This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương hồi xưa trong bài ‘Tiếng sông Hương’ có viết:
“…Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi, khiến đau thương thấm tràn…
… Bao giờ máu xương hết tuôn tràn, quê miền Trung thôi kiếp điêu tàn cho em vang khúc ca nồng nàn. ..”
Nhạc sĩ chỉ mong hòa bình hết chiến tranh là bà con mình của vùng đất miền Trung đất cày lên sỏi đá, vùng đất chưa mưa đã lụt sẽ thôi kiếp điêu tàn.
Đó là một giấc mơ đẹp hồi xưa nhưng vẫn là giấc mơ đẹp cho tới bây giờ! Vì nó vẫn là giấc mơ; bởi hiện thực xã hội chủ nghĩa phũ phàng là 99% dân miền Trung quê mình vẫn còn đói cơm, thiếu áo!
Chỉ có 1% còn lại là sống trong xa hoa phù phiếm để dân sống chết mặc bây tiền thầy bỏ túi. Đó là tầng lớp quan lại thời CS! Mỗi bí thư tỉnh ủy là một sứ quân cát cứ, xưng hùng xưng bá, muốn ăn cắp của dân bao nhiêu cũng được. Mà túi tham thì không đáy!
Tiền nhiều quá thì phải ăn chơi; chớ cất trong tủ hoài nó mục hết ráo thì sao?
Chơi cũng có nhiều đường chơi cho lịch cho người biết tay.
Có quan dẫu còn trẻ chỉ mới 30 tuổi thôi nên thích chơi ‘chim’. Vốn háo danh nên quan đem mấy con ‘chim’ của mình đi thi hót vì mỗi lần chim hót quan vui.
Mấy giám khảo chấm thi ‘chim’ chỉ dựa vào chức tước của chủ ‘chim’!
(Cũng như đi thi sắc đẹp vậy mà! Em nào mà quan lớn nhứt đã từng ‘chấm mút’ thì phải đoạt giải Hoa hậu thế thôi!)
Nên chim của quan lớn nhứt tỉnh đoạt giải nhứt nhì ba hết trơn rồi, nên chim của quan chỉ đoạt giải khuyến khích.
Khuyến khích quan cứ việc tiếp tục chơi chim nhưng cũng khuyến khích hai thằng ăn trộm leo vô nhà quan rinh ba cái lồng chim, trị giá tới 5 triệu đồng đi bán rẻ chỉ được 2 triệu đồng, rồi chia nhau tiền ăn với nhậu.
May là quan còn có một con ‘chim’ nó ăn trộm chưa được; chớ như câu chuyện dưới đây một quan lớn khác bị trộm ‘chim’ mà hơi bị ngu nên chưa biết nữa đó.
Chuyện rằng: Một quan lớn làm tới chức bí thư đi làm về sớm. Mới bước vào nhà đã nghe những tiếng động là lạ phát ra từ phòng ngủ.
Quan anh vội vã chạy lên lầu và thấy con vợ mình trần truồng năm trên giường, mình đẫm mồ hôi, mặt xám ngoét, bèn hỏi: “Chuyện gì thế?!” “Em bị lên cơn nhồi máu cơ tim!”
Tay quan lớn nầy vội vã chạy xuống lầu chụp lấy điện thoại đi gọi xe cứu thương thì thằng con 5 tuổi chạy lẩm đẩm theo, méc: “Bố ơi! Anh hai tài xế của nhà mình núp trong tủ áo và không mặc quần áo gì hết ráo!”
Tay quan lớn bèn dằn điện thoại xuống bàn nghe cái cốp, chạy vội lên phòng ngủ.
Mặc cho tiếng con vợ đang thở hào hển, rên la, quan lớn mở cửa tủ ra thì thấy thằng tài xe đang trốn trong trong tủ áo bèn gầm lên: “Cái thằng khốn nạn! Vợ tao đang lên cơn nhồi máu cơ tim mà chú mầy lại trần truồng như nhộng núp trong tủ áo để hù dọa thằng nhỏ hả?!”
***
Quan lớn đất Quảng nầy thích chơi chim nhưng một tay quan lớn khác lại thích chơi golf cho ra vẻ quý tộc, cho giống Tây, để cho tụi nó hết xỏ xiên là gốc của quan là ở trên rừng.
Quan ông chơi golf mà quan bà, tức vợ của quan ông, cũng chơi golf nữa.
Bà con mình ai cũng biết chơi golf là lấy một cái cậy gậy bằng sắt vụt vào một trái banh bự bằng trái chanh cho tới chừng nào nó lọt vô một cái lỗ. Đánh ít gậy mà lỗ nào cũng lọt… là ăn hè.
Một hôm, quan lớn, giàu cỡ đa triệu phú đô la nhờ vào việc cướp đất của dân nghèo đem đi bán cho bọn tư bản đỏ, chạy đến phòng cấp cứu của bịnh viện.
Mặt mày bầm tím, trên cổ quan vẫn còn đeo lủng lẳng 5 cây gậy đánh golf.
Bác sĩ chẩn đoán rằng quan bị chấn động não!
Viên bác sĩ nầy vốn nhiều chuyện, tò mò lại khoái chỏ mỏ vô đời tư nên xin hỏi đồng chí lãnh đạo là nguyên do tại làm sao mà ra đến nông nỗi nầy?
“À chẳng qua tui đi chơi golf với con vợ tui. Tới cái lỗ thứ sáu thì khó quá vì trên sân có cả một đàn bò của đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp đang thả rong gặm cỏ.
Tui vụt gậy một cái và trái banh của tui biến mất trong đám bò đang gặm cỏ. Vợ tui cũng vậy! Mím môi, mím lợi em yêu vụt gậy nghe cái véo và trái banh bay đi rồi cũng biến mất trong đám bò đang gặm cỏ đó.
Nên cả hai, tui và con vợ vội đi tìm hai trái banh vừa mới được đánh đi.
Trong lúc tìm kiếm, tui thấy có cái vật gì trăng trắng dưới bụng một con bò cái. Tui bèn chạy đến, vén cái đuôi bò lên và quả nhiên trái banh golf có ký hiệu của con vợ tui đang nằm ở đấy.
Và ngay lúc đó tui phạm phải một cái lỗi tày trời!” “Đồng chí bí thư làm gì mà gọi là cái lỗi tày trời vậy?”
“Vén cái đuôi bò lên, tui lấy tay chỉ và gọi lớn! “Ê hình như cái nầy trông giống cái của em nè!”
***
Tiếng Việt mình có một danh từ rất hay là lương bổng. Nói nào ngay các quan chức CS lương tháng thì cũng hỏng bao nhiêu đâu. Lương chưa đủ để ăn thì làm sao có để mà chơi chớ?
Sở dĩ chơi được là nhờ cái ‘bổng’, cái lại quả của những hợp đồng, của mua bán đất công đó thôi!
Rồi tiền cống nạp của cấp dưới muốn thăng quan tiến chức mà bây giờ gọi là chạy chức. Cả triệu rưỡi đô Mỹ đó cho cái chức dân biểu, dẫu bù nhìn, chớ hỏng ít ỏi đâu nhe. Thì hỏi hỏng giàu sao được hè?
Nên có chuyện rằng: Đồng chí bí thư tỉnh ủy vừa mới mua một căn hộ trong khu nghỉ dưỡng cao cấp rất xa hoa; nên thuộc cấp muốn đến để chúc mừng nhưng chưa biết đường đi.
Đồng chí bí thư họp nguyên thường vụ tỉnh ủy chỉ đường rất rõ ràng và cặn kẽ như vầy: “Qua cái cổng có bảo vệ, chạy xe quẹo về bên trái, tới căn biệt thự số 35, nhớ số 35 nhe, vì những căn gần kế của bên Thường vụ cũng giống y hệt như vậy.
Tới trước cổng, các đồng chí dùng cái cùi chỏ bấm vào một cái nút chuông, cửa sẽ tự động mở ra. Đi hết cái sân có nhiều chậu ‘bon sai’ long, lân, quy, phụng, các đồng chí lại dùng cùi chỏ bấm vào cái chuông trước cửa thì vợ tui sẽ ra mở cửa cho các đồng chí vào. Tui đang đợi các đồng chí trong sảnh.”
“Dà! Xin hỏi đồng chí bí thư tại sao chúng em phải dùng cùi chỏ để bấm chuông ạ?”
“Ờ! Hỏng lẽ Tết tới mà các đồng chí đến thăm vợ chồng tui mà lại đi tay không hay sao?”
***
Sự thực là tay Giám đốc tuổi trẻ tài cao nầy có tiền để chơi chim rồi bị tụi nó vô ăn trộm là vì có bố làm tới bí thư tỉnh ủy.
Bố chôm tiền thuế của dân cho cậu ấm đi Mỹ học Cao học, mà bây giờ CS gọi là Thạc sĩ. Học xong về là có ghế dành riêng, độc quyền cho cậu ấm ngồi.
Tuần lễ đầu tiên trong văn phòng mới với viên Giám đốc cũ chờ bàn giao để về hưu non. Cậu xin vài lời khuyên của người mà cậu sắp thay thế.
Ngày cuối, tay nầy nói: “Tôi có để trong ngăn tủ trong bàn giấy ba cái phong bì. Hãy mở một cái ra khi công việc gặp khó khăn mà đồng chí không thể nào giải quyết được!”
Rồi bốn tháng trôi qua, có một vụ việc nghiêm trọng xảy ra làm cậu cảm thấy lo sợ cho cái ghế của mình đang ngồi có bị rung rinh hay không?
Cậu nhớ đến lời nhắn nhủ của viên Giám đốc tiền nhiệm nên kéo ngăn tủ ra mở cái phong bì đầu tiên. Trong đó có ghi lời khuyên là: “Hãy đổ thừa cho viên Giám đốc tiền nhiệm.” Cậu bèn làm y như thế quả nhiên thoát nạn.
Sáu tháng sau, Sở của cậu bị thâm hụt công quỹ mà hỏng tìm ra được đứa nào ăn cắp của công bỏ vào túi riêng. Ngu sao móc tiền trong áo khỉ của bà xã ra mà đền. Thằng nào xơi, còn chơi cha bắt mình chịu đâu có được nè!
Không biết giải quyết chuyện ăn không đều chia không đủ nầy ra làm sao, cậu vội vã mở cái phong bì thứ hai ra. Trong đó có lời khuyên là “Hãy sắp xếp lại.”
Cậu bắt đầu họp đảng bộ, kiểm điểm phê bình quyết liệt nhằm tiêu diệt những kẻ không ăn cánh mà chỉ biết ăn một mình, những kẻ không thuộc phe ta… mà còn cả gan ngầm chống lại… Quả nhiên trời yên bể lặng!
Một năm sau lại xảy ra khủng hoảng! Khủng hoảng! Giành ăn hoài hè! Cậu bèn mở cái phong bì thứ ba ra. Trong đó có lời khuyên là: “Hãy chuẩn bị ba cái phong bì đi!” Nghĩa là chuẩn bị mất chức!
Bởi thời buổi ‘ghế ít đít thì nhiều’, trâu cột ghét trâu ăn nên bọn quan lại giành ghế nên đấm đá nhau một cách dữ dội.
Hồi bố cậu hét ra lửa mửa ra khói đứa nào cũng êm re. Bây giờ thì bố cậu hết chức hết quyền, thì dậu đổ bìm leo, nó lôi cậu xuống và khai trừ ra luôn khỏi đảng. Từ nay là hết có cơ hội để ăn rồi. Hết chức, hết quyền, hết tiền nhưng còn rất nhiều thời giờ để cậu ấm mặc sức mà chơi ‘chim’ nhe.
Quan nhất thời dân vạn đại mà ông bà xưa mình nói đâu có sai chạy bao giờ.
Dẫu hạ cánh an toàn nhưng mất chức là mất quyền, mất kẻ nịnh bợ, mất kẻ hầu, người hạ, mất luôn cả chục em chân dài bồ nhí nên cậu rơi vào trầm cảm phải nhập Viện Tâm thần dành cho cán bộ cao cấp.
Một hôm em y tá bước vào phòng và thấy cậu đang khuỳnh tay lại, miệng kêu ‘u u’ như đang lái một chiếc xe.
Em y tá hỏi: “Đồng chí đang làm gì đó?” Cậu trả lời: “Lái xe đi Hà Nội để họp.” Em y tá chúc đồng chí thượng lộ bình an!
Ngày hôm sau, em y tá lại vào phòng hỏi: “Sao đồng chí chạy tới đâu rồi?” “Ờ! Tôi đã vào tới thủ đô Hà Nội!”
“Thật là tuyệt!” Em y tá nói xong bước qua phòng bên cạnh thấy bịnh nhân khác đang chỏi tay trên giường như đang ‘hít đất’ bèn hỏi: “Đồng chí đang làm gì đó?”
“À! Tôi đang ‘hít đất’ với con bồ nhí, người mẫu chân dài của thằng ở buồng kế bên trong khi nó còn đang họp ở ngoài Hà Nội!”
Trước tiên, người viết xin kính chúc xuân quý độc giả thân thương của bổn báo:
“Năm mới Tết đến. Rước hên vào nhà. Quà cáp bao la. Mọi nhà no đủ. Vàng bạc đầy hũ. Gia chủ phát tài. Già trẻ gái trai. Sum vầy hạnh phúc. Cầu tài chúc phúc. Lộc đến quanh năm. An khang thịnh vượng! Thịnh Vượng cái mà Thịnh Vượng!”
Trước thềm năm mới, năm Giáp Ngọ 2014 nầy, theo ‘Thầy’ phán rằng: ai sanh ra trong năm này thì cuộc đời có nhiều hay đẹp! Có nhiều may mắn về tài lộc cũng như về công danh và sự nghiệp; có phần lên cao vào trung vận, và hậu vận có kết quả tốt.
Tóm lại, tuổi Giáp Ngọ có nhiều may mắn suốt cuộc đời!
Nên người viết xin ‘tư vấn’ quý cậu nào chưa vợ thì cưới vợ đi! Quý cô nào chưa chồng thì lấy chồng đi! Sau đó cùng nhau sản xuất ‘bế bi’ cho vui nhà vui cửa!
Và bài viết năm nay cũng không qua thông lệ là: Năm ngọ nói chuyện ngựa!
Trước hết là chuyện ngựa quê nhà, chuyện ngựa của tuổi thơ ‘tui’.
Hồi nhỏ đi học tiểu học, ngôi trường làng Trung An, Mỹ Tho, thơ mộng nằm cạnh một dòng sông nhỏ. Người viết ôm cặp đệm, trong đó có nắm xôi, xách bình mực tòn ten cùng hai, ba đứa bạn đi dọc theo hàng cây ‘d. ngựa’ mà Tây trồng dọc theo lề con lộ để đến trường. Suốt một thời thơ ấu con mang theo:
Cặp đệm má đương, nắm xôi má nấu, xôi nếp một, bếp bình minh khói toả, đường mía lau thơm, vị ngọt quê nghèo!
Khi trống trường tan học thì cũng men theo lối cũ, đi về. Những năm năm mươi quê nhà thanh bình yên ắng lắm, trên đường ít xe, ít cộ, không lo tai nạn gì cho mấy đứa nhỏ, học trò. Còn bây giờ trong nước, ra đường sợ lắm, sợ mấy thằng cán bộ nhậu say, lái xe điên trên phố!
Đường vắng, thỉnh thoảng giờ tan học trên đường về, đôi khi có chú Bảy C. (Dà! Viết tên ổng có một chấm lửng cho quý độc giả thân thương thêm vào! Chớ viết luôn, mắc cỡ lắm! Người ta có một là đủ ‘nhột’ rồi mà ông nầy có tới bảy?), đánh xe ra chợ Mỹ.
Lâu lâu chú Bảy cho mấy thằng nhỏ, học trò quá giang. Ngồi trên xe ngựa thiệt là khoái! Tiếng gõ nhịp lóc cóc đều đều trên đường nhựa, gió hiu hiu, lâu lâu lại nghe chú Bảy ngọ nghẹ gì đó với con ngựa. Con ngựa ‘hí hí’ đáp lại! Té ra con ngựa cũng biết nghe và biết nói nữa he!
Sau nầy xa quê, xa cái làng Trung An thuở đó, xa luôn tiếng lóc cóc của chiếc xe ngựa ngày nào và xa luôn chú Bảy C.!
Chữ gọi xe ngựa là xe thổ mộ và người đánh xe ngựa là xà ích. Thôi xài chi tiếng khó hiểu. Trong lòng người viết vẫn còn hoài hình ảnh chiếc xe ngựa và chú Bảy C.
Cám ơn chú Bảy C. đã cho thằng nhỏ quá giang không phải một lần, mà nhiều lần nên dù chú có 7 hay chú có tới 10; thiệt người viết cũng không dám ‘cà nanh’ đâu chú Bảy C. của tuổi thơ ơi!
Quê người, Melbourne, thứ ba, 4 tây tháng 11 năm nay là Úc xúm nhau lại đua ngựa, gọi là Melbourne Cup, lớn nhứt Úc Châu.
Nhà người viết bên nầy sông, nhìn qua sông không phải là vùng địch đóng mà bên kia dòng Maribyrnong êm đềm, lặng lẽ là trường đua ồn ào, náo nhiệt! Người ta quần là, áo lượt đông vui!
Vậy là sắp hết một năm rồi đó; lại xe đi giữa mùa thổi rượu (mùa nầy Úc xỉn nhiều lắm nên cảnh sát nó lập trạm, thử rượu, thử drug, để xé bằng lái của mấy thằng ngu!)
Người ta đi giữa mùa thổi rượu thì ông chủ bút nhà mình đi giữa mùa bán báo. Báo Tất niên, báo Xuân rồi báo Tân niên. Ông ‘hú u!’ Bài báo xuân theo truyền thống đi ông ơi! Viết vui lên nhá!
Dà! Anh ‘lịnh’ thì người viết viết thôi! Nhớ gởi chút tiền còm, nhuận bút, ăn Tết nha anh!
Để cho vui! Xin hỏi đố độc giả là: Con vật nào đi ngủ mà mang giày? Câu trả lời là: Con ngựa!
Con vật nào lễ phép nhứt? Câu trả lời cũng là: Con ngựa. Vì sao ngựa lại lễ phép? Vì đang phi nước đại tới hàng rào, nó kính cẩn đột ngột dừng lại cho ‘tui’ còn trớn phóng qua trước. Ngựa lễ phép thấy thương ghê mà mình, đầu, mắt nổ đom đóm!
Nhớ hồi xưa trong làng, Tía Má ở quê hay rầy con gái xí xọn. “Ngựa dữ à nha!” Tây hổng biết nó có học được cái ‘bí kiếp’ nầy để rầy, để cảnh báo con mình không mà: Có một anh nài ngựa luôn luôn thắng độ. Hỏi bí quyết gì, khi về hưu, anh mới chịu tiết lộ. Anh chuyên cỡi ngựa cái. Mà ngựa cái ‘xí xọn, trăng hoa’, nghĩa là ‘ngựa’ lắm; nên trong cuộc đua khi rạp mình xuống, cho đừng cản gió, anh chỉ cần thầm thì cảnh báo rằng: “Con ngựa, chồng ‘cưng’, nó đang chạy ở đằng sau kìa!” Thế là em luôn luôn phi như bay về nhứt!
Nói chuyện ngựa, người viết lại nhớ hồi còn nhỏ, Tía Má hay cho tiền vô rạp hát Định Tường ở đường Trưng Trắc, Mỹ Tho coi phim cao bồi Django nhưng của thằng Ý làm, Franco Nero sắm vai chánh hay chánh hẩu Viễn Tây Huê Kỳ do tài tử John Wayne trừ gian diệt bạo.
Thằng nhỏ là người viết tin quá, ngồi dưới vỗ tay… hối… lẹ lẹ lên! Sau nầy, lớn lên vẫn còn khờ; nhưng bớt hơn một chút. Vì thấy sao mấy thằng ác vẫn làm cha? Còn anh hùng đôi khi bị rượt chạy té khói! Nên anh hùng cao bồi Texas nào… rồi cũng ‘nhạt phai’ đi?!Nên có chuyện rằng: Một anh chàng cao bồi vào quán uống beer, xong ra cửa, con ngựa thằng nào ăn cắp, cỡi đi mất rồi. Y bước vào, móc súng, bắn chỉ thiên ‘pằng pằng!’ đạn xuyên thủng trần nhà. “Thằng nào dám ăn cắp con ngựa của tao hả?”
Tất cả dân nhậu trong quán đều im thin thít. “Được rồi, tao sẽ làm thêm chai nữa, mà con ngựa tao chưa được đưa trở về chỗ cũ thì tụi bây sẽ biết tay dân chơi Texas nầy nha!”
Sau khi uống hết chai beer, y bước ra khỏi quán thì con ngựa ai đã trả về chỗ cũ. Y phóng lên yên, chuẩn bị ra roi.
Viên chủ quán chạy theo, níu lại hỏi: “Đại ca! nếu tụi nó không trả con ngựa lại, đại ca sẽ làm gì ạ?”
“Làm gì? Thì tao đi bộ về nhà chớ làm gì bây giờ!”
Đó là chuyện bên Mỹ, còn bên Úc nầy mấy ‘giả’ vừa khoái xem phim cao bồi Mỹ do Clint Eastwood đóng và cũng khoái coi đua ngựa lắm; bất kể đua ở Mỹ, ở Anh, hay ở Úc… nên tan sở thường ghé tạt vào TAB để cá cược. Xong về nhà, vui cười hỉ hả vì kiếm được kha khá, phụ thêm tiền nhà, tiền chợ cho con vợ nó hết cằn nhằn!
Vì là bài báo Tết, người viết tin dị đoan, nên chuyện cờ bạc cá ngựa toàn là chuyện thắng không hà. Chớ người viết không có đốc, xúi gì chuyện cờ bạc, cá cược, đua ngựa, đua nghiếc gì đâu nha! Phần người viết thiệt không thích đua ngựa lắm! Vì người viết chỉ tội nghiệp cho con ngựa mà thôi; cuộc đua ngựa nào cũng bất công: con ngựa chạy chết ‘cha’ để về nhứt nhưng thằng nài lại ôm giải thưởng?
Và cũng nhân vụ Úc khoái cá ngựa nên mới có chuyện vui như vầy:
Anh ngồi đọc báo trên thềm cửa, im lặng tận hưởng không khí mùa xuân quê mình yên tĩnh.
Thình lình! Em hầm hầm vác cái chảo từ trong nhà đi ra, đập vào đầu anh một cái; nghe rõ to!
“Sao em lại nỡ đánh vào đầu anh vậy, hở em yêu? Má ơi! Đau quá!”
“Trong túi quần anh, có tờ giấy ghi tên con ‘MaryLou’ nè!”
