le lói như vệt nắng không chịu tắt, cứ sáng mãi trong ký ức.

Tôi mang về nhà treo làm kỷ niệm, nhưng cậu con trai thứ hai của tôi về Việt Nam chơi lại “tước mất” của bố, bởi nó cũng là nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp trên đất Mỹ, sống rất nghệ sĩ và chưa chịu lấy vợ, dù đã hơn 40 tuổi. Vẫn thích tự do, đi từ nước này sang nước khác chỉ để chụp hình cho nghệ sĩ. Có lẽ hai anh em nó hợp nhau ở điểm này.

Hai tâm hồn, một được giáo dục từ nước ngoài gần 40 năm và một ở Việt Nam, thuần túy là tâm hồn Việt. Hai cậu tha hồ bàn bạc về nhiếp ảnh, có vẻ tâm đầu ý hợp.

Đùng một cái, cách đây ba tháng, tôi đọc trên báo thấy loan tin “Nguyễn Quang Anh triển lãm ảnh tại Hà Nội” với một bài nhận định kèm vài tấm ảnh nghệ thuật. Lúc đó tôi mới biết cháu tôi trở thành “nhà nhiếp ảnh”.

Trong khi tôi đang “vui thú điền viên” lại nhận được điện thoại của cháu báo tin sẽ triển lãm tại Idecap (Trung Tâm Văn Hóa Pháp) đường Thái Văn Lung, Sài Gòn từ 11-12 đến 18-12-2007. Tất nhiên tôi phải “bò về” có mặt trong buổi triển lãm đó. Tôi mời một số bạn bè cùng đi. Đào Hoa Nữ, Hàm Anh, Quỳnh Mai, Thái Phương, Lữ Quốc Văn, Mai Anh, Nguyễn Quốc Thái… để có thể nhận được những lời phê phán khách quan hơn.

Khai mạc triển lãm giản dị, thân mật, không long trọng như các cuộc triển lãm của những nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp. Tất cả đều mang tính “tài tử”. Có cả một số quan khách nước ngoài đến dự trong một khán phòng không rộng lắm, vừa đủ treo vài chục bức tranh.

Nhưng ngoài gian phòng, trên các lối đi khu vườn hoa cũng được viền bởi những bức ảnh dưới ánh đèn vừa đủ sáng.

Không sắp xếp thành chủ đề, tự những con người và sự vật nói lên chủ đề của mỗi bức ảnh. Tôi thật sự ngạc nhiên với các bức ảnh rất “đời thường” đó, những thứ cứ tưởng là vứt đi vẫn mang một sức sống, trầm lặng, vững vàng đến trở thành muôn thuở, như tình yêu của mỗi con người, như quyền được sống và được yêu, dù có ai yêu lại hay không là điều không cần thiết.

Và dường như tất cả đều là hình ảnh quê hương Việt Nam, chỉ có ở những góc Việt Nam mới có được các hình ảnh rất riêng đó. Người đầu tiên đưa ra nhận xét là Nguyễn

Quốc Thái. Anh nói: “Đem đi triển lãm ở nước ngoài, chắc chắn sẽ gợi được lòng thương nhớ quê hương của người Việt mình ở khắp nơi. Được nhìn lại những cái tưởng như đã chìm hẳn trong quá khứ, được sống lại với từng góc nhỏ của quê nhà. Một bờ giếng cũ kỹ với chiếc gầu nhựa nằm đợi nước, một cái chum vỡ, một bà lão trên con đường làng vắng ngơ vắng ngác, một cái lò gạch ngổn ngang, một bó rơm trên chiếc xe bò… Quê hương ta ở đấy và phải là quê hương Việt Nam!”

Còn rất nhiều phê phán khác nữa của các nhà nhiếp ảnh lâu năm trong nghề và của các nhà văn nhà báo. Tôi không dám nói nhiều, sợ rằng “con hát mẹ khen hay”.

Tôi chỉ muốn nói cuộc đời thật kỳ lạ, có những ngã rẽ chẳng bao giờ ta ngờ tới. Tài năng đến một lúc nào đó tự nó vươn dậy và sự trưởng thành trong nghệ thuật không dành riêng cho một ai. Nó là của chúng ta, của mọi người. Anh Lữ Quốc Văn vừa gửi tôi bài nhận định về cuộc triển lãm này.

Xin giới thiệu cùng bạn bài viết “Xem ảnh Nguyễn Quang Anh” của Lữ Quốc Văn:

“Mới nhìn lướt qua những bức ảnh của Nguyễn Quang Anh trong phòng triển lãm tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp Sài Gòn, tôi đã ngạc nhiên.

Không chỉ đa dạng theo chủ đề: “Cảm xúc cuộc sống – Les émotions du quotidian” mà tôi cảm nhận được những xúc động sâu lắng toát ra từ mỗi bức ảnh. Nét đẹp của ảnh không ở những màu sắc bâng khuâng mà ẩn chứa những trầm tư của một người suy tưởng. Nét đẹp không ở những hình thể gợi cảm từ cuộc sống hay những màu sắc bừng sáng của thiên nhiên. Trái lại nó bàng bạc những u hoài.

Cùng đến dự khai mạc triển lãm có chị Đào Hoa Nữ. Chị là một nữ nhiếp ảnh ngôi sao của thành phố. Chị nói: “Tranh ảnh nào cũng khơi nguồn từ cảm xúc anh ạ”.

Xác đáng! Nếu không có một rung động bàng hoàng, một cảm giác ngất ngây… làm sao có một sáng tạo nghệ thuật? Nhưng cảm xúc là khởi đầu. Có thể là một phút giây sáng lòa, nhưng kẻ tài hoa với ánh nhìn thấu ba cõi của một “phù thủy” sẽ tạo nên một xúc động miên viễn.

Trước Quang Anh đã có một Võ An Ninh cao tay nghề. Nhiều ảnh chụp của ông từ hơn nửa thế kỷ trước vẫn khiến người sau ngơ ngẩn như “Hồ Gươm Buổi Sương Mù” chụp năm 1935, đẹp như bức tranh thủy mặc với hơi thu lãng đãng của một chút cảnh tiên. Cảm xúc được tạo thành hình đó chỉ là một xúc động vì cái đẹp. Nó khiến người coi trầm cảm theo những suy nghĩ sâu xa.

Ảnh của Nguyễn Quang Anh vượt khỏi những những xúc cảm bình thường. Ông không diễn hình một cảm xúc chợt đến. Tìm cái đẹp thuần túy theo nghĩa thông thường của một giai nhân hay một bông hoa, trong tác phẩm của Quang Anh là thất bại. Ông không quan tâm đến điều đó. Bởi từ cảm xúc rất bình dị, tưởng đã “được” hay “bị” người đời lãng quên, ông trầm tư suy tưởng về sự sống và cái lặng thinh của sự vật quanh mình.

Rất giản dị. Những bức ảnh được treo lên đều không ghi tên từng tác phẩm — trừ tờ giới thiệu có ghi tên một số ảnh, còn tất cả nguyên sơ như bản thể. Hẳn ông dành quyền gọi tên cho cảm quan, suy nghĩ của mỗi người.

Còn điều lạ, ảnh của Quang Anh đều vắng bóng con người với nụ cười rực rỡ hay e ấp của một cô gái hoặc một Suối Tóc,

tấm ảnh tạo danh tiếng cho Phạm Văn Mùi, đều không có mặt trước ống kính của Quang Anh.

Tại sao?

Quang Anh không giải thích. Nhưng trong lời phát biểu lúc khai mạc, ông nói tới nỗi cô đơn của ông trong cuộc sống; nỗi niềm cô tịch trước những cảnh đời, trước những sự vật đột ngột xuất hiện. Tôi nghĩ, khi nói tới nỗi niềm của mình, Quang Anh không làm dáng.

Ông đi trong hai năm, từ miền Bắc xuôi vào Nam. Lúc đầu ông tưởng chỉ ở miền Bắc mới có gợi nhớ về những kỷ niệm tâm tình xưa. Nhưng mỗi bước đi, ông chợt ngộ ra rằng khoảnh khắc nào trong cuộc sống từng ngày cũng vẫn bày ra những cảm xúc miên man…

Bức ảnh chụp một góc đa lớn xù xì… nhưng chỉ với một gốc đa mà những ai sống ở quê xưa sẽ dâng trào cảm động. Đó là một quá khứ không còn, một quê xưa đã tàn lụi theo thời gian.

Nơi khiến những tâm hồn u hoài càng trở nên lạc lõng, cô đơn hơn khi trở về làng xóm ngày xưa chợt cảm thấy mình còn bơ vơ, cô độc hơn lúc ở xa.

Chắc chắn ảnh của Quang Anh khiến chúng ta phải suy nghĩ về tác giả, về một con người tài hoa kín đáo. Không phải mẫu người mà Bạch Cư Dị đã mỉa mai:

“Thương nhân trọng lợi khinh ly biệt”.

Bởi chính ông là một điển hình cho con người doanh nghiệp nghệ sĩ mà nét tài hoa phơi phới đã lấn lướt tính cân đo đong đếm của một doanh nhân.

