Xin Xỏ

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 1 May 2022

Post by Sơn râu 18 Dec 2025

Ông ơi, con rất cô đơn, tối ngày lủi thủi mình ên. Vậy thì con muốn quà gì, nói ta nghe. Một món quà đặc biệt. Con muốn có một đứa em, điều ấy mang tới sự khó khăn cho ông không? Dễ thôi con ạ, hãy chóng gửi má con lên đây.Ông già Nô-en ở tận Bắc cực, chuyện tếu. Hoang đường, nhưng tới 85 phần trăm trẻ em trên thế giới hằng tin, giữa cuộc đời lắm tai ương này vẫn thực sự hiện hữu một ông già hiền từ sẵn lòng vượt ngàn dặm đường trong đêm lạnh để mang quà đến cho chúng, đúng hạn kỳ. Và lòng thơ ngây như trang vở trắng của chúng chẳng hề dợn lên một hoài nghi: Tại sao là ông mà không là bà? Một cô gái, một thiếu phụ, một madame, một lão bà. Coi bộ đàn ông lao động năng nổ hơn đàn bà, coi bộ đàn ông xem trọng chữ tín hơn, coi bộ đàn ông dễ cậy nhờ hơn, coi bộ đàn ông rộng lượng hơn…
Tôi từng nhập vai một “ông già Nô-en” bất hạnh, ở Huế. Sau khi chở H ra về từ nhà thờ Phú Cam, chúng tôi chui vào “một hang đá”. Nói hang đá vì thực chất nó có đủ những thứ trở ngại đầy thiếu thốn tiện nghi. Tôi đã tường đường đi lối về và tôi biết cách mở được cánh cửa mong manh ấy. Ban ngày, đó là một lớp học với sĩ số là 48 “em” học sinh, nằm xa nhà ông cai và gần kề nhà vệ sinh. Đêm xuống, nhất là đêm Chúa sinh ra đời, cái phòng ốc ngập ngụa bóng tối này dâng đầy hàn khí, ràn rụa lập cập run. Run vì lạnh, chuyện lẽ thường, nhất là áo xống ngự hàn tử tế ngần ấy lại hối hả cởi bỏ khỏi thân. Thân anh lạnh cho tình mình ấm. Ai đó đã ngôn thế. Lạnh vì thiếu ăn thiếu mặc thì nên ca cẩm chứ lạnh cho một thăng hoa tình yêu dâng hiến thì anh nên tuyên dương, vấn đề là đừng dại miệng bảo “lạnh đến teo bu-gi”. Bảng đen, bàn ghế vô tri làm nhân chứng cho đôi trẻ không tài nào đánh thắng được sự cám dỗ. Chúng yêu hối hả và cái bàn giáo sư hằng ngày đường bệ oai nghiêm là thế bỗng phải lên tiếng kêu ca vì bị xê dịch cót két. Trò mà làm gãy một chân thì tui sẽ đi mét thầy cho coi. Trò cả gan làm mưa làm gió trên cái mặt phẳng sạch như lau như ly thầy cô dùng để mở rộng cuốn sổ điểm với lại đạo đức kinh, công dân giáo dục, vạn vật, lý hoá, hình học đại số, Pháp văn Rơ tem Anh văn Ai lâu du.

Thân thể H là một cuốn tự điển nhốt đủ mọi thứ, kể cả địa lý. Núi non khe rạch sông ngòi cao nguyên đất bằng trung du mà tôi đang “dã ngoại” mí lị “tham quan” đi “thực tế”. Trong căn phòng cửa khoá, trên chăn ấm nệm êm nó mang cho bạn thứ cảm giác khác. Trong lớp học lạnh tanh rất dễ gặp ma và bàn ghế cứng cáp bị hứng chịu sự đổi dời một cách vô tội vạ lại gây cho bạn thứ cảm giác khác. Nhưng tựu trung cách đi vào người nhau chỉ có duy một lối, anh hùng hổ ra trận tiền tả xung hữu đột như vào chốn không người, loáng một cái anh buông đao cởi giáp xin quy hàng, đổ thân trên lưng ngựa quay đầu về doanh trại mà chẳng nghe chiên trống rậm rật vang rân. Tiếc nuối với thuật ngữ sức người có hạn, năm bảy phút phù du trên sân cỏ người ta có thể ghi được bàn thắng, còn anh?

H hẹn tôi ở quán cà phê nằm sâu trong nội thành. Trời mưa, mọi vật ướt át. Ướt ngọn lá chuối sau vườn, ướt cụm tường vi trước cổng, ướt lọn tóc bện bên tai H, và lân la suýt xâm thực vào bao thuốc lá tôi thu giữ trước ngực mình. Ngoại trừ bao Bastos xanh nặng như thuốc Gaulois của Pháp, mọi thứ đều bị úng thuỷ. H cho biết cô bị trễ, đã qua tuần thứ hai, may mà… Tôi nuốt ngụm khói đắng, tôi thêm muỗng đường vào tách cà phê đen chờ đợi cái may mà ngần ngại chưa đi hết đường. H có người bà con làm y tá bên bệnh viện trung ương. Đó là niềm may mắn. Bà ấy sẽ đưa cho H một vĩ thuốc uống, nếu không “lay chuyển” thì buộc lòng phải trục nó ra, càng sớm càng tốt. Kết thúc buổi hẹn hò cà phê cà pháo, H cho biết cô cần khoảng mười ngàn để dẹp yên mọi bề, không bị bêu rếu xì xầm bình loạn. Mọi thứ vận hành như cũ, con gái nhà lành thì trước sau nó vẫn vậy, im re, kín cổng cao tường đẹp người đẹp nết công dung ngôn hạnh.

Tôi nói tôi từng làm ông già Nô-en bất hạnh là vì vậy. Gửi má con lên đây, ông đã trao quà mà má con chẳng chịu mang về. Nào phải lỗi tại ông, hử?

Bất hạnh ở chỗ là tôi đã bán đi chiếc xe Honda 49 phân khối, về nhà dối mẹ qua cầu gió bay? Tôi trao tiền cho H không nghi ngại, không đắn đo, không dấy đục ý tưởng mình có bị đối tượng lừa? Phải tới khi bị “phỏng dái” giải phóng năm 75 tôi mới biết được sự thật là H lỡ mang thai với một thằng đàn ông khác và cô không ngại đẩy tôi sang sông, xem phận tôi chỉ là con chốt thí. Cô hạ thủ bất hoàn và trong cái rủi còn có cái may. Tôi bị mất mã, nhưng tướng sĩ tượng chưa hề hấn, chỉ lao đao cho cuộc chơi dại khờ sớm tàn cuộc. Dây dưa với đối thủ cỡ H thì nên xoá ván cờ, phủi tay đứng lên quay mặt.

Tuy quay mặt, tai tôi vẫn đón nghe tin, cô lấy một tay cán bộ lớn tuổi, có hai đứa con theo quy định nếp sống văn minh của người Xã hội chủ nghĩa và hiện tại cô làm chủ một quán chuyên hát Karaoke về đêm. Tôi cố xoá vết thương thuở đầu đời, nhưng hằng năm, khi nghe chuông giáo đường đổ vào đêm “an lành” lòng tôi vẫn ngó lui vết rạn cũ năm nào cùng H ở nhà thờ Dòng Chúa cứu thế.

Giờ này nếu được hoá trang làm một ông già Nô-en bụng mỡ đẫy đà với tiếng cười làm rung rinh nhân dạng. Nếu nhận phải lời cầu xin thành khẩn của một đứa bé mong có được đứa em, ông già bất tài vô tướng là tôi sẽ ngồi bó tay chẳng cục cựa. Rứa chơ ba mi đi mô rồi? Răng mạ mi không quở mắng cái thằng chồng chây lười lao động kia? Người chi mà nhác có troi. Cơm dâng tận miệng mà bày đặc ỏng ẹo đòi ăn phở cơ. Đồ mẹ rượt!
Uổng công bà trang điểm nâng cấp tự sướng!

Không đủ tư cách cải trang thành ông già mặc tuyền sắc đỏ mà bọn trẻ con rất yêu quý, đã đành. Tôi chỉ đủ sức để nhập vai một đứa vô gia cư đi vào giáo đường nghe cha rao giảng kinh sách: Của cải, tiền bạc, ngọc ngà châu báu, những thứ ấy chính là kẻ thù của chúng ta. Đứa vô gia cư khố rách áo ôm sẽ chép miệng: Sao suốt cả cuộc đời mình chưa bao giờ được đối mặt với kẻ thù vậy cà!

Lạy Chúa, có khi con người rất ưa lu bu với kẻ thù. Con sẽ đi mua vé số 6/49, nếu trúng số con sẽ gửi về cho H một vài kẻ thù để cô cải thiện cuộc sống. H đã từng xin xỏ, đêm nào trong lớp học: Hãy yêu H đi, hãy cho H một giọt máu, hãy gieo hạt vào cánh đồng này một hình nhân.

Phá bỏ, huỷ diệt một hình nhân. Liệu Chúa có thứ tha không? Nghe nói Huế mùa này trở rét đột ngột, ở xa tôi không biết giúp H ấm thân. Xin tha lỗi. Xin phép lành đến cho một người đã từng lầm lạc, đã vừa biết ăn năn.

Hồ Đình Nghiêm

Hòn Đất

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

July 12th, 2025

Post by Sơn râu 18 Dec 2025

Kiên Giang – tỉnh cực Tây Nam của Việt Nam Cộng Hoà, nổi tiếng với biển trời mênh mông, rừng tràm ngập mặn, đồng ruộng bát ngát kéo dài tới tận chân trời. Nhưng chính tại vùng đất ấy, giữa khung cảnh nên thơ, lại từng là một trong những chiến trường khốc liệt bậc nhất trong cuộc chiến tranh ý thức hệ. Nơi đây, những mật khu cộng sản như Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc, Moso, và rừng U Minh Thượng từng là sào huyệt của Việt Cộng suốt một thời gian dài.

Trong đó, Hòn Đất– một vùng rừng núi nằm giữa đồng bằng – là nơi được Hà Nội tô vẽ thành huyền thoại, không chỉ qua chiến tranh mà còn qua văn chương tuyên truyền. Tiểu thuyết “Hòn Đất” của nhà văn cộng sản Anh Đức ra đời từ 1964, đã dựng nên hình ảnh một nữ du kích tên chị Sứ, được xây dựng như biểu tượng anh hùng cách mạng. Tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa miền Bắc, được dựng thành phim, và được phổ biến như một thứ kinh thánh của chủ nghĩa tuyên truyền xã hội chủ nghĩa.

Nhưng dưới mắt người lính VNCH từng chinh chiến tại đây, Hòn Đất không phải là huyền thoại, mà là một ổ kháng cự ngoan cố, nằm sâu trong rừng, được bảo vệ bởi địa đạo kiên cố và địa thế hiểm trở – nơi súng nổ, máu đổ, và người lính Quốc Gia đã ngã xuống để giữ đất quê hương.

Trận Hòn Đất 1969 – Máu của người lính Quốc Gia

Năm 1969, trong chiến dịch bình định toàn khu vực Rạch Giá – Hà Tiên, lực lượng VNCH mở cuộc hành quân đánh vào khu căn cứ Hòn Đất. Đây là trận đánh nổi bật vì tính chất khốc liệt và kéo dài suốt nhiều ngày, với hàng trăm lính VNCH đổ bộ, truy quét địch trong rừng rậm và hệ thống địa đạo phức tạp.

Một trong những người lính đã ngã xuống trong trận đánh ấy chính là chồng của nhà thơ Trần Mộng Tú, người sau này sống lưu vong tại Mỹ và ghi lại ký ức đau thương đó trong bút ký “Bình Thuỷ 69”. Trong trang viết đẫm nước mắt, bà không chỉ kể lại sự hy sinh của người chồng thân yêu mà còn tái hiện không khí chết chóc, khói lửa của chiến trường miền Tây thời ấy. “Anh nằm xuống khi chưa tròn ba mươi tuổi” bà viết. Câu chữ nhẹ nhàng mà rớm máu, như lời vĩnh biệt gửi về Hòn Đất – nơi người chồng vĩnh viễn nằm lại.

Hòn Đất

Mật khu Hòn Đất – Từ tuyên truyền đến hiện thực

Nếu “chị Sứ” là sản phẩm của trí tưởng tượng tuyên truyền, thì những người lính VNCH phải đối mặt với thực tại: địa đạo ăn sâu vào núi đá, bẫy mìn giăng khắp nơi, và du kích nắm rõ địa hình hơn cả bàn tay chúng. Hòn Đất trở thành biểu tượng không phải vì chiến công, mà vì sự dai dẳng ngoan cố của một sào huyệt cộng sản được hậu thuẫn từ ngoài Bắc và tiếp tế qua đường biển.

Cộng sản Bắc Việt đã khôn ngoan khi dựng nên những hình tượng như “chị Sứ”, như một cách đắp mộ bằng lời nói cho hàng loạt chỉ huy du kích đã bị tiêu diệt trong các trận đánh thật. Nhưng những người lính VNCH – không có tiểu thuyết tô son, không có tượng đài dựng lên sau ngày mất nước – vẫn chiến đấu và hy sinh âm thầm, như chồng nhà thơ Trần Mộng Tú.

Vai trò của Đại tá Huỳnh Văn Chính và những nỗ lực tái lập an ninh.

Để dập tắt sào huyệt cộng sản tại Kiên Giang, từ năm 1971, các đơn vị chủ lực của Quân lực VNCH đã được điều động với mật độ cao. Đại tá Huỳnh Văn Chính, lúc bấy giờ là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 16 Sư đoàn 9 Bộ binh, là một trong những chỉ huy then chốt trong nỗ lực tái lập an ninh miền Tây.

Dưới sự lãnh đạo của ông, Trung đoàn 16 đã bình định vùng Cô Tô và Thất Sơn – nơi từ lâu đã là rừng thiêng nước độc, đậm màu huyền bí của biên giới Việt – Miên. Cùng năm đó, Trung đoàn 15 của Đại tá Bùi Xuân Lãng mở cuộc tảo thanh toàn bộ khu vực Ba Hòn – gồm Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc, đẩy lui toàn bộ lực lượng địch ra khỏi khu vực hang động Mo So– một địa điểm hiểm yếu thuộc Kiên Lương, nơi cộng quân dùng làm kho lương và trạm tiếp vận.

Từ năm 1971 đến 1974, Đại tá Huỳnh Văn Chính giữ chức Tỉnh trưởng Kiên Giang, kiêm chỉ huy các chiến dịch bình định dân sự. Nhờ vào chiến lược phối hợp giữa quân sự và dân vận, ông đã góp phần làm tan rã mạng lưới du kích tại vùng này, phục hồi an ninh và đưa người dân về làng cũ canh tác.

Hòn Đất ngày nay – di tích hay vết sẹo?

Sau 1975, Hòn Đất được nhà nước cộng sản giữ lại như di tích cách mạng, ca tụng “chị Sứ”, dựng tượng đài, mở tour du lịch “tham quan địa đạo và di tích kháng chiến”. Nhưng những vết máu, những phần mộ không tên của người lính VNCH nằm lại nơi rừng núi, thì bị xoá trắng khỏi ký ức lịch sử chính thống. Không một dòng nào nhắc đến những người lính đã hy sinh trong chiến dịch 1969, những sĩ quan bị chôn vùi trong lòng đất ấy, hay những người vợ, người con mãi mãi sống trong đau buồn ly tán.

Người viết bài này, khi đọc lại “Hòn Đất” của Anh Đức và đối chiếu với tài liệu chiến trường cũ, không khỏi ngậm ngùi: **tiểu thuyết cách mạng không phải là sự thật, nó là công cụ. Nhưng máu người thì là sự thật, và nó đã thấm đỏ đất Hòn Đất. **

Kết luận

Hòn Đất – trong con mắt người Cộng sản, là biểu tượng anh hùng; nhưng với người lính Việt Nam Cộng Hoà, đó là chiến trường  khốc liệt, nơi máu đồng đội đã đổ để giữ từng tấc đất. Và với một người vợ lính, như Trần Mộng Tú, đó là nơi đã cướp đi người thân yêu nhất của bà – không vì lý tưởng, mà vì bổn phận làm trai thời loạn.

Viết lại lịch sử không phải để khơi gợi hận thù, mà để **trả lại danh dự cho những người đã ngã xuống mà không có tượng đài, không có tiểu thuyết**. Hòn Đất, hơn cả một di tích, là một vết sẹo chưa lành trong tâm khảm của nhiều người Việt Nam. Và cũng là lời nhắc nhở rằng, không có mảnh đất nào “thiêng” chỉ vì văn chương tô vẽ – mà vì máu ai đã đổ xuống đó.

ĐXT

Dấu chân người tỵ nạn

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 18 Dec 2025

6. Pendleton, Người Di Tản Cuối

Sau hơn mười hai giờ băng qua Thái Bình Dương với đường bay gần mười ngàn cây số, phi cơ tiếp cận bờ duyên hải miền Tây Hoa Kỳ. Từ độ cao, trên tầng mây, phi cơ rơi dần. Càng lúc, mặt nước và hình ảnh những con thuyền càng rõ thêm, và trước mặt là một thành phố nhuy nga, với những cao ốc chằn chịt lộ dần trước những con mắt ngỡ ngàng của đoàn người tị nạn. Chiếc phi cơ bay xuyên qua thành phố ven biển với nhà cửa và những hệ thống xa lộ đan nhau như màng nhện! Phi cơ tiến về vùng núi trục lúc với những bụi cây lòi còi, bao quanh một thung lũng rộng lớn với cánh đồng cỏ màu vàng hung, như màu tóc của những nàng thiếu nữ vùng Bắc Âu.
Chiếc Boeing 747 chở trên 300 người tị nạn Việt Nam rời sân bay Anderson đảo Guam sáng ngày 20- 7- 1975, đảo một vòng quanh những ngọn đồi bên cạnh thung lũng và đáp xuống phi trường quân sự Camp Pendleton, California cùng ngày. 
Tôi theo đoàn người tị nạn vội vàng rời khỏi ghế bước về cửa máy bay, mắt lức láo nhìn xuyên qua cửa sổ với nhịp đập con tim mỗi lúc một nhanh. Cửa phi cơ mở tung, trước mặt tôi là những ngọn đồi trải dài phía sau phi đạo. Những ngọn đồi sỏi đá, không cây cổ thụ, không màu xanh um, không suối nước, không như những ngọn đồi đầy ấp những đồi Sim, những bụi Chùm Chày, Mẫn Khiểng xanh tươi nơi tôi sinh ra và lớn lên. Những ngọn đồi vàng úa dưới sức nóng mặt trời nơi vùng sa mạc! Nhưng là những ngọn đồi “Miền đất hứa” của biết bao giống dân trên thế gian này! 
Một lần nữa tôi cùng những người tị nạn leo lên chiếc xe buýt màu vàng rời phi trường về trại Pendleton. 
Trại tị nạn Pendleton thuộc tiểu bang California là trại tị nạn đầu tiên trong bốn trại tị nạn, nằm trong đất liền Hoa Kỳ, dùng để đón nhận người tị nạn Việt Nam di tản sau ngày 30- 4- 1975 trong Chiến Dịch Đời Sống Mới. Ba trại tị nạn khác lần lược được thiết lập sau trại Pendleton gòm có: Trại Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas; Trại Eglin Air Force Base, tiểu bang Florida; Và cuối cùng là trại Indiantown Gap, tiểu bang Pennsylvania. 
Trại tị nạn Pendleton được thiết lập bằng những lều vải màu xanh quân đội, trải dài trên một thung lũng bên cạnh những ngọn đồi. Những lều vải vuông tượng đủ lớn cho mười giường bố, mỗi giường cho một người. 
Không hiểu những lều vải ở trại Pendleton thành lập từ lúc nào? Nhưng sau ngày gặp lại người bảo trợ, tôi hỏi: 
“Từ tháng 2, 1975 làm sao ông biết miền Nam Việt Nam sẽ mất mà viết thư bảo lảnh cho tôi?” 
Người bảo trợ nói rằng: 
“Từ đầu năm 1975 đã có nhiều nguồn tin bí mật cho biết Hoa Kỳ thiết lập trại tị nạn Pendleton để tiếp nhận người miền Nam Việt Nam di tản. Một số những người có liên quan với quân đội Hoa Kỳ hay phục vụ tại Việt Nam trước đây biết chuyện này. Từ năm 1971- 1973 qua là Bác Sĩ giải phẩu tình nguyện phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam, vì vậy mà qua biết và viết thư đở đầu cho em từ hồi tháng 2- 1975.” 
Tôi nghe qua câu trả lời của ông mà lòng bàng hoàng. Thì ra chính phủ Hoa Kỳ đã biết trước và có cả chương trình lập nên những lều vải này để đón nhận những người bạn một thời cọng tác với họ, sau khi quyết định cắt đứt mọi viện trợ quân sự, bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho khối cọng sản Tàu, Nga thôn tính! 
Dù sao đi nữa, quê hương này cũng thôi máu đổ! Nhưng dân tộc Việt Nam lại rơi vào một khúc quanh lịch sử khác. Trước năm 1975 người dân Việt Nam sống ở nước ngoài rất ít, có thể nói chỉ có ít trường hợp vì theo chồng, đi du học hoặc làm việc trong những cơ quan sứ quán. 
Nhưng sau ngày Việt Nam thống nhất, hàng trăm ngàn người, thậm chí có cả hàng triệu người Việt Nam rời quê cha đất tổ tìm tự do ở những quốc gia thuộc chế độ dân chủ. Sự kiện này đã đi vào lịch sử thế giới loài người. 
Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, đoàn xe buýt chở đầy người tị nạn tiến vào một thung lũng chứa đầy lều vải nằm san sát bên nhau. Và một lần nữa những người tị nạn lại xuống xe, xếp thành từng hàng đi vào trung tâm thành lập hồ sơ (Processing Center) làm thủ tục nhập trại. Và cũng một lần nữa những người cũ lại nhôn nhao tìm người thân trong đoàn người mới. 
Sau khi đăng ký, lưu lại lý lịch cá nhân và gia đình để lập hồ sơ tìm người bảo trợ, người tị nạn được đưa vào những căn lều trong cuộc sống tập thể. 
Sau một chuyến bay dài mệt mỏi và hàng giờ xếp hàng để làm thủ tục tị nạn, tôi mệt đừ người. Đi từ Processing Center về căn lều vải, tôi gieo người trên chiếc giường bố và thiếp đi như một đứa bé. Đến khi tỉnh dậy thì trời đã tối, tôi lại tiếp tục ngủ cho đến ngày hôm sau. Những buổi sáng nơi đây như một trại lính, không có đồng hồ báo thức, không có tiếng gà gáy ban mai nhưng người ta thức dậy thật sớm. Vì mỗi buổi sáng, tiếng hát từ loa phóng thanh lại vang lên lời ca: 
“Trời hôm nay thanh thanh, gió đưa cành mơn man tà áo. 
Làn mây trôi vây quanh, ánh vừng hồng chiếu xuống niềm tin…”
 
để chào đón một ngày mới. Và tôi thức dậy, mò xuống giường tìm đường ra khu nhà ăn. 
Việc đầu tiên tôi làm vẫn là ra bảng thông tin dò tên. Dù biết rằng cơ duyên may mắn để tôi tìm được những người thân trong gia đình hay bạn bè rất mong manh, nhưng tôi vẫn dò từng tên trên những bản thông tin như dò danh sách thí sinh trúng tuyển kỳ thi Tú Tài. Cũng như những lần trước, những người tôi muốn tìm không bao giờ để tên lại trên tấm bảng đen kia. Nhưng rồi lần lượt tôi cũng tìm được hết những người anh em anh Hoàng trên tàu Long Châu. Những người tôi quen biết chỉ có bấy nhiêu thôi, trên hàng chục ngàn người ở trại Pendleton, tôi chỉ quen biết chừng mươi người trên tàu Long Châu. Ngoại trừ N và Th, hai người này khi rời đảo Guam đã đi đến trại Fort Chaffee. Nơi đây tôi cũng gặp lại Điện, người cùng tôi rời Việt Nam trên chiếc tàu đổ bộ của Hải Quân tại Căn Cứ Chuyển Vận Kho 18, Tân Thuận chiều 29- 4- 1975. 