“Ậy ậy! Đừng có ghen bóng, ghen gió lên như vậy chứ! MaryLou là tên con ngựa anh đánh cá tuần rồi đó mà!”
“Chu choa! Em xin lỗi ‘honey’! Vậy mà em hổng biết, đau lắm không anh? Để em xức dầu nhị thiên đường cho!”
Ba ngày sau, sáng anh cũng ngồi đọc báo trên thềm cửa, im lặng tận hưởng không khí mùa xuân quê mình yên tĩnh. Em lại vác cái chảo bổ lên đầu anh một cái thật mạnh. Công lực gấp đôi lần rồi!
“Cái gì nữa đây hả bà nội con nít? U một cục rồi nè! Má ơi! Đau quá!”
“Nè! Điện thoại từ con ngựa ‘MaryLou’ của ông nè! Nghe đi!”
Tía tui cũng hổng dám nghe nữa; nói chi tui!
Đó là chuyện của Tây, còn với người Việt mình cũng nhờ con ngựa mà có được ba ngàn đô ăn Tết lớn chơi! Quá đã! Ha ha!
Chuyện rằng: Chủ quán rượu muốn câu khách, bèn bày ra một cuộc thi: “Bổn quán có con ngựa trong chuồng! Ai làm cho con ngựa của bổn quán cười, thưởng một ngàn đô!”
Mr. Bean từ Anh Cát Lợi, David Letterman từ Huê Kỳ qua, thi, và đều chịu thua.
Vậy mà một anh Việt Nam lại dám xin vào, thi thố. Anh thầm thì cái gì đó; con ngựa cười hăng hắc không thôi!
Lãnh một ngàn đô! Chủ quán tức cái thằng cha Việt Nam nầy quá; bèn tăng giải thưởng lên gấp đôi, lên hai ngàn đô! Lần nầy làm cho con ngựa khóc.
Những tài tử, diễn viên bi kịch nổi tiếng trên thế giới đều qua, thi và đều chịu thua.
Anh Việt Nam nầy lại dám mon men xin vào, thi thố. Anh thầm thì cái gì đó mà con ngựa ‘thút thít’ khóc không thôi!
Lãnh thêm hai ngàn đô, anh Việt Nam từ từ bước ra cửa trước sự ngả nón cúi đầu, tâm phục, khẩu phục của chư vị.
Chủ quán tức quá, chạy theo hỏi: “Sư phụ ơi! Cho tui biết sao ‘thầy’ làm cho con ngựa của tui cười lần trước, lại khóc lần sau ?”
“Có gì đâu, lần trước tui nói ‘của’ tui ‘ngon’ hơn ‘của’ nó! Nó không tin, cười hăng hắc.
Còn lần sau, tui không phải là một thằng dóc tổ, tui cho nó xem tận mắt luôn và nó tủi thân, khóc ngất! Vậy thôi! He he!
Hồi Ký cuả Vương Mộng Long, Khóa 20 Trường Võ Bị Quôc Gia Đà Lạt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
“Vinh quang một đời của người cầm quân là một món nợ. Nợ với tổ quốc, với đồng bào, và với thuộc cấp của mình!”
(Vương mộng Long)
Bảy giờ sáng ngày Ba Mươi tháng Tư 1975, tôi dừng quân trên một tọa độ cách thủ đô Sài-Gòn hơn hai chục cây số. Nơi đây là đoạn cuối của quốc lộ 1. Chỉ còn một quãng đường ngắn ngủi nữa thôi, quốc lộ 1 sẽ chấm dứt. Tối qua, 29 tháng Tư chúng tôi rút về tới Long-Bình thì Bộ chỉ huy Liên đoàn 24 Biệt Động Quân đã di chuyển đi đâu mất rồi. Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân của tôi như con gà con lạc đàn. Tôi vào máy gọi Liên đoàn 24 BĐQ, gọi Tiểu đoàn 81 BĐQ, gọi Tiểu đoàn 63 BĐQ, và gọi cả Sư đoàn 18 BB/ HQ trên tần số riêng. Tần số nào cũng rối loạn. Tôi không bắt liên lạc được với ai. Nửa đêm, thình lình máy vô tuyến đưa lệnh, chẳng hiểu của giới chức nào, chỉ vắn tắt một câu:
– “Các đơn vị cấp tốc rút về phòng thủ Sài-Gòn!”
Mờ sáng Ba Mươi tháng Tư, chúng tôi bỏ Long-Bình, rồi từng bước, rút về hướng thủ đô, để “phòng thủ thủ đô”. Cuối cùng, lết bộ tới Cầu Hang (Biên-Hòa) thì mỏi mệt quá, tôi cho quân dừng lại nghỉ. Trên quốc lộ 1, cách Cầu Hang chừng hai trăm mét, hơn sáu chục người lính sống sót cuối cùng của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân bơ vơ. Vào giờ này, quân số Tiểu đoàn 82 BĐQ bách thắng của Quân khu 2 còn lại chừng nửa đại đội, với bốn sĩ quan là tôi (Thiếu tá Vương mộng Long), Thiếu úy Thủy, Trung úy Trâm, Chuẩn úy Thiều cùng hơn sáu mươi binh sĩ. Ông Đại úy Ngũ văn Hoàn (TĐP) chết đêm 28 tháng Tư. Trung úy Đăng mất tích. Thiếu úy Châu đi thụ huấn chưa về. Thiếu úy Học, Thiếu úy Hoàng vắng mặt từ chiều 27 tháng Tư, trước khi tiểu đoàn vào vùng. Chuẩn úy Gấm, Chuẩn úy Trung, hai ông Chuẩn úy Phước (Lê văn Phước, Nguyễn văn Phước) cùng Trung úy Phước (Trần văn Phước) thất lạc trên đường rút lui từ Hố-Nai về Long-Bình ngày hôm qua. Từ nửa khuya, những đơn vị đồn trú ở Long-Bình đã bắt đầu theo cơ giới rút đi.
Lúc tôi tới Cầu Hang thì những vị tu hành áo vàng của ngôi chùa Theravada bên kia lộ đang lên xe chạy về hướng Sài-Gòn. Giờ này họ đã quay trở lại. Họ trở lại chùa, vào phòng, khóa chặt cổng ngoài. Có một điều lạ lùng, khác với những lần rút lui từ Quảng-Đức và từ Long-Khánh, đó là, trong lần rút bỏ Biên-Hoà này, tôi không thấy dân chúng bồng bế nhau chạy theo quân đội. Chiếc xe nhà binh sau cùng di chuyển qua Cầu Hang đã khuất bóng từ lâu. Khoảng tám giờ sáng thì không còn ai đi sau chúng tôi nữa. Sau lưng chúng tôi, thành phố Biên Hòa có lẽ đã rơi vào tay Cộng Quân. Trước mắt chúng tôi là quốc lộ 1, dài mút mắt, hướng Sài-Gòn. Cuối trời hướng tây có từng cột khói đen cuồn cuộn bốc lên. Trong vài túp lá, quán cóc bên đường xe lửa, xác những người bạn Nhảy Dù chết cách đó một vài ngày còn nằm trên sạp tre. Họ đã hi sinh khi nhổ chốt địch để lấy lại đoạn đường quanh Cầu Hang. Tôi không còn tâm trí đâu mà lo chôn cất cho những người bạn đã kiêu dũng nằm xuống này. Chính tôi cũng không rõ số phận chúng tôi sẽ như thế nào trong vài giờ sắp tới.
Mười giờ sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975. Tôi thẫn thờ rời cái quán cóc bên đường. Chiếc xe Jeep của Thiếu tướng Lê minh Đảo, Tư lệnh Sư Đoàn 18 BB đã khuất dạng nơi khúc quanh có vườn cây xanh, về hướng Thủ-Đức. Tư lệnh đã quay lại tìm tôi, nhưng giây phút cuối cùng, chúng tôi không kịp gặp nhau. Vào giờ phút này, trên máy thu thanh, ông Dương văn Minh đang oang oang ra lệnh cho chúng tôi buông súng. Ông Dương văn Minh gọi kẻ thù của chúng tôi là “những người anh em”. Chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ, buổi sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh Việt-Nam hai mươi năm đi vào trang chót. Đứng trên đường tà vẹt, tôi bàng hoàng, ngỡ ngàng tự hỏi:
– “Có phải ta đang trong cơn ác mộng hay không?”
– “Sao chiến tranh lại có thể kết thúc một cách đột ngột, vô lý, và thê thảm như thế này?”
Chua xót thay! Tôi không mơ. Tôi đang sống với thực tế phũ phàng. Thằng Y Don Near nắm chặt sợi dây ba chạc của tôi, nó khóc sướt mướt:
– “Thiếu tá ơi! Sao lại thế này? Thiếu tá ơi! Hu…hu …hu…”
Vào Nơi Lửa Đạn
Từ chiếc máy PRC 25, trên lưng nó, trong tần số liên đoàn, có nhiều giọng đàm thoại lạ. Những hiệu đài không quen, gọi nhau, chửi thề, quát tháo, than van…
Trước mắt tôi, bên kia đường, lá cờ ngũ sắc trong sân chùa bay phất phới. Hai bên quốc lộ, những bộ rằn ri còn bố trí, thế tác chiến sẵn sàng. Những người lính Biệt Động đang chăm chú nhìn cấp chỉ huy của họ. Họ nhìn tôi với ánh mắt của những đứa con nhỏ đang nép mình trong lòng mẹ, vào những buổi ngoài trời giông bão, mịt mù sấm sét. Cảnh này quen thuộc lắm. Những khi tình hình nghiêm trọng, thuộc cấp của tôi thường chờ đợi quyết định của tôi với những cái nhìn kính cẩn, tin tưởng và thương yêu như thế này. Trong mười năm chiến trận, đã có đôi lần tôi bị bỏ lại đàng sau. Đôi lần đơn vị tôi bị dồn vào tình trạng vô cùng nguy khốn, thập tử nhứt sinh, nhưng thấy con chim đầu đàn còn hiện diện, những người lính dưới quyền tôi vẫn không xiêu lòng, không bỏ vị trí. Nhưng sáng nay, trước mắt họ, người chỉ huy của họ đã trở thành một hình nhân, bất động. Thực sự, tôi không biết phải làm gì bây giờ. Radio chỉ có một chiều; tôi chỉ nghe được; không trả lời được; không hỏi lại được. Có ai cho tôi biết ông Dương văn Minh lên chức Tổng thống lúc nào đâu? Tôi biết hỏi ai rằng ông Tổng thống này là thiệt hay giả? Theo tôi biết, ông tướng này, sau khi giết cụ Diệm để tiếm chức, đã bị các nhóm khác hất cẳng về vườn lâu rồi. Sao tự nhiên ông ta trở thành Tổng thống VNCH được nhỉ? Sao một thường dân có thể lên làm Tổng thống dễ dàng thế nhỉ? Đùng một cái, sáng nay, ông ta ra lệnh cho tôi buông súng. Đầu hàng? Đầu hàng cách nào? Đầu hàng ở đâu? Đầu hàng với ai? Giữa đồng không, tôi đứng chết trân. Mặt trời lên, thày trò chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau. Những bàn tay đen đủi Bana, Jarai, Rhadé đưa lên quệt nước mắt.
Hướng Tân-Uyên có tiếng trống múa lân thùng! thùng!…thùng… thùng… nghe lớn dần… lớn dần. Tới Cầu Hang, đoàn múa lân quẹo phải, về tây. Tôi thấy một cán binh Cộng-Sản vai quàng AK, vác lá cờ Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam đi đầu, tiếp đó là cái đầu lân nhảy múa, rồi một đoàn người điên cuồng, la hét, hoan hô, đả đảo, nối theo sau. Tiếng loa vang vang,
– “Hoan Hô Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam!”
– “Hoan hô!…Hoan hô!”
Thùng… thùng… Hoan hô… Hoan hô… Thùng… thùng… Tiếng loa và tiếng trống lân dập dồn theo gió. Lá cờ Giải-Phóng khổng lồ, xanh đỏ, uốn éo trong gió.
– “Đù má tụi mi! Tụi mi chọc giận ông phải không?” Chửi thề xong, ông Hạ sĩ Phi xả hết một dây đạn M60 về hướng đoàn múa lân. Chỉ là bắn dọa. Đạn bay cao. Đoàn múa lân như ong vỡ tổ, chạy tán loạn. Chiếc đầu lân bị vứt chỏng chơ giữa đường. Thằng VC vác cờ cũng quăng cờ, bò lê, bò càng tìm chỗ tránh đạn.
– “Thôi! Ta đi!” Tôi ra lệnh cho những người lính cuối cùng của đơn vị.
– “Thì cứ đi về hướng Sài-Gòn, tìm xem có ai ở đâu đó, mình nhập vào với họ.” Tôi trả lời Thủy. Mà chính tôi cũng chẳng biết mình sẽ dẫn đơn vị đi về đâu! Không mục tiêu, chúng tôi đi rất chậm.
– “Thùng… thùng…hoan hô…hoan hô”. Chúng tôi đi được chừng nửa cây số thì đoàn múa lân lại tiếp tục theo sau lưng.
– “Hoan hô! Hoan hô cái mả cha tụi mi!” Hạ sĩ Phi lại đổ quạu.
– “Cành! Cành! Cành… cành… cành! Cành!” Một dây đạn đại liên M60 lại quét ngược về đàng sau. Vẫn chỉ là bắn dọa. Đạn bay cao. Thằng VC vác cờ lại vội quăng cờ núp đạn. Cái đầu lân lại bị ném chỏng chơ trên mặt đường. Đoàn múa lân lại tán loạn chạy chết. Chúng tôi tiếp tục lê gót theo đường, về hướng Sài-Gòn. Cứ đi được vài trăm mét, chúng tôi lại dừng chân nghỉ mệt. Có mục tiêu nào cho chúng tôi tìm tới đâu mà phải vội vàng? Khi đi ngang khu núi đá vôi Bửu-Long thì thằng Don đưa ống nghe cho tôi:
– “Có Hai Lẻ Bảy (207) gọi Thái Sơn!”
Tôi nghe tiếng Trung tá Hoàng kim Thanh, Liên đoàn trưởng LĐ24/BĐQ:
– “Thái Sơn! Đây Hai Lẻ Bảy! Anh cho hai chiếc xe tới đón chú và con cái về Đường-Sơn Quán. Các đơn vị đang tập trung ở đây chờ lệnh!”
Giọng anh Thanh vẫn bình tĩnh, từ tốn, không có vẻ gì là lo lắng.
Nghe ba tiếng “Đường-Sơn Quán”, tôi chợt nhớ thời 1971-1973, ở BCH/BĐQ/QK2 có một biệt đội Biên-Vụ (Viễn Thám) do tôi thành lập, huấn luyện, và trực tiếp chỉ huy. Sáu toán Biên-Vụ trang bị AK, dép râu, nón tai bèo, nghênh ngang, xuôi ngược trên các tuyến đường Hồ chí Minh, dọc theo biên giới Việt, Miên, Lào, trong căn cứ địa 609, 613, 701, 702, 740. Những cú nổ mìn phá ống dẫn dầu, phá xe tải, bắt cóc cán binh, dọc Trường-Sơn Đông, phá Ngầm 24 trên sông Sésan là một mối đe dọa kinh hoàng hàng ngày đối với đoàn quân xâm lăng vào từ phương bắc. Chuyện chúng tôi xuất, nhập các mật khu, huấn khu địch, xảy ra như cơm bữa. Những tay súng dưới quyền tôi cũng yêng hùng, ngang tàng như các hiệp sĩ trong phim Hồng-Kông. Họ quen gọi tôi là “Anh Hai”. Bất cứ giờ nào, dù đang lội trong rừng gai mây Plei-Trap Valley hay trong rừng khọt Nam Lyr (Cambốt), họ vẫn nghe được tiếng “Anh Hai” của họ, từ một đỉnh núi cao nào gần đó. Thỉnh thoảng, “Anh Hai” lội rừng chung với họ để thi hành những nhiệm vụ gay go do Quân-Đoàn 2 giao phó. Tôi và họ, thương nhau như anh em cùng mẹ, cùng cha. Khi cuốn phim “Đường-Sơn Đại-Huynh” được chiếu trên màn ảnh các rạp Diệp-Kính, Diên-Hồng, Thanh-Bình, ở Pleiku, thì đàn em của tôi gán cho tôi biệt danh “Đường-Sơn Đại-Huynh” chỉ vì tôi có cái tên Long, trùng với tên ông Lý tiểu Long, tài tử chính của phim này. Sau khi “Anh Hai” vào Plei-Me nhận Tiểu đoàn 82/BĐQ/BP, đơn vị này bắt đầu đánh giặc với cái phong thái “Đường Sơn” khiến quân thù vừa nghe tên đã khiếp vía… Tôi ở Cao-Nguyên mút mùa, làm sao biết được ở Sài-Gòn cũng có cái quán được đặt tên như trong phim võ hiệp của Tàu? Tôi mở miệng định hỏi anh Thanh tọa độ của Đường-Sơn Quán thì máy liên đoàn đã cúp. Tôi đành cho anh em ngừng lại bên đường, chờ đợi. Chừng nửa giờ sau, hai chiếc xe be từ hướng Thủ-Đức chạy lên. Xe ngừng, ông tài xế ló đầu ra lớn tiếng hỏi,
– “Có phải Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đó không?”
– “Phải rồi! 82 đây!”
– “Lên xe đi! Tôi chở các ông về Đường-Sơn Quán!”
– “Có ai ở đó không?”
– “Đông lắm! Có lẽ các ông là những người tới sau cùng”
Xe trở đầu, chúng tôi lên xe. Tôi, Trung úy Trâm và thằng Don ngồi trên cabin chiếc xe đi đầu. Chú Thủy và chú Thiều đi xe sau. Thành xe be thấp hơn thành xe GMC, không có thế để đứng, những người lính đành phải ngồi chồm hổm. Ông tài xế xe be, cười rất tươi,
– “Hòa bình rồi! Hòa bình rồi! Hết đánh nhau rồi các anh ơi!”
Tôi là một người lính nhà nghề, nên dù cho “hòa bình” có ở ngay trước mắt, hiệu lệnh phản phục kích xe vẫn được tôi ân cần nhắc nhở cho thuộc cấp. Hai khẩu M60, một của Hạ sĩ Phi, một của Trung sĩ Tài, được đặt trên nóc buồng lái của hai chiếc xe be.
Xe đang bon bon trên con lộ vắng thì khựng lại, bò từ từ. Trên mặt lộ, đàng xa, có người dang tay phất phất lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, ra hiệu cho xe chạy chậm lại. Tới gần, tôi nhận ra một du kích Việt- Cộng, quân phục xanh, mũ tai bèo, dép râu. Tên du kích cột lá cờ trên cánh tay phải, cờ phất lia, phất lịa. Tay trái nó dương họng khẩu AK 47 hướng vào đầu xe của tôi. Xe vừa ngừng thì hai bên đường có tiếng la,
– “Bắn! Bắn!… Không cho đứa nào chạy thoát!”
Rồi thì tiếng súng đủ loại rộ lên. Những người lính Việt-Nam Cộng-Hoà trên hai chiếc xe be vừa ngừng trên mặt quốc lộ trở thành những cái bia sống. “Hòa bình” rồi. Tại sao người ta nỡ đang tay giết chúng tôi, khi chúng tôi đang trên đường về điểm tập trung để buông súng?
– “Choác! Choác! ….Choác!”
Gian Lao
Tôi tối tăm mặt mũi vì loạt đạn bất ngờ. Tấm kiếng che gió của chiếc xe tôi đang ngồi lãnh cả chục viên AK của loạt đạn đầu tiên. Mảnh thủy tinh văng rào rào trên đầu, cổ, mặt mũi tôi. Ông tài xế gục trên vô lăng. Thùng nước xe bể, hơi nước phun “phì…phì…” che kín đầu xe. Tôi phóng nhanh xuống đường. Sau một cái lạng mình, tôi đã ở đàng sau thành xe. Tôi rút khẩu Colt 45, vẩy một viên về hướng thằng du kích. Viên đạn trật mục tiêu. Một BĐQ vừa nhảy khỏi xe, té trên mặt đường. Hình như anh ta bị trúng đạn, không ngồi dậy được. Tôi giựt khẩu M16 trên tay anh,
– “Đưa tao!”
Tôi kéo cơ bẩm. Đạn tuôn ra khỏi nòng. Tên du kích giãy giụa trên vũng máu. Lá cờ Mặt-Trận phủ trên mình thằng du kích. Tôi ghếch mũi súng về lề phải con đường, nơi hàng chục họng AK và B40 đang đua nhau nã đạn vào hai chiếc xe be. “Oành!”. Một trái B40 nổ ngay trước mặt tôi. Tôi cảm nhận rõ ràng nhiều mảnh B40 và đá, sỏi đã ghim vào cẳng mình. Chủ nhân khẩu M16 mà tôi đang xử dụng bị bay mất cái đầu. Máu từ cổ anh xịt thành vòi; phần thân thể còn lại của anh giựt giựt trên mặt lộ. Khẩu B40 cách tôi chỉ vài sải tay, ngay bên kia đường. Tôi nhắm đầu thằng xạ thủ B40 quạt một tràng M16. Ngón tay tôi tiếp tục siết cò. Địch đông lắm. Chúng đứng lố nhố trong vườn có những luống đậu, dây leo. Một băng đạn ria đại vào đây cũng có thể hạ gục cả chục tên. Chúng tôi không dự trù sẽ vướng vào một cuộc giao tranh vừa bất ngờ vừa điên cuồng này. Chúng tôi ở vào cái thế không biết xoay trở cách nào để phản công. Thôi, đành liều mạng! Ai đang ở đâu nằm tại đó, chống trả. Cũng may, đêm qua, ở Long-Bình, chúng tôi có cả kho đạn lận lưng cho ngày hôm nay.
Đạn địch từ hai bên đường trước mặt tôi tưới như mưa vào những người lính còn đứng trên xe. Những thân hình rằn ri rơi rụng xuống mặt lộ. Có người chân vừa chạm đất, đã lăn ra chết. Có đôi người vừa nhảy ra khỏi sàn xe, còn lơ lửng trên không, tay đã bóp cò, nã đạn về hướng địch. Hầu như ai cũng lo bóp cò. Không ai để ý đến thân thể mình đã trúng thương nơi đâu. Hạ sĩ Đinh Lít nằm nghiêng dưới gầm xe, tay trái anh đã trúng đạn, xuội lơ, tay phải ôm cứng khẩu M16. Anh nằm trên vũng máu, mặt anh tỉnh như không. Mặc cho đạn địch cài dày dặc xung quanh. Với một tay còn lại, anh liên tục bắn hết băng đạn này, tới băng đạn khác. Lựu đạn miểng, lựu đạn nổ, lựu đạn cay, B40, M72, chớp nhoá, “Cành! Cành!…” – “Choác! Choác! … ” – “Xoẹt! Xoẹt!…” – “Oành! Oành!..” Hai bên đường, địch vẫn tiếp tục ào ra. Xác Việt-Cộng đè lên nhau từng lớp, ngổn ngang.
