This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trời đã tối, tiếng súng bắn đi đã êm, chỉ còn những tiếng súng Việt Cộng bắn chúng tôi. Tiếng chân người chạy mỗi lúc một nhiều về hướng nam.
Khải máy và Phước râu chạy đến chỗ tôi. Khải máy la lên:
“Trời ơi ông thầy, người ta chạy hết rồi, ông còn nằm đó mà “moi lỗ”!”
“Còn phải đợi thằng Bưởi nữa chứ.”
“Ðợi gì nữa mà đợi. Có thể nó đã chết rồi, cũng có thể nó đã chạy rồi.”
Tôi quay sang cô gái:
“Thôi, chạy đi cô em.”
Cô gái nhìn tôi, lắc đầu.
Tôi đứng dậy, chạy theo Khải máy và Phước râu.
Chúng tôi chạy lom khom qua hết những cái gọ nằm rải rác trên bờ, nhập vào dòng người đang chạy sát mé nước.
Chạy thì cứ chạy, không lẽ mọi người đã chạy mà mình lại không chạy, nhưng thực sự tôi không hiểu là chạy để làm gì, và chạy đi đâu, chạy về hướng nam tức là chạy về phía cửa Tư Hiền. Tôi chẳng buồn nghĩ là chạy về đó rồi sẽ làm gì, và mình có chạy nổi về đó hay không.
Phước râu đề nghị:
“Hồi nãy tụi nó tự tử nhiều quá, hay là mình tự tử luôn đi ông thầy.”
Khải máy góp ý:
“Có lý đó ông thầy. Mình chạy như vầy để làm cái gì?”
“Không, tụi mày ngu thấy mẹ. Người ta cắt đất để giao cho Việt Cộng. Tụi mình dở nên mình bị kẹt. Nếu bị bắt cũng chừng vài tháng chứ mấy, khi nào được trao trả về, đụ mẹ, đánh lại.”
“Làm tù binh của Việt Cộng chịu gì nổi ông thầy.”
“Cái gì mà không nổi, tụi mày không thấy tù binh được trao trả hồi ngưng bắn à, người ta ở tù bao nhiêu năm người ta còn chịu được. Bộ tụi mày không thấy thiếu úy Bông, chuẩn úy Nhường à!”
Tiếng súng phía sau lưng đã hết, nhưng dòng người chúng tôi lại bị ăn đạn từ phía trong bờ mỗi lần chúng tôi chạy ngang một cái chốt của Việt Cộng. Cũng có những tràng súng, cũng có những quả lựu đạn được bắn trả, được ném trả vào những cái chốt đó. Không biết có giết được mạng nào không?
Việt Cộng được dịp bắn thả cửa vào chúng tôi. Số người trúng đạn không phải là ít.
Tôi nói với hai thằng đệ tử:
“Chạy trên cát thì lẹ nhưng mà nguy hiểm quá, trong khi mình đâu cần chạy nhanh hay chạy chậm. Chạy dưới nước chậm hơn nhưng an toàn hơn. Ðạn bắn ra chỉ trúng thằng chạy trong thôi.”
Phước râu và Khải máy mỗi đứa chạy một bên để đỡ tôi, khi nào mệt tôi choàng cổ hai đứa để được dìu chạy, khi nào tôi chạy được một mình, Phước râu lại tấp vào phía trong bờ, chạy trên cát.
Tôi ngạc nhiên:
“Mỗi lần buông tao ra mày chạy trên cát cho đỡ mệt hả?”
“Tui đâu có mệt ông thầy, chạy phía này lỡ có bị bắn tui còn che được cho ông chớ.”
Tôi xúc động ứa nước mắt. Khải máy đã từng về dự đại hội chiến sĩ xuất sắc ở Sài Gòn, nhưng vì là gốc quân phạm nên leo mãi leo hoài vẫn không lên nổi cái lon hạ sĩ trong khi đã đeo binh nhất từ trước khi về đại đội cũng có đến ba năm. Khải mang máy đại đội nên là tay thân tín của đại đội trưởng, thay vì chạy theo đại đội trưởng vừa đỡ mệt vừa có cả gạo sấy thịt hộp, Khải máy lại chạy với tôi, lãnh đủ cả đói lẫn mệt.
Phước râu là hạ sĩ, đã có một thời gian năm 72 làm quyền tiểu đội trưởng khi còn là binh nhất, trong khi với Thủy Quân Lục Chiến, hạ sĩ mới hy vọng mon men được đến cái chức tiểu đội phó. Hạ sĩ Phước là tay đánh giặc có hạng nhưng cũng là tay cứng đầu, nên vừa rồi đã được đại đội trưởng “trân trọng kính mời” ra khỏi đại đội để qua đại đội mới là đại đội 3. Là một con cáo già trong những trận đánh, đồng thời Phước râu cũng là một tay kinh nghiệm đầy mình trong những đợt “di tản chiến thuật”. Bây giờ Phước râu tự ý lấy thân che đạn cho tôi trong khi tôi không còn là cấp chỉ huy của anh chàng.
Ba thầy trò tôi chạy dĩ nhiên là chậm so với những người cùng chạy nên cứ tụt dần về phía sau. Nhưng dòng người hình như vô tận nên chúng tôi dù có bị tụt dần vẫn không phải là những thằng sau chót.
Lại rất nhiều người bị bắn ngã từng chặng từng chặng khi chạy qua những cái chốt của Việt Cộng. Chưa bao giờ bọn chó má này được bắn sướng tay đến như vậy. Mỗi tràng đạn ít ra cũng phải trúng vài ba người. Nhưng ai ngã mặc ai, những người chạy vẫn cứ chạy.
Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.
Dòng người chúng tôi tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư… nhập bọn, lại tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, lại một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.
Dòng người chúng tôi vẫn cứ tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư…
Tôi không thể nhớ để mà đếm nổi là đã có bao nhiêu quả lựu đạn đã nổ ở giữa những vòng tròn người như vậy. Nhiều, thật nhiều quả lựu đạn đã nổ.
Chúng tôi vẫn cứ chạy, những người tự tử tập thể vẫn cứ tụm thành những vòng tròn, quân đội Nhật năm 45 khi đầu hàng cũng không thể nào hào hùng hơn thế này được. Lịch sử Việt Nam chưa thấy viết một dòng nào về những cái chết hiên ngang của những thằng tốt đen như vậy, nhưng họ có đó, vẫn oai hùng khí phách chấp nhận những cái chết vô danh như vậy.
Chúng tôi vẫn cứ chạy, khi ngang qua những cái chốt của Việt Cộng, những người bị bắn trúng vẫn cứ ngã, những người tự tử vẫn cứ nổ lựu đạn. Ngoài biển vẫn có ánh đèn của những chiếc tàu qua lại.
Những người phía trước chạy chậm dần, chậm dần rồi ngừng lại.
Trong suốt thời gian chạy tôi nghe đủ thứ tiếng, tiếng chân, tiếng thở, tiếng sóng, tiếng súng, tiếng lựu đạn nhưng không nghe tiếng nói. Bây giờ mới bắt đầu ồn ào tiếng người.
“Ðụ mẹ, sao không chạy tiếp?”
“Chắc đến cửa Tư Hiền rồi.”
“Cửa Tư Hiền còn xa, chắc gặp tiểu đoàn 8 lên đón.”
“Ông thầy cho em miếng nước.”
“Ðụ mẹ, tao là lính chứ đâu phải sĩ quan mà kêu tao ông thầy.”
“Thì đàn anh cho đệ tử một hớp.”
“Hớp cái con cặc, bộ mày không có bình toong à!”
Nghe đến nước, tôi mới thấy là mình cũng đang khát. Tôi liếm môi chịu đựng. Nhìn bình nước trên tay người vừa chửi thề, thèm thuồng. Cố tưởng tượng rừng me của Tào Tháo, vô ích, cổ tôi vẫn khô ran, không có tí nước bọt nào để mà nuốt.
Phước râu biết ý, ngoại giao.
“Anh cho trung úy tôi một hớp.”
Người có bi đông nước nhìn tôi.
“Trung úy thiệt không đó cha?”
“Thiệt mà, ổng là đại đội phó tui.”
Anh ta đưa bình nước cho tôi.
“Một hớp thôi nghe ông.”
Sau khi làm một ngụm nước, tôi mới có thể nói được.
“Cám ơn bạn.”
Việt Cộng xuất hiện, chĩa súng về phía chúng tôi ra lệnh.
“Ði một hàng dọc lên đàng trước”
Một giọng khác có vẻ là cấp chỉ huy.
“Tất cả giơ tay lên!”
Có tiếng trả lời.
“Bắt thì bắt, không giơ tay.”
“Bọn này ngoan cố, không hàng, chúng ông bắn bỏ mẹ.”
Nhiều tiếng nói trong chúng tôi vang lên.
“Bị bắt là tù binh, giơ tay hàng tụi nó coi mình là hàng binh. Không giơ tay”
Nhất loạt chúng tôi không ai giơ tay, chỉ nối đuôi nhau thành một hàng dọc đi tới. Ðang đi một hàng dọc như vậy, một người tách ra khỏi hàng, chạy ào ra ôm cứng lấy một tên Việt Cộng. Tiếng lựu đạn nổ, cả hai ngã vật ra chết.
Một người khác lại chạy ào ra ôm cứng một tên Việt Cộng khác, lại một tiếng lựu đạn nổ, lại cả hai ngã bật ra chết.
Chúng tôi và Việt Cộng vẫn còn đang ở trong thế gờm nhau, chúng tôi đông nhưng đã mất chỉ huy và không có vũ khí, Việt Cộng tuy xuất hiện ít nhưng có súng.
Tôi nghe Việt Cộng nói với nhau.
“Bọn lính thủy đánh bộ này thằng nào cũng ngoan cố. Chắc chắn tụi nó còn lựu đạn trong người.”
Một tên Việt Cộng, tên này chắc chắn là du kích nằm vùng vì đang xúng xính trong áo cà sa, đầu trọc lóc, đúng là một ông sư nhưng thay vì tay cầm mõ cầm nhang, lại lăm lăm một khẩu AK, mồm thay vì nói kinh nói Phật, lại ra lệnh cho chúng tôi.
“Chúng mày còn giấu lựu đạn trong người. Tất cả cởi hết quần áo ra!”
Chúng tôi nhìn nhau, chưa có phản ứng gì, tên sư du kích quát lên.
“Ðứng lại! Cởi hết quần áo ra!”
Một người lính buột miệng hỏi: “Cởi quần áo ra có bị coi là hàng binh không?” Cả chúng tôi lẫn Việt Cộng đều phì cười. Có lẽ tiếng cười đã làm không khí căng thẳng dịu lại. Chúng tôi cởi quần áo ra rồi tiếp tục đi tới.
Ðã có rất nhiều người bị bắt tập họp thành từng khối, ngồi quay lưng ra biển. Những người này không bị cởi quần áo như chúng tôi – những thằng bị bắt sau.
Ba thầy trò tôi ngồi nối đuôi nhau thành một hàng dọc trong khối mới bị bắt.
Phước râu nói với tôi.
“Ông khai là lính thôi nghe ông thầy.”
“Sao vậy?”
“Mình đi chung có gì tui còn lo cho ông được.”
“Ðâu được mậy, mình bị bắt cả đơn vị, tụi nó điều tra thế nào cũng lòi ra.”
“Nhưng ông đâu đủ sức sống một mình trong tù.”
“Nhằm nhò gì, ở tù ít tháng thôi chứ mấy, mà để coi ra sao đã.”
Có tiếng nói từ trong đám tù binh.
“Yêu cầu cho nước uống.”
Nhiều tiếng khác vang lên, lúc đầu còn rời rạc, càng lúc càng ăn nhịp dần, cuối cùng có cả tiếng vỗ tay bắt nhịp.
“Nước! Nước! Nước!”
Cứ như vậy cho đến khi nước uống được hai ả du kích cái mang ra.
