Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 25 Jan 2026

Y sĩ Đại Úy Lê Văn Công
Lê Văn Công sinh năm 1939 tại Sài Gòn, theo học Đại Chủng Viện Sài Gòn, tốt nghiệp Y Khoa 1968, Quân Y Hiện Dịch Khóa 15; lần lượt phục vụ: Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Quân Y viện Nguyễn Văn Nhứt, Bệnh xá TT Huấn Luyện Quang Trung; cấp bậc cuối cùng Y Sĩ Đại Úy; di tản sang Mỹ từ 1975, tốt nghiệp Diagnostic & Interventional Radiology Đại Học  Tennessee, Memphis; trở lại hành nghề Y khoa Quang tuyến cho tới nghỉ hưu 2010; hiện cư ngụ tại Fairfax, Virginia.

Vẽ Chân Dung và

Đọc Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Như bao lần trước, anh Ngô Thế Vinh thường gửi cho các bạn anh đọc những bài anh vừa viết xong, còn nóng hổi, ngắn hay dài, trước khi được phổ biến rộng rãi. Anh muốn các bạn anh đọc trước và cho phê bình. Nhưng riêng tôi nào có am hiểu vấn đề anh nêu ra đâu mà bình với phê. Cũng như thế, lần này anh cũng bảo tôi viết review về Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn cho Đặc San Y khoa 68 số Mùa Thu 2019.

Anh còn thêm câu: “Đó là mệnh lệnh của trái tim, cứ như vậy nha.”

Theo tôi đó là lịnh chứ còn gì nữa.

Viết bài cho báo, không phải là nghề của tôi. Tôi biết tôi không đủ chữ nghĩa, nhưng sở dĩ có bài này là tôi không muốn anh thất vọng lần nữa; cũng như anh đã thất vọng về bức chân dung của anh Nghiêm Sỹ Tuấn mà anh nhờ tôi vẽ từ một tấm hình cũ. Khoảng giữa năm 2018, qua email, anh Vinh gửi cho tôi một hình portrait của anh Nghiêm Sỹ Tuấn và anh nhờ tôi vẽ lại bằng acrylic trên canvas.

Bức chân dung của anh Nghiêm Sỹ Tuấn, với thời gian hay vì lý do nào đó, nó mất hết đường nét bình thường của một tấm hình, nó “mờ trong bóng chiều!” Thật khó mà vẽ lại cho đúng, cho dù tôi đã nhờ đến các chuyên viên hình ảnh làm photoshop, họ cũng không thể làm rõ nét thêm được. Nhưng tôi không muốn từ chối công việc đó, tôi muốn thử thách và tôi không muốn làm anh Vinh thất vọng.

Nhưng khi bắt đầu vẽ, tôi mới thấy có nhiều vấn đề. Lúc còn đi học Trường Y Khoa, tôi có đọc báo Tình Thương. Có thấy tên anh Nghiêm Sỹ Tuấn là một trong những thành viên của tờ báo. Tôi không quen anh và chưa được vinh hạnh diện kiến với anh. Đó là vấn đề then chốt. Nếu tôi đã gặp mặt Nghiêm Sỹ Tuấn, thì tôi có thể hình dung ra anh mà vẽ. Không thua cuộc, tôi xin thêm tài liệu, anh Vinh gửi thêm một bức hình anh Nghiêm Sỹ Tuấn với áo dài khăn đóng, ngồi với các em và cả hình chụp portrait của toán sinh viên năm thứ 3 thực tập của trường Y Khoa …

Gương mặt anh Nghiêm Sỹ Tuấn trong các hình này còn quá trẻ. Nó không ăn khớp với nét mặt Nghiêm Sỹ Tuấn trong bộ áo hoa dù, trong đó gương mặt anh trông rất nghiêm nghị, hiên ngang với đôi mắt thật sắc, dù trong bóng mờ …. Tôi muốn phô bày đôi mắt mà tôi rất thích, rất cảm phục …

Tuy nhiên vì là nghiệp dư, và có lẽ quá đà, tôi vẽ đôi mắt ấy trông sắc và hơi “dữ,” không giống Nghiêm Sỹ Tuấn, qua nhận xét của các anh đã quen biết anh Tuấn.

Được feedback đó, tôi đề nghị anh Vinh cho tôi chỉnh lại đôi mắt anh Nghiêm Sỹ Tuấn theo các hình lúc anh còn trẻ, chưa nhập ngũ. Và anh Vinh lại thích bức vẽ sau cùng này, vì theo anh Vinh nó giống Nghiêm Sỹ Tuấn lúc sinh tiền: đôi mắt ấy vẫn tinh anh, nhưng trông hiền hòa, trẻ hơn …

Riêng cá nhân tôi, tôi không ưng ý cả hai, vì tôi không có một hình mẫu hoàn hảo. Đọc Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn mới thấy công trình của chủ biên Ngô Thế Vinh. Anh đã mời 15 tác giả cùng viết cho Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn. Công việc của anh như là một chef d’orchestre. Anh thu thập tất cả ký ức của các bạn một thời là bạn học thời son trẻ, bạn đồng môn Y khoa và cả chiến hữu một thời sống chết với nhau trong đơn vị để hoàn thành Tuyển Tập này. Phần một của Tuyển Tập này cho độc giả cái nhìn về Nghiêm Sỹ Tuấn từ lúc còn trẻ, thời hoạt động khi còn là sinh viên Y khoa, thời nhập ngũ … qua 15 tác giả viết về anh. Nhìn chung, các tác giả đều nghĩ Nghiêm Sỹ Tuấn là “biểu tượng của thế hệ thanh niên Việt Nam thời bấy giờ, lớn lên trong chiến tranh khói lửa … Anh muốn đứng lên đáp lời sông núi, làm nhiệm vụ của một chàng trai thời chiến, để bảo vệ non sông đất nước.”

Phần hai của Tuyển Tập trình bày những tác phẩm của Nghiêm Sỹ Tuấn. Đọc các tác phẩm đó, có bài tôi hiểu, có bài tôi lờ mờ … Có thể riêng qua bài viết Para Bellum, người đọc hiểu phần nào tư tưởng của Nghiêm Sỹ Tuấn. Những câu:

“Chúng ta thừa hưởng dễ dàng quá, nên chóng mệt mỏi … “

“Bởi có ai mất thời giờ, ngồi trong bóng tối, ngắm cử chỉ tầm thường mà trang nghiêm của người nông phu gieo mạ, bóng tay vươn đến tận sao trời … “

“Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa. Càng vô nghĩa bao nhiêu càng có ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình … “

“Cũng đừng buồn khi thấy lan nhược nở đỏ, rồi rơi êm, giữa rừng gai cần cỗi … “

“Cô đơn, đau khổ, gắng chịu một mình. Có như thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng … “

Với những suy tư này, tôi thấy không khác lắm với:

“Gémir, pleurer, prier est également lâche.

Fais énergiquement ta longue et lourde tâche …

Puis, après, comme moi, souffre et meurs sans parler … ” của Alfred de Vigny trong bài La Mort du Loup, từ thế kỷ thứ 18.

Mối ưu tư của Nghiêm Sỹ Tuấn từ hơn nửa thế kỷ trước đối với các vấn đề căn bản của con người, của đất nước … cho đến nay vẫn còn dở dang và nguyên vẹn.

“Tuyển Tập này, ra đời muộn màng hơn nửa thế kỷ sau ngày anh mất, không đơn thuần là một tưởng niệm Nghiêm Sỹ Tuấn, nhưng còn là một thông điệp với tầm nhìn xa, để lại cho các thế hệ mai sau, tiếp bước anh Đi Tìm Mùa Xuân cho Dân Tộc … “

Tôi đã mượn lời anh Ngô Thế Vinh để kết thúc bài này.

LÊ VĂN CÔNG

Fairfax VA, 4th of July 2019

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Jan 2026

Tranh bìa: Hình minh họa

Nguyễn Ngọc Hạnh-The Vietnam experience – Requiem by

The photographers Who died in Vietnam

And Indochina Internet

Nhà xuất bản Sống

Xuất bản tại Hoa Kỳ: 9/2013

Tái bản lần thứ 1: 10/2013

Tái bản lần thứ 2 (có hiệu đính): 7/2014

Chính phủ của Thủ tướng Trần Trọng Kim 1945

Phần 1.

Theo cùng mệnh nước nổi trôi

Lich sử từ năm 1945 cần được viết lại.

Bắt đầu từ Mùa Hè năm 1945, Thế chiến Thứ Hai đi vào giai đoạn kết thúc. Tại Âu Châu, nước Đức dần lâm thế bị động do cùng một lúc phải hứng chịu hai mặt giáp công. Cuộc tiến công từ hướng Tây gồm liên quân Hoa Kỳ, Anh, Pháp và đồng minh Tây Âu khởi sự từ lần đổ bộ vĩ đại lên đất Pháp ở bãi biển Normandie vào ngày 6 tháng 6 của năm trước. Ngày 6 và 9 tháng 8 Mỹ quyết định thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố kỹ nghệ Hiroshima và Nagasaki, đồng thời Hồng Quân Liên Xô sau khi kết thúc chiến tranh ở Châu Âu với Đức đã tuyên chiến với Nhật. Thấy rõ không thể cứu vãn được tình thế, ngày 15 tháng 8 Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng đồng minh. Hậu quả của tình thế thế giới tác động trực tiếp đến các nước trong vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.

Oan nghiệt thay khi nhân loại dần ra khỏi cơn ác mộng chiến tranh thì đất Việt lại bắt đầu dậy cơn lửa đạn với một lực lượng gọi là Mặt trận Việt Minh do Đảng cộng sản Đông Dương làm hạt nhân tổ chức và chỉ đạo.

Để hiểu rõ tình thế của Việt Nam vào những ngày tháng 8 năm 1945 chúng ta cần tìm hiểu Mặt trận Việt Minh là gì, do ai lãnh đạo và lực lượng này đã đưa đất nước đi về đâu?

Câu trả lời đầu tiên cần nói rõ là: Mặt trận Việt Minh là tổ chức chính trị bạo lực đã cướp chính quyền hợp pháp của Vua Bảo Đại tại Hà Nội vào những ngày tháng 8 năm 1945 cách đây đúng 66 năm. Trước tiên cần nhắc lại những sự kiện chính trị liên quan đến tình thế Việt Nam. Do nhu cầu liên kết những nhà hoạt động cách mạng người Việt ở Trung Hoa trong thập niên 30-40 của thế kỷ trước với mục tiêu dành độc lập từ tay người Pháp, các ông Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần với sự giúp đỡ của Quốc Dân Đảng Trung Hoa đã thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh Hội tại Nam Kinh vào tháng 1 năm 1936. Nhờ sự giới thiệu và uy tín của ông Hồ Học Lãm đối với nhà cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc, vào gần cuối năm 1940 một số cán bộ cộng sản người Việt gồm Lâm Bá Kiệt được giới thiệu đến nhà cầm quyền Trung Hoa. Lâm Bá Kiệt là bí danh của ông Phạm Văn Đồng là người sau này giữ chức Thủ tướng của chế độ mới tại Hà Nội kể từ 1955. Thủ tướng Đồng cũng là người ký công hàm thuận nhượng Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung cộng từ 14 tháng 9 năm 1958 mà hậu quả di hại với thực trạng Biển Đông ngày nay. Vào đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh từ Trung Hoa về nước đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, Châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để trực tiếp chỉ huy lực lượng cộng sản đang hoạt động ở ba nước Việt, Miên và Lào. Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, Nguyễn Ái Quốc tổ chức Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương lần thứ 8 vào tháng 5 năm 1941 đưa Trường Chinh Đặng Xuân Khu lên làm Tổng bí thư Đảng chuẩn bị cho lần cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội. Ngày 19 tháng 5 năm 1941 Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội gọi tắt là Mặt trận Việt Minh ra mắt công khai tại Cao Bằng. Kế từ đó, những Đảng viên cộng sản Việt Nam, nhân viên của Quốc tế Cộng sản Nga – Hoa, hoạt động ở Trung Hoa cũng như ở trong nước Việt Nam đều núp dưới danh xưng Việt Minh nên đã đánh lừa được giới quan sát viên quốc tế cũng như tại Việt Nam. Hồ Chí Minh và Mặt Trận Việt Minh mới gồm đa số là Đảng viên cộng sản, nắm rõ được biến chuyển của tình hình thế giới nhờ thông tin của Đệ tam Quốc tế cộng sản và của cả OSS (Office of Strategic Services) tức là Tổ chức tình báo của Hoa Kỳ, tiền thân của CIA (Central  Intelligence Agency) ngày nay.

Cũng do Việt Minh đã hợp tác và cung cấp tin tức cho OSS về những hoạt động của quân đội Nhật Bản ở Đông Dương. Từ tháng 4 năm 1945, ban lãnh đạo Việt Minh bắt đầu tổ chức Ủy ban Giải Phóng tại các vùng họ hoạt động, thống nhất các lực lượng võ trang thành Việt Nam Giải phóng quân đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Võ Nguyên Giáp, đồng thời thành lập các Ủy ban Dân tộc Giải phóng từ tháng 7 của năm 1945 đầy biến động này. Vì vậy, ngay khi Nhật đầu hàng Mỹ vào ngày 14 tháng 8 năm 1945, trong lúc lãnh tụ các đảng phái quốc gia chưa trở tay kịp vì thiếu thông tin liên lạc quốc tế và thiếu chuẩn bị khởi nghĩa trong nước thì Việt Minh ra lệnh cướp chính quyền ở khắp các tỉnh thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Trở lại với Triều đình Huế với Vua Bảo Đại cùng lần thành hình của Đế Quốc Việt Nam. Đế Quốc Việt Nam là một chính thể chỉ tồn tại từ 11 tháng 3 đến 23 tháng 8 của năm 1945. Tuy chỉ trong 5 tháng ngắn này, chính phủ của Hoàng Đế Bảo Đại đã thực hiện được một sự việc vô cùng quan trọng đối với lịch sử mà hôm nay cần nhận định lại để xét xem Lý Chính Danh thuộc về ai. Sự kiện quan trọng ấy là là lần Tuyên bố độc lập và thống nhất qua việc tái nhập xứ Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam trên danh nghĩa.

Chúng ta hôm nay có bổn phận cần nhắc lại và nói rõ về biến cố lịch sử vô cùng quan trọng này mà hầu như số đông nhiều thế hệ người Việt đã không biết đến.

Chúng ta cần nhắc lại trong những năm từ 1939 đến 1945 của Đệ Nhị Thế Chiến, sau khi chính phủ Pháp ở Ba Lê đầu hàng quân Đức vào năm 1940 thìquân đội Pháp mất quyền kiểm soát Đông Dương và quyền này rơi vào tay người Nhật. Tuy nhiên, người Nhật vẫn giữ lại những viên chức người Pháp và chỉ điều khiển sau hậu trường. Nhưng do yêu cầu của tình thế nên ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đổi chính sách và thực hiện cuộc đảo chính ở Việt Nam nhằm bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội Pháp. Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư buộc người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện.

Ở Huế, Đại úy Kanebo Noburu vào trình báo Vua Bảo Đại quyền lực của Pháp đã bị loại bỏ. Hiện thực tình thế nầy giới chức lãnh đạo Nhật ở Đông Dương thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam trên danh nghĩa. Hai ngày sau, 11 tháng Ba Vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là Đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập này có chữ ký của sáu vị Thượng thư trong Cơ Mật Viện là cơ quan hành pháp tối cao của Vương Triều Bảo Đại. Đấy là các Thượng thư Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt và Trương Như Đính. Vua Bảo Đại công bố một chiếu chỉ đề ngày 27 tháng Giêng ta tức năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại đến với Quốc Dân Việt Nam báo hiệu thời kỳ tự chủ, độc lập của đất nước. Nhà vua lên ngôi từ năm 1926 lúc mới 13 tuổi khi còn đang du học ở Pháp. Nhắc lại những sự kiện quan yếu kể trên để hiểu rõ hơn nội dung và tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ bị người Pháp đô hộ kể từ năm 1884 trên toàn cõi nước Việt. Chiếu chỉ của Vua Bảo Đại có nội dung như sau: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa Ước Bảo Hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập.”

Với Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3 nhà vua nêu khẩu hiệu “Dân Vi Quý” có nghĩa lấy Dân Làm Quý là phương châm trị nước. Nhà sử học Trần Trọng Kim được bổ làm nội các Tổng trưởng thời kỳ mới, giao nhiệm vụ thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Độc Lập và ông Trần Trọng Kim trở thành vị Thủ tướng đầu tiên của lịch sử dân chủ của quốc gia Việt Nam. Với tập hợp được những trí thức có danh tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4 gồm các vị: Tổng trưởng nội các hay Thủ tướng Giáo sư Sử học Trần Trọng Kim. Phó Tổng trưởng nội các hay là Phó Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại giao Luật sư Trần Văn Chương. Ông Trần Văn Chương chính là thân phụ của bà Ngô Đình Nhu mà sau này giữ chức Đại su Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ cho đến biến cố Phật Giáo năm 1963 xảy ra ở trong nước. Bộ Trưởng Nội vụ là Bác sĩ Trần Đình Nam là nhân vật sau này giữ nhiệm vụ Niên Trưởng Giám sát viện nền Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam (từ 1963 đến 1975).

Bộ Trưởng Tư pháp Luật sư Trịnh Đình Thảo sau năm 1960 giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam tức là tà tổ chức chính trị do nhà nước Hà Nội dựng nên từ 1960 để làm bình phong che giấu âm mưu lấn chiếm miền Nam của Bộ Chính trị Trung Ương Đảng Cộng Sản …

Với những thành phần có thể gọi là ưu tú nhất của xã hội Việt Nam thời bấy giờ mà cũng là hôm nay. Tiếc thay Nội các của Thủ tướng Trần lại không có được bản lãnh mưu thuật chính trị để đối đầu với sách lược xảo trá cộng sản do Hồ Chính Minh chỉ đạo. Thế nên vận nước dần chuyến theo một tình thế nguy nan do mưu đồ cướp chính quyền bằng bạo lực qua những nguyên nhân và diễn tiến liên tục xảy ra trong những ngày của tháng 8 năm 1945. Tháng 6 năm 1945 chính phủ của Thủ tướng Trần Trọng Kim đặt Quốc hiệu là “Đế Quốc Việt Nam”; lấy Quốc ca là bài “Đăng đàn cung”; Quốc kỳ có “Nền vàng Hình chữ nhật giữa có Hình quẻ Ly gồm Ba vạch màu đỏ thẩm”.

Cần phải mở một dấu ngoặc ở đây để thấy rằng như thế Cờ quẻ Ly của Đế Quốc Việt Nam đã là tiền thân của Quốc kỳ của Quốc Gia Việt Nam (1948-1955) và Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975). Đây là cờ biểu tượng chính thống xuất hiện trên toàn lãnh thổ việt Nam trước khi có lá Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính phủ Lâm thời do Mặt trận Việt Minh cướp được từ chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim theo một biến cố sẽ trình bày trong phần tiếp theo sau. Cũng cần nói thêm để biết được rằng: Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ sau nhiều vận động chính trị giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và những giới chức cao cấp của Pháp đã trở nên là một Biểu tượng Quốc gia chính thống cụ thể qua những biến cố sau đây:

Ngày 7 tháng 12 năm 1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Cựu Hoàng Bảo Đại và Pháp đã đàm phán và ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long. Hiệp ước này thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp. Chính phủ Quốc gia hoạt động dưới một hiến chương lâm thời, chọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ làm Quốc Kỳ và bản “Thanh Niên Hành Khúc” với lời nhạc được sửa đổi làm Quốc ca. Ngày 5 tháng 6 năm sau, 1948, Quốc gia Việt Nam ký kết với Pháp một Hiệp ước Vịnh Hạ Long khác với nội dung Pháp công khai và trọng thể công nhận nền độc lập của Việt Nam. Cuối cùng tháng 1 năm 1949, chính phủ Pháp thỏa thuận chấp nhận yêu cầu của Quốc trưởng Bảo Đại là miền đất Nam Kỳ phải trở lại với Quốc gia Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1949 sau nhiều kỳ đàm phán, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu Hoàng Bảo Đại đã thuận ký kết Hiệp ước Elysée xác nhận nền độc lập của Việt Nam, chính thức thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại trước diễn trường chính trị thế giới. Điển hình cho sự xác nhận này là sự kiện liên quan đến vấn đề hôm nay:

Tại Hòa hội San Francisco tháng 9 năm 1951, trước sự hiện diện của 51 quốc gia trên toàn thế giới đại diện Quốc gia Việt Nam là Thủ tướng Trần Văn Hữu đã đọc bản tuyên bố xác định chủ quyền đã có từ lâu đời của Quốc gia Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với những lời lẽ hàm súc và chứng cớ lịch sử chính xác, Thủ tướng Hữu đã long trọng tuyên cáo trước công luận thế giới chủ quyền toàn diện và tuyệt đối của Quốc gia Việt Nam đối với vùng quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa. Hóa ra trong trận chiến giữ nước lực lượng quốc gia dân tộc luôn là những người bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hơn hắn phía cộng sản. Nay chúng ta nhắc lại lời của Thủ tướng Trần Văn Hữu như một chứng cớ hùng hồn nhất để nói cùng Bắc Kinh và Hà Nội quyết tâm sắc son của người Việt quốc gia:

“Thật là nghiêm trọng và cảm kích cho Việt Nam được đến San Francisco tham dự công việc của hội nghị hòa bình. Sở dĩ phái đoàn Việt Nam được hiện diện tại đây là nhờ các tử sĩ của nước Việt và lòng hy sinh vô bờ bến của dân tộc Việt Nam. Là một dân tộc đã chịu đựng biết bao đau khổ để được sống còn và giành sự trường tồn cho một nòi giống đã có hơn 4 ngàn năm lịch sử”.

Cho dù không đứng vững được bao lâu, nhưng Nội các Trần Trọng Kim đã cố gắng đặt nền móng xây dựng một thế chế độc lập và tự chủ đầu tiên không lệ thuộc người Pháp. Tuy không được chuẩn bị kỹ lưỡng cũng như thiếu rất nhiều về nhân sự và vật lực để điều hành một quốc gia vừa mới thành hình. Trong khi đó công tác đối ngoại thì phải cố gắng dung hòa giữa các thế lực quốc tế và chủ thuyết Đại Đông Á của Nhật. Đối nội thì có nhiều phe phái muốn giành chính quyền, chính phủ mới vẫn đạt được một số điều kiện căn bản, nhóm lên nhiều hy vọng độc lập và tự chủ cho đất nước. Trong những bước đầu tiên là Bộ Trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh thả hàng ngàn tù nhân chính trị bị Pháp giam giữ từ trước, trong đó có rất nhiều cán bộ cộng sản như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng. Chính phủ của Thủ tướng Trần Trọng Kim còn thành lập Hội Đồng Cải cách cai trị, tư pháp và tài chính gồm 16 nhân sĩ nổi danh được giao nhiệm vụ xúc tiến việc soạn thảo cơ cấu mới cho quốc gia. Bộ Trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh giữ nhiệm vụ tổ chức Đội Thanh niên Tiền tuyến theo tinh thần quốc gia để huy động quốc dân giữ an ninh vì không có Bộ Quốc phòng. Bộ Trưởng Phan Anh lại là một trong những nhân vật đầu tiên có mặt trong Chính phủ Liên Hiệp Kháng chiến với chức vụ Bộ Trưởng Quốc phòng do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch vào năm sau, 1946. Sau khi Việt Minh buộc Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị trong ngày 23 tháng 8, Đội Thanh niên Tiền tuyến dưới quyền lãnh đạo của Phan Anh đi theo hắn cộng sản mở đầu cho bi kịch lịch sử tháng 8 năm 1945.

Phần 2.

Sau 66 năm chúng ta hắn có đủ yếu tố đế biết đâu là sự thật về ngày 19 tháng 8 năm 1945 mà phía cộng sản kể cho đến hôm nay luôn gọi là ngày “cướp chính quyền”. Để tìm hiểu nguyên nhân và diễn tiến về ngày biến cố kia xảy ra như thế nào trong thực tế, chúng ta hãy trở lại từ đầu với những chứng cứ đã được lịch sử minh xác đồng nghĩa với Sự Thật. Bởi cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài trong 9 năm từ 1946 đến 1954 là xương máu chung của toàn thể Quốc dân Việt Nam chứ không riêng của Đảng cộng sản Việt Nam với những luận điệu chỉ có tính cách tuyên truyền trong quần chúng như: “Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam, hay cách mạng Tháng Mười Nga của Liên Xô”.

Tuy nhiên, vì đây là một dấu mốc vô cùng quan trọng quyết định nên vận mệnh của đất nước và dân tộc kéo dài trong một giai đoạn ngắn ngủi chỉ từ ngày 9 tháng 3 đến ngày 2 tháng 9 xuyên qua thời điểm 19 tháng 8 năm 1945. Chúng ta cần trở lại thời điểm: Bắt đầu từ năm 1940, một năm sau lần khởi cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, Chính phủ Pháp ở Ba Lê đầu hàng quân Đức nên thuận nhường cho Nhật chủ trị Đông Dương vì lúc ấy Nhật là đồng minh gánh chịu nhiệm vụ chiến lược yểm trợ Đức ở mặt trận Châu Á. Vì lý do này, Toàn

Quyền Pháp ở Đông Dương là Decoux thuận để cho quân Nhật vào Bắc Kỳ, hải quân Nhật sử dụng hải cảng Hải Phòng, còn không quân Nhật được quyền chiếm đóng các phi trường Gia Lâm (Hà Nội), Lào Kay, Phủ Lạng Thương. Cũng vì vậy máy bay và chiến hạm của đồng minh (chủ yếu là Mỹ) đã tấn công các vị trí đóng quân của Nhật đóng trên lãnh thổ Việt Nam khiến cho đồng bào người Việt phải chịu nạn bom đạn chung với hai lực lượng quân sự Pháp và Nhật. Nhưng rồi sự hợp tác bất đắc dĩ giữa chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp và Phát-xít Nhật trên đất nước ta phải đến lúc chấm dứt. Do đó, vào đêm 9 tháng 3 năm 1945 Đại sứ Nhật là Matsumoto Shunichi đã chính thức trao tối hậu thư cho Toàn Quyền Jean Decoux, ra lệnh cho quân viễn chinh Pháp trên toàn cõi Việt Nam phải buông súng đầu hàng Nhật vô điều kiện. Tiếp theo là một trận chiến ngắn ngủi chưa tới 48 tiếng đồng hồ, quân Pháp tại Đông Dương từ toàn quyền tới binh sĩ đều bị quân Nhật bắt làm tù binh. Chỉ có một phần quân Pháp thuộc Sư Đoàn của Tướng Gabriel Sabattier nhờ đóng sát biên giới trong tỉnh Lai Châu nên trốn thoát sang được đất Tàu. Từ tình hình này ba nước Việt Nam, Lào và Cao Mên tạm thời cởi được chiếc cùm của Thực dân Pháp nhưng lại mang vào cái gông của Phát-xít Nhật. Quân đội Nhật trở nên là chủ nhân trực tiếp kiểm soát toàn vùng Đông Dương. Lợi dụng khi Pháp và Nhật đang tranh giành nhau quyền làm chủ thuộc địa, Mặt Trận Việt Minh nương theo chiều gió bành trướng và phát triển mạnh mẽ qua huấn lệnh: “Nhật – Pháp đánh nhau và hành động chúng ta”.

Cần nhắc lại Mặt Trận Việt Minh của Hồ Chí Minh thủ diễn tuy cùng có tên chung là Việt Minh nhưng tổ chức và sách lược khác với Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm thành lập từ năm 1936 tại Trung Hoa. Kể cả tên hiệu Hồ Chí Minh là bí danh đầu tiên của cụ Hồ Học Lãm. Cọp tha thì ma bắt ấy là sự thay đổi, quan trọng nhất trong giai đoạn này là quan chức quân sự người Nhật thay thế viên chức thực dân Pháp.

 Cụ thể là ngày 16 tháng 3 năm 1945 Tư lệnh Quân Đoàn 38 đồn trú tại Đông Dương là Tướng Tsuchihashi Yuitsui từ Sài Gòn ra Hà Nội lên ngai Toàn Quyền Đông Dương thay thế toàn quyền người Pháp. Cơ cấu tổ chức cũng y như thời Pháp, một miền có một Thống đốc hay một Thống sứ cai trị. Trong tháng 5 năm 1945, Nhật giao hoàn Bắc Kỳ lại cho chính quyền Nam Triều ở Huế nên Vua Bảo Đại kiêm lãnh Trung và Bắc Kỳ gọi là chung là An Nam có một cố vấn tối cao người Nhật bên cạnh chỉ đạo. Sự thay đổi chính trị dù sôi động nhưng vẫn không làm người Việt lưu tâm bởi nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) đang xảy ra khắp tại miền Bắc và Trung Kỳ. Thật ra nạn đói đã có dấu hiệu từ năm 1944 khi Pháp thuận cho Nhật vào Đông Dương để cả hai cùng chia nhau xương máu của dân Việt. Đã nghèo lại càng đói rách bi thảm hơn khi xuất hiện thêm cái gọi là Mặt Trận Việt Minh lúc nào cũng cần gạo, tiền và nhân lực. Thiên tai hằng năm, ruộng đất khô cằn, kỹ thuật canh tác cũ kỹ nên người nông dân miền Bắc và các tỉnh Bắc Trung Kỳ muôn đời hầu như chỉ đủ lương thực nếu không có gì xảy ra. Nhưng từ cuối năm 1943, Pháp đã bắt dân chúng Việt Nam bán hết gạo thóc để dành, đồng thời gạo tiếp tế từ miền Nam cũng bị bế tắc vì máy bay của đồng minh luôn oanh tạc đường tiếp vận Bắc – Nam. Nạn đói đã lan tràn khắp đồng bằng sông Hồng, song Mã, khiến cho người chết đói nằm như rạ. Người đói phải bỏ làng ra đi kéo về thành thị xin ăn, kiếm sống nhưng một số lớn đã gục chết bên vệ đường vì đói khát. Dân chết thê thảm là dịp may để cán bộ Mặt Trận Việt Minh khai thác tuyên truyền đánh Pháp diệt Nhật cứu nước.