– “Cành! Cành! Cành!…” Trên xe, Hạ sĩ Phi vừa rải từng tràng M60 về phía quân thù, vừa la rú như người mất trí,
– “Đù má tụi mi! Chết cùng chết! Ông chết! Tụi mi cũng chết!”
Trưa Ba Mươi tháng Tư, trên đoạn cuối của quốc lộ 1, một cuộc hỗn chiến loạn đả xà bần đã diễn ra giữa thanh thiên, bạch nhựt. Dân chúng tràn ra đường, xem hai bên đánh nhau. Có đôi ba người dân thường, liều mạng chạy vào khu giao tranh, mang vác những Biệt Động Quân bị thương đem đi cứu cấp. Khẩu đại liên của Trung sĩ Tài trên xe thứ nhì đã được di chuyển xuống lề đường. Điều lạ là, hai phụ xạ thủ của Tài lại là hai em bé trai, tuổi khoảng mười hai, mười ba. Như vậy có nghĩa là, người phụ xạ thủ và tải đạn của Tài đã bị loại ra ngoài vòng chiến. Đạn nổ rền trời. Đạn bay qua. Đạn bay lại. Việt-Cộng chết. Biệt Động Quân chết. Dân chúng cũng chết! Những người lính Biệt Động cuối cùng của Plei-Me, vùng 2, ruột đổ lòng thòng vẫn ôm súng bắn như khùng, như điên. Hết đạn, những con cọp giãy chết đành dùng tất cả những gì cha mẹ ban cho để tự vệ: Nắm đấm, gót chân, đầu gối, khuỷu tay và cả…răng cũng được xử dụng. Trong phút giây tuyệt vọng, những chiến sĩ Việt-Nam Cộng-Hoà lăn xả vào địch, la hét, vật lộn, đấm đá, cào cấu, cắn xé… Binh nhứt Liêu chí Cường (gốc Chợ-Lớn) trước khi chết, còn cố ôm cứng một thằng địch để cắn vào mặt nó . Tôi biết chắc người đó là chú Cường, vì cái khăn len xanh cố hữu, bốn mùa quấn trên cổ chú (cái khăn của người tình phụ).
Tôi đã bắn hết số đạn mang theo trên lưng người lính nằm chết dưới chân tôi. Tôi vừa rướn người, quơ quào được một băng M16 trên sàn xe thì đạn 12,7 ly của địch từ xa ào ào bắn tới. Có tiếng trung úy Trâm thét lên, bên hông trái xe,
– “Thái Sơn ơi! Hình như tank tới!”
– “Làm gì có tank! Chỉ có 12,7 ly thôi!”
Đạn phòng không của Việt-Cộng quét sát mặt đường nhựa, toé lửa khi nổ lần thứ hai. Những viên 12,7 ly nổ “đúp” (hai lần), chui qua thân người bị đạn, hất thân mình người đó lên khỏi mặt đất, đục những lỗ to như bàn tay trên thân thể nạn nhân. Trên mặt lộ là cả chục xác Biệt Động Quân không toàn thây. Khẩu M60 của Hạ sĩ Phi đã gãy nát. Hạ sĩ Phi vỡ óc. Hạ sĩ Đinh Lít cũng vỡ óc. Sáu bánh xe be xẹp lép. Chiếc xe nằm bẹp xuống mặt đường. Trên sàn xe, trên mặt lộ, chỗ nào cũng ngập máu. Máu đọng thành vũng, máu chảy tràn xuống ruộng. Bên tôi, không còn khẩu M16 nào hoạt động. Những Biệt Động Quân đi trên xe thứ nhứt có lẽ đã chết gần hết. Những người đi trên xe thứ nhì đang là mục tiêu cho khẩu 12,7 ly. Tôi thấy họ rút vào ruộng mía bên phải quốc lộ. Đám dân đứng xem đánh nhau, bị trúng đạn cũng nhiều.
Súng của tôi lại hết đạn rồi. Tôi trườn ra giữa đường để nhặt khẩu AK và giây đạn của tên du kích. Khẩu đại liên của Trung sĩ Tài đã gãy làm đôi. Hai em bé tải đạn cho Tài đều chết vì trúng đạn 12,7 ly. Trung sĩ Tài đang lăn lộn trên vũng máu. Tôi lăn mình vài vòng, tới bên Tài. Tài nhìn tôi, thều thào,
“Chạy đi!… Ông thày… chạy đi!…”
Tôi định xốc Tài lên để dìu anh vào lề đường thì hai mắt anh đã lạc. Đạn bay xém bên mình tôi, nổ “toang toác!” trên mặt lộ. Chợt ai đó nắm sợi dây ba chạc sau lưng tôi, lôi tôi chạy về bờ ruộng bên trái quốc lộ.
– “Anh em chết hết rồi. Chạy đi, thày ơi!” Đó là tiếng Trung úy Trâm.
“Toác! Toác!” – “Chíu! Chíu!” đạn địch đuổi theo. Tôi cắm đầu chạy. Chạy được một đỗi thì tôi đuối sức, lảo đảo. Trâm bèn ghé vai, vác tôi lên lưng. Trâm khỏe như một đô vật. Trâm cõng tôi, nhanh chân lẩn vào rặng dừa bên trái lộ. Hết vạt dừa, Trâm đặt tôi xuống đất. Chúng tôi lội trên mảnh ruộng vừa gặt xong. Chân tôi vướng gốc rạ. Tôi ngã bổ nhào trên mặt ruộng. Trên mặt ruộng có những đồ chơi của trẻ con vương vãi đó đây. Một con búp bê bằng nhựa, một cái xe hơi bằng nhựa, những chén bát nhỏ tí, cũng bằng nhựa, màu mè xanh đỏ. Tôi chợt nhớ tới gia đình vợ con tôi ngoài Ban Mê Thuột. Chắc vợ con tôi đã chết hết. Tôi nghĩ tới đất nước tôi. Đất nước tôi đã mất. Đơn vị tôi đã tan tác. Một phút bất thần, phẫn uất, tôi rú lên như con thú,
– “Ôi!… Ôi!… Ông Trời ơi!… Ông Trời ơi! …ơi. ..ơi…”
Tôi rút khẩu súng Colt ra, kê nòng súng vào mang tai mình, bóp cò. Bàn tay như sắt nguội của Trung úy Trâm phạt ngang một cú Karaté. Viên đạn bay lên trời. Khẩu Colt văng trên mặt ruộng.
– “Trâm ơi! Làm ơn! … Cho anh chết! Trâm ơi!…” Nước mắt dàn dụa, tôi thất vọng, van lơn. Chẳng nói chẳng rằng, Trung úy Trâm lầm lì, xốc vai tôi bước đi. Ngoài lộ vẫn còn lác đác tiếng đạn bắn qua, bắn lại và tiếng lựu đạn nổ. Trâm lột sợi dây ba chạc của tôi, của anh, mũ sắt của tôi, của anh, vứt trên một gò mả. Trâm từng bước dìu tôi về hướng xóm làng gần đó. Giờ đó tôi như con sên yếu đuối, mặc cho chú Trâm tha lôi đi đâu thì đi. Chúng tôi vừa đụng đầu một con lộ đất thì một nông dân đạp xe tới chặn đường,
– “Ông thiếu tá bị thương hả?”
Thói quen, ngược đời, đi trận tôi thường đeo lon trắng. Về nhà tôi lại đeo lon đen. Người dân đã nhìn thấy cặp lon trắng của tôi. Ông cụ có vẻ động lòng,
– “Ông trung úy lấy xe này đưa thiếu tá chạy đi! Luẩn quẩn ở đây lâu không tốt đâu!”
-“Cám ơn cụ!” Trâm lanh tay nhận chiếc xe đạp thồ từ tay người dân tốt bụng.
Con lộ đất dẫn tới một văn phòng Hội Đồng Xã, cửa đóng, khóa ngoài. Rồi con lộ đất dẫn vào một ngôi nhà thờ xứ đạo. Trong sân nhà thờ, lố nhố nhiều người đang tập trung. Một cái rờ-moọc xe GMC chất đầy súng ống nằm ngay giữa sân. Đó đây, từng đống quân trang, quân phục VNCH vừa bị cởi bỏ. Trâm dựng cái xe đạp ngay giữa sân. Chú đứng quan sát một phút, rồi thở dài,
– “Cởi quân phục vứt đi thì chỉ còn cái áo mayor với cái quần xà-lỏn. Mình làm sao đây, Thái Sơn?”
Tôi rờ rẫm những khẩu M16 trên chiếc rờ-moọc, “Lên đạn. Dựng khẩu súng thẳng đứng. Đưa nòng súng vào dưới cằm. Lách ngón chân vào cò súng. Nhấn ngón chân xuống. Thế là xong!” Tôi đang suy nghĩ, sắp thử một cú tự giải thoát nữa, thì chú Trâm van lơn,
Trung úy Trâm ôm chặt vai tôi, khóc nức nở như một đứa bé. Thày trò tôi ôm nhau. “Hu … hu… hu….” Những người đứng gần đó, bị nỗi đau đớn chung lôi cuốn, cũng ôm mặt khóc theo. Như giữa đám ma, cả một khu sân nhà thờ xứ đạo vang lên tiếng khóc. Một đám ma không có người chết, mà những người đang đứng đây, chẳng có họ hàng gì với nhau, nhìn nhau, ôm nhau, cầm tay nhau, chúng tôi khóc vùi.
Một thanh niên cưỡi chiếc Honda 90 từ hướng quốc lộ 1 phóng tới. Anh kè sát bên tôi, nói nhỏ:
– “Thiếu tá lên xe, em chở đi trốn.”
Trâm đẩy tôi lên yên sau xe, chú leo lên theo.
– “Chúng nó (VC) chết nhiều lắm! Chúng nó bắt được mấy anh lính bị thương, tra khảo họ xem cấp chỉ huy của họ là ai, đâu rồi? Họ khai có ông thiếu tá, chắc chết rồi. Chúng kiểm xác chết. Không có xác thiếu tá. Chúng đang túa đi lùng. Em sẽ đưa thiếu tá đi dấu. Không để cho chúng nó bắt.”
Xe chạy trong đường làng quanh co một đỗi thì ngừng. Anh thanh niên dựng xe, đập cửa một căn nhà gỗ, mái dừa,
– “Mẹ ơi! Con đây! Hải đây! Mẹ mở cửa cho con!”
Cánh cửa hé mở, một bà già, tiếng Bắc Di Cư:
– “Đánh nhau, súng nổ ầm ầm mà mày cứ nhơn nhơn ra đường. Về nhà đóng cửa lại cho tao đỡ lo!”
– “Vâng con về ngay. Mẹ cho con gửi hai anh này. Có ai hỏi, mẹ cứ nhận là hai con của mẹ. Anh Cả, anh Hai đi lính vắng nhà lâu rồi, chòm xóm không nhớ mặt đâu! Mẹ làm ơn, làm phúc. Con đi một chút nữa con về ngay. Mẹ đừng lo!”
Bà mẹ nhìn tôi và Trâm, bà biết ngay hai đứa chúng tôi là sĩ quan QLVNCH đang bị truy đuổi. Bà cụ không dài dòng hỏi han. Cụ đưa tay chỉ cho tôi cái tủ đứng góc nhà,
– “Hai đứa lấy quần áo ‘si-vin’ của thằng Hải mà mặc vào ngay đi! Đưa quần áo nhà binh cho tao đi dấu!” Thoáng chốc, tôi và Trâm thành hai anh dân sự. Bà cụ Bắc Kỳ đã chôn hai bộ rằn ri dưới bùn ruộng muống sau nhà.
Trước sân, anh thanh niên (Hải) con bà cụ đang bơm lốp xe. Tôi và Trâm ngồi uống nước vối nóng, nghe ngóng động tĩnh. Chợt, ngoài đường có tiếng đối đáp,
– “Anh kia! Anh có thấy hai thằng lính rằn ri Ngụy chạy qua đây không?” một giọng Nghệ-Tĩnh gặng hỏi.
– “Có! Chúng nó chạy thẳng sang hướng Thủ-Đức. Đấy! Con đường quẹo phải! Chổ cây dừa nghiêng…”
Tên Việt-Cộng chỉ huy liếc mắt vào trong nhà. Thấy tôi và Trâm, nó hỏi trống không,
– “Chứ hai anh kia làm chi rứa?”
– “Anh Cả và anh Hai của tôi đó!” Hải nhanh miệng.
– “Thưa ông, hai thằng con tôi đi lính ngoài miền Trung. Tụi nó mới đào ngũ về nhà được mấy tuần. Xóm này ai cũng biềt.” Bà cụ phân trần.
Thằng Việt-Cộng hết nghi, quay sang đồng bọn, nó ra lệnh,
– “Nhanh lên! Đuổi theo chúng nó nhanh lên! Hướng cây dừa nghiêng. Đừng cho chúng nó chạy thoát! Các đồng chí cẩn thận đấy! Tụi nó có súng!”
Rồi tiếng chân người huỳnh huỵch chạy đi, xa dần. Bà già lấy khoai lang luộc đưa cho chúng tôi ăn đỡ lòng. Anh Hải rồ máy xe. Nửa giờ sau anh trở về,
– “Thiếu tá đi được rồi! Quân của chúng nó đi hết rồi.”
– “Hai con có còn tiền để đi xe về quê không? Nếu không mẹ cho!” bà cụ ân cần.
– “Cám ơn bác. Chúng cháu còn tiền đây. Chúng cháu mới lãnh lương. Mải lo đánh nhau, chưa tiêu đồng nào.” Tôi cảm động nói không nên lời. Bà già nhìn chúng tôi, ánh mắt bà chứa ẩn một tấm tình thương xót bao la.
– “Thưa Mẹ! Con đi!”
– “Thưa Mẹ! Con đi!”
– “Anh đi nhé, Hải! Cám ơn Mẹ và em vô cùng!”
Lần đầu tôi gọi một người không sinh ra tôi là Mẹ. Tôi gọi bà là Mẹ, không ngại ngùng, như thể bà đã là Mẹ tôi, đã sinh ra tôi. Tôi và chú Trâm bước ra vườn sau, theo bờ ruộng rau muống, leo lên con lộ đá đi về hướng Thủ-Đức. Tôi biết sau lưng tôi, Mẹ và chú Hải còn trông theo.
Hai đứa tôi nhanh chân nhập vào dòng người hướng về Thủ-Đức. Chợt sau lưng tôi có tiếng gọi, “Thái Sơn ơi! Trâm ơi!” Thì ra người gọi chúng tôi là Thiếu úy Trần văn Thủy. Ba thày trò tôi không dám lớn tiếng hỏi han nhau về những gì đã trải qua. Chúng tôi đi như những người dân chạy loạn đang tìm đường về nhà, sau khi im tiếng súng. Chúng tôi vào Thủ-Đức. Nhà nhà, cửa đóng kín mít. Vài chiếc xe Cảnh-Sát cháy dở dang. Vài tiệm buôn bị đốt phá. Trong phố đã xảy ra cướp bóc, hôi của. Cổng Trung-Tâm Cải-Huấn Thủ-Đức mở toang. Sân nhà lao vắng tanh. Tội phạm mới ra khỏi khám đang lộng hành (?) Nhiều người tay mang băng đỏ chở nhau trên Honda, trên xe Ford Cảnh-Sát. Xe chạy nhanh như bay, qua lại nhiều lần trên đường phố. Tới chợ Thủ-Đức, chúng tôi may mắn đón được chiếc xe Lamb chạy đường Thủ-Đức, Thị-Nghè, giá sáu trăm đồng một người. Chiếc xe Lamb bò ì ạch vì quá tải. Xe chúng tôi qua mặt từng đoàn người bận quần đùi, áo thun, chân đất, đang chen vai nhau, đi về hướng thủ đô. Tôi nhận ra, trong đoàn người áo thun, quần xà lỏn đang đi dưới đường, có Thiếu tá Nguyễn hữu Tài, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 81 Biệt Động Quân. Có lẽ anh ta cởi bỏ quân phục nơi Đường-Sơn Quán (?)
Còn cách ngã ba xa lộ Đại-Hàn chừng hơn trăm mét, chúng tôi phải xuống xe đi bộ vòng qua một khu ao cá và ruộng nước bên trái quốc lộ, vì giữa đường có một chiếc tank T54 đang cháy. Có vài cán binh Cộng-Sản Bắc-Việt ôm AK chặn không cho bộ hành và xe cộ qua lại đoạn đường này. Lội hết vạt ruộng thì thày trò tôi tới xa lộ Đại-Hàn. Lúc này, trên xa lộ, tank T54 và xe chuyển quân của CSBV đang nối đuôi nhau hướng về Sài-Gòn. Sau khi cuốc bộ một đỗi, chúng tôi tới cây cầu đúc. Qua cầu, chúng tôi lẫn trong biển người xuôi ngược.
Chúng tôi về tới Thị-Nghè thì mặt trời xế bóng. Giữa cầu Thị-Nghè là một chiếc M41 đứt xích vì B40.
Chiếc chiến xa nằm bẹp, bụng xe đè sát mặt cầu. Trên pháo tháp, có vết máu đã khô, nhưng không thấy xác người chết. Bên cạnh đó, vương vãi vài bộ quân phục Việt Nam Cộng Hòa, dây đạn, nón sắt, ba lô…
Tôi không dám về nhà mẹ tôi, sợ trong lúc tình hình lộn xộn, chòm xóm biết mình là sĩ quan QLVNCH, sinh chuyện không hay. Để hai người đàn em chờ trên cầu, tôi đi kiếm nhà người quen, xin cho chúng tôi tá túc. Nhà anh bạn Nguyễn gia Hân của tôi nằm ngay chân cầu. Bạn tôi là sĩ quan Cảnh-Sát, Trưởng đoàn phòng vệ Toà Đại-Sứ Hoa-Kỳ. Nhà khóa cửa. Có lẽ gia đình bạn tôi đã di tản rồi. Tôi trở lại cùng Trâm và Thủy. Qua cầu, chúng tôi tiếp tục đi. Bây giờ, trong phố, người qua lại nườm nượp. Bên lề đường, sát tường rào Sở Thú, những người đi hôi của đang bày bán đủ thứ, chăn màn, quần áo, chén bát, sách truyện, tranh ảnh, rượu bia…
Quên đời? Chỉ còn cách uống rượu. Năm trăm đồng một chai Hennessy. Ba thày trò tôi kẹp nách mỗi người một chai. Tôi vẫy tay chận một chiếc xích lô máy để vào Chợ-Lớn, về nhà Trung úy Trần văn Phước; vừa có nơi lạ để nghỉ qua đêm; xóm giềng không biết mình là ai; vừa tìm xem chú Phước còn hay mất. Chiều rồi, nhưng nhà chú Phước còn mở cửa. Trước nhà là cái bảng hiệu “Chiêm-Tinh Gia Trần-Cẩm, Chuyên Bói Bài, Coi Chỉ Tay, Đoán Vận-Mệnh”. Bác Cẩm là thân sinh của chú Phước. Xe ngừng, tôi vừa bước xuống đất thì Phước từ trong nhà ào ra ôm chầm lấy tôi, “Ôi! Anh Hai! Anh Hai! Mừng quá! Anh Hai ơi!” Thì ra trong cuộc lui binh dưới mưa pháo ngày 29 tháng Tư, Phước bị tụt lại đàng sau, mất liên lạc với tiểu đoàn. Phước không biết chúng tôi rẽ vào Long-Bình. Phước đi thẳng một lèo, theo xa lộ về tới Sài-Gòn. Đêm 30 tháng Tư bốn anh em tôi ngồi bên nhau, cạn ba chai rượu. Chú Thủy cho tôi biết rằng, ngay đợt tấn kích đầu của địch, chiếc xe thứ nhì đã bị thương và chết khá nhiều. Nhiều BĐQ bị thương đã được dân chúng di tản đi cứu cấp. Thiếu úy Thủy đã cố gắng mở một mũi bọc hông phải để giải tỏa áp lực địch nhưng không thành công, vì địch quá đông. Đến lúc khẩu phòng không 12,7 ly của địch tham chiến thì Thủy cho anh em phân tán chạy vào nhà dân. Sau đó Thủy được dân chúng cưu mang, cho quần áo cải trang rút chạy. Chú Thủy nói, hình như chú Thiều bị thương ngay từ phút đầu, không rõ số mệnh ra sao. Sáng Mồng Một tháng Năm 1975, tôi cho Thủy và Trâm một số tiền để làm lộ phí về quê. Từ dạo ấy, anh em chúng tôi không còn dịp gặp lại nhau nữa.
Thời gian trôi . . .
mười ba năm sau, cũng vào ngày Ba Mươi tháng Tư, đầu làng, cuối xóm, rợp bóng cờ đỏ sao vàng. Nơi nơi, loa vang vang, bài ca “Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh”. Có một anh Bắc-Kỳ, tuổi lửng lơ, nửa già, nửa trẻ, đạp xe thồ, đèo theo một cái giỏ, đi rao bán cá khô trong khu ngoại ô Thủ-Đức. Tới căn nhà gỗ, mái dừa, anh bán cá khô vừa mở miệng hỏi thăm, một bà người Xứ Quảng đã mau mắn trả lời :
– “Đi rồi! Bán nhà, vượt biên. Năm, sáu năm rồi!”
– “Xin cám ơn bà. Xin cám ơn Trời!” Anh Bắc-Kỳ mừng rỡ. Bà chủ nhà . . . nghệt mặt, giương mắt nhìn anh chăm chăm, mà chẳng hiểu ý anh.
Anh bán cá khô lên xe, đạp từ từ theo con lộ đất. Xe tới cổng nhà thờ. Gác chuông lặng câm. Sân nhà thờ vắng ngắt. Trên thánh giá, Chúa cúi đầu. Không biết Chúa có còn nhận ra anh không? Qua văn phòng Ủy-Ban Nhân-Dân Xã, đến quốc lộ 1, anh quẹo phải, ngừng lại bên đường ngồi nghỉ. Nơi đây chỉ cách Đường-Sơn Quán vài cây số. Cũng ngày này, mười ba năm trước, các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đã tả xung hữu đột trong trận đánh đẫm máu bi hùng cuối cùng. Những người nằm xuống đã sang thế giới bên kia trong quân phục rằn ri, với cái huy hiệu đầu beo, phía trên phù hiệu đó là một bệt tím có chữ số “82″ màu vàng. Trưa nay, có lẽ dân chúng trong vùng còn nhớ tới họ, nên cắm vội bên đường đôi bó nhang, hương khói.