Nhiều người bu lại uống nước, lúc đầu còn uống tử tế, đến thùng thứ ba được mang ra, cũng vẫn nhiều người bu lại, nhưng chỉ một số người uống nước, số khác giả vờ chen lấn giành nước để bóp vú hai ả du kích.
Nhiều tiếng chí chóe vang lên. Tên Việt Cộng đứng ngoài hắng giọng hỏi.
“Cái gì ồn ào thế?”
Thùng nuớc được hất đổ kèm theo nhiều tiếng nói.
“Hết nước rồi, yêu cầu cho thêm.”
Tên Việt Cộng đứng ngoài ra lệnh.
“Ðề nghị hai đồng chí mang thêm nước.”
Khi thùng nước kế tiếp được mang ra, màn bóp vú lại tái diễn, và khi hai nữ đồng chí được đề nghị mang thêm nước lần nữa thì trốn luôn.
Không còn nước, không còn đàn bà, mọi người ngồi trở lại trong hàng. Một người lính vừa ngồi xuống bên cạnh quay sang nhìn tôi cười.
“Ðụ mẹ, bị bắt mà còn được bóp vú Việt Cộng, đã quá!”
Sau khi đếm người xong, Việt Cộng đưa chúng tôi vào sân của một trụ sở ấp.
Tôi hỏi giờ một người đeo đồng hồ. Ðúng 12 giờ khuya ngày 26 rạng 27 tháng Ba.
Nghe đâu làng này có cái tên rất độc đáo: làng Cự Lại.
Ngày 26 tháng Ba là ngày Người Cày Có Ruộng.
Ngày 26 tháng Ba là ngày cả một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị khoảng một đại đội du kích Việt Cộng bắt sống.
Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra.
Hỏi trời, hỏi đất, hỏi lính, hỏi quan. Hỏi ai đây, trách nhiệm ai đây về chuyện ô nhục này của quân sử?
Tôi sực nhớ đến câu có vẻ cải lương nhưng ngẫm thấy cũng có lý: “Làm trai không sợ gì sương gió, chỉ sợ đời không có gió sương”. Chúng tôi những thằng lính tình nguyện về một binh chủng thừa mứa gió sương, và bây giờ bị Việt Cộng bắt, chúng tôi sắp sửa được hưởng một cuộc sống chắc chắn là không thiếu gì sương gió, không hiểu một tên lính nào đó khi xâm hàng chữ này vào người có nghĩ đến hoặc có tiên đoán đến ngày hôm nay, ngày 26 tháng Ba này không?
Phước râu lại dặn dò tôi.
“Ông thầy nhớ khai là lính nghe.”
Lúc trời gần sáng, Việt Cộng yêu cầu ai là sĩ quan tập họp riêng ở gần cổng trụ sở ấp.
Lúc đầu còn lác đác nhưng rồi chỗ tập họp riêng cho sĩ quan đông dần, hình như chẳng còn thiếu ai, ngoại trừ mấy ông cấp tá.
Tôi gặp trung úy Gắt, thiếu úy Dzu, Huy mập, Du Hồ. Tôi lại gặp Sĩ tiểu đoàn 2 Pháo binh.
Tôi còn gặp cả một thằng bạn cũ cùng học với nhau hết bậc trung học ở trường Nguyễn Trãi, Vũ Ðức Giang, khi chúng tôi đang bị trói chung bằng một sợi dây điện dài. Tôi ngạc nhiên kêu lên.
“Giang, mày làm gì mà cũng bị bắt ở đây?”
“Ơ Huy, cả chục năm mới gặp lại mày.”
“Tao hỏi mày làm cái giống gì mà cũng bị bắt ở đây?”
“Tao Thủy Quân Lục Chiến.”
“Mẹ kiếp, cậu đếch tin, mày mà cũng dám giết người à? Mà sao ở Thủy Quân Lục Chiến, tao không gặp mày?”
“Tao mới ra trường về Thủy Quân Lục Chiến khoảng nửa tháng nay.”
“Mày bác sĩ à?”
“Ừ, tao về tiểu đoàn 7.”
“Tội nghiệp thằng bé, mày cũng sợ đời không có gió sương à?”
Giang ngơ ngác.
“Gió sương gì? Cởi trần ngồi suốt đêm ngoài trời thế này mày bảo không bị sương à?”
Trời sáng rõ.
Mấy tên Việt Cộng gác chúng tôi cầm súng đi qua đi lại trước cổng. Một tên đứng gác trên chòi canh. Dân chúng bu sát vào hàng rào tò mò nhìn chúng tôi. Nhiều người đã cầm sẵn trên tay rổ khoai lang khoai mì để bán cho chúng tôi.
Những người bị bắt trước tôi không bị cởi quần áo nên họ có tiền, và vì là lính nên không bị trói, ra sát hàng rào mua bán với dân chúng.
Bọn Việt Cộng cố gắng ngăn cản vụ mua bán nhưng không nổi, cuối cùng đành phải ngó lơ. Nhiều người lính đem khoai sắn đến đút cho chúng tôi ăn.
Số sĩ quan chúng tôi cũng có đến cả trăm mạng, bị trói quặt cánh tay ra sau, nối tiếp nhau bằng sợi dây điện dài. Một số đã bị trói bằng dây kẽm vì không đủ dây điện. Lợi dụng lúc lộn xộn không có hàng ngũ gì, chúng tôi đã bàn với nhau.
“Nếu được đi chung với lính thì thôi, còn nếu bị dắt đi riêng ra phía biển, tức là bị đem đi bắn, chúng tôi sẽ cướp súng bắn lại”
Ðằng nào cũng chết, cướp súng bắn lại ít ra cũng giết gỡ được vài mạng.
Phước râu, Khải máy, trung sĩ Khang cũng bu đến chỗ tôi ngồi. Tôi nói đủ cho mấy đứa nghe.
“Khang đứng lùi ra che mắt mấy thằng gác, thằng Khải xin miếng khoai đút tao ăn, còn thằng Phước ngồi xuống nới lỏng dây trói cho tao.”
Tôi dặn thêm Phước râu.
“Nới lỏng vừa đủ để nếu cần, rút tay ra được. Lỏng quá dễ bị bể.”
Bằng cùng một cách này, tất cả dây trói chúng tôi lần lượt đều được nới lỏng.
Những tin đồn về mấy ông tiểu đoàn trưởng của chúng tôi được loan truyền.
“Chính mắt thằng A thấy ông Cang bắn súng vào đầu tự tử.”
“Chính mắt thằng B thấy ông Tiền tự tử chung với mấy người nữa bằng lựu đạn.”
“Thằng C đã vuốt mắt cho ông Sử ở bờ biển sau khi ông ta tự bắn vào đầu.”
“Chính mắt thằng này …”
“Chính tay thằng nọ …”
Những lời đồn đã làm chúng tôi hãnh diện, những lời đồn đã giúp chúng tôi thản nhiên ngồi chờ Việt Cộng dắt ra bờ biển. Nhưng rồi, quá nhiều lời đồn không giống nhau, có khi trái ngược hẳn nhau dần dần khiến chúng tôi nghi ngờ. Không lẽ một người mà vừa tự tử bằng súng, vừa tự tử bằng lựu đạn lại vừa trốn vào nhà dân mướn ghe, mướn tài công để chạy ra biển.
Tôi hỏi một người vừa nói với tôi là ông Tiền tự tử.
“Mày có trông thấy ông Tiền cầm súng bắn vào đầu không?”
“Em không thấy nhưng thằng A nói chính thằng B trông thấy”.
Tôi hỏi một người khác nói về ông Cang.
“Mày có thấy ông Cang tự tử không?”
“Chính thằng tà lọt của ông Cang nói với em.”
Tôi nghĩ bụng, lính đồn nhiều khi rất đúng, nhưng lúc này thực ra chỉ là để thỏa mãn một nhu cầu. Những lời đồn hiện đang được loan truyền chỉ có thưởng chứ không có phạt trong lúc này.
Khoảng 9 giờ sáng, Việt Cộng kiểm điểm số sĩ quan chúng tôi rồi bắt đi một hàng dọc ra khỏi cổng trụ sở ấp.
Trước khi đi, chúng tôi đã nhìn nhau ngầm ra hiệu.
Ra khỏi cổng trụ sở ấp, qua khỏi cổng chùa nằm ngay cạnh ấp, chúng tôi tập họp lại thành nhiều hàng ngang. Việt Cộng ra lệnh ngồi đợi. Ðợi cái gì chúng tôi không biết.
Dân chúng vẫn bu quanh hàng rào để buôn bán. Lính tráng bị giữ trong trụ sở ấp vẫn ồn ào; tôi còn nghe cả tiếng ca hát nữa. Họ quả là những người thật vô tư.
Một người trong hàng chúng tôi lên tiếng.
“Yêu cầu các anh cho lấy trả chúng tôi quần áo.”
Tên Việt Cộng đứng canh chúng tôi hống hách.
“Cái gì của chúng mày, quần áo gì của chúng mày. Tất cả mọi thứ là của nhân dân, chúng mày không có quyền đòi cái gì hết.”
Chúng tôi cười ồ lên, nhiều người tranh nhau nói.
“Té ra người dân nào cũng là Thủy Quân Lục Chiến hết à?”
Không hiểu tên Việt Cộng vì không hiểu câu nói hay vì không nghe rõ nên tiếp tục hùng hổ.
“Ðến nước này chúng mày còn lôi Thủy Quân Lục Chiến ra dọa nữa hả? Ông cho chúng mày một tràng đạn xong đời chúng mày bây giờ.”
Trong hàng lại ào ào lên tiếng.
“Bắn đi.”
“Có giỏi bắn ngay bây giờ đi.”
Trong lúc nói ào ào lên như vậy, mọi người chúng tôi tuy tay vẫn để quặt ra sau lưng nhưng đã rút ra khỏi dây trói. Tất cả đều ở tư thế sẵn sàng.
Tên Việt Cộng mặt mũi còn non choẹt, không biết phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh này nên lính qua lính quýnh, tay nắm thật chặt khẩu súng chĩa thẳng vào chúng tôi, chân bước giật lùi mấy bước, mắt ngó dáo dác cầu cứu, mồm lắp ba lắp bắp.
“À, chúng mày làm loạn, chúng mày làm loạn.”
Một tên Việt Cộng khác có lẽ cấp bậc lớn hơn từ trong chùa đi ra hỏi.
“Cái gì đấy đồng chí?”
“Bọn này làm loạn.”
Tên mới ra này nhìn anh em chúng tôi.
“Yêu cầu anh em giữ trật tự. Anh em cần gì cứ cho chúng tôi biết nhưng không được làm ồn ào.”
“Chúng tôi yêu cầu trả quần áo lại cho chúng tôi.”
“Ðược rồi, anh em ngồi đợi tôi cho người đi lấy.”
Tên này quay vào chùa, cho thêm mấy tên nữa tăng cường để gác chúng tôi.
Những bàn tay đã rút ra khỏi dây trói, được ý tứ đút trở lại. Mấy người dân ôm từng ôm, từng ôm quần áo của chúng tôi bị vứt bỏ dưới bờ biển tối hôm trước lên để thành từng đống trước mặt chúng tôi.
“Yêu cầu cởi trói để chúng tôi mặc quần áo.”
Tên Việt Cộng hùng hổ lúc nãy lại tiếp tục sừng sộ.
“Cởi trói để chúng mày làm loạn à?”
“Không cởi trói sao mặc quần áo được?”
“Mặc sao được kệ chúng mày.”
Chúng tôi lại ào ào lên. Tên Việt Cộng có vẻ là cấp chỉ huy lại từ trong chùa đi ra, trông thấy đống quần áo.
“Sao chưa phát quần áo cho người ta”, – quay sang phía chúng tôi, tên này nói tiếp -,
“các anh lại ồn ào cái gì nữa?”
“Yêu cầu phát quần áo và cởi trói cho chúng tôi để chúng tôi mặc.”