Như trên đã trình bày sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 do Nhật đã hốt trọn quân Pháp tại Đông Dương khiến cho quân đội Mỹ đóng tại Nam Trung Hoa mất hết nguồn tin tình báo về hoạt động của quân đội Nhật. Thế nên dù biết ông Hồ Chí Minh là cán bộ cao cấp của Cộng sản Quốc tế, nhân viên Tình Báo Hoa Kỳ (OSS, tiền thân của CIA sau này) đã hợp tác với ông Hồ để sử dụng làm đầu mối tin tức của vùng Đông Nam Á, đồng thời để tiếp cứu phi công Mỹ bị phòng không của Nhật bắn hạ trong khu vực Bắc Việt Nam – Khu vực nằm trong chiến khu do lực lượng Việt Minh kiểm soát. Ông Hồ được Charles Feen – Nhân viên tình báo trong Đội Yểm trợ Không lực Hoa Kỳ (AGAS) đóng tại Nam Trung Hoa đặt cho bí danh là Lucius. Trở lại Chính phủ Trần Trọng Kim thành hình vào ngày 17 tháng 4 tồn tại cho đến ngày 25 tháng 8 của năm 1945. Cụ Trần Trọng Kim sinh năm 1883 tại Hà Tĩnh và là một học giả uyên bác nổi danh qua các tác phẩm biên khảo như Phật Giáo, Nho Giáo, Lược Sử Việt Nam mà đến nay vẫn còn nguyên độ giá trị. Cụ Trần nguyên là Thanh tra Tiểu học, năm 1939 ông được bổ nhiệm Dân Biểu Bắc Kỳ. Ngày 30 tháng 3, 1945 lúc đang tị nạn trốn sự bắt bớ của Mật Thám Pháp tại Thái Lan, cụ Trần Trọng Kim được viên chức Nhật đưa về Huế giúp Vua Bảo Đại thành lập chính phủ. Vì chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi giữa một tình thế vô cùng rối ren nên Nội các Trần Trọng Kim thường bị các nhà biên khảo đánh giá không chính xác, nhất là qua cách xuyên tạc vì mục tiêu chính trị của Đảng cộng sản. Nhưng ngày nay nhiều sử gia với lăng kính vô tư đã phải công nhận rằng Nội các Trần Trọng Kim đã đề ra một sách lược phản ánh đúng đắn về một nước Việt Nam độc lập không chịu ảnh hưởng của người Pháp. Do Nội các cụ Trần đã tập họp được một số thành phần ưu tú nhất của đất nước như các vị Nguyễn Xuân Chữ, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Chương, Trần Đình Nam … Kể cả những giới chức sau này theo cộng sản như các Luật sư Trịnh Đình Thảo, Phan Anh. Tất cả đã tạo nên một chính phủ với những nhân sự có thể gọi là ưu tú nhất của xã hội Việt Nam thời bấy giờ mà cũng là hôm nay. Dù chỉ hoạt động trong vòng 4 tháng nhưng Thủ tướng Trần và Nội các của ông đã thực hiện phần nào các mục tiêu lớn của kế hoạch đã đề ra. Ngay trong phiên họp đầu tiên vào ngày 4 tháng 5 năm 1945, Nội các đã soạn thảo hiến chương, quyết định lấy lại Quốc hiệu nước là Việt Nam tức là Quốc hiệu từ thời Vua Gia Long lên ngôi năm 1802. Quốc hiệu nầy hàm ý minh định sự vẹn toàn lãnh thổ Đại Việt với ba miền Nam – Trung – Bắc với Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ như đã trình bày.

Trong khi đó, quân lực Pháp thuộc quyền của De Gaulle theo quân đội đồng minh trở lại Đông Dương thỏa hiệp phối hợp cùng lực lượng cộng sản trong Mặt Trận Việt Minh qua bảng hiệu làm thuê cho cơ quan OSS của Mỹ, mưu định đánh phá làm sụp đổ ngôi nhà Việt Nam vừa được dựng lên. Vua Bảo Đại hay đúng hơn Nội các Trần Trọng Kim gần như không có một lực lượng quân sự nào kể cả Nghĩa Dũng Quân hậu thân của lính Khố Đỏ thời Pháp để lại và lực lượng cảnh sát cũng do người Nhật nắm giữ. Mãi tới tháng 6 năm 1945, xứ Nam Kỳ mới được Nhật giao hoàn về Chính phủ Nam Triều của Vua Bảo Đại, Nội các Trần Trọng Kim lúc ấy mới có quyền tổ chức một lực lượng Bảo An. Nói tóm lại, vì vận mệnh của Việt Nam lúc ấy nằm trong sự bảo vệ của quân đội Nhật cho nên khi Nhật Hoàng chấp thuận đầu hàng đồng minh thì Việt Nam rơi vào khoảng trống quyền lực và không có quân đội bảo vệ. Tổ chức cộng sản ẩn danh sau Mặt Trận Việt Minh manh tâm cưỡng chiếm vận mệnh quốc gia một cách dễ dàng với một lực lượng du kích đơn sơ chỉ vài ba cây súng tay mà Đảng cộng sản đã rêu rao nên thành một cuộc cách mạng vĩ đại của tháng 8 năm 1945. Những yếu tố góp phần làm sụp đổ Nội các Trần Trọng Kim cũng có thể kể đến việc những cán bộ cộng sản như Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Minh Giám, Tôn Quang Phiệt, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch..đã trà trộn vào đủ mọi cơ quan từ Trung ương ở Huế cho tới tận Nam Kỳ. Và khi Nội các sụp đổ vào những ngày quân Nhật đầu hàng Đồng Minh đã tạo nên một khoảng trống quyền lực khiến cộng sản dễ bề thao túng. Cụ thể về ngân quỹ dự trữ của Việt Nam tại Ngân hàng Đông Dương, Nhật chẳng những rút hết số tiền đã có do Pháp ký thác hơn 800 triệu Phật Lăng mà còn in thêm tiền không bảo chứng, tạo tình trạng lạm phát, góp phần cho nạn đói và trộm cướp khắp nơi. Mặc dù bị thành phần cộng sản trong Mặt Trận Việt Minh phá hoại, xúi giục dân chúng đánh cướp các kho gạo dự trữ công cộng, hành hung cản trở những viên chức phát gạo chấn bần … Hoặc bất nhân hơn là bán tin, chỉ điểm cho máy bay của Hòa Kỳ đánh phá các trục giao thông, tàu thuyền chở gạo từ Nam ra Bắc khiến đã làm trầm trọng thêm nạn đói với hơn 1 triệu người chết đói. Tuy nhiên từ tháng 6 năm 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã ngăn được một phần nạn đói do trúng mùa Chiêm và nhất là gạo trong Nam đã chở ra được ngoài Bắc dù Mỹ đã đặt mìn phong tỏa Hải Phòng cùng các hải cảng lớn. Trong vấn đề cải cách, chính phủ đã ban hành lệnh giảm hay bỏ hắn nhiều loại thuế bất công và bóc lột người dân nghèo có từ thời Pháp, nhất là loại thuế thân đánh vào mỗi thân phận người dân thuộc địa. Về giáo dục lấy chữ Quốc Ngữ làm ngôn ngữ chính trong các chương trình giảng dạy, đã tổ chức khóa thi Tiểu học đầu tiên bằng chữ Việt mới vừa cải cách. Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã lập ra một Ủy ban Quốc gia phụ trách nền Quốc học. Để chứng tỏ sự tự cường, tự do, chính phủ đã công bố nhiều buổi lễ, hồi phục và vinh danh các anh hùng liệt nữ mọi thời từ Hùng Vương Quốc Tổ cho tới những nam nữ liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chống Pháp xâm lăng. Tất cả tên đường phố đều được đặt lại với tên các anh hùng của lịch sử Việt Nam như Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học … Báo chí cũng được dịp nở rộ và tự do phát triển. Tuy nhiên, công lao lớn nhất của Chính phủ Trần Trọng Kim đáng được nhắc nhớ trong dòng lịch sử dân tộc là đã tranh đấu với Chính phủ Nhật lấy lại tất cả lãnh thổ Việt Nam.

Thật vậy tương tự như Pháp, ban đầu người Nhật cũng chỉ hứa suông trả nước lại cho người Việt Nam, nhưng thực tế là chỉ nói miệng. Cũng nhờ Chính phủ Trần Trọng Kim mềm mỏng dùng ngoại giao lần hồi chẳng những thu hồi được ba Kỳ, mà còn lấy lại những thành phố nhượng địa cho Pháp như Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng vào tháng 7 cùng năm 1945. Từ những thành quả vừa kể ra, Vua Bảo Đại mới ban hành 4 Đạo Dụ thành lập Hội đồng Tư vấn Quốc gia để chuẩn bị soạn thảo Hiến Pháp. Nhiều lãnh tụ chính trị miền Nam như Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ân đều được tham dự trong Ủy ban của Chính phủ. Nhưng giữa lúc hòa bình đang hé lộ trên quê hương thì Nhật Bản đầu hàng, Thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức và Vua Bảo Đại chưa kịp lập Nội các mới tất cả tạo nên biến động chính trị làm thay đổi tất cả vận mệnh Việt Nam.

Nguyên ông Phạm Khắc Hòe lúc ấy giữ chức Ngự Tiền Đổng Lý được gần gũi với Vua Bảo Đại nhưng lại làm nội ứng cho cộng sản, ông này gièm pha, kiếm chuyện ngăn cản không cho phái đoàn của Thủ tướng Trần Trọng Kim từ Huế vào Sài Gòn tiếp nhận chính quyền do Nhật giao lại. Tất cả đã tạo nên khoảng trống khiến nhóm hung thần cộng sản Nam Kỳ gồm Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Trấn dễ dàng tổ chức chiếm đoạt một chính quyền bỏ trống.

Khắp nơi những đảng phái và người quốc gia đều đứng lên chống Việt Minh. Tại Nam Kỳ, nhóm Cộng Sản Đệ Tứ liên hợp với hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất. Khâm sai Nam Kỳ Nguyễn Văn Sâm trước họng súng, cũng giao quyền cho Việt Minh. Cụ thể điển hình phải kể đến biến cố trong ngày 17 tháng 8, lực lượng Việt Minh đã đàn áp phong trào ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim do công chức Bắc Kỳ tổ chức tại Hà Nội, khiến cụ Nguyễn Xuân Chữ, Chủ tịch Ủy ban Chính trị tại Bắc Kỳ phải giao quyền cho cán bộ cộng sản kéo theo sự sụp đổ hoàn toàn của Chính phủ Quốc gia.

Và cuối cùng ngày 23 tháng 8 năm 1945, Vua Bảo Đại nghe theo lời xúi giục o ép của viên cán bộ cộng sản nằm vùng Phạm Khắc Hòe nên thoái vị trao ấn kiếm Vương Triều Nguyễn cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Tôn Quang Phiệt. Cả hai thực chất là cán bộ cộng sản thuộc Đệ Tam Quốc Tế do Hồ Chí Minh chỉ đạo. Một que diêm có thể gây nên một đám cháy rừng. Trong đêm đen thăm thắm Việt Nam tám mươi năm nô lệ, những đốm lửa từ que diêm Nội các Trần Trọng Kim vừa thắp sáng niềm hy vọng của một đất nước sắp có Tự Do – Độc Lập – Thống Nhất thì giông tố cộng sản đã chuyển đến, đầy vận mệnh dân tộc rơi vào một địa ngục tối tăm. Tóm lại, công cuộc gọi là cướp chính quyền của cộng sản từ tay người Nhật hoặc Pháp không hề có mà đơn giản chỉ là cuộc lật đổ một chính quyền còn non trẻ. Đấy là Nội các Trần Trọng Kim với 126 ngày nắm giữ chính quyền trên một đất nước hoang tàn, chết đói đầy đường, không một đồng trong ngân quỹ, 95% người dân không biết chữ. Ngày 13 tháng 7 năm 2010, Giáo sư người Pháp Philippe Devilliers 90 tuổi, cựu phóng viên tờ “Le Monde” người đã có mặt tại Việt Nam vào những ngày của năm 1945, đã trao tặng cho cá nhân Giáo sư Phan Huy Lê ở Hà Nội 203 tấm ảnh gọi những “tấm ảnh lịch sử”. Cụ thể theo báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn số ngày 19 tháng 8 năm 2010 để kỷ niệm biến cố gọi là “Cách Mạng Tháng 8″ là tấm ảnh chụp cuộc biểu tình của “Tổng Hội Công Chức” trong ngày 7 tháng 8 năm 1945, ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim với Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của công chức Hà Nội. Việt Nam đã được hai lần trao trả độc lập từ chính quyền Nhật và Pháp qua Vua Bảo Đại. Cả hai lần Độc Lập Quốc Gia đều bị Hồ Chí Minh và tổ chức cộng sản phá hỏng, đưa đẩy đất nước vào hai cuộc chiến gọi là đuổi Pháp đánh Mỹ đẫm máu hoàn toàn không cần thiết.

Đấy là những cuộc chiến được quyết định từ Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Mao Trạch Đông với sự đồng thuận sau này từ Nixon, Kissinger là những người không hề biết đến Mối Đau Việt Nam.

Phan Nhật Nam

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 25 Jan 2026

Chương 6

Những người đang ngủ đứng!

Để cầm chân và đánh lạc hướng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, phía Bắc Việt mở những cuộc tấn công theo lối dương Đông kích Tây. Ngày 22 tháng giêng, một cảnh sát trưởng đạp phải một trái mìn ở gần đồn Nguyễn văn Quế thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn. Cuộc mưu sát nầy đã làm bị thương 4 người cảnh sát.

Đây là lần đầu tiên từ năm 1972, không khí chiến tranh tràn vô tới Sài Gòn. Phải chăng Việt Cộng lại chuẩn bị phá rối ngày Tết nữa? Tết Việt Nam năm nay bắt đầu từ ngày 11 tháng 2 dương lịch.

Ông Hoàng đức Nhã, người em bà con với ông Thiệu có vẻ lo âu. Bốn tháng nay ông không còn là Tổng trưởng Thông Tin nữa. Đề nghị cuối cùng của ông trong tư cách vừa là tổng Trưởng vừa là cố vấn riêng của ông Thiệu là nên liên lạc thẳng với CPLTCHMN. Mặc dầu ông đã công khai tuyên bố (“4 Không”) nhưng ông Thiệu cũng thấy ý kiến nầy hay hay. Nhưng người Mỹ sẽ nghĩ thế nào về vấn đề nầy? Năm 1963 họ đã loại bỏ ông Diệm bởi vì những người em của ông nầy đã muốn nói chuyện trực tiếp với Hà Nội . Đây là một bài học luôn luôn ám ảnh ông Thiệu.

Nhiều người chỉ trích ông Nhã là đã nghiêng về cánh tả. Nhưng ông nầy nghĩ mình là người thực tế hơn: “Đó là vấn đề “sống còn của Miền Nam chúng ta”. Ông không tin rằng cái gì tốt cho Hoa Kỳ nhất thiết sẽ tốt cho Việt Nam.

Ông Đại sứ Graham Martin đã đòi hỏi và đã loại được ông Nhã ra khỏi nhiệm sở của ông ta nằm ở ngay tầng lầu ba trong Dinh Độc Lập. Người ta gán cho ông Nhã một biệt danh là “một cậu nhỏ chống Mỹ” (nguyên tác: “anti americain kid”) mặc dầu ông đã ba mươi ba tuổi đầu rồi, và ông không bao giờ rút lại lời nói của ông. Tổng Thống Thiệu nghĩ rằng mình có phần nào sai khi nhượng bộ với Đại sứ Hoa Kỳ . Ông đã cho ông Nhã rời khỏi Bộ Thông Tin nhưng vẫn còn tín nhiệm người em của mình. Ông Nhã cố thuyết phục Tổng Thống:

_ “Phải xốc Chánh Phủ của ông Khiêm mạnh lên, ông Thủ Tướng của Anh thiếu hoạt bát. CSVN tấn công Phước Long là để thăm dò hệ thống phòng thủ của chúng ta. Họ muốn xem phản ứng của người Mỹ, và Hoa Kỳ đã không nhúc nhích!”

Ông Thiệu không tin chút nào về chuyện đó. Ông Nhã nói với ông Thiệu như một người em nói với ” ông anh cả”. Lúc ông Thiệu chỉ mới có một đứa con gái, ông xem Nhã như một người con trai hơn là một người em. Khi ông Thiệu là chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia ở Đà Lạt, ông Nhã còn là học sinh nội trú trường Trung học ở đó, nên thường đến chơi với gia đình ông Anh mình. ông Nhã thông thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Sau đó ông qua học bốn năm ở trường đại học Oklahoma trước khi vào đại học Pittsburgh và tốt nghiệp ở đó với bằng kỹ sư. Cũng giống như ông Kissinger và người dân Mỹ thuộc vùng Trung Tây Hoa Kỳ, ông Nhã không có lòng tin đối với những người Mỹ ở vùng bờ biển phía Đông. Có rất ít người Việt Nam hiểu người Mỹ bằng ông Nhã. Ông Nhã cũng đã giải bày cho “ông anh cả” của mình ít nhất 90% những suy tư của mình. Đối với một Tổng Thống, như vậy cũng đã quá nhiều rồi. Đối với người Mỹ, ông Nhã không có một tự ty mặc cảm nào mà trái lại ông có một ý thức tự tôn. Và ông cũng không giữ sự tôn kính đối với người già hay các niên trưởng theo truyền thống của người Việt Nam. Ông ta có đủ mọi thứ để quyến rũ người ta và cũng có đủ mọi thứ để làm phật ý mọi người, tùy theo. So với người Việt Nam bình thường thì ông Nhã có hơi to con với 1 thước 65 bề cao. Với cách ăn mặc thanh lịch và đúng mốt, với sự thông minh và kiến thức nhanh nhẹn, ông Nhã bổ túc và lần lượt gây khó chịu cho các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ. Ông cũng khuyên ông Thiệu nên thay người tham mưu trưởng của mình đi. Lúc ông Martin đến Sài Gòn, một nhân viên ngoại giao có nói với ông Nhã: – “Ông có muốn tôi giới thiệu ông với ông Đại sứ không? ” Ông Nhã thẳng thừng nhấn mạnh: – “Không. Tôi là một Bộ trưởng, Ông Đại sứ phải tự giới thiệu với tôi mới phải chứ !” Ông Martin không bao giờ tha thứ cho ông Nhã về tính yêu nước bồng bột và quá tự tin về nghi thức xã giao của ông nầy. Ông Kissinger và ông Martin đều cho là vì còn quá trẻ tuổi nên ông Nhã chưa có đủ kinh nghiệm. Và ông Nhã không đến đỗi dùng ảnh hưởng của ông trong vấn đề lạm dụng quyền hành . Lối sống của ông cũng khác lạ hơn người ta nữa. Ông lái xe Mustang, Mercedes, và trong phòng khách của ông, ông xây một ống khói cho lò sưởi đốt bằng củi, như của người Mỹ vậy, dĩ nhiên đây là lò sưởi độc nhất ở Sài Gòn. Ông Nhã có một hệ thống tin tức khắp thế giới. Trước khi Hiệp Định Paris được ký, ông ta đã có nhiều đụng chạm dữ dội với ông Kissinger. Ông ta thúc giục ông Thiệu:

_ “Tổng Thống Ford bị trói tay trong lãnh vực tài chánh. Người Mỹ chỉ nói cho Anh những gì mà họ muốn Anh nghe thôi. Tôi nói thật với Anh là chúng ta không thể tin vào ông “Anh Lớn” Hoa Kỳ được”.

Ông Thiệu thở ra và nói:

_ “Chú nói hơi quá. Chú nghiêm khắc quá! Ông Martin bênh vực và ủng hộ chúng ta.” Từ khi tới Sài Gònông Martin đã bảo đảm là sẽ có viện trợ Hoa Kỳ cho Tổng Thống Thiệu, một sự tin tưởng mà ông Thiệu đang cần . Đại sứ Mỹ đã cho lệnh nghiêm nhặt cho các ban ngành trực thuộc phải phá tan mọi âm mưu nhằm làm lung lay hay lật đổ ông Thiệu. Mỗi một hành động đối lập hay chống đối ông Thiệu đều phải được xem là một mầm móng của âm mưu đó. Mệnh lệnh còn đi xa hơn : các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ phải bớt tiếp xúc với cánh đối lập không cộng sản ở Miền Nam Việt Nam, nhất là với “lực lượng thứ ba” mà lãnh tụ của họ là tướng Dương văn Minh mà người ta thường gọi là ông “Minh Dương” (nguyên tác: “Grand Minh”), (người Mỹ thường gọi là “Big Minh”). Đối với người Mỹ, lực lượng thứ ba nầy có nhiều điểm yếu. Một số cá nhơn hay phe nhóm không đáng kể ở tại Thủ Đô Sài Gònvà một vài tỉnh nào đó, được coi là đại diện cho lực lượng nầy mà qua họ để tìm kiếm được một giải pháp chánh trị nào đó, thật là một điều quá vô ích.

Ngày 24 tháng giêng 9 người Mỹ gồm 6 nam 3 nữ, biểu tình trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Họ mang một biểu ngữ bằng vải: “người Mỹ muốn có hòa bình ở Việt Nam. Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh” . Khách qua đường tò mò nhìn vào nhóm người nầy với một vẻ chế diễu. Báo chí được gọi đến. Họ quay cảnh nầy và phỏng vấn những người tham gia. Và như vậy là các đài NBC, AP, UPI, và báo chí Hoa Kỳ bảo trợ cho hành động nầy. Những người biểu tình đòi “hòa bình” nầy, những người mà Đại sứ Martin ghét nhất, đã vào Sài Gòn với giấy phép nhập cảnh du lịch chỉ có giá trị trong một tuần lễ. Họ phát một số truyền đơn. Một nhiếp ảnh viên ngoại quốc biết chuyện đã cười và nói mỉa mai:

_ “Các tay nầy có dám gan ra tận Hà Nội để làm trò biểu tình như vầy không?

Cảnh sát đến yêu cầu họ giải tán. Họ từ chối. Cảnh sát trưởng không muốn bắt họ một cách công khai, nhất là không muốn sự bắt bớ nầy được truyền hình Mỹ quay phim. Về sau, người ta đến khách sạn mời họ một cách rất có lễ độ, và hộ tống họ ra tận phi trường, đưa lên phi cơ về Bangkok lúc 21 giờ 30.

Ông Martin mừng lắm. Chính tổ chức của Fred Bransman, người đã ở Hà Nội với bà ký giả FritzGerald cách đây mấy ngày, đã đài thọ mọi chi phí cho chuyến du lịch của những tay biểu tình nói trên. Những người “đòi hòa bình” nầy đã thất bại trong việc gặp gỡ và phối hợp với những thành viên của lực lượng thứ ba cùng các phật tử ở Sài Gòn để tổ chức một cuộc biểu tình khác trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ . Ông Martin tin rằng đây là một sự cố ý nhằm gây ra những sự xô xát mà nếu được quay thành phim và phổ biến ở Hoa Kỳ thì bọn “đòi hòa bình” sẽ chứng minh rằng chế độ đàn áp của Sài Gòn không đáng được nhận viện trợ kinh tế và quân sự. Ông Martin rất vừa ý, dù sao thì những người biểu tình nầy cũng là công dân Hoa Kỳ, họ đã được đối xử một cách đàng hoàng và bị trục xuất một cách quá đẹp.

Có những tâm hồn cao thượng, có những kẻ trung gian, thật có giả có, có những con rối… lúc nhúc, hướng về Hoa Thạnh Đốn, ai cũng xác nhận là mình có một giải pháp chánh trị cho Việt Nam.

Ngày 27 tháng giêng, trong căn phòng số 6209 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Robert Miller tiếp ông Trần văn Hữu. Ông Miller là cánh tay phải của ông Kissinger, là phụ tá Tổng trưởng đặc trách về Đông Nam Á và Thái bình Dương Sự Vụ. Ông Trần văn Hữu là cựu Thủ Tướng Miền Nam Việt Nam. Hai mươi năm trước ông đã từng thương nghị về nền độc lập của Việt Nam thành phố Pau (Pháp). Giống như tất cả các cựu Thủ Tướng thời Pháp, ông nào cũng tin rằng mình có có thể lãnh đạo đất nước trong tương lai. Ông Hữu được ông Donald Heath Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam từ 1950 đến 1954 giới thiệu. Tuy nhiên sự giới thiệu nầy không được nặng ký lắm để được đích thân ông Kissinger tiếp kiến. Ông Hữu đã tìm mọi cách vận động trong thời gian ông ở khách sạn Hilton ở New York: ông xác quyết rằng ông là người có thể đứng ra thương nghị giữa hai nước Việt Nam quốc gia và cộng sản. Ông viện dẫn rằng ông có sự chấp thuận của ông Thiệu trong việc “dùng tên của cá nhơn mình để đứng ra thương thuyết, chớ không phải dưới danh nghĩa của một nhân viên của Tổng Thống Thiệu, vì Hà Nội “không ưa” ông Tổng Thống nầy”. Ông Hữu còn đoan chắc rằng Hà Nội khuyến khích ông vì lúc nào ông cũng tán đồng cho một viện trợ kinh tế cho Miền Bắc Việt Nam.

Là một người giàu có, và chống cộng, ông chống đối lực lượng thứ ba, mà theo ông chỉ là một loại tổ chức chánh trị đã có trò chơi không minh bạch với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông giải thích với ông Miller rằng ông Thiệu chắc chắn sẽ không bao giờ từ nhiệm để trao quyền lại cho một tướng nào khác, dù đó là ông Khiêm hay ông Minh Dương (nguyên tác: Grand Minh). Trái lại ông Thiệu sẽ ra đi nếu qua thương thuyết ông Hữu đạt được một nền hòa bình có thể chấp nhận được . Lúc bấy giờ ông Thiệu sẽ vui vẻ mà lui ra khỏi chánh trường, vui vẻ vì vẫn còn để lại sau lưng mình hình ảnh của người anh hùng đã từng chiến thắng Bắc Việt năm 1972 , ông Hữu nhấn mạnh: – “Là một tướng lãnh Miền Nam đã đánh bại được người anh hùng Miền Bắc Võ nguyên Giáp năm 1972, ông Thiệu sẽ giữ được tên tuổi của mình trong Lịch Sử”. Trước khi kết thúc buổi tiếp xúc, ông Hữu giới thiệu với ông Miller hai người cộng sự viên: Lê quốc Túy, cựu đại tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Mai văn Hạnh, cựu phi công Quân Đội Pháp, người có hai quốc tịch Pháp và Việt Nam.

Ông Miller tóm tắt quan điểm của Hoa Kỳ với ông Hữu:

_ “Chúng tôi luôn luôn nhắm vào sự thi hành Hiệp Định Paris, chủ trương rằng hai Bên Việt Nam phải cùng nhau bàn bạc về tương lai của Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi luôn luôn tự hứa là phải tiếp tục giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa về phương diện vật chất cho đến khi nào quốc gia nầy thấy còn cần thiết để chống đỡ áp lực quân sự của phía Bắc Việt.”

Sau đó ông Miller thảo một bản tường trình về việc nầy cho ông Kissinger:

_ “Chủ yếu, ông Hữu nghĩ rằng Miền Bắc công nhận là họ không thể chiếm được Miền Nam bằng võ lực. Và họ mong kết thúc bằng một giải pháp chánh trị . Ông Hữu nói ông ta có tất cả lý lẽ để tin rằng Tổng Thống Thiệu sẽ sẵn sàng từ nhiệm để nhường quyền lại cho một người nào có thể thiết lập một nền hòa bình thật sự ở Việt Nam.”

Liên Hiệp Quốc cũng là một trong số những trung gian có máu mặt. Đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc phản kháng, sau khi Bắc Việt chiếm Phước Long. Qua văn thư trả lời ông Tổng thư ký Kurt Waldheim rất lấy làm tiếc và chua chát ghi nhận rằng với tư cách Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông không có một nhiệm vụ gì trong việc soạn thảo và ký kết Hiệp Định Paris. Ông Waldheim tiếc rằng những sự mất mát về nhân mạng là do sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Ông không thể làm gì hơn được, ngoài việc chuyển những sự kinh sợ và lo âu của ông đến Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Hà Nội. Và không quên nhắc lại sự kính mến đối với đại diện Hoa Kỳ (theo thông lệ)!

Đối với Việt Nam, dưới trào ông Waldheim, Liên Hiệp Quốc hoàn toàn đứng ngoài cuộc, trong một sự bất lực đáng ghê sợ. quá “tục tỉu” như De Gaulle đã từng nói. (nguyên tác: “machin”)

Như vậy thì Waldheim có hữu ý gì đối với trò chơi của Hà Nội?

Ngày 30 tháng giêng, với sự có mặt của Kissinger và Schlesinger, Tổng Thống Ford tiếp các lãnh tụ Quốc Hội trong một tiếng rưỡi đồng hồ. Ông phải vận động với lưỡng viện Quốc Hội để họ có thể chấp nhận đơn xin ngân khoản viện trợ bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa. Các nghị sĩ và dân biểu đang canh chừng Trung Đông. Theo thuyết của ông Kissinger, ông Ford giải thích rằng trong việc thi hành chủ nghĩa quốc tế của mình Hoa Kỳ không thể chỉ chú trọng đến mỗi một vùng Trung Đông vì đó mới chỉ là một điểm trên bản đồ của thế giới mà thôi Như vậy Hoa Kỳ sẽ tự phơi bày chủ nghĩa phân biệt của mình ở chỗ khác, như Việt Nam chẳng hạn.

Các lãnh tụ có nghe mà không có cam kết gì hết.

Tại Thượng Viện và Hạ Viện, không khí có hơi mát. Nhưng ông Ford không lấy làm ngạc nhiên khi nghị sĩ dân chủ Edward Kennedy đổ tội cho Chánh Phủ là “dậm chân tại chỗ” trên địa hạt ngoại giao. Phía chánh trị gia dân chủ, đối thủ vẫn còn là đối thủ. Tổng Thống Ford và những người của ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghị sĩ Henry Jackson, đưa ra một lời tuyên bố công khai, hoàn toàn đối với chủ nghĩa chống cộng:

_ “Hoa Kỳ phải chấm dứt cuộc chiến nầy”

Bộ máy lập pháp nặng nề và chính xác của Hoa Kỳ đang chạy. Ngày 30 tháng giêng nầy người ta triệu tập các thành viên thuộc Ủy Ban Phân Phối Ngân Khoản . Một cuộc họp quan trọng của các ủy ban và tiểu ban thuộc Thượng Viện và Hạ Viện. Hạ Viện vẫn giữ độc quyền trình bày những luật lệ về tài chánh. Nặng nề và rất thận trọng, trong một khung cảnh oai nghiêm, các tiểu ban đưa ra những câu hỏi chất vấn các viên chức cao cấp của Chánh Phủ. Tiểu Ban “Phân Phối Ngân Khoản” nghe nhiều nhân chứng. trong đó có Eric von Marbod, cộng sự viên của Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng, đặc trách về tiếp vận.