Trại Pendleton chia ra thành nhiều trại nhỏ, không cách xa lắm, tôi và nhóm anh Hoàng ở trại 8. Bên cạnh có trại 5, 6, và 7. Những trại mang số nhỏ hơn là những barracks dùng cho người Miên ở, biệt lập trên một khu riêng, có vẽ khang trang sạch sẽ hơn, và từ trại 5,6,7,8 muốn đến đó phải đi bằng xe buýt. Bên cạnh những lều vải là một căn nhà nhỏ dùng làm trung tâm thiết lập hồ sơ tị nạn (Processing Center). Ngoài ra có nhà ăn, khu vui chơi cho trẻ con, khu PX (Pacific Exchange – bán những vật dụng hằng ngày cho những ai có tiền, tôi nhớ thuốc lá như Lucky, Pall Mall ngày ấy giá 25 xu một gói.) 
Pendleton còn có khu nghe nhạc sống ngoài trời, có sân bóng chuyền và thỉnh thoảng có tổ chức đấu võ đài giải vui cho trại. Tôi là một vận động viên trong một trận đấu võ đài tự do gòm cả quyền Anh, Taekwondo, Việt Võ Đạo, Thiếu Lâm Tự, ai có sở trường nào dùng thứ đó. Đối thủ của tôi là một người chuyên nghiệp võ nghệ, tôi nhớ hình như anh ta tên Thước. Tôi không có ý định ra đấu võ đài, nhưng vì lời gù của Thước và những người bạn, tôi tham gia cho vui. Sở trường của tôi là Taekwondo. Trận đấu kéo dài 3 phút, Trước hàng trăm tiếng vỗ tay reo hò, cổ võ cho trận đấu, Thước tống tôi một cú xém rớt đài và tôi song phi một cú đưa Thước nằm lửng lơ trên sợi dây buộc khán đài. Kết cuộc trận đấu, không ai thắng không ai thua. Nhưng hình như võ sĩ Thước muốn dùng cơ hội đó để quảng bá cho việc dạy võ sau này của anh ta! Còn tôi, võ thuật chỉ là một môn thể thao, không hơn, không kém. 
Ở thời điểm tháng 7- 1975 trại tị nạn Pendleton đã có hàng chục ngàn người đến và đi. Giai đoạn đầu của chương trình tị nạn, từ tháng 5 đến khoản giữa tháng 7, những người tị nạn thường được bảo trợ bằng một cá nhân hay gia đình công dân Mỹ. Nhưng chính sách này gặp phải sai lầm, là, những cá nhân hay gia đình người bảo trợ thường là những nông dân cần người làm nông trại. Nên đã bốc lột sức lao động của những người tị nạn Việt Nam trong các nông trường. Từ những than phiền của những người tị nạn bị đưa về làm việc tại nông trại, chính quyền liên ban đã chấm dứt chính sách bảo trợ qua cá nhân, và bắt đầu chương trình bảo trợ qua một nhóm người, hay cộng đồng và đặc biệt là qua hội nhà thờ, như nhà thờ đạo Tin Lành. Từ đó Church World Services được nói đến nhiều. Và những người bảo trợ đi nông trại cũng được trở về trại tị nạn để tìm bảo trợ mới. 
Hầu hết những người tị nạn ra đi trong Chiến Dịch Đồi Sống Mới là những cá nhân hay gia đình có kiến thức học vấn cao trong xã hội miền Nam Việt Nam. Họ là những viên chức nhà nước, là những sĩ quan QLVNCH, là kỷ sư, Bác Sĩ, là giáo sư, là những sinh viên học sinh, v.v… Nói tóm lại, đất nước này đã không tốn công huấn luyện mà tận dụng một nguồn nhân lực dồi dào phong phú, đã thế còn sinh ra những lớp người ưu tú cho những thế hệ sau. Vì chính họ đã là những công dân ưu tú. 
Một số người Việt Nam còn nặng ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp, và một số có khuynh hướng bất đồng chính kiến với Hoa Kỳ nên đã đưa đơn xin tị nạn tại các nước ngoài Hoa Kỳ như Gia Nã Đại và Pháp quốc. Nhưng cuối cùng Hoa Kỳ vẫn là miền đất hứa. Tôi có quen một anh bạn trong trại Pendleton, Thức, sinh viên Luật trước năm 1975. Anh xin được định cư ở Gia Nã Đại và anh đã được tọa nguyện. Nhưng sau khi đến Gia Nã Đại chưa được một tháng thì anh viết thư vào trại nhờ bạn bè giúp đở bảo trợ anh qua Mỹ, vì Gia Nã Đại không có ngân sách giúp đở người tị nạn Việt Nam đi học đại học. Nhưng anh ta không thể trở lại Mỹ được. Một khi đã chọn định cư tai một nước nào khác thì Hoa Kỳ không cho nhập trại trở lại. 
Những thủ tục và nguyện vọng đi định cư ở tiểu bang nào hay nước nào đều phải làm lại tại trung tâm cứu xét hồ sơ (Processing Center.) Có những người không còn giấy tờ tùy thân chứng minh mình là ai, tên gì, mấy tuổi, nhưng vẫn được thiết lập hồ sơ và được đưa đi định cư theo ý muốn. Nhiều người vì buồn bả và mong sớm rời trại tỵ nạn để định cư làm ăn, không cần phải lựa chọn tiểu bang nào. Với những người này tìm người bảo trợ tương đối dễ và ra đi sớm. 
Tôi vì có người quen là vị Bác Sĩ hứa giúp đở trở lại trường đi học nên đã đăng ký với Processing Center và muốn được định cư tại tiểu bang California. Sau ngày nhập trại Pendleton, Điện nhập chung hồ sơ của tôi để được cùng bảo trợ bởi vị Bác Sĩ trên. Sau ngày thành lập hồ sơ bảo trợ, vị Bác Sĩ lại đi nghĩ mát bên Âu Châu đến hai tháng mới trở về. Nhưng sau này chương trình bảo trợ không cho phép cá nhân bảo trợ nên người bạn Bác Sĩ chỉ được bảo trợ chúng tôi qua một hội nhà thờ hay một tổ chức nào đó. 
Hồ sơ bảo trợ đã được thành lập xong, mọi người chì còn nằm chờ nhân viên Processing Center gọi lên đường, hay bổ túc một số tin tức khi cần. Và mỗi ngày số người ra đi càng nhiều. Trại Pendleton có thể nói là trại lớn nhất trong bốn trại tị nạn ở Mỹ, (và trại 8 là trại đông người nhất trong những trại ở Pendleton.) Người tị nạn đông như kiến và sinh hoạt ở đây ồn ào bắt đầu từ sáng sớm đến chiều hôm. Nhà ăn mở cửa ba buổi: sáng, trưa, chiều tối. Tôi nhớ có một hôm đứng xếp hàng lảnh đồ ăn với nhóm anh em anh Hoàng. Chúng tôi nói với người phát đồ ăn: 
“Give me chicken legs.” 
Và những đùi gà thơm ngon được bỏ đầy dĩa. 
Người đàn ông đi sau thấy ngon quá cũng xin đùi gà. Nhưng không hiểu sao người phát đồ ăn cứ lắt đầu và bỏ đầy cổ gà lên dĩa đồ ăn cho người đàn ông nọ. Ông ta trả lại và nói muốn lấy đùi gà. Người phát đồ ăn lại bỏ cổ gà lên dĩa. Bực mình quá ông ta la lớn lên: 
“Give me chicken negs.” 
“What?” Người phát đồ ăn hỏi to. 
“Chicken negs.” Người đàn ông lập lại. 
“Chicken necks?” Người phát đồ ăn hỏi lại. 
“Yes – chic – ken – negs.” Người đàn ông khẳng định. 
Người phát đồ ăn nói: 
“Okay, here’s your chicken necks.” 
“Đù… thằng Mễ này nó khùng rồi ta.” Người đàn ông bực tức. 
Anh T thấy vậy nói với người đàn ông nọ: “Anh phải nói là chicken legs chứ không phải chicken negs, chicken necks là cổ gà.” Và rồi anh T gọi chicken legs cho ông ta luôn. 
Có những hôm trại tổ chức nhạc sống do các băng nhạc bên ngoài vô giúp vui cho đồng bào tị nạn. Và những buổi chiều, trên con đường đất đỏ, có biết bao “tài tử giai nhân” dập diều nắm tay nhau bước đi dạo mát. 
Những ngày tháng bên nhau với bạn bè trên chiếc tàu Long Châu rất ngắn ngủi. Chúng tôi hầu hết độc thân ngoại trừ hai vợ chồng anh K và chị Th. Hằng ngày, ngoài giờ ăn ra, chúng tôi (anh Hoàng, anh T, S, H, Điện, Tâm con, và tôi) thường lang thang trên những ngọn đồi phía sau trại 8, lùng rượt đuổi những con chó sói, chồn, và đập phá những tổ ong ruồi trên cành cây. (Chó sói nơi đây rất nhiều, những buổi tối chúng thường xuống chung quanh trại kiếm đồ ăn, cắn xé và tru lên những hồi dài nghe rợn người). Đôi khi chúng tôi phát giác những tổ ong ruồi ở dưới đất, đập phá bị chúng chích, rượt chạy như đám con nít! 
Có những hôm cảm thấy tù túng bên trong bốn bờ rào khuôn viên trại, chúng tôi chun rào lội lên đến đỉnh núi sau trại tị nạn. Con đường lên núi không gay go lắm, chỉ là những chồi cây thấp như những bụi sim, bụi móc trên rừng núi miền Trung nước Việt. Đứng trên đỉnh chúng tôi nhìn xuống chân núi bên kia, xa xa là bóng dáng thành phố với nhà cửa. Những mường tượng về cảnh nhộn nhịp bên kia chân núi và sự thèm thuồng một vài giờ sống động để bù lại chuỗi ngày tồi túng trong trại muốn xuối dục đôi bàn chân bước đi. Nhưng rồi chúng tôi đành phải ngồi trên đỉnh núi, chỉ biết nhìn và hít làn gió Santa Ana, làn gió mang theo hơi mát và mùi biển mặn của Thái Bình Dương. 
Những buổi chiều dài lang thang trên sườn núi rồi cũng qua. Trại tị nạn càng ngày càng thưa người. Mọi người đều có một lựa chọn cho tương lai trước mặt. Hằng ngày Processing Center bận rộn với những chuyến ra đi. Có những chuyến đi chỉ là một cá nhân lẽ loi, âm thầm rời trại để hòa nhập vào cuộc sống mới. Hôm ra đi chỉ là một cái bắt tay của vài người bạn mới quen. 
Một tháng sau khi đến trại chúng tôi cũng lần lượt chia tay. Vợ chồng anh K và chị Th chấp nhận bảo trợ và đã lên đường về thành phố Jacksonville, Florida. Anh Hoàng và anh T chọn miền Đông Bắc Hoa Kỳ và đã rời trại về thành phố Philadelphia, Pennsylvania. S và H về Akron, Ohio, miền Trung Hoa Kỳ nơi có N và Th từ Fort Chaffee đến. Ông Si, bạn anh Hoàng bay về thành phố Savannah, Georgia và tiếp tục cuộc sống nghề biển. Những buổi chia tay thật buồn, chúng tôi chỉ biết siết tay nhau và chúc những lời may mắn, rồi cuối mặt lặng lẽ bước đi. 
Bây giờ chỉ còn lại tôi và Điện và những người tị nạn không quen biết trong khu trại này. 
Tôi rời Việt Nam với mục đích duy nhất là muốn được tiếp tục đi học. Và sự hứa hẹn của người bạn Bác Sĩ bảo trợ giúp tôi trở lại trường chính là điểm tựa. Hằng tuần Processing Center vẫn gọi tôi lên văn phòng, hối tôi phải chấp nhận hội bảo trợ nào đó để rời trại. Mỗi lần được kêu lên Processing Center tôi luôn hỏi: 
“Khi ra với hội bảo trợ này tôi có được vào trường học không?” 
Nhân viên Processing Center bảo tôi: 
“Ra đó rồi việc đi học sẽ tính sau.” 
“Vậy cho tôi đợi khi nào người Bác Sĩ bảo trợ tôi trở lại tôi sẽ đi.” 
“Nếu vậy thì em phải chờ ở đây nữa. Mọi người đã đi hết rồi, em không thấy buồn sao?” 
“Dạ không. Em xin chấp nhận chờ.” 
Và cứ thế, mỗi lần Processing Center tìm hội bảo trợ cho tôi, nhưng không cho tôi biết về tình trạng đi học, tôi lại từ chối bảo trợ, và chờ vị Bác Sĩ trở lại từ chuyến nghĩ mát ở Âu Châu. 
Và mỗi ngày trôi qua, bóng người trong trại lại ít dần. Tôi lại thấy nhớ tiếng ồn ào náo nhiệt của thời gian qua. 
Tôi thường lang thang ở Processing Center, nơi nhiều người đến để biết tin tức họ sẽ đi về đâu. Rồi một hôm tôi bắt gặp đôi mắt và gương mặt của một người. Người đó khoảng 15, 16 tuổi, tuổi của những đứa em gái tôi, nhưng em có gương mặt và ánh mắt của Phương. Tôi đã giựt mình khi thấy em lần đầu. Tôi thường đi bên người con gái nhỏ này, không nói, không chào, không hỏi, tôi chỉ muốn nhìn em thôi. Như tôi đang nhìn Phương! Tôi biết em đi với cha mẹ và hai đứa em nhỏ. Nhưng em làm sao biết được trong em tôi đã tìm lại những ngày thơ mộng. Có đôi lúc em nhìn tôi và nở nụ cười, có lẽ em đã biết. Nhưng rồi một ngày nọ em đã theo gia đình đi về tiểu bang Connecticut, mang theo ánh mắt và nụ cười của một người tôi thương. 
Rồi lần lượt tất cả những người trong trại 8 đã ra đi. Chỉ còn lại tôi và Điện vẫn ngồi chờ người bảo trợ từ trời Tây. Cuối cùng trung tâm Processing Center phải dời tôi và Điện lên ở cùng với những người Miên ở trại 1 để họ tháo gở trại 8! Những trại 5, 6, 7 và 8 trở thành bãi đất màu nâu đỏ. 
Một tuần lễ sau khi lên trại 1, Processing Center báo cho tôi và Điện biết người Bác Sĩ kia đã trở lại và liên lạc với họ. Hồ sơ bảo trợ của tôi và Điện được đúc kết giữa Bác Sĩ H. Crawford và hội nhà thờ Tin Lành, với thỏa thuận là một gia đình của nhà thờ Tin Lành cho chỗ ở cho tôi và Điện, tiền ăn của tôi và Điện thì được đài thọ bởi Bác Sĩ H. Crawford. Và ngôi trường mà tôi và Điện sẽ nhập học là Pepperdine University at Malibu, California, với bốn năm học bổng toàn phần (tiền ăn, tiền ở đại học xá, tiền sách vở và học phí). 
Sáng ngày 16- 10- 1975, ngày chính thức chấm dứt Chiến Dịch Đời Sống Mới (Operation New Life), một tín đồ của hội nhà thờ Tin Lành cùng Bác Sĩ H. Crawford đến trại Pendleton gặp tôi và Điện. Sau những lời chào và những cái bắt tay cám ơn, Bác Sĩ H. Crawford nói rằng một tuần sau ông sẽ đến đưa tôi và Điện đi ăn và sẽ nói chuyện nhiều hơn. Bác Sĩ H. Crawford bắt tay mọi người, chào rồi trở về phòng mạch. 
Vị tín đồ Tin Lành đề máy chiếc xe Station Wagon, rời khuôn viên trại 1. Chiếc Station Wagon chạy boong boong trên con đường nhựa, băng ngang qua khu đất trống rỗng, mà mấy tuần trước đầy dẫy những người trong căn lều của trại 8!
Chiếc xe vẫn chạy và vị tín đồ nói rằng: “Bốn tiếng đồng hồ sau chúng ta sẽ đến thành phố Thousand Oaks, California.”
Tôi nhìn qua cửa xe, bóng dáng của Phương qua ánh mắt và nụ cười của người em tôi chưa biết tên, và cảnh náo nhiệt của đoàn người tị nạn dường như vẫn còn đâu đó! Và tiếng ca Ngày Hạnh Phúc:
“Ngày em lo nương khoai, dưới mưa dầm anh lo cày cấy 
Dù cho bao gian lao, nhưng tình nghèo góp sức mà vui 
Cầu mong cho mai sau, gió đưa thuyền tình về bến mơ…”
mang tôi về một phương trời xa. 
______________________ 

Đồng Sa Băng. 12- 8- 2009

Những năm “cải tạo” ở Bắc Việt

Trần Huỳnh Châu

Post by Sơn râu 18 Dec 2025

Phần 8 – Thư từ – Tiếp tế – Thăm nuôi

Theo nội quy của các trại cải tạo thì chúng tôi được phép viết thư về nhà mỗi tháng một lần, được nhận quà gia đình gởi đến theo đường bưu điện ba tháng một lần (gởi quà tối đa 5 kg), và được thăm nuôi ba tháng một lần.

Nhưng đó chỉ là nguyên tắc. Thực tế là trong thời gian ở tù 4 năm, 7 tháng (kể cả thời gian ở trại Long Thành) tôi chỉ được thăm nuôi tổng cộng bốn lần, tức là nếu tính đều ra thì hơn một năm mới được một lần thăm nuôi (so với chế độ Cải Huấn của ta trước kia, một tuần lễ được thăm nuôi hai lần). Ở Long Thành một năm trời, được thăm nuôi một lần trước khi ra Bắc. Ra Bắc từ cuối năm ’76, mải đến giữa năm ’79 (hai năm rưởi) chúng tôi mới bắt đầu được thăm nuôi.

Khi mới ra Bắc, ba tháng đầu chúng không cho chúng tôi viết thư. Trường hợp chúng tôi thế là còn khá. Có nhiều trại đến sau, bảy tháng chúng mới cho viết thư. Trong suốt năm 1977, dù vài tháng có cho viết thư một lần, chúng cấm chúng tôi không được viết câu gì tỏ ra mình đang ở miền Bắc. Nếu có câu gì tỏ ra có ý nghĩa như thế, thư sẽ bị vứt bỏ.

Rất nhiều thư chúng không gởi đi. Ở nhà, vợ tôi tháng nào cũng có gửi thư cho tôi, nhưng có khi cả năm tôi không nhận được cái nào. Trung bình thì mỗi năm nhận được chừng ba, bốn lần. Thư nhà đến tay mình nhanh nhất là một tháng. Trung bình thì ba, bốn tháng mới nhận được. Có lúc nhận được nhưng là thư viết từ bảy, tám tháng trước.

Nội dung thư bao giờ cũng được hướng dẫn trước: phải nói là khỏe mạnh, vui vẻ, học tập lao động tốt. Nhưng phần lớn chúng tôi, những năm về sau, chẳng chú ý gì đến những lời hướng dẫn nầy, chúng tôi chỉ viết toàn chuyện gia đình.

Từ đầu năm 1978, chúng cho chúng tôi tiết lộ địa chỉ trại Cải Tạo Quảng Ninh. Kể từ năm ’79, chúng mới thi hành đúng nội quy là mỗi tháng được viết thư một lần, giới hạn hai trang giấy.

Về tiếp tế, việc thực hiện cũng tùy giai đọan.

Năm 1977, chúng cho chúng tôi nhận quà tiếp tế hai lần: một lần vào dịp Tết, một lần vào dịp 2-9 (ngày Quốc Khánh của chúng). Hai lần ấy chúng vào tận Sàigon nhận quà chở ra. Tuy có phổ biến là mỗi người chỉ được nhận 10 ký quà, nhưng chúng tôi nhận được trung bình 30, 40 ký; có vài người nhận được đến 60, 70 ký.

Sang năm 1978, không giữ bí mật địa chỉ trại nữa, chúng cho chúng tôi nhận bưu phẩm tối đa 5 ký ba tháng một lần. Nhưng suốt năm ’78, chúng tôi chỉ nhận được ba lần quà, thay vì bốn lần, tức là tổng cộng năm đó chúng tôi mỗi người chỉ có 15 ký quà.

Về thăm nuôi, kể từ năm ’78, chúng tuyên bố là cho phép được thăm nuôi. Tuy nhiên chẳng mấy ai trong số chúng tôi đượcc thăm. Chỉ có vài người có bà con ruột thịt ngoài Bắc, vài người có bà con ở ngoại quốc về (thuộc thành phần ”Việt kiều yêu nước” của chúng) đến thăm cho vài ký quà. Mải đến giữa năm ’79, các cấp chính quyền địa phương trong Nam mới được lệnh cấp giấy phép cho gia đình chúng tôi ra Bắc thăm nuôi…….

Lần đầu tiên bà con Miền Nam ra thăm, ai cũng kinh hoàng khi nhìn thấy chúng tôi gầy gò ốm yếu, người nào cũng da bọc xương. Năm 1975, khăn gói ra đi “học tập”, ai cũng hồng hào mập mạp, đến giữa năm ’79, vợ gặp chồng có khi chẳng nhận ra được chồng mình.

Các bà về Sàigòn phổ biến cho nhau tình trạng nầy, cho nên sau đó, bà nào cũng cố bán đồ đạc nhà cửa kiếm ít tiền đi thăm nuôi.

Ba tháng sau, các bà ra thăm lần thứ hai, ai cũng thấy rõ hiệu quả của các món quà là người nào cũng lên khoảng chục ký. Thực ra thì hãy còn kém lúc ra đi năm ’75 xa lắm, nhưng so với lần thăm nuôi đầu, được thế là quý lắm rồi. Thì ra cũng chỉ có miếng cơm miếng thịt của vợ con ở Miền Nam đem ra mới giúp chúng tôi gượng lại được, nếu chỉ ăn toàn thức ăn của “Bác” và “Đảng” cho thì chắc gục ngã cả rồi.

Thời gian gặp gỡ thân nhân dài ngắn tùy trường hợp. Thường thì khoảng từ nửa giờ đến hai giờ đồng hồ. May gặp tên cán bộ dễ chịu thì được thăm lâu một chút. Gặp bữa tên cán bộ khó chịu hoặc đang cáu việc gì thì mới nói được vài câu đã bị cúp. Nói chuyện phải nói lớn tiếng, không được dùng tiếng lóng. Lúc nào cũng có cán bộ ngồi nghe kiểm soát.

Đối với các Tự Quản đội (đội trưởng, đội phó, thư ký đội), ban Thi Đua, và những người lập công báo cáo anh em (mà chúng tôi gọi là làm antenne), thời gian thăm nuôi được ưu đãi hơn; ít nhất là một buổi, có thể được ngồi ăn cơm với nhau, và trong vài trường hợp đặc biệt, có thể được ngủ lại với nhau một đêm nếu là vợ thăm chồng.

Tôi không dám nói tất cả những người được thăm nuôi suốt đêm với nhau đều là những kẻ làm antenne, vì có thể ở những trại khác việc quy định thời gian thăm nuôi có khác. Nhưng riêng ở phân trại C, trại số 5 Thanh Hóa, tôi đã thấy có một truờng hợp được thăm nuôi đêm, đó là trường hợp một đội trưởng kìm kẹp anh em và báo cáo dữ dội.

