Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 18 Dec 2025

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Kể cho Mậu cùng anh sau những ngày Vàm Láng tôi đã bày tỏ ý truyện này
N.S.T.

1.Những Người Đi Tìm Mùa Xuân
Mấy ngày nay một chuyện lạ làm xôn xao khấp kinh đô. Ba hôm trước, có người khách thương từ phương Tây lại, đem theo hàng quý nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Này gấm trải rực rỡ như muôn hoa bướm, này the buông mỏng mướt tợ hồ khói sương; đĩa bạc, chén vàng chói lọi như bình minh, châu ngọc trang sức lấp lánh hơn sao trời. Nhà vua vời vào để Hoàng hậu và bốn chục nàng Công chúa lựa mua. Các quan to trong triều, các phú hào ngoài nội, tranh nhau tìm đón. Trong lúc yến tiệc mời chào, khách cao hứng tả lại những miền đã kinh qua. Vùng mộ vua ở Ai-cập có những kim tự tháp đồ sộ, vườn treo lộng lẩy của bà Hoàng Semiramis ở Ba-ti-luân, thành Bá-đa huyền ảo thủ phủ xứ ngàn lẻ một đêm, đền TajMahal cẩm-thạch lung linh dưới trăng Ấn Độ; rồi Vạn lý trường thành ở Bắc Hoa, Phú sĩ sơn bên Phù tang, thực khách sững nghe, ngồi mà quên gắp. Nhưng tất cả bỗng buông đũa, ngừng ăn, lắng hết tinh thần khi nghe đến Thung lũng Trường Xuân, một quốc gia nhỏ trên đường về Eden xưa. Tên gọi thế vì ở đấy mùa xuân là cả bốn mùa. Cây cối lúc nào cũng hớn-hở xanh tốt; hoa thắm, bướm vàng, chim hót, suối reo, người dân nhởn nhơ vui chơi. Em bé bụ như măng, thanh niên hùng như núi, thiếu nữ kiều diễm như quỳnh mùa thu, cụ già vững mạnh như tùng bách mùa đông. Thổ sản, rau tươi, quả ngọt, suốt năm sẵn có thì trân; cầm thú; chim núi, muông đồng, trĩ, long phượng đỏ, chồn xạ lan thơm, bốn mùa mặc tình săn bắn. Và rượu, rượu rất nhiều; có thứ nồng ấm như da Thái Chân, có thứ nhẹ say như mình Phi Yến, uống vào sảng khoái, tưởng chừng chắp cánh lên tiên, hơn hết mọi thứ mỹ từu trên đời. Thắng cảnh thì toàn quốc là một thắng cảnh lôn, phía bắc núi ngọn lọt mây, phía nam ruộng đất mầu mỡ, đông tây rừng già, xanh um một màu tùng bách. Quý nhất là khu rừng nhỏ phía đông bắc thung lũng, trồng đầy kỳ hoa dị thảo, ngoài trăm dặm còn ngát hương. Du khách đến thăm được phép hái hoa, bứt quả làm kỷ-niệm. Tùy theo ý muốn hoa quả hái rồi biến thành vàng hay ngọc hay kim cương. Và như một lá bùa linh, châu ngọc ấy cho du khách được ước một điều, miễn phải gìn-giữ nó hoài như một phần than thể. Bởi thế có tên là rừng Vạn Ý. Lại còn gọi là Tứ Vọng Lâm. Kể tới đây, khách móc trong túi áo ngực ra một trái cây nhỏ, mọng như đào tơ vừa độ “trái này xưa đã làm cho người đàn ông đầu tiên phạm tội bất tuân đấy quý ngài ạ!” Mọi người đều thấy nước miếng ứa trên đầu lưỡi; chuyển tay nhau xem thì thấy là một thứ ngọc lạ chưa hề được ngắm, tỏa ra những ánh dị-kỳ như từ một con mắt ma quái, có sức thu hút quyến rũ đến m say mọi con mắt người. Hỏi đến điều khách ước, thì khách chỉ mim cười không nói, đôi mắt nheo lại thành đuôi. Người ta nhao nhao lên xin chỉ đường tới thung lũng Trường Xuân. Nhà vua để nghị phong vạn hộ hầu, thưởng vàng muôn lạng, ngọc bạch bích trăm đôi và ngàn cây gấm tía, nếu khách bằng lòng làm hướng đạo. Phủ phục trước bệ rồng, khách từ chối:
– Tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần đành cam tử tội, chứ không thể chiều theo thánh ý. Đấy cũng như Thiên Thai, như Nguồn Đào làm gì có đường lối tới rõ ràng như mọi nơi khác trên trần thế. Bệ hạ ví như quyết chí đi tìm, ắt là sẽ gặp. Chứ bắt hạ thần dẫn lộ, thần chắc khó thoát tội khi quân, vì ai là người có diễm phúc trở lại Thiên Thai, tìm được Nguồn Đào lần nữa?
Vốn thông hiểu chuyện xưa, vua cho lời ấy là phải, nên không bắt tội mà còn trọng thưởng khách thương. Hàng-hóa bán xong, khách thu xếp hành trang lên đường, để lại hy vọng nao nức cho cả kinh đô.