Ông Von Marbod xác nhận rằng: Ngũ Giác Đài dự kiến một cuộc tấn công của cộng sản trong sáu tháng sắp tới.

Tướng A. Graham, trưởng Phòng Tin Tức Tình Báo của Ngũ Giác Đài xác nhận rằng: ” – “Chúng tôi không nghĩ rằng Hà Nội mưu toan đạt được chiến thắng toàn bộ trong những tháng sấp tới. Chúng tôi dự kiến là quân đội của Miền Nam sẽ gặp nhiều khó khăn quan trọng. Chúng tôi đang chờ đợi những cuộc tấn công trong vùng Kontum và Pleiku”.

KonTum và Pleiku, chính là vùng mà Bộ Tham Mưu Bắc Việt đã quyết định là “không tấn công”.

Tất cả những sứ quán cộng sản ở Hoa Thạnh Đốn đều theo dõi các cuộc điều trần ở Quốc Hội. Họ có cả những biên bản khi những cuộc điều trần nầy được diễn ra công khai và khi họp kín thì những tiết lộ sẽ làm thỏa mãn những kẽ tò mò muốn tìm hiểu. Như vậy là Hà Nội được báo trước ngay sau đó. Một xã hội (quá) cởi mở không có gì còn là bí mật hết, ngay ở cấp quyết định tối hậu cũng vậy. Ở Hoa Kỳ gần như không thể giữ kín được bất cứ một hành động bí mật nào, cho dù đó là một hành động có tầm mức quan trọng . Lời khai của các nhân chứng Graham và Von Marbod không có gì mâu thuẫn quan trọng với nhau hết: một cuộc tấn công có thể không nhắm vào chiến thắng cuối cùng. Tuy nhiên, những nhân chứng nầy gây bối rối cho các vị dân cử, đại diện cho dân chúng Hoa Kỳ . Dân biểu Robert Gialmo (dân chủ) của tiểu bang Connecticut nói:

_ “Những con số về tương quan lực lượng mà quý vị cung cấp cho chúng tôi cho thấy là quân số Miền Nam cao hơn quân số Bắc Việt ở trong Nam Bộ”

Từ 10 năm nay, câu hỏi về quân số của hai Bên Nam Bắc Việt Nam thật khó có thể ước tính được . Phải biết phân biệt giữa chánh quy và không chánh quy, giữa việt cộng của CPLTCHMN và lực lượng bảo an của Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Ford vừa nói rằng hiện tại 298.000 bộ đội Bắc Việt đang có mặt ở chiến trường Miền Nam . Ở Hoa Thạnh Đốn với sổ sách trong tay, người ta quả quyết là quân đội chánh quy thuộc QLVNCH và lực lượng bảo an, dân vệ là 1.300.000 người. Như vậy, phải nghiêm chỉnh xét lại xem cán cân lực lượng sẽ ngiêng về bên nào? Đó là ý nghĩ của các vị đại diện dân ở Quốc Hội. Tướng Graham biết rõ là QLVNCH không có được tới 500.000 người thực sự là quân số hành quân hay tác chiến. Quân đội nầy được tổ chức rập khuôn theo kiểu Hoa Kỳ: cứ mỗi người lính trong đơn vị tác chiến thì người ta phải có 5, 10, hay đôi khi 20 ở hậu cứ, trong những kho, trong các Bộ Tham Mưu hay ở các căn cứ không quân. Thú nhận việc nầy là sẽ đặt lại cả vấn đề chánh trị quân sự của Hoa Kỳ từ bao nhiêu thời gian lâu nay rồi.

Vấn đề không phải là giải thích sự yếu kém thuộc về cơ cấu tổ chức của Quân Lực Việt NamCộng Hòa, mà phải chỉ cho người ta thấy được những thuận lợi giúp cho bộ đội Miền Bắc có thêm sức mạnh. Tướng Graham bèn xoay qua đường mòn Hồ chí Minh:

_ “Giờ đây, một phần quan trọng của con đường nầy đã được tráng nhựa. Trước kia lực lượng tăng viện của Bắc Việt phải mất 70 ngày đi bộ mới vào được chiến trường Nam Bộ. Bây giờ họ chỉ mất có 3 tuần lễ . Thời gian nầy họ vượt phần lớn các đoạn đường bằng xe vận tải.”

Ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng ngoại giao đặc trách Đông Nam Á Sự Vụ cũng ra điều trần trước Ủy Ban. Ông là một trong những phụ tá của Kissinger ở Paris. Ông Gialmo hỏi:

_ “Trên phương diện pháp lý Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải tiếp tục võ trang cho Việt Nam Cộng Hòa hay không? Hỏi xong ông Giamo lại tự mình trả lời luôn cho câu hỏi của mình:

_ “Có nghĩa vụ tinh thần, mà không có nghĩa vụ pháp lý”

Ông Habib rất hân hoan: – Đó là một thể thức rất tốt, rất chính xác.! “ Và cuộc điều trần vẫn tiếp tục…..

Có lẽ đây là một sự khéo phối hợp đúng lúc: ông Thiệu thấy được nghệ thuật xử dụng truyền thông mà ông Nhã đã chỉ cho ông, nên ông đã cho tờ Washington Post phỏng vấn. Tờ nhật báo nầy là một tờ báo rất có ảnh hưởng ngay tại thủ đô Hoa Kỳ. Tổng Thống Thiệu không nghĩ rằng Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh của họ. Tuy nhiên ông cũng phải dự trù trường hợp xấu nhất, ông tuyên bố:

_ “Nếu Hoa Kỳ bỏ rơi Sài Gòn thì Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu”

Nhưng thật ra đây là một thất sách. Ông Thiệu lẽ ra phải tuyên bố là:

_ “nếu không có được một viện trợ tài chánh nào thì quân dân Việt Nam Cộng Hòa đành phải chịu buông súng bỏ cuộc thôi!”

Đằng nầy ông Thiệu đã vô tình cho thấy là nếu không có viện trợ của Hoa Kỳ thì Sài Gòn vẫn có thể tiếp tục chiến đấu. Cuộc phỏng vấn chẳng những đã trở thành vô hiệu mà còn có hiệu quả ngược lại!

Để chứng minh quyết tâm của mình, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố là không cho giải ngũ nữa. Các binh sĩ sẽ không được rời khỏi quân đội trước 38 tuổi, hạ sĩ quan không trước 42 tuổi và sĩ quan cấp úy không trước 45 tuổi. Để nói lên tinh thần chiến đấu của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa Tòa Đại Sứ Việt Nam. Ở Hoa Thạnh Đốn bèn thông báo cho lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ . Do đó mà có một số dân cử trong Quốc Hội đã nói với nhau:

_ “Cuối cùng rồi thì người Việt Namcủa “chúng ta” cũng có thể xoay trở để tự lo liệu lấy” (nguyên tác: nos Vietnamiens với chữ nos nghiêng)

Tình cờ, Quốc Hội Mỹ ngẫu nhiên chú ý tới vùng Đông Nam Á, các đại biểu lại nhìn thấy tình hình ở Cam Bốt có vẻ nghiêm trọng. Chỉ cần theo dõi tin tức trên truyền hình cũng xác định được tình thế.

Nếu Quốc Hội Hoa Kỳ có thật tâm muốn nhận định tình hình ở Việt Nam năm 1975 có nghiêm trọng hay không, thì chỉ cần xem một vài hình ảnh đánh nhau trên hệ thống truyền hình cũng đủ rồi, nhưng rất tiếc là trận đánh Phước Long chẳng có được nhiêu phim ảnh!

_Lực lượng Khmer Đỏ chiếm 80 % lãnh thổ, bắn rốc kết vào Phnom Penh. Sài Gòn chưa có gì đến đổi như vậy.

_Quân số mỗi tiểu đoàn Cam Bốt từ 300 hao hụt chỉ còn 100 người. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không có tan rã như vậy

_Trên sông Cửu Long (địa phận Cam Bốt), Khmer Đỏ bắn chìm tàu dầu. Chiếc tàu dầu cuối cùng đến được Phnom Penh ngày 23 tháng giêng. Con sông Mekong (địa phận Việt Nam) vẫn còn lưu thông tốt.

Đường dây duy nhất nối liền thủ đô Cam Bốt với thế giới bên ngoài là cây cầu không vận. Tại Hoa Thạnh Đốn vào một buỗi trưa mát trời, ông Douglas Pike, một chuyên viên về Việt Nam, tác giả của một quyển sách nói về Việt Cộng, lững thững rảo bước trên con đường Mall, một con đường mà hai bên có các viện bảo tàng, có các đài kỹ niệm, và các Bộ của Chánh Phủ. Ông Pike là một chuyên viên thầm lặng, nên luôn luôn từ chối không muốn dính líu về tình cảm đến chuyện Việt Nam. Ngay như lúc ông còn làm việc ở Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng vậy. Trong trận tấn công của Việt Cộng hồi Tết Mậu Thân – lúc nước Việt Nam đang trong cảnh máu lửa- bạn bè khách khứa của ông Pike lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông bình tỉnh xếp loại các con tem trong bộ sưu tầm của ông và nói rằng: “Phải biết chờ.. rồi mọi việc cũng sẽ qua đi…” Cùng tản bộ với ông, có ông Sam Burger, một cựu nhân viên của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Hai người vừa mới tham gia một hội đồng giám khảo của trường đại học. Một đại tá đã trình luận án tiến sĩ: “Không có Hoa Kỳ quân dân Miền Nam có giữ được đất nước mình hay không ?” Ông đại tá nầy có vẻ lạc quan. Hai vị giám khảo thì không quá lạc quan như vậy. Trên đường về Bộ Ngoại Giao, ông Sam Burger nói nhỏ với ông Pike:

_ “Xem chừng như hết rồi phải không?

Hơi trầm ngâm, ông Pike đi được 10 bước mới trả lời:

_ “Đúng vậy, Hết rồi!

Ông Pike chưa cần phải suy nghĩ là đã tin chắc như vậy rồi! Ông lại nghĩ miên man: Tôi lại kể chuyện gì nữa đây? ông không thể tự nói với mình là “Miền Nam Việt Nam có thể sống còn…”

Trong giới công chức ở đây, những người như hai ông Pike và Burger quá hiếm…. Chung quanh ông Kissinger, người ta đang bị Trung Đông ám ảnh.

“Không có gì nguy hiểm bằng tình hình ở Trung Đông”

Ông Kissinger xác nhận như vậy. Ông ta muốn đạt được một Thỏa Ước về sa mạc Sianai. Tổng Thống Sadate của Á Rạp dường như dễ dãi hơn Thủ Tướng Do Thái Rabin. Ông nầy chỉ có một đa số mong manh ở Quốc Hội nên không mạnh tay trong hành động. Còn ông Kissinger thì theo dõi những uẩn khúc chánh trị trong nội bộ của Do thái nhiều hơn là của Miền Nam Việt Nam. Ông ta đang chuẩn bị cho một chuyến đi 10 ngày qua Trung Đông vào tháng hai. Ông muốn đạt được một thỏa thuận với người Do Thái là họ phải lui về 50 cây số ở Sinai. Trong cuộc vận động nầy, qua các tài liệu ngoại giao hay qua nghiên cứu trên bản đồ, các công chức cao cấp đã tốn rất nhiều thì giờ cho đèo Mitla trong sa mạc Sinai hơn là đèo Ải Vân ở Đà Nẵng.

Ở Hoa Thạnh Đốn, có rất ít người có trách nhiệm hình dung được là Bắc Việt sấp sửa tiến quân hằng trăm cây số đến vùng Cao Nguyên. Toàn là những người làm việc ở văn phòng nên họ thiếu óc tưởng tượng.

Ở Bruxelles (Bĩ) ông Đại sứ Nguyễn phú Đức của Việt Nam Cộng Hòa đến thăm tướng Alexander Haig, Tổng Tư Lệnh lực lượng Đồng Minh Khối Bắc Đại Tây Dương. Ông Thiệu không thích Kissinger nhưng giữ kỷ niệm tốt với tướng Haig. Năm 1972, ở Nhà Trắng, dưới trào Tổng Thống Nixon, tướng Haig đã có thảo luận về Hiệp Định Paris với ông Thiệu. Ông Haig cũng có ép ông Thiệu ký vào Hiệp Định, nhưng rất là nhã nhặn và lịch sự. Giữa quân nhân với nhau, họ dễ thông cảm và hiểu nhau hơn. Tướng Haig hứa với ông Nguyễn phú Đức là ông sẽ đích thân can thiệp với Tổng Thống Gerald Ford.

Từ tướng Marshall đến tướng Eisenhover, người ta chưa từng chứng kiến một sự thăng cấp nhanh như trường hợp của tướng Haig. Chỉ trong vòng có bốn năm, từ cấp đại tá ông ta nhảy vọt lên cấp đại tướng bốn sao. Ở tuổi 50, ông giữ một nhiệm vụ đầy uy quyền ở Âu Châu. Ông sớm hiểu được là muốn thành công trong binh nghiệp thì cần phải có nhiều quan hệ tốt với giới chánh trị. Sỹ quan cấp tướng cần phải chứng tỏ mình có đầy đủ năng lực về chánh trị cũng như về chiến lược quân sự. Tướng Haig đã tốt nghiệp về khoa “bang giao quốc tế” ở Đại Học Hoa Thạnh Đốn . Ông đã từng chiến đấu ở Việt Nam, là Tổng Tư Lệnh của Khối Bắc Đại Tây Dương, qua vài phản ứng của các thủ đô Âu Châu tướng Haig biết rõ là người ta đang đánh giá về lòng tin của họ đối với Hoa Kỳ . Ông biết rằng Lịch Sử tạo anh hùng, và nhiều người như

Nixon, hay Kissinger cũng có thể tạo ra thời thế. Nhưng liệu ông Ford có cơ may nào nắm bắt được thời cơ hay không?

Đến Hoa Thạnh Đốn, ông bàng hoàng thấy không khí chánh trị có vẻ lộn xộn quá. Muốn đánh mạnh vào dư luận quần chúng, ông nghĩ có lẽ ông phải xin từ nhiệm. Người ta tiếp ông ở Nhà Trắng. Thông thường thì ông có tật hay dùng tiếng lóng, nói dài dòng, và thích dùng những danh từ trừu tượng bóng gió hơn là nói thẳng như người Anh, nhưng lần nầy quá cảm xúc, ông nói thẳng với ông Ford, rất là dản dị và dể hiểu:

_Thưa Tổng Thống, ông phải cho tái oanh tạc, dù Quốc Hội có từ chối.”

_Ồ, tôi không làm được việc đó đâu. Cả nước đã chán ghét chiến tranh lắm rồi! Ông Ford nói.

Tướng Haig lại nhấn mạnh là ông Ford cần phải gởi pháo đài bay B 52 đến đó ngay. Đúng theo nguyên tắc và cũng đúng theo quyền lợi của cá nhân ông! Nếu không thì ông sẽ không được tái bầu lại đâu, tướng Haig xác nhận như vậy:

_Ông phải chứng tỏ quyền lãnh đạo của mình ngay bây giờ đây, trước khi nó quá muộn.

Ông Ford có vẻ quan tâm nhưng vẫn không bị lay chuyển. Các nhân viên thân cận như Ron Nessen và Donald Rumsfeld an ủi ông:

_Ông Haig không nắm vững được tình hình thực tế ở Hoa Thạnh Đốn. Trong những ngày nầy, ông có phản ứng của một quân nhân chớ không phải của một chánh trị gia.

Và họ bồi thêm một phát súng ân huệ nữa:

_ “Dưới trào ông Nixon, tướng Haig thường có nhiều cuộc hành quân bí mật và làm mất hòa khí giữa Quốc Hội và Nhà Trắng.”

Ông Ford phải giữ đúng vị trí của một Tổng Thống pháp định, để không còn ai nhớ đến các cuộc dội bom bí mật xuống Cam Bốt của ông Nixon.

Hơn nữa, theo ước tính của những công chức của Nhà Trắng, thì sẽ không có cuộc tấn công nào của Bắc Việt trước năm 1976.

Đúng là những người đang “ngủ đứng”!

Trời cao đất dày

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 25 Jan 2026

Google image

3. Trở về và nhớ

Trực nhìn xuống những ruộng lúa bị cháy đen và xăng chảy từ những ống ra ngoài, vết đen lớn tàn phá lúa. Ngày xa cũ thưa thớt vài bóng cây, xe chạy ngược vào thị trấn dần dần xa khỏi những đồi cỏ để vào đường phố với hàng thông cao ướt nước, đường phố đầy bùn đỏ dơ bẩn và chỉ những chiếc xe nhà binh ướt sũng không ngừng, những dãy phố thấp, những hè phố không đều và những đường dốc. Xe ngừng lại nơi cửa nhà thờ, Trực bước xuống đeo ba lô trên vai, bây giờ hãy kiếm một tô mì, môt ly cà phê cho buổi sáng của mình.

Bờ lề cao, ngôi quán Tàu mái nhà thấp, những thân cột sơn đỏ, trần thấp ám khói, tủ kính ngoài quầy hàng treo thịt quay, xá xíu người đàn bà Tàu cắt tóc ngắn ngồi từ trên cao nhìn xuống, những bàn vuông và tròn với ống đũa, những chai nước mắm, bình ớt đỏ… Cho một tô hủ tiếu, một phế nại. Đứa con gái không nói bước đi. Trực bỏ ba lô xuống một chiếc ghế, mặt bàn cáu bẩn và ấm nước như đã mốc. Nơi nào cũng chỉ có Tàu, Tàu… dù một thành phố lớn, một thị trấn có người ở, ở đó có hủ tiếu, cà phê dớ, từ đó những ngôi nhà lớn mọc lên và những cửa tiệm luộm thuộm. Thực tôi cũng không hiểu được. Chú tôi nói trong quân đội mấy lính Ba Tàu làm hỏa đầu quân thì ông quan nào cũng khoái hết, họ khôn ngoan, chịu khó và sợ chết nữa, nhưng nhà bếp thì họ không e sợ gì cả… Tôi đã gặp những lính Tàu… Bữa ăn sáng, hơi thuốc lá ngọt, đâu phải lúc nào mình cũng được sống hạnh phúc như thế, nhưng nếu mình được sống hoài như thế đã chắc gì mình thấy mình hạnh phúc. Mình sẽ qua những ngày phép trong căn nhà nhỏ, những đường phố dơ bẩn, những bữa ăn sáng và quanh quẩn ít người bạn…Cuộc sống hình như không còn gì lôi kéo về phía trước mặt mình. Trực bải hoải với những ý nghĩ buồn nản vô cớ. Mình sẽ hưởng những gì và ngay từ trong cùng tận của cuộc sống, một kêu gọi thẳm sâu nào… Và Trực như thấy mình sống lại…

… Chiếc trực thăng vượt lên cao mãi theo với những ngọn núi kế tiếp và bầu trời xanh những lớp mây vươn lên chất ngất, len giữa những ngọn núi có lúc mây che khuất ngọn, gió lạnh buốt, qua khỏi những lớp trường thành thiên nhiên hùng vĩ đó trực thăng xuống thấp dần ngang qua những ngọn núi rừng cây với những ngọn cây trải thành thảm lá mướt êm đềm. một khoảng trống hiện ra với những đồn biên phòng nằm gọn trong thung lũng: nơi tôi sống những ngày cô quạnh. Trực thăng lượn một vòng, xuống thấp dần và Trực nhìn thấy bóng một vài người trong chiếc sân trống giữa những lớp hàng rào kẽm gai, giữa những công sự chiến đấu, có những cánh tay giơ cao vẫy chào đón đợi…trực thăng sà xuống và đậu giữa sân của tiền đồn, cánh quạt ngừng quay và Trực bước xuống với ba lô, chiếc thùng sắt, tất cả những gì chàng có. Tôi hiểu những gì tôi sắp bắt đầu được sống : những người bạn chưa quen, núi rừng xa lạ, mưa gió, thiên nhiên, những kẻ lạ không tên gọi đang ẩn hiện đâu đó và cái chết rình chờ bên những hẻm núi, nơi những gốc cây, lùm bụi hờm sẵn những họng súng, những mũi dao nhọn hoắt đã được mài giũa bằng những lời hô hào , những quyết tâm những lời thề sinh bắc tử nam …Chúng tôi có tám đứa được đưa tới tăng phái cho tiền đồn, người thượng sĩ đứng đón cách phi cơ khoảng mười thước mỉm cười nhìn chúng tôi. Trực thăng ngừng cánh, một thành viên bỏ phi cơ đi vào trại mang theo một bao đỏ những thư từ của gia đình những binh sĩ trấn đóng nơi đây. Sau khi vào trại chúng tôi được dẫn tới gian nhà phía tay trái của trại, chúng tôi được chỉ cho nơi mình được sống, một số bạn mới của chúng tôi bu lại có người ngó nhìn, có người cười nói hỏi chuyện chúng tôi, ở đâu tới, bây giờ cuộc sống ở Sài-gòn, ở Pleiku, ở Kontum ra sao. Chúng tôi làm quen với nhau. Sau đó chúng tôi trình diện trưởng trại.

Trong căn phòng được chất đầy những thùng đạn dựng đất vây lấy những bức tường, viên sĩ quan lặng lẽ nhìn chúng tôi từ đầu tới chân như một người ngắm nhìn những gì mới lạ. Đại úy N. tiến đến bên Hùng đặt tay lên vai người lính mới, mỉm cười:

– Chú em giết người rồi hả?

Nét mặt măng trẻ của Hùng như muốn đỏ lên, hắn lúng túng một lúc lâu, Đại úy N. hỏi tiếp:

– Sao, nhiều hả?

Hùng, giọng mất tự nhiên, nhỏ:

– Dạ, thưa đại úy không có…

– Thôi mà, xạo hoài, cái sẹo nào đây?

Ngón tay trỏ của đại úy N. chạy dài trên vết sẹo từ nơi mang tai xuống cổ, vết sẹo còn để lại những dấu vằn như vết khâu trên da mặt. Vết sẹo làm cho khuôn mặt Hùng có một vẻ đặc biệt vừa dữ tợn vừa dịu dàng. Đôi mắt lớn cuống quýt, dáng ẻo lả. Trực không hiểu được Hùng, sao hắn có thể vào lính sớm như vậy. Trông thấy Hùng trong toán tăng phái, Trực ngạc nhiên không ít. Đại úy N. nói tiếp:

– Cái huy chương này đáng giá lắm…

– Thưa đại úy, một tai nạn, bọn nó hiểu lầm em…

Giọng cười khô khan:

– Không sao, hiểu lầm hay không chẳng sao, nhưng ở đây thì bỏ máu anh chị đi nghe, đây không có chuyện đâm thuê chém mướn đâu nghe, mấy tuổi rồi?

– Dạ, mười chín.

– Một hiệp sĩ mù, được lắm…

Bỏ Hùng lại, Đại úy N. đến bên Thiện cầm lấy cánh tay đưa lên, hình một người con gái khỏa thân xâm trên cánh tay đầy những lông đen quăn, Đại úy N. cười cười bỏ xuống không nói, ông đi tới những người khác. Tới Trực ông chậm chạp nhìn ngắm. Đôi mắt sâu hút, lông mày rậm, nước da đen, đôi môi đỏ, ống mũi nhẹ nhàng. Tôi không thấy nơi ông một vẻ gì hung dữ, Trực đứng im. Đại úy N.:

– Tóc tai tài tử quá hả, vợ con gì chưa?

– Dạ chưa.

Đại úy N. mỉm cười nhưng nét mặt vẫn có một vẻ nghiêm nghị một cách khôi hài:

– Sao chưa biết hả?

– Dạ biết…

Trực ngượng ngùng nhìn xuống, tiếng cười trong cổ họng vị sĩ quan, ông đi trở lại phía sau bàn giấy, ngồi xuống lấy thuốc châm hút:

– Rồi, các chú tới đây bọn tôi mừng lắm, ở đây thì đường hoàng nghe, giang hồ với nhau, không có quan với lính mẹ gì hết, sống đường hoàng, xuống dưới đó nhận tiểu đội, kiếm rượu uống, có tiền không, đây phát cho mỗi chú một ngàn, cho mượn chờ tháng lĩnh lương trả, trừ đứa nào được bạc thì trả ngay. Rồi, cảm ơn mấy chú.

Cả đám rời khỏi phòng, trở lại với những bạn mới, Trực thấy yên tâm phần nào với đại úy N. ông mang đến cho mọi người sự thân mật cần thiết, đáng ra Trực không cần tiền nhưng thấy dáng vẻ của Đại úy N. Trực thích số tiền đó. Trực bỏ đồ đạc vào nơi đầu chiếc giường được chỉ định, chàng nhận thấy căn phòng có một vẻ hỗn độn đặc biệt, những hình khỏa thân lấy ra từ trong một tập báo Mỹ dán đấy nơi những vách ván, bên đó treo những mũ, súng, những cành cây khô, nơi đầu giường gần nơi cửa của phòng có một khóm lan rừng treo từ vách rũ xuống ở bên một cây đàn. Trực nghĩ: một tay nghệ sĩ giang hồ. Trong phòng có mười chiếc giường, Trực là một trong hai người được bổ sung cho toán này. Trong phòng, lúc đó chỉ còn lại hai người, Lịnh và Mãnh, những người vắng mặt đang ở trong một chuyến công tác vắng mặt đã ba ngày, Lịnh nói:

– Tháng trước có hai con đi ngủ, bọn tôi chờ mấy anh. Tôi cũng sắp được về, sáu tháng rồi.

– Rách hai con hồi nào?

– Tháng trước, mới đầu tưởng thất lạc, sau thấy bị treo trên một cành cây.

Giọng Lịnh bình thản. Mãnh đứng bên, tựa người vào vách nhà nhìn chúng tôi, tôi lo trải giường rồi nằm xuống cho những thớ thịt doãi ra. Sáu tháng là ít nhất tôi sống ở đây và có thể chết ở đây. Mãnh nói:

– Tôi muốn đổi về Lôi Hổ, ở đây buồn quá, ngày đêm lúc nào cũng như bị tù, chẳng có nơi nào là hậu cứ cho mình, thiếu mọi điền cần thiết, sống hết nổi, có lúc muốn phát điên, anh tưởng tượng: sáu tháng không đàn bà…

Mãnh cười cung cúc như tiếng cười của môt người đàn bà thô kệch không còn duyên dáng của một người nữ. Trực cười theo lặng lẽ. Thời loạn, những đòi hỏi thực tế con người. Mình cũng đã chọn một đời sống đã chết. Sao mình không làm khác? Làm gì? Trực lại nhớ tới người con của ông chú, thi xong tú tài nó học cầm chừng và chơi bời, la nó, nó nói nhẹ nhàng: đằng nào rồi cũng vào lính, chỉ có chờ, chỉ có trước hay sau… Trực nghĩ tới vô số những người khác cùng lứa tuổi với mình, chỉ có một nơi chờ họ tới : Trại binh , sau đó là chiến trường …Tương lai sáng lên những u tối của một thời đại liên tiếp những biến đổi, liên tiếp kéo tới những số kiếp đồng dạng bi thảm nhoa nhếch những máu và nước mắt. Trực cầm trong chiếc ba lô ra tờ nhật báo cũ bỏ lên giường. Mãnh cúi xuống cầm lên đọc:

– Ở đây bọn tôi chỉ có la dô, tờ báo cũng trở thành kỳ lạ. Nghĩ thấy những cái này cũng chẳng cần gì. Thực nhiều khi tôi không còn muốn biết gì nữa, mọi điều ở ngoài nơi đây tôi không cần biết tới. Anh cũng đã biết?

– Tôi biết, ở trong lính được hơn một năm rồi.

– Như vậy là thọ.

– Anh thích Lôi Hổ?

– Không phải thích, nhưng trong những thứ buộc phải lựa chọn thì mình chọn cái nào khá hơn, chẳng lẽ chọn đời sống của một tên trốn chui trốn nhủi hay một tên lính gác cửa, anh thấy vậy không?

– Anh tưởng vậy, tìm một chỗ làm lính gác cửa đâu phải dễ gì tiền bạc không đó?

– Thật là thằng ngu mới lựa chọn như thế, nhiều chuyện không hiểu nổi, thật bọn heo…

– Có lần tôi xin đi làm chuyên viên chất nổ mà không được, tim đập ghê quá.

Mãnh cười, hắn lật trang báo tới chỗ này chỗ khác, Lịnh nằm dài nơi chiếc giường mé bên kia. Hùng đã trải xong và thu xếp mọi thứ cần thiết. Trực nhìn Hùng lúc lâu, vết sẹo nơi mang tai. Nghĩ tới ngón tay của Đại úy N. và câu chuyện ngắn ngủi khiến Trực bật cười và bỗng thắc mắc về Hùng:

– Trông cậu như tên tội phạm khi đứng trước đại úy.

– Phạm tội, rỡn hoài…

– Thế sao xanh mướt, run và mồ hôi chảy nhép trên mang tai, cậu cũng anh chị nhỉ, lịch sử một vết sẹo đâu phải cứt gì, cũng đâm chém đấy chứ…

– Thôi đi, một tai nạn xe cộ, một tai nạn hồi nhỏ tuổi không thể có à?

– Không tin, trông mặt cậu ta không tin, lại nữa, bước chân vào một nơi như thế này, cậu không phải như thế, khai đi cho anh em nghe chơi và ngưỡng mộ.

Hùng lặng thinh không nói, Mãnh ngó Hùng không chớp mắt, Lịnh cũng nhìn Hùng như muốn biết rõ về người bạn đồng đội mới của mình. Không khí im lặng như chờ đợi. Hùng nhìn Trực:

– Thế còn cậu, không có một lịch sử nào cho cậu sao? thất tình phải không? một nàng tiên nào đó đã đá cậu một cú song phi?

– Lại chuyện tình nữa, có thể lắm, chết vì tình là nhất.

– Đó là lịch sử của cậu?

– Nàng tặng ta khổ đau

Ta không nhận nhưng cầm

Mang về để dưới gối…

– Chà một nghệ sĩ giang hồ.

