Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 24 Jan 2026


Nguyễn Thanh Bình, sinh năm 1942 tại Hà Nội, nguyên quán Bắc Giang, di cư vào Nam 1954.
Trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, tốt nghiệp Y Khoa Đại Học Sài Gòn 1967. Trong ban biên tập báo SVYK Tình Thương, viết truyện ngắn với bút hiệu Yên Thảo. Y Sĩ Trưng Tập Khóa 10. Y sĩ trưởng Thiết đoàn 6 Ky Binh, đơn vị cuối cùng Trung Tâm 4 Hồi lực Cần Thơ. Cấp bậc Y Sĩ Đại Úy. Di tản sau 1975, định cư ở Canada, hành nghề chuyên khoa Tiêu Hóa tại Montréal. Cựu Hội Trưởng Hội YSVN tại Canada, cựu Chủ Bút Tập San Y Sĩ. Sau này, viết đủ thể loại, đăng trên TSYS, ký tên thật hoặc với bút hiệu Bát Sách.
Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn
Người Đi Tìm Mùa Xuân
CHÂN DUNG & TÁC PHẨM
Nguyễn Thanh Bình

Y sĩ Đại úy
Nguyễn Thanh Bình
Bạn tôi, Bác sĩ, Nhà văn Ngô Thế Vinh, dự định ra cuốn sách đặc biệt về cố Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn, binh chủng Nhảy dù và có nhã ý cho TSYS góp mặt trong việc xuất bản và phát hành. Đó là một vinh dự cho HYSVN tại CANADA và tôi được anh chủ bút
Thân Trọng An giao trách nhiệm viết một bài về tuyển tập này. Theo dự thảo, sách gồm ba phần:
Phần I:
15 tác giả viết về Nghiêm Sỹ Tuấn. 15 tác giả, gồm đồng nghiệp hay bạn bè viết về Nghiêm Sỹ Tuấn. Những bài này, có bài viết từ năm 1968, có khi mới đây, 2018, 2019, hơn nửa thế kỷ sau khi anh gục ngã nơi chiến trường. Tôi biết anh Tuấn trong thời gian cùng làm tờ TÌNH THƯƠNG của Y KHOA SAIGON, khi anh làm thư ký cho tờ báo này tới số 13, nhưng tôi không thân với anh và hiểu biết về anh rất sơ sài. Qua 15 bài viết, tôi có một cái nhìn về anh thật đầy đủ: Anh sinh đầu năm 1937, nên còn tuổi Tý, trong một gia đình nghèo, đông con. Anh là con trưởng, học Y khoa theo ý của mẫu thân, mà anh theo được ngành này nhờ học giỏi và có học bổng của Bộ Y tế. Anh là người nhỏ nhắn, có dáng thư sinh, giống như một Nho sĩ thời quân chủ. Rất khí khái, nhưng lại hiền lành, điềm đạm, nhiều suy tư và hình như hơi gàn vì bị ảnh hưởng của những triết lý Âu, Á mà anh say mê nghiên cứu. Anh học trễ, có lẽ vì loạn ly, 14 tuổi mới vào trung học, 28 tuổi tốt nghiệp Bác sĩ. Ngoài việc học, thực tập, trực gác rất bận rộn trong ngành Y, anh còn kiên nhẫn học thêm ngoại ngữ, Anh, Pháp, Đức, Hoa và Latin. Anh có thể đọc Tam Quốc, Ỷ Thiên Đồ Long Ký bằng chữ Nho. Các sách gối đầu giường của anh là Sử Ký Tư Mã Thiên, Đại Học, Luận Ngữ, và cả Tây Sương Ký …
Anh có một mối tình rất mơ hồ, không đoạn kết với một nữ y tá bệnh viện Nhi Đồng, theo lời anh Trần Xuân Dũng. Khi ra trường vào năm 1965, anh phục vụ tại TĐ6ND, bị thương 2 lần, từ chối đi tu nghiệp về giải phẫu, vì không được hứa cho trở về bệnh viện Đỗ Vinh của Nhảy Dù sau khi học xong. Anh đã hy sinh tại Khe Sanh năm 1968, vì bị trúng pháo kích của địch, khi đang băng bó vết thương cho một binh sĩ. Khi đó anh 31 tuổi, quá trẻ cho một đời người. Theo lời DS Vũ Văn Tùng, anh Tuấn rất quảng đại, hào phóng: Một binh sĩ có vẻ thích chiếc máy chụp hình của anh, khi người này tử trận, anh đến phúng điếu và để lại máy hình trên bàn thờ!