Thế là mọi người Kinh đô rủ nhau đi tìm Mùa Xuân. Nhà vua đi trước nhất cùng hai quan văn võ đầu triều, Thừa tướng và Nguyên soái, với trăm viên kiện tướng, nghìn lính ngự lâm theo hộ giá, quyết mang lại cho quốc dân Mùa Xuân trường cửu. Sau mười tháng mông trần, nhà vua trở về, đem theo một cành thiên tuế, chín bông vạn thọ, tất cả bằng vàng, hái được trong rừng Vạn Ý. Ngày hồi loan, người Kẻ Chợ treo đèn kết hoa, lập đàn bái vọng, tụ đông như kiến, tung hô vang trời. Đấng Chí tôn mặt rồng hớn hở, tức khắc giáng chỉ xá thuế chợ ba ngày, phóng thích tù nhân hơn một vạn. Hôm sau đại triều, chiếu chỉ truyền xuống tuyên cáo cho trăm họ biết kết quả cuộc tuần du phương tây và ý định tân dân của Thiên tử. Chiếu rằng:
“Trầm thụ mệnh trời, kế thua đại thống, noi chí Tiên vương kể đã ba mươi năm có dư. Nghĩ mình người thường trách dầy đức mỏng, Trẩm hằng lo lắng, ngày biếng ăn, đêm quên ngủ, dậy sớm thức khuya, lúc nào cũng tâm-niệm cầu xin anh linh Liệt thánh Hoàng khảo phò trì xã tắc, giúp cho quốc thái dân an.
“Bởi thế, Trẩm cùng Thừa tướng và Nguyên soái quyết định tìm đến nước Trường Xuân, tận mắt thấy cảnh thần tiên an lạc, đem cảnh ấy về cho trăm họ, để nước ta ngày thêm xứng đáng là một nước có nhiều nghìn năm văn hiến.
“Canh cánh nhớ câu “Dân vi quý”, Trẩm chẳng quản khó nhọc, đi thăm cùng hết xứ. Danh bất hư truyền Trường Xuân quả thật không những thanh bình mà còn phú cường hơn nước ta gấp bội. Xem qua dân tình thấy trăm họ Trường Xuân kính mến quốc vương như con đỏ đối với hai đấng tứ thân, Trẩm càng thêm thẹn mình ở ngôi cao mà mười phần ấy không sao được một. Trẩm đã vì trăm họ cùng Thừa tướng khảo xét các kế hoạch làm dân giàu, cùng Nguyên soái nghiên cứu mọi lược thao để nước mạnh. Nay Trẫm hồi loan, tuyên cáo cho mọi người rõ ý tân dân của Trẩm. Thừa tướng và Nguyên Soái sẽ đem các điều sở đắc trong cuộc tuần du với Trẩm ở Trường Xuân, họp cùng các quan sáu bộ, mà soạn thảo mọi sách-lược quốc gia, đệ trình Trẫm phê chuẩn thi hành.
“Để ghi việc này cho hậu thế, Trẩm truyền Khâm thiên giám cải hiệu năm tới làm Vĩnh trị nguyên niên. Lại truyền bộ Công khởi xây đài Nhật tân dựng cành thiên tuế, cất gác Thiên trường cắm hoa vạn-thọ và toàn dân mở hội Thủy Lạc để trẫm cùng chung vui.”
Chiếu-chỉ ban ra kinh đô tức khắc trống reo, cờ mở; hội hoa đăng sẽ kéo liền trong bốn mươi đêm. Tối hôm ấy, ở Tướng phủ, Thừa tướng chăm chú đọc lại tờ biểu tấu ngày mai về những nhận xét của mình trong chuyến du lịch Trường Xuân.
“Phụng mạng ghi chép các việc mắt thấy tai nghe ở Trường Xuân, hạ-thần bắt đầu bằng đến thăm Trường Xuân Tể tướng, Thần đã cùng Tể tướng đàm đạo liền ba đêm ngày về đại kế quốc gia. Lại cùng Tể tướng đi thăm khắp nơi trong xứ, dò xét dân tình. Trong thư viện Tướng phủ thần đã may mắn được đọc nhiều tác giả Đông Tây bàn cách trị quốc, bình thiên hạ. Đáng kể có Công tôn Ương ở Tần tinh việc hình pháp, một ngày dám chém hơn bảy trăm tù đồ trên bến sông; Quản Trọng ở Tề rành việc thuế khóa, năng làm nước mau phú cường; Machiavel ở Ý, giỏi việc chính trị, chuyên giảng bá thuật, Talleyrand ở Pháp, khéo việc ngoại giao, trải thơ sáu triều, so với ông già Trường Lạc bội phần tài giỏi. Phàm mọi quốc kế ở Trường Xuân đều khởi hứng xuất nhập ở mấy nhà này, tỉ như bắt dân làm việc thì dựa các phép tịch thổ, bản phú của họ Vệ: để đầy công khố thì khai mỏ đúc tiền, đục đất lấy muối, mở nhà buôn và nhà nữ lưu theo kế Di Ngô; củng cố vương quyền trị yên trăm họ, đã có Machiavel viết cuốn “Ông Hoàng”; hòa dịu lân bang trung lập thu lợi, đã có Talleyrand khuyển nho múa lưỡi.

Còn các tiểu kế như sinh đồ ba quan đời Lê Trịnh, tú tài trăm ngàn ở Thiên nam, tùy thời ứng dụng, đều là những kế sinh lợi rất nhiều cho quốc gia.