Cả đám cùng cười rộ. Trực tự hỏi: tại sao không có một lịch sử nào cho mình, tại sao mình lại thấy phải bước vào con đường này: một mơ ước phiêu lưu? một lựa chọn vô lý? một thự tế cùng quẫn? một vô vọng lười biếng? Một chuyện tình cho mình có để bỏ đi như hành lý cần thiết là một hạnh phúc mà mình cũng không có. Tôi chỉ có những nàng tiên trong ổ đĩ, chỉ có những thoáng nhìn tội nghiệp, chỉ có một đời sống mồ côi và thực tế cơm áo, tôi không có gì khác ngoài một thực tế tầm thường. Trực như nói với mình:

– Nếu có một chuyện tình như mình nhớ.

– Thôi đừng mơ mộng chứ…

Hùng bỏ ra ngoài phòng. Trực ngả người xuống giường. Nơi đây tôi sẽ sống những ngày sắp tới. Không khí những người chung quanh mang đến cho Trực một niềm vui, ở đâu cũng thế, trong những năm trôi nổi chàng chỉ thấy có tình bạn. Những bên nhau, đi bên nhau, chiến đấu bên nhau thân thiết như chân tay. Đôi mắt một người bạn cũ mở không ngừng trong trí nhớ Trực. Hai đứa vừa vượt lên khỏi hầm lao đầu về phía trước thì một loạt đại liên nổ xối xả, hắn ngả xuống với tiếng kêu thất thanh. Trực không tiến lên, nằm rạp xuống, quay đấu trở lại, người bạn đang quằn quại với vết thương trên ngực. Quên những làn đạn trên đầu, Trực bế vội người bạn quay trở lại hầm trú ẩn. Người bạn không nói được, máu chảy ướt sang người Trực. Đôi mắt hắn mở lớn không chớp. Lúc sau giữa những tiếng đạn nổ nhức nhối tiếng người bạn thều thào : tao chết mất mày. Và hắn chết, đôi mắt mở lớn như tìm kiếm cái gì. Trực nghĩ tới những người thân của hắn. Trực nhớ tới câu chuyện một ngày nào đó đã xa lắm hắn nói hắn bỏ gia đình mà đi, hắn chỉ thương mẹ hắn. Đôi mắt mở trợn trừng, tiếng kêu thất thanh nơi tuyến đầu vẫn như còn đó với hình ảnh khắc ghi. Trực đã lấy bàn tay dính máu vuốt mắt người bạn mà trước đó không lâu còn cười nói bên mình. Chính trong chiếc hầm đó, Trực đã rã người đi với xác người bạn lạnh dần trên tay. Khi trở lại sau trận chiến với máu đầy trên người, những đồng đội đã nhìn thấy Trực như một người chết hiện về. Cuộc sống ngắn ngủi, cái chết tình cờ dễ dàng nhanh chóng đã nhiều lúc khiến Trực bàng hoàng. Bây giờ ở đây, những bạn bè mới gặp, những ngày tháng gai lửa trước mặt, Trực tự nghĩ, biết đâu một hôm nào đó Trực sẽ trút hơi thở bên một người đồng đội. Cái chết mang theo mọi điều đã có trên đời sống, những điều chẳng liên can đến ai. Chiếc ba lô, chiếc thùng sắt, một ít vật dụng, một số tiền chết cũng không ai nhận lãnh, và chàng nằm xuống lòng đất rã tan…

Trực trở dậy theo Mãnh đi thăm căn trại. Những bạn mới, những căn nhà như hầm với những vỏ đạn, bao đất, thùng đất chất chồng từ nơi này tới nơi khác, những công sự chiến đấu kiên cố, Mãnh nói:

– Hồi cách đây ba tháng bọn này bị đói mất mấy ngày, bọn nó làm dữ, trời thì mưa không sao tiếp tế được, tức phát chết là đồ thả dù lại rơi vào bọn nó hết, tức cười nhất là một thùng đồ rơi phía ngoài vòng trại một khoảng, cả hai bên cùng tìm cách chiếm, thằng ở trong bò ra thì bị bắn, thằng ở ngoài định lấy cũng không được, mấy thằng bị chết vì kiện lương thực đó, nghĩ đến tức cười giữa hai làn đạn, sau những ngày cầm cự đến lúc ra lấy được kiện hàng thì chẳng phải lương thực gì hết mà toàn là quân trang, chẳng hiểu là họ nhầm hay không, nhưng quân trang đầy những vết đạn và chẳng đứa nào thèm lãnh hết. Nghĩ thực tức cười.

– Nhưng cậu thì mong ở trong đó một thứ gì?

– Một người đàn bà được bọc trong một thùng bằng thép.

Trực cười ngất, Mãnh nghiêm giọng:

– Ngó bộ cậu nghĩ đó là chuyện bậy bạ sao? Một chuyện nghiêm trang đó chứ.

– Đâu có, mình tưởng cậu nghĩ tới lương thực.

– Lương thực cũng cần, nhưng đàn bà cũng cần.

– Bọn đàn ông ở chung lại với nhau, ở trong tù, ở trong trại lính trước hết nghĩ tới ăn đã, trước là cần có cái ăn, sau là ăn ngon và đủ, sau đó mới tới chuyện đàn bà. Ăn đã…

Hai người tiếp tục đi vòng quanh khu trại, Mãnh chỉ nói tới nhà nào lương thực, chỗ nào súng đạn, tới căn nhà nhỏ nằm riêng phía góc của trại, ngoài phía sân bay trực thăng, kế đó phía ngoài hàng rào có một sân bay nhỏ trải đá đỏ dùng cho các chuyến bay tiếp tế, đường bay ngắn có nhiều hố đạn chưa được lấp phẳng, dấu tích của những trận pháo kích của địch quân. Mãnh nói:

– Đó là nhà Vĩnh biệt, và đó cũng là nhà chứa bộ quần áo cho bọn mình diện lần cuối nếu có may mắn…

– May mắn?

– Chứ sao …

– Cậu còn yêu đời lắm, nghĩ tới cả lúc chết thì tuyệt thật. Cái kho áo quan ấy trước không có, sau này mới có vì bọn này đã bị một lần cực vì cái ông bạn mình chết ở đó.

– Sao vậy?

– Cậu thử tưởng tượng bây giờ có người chết, kéo dài hàng nửa tháng để trong trại này, mùi hôi thối có làm cho cậu chết không? Bọn này đã bị rồi… Nửa tháng máy bay không xuống được, mưa, sương mù và đạn thù làm cho bọn sống, bọn chết, người bị thương ở chung với nhau. Phải sống qua mới biết thế nào là mùi tử khí. Sau này trại xin cho quan tài bọc kẽm mang xuống, anh nào tịch bỏ vào liền, gắn chì lại, để cả năm cũng không sao…

Trực rùng mình nghĩ tới cảnh đó nơi chàng vừa bắt đầu thời gian mới của đời mình. Thức ăn, súng đạn và mơ ước. Một nỗi cay đắng buồn phiền xâm chiếm Trực… Những ngày tháng mới, những chuyến đi toán, rừng cao lớp lớp không ánh mặt trời, không một con đường mòn, chỉ có lá rừng dưới chân, những cạm bẫy chờ đợi, những họng súng đâu đ. Trực cũng đã có lần ngây ngất với hương lan hoang dại giữa rừng sâu, những con suối trong vắt chảy dài như con rắn hiền lành. Giữa rừng sâu, giữa những hoang vu đầy mùi thảo mộc đó có lúc Trực nghĩ tới một viên đạn nổ vào đầu, ghim vào ngực và Trực nằm xuống không còn thở nữa. Chàng muốn được nằm đó và thân xác tan rữa. … Trực nhớ tới những điều đó, những ý nghĩ quanh quẩn lâu lâu với hoàn cảnh lại thức dậy… Nhưng chàng đã không chết, chàng đã sống và dời khỏi tiền đồn, chia tay với bạn bè, từ biệt những con đường ngắn ngủi chạy quanh khu trại, từ biệt chiếc giường sắt, những cái ghế trong câu lạc bộ, từ biệt những họng súng chờ đợi nhìn xuống từ những sườn núi, từ biệt những kẻ lạ mặt trì chí trong rừng sâu nhưng có hẹn ngày trở về?

… Những ý nghĩ miên man đến với Trực, cơn mưa ở đâu ập xuống xối xả, buổi sáng như được kéo dài theo với cơn mưa và không khí ẩm lạnh của thị trấn trên cao. Trực kêu thêm cho mình một ly cà phê, thứ cà phê đất bùn này dù sao cũng còn khá hơn thứ cà phê của bọn Mỹ bỏ trong những chiếc bao chua lòm khó chịu. Cửa tiệm gần như không còn sinh hoạt nào khác, Trực ngồi một mình trong đó giữa những bàn ghế bỏ trống. Người đàn bà ngồi nơi quầy có lúc vào nhà trong bỏ lại khoảng trống, ngoài đường, thỉnh thoảng một người ngang qua với áo mưa ướt bóng. Những chiếc xe nhà binh chạy nhanh xuống dốc vời tiếng máy khó chịu. Mưa như thế này ở trong thung lũng thì coi như buổi tối đã bắt đầu và mọi người nằm ngồi trong ánh sáng vàng của những ngọn điện treo trên cao. Tấm lịch chàng có đã phải được gạch đi từng ngày để biết thời gian trôi, những ngày hành quân trong rừng, có lần trở về Trực không còn biết rõ ngày tháng. Chừng như thời gian trong những ngày tháng ấy dài hơn những ngày tháng khác. Trong ngôi trại, mùa mưa có những giấc ngủ kéo dài khi thức dậy chàng không còn trí nhớ để xem mình đang ở trong đêm mình đã ngủ, ngày hôm sau hay là một đêm khác đã bắt đầu, những ngày tháng vô vị lãng đãng đó như một cảm giác vô vị nhạt nhẽo lềnh bềnh trôi và Trực thả mình trong lười biếng cùng trí óc cùn nhụt…

Hai đứa nhỏ đánh giày ướt át đi vào, đứng nơi cửa ngó ngang quán ăn tìm kiếm những khách hàng. Một đứa đến bên Trực:

– Đánh giày anh hai…

Không kịp nghe trả lời đứa nhỏ đã ngồi ngay xuống kéo giày của Trực định đánh, Trực kéo chân lại, ngó xuống:

– Mưa gió mà đánh gì chú bé.

Đứa nhỏ tay vẫn cố lôi chân Trực, mắt nhìn lên nhìn Trực với vẻ tội nghiệp khó chịu, đôi mắt thơ ngây, khuôn mặt khô lại, những giọt nước còn chảy nhoa nhếch trên mặt, chiếc áo cánh mỏng ướt nhép, chiếc quần ngắn, hắn ngồi bỏ cao hai đầu gối trần ra ngoài đầy bùn đỏ. Trực nhìn vào mặt bàn:

– Thôi không đánh đâu em.

Đứa nhỏ đứng lên ra cửa ngồi xuống bên đứa bạn nhìn ra ngoài đường cơn mưa đang xối xả đổ xuống. Một đứa đang hút một điếu thuốc, khói bay lên chậm chạp trong bầu khí lạnh đặc.

Cơn mưa làm bầu trời thấp và tối, những thân cây và những căn nhà bên kia đường nhòe đi trong mắt nhìn.

(1972)

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 24 Jan 2026

Nguyễn Thanh Bình, sinh năm 1942 tại Hà Nội, nguyên quán Bắc Giang, di cư vào Nam 1954.

Trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, tốt nghiệp Y Khoa Đại Học Sài Gòn 1967. Trong ban biên tập báo SVYK Tình Thương, viết truyện ngắn với bút hiệu Yên Thảo. Y Sĩ Trưng Tập Khóa 10. Y sĩ trưởng Thiết đoàn 6 Ky Binh, đơn vị cuối cùng Trung Tâm 4 Hồi lực Cần Thơ. Cấp bậc Y Sĩ Đại Úy. Di tản sau 1975, định cư ở Canada, hành nghề chuyên khoa Tiêu Hóa tại Montréal. Cựu Hội Trưởng Hội YSVN tại Canada, cựu Chủ Bút Tập San Y Sĩ. Sau này, viết đủ thể loại, đăng trên TSYS, ký tên thật hoặc với bút hiệu Bát Sách.

Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn

Người Đi Tìm Mùa Xuân

CHÂN DUNG & TÁC PHẨM

Nguyễn Thanh Bình

Y sĩ Đại úy

Nguyễn Thanh Bình

Bạn tôi, Bác sĩ, Nhà văn Ngô Thế Vinh, dự định ra cuốn sách đặc biệt về cố Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn, binh chủng Nhảy dù và có nhã ý cho TSYS góp mặt trong việc xuất bản và phát hành. Đó là một vinh dự cho HYSVN tại CANADA và tôi được anh chủ bút

Thân Trọng An giao trách nhiệm viết một bài về tuyển tập này. Theo dự thảo, sách gồm ba phần:

Phần I:

15 tác giả viết về Nghiêm Sỹ Tuấn. 15 tác giả, gồm đồng nghiệp hay bạn bè viết về Nghiêm Sỹ Tuấn. Những bài này, có bài viết từ năm 1968, có khi mới đây, 2018, 2019, hơn nửa thế kỷ sau khi anh gục ngã nơi chiến trường. Tôi biết anh Tuấn trong thời gian cùng làm tờ TÌNH THƯƠNG của Y KHOA SAIGON, khi anh làm thư ký cho tờ báo này tới số 13, nhưng tôi không thân với anh và hiểu biết về anh rất sơ sài. Qua 15 bài viết, tôi có một cái nhìn về anh thật đầy đủ: Anh sinh đầu năm 1937, nên còn tuổi Tý, trong một gia đình nghèo, đông con. Anh là con trưởng, học Y khoa theo ý của mẫu thân, mà anh theo được ngành này nhờ học giỏi và có học bổng của Bộ Y tế. Anh là người nhỏ nhắn, có dáng thư sinh, giống như một Nho sĩ thời quân chủ. Rất khí khái, nhưng lại hiền lành, điềm đạm, nhiều suy tư và hình như hơi gàn vì bị ảnh hưởng của những triết lý Âu, Á mà anh say mê nghiên cứu. Anh học trễ, có lẽ vì loạn ly, 14 tuổi mới vào trung học, 28 tuổi tốt nghiệp Bác sĩ. Ngoài việc học, thực tập, trực gác rất bận rộn trong ngành Y, anh còn kiên nhẫn học thêm ngoại ngữ, Anh, Pháp, Đức, Hoa và Latin. Anh có thể đọc Tam Quốc, Ỷ Thiên Đồ Long Ký bằng chữ Nho. Các sách gối đầu giường của anh là Sử Ký Tư Mã Thiên, Đại Học, Luận Ngữ, và cả Tây Sương Ký …

Anh có một mối tình rất mơ hồ, không đoạn kết với một nữ y tá bệnh viện Nhi Đồng, theo lời anh Trần Xuân Dũng. Khi ra trường vào năm 1965, anh phục vụ tại TĐ6ND, bị thương 2 lần, từ chối đi tu nghiệp về giải phẫu, vì không được hứa cho trở về bệnh viện Đỗ Vinh của Nhảy Dù sau khi học xong. Anh đã hy sinh tại Khe Sanh năm 1968, vì bị trúng pháo kích của địch, khi đang băng bó vết thương cho một binh sĩ. Khi đó anh 31 tuổi, quá trẻ cho một đời người. Theo lời DS Vũ Văn Tùng, anh Tuấn rất quảng đại, hào phóng: Một binh sĩ có vẻ thích chiếc máy chụp hình của anh, khi người này tử trận, anh đến phúng điếu và để lại máy hình trên bàn thờ!

Tôi nghĩ tới truyện Đông Chu: Quý Trát là con út của vua Ngô Thọ Mộng, được cha sai đi sứ 6 nước. Ông đi qua nước Từ, vua Từ có ý thích thanh kiếm của Quý Trát, nhưng chàng bận công vụ, tự hẹn là sẽ tặng kiếm cho nhà vua khi trở về. Ngờ đâu lúc đó vua Từ đã qua đời, Quý Trát bèn treo thanh gươm bên mộ. Anh Tuấn ơi, anh chính là Quý Trát của Việt Nam. Khi thi hài của anh được chở về QYV Nguyễn Tri Phương, BS

Lê Văn Tập là người đã mở poncho nhận dạng bạn đồng khóa, lo tẩm liệm và chuyển về Sài Gòn. Trong 15 bài viết về Nghiêm Sỹ Tuấn, có 2 người nói về ngày anh qua đời, thì lại không giống nhau:

– Theo BS Trần Đức Tường, anh Tuấn mất khoảng tháng 4/1968, sau Tết Mậu Thân.

– Theo BS Nguyễn Thanh Giản, anh Tuấn mất ngày 13/08/1968.

Anh Trần Mộng Lâm, bạn đồng khóa 1967 của tôi, kể rằng, sau khi học quân sự ở Võ Bị Đà Lạt, chúng tôi về học hành chánh Quân Y tại Saigon, và Lâm được chỉ định đi canh quan tài của anh Tuấn. Lúc đó có lẽ là tháng 4, và tôi nghĩ anh Tuấn mất vào khoảng đó, vì nếu sau ngày 13/08/1968 thì vô lý, anh em chúng tôi đều đã đáo nhậm đơn vị rồi. Và việc báo hung tín cho gia đình anh Tuấn cũng không đồng nhất. Cả 2 người, BS Lê Văn Châu và Đại úy trợ y Trần Đạt Minh đều nhận mình đã làm công việc rất khó khăn và tế nhị này. Ai đúng? Ai sai? Tôi chỉ nêu lên đây nhận xét vậy thôi, chứ hơn nửa thế kỷ qua, ai dám chắc là trí nhớ của mình không suy giảm.

Sau đó là mấy trang hình ảnh của anh Tuấn:

– Hình thời sinh viên, nhỏ nhắn, tươi cười cùng các bạn.

– Hình đội khăn đóng, mặc áo dài, chụp với các em, giống như một nho sinh.

– Hình mặc đồ trận, trên phi cơ, trước khi nhảy dù.

– Đặc biệt là bức tranh truyền thần của anh Tuấn, do bạn tôi là Y Sĩ Đại úy Lê Văn Công vẽ.

Phần II: Tác phẩm của Nghiêm Sỹ Tuấn:

– Trên Tình Thương, Tập San Đại Học Quân Y 1968,

– Tuyển tập QY QLVNCH năm 2000,

– Tuyển tập Thung Lũng Hoàng Hôn (2002),

– Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker, dịch chung với Hà Ngọc Thuần,

– Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, dịch chung với Nguyễn Vĩnh Đức.

Mục truyện ngắn, có 2 bài:

– Những người đi tìm mùa xuân: Truyện giả tưởng, nhiều chi tiết, đọc kỹ thì mường tượng như tiên tri cho thảm cảnh của VNCH năm 1975! Vì kiến thức tổng quát rộng, anh dùng rất nhiều điển Âu, Á. Tôi dốt về sự tích Âu Tây, nhưng về văn chương lịch sử của Tàu thì khá, nên tôi rất thích những nhân vật anh nhắc tới trong truyện, như Phi Yến (Hoàng hậu của Hán Thành Đế Lưu Ngao, đẹp và nhẹ như chim yến), Thái Chân (Dương Quý Phi), Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh (Vũ tướng của Hán Vũ đế), Chi Di Tử Bì (Phạm Lãi, trốn Việt Câu Tiễn, qua nước khác buôn bán, cũng có tên là Đào Chu Công), Thi Quỷ Lý Hạ đời Đường, Tử Kiến, tức Tào Thực, con Tào Tháo …

– Para Bellum: đối thoại giữa 7 người, với nhiều đề tài về chính trị, xã hội, văn chương.

Tóm lại, truyện của anh không dễ, phải đọc từ từ, suy nghĩ mới hiểu được, nhiều khi bị lạc trong những diễn biến.

Thơ của anh cũng có 2 loại:

– Nhị Thập Bát Tú, 4 câu, 7 chữ, như Trần Xuân Dũng, theo trường phái của Vũ Hoàng Chương.

Đầu ối vỡ toang, vào bể dâu,

Nỗi trơ lặng lẽ chớm lên màu,

Chín trăng lẻ ngủ không mơ bướm,

Cắt rốn rồi ta bị buộc đâu?

– Loại lục bát: “Sáu Buồn” Trước Tử Biệt Sinh Ly, đề cho LMN, là ai? Tại sao lại lấy tựa như vậy? Hay là điềm báo trước ngày anh từ giã cuộc đời? Như bài sau cùng mà tôi thấy là gở:

ĐẤT LẠNH

Hồ trường một dốc chưa say,

Lưng đau cát sỏi, ai đau thân mình,

Điểm trang khô mắt đăng trình,

Nghiêng thêm băng giá, hồi sinh đợi ngày.

Là Y Sĩ của 1 trong 2 binh chủng nguy hiểm nhất của quân đội mà anh nhắc tới Đất Lạnh và Hồi Sinh Đợi Ngày thì quả nhiên là thơ nó vận vào người. Những bài Biên Khảo, viết riêng hay chung với Đặng Vũ Vương, Hà Ngọc Thuần, rất công phu, uyên bác, trích dẫn nhiều  sách vở cổ, kim, đọc thật hay, nhưng cũng rất mệt, phải để công suy nghĩ, tìm hiểu …

Truyện dịch của anh thì dễ đọc hơn nhiều, thoải mái, hấp dẫn, văn chương sáng sủa, nhẹ nhàng, nhất là những bài trong Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian mà anh hợp tác với Nguyễn Vĩnh Đức.

Mục này khá dài, và công của anh Nguyễn Vĩnh Đức không phải ít.

Phần III: Đọc Nghiêm Sỹ Tuấn

của Trần Mộng Tú và Trần Thị Nguyệt Mai

Những cảm tưởng của hai vị nữ lưu, rất chân thành và duyên dáng, sau khi đọc tuyển tập viết về anh Tuấn. Đó là bài thơ cảm đề, viết thảo trên một bức tranh đẹp.

Tuyển tập Y SĨ TIỀN TUYẾN NGHIÊM SỸ TUẤN quả là một bức tranh đẹp, trên đó, đám y sĩ chúng tôi thấy lại hình ảnh của chính mình trong bao nhiêu năm trời ở lính, với những kỷ niệm vui, buồn, những nỗi đớn đau, uất hận, những cảnh tử biệt, sinh ly … Và chúng ta cần phải coi bức tranh này để nhớ lại ngày xưa.

NGUYỄN THANH BÌNH

Montréal, 16.04.2019

Phận người vận nước

vietmessesenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 24 Jan 2026

Dẫn Nhập

viết từ Trái Tim Lửa

Đây là cuốn sách tôi canh cánh viết từ bao năm nay. Mối canh cánh làm nặng lòng bởi một bổn phận không hoàn tất, không còn cơ hội, hoàn cảnh để điều chỉnh, làm lại. Đấy là bổn phận của một Người Lính Thua Cuộc, mà nói cho cùng thì không phải từ khuyết điểm của người lính ấy.

Hình Nguyễn Ngọc Hạnh

Dẫn Nhập.

Viết từ Trái Tim Lửa

Người cộng sản không phải hên may nên đoạt thắng và chúng tôi những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng không hề thua vì kém chiến đấu. Chúng tôi đã thua trận từ những nguyên nhân vượt khỏi trách nhiệm người lính, quá xa tầm súng và sức chịu đựng của chiếc lưng. Chiếc lưng mang khối nặng ba-lô đã khởi đi từ một thuở rất lâu, những năm sau Thế chiến thứ Hai, khi trên thế giới, toàn loài người đang cố gắng chữa trị vết thương, xóa bỏ dấu ấn sự chết.

Từ thời điểm đáng ghi nhớ và cũng đáng nguyền rủa đó, dân tộc Việt Nam, toàn thể những con người sống trên vùng đất chữ “S” vùng Đông – Nam Châu Á bị đẩy vào vũng lửa của một cuộc chiến tranh bị hạ nhục, mạ ly, vu khống và không cân sức. Cho dù tất cả các cuộc chiến tranh đều có chung yếu tính sự Ác và Hủy Diệt, nhưng đây là một trong những cuộc chiến tồi tệ nhất của dòng sống con người. Cuộc chiến vô ích, dai dẳng, khắc nghiệt nhất của lịch sử dân Việt. Và Người Lính Việt Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất.

Gần bốn mươi năm sau khi cuộc chiến chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu. Trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lổ của khắp miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom, miểng đạn, hằng ngày vẫn thấy ra những người tóc ngả màu xám bạc mệt nhọc, mòn mỏi cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh tự chế hoen rỉ bên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che màu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn.

Tệ hại hơn, qua thế kỷ 21, sau hội nghị Thành Đô 1990, thì không phải màu đỏ sắc máu tươi của lá cờ Đảng cộng sản và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với thủ đô Hà Nội mà là màu hồng phấn của Hồng Lâu Mộng, của Đông Phương Hồng, của đảng cộng sản và nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc có thủ đô là Bắc Kinh. Nơi nghĩa trang Quân đội Long Bình Thủ Đức, lũ chó hoang vẫn có thể đào xới, tìm kiếm kéo lê những lóng xương rã mục, Trung Liệt Đài sụp xuống chiếc mái, biến thành nơi tích chứa phân của đơn vị bộ đội cộng sản làm nhiệm vụ khai thác đá và chăn nuôi vùng Tăng Nhơn Phú.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa và thế hệ con, cháu họ vẫn là đám “ngụy tiện dân” bị xếp hạng thứ “13”, trên đứa trộm cắp, giết người lãnh án tù chung thân khổ sai, loại cùng đinh xã hội. Và cuối cùng, ở đây, nơi xứ người, trên đất Mỹ, “những người đi theo diện HO” đã nên thành một giai cấp, một cộng đồng trong lòng một cộng đồng. Một tổng số của tập hợp bị xem nhẹ và coi thường. Chân dung người lính đó từ lâu đã bị ngộ nhận. Hôm nay, chúng ta nên viết lại. Phải vẽ lại đúng vóc dáng kỳ vĩ nỗi chịu đựng lặng lẽ đầy bi tráng này.

Nhưng không chỉ có thế, vào buổi cuối đời, nơi đất Mỹ, đọc lại những điều đã viết từ 1970, 80 sau 1975, khi đi tù về 1989 … Lòng chợt chùng xuống bởi câu hỏi thống thiết: Có ai đã Khổ đến như thế? Có ai đã Đau đến như thế?

“Ai” đây là toàn khối người Việt, không phân biệt Bắc Nam; không phân biệt Cộng Hòa Cộng Sản. Đấy là những thanh niên, thiếu nữ miền Nam thuộc lực lượng thanh niên xung phong đi đào kênh rạch, móc bùn với đôi tay trần gọi là đi làm công tác thủy lợi; đấy là những thế hệ người vượt biên do công an tổ chức, do công an bán bãi và nếu sống sót được trên  đường chạy trốn sau khi bị phát hiện, tàn sát ngoàibiển, trên sông, tấp vào một xóm làng nào đó thì cũng do công an giả dạng đón tiếp, cứu giúp … để cuối cùng bị hiếp (nếu là phụ nữ), giết phi tang sau khi bị trấn lột đến tài sản nữ trang đã nuốt vào bụng, giấu nơi chỗ kín.

Có ai khổ đến như thế với gia đình người chồng thương binh cộng sản, người vợ dũng sĩ diệt Mỹ với con nhỏ bế trên tay, đi bộ hơn trăm cây số từ Lộc Ninh về ngã ba An Xương, Hóc Môn mà mục tiêu cuối cùng là Tòa Thánh Tây Ninh để được có chỗ ngồi ăn xin. Gia đình điển hình của “Bên Thắng Cuộc” này được gặp trong buổi tối mưa dầm trên đường Nhị Bình, Hóc Môn không thể do trí tưởng tượng để viết thành văn chương mà là sự thật phải viết đến. Sợ không viết đủ mà thôi. Nhưng gần bốn mươi năm có đủ điều kiện, cơ sở vật chất và tình thế chính trị, tổ chức Đảng và nhà nước gọi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội kia lại biến tướng nên thành một tổ chức bạo lực, khủng bố cấp nhà nước với một đội ngũ công an được bố trí xuống từng tổ khu phố, kiểm soát giao thông, gác đường, thâu tiền mãi lộ với những viên sĩ quan cấp tá chỉ huy; sĩ quan công an cấp tướng chỉ đạo nhóm côn đồ giả danh an ninh khu phố đi trấn áp biểu tình người dân khiếu kiện.

Những con người khốn khó hàng chục năm giường trời chiếu đất nơi vườn hoa Mai Xuân Thưởng Hà Nội vì nhà cửa ruộng vườn bị cưỡng chế do kế hoạch phát triển sản xuất lên hàng công nghiệp nặng – Thật sự chỉ để vào tay tập đoàn tư bản đỏ gồm nhóm lợi ích, gồm những “thái tử đảng” mới nổi lên từ thành phố miền Nam được “giải phóng” từ sau 1975; từ đồng bằng Bắc bộ bị quy hoạch từ đổi mới sau đại hội Đảng lần thứ 6, lần thứ 11, 12 …

Những đại hội Đảng tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng: Điều 4 Hiến Pháp là bất di dịch – Đảng lãnh đạo toàn quyền trên vận mệnh Dân tộc Việt. Và cuối cùng, những thế hệ người sinh trưởng, lớn lên sau 1975 cũng dần nếm đòn thù cộng sản do phát biểu tiếng lời yêu nước trước họa xâm lăng hiện thực của Bắc Kinh. Những thế hệ người trẻ được giáo dục theo di huấn của ông Hồ Chí Minh về kế hoạch 100 năm trồng người. Viết mấy để cho đủ với Phận Người – Vận Nước Việt Nam.

Thế nhưng, dẫu là một thế hệ thất bại nhưng chúng tôi không hề thất vọng như lời thơ của Nguyễn Chí Thiện viết từ đêm tối giữa ngục tù cộng sản:

Ta vẫn tin đất trời kia chẳng phụ

Công đất vun bồi nuôi dưỡng thân ta

Trong đêm cùng vùng nhiệt đới bao la

Trái tim lửa sẽ bùng lên vạn ánh.

Bởi tin chắc như thế nên cuốn sách được hình thành và Người Đọc hẳn dự phần vào lần cố kết nên Mối Tin Cậy này.

Phan Nhật Nam

Sinh nhật 70 tuổi (1943-2013).

Phan Nhật Nam

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 24 Jan 2026

10. Chương 5

Lưỡi rìu và gốc cây

Cơ quan sưu tầm tin tức của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đều biết rằng Bộ Chánh Trị và Quân Ủy Trung Ương, cơ quan quyền lực tối cao về chiến tranh của Bắc Việt, đang họp ở Hà Nội, họp liên tục từ ngày 18/2/1974 cho đến ngày 8/1/75, ngay tại Hà Nội.