Chế độ Miền Bắc tuyên truyền rằng các trại cải tạo là cốt để cải tạo cho con người trở thành con người tốt để sống trong xã hội chủ nghĩa. Vậy mà trong trại cải tạo, chúng dùng cả nhu cầu sinh lý của con người, dùng cả sự ái ân của vợ chồng người ta để làm mồi bắt người ta báo cáo cho chúng, phục vụ cho chúng. Khi anh em chúng tôi nghe kể lại tên đội trưởng đó đã ngủ với vợ mấy lần trong đêm, chúng tôi thấy thật là kinh tởm . Những tên cán bộ quản giáo đi phổ biến khắp các đội khuyến khích mọi người hãy ”lao động thật tốt, đấu tranh tố giác tích cực” để được hưởng ân huệ của Đảng và Nhà nước cho phép được ngủ với vợ một đêm. Vậy mà cũng có những tên tồi bại trong đám tù đó háo hức lắm khi nghe như thế. Tôi không có ý chê bai, gạt bỏ vấn đề sinh lý. Tôi cũng cho rằng, thực tế là nếu vợ chồng lâu năm mới gặp nhau được như vậy thì cũng chẳng giữ gìn được và cũng chẳng việc gì phải giữ gìn, trừ phi sợ mang bầu. Nhưng vấn đề là chế độ trại giam đã đem việc đó làm một mồi nhử để sai khiến con người.

Tôi cho rằng cần phải giữ tính cách cao quý đẹp đẽ của sự ân ái vợ chồng, hành động mang lại hạnh phúc tuyệt diệu về vật chất và tinh thần trong tình yêu và đạo đức. Nó không thể bị hạ thấp để trở thành giống sự giao cấu của hai con vật. Trong cái gọi là cải tạo, Cộng sản đã dùng đến những phương pháp đê tiện chỉ có thể hướng con người đến chỗ thấp hèn, đến chỗ phục vụ cho Đảng một cách tồi bại không còn chút tư cách, phải chăng con người mới xã hội chủ nghĩa mà Cộng sản muốn đào tạo chính là con người tồi bại như thế (và như thế, Đảng lại càng tồi bại hơn). Việc ân ái với vợ như vậy đã bị hạ thấp xuống thành việc giải quyết sinh lý trong hoàn cảnh nhục nhã, và chúng tôi thấy thật tội nghiệp cho những bà vợ đi thăm nuôi chồng tự nhiên bị hạ thấp giá trị của mình xuống thành miếng mồi vật chất để cho Đảng sai khiến chồng mình. Đó là thực chất của cái gọi là đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa. Và con người mới xã hội chủ nghĩa mà miền Bắc cố gắng cải tạo để đạt tới, chỉ là thứ con ngưòi thấp hèn chịu bỏ mất tư cách của mình để làm tên nô lệ vô liêm sỉ cho Đảng.

Từ tháng 10-1979, chúng lại giới hạn mỗi lần thăm nuôi chỉ được cho tối đa 30 ký quà. Mà Cộng sản chẳng bao giờ thèm phổ biến trước. Đùng một cái, ra quy đinh rồi áp dụng luôn. Nhiều bà lo mang quà ra nhiều lại phải mang trở về. Mà đường đi ngoài Bắc đâu có phải dễ dàng như trong Nam. Trại giam nào cũng ở gần núi, cách xa quốc lộ số 1 từ 40, 50 cây số trở lên cả. Có đoạn phải đi đò, có đoạn đi xe bò, xe trâu, có đoạn đi bộ, gánh không nổi quà thì phải thuê người ta gánh. Xã hội Miền Bắc cướp giật tùm lum, nhiều bà đi bị mất tiền bạc, mất quà, mất giấy tờ.

Anh em chúng tôi sống được là nhờ có gia đình. Mỗi khi được quà thăm nuôi, người nhận quà có thông lệ mời anh em quen biết ăn mừng ngày thăm nuôi. Trong bữa ăn, chúng tôi thường nói với nhau, câu nói tuy là đùa nhưng tâm ý là thật: “Vợ ta sinh ra con ta, nuôi nấng con ta, day dỗ con ta, nuôi luôn cả ta nữa. Vậy ta phải biết ơn người.”

Tất nhiên, cũng có một số trường hợp vợ bỏ chồng lấy người khác. Cũng có một số anh chồng trước kia vợ lớn vợ bé, bây giờ ở tù, bà nầy né cho bà kia thăm nuôi. Nhưng cũng có anh được 3 bà vợ luân phiên ra thăm nuôi.

Và cũng có những mối tình rất đẹp. Anh Phan văn Nho sinh viên Cao Học Hành Chánh, vì tham gia Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến nên bị ở tù, gần 5 năm rồi mà người yêu chưa hỏi chưa cưới vẫn một lòng chung thủy. Cuối năm ’79, anh Nho được người yêu đi với mẹ anh ra thăm nuôi. Hôm ấy Nho mặt mày rạng rỡ, tràn ngập hạnh phúc, quên hẳn là mình đang ở tù.

Ông Phạm Trọng Nhân, tóc đã bạc, còn được bà mẹ già gần 80 tuổi đến thăm (bà cụ ở ngoài Bắc). Sau buổi thăm nuôi, ông Nhân mang gói quà về trại mà không sao cầm được nước mắt. Không có gì cảm động cho bằng lúc nhìn thấy ông Nhân tuổi đã 60, tóc đã bạc mà còn khóc như trẻ thơ khi cầm gói quà của bà cụ già.

Tháng 7-79 tôi được vợ thăm nuôi. Ra gặp vợ theo phản ứng tự nhiên, tôi ôm hôn vợ. Tên cán bộ đi theo canh chừng mắng tôi ngay là “không văn hóa “. Vợ tôi cự lại: “Thế các ông lãnh tụ Đảng khi gặp nhau cũng ôm hôn thắm thiết thì sao?” Sau buổi thăm nuôi ngắn ngủi, tên cán bộ nầy chửi mắng tôi suốt đoạn đường gần hai cây số từ phòng thăm nuôi về trại.

Quà thăm nuôi tiếp tế không phải là thứ gì cũng nhận được. Phải theo sự quy định của trại. Mà sự quy định thì mỗi lúc một khác và chẳng cần thông báo trước . Cứ mỗi kỳ soát xét quà lại thấy một quy định mới. Sự cấm đoán chỉ có tăng lên chứ không giảm..

Hồi mới đầu, ở Quảng Ninh, không thấy phổ biến cấm đoán thứ gì khó khăn. Cấm chất nổ, cấm vật bén nhọn, cấm rượu, cấm đồ quốc cấm. Những thứ nầy cấm là dĩ nhiên rồi, chúng tôi không có gì thắc mắc. Nhờ vậy mà năm 1977, chúng tôi nhận được một số sách học sinh ngữ, sách châm cứu. Phải nói rằng món quà tinh thần cũng cần thiết không kém gì món quà vật chất. Kỳ nhận quà 2-9- 77, tôi nhận được hai cuốn sách học Anh văn; một cuốn tự điển Ladder và một cuốn Văn phạm. Gia đình không dám gửi sách có những bài học văn chương, vì sợ chúng đọc không hiểu cứ nghi ngờ là có nội dung ca tụng đế quốc. Chỉ có sách tự điển thì có dốt trông vào cũng phải biết đó là cuốn tự điển.

Năm 1977, chúng tôi nhận quà kỳ Tết Nguyên Đán, cứ tuởng đến 1-5 lễ Lao Động thế nào cũng có một kỳ quà. Nhưng trước ngày 1-5-77, chúng bảo chúng tôi gửi thư xin quà, rồi lờ luôn. Vì thế từ tháng 5 đến tháng 9 chúng tôi chỉ ăn toàn khẩu phần của trại. Đến khi nhận quà, người chúng tôi đã gầy gò, đói khổ lắm rồi. Thế mà trong số quà, tôi mừng nhất và quý nhất là hai cuốn sách Anh văn. Nhu cầu tinh thần vẫn cao dù khi vật chất đang quá thiếu.

Cuốn tự điển Anh văn là Tự điển Ladder 5.000 chữ. Vốn Anh văn có sẵn của tôi được già nửa số chữ trong tự điển rồi. Tôi định bụng, trong vài năm, cố nhớ cho hết 5,000 chữ nầy.

Hồi nhỏ tôi nghe nói cụ Huỳnh Thúc Kháng bị Pháp bắt ở tù chỉ đem theo được cuốn tự điển Larousse, và sau thời gian ở tù, cụ đã thuôc hết tự điển đó. Tôi định noi gương cụ Huỳnh, nhưng quả thật, lối học Anh văn bằng tự điển không phải là phương pháp hay, dầu rằng cuốn Ladder đã soạn trong tinh thần giản dị, mỗi chữ đều có câu ví dụ chỉ dẫn cách dùng. Tôi đã cố gắng đọc hết cuốn tự điển nhiều lần nhưng không sao thuộc nổi. Tuy nhiên nó đã giúp ích tôi rất nhiều. Nhờ nó, tôi hiểu chính xác những chữ mà trước kia tôi đã hiểu sai, dùng sai. Và tất nhiên, tôi cũng có nhớ được một số chữ mới.

Học sinh ngữ trong trại giam của Cộng sản không được thoải mái như Cụ Huỳnh hoc tự điển Larousse trong trại giam của thực dân. Lúc nào chúng tôi cũng hồi hộp sợ bị tịch thu sách. Nhiều người đã bị tịch thu. Ai cũng biết rằng trại không muốn cho chúng tôi học như vậy. Chúng chỉ muốn chúng tôi làm lao động khổ sai thật nhiều, và ca tụng Karl-Marx, Lenine mà thôi. Sách vở của chúng tôi về nền văn hóa chung, không phải Mác xít là chúng ghét lắm.

Anh Phạm văn Nho rất mê sách Anh văn. Hồi ở phân trại B, trại số 5 Thanh Hoá, anh nhịn ba bữa ăn để đổi lấy cuốn British Civilization, sách học Anh văn do nhóm Réunion de Professeurs bên Pháp soạn. Anh nâng niu nó như vàng. Khi sang phân trại A, anh đang học cuốn đó, bất ngờ bị tên cán bộ bắt gặp, tên nầy lấy xem thấy sách ngoại ngữ thì đòi tịch thu. Anh Nho vốn bị bệnh thần kinh, nổi cơn cầm lấy cục đá đập vào đầu mình, mấy anh em ngăn lại kịp. Cũng may nhờ thế mà tên cán bộ trả cuốn sách lại.

Tai trại số 5 Thanh Hoá, chúng không cho chúng tôi sách học nữa. Anh Nguyễn Đức Dũng, trước là Đại tá Tham Mưu trưởng Thiết Giáp, có lúc làm Tỉnh trưởng Pleiku, bị tịch thu cuốn tự điển gửi theo quà thăm nuôi, tiếc ngẩn ngơ, làm đơn xin không được.

Rồi trại liên tiếp quy định, cấm nhận muối, cấm ớt, cấm tỏi, cấm bột ngọt, cấm đường hóa học (Saccharine). Những thứ nầy, thực ra chỉ là cán bộ kiếm cớ tịch thu để chúng dùng mà thôi. Chúng đang cần bột ngọt thì tịch thu bột ngọt. Thấy đường Saccharine chỉ bỏ vài viên nhỏ mà ngọt cả ly nước trà, chúng khoái quá và lấy làm lạ lắm. Thế thì kiếm cớ tịch thu, bảo là “các anh dùng thứ nầy hại sức khỏe”.

Thỉnh thoảng có vài người nhận được quà và thư từ ngoại quốc gởi thẳng về. Quà ngoại quốc gửi về thì thường chỉ vài ký nhưng phẩm chất cao, anh em rất quý. Một lon beurre Bretel, một hộp fromage, một hộp buoillon…quả là những thứ tuyệt hảo trong tại tù Cộng sản, những thứ rất hạn hữu. Nhưng hồi cuối năm ’79, tại phân trại C, chúng tôi có thì thầm với nhau về một lá thư từ Mỹ gửi về. Đó là thư của vợ anh Minh, sĩ quan phi công, mà chúng tôi goi đùa là “Minh giặc lái”. Theo anh em nói thì lá thư nầy bị Ban Giám Thị phân trại C kiểm duyêt, toan giữ lại không phát, nhưng sau được lệnh của Bộ Chỉ huy Trại là phải phát thư ấy, vì Bộ Nội Vu đã kiểm duyệt rồi. Trong thư, vợ anh Minh viết rằng “dù có phải trả cho chúng 5.000 dollars hay nhiều hơn để chuộc anh ra, em cũng trả.”

Tôi không quen anh Minh vì ở khác đội, không thể phối kiểm được chuyện nầyy có đúng hay không. Và tất nhiên chuyện nầy chỉ đưọc loan truyền trong số những anh em tin cậy nhau mà thôi. Chỉ một câu ngắn ngủi như thế, trong một lá thư, và không biết có đúng sự thực không, nhưng đó vẫn là tia hi vọng cho chúng tôi, những kẻ bị tù đày, bưng bít, cố tìm lấy một tia sáng đâu đó về một ngày mai thoát khỏi ngục tù. Không phải là chúng tôi muốn được chuộc như thế. Chúng tôi chẳng muốn Cộng sản được nhận tiền. Nhưng trong hoàn cảnh tù đày mù mịt, một tin tức như thế chứng tỏ rằng bên ngoài vẫn chưa quên chúng tôi, vẫn còn sắp xếp một giải pháp gì đó cho chúng tôi, hay hơn nữa, cho tình hình Đông Dương. Có lẽ chúng tôi đã tưởng tượng quá nhiều. Nhưng ở trong tù, nếu không thờ ơ, không chán đời, cũng không xum xoe nịnh bợ cán bộ Cộng sản với cái ảo tuởng là nhờ thế chúng cứu xét cho về, thì chỉ có cách trông chờ cho tình hình biến chuyển, và với cách nầy, chúng tôi cũng thường sống trong tưởng tượng rất nhiều.

Điểm quan trọng mấu chốt trong sự tưởng tượng nầy là nghĩ rằng mọi người bên ngoài chưa quên chúng tôi. Cho nên những người đang sống tự do xin đừng quên những người bà con, đồng chí, hay bạn bè mình đang sống tù đày. Xin đừng quên những người đang sống trong địa ngục. Xin hãy tìm cách tỏ cho họ biết là chúng ta không quên.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 18 Dec 2025

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Kể cho Mậu cùng anh sau những ngày Vàm Láng tôi đã bày tỏ ý truyện này

N.S.T.

1.Những Người Đi Tìm Mùa Xuân

Mấy ngày nay một chuyện lạ làm xôn xao khấp kinh đô. Ba hôm trước, có người khách thương từ phương Tây lại, đem theo hàng quý nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Này gấm trải rực rỡ như muôn hoa bướm, này the buông mỏng mướt tợ hồ khói sương; đĩa bạc, chén vàng chói lọi như bình minh, châu ngọc trang sức lấp lánh hơn sao trời. Nhà vua vời vào để Hoàng hậu và bốn chục nàng Công chúa lựa mua. Các quan to trong triều, các phú hào ngoài nội, tranh nhau tìm đón. Trong lúc yến tiệc mời chào, khách cao hứng tả lại những miền đã kinh qua. Vùng mộ vua ở Ai-cập có những kim tự tháp đồ sộ, vườn treo lộng lẩy của bà Hoàng Semiramis ở Ba-ti-luân, thành Bá-đa huyền ảo thủ phủ xứ ngàn lẻ một đêm, đền TajMahal cẩm-thạch lung linh dưới trăng Ấn Độ; rồi Vạn lý trường thành ở Bắc Hoa, Phú sĩ sơn bên Phù tang, thực khách sững nghe, ngồi mà quên gắp. Nhưng tất cả bỗng buông đũa, ngừng ăn, lắng hết tinh thần khi nghe đến Thung lũng Trường Xuân, một quốc gia nhỏ trên đường về Eden xưa. Tên gọi thế vì ở đấy mùa xuân là cả bốn mùa. Cây cối lúc nào cũng hớn-hở xanh tốt; hoa thắm, bướm vàng, chim hót, suối reo, người dân nhởn nhơ vui chơi. Em bé bụ như măng, thanh niên hùng như núi, thiếu nữ kiều diễm như quỳnh mùa thu, cụ già vững mạnh như tùng bách mùa đông. Thổ sản, rau tươi, quả ngọt, suốt năm sẵn có thì trân; cầm thú; chim núi, muông đồng, trĩ, long phượng đỏ, chồn xạ lan thơm, bốn mùa mặc tình săn bắn. Và rượu, rượu rất nhiều; có thứ nồng ấm như da Thái Chân, có thứ nhẹ say như mình Phi Yến, uống vào sảng khoái, tưởng chừng chắp cánh lên tiên, hơn hết mọi thứ mỹ từu trên đời. Thắng cảnh thì toàn quốc là một thắng cảnh lôn, phía bắc núi ngọn lọt mây, phía nam ruộng đất mầu mỡ, đông tây rừng già, xanh um một màu tùng bách. Quý nhất là khu rừng nhỏ phía đông bắc thung lũng, trồng đầy kỳ hoa dị thảo, ngoài trăm dặm còn ngát hương. Du khách đến thăm được phép hái hoa, bứt quả làm kỷ-niệm. Tùy theo ý muốn hoa quả hái rồi biến thành vàng hay ngọc hay kim cương. Và như một lá bùa linh, châu ngọc ấy cho du khách được ước một điều, miễn phải gìn-giữ nó hoài như một phần than thể. Bởi thế có tên là rừng Vạn Ý. Lại còn gọi là Tứ Vọng Lâm. Kể tới đây, khách móc trong túi áo ngực ra một trái cây nhỏ, mọng như đào tơ vừa độ “trái này xưa đã làm cho người đàn ông đầu tiên phạm tội bất tuân đấy quý ngài ạ!” Mọi người đều thấy nước miếng ứa trên đầu lưỡi; chuyển tay nhau xem thì thấy là một thứ ngọc lạ chưa hề được ngắm, tỏa ra những ánh dị-kỳ như từ một con mắt ma quái, có sức thu hút quyến rũ đến m say mọi con mắt người. Hỏi đến điều khách ước, thì khách chỉ mim cười không nói, đôi mắt nheo lại thành đuôi. Người ta nhao nhao lên xin chỉ đường tới thung lũng Trường Xuân. Nhà vua để nghị phong vạn hộ hầu, thưởng vàng muôn lạng, ngọc bạch bích trăm đôi và ngàn cây gấm tía, nếu khách bằng lòng làm hướng đạo. Phủ phục trước bệ rồng, khách từ chối:

– Tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần đành cam tử tội, chứ không thể chiều theo thánh ý. Đấy cũng như Thiên Thai, như Nguồn Đào làm gì có đường lối tới rõ ràng như mọi nơi khác trên trần thế. Bệ hạ ví như quyết chí đi tìm, ắt là sẽ gặp. Chứ bắt hạ thần dẫn lộ, thần chắc khó thoát tội khi quân, vì ai là người có diễm phúc trở lại Thiên Thai, tìm được Nguồn Đào lần nữa?

Vốn thông hiểu chuyện xưa, vua cho lời ấy là phải, nên không bắt tội mà còn trọng thưởng khách thương. Hàng-hóa bán xong, khách thu xếp hành trang lên đường, để lại hy vọng nao nức cho cả kinh đô.

Thế là mọi người Kinh đô rủ nhau đi tìm Mùa Xuân. Nhà vua đi trước nhất cùng hai quan văn võ đầu triều, Thừa tướng và Nguyên soái, với trăm viên kiện tướng, nghìn lính ngự lâm theo hộ giá, quyết mang lại cho quốc dân Mùa Xuân trường cửu. Sau mười tháng mông trần, nhà vua trở về, đem theo một cành thiên tuế, chín bông vạn thọ, tất cả bằng vàng, hái được trong rừng Vạn Ý. Ngày hồi loan, người Kẻ Chợ treo đèn kết hoa, lập đàn bái vọng, tụ đông như kiến, tung hô vang trời. Đấng Chí tôn mặt rồng hớn hở, tức khắc giáng chỉ xá thuế chợ ba ngày, phóng thích tù nhân hơn một vạn. Hôm sau đại triều, chiếu chỉ truyền xuống tuyên cáo cho trăm họ biết kết quả cuộc tuần du phương tây và ý định tân dân của Thiên tử. Chiếu rằng:

“Trầm thụ mệnh trời, kế thua đại thống, noi chí Tiên vương kể đã ba mươi năm có dư. Nghĩ mình người thường trách dầy đức mỏng, Trẩm hằng lo lắng, ngày biếng ăn, đêm quên ngủ, dậy sớm thức khuya, lúc nào cũng tâm-niệm cầu xin anh linh Liệt thánh Hoàng khảo phò trì xã tắc, giúp cho quốc thái dân an.

“Bởi thế, Trẩm cùng Thừa tướng và Nguyên soái quyết định tìm đến nước Trường Xuân, tận mắt thấy cảnh thần tiên an lạc, đem cảnh ấy về cho trăm họ, để nước ta ngày thêm xứng đáng là một nước có nhiều nghìn năm văn hiến.

“Canh cánh nhớ câu “Dân vi quý”, Trẩm chẳng quản khó nhọc, đi thăm cùng hết xứ. Danh bất hư truyền Trường Xuân quả thật không những thanh bình mà còn phú cường hơn nước ta gấp bội. Xem qua dân tình thấy trăm họ Trường Xuân kính mến quốc vương như con đỏ đối với hai đấng tứ thân, Trẩm càng thêm thẹn mình ở ngôi cao mà mười phần ấy không sao được một. Trẩm đã vì trăm họ cùng Thừa tướng khảo xét các kế hoạch làm dân giàu, cùng Nguyên soái nghiên cứu mọi lược thao để nước mạnh. Nay Trẫm hồi loan, tuyên cáo cho mọi người rõ ý tân dân của Trẩm. Thừa tướng và Nguyên Soái sẽ đem các điều sở đắc trong cuộc tuần du với Trẩm ở Trường Xuân, họp cùng các quan sáu bộ, mà soạn thảo mọi sách-lược quốc gia, đệ trình Trẫm phê chuẩn thi hành.

“Để ghi việc này cho hậu thế, Trẩm truyền Khâm thiên giám cải hiệu năm tới làm Vĩnh trị nguyên niên. Lại truyền bộ Công khởi xây đài Nhật tân dựng cành thiên tuế, cất gác Thiên trường cắm hoa vạn-thọ và toàn dân mở hội Thủy Lạc để trẫm cùng chung vui.”

Chiếu-chỉ ban ra kinh đô tức khắc trống reo, cờ mở; hội hoa đăng sẽ kéo liền trong bốn mươi đêm. Tối hôm ấy, ở Tướng phủ, Thừa tướng chăm chú đọc lại tờ biểu tấu ngày mai về những nhận xét của mình trong chuyến du lịch Trường Xuân.

“Phụng mạng ghi chép các việc mắt thấy tai nghe ở Trường Xuân, hạ-thần bắt đầu bằng đến thăm Trường Xuân Tể tướng, Thần đã cùng Tể tướng đàm đạo liền ba đêm ngày về đại kế quốc gia. Lại cùng Tể tướng đi thăm khắp nơi trong xứ, dò xét dân tình. Trong thư viện Tướng phủ thần đã may mắn được đọc nhiều tác giả Đông Tây bàn cách trị quốc, bình thiên hạ. Đáng kể có Công tôn Ương ở Tần tinh việc hình pháp, một ngày dám chém hơn bảy trăm tù đồ trên bến sông; Quản Trọng ở Tề rành việc thuế khóa, năng làm nước mau phú cường; Machiavel ở Ý, giỏi việc chính trị, chuyên giảng bá thuật, Talleyrand ở Pháp, khéo việc ngoại giao, trải thơ sáu triều, so với ông già Trường Lạc bội phần tài giỏi. Phàm mọi quốc kế ở Trường Xuân đều khởi hứng xuất nhập ở mấy nhà này, tỉ như bắt dân làm việc thì dựa các phép tịch thổ, bản phú của họ Vệ: để đầy công khố thì khai mỏ đúc tiền, đục đất lấy muối, mở nhà buôn và nhà nữ lưu theo kế Di Ngô; củng cố vương quyền trị yên trăm họ, đã có Machiavel viết cuốn “Ông Hoàng”; hòa dịu lân bang trung lập thu lợi, đã có Talleyrand khuyển nho múa lưỡi.

Còn các tiểu kế như sinh đồ ba quan đời Lê Trịnh, tú tài trăm ngàn ở Thiên nam, tùy thời ứng dụng, đều là những kế sinh lợi rất nhiều cho quốc gia.