Tên này đứng suy nghĩ có vẻ lung lắm.
Tôi chờ đợi và suy nghĩ cũng không kém. Số phận của chúng tôi đã được quyết định sẵn, và quyết định như thế nào chúng tôi có thể đoán được tùy theo việc của chúng tôi được cởi trói hay không. Nếu không được cởi trói, chắc chắn chúng tôi sẽ bị bắn rất sớm. Còn nếu được cởi trói, không hẳn là chúng tôi sẽ không bị thanh toán nhưng thời gian còn hơi lâu, có thể là cuối ngày, có thể nửa đêm, có thể là phải đợi cho đến khi nào bọn chúng có đủ phương tiện mang chúng tôi đi xa, thật xa những người lính để họ không hay biết gì.
Quần áo cũng đã được mang vào trong vòng rào trụ sở ấp để phát cho lính. Quần áo chất đống trước mặt chúng tôi được ném đến từng người tuy chưa đủ. Như vậy chắc chắn chúng tôi sẽ được cởi trói, nhưng cũng chẳng ai cấm bọn chúng chỉ cởi trói để chúng tôi mặc quần áo rồi sau đó lại trói lại.
Tôi cười một cách đau khổ. Nếu cởi trói luôn, mọi chuyện sẽ tiến triển tốt đẹp, nhưng nếu bị trói lại hóa ra chúng tôi lỗ vốn quá nặng vì hiện giờ trên nguyên tắc là chúng tôi bị trói nhưng trên thực tế, chúng tôi muốn rút tay ra lúc nào cũng được. Sau khi mặc quần áo xong, bị trói trở lại, chắc chắn tay chúng tôi sẽ bị trói thật chặt. Bị trói chặt cả trên nguyên tắc lẫn thực tế. Nếu bị đem đi bắn, khả năng chống cự của chúng tôi sẽ yếu hẳn đi, chưa chắc đã giết gỡ được tên Việt Cộng nào.
Tên chỉ huy có khuôn mặt cáo già, sau một hồi suy nghĩ đã ra lệnh cởi trói cho chúng tôi.
Cũng may, Việt Cộng cởi trói cho người ngồi ở đầu mỗi hàng, rồi sau đó chúng tôi lần lượt cởi trói cho nhau, nên bọn chúng không biết được là dây trói chúng tôi thực sự đã lỏng le lỏng lét.
Quần áo được phát sao mặc vậy nên trông chúng tôi rất tức cười. Tôi, tiểu đoàn 4 mặc áo có bảng tên của tiểu đoàn 3, thằng tiểu đoàn 3 mặc áo của tiểu đoàn 5; thằng to như trâu nước mặc áo quá nhỏ không thể cài cúc, thằng nhỏ con mặc áo rộng thùng thình, nếu đứng dậy ai cũng phải nghĩ là cởi truồng vì cái áo dài che luôn cả quần lót.
Chúng tôi chẳng thằng nào buồn đổi áo cho thằng nào, cứ vậy ngồi nhìn nhau khúc khích cười như một lũ con nít.
Chúng tôi bị trói trở lại. Quả thật là đau, đòi mặc quần áo chỉ là một cái cớ để được cởi trói, bây giờ mặc quần áo rồi, bị trói trở lại, chúng tôi chẳng còn nhờ được ai nới dây trói cả. Nhưng đã dự trù việc này nên lợi dụng lúc mặc áo, chúng tôi đã bứt đứt sợi dây điện ở nhiều khúc nên khi bị trói lần thứ nhì này, chúng tôi chỉ còn bị trói chung từng tốp vài ba mạng, xoay trở chắc chắn dễ dàng hơn là bị trói chung nhiều người vào một sợi dây dài.
Thua keo này bày keo khác! Bắt đầu có người đòi uống nước, đồng thời có người đòi đi đái, có người đòi đi ỉa.
Chúng tôi có cả một lực lượng lính hùng hậu không bị trói ở gần đó đang theo dõi chúng tôi, nên Việt Cộng dù có muốn cũng chưa dám hành hạ chúng tôi. Nước được đem ra và chúng phải bưng cho từng người chúng tôi uống. Những người đòi đi đái đi ỉa được cởi trói dẫn ra phía bờ biển. Chúng tôi tiếp tục đòi uống nước, đòi đi đái, đòi đi ỉa loạn xà ngầu lên. Bọn Việt Cộng phần cho người đi lấy nước, phần phải bưng nước cho chúng tôi uống, phần phải cởi trói dẫn chúng tôi đi đái đi ỉa, phần phải trói lại những người đi ỉa đái về, phần lại còn phải canh gác chúng tôi nhưng vì không đủ người nên nhiều người trong chúng tôi đã không kịp bị trói lại.
Cuối cùng có quyết định của tên chỉ huy là cởi hết dây trói chúng tôi, với điều kiện chúng tôi phải giữ trật tự, ngồi trong hàng. Muốn gì giơ tay xin từng người một.
Chúng tôi được cởi trói.
Ông sư bắt chúng tôi tối hôm qua từ trong chùa đi ra, đi dép vỏ xe, mặc áo lam già, vai khoác AK, đầu trọc lóc không mũ được che bằng cái khăn mù xoa buộc túm bốn góc, vừa cười vừa nói với chúng tôi.
“Chào anh em, anh em có khỏe không?”
“Bị bắt mà khỏe mẹ gì!”
“Anh em đừng nghĩ là mình bị bắt. Anh em phải lấy làm sung sướng vì mình được nhân dân và cách mạng giải phóng ra khỏi guồng máy chiến tranh xâm lược phản dân hại nước của bọn Mỹ Ngụy.”
“Ông lầm rồi, chúng tôi chiến đấu để bảo vệ tự do, chúng tôi đâu có xâm lược ai.”
“Anh em không xâm lược, anh em làm bia đỡ đạn cho bè lũ xâm lược. Tổ quốc đứng về phía chúng tôi. Bây giờ anh em về với nhân dân, cách mạng có nhiệm vụ phải bảo vệ anh em, lo lắng và giúp đỡ anh em. Anh em sẽ được giáo dục để trở về đứng cùng một chiến tuyến với cách mạng, với nhân dân. Anh em hãy theo gương trung đoàn 56 của trung tá Phạm Văn Ðính, cách mạng đã đối xử một cách rất khoan hồng, lại còn cho giữ nguyên quân hàm cũ.”
Người ngồi cạnh tôi, giơ tay lên vừa cười vừa nói.
“Vậy đồng chí cho xin điếu thuốc.”
Nhà tu hành đang tươi cười “thuyết pháp”, chợt sa sầm mặt xuống, chụp ngay cổ áo người vừa nói, giựt giựt mấy cái, vừa giựt vừa gằn từng tiếng.
“Ai là đồng chí với mày, mày là kẻ thù của tao. Không có chính sách khoan hồng của cách mạng thì mày đã toi đời rồi con ạ.”
Chúng tôi ngồi nháy mắt nhìn nhau cười.
Dân làng gánh những thúng cơm đến phát cho chúng tôi. Mỗi phần ăn được chừng một bát cơm và một miếng cá khô gói trong lá chuối. Phần ăn dù ít cũng không đủ để phát đều cho tất cả chúng tôi. Lý do khá giản dị là không ai tưởng tượng nổi con số chúng tôi bị bắt đông đến như vậy.
Khoảng 2 giờ trưa, bọn Việt Cộng được tăng cường thêm bộ đội chủ lực đến, di chuyển tất cả tù binh chúng tôi ra phá Tam Giang đợi gọ để đi sâu vào trong đất liền.
Tại bờ phá, khi không còn bóng dáng người dân nào, chúng tôi bắt đầu được nếm mùi thổ phỉ, kẻ bị tước bút, người bị lột đồng hồ, kẻ bị tháo nhẫn, người bị gỡ dây chuyền. Nhiều tên du kích mặt mũi non choẹt, chừng mười lăm, mười bảy tuổi vác M-16, vác AK la hét, chửi mắng chúng tôi.
“Thằng này đeo nhiều bút chắc chắn phải là thằng chỉ huy cấp lớn, lột hết bút nó đi.”
“Thằng này để nhiều râu chắc chắn phải là thằng sĩ quan, lột đồng hồ của nó ra.”
Thôi thì có quá nhiều lý do “chính đáng” để chúng tôi bị lột sạch. Thậm chí đến sợi dây kim loại để đeo thẻ bài chúng tôi cũng bị lột với lý do là phương tiện chiến tranh của quân đội Ngụy.
Ưu tiên sĩ quan chúng tôi qua phá trước hết.
Trong khi tập họp đợi tất cả mọi người qua phá, một tên hình như là cán bộ chính trị đứng thao thao bất tuyệt với chúng tôi.
Nào là quân đội nhân dân là quân đội bách chiến bách thắng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng.
Nào là các anh là những người may mắn đã được nhân dân và cách mạng giải phóng khỏi gông xiềng của Mỹ Ngụy.
Nào là chính sách khoan hồng nhân đạo của chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đối với tù tàn binh biết ăn năn hối cải.
Nào là thành phố Ðà Nẵng đang bị bao vây mọi mặt, mọi phía từ đường núi, đường bộ, đường biển đến vùng trời.
Một người đứng lên hỏi.
“Xin anh giải thích cho chúng tôi một số điều, thứ nhất hành động chôn người tập thể tại Huế trong trận tết Mậu Thân và bắn giết bừa bãi những người dân vô tội tại đại lộ kinh hoàng năm 72, thứ nhì, tại sao mang tiếng là xâm lược mà khi chúng tôi rút khỏi Quảng Trị và Huế, dân chúng lại bỏ chạy hết vào Ðà Nẵng và Sài Gòn để tránh nạn Cộng Sản, thứ ba, anh giải thích thế nào về hành động quân đội nhân dân của các anhđã và đang cướp bóc ở bên kia phá, thứ tư, chúng tôi sử dụng súng đạn của đế quốc Mỹ hay mấy anh sử dụng súng đạn của Cộng Sản Nga, Tàu để tàn sát đồng bào, thứ năm…”
Tên cán bộ chính trị Việt Cộng tức giận ngắt lời và ra lệnh cho bọn thủ hạ.
“Lôi cổ thằng ngoan cố này ra ngoài” – quay sang chúng tôi, hắn gằn giọng – Các anh phải biết Đảng và nhân dân chỉ khoan hồng cho người nào thực sự biết ăn năn hối cải, còn tên nào ngoan cố chỉ có hại vào thân thôi.”
Nói xong, tên này hầm hầm đi ra ngoài.
Chúng tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía phá Tam Giang.
Khi mọi người đã qua phá xong, chúng tôi bị dẫn đi dọc theo con đường đất quanh co hướng về phía quốc lộ 1.
Lúc nãy, ở bờ phía bên kia phá, chúng tôi được nếm mùi cướp bóc, thổ phỉ, và bây giờ trên con đường đất hai bên là ruộng, là lùm, là bụi này, chúng tôi được thưởng thức món giết người.
Ðoàn tù chúng tôi đi thất thểu trên đường, đoành một tiếng, một xác người ngã xuống bờ ruộng, đoành một tiếng, một xác người nữa ngã xuống bờ ruộng. Một người đi ngay bên cạnh tôi bị bắn vào đầu, máu và óc văng dính cả vào người tôi.
Trò bắn giết rất kỳ cục và khó hiểu. Những người bị bắn chết và những người không bị bắn -hay chưa bị bắn- đều không hiểu tại sao bọn Việt Cộng lại bắn người này mà không bắn người kia. Tại sao thằng Việt Cộng này không bắn người này mà bắn người nọ? Chúng tôi rất hoang mang nhưng lúc này không ai có phản ứng gì, mọi người vẫn cứ lầm lũi, thất thểu đi. Ðói, khát, mệt mỏi và luộm thuộm lếch thếch, chúng tôi đi, hoang mang không hiểu bao giờ đến lượt mình bị bắn.