Anh bán cá khô ngồi xẹp trên lề cỏ, rưng rưng,
– “Các chú tha lỗi cho anh…”
Hai bên quốc lộ là rừng bạch đàn. Những cây bạch đàn lớn lên từ lòng đất từng thấm đẫm máu của những anh hùng Plei-Me. Hình như trong gió, thoảng như ru, có tiếng ai, thiết tha, não nuột:
-”Thày ơi! Chạy đi!… Thày ơi!…”
Ngồi bên bìa rừng, đôi mắt Đường-Sơn Đại-Huynh đẫm lệ…
Tôi đã nhờ chiếc thám thính cơ đang bay trên trời đảo quanh vùng để tìm kiếm cánh quân của chú Phiến. Phi cơ báo cáo rằng họ đã nhìn thấy một tiểu đội quân bạn đang trên đường đi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch. Vậy mà mấy ngày sau tôi cũng không có tin tức gì của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Tôi thấy, trong trường hợp này chỉ có ba lý do, một là Thiếu úy Phiến và mấy anh lính đi theo Phiến đã đào ngũ, hai là toán quân này đã bị Việt-Cộng bắt, ba là họ đã bị Việt-Cộng chặn đường giết chết.
Sau khi tản thương, quân số của tiểu đoàn chỉ còn gần 100 người, một phần ba trong số này là những người bị thương nhẹ nhưng tự nguyện ở lại, không lên trực thăng. Trong khi bay ra, bay vào để tiếp tế đạn và di chuyển thương binh, Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa cũng thả cho tôi 90 tân binh nhưng là những Lao Công Ðào Binh Phục Hồi để bổ sung quân số. Với số tân binh này, cùng những quân nhân cơ hữu, tôi tạm thời tổ chức được 2 đại đội tác chiến và một trung đội trừ bị. Mỗi đại đội tác chiến có quân số 80 người. Ðại đội 1 do Thiếu úy Phạm Văn Tô chỉ huy.
Ðại Ðội 3 do Thiếu úy Phạm Ðại Việt chỉ huy. Trung đội trừ bị do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy. Ðại Ðội 2 tạm thời bị giải tán. Bốn giờ chiều, Sư Ðoàn 22 Hành Quân gửi vào một trực thăng để tôi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch gặp mặt một phái đoàn báo chí quốc tế. Tôi nhìn lại thân mình thì thấy mình thảm hại quá!
Trên người tôi tuy còn đủ, nón sắt, dây ba chạc, khẩu súng lục, cái địa bàn và cả tấm bản đồ. Nhưng tất cả áo quần và vật dụng của tôi đều như bị nhúng bùn vừa phơi chưa khô. Giờ này tìm đâu ra quần áo sạch mà thay để ra mắt phái đoàn báo chí? Tất cả quân trang của tôi đều còn nằm trong hầm trú ở Plei Ngol Ho, chắc đã bị Việt-Cộng lấy hết rồi. Thế là, cứ với hình thù lấm lem, đen thui, bẩn thỉu, tôi leo lên tàu.
Vừa rời trực thăng, tôi đã bị hơn chục phóng viên ngoại quốc xúm lại chụp hình rồi phỏng vấn rối rít. Tôi nói với họ rằng tôi phải gặp cấp chỉ huy của tôi trước, rồi mới được phép tiếp chuyện với họ. Phòng thuyết trình của Bộ Tư Lệnh Hành Quân 22 chỉ là một cái nhà bạt lớn dựng sát bên lề Quốc Lộ 14. Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm ra tận cửa đón tôi vào, rồi ân cần giới thiệu:
– Thiếu tá Vương Mộng Long Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa về từ chiến trường sẽ tường trình cho quan khách những gì đã xảy ra trong trận ác chiến vừa qua. Cuộc họp báo này chỉ giới hạn trong thời gian 15 phút, vì sau đó chúng tôi phải trả Thiếu tá Long trở lại trận địa để chỉ huy đơn vị.
Quay qua tôi, ông Tướng Tư Lệnh nói,
– Long có thể tóm lược cho phái đoàn báo chí biết những gì mà em thấy cần.
Thời gian giữ chức Trưởng Phòng 2 của Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 tôi không lạ gì với những buổi thuyết trình trước những phái đoàn quân sự ngoại quốc hoặc báo chí quốc tế. Trong vòng 10 phút tôi đã tường trình hết diễn biến trận đánh đã diễn ra hai ngày vừa rồi. Tôi đặc biệt nhấn mạnh chuyện Việt-Cộng đã dùng hơi ngạt để tấn công đơn vị tôi vì đây là một hành động vi phạm quy ước chiến tranh của Liên Hiệp Quốc.
Tôi thuyết trình bằng tiếng Anh nên không tốn thời gian thông dịch. Sau đó tôi xin phép trở lại đơn vị, vì đơn vị tôi hiện thời đang ở sát địch quân mà lại không có người chỉ huy. Tôi cứ tưởng chỉ có mình tôi leo lên máy bay quay về, đâu ngờ sáu phóng viên với sáu cái máy quay phim cũng lên tàu theo tôi. Về tới vị tri trú quân, tôi nhảy xuống, theo sau là sáu phóng viên chiến trường. Sáu anh nhà báo ngoại quốc tranh nhau chụp hình toàn cảnh trước mắt họ. Phóng viên nào cũng săn đón hỏi han những người lính bị thương. Họ lấy làm lạ, không hiểu vì lý do gì mà cả chục thương binh còn hiện diện ở đây. Tôi nghe tiếng đối đáp bằng tiếng Anh giữa một ký giả và một thương binh có cánh tay trái đã bị quấn băng trắng treo lên cổ là Thượng sĩ Y Khen Nier:
– Anh đã bị thương! Anh không được phép di tản hay sao mà còn ở đây?
– Ông chỉ huy của tôi còn ở lại chiến đấu, vì thế, những người bị thương nhẹ như tôi đã tình nguyện ở lại với ông ta.
Thượng sĩ Khen là người đã hiện diện ở Pleime từ khi căn cứ này mới thành lập. Trải qua 5 năm sống và làm việc với người Mỹ nên ông Khen nói tiếng Anh còn rành hơn là nói tiếng Kinh. Nhân cơ hội này tôi bán cái cho ông Khen nhiệm vụ thông dịch cho các ông phóng viên. Cũng nhờ những câu hỏi xoi mói của các ông nhà báo mà mấy hôm sau, thế giới đã biết rằng ở Việt-Nam đã có những người lính Biệt Ðộng Quân dù mang thương tích đầy mình nhưng vẫn tình nguyện ở lại chiến trường mà chiến đấu.
Bất ngờ, từ hướng Tây có tiếng pháo địch khai hỏa.
Thoáng chốc, trong khói bụi mịt mù, trên mặt đất chỉ còn một mình tôi là người đang đứng. Anh phóng viên người Nhật nằm ngửa, chĩa ống kính ngay mặt tôi, anh ta vừa tránh đạn vừa làm công việc thu tin tức của mình. Còn tôi, cũng đang làm công việc của một Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân là cứ đứng thẳng lưng, không nằm úp mặt xuống đất. Có thế, tôi mới không làm mất thể diện một sĩ quan chỉ huy của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Tôi biết chắc rằng, hình ảnh ghi trong cuộn phim của anh nhà báo người Nhựt kia, mai đây sẽ được đem ra trình chiếu cho toàn thể thế giới xem. Vì vậy, dù đạn đại bác cứ réo “Xè! Xè!” rồi nổ “Oành! Oành!” sát bên; dù trong lòng rất ngán bị mảnh đạn 105ly cắt đứt đầu, nhưng tôi vẫn phải làm như người tỉnh bơ trước nỗi hiểm nguy, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Anh lính mang máy truyền tin của tôi thì úp mặt dưới chân tôi; cái dây nối từ ống nói tới chiếc PRC 25 đã căng dãn hết cỡ. Sau khi nhờ chiếc quan sát cơ đang bay trên trời tìm vị trí pháo địch, tôi gọi cho Tướng Niệm:
“Tôi đang bị pháo! Yêu cầu cho trực thăng trở lại đem mấy ông nhà báo ra khỏi đây ngay!”
Vài phút sau thì pháo cũng ngưng, trực thăng quay trở lại. Trước lúc leo lên tàu các phóng viên còn chen nhau đứng bên tôi để chụp một tấm hình. Gần tháng sau tôi nhận được một cái bì thư gửi từ Tòa Ðại Sứ Nhật-Bản ở Sài-Gòn, trong đó chứa tấm ảnh tôi đứng một mình trong khói bụi mịt mù, với cái tựa đề “Last man standing!” (Last man standing có nghĩa là: Người cuối cùng còn đứng vững)
Bảy giờ tối ngày 15 tháng 4 năm 1974 tôi nhận được bản tin A2 cho biết ngoài 6 tiểu đoàn bộ chiến của E48 và E64, địch còn tung vào trận Tiểu Ðoàn D20 Trinh Sát, Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải và Tiểu Ðoàn H12 Ðịa Phương của Tỉnh Gia-Lai. Chín tiểu đoàn bộ chiến này của địch còn được Trung Ðoàn 40 Pháo và Tiểu Ðoàn D16 chiến xa Việt-Cộng yểm trợ để đánh Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/19.
Trong bản tin phát đi tối 15 tháng 4 năm 1974, đài BBC Luân-Ðôn đã mô tả trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 như sau:
“Ðây là một trận đánh vô cùng ác liệt mà tổn thất của đôi bên tham chiến được coi là nặng nề nhất kể từ sau Hòa Ðàm Paris.”
Tôi được phi cơ AC 47 Hỏa Long soi sáng và yểm trợ tiếp cận suốt đêm.
Ngày16 tháng 4 năm 1974
Tới sáng 16 tháng 4 thì nhiều phi tuần A37 được gửi tới để liên tục đánh bom dọc Tỉnh Lộ 6C từ 711 tới đồi Tử Chiến. Không Quân cũng thông báo rằng có nhiều ổ pháo và phòng không của địch đã bị hủy diệt vùng hướng chính Nam quận lỵ Thanh An. Khoảng 9 giờ sáng 16 tháng 4 một hợp đoàn trực thăng đã đổ một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh xuống vùng Nam Ngã Ba Mỹ Thạch. Giao tranh ở đó bắt đầu với nhiều tiếng nổ của pháo binh yểm trợ cho quân bạn. Ðúng 10 giờ sáng 16 tháng 4 thì tiểu đoàn thứ nhì của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cũng được thả xuống cách tôi hai cây số về hướng Tây.
Tôi nhận được tần số để liên lạc với đơn vị này, vì thế, tôi biết người chỉ huy tiểu đoàn này là Ðại úy Nguyễn Văn Chấn. Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Ðà-Lạt là đàn em của tôi. Bộ Tư Lệnh 22 đặt tiểu đoàn của Ðại úy Chấn dưới quyền điều động của tôi. Tôi giao cho chú Chấn nhiệm vụ án ngữ vùng hướng Tây Tỉnh Lộ 6C dọc theo triền Nam của sông Ia Meur để ngăn chặn bước tiến của hai tiểu đoàn địch là K1 của E48 và K7 của E 64.
Tôi sẽ tự mình tìm cách tái chiếm Căn Cứ 711. Trưa 16 tháng 4 năm 1974 thì Biệt Ðộng Quân và Thiết Giáp đã được tiếp tế lương khô và đạn dược đầy đủ. Ðại úy Xá bò sang chỗ tôi đang ngồi rồi hỏi nhỏ,
– Thái Sơn tính lúc nào thì mình rút ra đường?
Tôi nhìn ông bạn kỵ binh,
– Ra đường để ông Toàn bóc lon tụi mình hả?
Xá tròn mắt,
– Cái gì mà bóc lon? Bộ ông ấy không thấy mình đã đánh nhau gần chết hai ngày nay ư?
Tôi từ tốn nói với Xá,
– Tin tôi đi! Mình mà không tái chiếm được cái căn cứ vừa mất thì chắc chắn tôi với ông sẽ thành binh nhì. Hoặc may mắn lắm mỗi đứa cũng ký 40 Trọng Cấm. Ông là dân Thiết Giáp mà cũng không biết tính nết cha Toàn sao?
Nghe tôi quả quyết như thế, Xá thừ người ra,
– Vậy Thái Sơn tính làm gì tiếp theo đây?
Tôi vỗ vai Xá,
– Ðể đó tôi lo. Xá cứ nằm đây với thằng Chủ, bất cứ tình huống nào xảy ra cũng không được bỏ vị trí này, nghe rõ chưa?
Xá gật đầu,
– Dạ!
Chờ Xá rời đi, tôi gọi Thiếu úy Trần Văn Phước theo tôi tới gặp từng người lính đang nằm trên tuyến.
Tôi chọn ra được 100 người sẽ theo tôi đi làm công tác tái chiếm 711.
Lực lượng này gồm có 40 anh lính Lao Công Ðào Binh Phục Hồi, 40 quân nhân của Ðại Ðội 3, cộng với hai toán cận vệ của Hạ sĩ Ba và Binh nhất Yang. Cùng đi với tôi để chỉ huy trận này sẽ có Thiếu úy Phạm Ðại Việt, Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Lý Ngọc Châu. Tôi dẫn toán quân này ra triền đồi hướng Ðông rồi chỉ dẫn cho từng người sẽ phải làm gì tối nay. Chỉ một giờ sau, mọi người đều thuộc bài.
Thực ra thì bài học này cũng chẳng khó khăn gì, chỉ cần một chút bình tĩnh và gan dạ là đủ. Ðêm 16 tháng 4 năm 1974 trời tối đen như mực. Tôi và 100 quân lên đường quay lại Plei Ngol Ho. Nếu kiểm soát được Plei Ngol Ho thì ta sẽ chiếm lại Ðồn 711 một cách dễ dàng. Trong thời gian tôi chuyển quân thì pháo binh liên tục tác xạ 100 viên hỗn tạp trên mục tiêu. Tới bìa làng, tôi dàn quân thành 3 hàng ngang, mỗi hàng có 33 tay súng.
Khi có lệnh thì 33 chiến binh sẽ sát cánh nhau, thẳng tay ném một trái lựu đạn M26 về phía trước rồi nằm xuống. Ðợi một phút sau khi lựu đạn nổ thì sát vai nhau, quân ta khom lưng tiến lên, vừa chạy, vừa bắn. Tới lúc ra tới bờ rào sau cùng cả toán ngừng lại, mỗi người đều ném ngược về hướng sau lưng mình một quả M26 nữa.
Những trái lựu đạn ném ngược này nhằm mục đích ngăn ngừa những tên địch sẽ truy kích ta. Ðợt xung phong chấm dứt, tất cả phóng lên đỉnh đồi Ðông tập họp, rồi kéo nhau về vị trí tiểu đoàn.
Chương trình đề ra là:
– Ðợt xung phong thứ nhất bắt đầu đúng 8 giờ tối.
– Ðợt xung phong thứ nhì cách đợt thứ nhất 10 phút.
– Ðợt xung phong cuối cùng cũng cách đợt thứ nhì đúng 10 phút.
Tôi đi giữa đoàn quân xung phong cuối cùng.
Nằm sát bờ đất của Plei Ngol Ho, tôi hồi hộp theo dõi tình hình.
Chỉ 5 phút sau khi dàn quân thì lựu đạn nổ,
“Oành!Oành!Oành!”
Một phút kế đó, quân ta phóng tới. Tiếng M16 giòn giã giữa màn đêm. Không lâu sau, nơi cuối làng, lựu đạn lại nổ.
“Oành! Oành! Oành!”
Vậy là quân của Thiếu úy Phạm Ðại Việt đã lướt qua tường đất sau cùng. Suốt thời gian đợt tiến công thứ nhất diễn ra, tiếng súng M16 của ta hoàn toàn áp đảo tiếng AK của địch. Hình như địch chỉ bắn trả khi quân ta đã đi qua mục tiêu?
Mười phút kế đó, M26 lại nổ, “Oành! Oành!Oành!”
Rồi M16 cũng nổ, “Cành! Cành! Cành!” kèm với tiếng la,
“Biệt Ðộng! Sát!”
Lần này quân xung phong ồn ào hơn, dũng mãnh hơn, vì ông chỉ huy toán quân này là một tay bán trời không văn tự là Trần Văn Phước. Chỉ vài phút sau Thiếu úy Trần Văn Phước đã hoàn thành nhiệm vụ.
Vừa nghe tiếng lựu đạn “Oành! Oành! Oành!” của toán quân đi trước vọng lại từ cuối sân, tôi bèn đổi ý. Tôi không chờ 10 phút nữa mà la lên,
– Ðợt ba sẵn sàng!
Vậy là 33 trái M26 bay vào sân Plei Ngol Ho,
“Oành! Oành! Oành!”
Một phút sau Hạ sĩ Ba và Binh Nhất Yang hét vang,
“Sát! Sát! Sát!”
“Cành! Cành! Cành!”
Chúng tôi bắn liền tay, từng ba viên một, cứ nhắm những khu có ánh sáng hay có tiếng người rên la mà bóp cò. Trong sân Plei Ngol Ho tôi chỉ thấy vài đống lửa chập chờn khu pháo binh, ngoài ra không thấy bóng dáng tên địch nào xuất hiện. Tới bờ đất cuối cùng, nơi có hai ụ pháo binh, tôi hô to,
– Ðứng lại! M26!
Thế là, mỗi người quăng đại lại phía sau lưng mình một trái lựu đạn rồi chạy nhanh lên ngọn đồi hướng Ðông. Có lẽ địch không ngờ lại có hai cú xung phong chớp nhoáng kế tiếp nhau khiến chúng không kịp trở tay, nên không có tiếng súng nào của địch bắn lại. Lên tới đỉnh đồi Ðông, chúng tôi theo đuôi nhau rút về hướng Bắc.
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Thấy cơ hành của khẩu súng đã bình thường, tôi mới yên tâm kéo đạn lên nòng. Chợt Phước ra dấu cho tôi im lặng cùng lúc hướng phòng thủ của Thiết Giáp có tiếng chân người và tiếng nói chuyện:
“Mình vào kiểm tra khu chỉ huy sở của tụi nó xem có gì lạ không? Chắc anh em K7 đang ở đó.”
(Ghi chú: K7 là Tiểu Ðoàn 7 của Trung Ðoàn 64 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản)
Tôi ra dấu cho Thiếu úy Phước sẵn sàng. Hai cán binh vừa ló dạng sau bụi tre gai; tên đi trước có vẻ là cấp chỉ huy với khẩu súng ngắn K54 bên hông; tên đi sau có lẽ là người hộ vệ mang súng AK 47. Tôi và Phước bóp cò.
“Ðoàng! Ðoàng!”
Thầy trò hai tên địch ngã gục bên nhau, không la lên được tiếng nào. Tôi không ngờ là trong trận này chú Phước cũng chứng tỏ là một xạ thủ súng lục có bản lãnh. Viên đạn của Phước đã trúng ngay giữa ngực tên cán binh hộ vệ đeo AK47.
Bất chợt Phước nắm áo tôi lo ngại,
– Thái Sơn ơi! Em hết đạn rồi!
Tôi giật mình nhớ ra, băng đạn trong súng của tôi cũng còn chừng hai hay ba viên thôi. Tôi lần dây lưng lấy băng đạn mới lắp vào súng.Thấy Phước vẫn ngồi im, tôi hỏi,
– Sao không thay băng đạn mới?
Phước lắc đầu,
– Em có 6 băng đạn, bắn hết 5, băng đạn cuối cùng đang nằm trong súng!
Thấy tôi ngẩn người ngạc nhiên, Phước giải thích:
– Trong thời gian đánh nhau, em núp dưới giao thông hào, thấy tụi nó xung phong chạy ngời ngời, em đã bắn hết băng đạn này tới băng đạn khác mà chẳng trúng thằng nào. Không phải lỗi em bắn dở đâu, mà là lỗi của tụi nó! Tụi nó chạy nhanh quá làm cho em bắn trật!
Thấy thằng em mặt mày nhăn nhó, miệng thì càu nhàu, trách cứ tụi Việt-Cộng chạy nhanh quá, làm cho chú ấy tốn hết 30 viên đạn Colt 45 mà chẳng hạ được tên nào, tôi an ủi,
– Thôi! Ðừng buồn! Nhờ có băng đạn cuối cùng của chú mà anh còn sống đây! Thử hỏi trên đời này có xạ thủ nào giỏi như Thiếu úy Trần Văn Phước 82 Biệt Ðộng Quân không? Có ai làm nên kỳ tích, chỉ với 5 phát Colt 45 mà hạ gục 4 thằng giặc? Trong đó có thằng lãnh tới 2 viên?
Tôi đưa cho Phước một băng đạn mới rồi ngồi thủ thế. Bỗng tôi nhìn thấy trước mặt tôi là ba cái thây ma Việt-Cộng đang nằm đè trên những khẩu AK47 đẫm máu, tôi bèn chỉ tay cho Phước,
– Súng đây!
Mắt Phước sáng lên,
– Cám ơn Trời Ðất!
AK47 mà vào tay viễn thám thì không còn gì lợi hại hơn; Phước vơ vội cái dây đạn AK quàng qua vai rồi ghìm súng chăm chú nhắm về hướng Nam. Không còn tiếng nổ của thủ pháo, đợt tấn kích thứ nhì đã đi qua, đợt thứ ba chưa bắt đầu. Cứ theo lời nói chuyện của hai tên Việt-Cộng vừa rồi thì Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 64 Cộng Sản đã tràn ngập nửa phần hướng Bắc Plei Ngol Ho trong lúc tôi đang lo chống đỡ khu vực Tây Nam của căn cứ này. Chắc chắn mấy tên Việt-Cộng tranh nhau đuổi bắt con heo xổng chuồng và ba thằng cán binh ôm vật tôi phải là người của K7. Nhưng hiện thời không biết đơn vị này rút đi đâu mà trên sân chẳng còn tên địch nào cả?
Tôi nghĩ thầm, nếu K7 đánh vào khu Bắc Plei Ngol Ho thì chắc chắn K8 hoặc K9 của E64 là lực lượng đã tấn công Nam Plei Ngol Ho. Lợi dụng lúc súng địch tạm ngưng, tôi ra sức kéo cẳng cái thây ma trước mặt sang một bên để lấy khẩu AK47 và dây đạn thứ hai. Ngồi đâu lưng với Thiếu úy Phước, tôi ghìm súng hướng về Tây Bắc, khu lều vải của Thiết Giáp dỏng tai nghe ngóng động tĩnh. Bỗng tôi thấy một người từ hầm truyền tin vừa ló đầu ra, đó là Trung úy Nguyễn Công Minh, Sĩ quan Truyền Tin của tiểu đoàn. Tôi gọi,
– Minh! Minh!