Tôi tin chắc dáng trầm tư của ông hiện trên từng bức ảnh. Ở một bức đen trắng không xẫm màu là ảnh một bà già mệt mỏi ngã mình trên cây gậy. Hai chân trần lê từng bước ở một ngả đường vắng lặng, trong một xóm cổ xưa.

Gợi ngay cho ta một ý tưởng đau xót, mỉa mai với ba thứ: Bần – Lão – Bệnh của một đời người.

Chính miền cô đơn của Quang Anh là chỗ ông cảm nhận được những cảnh đời cô tịch. Hay bức ảnh có ghi tên Cõi Yên Tĩnh trong tờ giới thiệu ảnh trưng bày, chụp chùa Bồ Đề Bắc Giang tương tự như tấm ảnh chùa Keo với mấy tầng tháp cao vút của Võ An Ninh, nhưng cái hồn và nét im sững như tượng đá thì khác hẳn.

Ảnh của Quang Anh chỉ chơ vơ cái bàn với một góc đầy những kinh sách, đứng bên là một cái mõ cùng một cái chuông nằm chỏng chơ. Lờ mờ qua tấm màn là một bức hình pho tượng nhỏ, đấy là một cõi yên tĩnh hư vô hiểu theo nghĩa thông thường ư? Thôi hãy dành cho mỗi người xem ảnh. Một tấm ảnh khác là một cành đại khẳng khiu, một ấu đồng ba chân có vài cành lá. Chỉ thế thôi… mà biết bao nỗi bâng khuâng.

Những tác phẩm rất đời thường với những sự vật tưởng như bị lãng quên bỗng thức giấc trong tâm tưởng người thưởng ngoạn trong tâm thức mỗi người. Xin chào mừng Quang Anh. Một tài hoa vừa sáng lên rực rỡ trong làng nhiếp ảnh mà tác phẩm trầm tư như một hiền triết”.

(Sài Gòn 25-12-2007)

Chữ và Nghĩa!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Sep 2026

Bà con mình, già già cỡ tui, hồi xưa chắc đều biết các danh hài của sân khấu miền Nam mình như: hề râu Thanh Việt, hề nhựa Thanh Hoài, hề Tùng Lâm, hề Phi Thoàn,  hề Xuân Phát. Mấy danh hài nầy có cách diễn, cách giễu rất duyên và rất riêng. Không ai lẫn vào ai; không y chang, giống đồ hộp sản xuất hàng loạt danh hài như trong nước sau nầy.

Riêng hề Xuân Phát còn là soạn giả cải lương nữa đó. Ðâu hồi ngàn chín trăm sáu mươi mấy gì đó Xuân Phát viết tuồng ‘Tình Chú Thoòng’, diễn trên sân khấu Dạ Lý Hương của bầu Xuân. Hùng Cường, vai chú Thoòng, xuống vọng cổ, phát âm lơ lớ, hịt Ba Tàu. “Ai có răng vàng pể bạc pể đồng hồ hư pán hông?”. Dễ tính như chú Ba… “Hà cái lầy xính xái, nó chọc mình mê gái Việt Nam, chổng khu làm bao nhiêu đưa cho em ăn hết (mà hổng làm vậy thì cách chi để đỉa đeo chân hạc cho được chớ?) Xuân Phát cười mình ‘dại gái’ là viết đúng, chớ hổng có sai thì hà cái lầy cự cãi làm gì!

Tuồng ăn khách quá xá, quà xa. Xu hào rủng rỉnh nên soạn giả Xuân Phát hăng hái soạn thêm tuồng ‘Tình Anh Bảy Chà’ cũng na ná, chỉ chuyển từ chú Ba qua anh Bảy mà thôi. Nhưng lần nầy bị tổ trác (chắc ông quên cúng Tổ!) Anh Bảy Chà do kép Thành Ðược đóng (chắc ngầm đua với kép Hùng Cường); cũng ca vọng cổ, giọng lơ lớ hịt ‘Cà ri Chà’. Nhưng hội Ấn Kiều lại hổng chịu cách Xuân Phát chọc quê như vậy, làm mất mặt bầu cua cả đám Chà Và. Hăm đi thưa Xuân Phát ra ba tòa quan lớn. Rét quá! Xuân Phát đành viết thư dà lỗi tại tôi muôn phần!

Melbourne, thủ phủ đa văn hóa của tiểu bang Victoria, Úc Châu, có hà rầm Ấn Ðộ. Có đứa đội ‘turban’, để râu rìa, nói: “Tui là Sikh chớ không phải Ấn Ðộ.” Vậy Sikh ở đâu?  Nó nói ở gần Ấn Ðộ (He he!). Rồi Ấn Ðộ Bombay; nhưng cữ chữ ‘bom bay’ nầy rồi, (ghê quá mà) bèn đổi thành Mumbai. (Ối cái nào cũng ‘bay’ hết mà bày đặt đổi tới đổi lui chi cho nó mệt? Huỡn quá hè!)Sikh không ăn thịt, chỉ ăn rau. Ấn Ðộ, đạo Bà La Môn (Hindu), không ăn thịt bò. Ấn Ðộ, đạo Hồi, không ăn thịt heo. Người đạo Hồi trước khi giết trừu mần thịt luôn làm nghi thức; giống như bà con miền Tây mình trước khi cắt cổ gà, nấu cháo, xé phai, cũng lâm râm khấn vái cho ‘con gà’ kiếp sau nó đầu thai… thành ‘con vịt’.

Cái thịt đó gọi là ‘halah meat’. Không phải ‘halah meat’ nhứt định không mua. Nên có Chú Ba từ đại lục gom được một mớ kha khá, chạy trốn Hoàng đế Tập Cận Bình qua định cư vùng Coburg, phía Bắc thủ phủ Melbourne. Nơi đây nhiều dân Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Li Băng (Lebanon), toàn theo đạo Hồi, nên không ăn thịt heo; thịt mà chú Ba rất ‘hẩu xực’, coi là ‘quốc nhục’ (nhục là thịt chớ hổng phải nhục nhã đâu nhe bà con). Chú Ba nầy bèn mở cái tiệm bán thịt heo. Nhưng ế nhệ hè. Nhìn qua bên đường, thấy một tay Thổ Nhĩ Kỳ bán thịt không kịp hở tay hè. Nhìn lên bảng quảng cáo của nó chú Ba thấy đề ‘Halah Meat’.Sáng hôm sau, chú Ba khệ nệ khiêng cái bảng quảng cáo ‘Halah Pork’ đặt chình ình trước cửa tiệm mình để cạnh tranh câu khách. Ðúng là ngu như heo!

Chữ và nghĩa nó quan trọng dường nào trong buôn bán, thương trường mà ngay cả trong chính trường cũng vậy. Mới đây nè tờ ‘Wall Street Journal’ của Mỹ, vô tình hay cố ý chơi chữ, gọi Tổng thống Nga là “Vladimir Trump” (ám chỉ hai ông ‘thần thừ’ nầy là bà con cật ruột, cùng họ với nhau)  Sau đó phải xin đính chính, do lỗi của thằng đánh máy viết lộn họ Putin với họ Trump. Có một chú Sam cũng rất thâm, biểu nhà báo là tên Tổng thống Mỹ nên viết nhầm là “Donald Putin” luôn đi. (Xin phụ đề Việt ngữ! ‘Putin’ cắt thành hai âm ‘Pu’ và ‘tin’; nếu phát âm theo kiểu Mỹ thì ‘pu’ đồng âm với ‘poo’ là tiếng lóng của chữ ‘phân’; còn ‘tin’ nghĩa là cái hộp thiếc. Do đó ‘poo’ ‘tin’ là hộp đựng cái gì thối lắm). Ai mà nói mấy thằng Yankees cạn sợt, không có óc hài hước, hổng biết chọc quê thâm thúy như người Anh là lầm to đó.

Tóm lại, nếu nhờ chữ nghĩa để kiếm sống, tui xin mấy nhà văn mình nên cẩn tắc để vô áy náy. Lạng quạng là bị phang hoài hè! Tác giả nhờ nhà phê bình, mới viết càng lúc càng ít rác. Viết văn, lựa chữ như đãi cát (trong bãi rác đời) để tìm những mảnh vàng nhỏ li ti hầu kết lại thành một đóa bông hồng vàng tươi thắm, dâng hiến cho người đọc.

Ða số những nhà phê bình, cầm cân nẩy mực như một quan tòa chánh trực, công minh. Chẳng bao giờ phê bình tác phẩm mà lại lôi tác giả ra chửi cha, mắng mẹ họ bao giờ. Tui thường tôn kính một anh bạn văn như ngọn Thái sơn sừng sững, bởi kiến thức về miền Lục tỉnh quê mình, ổng chỉ chịu đứng hạng nhì, sau nhà văn Sơn Nam mà thôi. Tuy nhiên chỉ vì chữ ‘Chà Và’ có một tay ăn nói cộc cằn, thô lỗ phạng ảnh thiếu điều lọi tay, hết muốn viết luôn. “Chà Và không phải là Ấn Ðộ; mà là người đến từ Java thuộc Nam Dương. “Viết vậy mà dám nhận vơ là giáo viên!”