Số người bị bắn mỗi lúc dĩ nhiên mỗi nhiều hơn. Tất cả lon lá đã được gỡ ra từ sáng, khi chúng tôi mới nhận được quần áo mang từ bờ biển vào. Râu ria trên mặt biểu hiệu cho chức cấp hiểu theo nghĩa Việt Cộng cũng không phải, vì nhiều người để râu, trong đó có cả tôi, không hay chưa bị bắn, nhiều người râu ria nhẵn nhụi đã bị bắn.
Mãi về sau, khi nghe được bọn Việt Cộng cầm súng đi tìm người để bắn nói chuyện với nhau chúng tôi mới vỡ lẽ ra. Những tên Việt Cộng nào đã từng bị tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến nào đánh cho xất bất xang bang lúc trước, lúc này cứ đi tìm huy hiệu và bảng tên của tiểu đoàn đó mà bắn.
Người mặc áo có gắn phù hiệu của tiểu đoàn 5 không bị thằng Việt Cộng này bắn nhưng bị thằng Việt Cộng khác bắn. Người mặc áo có gắn phù hiệu tiểu đoàn 3 bị bắn bởi thằng Việt Cộng không bắn người mặc áo của tiểu đoàn 4.
Chúng tôi lột hết bảng tên và phù hiệu tiểu đoàn.
Cuộc bắn giết thưa dần rồi chấm dứt.
Chúng tôi bị đưa về căn cứ La Sơn nhốt tạm để sau đó, hạ sĩ quan và binh sĩ bị đưa nhốt ở Khe Tre, Nam Ðông. Ðám sĩ quan chúng tôi bị đưa về cây số 23, gần ngay chỗ Ban chỉ huy tiểu đoàn 4 ít ngày trước, đối diện với làng Ðồng Lâm.
Khoảng giữa tháng Tư, chúng tôi bị đưa về trại tù binh chính thức nằm phía bắc Khe Sanh, sát biên giới Lào, ở ngay đầu nguồn sông Bến Hải.
Tuyến phòng ngự mới của chúng tôi bây giờ là cái mương thoát nước nằm sát đường băng của phi trường. Ở vị trí này chúng tôi không thấy gì bên kia suối, nhưng xạ trường và thị trường trước mặt thì rất trống, nếu có chỉ dấu gì mới của địch thì chúng tôi cũng phát hiện ngay.Cũng trong khoảng thời gian này, vào một buổi trưa, Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 gọi cho tôi, bắt tôi xác nhận đi, xác nhận lại, xem trên một tọa độ cách tôi 6 hay 7 cây số về hướng Bắc Ðông Bắc có quân bạn hay không? Tôi cứ một tiếng “Không!” mà trả lời.
Sau đó tôi thấy trên trời có chiếc vận tải cơ C 130 bay vòng vòng trên cao, rồi một tiếng “Ùm!” âm vang.Hóa ra đó là một quả bom loại tối tân nhất đã được thả xuống chiến trường Long-Khánh.Mãi lâu lắm, sau chiến tranh tôi mới biết đó là một quả bom nhiệt hạch, có tên CBU 85 (?) hay CBU 82 (?) gì đó có tầm sát hại rất là khủng khiếp. Tôi cũng nghe nói trong thời gian này còn một quả bom cùng loại đã được thả xuống vùng hướng Tây của thị trấn Xuân-Lộc.
Hình như hai quả bom đó đã dẫn chiến trận rẽ sang một khúc quanh. Ðịch quân bỏ Xuân-Lộc, đi vòng về hướng Tây để vây hãm thủ đô Sài-Gòn.
Năm giờ sáng ngày 18 tháng Tư có tiếng chiến xa gầm rú ầm ầm ngoài xa hướng Bắc và hướng Ðông. Pháo binh từ Tân-Phong và Núi Thị đều bắn tập trung thành một tuyến rào cản sát vành đai thị trấn.
Suốt ngày hôm đó chúng tôi chờ mãi không thấy xe tank địch tiến lên, không thấy chiến xa địch bắn một viên đạn nào. Tới chiều tối, đoàn chiến xa Việt-Cộng theo nhau rút đi mất.
Ðêm 18 tháng Tư tôi nhận được tin kiểm thính cho biết, một tiểu đoàn Cộng-Sản đang bị quân Dù vây hãm trong đồn điền của Thống tướng Lê Văn Tỵ sẽ kéo cờ trắng đầu hàng.
Tôi nghĩ đơn vị Việt-Cộng này đã bị lính của Lữ Ðoàn 1 Dù vây kín ba mặt Ðông, Tây và Nam, chỉ còn mặt Bắc là bỏ ngỏ, biết đâu chúng nó sẽ kéo nhau về hướng Bắc, là chỗ tôi đóng quân để đầu hàng thì cũng vất vả cho chúng tôi lắm! Chỉ có cái việc lo chuyện ăn, ở cho họ cũng đã đủ mệt rồi!
Ai ngờ chiều 20 tháng Tư tôi được Ðại tá Lê Xuân Hiếu gọi vào Trung Tâm Hành Quân Chiến Ðoàn 43 để thông báo rằng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vừa ra lệnh cho chúng tôi phải lập tức rút quân, bỏ rơi Long-Khánh!
Tôi phải hoàn trả đại đội bộ binh tăng phái cho Thiếu tá Dư vì Tiểu Ðoàn 3/43 của anh Dư sẽ giữ vai trò tùng thiết cho Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh trong cuộc hành quân triệt thoái này.
Tới giờ phút đó thì Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình-Long không còn thống thuộc ai, vì thế đại đội này cứ theo chân đơn vị tôi như một thành phần của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cho tới ngày về tới căn cứ Long-Bình.
Tôi nhận được lệnh rút lui, mà trong lòng không khỏi ngỡ ngàng.Mười hai ngày qua chúng tôi đã chiến đấu quên mình để bảo vệ quê hương và bảo vệ danh dự của Quân- Ðội
Trong chiến dịch Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975 Cộng Quân có hai yếu tố quan trọng là “Thiên Thời” và “Địa Lợi” nhưng những người tử thủ Xuân-Lộc, lại có yếu tố quyết định sống còn, đó là “Nhân Hòa”
Vì có yếu tố “Nhân Hòa” ngàn người như một, quyết chiến, quyết thắng, nên Quân- Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã đánh cho địch ngất ngư, đánh cho địch “tà đầu”.
Tháng Tư năm 1975, chiến trường Xuân-Lộc đã là mồ chôn của quân xâm lăng!
Rõ ràng chúng tôi đang là người chiến thắng! Vậy mà bỗng dưng chiều nay Tổng thống dọa cắt tiếp liệu, tiếp vận, không cho chúng tôi tiếp tục chiến đấu, bắt chúng tôi cấp tốc lui binh.
Vì hai chữ “tử thủ” mà mới hôm qua, những người anh em của tôi còn đổ máu giành giựt từng thước đất với quân thù, tôi đã chôn họ dưới những cái huyệt moi vội vàng, sâu chưa tới đầu gối.
Hôm nay, có khi xác của họ còn chưa kịp lạnh.
Trong mười năm chinh chiến, tôi đã từng nhiều lần đóng vai trò của một người “tử thủ” từ một ngọn đồi không tên nơi biên giới Việt Miên, tới những cái tiền đồn mà địa danh của chúng đã được ghi vào quân sử như Ðức-Cơ, Pleime, bây giờ là Long-Khánh.
Không biết ngày mai, sau Long-Khánh tôi sẽ còn phải “tử thủ” rồi lại phải bỏ rơi nơi nào nữa đây?
Tôi có mặt ở Xuân-Lộc đúng nửa tháng, vậy mà hình thù, dáng dấp thị trấn này như thế nào tôi cũng không hay. Ngoài cái phi trường và vài đoạn đường ngắn quanh đó, tôi không biết gì hơn.
Trước lúc ra lệnh cho quân vào đội hình di chuyển, tôi dẫn theo toán Viễn Thám của Mom Sol đi tới đầu phi đạo hướng Ðông để có đôi lời khấn nguyện cho linh hồn 12 chiến sĩ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã ngủ yên trên chiến trường Xuân-Lộc sớm phiêu du nơi chốn Thiên Ðường.
Ðoàn người bắt đầu rời vị trí, tới đầu con lộ đất, trong bóng đêm, tôi ngừng lại vài phút lặng nhìn con đường hẻm ẩn mình dưới vòm tre đen. Con đường hẻm này tôi đã ví như Lạc Phụng Ba của Phụng Sồ thời Tam Quốc.
Nơi cuối con hẻm và trên đồng cỏ ngoài kia là xác những chiếc chiến xa Việt-Cộng đã bị bắn cháy nằm rải rác. Trên lưng mỗi chiến xa đó đều được sơn một giòng chữ bằng khói màu vàng “Tiểu Đoàn 82 BĐQ diệt tank”
Sự hiện diện của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975 quả là một điều quá bất ngờ, ngoài dự liệu của Thiếu tướng Hoàng Cầm.
Vì thế trên đoạn sạn đạo này, “Người giỏi đánh” và “Người giỏi giữ” đã tình cờ đối đầu nhau.
Và trên con hẻm oan nghiệt ấy, danh tướng Hoàng Cầm của Bắc-Việt đã thành bại tướng.
Phải chăng chuyện hội ngộ của hai người cầm quân ngày đó đã được thiên cơ tiên liệu, an bài?
Ði qua cái nhà chứa máy bay đã tan tành, đổ nát, tôi thấy 2 chiếc L.19 vẫn còn nằm trong đó.
Tới trước tòa tỉnh trưởng, Ðại tá Phạm Văn Phúc chạy ra cổng, nắm tay tôi và ngỏ lời muốn tháp tùng theo đoàn quân của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, tôi đã chối từ.
Tôi không cho ông Ðại tá Tỉnh trưởng đi theo, vì tôi đã được lệnh chỉ bảo vệ Chuẩn tướng Tư lệnh chiến trường và Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 thôi.
Bốn mươi lăm năm sau, tôi vẫn chưa quên được hình ảnh thật là cảm động lúc chia tay, trong bóng tối, ông Ðại úy trưởng quầy hàng Quân Tiếp Vụ Tiểu Khu Long-Khánh đã hối hả chạy đi, chạy lại, giữa chiếc xe Dodge chở hàng và đoàn quân đang di chuyển để dúi vào tay những người lính vài gói mì ăn liền và vài bao thuốc lá.
Không rõ sau ngày chiến tranh kết thúc, ông đại úy này có còn sống hay không?
Trong cuộc lui binh rời bỏ Xuân -Lộc, Long-Khánh đêm 20 tháng 4 năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.
Sáng 21 tháng 4 năm 1975 Chuẩn tướng Tư lệnh chiến trường và Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 đã được chúng tôi bảo vệ an toàn về tới Bình Ba, Phước-Tuy.
Tôi cũng không thể ngờ rằng, vì tôi đã từ chối không cho ông Ðại tá Tỉnh trưởng Long-Khánh đi theo Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân mà chỉ vài tiếng đồng hồ sau thì Ðại tá Phạm Văn Phúc đã bị địch bắt sống khi ông đang trên đường lui binh.
Ông tiểu đoàn phó của tôi là Ðại úy Ngũ Văn Hoàn vì bị đau chân nên không theo kịp đơn vị. Ông ta bị tụt lại đàng sau phải đi theo quân Dù. Tới tối ngày 21 tháng Tư ông Hoàn mới tới chỗ chúng tôi trú quân.
Những anh lính người Nùng trong toán bảo vệ cho ông đại úy như Trung sĩ Nông Văn Tụi, Binh 1 Vi Văn Trung và toán Viễn Thám của Binh 1 Nguyễn Tuấn cũng không thấy về, không rõ họ đã bị thất lạc, hay họ đã chết trên đường Liên Tỉnh Lộ số 2.
Ngày 21 tháng Tư năm 1975 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức.