Tôi nghĩ tới truyện Đông Chu: Quý Trát là con út của vua Ngô Thọ Mộng, được cha sai đi sứ 6 nước. Ông đi qua nước Từ, vua Từ có ý thích thanh kiếm của Quý Trát, nhưng chàng bận công vụ, tự hẹn là sẽ tặng kiếm cho nhà vua khi trở về. Ngờ đâu lúc đó vua Từ đã qua đời, Quý Trát bèn treo thanh gươm bên mộ. Anh Tuấn ơi, anh chính là Quý Trát của Việt Nam. Khi thi hài của anh được chở về QYV Nguyễn Tri Phương, BS
Lê Văn Tập là người đã mở poncho nhận dạng bạn đồng khóa, lo tẩm liệm và chuyển về Sài Gòn. Trong 15 bài viết về Nghiêm Sỹ Tuấn, có 2 người nói về ngày anh qua đời, thì lại không giống nhau:
– Theo BS Trần Đức Tường, anh Tuấn mất khoảng tháng 4/1968, sau Tết Mậu Thân.
– Theo BS Nguyễn Thanh Giản, anh Tuấn mất ngày 13/08/1968.
Anh Trần Mộng Lâm, bạn đồng khóa 1967 của tôi, kể rằng, sau khi học quân sự ở Võ Bị Đà Lạt, chúng tôi về học hành chánh Quân Y tại Saigon, và Lâm được chỉ định đi canh quan tài của anh Tuấn. Lúc đó có lẽ là tháng 4, và tôi nghĩ anh Tuấn mất vào khoảng đó, vì nếu sau ngày 13/08/1968 thì vô lý, anh em chúng tôi đều đã đáo nhậm đơn vị rồi. Và việc báo hung tín cho gia đình anh Tuấn cũng không đồng nhất. Cả 2 người, BS Lê Văn Châu và Đại úy trợ y Trần Đạt Minh đều nhận mình đã làm công việc rất khó khăn và tế nhị này. Ai đúng? Ai sai? Tôi chỉ nêu lên đây nhận xét vậy thôi, chứ hơn nửa thế kỷ qua, ai dám chắc là trí nhớ của mình không suy giảm.
Sau đó là mấy trang hình ảnh của anh Tuấn:
– Hình thời sinh viên, nhỏ nhắn, tươi cười cùng các bạn.
– Hình đội khăn đóng, mặc áo dài, chụp với các em, giống như một nho sinh.
– Hình mặc đồ trận, trên phi cơ, trước khi nhảy dù.
– Đặc biệt là bức tranh truyền thần của anh Tuấn, do bạn tôi là Y Sĩ Đại úy Lê Văn Công vẽ.
Phần II: Tác phẩm của Nghiêm Sỹ Tuấn:
– Trên Tình Thương, Tập San Đại Học Quân Y 1968,
– Tuyển tập QY QLVNCH năm 2000,
– Tuyển tập Thung Lũng Hoàng Hôn (2002),
– Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker, dịch chung với Hà Ngọc Thuần,
– Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, dịch chung với Nguyễn Vĩnh Đức.