Ngày 8/1 đó, ở Hà Nội cũng như ở Sài Gòn mọi người đều biết kết quả sau cùng của trận chiến ở tỉnh Phước Long: tiếng súng đã hoàn toàn chấm dứt.

Các lãnh đạo đảng cộng sản đều có mặt đầy đủ trong tất cả các buổi họp giữa đại diện Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt và Bộ tham mưu chiến trường Miền Nam gồm cả thành phần chánh trị và quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Về phía chánh trị thì có Lê Duẫn, Trường Chinh, chủ tịch Quốc Hội, Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ. Phía quân nhân thì có các tướng Võ nguyên Giáp, Tổng trưởng Quốc Phòng, Văn tiến Dũng, Tổng tư lệnh, Lê ngọc Hiền Tham mưu trưởng hành quân, và Trần văn Trà, Tư lệnh chiến trường B2 ở Nam Bộ.

Trừ hai tướng Trần văn Trà và Lê ngọc Hiền, còn thì tất cả đều là thành viên của Bộ Chánh Trị. Đảng kiểm soát Quân Đội và các tướng lãnh đều nằm trong guồng máy chánh trị của đảng. Cho nên không thể nào có chuyện “đảo chánh” nhau được vì không ai lại đi lật đổ chính mình được.

Các quân nhân cũng có tham gia vào chánh quyền nhưng với mức độ vừa phải thôi để không có ai vô công rỗi nghề được ở thủ đô Hà Nội.

Các lãnh đạo quân chánh đang hình thành một kế hoạch chiến lược cho hai năm 1975 và 1976. Văn tiến Dũng đã ghi lại như sau:

“Tất cả đều xoay quanh việc đánh giá tình hình của chúng ta ở trong nước cũng như tình hình ở nước ngoài. Nếu chúng ta tấn công mạnh quá thì bọn bù nhìn sẽ phản ứng ra sao ? Câu hỏi căn bản là : Hoa Kỳ sẽ hành động thế nào ?Họ có dám can thiệp hay không ? Hay họ sẽ có kế hoạch nào khác ? Họ có toan tính gì khác không ? Chúng ta sẽ có phương thức nào phù hợp và tốt nhất cho cuộc cách mạng của chúng ta? chúng ta sẽ có kế hoạch nào trong 2 năm sấp tới ?” Các cuộc bàn cãi đã kéo dài rất lâu.

Phạm văn Đồng vừa đi tới đi lui vừa nói:

_ “Nếu phải đánh giá địch, chúng ta vừa phải trả lời nhiều câu hỏi, vừa phải tránh những nhận định cũ. Chúng ta đang ở trong một giai đoạn mới. Hoa Kỳ đã rút hết quân của họ theo đúng Hiệp Định Paris rồi. Với Hiệp Định, họ thấy đó là một thắng lợi của họ. Thế nhưng đây là một thất bại của họ.”

Khi người cộng sản nói với dân chúng thì họ quả quyết rằng Bắc Việt hoàn toàn chiến thắng. Nhưng giữa họ với nhau, những người có ý thức trách nhiệm thì có khác, thắng lợi chỉ tương đối thôi.

Ông Đồng lại nói tiếp,

_ “Bây giờ, Hoa Kỳ không có cách nào can thiệp lại bằng cách gởi quân sang đây nữa đâu. Họ chỉ có thể yểm trợ hỏa lực bằng không quân hay hải quân mà thôi. Mà yểm trợ hỏa lực thì không thể quyết định được thắng hay bại đâu.”

Ông ta cười:

_ “Tôi lại nói đùa nữa rồi đây! Nhưng lần nầy tôi nói thật; Tôi quả quyết rằng Hoa Kỳ không trở lại đây nữa đâu. Cho ăn kẹo cũng không dám!”

Nhờ các công điện của Liên Xô từ Hoa thạnh Đốn chuyển tin về Hà Nội qua trung gian chuyển tiếp của Mạc tư Khoa, và chỉ cần đọc qua các báo Mỹ, Thủ tướng Bắc Việt đã biết rõ là Hoa Kỳ sẽ không còn xử dụng lục quân ở đây nữa.

Trường Chinh, to con, một lý thuyết gia nặng ký của cánh bảo thủ giáo điều, đã phát biểu thật chậm rãi. Với một quyển sổ nhỏ cầm trên tay, ông trịnh trọng khai triển những gì ông đã ghi chú trong đó, thật khoan thai và bình tỉnh như cần phải đánh từng dấu phết cho từng đoạn trong từng câu… Ông nói:

_ “Địch đang bị áp lực của chúng ta đè nặng trên ba mặt: các cuộc tấn công trên phương diện quân sự, khó khăn kinh tế và kỹ thuật, và phong trào nổi dậy của nhân dân…”

Các lãnh đạo đảng biết rất rõ họ đang nói gì khi họ nhắc tới phong trào nổi dậy của nhân dân. Công thức nầy được moi ra từ giáo điều. Các biên bản và các hồ sơ lưu trữ phải được bám chặt vào các điều tuyên bố nặc mùi tuyên truyền này. Sự nổi dậy của dân chúng Miền Nam chống lại chế độ Sài Gòn hả? Đó chỉ là một loại “dĩa bay” trong thời chiến: lúc nào người ta cũng nói đến nó mà không bao giờ người ta thấy được nó!

Trường Chinh lại nói tiếp:

_ “Như vậy là địch sẽ yếu đi một cách nhanh chóng. Quân đội của họ không bao giờ giải quyết nổi cái mâu thuẫn giữa việc rải quân đóng đồn để giữ dân giữ đất với việc tập trung tác chiến lưu động . Tuy nhiên họ vẫn còn mạnh đó. Họ chưa mất bao nhiêu quân số đâu vì họ còn có khả năng tuyển mộ.”

Điều nầy thấy rất rõ: trên chiến trường Miền Nam, Bắc Việt có 350 ngàn quân chánh quy. Họ có thể tập trung toàn bộ để hướng mũi dùi tấn công vào một vài điểm. Còn quân lực Việt NamCộng Hòa và lực lượng Bảo An tính chung là 1triệu 300 ngàn nhưng bị phân tán mỏng trải rộng ra trên toàn lãnh thổ.

Trường Chinh cũng đặt câu hỏi về một sự can thiệp có thể xảy ra của Hoa Kỳ , một ám ảnh không nhỏ đối với cộng sản:

_ “Người Mỹ còn để lại 25.000 cố vấn quân sự ở Miền Nam.”

Nhà cầm quyền Miền Bắc cuối cùng có tin vào những con số mà họ đã dựng lên hay không? Nếu có thì họ tự đầu độc họ mà thôi ! Ở đây cũng vậy, những chuyện hoang đường đó đã trở thành sự thật trong các hồ sơ lưu trữ, và hồ sơ lưu trữ nầy biến thành Lịch Sử (danh từ Histoire được tác giả viết hoa).

Đối với người cộng sản, Lịch Sử không phải là một chuỗi dài sự việc nối tiếp nhau, mà là những gì đúng theo đường lối, tiên liệu và tuyên ngôn của đảng, đúng theo các giáo điều Mác xít cứng ngắt của đảng. Trường Chinh hình như ít theo sát những diễn biến trên sân khấu chánh trị của Hoa Kỳ bằng Phạm văn Đồng, nên ông nói:

_ “Nếu Hoa Kỳ cảm thấy có cơ nguy thì họ sẽ can thiệp. Nhưng họ sẽ gặp khó khăn khi xử dụng lục quân, và họ phải hết sức cẩn thận và bị hạn chế phần nào trong việc xử dụng hải quân hay không quân”

Xuyên qua các biên bản chánh thức của những cuộc thảo luận, người ta ngửi thấy một sự khác biệt bàng bạc giữa một Phạm văn Đồng tinh tế hơn và một Trường Chinh giáo điều hơn, mặc dầu ngôn ngữ của hai người đều giống nhau.

Trong các phiên họp thì mỗi người đều được phát biểu quan điểm của mình, có người phát biểu dài tràng giang đại hải hàng giờ làm như chuyện lập đi lập lại một lời đoan chắc nào đó phải được đánh giá là nặng ký hay phải được coi như một thực tế vậy. Người ta không đắn đo gì khi phải dùng lại lời nói nào đó của một đồng chí khác trong khi họ ngấm ngầm tỏ thái độ không đồng ý. Về sự can thiệp của Hoa Kỳ, một giả thuyết hơi nguy hiểm, thì có một sự thỏa hiệp chung là: có thể có nhưng xác suất không cao. Phải tiếp tục tấn công. Tổng bí thư Lê Duẫn, một nhân vật đầy uy quyền trong Ban Lãnh đạo Bắc Việt đã kết thúc các buổi họp:

  • ” Hai năm thì mau, mà cũng là quá chậm. Chúng ta phải tiến hành cùng một lúc hành động quân sự, chánh trị và ngoại giao. Đó là phương thức mà chúng ta phải áp dụng, phương thức đặc thù của chúng ta.”

Ông ta rất có lý . Đó là phương thức của cộng sản Bắc Việt: cùng lúc mở ba mặt trận, ba gọng kềm hay là “ba mũi giáp công”

Để giúp cho vị trí chánh trị và ngoại giao của CPLTCHMN của họ được thêm phần vững chắc, họ dự định phải chọn một thành phố ở Miền Nam để làm thủ đô. Tây Ninh hay An Lộc ? người ta gác lại quyết định nầy, một phần vì nếu ” thủ đô mới” nầy bị không lực Hoa Kỳ tàn phá thì trên phương diện chánh trị đó là một điều rất phiền.

Dĩ nhiên với sự đồng thuận, người ta chọn kết luận của Lê Duẫn để đưa vào nghị quyết cuối cùng: “Không bao giờ chúng ta còn có những điều kiện quân sự và chánh trị hết sức thuận lợi hơn để đưa chúng ta đến sự thống nhất trong hòa bình.”

Các sư đoàn Bắc Việt vừa nuốt trọn một tỉnh của Miền Nam Việt Nam. Điều khoản về “thống nhất trong hòa bình” của Bắc Việt không thiếu vẻ khôi hài và vô liêm sĩ ! Những người lãnh đạo cộng sản chưa biết họ phải chơi cái trò nào trước , chánh trị ?ngoại giao? hay quân sự?

“…….Chúng ta có đủ quyết tâm và phương tiện để chiến thắng và ngăn cản Hoa Kỳ không cho họ tiếp cứu chánh quyền SàiGòn …”

Quyết tâm thì hiển nhiên đã có rồi, còn ý chí thì luôn luôn là cuồng tín!

Tại Hoa Thạnh Đốn , chánh phủ mạnh nhất thế giới luôn góp mặt hay có hành động khắp năm châu, đang có vô số việc phải lo và phải làm. Các nhân vật có trách nhiệm thường xuyên chú ý khắp mọi nơi. Họ canh chừng Trung Đông, Âu Châu, Trung Mỹ, Phi Châu, nhưng Kissinger thì hơi xao lảng.

Tai Hà Nội chánh phủ chỉ thấy có đoàn kết : chỉ có một mục tiêu từ 30 năm nay, chỉ có một chân trời chánh trị duy nhất là giải phóng cả Đông Dương khỏi sự cai trị của ngoại bang, thống nhất hai Miền Nam Bắc, và xây dựng xã hội chủ nghĩa . Ban lãnh đạo Miền Bắc đã qua được một giai đoạn khó khăn: họ đã thuyết phục được với nhau rồi và năm 1975 họ còn phải khuyến dụ dư luận quốc tế rằng sự thống nhất hai miền Nam Bắc là lẽ sống còn của người cộng sản Việt Nam.

Bản tuyên bố trong nghị quyết cuối cùng có câu:

“Chúng tôi có trách nhiệm đối với dân tộc chúng tôi và đối với các dân tộc trên thế giới” Người ta ngửi thấy ngay bàn tay của Lê Duẫn, một cây cổ thụ trong ban lãnh đạo đảng. Ông ta nói đi nói lại một câu mà không cần biện luận.

Đi đứng hơi nặng nề, phong thái không nhanh nhẹn lắm, Lê Duẫn là một trong những sáng lập viên lịch sử của đảng. Ông ta không có tánh tình xuề xòa nhưng thâm độc như Hồ chí Minh, lại không được duyên dáng như Phạm văn Đồng, hay hòa nhã như Võ nguyên Giáp. Ông là lý thuyết gia, chiến lược gia, sĩ quan tình báo, và phụ trách văn phòng của đảng cộng sản Việt Nam. Ông sanh quán ở Miền Trung Việt Nam, biết rất rõ Miền Bắc và Miền Nam là nơi ông đã tham gia kháng chiến chống Pháp. Là Tổng bí thư đảng cộng sản 15 năm nay , ông đã thay thế Trường Chinh bị hạ tầng công tác xuống làm Chủ Tịch Quốc Hội, vì bị quy trách sát hại trên 40.000 nạn nhân trong chiến dịch cải cách ruộng đất đẫm máu năm 1956. Cộng sản Việt Nam thanh toán những người thù trốt kít hay thuộc các đảng phái quốc gia khác, nhưng không bao giờ họ thanh toán lẫn nhau.

Lê Duẫn đã có đi Liên Xô và Trung Cộng. Ông ta chưa từng biết thế giới phương Tây bao giờ. Ông là giáo sư của cách mạng, chịu ảnh hưởng kiểu cách ăn nói của Staline, nên cứ nhắc đi nhắc lại là ” cộng sản Việt Namcó trách nhiệm trước các dân tộc của thế giới”, hoặc “phải biết khai thác sự mâu thuẫn trong hàng ngũ địch“. Đối với ông ta, biện chứng pháp là một quyền lực siêu linh, là một hấp lực chánh trị để nhào nặn và uốn nắn thế giới nầy. Vào tháng đầu năm 1975 nầy, chiến thắng đã được thấy rõ rồi nhưng phải làm thế nào đây để tránh những sự thất vọng như những cuộc tấn công năm 1968 và 1972. Việc khai thác mâu thuẫn đã không được tiến hành đến nơi đến chốn. Đối với Lê Duẫn sự thay đổi xã hội ở Việt Namphải thông qua sự biến chuyển quân sự. Đã có nhiều thời điểm đúng với biện chứng pháp rồi, như năm 1968, 1972 và 1976. Chế độ của ông Thiệu không thể nào không sụp đổ được . Trận tấn công hồi Tết Mậu Thân là một chiến thắng chánh trị nhưng lại là một thất bại về quân sự của cộng sản. Võ nguyên Giáp đã thú nhận là cộng sản đã bị thiệt hại trên 40.000 chiến binh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – điều nầy đã giúp Hà Nội giải quyết xong bài toán: số lượng quan trọng về nhân sự của Mặt Trận. Cho tới lúc các cán bộ của Mặt Trận bị nghiền nát hết thì Lê Duẫn mới thấy được là Lịch Sử đã chuyển động. Hơn tất cả các lãnh tụ cộng sản khác, theo Lê Duẫn thì định mệnh của các quốc gia Đông Phương chuyển theo số mệnh nào đó của Tây Phương. Lê Duẫn dường như bị lời tiên tri của bản tuyên ngôn cộng sản lôi cuốn mạnh hơn Hồ chí Minh và sâu hơn cả Phạm văn Đồng. Tất cả những bản văn của ông ta đều chứng minh điều đó:

“Những điều kiện khách quan cho thấy sự thành công của cách mạng ở Việt Nam đã gần kề, mặc dầu đảng chưa được mạnh lắm , quân đội còn có nhiều khó khăn và nhân dân đã uể oải. Còn hàng chục thứ khác nữa, nhưng chiến thắng đã lộ rõ ra rồi, không có gì lay chuyển nổi.”

Hiệp Định Paris ư? Chỉ là hợp thức hóa cho cộng sản mua thời gian không hơn không kém, một loại nguyên liệu mà họ đang cần, lại dẫn tới sự rút quân của Hoa Kỳ, một giai đọan gần như cuối cùng của tiến trình chiến thắng. Lê Duẫn có thể cho thấy rõ sự kiêu hãnh phi thường của đảng cộng sản Việt Namđối với các đồng chí của mình và ngay cả với các đồng chí Liên Xô, Trung Quốc, Nam Tư hay Đông Đức nữa. Nếu cần ông ta sẽ chỉ trích cả Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, những nước đang chơi trò đu đưa mất thì giờ với Hoa Thạnh Đốn. Ông ta thuyết phục các cán bộ đảng rằng chỉ có người Việt Nam mới nắm giữ đúng phương thức Mac xít nhất. Ông ta không bao giờ tin ở thuyết “sống chung hòa bình”, mà ông gọi là một phát minh buồn nôn của Khrouchev. Ông ta tuyên bố là cách mạng thế giới đã ở trong tầm tay. “Cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam là mủi dùi tấn công của quân đội cách mạng thế giới” . Ông lái con thuyền Việt Nam giữa sự chệnh hướng của Liên Xô và những sự lầm lỗi của Trung Quốc, và ông giữ vững tay lái.

Nghị quyết tháng giêng năm 1975 công bố một “nhiệm vụ lịch sử” của cộng sản Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc trên thế giới. Khi ông Phạm văn Đồng tiếp các khách ngoại quốc, thì ông tự chứng minh trước hết ông là một người quốc gia, còn Lê Duẫn, đặc biệt khi nói với những người cộng sản khác thì ông không cần dấu diếm gì cả: ông đang suy nghĩ và đang hành động như là một người cộng sản quốc tế.

Sau các phiên họp về chánh trị, hội nghị ở Hà Nội bắt đầu xem xét các bài toán quân sự.

Cũng nhiều.

Tướng Trần văn Trà nêu lên các khó khăn trong hiện tại cũng như trong thời gian đã qua, Ít có cấp lãnh đạo quan trọng nào chân thật như vậy:

_ “Vì phải hoạt động liên tục từ tháng 4/1972, cán bộ và binh sĩ của chúng tôi đã mệt mỏi, chúng tôi không có thời gian để thay thế cán bộ được. Tất cả các đơn vị của chúng tôi đang xao xuyến, chúng tôi đang thiếu nhân công, thiếu thốn lương thực và đạn dược. Do đó thật rất là khó khăn khi phải đương đầu với các cuộc tấn công của địch. Có đôi lúc chúng tôi phải tháo chạy để cho địch có cơ hội kiểm soát lại một số dân”

Đây là ông nói về tình hình chánh trị và quân sự sau khi Hiệp Định Paris được ký kết.

Tướng Lê quang Đạo Ủy viên chánh trị trong Quân Ủy Trung ương, ngắt lời tướng Trà và đưa ra một loạt đề tài cũ rích:

  • Chúng ta phải giải quyết mâu thuẫn thường xảy ra giữa cấp chỉ huy quân sự và chánh trị viên trong đơn vị.

Loại đề tài nầy làm cho tướng Giáp bực bội, ông thích nghe phần trình bày kế tiếp của tướng Đạo.

  • Một số lớn sĩ quan thiếu sự hiểu biết về kỹ thuật khi đối diện với loại chiến tranh mới của thập niên 70. Khi bộ đội Bắc Việt chúng ta dùng chiến xa năm 1972, họ đã vấp phải nhiều lỗi lầm. Họ đánh giá thấp sự tác chiến của binh sĩ Miền Nam.
  • 90 % bộ đội chánh quy của chúng ta ở trong Nam cần phải tác chiến tốt hơn trong hợp đồng binh chủng, vì có cả bộ binh, pháo binh và chiến xa trên chiến trường.
  • Cần phải làm tốt hơn khâu tiếp vận, và các chiến cụ phải được đồng nhứt với nhau. Bắc Việt chúng ta không có sản xuất chiến cụ được . Các quốc gia xã hội chủ nghĩa bạn giao cho mình đủ loại đạn dược mà có những loại đạn không đúng với lòng súng.
  • Và cuối cùng dĩ nhiên là phải hoàn tất khâu huấn luyện cho mọi người , từ sĩ quan cho tới anh bộ đội.”

Mười năm trước, năm 1965, trong quân đội nhân dân, cứ 8 anh bộ đội thì có 1 cán bộ. Bây giờ thì 1 cán bộ cho 6 bộ đội. Phẩm chất phải chạy theo số lượng. Từ tháng giêng năm 1973, bộ đội Bắc Việt ở trong Miền Nam được tăng lên gấp đôi, và tướng tư lệnh được một số xe thiết giáp 7 lần nhiều hơn, 700 chiến xa, hầu hết là T 54 và T 55.

Về tiếp vận, thì đường mòn Hồ chí Minh đang trong tình trạng tốt – người Miền Bắc giữa họ với nhau thường gọi là hệ thống đường 559, vì người ta bắt đầu xây dựng năm 1959- Có những đoạn còn khó xử dụng sau tháng tư vì lúc đó trời mưa.

Người ta quyết định chuyển nhiều đơn vị công binh đang giữ đường mòn Hồ chí Minh nằm trong địa phận Lào và Cam Bốt về trực thuộc vào các đơn vị tác chiến ở chiến trường Miền Nam. Quyết định quan trọng: tướng Văn tiến Dũng sẽ chỉ huy các cuộc hành quân ở Miền Nam trong những tháng tới.

Trong trận chiến ở Phước Long, đã có nảy sanh ra nhiều bất đồng về chiến thuật. Tướng Trà không nhận được đủ số chiến xa mà ông đòi hỏi. Tướng Lê ngọc Hiền giữ lại gọi là dự trữ một số vũ khí, đạn dược nhất là chiến xa và pháo binh -giống như các tướng lãnh của Miền Nam Việt Nam– Tướng Dũng nhìn xa tới năm 1976 nên chấp thuận ý kiến của vị tư lệnh hành quân của mình – .

Các chiến lược gia của Hà Nội phân năm 1975 ra làm 3 giai đoạn:

_ giai đoạn đầu: tới tháng 2, thuộc chiến trường của B2.

_ giai đoạn hai: từ tháng 3 đến tháng 6, phải tiến hành một số cuộc hành quân bao gồm khắp cả lãnh thổ Miền Nam

_ giai đoạn ba: từ tháng 7 trở đi, là một giai đoạn hoạt động hạn chế để chuẩn bị cho năm 1976.

Trong viễn ảnh một “cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy đi tới chiến thắng năm 1976” tướng Hiền đã thiết lập kế hoạch phân phối đạn dược loại súng lớn: 10 % cho năm 1975, 45% cho năm 1976, còn lại là dự trữ. Người Miền Bắc đúng là tiết kiệm và lo xa như những con rái cá. Nhưng sau chiến thắng Phước Long, họ bắt buộc phải thay đổi hết các sự toan tính nầy. Tướng Trà sẽ nhận được nhiều đạn dược hơn dự trù, 27.000 tấn thay vì 11.000 tấn cho năm 1975.

Tầm quan trọng của chiến thắng Phước Long đẩy các nhà lãnh đạo Bắc Việt phải kéo dài thêm hội nghị sau ngày 8 tháng giêng.

Tướng Văn tiến Dũng giải thích quan điểm của Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt. Ông đề nghị tập trung một lực lượng hùng mạnh, quét mạnh để mở một “hành lang Kontum” từ đó dẹp tan địch để giải phóng tỉnh Kontum. Sau đó sẽ đè nặng áp lực lên Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật ở Pleiku. Như vậy họ sẽ giải phóng được một phần lớn Miền Tây Nguyên. Pleiku và Kontum nằm rất gần vĩ tuyến 17, biên giới của 2 nước Việt Namvà rất gần với hậu cứ Bắc Việt của họ, dưới 100 cây số. Như vậy họ có thể tập trung dễ dàng chiến xa trong vùng nầy.”

Ý tướng Dũng là muốn giữ những đường tiếp vận càng ngắn càng tốt. Do đó ông ta chọn mục tiêu Pleiku và Kontum. Tướng Trần văn Trà, tuy là tướng của Bắc Việt nhưng hiện là đại diện cho binh sĩ ở trong Nam, không có cái nhìn giống tướng Dũng:

_ “Ông đánh giặc theo lối vua chúa! Ông chỉ quan niệm là dùng một quân số khổng lồ và hàng tấn đạn cho một trận tấn công. Khác hẳn với chúng tôi, những người lính khổ ở một chiến trường xa xôi rất khó khăn khi phải đếm từng viên đạn. Tấn công Kontum và Pleiku là đưa mình vào một điểm cực mạnh của địch . Ở đó địch đã phòng thủ kỹ lâu rồi, họ đang chờ chúng ta trong thế mạnh đó.

Tướng Trà đề nghị một phương án khác:

_ “Tấn công vào Ban mê thuột là đánh một đòn bất ngờ mà địch không thấy được. Đó là ta đánh sau lưng địch, đánh vào hậu phuơng của địch, nơi mà họ không có chờ chúng ta. Đó là cách ta đốn cây bằng lưỡi rìu ngay ở sát gốc. Sau đó cành lá tự chúng nó sẽ rơi rụng thôi.

Những cuộc bàn cãi về các phương án quân sự cần phải theo tiếp theo chiến thắng Phước Long được tiếp tục tiến hành. Ngày 15 tháng giêng, tướng Trần văn Trà và Phạm Hùng bí thư đảng bộ Miền Nam, tức là lãnh đạo về mặt chánh trị, cả hai đi gập Lê Duẫn (các bản phúc trình gọi là anh Ba). Cũng chưa quyết định. Lê Duẫn nhấn mạnh phải tấn công vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, phía Nam Sài Gòn , nhắm vào các thành phố. Ông có hàm ý nhìn nhận rằng sự nổi dậy của dân chúng vẫn còn là một bài toán:

_ “Trong địa bàn thành thị, ta phải đặt hết trọng tâm vào phong trào quần chúng để biến họ thành dòng thác. Phải dùng đàn bà con nít, học sinh sinh viên, thợ thuyền.. làm mũi dùi của cuộc đấu tranh nổi dậy.”

Tướng Trà lại thuyết phục Lê Duẫn về ý định tấn công Ban mê Thuột. Bộ Chánh Trị họp xét. Tại Bộ Tổng Tham Mưu và ở Quân Ủy Trung ương người ta cũng họp để thảo luận. Một điều chắc chắn là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp bằng bộ binh.

Ngày 20 tháng giêng, Phạm Hùng và tướng Trà, đại diện CPLTCHMN đi gặp Lê đức Thọ. Ông nầy thông báo cho hai người biết là đã có quyết định. Mục tiêu tấn công sắ p tới sẽ là Ban mê Thuột.

_ “Tôi đã đến họp với Quân ủy Trung ương để cho họ biết là Bộ Chánh Trị đã quyết định mục tiêu cuộc tấn công nầy rồi. Tình hình quốc tế rất là phức tạp. Chúng ta phải giới hạn các cuộc đánh nhau trong năm 1975.

Các nhà chánh trị quyết định, các quân nhân chỉ có việc thi hành. Với Văn tiến Dũng và bộ tham mưu, thì binh sĩ của họ sẽ ở khá xa các căn cứ không quân của vùng Sài Gòn. Bắc Việt cũng có không quân nhưng họ không bao giờ xử dụng dưới vĩ tuyến 17.

Ngày 24 tháng giêng, tướng Trà lên đường trở về Nam Bộ, về Bộ Tư Lệnh chiến trường B2 của ông ta. Tướng Trà và Phạm Hùng đã cân nhắc để xin được quyết định tấn công vào Ban mê Thuột.

Họ đã suýt không tham dự được phiên họp ở thủ đô Bắc Việt. Vào tháng chạp, tư lệnh hành quân Bộ Tổng Tham Mưu ở Hà Nội đã gởi cho họ một công điện để cho họ biết là khỏi cần lên Thủ Đô. Họ không nhận được công điện đó. Trên đường ra Bắc, dọc theo đường mòn Hồ chí Minh, họ không gặp được người của Bộ Tổng Tham Mưu, Lương văn Nho, người có nhiệm vụ phải trao cho họ công điện đó và cả chỉ thị “liên quan đến kế hoạch cho năm 1975”, kế hoạch nầy sơ khởi không có dự trù một cuộc hành quân qui mô nào.

Tướng Trà rất thỏa mản khi nhận được vũ khí và đạn dược bổ túc. Các phiên họp đã làm ông phát khùng lên. Là một tướng hai sao của quân đội chánh quy Miền Bắc, vì đại diện cho CPLTCHMN, ông phải giữ đường hướng và những quyền lợi của tổ chức nầy đến một mức độ nào đó thôi.

Dáng người trung bình, mặt tròn, tánh tình vui vẻ, 57 tuổi, tướng Trà vừa bồn chồn khi phải dậm chân tại chỗ trong thời gian ở trại Davis, vừa phải đương đầu dụng mưu đấu trí với Ủy Ban Quốc Tế và các Ban Liên Hợp 4 Bên và 2 Bên.

Trần văn Trà là người đã tổ chức trận tấn công vào SàiGòn hồi Tết Mậu Thân 1968, và ông vào Nam chiến đấu từ năm 1959. Trong cái CPLTCHMN trong Nam Bộ, ông là nhân vật số 2 sau Phạm Hùng. Trong hệ thống cộng sản Việt Nam ở cấp nào cũng thế, chánh trị vẫn đứng trước quân sự. Nhưng lúc ở mặt trận, từ cấp sư đoàn trở xuống đến trung đội, thì quân sự có quyền hơn chánh trị . Trong thời gian ở trại Davis, để trả lời cho các phóng viên Tây Phương, ông Trà đã dùng những câu hóm hỉnh hơn là những công thức cứng đờ như cái lưỡi cây của cộng sản. Ông rất thích chụp ảnh như ông Thiệu. Ông rất thích thú khi nhờ mua được hai máy Polaroid, một loại máy chưa được biết ở Hà Nội. Ông sẽ dùng máy nầy cho chiến dịch sắp tới của ông nhưng chỉ là phim đen trắng thôi.

Sau mấy tháng ở trại Davis, tướng Trà lại trở vô bưng. Hồ sơ của ông trong các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa chỉ thấy toàn là dấu hỏi. Ông vốn là con nhà chài lưới, đi làm công nhân hỏa xa. Ông phục vụ trong đảng bộ cộng sản Nam Bộ, sau Hiệp Ước Genève 1954 ông tập kết ra Bắc và theo học các trường quân sự để trở thành Sư trưởng sư đoàn 320. Ông là thành viên trong Quân Ủy Trung Ương, nhưng không có chân trong Bộ Chánh Trị. Vì nhu cầu giữ bí mật trong các hội kín nên những người cộng sản Việt Nam thường dùng bí danh, mà Hồ chí Minh là người đầu tiên. Tướng Trà có nhiều bí danh như Tư Chí, Mười Trí. Đôi khi để đánh lạc hướng ông còn chơi ngông dùng ngay tên thật của những tướng lãnh Bắc Việt khác, như của tướng Trần nam Trung.