Nhận ra người vừa kêu tên mình là ai, Minh cuống quýt,
Từ cửa, một người đầu trần, không nón mũ, trên lưng anh ta là một cái PRC 25 ăng ten lá lúa, người này là Hạ sĩ Thạnh. Thạnh phóng khỏi miệng hầm,
– Em đây!
Vừa lúc đó súng đồng loạt nổ giòn hướng chân đồi, rồi thì “Xung phong! Xung phong!’ – “Ðùng! Ðùng! Ðoàng! Ðoàng! Ùm! Ùm! Oành! Oành!” đâu đâu cũng có tiếng nổ, đâu đâu cũng có khói đen bốc lên, đợt tấn kích thứ ba bắt đầu. Ðạn B40 không ngừng “Xè! Xè!” theo nhau bay, rồi nổ “Oành!Oành!” trên nóc cái lô cốt chứa đạn cối 4.2. Hai khẩu AK 47 trên tay tôi và Thiếu úy Phước cứ liên tục “Cành! Cành!” nhả đạn. Trời còn đang mưa, chúng tôi thấy địch, nhưng địch thì không thấy chúng tôi. Tất cả những tên địch bén mảng tới gần vị trí khẩu súng cối 4.2 đều bị bắn bể gáo…
Tôi chụp cái máy truyền tin của chú Thạnh, vào tần số Không Lục, nói một hơi,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn! Tôi bị overrun rồi! Yêu cầu đánh ngay trên đầu!
Gọi Bắc Ðẩu xong, để tiết kiệm đạn, khẩu AK47 của tôi tạm ngừng. Khẩu AK47 trên tay Thiếu úy Phước cũng bắn chậm lại thành từng đợt ba viên. Áo quần của Phước giờ này đầy máu đỏ, không biết Phước đã bị thương hay máu từ cái dây đeo những băng đạn AK ướt đẫm máu địch mà chú ấy mang trên vai? Tôi thấy cứ tình trạng này mà kéo dài, không chóng thì chầy chúng tôi sẽ bị chúng phát giác, sẽ hết đạn, sẽ bị bao vây và tiêu diệt. Chờ một lúc không nghe tiếng Bắc Ðẩu trả lời, tôi đứng lên đảo mắt một vòng để quan sát trận địa thì thấy hướng đỉnh đồi chính Ðông không có bóng dáng tên Việt-Cộng nào.
Nhưng vừa nhổm người bước lên, Trung úy Minh bỗng trở gót chui vào hầm truyền tin. Tôi ngạc nhiên quát lớn,
– Minh! Làm gì vậy?
Không nghe Minh trả lời, tôi nóng ruột nhảy tới cửa hầm hét lên,
– Ra mau!
Tôi la vừa dứt câu thì Minh đã ló đầu ra,
– Xong rồi! Em vào mở lựu đạn lân tinh để phá máy truyền tin.
Bốn người cắm đầu chạy lên đỉnh đồi.
Trung úy Minh và cái máy PRC25 đi trước, khẩu AK47 của tôi chĩa về phải, khẩu AK47 của Thiếu úy Phước chĩa về trái; tôi và Phước bóp cò liên tục, “Cành! Cành! Cành!”
Chạy ngang qua hầm thuyết trình tôi nghe tiếng ai đó gọi,
– Thái Sơn ơi! Thái Sơn ơi!
Tôi ngoái cổ nhìn, thì thấy một thương binh đang ôm cây M16 thất thểu phóng về hướng tôi, tôi nhận ngay ra đó là thằng em người Nùng tên là Nông Văn Út. Từ trưa hôm qua tới hôm nay hai anh thương binh là Trung sĩ Nông Văn Út và Chuẩn úy Trần Quảng lo nhiệm vụ canh gác hai cái cửa phòng thuyết trình chứa đầy thương binh.
Tôi hỏi:
– Út đó hả? thằng Quảng đâu?
Út lắc đầu,
– Dạ em không biết!
Tôi la lên,
– Chạy lên đỉnh đồi!
Sau đó, tôi vượt lên trước dẫn đầu, phóng về phía rừng lau, rừng lau này cao quá đầu người. Tôi gióng địa bàn, lấy hướng 2100 ly giác. Theo hướng này, dự trù hai cây số sau thì tới con đường xe be dẫn về Nam. Từ đây tôi có thể chạy một mạch về Plei Le Tam Pôte rồi vào Pleime, trong Pleime tôi còn Ðại Ðội 4 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy.
Tôi sắp chui vào rừng thì anh hiệu thính viên níu áo tôi,
– Bắc Ðẩu muốn gặp Thái Sơn!
Tôi ngừng lại cầm máy,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!
– Yêu cầu Thái Sơn xác nhận lại lần cuối cùng là chính ông xin đánh bom ngay trên mục tiêu có phải không?
Nhìn thấy chú thương binh Nông Văn Út đang đi sát bên, tôi chợt nhớ ra, hiện thời còn cả chục thương binh nằm trong hầm thuyết trình, nên tôi hét lên,
– Check air! Check air! Tôi hủy bỏ yêu cầu trên. Mục tiêu giờ này là con suối nằm về hướng Tây của hai khẩu pháo.
– Okay! Tôi sẽ thỏa mãn yêu cầu này của Thái Sơn.
Sau đó có tiếng rocket chỉ điểm, tiếng oanh tạc cơ gầm rú, rồi tiếng bom nổ…
Tới đỉnh đồi, anh lính mang máy truyền tin lại níu tay tôi,
– Có Trường An gọi Thái Sơn!
Tôi áp tai vào ống nghe. Cùng tiếng rè rè của máy là tiếng người gọi tôi,
– Thái Sơn đây Trường An!
Nhận ra trong máy đúng là giọng nói của Ðại Tá Phạm Duy Tất, tôi mới dám trả lời,
– Trường An đây Thái Sơn nghe!
Tôi thấy ông Tất mừng rỡ la,
– Thái Sơn đó hả? Tình trạng ra sao? Giờ này cậu đang ở đâu vậy?
– Banh hết rồi! Tụi nó đánh bằng hơi độc hóa học. Tôi bị tụi nó túm! Mới vừa thoát ra xa chỗ đó được chừng hai trăm thước. Tôi đang trên đường chạy về Pleime!
– Tui mới gọi được thằng Xá cua sắt và thằng Chủ, tụi nó chạy được nửa đường đi Mỹ Thạch. Tui ra lệnh cho tụi nó ngừng ở đó chờ tin tức của Thái Sơn. Ủa! vì sao tụi nó chạy một đường, Thái Sơn đi một ngả vậy?
– Tôi bận chỉ huy khu pháo binh hướng Nam, mặt Bắc giao cho thằng Chủ và thằng Xá. Tới khi bị tấn công bằng hơi độc, tôi rút về bộ chỉ huy thì mới hay thằng Chủ và thằng Xá đã dẫn lính chạy từ lâu rồi!
– Ðể tui gọi thằng Xá đem xe vào cứu Thái Sơn. Nó mà không quay lại, tui lột lon nó!
Kế đó tôi và Ðại tá Tất đều vào tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82 để gọi Trung úy Chủ và Ðại úy Xá. Không có tiếng trả lời.
Tiếp đó tôi thấy Trường An tắt máy. Có lẽ ông đại tá sang tần số nội bộ của Chi Ðoàn 3/19; tôi không có tần số này. Kỳ hành quân này, Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân và Chi Ðoàn 3/19 nằm dưới quyền chỉ huy của tôi, do đó hai đơn vị này phải liên lạc với tôi trên tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82. Nhưng từ sáng tới giờ, tôi bận quá nên không liên lạc với họ lần nào. Tôi không biết tình trạng hiện thời của họ ra làm sao. Hai phút sau Ðại tá Tất gọi lại, cho tôi biết rằng 18 chiếc chiến xa của Chi Ðoàn 3/19 đã bị mất 12 chiếc, chỉ còn lại 6 chiếc.
Tọa độ của 6 chiếc M113 hiện giờ cách tôi chừng 2 cây số. Ông Tất đã ra lệnh cho Ðại úy Xá bằng mọi giá phải trở lại trận địa để cứu tôi. Ðể tìm về với quân bạn, thày trò tôi phải theo chân nhau đổ xuống cái dốc hướng Tây Bắc. Mấy phút sau thì chiếc chiến xa chỉ huy của Ðại úy Nguyễn Xá ào tới, rồi trở đầu thật nhanh. Ông Chi đoàn trưởng nhảy xuống đất, ôm tôi, rồi ra sức đẩy tôi vào cửa hậu. Trong xe đã có mấy ông Biệt Ðộng Quân ngồi sẵn, trong số này có ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y của tiểu đoàn.
Thấy Chuẩn úy Dũng, tôi vội hỏi thăm,
– Ông thầy thuốc còn sống đó hả? Quân y có còn đủ không?
Dũng cười,
– Dạ! Quân y còn đủ và đang ở với Trung úy Chủ. Trường An ra lệnh cho em quay lại cứu Thái Sơn, Thái Sơn có bị thương không?
– Ồ! Không sao! Anh chỉ bị tụi nó ôm vật, suýt bị bắt sống, chứ không bị thương tích gì!
Chợt tôi nghe tiếng trực thăng trên trời; ông Tất mới bay lên vùng. Thì ra từ nãy tới giờ ông đại tá liên lạc với tôi từ đỉnh núi Hàm Rồng, nơi đặt một đài tiếp vận của Biệt Ðộng Quân. Xen lẫn tiếng động cơ là tiếng cười hì hì của Ðại tá Tất.
Ông Tất báo cho tôi một tin vui,
– Ông già vợ của cậu vừa nhờ ta báo cho cậu biết rằng vợ cậu vừa đẻ cho cậu một đứa con gái thứ ba. Vậy là từ nay Vương Gia có ba cô công chúa!
Giờ này chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới vợ con, nên tôi chỉ đáp lời ông Tất bằng một câu gọn lỏn,
– Cám ơn Trường An!
Tới vị trí tập trung của đơn vị, tôi nhảy ra khỏi xe M113 thì thấy Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm và Trung úy Trần Dân Chủ đang đứng chờ. Hai ông sĩ quan này quần áo xốc xếch bẩn thỉu, mặt mày nhợt nhạt thất thần. Ông Chuẩn úy Trâm còn đủ mũ sắt, áo giáp, súng ống. Nhưng ông Trung úy Chủ thì đầu trần, súng đạn, mũ mãng, bản đồ, địa bàn, dây ba chạc đều mất hết. Tuy thế, tôi thấy trên ngực ông Chủ vẫn còn cái máy ảnh trong bao da màu đen treo tòn ten!
Thấy anh em nằm, ngồi, ngổn ngang trên mặt đất, tôi bèn quơ tay ra dấu cho mọi người quây thành một vòng tròn. Sáu chiếc M113 được dàn thành hình cánh cung hướng về Nam. Tiếp đó, tôi gom góp tất cả thương binh trên triền dốc ngọn đồi mà tôi đang đóng quân. Triền dốc này nằm về hướng Ðông của tỉnh lộ, hơi thấp so với mặt đường nên được che khuất nhưng cũng đủ rộng và an toàn cho trực thăng lên, xuống. Công tác tản thương được tiến hành cùng thời gian tôi điều chỉnh không quân đánh trên các trục tiến quân của địch. Tổng kết lại, hiện thời đã có 44 Kỵ Binh và 48 Biệt Ðộng Quân chết hoặc mất tích.
Trong tổng số 11 sĩ quan thực tập, chỉ còn lại 6 người, tất cả đều bị thương, 5 sĩ quan mất tích gồm có 4 thiếu úy Ðà Lạt và 1 chuẩn úy Ðồng Ðế. Trong số ba ông đại đội trưởng tác chiến, chỉ còn Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 là Thiếu úy Phạm Văn Tô đang ở đây. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 là Trung úy Nguyễn Trọng Thọ bị thương còn nằm trong Plei Ngol Ho. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3 là Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến đã thoát chạy trước khi tôi rời Plei Ngol Ho nhưng không rõ đang ở đâu. Trên tần số, Thiếu úy Phiến nói rằng chú ấy đang trên đường tới với tôi. Nhưng lạ một điều là càng lúc tiếng nói của chú ấy càng nhỏ dần.
Trong e mail trước anh hỏi trên biển thì làm sao biết được chuyện xảy ra trên đất liền, những ngày tàu lênh đênh rảnh rang thì làm gì và tàu ghé bến có được lên bờ chơi không? Những câu hỏi mấy chục năm qua tôi đã nghe nhiều người hỏi, có lẽ từ đây tới ngày tôi nghĩ hưu vẫn còn có người gặp mặt tôi hỏi những câu tương tợ, thường những người trên đất liền hỏi cho có thôi chớ thiệt ra hổng ai muốn nghe câu đáp lại. Tôi phân vân có nên trả lời anh hay không thì chiều nay tôi nhận của anh một e mail nữa. Trong mail một mặt anh trách tôi dạo sau này hông muốn liên lạc với bạn bè luôn cả những lần về bờ cứ ‘ ru rú ở nhà chơi với vợ’ và mặt khác anh than phiền: “ Tao chán ngấy cái thế giới đàn ông giống như con chó giữ nhà và đàn bà là chủ nhân khó tánh; nấu nướng thì không biết, người ta nấu dọn ra thì chề cái môi đỏ chét chê nấu dở ăn không vô, mở miệng ra thì hậm hực, quanh co không thành thật; ra ngoài thì gian lận tuổi tác bằng cách tô lên tóc màu mè xanh đỏ, lắp lên mặt một lớp hoá chất dầy và không bao giờ thấy được mặt thật…” Anh kể cho tôi nghe những phiền toái trong gia đình và ao ước được làm “ Cánh chim bạt ngàn để khỏi phải vật lộn từ trong nhà ra tới xã hội với công việc và nhìn mọi tiêu cực hàng ngày xảy ra làm chướng tai gai mắt…”. Tôi nhìn vào điện thoại biết tàu đương chạy ven bờ biển Thuỵ Điển, chuyện xác định vị trí con tàu trước kia thủy thủ muốn biết thì phải hỏi thuyền trưởng hoặc thuyền phó, bây giờ không cần hỏi, ngồi trong phòng cũng biết vị trí con tàu đương ở trên hải phận quốc tế hoặc vào hải phận nước nào. Thời buổi này một việc xảy ra trong một nơi xa xôi hẻo lánh trên trái đất chỉ vài giờ sau cả thế giới điều biết. Cũng như tôi biết chuyện buồn phiền của anh qua chiếc di động nằm gọn trong lòng bàn tay này. Bây giờ là giờ rảnh của tôi và tôi đương ngồi sau lái tàu nhìn chiều Mùa Thu trên vùng biển Baltic. Trời không gió, mặt biển êm láng và nước biển xanh màu cẩm thạch. Nền trời trắng đục, mặt trời trốn đâu mất nhưng ánh sáng vẫn còn toả sáng đủ để phóng tầm mắt nhìn xa vô dãi đất liền mù mờ trong làn sương mỏng. Tôi trở vô phòng, để điện thoại lên bàn và ngồi xuống mở laptop. Thường ngày giờ này nếu đường truyền internet tốt thì tôi nối mạng tìm đọc cái gì đó, không thì gõ lên bàn phím những chuyện xãy ra trong ngày hay một ý nghĩ vẩn vơ nào. Tính hiệu cho biết đường truyền internet khá cao nhưng tôi không nối mạng, tôi thấy mình cần gõ cho anh vài dòng, kể anh nghe một vài chuyện. Hy vọng khi đọc xong anh vơi bớt phần nào ưu phiền, không còn phẫn nộ và nhìn đâu cũng thấy cảnh chướng tai gai mắt. Có một dạo tôi sống trong một xóm nhỏ miệt U Minh hạ. Nói là xóm nhưng thật ra chỉ vài ba trăm căn nhà lưa thưa cách nhau một hai công đất, day cửa ra dòng kinh. Khoảng giữa con đường cách nhà này qua nhà kia có một cây mắm hay cây bần gì đó mà lâu quá tôi quên mất rồi, gốc cây bự gần cả ôm, dưới gốc có miễu thờ cục đá cuội tròn bằng cái trứng ngỗng màu đen láng bóng mà người ta gọi là miễu ông Tà. Theo lời kể thì cục đá do một anh mò tôm càng mò được rồi đem để lên gốc cây, sau đó có người đồn ra khắp xóm rằng có điềm lạ. Nghe có điềm lạ bà con chạy tới xem và đem nhang, đèn, bông, trái ra chỗ cục đá bày ra cúng. May sao măm đó cả xóm được trúng lúa mùa. Nhờ trúng mùa lúa bà con trong xóm càng tin tưởng nhờ cục đá linh thiêng phù hộ, họ bèn rủ nhau góp tiền mua gạch ngói về cất lên cái miễu, đặt bàn thờ có lư hương, chưn đèn, riêng cục đá thì được bọc vô miếng vải màu đỏ kính cẩn để lên bàn thờ và đặt tên cho cục đá cuội là ông Tà. Về sau có dịp đi đó đi đây, tôi thấy nơi thờ bình vôi, chỗ thờ lưỡi tầm sét… những biểu tượng như vậy đều có những câu chuyện huyền thoại linh thiêng tương tợ như nhau. Dạo đó tôi cũng tin tưởng ông Tà như tất cả mọi người quê mùa ấy, mỗi khi đi cắm câu ngang miễu tôi tạt vào đốt nhang, đứng ngay ngắn trước bàn thờ ông Tà xá ba xá và cầu xin phù hộ cho câu được nhiều cá thì tôi sẽ cúng ông một nải chuối. Từ ngày ra nước ngoài, sống chung chạ phần đông với dân có học, nhứt là sống trong đất nước văn minh, tôi nghĩ là người trí thức thì không ai mê tính dị đoan. Nhưng sau một thời gian, tôi mới biết mình lầm, biểu tượng lại xuất hiện khắp nơi, người ta đặt tên biểu tượng là Chánh Nghĩa. Lúc còn ở U Minh tôi hổng biết tại sao bà con lấy tên ông Tà đặt cho cục đá, bây giờ tôi mới hiểu ra, có Tà (Tà Nghĩa) tức phải có ông Chánh (Chánh Nghĩa), đúng quá xá rồi còn gì nữa. Dù sao đi nữa dân quê thờ ông Tà cũng không tổn hại tới ai, trái lại còn có lợi về mặt tinh thần nữa. Ở một nơi hẽo lánh quê mùa không có nhà hội, không hàng quán, nhân dịp ngày rằm mùng một bà con tụ tập trước miễu cúng quảy luôn tiện tán dóc, trao đổi chuyện hay, chuyện dở, chuyện mùa màng và nhờ vậy mà con nít với mấy đứa chăng trâu cũng kiếm ké được chút ít bánh, trái, xôi, chè. Ở nước ngoài những người thờ ông Chánh có phương tiện hơn, họ bày tiệc thù tạc, tâng bốc, vinh danh, phong chức cho nhau và phô trương kích thích lòng hận thù. Họ tưởng rằng có ông Chánh trong tay tức có thần linh phù hộ cho một sức mạnh vạn năng có thể thay trời đổi đất, họ tụ tập lê la ông Chánh đi khắp chỗ đông người, vào nơi hội hợp chìa ông Chánh ra hù dọa. Đến chùa chiền cũng phải dành một chỗ thờ ông Chánh, nếu không thầy chùa khó mà ngồi yên gõ mõ công phu. Có người hiểu biết khuyên họ dừng mê tính nữa tức thì họ bài bác, chửi bới đôi khi dùng thủ đoạn ác độc hại người hoặc thượng cẳng tay, hạ cẳng chưn bề hội đồng người ta đến lỗ đầu máu tuông linh láng. Thiệt tình tôi không mấy hứng thú nói ra ba cái chuyện nặng nề này, nhưng muốn anh hiểu cho tôi vì sao không liên lạc với bạn bè. Hơn nữa đọc mail anh tôi thấy như cả một trời ưu phiền đương phủ xuống cái thân thể ốm yếu của anh, tôi muốn đem chuyện ông Chánh, ông Tà để cho anh thấy mê tính đị đoan nó đã thắm vào máu tim của mọi tầng lớp người Việt ở khắp nơi chớ không riêng dân quê mùa dốt nát trong hóc Bò Tó nào ở miệt U Minh. Làm cánh chim bạt ngàn đôi khi cũng gặp giông gió bão bùng, hổng khôn khéo lèo lái sẽ bị rơi nhàu đầu xuống chết không kịp ngáp, tôi đã chứng kiến mỗi lần giông bão, chim va vô mui tàu chết hoài. Đứng trên bờ nhìn ra biển khơi rồi mơ ước viễn vu và từ biển khơi trông về một nơi nào đó trong đất liền để mơ mộng chuyện trùm mền với vợ, giống như người đứng núi này trông qua núi nọ thấy núi nọ cao hơn núi này và ngược lại, thì cũng đâu khác nào chuyện mê tính dị đoan. Nếu anh chưa bỏ được đố kỵ, hận thù trong lòng anh, thì cho dù có là cánh chim đại bàn cõng cả trời mây, bay khắp chưn trời góc biển thì chuyện buồn phiền vẫn cứ bám miết theo anh như hình với bóng. Kiến thức và lao động tạo nên tiếng tăm lừng lẫy và cả một gia tài lớn lao đưa ta lên địa vị cao tột đỉnh cũng chỉ là tạm thời, không gì bền vững. Nói chung bất cứ vật gì ta tạo ra và thu góp được, kể luôn cả vợ và con, khi chết đi chúng ta cũng để lại, không mang theo được một cái nào. Lên voi xuống chó của ngày hôm nay rồi sẽ lùi vào quá khứ. Người bạn đời mà ta thương yêu và sáng tạo ra biết bao ngôn từ đẹp đẽ để gọi, nào là người yêu quí, một nữa của anh hoặc của em… Trau chuốt những lời hoa mỹ và tặng bông hoa màu mè, những cử chỉ âu yếm, hôn hít làm đẹp lòng nhau chẳng qua vì chữ SỢ. Sợ mất nhau rồi không còn chỗ để nương tựa “đời mất em rồi anh sống với ai”. Mua chuộc, này nỉ ỉ ôi thậm chí van xin tình yêu, cuối cùng không cách này thì cách khác tình yêu cũng lần hồi phai mất. Thân thể con người ta, từ kẻ bần cùng cho tới những người quyền cao chức trọng, ai ai cũng bị thời gian bào gọt hao mòn, teo tóp, bệ rạc và lăn lóc như cá đồng mùa hạn bị mắc cạn trên bùn lầy, lây lấc ngoi ngóp hớp không khí sống qua ngày chờ đất khô rồi chết khô theo đất. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ còn hổng xong nói chi nương tựa đỡ đần cho nhau, ai gánh vác ai đây. Cha mẹ thương con vô bờ vô bến, con thương cha mẹ có giới hạn. Tục ngữ Việt Nam có câu “cha mẹ thương con biển hồ lai láng, con thương cha mẹ tính tháng tính ngày”. Con bịnh cha mẹ buồn lo mất ăn mất ngủ; cha mẹ bịnh con dòm qua và hỏi han vài câu, đứa nào nghĩ tình tới thăm và nấu cho vài bữa cháo, đưa đi bác sĩ vài lần cũng là hiếu thảo lắm rồi. Bịnh dai dẳng năm này qua tháng nọ chẳng đứa con nào túc trực bên giường đâu. Khi con còn nhỏ xin tiền cha mẹ thì không ngần ngại; con khôn lớn lập nghiệp, dù nó thành công tột đỉnh, giàu sang nhứt bậc, cha mẹ lân la hỏi xin tiền cũng không dễ dàng gì. Trái ngược nhau hết, đây là sự thật và không lấy gì bảo đảm để nương tựa cho đời mình, vậy thì sao ta không coi việc lo liệu cho con cái là bổn phận, là một niềm vui, không lợi dụng lòng hiếu thảo mong báo đáp công đưỡng dục sanh thành, cũng như không bám cẳng gây phiền chúng để tự hành hạ tâm mình. Suy cho cạn nghĩ cho cùng, có phải chúng ta đương sống trong cảnh trái chiều rồi ôm một đống khổ đau đến nỗi dùng lời lẽ thâm độc chê trách vợ, con và trong lòng sanh ra một chuỗi muộn phiền. Cuối cùng chính ta là thủ phạm gây phiền phức từ trong nhà lan ra xã hội mà ta hổng hay, cứ day ra hận đời, oán người…. Tuy nói là vậy nhưng tôi không có ý đả phá tuyệt đối khuyên anh từ bỏ đời sống trần gian đầy bạo loạn này để tôn thờ một tôn giáo nào đó và dồn hết thì giờ đi nhà thờ, nghiền ngẫm kinh Thánh hay là cạo đầu vô chùa gõ mỏ tụng kinh cho vơi bớt nỗi khổ niềm đau. Chúng ta chỉ cần bỏ ra một ít thời gian và bỏ đi sự đam mê các thú vui thường tình, dùng một phần thời giờ còn lại học hỏi và luyện tập thương yêu, loại hết thói quen ít kỷ và mở lòng vị tha để giữ thăng bằng trong cuộc sống xao động hiện nay. Những ý tưởng với những mẫu chuyện vặt vãnh này tôi đã tìm tòi góp nhặt được và nghiền ngẫm là nhờ những ngày tháng lênh đênh trên biển và thời gian “ru rú ở nhà chơi với vợ”. Dĩ nhiên đây hổng phải ý của riêng tôi, mà là của những bật cao nhân đã có sẵn trên đời ít ra cũng hơn hai ngàn năm trước. Tới nay tôi thấy những ý tưởng này vẫn còn giá trị, tôi đã lấy làm kim chỉ nam cho cuộc sống đời mình. Nhờ đó mà tôi đã dọn dẹp sạch sẽ rác rến lo âu trong lòng, tẩy hết dơ bẩn muộn phiền trong tâm trí và cũng không còn mê tính dị đoan nữa. Một người không mê, tức là người tỉnh, một người tỉnh táo thì thoải mái, sung sướng biết bao và không dại gì biến mình thành nhà đô vật để “vật lộn từ trong nhà ra ngoài xã hội”. Chuyến này tàu khởi hành cảng Hamburg, đi ngang kinh đào Kill vào vùng biển Baltic, chuyển và nhận hàng các nước thuộc scandinavian. Mùa Thu vùng này rất đẹp, tuy hơi lành lạnh nhưng trên biển nước vẫn xanh và lờ mờ trong sương vài cánh buồm trắng. Trên bờ cây đã trổ lá vàng và bắt đầu rơi rụng… Ngày mai tàu ghé Stockholm, thủ đô nước Thụy Điển, mỗi lần tới đây lòng tôi rộn rã, tâm hồn phơi phới. Tôi rất thích thành phố sạch sẽ, nhứt là con người ta sống rất hiền hoà và rất là nhân bản. Nhìn đất nước con người nơi đây tôi ngậm ngùi nhớ và thương cho dân Việt mình quá. Biết đến bao giờ người Việt mới có cuộc sống an bình, trong một xã hội văn minh với những con người hiền lành và chứa chan tình cảm, để những người anh, em nhìn nhau với tấm lòng đầy thương yêu không nhỏ nhen, không đố kỵ và không hận thù./. Baltic 20-9-2012
Cửa kiếng phòng bếp của chiếc Tina tròn, đường kính rộng đúng sáu tất tây, chỉ đủ nhìn không gian bên ngoài biến đổi từng vùng, từng mùa. Bây giờ là mùa đông, ngoài boong dầy lên một lớp trắng mịn, ấy vậy mà trên không tuyết cứ tuông xuống ào ào. Cái mững nầy tiếp tục cho tới ngày tàu xuống hàng mặt sức thủy thủ đoàn vừa xúc tuyết đem đổ vừa lạnh teo… Chiếc Tina cặp bến Hamburg chiều hôm qua, tàu đậu nối đuôi chiếc Đại Dương. Hôm nay là ngày hăm bốn tháng Chạp dương lịch, vậy mà chiếc Đại Dương vẫn xuống hàng với hai cần trục và năm sáu xe vận tải chạy tới chạy lui dẫm tuyết dấy bùn nhầy nhụa. Trông công việc rấp rút chắc chắn chiếc Đại Dương sẽ khởi hành trong vài giờ sắp tới. Như vậy năm nay thủy thủ đoàn bên ấy sẽ mở tiệc Giáng Sinh trên biển và luôn cả tết tây tàu họ vẫn còn lênh đênh trên sóng nước. Ðúng ra nghe thông báo chiếc Tina đậu lại qua Giáng Sinh mới khởi hành, thủy thủ đoàn vui vẻ, hào hứng làm đẹp con tàu và cùng nhau sửa soạn cho bửa tiệc Giáng Sinh thêm phần sống động. Ðằng nầy mạnh thằng nào nấy rút vô phòng đóng cửa lại. Mùa đông ngoài trời tuyết rơi lạnh lẽo, ấy vậy mà không khí trong tàu còn lạnh hơn ở ngoài trời. Mùa Giáng Sinh bên Âu châu người ta ăn uống nhiều lắm. Mặc dầu mấy ngày nầy thức ăn luôn lúc nào cũng đầy bàn, đầy tủ lạnh. Thực đơn thường ngày cho thủy thủ tuy không sang trọng như những nhà hàng lớn nhưng phẩm chất ăn đứt những căn-tin tập thể trên đất liền và hơn hẳn bửa ăn bình thường ở nhà. Bửa ăn nào cũng năm món và một vài món tráng miệng. Ấy vậy mà có tên ngốc nghếch ngồi ngó dáo dác bàn ăn, không biết chọn món nào. Cuối cùng đứng dậy đi vô phòng bếp hỏi: – Sếp ! Hôm nay có món nào đặc biệt không ? Ðầu bếp hỏi lại: – Cái gì đặc biệt ? Thì hắn ta giơ tay lên gãi gãi đầu, trơ cái bảng mặt đần độn ra, trả lời: – Không biết. Làm như trong ngày Giáng Sinh không ăn được thỏ và gà tây thì sau khi chết sẽ sa vào hỏa ngục hay sao? Mỗi năm, hễ đến tháng Chạp thì có người nhắc nhở đầu bếp phải đặt mua hai loài vật nầy để sẵn trong tủ đong đá. Mấy ngày nầy gà Tây và thỏ bày bán lềnh khênh trong các siêu thị, rẻ như bèo, thịt gà thì lạt nhách, mùi tanh tanh, khô khốc như xơ dừa khô, may gặp đầu bếp khéo tay ướp gia vị đúng cách, pha nước xốt ngon còn nhấm nháp được, bằng không hai miếng thịt dưới ức coi như đồ bỏ. Thỏ nấu rượu chát trước kia còn có người ăn, ngày nay dọn ra để ngó chơi chớ ít thấy người rớ tới. Hơn hai mươi năm làm đầu bếp, tuy tôi chưa từng cắt cổ, nhổ lông thú vật nhưng ngày nào tay tôi cũng dính máu, không con nầy cũng con kia. Trong những ngày cuối năm, tôi thịt ít nhứt cũng một chục ký gà tây và bốn năm con thỏ, đó là chưa kể tới thịt thà, tôm, cá mà tôi chế biến thức ăn hàng ngày và các món nhậu lai rai. Quả thật, nếu có luân hồi, quả báo thì kiếp sau tôi khó trở lại làm người. – Chú, có chuyện gì phụ không ? Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng ngoài cửa phòng bếp. Tôi chỉ tay qua bình cà phê, nói: – Có, nhưng rót cà phê uống và ăn cái gì đi đã. Bobby là thủy thủ mới tập nghề, nó theo đạo Tin-lành và nói khá tiếng Anh, còn trẻ nên nói chuyện hay ra vẻ hiểu biết. Gặp mấy tên thủy thủ hải hành lâu năm theo đạo Hồi, nhưng không bao giờ đọc kinh Koran, ngoại ngữ đủ để cột dây tàu và gõ sét. Thấy Bobby ma mới nhưng khôn và lanh lợi hơn, mấy ông hè nhau cô lập thằng nhỏ. Bobby không biết chơi với ai nên nó mới lẽo đẽo theo tôi. Bề ngoài lúc nào tôi cũng giữ khoảng cách nhưng có cơ hội thì tôi giúp đỡ và an ủi nó. Làm đầu bếp cho một nhóm người tạp nhạp, muốn thân thiện với người nào cũng cần phải có thời gian, hấp tấp kết giao lỡ gặp những tên không biết điều sẻ gây rắc rối trong việc nấu nướng. Chờ Bobby ăn, uống xong tôi phân công nó lột tôm và chỉ cách đánh nước xốt làm cốc-tai. Phần tôi thì lo nướng gà và hầm thỏ. – Chú à. – Gì đó. – Năm nay mình có Giáng Sinh trắng. – Vùng nầy mùa đông nào lại không có tuyết. – Hồi nhỏ tới lớn lần đầu tui thấy tuyết. – Vậy là ở In-đô Giáng Sinh đen. – Ha ha… – Cười khỉ gì, nếu không trắng thì đen, nhưng Giáng Sinh bên mầy có ăn gà tây và thỏ không? Có, nhưng những gia đình theo đạo Tin-lành và Thiên Chúa thôi, chớ đạo Hồi thì không. – Hèn chi.. – Gì chú. – Đúng ra giờ nầy thủy thủ xuống dọn dẹp và trang hoàng phòng ăn, chớ có đâu mạnh thằng nào nấy nằm trong phòng riêng lo thủ dâm. Ha ha, để lột tôm, đánh xốt xong tôi ra trang hoàng phòng ăn cho. Hôm kia thuyền phó thấy cây thông bị sóng lắc ngã, kêu mấy ông dựng lại, mấy ông nói nói Giáng Sinh không phải lễ của đạo Hồi nên không ông nào chịu làm. – Chờ người ta làm sẵn nhào vô đốp. Đạo gì mà khôn quá vậy? – Đạo Hồi chớ đạo gì. – Phải chi được ở bên In-đô tao cũng theo đạo Hồi cho sướng. Chiều hôm qua hội nhà thờ xuống tặng quà, ông nào ông nấy khúm núm, nhăn răng cười vui vẻ đưa tay đón nhận và cúi rạp đầu muốn đụng đất, miệng rối rít cám ơn, nhưng khi người ta đi rồi mấy ông lựa lấy quà, còn sách báo rao giảng về nước Thiên Ðàng và kinh Thánh mấy ông cầm lên, gằn giọng nói: “shit!”. Rồi đem liệng vô thùng rác. Nhưng thôi, bỏ cái chuyện đạo Hồi qua một bên. Hôm nay Giáng Sinh mình lo chuyện đạo Chúa cái đã. Mầy cũng không cần phải trang hoàng phòng ăn làm gì. Lâu lâu đi nhằm chuyến tàu gì mà giống như chuồng thú. Thuyền trưởng thì như con lật đật không khi nào ngồi yên một chỗ, thuyền phó mặt mài râu ria như người tiền sử, phụ thuyền phó thì mỏ nhọn, răng hô nghe ra giống khỉ đột, thợ máy chánh mập như voi và ăn như heo, chỉ có thợ máy phụ còn trẻ và đep trai nói năng tử tế, phần còn lại mở miệng là chửi thề, ăn nói tục tĩu, cự nự nhau suốt ngay. Thủy thủ In-đô của mầy có bốn thằng mà cũng chia phe chia cánh, như vậy cũng đủ biết bữa tiệc hôm nay không kéo dài hơn một giờ đồng hồ đâu. Nấu cho người ăn thì phải khác hơn cho ngợm ăn, bày biện làm chi tốn công tốn sức. Trong phòng ăn không căng giấy màu, cây thông dựng tuần trước bị sóng vật ngã mấy lần làm lá thông rụng sạch không còn lấy một màu xanh, những nhánh cây khẳng khiu bán vào thân cây xám xịt, mấy món đồ chơi và dây kim tuyến treo lủng lẳng làm quằn chiếc cành, vài nhành bị gãy cụp xuống, đèn điện bóng cháy bóng tắc. Quả thật, nếu khắp nơi ai ai cũng mừng Chúa giáng sinh với cây thông thê thảm như vầy, chắc chắn ông Jêsu sẽ không bao giờ trở lại trần gian như lời ông đã hứa. Thuyền trưởng ôm thùng quà quà xuống, phát cho mỗi người một gói giống như người ta phát quà cứu nạn bão lụt. Không có nhạc Giáng Sinh, không nâng ly mời rượu, không chúc lành nhau. Mạnh ai nấy ăn, nấy uống giống như dân Bắc Hàn bị nhịn đói lâu ngày… Đúng như đầu bếp tuyên đoán, chưa đầy một giờ đồng hồ, bàn tiệc bắt đầu rời rạc. Đám đạo Hồi In-đô xí xô xí xào kéo nhau định đứng dậy. Chợt nghe đầu bếp thông báo, buổi chiều phòng bếp đóng cửa. Mấy anh Hồi giáo như hay tin bão lụt sắp tới nơi, anh nào anh nấy hấp tấp chồm lên, buôn cả dao nĩa, trở lại truyền thống ăn bốc, vói tay bốc thức ăn bỏ đầy dĩa bưng lên phòng dự trữ. Đám officer ngồi cầm cự một lát rồi cũng đứng dậy mạnh ai nấy về phòng. Bữa tiệc chấm dứt chưa đầy một giờ trưa. Coi như xong công việc sớm, đầu bếp khoẻ re. Tôi lên phòng tắm rửa sạch sẽ, thay đồ, leo lên giường đánh một giấc tới chiều. Tôi có thói quen mùa hè bận áo mỏng, Xuân – Thu tôi khoác áo dầy vừa phải, mùa Đông tôi bận áo dầy cộm, choàng khăng cổ thảm nhiên tà tà thả bộ năm ba cây số là thường. Ðêm nay Giáng Sinh, tôi bận áo len bên ngoài áo sơ mi và đặc biệt hơn thắt lên cổ áo chiếc cà-vạt. Những ngày nầy tôi thích lang thang ngoài trời, sau đó ghé hội quán mua chai rượu đỏ, tới chiếc bàn trong góc nơi có dựng cây thông, ngồi đây vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn đồ chơi treo lũng lẵng trên nhánh thông, những bóng đèn màu chớp chớp đủ màu sắc, ngửi được mùi dầu thông tỏa thơm ngai ngái và nhìn được những sinh hoạt xôn xao trong hội quán. Khi bước lên bến, tôi thấy Bobby tay kẹp điếu thuốc đi tới đi lui trên kè đá. Ngạc nghiên tôi hỏi nó: – Sao mầy còn đứng đây? Mặt rưng rưng buồn, nó nói: – Tôi không biết đi đâu hết chú à. – Sao mầy không theo xe hội quán. Mấy người kia không cho tôi theo Xe của hội quán chớ xe của mấy người kia sao? Bobby lắc đầu: – Tôi không biết. Nhưng tôi biết ! Đã sống chung chạ với dân In-đô ngót hai mươi năm. Tôi đâu còn lạ gì tánh tình cùa họ, mười người hết bảy tám, mới ra làm việc nước ngoài mặt thằng nào cũng ngơ ngơ ngáo ngáo như người rừng ra phố. Sau một hai năm, quen bơ, quen sữa bắt đầu hống hách nghênh ngang. Muốn chứng tỏ văn minh hơn đồng hương, không còn cách nào khác ngoài chuyện bỏ truyền thống ăn bốc và chê món ruốc khô (trassie), món quốc hồn quốc tùy của In-đô, thúi ăn không vô. Lại thêm cái màn ma củ bắt nạt ma mới. Mấy tháng nay Bobby bị mấy ông hiếp đáp. Tôi biết hết nhưng đó là chuyện riêng tư của họ tôi không xía vào. Biết đâu Bobby đi được một vài năm thì cũng cá mè một lứa. Mặc kệ nó, tôi nhấn mạnh gót giày, quay lưng cất bước. Chiếc Đại Dương rời bến hồi nào không biết. Dấu nhầy nhụa như bùn của những bánh xe bốc hàng ban sáng đã được tuyết lấp không còn dấu vết nào, thay vào đó là một màu trắng tinh khôi.Trên những chiếc cần trục dọc theo bến cảng người ta kết hàng ngàn bóng đèn nhỏ thành hình ngôi sao, trái tim và hình cây thông đủ sắc màu nhấp nhau nhấp nháy. Chiếc cầu dài uốn cong nối hai bờ sông Elbe, ánh đèn rực rỡ chiếu xuống dòng sông hực sáng làm cho nền trời đã tối lại càng tối tăm. Tiết trời câm câm lạnh, không gian im lìm nhưng tràn đầy thánh thiện. Vạn vật như thể hồi sinh câu chuyện cách đây hơn hai ngàn năm ở thành Bết-lê-hem… Khi chưn bước đều và tâm tư lắng đọng, chợt gương mặt dàu dàu của Bobby hiện ra làm tôi chạnh lòng. Tôi nhớ lại trong đời, tôi cũng có một đêm Giáng Sinh đầy tủi nhục. Cũng vì cái tật ưa ra vẻ hiểu biết trước những người không hiểu biết, nhưng thủ đoạn thì thâm độc vô cùng. Họ mời tôi tới dự tiệc, rồi cả đám xúm nhau vu khống, chửi rủa thậm tệ, thu vô chiếc băng nhựa, qua Giáng Sinh họ sang ra nhiêu cuốn gởi khắp bạn bè làm quà Tết. Sau khi xối xả hết những lời lẻ bẩn thỉu, hạ cấp lên người, họ tống cổ tôi ra đường như tống một con vật dơ dáy và kèm theo lời nhân nghĩa, nếu không nghĩ tình đồng hương thì sẽ cho tôi một trận đòn hội chợ. Khi thoát nạn, tôi run rẩy đạp tuyết bước đi nhưng trong lòng đầy oán hận. Trong lúc cô đơn và tuổi nhục đầu óc tôi toan tính chuyện trả thù. Bỗng tai tôi nghe trong không gian tiếng chuông nhà thờ reo inh ỏi. Tôi đứng lịm hồi lâu, đưa tay ra hứng từng nắm tuyết lấp lên mặt, chà tới chà lui, tỉnh táo. Tôi ngước nhình lên bầu trời trắng đục. Dường như trong tiếng chuông ngân giữa không trung lạnh lẽo toả sự ấm áp thiên liên nào đó. Chợt từ sâu trong tâm thức vọng về hai tiếng ăn năn. Bỏ qua chuyện rửa hờn, tôi đi một mạch về nhà, tắm rửa, thay đồ ngủ, tắc hết đèn phòng và đốt ngọng đèn cầy, lên giường nằm, kéo mền đắp lên tới cổ. Ðêm nay là ngày Chúa xuống trần, những phiền não trong lòng, tôi có thể giao hết cho Ngài được rồi. Tôi hướng tâm tư tới những điều thánh thiện hơn, tôi nhớ lại những người ơn đã nâng đỡ tôi trong những ngày còn chưn ướt chưn ráo tới đây, kẽ cho áo, quần, người dạy tiếng nói, cho việc làm… Tính ra tôi đã mang ơn nhiều người quá, tới nay tôi chưa làm được điều tốt lành để đền đáp. Lòng tôi lâng lâng một niềm hy vọng và tôi thiếp đi trong giấc ngủ ngon lành. Sáng hôm sau thức dậy, mọi chuyện xảy ra trong đêm qua chỉ còn là cơn ác mộng. Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng trơ như pho tượng, mặt ngó ra dòng sông Elbe. Tuyết lại đổ nữa rồi, tuyết tuôn đầy đầu, đầy cổ và trắng cả lưng mà nó vẫn không xuống tàu trốn tuyết. Có lẻ nó đương cô đơn, tủi nhục và nhớ nhà, những thứ nầy dễ làm cho con người ta sanh ra lòng thù hận. Trên bước đường lưu lạc nó không còn hy vọng trong tình đồng hương, vậy sao tôi còn hẹp hòi gì mà không chia sẻ cho nó chút tình người. Tôi chụm hai bàn tay lên miệng làm loa kêu lớn: – Bobby !!! Lâu lắm rồi tôi mới nghe tiếng kêu của mình rền vang trong không khí. Ngày còn là ngư phủ bên bờ vịnh Thái Lan, tôi đã từng quát tháo mỗi khi gặp bầy cá nổi ngoài khơi. Âm thanh ấy đêm nay vẫn còn mãnh lực làm giựt mình cái pho tượng đứng trơ mặt ra dòng sông. Bobby tức tốc day lại và đi nhanh về phía tôi: – Chuyện gì đó chú? – Mầy muốn đi chơi với tao hông? Như người đắm thuyền bá được phao, nó nói nhanh: – Dĩ nhiên. – Nhưng phải đi bộ lên hội quán. – Được, được chú đi đâu tôi theo đó. – Vậy thì mình đi. Bobby hỏi tôi: – Đêm nay trên hội quán chắc vui lắm phải không chú? Vui buồn là do lòng mình, tôi câu vai thân mật nói tiếp, đêm nay ngồi nơi yên ổn uống rượu nho, nghe nhạc Giáng Sinh, lòng ấm áp vô cùng. Tôi khoa tay một vòng: – Nếu lên hội quán mầy thấy hổng được vui thì năm nay mầy cũng có một Giáng Sinh trắng. Phải không?. Gương mặt đưa đám biến mất, nó cất tiếng cười vang: – Ha ha… đúng lắm, đúng lắm…. nhứt định đêm nay tôi với chú uống cho say mới được.