Thiệt là lời phê bình cà chớn, cà cháo và cà pháo. Miền Nam mình, xưa, dạy trung học được gọi là ‘giáo sư’ chớ không phải ‘giáo viên’như miền Bắc. Chữ ‘nhận vơ’ người miền Nam hổng có xài; bà con mình dùng chữ ‘nhận ẩu’; ai khoái chơi từ Hán Việt thì xài chữ ‘mạo danh’. “Trước khi chê tui dốt, sao ‘giả’ hổng chịu tra tự điển của Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa: người Chà ở cù lao Java (Nam Dương) đang sinh sống ở Việt Nam, nghĩa rộng chỉ chung người da đen, gốc Ấn Ðộ, Malaysia hay Indonesia tới sống ở Việt Nam!”

Anh nói đúng đó! Ða phần người da ngăm ngăm, đến nước mình sinh sống là Ấn Ðộ.  Quê tui nè, Mỹ Tho nhỏ xíu hè, vậy mà anh chạy qua cầu quay về hướng Gò Công, gần chợ Cũ cũng thấy có cái nghĩa địa Ấn Kiều đó. Rồi còn người Chăm, tức người Chiêm Thành, con cháu của Chế Bồng Nga, sau khi bị Ðại Việt thôn tính, chạy tùm lum, tùm la qua Miên rồi về Châu Giang, Châu Ðốc. Người Việt gọi những người Chăm mất nước đó là ‘Chà Châu Giang’.

Nếu có là buồn buồn chọc ghẹo nhau chơi cho vui; chớ không hề ác ý như: “Chà và, ma ní tí te. Cái bụng thè lè, con mắt ốc bươu” hoặc “Chà và ma ní tí te. Hàm răng trắng nhách, con […] đen thùi”. Những người Chà Và (Ấn, Chàm…) đó sống chan hòa với bà con người Việt từ miền Trung vào; bà con người Minh Hương, phản Thanh phục Minh thất bại, chạy qua; rồi bà con Khmer đã bao đời sống trên vùng Thủy Chân Lạp.

“Thôi bỏ qua đi Tám! Tui phục tài anh lắm. Dùng câu nào ra câu nấy, chữ nghĩa sáng trong!” Nhưng mới đây tui đọc chỉ vài câu (văn hay đâu nệ ngắn dài!) của một tác giả ‘nặc danh’, thấy cách dùng chữ cũng hay quá xá. Tả cơn bão số 9, rớt ở Sài Gòn, ổng tường trình như vầy nè: “Ðường Kha Vạn Cân ngập tới chân. Ðường Huỳnh Thúc Kháng ngập tới háng. Ðường Khương Hữu Dụng ngập tới bụng. Ðường Trần Phú ngập tới vú. Ðường Phạm Văn Hai ngập tới vai. Ðường Nguyễn Thị Minh Khai ngập tới tai (Cha, ‘khai’ dữ nghe vì lỗ tai gần cái lỗ mũi).  Ðường Cao Văn Lầu ngập tới đầu. Ðường Võ Thị Sáu ngập hết ráo…” (Nghĩa là ngập từ chân lên tới đầu). Mà còn hay hơn nữa! Ðường Trần Ðình Xu ngập tới […] và đường Vân Ðồn ngập tới […]

Tác giả không chịu viết ra ba cái ‘chấm chấm’ nầy mà ai cũng hiểu; không có người không hiểu. Thiệt hổng biết ổng muốn ăn gì để tui cúng… He he!

đoàn xuân thu.

melbourne

Chuyện trò cùng Thu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 05/10/2018 

Post by Sơn râu 6 Sep 2026

Tranh minh họa của Đinh Cường

Nhỏ thua anh tới một con giáp, nếu anh là vá là mực là vện thì đích thị Thu là cún là cầy tơ. Và như thế, theo cách luận chuyện của nhà đương cuộc cũng như đương đại Hà Nội, cả anh và Thu đều có cấu trúc tâm thần giống như con người.

Con người mang tên Thu tốt nghiệp đại học, xong cái đầu quân vào làm việc cho tập đoàn CN. Toà nhà cao tầng xám ngoét nọ dựng đặt mẫu tự CN sơn đỏ làm thương hiệu rất bề thế. CN không phải viết tắc từ chữ Con Người, Thu thích anh gọi đùa, rằng Thu là thứ Năm mà luôn bị Chủ Nhật nhốt kín.

Thực ra CN chỉ làm gọn, giản lược, cô lại từ chữ Canadian National Railway. Một thứ tựa như tổng cục đường sắt ở bên nhà. Đi tàu Thống Nhất thì chưa rõ tốn mấy triệu đồng, nhưng ưa nổi máu giang hồ xuyên lãnh thổ Canada, cà khịa cùng Thu thì giá cả rất phải chăng. Thu còn cho hay, nếu tàu khởi hành muộn chỉ năm bảy phút so với giờ giấc dự tính thì bận sau công ty sẽ bồi thường thiệt hại bằng cách giảm bớt 20% tiền vé, nếu quý vị còn ngứa chân ưa phiêu lãng rày đây mai đó.
Mười hai năm cách biệt tuổi tác, muốn lấp đầy cái hố sâu ấy rõ là anh không thích Thu dùng tới chữ chú, cháu khi xưng hô. Vậy thì anh, em? Thứ cầu tre lắc lẻo nhằm bắt qua khoảng cách đôi lứa cũng là chữ anh không mặn lắm, dù anh luôn cổ võ thành ngữ “ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói láo”. Để tránh ngượng mồm, anh dùng ngôi thứ nhất “tôi” và rồi cứ gọi tên “em” là Thu.

Sinh hoạt và sống với, ngay từ bậc Trung học, Thu mãi chung đụng với người bản xứ, nên tiếng Pháp tiếng Anh nhuyễn nhừ như cháo, chả hề vấp váp, nói líu lo tợ “con chim đến từ núi lạ” chẳng đợi phải ngứa cổ, cứ thế mà nước cuốn hoa trôi dưới chân cầu mòn khuyết cả mấy chục năm mộng mị. Có thể vì vậy, Thu thích ôn luyện tiếng mẹ đẻ, vui khi vớ được anh, một đứa có vẻ như suốt đời mãi lang bạt nhàn cư vi bất thiện. Luận theo tử vi, anh là con chó cứ phải chạy rông ngoài đường. Nó hiền khô, không có cấu trúc cũng như biểu hiện là thích nhe nanh gầm gừ, sủa, cắn. Và sau rốt, nhờ trời anh có viết lách linh tinh nên con cún thịt thơm kia lấy làm an lòng khi muốn vẫy đuôi thân cận, làm quen, tâm đắc đôi ta cùng chủng loại, lông lá đàng hoàng chẳng biết tới “sự cố” no hair. Muốn viết đơn trương cho chính phủ, kiểu như xin thêm trợ cấp, cuối năm điền đơn khai thuế hoặc gặp bất kỳ vấn nạn nào, qua trung gian “nhà nước Thu” văn hay chữ tốt, ba mươi giây sau nhận ngay kết quả: Xong, họ hứa sẽ giải quyết. Thu quả quyết, rồi chấm câu: Dễ như ăn ớt!

Ba Mạ Thu đẻ ra Thu ở Huế, người mô người nấy ăn cay vô hậu. Lạ, lý ra tính tình phải theo đó mà đâm nóng nảy, bẳn gắt. Không, ngược lại là đằng khác, anh chưa thấy ai dễ thương như Thu, đằm thắm rất mực, dịu dàng vô đối. Anh có cảm tình với o nớ thêm điểm khác khi nghe o nói, gần như than thở: Tại sao cứ mỗi khi nói tới Huế là phải chưng ảnh thiếu nữ mặc áo dài tím, đội nón lá và đứng tạo dáng trên cầu Trường Tiền? Cũ rích và sáo mòn, nhàm chán và không nói rõ một điều gì cả, thú thật nào có gì là đẹp mắt? Bravo, anh khen thầm về sự nhận xét ấy. Để rồi “ăn mặn nói ngay”: Hình ảnh đó xấu thua tô bún bò của “Mạ” nấu thứ bảy vừa rồi. Mặt đỏ ké, mồ hôi tuôn thành dòng, hít hà khi ham hố lùa húp. Cho gộp thêm cả sông Hương núi Ngự vào thiếu nữ đội nón bài thơ áo dài tím phụ kiện linh tinh lục tặc tới mức nào đi chăng nữa cũng thua xa lơ xa lắc mùi sả mùi ruốc màn nước đỏ au nằm trong đọi bún chết người.