Người lên thay ông Nguyễn Văn Thiệu là Phó tổng thống Trần Văn Hương đã hết lời ca ngợi chiến thắng Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975.
Sau khi nhậm chức, Tổng thống Hương đã ra quyết định thăng một cấp đặc cách tại mặt trận cho tất cả quân nhân có mặt ở Xuân-Lộc trong suốt thời gian dầu sôi lửa bỏng. Trận Xuân-Lộc đã trở thành chiến thắng oanh liệt sau cùng của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Chiều 22 tháng 4 năm 1975 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân về tới Long-Bình.
Tôi được tin báo rằng hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng đã được bốc về đây ngay sau khi bị Cộng Quân đẩy lui ra khỏi phi trường Phan-Thiết. Ngày đó đoàn trực thăng đi đón một Lữ Ðoàn Nhảy Dù ở mặt trận Phan Rang đã không liên lạc được với quân Dù nên phải về không, trên đường về họ đã xuống cứu đơn vị Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Ðàng.
Những ngày cuối tháng Tư năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nằm ứng chiến sẵn sàng trong căn cứ Long-Bình, trong khi người thủ đô Sài-Gòn cuống cuồng tìm đường đưa gia đình di tản.
Giữ lời ước nguyện, anh em của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã không lìa bỏ nhau. Ngày 28 tháng Tư năm 1975 tôi dẫn quân vào vùng. Cho tới trưa 30 tháng Tư năm 1975 chúng tôi vẫn còn vững tay súng, sát cánh bên nhau, cùng nhau đi tới cuối đường để bảo vệ quê hương.
Trong 48 giờ cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt-Nam, hơn một trăm người anh em Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi đã phơi thây trên chiến địa.
Trong số những anh hùng vị quốc bị nghiền nát dưới bánh xích chiến xa T54 của quân thù có Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Tiểu đoàn phó của tôi và Binh 1 Lê Văn Bích, người nấu cơm cho tôi.
Trong cuộc chiến tranh này, tôi đã cố gắng hết sức mình để làm tròn nghĩa vụ một công dân Việt-Nam Cộng-Hòa. Là một người lính, tôi đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng để bảo vệ đất nước, bảo vệ danh dự Quân Ðội.
Vì thế, suốt những năm dài bị giam giữ, tù đày, lúc nào đầu tôi cũng ngửng cao.
Mười ba năm sau khi thua trận, tôi được tha về.
Cám ơn Trời! Vợ con tôi vẫn còn là của tôi.
Thời buổi ấy, kỷ niệm chiến chinh của dĩ vãng, hầu như đã quên; suốt ngày tôi chỉ lo chuyện cơm, áo, gạo, tiền.
Thế rồi số phận đổi thay, tôi được nhận vào định cư ở Hoa-Kỳ theo diện H.O.
Qua tới Mỹ, tôi có dịp gặp lại những người chỉ huy cũ của chiến trường Xuân-Lộc, Long-Khánh năm 1975 là Thiếu tướng Lê Minh Ðảo, Ðại tá Hứa Yến Lến, Ðại tá Lê Xuân Hiếu, Trung tá Nguyễn Văn Ðỉnh, và Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế.
Từ đây, tôi biết tin Trung tá Trần Văn Nô Thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh đã qua đời vì bạo bệnh sau khi được tha về từ trại cải tạo.
Tôi cũng nghe tin, chỉ một ngày sau lệnh buông súng đầu hàng, thì anh bạn của tôi là Thiếu tá Nguyễn Văn Dư, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/43 Bộ Binh đã bị Việt-Cộng tìm tới tận nhà, đánh gãy hai chân rồi đem đi thủ tiêu mất xác.
Tướng Ðảo cũng cho chúng tôi hay, cựu Ðại tá Phạm Văn Phúc sau ngày ra tù thì tình nguyện ở lại Việt-Nam và đã qua đời.
Ở Hoa-Kỳ, hiện thời cựu Trung tá Nguyễn Văn Ðỉnh đã phải ngồi xe lăn, đi đâu cũng cần người phụ giúp.
Cựu Ðại tá Lê Xuân Hiếu và tôi thì chọn cuộc sống âm thầm, ẩn dật, chỉ giao thiệp với một số bạn bè giới hạn.
Còn cựu Thiếu tướng Lê Minh Ðảo, Ðại tá Hứa Yến Lến, và Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế lại thường xuyên xuất hiện trước công chúng, họp mặt với các hội đoàn.
Tướng Ðảo hay nói với tôi và anh Hiếu câu này:
“Mình là chứng nhân của lịch sử. Mình không kể lại, không nói ra, thì ai sẽ thay mặt cho mình đây?”
Hằng năm, cứ tới gần ngày 30 tháng Tư, thì cựu Thiếu tướng Lê Minh Ðảo lại bận rộn với những buổi thuyết trình, họp báo.
Nhân dịp này, đồng bào Việt Hải Ngoại lại được nghe Tướng Ðảo tường thuật lại diễn tiến từng ngày của chiến thắng lẫy lừng Xuân-Lộc năm xưa.
Trong những buổi họp báo đó, thế nào Tướng Ðảo cũng nhắc tới Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Vương Mộng Long như là một bất ngờ của trận đánh này.
Có một lần, khi trả lời phỏng vấn, vị cựu Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh đã cao hứng, khen Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là một đơn vị có cung cách đánh giặc thật “Thần Sầu”.
Tôi nghĩ rằng ở thế giới bên kia, linh hồn những người đàn em của tôi đã nằm xuống vì đất nước sẽ rất vui khi nghe được những lời tuyên dương của ông Tướng Tư lệnh Mặt Trận Long-Khánh.
Với người khác thì Thiếu tướng Lê Minh Ðảo là “Tư Lệnh” là “Người hùng” vì Tướng Lê Minh Ðảo là linh hồn của chiến thắng Xuân-Lộc lẫy lừng. Thiếu tướng Lê Minh Ðảo là người ở tù cải tạo lâu năm nhất. Sang Mỹ, ông cũng là một chiến sĩ chống Cộng không mệt mỏi. Ông Lê Minh Ðảo còn là một thuyết khách, đồng thời là một nghệ sĩ tài hoa.
Nhưng với riêng tôi, thì ông Ðảo lại là một người anh mà tôi thực lòng quý mến.
Ngoài tình đồng môn Võ-Bị, tình chiến hữu, giữa tôi và Tướng Ðảo còn những kỷ niệm khó quên trong thời gian chúng tôi chung sống khi bị giam giữ tù đày ở Trại cải tạo Nam-Hà A, ngoài Bắc-Việt.
Từ lâu rồi, ông Ðảo đã là “Anh Tư” của vợ chồng tôi.
Theo thông lệ, hàng năm chúng tôi đều hẹn gặp Thiếu tướng Lê Minh Ðảo một lần ở tư gia của Ðại tá Lê Xuân Hiếu dưới Portland, Oregon, để tâm tình và thăm hỏi nhau.
Mỗi khi gặp lại, tôi đều phải “báo cáo” với “Anh Tư” tình trạng hiện thời của cháu Tiên Giao, đứa con gái thứ ba của tôi, mà tên nó đã trở thành danh hiệu truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975.
Trong số một vài người mà tôi coi là thân thiết thì Anh Tư là người độc nhất biết tường tận từng bước trưởng thành của cháu Tiên Giao, từ khi nó bắt đầu vào đại học cho tới ngày nó trở thành một manager của một công ty lớn, rồi có gia đình, và có một cháu trai.
Lần chúng tôi gặp nhau gần nhất là tháng 9 năm 2014.
Từ năm 2015 chúng tôi không còn hội họp ở nhà anh Hiếu nữa, nhưng vẫn thường xuyên gọi điện thoại hỏi thăm nhau.
Và mỗi năm, theo thói quen, cứ tới ngày đầu tháng Tư tôi vẫn không quên vấn an vị cựu Tư lệnh chiến trường Long-Khánh; lần nào tôi cũng được nghe ông cổ vũ: “Bây giờ em không còn súng! Nhưng em còn cây bút! Em cố gắng nói cho đồng bào mình, cho con em mình và thế hệ mai sau biết rằng, anh em ta đã đem hết sức mình để phục vụ quê hương, phục vụ đồng bào! Cố gắng nghe em!”
Cuối tháng Ba năm 2020 trên vòm trời Bắc Mỹ có một vì sao rụng.
Hằng Minh đã ra đi rồi!
Thế là từ đây, con chim đầu đàn của chiến trường Xuân-Lộc, Long-Khánh tháng Tư năm 1975 mãi mãi xa bầy.
Giờ này ở nơi thế giới mới xa thăm thẳm, Anh Tư có còn nghe được tiếng của em không?
“Hằng Minh đây Tiên Giao gọi! Tháng Tư lại về rồi! Hằng Minh ơi!”