“Ngoài ra, hình luật nghiêm khắc viết bằng huyết lệ, lao thất lạnh lẽo đục trong đá núi, là những biện pháp hữu hiệu cho một xã hội thanh bình trật tự.”
“Thế nên, nhận xét chung, thần thấy dân Trường Xuân nhàn cư rất mực. Trà đình, tửu điếm, nhà nữ lưu ở Kinh đô lúc nào cũng như Nguyên tiêu, Hàn thực. Còn ở thôn quê, ít người cày bừa mà rộng mênh mông ruộng đất, nộp thuế xong là vừa bát ăn bát để, đủ đến mùa sau. Phải chăng vì mùa xuân trường cửu, tính dân phác thực, nên ai cũng cho thế là tự nhiên, bỏ ngoài tai lời họ Mặc, cho rằng vu khóa thảo huyền? Hỏi xem thì Trường Xuân Tể-tướng cũng đồng ý với thần như vậy.”
“Khi chào cáo biệt, thần được Tể tướng Trường Xuân hái tặng một trái cây bằng vàng có bảy ngón, lớn như trái bưởi, ở Trường Xuân người ta gọi là quả phật thủ. Sau đây thần xin dâng trình ngự lãm cùng với bản điều trần của Lục Bộ về đại kế tân dân”.
Trong khi đó, ở Soái phủ, sau khi đã dâng vua xem một cành nguyệt quế bằng vàng, một bản đồ Trường Xuân đầy đủ chi tiết, có cả đường giao thông và một bản để nghị canh tân binh bị rất dài, Nguyên soái họp các tướng lại bàn rằng:
“Muốn cho nước mạnh, không gì bằng luyện binh, muốn cho nước rộng, không gì bằng dụng binh. Kìa như Bạch Khởi chém 45 vạn quân Triệu, máu chảy đỏ sông; Gia cát Võ hầu thiêu sống trăm ngàn rợ Đằng giáp, mỡ khét hang núi; thật là những võ công hiển hách còn ghi nơi thanh sử, làm rạng rỡ giang sơn. Chúng ta rồi phải lập nên huân nghiệp, mới mong Mùa Xuân trường cứu của ta được huy hoàng, nước nhà ta được cường thịnh, trên chẳng phụ Hoàng ân, dưới vỗ yên lê-thứ.
“Tôi đây mong ân Thánh thượng, tùy giá thăm xứ Trường Xuân, khảo về binh bị, nhất định bác bỏ cái thuyết khờ khạo của người Khâu nước Lỗ, bảo rằng túc binh không quan-trọng, quyết đưa võ nghiệp đến chổ vẽ vang. Binh lính tuyển thêm, luyện tập cẩn thận, kỷ luật cho nghiêm-minh, trận đồ thật tinh thục, gươm sắc, giáo dài, lo gì đánh đâu không được đấy? Cành nguyệt quế tôi hái ở Trường Xuân chính là biểu tượng cho những Xuân chiến-thắng sau này của dân-tộc ta.”
“Rồi đây Kinh đô xây thêm yên đài, các trấn dựng nhiều Lân các, tên tuổi ta và các ông đều ghi vào trúc bạch, ngang với Khứ Bệnh, Vệ Thanh. Vậy các ông nghĩ thế nào ta gắng sức tận trung báo quốc; các ông nghĩ thế nào?”
Các tướng đều cho lời nói chí lý.
Dân chúng kinh kỳ rất nhiều người đi tìm xứ Mùa Xuân nhưng phần lớn quay về tay trắng, hoặc vì thối chí, hoặc vì thiếu tiền, đều phải giữa đường bỏ dở. Trong số những người đi tới, có một phú thương, một thi sĩ và một nàng nghệ giả. Nhà phú thương, sau hơn nữa năm bôn tẩu của Trường Xuân, dẫn về một đoàn lạc đà dài dặc, chở không biết bao nhiêu là hang quý lạ. Này đây bộ ngọc kỵ ngũ hành tỏa ra năm sắc, này đây nệm lông chim hạc mỏ sắc ở hồ Stymphale; nọ là ngà voi, công xứ Tây-bá-lợi, kia nữa da sư-tử Némee. Rồi nào trầm, nào xạ, nào lụa, nào the; giò heo của nữ quái Circe, gân chân hưou của Thái âm thần, vây ngư nữ trên đảo Caprée. Bè bạn, họ hàng xúm lại thăm hỏi, phú thương vui vẽ kể chuyện xứ Mùa Xuân.
“Thương mại ở Trường Xuân phồn thịnh lắm. Thật đúng với lời thường nói: một trăm kẻ bán, một vạn người mua. Nhiều khi bác phải nối đuôi đứng đợi hàng giờ mới đến lượt mua gạo ăn hay vãi mặc. Những đồ vưu vật rất nhiều, nhưng chắc vì nhìn mãi đã quen, nên dân Trường Xuân thảy đều thờ ơ không buồn hỏi đến. Trong nước có chừng mười nhà buôn lớn, chi nhánh khắp nơi, buôn tận gốc, bán tận ngọn, vốn một lời mười, lời trăm. Những người buôn giỏi như Chí-di Tử-bì, giàu có địch quốc như Vướng Khải, Thạch Sùng, đếm được trên đầu ngón tay.