Trên đường về Bộ Tư Lệnh của ông, ông nhận thấy đường mòn Hồ chí Minh, hay đường 559, giờ đây ở trong tình trạng rất tốt. Khởi thủy, vào những năm 50, con đường nầy chỉ là con đường đất. Từ 1959 nó đã trở thành một hệ thống đường rộng lớn. Hai đường lớn song song nhau chạy về hướng Nam. Trong 3 năm sau cùng, công binh Bắc Việt đã thiết lập thêm nhiều đường ngang từ Tây sang Đông, dẫn tới sát bờ biển Huế và Đà Nẵng. Có nhiều đoạn có thể bọc vòng quanh một vài thị trấn hay các vị trí quân sự của quân lực VNCH . Trong vòng 16 năm các đường mòn đã biến thành đường đất, đường đất thành đường lộ, và đường lộ đã trở thành xa lộ. Các xe vận tải có thể chạy ba bốn hàng. Song song bên cạnh đó còn có đường cho người đi bộ. Cứ cách 8 tiếng đi bộ là có các trạm nghỉ, trạm gác, trạm tiếp tế. Bộ tham mưu đã điều về đây nhiều tiểu đoàn phòng không để giữ an toàn cho con đường nầy nhất là từ tháng giêng 1974.

Tướng Dũng nói là “Miền Bắc đã dùng hằng ngàn cơ giới đủ loại như xe ủi đất, hằng chục ngàn binh sĩ, thợ thầy, kỹ sư và những người tình nguyện trẻ ” Tình nguyện hay không tình nguyện thì khối người làm đất, công binh, thợ điện nầy đều gập rất nhiều khó khăn như oanh tạc cơ B52, gió mùa, hay tiếp tế không đủ ăn, bệnh rét rừng trong lúc Bắc Việt lại không có đủ thuốc ký ninh cho họ. Với một sức chịu đựng dẻo dai và lòng kiên nhẫn phi thường, khối người đó đã bạt núi san bằng những đoạn tưởng chừng không thể vượt qua được , vận chuyển các tảng đá, đốn cây, xây cầu, làm phà, và đào cả hầm trú ẩn nữa. Người Việt Nam thật là dẻo giai, chịu đựng hết mọi thứ mệt nhọc. Họ được huấn luyện, khuyến khích, ghép thành đội ngũ và có kỹ luật sắt, họ làm việc rất hăng say và tận tụy. Đám lao công nầy đàn bà cũng như đàn ông đều hy sinh một cách cuồng tín như đám dân công trước kia đã từng vác súng đạn xuyên rừng núi đến Điện Biên Phủ vậy.

Tướng Dũng hãnh diện mô tả công tác sửa sang đường 559, và những lời nói của ông ta được xác nhận qua các không ảnh mà phi đội thám sát Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã chụp được.

_ “Đường nầy rộng 8 thước. Các xe vận tải lớn, các quân xa hạng nặng đều chạy được cả 2 chiều, với tốc độ cao. Họ đã chuyên chở đêm ngày hàng ngàn tấn đến tận chiến trường để yểm trợ cho chiến dịch lớn.” Bộ tham mưu Bắc Việt hình như rất bằng lòng với cách thức họ đưa được xăng dầu vào Nam Bộ:

Dọc theo con “đường chiến lược nầy” chạy dài một ống dẫn dầu nối liền Quảng Trị đến Lộc Ninh, đủ sức tiếp tế cho hằng chục ngàn xe đủ loại đang xử dụng con đường nầy . Thật là một điều nghịch lý, quân đội của một nước nhỏ chậm phát triển, thiếu thốn đủ mọi thứ, lại có một đường ống dẫn dầu quân sự tốt nhất thế giới.

Tướng Võ nguyên Giáp và Văn tiến Dũng trước hết là những người tiếp vận giỏi, lại có binh sĩ hy sinh phục vụ tận tâm. Còn người Mỹ không bao giờ thành công trong việc vô hiệu hóa con đường nầy, đó là một thất bại lớn về mặt chiến lược của họ. Đứng trước một kẻ địch có quyết tâm như vậy , với tất cả kỹ thuật hiện đại trong tay mà họ không làm sao cắt đứt được một hệ thống giao thông ngang dọc trên 10.000 cây số của đường 559 nầy. Từ năm 1959, người Mỹ thất bại trong việc bẽ gãy đường mòn Hồ chí Minh, dù đã xử dụng phương tiện điện tử tối tân hiện đại nhất. Thì làm sao Việt NamCộng Hòa làm được việc đó trong năm 1975?

Trong tuần lễ cuối cùng của tháng giêng, tại Hà Nội, Lê Duẫn tiếp tướng Văn tiến Dũng tại nhà riêng. Ông tổng bí thư hỏi tướng tổng tư lệnh: “ liệu lực lượng mà ông có trong tay có đủ để tấn công Ban mê Thuột hay không?

_ “Với những gì chúng ta có, cũng được rồi, tướng Dũng trả lời. Nếu biết xử dụng thì có thể phần may mắn sẽ về phía chúng ta.

Ông Tổng bí thư xem chừng như chưa tin chắc lắm về chiến thắng nầy.

Sau đó tướng Dũng đi gặp ông Lê đức Thọ. Bộ Chánh Trị đã có quyết định là đưa vào Nam nhân vật đã từng thương thuyết ở Paris. Cũng vẫn một phương thức cũ : một quân nhân được một nhân vật chánh trị theo kèm bên cạnh. Nói về cuộc tấn công sấp tới, mà dưới nhãn quan của mình ông thấy chưa phải là cuộc tấn công cuối cùng, ông Thọ nói:

_ “Nếu ta thắng ván bài lớn nầy, chúng ta sẽ tạo được một thời cơ mới rất có lợi cho chúng ta.” Và vẫn nhã nhặn ông nói tiếp:

_ “Anh hãy giữ mình cẩn thận nghe!

Lê đức Thọ hiện là một nhân vật khá quan trọng trong đảng và là một trong những người có thể thay thế cho Lê Duẫn. Năm nay ông ta 64 tuổi. Ở Paris trong suốt gần 5 năm mật đàm hay thương thuyết công khai vừa là kẻ thù vừa a tòng với Kissinger, ông ta đã mê hoặc ông tổng trưởng ngoại giao Hoa Kỳ qua thái độ ngạo mạn rất lạ kỳ của ông mà Kissinger đã nhận ra được. Ông ta còn tự cho phép mình lên mặt thầy đời với Kissinger nữa. Trong một pha mật đàm ở nhà của ông Jean Sainteny, ông Kissinger lên giọng giáo sư, nói oang oang lên: “Tôi nói là….ông Tổng Thống muốn….. Ông đòi hỏi phải……” Như một lãnh chúa, trong bộ áo cổ cao, rất thản nhiên Lê đức Thọ lắng nghe Kissinger nói. Xong ông trả lời rất nhẹ nhàng:

“Thưa ông Kissinger, ông có thấy tóc tôi đã bạc hết rồi hay không? Tôi đã có tuổi đời lâu rồi, tóc của ông vẫn còn đen quá. Ông còn phải học nhiều nữa. Những gì mà ông vừa nói với tôi, tôi cũng đã nghe qua rồi, nhưng bằng một ngôn ngữ khác. Ông hãy nghe đây: Người Pháp đã nói với tôi y như giọng của ông hôm nay vậy đó, người ta đã nói với tôi những chuyện đó, bây giờ ông lại nói lại với tôi nữa.” Ông Kissinger không bao giờ luống cuống, ông ta hạ thấp giọng và nói một câu “Thưa Ngài” với một ông Lê đức Thọ đang thích thú.

Người Mỹ được bầu lên thì chỉ làm việc trong một thời gian có hạn định vài năm thôi, còn Lê đức Thọ cũng như những người trong ban lãnh đạo đảng ở Bắc Việt , ông ta đã làm việc quá lâu rồi. Hồ chí Minh đã từng xác nhận là người cộng sản phải phục vụ trong 10 năm, 20 năm, 30 hay 50 năm là thường. Ban Lãnh đạo đảng đã tránh những cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ của họ. Lê đức Thọ là người sanh trưởng ở Miền Bắc, vào đảng từ năm 16 tuổi, ông được người Tây Phương biết nhiều từ khi ông đạt được nhiều thành quả ở Paris. Lê Duẫn chỉ huy chiến trường trong Nam cho đến năm 1953, thì Lê đức Thọ vào thay ông. Thành viên của Bộ Chánh Trị từ năm 1955, Lê đức Thọ đề ra một chiến lược tổng quát, đúng theo phương thức của Bắc Việt là “vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, đánh đánh đàm đàm”. Đây là một dấu hiệu đang đi lên của ông: tên ông đứng trước tên ông Giáp trong danh sách tiểu ban lo về đám tang Hồ chí Minh.

Thời cơ đến với ông vào năm 1975. Một người có tầm cỡ như ông Thọ được đưa vào Miền Nam. Hơn hẳn các người khác ở Hà Nội ông Thọ có đủ thông số quốc tế.

Trước khi Lê đức Thọ lên đường đi vào chiến trường Miền Nam, Lê Duẫn nói với ông ta: – “Đừng trở về đây trước khi thắng trận nầy nghe ! Bây giờ chúng ta đang gặp một cơ may lịch sử. Cơ may nầy không bao giờ ta gặp lại trước 10 ngàn năm nữa đâu”

Ít nhất điều nầy cũng đã đảng xác nhận về sau.

Tây Phương còn nói nhiều đến ông Võ nguyên Giáp. Năm 1975, yếu đau, ông bị gạt ra ngoài các cuộc hành quân. Trong lúc tướng Văn tiến Dũng trẻ hơn với tuổi 58, đã là đại tướng bốn sao hồi năm trước. Ông Giáp cũng là đại tướng bốn sao. Là một nông dân thật sự – thấy rõ qua giọng nói của ông- Văn tiến Dũng đã làm việc trong một nhà máy dệt như là một thợ điện, một người thợ giỏi, một quý tộc của giai cấp vô sản. Ông vào đảng cộng sản Đông Dương lúc còn trẻ. Bị bắt, ngồi tù, được thả ra, bị bắt lại và lợi dụng việc chuyển trại ông trốn khỏi nhà tù, đến trốn trong một ngôi chùa, ở đó ông sống hai năm như một nhà sư Phật giáo. Sau đó ông là chánh trị viên và tiếp đó chỉ huy trưởng một trong các sư đoàn việt minh có tiếng nhất , sư đoàn 320. Năm 1972 ông là thành viên Chánh trị bộ và chỉ huy chiến dịch lớn đánh chiếm Quảng Trị. Nhưng nhờ oanh tạc cơ B 52, Miền Nam Việt Nam đẩy lui được cuộc tấn công. Từ đó tướng Dũng lo canh tân quân dội Miền Bắc, rút ra được những bài học từ những thất bại và đã đi thực tập ở các trường cao đẳng quân sự Liên Xô. Ông đã học được phương thức chỉ huy và tác chiến hợp đồng binh chủng cấp sư đoàn. Các tùy viên quân sự ở Hà Nội cho rằng ông là người dễ mến, có sáng kiến và có kiến thức hơn tướng Giáp. Các nhân viên ngoại giao đều thì thầm với nhau là tướng Dũng và tướng Giáp đều nghiêng về Liên Xô hơn. Tướng Dũng là một quân nhân nhà nghề. Liên Xô cung cấp tới 95% chiến cụ nặng gồm máy bay, pháo binh và chiến xa. Dĩ nhiên tướng Dũng với tư cách là tổng tư lệnh phải rút tỉa ra những bài học cần thiết cho quân đội Bắc Việt trong việc xử dụng chiến cụ nầy. Nhiều cuộc tranh luận giữa phe nghiêng về chuyên nghiệp quân sự và phe nghiêng về ý thức hệ, (bên Hồng bên Chuyên). Cũng như đa số các sĩ quan cấp tá và cấp tướng, Dũng nghiêng về bên Chuyên: kỹ thuật quân sự đối với ông là quan trọng hơn các tài liệu của Mác. Trước khi đi vào Nam, tướng Dũng đã có một buổi nói về quy tắc về chuyên ngành trong quân đội. Ông nói:

_ “Sau khi nghiên cứu về những đặc tính của chiến tranh hiện đại, Lénine đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thành lập một quân đội chánh quy cho một nhà nước của giai cấp vô sản. Trong đại hội đảng kỳ 8 của đảng cộng sản Liên Xô, Lénine đã đánh bại hết những đối thủ quân nhân trong nội bộ đảng, những người muốn binh vực một quy chế nhằm bầu lên các vị chỉ huy, nhằm giữ một kiểu cách và hành động du kích chiến, những người chống đối kỷ luật quân sự, những người chống đối lại việc thành lập một quân đội chánh quy của giai cấp công nông, một quân đội đỏ mà Lénine đang binh vực. Tướng Dũng đã thận trọng nêu lên truờng họp của Lénine, muốn mỗi người sĩ quan trước hết phải là một kỹ thuật gia, phải chuyên hơn là hồng. Danh từ chính yếu phải dùng là “quân đội chánh quy”. Kỳ dư nào là “chánh quyền của giai cấp vô sản” nào là “quân đội của giai cấp công nông” tất cả đều là chất độn. Tướng Dũng rất dứt khoát với quan điểm của mình. Tuy nhiên để tránh khỏi bị gán cho là thành phần “xét lại” ông ta kết luận một câu rất lạ kỳ : “Tính nhà nghề của quân đội chánh quy của tất cả quân đội phản ảnh trước tiên là bản chất của giai cấp của quân đội đó”

Giống như tất cả các quân nhân lên đến một cấp nào đó, ở quân đội Miền Bắc cũng như ở quân lực VNCH tướng Dũng biết rõ tác phẩm của Tôn Tử, một người Trung Hoa, đã viết về nghệ thuật chiến tranh cách đây hai ngàn năm. diễn tả những quy củ của chiến tranh mà ông coi là một nghệ thuật chớ không phải một học thuyết, nhưng nghệ thuật đó phải căn cứ trên những dữ kiện khoa học. Tôn Tử là một người Trung Hoa. Hầu hết những người Việt Nam không thích nhắc tới món nợ đối với nền văn hóa của Trung Hoa. Do vậy mà tướng Dũng mới ám chỉ đến Carl von Clausewitz, hiện đại, ông lại lợi dụng lý thuyết của Lénine -trong đó có cả Marx và Engels, một tính chính thống quyết phải có ở Hà Nội. Ngoài giáo điều chính thống đó, người ta còn học Clausewitz trong các trường đại học của Liên Xô. Sự kết hợp chánh trị và quân sự của ông tướng người Phổ đã cảm hóa được một người cộng sản Việt Nam, nhứt là ý kiến cho rằng : “chiến tranh là một sự tiếp nối của chánh trị quốc gia với những phương tiện khác hay với sự pha trộn với các phương tiện khác”

Tôn Tử nói: “Hãy tìm một con đường gián tiếp đồng thời phải đánh lạc hướng địch bằng cách dùng mồi nhử địch. Như vậy ta có thể đi sau địch mà lại đến trước họ. Người nào biết hành động như vậy là hiểu được chiến lược trực tiếp và gián tiếp.”

Clausewitz viết: “Chiến thắng không nhất thiết chỉ thắng địch trên chiến trường, mà là sự tiêu diệt tiềm năng vật chất và tinh thần của họ, một sự tiêu diệt mà người ta thường chỉ thực hiện được sau khi hoàn tất chiến thắng trên chiến trường.” Tướng Dũng là một người chăm chỉ đọc Tôn Tử và Clausewitz.

Trời cao đất dày

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 24 Jan 2026

Google image

2. Chuyến trở về sau cùng

Người tài xế mở mắt nhìn lên kính xe, ánh nắng chói lòa chiếu từ trên mái nhà tôn xuống. Tiếng động buổi sáng rì rầm trong khu trại lính. Anh ta trở dậy, những khớp xương mỏi nhừ, với tay gấp chiếc màn nhỏ lại, mở cửa xe, ngồi trước tay lái. Một con gà đang thơ thẩn kiếm ăn trước mũi xe bỗng đập cánh vươn cao cổ gáy, tiếng gáy nhỏ và yếu, lạc lõng. Người tài xế xuống xe, với chiếc khăn mặt nhỏ bẩn thỉu vắt nơi tay lái xuống, nhìn quanh quất, anh tiến lại chiếc vòi nước nơi phía gần tường cao với những hàng dây thép bao phía dưới, chăng phía trên, anh ta bỏ đầu vào và mở nước cho nước chảy sối sả. Anh ta háp miệng lấy một ngụm nước đầy rồi ngửa cổ súc, tiếng nước kêu sục sục trong miệng trước khi anh ta nhổ mạnh nước ra xa. Lau mặt, vuốt tay lên mái tóc, anh ta trở lại leo lên lòng xe đánh thức người bạn đồng hành. Người lính nằm dài trên băng, quấn kín người bằng chiếc màn nhỏ, quần áo và giày vẫn còn ở trên người, chiếc mũ sắt và khẩu súng ở ngay bên cạnh.

– Dậy đi thôi.

Người lính nằm vùng dậy, dụi mắt nhìn chung quanh lơ đãng trong khi thu màn bỏ vào chiếc ba- lô. Người tài xế kéo ngay lại chiếc quốc kỳ xô lệch trên cỗ quan tài để giữa lòng xe, lá cờ ngắn không đủ che hết cỗ quan tài gỗ, đứng lên, người lính đu người nhảy xuống, chiếc quần vướng vào vòng hoa để bên kéo theo xuống, vòng hoa đã héo để phơi ra chiếc khung làm bằng dây kẽm gai, mấy bông hoa giấy đỏ, hoa dại trắng rơi vãi trên nền đất bột.

– Mẹ, vòng hoa bằng kẽm gai nữa.

Người tài xế ngồi yên trên băng ghế lấy gói thuốc ra rút một điếu châm hút. Người lính bỏ chiếc vòng hoa trở lên xe. Quà tặng của tiểu khu gởi cho người chết, mỗi lần có chiến sĩ hy sinh, nơi phòng tâm lý chiến lại có một công tác, lính được phái đi lấy về những thứ hoa tạp nhạp, bất cứ hoa gì và xúm nhau lại cố gắng làm lấy một vòng hoa tang, những hoa dại mọc trên những bờ tường, nơi hàng rào, mấy bông vạn thọ trong sân tiểu khu, mấy bông sứ trong sân ngôi chùa bỏ hoang ở ngài ven thị trấn. để có được một vòng hoa không phải là một công việc dễ dàng trong tỉnh lỵ nhỏ bé nghèo nàn.

– Đi chưa?

Người lính đứng dưới sân hỏi lên. Người tài xế nhìn xuống khói thuốc thở ra trên hai lỗ mũi:

– Đi cho rồi, trưa có thể về tới nơi, để kiếm chút xăng nhớt đã chứ. Sao không táng nó trên đó cho rồi, chết là hết, bày đặt làm gì.

– Đừng nói thế, nó nghe thấy nó buồn.

– Chết rồi còn biết buồn?

– Sao lại không?

– Thôi đi rửa mặt còn kiếm chút cà phê.

Người lính đi khỏi, người tài xế ngồi yên, chút sau anh ta lấy bao nhang thắp mấy nén cắm vào chiếc ống bơ để bên cạnh chiếc quan tài. Sinh hoạt trong tiểu khu đã rộn rịp hơn, người ra người vào mỗi lúc một đông, nơi khoảng trống phía gần cửa sổ xe cộ đã gần kín, một vài người đi ngang qua xe ngó lên rồi đi tiếp, mọi người như không chút ngạc nhiên với chiếc quan tài trong lòng xe. Người lính đã trở lại với gương mặt sáng sủa hơn. Người tài xế nhảy xuống xe. Hai người đi về phía câu lạc bộ, nơi đây ồn ào khác hẳn với không khí buổi tối hôm trước. Người tài xế gọi một tô hủ tiếu, người lính ngần ngừ một lúc rồi kêu một ly cà-phê sữa. Khi đứa nhỏ mang cà-phê và hủ tiếu lại, người lính giữ lấy vai đứa nhỏ:

– Đây có bán đế không nhỏ.

– Có

Đứa nhỏ nói nhanh và như còn đang cố gắng ghi nhớ những tiếng gọi khác đang vang lên.

– Đong cho một xị nghe.

Người lính đưa cho đức nhỏ cái chai không, đứa nhỏ chạy đi, người tài xế bẻ thêm bánh mì nhúng vào ăn chung với hủ tiếu, người lính nhẩn nha, chậm chạp uống từng ngụm nhỏ cà-phê trong khi hút từng hơi thuốc lá ngắn.

– Liệu chiều nay có xong không, kiếm không ra nhà thì chết bỏ đời đó nghe.

– Rỡn hoài, có địa chỉ đường hoàng, tao biết ấp đó mà.

– Ờ, cứ yên trí đi. Cái thằng chết rồi còn làm khổ thằng sống. Tao đã làm sẵn một chúc thư rồi, nếu chết là cứ việc đào một cái hố ngay bên cạnh mà bỏ xuống, khỏe không, rồi báo cho gia đình biết là được, mang về làm gì cho khổ, khóc mếu, tốn tiền bạc ma chay, mày nghĩ coi…

– Chuyện của mày thì khỏe rồi, còn của thằng khác thì mặc xác người ta.

Sinh hoạt chộn rộn chung quanh khiến câu chuyện có những ngắt quãng. Gõ chiếc muỗng vào thành tô, tiếng kêu lớn, đứa nhỏ tới mang theo xị đế, nó tính tiền nhanh chóng và thu dọn bàn cho những người khác. Ra khỏi câu lạc bộ, tới sân, người tài xế la lên:

– Xe đâu mất rồi.

Người lính nhìn quanh. Hai người rảo bước, khi ra tới ngoài mới thấy một toán lính đang cố gắng đẩy chiếc xe ra phía sau tiểu khu.

– Đẩy đi đâu vậy, bọn nó khùng hả?

Khi tới nơi, một người lính la:

– Mấy cha nội đi đâu bỏ cái xác này cho ai đây. Sao không mang đi cho rồi.

– Đi đây.

Người tài xế nhẩn nha như không chút bận tâm tới những người chung quanh. Họ cho thấy một ông lớn sắp tới tiểu khu, cái xe để không phải chỗ nên được lệnh dời đi. Người lính ậm ừ:

– Tưởng ai tới đánh cắp chiếc quan tài thì bọn này đỡ quá.

– Đánh cắp để làm mắm à.

Người tài xế nổ máy, người lính ngồi phía sau cầm lấy súng lên tay, báng bỏ xuống sàn xe, đội mũ sắt lên đầu. Anh ta thấy những que hương cháy gần hết. Những lượng khói mờ nhạt loãng tan nhanh chóng vào không khí. Chiếc xe lùi lại rồi chạy trở ra cổng tiểu khu. Người lính gác bồng súng chào nghiêm chỉnh. Người lính ngồi trên xe mỉm cười, giơ tay vẫy thay một lời chào. Nắng sáng trên lá quốc kỳ, bầu trời trong, con đường lớn duy nhất của tỉnh lỵ, không có một bóng cây, những cột đèn, dây điện chạy dọc theo hai hè phố như hai bờ cao của một con kinh. Sinh hoạt nhạt nhẽo trong buổi sáng, đường vắng, xe chạy mỗi lúc một nhanh. Khi xe chạy tới đầu quốc lộ, người lính thấy đôi mí mắt như trĩu xuống với cơn buồn ngủ. Gió thổi mạnh làm mép lá quốc kỳ tung bay, những cây hương cháy nhanh hơn và gió không để lại một chút dấu vết của làn khói nhang nhẹ mỏng.

Bây giờ nó đã chết. Thật kỳ. Nó ít nói, nó không uống rượu. Ngồi với anh em, mọi người uống đế, uống bia, nó kêu một ly trà đá, một chai nước ngọt, mọi người biết ý nó rồi nên không bao giờ làm phiền nó nữa. Lúc trước, có những lần như thế, bạn bè ép nó, nó mỉm cười tỉnh bơ đứng lên đi khỏi. Có đứa nói kiếp trước nó chết vì rượu nên kiếp này ngửi thấy rượu đã thấy kinh hoàng. Có đứa nói: nó là ma rượu. Ai nói gì nó cũng nghe. Sau khi đi kích đêm, trên đường trở về, một phát súng bắn sẻ từ ngực trổ ra lưng ngã nằm xoài chết ngay trên mép cỏ xanh còn ướt sủng sương đêm. Đưa về tiểu khu nhập quan, người ta lục lọi tìm kiếm địa chỉ của nó trước khi đưa tiễn nó lên xe trở về. Nó như trăm nghìn những người khác ở trong cuộc chiến, đến tuổi động viên, theo lệnh gọi nhập ngũ và ra trận. Rồi chết. Xe chạy khỏi tiểu khu lúc hơn mười giờ, trời nắng đầy trên những ngọn cây, đáng lẽ có một tiểu đội đưa nó về nhưng tình hình không yên, chiếc xe chỉ có một người lính, một người tài xế. Từ trên cao nguyên, theo quốc lộ trở về, sẩm tối thì xe chạy được hai phần ba đường. người tài xế cho xe chạy tới tiểu khu, trình giấy xin ngủ tạm chờ sáng hôm sau đi nốt đoạn đường còn lại. Xe chạy mỗi lúc một nhanh hơn, người lính bỏ băng ghế, đi lên phía trên, ngồi xuống lòng xe, phía đầu quan tài, ngả lưng dựa vào khoảng ngăn của thùng xe với chỗ người tài xế ngồi. Cơn buồn ngủ ập đến.

Những trạm kiểm soát dọc đường buộc chiếc xe ngừng lại, người tài xế ngừng xe xuống trình giấy. Tới trạm trước khi xe chạy giữa khu rừng cao su để qua một cây cầu xi măng, người tài xế chợt nhìn lên xe và không thấy người lính. Anh ta đến bên, trèo lên, ngó vào, người lính ôm súng ngủ gật. Người tài xế mỉm cười. Người lính quân cảnh tò mò đi theo, trèo lên ngó vào,

– Ngủ vậy mà thằng chết nó dậy thì hết đường chạy.

Người lính mở mắt, đứng vội dậy, kéo lại mũ, cầm lấy súng.

– Sướng nhỉ.

Người lính không nói, đi trở ra phía ngoài ngồi nơi đầu băng ghế với vẻ nghiêm chỉnh.

– Mơ ngủ hay sao vậy, ngồi xuống đi, ngồi thế này có khi ăn đạn cho xem.

– Sao vậy?

Người tài xế vừa hỏi vừa nhìn quân cảnh:

– Xe đang chạy mà nếu thấy có người vẫy tay xin quá giang thì đừng có ngừng lại nghe, phóng cho nhanh mà chạy dù cho có đứa nào đứng ra giữa đường cũng vậy. Hôm trước có mấy con bị đi ngủ…

Người quân cảnh cười cười vẻ thoải mái, không bận chút lo sợ. Người lính cười cười theo đưa một tay lên sờ ở gáy, ví dụ một viên đạn từ trong rừng nhắm vào đó. Người lính trở lại chỗ ngồi cũ. Người tài xế nói bâng quơ:

– Chết có số, đạn tránh người.

– Thiệt không bạn?

Người quân cảnh vừa nói vừa vỗ tay lên vai người tài xế. Anh ta chỉ lên chiếc quan tài:

– Tên nào có phúc vậy?

– Phúc nữa?

– Sao không, biết mấy đứa không còn một miếng, như mắm…

– Nó đi kích về thị bị hạ.

– Thôi đi cho sớm chứ.

Người quân cảnh vỗ mạnh tay nơi vai người tài xế rồi bỏ trở vào trạm kiểm soát. Người tài xế đứng nơi lề đường tiểu tiện rồi trở lại xe, dáng vẻ thong dong. Con đường còn lại, cây cầu xi măng, những tên lạ mặt nào. Anh ta nhìn theo con đường thẳng tắp trước mặt. Ngồi ngay ngắn trước tay lái, người tài xế lấy bao thuốc châm một điếu hút, khói thuốc un đầy trong lòng xe. Người lính ngồi phía sau chừng như nóng ruột khi không thấy xe chạy. Anh ta đứng lên, ngoài người về phía trước nhìn vào chỗ người tài xế ngồi:

– Ngủ hả, chạy cho rồi còn cà rịch cà tàng chi nữa?

Người tài xế cười nhe hai hàm răng vàng nghệ:

– Nghĩ ớn quá, lên đạn đi nghe.

– Sợ chết hả ?

– Tao sợ thằng nhỏ nó chết thêm lần nữa thì tội.

– Không đâu, bọn mình…

– Thôi đi cha, cho con sống với vợ con chứ…

Người tài xế mở máy, tiếng máy vang động không khí im lặng. Người lính trở lại chỗ ngồi nhìn khói đen oằn oại phía sau xe. Vòng hoa đã héo rũ, tất cả chỉ còn phơi ra những gai kẽm. Anh ta đứng lên cầm lấy vòng hoa vứt xuống đường, chiếc vòng lăn đi một quãng, những cánh lá, cánh hoa vung vãi trước khi chiếc vòng đổ xuống nằm trên mặt đường.

Người tài xế mở hết tốc độ, chiếc xe chạy nhanh trên quốc lộ vắng. Người lính ngồi dựa lưng không yên phải nhích lưng ra và một tay giữ lấy thành xe. Khi mặt trời lên giữa đầu thì chiếc xe vào tới thị trấn để dừng lại. Ghé đồn quân cảnh, trình sự vụ lệnh, gửi chiếc xe để đi ăn cơm trưa nơi một quán bên đường. người lính, người tài xế đều mang theo súng, ba lô, mũ sắt, dáng vẻ yên tâm, mỗi người mỗi đĩa cơm, người tài xế kêu một chai bia lớn uống chung. Uống hết người lính lêu thêm một chi nữa:

– Khỏe rồi, uống cho phấn khởi.

Người lính cười. Người tài xế không nói cắm cúi ăn. Buổi trưa nóng bức, con đường đầy nghẹt xe cộ, khói và bụi mù mịt. Trong mắt nhìn, có lúc người lính thấy như lửa bật cháy và những hình người lay động yếu ớt, có lúc cong đi lung linh trong nắng lửa.