Anh được mời tới nhà Thu, chỉ một lần, đó là ngày Thu tổ chức buổi ăn mừng đoàn tụ khi ngon lành bảo lãnh êm thắm Ba Mạ, giã từ xứ Huế khốn khó mưa lụt triền miên vừa đặt chân ướt chân ráo sang tới chốn phồn hoa đô hội căng phồng không khí tự do no cơm ấm áo. Kỳ dư, có hẹn hò, Thu chẳng thích mượn gia cư làm nơi trò chuyện, thấy nó làm sao ấy, bức bối, không được tự nhiên, màn đó chiếu đó chăn đó gối đó, phòng vệ sinh đó, nội y màu mè láng lườm phơi đó, cửa khép cửa mở đó… Những cái đó khiến hơi bị phân tâm. Thu nhắn: Gặp nhau ở Chủ Nhật. Anh vẫn thích nuông chìu, dễ bảo, không giống cấu trúc của loài Bulldog mặt chằm dằm ngó mất thiện cảm. Ô-kê, anh nói, tôi dựa lưng vô chữ CN (Chờ Người) đợi Thu. Gặp anh, đôi khi giúp Thu tạm quên đi những áp lực do công việc mang lại. Thu cho biết và anh luôn đến hẹn lại lên. Buổi trưa Thu có một giờ nghỉ để ăn trưa, Thu chẳng dại gì ngồi ở caféteria nếu anh dẫn xác tới, Thu sẽ khao anh một bữa cơm ngoài khuôn viên tảng bê-tông xám xịt kia. Phố phường nằm lân cận có biết cơ man nào là hàng quán để tha hồ chọn lựa một chỗ đặt đít tạm xem là… tình tứ.

Thường thì Thu thích đón nghe từ anh những chuyện kể dính líu gần xa tới lãnh vực văn học. Thu cho biết nếu anh thích, Thu sẽ giúp anh việc dàn trang, đánh số, trình bày lay out cũng như cho anh “vay chút chút” tài trợ để in sách. Thu không ngại góp công sức, tiêm thuốc giục cho anh vượt cạn đẻ con. Anh cảm động, đến độ anh đã chẳng dằn lòng, với tay qua mặt bàn để nắm lấy, rờ rịt hai bàn tay đầy ngón suông của Thu, trắng muốt. Anh nói: Thế nào tôi cũng cố nghe lời, Thu đặt đâu tôi ngồi đấy, nhưng hãy đợi đến năm Tuất mới có ý nghĩa. Ba tuất Mạ tuất thì quý tử cũng nên làm chó con cho được vuông tròn thuận thảo giống nòi, trên bảo dưới phải nghe. Thu cười: Ô-kê, nào khó gì, chỉ sợ không biết chuyện ngày mai nó sẽ kéo phăng mình giạt tới bến bờ nào! Thu có đôi bàn tay ấm nóng, mềm mại và in tuồng nó thu cất chút hấp lực tựa một thỏi nam châm, khó gỡ ra.

Trong câu chuyện đẩy đưa, có khi Thu vui miệng kể tên một vài tác giả viết nên truyện ngắn mà khi đọc phải Thu thấy dửng dưng vì dài dòng và nhạt nhẽo, vô thưởng vô phạt. Để giúp Thu giàu có tư duy trong khi nhận định, anh nói: Trong cuốn “Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta” do cơ sở Sóng xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1974, ban chủ trương có đưa ra câu hỏi cho những văn sĩ góp bài về quan niệm viết truyện ngắn. Thanh Tâm Tuyền trả lời: “Truyện ngắn là truyện không thể nào viết dài”. Thảo Trường phát biểu: “Câu nói hay nhất là câu nói ngắn nhất. Viết truyện ngắn là dùng thứ kích thước nhỏ để dựng một vấn đề có khi… rất lớn”. Võ Phiến thì bảo: “… hồi gần đây tôi thích những truyện ngắn giống như những bài thơ. Dĩ nhiên, thứ thơ bằng tản văn và có ít nhiều chi tiết”. Anh ngó Thu: Tôi chỉ mượn lời của ba người kiệt xuất này vì tôi tán đồng những gì họ chia sẻ. Ngay cả thơ cũng vậy, tôi yêu những bài ngắn, cô đọng… Như bài gì? Anh đọc đi. Ừ, như bài “Trở Về” mới đăng của nhà thơ Huỳnh Minh Lệ:

“con ma đói trở về
con bé năm xưa đã trở thành thiếu nữ
người vợ quỵ xuống nơi bậu cửa
anh ơi!”

Trời ơi! Thu la lên tiếng nhỏ. Trời ơi, anh hiểu đó là biểu tỏ trong nhất thời thế cho ngợi ca chẳng nói nên lời. Khác với anh ơi nằm cuối bài thơ là lời ta thán đớn đau, chất chứa trong câm nín, chịu đựng qua bao năm tháng giờ mới được trút ra, ở phút đoàn viên. Theo anh, bài thơ hoàn chỉnh tới độ không thể thêm, bớt một từ nào cả. Một bức tranh pha nhiều màu tối, sử dụng ít đường nét, giản lược nhưng là một bố cục quá sức hoàn chỉnh. Thu ngồi chống cằm như kiểu đợi dư âm bài thơ rút khỏi tâm trí, lát sau Thu ham hố được nghe anh đọc một bài khác. Bộ nhớ của anh rất tệ, nhưng nhờ bài thơ ngắn, chữ dùng đầy ấn tượng nên khó quên. Và anh đọc bài “Tính Nhẩm” của Hoàng Nhuận Cầm cho Thu nghe, người kém anh một giáp nhưng xem ra gu thẩm mỹ, độ cảm nhận của cô ấy chẳng mấy khác anh:

“21 tuổi hồn nhiên như vậy đó
3 bài thơ nhân với 7 hẹn hò
khi rượu cạn, hoa tàn, tim tắt nến
thỏi son hồng ra ngõ đứng co ro”.

Khoảng lặng. Không trời ơi, chẳng anh ơi. Chừng hai phút sau Thu nhìn vào mắt anh: Dễ thương quá! Phải sinh nhật của cô gái tròn 21 tuổi? Tôi không biết, tuỳ vào góc độ mà người đọc nhìn vào, tự suy diễn. Anh cũng rõ là tuỳ đối tượng, người như Thu chắc không mấy mặn mà với thơ Nguyễn Đức Sơn, thế nên anh chẳng sẵn dịp để quá tam ba bận, dù bài thơ trào lộng, tuyệt vời. Anh cố nhớ từng mặt chữ, đọc thầm bài mang tên “Nguyễn An Ninh”:

“yêu nước
như ông
mà không
cộng sản
quái đản
thấy bà
phiền hà
thấy mẹ
chết lẹ
là phải”.

Những bữa ăn trưa ngoài phố qua đi rất mau. Một tuần “ngó lơ lơ mà siêng” (le chien), hai đứa cọng lại thành bốn chân chỉ họp sức chạy rong hai lần. Thu luôn bận rộn và tuy thích văn chương Thu chỉ mới “học ăn học nói học gói học mở”. Nguyên văn chữ Thu dùng. Riêng thơ ngoại quốc thì lại khác, có lúc không hiểu do đâu Thu đọc cho anh nghe lời của Delmore Schwartz: All poet’s wives have rotten lives,
Their husbands look at them like knives.

Tất cả những vì phu nhân của những đấng thi sĩ thì đều có những cuộc đời tàn mạt.
Chồng họ nhìn họ như những con dao.

Anh biết hai câu này, hai câu mà Susan De Sola dùng tới, để mở đầu cho bài thơ của bà (nhà văn Nguyễn Quốc Trụ từng dịch sang tiếng Việt).

The wives of the poets,
they never complain.
They know they are married
to drama and pain.

Những bà vợ của các đấng thi sĩ,
họ chẳng bao giờ cằn nhằn.
Họ biết
họ kết hôn với
bi kịch và đớn đau.

Ô hay, vậy thì không riêng gì ở nước mình có người đàn bà chịu làm vợ ông Tú Xương, mà những xứ sở khác cũng hằng hà vô số, thảy cam chịu sự tàn mạt khi “chồng em là thi sĩ”. Giờ mới ngộ ra bản tin “ham làm thơ đến nỗi bị vợ bỏ” là cả một sự thật. Đất nước mình ngộ lắm phải không Thu?

Thu hỏi: Anh thích làm nhà thơ không? Tôi có thích cũng không được, phải có căn cơ và biết thủ phận chứ. Sao tự dưng Thu hỏi tới bi kịch và đớn đau? Thu cười, tuy chẳng có răng khểnh, không luôn má lúm đồng tiền, nhưng điền thế một bóng đèn thắp bên nụ cười: Cũng đúng, anh đang viết văn mờ, đừng tham lam vừa ăn lê đòi luôn cả lựu. Anh rụt cổ: Chắc là khi còn ngồi ghế nhà trường, giờ luận văn thế nào Thu cũng nghe qua tên cổ thụ William Faulkner. Tôi có đọc cuốn Tiểu Luận của nhà văn Võ Phiến, dịch lại câu trả lời của ông William Faulkner khi được hỏi khung cảnh nào là thích hợp nhất đối với một nghệ sĩ: “Được làm chủ một nhà chứa gái điếm. Sẽ tự do mọi thứ, về kinh tế khỏi lo đói lo rét, kiếm tiền dễ dàng. Ban đêm vui nhộn ồn ào, nghệ sĩ lo gì sầu muộn? Buổi sáng thì xung quanh im lặng, tha hồ sáng tác, khỏi bị quấy rầy. Việc tính chia tiền trong nhà đã có vợ lo. Xung quanh mình toàn là phụ nữ kính trọng mình, thưa mình bằng Ông. Thế mà không thích nhất à?” .