“Ngoài ra, hình luật nghiêm khắc viết bằng huyết lệ, lao thất lạnh lẽo đục trong đá núi, là những biện pháp hữu hiệu cho một xã hội thanh bình trật tự.”

“Thế nên, nhận xét chung, thần thấy dân Trường Xuân nhàn cư rất mực. Trà đình, tửu điếm, nhà nữ lưu ở Kinh đô lúc nào cũng như Nguyên tiêu, Hàn thực. Còn ở thôn quê, ít người cày bừa mà rộng mênh mông ruộng đất, nộp thuế xong là vừa bát ăn bát để, đủ đến mùa sau. Phải chăng vì mùa xuân trường cửu, tính dân phác thực, nên ai cũng cho thế là tự nhiên, bỏ ngoài tai lời họ Mặc, cho rằng vu khóa thảo huyền? Hỏi xem thì Trường Xuân Tể-tướng cũng đồng ý với thần như vậy.”

“Khi chào cáo biệt, thần được Tể tướng Trường Xuân hái tặng một trái cây bằng vàng có bảy ngón, lớn như trái bưởi, ở Trường Xuân người ta gọi là quả phật thủ. Sau đây thần xin dâng trình ngự lãm cùng với bản điều trần của Lục Bộ về đại kế tân dân”.

Trong khi đó, ở Soái phủ, sau khi đã dâng vua xem một cành nguyệt quế bằng vàng, một bản đồ Trường Xuân đầy đủ chi tiết, có cả đường giao thông và một bản để nghị canh tân binh bị rất dài, Nguyên soái họp các tướng lại bàn rằng:

“Muốn cho nước mạnh, không gì bằng luyện binh, muốn cho nước rộng, không gì bằng dụng binh. Kìa như Bạch Khởi chém 45 vạn quân Triệu, máu chảy đỏ sông; Gia cát Võ hầu thiêu sống trăm ngàn rợ Đằng giáp, mỡ khét hang núi; thật là những võ công hiển hách còn ghi nơi thanh sử, làm rạng rỡ giang sơn. Chúng ta rồi phải lập nên huân nghiệp, mới mong Mùa Xuân trường cứu của ta được huy hoàng, nước nhà ta được cường thịnh, trên chẳng phụ Hoàng ân, dưới vỗ yên lê-thứ.

“Tôi đây mong ân Thánh thượng, tùy giá thăm xứ Trường Xuân, khảo về binh bị, nhất định bác bỏ cái thuyết khờ khạo của người Khâu nước Lỗ, bảo rằng túc binh không quan-trọng, quyết đưa võ nghiệp đến chổ vẽ vang. Binh lính tuyển thêm, luyện tập cẩn thận, kỷ luật cho nghiêm-minh, trận đồ thật tinh thục, gươm sắc, giáo dài, lo gì đánh đâu không được đấy? Cành nguyệt quế tôi hái ở Trường Xuân chính là biểu tượng cho những Xuân chiến-thắng sau này của dân-tộc ta.”

“Rồi đây Kinh đô xây thêm yên đài, các trấn dựng nhiều Lân các, tên tuổi ta và các ông đều ghi vào trúc bạch, ngang với Khứ Bệnh, Vệ Thanh. Vậy các ông nghĩ thế nào ta gắng sức tận trung báo quốc; các ông nghĩ thế nào?”

Các tướng đều cho lời nói chí lý.

Dân chúng kinh kỳ rất nhiều người đi tìm xứ Mùa Xuân nhưng phần lớn quay về tay trắng, hoặc vì thối chí, hoặc vì thiếu tiền, đều phải giữa đường bỏ dở. Trong số những người đi tới, có một phú thương, một thi sĩ và một nàng nghệ giả. Nhà phú thương, sau hơn nữa năm bôn tẩu của Trường Xuân, dẫn về một đoàn lạc đà dài dặc, chở không biết bao nhiêu là hang quý lạ. Này đây bộ ngọc kỵ ngũ hành tỏa ra năm sắc, này đây nệm lông chim hạc mỏ sắc ở hồ Stymphale; nọ là ngà voi, công xứ Tây-bá-lợi, kia nữa da sư-tử Némee. Rồi nào trầm, nào xạ, nào lụa, nào the; giò heo của nữ quái Circe, gân chân hưou của Thái âm thần, vây ngư nữ trên đảo Caprée. Bè bạn, họ hàng xúm lại thăm hỏi, phú thương vui vẽ kể chuyện xứ Mùa Xuân.

“Thương mại ở Trường Xuân phồn thịnh lắm. Thật đúng với lời thường nói: một trăm kẻ bán, một vạn người mua. Nhiều khi bác phải nối đuôi đứng đợi hàng giờ mới đến lượt mua gạo ăn hay vãi mặc. Những đồ vưu vật rất nhiều, nhưng chắc vì nhìn mãi đã quen, nên dân Trường Xuân thảy đều thờ ơ không buồn hỏi đến. Trong nước có chừng mười nhà buôn lớn, chi nhánh khắp nơi, buôn tận gốc, bán tận ngọn, vốn một lời mười, lời trăm. Những người buôn giỏi như Chí-di Tử-bì, giàu có địch quốc như Vướng Khải, Thạch Sùng, đếm được trên đầu ngón tay.

“Công nghệ cũng rất phát đạt. Có năm nhà lớn, sản-xuất thượng vàng hạ cám, đủ các thứ hàng hóa, vật dụng. Cách tổ chức thật là chu đáo, theo phép của Taylor: có ban tư tưởng hoạch định kế sách; có ban quản lý coi việc tiền lương: người làm thì đứng thành dẫy, mỗi người chuyên một việc sản xuất mau chóng dị thường. Nước ta nếu Đức Kim thượng muốn toàn dân, ngành công nghệ tưởng không gì bằng theo cách ấy”.

Rồi nhà phú thương đưa ra khoe với họ hàng, bè bạn một số trái cây bằng vàng – chắc là táo – hái ở rừng Vạn Ý, trái nào cũng lớn đầy gang tay, tròn trịa và mát rượi.

Chàng thi sĩ “thì tóc vồng trên đầu như túp lông con cò, con hạc, đi ở giữa đời mà cứ tưởng vọng nghìn xưa”. Bấy lâu ca tụng mãi tình yêu trong vũ trụ, vẻ đẹp trong đất trời, cái hào khí của tráng sĩ Ngô môn, vóc đắm say của giai nhân thôn Trữ, chàng thấy quen quá, thuộc quá, đến hóa tầm-thường. Bởi thế chàng hăm hở đi tìm Mùa Xuân mới, làm nguồn thi hứng cho những tác phẩm sắp tới của chàng.

Chàng ở Trường Xuân một thời gian khá dài, có lẽ đến hai hay ba năm. Qua những lá thư thưa thớt chàng nhờ một vài khách thương may mắn ghé qua thung lũng Mùa Xuân chuyển về cho bạn bè, người ta được biết chàng mới tìm ra một lối làm thơ kỳ diệu.

Trong thư chàng kể:

“Các bạn có nhớ quý tài Lý Hạ làm thơ trên vách nhà xia không? Trường hợp tôi cũng thế, khác chăng là tôi không những làm thơ mà còn đặt ra cả một thể thơ, một bút pháp thơ. Sáng hôm ấy, khí xuân mát rượi, thức dậy tuy trong mình hơi nặng, tôi cũng thơ thần dạo chơi rừng Vạn Ý cho đợi nàng Thơ. Đang lúc mắt ngắm sóc giỡn quả thông, tai lắng tiếng suối rì rào, mũi ngát mùi thơm hoa tím, thần trí phiêu phiêu, tôi bỗng thấy quặn đau bụng dưới, sôi sục như trong đó sắp nổ tung một bầu hỏa diệm. Xong việc rồi, nhìn thấy tràn lan mặt đất một vùng lờ mờ trăm sắc tôi lại nhớ đến các thứ trân cam trong buổi dạ yến hồi hôm ở viện Hàn Lâm. Chợt như ánh chớp lóe soi đám ý-tưởng hổn độn trong đầu, một tứ mới vụt hiện. Rồi thi-tứ theo nhau ào ào dồn dập như cơn mưa rào theo ánh chớp mở đầu. Tôi thoát cảo 1rất nhanh, bài thơ dài hơn vạn lời. Sung sướng quá, tôi cất tiếng ngâm vang cả rừng, làm sóc ngưng đùa, suối bặt reo, hoa tím thôi tỏa hương thơm. Hơi ngâm vừa đứt, tôi khám phá ngay ra bí quyết làm thơ hay. Là thơ phải đủ muôn hồng, ngàn tía, hòa hợp nhau như màu xanh rau ghém, sắc đỏ hồng thị, ánh vàng kê đan, bày trong chóe sứ Giang tây trắng muốt. Thể thơ phải phiêu diêu tràn lan, vứt bỏ  hết mọi câu thúc của luật lệ; nhạc thơ nhờ đó mới biến đổi đến tận cùng, lúc nhẹ như hoa bay, khi hùng như thác ngàn đổ.

“Chủ-trương và đường lối đã định, từ ấy thi hứng đổi dào, ý thơ uẩn súc, đặt bút Trường Cát phải kinh, ứng khẩu Từ Kiến chịu hàng, ngữ ngữ cụ nhân (2), chứ không còn cái cảnh quẹt bút thôi sao như Liễu sinh ở Động đình thuở nọ. Nhớ câu “Lôi động Nam bang; Vũ qua Bắc hải” (3) của Trạng Quỳnh đối đáp sứ Tàu, tôi đặt tên cho thi pháp mới này là Lôi vũ.

“Thi khả dĩ hội ý, bất khả ngôn truyền, tôi chép theo đây bài “Nàng Thơ tóc xõa vai gầy” thi phẩm mới nhất của tôi, để các thi hữu thẩm xét lối thơ Lôi vũ cho được tường tế hơn”.

Mở xem, thấy chữ như cỏ may rối, ngang dọc đặc kín mười lăm trang hoa tiên khổ rộng. Có câu thật dài, có câu thật ngắn, xen lẫn quấn-quít, lại có nhiều tiếng tán thần và nhiều dấu ngắt câu điểm xuyết khấp bài, khi ngâm phải lấy hơi, vận khí. Ý tứ u ảo, đọc kỹ năm bảy lượt mới thoáng tựa trăng hạ huyền sau lớp mây dầy.

Hình ảnh thật tân kỳ, như tả sự buồn chán thì giọng văn ẩu thổ nôn nao, kể nỗi nhớ mong thì lời thơ cuống cuồng sôi bỏng. Hơi văn bách khí tán hạ, phải chú ý, thưởng thức mới khỏi văng lọt ngoài thi giới.

Bài thơ in ra, hôm sau Kinh đô có thêm ngay ngót bốn vạn nhà thơ trẻ.

Cùng đi với thi sĩ có nàng nghệ-giả. Họ vốn là đôi bạn tri âm từ lâu, thường tự ví với gái già Hà Mô gặp được Giang Châu Tư Mã. Lấy lẽ rằng ly phụ còn biết lo việc nước, nàng nghệ giả đi tìm xứ Trường Xuân đem về cho thanh sắc nước nhà những nét độc đáo, góp phần vào công cuộc tân dân.

Đến Kinh đô Trường Xuân, nàng ghi tên ngay vào giáo phường, ngày đêm học ca, luyện vũ. Giọng nàng xưa kia như khúc ngọn ngô đồng, nay đổi hẳn sang khúc gốc, nồng nàn hơn, tha thiết hơn. Tiếng hát quyện vào nhau, ríu rít như tiếng chim anh vũ, chỗ này láy thêm vần, chỗ kia lược bớt chữ, khiến người nghe phải “chau mày” ngồi im cho hai lỗ tai được đầy lời, đầy nhạc. Về vũ, nàng phối hợp các vũ điệu cổ truyền của dân tộc với các điệu múa xứ Mùa Xuân, vốn là tổng hợp của nghệ vũ bốn phương, sáng tác ra nhiều vũ khúc mới. Tỉ như vũ khúc Tạp Phiến thì nón trắng, quạt lông, lui một bước, tiến ba bước, tượng trưng cho sự nhảy vọt của nghệ thuật; vũ khúc Kích Cổ Thôi Hoa thì trống quít đeo trước bụng xiêm y tỏa rộng rồi tung lên như hoa trà mãn khai.

Nàng cũng nối ý Đường Minh Hoàng chế vũ y bảy màu cầu vông, mà họa nhiều kiểu y thường, nào áo Bồng đảo, nào xiêm Lưỡng mông, nào quần Triển cổ. Ngoài ra hương chi, lan phấn và các mỹ cụ chốn buồng khuê, nhất nhất nàng đều để tâm nghiên cứu.

Nàng về Kinh đô cùng với thi sĩ. Tặng vật ở rừng Vạn Ý của đôi bạn nghệ sĩ là một bó trăm hoa bằng đủ một trăm thứ ngọc, cành lá bằng vàng, ngụ ý đem về cho vườn văn nghệ nước nhà đủ hương sắc bốn phương.

II

Mười năm, Kinh đô bây giờ hoàn-toàn đổi khác. Ngay từ khi Thiên tử xuống chiếu tân dân, liên tiếp nhau những kế-sách của Thừa-tướng, những võ công của Nguyên soái, những công cuộc kinh doanh của phú thương, những hoạt động văn nghệ của thi sĩ và nàng nghệ giả, đã làm chốn đế kinh hoan lạc bất tận và phồn thịnh rỡ ràng, khiến cho mọi người đều hoan-hỉ.

Nhà vua hoan-hỉ thấy nhiều cung điện nguy nga được xây cất thêm, nhiều ngự uyển tráng lệ được trồng thêm, nhiều chim kỳ thú lạ được nuôi thêm; thấy toàn dân ca tụng thánh quân, thấm nhuần vũ lộ, và nhất là thấy nhiều tượng đồng tượng đá của ngài và của hoàng gia – trong đó có cả con chó nhỏ của công-chúa út -đủ kiểu, đủ cỡ, được dựng lên nhan-nhản khắp nơi. Thừa tướng hoan hỉ thấy công khố mỗi ngày thêm chặt, công thự mỗi ngày thêm rộng, khiến nhớ đến câu “chu môn tửu nhục” của Đỗ Công Bộ mà lòng thêm tự đắc; thấy Quốc từ-giám vắng tanh nạn thất học còn đâu nữa; thấy lao thất đầy người – bao nhiêu vô loại bắt hết và nhất là thấy dân quê cứ thêm chăm chỉ trong việc nông tang mẫn cán trong việc thuế má, mà hé môi nữa tiếng không hề. Nguyên soái hoan hỉ thấy đông tan đoài tĩnh, lân bang xứ xứ đến triều dâng cống; thấy ba quân dung mãnh tựa hồ lang, khí thế như ngói tan trúc chẻ, thấy oai danh mình lừng lẫy, thoáng nghe bọ ngựa hết dám giơ càng, ễnh ương thôi không phồng bụng và nhất là thấy hình mình đeo hồ phù, ngồi da báo, chễm chệ trên chỗ nhất ở Yên đài.

Phú thương hoan hi thấy kinh doanh phát đạt, sản xuất từng chùm; thấy tiền bạc hanh thông, buôn một lời trăm lãi vạn; thấy cửa nhà san sát, ruộng nương thẳng cánh cò bay và nhất là khi nhấp chén trà Trăm-mã, gật gù lẩm nhẩm đọc đôi liễn sơn chữ vàng “Thư danh Đào Trí Phú – Kim thành một nại hà” treo hai bên tủ kính lớn trong bày những trái cây vàng ở Tứ Vọng lâm và nhiều khối vàng khác đúc đủ kiếu hình kỷ hà học.

Thi sĩ hoan hỉ thấy thơ mình càng thêm uyên do thâm trầm, mà cả đến đám phu dội nước, bọn lái buôn tôm cũng tụng đọc ngâm nga; thấy thơ in của mình tràn ngập phố phường, làm giấy vọt tăng giá đất; thấy người người ngưỡng mộ thơ mình, cả đến lọ tương cũng bọc thơ Lôi Vũ và nhất là thấy tài mình đắc dụng, quân vương chú ý, phong làm học-sĩ, cho cầm đầu hết mọi văn trào, tự ý thi thố tài năng.

Nàng nghệ giả hoan hỉ hơn ai hết. Được vua tin yêu, vời vào cung lập giáo phường và huấn luyện đoàn Hồng cần đệ tử, nàng có thế lực rất lớn, đến thi-sĩ là bạn tri-âm mà đôi lúc cũng phải gờm. Nhờ những hăng hái ấy, không khí nghệ thuật cực kỳ sôi nổi tưng bừng.

Thi nhân đông hơn bách tính, Tao đàn lập nhiều như nấm rạ sau mưa, đến nỗi thiếu cả tên đặt. Mỗi tuần lại có vài trăm danh kỹ trúng tuyển vào giáo-phường. Người ta tính ra trong mười tám triệu dân, có đến tám triệu gieo vần chọn chữ, tám triệu lựa giọng ca ngâm. Thấy đông như vậy, Thừa tướng – người lúc nào cũng nghĩ đến lợi tức quốc gia – đã một phen dâng biểu xin đánh thuế và bán bảng nghệ sĩ cho những ai muốn làm thơ, làm nhạc. Không may cho Thừa tướng. Thiên tử lại yêu thơ nhạc hơn cả Dionysos và Néron cộng lại nên biểu văn bị bác và Thừa tướng suýt bay đầu. Dân chúng cũng hoan hỉ khi thấy nàng nghệ giả nhày múa, lòng mừng nước vui, thấy thi sĩ ngâm thơ, lòng mừng nước có văn hiến; thấy hàng hóa tràn ngập của phú thương, lòng mừng nước có tài nguyên; thấy gươm giáo sáng lòa của quân binh Nguyên soái, lòng mừng nước mạnh; thấy vựa thóc thuế cao chót vót của Thừa tướng, lòng mừng nước giàu và nhất là khi thấy Thiên tử ngự giá tuần du, lòng mừng nước có anh quân.

Khi ấy voi ngựa đầy đường, giáp binh chật đất, quan văn mũ đai đường bệ, quan võ giáp trụ hiên ngang, cung nga thể nữ xiêm nghê lả lướt, xúm xít quanh đấng Chí tôn. Dân chúng đứng kín hai bên đường, cứ trông bóng cờ nhật nguyệt long phụng mà tung hô vạn tuế. Khắp nước thanh bình, bốn phương phẳng lặng. Thảng hoặc có đánh dẹp vài nhóm thổ hào, thì Thiên tử hội triều, Thừa-tướng dâng kế, Nguyên soái cầm quân, phú thương vận lương tích thảo, thi sĩ cất bút thảo-hịch, nàng nghệ giả ca bài Lương-Châu, múa

khúc Tái Hạ, ba quân nức lòng. Và trăm họ càng thêm hoan hỉ, cố cho nước mình là một Thung lũng Trường Xuân trên coi đời. Thế mà vẫn có người chưa thấy mình được Mùa Xuân. Ấy là vợ một anh nông phu, sống trong làng nhỏ phía đông kinh thành, cách non trăm dặm. Thấy nghiệp nông tang có phần vất và, việc phụng xuyến nhạt tẻ thế nào, chị đã đôi phen ngỏ ý rời quê, lên sinh sống nơi Kẻ Chợ. Rồi chẳng biết nghe ai kể chuyện Trường Xuân, chị luôn thôi thúc chồng đi tìm rừng Vạn Ý, để có một chút vàng ngọc điểm trang. Ước mong có thế mà chồng vẫn như không biết đến. Bèn mặt sa chữ nãi, miệng hến ngậm tăm, làm ra vang mình sốt mẩy, đóng cửa ôm gối thở dài. Anh nông phu sở dĩ bỏ qua lời vợ, bởi tính anh vốn giản dị chất phác. Đời cày ruộng quanh năm bận rộn, hết chiêm đến mùa, qua ngô rồi đỗ, đâu còn thì giờ nghĩ tới phục sức điểm trang. Nhất là từ khi tân pháp ban hành, nha lệ lui tới luôn luôn, nổi trống khua mõ, họp dân truyền lệnh quan trên, nào cày bừa cho chăm, trồng cấy cho khéo; nào sớm ươm tơ, chiều dệt lụa; nào chăm chút trẻ

thơ, nuôi béo gà lợn, đến nỗi nhiều khi anh phải bỏ cơm sáng, bãi cơm chiều, đi nghe hiểu dụ – anh lại càng phải ra sức cho chóng về Mùa Xuân trường cửu.

Dáng người cục mịch chắc chắn tay mạnh như đôi trăn lớn, hai chân thẳng tắp vừng trồng, anh được người làng yêu mến vì tính cần-cù cẩn-thận, ít nói hay làm. Anh lại có một giọng hát mê hồn, và người ta vẫn bảo anh là hậu thân Trương-Chi thuở trước, tuy diện mạo anh chẳng có nết chỉ đến tủi lược, hờn gương. Vợ anh nổi tiếng hoa khôi, treo cao giá ngọc, mà chịu gá duyên cầm sắt với anh, cũng vì giọng hát đầm ẩm rung động đến tận những sợi tơ lòng mảnh nhất.

Trước kia anh hát ca dao, mỗi khi cất giọng, mọi người nín thở, tưởng nghe hồn nước thở than, cổ sơ mộc mạc; núi sông lên tiếng, vàng sắt giao chen. Những đêm xuân trăng sáng, anh hát khúc ân tình lời ca tan trong ánh trăng, thôn nữ tim non thổn thức. Rồi khi trời thu đỏ ráng, cò trắng lẻ bay, anh ca bài du tử, không khí trong trẻo ngân vang, bồi hồi mẹ già tựa cửa. Bây giờ anh ngâm những bản âu ca của thi sĩ, như bài rủ nhau đi cày, bài ơn trên mưa móc, lời thơ dễ dãi, đậm màu thịnh trị, nhờ giọng anh cũng được dân quê thưởng thức khá nhiều. Nghe vợ thôi thúc mãi, dù hiền như cục đất cày, anh cũng động tâm, huống hồ lần này vợ làm mặt giận. Một phần nể vợ, một phần muốn cho xong chuyện, ngày kia gặt hái thuế má tạm xong.

anh khăn gói vắt vai đi tìm Thung lũng Mùa Xuân. Tức thì vợ anh bách bệnh tiêu tan, mặt mày tươi rói, lúc nào cũng bấm tay giờ khắc và tính trước cân lượng những hoa, hột, xuyến, vòng. Không biết anh có đi tới nơi không, mà chỉ tuần sau anh đã trở về. Nét mặt nhuốm chút ưu tư, anh ừ ào cho qua lời săn đón của vợ. Khăn gói mở ra, hai bộ quần áo nâu vẫn còn nguyên nếp. Lấp-ló bên dưới có một ánh vàng. Vợ anh mừng quýnh, lật vội ra xem, thấy chỉ là hai bông lúa lép. Chị giận, bỏ thẳng về nhà mẹ đẻ, mặc anh thui thủi

với con chó vện già. Từ ấy, anh lầm lì cày cấy, có phần chăm chỉ hơn xưa. Và anh thôi không hát nửa. Khiến cho mấy cô thôn nữ mới lớn bang khuâng nhớ tiếc, mỗi khi chiều lên, trâu về ngõ xóm.

Năm ấy, trong nước mất mùa. Ba năm sau Kinh-đô lại một phen xao-động. Nhưng lần này không phải do một khách thương nào từ phương xa về tha hồ kể lại, mà do một cuộc nổi loạn bất ngờ. Nguyên nhân chính thật không ai biết rõ. Người ta đang vui vì mùa mới được to, bù lại hai năm đại hạn, lúa mạ bỏ héo, đất phải thay trồng cấy mà lấy sợi, theo kế hoạch “xã nông, cơ hóa” của Thừa tướng. Nhờ thế xuân sắc giữ được phần nào, người dân có sống, khô miệng âu ca trong khi chờ giờ ăn tập thể. Dân số kinh kỳ chợt tăng gấp bốn, gấp năm.