Nerzhin đến giúp Potapov chế tạo cái bánh ngọt. Trong những năm dài đói khát vì bị quân Đức bắt làm tù binh rồi ở tù trong những nhà tù Xô Viết, Potapov đã học được sự thật là ăn không phải là một cái gì đáng để cho con người xấu hổ, chê bỏ, chán ghét, ngược lại, ăn là một thống khoái của đời sống, ăn là tinh hoa của đời sống con người. Tôi muốn biết thì giờ Qua những bữa ăn… Ăn sáng, ăn trưa, ăn tối… Người kỹ sư điện cao thế hát nho nhỏ. Mặc dù anh đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho những dòng điện tới cả ngàn kilowatt, Potapov, nhờ khéo tay và thông minh, rất sớm đã trở thành một chuyên viên nấu bếp cừ khôi: anh có thể chế tạo những chiếc bánh cam bằng vỏ khoai tây và trong Viện Mavrino, anh nổi tiếng với tài làm bánh ngọt và những món tráng miệng. Lúc này, Potapov đang bận rộn trước hai cái bàn nhỏ kê liền lại, đặt giữa giường anh và giường của Pryanchikov. Khi Nerzhin tới Potapov đang long trọng pha sữa đặc, sô-cô-la và hai quả trứng gà (đa số những món này do Rubin cung cấp, Rubin thường được nhận được đồ tiếp tế và bao giờ cũng ăn chung với anh em) thành một thứ dung dịch không có tên trong ngôn ngữ của nhân loại. Potapov đưa ra nhận xét là Nerzhin đến muộn và sau đó, ra lệnh cho Nerzhin đi tìm ngay hai cái ly sắt có thể dùng làm khuôn bánh. Nerzhin đề nghị để anh đi mượn hai cái ca dùng để cạo râu, anh sẽ rửa hai cái ca sắt này bằng nước nóng. Cảnh nghỉ ngơi thảnh thơi của ngày Chủ nhật ngự trị trên gian phòng đầy những giường ngủ. Nhiều người nằm trên giường nói chuyện với bạn, nhiều người khác đang đọc sách, những mẩu đối thoại bay đi, bay lại quanh họ. Nhiều người khác nằm yên, hai tay đặt dưới đầu, nhìn ngay lên trần phòng. Tất cả những thứ tiếng ấy hòa hợp thành một âm thanh hỗn độn. Tù nhân Zemelya, nằm phây phây trên chiếc giường trên, anh bận quần cụt, ở trần, tay mân mê những sợi lông trên ngực, miệng mỉm nụ cười vui và hiền lành thường trực, đang kể một câu chuyện với tù nhân Miska Mordvin nằm cách anh hai giường: “Nếu chú muốn biết sự thật… Tất cả những bê bối này bắt đầu bằng một nửa đồng kopeck” 1. “Sao? Liên can gì đến đồng kopeck?” “Trước đây, trong năm 1926, 1928 gì đó – năm đó chú còn nhỏ xíu – ở trước những ghi-sê phát tiền người ta có treo tấm bảng “Nhớ lấy cả những đồng một nửa kopeck tiền lẻ”. Thời đó có đồng nửa kopeck. Bọn phát tiền có bổn phận phải trả đủ cả từng đồng. Đó là thời thanh bình…” “Thời đó không có chiến tranh sao?” “Không có chiến tranh – chú có thể tưởng tượng được không? Đó là thời trước chiến tranh. Thanh bình. Phải đó, thanh bình. Trong những công sở người ta làm việc sáu tiếng đồng hồ một ngày, không phải làm quá nhiều giờ như bây giờ. Và mọi việc đều êm đẹp. Mọi người làm việc tốt. Chỉ cần chú phải làm việc thêm mười lăm phút là người ta trả chú tiền phụ trội liền. Chú nghĩ coi cái gì biến mất trước nhất? Những đồng nửa kopeck. Tình trạng bê bối bắt đầu. Rồi đến những đồng tiền biến mất. Tới năm 1930, những đồng bạc biến nốt. Không còn tiền lẻ nữa. Đôi khi, họ không thèm trả chú cả những đồng ruble lẻ. Kể từ đó, những sai lầm theo nhau đến. Ở ngoài phố, bọn hành khất không thèm hỏi xin đồng kopeck nữa, họ nói: “Bạn công dân, cho tôi một đồng ruble…”. Khi lãnh tiền lương do nhà nước trả, chú chớ dại mà đòi họ trả cho chú cả những đồng kopeck ghi trên sổ lương – họ sẽ cười vào mũi chú, họ sẽ gọi chú là… đồ bần tiện, bủn xỉn. Nhưng họ đã lầm: đồng nửa kopeck tuy nhỏ nhưng nó tượng trưng cho sự lương thiện của con người, cho sự kính trọng con người. Nói cách khác, họ coi thường con người, họ đái lên đầu con người. Không ai đòi hỏi quyền được hưởng những đồng nửa kopeck. Và con người mất giá trị vì thế”. Trên một chiếc giường khác, một tù nhân đang đọc sách ngừng lại để nói với người nằm ở giường bên: “Chính phủ của Nga Hoàng thối nát. Một chính phủ yếu xìu như thế không đổ sao được. Anh nghe này: Một thiếu phụ cách mạng tuyệt thực trong tám ngày để bắt một anh quản đốc nhà tù phải xin lỗi… 2. Và anh quản đốc ngu đần này chịu xin lỗi… Bây giờ làm gì có ai dám nghĩ đến chuyện đòi Quản đốc Nhà tù Krasnaya Presnya xin lỗi…?” “Bây giờ họ sẽ nhét thức ăn vào ruột bà ta vào ngày tuyệt thực thứ ba. Sau đó, họ cho bà ta thêm một hạn tù nữa vì tội khiêu khích. Anh đọc chuyện đó ở đâu vậy?” “Trong tiểu thuyết của Gorki”. Tù nhân Dvoyetyosov nằm gần đó ngóc đầu lên: “Ai đọc Gorki đó?” “Tôi”. “Đọc làm chi vậy?” “Đọc để biết chuyện ngày xưa ra sao, cũng có lợi lắm chứ. Như những chi tiết Gorki tả về khám đường Niznhy Novgrod chẳng hạn. Ở khám đường này, anh có thể bắc thang trèo qua tường mà không ai ngăn cản anh hết. Anh có thể tưởng tượng nổi chuyện ấy không? Về bọn giám thị thì Gorki tả cho ta biết rằng họ có súng lục nhưng lâu quá không được dùng đến nên súng rỉ hết, họ chỉ có thể dùng súng vào việc thay búa đóng đinh lên vách. Biết được những chuyện ấy cũng có lợi lắm chứ?” Ở bên dưới họ, đề tài thảo luận được nói đến luôn trong những nhà tù đang được nhiều người tham dự. Đó là đề tài Người ta nên ở tù lúc nào nhất? Cách đặt câu hỏi này cho người ta thấy quan niệm chung là ở đời này không ai tránh khỏi việc ở tù, chẳng sớm thì muộn ai cũng phải tù. Những người ở tù thường có khuynh hướng phóng đại số người ở tù. Thực ra hiện giờ chỉ có khoảng từ mười hai triệu đến mười lăm triệu người đang ở tù song những tù nhân tin rằng có tới hai mươi triệu đến ba mươi triệu người đang ở tù. Họ cho rằng bên ngoài nhà tù gần như không còn đàn ông nữa. Câu hỏi “Người ta nên ở tù lúc nào nhất?” ngụ ý muốn hỏi người ta nên ở tù khi còn trẻ hay ở tù khi đã già? Nhiều tù nhân thường là những anh trẻ. Ở tù trẻ, người ta có dịp tìm biết nghĩa lý của đời sống, biết những gì có giá trị thực trong đời và những gì tầm thường, để tới năm ba mươi nhăm tuổi, sau khi đã ở tù mười năm, người đàn ông vừa trưởng thành có thể xây dựng đời mình trên những căn bản hiểu biết khôn ngoan và đứng đắn. Những người ở tù khi đã già có thể khổ sở khi thấy rằng đời mình là một chuỗi dài những sai lầm đó. Nhiều tù nhân khác – đa số là những ông tù già – cũng lạc quan không kém khi nói rằng người ta nên ở tù khi về già, về già đi tù là nhất. Vì khi đã già, người ta vào tù như vào Viện Dưỡng Lão vậy. Lúc đó người ta đã tận hưởng được tất cả những lạc thú ở đời. (Trong ngôn ngữ của tù nhân, “tất cả” có nghĩa là việc có một tấm thân đàn bà, quần áo tốt, thức ăn tốt và rượu mạnh). Họ đưa ra nhận xét là đời sống trong tù không làm hại gì được những người già trong khi nó có thể làm hại rất nhiều những người trẻ. Có những người trẻ, sau khi được ra khỏi tù, trở thành “không còn thích đàn bà”. Đó là đề tài đang được bàn cãi sôi nổi nhất trong phòng. Tù nhân thường rất ham nói. Nhiều người nói để trấn an mình, để an ủi mình, nhiều người nói để tự hành hạ mình, tự làm mình thêm khổ sở. Nhưng rốt cuộc, vấn đề vẫn không được sáng tỏ hơn, vẫn không ai nắm được sự thật. Trong những buổi chiều Chủ nhật người ta thấy ở tù là một lạc thú, nhưng khi họ trở dậy vào sáng thứ Hai, ở tù bao giờ cũng là một cực hình. Nhưng việc thảo luận về đề tài ở tù vào tuổi nào tốt trên đây tuy có nhiều người tham dự nhưng không bao giờ đưa những người tham dự đến chỗ kích động, to tiếng. Trái lại, cuộc trao đổi ý kiến đưa họ đến gần nhau hơn trong nỗi buồn chung. Cuộc thảo luận không dẫn người ta đến đâu hết, nhất là không làm cho người ta cáu giận. Cuộc thảo luận về đề tài ở tù tàn đi, gian phòng im lặng trong một lúc, sau đó người ta nghe tiếng Khorobrov nói: “Khi người mình bắt đầu chuyến bay đầu tiên lên mặt trăng, tự nhiên là sẽ có một cuộc họp cuối cùng trước khi hỏa tiễn khai hỏa. Phi hành đoàn sẽ nguyện tiết kiệm đến tối đa nguyên liệu, nguyện phá kỷ lục tốc lực, nguyện không ngừng phi thuyền đang bay lại để sửa chữa… Một trong ba phi hành gia phải là một cán bộ chính trị. Trong chuyến bay, cán bộ này sẽ yêu cầu hai phi hành gia kia học tập chính trị và lấy lời tuyên bố của họ gửi về đăng báo”. Pryanchikov nghe được lời tiên đoán này trong lúc anh đi ngang gian phòng với chiếc khăn tắm và hộp đựng xà bông. Như người biểu diễn một động tác vũ điệu, anh nhảy tới bên giường Khorobrov và nghiêm trọng nói: “Ilya Terentich… cho phép tôi được cải chính: việc xảy ra sẽ không như anh nói đâu… Bởi vì…” Pryanchikov đưa ngón tay trỏ lên môi với vẻ bí mật như một diễn viên trong một phim trinh thám: “… người Hoa Kỳ sẽ lên mặt trăng nước”. Chàng cười, tiếng cười trong như tiếng của một đứa trẻ, rồi nhảy đi. Anh thợ khắc ngồi cạnh Sologdin trên giường. Anh và Sologdin đang say mê thảo luận về đề tài đàn bà. Anh thợ khắc đã ngoài bốn mươi, tuy nét mặt anh còn trẻ, tóc anh đã có nhiều sợi bạc. Mái tóc ấy hợp với anh. Hôm nay, anh thợ khắc đang hài lòng. Quả thực là anh đã lầm khi anh vội nuốt bản truyện ngắn của anh trong phòng khám trước khi lên xe đi gặp vợ, nếu anh đừng quá vội, anh có thể đem được truyện ra ngoài và trao cho vợ anh. Nhưng trong cuộc gặp mặt, vợ anh có nói cho anh biết rằng chị đã đưa cho nhiều người tin cẩn và có uy tín đọc những truyện ngắn gửi ra trước đây của anh và tất cả mọi người đều khen là hay, là truyện rất giá trị. Anh cũng biết rằng vợ anh có thể phóng đại những lời khen và những người thân được chị cho coi những đoản thiên ấy thường chỉ khen chứ không chê, nhưng dù sao anh vẫn thấy sung sướng. Anh nghĩ rằng dù anh viết hay hoặc viết dở, anh cũng đã ghi lại được cho hậu thế những sự thật về sự đối xử của Stalin với những chiến sĩ Nga bị Đức bắt làm tù binh trong trận thế chiến thứ Hai, anh nói lên tiếng kêu thương ai oán của cả triệu người không may đó Anh cảm thấy kiêu hãnh và anh tự nguyện sẽ tiếp tục viết truyện. Cuộc gặp gỡ hôm nay còn đem lại cho anh nhiều tin vui: vợ anh vẫn trung thành với anh, vẫn chờ đợi anh, chị đã gửi nhiều đơn xin cho anh được tự do, chị đã nhờ nhiều luật sư uy tín biện hộ cho anh và chắc chắn là trong thời gian tới, họ sẽ có tin vui hơn nữa. Trước hết, anh thợ khắc nói về hai chị vợ người Nga của anh, sau đó anh nói đến cuộc sống của anh khi anh là tù binh Đức ở trên đất Đức và những chị đàn bà Đức khả ái mà anh được gần ở đó. Anh so sánh đàn bà Nga với đàn bà Đức và đây là lần đầu tiên Sologdin được nghe nói đến sự cách biệt này. Anh thợ khắc nói rằng đàn bà Nga quá tự lập, quá tự tin, không chịu chấp nhận thiệt thòi khi yêu, họ quan sát người đàn ông họ yêu, tìm hiểu những nhược điểm của người yêu, và tấn công vào những lúc người họ yêu ít can đảm nhất. Đàn bà Nga bao giờ cũng ngang hàng với đàn ông trong tình yêu. Trong khi ấy, người đàn bà Đức mềm như một cây lau trong bàn tay người đàn ông họ yêu. Đàn bà Đức coi người đàn ông họ yêu là ông chúa, là người đàn ông duy nhất trên trái đất, người tốt nhất, đáng quý nhất. Họ hoàn toàn lệ thuộc và theo ý muốn người họ yêu. Họ chỉ mơ đến chuyện làm sao làm cho người họ yêu hài lòng. Vì vậy, anh thợ khắc thấy rằng với đàn bà Đức, anh sung sướng hơn, anh là ông chủ, là ông chúa. .
Tình cờ trông thấy một ông bạn thân đã lâu lắm không gặp ngoài đường phố, tôi vội vã chạy đến thăm hỏi. Mặt mày anh bạn này trong mệt mỏi, thểu não.
Kéo anh vào quán cà phê gần đấy, tôi hỏi thăm anh đau ốm thế nào? Sau một vài ngụm cà phê nóng, mặt vẫn còn nhăn nhó, anh nói với tôi:
– “Thật ra thì tôi có đau ốm gì đâu, chỉ vì ông nha công quá vụng, làm cho tôi một hàm răng giả quá chật, mỗi lần mang vào buốt đến tận óc, chóng mặt vô cùng!”