Eo ôi? Hơi bị lạ! Anh có đơm mộng ước tựa thế không? Dĩ nhiên, nếu có điều kiện, hoàn cảnh cho phép. Tha hồ vừa ăn lê vừa nhai lựu vừa thắp đèn vừa ngắm trăng, chẳng phụ bạc một ai. Vợ không càm ràm lại còn lo cho việc tính toán tiền bạc, thật là có nằm mộng cũng không tưởng được. Nhưng điều mấu chốt Thu nên nắm bắt, rằng họ là nghệ sĩ thứ thiệt. Nghệ sĩ là chức danh mà tôi nào với tới được, nếu có chỉ là hàng nhái. Anh muốn đề cập tới nền tảng luân thường đạo lý của người mình? Thứ rào cản chuyên làm khó các ông văn nghệ sĩ? Anh câm lặng, việc giản đơn, gần trong tầm tay và xem chừng thiết thực nhất, cần thanh toán nhất là thử hôn Thu một miếng mà cứ lần khân, vụng dại bó tay, thầm thà thậm thụt thì mong chi việc “đại sự” khó nuốt khác. Anh muốn chứng minh rằng anh phải lòng Thu, và đằng khác anh lại sợ vấy bẩn vào sự tin cậy mà Thu mãi trao về anh. Nghệ sĩ kiểu gì kỳ khôi vậy tía?

Thu xin cơ sở CN (Chán Ngắt) nghỉ việc hai tuần, Thu không thích cãi lại cha mẹ trăm đường Thu hư, nên phải lo thu xếp mọi thứ lặt vặt đặng dắt ba mạ đi thăm chú thím cậu mợ đang định cư lai rai trên từng cây số từ miền đông sang tuốt miền tây. Thu hỏi anh có thích đi chung không, dùng xe lửa để ngoạn cảnh luôn, mùa Thu chốn này cảnh sắc đẹp mơ màng suốt bề rộng lãnh thổ. Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với con thơ thằng văn thì biết đời nào khôn? Anh cúi đầu trầm ngâm: Giá mà chỉ hai đứa, thôi thì Thu nên rộng cẳng mà dắt ba mạ đi dã ngoại, có mặt tôi thêm phân tâm, thêm lu bu, nâng khăn người này sửa túi người khác, chém người này xức thuốc người kia.

Sớm 14 Thu đi, chiều 13 Thu nhắn anh đến nhà rinh về nồi bún bò Thu gia công củi lửa ninh hầm nêm nếm: Để anh tập ăn cay trong mươi ngày nửa tháng, để nhìn khói bốc che bớt cái giò heo mà tưởng nhớ đến Thu đang xa cách. Có mạ đứng bên hông chỉ bày từng ly từng tý thì không đến nỗi thất bại. Hy vọng thiếu Thu, anh sẽ viết được một cái truyện ngắn thành công. Thu dặn anh không được ra sân ga bịn rịn tiến đưa, may mà Thu không hát “chưa bao giờ buồn thế’. Thu xuống giọng: Thỉnh thoảng anh tạt ngang dòm chừng giúp Thu dù biết khu vực này tuyệt không có phường trộm cắp. Mở hộp thư rồi cất giữ giùm Thu những gì nằm cuộn mình bên trong, hứa là khi về sẽ có quà trả công anh.

Thu nắm tay anh lay lay như kiểu có nói cũng không nên lời cùng lúc với đám lá vàng rơi rụng xuống đầy sân. Thu ôm anh vào lòng, thủ thỉ: Ở nhà bình yên. Anh cất tiếng: Hai bác đi chơi vui vẻ, cũng là cách vận động an hưởng khuây khoả tuổi già. Cảm ơn cậu, trở trời răng lại ăn mặc phong phanh kiểu nớ! Hai đấng phụ huynh này không thích đọc sách, họ ghiền xem dvd phim nhiều tập của Hàn quốc thôi, càng éo le càng bi thương càng oan trái nhiều chừng nào tốt chừng đó, chảy nước mắt cũng là phương thức vật lý trị liệu nhằm đo lường về nhịp đập của tim, nhưng hãy để ý tới vấn nạn cao huyết áp dễ sinh nhồi máu cơ tim. Anh nhớ buổi đầu, khi trông mặt anh, mạ của Thu la lên: Ủa, răng ngó giống y như cái thằng Kim Jong gì đó chuyên đi hãm hại phụ nữ trong phim “Lạc Lối Ở Bình Nhưỡng” rứa? Anh cúi mặt xuống và đã hứa thầm, e mình phải nên thức khuya xem bộ phim ấy để ngồi tủi thân khóc suốt năm canh trường.

Thu lái xe đi. Ngoài ba mạ, Thu như chở theo một bộ phận không nhỏ của mùa thu, như bóp còi gọi đông về, buốt giá từ đâu dâng lên ràng rụa. Ông nhà văn sừng sỏ William Faulkner không cho biết, là nhỡ như vợ vắng nhà trong hai tuần thì ông sẽ làm gì với bầy ma nữ chập chờn như bướm lượn? Ông có tài cán chi để dọn lòng tĩnh tâm ngồi im re mà sáng tác? Anh đọc thầm hai câu thơ của Phạm Công Thiện:

“trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông”.

Hồ Đình Nghiêm

Mme Trần Lệ Xuân-Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 6 Sep 2026

Không ai nghe nói gì về bà Nhu kể từ mùa hè năm 1986 – mùa hè mà song thân bà, Trần Văn Chương và Thân Thị Nam Trân, bị sát hại.

Cha mẹ bà Nhu từng rất nổi tiếng trong giới ngoại giao, thậm chí có một giai đoạn ngắn họ nổi tiếng vì công khai từ chối đứa con gái Rồng Cái vào năm 1963. Ở Việt Nam, vợ chồng ông Chương thuộc dòng dõi quyền quí: Ông Chương là đại địa chủ và là luật sư Việt Nam đầu tiên có bằng tiến sĩ luật của Pháp; bà Nam Trân, là công chúa, con của Kiên Thái Vương (em vua Tự Đức). Họ sống một cuộc đời vương giả ở Việt Nam trước chiến tranh, với hai chục người hầu hạ từ đầu đến chân. Bà Chương bám chặt vào cảm giác vương quyền ngay cả khi giữ vai trò vợ của một nhà ngoại giao ở Washington, D.C. Khi tiếp khách, bà yêu cầu mọi người không được mặc y phục màu vàng, màu hoàng gia, ngoại trừ bà.

Vợ chồng ông Chương sống ở Washington khi ông được bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam Cộng hòa vào năm 1957. Hai người trở về Việt Nam qua những chuyến đi thăm ngắn ngủi vào những năm 1960, nhưng không bao giờ về nữa sau chiến thắng của những người Cộng sản năm 1975. Vợ chồng ông Chương về hưu đã lâu; ông tám mươi tám và bà bảy mươi sáu. Cặp vợ chồng già đang sống nhàn những ngày cuối đời trong khu ngoại ô vắng lặng của Washington, D.C, thì bị đứa con trai độc nhất giết chết tại nhà. Vụ sát hại đem câu chuyện gia đình bi thảm và kỳ quái của họ ra ánh sáng.

Bà Nhu không đến dự đám tang. Vào lúc đó, bản thân bà cũng đang già đi. Bà là người đàn bà ẩn dật sáu mốt tuổi đang sống trong một biệt thự xập xệ ở ngoại ô Rome với các con. Nghe đồn rằng bà Nhu đã vét sạch ngân khố Việt Nam Cộng hòa trước khi rời tổ quốc lần cuối, nhưng không còn nhiều dấu hiệu xa hoa bề ngoài nữa. Bà bán dần mòn của cải. Vài cây ô liu mọc um tùm và mấy con cừu đang nhai cỏ là tất cả những gì tách ngôi biệt thự mang cái tên ấn tượng Serene Light (Ánh sáng Thanh bình) khỏi nội ô Rome lộn xộn. Những vật quí giá duy nhất của bà là những thứ bà xoay xở cất giữ khi rời Sài Gòn một mình, nữ trang và đồ lông thú bà đang mặc và những thứ bà nhét trong va li. Những thứ đó cũng sớm ra đi. Năm 1971, bà Nhu là nạn nhân của một vụ trộm nữ trang: bọn trộm đã cuỗm đi vàng, ngọc bích, và đá quí trị giá 32.000 đô Mỹ 1 . Bà Nhu có lẽ đã không đủ tiền để đi Washington, D.C, để thấy cha mẹ bà được chôn cất – chỉ ít là bà không đủ tiền để đi theo cách mà bà cho là thích hợp.

Khi bà Nhu đến Mỹ lần cuối cùng vào tháng Mười năm 1963, cha mẹ bà đã bỏ bà đứng trên thềm nhà họ ở Washington rồi đóng sầm cửa trước mặt bà. Cha bà gọi bà là kẻ “cuồng điên quyền lực” và nói “không muốn thấy mặt” bà nữa. Mẹ bà xúi mấy người Mỹ ném trứng và cà chua vào người bà.