Cây mạ cũng không chịu nổi nắng, người ta phải bỏ làng mà đi. Mùa cấy năm nay, trời bổng mưa to, trong ba ngày liên-tiếp. Đến hạt khô vãi từ năm trước cũng phải nứt vỏ ra mầm. Và bây giờ người ta đang sửa soạn về đồng, vì lúa vàng đã rũ nặng khắp nơi. Người ta cũng chẳng biết tên tuổi, mặt mũi kẻ thủ-xướng ra sao. Chỉ thấy đồn đại rằng đấy là một thư sinh đã từng du lịch xứ Mùa Xuân, hình khô, vóc nhỏ, cả người nổi nhất có cái trán rộng và gồ, làm thêm sâu đôi mắt sơn miêu vốn được che dưới hai hàng mày rậm.

Trước ngày đại biến, Kinh-đô mở hội đã ba hôm, mừng nhà vua sinh Công chúa thứ bốn mươi mốt. Đầy tháng vào đúng ngày đầu mùa gặt mới, vua cho là tường triệu, ra lệnh mở hội thật to. Tạm quên lo nghĩ, người Kẻ Chợ đổ hết ra đường, phô trương quần áo, chen nhau đi như nước chảy. Biến loạn khởi đầu bằng cuộc xô xát trước cửa hàng của phú thương. Trên bục gỗ cao để diễn tuổng ngày hội, một thanh niên tóc rối, râu xồm, nước da xanh mét, giậm chân, vung tay, nói những lời ngô nghê khó hiểu. Lắng nghe thì thấy như: tôi là chủ, các ông là chủ, chúng ta là chủ … Lại thấy như: nó đánh ta, ta phải diệt nó … Dân chúng nghe mà bỡ ngỡ ngần ngơ, nhưng vì hiếu kỳ, tụ lại mỗi lúc mỗi đông. Chàng trai râu xồm lại phát cho mỗi người một tờ giấy nhỏ, mặt trước vẽ người quỳ giơ đầu chịu chém, mặt sau đại khái cũng vẫn những lời nói khi rồi. Dân chúng xem hình, đọc chữ, lại càng thêm ngần ngơ bỡ ngỡ. Bỗng vệ binh ở đâu chạy tới, tuốt kiếm bắt im. Chàng trai không chịu; thế là biến loạn nổ bùng, lan nhanh như vết dầu loang trên giấy bản. Lần lượt, kho lương rồi kho vũ khí phủ Nguyên soái, phủ Thừa tướng, rồi đến Hoàng cung, loạn quân xông vào chiếm giữ. Bị tấn công bất chợt, bình lính trở tay không kịp, đều phải bỏ giáp quy hàng. Nguyên soái lúc ấy đang dự cuộc chọi gà, Thừa tướng đang hầu cờ Thiên tử, nhà phú thương đang đánh tổ tôm và cố nhiên thi-sĩ đang ngâm thơ, nàng nghệ giả đang múa hát. Dân-chúng thừa cơ đốt phá, tràn vào cung điện, dinh thự như nước vỡ bờ. Trong đám gươm đao hỗn loạn, Vua, Hoàng hậu và Nguyên soái bị băm nát như tương. Người ta sục sạo tìm giết Thừa tướng. Reo hò đòi treo cổ phú thương. Có kẻ nói Thừa tướng đã trốn thoát ra nước ngoài; còn phú thương thì biệt vô âm tín. Bốn chục nàng Công chúa tán lạc khắp nơi, Công chúa áp út trong khi chạy, tay vẫn khư khư ôm con chó nhỏ. Trong cung chén đũa ngồn ngang, rượu thịt cháy khét; dầu sáp đổ thành vũng, gương vỡ lấp lánh như sao sa, gấm vóc chất đống như cỏ ngựa. Người ta kéo đồ hết các tượng vua chúa, đốt cháy Yên đài, phá tan nhà hàng của phú thương, và bắt giam thi sĩ. Nàng nghệ giả bơ vơ thân gái, lại trở về xóm Ngũ Lăng. Cung thất khói lửa nghi ngút ba tháng chưa tắt, thiêu hủy không biết bao nhiêu vàng ngọc, bao nhiêu lụa là. Bới đống tro tàn, người ta tìm thấy đủ hết các bùa linh rừng Vạn Ý, cành Thiên tuế, hoa vạn thọ, quả phật thủ, lá nguyệt quế, hoa trăm sắc, quả ngàn cân, đều đã thành than khẽ đụng là hóa ra tro bụi.

Mùa gặt đã xong.

Ở Kinh đô cũng như trong các thôn xóm, sôi nổi lắng dịu, đời sống dần trở lại bình thường. Người Kẻ Chợ, quá quen với mọi trò vân cẩu, lại tiếp tục ồn ào, tới lui đông nghẹt các nơi giải trí. Người thôn quê thêm một lần phải lắng nghe những bài biện thuyết tràng giang đại hải, khó hiểu ngô nghê chẳng kém những lời của chàng râu xốm ngày nọ; thêm một lần lại lặng lẽ tiếp nhận, thi hành các điều lệ mới, lúc nào cũng sẵn sàng như đất mầu giữ hạt hàng năm mà không hề mỏi. Sớm sớm dậy cùng gà gáy, người dân quê vác cày dẫn trâu ra ruộng, để chỉ trở về khi đỏ úa trời tây. Chiều chiều, các cụ già họp nhau ở đầu làng, bàn luận một vài tin mới, nghiệm lại một câu sấm cũ kỹ truyền lại không biết tự đời nào. Và anh nông phu lại hát. Anh lại hất ca dao. Nhưng giọng anh bây giờ nhuốm một vẻ buồn, nhẹ nhàng chua xót; tắt rồi cái giọng đầm ấm hồn nhiên. Trán anh chom nhãn tuy khóe miệng vẫn đượm nụ cười tươi tuổi trẻ. Vợ anh, thôi mê tiếng hát đã bỏ anh lên Kinh đô tìm Mùa Xuân từ trước khi biến loạn. Anh chẳng biết nàng còn sống sót hay chăng và cũng không buồn tìm kiếm. Nhân lúc anh ngừng hát, một người làng hỏi anh:

– Vậy chứ hồi ấy anh có tìm thấy Mùa Xuân không? Thì anh trả lời: “Có chứ!”

Rồi yên lặng, mắt nhìn đồng mạ, xanh rì gần khắp, chỉ còn đôi dải nước phù sa loáng ánh mặt trời.

NGHIÊM SỸ TUẤN [Trích Tình Thương số 2, Xuân 1964]

(1) Thoát cảo: thoát ra khỏi bản thảo, ý nói “viết xong, làm xong”.

(2) Ngữ ngữ cụ nhân: mỗi chữ làm người ta phải sợ, ý nói “có những tứ lạ, những ý tưởng đặc sắc”.

(3) Câu đối đáp của Trạng Quỳnh với sử Tâu chỉ là giai thoại dân gian chứ không phải chuyện thật được ghi trong sử sách. Theo giai thoại, một viên chức trong sứ bộ Tàu làm một phát trung-tiện trên thuyền. Hắn bèn nói với các bạn: Lôi động Nam bang /Sấm động mước Nam. Trạng Quỳnh trong vai người chèo thuyền bước lên đầu thuyền, vén quần đái xuống sông rồi nói to cho cả sứ bộ Tàu nghe: Vũ qua Bắc hải / Mưa qua bể Bắc.

Dấu chân người tỵ nạn

Đồng Sa Băng
Post by Sơn râu 17 Dec 2025

5. Guam và Bản Tình Ca

Chiếc C- 130 đáp xuống phi trường Anderson, Guam, căn cứ không quân Hoa Kỳ chiều 20- 6- 1975. Phi cơ lăn bánh chậm dần và tách ra khỏi phi đạo vào một khu trống. Đoàn người tị nạn khoảng 300 nam – nữ – già – trẻ – lớn – bé, ăn mặc đủ màu, đủ kiểu với những bộ đồ rộng thềnh thoàng được phát từ trại tị nạn Subic Bay, vai mang túi xách lố nhố đứng lên khỏi ghế ngồi. Khi chiếc phi cơ ngừng hẳn, một cầu thang cao, dài được đẩy lại và áp vào thân phi cơ, đoàn người tị nạn lần lượt bước xuống bực thang. 
Dưới sự hướng dẫn của binh sĩ Hoa Kỳ, đoàn người xếp thành một hàng dài ngay thẳng, bước đến những chiếc xe buýt màu vàng chờ sẳn trên sân bay. Sau khi năm ba binh sĩ Hoa Kỳ kiểm soát xong, và ra dấu hiệu đoàn người tị nạn đã lên xe, những chiếc xe buýt nối đuôi nhau rời phi trường Anderson. 
Tôi ngồi trên xe với đoàn người tị nạn. Chiếc xe chạy boong boong trên đại lộ dọc theo ven biển về phương Nam của đảo Guam. Nhìn chung quanh nhà cửa thưa thớt, bóng cây thấp lòi còi. Bên đường những ngọn cỏ yếu ớt, lưa thưa trải trên lớp đất cát màu trắng đục. Đó đây một vài tiệm ăn nghèo nàn nằm bên cạnh những quán bar. Quang cảnh nơi đây trơ trụi đến hốc hác như những thị trấn ở miền Tây Hoa Kỳ trong những bộ phim Wild Wild West. Mọi người đang chăm chú nhìn quang cảnh hai bên đường thì đoàn xe buýt chạy chậm lại, và quẹo mặt vào một doanh trại bên bờ biển. Tôi đưa mắt nhìn về phía cổng, một hàng chữ trắng, lớn, đậm nét chạy trên tấm biển xanh. Tôi quay qua nói với người con gái ngồi bên cạnh: 
“Đây là trại Asan của đảo Guam.” 
“Sao anh biết?” Người con gái hỏi tôi. 
“Ừ, thì trên bảng ghi là Camp Asan, Marine Barracks Guam kia kìa.” 
Chiếc xe buýt ngừng lại trước doanh trại. Mọi người lục đục mang túi xách tay bước xuống xe. Vừa đặt chân xuống đất, tôi thấy một đám người Việt đứng cách xa khoảng vài ba chục thước, lao nhao dõi mắt nhìn về chúng tôi. Họ là những người ti nạn đến đây vài ba tuần trước, ra tìm người quen. Tiếng la tên người ơi ới vang cả khu trại. Những bàn tay đưa lên, những tiếng la đáp lại, và trong đám đông có những gương mặt mừng vui. 
Trại Asan là một trong những trung tâm đón nhận người Việt tị nạn trong Chiến Dịch Đời Sống Mới (Operaion New Life) di tản sau ngày miền Nam sụp đổ. 
Theo “Operation New Life April 23 – October 16, 1975” của tờ TenderTale.com: 
“Vào đầu tháng 4- 1975, biết rằng miền Nam Việt Nam sẽ rơi vào tay miền Bắc, Hoa Kỳ ra chỉ thị dùng đảo Guam làm trạm chuyển tiếp để cứu xét những người di tản. Chiều 21- 4- 1975 chính quyền địa phương phát hiện một chiếc phi cơ của đội Phi Hổ đến Guam với 99 hành khách, đây là giọt nước đầu tiên của dòng thác tị nạn. Hai ngày sau đó, 23- 4- 1975, làn sóng tị nạn bắt đầu tràn ngập, mở màng cho Chiến Dịch Đời Sống Mới, và dòng thác tị nạn có lúc đã phun ra đến năm ngàn người di tản mỗi ngày. 
Trong khi những người di tản đầu tiên tạm cư trong những căn cứ nhỏ rải rác trên đảo Guam, chính quyền nhận thấy giải pháp này không đáp ứng được nhu cầu tị nạn lâu dài, nên đã chỉ thị quân đội bắt đầu thiết lập những trại tị nạn quy mô hơn: Phố hộp (Tin City) gồm những trại lính chung quanh căn cứ không quân Anderson, và Mũi Orote (Orote Point). Mũi Orote thuộc căn cứ Hải Quân Guam được tẩy sạch hơn 500 mẫu tây hoang dã nằm bên cạnh phi đạo để dựng lên hàng trăm căn lều vải và được mệnh danh là Phố Lều – Tent City.” 
Kết quả, Mũi Orote là điểm đến của hàng ngàn người di tản đầu tiên. Trong nhóm người này, một phần là quân nhân và những người di tản đến đây bằng phi cơ vào ngày 30- 4- 1975 và những ngày trước đó. Sau ngày 30- 4- 1975 những phi trường miền Nam Việt Nam đều bị cưỡng chiếm và phong tỏa, nhưng nhiều người vẫn tiếp tục ra đi bằng tàu Hải Quân của quân lực VNCH hoặc những thương thuyền và tàu đánh cá. 
Cũng theo tờ TenderTale.com: 
“Ngày 7 tháng 5, 1975 ba chiếc tàu cập vào hải cảng Apra, Guam với gần 15 ngàn người di tản. Và hai ngày kế đó, ba chiếc tàu khác đổ xuống Apra gần 8 ngàn người tị nạn. Tất cả, có trên 115 ngàn người ti nạn đi qua ngã Guam. Một con số trên cả dân số của đảo Guam ở thời đó ít nhất là 25 ngàn người. Trong khi hầu hết những người tị nạn tiếp tục con đường đến đất liền Hoa Kỳ thì có khoảng 500 người chọn Guam làm quê hương thứ hai. Chiến Dịch Đời Sống Mới chính thức chấm dứt vào ngày 16 tháng 10, 1975, nhưng thật ra mãi đến ngày 15 tháng Giêng, 1976 người di tản cuối cùng mới rời khỏi đảo Guam!” 
Kết thúc Chiến Dịch Đời Sống Mới có khỏang 140.000 người Việt tị nạn ra đi khắp nơi trên thế giới. Những chiếc tàu đến đảo Guam trong những ngày đầu tháng 5, 1975 gồm có chiếc thương thuyền USS Challenger của Hoa Kỳ, Việt Nam Thương Tín, Tân Nam Việt, và nhiều chiếc tàu khác thuộc Đệ Thất Hạm Đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Những ngày kế tiếp hàng loạt những tàu khác như Long Châu, Long Hồ, Đồng Nai, và 45 chiếc chiến hạm của Hải Quân VNCH đến từ Subic Bay. 
Dòng thác người tị nạn càng ngày càng đông, Orote Point không thể cưu mang nổi. Từ đó trại Asan được mở ra để đón tiếp người tị nạn. Trại Asan là hậu thân của Trạm Xá Y Tế Asan nằm trên bờ biển phía Đông đảo Guam. 
Theo tờ nps.gov: 
“Sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, biển Asan được biết với tên Trại Asan cho đến năm 1947. Trại Asan được xử dụng làm tổng hành dinh và trại lính cho tiểu đoàn công binh Seabees của Hải Quân Hoa Kỳ, tiểu đoàn này đã giúp đở tái thiết đảo Guam thời hậu thế chiến II. Và từ năm 1948 đến 1967 trại Asan được đổi thành Trại Dịch Vụ Dân Sự (Camp Civil Service). Thực chất đó là một căn cứ quân đội nhỏ với những đơn vị gia binh, rạp chiếu bóng ngoài trời, sân quần vợt và trạm cứu hỏa. Đến năm 1968 Hải Quân Hoa Kỳ biến đổi cơ sở này thành Trạm Xá Y Tế phục vụ quân nhân Hoa Kỳ bị thương từ chiến trường Việt Nam. Trạm Xá Y Tế này hoạt động được 7 năm, đến năm 1975 Trạm Xá được đổi thành trại tị nạn, đón nhận dân di tản Việt Nam. Năm 1976 một trận cuồng phong mang tên Pamela đã san bằng trại tị nạn Asan!” 
Tôi theo đoàn người bước xuống xe, xếp thành một hàng ngoằn ngoèo như con rắn lần lược đi vào trung tâm cứu xét hồ sơ (Processing Center). Hàng người đông, dài di chuyển chậm chạp như rùa. Rồi cũng đến phiên tôi được phỏng vấn bởi nhân viên phòng Processing Center. Người phỏng vấn là một nhân viên Hoa Kỳ và một thông dịch viên Việt Nam. Những câu hỏi đều bằng tiếng Anh và được thông dịch viên lập lại. Sau này tôi biết những nhân viên phỏng vấn người Mỹ đều biết nói và hiểu tiếng Việt rất rành, nhưng họ vẫn không nói tiếng Việt khi phỏng vấn. Câu hỏi đầu tiên là: 
“Gia đình bạn có mấy người và bạn muốn đi định cư nước nào?” 
“Dạ em chỉ có một mình và em muốn đi Mỹ.” 
“Tại sao muốn đi Mỹ, bạn có người thân nào bên Mỹ không?” 
“Dạ em không có bà con nào sống ngoài Việt Nam hết, nhưng em có nhiều người quen là sĩ quan Mỳ và một người là Bác Sĩ Mỹ.” 
“Đàn ông hay đàn bà, tên gì, ở tiểu bang nào?” 
“Dạ đàn ông, một anh Thiếu Úy tên Bob Beau ở Washington DC, một anh Thiếu Úy khác tên Chilldress ở đâu em quên mất, còn một người Bác Sĩ giải phẩu tên Hugh Crawford ở tiểu bang Cali. Em có tờ giấy bảo lảnh của ông Bác Sĩ đây nề.” 
“Bạn quen với những người này trong trường hợp nào?” 
“Dạ hồi em làm cho cơ quan USAID ở Sài Gòn.” 
“Giấy tờ bảo lảnh của ông Bác Sĩ đâu cho xem.” 
“Đây, anh xem xong cho lại em nhe. Ông BS gởi thư này cho em hồi tháng 2, 1975 nói chịu trách nhiệm cho em bất cứ nơi nào, sẽ bảo trợ cho em và giúp em tiếp tục đi học nên em chỉ muốn về nhà ông ấy thôi. Và đây là giấy khai sinh, thẻ căn cước, chứng chỉ Tú Tài đôi, và thẻ sinh viên của em ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn.” 
Tôi đưa hết những giấy tờ tùy thân và lá thư của người bạn BS cho người phỏng vấn xem. Xong họ trả lại tôi những giấy tờ và bức thư. Người phỏng vấn trao cho tôi, cũng như mọi người tị nạn khác, một thẻ I- 94 nhỏ bằng ba ngón tay rồi bảo trở về trại. Thẻ I- 94 là tấm bùa hộ mạng duy nhất mà mỗi người tị nạn Việt Nam được cấp khi vào đất Mỹ. Trên mảnh giấy I- 94 có ghi ngày tháng cấp phát, tên người tị nạn được chấp nhận vào Hoa Kỳ theo chế độ “tạm trú” (Parole) và có quyền làm việc tại Hoa Kỳ. 
Tôi rời Processing Center, bước chân vào trại Asan một chiều nắng cháy của tháng 6 năm 1975. Doanh trại là những căn nhà hẹp, dài, thông suốt từ đầu này đến đầu kia. Trong căn trại trống trải người ta đặt hai dãy giường bố dọc theo chiều dài của trại, mỗi giường cho một người, và chừa lối đi ở giữa. Những gia đình đông người được ở sát bên nhau, và họ lấy những tấm vải treo lên để có chút riêng tư. Những người độc thân có thể khai là bạn bè và cũng được ở chung trong một khu. 
Hành trang tôi mang theo chỉ là một túi vải đựng năm ba cuốn sách giáo khoa và một cây sáo trúc. Nhưng cây sáo trúc không chịu nổi những va chạm trên đường đi nên đã bị dập, không còn phát ra tiếng sáo. Bộ sách Toán Lý Hóa và cuốn tự điển sau khi cùng tôi nhảy xuống biển Đông ngoài khơi Vũng Tàu ướt như chuột lột, giờ những trang giấy sần sùi, cong lên làm cho bộ sách có phần “mập” ra. Nhìn chung quanh những người “hàng xóm” của tôi cũng đang nhét những túi vải dưới gầm giường. Có người bật lưng ra trên giường thở dài một tiếng, có người bắt chuyện làm quen với những người “láng giềng.” Trong giây lát căn trại đầy ấp những người “cũ” đến tìm người quen, tiếng chào hỏi, nhừng câu dặn dò, tiếng cười làm cho căn trại vui hẳn lên. Tôi quay qua bên cạnh, bắt gặp người con gái ngồi bên tôi trên chuyến xe buýt từ sân bay Anderson, đang sắp xếp đồ đạt cùng gia đình. Tôi nhìn nàng, chỉ tay xuống gầm giường và nói:
“Nhờ em ngó dùm gói đồ của anh chút nhe.” 
“Cái gì trong đó, quan trọng không?” 
“Đối với anh thì quan trọng, còn người khác thì cho còn bị chửi nữa.” 
Nàng cười dòn và nói: 
“Vậy đưa đây em giữ dùm cho. Mà anh đi đâu?” 
Tôi trao túi sách cho nàng rồi bước ra sân doanh trại. Bóng người đi lại trong sân rộn ràng, tôi bước đến bản thông tin chăm chú đọc từng mẫu tin nhỏ mong tìm được một vài tên quen thuộc. Không thấy. Tôi lại lang thang khắp nơi trong trại tìm nhóm người đi trên tàu Long Châu. Không gặp ai, tôi trở về phòng gieo người trên giường nằm nhìn trần nhà. Tôi thấy cũng lạ, ngày ra đi tôi chỉ đi một mình, tất cả anh em, bạn bè, Phương và gia đình đều ở lại Việt Nam. Nhưng bây giờ, mỗi lần bước chân đến trại tị nạn nào việc đầu tiên tôi làm là đến bảng thông tin tìm tên, may ra có một tên gọi là Phương! Nhưng rồi tìm đỏ mắt cũng không thấy tên Phương mà tôi muốn tìm, tôi lại lủi thủi trở về trại. Rồi mỗi lần có tin người tị nạn mới nhập trại là tôi lại lật đật chạy ra xem, may ra gặp được người thân. Chưa lần nào tôi được gặp hên, nhưng cũng chưa lần nào đoàn người mới đến trại Asan mà tôi không ra đón xem. Mà không chỉ riêng mình tôi làm điều này! Thì ra những người tị nạn khác, như tôi, cũng đang nhớ nhà, nhớ người thân. 
Chiều về tôi ra xếp hàng vào nhà ăn. Hàng người dài lê thê, tôi bước ra khỏi hàng ngũ và đi từ đầu đến cuối, trong hàng người này tôi tìm và gặp lại hết những người đi trên tàu Long Châu. Nhưng Điện, người cùng tôi nhảy xuống biển Đông, không đến đây. Một lần nữa chúng tôi được hội ngộ, nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn rồi chúng tôi cũng phải chia tay, như mấy lần trước. Cuộc đời như những cánh bèo trong dòng nước. Sau này tôi biết Điện lên tàu Hải Quân Hoa Kỳ cùng với hàng ngàn người khác đến Wake. 
Trong trại tị nạn có những em bé ra đi cùng cha mẹ, nhưng khi cha mẹ đưa những em bé này từ tàu nhỏ lên tàu lớn, nữa chừng tàu đầy người, rút giây thang không không cho người lên thêm. Cha mẹ chỉ biết đưa tay ra khóc, la ú ớ nhìn con đi một nơi mình một nẽo. Có em may mắn gặp lại cha mẹ trên trại, có em chỉ biết theo chân những người “cha nuôi”. Thỉnh thoảng người ta nhìn thấy những người “cha nuôi” bắt đắc dĩ dắt tay “con mình” đi lang thang trên trại như gà trống nuôi con. Bạn tôi, Sơn, 20 tuổi. Một hôm tình cờ một em bé 13 tuổi đi trong Chiến Dịch Babylift (Operation Babylift), không cha, không mẹ, không người thân, gặp Sơn, Sơn dẫn về trại. Người trong trại hỏi: 
“Ai đây?” 
Sơn trả lời: 
“Thằng con nuôi của tui.” 
Mọi người bật cười: 
“Trời! Thằng con gì mà lớn hơn thằng cha rồi.” 
Vậy mà “hai cha con” dẫn nhau đến Mỹ rồi cũng học thành tài như ai! 
Lúc tôi đến thì trại Asan đã đông người lắm rồi. Sinh hoạt nơi đây rất nhộn nhịp. Như trên đã nói, trại Asan trước kia là một bệnh xá, có nhà ăn, sân chơi, khu chiếu bóng ngoài trời, và bãi biển nằm bên cạnh. Trại Asan có một người tên Tony Lâm làm đại diện trại. Bên cạnh Processing Center là một trụ đèn cao, trên trụ đèn có gắn hai, ba loa phóng thanh chỉa ra mọi hướng. Giống như Sài Gòn sau ngày “giải phóng” vậy, chính quyền gắn loa phóng thanh trên nhiều cột đèn khắp ngõ hẻm để nhắc nhở dân. Loa phóng thanh phát lên tùy hứng, không kỳ thị giờ giấc, bất kể sớm – trưa – chiều – tối và luôn cả lúc những người mẹ đang nhọc nhằn ru con vào giấc ngủ! Hay sáng sớm tinh sương những người lao động vẫn còn vùi trong giấc ngủ thì, tiếng loa phóng thanh vang lên, đinh tai nhức óc! Mà chuyện này vẫn còn xảy ra hơn ba mươi năm, sau khi chiến tranh chấm dứt! 
Loa phóng thanh ở cột đèn Asan đưa những tin nóng liên quan đến người tị nạn, và thỉnh thoảng người tị nạn cũng nhờ ban quản trị rao tìm người thân, con em đi lạc. 
Bấy giờ ở Guam có một chương trình phát thanh tiếng Việt do cô Kim Vui phụ trách. Cô Kim Vui là nữ ca sĩ tại Sài Gòn thời 50’s, 60’s, có giọng ca cao vút được thính giả ái mộ qua những bài ca của Phạm Duy. Nữ ca sĩ Kim Vui lấy chồng Mỹ và lúc đó đang cư ngụ tại Guam nên cộng tác với chương trình đài phát thanh để đưa tin cho hàng ngàn người Việt tị nạn. Ngoài ra đảo Guam còn có phát hành nhật báo Chân Trời Mới, lưu hành trong các trại tị nạn. Nhật báo Chân Trời Mới khổ nhỏ hơn báo bình thường, có 4 trang và tiếng Việt phải bỏ dấu bằng tay. Qua đài phát thanh và nhật báo Chân Trời Mới, người Việt tị nạn được cập nhật nhiều thông tin về cộng đồng người tịn nạn và các nghệ sĩ có mặt tại đảo Guam như: Phạm Duy, Võ Phiến, Vũ Khắc Khoan, v.v. Ca sĩ Khánh Ly thì ở bên đảo Wake. Nhưng tin tức bên trong Việt Nam thì rất hiếm hoi. 
Mỗi buổi sáng, khi mặt trời lên cao, hàng ngàn người tị nạn đổ ra sinh hoạt nhộn nhịp. Processing Center là nơi thu hút nhiều người. Người người đi và đến Processing Center để điều chỉnh, bổ túc hồ sơ và tìm người thân tại các trại tị nạn khác. Trong trại cũng mở những lớp học Anh Văn cho người tị nạn. Những người dạy Anh Văn thường là những người tự nguyện và một số là giáo sư Anh Văn từ Sài Gòn trong đoàn người tị nạn. 
Nhà ăn mở cửa sáng, trưa, chiều và lúc nào đồ ăn cũng dư thừa. Mà thường khi con người dư thừa thì hay sinh chuyện. Sữa tươi đuợc uống xả dàng, đến nổi nhiều cô mang sữa tươi về trại tắm cho da đẹp. Khi bị phát hiện thì bị cảnh cáo và từ đó sữa tươi không còn được lấy tự do nữa! Thượng vàng hạ cám, hàng ngàn người chen chúc trong một khu trại chật hẹp, khi cái ăn cái mặc đầy đủ, con người nghĩ đến cái đẹp, và nhu cầu đòi hỏi. Từ đó những bóng hồng thấp thoáng xuất hiện. Nói cho cùng thì xã hôi lớn bé nào cũng mang đầy đủ đặc tính của con người. 
Những người tị nạn trong trại Asan mỗi tuần được xe buýt chở ra phố thăm chơi, mua sắm một lần, (nếu có tiền và muốn đi.) 
Nhóm anh Hoàng, những người đi từ chiếc Long Châu qua, đều có mặt tại đảo Guam. Anh Hoàng, T và ông Si được chủ tàu Đồng Nai mướn ra ở và giử tàu Đồng Nai đậu tại Apra Harbor. C, người đi cùng tôi trên Việt Thủy, vì nhớ nhà quá đã xin trở về Việt Nam. Và ngày 16- 10- 1975 chiếc tàu Việt Nam Thương Tín rời đảo Guam chở gần 1500 người hồi hương, trong đó có C. Tôi không biết C và hàng ngàn người kia nghĩ gì, khi họ trở lại Việt Nam, thay vì ôm choàng người thân sau ngững ngày xa cách, lại đi thẳng vào trại tù. Và không biết những người cọng sản trả lời cho thế giới như thế nào về những lời hứa khoang hồng của họ trước khi Việt Nam Thương Tín rời đảo Guam! Nhưng ở đời không hiếm gì cuộc hội ngộ để rồi chia ly! Như chúng tôi, những người trên tàu Long Châu và hàng ngàn người đang sống trong căn trại Asan, ngày mai mỗi người một ngã. 
Chiều tối về, Asan lên đèn và khu chiếu bóng thường chiếu những phim võ thuật của Lý Tiểu Long như Mãnh Long Quá Giang, Đường Sơn Đại Huynh, v.v. Và trên khu đất trống đêm nào cũng chật người xem. 
Hằng ngày tôi thường lang thang ngoài bãi biển bên trại. Biển cạn có nhiều sỏi đá, không có ai thích tắm biển ở đây. Hay có lẽ những cảnh tượng hãi hùng trên biển làm người ta sợ mỗi khi nhìn nước biển! Tôi thường ra đây lội trong biển và bắt những con sao biển, sao biển ở đây rất nhiều. Chỉ bắt chơi cho vui, qua ngày tháng, rồi cũng trả chúng lại với biển cả. Có những buổi chiều tôi ngồi bên bờ đá nhìn xa xa ra đại dương, và bên kia bờ là quê hương, là Mẹ, là anh em, là Phương. 
Và mỗi ngày, khi chiều về mặt trời lặng dần xuống bên bờ Tây của hải đảo là tiếng hát của ca sĩ Thái Thanh lại nổi lên. Chiều nào cũng vậy, cũng giờ đó, tiếng hát đó và bắt đầu từ chiếc loa trên cao của cột đèn, lời ca: 
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi 
Mẹ hiền ru những câu xa vời 
À à ơi! Tiếng ru muôn đời 
Tiếng nước tôi! …”
 