Tôi gần như gắt lên với anh:
– “Thì vứt mẹ nó đi, sao anh phải khổ thân đến thế?”
– “Ông phải hiểu cho tôi, suốt ngày khổ sở thế này, nhưng chiều về đến nhà, cởi hàm răng giả ra tọng vào ly nước ngâm là tôi sung sướng, khoan khoái như người đi lên mây!”
-“Anh nghĩ đời tôi có gì vui nữa. Làm ăn thua lỗ mấy năm nay, con vợ thì ngoại tình, chanh chua, con trai nghiện ngập cờ bạc, con gái thì học hành dở dang, bồ bịch lung tung. Tôi chỉ còn một điều sung sướng thỏa mãn là, cuối ngày về đến nhà cởi được hàm răng ra khỏi mồm. Anh nghĩ trên đời này, lúc ấy, có thứ hạnh phúc nào sánh nổi không?”
À ra thế! Bây giờ tôi mới biết thế nào là hạnh phúc của một người bị bóp mũi hay trấn nước, vừa được há miệng ra thở dốc, hạnh phúc biết bao nhiêu! Bị cùm suốt ngày đêm, mới được cai tù cho nới lỏng một chốc, hẳn mang nặng lòng biết ơn. Một người chỉ ăn ngô và sắn khô được bát cơm trắng sướng là chừng nào, anh chàng đi bộ suốt ngày được cho quá giang trên chiếc xe đạp hẳn rất thỏa mãn. Đó là hạnh phúc của Cuba, Bắc Hàn, Libya và của Việt Nam. Năm 2009, bảng xếp hạng “chỉ số hạnh phúc hành tinh” (Happy Planet Index – HPI) của Quỹ Kinh tế mới (New Economics Foundation – NEF, một tổ chức phi chính phủ tiến hành các nghiên cứu độc lập về hạnh phúc của các quốc gia trên thế giới) xếp Việt Nam vào hạng 5 mà chúng tôi đã có dịp nói đến trong mục tạp ghi này.
Mới đây theo những “dữ kiện về hạnh phúc” của tổ chức World Database of Happiness khảo sát 148 nước, từ năm 2000 đến 2009, thì Đan Mạch, một nước nhỏ ở Bắc Âu là nơi hạnh phúc nhất trong số 148 nước dựa trên các tiêu chuẩn sức khỏe, phúc lợi xã hội và giáo dục. Điều này có lẽ nhiều người cũng đồng ý. Đan Mạch, với một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có phúc lợi quốc gia lớn, xếp hạng nhất trên thế giới về bình đẳng thu nhập. Theo tạp chí kinh tế Hoa kỳ Forbes, Đan Mạch có môi trường kinh doanh tốt nhất thế giới. “Chỉ số hòa bình” toàn cầu năm 2009 xếp Đan Mạch là nước yên bình thứ nhì trên thế giới sau New Zealand. Đan Mạch cũng là quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới theo “chỉ số nhận thức tham nhũng” 2008, cùng hạng với Thụy Điển và New Zealand.
Bảng xếp hạng ghi nhận các quốc gia tiếp theo là Islande (2), Thụy Sĩ (3), Mễ Tây Cơ (4), Na Uy (5), Phần Lan (6), Thụy Điển (7), Canada (8), Panama (9), Úc (10). Cỡ Mỹ và Pháp là nơi nhiều người Việt Nam thèm được đến sống thì Mỹ chỉ đứng hạng 21 và Pháp xếp hạng 26. Mười nước … khốn khổ nhất trần gian:
Mozambique (139), Madagascar, Congo, Kenya (140), Sierra Leone (143), Bénin, Zimbabwe (144), Burundi (146),Tanzanie (147), Togo (148) *. Lần này không nghe nói là Việt Nam được xếp hàng thứ mấy. Đối với người yêu đời, lạc quan thì quan niệm “hạnh phúc ở quanh đây”. Bi quan chán đời thì cho rằng hạnh phúc thật mong manh và chóng tàn. Có triết gia cho rằng, việc kiếm tìm hạnh phúc hệt như đuổi theo một cái bóng và cũng ít ai cho rằng mình hiện đang hạnh phúc, họ hay nhìn và thèm thuồng hạnh của kẻ khác, cũng như kẻ khác đang nhìn và them thuồng hạnh phúc của họ. Vậy hạnh phúc trên đời này có thật hay không, hình dáng mùi vị của nó như thế nào, phải chăng ở mỗi người mỗi khác. Ông thi sĩ Hoàng Anh Tuấn vừa trao được bức thư cho người đẹp đã ngây ngất tủi mừng, về nhà cười nụ với cả cái cầu thang và suốt một tuần lễ “vui như ngày thi đỗ.” Tố Hữu đến với Cộng Sản, “hồ hởi” đến nỗi phải la lên “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim,” chắc hẳn phải khác hẳn hạnh phúc của một em bé vừa nhặt được một mớ “ni lông” trong đống rác sáng nay. Vậy chắc hẳn hạnh phúc của mọi người không ai giống ai.
Gần đây trong thời gian Việt Nam mở cửa, nhiều người bỏ xứ ra đi đã trở về, và cũng không ít người dành dụm tiền bạc lâu lâu đi kiếm hạnh phúc một vài tuần và họ đã ca tụng đó mới là hạnh phúc. Ở Mỹ, nhiều người có mặc cảm đàn ông bị xếp sau chó, sau những ngày làm “cu li” nhọc nhằn, về nhà lại bị càm ràm, đi kiếm được một vài tuần hạnh phúc bên một cô gái trẻ đẹp biết chiều chuộng ngọt ngào, dù không cần biết cả hậu quả lẫn nguyên nhân, cũng có lời. Nhiều ông cụ sảng khoái được gọi bằng anh, được âu yếm cho bõ những ngày mang mặc cảm già nua ở đất khách, cũng coi đó là hạnh phúc.
Có lẽ ở trong những đất nước độc tài hay cộng sản người ta dễ dãi tìm thấy hạnh phúc hơn chăng. Nghe tiếng trống ếch đã là vui, quàng được cái khăn đỏ đã là hãnh diện, có người được cái kẹo đường của “bác” ban cho, đi ra đường mà lòng hãnh diện, phơi phới không dám ăn, để trong túi quần mấy ngày đến chảy nước.
Cảm giác một người bị bóp mũi mới thở được chút khí trời khác hẳn với một người đang đi dạo ngoài bờ biển. Vì vậy, phải chăng chúng ta cũng không nên lấy một tiêu chuẩn nào cứng ngắt để định nghĩa cho hạnh phúc của nhân loại, cho nên nhiều quốc gia cũng không cần đếm xỉa đến “tiêu chuẩn” hay “chỉ số”, căn cứ vào đó mà những nhóm nghiên cứu cân nhắc, đánh giá ai hạnh phúc hơn ai. Chúng ta làm sao để đo “độ hạnh phúc” của một người lái xe ôm tuy suốt ngày vất vả, nhưng mỗi lần có khách là mỗi lần vui, chiều ghé quán bù khú với anh em, tối về ngủ với vợ, với mức hạnh phúc của một ông tổng giám đốc có nhiều công ty và quyền lực trong tay.
Về đạo đức của hạnh phúc, danh ngôn nào cũng cho rằng “người hạnh phúc nhất là người đã tạo đượchạnh phúc cho đa số kẻ khác”, hẳn tỷ phú chứng khoán Warren Buffett rất hạnh phúc khi đã bỏ ra 37 tỷ đô la để đóng góp cho quỹ từ thiện, nhưng sao những anh chàng lừa lọc gian trá cũng cảm thấy hạnh phúc khi ăn cắp được của quỹ y tế chính phủ Mỹ vài trăm nghìn. Nhiều người trong xã hội này cũng khoan khoái khi lừa lọc được người khác và chắc chắn họ rất vui khi thấy túi tiền mỗi ngày một đầy. Vậy thì hạnh phúc là gì?
Chỉ tội cho dân chúng các nước đang bị áp bức, không cần phải “dữ kiện”, không cần phải “tiêu chí”, kẻ cầm quyền cùng thằng dân bị bóc lột, “úm ba la” hai ta cùng hạnh phúc, mà có thể hạnh phúc nhất hành tinh này cũng nên.