“Công nghệ cũng rất phát đạt. Có năm nhà lớn, sản-xuất thượng vàng hạ cám, đủ các thứ hàng hóa, vật dụng. Cách tổ chức thật là chu đáo, theo phép của Taylor: có ban tư tưởng hoạch định kế sách; có ban quản lý coi việc tiền lương: người làm thì đứng thành dẫy, mỗi người chuyên một việc sản xuất mau chóng dị thường. Nước ta nếu Đức Kim thượng muốn toàn dân, ngành công nghệ tưởng không gì bằng theo cách ấy”.
Rồi nhà phú thương đưa ra khoe với họ hàng, bè bạn một số trái cây bằng vàng – chắc là táo – hái ở rừng Vạn Ý, trái nào cũng lớn đầy gang tay, tròn trịa và mát rượi.
Chàng thi sĩ “thì tóc vồng trên đầu như túp lông con cò, con hạc, đi ở giữa đời mà cứ tưởng vọng nghìn xưa”. Bấy lâu ca tụng mãi tình yêu trong vũ trụ, vẻ đẹp trong đất trời, cái hào khí của tráng sĩ Ngô môn, vóc đắm say của giai nhân thôn Trữ, chàng thấy quen quá, thuộc quá, đến hóa tầm-thường. Bởi thế chàng hăm hở đi tìm Mùa Xuân mới, làm nguồn thi hứng cho những tác phẩm sắp tới của chàng.
Chàng ở Trường Xuân một thời gian khá dài, có lẽ đến hai hay ba năm. Qua những lá thư thưa thớt chàng nhờ một vài khách thương may mắn ghé qua thung lũng Mùa Xuân chuyển về cho bạn bè, người ta được biết chàng mới tìm ra một lối làm thơ kỳ diệu.
Trong thư chàng kể:
“Các bạn có nhớ quý tài Lý Hạ làm thơ trên vách nhà xia không? Trường hợp tôi cũng thế, khác chăng là tôi không những làm thơ mà còn đặt ra cả một thể thơ, một bút pháp thơ. Sáng hôm ấy, khí xuân mát rượi, thức dậy tuy trong mình hơi nặng, tôi cũng thơ thần dạo chơi rừng Vạn Ý cho đợi nàng Thơ. Đang lúc mắt ngắm sóc giỡn quả thông, tai lắng tiếng suối rì rào, mũi ngát mùi thơm hoa tím, thần trí phiêu phiêu, tôi bỗng thấy quặn đau bụng dưới, sôi sục như trong đó sắp nổ tung một bầu hỏa diệm. Xong việc rồi, nhìn thấy tràn lan mặt đất một vùng lờ mờ trăm sắc tôi lại nhớ đến các thứ trân cam trong buổi dạ yến hồi hôm ở viện Hàn Lâm. Chợt như ánh chớp lóe soi đám ý-tưởng hổn độn trong đầu, một tứ mới vụt hiện. Rồi thi-tứ theo nhau ào ào dồn dập như cơn mưa rào theo ánh chớp mở đầu. Tôi thoát cảo 1rất nhanh, bài thơ dài hơn vạn lời. Sung sướng quá, tôi cất tiếng ngâm vang cả rừng, làm sóc ngưng đùa, suối bặt reo, hoa tím thôi tỏa hương thơm. Hơi ngâm vừa đứt, tôi khám phá ngay ra bí quyết làm thơ hay. Là thơ phải đủ muôn hồng, ngàn tía, hòa hợp nhau như màu xanh rau ghém, sắc đỏ hồng thị, ánh vàng kê đan, bày trong chóe sứ Giang tây trắng muốt. Thể thơ phải phiêu diêu tràn lan, vứt bỏ hết mọi câu thúc của luật lệ; nhạc thơ nhờ đó mới biến đổi đến tận cùng, lúc nhẹ như hoa bay, khi hùng như thác ngàn đổ.

“Chủ-trương và đường lối đã định, từ ấy thi hứng đổi dào, ý thơ uẩn súc, đặt bút Trường Cát phải kinh, ứng khẩu Từ Kiến chịu hàng, ngữ ngữ cụ nhân (2), chứ không còn cái cảnh quẹt bút thôi sao như Liễu sinh ở Động đình thuở nọ. Nhớ câu “Lôi động Nam bang; Vũ qua Bắc hải” (3) của Trạng Quỳnh đối đáp sứ Tàu, tôi đặt tên cho thi pháp mới này là Lôi vũ.
“Thi khả dĩ hội ý, bất khả ngôn truyền, tôi chép theo đây bài “Nàng Thơ tóc xõa vai gầy” thi phẩm mới nhất của tôi, để các thi hữu thẩm xét lối thơ Lôi vũ cho được tường tế hơn”.
Mở xem, thấy chữ như cỏ may rối, ngang dọc đặc kín mười lăm trang hoa tiên khổ rộng. Có câu thật dài, có câu thật ngắn, xen lẫn quấn-quít, lại có nhiều tiếng tán thần và nhiều dấu ngắt câu điểm xuyết khấp bài, khi ngâm phải lấy hơi, vận khí. Ý tứ u ảo, đọc kỹ năm bảy lượt mới thoáng tựa trăng hạ huyền sau lớp mây dầy.
Hình ảnh thật tân kỳ, như tả sự buồn chán thì giọng văn ẩu thổ nôn nao, kể nỗi nhớ mong thì lời thơ cuống cuồng sôi bỏng. Hơi văn bách khí tán hạ, phải chú ý, thưởng thức mới khỏi văng lọt ngoài thi giới.