Tiếng hát cất vang và lịm dần trong bóng đêm với hàng ngàn con tim thổn thức. Tiếng hát độc ác hay tiếng hát vô tình đã làm rơi giọt nước mắt, của tôi, và chắc của nhiều người khác, trong đêm trường! 
Một tháng sau, giả từ bạn bè, tôi lại leo lên chiếc xe buýt của ngày đầu trở lại sân bay Anderson với hàng trăm người tị nạn khác. Ở tạm trong Hilton Hotel, Anderson một ngày. Nắng chiều ấm áp, tôi theo vài người xuống tắm biển bên cạnh Hilton Hotel. Một tháng trước tôi thường trầm mình trong biển trong xanh cùng với những con cá đầy màu sắc ở Subic Bay, và nghĩ rằng đây là biển tắm đẹp nhất mà tôi từng biết. Nhưng, hôm đó bước chân xuống biển Anderson tôi ngở mình đang nằm trong khúc biển blue lagoon nào! Tuyệt đẹp, biển trong xanh, cát trắng, sóng lăn tăn bên cạnh đàn cá bơi lội! Tôi ngủ lại một đêm trong khách sạn Hilton ở Anderson rồi ngày mai lên phi cơ B747 rời đảo Guam. 
Khi máy bay cất cánh tôi nhìn xuống đảo Guam, Asan nhỏ dần và lời ca: 
“Tiếng nước tôi…! 
Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui 
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi …” 
vẫn còn văng vẵng bên tai! 
Biết đến bao giờ máy bay mới đáp xuống trại Pendleton, California? Tôi cũng không buồn muốn biết. 

Đồng Sa Băng. 10 tháng 7, 2009.

Những năm “cải tạo” ở Bắc Việt

Trần Huỳnh Châu

Post by Sơn râu 17 Dec 2025

Phần 7: Vụ đấu tranh tại trại số 5 – Thanh Hóa

Đầu tháng 8-1978, chúng cho chúng tôi vào Thanh Hóa. Trại Quảng Ninh cách Mông Cáy (biên giới với Trung quốc) không xa mấy, cách bờ biển vịnh Hạ Long cũng gần, nếu Trung Cộng tấn công thì chắc không giữ được, nên chúng đưa chúng tôi đi.Khởi hành từ trại Quảng Ninh lúc 1 giờ sáng, chúng tôi đến Phân trại B trại số 5 Thanh Hóa vào khoảng 9 giờ tối. Ngủ một đêm, sáng hôm sau gặp mấy người tù hình sự trong đội làm bếp đem cơm đến cho chúng tôi, chúng tôi tìm cách hỏi nhỏ về địa điểm trại. Họ cho biết là trại thuộc huyện Thiệu Yên. Thiệu Yên là huyện mới, ghép hai huyện cũ là Thiệu Hoa và Yên Định. Trại nằm trên phần đất Yên Định cũ. Chúng tôi hỏi thêm “trại Lý Bá Sơ ngày trước ở Thanh Hóa nầy ở đâu?” Thì được trả lời ‘‘Đúng nó đây rồi”.Sau này, chính tên Thiếu tá Trại trưởng có lần nói chuyện với chúng tôi cũng xác nhận đây chính là trại Lý Bá Sơ ngày trước, nay phát triển thành nhiều trại ở Thanh Hoá. Kinh tế Miền Bắc thì không phát triển nổi, nhưng nhà tù thì phát triển lắm.

Thời gian ở Phân trại B hội đủ các yếu tố đưa đến một cuộc đấu tranh của chúng tôi:

(1) Sau ba năm không có ai về;

(2) Khẩu phần ăn chỉ bằng 2/3 so với trại Quảng Ninh, có bữa chỉ bằng phân nửa;

(3) Trại không có phòng giam ngăn cách, chúng tôi có thể liên lạc với nhau dễ dàng;

(4) Cán bộ đối xử rất kém;

(5) Tình hình bên ngoài đang lúc rối loạn lo sợ Trung Quốc đánh sang, cán bộ cũng hoang mang mất tinh thần.

Tuy vậy, trong một trại giam Cộng sản, việc đấu tranh vẫn là việc quá khó, vì chúng sẵn sàng đàn áp tàn bạo mà không sợ dư luận vì bên ngòai chẳng ai biết.

Chúng tôi đến Phân trại B đầu tháng 8 thì đầu tháng 9 chúng tôi được nghe máy phóng thanh cho truyền thanh bài diễn văn của Phạm văn Đồng đọc trong lễ Quốc Khánh 2-9-78. Trong bài diễn văn, có đoạn nói đến chúng tôi. Để trả lời dư luận lúc đó đang sôi nổi vì thấy quá hạn 3 năm rồi mà không có ai về, Phạm văn Đồng nói rằng “tuyệt đại bộ phận ngụy quân ngụy quyền đều đã được sum họp với gia đình và phục hồi quyền công dân, chỉ còn một số rất ít có tội ác với nhân dân còn phải tiếp tục cải tạo mà thôi”. Chính bài diễn văn nầy có tác dụng thúc đẩy chúng tôi tranh đấu vì sự dối trá trắng trợn của nó.

Sau bài diễn văn, trong Phân trại B chúng tôi, không biết ai đã nghĩ ra câu chuyện hài hước và được truyền miệng thì thầm trong từng nhóm nhỏ.

Câu chuyện hài hước như sau:

Trong một cuộc thì nói dóc quốc tế, có ba nước được vào chung kết. Trong vòng chung kết nầy, mỗi đại diện phải kể một câu chuyện.

Đại diện nước thứ nhất kể:

– Ở nước tôi có một cây cầu bắc qua con sông. Cây cầu dài lắm, dài quá đến nổi có một thanh niên ở bên kia cầu được điện tín báo tin cha chết ở bên nầy cầu, thì vội vã lái xe cấp tốc qua cầu để lo tang ma, nhưng khi qua khỏi cầu thì chỉ kip dự lễ mãn tang.

Đại diện nước thứ nhì kể:

– Ở nước tôi có một cây cổ thụ rất cao. Một hôm, vào mùa hè, có một người trèo lên ngọn cây rồi bị khát nước, lấy nước ra uống và làm rơi mấy giọt nước. Cây cao quá nên khi giọt nước rơi đến đất thì biến thành tuyết, vì lúc ấy đã là mùa đông.

Đại diện nước thứ ba:

– Tôi từ Hà-nội đến. Ở nước tôi, chính phủ rất mực khoan hồng nhân đạo. Tuyệt đại bộ phận các viên chức sĩ quan chế độ cũ đều đã được sum họp với gia đình, chỉ trừ một số rất ít còn phải tiếp tục cải tạo mà thôi…

Ông Chủ tich Hội đồng Giám khảo nghe đến đây thì vội ngắt lời:

– Thôi đủ rồi. Ông là người đoạt giải.”

Độ một tuần lễ sau ngày 2-9-78, tên cán bộ chính trị của Phân trại B, thiếu úy Đường, có tổ chức một buổi học tập để nghe lại bài diễn văn đó. Khi tên Đường đọc đến đoạn về những người học tập cải tạo nói trên, thì anh em chúng tôi ngồi dưới đất đều cười ó lên và làm ồn khiến tên Đường không đọc được nữa và giận dữ tuyên bố giải tán ngay buổi học tập.

Sau đó ít lâu là trận lụt lớn mà chúng kêu la ầm ĩ năm 1978. Các vùng đất chung quanh trại đều bị ngập lụt. Trại huy động toàn thể chúng tôi ra nhổ sắn vì sợ sắn bị ngâm nưóc lụt lâu ngày sẽ hư thối cả. Chúng tôi phải dầm mình dưới nước mà nhổ sắn và di chuyển sắn về trại. Từ ngày đến Phân trại B, chưa có ai được tiếp tế thăm nuôi gì cả mà ăn uống thì quá kém, nên ai cũng trông mong nhân đợt nhổ sắn nầy mà trại cho ăn no được vài bữa, vì sắn nhổ về nhiều mà để lâu thì hư. Chúng tôi chịu đựng mưa gió, dầm mình dưới nước lụt với cái hy vọng nhỏ nhoi là được ăn vài bữa sắn no nê. Nhưng bữa ăn đầu tiên thật phũ phàng.

Mặc dầu dưới nhà bếp chất đầy sắn, chất cả ra tới ngoài sân, bữa sắn đầu tiên chúng tôi nhìn thấy mà não

nề. Trưa hôm ấy, thực đơn là sắn với muối. Sắn luộc nguyên vỏ, đem lên, chúng tôi chia nhau thấy mỗi phần ăn được chừng ba khúc, mỗi khúc dài chưa đến một tấc tay, ăn với một muỗng muối hột.

Ba đội ở dãy nhà đầu tiên chúng tôi quyết định bỏ ăn. Chúng tôi bàn nhau định thông báo cho các đội khác nhưng sợ bị để ý, vã lại chưa uớc tính được phản ứng của các đội khác sẽ như thế nào, nên hãy cứ bắt đầu ở một dãy nhà đã (hồi đó khu chúng tôi ở có 4 dãy nhà, mỗi dãy nhà ở hơn 100 người, tổng cộng chúng tôi khoảng 500, đó là khu A dành cho chính trị phạm). Chúng tôi để nguyên tất cả các phần sắn và muối ngoài sân và bỏ vào nhà. Chừng 15 phút sau thì có cán bộ đến. Cán bộ phụ trách lương thực cho biết rằng đây là khẩu phần đúng theo tiêu chuẩn nhà nước quy định, tức là 1 gạo thì quy ra 3 sắn, mà mỗi người ăn chế độ 15 kí/tháng, tức là 500g/ngày, trừ đi 5% hao hụt tại kho, trừ bữa ăn sáng, còn lại mỗi bữa ăn chính là 200g, tính ra sắn là 200g x 3= 600g như thế là đủ tiêu chuẩn rồi, nếu không thì sẽ đem cân đến cân lại.

Chúng tôi trả lời, theo trong báo chúng tôi được đọc hồi ở Quảng Ninh thì gạo quy ra sắn phải là 1 gạo 4 sắn chứ không phải là 3. Vã lại 200g gạo thì nấu ra cơm ăn cả được, trong khi sắn không lột vỏ, chúng tôi phải bỏ vỏ đi thì chẳng còn bao nhiêu để ăn. Nhìn ngay trước mắt, khẩu phần mấy miếng sắn và một chút muối như thế, làm sao một người lớn có thể ăn mà sống và lao động nổi. Trên thế giới, có xứ nào mà bữa ăn chính lại tồi tệ đến thế nầy. Thảo luận một hồi, rồi tên cán bộ về Bộ Chỉ Huy báo cáo với tên thủ trưởng Phân trại B, lúc đó là Thượng úy Quế, mà trong trại thường gọi là Ban Quế (Ban có nghĩa là ban Giám Thị). Ban Quế giải quyết bằng cách cho đem tất cả số sắn về nhà bếp, ra lệnh thay thế đội trưởng nhà bếp ngay lập tức vì lý do không lột vỏ sắn, và nấu ngay mạch (mà chúng tôi hay gọi là bo-bo) để thay thế bữa trưa. Bốn giờ chiều hôm đó, chúng tôi ăn mạch, rồi đến sáu giờ chiều, chúng tôi ăn sắn bữa tối, sắn được lột vỏ trước khi luộc. Tuy vậy số lượng sắn không gia tăng gì đáng kể.

Chúng tôi thấy cách giải quyết như thế tương đối được, tuy chúng tôi vẫn còn quá đói. Trong tinh thần muốn đối thọai thẳng thắn, chúng tôi đề nghị một số biện pháp để chấn chỉnh nhà bếp, làm sao bảo đảm được khẩu phần lương thực dù không đủ 15 kí/tháng thì ít ra cũng bằng như ở Quảng Ninh. Nhưng Cộng sản chẳng bao giờ thành thật. Cho nên mới có những màn đấu tranh kế tiếp.

Các đề nghị của chúng tôi là:

– cho đại diện của các đội xuống nhà bếp kiểm soát việc cân lường, nấu nướng và phân phối,

– cần chất bổ nhưng phần sắn quá cứng và xơ không ăn được, cho chúng tôi rút tiền lưu ký để mua sắn ăn thêm,

– công bố việc chi tiêu của nhà bếp trong việc tính tiền thực phẩm,

– cho phát đường hoặc ăn chè hàng tháng như ở Quảng Ninh,

– cho thi hành đúng nội quy về thư từ, gửi quà, thăm nuôi…

Các đề nghị của chúng tôi, thật ra chẳng có gì khó giải quyết. Trong chế độ Cải Huấn của ta ngày trước, mỗi ngày đều có đại diện của phạm nhân đi chợ, khẩu phần ăn thì bao giờ cũng dư dã, mỗi tuần được thăm nuôi hai lần gặp mặt gia đình. Vậy mà nay chúng tôi chỉ xin áp dụng đúng nội quy đã công bố, nghĩa là một tháng gửi thơ một lần, ba tháng mới thăm nuôi tiếp tế một lần, chứ có phải đòi hỏi gì quá đáng đâu! Về việc ăn uống thì chúng tôi chỉ xin kiểm soát để thực hiện đúng tiêu chuẩn của nhà nước cấp phát mà thôi, trong khi chúng tôi ai cũng đã da bọc xương cả rồi mà thấy khẩu phần ăn thì ở dưới mức 15 kí/tháng quá xa.

Chỉ yêu cầu có vậy thôi, mà ban Giám Thị đã tìm cách đối phó.

Họ chấp nhận một vài điểm, nhưng chỉ thực hiện một thời gian ngắn rồi thay đổi ngay, hoặc không thực hiện.

Họ cho đại diện các đội đi kiểm soát một vài ngày rồi bãi bỏ.

Họ chấp nhận một tỷ lệ sắn (tôi không nhớ rõ con số) để bù vào chỗ sắn bị xơ và quá cứng không ăn được, nhưng sau khi bỏ việc kiểm soát thì không ai biết họ đã cân lường như thế nào.

Việc công bố tài chánh của nhà bếp thì họ bác bỏ.

Việc phát đường có được thực hiện nhưng không đủ tiêu chuẩn 200g/ tháng.

Việc rút tiền lưu ký để mua sắn, họ chấp thuận trên nguyên tắc, nhưng chờ mãi không thấy thực hiện.

Việc thư từ và gởi quà thì họ có cho thực hiện nhưng khi quà đến nơi, họ soát xét qua một cách rất đểu cáng, rõ ràng có dụng ý muốn phá cho hư hỏng quà của chúng tôi, ví dụ họ rạch nát tất cả các bao đựng bột, đựng thức ăn; lấy cây khuấy vào tất cả các gói thúc ăn; đồ hộp họ cũng bắt khui ra rồi dùng cây khuấy vào, kiếm cớ tịch thu món nầy món nọ.

Ngoài ra họ tìm đủ mọi dịp để hăm dọa. Ai đứng gần hàng rào là trạm gác nổ súng ngay, mặc dầu chúng tôi vẫn ở trong khuôn viên trại. Mỗi khi tập họp, họ bắt những người đeo kính cận thị phải bỏ kính xuống. Đấy là một điều rất kỳ quặc của Miền Bắc. Tôi không hiểu tại sao họ lại ghét những người đeo kính cận thị đến thế. Nếu là kính đen thì họ bắt bỏ ra khi nói chuyện cũng còn có lý. Đằng nầy kính cận thì mà họ cứ bắt bỏ ra. Về sau chúng tôi đọc báo Nhân Dân thấy nói bên Campuchia, chế độ Pol Pot tàn sát bất cứ người nào đeo kính trắng vì cho là trí thức. Tôi nghĩ chắc cán bộ Cộng sản Miền Bắc ghét kính cận thị vì cho rằng đấy là dấu hiệu của người trí thức.

Nhưng cách đối phó trả đủa của ban Giám Thị chỉ làm cho chúng tôi thêm công phẫn. Khẩu phần vẫn tiếp tục thê thảm. Chúng tôi nhận thấy nếu kéo dài mãi mức ăn như thế thì một số đông chúng tôi khó lòng qua khỏi mùa đông năm đó. Không tranh đấu cũng chết, nhiều anh em nói với nhau như vậy.

Do đó, nhiều cuộc tuyệt thực nổ ra, hết đội nầy đến đội khác. Tỷ số người đi làm lao động xuống rất thấp. Ngày Quốc tế Nhân quyền 10-12-1978 số người đi làm lao động chỉ độ 50 người trong số 500 người toàn khu chúng tôi. Ngày thường chỉ chừng 200 đến 300 người đi lao động. Ra địa điểm lao động, chúng tôi cũng làm việc rất lơ là vì đói quá không làm nổi. Cán bộ đến bảo làm, chúng tôi trả lời là quá đói rồi. Chúng bắt bình bầu người ăn 18 kí, người ăn 13 kí, thì tất cả các đội chúng tôi đều từ chối, và tuyên bố sẽ chia đều phần ăn. Chúng đặt ban Thi Đua, trưởng ban là Nguyễn văn Mai (Thiếu tá Cảnh sát, trước làm ở Sở Ngoại Kiều) mục đích là mượn tay người trong đám chúng tôi để dòm ngó kìm kep nhau và thúc đẩy đi lao động khổ sai, thì một nhóm anh em bố trí giả vờ gây chuyện để đánh cho Nguyễn văn Mai một trận. Sau vụ nầy, ban Thi Đua và các ban Tư Quản đội đều co rút.