– Nắng thế này chắc nó trương lên rồi.

– Mới ba ngày ăn thua gì.

– Thôi đi, nắng thế này mà nói, có khi hơi nó phá vỡ quan tài cho mà xem.

– Bày đặt, hồi năm trước có lần tao chở tám thằng trên một xe, biết không, chết từ một tuần trước, thế mà chẳng sao hết. nước vàng chảy rỉ rả, có mùi, làm tao ăn không được nôn mửa một tuần, thế mà người ta vẫn ôm lấy mà lăn lộn khóc, ruột thịt đau đớn chừng đó, người ta chẳng biết kinh sợ nữa. Thằng này chết vậy là có phúc lắm. một mình một ngựa trở về thảnh thơi… Chỉ khổ cho người sống. Cái số mình như phải đóng mãi vai trò của tử thần.

– Cái gì? Mình là tử thần?

– Ờ rồi coi, tao biết quá rồi. Tao vốn ớn cái trò mang quan tài về nhà, báo tin người chết… Mày tưởng tượng thử coi…

– Chết thì mang về chứ có sao, họ phải cảm ơn mình chứ.

Người tài xế cười ngất.

– Mày là cái thứ gì không biết. Nhà người ta đang vui vẻ bỗng nhiên mình đưa đến một xác chết,hoặc đến báo tin một người chết. Như vậy không còn là tử thần à. Lúc gặp người ta cười nói, nghe mình nói xong người ta khóc mếu kêu gào, vậy mà thú vị lắm sao?

Người lính uống cạn ly bia rồi nhìn bạn:

– Ừ nhỉ, nếu bây giờ mình đang ở trong nhà, cười nói, có người tới báo tin em mình vừa chết, xác để trên xe… không được, không được…

Vừa nói vừa lắc đầu, người tài xế đập tay lên đầu người bạn:

– Say rồi hả.

– Đâu có, mình thiệt ngu.

Trở lại đồn quân cảnh, người lính và bạn ngồi lên phía trước. Trưa nắng mỗi lúc một khó chịu:

– Đi chưa?

Người lính hỏi bạn, giọng ngái ngủ mệt nhọc, nói hết câu anh ta đã nhắm mắt lại:

– Trưa thế này vào nhà người ta kỳ. Thôi cho họ ngủ trưa đi đã.

Người tài xế xuống xe, đóng cửa lại, anh ta đi về phía sau nhìn màu lá quốc kỳ rực rỡ dưới ánh nắng. Anh ta di vào hiên nhà, nơi chỗ ghế dài chừng như dành cho những người ngồi đợi, anh ta bỏ khuy áo, ngả người nằm xuống.

Khi nghe tiếng còi xe vang bên tai, người tài xế trở dậy thì nắng đã hơi nghiêng xuống. Người lính ngồi trên xe giơ tay vẫy bạn. Người tài xế sửa lại quần áo trở lại ngồi trước tay lái:

– Định giữ của thêm đến bao giờ đây.

– Mệt quá, ngủ như chết. Thôi đi.

Người lính trở lại sau xe, nhảy lên, đội mũ sắt, cầm súng, ngồi ngay ngắn. Xe ra khỏi đồn chạy vào đường phố. Chạy một quãng ngắn, người tài xế ghé vào lề đường, đứng lên nói với người bạn:

– Đưa cái địa chỉ đây.

Người lính mở túi lấy ra một chiếc phong bì màu nâu trao cho người tài xế.

– Chạy hết đường này đi, tới chỗ ngã tư quẹo tay mặt.

– Làm như là thổ công không bằng.

– Chứ sao. Nhớ là phải đi hết khu nghĩa địa rồi mới tới xóm này. Chà, cái ấp này nhà cửa cũng lộn tùng phèo ghê lắm…

Người tài xế không nói, trở lại với tay lái, chuyến xe chạy theo con đường lớn ven đô. Những nhà cửa hai bên không đều, có những khu mới tân trang sầm uất, có những khu còn nguyên vẹn khung cảnh của một vùng ngoại ô, nhà thấp, mái ngói, một vài khóm tre, những tàn vú sữa, những chiếc sân đất và những hàng rào cây xanh thấp. Xe tới ngã tư thứ nhất, người tài xế cho xe quẹo. Con đường rộng, hai bên trơ trụi những mái nhà tôn thấp, không có lề đường, chạy một quãng thì qua khu nghĩa địa, một khoảng dài không có nhà cửa cho thấy hình ảnh khu vực ngoại ô. Khi tới đầu khu dân cư thì người tài xế ngừng xe lại, tắt máy, mở cửa xe bước xuống, anh ta ngó lên người bạn đồng hành đang đứng tì tay nơi thành xe:

– Xóm này đây.

– Đi chút nữa đi, tới con ngõ lớn vào trong, chắc là ở trong chứ không phải ở ngoài này.

Người tài xế lên xe cho chạy chậm, tay giữ vòng lái, mắt nhìn vào tấm biển số nhà. Tới đầu con ngõ đưa vào xóm thì xe ngừng lại. Người tài xế nhìn vào tấm bảng treo chi chít nơi chiếc cột cổng, đó là những biển quảng cáo, lời rao bán nhà, những mũi tên chỉ cho thấy những địa chỉ ở phía trong. Một vài người trong quán cóc đầu ngõ chỉ trỏ chiếc quan tài, mấy đứa nhỏ chạy ra, có đứa nghịch leo lên bánh xe, người lính phải la lớn đuổi chúng nhưng chúng vẫn bu quanh.

Khi người tài xế bước vào quán cóc thì những người ngồi bỗng nhiên im lặng hết, ai cũng nhìn lên như chờ đợi điều gì. Người lính ngại ngần đứng lại gần một người đàn ông đứng tuổi:

– Thưa bác có phải đây là ấp Tây Nhứt không ạ…

– Phải, ấp Tây Nhứt…

Con cái nhà nào đây, mọi người chung quanh bu lại, một người đàn bà nói giọng lo âu:

– Con cái nhà ai đây?

– Dạ Nguyễn Văn T.

– Nguyễn Văn T nào cà?

Mọi người lặng im như cố nhớ tên một người nào đó của gia đình, quen biết hiện đi xa.

– Nhà số mấy?

Một người đàn bà ngồi phía trong hỏi vọng ra giọng khô. Người lính vừa nhìn vào tờ giấy vừa đọc:

– Số 131 trên 32.

– Thế thì xóm trên kia, đây là hẻm 30. Anh làm tôi hết hồn, thằng con tôi đi hơn tháng nay không có tin tức gì.

Người đàn ông thở ra:

– Anh làm tôi nghẹt thở, thằng Hai nhà tôi nó mới viết thư về nói đánh hoài không về phép được.

Không khí trong quán cóc bỗng trở lại vui vẻ, mọi người nói chuyện trở lại, câu chuyện quanh những người đi xa, những liên hệ và tỏ vẻ tội nghiệp cho gia đình nào là thân nhân của kẻ xấu số đang nằm kia. Mọi người cũng nhắc đi nhắc lại số nhà như cố gắng nhớ xem mình có liên hệ gì với con số đó. Người lính sau khi hỏi han về địa chỉ trở lại xe. Khi đứng ở đầu ngõ anh thấy những con mắt ngó nhìn. Có gia đình nào ngày nay không có con em trong quân đội. Có gia đình nào trong suốt mười năm nay không có những cái tang đau đớn. Hôm nào mình cũng ngã xuống, người lính bắt đầu bước lên xe, mở máy cho xe chạy về phía trước. Xe chạy khoảng hơn trăm thước thì tới đầu con ngõ lớn, con số 32 trên tấm bảng lớn treo cao. Người tài xế cho xe chạy vào, những người hai bên gõ thấy chiếc xe chở quan tài thì ra cửa đứng nhìn, những cánh tay giơ lên chỉ trỏ, người lính nhìn một bên, người tài xế nhìn một bên tìm kiếm một con số. Đi được một khoảng thì xe phải ngừng, một ngôi nhà đang xây cất chất đầy gạch nơi đường hẻm khiến xe không đi được. Người tài xế đứng lên cao ngó lại người lính phía sau:

– Xuống tìm chút đi, ngõ này rồi, xe không vào được.

Người lính nhảy xuống xe nhìn ngơ ngác hai bên đường. Một số người đã bu đến xe hỏi thăm người tài xế. Không khí im lặng, đe dọa như bỗng nhiên ập xuống con ngõ. Những mắt nhìn lo âu. Ai đó anh? Những tiếng nhắc lại một tên người ghi trên tờ giấy. Những thở ra nhẹ nhõm. Người lính đã đi vào tới sâu trong ngõ. Người tài xế chợt nhận ra cánh tay vẫy của người bạn.

– Thấy rồi.

Người tài xế như nói với riêng mình. Thấy rồi, cả một gánh nặng như được trút xuống khỏi vai. Anh ta xuống xe đi lại phía người bạn.

– Người đàn ông mặc chiếc quần cụt, áo mai-ô cáu bẩn đứng nơi cửa chờ đợi người tài xế. người lính nói:

– Đưa giấy coi nào, đúng số nhà này phải không?

Người tài xế vừa mở giấy vừa nhìn lên tấm bảng ghi số nhà:

– Đúng rồi, 131/32.

Từ trong nhà một người đàn bà, một cô gái chạy ra với vẻ kinh hoàng. Người đàn bà hỏi:

– Gì vậy ông? Thằng Út hả.

– Út chết sao ba?

Mắt người con gái và người đàn bà đỏ lên như sắp khóc.

– Không phải, đây là con của ông chủ nhà trước.

– Trời ơi, tôi tưởng…

Người đàn bà phác một vẻ mặt thoát nạn, người đàn ông nói giọng trầm tĩnh trước sự chờ đợi của hai người lính:

– Đúng số nhà đấy, nhưng nhà này người ta đi chỗ khác rồi, mới được hơn tháng. Tội chưa, ông ta có hai người con, đứa trước bị gãy chân, đứa này chết nữa…

– Bác có biết ông ta đi ở đâu không?

– Không, chúng tôi mới mua nhà này.

Người tài xế nhìn bạn:

– Làm sao đây?

Người lính vẻ chán nản hiện ra, không nói năng anh ta đi trở ra khỏi ngõ, những người chung quanh ngó ngàng. Người tài xế cầm sắp giấy tờ đi theo ra. Trong con hẻm chưa lúc nào đông người như lúc đó, họ tụm lại bàn tán với nhau, có người tới gần xe nhìn lên cỗ quan tài phủ lá quốc kỳ với màu sắc rực rỡ. Người tài xế đứng nơi đầu xe nhìn người bạn đồng hành:

– Thật tổ chác, cái thằng chết tiệt này nó hành mình. Làm sao đây?

Người lính nói:

– Thì tìm chứ làm sao?

– Tìm ở đâu?

Người lính không nói thêm, anh ta trèo lên xe thò tay lấy xị đế để ở dưới chỗ ngồi mở ra tu một hơi dài…

Người tài xế văng tục một mình, lấy bao thuốc ra châm hút, lúc sau anh ta trở lên chỗ ngồi mở máy cho xe lùi ra khỏi ngõ, hai bên hẻm nhiều người vẫn tụ tập, đám trẻ bám quanh xe khiến người tài xế phải bấm còi liên hồi… Uống hết xị đế người lính đứng lên vứt vỏ chai không xuống đường, tiếng vỡ khô sắc…Xe đã ra khỏi con ngõ, đậu sát vào lề, người tài xế mở cửa nói về phía sau:

– Bây giờ làm sao?

Người lính nói lớn:

– Muốn sao thì muốn, không biết.

Người tài xế văng tục, nhìn bạn hơi mỉm cười:

– Kiếm chỗ nào cho họ vùi cả bọn cho xong….

(1972)

Thoát

Lâm Minh Sơn

 Dallas, cuối 2013

Để tưởng nhớ K1 Nguyễn Hữu Trí

Việt Nam, 1980 – 1982

Post by Sơn râu 23 Jan 2026

Google image

Đây là lần thứ hai T. bị cùm kể từ ngày trình diện “học tập cải tạo”. Vốn tính bướng bỉnh và khôi hài, dù hai chân bị còng vào vách phòng giam, phải nằm ngửa mặt lên trời suốt ngày đêm T. vẫn có thể bật cười khi nhớ lại lý do mình bị cùm. Hai đêm trước, ban giám thị trại tổ chức văn nghệ cho tù xem, khi ban hợp ca trình diễn bài “Thành phố mang tên người” bắt đầu hát: “Từ thành phố này người đã ra đi…”, thì T. hát đệm theo “Sao không đi luôn, sao không đi luôn”. Khi đến câu, “Bao năm ước mơ đón bác trở về”, T. lại đệm tiếp “Về mà làm gì, về mà làm gì!”
Tuy T. hát nhỏ nhưng các bạn tù vẫn nghe được cười ồ lên khiến cán bộ VC giữ trật tự chạy đến hỏi lý do, và hôm sau T. bị đưa đi “nghỉ mát” vì tội xem thường lãnh tụ.
Đã có kinh nghiệm của lần cùm trước, T. không mong đợi ngày ra vì càng trông ngóng thì càng mất sức chịu đựng. T. nhắm mắt lại và thả hồn về qúa khứ…
 …Cuối thập niên 1960, T. là sinh viên đại học. Vốn đi học sớm và không bị rớt kỳ thi nào nên anh không bị ảnh hưởng gì về chính sách động viên của chính phủ, nhưng nhìn thấy bạn bè cùng lớp với mình lần lượt nhập ngũ, T. nghĩ mình không thể hưởng nhàn được nên tình nguyện ghi danh vào trường võ bị Thủ Đức khóa 27 dù điều này làm trái ý cha mình. Không biết do định mệnh hay phước của ông bà mà cuộc đời của T. dù gặp bao lần hiểm nguy trong binh nghiệp cũng như trong tù đày anh đều thoát cả.
Mãn khóa Thủ Đức, T. được điều về Tiểu khu Long An và được chỉ định làm Trung đội trưởng một trung đội Địa phương quân. Với chức vụ này, trong một lần bị phục kích, T. bị trúng đạn. Anh chưa cảm nhận được mình bị thương ở đâu thì bất tỉnh. Khi trực thăng tải thương đến, vì được khiêng lên trước nên băng ca của T. móc ở tầng dưới. Lính truyền tin của T. cũng bị thương và được và được đưa lên sau nên băng ca của anh này móc trên băng ca của T. Anh này bị thương nơi cánh tay mà lại nằm với tư thế đưa tay ra ngoài băng ca nên máu từ vết thương chảy xuống nhễu ngay trên đầu của T. Khi nhân viên tải thương lên phi cơ để cùng theo lên Tổng y viện Cộng Hòa thấy T. đang bất tỉnh mà đầu đầy máu nên về báo với Tiểu khu là T. khó qua khỏi.
 Tại bênh viện, bác sĩ cho cạo đầu T. thì không thấy vết thương nào cả, mà chỉ thấy vết thương ở chân do đạn xuyên trổ qua nhưng không chạm xương nên băng lại và vài ngày sau T. đã chống nạng đi được nên cho xuất viện. Khi T. về lại đơn vị trình diện tiểu khu trưởng thì cả BCH tiểu khu vừa mừng rỡ vừa ngạc nhiên nhìn anh giống như nhìn kẻ chết đi sống lại.
 Sau vụ thoát nạn này, cấp trên thấy T. lanh lợi lại vừa mới bị thương nên quyết định cho anh đi học khóa tình báo tại Trường Quân Báo Cây Mai. Với khóa học này, T. nghĩ là mình đã mang được chữ Thọ vào người, vì trong quân ngũ, anh sẽ được chỉ định chỉ định công tác theo ngành chuyên môn của mình, nhưng định mệnh của T. không phải như vậy. Sau khi mãn khóa, anh được thăng cấp Thiếu úy và được chỉ định làm Trưởng Ban 2 Chi khu Rạch Kiến. Khi lực lượng Địa phương quân được phát triển mạnh để bảo vệ an ninh địa phương, T. được thăng cấp Trung úy và được chuyển qua một tiểu đoàn ĐPQ với chức vụ Trưởng Ban 2 Tiểu đoàn. Tại đơn vị này, không biết may hay rủi, T. được Đại úy Tụ, Tiểu đoàn phó thương mến một cách đặc biệt. Ông này dẫn T. đến từng quán cơm, tiệm nhậu và giới thiệu các chủ nhân cũng như nhân viên cho T. biết. Và nơi đây, T. cũng được nhiều cặp mắt xanh chú ý đến, vì anh lúc đó còn trẻ mà đã là một sĩ quan cấp trung úy rồi. Một trong những cặp mắt xanh này đã nhỏ lệ bởi một sự kiện đặc biệt đã xảy ra trong đời T.
 Qua tin tức ghi nhận, T. phát hiện một đơn vị địch xuất hiện trong vùng hoạt động của tiểu đoàn. Anh quyết định dẫn trung đội trinh sát hành quân trong khu vực để xác nhận tin tức. Không ngờ Đại úy Tụ, TĐP cũng muốn đi và bảo Trung úy Ty, Trưởng ban 3, theo ông tháp tùng lực lượng hành quân. Vì nhận lệnh qúa gấp, quân phục lại còn kẹt ở tiệm giặt nên Trung úy Ty mượn bộ đồ rằn ri của T. (Ty và T. ở chung phòng) mặc vội vào rồi chạy theo BCH hành quân.
 Cuộc hành quân lục soát kéo dài đến chiều vẫn không phát hiện được gì, T. xin Đại úy Tụ cho rút quân. Nhưng thay vì về lại đường cũ, Đại úy Tụ bào T. đi đường tắt cho mau. T. biết con đường này phải lội qua một con sông cạn và dễ bị phục kích nên cho trung đội trinh sát qua sông trước mở đường, còn mình thì ở lại với Đại úy Tụ, Trung úy Ty và nhóm lính thuộc BCH hành quân. Khoảng 20 phút sau, T. sốt ruột vì lính của mình ở bên kia sông nên nói với Đại úy Tụ cho anh lội qua sông trước, bố trí anh em rồi gọi ông qua sau. Khi T. tới gần bờ phía bờ sông bên kia thì một tiếng nổ long trời lở đất phát ra từ chỗ ngồi của Đại úy Tụ. Lập tức, trung đội trinh sát quay trở lại và cùng T. lội về phía bờ có tiếng nổ. Khi lên bờ, T. cho trung đội của mình rải ra để vừa truy tìm địch vừa giữ an ninh cho khu vực bị nổ.
T. đến chỗ của mình và đại úy Tụ ngồi nói chuyện khi nãy thì thấy gần đó là xác của ông ta nhưng chỉ còn phần trên thôi! Anh ngồi xuống nâng mặt đại úy Tụ lên, chưa kịp hỏi gì thì ông chép miệng: “Em có sao không?” rồi tắt thở.
 Thấy trời đã tối, sợ địch tấn công, T. cố đè nén nỗi buồn, gọi máy xin trực thăng tải thương, rồi cẩn thận quan sát hiện trường. Cách xác đại úy Tụ không xa là xác của Trung úy Ty, có lẽ anh chết ngay khi mìn nổ. Còn nhóm lính đi theo đại úy Tụ đều bị thương, không nặng thì nhẹ. Kiểm điểm chi tiết để báo cáo, T. thấy từ ngày về Tiểu đoàn này tới giờ, chưa có lần nào tổn thất nặng như lần này vì cùng một lúc hai sĩ quan cao cấp của đơn vị tử trận, chưa kể số quân lính bị thương.
 Sau khi trực thăng tải thương xong, T. cùng trinh đội trinh sát kéo về đến căn cứ Tiểu đoàn thì trời đã khuya. Vừa bần thần vì mình thoát chết, vừa thương nhờ đại úy Tụ, T. không ngủ được nên thả bộ ra quán nước bên đường là chỗ hai người hay ngồi tán dóc để uống cà phê. Vừa bước qua cửa, anh đã thấy một số bạn quen cùng đơn vị vẫn còn ngồi trong quán nhưng không đùa giỡn như mọi khi mà mặt mày người nào người nấy đều bí xị. Còn trong góc quán thì cô tiếp viên hàng ngày ngồi chống cằm mà cặp mắt đỏ hoe. Cô này ngồi ngó ra nên khi T. bước thêm vài bước vào trong, thì cô ta bật đứng dậy, mặt sững sờ, chạy ùa ra ôm chầm lấy T., miệng lắp bắp: “Trung úy còn sống hả?” Số bạn của T. cũng bật dậy đổ xô đến T. để hỏi han.
 Thì ra, tại BCH Tiểu đoàn ai cũng tưởng T. chết cả, bởi các lý do: (1) Báo cáo cho biết có hai sĩ quan tử trận, một là đại úy TĐP và hai phải là T. vì hai người này luôn đi chung với nhau; (2) Trung úy T. mặc bộ đồ rằn ri của T. đi hành quân. Khi 2 xác được khiêng từ trực thăng vào nhà xác, gió của cánh quạt làm tốc một phần vải che xác chết để lộ bộ đồ của T. thường mặc nên ai cũng nghĩ kẻ chết là T; (3) Khi truyền tin gọi về báo trung úy T. tử trận, họ dùng ngôn ngữ truyền tin “Tư tưởng Rạch Giá Ủng hộ trên Tư tưởng đã ngủ (Trung Úy T. đã chết).
 Phối hợp các lý do này, nhân viên BCH Tiểu đoàn đoan chắc rằng T. đã tử trận nên truyền miệng với nhau để biết, đồng thời báo cho những ai thân thiết của T. để chia buồn, trong đó có cặp mắt xanh của quán nước này đã nhỏ lệ mà không cần che đậy.
 Nói chung, đời binh nghiệp của T. tuy ngắn ngủi nhưng đã hai lần thoát nạn và khi gặp lại người thân, ai cũng tưởng T. là “người về từ cõi chết”. Nay nằm nhớ lại những chuyện “Hay không bằng Hên” của mình trong quân ngũ, T. cũng thấy an ủi và nghĩ lúc nào cái Hên cũng đeo đuổi mình kể cả thời gian bị “cải tạo”.
 Trước khi về trại Z30D này, T. tưởng đâu mình bị cùm cho tới chết vì do tố cáo của một đồng tù làm “ăng ten” báo VC biết anh khai láo lý lịch. Sự thật, khi trình diện, T. đã dấu tất cả những sự kiện liên quan đến nghiệp vụ tình báo của mình. Dĩ nhiên, với kinh nghiệm chuyên môn và qua hoạt động của bản thân, anh biết nếu mình nói thật thì sẽ ở tù “mút chỉ”. T. đã dấu được lý lịch từ ngày trình diện “cải tạo” cho đến lúc về trại tù Long Khánh mới bị tố giác. Sau khi thẩm cung, VC cho rằng T. không thành khẩn và sẽ cùm anh vô hạn định.
 Khi vào nhà cùm và bị cùm hai chân vào vách buồng giam với tư thế ngửa mặt lên trần nhà, T. nghĩ phen này khó thoát vì dù có chịu đựng được sự đói khát, da thịt cũng bị ghẻ do tình trạng thiếu vệ sinh (ỉa, đái tại chỗ) và nhất là lưng của mình cứ cọ sát với sàn nhà lâu ngày sẽ bị lở loét. Nhưng cái Hên lại đến với T. Năm 1979 khi Trung Quốc tấn công để dạy cho VN một bài học thì VC cho gom các tù chính trị vào các trại giam chính chớ không để rải rác các nơi nữa.
 T. được cho ra khỏi “nhà đá” để chuyển về trại giam Z30D, Hàm Tân. Tên Trưởng trại của trại giam này không quan tâm mấy về lý lịch của những tên “ác ôn” mà chỉ quan tâm đến sức mạnh và trí tuệ của tù để giúp hắn làm ra tiền. Do báo cáo của nhóm tù Long Khánh, hắn biết T. có tài về đàn ca và sơn vẽ nên không tiếp tục cùm anh mà cho anh về đội văn nghệ đồng thời bố trí cho anh đi vẽ trang trí các cơ sở mới được xây cất của trại. Nhưng trong cái rủi có cái may và trong cái may cũng có cái rủi, trong đêm trình diễn của ban văn nghệ ở trên về, T. ngứa miệng ca đệm theo bằng lời lẽ xem thường lãnh tụ của VC giữa chốn đông người khiến tên Trưởng trại không muốn cùm cũng không được. Lần bị cùm này, T. không lo lắng vì biết tên Trưởng trại thế nào cũng thả mình ra để phục vụ cho hắn. Tuy an tâm nhưng vì có qúa nhiều thời gian để suy nghĩ, anh cho rằng cái nạn của mình đang bị không phải là thời gian bị cùm mà là thời gian không hạn định trong trại tù cộng sản. Muốn thoát cái nạn này, T. không chờ cái Hên tới mà phải sử dụng cái Hay của mình. Đó là kế hoạch phải thoát ra khỏi nhà giam này và cả nhà tù lớn ngoài xã hội. Sau khi dứt khoát với quyết định “Thoát”, anh bắt đầu suy tính kỹ lưỡng mình phải làm gì khi được thả ra khỏi nhà cùm.
 Rồi như T. dự đoán, không đầy một tuần bị cùm, Trại trưởng ra lệnh thả T. ra để tiếp tục công việc sơn vẽ trang trí phòng ốc như trước, nhưng lần này anh không được thong dong đi đây đi đó nữa, mà lúc nào cũng có tên võ trang VC theo sát bên.
 Tuy nằm “nhà đá” chưa được một tuần nhưng T. ốm đi nhiều. Sinh hoạt hàng ngày chung với T. là người bạn anh quen được tại Z30D, thuộc nhóm tù chính trị được chuyển từ Bắc vào. Anh này tên Nguyễn Hữu Trí, nguyên Chỉ huy phó BCH/CSQG tỉnh Chương Thiện. Hai người thân nhau vì cả hai đều có máu văn nghệ. Trí ca được cả tân lẫn cổ nhạc, còn T. thì đàn được cả hai.
Khi T. được về lại buồng, Trí mừng lắm, bao nhiêu thức ăn thăm nuôi đều dồn cho T. ăn cho lại sức. Trí càm ràm:
 – Mày ẩu qúa, đâu có hứng như vậy được. Giữa đám đông làm sao chối tội. Trong này phải cố giữ sức khỏe, để người nhà khỏi phải lo cho mình chứ.
 Đã có kế hoạch “Thoát” trong đầu nên T. cười giả lả:
 – Tôi hứa với anh là từ đây về sau sẽ không như vậy nữa.
 Và quả thật T. đã giữ đúng lời hứa vì anh nghĩ rằng kế hoạch có thành công hay không, trước hết là phải được bảo mật. Muốn như vậy thì phải làm sao, không những cho VC thấy mà bạn tù cũng thấy là anh không còn quậy nữa. Anh tỏ ra ngoan ngoãn chấp hành nội quy của trại đến nỗi bạn tù nhiều lúc nghĩ anh thuộc loại “thân chính quyền”.
 Bước kế tiếp là làm sao thường xuyên liên lạc được với gia đình để hỗ trợ cho hành động của mình. Muốn vậy, T. phải mất nhiều thời gian và công sức để lấy lòng tên võ trang VC có nhiệm vụ theo dõi mình. Tên này còn trẻ, từ ngoài Bắc vào nên thích tán gái miền Nam. T. đã khơi chuyện và giúp hắn làm quen với một cô gái bán câu lạc bộ. Anh tìm mua những miếng “inox” rồi chạm hình bông hoa và tô màu lên, đưa cho tên VC, xúi hắn tặng cho cô gái. Dù có ưa hay không, cô này vẫn vui vẻ nhận qùa và ngồi tiếp chuyện với hắn vì hắn là cán bộ VC dù sao cũng ảnh hưởng đến chén cơm của gia đình. T. lại còn dạy tên VC cách ăn diện và nói chuyện với gái, dần dà, hắn không xem T. như tên tù phải theo dõi mà là quân sư giúp hắn chiếm cảm tình người đẹp.
 Sau khi được lòng của tên VC, T. nhờ hắn chuyển thơ nhắn người nhà thăm nuôi nói là để mua qùa cho hắn tặng người đẹp nên hắn vui vẻ chấp nhận ngay.
Gặp được người nhà, T. nói rõ kế hoạch của mình và yêu cầu: Chuẩn bị cho T. một số tiền để khi anh vượt ngục, anh không về nhà mà sống tạm ở đâu đó, rồi tìm đường vượt biên; dùng hình của T. còn để lại nhà, bỏ tiền làm một chứng minh nhân dân cho anh với hình thật nhưng tên họ và lý lịch giả; làm xong, lên gặp anh lại để thực hiện yêu cầu kế tiếp.
 Sau khi chia tay với thân nhân, T. trở về trại cố gây thêm cảm tình với mọi người để không ai nghi ngờ gì về quyết định táo bạo của mình. Riếng đối với Trí, T. không phải tạo cảm tình, mà có tình cảm thật. Anh xem Trí vừa là bạn vừa là anh của mình. T. thấy Trí lúc rảnh hay lấy hình của vợ ra xem nên đề nghị là muốn phóng họa lớn bức ảnh lên giấy cho Trí. Trí mừng rỡ thuận ngay vì biết T. có tài sơn vẽ. T. hứa trong lòng sẽ hoàn thành bức họa trước khi trốn trại.
 Theo kế hoạch, T. bắt đầu xem xét địa thế để xem đường nào an toàn cho cuộc vượt ngục. Trước kia, lúc mới về trại này, anh cũng được bố trí lao động trong khu rừng lá và cũng đã chứng kiến việc bố trí của lực lượng võ trang VC khi có tù hình sự trốn trại. Trong trường hợp có hoặc nghi ngờ có tù trốn thì võ trang VC nổ súng báo động ngay, rồi sau đó tổ chức hành quân truy tìm về phía rừng, ngược lại với quốc lộ. T. cũng được nhiều dịp quan sát đoạn đường từ trại ra quốc lộ nhờ công tác trang trí cho các cơ sở kinh tài của tên trại trưởng (quán giải khát, nhà nghỉ,…). Kinh nghiệm cho thấy, những lần có súng nổ báo động, an ninh vũ trang VC dồn hết lực lượng về phía rừng, chớ không quan tâm đoạn đường ra quốc lộ, và tiếng súng báo động thường nổ sau giờ cơm trưa. Có lẽ VC cho điểm danh khi bắt tù lao động lại và phát hiện tù trốn. Với nhận xét này, T. suy ra muốn trốn trại an toàn phải dùng con đường chạy ngược ra quốc lộ và phải thực hiện trước giờ cơm trưa.
 Nghiên cứu kỹ lưỡng xong thì đúng lúc người nhà lên thăm để cho biết về chuyện tiền bạc và giấy tờ giả đã hoàn tất. T. dăn tới dặn lui người nhà phải làm và làm cho chính xác các việc như sau:
 – Gia đình phải nhờ người anh bà con của T. (khác hộ khẩu) chạy xe Honda lên trại giam đúng 9 giờ sáng ngày N.
 – Từ quốc lộ vào trại khoảng 1 km sẽ thấy bên trái có một bụi tre gai rất to, ngừng, đậu xe trước bụi tre, rồi xuống xe giả vờ như đi tiểu.
 – Mang tiền, giấy tờ và một bộ quần áo bỏ vô bao nylon máng vào tay cầm của xe Honda.
 – Người anh bà con sau đó bỏ xe lại, đi bộ ra quốc lộ, đón xe đò về nhà.
Trong thời gian chờ đến ngày N., mỗi khi đi với tên VC, T. thường hỏi giờ và làm dấu theo bóng cây để thực hiện kế hoạch cho đúng thời gian. Đồng thời, ngày nào cũng như ngày nào, khi đám tù xuất trại xong, anh rủ tên võ trang VC vào câu lạc bộ uống cà phê và mời cô nhân viên mà tên này muốn làm quen ra ngồi nói chuyện. T. có khoa ăn nói nên cứ mỗi sáng, khi thấy anh và tên VC bước vào CLB là cô nhân viên ra tiếp chuyện ngay. Khoảng 15 phút sau, anh nháy mắt với tên VC rồi bước ra ngoài đi rảo chỗ này chỗ nọ cho tên VC được tự do tán gái. Nhờ cách này mà lần lần tên VC không đếm xỉa gì tới chuyện vắng mặt của T. khi anh ta có người đẹp ngồi trước mặt nói chuyện.
 Tối hôm ngày N-1, T. mang bức họa của vợ Trí cho Trí. Nhìn anh hớn hở ngắm tới ngắm lui bức hình T. cố vui theo nhưng trong lòng không khỏi ray rứt vì ngày mai mình phải chia tay người bạn tâm đầu ý hiệp này và không biết chừng nào sẽ gặp lại. Đau nhất là, vì bảo mật, T. không nói được một lời tạ từ!
 Sáng ngày N., T. và tên VC vào CLB uống cà phê để trò chuyện cùng người đẹp, và như thường lệ, 15 phút sau, anh nháy mắt với tên VC rồi bước ra ngoài, nhưng lần này không phải đi tới đi lui mà đi thẳng tới chỗ hẹn tức bụi tre bên con đường chạy ra quốc lộ.
 Như dự tính, từ xa T. đã thấy ngay chiếc Honda dựng trước bụi tre. Anh cố giữ bình tĩnh, vừa đi vừa nhìn quanh xem có con “bò vàng” nào lẩn quẩn ở đây không. Không thấy ai cả, anh đến xe Honda, tháo bịch nylon, lấy bộ quần áo bước ra sau bụi tre để thay. Cất tiền và giấy tờ vào túi xong, anh moi lỗ chôn bộ đồ trại rồi bước ra, leo lên Honda đạp nổ máy, chạy thẳng về hướng quốc lộ. Tới ngã ba Vũng Tàu, thay vì quẹo trái về nhà, anh lại đi thẳng lên Sài Gòn. Trước ngày trình diện “học tập”, T. có quen một bác sĩ thời VNCH mở phòng mạch trong khu chợ Bà Chiểu. Anh tìm tới và may quá vị bác sĩ này vẫn còn làm việc như xưa. T. phải đặt chuyện nói với bác sĩ là anh vừa vượt biên hụt nên không dám về nhà ngay, xin bác sĩ cho nằm tạm dưỡng bịnh năm ba hôm và được ông nhận lời. Trong thời gian ở đây, T. nhắn được về nhà cho mẹ biết anh đã vượt ngục an toàn và sống tại Sài Gòn. Nghe tin, mẹ anh vội lên gặp anh ngay để cho thêm tiền vì biết anh là kẻ vượt ngục, không thể sống yên ổn tại một địa điểm được.
 Thật vậy, chuỗi ngày kế tiếp tại Sài Gòn, T. sống cuộc sống của kẻ bụi đời. Ngày thì lang thang tìm bạn bè cũ nhờ họ hỏi thăm mối vượt biên, còn đêm thì ngủ bờ ngủ bụi tại các công viên trong thành phố. Trong thời gian này, việc vượt biên rất thịnh hành, nhưng các mối mà T. giao dịch đều thất bại. Vì lo cho con, mẹ T. phải bán của cải đưa cho anh nộp đi “bán chính thức” với gía hai cây vàng.
 Chuyến “bán chính thức” T. sẽ đi là chuyến do một người bạn tù được thả về giới thiệu và sẽ xuống tàu ngay tại cầu Chữ Y, quận 5 Sài Gòn. T. nghĩ là chắc ăn, nên thong dong tìm bạn bè từ giã, không ngờ gần đến giờ khởi hành anh bị kẹt xe, không đến điểm hẹn đúng giờ được. Nhưng đúng là trong cái rủi có cái may, khi T. đến nơi thì thấy trên cầu Chữ Y và hai bên bờ sông dân chúng bu đông nghẹt. Hỏi ra mới biết, tàu vượt biên tuy là “bán chính thức”, nhưng phe phái bất đồng, ăn chia không được nên đã nã súng bắn xuống tàu. Khi tàu đang chìm, cũng có nhiều người lội ra được, nhưng có lẽ để bịt miệng nên VC tiếp tục xả súng bắn vào từng người. Kết cuộc, trên tàu không một ai sống sót, kể cả người bạn tù của T.!
 Tuy chết hụt, T. vẫn cương quyết tìm mối vượt biên “bán chính thức” khác và mẹ lại phải xoay tiền cho anh. Lần này có vẻ chắc ăn hơn, vì xe đưa người vượt biên có 3 bảo vệ VC đi theo. Xe sẽ chạy xuống một tỉnh ở miền Tây và nhiều ghe nhỏ sẽ đưa mọi người ra tàu lớn neo ở ngoài khơi. T. mang theo giấy tờ hình ảnh của mình thời VNCH còn giữ lại được, với hy vọng được ưu tiên trong khi thanh lọc lúc đến các đảo tỵ nạn. Nhưng kiếp nạn của anh vẫn chưa hết, khi xe đến điểm hẹn, mọi người chưa kịp xuống xe, thì một toán VC võ trang xông ra bao quanh xe. Tên trưởng toán nói:
 – Đã được 9 chuyến rồi, chuyến này phải xét, để trình báo lại.
 Nguyên do là, tuy VC lấy vàng cho đi, nhưng cứ 10 chuyến, chúng bắt một chuyến để che mắt cấp trên và rủi cho T. là anh đi nhằm chuyến thứ 10. Ngồi trên xe, T. biết là không ổn nên bỏ giấy tờ, hình ảnh mang theo vào miệng rồi nhai và nuốt hết vô bụng. Kết qủa là T. cùng mọi người vượt biên bị đưa vào trại giam Cây Gừa. Anh lại phải lo lót nhờ người nhắn về gia đình, và lần này, T. cũng thoát được, không phải Hên mà là Hay, nhưng không phải anh Hay mà là bà gìa Hay vì đã kiếm ra 2 cây vàng hối lộ.
 T. trở lại Sàigòn sống lang bạt để tránh tai mắt của an ninh. Anh nghĩ mình thoát được cùm, thoát được ngục tuy có khó khăn, nhưng không nhiêu khê và tốn kém bằng thoát khỏi chế độ. Anh không liên lạc với gia đình nữa vì sợ mẹ thương mình mà phải chịu cực khổ dành dụm tiền cho mình. May cho T., không lâu sau, anh lại có mối vượt biên nữa. Chuyến này do nhóm thuyền chài hùn lại đóng tàu vượt biên, không có hỗ trợ nào của VC nên chi phí ít hơn và chỉ trông cậy vào hên xui.
 Còn hai ngày nữa thì tới ngày xuống điểm hẹn ở miền Tây, tự nhiên T. có linh cảm mình sẽ thoát được chuyến này nên quyết định về thăm nhà lần cuối. Trời chưa sáng, anh đã ra bến xe Miền Đông để đi chuyến xe đầu tiên về Long Thành.
 Bước xuống xe, T. thấy chợ búa, phố nhà đã thay đổi, nhưng căn nhà thân thương của mình vẫn còn chỗ cũ. Anh thấy trước nhà dường như có ai mở quán ăn bán cơm hay cháo gì đó cho người bình dân ăn sáng. Đến gần hơn, anh không kềm được nước mắt khi thấy cô em gái út lăng xăng, vừa múc cháo vào chén, vừa bưng chạy từng bàn. Anh hiểu mọi sự vất vả ở nhà phần lớn đều vì mình. Bước vào sân, T. đến gần em, đưa ngón tay lên miệng ra dấu im lặng rồi dở nón ra. Em gái anh chỉ kêu khẽ, “Anh Sáu”, rồi ùa chạy vào trong nhà gọi ba mẹ. T. bước theo vào thì ba mẹ đã ra tới ôm chầm lấy anh mà không nói một lời nào. T. kéo ba mẹ vào trong nhà rồi tâm sự: “Con cố về lần này thăm ba mẹ rồi đi luôn. Khi nào con được qua Mỹ, con mới nhắn tin về; còn nếu lâu qúa mà không được tin gì thì xem như con đã chết, đừng lo cho con nữa.”
 Ba T. gật đầu ra vẻ hiểu ý con trai, còn mẹ thì cứ ôm anh mà khóc. T. thăm nhà đến xế chiều thì đón xe trở lên Sàigòn an toàn không gặp trở ngại gì.
 Hai ngày sau, T. xuống điểm hẹn và đúng như linh cảm của anh, tất cả mọi người đi chuyến này đều được thuyền nhỏ đưa ra tàu lớn một cách êm xuôi. Khi tàu chạy ra xa ngoài khơi, T. mới bắt đầu có chút thoải mái vì từ lúc trốn ra khỏi nhà tù VC đến giờ, tâm trí của anh không bao giờ yên ổn cả. Nhưng thoải mái không được bao lâu thì lo lắng lại đến. Nguyên do là tàu đã chạy năm, sáu ngày rồi mà sao không thấy bóng dáng đất liền đâu cả, chỉ có nước và trời thôi. T. không chờ cái Hên nữa mà bắt đầu vận dụng đầu óc. Anh hỏi những người cùng vượt biên với mình và biết được người lái tàu chỉ là chủ ghe chài cá chứ không phải là tài công từng lái ra biển lớn. Anh lên buồng lái trình bày ý kiến của mình. Anh nói:
 – Nếu ta đi đúng hướng thì chừng ba ngày đã có thể thấy đất liền của các nước Đông Nam Á rồi. Tôi nghĩ tàu mình đã chạy ngược đường nên càng ngày càng xa ngoài khơi tức là đã chạy về hướng Đông Bắc. Vì không có địa bàn, nên tối nay ta nhìn sao Bắc Đẩu để biết chính xác hướng Bắc, rồi chạy ngược lại, tức là chạy theo hướng Đông Nam thử xem.
 Thấy vẻ bán tín bán nghi của chủ ghe, T. quyết định nói thật lý lịch cho họ biết anh là sĩ quan của quân đội VNCH đã được huấn luyện về địa hình. Mọi người nghe xong mừng rỡ, nhưng cũng buông lời trách móc, “Sao cha không nói sớm”, rồi giao quyền quyết định cho T. Tối hôm đó, sau khi định được hướng Bắc, anh cho tàu quay mũi chạy ngược lại, và đúng như dự đoán, chỉ hai ngày sau, hình dạng đất liền mờ mờ hiện ra trước mặt. Mọi người ôm nhau mừng rỡ như chết đi sống lại, và từ đó họ xem T. như là hạm trưởng của chiếc tàu, sẵn sàng làm theo lời T., khi liên lạc được với những người trong đất liền.
Tuy có gặp vài trở ngại lúc ban đầu, nhưng rốt cuộc, tất cả đều được lên đảo, chờ ngày thanh lọc để được đi đến các nước tự do.
 Tóm lại, kế hoạch THOÁT được vạch ra từ 1980 trong lúc T. đang bị cùm mãi đến 1982 mới có kết qủa: T. đang bắt đầu cuộc sống trong thế giới tự do.