Thưa mấy ông anh mình vốn có tinh thần văn nghệ văn gừng, thường nằm tòn teng trên võng, nghêu ngao vài câu vọng cổ (để nhắn nhủ với hiền thê đừng bao giờ biến thành con ác phụ); chắc đều biết cái bài vọng cổ: “Lòng dạ đàn bà hay chuyện hai con cua!” của soạn giả Viễn Châu?!
Chuyện rằng: Vua nước Sở, hưỡn, đi câu, thấy trong một cái hang, con cua cái đang nằm lột vỏ, còn con cua đực ngày đêm lo canh giữ vợ hiền, quên cả việc ra đi tìm mồi cho đỡ đói…
Nhưng đến ngày lột vỏ của con cua đực thì con cua cái mặc tình đi dọc, về ngang. Bỏ con cua đực nằm quạnh hiu ngóng trông ‘mình’ về! Vậy mà con ác phụ nầy đã đem lòng bạo tàn… nhẫn; dẫn về một gã nhân tình có đôi càng to lớn, đến xé xác ông chồng xấu số, vô duyên!
“Đàn bà lòng dạ hiểm sâu, ngoài môi lại nói những câu chung tình!”
Hai vợ chồng cua là vậy còn hai vợ chồng chú thiếm Ba nước Sở bên Tàu hỡi ơi cũng y chang vậy mới chết!
Sắc lệnh triều đình ban ra là: Đàn bà Sở quốc, ai can đảm giết chồng; thủ cấp dâng lên, được ban nhất phẩm phu nhân, lụa là gấm vóc, vàng ròng đầy xe.
Loa đây, loa đây! Là từ mệnh phụ phu nhân, cho đến trang thiếu nữ chung tình, đông như đi hội chợ ‘Tết’, đem đầu người yêu máu me còn chảy ròng ròng đến hoàng cung để mong… hưởng lộc triều đình!
Thưa tui không thể nào tin được chuyện nầy đâu. Chắc tác giả thêm thắt chớ đâu phải thiếm Ba nào cũng là ác phụ hết trơn. Thấy có gấm vóc, lụa châu báu là ngộ cho nị chết Tía nị luôn?!
Nếu thiệt vậy thì nước Tàu đã diệt vong từ thuở ấy; vì chỉ còn lại toàn là thiếm Ba không hè; còn chú Ba, nơm nớp sợ vợ giết mình để lãnh thưởng, chắc đã hè nhau trốn lên Hoa sơn để thành khỉ hết trơn rồi?!
Thử lòng thiếm Ba xong; Vua nước Sở lại rắn mắt, thử lòng chú Ba nữa chớ!
“Ai can đảm giết chết vợ nhà? Trẫm sẽ chia phân nửa giang san Sở quốc.”
Nhưng một năm trời lặng lẽ trôi qua, không có một người đàn ông nào đến bệ rồng lãnh thưởng.
Bỗng một hôm có một gã nông phu nghèo khổ, áo chẳng đặng lành, cơm chẳng đặng no, đến Sở Vương xin vua trao gươm báu để về nhà giết vợ. Nhưng khi về đến nhà, đứng trước túp lều tranh, nghe tiếng vợ hiền ru con buồn não ruột.
“Bệ hạ ơi, ngu dân thà chịu chết, chớ không thể nhẫn tâm mà giết thác vợ cho đành!.”
“Cho hay trong đạo vợ chồng, biết ai chung thủy, ai lòng bạc đen?!”
Kyriakos Amiridis
Thưa tui không tin; nhứt định không tin câu chuyện hư cấu nói xấu toàn thể phụ nữ như thế nầy đâu!
Bây giờ qua Úc, lâu lâu đọc báo cũng có thấy cái tin vợ giết chồng; chồng giết vợ… vì ngoại tình, vì tiền bảo hiểm nhân thọ, quả là cũng có. Nhưng hiếm khi xảy ra lắm kìa.
Rồi mới đây tui đọc báo thấy trang sau chia buồn. Chẳng qua là chánh phủ Brazil bên Nam Mỹ chia buồn cùng chánh phủ Hy Lạp bên Âu Châu!
Ông chồng xấu số là: Kyriakos Amiridis, bây giờ 59 tuổi, đã từng làm Tổng lãnh sự Hy Lạp ở Rio từ năm 2001 đến năm 2004. Ông cưới Francoise De Souza Oliveira, người Brazil, bây giờ 40 tuổi.
Cặp vợ chồng này đã sống với nhau 15 năm và có một đứa con gái 10 tuổi.
Amiridis thăng chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hy Lạp tại Brazil vào tháng Giêng, năm 2016.
Đường công danh của ông lên nhưng đường tình duyên ‘cạo da đầu, cầu gia đạo’… thì gặp nhiều sóng gió!
Vợ ông là Oliveira ‘tằng tịu’ với một tay quân cảnh tên là Sergio Gomez Moreira, mới 29 tuổi.
Sau nầy, hung thủ Moreira khai rằng: đã có một cuộc ẩu đả với ông Amiridis sau khi nghe bà Oliveira khóc lóc, khúc nôi về việc ông Đại sứ đánh đập mình!
Hung thủ đã siết cổ ông chồng bất hạnh nầy tới chết.
Xong kêu một đứa em bà con là Eduardo Moreira de Melo, mới 24 tuổi, đến gói xác nạn nhân vào trong một chiếc thảm, bỏ vào xe, chạy xuống một chân cầu, đốt trụi tất cả để phi tang.
Nếu tội ác êm xuôi, thì 30 ngày sau, tòng phạm sẽ được bà Đại sứ ‘black widow’ (góa phụ áo đen) nầy tưởng thưởng 80 ngàn reals (tiền Brazil) bằng khoảng 25 ngàn đô Mỹ.
Lưới Trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó lọt!
Trước lời khai tiền hậu bất nhất của con ác phụ nầy. Cảnh sát bèn điều tra tìm thấy vết máu của nạn nhân trong phòng khách của căn nhà hai vợ chồng đang nghỉ lễ.
Góa phụ áo đen nầy chối không có tham gia vào vụ giết chồng nhưng thú nhận là có biết vụ sát nhân nầy.
Dĩ nhiên làm ác là phải đền tội trong ngục tối! Nhưng mấy ông anh mình đọc tin xong ai cũng phát rét: “Kinh khủng thật! Ôi, đàn bà là những niềm đau! Một khi máy bay bà già si tình phi công trẻ thì thật là nguy hiểm cho đức lang quân; vì ra tay tàn độc đúng như là con cua cái trong bài vọng cổ Lòng dạ đàn bà tức chuyện hai con cua của soạn giả Viễn Châu.”
Thưa dẫu câu chuyện ghê tởm nầy xảy ra đã làm tui lạnh xương sống; cóng xương sườn; nhưng tự trong thâm tâm, tui vẫn hằng nghĩ không chút suy suyển chút nào, là: Đàn bà đâu phải ai cũng ác như bà nầy đâu. Chỉ là trường hợp cá biệt đấy thôi.
Không yêu nữa thì cứ ra Tòa ly dị, tài sản chia đôi, rồi “Anh đi đường anh, tôi đường tôi, Tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Đã quyết không mong xum họp mãi. Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?”
Chớ nỡ lòng nào mà xúi tình nhân giết chết người đã từng đầu ấp tay gối với mình suốt mười lăm năm dài; mà lại là cha của đứa con gái còn bé bỏng của mình mới vừa lên 10 tuổi. Ác gì mà ác dữ vậy hỏng biết?!
***
Thưa trở lại chuyện hai chúng mình! Vợ chồng người ta giết nhau không gớm tay như vậy nhưng vợ chồng tui là hỏng có chuyện đó rồi. Tui cam đoan chắc như bắp vậy.
Vì một là dù em yêu dẫu có xúi tui rất nhiều lần; nhưng tui cương quyết không bao giờ mua bảo hiểm nhân thọ cả…
Hai là lâu lâu tui cứ hỏi em hoài hè: Nếu em không còn yêu anh nữa mà có yêu ai đó xin em cứ tự nhiên như người Hà Nội! Lội đâu thì lội… nhớ tha chết cho anh nhe!
Ôi nhớ hôm xưa ngày cưới em, chu choa lạy muốn sói trán luôn mới có tiền mừng cưới chớ. Nhưng ông Ngoại của em yêu dễ dãi: “Thôi miễn! Bây khỏi lạy! Mai mốt tao chết; lạy luôn một lần cho nó tiện!”
“Còn bây giờ hai đứa vảnh lỗ tai lên mà nghe ông dạy đôi lời để tụi bây theo đó mà ăn đời ở kiếp với nhau; cho đến ngày răng long đầu bạc.”
“Nè thằng chồng bây nếu không muốn chết bất đắc kỳ tử, chết tức chết tối, chết không kịp trối, muốn an toàn trên xa lộ và thanh lịch trong thành phố thì đừng bao giờ mèo mả gà đồng! Nếu làm con vợ bây nó ghen… là bây chết chắc!”
“Còn con vợ thì: Không chồng đi dọc về ngang; có chồng cứ thẳng một đàng mà đi nghe không?”
“Nhớ đừng có luông tuồng! Liếc thằng nầy một cái; cười mĩm chi với thằng kia một cái! Có chồng rồi mà cứ tưởng mình như thời son giá vậy!”
“Cà chớn lửa… coi chừng chồng bây nó đập cái mặt te tua, má nhìn hỏng có ra! Vì ca dao có câu rằng: Không đánh thì bậu luông tuồng! Dang tay đánh bậu để buồn lòng qua!”
Ôi ông Ngoại nầy xưa rồi! Cứ khoái dùng bạo lực gia đình không hè! Nó xí xọn một chút mà hăm dọng phù mỏ, xưa được; chớ giờ nó đi thưa lính bắt thì thêm phiền phức!
Nó xí xọn; kệ nó chớ! Nếu lỡ bực mình quá, ở không được nữa thì cuốn nóp dông cho nó phẻ hè!
Chính vì ngay từ đầu tui đã suy nghĩ chín chắn như vậy nên mới yêu em được dài lâu đó chớ!
Tuần rồi là kỷ niệm 50 năm ngày cưới của đôi ta, tui đề nghị với em yêu là: tui sẽ ăn mừng y hịt như năm rồi! Em yêu rất vui vẻ. giơ hai tay lên, đồng ý!
“À! Anh sẽ đi chợ, tự nấu ăn. Còn em thì về bên Má em!”
Con vợ tui nghe vậy, mặt chù ụ một đống, xách xe dông về bên Ngoại.
Chu choa, vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm! Tui móc cái ‘mobile phone’ ra gọi cho một chiến hữu, bạn thiết của tui đến nhà nhậu.
Nó đến nhà tui, đều khỏ cửa bằng chân… Vì hai tay mắc bận ôm một thùng bia xịn hoặc năm thì mười họa, chơi xộp hơn, là một chai rượu quý!
Dọn bàn đặt mâm! Khệ nệ bưng ra một dĩa thịt bò Úc xào cải rổ, có nước sốt ‘Made in Hong Kong’! Rượu khui kêu lốp bốp!
“Kỷ niệm 50 năm ngày cưới! Bí quyết nào mà yêu em dài lâu vậy cha nội?”
“Chẳng qua khi cưới vợ về rồi cuộc hôn nhân đã dạy cho tui rất nhiều điều: Trung thành, biết lúc nào phải giữ thinh lặng, biết dằn cơn tức, biết không nên la lối hay mở miệng ra là chửi thề bốp trời thiên, biết tha thứ, biết trốn ra nhà xe mà khóc một mình; rồi kêu con khổ lắm má ơi; mà chẳng ai đoái hoài gì tới!
Những đức tính đó tui chưa hề có khi còn sống độc thân!”
Rồi có câu chuyện vầy nè: Một bà long trọng loan báo với bạn bè rằng: “Em sẽ làm đám cưới lần thứ tư!” Quá đã! Ai nấy đều gọi điện thoại, gởi ‘mét sịt’ và lên cả ‘facebook’ để chúc mừng!
Nhưng có chàng cắc cớ lẫn tò mò nên hỏi: “Nếu em không phiền khi anh vô phép đi ‘bốt đờ sô’ vô đời tư của em thì cho anh hỏi: Chuyện gì đã xảy ra với ông chồng đời thứ nhứt của em vậy?”
“À! Anh ấy ăn nấm rừng nên chết!” “Cha! Thiệt là tội nghiệp!”
“Còn ông chồng đời thứ hai?” “À! Ảnh cũng ăn nấm rừng rồi chết!” “Trời đất ơi! Đời tình ái truân chuyên của em quả là một bi kịch!”
“Còn anh chồng đời thứ ba?” “À! Ảnh chết vì bị gãy cổ?
“Trời đất ơi! Sao đến nỗi ảnh bị gãy cổ vậy em?!”
“À! Tại vì ảnh không chịu ăn nấm rừng đó anh!”
Thú thiệt với quý anh mình! Tui không muốn ăn nấm rừng đâu. Vì đời còn đẹp lắm hỡi đời ơi!
Nói trắng ra là: Hôn nhân dài lâu là vì tui sợ vợ thiệt! Còn nếu con vợ tui không thèm yêu tui nữa thì cứ tự nhiên yêu thằng khác; chỉ xin đừng xúi nó giết tui là được.
Phần tài sản, tiền bạc có nhiêu, tui nhậu hết bấy nhiêu thì việc gì sợ bị ‘sát nhân đoạt của’ chớ!?
Do đó con cua đực nào sợ con cua cái… thì cứ tự nhiên sợ! Còn bài bản tui đã thủ kỹ rồi; nên tui không hề sợ con cua cái nào hết ráo!
Chuyện xảy ra cuối năm ở một hợp tác xã trồng khoai tây ở cách thủ đô Mạc Tư Khoa ngàn dặm, hồi còn mồ ma đảng Cộng Sản Liên Xô!
Cuối năm, mùa đông nước Nga lạnh run luôn; vì tuyết rơi nhiều quá! Nhiệt độ ngoài trời là âm độ! Bà con xã viên nghỉ; không phải ra đồng! Ở nhà, đói meo, không có việc gì làm nên có ông chồng ốm nhom, ốm nhách nằm ôm bà vợ ốm tong, ốm teo trong tấm chăn rách cho đỡ lạnh!
Riêng Zhivago thì co ro ngồi với Tonya, vợ mình, bên ấm samovar, uống trà suông! Đồ ăn trong nhà mấy ngày nay sạch bách, không còn gì cả!
Mấy đứa nhỏ phải lội tuyết ra đồng, cắt mót trộm dây khoai về luộc chấm ăn với muối thì: “A lô! A lô! Yêu cầu bà con xã viên tụ tập ở hội trường hợp tác xã vào giữa trưa nghe ban chủ nhiệm tổng kết thành tích xuất sắc của một năm hoạt động.
Có chiêu đãi đặc biệt! Có chiêu đãi đặc biệt! A lô! A lô!”
Bà con xã viên không ai muốn đến hội trường hợp tác xã làm gì. Chỉ để nghe bọn chúng tào lao, bốc phét! Bụng đói meo! Cơ hàn quá mà! Đói chừng nào lạnh run chừng ấy!
Không đi, ở nhà, Zhivago buồn buồn lên giường nằm gần cái lò sưởi 37 độ rưỡi hiệu ‘‘Tonya’ nầy ấm hơn! Nhưng nghe “chiêu đãi đặc biệt! chiêu đãi đặc biệt!”, Zhivago sáng mắt lên, đứng dậy, tặc lưỡi nói với Tonya: “Thôi kệ! Để anh lội tuyết đến coi mấy đồng chí trong ban chủ nhiệm chiêu đãi được cái gì nào? Hy vọng gia đình mình còn có cái bỏ vào mồm cho đỡ cồn cào gan ruột. May mà có tí vodka thấm giọng thì đã lắm!
Hổng đi! Sợ ban chủ nhiệm tụi nó ‘ăn’ hết phần của nhà mình!”
Nói xong, Zhivago trùm kín mặt mũi, chỉ chừa có hai con mắt, lội tuyết lẹp bẹp đến dự cuộc họp cuối năm. Bước vào hội trường thì bà con xã viên mỗi người trên tay cầm một củ khoai tây luộc còn bốc khói, đưa lên miệng nhai ngồm ngoàm vừa nói chuyện rôm rả vui như Tết! Zhivago nhập bọn, được các đồng chí anh nuôi, chị nuôi ‘thân mến’ phát cho ba củ khoai tây luộc và một cút rượu vodka cho ấm lòng (cựu chiến sĩ ‘Hồng quân’ đã từng anh dũng ‘quánh’ tan quân Bạch vệ) trong ngày đông lạnh lẽo! Trên sân khấu, diễn viên là ban chủ nhiệm hợp tác xã gồm cả chục mống vừa đảng viên, vừa cảm tình đảng! Mấy ‘chức sắc’ nầy đang hưởng tiêu chuẩn lãnh đạo! Mồm nhai ngồm ngoàm thịt trừu xông khói với khoai tây nghiền, chan nước sốt! Còn có chừng chục chai vodka, mỗi chai dễ chừng cả lít nằm sóng sánh trên bàn chủ tọa! Đã nhé!
Xong bữa! Đồng chí bí thơ chi bộ kiêm chủ nhiệm hợp tác xã khoai tây quẹt mỏ; đứng lên phát biểu tổng kết.
“Thưa bà con xã viên! Năm rồi hợp tác xã ta không hoàn thành được chỉ tiêu kế hoạch đề ra vì thiên tai! Mùa hè thì hạn, thiếu nước; mùa đông thì sương giá! Bởi vậy cho nên khoai của hợp tác xã ta ‘tốt dây mà không tốt củ!’
Nhưng xin đồng bào đừng có lo! Kế hoạch năm tới là chúng ta sẽ xin đồng chí Lenin kính mến cấp cho chúng ta một chiếc phi cơ!”
Xã viên ào ào, nhao nhao lên có ý kiến. “Tui đề nghị đồng chí bí thơ kiêm chủ nhiệm hợp tác xã xin đồng chí Lenin cấp cho chúng ta vài tấn khoai tây để ăn trong mùa giáp hạt cho đỡ đói đi! Xin phi cơ làm gì?”
Đồng chí bí thơ trả lời: “Ậy ậy! Các đồng chí biết một mà không biết hai. Sự thực là hợp tác xã chúng ta cần khoai tây thiệt! Không có thì chết đói cả đám. Mà khoai tây thì ở Mạc Tư Khoa mới có. Từ đây tới thủ đô xa lắm! Sợ khoai về không kịp bằng đường bộ hay đường thủy mà mình chết đói hết ráo rồi; nên tui xin đồng chí Lenin kính yêu một chiếc phi cơ để chở khoai tây về cho lẹ mà!” Bà con xã viên nghe vậy vỗ tay ào ào như sấm!
Tưởng được đồng bào hoan hô cao kiến của mình, nên đồng chí bí thơ hỉnh mũi lên trời hích hích! Ai dè đồng bào vỗ tay cho bớt lạnh!
***
Zhivago nhìn lên bàn chủ tọa thấy mấy đứa đảng viên trong ban chủ nhiệm đứa nào cũng béo tốt hết! Hợp tác xã làm ăn thua bại, lỗ lã, nợ ngập đầu mà bọn chúng mặt cứ phởn ra và cằm có nọng! Zhivago ‘ngộ’ ra rằng: Muốn ăn nhậu thả giàn bằng tiền của thiên hạ và vợ con mình khỏi chết đói thì phải xin gia nhập vào đảng Cộng Sản Liên Xô mới được!
Nói là làm. Về nhà, Zhivago ngồi nắn nót cả buổi mới điền xong cái đơn xin vào đảng. Theo đúng trình tự kết nạp đảng viên; đồng chí bí thơ chi bộ kiêm chủ nhiệm hợp tác xã mời xã viên Zhivago lên phỏng vấn.
Đồng chí Zhivago, đồng chí có hút thuốc không? Thưa có! Ngày vài điếu! Đồng chí có biết là lãnh tụ Lenin không hút điếu nào! Mà còn khuyên các đồng chí khác đừng hút thuốc? Nếu đồng chí Lenin nói thế thì tui sẽ bỏ hút thuốc!
Đồng chí có nhậu nhẹt không? Cũng có chút chút! Với bạn bè! Lãnh tụ Lenin phê phán việc say xỉn dữ lắm! Thế thì tui sẽ bỏ rượu! Còn về gái gú? Cũng có chút đỉnh!
Đồng chí có biết là lãnh tụ Lenin phê phán vụ gái gú, chân dài, bia ôm nầy dữ lắm không? Nếu đồng chí Lenin phê phán tui sẽ bỏ; không đi uống bia ôm nữa!
Nầy! đồng chí Zhivago! Đồng chí có sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đảng ta không? Dĩ nhiên rồi! Tôi sẵn sàng chết cho đảng ta! Vì sống như vậy thì sống làm (mẹ) gì! Chết còn sướng hơn!
Đáng lý ra tôi phải gọi ông Trần Phương Quế bằng cậu, vì ông ấy là em nuôi của mẹ tôi. Nhưng từ sau ngày biết tin bố tôi và hai ông chú ruột của tôi đã bị Việt-Minh chặt đầu, trôi sông, thì tôi đổi cách xưng hô, gọi cậu Quế bằng chú, chú cháu gần gũi hơn, “Thấy chú như thấy cha…”
Chú Quế thương tôi như con. Chú vẫn gọi tôi là con, mỗi khi truyện trò. Những lúc đi xa, chú thường căn dặn tôi nhớ chăm học và ngoan ngoãn, mai mốt lớn lên thành người, trả thù nhà.
Mùa Thu năm 1948, mẹ con tôi ở chung nhà với bà ngoại tôi và vợ chồng người anh ruột của mẹ tôi nằm cách Ngã Sáu, Hải-Dương chừng trăm thước.
Một căn nhà lầu, tường đầy vết đạn, những chấn song cửa sổ bị bắn sứt sẹo cong queo, từ ô cửa sổ đó, tôi ngồi thòng hai chân ra ngoài đường nhìn những đoàn công voa đi ngang qua Ngã Sáu.
Nhà tôi ở số 24 phố (Rue de) Jean Bouchet cách khách sạn Thiên-Tuế đầu phố đúng mười căn. Cuối phố Bouchet là Chợ Tây, cái chợ lớn nhất tỉnh. Xa hơn nữa, sát bờ sông là đồn lính Lê-Dương và lính thủy.