Cãi lại là phá vỡ một giá trị Khổng giáo thiêng liêng nhất: lòng hiếu thảo. Con cái luôn phải tôn kính cha mẹ. Bà Nhu chỉ dám nói bóng gió rằng cha mẹ bà chắc là “bị say” rồi. Đó là một trong những luận điểm ưa thích của bà Nhu – bà dùng nó để chống lại cha mẹ bà, báo chí quốc tế, và thậm chí Tổng thống Mỹ John F. Kennedy. Nhưng ý nghĩa của nó trong tiếng Anh không hoàn toàn chính xác như bà nhắm tới. “Intoxicated” trong tiếng Pháp có nghĩa là bị đầu độc. Bà muốn bóng gió nói rằng những người Cộng sản đã đầu độc dư luận công chúng chống lại bà. Bà đang tìm cách ám chỉ rằng chiến thuật ghê gớm của Cộng sản đang có tác dụng – một chiến thuật nhằm làm cho người Mỹ xa lánh gia đình bà. Nhưng bà Nhu không lan truyền thông điệp đó. Thay vì vậy bà hay léo nhéo, buộc tội những ai bà không thích là đang say. Sau vụ đảo chính 1963 ở Sài Gòn, báo chí tường thuật rằng bà Nhu đã giải hòa với cha. Ông Chương nói về sự giao hảo trở lại: “Trái tim tôi rất gần với trái tim con gái tôi”.

Đối với hàng xóm, ông bà Chương chỉ là cặp vợ chồng già thân thiện, hay mỉm cười với trẻ con, cún con và mặc áo len ngay cả trong mùa hè. Ngôi nhà của họ, ở số 5601 đại lộ Western, là nhà gạch kiểu Georgia hai tầng với nội thất màu trắng. Rào giậu lúc nào cũng được cắt tỉa, lối đi trong vườn được quét tước sạch sẽ. Bác sĩ của ông Chương mô tả ông như một người đàn ông lịch sự vui vẻ, “rất thân thiện”, vợ ông thì có hơi sôi nổi, luôn miệng cười. Không thể hình dung nổi đôi vợ chồng này đã sống qua ba cuộc chiến tranh, trốn thoát cảnh sát mật của thực dân, và đánh lừa được du kích Cộng sản chỉ để rồi thấy đoạn cuối của đời mình vào một đêm tháng Bảy tĩnh lặng trong sự an toàn của ngôi nhà riêng.

Báo cáo của cảnh sát mô tả chi tiết việc phát hiện hai thi thể. Bà Chương nằm trên người chồng. Cánh tay phải của bà vòng quanh ông, như thể bà chết trong lúc ôm hôn ông. Họ mặc pyjama sọc giống nhau, nhưng bộ quần áo của ông thấm đẫm nước tiểu. Môi trên của bà Chương bị dập, và dưới cằm có một vết trầy. Hai điểm đỏ xuất huyết trong mắt, khi máu rỉ ra từ các mạch máu li ti, một dấu hiệu rõ ràng cho thấy bị bóp cổ hoặc bóp mũi – trong trường hợp này có lẽ bằng một cái gối.

Mọi bằng chứng đều chỉ đến Trần Văn Khiêm, con trai duy nhất của ông bà Chương. Khiêm bị bỏ rơi lại Việt Nam năm 1963 và chịu nhiều đau khổ. Cho đến lúc đó Khiêm vẫn là đứa con dòng dõi của một gia đình quyền quí Việt Nam, từng không thiếu một cái gì trên đời. Khi chị của ông là Đệ nhất Phu nhân, ông được nhận một ghế trong Quốc hội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và những sứ mệnh ngoại giao ở nước ngoài. Khiêm chạy theo thời trang tay chơi điển hình, nhưng ông bị hấp dẫn vào những hoạt động chính trị ngầm, nhất là những âm mưu. Khiêm tung tin đồn ông là người đứng đầu lực lượng an ninh mật. Ông nói với nhà báo Úc Denis Warner rằng ông có một danh sách các nhân vật Mỹ sẽ bị giết ở Sài Gòn, bao gồm nhân viên đại sứ quán và quân sự. Chồng bà Nhu không thích ông lắm; ông cho rằng ông Khiêm không chín chắn và ương ngạnh. Nên khi Khiêm đến dinh thự thăm chị, bà Nhu nhất định phải đóng cửa dẫn đến phòng khách hoặc sử dụng phòng ngủ. Ông Nhu và ông Diệm sẽ không biết ông ta ở đó. Thực ra việc anh em họ Ngô thích hay không thích ông Khiêm không thành vấn đề. Ông ta là người của gia đình, và chiếc ô của chế độ đủ rộng để che chở ông. Không ai hãm hại được ông khi anh em họ Ngô vẫn nắm giữ quyền lực. 2

Nhưng sau đó, khi bà Nhu đi lưu vong, ông Khiêm một mình ở Nam Việt Nam. Hội đồng quân nhân mới ở Sài Gòn bắt giam ông. Từ Washington, mẹ ông tìm cách can thiệp. Bà gọi điện cho Roger Hilsman ở Bộ Ngoại giao Mỹ, nài ông làm một điều gì đó để cứu đứa con trai duy nhất của bà. Ông nhớ lại rằng bà Chương rất quẫn trí, nhưng ngay cả trong lúc bị kích động, vẫn vô cảm và thực dụng. Ồng Khiêm “chỉ là một thằng bé ngu ngốc”, bà Chương van vỉ. Ông ta vô hại, chỉ là một kẻ đổ đốn “xuẩn ngốc vì chịu tác động của chị ông” là bà Nhu.

Những lời khẩn nài của bà Chương không được ai đếm xỉa tới. Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge lẽ ra có thể giúp đỡ nhưng ông tỏ ra thờ ơ. Ồng coi ông Khiêm là “kẻ rất đáng chỉ trích” và sẽ không can thiệp vào cái mà ông nói không chút mỉa mai là “sự thực thi công lý” của hội đồng quân nhân. 3 Ông Khiêm bị giam trong một nhà lao cũ của Pháp ở Sài Gòn. Nhớ lại những ngày đó, ông gọi những gì họ làm với ông – làm ông mất ngủ và kiệt sức khiến tâm trí ông rối loạn – là “sự tra tấn khoa học”. 4 Nhưng chí ít ông cũng không bị hành quyết. Hội đồng quân nhân mới không thích những người lưu nhiệm từ chế độ cũ có thể đe dọa quyền lực của họ, nhưng rõ ràng họ không nghĩ ông Khiêm có thể gây ra nhiều đe dọa. Hoặc có thể ông ta sẽ hữu ích hơn cho họ nếu ông ta còn sống, một bằng chứng cho những gì đã xảy ra với những kẻ trung thành với chế độ cũ. Người em chồng của bà Nhu, Ngô Đình Cẩn, cũng không khá hơn. Ồng bị tê liệt vì bệnh tiểu đường do không được điều trị trong thời gian bị giam ở khám Chí Hòa đến mức người ta phải khiêng ông ra tòa án và đặt ông dựa vào bức tường trước khi đội thi hành án xử bắn ông.

Sau đó ông Khiêm bị đưa xuống tàu đày ra Côn Đảo, phải lao động khổ sai cho đến khi thân xác rệu rã và đầu óc mụ mị. Không ai biết những cuộc thương lượng kín nào đã giúp ông ra khỏi Việt Nam để đến Pháp, nhưng lúc bấy giờ, mới bốn chục tuổi ông Khiêm đã có vẻ ngoài của một ông lão. Ông mang bệnh tim và thận. Những tổn hại khác của ông, những tổn hại về thần kinh, không phát hiện được ngay.

Ông Khiêm không tìm được việc làm, mà ông lại có vợ và đứa con trai mười hai tuổi để phải lo toan. Cha mẹ ông nghĩ ra một cuộc xếp đặt có thể cứu vãn danh dự: họ nói vì họ ngày càng già yếu nên cần ông đến ở chung. Bằng cách cho phép ông Khiêm, vợ con ông, đến sống chung với họ ở Washington, cha mẹ ông đã giúp ông cũng nhiều như ông sẽ giúp đỡ họ, trên lý thuyết. Nhưng chuyện đó thực ra không bao giờ xảy ra. Những bữa cơm gia đình biến thành những cuộc cãi cọ, những bất đồng chính kiến về những câu chuyện đã qua lâu tại một chế độ không còn tồn tại nữa.

Ông bà Chương đã lấy hết can đảm để đuổi ông Khiêm ra khỏi nhà khi ông ta phát hiện di chúc của hai người. Ông Khiêm không được thừa kế. Trong lá thư được công chứng viết bằng nét chữ ngay ngắn, sít sao, bà Chương nói rằng con trai bà “cả đời đã hành xử như một đứa con bất hiếu, tồi tệ, thường xuyên gây ra không biết bao nhiêu là phiền phức và đau buồn cho cha mẹ. Lối hành xử như thế không thể nào quên và tha thứ được trong một gia đình Việt Nam truyền thống”.