 FLORIDA, 1986-2011
 Từ 1982 đến 1986, bốn năm đầu trên đất Mỹ, tuy không đói khổ, nhưng T. cũng chẳng làm nên cơm cháo gì, chỉ có một điều an ủi là anh đã đem niềm vui lại cho ba mẹ ở quê nhà, không phải bằng những số tiền dành dụm gởi về mà do biết được tin T. còn sống và sống trên nước Mỹ. Anh làm hùng hục suốt ngày, bằng đủ mọi nghề, từ tiểu bang này qua tiểu bang khác, để cố kiếm tiền để trả ơn ba mẹ, chớ không tính toán gì cho tương lai cá nhân. Đến 1986, đúng là Hay không bằng Hên, T. đến định cư tại Florida và tìm được “một nửa kia” của mình ở tiểu bang này. Một nửa này không hẳn là tài sắc vẹn toàn nhưng có cùng sở thích với anh và đặc biệt, trong việc tính toán làm ăn, hai người rất tâm đầu ý hợp.
 Từ khi lập gia đình, không biết có phải vì tên vợ là Mai, tên một loài hoa, nhưng nói theo giọng miền Nam thì lại như May (lucky) nên có lẽ nhờ vậy việc làm ăn của vợ chồng T. phất lên như cờ gặp gió. Khai thác sở trường của mình là sơn vẽ, trang trí, T. mở một tiệm vẽ bảng hiệu cho các cơ sở làm ăn khác. Còn bà xã thì có tiệm bán và sửa áo cưới. Chị rất khéo tay, có thể hoàn tất công việc vừa nhanh vừa đẹp. Hai vợ chống lại có khiếu về ca hát, nên bất cứ cuộc vui nào ở địa phương T. và Mai đều tới giúp vui nên rất nổi tiếng, nhất là được giới làm nail kính nể. Bất cứ người thợ nail nào ra mở tiệm đều đến nhờ T. vẽ bảng hiệu và trang trí cho tiệm của mình.
 Nhờ tiền bạc kiếm được dễ dàng nên vợ chồng T. sống thoải mái và rất hạnh phúc đến nỗi anh muốn quên hết kiếp nạn của mình trong qúa khứ nếu không có cuộc hội ngộ bất ngờ với người bạn cố tri từng biết anh có biệt danh là “người về từ cõi chết”.
 Một ngày đầu năm 1988, trong lúc tìm mua vật liệu cho công việc của mình, T. bỗng thấy ở căn tiệm kế bên có một người đàn bà có gương mặt rất quen, nhưng không nhớ đã gặp ở đâu. Sự tò mò khiến anh không thể bỏ đi mà cố nhìn cho rõ mặt. Khi bà quay sang thì anh cúi mặt xuống để tránh bị hiểu lầm. Cứ thế, T. cúi lên cúi xuống khoảng ba lần thì một người đàn ông, chắc là chồng xuất hiện. Không biết bà ta nói gì với chồng mà người đàn ông bước gần đến T. Anh bắt buộc phải ngẩng mặt lên, thì người đàn ông reo to, giọng vừa mừng vừa ngạc nhiên: “Mày hả T.?” T. cũng lắp bắp: “Anh Trí hả?”
 Thì ra người đàn bà là bà xã của Trí. Lúc trong tù, T. đã xem tới xem lui hình của vợ Trí để phóng họa, làm sao mà không thấy quen cho được. Sau giây phút bỡ ngỡ, Trí chỉ tay vào T. nói với vợ: “Thằng này vẽ hình em đó.” Ngạc nhiên vợ Trí quay sang T.:
 – Trời đất! Vậy là anh còn sống hả? Hồi đó, khi tôi lên thăm nuôi, anh Trí đem tấm hình vẽ của tôi ra và nói anh vẽ tặng cho ảnh một ngày trước khi anh chết. Tôi cảm động qúa nên giữ kỷ vật đó cho tới bây giờ, tuy có lem luốc nhưng nó cũng theo vợ chồng tôi đến Mỹ.
 Nghe vợ Trí nói, T. chưng hửng hỏi Trí: “Sao anh nói kỳ vậy?” Trí vội kéo bà xã và T. vào quán giải khát, kêu nước uống, rồi bắt đầu kể cho T. nghe những gì xảy ra ở trại Z30D trong ngày anh trốn trại:
“Hôm đó, tao và các bạn tù khác đang lao động thì nghe có tiếng súng nổ báo tù trốn. Như thường lệ, tụi tao cứ nghĩ là tù hình sự, nên dáo dác một chút rồi tiếp tục lao động lại. Đến chiều, khi các đội lao động nhập trại thì có lệnh không được về buồng mà tập trung tất cả trong sân trại và cùng ngồi xuống đất giống như mọi buổi sáng chờ xuất trại. Trước mặt tụi tao là tên Phó Giám Thị đặc trách an ninh đứng sau cái bàn được tự giác khiêng ra đặt trước ở đó. Bên phải của tên này là một xe “cải tiến” được dựng đứng lên cho tù thấy trong xe dính đầy máu. Sau khi tất cả đội tù lao động vào chỗ ngồi, tên Phó giám thị VC đưa tay chỉ vào vết máu trên xe cải tiến và nói cho mọi người biết đó là máu của mày. Mày đã trốn trại bị cách mạng bắt được và xử bắn tại chỗ. Hắn còn hù dọa là sẽ tiếp tục điều tra xem có ai tiếp tay không?”
 Nghe xong T. phục sát đất về trò lừa gạt của VC, còn Trí thì tiếp tục nói: “Hồi nãy, gặp mày tao mừng không phải vì “tha phương ngộ cố tri” mà vì tao thấy mày còn sống. Thật sự, không phải riêng tao, mà tất cả các bạn trong tù của mình hồi đó đều nghĩ mày đã chết thật rồi. Tao chờ gia đình mày lên thăm để báo tin nhưng không thấy. Khi được thả về, tao vẫn nhớ và thầm tiếc cho sự yểu mệnh của mày. Tao nhớ mày đã kể cho tao nghe nhiều lần, về chuyện mày thoát nạn trở về mà ai cũng giật mình vì tưởng mày đã chết.”
 Trí nói tiếp: “Bây giờ, vợ chồng tao gặp mày ở đây, câu chuyện còn độc đáo ly kỳ hơn mấy chuyện trước nữa. Đúng mày là “người chết trở về”.
 Trí ngừng nói và cười khoái chí vì được gặp lại người bạn tâm giao đã từng chia ngọt xẻ bùi với mình trong cảnh khốn cùng nhất của cuộc đời.
 Sau lần gặp mặt hy hữu này, Trí và T. khắng khít với nhau như tự thuở nào. Ngoài sở thích ca hát, cuộc sống tự do khiến hai người vừa trình diễn giúp vui trong các “party” của giới trẻ, vừa có thể “lai rai” chút đỉnh.
 Trí định cư ở Florida vì có người em làm chủ nhà hàng ở đây bảo trợ nên anh cũng không gặp trở ngại gì về kinh tế. Florida là tiểu bang nổi tiếng về du lịch, nhiều biển nhiều rừng, nhưng Trí bị bệnh suyễn nên không thích hợp với nước và các thú vui ngoài trời. Tuy nhiên, muốn làm bạn vui, T. rủ Trí mỗi người cùng mua một cây súng hơi để đi săn lén chim chóc và thú nhỏ. Mỗi cuối tuần, nếu không có tiệc tùng ca hát thì hai người rủ nhau lái xe đến các khu rừng để săn chim và thú.
 Một lần, trong khi đi săn bắn, Trí bắn trúng một con thỏ. Nó bị thương nhưng còn chạy được. T. khỏe hơn Trí nên đã chạy lần theo vết máu của thỏ để tìm. Khi chạy đến một mô đất sau gốc cây lớn, T. la to lên: “Trí ơi, đến đây lẹ đi!” Trí chạy tới, thấy trước mắt hai người là con thỏ bị thương đang nằm ngửa cho bốn con thỏ con dành nhau tìm vú mẹ để bú. Đúng là tình mẫu tử. Dù bị thương, thỏ mẹ vẫn nhớ con, cố chạy về cho con bú. Nhìn cảnh này, hai người chẳng những không bắt thỏ mẹ mà còn hứa với nhau rằng, từ nay về sau sẽ không chơi trò săn bắn nữa. Riêng T. nghĩ, thỏ mẹ tuy bị thương nhưng vẫn thoát được nhờ con của nó, còn mình thì ngược lại, ngày xưa thoát được là nhờ Mẹ. Tự nhiên anh thấy mủi lòng và suốt đoạn đường trở về nhà, hình ảnh của mẹ anh cứ lởn vởn trong đầu.
*
 Thời gian trôi qua, hai gia đình Trí và T. xem nhau như người nhà. Cuộc sống trên đất Mỹ đúng là cuộc sống mà hai người từng mơ ước khi còn trong tù. Vợ chồng T. đã sống ổn định từ lâu. Còn Trí, khi qua Mỹ vì bị bệnh suyễn nên được hưởng quyền lợi dành cho người bệnh. Hai con gái của Trí đã trưởng thành và nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới. Chúng theo nghề làm “tóc” và cũng thành công nên đã mua được nhà riêng cho gia đình Trí. Trí sống thong dong an hưởng tuổi gìa đến nỗi vợ chồng T. đôi khi gọi đùa Trí là “Ông Vua không ngai”.
 Nhưng thấy “dzậy” mà không phải “dzậy”. Cuối 2010, ông vua này cảm thấy “long thể bất an” vì bệnh suyễn biến chứng qua phổi, và có lẽ vì lúc trẻ Trí hút thuốc nhiều qúa nên phổi anh có vấn đề (ung thư). Phần T. thì tuy lúc nào cũng hạnh phúc với một nửa của mình, nhưng niềm vui “tha hương ngộ cố tri” đã bị bức màn định mệnh che phủ. Muốn vui cũng vui không được, muốn lo cũng lo không xong. Cuối cùng, vào một ngày tháng 7 năm 2011, Trí đã ra đi từ “cõi sống” bỏ lại người bạn “từ cõi chết trở về”.
 Ngày đến thăm Trí lần cuối tại nhà quàn, T. thấy gia đình Trí là một đại gia đình có mặt đầy đủ vợ con, em, cháu, và cả sui gia, anh cũng thấy an ủi cho Trí.
 Nhìn thấy vợ chồng T., cả nhà Trí nhớ đến tình bạn giữa hai người mà òa lên khóc. T. vốn tánh cứng rắn mà cũng phải đau lòng. Bậm môi để khỏi bật khóc, anh tiến đến vuốt mặt Trí. Nhìn nét mặt thản nhiên của bạn mình, tự nhiên T. tìm thêm được một ý nghĩa cho chữ “THOÁT” mà cuộc đời mình đã trải qua. Thoát gì thì thoát, cũng không thể thoát được qui luật Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Anh tự thấy an ủi, quay chào thân nhân của Trí và bước vội ra ngoài.
 Trên đường đến bãi đậu xe, T. phải đi chậm lại để chờ bà xã đang rề rà phía sau, anh chép miệng cảm khái:

“Mắc nợ đàn bà cũng không dễ gì thoát được”.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 23 Jan 2026

Bài 2.

Ngọn nến muộn màng cho người yêu nước Nghiêm Sỹ Tuấn

Trần Mộng Tú, sinh năm 1943 tại Hà Đông, Bắc phần. Lớn lên ở Hà Nội, Hải Phòng, di cư vào Nam 1954, trung học Nguyễn Bá Tòng, trung học Trường Sơn Sài Gòn. Nhân viên Hãng Thông Tấn The Associated Press, (1968- 1975). Sang Mỹ tháng Tư năm 1975, hiện sống (với gia đình) tại Seattle, Washington, làm thơ viết văn từ sau 1975. Đã xuất bản 4 Tập Thơ, 4 Tập Tản Văn và Truyện Ngắn. Cộng tác với các trang mạng và tạp chí văn học ở Mỹ và các nước khác.

Nhà thơ Trần Mộng Tú

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh chia sẻ với tôi một cuốn sách anh và các bạn anh đang soạn thảo. Cuốn sách về một cuộc đời rất ngắn của người bạn đồng nghiệp: Nghiêm Sỹ Tuấn, một Bác Sĩ Quân Y, một Thi Văn Sĩ, tử trận ở tuổi 31 tại Khe Sanh năm 1968 khi anh đang là Y Sĩ Trung Úy Tiểu Đoàn 6, Nhảy Dù. Nghiêm Sỹ Tuấn chết ở cái tuổi đẹp nhất của đời người: đời của một Y Sĩ, một Thi Sĩ và đời người Lính. Với ba cái đó cộng lại, Nghiêm Sỹ Tuấn là một con người sống lý tưởng và ôm đầy hoài bão tốt đẹp. Anh đã bước vào cuộc chiến, bỏ lại sau lưng gia đình, công danh, tình yêu và tuổi trẻ. Với trái tim nồng nàn Anh đã đối diện với định mệnh Si Vis Pacem Para Bellum.

Anh đi tìm hòa bình trong chiến tranh, Chiến Tranh là một điều không né tránh được nếu nhân loại thực sự muốn có Hòa Bình.

“Cư An Tư Nguy”, người quân nhân nào cũng thuộc lòng câu đó khi vào nhiệm vụ.

“…Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được … Cũng đừng buồn thấy lan nhược nở đỏ rồi rơi êm giữa rừng gai cằn cỗi. Cô đơn, đau khổ, gắng chịu một mình. Có thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng.” (Nghiêm Sỹ Tuấn)

Anh đi vào chiến tranh như một người nông phu bước vào thửa ruộng của chính mình. Không có điều gì tự nhiên mà có được, như muốn có bông lúa thì người nông phu phải cầy bừa trong bùn đất. Nghiêm Sỹ Tuấn đã đi vào chiến tranh như thế. Bỏ lại gia đình, bạn hữu, người yêu. Anh có một người yêu hay không? Chắc là phải có vì ta đọc trong văn thơ của Anh thấp thoáng đối thoại giữa Anh và một người con gái.

Người thứ nhất: Nghiêm Sỹ Tuấn

Người Thứ hai: Người Yêu

Người thứ hai: Em vừa nghe đọc tên anh. Bao giờ anh đi?

Người thứ nhất: Ngày mai, ngày kia, một tuần, một tháng, không chừng.

Người thứ hai: Anh có vẻ nhàn nhã thế. Không lo chi cả sao?

Người thứ nhất: Có gì phải lo đâu em. Anh sẵn sàng đã lâu rồi. Em muốn nói với anh, sao ngập ngừng?

Người thứ hai: Hơi khó nói một chút. Anh thật đã sẵn sàng, không còn gì bận tâm?

Người thứ nhất: Anh hiểu. Em vừa hỏi anh câu ấy. Thực ra, khi vừa rời sách vở, lúc ấy người ta mới rất nhiều bận tâm. Thân mình, ruột thịt, bạn bè, tình yêu. Với mặt trời, hoa cỏ và chim kêu. Tìm giữ tất cả ngần ấy thứ bên mình và trong đầu óc một hình ảnh, một mục đích, một điều ước mơ gì đó. Khó mà tìm ra đường lối giữ và khổ nhất là theo đúng đường lối tìm ra. Sao cho luôn luôn có thể nhìn ngay được những bận tâm ấy mà lòng vẫn nhẹ nhàng. Nhưng hôm nay em lại hỏi anh thế: Từ cả năm nay có khi nào đâu? Anh cũng vậy, chưa khi nào. (Trích đoạn trong Para Bellum-NST)

Anh sẵn sàng đã lâu rồi. (NST)

Đúng Anh sẵn sàng sửa soạn đi vào chiến tranh (Para Bellum).

Không phải chỉ sửa soạn cho chính mình mà cho cả thế hệ đang tới này hiểu thế nào về lòng yêu nước.

Chiến tranh chỉ xấu và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Nên người phải ngừng hay tiếp tục nó với những lý do đẹp đẽ. Cha ông chúng ta xưa kia đã nhất định tiếp tục nó, và đã chiến thắng, chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh con người là một cảnh tự nó đẹp, dễ làm cảm động, dễ làm thán phục. Nhất là khi có những sức mạnh bên ngoài để gây xáo trộn trật tự và kỷ luật ấy (NST)

Chiến tranh và Anh thế nào cũng phải có một bên thắng. Con khủng long chiến tranh đã phun ra những ngọn lửa thiêu rụi Anh. Nghiêm Sỹ Tuấn đã ngã gục và có ai biết đó là cái chết Anh chọn lựa?

Khi Anh nằm xuống Anh vẫn là một người đàn ông độc thân. Không có một vành khăn tang trên đầu quả phụ. Người yêu mơ hồ trong văn chương của anh không hiện thực. Chôn theo thân xác anh là một linh hồn đầy ắp lý tưởng và Họ đã phủ trên ngực Anh một lá cờ rũ. Chúng ta gấp cuốn sách lại với ngậm ngùi và lòng kính trọng. Chiến tranh Việt Nam luôn luôn là một vết thương không bao giờ lành dù nhìn dưới một khía cạnh nào. Cho dù vết thương có khô máu, có lên lớp da non.

Tuổi Trẻ, Tình Yêu Và Chiến Tranh

Những tờ nhật báo

mỗi ngày một giống nhau

hôm nay tin địch chết

ngày mai tin ta chết

mẹ già cuối xóm

đi nhận xác con

người vợ trẻ xếp hành trang cho chồng mai đi sớm

tăng thêm quân

tuổi mười tám xếp bút nghiên cầm súng

đào thêm hầm

người chết thiếu chỗ chôn

chung quanh em bỗng thấy

thành phố tắt tiếng cười

chiếc áo em đang mặc màu xanh

em nhìn thành màu đỏ

mùi mực in

thành mùi máu tanh hôi

em yếu đuối

em ngơ ngác tâm thần

em sợ lắm rồi thây người ngã xuống

Không,

không bao giờ em muốn anh đi

Anh gạt tay em dấn mình vào lửa

mảnh đạn mảnh bom chặn mất đường về

ngày mai mưa nắng anh không biết

lửa hỏa châu

đốt cháy lời thề.

tmt (1968)

Chúng ta hãnh diện đã có một người Quốc Gia như Y Sĩ – Thi Sĩ Trung Úy Nghiêm Sỹ Tuấn.

TRẦN MỘNG TÚ

Bellevue 4-3-2019