Hàng ngày, xe cộ chạy trên đường số 5 nối liền Hà-Nội với Hải-Phòng đều phải ngừng ở Ngã Sáu, chờ mở đường, rà mìn. Công voa từ Hà -Nội xuống, và từ Hải-Phòng lên, sau khi họp thành đoàn sẽ có thiết giáp hộ tống để di chuyển về hai hướng ngược xuôi. Nhiều khi Quốc lộ 5 bị Việt-Minh đắp mô, hoặc có giao tranh, đoàn xe phải nghỉ lại đây một vài hôm. Những dịp này, hành khách nườm nượp đi qua trước nhà tôi để về Chợ Tây kiếm cơm, bún, phở, mì dằn bụng. Tôi ngồi bên cửa sổ căn gác thượng, chong mắt quan sát những chiếc xe hơi chở khách hiệu Renault, Citroẽn hay Peugeot rồi tự lựa cho mình, cái xe nào mình thích, để khi lớn lên mình sẽ tậu nó mà đi ngao du.
Thời gian này, chú Quế và ba người bạn đồng trang lứa, tuổi đôi mươi, chiếm cứ một căn nhà ngay góc đường đi vào Đề Lao Hải-Dương (nhà tù), trên con phố đối diện nhà tôi. Nhóm trai trẻ này làm nghề thông ngôn cho Tây trên tòa hành chánh. Giữa năm 1949 bốn người thanh niên ấy đã tình nguyện theo học lớp Hạ Sĩ Quan Liên Hiệp Pháp ở Trung Tâm Huấn Luyện Mao-Điền, Hưng-Yên.
Sáu tháng sau, mãn khóa, ba người kia theo binh chủng gì tôi không hay, riêng chú Quế trở thành một Trung sĩ Thiết Giáp của Quân Đội Liên-Hiệp-Pháp trú đóng trong vùng thị xã Nam-Định, quê của chú. Cuối năm 1950 chú Quế cưới vợ. Chú dẫn cô vợ trẻ lên thăm mẹ con tôi. Lúc này gia đình tôi ở thuê trên lầu căn nhà số 17 phố Hàng Lọng. Căn nhà này của ông Triệu. Ông Triệu có hai vợ, ông ta làm Bang tá (?) ở Huyện Gia-Lộc, tỉnh Hải-Dương.
Có một lần, chú Quế chở tôi bằng xe đạp về vùng Gia-Lộc thăm ông Bang tá Triệu. Sát vách nhà tôi là dinh cơ của ông Tiên Thân. Ông Tiên Thân là trung úy quận trưởng hay đồn trưởng gì đó mãi vùng Kẻ Sặt hay Bần Yên Nhân.
Dịp này vợ chồng chú Quế đã dẫn tôi đi ăn “cao lâu”. Đây là lần đầu trong đời, tôi được uống một cốc cà phê sữa, ăn bánh champagne thỏa thê. Đây cũng là lần đầu trong đời, tôi được xem một tuồng cải lương ở rạp Kim-Phụng. Rồi vợ chồng chú dẫn tôi vào hiệu chụp ảnh. Tôi mặc quần “soọc” xanh, áo sơ mi trắng cộc tay, đầu đội cái mũ nồi, chỏm mũ có đuôi. Tôi đứng giữa, chú thím tôi đứng hai bên, có cây cảnh đặt bên phải chúng tôi, và cái “phông” của tấm ảnh là bức tranh đồng quê, với cảnh đàn trâu đang gặm cỏ.
Mẹ tôi lớn hơn vợ chú Quế (cô Trần Thị Dậu) một giáp. Mẹ tôi nhuộm răng đen, thím Quế để răng trắng. Nhưng mẹ tôi và thím Quế rất hợp nhau. Hai người kết nghĩa chị em. Hai chị em rủ nhau đi tiệm chụp ảnh chung. Những bức ảnh của hai nữ nhân Bắc-Kỳ thời 1950, đầu vấn khăn nhung đen, cổ đeo kiềng vàng, cổ tay có đôi xuyến, ngón tay có nhẫn mặt ngọc xanh, đôi hoa tai vàng y nhận hột ngọc óng ánh, áo dài lụa màu ngà có vân, tay xách bóp đầm, đứng giữa hai chậu cảnh. Trang phục đó là “mốt” của các bà, các cô Hà-Nội Mới những năm 1949-1950. Mẹ tôi còn cất giữ những cái ảnh này tới ngày bà qua đời.
Thím Quế thương tôi như con đẻ, ngày hè nóng nực, thím thường quạt ru cho tôi ngủ. Thím Quế ở chơi nhà tôi vài tháng rồi trở về Nam-Định.
Bẵng đi một thời gian khá dài, vợ chồng chú Quế lại ghé nhà. Lần này họ bế theo đứa con gái đầu lòng ba tháng tuổi. Bé Minh vừa biết lật. Đi học về, tôi lại bế em và chơi “Cúc! Oà!” với nó; nó thích lắm. Nó lật trên giường, hai tay quơ lia liạ, hai chân đạp không ngừng, miệng nó cười như nắc nẻ, nước dãi chảy lòng thòng.Đó là những kỷ niệm tôi còn ghi trong đầu về những gì giữa tôi và gia đình chú Quế thời kỳ chúng tôi còn sống nơi đất Bắc.
Đầu năm 1952, nhà tôi di chuyển lên làng Vẽ (Đông-Ngạc) ngoại ô Hà-Nội. Vài năm sau tôi nghe tin chú Quế cùng hai người bạn năm xưa được đề cử theo học lớp sĩ quan hiện dịch ở Đà-Lạt.Hiệp định Genève đưa gia đình tôi vào Tourane (Đà-Nẵng), rồi vào Fai-Foo (Hội-An), chúng tôi không rõ vợ chồng chú Quế phiêu bạt phương nào.
Tới năm 1960, mẹ tôi được người quen đưa tin thím Quế vừa mất, bà tất tả vào Quang-Trung, Sài-Gòn thăm gia đình chú. Ngày về mẹ tôi mang theo vài cái ảnh, trong đó có cái ảnh đứa cháu gái của bà chụp trước đó vài năm, hình em Lệ Minh mặc áo đầm xòe đứng trong sân chơi của trường Thánh Mẫu.Thím Quế mất đi, chú tôi trở thành gà trống nuôi bốn đứa con, hai trai, hai gái. Năm sau, chú tôi tục huyền với cô Cao Thị Thêm. Cô Thêm là nguời có công chăm sóc các em tôi từ trứng nước, các em tôi cũng thương cô như mẹ ruột. Ít lâu sau, chú Quế bỏ nghề huấn luyện viên Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung, xin ra tác chiến. Đã có lần chú Quế nói với tôi lý do vì sao ông tình nguyện chuyển ngành sang Lực-Lượng Đặc-Biệt, nhưng tôi quên mất rồi.
Năm 1965 tôi đang học năm cuối cùng trong Trường Võ-Bị thì gia đình chuyển tiếp cho tôi một lá thư của chú Quế. Chú nói nếu tôi thích Lực-Lượng Đặc-Biệt thì chú sẽ giúp đỡ cho tôi về binh chủng này khi tốt nghiệp. Tôi không đả động gì tới việc này trong lá thư trả lời cho chú. Ngày mẹ tôi báo cho chú hay tin tôi chọn binh chủng Biệt Động Quân chú buồn lắm.Từ lúc ra trường Võ-Bị, tôi một chiến trường, chú một chiến trường, chú với tôi chưa một lần được chung lưng đánh trận nào.
Rồi mẹ tôi báo cho chú biết những tin buồn tới tấp như, tôi theo Trung tướng Nguyễn Chánh Thi làm loạn Miền Trung, bị nhốt trong quân lao, bị giáng cấp xuống trung sĩ, bị treo lon, bị đổi lên Vùng 2, và bị thương dài dài… chú lại khuyên tôi bỏ Biệt Động Quân mà về với chú.Tết năm 1969 cấm trại, nhưng tôi được Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 2 /BĐQ cho năm ngày phép về thăm nhà bằng Sự Vụ Lệnh. Ngày đó chú Quế đang chỉ huy Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù hành quân trên Quế-Sơn, Quảng-Nam.
Tình cờ chú cháu tôi gặp nhau tại nhà mẹ tôi ở Hội-An ; chúng tôi có dịp xả bầu tâm sự. Tôi biết thêm những điều chú cất dấu sâu kín trong lòng. Hồi trẻ, chú tôi rất “bô” trai, vì vậy mà nhiều hình bóng giai nhân đã đi qua trong đời chú, trong đó có bà cô vợ một thằng bạn cùng quê, cùng khóa 20 VB của tôi. Chú cũng bùi ngùi nhắc tên ái nữ của một nhà văn, sau này cô ấy lấy người bạn của chú, ông ta làm tới Tướng Vùng…
Điều kỳ lạ là, trước khi tôi vào Pleiku, thì chú tôi đã xông pha ngang dọc một thời ở vùng rừng núi này. Ông từng làm trưởng trại Plei M’Rông khá lâu rồi mới thuyên chuyển về Nha-Trang. Tôi tới Tây-Nguyên thì chú tôi đã đi rồi, không còn dịp về qua đây nữa. Nhưng tôi vẫn biết tin tức của ông qua thư từ và qua bạn bè cùng Khóa 20 Võ Bị phục vụ dưới quyền ông.Tiểu đoàn 91 Biệt Cách Dù của Thiếu Tá Trần Phương Quế đã góp công đánh tan nhiều đơn vị Cộng-Sản vùng Cây-Thị, Cây-Quéo, Tân-Phú-Trung, Củ-Chi, Sài-Gòn trong đợt Tổng Công Kích Mậu-Thân 1968.Rồi ông giữ vai trò phụ tá đắc lực cho vị chỉ huy Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong thời gian ông đảm nhận chức Liên Đoàn Phó của đơn vị lừng danh này. Cuối cùng, ông là Đại tá Trung đoàn trưởng/Trung đoàn 9/Sư đoàn 5 Bộ Binh, một trong những đơn vị nòng cốt kỳ cựu của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Tôi chỉ quanh quẩn trên Cao-Nguyên Vùng 2. Chú cháu tôi hiếm có dịp gặp nhau. Có một lần, cuối năm 1970 sau khi thụ huấn khóa “Tình Báo Tác Chiến” ở Singapore trở về, tôi ghé Sài-Gòn thăm gia đình chú. Hôm đó chú đang cùng đơn vị LĐ 81 BCD dự đợt bồi dưỡng nhảy dù thường niên. Chú giữ tôi ở lại nhà ăn cơm.
Ngồi quanh mâm có tôi, chú Quế, hai đứa em con người vợ cũ của chú là em Minh, em Hương, cùng với cô Thêm, vợ sau của chú. Lần đầu tôi được gặp cô Thêm. Cô Thêm cũng là người Bắc, dáng cô cũng hao hao giống thím Dậu. Thấy cô Thêm, tôi chợt nhớ thím tôi, nhớ những ngày xa xưa tôi còn bé tí ở Hải-Dương…
Chiến tranh mỗi ngày mỗi khốc liệt hơn, tôi với chú tôi lại tiếp tục mỗi người một chiến trường. Sau khi Tiểu đoàn 82 BĐQ của tôi thắng trận Pleime 1974, Đại tá Trần Phương Quế, Trung đoàn trưởng/ Trung đoàn 9/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã gửi thư khen tôi, chú viết,
“Con giỏi lắm! Một ngày không xa, con sẽ qua mặt chú. Chú mừng vì con đã trưởng thành…”
Chú ơi! Cháu của chú trưởng thành chưa được bao lâu, chúng ta đã mất nước.
Chú bị cầm tù từ chiều 30 tháng 4 năm 1975.
Còn cháu, thì cái giấy ra trại ghi thế này đây: Tên Vương Mộng Long bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 1975, can tội Tiểu Đoàn Trưởng-Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.
Chuyện chúng ta thua trận, với cháu, tới nay vẫn còn như là một cơn mơ dữ. Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa đâu có thua kém ai? Năm 1974 Tiểu đoàn 82 BĐQ của cháu đã đánh ngất ngư hai trung đoàn của Sư đoàn 320A Việt-Cộng do Đại tá (sau là Thiếu Tướng) Kim Tuấn cầm đầu. Rồi tới trận Long-Khánh tháng Tư 1975, trước khi Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của anh Nguyễn Văn Đỉnh (Khóa 15VB) vào tăng viện, Tiểu đoàn cháu cũng đánh tan nát một trung đoàn bộ binh cùng lực lượng xe tank Việt-Cộng của Tướng Hoàng Cầm ngay sát vòng rào sân bay Xuân-Lộc.
Chỉ trong vòng hai tháng sau cùng của cuộc chiến giữ nước, anh em thuộc Tiểu đoàn 82 BĐQ của cháu đã chết gần hết. Cháu cũng bao lần thoát chết trong kẽ tóc, đường tơ. Cháu đã làm tất cả những gì một người lính có thể làm, để bảo vệ quê hương.
Vậy mà, nước vẫn mất, thù nhà vẫn trả không xong. Khi ngồi viết những giòng này, nước mắt cháu đang chảy ròng ròng, chú ơi!
Mất nước, thành tù binh, tháng Mười Một năm 1975 chú cháu tôi gặp nhau ở khu K1 trại tù Tam-Hiệp. Chú Quế giới thiệu cho tôi người đàn em của chú là anh Thiếu tá Biệt Cách Dù Phạm Châu Tài. Ba người ngồi nghiên cứu cách chui rào vượt trại. Tuần lễ sau tôi bị chuyển sang K3 là nơi chỉ nhốt sĩ quan cấp thiếu tá, chú Quế ở lại khu K1 cho tới ngày chúng tôi bị lùa xuống tàu chở ra Miền Bắc.
Cuối năm 1976 sau khi bị cùm vì tội trốn trại lần thứ nhứt, tôi được đưa về đội lao động ở Trại 4, Liên trại 4, xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái, Hoàng-Liên-Sơn. Tại đây tôi gặp lại anh bạn LLĐB Phạm Châu Tài. Tôi hỏi thăm tin tức của Đại tá Trần Phương Quế, anh ta cũng mù tịt.
Khi chuẩn bị trốn trại lần thứ nhì tôi có ngỏ ý rủ anh bạn Tài đi theo, nhưng tiếc thay, trước khi tôi khởi hành, anh Tài lại bị chuyển về Trại 1 ở tít mù trong núi Tích Cốc.Sau hơn tháng trời lặn lội trong rừng già Bắc- Việt, toán vượt ngục lần thứ nhì của tôi lại thất bại. Bốn người đi thì, một chết trong núi là anh Đại úy Trinh Sát Dù, Nguyễn Bá Tường, còn lại ba tên Vương Mộng Long, Trần Văn Cả, và Đặng Quốc Trụ bị tóm lại. Ba đứa chúng tôi bị chuyển từ trại này tới trại khác, nhốt trong hầm, bị còng tay, cùm chân và bị khảo đả ngày đêm, thừa sống thiếu chết, để dằn mặt những tù nhân khác. Cho tới ngày Liên trại 4 giải tán thì chúng tôi bị còng tay đưa lên xe chở về Trại Phú-Sơn 4 ở Quán-Triều, Thái-Nguyên.
Ngày quân Tàu đánh Việt-Nam, bốn mươi người tù, toàn là dân vượt ngục của đội 12 Phú-Sơn 4 bị còng tay từng cặp, hai người một, chuyển về trại Nam-Hà A, Phủ-Lý.
Chú Quế và tôi lại có dịp gặp nhau lần nữa, trong tù.
Ôm tôi thật chặt, chú tôi khóc,
“Con ơi! Mới đó mà tóc con bạc cả rồi. Tội nghiệp con!”
Tôi trấn an chú tôi:
“Chú đừng lo! Tóc cháu vàng đi vì bị cùm lâu ngày và thiếu ăn. Nếu có ăn, chỉ ít lâu sau tóc cháu sẽ đen trở lại.”
Năm 1985 tù chiến tranh của trại Z30 C được tha gần hết, thay vào là tù hình sự. Tôi là một trong số vài chục tên cuối cùng bị chuyển sang Trại Z30D Hàm-Tân vào cuối 1985.
Đầu năm 1988 tôi được tha về với gia đình. Chú Quế là một trong những người đầu tiên tới nhà thăm tôi. Chú tôi đã được thả về nhân ngày 2 tháng 9 năm 1987, nhưng ông còn đang bị quản chế. Hàng tháng ông phải ra trụ sở phường khai báo việc làm trong tháng vừa qua. Những người được tha sau năm 1987 như tôi thì không bị quản chế.
Thời gian này vợ chồng chú tôi sống bằng cách, hàng ngày nấu một nồi xôi lớn để vợ chú ngồi bán trước cửa bệnh viện Bình-Dân, Sài-Gòn. Cuộc sống vất vả cực nhọc và thiếu thốn quá đã khiến lưng của bà vợ chú còng trước tuổi.Trong khi đó tôi phải lên rừng đào vàng, đào thiếc, chặt củi, giữ lô, lái máy cày thuê để kiếm sống. Mỗi lần về, tôi hay ghé thăm chú tôi.Từ khi Việt-Cộng chiếm Sài-Gòn, gia đình chú tôi đã thành vô gia cư, phải dọn về ở nhờ nhà một đứa cháu gọi ông bằng chú.
Trước năm 1975 gia đình Đại tá Trần Phương Quế cư ngụ trong Cư xá Lam-Sơn, Gò-Vấp. Chỉ ít lâu sau ngày Sài-Gòn thất thủ, Cộng-Quân đã tới tiếp thu cư xá này. Thân nhân sĩ quan chế độ cũ phải ra ngoài tập trung để bộ đội Cộng-Sản vào khám xét từng nhà.
Ngày 16 tháng 6 năm 1975, khi toán bộ đội Việt-Cộng tới khám xét căn nhà của Đại Tá Trần Phương Quế thì giáp mặt một Thiếu úy Địa Phương Quân Việt-Nam Cộng-Hòa trẻ tuổi đang chờ tiếp đón họ.
Anh Thiếu úy Miền Nam niềm nở đón chào toán “Bộ Đội Cụ Hồ” bằng hai quả lựu đạn Mini, một cho chính anh, và một cho bọn ăn cướp vào từ phương Bắc.
Hai tiếng nổ nối tiếp nhau làm rung rinh cư xá Lam-Sơn. Anh Thiếu úy Việt-Nam Cộng-Hòa chết phanh thây, nhưng vài tên Cộng-Sản Bắc-Việt cũng banh xác, thêm mấy đứa đui, què, mẻ, sứt.
Bị vố đau, bọn Cộng-Sản phát điên lên. Để trả thù, chúng đem cái xác anh Thiếu úy Miền Nam phơi trước cổng ra vào của cư xá, cả tuần lễ sau chưa cho thân nhân nhận về chôn cất.
Anh Thiếu úy Địa Phương Quân Việt-Nam Cộng-Hòa đó tên là Trần Phương Tuấn, sinh năm 1953, con thứ nhì của Đại tá Trần Phương Quế và bà Trần Thị Dậu.
Chuyện người anh hùng Trần Phương Tuấn với hai trái Mini đón chào đoàn quân Bắc-Việt ở cư xá Lam-Sơn, Gò-Vấp ngày 16 tháng 6 năm 1975 có nhiều người chứng kiến lắm, trong đó có người nhà của Niên trưởng Khóa 10 Võ-Bị Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 43/ Sư đoàn 18 Bộ Binh/ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Nhà của Đại tá Hiếu cũng nằm trong cư xá này, và chỉ cách nhà của Đại tá Quế vài căn thôi.
Một hôm, từ mỏ vàng Hiếu-Liêm trở về, tôi ghé thăm chú Quế và bà cụ thân sinh của chú. Chú than phiền với tôi rằng người cháu ruột của chú không muốn chứa chấp gia đình chú trong nhà nữa, chú không biết phải dọn đi đâu. Tôi về thưa lại chuyện này với mẹ tôi. Sau đó gia đình chú Quế đã dọn về ở với mẹ tôi bên chợ Rạch Ông cho tới ngày đi Mỹ theo danh sách H15.
Chú tôi có bảy người con. Bốn người là con thím Dậu, ba người là con cô Thêm. Chú tôi và cô Thêm cùng ba người con của họ định cư tại tiểu bang Florida, Hoa-Kỳ. Bốn người con thím Dậu thì một chết (Trần Phương Tuấn) còn lại ba, hiện ở Sài-Gòn.
Gia đình tôi cũng được nhận vào Mỹ sau gia đình chú tôi vài tháng. Từ đó tới nay, chúng tôi sinh sống ở Seattle.
Chú tôi và tôi sinh ra để làm lính. Chú tôi xuất thân từ Trường Võ-Bị Đà-Lạt, tôi cũng tốt nghiệp quân trường này mười khóa sau ông.
Thời chiến tranh bảo vệ quê hương, tôi trấn giữ một biên cương rất xa chiến trường của chiến binh Trần Phương Quế.
Nơi quê người đất khách, chú tôi ở bên bờ Đại Tây Dương, còn tôi thì ở bên bờ Thái Bình Dương, cách nhau đúng một chiều ngang của nước Hoa-Kỳ.
Tôi và ông Trần Phương Quế có những liên hệ thân hơn ruột thịt. Ấy thế mà chúng tôi chẳng bao giờ được ở gần nhau lâu. Bận bịu công ăn, việc làm, tôi và ông lâu lâu mới điện thoại hỏi thăm lẫn nhau.
Năm 2009 trước khi nhập viện làm Bypass van tim, chú tôi có nói chuyện với tôi khá lâu trên điện thoại. Sau khi mổ tim, sức khỏe của ông vẫn bình thường. Bất ngờ, ngày 6 tháng Tư 2011 tôi nhận được e mail của người em rể, chồng của em Lệ Minh báo tin chú tôi mất.
Người lính Việt-Nam Cộng-Hòa Trần Phương Quế một đời xả thân vì đất nước đã không có cái vinh hạnh được chết nơi trận tiền. Ước vọng sau cùng của ông là tro cốt ông sẽ được gửi về quê hương Việt-Nam.
Chú tôi sẽ được hỏa thiêu như ý nguyện. Người con trai út của chú sẽ đem tro cốt của chú về đặt gần tro cốt của mẹ chú trong một ngôi chùa ở Sài-Gòn.Nghe tin Đại tá Trần Phương Quế qua đời, người cháu của ông ở Việt-Nam đã tới Tòa soạn Báo Tuồi Trẻ để nhờ đăng cáo phó thông báo cho bạn bè thân thuộc của ông biết tin ông mất.
Thấy những giòng chữ tắt “LĐP- LĐ81- BCD” trên cáo phó, nhà báo hỏi người cháu của ông Quế rằng đó là viết tắt của những chữ gì? Khi nghe lời giải thích hàng chữ, “LĐP- LĐ81- BCD” có nghĩa, “Liên Đoàn Phó- Liên Đoàn 81- Biệt Cách Dù” thì Tòa Soạn Báo Tuổi Trẻ không dám nhận đăng cáo phó này.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.