Bài thơ in ra, hôm sau Kinh đô có thêm ngay ngót bốn vạn nhà thơ trẻ.
Cùng đi với thi sĩ có nàng nghệ-giả. Họ vốn là đôi bạn tri âm từ lâu, thường tự ví với gái già Hà Mô gặp được Giang Châu Tư Mã. Lấy lẽ rằng ly phụ còn biết lo việc nước, nàng nghệ giả đi tìm xứ Trường Xuân đem về cho thanh sắc nước nhà những nét độc đáo, góp phần vào công cuộc tân dân.
Đến Kinh đô Trường Xuân, nàng ghi tên ngay vào giáo phường, ngày đêm học ca, luyện vũ. Giọng nàng xưa kia như khúc ngọn ngô đồng, nay đổi hẳn sang khúc gốc, nồng nàn hơn, tha thiết hơn. Tiếng hát quyện vào nhau, ríu rít như tiếng chim anh vũ, chỗ này láy thêm vần, chỗ kia lược bớt chữ, khiến người nghe phải “chau mày” ngồi im cho hai lỗ tai được đầy lời, đầy nhạc. Về vũ, nàng phối hợp các vũ điệu cổ truyền của dân tộc với các điệu múa xứ Mùa Xuân, vốn là tổng hợp của nghệ vũ bốn phương, sáng tác ra nhiều vũ khúc mới. Tỉ như vũ khúc Tạp Phiến thì nón trắng, quạt lông, lui một bước, tiến ba bước, tượng trưng cho sự nhảy vọt của nghệ thuật; vũ khúc Kích Cổ Thôi Hoa thì trống quít đeo trước bụng xiêm y tỏa rộng rồi tung lên như hoa trà mãn khai.
Nàng cũng nối ý Đường Minh Hoàng chế vũ y bảy màu cầu vông, mà họa nhiều kiểu y thường, nào áo Bồng đảo, nào xiêm Lưỡng mông, nào quần Triển cổ. Ngoài ra hương chi, lan phấn và các mỹ cụ chốn buồng khuê, nhất nhất nàng đều để tâm nghiên cứu.
Nàng về Kinh đô cùng với thi sĩ. Tặng vật ở rừng Vạn Ý của đôi bạn nghệ sĩ là một bó trăm hoa bằng đủ một trăm thứ ngọc, cành lá bằng vàng, ngụ ý đem về cho vườn văn nghệ nước nhà đủ hương sắc bốn phương.
II
Mười năm, Kinh đô bây giờ hoàn-toàn đổi khác. Ngay từ khi Thiên tử xuống chiếu tân dân, liên tiếp nhau những kế-sách của Thừa-tướng, những võ công của Nguyên soái, những công cuộc kinh doanh của phú thương, những hoạt động văn nghệ của thi sĩ và nàng nghệ giả, đã làm chốn đế kinh hoan lạc bất tận và phồn thịnh rỡ ràng, khiến cho mọi người đều hoan-hỉ.
Nhà vua hoan-hỉ thấy nhiều cung điện nguy nga được xây cất thêm, nhiều ngự uyển tráng lệ được trồng thêm, nhiều chim kỳ thú lạ được nuôi thêm; thấy toàn dân ca tụng thánh quân, thấm nhuần vũ lộ, và nhất là thấy nhiều tượng đồng tượng đá của ngài và của hoàng gia – trong đó có cả con chó nhỏ của công-chúa út -đủ kiểu, đủ cỡ, được dựng lên nhan-nhản khắp nơi. Thừa tướng hoan hỉ thấy công khố mỗi ngày thêm chặt, công thự mỗi ngày thêm rộng, khiến nhớ đến câu “chu môn tửu nhục” của Đỗ Công Bộ mà lòng thêm tự đắc; thấy Quốc từ-giám vắng tanh nạn thất học còn đâu nữa; thấy lao thất đầy người – bao nhiêu vô loại bắt hết và nhất là thấy dân quê cứ thêm chăm chỉ trong việc nông tang mẫn cán trong việc thuế má, mà hé môi nữa tiếng không hề. Nguyên soái hoan hỉ thấy đông tan đoài tĩnh, lân bang xứ xứ đến triều dâng cống; thấy ba quân dung mãnh tựa hồ lang, khí thế như ngói tan trúc chẻ, thấy oai danh mình lừng lẫy, thoáng nghe bọ ngựa hết dám giơ càng, ễnh ương thôi không phồng bụng và nhất là thấy hình mình đeo hồ phù, ngồi da báo, chễm chệ trên chỗ nhất ở Yên đài.
Phú thương hoan hi thấy kinh doanh phát đạt, sản xuất từng chùm; thấy tiền bạc hanh thông, buôn một lời trăm lãi vạn; thấy cửa nhà san sát, ruộng nương thẳng cánh cò bay và nhất là khi nhấp chén trà Trăm-mã, gật gù lẩm nhẩm đọc đôi liễn sơn chữ vàng “Thư danh Đào Trí Phú – Kim thành một nại hà” treo hai bên tủ kính lớn trong bày những trái cây vàng ở Tứ Vọng lâm và nhiều khối vàng khác đúc đủ kiếu hình kỷ hà học.