Trong thành phần Tư Quản lúc đó, có một anh đội trưởng mà chúng cho là đã chỉ định làm. Đó là anh Cao văn Bảy trước là Tổng Thư ký Phong Trào Phục Hưng Miền Nam. Anh ấy là một người rất tốt trong anh em chúng tôi. Về sau chúng thay thế anh Bảy, goi điều tra rồi giam phòng kỷ luật. Chúng cho rằng chính anh Bảy đã sách động đội anh tuyệt thực nhiều lần. Anh Bảy là người bị nhốt trong phòng kỷ luật lâu nhất. Cho đến đầu năm 1980, anh vẫn còn ở trong phòng kỷ luật và đã bị kỷ luật hơn một năm. Tôi không biết bây giờ anh đã được ra khỏi phòng kỷ luật chưa hay đã gục ngã rồi. Đó là một người can đảm.

Một người nữa cũng bị nhốt phòng kỷ luật cả năm trời, là anh Nguyễn Hữu Thới, trước là Dân biểu Bình Định. Anh Thới ở cùng đội với tôi, đội trồng rau. Đói quá, trong buổi làm lao động, anh xuống ruộng bắt được mấy con cá. Khi về bị tên cán bộ soát thấy, nó kết tội anh là bỏ lao động để đi bắt cá, bắt làm kiểm điểm và nhục mạ anh trước mặt cả đội. Anh viết kiểm điểm, nội dung có đoạn nêu lên sự đói khổ của Miền Bắc, nêu lên sự đói khổ cùng cực của đám tù chúng tôi để nói tại sao phải đi bắt cá. Thế là tên cán bộ chính trị gọi anh lên quy cho anh là phản động. Chúng đưa anh qua một đội khác, rồi bắt anh nhốt phòng kỷ luật cùng lúc với anh Cao văn Bảy. Khoảng một năm sau, cuối năm 1979, anh được thả ra khỏi phòng kỷ luật để ở với anh em tại Phân trại A.

Khi mới ra khỏi phòng kỷ luật, anh đi không nổi, phải chống gậy, có lúc phải bò. Vợ anh ra thăm, nhìn thấy anh không sao cầm được nước mắt.

Ông Phạm Trọng Nhân, trước là nhà ngoại giao, có viết một bức thư cho ban Giám Thị chỉ trích cách soát xét quà, cách phát quà. Vì ông là nhà ngoại giao lời lẽ khéo léo nên chúng không nói gì, nhưng cũng chẳng trả lời.

Nhiều đội họp nhau viết thỉnh nguyện thư gởi lên Bộ Nội Vụ (nội quy trại giam có ghi rõ là tù nhân có quyền viết thư như thế). Nhưng vấn đề là làm sao gởi đi? Đưa cho trại thì chắc trại không chuyển.

Có lẽ trại cũng đã báo cáo các vụ lộn xộn lên Cục Trại Giam Bộ Nội Vụ rồi. Khoảng giữa tháng 12, nhiều cán bộ của Bộ Nội Vụ đến trại. Sau nầy, chúng tôi biết cầm đầu đoàn công tác đó là tên Hoàng Thanh, Đai tá Cục phó Cục Trại Giam. Chưa cần biết là ai, thấy có cán bộ trung ương đến, chúng tôi xúm vào đặt vấn đề khẩu phần ăn, vấn đề thăm nuôi, tiếp tế và các vấn đề khác về quy chế giam giữ trong đó có vấn đề tại sao 3 năm không có ai về. Một tên cán bộ trung ương, trong khi trả lời, có nói với chúng tôi: “Nếu các anh giam giữ chúng tôi mà chúng tôi tuyệt thực, chống đối trong trại giam thế này thì các anh sẽ phản ứng thế nào?”

Luật sư Tiếp (tôi không nhớ họ của anh, anh Tiếp trước có làm cho Phủ Đặc ủy Tình Báo) trả lời ngay:

“Nếu chúng tôi bảo quý vị đi học tập 1 tháng rồi thành ở tù 3 năm, rồi thành ở tù không biết bao giờ về, và ăn sắn và đói triền miên như thế này, thì quý vị sẽ phản ứng ra sao?”

LỄ GIÁNG SINH NĂM 1978

Mùa Giáng Sinh ’78 về với Phân trại B trong khi tinh thần đấu tranh của anh em đang lên cao. Mùa Giáng Sinh là mùa hi vọng. Dù có đạo hay không, anh em chúng tôi đều rung động với mùa Giáng Sinh.

“Bình an dưới thế…”

Anh em chúng tôi đang ở trong trại giam Cộng sản, cách biệt với thế giới bên ngoài, không biết bao giờ có thể được sum họp với gia đình, thở lại không khí tự do. Trong hoàn cảnh như vậy, và để đối chọi với chủ nghĩa duy vật như là phản ứng chung của những kẻ bị tù đày đối với chính quyền duy vật đã giam giữ mình, chúng tôi tưởng tượng đến ánh sao Noël như một niềm hi vọng, đến máng cỏ Chúa Hài-Đồng như một cái gì thật là ấm áp, nhớ đến câu:

Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm

như một lời ru thanh thản giúp chúng tôi yên ổn vượt qua được thời gian ngặt nghèo trong tù Cộng sản. Phải, chúng tôi tin rằng sẽ không chết trong ngục tù Cộng sản. Chúng tôi tin rằng sẽ có một ngày mai chúng tôi được dự lễ Nửa Đêm, nghe lại tiếng chuông nhà thờ mà bao năm qua không hề được nghe thấy. Chúng tôi, những người đang khốn khổ, đang khát khao ”bình an dưới thế…”

Từ nửa tháng trước ngày Giáng Sinh, chúng tôi chép lại những bản Thánh ca theo trí nhớ của một vài anh, và thì thầm tập cho nhau hát. Hai bài Thánh ca mà ai cũng đã thuộc nhạc nên rất dễ hát cùng nhau, là bài Silent Night mà cả thế giới đều biết, và bài Đêm Đông của Hải Linh rất quen thuộc ở Việt Nam. Có những buổi sáng ra đi làm lao động ở ngoài đồng, trong sương mù dày đặc giá buốt, lũ tù khổ sai chúng tôi, quần áo rách nát, thân thể co ro tiều tụy, đi thành từng đội, bên cạnh là những tên Cảnh vệ Cộng sản cầm súng canh giữ, chúng tôi vừa đi vừa cất cao giọng, hát bài Silent Night và Đêm Đông. Ban đầu bọn cán bộ không biết là bài gì, nhưng sau chúng biết đó là Thánh ca. Chúng bảo chúng tôi giữ im lặng, nhung chúng tôi vẫn hát.

Cộng sản lại đặt kế hoạch đối phó. Noël năm ’78 nhằm ngày thứ hai. Đêm Noël là tối chủ nhật. Ngày chủ nhật là ngày được phép nấu nướng. Lúc dó chưa ai được thăm nuôi, quà tiếp tế gửi theo đường bưu điện ra thì không được bao nhiêu tuy vậy chúng tôi ai cũng cố dành dụm, dự định góp nhau kẻ bột người đường, làm cái bánh Giáng Sinh. Nhưng đến ngày chủ nhật 24-12-78, trại bắt chúng tôi họp sinh hoạt kiểm điểm cuối năm. Chúng cho cán bộ đến từng đội, cố kéo dài buổi họp cho đến buổi chiều. Buổi chiều, chúng ra thông cáo cấm tụ họp ca hát. Mặc dầu vậy, chiều hôm ấy, anh Nguyễn Thanh Liêm (Thiếu tá Công Binh, đạo Tin Lành) cùng anh Trọng (dường như là Nguyễn Thành Trọng) ca hát những bản Thánh ca mà anh Trọng sáng tác, phổ theo lời trích trong Thánh Kinh mà anh Liêm còn nhớ. Buổi ca hát nầy quy tụ được một số người.

Đến tối, chúng bắt vào phòng giam sớm, khóa cửa, tắt đèn và không phát dầu cốt để cho chúng tôi bị tối không ngồi với nhau được. Nhưng chúng tôi đã dự bị một ít dầu thắp đèn rồi. Chỉ có chiếc bánh Noël thì không làm được. Thôi đành nấu nước trà ngồi uống với nhau vậy.

Anh Lê Thiên Sơn (trước là nhân viên Phủ Đặc Uỷ Tình Báo, có làm báo Quật Cường) người cao tuổi trong đội chúng tôi và là người Công Giáo, mời một số anh em, có đạo hay không, lại ngồi quanh chỗ anh để uống nước trà hút thuốc lào tưởng niệm Chuá giáng sinh. Anh và anh Nguyễn văn Mai (Nguyễn văn Mai – Tình báo, khác với Nguyễn văn Mai – Cảnh sát mà tôi đã nói trong một đoạn trước) đã cắt giấy bìa làm hình ngôi sao để trước đèn. Bên ngoài phòng nào cũng có cán bộ đứng rình. Chúng tôi biết thế, nhưng vẫn tụ họp nhau được chừng 20 người trong số toàn đội là 40 người. Đội trưởng là anh Nha, trước là nhân viên Tình báo, tuy là người Công giáo nhưng lại không dám tham dự, nằm trùm chăn.

Mở đầu, anh Lê Thiên Sơn nhắc lại sự tích Chúa giáng sinh và nói ý nghĩa, tinh thần Giáng Sinh. Sau đó, anh em chúng tôi đồng ca bản Đêm Đông. Kế đó mỗi người góp một bài hát hay bài thơ hoặc một câu chuyện về Giáng Sinh. Kết thúc chương trình là đồng ca bản Silent Night.

Chỉ có thế thôi, nhưng đó là đêm Giáng Sinh làm tôi cảm xúc nhất. Những lời nói, tiếng hát thì thầm nơi ngục tù Cộng sản trong đêm Giáng Sinh rét buốt của mùa đông xứ Bắc đã làm chúng tôi rung động tận đáy lòng.

Sáng hôm sau, một anh thức dậy thật sớm, đến đập anh Sơn dậy, xin vào Công giáo. Anh ấy trước là một Thiếu tá Cảnh sát. Anh nói rằng sau đêm Giáng Sinh, nằm thao thức vì xúc động, và sau khi ngẫm nghĩ nhiều về vấn đề tôn giáo – vấn đề mà anh đã suy nghĩ từ nhiều năm rồi – anh quyết định vào Công giáo ngay từ trong tù. Anh Sơn trả lời rằng anh không phải là Linh mục nên không có quyền chính thức chấp nhận anh như thế, nhưng ngay từ giờ phút ấy anh có thể tự coi mình là người Công giáo.

Hôm sau 25-2-78 là ngày thứ hai, ngày phải đi lao động, vì Cộng sản không có nghỉ Noël. Nhưng hầu hết chúng tôi đều khai bệnh ở nhà. Chúng tôi bảo nhau “dù thế nào chúng ta cũng phải nghỉ Noël”.

Các đội khác, đội nào cũng có nhóm hội họp với nhau để tưởng niệm đêm Giáng Sinh. Riêng đội I là hội họp hăng nhất. Gần như toàn đội. Hát Thánh ca, công khai hát thật lớn. Cán bộ đứng ngoài mấy lần can thiệp bảo im, nhưng các anh vẫn hát. Đội I là đội gồm những người mà chúng cho là xúi dục các cuộc tuyệt thực đấu tranh nên dồn vào một phòng giam và cô lập với những đội khác.

Sau lễ Giáng Sinh, cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục.

NGÀY CUỐI NĂM 1978

Trước ngày cuối năm, trại thông báo cho các đội là sẽ có một “đai hội kiểm điểm thành tích năm 1978” tổ chức vào ngày 1-1-79. Mỗi đội phải chuẩn bị một bản “quyết tâm thư” để đọc trong đại hội.. Nội dung quyết tâm thư đã được hướng dẫn trước cho các đội trưởng, đại khái là ”hạ quyết tâm tích cực cải tạo, tích cực lao động, tích cực tố giác lẫn nhau v.v…” Khi các đội trưởng về họp với các đội viên thì hầu hết các đội đều bác bỏ việc làm quyết tâm thư nầy. Chúng tôi nói với nhau: chẳng có ai lại điên khùng quyết tâm ở tù. Đảng và Nhà nước giam giữ mãi không thả thì đành phải chịu, chứ còn bảo quyết tâm gì nữa. Có đội mạnh dạn hơn, không làm quyết tâm thư nhưng làm một bản gồm các đề nghị của đội về vấn đề ăn uống, thư từ, thăm nuôi, và nêu cả vấn đề thời hạn giam giữ. Trong các bản kiểm điểm cá nhân, có anh viết thẳng là yêu cầu được tống xuất đi ngoại quốc.

Trong số 12 đội đọc quyết tâm thư, nhưng sau khi theo dõi việc làm của các đội, chúng quyết định chọn một đội đọc quyết tâm thư mà thôi. Buổi lễ cũng được đổi ngày. Đáng lẽ làm ngày 1-1-79 thì chúng làm vào ngày 31-12-78.

Trong buổi lễ, đến mục đọc quyết tâm thư, anh em chúng tôi la ó ồn ào khi một đội trưởng được chọn bước lên để đọc quyết tâm thư. Có nhiều tiếng nói lớn “Quỳ xuống, lạy đi mà quyết tâm ở tù”.

Buổi lễ được kết thúc sớm trong sư giận dữ của ban Giám Thị.

PHÂN TÁN, CHUYỂN TRẠI

Đoàn cán bộ của Cục Trại Giam do tên Đại tá Hoàng Thanh hướng dẫn đã đến để giải quyết vụ đấu tranh đã kéo dài. Ngày 7-1-79 (cùng ngày quân đội Cộng sản Việt Nam chiếm Nam Vang) chúng chuyển trại toàn thể chúng tôi. Chúng chọn 100 người sang Phân trại A và kiên giam trong ba phòng. Tôi thuộc số 100 người nầy. Kiên giam nghĩa là chỉ ở trong phòng, không được tiếp xúc với bên ngoài, không đi lao động. Còn lại hơn 400 người sang Phân trại C ở trong các căn nhà mới cất, có tường ngăn cách từng dãy không thể liên lạc với nhau. Chính ở Phân trại C nầy mới nổ ra vụ đấu tranh quyết liệt.

Anh Cao văn Bảy và anh Nguyễn Hữu Thời vẫn ở phòng kỷ luật.

Nhóm chúng tôi 100 người sang Phân trại A bị ngăn cách và chỉ nêu vài vấn đề về lương thực, và phát biểu một vài ý kiến về thời hạn giam giữ với đòan cán bộ trung ương, mà không có vụ đấu tranh nào lớn.

Trong thời gian ở Phân trại A, dù bị ngăn cách, chúng tôi cũng có liên lạc được với các chiến sĩ biệt kích đã nhảy dù ra Bắc trong chiến tranh và bị bắt, đến nay vẫn còn bị giam. Trong dịp Tết, chúng tôi cũng có liên lạc được với anh em sĩ quan quân đội cấp Tá và cấp Úy VNCH bị giam ở khu Z6 cùng Phân trại A. Trong số anh em sĩ quan nầy có Phan Nhật Nam, tác giả cuốn MÙA HÈ ĐỎ LỬA. Sau Tết, bên Z6 có vụ đấu tranh, và anh Phan Nhật Nam bị nhốt phòng kỷ luật một thời gian. Tôi không được rõ về cuôc đấu tranh nầy vì bị ngăn cách, và sau đó không lâu tôi lại bị chuyển sang Phân trại C.

NHỮNG CHIẾN SĨ BIỆT KÍCH

Trong dịp Tết năm đó, lợi dụng vài sự dễ dãi trong ngày Tết, vài anh em trẻ trong nhóm chúng tôi đã liên lạc nói chuyện được với các chiến sĩ Biệt Kích. Nhóm Biệt Kích bị giam ở Phân trại A lúc đó có chừng vài trăm người, phần lớn đã ở tù trên 10 năm, có người ra Bắc từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Mặc dù ở tù lâu như thế, anh em vẫn rất vững tinh thần. Trước kia, muốn được chọn làm Biệt Kích, phải có sức khỏe thật tốt. Nhờ vậy mà anh em đủ sức chịu đựng muời mấy năm lao tù, tuy cũng yếu đi nhiều.

Anh em đã truyền cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm về cuộc sống lao tù, cách đối phó với cán bộ trại giam. Anh em Biệt Kích vẫn tin tưởng vào tương lai.

Anh em có kể lại hồi hiệp định Paris, anh em đã được cấp phát quần áo, giày dép để chuẩn bị trao đổi tù binh. Nhưng sau đó chúng đổi ý kiến, không trao đổi nữa. Anh em tuyệt thực đấu tranh. Chúng đàn áp dữ dội. Nhiều anh em bị cho vào phòng kỷ luật và cùm cho đến chết. Trên 20 người đã chết trong cuộc đấu tranh đó. Rồi chúng phân tán, chuyển trại.

Nhưng anh em Biệt Kích nói rằng lần thất vọng vì không được trao đổi tù binh theo hiệp định Paris không phải là lúc buồn nhất trong mười mấy năm tù đày. Phải nói lúc thất vọng ê chề nhất là lúc nghe tin Miền Nam sụp đổ năm 1975. Thoạt đầu có nhiều người không tin. Nhưng sau rồi cũng phải chịu rằng đó là sự thật. Cộng sản cho liên hoan trong trại giam để mừng đã chiếm được Miền Nam, cho ăn thịt lợn, thịt trâu. Anh em trong tù đói triền miên, thèm thịt vô cùng, thế mà bữa liên hoan đó, ai cũng buồn bã bỏ ăn. Không phải tuyệt thực đấu tranh gì cả, không hẹn nhau mà ai nấy cùng bỏ ăn, nhìn nhau chảy nước mắt.

Sau nầy anh em mới dần dần lấy lại nhận định, nhìn thấy những sự bế tắc của Cộng sản Việt Nam, và phục hồi tinh thần lạc quan.

Anh em có nói đã từng gặp một nhóm sĩ quan Cộng sản bị giam trong tù vì đảo chính hụt. “Một cuộc đảo chính tại Hà-nội tuy khó khăn nhưng không phải là chuyện không tưởng đâu”, một anh Biệt Kích đã nhắn qua phiá chúng tôi như vậy.

Khi Trung cộng đánh sang Việt Nam tháng 2-1979, trại lại cúp đài phát thanh, cúp báo. Chính những anh em Biệt Kích đã tìm cách thông tin ngay cho anh em chúng tôi vụ tấn công này trong khi trại còn dấu diếm………………..

VỤ ĐẤU TRANH THÁNG 1-79 TẠI PHÂN TRẠI C

Tôi ở Phân trại A ba tháng. Đến tháng 4 -79 Phân trại A chuyển 30 người sang Phân trại C, trong số đó có tôi. Khi đến Phân trại C, tôi được nghe kể lại vụ đấu tranh tai Phân trại nầy, vụ đấu tranh mà cán bộ Cục Trại Giam trung ương đã trực tiếp đàn áp và coi là một biến cố lớn trong hệ thống trại giam Miền Bắc.

Khi số 400 ngưòi được chuyển từ Phân trại B đến Phân trại C (mỗi Phân trại cách nhau chừng 5 cây số đi bộ) ngày 7-1-79, sắp xếp chỗ ở rồi, sang ngày 8-1, ban Giám Thị Phân trại C tổ chức một buổi học tập nội quy Phân trại cốt để khép chặt kỷ luật. Trong buổi học tập, có anh Trần văn Chí (trước là Phó Tỉnh Trưởng Vĩnh Bình), anh Tiếp (Luật sư), và một anh nữa mà nay tôi không nhớ tên, đã phát biểu ý kiến mạnh mẽ chống lại những quy định chặt chẽ và những lời hăm dọa của ban Giám Thị…

Ngay chiều hôm ấy, 3 anh nầy bị bắt đưa đi nhốt vào phòng kỷ luật. Anh Chí bị sang ở phòng kỷ luật tại Phân trại A, còn hai anh kia bị đưa sang Phân trại B. (Hai tháng sau, anh Chí được thả ra khỏi phòng kỷ luật, rồi sau đó được chỉ định làm đội trưởng nhóm 30 người chúng tôi từ Phân trại A sang Phân trại C. Còn 2 anh kia thì cho đến đầu năm 1980 vẫn bị kỷ luật, không rõ ở đâu).

Qua hôm sau 9-1-79, toàn khu A (1) Phân trại C hơn 400 người đồng tuyệt thực yêu cầu thả 3 anh nói trên về trại với anh em. Suốt ngày 9, từ sáng đến tối, toàn thể anh em đều tuyệt thực. Cán bộ đến làm áp lực, cố gắng gây chia rẽ trong hàng ngũ anh em nhưng vô hiệu. Anh em ngồi trong từng nhà ca hát những bản nhạc Miền Nam cũ, nhất là bản Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy. Có nhóm hát cả bản Cờ Bay, bản nhạc ca ngợi việc chiếm lại Cổ thành Quảng Trị năm 1972. Chỉ một bản nhạc của Cộng sản được hát trong ngày đó là bản “Kết đoàn, chúng ta là sức mạnh…” Về sau trại cấm luôn chúng tôi, không cho hát bài nầy nữa dù là nhạc Cộng sản.

Chiều hôm đó, Phân trại C vội vã đổi hết tù hình sự sang Phân trại B, có lẽ vì sợ ảnh hưởng dây chuyền.

Sáng ngày 10-1, chúng đem Cảnh vệ đông đảo, cùng với súng ống và xích xiềng, vào ra lệnh toàn thể tập họp, ai không tuân lệnh sẽ có biện pháp mạnh ngay. Sau khi tập họp, chúng đọc tên hơn 60 người, trói quặt khuỷu tay từng người rồi dắt đi (sau nầy chúng tôi biết là chúng dẫn sang Phân trại B nhốt phòng kỷ luật, rồi đến tháng 5-1979 chúng lại đưa trở về Phân trại C nhưng thiếu mất 4 người, có lẽ vẫn còn nằm kỷ luật ở Phân trại B). Sau đó chúng ra lệnh cho tất cả những người còn lại phải ký giấy chịu ăn cơm, chịu đi lao động, nếu không ký sẽ có biện pháp mạnh ngay. Trước những mũi súng của Cộng sản, vẫn có 2 người không chịu ký, chúng bắt trói ngay tại chỗ, dẫn đi. Một người là anh Việt (Thiếu tá Cảnh sát) , còn mấy người nữa tôi không nhớ tên.

Từ đó về sau không khí Phân trại C rất ngột ngạt. Ban Thi Đua do Nguyễn văn Mai (thiếu tá Cảnh sát) cầm đầu cùng với Hóa và Điệp (nhân viên Phủ Đặc ủy Tình Báo) đặt hệ thống mật báo viên báo cáo tất cả mọi hành vi của anh em. Có những tên đội trưởng kìm kẹp anh em dữ dội như tên Nguyễn Nhược (trước là Thiếu tá Cảnh sát), tên Nghiệp (trước là giáo sư ở Định Tường) mà anh em gọi là “giáo gian”. Ban Giám Thị lúc nào cũng sẵn sàng đưa người đi nhốt phòng kỷ luật. Nhiều người lâm vào tình trạng kiệt sức mà không dám bỏ lao động.

Cuộc đấu tranh bắt đầu từ tháng 9-1978 đến tháng 1-1979 tuy không có những kết quả tức thời, và sau đó chúng tôi bị khép vào kỷ luật chặt chẽ hơn; nhưng cũng làm cho Cộng sản nới tay về mặt khác: khẩu phần lương thực ở Phân trại C khá hơn Phân trại B, được ăn cơm nhiều hơn là sắn, thư từ quà cáp nhận được đều hơn trước, và từ giữa năm 1979 việc cấp giấy phép cho thân nhân chúng tôi từ Miền Nam ra thăm nuôi tương đối dễ dàng.

Đêm Giáng Sinh 1979, tại Phân trại C, chỉ có 2 người ngồi hát Thánh ca, sáng hôm sau cả hai đều bị gọi lên cho vào phòng kỷ luật. Vài nhóm khác ngồi quây quần với nhau, liền bị Cảnh vệ chỉa súng vào cửa sổ bắt phải giải tán.