Với mọi bằng chứng chống lại mình, vụ sát hại ông Chương lẽ ra đã là vụ án dễ, nhưng rồi nó cứ dây dưa. Câu hỏi liệu ông Khiêm có giết cha mẹ ông không – vẫn không rõ ràng. Vấn đề là xác định ông ta có năng lực tâm thần để ra tòa vì hai vụ giết người có chủ định hay không. Nhóm luật sư của ông Khiêm đã phản đối mệnh lệnh của tòa buộc ông dùng thuốc đặc trị tâm thần để có đủ sự tỉnh táo cần thiết, nhưng vì thiếu những tiền lệ pháp lý, phải mất đến bảy năm trời kháng án để vãn hồi một phán quyết như vậy. Hành vi kỳ quái và những trò kịch giữa phòng xử án của Khiêm, việc đổ thừa cho những tác dụng phụ của thuốc, đã làm chậm tiến trình xử án.

Tình trạng tâm thần của ông Khiêm đã chẳng hề tiến triển trong bảy năm được trị liệu như một bệnh nhân pháp lý tại bệnh viện tâm thần St. Elizabeth nằm về phía tây nam Washington, D.C. Thiết chế này giống như sự bắt chước có tính nhạo báng hình ảnh một dưỡng trí viện: hàng ngàn bộ não đã được bảo quản trong formaldehyde, và một lò thiêu tại chỗ đã thắp lên đồn đoán về những gì xảy ra với các nạn nhân bị phẫu thuật thùy não và những hợp chất làm thí nghiệm của CIA như “thuốc nói thật”. Trang thiết bị hỏng hóc và thiếu thốn thuốc men là chuyện thường ngày, và hệ thống sưởi bị tê liệt hàng tuần lễ. 5 Ông Khiêm nằm ở bệnh viện St. Elizabeth mãi đến năm 1993. Tòa án tối cao đã bác đơn kháng cáo của ông vì sự thể rõ mười mươi rằng ông sẽ chẳng bao giờ có đủ năng lực tâm thần để tự bào chữa cho mình. Ông đã bị trục xuất qua Pháp và bặt vô âm tín kể từ đó. 6

Mỗi khi tôi hỏi bà Nhu về người em trai này, tôi đều nhận được sự im lặng. Thường thì bà sẽ nói, “Tất nhiên là cậu ấy vẫn còn sống!” nhưng tôi chẳng bao giờ tìm được chút manh mối nào về ông.

Những năm tháng bị tù đày và tra tẫn đã làm mụ mị đầu óc của ông Khiêm. Ông tin rằng mình đã bị bủa vây trong một âm mưu của những kẻ phục quốc Do Thái chủ nghĩa – ông đã viết như vậy trong một lá thư gởi Tổng thống Ronald Reagan, và đó là trước khi ông cố kêu nài vị Tổng thống Hoa Kỳ ra trước tòa làm chứng cho ông. Cái ý nghĩ tự xoay xở lấy cuộc sống của mình mà không nhận được sự hỗ trợ vật chất nào từ cha mẹ đã cắt phăng những sợi chỉ mỏng manh kết nối ông Khiêm với thực tại. Bất luận những ý nghĩ cuồng dại nào đã lướt qua tâm trí ông khi ông siết ngạt song thân già yếu của mình bằng chiếc gối trong phòng ngủ của họ, bà Nhu cũng đã bày tỏ đôi chút cảm thông. Nếu như bà ở lại miền Nam Việt Nam, ai biết được bà đã phải chịu đựng những gì? Em trai bà tuyệt nhiên không phải là một nhân vật tiếng tăm như bà; thế tất bà hẳn đã phải đối mặt với một số phận bi thảm hơn nhiều.

Bà Nhu đã về phe em trai mình. Bà tiếp tục quả quyết rằng ông Khiêm đã bị vu vạ tội sát nhân và một mực rằng song thân bà chết vì những nguyên nhân tự nhiên. Em trai bà thật sự là nạn nhân. “Những tên mật vụ cò môi” đã cố bịt miệng ông vì ông biết những bí mật khủng khiếp về nước Mỹ. “Họ [đã] quyết định thanh toán ông” bằng cách giá họa cho ông tội sát nhân và nhốt ông vào một nhà thương điên. Tuy không nói ra nhưng họ đây được ám chỉ là chính quyền Hoa Kỳ. Bạn không thể nào trách cứ gì bà Nhu cả – quả tình trong quá khứ chính phủ Hoa Kỳ từng có âm mưu hãm hại bà.

Cũng như ông Khiêm, bà Nhu đã bị loại ra khỏi chúc thư của cha mẹ mình. Mẹ của bà đơn giản tin rằng cô con gái thứ “đã không cần tôi chu cấp cho nữa”. Bà Nhu không hài lòng. Trong khi vụ xét xử ông Khiêm bị sa lầy trong những vụ kháng cáo, bà đã thuê luật sư của ông Khiêm thay mặt bà và người em trai tâm thần bất toại đòi lại phần thừa kế trong di sản của song thân quá cố của họ. Động cơ của bà Nhu thật là ám muội nếu không nói là lá mặt lá trái: nếu tình trạng mất trí như là lý cớ biện hộ của ông Khiêm bị bác bỏ và ông bị kết tội, và nếu họ xoay xở lật ngược được vấn đề thừa kế, bà Nhu sẽ nhận được phần tài sản của mình. Vụ án lúc bấy giờ sẽ bị ném ra ngoài hệ thống tư pháp Hoa Kỳ vì lý do lợi ích xung đột.

Không lâu sau vụ án mạng, bà Nhu đã hoàn toàn im hơi lặng tiếng trước báo giới. “Đây là chuyện riêng của gia đình”, là tuyên bố sau cùng của bà. Đây là một gia đình thực sự đặc biệt: Một con gái mệnh danh Rồng Cái bị lưu đày đến Rome, một con trai sát nhân bị giam giữ trong một nhà thương điên, và người con lớn nhất, Lệ Chi Oggeri, sống một cuộc đời có vẻ bình dị của một giáo sư và nghệ sĩ ở Bắc Carolina, là kẻ độc nhất còn lại để than khóc cho song thân đã khuất. “Họ không đáng phải chịu kết cục này”, Lệ Chi buồn bã nói với các ký giả của Washington Post. “Những cuộc đời đẹp đẽ như vậy lẽ ra đã có một kết thúc có hậu”.

Ông bà Chương được mai táng cách ngôi nhà nơi họ thiệt thân năm dặm. Nghĩa trang Rock Creek là một khu vực ngổn ngang rộng tám mươi sáu mẫu Anh, giữa một vùng điền viên tươi đẹp nằm ở góc tây bắc của thủ đô Washington, D.C. Một con đường nhựa hẹp uốn lượn lên xuống; những tấm bia mộ rải rác trên các ngọn đồi như những cột buồm nhấp nhô giữa một đại dương gợn sóng xanh lục. Chúng khắc một vài cái tên lừng lẫy của quá khứ – dòng họ Roosevelt và dòng họ Adams – và một vài tên tuổi lỗi lạc đương thời, như Tim Russert và Gore Vidal. Phần mộ đôi của ông bà Chương nằm ở khu L, phân nửa đoạn đường đi lên một con dốc nhỏ.

Cặp bia mộ làm bằng đá granite màu hoa hồng, với một hoa sen được chạm giản dị bên dưới mỗi cái tên của họ. Đại sứ Trần Văn Chương. Công chúa Nam Trân Trần Văn Chương. Trải qua hai mươi lăm năm nương dâu bãi bể, cuối cùng họ đã nằm bên nhau trên ngọn đổi này. Mộ của bà Chương không còn hoàn toàn thẳng tắp mà nằm hơi chênh chếch, như thể bà đang nghiêng về phía chồng mình vậy.

Vào buổi sáng mùa xuân tôi đến thăm ông bà Chương, những vạt cỏ um tùm gợn sóng xung quanh những tấm bia và giữa những ngôi mộ, khiến chúng trông có vẻ hơi tiêu điều. Với cô em dâu và đứa cháu gái đang ngủ trên chiếc xe nôi di động làm bạn đồng hành, tôi hình dung rằng chúng tôi là những vị khách đầu tiên mà ông bà Chương có được trong thời gian gẩn đây. Tôi bất chợt nhận ra mình đã tay không đến thăm họ. “Lẽ ra nên mang hoa theo”, tôi lẩm nhẩm trong miệng.

Cô em dâu bước tới. Cô đặt chiếc nôi em bé giữa hai ngôi mộ, quỳ gối xuống, và bắt đầu nhổ đám cỏ dại. Cùng nhau, chúng tôi nhanh chóng dọn quang gọn nơi này. Khi chúng tôi kéo đám cỏ cao chen chúc quanh những tấm bia mộ, mùi hành dại lan tỏa trong không trung. Mùi này sẽ chỉ còn vương lại trên những đầu ngón tay chúng tôi trong một vài giờ, nhưng cảm giác thỏa mãn khi nhìn thấy và dọn quang những ngôi mộ đã lưu lại với tôi. Điều đó tượng trưng cho một nhiệm vụ trước mắt. Để tìm hiểu bất kỳ điều gì về Rồng Cái, tôi sẽ phải sắp đặt những chi tiết cuộc đời bà trong trật tự và đặt gia đình ông Chương vào một bối cảnh lớn lao hơn của lịch sử Việt Nam. Điều quan trọng là kể câu chuyện trước khi nó chịu sự ghẻ lạnh của một nấm mồ bị lãng quên.