Thi sĩ hoan hỉ thấy thơ mình càng thêm uyên do thâm trầm, mà cả đến đám phu dội nước, bọn lái buôn tôm cũng tụng đọc ngâm nga; thấy thơ in của mình tràn ngập phố phường, làm giấy vọt tăng giá đất; thấy người người ngưỡng mộ thơ mình, cả đến lọ tương cũng bọc thơ Lôi Vũ và nhất là thấy tài mình đắc dụng, quân vương chú ý, phong làm học-sĩ, cho cầm đầu hết mọi văn trào, tự ý thi thố tài năng.
Nàng nghệ giả hoan hỉ hơn ai hết. Được vua tin yêu, vời vào cung lập giáo phường và huấn luyện đoàn Hồng cần đệ tử, nàng có thế lực rất lớn, đến thi-sĩ là bạn tri-âm mà đôi lúc cũng phải gờm. Nhờ những hăng hái ấy, không khí nghệ thuật cực kỳ sôi nổi tưng bừng.
Thi nhân đông hơn bách tính, Tao đàn lập nhiều như nấm rạ sau mưa, đến nỗi thiếu cả tên đặt. Mỗi tuần lại có vài trăm danh kỹ trúng tuyển vào giáo-phường. Người ta tính ra trong mười tám triệu dân, có đến tám triệu gieo vần chọn chữ, tám triệu lựa giọng ca ngâm. Thấy đông như vậy, Thừa tướng – người lúc nào cũng nghĩ đến lợi tức quốc gia – đã một phen dâng biểu xin đánh thuế và bán bảng nghệ sĩ cho những ai muốn làm thơ, làm nhạc. Không may cho Thừa tướng. Thiên tử lại yêu thơ nhạc hơn cả Dionysos và Néron cộng lại nên biểu văn bị bác và Thừa tướng suýt bay đầu. Dân chúng cũng hoan hỉ khi thấy nàng nghệ giả nhày múa, lòng mừng nước vui, thấy thi sĩ ngâm thơ, lòng mừng nước có văn hiến; thấy hàng hóa tràn ngập của phú thương, lòng mừng nước có tài nguyên; thấy gươm giáo sáng lòa của quân binh Nguyên soái, lòng mừng nước mạnh; thấy vựa thóc thuế cao chót vót của Thừa tướng, lòng mừng nước giàu và nhất là khi thấy Thiên tử ngự giá tuần du, lòng mừng nước có anh quân.
Khi ấy voi ngựa đầy đường, giáp binh chật đất, quan văn mũ đai đường bệ, quan võ giáp trụ hiên ngang, cung nga thể nữ xiêm nghê lả lướt, xúm xít quanh đấng Chí tôn. Dân chúng đứng kín hai bên đường, cứ trông bóng cờ nhật nguyệt long phụng mà tung hô vạn tuế. Khắp nước thanh bình, bốn phương phẳng lặng. Thảng hoặc có đánh dẹp vài nhóm thổ hào, thì Thiên tử hội triều, Thừa-tướng dâng kế, Nguyên soái cầm quân, phú thương vận lương tích thảo, thi sĩ cất bút thảo-hịch, nàng nghệ giả ca bài Lương-Châu, múa
khúc Tái Hạ, ba quân nức lòng. Và trăm họ càng thêm hoan hỉ, cố cho nước mình là một Thung lũng Trường Xuân trên coi đời. Thế mà vẫn có người chưa thấy mình được Mùa Xuân. Ấy là vợ một anh nông phu, sống trong làng nhỏ phía đông kinh thành, cách non trăm dặm. Thấy nghiệp nông tang có phần vất và, việc phụng xuyến nhạt tẻ thế nào, chị đã đôi phen ngỏ ý rời quê, lên sinh sống nơi Kẻ Chợ. Rồi chẳng biết nghe ai kể chuyện Trường Xuân, chị luôn thôi thúc chồng đi tìm rừng Vạn Ý, để có một chút vàng ngọc điểm trang. Ước mong có thế mà chồng vẫn như không biết đến. Bèn mặt sa chữ nãi, miệng hến ngậm tăm, làm ra vang mình sốt mẩy, đóng cửa ôm gối thở dài. Anh nông phu sở dĩ bỏ qua lời vợ, bởi tính anh vốn giản dị chất phác. Đời cày ruộng quanh năm bận rộn, hết chiêm đến mùa, qua ngô rồi đỗ, đâu còn thì giờ nghĩ tới phục sức điểm trang. Nhất là từ khi tân pháp ban hành, nha lệ lui tới luôn luôn, nổi trống khua mõ, họp dân truyền lệnh quan trên, nào cày bừa cho chăm, trồng cấy cho khéo; nào sớm ươm tơ, chiều dệt lụa; nào chăm chút trẻ
thơ, nuôi béo gà lợn, đến nỗi nhiều khi anh phải bỏ cơm sáng, bãi cơm chiều, đi nghe hiểu dụ – anh lại càng phải ra sức cho chóng về Mùa Xuân trường cửu.
Dáng người cục mịch chắc chắn tay mạnh như đôi trăn lớn, hai chân thẳng tắp vừng trồng, anh được người làng yêu mến vì tính cần-cù cẩn-thận, ít nói hay làm. Anh lại có một giọng hát mê hồn, và người ta vẫn bảo anh là hậu thân Trương-Chi thuở trước, tuy diện mạo anh chẳng có nết chỉ đến tủi lược, hờn gương. Vợ anh nổi tiếng hoa khôi, treo cao giá ngọc, mà chịu gá duyên cầm sắt với anh, cũng vì giọng hát đầm ẩm rung động đến tận những sợi tơ lòng mảnh nhất.