(1) Khu A là chính trị phạm, khu B là hình sự

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 17 Dec 2025
Trang Hình Ảnh Nghiêm Sỹ Tuấn

Di ảnh Nghiêm Sỹ Tuấn, Y Sĩ Trung Úy Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù tử trận tại chiến trường Khe Sanh 1968 ở tuổi 31.
Chân dung Nghiêm Sỹ Tuấn qua nét họa của Y sĩ Đại úy Lê Văn Công, Quân Y Hiện Dịch khóa 15 Y Khoa Sài Gòn, Virginia, USA 2018 [size 16 x 20″, acrylic on canvas]

Nghiêm Sỹ Tuấn nơi sinh Nam Định, chính thức ghi trên Thẻ thực tập bệnh viện Nhóm B, năm Thứ Ba Y Khoa Sài Gòn niên khóa 1961-1962.

Lớp Y khoa 65, hình chụp năm 1963, khi ấy Nghiêm Sỹ Tuấn đang là sinh viên Y Khoa năm thứ 4, cùng với các bạn đồng môn và Giáo Sư Mahoudau từ Faculté de Médecine de Paris, qua dạy các đề tài Nội khoa Thần kinh.

Hàng đứng từ trái: … Minh, Đàm Quang Toản, Nguyễn Trọng Dzực, Nguyễn Hải Nam, Lê Xuân Lộc, Nguyễn Đình Khoát, Lê Văn Ba (dân vệ), Đoàn Bá, Trần Đoàn (ngón tay chữ V sau lưng Bá), Giáo Sư Mahoudau, Lê Tất Giao, Michell Quyên, Chị Nguyễn Thị Lý, Dương Quang Trí, Trần Bá Cơ, Nghiêm Bảo Thạch, Đinh Hà, Nghiêm Sỹ Tuấn, Phan Giang Sang, Nguyễn Anh Tuấn (Râu), Trần Tiễn Huyến, Đỗ Thức Diêu, Lê Văn Tập; hai người đứng rùn gối: Nguyễn Thượng Vũ (quần đen), Trần Xuân Dũng (quần trắng).

[tư liệu của BS Lê Văn Tập]

Nghiêm Sỹ Tuấn, như một Ông Đồ với khăn đóng áo dài trong mấy ngày Tết cùng với các em, hình chụp năm 1963 lúc đó NST đang là sinh viên Y khoa năm thứ Tư, Tuấn là anh cả trong một gia đình thanh bạch đông anh em.

[tư liệu Nghiêm Mậu, em gái Nghiêm Sỹ Tuấn]

Khóa Y Khoa 1965, chụp ở bệnh viện 1963, theo chị Đỗ Thức Diêu / Ngọc Thủy, lúc đó đang là năm thứ 4, vì Anh Diêu chồng chị, Quân Y Hiện Dịch đã là Trung úy.

Hàng ngồi: từ trái, Đỗ Thức Diêu, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Ngọc Trân, Đinh Xuân Dũng, Lê Khắc Minh, Huỳnh Ngọc Phương.

Hàng đứng: Trần Tiễn Huyến, Nghiêm Sỹ Tuấn, Huỳnh Trúc Lâm, Trần Bá Cơ, Nguyễn Hoàng Hải, Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Tiến Hải, Dương Hữu Thành, Đinh Hà, Lê Hữu Lộc, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Thanh Quế. Trong nhóm này thì ĐT Diêu, NS Tuấn, NV Lâm, NA Tuấn và Ngô Thanh Quế đều đã qua đời. Ghi chú của BS Nguyễn Hoàng Hải. [tư liệu của BS Đặng Vũ Vương và Chị Đỗ Thức Diêu]

Nghiêm Sỹ Tuấn người thứ hai trong hàng trước giờ lên máy bay cho một saut nhảy dù bồi dưỡng / Tư liệu của bác sĩ Vũ Khắc Niệm và Trang Châu

Dấu chân người tỵ nạn

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 16 Dec 2025

4. Subic Bay, Vì Sao Lạc.

Tháng Năm biển Đông vẫn còn yên lặng, sóng không lớn quá cấp ba, nước biển màu xanh và bầu trời quang đãng. Ba chiếc tàu đánh cá Việt Thủy rời hải cảng Singapore ngày 10- 5- 1975 đi Subic Bay, Phi Luật Tân. Ba con tàu nối đuôi và chạy cách nhau trong tầm mắt. 
Mỗi con tàu chứa khoảng ba, bốn trăm người với một số thức ăn, và nước uống. Thức ăn hầu hết là đồ hộp được cung cấp bởi phái đoàn Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Khối người trên tàu chen chúc nhau trong một không gian chật hẹp. Di chuyển trên tàu cả là một vấn đề phiền phức, nên, hầu hết người ta chỉ ngồi một chỗ suốt đoạn đường đi. Bốn đứa chúng tôi (Th, H, C và tôi) là những người độc thân, không gia đình, không thân thuộc và nhảy lung tung từ tàu này qua tàu kia để được đi chung, nên cuối cùng không được “tiếp tế” lương thực và nước uống trước khi tàu rời bến. Nhưng thân thanh niên, khỏe mạnh, một thân một mình nên những điều đó không làm chúng tôi phân vân. 
Sự phân chia và chọn người lái tàu đã được sắp xếp từ hải cảng Singapore mấy ngày qua. Hôm lên đường chiếc Việt Thủy 3 được điều khiển bởi một tài công người Nhật Bản. Người “Thuyền trưởng” Nhật Bản này đã khai báo và cho biết rằng ông ta có mười lăm năm kinh nghiệm đi biển, và đặc biệt ông biết nhìn trăng sao trên bầu trời là có thể xác định được vị trí và hoạch định ra hải trình. Những lời tuyên bố tài năng của ông làm cho lòng người tỵ nạn thêm yên tâm, và không ngần ngại trao thân phận, sinh mạng gia đình cho tài nhìn trăng sao của ông! 
Việt Thủy là tàu đánh cá loại nhỏ, dụng cụ hải hành không đầy đủ và tối tân gì mấy. Tàu được trang bị với sáu máy log thẳng, chạy bằng dầu diesel. Trên tàu không có thợ máy chuyên nghiệp, cho nên mọi lo toan về trợ giúp đều do vị “Thuyền trưởng” xem xét và kiểm soát trước giờ ra đi. 
Thời tiết yêm xui, ba con thuyền nối đuôi nhau băng qua khúc biển giữa Mã Lai và Nam Dương trong bình an. Những người tỵ nạn xúm nhau từng nhóm theo gia đình, đùm bọc ngồi xúm xít trong khoang tàu. Thỉnh thoảng những tiếng la khóc của những đứa trẻ vì đói khác và nóng nực. Hai ngày sau con tàu đến vùng duyên hải Borneo. Vì tàu nhỏ, đông người nên Việt Thủy chạy rất chậm và dựa theo ven biển Borneo cho an toàn. Vùng biển này xanh biết và nhiều san hô trải dài đến biển Palawan. Ngày đó Việt Thủy đi ngang qua những hòn đảo nhỏ của Trường Sa, nhưng có lẽ không mấy người để ý hay biết đến. 
Hai ngày một đêm trôi qua thật chậm. Bốn đứa chúng tôi quay quần bên thành tàu, chia xẽ nhau những làn khói thuốc, nhìn bọt nước, những gợn sóng bạc đầu và từng đàn cá chuồn bay lẹt xẹt trên mặt biển. Có những lúc đói bụng, ruột gan cào nghe ột oạt tôi lại lục những gói mì còn sót trong túi hành trang cho đở đói. Nhưng nước sôi lại không có nên chỉ biết nhai và nuốt đại những sợi mì. Trên tàu những gia đình lớn bé đều được cung cấp những lon đồ hộp và sữa đặc. Người trên tàu xuống bếp nấu cơm và đun nước sôi. Nhưng tuyệt nhiên chúng tôi không được chia xẽ đến một miếng ăn, ngay cả khi đói khác đến khờ người. Gia đình nào cũng thủ cho bản thân họ, tôi nghĩ đó cũng là chuyện thường khi con người nằm trong cảnh lâm nguy, nên cũng chẳng lấy làm buồn. Đoàn người trên tàu chật như nem, không có chỗ trống, tôi ngồi co chân trên nắp thùng phi bên cạnh mái che bằng vải. Có những hôm trời mưa, những giọt mưa đọng trên miếng vải che, chúng tôi đẩy chỗ thủng cho những giọt nước mưa trên miếng vải chảy vào lon nhựa để uống cho qua cơn khác. 
Không gì làm tôi lảng vảng xuống hầm máy xem chơi. Và vào ngày thứ hai viên “Thuyền trưởng” cần người giúp chấm dầu. Đám bốn đứa chúng tôi liền tình nguyện làm “thợ chấm dầu”. Và từ đó tôi thường trực dưới hầm máy. Lần đầu tiên trong đời tôi đi làm thợ máy! Tôi nghĩ chắc cũng dễ thôi, chỉ cần cầm lon dầu chấm vào ổ máy là xong. Vậy mà bốn đứa chúng tôi trở thành người quan trọng. Và cái quan trọng lớn nhất đối với chúng tôi là từ ngày đi làm “thợ máy” chúng tôi được chia xẽ những miếng cơm, giọt nước từ những gia đình trên tàu mỗi khi đói khác. 
Đến ngày thứ tư ba chiếc Việt Thủy vẫn còn trong tầm mắt trên vùng biển san hô giữa Trường Sa và Borneo. 
Nhưng chiều hôm thứ tư con tàu Việt Thủy 3, con tàu chạy sau cùng bỗng nhiên chạy chậm lại. 
Viên thuyền trưởng người Nhật xuống phòng máy xem, phát gíac hai trong sáu máy không còn chạy! Người thuyền trưởng nói: “Máy tàu bị lột dên.” Tôi nghĩ máy không bị lột dên mới là chuyện lạ! Vì khối người đông như kiến, con tàu đã quá tải và hai hôm nay người thuyền trưởng bảo tăng vận tốc máy, ép tàu chạy cho lẹ để kịp với hai chiếc kia. Mọi người trên tàu nhôn nháo sợ sệt, rù rì bàn tán khi biết máy tàu bị hư. Việt Thủy 1 và 2 càng lúc càng đi xa. Nhưng nếu có còn đâu đây cũng không kéo thêm Việt Thủy 3 nổi, vì mỗi con tàu đã kéo ngoài khả năng của nó! 
Việt Thủy 3 tắt máy để sửa. 
Con thuyền bắt đầu trôi. Ngoài những mảnh san hô màu xanh xanh trắng trắng thấp thoáng dưới đáy biển, và những ngọn sóng bạc đầu, người ta không nhìn thấy gì khác. Một khối người đông như nem trên tàu tự dưng bất động, chỉ còn nghe tiếng nguyện cầu và những ánh mắt buồn, lo lắng. Trời về chiều, không mưa, không gió nhưng trong lòng mọi người đã cảm thấy lạnh. Tôi rời phòng máy bước lên sàn tàu, đưa mắt nhìn vào khoảng chân không, giống như lòng tôi đang trống rỗng. 
Vị thuyền trưởng lay hoai sửa chữa, một hồi sau tiếng máy tàu lại nổi lên. Mọi người châu mặt về người thuyền trưởng, viên thuyền trưởng nói: “Chỉ chạy được bốn máy thôi.” Ông dặn dò những người chấm dầu xong bước lên phòng lái. Những nỗi lo âu trên từng gương mặt lại từ từ chìm xuống. Việt Thủy 3 chạy rất chậm và đã ngoài tầm mắt của Việt Thủy 1,2. 
Từ đây Việt Thủy 3 một mình trên biển Đông. 
Đêm về muôn ngàn vì sao lấp lánh trên không, con tau vẫn ì ạch mang đoàn người di chuyển về hướng Manila. Trên tàu vấn đề ăn, uống, và việc giải quyết chuyện cá nhân là cả một vấn đề, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua, vì ở hoàn cảnh này con người không còn biết mắc cở nữa. Vị thuyền trưởng hằng đêm vẫn nhìn bầu trời đầy trăng sao để định vị, và lèo lái con tàu cho đến đích. Tôi nhìn ông với lòng đầy khâm phục. Kiến thức của tôi về thiên văn học rất hạn hẹp, tôi chỉ biết có sao Bắc Đẫu, có dãy Ngân Hà, có trăng non trăng già. Nhưng để nhìn những vì tinh tú trên bầu trời và hoạch ra một hải trình để đi thì ngoài khả năng của tôi và nhiều người. Và rồi con tàu vần chạy, và đoàn người vẫn đếm từng ngày hồi hộp, mong thấy bờ bến. 
Đến ngày thứ bảy con tàu vẫn chạy theo ven biển, nhưng nơi nào thì cả vị thuyền trưởng cũng không biết! Mọi người trên tàu bắt đầu thắc mắc. Theo như bài tính đơn giản, tàu chạy 10 hải lý một giờ thì khoảng năm ngày hơn là tàu phải đến Subic Bay. Nhưng đã bảy ngày rồi, Subic Bay vẫn như vì sao lạc. Nhiều người trên tau đâm ra lo sợ và góp ý cùng vị thuyền trưởng nên tấp vào bờ để biết tàu đang ở đâu. Vậy là Việt Thủy chuyển mũi tàu hướng vào ven bờ. Khi vào gần bờ, nhiều người dân địa phương, da đen luốc chèo thuyền độc mộc đến cập vào Việt Thủy. Sau khi cho xem bản đồ và hỏi ra thì biết Việt Thủy đã đi lạc về bắc Phi Luật Tân hơn một ngày hải hành, và sắp vào địa phận của giống dân man rợ Bắc Phi vẫn còn ăn thịt người! Mọi người thở phào nhẹ nhỏm, và trong đám đông có nhiều tiếng xì xầm về tài nhìn trăng sao của vị thuyền trưởng! 
Việt Thủy cập vào bờ và mọi người trên tàu trút hết nỗi sợ hãi xuông biển. Những người dân Phi Luật Tân miền biển đen đuốc nhưng rất hiền hòa, tiếp đón con tàu Việt Thủy rất niềm nở. Họ chèo thuyền độc mộc mang đầy dừa tươi cập bên Việt Thủy và xin đổi lấy đồ hộp. Biết là sẽ được đến Subic Bay nay mai nên những người trên Việt Thủy không ngần ngại đổi những lon đồ hộp lấy dừa tươi uống. Và có lẽ chính quyền địa phương đã được lệnh nên mang Bác Sĩ và thuốc men đến khám bệnh chích thuốc cho người trên tàu. Với một ít vốn liếng Anh Văn tôi trở thành một thông dịch viên cho những cuộc khám bệnh cho dân tỵ nạn trên tàu. Hầu hết những lời khai bệnh chỉ là nhức đầu, sổ mũi, nóng lạnh nên với vốn liếng Anh Văn bặp bẹ tôi đã giúp nhiều gia đình có con em nhỏ. 
Từ đó tôi được nhiều thiện cảm với đòng bào trên tàu hơn, và cũng từ đó họ ân cần ban bố cho tôi một ít thức ăn như sữa đặc và đồ hộp. Tôi vẫn đưa tay nhận lấy mà trong lòng thầm nghĩ: “Những thứ này không cho thì ngày mai cũng sẽ bỏ lại trên tàu thôi, những ngày qua đói khác xin thì không cho, bây giờ mình giúp họ họ lại bố thì của thừa này đây, nghĩ mà buồn cười cho con người.” 
Nhưng rồi tôi vẫn làm nhiệm vụ của một thông dịch viên vui tươi. 
Đến bây giờ, chắc có lẽ nhiều người đi trên con tàu Việt Thủy vẫn còn đâu đây và chắc chắn họ cũng nhớ những giây phút này. Nhưng có lẽ điều mà tôi nhớ mãi là hình ảnh những người con gái Phi Luật Tân xinh đẹp chích thuốc và săn sóc những đứa bé bị bịnh, vội vàng trao những mảnh giấy nhỏ có đề tên và địa chỉ trước khi Việt Thủy quay đầu về hướng Nam, với một lời dặn ân cần là khi nào đến Mỹ hãy viết thư liên lạc với mấy cô. Tôi gom góp những mảnh giấy nhỏ bỏ vào túi, lòng vui cười vẫy tay chào tạm biệt, và biết vẫn còn có những tấm lòng cao thượng. 
Việt Thủy quay đầu rời bến, qua ngày hôm sau là đến Subic Bay. Mọi người vui mừng rời con tàu cũ kỷ, để lại tất cả những thức ăn, nước uống lại trên tàu, bước chân vào trại tỵ nạn Subic Bay. 
Trại tỵ nạn là những túp lều bằng vải, nằm san sát trên một sân cỏ bằng phẳng, đã được dựng lên từ lâu. Mỗi túp lều chu vi khoảng 4, 5 thước vuông và được kê hai ba dãy giường bố nhà binh cho khoảng tám người ở. Ngoài những lều vải, trại Subic Bay còn có những khu barrack nằm rãi rác trong khu rừng cây xanh um. Vào giai đoạn đầu của làn sóng tỵ nạn, chiến dịch Đời Sống Mới (Operation New Life), Subic Bay là trung tâm chuyển tiếp, đón nhận thuyền nhân, lập hồ sơ rồi đưa đi những nơi khác như Guam, Wake và vào lục địa Hoa Kỳ. Những lúc cao điểm Subic Bay có thể lên đến vài ngàn người tỵ nạn. 
Hằng ngày người tỵ nạn được ăn ba bửa: sáng, trưa, tối. Và những dịch vụ vệ sinh đều được binh lính Mỹ phục dịch. Nhưng sau vài ba tuần lễ đầu, vì tinh thần vệ sinh chung trở nên bê tha nên trại tỵ nạn phân chia những nam thành viên thay phiên nhau đi làm dịch vụ vệ sinh trong trại. 
Subic Bay nằm trên hòn đảo Grande Island gần Manila, trên đảo có vài bãi tắm nước trong xanh và nhiều cá bơi lội trong dòng nước. Người tỵ nạn suốt ngày bơi lội ở những bãi tắm này. Ngoài ra trên đỉnh đồi Subic là rừng xoài bên cạnh những nhà tù được xây lên từ thời Phi Luật Tân còn là thuộc địa của Tây Ban Nha. 
Một điều đặc biệt là khoảng một tháng trước ngày Sài Gòn thất thủ, vị giáo sư toán của trường đại học Khoa Học Sài Gòn, Lâm Lý Hùng, đã dùng thuyền gỗ nhỏ đưa gia đình (9 người gồm hai vợ chồng và 7 người con) rời Sài Gòn đi Úc Đại Lợi. Ngày đó, khoảng tháng 3, 1975, người dân Sài Gòn xôn xao bàn tán về chuyến đi của gia đình giáo sư Lâm Lý Hùng. Nhiều người ca ngợi lòng can đảm của ông, và nhiều người khác đánh giá sự độc tài của chế độ cộng sản qua chuyến đi một còn một mất của gia đình ông. Khi gia đình giáo sư Lâm Lý Hùng còn lênh đênh ngoài khơi Thái Bình Dương thì Sài Gòn mất, và gia đình ông nhập vào đoàn người tỵ nạn tại Subic Bay. Có lúc giáo sư Lâm Lý Hùng cũng là trại trưởng của trại tỵ nạn Subic Bay. 
Người tỵ nạn ở đây, trong khi chờ làm thủ tục để đi định cư, họ được học Anh Văn và đời sống phong tục của dân Mỹ. Chiều tối về, ngày nào cũng vậy, ban quảng trị trại chiếu phim hoạt họa trên màng ảnh lớn cho toàn trại xem. Những khúc phim ngắn của Road Runner, chú thỏ Bug Bunny và cảnh rượt bắt của những con vật trong đời sống hằng ngày, mà mỗi lần một khúc phim chấm dứt là một tràng cười nổi lên, kế đến là hàng chữ “That’s All Folks” lại hiện ra. Có phải những khúc phim đó muốn nhắc lại cho mọi người biết là cuộc chiến giữa Nam Bắc Việt Nam cũng chỉ là những cuộc chém giếc, rượt bắc như trò đùa của những con nộm mà giờ chót đã đến, đã hết rồi, để chỉ còn tràng cười và hàng chữ “That’s All Folks.” Trong hàng khán giả kia đâu phải chỉ có đám con nít! Họ là những nhà trí thức, những vị giáo sư, bác sĩ, kỷ sư, những cấp chỉ huy và những người sinh viên rường cột của nước nhà, là tinh hoa của miền Nam Việt Nam. Đã bị đánh lừa, bị phản bội và bây giờ được nhắc nhở bằng một tràng cười và câu: “Chỉ vậy thôi, các bạn.” 
Sau khi nhập trại, làm thủ tục đăng ký tên tuổi nghề nghiệp, tôi lại lang thang trong trại tìm người thân. Tôi đến thung lủng tỵ nạn nơi có treo bảng thông tin to như tấm bảng đen dưới gốc cây, đọc những tin nhắn tìm người thân trên đó. Không thấy tên nào quen, tôi lại lang thang trong rừng người và bất chợt tôi gặp lại hết những người đi trên Long Châu: Anh Hoàng và những anh chị em của anh Hoàng. Tất cả đã đến đây trước bốn đứa chúng tôi. Tay bắt mặt mừng, anh Hoàng gom hết anh em lại và điểm danh không thiếu một ai. Nhưng Điễn và những người lính Lôi Hổ trên tàu há miệng Hải Quân ở căn cứ chuyển vận kho 18, Tân Thuận thì không có mặt trên Subic Bay, họ đã đi thẳng đến Guam hoặc Wake. 
Vài ba tuần sau khi đến Subic Bay, anh Hoàng, T và ông Si trở lại Long Châu chạy qua Guam. 
Còn lại chúng tôi hằng ngày chỉ biết tắm biển, lên ăn, rồi lại xuống tắm biển rồi lại ăn. Chiều về chun vào mấy lớp Anh Văn học năm ba chữ hoặc lên hồ bơi, bơi lội, thụt bi- da. Sướng quá nên chúng tôi nói: “Vui chơi đời tỵ nạn” là vậy! Có một điều làm những người tỵ nạn chúng tôi rất hãnh diện là đội bóng chuyền của dân tỵ nạn. Nói đúng ra là vài tay bóng chuyền cừ khôi của Hải Quân VNCH. Tôi nhớ một người tên Thạch Sến và một người tên Giám. Hai anh này chơi bóng chuyền rất hay và làm cho đội bóng chuyền của binh lính Mỹ và Philippine phải nghiêng đầu kính phục. Thạch Sến một mình chấp 6 tay bóng chuyền Mỹ mà vẫn thắng vẽ vang dưới tiếng vỗ tay ầm ỉ của người xem! Cho nên những buổi chiều nhiều người kéo nhau ra chờ xem đấu bóng chuyền. 
Khoảng một tháng sau lần lượt những người trên đảo đều rời Subic Bay qua căn cứ không quân Clark để đi tiếp. Những người còn lại của nhóm anh Hoàng trên tàu Long Châu đều ra đi khác chuyến. 20- 6- 1975 tôi rời Subic Bay lên chiếc C- 130 (máy bay di chuyển quân đội của Hoa Kỳ) tại căn cứ Clark với vài ba trăm người khác, bay qua Guam. 
Những người đến sau tiếp tục ở lại Subic Bay, trầm mình trong làn nước biển xanh, và chiều về lại xem những khúc phim rượt chạy để cuối cùng âm thanh của hàng chữ “That’s All Folks” và tiếng cười lại vang lên trong tâm tư khó chịu của người thất trận! 
Chiếc C- 130 vội cất cánh rời phi đạo Clark, trong nhấp nháy tôi nhìn lại Subic Bay nhỏ như hột cát. Tiếng động cơ máy bay ầm ì đều đặng, và đoàn người ngồi yên lặng, dõi mắt nhìn qua khung cửa sổ, cố ghi lại hình ảnh một vài giờ vui.

Đồng Sa Băng. 26 tháng 6, 2009.