Mục truyện ngắn, có 2 bài:
– Những người đi tìm mùa xuân: Truyện giả tưởng, nhiều chi tiết, đọc kỹ thì mường tượng như tiên tri cho thảm cảnh của VNCH năm 1975! Vì kiến thức tổng quát rộng, anh dùng rất nhiều điển Âu, Á. Tôi dốt về sự tích Âu Tây, nhưng về văn chương lịch sử của Tàu thì khá, nên tôi rất thích những nhân vật anh nhắc tới trong truyện, như Phi Yến (Hoàng hậu của Hán Thành Đế Lưu Ngao, đẹp và nhẹ như chim yến), Thái Chân (Dương Quý Phi), Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh (Vũ tướng của Hán Vũ đế), Chi Di Tử Bì (Phạm Lãi, trốn Việt Câu Tiễn, qua nước khác buôn bán, cũng có tên là Đào Chu Công), Thi Quỷ Lý Hạ đời Đường, Tử Kiến, tức Tào Thực, con Tào Tháo …
– Para Bellum: đối thoại giữa 7 người, với nhiều đề tài về chính trị, xã hội, văn chương.
Tóm lại, truyện của anh không dễ, phải đọc từ từ, suy nghĩ mới hiểu được, nhiều khi bị lạc trong những diễn biến.
Thơ của anh cũng có 2 loại:
– Nhị Thập Bát Tú, 4 câu, 7 chữ, như Trần Xuân Dũng, theo trường phái của Vũ Hoàng Chương.
Đầu ối vỡ toang, vào bể dâu,
Nỗi trơ lặng lẽ chớm lên màu,
Chín trăng lẻ ngủ không mơ bướm,
Cắt rốn rồi ta bị buộc đâu?
– Loại lục bát: “Sáu Buồn” Trước Tử Biệt Sinh Ly, đề cho LMN, là ai? Tại sao lại lấy tựa như vậy? Hay là điềm báo trước ngày anh từ giã cuộc đời? Như bài sau cùng mà tôi thấy là gở:
ĐẤT LẠNH
Hồ trường một dốc chưa say,
Lưng đau cát sỏi, ai đau thân mình,
Điểm trang khô mắt đăng trình,
Nghiêng thêm băng giá, hồi sinh đợi ngày.
Là Y Sĩ của 1 trong 2 binh chủng nguy hiểm nhất của quân đội mà anh nhắc tới Đất Lạnh và Hồi Sinh Đợi Ngày thì quả nhiên là thơ nó vận vào người. Những bài Biên Khảo, viết riêng hay chung với Đặng Vũ Vương, Hà Ngọc Thuần, rất công phu, uyên bác, trích dẫn nhiều sách vở cổ, kim, đọc thật hay, nhưng cũng rất mệt, phải để công suy nghĩ, tìm hiểu …
Truyện dịch của anh thì dễ đọc hơn nhiều, thoải mái, hấp dẫn, văn chương sáng sủa, nhẹ nhàng, nhất là những bài trong Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian mà anh hợp tác với Nguyễn Vĩnh Đức.
Mục này khá dài, và công của anh Nguyễn Vĩnh Đức không phải ít.
Phần III: Đọc Nghiêm Sỹ Tuấn
của Trần Mộng Tú và Trần Thị Nguyệt Mai
Những cảm tưởng của hai vị nữ lưu, rất chân thành và duyên dáng, sau khi đọc tuyển tập viết về anh Tuấn. Đó là bài thơ cảm đề, viết thảo trên một bức tranh đẹp.
Tuyển tập Y SĨ TIỀN TUYẾN NGHIÊM SỸ TUẤN quả là một bức tranh đẹp, trên đó, đám y sĩ chúng tôi thấy lại hình ảnh của chính mình trong bao nhiêu năm trời ở lính, với những kỷ niệm vui, buồn, những nỗi đớn đau, uất hận, những cảnh tử biệt, sinh ly … Và chúng ta cần phải coi bức tranh này để nhớ lại ngày xưa.
NGUYỄN THANH BÌNH
Montréal, 16.04.2019
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.