Trước kia anh hát ca dao, mỗi khi cất giọng, mọi người nín thở, tưởng nghe hồn nước thở than, cổ sơ mộc mạc; núi sông lên tiếng, vàng sắt giao chen. Những đêm xuân trăng sáng, anh hát khúc ân tình lời ca tan trong ánh trăng, thôn nữ tim non thổn thức. Rồi khi trời thu đỏ ráng, cò trắng lẻ bay, anh ca bài du tử, không khí trong trẻo ngân vang, bồi hồi mẹ già tựa cửa. Bây giờ anh ngâm những bản âu ca của thi sĩ, như bài rủ nhau đi cày, bài ơn trên mưa móc, lời thơ dễ dãi, đậm màu thịnh trị, nhờ giọng anh cũng được dân quê thưởng thức khá nhiều. Nghe vợ thôi thúc mãi, dù hiền như cục đất cày, anh cũng động tâm, huống hồ lần này vợ làm mặt giận. Một phần nể vợ, một phần muốn cho xong chuyện, ngày kia gặt hái thuế má tạm xong.
anh khăn gói vắt vai đi tìm Thung lũng Mùa Xuân. Tức thì vợ anh bách bệnh tiêu tan, mặt mày tươi rói, lúc nào cũng bấm tay giờ khắc và tính trước cân lượng những hoa, hột, xuyến, vòng. Không biết anh có đi tới nơi không, mà chỉ tuần sau anh đã trở về. Nét mặt nhuốm chút ưu tư, anh ừ ào cho qua lời săn đón của vợ. Khăn gói mở ra, hai bộ quần áo nâu vẫn còn nguyên nếp. Lấp-ló bên dưới có một ánh vàng. Vợ anh mừng quýnh, lật vội ra xem, thấy chỉ là hai bông lúa lép. Chị giận, bỏ thẳng về nhà mẹ đẻ, mặc anh thui thủi
với con chó vện già. Từ ấy, anh lầm lì cày cấy, có phần chăm chỉ hơn xưa. Và anh thôi không hát nửa. Khiến cho mấy cô thôn nữ mới lớn bang khuâng nhớ tiếc, mỗi khi chiều lên, trâu về ngõ xóm.
Năm ấy, trong nước mất mùa. Ba năm sau Kinh-đô lại một phen xao-động. Nhưng lần này không phải do một khách thương nào từ phương xa về tha hồ kể lại, mà do một cuộc nổi loạn bất ngờ. Nguyên nhân chính thật không ai biết rõ. Người ta đang vui vì mùa mới được to, bù lại hai năm đại hạn, lúa mạ bỏ héo, đất phải thay trồng cấy mà lấy sợi, theo kế hoạch “xã nông, cơ hóa” của Thừa tướng. Nhờ thế xuân sắc giữ được phần nào, người dân có sống, khô miệng âu ca trong khi chờ giờ ăn tập thể. Dân số kinh kỳ chợt tăng gấp bốn, gấp năm.
Cây mạ cũng không chịu nổi nắng, người ta phải bỏ làng mà đi. Mùa cấy năm nay, trời bổng mưa to, trong ba ngày liên-tiếp. Đến hạt khô vãi từ năm trước cũng phải nứt vỏ ra mầm. Và bây giờ người ta đang sửa soạn về đồng, vì lúa vàng đã rũ nặng khắp nơi. Người ta cũng chẳng biết tên tuổi, mặt mũi kẻ thủ-xướng ra sao. Chỉ thấy đồn đại rằng đấy là một thư sinh đã từng du lịch xứ Mùa Xuân, hình khô, vóc nhỏ, cả người nổi nhất có cái trán rộng và gồ, làm thêm sâu đôi mắt sơn miêu vốn được che dưới hai hàng mày rậm.