Có thể nói sếp cũ của tôi là một ông già, già nhất trong những người giữ nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tác chiến. Ông đi lính từ một thuở thật xa, lâu lắm, cách đây hơn hai mươi năm lúc quân đội chỉ độc các loại commando, Lê-Dương, Nhẩy Dù thuộc địa… Đánh nhau bằng súng mút-cờ-tông từng phát một hay những cây FM đầu bạc bắn gật gù như ông già ho lao. Lúc chiến tranh còn nằm tít trên biên giới Lào – Việt – Trung, trận đánh toàn một cách xung phong ầm ầm, ào ào để giữ những làng, thị trấn mang tên lạ hoắc như Bản Hiu-Siu, Mường Phen, Thất Khê… Ông già sếp tôi thuở đó khởi nghiệp nhà binh với lon Cai ở Commando. Không rõ những ngày ở đơn vị đó ông có những gì đặc biệt, chỉ biết ông ta nhắc lại đoạn đời qua bằng một câu thật gọn: Cai thậttrẻ… Giọng Bắc Kỳ khàn khàn xuống mạnh vào chữ mang đầy kiêu hãnh và tự tín. Tước hiệu “cai thật trẻ” hình như là nỗi hãnh diện đầu tiên và đích thực nên sau này khi đã đóng đến lon “quan Năm”, lúc say rượu, dù cơn say vào độ tơi bời tàn khốc, ông vẫn còn nhớ được: “Tao là Cai Hùng, đếch phải là trung tá cái củ c… gì ráo…”. Cai Hùng! Cai Hùng! Một tuổi trẻ gió bão nào đó đã đi qua. Lúc tôi đến đơn vị này, ông năm mươi tuổi; năm mươi tuổi để tất cả đầu tóc bạc trắng và những nếp nhăn cày sâu trên mặt, nhưng ông vẫn còn nguyên vẹn thái độ nồng nhiệt đối với đời sống của ngày trai trẻ. Thời gian về trước ông đã nổi tiếng với những câu chuyện như sau: Quan Ba Nhảy dù nhưng vẫn đánh một chiếc xe đạp thổ tả cọc cà cọc cạch rong chơi với một con gà ở đằng sau porte-bagages. Thú nuôi gà của ông đã lên đến cao độ đến nỗi ông ta mang biệt hiệu “Hùng gà chọi”. Nghe tiếng một con gà nào đó ở Bà Điểm nổi danh vì ngón đòn, ông lọc cọc chiếc xe vượt qua một quãng đường dài lồi lõm sống trâu để chứng kiến cho được ngón đòn của gà… Hãy nghe ông “luận” về gà: Nó là một guerrier, đấy là một combattant, không bao giờ lùi không bao giờ chịu thua… Đến chữ “thua” ông đưa một quả đấm lên trời, mắt long lên sòng sọc. Đúng là hình ảnh của một con gà chọi. Chẳng hiểu thằng nào gán cho ông cái biệt hiệu thật đúng phong phóc!!! Nó là một tay gan lì! C’est un type! Dù có bị đánh lê nhê, máu me đầm đìa, hắn ta vẫn nhẫn nha chiến đấu… Có con gà bị đánh mù mắt, hắn ta mù nhưng vẫn lừa đối thủ để kẹp lấy chiếc cổ và thế là a-lê-hấp nó phản đòn ngay. Ông có thể luận về gà đầy đủ chi tiết, nhại lại thế đứng,một ngón đòn hay của con gà… Không có gì phải bất tiện, hai tay là hai cánh gà, hai chân biến thành một cặp chân tưởng như có đủ cựa nhọn, đầu cúi xuống, ông diễn tả nhiệt tình và chi tiếp hấp dẫn của mỗi trận đấu. Thế giới loài gà nếu biết được sự ái mộ nồng nhiệt đó chắc hẳn không bao giờ buồn phiền nếu ở trong tường hợp “à la casserole” hay “à la gamelle”… sau khi bị thua trận. Sau đá gà là rượu, rượu là nước của ông, chiếc bi-đông sau lưng bao giờ cũng đầy rượu đế ngâm vài cục đường phèn. Nhấp một tí rượu, cắn một miếng cóc nhỏ là đủ sức đi thêm một đoạn đèo, vượt một rặng núi. Dừng quân, cởi chiếc nón sắt, ông rút bi-đông làm ngụm rượu, đốt điếu thuốc, loại thuốc đen Mélia hay Bastos ngồi lim dim đôi mắt… – Trung tá có ăn cơm không? Anh lính cần vụ lân la đến hỏi. – Tớ đ… cần! – Trung tá có mệt không?… – Mệt chó nào được, ngày rút từ Lào về tớ chạy bộ suốt bao nhiêu ngày đêm cũng chẳng bõ bèm gì… –
– Chết mẹ… – Tụi lính xì xào…- Ông già lại nói chuyện bản Hiu-Siu thì chết cả lũ! Đúng ngay bong! Ông bắt đầu kể chuyện Bản Hiu-Siu ở bên Lào… – “Lúc đó tớ là thiếu úy, ban đêm Việt Minh ùa vào, dây kẽm gai giăng thấp chừng này, lính Bayonnette au canon! À la grenade… En assaut… Việt Minh lùa vào, mặc, tớ cứ tương lựu đạn đều đều… Ông ta đứng dậy ngay trên sườn núi biểu diễn thế ném lựu đạn và đâm lưỡi lê, ngừng một chút để hớp thêm tí rượu. Thiếu tá cố vấn Mỹ đến hỏi một điều gì đó, ông cụt hứng gắt um: – C… Đ.m cứ lẩm cà, lẩm cẩm cả ngày… Anh cố vấn de lui, mặt mũi thộn ra trông “quê” một cục. Ở Phú Thứ, Thừa Thiên năm 1967, ông chỉ huy tiểu đoàn tôi cùng tiểu đoàn 7 Nhảy dù tiến đánh vào khu giải phóng của vẹm, lúc tiểu đoàn 7 đụng trận, ông đứng trên thiết vận xa nhảy cỡn lên vì thích thú… – Đấy, tớ biết ngay, các chú (Việt cộng) đang ở chỗ này, nhất định là ở chỗ này… Thằng Bảy đụng ở đây, tớ dàn cậu (chỉ tiểu đoàn trưởng tôi) ở chỗ này là đi đoong đời các chú, tớ nghiền… Nghiền nát các chú ấy. Chữ “nghiền” được diễn tả bằng hai bàn tay bóp chặt vào nhau và kéo dài theo hơi thở, mồm ông méo hẳn lại để diễn tả cảnh tan nát của các anh Việt cộng. Đại loại là như thế, ông sống ở đời với thái độ “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, nhân vật Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông chắc cũng đến độ của ông già sếp tôi mà thôi. Năm 1965 hành quân tại Đức Cơ khi rút ra Pleiku nghỉ, không hiểu bị lôi kéo thế nào ông đi theo mấy đại đội trưởng vào hội quán Phượng Hoàng để khiêu vũ! Lệnh ông tướng vùng bấy giờ cấm mặc quân phục vào hội quán, anh quân trấn trưởng nói năng ra làm sao, ông nổi sùng… – Đ.m Hùng đi hành quân chỉ có mỗi bộ quần áo nhà binh, không cho tớ mặc đồ trận thì tớ cởi truồng sao? Thuận tay ông đưa luôn một qua dirrect, anh quân trấn trưởng nằm thẳng cẳng. Đóng quân ở Hương Trà, Huế, tiểu đoàn tôi làm tiệc mời ông ra hát. Hát không được thì tớ múa vậy! Nói là làm, ông đi một đường flammenco cũng lắc mông, lắc ngực, và kết thúc là một bài thuyết trình “Qu’est ce que L’armée?” Tiếp theo là những lời sỉ vả tàn tệ vua quan sĩ thứ người trong nước, ông nhớ đến ai ông chửi tơi bời hoa lá, chửi đích danh, chửi ngon lành, chửi như một cơn giận từ bao nhiêu lâu che dấu nay cho tuôn ra như dòng sông được mở… Đầu năm 1968, gần Tết Mậu Thân, lữ đoàn ông hết nhiệm vụ, từ Huế trở về Sài Gòn. Ông Tướng khu chiến thuật nhắc ông ở lại Huế để đón Tổng Thống cùng Thủ Tướng, ông hạ ngay một câu: – Tớ hết hành quân là tớ về, Tổng thống đâu có thương tớ bằng mẹ đĩ được! Nói xong ông leo lên tàu bay đi thẳng. Có một anh nhà báo lân la đến phỏng vấn… – Xin trung tá cho biết ý kiến về cuộc hành quân vừa qua? – Ý kiến hả…? – Đợi cho anh nhà báo sửa soạn ghi chép, ông “tuyên bố”: Sướng nhất là đêm Noel tớ say rượu gọi máy truyền tin qua Bến Hải chửi Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh!! Nhưng đằng sau những cơn say, những màn tiếu ngạo ồn ào trên, thật dễ dàng nhận được niềm thiết tha, mối nhiệt tình nồng nàn đối với quân đội và quê hương. Thật lạ lùng với hai mươi năm ở đơn vị tác chiến, thời gian bằng số tuổi của một gã trai trẻ, một gã trai trẻ cỡ tôi nhưng lòng hiu hắt như cơn nắng quái sắp tàn. Hơn hai mươi năm nhà binh với năm mươi tuổi, một mái tóc bạc trắng, ông vẫn có một nụ cười thật tươi để thêm vào câu chuyện. Thế nào là một cán bộ giỏi? Thế nào là những nguyên tắc căn bản để chỉ huy? Thế nào là DOC (Dirriger, Organiser, Controler) ông nói say sưa, dẫn giải từng điểm chi tiết về bổn phận của người trung đội trưởng, đại đội trưởng. Khói thuốc lá làm ánh mắt thành hiền hòa, ông nói sang sảng, trình bày mạch lạc. Ông gây nơi tôi một sự xúc động kỳ lạ, nỗi xúc động khám phá được niềm tin vẫn còn trong lòng một người giáo tóc bạc da nhăn với hơn hai mươi năm đi khắp rừng sâu núi cả quê hương. Hơn hai mươi năm gánh chịu cơn đau yếu đỏ lửa của tổ quốc, cơn đau yếu nhọc nhằn của dòng sống dân tộc chông chênh. Chiến tranh vẫn chưa đốn ngã niềm tin trong lòng ông… Tớ chỉ là Cai Hùng… Cai thật trẻ!! Sau này ông bị ra khỏi binh chủng vì một lý do nào đó tôi không hiểu nhưng điều này chắc chắn là một vết thương lớn nhất trong đời ông. Ông im lặng ngồi trong chiếc phòng con nhìn xuống chân đồi doanh trại cười gằn uất nghẹn đau đớn. Làm sao nói cho hết nỗi cay đắng của người lính già khi phải từ bỏ đơn vị, binh chủng cùng sống trên hai mươi năm lúc tóc còn xanh như niềm hy vọng đến nay mái đầu nhuốm bạc trắng. Không những vì một tuổi già nhưng cũng là lớp sương giá chồng chất lên sau khỏang thời gian binh biến. Thường ngày trong cơn say ông hay mò đến văn phòng chúng tôi để tìm người nói chuyện, nhưng trong thời gian này ông ngồi im như một kiêu hãnh bị xúc phạm, tiếng hét được ghìm xuống giữa kẽ răng thành những tiếng cười gằn nhức nhối như lưỡi dao đâm vào qủa tim đang mở miệng cười. Ông ra khỏi binh chủng, chỉ huy một đơn vị bộ binh nhưng vẫn mặc đồ ngụy trang và đội nón đỏ. Đâu còn là những kích thích về hình thức quyến rũ đối với ông. Nhưng phải nghe ông ta nói: “Tớ là Nhảy Dù… Tớ là Cai Hùng…” Tiếng “Nhảy Dù” nghe ngắn, chắc như xác định niềm hãnh diện có thật của một người đã sống hết đời cho tập thể. Sau một thời gian ở trung đoàn này ông bị tai nạn trầm trọng, tất cả cơ quan trong người bị đảo lộn. Ông phải chịu nhiều cuộc giải phẫu, thị giác trở nên yếu kém, mất phần lớn ý niệm về sự việc. Lúc chúng tôi đến thăm, ông không nhận ra, nhưng trong nỗ lực của trí nhớ, bỗng nhiên ông nhận ra Vinh “con”, viên sĩ quan nhỏ tuổi nhất được ông thương mến như con cháu. Ông nhận ra nó đồng thời với một giọng nói run run: – Tớ lúc này chỉ thấy mờ mờ nhân ảnh! Trong tận cùng của đổ vỡ, ông cũng không mất đặc tính khôi hài, dấu hiệu của tâm chất dũng mãnh dù hoàn cảnh đã đẩy đưa vào hố thẳm của tuyệt vọng. Sau này khi nhìn thấy được cảnh vật nhạt nhòa, ông đến trại thăm lại nhà cửa, hỏi thăm các hạ sĩ quan và lính cũ. Trí nhớ chưa phục hồi hẳn, ông mệt nhọc hỏi từng người với những câu nói rời rạc hỗn độn, sau cùng ông nói với tôi để xin người lính về giúp ông công việc riêng tại nhà. Lần đầu tiên nghe ông nói công việc liên quan đến gia đình. Khi tôi bảo người lính theo ông về nhà, ông vui vẻ ra mặt: – Quý hóa quá, thế mới biết anh em Nhảy dù luôn giúp đỡ nhau…! Lòng tôi trùng xuống như cơn mưa của ngày đông buồn bã. Tiễn ông xuống đồi, bóng người lính già khuất bụi mờ. Sau kiếp người đằng đẵng gian lao cho Tổ Quốc một khỏang trống xám đặc bụi mù.
Tháng 5-1969. Hậu cứ Long Bình.
Hậu Từ: Về Trung Tá Đào Văn Hùng, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn II Nhảy Dù – Sau 30-4-1975, lực lượng Cộng sản vào khu ngã Ba Ông Tạ truy lùng và xét xử ông cùng gia đình. Do thương trận từ trước (bị mù mắt và tê liệt) nên bộ đội CS chỉ xử tử người con trai của ông tại Lăng Cha Cả ngay sáng ngày 30-4-1975.
Hình bìa tập thơ Chiến Ca Mùa Hè – Hình tác giả Phạm Lê Phan edit by Sơn râu
Tiểu sử:
Tên thật: Phạm Kiệm. Sinh năm 1934 tại Thanh-Hóa (quê nội Hà Trung, quê ngoại Hậu Lộc). Những truyện ngắn và thơ bắt đầu xuất hiện trên Tuần Báo TIN BẮC và Tạp Chí BÁCH KHOA vào khoảng năm 1958-59. Hiện là cán bộ Văn Nghệ Quân Đội, chuyên viết kịch cho các sân khấu dã chiến . CHIẾN CA MÙA HÈ là tập thơ đầu tiên được in thành sách và 2 bài trong tập này (Chiến Ca Mùa Hè và Cho Một Ngày Quảng Trị Vinh Quang) đã đuợc Nhac sĩ Phạm Duy và Phạm Minh Cảnh phổ thành trường ca. Thường đi câu cá rô giải trí với các bạn văn Tưong Linh, Nguyễn đình Toàn, Phan Ba Thụy Dương, Phạm Minh Cảnh, biết ngâm thơ, đóng kịch, uống rượu và … bắn đại bác!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.