Trước khi rời đi, tôi đặt tay lên mỗi tấm bia đá. Hình ảnh những gương mặt hiên từ của ông bà Chương trên tờ báo hiện lên trước mặt tôi. Tôi rất đỗi tiếc thương cho họ; những gì họ đã trải qua thật quá ư khủng khiếp. Những lời của Lệ Chi, con gái cả của họ, vang lên trong tâm trí tôi: “Bạn càng kể lể về những vinh quang của quá khứ, cái kết cục sẽ càng trở nên kinh khủng”. 7

——————————–

1Phần “Những Ghi Chú Về Người”, New York Times, 16 tháng 10, 1971, 37.
2Về lời cảnh cáo ấn tượng của ông Khiêm về danh sách đen, xem “Giác thư của Giám đốc Cục Nghiên cứu tình báo (Hughes) gởi Bộ trưởng Ngoại giao”, 6 tháng 9 năm 1963, Foreign Relations of the United States (FRUS) – Quan Hệ Ngoại Giao Của Hoa Kỳ, 1961-1963, tập 4, Vietnam: August-December 1963 (Washington, D.C: GPO, 1991), 122-123; và Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare – Ác Mộng Việt Nam Của Chúng Ta (New York: Harper and Row, 1965), 227. Tác giả có thông tin về việc anh em họ Ngô không thích Khiêm và những cuộc gặp gỡ bí mật với chị ông ta trong một cuộc phỏng vấn năm 2005 với John Phạm.
3Cuộc gọi điện của bà Chương với Hilsman được kể tỉ mỉ trong Điện tín của Bộ Ngoại giao tới Sài Gòn số 764 (8 tháng 11 năm 1963); Về câu trả lời của Lodge, xem Điện tín của Đại sứ quán từ Sài Gòn số 984, 9 tháng 11, 1963.
4Thư của Trần Văn Khiêm gởi cho Ký giả Úc Denis Warner, ngày 1 tháng 5, 1964.
5Joe Holley, “Tussle over St. Elizabeth’s: Preservationists Set Their Sights on What Could Become Department of Homeland Security Headquarters”, Washington Post, 17 tháng 6 năm 2007, C1.
6Về việc Khiêm bị đày qua Pháp, xem “Man Charged with Killing Parents Deported to France – Người Đàn Ông Mang Tội Giết Cha Mẹ Bị Đày Qua Pháp” của Santiago 0’Donnell, Washington Post, 29 tháng 10 năm 1993, D6; và những ghi chép của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, Khiem, Tran Van, Petitioner V. United States, 92-6587507 U.S. 924; 113 s. Ct. 1293; 122 L. Ed. 2d 684; 1993 U.S. LEXIS 1323; 61 U.S.L.W. 3582, 22 tháng 2, 1993.
7Lệ Chi được dẫn lời trong “A Journey from Glory to Grave; Vietnamese Claris Saga Began in Palace, May End in Court”, của Saundra Saperstein và Elsa Walsh, Washington Post, 19 tháng 10, 1987, Al.

Nữ Đại Tá gốc Việt Ly Fecteau, Tổng Thanh Tra Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến khu vực miền Đông

dongsongcu.wordpress.com

Posted on January 31, 2022 by dongsongcu

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 5 Sep 2026

Đại tá Ly Fecteau, TQLC Hoa Kỳ ( ảnh của mcieast.marines.mil ).

Nữ đại tá Ly Fecteau là phụ nữ gốc Việt đầu tiên mang cấp bậc đại tá thủy quân lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ. Bà được bổ nhiệm làm, tổng thanh tra bộ tư lệnh TQLC khu vực miền Đông (MCIEAST) từ tháng 8 năm 2019. Bà được thăng cấp đại tá vào tháng 6 năm 2015, và là phụ nữ gốc Việt duy nhất mang cấp bậc đại tá trong quân chủng TQLC Hoa Kỳ.

Đại tá Ly Fecteau sinh tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa và lớn lên ở Dover, Delaware, bà tốt nghiệp văn bằng cử nhân khoa học về tài nguyên nhân lực tại đại học Delaware, và gia nhập lực lượng TQLC trừ bị mang cấp thiếu úy vào tháng 12 năm 1988.

Thời gian mang cấp trung úy và đại úy, Ly Fecteau là sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn, sĩ quan phụ tá ban 4 (G-4) kiêm sĩ quan ban 4 tiểu đoàn tiếp liệu thuộc liên đoàn 1 yểm trợ lực lượng. Sau đó bà được thuyên chuyển đến phục vụ tại tiểu đoàn trợ chiến, sư đoàn 3 thủy quân lục chiến tại Okinawa, Nhật Bản. Bà cũng từng là sĩ quan giao tế khu vực Đông Nam Á, thuộc phòng tình báo TQLC, Quantico, VA.

Khi mang cấp bậc thiếu tá*, Ly Fecteau được bổ nhiệm về phòng 3 (G-3) sư đoàn 3 TQLC, kiêm sĩ quan huấn luyện sư đoàn. Bà được thụ huấn tại trường hậu đại học hải quân Hoa Kỳ ( Naval Postgraduate School ), và là chuyên viên phân tích năng lực tại bộ tư lệnh phát triển và chiến đấu TQLC. Sau đó, bà đươc giữ chức vụ chỉ huy phó tiếp liệu tại căn cứ không quân TQLC Yuma, AZ. Trong chiến dịch Iraqi Freedom 05-07, thiếu tá Ly Fecteau khai triển phòng 4 (G-4) tiếp vận cùng lực lượng I viễn chinh TQLC (tương đương cấp quân đoàn) tại Fallujah trong chức vụ chì huy phó của Lực lượng An ninh tiếp vận Cell Iraqi.

Trung tá*, Ly Fecteau và các quân nhân trong đơn vị (Ảnh của Marine Corps Base Camp Blaz).

Thăng cấp trung tá*, Ly Fecteau là sĩ quan kế hoạch chiến lược tại phòng 5 kế hoạch tương lai (J-5), phòng cung cấp tiếp liệu Quốc phòng (DLA), New Cumberland, PA. Sau đó là chỉ huy trưởng, phòng phân phối DLA Guam, Marianas. Trong cuộc hành quân Operation Enduring Freedom 12.2, trung tá Ly Fecteau được lệnh khai triển cùng lực lượng I viễn chinh TQLC với chức vụ sĩ quan tiếp liệu phòng 4 (G-4). Sau khi trở về từ chiến trường Afghanistan, bà được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng phòng 4 tiếp liệu (G-4) của lực lượng I viễn chinh TQLC kiêm sĩ quan tiếp liệu tại căn cứ Pendleton, CA. Sau đó trung tá Ly Fecteau được chọn đề cử thăng cấp đại tá và được bổ nhiệm làm phụ tá tham mưu trưởng, phòng G-4, liên đoàn 1 tiếp vận TQLC.

Chính thức thăng cấp đại tá, đại tá Ly Fecteau được thuyên chuyển về liên đoàn 1 không quân TQLC tại Okinawa, Nhật Bản, và được bổ nhiệm làm phụ tá tham mưu trưởng G-4, kiêm chỉ huy trưởng yểm trợ hàng không (AGSD). Sau đó bà trở lại CONUS giữ chức vụ phụ tá tham mưu trưởng G-3 kiêm tham mưu trưởng bộ chỉ huy Huấn luyện tại Quantico, VA. Trước khi được bổ nhiệm chức vụ hiện nay, đại tá Ly Fecteau từng là phụ tá tham mưu trưởng, G-4, MCIEAST, căn cứ Lejeune, NC.

Bô tư lệnh TQLC khu vực miền Đông (MCIEAST) do Chuẩn tướng General Andrew M. Niebel làm tư lệnh, là một đại đơn vị chiu trách nhiệm yểm trợ và giám sát 7 đơn vị TQLC trong hoạt động vùng Đông duyên hải Hoa Kỳ.

Đại tá Ly Fecteau đã hoàn tất thụ huấn và tu nghiệp tại các trường chỉ huy và tham mưu TQLC (Marine Corps Command and Staff College (Non-resident Program); Trường hậu đại học hải quân (Naval Postgraduate School); Trường tham mưu liên quân (Joint Forces Staff College) và trường cao đẳng không chiến (Air War College).

Đại tá Ly Fecteau là một trong bốn sĩ quan gốc Việt mang cấp đại tá TQLC Hoa Kỳ, trước bà có đại tá* William H. Seely III (nay là thiếu tướng chỉ huy trưởng trường đại học tham mưu liên quân) và 2 đại tá khác được thăng cấp sau bà là đại tá John T. Nguyễn, phụ tá trừ bị, đặc trách hệ thống truyền tin cho tham mưu trưởng, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương và đại tá Jackson T. Đòan, trưởng phòng G-35, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương.

*Ghi theo thời gian mang cấp bậc

Nguồn: mcieast.marines.mil; linkedin.com; en.wikipedia.org; marines.mil; Marine Corps Base Camp Blaz.