Trước ngày đại biến, Kinh-đô mở hội đã ba hôm, mừng nhà vua sinh Công chúa thứ bốn mươi mốt. Đầy tháng vào đúng ngày đầu mùa gặt mới, vua cho là tường triệu, ra lệnh mở hội thật to. Tạm quên lo nghĩ, người Kẻ Chợ đổ hết ra đường, phô trương quần áo, chen nhau đi như nước chảy. Biến loạn khởi đầu bằng cuộc xô xát trước cửa hàng của phú thương. Trên bục gỗ cao để diễn tuổng ngày hội, một thanh niên tóc rối, râu xồm, nước da xanh mét, giậm chân, vung tay, nói những lời ngô nghê khó hiểu. Lắng nghe thì thấy như: tôi là chủ, các ông là chủ, chúng ta là chủ … Lại thấy như: nó đánh ta, ta phải diệt nó … Dân chúng nghe mà bỡ ngỡ ngần ngơ, nhưng vì hiếu kỳ, tụ lại mỗi lúc mỗi đông. Chàng trai râu xồm lại phát cho mỗi người một tờ giấy nhỏ, mặt trước vẽ người quỳ giơ đầu chịu chém, mặt sau đại khái cũng vẫn những lời nói khi rồi. Dân chúng xem hình, đọc chữ, lại càng thêm ngần ngơ bỡ ngỡ. Bỗng vệ binh ở đâu chạy tới, tuốt kiếm bắt im. Chàng trai không chịu; thế là biến loạn nổ bùng, lan nhanh như vết dầu loang trên giấy bản. Lần lượt, kho lương rồi kho vũ khí phủ Nguyên soái, phủ Thừa tướng, rồi đến Hoàng cung, loạn quân xông vào chiếm giữ. Bị tấn công bất chợt, bình lính trở tay không kịp, đều phải bỏ giáp quy hàng. Nguyên soái lúc ấy đang dự cuộc chọi gà, Thừa tướng đang hầu cờ Thiên tử, nhà phú thương đang đánh tổ tôm và cố nhiên thi-sĩ đang ngâm thơ, nàng nghệ giả đang múa hát. Dân-chúng thừa cơ đốt phá, tràn vào cung điện, dinh thự như nước vỡ bờ. Trong đám gươm đao hỗn loạn, Vua, Hoàng hậu và Nguyên soái bị băm nát như tương. Người ta sục sạo tìm giết Thừa tướng. Reo hò đòi treo cổ phú thương. Có kẻ nói Thừa tướng đã trốn thoát ra nước ngoài; còn phú thương thì biệt vô âm tín. Bốn chục nàng Công chúa tán lạc khắp nơi, Công chúa áp út trong khi chạy, tay vẫn khư khư ôm con chó nhỏ. Trong cung chén đũa ngồn ngang, rượu thịt cháy khét; dầu sáp đổ thành vũng, gương vỡ lấp lánh như sao sa, gấm vóc chất đống như cỏ ngựa. Người ta kéo đồ hết các tượng vua chúa, đốt cháy Yên đài, phá tan nhà hàng của phú thương, và bắt giam thi sĩ. Nàng nghệ giả bơ vơ thân gái, lại trở về xóm Ngũ Lăng. Cung thất khói lửa nghi ngút ba tháng chưa tắt, thiêu hủy không biết bao nhiêu vàng ngọc, bao nhiêu lụa là. Bới đống tro tàn, người ta tìm thấy đủ hết các bùa linh rừng Vạn Ý, cành Thiên tuế, hoa vạn thọ, quả phật thủ, lá nguyệt quế, hoa trăm sắc, quả ngàn cân, đều đã thành than khẽ đụng là hóa ra tro bụi.
Mùa gặt đã xong.
Ở Kinh đô cũng như trong các thôn xóm, sôi nổi lắng dịu, đời sống dần trở lại bình thường. Người Kẻ Chợ, quá quen với mọi trò vân cẩu, lại tiếp tục ồn ào, tới lui đông nghẹt các nơi giải trí. Người thôn quê thêm một lần phải lắng nghe những bài biện thuyết tràng giang đại hải, khó hiểu ngô nghê chẳng kém những lời của chàng râu xốm ngày nọ; thêm một lần lại lặng lẽ tiếp nhận, thi hành các điều lệ mới, lúc nào cũng sẵn sàng như đất mầu giữ hạt hàng năm mà không hề mỏi. Sớm sớm dậy cùng gà gáy, người dân quê vác cày dẫn trâu ra ruộng, để chỉ trở về khi đỏ úa trời tây. Chiều chiều, các cụ già họp nhau ở đầu làng, bàn luận một vài tin mới, nghiệm lại một câu sấm cũ kỹ truyền lại không biết tự đời nào. Và anh nông phu lại hát. Anh lại hất ca dao. Nhưng giọng anh bây giờ nhuốm một vẻ buồn, nhẹ nhàng chua xót; tắt rồi cái giọng đầm ấm hồn nhiên. Trán anh chom nhãn tuy khóe miệng vẫn đượm nụ cười tươi tuổi trẻ. Vợ anh, thôi mê tiếng hát đã bỏ anh lên Kinh đô tìm Mùa Xuân từ trước khi biến loạn. Anh chẳng biết nàng còn sống sót hay chăng và cũng không buồn tìm kiếm. Nhân lúc anh ngừng hát, một người làng hỏi anh:
– Vậy chứ hồi ấy anh có tìm thấy Mùa Xuân không? Thì anh trả lời: “Có chứ!”
Rồi yên lặng, mắt nhìn đồng mạ, xanh rì gần khắp, chỉ còn đôi dải nước phù sa loáng ánh mặt trời.
NGHIÊM SỸ TUẤN [Trích Tình Thương số 2, Xuân 1964]
(1) Thoát cảo: thoát ra khỏi bản thảo, ý nói “viết xong, làm xong”.
(2) Ngữ ngữ cụ nhân: mỗi chữ làm người ta phải sợ, ý nói “có những tứ lạ, những ý tưởng đặc sắc”.
(3) Câu đối đáp của Trạng Quỳnh với sử Tâu chỉ là giai thoại dân gian chứ không phải chuyện thật được ghi trong sử sách. Theo giai thoại, một viên chức trong sứ bộ Tàu làm một phát trung-tiện trên thuyền. Hắn bèn nói với các bạn: Lôi động Nam bang /Sấm động mước Nam. Trạng Quỳnh trong vai người chèo thuyền bước lên đầu thuyền, vén quần đái xuống sông rồi nói to cho cả sứ bộ Tàu nghe: Vũ qua Bắc hải / Mưa qua bể Bắc.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.